Vậy thì nó có nghĩa là gì, tất cả những thứ này có nghĩa là gì? Bị bỏ lại một mình, Lily Briscoe tự hỏi cô có nên đi xuống bếp để lấy một tách cà phê khác hay cứ chờ đợi ở đây. Nó có nghĩa là gì? - đó là một khẩu hiệu bắt gặp tình cờ từ một cuốn sách nào đó, đang lỏng lẻo gắn vào ý nghĩ của cô, vì trong buổi sáng đầu tiên này với gia đình Ramsay cô không thể cô đúc lại những cảm giác của mình mà chỉ có thể làm vang lên một cụm từ để phủ kín khoảng trống trong tâm trí cô cho tới khi những tưởng tượng hảo huyền này co lại. Vì thật sự cô đã cảm thấy gì khi quay trở lại sau bấy nhiêu năm qua và bà Ramsay thì đã chết? Không gì cả, không gì cả - cô không thể diễn tả được bất cứ điều gì.
Cô đã tới muộn đêm qua khi tất cả đều bí ẩn, tối tăm. Giờ thì cô đã tỉnh thức, ngồi ở chỗ cũ của mình bên chiếc bàn điểm tâm, nhưng chỉ một mình. Trời cũng còn sớm lắm, chưa tới tám giờ. Sẽ có cuộc hành trình - họ sẽ đi ra ngọn hải đăng, ông Ramsay, Cam và James. Lẽ ra họ nên đi rồi mới phải - họ phải bắt kịp thủy triều hay thứ gì đó. Cam chưa chuẩn bị sẵn sàng James cũng chưa chuẩn bị, Nancy quên đặt mua bánh sandwitch, còn ông Ramsay thì nổi cáu lên và đã đùng đùng bỏ ra khỏi phòng.
“Đi bây giờ thì có ích gì chứ?” ông ấy đã quát lên.
Nancy đã biến mất. Ông ấy kia rồi, đang đi qua lại trước hiên nhà trong cơn thịnh nộ. Dường như người ta có thể nghe thấy tiếng những cánh cửa đóng sầm lại và những giọng nói đang kêu gọi trong khắp ngôi nhà. Ngay lúc đó Nancy lao vào, nhìn quanh với một vẻ lạ lùng pha lẫn giữa sự bàng hoàng và tuyệt vọng, “Phải gửi cái gì ra ngọn hải đăng đây?” như thể cô ta đang ép buộc mình làm một điều mà cô ta chẳng mong gì có thể thực hiện được.
Thật ra thì người ta phải gửi cái gì ra ngọn hải đăng! Vào bất kỳ lúc nào khác Lily hẳn có thể đề nghị một cách hợp lý các thứ như trà, thuốc lá và những tờ báo. Nhưng dường như sáng nay mọi thứ đều kỳ quặc khác thường đến nỗi một câu hỏi như câu hỏi của Nancy - Phải gửi cái gì ra ngọn hải đăng? - cũng mở tung những cánh cửa tâm trí đang đu đưa qua lại và khiến cho người ta cứ phải hỏi một cách ngớ ngẩn, Phải gửi cái gì đây? Phải làm cái gì đây? Nói cho cùng, vì sao người ta lại ngồi ở đây chứ?
Ngồi một mình (vì Nancy lại đã đi ra ngoài) giữa những ly tách sạch sẽ trên cái bàn dài, cô cảm thấy bị cắt lìa khỏi những người khác, và chỉ có thể tiếp tục ngắm nhìn, tự hỏi. Ngôi nhà này, nơi chốn này, buổi sáng này, tất cả dường như đều xa lạ đối với cô. Cô cảm thấy ở đây cô chẳng có mối gắn bó nào, chẳng có một mối liên quan nào với nó, bất cứ điều gì có thể xảy ra, và bất cứ điều gì đã xảy ra, một bước chân ở bên ngoài, một giọng nói cất lên (“Nó không có ở trong tủ, nó nằm ở đầu cầu thang,” ai đó đang kêu lên) đều là một câu hỏi, như thể mối liên kết thường ngày ràng buộc mọi sự vật lại với nhau đã bị cắt đứt, và chúng bị trôi giạt bềnh bồng khắp nơi này nơi khác. Thật vô mục đích, thật hỗn độn, thật phi thực tế, cô vừa nghĩ vừa nhìn vào tách cà phê đã cạn. Bà Ramsay đã chết; Andrew đã bị giết chết; Prue cũng đã chết - dù cô lặp lại mãi, những điều này cũng không gợi lên trong cô một cảm giác nào. Và tất cả chúng tôi đã tề tựu với nhau trong một ngôi nhà như thế này, vào một buổi sáng như thế này, cô nói, nhìn ra ngoài cửa sổ. Đó là một ngày đẹp trời yên tĩnh.
Đột nhiên ông Ramsay ngẩng đầu lên khi bước ngang qua và nhìn thẳng vào cô với tia mắt dại cuồng của một kẻ quẫn trí thế nhưng rất sắc sảo, như thể ông ta đã nhìn thấy bạn, trong một giây, lần đầu tiên, mãi mãi; và cô vờ như đang uống tách cà phê đã cạn của mình để trốn khỏi ánh mắt của ông ta - để thoát khỏi sự đòi hỏi của ông ta, để gạt sang bên thêm giây lát nữa cái nhu cầu khẩn thiết ấy. Ông ta lắc đầu với cô, và bước tiếp (“Đơn độc,” cô nghe ông ta nói, “bỏ mạng,” cô nghe ông ta nói) và hệt như mọi thứ khác trong buổi sáng lạ lùng này, những lời đó trở thành những biểu tượng, tự viết chúng ra trên khắp những bức tường xanh xám. Giá mà cô có thể đặt chúng lại bên nhau, cô cảm thấy, viết chúng ra thành một câu nào đó, hẳn cô sẽ có thể đi tới chân lý của mọi sự vật. Ông già Carmichael nhẹ nhàng bước vào phòng, lấy cà phê cho mình, rồi lại cầm tách cà phê đi ra ngoài để ngồi trong ánh nắng. Sự phi thực tế thật đáng sợ; nhưng nó cũng vô cùng phấn khích. Sẽ đi ra ngọn hải đăng. Nhưng người ta phải gửi cái gì ra ngọn hải đăng? Bỏ mạng. Đơn độc. Ánh đèn xanh xám trên bức tường đối diện. Những khoảng không gian trống vắng. Những thứ này là một số thứ trong các bộ phận, nhưng làm sao để gắn chúng lại với nhau? cô tự hỏi. Như thể bất cứ một sự gián đoạn nào đó cũng có thể phá vỡ cái hình dáng mong manh mà cô đang xây dựng trên chiếc bàn, cô quay lưng về phía cửa sổ để ông Ramsay không nhìn thấy mặt cô. Cô phải chạy trốn tới một nơi nào đó, được yên thân ở một nơi nào đó. Đột ngột cô sực nhớ ra. Cách đây mười năm trước, khi cô đang ngồi đó đã từng có một hình vẽ nhánh cây hay chiếc lá trên tấm khăn trải bàn, và cô đã nhìn nó trong một khoảnh khắc mang tính phát hiện. Đã từng có một rắc rối về cảnh nền phía trước của một bức tranh. Phải dời cái cây vào giữa, cô đã nói thế. Cô đã chẳng bao giờ hoàn thành bức tranh đó. Cô sẽ vẽ bức tranh đó ngay bây giờ. Nó đã khuấy động tâm trí cô suốt bao năm qua. Những bức tranh của cô ở đâu? cô tự hỏi. Phải, những bức tranh của cô. Đêm qua cô đã để chúng lại trong sảnh. Cô sẽ bắt tay vào việc ngay lập tức. Cô nhanh nhẹn đứng lên, trước khi ông Ramsay quay lại.
Cô tự lấy cho mình một cái ghế đẩu. Cô cắm cái giá vẽ lên rìa bãi cỏ, không quá gần chỗ ông Carmichael, với những cử động chính xác của một cô gái già. Phải, mười năm trước cô cũng đã đặt cái giá vẽ chính xác ở chỗ này. Kia là bức tường; hàng giậu, thân cây. Vấn đề là một mối quan hệ nào đó giữa những khối hình đó. Cô đã cưu mang nó trong tâm trí suốt bấy nhiêu năm qua. Dường như giải pháp cho cô đã xuất hiện rồi; giờ đây cô biết cô muốn làm gì.
Nhưng với ông Ramsay đang đi về phía cô, cô không thể làm gì cả. Mỗi lần ông ta tới gần - ông ta đang đi qua lại trước sân hiên - sự đổ vỡ tới gần, sự hỗn độn tới gần. Cô không thể vẽ. Cô khom người xuống, cô quay lưng đi; cô nhặt miếng giẻ này lên; cô nặn ống màu kia ra. Nhưng tất cả những gì cô làm đều nhằm mục đích né tránh ông ta trong giây lát. Ông ta khiến cô chẳng thể làm được việc gì hết. Vì nếu cô cho ông ta một cơ hội nhỏ nhất, nếu ông ta thấy cô rảnh rang trong giây lát, nhìn về phía ông trong giây lát, ông ta sẽ tới gần cô, thốt lên, như ông ta đã nói đêm qua, “Cô sẽ thấy chúng tôi đã đổi thay nhiều.” Đêm qua ông ta đã đứng lên, dừng lại trước mặt cô, và nói như thế. Tất cả bọn chúng ngồi, nhìn đăm đăm và câm lặng, sáu đứa trẻ mà họ từng gọi là những vị vua và những hoàng hậu của nước Anh - Đỏ, Xinh, Xấu tính, Tàn nhẫn - cô cảm thấy chúng giận dữ thế nào dưới lớp vỏ lặng im đó. Bà già Beckwith tốt bụng đã nói một câu gì đó hợp tình hợp cảnh. Nhưng đó là một ngôi nhà chứa đầy những niềm đam mê không có chút dây mơ rễ má gì với nhau - cô đã cảm nhận điều đó suốt buổi chiều tối. Và trên chóp đỉnh của sự hỗn độn này ông Ramsay đã đứng lên, cầm chặt tay cô và nói: “Cô sẽ thấy chúng tôi đã đổi thay nhiều” và chẳng ai trong số chúng nhúc nhích hay nói gì; mà chỉ ngồi đó như thể chúng buộc phải để cho ông ta nói thế. Chỉ có James (hẳn nhiên là Kẻ hay sưng sỉa) cau mày nhìn ngọn đèn dầu; còn Cam thì cuộn chiếc khăn tay quanh ngón tay nó. Rồi ông ta nhắc chúng rằng ngày mai họ sẽ đi ra ngọn hải đăng. Chúng phải có mặt sẵn sàng, trong sảnh, vào lúc bảy giờ ba mươi. Rồi khi đã đặt tay lên cửa ông ta dừng lại; ông ta quay sang chúng. Chúng có muốn đi không? ông ta hỏi. Nếu chúng dám bảo rằng Không (ông ta có một lý do nào đó để mong muốn điều đó) hẳn ông ta sẽ tự gieo người một cách bi thảm về phía sau, vào lòng nước đắng của nỗi niềm tuyệt vọng. Ông ta rất có tài với kiểu đóng kịch như thế. Trông ông ta giống như vị vua bị lưu đày. James nói Có một cách gan lỳ. Cam ấp úng một cách khốn khổ. Vâng, ồ, vâng, cả hai đứa chúng nó sẽ sẵn sàng, chúng nói. Và điều này khiến cô thấy khó chịu, chính đây mới là một tấn thảm kịch - chứ không phải những tấm vải liệm, cát bụi, áo tang; nhưng trẻ con bị ép buộc, tinh thần chúng yếu mềm. James mười sáu tuổi, còn Cam, mười bảy, có lẽ thế. Cô đã nhìn quanh tìm một ai đó không có mặt, có lẽ là bà Ramsay. Nhưng chỉ có bà Beckwith tốt bụng đang lật những bức phác họa của cô dưới ánh đèn. Thế rồi, mệt mỏi, tâm trí cô vẫn tiếp tục dâng lên hạ xuống cùng biển cả, những mùi vị của những nơi chốn đó sau cuộc vắng mặt dài xâm chiếm lấy cô, những cây nến lung linh trong mắt cô, cô đã đánh mất bản thân và đi xuống dưới nhà. Đó là một đêm tuyệt diệu, đầy sao sáng; tiếng sóng nổi lên khi họ đi lên thang gác; vầng trăng to lớn xanh xao làm họ ngạc nhiên khi họ đi qua cửa sổ cầu thang. Cô đã ngủ thiếp đi ngay lập tức.
Cô gắn chặt tấm vải sạch vào khung vẽ, như một tấm chắn, mong manh, nhưng cô hy vọng đủ sức mạnh vật chất để tránh khỏi ông Ramsay và sự đòi hỏi của ông ta. Cô gắng hết sức nhìn vào bức tranh của mình khi ông ta quay lại; cái đường nét đằng kia, cái hình khối đằng kia. Nhưng đó không phải là vấn đề. Cứ mặc cho ông ta ở cách đó năm mươi bộ, cứ mặc cho ông ta không nói gì với bạn, cứ mặc cho ông ta thậm chí không nhìn thấy bạn, ông ta trải lan, ông ta thắng thế, ông ta ép buộc. Ông ta thay đổi mọi thứ. Cô không thể nhìn thấy màu sắc; cô không thể nhìn thấy những đường nét; thậm chí khi ông ta quay lưng về phía cô, cô chỉ có thể nghĩ, Nhưng ông ta sẽ đi xuống chỗ mình trong khoảnh khắc, và đòi hỏi - một điều gì đó mà cô cảm thấy cô không thể cho ông ta được. Cô vứt bỏ một cây cọ, cô chọn một cây khác. Chừng nào lũ trẻ mới ra tới? Chừng nào tất cả bọn họ lên đường? cô bồn chồn. Người đàn ông đó, cô nghĩ, cơn giận bùng lên trong lòng, không bao giờ cho đi, người đàn ông đó chỉ lấy từ kẻ khác. Mặt khác, cô buộc phải cho đi. Bà Ramsay đã cho đi. Cho đi, cho đi, cho đi, bà ấy đã qua đời - và đã để lại tất cả những chuyện này. Thật sự, cô đang nổi giận với bà Ramsay. Với chiếc cọ đang run khẽ trong mấy ngón tay cô nhìn hàng giậu, bậc thềm, bức tường. Đó là tất cả những gì bà Ramsay đã tạo dựng. Bà ấy đã qua đời. Còn đây là Lily, bốn mươi tư tuổi, đang lãng phí thời gian của mình, không thể làm được một điều gì, đứng đó, chơi đùa với công việc vẽ vời, chơi đùa với một thứ mà người ta không buồn rớ tới, và tất cả đều là lỗi của bà Ramsay. Bà ấy đã chết. Bậc thềm mà bà ấy thường ngồi trống rỗng. Bà ấy đã chết.
Nhưng vì sao cứ lặp đi lặp lại điều này mãi thế? Vì sao cứ luôn phải cố gắng mang lại một cảm giác nào đó mà cô chưa từng có? Trong việc này có một cái gì đó đầy báng bổ.
Tất cả đều khô cằn: tất cả đều héo úa: tất cả đã được sử dụng. Lẽ ra họ không nên mời cô; lẽ ra cô không nên tới. Người ta không thể lãng phí thời gian ở cái tuổi bốn mươi tư, cô nghĩ. Cô ghét chơi đùa với công việc vẽ tranh. Một chiếc cọ, một vật rất phụ thuộc trong một thế giới đầy xung đột, điêu tàn, hỗn độn - là thứ mà người ta không chơi đùa với nó, thậm chí một cách cố tình: cô ghét cay ghét đắng nó. Nhưng ông ta đã ép cô. Cô sẽ không chạm tới tấm vải của mình, dường như ông ta nói thế khi đang hướng về phía cô, cho tới khi cô cho tôi điều mà tôi muốn ở cô. Ông ta đây rồi, một lần nữa tới gần sát cô, một cách tham lam, điên cuồng. Được, Lily nghĩ trong nỗi tuyệt vọng, buông thỏng bàn tay phải xuống hông, sẽ đơn giản hơn khi cứ để mặc cho nó trôi qua. Chắc chắn cô có thể mô phỏng từ ký ức cái ánh sáng rạng rỡ, sự hân hoan vô bờ bến, sự tự đầu hàng mà cô từng nhìn thấy trên gương mặt của rất nhiều người phụ nữ (chẳng hạn, trên nét mặt của bà Ramsay) khi chúng sáng bừng lên trong một trạng thái mê ly của niềm đồng cảm, của niềm vui đối với sự tưởng thưởng mà họ nhận được vào một dịp như thế này - cô có thể nhớ vẻ mặt của bà Ramsay - dù cô không thể hiểu nguyên nhân của nó, rõ ràng nó đã trao tặng cho họ niềm hạnh phúc tối cao nhất mà bản chất con người có thể dung nạp. Ông ta đây rồi, đang dừng lại bên cạnh cô. Cô sẽ cho ông ta thứ mà cô có thể.
2.
Dường như cô đã khẽ nhăn mặt, ông nghĩ. Trông cô hơi èo uộc, gầy gò, nhưng không phải không hấp dẫn. Ông thích cô. Trước kia đã có đôi câu chuyện gẫu về việc kết hôn giữa cô và William Bankes, nhưng rồi chẳng có gì xảy ra cả. Vợ ông rất mến cô. Ông cũng đã hơi nổi cáu chút ít vào bữa điểm tâm. Thế rồi, thế rồi - đây là một trong những khoảnh khắc khi mà một nhu cầu vô thức lớn lao thúc giục ông tới gần bất kỳ một người phụ nữ nào, để buộc họ, ông không quan tâm bằng cách nào, nhu cầu của ông quá lớn, trao cho ông cái mà ông muốn: sự cảm thông.
Có ai đó chăm sóc cho cô không? ông nói. Cô có mọi thứ cô muốn hay không?
“Ồ, cám ơn, có mọi thứ,” Lily đáp một cách bồn chồn. Không; cô không thể làm được điều đó. Lẽ ra cô nên thoát ngay lập tức ra khỏi một làn sóng đòi hỏi sự cảm thông đang rộng mở nào đó: áp lực lên cô quá lớn. Nhưng cô đã bị mắc kẹt lại. Có một khoảnh khắc tạm dừng đáng sợ. Cả hai cùng nhìn ra biển. Vì sao cô ta lại nhìn ra biển khi mình đang ở đây, ông Ramsay nghĩ. Cô hy vọng trời sẽ lặng để họ có thể đặt chân lên ngọn hải đăng, cô nói. Ngọn hải đăng! Ngọn hải đăng! Nó thì có dính dáng gì tới điều này? ông nghĩ một cách nôn nóng. Ngay lúc đó, với sự thôi thúc của một ngọn lửa bản năng (vì thật sự ông không thể kềm chế bản thân thêm nữa), từ ông bật ra một tiếng rên khiến bất kỳ một phụ nữ nào trên khắp thế gian này đều phải làm một điều gì đó, phải nói một điều gì đó - tất cả, ngoại trừ chính bản thân tôi, Lily nghĩ, tự giễu mình một cách cay đắng, tôi không phải là một phụ nữ mà là một mụ gái già khô héo, xấu tính, cau có, cứ cho là thế.
[Ông Ramsay thở dài hết mực. Ông chờ đợi. Chẳng lẽ cô ta không nói gì sao? Chẳng lẽ cô ta không thấy cái mà ông muốn ở cô ta sao? Rồi ông nói rằng ông có một lý do đặc biệt khi muốn đi ra ngọn hải đăng. Vợ ông thường gửi cho những người ở đó những thứ đồ dùng. Có một thằng bé tội nghiệp bị mắc lao hạch ở hông, con trai của người gác hải đăng. Ông thở dài một cách thâm trầm. Ông thở dài một cách đầy ý nghĩa. Tất cả những gì Lily muốn là dòng nước lũ khổ đau này, cơn đói khát vô độ đối với sự cảm thông này, sự đòi hỏi cô phải hoàn toàn tự đầu hàng ông ta này - và thậm chí khi đó ông ta cũng có đủ những nỗi buồn để buộc cô phải cung ứng mãi - sẽ lìa bỏ cô, sẽ chệch sang hướng khác (cô vẫn tiếp tục nhìn về phía ngôi nhà, hy vọng có một sự can thiệp) trước khi nó cuốn trôi cô theo dòng chảy của nó.
“Những chuyến đi như thế,” ông Ramsay nói, đưa ngón chân cái di di lên mặt đất, “rất chi là cực nhọc.” Lily vẫn không nói gì. (Cô ta là một gốc cây, cô ta là một tảng đá, ông tự nhủ với mình.) “Chúng rất đỗi mệt mỏi,” ông nói và nhìn, với một ánh nhìn yếu ớt, vào đôi bàn tay đẹp của mình, khiến cô thấy buồn nôn (ông ta đang đóng kịch, cô cảm thấy, cái con người vĩ đại này đang diễn xuất). Thật là kinh khủng, thật là sỗ sàng. Bọn trẻ sẽ không bao giờ đến hay sao, cô tự hỏi, vì cô không thể gánh chịu nổi gánh nặng buồn thương to lớn này, không thể chống đỡ nổi những tầng tầng lớp lớp khổ đau trĩu nặng này thêm một phút giây nào nữa (ông ta đã khoác lên một bộ tịch cực kỳ bi đát; thậm chí ông ta còn hơi lảo đảo một chút khi đứng đó.)
Cô vẫn không thể nói được gì; dường như toàn bộ chân trời đã quét đi sạch trơn những đối tượng để nói; cô chỉ có thể cảm nhận, một cách kinh ngạc, khi ông Ramsay đứng đó, rằng cái nhìn chăm chú của ông ta dường như đã rơi một cách buồn thảm ra sao lên lớp cỏ ngập nắng và làm cho nó bạc màu đi, và buông trùm một lớp màn nhiễu đen lên trên hình dáng hồng hào, gà gật và hoàn toàn thỏa mãn của ông Carmichael, người đang đọc một cuốn tiểu thuyết Pháp trên một cái ghế xếp, như thể một sự tồn tại đang phô trương những phong dật của nó như thế trong một thế giới đau thương đủ để khơi gợi lên những ý nghĩ ảm đạm nhất. Cô nhìn ông ta, dường như ông đang nói, hãy nhìn tôi đây này; và thật ra, trong suốt thời gian đó ông đang cảm thấy, Hãy nghĩ tới tôi, hãy nghĩ tới tôi. Ôi chao, giá mà cái thân hình to lớn đó có thể lướt qua chỗ họ, Lily ao ước; giá mà lúc nãy cô chỉ cắm cái giá vẽ của mình cách ông ấy chừng một hai thước Anh thôi; một người đàn ông, bất kỳ người đàn ông nào, phải khống chế sự tuôn trào này, ngăn chặn những lời than van này. Là một phụ nữ, cô đã khơi gợi ra cảnh tình kinh khủng này; là một phụ nữ, lẽ ra cô phải biết cách xử lý nó. Thật là mất thể diện, về mặt giới tính, khi cứ đứng đó lặng câm. Người ta nói - người ta đã nói gì nhỉ? - Ồ, ông Ramsay! Ông Ramsay thân mến! Đó là điều mà mẫu người như vị phu nhân già Beckwith sẽ nói ngay lập tức, một cách hợp tình hợp cảnh. Nhưng, không. Họ đứng đó, tách biệt khỏi phần còn lại của thế gian. Cảm xúc thương thân trách phận mênh mông của ông ta và sự đòi hỏi được cảm thông của ông ta đổ tuôn và trải rộng ra trong những vũng nước dưới chân họ, và tất cả những gì cô đã làm, cô là một kẻ tội lỗi đáng thương, là kéo mép váy của mình sát hơn vào hai mắt cá chân để không bị ướt. Cô đứng đó trong lặng im tuyệt đối, nắm chặt cây cọ vẽ của mình.
Không thể nào có đủ lời để ca tụng đất trời! Cô nghe thấy có tiếng ồn trong nhà. Hẳn là James và Cam sắp ra tới. Nhưng, như thể biết rằng thời gian của mình đang thu ngắn lại, ông Ramsay cố trút lên hình dáng lẻ loi của cô cái áp lực lớn lao của nỗi đau đã tập trung lại của ông; tuổi tác của ông; sự mong manh yếu đuối của ông; sự cô quạnh của ông. Đột nhiên, đang lắc lắc đầu một cách nôn nóng trong cơn bực dọc - vì nói cho cùng, người phụ nữ nào có thể cưỡng lại ông? - ông nhận ra rằng dây ủng của ông chưa cột lại. Đó là một đôi ủng đáng chú ý, Lily nghĩ, nhìn xuống chúng: có những hình chạm khắc, to lớn; như mọi thứ ông Ramsay mang khoác trên người, từ chiếc cà vạt mòn xơ xác cho tới cái áo khoác chỉ còn phân nửa số nút, hiển nhiên là của chính ông ta. Cô có thể nhìn thấy chúng bước vào phòng ông ta, thể hiện sự bi ai, cáu kỉnh, xấu tính, mê hoặc, trong khi ông vắng mặt.
“Một đôi ủng thật đẹp!” cô kêu lên cảm thán. Cô thấy xấu hổ với chính mình. Ca ngợi đôi ủng của ông ta trong khi ông ta yêu cầu cô an ủi linh hồn của mình; khi ông ta đã đưa ra cho cô thấy đôi bàn tay rướm máu, trái tim tan nát của ông ta, và van cầu cô thương hại chúng, cô lại thốt lên một cách vui vẻ, “A, nhưng ông mang một đôi ủng thật đẹp!” Xứng đáng, cô biết, và cô ngẩng lên, mong đợi sẽ nhận được một tiếng gầm đột ngột đầy cáu gắt.
Thay vì thế, ông Ramsay mỉm cười. Những lớp vải liệm áo tang, những nét yếu đuối đã rơi xuống khỏi ông. À, phải, ông ta nói, đưa chân lên cho cô nhìn, chúng là loại ủng hạng nhất. Cả nước Anh chỉ có một người làm ra những đôi ủng như thế này. Những chiếc ủng nằm trong số những lời nguyền rủa chính của nhân loại, ông ta nói. ‘Những người thợ làm ủng cho rằng công việc của họ là hành hạ và làm què quặt đôi chân của người ta,” ông cảm thán. Họ cũng là những con người ngoan cố và bảo thủ nhất. Ông ta đã mất một phần tốt đẹp nhất trong tuổi trẻ của mình để giúp cho những đôi ủng được làm ra đúng như nên được làm. Ông ta muốn cô nhận xét rằng (ông ta nhấc bàn chân phải rồi bàn chân trái của mình lên) cô chưa bao giờ nhìn thấy những đôi ủng may theo hình dạng đó. Chúng cũng được làm bằng loại da tốt nhất thế giới. Hầu hết da giày đều chỉ là giấy nâu và bìa cứng. Ông ta nhìn một cách mãn nguyện xuống một bàn chân, vẫn còn giơ lơ lửng trong không khí. Cô cảm thấy chúng đã từng tới một hòn đảo tràn ánh nắng nơi thanh bình cư ngụ, sự sáng suốt ngự trị và mặt trời chiếu sáng mãi mãi, hòn đảo hạnh phúc của những đôi ủng tốt. Tim cô ấm lên với ông ta. “Bây giờ để tôi xem cô có thể cột thắt nút hay không nhé,” ông ta nói. Ông ta phản bác cách cột yếu ớt của cô. Ông ta chỉ cho cô thấy phát kiến của chính ông ta. Khi cô đã cột dây rồi, nó không bao giờ bị sút ra. Ông thắt nút cho giày cô ba lần và tháo ra ba lần.
Vì sao chính vào khoảnh khắc hoàn toàn không thích đáng này, khi ông đang khom lưng xuống đôi giày của cô, cô bị dày vò với sự cảm thông ông ta đến nỗi cô cũng khom người xuống, máu dồn lên mặt cô, và khi nghĩ tới sự nhẫn tâm của mình (cô đã gọi ông ta là một diễn viên đang đóng kịch), cô lại thấy mắt mình rưng lệ? Dường như với cô ông ta là một con người thảm thương vô hạn. Ông ta thắt nút. Ông ta mua ủng. Ông ta chẳng nhận được sự trợ giúp nào trong cuộc hành trình sắp tới. Nhưng lúc này, khi cô muốn nói một điều gì đó, lẽ ra đã có thể nói một điều gì đó, Cam và James ra tới. Chúng xuất hiện trước sân hiên. Chúng tới, chậm rãi, sánh bước bên nhau, một đôi trẻ nghiêm trang, sầu muộn.
Nhưng vì sao chúng lại đi tới với cái vẻ như thế? Cô không thể không cảm thấy bực chúng; hẳn là chúng có thể tới một cách vui tươi hơn; chúng có thể cho ông ta cái mà bây giờ khi chúng xuất hiện cô sẽ không còn cơ hội để cho ông ta nữa. Vì cô cảm thấy một sự trống rỗng đột ngột; một tâm trạng thất vọng. Cảm nhận của cô đã đến quá muộn; nó đã sẵn sàng; nhưng ông ta không còn cần nó nữa. Ông đã trở thành một người đàn ông rất chững chạc, rất tôn quý, một người không cần gì ở cô hết. Cô cảm thấy mất mặt. Ông ta đeo một cái ba lô trên vai. Ông ta chia các gói ra - có một số gói được cột lại một cách sơ sài trong giấy nâu. Ông ta trao cho Cam một cái áo choàng. Ông ta có mọi dáng vẻ của một vị chỉ huy đang chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh. Thế rồi ông ta quay lưng dẫn đường với bước chân vững chắc đúng kiểu nhà binh, với đôi ủng tuyệt diệu đó và những cái gói bọc giấy nâu trên vai, đi xuống con đường mòn với bọn trẻ theo sau. Trông như thể định mệnh đã hiến dâng chúng cho một sự nghiệp trang nghiêm, và chúng lên đường, vẫn còn đủ trẻ để tuân theo sự dẫn dắt của cha chúng, một cách phục tùng, nhưng nét nhợt nhạt trong mắt chúng khiến cô cảm thấy rằng chúng đã im lặng gánh chịu một nỗi thống khổ nào đó vượt khỏi tuổi tác của chúng. Cứ thế họ đi qua lề bãi cỏ, và với Lily, dường như cô đang quan sát một đám diễu hành, được dẫn dắt bởi một áp lực cảm giác chung nào đó, khiến cho nó, dù chệch choạc và loạng choạng, vẫn là một nhóm người có ràng buộc với nhau và tạo cho cô một ấn tượng lạ lùng. Lịch sự, nhưng đầy khoảng cách, ông Ramsay giơ tay lên chào cô khi họ đi qua.
Một gương mặt lạ lùng, cô nghĩ, ngay lập tức nhận ra rằng niềm cảm thông mà cô không được yêu cầu cho đi đang khiến cô băn khoăn không biết nên thể hiện ra sao. Điều gì khiến nó trở thành như thế? Sự suy tư, hết đêm này sang đêm khác, cô cho là thế - về tính hiện thực của những cái bàn nhà bếp, cô bổ sung thêm, nhớ tới cái biểu tượng mà có lần Andrew đã nói với cô khi cô mơ hồ không rõ ông Ramsay suy tư về điều gì. (Cậu ấy đã bị một mảnh đạn pháo giết chết ngay tại chỗ, cô sực nhớ ra.) Cái bàn ăn đó là một thứ gì đó phi thực tế, chân phương; một thứ gì đó trần trụi, cứng, không có tính trang trí. Nó chẳng có màu sắc nào cả; nó chỉ toàn là những cạnh và góc; nó đơn giản một cách không thỏa hiệp. Nhưng ông Ramsay luôn dán mắt vào nó, không bao giờ cho phép bản thân xao lãng hay bị đánh lừa, cho tới khi gương mặt của ông ta cũng trở nên hốc hác và khắc khổ và dự phần vào cái vẻ đẹp không trang sức đã gây cho cô một ấn tượng sâu sắc này. Thế rồi cô nhớ lại rằng (cô vẫn còn đứng ở chỗ ông ta đã bỏ cô lại, với cây cọ trong tay) những nỗi lo âu đã gặm nhấm ăn mòn nó - một cách không cao quý cho lắm. Hẳn là ông ta đã có những nghi vấn về cái bàn đó, cô cho là vậy; cái bàn đó có phải là một cái bàn thật sự không; nó có xứng với thời gian ông ta bỏ ra cho nó không; rốt cuộc ông ta có thể phát hiện ra nó không. Ông ta đã có nhiều nghi vấn, cô cảm thấy thế; không thì hẳn ông ta đã ít hỏi mọi người hơn. Đó là điều mà đôi khi họ đã trao đổi muộn vào ban đêm, Lily đoán thế; và sáng hôm sau trông bà Ramsay có vẻ mệt mỏi, còn cô thì nổi giận với ông ta vì một điều nhỏ nhặt phi lý nào đó. Nhưng giờ thì ông ta chẳng còn ai để nói về cái bàn đó, về những chiếc ủng hay những nút thắt của ông ta; ông ta giống như một con sư tử đang tìm kiếm ai đó để ăn tươi nuốt sống, và gương mặt ông ta có cái nét tuyệt vọng đó, sự phóng đại đó, cái nét mặt đã khiến cho cô phải cảnh giác, đã khiến cho cô phải kéo mép váy cuộn quanh đôi chân. Và rồi, cô nhớ lại, sự hồi sinh đột ngột, ánh lửa đột ngột (khi cô ca ngợi đôi ủng của ông), sự khôi phục một cách đột ngột sinh khí và mối quan tâm tới những sự vật bình thường của con người, mọi thứ đó cũng đã trôi qua và biến đổi (vì ông ta luôn luôn thay đổi và chẳng hề che đậy điều gì hết) thành cái giai đoạn chung cuộc đó. Điều này thật mới mẻ đối với cô và đã khiến cho cô thấy xấu hổ về sự cáu kỉnh của chính mình, cô thừa nhận, như thể khi biểu lộ những âu lo và tham vọng của mình, niềm hy vọng được cảm thông và niềm mong muốn được ca ngợi của mình, ông ta đã thâm nhập vào một cõi miền nào đó khác, bị cuốn vào một cuộc chuyện trò câm lặng, như thể bởi sự hiếu kỳ, với chính ông ta hay một người khác, ở đầu cái đám diễu hành nhỏ bé đã vượt khỏi tầm mắt người ta đó. Một gương mặt thật khác thường! Cánh cổng đóng sầm lại.
3.
Thế là họ đã đi, cô nghĩ, thở dài nhẹ nhõm và thất vọng. Niềm cảm thông của cô dường như bị ném trở lại vào cô, lao vụt như một bụi gai ngang qua mặt cô. Cô cảm thấy bị phân tách một cách lạ lùng, như thể một phần của cô đã bị hút ra ngoài kia - hôm nay là một ngày tĩnh lặng, mù sương; sáng nay trông ngọn hải đăng như nằm ở một khoảng xa tít tắp; ngọn còn lại đã tự gắn nó ở đây, trên bãi cỏ, một cách vững trải, gan lì. Cô thấy như thể bức vẽ của mình đang bềnh bồng nổi lên và nằm đó trắng toát, không thỏa hiệp, ngay trước mặt cô. Với cái nhìn lãnh đạm, dường như nó đang trách móc cô về tất cả những trạng thái vội vã và bối rối này; sự điên rồ và lãng phí cảm xúc này, nó nhắc nhở cô một cách quyết liệt và trải rộng ra trong tâm trí cô đầu tiên là một sự thanh bình, vì những cảm giác hỗn loạn của cô đã lũ lượt tràn ra khắp cánh đồng (ông ta đã đi khỏi và cô đã rất tiếc cho ông ta và đã chẳng nói gì), và rồi sự trống rỗng. Cô thẫn thờ nhìn vào bức vẽ với cái nhìn trắng toát không thỏa hiệp của nó, rồi chuyển từ bức vẽ tới khu vườn. Có một cái gì đó (cô đứng nheo nheo đôi mắt Trung Hoa nhỏ xíu trên gương mặt nhăn nheo), một cái gì đó mà cô nhớ có liên quan tới những đường nét cắt ngang trải dọc kia, và tới cái hình khối của hàng giậu với khoảng không gian trống màu xanh trời và nâu như một cái hang vốn đã từng nằm trong tâm trí của cô; đã thắt một nút dây trong tâm trí của cô khiến cô bất giác nhận ra mình đang vẽ bức tranh đó, đang đưa mắt nhìn lướt qua nó, và tháo gỡ cái nút thắt trong trí tưởng trong lúc làm những việc linh tinh như đi xuống phố Brompton, hay chải tóc. Nhưng có sự khác nhau một trời một vực giữa việc thảnh thơi hoạch định ở bên ngoài bức vẽ với việc thật sự cầm lấy cọ và quét nhát cọ đầu tiên.
Cô đã chọn sai cọ trong tâm trạng bối rối khi có sự hiện diện của ông Ramsay, và cái giá vẽ của cô, được cắm xuống đất một cách bồn chồn, đã nằm sai góc độ. Và giờ đây khi cô đã chỉnh lại nó cho đúng và do đó đã giảm đi những cảnh vật lạc đề và những thứ không thích đáng đã lôi kéo sự chú ý của cô và làm cho cô nhớ cô là một người như thế nọ thế kia, có những quan hệ thế nọ thế kia với mọi người, cô đã làm chủ lại bàn tay của mình và nhấc cọ lên. Nó run rẩy một lúc giữa không trung trong một trạng thái mê ly đau đớn nhưng phấn khích. Bắt đầu từ đâu? - vấn đề là đặt nhát cọ đầu tiên ở điểm nào Một đường nét đặt lên bức vẽ sẽ đưa cô tới vô số nguy cơ, tới những quyết định tức thời và không thể thay đổi. Tất cả những gì có vẻ giản đơn trong ý tưởng ngay lập tức trở thành phức tạp trong thực hành; vì những lượn sóng tự định hình cho chúng một cách đối xứng từ đỉnh vách núi, nhưng đối với người đang bơi chúng bị phân tách bởi những vịnh dốc và những mỏm đá ngầu bọt sóng. Tuy nhiên, cứ phải đánh liều; nhát cọ đã được thực hiện.
Với một cảm giác lạ lùng về thể chất, như thể cô bị thúc ép phải bước lên phía trước đồng thời phải lui lại phía sau, cô lia nhanh nhát cọ quyết định đầu tiên. Chiếc cọ hạ xuống. Nó lấp lánh ánh nâu trên khung vải trắng, nó để lại một vết chạy dài. Cô thực hiện nó lần thứ hai - lần thứ ba. Và cứ ngưng nghỉ, chấm phá như thế, cô thủ đắc được một chuyển động nhịp nhàng như nhảy múa, như thể những lúc ngưng nghỉ là một phần của giai điệu và những nhát cọ khác, và tất cả đều gắn kết với nhau; cứ thế, dừng cọ, đưa cọ một cách nhẹ nhàng và nhanh nhẹn, cô vạch lên bức vẽ những nét nâu bồn chồn rún rẩy nhưng cố định ngay sau khi chúng được dựng quanh một khoảng không gian (cô cảm thấy nó lù lù tiến về phía cô. Ở dưới lòng trũng của một lượn sóng cô nhìn thấy lượn sóng kế tiếp dựng lên ngày càng cao hơn bên trên cô. Bởi lẽ còn có cái gì dữ dội hơn khoảng không gian đó nữa? Cô lui lại để nhìn nó và thầm nghĩ, ở đây lại một lần nữa cô lại rút ra khỏi những chuyện tầm phào, ra khỏi cuộc sống, ra khỏi cái cộng đồng người để đối diện với tên cựu thù ghê gớm của mình - cái điều khác này, chân lý này, hiện thực này đột nhiên xâm chiếm lấy cô, nổi lên lồ lộ ở phía sau những ngoại diện và lôi cuốn sự chú ý của cô. Cô cảm thấy nửa phần bất đắc dĩ nửa phần miễn cưỡng. Tại sao cứ phải luôn bị lôi kéo chứ? Tại sao không rời bỏ trong thanh bình, để nói chuyện với ông Carmichael trên bãi cỏ? Dẫu sao đi nữa đây cũng là một hình thức giao lưu thú vị. Những đối tượng đáng tôn thờ khác đều hài lòng với sự tôn sùng; đàn ông, phụ nữ, Thượng đế, tất cả đều đáng để người ta quỵ gối phủ phục; nhưng cái hình thức này chỉ như hình dáng của một ngọn đèn trắng lờ mờ đổ bóng lên một cái bàn đan bằng cành liễu gai, khích động người ta chiến đấu không ngừng, thách thức người ta đến với một trận chiến mà trong đó người ta buộc phải là người chiến bại. Trước khi đem dòng đời đổi lấy sự tập trung vào công việc vẽ tranh, luôn luôn có những khoảnh khắc cô cảm thấy mình trần trụi (cô cũng không biết là nó nằm trong bản chất hay trong giới tính của cô) khi mà cô cũng hệt như một linh hồn chưa ra đời, một linh hồn bị tước đi thân thể, ngại ngần trên một chóp đỉnh lộng gió nào đó và phơi trần ra mà không có một sự bảo vệ nào trước mọi nỗi ngờ vực. Vậy vì sao cô lại thực hiện nó? Cô nhìn vào bức vẽ, nhẹ nhàng phác những đường nét di động. Nó sẽ được treo trong phòng ngủ của các cô hầu gái. Nó sẽ bị cuộn lại và nhét xuống dưới một cái ghế tràng kỷ. Vậy thì thực hiện nó có ích gì không, và cô nghe thấy một giọng nói nào đó đang bảo rằng cô không thể vẽ tranh, rằng cô không thể sáng tạo, như thể cô đã bị cuốn theo một trong những dòng chảy thói quen mà trong đó sau một thời gian nhất định kinh nghiệm sẽ hình thành trong tâm trí, khiến cho người ta lặp lại những ngôn từ mà không còn chút ý thức nào về người đã phát ngôn chúng đầu tiên.
Không thể vẽ tranh, không thể viết, cô lẩm bẩm một cách đều đều, băn khoăn cân nhắc xem kế hoạch phản công của cô sẽ là gì. Vì khối hình đang lù lù trước mặt cô; nó nhô ra; cô cảm thấy nó đang áp lên nhãn cầu mình. Thế rồi, như thể một thứ chất lỏng nào đó cần thiết cho sự bôi trơn các bộ phận cơ thể của cô đã tự động phun ra, cô bắt đầu nhúng cọ một cách ngẫu nhiên vào những sắc xanh trời và nâu, di dộng chiếc cọ từ nơi này sang nơi khác, nhưng giờ đây nó nặng hơn và lướt đi chậm hơn, như thể nó đã được hạ xuống trong một nhịp điệu nào đó đang dẫn dắt cô (cô tiếp tục nhìn hàng giậu, và bức vẽ) và đủ mạnh để cuốn cô theo dòng chảy của nó. Hẳn nhiên cô đã đánh mất ý thức về những sự vật bên ngoài, về tên của cô, tính cách của cô, ngoại hình của cô, và việc ông Carmichael có ở đó hay không, tâm trí cô tiếp tục ném lên từ những chiều sâu của nó những cảnh quan, những cái tên, những câu nói, những hồi ức và những ý tưởng, như một vòi nước phun vọt ra trên khoảng không gian trắng gay go đáng sợ đang trừng mắt đó, trong lúc cô phác họa nó với những màu xanh lá và xanh trời.
Charles Tansley thường nói, cô nhớ, rằng phụ nữ không thể vẽ, không thể viết. Anh ta đã mò đến từ phía sau cô, đứng sát cạnh bên cô, một điều mà cô rất ghét, khi cô vẽ bà ấy từ chính chỗ này. “Thuốc rê,” anh ta nói “năm xu một ao-xơ,” phô trương sự nghèo túng của anh ta, những nguyên tắc của anh ta. (Nhưng cuộc chiến tranh đã rút mất cái ngòi nữ tính của cô. Những kẻ vô phúc tội nghiệp, người ta nghĩ, những kẻ vô phúc khốn khổ của cả hai giới tính.) Anh ta luôn kẹp một cuốn sách dưới nách - một cuốn sách màu tím. Anh ta “làm việc”. Anh ta ngồi, cô nhớ, làm việc trong ánh nắng chói chang. Trong bữa ăn tối anh ta thường ngồi ngay giữa tầm mắt. Nhưng nói cho cùng, cô ngẫm nghĩ, có một cảnh tượng đẹp đẽ trên bãi biển. Người ta phải nhớ tới nó. Đó là một buổi sáng gió nhiều. Tất cả bọn họ đều đi xuống bãi biển. Bà Ramsay ngồi viết thư cạnh một tảng đá. Bà ấy viết, viết mãi. ‘Ồ,” bà ấy nói, ngẩng lên nhìn một cái gì đó đang nổi bềnh bồng trên biển, “Có phải đó là một cái giỏ bắt tôm hùm không? Có phải đó là một con thuyền bị lật úp không?” Bà ấy bị cận thị nặng đến mức không thể nhìn thấy, thế rồi Charles Tansley bỗng trở nên dễ thương như anh ta có thể tỏ ra. Anh ta bắt đầu chơi trò lia đá trên mặt nước. Họ chọn những viên đá dẹt nhỏ màu đen và lia chúng trên những lớp sóng. Thỉnh thoảng bà Ramsay ngẩng lên nhìn qua đôi kính và cười to trêu họ. Họ đã nói gì cô không còn nhớ, chỉ nhớ cô và Charles đã chơi trò lia đá và đột nhiên rất hòa hợp với nhau, còn bà Ramsay thì quan sát họ. Cô ý thức rất rõ chuyện đó. Bà Ramsay, cô nghĩ, bước lùi lại và nheo mắt. (Hẳn bức vẽ đã thay đổi cấu trúc khá nhiều so với khi bà ấy ngồi trên bậc thềm với James. Hẳn phải có một cái bóng.) Khi cô nghĩ tới việc mình và Charles Tansley chơi trò lia đá và toàn bộ cảnh vật trên bãi biển, theo cách nào đó dường như nó phụ thuộc vào cảnh bà Ramsay ngồi dưới tảng đá, với một tập giấy trên đầu gối, đang viết những lá thư. (Bà ấy viết vô số thư và đôi khi gió cuốn chúng đi và cô cùng Charles chỉ vớt được một tờ từ dưới biển.) Nhưng linh hồn con người có một quyền năng to lớn biết bao! cô nghĩ. Hình ảnh người phụ nữ đó ngồi viết thư dưới tảng đá khiến mọi chuyện trở nên đơn giản; khiến cho những cơn giận, những bực dọc rụng rơi đi như những mảnh giẻ cũ; cô gom nhặt trong ký ức chuyện này chuyện nọ, cả cảnh tượng này, và nhận ra từ sự ngốc nghếch và thù hận đáng thương (cô và Charles đã cãi cọ nhau, đấu khẩu với nhau một cách thù hằn và ngu ngốc) này một điều gì đó - chẳng hạn cảnh tượng này trên bờ biển, cái khoảng khắc này của tình bạn và sự mến ưa nhau - điều còn sót lại sau bấy nhiêu năm. Cô chìm vào đó để tái hiện lại ký ức của cô về anh ta, và nó ở lại đó trong tâm trí, tác động đến người ta gần như một tác phẩm nghệ thuật.
“Như một tác phẩm nghệ thuật,” cô lặp lại, nhìn từ bức vẽ sang những bậc thềm phòng khách rồi lại nhìn bức vẽ. Cô phải nghỉ một lát. Và, trong lúc ngồi nghỉ, lơ đãng nhìn từ vật này sang vật nọ, cái câu hỏi cũ đã không ngớt lướt ngang bầu trời linh hồn, cái câu hỏi mênh mông, phổ quát vốn có khuynh hướng tự định danh chính nó vào những khoảnh khắc như thế này, khi cô đang thả lỏng những giác quan đã quá căng thẳng, lại đứng sững nhìn xuống cô, dừng lại bên cô, che tối xầm phía trên cô. Ý nghĩa của cuộc đời là gì? Chỉ thế thôi - một câu hỏi giản đơn; một câu hỏi có khuynh hướng tiến tới gần người ta hơn theo năm tháng. Sự khải huyền vĩ đại không bao giờ đến. Thay vì thế, có những phép màu nho nhỏ hàng ngày, những điều soi sáng, những que diêm lóe lên bất chợt trong bóng tối; chuyện này là một. Chuyện này, chuyện kia, và chuyện khác; bản thân cô và Charles Tansley và những con sóng vỗ bờ; bà Ramsay đã gắn họ lại với nhau; bà Ramsay bảo, “Cuộc sống đứng lặng nơi đây”; bà Ramsay đã tạo ra từ cái giây phút đó một cái gì vĩnh viễn) - câu nói này mang bản chất của một sự khải huyền. Giữa những thứ hỗn độn vẫn có một hình thù; sự trôi qua lướt chảy miên viễn không ngừng này (cô nhìn những đám mây đang trôi và những chiếc lá đang chao động) đã gắn sâu vào sự vững bền ổn định. Cuộc sống đứng lặng nơi đây, bà Ramsay đã nói thế. “Bà Ramsay! Bà Ramsay!” cô lặp đi lặp lại. Cô mang ơn mọi thứ ở bà.
Tất cả đều thinh lặng. Dường như chưa có ai đi lại trong ngôi nhà. Cô nhìn nó đang thiếp ngủ ở đó trong ánh nắng ban mai với những cánh cửa sổ màu xanh trời và xanh lá và những chiếc lá phản chiếu ánh mặt trời lấp loáng. Ý nghĩ mơ hồ về bà Ramsay của cô dường như đang cộng hưởng với ngôi nhà lặng lẽ này; làn khói này; bầu không khí ban mai trong lành này. Cô hy vọng sẽ không có ai mở cửa sổ hoặc đi ra khỏi nhà. Nhòa nhạt mơ hồ và không có thật, nó thuần khiết và gây phấn khích một cách không ngờ. Cô hy vọng sẽ không có ai mở cửa sổ hoặc đi ra khỏi nhà, nhờ thế cô sẽ được để yên để tiếp tục suy nghĩ, tiếp tục vẽ tranh. Cô quay sang bức vẽ. Bị thôi thúc bởi một cảm giác lạ lùng nào đó, bởi nỗi khó chịu về sự cảm thông mà cô không thể trút đi, cô thả bước tới cuối bãi cỏ để xem thử cô có thể nhìn thấy cái nhóm nhỏ đó lên thuyền ra khơi ở bãi biển dưới kia hay không. Dưới đó, giữa những con thuyền nhỏ bềnh bồng, một số với những cánh buồm cuộn lại, một số chầm chậm lướt đi, vì tiết trời yên tĩnh, có một con thuyền hơi tách biệt với số kia. Thậm chí bây giờ cánh buồm mới được kéo lên. Cô nhất quyết rằng ở đó, trong con thuyền nhỏ hoàn toàn im lặng và rất xa đó, ông Ramsay đang ngồi với Cam và James. Lúc này họ đã căng buồm; lúc này, sau khi cờ hiệu phấp phới và im lặng, cô quan sát con thuyền đang khoan thai tìm lối ngang qua những con thuyền khác để ra khơi.
4.
Những cánh buồm vỗ nhẹ trên đầu họ. Nước reo róc rách và vỗ vào hai mạn thuyền bất động đang ngủ lơ mơ trong ánh nắng. Thỉnh thoảng những cánh buồm lại gợn lên khi có một làn gió nhẹ, nhưng nếp gợn lăn tăn chỉ lướt qua chúng rồi ngưng bặt. Con thuyền chẳng chuyển động chút nào. Ông Ramsay ngồi ở giữa thuyền. Ông sẽ nôn nóng trong một lúc, James nghĩ, Cam nghĩ, nhìn cha chúng, người ngồi giữa chúng ngay giữa con thuyền (James lái thuyền, Cam ngồi một mình dưới mái vòm cuối thuyền) với đôi chân gập sát lại. Ông ghét sự lề mề. Đúng vậy, sau một hai giây bồn chồn, ông nói một câu gay gắt gì đó với con trai của Macalister, người vừa lôi cặp mái chèo ra và bắt đầu chèo. Nhưng cha chúng, chúng biết, sẽ chẳng bao giờ hài lòng cho tới khi họ lướt đi như bay. Ông sẽ tiếp tục ngóng tìm một cơn gió, bồn chồn, lẩm bẩm những câu gì đó mà Macalister và con trai ông ta sẽ nghe hóng được, và cả hai cảm thấy khó chịu kinh khủng. Ông đã bắt chúng đi. Ông đã ép buộc chúng đi. Trong cơn giận dữ, chúng hy vọng rằng gió sẽ không bao giờ nổi lên, rằng ông sẽ bị cản trở với mọi lý do có thể xảy ra, vì đã buộc chúng đi trái với ý nguyện của chúng.
Suốt quãng đường xuống bãi biển chúng đã cùng nhau nấn ná ở phía sau, dù ông cứ như ra lệnh cho chúng, “bước vội lên, bước vội lên,” mà không cần phải nói ra. Đầu chúng cúi gằm, đầu chúng như bị ấn xuống bởi một cơn bão không biết xót thương. Chúng không thể nói với ông. Chúng phải đi; chúng phải theo ông. Chúng phải đi sau lưng ông, vác theo những cái gói giấy nâu. Nhưng chúng đã thề nguyền, trong im lặng, khi đang dấn bước, sẽ đứng sát bên nhau và thực hiện một thỏa ước lớn lao - chống lại sự chuyên chế cho tới chết. Thế rồi chúng ngồi ở đó, mỗi người ở một đầu thuyền, trong im lặng. Chúng không nói gì cả, chỉ thỉnh thoảng nhìn ông đang ngồi đó với đôi chân gập sát lại, nhăn nhó bồn chồn, xuýt xoa ta thán, lẩm bẩm với chính mình, và nôn nóng đợi một cơn gió thổi. Và chúng hy vọng trời sẽ lặng. Chúng hy vọng ông sẽ bị cản trở. Chúng hy vọng toàn bộ chuyến đi sẽ thất bại, và chúng được đưa trở lại bãi biển, với những cái gói của chúng.
Nhưng lúc này, khi con trai của Macalister đã chèo được một quãng, những cánh buồm bắt đầu phồng lên, con thuyền tăng tốc, duỗi ra và lao tới. Ngay lập tức, như thể một sự căng thẳng nào đó đã được cởi bỏ đi, ông Ramsay duỗi thẳng hai chân, lôi cái bao nhỏ đựng thuốc lá ra, trao nó cho Macalister với một tiếng lầm bầm, và cảm thấy hoàn toàn mãn nguyện, chúng biết, vì chúng đã gánh chịu mọi thứ. Giờ đây chúng sẽ lướt đi suốt nhiều giờ như thế này, và ông Ramsay sẽ hỏi già Macalister một câu - có lẽ về cơn bão lớn vào mùa đông trước - và già Macalister sẽ trả lời, và họ sẽ cùng phì phèo cái ống điếu của mình, già Macalister sẽ cầm lấy một sợi chão nhúng hắc ín, thắt lại hoặc tháo ra một nút, người con trai sẽ câu cá và chẳng bao giờ nói với ai lời nào. James sẽ buộc phải để mắt theo dõi cánh buồm. Vì nếu nó quên, cánh buồm sẽ dúm dó và run rẩy, con thuyền sẽ chậm lại, và ông Ramsay sẽ nói một cách cáu kỉnh “Coi chừng! Coi chừng!” và già Macalister sẽ chậm chạp xoay người trên chỗ ngồi của mình. Thế rồi chúng nghe thấy ông Ramsay hỏi gì đó về cơn bão lớn hồi dịp lễ Giáng sinh. “Nó thổi đến, cuốn quanh chỗ đó,” già Macalister nói, mô tả cơn bão lớn hồi Giáng sinh năm trước, khi mười con tàu đã phải dạt vào vịnh để trú ẩn, và ông ta đã nhìn thấy “một ở đó, một ở đó, một ở đó” (ông ta chậm rãi chỉ vòng quanh cái vịnh. Ông Ramsay quay đầu nhìn theo.) Ông ta đã nhìn thấy bốn người đàn ông đeo trên cột buồm. Thế rồi nó biến đi. “Và cuối cùng chúng tôi đã tống cổ nó đi,” ông ta tiếp tục (nhưng trong cơn giận và sự im lặng của mình chúng chỉ thoáng nghe thấy một từ ở đoạn này đoạn khác trong lúc ngồi ở hai đầu của con thuyền, hợp nhất lại bởi thỏa ước chiến đấu với sự chuyên chế cho tới chết của chúng). Cuối cùng họ đã tống cơn bão đi, họ đã thả chiếc thuyền cứu hộ, và họ đã tống cổ nó qua chỗ đó - Macalister kể lại câu chuyện; và dù chúng chỉ nghe thấy một từ vào lúc này lúc khác, chúng ý thức được trong suốt thời gian đó về cha chúng - ông nghiêng người tới trước ra sao, ông hòa giọng với già Macalister ra sao; vừa phì phèo ống điếu vừa nhìn chỗ này chỗ nọ mà Macalister chỉ, ông đã thưởng thức ý nghĩ về cơn bão và cái đêm tăm tối đó và những người ngư dân đang chống chọi ở đó ra sao. Ông muốn rằng những người đàn ông phải lao khổ và đổ mồ hôi trên bãi biển lộng gió ban đêm; căng bắp thịt và khối óc ra để chống lại những lượn sóng và cơn gió; ông thích những người đàn ông lao động như thế, còn những người phụ nữ thì trông nom nhà cửa, và ngồi trong nhà bên cạnh những đứa bé đang say ngủ, trong khi những người đàn ông chết đắm ngoài kia trong một cơn bão. James có thể nói như thế, Cam có thể nói như thế (chúng nhìn ông, chúng nhìn nhau), từ cái hất đầu, cái vẻ cảnh giác của ông, từ tiếng rung trong giọng nói của ông và cách ông pha trộn một chút giọng Tô cách Lan vào giọng của mình, như tự xem mình là một nông dân khi ông hỏi Macalister về mười một con tàu đã phải dạt vào vịnh trong một cơn bão. Ba chiếc đã bị chìm.
Ông kiêu hãnh nhìn về phía những nơi Macalister chỉ; và Cam nghĩ, cảm thấy tự hào về ông mà hoàn toàn không biết vì sao, giá mà ông có ở đó hẳn ông sẽ hạ thủy chiếc thuyền cứu hộ, hẳn ông sẽ đi tới chỗ tàu bị đắm, Cam nghĩ. Nhưng nó sực nhớ ra. Còn có thỏa ước; để chống lại sự chuyên chế cho tới chết. Nỗi đau khổ của chúng đè nặng lên chúng. Chúng đã bị ép buộc; chúng đã bị áp chế. Ông đã hạ gục chúng một lần nữa với vẻ u sầu và thẩm quyền của mình, buộc chúng phải thực hiện theo lệnh của ông, lên đường ra ngọn hải đăng, trong buổi sáng đẹp trời này, mang theo những cái gói này, bởi vì ông muốn thế; phải tham dự vào những nghi lễ tưởng niệm những người đã chết mà ông tiến hành chỉ vì niềm vui thú của riêng mình, điều mà chúng ghét, do đó chúng đã dùng dằng nán lại sau ông, mọi niềm vui thú của ngày hôm nay đã bị phá hỏng.
Phải, gió lại nổi lên. Con thuyền nghiêng mình, mặt nước bị chẻ mạnh và rơi xuống thành những thác màu xanh, những bong bóng nước, những màn bụi nước. Cam nhìn xuống lớp bọt sóng, nhìn xuống biển với mọi kho báu của nó, tốc độ của nó khiến Cam như bị thôi miên, và mối ràng buộc giữa Cam và James hơi chùng xuống đôi chút. Nó đã lỏng ra đôi chút. Cam bắt đầu suy nghĩ, Nó đi thật nhanh. Chúng ta đang đi đâu đây? Và sự chuyển động đã thôi miên Cam, trong khi James, mắt dán chặt vào cánh buồm và chân trời, lái thuyền một cách dứt khoát. Nhưng trong lúc lái thuyền nó bắt đầu nghĩ rằng nó có thể bỏ trốn; nó có thể từ bỏ tất cả những chuyện này. Họ sẽ đổ bộ lên đâu đó; và khi đó sẽ được tự do. Cả hai đứa nhìn nhau trong giây lát, cùng có một cảm nhận về việc bỏ trốn, và tâm trạng hớn hở đến cùng với tốc độ và sự đổi thay. Nhưng làn gió cũng làm nảy sinh trong ông Ramsay một tâm trạng phấn khích tương tự, khi già Macalister quay người để ném sợi dây qua mạn thuyền, ông la lớn,
“ Chúng ta bỏ mạng ,” và lại la lên lần nữa, “ đơn độc từng người . [36] ” Thế rồi với cơn bộc phát của sự ăn năn hay e thẹn thường lệ của mình, ông đứng bật dậy, vẫy tay về hướng bờ biển.
“Nhìn ngôi nhà nhỏ kia,” ông nói, chỉ tay, muốn Cam nhìn theo. Nó nhổm lên một cách miễn cưỡng và nhìn. Nhưng đó là gì? Nó không còn có thể nhận ra rằng trên sườn đồi kia là ngôi nhà của họ. Tất cả trông rất xa xôi, thanh bình và kỳ lạ. Bờ biển dường như được tinh lọc, xa xăm, không có thật. Khoảng cách nhỏ mà họ đi được đã đưa họ ra xa nó và tạo cho nó cái vẻ thay đổi đó, cái vẻ tĩnh mịch đó, của một điều gì đó đã lùi xa mà trong đó người ta không còn bất kỳ vai trò nào nữa cả. Có phải đó là nhà của họ không? Nó không thể nhìn thấy được.
“Nhưng tôi còn bị nhấn chìm hơn anh ấy [37] ,” ông Ramsay lẩm bẩm. Ông đã phát hiện ra ngôi nhà, và trong khi nhìn nó, ông cũng nhìn thấy chính mình ở đó; ông nhìn thấy chính mình đang đi trước sân hiên, đơn độc. Ông đi qua đi lại giữa những bồn hoa; và với chính ông, dường như ông quá già nua lụm cụm. Ngồi trên thuyền, ông cũng còng lưng xuống, thu người lại, ngay lập tức đóng vai diễn của mình - vai diễn của một người đàn ông đơn lẻ, góa vợ, bị tước đoạt; và do đó tập hợp lại trước mặt ông những đám người đồng cảm với ông; trình diễn cho chính ông, trong khi ngồi trong thuyền, một màn bi kịch nhỏ; một màn bi kịch đòi hỏi ông sự hom hem lụ khụ, sự kiệt sức và nỗi u sầu (ông giơ hai bàn tay lên và nhìn vào sự gầy guộc của chúng, để khẳng định giấc mơ của mình), và rồi ông đã nhận được thật nhiều mối cảm thông của những người phụ nữ, ông tưởng tượng họ sẽ vỗ về ông và cảm thông ông ra sao, và trong khi cảm nhận trong giấc mơ của ông một phản ảnh nào đó của niềm hoan lạc tuyệt vời từ sự cảm thông của những người phụ nữ, ông thở dài, khe khẽ thốt lên với giọng não nùng:
Nhưng tôi còn bị nhấn chìm hơn anh ấy
trong những vực thẳm sâu dưới một biển thậm hung tàn,
khiến cho tất cả bọn họ nghe thấy những lời than van đó. Cam hơi giật mình ở chỗ ngồi của nó. Câu thơ làm Cam bị sốc - nó làm Cam nổi giận. Cử động đó đánh thức cha nó; và ông rùng mình, bừng tỉnh, kêu lên: “Nhìn kia! Nhìn kia” một cách khẩn thiết đến nỗi cả James cũng quay đầu lại nhìn về phía hòn đảo. Tất cả bọn họ đều nhìn. Họ nhìn về phía hòn đảo.
Nhưng Cam không thể nhìn thấy gì cả. Nó nghĩ tất cả những con đường và bãi cỏ, dày và gắn chặt vào cuộc sống mà họ từng trải qua ở đó, đã mất đi: đã bị xóa nhòa; đã là dĩ vãng; không có thật, và bây giờ điều này mới là có thật; con thuyền và cánh buồm đầy những mảnh vá; Macalister với đôi khuyên tai của ông ta; tiếng ồn của những lượn sóng - tất cả những thứ này mới có thật. Nghĩ tới đây, nó lẩm bẩm với chính mình, “Chúng ta bỏ mạng, đơn độc từng người,” vì những lời của cha nó cứ bùng nổ, bùng nổ mãi trong tâm trí nó. Khi thấy ánh nhìn khá mơ hồ của nó, cha nó bắt đầu trêu nó. Nó không biết những phương hướng trên chiếc la bàn hay sao? ông hỏi. Nó không biết phân biệt hướng bắc với hướng nam hay sao? Nó có thật sự nghĩ rằng họ sống ngay ở đó hay không? Rồi ông lại giơ tay chỉ cho nó chỗ có ngôi nhà của họ, bên cạnh những cây kia. Ông muốn nó cố trở nên chính xác hơn, ông nói: “Nói cho cha biết - hướng đông ở đâu, hướng tây ở đâu?” ông nói, một cách vừa chế giễu vừa phiền trách nó, vì ông không thể hiểu nổi trạng thái tinh thần của bất kỳ một ai, không hoàn toàn đần độn, lại không biết những hướng của la bàn. Thế nhưng nó không biết. Và nhìn ánh mắt đăm đăm đầy vẻ mơ hồ của nó, giờ đây có vẻ hơi hoảng sợ, đang dán vào một nơi chẳng có ngôi nhà nào, ông Ramsay quên đi giấc mơ của mình; việc ông đã đi qua đi lại giữa những bồn hoa trên sân hiên ra sao; việc đôi cánh tay đó đã duỗi về phía ông ra sao. Ông nghĩ, phụ nữ luôn là thế đó; sự mơ hồ trong tâm trí họ thật vô phương cứu chữa; đó là một điều mà ông không bao giờ có thể hiểu nổi; nhưng nó là thế đó. Nó đã từng là thế với bà ấy - vợ ông. Họ không thể xác định một cách rõ ràng bất kỳ điều gì trong tâm trí họ. Nhưng ông đã sai khi nổi giận với nó; ngoài ra, không phải là ông cũng khá thích sự mơ hồ ấy ở những người phụ nữ hay sao? Nó là một phần của vẻ đáng yêu lạ lùng của họ. Mình sẽ làm cho nó mỉm cười với mình, ông nghĩ. Trông nó có vẻ hoảng sợ. Nó rất lặng lẽ. Ông nắm chặt những ngón tay, và quyết định rằng giọng nói, vẻ mặt và tất cả những cử chỉ biểu hiện nhanh của ông, cái đã từng thuộc vào quyền tùy nghi sử dụng của ông trong việc làm cho mọi người thương hại ông và ca ngợi ông suốt những năm qua phải được tiết giảm đi. Ông sẽ làm cho nó mỉm cười với ông. Ông sẽ tìm một điều gì đó giản đơn để nói với nó. Nhưng là điều gì? Bởi lẽ, bị cuốn chặt vào công việc của mình như ông đã từng trước đó, ông đã quên đi cái cách chuyện trò mà người ta nói. Có một con chó con. Họ có một con chó con. Hôm nay ai trông chừng con chó vậy? ông hỏi. Phải, James nghĩ một cách tàn nhẫn, nhìn mái đầu của chị nó nổi lên trên tấm buồm, giờ thì chị ấy sẽ nhượng bộ. Mình sẽ bị bỏ rơi và một mình đơn độc chống lại sự chuyên chế. Thỏa ước sẽ được để lại cho nó thực hiện. Cam sẽ không bao giờ chống lại sự chuyên chế cho tới chết, nó nghĩ một cách dứt khoát, quan sát nét mặt của chị nó, buồn, dỗi hờn, nhân nhượng. Và như đôi lúc vẫn xảy ra, khi một đám mây hạ xuống một sườn đồi xanh ngát, trọng lực giảm đi, ngọn đồi nằm đó buồn rầu ảm đạm giữa tất cả mọi ngọn đồi xung quanh, và như thể bản thân những ngọn đồi cũng phải trầm tư về số phận của kẻ bị mây che khuất, kẻ trở nên tối tăm, hoặc với lòng thương hại, hoặc với niềm hân hoan hiểm ác đối với nỗi hoang mang của nó: giờ đây Cam cũng cảm thấy chính mình bị che phủ lên khi nó ngồi đó giữa những người bình thản, cương quyết, tự hỏi làm cách nào để trả lời câu hỏi của cha nó về con chó con; làm cách nào để cưỡng lại sự khẩn nài của ông - hãy tha thứ cho cha, hãy quan tâm tới cha; trong khi James, kẻ làm ra luật, với những bản khắc của sự minh triết vĩnh cửu trên đầu gối nó (bàn tay đặt trên bánh lái của nó đã trở thành biểu tượng đối với Cam) đang nói, Hãy chống lại ông ta. Chiến đấu với ông ta. Nó nói một cách rất chính đáng; rất công minh. Bởi lẽ chúng phải chiến đấu với sự chuyên chế cho tới chết, Cam nghĩ. Trong số những phẩm chất của con người nó tôn trọng sự công bằng nhất. Đứa em trai của nó gần giống như thần thánh, còn cha nó giống như kẻ van xin. Và nó đã nhân nhượng điều này, nó nghĩ, trong lúc ngồi ở giữa họ, vừa nhìn đăm đăm vào bờ biển mà tất cả mọi phương hướng đều xa lạ đối với nó, vừa nghĩ thầm, bãi cỏ, sân hiên và ngôi nhà giờ đây đã bị san bằng và thanh bình ngự trị ở đó ra sao.
“Jasper,” nó phụng phịu nói. Anh ấy sẽ lo cho con chó con.
Và nó sẽ đặt tên con chó là gì? cha nó khăng khăng. Hồi còn bé ông từng có một con chó, gọi là Frisk. Chị ấy sẽ nhượng bộ, James nghĩ, khi nó quan sát vẻ mặt chị nó, một vẻ mặt mà nó nhớ. Họ nhìn xuống món đồ đan hay thứ gì đó của họ, nó nghĩ thầm. Rồi đột nhiên họ ngẩng lên. Có một ánh chớp màu xanh, nó nhớ, và rồi ai đó đang ngồi với nó phá lên cười, đầu hàng, và nó thấy rất giận. Hẳn đó chính là mẹ nó, James nghĩ, đang ngồi trên một chiếc ghế thấp, với cha nó đứng nhìn xuống. Nó bắt đầu tìm kiếm trong những chuỗi ấn tượng vô tận mà thời gian đã làm lắng xuống, từng trang một, từng nếp gấp một trong óc não nó, một cách khẽ khàng, miên man; trong những cảnh tượng, những âm thanh; những giọng nói, thô lỗ, rỗng tuếch, ngọt ngào; và những tia sáng lướt qua, và tiếng chổi sột soạt; tiếng rì rào và sự lặng im của biển, một người đàn ông đã đi qua đi lại rồi dừng phắt lại, ngay bên trên họ. Đồng thời, nó nhận thấy, Cam nhúng những ngón tay xuống nước, nhìn chằm chặp vào bờ biển và không nói lời nào. Không, chị ấy sẽ không đầu hàng, nó nghĩ; chị ấy thì khác, nó nghĩ. Thôi được, nếu Cam không trả lời ông, ông sẽ không làm phiền nó nữa, ông Ramsay quyết định, sờ soạng trong túi để tìm một cuốn sách. Nhưng nó sẽ trả lời ông; nó mong muốn, một cách nồng nhiệt, dời được một chướng ngại vật nào đó đang nằm trên lưỡi nó và nói rằng, Ồ, phải, Frisk. Con sẽ gọi nó là Frisk. Thậm chí nó còn muốn nói, Cái con chó đã một mình tìm được đường đi trên mặt trăng đó tên là gì nhỉ? Nhưng dù nó cố đến mấy, nó chỉ có thể nghĩ sẽ không nói gì giống như thế, vẫn hung dữ và trung thành với thỏa ước, thế nhưng vẫn chuyền sang được cho cha nó, theo một cách khiến James không hề ngờ vực, một dấu hiệu riêng tư về tình yêu nó cảm thấy đối với ông. Cứ thế nó suy nghĩ, bàn tay nhúng xuống nước (lúc này con trai của Macalister đã câu được một con cá thu, và nó nằm giãy dụa trên sàn tàu với đôi mang rỉ máu), vì thế nó vừa suy nghĩ vừa nhìn James đang hướng mắt một cách bình thản vào tấm buồm, hoặc thỉnh thoảng liếc mắt trong giây lát về phía chân trời, em không bị phơi trần ra trước điều này, trước áp lực và cảm giác bị phân hóa này, sự cám dỗ lạ lùng này. Cha nó đang sờ soạng trong túi; trong giây lát ông ấy sẽ tìm thấy cuốn sách. Không có ai thu hút nó hơn thế; đôi bàn tay ông đẹp, và hai bàn chân ông, giọng nói của ông, những từ ngữ của ông, sự vội vã của ông, tính khí của ông, sự kỳ quặc của ông, niềm đam mê của ông, câu nói thẳng tuột trước mặt mọi người của ông, chúng ta bỏ mạng, đơn độc từng người, và vẻ xa vắng của ông. (Ông đã mở cuốn sách ra.) Nhưng điều vẫn không thể tha thứ được, nó nghĩ, ngồi thẳng lên và quan sát con trai của Macalister đang gỡ lưỡi câu ra khỏi mang của một con cá khác, là sự mù lòa thô lỗ và sự chuyên chế của ông, cái đã đầu độc tuổi thơ của nó và khơi dậy những cơn bão đắng cay, khiến cho thậm chí giờ đây nó vẫn tỉnh giấc giữa đêm khuya, run lên vì giận và nhớ tới một mệnh lệnh nào đó của ông; một sự láo xược nào đó: Hãy làm điều này,” “Hãy làm điều nọ,” sự thống trị của ông: câu nói “Hãy phục tùng cha” của ông.
Thế là nó không nói gì cả mà chỉ nhìn một cách buồn bã và gan lì về phía bờ biển đang khoác trên mình tấm áo khoác thanh bình; như thể những người ở đó đã ngủ say, nó nghĩ; tự do như khói, tự do đến và đi như những hồn ma. Họ không có nỗi đau khổ nào ở đó, nó nghĩ.
5.
Phải, đó là thuyền của họ, Lily Bricoe xác quyết khi đứng trên rìa bãi cỏ. Đó là con thuyền với những cánh buồm nâu ngả xám mà lúc này cô thấy đang vươn dài thân hình trên mặt nước và băng ngang qua vịnh. Ông ta ngồi đó, cô nghĩ, và hai đứa nhỏ hoàn toàn im lặng. Và cả cô cũng không thể chạm tới ông ấy. Niềm cảm thông mà cô không trao cho ông được đè nặng lên cô. Nó khiến cô khó mà vẽ được.
Cô luôn luôn thấy ông có vẻ khó chịu. Cô chưa bao giờ ca ngợi ông trước mặt ông, cô nhớ. Và điều đó giảm thiểu mối quan hệ của họ xuống một mức trung tính, gần như là đồng tính nam, trong đó không có yếu tố giới tính đã khiến cho cách cư xử của ông đối với Minta rất đỗi hào hoa. Ông thường hái cho Minta một bông hoa, cho cô ấy mượn sách của mình. Nhưng ông ta có thể tin rằng Minta sẽ đọc chúng hay không? Cô ta lôi chúng khắp vườn, gắn chúng lên những nhánh lá để đánh dấu địa điểm.
“Ông có nhớ không, ông Carmichael?” cô muốn hỏi như thế khi nhìn người đàn ông lớn tuổi. Nhưng ông đã kéo chiếc mũ xuống quá nửa trán của mình; ông đang ngủ, hoặc đang mơ, hoặc đang nằm đó để chộp bắt những ngôn từ, cô cho là vậy.
“Ông có nhớ không?” cô muốn hỏi thế khi đi ngang qua ông ta, lại nghĩ tới bà Ramsay trên bãi biển; cái thùng tô nô nhấp nhô lên xuống; và những tờ giấy bay tung tóe. Vì sao sau bấy nhiêu năm cái cảnh tượng ấy vẫn còn sống sót, quẩn quanh, sáng rực lên, có thể nhìn thấy tới chi tiết cuối cùng, với tất cả những gì trước và sau nó đều trống trơn, suốt hàng nhiều, hàng nhiều dặm?
“Đó có phải là một con thuyền không? Đó có phải là một cái phao không?” bà ấy thường hỏi thế. Lily lặp lại, và quay trở về với bức vẽ của mình một cách miễn cưỡng. Lạy trời, vấn đề của khoảng trống vẫn còn, cô nghĩ, lại cầm lấy cọ. Nó nhìn cô trừng trừng. Toàn bộ hình khối của bức tranh lấy lại thế cân bằng dựa vào sức nặng đó. Ở bề mặt nó có thể xinh xắn, rực rỡ, mượt mà và hòa quyện, màu này tan chảy vào màu kia như những màu sắc trên một cánh bướm; nhưng bên dưới tấm vải phải được kẹp chặt lại với những ốc vít bằng sắt. Nó là một vật mà bạn có thể làm xáo động với hơi thở của mình; và là một vật mà bạn không thể lôi bật ra với cả một đàn ngựa. Cô bắt đầu đặt lên một vệt đỏ, một vệt xám và bắt đầu vẽ dần tới cái chỗ trũng ở đó. Đồng thời, dường như cô đang ngồi bên cạnh bà Ramsay trên bãi biển.
“Đó có phải là một con thuyền không? Đó có phải là một cái phao không?” bà Ramsay nói. Và bà ấy bắt đầu lùng sục xung quanh để tìm cặp kính. Rồi bà ấy ngồi xuống khi đã tìm thấy nó, lặng im, nhìn ra biển. Và Lily, vẫn vẽ đều đặn, cảm thấy như thể một cánh cửa đã mở ra, người ta bước vào và đứng im lặng nhìn quanh trong một nơi chốn giống như một tòa thánh đường cao, rất tăm tối, rất trang nghiêm. Những tiếng la hét vọng đến từ một thế giới rất xa xăm. Những con tàu hơi nước biến mất trong những cột khói trên đường chân trời.
Charles ném những viên đá cho chúng nhảy cách quãng trên mặt sóng.
Bà Ramsay ngồi im lặng. Bà ấy vui mừng, Lily nghĩ, vì được nghỉ ngơi trong im lặng, không phải giao tiếp chuyện trò; nghỉ ngơi trong tâm trạng tuyệt đối không quan tâm tới những mối quan hệ con người. Ai biết được chúng ta là ai, chúng ta cảm thấy điều gì? Ai biết được ngay cả vào phút giây thân mật, Đây là tri thức? Vậy những sự vật có hư hại đi không? Có thể bà Ramsay đã hỏi thế (dường như điều này rất thường xảy ra, khi bà ngồi im lặng bên cạnh cô). Như vậy chúng ta có nhiều biểu hiện hơn không? Ít ra khoảnh khắc ấy dường như phong phú đến lạ lùng. Bà ấy khoét một cái lỗ nhỏ trong cát rồi che nó lại bằng cách chôn vào nó sự hoàn hảo của khoảnh khắc ấy. Giống như một giọt bạc mà trong đó người ta nhúng và mạ sáng bóng tối của dĩ vãng.
Lily bước lui lại để nhìn bức vẽ của mình ở khoảng cách xa. Đây là một con đường kỳ lạ để dấn bước, cái công việc vẽ tranh này. Người ta đi, đi mãi, xa hơn, cho tới khi cuối cùng dường như người ta đứng trên một một mẩu ván hẹp, hoàn toàn cô độc, giữa biển khơi. Và khi cô nhúng cọ vào màu sơn xanh da trời, cô cũng chìm vào cái quá khứ ở đó. Lúc này bà Ramsay đứng lên, cô nhớ. Đã tới giờ quay về nhà - giờ ăn trưa. Và cả bọn cùng đi bộ lên từ bãi biển, cô đi sau với William Bankes, còn Minta thì ở phía trước họ với một cái lỗ trong chiếc tất của cô ta. Cái lỗ tròn nho nhỏ trên gót chân son dường như đang khoe mình trước mắt họ hay sao ấy! Trong chừng mực mà cô có thể nhớ, dù chẳng hề nói gì về nó, William Bankes đã xót xa vì nó biết bao! Với ông, nó mang ý nghĩa của sự thủ tiêu nữ tính, của sự bẩn thỉu vô trật tự, khi những người hầu bỏ đi và những chiếc giường không được dọn dẹp lúc giữa trưa - tất cả những thứ mà ông ta ghét cay ghét đắng nhất. Ông có một kiểu rùng mình và xòe rộng những ngón tay ra như thể để che đi một đối tượng khó coi mà lúc này ông đang thực hiện - ông giơ bàn tay ra che trước mặt. Minta bước dấn lên phía trước, và có lẽ Paul gặp cô ấy và cô ấy cùng Paul đi vào vườn.
Gia đình Rayleys, Lily Briscoe nghĩ, bóp mạnh ống sơn màu xanh lá. Cô tập hợp những ấn tượng của mình về gia đình Rayley. Cuộc sống của họ hiện ra trước mắt cô trong một chuỗi cảnh tượng; một, trên cầu thang lúc bình minh. Paul đã về nhà và đi ngủ sớm; Minta về muộn. Và kia là Minta, đầu đội vòng hoa, người đầy màu sắc lòe loẹt, đứng trên cầu thang vào lúc ba giờ sáng. Paul đi ra trong bộ pyjama, cầm theo một cái que cời lò để phòng khi có trộm. Minta đang ăn một cái bánh sandwich, đứng ở giữa cầu thang cạnh một cửa sổ, trong ánh bình minh nhợt nhạt, và trên tấm thảm có một lỗ thủng. Nhưng họ đã nói gì? Lily tự hỏi, như thể bằng cách nhìn cô có thể nghe thấy họ. Minta tiếp tục ăn bánh, một cách bực dọc, trong lúc Paul nói một câu gì đó thô bạo, xỉ vả cô ta, bằng một giọng thầm thì để không đánh thức hai thằng nhóc. Anh ta thì khô héo, u buồn; cô ta thì rực rỡ, vô tâm. Vì mọi thứ đã chùng xuống sau khoảng một năm đầu; cuộc hôn nhân đã trở nên khá tồi tệ.
Và điều này, Lily nghĩ, đưa cọ quẹt lên lớp sơn xanh lá, cái điều đã tạo nên nhiều màn kịch về họ, là cái mà chúng ta gọi là “hiểu biết” mọi người, “suy nghĩ” về họ, “yêu mến” họ! Chẳng có từ nào đúng cả; cô đã bịa ra nó; nhưng đó cũng chính là những gì cô biết về họ. Cô tiếp tục đào sâu con đường của mình vào bức vẽ, vào quá khứ.
Một lần khác, Paul bảo anh ta “đã đánh cờ trong những tiệm cà phê.” Cô đã xây dựng nên toàn bộ một cấu trúc tưởng tượng dựa trên lời nói đó. Cô nhớ, khi anh ta nói thế, cô đã nghĩ tới cái cách anh ta kéo chuông gọi người phục vụ ra sao, và cô nói, “Bà Rayley đã đi ra ngoài rồi anh ạ,” và anh ta quyết định rằng anh ta cũng sẽ không về nhà. Cô nhìn thấy anh ta ngồi trong góc của một chốn thảm sầu nào đó nơi khói thuốc bám chặt vào những cái ghế nhung đỏ, và những người bồi bàn đều biết mặt bạn, và anh ta đánh cờ với một người đàn ông nhỏ thó làm nghề buôn trà và sống ở Surbiton, đó là tất cả những gì Paul biết về người đó. Thế rồi Minta ra ngoài khi anh ta về nhà và đã có cái màn kịch trên cầu thang, khi anh ta cầm cây que cời lò để đề phòng kẻ trộm (chắc chắn là cũng để dọa cô ta nữa) và nói một cách rất cay đắng, rằng cô ta đã hủy hoại cuộc đời anh ta. Dù gì đi nữa, khi cô ghé xuống thăm họ ở một ngôi nhà gần Rickmansworth, mọi thứ đã căng thẳng một cách khủng khiếp. Paul kéo cô ra vườn để nhìn những con thỏ rừng Bỉ mà anh ta nuôi, và Minta đi theo họ, hát véo von, đặt cánh tay lên vai anh ta để anh ta không thể kể gì với cô được.
Minta thấy chán ngán vì những con thỏ, Lily nghĩ. Nhưng Minta không bao giờ bộc lộ bản thân. Cô ta không bao giờ nói những câu như thế về việc đánh cờ trong các tiệm cà phê. Cô ta quá có ý thức, quá thận trọng. Nhưng phải tiếp tục câu chuyện của họ - giờ thì họ đã vượt qua thời kỳ nguy hiểm. Cô đã ở lại với họ một thời gian vào mùa hè năm ngoái, chiếc xe bị hỏng và Minta phải đưa tận tay anh ta những thứ dụng cụ. Anh ta ngồi trên đường chữa chiếc xe, và cái cách cô ta đưa cho anh ta những thứ dụng cụ - một cách tháo vát, thẳng thắn, thân thiện - chứng minh rằng mọi chuyện giờ đây đã ổn. Họ không còn “yêu nhau” nữa; không, anh ta đã cặp với một người đàn bà khác, một phụ nữ nghiêm túc, với mái tóc thắt bím và cái hộp trên tay (Minta đã mô tả cô ta một cách thoải mái, gần như ngưỡng mộ), thường dự những cuộc họp và chia sẻ những quan điểm của Paul (họ đã ngày càng trở nên dứt khoát hơn) về mức thuế trị giá đất đai và thuế vốn. Không những phá vỡ cuộc hôn nhân, mối liên minh đó đã điều chỉnh nó lại cho đúng đắn. Họ là những người bạn tuyệt vời của nhau, rõ là thế, khi anh ta ngồi trên đường và cô ta trao cho anh ta những thứ dụng cụ.
Câu chuyện về vợ chồng nhà Rayley là thế đó, Lily nghĩ. Cô tưởng tượng mình đang kể nó với bà Ramsay, người rất hiếu kỳ muốn biết chuyện gì đã xảy đến với vợ chồng họ. Cô có một cảm giác thắng lợi nho nhỏ khi kể với bà Ramsay rằng cuộc hôn nhân đó không phải là một thành công.
Nhưng những người đã chết, Lily nghĩ, đã tạo ra một chướng ngại nào đó trong bản phác họa của cô khiến cô phải tạm dừng và suy ngẫm, bước lui lại một bước, ôi, những người đã chết! cô lẩm bẩm, người ta thương hại họ, người ta gạt họ ra bên lề, thậm chí người ta còn hơi khinh thường họ. Họ phụ thuộc vào lòng thương hại của chúng ta. Bà Ramsay đã nhạt nhòa tan biến, cô nghĩ. Chúng ta có thể gạt bỏ những mong ước của bà ấy, cải thiện những ý tưởng hạn chế, lỗi thời của bà ấy. Bà ấy ngày càng lùi ra xa khỏi chúng ta. Một cách đầy chế giễu, dường như cô trông thấy bà ở cuối hành lang của những tháng năm và nói, một trong những điều phi lý nhất, “Hãy kết hôn, hãy kết hôn đi! (bà ấy đang ngồi rất thẳng trong buổi ban mai với lũ chim bắt đầu kêu chiêm chiếp trong khu vườn bên ngoài). Và người ta phải nói với bà rằng, Tất cả đã đi ngược lại với những ước muốn của bà. Họ hạnh phúc như thế đó; tôi hạnh phúc như thế này. Cuộc sống đã thay đổi hoàn toàn. Với nó, toàn bộ con người của bà, ngay cả vẻ đẹp của bà, cũng đã trong khoảnh khắc trở thành khô khan và cổ hủ. Trong một khoảnh khắc, Lily đứng đó, với ánh mặt trời hun nóng trên lưng, nhớ lại đôi vợ chồng Rayleys, chiến thắng trước bà Ramsay, người không bao giờ biết Paul đi tới những tiệm cà phê và có một cô người tình; không bao giờ biết anh ta đã ngồi trên đất và Minta đã trao cho anh ta những thứ dụng cụ như thế nào; không bao giờ biết cô đứng đây vẽ tranh, chưa hề kết hôn, ngay cả với William Bankes như thế nào.
Bà Ramsay đã hoạch định ra việc đó. Có lẽ giá như bà ấy còn sống, bà ấy sẽ thúc ép nó xảy ra. Trong mùa hè năm đó ông ấy đã là “người đàn ông tốt nhất”. Ông ấy đã là “nhà khoa học đứng đầu ở lứa tuổi của ông ta, chồng tôi bảo thế.” Ông ấy còn là “William khốn khổ - Tôi rất buồn lòng khi tôi tới thăm ông ta và chẳng thấy thứ gì xinh đẹp trong nhà ông ta - không có ai để cắm những bông hoa.” Thế là họ đã được sắp xếp di dạo với nhau, và người ta đã bảo với cô, với sự châm biếm mơ hồ khiến cho bà Ramsay trượt qua những kẻ tay của người ta, rằng cô có một đầu óc khoa học; cô yêu các loài hoa; cô rất chính xác. Sự đam mê kỳ lạ này của bà ấy đối với hôn nhân là thứ gì vậy? Lily tự hỏi, bước tới gần rồi lại lùi ra xa khỏi cái giá vẽ của mình.
(Đột nhiên, cũng đột nhiên như một vì sao lướt vụt qua bầu trời, một ánh sáng đỏ lập lòe chợt bùng cháy trong tâm trí cô, che phủ lên Paul Rayley, phát ra từ anh ta. Nó cất lên như một ngọn lửa được đốt lên để đánh dấu một ngày lễ kỷ niệm nào đó của những người hoang dã trên bãi biển. Cô nghe thấy tiếng gầm rú và tiếng nổ răng rắc. Toàn thể mặt biển suốt nhiều dặm cong biến thành màu đỏ và vàng. Một mùi rượu vang trộn lẫn với nó và làm cho cô say sưa ngây ngất, vì một lần nữa cô lại cảm thấy niềm khao khát liều lĩnh được quăng mình ra khỏi vách núi và bị chết chìm trong khi tìm kiếm một cây trâm ngọc cài đầu trên bờ biển. Tiếng gầm rú và nổ răng rắc đẩy lùi cô với nỗi sợ hãi và phẫn nộ, như thể trong lúc nhìn thấy vẻ diệu kỳ và sức mạnh của nó cô cũng nhìn thấy nó ngốn ngấu cái kho báu của ngôi nhà một cách tham lam, kinh tởm như thế nào, và cô căm ghét nó. Nhưng về mặt một cảnh tượng, một sự rực rỡ, nó vượt khỏi mọi thứ mà cô từng trải nghiệm, và bốc cháy hết năm này sang năm khác như một ngọn lửa hiệu trên một hoang đảo nằm ở rìa biển, người ta chỉ cần nói “yêu thương” và ngay lập tức, như nó xảy ra lúc này, ngọn lửa của Paul lại cất cao lên. Rồi nó chìm xuống và cô cười phá lên, tự nhủ với mình, “gia đình Rayley”; Paul đã tới những tiệm cà phê và đánh cờ như thế nào.)
Dù sao, cô chỉ thoát thân được trong đường tơ kẻ tóc, cô nghĩ. Cô đã từng nhìn vào tấm khăn trải bàn, cô đã nảy ra ý định sẽ dời cái cây vào chính giữa và không bao giờ cần phải kết hôn với bất kỳ ai, và cô đã cảm thấy một niềm hân hoan to lớn. Cô cảm thấy giờ đây cô đã có thể đứng lên trước bà Ramsay - một sự thể hiện lòng tôn kính đối với quyền lực lạ lùng mà bà Ramsay có đối với cô. Hãy làm điều này, bà ấy bảo, và người ta thực hiện nó. Ngay cả cái bóng của bà ấy ở cửa sổ với James cũng chứa đầy quyền lực. Cô nhớ William Bankes đã bị sốc như thế nào bởi sự hờ hững của cô đối với ý nghĩa quan trọng của mẹ và con trai. Cô không ngưỡng mộ vẻ đẹp của họ sao? ông ấy nói. Nhưng William, cô nhớ, đã lắng nghe cô với đôi mắt trẻ thơ đầy minh triết của ông khi cô giải thích vì sao đó không phải là sự bất kính: vì sao một ánh sáng ở đó lại cần một bóng râm ở đó, vân vân. Cô không định miệt thị một chủ đề mà, họ đã nhất trí, Raphael đã xứ lý một cách tuyệt vời. Cô không phải là người cay độc. Hoàn toàn trái lại. Nhờ đầu óc khoa học của mình ông ấy đã hiểu - một bằng chứng về trí thông minh vô vụ lợi đã làm cho cô hài lòng và đã an ủi cô vô hạn. Khi đó người ta có thể nói một cách nghiêm túc về công việc vẽ tranh với một người đàn ông. Thật ra, tình bạn của ông đã từng là một trong những niềm vui của đời cô. Cô yêu mến William Bankes.
Họ từng tới cung điện Hamton Court và, như một quý ông tuyệt hảo, ông luôn để cho cô có đủ thời gian để rửa tay, trong lúc ông đi lững thững dọc bờ sông. Điều đó mang tính điển hình cho mối quan hệ của họ. Nhiều điều không cần phải nói ta. Lúc đó họ đi chậm rãi qua những khoảnh sân trong, và thưởng thức, hết mùa hè này sang mùa hè khác, những tỷ lệ cân xứng và những loài hoa, và ông thường kể cho cô nghe nhiều thứ, về thuật phối cảnh, về kiến trúc, khi họ đang thả bước, và ông thường dừng lại để nhìn một loài cây, hay cảnh vật trên hồ, và vui thích ngắm nhìn một đứa trẻ con - (đây là nỗi đau to lớn của ông - ông không có con gái) với một vẻ xa xăm mơ hồ khá tự nhiên đối với một người đàn ông đã dành nhiều thời gian trong phòng thí nghiệm đến nỗi khi bước ra ngoài dường như thế giới đã làm ông ta choáng váng, thế nên ông chầm chậm bước, giơ bàn tay lên che mắt và dừng lại, đầu hơi ngửa ra, chỉ để hít một hơi không khí. Rồi ông kể cho cô nghe vợ của mình như thế nào vào kỳ nghỉ của bà; ông phải mua một tấm thảm mới cho cầu thang. Có lẽ bà sẽ đi với ông để mua một tấm thảm mới cho cầu thang. Và có lần một điều gì đó đã dẫn dắt ông nói về gia đình Ramsay và ông đã nói khi ông nhìn thấy bà ấy lần đầu bà ấy đã đội một cái mũ xám như thế nào; lúc ấy bà ấy chưa quá mười chín hoặc hai mươi. Bà ấy xinh đẹp lạ lùng. Ông đã đứng đó nhìn xuống đại lộ ở điện Hamton Court như thể ông có thể nhìn thấy bà ấy giữa những vòi phun nước.
Lúc này cô nhìn vào bậc thềm phòng khách. Cô nhìn thấy, qua đôi mắt của William, hình dáng một người phụ nữ, thanh bình và im lặng, với đôi mắt nhìn xuống. Bà ấy ngồi im lặng, suy tư (hôm đó bà ấy mặc đồ màu xám, Lily nghĩ). Đôi mắt bà ấy hạ thấp. Bà ấy chẳng bao giờ ngước chúng lên. Phải, Lily nghĩ, nhìn một cách đầy dự tính, mình phải nhìn thấy bà ấy với dáng vẻ như thế, nhưng không phải với quần áo màu xám; cũng không quá lặng lẽ, không quá trẻ trung, không quá an bình. Nhân vật hiện ra một cách dễ dàng. Bà ấy xinh đẹp lạ lùng, như William đã nói. Nhưng vẻ đẹp không phải là tất cả. Vẻ đẹp có điều bất lợi này - nó hiện ra quá dễ dàng, hiện ra quá hoàn hảo. Nó làm cuộc sống trở nên bất động - nó đóng băng cuộc sống. Người ta quên đi những lo âu nho nhỏ; vẻ ửng hồng, vẻ xanh xao, một sự bóp méo lạ lùng nào đó, một ánh sáng hay bóng râm nào đó, khiến cho nét mặt trở nên không thể nhận ra trong giây lát thế nhưng lại bổ sung thêm một phẩm chất mà sau đó người ta sẽ nhìn thấy mãi. Làm mịn tất cả các thứ dưới lớp vỏ bọc của vẻ đẹp là công việc giản đơn hơn. Nhưng trông bà ấy như thế nào, Lily tự hỏi, khi bà ấy đội cái mũ thợ săn hươu lên trên đầu, khi chạy băng qua lớp cỏ, hay khi đang khiển trách Kennedy, người làm vườn? Ai có thể nói cho cô biết? Ai có thể giúp cô?
Ngược với ý nguyện của mình, cô đã lại trở lên trên bề mặt, và nhận thấy mình hơi tách rời khỏi bức tranh, đang nhìn ông Carmichael, với chút ít bối rối, như thể nhìn vào một vật không có thật. Ông ta nằm trên ghế với đôi bàn đan lại trên bụng, không đọc, cũng không ngủ, mà đang phơi nắng như một sinh vật đã no ứ với sự tồn tại. Cuốn sách của ông ta đã rơi lên mặt cỏ.
Cô muốn đi thẳng tới ông ta và nói, “Ông Carmichael!” Khi đó ông ta sẽ nhìn lên một cách nhân hậu như thường lệ, với đôi mắt mơ hồ xanh màu khói của mình. Nhưng người ta chỉ có thể đánh thức mọi người nếu biết mình muốn nói gì với họ. Và cô muốn nói không chỉ một điều mà là mọi thứ. Những ngôn từ bé nhỏ đã phá tung ý nghĩ và chia cắt nó ra không nói lên được điều gì cả. “Về cuộc sống, về cái chết; về bà Ramsay” - không, cô nghĩ, người ta không thể nói gì khi chẳng có ai. Sự khẩn thiết của thời điểm đó luôn luôn bỏ lỡ điểm xuất phát của nó. Những ngôn từ dạt ra tứ phía và chạm quá thấp vào các đối tượng. Thế rồi người ta từ bỏ nó; thế rồi ý tưởng lại chìm xuống; thế rồi người ta trở nên giống như hầu hết những người ở lứa tuổi trung tuần, thận trọng, kín đáo, với những nếp nhăn giữa hai mắt và một vẻ e sợ thường xuyên. Bởi vì làm sao người ta có thể diễn tả thành lời những cảm xúc của cơ thể? diễn tả sự trống rỗng trong đó? (Cô đang nhìn vào những bậc thềm phòng khách; trông chúng trống vắng lạ lùng.) Đó là cảm giác cơ thể của người ta chứ không phải tâm trí của người ta. Những cảm giác vật chất gắn liền với cái vẻ trần trụi của những bậc thềm đột nhiên đã trở nên cực kỳ gây khó chịu. Việc muốn mà không có được trút lên toàn bộ cơ thể của cô một độ cứng, một sự trống rỗng, một sự căng thẳng. Và rồi muốn và không có - muốn và muốn - điều đó vò xé con tim biết bao, vò xé nó hết lần này sang lần khác! Ôi, bà Ramsay! Cô lặng lẽ kêu lên, với cái bản thể ngồi bên cạnh con thuyền, tới cái ý niệm trừu tượng đã tạo thành từ bà ấy, người phụ nữ mặc đồ màu xám đó, như thể để xỉ vả bà ấy vì đã ra đi, và sau khi đã ra đi, lại trở về lần nữa. Dường như rất an toàn khi nghĩ về bà ấy. Hồn ma, không khí, hư không, một thứ mà bạn có thể đùa vui một cách dễ dàng và an toàn vào bất cứ lúc nào trong ngày hay đêm, bà ấy đã từng là thế, và rồi đột nhiên bà ấy thò tay ra và vò xé trái tim như vậy. Đột nhiên, những bậc thềm trống vắng, những nếp diềm của chiếc ghế bên trong, con chó con đang nhào lộn trước hiên, toàn bộ những âm ba và tiếng thầm thì của khu vườn trở nên giống như những đường cong nét lượn uốn quanh một trung tâm của sự trống vắng hoàn toàn.
“Nó có nghĩa là gì? Làm thế nào ông có thể giải thích tất cả những điều này?” cô muốn nói, một lần nữa quay sang ông Carmichael. Vì trong buổi sớm mai này, toàn thế giới dường như đã tan loãng ra thành một vũng tư duy, một bể sâu hiện thực, và người ta gần như có thể tưởng tượng rằng nếu như ông Carmichael nói, chẳng hạn, một giọt nước mắt nhỏ nhoi sẽ xé toang mặt vũng nước. Và rồi? Một điều gì đó sẽ nảy sinh. Một bàn tay sẽ ló lên, một lưỡi dao sẽ lóe sáng. Tất nhiên đó là điều phi lý.
Một nhận thức kỳ lạ chợt đến với cô, rằng nói cho cùng, ông ta đã nghe thấy những điều mà cô không thể nói ra. Ông ta là một cụ già bí hiểm, với cái vệt vàng trên bộ râu, và thi ca của ông ta, và những nan đề của ông ta, lướt đi một cách thanh thản qua một thế giới thỏa mãn mọi mong muốn của ông ta, khiến cô nghĩ ông ta chỉ cần thò tay xuống ngay tại chỗ ông ta đang nằm trên bãi cỏ để câu lên bất cứ thứ gì mình muốn. Cô nhìn bức tranh của mình. Đó hẳn là câu trả lời của ông, giả dụ thế - “cô” và “tôi” và “bà ấy” trôi qua và biến mất như thế nào; không có gì ở lại; tất cả đổi thay; nhưng những ngôn từ thì không, bức tranh thì không. Thế nhưng hẳn nó sẽ được treo trong những căn phòng áp mái, cô nghĩ; hẳn nó sẽ bị cuộn lại và nhét xuống dưới một chiếc trường kỷ; thế nhưng dù là vậy, dù ngay cả đối với một bức tranh như thế, điều đó là có thật. Người ta có thể nói thế, về bức tranh nguệch ngoạc này, chứ không phải về bức tranh thật sự đó, có lẽ, nhưng nó cố đạt đến cái gì, cô sắp sửa nói rằng để nó “tồn tại mãi mãi”; ngay cả đối với chính cô, những từ đó cũng có vẻ quá khoác lác không thể nói ra dù là chỉ bóng gió không diễn đạt bằng lời; khi nhìn vào bức tranh, cô kinh ngạc thấy rằng cô không thể trông thấy nó. Đôi mắt cô ngập tràn một chất lỏng nóng hổi (thoạt tiên cô không nghĩ tới những giọt nước mắt) mà, không hề tác động đến nét kiên quyết của đôi môi cô, chúng làm cho bầu không khí quánh lại và lăn tròn xuống đôi má của cô. Cô hoàn toàn kiểm soát được bản thân mình - Ồ, phải! - theo mọi cách khác. Vậy thì phải chăng cô đã khóc vì bà Ramsay mà không hề có chút ý thức gì về bất kỳ nỗi bất hạnh nào? Một lần nữa, cô hướng về ông già Carmichael. Vậy thì nó là cái gì? Nó có nghĩa là gì? Những sự vật có thể thò những bàn tay của chúng ra để kẹp chặt lấy người ta hay không? lưỡi dao có thể cắt đứt không? nắm tay có tóm lấy không? Không một sự hướng dẫn nào, không nơi trú ẩn nào, nhưng tất cả đều mầu nhiệm, và việc nhảy từ chóp đỉnh của một tòa tháp vào không trung nữa? Có thể nào, ngay cả đối với những người cao tuổi, đây chính là cuộc đời? - đầy kinh ngạc, bất ngờ, ẩn số? Trong một khoảnh khắc, cô cảm thấy nếu cả hai người bọn họ đứng lên, ở đây, ngay bây giờ, trên bãi cỏ, và yêu cầu một lời giải thích, rằng vì sao nó ngắn ngủi như thế, vì sao nó bất khả lý giải như thế; nói một cách mạnh bạo, như hai con người được trang bị đầy đủ mà không có thứ gì có thể ẩn trốn được khỏi họ có thể nói ra, khi đó vẻ đẹp sẽ cuộn bản thân nó lại; khoảng trống sẽ tràn đầy; những đường nét uốn lượn trống rỗng đó sẽ tạo thành hình dáng; nếu họ hét đủ to bà Ramsay sẽ quay về. “Bà Ramsay!” cô kêu to, “Bà Ramsay!” Những giọt lệ lăn xuống mặt cô.
6.
[Con trai của Macalister nhặt một trong số các con cá lên và cắt ra một mẩu vuông vắn để mắc vào lưỡi câu. Cái cơ thể bị tùng xẻo ấy (nó vẫn còn sống) bị ném trở lại xuống biển.]
7.
“Bà Ramsay!” Lily kêu lên, “Bà Ramsay!” Nhưng chẳng có gì xảy ra. Nỗi đau gia tăng. Sự thống khổ có thể khiến người ta trở thành một kẻ dại khờ đến mức đó, cô nghĩ. Dù sao thì ông già cũng không nghe thấy cô. Ông vẫn nhân từ, bình thản - nếu người ta chọn cách nghĩ đó, siêu phàm. Tạ ơn trời đất, không có ai nghe thấy cô hét lên tiếng kêu nhục nhã đó, ngưng nỗi đau lại, ngưng lại! Rõ ràng cô chưa rũ bỏ hết những tri giác của mình. Không có ai nhìn thấy cô bước ra khỏi mảnh ván của cô để bước vào lòng nước của sự hủy diệt. Cô vẫn còn là một cô gái già èo uột, đang cầm một cây cọ vẽ.
Và giờ đây nỗi đau của niềm mong muốn và cơn giận đắng cay (đã được triệu hồi về ngay khi cô nghĩ cô sẽ không bao giờ cảm thấy buồn cho bà Ramsay nữa. Cô có thấy nhớ bà trong lúc uống những tách cà phê vào bữa điểm tâm không? Không hề có) đã chậm chạp giảm đi; và trong nỗi thống khổ còn lại của họ, như thuốc giải độc, một niềm an ủi tự làm dịu đi chính nó, và cũng thế, nhưng bí ẩn hơn, cảm giác rằng về một ai đó ở đâu đây, về bà Ramsay, đã làm nhẹ đi trong chốc lát gánh nặng mà thế giới đã đặt lên cô, bà nhẹ nhàng ở lại bên cạnh cô và rồi (vì đây là bà Ramsay với mọi vẻ đẹp của mình) đặt lên trán mình một vòng hoa trắng mà với nó bà ấy đã ra đi. Lily lại nặn ống sơn. Cô tấn công vào vấn đề của hàng giậu. Thật lạ lùng khi cô nhìn thấy bà ấy rất rõ ràng, đang bước với sự nhanh nhẹn thường lệ băng qua những cánh đồng rồi biến mất giữa những nếp gấp tim tím và mềm mại của chúng, giữa những cụm hoa lan dạ hương hay hoa huệ. Đây là một sự đánh lừa nào đó của đôi mắt người họa sĩ. Vì suốt nhiều ngày sau khi cô nghe tin bà ấy chết cô đã nhìn thấy bà ấy như vậy: đặt vòng hoa của bà ấy lên trán và lên đường một cách mù quáng cùng với bạn đồng hành của bà ấy, một cái bóng lướt ngang qua những cánh đồng. Cảnh tượng ấy, tiết điệu ấy, có quyền năng an ủi vỗ về. Bất kỳ cô ở nơi đâu, đang vẽ ở đây trong miền quê hay ở London, ảo ảnh ấy sẽ đến với cô, và đôi mắt cô, hơi khép hờ, tìm kiếm một thứ gì đó để làm chỗ dựa cho ảo ảnh của mình. Cô nhìn xuống đoàn tàu hỏa, chiếc xe buýt hai tầng; lấy một nét từ vai hay gò má; nhìn vào những cánh cửa sổ đối diện, vào phố Piccadilly với những đèn treo vào chiều tối. Tất cả đã từng là một phần của những cánh đồng của cái chết. Nhưng luôn luôn một cái gì đó - có thể là một gương mặt, một giọng nói, một chú bé bán báo đang rao to STANDARD, THE NEWS - xuyên tới, đánh thức cô, đòi hỏi và cuối cùng nhận được một cố gắng chú ý, khiến cho ảo ảnh ấy phải được tái hiện liên miên. Lúc này, một lần nữa, bị thôi thúc bởi một nhu cầu mang tính bản năng nào đó về khoảng cách và màu xanh, cô nhìn xuống cái vịnh bên dưới, đang tạo thành những cồn nhỏ từ những lượn sóng xanh lam, và những cánh đồng đá của những khoảng không gian tím ngát, một lần nữa cô lại sực tỉnh như thường lệ bởi một điều gì đó không thích hợp. Có một chấm nâu ở giữa vịnh. Đó là một con thuyền. Phải, cô nhận ra điều đó trong nháy mắt. Nhưng thuyền của ai? Thuyền của ông Ramsay, cô tự đáp. Ông Ramsay; người đàn ông đã bước ngang qua cô, với bàn tay giơ cao, cách biệt, dẫn đầu một nhóm người, với đôi ủng đẹp của ông ta, đòi hỏi ở cô sự cảm thông mà cô đã chối từ. Lúc này con thuyền đã băng ngang vịnh được nửa phần đường.
Ngoại trừ một làn gió thoảng qua đây đó, buổi sáng đẹp trời đến mức biển cả và bầu trời như liền một dải, như thể những cánh buồm bị đính lên bầu trời cao vòi vọi, hoặc những đám mây đã hạ xuống mặt biển. Một con tàu hơi nước ngoài khơi xa phun lên bầu không trung một luồng khói lớn đang thướt tha uốn éo, như thể không trung là một cái lưới thép mịn nắm bắt lại mọi sự vật và giữ chúng một cách mềm mại trong những mắt lưới của nó, chỉ khe khẽ lắc lư chúng từ bên này sang bên khác. Và như vẫn đôi lúc xảy ra những khi thời tiết rất tốt, những vách đá trông như thể ý thức được về những con tàu, và những con tàu trông như thể ý thức được về những vách đá, như thể chúng gửi cho nhau một thông điệp nào đó của riêng chúng. Vì có đôi khi trông rất gần với bờ biển, sáng hôm nay ngọn hải đăng có vẻ như nằm trong một làn sương mù ở một khoảng xa tít tắp.
“Giờ này họ đang ở đâu?” Lily nghĩ, nhìn ra biển. Ông ấy ở đâu, người đàn ông lớn tuổi đã lặng lẽ đi ngang qua cô, với cái gói giấy nâu kẹp dưới cánh tay? Con thuyền đang ở giữa vịnh.
8.
Họ không cảm nhận được một điều ở đó, Cam nghĩ, nhìn về phía bờ biển đang dâng lên và rơi xuống, dần trở nên xa hơn và thanh bình hơn. Bàn tay nó vạch một con đường trên biển, vì tâm trí nó đang ghép những xoáy nước và những vệt xanh xanh vào những mô hình, và lạnh cóng và che thân bằng lớp vải liệm, lang thang trong tưởng tượng giữa thế giới trong lòng nước nơi những con trai ngọc bám từng chùm vào những cành san hô trắng, nơi trong ánh sáng xanh một sự đổi thay chợt bao trùm lên toàn bộ tâm trí của người ta và cơ thể nửa phần trong suốt của người ta trùm kín dưới một tấm áo choàng xanh.
Thế rồi gió xoáy uể oải cuộn quanh bàn tay nó. Tiếng nước róc rách ngưng bặt; thế giới trở nên đầy những âm thanh nho nhỏ lao xao vi vút. Người ta nghe thấy những lượn sóng vỡ ra và vỗ vào mạn thuyền như thể họ đang thả neo trong cảng. Mọi thứ trở nên rất gần với người ta. Vì cánh buồm mà James đã dán mắt vào cho tới khi nó trở thành một con người mà James biết rõ đã hoàn toàn chùng xuống; họ đã dừng lại, nhìn quanh quất chờ đợi một cơn gió nổi lên dưới ánh mặt trời nóng rực, nhiều dặm cách xa bờ biển, nhiều dặm cách xa ngọn hải đăng. Mọi thứ trong toàn thế giới dường như đứng sững lại. Ngọn hải đăng trở nên bất động, và đường nét của bờ biển xa trở nên cố định. Mặt trời ngày càng nóng hơn và dường như mọi người nhích tới rất gần nhau để cảm thấy sự hiện diện của người kia, mà họ gần như đã quên hẳn. Sợi dây câu của Macalister rơi thẳng xuống biển. Ông Ramsay tiếp tục đọc sách với đôi chân gập lại.
Ông đang đọc một cuốn sách nhỏ sáng loáng có bìa lốm đốm như trứng chim choi choi. Thỉnh thoảng, khi họ chờ ở đó trong sự tĩnh lặng khó chịu đó, ông lại lật một trang sách. James cảm thấy mỗi trang được lật với một cử chỉ khác thường như nhắm vào nó; khi thì quả quyết, khi thì ra lệnh; khi thì để làm cho mọi người thấy thương hại ông; và suốt thời gian đó, khi cha nó đọc sách và lật hết trang này sang trang khác của quyển sách nhỏ đó, James vẫn lo sợ cái giây phút khi ông ngẩng lên và nói một cách gay gắt với nó về điều này hay điều khác. Vì sao họ lại nấn ná ở đây? ông sẽ hỏi thế, hoặc một câu nào đó vô lý tương tự. Và nếu ông ta làm thế, James nghĩ, thì mình sẽ cầm lấy một con dao và đâm vào tim ông ta.
Nó luôn luôn duy trì cái biểu tượng cũ này về việc cầm lấy một con dao và đâm vào tim cha nó. Chỉ có điều bây giờ nó đã lớn hơn, và đang ngồi nhìn chằm chằm cha nó trong một cơn giận dữ bất lực, không phải là ông ta, cái người đang đọc ấy, là người mà nó muốn giết, mà là cái đã bất ngờ tấn công nó - có lẽ ông ấy cũng không biết: cái con yêu quái cánh đen dữ tợn bất ngờ xuất hiện đó, với cái mỏ và bộ móng vuốt cứng và lạnh lẽo, cứ bấu sâu, bấu sâu vào bạn (nó có thể cảm thấy cái mỏ trên đôi chân trần của nó, nơi con quái thú đó đã tấn công khi nó còn là một đứa bé) rồi biến đi, và ông ấy lại hiện ra, một ông già, rất buồn, đang đọc sách. Nó sẽ giết cái đó, nó sẽ đâm vào tim cái đó. Bất cứ điều gì nó làm - (và nó sẽ làm bất cứ điều gì, nó cảm thấy, nhìn vào ngọn hải đăng và bờ biển phía xa) dù nó là thương gia, làm trong một nhà băng, một luật sư, một lãnh đạo công ty, nó sẽ chiến đấu với cái đó, nó sẽ truy lùng và nghiền nát cái đó - sự bạo ngược, sự chuyên chế, nó gọi cái đó như thế - việc buộc mọi người làm điều mà họ không muốn làm, tước đoạt quyền được nói của họ. Làm sao bất kỳ ai trong số chúng có thể nói, Nhưng tôi sẽ không đi, khi ông ấy nói, Hãy ra ngọn hải đăng. Hãy làm điều này. Hãy lấy cho tôi cái đó. Đôi cánh đen dang rộng, và cái mỏ cứng cắn xé. Thế rồi ở phút giây kế tiếp ông ấy ngồi đó đọc sách; và ông ấy có thể ngẩng lên nhìn - người ta không bao giờ biết được - một cách hoàn toàn hợp lý. Ông ấy có thể nói chuyện với Macalister. Ông ấy có thể dúi một đồng sovereign vào bàn tay lạnh cứng như băng của một bà cụ nào đó trên phố, James nghĩ, ông ấy có thể hét toáng lên ở một cuộc thi đấu thể thao nào đó của các ngư dân; ông ấy có thể vẫy hai tay trong không khí với niềm phấn khích. Hoặc ông ấy có thể ngồi im như thóc ở đầu bàn từ đầu chí cuối bữa ăn tối. Phải, James nghĩ, trong lúc con thuyền chòng chành và nấn ná ở đó dưới ánh nắng nóng bỏng; có một mảnh đất hoang đầy tuyết và đá rất quạnh quẽ; và nó thường tới đó thăm, thường là rất muộn, khi cha nó nói gì đó hay làm gì đó khiến những người khác ngạc nhiên, ở đó chỉ có hai cặp dấu chân; của chính nó và của cha nó. Chỉ riêng họ biết nhau. Vậy thì sự khiếp sợ này, sự căm ghét này là cái gì? Lần giở trong nhiều trang mà dĩ vãng đã gấp lại trong nó, nhìn vào trung tâm của cái khu rừng đó, nơi ánh sáng và bóng tối xen kẻ với nhau đến nỗi mọi hình dáng đều méo mó đi, và người ta mò mẫm, khi thì với ánh mặt trời chói mắt, khi thì với bóng tối phủ quanh, nó tìm kiếm một hình ảnh để xoa dịu, tháo gỡ và gọt giũa cảm giác của nó thành một hình thù cụ thể. Cứ cho là khi đó, giống như một đứa bé ngồi bất lực trong một cái xe đẩy hay trên đầu gối ai đó, nó đã từng nhìn thấy một toa xe nghiến qua bàn chân của một ai đó một cách ngu dốt và vô tội? Cứ cho là nó đã nhìn thấy bàn chân trước hết, trong lớp cỏ, mịn màng và nguyên vẹn; thế rồi bánh xe lăn qua; và cũng bàn chân đó, tím bầm, nát vụn. Nhưng cái bánh xe thì vô tội. Vì thế giờ đây, khi cha nó bước nhanh xuống hành lang dựng đầu chúng dậy vào buổi sớm mai để đi ra ngọn hải đăng, cái bánh xe lại lăn qua, trên bàn chân nó, trên bàn chân của Cam, trên bàn chân của bất kỳ ai. Còn người ta thì ngồi và quan sát nó.
Nhưng nó đang nghĩ tới bàn chân của ai, và tất cả những chuyện này đã xảy ra trong khu vườn nào? Vì người ta đã có bố cục cho những cảnh tượng đó; những cây cối mọc ở đó; những loài hoa; một ánh sáng cụ thể; một vài nhân vật. Mọi thứ có xu hướng xác lập bản thân nó trong một khu vườn nơi không có một thứ nào trong cảnh thảm đạm này. Không có ai trong cảnh tượng này vung tay múa chân; mọi người nói bằng một giọng bình thường. Họ vào ra suốt ngày. Có một bà cụ hay nói chuyện tầm phào trong nhà bếp; và mọi cửa chớp đều bị gió mở ra khép lại; mọi thứ đều thổi tung; mọi thứ đều lớn lên; và trên tất cả những chén dĩa và những lọ hoa cao đỏ và vàng tỏa nhánh, một chiếc mạng che mặt rất mỏng được vén lên, như một chiếc lá nho, vào buổi tối. Mọi vật trở nên tĩnh lặng hơn và tối tăm hơn vào buổi tối. Nhưng tấm mạng che mặt giống chiếc lá đẹp đến nỗi những ngọn đèn vén nó lên, những giọng nói vò nhàu nó; Jame có thể nhìn thấy xuyên qua nó một hình dáng đang khom xuống, nghe, tới gần, đi ra xa, một chiếc váy nào đó kêu sột soạt, một sợi xích nào đó kêu xủng xoẻng.
Chính trong thế giới này cái bánh xe đã lăn qua chân của người kia. Một cái gì đó, nó nhớ, vẫn ở lại bay lượn trong bầu không khí, một cái gì đó khô cằn và sắc nhọn hạ xuống ngay ở đó, như một lưỡi dao, một thanh đao, đập mạnh qua những lá những hoa của ngay cả cái thế giới hạnh phúc đó, làm cho nó co quắp lại và rơi xuống.
“Trời sẽ mưa,” nó nhớ cha nó đã nói. “Con sẽ không thể ra ngọn hải đăng được.”
Khi đó ngọn hải đăng là một tòa tháp bạc mù sương với một con mắt màu vàng đột ngột và nhẹ nhàng mở ra vào chiều tối. Còn bây giờ...
James nhìn ngọn hải đăng. Nó có thể nhìn thấy những tảng đá trắng bạc màu mưa nắng; cái tháp, bình dị và thẳng tắp; nó có thể nhìn thấy những đường vạch trắng và đen; nó có thể nhìn thấy cánh cửa sổ ở đó; thậm chí nó có thể nhìn thấy những đồ giặt giũ đang được trải ra phơi trên những tảng đá. Vậy đó có phải là ngọn hải đăng không, có phải nó đấy không?
Không, cái kia cũng là ngọn hải đăng. Vì không có cái gì chỉ đơn giản là một thứ. Ngọn hải đăng kia cũng có thật. Đôi khi khó mà nhìn thấy nó qua vịnh. Vào chiều tối người ta nhìn lên và thấy con mắt mở ra khép lại và ánh sáng dường như chạm tới họ trong khu vườn ngập ánh nắng trong lành nơi họ đang ngồi.
Nhưng nó tự cảnh tỉnh mình. Bất kỳ lúc nào nó nói “họ” hay “một người” và rồi bắt đầu nghe thấy tiếng sột soạt của ai đó tới gần, tiếng lanh canh của ai đó đang đi ra, nó trở nên cực kỳ nhạy cảm với sự hiện diện của người nào đó có thể có mặt trong phòng. Bây giờ đó là cha nó. Sự căng thẳng là chính xác. Vì trong giây lát nữa nếu không có gió, cha nó sẽ gập cuốn sách lại và nói: “Chuyện gì đang xảy ra vậy? Chúng ta nấn ná ở đây để làm gì, hử?” giống như có lần trước đây ông ấy đã mang lưỡi dao của mình xuống chỗ họ ở hiên nhà và mẹ nó đã cứng cả thân người, và nếu có một lưỡi rìu trong tầm tay, một con dao, hay bất cứ vật gì có một cái mũi nhọn, nó sẽ vớ ngay lấy và đâm xuyên qua tim cha nó. Mẹ nó đã cứng cả thân người, và rồi, cánh tay bà chùng xuống, khiến nó cảm thấy bà không còn lắng nghe nó nữa, bằng cách nào đó bà đã đứng lên và đi ra, bỏ lại nó ở đó, bất lực, lố bịch, ngồi trên sàn nhà với một cây kéo nắm chặt trong tay.
Chẳng có chút hơi gió nào nổi lên. Nước lao xao và róc rách trong đáy thuyền nơi ba hoặc bốn con cá thu đang ve vẩy đuôi lên xuống trong một vũng nước không đủ sâu để che phủ chúng. Ông Ramsay (nó gần như không dám nhìn ông) có thể sực tỉnh vào bất cứ lúc nào, khép cuốn sách lại và nói một câu gì đó khó nghe; nhưng lúc này thì ông đang đọc, vì thế James tiếp tục suy nghĩ tiếp một cách vụng trộm, như thể nó đang lén lút đi xuống cầu thang trên đôi chân trần, sợ sẽ đánh thức một con chó giữ nhà với tiếng ván kêu cọt kẹt, Mẹ nó trông như thế nào, ngày hôm đó bà đã đi đâu? Nó bắt đầu đi theo bà từ phòng này sang phòng khác và cuối cùng họ đi tới một căn phòng có ánh sáng màu xanh, như thể ánh phản chiếu phát ra từ nhiều chén dĩa sứ, bà ấy nói chuyện với ai đó; nó lắng nghe bà ấy nói. Bà ấy nói chuyện với một người hầu, chỉ đơn giản nói bất cứ điều gì chợt nảy ra trong đầu của bà. Chỉ mỗi mình bà nói lên sự thật; chỉ riêng với mình bà nó có thể nói ra điều đó. Đó là nguồn gốc của sức hấp dẫn bất diệt của bà đối với nó, có lẽ thế; bà là một người mà người ta có thể nói những gì chợt nảy ra trong đầu của mình. Nhưng trong suốt thời gian nghĩ về mẹ nó, nó vẫn ý thức rằng cha nó đang đi theo ý nghĩ của nó, quan sát nó, khiến nó run lên và nao núng. Cuối cùng nó thôi không suy nghĩ nữa.
Nó ngồi đó với bàn tay đặt trên bánh lái trong ánh nắng, nhìn đăm đăm vào ngọn hải đăng, không còn hơi sức để cử động, không còn hơi sức để búng đi những hạt sỏi khốn khổ đã chất chồng lên tâm trí nó. Dường như có một sợi dây thừng trói chặt nó ở đó, và cha nó đã thắt cái nút lại và nó chỉ có thể thoát thân bằng cách cầm lấy một con dao cắt phăng sợi dây đi... Nhưng vào lúc đó cánh buồm chậm chạp căng tròn lên, chậm chạp ngậm đầy hơi gió, con thuyền dường như tự lắc mạnh thân hình của nó, rồi chuyển động một cách lơ mơ trong giấc ngủ, và rồi nó tỉnh giấc, lao vút qua những lớp sóng. Có một sự nhẹ nhõm đến lạ lùng. Tất cả bọn họ dường như lại tách ra khỏi nhau và tự tìm thoải mái, sợi dây câu căng nghiêng qua mạn thuyền. Nhưng cha nó không sực tỉnh. Ông chỉ giơ cao bàn tay phải lên không khí một cách bí ẩn, rồi để nó rơi lại xuống đầu gối như thể ông đang điều khiển một bản giao hưởng bí mật nào đó.
9.
Biển không có một vết gợn, Lily Briscoe nghĩ, vẫn đứng nhìn ra vịnh. Biển trải dài như dải lụa qua cái vịnh. Khoảng cách có một sức mạnh lạ lùng; họ đã bị nó nuốt chửng mất, cô cảm thấy, họ đã ra đi mãi mãi; họ đã trở thành một phần bản chất của những sự vật. Trời thật yên tĩnh, trời thật lặng lẽ. Bản thân con tàu hơi nước đã biến mất, nhưng luồng khói lớn vẫn còn treo trong không trung, gục xuống như một lá cờ ảo não trong phút giây từ biệt.
10.
Thì ra trông nó như thế, cái hòn đảo ấy, Cam nghĩ, một lần nữa khỏa những ngón tay của nó qua những lớp sóng. Nó chưa bao giờ nhìn hòn đảo từ ngoài biển khơi trước đó. Nó nằm như thế trên biển, đúng vậy, với một vệt lõm ở giữa và và hai vách đá lởm chởm, và biển quét vào đó, trải lan ra hàng nhiều, hàng nhiều dặm ở hai phía của hòn đảo. Nó rất nhỏ nhoi; mang hình gì đó giống như một chiếc lá cắm ngược đầu xuống. Thế là chúng tôi lấy một con thuyền nhỏ, nó nghĩ, bắt đầu kể cho chính nó nghe một câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm về việc tẩu thoát khỏi một con tàu đắm. Nhưng với biển đang lướt qua những ngón tay của nó, một cành rong biển biến mất phía sau họ, nó không muốn kể cho nó nghe câu chuyện một cách nghiêm túc; điều nó muốn là cái cảm giác phiêu lưu và trốn thoát, vì nó nghĩ, trong lúc con thuyền vẫn lướt tới, cha đã nổi giận ra sao về những hướng của chiếc la bàn, sự ngoan cố của James về thỏa ước, và nỗi khổ của chính nó, tất cả đã trôi qua, tất cả đã thành quá vãng, tất cả đã chảy tuôn về xa khuất. Vậy tiếp đến là gì nữa? Họ đang đi đâu đây? Từ bàn tay nó, lạnh cóng như băng, nhúng sâu trong biển, bắn vọt lên một vòi nước của niềm hân hoan về sự thay đổi, về sự tẩu thoát, về cuộc phiêu lưu (rằng nó sẽ còn sống, rằng nó sẽ tới đó). Và những giọt nước rơi xuống từ vòi nước của niềm hân hoan bất ngờ và không suy tính này vung vải đó đây trên bóng tối, trên những hình dáng mơ hồ trong tâm trí nó; những hình dáng của một thế giới chưa được nhận ra nhưng chuyển xoay di động trong bóng tối của chúng, bắt lấy ở nơi này nơi khác một tia sáng; Hy Lạp, Rome, Constantinople. Dù nhỏ bé và mang hình dáng như một chiếc lá xoay ngược đầu với những lớp nước óng ánh vàng chảy ập vào bên trong và xung quanh nó, nó có một vị trí trong vũ trụ hay chăng, Cam giả sử - ngay cả cái hòn đảo nhỏ nhoi ấy? Quý ông lớn tuổi trong phòng đọc sách có thể nói cho nó biết, nó nghĩ thầm. Đôi khi nó cố tình đi lạc từ ngoài vườn vào để bắt gặp họ trong đó. Họ ở đó (có thể là ông Carmichael hay ông Bankes đang ngồi với cha nó) ngồi đối diện nhau trong những cái ghế bành thấp. Họ lật sột soạt những trang của tờ THE TIMES trước mặt khi nó từ vườn đi vào, mọi thứ đều rối tung, về một điều gì đó mà ai đó đã nói về đức Chúa, hoặc nó nghe thấy rằng người ta đã đào được một con voi mamut ở một đường phố London, hoặc tự hỏi Napoleon giống cái gì. Thế rồi họ cầm lấy những tờ báo với những bàn tay sạch sẽ (họ mặc đồ màu xám; họ có mùi của cây thạch nam) và cùng nhau xem lướt qua những hình ảnh, lật những trang giấy, vắt chéo chân và thỉnh thoảng nói một câu gì đó rất ngắn gọn. Để tỏ ra thoải mái nó cũng sẽ lấy một cuốn sách từ trên kệ và đứng đó, quan sát cha nó viết, rất đều đặn, rất gọn gàng, từ phía này sang phía kia tờ giấy, thỉnh thoảng lại ho khe khẽ hoặc nói ngắn gọn một điều gì đó với quý ông lớn tuổi ngồi đối diện. Và đứng đó với cuốn sách mở ra, nó nghĩ rằng ở đây người ta có thể để cho đi bất cứ điều gì, người ta có thể trải rộng ý nghĩ ra như một chiếc lá trên mặt nước; và nếu mọi chuyện tốt đẹp, giữa những quý ông lớn tuổi đang phì phèo thuốc lá, và tờ THE TIMES vẫn kêu sột soạt, thì mọi thứ đều ổn. Và khi quan sát cha nó viết trong phòng đọc sách, nó nghĩ (lúc này đang ngồi trong thuyền) ông không phải là người hão huyền hay một bạo chúa và không muốn làm cho bạn thương hại ông. Thật ra, nếu ông nhìn thấy nó đang đứng đó đọc sách, ông sẽ hỏi nó, nhẹ nhàng như bất cứ người nào có thể, Có thứ gì mà ông không thể cho nó hay không?
Sợ rằng điều này có thể sai, nó nhìn ông đang đọc cuốn sách với cái bìa sáng bóng và lốm đốm như trứng chim choi choi, Không; đúng là thế. Giờ đây khi nhìn ông, nó muốn nói lớn với James. (Nhưng James đang dán mắt vào cánh buồm.) Ông ấy là một kẻ hung ác hay châm chọc, James sẽ nói thế. Ông ấy đưa câu chuyện xoay quanh bản thân mình và những cuốn sách của mình, James sẽ nói thế. Ông ấy tự cao tự đại không thể khoan thứ nổi. Tệ hơn tất cả, ông ấy là một bạo chúa. Nhưng hãy nhìn kia! nó nói, nhìn về phía ông. Hãy nhìn ông lúc này. Nó nhìn ông đang đọc cuốn sách nhỏ với đôi chân gập lại; nó biết cuốn sách có những trang màu vàng nhạt đó nhưng không biết trong đó viết gì. Cuốn sách rất nhỏ; được in rất khít; trên tờ để trắng đầu sách, nó biết, ông đã viết rằng ông đã tiêu 50 quan Pháp cho bữa ăn tối; rượu vang nhiều quá; ông đã cho người hầu bàn nhiều quá; tất cả được cộng lại ở dưới cuối trang giấy. Nhưng nó không biết cái thứ được viết trong cuốn sách mà đã lăn ra khỏi túi của ông là thứ gì. Những gì ông nghĩ, không ai trong số chúng biết được. Nhưng ông đắm mình vào cuốn cách đến nỗi khi ông ngẩng lên trong thoáng chốc như lúc này, thì không phải là để nhìn bất cứ thứ gì; mà là để nắm bắt một ý tưởng nào đó một cách chính xác hơn. Khi thực hiện xong điều đó, tâm trí ông lại trở về với cuốn sách, và ông tiếp tục đắm mình vào việc đọc. Ông đọc, nó nghĩ, như thể ông đang hướng dẫn một điều gì đó, hoặc đang dỗ ngọt một bầy cừu, hoặc đang cố trèo lên một con đường mòn nhỏ hẹp; đôi khi ông đi nhanh và thẳng, rẻ lối đi xuyên qua những bụi gai, và đôi khi dường như một cành cây vụt trúng ông, một bụi gai làm ông lòa mắt, nhưng ông không để cho bản thân thoái chí nản lòng bởi điều đó; ông tiếp tục đi, lật hết trang này tới trang khác. Và nó tiếp tục kể cho chính nó nghe một câu chuyện về việc thoát thân khỏi một con tàu đắm, vì nó đang an toàn, trong lúc ông ngồi ở đó; an toàn như nó từng cảm thấy khi nó len lén đi vào từ ngoài vườn và lấy một cuốn sách xuống, và quý ông lớn tuổi đột nhiên hạ thấp trang báo xuống, nói một câu gì đó rất ngắn gọn từ mép trên tờ báo về tính cách của Napoleon.
Cam nhìn lại qua biển về phía hòn đảo. Nhưng chiếc lá đã mất đi hình dáng của nó. Nó rất nhỏ bé; nó rất xa xăm. Bây giờ biển quan trọng hơn là bờ. Sóng nước bủa vây quanh họ, dồi lên dập xuống, với một khúc gỗ chìm xuống dưới một lượn sóng; một con mòng biển đang cưỡi lên lưng một con khác. Quanh đây, nó nghĩ, khỏa những ngón tay của nó trong lòng nước, có một con thuyền đã bị đắm, nó thầm thì một cách mơ màng, nửa mê nửa tỉnh, chúng ta bỏ mạng từng người, đơn độc biết bao.
11.
Phụ thuộc rất nhiều, Lily nghĩ, nhìn ra mặt biển hầu như không có một vết gợn nào, mềm mại đến nỗi những cánh buồm và những đám mây cũng chìm vào màu xanh của nó, phụ thuộc rất nhiều, cô nghĩ, vào khoảng cách: vào việc mọi người ở gần chúng ta hay cách xa chúng ta; vì cảm giác của cô đối với ông Ramsay đã đổi thay khi ông đi thuyền ngày càng xa hơn qua cái vịnh. Dường như nó kéo dài, trải dài ra; dường như ông ta ngày càng trở nên xa xôi. Dường như ông và các con ông bị nuốt chửng mất trong màu xanh ấy, khoảng cách ấy; nhưng ở đây, trên bãi cỏ, ngay trong tầm tay với, ông Carmichael đột nhiên nói lầm bầm. Cô cười phá lên. Ông chộp lấy cuốn sách từ mặt cỏ. Ông ổn định lại tư thế trong cái ghế của mình, rít thuốc và phì phèo nhả khói như một loài quái thú biển khơi nào đó. Điều này hoàn toàn khác hẳn, vì ông ở rất gần. Và giờ đây một lần nữa tất cả lại lặng im. Giờ này họ phải rời khỏi giường rồi, cô đoán, nhìn về phía ngôi nhà, nhưng chẳng có gì xuất hiện ở đó. Nhưng rồi cô chợt nhớ ra, họ luôn luôn chuồn mất ngay sau khi bữa ăn kết thúc, để lo liệu công việc của chính họ. Tất cả chỉ có thế, cộng với sự im ắng này, sự trống vắng này, và sự không có thật này của thời khắc sớm mai. Đó là cái cách đôi khi xảy ra của những sự vật, cô nghĩ, ngần ngừ trong giây lát rồi nhìn lên những cánh cửa sổ dài lấp loáng và làn khói xanh lam: chúng đã trở nên lười nhát trước khi thói quen quay tròn ngang qua bề mặt của chúng, người ta cảm thấy cùng một sự không có thật đó, điều này thật đáng kinh ngạc; cảm thấy một cái gì đó hiện lên. Cuộc sống rực rỡ nhất vào lúc đó. Người ta có thể ở trong một tâm trạng dễ chịu. May thay người ta không cần phải nói, rất mạnh mẽ, cô băng qua bãi cỏ để chào bà cụ Beckwith, người đang bước ra tìm một góc để ngồi, “Ồ, chào bà Beckwith! Thật là một ngày đáng yêu! Bà sẽ cả gan ngồi trong ánh nắng chứ? Jasper đã giấu mất mấy cái ghế. Để tôi tìm cho bà một cái!” và tất cả những thứ chuyện phiếm còn lại như thường lệ. Người ta không cần phải nói gì hết. Người ta lướt đi, người ta lắc mạnh cánh buồm của mình (có khá nhiều chuyển động trong vịnh, những con thuyền đang xuất phát) giữa những sự vật, bên ngoài những sự vật. Không phải là sự trống vắng mà là sự tràn đầy. Dường như cô đang chìm tới miệng trong một loại vật chất nào đó, chuyển động và trôi nổi bềnh bồng và chìm vào nó, thế nhưng lòng nước này sâu thẳm khôn dò. Có rất nhiều cuộc đời đã đổ tràn vào nó. Cuộc đời của gia đình Ramsay; cuộc đời của lũ trẻ; và thêm vào mọi con người, mọi sự vật linh tinh. Một người đàn bà đi giặt với cái giỏ của mình; một con quạ, một cây hoa loa kèn đuốc; những sắc tím và sắc xanh-xám của các loài hoa: một cảm giác chung nào đó đã tập hợp toàn bộ các thứ lại với nhau.
Có lẽ đây là một cảm giác nào đó về sự trọn vẹn mà, cách đây mười năm, hầu như cũng đứng ngay ở chỗ cô đang đứng bây giờ, nó đã khiến cho cô nói rằng cô phải yêu lấy chốn này. Tình yêu có muôn hình vạn trạng. Có thể có những cặp tình nhân mà quà tặng của họ được chọn ra từ những nguyên tố của các sự vật và được đặt lại bên nhau, và do vậy đã trao cho họ một sự toàn vẹn không phải của họ trong đời sống, tạo ra một cảnh tượng nào đó, hoặc sự gặp gỡ tao ngộ của mọi người (giờ đây tất cả đã ra đi và cách biệt), một trong những điều kết tụ toàn cầu lại đó mà bên trên nó tư tưởng kéo dài lây lất, và tình yêu vui thú nô đùa.
Đôi mắt cô dừng lại trên cái đốm màu nâu - con thuyền buồm của ông Ramsay. Họ sẽ tới ngọn hải đăng trước giờ ăn trưa, cô đoán. Nhưng gió đã lại nổi lên, và, khi bầu trời hơi đổi khác, biển cả hơi đổi khác và những con thuyền chuyển dời vị trí, cái quang cảnh mà trong phút giây trước đó dường như đã bất động một cách huyền diệu giờ đây lại khiến cô cảm thấy không hài lòng. Cơn gió đã cuốn làn khói lan ra; có một điều gì đó trái với ý muốn về vị trí của những con tàu.
Sự mất cân xứng ở đó dường như đã đánh đổ một sự hài hòa nào đó trong tâm trí cô. Cô cảm thấy một nỗi buồn khổ mơ hồ. Điều đó được xác nhận khi cô quay sang bức tranh của mình. Cô đã lãng phí mất cả buổi sáng. Bởi lẽ dù với bất kỳ lý do gì cô cũng không thể đạt tới cái ranh giới cân bằng mong manh giữa hai lực lượng đối đầu; ông Ramsay và bức tranh; cái nào là cần thiết. Có lẽ đã có gì đó sai ở phác thảo? Có phải, cô tự hỏi, đường nét của bức tường muốn bị phá vỡ, có phải hình khối của những cây cối quá nặng nề? Cô mỉm cười một cách mỉa mai; bởi lẽ, không phải chính cô đã nghĩ, khi mới bắt đầu, rằng cô đã giải quyết được rắc rối của mình hay sao?
Vậy thì vấn đề là gì? Cô phải nắm bắt được một điều gì đó đang lảng tránh cô. Nó đã lảng tránh cô khi cô nghĩ về ông Ramsay; bây giờ nó lảng tránh cô khi cô nghĩ về bức tranh của mình. Những tiết điệu hiện ra. Những viễn cảnh hiện ra. Những bức tranh đẹp. Những tiết điệu đẹp. Nhưng cái mà cô muốn nắm bắt chính là sự khó chịu trong cân não; chính bản thân cái đó, trước khi nó tạo nên bất cứ thứ gì. Nắm lấy cái đó và bắt đầu lại từ đầu; nắm lấy cái đó và bắt đầu lại từ đầu; cô nói một cách tuyệt vọng, một lần nữa cắm bản thân mình xuống một cách vững chắc trước cái giá vẽ. Nó là một thiết bị khốn khổ, một thiết bị thiểu năng, cô nghĩ, cái dụng cụ để vẽ hay để cảm nhận của con người này; nó luôn luôn bị hỏng vào phút giây trọng yếu; một cách oanh liệt, người ta phải ép nó tiếp tục. Cô nhìn chằm chặp, cô cau mày. Có hàng giậu, chắc chắn thế rồi. Nhưng người ta chẳng thu hoạch được gì bởi việc van nài khẩn thiết. Người ta chỉ thu hoạch được một cái nhìn trừng trừng trong con mắt từ việc nhìn vào đường nét của bức tường, hay từ việc suy nghĩ - bà ấy đội một cái mũ màu xám. Bà ấy đẹp lạ lùng. Cứ mặc cho việc gì sẽ đến cứ đến, cô nghĩ. Bởi vì có những giây phút mà người ta không thể suy nghĩ hay cảm nhận gì được hết. Và nếu người ta không thể suy nghĩ hay cảm nhận gì được hết, cô nghĩ, thì người ta ở nơi đâu?
Ở đây trên bãi cỏ, trên mặt đất, cô nghĩ, ngồi xuống, và đưa chiếc cọ vẽ thăm dò một khóm chuối lá nhỏ. Vì bãi cỏ rất lởm chởm. Ngồi đây trong thế gian này, cô nghĩ. vì cô không thể giũ bỏ được cảm giác rằng sáng nay mọi thứ đang diễn ra lần đầu tiên, cũng có lẽ là lần cuối cùng, giống như một khách du hành, dù đang ngủ mơ màng gà gật, vẫn biết khi nhìn ra cửa sổ toa tàu, rằng lúc này anh ta phải nhìn, vì anh ta sẽ không bao giờ nhìn thấy lại lần nữa thị trấn đó, cỗ xe lừa đó, hay người đàn bà đang lao động trên đồng đó. Bãi cỏ là thế gian; họ đã tụ họp nhau lại ở đây, trên cái trạm dừng đầy hứng khởi này, cô nghĩ, nhìn ông già Carmichael, người dường như đang chia sẻ những ý nghĩ của cô (dù suốt thời gian đó họ không nói lời nào). Và có lẽ không bao giờ cô nhìn thấy ông ta lần nữa. Ông ấy đã già. Cô mỉm cười nhìn chiếc dép lê đu đưa trên bàn chân ông ta, nhớ rằng ông cũng đã trở nên nổi tiếng. Mọi người bảo rằng thơ của ông “rất diễm lệ”. Họ tới và xuất bản những thứ ông đã viết cách đây bốn mươi năm. Giờ đã có một người nổi tiếng tên là Carmichael, cô mỉm cười, tự hỏi một con người có thể mang bao nhiêu hình dáng, trông ông ta thế nào trong những tờ báo không biết, nhưng ở đây ông vẫn cùng là một con người như trước. Trông ông vẫn vậy - chỉ có tóc bạc hơn xưa.
Phải, trông ông vẫn vậy, nhưng có ai đó đã nói, cô nhớ lại, rằng khi ông nghe tin Andrew Ramsay chết (cậu ấy bị giết trong vòng một giây bởi một viên đạn pháo; lẽ ra cậu ấy có thể trở thành một nhà toán học vĩ đại) ông Carmichael đã “đánh mất hết mọi quan tâm đến cuộc đời.” Nó có nghĩa là gì - câu nói đó? cô tự hỏi. Không phải ông ấy đã từng bước qua Quảng trường Trafalga với một chiếc gậy to hay sao? Không phải ông ấy đã từng lật hết trang này sang trang khác mà không hề đọc chúng khi ngồi một mình trong căn phòng của mình ở quận St. John’s Wood hay sao? Cô không biết ông đã làm những gì khi nghe tin Andrew bị giết chết, nhưng cô cảm thấy mọi thứ vẫn vậy trong con người ông. Họ chỉ lầm bầm với nhau trên những bậc cầu thang; họ ngẩng lên nhìn bầu trời và nói trời sẽ đẹp hoặc trời sẽ không đẹp. Nhưng đây là một phương cách để biết mọi người, cô nghĩ: để biết khái quát chứ không phải chi tiết, để ngồi trong vườn của người ta và nhìn lên những sườn đồi tím ngắt chạy dài xuống cánh đồng thạch nam ở phía xa xa. Cô biết ông theo cách đó. Cô biết rằng theo cách nào đó ông đã đổi thay. Cô chưa từng đọc thơ của ông. Cô nghĩ cô biết nó diễn tiến ra sao: một cách chậm rãi và vang động. Nó dày dặn và chính chắn. Nó nói về sa mạc và lạc đà. Nó nói về cây cọ và ánh hoàng hôn. Nó cực kỳ bâng quơ; nó nói đôi điều gì đó về cái chết; nó nói rất ít về tình yêu. Ở ông có một sự thiếu quan tâm tới con người. Ông muốn rất ít ở những người khác. Không phải ông đã luôn luôn đi lảo đảo một cách khá kỳ quặc qua cửa sổ phòng khách với một tờ báo nào đó kẹp dưới nách, cố tránh né bà Ramsay, người mà vì lý do nào đó ông không thích hay sao? Vì lý do đó, dĩ nhiên, bà ấy đã luôn cố chặn ông lại. Ông sẽ cúi đầu chào bà ấy. Ông sẽ dừng lại một cách miễn cưỡng và cúi chào một cách thâm trầm. Khó chịu vì ông không muốn bất cứ thứ gì ở mình, bà Ramsay sẽ hỏi ông (Lily có thể nghe thấy tiếng bà ấy) rằng ông có muốn một cái áo khoác, một tấm chăn, một tờ báo hay không? Không, ông không muốn gì hết. (Tới đây ông cúi chào.) Có một phẩm chất nào đó ở bà ấy mà ông không thích mấy. Có lẽ đó là vẻ hách dịch của bà, sự quả quyết của bà, một cái gì đó quá đơn giản ở bà. Bà rất thẳng thắn.
(Một tiếng động thu hút sự chú ý của cô về hướng cửa sổ phòng khách - tiếng cót két của một cái bản lề. Cơn gió nhẹ đang đùa với cánh cửa.)
Hẳn phải có những người không thích bà ấy lắm, Lily nghĩ (Phải; cô nhận ra rằng bậc thềm phòng khách trống rỗng, nhưng nó chẳng có tác động gì đối với cô, Giờ đây cô không cần bà Ramsay.) - Những người cho rằng bà ấy quá dứt khoát, quá mạnh mẽ.
Có lẽ vẻ đẹp của bà ấy cũng làm cho người khác khó chịu nữa. Thật đơn điệu biết bao, họ bảo, và luôn là thế! Họ thích một kiểu người khác hơn - kiểu người da ngăm, sôi nổi. Rồi bà ấy yếu đuối đối với đức ông chồng của mình. Bà ấy để cho ông ấy bày ra những màn kịch đó. Rồi bà ấy kín đáo. Chẳng ai biết đích xác điều gì đã xảy ra cho bà ấy. Và (để quay lại với ông Carmichael và sự không thích của ông) người ta không thể tưởng tượng được cảnh bà Ramsay đứng vẽ tranh, nằm đọc sách, suốt cả buổi sáng trên bãi cỏ. Đó là điều không tài nào tưởng tượng nổi. Không thốt ra lời nào, dấu hiệu duy nhất của mục đích của bà ấy là một cái giỏ trên cánh tay, bà ấy ra thị trấn, tới gặp những người nghèo, ngồi trong một phòng ngủ nhỏ bé ngột ngạt nào đó. Lily rất thường xuyên nhìn thấy bà lặng lẽ đi ra giữa một cuộc chơi, một cuộc thảo luận nào đó, với cái giỏ trên cánh tay, người rất thẳng. Bà ấy đã ghi chú giờ về của mình. Bà ấy đã suy nghĩ, nửa cười to (bà rất cẩn thận với những cái tách uống trà), nửa cảm động (vẻ đẹp của bà làm người ta nín thở), rằng những đôi mắt khép lại trong đau đớn đã nhìn vào mình. Mình đã ở đó với họ.
Và rồi bà Ramsay sẽ bực mình vì ai đó về muộn, hoặc bơ không tươi, hoặc ấm trà bị sứt mẻ. Và trong suốt thời gian khi bà nói rằng bơ không được tươi, người ta sẽ nghĩ tới những ngôi đền Hy Lạp, và cái đẹp đã đến với họ trong căn phòng nhỏ ngột ngạt đó. Bà không bao giờ nói về chuyện đó - bà lên đường, đúng giờ, ngay lập tức. Bản năng của bà là đi, một bản năng giống như những con én hướng về nam, những cây atisô hướng tới mặt trời; là hướng sự không thể sai lầm của mình tới loài người, làm tổ trong trái tim của nó. Và bản năng này, như mọi bản năng, khá khó chịu đối với những ai không chia sẻ nó; như với ông Carmichael, có lẽ, như với chính cô, tất nhiên. Có một nhận thức nào đó trong cả hai người bọn họ về sự vô hiệu quả của hành động, uy thế của tư tưởng. Việc ra đi của bà là một sự chỉ trích đối với họ, mang tới một khúc quanh khác cho thế giới, khiến họ buộc phải phản kháng khi nhìn thấy thiên kiến của chính họ biến mất, phải chộp lấy những thứ đang biến dần đi đó. Charles Tansley cũng đã làm điều đó: nó là một phần của lý do tại sao người ta không thích anh ta. Anh ta đánh đổ những sự cân xứng trong thế giới của người ta. Và điều gì đã xảy đến với anh ta, cô tự hỏi, khua khoắng một cách lười nhát những cây chuối lá với chiếc cọ của mình. Anh ta đã nhận được học bổng nghiên cứu sinh của mình. Anh ta đã lấy vợ; anh ta sống ở khu Golder’s Green.
Trong thời gian chiến tranh, có một hôm cô đã bước vào một sảnh đường và nghe thấy anh ta nói.
Anh ta đang kịch liệt phản đối một điều gì đó: anh ta đang lăng mạ ai đó. Anh ta đang thuyết giảng về tình huynh đệ. Và tất cả những gì cô nghĩ là làm thế nào anh ta có thể yêu được cái loại người của anh ta, kẻ không phân biệt nổi bức tranh này với bức tranh khác, kẻ đã đứng sau lưng cô hút thuốc rê (“năm xu một ao-xơ, cô Briscoe ạ”) và cho rằng nhiệm vụ của mình là nói với cô rằng đàn bà không thể viết, đàn bà không thể vẽ, khi anh ta cũng chẳng tin tưởng mấy vào điều đó mà chỉ vì một nguyên do kỳ quặc nào đó? Anh ta đứng đó trên cái bục, gầy gò, mặt đỏ au, giọng khàn khàn, đang rao giảng tình yêu (có những con kiến đang bò loanh quanh giữa những cây chuối lá mà cô đánh động với cây cọ của mình - những con kiến đỏ, năng động, bóng loáng, khá giống Charles Tansley). Cô đã nhìn một cách mỉa mai từ chỗ ngồi của mình trong cái sảnh đường trống hết phân nửa khi anh ta đang bơm tình yêu vào cái chốn giá lạnh đó, và đột nhiên, cái thùng tô nô cũ, hoặc bất cứ thứ gì cũng được, đang trồi sụp lên xuống giữa những lượn sóng, còn bà Ramsay thì đang tìm kiếm đôi kính của mình giữa những hòn đá cuội. “Úi chà! Thật là phiền hà! Lại mất nữa rồi. Đừng bận tâm, anh Tansley ạ. Tôi mất đến cả ngàn đôi mỗi mùa hè ấy chứ,” khi nghe tới đó anh ta ấn chiếc cằm của mình xuống cổ áo trở lại, như thể e sợ phải ủng hộ cho một sự phóng đại như thế, nhưng lại có thể chịu đựng được điều đó ở bà, người mà anh ta thích, và mỉm cười rất dễ thương. Hẳn anh ta phải đủ tin cậy ở bà để thố lộ về một trong những chuyến đi dài đó khi mọi người bị phân tán và anh ta đi bộ về một mình. Anh ta tự dạy học em gái mình, bà Ramsay đã kể cho cô nghe. Niềm tin cậy của anh ta thật lớn lao. Ý tưởng của chính cô về anh ta thật kỳ cục, cô biết rất rõ, tiếp tục đưa cọ khuấy động những cây chuối lá. Nói cho cùng, phân nửa những nhận thức của người ta về người khác đều kỳ cục. Chúng phục vụ cho những mục đích riêng của bản thân người ta. Với cô anh ta là một cái bung xung. Cô phát hiện ra mình đang đánh vào hai bệ sườn gầy guộc của anh ta khi cô nổi nóng. Nếu cô muốn nghĩ nghiêm túc về anh ta thì cô phải viện tới những lời của bà Ramsay, nhìn anh ta qua đôi mắt của bà ấy.
Cô dựng một ngọn núi nhỏ cho lũ kiến leo lên. Cô khiến chúng trở nên cuồng loạn trong cơn do dự bởi sự can thiệp này vào vũ trụ của chúng. Một số chạy lối này, số khác lối kia.
Người ta muốn có tới năm mươi đôi mắt để nhìn, cô suy ngẫm. Năm mươi đôi mắt cũng chưa đủ để nhìn khắp người phụ nữ đó, cô nghĩ. Trong số chúng, phải có một đôi hoàn toàn mù tịt đối với vẻ đẹp của bà. Người ta muốn có một giác quan nào đó bí mật nhất, biến hóa khôn lường như không khí, một giác quan để nhìn qua những lỗ khóa và bao quanh bà ấy ở nơi bà ngồi đan, chuyện trò, im lặng một mình bên trong cửa sổ; một giác quan sử dụng chính nó và tích lũy dần, như không khí duy trì luồng khói của con tàu chạy hơi nước, những ý tưởng của bà, những tưởng tượng của bà, những ước vọng của bà. Hàng giậu có ý nghĩa gì đối với bà ấy, khu vườn có ý nghĩa gì đối với bà ấy, một lượn sóng vỡ toang có ý nghĩa gì đối với bà ấy? (Lily ngẩng lên, như cô đã thấy bà Ramsay ngẩng lên; cả cô cũng nghe thấy tiếng sóng ập vào bờ.) Và rồi cái gì đã khuấy động và run rẩy trong tâm trí bà ấy khi lũ trẻ reo lên, “Cú đó thế nào? Cú đó thế nào?” khi đang chơi bóng crikê? Bà sẽ dừng đan giây lát. Bà sẽ nhìn chăm chú. Rồi bà sẽ lại tiếp tục, và đột nhiên ông Ramsay đứng phắt lại trong lúc đang bước qua trước mặt bà và một chấn động kỳ lạ nào đó chạy xuyên khắp người bà và dường như gây cho bà một nỗi âu lo sâu sắc khi ông ấy dừng ở đó, khom người xuống bà, nhìn xuống bà. Lily có thể nhìn thấy ông ấy.
Ông ấy vươn tay ra và kéo bà rời khỏi ghế. Theo cách nào đó dường như ông ấy đã từng làm điều này trước kia; như thể ông ấy đã có lần cúi xuống với cùng cung cách đó và kéo bà lên khỏi một con thuyền nằm cách bờ vài phân Anh trên một hòn đảo nào đó, đã yêu cầu rằng các quý bà nên được các quý ông giúp lên bờ như vậy. Một cảnh tượng lỗi thời, đòi hỏi rất sát sao phải có những chiếc váy phồng và những chiếc quần dài bó ống. Để cho ông ấy giúp mình, bà Ramsay đã nghĩ (Lily giả sử) giờ đã tới lúc rồi. Phải, bà sẽ nói điều đó bây giờ. Phải, bà sẽ lấy ông ấy. Và bà bước một cách chậm rãi, lặng lẽ lên bờ. Có lẽ bà ấy chỉ nói một từ duy nhất, vẫn để yên bàn tay mình trong tay ông ấy. Tôi sẽ lấy anh, có thể bà đã nói thế, với bàn tay trong tay ông ấy; nhưng không nói thêm gì nữa. Hết lượt này sang lượt khác, cùng một sự run rẩy đã chuyển dịch lại qua giữa họ - hiển nhiên là vậy, Lily nghĩ, dọn phẳng một con đường cho lũ kiến. Cô không bịa đặt; cô chỉ cố trải phẳng ra một một điều gì đó bị gấp lại mà nhiều năm trước cô đã tiếp nhận; một điều gì đó cô đã nhìn thấy. Bởi lẽ trong sự thô nhám và rối ren của cuộc sống đời thường, với tất cả lũ trẻ đó vây quanh, tất cả những người khách đó, người ta đã liên tục có một cảm giác về sự lặp đi lặp lại - về một vật rơi xuống nơi một vật khác đã rơi, và như vậy đã hình thành nên một tiếng vọng ngân vang trong không trung và làm cho nó tràn ngập những âm ba chao động.
Nhưng sẽ là một sai lầm nếu đơn giản hóa mối quan hệ của họ, cô nghĩ, hình dung họ bước đi, tay trong tay, ngang qua ngôi nhà kính như thế nào. Đó không phải là sự tẻ nhạt đơn điệu của hạnh phúc - bà ấy với những cơn bốc đồng và tính nóng nảy; ông ấy với những cái rùng mình và vẻ âu sầu. Ồ, không. Cửa phòng ngủ sẽ đóng sầm vào lúc sớm mai. Ông ấy sẽ rời khỏi bàn trong cơn nóng giận. Ông ấy sẽ ném vụt cái dĩa ăn của mình qua cửa sổ. Rồi xuyên khắp ngôi nhà sẽ có một cảm giác về những cánh cửa đóng sầm và những tấm mành che rung động, như thể một cơn giông đang thổi qua và mọi người chạy vụt đi, cố gắng một cách vội vã để cột chặt những cánh cửa sập và đưa mọi thứ về trạng thái ổn định. Cô đã gặp Paul Rayley vào một ngày như thế trên cầu thang. Họ đã cười, cười ngặt nghẽo, như một đôi bạn nhỏ, tất cả là do ông Ramsay, khi phát hiện ra một con sâu tai trong ly sữa của mình đã ném tung tất cả các thứ qua không khí ra sân hiên bên ngoài. “Một con sâu tai,” Prue lẩm bẩm, kinh hoàng, “trong sữa của ông ấy.” Những người khác có thể phát hiện ra những con rết. Nhưng ông ấy đã dựng lên quanh mình một bức rào thiêng, và chiếm lĩnh không gian với một thái độ oai nghiêm đến nỗi một con sâu tai trong sữa của ông trở thành một con quái vật.
Nhưng nó làm bà Ramsay mệt mỏi, nó khiến bà hơi sợ hãi - những cái dĩa bay vù vù và những cánh cửa đóng đánh sầm. Và đôi khi giữa họ buông xuống những khoảng im lặng dài khắc nghiệt, khi, trong một trạng thái tinh thần khiến cho Lily khó chịu - nửa buồn rầu, nửa phẫn uất - dường như bà không thể vượt qua cơn giông tố một cách bình thản, hoặc cười to lên khi họ cười to, mà vẫn tỏ ra mệt mỏi, có lẽ để che giấu điều gì đó. Bà suy nghĩ ủ ê và ngồi im lặng. Sau một thời gian, ông ấy sẽ len lén tới quẩn quanh gần những nơi có mặt bà - đi vẩn vơ bên dưới cửa sổ nơi bà ngồi viết thư hay trò chuyện, vì bà sẽ tỏ ra bận rộn khi ông ấy đi ngang, và lảng tránh ông, vờ như không nhìn thấy ông ấy. Rồi ông ấy sẽ trở nên mềm như lụa, hòa nhã, lịch sự, và cố lấy lòng bà theo cách đó. Tuy nhiên bà vẫn giữ khoảng cách, và lúc này bà sẽ khẳng định trong một thời cơ ngắn ngủi những niềm kiêu hãnh và những thái độ mà vẻ đẹp của bà đáng được hưởng nhưng nói chung là bà hoàn toàn không có; sẽ quay đầu đi; sẽ liếc nhìn qua vai, luôn luôn với Minta, Paul hay William Bankes bên cạnh. Cuối cùng, đứng ở phía ngoài nhóm với bộ dạng của một chó săn sói sắp chết đói (Lily đứng lên khỏi bãi cỏ và nhìn vào những bậc thềm, vào khung cửa sổ nơi bà đã nhìn thấy ông ấy), ông ấy sẽ gọi tên bà, chỉ một lần, hệt như một con sói đang sủa trong tuyết, nhưng bà vẫn ngoảnh mặt đi; và ông ấy sẽ gọi thêm lần nữa, lần này có cái gì đó trong giọng điệu làm bà xao xuyến, bà sẽ đi tới với ông ấy, đột ngột rời bỏ tất cả bọn họ, và họ sẽ cùng nhau thả bước giữa những cây lê, những luống cải bắp, những luống mâm xôi. Họ phải cùng giải tỏa vấn đề. Nhưng với thái độ nào và những ngôn từ nào? Họ giữ gìn phẩm giá trong mối quan hệ này đến nỗi cô, Paul và Minta sẽ phải quay mặt đi, che giấu sự hiếu kỳ và khó chịu của mình, bắt đầu hái hoa, ném bóng, chuyện gẫu, cho tới giờ ăn tối, và họ kia rồi, ông ấy ở một đầu bàn, bà ở đầu còn lại, như thường lệ.
“Vì sao một người nào đó trong các cô cậu không chọn học ngành thực vật học?... Với tất cả những cái cẳng tay cẳng chân đó vì sao một trong số các cô cậu...?” Họ sẽ trò chuyện như thường lệ, cười rộ lên giữa đám trẻ con. Tất cả sẽ như thường lệ, chỉ trừ một rung động nào đó, như của một lưỡi dao trong không khí, đến và đi giữa họ, như thể cái cảnh tượng thường ngày của lũ trẻ ngồi quanh những dĩa xúp của chúng đã tự làm tươi mới lại bản thân nó trong mắt họ sau thời gian đi giữa hàng cây lê và cải bắp. Đặc biệt, Lily nghĩ, bà Ramsay sẽ liếc nhìn Prue. Cô bé ngồi ở giữa các anh chị em, dường như luôn luôn bận bịu, và khi thấy rằng mọi sự đều ổn thỏa cô bé hầu như không thốt ra một lời nào. Prue hẳn đã tự trách mình nhiều biết bao về con sâu tai trong sữa đó! Mặt cô bé đã trắng bệch ra khi ông Ramsay ném dĩa của mình qua cửa sổ! Cô bé đã ủ rũ biết bao dưới những cuộc im lặng dài giữa họ! Dù sao đi nữa, dường như bây giờ mẹ cô sẽ bù đắp lại cho cô; bảo đảm với cô rằng mọi chuyện đều tốt đẹp; hứa với cô rằng một trong những ngày sắp tới niềm hạnh phúc này sẽ là của cô. Tuy nhiên, Prue chỉ hưởng thụ nó không tới một năm tròn.
Cô để cho những nhánh hoa rơi khỏi giỏ của bà ấy, Lily nghĩ, nheo mắt và lùi lại như thể để nhìn vào bức tranh, tuy nhiên cô không chạm vào nó, với toàn thể những tính năng của cô đang nằm trong một trạng thái thôi miên, đóng băng một cách hời hợt ở bên trên nhưng lại chuyển động ở bên dưới với tốc độ cực cao.
Cô để cho những nhánh hoa rơi khỏi giỏ của bà ấy, tung rắc vung vải chúng lên mặt cỏ, và, một cách miễn cưỡng và do dự, nhưng không hề thắc mắc hay than phiền - phải chăng cô không có tính năng tuân phục một cách trọn vẹn? - cả cô cũng đi. Xuôi những cánh đồng, băng qua những thung lũng, trắng, trải đầy hoa - đó là cái cách mà cô sẽ vẽ. Những ngọn đồi thật khắc khổ. Đầy những đá; dốc đứng. Những lượn sóng ì ầm trên những tảng đá bên dưới. Họ đi, cả ba người bọn họ cùng đi, bà Ramsay bước hơi nhanh ở phía trước, như thể bà mong đợi gặp ai đó ở một góc quanh.
Đột nhiên cánh cửa sổ mà cô đang nhìn chợt bạc phếch đi bởi một ánh sáng nào đó ập vào từ phía sau nó. Vậy là cuối cùng ai đó đã đi vào phòng khách; ai đó đang ngồi trên ghế. Lạy Trời, cô cầu nguyện, cứ để họ ngồi yên đó và đừng có loạng quạng đi ra để trò chuyện với cô. May mắn thay, kẻ nào đó không cần biết vẫn ngồi yên bên trong; đã yên vị bởi một vận may nào đó để tạo thành một cái bóng lạ lùng hình tam giác trên bậc thềm. Nó làm cho cấu trúc của bức tranh thay đổi chút ít. Thật thú vị. Nó có thể hữu dụng. Tâm trạng của cô lại quay về với cô. Người ta phải tiếp tục nhìn mà không hề giản xả cường độ cảm xúc một giây nào, sự xác quyết không thể bị trì hoãn, không thể bị đánh lừa. Người ta phải kẹp chặt cái cảnh tượng đó - như thế - trong một cái ê-tô, không để cho một thứ gì xâm nhập vào và làm hỏng nó. Người ta muốn, cô nghĩ, nhúng chiếc cọ một cách chủ tâm, ở cùng một cấp độ với kinh nghiệm bình thường, để cảm nhận một cách giản đơn đó là một cái ghế, đó là một cái bàn, thế nhưng cũng đồng thời, Nó là một phép mầu, nó là một trạng thái mê ly. Rốt cuộc vấn đề đã có thể giải quyết rồi. A, nhưng chuyện gì đã xảy ra? Một gợn sóng trắng nào đó lướt lên trên tấm kính cửa sổ. Hẳn là không khí đã khuấy đảo một dải viền ren nào đó trong phòng. Quả tim cô đập dồn dập, túm lấy cô và dày vò cô.
“Bà Ramsay! Bà Ramsay!” cô kêu lên, cảm thấy nỗi kinh hoàng cũ đã quay trở lại - muốn và muốn và không có. Cô có thể tạo ra sự tĩnh lặng đó không? Và rồi, lặng lẽ, như thể cô đã kiềm chế được, cả cái đó cũng trở thành một phần của kinh nghiệm bình thường, cùng một cấp độ với cái ghế, với cái bàn.
Bà Ramsay - đó là một phần của sự tốt đẹp hoàn hảo của bà - ngồi đó hoàn toàn đơn giản, trong chiếc ghế, đang đẩy tới kéo lui đôi kim để đan chiếc tất màu nâu đỏ, hắt cái bóng của mình xuống bậc thềm. Bà đang ngồi, ở đó.
Và như thể cô có một điều gì đó muốn sẻ chia, thế nhưng hầu như không thể rời khỏi giá vẽ của mình, tràn ngập trong tâm trí cô điều mà bà ấy đang suy nghĩ, điều mà bà ấy đang nhìn, Lily bước ngang qua ông Carmichael tới rìa bãi cỏ, vẫn giữ cây cọ trong tay. Giờ này con thuyền ở đâu? Và ông Ramsay? Cô cần ông ta.
12.
Ông Ramsay gần như đã đọc xong. Một bàn tay hờ hững đặt trên trang giấy như thể để sẵn sàng lật nó ngay vào khoảnh khắc ông hoàn tất nó. Ông ngồi ở đó, đầu để trần, với ngọn gió thổi tung mái tóc, phơi trần một cách khác thường với mọi thứ. Trông ông rất già nua. Trông ông, James nghĩ, như đang để cho mái đầu mình khi thì nổi lên trên ngọn hải đăng, khi thì nổi lên trên vùng nước đang chạy về phía cửa biển, giống như một tảng đá lâu đời nằm trên cát; trông như thể ông đã trở thành, về mặt vật chất, điều luôn luôn nằm sau lưng tâm trí của hai chị em nó - sự lẻ loi cô độc đó, điều mà đối với cả hai chúng nó là chân lý về mọi sự vật.
Ông đang đọc rất nhanh, như thể ông nôn nóng đi tới kết thúc. Thật sự, lúc này họ đã tới rất gần ngọn hải đăng. Nó lù lù đứng đó, bình dị và thẳng tắp, trắng và đen chói sáng, và người ta có thể nhìn thấy những đợt sóng vỡ toang thành những mảnh trắng giống như gương vỡ bên trên những tảng đá. Người ta có thể nhìn thấy những đường nét và nếp hằn trên những tảng đá. Người ta có thể nhìn thấy những khung cửa sổ một cách rõ ràng; có một chấm trắng trên một trong số chúng, và một túm cỏ xanh nho nhỏ trên tảng đá. Một người đàn ông xuất hiện và nhìn họ qua một lớp kính rồi lại đi vào. Vậy là trông nó như thế đó, James nghĩ, ngọn hải đăng mà người ta đã nhìn thấy qua cái vịnh suốt bấy nhiêu năm qua; nó là một cái tháp đơn sơ trên một tảng đá trọc. Nó làm James hài lòng. Nó khẳng nhận một cảm giác khó hiểu nào đó của James về tính cách của chính mình. Những quý phu nhân già, nó nghĩ, hình dung tới khu vườn ở nhà, đang kéo lê ghế của họ quanh bãi cỏ. Bà cụ Beckwith, chẳng hạn, luôn bảo rằng nó xinh đẹp làm sao, dễ thương làm sao và họ nên rất tự hào, nên rất hạnh phúc, nhưng thật ra, James nghĩ, nhìn ngọn hải đăng đứng đó trên tảng đá, nó không giống như vậy. Nó nhìn cha nó đang đọc một cách say sưa với đôi chân gập sát lại. Họ đã chia sẻ tri thức đó. “Chúng ta đang đi phía trước một cơn bão lớn - chúng ta phải chìm,” nó bắt đầu tự nói với chính mình, hơi lớn tiếng, một cách chính xác giống như cha nó nói.
Dường như không có ai thốt lời nào trong suốt hàng thế kỷ. Cam thấy mệt vì cứ nhìn biển mãi. Những chùm phao đen đen nho nhỏ đã trôi lại phía sau; những con cá đã chết trong đáy thuyền. Cha nó vẫn đang đọc, và James nhìn ông ấy, còn nó thì nhìn James, và chúng thề rằng chúng sẽ chiến đấu với sự chuyên chế cho tới chết, và ông ấy tiếp tục đọc, hoàn toàn không biết những gì chúng nghĩ. Ông thoát thân như vậy đấy, Cam nghĩ. Phải, với vầng trán to và cái mũi to, giữ chắc cuốn sách lốm đốm của ông ở trước mặt, ông đã tẩu thoát. Bạn có thể thử đặt tay lên ông, nhưng rồi như một con chim, ông dang rộng đôi cánh, tung người bay lên để trú ngụ xa khỏi tầm tay bạn ở đâu đó xa xôi trên một gốc cây quạnh quẽ. Nó nhìn khoảng trải rộng mênh mông của biển. Hòn đảo đã trở nên nhó bé đến mức trông nó không còn giống một chiếc lá chút nào. Trông nó giống như chóp của một tảng đá mà một lượn sóng nào đó to hơn số còn lại sẽ phủ trùm lên. Thế nhưng trong sự mong manh của nó là tất cả những con đường mòn đó, những dãy nhà đó, những phòng ngủ đó - tất cả mọi thứ không tài nào đếm xuể đó. Nhưng giống như ngay trước lúc ngủ thiếp đi, mọi sự vật tự đơn giản hóa chúng khiến cho chỉ một trong tất cả những chi tiết nhiều vô số đó có quyền năng khẳng định nó, cũng thế, Cam cảm thấy, khi nhìn mơ màng về phía hòn đảo, tất cả những con đường mòn, những dãy nhà và những căn phòng ngủ đang nhạt nhòa và biến mất, và không để lại gì ngoài một chiếc lư hương xanh nhạt đang đu đưa một cách nhịp nhàng từ bên này sang bên kia tâm trí nó. Nó là một khu vườn treo; nó là một thung lũng, đầy các loại chim, và các loài hoa cỏ, và những con linh dương... Nó đang ngủ thiếp đi.
“Tới rồi đây,” ông Ramsay nói, đột ngột khép cuốn sách lại.
Tới đâu? Tới cuộc phiêu lưu kỳ thú nào? Cam giật mình tỉnh giấc. Lên bờ ở nơi đâu, trèo lên nơi nào? Ông sẽ dắt chúng đi đâu? Bởi lẽ sau sự im lặng mênh mang của ông những lời đó đã làm cho chúng giật mình. Nhưng thật phi lý. Ông thấy đói, ông bảo. Đã tới giờ ăn trưa, ngoài ra, nhìn kìa, ông nói. “Đó là ngọn hải đăng. Chúng ta gần tới nơi rồi.”
“Cậu ấy làm rất tốt,” Macalister nói, khen ngợi James. “Cậu ấy đã lái thuyền rất vững.”
Nhưng cha nó không bao giờ khen nó, James nghĩ một cách dứt khoát.
Ông Ramsay mở gói giấy ra và chia cho chúng những cái bánh sandwich. Giờ thì ông hạnh phúc, trong lúc ăn bánh mì và pho mát với những người ngư dân này. Hẳn là ông thích sống trong một căn nhà thôn dã và đi thơ thẩn trên bến cảng, la lối chuyện trò với những ông già khác, James nghĩ, quan sát ông xắt cục pho mát thành những lát mỏng với con dao bỏ túi.
Điều này đúng, chính nó đây rồi, Cam tiếp tục cảm nhận khi nó nhìn quả trứng đã luộc kỹ của mình. Giờ đây nó cảm thấy như thể nó đang ở trong phòng đọc sách khi những ông già đang đọc báo THE TIMES. Giờ đây mình có thể tiếp tục suy nghĩ những gì mình thích, và mình sẽ không rơi ra khỏi vách núi hay bị chết chìm, vì ông ấy đang ở đó, đưa mắt dõi theo mình, nó nghĩ.
Trong lúc đó họ đang lướt dọc bên cạnh những tảng đá, nhanh đến mức tâm trạng của ai cũng phấn khích - dường như họ đang làm hai việc trong cùng một lúc; vừa ăn bữa trưa ở đây dưới ánh mặt trời đồng thời cũng vừa tạo ra sự an toàn trong một cơn bão sau một vụ đắm tàu. Nước có tồn tại không? Những thứ thực phẩm dự phòng có tồn tại không? Cam tự hỏi mình, kể cho nó nghe một câu chuyện nhưng đồng thời biết rằng cái gì là sự thật.
Chẳng bao lâu nữa họ sẽ rời khỏi cuộc đời, ông Ramsay đang nói với già Macalister, nhưng con cái họ sẽ nhìn thấy những điều kỳ lạ. Macalister bảo ông tròn bảy mươi lăm vào tháng Ba vừa rồi; ông Ramsay thì bảy mươi mốt. Macalister bảo ông chưa từng đi bác sĩ lần nào; ông chưa rụng một cái răng nào. Và đó là cái cách mà tôi thích con cái tôi sống - Cam chắc chắn đó là điều mà cha nó đang thầm nghĩ vì ông đã ngăn nó đừng ném một cái bánh sandwich xuống biển và bảo nó, như thể ông đang nghĩ về những người ngư dân và cách sống của họ, rằng nếu nó không muốn ăn nữa thì nên cất cái bánh lại vào gói. Nó đừng nên lãng phí. Ông nói điều đó một cách minh nhiên, như thể ông biết rõ những điều xảy ra trên thế gian đến nỗi nó cất cái bánh vào ngay, thế rồi ông lấy từ gói của mình ra một cái bánh gừng và trao cho nó, như thể ông là một ông lớn Tây Ban Nha đang trao cho một phu nhân bên cửa sổ một đóa hoa (cử chỉ của ông hào hoa phong nhã làm sao). Ông ăn mặc xoàng xỉnh, giản dị, đang ăn bánh mì và pho mát; thế nhưng ông đang chỉ huy chúng trong một cuộc viễn chinh mà họ có thể sẽ chết chìm, đó là tất cả những gì nó biết.
“Đó là nơi con tàu bị đắm,” con trai của già Macalister đột ngột nói.
Có ba người người bị chết đuối tại nơi chúng ta đang đi qua, ông già nói. Chính ông đã từng nhìn thấy họ đeo bám đu đưa trên chiếc cột buồm. Và ông Ramsay đưa mắt nhìn quanh chỗ đó, James và Cam e rằng ông sẽ bật thốt lên:
Nhưng tôi còn bị nhấn chìm hơn anh ấy,
và nếu ông làm thế, chúng không thể chịu nổi; chúng sẽ hét to lên; chúng không thể chịu đựng thêm một sự bùng nổ khác của cảm xúc nồng nàn đang sôi sục trong ông; nhưng chúng ngạc nhiên khi tất cả những gì ông nói là ‘Chà”, như thể ông nghĩ cho chính bản thân mình. Nhưng tại sao cứ ầm ĩ lên vì chuyện đó. Những người đàn ông chết đuối trong một cơn bão là lẽ tự nhiên, đó cũng là một sự vụ hoàn toàn chính đáng, và những đáy biển thẳm sâu (ông rắc những vụn bánh từ miếng giấy gói bánh qua chỗ chúng) nói cho cùng cũng chỉ là nước mà thôi. Thế rồi sau khi đốt tẩu thuốc lên ông lấy cái đồng hồ bỏ túi ra. Ông chăm chú nhìn nó; có lẽ ông đang làm một phép tính toán học nào đó. Cuối cùng ông hoan hỉ nói:
“Tuyệt lắm!” James đã lái thuyền như một thủy thủ con nhà nòi.
Thấy không! Cam nghĩ, lặng lẽ hướng mắt về phía James. Cuối cùng em đã đạt được nó rồi. Bởi nó biết rằng đây là điều mà James hằng mong đợi, và nó cũng biết rằng giờ đây, khi đã đạt được điều đó rồi, James sẽ hài lòng đến nỗi nó sẽ không nhìn cô hay cha nó hay bất kỳ ai nữa. Nó ngồi ở đó, lưng rất thẳng, bàn tay đặt trên bánh lái, trông hơi hờn dỗi và cau có. Nó hài lòng đến nỗi nó sẽ không cho bất kỳ ai chia sẻ một mảy may nào trong niềm hân hoan của nó. Cha nó đã khen ngợi nó. Chúng đã phải nghĩ rằng ông cực kỳ thờ ơ lãnh đạm. Nhưng giờ thì em đã đạt được điều đó rồi, Cam nghĩ.
Họ đã trở buồm chạy vát, và họ đang nhanh chóng lướt đi một cách sôi nổi trên những lớp sóng đong đưa, lắc lư họ từ bên này sang bên kia với một sự nhịp nhàng và hồ hởi lạ lùng bên ngoài rặng đá ngầm. Ở phía bên trái là một dãy đá tảng hiện ra nâu nâu dưới làn nước mỏng và ngày càng trở nên xanh hơn, còn ở bên phải là một tảng đá cao, một lượn sóng vỡ triền miên và phun trào lên một cột nhỏ những giọt nước rào rào rơi xuống như mưa. Người ta có thể nghe thấy tiếng nước vỗ và tiếng tí tách của những giọt nước đang rơi, và một âm thanh rì rào to nhỏ phát ra từ những lượn sóng đang cuộn tròn nô giỡn và vỗ vào những tảng đá như thể chúng là những sinh vật hoang dã, những sinh vật hoàn toàn tự do, tung tăng và nhào lộn và nô đùa như thế này mãi mãi.
Lúc này họ có thể nhìn thấy hai người trên ngọn hải đăng, đang quan sát họ và chuẩn bị đón tiếp họ.
Ông Ramsay cài lại nút áo khoác và xắn ống quần lên. Ông cầm lấy cái gói giấy nâu lớn được gói lại một cách sơ sài mà Nancy đã chuẩn bị và đặt nó lên đầu gối mình. Ông ngồi trong tư thế sẵn sàng cho cuộc lên bờ như thế, ngoái nhìn lại hòn đảo. Với đôi mắt viễn thị của mình có lẽ ông có thể nhìn thấy cái hình dáng như chiếc lá thu nhỏ ở đầu kia của một chiếc dĩa bằng vàng một cách rõ ràng. Ông có thể nhìn thấy gì? Cam tự hỏi. Với nó tất cả đều nhòa nhạt mơ hồ. Lúc này ông đang nghĩ gì? nó tự hỏi. Ông tìm kiếm cái gì mà chăm chú, mà đăm đăm, mà lặng lẽ vậy? Chúng quan sát ông, cả hai đứa chúng nó, đang ngồi đầu trần với cái gói giấy trên đầu gối, nhìn đăm đăm vào cái hình dáng xanh xanh mơ hồ trông như làn hơi nước của một vật gì đó đã tự bốc cháy tan tành. Cha muốn gì? cả hai đứa muốn hỏi. Cả hai đều muốn nói, Hãy hỏi xin chúng con bất cứ điều gì và chúng con sẽ trao nó cho cha. Nhưng ông không hỏi xin chúng bất kỳ thứ gì cả. Ông ngồi và nhìn về phía hòn đảo và có lẽ đang nghĩ bụng, Chúng ta bỏ mạng, đơn độc từng người, hoặc có lẽ ông đang nghĩ, Ta đã chạm tới nó rồi. Ta đã tìm ra nó; nhưng ông không nói lời nào.
Rồi ông đội mũ lên đầu.
“Mang những cái gói đó nhé,” ông nói, hất đầu chỉ về phía những thứ mà Nancy đã gói ghém chuẩn bị cho họ mang ra ngọn hải đăng. “Những cái gói cho những người gác hải đăng,” ông nói. Ông nhổm dậy và đứng trong khoang thuyền, rất thẳng và cao, đúng vậy, James nghĩ, như thể ông đang nói, “Không có Thượng đế,” và Cam nghĩ, như thể ông sắp nhảy lên không trung, và cả hai đứa nhổm lên đi theo ông khi ông phóng lên tảng đá, một cách nhẹ nhàng, như một chàng trai trẻ.
13.
“Hẳn ông ấy phải tới nơi rồi,” Lily nói lớn, đột nhiên cảm thấy mệt nhoài. Bởi vì ngọn hải đăng đã gần như trở nên vô hình, đã tan chảy vào một làn sương mù xanh ngát, và nỗ lực nhìn vào nó, nỗ lực suy nghĩ về việc ông ấy lên bờ ở đó, cả hai như đã trở thành một, kéo giãn thân thể và tâm hồn cô đến mức tối đa. Ồ, nhưng cô cảm thấy nhẹ nhõm. Bất cứ thứ gì mà cô muốn trao cho ông ấy khi ông ấy rời khỏi cô lúc sáng nay, cuối cùng cô cũng đã trao nó cho ông ấy.
“Ông ấy đã lên bờ,” cô nói lớn. “Chuyến đi đã hoàn thành.” Thế rồi, nhổm người lên, khẽ phì phèo tẩu thuốc, ông lão Carmichael đứng bên cạnh cô, trông như một vị thần dị giáo già nua, râu tóc bờm xờm, với những sợi cỏ trong tóc và cây đinh ba (thật ra nó chỉ là cuốn tiểu thuyết Pháp) trong tay. Ông đứng bên cô trên rìa bãi cỏ, thân hình to lớn khẽ lắc lư, và nói, tay đưa lên che mắt: “Họ sẽ lên bờ,” và cô cảm thấy rằng cô đã đúng.
Họ không cần phải nói. Họ đã suy nghĩ về cùng những điều giống nhau và ông đã đáp lời cô mà không cần cô phải hỏi ông bất cứ điều gì. Ông đứng đó như thể ông đang dang rộng đôi tay bên trên mọi yếu đuối và đau khổ của loài người; cô nghĩ ông đang quan sát, một cách khoan thứ và trắc ẩn, cái định mệnh chung cuộc của họ. Giờ thì ông đã tìm ra duyên cớ, cô nghĩ, khi bàn tay ông chậm chạp buông xuống, như thể cô đã nhìn thấy ông buông rơi từ chiều cao vĩ đại của ông một vòng hoa violet và lan nhật quang, nó chậm rãi chao động rồi cuối cùng đáp xuống mặt đất.
Một cách nhanh nhẹn, như thể cô được nhắc nhở bởi một điều gì ở đó, cô quay sang bức tranh của mình. Nó nằm đó - bức tranh của cô. Vâng, với tất cả những sắc xanh dương và xanh lá, những đường nét chạy lên và ngang dọc, nỗ lực vươn tới một cái gì đó. Nó sẽ được treo trong những căn phòng áp mái, cô nghĩ, nó sẽ bị hủy diệt. Nhưng điều đó có quan trọng gì cơ chứ? cô tự hỏi, một lần nữa nâng cọ lên. Cô nhìn những bậc thềm; chúng trống rỗng; cô nhìn vào bức tranh của mình; nó mờ mờ. Với một cảm xúc mãnh liệt, như thể cô đã nhìn thấy nó một cách rõ ràng trong một thoáng giây, cô vạch một nét ở đó, ngay chính giữa. Nó đã được thực hiện xong; nó đã hoàn tất. Vâng, cô nghĩ, đặt chiếc cọ xuống trong một cảm giác mệt nhoài cực độ, tôi đã có viễn tượng của mình.
