Thomas Jefferson, Nhân Sư Mỹ

Lượt đọc: 313 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
washington, d.c.: 1801-1804

Tất cả chúng ta là đều là người Cộng hòa - tất cả chúng ta đều là người Liên bang .

THOMAS JEFFERSON

Diễn văn Nhậm chức, ngày 4 tháng 3 năm 1801

Tôi sẽ không tìm cách trả thù nào khác, ngoài cách kiên trì theo đuổi kinh tế và hòa bình, thiết lập vững chắc các nguyên tắc cộng hòa, cả về nội dung lẫn hĩnh thức, nhấn chìm chủ nghĩa liên bang vào một vực thẳm không thể thoát ra .

JEFFERSON GỬI LEVILINCOLN

Ngày 25 tháng 10 năm 1802

⚝ ✽ ⚝

Truyền thuyết kể rằng ông đến lễ nhậm chức tổng thống của mình trong sự cô độc huy hoàng và với một thái độ khiêm nhường. Theo các nguồn không đáng tin cậy, dựa trên câu chuyện bịa của một du khách người Anh, ngay trước buổi trưa ngày 4 tháng 3 năm 1801, Jefferson đi tới đại lộ Pennsylvania bụi băm trong một khung cảnh mà các nhà sản xuất hình ảnh sau này có lẽ sẽ đặt tên là “Ông Jefferson tới Washington”: “Ông ấy mặc quần áo vải trơn, và ông ấy cưỡi ngựa đến đồi Capitol mà không có một người bảo vệ hay thậm chí tùy tùng nào đi cùng, xuống ngựa mà không cần ai giúp, và buộc dây cương ngựa vào hàng rào”. Câu chuyện tiếp diễn: ông bước vào phòng Thượng viện, đọc Diễn văn Nhậm chức của mình trong một phong cách khiêm tốn và bằng chất giọng, theo nhân chứng Margaret Bayard Smith thì “nhẹ nhàng như phụ nữ”. Thật vậy, ông phát biểu khẽ khàng đến mức rất ít khán giả có thể nghe thấy những gì ông nói. Sau khi tuyên thệ nhậm chức, ông nhanh chóng rời đi không chút phô trương và lại đơn độc cưỡi ngựa trở về phòng mình tại nhà trọ Conrad & McCunn. đó, ông ngồi ở đầu bàn cách xa lò sưởi - vị trí quen thuộc của ông - và nhìn ra thế giới như một công dân bình thường của nước Cộng hòa Mỹ đang bẻ bánh mì cùng những người như mình. 1

Các chủ đề dân chủ về chủ nghĩa cá nhân và sự bình đẳng diễu hành, hoặc có lẽ là tiến thẳng đến chỗ chúng ta trong cách tạo dựng huyền thoại này. Và vì việc nhậm chức tổng thống của Jefferson có liên hệ mật thiết với sự xuất hiện của một xã hội Mỹ dân chủ hơn trong những năm đầu thế kỷ 19, nên nó có vẻ như rất hợp lý khi đưa ông vào cái bẫy của huyền thoại dân chủ. Chính Jefferson đã vô tình đóng góp cho cách giải thích này, khi mà một vài năm sau sự kiện đó, ông đã gọi cuộc bầu cử của mình là “cuộc cách mạng năm 1.800”, rồi lý giải rằng nó “là một cuộc cách mạng thật sự theo nguyên tắc của chính phủ chúng ta, giống như cuộc cách mạng năm 1776 vậy”. 2 Nhưng ý tứ thật sự của Jefferson khi nói những lời này, và những gì người đương thời với ông nghĩ về cuộc bầu cử lúc đó, lại không hoàn toàn dựa trên các mệnh lệnh huyền thoại của một nền văn hóa dân chủ. Có lẽ cách tốt nhất để làm nổi bật sự khác biệt giữa truyền thuyết dân chủ và thực tế lịch sử chính xác hơn là đi vào mô tả riêng rẽ những gì chúng ta biết về các sự kiện có thật trong ngày 4 tháng 3 năm 1801.

Không có con ngựa nào trong bức tranh. Phòng của ông ở Conrad & McCunn chỉ cách đồi Capitol một quãng ngắn, chỉ một vài trăm thước, nên ông đi bộ. Nhưng ông không đi bộ một mình. Trước mặt ông là một đội dân quân từ khu vực Alexandria gần đó, kiếm tuốt trần đang hành quân, theo sau là một đoàn đại biểu nghi lễ của quận Columbia. Đằng sau ông là một cuộc diễu hành nhỏ của các chức sắc, dẫn đầu là một dân biểu Cộng hòa và hai thành viên của nội các sắp mãn nhiệm, sự hiện diện của họ nhằm để minh họa cho sự tiếp nối công việc của Tổng thống Adams. Bản thân Adams lẽ ra phải có mặt thì lại không hiện diện, hoạt động sáng hôm đó sẽ diễn ra lúc 4:00 ngoài thành phố.

Các nhân chứng gần như đều nhất trí rằng sự đơn giản tương đối của “cuộc diễu hành nhỏ” ấy chính là để đưa ra một tuyên bố chính trị. Hầu hết các nhà bình luận đều nhấn mạnh vào sự tương phản giữa đoàn tùy tùng khiêm tốn, không trang hoàng và hào nhoáng của Jefferson với cỗ xe sáu ngựa đã được Washington và Adams sử dụng trước đó tại lễ nhậm chức của mình. Nhưng từ khóa ở đây là “cộng hòa” chứ không phải “dân chủ”. Không ai lúc đó nghĩ rằng sẽ mô tả cuộc bầu cử của Jefferson như sự lên ngôi của một thường dân. Những nhà quan sát duy nhất sẵn sàng mô tả ông như một “nhà dân chủ” là một vài người theo tư tưởng Liên bang cực đoan; và họ đã dùng thuật ngữ này như một biệt danh (nghĩa là, “nhà dân chủ nguy hiểm”). Chính Jefferson cũng ít khi sử dụng từ “dân chủ” trong tuyên bố công khai hay thư từ riêng của mình trước năm 1800, và chỉ đến khi được bầu ông mới bắt đầu làm như vậy. Trong một bức thư gửi cho Maria một vài tuần trước lễ nhậm chức, ông đã mô tả những gì đang xảy ra theo công thức quen thuộc nhất kiểu Jefferson, đó là: “Tôi cảm thấy một mong muốn chân thành, thật vậy, là được thấy chính phủ chúng ta trở lại nguyên tắc cộng hòa, được thấy chính phủ mà tôi đã cống hiến cả đời mình được gắn chặt với những nguyên tắc ấy”. Ông coi mình như một công cụ nhằm khôi phục “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”, theo đó ý ông là các nguyên tắc chính trị được rèn giũa trong thử thách của Cách mạng Mỹ, những nguyên tắc sau đó đã bị những kẻ chủ trương Liên bang phá hỏng (tức là “người sùng Anh”, “người theo chủ nghĩa quân chủ”) từ năm 1776. 3

Trong tâm trí của cả ông lẫn của những người ủng hộ ông, lúc đó, việc Jefferson lên làm tổng thống tượng trưng cho sự phục hồi tình trạng thắt lưng buộc bụng thời cách mạng hơn là việc lên ngôi của một người bình dân. Sự đơn giản trong cách ăn mặc của Jefferson và thái độ khiêm tốn của “cuộc diễu hành nhỏ” đến đồi Capitol của ông được xem như một tuyên bố lạc hậu về “tinh thần năm “76”. Trong tâm trí Jefferson, những đột phá lịch sử lớn lao gần như luôn là sản phẩm của một cuộc thanh trừng, nó giải phóng xã hội khỏi các mảnh vỡ tích lũy của quá khứ và do đó cho phép các lực lượng tự nhiên bị cản trở trước đó tiến tới tương lai. Sự giản dị và cần kiệm, chứ không phải bình đẳng hay chủ nghĩa cá nhân, là những thông điệp từ cuộc diễu hành nhậm chức của ông. Đó là một tuyên bố của chủ nghĩa tối giản về một cuộc thanh trừng sự dư thừa và chú trọng vào bản chất.

THÀNH PHỐ CỘNG HÒA

Nếu đây chính là ý nghĩa của “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” đối với Jefferson và những người đương thời, thì thông điệp mà họ dự định đã được hưởng một môi trường sống tự nhiên hoàn hảo tại thủ đô mới. Vì Washington, D.C., vào năm 1801 là địa điểm lý tưởng để khởi động một cuộc thập tự chinh chống lại sự thái quá. Sẽ không thể hình dung ra cảnh những triều thần lập kế hoạch trong những dãy hành lang, hoặc những kẻ chủ mưu đang âm mưu đằng sau những cánh cửa cung điện khóa kín, vì chẳng có tòa án, chẳng có cung điện, ngoài sự thật là có rất ít nhà cửa. Những vị dân biểu nếu muốn họp kín trong hành lang của đồi Capitol chưa hoàn thiện thì sẽ phải thường xuyên nói thi với tiếng súng trường của đám thợ săn đang đi bắn chim cút và gà tây rừng cách đồi Capitol chừng một trăm thước. Washington là thành phố cộng hòa hoàn hảo theo nghĩa vụng về ở chỗ nó không hẳn là một thành phố. Các gốc cây vẫn còn nhô lên ở một số điểm trên đại lộ Pennsylvania (có lẽ đây là một lý do nữa cho việc Jefferson không đến lễ nhậm chức của mình bằng xe ngựa), và khi một số du khách dừng lại để hỏi thủ đô mới của Mỹ ở đâu thì họ được thông báo rằng họ đang đứng ngay trong trung tâm của nó. Càng hợp lý hơn khi có ghi chép cho rằng vị tổng thống đầu tiên cư trú tại đây tin rằng các thành phố là những vết lở loét trên cơ thể chính trị, vì Washingon làm người ta nghĩ ngay đến thôn quê nhiều hơn thành thị, một vết thương hở đang chảy máu vào sông Potomac. 4

Jefferson từ lâu đã hối tiếc về “thương vụ bàn ăn”, dẫn tới việc thủ đô quốc gia bị đặt ở vị trí phía nam, trên bờ sông Potomac; ông gọi nó là quyết định sai lầm nhất trong cả sự nghiệp của ông. Nhưng lúc đó ông đang ám chỉ lối ngoại giao xảo quyệt của Hamilton đã quyến rũ ông, khiến ông chấp nhận giả thiết của liên bang về các khoản nợ công, chứ không phải việc đặt thủ đô tại một nơi khó tin giữa đầm lầy Chesapeake. Chính Washington đã đưa ra các quyết định quan trọng về địa điểm đầm lầy và diện tích vô duyên của nơi này. Ông đã chọn một chỗ đất lún tự nhiên, có vành hình đĩa, có thể giữ nhiệt và độ ẩm hiệu quả đồng thời là một nơi sinh sản lý tưởng cho muỗi. Những ngọn đồi xung quanh vừa đủ cao để cản trở sự di chuyển của không khí và vừa đủ thấp để ngăn cản sự hiện diện của cảnh vật ở xa. Washington cũng đã hợp nhất cả hai kế hoạch đô thị được đề xuất với ông, do đó mở rộng biên giới của thành phố này. Kết quả là, thay vì bắt đầu với một nơi tập trung dân cư và mở rộng ra, thì thành phố mang tên ông lại bắt đầu bằng một không gian rộng lớn nhưng hầu như trống rỗng, rồi sau đó mới dần dần được lấp đầy. Du khách châu Âu và Mỹ luôn bị nhầm lẫn khi đặt chân vào thủ đô của Mỹ, vì những nhà quản lý thành phố đã công bố các tấm bản đồ và bản in chi tiết cho thấy cách bố trí của các đường phố và các tòa nhà trong hình dung mà không giải thích rằng sẽ phải mất hàng thập niên thì thực tế mới bắt kịp với tầm nhìn. Những lời cuối cùng của Washington về dự án này, chính xác một cách kỳ quái như thường lệ mỗi khi nói đến những vấn đề thiết yếu, dự đoán rằng các không gian trống sẽ cho phép thủ đô của quốc gia trở nên vĩ đại “trong khoảng một thế kỷ”. 5

Điều đó làm cho Washington trở thành một thành phố phong cách Jefferson kiểu mẫu theo một nghĩa khác, cụ thể đó là một lời hứa chắc chắn, một số người sẽ nói là ngớ ngẩn, về khả năng tiềm ẩn của quốc gia, giống như một chàng thanh niên trong những năm đầu đời đã vẽ lên một kế hoạch cho ngôi nhà trong mơ của mình và sau đó tự tin chờ đợi những kỳ vọng của mình sẽ đạt được trong tương lai. Du khách nước ngoài thường xuyên ghi lại sự không bằng lòng của họ với phong cách tân cổ điển táo bạo của Tòa nhà Tổng thống và đồi Capitol - tòa nhà công cộng duy nhất ở đó vào năm 1801 - sau đã bị lún xuống giữa một đầm lầy. “Đường phố đầy bùn vào mùa đông, và bụi mù vào mùa hè”, một người hài hước kể lại, “và thay vì những công trình lớn lộng lẫy, bạn sẽ chẳng thấy gì ngoài ruộng ngô và đồng cỏ, những kênh rạch cạn khô và những đầm lầy bẩn thỉu, nơi ếch nhái làm tình trong âm điệu thích thú giòn vang nhất, và chúng rống lên như thể chúng quyết tâm không giữ bí mật chuyện này”. Đổi tên Goose Creek thành Tiber đã trở thành nguồn cho nhiều câu chuyện cười về sự lố bịch của một thành Rome nước Mỹ. Một nhà thơ Ireland trẻ là Thomas Moore đã biến những ý tứ ấy thành vần vèo, thậm chí đưa cả Tổng thống Jefferson vào mạch thơ:

Đây nơi đô thị đồng quê, nơi trong trí tưởng tượng ta thấy

Quảng trường trong đầm lầy, bia tưởng niệm trên cây cối .

Những thứ sẽ đẹp đẽ theo lời tiên tri

Đền miếu chưa dựng và anh hùng chưa sinh .

Dù giờ chỉ thấy tuyền rừng và J --,

Nơi lý ra phải là phố phường và ngải đắng . 6

Dù bài thơ dở tệ này có thiếu sót đến đâu về mặt thi ca, nhưng đúng là nó đã thu hút được sự chú ý đến sự khác biệt rõ ràng giữa thực tế là Washington giống như một bộ sưu tập hỗn tạp những ngôi làng và tuyên bố khá tự phụ, mà kỳ diệu thay qua thời gian lại hóa ra gần đúng, rằng thủ đô giả tạo này là tâm chấn của một trận động đất chính trị mà định mệnh đã định để lật đổ mọi vương triều và bạo chúa trên hành tinh. Nhưng vào thời điểm đó, nghịch lý đáng chú ý này chỉ trông giống như một mâu thuẫn đơn giản. Capitol chưa hoàn thiện đã minh chứng cho điều này bằng hình ảnh. Thứ mà Jefferson nhìn thấy khi ông kết thúc “cuộc diễu hành nhỏ” của mình chính là một công trường xây dựng. Trung tâm của đồi Capitol đã mất tích hoàn toàn, và các cột trụ được thiết kế để đỡ mặt tiền phía trước vẫn đang nằm ngổn ngang trên bãi cỏ. Chái nhà phía bắc, nơi Hạ viện họp, mới chỉ xong phần khung nhưng mái chưa xong; đám nghị sĩ gọi vui nó là “cái lò”. Jefferson đã chọn tuyên thệ nhậm chức tổng thống trong phòng Thượng viện chủ yếu là vì lúc đó nó là tòa nhà công duy nhất có sẵn. 7

Tất nhiên biểu tượng đô thị và kiến trúc chỉ có thể giúp ta dựng lại không khí ban đầu ở buổi lễ nhậm chức của Jefferson. Một khi bước vào phòng Thượng viện, chúng ta bước vào một khu vực nội bộ theo nhiều nghĩa. Mọi chỗ trong phòng Thượng viện đều đã có người ngồi, hành lang hết chỗ chứa. Cánh phóng viên ước tính khán giả tham dự vào khoảng 1.000 người. Trong khi chúng ta có thể chắc chắn rằng họ đã không đến để nghe về sự xuất hiện của Nền Dân chủ Jefferson mà là về sự phục hồi của “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”, thì ta lại không tài nào biết được rõ ràng ý nghĩa của nó là gì. Có một sự kịch tính và căng thẳng đằng sau màn chào đón Jefferson khi ông tiến đến sân khấu nhỏ ở tầng dưới phòng Thượng viện. Chờ để gặp ông là Phó Tổng thống Aaron Burr, đã tuyên thệ nhậm chức trước đó vào buổi sáng, và Chánh án John Marshall, có mặt để điều hành lễ tuyên thệ của Jefferson.

Bất kỳ cuộc tụ tập nào có mặt Burr đều có khả năng trông giống như một âm mưu. Trong mắt những người đương thời, ông là một thành viên bí ẩn và lanh lợi nhất của thế hệ cách mạng. John Adams tin rằng Burr là người duy nhất có khả năng vượt qua cả Hamilton trong cuộc đua để trở thành một Napoleon của Mỹ. Ông tỏa sáng và xuất sắc trong phong cách Hamilton, và lợi thế duy nhất của ông so với Hamilton, trên thực tế là so với tất cả các đối thủ cạnh tranh, đó là khả năng bất chấp mọi nguyên tắc đạo đức hay chính trị vốn cản trở con đường quyền lực của mình. “Đối với Burr”, Hamilton viết vào tháng 12 năm 1800, “đến đám bạn thiên vị nhất cũng không ủng hộ tính cách cá nhân của ông”, và thêm rằng “Ông Burr [là] người không thích hợp nhất cho vai trò Tổng thống tại Mỹ”. Hamilton dường như cảm thấy ở Burr một phiên bản hiểm ác hơn về tham vọng chính trị chộn rộn của chính mình, cũng giống Burr dường như cảm thấy ở Hamilton một chính khách Mỹ duy nhất cả gan thách thức yêu cầu chính đáng của ông. Sự rất giống nhau về tính khí của hai người đã khiến họ cạnh tranh với nhau đến mức sống còn. Nếu chỉ nhìn lại, có vẻ hoàn toàn có thể dự đoán được rằng hai nhân vật phản diện sẽ đối mặt nhau bằng súng ngắn trên cánh đồng Weehawken ba năm sau đó và Burr, không bị đè nặng bởi bất kỳ quy tắc danh dự cổ lỗ nào, sẽ lạnh lùng găm một viên đạn vào cột sống của Hamilton. 8

Tại sao một nhân vật không có chút gì tính cách của Jefferson lại đang đứng đó trong phòng Thượng viện, chào đón Jefferson với tư cách là người đứng thứ hai sau ông? Câu trả lời ngắn gọn là Burr chịu trách nhiệm chính cho cuộc bầu cử của Jefferson. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1800, một lần nữa Jefferson lại phải đấu với Adams. Mặc dù ứng viên Cộng hòa cho vị trí trong Quốc hội và nhà nước giành chiến thắng vang dội, nhưng Adams vẫn dẫn đầu các ứng viên Liên bang khác về số phiếu. Trong tất cả các bang trừ New York, Adams thực ra có số phiếu đại cử tri bằng hoặc hơn số phiếu ông đã giành được trong cuộc đua năm 1796, cuộc đua mà ông đã thắng sít sao. Nhưng New York đã dứt khoát bầu cho Jefferson, nên chiến thắng của Adams sẽ là rất mong manh. Và người đã giao các đại cử tri của New York cho phe của Jefferson chính là Aaron Burr kiên cường, cái giá phải trả cho Burr về những đóng góp quan trọng này chính là một chỗ trên lá phiếu cùng Jefferson. 9

Đoạn kết tối quan trọng cho câu chuyện chính trị này xảy ra trong những tuần sau chiến thắng của Jefferson. Sau đó, kỳ lạ thay, đầy đau buồn là hệ thống bầu cử đã ngăn cản cử tri phân biệt giữa phiếu bầu cho tổng thống với phiếu bầu cho phó tổng thống (sau đó đã được sửa lại bằng Tu chính án Thứ mười hai), nên Jefferson và Burr đã nhận được cùng số phiếu đại cử tri. Điều này đã đẩy cuộc bầu cử vào Hạ viện, nơi phe Liên bang có thể chặn được phần lớn số phiếu cần thiết cho việc Jefferson được chọn trong sáu ngày với 36 phiếu. Mặc dù tất cả đều thừa nhận rằng cử tri Mỹ đã có ý định chọn Jefferson làm tổng thống, nhưng Burr đã không làm gì để cho thấy ông sẵn sàng trì hoãn. (Hành vi trì hoãn tôn kính là một thứ xa lạ với phong cách của Burr). Vì vậy, người đón chào Jefferson khi ông bước vào phòng Thượng viên là một kẻ âm mưu chính trị tai tiếng, người mà chỉ một vài tuần trước đó đã bị động trao mình cho một âm mưu của phe Liên bang được thiết kế để lừa Jefferson ở chức vụ ông sắp nhận. 10

Rồi có John Marshall. Xét theo mọi lẽ, Marshall đáng ra phải là một đệ tử của Jefferson. Một người đồng hương Virginia, thâm chí là một người họ hàng xa thông qua gia tộc Randolph có mặt ở mọi nơi, Marshall cùng thời với Madison và Monroe, bằng cách nào đó đã lách được qua mạng lưới thường tập hợp những người trẻ tuổi tài năng của Virginia vào gia đình chính trị của Jefferson. Vào thời điểm Hiệp ước Jay, ông đã trở thành một trong những người nổi bật nhất của phe Liên bang; Jefferson đã từ chối ông vì cho rằng con người này “có tác phong lười biếng, thiếu cẩn thận… và đạo đức giả sâu sắc”, cách mà Jefferson coi Marshall là một kẻ phản bội phiên bản chủ nghĩa cộng hòa của Virginia. Tài năng của Marshall đã thu hút sự chú ý của Adams vào năm 1797, và ông được bổ nhiệm làm một thành viên trong đoàn đại biểu hết sức quan trọng của Mỹ sang Pháp, sau đó là Ngoại trưởng, và cuối cùng trong tuần chót của Tổng thống sắp mãn nhiệm Adams là Chánh án tối cao của Mỹ. 11

Nếu nói rằng Jefferson và Marshall ghét nhau, thì đó sẽ là đi quá xa ờ thời điểm năm 1801; ghét bỏ chỉ xuất hiện sau này và thể hiện rõ nét hơn. Bằng một cách lạ lùng, Marshall đại diện cho những khó khăn là hình ảnh phản chiếu của những khó khăn do Burr đại diện, vì Marshall luôn che đậy được những cảm xúc cá nhân dành cho Jefferson ẩn sau một lớp màn được xây dựng tỉ mỉ bằng các luận cứ vô tư, luôn kết thúc bằng việc khiến ông không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đặt mình vào phía bên kia. Cũng giống như việc Hamilton không ưa Burr bắt nguồn từ sự chồng chéo tham vọng của họ và việc hai người đều nổi tiếng quyết đoán, nên sự mất lòng tin của Jefferson vào Marshall càng trầm trọng hơn do cả hai đều ưa thích một phong cách tinh tế và gián tiếp hơn, có lẽ xuất phát từ quy tắc lịch sự của Virginia. Nếu Hamilton đến với bạn bằng đao kiếm, Marshall lại ưa thích dao găm.

Mặt khác, thứ làm nên sức mạnh cho sự rất thẳng thắn ở Marshall là một đầu óc có cách làm việc khác căn bản với Jefferson, người có xu hướng lọc và xếp kinh nghiệm vào hai hạng mục căn bản là đúng và sai. Marshall thì lại làm việc trong tông màu nhờ nhờ và mang quang phổ trung gian hơn, cũng giống như Madison, Marshall có trí tuệ nhanh nhẹn hơn theo kiểu luật sư trong việc phân biệt và phá vỡ lối tư duy phân đôi của Jefferson thành nhiều phần nhỏ hơn. Ông là một thiên tài về lĩnh vực mà Jefferson sau này gọi là “khả năng bóp méo” - nghĩa là những lập luận phức tạp mà dường như đang đi theo đúng hướng của Jefferson, nhưng sau đó, bằng cách nào đó, quay trở lại và hạ cánh dứt điểm ở phía bên kia chiến tuyến. Rất giống sự khéo léo của Hamilton trong cách làm việc với sổ sách kế toán và những con số tài khóa phức tạp, đối với Jefferson mà nói, lý luận của Marshall thường xuất hiện như những hành động ma quỷ của một phù thủy độc ác. Ông cũng cực kỳ khéo léo khi gây ra thiệt hại lớn nhất với sự nghiệp của người khác bằng cách ra sức bảo vệ nó. Ví dụ, trong những tuần trước lễ nhậm chức, ông đã thừa nhận mình có “những phản đối khó chịu” về việc bầu Jefferson và tin rằng định kiến chính trị của Jefferson đã làm ông “hoàn toàn… không phù hợp với vai trò quan tòa của một quốc gia, nghĩa là không thể chiều theo những định kiến này mà không gây ra thương tổn sâu sắc và lâu dài”. Nhưng bất chấp những dè dặt này, ông vẫn mong người ta biết rằng một số lời chỉ trích của phe Liên bang đối với Tổng thống đắc cử là không công bằng. Nếu những người theo thuyết Jefferson được chia thành “những nhà lý thuyết ước đoán và những kẻ khủng bố tuyệt đối”, thì chính Jefferson lại không cho mình là thành viên của nhóm thứ hai. 12

Ở cấp độ chính trị hơn là cá nhân, người đàn ông đang chờ để chủ trì lễ tuyên thệ cho Jefferson trong phòng Thượng viện đông đúc cảm thấy đặc biệt khó chịu vì ông đứng đó như hiện thân cuối cùng của “đám quan tòa nửa đêm”. Cụm từ này không phải do Jefferson nghĩ ra, mặc dù ông đã nhanh chóng sử dụng nó như một cách để ám chỉ các vị trí tư pháp mà Adams đã chỉ định, bị cho là vào những giờ cuối cùng làm tổng thống của ông. Bản thân cụm từ đã phần nào gây hiểu nhầm, vì nó gợi lên hình ảnh Adams dành đêm cuối cùng của ông tại dinh thự tổng thống, giận dữ ký những lá thư bổ nhiệm dưới ánh đèn dầu nửa đêm trong một cơn co thắt vô vọng của hận thù chính trị trước khi đón thời kỳ mới vào sáng sớm ở thành phố ngoài kia. Trong thực tế, Adams đã bổ nhiệm phần lớn các vị trí trong cơ quan tư pháp, trong đó có Marshall với chức vụ chánh án, vài tuần trước đó, ngay sau khi thông qua Đạo Luật Tư pháp vào tháng 2 năm 1801. Tuy nhiên, đúng là những việc bổ nhiệm này, bao gồm cả vị trí của Marshall, lại diễn ra sau khi công khai kết quả của cuộc bầu cử tổng thống năm 1800, vì vậy theo nghĩa đó chúng đã tạo thành một hành động mang tính đảng phái được thiết kế để dí các thẩm phán phe Liên bang vào tay tổng thống tương lai của phe Cộng hòa. Adams có thể tuyên bố như ông đã làm, rằng ông chỉ đơn giản là làm những gì Washington đã làm trong tuần cuối cùng trên cương vị tổng thống; nhưng đó là một tiền lệ thiếu thuyết phục vì việc bầu Jefferson thể hiện sự phủ nhận căn bản chính quyền phe Liên bang đương nhiệm, trong khi Adams lại đại diện cho một sự tiếp nối. 13

Để làm cho các vấn đề tồi tệ hơn, Marshall được bổ nhiệm không có nhiệm kỳ. Đó là một vị trí suốt đời và chỉ có thể bỏ trống nếu Marshall phạm vào “hành vi phản nghịch” hoặc bị truy cứu là “tội phạm cấp cao và xằng bậy”. Điều này biến ông thành một kiểu “con ngựa thành Troy” được đặt ngay chính giữa nhiệm kỳ tổng thống của Jefferson, vị tư lệnh chính thức của hệ thống tư pháp phe Liên bang mà rõ ràng là không hề bị lay chuyển trước ảnh hưởng hành pháp hay công luận. Cũng không phải là Marshall không ý thức được vị trí thật sự duy nhất của ông và cơ hội gần như mở đến tận cùng của mình - ông coi đó là một nhiệm vụ - gây rối. Vào ngày nhậm chức, ngay trước khi ông bước tới đồi Capitol, ông đã viết một lá thư trấn an một đồng nghiệp phe Liên bang. “Về tầm quan trọng của ngành tư pháp tại mọi thời điểm, mà đặc biệt hơn là ở thời điểm hiện tại, tôi hoàn toàn ấn tượng”, ông giải thích, “và tôi sẽ nỗ lực trong vai trò mới của mình, một vai trò mà tôi được yêu cầu là không làm bạn bè tôi thất vọng”. Jefferson tất nhiên là không biết gì về lá thư này, nhưng ông biết đủ nhiều để nghi ngờ trò phá hoại thường xuyên xuất phát từ cái góc được bảo vệ của Marshall. Ngày hôm trước, dự đoán rằng Marshall có thể sẽ xuất hiện muộn nhằm phá hỏng sự trang trọng của buổi lễ, Jefferson đã gửi cho ông một ghi chú ngắn gọn nhắc nhở ông phải có mặt đúng 12 giờ. Marshall hồi âm, trấn an Tổng thống đắc cử rằng ông luôn đúng giờ. 14

Dù bộ ba kỳ quặc gồm Burr, Marshall và Jefferson có nuôi dưỡng một sự ghét bỏ và thiếu tin tưởng lẫn nhau đến đâu, thì đây cũng chỉ đơn thuần là chuyện cá nhân hoặc chuyện riêng mỗi người. Ở mức độ công cộng lớn hơn, sự căng thẳng hiện hữu trong phòng Thượng viện bắt nguồn từ hai nỗi lo chồng chéo: Thứ nhất, việc Jefferson và phe Cộng hòa lên nắm quyền là chưa có tiền lệ theo nghĩa rằng phe Liên bang đã kiểm soát chính phủ liên bang kể từ khi thành lập vào năm 1789; thứ hai, thông điệp chính trị chi phối của Jefferson trong suốt những năm 1790 gần như hoàn toàn tiêu cực, theo nghĩa rằng ông cầm đầu phản đối các phiên bản của phe Liên bang về quyền lực liên bang và phản đối việc thành lập một chính phủ quốc gia mạnh trên cơ sở cho rằng điều này vi phạm những ý định ban đầu của Cách mạng Mỹ. Hai nỗi lo này gộp lại làm dấy lên những câu hỏi nghiêm túc về sự tồn tại của một chính phủ liên bang mà tân Tổng thống dọa sẽ phá bỏ. 15

Câu trả lời cho loạt câu hỏi đầu tiên có vẻ rõ ràng và chắc chắn, về căn bản đã được thể hiện ngay trong lễ nhậm chức. Margaret Bayard Smith, vợ của biên tập viên tờ National Intelligencer thân Jefferson và là một khán giả của buổi lễ, đã diễn đạt một cách ngắn gọn nhất về điều này: “Những thay đổi về chính quyền, cái mà với mọi chính phủ trong mọi thời đại nói chung, thường là những kỷ nguyên của sự lẫn lộn, ti tiện và đổ máu, diễn ra trong đất nước hạnh phúc này mà không có bất kỳ sự phân tâm hoặc hỗn loạn nào”. Quan trọng là điều này đã diễn ra như một thực tế căn bản, quan trọng hơn cả sự giản dị phô trương và tính biểu tượng cộng hòa của cuộc diễu hành nhậm chức. Việc chuyển giao quyền lực chính trị một cách hòa bình từ chế độ này sang chế độ khác, một vấn đề đã ám ảnh các chính phủ châu Âu từ lớn tới nhỏ, trong mọi hình dạng và hình thức từ thời xa xưa, và thật sự vẫn tiếp tục ám ảnh một số quốc gia hùng mạnh nhất trong thế giới hiện đại, đã diễn ra vô cùng bình thản. Phe Liên bang bị đánh bại cảm thấy cay đắng, hẳn rồi, nhưng họ vẫn tôn trọng ý chí của cử tri. Trong cuộc tranh luận và bỏ phiếu kéo dài tại Hạ viện vào tháng 2, Thomas McKean, Thống đốc theo phe Cộng hòa của bang Pennsylvania, đã đe dọa sẽ kêu gọi 20.000 dân quân nếu phe Liên bang định giở trò gian lận với chiến thắng của Jefferson. Một người Pennsylvania khác, Hugh Henry Brackenridge, đã khuyên Jefferson giành chính quyền và triệu tập chính phủ mà không cần chờ cho Hạ viện giải quyết bế tắc với Burr. Một số người Virginia đã đề nghị triệu tập một hội nghị lập hiến mới để tái cơ cấu chính phủ liên bang, vì dự đoán phe Liên bang sẽ giở trò lừa bịp. Nhưng tất cả những cảnh báo ấy đều không được ai để ý, và cảm giác của họ hóa ra chỉ là sự phóng đại mà thôi. Mặc dù đó không phải là điều Jefferson muốn ám chỉ khi sử dụng cụm từ “cuộc cách mạng năm 1800”, nhưng tính cách mạng đặc trưng nhất trong việc nhậm chức tổng thống của ông chính là ý nghĩa thông thường của nó. Nói cách khác, những sự kiện trọng yếu nhất lại chính là những thứ đã không xảy ra. 16

Câu trả lời cho loạt câu hỏi thứ hai - về chương trình nghị sự chính trị của Jefferson với tư cách Tổng thống - còn đau đầu hơn nữa. Không ai biết chắc chắn ông hàm ý gì trong cụm từ “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”, ngoại trừ có lẽ là điều này đòi hỏi phải giảm bớt quy mô và phạm vi của chính phủ liên bang. “Ông Jefferson đã được tính toán kỹ càng để kéo đổ mọi công trình chính trị lớn”, một người Virginia theo phe Liên bang viết, “và người ta sẽ không phải thất vọng, không phải lo ngại ông sẽ dùng chính mình… để phá tan tòa nhà quốc gia ra từng mảnh…”; ông cảnh báo rằng “ngay cả nền móng của nó cũng sẽ bị san bằng trong vòng chưa đầy bốn năm”. Việc nhắc đến “nền móng” là ám chỉ mối lo chính của phe Liên bang, đó là việc Jefferson định từ bỏ việc dàn xếp hiến pháp năm 1788. Dù sao thì ông cũng đã được bầu làm lãnh đạo của một đảng chính trị mà tiền để trung tâm của nó lại thù địch với bất kỳ hành động thực thi quyền lực nào của chính phủ liên bang đối với các vấn đề trong nước. Cái mà Jefferson gọi là “các nguyên tắc Whig cổ” với thái độ đầy ngưỡng mộ, thực ra lại hoàn toàn đối lập về mặt bản chất, được phát triển ở Anh như truyền thống bất đồng chống lại sức mạnh tích tụ của nhà vua và triều đình, sau đó là ở Mỹ vời tư cách cơ sở tư tưởng cho việc chống lại sự áp đặt của cả sức mạnh Hoàng gia lẫn Nghị viện lên các thuộc địa. Rõ ràng Jefferson và những người ủng hộ phe Cộng hòa của ông coi các chính sách của phe Liên bang trong những năm 1790, đặc biệt là chương trình tài khóa của Hamilton, như một sự phản bội đối với “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”. Nhưng theo như logic vốn đối lập trong tư tưởng Jefferson, việc ông cũng bác bỏ quyền hạn quá lớn được giao cho chính phủ quốc gia theo Hiến pháp không chỉ hợp lý, mà còn có vẻ gần như bắt buộc. Điều này có nghĩa là quay ngược kim đồng hồ trở lại những năm 1790 và 1780, khi quyền lực của chính phủ quốc gia căn cứ theo Điều lệ Liên bang là rất yếu. Thật ra, nếu xem xét sự ác cảm sâu xa của Jefferson đối với những ép buộc chính trị thuộc mọi thể loại và cam kết lâu dài của ông với truyền thống bất đồng, trong đó coi tất cả quyền lực nhà nước về mặt bản chất là độc đoán và tham nhũng, thì thật khó để biết nơi ông đã vẽ đường ngăn cách giữa việc thực hiện hợp pháp quyền lực chính trị với việc vi phạm quyền tự do cá nhân một cách áp bức và lạm dụng. Phe Liên bang sẽ đặt câu hỏi, làm thế nào ông có thể tuyên thệ giữ gìn, bảo đảm và bảo vệ Hiến pháp Mỹ, nếu mục tiêu chính của ông khi làm tổng thống là phá bỏ các thiết chế liên bang được tạo ra bởi chính văn kiện này? 17

Câu trả lời ông dường như rò rỉ ra cho những người ủng hộ Đảng Cộng hòa trong những tháng trước lễ nhậm chức của mình, đó là ý định của ông không phải phá bỏ chính phủ liên bang, mà chỉ là thu nhỏ nó. “Lý thuyết thật sự trong Hiến pháp của chúng ta”, ông nói với Gideon Granger, là “các bang độc lập mọi thứ trong đối nội, và đoàn kết mọi thứ trong đối ngoại”. Điều này nghe có vẻ rất giống với quan điểm mà ông đưa ra trong thập niên 1780, khi Hiến pháp được soạn thảo và trước khi Madison thuyết phục ông ủng hộ việc phê chuẩn nó. Điều này cũng thống nhất với quan điểm của ông vào năm 1798, khi ông và Madison cùng làm việc để soạn thảo các Nghị quyết Kentucky và Virginia nhằm ngăn chặn việc thực hiện các Đạo luật về ngoại kiểu và chống nổi loạn, một đạo luật trọng yếu dưới thời ông làm Phó tổng thống. Ở chức vụ đó Jefferson đã đi được xa hơn nhiều so với Madison trong việc công nhận quyền của một bang được phép vô hiệu hóa luật liên bang trong phạm vi biên giới của nó, thậm chí còn mô tả sự can thiệp của liên bang vào các vấn đề của bang giống như sự can thiệp của chính phủ nước ngoài. Tháng 10 năm 1801, ông cũng cho thấy là ông ủng hộ một đề nghị được lưu hành ở Virginia của John Taylor và Edmund Pendleton, trong đó kêu gọi thực hiện chế độ tổng thống một nhiệm kỳ và giảm bớt quyền hành pháp, nhiệm kỳ ngắn hơn cho thượng nghị sĩ, các thẩm phán liên bang có thể bị Quốc hội bỏ phiếu bãi miễn và giới hạn trong hiến pháp về quyền đi vay của chính phủ liên bang. Dù người ta có coi những gợi ý này là “co lại” hoặc “tháo dỡ”, thì chúng đều cho thấy những tin đồn của phe Liên bang là đúng, rằng Jefferson có ý định tiêu diệt nền tảng hiện tại của chính quyền trung ương và do đó cho phép Mỹ trở thành một loạt các quốc gia-dân tộc riêng biệt như châu Âu, theo kiểu của Pháp, Y và Áo. 18

Nếu có một sự đồng thuận trong nội bộ cả hai phe Cộng hòa và Liên bang, rằng việc bầu Jefferson có nghĩa là giảm triệt để quyền hạn của chính phủ liên bang, thì câu hỏi duy nhất ở đây sẽ là giảm bao nhiêu và bất đồng chính trị duy nhất là phe Cộng hòa thì vui mừng khôn xiết còn phe Liên bang lại hoảng sợ, và một tiếng nói bất đồng sẽ không là ai khác ngoài Alexander Hamilton. Nhận thức được rằng “đã là quá muộn để tôi trở thành người biện hộ cho ông ấy”, và rằng dù sao ông “cũng không thật sự có bất kỳ ý muốn nào làm điều đó”, Hamilton tiếp tục nửa đùa nửa thật bảo vệ các nguyên tắc chính trị của Jefferson: “Tôi thừa nhận rằng chính trị của ông ấy nhuốm màu cuồng tín, rằng ông ấy quá nghiêm túc với quy tắc dân chủ của mình, rằng ông ấy là một kẻ thù tinh quái đối với các biện pháp chủ yếu của chính quyền trước đó, rằng ông ấy xảo quyệt và kiên trì với các mục tiêu của mình, rằng ông ấy không thành thật về những phương tiện để thành công, cũng không lưu tâm lắm đến sự thật, và rằng ông ấy là một kẻ đạo đức giả đáng khinh”. Nhưng bất chấp mọi điểm yếu cá nhân này, mà thực ra là một phần do những điểm yếu này đã khiến Hamilton dự đoán rằng Jefferson “có khả năng giống như bất kỳ người nào mà tôi biết có thói quen trì hoãn…; và kết quả có thể xảy ra với một tính khí như vậy là việc bảo tồn những hệ thống, mặc dù ban đầu là đối lập, nhưng một khi đã được thiết lập, sẽ không thể bị lật ngược mà không gây nguy hiểm cho người đã làm việc đó”. Cũng giống như mọi người khác, Hamilton thừa nhận, ông chỉ đang đoán, nhưng ông không tin rằng Jefferson lại muốn duy trì loại áp lực cần thiết để hủy bỏ chính phủ liên bang. “Đối với tôi”, Hamilton kết luận, “một ước tính thật sự về tính cách của ngài J bảo đảm kỳ vọng về một hệ thống tùy cơ ứng biến hơn là một hệ thống bạo lực”. 19

Lúc đó, những điều này là các rung động cá nhân hoặc riêng tư cũng giống như những suy đoán chính trị lớn hơn hiện hữu trong phòng Thượng viện khi Jefferson quay ra khán giả và bắt đầu đọc Diễn văn Nhậm chức của mình. Một đặc điểm trong lời kể huyền thoại là hoàn toàn chính xác - giọng ông khẽ khàng và khó nghe tới mức chỉ ít người ở hàng đầu tiên mới có thể nghe thấy những gì ông nói - nhưng ông đã chăm chút cho bài phát biểu của mình giống như ông đã làm với Tuyên ngôn Độc lập. Và lần này, mọi từ ngữ đều là của ông, không bị chỉnh sửa bởi các ủy ban hoặc những vị đại biểu thích can thiệp. Hơn thế nữa, ông đã kịp hoàn thành việc sửa đổi để có thể đưa dự thảo cuối cùng đi in và gửi cho tờ National Intelligencer vào ngày phát biểu, vì vậy có khả năng là một số người trong đám khán giả đã có trong tay bản in bài phát biểu từ trước để theo dõi bất chấp giọng đọc khó nghe của ông. Những gì họ nghe thấy, hoặc có thể đọc được, hóa ra là một trong hai hoặc ba bài phát biểu nhậm chức quan trọng nhất trong lịch sử Mỹ, và ngoài bản Tuyên ngôn thiêng liêng, đây là tài liệu hùng hồn và nghệ thuật nhất mà Jefferson từng chế tác. 20

DIỄN VĂN NHẬM CHỨC ĐẦU TIÊN

Giống như bất kỳ tuyên bố khai sinh nào trong lịch sử Mỹ, mặc dù không giống phần lớn những phát biểu nhậm chức của các tổng thống Mỹ khác, nhưng phát biểu của Jefferson ngày 4 tháng 3 năm 1801 lại có lợi ích trên nhiều cấp độ. Ở mức độ tinh vi nhất và cao nhất, ở nơi mà kỹ năng văn phong của Jefferson cảm thấy thoải mái nhất và vận hành hạnh phúc gần như thơ, bài phát biểu của ông chứa nhiều đoạn văn vang vọng qua năm tháng với những cụm từ đáng nhớ. Là một tuyên bố hùng hồn về sự khiêm tốn phù hợp với sự thông tuệ toàn diện mà chúng ta tìm kiếm ở một tổng thống mới, không ai nói điều đó hay hơn, ví dụ như:

Tôi đã học được cách hy vọng rằng đám những người đàn ông không hoàn hảo sẽ hiếm khi rời khỏi vị trí này với danh tiếng và sự ủng hộ đã đưa ông ta vào vị trí đó… Tôi sẽ thường xuyên phạm sai lầm do thiếu sót trong phán xét. Ngay cả khi đúng, tôi vẫn bị cho là sai bởi những người mà quan điểm của họ không đại diện cho tất cả mọi người. Tôi xin ân xá cho những lỗi lầm của riêng tôi, chúng chưa bao giờ là cố ý; và xin quý vị ủng hộ việc chống lại những sai lầm của người khác, vốn có thể lên án những gì họ không được nhìn thấy toàn bộ. 21

Hoặc nếu có ai đó đang tìm kiếm một ví dụ kinh điển về nguyên tắc tự do ngôn luận, thì không có chính khách Mỹ nào từng thể hiện điều ấy gãy gọn hơn: “Nếu có bất kỳ ai trong số chúng ta muốn giải tán liên minh này hoặc thay đổi hình thức cộng hòa của nó, thì cứ để họ đứng đó, yên tĩnh như những di tích an toàn, cùng với sai lầm vế ý kiến có thể được dung thứ khi lý lẽ được tự do chống lại nó”. Hoặc để đưa ra một minh họa cuối cùng trong số những để mục hùng hồn không kém, thì có công thức ngắn gọn này về các mục tiêu chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ: “Công lý bình đẳng và chính xác cho tất cả mọi người, dù thuộc bang nào hay niềm tin nào, mang tính tôn giáo hay chính trị; hòa bình, thương mại, và tình bạn chân thành, với tất cả các quốc gia - không vướng vào liên minh với nước nào”. Jefferson, chứ không phải Washington, là người đã đặt ra thuật ngữ “không vướng vào liên minh”. 22

Nhưng những lời thường được trích dẫn, có thể vượt qua thời gian trở thành một biểu hiện trữ tình của chân lý siêu việt, trong thực tế hoàn toàn dễ hiểu khi nhìn vào bối cảnh nền chính trị Mỹ năm 1801. Ngoài phần quyền tự nhiên của Tuyên ngôn Độc lập, có lẽ đây là tuyên bố chính trị nổi tiếng nhất mà Jefferson từng đưa ra: “Nhưng mọi sự khác biệt về quan điểm không phải là khác biệt về nguyên tắc. Chúng ta đã gọi bằng những cái tên khác nhau những người anh em cùng chung nguyên tắc của chúng ta. Tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa - tất cả chúng ta đều là người Liên bang”. Đây cũng là đoạn mà hầu như mọi phóng viên và quan sát viên đặc biệt quan tâm thú vị vào thời điểm đó, bởi câu nói này dường như đại diện cho tuyên bố rõ ràng, thực ra là chính yếu, của Jefferson về hòa giải và ôn hòa. Nó báo hiệu rằng các trận chiến cay đắng giữa các đảng phái hồi những năm 1790 sẽ không tiếp tục trong nhiệm kỳ tổng thống của Jefferson, rằng phe Cộng hòa đang lên sẽ không tìm cách trả thù cho những tội ác của phe Liên bang trong quá khứ giống như các Đạo luật về ngoại kiểu và chống nổi loạn, và quan trọng nhất là cách hiểu của Jefferson về “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” không đồng nghĩa với một đột phá triệt để so với các chính sách của phe Liên bang hay một sự bác bỏ đầy kịch tính về khuôn khổ chính phủ được thiết lập trong Hiến pháp. Hamilton đã nói thay cho phe Liên bang thanh thản, họ xem bài phát biểu như “một sự rút gọn thẳng thắn những hiểu lầm trong quá khứ, và một cam kết với cộng đồng rằng tân Tổng thống sẽ không cho phép những đổi mới nguy hiểm, nhưng tại các thời điểm cần thiết sẽ tiếp bước những người tiền nhiệm của mình”. 23

Nhưng ý của Jefferson lại không hẳn là những điều Hamilton và tất cả các nhà bình luận khác cho là nghe được từ ông. Một phần của vấn đề thực ra là ở cách diễn giải. Trong phiên bản của bài phát biểu được in trong tờ National Intelligencer và sau đó được phát hành cho báo chí trong cả nước, đoạn quan trọng là: “Tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa - tất cả chúng ta đều là người Liên bang”. Bằng cách viết hoa những từ quan trọng, bản in đã để Jefferson đưa ra một tuyên bố trung thành về những mục tiêu trùng lắp của hai đảng chính trị. Nhưng trong phiên bản viết tay của bài phát biểu mà Jefferson sẽ đọc thì những từ khóa này không được viết hoa. Do đó không phải Jefferson đang ám chỉ nền tảng chung được chia sẻ bởi hai đảng, nhưng như nhiều người vẫn tin, được chia sẻ bởi tất cả các công dân Mỹ, rằng một hình thức chính phủ cộng hòa với sự gắn kết mang tính liên bang giữa các bang là thích hợp nhất. Vì sẽ khó có thể tìm ra một số ít các công dân Mỹ không đồng ý với nhận xét này, nên tuyên bố của ông thiên về một sự tẻ nhạt chính trị hơn là một sự nhượng bộ về ý thức hệ. Ấn tượng về việc Jefferson công khai rút lại tuyên bố trước đó của ông về xung đột đảng phái như một cuộc đấu tranh đạo đức giữa các lực lượng ánh sáng và các lực lượng bóng tối, hóa ra lại là một nhầm lẫn tai hại.

Có một vài đoạn có tính chất gợi ý đã cung cấp manh mối cho phiên bản thật sự nhìn xa trông rộng của Jefferson về “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”, nhưng hầu hết các nhà bình luận đã bị dọa cho chết khiếp bởi thông điệp tiết chế rõ ràng đến độ không nhận ra những manh mối đó. John Marshall, người có lẽ đứng đủ gần bục phát biểu để nghe bài phát biểu trong lúc Jefferson trình bày, đã đi thẳng về nhà mình và ghi lại ấn tượng của ông: “Tôi đã chủ trì lễ tuyên thệ cho Tổng thống… Nó [Diễn văn Nhậm chức] thể hiện bằng những từ ngữ trực tiếp, đưa ra lời nói dối cho bài diễn thuyết đảng phái bạo lực khiến ông ấy được bầu; nhưng nó thể hiện mạnh mẽ đặc điểm lý thuyết chính trị của ông ấy”. Marshall đã đúng, mặc dù ông không nói rõ ý ông là gì khi nhắc tới “lý thuyết chính trị”. Nhưng điều này khó có thể là lỗi của vị Chánh án. Một thành phần quan trọng trong thiên tài của Jefferson là khả năng nêu lên tầm nhìn của ông về nền chính trị Mỹ ở mức độ khái quát, trong đó thách đố tính cụ thể và sử dụng một thứ ngôn ngữ cao độ khiến người ta cảm thấy có nghĩa vụ phải ngước lên nhìn và ngưỡng mộ trong khi không hoàn toàn chắc chắn về các chi tiết. 24

Một trong những đoạn văn như vậy đã xuất hiện trong Diễn văn Nhậm chức khi Jefferson liệt kê các lợi thế tự nhiên mà công dân Mỹ được hưởng, vốn bị “ngăn cách với sự tàn phá hủy diệt của một phần tư thế giới bởi thiên nhiên và một đại dương rộng lớn” và có may mắn sở hữu “một đất nước do họ chọn, với đủ chỗ cho con cháu đến hàng trăm và hàng ngàn thế hệ sau”. Sau đó, ông kết luận danh mục tài sản với những gì ông gọi là “thêm một điều nữa”: “một chính phủ khôn ngoan và thanh đạm sẽ kiểm chế con người làm tổn thương nhau, sẽ để con người tự do điều chỉnh theo đuổi ngành nghề của mỗi người và sự tiến bộ của họ, và sẽ không cướp khỏi miệng người lao động miếng bánh mì kiếm được. Đây là tóm tắt về một chính phủ tốt, và điều này là cần thiết để khép kín vòng tròn hạnh phúc của chúng ta”. Đây là tuyên bố rõ ràng nhất của Jefferson về lý thuyết chính phủ tối giản của ông. Trong khi phe Liên bang bồn chồn lắng nghe ông giải thích quan điểm của mình về quyền hành pháp, về vai trò của cơ quan tư pháp và thẩm quyền thích hợp của luật liên bang so với luật bang, thì Jefferson lại đóng khung câu trả lời của mình ở một mức độ mà theo đó mọi sự phân biệt đó đều biến mất. Chính quan niệm về chính quyền là vấn đề cốt lõi ở đây. Theo nghĩa đó, ông vẫn tuân theo truyền thống Whig, trong đó kỳ thị tất cả các hình thức của quyền lực chính trị như sự tham nhũng cố hữu, đồng thời ông vẫn tuân theo lý tưởng của chính mình về sự tự trị cá nhân, coi bất kỳ việc công khai thực hiện thẩm quyền nào mà không có sự thỏa thuận hoặc tự nguyện đều là một sự can thiệp. Mặc dù là một truyền thống chính trị cũ, đáng kính và là một niềm tin lâu dài thuộc về Jefferson, nhưng quan điểm này có hình thức một tiểu thuyết dưới dạng Diễn văn Nhậm chức, vì nó có nghĩa là Jefferson đang tuyên bố rằng trách nhiệm chính của ông với tư cách tổng thống là để đại diện cho chính cái chính phủ thiếu hiệu quả và vô hình mà ông được bầu ra để lãnh đạo. Bề ngoài, quan điểm này dường như đặt ông vào một vị trí kỳ lạ và bất thường, giống như việc cho Luther đứng đầu Giáo hội Công giáo vậy. 25

Về phía Jefferson, câu hỏi rõ ràng được đặt ra một cách logic tiếp theo sau việc chối bỏ vai trò tích cực đối với chính phủ này đã không biến mất. Ông nêu vấn đề này lên trong bài phát biểu của mình và đã cố gắng ít nhất một lần thử đưa ra câu trả lời:

Tôi biết, thật sự là một số người trung thực lo sợ rằng một chính phủ cộng hòa sẽ không thể mạnh được; rằng chính phủ này chưa đủ mạnh. Nhưng liệu những người yêu nước trung thực với trải nghiệm thành công có từ bỏ một chính phủ cho đến nay vẫn cho chúng ta tự do và vững mạnh, vì cảm thấy sợ hãi về mặt lý thuyết và tầm nhìn, rằng chính phủ này, hy vọng lớn nhất của thế giới, có thể sẽ cần năng lượng để tự duy trì mình? Tôi tin là không. Trái lại, tôi tin rằng, chúng ta là chính phủ mạnh nhất trên Trái đất. Tôi tin rằng đó là chính phủ duy nhất mà mọi người, theo lời hiệu triệu của pháp luật, sẽ tuân theo tiêu chuẩn của luật pháp, và sẽ coi những sự vi phạm trật tự công cộng là vấn đề của chính mình. 26

Đây là đoạn văn vừa phong phú nhất, vừa khó nắm bắt nhất trong Diễn văn Nhậm chức của Jefferson. Đoạn văn ít nhất đã ngầm thừa nhận rằng cuộc bầu cử của ông đã ấp ủ, khơi ngòi cho lo âu lan rộng về việc chia cắt chính phủ liên bang và kéo theo đó là việc giải thể liên bang quốc gia. Nhưng sau đó Jefferson lại lật ngược lập luận, tuyên bố rằng phê bình của ông bị thít chặt bởi “nỗi sợ lý thuyết và tầm nhìn”. Điều này trên thực tế chính là lời buộc tội chống lại ông - đó là, ông là một người có tầm nhìn ngây thơ, thiếu hiểu biết thực tế về sự ổn định của quốc gia phụ thuộc nhiều như thế nào vào một chính phủ liên bang tràn đầy năng lượng mà ông (chứ không phải những lời chỉ trích phe Liên bang của ông, như ông dường như muốn nói) đã cam kết sẽ phá bỏ. Bằng cách nào đó Jefferson đã biến mình thành người bảo vệ cho một chính phủ quốc gia với tư cách là “hy vọng lớn nhất của thế giới” - một cụm từ Abraham Lincoln đã định chọn và cải tiến nó thành “hy vọng cuối cùng, tốt nhất” trong Diễn văn Nhậm chức đầu tiên của riêng mình - và giao phó những chỉ trích của mình sang vai trò của những kẻ hoài nghi, vốn thiếu đức tin cộng hòa như ông.

Nhưng sự chuyển đổi thật sự sáng tạo, một lần nữa, lại mang tính ngụ ý nhiều hơn là khẳng định, chính là đề nghị của Jefferson, rằng nguồn năng lượng đích thực, thật ra là duy nhất, trong một nền cộng hòa không phải của riêng chính phủ mà là quan điểm tự nguyện của nhân dân mà nó dựa vào. Giả định truyền thống, một quy kết nền tảng trong toàn bộ phe Liên bang, là một chính phủ liên bang hoạt động là điều cần thiết để thể hiện quyền hạn và chính sách quốc gia tập trung. Khi thiếu vắng sự lãnh đạo của một chính phủ như vậy, nền Cộng hòa Mỹ được cho rằng sẽ bị rơi vào vòng xoáy của một loạt các phe phái và các nhóm lợi ích rồi cuối cùng tách thành các đơn vị khu vực. Nói ngắn gọn, nếu không có một chính quyền trung ương mạnh, sẽ không thể có một quốc gia Mỹ thống nhất. Tuy nhiên, trong công thức của Jefferson, hẳn là điều đó đi ngược với phe Liên bang, sự giải phóng năng lượng quốc gia được tăng lên trong khi quyền lực của chính phủ bị giảm xuống. Trong khi cách nghĩ của phe Liên bang về chính phủ liên quan đến việc duy trì kỷ luật, sự ổn định và cân bằng, thì tâm lý Jefferson lại bỏ qua những mối quan tâm truyền thống như vậy và tán dương lý tưởng giải phóng. Ẩn trong ngôn ngữ của ông về những gì làm cho một chính phủ cộng hòa mạnh mẽ là niềm tin vào sự gắn kết vốn có của một xã hội Mỹ mà không đòi hỏi các cơ chế nhà nước để duy trì sự ổn định quốc gia.

Trong những tuần sau khi trình bày và phân phối bài Diễn văn Nhậm chức của mình, Jefferson tiến hành viết thư cho những người ký tên vào Tuyên ngôn Độc lập còn sống, cũng như các đồng nghiệp khác từ Quốc hội Lục địa, cũng đã “có mặt lúc tạo ra”, để chia sẻ cảm giác vui mừng của ông khi phiên bản của “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” mà ông đã tuyên xưng trong phát biểu của mình là một sự khôi phục những gì mà tất cả họ dự định hồi năm 1776. Dù ý tưởng thực nghiệm mới và ý thức hệ nào ẩn sau ngôn từ của bài Diễn văn Nhậm chức, thì Jefferson cũng hoàn toàn chắc chắn rằng thông điệp của ông đại diện cho sự phục hồi một tầm nhìn được chia sẻ bởi những nhà cách mạng thuở ban đầu, đó là “những chân lý thiêng liêng và cổ xưa” mà trên đó nền độc lập Mỹ được đặt cơ sở. Ông giải thích cho Benjamin Rush, một lão thành cách mạng ở Philadelphia, rằng “những tâm tình này từ lâu đã hoàn toàn là của tôi”, và Rush đồng tình rằng phát biểu của Jefferson đã thể hiện một cách nên thơ các giá trị mà vì nó tất cả họ đều nghĩ rằng mình đã tranh đấu trong những ngày vinh quang. Một cái gì đó linh thiêng và huyền bí đã xảy ra tại thời điểm thành lập, một kiểu gặp gỡ nguyên sơ với sự thuần khiết chính trị mà tất cả những người tham gia ban đầu đều trải qua giống như một sự hiển linh tập thể. Bản năng đầu tiên của Jefferson là chia sẻ với những người đồng đội còn sống và những người chia sẻ các trải nghiệm đó với mình - những thứ mà người ngoài cuộc và thế hệ trẻ không thể hiểu - rằng “tinh thần năm ’76” đích thực đã trở lại. Các tội nhân ít nhất đã bị tống ra khỏi đền thờ, và các thánh thần một lần nữa lại chiếm quyền kiểm soát. 27

Chuyện ông nhấn mạnh vào cả việc thắt lưng buộc bụng và tính giản dị, cả trong lễ nhậm chức lẫn trong phương thức của ông dành cho một chính phủ liên bang bị tước bỏ, thể hiện niềm tin cốt lõi của ông về sự phục hồi ý nghĩa của Cách mạng Mỹ và về những gì mà ông sẽ tái lập khi được bầu làm tổng thống. Rất giống như việc ông yêu thích “một cuộc nổi loạn nhỏ thi thoảng xảy ra” hoặc “quét sạch” các mảnh vỡ tích lũy của lịch sử qua mỗi thế hệ, Jefferson coi việc ông nắm quyền là một nhiệm vụ nhằm thanh trừng tất cả các hành lý thể chế quả cân mà Chính phủ Mỹ đã mua vào từ thuở khai sinh lập địa cách đây một phần tư thế kỷ. Trong khi các nhà chỉ trích ông ở phe Liên bang và kể cả một số người ủng hộ phe Cộng hòa ôn hòa của ông lên tiếng lo lắng về việc cải cách của Jefferson sẽ đi xa tới đâu (có bao gồm loại bỏ các ngân hàng quốc gia? tư pháp liên bang? hải quân?), thì tâm trí của riêng Jefferson chỉ đơn giản là không làm việc ở cấp độ cụ thể đó. Cách ông suy nghĩ về chương trình nghị sự tổng thống, giống như ngôn ngữ trữ tình của ông trong Diễn văn Nhậm chức, lơ lửng bên trên những chi tiết cụ thể đó. Như ông giải thích với John Dickinson, một trong những thành viên của “nhóm tiền bối” cách mạng, Chính phủ Mỹ giống như một con tàu đã đi qua một số vùng biển dữ: “Chúng tôi sẽ đưa con tàu trở lại hải trình cộng hòa, và con tàu ấy sẽ phô diễn kỹ năng của những người đóng tàu bằng vẻ đẹp chuyển động của nó”. Nói ngắn gọn là, một khi đất nước đã được đưa vào khuôn khổ thích hợp, các lực lượng tự nhiên như gió và thủy triều sẽ phụ trách và đưa con tàu nước Mỹ tới vận mệnh của nó. Với Jefferson, Chúa không phải là một chi tiết; người ở trên trời cùng những vì sao. Nếu có ai đó có thể sắp xếp con tàu nhà nước với những ngôi sao một lần nữa, thì mọi cuộc cãi vã nhỏ về quyền hành pháp và quyền tài phán liên bang sẽ trở nên không còn cần thiết nữa và sẽ biến mất khỏi tầm mắt. Những ai vẫn cứ nêu mấy câu hỏi chọc giận về các điểm đó đã vô tình thú nhận rằng họ thiếu đức tin cộng hòa thuần khiết. 28

TỔNG THỐNG VĂN BẢN

Bất cứ nơi nào người ta muốn xác định sự hiện diện vĩnh cửu của Chúa, thì biểu hiện chính trị của nó có thể thấy rất nhiều bên Jefferson lúc bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống của ông. Hóa ra Adams đã từng là người tiền nhiệm hoàn hảo. Phong cách điều hành quá con người và có phần nóng tính đã đối lập một cách không thuận lợi với sự hiện diện như thần thánh trên đỉnh Olympia của Washington, do đó làm cho Adams ít được ưa chuộng và hạ thấp kỳ vọng đối với người kế nhiệm của ông. Hơn nữa, hành động ít được ưa chuộng và đơn phương nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của Adams, đó là gửi một phái đoàn Mỹ tới Paris với các hướng dẫn để đàm phán chấm dứt một thứ “kiểu như chiến tranh” với Pháp, đã được chứng minh là một thành công rực rỡ. Các điều khoản của hòa ước mới đến quá muộn để có thể giúp Adams thắng cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1800, nhưng kịp để kết thúc thứ “kiểu như chiến tranh” trước khi Jefferson nhậm chức. Và không chỉ có Mỹ hòa bình với các cường quốc châu Âu, mà Pháp và Anh cũng đã đồng ý với một hiệp ước đình chiến có hiệu lực trong cuộc đấu tranh tưởng như vĩnh viễn của họ vì sự thống trị của châu Âu. Jefferson thừa kế nền hòa bình quốc tế ổn định nhất kể từ khi Mỹ tuyên bố độc lập. 29

Về tình hình trong nước, Chúa cũng tỏ ra nhân từ như vậy. Đạo luật ngoại kiểu và chống nổi loạn bị nhiều người xem thường, cho phép phe Liên bang truy tố tội phản quốc ở các đối thủ Cộng hòa thẳng thắn nhất, trên thực tế lại có kết quả ngược lại, giúp huy động sự ủng hộ rộng rãi đối với các ứng viên Cộng hòa trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1800. Trong Quốc hội mới đi cùng Jefferson đến Washington, phe Cộng hòa chiếm hai phần ba đa số trong Hạ viện và một phần nhỏ hơn nhưng có tính quyết định trong Thượng viện. Hơn nữa, quyền lực pháp lý tạo ra Đạo luật ngoại kiểu và chống nổi loạn sắp mất hiệu lực trong những tháng đầu của nhiệm kỳ tổng thống Jefferson, vì vậy ông không cần phải làm gì về điểm này mà chỉ cần ngồi đợi. Thêm vào một loạt những tình huống may mắn này, việc nối lại thương mại Tây Ấn đang nở rộ trong hoàn cảnh giờ đây hòa bình với Pháp đã được phục hồi, mở rộng toàn diện thương mại của Mỹ với một châu Âu hiện đang hòa bình và một nền kinh tế nông nghiệp sôi động với năng suất ở mức độ chưa từng có, và tầm nhìn của Jefferson về một chính phủ liên bang thu nhỏ - theo đuổi những gì ông mô tả là “một quá trình không tiếng ồn… không thu hút sự chú ý” - bắt đầu trông giống như một hành động hợp lý của một nhà lãnh đạo chủ động. Khi lịch sử chia bài như thế này, ai mà không muốn giữ nguyên? 30

Hóa ra là, ngay cả chính phủ liên bang vô hình và không phô trương nhất cũng đòi hỏi phải có sự lãnh đạo điều hành, nếu không vì lý do khác, để thực hiện nguyên tắc khắc khổ cộng hòa. Ở đây một lần nữa Jefferson được hưởng lợi từ chính quyền của Adams, nhưng lần này là một ví dụ minh họa cho việc làm thế nào để không làm điều đó. “Mong muốn của tôi là tập hợp lại quanh chính quyền toàn bộ các năng lực và sự tôn trọng để các văn phòng hoạt động ở đây có thể sử dụng”, Jefferson giải thích, bổ sung rằng ông quyết tấm “không cung cấp chúng cho các nhân vật phụ”. Adams, không chắc chắn về việc mình có bao nhiêu tự do với tư cách tổng thống mới, nên cảm thấy bắt buộc phải sử dụng lại nội các của Washington. Đây đã được chứng minh là quyết định tai hại nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông và là nguồn cơn chính cho những bức xúc chính trị của ông, vì ông thừa hưởng những “nhân vật phụ” mà Jefferson nói đến, cũng như một nội các trung thành với Hamilton và những ký ức về Washington hơn là với chính Adams. (Jefferson sau này nhớ lại rằng Adams đã rất bức xúc về sự ngoan cố của nội các của chính ông tới nỗi cuối cùng ông triệu tập nội các để hét lên những lời tục tĩu đối với lời khuyên mà họ đưa ra trong khi dậm chân quanh phòng họp nội các và “quẳng mái tóc giả xuống sàn và đạp chân lên nó”). Lựa chọn nội các mà Jefferson đưa ra dựa trên hai tiêu chí: năng lực đã được chứng minh và lòng trung thành tuyệt đối với phiên bản Jefferson về chủ nghĩa cộng hòa. Về điểm này, ông đã vô cùng khôn ngoan cũng như may mắn. Nội các của ông đã chứng tỏ là một trong những tập thể cố vấn điều hành có năng lực và ổn định nhất trong lịch sử các nhiệm kỳ tổng thống Mỹ. 31

Hai thành viên nổi bật và vô giá nhất là James Madison và Albert Gallatin. Madison từ lâu đã được nhắm cho vị trí Ngoại trưởng. Ông là bạn đồng liêu và là người được Jefferson bảo trợ suốt đời, một thành viên bè bạn trong triều đại Virginia, một cựu binh đã qua thử thách chinh chiến trong cuộc chiến phe phái những năm 1790, và là học trò sắc sảo chưa từng có của tinh thần Jefferson trên Trái đất này. Gallatin là một người gốc Thụy Sĩ di cư sang Mỹ, định cư ở Pennsylvania và nhanh chóng leo vào hàng ngũ Cộng hòa nhờ tài ăn nói và giỏi tính toán của mình. Ông có dáng người thấp lùn, đầu hói và mũi khoằm, nhưng bề ngoài thiếu ấn tượng của ông và chất giọng còn hơi hướng Geneve thực ra lại che giấu một sức mạnh trí tuệ không ai bì nổi trong thế hệ đang lên của các nhà lãnh đạo Cộng hòa. Gallatin mới chỉ 40 tuổi, và ông là một người ở Mỹ có khả năng tranh luận tay đôi với Hamilton về chính sách tài khóa mà vẫn thoải mái bình tĩnh. Vì kinh nghiệm đáng kể của Jefferson trong chính sách đối ngoại đồng nghĩa với việc - không có ý xúc phạm năng lực đặc biệt của Madison - ông có thể và thường sẽ làm ngoại trưởng cho chính mình, Gallatin với tư cách Bộ trưởng Tài chính là thành viên vô giá nhất và có vị trí chiến lược nhất trong nội các. 32

Các thành viên khác, nếu không phải là “nhân vật phụ”, đều là những nhân vật kém hơn. Levi Lincoln, Tổng chưởng lý, là một luật sư được kính trọng tới từ Massachusetts. Cùng với Henry Dearborn, Bộ trưởng Chiến tranh, đến từ quận Maine của Massachusetts, Lincoln là hiện tượng đơn lẻ trong đó, một người theo thuyết Jefferson đến từ New England, người sở hữu những chứng thư Cộng hòa đã chứng tỏ chúng bằng cách sống sót tại quê hương của Chủ nghĩa liên bang. “Cả hai đều là những người của năm 1776”, Gallatin nhận xét, “và là những người Cộng hòa nổi bật”. Có thể nói tương tự về Gideon Granger, người với tư cách là Tổng giám đốc bưu điện, không phải là thành viên chính thức của nội các nhưng có trọng trách phân phát bảo trợ. Granger là loài hiếm nhất, một người Cộng hòa tới từ bang Connecticut, nơi đồn rằng tấm bằng Đại học Yale là điều kiện tiên quyết để thành công trong chính trị hay trên bục giảng, và lời thể giữ thái độ thù địch suốt đời với kẻ vô đạo tới từ Monticello là một phần bắt buộc trong buổi lễ khai giảng ở Yale. Lựa chọn cuối cùng về Bộ trưởng Hải quân, sau nhiều lần vận động không thành công các ứng viên khác, là Robert Smith, một luật sư nổi tiếng ở Baltimore. Jefferson từng nói đùa rằng ông “sẽ phải quảng cáo chức Bộ trưởng Hải quân”, vì có một giả thiết khá phổ biến, sau này đã được chứng minh là đúng, rằng nhiệm vụ chính của công việc này là phá hoại hạm đội non trẻ của nước Mỹ nhằm thực hiện mục tiêu của Jefferson về thắt lưng buộc bụng kiểu cộng hòa. 33

Hầu hết các học trò của nhiệm kỳ tổng thống Jefferson giải thích phong cách lãnh đạo của ông theo hướng các bài học tích cực ông đã học được từ Washington và những bài học tiêu cực học được từ Adams. Đúng là chính Jefferson cũng coi các mô hình rõ ràng và đối lập này như những hướng dẫn của mình, với mô hình của Adams (tức là, tộc trưởng hờn dỗi) ít hấp dẫn về mặt cá nhân và hiệu quả về mặt chính trị hơn so với mô hình của Washington (tức là, tổng chỉ huy quân đội được bao quanh bởi đám sĩ quan nhân viên). Theo một nghĩa nào đó thì cách tổ chức cơ quan hành pháp của Jefferson thể hiện việc áp dụng Đề án Washington. Tất cả các doanh nghiệp phải tìm đến trưởng các cơ quan liên quan trước tiên. Trong mỗi ngày làm việc, mỗi bộ trưởng phải gửi cho Jefferson một văn bản tóm tắt tất cả các quyết định hoặc các vấn đề thuộc lĩnh vực của mình. Jefferson sẽ trả lời bằng văn bản, nếu có thể là trong cùng ngày, và cũng phải sẵn sàng cho các cuộc họp riêng trước khi trèo lên lưng ngựa hằng ngày lúc 1 giờ chiều. Không giống như Washington, Jefferson không thích sắp xếp các cuộc họp thường xuyên với cả nội các, ông chỉ triệu tập toàn bộ nhóm khi có những quyết định khó khăn hoặc khi có nguy cơ khủng hoảng. Sự sắp xếp này làm cho Tổng thống, như cách Jefferson nói, là “trục bánh xe” trong khi công việc của quốc gia là vành bánh, chuyển tải thông qua các nan hoa, chính là các bộ, nhưng tất cả sẽ được giám sát tại trung tâm. Đó là một hệ thống trong đó tối đa hóa sự kiểm soát, đồng thời tạo khoảng cách cần thiết với các chi tiết. 34

Tấm gương của Washington chắc chắn ảnh hưởng lớn đối với Jefferson, nhưng chính xác hơn, phải hiểu phong cách điều hành của ông biểu hiện cho kinh nghiệm và cá tính riêng của ông. Dù sao thì tầm quan trọng mang tính biểu tượng tại lễ nhậm chức của Jefferson đã được dự định để trở thành một sự bác bỏ của chế độ cộng hòa đối với sự phô trương của triều đình và sự trìu mến của quân vương, tất cả đều là một phần của mô hình Washington. Và khuôn khổ quân sự mà Washington đem theo từ kinh nghiệm của mình với tư cách là chỉ huy của quân đội Lục địa rõ ràng quá độc đoán và không phù hợp với tính khí của Jefferson, người thích một biểu hiện gián tiếp của quyền lực và đã cố gắng tạo ra một bối cảnh có sự đồng thuận trong đó mọi quyết định ít nhất cũng có vẻ mang tính tự nguyện. Trên thực tế, ông đã thực hành phong cách lãnh đạo gián tiếp này theo những cách khác nhau trong suốt quãng đời sau này của mình. Đó là phong cách ngoại giao của một người Mỹ thanh lịch khó nắm bắt ở Paris. Đó là phong cách chính trị của nhà lãnh đạo đảng vô hình nhưng hiệu quả, người đã thành thật nói rằng mình khinh rẻ các đảng chính trị. Đó là phong cách gia trưởng của một chủ đồn điền, người đã thiết kế Monticello để biến chế độ nô lệ trở nên gần như vô hình. Đó là phong cách đối nội của một tộc trưởng nhân từ được bao quanh bởi một gia đình lớn gắn bó với nhau trong sự hài hòa dường như hoàn hảo bằng tình cảm thuần khiết. Cuối cùng, đó là phong cách cộng hòa của Tổng thống đắc cử, một lời tuyên bố rằng nhiệm vụ chính của ông là làm cho chính phủ liên bang mà ông sắp nắm quyền kiểm soát trở nên mờ nhạt và bất lực về chính trị. Thành phần chung trong tất cả các bối cảnh này là niềm thôi thúc của Jefferson muốn che giấu quyền lực của mình trước những người khác và với chính mình.

Ví dụ, cách ông mô tả các cuộc họp nội các, nhấn mạnh vào bầu không khí hài hòa; vay mượn từ thứ ngôn ngữ sướt mướt mà ông thường dùng để mô tả các cuộc sum họp gia đình. “Chưa bao giờ xảy ra, trong suốt thời gian đó”, ông nhớ lại vào năm 1811, “việc các thành viên mảy may có tư tưởng hay lời nói khó chịu với nhau. Đôi khi chúng tôi có quan điểm khác biệt, nhưng hiếm khi không đưa ra được một kết quả thống nhất”. Đặc điểm đồng thuận trong các cuộc họp nội các của Jefferson là có thật, phần lớn bắt nguồn từ thực tế là Jefferson chọn những người có cùng quan điểm với mình. Nhưng ông cũng dàn xếp các sự kiện để ngăn chặn xung đột. Một lý do ông giữ các cuộc họp toàn nội các ở mức tối thiểu là để tránh các cuộc tranh luận. “Phương pháp tham vấn riêng”, ông giải thích, “ngăn chặn những va chạm khó chịu”. Khi một cuộc trao đổi bị nóng lên tại một cuộc họp, ông để nghị Madison điều khiển đằng sau hậu trường và để cho các đồng nghiệp của mình biết rằng hành vi không thích hợp như vậy sẽ không được dung thứ trong tương lai: “Xin các ngài vui lòng cố gắng, một cách không nghi ngờ, cho phép các quý ông khác hưởng những lợi thế của việc đôi khi phải nhờ đến tham vấn riêng? Với ngài Gallatin có thể nhận xét về mối ác cảm mới chớm mà chúng tôi ghi nhận giữa hai người anh em của chúng ta trong cuộc tham vấn muộn; và với những người khác có thể đề xuất những cân nhắc quan trọng có lợi cho tham vấn”. Tranh luận to tiếng trong nội các đối với ông là một sự bất nhã. Ông muốn các bộ trưởng của mình giải quyết các bất đồng riêng với nhau chứ không phải qua các cuộc họp nội các bị nhiễm tinh thần gây gổ. Nếu các đặc tính dân chủ hoan nghênh một thương hiệu rộng mở, hòa hiếu của xô đẩy chính trị, phiên bản của sự thanh thản cộng hòa kiểu Jefferson lại không tương thích với nó. 35

Ông dường như muốn hoạt động của chính phủ liên bang không chút ồn ào, vô hình và hoàn toàn học thuật. Ngay sau khi ông thành lập nội các, ông tiến hành tổ chức bữa tiệc tối mỗi tuần tại dinh thự tổng thống để tập hợp các thành viên của Quốc hội và phu nhân của họ, cùng các đại diện cơ quan hành pháp và các nhà ngoại giao nước ngoài đóng tại Washington. Một số miêu tả sinh động nhất về Tổng thống Jefferson đến từ hồi tưởng cá nhân của những vị khách trong những dịp giao lưu xã hội thân mật này (12-20 người). Edward Thornton, Đại sứ Anh, bị ấn tượng bởi nỗ lực gần như kịch hóa của Jefferson “nhằm khắc sâu vào ấn tượng mọi người sự gắn bó của ông với phong thái cộng hòa giản dị và thái độ không sẵn lòng thừa nhận sự khác biệt nhỏ nhất, có thể tách ông khỏi đông đảo nhân dân mình”. Margaret Bayard Smith coi phong cách xã hội khiêm tốn và thanh đạm của ông như một dấu hiệu của sự khiêm nhường đích thực. Louisa Catherine Adams, vợ của John Quincy, lại coi đó như là một nỗ lực vụng về của một quý tộc để tác động đến người thường. Sự cố được nhắc đến nhiều nhất diễn ra năm 1803, khi Công sứ Anh mới đến, Anthony Merry, tỏ ra cực kỳ khó chịu về một buổi tối khó xử mà ông và vợ ông đã tham dự tại bữa tiệc tổng thống. Trong cuốn sách nổi tiếng với tựa đề Lịch sử (History) của ông, Henry Adams đã biến nó thành một loạt các mẩu tập hợp hiểm độc thú vị, trong đó những kỳ vọng của triều đình và những tình cảm không thể chịu đựng được của bà Merry hòa một cách vui nhộn vào quy tắc xã giao “pêle mêle” của Jefferson, một quy tắc mà bà cho là thật dã man khi mọi người được ngồi thoải mái. 36

Nhưng những mô tả đối lập về hành vi xã hội của Jefferson chỉ đơn thuần là một cách khác để những người quan sát các chương trinh nghị sự chính trị khác nhau cảm thấy trong đầu một phong cách cộng hòa tự giác của Jefferson vô cùng khó hiểu. Tầm quan trọng thật sự của các bữa tiệc tối là ở mục đích căn bản của chúng. Chúng đặt ra một nghĩa vụ xã hội to lớn cho Jefferson, đặc biệt là trong những tháng khi Quốc hội đang họp. Ông vẫn tổ chức chúng trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình, vì chúng tăng cường triển vọng tạo ra sự gắn kết cá nhân và gắn bó tình cảm, có thể giúp vượt lên những bất đồng chính trị. Nếu mọi người ngồi xuống để ăn tối cùng nhau và buộc phải tuân theo phép lịch sự thông thường, họ sẽ ít có khả năng nhảy vào mồm nhau trên Quốc hội vào hôm sau. Nhưng những ý định đáng khen ngợi đằng sau bữa tối của tổng thống lại bị loãng đi rất nhiều bởi chính những động cơ đã truyền cảm hứng cho chúng. Lúc đầu, Jefferson thiết lập quy tắc, điều hẳn đã khiến cho một số dân biểu thấy thật lạ lùng, rằng những cuộc trò chuyện chính trị công khai sẽ bị cấm tại bàn. Và sau khi cố gắng xếp những người Liên bang ngồi lẫn với những người Cộng hòa được một thời gian ngắn, thì ông đã từ bỏ cuộc thử nghiệm để tránh mối đe dọa từ các cuộc trao đổi bất ổn hay các trò đùa có hơi hướng chính trị về rượu vang Pháp của ông. Do đó giấy mời đã được gửi đi theo đúng nhóm đảng phái. Thậm chí hơn cả họp nội các, sự hài hòa giữa các bên rất đáng mong đợi trong tiệc tối được sắp đặt ở mức độ cao. 37

Các bữa tối phục vụ một mục đích khác cần phải ghi nhận, đặc biệt là vì những giả định ngày nay về việc truy cập ngay những hình ảnh và âm thanh của những quan chức được bầu cản trở sự phục dựng trung thành không khí của sự kiện hồi đó. Nói đơn giản là, các bữa tối chính là một dịp để nhìn thấy Tổng thống Jefferson. (Đây là lý do chính tại sao vẫn còn rất nhiều các mô tả hình ảnh về Jefferson đến từ những vị khách ăn tối). Ngoài những chuyến cưỡi ngựa hằng ngày băng qua rừng và cầm cương trên các nẻo đường của vùng bán nông thôn Washington, thì Jefferson không hề xuất hiện trước công chúng ở nơi nào khác. Điều này đã tạo ra một sự ngắt quãng với những người tiền nhiệm, vì cả Washington và Adams đều đặn có những bài phát biểu trước đám đông và xuất hiện trước Quốc hội ít nhất mỗi năm một lần để chuyển tải Thông điệp hằng năm của họ. Jefferson không tiếp tục thông lệ trình bày Thông điệp hằng năm như một bài phát biểu, tuyên bố rằng một phiên bản viết sẽ hiệu quả hơn. Điều này cũng loại bỏ cảnh tượng đoàn tùy tùng của tổng thống diễu lên đồi Capitol, một sự mô phỏng rõ ràng về hoàng gia châu Âu, rồi đặt các thành viên Quốc hội vào vị trí của các đối tượng thụ động lắng nghe lời rao giảng của ông. Jefferson tin rằng một tổng thống Cộng hòa phải là người không dễ thấy. Ông muốn thể chế hóa một nhiệm kỳ tổng thống phi vương quyền một cách tự ý thức. Như ta đã biết, trong tám năm, hai bài phát biểu duy nhất mà ông trình bày chính là hai bài phát biểu nhậm chức của ông. 38

Công việc chính của ngành hành pháp dưới thời Jefferson được thực hiện gần như hoàn toàn bằng văn bản. Thật vậy, nếu chúng ta muốn dựng lại bức tranh lịch sử chính xác về Tổng thống Jefferson, thì sẽ là ông không đi xe hay đi bộ lên đồi Capitol trong lễ nhậm chức của ông, mà sẽ ngồi ở bàn viết của ông khoảng chục giờ mỗi ngày. Ông thường ngủ dậy trước lúc rạng đông, khoảng 5 giờ sáng, làm việc tại bàn một mình đến 9 giờ, khi quan chức nội các và dân biểu đã được phép vào gặp. Ông cưỡi ngựa vào đầu giờ chiều, trở về kịp lúc cho bữa tối lúc 3 giờ 30. Ông quay lại bàn làm việc lúc 6-7 giờ và đi ngủ lúc 10 giờ. Theo như ông giải thích cho một người bạn thì ông “có thói quen chú trọng đến sức khỏe, đó là không bao giờ đi ra ngoài vào buổi tối”. Ngoài tháng 8 và tháng 9, khi nhiệt độ và độ ẩm của Washington đẩy ông trở lại đỉnh núi của mình tại Monticello, thời gian còn lại Jefferson dính chặt vào bàn làm việc. Trong năm đầu tiên là tổng thống, ông đã nhận được 1.881 lá thư, không kể thư từ nội bộ trong nội các của ông, và gửi đi 677 thư từ của mình. Chế độ ẩn dật này khiến ông thực tế đã trở nên vô hình trước công chúng. Ông thậm chí còn có vẻ quyết tâm tiêu diệt bất kỳ dấu vết văn bản ghi chép nào của mình với tư cách tổng thống, ông nhấn mạnh rằng tất cả các thư từ công chúng của ông phải được xếp vào một trong các phòng ban điều hành khác “để tôi sẽ không bao giờ phải thêm một tài liệu nào vào những ghi chép của văn phòng tổng thống”. 59

Đó là toàn bộ các mảnh ghép. Một chính phủ liên bang tối giản cần một tổng thống tối giản. Quyền lực chính trị, để vừa vặn với mô hình cộng hòa, cần phải được thực hiện một cách kín đáo, không được cho người ta cảm giác về quyền lực hay không được trông giống như quyền lực. Kỹ năng hùng biện có tiếng là kém của Jefferson, thuận tiện thay, lại được coi là không phù hợp hoặc có thể biến thành một trách nhiệm đầy đạo đức. Công việc thật sự của nghề này rơi trọn vào bàn tay giỏi giang, có thể biến hóa con chữ khéo léo hơn bất kỳ nhân vật của công chúng nào cùng thời với ông, và đi đúng vào sở thích của Jefferson - đó là một sự cách ly lộng lẫy, nơi mà các kỹ năng ứng tác là không cần thiết, gần như hoàn toàn có thể kiểm soát các ý tưởng và việc đưa ra chính sách công về căn bản chỉ là vấn đề về mặt văn bản.

Thật vậy, người ta có thể khéo léo mô tả phong cách điều hành không quan cách và đầy ý thức của Jefferson như là một tổng thống văn bản. Nghệ thuật ra quyết định đồng nghĩa với nghệ thuật soạn thảo và sửa đổi các văn bản. Các cuộc tranh luận chính sách trong nội các diễn ra dưới hình thức trao đổi biên tập về lựa chọn từ ngữ và cú pháp. Ví dụ, khi Jefferson chuẩn bị Thông điệp hằng năm đầu tiên của ông cho Quốc hội, tất cả bộ trưởng được yêu cầu nộp bản ghi nhớ đề xuất các mục cần đưa vào. Ông đã sáng tác một bản dự thảo dựa trên tư vấn bằng văn bản của họ và sau đó đệ trình dự thảo đó để họ cho ý kiến. Ông để nghị Madison chú ý đặc biệt tới ngôn ngữ của văn bản: “Để nghị ngài xem lại văn bản kèm theo, không chỉ về mặt nội dung mà cả ngôn từ. Ở những chỗ mà ngữ pháp không làm ảnh hưởng đến cách biểu đạt, thì nó nên được xem xét để chiều theo những người theo chủ nghĩa thuần túy ở New England. Nhưng ở những chỗ mà việc bỏ qua những lỗi ngữ pháp nhỏ làm cho năng lượng của một ý tưởng bị cô đặc, hoặc một từ đại điện cho cả một câu, tôi sẽ coi lỗi ngữ pháp là một sự xúc phạm”.

Gallatin có xu hướng đưa ra nhiều để nghị về mặt biên tập hơn bất kỳ thành viên nội các nào khác. Ông thường viết ra các bản chỉnh sửa dài gấp hai lần dự thảo gốc của Jefferson và đưa vào đó những nhận xét phê bình sắc bén, thường không phù hợp với việc tranh luận trong cuộc họp nội các đầy đủ, nhưng lại chấp nhận được trong văn bản viết cho phép sự riêng tư. “Về mặt phong cách”, ông viết năm 1802, “Tôi không phải là người am tường mọi thứ, nhưng tôi không thích, trong đoạn đầu tiên, ý tưởng về việc hạn chế lòng biết ơn do có các đấng tối cao; và có vẻ như, cũng có quá nhiều chỗ nói về người da đỏ trong lúc liệt kê các phước lành của chúng ta ở câu tiếp theo”. 40

Sự phụ thuộc bất thường vào văn bản này đã gây ra một số hậu quả mỉa mai. Một mặt, nó cho phép Jefferson tiếp tục trở thành một trong những tổng thống tách biệt và vô hình trước công chúng nhất trong lịch sử Mỹ. Mặt khác, nó tạo ra một dấu vết về mặt giấy tờ khiến các sử gia dễ tiếp cận và nhìn được quá trình ra quyết định dưới thời tổng thống của ông hơn bất kỳ vị tổng thống nào khác - nghĩa là, cho đến khi ghi âm điện tử được cài đặt dưới thời John Kennedy và vụ tiết lộ giật gân đoạn băng Nhà trắng của Richard Nixon. Và vì các Thông điệp hằng năm của Jefferson là tài liệu đã được đánh bóng và thiết kế để đọc nội dung - và vì chưa có tổng thống Mỹ nào bì được khả năng ngôn ngữ của ông, trừ Lincoln - nên những thông điệp này đại diện cho một tuyên bố cực kỳ thuyết phục và súc tích vô song về cái mà ông cho là “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”, trên thực tế chứ không chỉ trên lý thuyết.

NỢ NẦN, PHE LIÊN BANG, NGƯỜI DA ĐỎ

Trên tất cả, điều này có nghĩa là xóa bỏ nợ công. Trong những ngày hồi hộp khi kết quả hòa trong cuộc bỏ phiếu đại cử tri giữa Jefferson và Burr được tung ra Hạ viện, một số người Liên bang đã cố gắng gợi ra một lời hứa từ Jefferson rằng ông sẽ tôn trọng các nghĩa vụ giải quyết nợ liên bang, hàm ý là phiên bản của Jefferson về chủ nghĩa cộng hòa là không phù hợp với nhiệm vụ tài khóa. Họ đâu biết rằng những lo lắng như vậy là không cần thiết. Như Jefferson đã giải thích cho Gallatin: “Tôi coi vận may của chế độ cộng hòa chúng ta phụ thuộc một cách đáng kể vào việc xử lý nợ công…”, nói thêm rằng việc không thể xử lý nợ sẽ khiến Mỹ lao theo “sự nghiệp nợ nần, tham nhũng, thối nát, kết cục là cách mạng của Anh”. Trả nợ công, với Jefferson, thật sự là một vấn đề chuộc lại đất nước, một vấn đề “sống còn đối với vận mệnh của chính phủ chúng ta…” Ông thông báo với Gallatin rằng đó là ưu tiên cao nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của mình và có vẻ Mỹ sẽ “chưa từng thấy một Tổng thống và Bộ trưởng Tài chính nào làm cho tất cả các mục tiêu khác kém hơn mục tiêu này”. 41

Ông đã không nói quá. Năm 1801, nợ công ở mức 112 triệu USD, hầu hết trong đó đã được tích lũy lại từ chương trình gánh nợ nhà nước của Hamilton (Jefferson luôn coi quyết định này là một phiên bản chính trị của tội lỗi nguyên thủy của Mỹ, trong đó ông vĩnh viễn phải đền tội vì sự đồng lõa của chính mình). Theo hướng dẫn của Jefferson, Gallatin đã đưa ra một kế hoạch xử lý nợ trong vòng 16 năm với mức 7 triệu đô-la mỗi năm. Vì thu nhập hằng năm của chính phủ liên bang, chủ yếu là từ thuế hải quan và việc bán đất công, vào khoảng 9 triệu đô-la, nghĩa là chỉ còn khoảng hơn 2 triệu đô-la để dùng cho các khoản chi tiêu hằng năm của toàn bộ chính phủ. Nhưng đó chính là điều Jefferson đề xuất thực hiện. 42

Một cách mỉa mai thì cả Jefferson và Hamilton đều coi nợ công là nền tảng của chính sách quốc gia. Đối với Hamilton thì đó là một phước lành quốc gia bởi nó tạo ra nhu cầu về các chính sách thuế, ngân hàng và tài khóa liên bang, nhờ đó phóng đại quyền lực của chính phủ quốc gia. Đối với Jefferson đó lại là một lời nguyền quốc gia; nó gợi lên tất cả những hình ảnh ma quỷ gắn với chế độ quân chủ châu Âu, đặc biệt là lớp lớp tham nhũng tích tụ và được đại diện bởi sự tàn phá chính trị, đó là Chính phủ Anh. Tuy nhiên, đó cũng là một phước lành được ngụy trang, vì nó xác định và quy định nhiệm vụ cốt lõi của chính quyền của ông. Xung lực trung tâm của tư tưởng Whig, như ta đã nói trước đó, có tính đối lập; nó đòi hỏi một “mối nguy hiểm rõ ràng và hiện tại” để tập trung năng lượng của mình. Khoản nợ đã đem đến cho Jefferson kẻ thù chính yếu của ông. Chương trình giải quyết nợ của Gallatin đòi hỏi phải giảm số lượng viên chức liên bang, thu hẹp quân đội và những cắt giảm quan trọng trong hải quân. Khoản nợ, theo nghĩa này, là một thứ trời ban vì nó đã trở thành công cụ ngân sách để thực thi việc thắt lưng buộc bụng và giảm quy mô chính phủ. Khoản nợ xác định, đầy xuất sắc và thực dụng, cách làm thế nào tổng thống sử dụng quyền điều hành để hạn chế quyền lực của chính phủ.

Thật khó để chúng ta ở Mỹ ngày nay có thể trân trọng, chứ đừng nói là hiểu, nỗi ám ảnh của Jefferson với món nợ công, một món nợ trông tương đối nhỏ. Số lượng viên chức liên bang tại Washington năm 1801 tổng cộng 130 người, và món nợ công trị giá 17 triệu đô-la là ít hơn đáng kể so với các khoản thanh toán lãi suất hàng giờ, hiện dồn vào nợ công hiện tại trị giá vài nghìn tỉ đô-la. Hơn nữa, sự khôn ngoan lũy kế của các nhà kinh tế và các sử gia kinh tế đã dạy ta rằng không nên suy nghĩ về nợ công theo cùng một cách thẳng thắn như với nợ cá nhân và gia đình, vì một gánh nặng hỗn hợp bị loại bỏ với tốc độ càng từ từ càng tốt. Tổng kết sau này cho thấy rằng ngay cả đối với những người muốn phủ nhận tầm nhìn của Hamilton về một nước cộng hòa thương mại tích hợp và mở rộng, thì khoản nợ công mà Jefferson phải thừa kế vẫn cần được xem xét như một khoản đầu tư hoàn toàn hợp lý vào sự phát triển tương lai của Mỹ, một khoản vay thận trọng, nếu có, được bảo đảm bởi các tài sản thế chấp chính là tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Trong cách nghĩ ngày nay, việc Jefferson nặng lòng về món nợ công trông thật đơn giản và ngớ ngẩn. 43

Theo một nghĩa nào đó, điều này vẫn đúng vào thời đó. Niềm đam mê duy nhất ông dành cho vấn đề này lên đến mức cực đoan. Một số đồng nghiệp Cộng hòa ôn hòa hơn của ông và khá nhiều người Liên bang cho rằng chính sách tài khóa bị nợ thao túng của ông là quá khắc khổ. Adams sống ẩn dật tại Quincy và liếm láp vết thương chính trị của mình trong lúc chuẩn bị trả thù bằng cuốn tự truyện của mình, lo lắng nhất về việc giải tán hải quân, điều có thể một ngày nào đó sẽ được chứng minh là thiển cận. (Chiến tranh năm 1812 đã chứng minh ông đúng). Nhưng thái độ của Jefferson về khoản nợ phải được hiểu theo cách của riêng Jefferson. Điều này có nghĩa là phải công nhận các vực sâu trong sự kết án tư tưởng và tâm lý mà từ đó rút ra đặc điểm không thể đàm phán của nó. 44

Nợ công là một động cơ không thể nhầm lẫn của sự tham nhũng chính phủ theo “nguyên tắc Whig cổ”. Nó sắp xếp tất cả các dây dẫn điện và thổi tung tất cả các cầu chì trong mạch tư tưởng Jefferson, khiến nó phát nổ trong một tầm nhìn chớp nhoáng của kẻ sùng Anh, những kẻ theo chế độ quân chủ và những ông chủ ngân hàng đầy toan tính đang âm mưu trong đống đổ nát của nước Cộng hòa Mỹ. Đúng đây là một tâm lý bí ẩn; bị lầm đường lạc lối một cách bệnh hoạn, gắn nợ nần với tham nhũng và với phiên bản độc hại của thói bài Anh. Nhưng nó đã được thánh hóa như một chi tiết trung tâm của đức tin cộng hòa trong Cách mạng Mỹ, và Jefferson hết lòng chấp nhận nó như một con chiên thật sự.

Về mặt tâm lý, nợ nần đặt ra một kiểu phản ứng dây chuyền khác trong Jefferson. Ông không những đã nhìn thấy một số người trong tầng lớp chủ đồn điền của Virginia chi tiêu và biến mình thành phá sản, mà cá nhân ông còn biết được cảm giác chỉ còn cách chủ nợ của mình một bước ngắn về phía trước, thậm chí là trải qua cái cảm giác kinh tởm khi mà cuối cùng đám chủ nợ cũng sẽ săn lùng được mình. Tất nhiên, trong cuộc sống cá nhân của Jefferson, chúng ta biết rằng bóng ma lờ mờ của những món nợ khủng khiếp không có tác dụng rõ rệt đối với thói quen tiêu xài của ông. (Riêng các hóa đơn rượu của Jefferson trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên đã lên tới gần 10.000 đô-la, những lần tân trang đắt tiền và rõ ràng là vô tận của tòa nhà Monticello tiếp tục diễn ra nhanh chóng trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của ông). Có lẽ cách tốt nhất để nói về vấn đề này là, cũng giống như việc tiếp xúc nhiều với chế độ nô lệ dường như khiến cho Jefferson đặc biệt coi trọng tự do cá nhân, những thói quen riêng trong việc tiêu xài của ông khiến ông cực kỳ coi trọng, một cách kỳ lạ, sự thắt lưng buộc bụng của chính phủ. Trong cả hai trường hợp, nhiệt tình công chúng của ông xuất phát trực tiếp từ những trải nghiệm thất bại cá nhân của ông. 45

Trong cuộc sống cá nhân của Jefferson với tư cách một chủ đồn điền mắc nợ, những kế hoạch tỉ mỉ nhằm phục hồi tài chính dường như không có mấy tác dụng; những con số không bao giờ nhân lên. Tuy nhiên, với cương vị Tổng thống, dòng chảy lịch sử (cũng như khả năng quản lý của Gallatin) lại đứng về phía ông. Sự tăng trưởng theo cấp số nhân trong xuất khẩu của Mỹ làm tăng doanh thu liên bang thậm chí còn nhanh hơn Gallatin đã dự đoán, cho phép xử lý khoản nợ nhanh hơn. Phe phản đối chủ yếu về ngân sách thắt lưng buộc bụng là những người Liên bang tại Thượng viện, họ đã cảnh báo rằng việc cắt giảm quân đội sẽ đặt an ninh nước Mỹ vào rủi ro. Nhưng đa số những người Cộng hòa dễ dàng lấn át những người Liên bang bất đồng, và nền hòa bình mở rộng ở châu Âu đã khiến cho việc đánh cược của Jefferson vào vụ cắt giảm hải quân trông giống một lời tiên tri. Trong Thông điệp hằng năm đầu tiên trước Quốc hội vào tháng 12 năm 1801, Jefferson cảm thấy đủ tự tin để để nghị bãi bỏ tất cả các loại thuế nội địa. Ông đã đưa ra một phân tích cộng hòa kinh điển: “Nguyên tắc sáng suốt sẽ không biện minh cho việc chúng ta đánh thuế các ngành công nghiệp của nhân dân ta nhằm tích lũy của cải cho những cuộc chiến tranh mà ta không biết khi nào sẽ xảy ra, và có thể sẽ không xảy ra nếu không có những cám dỗ từ đống của cải đó”. Quân đội và hải quân không ngăn cản chiến tranh; họ thường gây ra chiến tranh. Trong khi đó, việc loại bỏ các loại thuế nội địa sẽ làm giảm hơn nữa sự chú ý của công chúng vào chính phủ liên bang ở lĩnh vực nhạy cảm nhất của quan điểm công chúng, đó là thu thuế. Đến cuối nhiệm kỳ đầu tiến của ông, Jefferson đã có thể đặt câu hỏi tu từ: “Có người nông dân nào, thợ cơ khí nào, người lao động nào từng nhìn thấy người thu thuế ở Mỹ hay chưa?” 46

Trong khi những hạn chế về ngân sách được áp đặt bởi các cam kết giảm nợ có tác dụng như một công cụ chạy đều đều, gặm nhấm dần vào cái mà Jefferson sốt sắng coi là một bộ máy liên bang quan liêu cồng kềnh. “Chúng ta đang săn tìm và loại bỏ đám đông quan chức vô dụng”, ông nhiệt tình kể với với con rể, “đuổi việc, loại bỏ chúng một cách âm thầm…” Ông thông báo cho William Short, vẫn đang ở Paris, rằng ông và Madison đang xem xét một cách nghiêm túc việc vô hiệu hóa tất cả các điều ước quốc tế nước ngoài và đóng cửa các sứ quán Mỹ ở châu Âu. (Ý tưởng này cuối cùng đã bị bỏ). Gallatin đã thuyết phục được ông rằng ngân hàng trung ương và cán bộ hải quan nên được tha; họ thật sự giúp cho việc giảm nợ; theo cách nói hiện đại, họ “hiệu quả về mặt chi phí”. Jefferson miễn cưỡng đồng ý. “Tôi thấy xấu hổ khi phải tăng cường những nguyên tắc mà tôi cho là hoàn toàn xấu xa”, ông phàn nàn, nhưng có lẽ Gallatin đã đúng, “rằng chúng ta không bao giờ có thể hoàn toàn thoát khỏi hệ thống tài chính của ông ta [Hamilton]”. Tuy nhiên, các cam kết tuân thủ phải nhằm mục đích đơn giản hóa hồ sơ tài chính, cắt bớt lớp lớp các kế toán viên, công chức và - Chương trình nghị sự Cộng hòa cốt lõi - “đưa mọi thứ trở lại với một hệ thống thông minh đơn giản mà đang ra phải có từ lúc đầu”. 47

Việc đứng đầu trận chiến về ngân sách đến với ông một cách tự nhiên và xuất phát từ các nguồn cá nhân sâu sắc chung một dòng chảy và cùng một hướng. Nhưng nhiệm vụ phân phối bảo trợ tương đối trần tục đã làm ông điêu đứng từ lúc bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống. Ông viết nhiều thư và bày tỏ những ý kiến trái ngược nhau về chủ đề này nhiều hơn bất kỳ chủ đề nào khác. Tuyên bố đầy màu sắc nhất của ông - rằng những quan chức chính phủ phe Liên bang đã ngăn chặn việc tạo ra các vị trí trống, rằng “những người từ bỏ vị trí của mình vì chết thì ít; mà vì từ chức thì không có ai” - được đưa ra lúc ông đang trong tâm trạng muốn “càn quét”, nghĩa là muốn loại bỏ toàn bộ đám người Liên bang để nhường chỗ cho những người Cộng hòa trung thành. Trong những dịp khác ông có một phát biểu mang tính hòa giải hơn, đó là ông sẽ để phe Liên bang ở lại vị trí của mình trong chính phủ và chỉ thay thế họ khi có vị trí trống; nhiều khi ông thậm chí còn tỏ ra nhân từ hơn khi đề xuất rằng phe Liên bang thuộc thành phần dân thường nên được bổ nhiệm và chỉ có các nhà lãnh đạo Liên bang cực đoan nhất, “những người mà tôi từ bỏ vì cho rằng không còn thuốc chữa”, mới bị loại trừ. “Nếu chúng ta có thể đánh trúng vào cách ứng xử”, ông viết cho Horatio Gates, “điều này sẽ giúp thu phục được phần trung thực trong những người được gọi là theo phe Liên bang, và đòi lại công lý cho những người đã bị loại ra khỏi phe quá lâu, tôi hy vọng có thể tiêu diệt, hay đúng hơn là đoàn kết những người Liên bang và những người Cộng hòa”. Đây có vẻ như cách hiểu phổ biến nhất về dòng chữ “Tất cả chúng ta đều là người Cộng hòa - tất cả chúng ta đều là người Liên bang” trong Diễn văn Nhậm chức của ông. Trong nhiều tháng, ông dao động qua lại giữa hai quan điểm khác nhau này. 48

Vấn đề bảo trợ tiến thoái lưỡng nan của Jefferson đã vượt ra ngoài hoàn cảnh chính trị chưa từng có tiền lệ được tạo ra bởi cuộc bầu cử của ông. Ông là nhà lãnh đạo đảng đối lập đầu tiên được bầu làm Tổng thống và là lành đạo đảng đầu tiên được thừa nhận phải đối mặt với vấn đề “bánh mì và cá” trong khi tất cả các văn phòng cấp trung-cấp thấp của liên bang vẫn đang do chính quyền cũ nắm giữ. Trong những năm sau này, chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống có nghĩa là thay đổi toàn bộ đội cận vệ theo kênh đảng đã trở thành một thông lệ phổ biến và thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau. Không có vấn đề gì mang tính nguyên tắc một cách khủng khiếp hay cực kỳ đạo đức đang bị đe dọa. Vấn để bảo trợ chỉ đơn giản là một sản phẩm phụ của quyền lực chính trị. Nhưng Đảng Cộng hòa chiến thắng đã nắm trong tay chính quyền với niềm tin vào đức hạnh của chính mình và tự xưng là đại diện cho sự phục hồi các nguyên tắc miễn trừ với chính trị như thường lệ. Như Henry Adams đã nói, “một tình trạng như vậy không bao giờ có thể xuất hiện một lần nữa, vì chỉ có một quốc gia non trẻ mới có thể thiếu kinh nghiệm chính trị”. Thật khó xử cho Jefferson khi phải bắt đầu hành xử giống một nhà lãnh đạo đảng sau một thập niên phủ nhận phe Cộng hòa là một đảng chính trị. 49

Giải pháp thực tế cho vấn đề tiến thoái lưỡng nan này, riêng mình nó không quan trọng bằng những gì giải pháp này tiết lộ về tâm lý vốn đã mang tính đạo đức của Jefferson. Trong suốt những năm 1790, ông đã mô tả phe Liên bang là một phe độc ác gồm những kẻ theo chế độ quân chủ ngầm và những kẻ ủng hộ Đảng Bảo thủ Anh trốn trong tủ, họ đã trưng dụng mục đích ban đầu của Cách mạng Mỹ và đưa chính phủ đến bờ vực của tham nhũng không cứu vãn nổi. Lời chẩn đoán đanh thép này chưa bao giờ chính xác xét về mặt thực tế. Rất ít người phe Liên bang là người theo chế độ quân chủ hoàn toàn. Thật vậy, nếu có ai đó đang tìm kiếm những tạo vật như vậy, thì ứng viên hàng đầu sẽ là Burr, một người Cộng hòa và là Phó Tổng thống cho Jefferson. Những vấn đề căn bản gây chia rẽ phe Liên bang và Cộng hòa không thật sự nằm ở mặt đạo đức hay hiến pháp hay chiến lược: Phe Liên bang ưa thích một chính phủ liên bang hợp nhất hơn, trong đó các cơ quan hành pháp và tư pháp có nhiều quyền lực hơn và Anh là đồng minh châu Âu chính cũng như tấm gương của Mỹ. Phe Cộng hòa thì lại muốn có một chính phủ liên bang nhỏ hơn và yếu hơn, trong đó Hạ viện là động lực chi phối; họ coi Pháp là người bạn châu Âu chính yếu. Trong khi những quan điểm này hầu như không phải tình cờ mà khác nhau - nghĩa là chúng có nguồn gốc từ các ý tưởng đối lập nhau một cách căn bản về việc phân bổ phù hợp quyền lực chính trị trong một chính phủ cộng hòa - những quan điểm này đã không thật sự trở thành loại mệnh lệnh đạo đức mà đầu óc Jefferson cần để huy động các nguồn năng lượng chính trị của nó. Tuy nhiên, để Jefferson ám chỉ những điều mà rất nhiều độc giả của Diễn văn Nhậm chức của ông cho rằng ông ám chỉ - rằng sự khác biệt giữa phe Liên bang và Cộng hòa là hoàn toàn có thể thương lượng - thì ông phải thừa nhận rằng cuộc thập tự chinh đạo đức của mình trong những năm 1790 là một sự lầm đường.

Vào mùa hè năm 1801, Jefferson đã đi đến kết luận của mình: Có những người theo phe Liên bang và những người chủ trương liên bang. Những người theo phe Liên bang là những người ủng hộ chế độ quân chủ không gì lay chuyển được, “những kẻ chuyên chế vô phương cứu chữa” và “những kẻ liều mạng của bè phái thời xưa”. Ông tuyên bố “không muốn gì, mà chỉ muốn sự hận thù vĩnh viễn từ phía họ”, và nếu điều đó bị chấm dứt, “tôi phải trở nên nghi ngờ chính mình”. Nhóm sau là những người lầm lạc đi theo, họ muốn một cơ quan hành pháp đại loại là mạnh hơn nhưng trong thâm tâm họ lại là những người chủ trương cộng hòa và do đó “được sự tín nhiệm của nhân dân”, vẻ đẹp của sự phân biệt đơn giản này là ở chỗ nó cho phép Jefferson giữ lại đạo đức của mình, quả thật là để tập trung hận thù của ông hơn nữa vào những nhóm có ảnh hưởng của phe Liên bang ngoan cố còn sống sót, đặc biệt ở New England, trong khi đồng thời áp dụng một thái độ hòa giải ở nơi khác và khuyên khích đào tẩu hàng loạt với Đảng Cộng hòa. Ví dụ, ở Connecticut, ông tuyên bố rằng phần lớn người dân vẫn bị thôi miên bởi phiên bản kém cỏi nhất của phe Liên bang: “Thói quen ổn định của họ sẽ loại trừ những tiến bộ của thông tin và họ sẽ chính là họ khi tách khỏi các Thánh của Oliver Cromwell”. Ông tin tưởng, họ sẵn sàng “làm theo tiếng sủa của tự do chỉ với sự giúp đỡ của một sợi dây tời”. Do đó Connecticut đòi phải có “một trận càn quét lớn” những kẻ ủng hộ Liên bang khỏi vị trí của mình. Việc bổ nhiệm một người theo phe Liên bang “trông giống như bổ nhiệm một người vô thần làm linh mục”. Massachusetts thì tốt hơn một chút, mặc dù Jefferson vẫn hy vọng rằng “như người da đỏ vẫn nói, họ cũng đang rửa trôi hạt bụi trong mắt”, để cuối cùng “phần cộng hòa sau một thời gian sẽ trỗi dậy, và các lớp trầm tích của chủ nghĩa quân chủ sẽ bị bỏ lại như cặn ở dưới đáy”. Tuy nhiên, cho đến lúc đó, “một trận càn quét sạch sẽ” là việc làm cần thiết ở Massachusetts. 50

Đặc điểm đạo đức của Jefferson coi như đã mất đối với hầu hết những người ủng hộ Liên bang, vốn coi việc thanh trừng hàng loạt ở New England là một sự phản bội lời hứa nhậm chức của Jefferson. “Sự thật là”, các biên tập viên của tờ New York Evening Post nhận xét, “thật lố bịch khi ông Jefferson và những người ủng hộ ông giả đò là, trong hệ thống săn lùng những người Liên bang như thú hoang hiện tại, họ bị chi phối bởi bất kỳ nguyên tắc nào hoặc những nguyên tắc có tính thề nguyền hoặc có thể được ủng hộ với bất kỳ cái cớ nào trong khoảnh khắc”. Sự thật là việc giả vờ đó rất quan trọng đối với những người theo phe Cộng hòa; họ không muốn nghĩ về mình như những chính khách điển hình, đã đánh đổi nguyên tắc của mình để lấy quyền lực sống sượng khi nắm quyền. Đối với bản thân Jefferson, vấn đề bảo trợ lộn xộn đã thể hiện cái cách mà đầu óc của ông có khả năng di chuyển trên hai tuyến song song, một bên là báo thù dã man và tàn nhẫn, một bên là giúp đỡ và từ thiện. Tất cả đều phụ thuộc vào việc ai đó hạ cánh ở đâu trong thế giới đạo đức cố hữu của Jefferson? 51

Giai đoạn bảo trợ cũng tiết lộ việc Jefferson lãnh đạm như thế nào với các đặc tính đa nguyên có vai trò trung tâm đối với chủ nghĩa tự do chính trị hiện đại, trong đó quy định việc tôn trọng các giá trị khác nhau căn bản và coi sự toàn vẹn là một cuộc đối thoại văn minh, thậm chí sôi nổi, giữa các ý tưởng đối lập. Quan điểm của ông là một sự kết tội truyền thống và phổ quát: Có một sự thật, không nhiều. Ông có thể kiên nhẫn và thực dụng vô tận đối với những khác biệt nhỏ, nhưng một khi quan điểm của bạn rõ ràng nằm ở phía bên kia chiến tuyến, nghĩa là cuộc chiến sinh tử bắt đầu. Cái đã cứu sống số lượng lớn phe Liên bang, hóa ra không phải sự hào phóng của tinh thần cũng như hy vọng tha thiết rằng họ thực ra là những người Cộng hòa tiềm ẩn đang chuẩn bị cải đạo.

Đó là một viễn cảnh đặc trưng kiểu Jefferson, và nó đóng góp vào danh tiếng đầy nghịch lý của ông với tư cách một người đàn ông văn minh cực kỳ bình tĩnh và bình thản, vô cùng thanh lịch, người sẽ đều đều tuôn ra những cơn tức giận đột ngột và thù địch đối với kẻ thù của mình. Ở cấp độ cá nhân, điều này mang lại một khía cạnh sắc bén nguy hiểm cho thái độ mềm mỏng của ông, đặc biệt đối với những người lầm tưởng phong cách kín đáo của ông là thái độ thờ ơ và lạc vào một trong những chủ đề được cảm nhận sâu sắc. Ở cấp độ bán công cộng, chẳng hạn như các cuộc họp nội các hoặc các phiên họp một chọi một trong văn phòng tổng thống, điều này tăng cường quyền lực của ông bằng cách gợi ý một khu vực dưới lòng đất mãi mãi khuất khỏi tầm nhìn và bị các lực lượng đáng sợ chiếm đóng, mà nếu vô tình mở khóa, sẽ không nhận tù nhân, ở cấp độ công cộng, phe Liên bang ở New England đã kích hoạt các vụ nổ đạo đức, rất giống George III và sau đó là những người theo phái Hamilton đã làm những năm trước đó. Nhưng màn trình diễn kịch tính nhất của hội chứng Jefferson trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, một màn trình diễn có hậu quả lớn nhất về chính sách đối nội và do đó là cả lịch sử Mỹ sau này, lại xảy ra lúc ông xử lý vấn đề người Mỹ bản xứ.

Thái độ của Jefferson đối với cư dân da đỏ ở Mỹ luôn có vẻ đối lập sâu sắc với thái độ của ông đối với chế độ nô lệ. Một mặt, ông đã dành nguyên một chương trong cuốn Những ghi chép của mình để ngợi ca nền văn hóa bản địa của những cư dân nguyên thủy Mỹ, ôn lại những kỹ năng hùng biện ấn tượng của các tù trưởng bộ tộc, để xuất nghiên cứu nghiêm túc các ngôn ngữ da đỏ và tiếng bản địa khác nhau, thậm chí còn đi xa đến mức so sánh người da đỏ hơn người da đen về đặc điểm tinh thần và thể chất cũng như khả năng hòa nhập của họ vào xã hội Mỹ da trắng. Là Tổng thống, ông chào đón đoàn đại biểu da đỏ với thái độ ân cần phù hợp và sự tôn trọng rõ rệt. Trong một vài dịp, ông còn cố gắng mô tả người da đỏ Bắc Mỹ như một chủng tộc cao quý, những nạn nhân vô tội của lịch sử: “Những người được ban cho năng lực và quyền con người, thở một tình yêu nồng nàn đối với tự do và độc lập”, như ông hùng hồn nói, “và sống ở một quốc gia mà họ không mong muốn gì khác ngoài việc được sống yên ổn… họ đã bị choáng ngợp bởi hiện tại, hoặc bị đẩy ra đối mặt với nó”. Có thể cảm nhận được trong rất nhiều quan sát của Jefferson về người da đỏ một sự ngưỡng mộ đích thực pha lẫn với một cảm giác bi kịch thật sự sâu sắc về số phận của họ với tư cách một dân tộc. 52

Mặt khác, chính trong nhiệm kỳ tổng thống của Jefferson, các quyết định căn bản đã được thực hiện trong đó đòi hỏi phải trục xuất những nhóm lớn người da đỏ và chuyển họ sang mảnh đất phía tây Mississippi. Trong ngôn ngữ của các học giả hàng đầu về chủ đề này, “những hạt giống của sự tuyệt chủng” đối với văn hóa Mỹ bản địa đã được gieo dưới thời Jefferson. Bản chất tư duy của Jefferson về việc di dời người da đỏ được thể hiện trong một bức thư gửi cho thống đốc lãnh thổ bang Ohio vào năm 1803:

Bằng cách này, các khu định cư của chúng ta sẽ dần được phân định và gần lại với người da đỏ, và theo thời gian, họ sẽ hoặc kết hợp với chúng ta, những công dân Mỹ, hoặc phải ra đi, sang bờ kia sông Mississippi. Phương án đầu chắc chắn sẽ chấm dứt lịch sử hạnh phúc nhất đối với bản thân họ, nhưng xét cả quá trình, đây là việc cần thiết để nuôi dưỡng tình yêu của họ. Đối với nỗi sợ hãi của họ, chúng tôi cho rằng sức mạnh của chúng tôi và điểm yếu của họ hiện nay rõ rệt tới mức họ phải thấy rằng chúng tôi chỉ cần nắm tay lại là có thể nghiền nát họ, và rằng tự do mà chúng tôi dành cho họ xuất phát từ động cơ nhân văn thuần túy. 53

Đây là một tuyên bố nổi bật theo nhiều nghĩa: sự bảo đảm giản dị về ý nghĩa của những dự định lịch sử; sự pha trộn đáng sợ giữa lòng thiện tâm và sự độc ác; giọng điệu tự phụ và độc đoán. Trong tâm trí Jefferson, người da đỏ chiếm một không gian có vấn đề như những người Liên bang. Họ là một giống loài tội lỗi. Tội lỗi của họ không phải do ông mà ra, nhưng ông không mảy may áy náy hay hồ nghi về việc biến mình thành một công cụ hủy diệt họ. Và cũng giống như những người theo chủ nghĩa Liên bang hạng thường dân nên nhận ra rằng sinh mệnh chính trị của họ phụ thuộc vào việc đón nhận những nguyên lý trung tâm của chủ nghĩa cộng hòa (như đã được Đảng Cộng hòa định nghĩa), người da đỏ cũng nên nhận ra rằng văn hóa của họ muốn sống sót phải phụ thuộc vào việc họ từ bỏ xã hội săn bắn du mục của mình - nó đòi hỏi quá nhiều đất - và áp dụng lối sống nông nghiệp, cuối cùng là sử dụng ngôn ngữ Anh, và dần bị đồng hóa vào xã hội Mỹ da trắng. Nói ngắn gọn, văn hóa da đỏ sẽ sống sót khi người da đỏ ngừng sống theo cách của người da đỏ, cũng giống như người Liên bang sẽ tồn tại bằng cách ngừng đi theo phe Liên bang. 54

Những người da đỏ chống lại sự đồng hóa, lại giống như các nhà lãnh đạo Liên bang ngoan cố ở Connecticut và Massachusetts, xứng đáng được nhận không gì khác ngoài sự tiêu diệt hoặc xua đuổi. Giống như các nhà tư tưởng phe Liên bang ở New England, các nhà lãnh đạo da đỏ vốn bám chặt vào tập tục bộ lạc và nhấn mạnh vào việc khắc sâu “một lòng tôn kính tín ngưỡng đối với tập tục tổ tiên” phải thấy rằng không có lòng từ bi nào dành cho họ. Jefferson tin rằng việc lưu đày người da đỏ đến các vùng đất hiện đang trống phía tây sông Mississippi chỉ là một giải pháp tạm thời, vì người da trắng di cư cuối cùng cũng sẽ tràn đến những vùng đất này và sau này cũng sẽ đặt ra cùng một câu hỏi. Nhưng ông không hề lo lắng về câu trả lời. Khi James Monroe, với tư cách Thống đốc bang Virginia, viết cho ông để nêu khả năng tạo ra một khu bảo tồn phía tây cho những nô lệ được giải phóng, Jefferson đã phản đối ý tưởng đó, dựa trên những cơ sở không khả quan đối với người da đỏ cũng như người da đen: “Không thể không nhìn về phía trước, trong thời gian xa, khi sự sinh sôi nhanh chóng của chúng ta sẽ… bao trùm toàn bộ miền Bắc, nếu không muốn nói là cả lục địa miền Nam, bằng một dân tộc nói cùng một ngôn ngữ, được điều hành dưới các hình thức tương tự nhau, theo những pháp luật tương tự; chúng ta cũng không thể hài lòng khi thấy ở đó một vết nhơ hoặc một sự hỗn tạp”. Cũng giống như việc ông không thể tưởng tượng ra một nền chính trị Mỹ đa nguyên, trong đó những quan điểm đối lập nhau về ý nghĩa của Cách mạng Mỹ có thể cùng tồn tại, trí tưởng tượng của ông cũng không có chỗ cho một xã hội Mỹ với những nền văn hóa đa dạng, trong đó người Mỹ bản địa sống cùng với người da trắng trong khi vẫn lưu giữ giá trị của riêng người da đỏ. 55

PHÉP MÀU PHÍA TÂY

Cũng có một đường sắc nét chạy qua tư duy lập hiến của Jefferson giữa chính sách trong và ngoài nước. Trên thực tế, để nói về “tư duy lập hiến” có lẽ sẽ làm một số người nhầm lẫn vì tâm trí của Jefferson ưa thích những phân loại đạo đức rộng lớn hơn, trong đó bao hàm được những đặc điểm hiến pháp thông thường. Tuy nhiên, theo cách của riêng mình, Jefferson tin rằng Hạ viện có trách nhiệm chính về chính sách đối nội và cơ quan hành pháp có trách nhiệm tương đương về hoạt động đối ngoại, mặc dù ông dường như đã chấp nhận một sự báo trước có phần lờ mờ trong các cuộc tranh luận về Hiệp ước Jay, trong đó cho Hạ viện quyền phủ quyết các hiệp ước quốc tế. Ở mức nào đi nữa, vẫn sẽ là hợp lý khi nói rằng Jefferson không nghĩ là văn phòng tổng thống nên vô hình hoặc không dễ thấy đối với các quốc gia nước ngoài như đối với các công dân Mỹ. 56

Chỉ hai tháng sau khi ông làm lễ nhậm chức, cướp biển Barbary trên bờ biển Bắc Phi đã thử nghiệm lý thuyết này khi Tổng trấn của Tripoli tuyên chiến với Mỹ. (Tổng trấn đã tức giận sau khi biết rằng những cống vật ông ta nhân được từ người Mỹ ít hơn những cống vật dành cho Algiers). Đây là một câu chuyện cũ với Jefferson, người đã thất bại trong việc lập luận với Adams những năm ở Paris rằng trả tiền hối lộ cho những kẻ khủng bố Hồi giáo trên biển là một việc đê tiện. Bây giờ, với tư cách Tổng thống, ông lại được đặt vào vị trí thực hiện điều ông muốn từ lâu đối với hành động quân sự. “Tôi là kẻ thù của mọi loại tiền hối lộ, cống vật và sự nhục mạ”, ông giải thích cho Madison, và “Tôi biết rằng không gì ngăn chặn được sự sinh sôi vĩnh viễn của lũ cướp biển ngoài sự hiện diện của một lực lượng vũ trang…” May mắn thay, và thật mỉa mai là chỉ có Adams mới có thể đánh giá được đầy đủ ý nghĩa của việc xây dựng lực lượng hải quân Mỹ mà Adams đã nhấn mạnh trong nhiệm kỳ tổng thống của mình, bất chấp sự phản đối của Jefferson và Đảng Cộng hòa, có nghĩa là một hạm đội tàu chiến đã sẵn sàng đợi Jefferson phái đến Địa Trung Hải. Với sự đồng ý từ nội các của mình- chỉ riêng Gallatin, người có nhiệm vụ lo ngân sách, phản đối vì lý do chi phí, Jefferson đã lệnh cho một phân đội hải quân thực hiện tuần tra bờ biển Bắc Phi. 57

Trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên, và sang cả nhiệm kỳ thứ hai của ông, Mỹ đã tham gia vào một cuộc chiến tranh hải quân quy mô nhỏ ở Địa Trung Hải mà không bao giờ giành được sự kết thúc quyết định như Jefferson mong muốn. Ông phục hồi chương trình cũ của mình, đó là tạo ra một lực lượng đặc nhiệm quốc tế bao gồm các tàu chiến châu Âu và Mỹ đổ giám sát khu vực - có lẽ là tiền thân của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc - nhưng không bao giờ thành công. Tuy nhiên, ít nhất là ở mức tượng trưng, xung đột hiện tại với đám cướp biển Barbary trở thành “cuộc chiến tranh nhỏ bé huy hoàng” đầu tiên của Mỹ bằng cách tạo ra các cuộc biểu tình yêu nước trên toàn quốc. Những cuộc biểu tình này đạt đến đỉnh cao năm 1804, khi Stephen Decatur, một sĩ quan hải quân người Mỹ, ngang nhiên đi thuyền vào vịnh Tripoli để giải cứu tù binh chiến tranh Mỹ trên con tàu bị bắt mang tên Philadelphia và sau đó tiếp tục trả thù cái chết của anh trai mình bằng cách giết chết những kẻ sát nhân người Hồi giáo trong trận chiến tay đôi. (Một nhà chức trách uy quyền ngang với Tử tước Nelson của Hải quân Anh đã gọi đó là “hành động táo bạo và quyết liệt nhất của thời đại”). Cuộc tấn công của Decatur đã được ghi lại bằng thơ và kể lại một cách phóng đại như phiên bản Bắc Phi của trận đánh Bunker Hill; ông trở thành anh hùng quân đội đầu tiên của Mỹ thế kỷ 19. 58

Chính quyền của Jefferson được hưởng lợi từ sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia này, mặc dù Jefferson đã cẩn thận khi nhắc nhở các bên liên quan rằng các hoạt động hải quân ở Địa Trung Hải chỉ là cuộc trình diễn bên lề không hơn không kém và sẽ không ngăn cản kế hoạch đưa lên bờ một phần khổng lồ hạm đội Mỹ. Về mặt kế hoạch, trọng tâm chính sách đối ngoại của ông vẫn là tránh chiến tranh bằng mọi giá. Xử lý khoản nợ và duy trì thắt lưng buộc bụng kiểu cộng hòa phải được ưu tiên. Trên tinh thần đó, chiến dịch chống lại quân cướp biển Barbary là hoàn hảo: Đó là một sự trỗi dậy an toàn và được giới hạn của sức mạnh Mỹ ở nước ngoài, nó thể hiện quyết tấm của Jefferson với tư cách Tổng thống, nó dễ tạo ra những vị anh hùng để tung hô và lại tốn ít chi phí. Đó là một cuộc chiến thu nhỏ lý tưởng của nhiệm kỳ tổng thống tối giản của Jefferson. 59

Không có gì thu nhỏ về miền Tây nước Mỹ, không có gì kém vĩ đại hơn tắm nhìn của Jefferson về vai trò tương lai của khu vực này trong lịch sử Mỹ và không có gì ngoài một sự lãnh đạo đặc biệt của Tổng thống xứng với một may mắn thậm chí còn đặc biệt tốt lành hơn đã dẫn tới Vụ mua lại Louisiana. Khi tin tức đến được Washington vào năm 1803 (chậm nhất ngày 4 tháng 7) rằng Pháp đã đồng ý bán lãnh thổ Louisiana với giá 15 triệu đô-la, nước Cộng hòa Mỹ như vậy chỉ qua một đêm đã tăng gấp đôi diện tích. Ngay cả so với vụ mua lại rẻ mạt huyền thoại xứ Manhattan từ người da đỏ, việc mua lại một nửa lục địa với giá khoảng 3 xu một mẫu còn là một vụ ăn cắp lớn hơn. Không ai nghi ngờ những thành tựu vĩ đại nhất của Tổng thống Jefferson, và vẫn còn chỗ cho những chỉ trích học thuật về Abraham Lincoln năm 1861, Franklin Roosevelt trong những năm 1930 và Harry Truman vào năm 1945, là một trong những quyết định điều hành có tác động lớn nhất trong toàn bộ lịch sử Mỹ. 60

Sau nhiều năm, ta vẫn có thể lịch sự mà kể lại câu chuyện về giao dịch này giống như một sự suy ngẫm về ảnh hưởng của vận may thuần túy. “Có thể nói Napoleon đã ném tỉnh đó vào tay Livingston, Monroe, Madison và Jefferson”, một sử gia viết, “và bọn họ đã chia đều công trạng với nhau, bắt lấy và giữ được tỉnh đó, tất cả là vậy”. Cách giải thích này đại diện cho một sự tiếp nối của cách giải thích của phe Liên bang vào thời điểm đó. “Vụ mua lại hoàn toàn là nhờ vào một sự trùng hợp ngẫu nhiên của những tình huống bất ngờ”, một biên tập viên của tờ New York Evening Post cho biết, “mà không phải là do bất kỳ biện pháp khôn ngoan hay mạnh mẽ nào từ phía Chính phủ Mỹ”. Phán quyết công bằng có lẽ sẽ là Jefferson vừa gặp may vừa có khả năng tiên tri hơn ta tưởng vào thời điểm đó. Và cảm giác gần như thần bí của ông về miền Tây nước Mỹ khiến ông trở nên linh hoạt trong việc thực hiện các nguyên tắc chính trị của mình hơn bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời hoạt động xã hội của ông. Để nắm bắt được một đế chế, hóa ra là cần phải có một tổng thống uy quyền. 61

Mặc dù bản thân ông chưa bao giờ tới khu phía tây của thung lũng Shenandoah, nhưng thái độ sở hữu của Jefferson đối với phần thung lũng Mississippi và khu vực rộng hơn nữa đã có từ lâu. Trong thập niên 1780, khi có tin đồn rằng John Jay đang thương lượng việc đổi lại quyền đi lại của Mỹ trên sông Mississippi cho Tây Ban Nha, cả Jefferson và Madison đều bày tỏ sự phẫn nộ. Họ thống nhất mô tả Mississippi là động mạch chính của cơ thể chính trị Mỹ, “sông Hudson, Delaware, Potomac, và tất cả các con sông có thể đi lại được của Đại Tây Dương, đều hợp thành một dòng”. Khi còn là Ngoại trưởng Mỹ, đặc biệt trong cuộc khủng hoảng Nootka Sound năm 1790, Jefferson đã chuẩn bị tinh thần cho chiến tranh nhằm ngăn chặn hoặc Anh hoặc Pháp thay Tây Ban Nha trở thành sự hiện diện của châu Âu tại khu vực xuyên Tây Mississippi. Từ đó trở đi, Jefferson coi quyền sở hữu của Tây Ban Nha đối với khu vực phía tây rộng lớn của Bắc Mỹ về căn bản là một sự chiếm đóng tạm thời mà thuận tiện thay lại giúp Mỹ tranh thủ thời gian cho cuộc càn quét không thể tránh khỏi khắp châu lục. Trong tất cả các cường quốc châu Âu, Tây Ban Nha, “con bệnh của châu Âu” ốm yếu lâu năm, theo như cách nói của Vua Rufus, là “thích hợp nhất để sở hữu một đế chế vĩ đại với tầm quan trọng hạn chế”. Khi tin đồn lan tới Washington vào năm 1802 rằng Tây Ban Nha đã nhượng lại quyền lợi của mình ở Bắc Mỹ, bao gồm cả việc kiểm soát tối quan trọng trên sông Mississippi, cho Napoleon và Pháp, Jefferson ngay lập tức nhận ra sự hiện diện của Pháp là một sự thay đổi căn bản trong tình hình chiến lược; điều này vừa đe dọa an ninh của Mỹ vừa cản trở sự bành trướng ra phía tây của Mỹ. Không cần phải gạt Madison ra ngoài lề, Jefferson nắm quyền kiểm soát cá nhân trong sáng kiến ngoại giao nhằm loại bỏ sự xâm lược không thể chấp nhận này của một cường quốc châu Âu vào lục địa Mỹ. 62

Hướng dẫn của ông cho Robert Livingston, Đại sứ Mỹ mới được bổ nhiệm tại Pháp, đi thẳng vào vấn đề không chút vòng vo. Ông xin lỗi vì đã tạm thay Ngoại trưởng, nhưng giải thích rằng, ông “không thể ngừng được việc nghĩ tới điều này theo hướng cá nhân, ấn tượng mà nó để lại trong tâm trí tôi là vô cùng sâu đậm”. Việc mua bán vùng Louisiana với Pháp là một thảm họa lớn đến nỗi “hoàn toàn đảo ngược tất cả các mối quan hệ chính trị của Mỹ và sẽ hình thành một kỷ nguyên mới trong sự nghiệp chính trị của chúng tôi”. Vụ mua lại này, ông tin rằng, đặt ra thách thức lớn nhất đối với nền độc lập và toàn vẹn quốc gia của Mỹ kể từ Cách mạng Mỹ: “Có một điểm duy nhất trên toàn thế giới, mà người sở hữu nó là kẻ thù tự nhiên và thường xuyên của chúng tôi”, ông giải thích cho Livingston. Tâm chấn lợi ích quốc gia đó của Mỹ chính là New Orleans. Bất chấp tình bạn trong quá khứ với Pháp và quan hệ cá nhân gần gũi của riêng ông với liên minh Pháp-Mỹ, thời điểm Pháp chiếm đóng New Orleans, hai nước phải trở thành tử thù. “Từ thời điểm đó”, ông kết luận một cách đáng ngại, “chúng ta phải kết hôn với hạm đội Anh và Anh”. Với lòng căm thù sâu sắc và lâu dài của ông với Anh, Jefferson đã mô tả một cách hiệu quả sự kiểm soát của Pháp với Mississippi tương đương một trận động đất quốc tế làm di chuyển tất cả các mẫu địa chất thành một mô hình mới. 63

Mặc dù có khả năng hơn hẳn, nhưng Livingston lại sở hữu bất lợi duy nhất là không phải người của bang Virginia. Jefferson muốn một người nào đó trên đất Paris mà ông có thể tin tưởng tuyệt đối. Vì vậy, ông đã lệnh cho James Monroe, một người được Jefferson bảo trợ hiện đang làm Thống đốc Virginia, nhận nhiệm vụ biệt phái sang Pháp. “Hoàn cảnh ấy khiến cho việc từ chối là không thể”, Jefferson nhận xét một cách phóng đại, vì “tính chất của nhiệm vụ này, số phận tương lai của nước cộng hòa này phụ thuộc vào đây”. Những hướng dẫn của Monroe cho phép mua lại vùng New Orleans và càng nhiều vùng thung lũng Mississippi càng tốt - ranh giới địa lý của mảnh đất Pháp mua của Tây Ban Nha khá lờ mờ - bằng tối đa 10 triệu đô-la. Ngay cả mục tiêu đối nội tối quan trọng là giảm nợ cũng bị xếp sau việc khôi phục quyền kiểm soát nội bộ của Mỹ. 64

Trong suốt mùa đông và mùa xuân năm 1803, trong khi kết quả nhiệm vụ Monroe vẫn chưa ngã ngũ, Jefferson đã lèo lái một cách khéo léo và khôn ngoan cuộc khủng hoảng tiềm tàng. Ông thấy rằng du Pont de Nemours, một bạn cũ người Pháp, đã được cung cấp thông tin về những dự định nghiêm trọng chết người của Mỹ có thể bị rò rỉ trong các hành lang thích hợp tại Versailles. Khi người Tây Ban Nha vẫn đang cai quản New Orleans đột ngột đóng cửa các cảng và chấm dứt giao thương với Mỹ, Jefferson đã phải chịu áp lực đáng kể để khởi động một cuộc thám hiểm quân sự đơn phương nhằm nắm bắt cả thành phố và Floridas, do đó từ bỏ chính sách ngoại giao nghiêng về chiến tranh với cả Tây Ban Nha và Pháp. Hamilton, viết dưới tên Pericles, tán thành giải pháp quân sự, và lập luận rằng “trong trường hợp khẩn cấp như hiện nay, năng lượng là trí khôn”. Mặc dù Quốc hội cho phép trao quyền cho Tổng thống huy động 80.000 tình nguyện viên cho một chiến dịch quân sự, nhưng Jefferson vẫn giữ bình tĩnh. Thậm chí nếu các cuộc đàm phán đang diễn ra ở Paris thất bại, ông giải thích, và tất nhiên chúng đã không thất bại - chiến tranh tổng lực vừa không khôn ngoan vừa không cần thiết. Thời gian và quân số nghiêng về phía Mỹ, biện minh cho chính sách kiên nhẫn “cho đến khi chúng ta phát triển được một cộng đồng trên dòng Mississippi, để họ có khả năng tự kinh doanh, không cần phải có lính hành quân từ bờ biển Đại Tây Dương cách đó 1.500 hoặc 2.000 dặm…” 65

Trong một số trường hợp, Jefferson cực kỳ may mắn, may mắn một cách mỉa mai. Quyết định của Napoleon về việc bán không chỉ New Orleans mà toàn bộ khu vực Tây Trung Mỹ bị thúc đẩy bởi chiến tranh Anh-Pháp được nối lại vào năm 1802. Đại sứ Livingston trước c đA phàn nàn rằng đàm phán với Pháp là không thể: “Không có người, không có cơ quan lập pháp, không có luật sư. Một người đóng tất cả mọi vai trò. Ông ấy ít khi hỏi ý kiến, và không bao giờ quan tâm có câu hỏi hay không”. Tất nhiên, điều này là tinh hoa trong phong cách được ăn cả ngã về không của Napoleon. Nhưng một khi Napoleon đã quyết định cắt lỗ của mình tại Mỹ để đổi lấy số tiền sẽ hỗ trợ cho quân đội của ông ở châu Âu, phong cách ấy cũng có tác dụng và đem lại lợi thế cho Jefferson; Napoleon đã bán tất cả tài sản của mình ở Bắc Mỹ và trên thực tế, không đổi lại được gì. Những nỗ lực ban đầu của phe Liên bang trong việc bán rẻ thành tích mua lại lãnh thổ Louisiana của Jefferson đã làm nổi bật tính bốc đồng trong quyết định của Napoleon, điều này không liên quan gì tới thủ đoạn ngoại giao của Jefferson và liên quan cực kỳ tới sự chuyển dịch bối cảnh châu Âu và tính cách khó đoán của Napoleon. 66

Sự thật sâu xa là Louisiana là một món quà trời ban từ những nô lệ nổi dậy và đám muỗi mang bệnh sốt rét của xứ Santo Domingo (nay là Cộng hòa Dominica và Haiti). Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến quyết định của Napoleon về việc từ bỏ giấc mơ của mình về một đế quốc Pháp trên đất Mỹ là sự thất bại thảm hại của lực lượng viễn chinh gồm 25.000 người do Charles Leclerc, anh rể của Napoleon, chỉ huy, được phái đến Santo Domingo để đàn áp cuộc khởi nghĩa nô lệ dưới sự lãnh đạo lôi cuốn của một người đàn ông da đen tên là Toussaint L’Ouverture. Tin rằng nếu thể hiện sự ủng hộ của Mỹ với việc chống lại chính quyền cách mạng của Toussaint sẽ giúp giành được cảm tình của Napoleon, Jefferson đã thông báo cho Chính phủ Pháp rằng “không gì dễ hơn việc chu cấp mọi thứ cho quân đội và hạm đội của ngài, và để đám Toussaint chết đói”. Chuyện xảy ra là, quân Leclerc đã bị tiêu hao trong cuộc chiến man rợ chống lại cuộc nổi dậy của nô lệ trước khi viện trợ của Mỹ đến được, và đám muỗi đã giết chết những người còn lại. Sự tuyệt chủng ảo của lực lượng viễn chinh Pháp, vốn đã được lên kế hoạch để tiến tới New Orleans sau khi thanh toán nhanh gọn đám người da đen ở Santo Domingo, là nguyên nhân trực tiếp khiến Napoleon quyết định cắt lỗ của mình ở Tây bán cầu. Theo nghĩa đó, Jefferson không chỉ cực kỳ may mắn mà còn chịu ơn lực lượng lịch sử mà ông thực ra lại phản đối. 67

Nếu lúc đó, có người đã từng muốn xây một đài tưởng niệm ở New Orleans để ghi nhớ Vụ mua lại Louisiana, Jefferson sẽ phải là một nhân vật trung tâm, nhưng bên cạnh ông cũng sẽ cần phải có thêm tượng bán thân của Toussaint và những đồng bào nô lệ nổi loạn của ông, cộng thêm có lẽ là một lời viếng tới loài muỗi chết người. Và lời trích dẫn hùng hồn phù hợp nhất sẽ đến từ Talleyrand, Ngoại trưởng Pháp mà ai cũng biết là vô lương tâm. “Tôi không thể cung cấp cho ngài định hướng nào”, ông nói với Livingston, “ngài đã kiếm được một món hời cao quý cho mình, và tôi cho rằng ngài sẽ tận dụng tối đa điều đó”. Talleyrand đang ám chỉ đường biên giới không chính xác và do đó gây tranh cãi của Pháp ở Louisiana, nhưng tuyên bố của ông đã mô tả chính xác phong cách tổng thống của Jefferson ngay sau vụ mua lại. Ông đã vài lần vi phạm các nguyên tắc chính trị mà ông trân trọng nhất để bảo lãnh các phiên bản mở rộng nhất của “món hời cao quý”, và tạm thời biến mình thành đúng cái loại chánh án quân chủ mà ông đã từng cảnh báo và chống lại. “Những người chịu trách nhiệm lớn lao có bổn phận phải”, ông giải thích sau đó, “liều mình trong những dịp tuyệt vời”, và thêm rằng “để mất đất nước do quá tuân thủ văn bản pháp luật, nghĩa là đã đánh mất chính pháp luật…” 68

Về vấn đề biên giới, Jefferson đã có những hành động phủ đầu, ngay cả trước khi biết Napoleon sẽ bán tất cả hoặc một phần của Louisiana. Ông đã ủy quyền cho thư ký riêng của minh là Meriwether Lewis tổ chức một đoàn thám hiểm gồm “10 hoặc 12 người được chọn” để khám phá khu vực xuyên Mississippi và tìm ra con đường thủy trực tiếp nhất, nếu có, đến Thái Bình Dương. Vì Pháp và Tây Ban Nha vẫn sở hữu tuyến đường lớn Lewis sẽ khám phá, Jefferson đã xin được ủy quyền của Quốc hội rằng đây là một đầu cơ khoa học hay “một sự theo đuổi theo nghĩa đen” và rằng việc này sẽ không đi xa hơn lưu vực sông Mississippi về phía tây. Đây là lời giải thích chính thức “làm thỏa mãn trí tò mò”, ông thông báo cho Lewis, “và che lấp một cách đầy đủ điểm đến đích thực”. Tin tức về Vụ mua lại Louisiana tới đúng vào thời điểm mà lịch sử biết đến như Cuộc viễn chinh của Lewis và Clark rời Washington, vì vậy ngay từ đầu họ đã biết mình là một đội trinh sát bí mật khám phá biên giới phía tây, và xa hơn nữa là vùng đất mới dưới quyền sở hữu của Mỹ. 69

Một khi đã đưa được Lewis vào khu vực rộng lớn và chưa có bản đồ của vùng phía tây xuyên Mississippi, Jefferson chuyển sự chú ý của mình sang Bờ Vịnh. Quay lại Monticello trong thời gian cuối mùa hè năm 1803, ông nghiên cứu những tấm bản đồ cũ và tin rằng biên giới phía đông nam của vùng Louisiana của Pháp là sông Perdido, gần Pensacola ngày nay. Ông tiếp tục giám sát bản đồ và tin rằng biên giới Tây Nam là Rio Grande. Điều này có nghĩa là Mỹ đã mua lại tất cả phần đất phía tây của Florida ngày nay dọc theo Bờ Vịnh xuyên qua Texas ngày nay. Pháp không phản đối gì phần giải thích có phần mở rộng này của hiệp ước. Như Talleyrand đã chỉ ra, Pháp muốn rũ sạch mọi thứ dính dáng đến Mỹ, và dù sao cũng không ai ở Pháp biết vị trí của Perdido hoặc Rio Grande từ Hudson hay Potomac. 70

Tuy nhiên, Tây Ban Nha lại có cái nhìn hơi ít rộng rãi hơn đối với tuyên bố của Mỹ, khẳng định rằng cả Bờ Vịnh (gọi là Tây Florida) và bất cứ mảnh đất phía tây nam nào của New Orleans cũng đều không được tính trong vụ mua lại này. Jefferson đã chỉ đạo Monroe rời Paris về Madrid và ở đây, có một nỗ lực khiêm tốn nhằm mua lại phần Tây Florida từ Tây Ban Nha. “Chúng tôi hầu như không mong đợi bất kỳ sự dàn xếp nào tự do hay công bằng với Tây Ban Nha”, Jefferson nhận xét, nhưng điều này không tạo ra khác biệt lớn vì “dù quan điểm của Tây Ban Nha là gì đi nữa, chúng tôi sẽ không gặp khó khăn… trong việc đạt tới mục đích của mình”. Nói ngắn gọn, Tây Ban Nha là Tây Ban Nha, nước này cần phải được coi là một công ty đơn thuần đối với Mỹ, “và nếu, ngay khi nước này rơi vào chiến tranh, chúng ta sẽ đẩy họ thật mạnh bằng một tay, tay kia sẽ ra giá, chắc chắn chúng ta sẽ có được Floridas, và chỉ cần kiên nhẫn một chút”. Mặc dù điều này đòi hỏi thêm 15 năm nữa, cộng thêm chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Andrew Jackson, nhưng đó chính xác là những gì đã diễn ra. 71

Cuối cùng, và nổi tiếng nhất, đó là các vấn đề hiến pháp được đặt ra từ vụ mua lại một dải đất rộng lớn, bất kể đường biên giới như thế nào. Mặc dù Madison và Gallatin cố gắng thuyết phục ông làm cách khác, Jefferson vẫn tin rằng việc mở rộng Liên bang đòi hỏi phải sửa đổi Hiến pháp: “Hiến pháp không có điều khoản nào quy định chúng ta được phép nắm giữ lãnh thổ nước ngoài” ..., ông công nhận. “Việc ra quyết định nắm giữ lãnh thổ của kẻ trốn chạy, là một hành động vượt ra ngoài Hiến pháp”. Như Jefferson đã giải thích với Thượng nghị sĩ John Breckinridge của Kentucky, ông bị đặt vào thế khó của một người giám hộ, được bày ra trước mắt một cơ hội đầu tư chưa từng có, và quyết định hành động mà không có sự đồng ý của khách hàng của mình, nói rằng trong thực tế “tôi nghĩ rằng nhiệm vụ của mình là liều mình vì ngài”. Nhưng giờ đây ông lại có bổn phận đạo đức phải yêu cầu Quốc hội sửa đổi hiến pháp đồng thời chuyển hiệp ước cho Quốc hội để phê chuẩn. 72

Tuy nhiên, tới lúc phiên họp đặc biệt của Quốc hội diễn ra vào tháng 10 năm 1803, Jefferson lại thay đổi quyết định. Các báo cáo từ Paris chỉ ra rằng Napoleon luôn bốc đồng đã suy nghĩ lại; cùng lúc đó, người Tây Ban Nha lại đe dọa lật lại toàn bộ hiệp ước trên cơ sở là không ai thật sự biết đường biên giới chính xác của bang Louisiana. Lo sợ rằng bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể đặt vụ mua lại vào rủi ro, Jefferson kết luận rằng “càng ít bàn về những khó khăn hiến pháp của tôi càng tốt; và rằng tốt nhất là Quốc hội làm những việc cần thiết trong im lặng . Nếu lựa chọn ở đây là giữa việc duy trì cách giải thích nghiêm ngặt của ông về quyền điều hành hoặc mất đi một nửa lục địa, ông đã chọn cách thực dụng hơn, đó là bày tỏ hy vọng rằng “ý tốt của đất nước chúng ta sẽ sửa chữa cái ác khi có tác động xấu”. 73

Sự lúng túng về mặt hiến pháp trở nên ngày càng tệ hơn trong những tháng kế tiếp. Phần lớn những người Cộng hòa tại Quốc hội phê chuẩn Vụ mua lại Louisiana, như một thượng nghị sĩ nói, “mất ít thời gian hơn một hợp đồng da đỏ tầm thường nhất”, sau đó lại thông qua những luật pháp thuận lợi, trong đó giao cho Tổng thống gần như toàn quyền quyết định một chính phủ lâm thời tại Lãnh thổ Louisiana. John Quincy Adams, một trong số ít các thượng nghị sĩ phản đối điều này, nhận xét rằng Jefferson sẽ có “một quyền lực ngầm rất lớn…, lớn hơn nhiều so với quyền lực ngầm của cả nội các Washington và Adams cộng lại”. Kẻ thù cũ của George III đang nắm trong tay quyền lực độc đoán đối với các cư dân của Louisiana nhiều hơn bất kỳ những gì mà nhà vua Anh nào đã từng nắm giữ đối với người dân thuộc địa Mỹ. 74

Hơn nữa, Jefferson đã chọn cách sử dụng quyền điều hành để đề xuất lập một chính phủ phi cộng hòa một cách ngang nhiên trên lãnh thổ này. Phác thảo hiến pháp đề xuất của ông được gửi kèm một lá thư giới thiệu cho Thượng nghị sĩ Breckinridge cùng lời thế giữ bí mật. “Ngài không bao giờ được để cho bất kỳ người nào biết rằng tôi đã đặt bút ký vào giấy”, ông cảnh báo “và cần tiêu hủy ngay văn bản gốc” lập tức sau khi đã sao ra một bản. “Tôi đặc biệt nói điều này”, Jefferson giải thích, “là vì ngài biết những kẻ Liên bang sẽ dùng những chiếc răng máu me của chúng để tấn công bất kỳ thứ tình cảm hoặc nguyên tắc nào được biết là đến từ tôi, và bọn chúng sẽ biến mọi sự ra thành đê tiện và cá nhân như thế nào”. 75

Lý do chính cho lo âu của Jefferson là chính phủ lâm thời của lãnh thổ mà ông đề xuất bao gồm một thống đốc do Tổng thống chỉ định và một hội đồng không qua bầu hoặc thượng nghị sĩ, mà Jefferson gọi là “hội của các danh nhân”. Đây chính xác là loại dàn xếp hiến pháp mà người ta có thể mong đợi từ John Adams, người thoải mái hơn với chính quyền quý tộc, thích danh xưng và có thể đã lập luận rằng các cư dân Pháp chiếm số đông ở Louisiana sẽ đánh giá cao một khuôn khổ chính trị quen thuộc gợi nhớ tới chế độ cổ xưa của họ. Nhưng đây cũng chính xác là loại chính phủ mà Jefferson đã lên án phe Liên bang vì ủng hộ cho nó, vì chính phủ loại này tước đoạt của các cư dân mọi quyền bầu cử, và như Madison đã thừa nhận riêng, “sẽ khiến người dân của Quận đó không có tổ chức chính quyền theo như lý thuyết Cộng hòa quy định”. 76

Trong cuộc tranh luận về đề nghị của Jefferson tại Thượng viện, John Quincy Adams, rõ ràng đang vui thú trước sự trớ trêu này và hoàn toàn hiểu rằng phe Cộng hòa sẽ bỏ phiếu cho bất cứ điều gì Jefferson muốn, nên ông đã cố gắng thêm vào một điều khoản bảo vệ quyền lợi của người dân Louisiana trong đó chống lại việc bị đánh thuế mà không có sự đồng ý của họ. Năm sau, một phái đoàn gồm ba đại diện từ lãnh thổ Louisiana đã đến Washington để bày tỏ sự phản đối. Họ phản đối sự vi phạm các quyền và tư cách người dân thuộc địa không chính thức của họ. “Liệu có phải các tiên đề chính trị trên Đại Tây Dương đã trở thành vấn đề”, họ hỏi một cách hoa mĩ, “khi được áp dụng trên bờ sông Mississippi?” Jefferson tránh mọi tiếp xúc với đoàn đại biểu hoặc đối thoại với họ về phản đối này. Trong thư từ riêng của mình, ông giải thích rằng “những công dân mới của chúng ta [ở Louisiana] vẫn chưa có khả năng tự quản, giống như những đứa trẻ, trong khi đó một số không thể bắt mình tuân theo nguyên tắc [cộng hòa] chỉ trong chốc lát”. Việc tuân theo này chỉ là tạm thời, ông hứa, cho đến khi ông cảm thấy yên tâm rằng nhiệt độ chính trị đã hạ xuống đủ để tránh những rủi ro do nổi dậy. 77

Từ góc nhìn lịch sử lâu dài, và với tất cả những lợi thế của việc nhìn lại, quyết định gây tranh cãi của Jefferson về lãnh thổ Louisiana có thể được - hầu hết trong số đó thật sự nên được - bảo vệ vì khôn ngoan. Quyết định bỏ qua vấn đề hiến pháp rõ ràng là một quyết định chính xác, vì lý do thực tế là cuộc tranh luận về sửa đổi hiến pháp sẽ nêu lên một lô các câu hỏi khiến người ta phát cáu - về chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ, các vùng đất da đỏ, tuyên bố về đất của Tây Ban Nha và một loạt các vấn đề về quyền tài phán khác - mà có thể sẽ đặt vụ mua lại vào rủi ro. Thái độ cứng rắn và thô bạo đối với lập luận của Tây Ban Nha về biên giới, đặc biệt ở Tây Florida, nối tiếp một cách tự nhiên từ một đánh giá thực tế về sự bất lực của Tây Ban Nha và vận mệnh dân cư Mỹ. Ngay cả quyết định thiết lập một chính phủ lâm thời có bản chất độc đoán và chuyên quyền trên lãnh thổ Louisiana để cai quản vùng đất này trong những năm đầu đồng hóa cũng không thể bị lên án ngay, vì cả quy mô lớn của khu vực này và sự đa dạng sắc tộc của cộng đồng Creole ở đây đều đặt ra những vấn đề về quản trị trong đó cần một bàn tay cứng rắn ngay lúc đầu. 78

Vấn đề lúc đó không phải là liệu chính sách của Jefferson đối với vùng Louisiana là đúng hay sai, mà là làm thế nào ông có thể thực hiện các quyết định đi ngược lại, theo rất nhiều cách, cam kết lâu dài của ông đối với việc hạn chế quyền hành pháp và tính chất gần như thiêng liêng của các nguyên tắc cộng hòa. Hai trong số các câu trả lời thông thường cho câu hỏi này nghe không đúng sự thật: Thứ nhất, Jefferson đã không chỉ đơn giản bị chi phối bởi sự thèm khát quyền lực một khi nhậm chức tổng thống, vì trong một loạt các lĩnh vực chính sách khác, ông thể hiện kỷ luật đáng kể đối với cơ quan hành pháp và thói quen tôn trọng Quốc hội; thứ hai, ông không đột ngột phát hiện ra một nét thực dụng trong triết lý chính trị của minh, vì đối với các vấn đề như khoản nợ và sau đó là lệnh cấm vận, ông vẫn bám chặt vào các nguyên tắc Jefferson bất chấp những bằng chứng khổng lồ cho thấy những nguyên tắc này đi ngược với thực tế. Cách giải thích thực tế không giải thích được lý do tại sao ông có khả năng đặt sang một bên niềm tin của mình vào “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” trong trường hợp này mà không phải trong những trường hợp khác.

Câu trả lời dường như là nằm ở nơi đặc biệt, thật sự gần như huyền bí, mà ông dành cho phương Tây trong suy nghĩ của mình. Khi lịch sử tặng ông cơ hội bất ngờ và chưa từng có để loại bỏ mãi mãi sự hiện diện của bất cứ một cường quốc châu Âu nào trên biên giới phía tây của Mỹ (Tây Ban Nha không tính ở đây), nó đã kích hoạt năng lượng tầm nhìn mạnh mẽ nhất của ông, cái mà sau đó đã đè lên cả những huấn thị cộng hòa truyền thống của ông. Đối với Jefferson, hơn bất kỳ thành viên chủ chốt nào của thế hệ cách mạng, phía Tây là tương lai của Mỹ. Bảo đảm một mảnh đất lớn ở miền Tây cho hậu thế của Mỹ có nghĩa là kéo dài qua nhiều thế hệ sự giải phóng một cách có hệ thống năng lượng quốc gia đi kèm với các phong trào định cư bùng nổ trong khắp các không gian bất ổn. (Người Da đỏ, như Tây Ban Nha, không nằm trong tính toán này). Điều mà Frederick Jackson Turner sau này gọi là một van an toàn là để dành cho Jefferson, phần nhiều giống như một động cơ tự đổi mới lèo lái nước Cộng hòa Mỹ về phía trước. Miền Tây là nơi cảnh điền viên nông nghiệp của ông có thể được thường xuyên tìm lại, do đó trì hoãn những điều kiện đông đúc và tắc nghẽn chính trị của xã hội châu Âu trong tương lai bất định. Jefferson thích nghĩ về phương Tây theo cùng một cách mà một số người lạc quan hiện đại nghĩ về công nghệ, đó là khả năng tái tạo gần như vô tận và màu mỡ trù phú vô hạn. Đó là vũ khí bí mật khiến cho cuộc thí nghiệm chủ nghĩa cộng hòa của Mỹ được miễn nhiễm với quá trình lão hóa quốc gia, ít nhất là cho đến hết thế kỷ. Đó là suối nguồn tươi trẻ của Mỹ. 79

Kết quả là, bất kỳ vấn đề nào liên quan đến số phận của miền Tây nước Mỹ đều có khả năng bật lại những kết án chính trị khác của ông. Tầm nhìn của Jefferson về ý nghĩa của miền Tây đối với Mỹ cũng khiến ông hầu như miễn dịch với những nghi ngờ, rất phổ biến trong phe Liên bang và thậm chí còn được chia sẻ bởi một số đồng nghiệp Cộng hòa của ông, về khả năng đồng hóa lãnh thổ Louisiana rộng lớn của Mỹ. Sau tất cả, khi một khu vực lớn như vậy được đặt dưới sự kiểm soát của Anh sau chiến tranh Pháp và Da đỏ năm 1763, nó đã trực tiếp dẫn đến các vấn đề chính trị mà kết thúc là Cách mạng Mỹ và sự tan rã của đế quốc Anh tại Mỹ. Trong khi những người ở miền Đông, đặc biệt là những người phe Liên bang ở New England, lo lắng rằng ảnh hưởng của họ sẽ bị xói mòn khi các bang miền Tây nhập vào Liên bang, nỗi sợ lớn nhất là sự rời rạc, rằng phiên bản nước Mỹ mở rộng sẽ chia cắt các khu vực theo chế độ châu Âu. Phản ứng của Jefferson trước nỗi sợ đó là chối bỏ gần như cẩu thả: “Cho dù chúng tôi vẫn còn trong một liên minh, hoặc hình thành các liên minh Đại Tây Dương và Mississippi, thì tôi tin cũng chẳng quan trọng mấy đối với hạnh phúc của một trong hai bên. Những người thuộc liên minh phương Tây sẽ giống như con cháu của chúng tôi và hậu duệ của những người phía đông, và tôi cảm thấy bản thân mình gắn với đất nước đó trong tương lai, như với liên minh này”. 80

Đây là một tuyên bố đáng chú ý vì nó truyền đạt một sự lãnh đạm gần như phô trương đối với việc bảo tồn liên bang, vấn đề chính trị chiếm ưu thế trong nửa thế kỷ tới. Jefferson không lo lắng về sự hội nhập của miền Tây vào Mỹ, vì ông nghĩ về quá trình này năng động hơn và như là một phần của một sự biến đổi lớn. Từ quan điểm của ông, Mỹ đã không chỉ tích hợp mảnh đất phía Tây vào Liên bang; phương Tây thực ra lại đang tích hợp Mỹ vào một phiên bản mới hơn và luôn thay đổi của Mỹ. Về tinh thần, nếu không phải là trên thực tế, Jefferson là một người phương Tây, bị quyến rũ bởi những chân trời dường như vô tận và các ẩn số thú vị mà Meriwether Lewis có thể mang lại để nuôi dưỡng hiện tại với các tin tức của tương lai. Điều này cũng giúp cho đại đa số người dân miền Tây tỏ ra là những người Cộng hòa trung thành.

NHỮNG VỤ BÊ BỐI

Nếu miền Tây là nơi trong tương lai các loại nước ép sáng tạo của các nước Cộng hòa Mỹ đang bành trướng được chảy tự do nhất, thì New England là quá khứ, nơi mà như Jefferson đã nhìn nhận, Chủ nghĩa liên bang om các loại nước độc hại của riêng nó trong khi điều chỉnh theo tính không thích hợp bất biến của nó. Thật không may cho Jefferson, người có một trí tuệ ấn tượng nhưng lại không đánh giá được nguồn năng lượng nén chặt của Thanh giáo New England, tuyên bố của ông về cuộc chiến sinh tử chống lại “những kẻ hết thuốc chữa” theo Chủ nghĩa liên bang đã đẩy một số thành phần ưu tú nhất trong giới trí thức Mỹ ra xa. Jefferson là một người ghét bỏ tuyệt vời và một tay bút chiến khéo léo, nhưng ông không chỉ gặp phải đối thủ cân sức trên báo chí và bục giảng Liên bang, nơi mà điều kiện để Chủ nghĩa liên bang, với tư cách một phong trào chính trị sáng giá, trở nên hết thời và làm tăng sự tuyệt vọng của những người bảo vệ cho nó. Trong cuộc sống sau này, sau khi Jefferson và Adams đã hòa giải và nối lại thư từ với nhau, họ vẫn nói đùa về việc ai có thể lớn tiếng hơn trong những lời chỉ trích thù hằn nhắm vào ông trong nhiệm kỳ tổng thống. Đây là một lĩnh vực cạnh tranh vui vẻ mà Jefferson là người chiến thắng không thể chối cãi. Chưa từng có cuộc tấn công như thế vào tính cách của ông trong lịch sử của nền cộng hòa thời kỳ đầu. 81

Điều đó không có nghĩa là chưa từng có tiền lệ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 1800, một số người đã cố nhắm đến Adams để chỉ trích ông về mặt tính cách: cú đòn chính đến từ Hamilton, người đã xuất bản một bản cáo trạng dài dòng về cá tính bùng nổ của Tổng thống. Các ý chính của lời buộc tội này là Adams bị loạn trí và hoàn toàn có khả năng phá hủy nước Cộng hòa Mỹ non trẻ trong một cơn co thắt điên rồ. Ngay cả những thần thánh như Washington cũng trở thành mục tiêu của sự lạm dụng khi trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông bị quy cho mắc bệnh lão suy cũng như sự thiên vị Hamilton bắt nguồn từ những cáo buộc vô căn cứ nhưng giật gân rằng Hamilton là con trai bí mật ngoài giá thú của ông. Chính Hamilton cũng bị buộc tội thiếu suy xét nhiều lần, vụ tai tiếng nhất là chuyên bê bối tình dục với một phụ nữ đã lập gia đình, khiến ông bị chồng bà này tống tiền và đòi đổi ưu đãi chính trị lấy sự im lặng. Từng là một bậc thầy của sự táo bạo, Hamilton đã dùng báo chí để thông báo rằng những lời buộc tội thiếu chung thủy đáng buồn lại là sự thật, nhưng bất chấp thất bại cá nhân này, đức hạnh công chúng của ông với tư cách một quan chức chính phủ chưa bao giờ bị đánh đổi. Đường phân định ranh giới mà ông đã cố gắng vẽ giữa cuộc sống riêng và sự liêm chính của ông chính xác là đường phân định mà các biên tập viên báo chí và chuyên gia chính trị từ chối công nhận. Bởi lúc Jefferson lên nhậm chức tổng thống, khi đó cuộc sống riêng tư của các nhân vật công chúng rõ ràng được coi như một trò chơi công bằng của giới báo chí, và Jefferson, người rất năng nổ nơi hậu trường trong việc thuê ám sát các nhân vật trong các cuộc chiến tranh đảng phái năm 1790, biết rõ rằng ông có thể mong đợi sự đối xử y hệt. “Họ nói chúng ta lừa dối họ để tước quyền lực”, ông nhận xét về những người Liên bang, “và công khai bày tỏ ý định sẽ làm như vậy với chúng ta”. 82

Cuộc phòng ngự của phe Liên bang bắt đầu ngay lập tức, mặc dù phát súng đầu tiên nhằm gây thương tích chứ không phải định giết chết, trêu chọc các mục tiêu như phong cách văn học đặc trưng của Jefferson, với sự ưa chuộng các cụm từ cao quý và sự lặp lại âm đầu thường xuyên. “Con người, theo tự nhiên, là một con lười khổng lồ”, một người Liên bang đã viết nhại theo giọng điệu của Tuyên ngôn Độc lập, “được ra đời có mục đích, trong một quan điểm triết học, để đi vơ vẩn, cướp bóc, tuyên truyền, và sa đọa”. Việc công bố năm phiên bản mới của Những ghi chép vào năm 1801 có lẽ là một nỗ lực của các nhà xuất bản để thu lời từ sự kiện Jefferson mới lên nhậm chức tổng thống, cung cấp cho các biên tập viên phe Liên bang một loạt các mục tiêu dễ dàng. Vì một số lý do họ có xu hướng bám chặt vào tuyên bố của Jefferson rằng những quái thú to lớn, lông lá thời tiền sử là voi ma mút vẫn tồn tại trên mảnh đất miền Tây nước Mỹ chưa được khám phá, một trong những ý tưởng trước thời Darwin mà Jefferson thấy hấp dẫn vì nó bênh vực tranh luận chống lại Buffon của ông rằng môi trường ở Mỹ sản sinh ra những động vật lớn. Phe Liên bang khôn lanh đã chế nhạo đi chế nhạo lại “lý thuyết voi ma mút” của ông, và motif này trở thành trọng tâm cho phe đối lập mỉa mai Jefferson như một kẻ ngụy khoa học. Với cùng một thái độ nửa đùa nửa thật, những người bênh vực Jefferson phản đối sự tấn công voi ma mút bằng cách tặng ông một miếng “pho mát voi ma mút” nặng 1.235 pound nổi tiếng làm từ sữa của 900 con bò, “và không con bò nào theo phe Liên bang”. 83

Các cuộc tấn công thật sự ác liệt vào tính cách của ông là trên mặt trận tôn giáo. Trong cuốn Những ghi chép , Jefferson đã trình bày một luận cứ về tự do tôn giáo trong đó kết thúc bằng một bình luận thông minh trên tinh thần cởi mở của riêng mình: “Nhưng cũng chẳng hại gì với hàng xóm của tôi khi nói rằng có 20 vị thần hoặc không có vị thần nào. Tôi chẳng bị móc túi hay gây chân vì điều đó”. Giới tăng lữ phe Liên bang của New England đã bám vào nhân xét này và coi nó như là bằng chứng thuyết phục cho thấy Jefferson là một sự kết hợp của ngoại giáo, vô đạo, vô thần và dị giáo. Bài xã luận được lưu hành khắp New England nói về chủ đề trong đó hầu hết các nước Ki-tô giáo trên thế giới hiện nay được lãnh đạo bởi một người đã chối bỏ những nguyên lý trung tâm của Ki-tô giáo. Trong khi cá nhân Jefferson tỏ ra không bị tổn thương bởi lời buộc tội này, ông vẫn nhận ra những thiệt hại chính trị mà lời buộc tội này gây ra cho Đảng của ông; do đó, ông đã sáng tác một bài luận ngắn gọn về ân đức của Chúa Jesus với tư cách một tấm gương, bài luận thực ra được dựa trên một bài tiểu luận tương tự của Joseph Priestley, nhà thần học Anh, và đã so sánh Jesus với Socrates như hiện thân lộng lẫy của các giá trị nhân văn. Jefferson cho rằng bài luận của mình đã bị rò rỉ cho bạn bè Cộng hòa để chống lại cái mà ông gọi là “hệ thống chống Ki-tô giáo bị gán cho tôi bởi những người không biết gì về ý kiến của tôi”. Phải, ông giải thích với Benjamin Rush, ông không chấp nhận “sự tham nhũng của Ki-tô giáo”, chứ không phải là “lời dạy thật sự của chính Jesus”. 84

Tất nhiên, sự phân biệt đó đã là để dành cho những người chỉ trích chế độ liên bang của ông, những người đang tìm kiếm đạn dược hơn là chân lý. Jefferson cung cấp cho họ nhiều hơn những thứ họ có thể hy vọng, khi chỉ sau hai tuần nhậm chức, ông mời Tom Paine lên con tàu chính phủ, người đang cố gắng trở về Mỹ từ Pháp sau khi suýt nữa không thoát khỏi máy chém. Lá thư Jefferson gửi cho Paine đã được báo chí Mỹ xào lại từ báo chí Paris, nơi chính Paine có thể đã gieo rắc lá thư này nhằm ban bố danh dự và tôn vinh lời chứng thực của Jefferson. “Tôi hy vọng”, Jefferson viết thư cho Paine, “ngài sẽ thấy chúng tôi nói chung đáp lại tình cảm xứng đáng với thời gian trước đây. Ngài sẽ được hưởng vinh quang vì đã miệt mài lao động và đạt hiệu quả nhiều như bất kỳ người nào đang sống. Tôi chân thành cầu chúc ngài có thể sống lâu mà tiếp tục lao động một cách hữu ích và gặt hái phần thưởng trong sự biết ơn của các quốc gia. Xin gửi ngài lời chào trân trọng và thân ái”. 85

Theo quan điểm của Jefferson, Tom Paine là một anh hùng Mỹ đích thực, một thành viên sáng lập của “nhóm huynh đệ” đã làm nên Cách mạng Mỹ và sau đó đã mang “tinh thần năm ‘76” sang Pháp, nơi mà nó lại gây ra thiệt hại ngoài dự kiến nhiều hơn dự tính, đúng như vậy, nhưng tương lai chắc chắn sẽ phục hồi các đặc tính ban đầu. Thật không may cho Jefferson, uy tín của Paine ở Mỹ không giữ được lâu. Khi ông ta hạ cánh ở Baltimore, tờ báo địa phương đã nắm bắt được tâm trạng bằng cách nhận xét mỉa mai rằng “vị Tổng thống ngoan đạo của chúng ta nghĩ rằng thật thích hợp khi gửi một con tàu khu trục đến phục vụ cho loài bò sát ghê tởm này”. Tội lớn nhất của Paine không phải ở chỗ ông ta là một người hay rượu chè và có tác phong của một kẻ ăn mày, mặc dù điều đó là đúng, mà là ở chỗ ông ta đã viết cuốn Thời đại của Lý do (The Age of Reason), một đòn tổng tấn công ác liệt vào Ki-tô giáo giống như cuốn Lẽ thường đối với chế độ quân chủ. Bằng cách công khai kết hợp với Paine, Jefferson đã phơi mình ra trước các tít bài giật gân nhất của báo chí phe Liên bang với tư cách một “kẻ vô đạo tinh quái”, “một kẻ làm vấy bẩn Ki-tô giáo” và “một người bạn đồng hành của tội nhân thấp hèn, tham nhũng, đáng ghét nhất của thế kỷ”. Tất cả những người Mỹ coi trọng Ki-tô giáo giờ đây buộc phải lựa chọn, một biên tập viên cho biết, giữa việc “từ bỏ vị cứu tinh của họ, hoặc tổng thống của họ…” Các cuộc tấn công diễn ra liên tiếp và vô song trong lịch sử thuở ban đầu của quốc gia non trẻ tính về cường độ bút chiến. Như Henry Adams mô tả, nếu Jefferson đã quyết định chúc mừng Napoleon về sự chuyên quyền của ông ở Pháp, “ông không thể gợi nên hứng thú trong tâm trí những người theo phái Canvin ở New England một cảm giác ghê tởm sâu sắc bằng cách dường như gắn mình với Paine”. Theo một nghĩa thực tế, đó là một trong những khoảnh khắc hay ho của Jefferson, vì ông nhận thức đầy đủ tai tiếng của Paine nhưng vẫn dính lấy ông ta cho đến phút cuối, thậm chí còn mời ông ta lưu lại và dùng cơm tại dinh thự tổng thống trong vài tuần. Những biên tập viên phe Liên bang đã có một ngày thực địa mô tả “hai chàng Tom” dắt tay nhau tản bộ, họ bị cáo buộc so sánh các ghi chú về cách lý tưởng để thúc đẩy chủ nghĩa vô thần hoặc những thành công quá khứ của họ trong việc hủy hoại những trinh nữ Ki-tô giáo. 86

Vòng tròn hạnh phúc của Tổng thống chúng ta được mở rộng ra nhiều”, biên tập viên của tờ Port Folio phe Liên bang nhận xét, “bởi dục vọng của áo tang Sally, và sự xuất hiện tốt lành của anh chàng Tom Paine ngoan đạo”. Việc liên hệ tới “áo tang Sally” là một sự chèn vào ngẫu nhiên lời buộc tội giật gân nhất đối với Jefferson về hành vi tính dục (và tại thời điểm đó, mang tính chủng tộc) không thích hợp. Hầu như tất cả các báo phe Liên bang trong nước đều vồ lấy câu chuyện, xuất hiện lần đầu trên tờ Richmond Recorder tháng 9 năm 1802. “Ai cũng biết”, câu chuyện bắt đẩu, “rằng người đàn ông, mà mọi người vẫn tôn vinh , trong nhiều năm qua giữ bên mình một người vợ lẽ, cũng chính là một trong những nô lệ của riêng mình. Tên người phụ nữ ấy là SALLY… Tên con trai cả của bà là TOM. Đặc điểm của ông được cho là rất ấn tượng, mặc dù giống một cách tang thương những đặc điểm của chính Tổng thống”. Đã nhiều tháng qua báo chí phe Liên bang in bài xã luận tuyên bố về những việc như liệu các cáo buộc là đúng hay không, nhưng sau đó tiến tới cung cấp cho độc giả các biến thể đầy màu sắc về những tin đồn khiêu khích, một số thậm chí còn thành thơ:

Trong tất cả những quý trên cỏ xanh

Trên núi hoặc trong thung lũng

Một nàng hừng hực bạn chưa từng được nhìn thấy

Như nàng Sally xứ Monticelly .

Đám biên tập viên nhắc đến cô với cái tên “Sally Tối màu”, “Sal đen”, “Venus Phi châu” và “cô nàng quyến rũ da màu gỗ lim”. Báo chí Boston đặc biệt quan tâm đến việc làm thế nào một ngài tổng thống 95 tuổi có thể làm tình với một phụ nữ trẻ hơn ông nhiều (Sally chỉ khoảng 31 hay 32 tuổi). Câu trả lời là những nét châu Phi của nàng:

Đôi môi dày bĩu lên! Ổi mỗi ngọt ngào xiết bao !

Đam mê bừng cháy khi ta hôn đôi môi ấy !

Lan ra hơn một nửa khuôn mặt ,

Không tài nào bỏ lỡ .

Và vân vân. 87

Đó là giấc mơ của một nhà báo vào thời điểm đó, vì câu chuyện đã cho những người Liên bang, đang ngày càng tuyệt vọng hơn với mỗi chiến thắng của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử toàn quốc đang diễn ra, loại bê bối nhỏ nhưng sắc nét có khả năng cắt xuyên qua mọi bất đồng trong Đảng hay về mặt chính sách và đi thẳng vào câu hỏi cốt lõi về tính cách của Jefferson. Đó là giấc mơ lớn nhất của một nhà báo, vì lời buộc tội đó tính tới nay vẫn chưa thể được chứng minh một cách thuyết phục hay phủ nhận, và vì cả hai bên tranh luận đều chỉ sở hữu vừa đủ chứng cứ để ngăn chặn một phán quyết nghiêng về bên đối lập. (Xem thêm “Ghi chú về vụ Sally Hemings” ở cuối để biết tóm tắt ngắn gọn về các bằng chứng). John Adams đã có một trong những phản ứng khôn ngoan nhất trước những lời buộc tội khi chúng lần đầu được nêu lên. Adams vẫn còn trong giai đoạn chống Jefferson, do đó phản ứng của ông không dính dáng đến tình bạn cũ của họ. Là một nạn nhân của mối thù ác độc tương tự, Adams tuyên bố đồng cảm với Jefferson. Mặt khác, các cáo buộc rằng “một hậu quả tự nhiên và gần như không thể tránh khỏi của sự lây lan bẩn thỉu trong tính cách con người, nô lệ da đen”. Jefferson đã không chỉ bị ô nhiễm bởi sự lây lan đó, mà còn bị nghi ngờ vì “không có một chủ đồn điển nào ở Virginia”, Adams nhận xét, “không nhận ra trong số nô lệ của ông một số con cái của ông”. Lời buộc tội về hành vi tính dục không phù hợp do đó đã đặt ra “một vết nhơ trong tính cách của ông” và điều này không phải là hoàn toàn không hợp lý. Lời buộc tội ấy cũng sở hữu một chân lý đạo đức nhất định vì nó giải phóng điều kiện sống vốn vô đạo đức của tất cả những chủ sở hữu nô lệ, trong đó có Jefferson. 88

Điều mà Adams đã không nói ra trong các ghi chép, nhưng chắc chắn đã nghĩ tới, đó là có một cảm giác công lý thơ mộng tương tự về những cáo buộc, bởi vì chúng đều xuất phát từ một kẻ chuyên nói xấu sau lưng từng thuộc Đảng Cộng hòa tên là James Callender, kẻ mà sự nghiệp trước đó chỉ tập trung phỉ báng đối thủ của Jefferson, trong số đó có Adams, với cùng một kiểu tiết lộ sự thật giật gân trong đó có sự hỗ trợ và đồng thuận của Jefferson. Callender là tay phóng viên đã viết nên câu chuyện về cuộc phiêu lưu bất hợp pháp của Hamilton năm 1797 và năm sau đó đã vu khống Adams là “vị vua tham nhũng và chuyên quyền của Braintree” trong một cuốn sách nhỏ với tựa đề Viễn cảnh trước mắt ta (The Prospect Before Us). Jefferson đã thông qua và giúp trả tiền cho cuốn này, nhưng Callender, người mà chỉ nhất quán mỗi một việc đó là tài năng phản bội ngoan cố, đã quay lưng lại với ông khi Jefferson từ chối giao cho Callender vị trí giám đốc bưu điện ở Richmond như một phần thưởng cho lao động của người này. Theo lời kể của một người phe Liên bang, có lẽ là ngụy tác, Callender đã nấn ná bên ngoài dinh thự tổng thống trong vài ngày với hy vọng có được một cuộc phỏng vấn cá nhân. Khi hắn phát hiện ra Jefferson đứng ở một cửa sổ trên gác, hắn hét lên đe dọa: “Thưa ngài, ngài biết rằng bằng cách nói dối tôi đã biến ngài thành Tổng thống, và tôi sẽ - nếu tôi không hủy hoại ngài bằng cách nói sự thật”. Jefferson lên án Callender là “một kẻ phản bội chủ nghĩa cộng hòa dối trá”, và sau đó yêu cầu Monroe, lúc đó vẫn là Thống đốc Virginia, đưa ra tuyên bố phủ nhận rằng Jefferson chưa bao giờ kết bạn hoặc trả lương cho Callender hoặc có bất cứ dính dáng gì đến lời lẽ công kích trước đó của ông ta chống lại Adams. Nhưng Callender đã lưu lại bản sao lá thư buộc tội của Jefferson và công bố ngay cho báo chí phe Liên bang. “Tôi cảm ơn ngài về bằng chứng mà ngài đã gửi kèm”, Jefferson viết cho Callender liên quan đến cuốn sách; “Giấy tờ đó không thể không tạo ra hiệu ứng tốt nhất”. 89

Trò hai mang bị vạch trần trong giao dịch của ông với Callender là hoàn toàn hợp với tính cách của Jefferson. Đó rút cục lại là sự lừa dối kiểu Freneau và nghịch ngợm kiểu Mazzei, với việc Jefferson phủ nhận với chính mình và sau đó là với cả thế giới tội đồng lõa của ông trong vụ lừa đảo chính trị ở hậu trường, rồi lại tỏ ra thật sự ngạc nhiên khi sự thật bị bại lộ. Giờ đây, với việc công khai thư từ có ý định xấu của ông với Callender, ông đã bị bắt quả tang nói dối, thế đã là tệ lắm rồi, vậy mà lời nói dối lại làm tăng thêm độ tin cậy trong lời buộc tội của Callender về những tự do phóng túng đầy kích động nơi hậu trường với Sally Hemings.

Có một lý do nữa khiến cho những lời buộc tội của Callender gây phiền toái cho khả năng lừa dối và phủ nhận khá đáng kể của Jefferson. Lý do là, chúng về căn bản là đúng. Trong khi chúng ta không thể biết chắc những đặc điểm cảm xúc có thể có trong mối quan hệ tính dục của Jefferson với Sally Hemings, nhưng chúng ta có thể chắc chắn một cách hợp lý rằng đó là một mối quan hệ đã có từ lâu, có lẽ từ hai năm cuối cùng của ông ở Paris. Đây có lẽ cũng là mối quan hệ có sự đồng thuận lớn nhất, ít nhất ở mức độ là bất kỳ mối quan hệ nào vốn đã không bình đẳng giữa chủ và nô lệ có thể cho phép đồng ý lẫn nhau. Rõ ràng nhu cầu sinh lý căn bản đã được thỏa mãn ở đây khi Jefferson đã không thể hoặc không muốn chối bỏ điều này, vì hai người vẫn tiếp tục liên lạc trong vài năm sau vụ tiết lộ của Callender.

Tuy nhiên, chuyện này chủ yếu vẫn là một bí mật, theo nhiều nghĩa của từ này. Không một dấu vết bằng chứng nào về mối quan hệ này từng được tìm thấy trong lượng lớn các thư từ cá nhân của Jefferson. (Jefferson cực kỳ lão luyện trong việc che giấu dấu vết của mình, đến nỗi phải mất gần hai thế kỷ và công tác điều tra di truyền tiên tiến nhất của khoa học hiện đại mới có thể đặt vấn đề ông là cha của những đứa con của Sally). Hơn nữa, ở thế giới bên trong Monticello, nơi mà Jefferson luôn mô tả với phong cách chân thành nhất của mình như một thiên đường thôn dã của sự thanh thản nội tâm, hẳn phải có một mê cung thật sự các không gian vật lý và tâm lý bị niêm phong kín mít.

Martha Jefferson Randolph, con gái cả của ông, sống với đàn con ngày càng sinh sôi của minh tại Monticello trong suốt thời gian Jefferson có quan hệ với Sally Hemings. Làm thế nào cô có thể không biết về sự thật này, thậm chí nó làm kéo giãn sự hiểu biết tinh vi nhất của chúng ta về khả năng chối bỏ của con người. Nhưng Martha đến lúc xuống mồ vẫn khẳng định những cáo buộc của Callender là không đúng, cô vẫn bảo vệ danh tiếng của cha mình, bằng cách nào đó thuyết phục chính mình trong lúc thuyết phục người khác. Và sau đó đến lượt Jefferson, nghiêm túc ghi lại tên những đứa con của Sally trong cuốn Sách Nông nghiệp của mình với tư cách là những nô lệ, đối xử với chúng y như những nô lệ khi chúng lớn lên, cứ như thể không có sự kết nối giữa chúng và ông, thật sự cứ như thể người cha của chúng và người sở hữu chúng là những người khác nhau.

Ở mức độ công chúng, những hậu quả mà lời buộc tội của Callender để lại không đến nỗi quá sâu sắc, trong khi vết sẹo trên danh tiếng của Jefferson lại không bao giờ biến mất, và những người Liên bang ở New England đã làm hết sức mình để giữ cho những cáo buộc này mãi tươi mới trên báo chí công khai, thậm chí đi xa đến mức đưa vấn đề tính cách của Jefferson vào các chương trình nghị sự chính thức của cơ quan lập pháp Massachusetts, thiệt hại chính trị đối với nhiệm kỳ tổng thống của ông thực ra lại không nghiêm trọng bằng sự kỳ thị kéo dài đến tận hậu thế gắn với hình ảnh của ông. Các đội kiểm soát thiệt hại trên báo chí Cộng hòa cũng đóng góp vào đây. Thái độ im lặng của Jefferson về vấn đề này đã ngăn chặn bất kỳ cuộc tranh luận kéo dài nào được tiếp tục, và quan trọng nhất là chuỗi thành công ổn định của Đảng Cộng hòa - nợ được xử lý, các khoản thuế đã được loại bỏ, nền kinh tế đi lên tốt đẹp, một nửa lục địa đã được mua lại trong hòa bình - đơn giản đã đẩy lui những tin xấu. Ở đỉnh điểm câu chuyện về Sally, John Quincy Adams đã cho rằng phe Liên bang bị buộc phải viện tới cách tung tin đồn vì chương trình chính trị của họ đã “hoàn toàn bị hầu hết dân chúng bỏ rơi và từ chối một cách không thể cứu vãn nổi”. Dù những người ủng hộ Jefferson cảm thấy lo lắng đến đâu, ông nhận xét, thì cũng sẽ chỉ chốc lát mà thôi. “Những gì mà họ cho là cái công tắc”, Adams nói, “thực ra chỉ là những đám mây hơi nước vô căn cứ”. 90 Đây cũng trở thành quan điểm trước công chúng của Jefferson. Các hành vi điên cuồng của báo chí phe Liên bang là triệu chứng của sự tuyệt vọng hoàn toàn, ông nhấn mạnh, vị sự nghiệp của Đảng này đang trượt dài mài trong nền chính trị Mỹ. Phe Liên bang đơn giản là đang tóm lấy đám cát bụi mà họ đang hóa thành.

Nhưng trải nghiệm này đã ảnh hưởng đến quan điểm của Jefferson về báo chí Mỹ. Tuyên bố hùng hồn của ông trong Diễn văn Nhậm chức “thì cứ để họ đứng đó, yên tĩnh như những di tích an toàn, cùng với sai lầm về ý kiến có thể được dung thứ khi lý lẽ được tự do chống lại nó” - ý nói quyền hoàn toàn tự do báo chí vừa là bất khả xâm phạm vừa mang tính tự điều chỉnh. Giờ đây ông không chắc chắn đến thế. “Hầu hết những tờ báo của chúng ta, hiện nay chỉ thể hiện những ý kiến bất mãn”, ông kết luận vào năm 1803, và những gì ông gọi là “sự lạm dụng quyền tự do báo chí” đã tạo ra một nền văn hóa chính trị tục tĩu “chưa bao giờ được biết đến hay sinh ra bởi bất kỳ quốc gia văn minh nào”. Jefferson thật sự đã nói đúng ở một điểm, vì nhiệm kỳ tổng thống của ông trùng với sự gia tăng theo cấp số nhân số lượng tuyệt đối của các tờ báo Mỹ, cũng như ý thức đi kèm với đó - còn sót lại từ những năm 1790 - rằng không có một quy tắc ứng xử không chính thức hay chính thức nào về việc cái gì sẽ được hay nên được in. 91

Jefferson muốn báo chí được tự do, nhưng ông cũng cho rằng một nền báo chí tự do cần duy trì một số biện pháp tôn trọng sự thật. Tâm lý và phong cách tất-cả-đều-tự-do của nhiều tờ báo cho phép ông thuyết phục bản thân rằng nguyên tắc tự do báo chí đang bị phá hủy bởi chính sự thái quá của báo chí. “Đây là một tình trạng nguy hiểm”, ông giải thích cho Thomas McKean ở bang Pennsylvania, “và báo chí cần phải được phục hồi uy tín của mình nếu có thể”. Ông không có vũ khí gì mạnh ngoài Đạo luật chống nổi loạn trong đầu. Thay vào đó ông đề nghị thống đốc phe Cộng hòa ở những bang được chọn nhắm đến các biên tập viên phe Liên bang khó chịu nhất và quy cho họ cho tội phỉ báng: “Và do vậy từ lâu tôi đã cho rằng”, ông thông báo cho McKean, “việc truy tố một vài kẻ phạm tội nổi bật nhất sẽ có một tác động lành mạnh trong việc khôi phục sự liêm chính của báo chí. Không phải là một vụ truy tố chung chung, vì như thế sẽ trông giống như đàn áp [tức là, cách tiếp cận của phe Liên bang với Đạo luật chống nổi loạn], mà là một vụ truy tố có lựa chọn”. Thống đốc McKean của Pennsylvania và De Witt Clinton của New York đã thực hiện đề nghị đó bằng cách lệnh cho các luật sư của họ làm việc với các biên tập viên phe Liên bang cứng đầu nhất. Như cách Jefferson nhìn nhận, ông đã không vi phạm nguyên tắc nào, ông chỉ cứu những nguyên tắc ấy khỏi khuynh hướng bị lạm dụng và tự hủy hoại của chính nó. Nhưng rõ ràng là ít nhất ông đã rút lại một nửa câu thần chú trước đó của mình về việc không kiềm chế quyền tự do ngôn luận. 92

GIBRALTAR

Một đường thẳng trong tâm trí ông đã tách những người Liên bang có thể cứu rỗi với những người “hết thuốc chữa”, những người da đỏ tốt khỏi những người xấu, chính đường thẳng này cũng tách những nhà báo trách nhiệm khỏi những kẻ nói dối ghê tởm. Cho đến khi đường này bị vượt qua, thì ông có thể vẫn cực kỳ hòa nhã khoan dung. Tuy nhiên, ở phía bên kia của đường thẳng, sẽ không có lòng thương xót, vì các vấn đề đạo đức bị đe dọa sẽ không dễ đàm phán hay thỏa hiệp. Trong chương trình đạo đức mạnh mẽ này, một nhóm vĩnh viễn được đặt ở nơi xa trong sự phân chia của Jefferson, và trong thực tế có vai trò như một biểu tượng dễ thấy nhất của cái ác được thể chế hóa và vẫn có thể thách thức “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” mà Jefferson muốn phục hồi. Đây là những thẩm phán của tòa án liên bang, đặc biệt là những vị được gọi là thẩm phán nửa đêm mà Adams đã bổ nhiệm trong giai đoạn sắp mãn nhiệm. Ngay sau khi Jefferson bổ nhiệm Levi Lincoln làm tổng chưởng lý của mình, ông đã nói với ông này rằng “việc loại bỏ những thừa thãi khỏi ngành tư pháp là nhu cầu phổ quát”. William Branch Giles, người được Jefferson bảo trợ ở Virginia và được bầu vào Thượng viện trong vụ ngập lụt Đảng Cộng hòa năm 1800, nhắc nhở Jefferson rằng “cuộc cách mạng vẫn chưa kết thúc, cho đến khi pháo đài mạnh vẫn nằm trong tay kẻ thù”. Vì tâm lý của Jefferson thực ra lại đòi hỏi phải có kẻ thù rõ rệt để mở khóa năng lượng năng động của nó, nên người ta có thể lập luận rằng Adams đã giúp ông một tay bằng di sản tư pháp của mình. Nhưng nếu các cơ quan tư pháp liên bang là một mục tiêu thuận tiện để huy động tất cả năng lượng chiến đấu của Jefferson, thì như cách nói của biên tập viên tờ National Intelligencer , “Gibraltar” của Chủ nghĩa liên bang, tọa lạc thẳng thắn và vững chãi giữa vùng biển Cộng hòa. Jefferson dành nhiều thời gian trong nhiệm kỳ đầu tiên để bao vây thành trì này của phe Liên bang, gửi những người lính tận tụy nhất của mình tới để tấn công nó, ví dụ như Giles, nhưng chưa bao giờ xâm nhập được hệ thống phòng thủ ghê gớm của nó. 93

Quan trọng là phải phân biệt giữa sự thù địch của Jefferson đối với những vị thẩm phán nửa đêm như các cuộc hẹn chính trị, với sự thù địch tổng quát hơn của ông đối với tư pháp liên bang với tư cách một tổ chức. Năm 1804, như là một phần của một nỗ lực không thành nhằm nối lại mối quan hệ bạn bè với John và Abigail Adams, ông giải thích cho cô rằng “một hành động trong đời của ngài Adams” đã thật sự làm ông khó chịu và khiến ông cảm thấy “không tốt về mặt cá nhân” chính là việc bổ nhiệm những người Liên bang vào các tòa án liên bang. “Họ là những kẻ thù chính trị hăng hái nhất của tôi”, ông phàn nàn, “và ở họ, không bao giờ có thể mong đợi một sự hợp tác trung thành… Âu cũng là lẽ thường khi để người kế nhiệm tự do hành động bằng các công cụ do người đó tự chọn”. Tất nhiên, việc bổ nhiệm gây xúc phạm nhất là việc chọn John Marshall làm chánh án, điều này đặc biệt đáng ghê tởm vì nhiều lý do: thứ nhất, vì đây là một vị trí suốt đời, thứ hai, vì nó đặt một người Liên bang lên trên toàn bộ hệ thống tư pháp quốc gia, và thứ ba, vì bản thân Marshall chính là, theo cái cách khác biệt của riêng ông, một kẻ thù đáng gờm hơn cả Hamilton. Marshall là tạo vật hiếm hoi, một người Liên bang với phong cách Jefferson. Ông là một người mà Jefferson không tin có thể tay đôi mà đánh bại trong đấu đá chính trị hậu trường: “Khi trò chuyện với Marshall”, ông thú nhận, “tôi không bao giờ thừa nhận bất cứ điều gì. Dù bạn có chắc chắn thừa nhận một quan điểm tốt, dù có xa với kết luận theo ý ông ấy đến đâu, thì bạn vẫn thua. Khả năng ngụy biện của ông ấy tuyệt vời đến mức bạn không bao giờ được đưa cho ông ấy một câu trả lời khẳng định, nếu không bạn sẽ buộc phải đưa ra kết luận theo ý ông ấy. Nếu ông ấy hỏi tôi đây có phải là ánh sáng ban ngày hay không, tôi sẽ trả lời, “Thưa ngài, tôi không biết, tôi không nói được”. 94

Ngoài những hận thù cá nhân và sự cay đắng có thể hiểu được về việc bị kìm kẹp bởi những vị trí mà Adams bổ nhiệm, cảm giác thù địch đầy tra tấn của Jefferson còn xuất phát từ toàn bộ hệ thống tư pháp liên bang. Một phần của vấn đề phục hồi tâm lý của ông trong lĩnh vực này là nó không ăn nhập với kiểu phân loại theo logic và theo pháp lý mà các học giả hiến pháp, vốn giỏi nhất về chủ đề chung, có xu hướng mang theo bên mình. Ví dụ, các câu hỏi về quyền tài phán liên bang so với nhà nước, hoặc câu hỏi gây nhiều tranh cãi về rà soát tư pháp đã không thu hút được sự chú ý đầy đủ của ông, ngoại trừ như những tập cụ thể trong một bộ phim chính trị nhiều tập về ý nghĩa thật sự của Cách mạng Mỹ. Và sự thật đơn giản là các nhà cách mạng Mỹ thuở đầu đã hoàn toàn không hình dung ra một nền tư pháp quốc gia. Thỉnh thoảng Jefferson dường như tin rằng, để theo đúng “tinh thần năm ’76” lúc đầu thì tất cả các tòa án liên bang phải bị bãi bỏ hoàn toàn và các quyết định tư pháp phải do các bang đưa ra. Nhưng những suy nghĩ như vậy không xuất hiện bên ngoài các lập luận pháp lý cụ thể như một cảm giác vĩ đại của “sự càn quét” tàn dư thể chế đã bị tích tụ từ sau Cách mạng.

Tương tự, Jefferson không có một quan điểm thống nhất hoặc chắc chắn về những câu hỏi căn bản liên quan đến chủ quyền lập hiến. Trong khoảnh khắc quyết liệt hơn, ông dường như tin rằng mọi câu hỏi căn bản về hiến pháp cần được giải quyết bằng một cuộc trưng cầu dân ý, vì học thuyết về chủ quyển phổ biến trao quyền cho duy nhất nhân dân nói chung để đưa ra những phán quyết đó. Điều này rõ ràng là gánh nặng, nếu không muốn nói là hoàn toàn không thực tế, nhưng lại thu hút cảm hứng từ cùng một sự thôi thúc tầm nhìn trong đó chào đón một “sự càn quét” của tất cả các thế hệ luật. Trong Thông điệp hằng năm đầu tiên trước Quốc hội, ông đề xuất một ý tưởng ôn hòa hơn rằng mỗi nhánh của chính phủ liên bang có chủ quyền và do đó được trao quyền tự mình diễn giải Hiến pháp. Gallatin và Madison, nhận ra sự nhầm lẫn cố hữu trong quan điểm này, nên đã thuyết phục ông xóa đoạn đó đi. 95

Để công bằng, Jefferson hầu như không hề đơn độc trong cuộc chiến bất thành với vai trò thích hợp của ngành tư pháp liên bang, đặc biệt là Tòa án Tối cao. Các cơ quan tư pháp vẫn đang đông kết lại như một phần không thể tách rời của chính phủ quốc gia. Cũng không có bất kỳ một sự đồng thuận rõ ràng nào tại Hội nghị Lập hiến về vai trò của Tòa án Tối cao với tư cách là trọng tài cuối cùng quyết định ý nghĩa của Hiến pháp. Hamilton đã đưa ra một trường hợp rõ ràng nhất thay mặt cho nguyên tắc xét xử trong Chế độ liên bang 78 , nhưng đây lại là một phần trong thiên tài của việc dàn xếp hiến pháp năm 1788, đó là cứ để cho những câu hỏi gây tranh cãi mù mờ và chưa được giải quyết. Trong bối cảnh đấy, sự nhầm lẫn của Jefferson phản ánh chính xác các luồng ý kiến dọc ngang về hiến pháp phổ biến vào thời điểm đó. 96

Nhưng tâm trí của Jefferson lại ưa thích hoạt động ở mức độ cao hơn, nơi các chi tiết và vấn đề kỹ thuật biến mất khỏi tầm mắt và những mô hình đạo đức lớn hơn có một hình dạng rõ ràng. Từ quan điểm đó, ông coi các cơ quan tư pháp liên bang và khối đá của nó là Tòa án Tối cao như một nguồn cực kỳ nguy hiểm. Nếu miền Tây đối với Jefferson là một động cơ năng động cho việc mở rộng và giải phóng dân tộc, liên tục hồi sinh nước Cộng hòa Mỹ bằng năng lượng của nó, thì ngành tư pháp liên bang là động cơ của quá trình tập trung hóa và củng cố, hút các nguồn năng lượng của quốc gia mới vào một cái hố ngột ngạt. Thực tế là tất cả các vị trí quan trọng bị phe Liên bang chiếm giữ đã đủ tồi tệ lắm rồi, vậy mà chính cơ quan tư pháp liên bang lại còn đại diện cho những khuynh hướng phản cách mạng, về căn bản là mâu thuẫn với các xung động sâu xa nhất của “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” theo cách hiểu của Jefferson. Quan điểm của Jefferson về điểm này rất khác biệt và cấp tiến. Cả Adams và Madison đều công nhận cần phải có đối trọng tư pháp để số đông chi phối. Thực tế thì thẩm phán liên bang là vị trí suốt đời và lại ít phải chịu trách nhiệm nhất trước công chúng, và như cách họ nhìn nhận, là một tài sản quan trọng, vì những yêu cầu như vậy đã giúp cân bằng sự dân chủ thái quá của các nhánh chính phủ được bầu trực tiếp hơn. Tuy nhiên, Jefferson thấy không cần một cơ chế cân bằng như vậy. Đối với ông, Cách mạng Mỹ có ý nghĩa giải phóng chứ không phải kiềm chế. Ngoài việc là một Gibraltar Liên bang bị chiếm đóng bởi kẻ thù tận tụy nhất của ông lúc đó, cơ quan tư pháp quốc gia là một má phanh cố định đặt trên những bánh xe đang lăn của Cách mạng Mỹ. 97

Trận chiến trong ngành tư pháp diễn ra dưới hình thức ba cuộc đụng độ riêng biệt. Cuộc đầu tiên vào mùa đông năm 1802, xảy ra tại Quốc hội, nơi phe Cộng hòa đã sử dụng đa số của mình để bãi bỏ Luật Tư pháp năm 1801. Jefferson đã khởi động cuộc tấn công trong Thông điệp Hằng năm của mình. “Hệ thống tư pháp… và đặc biệt là phần vừa mới dựng lên của nó”, ông tuyên bố, “tất nhiên sẽ được Quốc hội nghiên cứu”. Ông muốn ám chỉ cụ thể đến Luật Tư pháp năm 1801, một bộ luật gây khó chịu cho phe Cộng hòa vì nhiều lý do: Đó là một biện pháp thiên lệch được thông qua bởi Quốc hội sắp mãn nhiệm vào tháng 2, khi phe Liên bang đang vật lộn để duy trì quyển kiểm soát hệ thống tòa án trước khi Jefferson nhậm chức; nó thiết lập một tòa án riêng biệt với 16 thẩm phán mới, căn bản tạo nên một lớp thẩm quyền liên bang mới giữa Tòa án Tối cao và các tòa án quận; và hầu hết các thẩm phán nửa đêm do Adams bổ nhiệm sẽ lấp đầy các vị trí mới trong tòa án sơ thẩm này. Mặc dù Jefferson đã tích cực huy động các lực lượng Cộng hòa nơi hậu trường, nhưng ông vẫn duy trì một khoảng cách với các cuộc tranh luận của Quốc hội đang được hâm nóng, và một nỗ lực nhằm thể hiện sự phản đối của ông với các tòa án sơ thẩm bằng hình thức vô hại nhất, tuyên bố rằng đơn giản là không có đủ vụ án để đưa ra xét xử trước một lớp mới các thẩm phán liên bang. Thay vì nếu lên vấn đề hiến pháp hay tư tưởng gây tranh cãi về toàn bộ hệ thống tư pháp, ông lại thích gán các vấn đề vào sự khắc khổ cộng hòa. Do phe Cộng hòa chiếm đa số trong Quốc hội, nến chiến thắng đã được biết trước. Gallatin đã chuẩn bị dự toán ngân sách năm 1802 với giả định rằng các thẩm phán tòa án sơ thẩm sẽ bị loại bỏ. 98

Cuộc đụng độ thứ hai xảy ra vào năm 1803 tại đấu trường không thân thiện của Tòa án Tối cao, nơi ảnh hưởng và trí tuệ nhanh nhẹn của Marshall đã hóa phép như thường lệ và tạo ra một thất bại đáng xấu hổ cho Jefferson. Vấn đề cần giải quyết rõ ràng là tầm thường: việc bổ nhiệm William Marbury vào vị trí cấp thấp với tư cách thẩm phán hòa bình ở quận Columbia. Tầm quan trọng mang tính lịch sử tiếp theo của quyết định của Marshall cũng to lớn rõ ràng không kém, quyết định ấy đã trở thành tiền lệ quan trọng cho nguyên tắc giám sát tư pháp và quyền chủ quyền của Tòa án Tối cao trong việc giải thích ý nghĩa của Hiến pháp. Nhưng trong bối cảnh lịch sử của thời đó, ý kiến được hoan nghênh của Marshall về vụ Marbury và Madison vốn chiếm một mức độ trung bình, không quá tầm thường mà cũng không quá ghê gớm. Bối cảnh đó cho phép Marshall có dịp lên mặt dạy đời Jefferson vì không tuân theo luật pháp bằng cách từ chối bổ nhiệm Marbury. Thông điệp rất rõ ràng cho tất cả các bên quan tâm trong ngày: Cuộc tấn công của phe Cộng hòa vào hệ thống tư pháp liên bang có thể đã thành công ở việc loại bỏ các tòa án sơ thẩm, nhưng không thể nào chạm tới được Tòa án Tối cao. Thành trì Liên bang ở Gibraltar có thể đáp trả.”

Điểm thiên tài pháp lý trong quan điểm của Marshall, cái mà Jefferson mô tả như là “ngụy biện” và sau này như là “sự bóp méo” của Marshall, bắt nguồn từ việc Chánh án sắp xếp lại các câu hỏi được đưa ra Tòa án, trong đó cho phép ông tuyên án chống lại kiến nghị của Marbury chỉ sau khi giảng giải cho Tổng thống và ra phán quyết về tính hợp hiến trong một hành động của Quốc hội, Luật Tư pháp năm 1789. Nếu Chánh án nhận các câu hỏi theo thứ tự được đưa lên, sẽ không cẩn phải giải quyết các vấn đề lớn hơn nữa. Thiên tài chính trị trong ý kiến của Marshall ở đây bao gồm hai mặt: Ông tăng cường sức mạnh của Tòa án Tối cao bằng cách bác bỏ thẩm quyền của tòa án, và ông giám sát Tổng thống trong khi ra quyết định cho trường hợp này theo hướng có lợi cho mình. Đó là phong cách cổ điển của Marshall khi ông muốn giấu giếm điều gì. Nó cũng tiết lộ rằng Marshall, giống như Jefferson, muốn tránh đối đầu trực diện về vai trò lâu dài của ngành tư pháp liên bang, vì ông đang che giấu việc rà soát tư pháp bằng cách tỏ ra bất lực và đã ra phán quyết rằng Jefferson, mặc dù vi phạm pháp luật, hoàn toàn không cần phải bổ nhiệm Marbury. Từ thành trì của mình lên đường, Marshall lại trở về lặng lẽ trong sự an toàn của Gibraltar.

Cuộc đụng độ thứ ba diễn ra vào cuối nhiệm kỳ đầu tiên của Jefferson, khi phe Cộng hòa trong Quốc hội, với sự xúi giục của Tổng thống, đã không thành công trong việc buộc tội Chánh án Samuel Chase. Tiếp theo Marshall, Chase là một sự hiện diện ghê gớm nhất của phe Liên bang tại Tòa án Tối cao, một người khổng lồ bờm trắng, thích đóng vai Jehovah với tất cả những người theo phái Jefferson bất hạnh bị rơi vào phòng xử án của ông. Ông đã thu hút được những chỉ trích mạnh mẽ đối với việc ông tích cực ủng hộ Đạo luật chống nổi loạn, đặc biệt nhất (và trớ trêu thay cho Jefferson) là vì hành vi không đúng mực của ông khi cử James Callender tới một nhà tù Richmond trong giai đoạn Callender chống phe Liên bang. Nếu Marshall là bậc thầy của chiến thuật tàng hình và du kích, thì Chase lại thích dẫn dắt các cuộc tấn công kỵ binh. Tháng 5 năm 1803, sau khi đọc về lời buộc tội đầy kích động của Chase với bồi thẩm đoàn Baltimore, Jefferson đã viết thư cho một nhà lãnh đạo Cộng hòa tại Hạ viện: “Lẽ nào cuộc nổi loạn chính thức tấn công vào các nguyên tắc của Hiến pháp chúng ta… lại không bị trừng phạt? Và công chúng sẽ tìm kiếm các biện pháp cần thiết ở những người sâu sắc như ngài. Tôi hỏi những câu này để ngài xem xét. Đối với bản thân, tốt hơn tôi không nên can dự”. Lời nói này ngang với việc lệnh cho các đồng liêu Cộng hòa của ông trong Quốc hội khởi động tiến trình luận tội Chase. 100

Nhưng luận tội, như Jefferson sẵn sàng thừa nhận, là một công cụ vụng về, đòi hỏi phải có bằng chứng về “tội phản quốc, nhận hối lộ, hoặc những trọng tội và sự xằng bậy”. Mặc dù phe Cộng hòa đã cố gắng khoác lên mình tấm áo về tính hợp pháp, nhưng việc xét xử ở Thượng viện rõ ràng có sự thiên vị đảng phái, khiến nhiều nhà quan sát có ấn tượng giống như một phiên bản Cộng hòa về Đạo luật chống nổi loạn. Jefferson theo dõi chặt chẽ tiến trình; ông lập bảng theo dõi số phiếu bỏ cho mỗi tội danh nhưng vẫn chính thức giữ im lặng. Chase cuối cùng đã được tuyên bố trắng án đối với tất cả các tội. Phe Liên bang bênh vực ông tận hưởng lợi thế về các yêu cầu hẹp được quy định bởi Hiến pháp đối với việc loại bỏ thẩm phán; họ có thể mô tả một cách hợp lý Chase như một mục tiêu và nạn nhân chính trị; và họ đặc biệt thích thú cơ hội được nhắc nhở Jefferson rằng nguyên tắc của một nền tư pháp độc lập là một lời hiệu triệu vào năm 1 76, giống như một trong những chân lý thiêng liêng mà Jefferson đã từng cáo buộc George III vi phạm. 101

Trong quá trình tiếp theo của lịch sử Mỹ, nhiều tổng thống cũng đã cố gắng can dự vào Tòa án Tối cao, và tất cả đều phải bỏ đi với một cảm giác bức xúc tương tự như Jefferson. Nhưng những thách thức sau này đối với ngành tư pháp chỉ diễn ra sau khi Tòa án Tối cao được đặt ở trạng thái gần như thiêng liêng, nghĩa là được coi như một thiết chế chính trị Mỹ nhận chỉ đạo trực tiếp từ Chúa chứ không phải từ các cử tri. Chiến dịch của Jefferson chống lại cơ quan tư pháp đã có trước khi các tòa án liên bang được công khai phong thánh, đặc biệt nhất là Tòa án Tối cao, như một yếu tố Olympia được chỉ định trong chính phủ. Thật vậy, chiến dịch của Jefferson được thúc đẩy bởi sự xác tín mà như ông nói, “sự độc lập về ý chí của dân tộc là một điều lầm lỗi, ít nhất là trong một chính phủ cộng hòa…” Những gì trông có vẻ gần như xúc phạm với chúng ta lúc đó vẫn còn trong quá trình khắc tạc vị trí của nó trong nền thần học chính trị Mỹ. 102

Đối với Jefferson, suối nguồn tôn giáo gợi cảm hứng cho tầm nhìn của ông về sự thiêng liêng vẫn là “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” của Cách mạng Mỹ. Cơ quan tư pháp liên bang không có vị trí nổi bật trong tầm nhìn đó, thật sự không có vị trí nào trong đó, và Jefferson tới lúc xuống mồ vẫn tin rằng Marshall và các đồng nghiệp của ông ta ở Tòa án Tối cao là một hội kín ma quỷ, một báng đảng “công binh dò gỡ mìn” chuyên phá hoại các thử nghiệm cộng hòa từ bên trong. Nhưng nếu xác tín về tư tưởng của ông là rõ ràng và vững chắc, thì việc ông do dự tuyên bố chiến tranh không giới hạn với tư pháp liên bang lại nổi lên như một đặc điểm định nghĩa cuộc xung đột. Có lẽ ở một mức độ nào đó ông nhận ra rằng một chính phủ quốc gia đòi hỏi một số loại hệ thống quốc gia về pháp luật, trong đó phe Cộng hòa ôn hòa coi Hiến pháp và việc dàn xếp hiến pháp năm 1787-1788 là hệ quả thiêng liêng đối với phép thuật cách mạng năm 1776 phải có chí ít một nửa điểm. Nếu vậy, ông không bao giờ thừa nhận sự nhượng bộ này một cách công khai hay riêng tư. (Có thể ở một trong những dịp im lặng này, ảnh hưởng vô hình của Madison đã chứng tỏ là có tính quyết định). Hoặc có lẽ Hamilton đã đúng sau tất cả, rằng ác cảm của Jefferson đối với xung đột đã dẫn tới chính sách thận trọng vì những lý do cá nhân thuần túy, bất chấp việc ông luôn chắc chắn về mặt luân lý rằng ngành tư pháp liên bang là một điểm yếu trên khuôn mặt của “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”. Hoặc có lẽ niềm tin của riêng ông trong những hạn chế cố hữu mà chủ nghĩa cộng hòa áp đặt lên ngành hành pháp - đó là quyền hạn tổng thống phi vương quyền - khiến cho ông không thể hành động cương quyết hơn. Người ta không thể chắc chắn về câu trả lời đúng ở đấy, hoặc thậm chí chắc chắn rằng Jefferson biết đó là cái gì, trong trường hợp nó thật sự tồn tại. Vì chính trong bối cảnh này, sau tất cả, Henry Adams sáng tác bức chân dung bắt mắt nhất của ông về tính cách ẩn giấu của Jefferson: “Hầu hết các chính khách Mỹ khác đều có thể được mô tả trong ngoặc đơn”, Adams nhân xét. “Một vài nét cọ to là ta có thể vẽ nến chân dung của tất cả các tổng thống đời đầu, ngoại trừ người này… mà chỉ có thể vẽ Jefferson từng chút từng chút một, bằng một cây bút chì vót nhọn, và để bức chân dung giống người thật một cách hoàn hảo thì sẽ phụ thuộc vào sự chuyển dịch và lung linh không chắc chắn của những hình bóng bán siêu việt của nó”. 103

NHỮNG DANH SÁCH VÀ NHỮNG MẤT MÁT

Ở một vài thời điểm trong năm trước khi nhậm chức tổng thống, Jefferson đã viết một tài liệu cá nhân không giống với đặc trưng của ông chút nào với tiêu đề “Bản ghi nhớ về sự phục vụ” (“Memorandum of Services”). “Tôi đã đôi khi tự hỏi, liệu đất nước của tôi có phải là một nơi tốt để sống hay không”, ông tự trầm ngâm. “Tôi đã trở thành công cụ để làm những điều sau đây; nhưng chúng có thể sẽ được người khác làm, một số trong họ có lẽ sẽ làm tốt hơn một chút”. Sau đó ông lên danh sách về một phiên bản đầy tò mò những thành tựu xã hội của mình, đặt việc nạo vét sông Rivanna ngang với việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, nhập khẩu cây ô liu từ Pháp ngang với những nỗ lực nhằm chấm dứt việc buôn bán nô lệ. Một phiên bản cập nhật của danh sách được sáng tác vào cuối nhiệm kỳ đầu tiên làm tổng thống của ông chắc chắn sẽ bổ sung một cách đáng kể cho những thành tựu đó. Hai thành tựu tổng thống khiến ông hài lòng nhất là Vụ mua lại Louisiana và việc giải quyết một phần đáng kể nợ công. Mặc dù nhiều nhóm Liên bang vẫn tồn tại ở một số nơi ở New England, nhưng với tư cách một đảng quốc gia thì phe Liên bang kể như đã kết thúc. Ngoại trừ hành động hải quân đang diễn ra chống lại cướp biển Barbary, Mỹ hòa bình với thế giới trong một số vấn đề hữu hạn. Và biểu tượng của việc chính phủ can thiệp vào cuộc sống riêng tư, những người thu thuế, đã bị xua đuổi cùng với các thẩm phán tòa án, phần lớn quân đội và hải quân, một chiếc xuồng chở đám công chức và một số bộ lạc của người da đỏ ngoan cố. Tất nhiên, ông không có cách nào biết được điều này, nhưng trong nhiệm kỳ đầu tiên của Jefferson, ông đã đi vào lịch sử với tư cách một trong hai hoặc ba tổng thống Mỹ thành công toàn diện nhất trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra. 104

Xét về mặt cá nhân, các cuộc tấn công của phe Liên bang vào tính cách của ông đã có tác động về mặt tình cảm. Nhưng ông tuyên bố rằng đây chính xác là “những lời vu khống vô căn cứ của Đảng Liên bang”, điều đã thuyết phục ông ứng cử tổng thống thêm một nhiệm ký thứ hai. Ông đã luôn cho rằng, ông giải thích với Elbridge Gerry, ông sẽ nghỉ hưu sau bốn năm, nhưng sự hiện diện kéo dài của những lời tuyên truyền của phe Liên bang trên báo chí, mặc dù giống như từ ngữ của người chết mà thôi, cấn phải được dập tắt hoàn toàn. “Họ buộc tôi phải tiếp tục”, ông tuyên bố. “Nếu tôi có thể giữ cho con tàu nhà nước ổn định trong hải trình của mình thêm bốn năm, thì tôi đã thực hiện được mục đích trần thế của tôi, và tôi sẽ được tự do vui thú” - rồi tiếp đến là thói thu mình quen thuộc - “gia đình của tôi, trang trại của tôi, và những cuốn sách của tôi”. Việc ông tái đắc cử, nếu ông lại chọn ra tranh cử, là một kết luận đã được đoán trước. 105

Nhưng một điều gì đó đã rời bỏ ông ngay cả khi ông quyết định kéo dài nhiệm kỳ tổng thống của mình. Những gánh nặng của công việc chắc chắn tích lũy theo thời gian. Các cuộc tấn công vào danh dự cá nhân của Jefferson từ phe Liên bang cũng gây ra những vết thương không bao giờ hàn gắn được hoàn toàn. Sức khỏe của ông, mặc dù vẫn còn khá tốt so với một người đàn ông 61 tuổi, giờ đây đã bị hủy hoại bởi những cơn tái phát bệnh tiêu chảy, cứ theo định kỹ hút hết năng lượng của ông. Tuy nhiên, cú nặng nhất, đến vào tháng 4 năm 1804, khi Maria chết vì biến chứng trong khi sinh, cô cũng đẻ nhiều như mẹ mình. “Người khác có thể bị mất đi sự phong phú của họ”, ông viết cho John Page, người bạn tri kỷ của ông, “nhưng tôi thì mất đi mọi nhu cầu, tôi đã mất đi thậm chí là một nửa những gì tôi có”. Triển vọng của ông, ông tin rằng, “hiện treo trên sợi chỉ mảnh mai của một cuộc sống độc thân”. Martha, người duy nhất còn lại để làm gia tăng kích cỡ gia đình trong mơ của Jefferson, giờ đây theo như ông mô tả là “tàn lụi một cách đáng sợ”. Ông chưa bao giờ trở lại như xưa sau cái chết của Maria, ít cởi mở và tin vào thuyết định mệnh hơn, còn lịch sử lại chuẩn bị sẵn một loạt những bất ngờ khó chịu trên trường quốc tế, được định mệnh sắp đặt để làm cho nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông trở thành một cú lao đầu xuống đất thân bại danh liệt. 106

« Lùi
Tiến »