Thomas Jefferson, Nhân Sư Mỹ

Lượt đọc: 309 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
philadelphia: 1775-1776

Là dễ dàng để đưa ra những nhận định chắc chắn về con người

Jefferson vào năm 1776 hơn là vào năm 1793 hoặc năm 1800 .

DUMAS MALONE (1948)

⚝ ✽ ⚝

Đó là một nhận định đã lỗi thời về bước khởi đầu lớn [của Thomas Jefferson] (4) . Ngày 20 tháng 6 năm 1775, Thommas Jefferson đến Philadelphia trong một cỗ xe lộng lẫy, được gọi là phaeton, cùng với bốn con ngựa và ba nô lệ. Quãng đường khoảng 300 dặm từ Williamsburg tới đây phải đi mất 10 ngày, phần vì đường sá còn kém và hệ thống biển chỉ dẫn sơ sài - ông đã hai lần buộc phải thuê người hướng dẫn chỉ lại đường - phần vì ông đã nán lại ở Fredricksburg và Annapolis để mua thêm đồ đạc cho đoàn tùy tùng. Là đại biểu bang Virginia trẻ nhất và mới được bầu của Quốc hội Lục địa, rõ ràng ông định phát huy chuẩn mực sành điệu của giới quý tộc Virginia, thứ mà báo chí Philadelphia gần đây đã mô tả với sự ngưỡng mộ và vị nể xen lẫn như những “đấng quân vương kiêu hãnh của phương Nam”… 1

(4) “Đó” ở đây nhằm chỉ nhận định của Dumas Malone ở trên, về việc có thể dễ đưa ra nhận định “chắc chắn” về Jefferson hồi năm 1776 hơn là so với thời kỳ sau. Ngược với quan điểm này, ở đoạn dưới, tác giả nhấn mạnh sự “mơ hồ” của chân dung Thomas Jefferson qua các lời kể về ông thời kỳ này.

Vì vậy, ông đã sắm cho mấy người hầu da đen của mình là Jesse, Jupiter và Richard những bộ cánh sang trọng để tương xứng với một quý ông Virginia chuẩn mực, bao gồm cả roi xà ích cho Jesse, cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn. Richard ngồi trong xe với ông chủ của mình; Jupiter, người hầu riêng của Jefferson và đồng hành cùng ông từ thời sinh viên tại Đại học William & Mary, đi sau với hai con ngựa nữa. (Sau này, chính Jupiter là người đi cùng với Jefferson trong hầu hết thời gian đầu và đi vào lịch sử, rồi qua đời vào năm 1800 ngay trước khi Jefferson nhậm chức tổng thống, sau khi uống thuốc do “thầy lang” ở khu nô lệ Monticello pha chế). Hiện không có ghi chép gì về ấn tượng mà đoàn tùy tùng lịch thiệp này đã để lại trong đầu những cư dân Quaker quen sống tằn tiện của Philadelphia, nhưng sự đối lập gay gắt trong tính cách và sự nghiệp của Jefferson đã bắt đầu bộc lộ. Người mà đúng một năm sau đó, đã dự thảo một tuyên ngôn về nhân quyền nổi tiếng và hùng hồn nhất ở nước Mỹ - và có lẽ của cả thế giới - đã bước chân vào chính trường với tư cách một nhà quý tộc đường đường sở hữu nô lệ. 2

Vì vậy, đa phần những gì chúng ta biết về Jefferson thời trẻ là từ những hồi tưởng sau này, khi mà ký ức đã bị bao phủ bởi ánh hào quang xung quanh huyền thoại Tuyên ngôn Độc lập và các giai thoại đã được sắp xếp lại cho phù hợp với những mục đích cá nhân và chính trị khác nhau. Hơn nữa, có một khó khăn mà các chuyên gia về Jefferson gần như không thể vượt qua, đó là trận hỏa hoạn Shadwell, đã phá hủy hầu hết giấy tờ cá nhân của Jefferson vào năm 1770, khiến việc phục hồi thông tin về những năm đầu sự nghiệp của ông chủ yếu dựa trên các phán đoán cảm hứng. Với sự thiếu thốn tư liệu thời gian đầu và thừa mứa từ sau năm 1776, người ta rất dễ, và nhiều khi là không thể tránh khỏi theo một cách nào đó, hiểu về nhà cách mạng non trẻ thông qua vị chính khách già dặn.

Ví dụ, vấn đề về ngoại hình của Jefferson hồi trẻ. Vị đại biểu 32 tuổi của bang Virginia trông thế nào? Tất cả đều nhất trí rằng anh ta cao khoảng 1m87, có lẽ hơn thế vài phân. Tuy nhiên, sau đó bức hình bắt đầu mờ đi. Edmund Bacon, đốc công tại Monticello của Jefferson dưới thời ông làm tổng thống và sau đó nghỉ hưu, nhớ lại rằng “làn da của ông ấy rất sáng và thuần khiết, giống như con người ông ấy nói chung”. Nhưng hầu hết các báo cáo khác, và hầu hết các bức chân dung gần đây nhất, mô tả ông là người có gương mặt đỏ gay và nhiều tàn nhang, với nước da hoặc bị cháy hoặc rạng rỡ, tùy theo cảm giác từng người nhìn. Hình ảnh đương thời duy nhất của Jefferson hồi trẻ, được họa sĩ Pierre du Simitière vẽ bằng bút mực vào năm 1776, cho thấy một khuôn mặt như bị độn cái gì đó với ánh nhìn trống rỗng. Và có lý do để nghi ngờ rằng bức vẽ chưa chắc đã là Jefferson. Nhưng hầu hết những mô tả về Jefferson khi về già đều nhấn mạnh rằng ông có một khuôn mặt “gầy gò” hoặc mỏng tang. Bacon nói rằng ông “không có thịt thừa” - và đôi mắt rất sáng. Màu mắt của ông cũng gây nhiều tranh cãi. Hầu như tất cả các báo cáo sau này đều nói mắt ông màu xanh trong; nhưng những mô tả trước đó, cũng như hầu hết các bức chân dung, lại cho thấy mắt ông có màu hạt dẻ hoặc xanh lá cây. Có lẽ ánh sáng đã khiến màu mắt ông thay đổi. 3

Một trong những người từng là nô lệ của ông, Isaac, nhấn mạnh rằng ông chủ mình có dáng đứng thẳng. “Ông Jefferson có dáng người cao và thẳng nhất mà bạn từng gặp”, ông nhớ lại. “Hiếm có người nào trong thị trấn này có dáng đi thẳng như thế”. Bacon cũng nhất trí rằng Jefferson “thẳng như nòng súng”. Nhưng những người khác, chủ yếu là kẻ thù, mô tả ông là người oặt oẹo và lúc nào cũng chực sụp xuống, toàn bộ cổ tay, khuỷu tay và mắt cá chân. Sự khác biệt trong cách mô tả có thể là do các tư thế khác nhau. Khi đứng thẳng, ông có đôi vai vuông vức và dáng điệu trịnh trọng. Ông cúi chào mọi người mình gặp và hay đứng khoanh tay trước ngực, xác lập không gian riêng của mình và để phòng những người có ý xâm phạm. Tuy nhiên, khi ngồi, ông dường như hòa vào nêm ghế, dáng vặn vẹo, bên hông này lệch lên, bên hông kia lệch xuống, vai thõng xuống và vẹo sang bên, phần thân gập lại ở vài chỗ, chỗ như dao xếp, chỗ như đàn accordion.

Hai đặc điểm nổi bật nhất của ông là mái tóc và thường hát suốt ngày. Không như những bất đồng về màu mắt, những bất đồng về màu tóc của ông dường như dễ hòa giải hơn. Tóc ông màu vàng đỏ hoặc đỏ cát. Số ít người khi kể lại đã mô tả tóc ông màu xám là về sau này, khi tuổi tác làm sắc đỏ nhạt đi nhưng không làm thay đổi chi tiết phụ làm nên sự hoàn hảo tự nhiên nơi ông, đó là ít khi ăn diện và thậm chí không thường xuyên rắc bột (5) hay đội tóc giả. Ông hay buộc tóc ra sau khi ngồi, lỏng lẻo và để rối tự nhiên.

(5) Rắc bột lên tóc, một cách phục sức trước đây của đàn ông phương Tây.

Ông hát mỗi khi đi bộ hoặc cưỡi ngựa, đôi khi trong lúc đọc sách. Isaac kể lại rằng “hiếm khi người ta nhìn thấy ông ấy ở bên ngoài, nhưng lại thường nghe thấy ông ấy hát”. Bacon cũng xác nhận rằng “khi ông ấy không nói chuyện thì ông ấy gần như luôn ngân nga một giai điệu nào đó, hoặc khẽ hát cho mình nghe”. Rõ ràng việc hay hát này là một thói quen đã có từ lâu. Vì vậy, nếu tin vào những điều trên, ta có thể hình dung Jefferson tới Philadelphia vào năm 1775 trong cỗ xe phaeton cùng với ngựa và nô lệ của mình, hình ảnh một thanh niên cao ráo mảnh khảnh tới từ Virginia có mái tóc vàng đỏ, ngồi rụt rè, thờ ơ, và khe khẽ hát. 4

JEFFERSON THỜI TRẺ

Những chi tiết quan trọng về thời thanh niên của ông, chí ít là các mảnh thông tin căn bản về tiểu sử, không mù mờ bằng hình ảnh bể ngoài của ông. Jefferson sinh ra tại Shadwell, hạt Albemarle, Virginia, ở chân núi Blue Ridge vào năm 1743. Chuyện kể rằng ký ức đầu đời của ông, khi ông chỉ khoảng 3 tuổi, “được đặt vào một cái gối và được một nô lệ cưỡi ngựa mang đi từ Shadwell đến Tuckahoe”, có lẽ đây là một kiểu dự cảm cho chuyến đi tới Philadelphia của ông. Cha của ông, Peter Jefferson, là một chủ đồn điền khá giả, nổi tiếng trong vùng là người khỏe mạnh, thích phiêu lưu như một nhà thám hiểm và khám phá vùng đất phía Tây. Khi qua đời năm 1757, Peter đã để lại 200 con lợn, 70 đầu gia súc, 25 con ngựa, 60 nô lệ, sáu con gái, hai con trai và bà vợ góa Jane Randolph Jefferson.

Người ta biết rất ít về bà (lại là do trận hỏa hoạn Shadwell), trừ việc là một người mang họ Randolph và xuất thân từ một trong những gia đình danh giá nhất Virginia. Có lý do để tin rằng mối quan hệ của Jefferson với mẹ khá căng thẳng, đặc biệt sau cái chết của cha, là con trai cả, ông đã làm mọi cách có thể để loại bỏ sự giám sát của mẹ. Nhưng tất cả những suy đoán về điều này thực ra chỉ đơn thuần là suy đoán mà không có bằng chứng rõ ràng. Sau khi học xong tiếng Latin và Hy Lạp ở trường tư trong vùng, ông học tiếp lên Đại học William & Mary vào năm 1760. Ở đấy, ông nổi tiếng trong đám bạn cùng học như là một sinh viên chăm chỉ, đôi khi dành hẳn 15 tiếng để đọc sách, ba tiếng tập violon và sáu tiếng còn lại ăn và ngủ. Ông là một thanh niên cực kỳ nghiêm túc. 5

Sau khi tốt nghiệp năm 1762, ông tiếp tục lối sống kỷ luật cao độ của mình khi học tiếp về luật tại Williamsburg dưới sự hướng dẫn của George Wythe (phát âm là with ). Sau năm năm đằng đẵng tập sự, ông bắt đầu ra làm riêng, chủ yếu đại diện cho các chủ đồn điền quy mô nhỏ ở các hạt miền Tây trong các vụ liên quan đến đòi quyền đất đai và tước hiệu. Mặc dù ông không có đột phá gì về mặt luật pháp và cũng chẳng xử lý vụ nào đáng chú ý, nhưng ông nổi lên ở Tòa án Williamsburg như một luật sư có sự chuẩn bị cực kỳ tốt, một người phát ngôn trung lập trước tòa và một học giả về luật pháp đáng nể. 6

Năm 1768, ông đã có hai quyết định quan trọng: thứ nhất, xây dựng nhà riêng của mình trên đỉnh một ngọn núi cao khoảng 264 mét thuộc điền sản ông được thừa kế từ cha mình; thứ hai, tự ứng cử vào Hạ viện vùng. Quyết định đầu tiên phản ánh điều mà sau này trở thành sự thôi thúc suốt đời ông, đó là được rút vào thế giới riêng của mình. Lúc đầu ông đặt tên cho ngôi nhà tương lai của mình là The Hermitage, (6) một nơi khép kín và chẳng mấy chốc đã trở thành Monticello, ngôi biệt thự trên núi và là dự án kiến trúc cả đời của ông. Quyết định thứ hai phản ánh tham vọng chính trị của ông và tiếng tăm ngày càng tăng ở vùng đất xa xôi Old Dominion, cũng như vị trí mới nổi của ông trong giới thượng lưu chủ đồn điền vùng Tidewater. Ông có một ghế ở Hạ viện vùng vào tháng 5 năm 1769, rồi nhanh chóng nằm dưới sự bảo trợ của hai nhân vật quan trọng vùng Tidewater: Peyton Randolph, ông cậu đằng mẹ của Jefferson, một nhân vật quyền lực nhất trong cơ quan lập pháp; và Edmund Pendleton, một nhà biện giải sắc sảo và nổi tiếng nhanh nhẹn của giới quý tộc chủ đồn điền. 7

(6) Tức nơi ẩn dật.

Vào ngày đầu năm mới năm 1772, ông hoàn thiện hình ảnh “gia trưởng” đầy cảm hứng của mình bằng việc kết hôn với Martha Wales Skelton, một góa phụ trẻ hấp dẫn và tinh tế, có của hồi môn nhiều gấp đôi số đất đai và nô lệ của Jefferson. Hôn nhân dường như đã giúp cho ông trở nên vững vàng. Cho đến đầu thập niên 1770, những sổ sách thường nhật và kế toán khác nhau mà ông dùng để ghi chép các giao dịch và bài viết cứ như do những người khác nhau viết nên. Chữ viết tay trong những sổ sách này khác nhau một trời một vực về độ nghiêng, lối viết và khoảng cách giữa các từ. Khi ông lấy vợ, việc thử nghiệm vô thức này đã dừng lại; văn phong của ông đi vào quy củ với hình thức rõ ràng, khiêm tốn và cứ vậy cho tới lúc ông về già, và giờ đây được lưu giữ trong dự thảo ban đầu của Tuyên ngôn Độc lập. 8

Mặt khác, bản sắc chính trị của ông vẫn không rõ nét và nằm bên lề. Hình ảnh sống động đầu tiên của Jefferson ở Hạ viện vùng có tính tượng trưng. Như một sinh viên luật trẻ ở Williamsburg, ông đứng trong sảnh Hạ viện, nghe Patrick Henry hùng hồn tranh biện để phản đối Đạo luật Tem năm 1765. Jefferson là một người thích lắng nghe và quan sát, đặc biệt không thoải mái khi phải đứng dưới ánh đèn sân khấu, sự nhút nhát và lo lắng thể hiện trong tính cách mất tập trung của ông đôi khi khiến người ta nhầm lẫn với sự kiêu ngạo. 9

Từ những ngày đầu ở Hạ viện, ông đã phản đối mọi hình thức đánh thuế của Quốc hội và ủng hộ các nghị quyết về không nhập khẩu để chống lại các quy định thương mại của Anh. Nhưng những thành viên khác của Hạ viện cũng làm vậy, cùng với toàn bộ giới lãnh đạo Tidewater. (Năm 1771, quan điểm chính trị cấp tiến của ông lại va phải kế hoạch cá nhân khi ông đặt hàng một cây đàn piano đắt tiền từ London, “cây đàn bằng gỗ gụ đẹp, chắc chắn, không phải gỗ dán”, nằm trong kế hoạch đám cưới của ông với Martha. Mặc dù vi phạm nghị quyết không nhập khẩu, nhưng ông vẫn yêu cầu gửi cây đàn và nói rằng ông sẽ để nó trong kho cho đến khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ. Điều tương tự cũng xảy ra ba năm sau đó khi ông đặt “cửa sổ trượt” cho biệt thự Monticello). Giống với hầu hết những chính khách đương thời, ông hiện diện một cách phảng phất và lặng lẽ, như một trong những người ngoại quốc tại bữa tiệc tối, họ sẽ gật đầu một cách lịch sự khi di chuyển từ nhóm này sang nhóm khác nhưng không bao giờ để lộ việc họ nói hay không nói được tiếng bản địa. Ông có một ác cảm sâu xa với sự ganh đua và hỗn độn vốn có trên chính trường. Ông luôn nói với bạn bè rằng cuộc sống trên sân khấu trước công chúng không dành cho mình. Ngay từ lúc bắt đầu sự nghiệp chính trị, ông dường như đã sẵn sàng muốn nghỉ hưu. 10

Nếu xét đến vai trò sau này của ông trong Quốc hội Lục địa và sau đó là trong công cuộc định hình Cách mạng Mỹ, thì việc ông chọn tham gia vào đoàn dại biểu Virginia ở Philadelphia là một tai nạn may mắn. Jefferson đã không được bầu vào đoàn đại biểu ban đầu năm 1774; ông không được coi là một nhân vật đủ nổi bật để tham gia đoàn cùng những cái tên như George Washington, Patrick Henry, Edmund Pendleton và Peyton Randolph. Tuy nhiên, năm 1775, ông đã được chọn làm người thay thế dự bị cho Randolph - Jefferson được coi như con đỡ đầu trong chính giới của Randolph - dự kiến là Randolph sẽ từ bỏ vị trí của mình tại Philadelphia để quay về phụ trách một việc được coi là quan trọng hơn ở Virginia. Công bằng mà nói thì Jefferson đã được xếp vào danh sách những nhân vật có tiếng trong chính giới ở Old Dominion, nhưng chỉ ở mức vừa phải, chủ yếu là nhờ ông có quan hệ họ hàng và nhận được sự bảo trợ từ những người trong nhóm Randolph. Nếu việc ông đến Philadelphia vào tháng 6 năm 1775 được coi là đã đánh dấu sự tham gia của ông vào chính trường, thì ông đã bước vào bằng cửa phụ. 11

NHỮNG NGUYÊN TẮC WHIG

Sự dè dặt và mờ nhạt của Jefferson lại có một ngoại lệ quan trọng. Chính điểm này ở ông đã khiến những đại biểu đến từ các thuộc địa khác biết đến chàng thanh niên Jefferson. “Tôi chưa bao giờ đồng hành với ông ấy”, Samuel Ward kể lại thời điểm sau khi Jefferson đến, nhưng “ông ấy có vẻ là một người tốt, mạnh mẽ, hiểu chuyện, và theo như cuốn sách ông ấy đã viết mùa hè trước thì hẳn ông ấy đúng là người như thế”. Tương tự như vậy, John Adams kể lại rằng Jefferson bước chân vào Quốc hội Lục địa, mang theo “danh tiếng của một cây bút bậc thầy… hệ quả từ một tài liệu hay ho ông đã viết cho Hạ viện vùng, đem lại cho ông đặc điểm của một tay viết cừ”. 12

Tài liệu ấy chính là cuốn sách nhỏ mà Jefferson đã phần nào tình cờ công bố năm trước. Tháng 7 năm 1774, ông đã tự soạn thảo một tập hợp các hướng dẫn cho đoàn đại biểu đầu tiên của Virginia tại Quốc hội Lục địa. Ông đã chọn cách tránh né điển hình là cáo bệnh để không phải tham gia tranh luận trong Hội nghị Virginia, nhưng bạn bè lại thu xếp để một tờ báo ở Williamsburg đăng tải dự thảo của ông. Từ đó, các nhà in và các biên tập viên báo chí trên khắp các thuộc địa đã gọi cuốn sách nhỏ của ông với tiêu đề Quan điểm tóm tắt về quyền của Mỹ dưới sự cai trị của Anh (A Summary View of the Rights of British America).

Các nhà lập pháp Virginia là độc giả mà những chỉ dẫn của Jefferson thật sự định nhắm đến, nhưng họ đã không đi theo các chỉ dẫn ấy, mà chủ trương áp dụng một thái độ ôn hòa hơn với Anh. Những kiến nghị của Jefferson, và những gì đã đặt cơ sở cho uy tín chính trị của ông bên ngoài Virginia, rõ ràng là cực đoan hơn. Thật vậy, nếu tin vào những luận điểm trong Quan điểm tóm tắt , ta sẽ thấy Jefferson chính là người đi tiên phong trong phong trào cách mạng ở Mỹ. 13

Lối viết của Quan điểm tóm tắt giản dị và dứt khoát, báo hiệu trước khí chất rồi sẽ xuất hiện sau này trong một số đoạn của Tuyên ngôn Độc lập (ví dụ, “Những hành vi độc tài đơn độc có thể được coi như ý kiến ngẫu nhiên hiện thời, nhưng một loạt các áp bức, bắt đầu tại một thời kỳ nhất định, và tiếp tục bất biến dù bộ máy chính quyền đã thay đổi, đã chứng tỏ quá rõ ràng rằng có một kế hoạch có hệ thống và cố ý nhằm biến chúng ta thành nô lệ”). Tuy nhiên, điều mà hầu hết độc giả nhận thấy, và sau này Jefferson cho là đóng góp chính của ông, đó là những lập luận pháp lý rằng Nghị viện Anh không có quyền áp đặt bất kỳ điều gì lên các thuộc địa. Trong khi quan điểm này không được thể hiện rõ trong các tài liệu phản đối chế độ thuộc địa kể từ cuộc khủng hoảng Đạo luật Tem năm 1765, thì sự rõ ràng trong trường hợp của thuộc địa đã đụng chạm tới những điểm đặc biệt phức tạp. Giả sử, Nghị viện không có quyền đánh thuế đối với thuộc địa nếu không có sự đồng ý của họ, nhưng phải chăng Nghị viện không có quyền điều tiết thương mại? Đúng, Nghị viện không có quyền, nhưng sẽ được phép làm thế khi mục đích của việc điều tiết thương mại là nhằm tăng doanh thu. Nhưng vậy thì làm thế nào để đánh giá được mục đích? Và còn những hành động lập pháp khác của Nghị viện, ví dụ như đóng quân tại các thành phố thuộc địa và đóng cửa cảng Boston, thì sao? Những câu hỏi dai dẳng này được nêu ra làm cho vấn đề pháp lý hơi phức tạp. Phải chăng có một số việc này Nghị viện có thể làm nhưng một số việc khác thì không? Nếu vậy, làm sao để quyết định việc nào với việc nào? Sức hấp dẫn chính của Quan điểm tóm tắt là Jefferson đã xuyên qua mớ câu hỏi hỗn độn này bằng một nhát cắt sắc bén: “Nghị viện Anh không có quyền áp đặt lên chúng ta”. 14

Thời điểm ra đời của cuốn sách cũng rất đúng lúc. Một số người bất đồng với chế độ thuộc địa - John Adams ở Massachusetts và James Wilson ở Pennsylvania - lúc này cũng rút ra cùng một kết luận rằng Nghị viện không có quyền đối với thuộc địa. Như đã đề cập trước đó, theo logic, điều này sẽ dẫn tới phong trào phản đối thực dân khắp nơi bắt đầu từ năm 1765. Nhưng Jefferson đã đặt nền móng pháp lý cho luận điểm này ngay khi nó trở thành một quan điểm duy nhất đứng vững để những người phản đối chính sách đế quốc Anh lấy đó dựa vào. Và ông đã làm điều đó trong cuốn sách, vừa như một bản tóm tắt pháp lý súc tích và thực tế, vừa có tính trào phúng của một bài giảng chính trị. 15 .

Hai luận điểm nổi bật khác của Quan điểm tóm tắt ít được chú ý vào thời điểm đó, nhưng vào những tháng sau này đã được mở rộng trong các cuộc tranh luận trong Quốc hội Lục địa. Thứ nhất là cách đối xử của Jefferson với George III và thái độ của nhà vua đối với nền quân chủ Anh. Phản ứng của hầu hết độc giả đối với Quan điểm tóm tắt tập trung vào điểm Jefferson phủ nhận quyền áp đặt của Nghị viện, bởi đó là vấn đề bức xúc về mặt pháp lý mà các cơ quan lập pháp thuộc địa khác nhau đều phải đối mặt. Có một điều mà nhiều người không để ý là Jefferson đã tiến một bước đến mục tiêu kế tiếp, đó là chế độ quân chủ mà trên thực tế chính là trở ngại duy nhất còn lại ngăn cản việc tuyên bố độc lập của Mỹ. Nói cách khác, bản cáo trạng dài dòng phản đối nhà vua mà ta thấy đã chiếm mất hai phần ba Tuyên ngôn Độc lập thực ra đã được thai nghén trong Quan điểm tóm tắt .

Thái độ của Jefferson đối với chế độ quân chủ trong Quan điểm tóm tắt mang tính tuyên bố hơn là ai oán, và giọng điệu của ông khi nói về George III vừa thể hiện sự thiếu tôn trọng vừa có ý tố cáo. Nhà vua không phải là một đấng trị vì trời phú mà chỉ đơn thuần là “người đứng đầu nhân dân theo luật định, và bị hạn chế bởi quyền năng nhất định nhằm hỗ trợ sự hoạt động của cỗ máy chính phủ khổng lồ, được dựng lên để phục vụ chính kẻ trị vì, và do đó phải chịu sự giám sát của kẻ đó”. Jefferson đã không đổ lỗi cho Nghị viện hoặc “Những bộ trưởng xấu xa của nhà vua” vì sự quản lý nước Mỹ yếu kém của cả bộ máy chính sách đế quốc, cách tiếp cận được chấp nhận ngay cả trong phái cấp tiến. Thay vì thế, ông biến nhà vua trở thành kẻ đồng lõa trong những tội ác chống lại quyền của các nước thuộc địa. Ông cáo buộc George III về tội cẩu thả: cho phép hội đồng thuộc địa giải thể; từ chối nghe kháng cáo của bên bị hại; trì hoãn việc thông qua cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, ông cũng đã buộc tội nhà vua về những hành vi hoàn toàn phi pháp của chính nhà vua: gửi lính có vũ trang vào các thành phố thuộc địa để dập tắt biểu tình hợp pháp; nghiêm cấm cư dân vùng thuộc địa di cư tự nhiên vượt quá ranh giới dãy núi Appalachian. Ông thậm chí còn đưa lời cáo buộc làm dấy lên một cuộc tranh cãi nảy lửa này vào bản dự thảo ban đầu của Tuyên ngôn Độc lập, cụ thể là George III đã duy trì sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ bằng cách liên tục ngăn cản các nỗ lực của thuộc địa trong việc chấm dứt việc buôn bán nô lệ châu Phi. Trong thực tế, khi có điều kiện nhìn lại, ta có thể thấy cuốn Quan điểm tóm tắt là một dự thảo sơ bộ của bản cáo trạng chống lại George III có trong bản Tuyên ngôn, được viết tròn hai năm trước văn bản nổi tiếng hơn và thậm chí là trước cả khi Jefferson có một ghế trong Quốc hội Lục địa. 16

Thứ hai, thậm chí quan trọng hơn, là Quan điểm tóm tắt , vào lúc đó đã không được quan tâm, còn bộc lộ tâm tư của Jefferson ở buổi ban đầu trong sự nghiệp chính trị của ông. Đó là một phiên bản tinh vi và chủ yếu mang tính truyền thuyết của lịch sử Anh. Trong bối cảnh mong muốn chống lại sự lạm dụng quyền lực của chế độ quân chủ, Jefferson đả chèn thêm một đoạn dài, trong đó ông đã lần về nguồn gốc của sự lạm dụng, đó là cuộc chinh phục của người Norman. Nguồn gốc vấn đề thuộc địa của chính quyền Anh không phải là từ cuộc khủng hoảng Đạo luật Tem năm 1765, mà vấn đề thật sự bắt đầu từ năm 1066, khi người Norman đánh bại người Saxon trong trận Hastings. Đây là nguồn gốc của cái mà Jefferson gọi là “nguyên tắc tưởng tượng trong đó mọi vùng đất ban đầu đều thuộc về vua…” Toàn bộ lịch sử Anh kể từ cuộc chinh phục của người Norman đã là một sự lầm lạc không may, được biết đến với tên gọi chế độ phong kiến, rồi sau đó phát triển thành một hình thức độc ác nhất, đó là quyền lực tuyệt đối của hoàng gia ở các thuộc địa. Jefferson theo đuổi “nguyên tắc tưởng tượng” của mình bằng việc gợi ý tìm hiểu về quá khứ Saxon của Anh trước khi bị người Norman chinh phục, về cái thời trước đây trong những khu rừng ở Đức có một nhóm người sống tự do và hòa hợp, không có vua hoặc lãnh chúa cai trị, họ làm việc và sở hữu đất đai như những chủ thể có chủ quyền. 17

Kiểu diễn giải “chuyện xưa kể rằng” của Jefferson về sau được biết đến như kiểu diễn giải lịch sử của Đảng Whig, đáng được quan tâm nghiên cứu như một đầu mối quan trọng trong việc tìm hiểu bản năng trí tuệ sâu xa nhất của Jefferson. Ông đã được tiếp xúc với câu chuyện trung tâm của lịch sử Whig qua một số cuốn sách ông đọc thời trẻ, chủ yếu là tuyển tập Lịch sử Anh (History of England) của Paul de Rapin và Lịch sử chế độ sở hữu phong kiến ở Anh (History of Feudal Property in Great Britain) của Ngài John Dalrymple. Ông cũng đã từng đọc bản dịch cuốn Germania của Tacitus, nguồn tài liệu chủ yếu của các sử gia Whig vì có phần mô tả mô hình Saxon của chính phủ đại diện trước khi bị chế độ quân chủ phong kiến làm vấy bẩn. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, những tác phẩm tiêu chuẩn về lịch sử Whig mà Jefferson đọc thời trẻ đã giúp định hình tư duy chính trị của ông trước năm 1776, và là một lý do để ông thường xuyên liên hệ “các nguyên tắc Whig cổ xưa” với suối nguồn các giá trị căn bản trong phong trào giành độc lập của Mỹ. Nhưng sự hấp dẫn của lịch sử Whig bắt nguồn từ một thứ khác, mạnh hơn lối biện luận hay tính logic của nó. Chúng có sức ảnh hưởng chính là bởi câu chuyện mà chúng kể lại cực kỳ hợp với cách tư duy của ông. Lối hành văn lãng mạn của chúng về một quá khứ hoang sơ, về một thời kỳ dài đã mất và về nơi con người từng sống với nhau rất hòa hợp mà không cần luật pháp cưỡng chế hoặc những kẻ cai trị khát máu, đã định hình lối viết trần thuật để trí tưởng tượng của Jefferson và những ảo vọng chôn sâu trong nhân cách của ông bay bổng. Lịch sử Whig đã không tạo nên những mơ mộng lãng mạn trong ông, mà nó đã biến những hy vọng và tầm nhìn sẵn có trong tâm trí và trái tim ông thành con chữ.

Trong những tháng đầu ở Philadelphia, Jefferson quan tâm đến việc chia sẻ ý nghĩa thực tế của những nguyên tắc Whig với các đại biểu đồng nghiệp của mình hơn là nghiên cứu sự thâm sâu của chúng. Thuật ngữ chủ chốt ở đây là “biệt xứ”. Ý tưởng cốt lõi ở đây là các giá trị Saxon gốc ẩn chứa trong nước Mỹ. Suốt mùa thu và mùa đông năm 1775, Jefferson chuyên tâm nghiên cứu cuốn Những cuộc hành trình (Voyages) của Richard Hakluyt, nhằm thu thập tài liệu làm bằng chứng cho tuyên bố rằng những người di cư đầu tiên từ Anh đến Mỹ đã phải tự chi phí cho chuyến đi của mình, “không được trợ cấp bởi của cải hay sức mạnh của Anh”, và quan trọng nhất, họ coi việc di cư là một cách cắt đứt hoàn toàn với mẫu quốc. Nếu đúng, đây chính là lịch sử được xét lại với những kết quả mang tính cách mạng nhất, vì nó cho thấy việc độc lập khỏi Anh không phải là một viễn cảnh tương lai nào đó mà Jefferson và các đại biểu đồng nghiệp của ông trong Quốc hội Lục địa đã dự tính nghiêm túc; mà đây là một sự kiện đã xảy ra trong quá khứ mù sương. 18

Lý thuyết về biệt xứ là hoàn toàn và căn cứ về mặt lịch sử. (Jefferson bám vào lý thuyết này với sự kiên trì gần như ám ảnh suốt cuộc đời mình, dù ngay cả ông cũng thừa nhận rằng: “Tôi chưa bao giờ buộc được ai đồng ý với mình ngoài thầy Wythe”, giáo viên luật cũ của ông). John Adams cũng vừa mới công bố khảo sát của mình về lịch sử thuộc địa, với tác phẩm Novanglus , trong đó ông cũng tìm kiếm các nguồn gốc của việc Mỹ tuyên bố độc lập khỏi sự kiểm soát của Hoàng gia và Nghị viện. Nhưng thay vì một quá khứ Saxon thần bí, Adams lại phát hiện ra một mạng lưới phức tạp của các tiền lệ chồng chéo và quyền tài phán trong tranh chấp. Điều này đúng hơn với sự hỗn độn cố hữu trong lịch sử Anh và thuộc địa, vốn đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa quyền lực Hoàng gia và Nghị viện ở thời kỳ thuộc địa, sự khác biệt căn bản giữa các đặc quyền phụ thuộc vào thời điểm thành lập của các thuộc địa khác nhau, và duy nhất việc nhận thức dần dần về một phần thẩm quyền của Anh rằng họ đang giám sát một đế chế trên thực tế. Lý thuyết biệt xứ của Jefferson có cùng quan hệ với lịch sử thuộc địa giống như khúc hát tuổi thơ trong tiểu thuyết kiểu Jamesia. Đó chắc chắn là một phần hấp dẫn của nó. 19

Khao khát sáng tạo và nắm bắt những tưởng tượng quyến rũ ấy của Jefferson không phải là một nỗ lực có dụng ý tuyên truyền. Jefferson tin vào những gì ông viết. Đúng là ông đã lợi dụng các bằng chứng lịch sử vào mục đích lớn hơn. Kỹ năng trí tuệ của Jefferson, ví dụ như trong việc quy trách nhiệm cho George III về việc buôn bán nô lệ, có thể được giải thích như là một mưu đồ thông minh. Không một ai tỉnh táo lại đi tin điều đó, nhưng phải công nhận đó là một miêu tả sai lạc nhưng hữu ích về chính trị. Tương tự là phiên bản vui mắt của Tiệc trà Boston trong Quan điểm tóm tắt . Theo như mô tả của Jefferson, một nhóm trung thành với Boston đã phá hoại một tàu hàng lậu, bất chấp việc có thể bị bắt giữ và truy tố. Samuel Adams, một nhân vật quan trọng trong Quốc hội Lục địa và cầm đầu Tiệc trà, hẳn phải cười khẩy mãn nguyện khi ông ta biết rằng “những người trung thành với Boston” thực ra là một nhóm côn đồ và phá hoại giả làm người da đỏ để tránh bị lộ tung tích, họ cũng nhận được sự ủng hộ ngầm từ những thương gia Boston, nên nhiều người trong số đó đã phất lên nhờ buôn lậu. Sam Adams nhận ra rằng Tiệc trà là một vở diễn được dàn dựng của sân khấu cách mạng. Jefferson đã mô tả nó như một hành động tự phát của chủ nghĩa yêu nước, được tiến hành theo nghi thức của một buổi tiệc trà. Nhưng rồi một lần nữa, có lẽ phiên bản của Jefferson tự thân nó chính là một động thái tuyên truyền, được dàn dựng có ý thức như chính Tiệc trà. 20

Tuy nhiên, huyền thoại Saxon và thuyết biệt xứ lại là một vấn đề khác. Chúng không phải là những sự bóp méo khôn ngoan và cố ý. Chúng là sự bịa đặt hoàn toàn. Và Jefferson rõ ràng tin đó là sự thật. Đặc điểm nổi bật của chúng là mang màu sắc của một thế giới khác và gần như một câu chuyện cổ tích. Lịch sử đầy rẫy những nhân vật khôn ngoan và xuất chúng, sự vĩ đại của họ bắt nguồn từ quyết tâm tin vào những điều mà rốt cuộc lại là một tập hợp các ảo tưởng. Nhưng ảo tưởng của Jefferson có đặc điểm là ủy mị và trẻ con tới mức khó tin. Vì đặc điểm chủ chốt trong tư duy trưởng thành của Jefferson là, một mặt ông có cảm tình với những tầm nhìn được lý tưởng hóa và bình dị, mặt khác ông lại chối bỏ bằng chứng chứng tỏ những tầm nhìn ấy chỉ là hão huyền, do đó ta cần phải đặt câu hỏi xem đặc điểm này từ đâu ra.

Lời giải thích được ẩn giấu trong các nếp gấp bên trong nhân cách của Jefferson, ngoài tầm với của các phương pháp lịch sử truyền thống và vũ khí bằng chứng. Những gì chúng ta có thể nhận ra ở đây là một kiểu hành vi thu mình lại, cho thấy rõ ràng có vấn đề về mặt tâm lý. Chàng thanh niên Jefferson đã thể hiện mình là một người có tính cách cực kỳ khép kín. Monticello cho ta một minh chứng mạnh mẽ nhất về nhu cầu của Jefferson là rút khỏi thế giới vốn đầy rẫy xung đột và áp bức giữa người với người để tạo ra một nơi trú ẩn có lối kiến trúc Palladian hoàn hảo, thiết lập môi trường lý tưởng cho tầm nhìn của ông về sự hài hòa bên trong. Và ông hay nói về mong muốn có một nơi trú ẩn an toàn khỏi sự hỗn độn và rối loạn của thế giới bằng những thuật ngữ rõ ràng là khoa trương. “Có thể có những người mà với tâm tính của họ thì họ sẽ hài lòng với việc đấu đá”, ông viết cho John Randolph năm 1775, “nhưng với tôi, trong tất thảy mọi thứ, đó lại là thứ kinh khủng nhất”. Ông rất thích “rút lui hoàn toàn khỏi sân khấu đại chúng và dành phần còn lại trong đời mình để nội tâm thư giãn và tĩnh lặng, xua tan mọi ham muốn sau tất cả, lắng nghe những gì đang trôi qua trên thế giới”. Người học trò khôn ngoan nhất, khi phải xây đi xây lại Monticello để nó trở thành nơi hoàn hảo và là một “chuyến du lịch bí ẩn huyền diệu của trò ảo thuật kiến trúc”, đã kết luận rằng nỗi ám ảnh cả đời của Jefferson về việc “xây rồi lại đập” tốt nhất nên được hiểu là một hình thức “trò chơi thời thơ ấu áp dụng vào thế giới người lớn”. Cả những kỳ vọng mà Jefferson ấp ủ trong cuộc sống riêng tư của ông nơi ngôi biệt thự trên núi, và cách mà ông cố gắng để thiết kế và xây dựng nó, cho thấy một mức độ đam mê thường thấy ở một thời tuổi trẻ. 21

Rất ít thư từ cá nhân từ thời trẻ của ông còn sót lại đến nay, và chúng cho thấy một thiên hướng lãng mạn kiểu trẻ con ấy. Ở tuổi 20, ngay sau khi tốt nghiệp trường William & Mary, Jefferson đã viết cho người bạn thân nhất của mình là John Page: “Page ạ, tôi rất tin là mình sẽ chết sớm, và dù tôi không thể đưa ra lý do cho việc đó, nhưng tôi mệt mỏi với cuộc sống. Tại thời điểm khi tôi đang viết những dòng này, tôi gần như không nhận ra mình đang tồn tại. Tạm biệt, Page thân mến”. Vài tháng sau, ông báo với Page cảm giác bẽ bàng khi phát hiện ra mối tình si của mình với Rebecca Burwell, một người đẹp gợi cảm lúc đó đang ở Williamsburg, là một sự vô vọng. Jefferson đã lại gần cô trong một buổi khiêu vũ tại phòng Apollo của quán rượu Raleigh, nhưng lưỡi ông dính chặt và Rebecca thì chẳng hề quan tâm. “Tôi đã chuẩn bị trong đầu, những suy nghĩ đến với tôi, tôi cố nói năng lưu loát hết mức có thể, và hy vọng mình hành xử nhã nhặn ở mức chấp nhận được”, ông giải thích. “Nhưng, Chúa ơi!” 22

Một mặt, những mẩu bằng chứng như thế cho thấy Jefferson là hình ảnh thu nhỏ của các thiếu niên tự ti (mặc dù trong thực tế, ông đã 20 tuổi tại thời điểm thất tình với Rebecca Burwell). Tuy nhiên, mặt khác, chúng lại cho thấy hình ảnh thoáng qua của một người trai trẻ dễ bị tổn thương, quen xây dựng thế giới nội tâm đầy những hấp dẫn tưởng tượng tuyệt vời mà chắc chắn sẽ xung đột với thực tại. Thay vì điều chỉnh kỳ vọng của mình khi đối mặt với nỗi thất vọng, ông lại chôn chặt chúng vào lòng, coi sự cách biệt giữa những lý tưởng của mình với sự không hoàn hảo của thế gian là vấn đề của mọi người chứ không phải của riêng mình. 23

Sự gắn bó kỳ lạ của Jefferson lúc đó với truyền thuyết về quá khứ Saxon là một biểu hiện thời kỳ đầu về mặt tư tưởng của lối tư duy đặc trưng kiểu Jefferson. Nó đại diện cho phát hiện của ông - đúng hơn là phát minh của ông- về một thời kỳ bình dị và một nơi hợp với ý thức mạnh mẽ của ông về cách thức mà đáng lẽ mọi thứ nên diễn ra. Và bất kỳ sự thỏa hiệp nào với ảo mộng quyến rũ ấy đều sẽ phản bội lại các nguyên tắc cá nhân của mình. Trở lại thế giới xa xôi của Anh trước khi có người Norman, trước cả những tệ hại phong kiến, nam giới và nữ giới có thể kết hợp sự độc lập cá nhân với sự hòa hợp xã hội, tự do cá nhân với thượng tôn pháp luật, nhu cầu làm việc với ham muốn vui chơi. Cả đời mình, Jefferson bị ám ảnh bởi những viễn tưởng về một thiên đường như vậy và mong muốn tìm thấy nó trong các cảnh đồng quê, các bộ lạc da đỏ xa xôi, những khu vườn tỉa tót, những cộng đồng địa phương (sau này ông gọi họ là cộng hòa xã), hoặc những thế hệ mới và do đó chưa bị mua chuộc. Ở cấp độ cá nhân, chàng trai trẻ đang có Demosthenes của người Mỹ (và hy vọng số phận sẽ chọn ông cho cả hai vai trò). Các mục nhật ký của ông thể hiện một tinh thần tràn ngập các cuộc tranh luận, đó là tinh thần mà mỗi người khi đứng lên phát biểu đều được các đồng nghiệp của mình đánh giá như một thí sinh trong trò hùng biện thường thấy. Adams quan sát thấy rằng Edward Rutledge từ Nam Carolina là “người hoạt bát nhưng không sâu sắc” và có thói quen gây mất tập trung, đó là nói giọng mũi. Benjamin Rush đến từ Pennsylvania đã bị sa thải vì “nói quá nhiều... Lịch duyệt nhưng không sâu sắc”. Roger Sherman của Connecticut thì lại là một mô hình hoàn hảo của sự lúng túng: “Không có một sự tương phản đẹp đẽ và nổi bật nào hơn với chuyển động của đôi tay ông ta. Nói chung, ông ta thường đứng thẳng với đôi tay để phía trước... Nhưng khi ông ta di chuyển bàn tay, giống như một hành động, thì đến cả Hogarth thiên tài cũng không thể nào phát minh ra được một chuyển động đối lập với sự duyên dáng hơn thế. Đó chính là sự cứng nhắc, và lúng túng. Lúng túng như một cử nhân, hoặc sinh viên năm thứ hai”. Vào thời điểm Jefferson đến Philadelphia, Adams đã bắt đầu nổi lên như là một trong những diễn giả hiệu quả nhất trong Quốc hội, một người đàn ông với cái tôi đau đớn đã tự gắn mình với sự nghiệp giành độc lập, người mà sự kết hợp giữa việc học luật với năng lượng hùng biện đơn thuần đã vượt xa những đại biểu ôn hòa hơn trong một phong cách mạnh mẽ, có vẻ vừa như chó bull, vừa như núi lửa. 24

Trong khi đó, vị thế của đoàn đại biểu Virginia ngày càng cao xuất phát chủ yếu từ tài diễn thuyết nổi tiếng của đoàn. Edmund Pendleton là bậc thầy hùng biện với mái tóc bạc và phong cách thanh lịch. Jefferson sau này mô tả ông ta là “người đàn ông giỏi tranh luận nhất mà tôi đã từng gặp”. Điểm đặc biệt của Pendleton là ở đoạn kết nhẹ nhàng và trầm lặng có sức thôi miên khán giả, trong khi lập luận của ông ta lại là một cuộc chiến tranh du kích ngầm chống lại những ý kiến tốt hơn, cho đến khi vấn đề cần giải quyết đi theo hướng suy nghĩ của ông ta gần như vô thức, giống như một quý tộc tự nhiên chiến thắng một cuộc đua mà không bao giờ tỏ ra phải cố gắng. 25

Richard Henry Lee thì dễ bị kích động và phô trương hơn. Nếu kỹ thuật của Pendleton cho thấy một công việc yên bình, thì Lee lại là người ủng hộ một cuộc xâm lược toàn diện. Những người phản đối nhăn mặt mỗi khi ông ta đứng lên nói, bởi biết rằng các lập luận của họ sẽ được cuốn vào cơn lốc ngôn từ để rồi bị lãng quên. Cách thể hiện của Lee có phần giả tạo: ông ta thích quấn tay mình trong một chiếc khăn tay lụa khi phát biểu, giải thích rằng mình muốn ngăn khán giả bên dưới nhìn thấy vẻ khó coi của bàn tay nham nhở ấy, bị mất vài ngón trong một tai nạn đi săn. Hay đó là một trận đấu? Lee với Pendleton giống như quả bom với khẩu súng lục. Nhưng cả hai đều là những diễn giả nổi tiếng. 26

Nhà vô địch hùng biện không thể tranh cãi của Virginia tất nhiên là Patrick Henry, sự hiện diện của ông ta trong đoàn Virginia thu hút nhiều sự chú ý của công chúng hơn bất cứ ai, trừ George Washington. Bài phát biểu của Henry chống lại Đạo luật Tem đã được công bố rộng rãi ở các thuộc địa, vì vậy ông ta đã trở nên nổi tiếng trong nước vì nhiệt huyết của mình. Như Edmund Randolph đã nói, “thế giới phương Tây vẫn chưa đưa ra được một đối thủ mang lại ấn tượng to lớn trong việc bảo vệ tự do”. Nếu Pendleton là một quý tộc khéo léo và Lee là một kịch sĩ hung hăng, thì Henry là người rao giảng Phúc Âm, đến với khán giả bằng những làn sóng đầy cảm hứng xúc động, mỗi làn sóng cách nhau bằng những quãng dừng được phóng đại khiến cho hầu hết người nghe cảm thấy như những khoảng lặng trước lời phán xét của Đấng Tối cao.

Tất cả các quan sát còn sót lại đến nay của Jefferson về Henry sau này mới có, khi tình bạn của họ trở nên chua chát (Jefferson cho rằng Henry “tham lam và xấu bụng”, luôn phát biểu “không có logic, không có sự chuẩn bị”). Nhưng ngay cả những chỉ trích của Jefferson từng phản bội lại sự ngưỡng mộ nhất định đối với năng lực của Henry trong việc xoay chuyển đám đông bằng những phản đối đầy cảm xúc, không bị vướng víu bởi bất kỳ nghiên cứu hay bằng chứng nào. Năm 1784, ông đã cảnh báo James Madison rằng không được xem nhẹ sự phản đối của Henry với cải cách hiến pháp ở Virginia, vì một trong những diễn giả hấp dẫn của ông có thể lật lại thành quả của nhiều tuần làm việc cẩn thận nơi hậu trường. Không có cách nào để giải thích cho ảnh hưởng bí ẩn của ông tới những người khác hoặc để nhanh chóng đối phó với ông. “Những gì chúng ta phải làm”, Jefferson than thở với Madison, “là sốt sắng cầu nguyện cho cái chết của ông ta”. Dĩ nhiên, tại Quốc hội Lục địa, tài hùng biện sáng chói của Henry vẫn là một tài sản vô giá hơn là một cản trở to lớn. Giống Jefferson, Henry là một sản phẩm của biên giới phía tây Virginia, người đã giành được sự thừa nhận từ tầng lớp thượng lưu Tidewater, nhưng không như Jefferson, ông ta luôn giữ được phẩm chất nguyên sơ của một lực lượng tự nhiên, giống như cây cầu đá Natural Bridge mà Jefferson rất ngưỡng mộ, một trong những tạo vật ngẫu nhiên của các vị thần được tạo ra ở vùng núi phía tây. 27

So với Henry, Jefferson là hình ảnh thu nhỏ của một học giả uyên thâm và có kỷ luật với sự nhạy cảm tuyệt đối khác biệt. Theo như chúng ta biết, ông chưa từng có bài phát biểu nào tại Quốc hội Lục địa. Kể cả trong bầu không khí thân mật hơn ở các ủy ban, ông cũng thích nhường cho người khác nói. John Adams nhớ lại, với một cảm giác khâm phục xen lẫn ngạc nhiên, rằng “trong suốt thời gian tôi ngồi với ông ấy ở Quốc hội, tôi chưa bao giờ được nghe ông ấy nói liền ba câu”. Tuy nhiên, không một ai, kể cả Adams vốn luôn hoài nghi, lại mảy may nghi ngờ quan điểm cấp tiến của ông. Những tố cáo khá rõ ràng của ông về sự thống trị của Anh trong Quan điểm tóm tắt đã ghi tên ông vào kỷ lục với tư cách một người phản đối ôn hòa. Nhưng ông hoàn toàn vô dụng trong các tình huống đòi hỏi phải xuất hiện trước công chúng. Ông gần như bất lực nơi hậu trường, tay xoắn vào nhau và phỉnh phờ - cũng là sở trường của Sam Adams, em họ của John. Đơn giản là ông quá nhút nhát và thu mình tới nỗi không thể tương tác dễ dàng trong các hành lang. 28

Theo sự bố trí và thói quen, vũ đài thoải mái nhất với Jefferson là nghiên cứu và bục diễn thuyết tự nhiên nhất của ông là bàn viết. Kể từ hồi học đại học tại trường William & Mary, rồi tiếp tục học lên nữa và cuối cùng là thực tập luật, Jefferson đã luôn ở một mình, đọc sách và ghi chép cực kỳ chi tiết về những gì ông đọc được. Ông gọi đây là việc “thường ngày”, ám chỉ việc chép lại các đoạn văn của Coke hay Pufendorf về luật, của Milton hay Shakespeare về thân phận con người, Kames hoặc Hutcheson về ý thức đạo đức của con người. Nhưng Jefferson đã biến việc chép lại thành một hành động sáng tạo, ông thường xuyên viết lại một đoạn văn sao cho phù hợp với thị hiếu của riêng mình, hoặc thường xuyên hơn, pha trộn những suy nghĩ của mình về chủ đề đó trong các ghi chép. Ông là một chàng thanh niên rất thích được làm chủ. Nghiên cứu một mình cho phép ông sáng tạo ra quan điểm riêng của mình mà không bị can thiệp, không bị sa vào một cuộc tranh luận ngẫu hứng vô định. 29

Hành động đầu tiên của ông sau khi yên vị trong khu của mình trên phố Chestnut là một mình đánh giá xem cuộc chiến chống lại Anh sẽ khiến các thuộc địa phải tiêu tốn bao nhiêu, không phải về số người thương vong mà là về số đô-la. Ông dường như tin rằng một cuộc xung đột quân sự tổng lực sẽ không kéo dài lâu. “Một chiến dịch đẫm máu”, ông viết cho một người bạn, “có thể sẽ quyết định mãi mãi sự nghiệp tương lai của chúng ta”. Vì vậy, tính toán của ông về chi phí được dựa trên các giả định về một cuộc chiến kéo dài trong sáu tháng mà ông ước tính sẽ cần khoảng 3 triệu đô-la tiền thuế mới. 30

Vào một thời điểm của mùa hè, ông đã đề nghị chủ nhà của mình, Benjamin Randolph, người có họ hàng với mẹ ông và là một thợ đóng tủ có tay nghề cao, thiết kế một chiếc bàn viết. Ông cũng đặt làm một chiếc ghế Windsor mới để có chỗ ngồi cho thoải mái. Sau này, những đồ vật ấy đã trở thành các di vật thiêng liêng vì gắn với Tuyên ngôn Độc lập, đã xác định không gian nơi ông có thể thể hiện tốt nhất năng lượng sáng tạo của mình. Chỉ trong một thời gian ngắn, những ước tính kiểu bản kê khai của ông về chi phí quân sự đã bị đặt sang một bên để nhường chỗ cho một công việc quan trọng hơn, lý giải bằng lời, tại sao đứng lên cầm súng là việc đầu tiên các thuộc địa Mỹ cần làm.

Giới lãnh đạo Quốc hội chọn ông là người soạn thảo bài phát biểu mà sau này được đặt tên là Tuyên bố về những nguyên do và sự cần thiết của việc cầm vũ khí . Đây là một nhiệm vụ trọng yếu. Bài phát biểu được coi như một tuyên bố chủ đạo đại diện cho lối tư duy hiện thời trong Quốc hội; một nỗ lực thuở ban đầu lúng túng trước những bất đồng về ngôn ngữ. Việc lựa chọn Jefferson đã phản ánh danh tiếng của ông với tư cách một tài nghệ văn chương, và thừa nhận một thực tế rằng đóng góp lớn nhất của ông là trong tư cách một tác giả chứ không phải một diễn giả.

Sự phân công này cũng buộc chúng ta nhận ra một thực tế khó xử và dễ bị lãng quên, rằng mặc dù một tuyên ngôn độc lập chính thức của Mỹ sẽ xuất hiện sau thời điểm này một năm, nhưng cuộc chiến thực ra đã bắt đầu. Bởi khi Jefferson đến Philadelphia thì những trận đánh ở Lexington, Concord, Bunker Hill đã xảy ra, và George Washington đứng ra chỉ huy một đội quân ở ngoài Boston. Trong khi những người ôn hòa trong Quốc hội Lục địa tiếp tục hy vọng vào phương án hòa giải với Anh, thì vào mùa hè năm 1775 sáng kiến này đã bị chuyển qua những người cực đoan, cầm đầu là John và Sam Adams, vốn xem việc đòi độc lập là không thể tránh khỏi. Và mọi hành động của Chính phủ Anh dường như đã được tính toán để phá hoại phe ôn hòa và làm cho phe cực đoan giống như nhà tiên tri. Cũng giống như đoàn đại biểu Virginia, từ đầu Jefferson đã tự xác định mình là người theo trường phái cực đoan. Thư từ cá nhân của ông vào thời điểm đó rõ ràng cho thấy thời gian để thỏa hiệp đã trôi qua. Ví dụ vào tháng 6 năm 1775, ông đã viết cho người thân ở Virginia rằng “giờ đây người ta đang sôi sục bước vào cuộc chiến, biết trước không có viễn cảnh về sự hòa giải mà chỉ có sự can thiệp hiệu quả của vũ khí”. Một tháng sau, ông viết cho John Randolph rằng thay vì thống nhất với các điều khoản hòa giải của Anh, ông “sẽ giúp một tay để nhấn chìm cả hòn đảo xuống đại dương”. Theo nhìn nhận của Jefferson, vấn đề bây giờ không phải là các thuộc địa Mỹ có tuyên bố độc lập hay không, mà là khi nào và ra sao. 31

Hiểu được điều này là rất cần thiết, vì nó định hình một cách tinh tế nhưng vô cùng quan trọng sự thay đổi trong văn phong của Jefferson suốt một năm tiếp theo với tư cách là người soạn thảo chính các văn bản cho sự nghiệp cách mạng. Một mặt, các đại biểu trong Quốc hội Lục địa còn đang bận xây dựng quân đội, hướng dẫn các cơ quan lập pháp thuộc địa về cách thức phác thảo ra hiến pháp quốc gia mới, điều tra các liên minh nước ngoài, giám sát cuộc chiến đang diễn ra. Mặt khác, họ khẳng định mong muốn tránh xô xát công khai với mẫu quốc và cam kết trung thành mãi mãi với George III. Bằng cách nào đó, những quan điểm chính trị không tương thích này, vốn phản ánh sự chia rẽ giữa những người ôn hòa và cực đoan trong Quốc hội, cần phải được chắp nối với nhau qua ngôn từ. Và mặc dù các khán giả chính thức là Chính phủ Anh, nhưng khán giả thực chất lại là người dân Mỹ, hoặc ít nhất là các cơ quan lập pháp thuộc địa khác nhau, vốn cần được cung cấp một cách thức để giải thích cho chính mình lý do tại sao những điều không thể tưởng tượng trước đây bây giờ đã trở nên không thể tránh khỏi.

Ở cấp độ hiến pháp đơn thuần, lý luận của Jefferson trong Những nguyên do và sự cần thiết (Causes and Necessity) chính là quan điểm trong cuốn Quan điểm tóm tắt nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Thay vì chối bỏ mọi thẩm quyền hợp pháp của Nghị viện Anh ở các thuộc địa, Jefferson đã thừa nhận rằng “đôi lúc Nghị viện Anh sử dụng quyền lực, tuy nhiên không được hiến pháp của các chính phủ chúng tôi thừa nhận, cuối cùng đã được nhượng bộ trong thiện chí ấm áp”. Điều này chắc chắn là một sự nhượng bộ với phe ôn hòa trong Quốc hội và phản ánh nhận thức của Jefferson rằng ông cần phải chấp nhận những quan điểm khác biệt với mình. Chủ đề biệt xứ cũng xuất hiện dưới hình thức ngầm. “Ông cha ta... đã rời mảnh đất tổ tiên”, ông viết, “để tìm kiếm trên các bờ biển này một nơi cư trú cho nhân dân và sự tự do tôn giáo”. Nhưng không có câu thần chú nào về huyền thoại Saxon hay về việc người Norman nắm giữ các quyền truyền thống của Anh. Jefferson đã lùi lại để tránh sự chuyển nhượng chưa được quyết định. 32

Đóng góp chính của Jefferson trong Những nguyên do và sự cần thiết là cung cấp một mạch truyện trong đó tập hợp tất cả các thuộc địa Mỹ như những nạn nhân vô tội. Trước đó những người Mỹ chỉ trích chính sách của Anh - những người như John Adams, John Dickinson và Daniel Dulany - đã lập luận về mặt pháp lý rằng sự tham gia của Nghị viện vào các công việc thuộc địa sau khi kết thúc Chiến tranh Pháp-Ấn (1763) là chưa từng có tiền lệ. Ở Anh, Edmund Burke đã gọi giai đoạn trước chiến tranh là một kỷ nguyên của “sự bỏ bê có lợi”. Phiên bản của Jefferson về cuộc xung đột Anh-Mỹ đơn giản đã thúc đẩy hơn nữa những hàm ý mạnh mẽ của sự thay đổi trong chính sách Anh. Trước năm 1763, đế chế này hài hòa và lành mạnh, một phiên bản Mỹ được ông giới thiệu trước đó, về sự bình yên trong những cánh rừng Saxon. Sau đó, hoàn toàn đột ngột, “chính phủ nhận thấy rằng mọi kẻ thù của Anh đã bị chinh phục, bèn nảy ra ý tưởng không may là chinh phục cả bạn bè mình”. Jefferson thể hiện một sự thính nhạy và một sự quan tâm trực giác đối với một cấu trúc câu chuyện được xây dựng quanh sự phản đối về đạo đức. Chủ đề ở đây là đế chế “ngày ấy và bây giờ”. Câu chuyện biến thành cuộc đụng độ giữa chế độ độc tài của Anh với sự tự do của thuộc địa, giữa những viên chức Anh xảo quyệt với những người dân thuộc địa đang van xin, mà cao trào là cuộc đụng độ tại Lexington và Concord giữa “quân đội chính phủ” do Tướng Thomas Gage chỉ huy với “người dân ngây thơ” của Massachusetts. Tất cả điều này đã được chuyển tải trong cái mà chúng ta gọi là phong cách bi lụy của các nạn nhân vô tội. 33

Không thể biết được Jefferson đã tin vào phiên bản biếm họa về cuộc khủng hoảng đế chế này thật sự là bao nhiêu phần trăm, và bao nhiêu phần trăm là giả bộ kiểu cách. William Livingston, đại biểu đến từ New York, nhận xét rằng lối hành văn của Jefferson trong Những nguyên do và sự cần thiết nhắc ông nhớ đến lối hùng biện của những người Virginia khác: “Nhăm nhăm vạch lỗi và khoa trương, chẳng có mấy tự trọng. Họ dường như nghĩ rằng một sự tái lập chế độ độc tài, chuyên quyền, đẫm máu, v.v. là tất cả những gì cần thiết để đoàn kết chúng ta nơi quê nhà”. Có lẽ dự thảo của Jefferson đã thể hiện nỗ lực của ông nhằm đạt được trong văn xuôi những gì mà các đồng nghiệp Virginia như Henry đang tạo ra trong các bài hùng biện được chuẩn bị kỹ. Với truyền thống cố tình khoa trương ấy, người ta được phép nói về “những người dân nhẹ dạ” ở Lexington và Concord, trong khi biết rất rõ là họ đã phải xếp hàng vào quân đội khi quân Anh đến. 34

Việc phóng đại thực tế cụ thể lại không đáng chú ý bằng kế hoạch tường thuật tổng thể của Jefferson. Những người dân thuộc địa là những người ngoài cuộc vô tội bị tác động bởi một Chính phủ Anh hung hăng. Cuộc xung đột chính trị luôn dưới dạng bị phân đôi về đạo đức, không còn chỗ cho những ý nghĩa được đánh bóng hoặc lòng trung thành nước đôi. Sự cay đắng và mập mờ của hiện tại lại trái ngược với phiên bản “ngày xửa ngày xưa” của quá khứ. Và hiệu quả nhất là những nhà cách mạng thật sự không phải là người dân thuộc địa Mỹ, mà là những quan chức Anh, tham nhũng khủng khiếp trong khi người dân thuộc địa lại rất đạo đức.

Sự quá khích trong cách viết của Những nguyên do và sự cần thiết đáng được suy ngẫm thêm, phần vì nó là tiền thân của những điểm hấp dẫn sau này trong Tuyên ngôn, phần vì nó truyền đạt thông điệp bằng ngôn ngữ được mã hóa quen thuộc với Jefferson và những người cùng thời với ông, nhưng lại xa lạ với tri giác và đôi tai của chúng ta ngày nay. Đặc điểm chính ở đây là sự tương phản cực đoan rõ ràng giữa đức hạnh của Mỹ và tham nhũng của Anh, dựa trên một giả định ngầm rằng các thế lực nham hiểm đang bày mưu tính kế trong những hành lang quyền lực xa xôi ở London để tước đoạt quyền tự do của người dân thuộc địa ngây thơ. Giống như huyền thoại Saxon, lối nghĩ và nói về chính trị này bắt rễ từ truyền thống Whig ở Anh, từ thời những người Thanh giáo trong Nội chiến Anh những năm 1640. Vào thế kỷ 18, những người ủng hộ chính của truyền thống bất đồng chính kiến, vốn tự gọi mình là Đảng Whig thực sự hay Đảng Quốc gia (7) , đều là người Anh: Henry St. John Bolingbroke, John Trenchard và Thomas Gordon (viết dưới bút danh Cato) và James Burgh. Họ đã tạo ra một ngôn ngữ, mà thực ra là một ý thức hệ, phản đối sự độc đoán và lạm dụng quyền lực của Chính phủ Anh, thường được mô tả là Đảng Cung đình (8) , nổi bật vì luôn nghi ngờ một cách điên rồ các động cơ của chính phủ và là một sự tương phản đạo đức hoàn toàn giữa đức hạnh của dân chúng và tham nhũng của quan chức.

(7) Nguyên văn: Country Party.

(8) Nguyên văn: Court Party.

Thư viện của Jefferson chứa bản sao các tác phẩm chính của Bolingbroke, “Cato” và Burgh, ông cùng các đồng nghiệp của mình trong Quốc hội Lục địa đều thuộc làu những lý luận và thành ngữ tiếng Anh của Whig. Những thứ mà ngày nay chúng ta thấy là khoa trương và cường điệu về cả giọng điệu lẫn tư thế đối với uy quyền chính trị - hầu như cách diễn đạt nào của quyền lực chính quyền cũng đều mang màu sắc kỳ thị - trên thực tế là một phần trong truyền thống đấu tranh đáng kính của Whig. Đây là một phong cách được chấp nhận và khá quen thuộc trong lý luận chính trị và đã tỏ ra cực kỳ hữu ích trong những cuộc biểu tình chống đánh thuế ở Anh thập niên trước. Nó giúp người ta có khả năng tranh luận mạnh mẽ bằng việc đơn giản hóa sự phức tạp và rắc rối của hiến pháp mà cả những người dân thuộc địa lẫn Chính phủ Anh phải đối mặt. Ngay cả thái độ gần như hoang tưởng của phong cách này đối với các động cơ của người ra quyết định London và Whitehall chí ít cũng trở thành những lý do hay ho vào mùa xuân năm 1776, khi George III và nội các có vẻ rắp tâm xử sự như kẻ ác trong kịch bản của Whig.

Tuy nhiên, đặc biệt đáng chú ý ở đây là việc Jefferson sử dụng lối hùng biện và dẫn dắt câu chuyện của Whig là hoàn toàn chân thành. Dự thảo về Những nguyên do và sự cần thiết và bản dự thảo Tuyên ngôn sau này của ông, chưa được viết ra với tư cách một cuộc bút chiến có ý thức hoặc những tài liệu tuyên truyền có tính phóng đại. Những gì ông viết thực ra đã phản ánh sự hiểu biết của mình về những thế lực đang xoáy qua Mỹ Anglo-Saxon. Những điều mà một số đại biểu trong Quốc hội coi như một sự bóp méo hữu ích thuận tiện, có thể giúp vận động dư luận thuộc địa theo hướng mà số phận yêu cầu, thì Jefferson lại coi là sự xây dựng chính xác các yếu tố thiết yếu của tình hình chính trị. Dù có hay không việc ông lĩnh hội được phạm trù căn bản trong tư duy chính trị này từ các sử gia Whig và các nhà lý luận của Đảng Quốc gia, thì vào mùa xuân năm 1776 ông đã triệt để hấp thụ phong cách và tinh hoa của họ vào nhân cách của mình, nơi chúng càng củng cố thêm sự ác cảm cực đoan với việc công khai thể hiện sự áp đặt cũng như khuynh hướng suy nghĩ đầy bản năng theo hướng phân đôi về đạo đức của ông. Vậy là Jefferson trở thành một người Whig điển hình với những giá trị Whig hấp dẫn, vì chúng pha trộn tuyệt vời với tính cách đặc trưng của Jefferson.

Ông cũng tỏ ra cực kỳ nhạy cảm trước bất kỳ lời chỉ trích nào đối với tác phẩm văn xuôi của mình. Điều này đã dẫn tới cuộc chiến chính trị đầu tiên của Jefferson trong Quốc hội Lục địa, khi John Dickinson đặt câu hỏi về giọng điệu và từ ngữ của một số đoạn trong dự thảo Những nguyên do và sự cần thiết của Jefferson. Dickinson là một đại biểu đến từ Pennsylvania, và là một lãnh đạo được công nhận của phe ôn hòa trong Quốc hội. Ông được đưa vào ủy ban để soạn thảo cuốn Những nguyên do và sự cần thiết để bảo đảm tài liệu này được cả hai đảng ủng hộ. Do đó, ký ức sau này của Jefferson về sự phản đối của Dickinson nghe có vẻ khá tin cậy: “Tôi đã chuẩn bị một bản thảo của bản Tuyên bố cho chúng ta. Nó quá mạnh mẽ với ông Dickinson. Ông ấy vẫn nuôi hy vọng hòa giải với mẫu quốc, và muốn nó giảm bớt những tuyên bố xúc phạm”.

Tuy vậy, sau nhiều cuộc điều tra trên giấy tờ trong thế kỷ 20, người ta thấy rằng hồi tưởng đáng tin cậy của Jefferson đã mất uy tín. Những sửa đổi theo đề nghị của Dickinson không hề làm giảm bớt đi thông điệp của Jefferson. Trong thực tế, Dickinson đã đưa vào đó những lời lẽ mạnh mẽ nhất và được trích dẫn nhiều nhất trong toàn bộ tài liệu: “Sự nghiệp của chúng ta là chính đáng. Tình đoàn kết của chúng ta là hoàn hảo. Nội lực của chúng ta là to lớn, và nếu cần thiết, chúng ta vẫn có sự hỗ trợ của nước ngoài”. Những phản đối của Jefferson căn bản chỉ là về văn phong và ngữ điệu. Những sửa đổi của Dickinson thể hiện một giọng văn thực tế hơn, bù đắp cho lối tư duy phân đôi đầy lâm ly của Jefferson. Tuy nhiên, Jefferson hầu như không thể chấp nhận bất kỳ xáo trộn nào trong những tác phẩm của mình. Ông đơn độc nghĩ ra cách sắp xếp từ ngữ của riêng mình. Trong khi ban soạn thảo trao đổi ý kiến, ông không hề hoan nghênh và coi tất cả các gợi ý quan trọng là những sửa đổi sai lạc. Sự thuần khiết trong bài viết của ông, giống như sự thuần khiết của sự nghiệp giải phóng thuộc địa, không cho phép sự thỏa hiệp. 35

Quốc hội Lục địa đã giải quyết bế tắc này bằng cách phê duyệt một dự thảo cuối cùng, trong đó bao gồm hầu hết các thay đổi của Dickinson. Dù đã được sửa đổi, nó vẫn giữ được giọng điệu của Jefferson mà một năm sau đó, dù hình thức có chút thay đổi, đã vang vọng qua các thời đại: “Vì Công lý và vì Ý kiến của nhân loại, chúng ta ràng buộc bản thân mình với nghĩa vụ tôn trọng phần còn lại của thế giới, thông báo Sự nghiệp chính nghĩa của chúng ta”. Giống như cuốn Quan điểm tóm tắt , việc viết ra cuốn Những nguyên do và sự cần thiết chính là một cách tổng duyệt cho việc soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập. 36

Đến cuối mùa hè năm 1775, các mô hình đã được thiết lập. Jefferson không đóng vai trò gì trong các cuộc tranh luận công khai, nhưng ông được bổ nhiệm vào một số ủy ban và thường chịu trách nhiệm soạn thảo các báo cáo. Ví dụ, ông được yêu cầu soạn thảo Nghị quyết của Quốc hội về Đề xuất của Lord (9) North, một văn bản từ chối mạnh mẽ đề nghị thỏa hiệp miễn cưỡng của Chính phủ Anh. Ông được yêu cầu soạn thảo Tuyên bố về Sự đối xử của Anh với Ethan Allen, một cuộc biểu tình chống lại việc kết tội Allen phản quốc. Mặc dù không lên tiếng trước công chúng, cũng như tỏ ra dè dặt trong các cuộc tranh luận ở ủy ban và rất nhạy cảm trước những lời chỉ trích về tài viết của mình, ông vẫn được lãnh đạo phe cấp tiến tại Quốc hội xem là đồng minh đáng tin cậy và có giá trị. Hơn 50 năm sau, John Adams vẫn nhớ Jefferson là “một thành viên lặng lẽ trong Quốc hội”, nhưng “khá nhanh nhẹn, thẳng thắn, rõ ràng và cương quyết... Ông ấy đã nhanh chóng giành được cảm tình của tôi”. Dù chỉ lớn hơn Jefferson 8 tuổi, nhưng Adams nói rằng ban đầu ông coi Jefferson như con trai. 37

(9) Một danh xưng tôn kính (huân tước, tướng công)

Sự hấp dẫn của Monticello vẫn luôn là một cám dỗ. Thật vậy, nếu có một quy tắc vật lý căn bản dành cho tình cảm của Jefferson, thì đó là luật hấp dẫn đối với sự cô lập và ác cảm đối với lĩnh vực công: Ông ghét những cuộc tranh luận tại Quốc hội; hầu như không thể chịu đựng được mấy cuộc cãi vặt trong các ủy ban; thích đọc và làm việc một mình trong khu vực của mình hơn, mong mỏi thoát khỏi “chiến trường cách mạng” hoàn toàn và lui về đỉnh núi của mình. Tháng 12 năm 1775, ông đã làm điều đó. Trong suốt mùa đông và mùa xuân, trong khi Thống đốc Virginia là Lord Dunmore tuyên bố thiết quân luật và chọc giận giới lãnh đạo Tidewater bằng cách mời gọi tất cả nô lệ tham gia cùng ông như những con người tự do vào cuộc chiến chống lại giai cấp chủ đồn điền, và trong khi nhịp độ chính trị ở Philadelphia đang tăng tốc, đặc biệt là sau khi cuốn Lẽ thường (Common Sense) của Tom Paine được công bố, Jefferson vẫn tách mình ở Monticello. Ông tập trung chăm sóc cho Martha, cô đang bị bệnh, có lẽ là do mang bầu khó khăn. Và ông theo đuổi những đam mê cá nhân. Ông chất đầy vang Madeira (của vụ nho năm 1770) trong hầm rượu của mình, công viên riêng thì đầy giống hươu thuần hóa, trong chuồng ngựa có cả giống ngựa con thuần chủng mới, và tâm hồn ông tràn đầy sự thanh bình. 38

Ông lên kế hoạch, dù miễn cưỡng, trở về Philadelphia trong tháng 4, nhưng lại vướng phải một “căn bệnh bí ẩn” khiến ông không thể làm việc suốt hơn một tháng. Căn bệnh ấy hóa ra là chứng đau nửa đầu, hiện tượng lần đầu được ghi nhận của thứ sẽ gây ra nỗi khổ sở bất cứ khi nào ông cảm thấy bị áp lực quá mức. Nguồn cơn trực tiếp gây ra áp lực mà ông cảm thấy vào mùa xuân năm 1776 có lẽ từ hai chuyện: thứ nhất, nhiệm vụ của ông trong Quốc hội Lục địa mâu thuẫn với những sở thích riêng của ông tại ngôi nhà của mình; thứ hai, mẹ ông đã qua đời vào ngày cuối cùng của tháng 3. Sự ghẻ lạnh của ông đối với mẹ rất có thể đã khiến ông mang một tâm trạng đầy phức tạp, vừa day dứt vừa thanh thản. Lúc nào ông cũng chỉ nói tới sự kiện này một cách lạnh lùng và cụt ngủn. “Có thể anh vẫn chưa nghe nói đến cái chết của mẹ tôi”, ông viết cho William Randolph: “Điều này xảy ra vào ngày cuối cùng của tháng 3, sau cơn bạo bênh gần một tiếng. Chúng tôi cho đó là trúng gió. Xin cho tôi gửi lời chào nồng nhiệt tới chị Randolph và những anh chị em họ mà tôi chưa biết…” Đoạn này được giữ lại và đề cập ngắn gọn trong cuốn tự truyện của ông, đó là lần cuối cùng Jefferson công nhận sự tồn tại của mẹ mình. 39

Ông trở lại Philadelphia vào ngày 14 tháng 5. Không chỉ không có ý niệm, dù mơ hồ, về những sự kiện lịch sử sắp diễn ra, ông còn thú nhận rằng mình đã hoàn toàn mất liên lạc với diễn biến tình hình tại Quốc hội, nên thậm chí ông đã cố gắng thuyết phục bạn bè ở Virginia giúp ông nhớ lại. Hội đồng lập pháp Virginia đang họp theo thường lệ tại Williamsburg để soạn thảo một hiến pháp bang, và giống như nhiều đại biểu khác ở Philadelphia, Jefferson cho rằng công việc chính trị quan trọng nhất hiện nay đang diễn ra tại cấp bang chứ không phải cấp quốc gia. Việc soạn thảo hiến pháp bang mới, ông nói, “là toàn bộ chủ đề của những tranh cãi hiện thời”. Ý ông là việc thành lập chính quyền bang là cách rõ rệt nhất để tuyên bố nền độc lập của Mỹ, thể hiện việc nước này đứng ra chịu trách nhiệm chính trị trong việc quản lý các công việc nội bộ của mình. (John Adams tán đồng quan điểm này, và mất cả mùa xuân để thiết kế mô hình hiến pháp cho một số bang). Peyton Randolph, Edmund Pendleton và Patrick Henry, tất cả đều lưu lại quê nhà ở Old Dominion, hoặc là để giám sát việc soạn thảo hiến pháp của Virginia, hoặc ra trận để chống lại đội quân nghèo khổ của Dunmore gồm các cựu nô lệ và những kẻ trung thành, George Washington cũng đang ở chiến trường để tổ chức quân đội Lục địa. Philadelphia đã trở thành, hoặc có vẻ đã trở thành, một sân khấu phụ. 40

Nhưng Philadelphia lại là nơi mà nhiệm vụ yêu cầu Jefferson phải ở lại. Đoán trước sắp có một mùa hè nắng nóng và ẩm ướt, ông quyết định chuyển chỗ ở của mình đến vùng ngoại ô thành phố để “tranh thủ lợi ích của không khí tự do lưu thông”. Ngày 23 tháng 5, ông chuyển chiếc ghế Windsor và bàn viết của mình đến chỗ mới trên tầng hai của một ngôi nhà gạch ba tầng ở góc giao giữa phố Market và phố Seventh. Chiếc ghế, cái bàn và toàn bộ ngôi nhà sẽ trở thành di vật thiêng liêng của điều mà lịch sử sắp ghi nhận như một thời điểm kỳ diệu nhất của Mỹ. 41

NHỮNG BÀI VIẾT VÀ BỐI CẢNH

Trong sáu tuần tiếp theo, từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 1776, Jefferson đã viết ra những từ ngữ, làm nên sự nổi tiếng của ông, và trong hai thế niên tiếp theo, đã gắn ông với phiên bản ảo mộng nhất của giấc mơ Mỹ. Kết quả là mảnh đất lịch sử này đã bị những đám sử gia chà đạp lên, không khí xung quanh nó vĩnh viễn đầy sự pha trộn sáng chói của những lời ca tụng và sự chế giễu. Quyền tác giả của ông đối với Tuyên ngôn Độc lập được coi là một trong số ít những tình tiết gần như tôn giáo trong lịch sử Mỹ, tại thời điểm mà chí ít là theo những lời giải thích lãng mạn nhất thì một Jefferson đơn độc được phép nhìn thoáng qua những chân lý vĩnh cửu, và sau đó được truyền cảm hứng văn chương để ghi tạc chúng vào tâm hồn Mỹ.

Bối cảnh căng thẳng này giúp ta bắt đầu ngộ ra rằng, Jefferson hay bất kỳ thành viên nào khác đều không nhìn thấy trước được tầm quan trọng mang tính lịch sử của những gì họ đang làm vào thời điểm đó. Hơn nữa, trong bối cảnh mùa hè năm 1776 ở Philadelphia, việc viết Tuyên ngôn Độc lập có vẻ không quan trọng bằng những ưu tiên khác, bao gồm việc xây dựng hiến pháp của các bang và viễn cảnh liên minh với Pháp hoặc Tây Ban Nha. Vầng hào quang xung quanh Tuyên ngôn vẫn chưa hình thành. Ý nghĩa lịch sử mà ta gắn cho Tuyên ngôn lúc này vẫn chưa tồn tại đối với những người làm ra nó.

Một người khi đó là John Adams, để lại một ghi chép cho thấy ông đã ý thức được “sự xuất hiện của việc sáng tạo”. Ông viết thư cho Abigail yêu quý của mình vào tháng 5 với lời tiên tri: “Khi tôi xem xét các sự kiện lớn đã qua, và các sự kiện lớn hơn thế đang phát triển nhanh chóng, rồi việc tôi có thể đã là một công cụ để chạm tới một số Lò xo, xoay một số Bánh lái nhỏ, những thứ đã và sẽ tạo ra Hiệu ứng như vậy, thì tôi cảm thấy một sự kinh ngạc không dễ gì mô tả trong đầu mình”. Hai tuần sau, ông thông báo với Abigail rằng mình đã bắt đầu sao chép lại tất cả các bức thư của mình, một dấu hiệu rõ ràng cho thấy ông định gửi chúng cho hậu thế. Nhưng Adams không phải trường hợp điển hình. Độ nhạy cảm thần kinh của ông đối với chỗ đứng riêng của mình trong lịch sử đã trở thành huyền thoại. Và nhận xét của ông vào thời điểm đó nhằm ám chỉ những hành động trong Quốc hội Lục địa đòi hỏi các bang phải soạn thảo hiến pháp mới, chứ không phải soạn thảo Tuyên ngôn, việc mà ông coi là một hành động muộn màng chỉ có tính trang trí. 42

Về phía mình, Jefferson vẫn tập trung vào các sự kiện ở Virginia. Trong suốt những tuần cuối tháng 5 và đầu tháng 6, ông cống hiến phần lớn năng lượng của mình để đưa ra ba dự thảo khác nhau của một hiến pháp mới cho bang quê nhà. Chịu ảnh hưởng rõ ràng của cuốn Suy ngẫm về chính quyền (Thoughts on Government) của John Adams, Jefferson nhấn mạnh sự phân chia quyền lực thành một cơ quan tư pháp độc lập, một cơ quan lập pháp lưỡng viện, một cơ quan hành pháp hạn chế (gọi là Ban quản trị để thể hiện việc thiếu quyền quản lý). Mọi tài liệu chính trị mà Jefferson đã viết cho đến thời điểm này trong đời ông đều là những tuyên bố phản đối một số khía cạnh trong chính sách của Anh. Vì vậy, điều thú vị có thể thấy ở đây là nỗ lực ban đầu của ông, với một tầm nhìn tích cực và thiết thực về chính phủ, đã đề nghị một cấu trúc hiến pháp thông qua hình thức chung của các chính phủ thuộc địa cũ, trừ việc thu hẹp cơ quan hành pháp, rõ ràng là một bài học bắt nguồn từ sự kháng cự của thuộc địa trước những đòi hỏi của thủ hiến về đặc quyền hoàng gia. 43

Bất cứ ai khi quan sát nhằm tìm thêm những tính chất tiến bộ hiển nhiên trong suy nghĩ của Jefferson đều có thể phát hiện ra chúng. Dù yêu cầu tất cả các cử tri phải đạt điều kiện về tài sản, nhưng ông cũng đề xuất một chính sách phân phối đất trong đó mỗi cư dân sẽ được cấp 50 mẫu. Ông lặng lẽ đưa vào một điều khoản căn bản về quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Và ông thúc giục thông qua hiến pháp mới trong một hội nghị đặc biệt dành riêng cho mục đích đó chứ không phải là cơ quan lập pháp lâm thời, một ý tưởng dân chủ mà John Adams cũng đã đề xuất như một cách để thực hiện nguyên tắc về chủ quyền phổ biến. Nói tóm lại, quy định của Jefferson cho nền cộng hòa mới ở Virginia là một sự pha trộn ấn tượng của các hình thức truyền thống và cải cách có chọn lọc. Chúng hình thành nên một bối cảnh mà chính xác về mặt lịch sử, dù không chính thống, là để trả lời câu hỏi ai cũng muốn biết: Jefferson đã nghĩ về điều gì vào đêm trước khi ông viết nên Tuyên ngôn Độc lập? Câu trả lời là không thể chối cãi. Ông đã không nghĩ đến, như một số sử gia khẳng định, lý thuyết về quyền tự nhiên của John Locke hay triết lý đời thường của Scotland. Ông nghĩ về hiến pháp mới của Virginia. 44

Một khía cạnh trong tư duy của ông đã chứng tỏ nó có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ mà ông sắp đảm nhận. Trong lời nói đầu của mình cho bản thảo lần một và lần ba của hiến pháp Virginia, ông đã soạn một bản cáo trạng chống lại George III. Có thể thấy thấp thoáng những cáo buộc chống lại nền quân chủ Anh trong cuốn Quan điểm tóm tắt , rồi tiếp đến là những lời buộc tội công khai hơn trong cuốn Những nguyên do và sự cần thiết . Nhưng bản cáo trạng dài về nhà vua trong dự thảo hiến pháp của ông đã mở rộng danh sách các tội ác chống lại quyền thuộc địa. Trên thực tế, đây là bản dự thảo gần như sau cùng của ông về danh sách các mối bất bình mà sau này đã trở thành phần dài nhất của Tuyên ngôn Độc lập.

Một trong những bất bình nổi bật hơn cả - phần vì nó liên quan đến vấn đề chẳng mấy chốc đã gây nên tranh cãi nhiều nhất trong cuộc tranh luận tại Quốc hội về ngôn từ của Tuyên ngôn, phần do sự khác biệt giữa những gì Jefferson đã viết cho hiến pháp Virginia vào tháng 5 với những gì ông đã viết cho Tuyên ngôn vào tháng 6 - đó là đoạn văn trong Tuyên ngôn, Jefferson buộc tội George III vì đã chủ mưu và duy trì việc buôn bán nô lệ, do đó ngụ ý rằng chế độ nô lệ là một thiết chế độc ác của một vị vua thối nát áp đặt lên người dân thuộc địa. Tuy nhiên, trong dự thảo trước đó cho hiến pháp Virginia, ông quy cho George III đã “xúi giục người da đen của chúng tôi đứng lên cầm súng chống lại chúng tôi, chính những người da đen này đã bị ông ta đối xử vô nhân đạo và không cho phép chúng tôi dùng luật pháp để ngăn chặn”. Ở đây ta có thể thấy Jefferson đang tung hứng giữa hai công thức không tương thích: một là để đổ lỗi cho nhà vua về chế độ nô lệ; hai là đổ lỗi cho ông ta về việc giải phóng nô lệ (tức lời tuyên cáo của Lord Dunmore). Đây là triệu chứng của một sự phân ly sâu sắc trong suy nghĩ của ông về chế độ nô lệ mà ông không bao giờ làm chúng hòa điệu được. 45

Một trong những câu hỏi khác thường được đặt ra - làm thế nào hoặc tại sao Jefferson lại được chọn để soạn thảo Tuyên ngôn? - cũng có thể trả lời được nếu xem xét lại bối cảnh lúc đó. Câu trả lời ngắn gọn là ông được chọn chắc chắn do dựa trên những tác phẩm ông từng soạn trước đây cho Quốc hội. Đó là chuyên môn của ông. Câu trả lời dài dòng hơn rõ ràng là bắt nguồn từ tình hình Quốc hội hồi tháng 6 năm 1776.

Virginia đã nắm quyền chỉ đạo bằng cách hướng dẫn các đại biểu của mình vào ngày 15 tháng 5 đề xuất việc Mỹ tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi Anh. Ngày 7 tháng 6, Richard Henry Lee đưa ra nghị quyết “rằng những thuộc địa hợp chủng đang và có quyền trở thành những Quốc gia tự do, độc lập”... Một cuộc tranh luận sau đó đã nổ ra về việc khi nào thì nên biểu quyết về nghị quyết của Lee. Quốc hội đã quyết định trì hoãn một cuộc bỏ phiếu cho đến ngày 1 tháng 7, chiểu theo ý muốn của các đoàn đại biểu vẫn đang bị chia rẽ (tức Pennsylvania) và các đoàn đại biểu chưa nhận được những hướng dẫn rõ ràng từ cơ quan lập pháp của bang họ (tức New York). Trong khi đó, một ủy ban đã tiến hành nghiên cứu một tài liệu nhằm thực hiện nghị quyết của Lee. Sự hiện diện của Virginia trong ủy ban là cần thiết, và Jefferson là đại biểu Virginia phù hợp nhất vì hai lý do: ông là một cây bút danh tiếng, và Lee, người có thể được lựa chọn, chính là tác giả của các nghị quyết trước Quốc hội và có lẽ sẽ thay mặt Quốc hội để dẫn dắt cuộc tranh luận. 46

Ủy ban triệu tập ngay sau khi được thành lập ngày 11 tháng 6. (Ngoài Adams và Jefferson, ủy ban còn bao gồm Benjamin Franklin, Robert Livingston và Roger Sherman). Những thành viên còn lại của ủy ban giao việc soạn thảo cho Adams và Jefferson. Theo lẽ thường, tại thời điểm này người ta có thể sẽ đặt câu hỏi tại sao Adams lại không viết. Đây là câu hỏi mà Adams đã đặt ra với chính mình vô số lần trong những năm sau này, khi mà tầm quan trọng của Tuyên ngôn cứ lớn dần trong hình dung của công chúng, và Jefferson tác giả của nó nhờ vậy mà có được tấm vé bước vào đền thờ Mỹ. Trong cuốn tự truyện của mình, Adams kể lại rằng ông ta giao lại nhiệm vụ cho Jefferson vì nhiều lý do, trong đó có việc ông ta hiểu rằng với tư cách một nhà lãnh đạo nổi bật của phe cấp tiến trong Quốc hội hai năm vừa qua, nếu ông ta viết bản dự thảo, nó sẽ là đối tượng bị xem xét và phê phán nhiều hơn. Nhưng những hồi ức về sau như vậy thường che khuất thực tế rằng không có ai vào thời điểm đó lại coi việc soạn thảo Tuyên ngôn là một trách nhiệm lớn hay một danh dự. Adams, giống như Lee, cần phải tham gia dẫn dắt các cuộc tranh luận nơi nghị trường. Đó mới được coi là đấu trường quan trọng. Nên khi đó, việc Jefferson được yêu cầu soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập phần lớn là vì các tác giả khác đủ tư cách đã có những việc quan trọng hơn để làm. 47

Bối cảnh cực kỳ quan trọng. Trên thực tế, quyết định tuyên bố độc lập đã được đưa ra. Cuốn Lẽ thường của Thomas Paine, xuất bản hồi tháng 1, đã tràn qua các thuộc địa như một cơn bão lửa, phá hủy mọi tàn tích cuối cùng của lòng trung thành với vua Anh. Trong tháng 5, Quốc hội đã giao cho mỗi thuộc địa soạn thảo một hiến pháp mới cho bang, một hành động công khai thể hiện sự độc lập chính trị mà Adams luôn coi là động thái quyết định. Quan trọng nhất là chiến tranh đã diễn ra ác liệt được hơn một năm. Trên thực tế, phần lớn thời gian của Quốc hội dành cho việc lên kế hoạch chiến tranh và ra các quyết định quân sự, khi hạm đội Anh bị phát hiện ngoài khơi bờ biển New York và Nam Carolina, còn đội quân viễn chinh Mỹ tại Canada thì gặp thất bại nhục nhã. (Chỉ cần thêm một thất bại hoặc sai lầm quân sự lớn nữa, thì chiến tranh giành độc lập của Mỹ đã có thể kết thúc trước khi các đại biểu tại Philadelphia tuyên chiến). Hoàn cảnh lúc đó không cho phép người ta tin tưởng nhiều hoặc có cơ hội để chiêm nghiệm. Đó không phải là thời điểm thuận lợi để thi thố tài năng viết lách.

Nhưng cho dù họ biết điều đó hay không... và cũng chẳng có cách nào mà biết được - các thành viên Quốc hội Lục địa đã đặt công cụ lý tưởng này vào vị trí hoàn hảo chính xác ở thời điểm phù hợp. Trong suốt phần còn lại của sự nghiệp lâu dài của mình, Jefferson không bao giờ còn gặp lại một thử thách có thể giải phóng tốt nhất nguồn năng lượng sáng tạo của ông phù hợp hơn thế. Công việc này phải được thực hiện một mình, tách khỏi các cuộc tranh luận nơi công cộng. Nó đòi hỏi phải có một phẩm chất cao quý để có thể liên kết nền độc lập Mỹ với những lực lượng lớn và vĩ đại, cho phép vượt qua cuộc khủng hoảng chính trị hiện thời và nâng trí tưởng tượng lên cao, hướng tới một thế giới thuần khiết và kỷ luật hơn. Cuối cùng, nó cần phải vẽ nên một cảnh tượng với màu sắc trong sáng, tương phản giữa sự thật và dối trá, giữa đúng và sai, giữa “nên là” và “chính là” mà không có bất kỳ một sắc thái trung gian hoặc mảy may nghi ngờ nào. Thật khó hình dung ra có người nào ở Mỹ lại được trang bị tốt hơn về mặt tâm lý cũng như kinh nghiệm để thực hiện được nhiệm vụ đó.

Jefferson viết Tuyên ngôn Độc lập chỉ trong một vài ngày - Adams sau này nhớ lại là “một hoặc hai ngày” - rồi cho Adams và Franklin xem bản dự thảo, sau này ông nhớ lại rằng “họ là hai người mà tôi mong được lắng nghe các góp ý và bổ sung nhất”. Họ đề nghị một vài sửa đổi nhỏ (ví dụ, thay thế “chân lý thiêng liêng và không thể chối cãi” bằng “chân lý hiển nhiên”); sau đó ủy ban đưa tài liệu ra trước Quốc hội Lục địa vào ngày 28 tháng 6. Sau khi nghị quyết của Lee được thảo luận và thông qua (ngày 1-2 tháng 7), Quốc hội đã sử dụng lời văn của Tuyên ngôn; Quốc hội đã đưa vào Tuyên ngôn một số thay đổi lớn và cắt mất khoảng một phần tư văn bản. Trong suốt cuộc tranh luận, Jefferson ngồi yên lặng và ủ rũ, xem mỗi đề xuất sửa đổi như một lần mất mặt. Franklin ngồi cạnh ông và cố gắng xoa dịu nỗi đau rõ ràng của ông bằng câu chuyện về một họa sĩ vẽ biển quảng cáo được một người thợ làm mũ thuê cứ liên tục yêu cầu phần chữ trên bảng hiệu phải thật súc tích cho đến khi không còn gì trên đó ngoài hình một chiếc mũ. Ngày 4 tháng 7, Quốc hội phê duyệt phiên bản sửa đổi, và Tuyên ngôn Độc lập được gửi đi in để xuất bản. Jefferson sau này nhớ lại rằng vào hôm đó, Tuyên ngôn đã được các thành viên của Quốc hội ký vào, nhưng điều này gần như chắc chắn không chính xác: bản sao trên giấy da đã được hầu hết các thành viên ký vào ngày 2 tháng 8. 48

Phần lớn cuộc tranh luận tại Quốc hội và hầu hết các phiên bản dự thảo Tuyên ngôn của Jefferson đều tập trung vào cáo trạng dài chống lại George III, phần mà độc giả hôm nay lại ít quan tâm nhất. Sau này, khi Jefferson nhấn mạnh nhiều lần rằng ông không phấn đấu cho “tính độc đáo của nguyên tắc hay tình cảm” mà chỉ cố gắng cung cấp một “cách biểu đạt của tư tưởng Mỹ”, có lẽ ý ông là ở phần này được dùng để tổng kết 12 năm đấu tranh của thuộc địa chống lại chính sách Anh, được thiết kế bằng ngôn từ buộc nhà vua phải chịu trách nhiệm cho mọi rắc rối. Jefferson đã thử viết ra danh sách những mối bất bình này trong hơn hai năm, đầu tiên là trong cuốn Quan điểm tóm tắt và sau đó trong cuốn Những nguyên do và sự cần thiết , rồi trong bản thảo của ông về hiến pháp Virginia. “Tôi hy vọng bạn đã... đọc hết Chủ đề Khiếu nại về George III và bối rối khi phát hiện ra những gì Quốc hội sẽ làm với Tuyên ngôn Độc lập mà không cần sao chép lại”, Edmund Pendleton đã viết khi ông ta lần đầu tiên nhìn thấy phiên bản chính thức, nhưng thấy rằng bạn đã xử trí rất tốt điều đó”. 49

Nếu rõ ràng là một chiều, thì với tư cách một phiên bản lịch duyệt của lịch sử Anh-Mỹ cận đại, phần này của bản Tuyên ngôn chắc chắn đã đứng vững trước thử thách của thời gian, cung cấp cho những người tìm hiểu về Cách mạng Mỹ một bản tóm tắt ngắn gọn về cuộc khủng hoảng hiến pháp từ quan điểm của người dân thuộc địa tại thời điểm thuận lợi. Tuy nhiên, với tư cách là sự phản ánh tư tưởng của Jefferson, thì đoạn này thiếu đi ba quan điểm nổi bật và đặc trưng của Jefferson về xung đột. Khi Jefferson viết thư cho bạn bè ở quê nhà Virginia, phàn nàn rằng những lời phê bình trong Quốc hội đã, như cách một người bạn kể lại là, “làm sai lệch... bản thảo”, đây là ba sửa đổi chính làm ông tiếc nuối nhất. 50

Thứ nhất, như chúng ta từng biết trước đó, Quốc hội đã xóa một đoạn dài quy trách nhiệm cho George III về việc tiến hành “cuộc chiến tranh tàn bạo chống lại chính bản chất con người” bằng cách thiết lập chế độ nô lệ ở Bắc Mỹ; Jefferson cũng cáo buộc nhà vua đã ngăn chặn các nỗ lực của thuộc địa nhằm chấm dứt việc buôn bán nô lệ, rồi “lại kích động chính những người này đứng lên cầm vũ khí chống lại chúng tôi... bằng cách giết hại những người cũng bị ông ta ép buộc”. Một số ý tưởng phức tạp và thậm chí bị dày vò đang đấu tranh cho quyền tối cao ở đây. Có thể phỏng đoán rằng các thành viên Quốc hội đã quyết định xóa đoạn này đi vì quá lộn xộn, nó pha trộn giữa lời lên án ngầm chế độ nô lệ về mặt đạo đức với lời lên án công khai chế độ quân chủ Anh bởi đã mở đầu và cố gắng kết thúc chế độ đó.

Trong ghi chép riêng của mình về cuộc tranh luận tại Quốc hội, Jefferson cho rằng việc phản đối này hoàn toàn mang tính chính trị. Ông thuật lại, một vài đoàn đại biểu miền Nam, đặc biệt là đoàn Nam Carolina và Georgia, đã phản đối bất kỳ sự hạn chế nhập khẩu nô lệ nào, và nói thêm “tôi tin rằng người anh em miền Bắc cũng cảm thấy mình hơi yếu ớt trước những lời phản đối mạnh mẽ này; vì chính người của họ cũng có rất ít nô lệ, tuy nhiên họ lại là những người sở hữu khá nhiều nô lệ so với những người khác”. Rõ ràng Jefferson hàm ý rằng ông đã cố gắng giữ vững lập trường có tính nguyên tắc trong việc chống lại cả chế độ nô lệ lẫn việc buôn bán nô lệ, nhưng đa số đại biểu lại không sẵn lòng đi cùng ông. 51

Sự thật thì lộn xộn hơn nhiều. Về việc buôn bán nô lệ, từ kinh nghiệm của mình trong Hạ viện vùng, Jefferson biết rằng nhiều chủ nô lệ lâu năm trong khu vực Tidewater ủng hộ việc chấm dứt nhập khẩu, vì các đồn điền của họ đã đầy ắp nô lệ và những nô lệ mới đến sẽ chỉ làm giảm giá trị đám nô lệ hiện tại của họ. Nói một cách ngắn gọn, việc kết thúc mua bán ở Virginia không đồng nghĩa với việc kết thúc chế độ nô lệ. Về chế độ nô lệ, cách nói của Jefferson mang ý nghĩa lớn về mặt bút chiến nhưng lại vô nghĩa về mặt lịch sử và tri thức. Những gì ông viết giúp cho những chủ sở hữu nô lệ như ông rũ bỏ được bất kỳ trách nhiệm hoặc sự đồng lõa nào với việc thành lập một tổ chức mà rõ ràng là mâu thuẫn với các giá trị tạo nên cơ sở cho nền độc lập non trẻ của Mỹ. Chế độ nô lệ là một trong những tàn tích của chế độ phong kiến bị những kẻ thừa kế độc ác của cuộc chinh phục Norman gán cho những người dân thuộc địa yêu chuộng tự do. Tất nhiên, điều này hoàn toàn là hư cấu, nhưng lại rất phù hợp với mong ước của Jefferson muốn giữ gìn sự trong sáng trong cách nghĩ về đạo đức hai mặt cũng như quan điểm lãng mạn của ông về nguồn gốc thuần khiết của Mỹ. Chế độ nô lệ là con rắn trong khu vườn được vua quỷ Satan gửi tới. Nhưng thông điệp đạo đức được truyền đạt bằng cách mô tả này lại không mang tính giải phóng cũng như gợi nhiều thương xót. Vì người dân thuộc địa không dính dáng đến sự ra đời của chế độ nô lệ - họ là những nạn nhân bất hạnh của sự man rợ của người Anh - họ không thể bị đổ lỗi cho sự tiếp diễn của chế độ này. Đây là một lời mời rũ bỏ trách nhiệm trong vấn đề này hơn là một lời kêu gọi chấm dứt chế độ nô lệ. 52

Thứ hai, Jefferson đã cố gắng một lần nữa, giống như ông đã cố gắng trước đó trong cuốn Những nguyên do và sự cần thiết , để chèn thuyết biệt xứ yêu thích của ông vào, khi cho rằng những người định cư đầu tiên đã phải tự trả giá khi ra đi, và rằng họ “không được trợ giúp bởi của cải hay sức mạnh của Anh”. Nỗi ám ảnh của ông về chủ đề này xuất phát từ sự tận tâm của ông với huyền thoại Saxon, cho phép tách biệt gọn gàng những người dân thuộc địa phái Whig và các bộ trưởng Anh phong kiến hoặc chuyên chế. Lịch sử rối ren của các mối quan hệ triều đình không phù hợp lắm với những phạm trù chính trị này, nhưng Jefferson thấy việc sửa đổi lịch sử (ví dụ, cho rằng thuộc địa chưa bao giờ công nhận thẩm quyền của Hoàng gia hay Nghị viện) thì dễ dàng hơn việc từ bỏ lối phân đôi đạo đức của mình. Một lần nữa, các đồng nghiệp của ông trong Quốc hội Lục địa thấy lý luận của ông là quá khích. 53

Thứ ba, phần cắt bỏ cuối cùng nằm ở đoạn cuối trong dự thảo của Jefferson. Đây là một đoạn gây xúc động với hòa âm cực kỳ tình cảm, lên án “người anh em nước Anh của chúng ta” đã gửi đến “không chỉ những người lính cùng chung máu mủ ruột rà, mà còn cả đám lính đánh thuê người Scotch và nước ngoài để xâm chiếm và tiêu diệt chúng ta”. Đoạn này tiếp tục: “Những thực tế này đã đâm một nhát cuối vào tình cảm đau đớn, và tinh thần đàn ông buộc chúng ta phải từ bỏ mãi mãi người anh em vô tình này. Chúng ta phải cố gắng quên đi tình yêu năm xưa dành cho họ, và coi họ, như cách chúng ta coi phần còn lại của nhân loại, là kẻ thù trong chiến tranh, bạn bè trong hòa bình; nhưng dường như họ không đủ tự trọng để giao tiếp một cách đàng hoàng và tự do. Cứ vậy đi, vì họ sẽ nhận lại điều đó. Con đường dẫn đến hạnh phúc và vinh quang cũng đang mở ra cho chúng ta. Chúng ta sẽ bước đi xa khỏi họ”... Đây là một đoạn hùng biện đáng chú ý mà rõ ràng Jefferson coi là một trong những sáng tạo vượt trội của mình. Ngay cả đến cuối cuộc đời, ông vẫn cảm thấy cay đắng về việc đoạn này bị xóa. “Ý tưởng khiếp nhược rằng chúng ta có những bạn bè ở Anh đáng giữ quan hệ, vẫn còn ám ảnh tâm trí của nhiều người”, ông nhớ lại, và do đó những đoạn văn chuyển tải sự chỉ trích mạnh mẽ người Anh đã bị loại ra, vì sợ rằng chúng sẽ khiến họ cảm thấy bị xúc phạm”. 54

Điều làm cho độc giả hiện đại chú ý không phải là sự rụt rè của Quốc hội Lục địa trong việc cắt xén quá mức đoạn văn này cũng như sự phấn khích của Jefferson trong lúc sáng tác ra nó. Như với thuyết biệt xứ, Jefferson đã lo lắng khi mô tả việc tách thuộc địa khỏi Đế quốc Anh như là một quyết định có tính cưỡng ép đối với người dân thuộc địa, là những nạn nhân bị động chứ không phải là những nhân tố tích cực của cuộc cách mạng. Nhưng ở đây, mối liên hệ bị phá vỡ mang tính xúc động hơn là tính chính trị. Một mối quan hệ dựa trên tình yêu và sự tin cậy đã bị vi phạm, và bên bị phản bội là những người dân thuộc địa đã dũng cảm tiếp tục sống, dù bị tổn thương trước sự chối bỏ nhưng sẵn sàng một mình đối diện với tương lai rực rỡ mà lẽ ra hai bên đã có thể chia sẻ cùng nhau. Đây là một cách biểu đạt cực kỳ lý tưởng hóa và vô cùng xúc động về cách thức và lý do của cuộc chia tay mùi mẫn, tái hiện cuộc khủng hoảng đế quốc trong sự ngây thơ lãng mạn mà Jefferson đã thể hiện như khi gặp gỡ những thiếu nữ lúc còn trẻ, một kiểu tâm lý được ăn cả ngã về không mà các đại biểu khác thấy không phù hợp với một tài liệu nhà nước có nội dung truyền đạt lý trí hơn là tình cảm.

TÍN ĐIỀU MỸ, GIẤC MƠ MỸ

Phần nổi tiếng nhất của Tuyên ngôn, vốn đã trở thành tuyên bố về các quyền con người được trích dẫn nhiều nhất trong lịch sử từng được ghi nhận, cũng như biện minh hùng hồn nhất cho cách mạng nhân danh các quyền đó, đã được Quốc hội Lục địa thông qua mà không bình luận gì và chỉ có một thay đổi rất nhỏ. Theo mọi khả năng, đó là 58 từ (10) nổi tiếng nhất trong lịch sử Mỹ: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên; rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng; rằng Tạo hóa đã ban cho họ những Quyền [tất yếu và] bất khả xâm phạm; trong đó có quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc; rằng để bảo đảm những quyền này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân, và có được những quyền lực chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân”. Đây là một tuyên bố có sức ảnh hưởng ghê gớm của Tín điều Mỹ, thứ gần nhất với thi ca chính trị từng được sáng tác trong nền văn hóa Mỹ. Trong thế kỷ 19, Abraham Lincoln, người cũng biết làm thế nào để thay đổi lịch sử bằng ngôn từ, đã kết hợp quan điểm gần như có tính tôn giáo của Jefferson với tài hùng biện đặc trưng để tạo ra lời răn đúng chất Mỹ: “Tất cả vinh dự dành cho Jefferson - người mà dưới áp lực nặng nề của cuộc đấu tranh giành độc lập của một dân tộc đơn nhất, vẫn giữ được sự bình tĩnh, khả năng phán đoán, và đưa một chân lý trừu tượng vào một tài liệu mang tính cách mạng đơn thuần, rồi lưu giữ ở đó, để hôm nay và cả mai sau, trở thành lời khiển trách và là trở ngại cho bất kỳ dấu hiệu nào của sự quay trở lại độc tài và áp bức”. Toàn bộ lịch sử của cuộc lịch sử của cuộc cải cách tự do ở Mỹ có thể được viết ra qua ngôn từ của Jefferson như một quá trình khám phá, một nhiệm vụ tinh thần nhằm chấm dứt chế độ nô lệ, trao quyền công dân cho người da đen và phụ nữ, biện minh cho các chương trình phúc lợi xã hội đối với người nghèo và mở rộng quyền tự do cá nhân. 55

(10) Số từ trong bản tiếng Anh, còn khi được dịch ra các ngôn ngữ khác nhau, con số này có thể thay đổi.

Không có người nghiên cứu nghiêm túc nào về Jefferson hay Tuyên ngôn Độc lập nói rằng anh ta đã thấy trước tất cả và thậm chí hầu hết những hậu quả tư tưởng của những gì ông viết. Nhưng nỗ lực giải thích những gì đã diễn ra trong đầu ông tạo nên nhiều cách diễn giải bằng những từ ngữ sinh ra từ các phong trào chính trị. Trong suốt sự nghiệp của mình, bản thân Jefferson cũng nhiều lần bị kẻ thù hoặc bạn bè ghen ghét buộc tội đạo văn tới nỗi ông đã viết sẵn một lời đáp trả. “Không nhằm vào sự độc đáo của nguyên tắc hay tình cảm, hay sao chép từ bất kỳ văn bản cụ thể nào trước đó”, ông giải thích, ông đã vạch ra ý tưởng của mình từ “tình cảm hài hòa về thời đại cho dù thể hiện bằng con chữ, những bài tiểu luận được in ra hay trong những cuốn sách vỡ lòng về quyền công chúng của Aristotle, Cicero, Locke, Sidney, v.v.” 56

Đây là một lời giải thích nước đôi rất khéo léo, vì nó vừa phản đối bất kỳ khiếu nại nào liên quan đến tính độc đáo của Tuyên ngôn, lại vừa khẳng định rằng ông không dựa vào một văn bản hay nguồn cụ thể nào. Hình ảnh mà câu trả lời này gợi lên là một người trung dung, ngồi một mình tại bàn làm việc và biến mình thành một công cụ tích lũy sự thông thái và “tình cảm hài hòa” qua nhiều năm. Hình ảnh này rất gần với cái nhìn của Lincoln về Jefferson như một thánh nhân hay nhà tiên tri, nhận được thông điệp của các vị thần rồi chuyển tới chúng ta và mai sau. Với đặc điểm mang tính tín điều ở phần nói về quyền tự nhiên của Tuyên ngôn, nhiều thế hệ phiên dịch viên Mỹ đã cảm thấy bị thôi thúc và không thể cưỡng lại việc để cảnh tượng ấy tắm mình trong thứ ánh sáng li ti và mờ sương, hàm ý về những nỗ lực xua tan màn bí ẩn thể hiện sự kết hợp mơ hồ nào đó giữa sự báng bổ thánh thần và phản bội.

Bất kỳ nỗ lực nghiêm túc nào nhằm nhìn xuyên qua bức màn này phải bắt đầu bằng việc phục hồi nguyên trạng căn phòng trên các phố Market và Seventh hồi tháng 6 năm 1776. Ngay cả khi chúng ta tin vào lời của Jefferson rằng ông không sao chép những phần của Tuyên ngôn từ cuốn sách cụ thể nào, thì ông gần như chắc chắn đã có trong tay những bản sao tác phẩm trước đó của riêng mình, bao gồm Quan điểm tóm tắt, Những nguyên do và sự cần thiết và ba bản thảo của ông về hiến pháp Virginia. Đây không phải là để buộc tội ông đạo văn, trừ phi muốn lập luận rằng một tác giả có thể đạo văn của chính mình. Đó là để nói rằng hầu như mọi ý tưởng và đa phần ngôn từ cụ thể được tìm thấy trong Tuyên ngôn, đặc biệt là sự bất bình với George III, đã được thể hiện qua những bài viết trước đó.

Hãy nhớ lại bối cảnh. Quốc hội đang bị ngợp với các báo cáo quân sự về sự thất bại sắp xảy ra của quân Mỹ ở New York và Canada. Cả Quốc hội họp sáu ngày một tuần, còn các ủy ban thì họp xuyên đêm. Rõ ràng là Jefferson nên tham gia vào quá trình này để viết lại bản thảo trước đó của ông về cùng một chủ đề chung. Mặc dù nếu nói rằng quá trình sáng tạo nên Tuyên ngôn là một công việc cắt-và-dán nghe có vẻ báng bổ, nhưng không tài nào có thể tin được cũng như hiểu được rằng Jefferson đã không có những tài liệu này trong tay và tự do phác thảo ra chúng khi soạn thảo Tuyên ngôn.

Cũng cần nhớ rằng hiển nhiên là trước đó ông đã bận tâm với những sự kiện đang diễn ra ở Hội nghị Virginia, cũng là lúc hiến pháp Virginia được soạn thảo. Trong suốt giai đoạn cuối tháng 5 và đầu tháng 6, các giao liên đã phải chạy qua chạy lại giữa Williamsburg và Philadelphia, mang theo bản thảo hiến pháp mới của Jefferson đến hội nghị và các báo cáo về cuộc tranh luận ở đó đến Quốc hội Lục địa. Ngày 12 tháng 6, những người Virginia nhất trí thông qua lời mở đầu do George Mason soạn thảo, bao gồm những từ này: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng và độc lập và có những quyền tất yếu và tự nhiên..., trong đó có quyền hưởng thụ cuộc sống và tự do, được thực hiện thông qua việc mua và sở hữu tài sản, mưu cầu và đạt được hạnh phúc và an toàn”. Tờ Pennsylvania Gazette đã công bố những từ trên của Mason cùng ngày chúng được thông qua tại Williamsburg. Vì phiên bản cùng ý tưởng của Jefferson được soạn thảo vào tuần tiếp sau đó, và vì chúng ta biết rằng ông coi các sự kiện đang diễn ra ở Virginia quan trọng hơn những gì đang xảy ra ở Philadelphia, và rằng ông được những người đưa tin cập nhật, nên khó có thể phủ nhận ảnh hưởng của Mason lên ngôn ngữ của ông. 57

Trong khi điều đó lý giải cho việc sử dụng cụm từ rất đắt là “mưu cầu hạnh phúc”, có thể Mason đã tự mình chọn ra cụm từ này từ nhiều nguồn Anh và Mỹ, nhưng nó lại không lý giải được việc Jefferson bỏ đi từ “tài sản”, gây ra nhiều tranh cãi. “Tài sản” cũng là quyền căn bản thứ ba được ghi nhớ trong cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền (Second Treatise on Government) của Locke. Ông đã tự chọn việc bỏ đi từ này. Có thể ông nhận thấy ngôn ngữ của Mason đã gây ra sự phản đối mạnh mẽ từ phía một nhóm tầng lớp chủ đồn điền Virginia, những người lo lắng rằng điều này ám chỉ việc phủ nhận chế độ nô lệ; họ khăng khăng đòi sửa bằng cách loại vấn đề nô lệ ra và thêm vào một điều khoản quy định “khi họ trở thành một quốc gia xã hội”. Tất cả những điều này cho thấy rằng Jefferson có thể đã nhận thức được sự mâu thuẫn giữa phiên bản riêng của ông về triết lý quyền tự nhiên với chế độ nô lệ. Bằng cách bỏ đi sự liên hệ với quyền “tài sản”, ông sẽ làm lu mờ được mâu thuẫn đó. Điều này đã giúp trả lời câu hỏi thú vị về việc tại sao không có cuộc tranh luận nào về vấn đề này xảy ra tại Quốc hội Lục địa, như đã xảy ra trong Hội nghị Virginia. Có lẽ cuộc tranh luận về điều khoản liên quan đến việc buôn bán nô lệ cũng phục vụ mục đích đó. 58

Tuy nhiên, bên cạnh câu hỏi liên quan đến sự ảnh hưởng ngay lập tức trong việc lựa chọn từ ngữ của Jefferson và cách ông định hình trường hợp giành độc lập, còn một câu hỏi mờ mịt hơn liên quan đến những ảnh hưởng lâu dài đối với tư duy chính trị của ông. Cứ cho rằng những tác phẩm và dự thảo hiến pháp Virginia trước đó của ông gần như chắc chắn nằm rải rác trên đùi và bàn làm việc của ông, vậy thì những ý tưởng trong các văn bản đó đến từ đâu? Cứ cho rằng, ngoài việc có lý do để nghi ngờ những tài liệu Jefferson đã xem, thì chúng ta đã biết rằng ông và các đại biểu khác trong Quốc hội bị đặt dưới một áp lực rất lớn là phải xử lý được cuộc chiến tranh đang diễn ra, trong khi thảm họa quân sự đang đe dọa xảy ra ở Canada và New York, vì vậy ông chẳng có mấy thời gian mà chỉ có thể sử dụng lại các tác phẩm trước đây của mình, vậy những ý tưởng cốt lõi nào đã định hình trong đầu ông?

Những câu trả lời hiện có được chia thành hai nhóm chính, mỗi nhóm đều là những lập luận thuyết phục của các học giả nổi tiếng, và mỗi nhóm đều tìm thấy nguồn cơn tư tưởng chính trị của Jefferson trong các cuốn sách nhất định. Theo cách lý giải trước kia và vẫn được coi trọng hơn thì nguồn cơn ấy nằm trong suối nguồn tri thức của John Locke. Thậm chí, lúc Jefferson còn sống, đã có một số nhà bình luận, thường có ý ngờ vực sự độc đáo của ông, cho rằng học thuyết về quyền tự nhiên và hệ quả là sự ủng hộ đối với cuộc cách mạng đúng đắn được lấy trực tiếp từ Khảo luận thứ hai (Second Treatise) của Locke. Chẳng hạn, Richard Henry Lee cho rằng Jefferson đơn thuần “đã sao chép từ khảo luận về chính quyền của Locke”. Một số kết luận chính được rút ra từ các tiền đề của Locke, chúng là tư tưởng của Jefferson vốn mang tính tự do và cá nhân, và dù ông đã thay “tài sản” bằng “mưu cầu hạnh phúc”, nhưng về căn bản, vẫn phù hợp với tâm tư kiểu tư bản mới nổi của Mỹ. 59

Truyền thống diễn giải thứ hai và gần đây hơn cho rằng nguồn cơn tư tưởng của Jefferson nằm trong phong trào Khai sáng Scotland, đặc biệt là triết lý đạo đức của Francis Hutcheson. Điều mấu chốt ở đây là niềm tin của Jefferson vào sự bình đẳng tự nhiên của con người, chủ yếu xuất phát từ học thuyết của Hutcheson về ý thức đạo đức”, một thứ vốn có trong tất cả mọi người mà không chính phủ nào có thể vi phạm. Hơn nữa, trường phái tư tưởng Scotland đã liên kết Jefferson với một truyền thống mang tính tập thể hay làng xã nhiều hơn, đi ngược lại với chủ nghĩa tự do của Locke và do đó không phù hợp với chủ nghĩa cá nhân quá khích, đặc biệt là loại chủ nghĩa cá nhân gắn với hành vi săn mồi (ăn cướp) trên thị trường. 60

Trên thực tế, có một cách giải thích thứ ba gần đây nhất và lạ lùng nhất, vừa thú vị vừa kỳ dị, đưa ra giả thuyết cho rằng Jefferson định để Tuyên ngôn được đọc to lên hoặc được trình diễn. Cách giải thích này dựa trên phát hiện rằng dự thảo cuối của ông đã được nhấn mạnh bởi một loạt các dấu ngoặc kép, được thiết kế để hướng dẫn cho việc đọc tài liệu nhằm nâng cao hiệu ứng kịch tính của nó. Phát hiện này dẫn đến kết luận rằng Jefferson chịu ảnh hưởng bởi những cuốn sách mới về hùng biện của các tác giả Anh như James Burgh và Thomas Sheridan, trong đó cho rằng ngôn ngữ nói có được sức mạnh của nó nhờ việc chơi đùa với những cảm xúc vô thức của khán giả. Bí quyết sức mạnh của Tuyên ngôn, theo như lập luận này, là xuất phát từ dàn nhạc ngôn ngữ có ý thức của Jefferson, nắm được thuật hùng biện mới, vốn không chấp nhận bất kỳ sự đối lập nào (tức là chế độ nô lệ và sự bình đẳng của con người; chủ nghĩa cá nhân và tập thể) với một loại giao hưởng bằng lời nói mà giờ đây vẫn đang thịnh hành trong nền văn hóa chính trị Mỹ. 61

Mỗi cách lý giải trên lại cung cấp những hiểu biết có giá trị về ngọn nguồn trí tuệ trong tư tưởng của Jefferson khi ông ngồi viết Tuyên ngôn. Rõ ràng, ông hiểu rõ về Locke, dù chuyên luận của Locke mà ông yêu thích không phải về chính quyền mà là Tiểu luận về sự hiểu biết của con người (Essay on Human Understanding). Điều đó cho thấy tuyên bố căn bản rằng cách mạng được biện minh nếu những kẻ cai trị hiện thời tỏ ra tôn trọng một cách có hệ thống các quyền của người dân chắc chắn có nguồn gốc từ Locke. Có thể Jefferson đã bắt chước ngôn ngữ cụ thể của George Mason, nhưng cả hai đều biết họ đang diễn giải lời của ai. Một điều rõ ràng không kém là Jefferson tin rằng đặc điểm và ý nghĩa nổi bật khiến con người hoàn toàn là con người, đó là ý thức đạo đức. Rốt cuộc, vẫn không biết được ông xây dựng niềm tin ấy bằng cách đọc Hutcheson hoặc thành viên nào đó của trường phái Scotland, hay từ quan sát cá nhân của riêng ông về hành vi con người, nhưng điều đó không thực sự quan trọng.

Việc cho rằng mục đích Jefferson muốn Tuyên ngôn được đọc to lên là rất khó chấp nhận. Một cách giải thích đơn giản hơn cho những dấu chấm câu khác thường của ông là ông lo rằng mình có thể sẽ bị yêu cầu phải đọc to tài liệu này khi ủy ban trao nó cho Quốc hội vào ngày 28 tháng 6, vì vậy ông đã chèn vào những hướng dẫn về cách đọc, vì không tin vào khả năng hùng biện vốn nổi tiếng hạn chế của mình. (Chúng ta thật sự không biết liệu ông đã tự đọc nó hay nó đã được thư ký Quốc hội đọc). Nhưng việc thừa nhận rằng Tuyên ngôn chơi đùa với tình cảm của người đọc và người nghe, rằng giọng điệu và vần điệu căn bản của nó hoạt động theo những kiểu bí ẩn để giành được sự chấp thuận bất chấp những mâu thuẫn về mặt logic và sự ngắt mạch, vẫn là một chi tiết chủ chốt đáng phải suy ngẫm.

Tuy nhiên, vấn đề trọng tâm của tất cả những lời giải thích trên đây là chúng biến tư tưởng của Jefferson thành một chức năng riêng của sách vở. Đúng vậy, ông đọc ngấu nghiến như một người trẻ tuổi, ghi chép những gì đọc được và để lại một danh sách chi tiết những cuốn sách trong thư viện của mình. Vì chúng ta biết rất nhiều về thói quen đọc sách của ông, nhưng lại biết rất ít về các khía cạnh khác trong cuộc sống thời trẻ của Jefferson (lại là do trận hỏa hoạn Shadwell), nên chúng ta không tài nào cưỡng được cám dỗ trước việc ngầm liên hệ các ý tưởng của ông với những cuốn sách ông đọc. Rồi một khi mối liên hệ được thiết lập, chẳng hạn như với Locke hay Hutcheson, thì chúng ta lại thoải mái bàn về những văn bản nào đó cứ như là đang bàn về tư tưởng của Jefferson vậy. Đây là một truyền thống lâu đời trong giới học thuật - có thể gọi nó là phiên bản học thuật của việc cấp phép thi vị - nghĩa là theo giả định bất thành văn thì những gì người ta nghĩ, phần lớn hoặc hoàn toàn là sản phẩm của những gì người ta đọc. 62

Trong trường hợp của Jefferson, đây là một giả định rất có vấn đề. Trường hợp cụ thể ở đây là phần nói về quyền tự nhiên của Tuyên ngôn, nó đưa chúng ta lang thang trên những con đường mòn văn học tìm kiếm mùi hương tưởng như của các tác giả người Anh hay Scotland, trong khi đối tượng được săn tìm lại đang ngồi ngay trước mặt chúng ta. Trong tất cả các ấn phẩm trước đây của mình, chàng thanh niên Thomas Jefferson đã thể hiện một hứng thú mạnh mẽ và sự gắn bó sâu sắc với tầm nhìn về một xã hội lý tưởng. Ông tìm thấy nó ở nhiều nơi “hồi đó” trong quá khứ: những khu rừng Saxony; nước Anh trước khi có cuộc xâm lăng của người Norman; các thuộc địa Mỹ trước khi có chiến tranh Pháp-Ấn. (Ở đây, những thứ ông đọc trước đó rõ ràng đã có một ảnh hưởng không thể chối cãi, dù những cuốn sách liên quan là lịch sử Whig và các bài viết của Real Whig, nhưng chúng đã được tiêu hóa triệt để tới nỗi chủ đề và chủng loại của chúng được hòa vào tâm trí Jefferson rất tinh tế). Một số lập luận của ông về nền độc lập Mỹ, tất cả đã được định hình xung quanh một motif chủ đạo, trong đó hiện tại không hoàn hảo và không đầy đủ tương phản với một tương lai hoàn hảo và thuần khiết, có thể đạt được một khi nguồn gốc của sự thối nát được loại bỏ. Theo bản năng, tư tưởng của ông nhìn nhận mọi sự theo hai mặt, sử dụng nguồn năng lượng đạo đức có được từ việc làm nổi bật sự tương phản giữa mặt tốt với mặt xấu trong mọi trường hợp hoặc mọi vấn đề. Trong khi ngôn ngữ của ông thường đầy màu sắc, thì các thông điệp tiềm ẩn gần như luôn chỉ có màu đen và trắng.

Tầm nhìn mà ông nêu lên trong phần quyền tự nhiên của Tuyên ngôn, khi đó lại thể hiện một công thức khác trong trí tưởng tượng của Jefferson. Hình thức cụ thể của tầm nhìn chắc chắn dựa trên ngôn ngữ mà Locke đã dùng để mô tả các điều kiện giả định của xã hội trước khi các chính quyền được thành lập. Nhưng ham muốn nắm bắt một xã hội lý tưởng như thế đến từ sâu bên trong chính con người Jefferson. Đó là tầm nhìn của một thanh niên, bộc lộ khát vọng cá nhân về một thế giới, trong đó tất cả các hành vi là tự nguyện, và do vậy mọi sự cưỡng ép đều không cần thiết, nơi độc lập và bình đẳng không bao giờ xung đột với nhau, nơi ngọn nguồn của mọi thẩm quyền đều vô hình, bởi chúng đã được tích hợp vào trong. Những nỗ lực về phía các học giả nhằm xác định liệu xã hội theo luật định của Jefferson về căn bản có mang tính cá nhân hay cộng đồng hay không chẳng bao giờ có thể đi đến hồi kết, vì trong xã hội không tưởng của Jefferson không cần những lựa chọn như vậy. Chúng hòa hợp với nhau một cách tự nhiên.

Dù mắc nợ với Locke, nhưng tầm nhìn chính trị của Jefferson mang tính cực đoan hơn là tự do, được lái theo chủ nghĩa lãng mạn của tuổi trẻ vốn không muốn đàm phán các tiêu chuẩn cao của nó với một thế giới không hoàn hảo. Một trong những lý do tại sao các nhà bình luận châu Âu về chính trị Mỹ thấy những kỳ vọng Mỹ là quá đáng và lối tư duy chính trị Mỹ nói chung ngây thơ một cách thú vị, đó là vì Jefferson được phép nuôi dưỡng những hy vọng và ảo tưởng của tuổi trẻ, rồi đưa thẳng chúng vào thứ mà hóa ra lại chính là văn bản sáng lập nên nền Cộng hòa Mỹ. Như vậy, giấc mơ Mỹ rõ ràng chỉ là giấc mơ của Jefferson.

TRỐN THOÁT

Chẳng bao lâu sau ông đã soạn thảo xong Tuyên ngôn, nhưng trước khi các cuộc tranh luận về nó được mở màn trong Quốc hội Lục địa, Jefferson đã bày tỏ mong muốn mạnh mẽ của mình là thoát khỏi Philadelphia. “Tôi xin lỗi”, ông viết cho Edmund Pendleton, rằng “với nội tình hiện thời của tôi, tôi buộc lòng không còn cách nào khác phải khẩn khoản đề nghị một người thế chỗ tôi ở đây”, và giải thích theo cách gián tiếp của ông rằng “sự tinh tế của Quốc hội sẽ không yêu cầu tôi phải trình bày chi tiết những nguyên do cá nhân của việc cần thiết này”. Không còn nghi ngờ gì nữa, “những nguyên do cá nhân” liên quan đến sức khỏe của Martha: cô đã mang thai lần thứ ba trong sáu năm và bị sẩy thai vào mùa hè đó. “Lạy Chúa, vì lợi ích quốc gia chúng ta, và vì lợi ích của tôi”, ông viết cho Richard Henry Lee, “tôi có một nghĩa vụ thiêng liêng là phải về nhà”. Việc soạn thảo Tuyên ngôn, rồi vắng mặt trong các cuộc tranh luận về nội dung của nó, đặc biệt khi trung tâm thế giới riêng tư của ông tại Monticello đang gặp nguy hiểm, là hoàn toàn phù hợp với tính cách của ông. 63

Nhưng ở Philadelphia lại cần đến ông để bảo đảm đủ số đại biểu cho đoàn Virginia, gồm toàn những người muốn tham dự các cuộc tranh luận hiến pháp tại Williamsburg. Vì vậy, Jefferson đã thực hiện nhiệm vụ của mình, ở lại vị trí trong suốt mùa hè. Ông không đóng góp gì cho những cuộc tranh luận tại Quốc hội về các liên minh nước ngoài tiềm năng, hoặc hình thức của chính phủ quốc gia theo các điều khoản của Liên bang, nhưng ông đã ghi chép chi tiết về những gì người khác nói, và đây là những ghi chép lịch sử đầy đủ nhất về các cuộc trao đổi này. Trong bối cảnh lúc đó, những vấn đề này lù lù hiện ra, lấn át việc thông qua Tuyên ngôn, được ký trên giấy da bởi tất cả các thành viên có mặt vào ngày 2 tháng 8. Một trong nhiều trớ trêu của việc ký này là Jefferson đã có mặt để gắn tên ông vào tài liệu đã làm nên danh tiếng cho mình, chỉ vì ông bị bắt buộc, trái với ý muốn của mình, nhằm duy trì sự hiện diện chính thức của đoàn đại biểu Virginia tại Quốc hội.

Về phần mình, Jefferson đã từ chối trách nhiệm đối với phiên bản của Tuyên ngôn được thông qua tại Quốc hội. Ông giải thích với bạn bè ở quê nhà Virginia là phiên bản của riêng ông đã bị đối xử tồi tệ (từ được dùng ở đây là “làm mất hay”); ông đã dành bao công sức để sao chép dự thảo của riêng mình, với các phần sửa đổi được Quốc hội chèn vào bên lề và phục hồi các đoạn bị xóa. Ông cần phân biệt ngôn ngữ của mình với phiên bản được xuất bản và lưu hành trên toàn quốc, khẳng định rằng Quốc hội đã pha loãng thông điệp tinh khiết của ông để xoa dịu những người thiếu lòng tin, vẫn còn hy vọng vào việc hòa giải với Anh. Dù sự việc chưa hẳn đã là như vậy - bản dự thảo của ông được biên tập lại, phần nhiều là để làm rõ hơn là để thỏa hiệp - nhưng Jefferson vẫn có cảm giác bị tổn thương vì sự phản bội của Quốc hội trong suốt phần đời còn lại. 64

Bạn bè ông ở Virginia, có lẽ nhận ra việc ông cần được an ủi, nên đã hồi âm cho ông bằng một giọng cảm thông. “Tôi cũng thấy nên theo Tuyên ngôn Độc lập gốc của anh”, Edmund Pendleton giải thích, “tôi thấy đồng nghiệp của anh đối xử với nó như cách họ đã làm với Tuyên ngôn mùa hè năm ngoái của anh [tức là cuốn Những nguyên do và sự cần thiết ], thay đổi nó theo hướng tồi tệ hơn nhiều; hy vọng của họ về một Sự hòa giải có thể đã níu chân họ tìm đến những chân lý rõ ràng, nhưng điều gì có thể ngăn được họ đây?” Richard Henry Lee cũng cố gắng xoa dịu lòng kiêu hãnh bị tổn thương ở người bạn trẻ của mình bằng cách đồng ý rằng dự thảo của Jefferson hay hơn nhiều, nhưng kết luận rằng “bản chất của đã rất tốt rồi, nên không có Kỹ thuật nấu nướng nào có thể làm hỏng Món ăn chỉ vì khẩu vị của Người tự do”. Sự quá mẫn cảm của Jefferson trước những lời chỉ trích cản trở khả năng có được một quan điểm tách biệt giống Lee. Ông tự hài lòng với việc giữ nguyên, với mục đích lưu giữ mang tính lịch sử, sự khác biệt giữa từ ngữ của riêng mình và của phiên bản chính thức. 65

Sự nhạy cảm của ông đã vượt ra ngoài vấn đề về dự thảo Tuyên ngôn. Vào tháng 7, ông nghe được lời đồn đang lan ra ở Williamsburg rằng sự ủng hộ của ông với nền độc lập chỉ ở mức làng nhàng, một lời quy kết sai lầm có lẽ xuất phát từ mục đích ở ẩn của ông tại Monticello vào mùa xuân, trong khi các nhà lãnh đạo Virginia khác đang trên mặt trận chống Dunmore. “Thật là một tình trạng đau đớn khi đang ở cách đất nước 300 dặm”, ông than phiền với người bạn cũ của mình là William Fleming, “và phải đối mặt với một vụ ám sát bí mật mà không tài nào tự vệ được”. Sau đó vào cuối tháng, ông nghe nói các báo cáo đang được lưu hành trong giới lãnh đạo Virginia nói rằng ông ấp ủ những ý tưởng cực đoan nguy hiểm về sự khôn ngoan cố hữu của nhân dân nói chung, các báo cáo đó có lẽ dựa trên việc suy đoán của giới chủ đồn điền về ngôn ngữ của ông khi nói về quyền tự nhiên trong Tuyên ngôn. Ông đã cố gắng dập tắt những tin đồn này bằng cách viết thư cho Edmund Pendleton, người kế nhiệm Peyton Randolph vừa qua đời, đại diện cho tầng lớp ưu tú của Tidewater, để bảo đảm với ông này rằng “ý tưởng kỳ quái về đức hạnh và lợi ích công là đủ để bảo đảm an ninh nước nhà..., những điều mà ai đó khẳng định với ngài, thì tôi bảo đảm với ngài rằng chưa bao giờ là của tôi”. Ông lưu ý Pendleton rằng không có bản thảo nào của ông về hiến pháp Virginia lại kêu gọi bầu cử trực tiếp Thượng viện: “Tôi đã từng quan sát để thấy rằng lựa chọn của người dân thường không thật sự khôn ngoan” và rằng “lựa chọn của họ thường thô sơ và không đồng nhất”. 66

Rồi có người quy kết là ông không có lòng dạ nào với cuộc chiến tranh và đã mềm lòng trước câu hỏi có nên có hành động quân sự chống lại người da đỏ liên minh với người Anh hay không. Ông viết thư về nhà để bảo đảm với bạn bè rằng quy kết này cũng là vu khống. Ông ủng hộ một chiến dịch toàn diện chống lại người da đỏ, truy đuổi họ không thương tiếc: “Không gì có thể làm giảm bớt quân số của những tên khốn này sớm bằng cách đẩy cuộc chiến vào trung tâm đất nước của chúng. Nhưng tôi sẽ không dừng lại ở đó. Tôi sẽ không bao giờ ngừng bám theo chúng khi vẫn còn một kẻ lảng vảng phía bên này sông Mississippi”. 67

Đây là những lời phóng đại tính hiếu chiến ở ông, từ đó làm tăng thêm sức thuyết phục đáng tin cậy. Ông cảm thấy buộc phải làm vậy để đáp trả những lời chỉ trích mình. Các tuyên bố của ông là thước đo những gì ông thật sự suy nghĩ thì ít mà là dấu hiệu cho thấy ông dễ bị tổn thương như thế nào thì nhiều. Ông tự thấy mình là một thanh niên đáng quý, dù miễn cưỡng nhưng đã tự nguyện đồng ý làm nhiệm vụ của mình khi lưu lại ở Philadelphia bất chấp có những lý do cá nhân hết sức thuyết phục để trở về nhà. Lắng nghe các đại biểu trong Quốc hội Lục địa chất vấn, sửa đổi và xóa đi những từ ngữ của ông trong Tuyên ngôn là đã đủ tệ rồi. Nhưng sau đó còn bị thất thế bởi những lời bịa đặt của kẻ thù nơi quê nhà Virginia, bị cáo buộc là kẻ ủng hộ hoặc hờ hững hoặc quá khích với sự nghiệp cách mạng, thì quả là không thể chịu nổi.

Sau này trong sự nghiệp của mình, Jefferson đã học được cách lặng lẽ chịu đựng và thể hiện ra bên ngoài một vẻ điềm tĩnh, bất khả xâm phạm trước những lời chỉ trích. John Adams nhận xét đầy ngưỡng mộ về khả năng giữ im lặng và không nao núng của Jefferson khi đã trưởng thành, vào những lúc ông bị biến thành mục tiêu của sự bóng gió hay của thói ghen tị không tránh khỏi của những kẻ tham vọng trong cuộc chơi chính trị. (Adams than thở về thất bại của mình trong việc hoàn thiện kỹ thuật mà ông ta gọi là “sự khôn ngoan kiệm lời”, thừa nhận rằng mình có xu hướng cố hữu là phun trào như núi lửa và rất hy vọng dòng dung nham sẽ triệt tiêu được những lời phê bình). Nhưng chàng thanh niên Jefferson thì vẫn chưa hoàn thiện được kỹ thuật ấy. Cuối cùng ông cũng học được cách đeo những chiếc mặt nạ bí ẩn, thứ bổ sung cần thiết cho nhân cách của ông trước công chúng, chính xác là do bản chất ông không phải người mặt dày và chấp nhận mọi lời chỉ trích cá nhân. Số phận đã chọn ông đóng một vai trò nổi bật trong bối cảnh mà hậu thế coi là thời điểm thuận lợi nhất trong lịch sử Mỹ. Nhưng đối với một thanh niên mềm yếu và dễ bị tổn thương, việc làm nên lịch sử đã khiến ông phải trả một cái giá cá nhân không thể chấp nhận được. 68

Tháng 9 năm 1776, lời cầu nguyện của Jefferson đã được đáp ứng khi Richard Henry Lee từ Virginia đến thay thế ông ở Philadelphia. Sự ra đi của ông không hoành tráng bằng nhưng lại nhanh hơn so với lúc ông xuất hiện trước đó hơn một năm. Lần này chỉ có Jupiter đi cùng ông, và nếu theo thói quen của ông lúc vội vàng thì Jefferson sẽ tự mình điều khiển cỗ xe phaeton. Ông mong mỏi được trở về với Martha và Monticello. Một tháng sau đó, khi John Hancock thay mặt cho Quốc hội Lục địa đề nghị ông tham gia vào đoàn công vụ Mỹ tới Pháp với tư cách thành viên cùng với Benjamin Franklin và Silas Deane, Jefferson đã bày tỏ sự tiếc nuối và giải thích rằng các tính toán cá nhân “buộc tôi phải từ chối một nhiệm vụ rất vinh dự, đồng thời cũng vô cùng quan trọng với nước Mỹ”. Ông đã bị gạt ra bên lề. Cả niềm kiêu hãnh lẫn cảm xúc riêng tư vấn mong manh của ông đều đã bị thương tổn. Ông cần thời gian để chữa lành. 69

« Lùi
Tiến »