Từ Trái Đất Đến Mặt Trăng

Lượt đọc: 2938 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
người pháp xử lý chiến sự như thế nào?

Trong khi ngài chủ tịch và viên đại úy đang thảo luận giao ước đấu súng – cuộc đọ súng khốc liệt và tàn nhẫn mà trong đó mỗi đối thủ đều hóa thành một tay săn lùng tội phạm – thì Michel Ardan đang nghỉ ngơi sau chiến thắng mệt nhọc của anh. Nghỉ ngơi gần như chỉ là một cách gọi tương đối, vì giường của người Mỹ sánh ngang với bàn đá hoa cương và cẩm thạch về độ cứng.

Ardan đang ngủ nặng nề, liên tục lăn lộn trong đám vải trải giường và đang mơ làm một chiếc ghế dài êm ái hơn trong viên đạn thì một âm thanh ghê gớm quấy phá giấc mơ của ông. Tràng tiếng gõ như sấm làm rung chuyển cửa phòng, có vẻ như do dụng cụ bằng sắt nào đó gây ra. Một chuỗi tiếng nói ồn ào rất dễ nhận biết trong tràng âm thanh dữ dội này, mà có vẻ hơi quá sớm vào buổi sáng, “Mở cửa,” ai đó la hét, “vì Chúa!” Ardan thấy chẳng có lý do gì phải làm theo yêu cầu quá thô lỗ kia. Tuy vậy, ông vẫn ra mở chỉ vì nhân nhượng vị khách kiên trì này. Viên thư ký của Câu lạc bộ Súng vọt vào phòng. Một quả bom cũng không thể gây ồn ào hơn hoặc xông vào phòng thiếu lịch sự hơn thế.

“Tối qua,” J. T. Maston đột ngột kêu lên, “ngài chủ tịch của chúng ta bị xúc phạm công khai trong hội nghị. Anh ấy đã thách đấu đối thủ của mình, không ai khác chính là đại úy Nicholl! Họ đấu súng sáng nay ở rừng Skersnaw. Tôi nghe được mọi chuyện từ chính miệng của Barbicane. Nếu anh ấy bị giết, thì kế hoạch của chúng ta cũng chấm hết. Chúng ta phải ngăn trận đấu này lại và người duy nhất đủ khả năng tác động đến Barbicane và ngăn anh ấy, người đó là anh, Michel Ardan.”

Trong khi J. T. Maston nói, Michel Ardan, không ngắt lời anh, hấp tấp mặc quần áo và trong vòng chưa tới hai phút, hai người đã sải bước tới ngoại ô thành phố Tampa.

Trong suốt chặng đường, Maston kể cho Ardan tình hình sự việc. Maston kể lý do chân chính của thái độ thù địch giữa Barbicane và Nicholl từ đâu thế nào và tại sao, nhờ may mắn, ngài chủ tịch và viên đại úy cho đến giờ chưa từng gặp mặt. Anh bổ sung rằng tất cả chỉ phát sinh từ sự ganh đua giữa giáp sắt với đạn và cuối cùng, sự kiện trong buổi họp chỉ là cơ hội mong-mỏi-đã-lâu để Nicholl thanh toán thù xưa.

Không có gì khủng khiếp hơn những trận đấu súng cá nhân ở Mỹ. Hai đối thủ tấn công nhau như hai con thú hoang. Họ có thể sở hữu những phẩm chất xuất sắc của những người da đỏ trên thảo nguyên – trí tuệ nhạy bén, sự xảo trá tài tình và tài đánh hơi đối thủ. Chỉ một sơ sót, một giây lưỡng lự, một bước sai lầm cũng có thể dẫn đến cái chết. Trong những dịp này, người Yankee thường mang theo con chó của họ và kéo dài cuộc đấu trong nhiều giờ.

“Các anh đúng là quái vật!” Michel Ardan hét lên khi bạn đồng hành của anh miêu tả sự kiện này quá nhiệt tình.

“Phải, chúng tôi là vậy,” J. T. chẳng lấy gì làm tự hào đáp lại, “nhưng chúng ta nên nhanh chân hơn.”

Mặc dù Michel Ardan và J. T. Maston băng qua khi đồng bằng vẫn đầy sương ẩm ướt và chọn con đường ngắn nhất vòng qua nhánh sông và ruộng nước, họ vẫn không thể tới Skersnaw trước năm giờ rưỡi.

Barbicane hẳn đã băng qua bìa rừng từ nửa tiếng trước.

Có một thổ dân làm việc ở đây, hành nghề bán củi do ông ta dùng rìu đẵn từ cây.

Maston chạy tới chỗ ông ta, hỏi, “Ông có thấy một người đàn ông mang súng trường đi vào rừng không? Barbicane, ngài chủ tịch, bạn thân của tôi?”

Vị thư ký đáng mến cửa Câu lạc bộ Súng cho rằng ngài chủ tịch của anh ấy phải nổi tiếng trên khắp thế giới. Nhưng người thổ dân có vẻ không hiểu gì.

“Một thợ săn thì sao?” Ardan hỏi.

“Thợ săn? Có đấy,” người thổ dân đáp.

“Bao lâu rồi?”

“Khoảng một tiếng trước.”

“Quá muộn rồi!” Maston kêu lớn.

“Ông có nghe thấy tiếng súng nào không?” Ardan hỏi.

“Không!”

“Một tiếng cũng không?”

“Một tiếng cũng không! Tay thợ săn trông như chẳng biết săn thế nào!”

“Thế giờ làm gì đây?” Maston nói.

“Chúng ta phải vào rừng, liều mình trước nguy cơ ăn phải viên đạn không nhắm vào chúng ta.”

“Ôi trời!” Maston kêu lên bằng giọng không thể bị nhầm lẫn, “Tôi thà ăn hai mươi viên vào đầu mình còn hơn một viên vào đầu Barbicane.”

“Thế thì tiến lên,” Ardan nói, siết chặt tay đồng đội.

Vài phút sau hai người bạn đã biến mất trong khu rừng dày đặc mọc đầy những cây bách, tiêu huyền, uất kim hương, ô liu, me, sồi và mộc lan đồ sộ. Những cây này đan xen cành nhánh vào nhau thành một mê cung rối rắm không thể gỡ nổi và con mắt không thể nhìn xuyên qua được. Michel Ardan và Maston yên lặng đi cạnh nhau qua đám cỏ cao, phát đường qua những thân leo dày chắc, nhìn chằm chằm vào các bụi cây và từng giây từng phút sợ nghe thấy tiếng súng trường. Về phần dấu vết mà Barbicane đáng lẽ phải để lại trên đường vào rừng, họ chẳng nhận ra được một vết tích nào, vì thế họ men theo con đường mòn rõ nét mà dọc theo đó những người da đỏ từng lần tìm kẻ thù và tối đen do những tán cây dày đặc che phủ.

Sau một giờ tìm kiếm vô vọng, hai người dừng lại trong mối lo âu ngày càng tăng.

“Chắc hẳn đã kết thúc rồi,” Maston chán nản nói, “Một người như Barbicane sẽ không lẩn tránh hay gài bẫy kẻ thù, thậm chí không thèm dùng thủ đoạn! Anh ấy quá chính trực, quá dũng cảm. Anh ấy đã hướng về phía trước, thẳng tới nguy hiểm và chắc chắn cách rất xa chỗ người thổ dân đến mức gió khiến ông ta không nghe được tiếng súng nổ.”

“Nhưng chắc chắn là,” Michel Ardan đáp lời, “từ khi vào rừng, chúng ta cũng không nghe thấy!”

“Biết đâu chúng ta tới quá trễ?” Maston tuyệt vọng kêu lên.

Lần này, Ardan không có lời nào để nói, ông cùng Maston tiếp tục đi trong im lặng. Thỉnh thoảng, họ cất tiếng kêu to, gọi lần lượt tên Barbicane và Nicholl, nhưng không ai trong hai người đó trả lời tiếng gào của họ. Chỉ có lũ chim, bị âm thanh đánh thức, bay qua họ rồi biến mất trong những tán cây, còn những con hươu bị hoảng sợ cuống quýt bỏ chạy trước mắt họ.

Công cuộc tìm kiếm tiếp tục trong một tiếng nữa. Phần lớn cánh rừng đã bị lục soát. Chẳng có gì cho thấy sự hiện hữu của một trận chiến. Rốt cuộc thông tin của người thổ dân trở nên đầy đáng ngờ và Ardan sắp đề nghị chấm dứt cuộc tìm kiếm vô nghĩa này thì đột nhiên Maston dừng lại.

“Suỵt!” anh nói, “Có ai đó dưới kia!”

“Ai đó?” Michel Ardan lặp lại.

“Phải, một người đàn ông! Anh ta có vẻ im lìm. Súng trường không ở trong tay. Anh ta có thể đang làm gì nhỉ?”

“Nhưng anh nhận ra anh ta không?” Ardan hỏi, tầm nhìn ngắn của ông không mấy hữu ích trong hoàn cảnh này.

“Có! Có! Anh ta đang quay về phía chúng ta,” Maston trả lời.

“Và đó là?”

“Đại úy Nicholl!”

“Nicholl?” Michel Ardan hét lên, cảm thấy nỗi đau đớn tiếc thương khủng khiếp.

“Nicholl không cầm vũ khí! Thế anh ta không sợ đối thủ nữa à!”

“Đến chỗ anh ta,” Michel Ardan nói, “và tìm ra sự thật.”

Nhưng ông và người bạn đồng hành mới đi được năm mươi bước, thì họ dừng lại quan sát viên đại úy kỹ càng hơn. Họ đã nghĩ sẽ trông thấy một kẻ khát máu, sung sướng vì trả được mối thù.

Nhưng thấy anh ta, họ chỉ có thể sửng sốt.

Một cái lưới, với những mắt lưới chắc đẹp, treo giữa hai cây uất kim hương lớn và trong cái bẫy này là một con chim bé nhỏ tội nghiệp với đôi cánh bị mắc kẹt, vừa phát ra những tiếng kêu động lòng trắc ẩn vừa vùng vẫy muốn thoát trong vô vọng. Kẻ bẫy chim dệt nên tấm lưới này không phải con người mà là một con nhện độc, chỉ có ở vùng này, to bằng quả trứng bồ câu và được trang bị chân vuốt rất lớn. Sinh vật gớm ghiếc kia, thay vì nhảy vào tấn công con mồi, lại vội vã bỏ trốn rồi náu mình trên các cành uất kim hương cao hơn, vì một kẻ thù hùng mạnh đang đe dọa pháo đài của nó.

Tại đó, là Nicholl, súng trên mặt đất, quên hết nguy hiểm, đang cố gắng xem có thể cứu được nạn nhân khỏi nhà tù tơ nhện kia không. Rốt cuộc đã thành công, con chim bé nhỏ sung sướng bay đi rồi biến mất.

Nicholl đang chăm chú quan sát đường bay của nó thì nghe thấy những lời tuyên bố bằng giọng đầy xúc động: “Anh thật sự là một người dũng cảm.”

Anh ta quay lại. Michel Ardan đứng trước mặt anh ta, lặp lại bằng tông giọng khác:

“Và một người tử tế!”

“Michel Ardan!” Đại úy kêu lên. “Sao anh lại ở đây?”

“Để bắt tay với anh, Nicholl và để tránh cho anh giết Barbicane hoặc bị anh ta giết.”

“Barbicane!” Đại úy đáp lại. “Tôi đã tìm anh ta suốt hai tiếng vô ích. Anh ta đang trốn ở đâu?”

“Nicholl!” Michel Ardan nói, “cách này không lịch sự chút nào! Chúng ta phải luôn cư xử với đối thủ của mình bằng lòng tôn trọng; yên tâm là nếu Barbicane vẫn còn sống, chúng ta sẽ tìm thấy anh ấy dễ hơn nhiều, vì nếu anh ấy không học theo anh, tự giải khuây bằng việc giải thoát con chim bất hạnh, thì anh ấy chắc chắn đang đi tìm anh. Khi chúng ta tìm ra anh ấy, Michel Ardan tôi sẽ tuyên bố với cả hai rằng, không có trận đấu súng nào giữa hai người hết.”

“Giữa tay chủ tịch Barbicane và tôi,” Nicholl nghiêm giọng đáp, “có một mối thù mà chỉ có thể giải thoát bằng…”

“Thôi, thôi!” Ardan nói. “Thật là những người can đảm! Nhưng anh sẽ không chiến đấu!”

“Tôi sẽ chiến đấu, thưa ngài!”

“Không!”

“Đại úy,” J. T. Maston nói đầy xúc động, “tôi là bạn của ngài chủ tịch, một cái tôi khác, cái tôi thứ hai của anh ấy; nếu anh thực sự phải giết ai đó, cứ bắn tôi đi! là được rồi!”

“Thưa ngài,” Nicholl đáp, run rẩy nắm lấy khẩu súng trường, “trò đùa này…”

“Anh bạn Maston của chúng ta không đùa đâu,” Ardan đáp lại. “Tôi hiểu rõ ý định tự sát để bảo vệ bạn mình của anh ấy. Nhưng không phải anh ấy hay Barbicane sẽ ngã xuống vì đạn của đại úy Nicholl anh. Thực ra tôi có một lời đề nghị hấp dẫn với hai đối thủ, mà cả hai đều sẽ hăm hở chấp nhận.”

“Là gì?” Nicholl hỏi đầy ngờ vực.

“Kiên nhẫn nào!” Ardan kêu lên. “Tôi chỉ có thể tiết lộ khi có sự xuất hiện của cả Barbicane.”

“Thế thì đi tìm anh ta đi!” đại úy ré lên.

Cả ba ngay lập tức bắt đầu tìm kiếm. Viên đại úy tháo đạn, đeo khẩu súng lên vai, rồi yên lặng đi lên phía trước.

Thêm nửa giờ đồng hồ nữa trôi qua, cuộc tìm kiếm vẫn không có kết quả. Maston bị ám ảnh bởi một linh cảm tồi tệ. Anh nhìn Nicholl trừng trừng, tự hỏi liệu có phải mối thù của viên Đại úy đã được trả hết, còn Barbicane bất hạnh, bị bắn, có khi đang nằm chết trên lối mòn đẫm máu nào đó hay không. Ý nghĩ y hệt cũng vụt qua đầu Ardan; cả hai đang cùng ném ánh mắt thăm dò về phía Nicholl thì bỗng nhiên Maston dừng lại.

Bóng dáng bất động của một người đàn ông đang dựa vào một cây đinh tán khổng lồ cách hai mươi foot hiện ra, nửa khuất nửa lộ dưới tán cây.

“Là anh ấy!” Maston nói.

Barbicane không di chuyển. Ardan nhìn viên đại úy, nhưng anh ta không nhăn mặt cau mày gì. Ardan chạy tới khóc kêu:

“Barbicane! Barbicane!”

Không có tiếng trả lời! Ardan phóng tới chỗ bạn, nhưng khi đang chộp lấy cánh tay bạn, anh bỗng dừng lại rồi bật lên một tiếng kêu sửng sốt.

Barbicane, bút chì trong tay, đang vạch một dãy ký hiệu hình học trong cuốn sổ ghi chú, còn khẩu súng trường chưa nạp đạn nằm trên mặt đất bên cạnh ngài.

Đắm chìm trong nghiên cứu của mình, Barbicane, quên hết chuyện đấu súng, chẳng nhìn hay nghe thấy gì.

Khi Ardan nắm lấy tay ngài, ngài ngước lên và nhìn chăm chú vào vị khách với nỗi ngạc nhiên.

“Ồ, là anh!” rốt cuộc ngài kêu lên. “Tôi tìm ra rồi, bạn ơi, tôi tìm ra rồi!”

“Cái gì?”

“Kế hoạch của tôi!”

“Kế hoạch gì?”

“Kế hoạch chống lại ảnh hưởng va chạm khi phóng đạn!”

“Thật sao?” Michel Ardan nói, nhìn viên đại úy qua khóe mắt.

“Phải! Nước! Đơn giản là nước, sẽ có tác dụng như một lò xo… à, Maston,” Barbicane thốt lên, “anh cũng ở đây à?”

“Chính anh ta,” Ardan đáp, “và cho phép tôi giới thiệu với anh Đại úy Nicholl đáng kính!”

“Nicholl!” Barbicane kêu lớn, lập tức nhảy dựng lên. “Xin lỗi, đại úy, tôi quên mất… tôi đã sẵn sàng!”

Michel Ardan xen vào, không để cho hai địch thủ có thời gian để nói thêm câu nào.

“Tạ ơn Thượng đế!” ông nói. “Đây chính là điều hạnh phúc nhất mà người dũng cảm như hai bạn không gặp sớm hơn! Chúng ta đáng lẽ lúc này đang than khóc cho một trong hai bạn. Nhưng, nhờ ơn Chúa Trời, người đã can thiệp, giờ đây không còn lý do để sợ hãi nữa. Khi người ta quên đi nỗi giận dữ vì cơ học hay vì mạng nhện, đó là dấu hiệu cơn giận không còn nguy hiểm nữa.”

Sau đó Michel Ardan kể cho ngài chủ tịch nghe đại úy đang bận rộn làm gì khi họ tìm thấy anh ta.

“Giờ tôi hỏi các anh,” ông tổng kết lại, “hai người giỏi giang như các anh có phải sinh ra vì mục tiêu bắn vỡ sọ kẻ kia hay không?”

Tình huống có phần lố bịch, có điều gì đó thực sự không ngờ được; Michel Ardan nhận ra và quyết định thực hiện việc hòa giải.

“Các bạn tốt của tôi,” ông nói, kèm nụ cười quyến rũ nhất của mình, “chỉ là hiểu lầm thôi. Không hơn! Chà! Để chứng minh giữa hai bạn đã kết thúc hận thù, hãy thật lòng đồng ý với đề nghị mà tôi sắp sửa nói với hai bạn.”

“Nói đi,” Nicholl bảo.

“Bạn tôi Barbicane tin rằng viên đạn của anh ấy sẽ đi thẳng tới Mặt trăng?”

“Phải, chắc chắn thế,” ngài chủ tịch đáp.

“Còn bạn tôi Nicholl chắc rằng viên đạn sẽ rơi trở lại xuống Trái đất?”

“Tôi chắc chắn thế,” đại úy thốt lên.

“Tốt!” Ardan nói. “Tôi không có tham vọng khiến các anh đồng thuận, nhưng tôi đề nghị: Hãy đi cùng tôi và xem xem chúng ta sẽ lưu lại trên hành trình thế nào.”

“Cái gì cơ?” J. T. Maston sửng sốt kêu lớn.

Hai địch thủ, trước lời đề nghị đột ngột này, bình tĩnh nhìn nhau. Barbicane chờ câu trả lời của viên đại úy. Nicholl đợi quyết định của ngài chủ tịch.

“Thế nào?” Michel nói. “Giờ không còn sợ va chạm rồi!”

“Được!” Barbicane lên tiếng.

Nhưng dù nhanh chóng đưa ra tuyên bố, ngài vẫn chậm hơn Nicholl.

“Hoan hô! Hay lắm! Tuyệt vời! Tuyệt vời! Hoan hô!” Michel rú lên, đưa hai tay cho hai cựu địch thủ. “Giờ tất cả đã được giải quyết, các bạn của tôi, cho phép tôi chiêu đãi các bạn theo phong cách Pháp. Chúng ta cùng đi ăn sáng thôi!”


Nguồn: NXB Văn học - 2017
tve-4u.org
Scan & OCR: y42b5yis.vzn - Chuyển text: Caruri
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 8 tháng 2 năm 2021

« Lùi
Tiến »