Thomas Jefferson, Nhân Sư Mỹ

Lượt đọc: 312 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
monticello: 1794-1797

Ông xây cho mình tại Monticello một biệt thự cách biệt với con người. Với ông đời sống chính trị khốc liệt là một sự tra tấn không ngừng, và những công kích cá nhân làm ông đau khổ sâu sắc… Ông co lại trước mọi sự hung dữ hoặc lỗ mãng, và sự khao khát đồng cảm của ông khá nữ tính .

HENRY ADAMS

( Lịch sử Mỹ: Thời kỳ Thomas Jefferson cầm quyền )

( 1889-1891 )

Từ năm 1793 đến năm 1797, cha chỉ sống khép kín trong nhà, chẳng gặp ai ngoài những người đến đây, và cuối cùng cũng hiểu được tâm bệnh của chính mình… Cha cảm nhận được tác động của việc rút lui khỏi thế giới, để rồi thấy việc này đã dẫn đến một tâm trạng chống xã hội và chán ghét con người, tâm trạng này sẽ trừng phạt nặng nề những ai nhượng bộ nó. Và đó là một bài học cha không bao giờ cho phép mình quên .

JEFFERSON VIẾT THƯ CHO MARIA JEFFERSON EPPES

Ngày 3 tháng 3 năm 1802

⚝ ✽ ⚝

Monticello là nơi luôn được ưu tiên trong hình dung của Jefferson, nhưng Cách mạng Mỹ đã chen ngang, sau đó là sứ mệnh ngoại giao ở Paris, tiếp đến là những trách nhiệm một Ngoại trưởng Mỹ trong chính quyền Washington. Nhưng rồi đến tháng 1 năm 1794, ông rốt cuộc cũng tin rằng sự nghiệp chính trị của mình đã kết thúc. Ông tuyên bố: “Tôi hy vọng sẽ dành những ngày còn lại của mình cho những công việc dễ chịu hơn những gì tôi đã cống hiến trong suốt 18 năm đẹp nhất của đời mình”. Sự thật là ở tuổi 51, ông tin rằng thời kỳ đẹp nhất của mình đã qua và những ngày cuối đời đã cận kề. Trong hơn một năm, ông đã xin Washington miễn cho ông những nhiệm vụ chính trị để ông có thể sống như một nông dân cho đến hết đời: “Hằng ngày tôi đều tin rằng tài năng, tâm trí, cũng như đời sống của mình là không phù hợp với đời sống xã hội”. 1

Những câu thần chú về cuộc sống hưu trí tiết hạnh, tách biệt ở vùng nông thôn sau khi kết thúc sự nghiệp chính trị là điệp khúc quen thuộc và thậm chí công thức trong tầng lớp lãnh đạo của Mỹ thế kỷ 18, đặc biệt trong triều đại Virginia. Mọi người đều biết những mô hình ở ẩn kinh điển ngày nay được đại diện bởi Cicero và Cincinnatus cùng những bài ca tôn vinh vẻ đẹp đồng quê trong tác phẩm Georgics của Virgil. Những tuyên bố về việc rút lui có nguyên tắc khỏi sự ồn ào của đời sống chính trị để hòa cùng giai điệu thiên nhiên ở trang trại phổ biến tới nỗi John Adams - bản thân cũng khao khát kiểu Cicero nhưng suốt nhiều năm cũng lại hoài nghi tuyên bố của bất cứ ai về phẩm hạnh nông thôn - đã bắt đầu nghi ngờ toàn bộ hội chứng Cicero. “Có vẻ như Mốt để trở nên vĩ đại là nghỉ hưu”, ông viết thư cho Abigail. “Những cái Cây chính trị lớn lên trong bóng râm mới tuyệt vời làm sao”. Adams đã không ám chỉ cụ thể Jefferson, nhưng các nhà chỉ trích khác thuộc phe Liên bang đã hé lộ rằng ở Philadelphia, Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm về nhà chỉ để liếm láp những vết thương, tích trữ năng lượng cho cuộc tấn công không thể tránh khỏi vào nhiệm kỳ tổng thống, giả vờ làm một nông dân nghỉ hưu. 2

Nhưng Jefferson không hề diễn. Ông giãi bày với một Madison luôn kín tiếng - như một lời thú tội thật thà lạ thường - rằng đã có lần cảm thấy “tôi có chút mùi vị tham vọng trong những ngày còn trẻ”, nhưng các thúc giục bên trong “từ lâu đã tan biến, và danh tiếng lưu lại sau khi tôi mất sẽ vẫn ít hơn sự nổi tiếng hiện nay”. Ông nói với Giáo hội Angelica rằng tất cả những gì ông muốn trong phần đời còn lại là “được giải phóng khỏi những công việc chính trị đáng ghét, và ở trong vòng tay gia đình, trang trại, và những cuốn sách”. Đến tận lúc này, Monticello vẫn là một ảo vọng tiếp tục lùi dần vào quãng đời trung niên của ông. Giờ thì ông đột nhiên ở đó. “Tôi có nhà để xây, cánh đồng để cày cấy” - một cách sống có trách nhiệm và vui vẻ - “và để mong chờ niềm hạnh phúc đến với những người làm việc cho tôi”.

Một trong những nô lệ da đen của ông, lần này là Robert Hemings chứ không phải Jupiter, đang mẫn cán chờ đợi ở Fredericksburg với mấy con ngựa khỏe mạnh vào ngày 12 tháng 1 năm 1794, rồi cả hai cùng cưỡi ngựa tới chân núi Blue Ridge và về nhà. “Phạm vi hoạt động của tôi bây giờ cố định trong cuộc sống giữa Monticello và Richmond”, Jefferson tuyên bố hai tuần sau đó. Thu mình trên đỉnh núi, ông thông báo với Adams rằng giai điệu thôn dã đã níu chân mình: “Giờ đây tôi trì hoãn việc trả lời thư, kiểu nông dân, cho đến một ngày mưa”. Ông tuyến bố đã trở nên “cách ly triệt để với báo chí và chính trị”, và rất hài lòng khi “thấy tâm trí hoàn toàn tập trung vào những công việc nơi đồng quê”. 3

Có lẽ nguồn cơn rõ ràng nhất cho quyết định nghỉ hưu của ông là tuổi tác. Sau khi vượt qua dấu mốc nửa thế kỷ cuộc đời, rõ ràng ông không có lý do để mong đợi vận may sức khỏe của mình sẽ tiếp tục kéo dài lâu hơn. Suy nghĩ kinh điển rằng mỗi người có “70 năm cuộc đời” khiến ông nghĩ mình chỉ còn hơn một thập niên, và ông làm sao biết rằng, không giống như cha mẹ mình, ông sẽ không tuân theo con số đó và sống tới 80 tuổi. Thực tế, những dấu hiệu đầu tiên bắt đầu xuất hiện cho thấy thể chất chưa từng biết mệt mỏi của ông đang xuống cấp với những cơn đau nhức ở các khớp xương, trong đó có một lần ông bị thấp khớp nghiêm trọng vào mùa hè năm 1794 khiến ông phải nằm trên giường hai tuần. “Tôi bắt đầu cảm thấy những ảnh hưởng của tuổi tác”, ông ghi lại vào năm sau đó, thêm vào đấy, cơ thể đã có những dấu hiệu “khiến tôi tin rằng mình sẽ không có nhiều thời gian để đối phó với tình trạng mệt mỏi ”. Mái tóc vàng đỏ vẫn còn dày dù đã điểm bạc; khuôn mặt gầy và hơi dài vẫn có sự nhuận sắc của một người ưa ở ngoài trời dù đã có dấu hiệu tuổi tác và nếp nhăn nơi khóe mắt; cơ thể vẫn còn tương đối săn chắc và khỏe mạnh, lưng vẫn thẳng khi đi lại, dù khớp cổ tay và đầu gối thường đau nhức khi trời ẩm ướt hoặc lạnh. Hơn hết, ông trông vẫn trẻ hơn so với tuổi, vẫn có thể cưỡi trên những con ngựa to khỏe nhất, vẫn thức dậy vào lúc bình minh và làm việc 16 giờ một ngày không nghỉ, vẫn lên kế hoạch cho một chính thể với hình ảnh đầy sinh lực của một đất nước trẻ có cả tương lai phía trước. Nhưng còn tương lai cá nhân, hiện thời ông cảm thấy xương cốt của mình chỉ còn một khoảng thời gian hạn chế theo đúng nghĩa đen. Ông muốn dành thời gian còn lại đó vào những hoạt động cá nhân khiến ông hạnh phúc. 4

Tất cả điều này có thể đã đủ để kéo Jefferson ra khỏi đời sống xã hội, cùng Robert Hemings phi nước đại xuống đường từ Fredericksburg đến Charlottesville và sau đó lên tới đỉnh núi của mình. Như chính ông thừa nhận, một phần quan trọng là ông chưa bao giờ cảm thấy thoải mái khi đảm nhận quyền lực chính trị hoặc tham gia vào những cuộc tranh luận lôi thôi mà chính phủ đại diện thường yêu cầu. Không như Adams, người cho rằng tranh luận là cách thức trò chuyện lý tưởng, hay Franklin, người có thể giành phần thẳng trong mọi cuộc đấu đá chính trị nội bộ nhờ sự thâm niên và trí tuệ của mình, hay Washington, được coi là người đứng trên đỉnh Olympus của Mỹ và do đó không thể chạm tới; Jefferson, về phần mình, cảm nhận được từng lời chỉ trích. Những ý kiến mâu thuẫn hay sự tranh luận nhắm vào ông như tiếng ồn chói tai, dẫn tới một sự bác bỏ thẳng thừng của sự hòa hợp tự nhiên ông vốn tin tưởng và nghe thấy từ bên trong mình. Ở một khía cạnh nào đó, nghỉ hưu để trở về cuộc sống riêng tư vào năm 1794 là một sự thừa nhận muộn màng rằng ông luôn bị phân nhầm vai nhân vật của công chúng.

Nhưng dù cho các điều kiện lâu dài có thể phù hợp về mặt lý thuyết, nhưng trong thực tế thì lịch sử đã khiến nỗi đau khổ chính trị của ông tăng gấp đôi bằng việc trù liệu thập niên 1790 là một trong những thập niên nhiều hiềm khích và ưa tranh cãi nhất trong lịch sử Mỹ. Tính từ thời điểm Jefferson đảm đương trách nhiệm Ngoại trưởng Mỹ năm 1790 cho đến khi ông thoát khỏi Philadelphia năm 1794, ông luôn là một nhân vật trung tâm trong một vở kịch chính trị đang diễn ra và được chứng tỏ là khốc liệt hơn, gần như đến mức hoang tưởng, hơn bất kỳ kinh nghiệm nào trong đời sống chính trị của ông. Ông cũng phải chịu những vết thương tâm lý trong thời gian làm việc cho chính quyền Washington mà chẳng bao giờ lành lại hoàn toàn. Và ông đưa ra những lời công kích chính trị của riêng mình, hay đúng hơn là đã có người thay ông làm điều đó, khiến ông trở thành biểu tượng chính của phe đối lập với chính phủ mà ông phụng sự. Liệu thời gian đã thay đổi ông hay chỉ đơn thuần ghi dấu lên ông là một câu hỏi thú vị. Nhưng không có câu hỏi nào ông rút ra từ kinh nghiệm lại nói lên một ngôn ngữ chính trị đảng phái rõ ràng hơn mà mới chỉ bắt đầu gắn với tên tuổi của ông ở cấp quốc gia. Nếu chúng ta muốn hiểu được tình cảm và lý trí của người đàn ông trung niên muốn cô lập mình tại Monticello, chúng ta cần phải biết thêm đôi chút về những gì đã xảy ra với ông trong cái thế giới chính trị mà ông đã trốn khỏi. 5

ĐAM MÊ VÀ ĐẢNG PHÁI

Nhiệm kỳ của Jefferson trong vai trò Ngoại trưởng Mỹ trùng với thời kỳ sơ khai nhất trong lịch sử chính trị Mỹ. Chính vì chính quyền quốc gia mới còn non trẻ, nên tất cả các quyết định quan trọng đều tạo ra một tiền lệ và mọi sáng kiến trong chính sách đối nội hay đối ngoại đều báo trước sự thiết lập nguyên tắc mang tính bước ngoặt. Đặc điểm nổi bật của Hiến pháp mới là không có mục đích rõ ràng về mối quan hộ giữa thẩm quyền liên bang và bang, và về thẩm quyền chồng chéo nhau giữa các nhánh tương ứng của chính phủ liên bang. Tóm lại, Hiến pháp không giải quyết được những bất đồng chính trị đã tồn tại từ lâu trong thế hệ cách mạng, đến mức phải tạo ra một bối cảnh mới và ổn định hơn để tranh luận về những bất đồng đó.

Jefferson và tất cả những người tham gia chủ yếu trong cuộc tranh luận này đều hiểu ra vấn đề đó, nên chính ý nghĩa thật sự của Cách mạng Mỹ là cái bị đặt câu hỏi nhiều nhất. Và kể từ khi Jefferson phụng sự ở Pháp trong suốt nửa cuối thập niên 1780, khi những trận đánh đầu tiên nổ ra nhằm xác lập quyền lực thật sự của chính phủ liên bang, ông đã bước vào cuộc tranh luận của những năm 1790 với những giá trị cách mạng nguyên vẹn hơn so với hầu hết các đồng nghiệp của mình, vì họ đã kết luận rằng việc bảo đảm thành tựu của Cách mạng đòi hỏi những thỏa hiệp với quyền lực chính trị ở cấp quốc gia, thứ mà ông chẳng hề chuẩn bị cả về tư tưởng lẫn tâm lý để thực hiện. 6

Sự phát triển lạ kỳ nhất và hoàn toàn không lường trước được của thời đại là sự xuất hiện của các đảng phái chính trị. Những đảng phái chính trị vào thời đại đó có cơ chế để quyên tiền, lựa chọn ứng viên và tiến hành các chiến dịch bầu cử, nhưng lại chưa được tổ chức đầy đủ trong những năm 1790. (Các đảng phái chính trị hoàn thiện có tất cả thể chế gắn liền với chúng ta trong khoảng thời gian từ những năm 1830 tới những năm 1840). Tuy nhiên, những gì chúng ta có thể coi là “ưu điểm” của các đảng phái chính trị đều bắt nguồn từ quãng thời gian Jefferson là Ngoại trưởng Mỹ, và ông đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo dựng đó. Nhưng vấn đề là thuật ngữ “đảng”, và ý tưởng rất mới mà nó đưa ra, vẫn chưa được coi trọng chút nào. Một “đảng”, theo cách hiểu thông thường, chỉ là một “phe”, nghĩa là một nhóm nhỏ có tổ chức với mục đích rõ ràng là làm nhụt ý chí của công chúng, thường là bằng chiêu trò xảo quyệt và bẩn thỉu. Khi gọi ai đó là thành viên của một đảng phái chính trị, chính là để cáo buộc người đó ích kỷ có hệ thống, và có lẽ còn là kẻ phản bội đúng nghĩa. Vào thời đó, không tồn tại khái niệm về một tổ chức đối lập hợp pháp với chính phủ được bầu ra. Quả thực, vấn đề này đáng lẽ đã nhắm đến đa số thành viên của thế hệ cách mạng như một mâu thuẫn về khái niệm. 7

Tất cả điều này mang tới những vấn đề vô cùng đau đầu và đau lòng cho Jefferson, bởi cùng với Madison, ông đã thiết lập nên những nguyên lý căn bản của Đảng Cộng hòa trong khoảng từ năm 1790 đến 1794, và do đó tạo ra một giải pháp thay thế rõ rệt và có tổ chức cho những thành viên Đảng Liên bang. Nhắc lại một lần nữa, lúc đó chưa có quy tắc cho những gì họ đang làm, không có từ “trung lập” để nói về nó. Trong con mắt và tâm trí của các nhà phê bình thuộc phe Liên bang, Jefferson và Madison là những kẻ phản bội, đặc biệt là Jefferson, người mà thực tế thì phụng sự trong nội các của chính phủ nhưng lại đứng về phe đối lập. Điều này giúp giải thích những lời công kích chua cay và rất cá nhân đối với tính cách của ông trên báo chí trong những năm đó; vẫn chưa có ngôn ngữ hoặc tâm lý sẵn sàng để giải thích hành vi của ông cụ thể hơn.

Duy trì vị thế này của tổ chức đối lập không chính thức cần phải rất tin tưởng vào tầm nhìn chính trị của một người đối với ý nghĩa của Cách mạng Mỹ. Điều này cũng đòi hỏi một năng lực khác mà Jefferson đã phát triển trong giai đoạn ở Pháp, có thể gọi là lòng khoan dung sâu sắc trước sự mâu thuẫn mà ở những người khác có thể coi là lừa dối, đạo đức giả. Ở cương vị một nhà lãnh đạo đảng hữu danh vô thực trong một thời đại mà các đảng phái chính trị còn bị ghét cay ghét đắng, Jefferson buộc phải nhiều lần lừa dối và che giấu, sự thành công của ông khi làm điều đó phụ thuộc vào sự nhanh trí, xử trí khôn ngoan của ông trong các phát ngôn và vai trò khác nhau, vào khả năng chơi trốn tìm với chính mình.

Cuối cùng, đầu những năm 1790, mối quan hệ lâu dài giữa Jefterson và Madison đạt đến một cấp độ hợp tác mới, đôi khi không thể biết được sự kết thúc suy nghĩ của người này lại là sự bắt đầu suy nghĩ của người kia ở chỗ nào. John Quincy Adams đề cao việc này khi ông nhận thấy “sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai trí tuệ này là một hiện tượng, giống như những tương tác vô hình và bí ẩn của nam châm trong thế giới vật lý, nơi mà sự sắc sảo của sử gia tương lai có thể tìm ra giải pháp cho lịch sử đất nước chúng ta nếu không thì phải chịu trách nhiệm không thể chối cãi”. Hai người đàn ông đã có những thói quen bảo mật và kinh nghiệm lúc trao đổi qua thư từ được mã hóa khi Jefferson làm việc ở Pháp, chúng đã giúp họ khá nhiều trong những năm 1790, khi họ cùng hợp tác để phản đối các chính sách tài chính của Alexander Hamilton và bắt đầu phát triển nền tảng cho một đảng đối lập. Sẽ là không công bằng lắm với trí tuệ và kỹ năng lãnh đạo của Madison, nếu chỉ xem ông như là đối tác trẻ tuổi hay như người luôn sẵn sàng thay mặt Jefferson trong những cuộc đấu đá chính trị nội bộ mà Jefferson thấy rất khó chịu. Trên thực tế, trong các giai đoạn đầu của cuộc chiến với Hamilton, 1790-1792, Madison đã thật sự lãnh đạo cuộc đấu tranh, đặc biệt là phong trào chống lại kế hoạch rót vốn và đề xuất lập một ngân hàng quốc gia của Hamilton. 8

Nhưng nói chung, có vẻ công bằng khi đồng tình với những thành viên phe Liên bang coi Madison là “Tướng” và Jefferson là “Tổng Tư lệnh” của phe đối lập Cộng hòa đang manh nha. Jefferson là lãnh tụ tinh thần và thành viên kỳ cựu của tổ chức. Ông sắp đặt chiến lược và Madison thực hiện các chiến thuật. Jefferson có đủ điều kiện để chú ý tới những diễn biến bao quát nhất của một vấn đề chính trị, vì Madison đã âm thầm xử lý những rắc rối cụ thể. (Nếu Chúa có mặt trong từng chi tiết khi câu chuyện diễn ra, thì Madison thường đã ở đó để chào đón người đến). Lợi thế của sự phân công này khá rõ ràng: Phát ngôn viên vô cùng tài năng được đẩy ra mũi nhọn tấn công, trong khi cho phép Jefferson ở lại sau hậu trường và bên ngoài xung đột.

Nhưng cũng có một số nhược điểm cần chỉ rõ: Nó đưa đến niềm tin vào sự cáo buộc, rằng Jefferson là một kẻ thao túng quanh co, không dám đối mặt với sự thật. Trong khi những người bảo vệ ông có thể và đã mô tả niềm khao khát sự riêng tư cá nhân nổi tiếng của ông như là một đặc điểm của tính nhút nhát hoặc thận trọng, thì tuyên bố rằng “sự táo bạo trong suy nghĩ của ông được bọc trong một cái vỏ của sự lịch thiệp”, thậm chí Dumas Malone, người viết tiểu sử ngưỡng mộ ông nhất, đã buộc phải thừa nhận rằng trong các cuộc chiến tranh đảng phái vào những năm 1790, Jefferson thường xuyên vượt qua ranh giới mong manh giữa “lịch sự và lừa dối”. Các nhà bình luận phê bình thì coi danh tiếng của ông như một phiên bản bí ẩn và không-đáng-ngưỡng-mộ của Nhân sư Mỹ kể từ giai đoạn này trong sự nghiệp của ông. “Ông ấy chẳng bao giờ nói thật như mình cảm nhận”, Charles Francis Adams viết, “dù là đối với bạn bè hay kẻ thù. Kết quả là trong giới chính trị, ông ấy mang tiếng là kẻ tráo trở…, nhìn chung người ta thường cảm thấy sự tráo trở đó nhiều hơn là chứng kiến nó”. Dù Madison đã có những nỗ lực quả cảm để bảo vệ ông khỏi những lời chỉ trích, nhưng thật sự thì những nỗ lực đó phần nào cũng làm dấy lên nghi ngờ về lập trường của Jefferson, hầu hết các đánh giá không thân thiện về nhân cách khó nắm bắt của Jefferson đều bắt nguồn từ bầu không khí chính trị siêu nóng của những năm 1790, nơi mà tính cách của ông trở thành vấn đề gây tranh cãi. 9

Nó cũng giống như những ưu tiên và chính sách của ông khi ở cương vị Ngoại trưởng Mỹ. Giữa lúc mong muốn về hưu của Jefferson trỗi dậy, James Monroe đã gửi cho ông một lá thư an ủi, nhằm cam đoan với vị thầy của mình rằng: “dù ngài đã trải qua những thời khắc quan trọng và thậm chí hỗn loạn [mà ngài có], thì đó không chỉ là sự tán thành của riêng trái tim ngài và những đồng hương của ngài nói chung, mà còn là sự im lặng và tất nhiên là cả sự tán thành miễn cưỡng của kẻ thù”. Điều này có vẻ là một đánh giá hợp lý theo hơi hướng đảng phái. 10

Jefferson đã giúp khởi động chính sách đối ngoại của Mỹ theo hướng phụng sự những mục đích quốc gia khá tốt trong suốt thế kỷ tiếp theo. Ông chia sẻ với các nhân vật quan trọng khác, đặc biệt là Washington, Adams và Hamilton, nhận định căn bản rằng nhiệm vụ chủ yếu mà nền cộng hòa non trẻ phải đối mặt chính là những vấn đề nội bộ và trong nước, ổn định thể chế chính trị mới thành lập và củng cố quyền kiểm soát lục địa Bắc Mỹ. Điều này có nghĩa là bằng mọi giá phải tránh xa những mâu thuẫn của châu Âu, dành thời gian và không gian cho nền kinh tế quốc gia mới nổi của Mỹ phát triển tiềm năng còn non trẻ của mình. Dù các cuộc chiến đảng phái về cách thức thực hiện những nguyên tắc chính sách đối ngoại có vẻ cay đắng hơn, chưa kể đến sự thất bại hoàn toàn của hiệp ước liên quan đến những mối đe dọa do Anh đặt ra hoặc những thách thức từ phía Pháp đối với sự trung lập của Mỹ, thì bản thân những nguyên tắc của Mỹ vẫn là vấn đề về sự đồng thuận xuyên suốt mọi thành tựu lớn nhất của chính phủ. Jefferson thường xuyên bị buộc là thân Pháp, vì ý định tốt mà đã bóp méo lời giải thích về tính trung lập của Mỹ. Nhưng Công sứ Pháp, Pierre Adet, lại đưa ra những đánh giá thấu đáo nhất về sự đồng cảm sâu sắc nhất của Jefferson. Adet viết: “Ông Jefferson yêu mến chúng tôi vì ông ấy ghét Anh…, nhưng ông ấy có thể thay đổi quan điểm về chúng tôi vào ngày mai, nêu Anh ngừng gây thêm cho ông những nỗi sợ hãi… Có thể nói, vì Jefferson là người Mỹ nên ông không thể là người bạn chân thành của chúng tôi. Người Mỹ là kẻ thù bẩm sinh của mọi dân tộc châu Âu”. Đánh giá sắc sảo và chính xác này mang tới vẻ ngoài hào nhoáng nhất cho những mục tiêu tổng thể của Jefferson trong vai trò Ngoại trưởng Mỹ, nhằm thỏa thuận mạnh mẽ về những lợi ích của Mỹ nhưng đồng thời tránh mọi hình thức đảng phái có thể dẫn đến chiến tranh. 11

Điều đó cho thấy nhận định của Adet về việc Jefferson thật sự căm ghét Anh cũng hoàn toàn đúng. Thật vậy, nỗi căm hận vô cùng lớn của Jefferson với tất cả những gì liên quan tới Anh (có lẽ chỉ ngoại trừ những khu vườn của họ) đã chi phối toàn bộ hoạt động của ông trong vai trò Ngoại trưởng Mỹ, và nhiều lần suýt nữa đã dẫn đến sự đổ vỡ trong quan hệ Anh-Mỹ. Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng Nootka Sound năm 1790, khi một tranh chấp bất ngờ nổ ra giữa Anh và Tây Ban Nha gần Vancouver ngày nay, cảnh báo chiến tranh có thể xảy ra ở toàn bộ khu vực phía Tây xuyên Mississippi, Jefferson tỏ ra đặc biệt hiếu chiến trước những ý định của người Anh tại khu vực đến mức sẵn sàng phiêu lưu chiến tranh với Anh cho đến khi cuộc khủng hoảng nguội đi. Trong những cuộc đàm phán với George Hammond, Công sứ Anh có trách nhiệm giải quyết những khác biệt lâu dài trong các điều khoản của Hiệp ước Paris, Jefferson cực kỳ kiên quyết và cứng nhắc, gần như không hề có phong thái ngoại giao theo quy định như thứ phong thái ông từng thể hiện rất tự nhiên trong những hoàn cảnh khác. Và vào năm 1793, báo cáo đầy đủ của ông về chính sách thương mại của Mỹ với tư cách một quốc gia trung lập đã để nghị áp các mức thuế quan trả đũa với Anh như là biện pháp tự sát về kinh tế và dựa trên niềm tin có phần ảo tưởng rằng sức mạnh kinh tế Mỹ có thể sánh với Anh. Rõ ràng sự đề cập đến Anh đã xả nỗi hận thù chôn giấu ở những nếp gấp sâu sắc hơn trong con người ông, khiến cho hầu như không thể tháo gỡ vấn đề theo con đường ngoại giao. 12

Nguồn gốc sâu xa nhất của hận thù luôn là vấn đề quan trọng cần xem xét. Ví dụ, cũng nên nhớ lại rằng ông đã bắt đầu sự nghiệp chính trị bằng cách thảo một bản cáo trạng chống lại George III và sau đó là lên án việc bán buôn của người Anh; những văn bản này động chạm đến quá nhiều bên, tới mức đồng nghiệp của ông ở Quốc hội Lục địa thấy cần phải hạ giọng cho bớt gay gắt và hoàn toàn xóa bỏ sau này. (Dường như với ông, những gì mà người khác tuyên truyền luôn được coi là chính đáng, dù đó là sự thật hiển nhiên nhưng lại tầm thường). Phải chăng George III cũng đã thể hiện sự ghê tởm lẫn nhau bằng việc quay lưng lại vời Jefferson và Adams trước toàn bộ triều đình Anh đó sao? Trước đó, những người lính của Cornwallis đã đốt cháy mùa màng của ông, chiếm đoạt vật nuôi của ông và cắt cổ những gia súc họ không thể mang theo. Trong những năm ở Paris, ông cũng được tiếp xúc với sự ngạo mạn thường trực của báo chí Anh, dường như không thể chấp nhận thực tế phũ phàng rằng các thuộc địa Mỹ đã thật sự giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh giành độc lập.

Nhưng các ảo tưởng của Anh cũng là triệu chứng của những gì mà Jefferson coi là mối đe dọa, cụ thể là Anh sẵn sàng sử dụng sức mạnh kinh tế và quân sự ghê gớm của mình nhằm ngăn chặn và thậm chí đảo ngược cái tiến trình chuyển động rộng lớn hơn của Cách mạng Mỹ. Việc quân đội Anh vẫn còn đóng trên biên giới phía tây của Mỹ chẳng phải là một tuyên bố rõ ràng về ý định gây hại và mong muốn thường trực của Anh là tái chiếm thuộc địa cũ vào một ngày nào đó hay sao? Chẳng phải chính sách thương mại của Anh kiên quyết chống lại những thỉnh cầu của Jefferson về thương mại tự do và vô cùng tự mãn về quyền bá chủ của mình trên thị trường thế giới là bằng chứng cho nỗ lực trắng trợn của Anh hòng tái thiết chế độ thuộc địa của mình trên đất Mỹ hay sao? Cuối cùng, để hoàn thành và làm cho nó mang đậm tính cá nhân, có phải ông, cùng với nhiều nông dân Virginia, vẫn thấy mình đang lún sâu trong nợ nần với những chủ nợ người Anh và Scotland, họ liên tục tăng lãi suất cho các khoản nợ này đến mức khiến cho việc độc lập ngày càng khó khăn? Đó phải chăng là một suy nghĩ gây khó chịu, nhưng trên thực tế đó không phải là trường hợp mà ông, Thomas Jefferson, vốn từng làm rất nhiều việc để tổ chức và định hình Cách mạng Mỹ, tiếp tục điên dại làm lợi cho chính quyền Anh hay sao? 13

Mọi nỗ lực tách bạch lý do cá nhân khỏi lý do chung trong việc bài Anh, hoặc có lẽ cả việc tách bạch động cơ tâm lý khỏi động cơ tư tưởng của ông, sẽ là một nhiệm vụ khó khăn và rốt cuộc vô ích. Có lẽ cách tốt nhất để giải thích chính là trong lý trí và tình cảm của ông thì việc bài Anh là một chủ đề không cần tranh luận. Ở cấp độ chính sách đối ngoại, lịch sử cuối cùng đã chứng minh rằng ông sai, vì liên minh Anh-Mỹ và sự bảo vệ của hạm đội Anh đã hỗ trợ đáng kể cho sự trưởng thành của nước Mỹ non trẻ trong suốt thế kỷ 19. Và suy đoán của ông về việc Anh đang trên đà đi xuống lịch sử đã giáng một đòn quyết định theo dự đoán chưa từng có về những giá trị Anh trong thời đại Victoria. Nhưng cảm nhận bản năng của ông cho rằng vấn đề giữa Anh và Mỹ vẫn chưa kết thúc đã được Chiến tranh năm 1812 xác nhận. Và nỗi lo ngại của ông về việc Anh vẫn toan tính tái thiết chế độ thuộc địa đã mất trên đất Mỹ, dù hơi phóng đại nhưng vẫn là một nỗi lo chính đáng, nó có vẻ không đáng tin với chúng ta hiện giờ chỉ vì chúng ta có lợi thế là biết rõ điều đó đã không xảy ra.

Hàng loạt lý do công và tư lẫn lộn đã định hình tình cảm của ông dành cho Pháp, ông thường xuyên đưa ra định nghĩa về sự trung lập của Mỹ theo một giọng Pháp đặc trưng. Điều Jefferson gọi là “trung lập công bằng” có nghĩa rằng chính sách đối ngoại của Mỹ thừa nhận Pháp đóng vai trò quan trọng với tư cách đồng minh châu Âu của Mỹ trong Cách mạng Mỹ và tuân thủ những nghĩa vụ vĩnh viễn trong Hiệp ước Pháp-Mỹ năm 1778. Ông đã thành công trong việc thuyết phục Washington rằng nghĩa vụ của Mỹ trong hiệp ước là đối với Pháp, chứ không phải với bất kỳ chính phủ hay cá nhân cụ thể nào, nên việc hành quyết vua Louis XVI vào năm 1793 và sau đó là những cuộc diễu hành đẫm máu giữa các phe phái chính trị thay nhau nắm quyền ở nước Pháp cách mạng, không được coi là một cái cớ để từ bỏ liên minh. Dù gây tranh cãi vào thời điểm đó, bị Hamilton và những thành viên cực đoan phe Liên bang chống đối kịch liệt, nhưng khi nhìn lại, ý kiến của Jefferson dường như lại có cơ sở. Nhưng thái độ của ông trước Công sứ Pháp, Edmond Genêt, là hình ảnh đối lập với thái độ của ông trước George Hammond của Anh, gần như kiên nhẫn đến vô tận và bao dung vô cùng, sẵn sàng chịu đựng sự can thiệp trắng trợn của Genêt vào nội bộ chính trị Mỹ và hoàn toàn ảo tưởng rằng ông thật sự được trao quyền phủ quyết Tổng thống Mỹ. Kể cả khi Jefferson cuối cùng cũng quyết định chấm dứt quan hệ với Genêt vào tháng 8 năm 1793, thì động cơ của ông rõ ràng mang tính chính trị và nội bộ. “Tôi thấy cần từ bỏ một đống đổ nát”, ông thông báo với Madison, “nó có thể không chìm, nhưng sẽ nhấn chìm tất cả những ai cố bám vào nó”. 14

Ngay cả hành vi kiêu ngạo vô vọng của Genêt cũng không thể phá hoại nổi sự đồng cảm sâu sắc của Jefferson với Gallic, nó có nền tảng vững chắc hơn cả mối quan tâm nổi tiếng của ông đối với ẩm thực Pháp và kiến trúc Paris. Sự đồng cảm này thể hiện rõ nét nhất trong việc ủng hộ ngẫu hứng của ông đối với sự quá độ khủng khiếp mà sau đó đã cuốn Cách mạng Pháp vào sự chi phối của phái Jacobin và Thời kỳ Kinh hoàng. “Giọng điệu trong những lá thư của ông đôi lúc đã mang tới cho tôi niềm đau”, ông nói với William Short, người đã viết thư từ Paris kể về hành vi giết người của những đám đông hỗn tạp và sự sụp đổ hoàn toàn của trật tự xã hội. Rồi Jefferson đưa ra một bài thuyết trình về chi phí con người mà đôi khi phải trả khi lịch sử đang tiếp diễn: “Tự do của toàn cầu tùy thuộc vào vấn đề đấu tranh, và là một giải thưởng có thể giành được với rất ít máu đổ? Những tình cảm của tôi bị tổn thương sâu sắc vì một số người đã hy sinh do nguyên nhân này, nhưng nếu nó thất bại, tôi lại thấy một nửa Trái đất bị bỏ hoang. Giả như chỉ còn một Adam và một Eva ở mỗi quốc gia và để cho họ được tự do, thì sẽ tốt hơn hiện giờ”. 15 Phiên bản cực đoan của những gì có thể gọi là chủ nghĩa hiện thực cách mạng, gợi lên sự so sánh với tư tưởng cấp tiến của Lenin hay Mao Trạch Đông ở thế kỷ 20, bộc lộ một khía cạnh ớn lạnh của con người Jefferson, có vẻ khá mâu thuẫn với tính khí và ý thức hệ kiên định của ông. Nhưng trên thực tế, phản ứng tự nhiên của ông trước sự tàn bạo của Cách mạng Pháp là một phần không thể thiếu của một cảm nhận tinh vi nhưng sâu sắc về cái đích lịch sử hướng tới.

Những nét chính của bức tranh trong tâm trí ông ngưng đọng lại kề từ những năm ông ở Paris. Nó hình dung ra Cách mạng Mỹ chỉ đơn thuần là cảnh mở màn trong một cuộc chiến toàn cầu mà cuối cùng đã đến lúc lan rộng khắp thế giới. Ông thông báo với một phóng viên theo cách thức thông thường: “Quả cầu tự do, mà tôi tin là ngoan đạo nhất, hiện đang chuyển động tốt đến mức nó sẽ lăn đi khắp địa cầu”. Sự độc lập của Mỹ khỏi Anh chỉ là biểu hiện chính trị ban đầu của quá trình giải phóng rộng lớn và triệt để hơn nhiều, tuân theo tự nhiên, dù rõ ràng là không phải không có sự phản đối bằng bạo lực, vì những tàn dư cuối cùng của chế độ phong kiến và quân chủ đã bị phá hủy và hốt vào thùng rác của lịch sử. Cuốn sách tốt nhất nắm bắt được bản chất của tầm nhìn Jefferson là Quyền Con người (The Rights of Man) (1791) của Tom Paine, phiên bản Mỹ của cuốn sách này được Jefferson nhiệt tình ủng hộ và đã tạo nên sự xúc động trước ngôn từ tinh tế khi mô tả về “tinh thần năm “76” và “tinh thần năm ‘89” như những sự thể hiện giống nhau của sự thôi thúc tự do tương tự nhau. Do đó, theo quan điểm của Jefferson, sự khác biệt khá rõ rệt giữa cách mạng Mỹ và Pháp đều là những sự tình cờ vô nghĩa - về điểm này, Adams nghĩ rằng mình thật may mắn không biết hoặc mất trí tạm thời - khi so sánh với mục tiêu chung của chúng. Tương tự, Jefferson tin rằng bạo lực ngẫu nhiên và tiến trình tất nhiên của Cách mạng Pháp là một phần của một chương đã qua nhưng đáng tiếc trong một câu chuyện lớn hơn về cuộc cách mạng toàn cầu đầy hân hoan. Mọi quyết định cụ thể về chính sách đối ngoại của Mỹ cần phải được thông báo theo hình mẫu bao quát, gần như hài hòa này. Trên thực tế, nó có nghĩa là khớp nối sự phức tạp rắc rối của chính sách đối ngoại thành một sự lưỡng phân về đạo đức đơn thuần, như thường xảy đến với Jefferson. Điều này khiến Anh đóng vai phản diện và Pháp là anh hùng cách mạng. 16

Trong khi đó, tầm nhìn quốc tế của ông đã có sự đồng điệu rõ rệt với trong nước. Sau khoảng một năm hợp tác chính trị tương đối ăn ý trong nội các của Washington, Jefferson bắt đầu trình bày rõ quan điểm chính trị của Mỹ cũng với giọng đạo đức và đầy những nhân vật phản diện và anh hùng được phác họa rõ nét. Nguyên nhân trực tiếp của sự thay đổi này là Alexander Hamilton, hay đúng hơn là hàng loạt chính sách chướng tai gai mắt trong vai trò Bộ trưởng Tài chính và tính khí quan cách khó chịu của ông ta. Jefferson và Hamilton đã nhanh chóng trở thành những nhân vật chiếm ưu thế trong nội các của Washington. (John Adams, đáng lẽ là một đối trọng tương đương, đã bị gạt sang một bên vì cương vị Phó Tổng thống tại Thượng viện khiến ông nhận thấy rằng mình giữ “vị trí vô nghĩa nhất mà con người từng phát minh hay có thể hình dung ra”, đây là lời phàn nàn đầu tiên trong số hàng loạt những lời phàn nàn đủ loại của những người kế nhiệm vị trí này). Trong “thương vụ bàn ăn” nổi tiếng mà Jefferson và Hamilton cùng tham dự vào tháng 6 năm 1790 - Madison cũng có mặt và thực tế là đóng vai trò trưởng đoàn đàm phán - nhằm đi tới một thỏa hiệp giúp Hamilton có đủ phiếu ủng hộ tại Quốc hội để thông qua đề xuất của ông về việc chính phủ liên bang sẽ gánh tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của các bang. Chính sách này chống lại lợi ích của bang Virginia, vốn đã giãn phần lớn các khoản nợ của mình, cho nên Hamilton đã ủng hộ cam kết đặt thủ đô quốc gia bên sông Potomac trong chục năm nữa. Nhưng thương vụ bàn ăn chính là thỏa thuận lưỡng đảng cuối cùng giữa hai nhà lãnh đạo nội các. Jefferson nhanh chóng thú nhận rằng ông đã bị Hamilton “lừa” và “biến thành một công cụ để xúc tiến những kế hoạch của ông ta mà tôi đã không hiểu cặn kẽ; và giữa tất cả những sai lầm trong cuộc đời chính trị của tôi, đây là điều tôi hối tiếc nhất”. Trong suốt thời gian còn lại cùng làm trong chính phủ, Jefferson và Hamilton đã tranh đấu dữ dội để được Washington lắng nghe và chú ý, cũng như đấu tranh cho những gì mà mỗi người coi là linh hồn của nền Cộng hòa Mỹ. 17

Dù nguồn cơn sâu xa hơn của mối bất hòa này bắt nguồn từ tư tưởng, nhưng rõ ràng, khía cạnh cá nhân cũng góp phần không nhỏ. Hamilton là người mà Chúa mang tới Trái đất để bác bỏ mọi giá trị của Jefferson. Với thái độ táo bạo và thẳng thắn, Hamilton sở hữu tất cả sự tự tin của một nhà lãnh đạo quân sự quen với việc chỉ huy, là kiểu người thể hiện quyền lực mà Jefferson cảm thấy rất khó chịu. Dù có lẽ bắt nguồn từ những chiến công quân sự của Hamilton trong vai trò một sĩ quan thuộc đội của Washington trong Chiến tranh Cách mạng (một trải nghiệm anh hùng khác mà Jefferson không thể có), dự đoán chắc chắn này của chính quyền kêu gọi chú ý vào sự huy hoàng riêng của nó theo phong cách gợi nhớ đến tài hùng biện của Patrick Henry, thứ mà Jefferson cũng không tin tưởng vì nó phô trương. Giống như Henry, Hamilton là một thần đồng trẻ tuổi có nguồn gốc thấp kém - John Adams sau này gọi ông ta là “đứa con hoang của kẻ bán dạo rượu Scotland” - khao khát trở nên vĩ đại có thể thấy khá rõ ở ông ta đã vi phạm những quy tắc bất thành văn của giới quý tộc Virginia chân chính. Vấn đề trở nên tệ hơn khi Hamilton còn là một đối thủ có lập trường và dấu ấn mạnh mẽ không kém. Jefferson kể lại vụ đụng độ với Hamilton trong cuộc họp nội các như một dạng tử vì đạo và báo cho Madison biết để soạn thảo tất cả bài báo công kích cá nhân Hamilton, chỉ rõ riêng Hamilton đã là “một đạo quân”… Có khả năng xoay xở với nhiều chi tiết và tung ra các bài luận chính trị phức tạp trong một thời hạn rất ngắn, trí óc của Hamilton phát ra năng lượng không ngừng thay vì sự trầm lặng ở Jefferson. Nó cũng có xu hướng bắt đầu với một vấn đề rõ ràng và thực tiễn - làm thế nào để tấn công một vị trí của Anh, phê chuẩn hiến pháp hoặc phát triển kinh tế quốc gia - rồi lý trí hướng đến các nguyên tắc bao quát để đưa ra giải pháp. Trí óc của Jefferson cũng hoạt động theo quỹ đạo tương tự nhưng theo chiều ngược lại, từ những lý tưởng có nguyên tắc tới những bối cảnh hoặc vấn đề cụ thể. Điều này nghĩa là Jefferson sẽ thất vọng khi thực tế không đáp ứng những kỳ vọng của ông; Hamilton thất vọng khi những đề xuất thực tế của ông ta va chạm với những để xuất hoàn toàn vô nguyên tắc khác. Jefferson xuất hiện trước các kẻ thù của mình như một Candide phiên bản Mỹ; Hamilton như một Machiavelli của Mỹ. 18

Những thù oán lẫn nhau đầy tính cá nhân đã trở thành đề tài của công chúng bắt đầu từ năm 1792, khi Hamilton và những người thuộc phe ông ta, viết dưới nhiều bút danh (ví dụ, Catullus và Scourge), công kích Jefferson trên báo chí vì sự đồng cảm thân Pháp, việc thay đổi quan điểm về Hiến pháp và cốt lõi tính cách khó nắm bắt của ông. Hamilton viết: “Thận trọng và nhút nhát, được bao bọc trong sự im lặng và bí ẩn bất khả xâm phạm, ông ta [Jefferson] bí mật lưu giữ sự ghê tởm của mình tại một nơi trốn tránh kín đáo nhất định, ở đó ông ta ngồi trên chiếc ghế xoay, dính líu vào mọi mưu đồ chính trị tối tăm và dối trá… ông ta phát tán chất độc của mình qua tờ National Gazette ”. Cuối cùng phải nói đến tờ báo chống Hamilton do Philip Freneau làm chủ bút, người được Jefferson thuê làm biên dịch tại Bộ Ngoại giao để hỗ trợ công việc biên tập chống lại chính phủ của ông, dù mọi tuyên bố đều cho rằng sự sắp xếp này không vi phạm nguyên tắc xung đột lợi ích nào mà ông biết. Trong khi đó, Hamilton liên tục đưa ra những công kích gay gắt chưa từng có trước công chúng đối với người được gọi là Tổng tư lệnh của đảng đối lập, cụ thể là về sự nghiệp và tính cách của Jefferson: “Nếu như tò mò tìm kiếm bằng chứng về Khả năng của ông ta với tư cách một Chính khách trong những ngày đó, ông ta sẽ liên quan đến những lộn xộn ở Pháp, con đẻ của những giáo điều chính trị nhất định được Công sứ Mỹ nuôi dưỡng, và của những nguyên tắc mang tính lý thuyết nhất định chỉ phù hợp với Xã hội không tưởng. Là một Chiến binh, Thành tích chói lọi của ông ta là ở Monticelli ; là một Triết gia, ông ta đã phát hiện ra sự yếu thế của Người da đen so với Người da trắng, vì họ có mùi cơ thể khó chịu hơn và thận tiết ra nhiều nước tiểu hơn; là một Nhà toán học, ông ta phát minh Ghế xoay”. 19

Ngoài Freneau, hậu phương chính của Jefferson đều là người Virginia: Madison và Monroe luôn trung thành, cộng với Nghị sĩ trẻ tuổi William Branch Giles, người mà Jefferson khuyến khích mở một cuộc điều tra chính thức, dù ngụy tạo, về việc sử dụng tài chính bất hợp lý của Hamilton trong vai trò Bộ trưởng Tài chính. Jefferson chưa bao giờ đích thân tham gia tranh luận công khai, luôn thích làm việc thông qua người đại diện, và đã khéo léo che đậy dấu vết của mình đến mức suốt gần 200 năm, việc ông tham gia vào cuộc điều tra của Giles không hề bị phát hiện. 20

Đằng sau động cơ cá nhân đơn thuần giữa hai thành viên nội các có suy nghĩ khác nhau và tính khí xung khắc, Jefferson và Hamilton đã trở thành những biểu tượng tiêu biểu cho một sự bất hòa về tư tưởng căn bản hơn. Vào năm 1792, Jefferson đã quy kết giới lãnh đạo phe Liên bang là những kẻ “theo chủ nghĩa quân chủ”, “thành viên đảng bảo thủ”, “chống cộng hòa” và những người ủng hộ chính sách tài chính của Hamilton là những tên “độc tài”, “đầu cơ chứng khoán” và “hình nộm”. Định hình trong tâm trí của Jefferson là câu chuyện phỏng đoán về những diễn biến của âm mưu đảo ngược tiến trình Cách mạng Mỹ, với các nhân vật chính ở phe bên kia thủ vai phản diện ngầm và tàn bạo do Bộ trưởng Tài chính ranh ma chỉ huy, người mà ông miêu tả với Washington là “một kẻ với lai lịch, từ khi được lịch sử biết đến, là một chuỗi những âm mưu chống lại nền tự do của đất nước mà đã… giao danh dự của mình cho ông ta”. Sự căm hận rất rõ ràng. 21

Các sử gia đã nghiên cứu thời điểm bất định này trong sự nghiệp của Jefferson và trong lịch sử chính trị của nước cộng hòa non trẻ, tìm cách trả lời khéo léo trước những gì có vẻ ám ảnh và gần như hoang tưởng với dư luận hiện đại, mô tả nó như một sự áp dụng mới của hệ tư tưởng Whig mà ông đã tung ra rất thành công khi chống lại Công sứ Anh trong các thập niên 1760 và 1770. Có nhiều điều để nói về cách giải thích này, trong đó có thói quen đã kết nối sự ám ảnh trước đó của ông về tham nhũng chính trị của Anh với sự hận thù ám ảnh của ông trước chương trình tài chính và tầm nhìn của Hamilton về một chính phủ quốc gia chủ động, được Jefferson cho là sự hiện hình hôm nay của một con rồng chính trị mà ông nghĩ đã giết chết hồi năm 1776. Theo cách hiểu này, tài hùng biện theo quỹ đạo hyperbol của Jefferson trong những năm 1790 - như tái diễn những nỗi sợ hãi của Đảng Quốc gia về Cách mạng Mỹ - cũng có thói quen là bỏ đi những lời chỉ trích theo chủ nghĩa cực đoan hiển nhiên của ông trong cuộc thập tự chinh chính trị chống lại Hamilton. Nếu ai đó thắc mắc vé sự sáng suốt của Jefferson vào những năm 1790, thì liệu có bịa ra cuộc bút chiến công kích George III trong thời điểm rực rỡ nhất của lịch sử Mỹ hay không? 22

Đối với nội dung này, chúng tôi xin được nói rõ và nhấn mạnh rằng Jefferson không phải là một người tâm thần không ổn định hoặc một người có khuynh hướng hoang tưởng tiềm ẩn. Tất cả các học giả của ý thức hệ Whig đã nhắc nhở chúng ta rằng tính chất bí ẩn trong tư duy chính trị của ông hồi những năm 1790 là một đặc điểm phổ biến của văn học chính trị bấy giờ, và có thể tìm thấy dấu vết đáng kể của tâm trí phát sốt như thế trong thư từ riêng của toàn bộ giới lãnh đạo chính trị, bao gồm cả Adams, Madison và Hamilton. (Có vẻ chỉ mỗi Washington còn miễn dịch, rồi sau đó ông đã miễn dịch với mọi thứ). Trừ khi người ta sẵn sàng gạt bỏ những gánh nặng tâm lý chống lại các thành viên tiên phong của toàn bộ thế hệ cách mạng và thường được công nhận là nhóm trí thức tài năng nhất của giới lãnh đạo chính trị trong lịch sử Mỹ, thì sau này cần thừa nhận rằng sự tự đánh giá về tâm lý của Jefferson là sai lầm và không công bằng. Học giả hàng đầu của thời đại cách mạng cũng đã nhắc nhở chúng ta rằng những thuyết âm mưu không chỉ là cách suy nghĩ và tranh luận phổ biến về các sự kiện chính trị theo những số liệu chính thống cũng như bên lề, mà còn cung cấp một cách giải thích thế tục về những thay đổi xã hội gây trở ngại trên phương diện cải tiến theo phương sách trước đó cho tới số phận, thiên mệnh hoặc ý Chúa. 23

Điều đó nói lên rằng, màn trình diễn giản dị thái quá và đầy đạo đức của Jefferson về những gì mà phe Liên bang và đặc biệt là phe Hamilton đang làm dúng là một khoảnh khắc trầm tư, nếu không vì lí do này thì cách giải thích theo kiểu Jefferson rằng Đảng Quốc gia không thực thi đầy đủ công lý sẽ thật sự có tác dụng. Có lẽ cách tốt nhất để diễn tả điều này là do ông bắt đầu với một quan niệm tinh khiết và đậm nét duy tâm hơn về các cấp độ tự do cá nhân có thể có trong thế giới này, đặc biệt là sau khi những tàn tích cuối cùng của vương quyền và thẩm quyền bị thổi bay, Jefferson đã che giấu sự nhạy bén trước việc thực thi rõ ràng quyền lực chính phủ hơn bất kỳ thành viên nào của thế hệ cách mạng. Bởi đen và trắng là những màu căn bản trong hình dung chính trị của ông, không có màu bóng mờ, không có khoảng nghỉ giữa các màu để ông hiểu rằng những tác động áp bức của quyền lực chính trị có thể được nghỉ ngơi nhiều hơn, ngay khi mối đe dọa với các mục tiêu không tưởng của ông trở thành hiện thực. Kế hoạch của Hamilton về một chính phủ liên bang chủ động được trao quyền để định hình thị trường và sắp đặt cả chương trình nghị sự tài chính lẫn chính trị chắc chắn không có đặc điểm quân chủ - nếu có thì cũng giống với những giá trị tiền thân trong Chính sách Kinh tế mới thế kỷ 20 hơn là một nỗ lực xưa cũ nhằm khôi phục quyền hành độc đoán của các vị vua và triều đình Trung cổ - nhưng trong tâm trí Jefferson, những khác biệt này là không đáng kể. Quyền hành của chính phủ thuộc bất kỳ loại nào đều là không thể chấp nhận vì nó có nguồn gốc bên ngoài cá nhân; do đó nó vi phạm lý tưởng lãng mạn của ông về tự trị cá nhân. Sắc lệnh của George III và các chính sách thuế của Nghị viện Anh đúng là đã gợi ra những nỗi sợ hãi giống như hồi thập niên 1760 và 1770. Nhưng Hamilton không chỉ gợi nên những ký ức xấu xa về sự đàn áp từ Anh, mà ông ta còn trực tiếp đe dọa cái cốt lõi của một thế giới đầy tiếc nuối ở Jefferson. 24

Ngoài ra, Ở Jefferson với tư cách là nhà lãnh đạo Đảng Quốc gia đang xuất hiện một ý thức mang nét rất đặc trưng Jefferson, khác hẳn với ý nghĩa gốc tiếng Anh của thuật ngữ này, vì lý do khá rõ ràng là “Quốc gia” có nghĩa khác hẳn đối với ông so với một người dân Walpole của Anh. Khi ông được yêu cầu mô tả các thành phần xã hội của hai bên, ví dụ, danh sách những người “chống cộng hòa” của ông bao gồm những người trung thành và bảo thủ trước đây, thương nhân Mỹ làm ăn với Anh, các nhà đầu cơ chứng khoán và quan chức ngân hàng, công chức liên bang và những người chạy chức chạy quyền khác, và - một phạm trù tâm lý đa năng - “người bồn chồn, với những dây thần kinh uể oải mang trạng thái thụ động nhiều hơn là chủ động”. Mặt khác, danh sách những người “cộng hòa” ngắn hơn nhiều nhưng bao gồm đa số cử tri Mỹ. Nó bao gồm “toàn bộ chủ đất trên khắp nước Mỹ” cũng như “tập thể người lao động không phải là chủ đất, dù làm nghề nông hay nghề thủ công”. Jefferson ước tính “tỷ lệ của phe cộng hòa và chống cộng hòa có thể là 500/1”. 25

Ở đây, người ta nhận được một luồng sinh khí mới mang đặc trưng dân chủ gắn liền với tên tuổi Jefferson sau này. Trong việc xây dựng Đảng Whig truyền thống, Đảng Quốc gia gồm một nhóm các chủ đất ưu tú, vốn phản đối các chính sách của Đảng Cung đình, và hai tầng lớp ưu tú cạnh tranh đưa ra những quy định khác nhau mang lại lợi ích tốt nhất cho nhân dân. Nhưng Jefferson đã xem mình là người lãnh đạo của phe đa số phổ thông, đấu tranh chính trị chống lại phe thiểu số ưu tú. Đây là một cách suy nghĩ mới về chính trị vào cuối thế kỷ 18. Đúng, nó đã dựa trên quan điểm truyền thống về âm mưu liên quan lâu dài đến ý thức hệ Whig. Ví dụ, những người “chống cộng hòa” ủng hộ các chính sách của Hamilton, dù chỉ là một nhóm thiểu số, nhưng được hưởng “những điều kiện giúp họ vừa mạnh vừa đông”. Lợi thế chính của họ, theo Jefferson, là “tất cả họ đều sống ở các thành phố, cùng nhau, và có thể sẵn sàng hoạt động trong một nhóm bất kỳ lúc nào”, trong khi các cử tri của ông “rải rác khắp cả nước, [và] có ít phương tiện để liên lạc với nhau”. (Nói cách khác, bất lợi chính mà Đảng Quốc gia phải đối mặt chính là Đảng này hoạt động ở vùng nông thôn). Nhưng đặc trưng khác thường trong việc xây dựng đời sống chính trị Mỹ của Jefferson chủ yếu là vấn đề về các con số. Ông coi mình là người phát ngôn cho đa số người Mỹ ngầm ẩn mà nếu có thể huy động thì họ sẽ đảm nhận vị trí xứng đáng như những người thừa kế đúng với “tinh thần năm ‘76”. Và thay vì coi họ là “công chúng”, vào những năm 1790 ông đã bắt đầu sử dụng cách nói dân chủ hơn: “người dân”. Đây là những xu hướng tiên tri. 26

ƯỚC MƠ VÀ NỢ NẦN

Trong năm đầu tiên Jefferson nghỉ hưu, rất ít thư được gửi đi từ Monticello, và những thư này đã chuyển tải được ấn tượng về việc cựu Ngoại trưởng Mỹ đã hoàn thành tốt cuộc phiêu lưu được chờ đợi đã lâu từ ngục tối chính trị tới thiên đường đồng quê của riêng mình. Ông viết thư cho Washington không phải với tư cách chủ trì mà như người bạn nông dân, gợi nhớ lại rằng cả hai người đã từng quen thuộc với kế hoạch sản xuất “một loại phân bón tinh chất, một pint (15) có thể bón cho một mẫu Anh”, và nếu bất kỳ nhà phát minh tài giỏi nào có thể làm ra phân bón đóng gói thì Jefferson giờ đây sẽ sẵn sàng mua với số lượng lớn. Trong thư gửi cho James Monroe, người đang là Công sứ Mỹ ở Paris, ông xin lỗi vì không thường xuyên viết thư, đổ lỗi cho sự im lặng lâu là “một dạng trì hoãn rất thường xảy ra khi không có điều kiện ấn định công việc trong một thời gian cụ thể”. Khi ông hay biết rằng người tình Paris cũ của ông, Maria Cosway, đã bỏ chồng, bỏ rơi đứa con nhỏ của bà và ở ẩn trong một tu viện Y, ông viết thư cho bà theo phong cách tình cảm thời quá khứ: “Tôi lấy làm tiếc vì khoảng cách đã làm chúng ta cách biệt, và sẽ không cho phép mình tin rằng chúng ta không có cơ hội gặp lại nhau nữa cho tới khi bà gặp lại tôi ở nơi thời gian và khoảng cách không có nghĩa lý gì nữa”. Nhưng bà đã sai khi chôn mình trong một phòng giam nơi “chưa từng [có] Mặt trời, những làn gió dịu mát chẳng bao giờ thổi tới…” Ông đã chọn hướng ngược lại cho mình, dành cả ngày hoạt động ngoài trời như “một nông dân thực thụ, đo đất, cày ruộng, giúp phơi cỏ khô, và chưa từng biết đến một ngày không làm được điều gì đó cho tương lai”. Ông quả quyết với bạn bè rằng sự thanh thản của mình, như một cánh đồng hoa được trồng, giờ đây đã nảy mầm và nở rộ bên trong tâm hồn. Đó là lý tưởng cả đời trong lòng Jefferson, hiện ở tuổi trung niên và trong khung cảnh nông thôn thích hợp: được “sống như một tộc trưởng Antedeluvia xung quanh con cháu, và cày xới đất của mình”. 27

(15) Đơn vị đo lường ở Mỹ, 1 pint = 0,473 lít.

Những đặc điểm nhất định giữa khung cảnh bình dị này, đặc biệt là ở khía cạnh gia đình, dường như đã cùng đến một lúc với Jefferson, ít nhất là trong giây lát vào giữa những năm 1790. Patsy giờ đây đã là một phụ nữ hoàn toàn trưởng thành, được Jefferson gọi là Martha, kết hôn với Thomas Mann Randolph, Jr. vào năm 1790, ngay sau khi cô từ Pháp về. Khi cô còn là một cô gái trẻ học tập tại Paris, Jefferson đã lo lắng ra mặt về khả năng “nó chỉ cưới được một kẻ ngu dốt”, nhưng Randolph đã xóa tan những lo lắng này. Là một quý ông Virginia của dòng họ thượng lưu, anh từng theo học tại Edinburgh, và thực tế đã bắt chước theo hình mẫu của cha vợ. Cao ráo, gân guốc, giống như Jefferson, nhưng có mái tóc màu đen và một làn da sẫm màu, Randolph là một kỵ sĩ huy hoàng, một trong số ít người Virginia có thể cưỡi ngựa nhanh hơn Jefferson, một người trẻ sở hữu sự quyến rũ rạng ngời và sự lập dị hấp dẫn giống như những người đàn ông khác trong gia tộc Randolph, chẳng hạn như vẫy chào lạnh lùng khi cưỡi ngựa phi qua một hàng rào cao khủng khiếp. Tới năm 1795, anh và Martha đã sinh được hai đứa cháu cho Jefferson. Sau này còn có thêm chín đứa nữa. Ngoài việc nắm giữ số bất động sản đáng kể ở Varina bên sông James phía dưới Richmond, vào năm 1792 Randolph còn mua Edgehill, một bất động sản 1.500 mẫu Anh cách Monticello chỉ hai dặm, vì vậy anh và Martha có thể hiện diện thường xuyên trong gia đình của Jefferson và là thành viên chính thức của Monticello suốt mùa hè. 28

Tháng 6 năm 1796, nhà quý tộc Pháp là Công tước de La Rochefoucauld-Liancourt, một trong những quý tộc tị nạn do cuộc chiến đẫm máu thời bấy giờ tại Pháp, đã ghé thăm và mô tả cảnh Jefferson giám sát thu hoạch lúa mì trên những cánh đồng với Randolph bên cạnh, nhận xét rằng “qua tình cảm mà ông ấy [Jefferson] dành cho anh ta”, Randolph “cứ như là con trai chứ không phải là con rể của ông ấy”. La Rochefoucauld-Liancourt sau đó đã tiếp tục mô tả các thành viên khác của gia đình Jefferson tại Monticello: Polly trước đây, giờ đã đủ trưởng thành để biến tất cả những cử nhân hội đủ điều kiện tại hạt Albemarle thành các vệ tinh. Cô đã được gọi bằng tên riêng của mình: “Cô Maria luôn sống với cha mình; nhưng khi cô 17 tuổi và khá xinh đẹp, thì chẳng nghi ngờ gì, cô sẽ sớm nhận ra rằng có những nhiệm vụ còn ngọt ngào hơn là làm một cô con gái”. Một năm sau, Maria hoàn thành lời tiên đoán ấy qua việc đính hôn với John Wayles Eppes, người mà Jefferson chỉ mô tả là chàng trai trẻ mà ông sẽ chọn cho cô con gái xinh đẹp tuyệt vời của mình “kể cả khi tôi có cả Trái đất này để chọn bạn đời cho con bé”. Jefferson sau này giải thích cho Martha là cuộc hôn nhân sắp tới của Maria đã đem đến hợp phần cuối cùng cho kế hoạch lâu dài của ông về sự hài hòa gia đình như thế nào: “Bây giờ cha thấy cuộc sống gia đình chúng ta đã tạo thành một nhóm, không một thành viên nào có thể gây to tiếng hay ganh tị lẫn nhau. Không có những cảm xúc bất thường, không thiên vị nguy hiểm, là những thứ có thể gây ra rắc rối cho vận mệnh và hạnh phúc tương lai của con cháu chúng ta. Chúng ta đang cố gắng duy trì tình trạng này ít nhất một thế hệ nữa”’. 29

Giống như những mong muốn ảo tưởng và chân thành nhất của Jefferson, điều này quá tốt để có thể trở thành sự thật. Bất chấp món quà cưới của cha cô là 800 mẫu đất trong vùng Monticello để có thể giữ cô ở gần bên, Maria thích sống trên vùng đất của gia đình chồng ở Eppington. Và cũng giống như mẹ mình, cô đã sớm qua đời trong khi sinh con vào năm 1804. Cùng thời điểm đó, Thomas Mann Randolph bị ảnh hưởng bởi chứng rối loạn thần kinh khó hiểu ngay sau khi chuyển về sống với Jefferson như cha con ruột thịt. Cả chuyến du lịch đến vùng New England mát mẻ lẫn nhiều lần đến các suối nước nóng của Virginia cũng chẳng chữa trị được căn bệnh như mong muốn, khiến Jefferson tự hỏi nhiều lần điều gì làm con rể yêu quý của ông phiền não đến vậy. Chứng nghiện rượu trở thành vấn đề trong những năm tiếp theo, và bắt đầu lan truyền tin đồn rằng chàng trai Randolph thừa hưởng tính lập dị trong hành vi - những kẻ ác ý gọi đó là tình trạng điên dại hoàn toàn - nó bám lấy dòng họ Randolph. Vào năm 1802, Randolph thú nhận mình cảm thấy không phù hợp trong tư cách một thành viên của gia đình Jefferson, “giống như một cái gì đó không liên quan, rơi vào một cách tình cờ và phá hủy tính đồng nhất”, tuyên bố mình là “con chim ngớ ngẩn” không bao giờ có thể cảm thấy thoải mái giữa bầy thiên nga. 30

Thật sự thì phần tử trung kiên duy nhất trong giấc mơ gia đình của Jefferson chính là Martha, người đã quên mình vì cha và các con của mình trong hình tượng vị tha mà cô đã được nuôi dưỡng, cô không bao giờ nói về những vấn đề tình cảm ngày càng trầm trọng của chồng mình, thực tế thì vào năm 1798 cô thừa nhận rằng tình yêu của mình dành cho chồng không bao giờ thật sự thay thế được “thứ đầu tiên và tốt nhất có tính tự nhiên”, tức tình cảm cô dành cho cha. Không rõ liệu biểu hiện có phần cực đoan trong tình cảm con gái dành cho cha có góp phần khiến Thomas Mann Randolph rơi vào thất vọng và sau cùng là cơ cực hay không. Điều rõ ràng là dù chắc chắn Jefferson đã có những khoảnh khắc bình dị ngay sau khi nghỉ hưu, nhưng những kỳ vọng về một mô hình hạnh phúc gia đình vĩnh cửu trên đỉnh núi của ông buộc phải tự điều chỉnh trước những mối quan hệ tình cảm cạnh tranh lẫn nhau đã xâm nhập vào gia đình ông. 31

Thái độ của Jefferson trước bất cứ một xung đột tâm lý nào có thể dần xói mòn những ước mơ ấy luôn là sự im lặng đầy e ngại. Có lần Maria nhắc đến tình trạng khó xử do chứng nghiện rượu dai dẳng của một người họ hàng xa, Jefferson khuyên cô nên tránh thảo luận đề tài này. “Mục đích chấn chỉnh anh ta là gì, nếu điều đó không quan trọng”, ông hỏi một cách hoa mĩ, “và nếu quan trọng, hãy để cho nó qua đi trong hiện tại… Thật kỳ lạ khi bao nhiêu người trở nên không hạnh phúc chỉ vì chưa chú ý đến những quy tắc nhỏ này về tính thận trọng”. Những hành động bỏ qua kiểu thận trọng như vậy cũng đem lại lợi thế cho việc duy trì lý tưởng ảo vọng. Theo nguyên tắc gia đình Jefferson, mọi người không chỉ giữ bí mật với bên ngoài, mà còn giữ bí mật với trong nhà. 32

Giống như lý tưởng về gia đình, lý tưởng nông nghiệp của Jefferson hoàn toàn chân thành, thể hiện trung thực cách thức ông mong muốn chứng tỏ bản thân, nhưng lại cách quá xa thực tế lộn xộn và nhàm chán của đời sống nông trang ở Virginia sau cách mạng tới mức không thể tránh xảy ra xung đột giữa các sở thích bên trong và những giới hạn bên ngoài, rồi kết thúc trong bi kịch. Một trong những câu nói nổi tiếng nhất của ông, chỉ sau tuyên bố kinh điển về nhân quyền trong Tuyên ngôn Độc lập, như một đóng góp hùng hồn cho lịch sử diễn thuyết Mỹ, chính là đoạn văn sau đây trong Những ghi chép : “Những người lao động trên Trái đất chính là những người được Chúa chọn, nếu người chọn ai, thì trong trái tim người đó đã có sẵn một phẩm chất đích thực. Đó là trọng tâm trong đó người sống mãi với ngọn lửa thiêng ấy, nếu không nó có thể thoát ra khỏi mặt đất”. Một học giả kiêm nông dân hiện đại đã nhận định, ngành nông nghiệp Mỹ chẳng bao giờ phục hồi hoàn toàn sau lời khen lừng lẫy này. Thật vậy, toàn bộ lịch sử nông nghiệp Mỹ trong thế kỷ 19 và 20 có thể được viết như là một cuộc đụng độ giữa trạng thái thần thoại của người nông dân phong cách Jefferson với những thực tế khắc nghiệt của thời tiết thất thường và thị trường cũng thất thường không kém. Câu chuyện dài và thường mang tính nghịch lý đó, hóa ra lại thật sự bắt nguồn từ kinh nghiệm của chính Jefferson. 33

Thực tế dội vào Jefferson những đợt sóng dồn dập, nhưng vấn đề căn bản nhất ở chỗ ông không phải là một nông dân tiểu chủ độc lập mà là một chủ đồn điền Virginia mắc nợ. Khi nghỉ hưu với tư cách Ngoại trưởng Mỹ, ông còn nợ các chủ nợ người Anh ở Bristol khoảng 4.500 bảng và một công ty ở Glasgow 2.000 bảng. Phần lớn số nợ này phát sinh trong thập niên 1770, khi ông thừa kế gánh nặng bất động sản của cha vợ là John Wayles. Nhưng những gì ông gọi là “nô lệ của nợ nần” còn trở nên phức tạp thêm do lạm phát thời chiến đã xóa tan mọi nỗ lực trả nợ của ông, bởi năng suất trên đất đai bị giảm khi ông vắng mặt ở Monticello khá lâu trong thời gian từ năm 1784 tới năm 1794, và cũng bởi ông dường như bẩm sinh không có khả năng sống với một ngân sách eo hẹp, biết từ chối những cuốn sách, đồ nội thất cao cấp, rượu vang đắt tiền hay những thứ thiết yếu khác của cuộc sống thượng lưu. Vào cuối nhiệm kỳ Công sứ tại Pháp, ông ngày càng nhận thức được cách biệt gia tăng giữa thu nhập và chi tiêu của mình, thật sự gần như bị ám ảnh rằng tiền lãi của các khoản nợ đang bị tính lãi suất kép với tỷ lệ cao hơn tiền trả cho nợ gốc của ông. Khi rời nhiệm sở vào năm 1794, với phong cách Cicero quen thuộc ông đã nói lên ước muốn về sự giản đơn nơi đồng quê, và thiết thực hơn, ông cho Washington biết rằng ông nghỉ hưu để giải cứu mình khỏi nợ nần và cứu vùng đất của ông từ “sự tàn phá của những người quản lý [đã] khiến cho khu đất xuống cấp quá mức mà tôi có thể mường tượng”. 34

Tình trạng tài chính của ông khá nghiêm trọng. Những khoản nợ nếu tính theo giá trị hiện nay thì vô cùng khó, nhưng có thể thận trọng ước tính trong khoảng vài trăm ngàn đô-la. Tình trạng nợ nần này khá điển hình cho tầng lớp chủ đồn điền của Virginia sau cách mạng. Năm 1790, những cư dân của Old Dominion còn nợ các chủ nợ người Anh và Scotland 2,3 triệu bảng, những gia đình danh tiếng nhất của Virginia cũng là những cái tên nổi bật nhất trong danh sách hơn 30.000 con nợ khó đòi của các thương gia người Anh. Jefferson thấu hiểu được tình trạng nợ nần khủng khiếp đang giày vò bạn bè và hàng xóm của mình, có lần ông thậm chí còn giải thích cho một người hâm mộ từ Pháp rằng nợ nần của các chủ đồn điền Virginia là “di truyền từ đời cha sang đời con qua rất nhiều thế hệ, do đó các chủ đồn điền là một loại tài sản, bị các nhà buôn ở London thôn tính”. Ông nói cho cô con gái nhỏ của mình khá nhiều điều tương tự: “Bất động sản ở Virginia nói chung là không có khả năng sinh lời nên người sở hữu chúng không thể tránh khỏi bị phá sản. Và tình trạng này sẽ tiếp tục cho đến khi cách thức làm việc của họ có một số thay đổi. Trong khi đó, không có gì có thể cứu chúng ta và con cháu chúng ta khỏi cảnh nghèo nàn ngoài quyết tâm có được trước hết là một năm tự kiềm chế nghiêm khắc để xóa nợ cũ. Nếu một nông dân mắc nợ, thì khoản nợ đó không bao giờ trả được trừ phi bán [bất động sản].” Với thói quen đam mê tiêu dùng của ông và số phận sau cùng của Monticello yêu quý, thì đây là một tuyên bố rất mỉa mai. Nhưng vào giữa thập niên 1790, ông không thể nhìn thấy trước tương lai cũng như không đánh giá cao sự mỉa mai này. Những gì ông có thể làm, hoặc ít nhất là cố gắng mãnh liệt để làm, là làm cho vùng đất của mình màu mỡ hơn và trả hết các khoản nợ. Sau đó, trồng trọt có nghĩa là kiếm tiền. 35

Sở hữu đất đai của ông khá ấn tượng, nhưng chỉ có vẻ là như vậy. Jefferson sở hữu gần 11.000 mẫu Anh, một nửa là các bất động sản xung quanh Monticello ở hạt Albemarle và một nửa là các vùng đất phía tây tập trung ở hạt Bedford, cách đó khoảng 90 dặm. Ông đã bán khu vực nằm dọc theo sông James ở phía đông nam các hạt Goochland và Cumberland, một phần để trả nợ và một phần là để củng cố tài sản của mình. Bất chấp việc bán đất, Jefferson vẫn là một trong những chủ đất lớn nhất ở bang. Một trong những lý do ông thấy khó chấp nhận được đầy đủ những tác động của tình trạng nợ nần là ông nghĩ về sự giàu có giống như một quý tộc Virginia kiểu cũ, tức là phải sở hữu đất chứ không phải là tiền bạc hoặc những thứ có tính thanh khoản cao hơn. Đối với Jefferson, đất là thước đo tốt nhất giá trị của một người, và như ông nói, “trong số đó tôi là người kiên trì nhất”. Bất chấp sự hiện diện đầy ám ảnh của những chủ nợ người Anh và Scotland, ông vẫn nghĩ mình là một người có đất và do đó là một người giàu có. 36

Ông hy vọng đất sẽ giúp ông thoát khỏi các chủ nợ khi ông tự quản lý việc canh tác. Kế hoạch của ông rất rõ ràng. Ông sẽ từ bỏ thuốc lá vốn là loại cây trồng mang đến nguồn thu hoa lợi chính của mình bằng lúa mì. Trong Những ghi chép , ông đã mô tả trồng thuốc lá là “một nền văn hóa gây ra tình trạng khốn cùng”, một phần vì giống cỏ độc hại này chẳng có công dụng nào khác ngoài việc nuôi dưỡng một thói quen xấu, nhưng cũng vì trồng giống cây này sẽ hoàn toàn vắt kiệt sự màu mỡ của đất. Vùng đất riêng của ông, như ông nói, “như vừa được tái sinh từ sự tàn bạo khi bị các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá bỏ lại một cách cẩu thả”, ông nhấn mạnh cần áp dụng một kế hoạch dài hạn gồm bảy bước luân canh cây trồng nhằm giúp đất phục hồi sự màu mỡ trước đây. Trong suốt mùa xuân và mùa hè năm 1794, Jefferson tập trung phần lớn sức lực và toàn bộ tâm huyết của mình vào việc lên kế hoạch luân canh bảy bước chi tiết, giống như trước đấy ông đã cống hiến cho đời sống chính trị trong nước hay chính sách đối ngoại của Mỹ. 37

Ít nhất là ở mức độ lý thuyết, Jefferson luôn có những tư tưởng ấn tượng nhất, kế hoạch của ông có rất nhiều điều đáng nói. Lúa mì đã trở thành cây trồng được đa số chủ đồn điền cấp tiến của Virginia lựa chọn (ở đây, Washington đã giúp đưa ra chỉ đạo) vì nó không hại cho đất và được hưởng một số lợi thế thị trường hơn so với thuốc lá, những người lãnh đạo là những người cần ăn hơn cần hút thuốc, và rằng cuộc chiến đang diễn ra giữa Anh và Pháp cho thấy một cơ hội vàng để chiếm lĩnh thị trường thực phẩm châu Âu. Chương trình luân canh bảy bước công phu của ông cần một thời gian dài, ít nhất là bảy năm, trước khi đất đai hoàn toàn sẵn sàng cho việc canh tác lúa mì trên diện rộng, nhưng đây dường như là một cái giá xứng đáng để làm được một việc đúng đắn. Kế hoạch là một bằng chứng nữa cho thấy Jefferson vẫn coi mình là phần còn lại tại Monticello trong giai đoạn này. Ông đang lên kế hoạch cho một đoạn đường dài.

Sau một số thành công ban đầu, kế hoạch này đã thất bại hoàn toàn; trong tất cả những lý do khiến kế hoạch thất bại, có lẽ thủ phạm chính là tai ương đối với tất cả nông dân: thời tiết xấu và không may mắn. Hạn hán và sương giá đến sớm đã làm hỏng vụ lúa mì của Jefferson ba năm liên tiếp. Mưa lớn làm ướt hết lúa mì đang được vận chuyển bằng sà lan ở phía hạ lưu. Sau đó, nạn dịch ruồi Hessia kinh hoàng thường xuyên xảy ra trên các cánh đồng, phá hủy tất cả những gì họ đã xoay xở để vượt qua những yếu tố thất thường của thời tiết. Ai đó nếu đọc qua Sách Nông nghiệp (Farm Book) của ông, trong đó Jefferson ghi lại những khó khăn gặp phải vì những thay đổi bất thường của thời tiết ở từng vụ mùa và vô số trở ngại với kế hoạch được ông chuẩn bị kỹ lưỡng nhất, thì không thể không kết luận rằng cho dù ông là một người nổi tiếng may mắn đến đâu đi chăng nữa, ông vẫn là một nông dân vô cùng đen đủi. 38

Tuy nhiên, ngoài việc kém may mắn, còn có hai nguyên nhân căn bản nữa khiến các đồn điền của Jefferson không thật sự có khả năng canh tác mùa màng đủ để tạo ra lợi nhuận đáng kể. Thứ nhất, ông chỉ nghĩ đơn giản là không có đủ đất canh tác. Với một đồn điền 11.000 mẩu Anh, dễ mường tượng ra khung cảnh đầy những nhà máy sản xuất nông nghiệp lớn phổ biến ở miền Nam trước nội chiến với những cánh đồng rộng lớn và những nhóm nô lệ được tổ chức thành các đơn vị bán quân sự. Nhưng mấy vùng đất của Jefferson, và hầu hết các đồn điền của Virginia trong thế kỷ 18, trông lại không giống hoặc không hoạt động giống như thế. Thay vì một cánh đồng rộng trải dài tới tận chân trời, Jefferson lại sở hữu bảy trang trại riêng biệt và nằm cách xa nhau: Monticello, Shadwell, Tufton và Lego ở hạt Albemarle; cùng Poplar Forest, Bear Creek và Tomahawk Ở Bedford. Hơn nữa, chỉ có khoảng 1.000 mẫu Anh trong tổng diện tích đất ông sở hữu có thể trồng trọt. Phần còn lại là rừng. Trong thực tế, Jefferson đã không giám sát kỹ việc dồn vào canh tác trong một thửa ruộng lớn như một loạt các trang trại quy mô vừa. Tóm lại, những cộng đồng nông nghiệp nằm rải rác này có khả năng sản xuất đủ ngô, yến mạch, khoai tây, lúa mạch đen, đậu, lúa mạch và lanh để tự nuôi mình và trong những năm mùa màng thuận lợi, cho thấy có chút lợi nhuận. Đó chính là thực tế những gì họ đã làm từ năm này sang năm khác. Nhưng diện tích đất canh tác quá nhỏ, và tổ chức quá manh mún nên không thể làm nhiều hơn được nữa. 39

Thứ hai, đất thuộc sở hữu của Jefferson thiếu các chất dinh dưỡng và sự màu mỡ cần thiết để sản xuất một vụ mùa bội thu. Ngay cả khi thời tiết và số phận bớt khắc nghiệt hơn, họ vẫn có một khoảng thời gian khó khăn để cải thiện những điều kiện địa chất. Jefferson muốn quy chất lượng đất kém cho việc trồng cây thuốc lá đã vắt kiệt chất dinh dưỡng và đốc công đã quản lý đất đai không sát sao trong thời gian ông vắng mặt để làm việc tại Pháp và Philadelphia. Điều này cũng đúng thôi, nhưng nó lờ đi một thực tế căn bản hơn là các đồn điền của ông đều nằm trên sườn đông của dãy núi. Về mặt thẩm mỹ và trực quan, vị trí này có thể không có lỗi gì, nó cho phép nhìn ngắm toàn cảnh ngoạn mục từ đông Monticello hướng về phía Tidewater. Nhưng dù nó có nhìn xuống mấy vùng đất màu mỡ nhất Virginia, mảnh đất dốc này chỉ là một điểm ngắm cảnh tuyệt đẹp chứ không hề màu mỡ để trồng trọt. (Nếu ông có được phân bón và những kỹ thuật canh tác của thế kỷ 20, mọi thứ có thể đã khác. Nông dân hiện đại trong khu vực này kiếm sống bằng nghề chăn nuôi gia súc). Vì vậy, trong khi Jefferson muốn tin rằng vùng đất của mình đã bị xói mòn - điều này có nghĩa là nếu chăm sóc đúng cách bằng một hệ thống luân canh tỉ mỉ thì có thể khôi phục lại độ màu mỡ của đất - nhưng sự thật khó có thể chấp nhận hơn là đất thiếu các chất dinh dưỡng căn bản cần thiết cho cây trái sum suê mang lại tính kinh tế. Chẳng hạn như đất mặt quanh Monticello là đất nên sét và đây là vật liệu cực kỳ tuyệt vời để đóng gạch, nhưng ngay cả khi ngưỡng mộ màu đen đỏ đặc trưng của mặt tiền ngôi biệt thự ngày nay, người ta cũng đang nghĩ đến một điều sâu xa hơn: vì sao Jefferson đã không được số phận định đoạt là một nông dân thành công. 40

Mặc dù Jefferson không bao giờ hiểu thấu đáo tình trạng kinh tế khó cải thiện của mình, nhưng ông vẫn có ý thức sâu sắc về việc phải tạo ra thu nhập, có lẽ là để duy trì cuộc sống cho đến khi vùng đất của mình phục hồi khả năng sản xuất, vì vậy ông quyết định sớm thành lập một cơ sở sản xuất đinh ở Monticello. Ông trình bày lý lẽ của mình trong một bức thư gửi cho một người bạn Pháp vào mùa xuân năm 1795: “Trở về nhà sau chục năm vắng mặt, tôi nhận ra các trang trại của mình rối loạn đến mức tôi thấy rõ… rằng mình cần tìm một số nguồn lực khác trong khi chờ đợi… Cuối cùng, tôi quyết định bắt đầu sản xuất đinh, công việc này cần rất ít hoặc không cần vốn, và bây giờ tôi thuê 12 cậu bé từ 10 đến 16 tuổi, tự tôi giám sát toàn bộ công việc kinh doanh và thu được lợi nhuận đủ nuôi sống bản thân cho đến khi các trang trại của tôi có thể sinh lời”. Ông nói đùa rằng nghề mới của mình là nhà sản xuất và quản đốc nhà máy, tuyên bố “thương vụ mới về sản xuất đinh khiến tôi có thêm danh xưng quý tộc ở đất nước này hoặc trở thành người khởi xướng một trật tự mới ở châu Âu”, nhưng đích thân ông đã giám sát công việc vô cùng nghiêm túc và thực thi một chế độ hà khắc đối với những nô lệ da đen tuổi thiếu niên tạo nên lực lượng lao động của ông.

Mỗi buổi sáng trừ chủ nhật, ông đi bộ tới xưởng làm đinh ngay sau bình minh để cân sắt nguyên liệu cho từng công nhân, sau đó trở lại vào lúc hoàng hôn để cân đinh thành phẩm và tính toán lượng sắt bị lãng phí của những công nhân có năng suất cao nhất và những công nhân có năng suất thấp nhất. Isaac Jefferson nhớ lại là ông chủ cũ của mình đã nói rõ với tất cả rằng xưởng làm đinh là ưu tiên cá nhân, và rằng đặc quyền sẽ được dành cho những người làm đinh giỏi nhất. “[Ông ấy] cấp cho các chàng trai trong xưởng đinh mỗi tuần một cân thịt… Nếu họ là người có năng suất tốt nhất, họ sẽ được thưởng một bộ quần áo màu đỏ hoặc màu xanh; điều này đã khích lệ họ rất nhiều”. Jefferson thậm chí còn thêm xưởng làm đinh vào điệp khúc đồng quê quen thuộc của mình. “Tôi dành nhiều tâm trí cho chăn nuôi và làm đinh”, ông thông báo vào mùa thu năm 1794, “đến nỗi chẳng còn lúc nào nghĩ đến làm chính trị nữa”. Ông cũng say sưa với công việc kinh doanh đinh, yêu cầu nhà cung cấp sắt nguyên liệu cho đinh ở Philadelphia với giá rẻ hơn, theo dõi việc tăng giá sắt theo dõi doanh số bán lẻ của sản phẩm tại các cửa hàng địa phương và lo lắng khi “đinh của Anh tràn ngập” thị trường nội địa “với suy nghĩ điều này làm ảnh hưởng xấu đến công việc kinh doanh của tôi”. (Thực tế là ông thấy đinh của Anh đe dọa công việc kinh doanh của mình). 41

Từ góc độ tài chính, xưởng làm đinh thật sự hiệu quả. Trên thực tế, trong khi ông phải vật lộn để khiến các đồn điền của mình sinh lợi, thì xưởng làm đinh lại là một câu chuyện thành công, kiếm được gần 1.000 đô-la trong một năm thuận lợi. Nhưng xét trong bối cảnh của bài hùng ca Jefferson về những vẻ đẹp đồng quê của cuộc sống nông thôn, đó là một điều phi lý lớn. Một sử gia với giọng điệu mỉa mai, nói rằng một ngày nào đó Henry Adams có thể chiêm ngưỡng tầm quan trọng mang tính biểu tượng của một nhà máy nhỏ, tọa lạc trên điểm cao nhất của Monticello ở trung tâm xã hội nông nghiệp không tưởng của Jefferson, và chắc sẽ kết luận rằng đó chính là phiên bản Mỹ gốc của “cổ máy trong khu vườn”. Hoặc một tiểu thuyết gia với tính khí của Charles Dickens có thể đã thấy vui thích khi so sánh chế độ quản lý trong xưởng làm đinh của Jefferson với các công xưởng bóc lột công nhân tàn tệ và công việc cực nhọc, buồn tẻ từ bình minh đến hoàng hôn trong các nhà máy của quỷ dữ ở London. Cần lưu ý, chính Jefferson không hề có ý so sánh châm biếm hay gây tranh cãi; ông cảm thấy không cần phải xin lỗi vì đã đưa ngành công nghiệp đến Monticello. Không có bằng chứng cho thấy hằng ngày ông đến xưởng làm đinh của mình cùng với những thợ rèn đầy nhiệt huyết và những thiếu niên da đen siêng năng được sắp xếp theo một dây chuyền của những búa và đe, ông đã thấy trước chính xác hình ảnh một thế giới công nghiệp mà ông thật sự mong Mỹ tránh được, hoặc ít nhất là trì hoãn càng lâu càng tốt. 42

Ở một mức độ thực tế hơn, sự tận tụy của Jefferson trong việc quản lý tỉ mỉ xưởng làm đinh cho thấy những thứ đã chiếm toàn bộ tâm trí ông ở cương vị ông chủ của Monticello. Cả nô lệ cũ Madison Hemings và cựu đốc công Edmund Bacon khi về già nhớ lại, đều tuyên bố rằng Jefferson có vẻ “không thích thú hay quan tâm lắm đến việc theo đuổi nông nghiệp… Dường như ông ấy chủ yếu hướng tới máy móc của mình và quan tâm rất nhiều đến hoạt động của chúng”. Mặc dù năm đầu tiên nghỉ hưu của ông trong giai đoạn 1794-1795 có vẻ như một ngoại lệ, nhưng nguyên tắc chung của ông là dành một chút thời gian trên đồng ruộng của mình, còn đâu thì để cho các đốc công quản lý việc trồng trọt, ngoại trừ vụ thu hoạch. Ông không có thời gian giám sát việc cày bừa và gần như không có thời gian để mắt đến việc điều hành trang trại hằng ngày. Ông thích thú nhất và dành nhiều sự quan tầm nhất cho những dự án mới, đòi hỏi kỹ năng cơ khí hoặc tay nghề của người lao động và cho phép ông lên kế hoạch cũng như giám sát toàn hộ hoạt động. Xưởng làm đinh là dự án đầu tiên như vậy, sau đó là chế tạo một máy đập lúa mới, các kế hoạch về xưởng xay bột và một con kênh tốn kém trên sông Rivanna. 43

Nhưng dự án lớn nhất trong tất cả chính là Monticello. Trên thực tế ông đã lên kế hoạch cho một sự thay đổi lớn ở biệt thự của mình kể từ khi ông trở về từ Pháp năm 1789. Trên quan điểm tài chính, ý tưởng đổi mới Monticello không hề hiệu quả, khác hẳn những kế hoạch của ông với xưởng làm đinh. Nhưng nó mang đến sự sang trọng và thoải mái trong không gian sống riêng tư của ông, thói quen suốt đời của Jefferson là chẳng để ý đến chi phí đi kèm, thường thực hiện nhiều thay đổi kiến trúc tốn kém trong những ngôi nhà hoặc khách sạn cho dù đó chỉ là nơi ông ở tạm thời. Những kế hoạch vĩ đại hơn của ông dành cho Monticello bắt nguồn tự nhiên từ hai sự thôi thúc duy tâm, thể hiện trí tưởng tượng của ông với toàn bộ ảnh hưởng của những nguyên tắc đầu tiên: Thứ nhất, ông cần nhiều không gian hơn, rộng gấp đôi căn nhà ban đầu, để thỏa giấc mơ sâu thẳm của ông là được sống sum vầy cùng con cháu; thứ hai, phiên bản sửa đổi Monticello của ông cần thể hiện các nguyên tắc tân cổ điển mang phong cách Palladian mà ông đã lĩnh hội trực tiếp trong chuyến đi châu Âu. Sự kết hợp của hai khao khát này đã có những tác động mạnh mẽ, vì việc mở rộng không gian phải phù hợp với những hạn chế nghiêm ngặt về tính đối xứng và tỷ lệ chi phối theo những nguyên tắc Palladian về vẻ đẹp. Kết cấu mới này có thể không kéo dài như các toa xe lửa, nhưng cũng không mọc thẳng đứng vì các tòa nhà kiểu Palladian ít nhất phải có một tầng bố trí theo hàng ngang và thường có mái vòm. Điều này có nghĩa là cần phá hủy gần như hoàn toàn căn nhà ban đầu và xây dựng lại từ phần hầm. 44

Ông đà bắt đầu đóng gạch ngay sau khi trở về nhà vào năm 1794, nhưng trong suốt năm đó và năm tiếp theo, Jefferson đã dồn hết sức lực của mình vào công việc đồng áng và xưởng làm đinh. Một số công việc xây dựng đã bắt đầu ngay lập tức, vì Jefferson kể cho George Wythe vào thang 10 năm 1794 rằng ông “hiện đang sống trong một lò gạch, ngôi nhà của tôi hiện trạng hầu như chẳng còn gì”. Nhưng một năm rưỡi sau đó, vào tháng 3 năm 1796, ông thông báo với William Branch Giles về việc mình “chỉ mới bắt đầu phá bỏ ngôi nhà”, và thêm rằng Giles “không nên để điều này ngăn cản ngài ghé thăm chúng tôi nếu ngài đi vẩn vơ qua chốn này vào mùa hè”, và nói đùa rằng ông ấy có thể ở lại một trong những căn phòng ngoài trời chưa hoàn thiện. Một du khách người Ireland đi qua đây vào tháng 5 năm đó đã mô tả Monticello là “trong trạng thái dở dang, nhưng nếu có kế hoạch nghỉ lại, thì đây sẽ là một trong những chốn riêng thanh lịch nhất tại Mỹ”. Chuyến thăm của hai người Pháp cũng trực tiếp xác nhận điều kiện vật chất về cuộc sống trên đỉnh núi vào lúc này. Công tước de La Rochefoucauld-Liancourt có xu hướng bỏ qua sự lộn xộn, và giống như một người theo phong cách Jefferson đặc trưng, đã mô tả triển vọng: “Chuyến đi châu Âu đã cung cấp cho ông ấy những mô hình; ông ấy đã đưa chúng vào thiết kế của mình; và kế hoạch mới của ông ấy, vốn đã được cải thiện khá nhiều, sẽ được hoàn thành vào cuối năm sau…” (Ông hoàn tất sau 12 hay 26 năm, tùy thuộc vào cách tính toán mức độ hoàn thành). Bá tước Francois de Volney, một người tị nạn do Cách mạng Pháp, ngỏ ý muốn đến thăm và đã nhận được một lá thư hoan nghênh từ Jefferson, trong đó thông báo thẳng thắn về cảnh quan sẽ chào đón ông ấy: “[T]iếng Ồn, sự lộn xộn và thiếu thốn của quang cảnh sẽ đòi hỏi ngài phải vô cùng bình thản và kiên nhẫn”. 45

Trên toàn bộ phần đất ở ẩn rộng lớn của Jefferson, Monticello có vẻ rõ ràng là một công trường xây dựng đông đúc với đầy những gạch vỡ, những căn phòng chưa có mái, cọc gỗ, và nếu một số báo cáo là tin cậy được thì có hơn một trăm công nhân đang đào đất và đập phá khắp nơi. Hàng triệu du khách của thế kỷ 20 đến thăm khu biệt thự này là những người được hưởng lợi thật sự nhờ quyết định phi lý của Jefferson trong việc thiết kế và xây dựng lại Monticello vào những năm 1790, mặc dù họ sẽ bị sai lầm nếu nghĩ rằng ngôi nhà Jefferson từng sống đã có diện mạo như bây giờ. Ngôi nhà đã được sửa chữa hoặc nâng cấp ở một số thời kỳ trong suốt cuộc đời Jefferson. Tóm lại, từ năm 1794 đến năm 1797, Monticello có một phần bị đổ nát, một phần chỉ còn cấu trúc khung, và phần lớn vẫn chỉ là giấc mơ. Không chỉ sai khi hình dung bất động sản của Jefferson là một doanh nghiệp nông nghiệp tổng hợp dọc theo dòng Tara trong Cuốn theo chiều gió , không chỉ sai lầm khi tưởng tượng Jefferson đi sau cái cày hay dành nhiều thời gian giám sát người khác đi sau cái cày, mà còn sai lầm khi nghĩ rằng ông sống trong một ngôi nhà nguy nga được định hình theo thị hiếu riêng của mình đầy những đồ vật hiếm lạ mà ông yêu thích. Ở giai đoạn này, Monticello là một sự khai quật thì đúng hơn là một tòa biệt thự. Đây cũng là dự án lớn nhất và tốn kém nhất của ông, ông dồn hết tâm sức cho hoạt động này và nó mang lại cho ông cảm giác sống có mục đích. Trong khi ông gửi đến những nông dân chân chính bài ca tụng đầy cảm hứng nhưng chân thành, thì sự thật là ông thấy chán nghề nông. Về hưu ở chốn nông thôn hiu quạnh không có nghĩa là cày xới, mà là đào đất để xây dựng một cái gì đó mới mẻ và hữu ích.

NÔ LỆ

Hầu như mọi việc, cho dù trên đồng ruộng, trong xưởng làm đinh hay ở công trường xây dựng Monticello đều do nô lệ thực hiện. Tổng số nô lệ ở một số đồn điền của Jefferson dao động quanh mức trên dưới 200 người, trong đó hạt Albemarle chiếm khoảng 3/5 và hạt Bedford chiếm 2/5. Từ năm 1784 đến 1794, vì cố gắng để củng cố quyền sở hữu đất đai và giảm nợ nần của mình, Jefferson đã bán và tặng 161 nô lê. Nhưng sự gia tăng tự nhiên đã nâng số nô lệ trên tất cả những vùng đất của ông thành 167 người vào năm 1796, và con số đó tăng dần qua các năm sau này. Tại các đồn điền của ông ở hạt Albemarle, con số ước tính đáng tin cậy cho thấy Jefferson có khoảng 100 nô lệ trong ba năm nghĩ hưu của mình. Mặt khác, không có cách nào để đánh giá chính xác những suy nghĩ và cảm xúc của Jefferson về đa số cư dân có trên thực tế tại Monticello. 46

Mặc dù Jefferson đã thực hiện những chuyến về thăm Monticello kéo dài trong những năm là Ngoại trưởng, nhưng các nhiệm vụ của ông ở Paris, Philadelphia và Williamsburg đồng nghĩa với việc ông chủ yếu là một chủ nô vắng mặt để làm một công việc tốt hơn trong 15 năm. Trong thời gian đó, quan điểm của ông về chế độ nô lệ đã thay đổi liên tục, tương tự như số lượng nô lệ của ông, lưỡng lự giữa việc lên án thẳng thừng chế độ nô lệ không phù hợp với các giá trị cộng hòa nhưng cũng lại trì hoãn bằng mọi cách khi buộc phải đưa ra các biện pháp thiết thực để kết thúc nó. Tất nhiên khoảng cách giữa “những gì nên” và “những gì thế giới cho phép” tạo thành tình thế tiến thoái lưỡng nan chủ yếu trong xu hướng suy nghĩ của Jefferson đối với hầu hết các chủ đề chính trị. Nhưng vấn đề về chế độ nô lệ đã bộc lộ khoảng trống đáng kể hơn so với mọi vấn đề khác; nó cũng bộc lộ sự lúng túng trong suy nghĩ của ông khi cố gắng trụ vững trước thực tế kế bên miệng vực thẳm đạo đức giữa những gì ông biết là đúng với những gì mà nếu không có thì ông không thể làm gì. Sau đó, ngay cả ở mức độ hoàn toàn lý thuyết, suy nghĩ của ông về chế độ nô lệ là một vấn đề về chính sách công mâu thuẫn sâu sắc và pha trộn với những cân nhắc cá nhân. Sự trở lại Monticello vào năm 1794 và sự ở lại dường như vĩnh viễn của ông giữa “những người lao động vì hạnh phúc của tôi” còn khiến nghịch lý trở nên căng thẳng hơn khi biến vấn đề lý thuyết trở thành hiện hữu, thành một loạt tương tác cá nhân hằng ngày. 47

Nếu Jefferson đã có quan điểm công khai rõ rệt về chế độ nô lệ vào giữa những năm 1790, thì chủ đề này nên được phép nhẹ nhàng rời khỏi chính trường, giống như ông đã làm bằng cách về nghỉ hưu tại Monticello. Điều này thể hiện sự thay đổi có tính quyết định trong quan điểm của ông với tư cách một thanh niên, khi ông từng đảm nhận vai trò đứng đầu trong việc đưa chế độ nô lệ vào chương trình nghị sự của Hội đồng lập pháp Virginia và Quốc hội Liên bang. Thật sự thì những phát biểu có hệ thông nổi tiếng nhất của ông khá hoa mỹ: đổ lỗi cho chính việc buôn bán nô lệ và sự thành lập chế độ nô lệ vào thời George III trong Tuyên ngôn Độc lập; tố cáo chế độ nô lệ là một thể chế bị phá sản về đạo đức và đã tuyệt chủng trong Những ghi chép . Tất cả những để xuất thiết thực nhất của ông đều được đưa ra vào đầu thập niên 1780, mô tả một chương trình bãi bỏ dần dần để tiến tới chấm dứt việc buôn bán nô lệ, cấm chế độ nô lệ ở tất cả các vùng lãnh thổ phía Tây và đưa ra một mốc thời gian cố định như ông để nghị là năm 1800 để tất cả con cái của nô lệ sinh ra sau đó sẽ được giải phóng. Tóm lại, cho đến giai đoạn này trong sự nghiệp chính trị của mình, ông là một thành viên của đội tiên phong nhấn mạnh chế độ nô lệ không phù hợp với các nguyên tắc mà nền Cộng hòa Mỹ đã đưa ra. Trong suốt giai đoạn đầu đời, sẽ không công bằng nếu cáo buộc ông là đạo đức giả vì sở hữu nô lệ, hay trách ông vì đã không thể lãnh đạo chủ đề chính trị nhạy cảm nhất của Mỹ theo hướng đạo đức. Trên thực tế, sẽ công bằng hơn nhiều khi tán dương những nỗ lực của ông để bắt đầu cuộc cách mạng chống chủ nghĩa nô lệ, cho dù hầu hết chúng bị coi là vô ích, và tự hỏi đầy ngưỡng mộ là làm thế nào mà một người thuộc tầng lớp chủ đồn điền ở Virginia lại quyết định phát triển những nhận thức về tự do như vậy.

Xác định nguyên nhân của sự im lặng kéo dài là một công việc vốn đã không chính xác, nhưng có vẻ như thái độ của Jefferson đối với chế độ nô lệ bắt đầu thay đổi từ giữa đến cuối những năm 1780 trong thời gian ông làm Công sứ tại Pháp. Đây là điều mỉa mai, vì trong cùng thời gian này, ông đã kể với công chúng Pháp những câu chuyện lạc quan sai lệch về việc chế độ nô lệ sắp sụp đổ ở quê hương Virginia của mình và đóng vai một người Mỹ đi đầu trong việc chống chế độ nô lệ ở Paris. Nhưng ông đồng thời bắt đầu rút lui khỏi tất cả các vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ nô lê của Mỹ. “Tôi từ lâu đã từ bỏ kỳ vọng chuẩn bị trước cho sự xóa bỏ chế độ nô lệ ở nước ta”, ông viết vào năm 1805, tiếp tục khẳng định lại niềm tin của ông rằng chế độ nô lệ là một dị tật ở nước Mỹ cộng hòa; nhưng ông khăng khăng cho rằng tổ chức hiện thời của các lực lượng chính trị đã chặn đứng bất kỳ cải cách có ý nghĩa nào vào thời điểm này, do đó thực tế mọi người chỉ có thể làm một việc là chờ đợi tương lai để chuẩn bị dư luận cho điều không thể tránh khỏi. Quan điểm này thụ động và phụ thuộc vào định mệnh hơn, được ông duy trì đến hết đời, là sản phẩm của nhiều dòng tư tưởng khác nhau hội tụ trong tâm trí của ông kể từ năm 1785-Trên thực tế, đó là một quan điểm phức tạp hơn về mặt trí tuệ và tâm lý so với lần xuất hiện đầu tiên, và vì đó là quan điểm ông mang trong đầu mình đến Monticello vào năm 1794, nên nguồn gốc của nó khiến chúng ta phải lưu ý. 48

Thứ nhất, như chúng ta đã thấy, Jefferson rút lui khỏi đội tiên phong Chống chủ nghĩa nô lệ ngay sau khi xuất bản Những ghi chép , Trong đó đã thể hiện sự lên án dứt khoát chế độ nô lệ, điều mà Jefferson không bao giờ dự định dành cho công chúng Mỹ, khiến ông trở thành nhân vật gây tranh cãi, đặc biệt là trong tầng lớp sở hữu nô lệ ở Virginia, và nhà lãnh đạo tương lai của nhóm vẫn còn khá nhỏ gồm những chủ đồn điền miền Nam tiến bộ ủng hô hình thức giải phóng nô lệ dần dần nào đó. Đó là một vai trò cộng đồng nổi bật đi ngược lại với bản chất của ông là bản năng tự tách biệt. Mối ác cảm sâu xa của ông đối với việc tranh cãi thật sự đã khiến ông phóng đại những lời chỉ trích cá nhân hơn mức dự kiến như trong Những ghi chép hoặc như ông đã lo sợ. Nhưng vấn đề không phải là liệu phần lớn những hiểu biết của ông đã được chứng minh hay chỉ là tưởng tượng. Đơn giản là ông không được trang bị sự kiên định để giữ vững vị trí tiên phong trong phong trào chống chế độ nô lệ sau khi ông được thức tỉnh mạnh mẽ.

Thứ hai, các tác động bi quan hơn của luận điểm ông đã đưa ra trong Những ghi chép bắt đầu xảy ra và khiến ông lần đầu tiên nhận ra rằng mình không có câu trả lời khả thi cho câu hỏi tất yếu: điều gì sẽ xảy ra một khi nô lệ được giải phóng? Đây là loại câu hỏi thực tế mà qua đó Jefferson đã thể hiện sự khéo léo tuyệt vời trong việc né tránh hàng loạt những vấn đề chính trị lớn khác. Thật vậy, nói chung một trong những đặc trưng gây ấn tượng nhất ở tư duy chính trị của ông chính là niềm tin lý thú rằng tương lai có thể tự lo cho mình. Tuy nhiên, chế độ nô lệ lại là một ngoại lệ đối với nguyên mẫu lớn hơn của sự lãng quên có tính toán. Qua một thời gian ngắn, vào năm 1789, ông dường như ấp ủ một kế hoạch táo bạo, nếu không muốn nói là có phần kỳ lạ, theo đó những nô lệ được giải phóng sẽ được “trộn lẫn” với nông dân Đức nhập cư ở các nông trại 50 mẫu Anh, nơi cả hai nhóm này có thể học được thói quen làm việc thích hợp. Nhưng thậm chí để nghị ngắn ngủi này chỉ nhằm phơi bày sự bảo thủ cố hữu của thế giới sau khi giải phóng nô lệ như Jefferson đã cố gắng tưởng tượng ra nó. Niềm tin căn bản của ông, một điều ông không bao giờ nghi ngờ, chính là người Mỹ da trắng và da đen không thể sống hòa thuận với nhau. Ông đã giải thích lý do của điều này trong Những ghi chép : “Những định kiến lâu đời của người da trắng; vô số hồi ức của người da đen về những nỗi đau họ phải chịu đựng; những hành động khiêu khích mới; sự phân biệt thật sự mà tự nhiên đã tạo ra; và nhiều tình huống khác, sẽ chia rẽ chúng ta, và tạo ra những biến động có thể sẽ không bao giờ kết thúc nhưng lại hủy diệt không màu da này thì màu da khác”. Ở đây là trường hợp duy nhất, với những hậu quả tàn khốc nhất, khi mà Jefferson không thể tin rằng những lực lượng tự do được giải phóng nhờ Cách mạng Mỹ đã không thể quét sạch “bàn tay chết chóc của quá khứ”. Người da đen và người da trắng vốn đã khác nhau, và mặc dù ông đã thận trọng đưa ra trước quan điểm “chỉ là một sự nghi ngờ”, nhưng người gốc Phi vẫn cứ thua kém người da trắng về sức mạnh tinh thần đến mức bất kỳ chính sách giải phóng nào cho phép hòa hợp dân tộc cũng đều là một sự bất công vô đạo đức đối với những nô lệ được giải phóng cũng như một trò hề sinh học chống lại “sự phân biệt thật sự do tự nhiên tạo ra”. Sau đó, kết luận tất yếu là chế độ nô lệ sai về mặt đạo đức, nhưng sự phân biệt chủng tộc lại đúng về mặt đạo đức. Và nếu chưa có một giải pháp phù hợp cho vấn đề phải làm gì với những nô lệ được giải phóng, thì việc thúc bách giải phóng nô lệ chẳng có ý nghĩa gì. 49

Thứ ba, trong giai đoạn cuối ở Pháp, Jefferson đã nhận thức rõ ràng hơn rằng sự sung túc của ông phụ thuộc vào giá trị đồng tiền và sức lao động của những nô lệ của ông. Khi bắt đầu chìm sâu vào nợ nần, ông có ba cách xoay được những số tiền lớn để trả bớt các chủ nợ của mình: Ông có thể bán đất, như ông đã từng làm có phần miễn cưỡng khi bán quyền sở hữu đất ở các hạt Cumberland và Goochland; ông có thể bán thẳng thừng nô lệ; và ông có thể cho các chủ đồn điền lân cận thuê sức lao động nô lệ của mình. Ông bày tỏ cảm giác vô cùng tội lỗi khi theo đuổi hai lựa chọn cuối cùng, ông cho rằng mình đã phản bội những nghĩa vụ của mình trong tư cách người trụ cột đối với những thành viên da đen trong “đại gia đình” của mình. Ông chỉ thị cụ thể rằng những nô lệ đặc biệt, tức là những người đã từng gắn bó lâu với ông, sẽ không bị bán hoặc cho thuê trừ khi họ muốn. Nhưng dù ông không thích bán hay tạm chuyển giao quyền kiểm soát nô lệ cho người khác, ông vẫn nhận ra rằng cách giải quyết như vậy là “sự cứu rỗi duy nhất của tôi”. Tóm lại, khi ông phải tim cách giải quyết tình trạng khó khăn kinh tế cá nhân của mình, câu hỏi lớn hơn về giải phóng nô lệ rơi vào một bối cảnh mới và rõ ràng là ít thuận lợi hơn. Bây giờ, hóa ra đó lại là một vấn đề ông không đủ khả năng để cởi mở; ông không thể thay đổi tình trạng nợ nần túng quẫn trong suốt cuộc đời mình, ngoại trừ làm cho tệ hơn. 50

Kết quả cuối cùng của tất cả những tác động này là một quan điểm xuyên tạc nhất định về chế độ nô lệ, vừa chỉ trích mạnh mẽ thể chế này trên phương diện lý thuyết, vừa trì hoãn trắng trợn bất cứ khi nào có phương án giải phóng nô lệ cụ thể được đề xuất. Công tước de La Rochefoucauld-Liancourt đã nhận ra những đặc điểm chủ yếu và đặc thù chung trong lập trường về chế độ nô lệ của Jefferson trong chuyến thăm của ông tới Monticello vào tháng 6 năm 1796: “Ông Jefferson có thể không hào phóng và giác ngộ nhưng lại biểu thị mong muốn chứng kiến những người da đen này được giải phóng. Nhưng ông ấy thấy rất nhiều khó khăn trong việc giải phóng nô lệ, thậm chí trì hoãn, ông ấy cần thêm rất nhiều điều kiện để biến điều này thành sự thật, đến mức gần như bất khả thi. Chẳng hạn, ông ấy giữ quan điểm đã đưa ra trong ghi chép của mình, cho rằng người da đen của Virginia chỉ có thể được giải phóng đồng thời, và bằng cách xuất khẩu toàn bộ người da đen đến một nơi xa xôi. Quan điểm của ông ấy dựa trên nguy cơ chắc chắn về việc phải chứng kiến dòng máu bị pha tạp mà không có biện pháp nào để ngăn chặn, nếu không làm điều gì đó khác đi”. 51

Nếu quan điểm của ông đối với chế độ nô lệ khi còn là một thanh niên trẻ tuổi xứng đáng được hoan nghênh vì tính chất thẳng thắn và tiến bộ, thì khi là một người đàn ông trưởng thành lại đầy hoài nghi vì thói vị kỷ và sự chính trực gây tranh cãi. Nhưng những đánh giá đạo đức sau này chắc hẳn đến từ tâm thế thoải mái thường có được nhờ sự nhận thức muộn màng. Và những đánh giá như thế không hẳn trở thành một sự thay thế cho việc gợi lại hiểu biết riêng của Jefferson về những gì ông đã làm khi tiếp tục vai trò ông chủ của Monticello, bất kể sai sót thế nào. Ông coi mình là nạn nhân của sự từ chối ngoan cố của lịch sử trong hành trình tiến bộ mà tất cả những người quan sát được giác ngộ coi là không thể tránh khỏi, thậm chí còn hơn cà những nô lệ của ông. Theo nghĩa đó, ông và những nô lệ Mỹ gốc Phi của mình đã cùng bị mắc kẹt trong một khoảng thời gian dài, một bế tắc lịch sử mà trong đó những quy luật tự nhiên sẽ được kiểm chứng gắt gao khi cả hai bên cùng chờ đợi câu chuyện to tát hơn về giải phóng con người diễn ra. Trong khoảng thời gian biến đổi quá đỗi kéo dài này, nghĩa vụ chính của ông là phục vụ như một người quản lý đối với những người đang tạm ủy thác cho ông chăm sóc và suy nghĩ về những nô lệ của mình, như trên thực tế ông đã liệt kê họ trong Sách nông nghiệp như những thành viên “gia đình”, được chăm sóc giống con nuôi cho đến khi tìm được nơi ăn chốn ở lâu dài và cách xa về mặt địa lý. 52

Mặc dù tính vị kỷ của quan điểm gia trưởng này trồng có vẻ khó chịu và giả tạo với chúng ta, nhưng nó đã quyết định vì lợi ích cho những nô lệ của Jefferson cũng như cho chính ông. Lý do chính khiến ông nhiều lần trở về Monticello đều luôn nhận được sự chào đón của những cư dân da đen trên núi là vì điều đó đồng nghĩa với việc tạm thời chấm dứt sự kiểm soát của các đốc công và được tiếp tục bằng sự cai quản nhân từ và quảng đại hơn của Jefferson. Nơi ông ở có ít đòn roi hơn, việc chia thực phẩm và quần áo có lý hơn, bảo đảm phân lịch làm việc công bằng hơn. Không có bằng chứng đáng tin cậy nào ghi lại việc đích thân Jefferson đánh đập hay thi hành bất kỳ sự trừng phạt thể xác nào đối với nô lệ. Rất hiếm khi, và chỉ khi không còn cách nào khác, ông mới ra lệnh cho đốc công sử dụng roi da, nhưng chính sách chung của ông là bán đi những kẻ gây rối, trục xuất những kẻ cứng đầu hay chống phá khỏi đại gia đình của mình như đứa con hay cãi. Ông cực kỳ miễn cưỡng khi phải bán đi những nô lệ trái với ý muốn của họ. Khi các chủ nợ buộc ông phải bán đi 11 nô lệ vào năm 1792, ông đã ra lệnh chọn tất cả số này từ những đồn điền Bedford xa xôi của mình, và việc buôn bán này được thực hiện ở một nơi rất xa, như ông thừa nhận “không muốn tên mình xuất hiện trên báo chí đại chúng vì việc bán tài sản”. Mặt khác, ông cố gắng tôn trọng mong muốn được bán đi của những nô lệ, thường là để được đoàn tụ với gia đình họ. Ví dụ vào năm 1792, ông chấp thuận bán Mary Hemings cho Thomas Bell, một thương gia địa phương, cố tránh đề cập một sự thật là Bell, một người da trắng, là cha của hai đứa con út của Mary và việc mua bán này “thuận theo mong muốn của cô ấy” sẽ cho phép họ chung sống như vợ chồng trên thực tế. 53

Mạng lưới phòng thủ nội tâm chặt chẽ của riêng Jefferson cũng giúp ông duy trì sự tự nhận thức về tính gia trưởng qua việc chặn đứng những bằng chứng không thích hợp (giống như mối quan hệ Hemings-Bell) hoặc gửi nó tới vùng lãng quên của tâm trí vì đã bị cắt đứt mối giao tiếp với thế giới ý thức, một cách trục xuất những ý tưởng ngoan cố khỏi tâm trí. Cũng như khi ông có thể nhìn thẳng vào những hành vì tàn bạo nhất của đám đông bạo loạn ở Paris cách mạng và chỉ thấy một sự dư thừa nhất thời của quyền tự do con người, hoặc có thể cho Philip Freneau vào bảng lương của mình như một người ủng hộ cuộc chiến phe phái mà không chịu thừa nhận xung đột lợi ích, hoặc thậm chí không thừa nhận rằng ông và Madison đang dàn dựng những thủ đoạn chính trị của một đảng đối lập, Jefferson sở hữu những kỹ năng tâm lý để bác bỏ những cảm giác khó xử, bao gồm cả những thực tế hằng ngày của cuộc sống nô lệ. Ông là kiểu người mà sẽ có thể tuyên thệ - và có thể qua mặt cả máy phát hiện nói dối nếu thời đó đã có công nghệ này - xác nhận rằng các nô lệ của mình, với tư cách là thành viên trong đại gia đình của ông, đều hài lòng hơn và khấm khá hơn bất kỳ hoàn cảnh nào có thể tưởng tượng ra. Và cũng giống như một vị tướng thu mình trong trụ sở, ông chuyển tải một tín hiệu rõ ràng tới những đốc công của mình trên đồng ruộng, rằng không nên vì những sự cố khó chịu mà vẽ đường cho hươu chạy.

Một phần do cách trở địa lý, một phần do kế hoạch riêng của ông, mà việc tổ chức lao động nô lệ ở các đồn điền của Jefferson đã củng cố tâm lý cách ly này theo vài cách chủ yếu. Nhớ lại lúc ban đầu, tất cả đất canh tác của ông manh mún khắp nơi, một nửa nằm ở Bedford, cách vài ngày đi xe. Cho đến khi ông xây ngôi nhà thứ hai tại Poplar Forest sau khi nghỉ hưu hẳn, Jefferson hiếm khi đến thăm những bất động sản xa xôi này. Nhớ lại thêm một chút, ngoài sự nhiệt tình nhất thời trong giai đoạn 1794-1795, ông ít khi dành thời gian trên những cánh đồng tại Monticello hoặc Shadwell, ngoại trừ vào thời gian thu hoạch, ông giao toàn bộ việc quản lý công việc đồng áng hằng ngày cho những đốc công. Trong khi ông tiếp tục ghi chép tỉ mỉ số lượng nô lệ của mình trong Sách nông nghiệp , bao gồm cả tên và tuổi của tất cả, nhưng lại hạn chế tiếp xúc trực tiếp với những người lao động trên cánh đồng. Ghi chú khó hiểu của ông trong việc phân công lao động nô lệ cũng tiết lộ vấn đề này: “Trẻ em dưới 10 tuổi làm việc vặt trong nhà. Từ 10 đến 16 tuổi, con trai làm đinh, con gái quay sợi. Đến tuổi 16 thì đi vào lòng đất hoặc học buôn bán”. Cái cụm từ gở miệng “đi vào lòng đất” chuyển tải chính xác mối liên hệ cá nhân của Jefferson với đại đa số nô lệ trưởng thành làm việc trên những cánh đồng của ông. Trừ khi có tên trong sách kỷ lục của ông, nếu không thì họ đã biến mất trên thực tế. 54

Khi Jefferson gặp họ, thường là khi họ đang làm việc cho một trong những dự án xây dựng của ông hoặc học nghề trong xưởng làm đinh. Hầu hết những lần ông tiếp xúc mặt đối mặt với các nô lệ làm việc nặng nhọc đều xảy ra ở những bối cảnh phi nông nghiệp như xưởng làm đinh, xưởng cưa, công trường xây dựng xung quanh biệt thự, đây là những nơi ông giám sát họ như những công nhân đang làm những công việc có kỹ năng và đặc thù. Ngay cả xưởng làm đinh, với những âm thanh của dây chuyền lắp ráp đơn điệu và nhàm chán theo phong cách Dickens, cũng khiến ông nghĩ rằng công việc của những cậu bé nô lệ chính là kinh nghiệm học việc giúp họ có giá hơn trên thị trường. Có thể giải thích cho xu hướng có phần khiên cưỡng của Jefferson khi khởi động nhiều dự án cơ khí và xây dựng tại Monticello, đấy là những dự án không chỉ là chỗ để ông tiêu hao năng lượng của mình mà còn cho phép ông tạo một bối cảnh dễ chịu hơn để tương tác với những nô lệ của mình, coi họ như nhân công được thuê chứ không phải bị chiếm hữu.

Cuối cùng, tất cả những nô lệ làm việc trong gia đình, và hầu hết những người sống dọc Mulberry Row trên đỉnh núi, đều là thành viên của hai gia đình đã ở với Jefferson kể từ những ngày đầu tiên ông kết hôn với Martha. Họ được hưởng đặc quyền trong hệ thống phân cấp nô lệ tại Monticello, được cung cấp nhiều thức ăn và quần áo hơn, được di chuyển trong phạm vi rộng hơn đáng kể và thậm chí thỉnh thoảng được tùy ý lựa chọn hoặc từ chối công việc vào dịp nào đó. Great George và vợ là Ursula, hay còn được gọi là Vua George (một trò đùa về George III) và Hoàng hậu Ursula, là những nô lệ duy nhất có tên và thật sự quản lý gia đình. (Khi Jefferson yêu cầu Thomas Mann Randolph bảo với George Bé, con trai họ, làm một công việc cụ thể, Randolph đã khẳng định “Tôi chắc chắn George sẽ không nghe lệnh tôi”). Một gia đình nô lệ khác đông đảo hơn là Hemings, đứng đầu là nữ tướng Betty Hemings mà Jefferson đã được thừa kế cùng với 12 đứa con của bà từ cha vợ John Wayles, vào năm 1773. Một bí mật mà cả cộng đồng nô lệ tại Monticello đều biết: các đặc quyền mà gia đình Hemings được hưởng là do dòng máu lai của họ. Vài người con của Betty, có lẽ đến sáu người, gần như chắc chắn là con của John Wayles. Họ là một phần trong đại gia đình của Jefferson theo đúng nghĩa đen chứ không phải theo cách nói hoa mỹ bóng bảy. Tất cả những nô lệ mà cuối cùng được ông trả tự do chính là nhà Hemings, trong đó có Robert và James lần lượt vào hai năm 1794 và 1796. Nếu điều gây ấn tượng với những nô lệ khác ở Monticello chính là sự gần như độc lập của gia tộc Hemings với dòng máu liên quan đến bản năng người cha của Jefferson, thì điều khiến đa số du khách có xu hướng chú ý lại là màu da của họ. La Rochefoucauld-Liancourt đã miêu tả điều này vào năm 1796: “Tại Virginia có đông người da đen lai hơn ở Carolina và Georgia; và tôi đã thấy đặc biệt là tại những đồn điền của ông Jefferson, những nô lệ chẳng có mấy đặc điểm hay màu da của nguồn gốc ban đầu; nhưng vì mẹ của họ là nô lệ, nên họ cũng có tình trạng tương tự”. 55

Vì những thành viên của gia đinh Hemings là những nô lệ nổi bật tại Monticello, nên hầu hết bạn bè và du khách đến đỉnh núi này đều thấy chế độ nô lệ phiên bản Jefferson về căn bản là ít người da đen hơn và ít áp bức hơn chế độ nô lệ thông thường. Như đốc công Edmund Bacon nhớ lại, “không có Người da đen và mấy khu nhà phụ khác xung quanh biệt thự, như ta thường thấy ở những đồn điền [khác]”, cho nên việc bố trí bề ngoài như vậy cũng đã ngụy trang ý nghĩa thật sự về vấn đề nô lệ. Tóm lại, Jefferson đã tổ chức cộng đồng nô lệ của mình như vậy để ông có thể tương tác thường xuyên nhất với những người Mỹ gốc Phi, họ không bị đối xử như những nô lệ theo đúng nghĩa đen và thậm chí không giống như người châu Phi thuần chủng, bởi thực tế họ không phải như thế. Trong những cuộc gặp gỡ thường ngày và những tương tác thường lệ, ông ngày càng thấy mình giống một người thuê lao động và giám hộ gia trưởng hơn là một chủ nô. 56

Tương tự như vậy, nếu chế độ nô lệ là một thể chế kiểu gì cũng bị diệt vong vì nó chỉ biện hộ trên thực tế nhằm bảo tồn sự tách biệt của các chủng tộc cho đến ngày giải phóng vào một thời gian chưa xác định trong tương lai, thì xung quanh Jefferson có hàng loạt bằng chứng hùng hồn cho thấy nhiệm vụ này đã thất bại thảm hại. Gây giống lai tại Monticello rõ ràng là một sự nghiệp còn hưng thịnh hơn nhiều những cánh đồng lúa mì của ông. Một số người cháu của Betty Heming trông gần như người da trắng, minh chứng rõ ràng cho thấy việc lai giống mà John Wayles đã khơi mào chắc chắn không dừng lại ở đó. Mối ác cảm công khai của Jefferson đối với chuyện pha trộn sắc tộc bằng cách nào đó đã dàn xếp được với mọi minh chứng hiển hiện xung quanh ông. Về nghĩa nào đó, những gì ông thấy chỉ xác nhận nỗi sợ hãi sâu thẳm nhất nơi ông về sự pha trộn sắc tộc, mặc dù mật mã im lặng của ông đã khống chế việc không đề cập công khai vấn đề này. Dẫu ông hết sức né tránh, nhưng đây là một chủ đề chúng ta có thể chắc chắn ông luôn đau đầu, ngay cả khi ông không bao giờ nói về nó và được ghi chép lại. Sức thuyết phục trong sự im lặng của ông chính là bằng chứng hùng hồn nhất cho thấy Monticello giống như một chốn trần gian chứ không phải là một lý tưởng tưởng tượng. Nếu ngôn ngữ văn chương bóng bẩy có đủ khả năng để lột tả, thì chúng ta cần bỏ qua những áng thơ ca ngợi đồng quê của Virgil và bắt đầu suy ngẫm về sự hư cấu của William Faulkner.

KHIÊU VŨ PHONG CÁCH MADISON

James Madison có lẽ là người biết rõ Jefferson hơn bất cứ ai, và ngay từ đầu ông đã nhận ra ở sự cô lập tại Monticello hai sự thật Jefferson cần cùng chung sống hòa bình, ít nhất là trong tương lai gần: Thứ nhất, người cố vấn giàu kinh nghiệm và là cộng sự chính trị của ông cuối cùng đã quyết định nghỉ hưu, rút khỏi đời sống chính trị; do đó, ông lấy lại phần nào sự thanh thản nhờ vào việc duy trì ảo tưởng rằng ông gắn bó với chính trị mãi mãi. Thứ hai, khi thời gian trôi qua và những vết thương chính trị của ông được chữa lành, Jefferson sẽ cảm thấy khó khăn nếu tiếp tục đứng ngoài cuộc, nhất là khi sự nghiệp mà đã từng thôi thúc họ hợp tác xuất hiện nguy cơ. Vì vậy, ông đã trình bày tại phiên họp mùa thu của Quốc hội hồi tháng 10 năm 1794, “Đại tướng” được viện dẫn đã viết thư cho “Tổng tư lệnh” giả định rằng ông sẽ “luôn sẵn lòng nhận lệnh của cấp trên, và sẽ tiếp tục gửi thư báo cáo khi có sự vụ xảy ra”. 57

Đây thực chất là nối lại mối quan hệ cũ từ những năm ở Paris, với việc Madison gửi những báo cáo định kỳ từ chính trường ở Philadelphia và Jefferson nhận được chúng ở một nơi xa xôi khiến ông có thể yên tĩnh lắng nghe và đáp lại bằng chế độ thiền định ông ưa thích. Trong năm đầu tiên, Jefferson gần như hoàn toàn thờ ơ với những tin tức chính trị. Những báo cáo chi tiết của Madison về triển vọng cho ứng viên Đảng Cộng hòa trong bầu cử ở các bang khác nhau chỉ nhận được sự im lặng ngao ngán từ Monticello, cùng với lời nhắc nhở rằng ông thật sự không theo dõi những vấn đề như vậy nữa và đã dừng đọc báo dể không bị phiền lòng với những chuyện linh tinh. Khi Madison ghé qua cùng công hàm ngoại giao với những thắc mắc về đường lối thích hợp cho chính sách đối ngoại của Mỹ, Jefferson tỏ ra không quan tâm: “Ngài trả lời thế nào tôi cũng vui lòng. Nếu mùa màng của tôi luân canh, tôi sẽ tự trả lời, có lẽ dài dòng, nhưng chắc chắn vui vẻ ”. Hoặc khi Tổng chưởng lý Edmund Randolph viết thư hỏi liệu ông có thể sẵn lòng hỗ trợ nỗ lực đàm phán của Mỹ với Tây Ban Nha, Jefferson đã từ chối thẳng thừng: “Thưa Ngài kính mến, không chuyện gì có thể khiến tôi tham gia vào công việc xã hội nào nữa. Tôi đã nghĩ mình chắc chắn sẽ không thay đổi quyết định này khi tôi rời Philadelphia, rồi từng ngày và từng giờ trôi qua lại càng củng cố thêm quyết định ấy”. Cho dù bạn bè ông ở Philadelphia đã thầm nghĩ, nhiều kẻ thù của ông cũng thầm nói, ông sẽ mãi mãi gắn bó với chính trị. 58

Những vết rạn nhỏ đầu tiên trong quan điểm cứng rắn này bắt đầu xuất hiện vào mùa đông năm 1794-1795. Trong mùa hè trước đó, một cuộc nổi dậy quần chúng đã nổ ra tại bốn hạt phía tây Pennsylvania, buộc Washington phải huy động lực lượng dân quân. Các phiến quân đã phản đối việc thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với rượu whiskey do Hamilton chủ trương để liên bang có tiền chi trả cho các khoản nợ của bang vào năm 1791. Nông dân miền Tây thấy khoản thuế này bất công vì nó làm giảm đáng kể việc kinh doanh mặt hàng xuất khẩu được nhiều nhất của họ - whiskey là thứ bán chạy nhất trên thị trường nông sản của họ - và một đội quân tự xưng gồm 7.000 phiến quân whiskey đi diễu hành rầm rộ qua Pittsburgh ở biên giới để phản đối. Thậm chí quân đội liên bang còn phô diễn rầm rộ hơn với gần 13.000 quân, đã nhanh chóng dập tắt cuộc nổi loạn và với bạo lực tối thiểu. Jefferson có xu hướng xem toàn bộ vụ việc là một sự lặp lại đáng xấu hổ Cuộc nổi dậy thất bại của Shays, trong đó những nông dân Mỹ bình thường đã thể hiện sự bất mãn quần chúng rất lớn một cách khá vô hại, nhưng chính phủ lại có phản ứng quân sự mang tính đàn áp hơn so với yêu cầu của tình hình. Tuy nhiên, ông kiềm chế không đưa ra bất kỳ bình luận nào trong suốt mùa thu năm 1794, cho dù Madison để nghị ông lên án những gì được cho là phản ứng thái quá của chính phủ. 59

Thứ đã kéo ông tham gia vào cuộc tranh luận là phát biểu của Washington trước Quốc hội sau Cuộc nổi loạn Whiskey, tố cáo “các hội nhóm tự sinh nhất định” là những tổ chức tìm cách lật đổ, kích động bất mãn và coi thường thẩm quyền của chính phủ hợp pháp. Việc Washington công kích cái gọi là các hội nhóm Dân chủ-Cộng hòa khiến Madison phải rung chuông cảnh báo trước sự thanh thản nơi thôn dã đang bao quanh người bạn mình tại Monticello. Madison nói, phát biểu của Washington là một “đòn tấn công vào nguyên tắc thiêng liêng nhất trong Hiến pháp và Chủ nghĩa cộng hòa của chúng ta”, và chắc chắn đã được Hamilton khéo léo dàn dựng để liên kết các nhà chỉ trích thuộc phe Cộng hòa trong chính phủ của Đảng Liên bang với whiskey và cuộc nổi loạn. Madison ngửi thấy một âm mưu theo kiểu mà Jefferson đã thường xuyên cảnh báo, “những kẻ theo chủ nghĩa quân chủ” ẩn mình trong cơ quan hành pháp của chính phủ dàn dựng để tước quyền tự do của “nhân dân”. Đó là vấn đề cấp thiết đến mức Jefferson bừng tỉnh từ hang ổ của mình và tham gia vào cuộc chiến: “Nếu người dân Mỹ đang thoái hóa đến mức không nhận ra… rằng Thành trì tự do của họ bị đe dọa bởi tiền lệ ngay trước mắt mình, thì họ cần phải có những người ủng hộ khả dĩ hơn những người họ đang có, để cứu họ thoát khỏi những hậu quả”. 60

Về cơ bản Jefferson đã có động thái, nhưng ông vẫn chưa rục rịch. Madison đánh giá hoàn toàn chính xác về những gì đã diễn ra. Jefferson đồng ý rằng: “Việc tố cáo các hội nhóm dân chủ là một trong những hành vi liều lĩnh bất thường mà chúng ta đã thấy rất nhiều từ phe Quân chủ”. Washington rõ ràng chỉ là một chỗ dựa cho những tham vọng chính trị của Hamilton; phát biểu của Tổng thống khiến ông nhớ lại “những mẩu truyện ngụ ngôn của Aesop và Tom Thumb”, bằng chứng rõ ràng cho thấy Tổng thống không hề tự viết bài phát biểu. Nhưng rồi một bất ngờ xuất hiện và ít nhất là Madison cũng đã được quan tâm, một sự đảo chiều bất ngờ:

Tiếp tục đi, bạn thân mến… Trong tâm trí của những người tôi cùng trò chuyện, tôi không thấy nỗi ưu phiền nào lớn hơn nỗi sợ hãi về việc nghỉ hưu của ngài; nhưng điều này sẽ không hẳn là thế, nếu như có một bài viết hay và hiệu quả hơn. Tôi nên vui mừng khi thấy ngài… Nhưng tôi phải thật tế nhị giữ im lặng. Có lẽ tôi phải nói rằng, trong khi tôi sẽ không từ bỏ sự nghỉ hưu của mình để xây dựng đế chế của Vũ trụ, thì làm thế nào tôi có thể biện minh cho việc yêu cầu một người cũng dành nhiều tình cảm cho tôi như ngài tham gia vào cuộc chiến vì sự an toàn của tôi.

Đây là một cách gián tiếp lịch thiệp từ chối lời đề nghị ông chấm dứt nghỉ hưu, cũng như đề nghị Madison đảm nhận hoàn toàn sự nghiệp của Đảng Cộng hòa và chuẩn bị chạy đua vào ghế tổng thống. Mặc dù có lay động trước những tin tức từ Philadelphia, nhưng ông vẫn muốn Madison biết rằng, dù thích hay không, thì ngọn đuốc đã được trao vào tay ông ấy. 61

Cho dù Jefferson nói ra điều ông nghĩ, thì cuộc tranh luận về những hội nhóm Dân chủ-Cộng hòa đã khuấy động lại những vấn đề cũ. Những bức thư của ông trong nửa đầu năm 1795 chứa đầy những lời bóng bảy công kích chính trị xen lẫn những đoạn kể lể dài dòng hơn về vụ lúa mì của mình và thời tiết. Ông viết cho William Branch Giles rằng việc sử dụng quân đội liên bang “để ngăn chặn quyền tự do gặp nhau của công dân chúng ta” đã báo hiệu một sự thay đổi mang tính quyết định sang hướng chuyên chế “sớm hơn cả một thế kỷ so với tôi dự kiến”. Ngay cả Washington, người đã thoát khỏi sự chỉ trích trực tiếp vì giả thuyết đáng ngờ rằng Hamilton đã thao túng lời lẽ và quyết định của ông, bây giờ cũng bị công kích: Washington đã cấp cho Hamilton “quyền có thể làm quá nhiều điều tốt nhưng cũng không đủ để bù đắp nổi thiệt hại”. Cần nhắc lại, những sự bùng phát chính trị này thường xảy ra giữa bối cảnh suy tư ôn hòa và triết lý hơn trong tâm trạng điền viên và những quyết tâm vững chắc mãn nguyện với thôn quê. Những lá thư gửi Madison có lẽ là sự phản ánh chính xác nhất trạng thái tâm lý phức tạp của Jefferson vào thời điểm này; ông yêu cầu sao chép những thư từ trước đây với Edmond Genet khi ông là Ngoại trưởng, ngay sau đó lại đòi cuốn sách nhỏ mới nhất về luân canh, thông tin về cuộc bầu cử Hạ viện từ các quận của Virginia, sau đó là đoạn bình luận dài về khả năng tuyệt vời của đậu tằm trong việc khôi phục độ màu mỡ cho đất ở mảnh đất hoang trên những cánh đồng thuốc lá cũ của mình. Nhà triết học-nông dân về hưu hạnh phúc đang đấu tranh với nhà lãnh đạo lưỡng lự nhưng sẵn sàng của Đảng Cộng hòa ở một mức độ tiềm thức nào đó trong nhân cách Jefferson. Nhưng ông thích duy trì mâu thuẫn ngầm, vô hình, thậm chí với chính mình, tất cả những điều tốt hơn để duy trì điều để lại ấn tượng chi phối: rằng ông vẫn miễn dịch với sự cám dỗ chính trị. 62

Nếu tìm kiếm một thời điểm chính xác khi những mối quan tâm đến chính trị của Jefferson bắt đầu chiến thắng trong cuộc đấu tranh nội tâm, một lựa chọn tốt sẽ là ngày sau Lễ Giáng sinh năm 1795. Vào ngày đó, ông gửi 8 đô-la cho Benjamin Franklin Bache để đặt mua một năm tờ Aurora của Bache, một tờ báo hàng đầu của Đảng Cộng hòa. Trong khi chưa sẵn sàng bước vào tranh luận công khai, ông đã chuyển sang thừa nhận rằng ông muốn theo dõi nó. 63

Nhưng tất nhiên, những tiến triển của Jefferson hướng tới việc nối lại sự nghiệp chính khách của ông là một quá trình lâu hơn một chút. Tốc độ bình luận về chính trị của ông đã làm số lượng thư từ của ông tăng nhanh vào cuối năm 1795 và đầu năm 1796, đó cũng là thời điểm ông dốc toàn lực phá dỡ Monticello, cho thấy là ông hoàn toàn có khả năng xoay chuyển nhiều lựa chọn cho cuộc sống tương lai của mình mà chẳng có bất kỳ mâu thuẫn nào. Lúc này, xuất hiện tin tức về Hamilton trên báo chí: Ông ta đã công bố quyết định rút khỏi nội các; Quốc hội nhanh chóng tiến hành một cuộc điều tra về những bất thường trong sổ sách kế toán tại văn phòng của ông ta. Bất cứ điều gì có khả năng liên quan đến Hamilton đều thu hút sự chú ý của Jefferson - ông vô cùng ghét con người này - và cuộc điều tra đó dường như đã bí mật trao cho riêng Jefferson những nỗ lực để tóm được việc Hamilton gian lận sổ sách từ ba năm trước đó: “Tôi không hề ngạc nhiên trước tình trạng tài chính của Mỹ hiện nay”, ông viết cho Madison. “Mục tiêu của Hamilton ngay từ đầu là để ném chúng vào những bảng biểu mà sẽ khiến không ai giải mã nổi. Tôi thậm chí cho rằng chính ông ta cũng không hiểu được tình trạng của chúng”. 64

Những nhận xét của Jefferson chỉ trích về sự mập mờ tài chính của Hamilton là rất mỉa mai, rằng những bảng biểu này nếu đến từ một người vốn có ghi chép tỉ mỉ về tài chính cá nhân trong sổ sách, thì dường như không bao giờ có thể tạo ra được một sự tô trát thực tế với những ngôn từ như vậy. Chúng cũng lôi kéo sự chú ý tới vấn đề khác có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ của Jefferson về sự trở lại chính trường vào thời gian này ở một mức độ chưa vượt quá sự cân nhắc kỹ lưỡng có ý thức của ông, nhưng cũng gây áp lực đối với hiểu biết hạn chế của chúng ta về những nguồn động lực vô lý ở con người nói chung.

Sự nghi ngờ sẵn có của Jefferson với phong cách tiêu xài phóng túng của Hamilton chỉ làm cho nghi ngờ ấy càng sâu sắc hơn, rằng ý định thật sự của Hamilton chính là khiến nợ công gia tăng để biện minh cho việc bành trướng quyền kiểm soát liên bang về kinh tế, bao gồm cả kiểm soát thuế, thao túng lãi suất tín dụng và thiết lập mọi khoản trợ cấp của một quốc gia-dân tộc hiện đại giống kiểu Anh. (Ở điểm này, ông không sai lắm). Sau đó, nợ là công cụ quan trọng để có thể thực hiện được toàn bộ kế hoạch của Hamilton. Vì vậy, nếu Jefferson trở lại chính trường, một trong những ưu tiên cao nhất của ông sẽ là giảm bớt và xóa bỏ nợ công. Nhưng nỗi ám ảnh với nợ công đã khép lại cùng với những khoản nợ cá nhân của ông theo phong thái ung dung của riêng mình. Chỉ riêng cách phân biệt đáng ngạc nhiên này giữa thói quen cá nhân và chính sách công xảy ra thực tế trong con người Jefferson đã vô cùng khó nắm bắt, mặc dù rõ ràng đó là nghịch lý với công việc. Xét trên cấp độ cá nhân, sổ sách kế toán khó hiểu của Jefferson có thể khiến ông có niềm tin sai lầm rằng vấn đề nợ của mình vẫn trong tầm kiểm soát. (Nó rõ ràng không đúng, và quyết định xây dựng lại Monticello đã giúp khẳng định nợ ấy sẽ không bao giờ kiểm soát được). Có thể thấy ông sắp quyết định chấm dứt việc nghỉ hưu và trở lại chính trường như một cách trốn chạy khỏi vấn đề nợ cá nhân có vẻ khó khắc phục của mình; ông sẽ giải quyết công khai những gì ông không thể giải quyết riêng. Cho dù mô hình tương tác như thế nào, thì có vẻ như công bằng khi nói rằng vấn đề nợ đã ám ảnh ông ở cả hai cấp độ, khiến việc căm ghét Hamilton trong ông tăng lên do nỗi niềm lo âu cá nhân mà chính bản thân ông không hiểu rõ, và quá trình suy nghĩ về việc trở lại với đời sống xã hội liên quan đến một sự pha trộn phức tạp giữa những cân nhắc về tình cảm và ý thức hệ. 65

Sự kiện quyết định trong quá trình đó rõ ràng và dễ nhận biết hơn, đó là việc thông qua Hiệp ước Jay, đây đồng thời là một dấu mốc trong việc định hình chính sách đối ngoại Mỹ, một ảnh hưởng quyết định đối với vấn đề hiến pháp của cơ quan hành pháp trong các công việc đối ngoại và là dịp để Jefferson quay lại vị trí lãnh đạo Đảng Cộng hòa. Nếu Jefferson nghiêng về việc trở lại với những cuộc chiến chính trị ở Philadelphia, trong khi vẫn luôn tuyên bố chuyện nghỉ hưu của mình là mãi mải và đúng từng từ một, thì trận chiến về Hiệp ước Jay đã kéo ông ra khỏi chuyện nghỉ hưu và kết thúc mọi sự giả vờ còn sót lại của một đại diện phong cách Ciceron trong nền chính trị Mỹ. Việc thông qua Hiệp ước Jay là một thắng lợi lớn cho phe Liên bang, nhưng chính Jefferson hiểu rõ hơn ai khác, rằng đó là một chiến thắng khiến đối thủ của ông không bao giờ có thể hồi phục hoàn toàn. Nó trở thành bệ phóng của chiến dịch vận động tranh cử tổng thống rốt cuộc sẽ thành công của ông. 66

Câu chuyện này bắt đầu từ những tháng đầu năm 1795. Madison gửi báo cáo về Monticello rằng các điều khoản của hiệp ước mà John Jay thương lượng với Anh vẫn còn trong vòng bí mật, nhưng phe Liên bang với thông tin nội bộ “không dám phỏng đoán không khí chiến thắng”, từ đó “có thể suy ra là việc thương lượng sẽ ít có lợi cho chúng ta hơn so với mong đợi…” Sẽ là sai lầm nếu vội xét đoán, ông cảnh báo, “nhưng tôi nghi ngờ rằng Jay đã bị đánh lừa bởi sự lo lắng của mình về việc nối kết chúng ta với Anh và tránh dính líu bằng mọi cách”. Ở giai đoạn đầu của câu chuyện, Jefferson từ chối cắn câu. Trong những thư gửi Madison, ông không hề đề cập những tác động đáng ngại của Hiệp ước Jay, thay vào đó lại đưa ra một đề nghị hơi kỳ lạ về việc chuyển trường Đại học Geneva đến Virginia, yêu cầu chuyển hộ một bức thư tới họa sĩ ngoài trời mà có thể sẽ vẽ trên những bức tường mới của Monticello, và trổ tài hùng biện về đậu tằm như một vụ luân canh lý tưởng. 67

Nỗi sợ hãi của Madison về các điều khoản của hiệp ước dường như không thể chính đáng hơn, vì ông hiểu được những nội dung rò rỉ từ các phiên họp đặc biệt của Thượng viện kêu gọi bỏ phiếu ủng hộ hiệp ước vào mùa hè năm 1795; sau đó nó lan rộng, như Madison nói, “với vận tốc dòng điện đến mọi khu vực trong Liên bang”. Phản ứng ban đầu của công chúng gần như là hoàn toàn tiêu cực. John Jay sau đó tuyên bố toàn bộ bờ biển phía Đông của Mỹ đã được soi sáng mỗi tối nhờ ánh lửa đốt cháy những bức chân dung của ông. Dư luận cho rằng phe Cộng hòa phải chịu trách nhiệm về việc Jay đã phản bội danh dự cũng như lợi ích của Mỹ để đổi lấy chút ít bảo trợ từ Anh. Tại New York, Alexander Hamilton đã bị giáng một đòn đau và buộc phải rút lui trong khi đang cố gắng giải quyết sự phản đối hiệp ước, và dân quân địa phương để xuất giả vờ chúc mừng Jay và Thượng nghị sĩ Rufus King của Đảng Liên bang: “Có thể chiếc lồng được tạo ra để bắt con đại bàng Mỹ đã chứng minh cái bẫy chính là dành cho Jays và Kingbirds”. 68

Phản ứng đầu tiên của Jefferson kết hợp sự phẫn nộ với lời hô hào. Ông lại bắt đầu ra lệnh. Madison phải chiến đấu với Hamilton, người đã đốt nóng báo chí với những bài xã luận nhân danh hiệp ước. “Hamilton thật sự là một người khổng lồ đối với phe chống cộng hòa. Không cần nhiều người, bản thân ông ta đã là một đạo quân. Họ đã tự đưa mình vào hẻm núi, nơi họ có thể thiệt mạng, nhưng an ninh chặt chẽ của Đảng Cộng hòa sẽ cho tài năng của ông ta thêm thời gian… Chúng ta chỉ có những màn chống đối thông thường dành cho ông ta. Sự thật, khi ông ta tiến về phía trước, không có ai ngoại trừ chính ngài có thể ngang cơ với ông ta”. Monticello sớm bắt đầu có chức năng như trụ sở cho chiến dịch chống lại hiệp ước của phe Cộng hòa. Madison đã kéo dài chuyến thăm đến đỉnh núi trong tháng 10 năm 1795 để lập chiến lược chống đối hiệp ước trong Hội đồng lập pháp Virginia, một loại diễn tập cho cuộc tranh luận dự kiến tại Quốc hội Liên bang vào năm sau. Ông để lại cho Jefferson bản sao duy nhất “Ghi chép về những tranh luận tại Hội nghị Lập hiến” của ông, một tín hiệu rõ ràng cho thấy Jefferson cần phải nắm vững các vấn đề về hiến pháp, mà sẽ trở thành trọng tâm trong quan điểm của phe Cộng hòa ở cuộc tranh luận Quốc hội về việc phê chuẩn. “Sự hợp tác tuyệt vời” ngày nào giờ đây đã trở lại và vận hành theo lối quen thuộc. Trong suốt mùa thu, thư từ bắt đầu gửi đi đều đặn từ Monticello, tập hợp sự ủng hộ dành cho Đảng Cộng hòa xung quanh quan điểm cho rằng Hiệp ước Jay là “thật sự không hơn gì một hiệp ước liên minh giữa Anh và người sùng Anh ở đất nước này để chống lại cơ quan lập pháp và nhân dân Mỹ”. 69

Thật vậy, nếu các vị thần đã thấy cần đưa ra một tuyên bố duy nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ nhằm thổi bùng lên mọi nỗi sợ hãi sâu thẳm nhất và những hận thù cố hữu nhất của Jefferson, thì họ không thể nào làm tốt hơn Hiệp ước Jay. Nó chấp nhận thực tế về uy thế thương mại và hải quân của Anh, qua đó xác nhận một phiên bản thân Anh của tính trung lập Mỹ, chỉ đối lập với phiên bản “trung lập công bằng” thân Pháp của Jefferson. Nó bác bỏ nỗ lực của Jefferson trong vai trò Ngoại trưởng Mỹ để áp thuế nhập khẩu đối với hàng hóa Anh đồng thời chấp nhận quyền của Anh trong việc giữ nguyên thuế nhập khẩu với hàng hóa Mỹ. Cuối cùng, nó cam kết Mỹ sẽ trả cho các chủ nợ Anh những khoản nợ lớn trước cách mạng, hầu hết trong đó là nợ của các chủ đồn điền Virginia. Theo quan điểm Jefferson, đặc điểm tích cực duy nhất của nó là thỏa thuận tuân thủ cam kết được đưa ra vào năm 1783, giải tán quân đội Anh tại các nơi đóng quân của họ trên biên giới phía tây, nhưng ngay cả việc nhượng bộ đơn thuần cũng chỉ cho thấy thiện chí thực hiện những yêu cầu cách đó đã lâu trong Hiệp ước Paris. Hơn nữa, những người ủng hộ chính của hiệp ước là những thương gia và chủ ngân hàng của các thành phố cảng trên nước Mỹ. Và người phản đối hiệp ước mạnh mẽ nhất chính là Alexander Hamilton. Thực tế, như Jefferson nhận thấy, Hiệp ước Jay là một sự phủ nhận Tuyên ngôn Độc lập, liên minh Pháp-Mỹ, phong trào cách mạng quét qua châu Âu và tất cả nguyên tắc chính trị mà ông đã đặt cược sự nghiệp chính trị của mình với tư cách là một chính khách Mỹ.

Với tất cả những lợi thế của việc biết trước kết quả xảy ra, những thế hệ các sử gia sau này không nhìn thấy bức tranh giống như Jefferson đã thấy. Với cái nhìn công bằng hơn, hậu thế đồng thuận rằng Hiệp ước Jay là một thỏa thuận thực tế giúp tránh được một cuộc chiến với Anh vào thời điểm Mỹ không hề có sự chuẩn bị tốt cho chiến đấu. Nó đã khiến xung đột Anh-Mỹ tạm ngưng một cách hiệu quả, điều mà trong sâu thẳm Jefferson cảm thấy là không thể tránh khỏi cho đến năm 1812, khi Mỹ đã mạnh hơn về kinh tế và ổn định hơn về chính trị. Trong tầm nhìn thậm chí xa hơn, nó đã liên kết việc phát triển an ninh và kinh tế của Mỹ với hạm đội Anh nhằm có được một lá chắn bảo vệ đầy giá trị trong suốt thế kỷ 19. Trên thực tế, nó đã đặt cược Anh thay vì Pháp như một cường quốc bá chủ châu Âu trong tương lai. Do đó, nó bác bỏ giả định Jefferson cho rằng Anh là một lực lượng phản cách mạng cố hữu đang trên đà đi xuống của lịch sử. 70

Tất nhiên, không có nhận thức nào về lịch sử có sẵn cho Jefferson, ông đã bị cuốn vào một cuộc tranh cãi đang diễn ra khiến niềm tin chính trị mà ông coi trọng nhất gặp rủi ro, và khiến mọi lời hứa về việc sống ẩn dật nơi thôn dã mà ông tự cam kết với chính mình trở thành như tàn tích ký lạ của một thời đã qua. Madison cố gắng cảnh báo những gì định mệnh đã sắp đặt sẵn cho ông: “Ông nên tự chuẩn bị để lắng nghe chân lý, thứ sẽ không thể bẻ cong được”. Nói dễ hiểu hơn, điều này có nghĩa là Jefferson, chứ không phải Madison, đã được Đảng Cộng hòa đồng thuận lựa chọn để kế nhiệm Washington làm Tổng thống. Bây giờ Hiệp ước Jay đã mang tới cho phe Cộng hòa một vấn đề vốn đã làm mất uy tín của phe Liên bang, và giờ thì chắc chắn Washington sẽ nghỉ hưu sau hai nhiệm kỳ, và sự trở lại chính trường của Jefferson có ý nghĩa vô cùng to lớn. Trong những bức thư mã hóa gửi cho Monroe ở Pháp, Madison giải thích là “ phe cộng hòa biết rằng chỉ bằng cách thúc đẩy Jefferson mới có thể nhen nhóm hy vọng thành công ”. Vào đầu mùa xuân năm 1796, cho dù ông có biết điều đó hay không, thì ông cũng đã trở thành người cầm cờ của Đảng Cộng hòa. 71

Điều này không có nghĩa là Jefferson chính thức tuyên bố ứng cử tổng thống; không có chính khách tự trọng nào thời ấy làm điều đó. Điều này có nghĩa rằng ông chỉ quên đưa ra một tuyên bố rút lui công khai. Nhưng vì Jefferson không cho phép suy nghĩ về việc ứng cử tồng thống len lỏi vào tâm thức mình, mặc dù nó đã được bàn tán trong khắp mạng lưới của Đảng Cộng hòa và một số tờ báo, ông thật sự không có lý do để tuyên bố rút lui. Madison hiểu hệ thống phức tạp của những công tắc nội bộ mà Jefferson có thể tắt và bật rất khéo léo. Vì thế, ông hiểu sự hợp tác lớn đáng ghi nhận chính là ý định trở lại chính trường của Jefferson phụ thuộc vào việc duy trì sự hư cấu rằng điều này sẽ không bao giờ xảy ra. Mặc dù Madison đã dành cả mùa hè và đầu mùa thu năm 1796 tại Montpelier, chỉ cách Jefferson một vài dặm, ông đã chọn cách không đến thăm người thầy của mình tại Monticello vì sợ bị lôi vào cuộc hội thoại khiến cơ chế từ chối của Jefferson bị đảo lộn. “Tôi chưa gặp Jefferson”, ông viết cho Monroe bằng ngôn ngữ mã hóa, “và nghĩ rằng đó là cách tốt nhất để cho thấy ông ấy không có cơ hội phản đối người bạn của mình tham gia cuộc đua này ”? 72

Điệu nhảy tâm lý này được hưởng lợi từ việc cho phép Jefferson khiêu vũ trở lại trong đời sống xã hội mà không hề biết rõ điều gì đang xảy ra. Mặt khác, vì ông vẫn chưa thừa nhận với chính mình rằng những nhận xét của ông chỉ là nhận xét của một công dân cá nhân, nên ông không cảm thấy có trách nhiệm với bất cứ ai ngoại trừ bản thân, hoặc tiếp thu bất kỳ nhu cầu nào cần được bảo vệ trong thư từ của ông. Tuyên bố gây tổn hại nhất mà ông viết trong một lá thư gửi cho người bạn Y Philip Mazzei vào tháng 4 năm 1796 đã dẫn tới việc kết thúc mối quan hệ thân mật của ông với Washington khi báo chí Mỹ vớ được bức thư này vào năm sau đó: “Ngài chắc hẳn sẽ phát sốt khi tôi kể tên những người bỏ đạo và trở thành dị giáo, những người Samson trên đồng ruộng và những người Solomon trong hội đồng, nhưng đã bị con điếm Anh cạo đầu… Chúng ta chỉ cần thức tỉnh và nắm lấy những sợi dây những người tí hon Lilliput đang quấn quanh chúng ta trong giấc ngủ đầu tiên sau những công việc nặng nhọc”. 73 Như tất cả mọi người tại thời điểm đó giả định, nếu Samson là George Washington và ám chỉ cạo đầu là một nhận xét về việc ông ủng hộ Hiệp ước Jay, thì lá thư của Jefterson hiển nhiên vừa không công bằng lại vừa vô cùng thất sách. Theo tính cách đặc trưng, ông tuyên bố rằng phiên bản in trên báo chí Mỹ đã bóp méo ý nghĩa thật sự trong lá thư của ông do bản dịch tồi trên báo chí Ý, nơi lần đầu tiên nó xuất hiện. Nhưng sự thật đơn giản là những ý kiến của ông không hề bị vô tình bóp méo trong bản dịch, mà cũng không phải là một phút lầm lạc như một số người viết tiểu sử sau này tuyên bố. Đây là cách nhìn thật sự của ông với đối thủ chính trị của mình vào thời điểm đó, như những người bỏ đạo và dị giáo và như những kẻ phản bội sự nghiệp độc lập của Mỹ. Những ranh giới đạo đức là rõ ràng và tinh khiết. Những màu sắc là đen và trắng. Tâm trí ông không mảy may cho rằng người đàn ông trung thực và nguyên tắc có thể không đồng ý một vấn đề mang tính bước ngoặt như Hiệp ước Jay và đòi hỏi sự thật phải có lợi cho cả hai bên.

Ông cũng đưa ra một số ý kiến mở về những vấn đề hiến pháp được nêu lên trong các cuộc tranh luận về Hiệp ước Jay rằng ông sẽ gần như chắc chắn có thể tránh được nếu ông ở tư thế phòng thủ. Madison đã cho ông mượn bản sao “Ghi chép về những tranh luận tại Hội nghị Lập hiến” vào mùa thu năm 1795, vì rõ ràng rằng chiến lược của Đảng Cộng hòa sau đó nhằm ngăn chặn sự thông qua Hiệp ước Jay phụ thuộc vào việc tranh luận vấn đề này ở Hạ viện, nơi Đảng Cộng hòa chiếm đa số; điều này đòi hỏi xử lý khéo léo về mặt hiến pháp vì quyền ký kết hiệp ước nằm trong tay Tổng thống và Thượng viện. (Thật sự, xem xét “Ghi chép về những tranh luận” của Madison tiết lộ chính Madison đã từng là một trong những người phản đối kiên định nhất việc vi phạm quyền hành pháp trong chính sách đối ngoại tại Hội nghị Lập hiến). Giải pháp táo bạo và thẳng thừng của Jefferson trước tình trạng khó xử này là tuyên bố rằng “lý thuyết thật sự của hiến pháp chúng ta” trao cho các đại diện được bầu ở Hạ viên một sự chia sẻ quyền lực ngang bằng với Tổng thống và Thượng viện liên quan đến các hiệp ước. Bởi ông coi Hạ viện là cơ quan dân chủ nhất trong Chính phủ, có những mối quan hệ chặt chẽ với dư luận, “các đại biểu cũng có quyền như Tổng thống và Thượng viện khi xem xét liệu lợi ích quốc gia có đòi hỏi hoặc cấm họ đưa ra những hình thức và sức mạnh luật pháp cho những điều khoản mà họ có thẩm quyền”. Thật vậy, Jefferson cho rằng để phản đối Hạ viện, vai trò kiểm soát phải được chuyển từ người dân Mỹ sang “bất kỳ thủ lĩnh nào của các chủng tộc Da đỏ, Algerine, v.v.” Ông thậm chí đã đi xa hơn khi nói với Monroe rằng với ông không thành vấn đề trong việc chuyển đổi trách nhiệm chính cho Hạ viện phê duyệt tất cả các điều ước quốc tế và “xóa bỏ toàn bộ hiệp ước trao quyền [cho cơ quan hành pháp], ngoại trừ việc lập lại hòa bình”. 74

Đây là những quy định cực đoan mà nếu thực hiện nghiêm túc, hẳn sẽ ném chính sách đối ngoại Mỹ vào vạc dầu chính trị trong nước mỗi dịp tranh cãi. Chúng trái ngược với lập luận hiến pháp chặt chẽ và cẩn trọng hơn của Madison, đã trở thành quan điểm chính thức của Đảng Cộng hòa, rằng Hạ viện có thể ngăn chặn việc thông qua Hiệp ước Jay vì một số quy định cần có tiền mới thực hiện được và Hạ viện là cơ quan thích hợp để quyết định mọi hóa đơn tiền bạc. Madison cẩn trọng hơn khi không tấn công trực diện vào quyền hành pháp nhưng vẫn đạt được mục tiêu mong muốn là cho phép đa số thành viên Cộng hòa tại Hạ viện nắm giữ Hiệp ước Jay làm con tin. Quan điểm cực đoan hơn của Jefferson lại phản ánh thái độ ung dung hơn của ông về vấn đế hiến pháp nói chung. Không giống như Madison, vốn đưa ra đánh giá sâu sắc rằng Hiến pháp như là một sự sắp xếp đan xen khéo léo các nguyên tắc và quyền hạn có ảnh hưởng vĩnh viễn đến những thế hệ tương lai, Jefferson có xu hướng xem nó đơn thuần là một thỏa thuận thuận tiện về các tổ chức chính trị, không nên ràng buộc các thế hệ tương lai hoặc ngăn chặn khả năng thảo luận về mọi quyền lực chính trị - dư luận - ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ. Những nhận xét ngẫu hứng của ông vào mùa xuân năm 1796 giữa lúc cuộc tranh luận về Hiệp ước Jay đang lên cao chỉ có ý nghĩa rằng Jefferson thường để lại những vấn đề hiến pháp cho Madison xử lý khéo léo. Nhưng chính xác là do ông không cảm thấy có nghĩa vụ phải đưa ra ý kiến của mình thông qua Madison, tuyên bố của ông phản ánh chính xác hơn ý chí mãnh liệt nhằm uốn cong các luận cứ của hiến pháp để phục vụ những gì ông coi là mục đích cao hơn, trong trường hợp này là đánh bại liên minh phản cách mạng với Anh. Làm lệch cán cân hiến pháp tinh tế hoặc thiết lập những tiền lệ nguy hiểm không khiến ông nao núng trong những khoảnh khắc như vậy. 75

Madison đóng vai trò đạo diễn cho phe Cộng hòa trong cuộc tranh luận tại Hạ viện, đó là lần đầu tiên họ gặp nhau trong phiên họp kín với tư cách một đảng đối lập - và ông đã bị sỉ nhục khi đa số phe Cộng hòa tan biến hết. John Adams nhận xét rằng: “Trông ông Madison lo lắng như sắp chết. Nhợt nhạt, tiều tụy, hốc hác”. Khi cuộc bỏ phiếu chính thức diễn ra vào cuối tháng 4 năm 1796, Madison cho rằng phe Liên bang chiến thắng sát nút là nhờ âm mưu nơi đô thị của “các ngân hàng, nhà buôn Anh, các công ty bảo hiểm”. Sự thật thì số phiếu thay đổi ý kiến là của các đại diện miền Tây, các cử tri đã quyết định ủng hộ hiệp ước vì việc quân đội Anh rút khỏi vùng biên giới đã hứa hẹn khả năng định cư tại thung lũng Mississippi. Madison thông báo với Jefferson rằng “nỗ lực và ảnh hưởng của giới quý tộc, phe thân Anh, và chủ nghĩa trọng thương” đã kết hợp để “áp đảo sự nghiệp Cộng hòa, [và] khiến nó rơi vào tình trạng lụn bại…” Thảm họa này quá lớn và quá bất ngờ, đến mức như Madison giải thích sự bàng hoàng của mình với Jefferson, “niềm an ủi của tôi… là qua đó, họ chú ý đến những mục đích tương lai của tôi”. Ông đã bị gạt ra ngoài cuộc chơi và sẵn sàng nghỉ hưu. 76

Jefterson, với lợi thế khi quan sát thất bại này từ Monticello, đã có một đánh giá khác hẳn và sắc sảo hơn về mặt chính trị. Ông nói cho Monroe ở Pháp biết lý do cơ bản khiến Đảng Liên bang chiến thắng chính là uy tín vĩ đại của Washington, “một người có ảnh hưởng hoàn toàn với nhân dân” và việc họ ủng hộ Hiệp ước Jay cuối cùng đã cho thấy còn quá nhiều điều phải vượt qua. Kết luận của Jefferson mang tính tiên tri sắc sảo:

Cuối cùng người sùng Anh đã ký kết được hiệp ước, và do đó đã giành chiến thắng trước sự nghiệp của chủ nghĩa cộng hòa. Tuy nhiên, chiến thắng này đã được trả bằng cái giá khá đắt… và chắc chắn họ sẽ vui mừng khi lại được đặt chân trên mảnh đất họ từng sở hữu ngay trước khi Jay được bổ nhiệm vào chức vụ đặc biệt. Họ thấy không gì có thể hỗ trợ họ ngoại trừ ảnh hưởng to lớn của Tổng thống với nhân dân, và vào lúc ông ấy nghỉ hưu, người kế nhiệm ông ấy, nếu là một Nhà độc tài, sẽ bị ý thức cộng hòa đè bẹp… Trong khi đó, hãy kiên nhẫn. 77

Hơn cả Madison, Jefferson thậm chí thường có khuynh hướng coi bất kỳ thành công nào của phe Liên bang là kết quả của tham nhũng và âm mưu. Sau tất cả, nếu đại đa số công dân bị cáo buộc chống đối một chính sách cụ thể, và chính sách đó vẫn giành chiến thắng, thì lời giải thích hợp lý nhất chính là thuyết âm mưu. Những gì Jefferson thấy rõ ràng trong việc khơi dậy cuộc tranh luận về Hiệp ước Jay, và Madison chỉ đơn giản là tham gia quá sâu vào việc thông báo, chính là những giải pháp về vấn để phát sinh do hiệp ước đã được một loại hình chính trị mới giải quyết, trong đó cả hai bên công nhận rằng thành công phụ thuộc vào việc thu hút được dư luận. Tầm ảnh hưởng mạnh mẽ gần như không thể vượt qua của Washington đã giúp phe Liên bang cán đích trong cuộc thi đặc biệt này. Nhưng một khi trò chơi đã được định nghĩa theo những điều khoản đó - có nghĩa là, một khi chủ nghĩa cộng hòa trở nên dân chủ hơn trong đặc trưng - thì phe Liên bang đã đến ngày tận số. 78

NHỮNG KẺ THUA CUỘC MAY MẮN

Tháng 9 năm 1796, Fisher Ames, quán quân tiên tri của sự nghiệp Liên bang, nhận định rằng Diễn văn Từ giã của Washington là “một tín hiệu, như làm rơi mũ, cho những cuộc đua đảng phái bắt đầu”. Trên thực tế, phe Cộng hòa đã tiến hành được vài tháng. Việc ứng cử của Jefferson là một kết luận bị bỏ ngỏ gần một năm; đầu tháng 5 năm 1796, Madison đã thông báo với Monroe rằng bầu cử tổng thống chắc chắn sẽ là cuộc chạy đua giữa “ Jefferson ứng viên của một phe [và] Adams rõ ràng là phe còn lại ”. Chẳng ai trong hai người được kỳ vọng tham gia tranh cử. Một dạng sơ khai của nền chính trị dân chủ đã xuất hiện nhưng vẫn chưa đạt đến giai đoạn phát triển. Việc một chính khách nghiêm túc lại bán rẻ sự liêm chính của mình để trực tiếp lôi kéo cử tri vẫn bị coi là không đúng chuẩn mực. 79

Quy chuẩn quý tộc còn sót lại này hoàn toàn phù hợp với tâm trạng của Jefferson, cho phép ông tiếp tục ở ẩn tại Monticello trong suốt mùa hè, chính thức quên đi chiến dịch mà Madison đang tiến hành trên danh nghĩa của mình và thậm chí có thể bí mật duy trì một cái cớ để nghỉ hưu suốt phần đời còn lại. Madison là đồng lõa trong trò chơi tâm lý này, không bao giờ trao đổi thư từ với Jefferson về cuộc bầu cử sắp diễn ra cho đến khi nó kết thúc. Thậm chí sau đó, khi ông chính thức điền tên Jefferson vào tháng 12 năm 1796, báo cáo chính trị của ông vẫn thận trọng tránh đề cập việc ứng cử của Jefferson. “Không phải là không thể xảy ra chuyện Pinckney sẽ xen vào giữa hai người được coi là hai nhân vật chính trong câu chuyện này”, ông nhận định, dẫn ra một loạt nỗ lực của Hamilton nhằm chạy đua cho một ứng viên thứ ba là Thomas Pinckney của Nam Carolina, người có thể thay thế Adams làm ứng viên tổng thống của Đảng Liên bang. Madison nói tiếp: “Jockeyship này được cất nhắc là nhờ sự thù hằn của Adams đối với ngân hàng và hệ thống tài chính, và do lo sợ rằng ông ta quá cứng đầu để làm một con rối cho cuộc vận động ngầm sau cánh gà”. Nói cách khác, Adams không phải người trung thành với Hamilton - sự thật là Adams không thích Hamilton cũng gần bằng Jefferson, và sau khi biết về kế hoạch Pinckney này, ông còn căm ghét ông ta nhiều hơn - vậy nên tổng thống tiếp theo chỉ có thể là Jefferson hoặc một người có thể được phe Cộng hòa nhượng bộ. 80

Jefferson lần đầu tiên thừa nhận mình sẽ ra tranh cử khi đáp lại bức thư của Madison. Trong khi cố làm ra vẻ hoàn toàn bất ngờ, Jefferson vẫn giữ được điệu bộ Madison luôn ưa thích: “Ước nguyện đầu tiên từ trái tim tôi là ngài nên được đề cử vào chính phủ. Dù ngài phản đối thì tôi vẫn ước ai đó ứng cử hơn là chính tôi. Và không có gì khiến tôi hy vọng trong lo âu hơn là việc tên tôi có thể xếp thứ hai hoặc thứ ba. Tôi thờ ơ với mấy việc này; nếu đứng cuối cùng trong danh sách, tôi sẽ có thể ở nhà cả năm; còn người khác [phó tổng thống] và hai phần ba còn lại”. Sau đó, Jefferson bảo Madison tuyên bố rằng nếu cuộc bầu cử kết thúc với một kết quả hòa, ông muốn Adams trở thành người chiến thắng. “Ngài ấy luôn là đàn anh của tôi kể từ ngày chúng ta tham gia chính trị”, Jefferson quan sát với việc trở nên khiêm tốn, trong bối cảnh “nên ưu tiên ngài ấy”, và thêm như một suy nghĩ sau cùng mà ông có “mình chẳng tự tin để đảm nhiệm”. 81

Trong những tuần tiếp theo, kết quả bỏ phiếu ở 14 bang đã rõ ràng, trước công chúng Jefferson vẫn duy trì một điệu bộ miễn cưỡng cá nhân và sự tôn kính chính trị với Adams. Ngay cả trước khi kiểm phiếu, ông đã viết thư cho đồng nghiệp cũ của mình từ những ngày ở Philadelphia và Paris, lấy làm tiếc rằng “nhiều sự cố nhỏ [đã] xảy ra hoặc được trù tính để chia tách chúng ta” và muốn từ bỏ bất kỳ ham muốn cạnh tranh nào. Ông giãi bày: “Tôi không có tham vọng cai trị người khác. Đó là một nhiệm vụ đau đớn và bạc bẽo”. Ông rõ ràng luôn để mắt tới những thông tin báo chí về cuộc bỏ phiếu, vì ông là người đầu tiên dự đoán Adams sẽ chiến thắng nhờ ba phiếu đại cử tri (71-68), mà hóa ra đây lại kết quả chính xác. Nhưng ông muốn dập tắt mọi tin đồn về việc ông không đồng ý phụng sự dưới quyền Adams: “Tôi là đàn em của ngài ấy trong cuộc sống, ở Quốc hội, trong đoàn Ngoại giao, và gần đây là ở chính phủ dân sự”. Bên cạnh đó, Adams “có lẽ là rào chắn vững chắc duy nhất chống lại việc Hamilton trúng cử”. Chức vụ phó tổng thống là một “vị trí yên bình và vô hại” sẽ giúp Jefferson được nghỉ hưu phần nào. Ông mong chờ sẽ dành “các buổi tối mùa đông cho triết học và những ngày hè ở nông thôn”. 82

Bên dưới những thể hiện miễn cưỡng và tôn kính, phản chiếu chính xác cảm xúc chân thực ở một tầng tính cách của ông, còn tồn tại một tầng khác nữa, đánh giá tình hình chính trị thực tế hơn. Trong khi nhắc lại sự ngây thơ chính trị của mình, ông tuyên bố rằng: “Trong cuộc đời mình, tôi chưa bao giờ trao đổi với bất kỳ ai về chủ đề này, cho tới khi tên tôi được nhắc tới rộng rãi, cạnh tranh với tên của ông Adams”, ông cũng đưa ra một phân tích sắc sảo về những thứ đang chờ đợi người chiến thắng. “Chức vụ thứ hai trong Chính phủ là một vị trí danh dự và dễ dàng”, ông giải thích; “nhưng đứng đầu thì đúng là một nỗi thống khổ lớn lao”. Vấn để chính là cái bóng quá lớn của George Washington. Trong một phép ẩn dụ lộn xộn khác thường, ông nói với Madison về cái nhìn sâu sắc kỳ lạ này: “Tổng thống may mắn vì đã rời bỏ chức vụ trước khi bong bóng vỡ, để cho những người khác giữ lấy cái vỏ. Tuy nhiên, sự ra đi của ông ấy sẽ đánh dấu thời điểm làm việc khó khăn, ngài sẽ thấy, họ sẽ đổ tại Chính phủ mới, và rằng ông ấy sẽ thường có được vận may từ người khác và bỏ họ lại với đống sai lầm của ông ấy”. Tóm lại, bất cứ ai nhậm chức sau Washington chắc chắn sẽ thất bại, và “chẳng ai khi rời khỏi ghế tổng thống mà vẫn giữ được danh tiếng đã mang lại cho mình chức vụ đó”. Đảng Cộng hòa đã may mắn khi thua cuộc. 83

Cả người quá bận rộn với việc phân tích đường lối tổng thống của Adams như Madison, lẫn người có hư danh phù phiếm và nỗi ám ảnh công quyền không bao giờ cho phép chia rẽ chính trị như bản thân Adams, đều không thể nhìn nhận mọi việc rõ ràng như vậy. Về phần mình, phản ứng đầu tiên của Jefferson là chia sẻ đánh giá chính trị này với người bạn lâu năm của ông đến từ Quincy. Ông làm điệu bộ Cicero của người nông dân đã nghỉ hưu; như ông nói với Adams rằng ông đang sống ở một bang hẻo lánh, nơi “tôi tìm hiểu chút ít về những thứ đang trôi qua; tôi chưa từng thấy truyền đơn, giấy tờ thì thấy chút ít và càng ít thì càng hạnh phúc”. Mặc dù không trung thực, nhưng Adams hiểu rằng chính điệu bộ đó là thứ giữ lại phép lịch sự giả tạo giữa hai người đàn ông trong những năm gần đây. Sau khi chúc mừng chiến thắng của Adams và bảo đảm rằng ông “không bao giờ có khoảnh khắc nào mong đợi một kết quả khác”, Jefferson đã cố gắng cảnh báo cơn bão ông sắp phải đối mặt. Đầu tiên là “cái tinh quái của người bạn New York”, tính hai mặt của Hamilton là một sự bảo đảm cho việc đồng thuận hoàn toàn - người “sẽ bị thất vọng với ngài” và “mưu toan đằng sau hậu trường” thao túng những nhân vật thân tín trong nội các. Nói chung, cả vấn đề đối ngoại và đối nội của quốc gia đều là nạn nhân của đấu đá phe phái: “Kể từ ngày ngài ký hiệp ước Paris, chân trời của chúng ta chưa bao giờ u ám tới vậy”. Ông kết luận sau khi so sánh với những ngày tươi đẹp trước đây “khi chúng ta đấu tranh cho nền độc lập của mình”, và đưa ra một lời hứa mơ hồ để làm mới quan hệ đối tác cũ. 84

Thay vì gửi thư trực tiếp đến Adams, Jefferson đã quyết định để Madison xem trước, chỉ để bảo đảm nội dung lá thư đúng mực. Madison khuyên không nên gửi, nêu ra sáu lý do khiến những tâm tư trong đó có thể bị hiểu sai đi. Lý do cuối cùng và trọng yếu nhất về mặt chính trị là: “Xem xét khả năng sự nắm quyền của ông A tạo ra làn sóng phản đối từ phe Cộng hòa, và tình hình bất ổn chung mà chúng ta có thể phải đối mặt, đó có thể là điều bẽ mặt thật sự nếu viết về ông ta, ở mức độ khen ngợi và sự tự tin trên cơ sở tình bạn và sự thân thiện cá nhân của ngài”. Nói cách khác, thứ tình cảm nổi tiếng mà Jefferson dành cho Adams là đáng ngưỡng mộ, nhưng nó không được phép trở thành một trở ngại cho sự nghiệp Cộng hòa. Nếu Jefferson đã đúng về những biến động chính trị sắp làm lung lay chiếc ghế tổng thống của Adams, thì tốt nhất là nên giữ khoảng cách. 85

Jefferson ngay lập tức nhận thấy đây là một lời khuyên chính trị tuyệt vời, nhưng cũng phải trả giá. Jefferson cảm thấy mối gắn kết của mình với Adams là rất rõ ràng. “Ông A và tôi là những người bạn chân tình từ đầu cuộc cách mạng”, ông giải thích với Madison, và mặc dù tình bạn của họ bị chia rẽ vì một số vấn đề trong những năm đầu thập niên 1790, nhưng những khác biệt này đã “không khiến tôi cảm nhận được ít hơn sự chính trực từ trái tim ông ấy. Và tôi muốn ông ấy biết điều này…” Hơn nữa, Adams không phải là một thành viên Liên bang trung kiên thuộc phe Hamilton. Ông thật ra còn phản đối kế hoạch ngân hàng và ngân sách của Hamilton và chỉ ủng hộ Hiệp ước Jay. Hơn nữa, Jefferson biết rằng Adams cũng giống mình, không tin tưởng người Anh. (Vấn để là ông thậm chí còn không tin tưởng người Pháp nhiều hơn thế). Tóm lại, Adams không phù hợp với khuôn mẫu Liên bang mà cả Jefferson và Madison ấp ủ. Thật vậy, bản năng đầu tiên của Adams trong vai trò Tổng thống mới đắc cử là đã hỏi liệu Madison có sẵn sàng làm người đứng đầu phái đoàn ngoại giao Mỹ sang Pháp, và liệu Jefferson có cân nhắc phụng sự trong nội các chứ không phải là lãng phí tài năng của mình tại Thượng viện. Đó rõ ràng là một cử chỉ lưỡng đảng dành riêng để mời những người Cộng hòa vào các vị trí trọng yếu trong chính quyền mới. 86

Quyết định giữ khoảng cách với Adams của Jefferson do đó vừa mang tính cá nhân sâu sắc vừa mang tính định mệnh chính trị. Trên phương diện chính trị, chỉ có thể suy đoán về triển vọng của một chính phủ lưỡng đảng do Adams-Jefferson đứng đầu, và ít nhất là chính phủ đó được chứng kiến cơ hội tranh đấu giữa hai người kế tục di sản vĩ đại của Washington. Nhưng suy đoán như thế chẳng đi đến đâu, không chỉ bởi quyết định của Jefferson mà còn vì những thành viên phe Liên bang được Adams lựa chọn thiếu khôn ngoan giữ lại trong nội các của mình luôn phản đối sự hiện diện mạnh mẽ của phe Jefferson cũng như Madison trong chính quyền mới; họ dọa từ chức hàng loạt nếu điều đó xảy ra.

Trên phương diện cá nhân, Jefferson buộc phải lựa chọn giữa lòng trung thành lâu dài của mình với bạn bè và trách nhiệm với nghị trình của Đảng Cộng hòa. Về mặt tâm lý, ông thấy mình không có khả năng là một nhà lãnh đạo đảng, nhưng trên thực tế ông đã một lần nữa phải gánh vác. Ông đã trút bỏ gánh nặng trong tâm trí của mình vào tháng 3 năm 1797, sau một bữa tối thân mật tại nhà của Washington ở Philadelphia, ông cùng Adams đi bộ về nhà dọc đường Market và Adams thông báo với ông rằng phe Liên bang đã bác bỏ sáng kiến lưỡng đảng vì thấy phi lý. Như Jefferson nhớ lại sau này, hai đồng minh cũ đi theo những hướng khác nhau, “ông ấy đi xuống đường Market, tôi đi dọc đường Thứ Năm, và chúng tôi đã bỏ đi; và sau đó ông ấy không bao giờ nói với tôi lời nào về vấn đề này nữa, cũng chẳng bao giờ hỏi ý kiến tôi về những biện pháp của chính phủ”. Adams là vậy, khi buộc phải lựa chọn, đã chọn đảng thay vì tình bạn. 87

Cần phải biết rằng không ai trong hai người này xem xét quyết định của mình trên những phương diện đó. Adams coi mình là phiên bản Mỹ của “nhà vua yêu nước” tiết hạnh, phản đối tất cả các bè cánh nhấn danh lợi ích cộng đồng, thậm chí không giao thiệp với cả những đồng nghiệp phe Liên bang của chính mình, như cuối cùng đã làm thế thật. Còn Jefferson thì thấy mình là người đứng đầu chính phủ lưu vong, một lần nữa được đặt ở vị trí bất thường phụng sự chính thức cho chính quyền mà ông chống đối. Tại buổi lễ nhậm chức của mình, ông nói đùa mình chẳng còn nhớ hết thủ tục nghị viện, một tín hiệu rõ ràng rằng thời gian ông ở Philadelphia sẽ dành cho công việc vô bổ là điều khiển những cuộc tranh luận tại Thượng viện. Ba tuần sau, vào ngày 20 tháng 3, ông đã trở lại Monticello, chờ đợi thảm họa không thể tránh khỏi khiến phe Liên bang sụp đổ và là thời điểm tốt để chuyển giao lời ước hẹn của Cách mạng Mỹ vào đúng tay người xứng đáng. 88

« Lùi
Tiến »