Xứ Hải Địa 3, Bến Bờ Xa Nhất

Lượt đọc: 266 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HANG RỒNG

TRÊN VÙNG BIỂN TẬN CÙNG TỨ HẢI, Chủ Nhân Đảo Thông Thái vừa thức giấc, người cứng đờ, tê dại vì ngủ trong con thuyền chật hẹp, rồi ông ngồi dậy và ngáp dưới ánh ban mai sáng sủa, se lạnh. Một lát sau, ông đưa tay chỉ về phía Bắc, bảo người bạn đồng hành cũng đang ngáp dài của mình, “Kia kìa! Có hai hòn đảo, con có nhìn thấy chúng không? Hòn đảo ở phía Nam chính là Hang Rồng đấy.”

“Ngài đúng là có cặp mắt diều hâu,” Arren nói, cố đưa đôi mắt ngái ngủ dõi qua mặt biển mà vẫn chẳng thấy gì.

“Chính vì thế mà ta mới là Chim Cắt,” vị pháp sư nói; ông vẫn còn vui vẻ và dường như đã rũ bỏ hết mọi sự đắn đo cũng như mọi linh tính chẳng lành. “Con không nhìn thấy chúng ư?”

“Con chỉ thấy lũ mòng biển thôi ạ,” Arren nói, sau khi dụi mắt và nhìn lướt khắp đường chân trời màu xanh xám trước mũi thuyền.

Vị pháp sư bật cười. “Ngay cả mắt diều hâu thì liệu cũng có thể nhìn được lũ mòng biển từ khoảng cách hai mươi dặm không?”

Lúc mặt trời tỏa nắng rực rỡ hơn bên trên màn sương ở đằng Đông, những cái đốm nhỏ xíu chao liệng trong không khí mà Arren đang ngắm nhìn dường như sáng lên lấp lánh, tựa những đốm vàng rải xuống nước, hay những hạt bụi trong một tia nắng. Thế rồi Arren chợt nhận ra chúng chính là những con rồng.

Khi thuyền Trông Xa đến gần hai hòn đảo, Arren nhìn thấy những con rồng bay vút lên, lượn tròn theo làn gió sớm, và tim cậu như cũng nhảy lên theo chúng với một niềm vui, niềm vui của lòng ước mong giờ đã được thỏa mãn, gần như một nỗi đau. Mọi sự huy hoàng của một kiếp sống ngắn ngủi đều nằm trong đường bay ấy. Vẻ đẹp của những con rồng được tạo nên bởi sức mạnh khủng khiếp, sự hoang dại vô cùng, và sự tao nhã của lý trí. Bởi vì chúng là loài sinh vật biết suy nghĩ, có tiếng nói và sở hữu trí thông thái cổ xưa: đường bay của chúng tạo thành những hình hài hòa hợp với nhau một cách đầy dữ dằn, quyết liệt.

Arren không nói gì, nhưng cậu thầm nghĩ: Mình không cần biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo; mình đã được thấy những con rồng bay trên làn gió sớm.

Thỉnh thoảng những đường bay bỗng trở nên lệch lạc, các vòng tròn bị phá vỡ, và chốc chốc, giữa lúc đang bay, một con rồng lại phì từ mũi ra một luồng lửa dài, uốn lượn và lơ lửng trong không khí một lát, hơi lửa đó lặp lại đường lượn và độ sáng trên tấm thân dài, cong cong của con rồng. Nhìn thấy vậy, vị pháp sư liền nói, “Chúng đang nổi giận. Chúng xả cơn thịnh nộ của mình trên làn gió.”

Rồi ông thêm vào, “Chúng ta chọc phải tổ ong bắp cày rồi.” Bởi vì những con rồng đã nhìn thấy cánh buồm nhỏ trên ngọn sóng, và đầu tiên là một con, rồi một con khác, cùng rời khỏi vòng xoáy chao liệng của chúng, thân mình duỗi dài song song nhau trong không trung, cặp cánh khổng lồ quạt không khí, lao thẳng tới con thuyền.

Vị pháp sư quay sang nhìn Arren, cậu phải ngồi bên bánh lái vì sóng đang quất ngược dữ dội vào mũi thuyền. Cậu giữ bánh lái thật chắc bằng hai bàn tay vững vàng, nhưng mắt cậu thì vẫn chú ý tới nhịp vỗ của những cặp cánh kia. Như đã thấy hài lòng, Chim Cắt lại quay đi, đứng bên cột buồm và ngừng ngọn gió thần đang thổi vào buồm. Ông giơ cao quyền trượng lên và cất tiếng nói to.

Vừa nghe thấy giọng nói của ông thốt ra Cổ Ngữ, mấy con rồng đang bay giữa chừng bỗng vòng lại, tản mát và vội vã trở về hòn đảo ngay. Những con khác cũng ngừng lại, lơ lửng giữa không trung, bộ vuốt sắc nhọn như những thanh kiếm chìa ra nhưng có vẻ thận trọng. Một con hạ thấp xuống mặt nước và tiếp tục chậm rãi bay về phía họ: chỉ cần hai lần vỗ cánh là nó đã ở bên trên con thuyền. Cái bụng phủ giáp cứng của nó gần như chạm vào cột buồm. Arren nhìn thấy khoảng da thịt nhăn nhúm không có vảy bao bọc ở giữa khớp vai trong và phần ngực, chỗ này, cùng với đôi mắt, là hai điểm yếu duy nhất của con rồng, trừ phi ngọn giáo lao vào nó đã được phù phép bằng một bùa chú cực kỳ mạnh mẽ. Cuộn khói phun ra từ cái miệng dài đầy răng của nó làm cậu ngạt thở, và cùng với làn khói ấy là một mùi thối rữa tanh tưởi khiến cậu phải nhăn mặt nôn ọe.

Cái bóng của nó lướt qua. Rồi nó vòng lại, cũng thấp như lúc trước, và lần này thì Arren cảm nhận được hơi thở nóng rực như hơi bễ rèn của nó trước khi cảm thấy hơi khói. Cậu nghe giọng Chim Cắt vẫn vang lên rõ ràng, dữ tợn. Con rồng bay qua chiếc thuyền. Rồi tất cả cũng biến mất, cuồn cuộn bay về đảo tựa như những tàn tro còn lấp lánh ánh lửa bị cuốn theo một luồng gió mạnh.

Arren lấy lại hơi thở và đưa tay lên lau vầng trán tươm sũng mồ hôi lạnh. Quay sang nhìn người bạn đồng hành của mình, cậu thấy tóc ông trắng xóa cả đi: hơi thở của con rồng đã nung nóng và đốt cháy đuôi tóc của ông. Còn tấm vải buồm dày cũng bị cháy sém suốt dọc một bên, ngả sang màu nâu.

“Tóc con hơi bị cháy đấy, chàng trai.”

“Tóc ngài cũng thế ạ.”

Chim Cắt đưa tay lên vuốt tóc vẻ ngạc nhiên. “Đúng thế thật! - Thực là láo lếu; nhưng ta không muốn cãi cọ với những sinh vật ấy. Chúng có vẻ đang giận dữ hay xáo đảo vì điều gì đó. Chúng không lên tiếng nói. Ta chưa bao giờ gặp một con rồng nào mà lại không cất tiếng nói trước khi tấn công, chúng luôn nói cho dù chỉ là để tra tấn con mồi của mình... Giờ thì chúng ta phải đi tiếp thôi. Đừng nhìn thẳng vào mắt chúng, Arren à. Nếu cần thì con hãy quay mặt sang một bên. Chúng ta sẽ đi theo ngọn gió thường này thôi; gió đang thổi thuận chiều từ phía Nam đến, còn ta thì lại cần giữ pháp thuật của mình cho những việc khác. Con giữ cho thuyền đi đúng hướng nhé.”

Thuyền Trông Xa lướt về phía trước và chẳng mấy chốc ở bên trái thuyền đã hiện ra một hòn đảo ở xa xa, còn ở bên phải là hòn đảo kép họ nhìn thấy lúc trước. Những hòn đảo này vươn lên thành các vách núi thấp, chỉ trơ trụi toàn đá, trắng xóa phân rồng và phân lũ nhạn biển nhỏ đầu đen dạn dĩ vẫn làm tổ ở đó.

Đám rồng đã bay lên và lượn vòng ở khoảng không trên cao, giống như cách bay của loài chim kền kền. Không con nào còn bay xuống gần chiếc thuyền nữa. Thỉnh thoảng chúng cất tiếng gọi nhau bằng những tiếng kêu the thé, chói tai, bay theo luồng gió, nhưng nếu trong tiếng kêu của chúng có từ ngữ gì thì Arren cũng không nghe ra.

Con thuyền vòng quanh một mũi đất ngắn, và cậu nhìn thấy trên bờ biển một vật thoạt trông cứ tưởng là một pháo đài đổ nát. Đó là một con rồng. Một bên cánh màu đen gập lại dưới mình nó và cánh kia duỗi dài ngang qua bãi cát, chìm một nửa xuống nước, và những con sóng lúc ùa vào lúc rút ra xô đẩy chiếc cánh ấy, khiến nó nom như đang giả vờ bay. Thân mình dài như rắn của nó nằm sóng soài trên mặt cát lổn nhổn sỏi đá. Một chân trước của nó không còn, lớp vảy giáp bọc ngoài và mảng thịt trên khung sườn khổng lồ bị cào rách, còn bụng nó thì bị xé toạc, khiến toàn bộ khoảng cát rộng xung quanh đen sì vì đẫm máu rồng nhiễm độc. Vậy mà con vật vẫn còn sống. Sức sống của loài rồng mạnh đến nỗi chỉ có một quyền năng pháp thuật ngang bằng mới có thể giết nó nhanh chóng. Cặp mắt xanh-vàng của nó vẫn mở, và khi con thuyền đi qua, cái đầu khổng lồ, dài mảnh của nó hơi động đậy, và với một tiếng rít khò khè, khói lẫn với những tia máu phun ra từ lỗ mũi nó.

Khoảng bờ biển giữa chỗ con rồng đang nằm hấp hối và mép nước hằn dấu chân cùng vết tích những tấm thân nặng nề của đồng loại nó lẫn với lòng ruột của chính nó bị giẫm đạp lún sâu vào cát.

Chim Cắt đều không nói gì, cho đến khi họ đã rời xa hòn đảo đó, hướng về phía eo biển liên tục nhấp nhô sóng dữ của Hang Rồng, một eo biển san sát những dải san hô và đá tảng nhọn hoắt, để tới hòn đảo phía Bắc của quần đảo đó. Rồi Chim Cắt lên tiếng, “Thật là một cảnh tượng khủng khiếp,” với giọng nói lạnh lẽo, sầu muộn.

“Chúng có... chúng có ăn thịt đồng loại không ạ?”

“Không. Cũng như chúng ta mà thôi. Chúng đã hóa điên. Tiếng nói của chúng đã bị lấy mất. Chúng, những sinh vật đã cất tiếng nói trước cả loài người, sinh vật cổ xưa hơn bất kỳ sinh vật nào khác trên đời, những Đứa Con của Segoy - chúng đã bị dồn đến cảnh câm lặng kinh hoàng như lũ súc vật. Trời ơi! Kalessin! Đôi cánh của người đã đưa người đến đâu vậy? Người phải sống để nhìn thấy đồng loại của mình phải chịu tủi nhục ư?” Giọng ông vang lên như tiếng đồng, tiếng sắt, và ông ngước lên đưa mắt dõi khắp bầu trời. Nhưng bầy rồng đã lùi lại phía sau, giờ đang lượn tròn ở dưới thấp hơn, bên trên những hòn đảo đầy sỏi đá và khoảng bờ biển vấy máu, còn trên đầu thì không thấy gì nữa ngoài bầu trời xanh ngắt cùng vầng mặt trời giữa trưa.

Thuở ấy chưa có người nào còn sống đã đến được Hang Rồng và nhìn thấy nó, ngoại trừ Tổng Pháp Sư. Hai mươi năm trước, hoặc hơn thế, ông đã đi thuyền dọc theo hòn đảo từ Đông sang Tây, rồi lại quay vòng lại. Đối với một thủy thủ thì đó vừa là cảnh tượng huy hoàng vừa là cơn ác mộng. Mặt nước là một mê cung nhằng nhịt những eo biển xanh thẳm và những vũng cạn màu lục, và giữa những đường lối lắt léo ấy, giữa những tảng đá và dải san hô, giờ đây ông cùng với Arren đang đưa con thuyền len lỏi đi qua, bằng bàn tay, bằng những lời thần chú, và bằng sự thận trọng cảnh giác. Có những tảng đá nằm dưới thấp, bị các đợt sóng phủ lấp hoàn toàn hoặc một nửa, mọc đầy cỏ chân ngỗng, hàu và những cây dương xỉ biển dài mảnh, nom như những con thủy quái có vỏ cứng hay uốn khúc ngoằn ngoèo. Lại có những tảng đá nhô hẳn lên thành những mũi nhọn cao vút, dựng đứng trên mặt biển, nom tựa các mái vòm hoặc nửa mái vòm, các tòa tháp, các loài thú hình thù kỳ dị, lợn lòi hoặc mãng xà, tất cả đều khổng lồ, dị dạng, nằm rải rác như thể sự sống đang mơ màng quằn quại giữa lớp đá. Sóng biển đập vào chúng, tạo thành một âm thanh nghe như tiếng thở dài, và tất cả đều ướt đẫm bọt sóng trắng xóa, mặn chát. Có một tảng đá như vậy, từ phía Nam nhìn tới thì rõ ràng là hình một người đàn ông với đôi vai cúi gằm và cái đầu lớn, cao quý, đang cúi xuống trầm ngâm suy nghĩ điều gì đó trên mặt biển mênh mông; nhưng khi con thuyền đi qua và họ ngoái lại nhìn từ phía Bắc thì chẳng thấy hình người đàn ông đâu nữa, giữa những tảng đá khổng lồ chỉ còn lại một cái hang nơi nước biển dâng lên rồi lại hạ xuống với những tiếng om om, ầm ầm như sấm sét. Trong tiếng ầm ầm ấy như có một từ ngữ, một âm tiết nào đó. Trong khi con thuyền tiếp tục lướt tới, những tiếng vọng ồn ào dịu bớt đi và âm tiết ấy vang lên rõ ràng hơn, đến nỗi Arren phải hỏi, “Trong cái hang ấy có tiếng nói phải không ạ?”

“Đó là tiếng biển đấy.”

“Nhưng nó có nói một từ gì đó.”

Chim Cắt lắng tai nghe; ông liếc nhìn Arren, rồi quay lại nhìn cái hang. “Con nghe thấy nó nói từ gì?”

“Giống như là tiếng ahm ạ.”

“Trong Cổ Ngữ nó dùng để chỉ sự khởi đầu, hoặc là cách đây đã lâu. Nhưng ta lại nghe như là nó đang nói ohb , có nghĩa là sự kết thúc - Cẩn thận phía trước!” ông bất thần kêu lên, đúng lúc Arren bảo với ông, “Có vũng cạn!” Và, dù thuyền Trông Xa vẫn lướt đi giữa vùng nước nguy hiểm khéo léo như một con mèo, họ phải bận bịu lo việc lèo lái một hồi lâu, và dần dần cái hang với giọng nói đời đời thốt ra từ ngữ bí hiểm của nó lùi lại sau lưng họ.

Giờ nước trở nên sâu hơn, và họ ra khỏi bãi đá đầy những ảo ảnh. Trước mặt họ vươn lên một hòn đảo cao như tòa tháp. Các vách đá của nó đen sì, tạo thành bởi vô số cột hoặc trụ đá lớn ghép vào với nhau, với những cạnh thẳng và các mặt phẳng, vươn lên dốc đứng, cách mặt biển ba trăm thước.

“Đó là Pháo Đài Kalessin,” vị pháp sư nói. “Những con rồng đã bảo ta như vậy, khi ta đến nơi này, cách đây đã lâu rồi.”

“Kalessin là ai ạ?”

“Là Đại Long, con rồng già nhất...”

“Nó đã xây dựng tòa tháp ấy ạ?”

“Ta không biết. Ta không biết có phải nó được xây nên hay không. Ta cũng không biết ngài rồng ấy bao nhiêu tuổi. Ta nói là ‘ngài’, nhưng thật ra cả cái đó ta cũng không biết chắc... Nếu so với Kalessin thì Orm Embar chỉ như một đứa trẻ mà thôi. Còn ta với con thì chỉ như hai con phù du.” Ông nhìn khắp hàng cột đá kỳ diệu, và Arren cũng nhìn lên chúng vẻ lo sợ, cậu thầm nghĩ một con rồng có thể lao xuống từ cái mép đá đen sì ở đằng xa kia và đến chỗ họ trong nháy mắt. Nhưng không con rồng nào hiện ra cả. Thuyền từ từ lướt đi trên vùng nước tĩnh lặng ở mạn khuất gió của vách đá, họ không nghe thấy gì khác ngoài tiếng những con sóng không nhìn thấy được đang thì thầm vỗ vào những cột đá bazan. Nước ở đây rất sâu, không có san hô hay đá; Arren lái thuyền, còn Chim Cắt đứng đằng mũi, đưa mắt tìm kiếm trên vách núi và bầu trời rực sáng trước mặt.

Cuối cùng thì con thuyền cũng ra khỏi vùng bóng râm dưới Pháo Đài Kalessin và tiến vào ánh nắng của buổi chiều muộn. Họ đã đi ngang qua Hang Rồng. Vị pháp sư ngẩng đầu lên, như một người vừa thấy được cái mình đang tìm kiếm, và ngang qua khoảng không gian vàng rực trước mặt họ, lướt đến trên đôi cánh vàng rực, là con rồng Orm Embar.

Arren nghe thấy Chim Cắt cất tiếng hỏi con rồng: Aro Kalessin? Cậu có thể đoán được ý nghĩa của câu hỏi ấy, nhưng không thể biết được con rồng đáp lại ra sao. Tuy vậy, khi nghe Cổ Ngữ, cậu luôn có cảm giác gần như hiểu được: tựa hồ nó là một thứ ngôn ngữ cậu đã quên mất, chứ không phải thứ ngôn ngữ cậu chưa bao giờ biết. Khi nói bằng Cổ Ngữ, giọng của vị pháp sư trong hơn nhiều so với khi nói tiếng Hardic, và dường như giọng nói ấy tạo ra một khoảng lặng xung quanh nó, giống như khi ta khẽ chạm vào một quả chuông lớn. Nhưng giọng của con rồng thì lại như tiếng cồng, tiếng chiêng, vừa trầm lại vừa chói tai, hay tiếng rin rít của hai chiếc não bạt đập vào nhau. Arren ngắm người bạn đồng hành của mình đứng đó, trên mũi thuyền hẹp, nói chuyện với sinh vật khủng khiếp đang lơ lửng trước mặt ông, chắn mất cả nửa bầu trời; và một niềm tự hào sung sướng len lỏi vào tim cậu thiếu niên, khi thấy con người thật là một sinh vật nhỏ bé, yếu đuối, và cũng đáng sợ biết bao. Bởi vì con rồng có thể dễ dàng xé toạc đầu người đàn ông ra khỏi vai chỉ bằng một nhát cào từ bàn chân đầy vuốt sắc của nó, nó có thể nghiền nát và nhấn chìm con thuyền như hòn đá nhấn chìm một chiếc lá trôi nổi, nếu như chỉ có tầm vóc và kích cỡ là quan trọng. Nhưng Chim Cắt cũng nguy hiểm không kém gì Orm Embar, và con rồng biết vậy.

Vị pháp sư quay đầu lại. “Lebannen,” ông gọi, và cậu thiếu niên liền đứng dậy, đi về phía ông, mặc dù cậu không hề muốn phải bước lại gần bộ hàm dài mười lăm thước và cặp mắt màu vàng-xanh với con ngươi chỉ là hai vạch kẻ đang nhìn chằm chằm vào cậu từ trên không trung kia.

Chim Cắt không nói gì với cậu, nhưng đặt tay lên vai cậu, và lại nói với con rồng mấy tiếng ngắn gọn.

“Lebannen,” giọng nói sang sảng của con rồng cất lên không chút biểu cảm. “ Agni Lebannen!”

Cậu ngẩng lên; bàn tay của vị pháp sư khẽ ấn lên vai cậu để nhắc cho cậu nhớ, và cậu tránh cái nhìn của cặp mắt xanh-vàng kia.

Cậu không biết nói Cổ Ngữ; nhưng cậu cũng không phải là người câm. “Xin kính chào ngài rồng Orm Embar,” cậu nói rõ ràng, như một ông hoàng chào đón một ông hoàng khác.

Rồi sự im lặng bao trùm lên tất cả, và tim Arren nặng nhọc đập thình thịch. Nhưng Chim Cắt, vẫn đứng cạnh cậu, mỉm cười.

Sau đó con rồng lại lên tiếng, và Chim Cắt đáp lại; Arren thấy họ nói chuyện suốt một thời gian dài. Thế rồi họ đột ngột dừng lại. Con rồng lao vút lên bằng nhịp cánh vỗ mạnh mẽ đến nỗi suýt lật nhào con thuyền, và bay mất. Arren nhìn mặt trời thì thấy nó vẫn không gần đường chân trời hơn lúc trước là bao; khoảng thời gian đó không dài như cậu tưởng. Nhưng mặt vị pháp sư thì xám ngoét đi như tro ngấm nước, và mắt ông lóe lên khi quay sang nhìn Arren. Ông ngồi phịch xuống trên tấm ván ngang.

“Giỏi lắm, chàng trai,” ông cất giọng khàn khàn nói. “Nói chuyện với rồng - quả là không dễ dàng gì.”

Arren đi lấy thức ăn, vì cả ngày họ chưa ăn gì và vị pháp sư không nói gì nữa cho tới khi họ ăn uống xong. Lúc này mặt trời đã xuống thấp, nhưng ở miền Bắc, khi mới qua ngày hạ chí có ít lâu, màn đêm thường đến rất muộn và chậm rãi.

“Rồi,” rốt cuộc ông cũng lên tiếng, “Orm Embar đã cho ta biết kha khá. Nó nói rằng người chúng ta đang tìm có ở Selidor nhưng đồng thời cũng không có ở đó... Loài rồng không biết nói một cách rõ ràng đơn giản. Đầu óc của chúng không đơn giản chút nào. Và ngay cả khi một con rồng chịu cho con người biết sự thật, có nghĩa là rất hiếm hoi, thì nó cũng không biết sự thật đối với con người là như thế nào. Vậy là ta hỏi nó, ‘Có giống như cha của người là Orm đang có ở Selidor không?’ Vì như con biết đấy, Orm và Erreth-Akbe đã chết trong trận chiến của họ trên hòn đảo đó. Và Orm Embar đáp lại, ‘Có và không. Ngài sẽ tìm thấy hắn ở Selidor, nhưng lại không phải là ở Selidor.’” Chim Cắt ngừng lại, miệng nhai một miếng cùi bánh mì dai ngoách, vẻ trầm ngâm. “Có lẽ ý nó nói rằng kẻ đó không có ở Selidor, nhưng ta phải đến đó để tìm được hắn. Có lẽ...

“Sau đó ta hỏi nó về những con rồng khác. Nó nói rằng kẻ đó đã đến chỗ chúng, không hề tỏ ra sợ hãi chút nào, vì mặc dù đã bị giết, hắn vẫn quay lại được với thân xác của mình và sống lại. Chính vì vậy loài rồng khiếp sợ hắn, vì hắn là một sinh vật trái tự nhiên. Nỗi sợ của chúng đã khiến hắn có được quyền năng áp đảo chúng, và hắn đã lấy mất Cổ Ngữ Kiến Tạo của chúng, biến chúng thành con mồi cho bản chất hoang dã của chính chúng. Vậy là chúng giết chóc lẫn nhau hoặc là lao mình xuống biển tự tử... một cái chết thật khủng khiếp đối với loài hỏa xà, những sinh vật thuộc về gió và lửa. Rồi ta hỏi, ‘Chúa tể Kalessin của người đâu?’ nhưng nó chỉ đáp lại, ‘Ở phía Tây,’ như thế có nghĩa là Kalessin đã bỏ đi, bay về một vùng đất khác, mà theo lời loài rồng thì vùng đất ấy nằm xa hơn nơi bất kỳ con thuyền nào có thể đến được; hoặc cũng có thể nó mang một ý nghĩa khác.

“Nghe vậy ta không hỏi nữa, và lại đến lượt nó hỏi ta, nó nói rằng, ‘Khi quay về phương Bắc, ta đã bay qua Kaltuel và quần đảo Toringates. Ở Kaltuel ta thấy dân làng giết một đứa trẻ trên bàn thờ thần linh, và ở Ingat ta thấy một phù thủy bị dân làng ném đá cho đến chết. Ngài nghĩ là liệu họ có ăn đứa trẻ đó không, Ged? Liệu ông phù thủy kia có sống lại và ném đá trả thù dân làng không?’ Ta ngỡ nó định giễu cợt ta, và đang định giận dữ đáp lại, nhưng nó không hề tỏ ra giễu cợt. Nó nói, ‘Mọi thứ không còn có nghĩa lý gì nữa. Thế giới đã bị thủng một lỗ và biển cả đang theo cái lỗ đó chảy đi hết rồi. Ánh sáng đang biến mất. Chúng ta sẽ bị bỏ lại trên một vùng đất khô cằn. Sẽ không còn tiếng nói và không còn cái chết nữa.’ Vậy là rốt cuộc thì ta cũng hiểu được nó định nói với ta điều gì.”

Arren thì không hiểu, và hơn thế nữa cậu lại càng lo lắng hơn bao giờ hết. Bởi vì Chim Cắt, khi nhắc lại lời của con rồng, đã gọi thẳng tên thật của mình ra, không thể nhầm lẫn được. Điều đó làm cậu bất thần nhớ lại người đàn bà khốn khổ trên Lorbanery đã gào lên, “Tên ta là Akaren!” Nếu quyền lực của pháp thuật, của âm nhạc, của tiếng nói, và lòng tin giữa con người với nhau, đều đang yếu đi, tàn lụi đi, nếu một nỗi khiếp sợ điên loạn đang tràn đến tấn công họ, khiến họ, cũng như những con rồng đã bị tước mất lý trí kia, quay sang tiêu diệt lẫn nhau: nếu quả là như thế thật, thì liệu chủ nhân của cậu có thoát khỏi tai họa ấy không? Ông có đủ sức mạnh hay không?

Trông ông không mạnh mẽ chút nào, khi ông khom người ngồi ăn bữa tối gồm bánh mì và cá xông khói, với mái tóc đã ngả bạc, cháy sém, hai bàn tay gầy guộc, và gương mặt mệt mỏi.

Thế nhưng con rồng vẫn phải sợ ông.

“Chuyện gì làm con bận lòng vậy, chàng trai?”

Với ông thì cậu chỉ có thể nói thật mà thôi.

“Ngài đã nói to tên thật của mình lên đấy ạ, thưa ngài.”

“Ồ, phải rồi. Ta quên mất là trước kia ta không làm thế. Để đến nơi chúng ta sắp đến thì con sẽ cần biết tên thật của ta.” Ông ngước lên nhìn Arren, miệng vẫn nhai thức ăn. “Con tưởng là ta già quá hóa lú lẫn và lảm nhảm tên mình như những ông già mụ mẫm không còn biết điều hay lẽ phải gì nữa hay sao? Ta chưa đến nỗi thế đâu, chàng trai!”

“Không ạ,” Arren đáp, bối rối đến nỗi không biết nói gì hơn. Cậu thấy kiệt sức; hôm ấy là một ngày rất dài, và cậu đã phải trông thấy quá nhiều rồng. Con đường phía trước thì lại ngày càng đen tối hơn.

“Arren,” vị pháp sư gọi. “Không; Lebannen: ở nơi chúng ta đang đến đây, chúng ta không thể che giấu gì được. Ở đó tất cả mọi vật phải có tên thật của chúng.”

“Người chết thì không thể bị làm hại được nữa,” Arren nghiêm trang nói.

“Nhưng không phải chỉ có ở đó, không phải chỉ có trong cái chết, thì con người mới bị tước mất tên thật của mình. Những người dễ bị làm hại nhất, những người yếu đuối nhất: đó là những người sẵn sàng trao tình yêu thương của mình cho người khác mà không nhận lấy điều gì đáp lại, chính họ mới gọi tên nhau. Họ là những người có trái tim trung thành, những người hiến dâng cuộc sống... Con đã mệt rồi, chàng trai ạ. Nằm xuống ngủ đi. Giờ không còn việc gì khác nữa ngoài đi theo hướng này cho tới hết đêm. Đến sáng mai chúng ta sẽ trông thấy hòn đảo cuối cùng trên trái đất.”

Trong giọng nói của ông có một vẻ dịu dàng vô bờ bến. Arren nằm cuộn tròn lại ở mũi thuyền, và ngay lập tức chìm vào giấc ngủ. Cậu nghe thấy vị pháp sư đọc một bài kinh với giọng nhẹ nhàng, gần như thì thầm, không phải bằng tiếng Hardic mà là bằng Cổ Ngữ Kiến Tạo; và đúng lúc cậu đã bắt đầu hiểu ra và nhớ được những từ ngữ ấy có nghĩa là gì, thì cậu ngủ thiếp đi.

Vị pháp sư lặng lẽ cất bánh mì và thịt, xem xét lại những sợi dây câu, sắp xếp lại trên thuyền cho gọn gàng, rồi, nắm lấy sợi thừng néo buồm trong tay và ngồi xuống trên tấm ván ngang phía sau, ông thổi một ngọn gió thần thật mạnh vào cánh buồm. Thuyền Trông Xa không biết mệt mỏi liền lập tức lao vút về phía Bắc, như một mũi tên trên mặt biển.

Ông cúi xuống nhìn Arren. Ánh hoàng hôn đỏ rực ánh vàng chiếu lên khuôn mặt trong giấc ngủ của cậu thiếu niên, gió thổi tung mái tóc bù xù của cậu. Cái vẻ hòa nhã, ung dung, quyền quý của cậu hoàng tử ngồi bên đài phun nước ở Nhà Chính cách đây mấy tháng đã biến mất; khuôn mặt này gầy hơn, cứng cáp hơn và cũng mạnh mẽ hơn. Nhưng vẻ đẹp của khuôn mặt ấy thì vẫn không hề suy giảm.

“Ta không tìm được ai khác để đi theo mình,” Tổng Pháp Sư Ged nói to, không biết là nói với cậu thiếu niên đang ngủ hay với ngọn gió trống trải. “Không ai khác ngoài con. Và con thì lại phải đi theo con đường của riêng mình, chứ không phải là đường của ta. Nhưng vương quyền của con cũng sẽ có một phần là của ta. Bởi vì ta đã biết con trước. Ta đã biết con ngay từ đầu! Sau này họ sẽ ca ngợi ta vì điều đó hơn là vì bất kỳ pháp thuật nào của ta... Nếu như còn có sau này. Bởi vì trước hết hai người chúng ta phải tìm đến điểm cân bằng, đến đứng ngay tại trục quay của thế giới. Và nếu ta gục ngã thì con cũng sẽ gục ngã, và tất cả những người khác nữa... Trong một thời gian, chỉ trong một thời gian thôi. Không có bóng tối nào là kéo dài mãi mãi. Và ngay cả ở đó cũng có những vì sao... Ôi, nhưng ta rất muốn được thấy con lên ngôi ở Havnor, được thấy ánh mặt trời chiếu lên Tòa Tháp Gươm và trên Vòng Tròn chúng ta đã đem về cho con từ Atuan, khu lăng tẩm tăm tối ấy, Tenar và ta, từ trước khi con ra đời!”

Nói đoạn ông bật cười, rồi quay mặt về phía Bắc, ông tự nói với mình bằng ngôn ngữ bình thường, “Một tên chăn dê mà lại định đưa hậu duệ của Morred lên ngôi! Liệu ta có bao giờ biết rút ra bài học không?”

Rồi, trong khi ngồi đó với sợi dây trong tay và ngắm nhìn tấm buồm căng lên rực đỏ dưới tia nắng cuối cùng chiếu tới từ đằng Tây, ông lại khe khẽ lên tiếng. “Ta sẽ không có mặt ở Havnor, và cũng sẽ không ở Roke. Đã đến lúc từ bỏ quyền lực rồi. Đã đến lúc rũ bỏ hết mọi trò chơi cũ rích và tiếp tục đi tới. Đã đến lúc ta quay về nhà. Ta sẽ gặp lại Tenar. Ta sẽ gặp lại Ogion và nói chuyện với người trước khi người mất, trong ngôi nhà trên vách núi ở Re Albi. Ta thèm được đi dạo trên núi, trên núi Gont, trong những cánh rừng, vào mùa thu khi tất cả tán lá đều nhuộm sắc thắm. Không có vương quốc nào sánh được với những khu rừng ấy. Đã đến lúc ta quay về đó, quay về đó một cách lặng lẽ, một mình. Và có lẽ ở đó rốt cuộc thì ta cũng sẽ học được điều mà không việc làm nào, không pháp thuật nào, không quyền lực nào có thể dạy ta, điều mà ta chưa bao giờ học được.”

Toàn bộ đường chân trời phía Tây cháy bùng một màu đỏ chói lọi, khiến cho biển cũng đỏ thắm và cánh buồm bên trên mặt nước thì rực lên như màu máu; rồi màn đêm nhẹ nhàng buông xuống. Suốt đêm đó cậu thiếu niên vẫn ngủ say và người đàn ông thức trắng, mắt nhìn đăm đăm vào bóng tối phía trước. Không ngôi sao nào hiện ra.

« Lùi
Tiến »