Ngày 20 tháng Mười năm vừa rồi, sau khi kết thúc đợt quyên góp, ngài chủ tịch Câu lạc bộ Súng đã chuyển cho Đài Thiên văn Cambridge số tiền cần thiết để xây dựng một thiết bị quang học khổng lồ. Quang cụ này được thiết kế để quan sát được mọi đối tượng trong vòng bán kính chín foot trên bề mặt Mặt trăng.
Vào thời điểm Câu lạc bộ Súng chuẩn bị thực hiện thử nghiệm vĩ đại của họ, đã có vài quang cụ đạt tới độ hoàn thiện rất cao và thu được một số kết quả tuyệt vời. Cụ thể hơn, có hai kính thiên văn, tính đến thời điểm này, đạt mức công suất phi thường và kích thước khổng lồ. Chiếc đầu tiên, do Herschel lắp đặt, dài 36 foot và có vật kính bốn foot sáu inch, có công suất khuếch đại tới 6.000 lần. Chiếc thứ hai lắp đặt tại công viên Parsonstown, Ireland, thuộc sở hữu của Bá tước Rosse. Chiều dài ống kính tới 48 foot, vật kính có đường kính sáu foot, độ khuếch đại tới 6.400 lần và cần đến một khối gạch và khối xây nề rất lớn để hỗ trợ vận hành vì trọng lượng kính lên tới 12,5 tấn.
Tuy nhiên, bất chấp kích cỡ đồ sộ như vậy, ảnh thực tế có độ phóng đại hiếm khi vượt quá 6.000 lần dù làm tròn số, do đó, Mặt trăng được đưa vào khoảng cách biểu kiến không gần hơn 39 dặm, còn các đối tượng trong đường kính dưới 60 foot vẫn không thể nhận diện, trừ phi có kích thước rất lớn.
Trong hoàn cảnh hiện tại, để quan sát được viên đạn đường kính chín foot và dài 15 foot, cần phải đưa Mặt trăng vào khoảng cách biểu kiến tối đa là năm dặm; và để đạt được mục tiêu đó, phải thiết lập độ phóng đại lên tới 48.000 lần.
Vấn đề này được đặt ra cho Đài Thiên văn Cambridge. Không thiếu kinh phí, vì thế khó khăn chỉ là vấn đề lắp đặt.
Sau cuộc thảo luận quan trọng về hình dạng và cấu tạo ưu việt nhất cho loại quang cụ cần dùng, công tác lắp đặt cuối cùng cũng được triển khai. Theo các tính toán của Đài Thiên văn Cambridge, ống phản xạ mới cần có độ dài 280 foot và vật kính phải có đường kính 16 foot. Kích thước này có lẽ đã rất to lớn, nhưng lại chỉ là bé xíu khi so với kính thiên văn 10.000 foot mà nhà thiên văn Hooke đề xuất vài năm trước.
Về địa điểm lựa chọn, vấn đề này được quyết định rất nhanh chóng. Mục tiêu lựa chọn phải là ngọn núi cao nào đó, mà núi cao như thế ở Mỹ không nhiều. Trên thực tế, chỉ có hai dãy có độ cao trung bình, nằm giữa chúng là dòng Mississippi tuyệt đẹp, “vua của các dòng sông” theo cách gọi yêu mến của những người Yankee Cộng hòa.
Phía Đông là đãy Appalachian, nơi cao nhất mạn Đông của Bắc Mỹ, tại New Hampshire, độ cao trung bình không vượt quá 5.600 foot.
Tuy nhiên, phía Tây là dãy Rocky đồ sộ, bắt nguồn từ eo biển Magellan, men theo đường bờ biển phía Tây của Nam Mỹ dưới cái tên Andes hay Cordillera, băng qua eo đất Panama, rồi chạy lên toàn bộ Bắc Mỹ tới ranh giới vùng biển cực. Độ cao trung bình của dãy núi không vượt quá 10.700 foot. Tuy vậy, Câu lạc bộ Súng buộc phải hài lòng với độ cao này, vì họ đã quyết định cả hai kính thiên văn và khẩu Columbiad đều phải được lắp đặt trong lãnh thổ liên bang. Tất cả các dụng cụ cần thiết theo đó mà được gửi tới đỉnh Longs Peak của dãy Rocky, trong địa phận bang Colorado.
Không giấy bút hay ngôn từ nào có thể diễn tả hết những khó khăn mà các kỹ sư người Mỹ phải vượt qua, những công việc đòi hỏi kỹ năng và lòng quả cảm phi thường mà họ thực hiện. Họ phải nâng những tảng đá cực lớn, những tấm sắt rèn đồ sộ, các khúc ống khổng lồ và kẹp góc nặng nề, một vật kính trọng lượng gần 30.000 pound, trên những tuyến đường phủ tuyết quanh năm ở độ cao hơn 10.000 foot, sau khi băng qua những thảo nguyên cằn cỗi, những cánh rừng dày đặc, các ghềnh thác đáng sợ, cách xa thế giới con người, trong vùng đất hoang dã, nơi mà mỗi điều nhỏ nhặt trong cuộc sống cũng trở thành một vấn đề gần như nan giải. Tuy nhiên, các thiên tài người Mỹ đã thành công bất chấp vô số trở ngại. Trong chưa đầy một năm sau khi khởi công, gần cuối tháng Chín, tấm gương phản xạ vĩ đại được dựng lên tới chiều cao 280 foot. Nó được nâng bằng các cần trục sắt khổng lồ, kèm một cơ chế tinh vi để dễ dàng chuyển hướng tới mọi điểm trên bầu trời và theo dõi những hành trình của các vì sao từ tầng trời này tới tầng trời khác.
Quang cụ này có chi phí 400.000 đô la. Lần đầu tiên dùng kính này nhắm tới Mặt trăng, các quan sát viên tỏ ra vừa tò mò vừa hồi hộp. Họ sắp sửa khám phá ra điều gì với chiếc kính thiên văn có độ phóng đại đối tượng lên tới 48.000 lần này? Họ có trông thấy các cư dân, các bầy thú trên Mặt trăng, thành phố, hồ, biển hay không? Không! Chẳng có gì mà khoa học chưa khám phá ra cả! Chỉ là lúc này, họ có thể quan sát các núi lửa tại mọi điểm trên đĩa Mặt trăng với độ chính xác tối đa.
Kính thiên văn trên dãy Rocky, trước khi thực hiện sứ mạng của nó với Câu lạc bộ Súng, đã hỗ trợ rất lớn cho ngành thiên văn học. Nhờ sức thâm nhập mạnh mẽ, các tầng sâu của vũ trụ được đo đạc tới phạm vi rất lớn, đường kính biểu kiến của rất nhiều ngôi sao đã được tính toán chính xác; và ngài Clark, nhân viên đài Cambridge, đã phân tích thành công tinh vân Con Cua của chòm Kim Ngưu mà kính thiên văn của bá tước Rosse không thể phân tích nổi.