Tôi rất hài lòng với người dân đất nước này. Với họ, những nếp nhăn ký ức được xóa sạch tới mức dường như có thể lướt qua cả một đời chẳng chút vội vàng .
THƯ JEFFERSON GỬI ELIZA HOUSE TRIST
Paris, ngày 18 tháng 8 năm 1785
Tôi là người hoang dã thích những cánh rừng, những vùng hoang vu và sự độc lập của Monticello, hơn tất cả những khoái lạc chói lòa ở chốn kinh đô phồn hoa này .
THƯ JEFFERSON GỬI BARON GEISMAR
Paris, ngày 6 tháng 9 năm 1785
⚝ ✽ ⚝
Người đàn ông này khi tới Paris vào tháng 8 năm 1784 đã già dặn và phức tạp hơn người thanh niên Virginia từng đi vào lịch sử chín năm trước tại Philadelphia. Ông lại đi bằng một cỗ xe phaeton, nhưng lần này là cỗ xe lớn hơn, chắc chắn hơn, do những nô lệ của ông tại Monticello lắp ráp thủ công, với kính bảo vệ bốn phía. Ông đi cùng cô con gái Martha 12 tuổi, được đặt theo tên của mẹ nhưng thường được gọi là Patsy, một cô bé cao lớn khác thường với đôi chân dài, cặp mắt sáng và gương mặt góc cạnh của cha. Một người đồng hành khác của ông là James Hemings, nô lệ lai da đen và da trắng 19 tuổi, đã thay thế Jupiter như một người hầu thân cận. Hemings cũng sẽ học hỏi nghệ thuật nấu nướng Pháp. 1
Họ mất đúng một tuần để đi từ Le Havre đến Paris, dọc theo sông Seine qua Rouen, nơi nhiều thế kỷ trước Nữ anh hùng Joan xứ Arc đã bị thiêu sống. “Tôi không hiểu được tường tận tiếng Pháp nên không chắc là liệu những người nói chuyện với tôi và tôi có cùng nói về một điều hay không”, Jefferson thú nhận. Vấn đề ngôn ngữ đã khiến ông bị những phu khuân vác tại một số điểm dừng “qua mặt trắng trợn”. Nhưng không gì có thể làm hỏng sự kỳ diệu của vùng nông thôn Pháp vào đầu mùa thu hoạch. Khi họ vượt sông Seine tại Pont de Neuilly, Jefferson tuyên bố đó là “cây cầu đẹp nhất thế giới”. Rồi khi lăn bánh tới đại lộ Champs-Élysées, ông đã thật sự bắt đầu một chương mới trong sự nghiệp của mình với tư cách Công sứ toàn quyền của Mỹ tại Pháp. 2
Chúng ta biết rõ hơn dáng dấp ông, vì tiếng tăm ngày càng vang dội đã khiến ông trở thành đối tượng của nhiều bức chân dung, chạm khắc và tượng bán thân trong năm năm ông ở Pháp. Da mặt ông lúc này căng bóng và luôn hồng hào khiến ông trông lúc nào cũng như vừa tập thể dục xong. Tóc ông bây giờ màu hung nhiều hơn màu đỏ, nhưng dày hơn hẳn, cắt theo kiểu che kín hai tai, rồi buộc gọn ở phía sau để đuôi tóc thông dưới cổ áo. Ông vẫn gầy, nhưng giờ thì có cơ bắp hơn nên trông đỡ lênh khênh, đó là nhờ việc đi bộ bốn dặm mỗi ngày và một chế độ khổ luyện bao gồm ngâm chân trong nước lạnh mỗi buổi sáng.
Nhìn chung, ông đẹp hơn theo năm tháng, giống như một nam thanh niên nhút nhát và hơi vụng về nhưng cuối cùng cũng sống thoải mái hơn với những đặc trưng của mình qua nhiều năm. Thời gian cũng đã cho phép ông có một chiều cao với tỷ lệ thích hợp hơn và mang vẻ thanh nhã tự nhiên hơn. Ông vẫn là một người có chiều cao nổi bật trong thời mình. Chúng ta biết rằng khi ông xuất hiện chính thức lần đầu tiên với John Adams và Benjamin Franklin trước triều đình Pháp tại Versailles, sự tương phản về ngoại hình đã gây bất ngờ cho nhiều người có mặt tại đó, giống như đang chứng kiến một viên đạn đại bác, một ấm trà và một giá đỡ nến, tuyên bố mình là bộ ba nước Mỹ. 3
Nếu tuổi tác đã giúp ông có thể chất tốt hơn - có lẽ đây là một lý do căn bản khiến Jefferson luôn nghĩ rằng tương lai đứng về phía ông thì sự già đi cũng giúp tâm lý dày dạn hơn. Cuộc đời nhiều người Mỹ bị rơi vào tình trạng hỗn loạn của cuộc chiến tranh giành độc lập, rồi bị đẩy về phía bên kia của mâu thuẫn lịch sử với những vết sẹo và thương tích không thể xóa nhòa. Dù Jefferson chưa bao giờ chỉ huy quân đội hoặc bắn một phát súng lúc tức giận, nhưng trải nghiệm cá nhân của ông trong và ngay sau chiến tranh với hai vết thương tâm lý đã hun đúc nội lực bên trong ông, thậm chí còn hơn cả những ngày đi bộ đường dài và tắm nước lạnh rèn luyện thân thể.
Vụ việc đầu tiên xảy ra trong nhiệm kỳ hai năm ông làm Thống đốc bang Virginia từ năm 1779 đến năm 1781. Đó là thời điểm tồi tệ nhất có thể xảy ra với một người vốn ưa thích không gian riêng biệt của học thuật và nghiên cứu hơn là đảm nhận nhiệm vụ của một thống đốc, bởi nhu cầu cấp bách trong thời chiến tạo ra vô số các vấn đề về kinh tế, hậu cần và chính trị lớn mà ngay cả nhà lãnh đạo tài ba nhất cũng sẽ thấy khó khăn. Cho dù ông đã nỗ lực hết mình, nhưng nền kinh tế của Virginia vẫn trở nên hỗn độn và nhà nước không thể đáp ứng đủ hạn ngạch về người cho Quân đội Lục địa. Sau đó, Jefferson đã chấp thuận một cuộc viễn chinh, đưa quân đội tinh nhuệ nhất của Virginia vào một chiến dịch vô ích chống lại Detroit, ngay trước khi lực lượng xâm lược Anh dưới sự chỉ huy của Benedict Arnold tràn đến từ vịnh Chesapeake và đốt trụi thủ phủ Richmond. Mọi chuyện còn tồi tệ hơn khi những phân đội kỵ binh thuộc quân đội của Tướng Cornwallis di chuyển nhằm chống lại Charlottesville và suýt bắt được Jefferson tại Monticello. 4
Lan truyền khắp bang câu chuyện về cuộc tẩu thoát nhục nhã vào phút cuối của Jefferson trên lưng ngựa, ám chỉ khá bất công rằng ông đã cư xử một cách hèn nhát và đã không hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì đã khiến bang trở nên yếu ớt đến nỗi bị quân đội Anh chiếm đóng. Hội đồng lập pháp Virginia thậm chí đã thông qua một nghị quyết kêu gọi điều tra về tư cách của ông. Cuộc điều tra này rốt cuộc bị hủy bỏ; một nghị quyết cuối cùng đã chính thức xóa bỏ mọi sự kết tội sai trái đối với ông. Nhưng cho dù đó có thể là những rủi ro chiến tranh ngoài tầm kiểm soát của ông hay bất cứ ai, thì chúng cũng đã xảy ra với ông. Vết nhơ thất bại ở cương vị lãnh đạo chẳng bao giờ mất hẳn, mọi chuyện lại được đào bới lên khi ông tranh cử tổng thống vào năm 1796 và lần sau vào năm 1800, và Jefferson nhận ra tri giác nhạy bén của mình không phù hợp với sự lãnh đạo khắc nghiệt trong thời kỳ khủng hoảng. Jefferson tâm sự với một người bạn rằng trải nghiệm ấy đối với các hiệu ứng cảm xúc đã “gây ra một vết thương lòng nơi tôi mà chỉ có thể được chữa khỏi hoàn toàn ở thế giới bên kia”. 5
Vụ việc thứ hai khoét sâu hơn vết thương lòng đầu tiên, và chẳng nghi ngờ gì nữa, đây chính là nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời ông. Vào tháng 5 năm 1782, Martha vợ ông đã trải qua lần sinh nở thứ bảy trong cuộc hôn nhân 10 năm của họ. Con gái, được đặt tên là Lucy Elizabeth, là đứa con thứ ba sống sót, còn Martha thì lâm bệnh nặng sau lần sinh nở ấy. Cơ thể mảnh mai của bà hoàn toàn kiệt quệ sau những lần mang thai liên tục. Bà nằm dài suốt mùa hè, với Jefferson gần như suốt ngày đêm ở bên giường bà. Truyền thuyết gia đình, được gia cố bởi hồi ức của cộng đồng nô lệ tại Monticello, đã mô tả có phần cường điệu cảnh Martha hấp hối trên giường bệnh, ép Jefferson hứa sẽ không tái hôn, vì nghe đâu bà không muốn những đứa con còn sống của mình phải ở với mẹ kế. Ông đã không bao giờ tái hôn. Bà qua đời vào ngày 6 tháng 9 năm 1782. 6
Sáu tuần liền Jefferson không thể nào nguôi ngoai, thổn thức suốt đêm, nghẹn giọng mỗi khi ông cố gắng mở lời. Những lời kể về nỗi đau buồn bất tận của ông từ Monticello lan ra và khiến một số người bạn lo lắng ông bị mất trí. “Tôi biết ông ấy thường đặt hạnh phúc gia đình lên ưu tiên hàng đầu”, Edmund Randolph từng viết, “nhưng không ngờ nỗi đau của ông ấy lại dữ dội đến mức có cả báo cáo về việc ông ấy ngất xỉu mỗi khi nhìn thấy những đứa con của mình”. Cuối cùng ông cũng chịu ra khỏi cuộc sống ẩn dật, cưỡi ngựa băng qua những khu rừng trong vùng, và Patsy đã trở thành bạn đồng hành thường xuyên của ông trong những chuyến đi được cô gọi là “những cuộc ngao du u sầu ấy”. 7
Ông đồng ý nhậm chức vụ ngoại giao ở Paris để phần nào cố quên đi thảm kịch này và chạy trốn ký ức về Martha tại Monticello. Nhưng vết thương vẫn in hằn trong ông, không bao giờ khép miệng hoàn toàn. Chúa cũng thấy đau lòng khi ghé xuống gia đình lý tưởng mà ông đã dày công xây dựng nhưng lại bị mất đi điều quan trọng nhất. (Jefferson dường như không hề cố tình để bà mang thai, không hề được cảnh báo về việc sức khỏe của bà xấu đi sau mỗi lần sẩy thai hoặc sinh nở). Chúng ta không thể biết chắc là liệu ông có hứa với người vợ đang hấp hối rằng mình sẽ không bao giờ tái hôn nữa như truyền thuyết về gia đình này thường kể hay không, nhưng lời ông tự hứa với bản thân chắc chắn cũng có hiệu lực tương tự: Ông sẽ không bao giờ để tâm hồn mình phải chịu nỗi đau đớn như thế nữa; ông thà cô đơn còn hơn bị tổn thương.
Nếu như chúng ta có thể biết rõ về dáng vẻ và cảm nhận của ông khi đến Paris vào cuối mùa hè năm 1784, thì những gì ông nghĩ vẫn còn là điều bí ẩn. Ông là một nhà tư tưởng chính trị có tiếng tăm, nhưng không phải từ việc ông là tác giả của Tuyên ngôn Độc lập bởi thành tựu này vẫn chưa được nhiều người biết đến, mà chủ yếu nhờ vào công tác lập pháp của mình trong Hội đồng lập pháp Virginia và Quốc hội liên bang. Từ năm 1776 đến năm 1779, ông gần như đơn thương độc mã cố gắng cải cách triệt để đạo luật của Virginia, kêu gọi hủy bỏ chế độ gia trưởng và quyền thừa kế của con trưởng vì đây là những tàn tích cuối cùng của chế độ phong kiến Anh, cải cách luật hình sự để hạn chế việc áp dụng án tử hình, mở rộng quyền bầu cử cho cả những điền chủ độc lập ở miền Tây, mở rộng hệ thống trường công lập của bang, và quan trọng nhất là loại bỏ việc thành lập Anh giáo, ủng hộ việc tách hẳn nhà thờ ra khỏi nhà nước.
Nỗ lực phi thường này trong cải cách lập pháp lại tỏ ra quá xa vời đối với những đồng nghiệp của ông ở Hội đồng lập pháp Virginia, họ đã bác bỏ tất cả những lần ông đề xuất hủy bỏ chế độ gia trưởng và quyền thừa kế của con trưởng, cho dù chúng đang trên bờ vực chết dần chết mòn đầy hiển nhiên. Nhưng sức ép về tư duy chính trị của ông khá rõ ràng: phải loại bỏ mọi rào cản pháp lý và chính trị đối với năng lực cá nhân để tạo ra điều mà ông gọi là “một sự mở ra đối với giới quý tộc đức hạnh và tài năng”. Đó là một nỗ lực hiệu quả nhằm thực hiện những lý tưởng được nêu trong phần về quyền tự nhiên của Tuyên ngôn. Nhưng rõ ràng là những ý tưởng mà ông yêu thích luôn đi trước dư luận vài bước. Ông là một nhà tiên tri thì đúng hơn là một chính khách. 8
Mô hình tương tự được tổ chức đúng như vậy trong Quốc hội Liên bang tại Philadelphia. Trong suốt mùa đông và mùa xuân năm 1784, ông tập trung vào việc cải cách hệ thống tiền đúc, thuyết phục thành công việc sử dụng đồng đô-la và các đơn vị tiền lẻ thay cho đồng bảng và shilling Anh. Ông cũng đã cố gắng nhưng không thể thay thế được hệ thống đo lường và trọng lượng theo hệ Anh bằng các tiêu chuẩn theo hệ mét. Ông đã viết Pháp lệnh năm 1784, thiết lập các nguyên tắc mà theo đó tất cả các bang mới sẽ được nhận vào Liên minh trên cơ sở bình đẳng với các bang hiện có. Điều khoản cuối cùng là yêu cầu chấm dứt chế độ nô lệ tại tất cả các bang mới thành lập vào năm 1800. Nhưng Pháp lệnh này bị bãi bỏ vì thiếu một phiếu bầu, khiến sau này Jefferson phải thốt lên rằng “số phận của hàng triệu sinh linh chưa ra đời đang bị treo trên lưỡi của một người, và Thiên đàng im lặng trong giây phút khủng khiếp ấy!” Đó là dự thảo có tác động sâu rộng nhất nhằm chấm dứt chế độ nô lệ mà Jefferson từng viết ra, và cũng là những nỗ lực chống lại chế độ nô lệ mạnh mẽ nhất của ông, vì sau này ông phải rút lui để giảm bớt mức độ, thận trọng và trì hoãn. 9
Trong suốt mùa xuân năm 1784, ông đã bày tỏ sự thất vọng trước sự kết hợp giữa thói lười biếng và tính ba hoa làm tê liệt cả Quốc hội. (Hầu như không thể tập hợp được số đại biểu tối thiểu để phê duyệt hiệp ước hòa bình chấm dứt chiến tranh với Anh). Căn cứ vào thái độ chống đối sau này của ông trước chính quyền liên bang hợp nhất dưới hầu hết mọi hình thức, thì sự thiếu kiên nhẫn của ông đối với những gì ông gọi là “những tranh giành vụn vặt giữa các bang” tại thời điểm này cho thấy ông chỉ đang hợp tác tạm thời khi chấp nhận chính quyền liên bang như một giải pháp khắc phục sự tranh cãi giữa địa phương và khu vực. Ông tâm sự với bạn bè về niềm tin của mình rằng nếu Các điều khoản Hợp bang cho phép chính phủ liên bang kiểm soát những vấn đề đối ngoại thì nó cũng mặc nhiên có quyền đối với ngoại thương và thương mại. (Sự chứng thực này đối với học thuyết về quyền lực ngụ ý đã trở lại ám ảnh ông một thập niên sau đó). Ông muốn chứng kiến những hiệp ước về hữu nghị và thương mại được đàm phán với các quốc gia châu Âu, một phần vì những lợi ích kinh tế mà chúng sẽ đem lại, nhưng theo ông chủ yếu là bởi “vào thời điểm các hiệp ước này cho phép Quốc hội có quyền quản lý thương mại của các bang, thì quyền lực của các bang sẽ bị xóa bỏ…” 10
Tóm lại là sau đó, người đàn ông này tới Paris với tư cách là Công sứ toàn quyền của Mỹ, chứ không còn là chàng thanh niên vùng Virginia từng thảo ra Tuyên ngôn Độc lập nữa. Ông nổi tiếng hơn, có ngoại hình ấn tượng hơn, tự tin hơn với những tố chất và khả năng thiên bẩm của mình. Ông là một nhà lập pháp dày dạn hơn, dù vẫn là và luôn là một con người hay lý tưởng hóa với tài năng tuyệt vời hơn trong việc lường trước được những thứ cần thiết hơn cả kỹ năng để dẫn dắt những người khác hướng tới tương lai mà ông hình dung ra. Ông cũng là một người đàn ông từng trải hơn, ít bị tổn thương và bớt nhạy cảm hơn vì đã bảo vệ khéo léo hơn những vùng riêng tư của mình khỏi những vị khách không mời bằng cách sắp đặt các lớp phòng thủ bên trong theo kiểu từ chối xâm nhập ở mọi trạm kiểm soát. (Kỹ năng tâm lý này cũng giúp ông rất nhiều khi ở cương vị một nhà ngoại giao). Cuối cùng, ông đã kết hợp được tầm nhìn không tưởng của mình về một xã hội Mỹ của các cá nhân được giải phóng và tự do mưu cầu hạnh phúc sau khi rũ bỏ gánh nặng thối nát từ Anh cùng chế độ phong kiến châu Âu, với sự công nhận thực tế hơn về một nước Mỹ độc lập yêu cầu một kiểu chính quyền liên bang nào đó phải phối hợp tốt năng lượng đang bùng nổ với năng lượng dư thừa. Không chỉ không từ bỏ thuyết cấp tiến của mình thời tuổi trẻ, ông còn trở thành một nhà dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành.
BẠN BÈ VÀ CƯỚP BIỂN
Chuyện thu xếp nơi ăn ở cho mình và đoàn tùy tùng mất nhiều thời gian hơn ông dự kiến. Thoạt tiên, ông gặp vấn đề về sức khỏe, trong khi trước đó thường rất tốt, dù thỉnh thoảng bị tái phát chứng đau nửa đầu. Rồi ông bị cảm lạnh nặng trong vòng vài tuần, tới nỗi ông không thể nhúc nhích được trong suốt sáu tháng. “Tôi đã có một mùa đông rất tệ”, ông giải thích với bạn mình là James Monroe ở quê nhà Virginia, “bị ốm liệt giường gần hết cả mùa đông. Một mùi vị mà người ta nói là thường xảy ra nhiều nhất với những người lạ: tôi tin rằng chưa có ai có trải nghiệm tệ hơn mình. Không khí cực kỳ ẩm thấp, còn nước thì rất độc. Mặt trời ấm áp (vị bác sĩ toàn năng của tôi) đã ghé thăm chúng tôi trong ba tuần qua, và tôi thấy mình gần như được tái sinh”. Dù cuối cùng thì ông cũng yêu mến con người, rượu vang và kiến trúc Pháp, nhưng thời tiết lại là vấn đề khác, khiến ông cảm giác gần như lúc nào cũng có một đám mây che phủ bầu trời chốn này ở Tây Âu, làm cho con người ở đây xanh xao và yếu ớt. 11
Tiếp theo là vấn đề ngôn ngữ. Jefferson khá nổi tiếng về khả năng ngoại ngữ, bao gồm các thứ tiếng Latin, Hy Lạp, Pháp và Ý. Ông thậm chí còn tuyên bố rằng mình đã tự học tiếng Tây Ban Nha trên chuyến đi đến Pháp bằng cách đọc Don Quixote với sự trợ giúp của một cuốn sách ngữ pháp. (Nhiều năm sau, khi đã là Tổng thống, Jefferson có kể lại điều này trong bữa tiệc tối. John Quincy Adams có mặt tại bữa tiệc tối hôm đó với Tổng thống và đã ghi lại câu chuyện này trong hồi ký của mình, và bổ sung: “Nhưng Jefferson đã hơi phóng đại câu chuyện”). Sự thật có vẻ là Jefferson đọc thông thạo tiếng nước ngoài nhưng lại không nói hoặc viết được. Kể cả sau năm năm ở Pháp, ông cũng không thể nói tiếng Pháp đủ trôi chảy để trò chuyện thoải mái, và ông chưa bao giờ tin vào khả năng viết tiếng Pháp của mình nên vẫn cần tới phiên dịch viên khi soạn thảo thư từ công vụ. 12
Cuối cùng là vấn đề về nơi ở. Ông như con thoi di chuyển giữa một loạt khách sạn trong vài tháng đầu, sau đó vào tháng 10 năm 1784 thì ký hợp đồng thuê một biệt thự tại Cul-de-sac Taitbout trên Bờ Phải (11) . Nhưng nơi này lại thiếu thốn và bất tiện, vì vậy năm sau ông bèn chuyển tới Hôtel de Langeac trên đại lộ Champs-Élysées gần Khải Hoàn Môn ngày nay, sau đó ra vùng ngoại ô thành phố. Ông đã thuê toàn bộ tòa nhà ba tầng sang trọng và rộng rãi, ban đầu được một quý tộc Pháp xây cho tình nhân. Nơi này đã trở thành Monticello tại Paris của ông, sau khi hoàn thiện đã có nhiều phòng khách lớn, ba dãy phòng nghỉ riêng biệt, chuồng ngựa, một khu vườn và đầy đủ đội ngũ hầu cận, giúp việc, đầu bếp, cộng với một phu xe và người làm vườn. Khá xa hoa và tốn kém - tiền thuê nhà và đồ nội thất vượt quá mức lương 9.000 đô-la hằng năm của ông - nhưng đó là những gì ông cần để cảm thấy ở nước ngoài như ở nhà. 13
(11) Nguyên văn: Right Bank.
Khi mọi sắp xếp cuối cùng đã ổn thỏa, Jefferson liền xây dựng một hệ thống hỗ trợ rộng rãi với những người giúp việc, thư ký và thầy dòng, có thể bảo vệ ông về cả thể chất lẫn tinh thần giống như ông có khi ở đồn điền Virginia. Jefferson là nhân vật trung tâm của ngôi nhà. (Patsy đã được gửi tới một trường dòng, Abbaye Royale de Panthemont, nơi Jefferson tin tưởng và thường cảm thấy cần phải tự trấn an - ngôi trường này nổi tiếng là có thái độ thoải mái đối với sinh viên không theo Công giáo. Cô chỉ về nhà vào những dịp cuối tuần đặc biệt). Vòng bảo vệ bên trong được điều hành bởi James Hemings - người hầu riêng của Jefferson khi không phải tham dự các lớp học nấu ăn, và Adrien Petit -quản gia quán xuyến mọi việc trong gia đình và quản lý người làm. Vòng bảo vệ tiếp theo xử lý các vấn đề chính trị và ngoại giao, do hai thư ký quản lý: David Humphreys, nhà thơ 32 tuổi đến từ Connecticut từng phục vụ George Washington trong thời chiến và hiện gắn bó với Jefferson như ngôi sao đang lên nhanh nhất trong đội ngũ lãnh đạo tài năng của Mỹ, và William Short, một sinh viên luật 25 tuổi tốt nghiệp trường William & Mary, được Jefferson đỡ đầu và bảo trợ, là thủ tục của Jefferson trong mọi vấn đề chính trị. 14
Vòng ngoài cùng là bộ máy cố vấn và tham mưu được đặt ở Mỹ, dựa trên một loạt những phát ngôn ở Virginia và Hội nghị tại Philadelphia để từ đó James Madison và James Monroe gửi đi những báo cáo định kỳ, thường được mã hóa để che giấu thông tin nhạy cảm. Madison, Monroe và Short cùng đại diện cho một bộ phận thế hệ trẻ có tài năng chính trị ở Virginia vốn coi Jefferson như người lãnh đạo danh nghĩa; có người ngang tuổi với em trai ông và hầu hết ngang tuổi với con ông. Việc trao đổi thư từ với Madison cho thấy khởi đầu của sự hợp tác kéo dài 50 năm, có lẽ là duy nhất trong lịch sử Mỹ, và trong mối quan hệ đó Madison là thành viên ít tuổi luôn trung thành. (Madison đã kế nhiệm Jefferson làm Tổng thống; sau đó Monroe kế nhiệm Madison, như vậy người của Jefferson đã thay nhau giữ chức tổng thống trong vòng 24 năm đầu của thế kỷ 19). Jefferson đã rèn luyện cả ba thanh niên trẻ của Virginia như những người được ông đỡ đầu, thậm chí còn hình dung ra cái ngày họ sẽ sống bên cạnh ông tại Monticello. Vào tháng 2 năm 1784, ông đã chia sẻ giấc mơ này với Madison: “Monroe đang mua mảnh đất gần như sát vách với tôi. Short cũng sẽ làm như vậy. Tôi cho là cậu cũng có thể sẽ rơi vào vòng tròn đó. Với một xã hội như thế này mà tôi có thể hơn một lần đánh liều xây nhà và ung dung tự tại trong suốt phần đời còn lại, gác lại mọi ganh đua ngày càng không thể chịu nổi. Hãy suy ngẫm về điều đó. Để hiện thực hóa điều gì chỉ có cách là cậu phải nghĩ nó đúng như vậy”. Vừa là đội cận vệ, vừa gần như là thành viên trong đại gia đình của ông, những thanh niên Virginia này đã xác định Jefferson sẽ là người kế nhiệm Washington trong vai trò lãnh đạo bang và đất nước. Phần lớn thời gian trong năm đầu tiên của Jefferson ở Pháp được dành để thiết lập mạng lưới liên lạc của triều đại Virginia đang manh nha này. 15
Quá trình ổn định cuộc sống trong năm đầu tiên ấy còn bao gồm một biến động cuối có ý nghĩa lịch sử lâu dài, đó là mối quan hệ của Jefferson với gia đình Adams. Khi John Adams biết tin Jefferson được bổ nhiệm thì đã cho biết mình rất hài lòng: “Jefferson là một tay xuất sắc”, ông hồi âm bạn bè ở New England. “Quý vị không thể gửi tới ai tốt hơn”. Khi một số thành viên Quốc hội bày tỏ lo ngại về thứ chủ nghĩa lý tưởng quá mức của Jefferson, Adams chẳng hề bận tâm về điều đó: “Người bạn cùng chí hướng của tôi tại Quốc hội, tám hay chín năm trước đây, trải qua thời Tryals gian khổ, đặc biệt trong quá trình dự thảo Tuyên ngôn Độc lập..., tôi thấy ở ông ấy sự đồng điệu về mặt trí tuệ và là một Con người thận trọng, một Người ái quốc kiên định”. Người vợ Abigail, con gái Nabby và con trai John Quincy đã đi cùng Adams vào đúng cái tuần Jefferson đến Pháp. Suốt chín tháng, cho đến khi Adams được cử đến London với tư cách Đại sứ Mỹ đầu tiên tại Triều đình St. James, khu nhà Adams ở Auteuil đã trở thành ngôi nhà thứ hai của Jefferson. 16
Hơn 50 năm sau, và sau một giai đoạn với những bất đồng chính trị quyết liệt đã khiến tình bạn của họ trở nên xung đột gay gắt, nhưng Adams vẫn trân trọng nhớ lại thời kỳ này. Chẳng hạn, khi John Quincy đắc cử Tổng thống vào năm 1824, Adams đã nhắc Jefferson rằng “John của chúng ta” đã thắng. “Tôi gọi là John của chúng ta”, ông giải thích, “bởi khi anh ở Cul de sac tại Paris, John như là con trai anh và con trai tôi”. Mối quan hệ đặc biệt giữa Adams và Jefferson bắt nguồn từ sự hợp tác chính trị của họ vào năm 1776, nhưng sự gắn bó tình cảm sâu sắc giữa hai người lại diễn ra ở Pháp trong thời gian 1784-1785. 17
Abigail Adams giữ một vai trò rất quan trọng. Mùa đông đầu tiên của Jefferson ở Paris là một trận ốm kéo dài và gần như suy nhược. Bà coi sóc kỹ sự phục hồi của ông trong suốt mùa xuân, và sau đó ông ở cùng cả gia đình Adams trong phòng khách của họ, nói chuyện phiếm, bình luận về mọi vấn đề ngoại giao và trong nước. Abigail là mối liên kết giữa những câu hỏi về chính sách đối ngoại với các ưu tiên dành cho gia đình, có lẽ bà là người phụ nữ đầu tiên mà Jefferson biết rõ vì đã kết hợp được phẩm chất truyền thống của một người vợ-người mẹ với suy nghĩ và phát ngôn sắc bén của một cộng sự đúng nghĩa trong sự nghiệp của chồng. Jefferson từng luôn cho rằng những ưu điểm khác biệt này là những khuynh hướng tồn tại độc lập mà Chúa hay tạo hóa theo một cách nào đó quan niệm là nên tách biệt. Tuy nhiên, chúng lại hội tụ ở Abigail. Bà chính là Martha với một trí tuệ của riêng Abigail. Ghi chép về những cuộc trò chuyện buổi chiều, khỏi cần phải nói, là không hề tồn tại. Nhưng nhân vật và nội dung của các câu chuyện đùa ấy vẫn đầy ắp trong những lá thư vui tươi mà họ trao đổi với nhau sau khi gia đình Adams chuyển đến London.
Đầu tiên là mối quan hệ ngưỡng mộ lẫn nhau và tán tỉnh hài hước. Abigail nhờ Jefferson mua vài bản sao nhỏ của bức tượng cổ. Jefferson trả lời: “Với lòng kính trọng các nhân vật mà bà nêu tên, tôi chỉ có thể tìm thấy ba bức tượng phù hợp về kích cỡ. Đó là Minerva, Diana và Apollo. Tôi xin được thêm vào bức tượng thứ tư, không nằm trong lựa chọn của bà. Họ mời tôi mua một bức tượng Venus tuyệt đẹp, nhưng tôi nghĩ là không hợp nếu bày hai bức tượng trên bàn cùng một lúc”. Hoặc Abigail đề nghị Jefferson khảo sát các cửa hàng ở Paris để tìm vải ren đen và giày tiệc tối, cuối thư lại xin thứ lỗi đã “gây phiền hà cho ông vì những chuyện vặt vãnh”, những chuyện “hơi giống như bắt Hercules kéo sợi” (12) . 18
(12) Ngụ ý làm công việc của nữ giới.
Rồi họ tiếp tục pha trò về sự đồi bại cố hữu của nhà vua và nước Anh. Jefferson kể rằng “nơi đây có câu chuyện khó hiểu về một người cố gắng ám sát đức vua của bà [tức George III]. Tôi chưa chân thành cầu nguyện cho người nào trên Trái đất này được tiếp tục sống hơn ông ta. Ông ta thật sự là Cứu tinh của Mỹ..” Abigail thì thấy mọi chuyện bắt nguồn từ các tờ báo tiếng Anh đều là giả dối: “Tôi xin nói rằng đó là lời giải thích sai đến tệ hại - nếu nói như vậy là không quá thô lỗ với một Quý bà, tuy nhiên tôi sẽ tìm một cách nói ít biểu cảm hơn và chỉ nói sai giống như người Anh”. Jefferson hỏi bà xem liệu ông có thể làm điều gì trong khả năng chính thức của mình để cải thiện cách cư xử kiểu Anh hay không. Abigail cho ông hay rằng “cần nhiều sản phẩm của Pháp như Lương tri, Bản tính tốt đẹp, Khôn ngoan chính trị và lòng bác ái”; Jefferson sẽ “hỗ trợ Đức vua Anh nếu ông ấy cho phép nhập khẩu những Hàng hóa kiểu này vào vương quốc của mình”. 19
Cuối cùng, đó là vấn đề về trách nhiệm làm cha của Jefferson. Khi nhà Adams vẫn còn ở Paris, Jefferson nhận được tin con gái út Lucy - khi sinh cô bé này bà Martha lâm trọng bệnh - đã mất vì bệnh ho gà ở quê nhà Virginia. Abigail đã giúp Jefferson vơi đi nỗi buồn khi ông chìm sâu vào sự chán nản, và họ đã phát triển một sự đồng cảm đặc biệt như những bậc làm cha mẹ. Khi Nabby con gái bà thông báo ý định kết hôn với Đại tá Stephen Smith, thư ký riêng của chồng mình, Abigail đã đề xuất một sự thu xếp lạ đời với Jefferson: “Giờ tôi đang nghĩ đến một cuộc trao đổi với ông. Giả sử ông giao cho tôi cô Jefferson [Patsy], và một ngày nào đó trong tương lai nhận lại một cậu con trai [cháu của bà] thay thế cho cô ấy. Tôi ủng hộ xúc tiến [một] liên minh thống nhất”. 20 Nhưng hầu hết những lời khuyên với tư cách người mẹ của Abigail đều liên quan tới cô con gái thứ của Jefferson là Maria, còn gọi là Polly. Jefferson đã để cô bé sống với họ hàng tại Virginia khi mới 4 tuổi, và phần vì bị Abigail thúc giục, nên ông đã quyết định mạo hiểm với hành trình xuyên Đại Tây Dương để đón cô bé sang Paris đoàn tụ với gia đình. Abigail đứng chờ tại cầu tàu ở London khi Polly đến và lập tức để Jefferson làm quen với truyền thống lâu đời khá thẳng thắn của gia đình Adams.
Polly vô cùng xinh xắn. “Tôi chưa từng thấy đứa trẻ nào có nét mặt thông minh đến vậy”, Abigail viết, và những niềm vui cô bé mang đến cho tôi là sự đền đáp to lớn cho mọi điều nhỏ nhặt mà tôi có thể làm cho cô bé”. Nhưng Jefferson cần phải đối mặt với những thất bại của mình như một người cha: “Tôi cho cô bé xem hình của ông. Cô bé bảo không biết, làm sao cô bé biết được khi chẳng biết gì về ông”. Khi Jefferson viết thư nói rằng việc công quá bận bịu nên ông không thể vượt Eo biển để đón Polly, vì vậy ông đã phái quản gia Petit đi, thì Abigail cảm thấy bắt buộc phải nhấn mạnh rằng Jefferson cần chứng kiến phản ứng của Polly trước tin này: “Dù cô bé nói không nhớ gì về ông, nhưng cô bé được dạy phải dành cho ông tình cảm và lòng yêu thương, tùy thuộc vào việc ông có đến bên cô bé hay không. Sáng nay, cô bé nói với tôi rằng cô bé đã để lại tất cả bạn bè ở Virginia để vượt qua đại dương tới gặp ông, cô bé đã nghĩ giá như ông có thể cố gắng đến đây gặp nó, và đừng cử tới một người [Petit] mà cô bé không biết là ai. Tôi bày tỏ nỗi lòng của cô bé”. 21 Như thể vẫn chưa đủ, Abigail bị ngỡ ngàng khi sau đó con người tự nhận rất yêu con mình lại có thể tin tưởng giao chúng cho các nữ tu Công giáo chăm sóc. Quyết định gửi Patsy vào tu viện ở Panthemont đã khiến bà luôn trăn trở. Giờ đây khi Polly cuối cùng đã đoàn tụ với cha, “tôi hy vọng rằng cô bé sẽ không đánh mất tâm hồn tinh tế của mình trong những bức tường tu viện, một nơi có lẽ là tôi có nhiều định kiến sai”. 22
Mối quan hệ của Jefferson với John Adams cũng dựa trên mối thâm tình mà họ dành cho nhau, sự thẳng thắn bộc trực từ phía Adams thường buộc Jefferson phải đối mặt với khoảng cách cố hữu giữa lý tưởng của mình với thực tại hỗn độn của trần thế. Về phần mình, Jefferson là một đối tác cực kỳ chín chắn và chăm chỉ của Adams trong việc đại diện cho lợi ích của Mỹ ở châu Âu. Abigail tuyên bố Jefferson là “người duy nhất mà bạn đời của tôi có thể hợp tác hoàn toàn thoải mái, chẳng cần đề phòng...” Cùng nhau, hai người này là những sự đối lập mà thu hút: một người New England mập mạp, thẳng thắn, với tính cách lôi cuốn và sắp đặt chuyên nghiệp, và một người Virginia gầy gò, luôn khó nắm bắt với vẻ ngoài lãnh đạm và hầu như trầm lặng đến lạ lùng. Người này dường như đều cảm thấy ở người kia có những phẩm chất bù đắp cho sự thiếu hụt nơi tính cách của mình. Trong bầu không khí hòa nhã do Abigail tạo ra tại Auteuil, họ có được điều kiện thoải mái cho phép mình đánh giá cao sự hấp dẫn trong tính cách của người kia, “hoàn thiện” lẫn nhau (nếu cho là như thế) và tạo ra một đội ngũ nhà ngoại giao thật sự đáng gờm trong giai đoạn này. 23
Là những sản phẩm đặc thù của cuộc chiến giành độc lập, họ chia sẻ một cam kết bất tận về triển vọng đối với một nước Mỹ độc lập và một sự hồ nghi vô hạn không kém về chính sách của Anh đối với các thuộc địa cũ của mình. Jefferson tuyên bố ông áp dụng “một quy tắc không thể sai được cho việc quyết định những gì mà nước đó [Anh] sẽ làm trong từng trường hợp”. Đó là một quy tắc đơn giản, cụ thể là “xem xét những gì họ nên làm, và xem xét những gì ngược lại với điều đó như những gì họ chắc chắn sẽ làm…” Ông tuyên bố bằng cách áp dụng công thức này, ông “không bao giờ bị lừa”. Adams hoàn toàn đồng tình. “Nếu John Bull không nhìn thấy… một điều gì đó ngay từ đầu”, ông đồng tình với Jefferson, “thì bạn biết đấy, đó là một quy tắc mà mãi về sau ông ấy vẫn thề rằng nó không tồn tại, kể cả khi ông ấy vừa nhìn thấy và vừa cảm nhận được nó”. Adams tin rằng bị thất bại trong cuộc chiến với Mỹ và mất đi khá nhiều lãnh thổ ở nước ngoài đã khiến đa phần người Anh không thể vô tư được nữa khi nghĩ về những thuộc địa cũ của họ. Ông kết luận: “Họ ít quan tâm đến chúng ta so với những người da đỏ Seminole”. Thậm chí đã có một thời điểm kịch tính, gần như cường điệu hóa, khi sự bài xích Anh của họ được gắn với một lời thề máu mang tính tượng trưng. Khi Jefferson tới thăm Adams tại Anh vào mùa xuân năm 1786, hai nhà cựu cách mạng đã đến diện kiến triều đình, và George III quay lưng lại với cả hai người một cách hợm hĩnh. Cả hai đều không bao giờ có thể quên được sự xúc phạm ấy. 24
Ngoài nỗi hận thù của họ với Anh và chung sự phẫn nộ trước tính kiêu ngạo khó chịu của nhà vua, tình bạn tồn tại còn vì Jefferson luôn chiều ý Adams. Sau tất cả, Adams có chức vụ cao hơn và đang đàm phán với người Pháp và Anh đã năm năm. Sự tôn kính của Jefferson bắt đầu ngay sau khi ông đến Pháp: “Ông nghĩ gì về Dự thảo kèm theo đây được đệ trình lên triều đình London và Versailles?” Jefferson hỏi. “Tôi biết điều đó vượt quá thẩm quyền của chúng ta, và cũng vượt quá quyền hạn của Quốc hội. Nhưng rõ ràng là vì lợi ích của các bang nên tôi sẽ không ngại mạo hiểm chính mình nếu ông cũng đang có ý kiến tương tự”. Đề xuất này hình dung công dân mọi quốc gia có quyền như nhau, tự do thương mại hoàn toàn và có một hệ thống cải cách luật pháp quốc tế. Đúng, Adams trả lời, đó là một đề nghị “đẹp đến mức lý tưởng”, nhưng không may là nó cũng hoàn toàn không phù hợp với bối cảnh châu Âu khốc liệt hiện nay: “Ông bạn ạ, chúng ta không được hão huyền trước những cảm giác Tự do của riêng mình. Nếu chúng ta không thể có tự do như nhau, chúng ta sẽ phải chấp nhận các sự Cấm đoán, Ngăn chặn, Độc quyền và đánh Thuế nhập khẩu hàng hóa lẫn nhau. Những đề xuất của chúng ta là công bằng, và hơn cả công bằng. Nếu chúng bị từ chối, chúng ta không được để bị lừa nữa”. 25
Motif ấy cứ lặp đi lặp lại khi bàn luận về chính sách của Mỹ đối với vấn đề gây nhiều tranh cãi về cướp biển Barbary. Một số nước Hồi giáo dọc bờ biển Bắc Phi có truyền thống cướp bóc tàu bè của thương nhân châu Âu và Mỹ ở phía tây Địa Trung Hải và phía đông Đại Tây Dương, bắt cóc thuyền viên và sau đó đòi tiền chuộc từ các chính phủ để thả người. Trong một thông điệp chung gửi cho cấp trên trong Quốc hội, Adams và Jefferson đã mô tả sự táo bạo của các cuộc tấn công khủng bố, những tên cướp biển mồm ngậm dao găm nhảy xuống con tàu không có khả năng tự vệ. Adams và Jefferson giải thích, họ đã hỏi Đại sứ đến từ Tripoli xem dựa trên căn cứ nào để có thể bào chữa cho những hành vi cực kỳ dã man thiếu kiềm chế này: “Đại sứ đã trả lời chúng tôi rằng những hành động này hình thành dựa vào Luật lệ của Nhà tiên tri được viết trong kinh Koran, rằng tất cả các quốc gia đều không thừa nhận quyền lực của họ là tội ác, rằng họ có quyền và nghĩa vụ gây chiến bất cứ nơi nào có thể, và họ có thể giam giữ nô lệ của mọi quốc gia như tù nhân..” 26 Jefferson thấy không thể hiểu nổi cái nạn tống tiền ngày một tăng như vậy và nó vượt quá bất kỳ nguyên tắc nào được luật pháp hoặc công lý thừa nhận. Ban đầu, ông đề xuất Mỹ từ chối trả tiền chuộc, thay vào đó là cử một lực lượng hải quân tới Địa Trung Hải để dạy cho những kẻ ngoài vòng pháp luật nơi biển khơi một bài học. Sau đó, ông bổ sung đề xuất của mình với một chương trình toàn diện, theo đó Mỹ sẽ tổ chức một lực lượng đặc nhiệm quốc tế bao gồm tất cả các quốc gia châu Âu có tàu bị tấn công. “Công lý và Danh dự ủng hộ chiến dịch này”, ông giải thích với Adams, và có lẽ nó sẽ tốn ít chi phí hơn trong thời gian dài khởi động. 27
Adams đồng ý rằng không thể đàm phán với cướp biển Barbary, như đã từng nói, “Avarice và Fear là Đặc vụ duy nhất tại Algiers...” Nhưng Adams nhận thấy Jefferson ước tính chi phí quá thấp. Phải tốn ít nhất 500.000 bảng Anh mỗi năm để duy trì một lực lượng hải quân trong khu vực. Quốc hội sẽ không bao giờ phê chuẩn một số tiền lớn như vậy. Và dù sao thì Mỹ cũng chẳng có lợi gì khi cử đi lực lượng hải quân. Ông thông báo cho Jefferson: “Vì những nguyên nhân này, tôi kết luận khôn ngoan hơn cả là chúng ta đàm phán và trả những Khoản cần thiết, mà không mất Thời gian..” Adams nhấn mạnh rằng giải pháp của Jefferson, dù táo bạo và hoàn toàn xứng đáng được tôn trọng theo đúng nghĩa, nhưng là một ý tưởng chưa gặp thời. “Quốc hội sẽ không bao giờ, hoặc ít nhất là trong nhiều năm tới, chấp thuận Nghị quyết này”, ông lưu ý Jefferson, “và trong thời gian này, Thương mại và Danh dự của chúng ta nằm ngoài Dự tính. Chúng ta không nên đánh nhau với chúng trừ phi chúng ta xác định đánh nhau mãi mãi”. Jefferson vẫn không thấy thuyết phục, nhưng đồng ý rằng quan điểm của Adams sẽ là cơ sở cho quan điểm chính thức của Mỹ: “Ông đạt kết quả theo cách khác với những gì tôi làm”, ông viết thư cho Adams ở London, nhưng “đâu có ý nghĩa gì; bởi tôi không có quyền quyết định trong việc này”. 28
Có thể nhận thấy ban đầu ở Jefferson là một giọng điệu oán giận đối với chủ nghĩa hiện thực của Adams luôn cắt ngang tầm nhìn rộng lớn của ông. Jefferson thậm chí đã cố qua mặt Adams bằng cách nhờ một bên thứ ba trình bày đề xuất của ông về lực lượng hải quân quốc tế trước Quốc hội, nhưng mánh này đã thất bại khi bị Quốc hội bác bỏ ngay lập tức, như Adams đã dự đoán trước đó. Nếu ai đó đang tìm kiếm những dấu hiệu đầu tiên của sự va chạm có thể xảy ra giữa những cộng sự lâu năm ấy, thì đó chính là lúc này. Nhưng cái trò hai mặt nhất thời của Jefferson vẫn không thể làm mất đi sự ngưỡng mộ chân thành của ông dành cho Adams. Sự ngưỡng mộ này sâu sắc đến mức ông công nhận rằng Adams có những quyết định chiến lược với một tinh thần dẻo dai, một năng lực tỏa sáng giữa những lời bóng gió, công kích. “Quả thực, con người ấy phải là một tảng đá”, Jefferson viết thư cho Abigail, “thì mới có thể chịu đựng được mọi thứ”. Ông tiếp tục thú nhận rằng mình cảm thấy thiếu tự tin trong những tình huống đối kháng và luôn coi Adams như một cố vấn thông thái: “Tôi không thích khó khăn. Tôi thích yên tĩnh, sẵn sàng làm nhiệm vụ của mình nhưng lại dễ bị kích động trước những lời phỉ báng, và dễ cảm thấy áp lực từ cương vị của mình. Đây là các điểm yếu mà lý trí và những lời khuyên của bà sẽ bảo vệ được ông Adams”. 29
NGOẠI GIAO VÔ ÍCH
Tất nhiên vẫn có một Công sứ Mỹ thứ ba ở Pháp, nổi tiếng hơn nhiều so với hai người kia. Benjamin Franklin đã từng đại diện cho quyền lợi của Mỹ ở nước ngoài lâu hơn bất kỳ nhà ngoại giao nào, và uy tín của ông ở Pháp đã đạt tới tầm vóc sử thi. Ông là hiện thân rõ ràng của các giá trị Mỹ ở dạng đơn giản hấp dẫn nhất. Khi Franklin và Voltaire ôm nhau trước đám đông ở Paris, nó đã tạo nên một tin giật gân trên báo chí Pháp về sự đoàn kết giữa hai nhà đấu tranh vĩ đại nhất vì sự khai sáng của con người ở thế kỷ rực rỡ nhất của lịch sử. Jefferson coi Franklin là người Mỹ vĩ đại thứ hai của thế hệ cách mạng, chỉ sau Washington, nói như vậy để thấy rằng có một khoảng cách rõ ràng giữa Franklin và thế hệ anh hùng cách mạng Mỹ tiếp theo, một nhóm mà ông đã liệt kê cả Adams trong đó nhưng lại khiêm tốn loại mình ra. 30
Có những tin đồn không chính thức về việc Jefferson đã được bổ nhiệm thay cho Franklin. (Franklin, đã gần 80 tuổi, thổ lộ mong muốn sớm được trở về Mỹ). Khi Jefferson diện kiến triều đình Pháp ngay sau khi đến nơi, có truyền thuyết rằng Ngoại trưởng Pháp Vergennes đã hỏi Jefferson có phải ông được chọn để thay thế Franklin hay không, và nghe đâu Jefferson đã trả lời: “Không ai có thể thay thế được ông ấy, thưa Ngài; tôi chỉ là người kế nhiệm ông ấy”. Về phần mình, Adams đã rất buồn khi thấy Franklin rời đi. Hai người này từng tranh cãi liên miên trong suốt những cuộc đàm phán dẫn đến Hiệp ước Paris (1783) kết thúc chiến tranh, và Adams cho rằng Franklin đã để lại cho mình quá nhiều việc, đã chia sẻ quá thoải mái với Vergennes những bí mật đàm phán của Mỹ, và đã nhầm lẫn quá thường xuyên những buổi tối tán tỉnh các quý bà Pháp dễ mến là nhiệm vụ ngoại giao chính của mình. Còn Franklin lại coi Adams là kiểu người Yankee đã gán cho sự chăm chỉ một cái tên xấu xí, và đã không trân trọng những lợi ích mà các hội nhóm không chính thức nơi xã hội phòng khách của Pháp mang lại, đặc biệt là sự tán tỉnh vô hại của một ông già dành cho những phụ nữ đáng yêu và từng đáng yêu, những người đã góp phần định hình các giá trị văn hóa Paris. Không một ai, kể cả Jefferson, có thể sử dụng từ ngữ uyển chuyển như Franklin; sự mô tả của ông về tính cách Adams đã trở nên nổi tiếng từ hồi đó, rồi lưu lại hậu thế chỉ bằng một câu nói moi hết gan ruột: “Luôn là người thẳng thắn khôn ngoan, nhưng đôi khi và trong một số trường hợp lại hoàn toàn không kiểm soát được cảm xúc của mình”. 31
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi họ làm việc cùng nhau trong một nhóm công sứ, Jefferson đóng vai trò trung gian quan trọng giữa hai thành viên cấp cao, cả hai đều thấy ông đáng mến và tận tâm. Thật vậy, sẽ không mấy ai phản đối khi nói rằng trong chín tháng Adams, Franklin và Jefferson đại diện cho quyền lợi của Mỹ ở Pháp, Mỹ đã có được tập hợp những trí tuệ xuất chúng nhất trong toàn bộ lịch sử ngoại giao của mình sau này. Vấn đề chủ yếu của họ hầu như không phải là thiếu trí tuệ hay kỹ năng, mà chỉ đơn giản là có rất ít cơ hội cho họ thể hiện.
Khi tất cả đã được nói và làm, rất ít nước châu Âu quan tâm nhiều đến việc ký kết các hiệp ước hữu nghị và thương mại với nước Cộng hòa Mỹ mới thành lập. Franklin có khả năng nhạy cảm về thời gian hơn bất kỳ thành viên nào của thời đại cách mạng; sự ra đi của ông vào mùa hè năm 1785 đã báo hiệu sự kết thúc của những triển vọng về sự nghiệp Mỹ ở châu Âu. (Ông đã quay về Philadelphia nhiều lần để tham gia các cuộc thảo luận của Hội nghị Lập hiến). Adams phàn nàn rằng có rất ít việc cho ông làm ở Paris hay London. Ông đã dành phần lớn thời gian của mình biên soạn một nghiên cứu dày ba chương về lý thuyết chính trị mang tên Sự phòng vệ của Hiến pháp Mỹ (A Defence of the Constitutions of the United States). Mặc dù Jefferson có tham gia đầy đủ những nhiệm vụ ngoại giao thường lệ trong suốt những năm ở Pháp, nhưng tình hình chiến lược mà gần như đã được số phận và Quốc hội Mỹ giao phó cho ông lại ngăn cản mọi thành tựu có ý nghĩa về chính sách đối ngoại thời ông.
Dù trên thực tế, đã có nhiều khó khăn chồng chất khống thể vượt qua, nhưng vấn đề chính lại nằm ở Philadelphia. Nói một cách ngắn gọn nhất, Quốc hội Liên bang thành lập theo Các điều khoản Hợp bang không đủ thẩm quyến để giám sát chính sách đối ngoại của Mỹ. Một lá thư điển hình của John Jay, người phụ trách vấn đề đối ngoại, báo cáo tình trạng bế tắc kéo dài. “Điều này xảy ra trong nhiêu Hoàn cảnh khác nhau”, Jay viết cho Jefferson, “được nêu ra trong một số báo cáo về những vấn đề đối ngoại vẫn đang chờ Quốc hội quyết định. Mong muốn về một Đại diện phù hợp trong Thời gian dài… đã bị Chậm trễ và Bỏ sót, tuy nhiên không thê’ tránh khỏi là còn nhiêu điều đáng tiếc”. Jefferson cực kỳ bực bội khi Quốc hội bác bỏ kế hoạch của ông về lực lượng hải quân nhằm tiêu diệt cướp biển Barbary vì lý do chi phi cao không tưởng. Ông viết thư cho Monroe rằng: “Người ta nói là ngàn khố không có tiền. Sẽ chẳng bao giờ có tiên trong ngân khố cho đến khi phe liên minh (13) nổi giận. Các bang phải xem xét kỹ lưỡng đòn trừng phạt”. Nhưng Madison thông báo với ông rằng đơn giản là chẳng ai có ý định phê chuẩn các hóa đơn tốn kém thế. Thu ngân sách hiện tại chưa đến 400.000 đô-la, không đủ để trả hết nợ cũ, và càng không đủ để trả thêm khoản mới. Madison đồng ý rằng đó là một tình huống đáng tiếc mà sẽ “xác nhận… niềm tin của cả thế giới rằng chúng ta không được tôn trọng, cũng không được coi là một quốc gia trong các vấn đề Thương mại”. Món nợ khổng lổ với Pháp nói riêng đã đè nặng lên Jefferson, vi ông liên tục bị các cựu binh Pháp trong Cách mạng Mỹ bao vây đòi trả nợ cho họ. Nhưng ngoài cái lắc đầu như một cử chỉ an ủi và hoài nghi, ông hoàn toàn chẳng thể làm gì hơn. 32
(13) Tức phe miền Nam.
Rồi một vấn đề nan giải nữa là sự kiêu ngạo của người Anh. David Hartley, một nhà ngoại giao Anh tôn trọng Mỹ hơn hẳn các đồng sự, đã đặt vấn đề thẳng thắn với Jefferson: “Tục ngữ Anh có câu: Kẻ thua có quyền khiếu nại”, Hartley viết. “Sau cơn bão, đôi khi sóng sẽ tiếp tục cuộn trào”. Tóm lại, do đã bị mất một nửa đế chế của mình trong một cuộc chiến kéo dài và thất bại, nên Anh sẽ không trợ giúp kinh tế cho các thuộc địa cũ nữa. Trong chuyến ghé thăm London cùng Adams vào mùa xuân năm 1786, Jefferson đã xác nhận quan điểm đang phổ biến đó: “Với đất nước này, không có gì được thực hiện; và hiện nay họ quyết định chẳng có dự tính gì với chúng ta. Nhà vua phản đối thay đổi đơn vị đo lường; các bộ trưởng phản đối nó...; các thương gia và người dân cũng phản đối nó. Họ coi trọng thương mại của chúng tôi, nhưng lại tin chắc rằng họ được hưởng thụ nó theo những điều khoản riêng”. Thật đáng buồn nếu giả thuyết của người Anh được chứng minh là đúng, thì Anh sẽ tiếp tục kiểm soát hơn 80% ngoại thương của Mỹ. Tại sao họ cần đàm phán các hiệp ước thương mại mới với người Mỹ, trong khi họ đã được hưởng độc quyền theo các điều khoản riêng: Để làm cho vấn đề tồi tệ hơn, người Anh thích đặt những câu hỏi kỳ quặc về thẩm quyền của các nhà ngoại giao Mỹ thay mặt Mỹ trong các cuộc đàm phán, đưa ra câu hỏi tu từ ranh mãnh rằng liệu chính phủ liên bang thật sự có chủ quyền với các bang hay không. Trong khi đó, báo chí Anh vẫn giữ thái độ bài Mỹ khi cho rằng các thuộc địa cũ đang ở trong tình trạng gần như vô chính phủ. (Jefferson đặc biệt quan tâm đến những tin tức thất thiệt trên báo chí London về việc Franklin hoặc bị cướp biển Algeria bắt giữ trên đường trở về hoặc bị đám đông ném đá khi vừa đặt chân tới Philadelphia). Jefferson nhận thấy quan điểm chi phối đa số giới quý tộc Anh trong các câu lạc bộ riêng tư đều là Mỹ đã sẵn sàng thỉnh cầu để được nhận trở lại vào Đế quốc Anh. Khó có thể kỳ vọng vào sự hợp tác từ những người này. 33
Theo toàn bộ thông tin thu thập được, và chắc chắn theo tính toán ban đầu của Jefferson, thì Pháp lẽ ra đã khác. Sau cùng, Pháp vẫn là đồng minh lớn của Mỹ tại châu Âu, là nguồn cứu giúp Mỹ trong cuộc chiến tranh giành độc lập, là kẻ thù thâm căn cố đế của Anh, và là quê hương của những triết gia chia sẻ đức tin tự do của Jefferson về thị trường mở và tự do thương mại. Jefferson dự thảo nhiều biên bản ghi nhớ dài nhằm thuyết phục Chính phủ Pháp rằng nếu Mỹ và Pháp có thể đạt được những thỏa thuận song phương, theo đó miễn giảm toàn bộ thuế quan và thuế nhập khẩu giữa hai nước, thì kết quả cuối cùng sẽ chính là nguồn nguyên liệu dồi dào giá rẻ hơn cho Pháp và rất nhiều loại sản phẩm giá rẻ hơn cho Mỹ. Hơn nữa, nạn nhân chính của sự bắt tay mới này sẽ là kẻ thù chung, nước Anh. Nhưng một lần nữa, vẻ đẹp lý thuyết trong tầm nhìn phóng khoáng của Jefferson lại vấp phải hiện thực trần tục, lần này là trong nền chính trị triều đình của Paris và Versailles, cùng sự quan liêu cố hữu của chính quyền Pháp ở cấp tỉnh. Mặc dù lời kêu gọi thể hiện tầm nhìn về thị trường mở của Jefferson là hợp lý, nhưng ông vẫn buộc phải thừa nhận rằng nó có vẻ đi trước chúng ta như cái bóng của chúng ta, luôn xuất hiện trong tầm với, nhưng không bao giờ chạm tới được”. 34
Ví dụ tiêu biểu nhất của vấn đề này chính là độc quyền thuốc lá được duy trì bởi một tổ chức vận động hành lang nông nghiệp có cơ cấu chặt chẽ và cực kỳ bảo thủ, được biết đến dưới tên gọi Quan thầu thuế, cứ khăng khăng giữ mức thuế nhập khẩu cao để bảo hộ nông sản trong nước cũng như dòng tiền chảy vào túi của nhiều cán bộ hải quan. “Việc xóa bỏ độc quyền về thuốc lá nằm trong tay Quan thầu thuế sẽ được chúng tôi thúc đẩy toàn lực”, Jefferson đã viết theo ngôn ngữ mã hóa gửi cho Monroe, “nhưng điều này đan xen với việc thành lập hệ thống tài chính vẫn còn đang lưỡng lự . John Jay gửi thư từ Philadelphia để chia sẻ với Jefferson, nhắc lại rằng trong nhiệm kỳ của ông ở Pháp, ông đã nghe nói về hệ thống những quy định phức tạp và các khoản hối lộ bí mật “bị hầu hết các quý ông chỉ trích nặng nề khi nghe tôi nói về nó, nhưng có vẻ như vị thế của nó rất chắc chắn, có lẽ bởi Dòng chảy vàng, thậm chí do cả vấn đề Chủ quyền nữa, vì sự Hủy diệt nhanh chóng của nó có vẻ được mong đợi hơn cả dự kiến”. 35
Ngay cả khi Jefferson đã thuyết phục được Chính phủ Pháp đồng ý cắt giảm phần nào thuế thuốc lá, quyền lực chính trị của Quan thầu thuế vẫn ngăn chặn việc thực hiện. “Tôi không thể đối phó được với những tác nhân đó”, Jefferson phàn nàn, “họ nói với tôi rằng những viên chức hải quan và nông nghiệp chưa coi họ là đối tượng chịu ràng buộc bởi các quy định mới”. Tính quan liêu, chứ không phải là chính phủ, dường như phải chịu trách nhiệm. Trong suốt nhiệm kỳ của ông tại Paris, Jefferson tiếp tục soạn thảo các đề xuất dài và phức tạp, lên án sự phi lý cố hữu của hệ thống đã được thiết lập và mô tả tương đối chi tiết những lợi ích song phương trong chính sách tự do thương mại. Nhưng giống như lập luận Socrat về công lý được trinh bày trước các đại diện Mafia, rốt cuộc sẽ chẳng đi tới đâu. Thành công duy nhất của ông sau năm năm nỗ lực không ngừng là giảm nhẹ thuế quan đánh vào dầu cá voi của Mỹ. 36
Thành tựu ngoại giao lớn trong thời gian ông ở Pháp là một khoản vay 400.000 đô-la từ các ngân hàng Hà Lan, ký kết với Adams vào mùa xuân năm 1787. Khoản vay này có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp Chính phủ Mỹ hợp nhất các khoản nợ châu Âu, do đó tạo ra một nguồn tiền chuộc người Mỹ bị bắt cóc ở Algiers và thực hiện thanh toán thường xuyên cho các cựu binh Pháp tham gia Cách mạng Mỹ. Jefferson rất hài lòng với thương vụ này, vì nó đã giao cái vẻ trách nhiệm tài khóa cho các chủ nợ châu Âu của Mỹ. Nhưng ông cũng thừa nhận mình là một cộng sự thụ động trong các cuộc đàm phán, vì chủ yếu mọi việc là do Adams chủ trì. Thực tế, Jefferson thú nhận những vấn đề phức tạp trong các giao dịch tài chính liên quan đến số tiền lớn, bao gồm lãi suất trái phiếu thả nổi và nhiều mức lãi suất, đã khiến ông cảm thấy bối rối và lo lắng. Ông tin vào phán đoán của Adams trong những vấn đề đó hơn cả của chính mình. 37
Khi Adams chuẩn bị rời London về Mỹ, ông chuyển giao cho Jefferson trách nhiệm xử lý các khoản vay của Hà Lan, nhắc nhở ông phải cảnh giác trước “lòng tham vô đáy của Amsterdam”. Vào thời điểm các chủ ngân hàng Hà Lan đe dọa tăng lãi suất khoản vay, trong thư gửi Jefferson, Adams chia sẻ lo lắng với Jefferson rằng họ làm như vậy vì cảm thấy Công sứ Mỹ tại Pháp không thật sự hiểu được những nội dung phức tạp trong các hiệp định tài chính: “Tôi thương cảm với ông trong tình huống này, vì ông sẽ bị đòi nợ và khiêu khích, nhưng tất cả Triết lý của ông sẽ hỗ trợ ông”. Adams khuyên chỉ cần nhớ một điều, rằng: “[Người] Amsterdam quá yêu Tiền nên sẽ không thực hiện những lời đe dọa của họ”. Jefferson nghe theo lời khuyên này, không đàm phán lại khoản vay, và tín dụng của Mỹ ở các thủ đô và thị trường châu Âu được cải thiện. Mọi tầm nhìn vượt trước của Jefferson về một cộng đồng quốc tế tự do, bao gồm thị trường mở và hợp tác quốc gia, đã đánh chìm những tảng đá không khoan nhượng của châu Âu. Từ góc độ lịch sử, thời điểm này đã củng cố quan điểm suốt đời của ông rằng chính sách đối ngoại của Mỹ là một lĩnh vực đòi hỏi phải có một chính phủ liên bang mạnh mẽ. Rõ ràng là thiên hướng duy tâm của ông đã được phát huy tốt nhất khi xung quanh là các cộng sự duy vật với lập trường cứng rắn hơn. Trớ trêu thay, thành công chính trong nhiệm kỳ của ông lại là một thỏa thuận tài chính khắc nghiệt với các chủ ngân hàng Amsterdam, những người mà ông không bao giờ hiểu thấu, như ông đã thoải mái thừa nhận. 38
TIẾNG NÓI NƯỚC MỸ
Dĩ nhiên là ngoại giao không chỉ có việc đàm phán các hiệp ước. Sau khi Franklin trở về Mỹ vào mùa hè năm 1785, Jefferson trở thành Công sứ Mỹ tại triều đình Versailles. Giống như Franklin, Jefferson được hưởng lợi từ làn sóng sục sôi của Pháp nhằm lôi kéo Công sứ Mỹ vào Cách mạng Pháp có bản chất tương tự Cách mạng Mỹ. Như một hiện thân trẻ tuổi của Franklin với chất giọng miền Nam, danh tiếng của Jefferson càng vang dội khi Marquis de Chastellux xuất bản tác phẩm kể về những chuyến đi của mình ở Mỹ trong đó khắc họa chân dung Jefferson đầy lãng mạn tại Monticello. “Có vẻ như ngay từ thời thanh niên”, Chastellux viết, Jefferson “đã thích những vị trí trên cao, giống như ông đã xây nhà của mình ở một nơi có thể chiêm ngưỡng được vũ trụ”. Tại Mỹ, ông bắt đầu được biết đến ở ngoài biên giới bang Virginia. Hội Triết học Mỹ ở Philadelphia dường như đã xác nhận tiên đoán của Chastellux bằng cách bầu Jefferson làm thành viên của mình vào năm 1786; sau đó cùng năm, Đại học Yale trao cho ông bằng Tiến sĩ Luật danh dự. Những du khách Mỹ đến Paris tiếp tục củng cố danh tiếng đang lên của ông qua việc mô tả sự điềm tĩnh tuyệt đối và phong cách quý tộc của Jefferson trong những lần trình diện tại Versailles. 39
Ngược lại, sự nổi tiếng của Franklin ở Pháp càng làm tăng thêm danh tiếng đã có của ông tại Mỹ. Sự nổi bật vừa chớm nở của Jefferson ở Paris đã tạo nên hình ảnh về ông như một người Mỹ vĩ đại, mà sau khi ông về Mỹ, nó lại cộng hưởng với tất cả uy tín đã được châu Âu thừa nhận. Ông trở thành cầu nối chính trong trao đổi văn hóa Pháp-Mỹ. Người Pháp chưa từng thấy cây kim ngân hoang dã hoặc nguyệt quế nơi đầm lầy, nên hạt giống đã được gửi từ Virginia tới trồng trên đất Pháp. Về phần mình, người Mỹ cần biết đến những thí nghiệm của người Pháp trong ngành khoa học mới về vận tải hàng không hoặc “khinh khí cầu”, kể cả một số thất bại thảm khốc khi “một số tai nạn xảy ra ở độ cao khoảng 6.000 feet” và những phi công kém may mắn “đã rơi từ độ cao này và tan xác”. Trong khi công chúng Pháp lại đói tin tức từ Mỹ đến mức Jefferson đã ví “chúng ta cứ như là trên Mặt trăng vậy”, và họ đã nhận được lợi ích từ những dòng bổ sung chỉnh sửa của Jefferson trong Bách khoa toàn thư (Encyclopédie Méthodique). Trong đó, ông sửa lại một số lỗi sai trong những ghi chép của người Pháp về Cách mạng Mỹ, dự đoán rằng chế độ nô lệ tệ hại chắc chắn sẽ chết dần, rằng việc giải phóng “sẽ xảy ra vào một thời điểm không quá xa”, và hình dung toàn bộ lục địa Bắc Mỹ sẽ do những người Mỹ định cư chiếm đóng trong vòng 40 năm. 40
Ông để mắt tới việc phái Jean-Antoine Houdon, nhà điêu khắc hàng đầu của Pháp, đến núi Vernon để thực hiện tác phẩm cuối cùng về George Washington. Ông yêu cầu, trên thực tế là ra lệnh, ngừng toàn bộ công trình Điện Capitol mới của Virginia ở Richmond, vì vậy các nhà thầu xây dựng có thể bắt đầu với một mô hình kiến trúc do ông gửi tới. Nó mô phỏng Maison Corrée tại Nimes ở miền Nam nước Pháp, được ông gọi là “những tinh túy nhất của kiến trúc cổ hiện còn sót lại”. (Khi nói tới các vấn đề kiến trúc, Jefferson rất am hiểu). Các nhà thầu xây dựng Richmond cần phá bỏ những gì họ đã thi công và bắt đầu lại với những thiết kế do ông cung cấp: “Chúng thật đơn giản và tuyệt vời. Không thể nói gì hơn. Chúng không phải là sự thai nghén từ một ý tưởng kỳ quái chưa từng có, mà là sự sao chép từ mô hình quý giá nhất, hoàn hảo nhất của kiến trúc cổ xưa còn sót lại trên Trái đất”. Hội đồng lập pháp Virginia công nhận con mắt kiến trúc tinh tường và sự kiên quyết của ông nên đã làm chính xác như những gì ông nói. 41
Cuối cùng, và khá hài hước, Jefferson đã quyết định bác bỏ nhà tự nhiên học hàng đầu của Pháp thời đó là Georges de Buffon, người cho rằng động vật có vú và thực vật Bắc Mỹ thua kém những loài này châu Âu về cả kích thước, thể lực và sự đa dạng. Đến tận bây giờ lý thuyết của Buffon vẫn rất ngớ ngẩn, dù núp dưới danh tiếng là nhà khoa học tự nhiên hàng đầu của Pháp; nó cũng đã cố xoa dịu khi cho rằng toàn bộ môi trường của Mỹ đang suy thoái trầm trọng, như một phòng thí nghiệm ngày càng xuống cấp. Jefferson đã phát động một chiến dịch toàn diện để thu thập tiêu bản của những loài vật nước Mỹ lớn hơn bất cứ loài nào ở châu Âu. Vì không có kinh phí, nên ông đã cho thực hiện một cuộc thám hiểm trên dãy núi White ở New Hampshire để có được “da, xương, sừng của nai sừng tấm, tuần lộc và hươu sừng tấm”. Các thợ săn được lệnh “để lại móng, xương chân và xương đùi, nếu có thể thì lột da và giữ nguyên những chiếc sừng trên đầu, sau đó khâu lại da vùng cổ và bụng để có được hình dạng và kích thước thật của con vật”. Chuyến thám hiểm đã mang về những tiêu bản như mong muốn, nhưng Jefferson bị thất vọng vì kích cỡ chưa đủ to, đặc biệt là nai sừng tấm mà ông coi là át chủ bài để so với nai châu Âu nhỏ bé của Buffon.
Vì vậy, một bữa tiệc săn bắn nữa lại diễn ra, thêm một con nai sừng tấm nữa bị giết, xác của nó được chuyển đến Paris và được Jefferson trưng bày ở sảnh ra vào khách sạn của ông, nhưng vẫn hơi thất vọng vì con nai sừng tấm này chỉ cao có 7 feet và lông của nó rụng liên tục. Buffon, một người đàn ông thấp bé cao chưa đến 5 feet, đã được mời đến chiêm ngưỡng chiến lợi phẩm hơi nặng mùi và có phần không hoàn hảo này, nhưng vẫn kết luận đây là bằng chứng chưa đủ thuyết phục để buộc phải thay đổi thuyết bài Mỹ của mình. Đó là một trong số những lần thất bại hiếm hoi của Jefferson trong việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau của trục Pháp-Mỹ. 42
Thành công tuyệt đối của ông với tư cách người Mỹ nổi tiếng nhất ở Paris bắt nguồn phần lớn từ tấm chân tình của ông đối với mọi thứ của Pháp. Sự lúng túng của ông khi nói tiếng Pháp có thể tha thứ được, vì nó chỉ là vết gợn duy nhất trên hồ sơ không chút tai tiếng của một người thân Pháp. Rượu vang Pháp, đồ ăn Pháp, kiến trúc Pháp và vẻ đẹp kín đáo của xã hội Pháp, tất cả rõ ràng đều là nguồn vui đối với vị Công sứ Mỹ tại triều đình Versailles - bên cạnh đó là sự tương đồng của lòng hận thù nước Anh hiển hiện nơi ông cũng giúp cho sự nghiệp - ông khiến cho toàn bộ xã hội Paris biết rằng dù ông được sinh ra ở Virginia, nhưng Pháp là ngôi nhà thứ hai của ông, cũng giống như người Pháp là những người anh em tinh thần của ông dẫu không cùng dòng máu. “Tôi rất hài lòng với người dân của đất nước này”, ông đã viết như vậy để thể hiện tình cảm yêu mến đặc biệt của mình, ông còn ghi chú rằng chính phép lịch sự và nét tinh tế vốn có của người dân nơi đây có thể khiến người ta “đi cả đời với họ mà không chút xô bồ”. 43
Đây là một tình cảm chân thành, một biểu hiện chân thực của mối quan hệ thật sự giữa con người tao nhã và quảng giao nơi ông với những quyến rũ đầy gợi cảm của kinh đô văn hóa châu Âu. Nhưng nó cùng tồn tại bên cạnh nét đối lập tương phản. Trong những lá thư gửi về cho bạn bè và đồng nghiệp ở Mỹ, hoặc trong những ghi chú tư vấn cho người Mỹ đi du lịch ở châu Âu, Jefferson đã mô tả Pháp và châu Âu nói chung như một hố sâu tuyệt vọng của sự tham lam, ngu dốt và sự nghèo đói khốn khổ. Thật vậy, những gì Buffon từng nói về một nước Mỹ kém cỏi lâu đời được Jefferson dùng để bật lại chính châu Âu, phát triển thứ lý luận có tính công thức về một châu Âu tự ti để đảo ngược những định kiến của Buffon.
Lý luận này có xu hướng sử dụng hình thức tranh luận quen thuộc của Jefferson về sự tách biệt giữa các thái cực đạo đức. “So sánh giữa chính phủ của chúng tôi [ở Mỹ] với những chính phủ của châu Âu”, ông viết, “giống như so sánh thiên đàng với địa ngục vậy”; còn Anh thì ở một trạng thái lấp lửng hoặc “trạm trung gian”. Khi George Wythe viết thư cho Jefferson vào năm 1786 để báo tin tốt lành rằng Hội đồng lập pháp Virginia cuối cùng đã thông qua dự luật của ông về bảo đảm tự do tôn giáo, Jefferson đã phản hồi bằng cách đối chiếu những gì có thể ở Mỹ với sự tuyệt vọng ở châu Âu: “Nếu mọi nhà quân chủ châu Âu tự nhận nhiệm vụ giải phóng trí óc thần dân họ khỏi sự thiếu hiểu biết và định kiến hiện có nơi họ..., thì một ngàn năm nữa họ cũng sẽ không có vị thế cao ngang bằng với những người dân thường của chúng ta đang có hiện nay... Nếu ai đó nghĩ rằng nhà vua, giới quý tộc, hay linh mục là những người gìn giữ tốt hạnh phúc của nhân dân, thì hãy đưa họ tới đây”. Điều này đã trở thành một chủ đề chung trong những lá thư ông gửi cho các phóng viên Mỹ. Trong thư gửi David Ramsay ở Nam Carolina, ông viết: “Nếu bất kỳ người đồng hương nào của chúng ta ao ước có một đức vua, hãy kể cho họ truyền thuyết của Aesop về những con ếch đòi có một vị vua; nếu câu chuyện này vẫn không làm họ thức tỉnh, hãy gửi họ sang châu Âu”. “Các chính phủ châu Âu giống như những cánh diều cố bay cao hơn chim bồ câu”, ông báo cáo với John Rutledge, và còn bổ sung cay độc rằng “những ngôi trường tốt nhất cho chủ nghĩa cộng hòa chính là London, Versailles, Madrid, Vienna, Berlin, v.v.” 44
Trong một tài liệu lưu hành nội bộ mang tên “Những gợi ý cho du khách Mỹ ở châu Âu” (“Hints to Americans Travelling in Europe”), ông chỉ trích những du khách quá ấn tượng với nghệ thuật và di tích ở các thủ đô châu Âu, rồi kết luận rằng “chúng đáng để chiêm ngưỡng, nhưng không đáng để học hỏi” bởi chúng có xu hướng đánh lạc hướng sự chú ý khỏi một xã hội thực đang mục nát sâu sắc trong cuộc sống đô thị khắp châu Âu. Ông kêu gọi giới trẻ đang chuẩn bị những chuyến đi lớn hãy cảnh giác trước những cám dỗ và cạm bẫy nhục dục mà họ sẽ gặp phải. (Thư ký riêng của ông, William Short, đã vướng vào mối tình say đắm với người vợ trẻ đẹp của Công tước de La Rochefoucauld Liancourt). Du khách trẻ tuổi điển hình này “bị lôi kéo bởi thứ tình cảm mạnh mẽ nhất của con người khi dan díu tình ái với một phụ nữ, phá hoại hạnh phúc của chính mình và của những người khác, hoặc đam mê với những cô gái làng chơi làm sức khỏe anh ta kiệt quệ...” Paris, như ông cảnh báo, là một nhà thổ khổng lồ. 45
Cần có tâm lý nhạy bén để duy trì một thứ tình cảm chân thành và rất rõ ràng dành cho mọi thứ của Pháp, đặc biệt là khi đồng thời lên án sự suy đồi của châu Âu bằng chính tấm chân tình như thế, nó phụ thuộc vào những cơ chế bí ẩn bên trong Jefferson, vốn ngăn cản tiếng nói của ông lắng nghe lẫn nhau. Trong những bức thư của mình, ông có thể điều chỉnh thông điệp để phù hợp với các độc giả khác nhau. Việc xuất bản Những ghi chép về bang Virginia (Notes on the State of Virginia) của ông đã kích thích trí tò mò đối với mảnh đất này, bởi không giống như những lá thư cá nhân, người ta không thể kiểm soát được việc lưu hành nó, bất kỳ ai cũng có thể đọc nó. Với các phần hướng dẫn du lịch, chuyên luận khoa học và suy ngẫm triết học, Những ghi chép được ông viết vào mùa thu năm 1781, ngay sau trải nghiệm kém may mắn ở cương vị Thống đốc Virginia và ngay trước cái chết bi thảm của người vợ. Ông cho phép xuất bản giới hạn 200 cuốn được dịch ra tiếng Pháp, không in tên ông trên trang bìa, nhằm nâng cao hiểu biết của người Pháp về Mỹ, và chỉ sau khi ông biết rằng báo chí đã đăng tải phiên bản chưa được phép. Thực tế là bất chấp nỗ lực giấu tên của ông, bí mật về việc Công sứ Mỹ tại Pháp là tác giả của Những ghi chép đã nhanh chóng được cả xã hội Paris biết đến, góp phần gia tăng đáng kể danh tiếng của ông như là tiếng nói có ảnh hưởng của Mỹ ở châu Âu. Abigail và John Adams đọc nó khi đang đi xe ngựa đến Calais để nhậm chức mới tại London, Adams đã viết: “Chân thành cảm ơn ông vì đã viết Cuốn sách này”, và thêm rằng, “nó khiến chúng tôi Suy ngẫm trong suốt Ngày dài. Hiện tôi chưa thể nói nhiều về nó, nhưng tôi nghĩ rằng nó sẽ vinh danh Tác giả của nó và Tổ quốc của ông. Các Đoạn về chế độ nô lệ là những Viên kim cương quý giá. Chúng sẽ có ảnh hưởng hơn cả những Tuyển tập do các Triết gia thuần túy viết ra”. 46
Nhưng trên thực tế, Jefferson vô cùng lo lắng về những nhận xét đối với chế độ nô lệ có thể ảnh hưởng đến danh tiếng của ông ở Mỹ, đặc biệt là ở Virginia. Ông tâm sự với Madison rằng “những tình cảm đối với một số đối tượng mà tôi thấu hiểu có thể làm phật ý đất nước [và] có lẽ là cả Hội đồng lập pháp [Virginia] hoặc một số người lãnh đạo nó. Tôi không muốn phải đối diện với sự chỉ trích của họ...” Madison đã viết lại bằng một thông điệp lạc quan thận trọng và theo một phong cách rất giản lược để tránh con mắt rình mò của nhân viên bưu điện, kể cả nếu họ cố giải mã để hiểu được ông đang nói về cái gì: “Tôi đã tìm thấy bản sao các ghi chép của ông..., đã đích thân xem xét chúng cẩn thận và tham khảo ý kiến một số người bạn sáng suốt đáng tin cậy. Chúng tôi đều nhận thấy sự tự do trong những chỉ trích của ông đối với một số biện pháp và quan điểm cụ thể sẽ làm phật lòng những kẻ xúi giục. Nhưng chúng tôi đều đồng tình với suy nghĩ rằng cân nhắc này hẳn là không có nhiều ảnh hưởng bằng tính thiết thực trong kế hoạch của ông ” 47
Trên thực tế, điều đáng lo ngại không phải là niềm tin cá nhân của Jefferson, rằng về mặt đạo đức thì chế độ nô lệ không phù hợp với những nguyên tắc của Cách mạng Mỹ. Ông đã mấy lần bày tỏ quan điểm của mình về chủ đề gây tranh cãi này trước Hội đồng lập pháp Virginia và Quốc hội Liên bang. Điều đáng lo ngại chính là ông bóng gió rằng những chủ đồn điền ở Virginia và vùng Chesapeake đều đang khăng khăng hướng tới việc giải phóng nô lệ. Đây là một sự mơ tưởng coi thường những thực tế chính trị khó ưa. Đúng là ông đã nói nhiều điều tương tự khi đưa ra ý kiến về chế độ nô lệ trong Bách khoa toàn thư , nhưng những nhận xét đó nhắm đến độc giả Pháp và nhằm vẽ ra vẻ ngoài bóng bẩy lạc quan cho một chủ đề tiềm tàng nguy hại.
Điều đáng lo ngại nhất trong những đoạn kịch tính của Những ghi chép là dự đoán về chiến tranh sắc tộc ở Mỹ và “những biến động có thể sẽ không bao giờ kết thúc nhưng lại hủy diệt không sắc tộc này thì sắc tộc khác”. Jefferson có vẻ thật sự muốn nói rằng nếu chiến tranh sắc tộc nổ ra thì Chúa sẽ đứng về phía người da đen: “Tôi thật sự lo sợ cho đất nước tôi. Khi nói đến Chúa, tôi chỉ nghĩ rằng: công lý của người không thể mãi ngủ say; rằng nếu chỉ xem xét những con số, tính chất và cách thức tự nhiên, thì một cuộc cách mạng của bánh xe vận mệnh, một sự thay đổi tình hình có thể xảy ra; rằng nó có thể xảy ra do sự can thiệp siêu nhiên! Đấng Toàn năng không đời nào ủng hộ chúng ta trong một cuộc đua như thế”. Jefferson đã đúng khi lo ngại rằng sẽ chẳng có độc giả nào ủng hộ những tình cảm khải huyền như vậy cả. Độc giả Pháp sẽ bị sốc; còn người Virginia sẽ nổi giận. 48
Khi nó xảy ra, mọi lá thư bình luận về những đoạn phản đối chủ nghĩa nô lệ trong Những ghi chép mà ông nhận được đều thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ. David Ramsay, sử gia Nam Carolina, thậm chí còn trách ông chưa lường trước được hết tương lai. Ramsay cho rằng “trong một vài thế kỷ nữa, người da đen sẽ mất đi màu đen của họ. Tôi nghĩ rằng hiện nay ở Jersey họ không còn đen như ở Carolina nữa”. Vì vậy, thay vì xung đột sắc tộc, người ta có thể nhìn về phía trước để đồng hóa dần tất cả người da đen, họ sẽ đạt được mục tiêu cao cả này bằng cách thật sự trở thành người da trắng. Giám mục James Madison, Hiệu trưởng trường William & Mary, lại không đồng ý và cho rằng những phát biểu rõ ràng, chính xác của Jefferson trong Những ghi chép được đúc kết từ kinh nghiệm. Giám mục Madison dự đoán, cuối cùng thì cư dân da đỏ sẽ hòa nhập vào xã hội Mỹ. Thậm chí còn có những báo cáo về một người da đỏ gần Albany đã gần như có đầy đủ quyền của người da trắng chỉ trong một vài năm. Nhưng không có báo cáo đáng tin cậy nào về việc thay đổi quyền của bất kỳ người da đen nào. Giám mục Madison buồn bã nhận định, “có vẻ như Tự nhiên đã hoàn toàn từ chối Khả năng anh ta giành được Nước da của Người da trắng”. Giám mục Madison chúc mừng Jefferson vì đã buộc những chủ nô Virginia nhận ra rằng nếu không làm được điều gì đó để thay đổi chế độ nô lệ, thì con cháu của họ sẽ chết trong một cuộc chiến tranh diệt chủng giữa các sắc tộc. Trong khi ám chỉ hiện trạng phân biệt chủng tộc phổ biến và sâu sắc, ngay cả trong giới tiến bộ của xã hội Mỹ, những nhận xét của Ramsay và Madison cũng cho thấy cách xử lý của Jefferson trước chủ đề cấm kỵ đã không cô lập ông hoàn toàn như ông lo sợ lúc đầu. 49
Tuy nhiên, mối lo ngại của ông trước phản ứng của công chúng đối với Những ghi chép đã cho thấy ông không hề thoải mái với việc thể hiện những suy nghĩ cá nhân mà ông không thể sắp xếp hoặc kiểm soát được. Đây có thể là lý do tại sao Những ghi chép là cuốn sách đầu tiên và cuối cùng được ông xuất bản. Đáng kể hơn, trải nghiệm này đã có một ảnh hưởng lâu dài đến thái độ của ông với vấn đề nô lệ. Từ lúc này trở đi, quan điểm điển hình của Jefferson nhấn mạnh sự cần thiết phải chờ cho công luận bắt kịp với mệnh lệnh đạo đức của phong trào giải phóng nô lệ. Thay vì trở thành một người tán thành thập tự chinh, ông lại trở thành một nhà ngoại giao thận trọng. “Bạn biết rằng không ai mong muốn tha thiết hơn tôi để được chứng kiến bãi bỏ không chỉ việc buôn bán mà cả chế độ nô lệ”, ông viết trong thư gửi một người bạn Pháp vào năm 1788. “Nhưng... ở đây tôi là một công chức, và những người mà tôi phục vụ chưa thể lên tiếng chống lại thực trạng này, sẽ tốt cho tới khi tránh được việc phải thể hiện quá công khai về mong muốn của mình là được chứng kiến sự bãi bỏ nó. Nếu không phụng sự ở đây, thì tôi ít có khả năng đưa vấn đề này vượt ra ngoài biên giới”. Ông bắt đầu phát triển lập luận - nó đã trở thành trung tâm trong quan điểm công khai của ông về chế độ nô lệ suốt những năm tháng trưởng thành đến tận cuối đời mình - đến mức vấn đề này cần được thế hệ chính khách Mỹ kế cận thông qua. Đây là những nhà lãnh đạo sinh ra trong thời kỳ Cách mạng Mỹ và vì thế “thấm nhuần những nguyên tắc về tự do như sữa mẹ”. Và giờ đây ông tuyên bố rằng: “Tôi lo lắng chứng kiến họ thay đổi số phận của vấn đề này”. Đây là một thái độ chính trị mang nhiều lợi thế chiến lược, là người đứng đầu cho phép ông giữ lại những nguyên tắc đạo đức của mình trong khi biện minh cho việc không hành động bằng sự khôn ngoan dày dạn và hiểu biết thực tế. Do vậy, ông giữ cho các nguyên tắc của mình rõ ràng và nguyên vẹn bằng cách đặt chúng trong chiếc kén thời gian, chúng có thể ở đó cho đến thời điểm thích hợp trong tương lai khi thế giới đã sẵn sàng chào đón chúng. 50
Trong khi đó, cũng có những chiếc kén hoặc khoang bên trong tâm trí hay tâm hồn ông được dựng lên vào thời gian này để giữ cho các tư tưởng xung khắc khỏi va vào nhau. Có lẽ ví dụ minh họa rõ nhất về khả năng giữ bí mật này với chính ông xảy ra vào tháng 8 năm 1786. Một chủ nô người Mỹ đi du lịch sang Pháp hỏi ông về đạo luật cấm chế độ nô lệ của Pháp và cho phép bất kỳ nô lệ nào bị đưa vào đất nước này đều có quyền đòi tự do. “Tôi đã tìm hiểu vấn đề liên quan đến cậu bé da đen anh mang theo”, Jefferson giải thích, “và thấy rằng luật của Pháp sẽ trả lại tự do cho cậu bé nếu cậu bé yêu cầu, và khó mà ngăn cản, nếu không muốn nói là không thể, việc thực thi pháp luật”. Nhưng có một con đường vòng hoặc có thể còn vượt lên pháp luật. Jefferson thận trọng nhận định: “Tôi biết một trường hợp, người này mang theo một nô lệ, và không đả động gì về nó, không làm xáo trộn quyền sở hữu nô lệ của ông ta”. Đơn giản là nếu người đó tránh nhắc đến chủ đề này, “cậu bé da đen sẽ không thể... nghĩ đến việc đòi tự do cho mình”. Ví dụ Jefferson đang nói đến gần như chắc chắn liên quan đến người đầy tớ da đen James Hemings của ông. Điều đó cũng giống như Jefferson không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm khi đề xuất một chính sách bảo mật, đơn thuần phản ánh những bí mật sâu thẳm hơn, bởi ông thường xuyên che giấu bên trong. 51
Tóm lại, kinh nghiệm ngoại giao đáng kể được Jefferson tích lũy trong những năm ở Pháp đã song hành với thứ mà chúng ta có thể gọi là sự vỗ về khéo léo những giằng xé nội tâm. Hoặc có lẽ là kỹ năng tâm lý vốn có đã được bộc lộ hoàn toàn trong thời gian ở Pháp của ông. Ở cấp độ rõ ràng nhất và có ý tốt, sự vỗ về nội tâm này bắt nguồn từ mong muốn chân thành của ông là được nói với người đồng cấp những điều họ muốn nghe. Jefferson luôn coi thẳng thắn và lịch sự là hai khái niệm không thể song hành, và khi buộc phải lựa chọn thì luôn chọn lịch sự để tránh những cuộc đối đầu khó chịu. Đây chính là những gì ông hàm ý khi nói “dàn xếp bằng kết thúc êm đẹp”. Viết thư là một công cụ hoàn hảo của kỹ năng ngoại giao, một phần vì Jefferson là bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ viết, và một phần vì có thể nhắm đến nhiều đối tượng độc giả khác nhau. Một người Pháp sẽ lúng túng khi đọc lời khuyên ông gửi cho giới trẻ Mỹ về những cám dỗ và cạm bẫy của Paris suy đồi, theo đó có thể kết luận Jefferson là một kẻ đạo đức giả. Nhưng Jefferson tự điều chỉnh thông điệp của mình cho phù hợp với đối tượng ông hướng tới, chỉnh sửa quan điểm riêng của mình để phù hợp hơn với quan điểm của người nhận thư. Đấy không phải là lịch sự kiểu hai mặt.
Tuy nhiên, nếu đi xa thêm một chút nữa, thì động cơ vô hại nhằm tránh mâu thuẫn lại có thể gây ra những tác động đáng sợ hơn. Không giống như Adams, người có trái tim và tâm trí luôn nối kết trong cùng một mạng lưới để thực hiện những ý tưởng và ham muốn nối kết chúng trong một nguồn sức mạnh chung, Jefferson lại tạo ra những dòng truyền tải riêng biệt bên trong ông được xây dựng nhằm ngăn chặn các bộ tín hiệu tương tác với nhau. Kết quả là Adams có thể trở nên nguy hiểm nhất khi trung thực nhất. Còn đối với Jefferson, trung thực là một cuộc đàm phán nội tâm phức tạp hơn. Ông yếu thế nhất khi một chủ đề mang nhiều yếu tố đạo đức như chế độ nô lệ đã chia rẽ những niềm tin đầy xung đột của ông, còn ông vẫn bình thản lờ đi sự khác biệt.
Những gì khiến ông bị chỉ trích là đạo đức giả cũng không thật sự đúng. Trong một số trường hợp, đó là mong muốn để làm hài lòng những cử tri khác nhau, để tránh mâu thuẫn với đồng nghiệp. Trong một số trường hợp khác, nó là một dàn nhạc với các giọng nói bên trong ông để tránh mâu thuẫn với chính mình. Sự khéo léo trong giao tiếp của ông với cả người ngoài lẫn nội tâm đều bắt nguồn từ sự vô cùng chán ghét những bất đồng sâu sắc, và niềm tin căn bản trong ông rằng hòa hợp là cách tự nhiên để báo hiệu chân lý xuất hiện. Tự lừa dối mình còn hơn là đạo đức giả tính toán, dù sao đó cũng là một dạng bối rối vì tâm lý nhạy bén có thể làm cho Jefferson dạo qua những khu nô lệ trên Mulberry Row tại Monticello, nghĩ về triển vọng rực rỡ của nhân loại mà không có bất kỳ ý niệm nào về sự mâu thuẫn. Dù nó làm ông hầu như không nghe thấy những lời mỉa mai, nhưng nó có lợi thế chính trị quyết định khi xua tan nghi ngờ hoặc vô hiệu hóa sự mơ hồ từ quá trình tư duy của ông. Ông chỉ có sự hai mặt trong trái tim thuần khiết.
NHỮNG CHUYẾN PHIÊU LƯU TÌNH CẢM
Một trong những giọng điệu nổi bật nhất của Jefferson, thứ hoàn toàn có thể nghe được trong những năm tháng ông ở Pháp, chính là giọng điệu ông giả bộ với phụ nữ. Như chúng ta đã thấy, Abigail Adams đóng vai trò quan trọng trong việc giúp ông giải quyết công chuyện ở Paris. Bà là người phụ nữ đầu tiên ông gặp có thể hội tụ đủ những gì một người vợ cần có để làm một cộng sự toàn diện trong sự nghiệp của chồng, cũng như có khả năng trò chuyện và chuyển chủ đề một cách tự nhiên từ câu hỏi về trách nhiệm của cha mẹ đến những vấn đề chính sự của châu Âu. Nhưng thậm chí Abigail còn cảm thấy thoải mái hơn cả khi đưa ra những lời khuyên sắc sảo nhất cho Jefferson về nghĩa vụ làm cha của ông. Trong chuyện này, bà mặc nhiên công nhận tính hợp pháp của những đường biên giới ngăn cách khu vực nội trợ của phụ nữ với miền hoạt động chính trị truyền thống của nam giới. Trên thực tế, Abigail đã giới thiệu Jefferson với rất nhiều phụ nữ Pháp dám bước qua ranh giới nhục dục mà không bị trừng phạt, điều này dường như khiến ông nghi ngờ mọi giả định truyền thống của mình về giới tính.
Người ta có thể suy ra một số ý nghĩa với những gì Jefferson đã trải nghiệm qua một nhận định của John Adams nhiều năm sau đó, khi ông nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên của mình với “Những Quý bà có học” trong các phòng khách Paris. “Tôi cảm thấy Tự ti trước họ”, Adams nhớ lại theo một cách khiêm tốn nhất, “tôi khó có thể nói gì trước sự hiện diện của họ... Rất ít Quý bà trong số đó hạ cố cho phép tôi nói chuyện với họ. Và khi mọi chuyện xảy ra như vậy, tôi luôn cảm thấy xấu hổ khi phát hiện ra sự Tự ti của mình”. 52
Adams đang nói đến phong cách phóng túng dễ thấy ở những phụ nữ hàng đầu của xã hội thượng lưu Pháp. Jefferson đã tỏ ra lão luyện hơn Adams trong việc ứng xử với những trở ngại thanh lịch như vậy. Điều làm ông đau đầu là những gì xảy ra sau khi những bữa tiệc kết thúc. Ông giải thích với George Washington rằng cho dù không chính thức nhưng chính các bà vợ và các cô tình nhân lại có tác động mạnh đến những quyết định của chính phủ, đó là đặc điểm đáng lo ngại nhất của xã hội Pháp: “Tập quán của nước này cho phép họ gặp riêng tất cả những người đương chức để xin xỏ cho công việc của chồng, gia đình hay bạn bè, sự mồi chài của họ bất chấp luật pháp và các quy tắc... [Rất ít người Mỹ] có thể hiểu được tình trạng tuyệt vọng trước những thứ đất nước này đang mất đi vì một thế lực toàn năng, mà may mắn thay ở nước ta thế lực đó không cố vượt khỏi phạm vi gia đình mà chỉ đơn thuần là niềm khoái lạc nhục dục cá nhân”. Đặc biệt là khi viết thư cho phụ nữ Mỹ, ông thích đưa ra sự tương phản giữa đức hạnh Mỹ với sự suy đồi châu Âu bằng cách chúc mừng phụ nữ Mỹ, “những người có ý thức nâng niu hạnh phúc gia đình hơn mọi thứ khác”, so với phụ nữ Pháp, “những người đau đầu vì chính trị”. Ông kết luận đó là “một sự so sánh giữa các Nữ chiến binh và các Thiên thần”. 53
Jefferson đứng về phía các thiên thần. Một trong những lý do ông không làm theo lời khuyên của Abigail và cho cả hai cô con gái của mình học ở một trường dòng, là bởi ông cho rằng sự sắp xếp này sẽ giúp cách ly chúng khỏi những thăng trầm của xã hội Paris. Ông chịu áp lực nặng nề trước việc phải bảo đảm với bạn bè rằng Patsy và Polly không bị cách ly khỏi thế giới nhưng lại chịu nguy cơ bị nhồi nhét các giá trị Công giáo. Ông nhấn mạnh rằng “chưa hề có một từ nào về vấn đề tôn giáo được nói với lũ trẻ... Đó là một nơi chỉ có giáo dục”. Và Panthemont cung cấp kiểu giáo dục phù hợp với phái đẹp hơn, tức là các khóa học vẽ hoặc hội họa, khiêu vũ, âm nhạc, phép xã giao và tiếng Ý. 54
Dù luôn muốn làm hài lòng cha, nhưng Patsy vẫn tiếp tục cho thấy rằng những chương trình giảng dạy dành cho phụ nữ quý tộc cũng như mấy bức tường cao của trường dòng không thể cách ly cô như Jefferson mong muốn. Cô cho biết tiếng Pháp của mình gần như là bản ngữ, nhưng cô đang mất dần khả năng nói, viết hoặc thậm chí nghĩ bằng tiếng Anh. Rồi cô còn tiết lộ rằng thậm chí các nữ tu cũng không thể ngăn chặn các cô gái vị thành niên chia sẻ những câu chuyện về bê bối tình dục. Cô viết thư cho cha, “Có một quý ông đã tự sát vì cho rằng vợ không yêu mình. Họ đã cưới được 10 năm. Con tin rằng nếu người chồng nào ở Paris cũng làm như vậy, thì ở đây sẽ chỉ còn toàn góa phụ”. Rồi giọt nước tràn ly khi Patsy thông báo cô đã quyết định trở thành một nữ tu. Truyền thuyết gia đình này kể rằng hôm sau Jefferson đã đánh xe đến cổng trường Panthemont, không nói một lời với các nữ tu hay Patsy, mà tống cô vào xe ngựa của mình và lẳng lặng đưa cô về nhà. Điều này xảy ra vào tháng 4 năm 1789, và Jefferson ngay lập tức bắt đầu lên kế hoạch trở về Mỹ, một phần là để bảo đảm rằng con gái ông sẽ được lớn lên trong một môi trường an toàn hơn, hướng về gia đình nhiều hơn. 55
Lướt qua những gì Jefferson đã làm với các con gái mình, có thể thấy hình ảnh của một người cha yêu thương và tận tụy. Chẳng hạn, một vị khách đến nhà Jefferson đã tả lại cảnh gia đình thân mật, Patsy chơi đàn clavico trong khi người cha say sưa giúp Polly viết thư cho bạn bè ở Virginia. Đây là khung cảnh tình cảm mà Jefferson luôn lý tưởng hóa. Và nó cho phép chúng ta hình dung ra không gian gia đình không chỉ là một nơi đặc biệt giành cho phụ nữ mà còn là nơi sâu thẳm lý tưởng của riêng Jefferson. Về mặt này, ông có xu hướng đưa phụ nữ vào một vùng riêng và ít tranh cãi hơn, không phải để xa lánh mà là để chứng thực các giá trị nữ tính và đạo đức chính là cốt lõi trung tâm trong chốn thiên đường kiểu Jefferson. 56
Nhưng phần lớn bằng chứng sẵn có về mối quan hệ của Jefferson với các con gái mình lại tìm thấy qua những lá thư. Những lá thư ấy vẫn còn vì Jefferson đã chọn cho các con gái mình sống tách biệt với gia đình trong phần lớn thời gian ông ở Pháp. Hơn nữa, cả thông điệp chính và giọng điệu không đổi trong những lá thư cho thấy sự cố tình tạo khoảng cách giữa người cha với con cái, có thể gọi đó là gia trưởng, theo kiểu ít gần gũi. Ví dụ, Patsy từng muốn đi cùng cha trong chuyến thăm miền Nam nước Pháp mùa xuân năm 1787. Jefferson đã từ chối yêu cầu này, sau đó còn để lại những giáo huấn: “Hãy xác định không bao giờ được lười nhác. Sẽ chẳng ai có dịp phàn nàn là thiếu thời gian, nếu họ không lãng phí chút nào. Nếu chúng ta luôn làm việc, thì có thể làm được bao nhiêu điều thật tuyệt vời. Và con có thể luôn làm điều tốt, con yêu của cha, đó là lời cầu nguyện thiết tha của cha”.
Từ Aix-en-Provence, ông đã xin lỗi vì không viết thư thường xuyên, rồi tiếp tục bằng giọng giáo huấn: “Không có người siêng năng nào lại chưa từng kích động... Một phần của tính cách Mỹ là không tuyệt vọng trước bất cứ điều gì, vượt qua mọi khó khăn nhờ có quyết tâm và sáng kiến... Con đòi cha viết cho con những lá thư dài. Cha sẽ làm điều đó, con thân yêu, với điều kiện con sẽ đọc đi đọc lại chúng, và thực hành những gì được nhấn mạnh trong đó”.
Một lá thư trước đó gửi cho Polly cũng có những bài giáo huấn tương tự về sự chăm chỉ, và sau đó trong một đoạn đặc biệt vô cảm, dường như muốn nói rằng tình yêu của ông phụ thuộc vào việc cô được đánh giá như thế nào. Jefferson thuyết giảng, rằng cô phải “tự học cách chơi đàn clavico, vẽ, khiêu vũ, đọc và nói tiếng Pháp, những thứ sẽ làm cho con xứng đáng hơn với tình yêu của bạn bè... Hãy nhớ một nguyên tắc bất di bất dịch rằng đừng đi ra ngoài mà không đội mũ, vì điều đó sẽ khiến con rất xấu xí và chúng ta sẽ không yêu con nhiều”. 57
Khó mà tránh được kết luận rằng Jefferson đơn giản đã không thể truyền đạt nổi tình cảm đối với con cái mình, trong khi ông lại là bậc thầy lão luyện khi chọn văn phong sao cho phù hợp với độc giả. Điều này không có nghĩa ông là một người cha không thương yêu hoặc không quan tâm đến con cái. Việc ông lý tưởng hóa hạnh phúc gia đình như nguồn hạnh phúc cá nhân tối cao của mình hiển nhiên là chân thành, và con cái ông là một phần không thể thiếu trong không gian được bảo vệ, nơi lý tưởng trong hình dung của ông. Nhưng trong thực tế đời thường, trong những đối xử hằng ngày với các con gái ruột thịt, ông lại không thể lúc nào cũng tỏ ra gần gũi.
Những mối quan hệ của ông với phụ nữ trưởng thành lại hoàn toàn khác. Nếu Jefferson có xu hướng đưa phụ nữ lên bệ thờ rồi đặt nó trong căn phòng yêu thích nhất của Monticello nơi tinh thần ông trú ngụ, thì những bức thư ông viết cho những người bạn gái lại kết hợp giữa sự chiều chuộng phụ nữ điển hình với phong cách tán tỉnh, thân mật, hài hước. Nếu những bức thư gửi cho các con gái có giọng điệu giáo huấn gần như cứng nhắc và có vẻ vội vã và bắt buộc, thì thư từ gửi cho những phụ nữ cùng độ tuổi lại rất thân mật, mềm mỏng đến độ ủy mị và được chăm chút câu chữ cẩn thận.
Ví dụ như các thư ông viết cho Angelica Schuler Church, một người đẹp nổi tiếng và là một họa sĩ tài hoa có con gái học cùng trường Panthemont với Patsy, lại theo kiểu đàn ông đỏm dáng. Sau lần Church ghé thăm Paris, ông viết: “Lần sau em đến, tôi sẽ tự mình cố tìm ra hoặc tưởng tượng về các lỗi nào đó của em, và tôi sẽ trùm lên tấm mạng để che đi mọi nét đẹp nơi em, nếu tôi có thể tìm thấy một tấm mạng đủ lớn”. Rồi ông tưởng tượng Church đến thăm ông tại Monticello, hai người cùng tận hưởng cả buổi chiều tại Natural Bridge uy nghiêm. Ông áp dụng phong cách lả lơi như thế trong thư từ với Quý bà de Tessé, dì của Marquise de Lafayette, người sở hữu khu đất tại Chaville mà Jefferson rất thích đi dạo trong những khu vườn ở đó. Từ Nimes, ông viết: “Thưa Quý bà, tôi ở đây, nhìn chằm chằm vào tòa nhà Maison suốt hàng giờ, như một kẻ đang yêu ngắm nhìn tình nhân của mình. Những thợ dệt và thợ quay tơ quanh đó nhìn tôi như một kẻ dở hơi người Anh, sắp viết nốt chương cuối đời mình bằng súng lục. Đây là lần thứ hai tôi vướng vào tình ái kể từ khi tôi rời Paris”. Ông còn giải thích tình yêu đầu tiên chính là dành cho bức tượng Diana ông thấy ở Beaujolais. 58
Trên thực tế, có trước cả bức tượng Diana là một phụ nữ đáng yêu không kém và đầy sống động, Maria Cosway, vợ của họa sĩ nổi tiếng Richard Cosway. (Hầu như tất cả bạn bè nữ giới của Jefferson đều đã kết hôn hoặc góa chồng). Nếu như Jefferson có thể gặp được sự nữ tính bằng xương bằng thịt như ông vẫn hình dung về nó, thì Cosway chính là hiện thân hoàn hảo của lý tưởng đó. Người đương thời mô tả bà là “một người Ý gốc Anh mảnh mai với mái tóc vàng, yêu kiều đến mức kiểu cách và rất tài hoa, đặc biệt trong âm nhạc”, nhiều bức chân dung còn sót lại khắc họa một đôi mắt xanh thẳm, những lọn tóc vàng, một sự pha trộn hấp dẫn giữa nét kiêu kỳ và yếu đuối. Khi những thứ này kết hợp với kiểu bĩu môi có phần khinh khỉnh và chút ngữ điệu nước ngoài - ngôn ngữ mẹ đẻ của bà là tiếng Ý - tất cả có khả năng gây sát thương rất cao đối với nam giới. Jefferson không phải là ngoại lệ. Họ gặp nhau vào đầu tháng 8 năm 1786 qua sự giới thiệu của nghệ sĩ trẻ người Mỹ John Trumbull, từng nhận lời mời gia nhập gia đình của Jefferson ở Paris khi anh sáng tác bức tranh “Tuyên ngôn Độc lập”. Chỉ sau vài ngày, Jefferson đã đắm chìm trong men say tình yêu. 59
Trong sáu tuần tiếp theo, gần như ngày nào Jefferson và Cosway cũng cùng nhau đi dạo trong các khu vườn, chiêm ngưỡng tất cả tòa nhà, tượng đài, tranh vẽ đặc biệt hay di tích cổ ở Paris và những vùng lân cận. Đối với Jefferson, vẻ đẹp hoa mỹ của một tác phẩm nghệ thuật cũng giống như một người phụ nữ đẹp đã thức tỉnh niềm đam mê sâu thẳm - trân trọng cái đẹp và nét nữ tính là những ham muốn mạnh mẽ mà nguyên sơ quyện chặt với nhau trong tâm hồn ông - cùng sự pha trộn giữa nghệ thuật và kiến trúc Paris với những điểm hấp dẫn quyến rũ nơi một phụ nữ trẻ xinh đẹp (Cosway 27 tuổi) đã tạo ra một sự kết hợp bùng nổ khiến ông hoàn toàn say đắm. Ông bỏ mặc công việc ngoại giao của mình, thường xuyên cử Petit đi xin lỗi cho những lần lỡ hẹn.
Cuộc phiêu lưu hân hoan này lên đến điểm cao nhất vào ngày 18 tháng 9 năm 1786, khi Jefferson, vẫn đang lâng lâng trong ái tình, đã bị gãy cổ tay phải lúc cố nhảy qua một ấm nước lớn hoặc đài phun nước - vẫn chưa thống nhất rốt cuộc nó là thứ gì. Ngay cả nơi xảy ra tai nạn và liệu Cosway có ở bên ông vào thời điểm đó hay không cũng chẳng rõ. Một tháng sau, Jefferson đưa ra bình luận rõ ràng nhất về vụ việc: Trong thư gửi cho William Stephens Smith, ông viết: “Làm thế nào tay phải trở nên thương tật sẽ là một câu chuyện dài cho tay trái viết lại. Đó là một trong những sự điên rồ chẳng mang lại điều gì tốt đẹp, mà chỉ có thể là bệnh tật”. Chấn thương khiến Jefferson phải bất động trong vài tuần và đặt dấu chấm hết cho cuộc vui lãng mạn với Cosway. “Tôi thật sự lấy làm tiếc”, ông viết thư cho bà bằng tay trái, “vì phải từ bỏ những bước đi bên cạnh đầy mê đắm của em để tiến hành phẫu thuật”. Nhưng hai bác sĩ người Pháp khác nhau đều điều trị sai - ông gặp rắc rối với cổ tay này trong suốt phần đời còn lại của mình - còn Cosway rời London với chồng trước khi có thể thu xếp một cuộc hẹn khác. Ông đã phải kiềm chế khi chứng kiến bà ra đi, quả quyết rằng mình đã quay đi khi bà biến mất ở đường chân trời, cảm thấy “thà chết còn hơn là sống”. 60
Chúng ta không bao giờ có thể biết chắc chắn những gì đã xảy ra giữa Jefferson và Cosway trong suốt mùa thu năm 1786. Các sử gia, người viết tiểu sử và kể cả nhà làm phim đã nấn ná trước giai đoạn yêu đương với những chi tiết cụ thể này, và đưa ra các câu trả lời khác nhau cho câu hỏi “giữa họ đã có hay không có chuyện gì?”
Điều không thể chối cãi là Jefferson đã có vài tháng sống trong màn sương mờ lãng mạn, được ông mô tả bằng cụm từ trong tác phẩm Nỗi đau của chàng Werther (The Sorrows of Young Werther) khi hồi tưởng về người yêu trẻ: “Sống qua ngày, không có một kế hoạch cho 24 giờ tới”, ông thú nhận với một người bạn nữ giới khác: “Tôi không lập danh mục về các sự kiện không thể xảy ra. Trong đời, tôi đã từng nghĩ về việc đóng cửa, trốn trong bến cảng, nhưng rồi một người xa lạ đến bên tôi, ném tôi ra biển”. Thật vậy, mối quan hệ với Cosway mang nhiều ý nghĩa, không phải bởi những câu hỏi kích động đặt ra về chuyện quan hệ thể xác với một người phụ nữ trẻ đẹp đã lập gia đình, mà vì nó hé mở cánh cửa đi vào tâm hồn tình cảm sâu sắc của Jefferson và vai trò vô cùng lãng mạn mà ông gán cho những người phụ nữ chạm được vào tâm hồn ông. 61
Bức thư bộc lộ bản thân nhiều nhất ông từng viết được gửi cho Cosway vào tháng 10 năm 1786, giữa lúc ông còn đang mê đắm trong cơn lốc tình yêu và cổ tay bị thương vẫn đang trong quá trình hồi phục, nó như một phép ẩn dụ hoàn hảo cho tình trạng bị thương của ông. 12 trang và hơn 4.000 từ, Jefferson đã viết bức thư này trong xúc cảm mãnh liệt ngang với khi viết Tuyên ngôn Độc lập. Bức thư nổi tiếng - được nhiều thế hệ học giả không ngừng giải thích - là minh chứng kinh điển cho kiểu xoay sở “đối thoại giữa Cái đầu và Trái tim”. Mặc dù ý định được công bố của bức thư là nhằm mô tả Cosway như một hình tượng nan giải trong cuộc chiến nội tâm giữa lý trí và cảm xúc của Jefferson, nhưng đây vẫn là một bức thư tình, và do đó trái tim có đặc quyền sức mạnh. Trái tim đưa ra tiếng nói quyết định cũng như đúng đắn nhất (tức là, “Nếu họ [những triết gia] từng cảm thấy niềm vui thuần nhất khi con tim vỡ òa cảm xúc, họ sẽ sẵn sàng đánh đổi mọi suy luận lạnh lùng của cả đời mình để có nó”). Jefferson thậm chí còn cho rằng Cách mạng Mỹ nhân danh lý lẽ của trái tim, tuyên bố rằng chiến thắng trong cuộc chiến tranh giành độc lập là minh chứng của việc “nhiệt huyết chống lại số lượng” bởi nó không tuân theo bất kỳ phép tính lý trí nào về mặt xác suất. Cho nên ở một mức độ nào đó, trái tim là kẻ chiến thắng hiển nhiên trong tranh luận. Dù ông cảm thấy đau đớn khi Cosway ra đi, nhưng đánh đổi nỗi đau ấy để có được cảm giác hạnh phúc lâng lâng trong thời gian bên nhau thì cũng đáng. Tuy nhiên, ở một cấp độ khác, lý trí của Jefferson lại dàn dựng những luận cứ và từ ngữ khi đối thoại. Việc viết thư cho phép ông kiểm soát lại những cảm xúc mạnh mẽ do mối quan hệ với Cosway gây ra. Ông giữ một bản sao của bức thư để lưu lại những cảm xúc về khoảnh khắc này cho hậu thế. Về lâu dài, lý trí vẫn thắng thế. 62
Việc thư từ sau này của Jefferson với Cosway giảm dần, và có lẽ sự đắm say cũng không thể tránh khỏi bị nguội lạnh dần. Người ta cũng chứng kiến sự thôi thúc chuyển hướng những cảm xúc mãnh liệt từ một phụ nữ trong đời thực sang một vùng tưởng tượng, nơi có thể trải nghiệm tình yêu hoàn hảo dễ dàng và an toàn hơn. Vào tháng 12 năm 1786, vẫn phải chịu đựng chấn thương cổ tay và nỗi đau chia ly, ông nhớ lại câu chuyện về chiếc mũ ma thuật ông từng đọc khi còn là một đứa trẻ, chiếc mũ có thể giúp người đội nó bay đến bất kỳ nơi nào mình muốn. “Tôi ước được ở bên em, và không muốn xa em lần nữa”, ông viết. “Nếu tôi không thể ở bên em trong thực tế, tôi sẽ ở bên em trong trí tưởng tượng”. Ông kể về giấc mơ của mình, trong đó hai người cùng Virginia, thăm Natural Bridge: “Tôi sẽ gặp em ở đó, và ghé thăm tất cả những cảnh hùng vĩ cùng em. Tôi thà tự dối mình còn hơn là sống mà không hy vọng. Điều đó thật ngọt ngào! Nó khiến chúng ta lướt êm ái qua cuộc đời gập ghềnh”. 63
Trong những lá thư đầu tiên của mình, Cosway có thể hòa cùng ông bằng trí tưởng tượng lãng mạn nơi bà. Bà viết vào tháng 2 năm 1787: “Có thể mô tả ông trong thời tương lai, cô độc và buồn bã nơi Monticello xinh đẹp, bị dằn vặt trước bóng hình một phụ nữ tặng ông một cây gậy biến dạng [có lẽ là cổ tay của ông], bị xoắn lại và vỡ nát, thay vì những nhạc cụ tiêu biểu của các Nàng thơ (14) ...” 64
(14) Nữ thần thơ ca, nàng thơ.
Nhưng đến mùa hè năm 1787, những lá thư của Jefferson đã trở nên thưa thớt hơn. Cosway trở lại kiểu bĩu môi hờn dỗi của mình, phàn nàn về việc ông thiếu quan tâm và dọa sẽ ngừng viết thư cho đến khi số lượng thư của Jefferson bằng với số lượng thư của bà. Tuy nhiên, giờ đây bà đã bị mắc vào cuộc bút chiến với một trong những bậc thầy văn chương của thời đại. Ông giải thích sự im lặng kéo dài của mình là do chuyến đi đến miền Nam nước Pháp và miền Bắc nước Ý, nơi ông “nhìn trộm vào Thiên đường” và nhận ra rằng “Tôi sinh ra để mất mọi thứ mình yêu”. Nhưng không hàm ý là về Cosway, ít nhất là khá rõ ràng; mà ý nói đến kiến trúc Ý và việc ông không thể chiêm ngưỡng Rome. “Sự im lặng kéo dài của ông là không thể tha thứ”, bà trả lời, rồi thừa nhận không biết phải nói gì khác nữa: “Cuộc chiến của tôi với ông là một thứ Tự nhiên mà tôi thậm chí không thể tìm được từ ngữ để diễn đạt nó... Nhưng tôi bắt đầu nói liên tục trong khi dự định của tôi là không nói gì cả , chỉ gửi một tờ giấy trắng... … 65
Đáp trả của Jefferson trước sự thiếu kiên nhẫn của Cosway chỉ càng làm bà thất vọng: “Tôi không nghĩ rằng tôi còn thiếu nợ trong tài khoản thư từ của mình khi tôi rời Paris. Trong tình cảm, tôi chắc chắn em là con nợ lớn của tôi. Trong suốt cuộc hành trình của mình tôi vẫn định viết thư cho em; nhưng đôi khi sự mệt mỏi về thể chất và đôi khi sự chú ý đến kiệt sức đã cản trở tôi”. Đến lúc này, bà đã trở thành một ký ức đáng yêu mà ông có thể nhớ đến và nâng niu trong trí tưởng tượng riêng tư của mình: “Tại Heidelberg, tôi cũng đã cẩu mong cho em. Thực tế là tôi đã dắt tay em đi khắp khu vườn… Tại Strasbourg, tôi đã ngồi vào bàn để viết thư cho em. Nhưng trong tâm hồn tôi, tôi chẳng thể nghĩ đến điều gì ở Strasbourg ngoài những mũi đất… Nếu tôi viết cho em từ đây, đó sẽ là một sự tiếp nối tác phẩm Sterne về những chiếc mũi…” Câu cuối cùng ông nhắc đến một đoạn trong Tristram Shandy của Laurence Sterne, mô tả cái mũi thon dài, một sự ám chỉ tình dục không thể nhẩm lẫn mang ý định khiêu khích. Nhưng lại lảng tránh nhắc tới Cosway, vốn đã quen với việc bỏ mặc bao nhiêu nam nhân hâm mộ mình ở nhiều thủ đô chấu Âu đang ngẩn ngơ tự hỏi và lang thang theo chân bà. (Cũng chẳng ngoa khi James Boswell nói bà đối xử với đàn ông như những con cún). Nhưng giờ đây, chính bà là người đang đeo bám, nhan sắc chết người này đã gặp phải đối thủ nặng ký hơn. Bà tức giận: “Cuối cùng thì tôi đã nhận được một lá thư từ ông, tôi có tức giận hay không… để tôi nói cho ông biết ít nhất tôi không phải là con nợ của ông… làm thế nào ông có thể dắt tay tôi đi khắp nơi, nghĩ về tôi, có Nhiều điều để nói, nhưng không tìm nổi Một tứ để viết, ngoài Những chiếc mũi ? 66
Trong những lần Cosway trở lại thăm Paris, hai người yêu cũ đã cố kiềm chế, chỉ gặp nhau ngắn ngủi và luôn ở những cuộc tụ họp lớn mang tính xã hội. Trong chuyến trở về Mỹ của Jefferson, ông có 10 ngày ở Anh để chờ tàu nhưng vẫn quyết định không tìm cách thăm bà trước khi ra khơi. Bà đáp lại với tuyên bố rằng bị cảm lạnh nặng nên không thể đến gặp ông được. Ở một trong những bức thư cuối cùng của mình, bà đã thừa nhận thất bại trong trận bút chiến với ông, tràn ngập nơi đó là cảm giác không hài lòng: “Tôi luôn muốn trò chuyện với ông lâu hơn. Nhưng khi tôi đọc thư ông, chúng đều được viết rất hay, đầy những thứ tốt đẹp đến nỗi tôi không thể trả lời được những lá thư mê mẩn như vậy. Tôi có thể nói nhiều điều nếu ngòi bút mình có thể viết chính xác về tình cảm và cảm xúc Của tôi, nhưng những lá thư ấy chắc chỉ là những con chữ nguệch ngoạc buồn bã với ông”. Về phần mình, Jefferson nói lời tạm biệt theo cách công nhận sự đam mê nóng bỏng và sau đó là giả vờ gây gổ, khiến nó nguội dần thành một mối quan hệ bằng hữu lạnh nhạt hơn nhưng thoải mái hơn. Những cảm xúc khó kiềm chế hơn từ lâu đã được xếp vào một ngăn trong tâm hồn ông, được giữ kín và cách ly an toàn. “Tạm biệt người bạn rất thân thiết của tôi”, ông viết. “Tình cảm của chúng ta không thể thay đổi, và nếu câu chuyện ngắn ngủi giữa đôi ta vượt qua cả cái chết, thì đó sẽ là chương dài nhất ghi lại sự tinh khiết, ấm áp và vĩnh cửu”. Trong khi sự thận trọng thường thấy của ông khiến người ta không thể biết liệu mối quan hệ với Cosway có chiều hướng tích cực chứ không chỉ là một mối quan hệ thể xác hay không, thì đặc điểm cố hữu trong những bức thư dài dòng của họ lại cho thấy rõ rằng Jefferson chỉ thích gặp tình nhân trong vùng tâm hồn riêng tế nhị chứ không phải là thế giới vật chất trong phòng ngủ của mình. 67
LỜI KHUYÊN CỦA MADISON
Sau một nửa thời gian ở Pháp, Paris đã mang nhiều ý nghĩa với Jefferson: Đó là thủ đô ngoại giao của châu Âu, ở đó sự phát triển về chính trị và thương mại của một quốc gia mới như nước Mỹ mà ông đại diện vẫn duy trì ở mức tốt nhất, là hình ảnh thu nhỏ của những cám dỗ cũng như thối nát nơi đô thị của nền văn minh Cựu Thế giới; và là nơi hoàn hảo để mắc vào lưới tình. Paris cũng chứng tỏ là vị trí lý tưởng để quan sát hai trong những sự kiện chính trị có ý nghĩa nhất của lịch sử phương Tây. Nó giúp cho Jefferson có một góc nhìn khách quan thoải mái từ xa về cuộc tranh luận xung quanh việc soạn thảo và phê chuẩn Hiến pháp mới của Mỹ, trong đó sự kết hợp giữa việc ông ở xa và chất lượng nguồn thông tin chính ông có được từ James Madison cho phép ông thích nghi với những ý tưởng chính trị khác hẳn với những bản năng tư tưởng sâu xa nhất của mình. Gần hơn, nó mang đến cho ông cơ hội duy nhất để chứng kiến sự xuất hiện của Cách mạng Pháp, và tính toán đầy đủ những tác động của tầm nhìn chính trị thật sự cấp tiến của ông trong thử thách khi phải đối thoại với những người ủng hộ trung thành và các nạn nhân chính của phong trào này. Tóm lại, vừa là người quan sát toàn bộ sự phát triển của Mỹ, vừa là người đứng ngoài cuộc chứng kiến những biến động của Pháp, ông đã tạo ra những gì sẽ trở thành niềm tin bền bỉ thuộc về Jefferson trong mối quan hệ mong manh giữa người dân với chính phủ.
Việc trao đổi thư từ liên tục với Madison và Monroe đã giúp ông nắm được sự bất mãn ngày càng tăng trước yếu kém cố hữu của Quốc hội Liên bang ở Philadelphia. “Nền chính trị châu Âu khiến chúng ta nhất thiết phải là một quốc gia duy nhất, gắn kết chặt chẽ với nhau trong tất cả các vấn đề đối ngoại”, ông thông tin với Madison, và thêm, “Chính phủ riêng là những gì mỗi bang nên giữ cho mình”. Ông muốn quê nhà ở Virginia và Philadelphia biết rằng ông ủng hộ cải cách Các điều khoản Hợp bang để mở rộng thẩm quyền liên bang đối với thương mại quốc tế và chính sách đối ngoại, nhưng ưu tiên để các bang giữ lại quyền kiểm soát với mọi vấn đề đối nội, bao gồm cả hệ thống thuế. Trong thư gửi Madison, ông viết: “Để chúng ta là một quốc gia trong các vấn đề đối ngoại và giữ cho chúng ta khác biệt trong các vấn đề đối nội, cần đưa ra lộ trình phân chia quyền lực thích hợp giữa chính phủ liên bang và chính phủ bang”. 68
Đến năm 1786, Madison đã dự tính về nhiều thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu chính phủ liên bang. Jefferson vô tình đã đóng góp những tư tưởng như vậy khi gửi đến hai hòm sách, có cả những tác phẩm được sưu tầm của David Hume mà sau này Madison tiếp tục nghiên cứu để chuẩn bị cho Hội nghị Lập hiến. (Sử gia Douglass Adair đã gọi việc Madison nghiền ngẫm các tác phẩm của Hume có lẽ là hành động nghiên cứu hiệu quả và logic nhất trong lịch sử Mỹ). Nhưng ban đầu Madison không chia sẻ những đánh giá quan trọng hơn của mình về Chính phủ Mỹ với Jefferson. Mô hình liên minh chính trị vốn có giữa họ là Madison hoặc Monroe cung cấp thông tin về những cuộc tranh luận của Quốc hội cho Jefferson, rồi sau đó Jefferson đưa ra các đường hướng thực hiện. Ví dụ, khi Monroe báo cáo về một đề xuất của Quốc hội là sẽ chuyển thủ đô từ Philadelphia tới New York, Jefferson đã bảo Monroe cùng với Madison ngăn chặn động thái này, vì lợi ích của Virginia là cần có một vị trí bên sông Potomac. Ông cho Monroe biết: “Rõ ràng là khi một số bang miền Tây sáp nhập, họ sẽ chuyển thủ đô đến thị trấn George. Trong khi đó, chúng ta có lợi khi giữ thủ đô ở vị trí hiện nay và không muốn chuyển đến bất kỳ nơi nào khác”. Nếu Madison không thường xuyên thể hiện sự tôn trọng với mệnh lệnh của Jefferson, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi Jefferson không hề biết gì về những cải cách triệt để mà Madison tin là cần thiết cho đến sau khi Hội nghị Lập hiến đã hoàn thành công việc của mình. Trong trường hợp vô cùng quan trọng này, vai trò của họ đã được hoán đổi: Madison lại là người chỉ đạo. 69
Trong khi đó, Jefferson lại nhận được báo cáo từ các khu vực khác về một cuộc nổi dậy ở miền Tây Massachusetts, do một cựu binh của Cách mạng Mỹ là Daniel Shays lãnh đạo, phản đối chính sách thuế mới được Boston áp dụng. Trong cục diện lúc bấy giờ, cuộc nổi dậy của Shays chỉ là một sự kiện nhỏ được phóng đại, nhưng những nhân vật lỗi lạc trong cả nước hiểu rằng đây là một dấu hiệu của tình trạng hỗn loạn đang manh nha và yêu cầu khẩn thiết có một chính phủ liên bang mạnh mẽ và được trao đầy đủ quyền lực hơn: “Tóm lại, thưa Ngài”, John Jay đã viết từ Philadelphia, “chúng ta đang ở trong một Tình cảnh rất bất an. Thay đổi là Cần thiết, nhưng những thay đổi nào là Nên có, những thay đổi nào sẽ xảy ra, thay đổi thế nào và khi nào, là những câu hỏi gay go”. Từ London, Abigail Adams tưởng tượng ra cảnh ngày tận thế sắp đến. “Những kẻ liều mạng ngu dốt, vô cớ, vô lương tâm và vô nguyên tắc”, bà thông báo với Jefferson, “đã dẫn đầu một đám đông nhẹ dạ đi theo chuẩn mực của chúng, giả vờ bất bình nhưng nó không hề có thực mà chỉ có trong trí tưởng tượng của chúng”. 70
Khi nhìn lại, có thể thấy rõ rằng cả nỗi khiếp sợ của phe Shays về sự bạo ngược lẫn nỗi sợ hãi tương ứng của các quan sát viên như Jay và Abigail Adams về việc xã hội Mỹ đang trên bờ vực tan rã, đều là những phản ứng thái quá, tương hỗ lẫn nhau theo những tỷ lệ gần như hoang tưởng. Phản ứng của Jefferson trước toàn bộ diễn biến này đặc biệt cho thấy cả hai nỗi sợ hãi này chính là sự sáng suốt và thậm chí có phần bình lặng trước sự đối kháng của quần chúng với chính phủ dưới mọi hình thức, và ông thậm chí còn có câu nói nổi tiếng: “Tôi hy vọng người dân tha thứ cho họ [tức những người thuộc phe Shays]”, ông nói với Abigail. “Tinh thần đối kháng với chính phủ rất có giá trị vào những thời điểm nhất định, nên tôi mong nó sẽ luôn sống mãi... Tôi thích thỉnh thoảng lại có một cuộc nổi loạn nhỏ. Nó như một cơn bão trong bầu khí quyển”. Đầu tiên ông đề xuất một công thức tương tự về vấn đề này hai tháng trước đó trong một bức thư gửi Ezrar Stiles, Hiệu trưởng của Đại học Yale. “Nếu hạnh phúc của đa số người dân có thể được bảo đảm bằng cái giá của việc thỉnh thoảng có một biến động nhỏ, hoặc thậm chí có đổ máu chút ít, thì nó cũng sẽ là sự đánh đổi đáng quý”. Một tháng sau, ông đã viết cho Madison với giọng điệu gần giống như thông điệp mà ông gửi tới Abigail. Sự thể hiện táo bạo nhất của ông xuất hiện sau đó hơn một tháng, vào tháng 11 năm 1787, khi ông nói với William Stephens Smith rằng cuộc nổi dậy của Shays thực ra là một triệu chứng của sức khỏe chính trị Mỹ: “Điều gì khiến những sinh mạng bị mất đi trong một hoặc hai thế kỷ qua có ý nghĩa?” ông nhận định. “Theo thời gian, cây tự do phải được tưới bằng máu của những người yêu nước và những kẻ bạo chúa. Đó là thứ phân bón tự nhiên của nó”. Hơn nữa, ông cảnh báo rằng những chính khách được cho là muốn lợi dụng cuộc nổi dậy của Shays như một dịp để chứng minh cho những thể chế chính trị có tính cưỡng chế cao hơn, họ “đang muốn dùng một con diều hâu để cai quản bầy gà mái trong sân”. 71
Những tuyên bố vô cùng cực đoan này cho dù theo nghĩa đen hay nghiêm trọng hóa vấn đề, cũng định vị Jefferson theo xu hướng cực tả như những nhà lãnh đạo chính trị có trách nhiệm của thế hệ cách mạng. Có nhận xét cho rằng lòng trung thành sâu sắc nhất của ông không hướng đến bảo vệ sự ổn định chính trị mà là sự đối lập trực tiếp với nó. Điều này căn cứ vào việc ông có vẻ ủng hộ các kết quả cực đoan và thậm chí hỗn loạn của những ý tưởng đáp trả sự sợ hãi Shays, người ta bị xúi giục để đàn áp như những sự kiện bị cường điệu hóa, hoặc có lẽ như sự quá đáng tạm thời bởi ông ác cảm thật sự trước phản ứng thái quá ở những người lên án cuộc nổi dậy của Shays, một kiểu ác cảm được thể hiện hợp lý và thoải mái hơn vì ông ở một nơi xa và an toàn tại Paris.
Nhưng thực ra, có lý do để tin rằng điều mà Jefferson hàm ý là cách nghĩ về chính phủ của ông khác hoàn toàn với bất kỳ nhà lãnh đạo nổi tiếng nào của Mỹ vào thời đó. Tháng 1 năm 1787, trong khi Madison đang nghiên cứu những văn bản cổ của Hume và Montesquieu để chuẩn bị cho Hội nghị Lập hiến sau đó vào mùa xuân, thì Jefferson viết thư cho Madison để chia sẻ những suy nghĩ của mình về mô hình chính trị phù hợp với xã hội Mỹ. Giữa lúc Madison đang vật lộn với những câu hỏi về cấu trúc chính trị - làm sao để phân quyền liên bang và bang; thiết kế các thể chế thế nào để cân đối giữa các nhóm lợi ích mà không lặp lại sự bế tắc của chính phủ hiện thời theo Các điều khoản Hợp bang - thì Jefferson suy nghĩ thấu đáo hơn về nền tảng để xây dựng nên bất kỳ và mọi cấu trúc chính trị. Và khi Madison đang trăn trở với việc phân chia quyền hạn cho ba nhánh chính phủ, thì Jefferson xác định ba loại xã hội trong đó con người có thể tự sắp xếp.
Đó là xã hội châu Âu, với những chính phủ cai trị bằng sức mạnh và thường theo hình thức quân chủ, được Jefferson mô tả là “bầy sói chính phủ cai trị đàn cừu”. Tiếp đó là xã hội Mỹ, và ở một mức độ kém hơn đôi chút là xã hội Anh, với những chính phủ coi quần chúng như một thể thống nhất, trong đó “đa số nhân dân được hưởng tự do và hạnh phúc ở một mức độ đáng quý”. Cuối cùng là xã hội da đỏ, tự quản lý không cần bất kỳ một chính phủ chính thức nào bằng cách duy trì quy mô nhỏ và bảo đảm nội hóa những giá trị phổ biến trong mọi thành viên. Nếu buộc phải lựa chọn, Jefferson thích nhất xã hội da đỏ, dù thừa nhận rằng nó “không phù hợp với bất kỳ quy mô dân số nào”. Ông nhắc lại quan điểm trong một bức thư viết cho Edward Carrington, một chủ đồn điền và chính khách bảo thủ người Virginia. Ông giải thích: “Tôi tin những xã hội (như của người da đỏ) sống không có chính phủ thì người dân được hưởng hạnh phúc nhiều hơn những người sống dưới sự cai trị của các chính phủ châu Âu”. 72
Tóm lại, lý tưởng kiểu Jefferson không phải là một phiên bản cụ thể của chính phủ cộng hòa trung lập. Đó là một thế giới mà trong đó những công dân cá nhân đã tiếp thu toàn bộ trách nhiệm xã hội của mình đến mức thiết kế cấu trúc chính trị của Madison là thừa. Dù đã chuẩn bị để công nhận yêu cầu cần có những thỏa hiệp cần thiết với lý tưởng của ông vì những lý do thực tế - quy mô dân số và lãnh thổ rộng lớn của Mỹ rõ ràng đòi hỏi một số sự ủy quyền vượt cả quyền lực tối cao - ông đã làm vậy đầy miễn cưỡng. Và do cấu trúc hiến pháp phức tạp đến mức những nhà tư tưởng chính trị say mê nó như Madison và các đại biểu khác tại Hội nghị Lập hiến không bao giờ cổ vũ những nguồn năng lượng tốt nhất trong tâm trí ông, khiến chúng phải giành cảm hứng từ một tầm nhìn cá nhân không tưởng được giải phóng chống lại mọi ép buộc từ bên ngoài và coi mọi hình thức quyền lực chính phủ rõ ràng là chuyện chẳng đặng đừng.
Tất cả điều này giúp giải thích phản ứng chống đối ban đầu của ông trước những tin tức rò rỉ từ Philadelphia về hình thức của Hiến pháp Mỹ mới vào mùa hè năm 1787. Madison đã cố gắng chuẩn bị cho mình trước những gì sắp xảy ra, cho rằng Mỹ cần một chính phủ liên bang đầy năng lượng “cự tuyệt trong mọi trường hợp dù gì đi nữa các cơ quan lập pháp địa phương”. Nhưng Jefferson phản đối suy nghĩ này và nghi ngờ quyết định thay đổi toàn bộ chính phủ quốc gia hiện tại, cho dù nó không phù hợp: “Để nghị phủ quyết… tất cả các đạo luật của một số cơ quan lập pháp [ví dụ bang] hiện thời là lần đầu tiên tôi nghe thấy”, ông nói với Madison: “Nhìn qua, tôi đã không thích. Nó không phù hợp về căn bản [vì đã đề xuất] mạng một lỗ thủng nhỏ bằng cách vá cả bộ quần áo”. Ông cũng bày tỏ nỗi lo âu này với Adams khi cho rằng “ưu điểm của hiến pháp mới có thể được diễn tả bằng ba hoặc bốn điều khoản được bổ sung vào nội dung tốt, cũ và đáng trân trọng, nó cần được bảo tồn thậm chí như một di sản tôn giáo”. Edward Carrington cũng đã cố gắng để chuẩn bị cho ông một hình thức chính phủ liên bang tương đối mới, chứ không chỉ điều chỉnh một chút Các điều khoản Hợp bang. Carrington viết hồi tháng 6: “Những ý tưởng được để nghị xa rời những ý tưởng chiếm ưu thế khi bạn đặt mình vào vị trí chúng tôi, và vì chúng có khả năng xuất hiện nhất, nên khi nhìn nhận các sự kiện một cách thực tế, có khả năng bạn không chuẩn bị chờ đợi chúng”. Vị trí của Jefferson ở Paris thay vì ở Philadelphia chứng tỏ là một lợi thế lớn, vì ông có thời gian để điều chỉnh những ý tưởng chính trị ngược lại với mình mà ông rất có thể đã phản đối nếu có mặt. 3
Ông che giấu lo lắng của mình về những gì đang trù tính ở Philadelphia trong mọi thư từ châu Âu của mình, thích đóng vai trò thường lệ của mình như quán quân nước Mỹ. “Công ước Liên bang của chúng tôi có khả năng bàn thảo đến tháng 10”, ông viết thư cho một người bạn Pháp, “và chúng tôi có thể bảo đảm những đề xuất sẽ khôn ngoan, vì chưa từng có một Quốc hội nào có năng lực hơn Quốc hội này ở Mỹ. Hạnh phúc thay, khi chúng tôi phát hiện ra hiến pháp của mình có thiếu sót và không đủ để bảo đảm hạnh phúc của nhân dân, chúng tôi có thể tập hợp tất cả các triết gia điềm tĩnh và trao quyền cho họ, trong khi mọi nước khác trên Trái đất phải trông cậy vào quân đội…” Trong khi đó, Madison xin lỗi vì không thể cung cấp thông tin chi tiết về những thảo luận đang diễn ra. “Tôi cứ thấy xấu hổ vì đã phải kiềm chế tiết lộ bất kỳ nội dung nào trong tiến trình đó”, ông viết trong thư hồi tháng 7. “Ngay khi tự do tôi sẽ nỗ lực sửa đổi sự im lặng của mình và… khiến ông hoàn toàn hài lòng. Tôi đã ghi chú khá dài mọi thứ vừa trôi qua…” 74
Madison đã làm đúng như lời ông nói. Trong lá thư ngày 24 tháng 10 năm 1787, ông gửi cho Jefferson một báo cáo dài về những thảo luận trong nhiều lĩnh vực tại Hội nghị Lập hiến và đánh giá xác đáng những vấn đề mà hiến pháp cần xem xét. Ông mô tả cách các đại biểu đã cố gắng “để vạch ra một đường ranh giới mà sẽ trao cho Chính phủ Liên bang mọi quyền lực cần thiết vì những mục đích chung, và để lại cho các bang mọi quyền lực mà họ có thể quản lý một cách hữu ích nhất”. Công thức này đã xóa nhòa những quyền hạn tương đối của chính quyền liên bang so với bang, nhưng theo hướng gia tăng đáng kể thẩm quyền liên bang trong chính sách đối nội theo những cách mà Jefferson kiên quyết phản đối. Madison sau đó tiếp tục phân tích việc phân chia quyền lực phức tạp và có mục đích không rõ ràng trong các nhánh chính phủ và những phiên bản trình bày khác nhau. “Những người đấu tranh cho một nền Dân chủ Đơn giản, hay một nền cộng hòa thuần túy, được châm ngòi theo tâm lý đám đông, và hoạt động trong những giới hạn chật hẹp”, ông nhận định, “phỏng đoán hoặc giả sử về một trường hợp hoàn toàn không có thật”. Những gì Madison cho là “không có thật” trên thực tế là bản chất tư tưởng của Jefferson về chính phủ. Jefferson công nhận khá nhiều điều khi phản hồi cho Madison. “Tôi thừa nhận mình không phải là một người bạn của một chính phủ rất năng động”, ông thú nhận. “Chính phủ luôn áp bức… Sau tất cả, nguyên tắc của tôi là ý muốn của Đa số nên luôn thắng thế”. Madison đã không hồi âm để giải thích rằng, ít nhất là khi nhìn thấy nó, Hiến pháp đã được thiết kế để phá vỡ nguyên tắc đa số đối với giả định rằng mối đe dọa chính với tự do cá nhân ở Mỹ có khả năng sẽ đến từ hướng đó. Jefferson chắc khó mà hiểu được thứ lý luận như vậy, vì ông thấy không thể coi đa số phổ biến là nguy hiểm hoặc suy nghĩ về quyền lực của chính phủ theo những cách tích cực. Toàn bộ sự nhấn mạnh của Madison về cân bằng xã hội lại mâu thuẫn với cam kết của Jefferson về giải phóng cá nhân. 75
Đây là lần đầu tiên - nhưng cũng không phải là lần cuối cùng - mối quan hệ đặc biệt giữa Jefferson và Madison mang một phiên bản con người của nguyên tắc cân bằng và giám sát. Dù rất do dự về một chính phủ liên bang đầy quyền lực, đặc biệt là một chính phủ liên bang có quyền về thuế khóa, nhưng Jefferson đã quyết định làm theo lời khuyên của vị đồng liêu trung thành nhất với mình và đồng ý thông qua Hiến pháp mới. Đầu tiên, ông tuyên bố trung lập khi nói với Carrington rằng “nó có vô số điểm tốt…, nhưng tôi vẫn thấy một vài điểm chưa ổn”, sau đó chỉ đạo ông này hỏi ý kiến Madison để có thêm thông tin cụ thể về quan điểm của Madison. Đối với tất cả những điều khoản cụ thể về trao cho chính phủ quốc gia mới quyền làm luật cho tất cả các bang, ông đã quyết định giữ im lặng và để cho Madison phát ngôn thay mình. Trong suốt những tháng sau đó, khi quá trình phê chuẩn được tiến hành lần lượt ở các bang, Jefferson đã đưa ra một cách nhìn quan trọng và hợp lý: Hiến pháp mới đã được ông chấp thuận, dù ông vẫn muốn có những giới hạn cụ thể cho nhiệm kỳ tổng thống và một dự luật hoặc tuyên bố rõ ràng về các quyền, chúng sẽ đưa ra định nghĩa về tự do cá nhân mà không chính phủ liên bang nào có thể vi phạm. 76
Ngay cả Adams cũng đồng tình với quan điểm thứ hai, như nhiều người ủng hộ Hiến pháp đã làm trong những công ước phê chuẩn ở bang. Trên cơ sở những hiểu biết của mình về sự lạm dụng quyền lực, Jefferson đã viết thư cho Washington để kể với người hầu như chắc chắn sẽ được bầu làm tổng thống đầu tiên những lo lắng của mình về tương lai khi Washington rời nhiệm sở. Những lo lắng này còn được củng cố thêm bằng kinh nghiệm ở châu Âu của ông. “Tôi đã từng là người rất thù ghét chế độ quân chủ trước khi tôi đến châu Âu”, ông trình bày với Washington, và “bây giờ tôi thậm chí còn chục ngàn lần căm ghét hơn kể từ khi tôi chứng kiến những gì họ [tức các vị vua] đã làm… Tôi cũng có thể nói thêm rằng chắc chắn không có một vị vua nào ở châu Âu có tài năng hoặc phẩm chất đủ để được con chiên ở bất kỳ một giáo xứ nào của Mỹ bầu làm những chủ chăn”. Ông đã trực tiếp bày tỏ sự lo lắng của mình với Adams, tuyên bố rằng: “Tổng thống có vẻ là một phiên bản xấu của vua Ba Lan”. Nhưng việc ông muốn giới hạn nhiệm kỳ - ông ủng hộ một nhiệm kỳ bốn năm - vẫn không đẩy ông ra ngoài ranh giới chỉ trích đáng kính. 77
Tuy nhiên, thông tin rò rỉ về Mỹ lại là Jefferson không mấy ủng hộ Hiến pháp mới và thậm chí có lẽ còn không ủng hộ. Từ Philadelphia, Francis Hopkinson viết: “Nhân đây, ông thường trình bày sự việc với tôi như một người cực lực chống thuyết liên bang, nó gần giống với những gì mà một thành viên Đảng Bảo thủ Anh đã làm trong thời chiến tranh, vì lý do gì thì tôi không biết, nhưng tôi không tin điều đó và hoàn toàn phủ nhận chuyện Bóng gió”. Trong cuộc tranh luận về việc phế chuẩn ở Virginia, cả Patrick Henry lẫn George Mason, đứng đầu phe đối lập, đều tuyên bố rằng những người bạn chung bảo đảm với họ là Jefferson cũng phản đối việc thành lập một chính phủ trung ương hùng mạnh với quyền lực mạnh hơn các bang. Tuy nhiên, Madison lại phủ nhận tuyên bố đó, và như ông giải thích với Jefferson, “ cứ tự do nếu các quan điểm của ông ở phe ủng hộ ”. 78
Không thể biết đích xác Jefferson sẽ nói gì nếu ông có mặt tại Virginia trong những cuộc tranh luận về việc phê chuẩn. Madison, có lẽ là nhà vận động quốc hội có năng lực nhất trong nền chính trị Mỹ, đã đưa lá cờ Jefferson đi cùng với mình đến chiến thắng trong Công ước Virginia. Những nhận xét riêng của Jefferson trong suốt mùa hè và mùa thu năm 1788 không thống nhất và mâu thuẫn. Đầu tiên, ông chủ trương ủng hộ Hiến pháp cho đến khi 9 bang phê chuẩn, sau đó lại phản đối đòi sửa đổi và chấp nhận một dự luật về các quyền. Rồi ông lại quay ngoắt, ủng hộ phê chuẩn nhưng chỉ với điều kiện bổ sung một dự luật về các quyền khi chính phủ mới nhậm chức. Lúc Carrington gửi cho ông một bản sao Luận cương Liên bang (Federalist Papers) mới công bố, Jefferson đã gửi lời khen ngợi Madison, một trong những người đóng góp chính, ca ngợi nó là “lời chú thích hay nhất cho những nguyên tắc của chính phủ từng được viết” và thừa nhận rằng “nó đã khiến tôi thay đổi ở một số điểm”. Trong một lá thư trước đó gửi Madison, ông đã nhận thua trong vấn đề cụ thể về giới hạn nhiệm kỳ tổng thống, “do đó, tôi sẵn sàng cho rằng mình đã sai…” Nhưng khi Hopkinson hỏi có phải ông là một người trung thành với thuyết liên bang hay không, nghĩa là một người ủng hộ Hiến pháp, ông đã đưa ra một câu trả lời không rõ ràng, được dòng kết luận du dương của ông giải nguy khỏi mâu thuẫn vốn có của nó: “Tôi không phải là một người theo thuyết liên bang, vì tôi không bao giờ biện hộ toàn bộ hệ thống ý kiến của mình theo tín điều của bất kỳ đảng phái nào… Thói quen này là sự tha hóa cuối cùng của một người tự do và đạo đức. Nếu tôi có thể lên thiên đường nhưng phải đi cùng với một đảng phái, tôi thà không lên đó còn hơn”. 79
Dù không cố ý, nhưng theo một ý nghĩa rất thực tế, tuyên bố này vẫn nắm bắt được bản chất trong quan điểm căn bản của Jefferson về Hiến pháp và quan điểm thật sự của ông về mọi dự thảo hiến pháp nhất định. Ông thấy chúng về mặt kỹ thuật đã đi quá sâu vào quyền lực chính trị mà không nói một cách trực tiếp về tín điều chính trị của riêng ông, thứ tín điều đã vượt lên trên những phạm trù như “ủng hộ” và “phản đối” thuyết liên bang vì ông sống ở một vùng yên bình hơn, nơi mà các đảng phái chính trị, các khác biệt trong hiến pháp và kể cả hình thức chính phủ đều không phù hợp. Trong đời, ông vẫn có thái độ khó hiểu và mơ hồ đối với việc thỏa thuận về hiến pháp thời kỳ 1787-1788. Trong thư gửi Hopkinson, ông cho rằng rắc rối với hầu hết người châu Âu chính là họ đã được nuôi dưỡng để thích “một chính phủ mà có thể cảm nhận được; một chính phủ có quyền hành. Có thể Chúa phù hộ cho nước ta không bao giờ có một chính phủ mà có thể cảm nhận được”. Madison và hầu hết những người ủng hộ thuyết liên bang lại cho rằng Hiến pháp Mỹ mới xứng đáng được ca tụng vì chính những đặc tính quyền lực bị Jefferson lên án. Đối với Jefferson, lý trí và trái tim ông ao ước một thế giới không có chính phù. Trong cuộc tranh luận ồn ào về những điều khoản của Hiến pháp ở Mỹ vào năm 1788, thứ thể hiện rõ nhất nhận thức chính trị của ông chính là việc khăng khăng theo đuổi một dự luật về các quyền vượt xa tất cả những điều phức tạp theo kiểu Madison. Đó gần như là những gì ông chọn để nhấn mạnh.
NHỮNG CUỘC CÁCH MẠNG VÀ CÁC THẾ HỆ
Gần như cùng thời điểm các đại biểu dự Hội nghị Lập hiến tập trung ở Philadelphia, Hội đồng Nhân sĩ đã được vua Pháp là Louis XVI triệu tập tại Versailles. Lợi thế của việc nhận thức muộn màng cho phép chúng ta biết rằng việc triệu tập này là kết quả tất yếu của một cuộc khủng hoảng tài chính đe dọa Chính phủ Pháp phá sản, thật sự là chương mở đầu trong một chuỗi các sự kiện phức tạp khó hiểu và đẫm máu kinh hoàng, xé toạc xã hội Pháp thành từng mảnh và thay đổi căn bản tiến trình lịch sử hiện đại. Nhưng Jefferson hay bất kỳ ai khác cũng không thể kỳ vọng rằng vấn đề đó sẽ được nhận ra tại thời điểm ông chứng kiến sự khởi đầu của Cách mạng Pháp, hoặc thoải mái tự tin ủng hộ việc “thỉnh thoảng có một cuộc nổi loạn nhỏ” sẽ mang một ý nghĩa rất khác sau biến cố năm 1789. 80
Thiên hướng ban đầu của Jefferson là coi Hội đồng Nhân sĩ như một phiên bản thấp hơn của Hội nghị Lập hiến, một minh họa khác trong dòng lập luận của ông về tính ưu việt vốn có của môi trường Mỹ và tình trạng suy thoái của nền chính trị châu Âu. Ông tiếp tục câu chuyện bông đùa về địa vị với gia đình Adams, trong đó các đại biểu tại Philadelphia được mô tả như những á thần hay Ciceros thời hiện đại, còn giới quý tộc Pháp tập trung tại Versailles như mấy anh hề khôi hài đang độc thoại những câu dài ngoằng, vốn chỉ có một mối quan hệ mong manh với các vấn đề chính trị nóng hổi. (Lafayette, người bạn Pháp thân nhất của Jefferson và là một đại biểu trong Hội đồng Nhân sĩ, tham gia vào trò đùa bằng cách tự hỏi liệu có nên gọi các đồng sự của mình là “không có năng lực”). Vào mùa hè năm 1787, Jefferson có thể phàn nàn với Monroe rằng những báo cáo của Monroe về Hội nghị Lập hiến đầy hào hứng và lập luận mạnh mẽ, trong khi “tôi không có gì để trao cho ông ngoài lịch sử điên rồ của các quốc gia giữa sự lẩm cẩm của họ”. 81
Lúc đầu, ông mô tả về hành vi của nhà vua theo cùng một khuôn mẫu tham nhũng của châu Âu. “Vua vô tích sự”, Jefferson viết thư cho Jay. “Ông ta dành nửa ngày đi săn, nửa ngày còn lại say xỉn, và ký bất cứ thứ gì được trình lên”. Những bức thư riêng được mã hóa gửi cho Adams và Madison đã nhắc lại hình ảnh của một hoàng gia chìm đắm trong rượu và không có khả năng lãnh đạo chính trị dưới mọi hình thức, ngoại trừ vai trò đi đầu như là hình mẫu trong nghệ thuật lang chạ và tình dục bừa bãi. Ông tin chắc là chẳng có gì quan trọng xảy ra tại Versailles - sự khoa trương quý tộc do một vị vua nát rượu chỉ đạo giống như một vở nhạc kịch chính trị hơn là dịp thể hiện tài năng chính trị nghiêm túc - tới mức ông đã chuẩn bị trước những kế hoạch du ngoạn miền Nam nước Pháp thay vì ở lại thủ đô. 82
Dù motif suy thoái ở châu Âu không bao giờ biến mất hoàn toàn khỏi suy nghĩ hoặc thư từ của ông, nhưng vào mùa hè năm 1787, Jefferson đã bắt đầu nhận ra tính nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng chính trị mà Pháp đang phải đối mặt. Giọng điệu bông lơn trong những bức thư đầu tiên của ông giảm dần, thái độ chỉ trích và kể cả của ông trước tình trạng tham nhũng đến mức tuyệt vọng ở châu Âu chỉ còn là một lưu ý nhỏ, còn lưu ý lớn là cái nhìn tôn trọng và lạc quan thận trọng trước một lịch sử đang hình thành. Trong các báo cáo ông gửi cho Jay là người vẫn chịu trách nhiệm chung về chính sách đối ngoại của Mỹ, đã nhấn mạnh vào những bước tiến vững chắc mà Pháp đang thực hiện: Hội đồng đại diện đã được thành lập ở các tỉnh; chế độ lao dịch khét tiếng cưỡng ép nông dân lao động không công cho lãnh chúa phong kiến đã bị bãi bỏ; một số kiểu hệ thống nghị viện trong chính quyền dường như đã trở nên quen thuộc, dẫu quyền lực của nhà vua trong đó có lẽ còn lớn hơn cả mô hình lập hiến của Anh. Trong thư gửi Jay, ông cho rằng đây là những cải cách ấn tượng đến mức “Tất cả cùng nhau tạo nên một bước tiến lớn trong điều kiện của nước này”. 83
Sự thay đổi từ việc chỉ trích bất kính sang lạc quan thận trọng đã phản ánh niềm tin ngày càng tăng của ông về việc Cách mạng Mỹ “phát tán tự do” ra thế giới, hiện lan rộng sang châu Âu và Pháp là quốc gia châu Âu đầu tiên trải nghiệm những hệ quả tự do mà nó mang lại. Là một trong những người chứng kiến sự hình thành phong trào cách mạng này tại Mỹ, ông cảm thấy mình may mắn, vì gần như có đặc quyền được chứng kiến nó đến như một đội quân giải phóng, với những ý tưởng diễu hành qua Pháp, và ông hy vọng cuối cùng sẽ là cả châu Âu. Nếu như ông không dồn toàn bộ năng lượng vào việc soạn thảo chi tiết hiến pháp, thì lại trầm ngâm về những xu hướng chính trị và chân lý bao quát hơn một cách tự nhiên.
Tất cả điều này giải thích cho đánh giá cực kỹ lạc quan của ông trước vở kịch chính trị căng thẳng đang diễn ra ở nước Pháp cách mạng, như những sự kiện sau này đã chứng minh. “Vì vậy mà tôi nghĩ rằng rất có thể đất nước này trong vòng hai hoặc ba năm tới sẽ ban hành một hiến pháp khá tự do”, ông viết thư cho Monroe vào năm 1788, “và chẳng phải tốn một giọt máu nào”. Khi Adams bày tỏ quan ngại rằng các phe phái khác nhau trong Hội nghị Ba đẳng cấp sẽ thấy không thể thỏa hiệp, nhưng Jefferson bảo đảm với ông rằng “những vấn đề nội bộ của nó [Pháp] sẽ được dàn xếp mà không phải đổ máu” vì những người ôn hòa trong cơ quan lập pháp quốc gia mới đã kiểm soát tình hình. “Trong mọi trường hợp, tôi nghĩ rằng băn khoăn hiện nay sẽ kết thúc tốt đẹp”, ông nói với Washington, giải thích rằng nhân dân Pháp “đã được cuộc cách mạng của chúng ta thức tỉnh, họ cảm thấy sức mạnh của mình, họ được giác ngộ, ánh sáng cách mạng đang lan rộng, và họ sẽ không lùi bước”. Pháp trong mắt ông như Mỹ của châu Âu. Đất nước này đang đấu tranh để lập ra hiến pháp mới; giống như Mỹ - tiếng vang từ cuộc nổi dậy của Shays trong bối cảnh chung - phải đối mặt với mối đe dọa bạo lực “nhưng vẫn chưa mất đi sinh mạng nào”, và một lần nữa giống như Mỹ, các nhà lãnh đạo thận trọng “tất cả đều bận rộn lên kế hoạch cho dự luật về các quyền”. 84
Về cuối đời, có lẽ khi xem lại thư từ của mình để chuẩn bị viết tự truyện vào năm 1821, Jefferson đã hơi bối rối bên cạnh sự lạc quan không thay đổi của mình vào cuối thập niên 1780. Tất nhiên, nhờ đó mà ông biết Hội đồng Nhân sĩ sẽ không thống nhất được về giải pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính, sẽ dẫn đến sự kêu gọi của Hội nghị Ba đẳng cấp nhưng sẽ không giải quyết được cuộc khủng hoảng chính trị theo cái cách mà giới quý tộc và tư sản có thể chấp nhận được, dẫn đến hành động quần chúng tại Paris, bạo động hoành hành khắp các vùng nông thôn, hành hình tập thể, Thời kỳ Kinh hoàng và cuối cùng là sự cai trị độc tài của Napoleon. Ít nhất một lần vào lúc cuối đời, ông đã sửa lại thư từ của chính mình, chèn thêm một tuyên bố thận trọng hơn nhằm thuyết phục hậu thế rằng tình cảm của ông dành cho Pháp không hề làm ông mù quáng đến mức không nhìn ra khả nàng bạo lực chưa từng có. “Nếu họ cố gắng nhiều hơn… những thói quen cố hữu của người dân đã chín muồi”, sau này ông còn thêm vào một bức thư từ năm 1787 dòng chữ “họ có thể mất tất cả và trì hoãn vô thời hạn đối tượng căn bản trong mục tiêu của mình”. Tuy nhiên, những lá thư không bị sửa chữa lại chẳng cho thấy linh cảm về những cơn chấn động đang manh nha, thay vào đó cho thấy niềm tin vĩnh cửu rằng những nhà lãnh đạo chính trị Pháp sẽ lèo lái đất nước vượt qua được rắc rối như các đồng cấp của họ ở Mỹ đang làm. 85
Khá nhiều sự kiện lịch sử đã xảy ra ở nước Pháp tiến cách mạng trong hai năm cuối Jefferson làm Công sứ, đến nỗi khó mà tóm tắt những vị trí chính trị ông đã kinh qua, mà chắc là chỉ có thể nói rằng ông đoán Pháp sẽ vượt qua sự sôi sục theo kiểu như chế độ quân chủ lập hiến. Dù trước đó ông mô tả vua Pháp như một ma men, hoàn toàn vô cảm với những nhu cầu và tâm trạng thất vọng của người dân Pháp, nhưng vào mùa hè năm 1788 ông đã đi tới chỗ coi Louis như một nhà cai trị khai sáng, muốn đóng vai trò cốt yếu trong việc thành lập liên minh chính trị giữa giới quý tộc và các thành viên của Đẳng cấp Thứ ba. (Cuối cùng Louis XVI hóa ra lại giống như George III, mang định mệnh là làm chính xác những điều sai trái vào đúng thời điểm, được Jefferson gọi là “cỗ máy để làm cách mạng”). Nhưng những hy vọng hảo huyền nhất của ông dành cho việc phục hồi sự ổn định chính trị lại tùy thuộc vào nhóm quý tộc giác ngộ và ôn hòa, do người bạn tốt Lafayette của ông lãnh đạo, được gọi là Hội Những người yêu nước hay Đảng Ái quốc. Dù ông đã được chuẩn bị để thừa nhận rằng các tình huống khác nhau về căn bản, nhưng Jefferson dường như vẫn coi Hội Những người yêu nước ở Pháp giống như những người ủng hộ thuyết liên bang ở Mỹ; họ “nhận biết được chính phủ lừa gạt đang cai trị họ, mong mỏi có dịp cải cách nó” và hết lòng “thiết lập một hiến pháp mà sẽ bảo đảm… một mức độ tự do tốt”. Lafayette có vai trò giống như một Madison ở Pháp, dàn xếp những thỏa hiệp cần thiết giữa các phe phái khác nhau và qua đó củng cố sức mạnh của cách mạng trong một bối cảnh chính trị thể chế hóa những lợi ích tối đa được hoàn cảnh lịch sử cho phép. 86
Jefferson đã được chuẩn bị để nhận ra những hoàn cảnh không lý tưởng. Sự phân chia giai cấp sâu sắc trong xã hội Pháp cũng như những tàn dư vẫn còn mạnh mẽ của chế độ phong kiến, đã được nêu ra trong suốt những cuộc tranh luận tại Hội nghị Ba đẳng cấp mà ông tham dự vào tháng 5 và tháng 6 năm 1789. Mọi tàn dư này đã biến mất ở Mỹ, nhưng ở Versailles vẫn gây ra sự nguy hại vô cùng với hình thức phô trương của các ông hoàng bà chúa được phong tước và những đám rước phong nhã. Với những trở ngại cố hữu này, cách mạng không thể bùng nổ hoàn toàn theo lối Mỹ, Jefferson khuyên bạn bè của mình trong Đảng Ái quốc chấp nhận mô hình hiến pháp của Anh, bổ sung một nội dung quan trọng của Mỹ - tức là ông đế nghị duy trì chế độ quân chủ Pháp dù quyền lực đã bị suy giảm nhiều, thành lập cơ quan lập pháp lưỡng viện với thượng viện dành cho giới tu sĩ và quý tộc -và đóng góp của Mỹ là khăng khăng đòi một tuyên ngôn về các quyền để bảo vệ các quyền tự do cơ bản, không cho phép nhà vua, lãnh chúa hay ngay cả cơ quan lập pháp được bầu ra vi phạm các quyền này. Theo tính cách đặc trưng, ông dành phần lớn thời gian và sức lực của mình để soạn thảo Hiến chương Nhân quyền, kêu gọi bãi bỏ mọi đặc quyền đặc lợi và việc miễn thuế cho giới quý tộc, dân sự chỉ huy quân đội, đối xử công bằng theo luật pháp và điều chỉnh tự do báo chí. Với Pháp cũng như với Mỹ, chủ đề chính trị ông quan tâm nhất không phải là sự sắp xếp khéo léo quyền lực chính phủ, mà là sự cách ly khỏi khu vực không có quyền lực chính phủ nào có thể tổn tại. Ông đã chuyển dự thảo của mình đến Lafayette vào tháng 6 năm 1789; nó được coi là cơ sở cho Tuyên ngôn Nhân quyền được Lafayette trình bày ở Quốc hội vào tháng tiếp theo. 87
Lúc đó Jefferson tin rằng nguy cơ tan rã và bạo lực cách mạng đã bị đẩy lùi. “Đại suy thoái giờ đã qua”, ông viết thư cho Jay, “Tôi chẳng còn vấn đề nào đủ thú vị để làm khó ông liên tục như gần đây nữa”. Hội nghị Ba đẳng cấp không thực hiện lời khuyên của ông và không thành lập một viện riêng biệt cho giới tu sĩ và quý tộc, nhưng đủ cho những tầng lớp đặc quyền đổi sang Đẳng cấp Thứ ba để chọn Quốc hội mới thành lập làm cơ quan đại diện, tuy cơ quan này có phần hơi cồng kềnh. Tuy nhiên, như ông giải thích với Tom Paine vào ngày 11 tháng 7 năm 1789, Cách mạng Pháp thật sự đã trôi qua. “ Quốc hội (đó là tên họ đã chọn)… bây giờ đang nắm hoàn toàn chủ quyền và không thể tranh cãi. Cơ quan hành pháp và giới quý tộc hiện đang ở dưới chân họ. Hầu hết quốc gia, tu sĩ và quân đội đứng về phía họ. Họ lật đổ chính phủ cũ, và giờ đang bắt đầu xây dựng một chính phủ mới từ gốc”. 88
Hôm sau, Paris bùng nổ một loạt các vụ bạo động, đám đông nổi dậy đã được tưởng nhớ trong vô số những trang sử, tiểu thuyết và phim ảnh về Cách mạng Pháp: cuộc tấn công vào Trụ sở Hải quan; vụ ném đá và cuối cùng là thảm sát của kỵ binh hoàng gia; cuộc đột kích ngục Bastille và sau đó là chặt đầu và phanh thây cai ngục. Sau năm ngày bạo lực tự phát và những cuộc biểu tình lớn, Jefferson mô tả với Jay cảnh Louis XVI trở về thủ đô, với Lafayette bên cạnh, được “khoảng 60.000 dân chúng dưới mọi hình thức và điều kiện với trang bị súng hỏa mai của ngục Bastille và… súng ngắn, kiếm, giáo, liềm, lưỡi hái, v.v.” chào dón và cùng hô vang “Quốc gia muôn năm”. 89
Nếu có một cảnh tượng nào có thể làm suy yếu niềm tin của Jefferson vào lòng bác ái vốn có của những phong trào quần chúng hoặc làm lung lay vẻ ngoài bình thản của ông trước những cuộc nổi dậy của quần chúng, thì khó có cảnh nào có thể làm tốt hơn cảnh trên. Do đó, đáng lưu ý rằng, dù ban đầu bị sốc bởi đặc điểm tự phát và man rợ của bạo lực đám đông, nhưng ông luôn giữ vững niềm tin vào tính đúng đắn cần có trong nguyên nhân hay chiến thắng cuối cùng của những nguyên tắc tiến bộ. Các thư ông gửi cho Jay và Madison mô tả cuộc tàn sát tháng 7 năm 1789 như một sai lầm đáng tiếc, nhưng tạm thời không có gì phải nghi ngờ về triển vọng cho một giải pháp chính trị lâu dài và hòa bình. Ông dường như coi bạo lực bùng nổ là sản phẩm của một quyết định sai lầm từ nhà vua hoặc các bộ trưởng nhằm tăng cường sức mạnh quân đội trong thành phố chứ không phải là bằng chứng đáng ngại cho những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc và không thể hòa giải. Thực tế là đến đầu tháng 8, ông tin rằng cơn bão (bóng tối của cuộc nổi dậy Shays) đã qua và tương lai có vẻ rõ ràng và tươi sáng: “Bình yên đã trở lại nơi đây, tôi nghĩ không còn gì để e sợ nữa. Vụ thu hoạch sắp đến nên không còn phải lo sợ nhu cầu về bánh mì nữa. Quốc hội thông thái, kiên định và ôn hòa. Họ sẽ thiết lập hiến pháp kiểu Anh, sau khi thanh lọc khá nhiều thiếu sót tai hại của nó”. 90
Trong tâm trạng dũng cảm và sôi nổi này, ngày 6 tháng 9 năm 1789, Jefferson đã ngồi viết những điều dường như sau này trở thành một trong những lá thư nổi tiếng nhất trong kho thư từ khổng lồ của ông. Ông giải thích với Madison: “Quá trình suy ngẫm ở đây mà chúng ta đắm chìm vào dựa trên các nguyên tắc căn bản của xã hội đã hình thành nên câu hỏi trong đầu tôi”. Bản thân câu hỏi này không hoàn toàn mới. Đó là “Liệu thế hệ này có quyền ràng buộc thế hệ khác hay không”, mà Jefferson từng tuyên bố là hàm ý của nó đã không được đánh giá đầy đủ ở cả châu Âu và Mỹ. Câu trả lời của ông dành cho câu hỏi này là theo cách dứt khoát giống như trong những văn kiện kiểu Tuyên ngôn Độc lập. Ông tuyên bố: “Tôi trình bày dựa trên cơ sở mà tôi giả sử là hiển nhiên, rằng quyền sử dụng và hưởng hoa lợi trên đất thuộc về người đang sống ”.
Hàm ý chính xác của Jefferson trong tuyên bố này từng là chủ đề tranh luận bất tận giữa các sử gia trong một thời gian. Ở bức thư này, Jefferson dường như ủng hộ một số quyền thế hệ. “Chúng ta dường như không nhận thấy”, như ông nói với Madison, “rằng theo quy luật tự nhiên, các thế hệ độc lập với nhau như các quốc gia vậy”. Ông đưa ra những tính toán tỉ mỉ dựa trên các bảng nhân khẩu học của Buffon để chứng minh một thế hệ kéo dài trung bình khoảng 19 năm. Do đó, từ nguyên lý này suy ra - “Trái đất luôn thuộc về những thế hệ đang sống” - nghĩa là tất cả các khoản nợ cá nhân và quốc gia, tất cả luật, thâm chí tất cả hiến pháp, nên hết hạn sau quãng thời gian đó. 91
Madison, vốn luôn phê bình nhẹ nhàng những ý tưởng của Jefferson, khen ngợi Jefferson vì những “suy ngẫm thú vị”, rồi mới phản bác ý tưởng về quyền thế hệ, rằng đó thật sự không phải là một ý tưởng, mà đúng hơn là một ảo tưởng nguy hiểm. Trong khi trình bày lập luận của mình, Jefferson đã để nghị Madison tưởng tượng “cả một thế hệ sinh ra trong cùng một ngày, đến tuổi trưởng thành trong cùng một ngày, và chết cùng một ngày”. Ở đây, không theo kiểu ngoại giao, Madison nhận thấy manh mối chủ yếu do Jefferson đã vận dụng ma thuật nhiều hơn là triết lý chính trị. Không có và không bao giờ có thể có một thế hệ đúng như định nghĩa của Jefferson. Những người cùng thế hệ không đơn giản bước vào thế giới như những thực thể rời rạc.
Thay vào đó là một mạng lưới các thế hệ đến và đi nối tiếp nhau, cùng với một mạng lưới tương tự gồm những kết nối bắt buộc giữa các thế hệ quá khứ và hiện tại. Những kết nối này không chỉ là bắt buộc mà còn rất cần thiết để tiếp tục xã hội văn minh. 92
Madison không nói ra điều đó, nhưng toàn bộ nội dung chính trong phản hồi của ông ngụ ý rằng lá thư của Jefferson đã vô tình phủ nhận mọi sự lao tâm khổ tứ mà ông và những cộng sự ủng hộ thuyết liên bang đã làm trong hai năm qua. Ý tưởng của Jefferson (hoặc nếu muốn, bạn cứ việc tưởng tượng) nhắm vào sự rất ổn định và có tính pháp lý dài hạn, nên Hiến pháp mới đã được soạn thảo để bảo đảm điều này. Quan điểm cho rằng tất cả luật pháp, những nghĩa vụ giao kèo và tiền lệ hiến pháp mất nhiều công sức để xây dựng có thể mất hiệu lực sau mỗi 19 hay 20 năm sẽ là một công thức cho tình trạng hỗn loạn. Giống như ý kiến trước đó của Jefferson về việc muốn thấy “thỉnh thoảng có một cuộc nổi loạn nhỏ” dường như đã gây tiếng vang, lập luận thế hệ nhắm vào Madison là một ví dụ rất vô trách nhiệm và cực kỳ nguy hiểm cho sự suy đoán dễ dãi, chỉ là loại lý luận trừu tượng đưa lại hư danh cho các nhà tư tưởng chính trị Pháp khi xây lâu đài trên cát. 93
Như thường lệ, Jefferson nghe theo lời khuyên của Madison. Ông chưa bao giờ trình bày lập luận thế hệ của mình như một đề xuất pháp lý nghiêm túc, và ông kiềm chế không bao giờ đề cập vấn đề này với Madison nữa. Nhưng bất cứ vấn đề thực tế nào đề ra ý tưởng, bất cứ điều gì bất cập là lý do thực tế để cải cách luật pháp, ông đều kiên trì bám chặt vào nó, trình bày nó trong những cuộc đàm luận và thư từ trong suốt phần đời còn lại của mình. Như Madison đã gợi ý, nếu cốt lõi của ý tưởng không phù hợp với cách thức thế giới thật sự vận hành, thì nó sẽ tương thích với cách suy nghĩ của Jefferson. Thật vậy, không có tuyên bố nào trong vô số tác phẩm của Jefferson và về Jefferson mang đến một cái nhìn rõ ràng và sâu sắc đối với suy nghĩ của ông về cách thế giới nên vận hành. Quan điểm cho rằng “Trái đất thuộc về người đang sống” thực chất là một sản phẩm đa diện từ hình dung chính trị của ông, tập hợp vào một chỗ những nỗi ám ảnh chủ yếu và niềm tin cốt lõi của ông.
Do đó chúng ta nên hỏi Jefferson đã có ý tưởng đó khi nào và như thế nào. Người ta có thể phát hiện ý niệm mơ hồ đầu tiên trong một bức thư trước đó gửi Madison, mô tả những ấn tượng của ông về vùng nông thôn Pháp xung quanh Fontainebleau năm 1785. Ông kể với Madison rằng, cuộc gặp gỡ với một phụ nữ nông dân đã dẫn dắt ông “vào một chuỗi suy ngẫm về việc phân chia của cải bất bình đẳng là nguyên nhân gây ra vô số tình cảnh cùng khổ mà tôi từng chứng kiến ở đất nước này và được chứng kiến trên toàn châu Âu”. Những suy ngẫm này sau đó đã đưa ông đến kết luận rằng “Trái đất như là một cổ phiếu phổ thông dành cho con người lao động và sinh sống trên đó. Nếu để khích lệ ngành công nghiệp, chúng ta có thể cho phép chiếm dụng đất, nhưng chúng ta phải chú ý tạo công việc khác cho những người bị mất đất. Nếu chúng ta không bảo đảm quyền căn bản về lao động, Trái đất sẽ toàn người thất nghiệp”. Những gì có vẻ đang dẫn dắt suy nghĩ của Jefferson ở đây chính là sự đánh giá mới về tình trạng nghèo đói khó có thể thay đổi của giai cấp nông dân châu Âu và sự khác biệt giữa tình trạng gần như vô vọng và “quyền căn bản về lao động trên đất”. Những gì có vẻ là thủ phạm chính là sự bất bình đẳng được tích tụ và sự túng thiếu cố hữu dưới bàn tay chết chóc của quá khứ châu Âu - ngắn gọn là chế độ phong kiến. 94
Ý tưởng tiếp tục xuất hiện thêm trong thư từ của Jefferson với Lafayette trong khoảng từ tháng 1 đến tháng 7 năm 1789. Thực chất, bản thân sự trao đổi thư từ này cũng là một nguồn giản lược và khó nắm bắt, nhưng chủ đề chính của nó, việc soạn thảo Tuyên ngôn Nhân quyền, đã nhắc nhở cả hai suy nghĩ về những gì được Lafayette gọi là “quyền của những thế hệ nối tiếp” ( le droit des générations qui succèdent ), một cụm từ có trong đề xuất Tuyên ngôn Nhân quyền mà Lafayette trình bày trước Quốc hội vào tháng 7. Ở một mức độ nào đó, văn bản này được xây dựng nhằm bảo đảm tiếp tục cải cách hiến pháp, theo hình thức sửa đổi hoặc công ước được các bang mới của Mỹ đi tiên phong. Ở một mức độ sâu sắc hơn, tư tưởng ẩn sau ngôn từ gợi ra nhu cầu phải lường trước được sự thẩm định độc lập của hậu thế đối với những lợi ích cao nhất của chính họ. Sau hết, cuộc khủng hoảng chính trị Pháp hiện thời bắt nguồn từ những vấn đề tài chính giờ đây đang đòi hỏi thế hệ hiện tại phải gánh các khoản nợ được tích tụ từ các tổ tiên. Trong bối cảnh chính trị Pháp vốn có, nói cách khác là một sự nhạy cảm ngày càng tăng đối với những gánh nặng mà quá khứ đổ lên hiện tại, đặc biệt không chỉ là các khoản nợ mà còn là những tàn dư như đặc quyền của tầng lớp tu sĩ và quý tộc. Jefferson và Lafayette dường như đang mò mẫm đi về phía những cơ chế hiến pháp tích hợp mà sẽ có thể giảm bớt những gánh nặng tương tự cho các thế hệ tương lai. 95
Ý tưởng này được thấy lần cuối vào tháng 8 và đầu tháng 9 năm 1789 trước khi nó mất dạng trong thư gửi Madison. Ngày 26 tháng 8, thể theo yêu cầu của Lafayette, Jefferson đã tổ chức một bữa tối công việc cho tám thành viên đứng đầu của Đảng Ái quốc, họ tụ họp để tranh luận về một cuộc bỏ phiếu đang manh nha trong Quốc hội về việc liệu nhà vua nên có quyền phủ quyết các đạo luật của cơ quan lập pháp hay không. Đó là một cuộc thảo luận có phạm vi rộng, được Jefferson mô tả là “thật sự xứng đáng được ngang hàng với những cuộc đối thoại tuyệt nhất ở thời cổ đại, do Xenophon, Plato và Cicero để lại cho chúng ta”. Trong khi không có bằng chứng trực tiếp cho thấy có cả chủ đề về quyền thế hệ, thì việc tụ họp này tượng trưng tiêu biểu cho biện pháp không chính thức và hoàn toàn không thể phát hiện được để truyền bá những ý tưởng mới ở Paris cách mạng. Và mặc dù Tom Paine và Marquis de Condorcet đều không tham dự bữa tiệc, nhưng cả hai đều là thành viên Đảng Ái quốc và từng đưa ra những phiên bản riêng của họ về lý luận thế hệ. Condorcet, nhà toán học hàng đầu của Pháp và là người công khai ủng hộ chế độ cộng hòa, cũng tán thành một phiên bản của lý luận thế hệ rất giống với Jefferson, bổ sung bằng những bảng nhân khẩu học và những tính toán tương tự về khoảng thời gian sống của một thế hệ. Hơn nữa, Condorcet là bạn và là bệnh nhân của bác sĩ Richard Gem, người điều trị chứng đau nửa đầu tái phát cho Jefferson trong tuần đầu tiên của tháng 9. Chúng ta biết rằng Gem và Jefferson đã thảo luận vấn đề về những quyền của hậu thế, và rằng Gem đã trao cho Jefferson một văn kiện về vấn đề này, khẳng định nguyên lý “một thế hệ trong xã hội dân sự không có quyền thực hiện những hành động ràng buộc một thế hệ khác, đây là một sự thật không thể tranh cãi”. 96
Thay vì vướng vào một cuộc tranh cãi bất tận về tính độc đáo và ưu việt của trí tuệ, có vẻ hợp lý hơn nếu bỏ qua những câu hỏi khó trả lời như thế và kết luận rằng tư tưởng của Jefferson về các nghĩa vụ của thế hệ hiện tại với thế hệ tương lai đã phát triển ở nước Pháp cách mạng, rằng việc hình thành ý tưởng này của ông có lẽ đã chịu ảnh hưởng từ những tình huống khó xử cụ thể mà Chính phủ Pháp phải đối mặt vào thời điểm đó, và rằng quan niệm về quyền thế hệ là “điều viển vông” nơi văn hóa phòng khách của Pháp, theo cách tương tự như những ý tưởng cốt lõi ở phần nói về quyền tự nhiên trong Tuyên ngôn Độc lập là “điều viển vông” của mùa hè năm 1776. Câu hỏi đặt ra sau đó là: Tại sao Jefferson lại không đặt ý tưởng đặc biệt này trong bầu không khí của năm 1789, mà lại cho nó vị thế cao quý của một sự thật hiển nhiên mới được phát hiện?
Hai câu trả lời khác nhau, nhưng bản chất giống nhau. Đầu tiên, những nỗi e ngại ngày càng tăng của Jefferson về khả năng phá hủy của những khoản nợ thừa kế ở khía cạnh cả công lẫn tư ngập tràn tâm trí ông trong thời gian này. Những món nợ chưa trả của Mỹ đã làm giảm các nỗ lực mạnh mẽ của ông trên cương vị Công sứ tại Pháp và ngăn cản sáng kiến ngoại giao của ông khi đàm phán các điều khoản với những cường quốc châu Âu khác. Và tình hình chính trị bất ổn ở nước Pháp cách mạng đã được châm ngòi bởi một cuộc khủng hoảng tài chính do một món nợ công khổng lồ gây ra. Hơn nữa, tình hình tài chính cá nhân của ông - chi phí chỗ ở, quần áo, nội thất, ngựa và xe ngựa, những gì ông gọi là “trang bị” của mình - đã vượt xa mức tiền lương của ông và buộc ông phải giải trình các giao dịch với cấp trên của mình ở Philadelphia về chênh lệnh giữa chi phí sinh hoạt và lương Công sứ của ông.
Nhưng khoản nợ ngày càng tăng của ông ở Paris theo cách ngôn chỉ là phần nổi của tảng băng. Đến cuối những năm 1780, ông bắt đầu nhận ra rằng những khoản nợ mà ông kế tục từ cha vợ đang được tính lãi suất ở mức có lẽ ông không bao giờ có thể trả được. Đầu tiên, ông bắt đầu hiểu rằng mặc dù sở hữu hàng ngàn mẫu đất và khoảng 200 nô lệ, nhưng ông vẫn còn nợ các chủ nợ của mình một khoản lớn đến mức khi ông xuống mồ vẫn chưa hết nợ. Nhận ra điều này cũng là gánh nặng gần như bản thân các khoản nợ. “Tôi sẽ phải chịu đựng nỗi khổ tâm cho đến khi nào tôi không còn nợ một shilling trên Trái đất này”, ông viết thư cho người đốc công của mình tại Monticello vào năm 1787, “nó thật sự đồng nghĩa với một cuộc sống không mấy giá trị ở đây”. Thực ra mà nói, ông được chuẩn bị về cả trí tuệ lẫn tâm lý để đánh giá đúng những gì mà các khoản nợ gây ra cho các quốc gia và cá nhân, và do đó cởi mở với những ý tưởng nhằm hạn chế thiệt hại. 97
Hơn nữa, học thuyết về chủ quyền thế hệ lại là một phiên bản của chủ nghĩa cực đoan không tưởng của ông. Madison chắc chắn đã đúng khi tuyên bố toàn bộ kế hoạch là rất không thực tế và hoàn toàn không có tính khả thi. Nhưng điều đó không thích hợp. Trước viễn cảnh mỗi thế hệ khởi đầu từ tay trắng, được giải thoát khỏi những di sản chồng chất của nợ cũ, pháp luật, nghĩa vụ thể chế và các quy định, đã cho phép Jefferson nêu lên giấc mơ hão huyền nhất của mình, một thế giới trong đó ý nghĩa nguyên thủy của nền độc lập có thể hưng thịnh không bị hạn chế, sự ngây thơ chưa bị làm hoen ố. Đây là thế giới của những người định cư Saxon tiền phong kiến, thế giới của các bộ lạc da đỏ tiền chính trị, thế giới của những nông dân tiểu chủ độc lập sát biên giới, thế giới sau một cuộc nổi dậy chính nghĩa đã xua tan không khí nặng nề. Đó là một thế giới hoàn toàn tự nguyện, nơi không biết đến áp bức và không cần đến chính phủ. Dù thoáng qua - gần như ngay lập tức lịch sử sẽ bắt đầu tiến hành những cuộc xâm nhập khó tránh khỏi - nhưng sự hòa hợp bình dị vẫn tự duy trì một khoảnh khắc tỏa sáng ngắn gọn. Do đó, nó là nơi thích hợp để cất giữ những kỷ niệm trong mối quan hệ với Maria Cosway (dù bản thân Cosway chẳng hề nhớ đến) và để bảo tồn các giá trị nữ tính mà bà là hiện thân đỉnh cao của sự hoàn hảo được họ nhớ đến. Tóm lại, niềm tin về “một Trái đất thuộc về người sống” là đòn tấn công thay cho ước mơ được Jefferson ấp ủ nhất: một xã hội không bị gò bò bởi thể chế và pháp luật; một nỗ lực để quen với việc loại bỏ chúng, do đó bàn tay xoa dịu của lịch sử thường xuyên vỗ để nhường chỗ cho một cuộc gặp gỡ tinh khôi với những gì ông tin là trật tự tự nhiên.
TRỞ VỀ NHÀ
Jefferson đã dự liệu chuyến trở về Mỹ trong cả mùa đông và mùa xuân năm 1789. Ngay cả trước khi Washington được bầu làm Tổng thống, một kết quả mà mọi người đã tiên đoán trước, thi cái tên Jefferson đã được bàn tán như một thành viên tương lai của chính quyền mới. Vào tháng 5, Madison đã thông báo về những tin đồn này, và thêm rằng “những nhân vật xuất chúng nhất” (có lẽ bao gồm cả chính Washington) đã hỏi ông bên lề xem liệu một vị trí trong chính phủ mới có phù hợp với Công sứ Mỹ tại Pháp hiện thời hay không. “ Không biết ông nghĩ gì ”, Madison viết theo ngôn ngữ mã hóa, “nên tôi không dám liều trả lời ”. Đến tận tháng 8, Jefferson mới nhận được thư của Madison, nhưng ông đã trả lời quả quyết và ngay lập tức: “Ông hỏi xem liệu tôi có chấp nhận việc bổ nhiệm mình ở bên kia đại dương hay không ư? Ông biết những tình huống khiến tôi không về hưu được, mà cứ lần lượt bị bổ nhiệm hết lần này đến lần khác, đến tận bây giờ. Mục tiêu của tôi là trở về để nghỉ hưu”. Tóm lại, câu trả lời là không. Ông muốn trở lại Virginia để giữ Patsy và Polly trong môi trường an toàn hơn của quê hương mình. Và ông muốn lập lại trật tự cho những vấn đề cá nhân của mình ở Monticello. Nhưng sau vài tháng ở nhà, ông đã muốn quay lại vị trí của mình ở Paris - không có lý do gì để nghi ngờ sự chân thành của ông ở đây - và rồi nghỉ hưu .. với cương vị công chức. 98
Những bức thư sau cùng của ông từ Pháp lại mâu thuẫn một cách thú vị với vấn đề khủng hoảng chính trị đang diễn ra ở Pháp. Một mặt, ông nhắc lại sự lạc quan của mình. “Sự thanh bình đã được lập lại tương đối tốt ở đất nước này”, ông giải thích, “và Quốc hội đang tiếp tục khá ổn trong việc soạn thảo hiến pháp. Họ khó mà soạn thảo được một bản hiến pháp tốt nhất cho tất cả mọi người, nhưng họ sẽ soạn thảo được một bản hiến pháp tốt, đặt tự do và tài sản trên một cơ sở chắc chắn hơn ở Anh. Tôi hình dung họ sẽ mất hai hoặc ba tháng để làm việc này”. Ông đã được chuẩn bị để công nhận sự tồn tại của một phe phái ranh mãnh trong Quốc hội “với những quan điểm rất nguy hiểm”. Nhưng họ dễ dàng bị choáng ngợp vì “đa số dân tộc [là] một khối thống nhất vững chắc đến mức họ dường như đã từ bỏ mọi kỳ vọng về sự khó hiểu của trò chơi”. 99
Mặt khác, ông lại tỏ ra thận trọng hơn với một số trao đổi thư từ. “Cuộc khủng hoảng của đất nước này chưa kết thúc”, ông viết cho David Ramsay ở Nam Carolina. “Nếu nhu cầu về bánh mì bắt đầu gây rối loạn thì sẽ không thể lường trước được hậu quả, vì ảnh hưởng lan rộng của các nguyên nhân khác sẽ gia tăng cùng với sự kích động”. Tâm trạng trong những bức thư ông gửi cho Jay vừa lạc quan vừa thận trọng. Ông mong Đảng Ái quốc chiếm đa số trong Quốc hội, do đó gây được ảnh hưởng có mức độ với những phần tử cực đoan, và dẫn dắt Pháp đi đến sự ổn định như một chế độ quân chủ lập hiến. Nhưng có một số kịch bản kém hấp dẫn hơn. Nếu các cuộc bạo động vì bánh mì bắt đầu ở Paris, hoặc cuộc khủng hoảng tài chính trở nên tồi tệ hơn, hoặc nhà vua vì quá khiếp sợ đã cố chạy trốn khỏi Versailles, thì đó sẽ “là tín hiệu của Thánh Barthelemi [ví dụ, một vụ thảm sát] chống lại giới quý tộc ở Paris…” ít nhất với Jay, phụ trách đối ngoại của Mỹ và là cấp trên của ông, ông được bảo hiểm rủi ro cho sự đánh cược của mình. 100
Chuyến đi dài trở lại Monticello bắt đầu vào ngày 28 tháng 9 năm 1789. Thời tiết xấu đã khiến ông bị mắc kẹt tại Le Havre hai tuần, đủ lâu để thu hút sự chú ý của một người đồng hành mà đã mô tả một cảnh dễ thương: Jefferson chờ đợi thời tiết với Patsy và Polly ngồi quanh ông, đọc to cho cha nghe trong khi ông giúp Polly phát âm những từ khó. Khi họ đang chờ con tàu sẽ chở họ đến Anh và sau đó tới Mỹ, ba lá thư khác nhau đã đem tới cho ông những tin tức quan trọng: Maria Cosway nói lời từ biệt, nói rằng bị cảm nên không thể hẹn hò lần cuối ở Anh; William Short thông báo từ Paris rằng các cuộc bạo động vì bánh mì đã nổ ra ở đó và một đám đông 5.000 phụ nữ đã diễu hành qua Versailles; còn George Washington thì viết thư đề nghị ông đảm nhận vị trí Ngoại trưởng đầu tiên của Mỹ. 101