Tôi thích những giấc mơ về tương lai hơn là lịch sử của quá khứ .
JEFFERSON GỬI JOHN ADAMS
Ngày 1 tháng 8 năm 1816
Tôi lấy làm tiếc rằng giờ đây niềm tin trong tôi đã chết, rằng sự hy sinh vô ích của thế hệ năm 1776… đã bị vứt bỏ bởi những đam mê thiếu khôn ngoan và không xứng đáng của đám con cháu, và niềm an ủi duy nhất của tôi là, tôi sống không phải để khóc than về điều đó .
JEFFERSON GỬI JOHN HOLMES
Ngày 22 tháng 4 năm 1820
⚝ ✽ ⚝
Những vị khách ghé thăm ngài cựu tổng thống trong 10 năm cuối đời của ông có thể thoáng thấy ông ngồi trên lưng con ngựa yêu thích của mình, Eagle, trong hai hoặc ba giờ đồng hồ, băng qua những cánh đồng và khu rừng xung quanh Monticello vào hầu hết đẩu các buổi chiều. Thời gian, theo một cách không thể tránh được, đã từng chút một lấy đi từ cơ thể già nua của ông, rồi sự mất mát ấy tích tụ ở từng khớp xương và huyết mạch của người thanh niên một thời trai tráng. Sự mất khả năng kéo dài đã khiến cho việc phải đứng dậy khi đang ngồi trên ghế hay tản bộ qua khu vườn trở nên khó khăn; tuy nhiên, vì một lý do nào đó, dường như biến mất hoàn toàn khi ông leo lên lưng ngựa. (Năm 1809, ở tuổi 65, lần cuối cùng ông cưỡi ngựa từ Washington về nhà để nghỉ hưu mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào và thậm chí, ở tám tiếng đồng hồ sau cùng, ông đã vật lộn vượt qua cơn bão tuyết). Vì Eagle cũng già đi như ông và trở thành Eagle Già nên các thành viên gia đình lo lắng rằng những chuyến đi đơn thương độc mã vào mỗi buổi chiều như vậy sẽ khiến cả người và ngựa gặp bất trắc. Nhưng Jefferson đã bỏ qua những lời cảnh báo như vậy, và giải thích rằng, mặc dù ông là một ông già trên đôi chân của mình, nhưng trên yên ngựa ông vẫn là một thanh niên trai tráng. Ngay cả khi ông bị ngã gãy tay từ cầu thang sau tòa Monticello vào năm 1822, ông vẫn khăng khăng đòi cưỡi ngựa hằng ngày. Ông sai người mang Eagle Già lên bậc thềm để ông có thể leo lên lưng nó dễ dàng hơn, nhẹ nhàng ngồi vào yên với cánh tay lành của mình trong khi con ngựa kiên nhẫn dựa vào tường hiên, rồi ở tư thế lưng thẳng tắp của một người sinh ra để cưỡi ngựa, ung dung lên đường như một nhà quý tộc bẩm sinh đang cố giữ cuộc hẹn với số phận. 1
Chúng ta biết về vẻ ngoài và chế độ sinh hoạt hằng ngày của Jefferson trong 10 năm cuối đời nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong cuộc đời ông. Sau tất cả, ông là một thành viên nổi bật của thế hệ sáng lập nước Mỹ, rõ ràng đã được định mệnh sắp đặt một vị trí trong sử sách, để du khách cảm thấy một sự thôi thúc đặc biệt phải ghi lại ấn tượng về Nhà thông thái của Monticello cho hậu thế. Sự tàn phá không thể cưỡng lại của quá trình lão hóa cũng buộc Jefferson phải ghi nhận những thực tế về cơ thể và sức khỏe của ông dù ông từng lãnh cảm với chúng. Đến tận lúc cuối, ông vẫn có tính nghi ngờ cố hữu với tất cả các bác sĩ, và tuyên bố rằng bất cứ khi nào ông thấy ba bác sĩ với nhau, “ông sẽ nhìn lên xem có con kền kền nào gần đó không”. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận, theo như lời ông nói với Adams, rằng “cỗ máy của chúng ta hiện nay đã chạy được 70 hoặc 80 năm rồi, và chúng ta biết nó sẽ bị hao mòn đi, nay thì trục, mai thì bánh xe, giờ là bánh răng, sau lại đến lò xo, lần lượt sẽ bị hỏng”. 2
Tranh luận khi xưa về màu tóc của ông là màu đỏ hay vàng hoe, giờ đã thay bằng lời mô tả chung của gia đình và bạn bè ông rằng nó đã chuyển sang màu xám. Ông cũng cắt tóc ngắn hơn, bỏ phần đuôi sam sau lưng, phần vì dễ chăm sóc hơn, phần vì mốt tóc dài có vẻ bắt đầu lỗi thời. Khi đi ra ngoài hoặc cưỡi ngựa, ông thường đội một chiếc mũ lớn, tròn, rộng vành để tránh ánh nắng chiếu vào mặt. Dù vậy, da mặt ông vẫn đầy chấm đồi mồi và thường bị tróc ra do tiếp xúc với ánh nắng; các mao mạch nằm sát dưới da dễ vỡ, khiến khuôn mặt ông loang lổ; xét cả về mặt sinh học lẫn tâm lý học, ông là người da mỏng. Chứng tiêu chảy và rối loạn đường ruột tái phát khiến ông trở nên tiều tụy - cuối cùng, chính căn bệnh này đã cướp đi sinh mạng của ông - nên phần lớn thời gian, ông cần dùng gậy để đi lại, và người hầu da đen trung thành của ông, Burwell, kế nhiệm Jupiter và James Hemings, luôn đi cùng ông, trừ những chuyến cưỡi ngựa buổi chiều. Ông vẫn đứng khá thẳng dù phải dùng gậy, mặc dù, một số vị khách nhận thấy đầu và cổ của ông bây giờ nghiêng về phía trước, như thể ông luôn tựa vào gió. 3
Khi các vị khách cùng ông đi tham quan, họ thường thể hiện sự ngạc nhiên trước cách nói đầy say mê và sinh động cũng như tốc độ nói chuyện của ông, thường dài ngắn khác nhau và đi kèm với một cái nhún vai nhấn mạnh cùng động tác vung cánh tay dài với bàn tay lớn. Một người bán sách lưu động, rõ ràng mong đợi một thái độ điềm tĩnh và khắc kỷ hơn, đã mô tả ông giống như “một đảng viên hơn là một nhà triết học”. Lối ăn mặc thoải mái được Jefferson yêu thích cũng làm một số vị khách viếng thăm bất ngờ. Ông thường mặc một chiếc vest sáng màu (thường là màu đỏ) bên dưới một chiếc ghi-lê xám kết hợp cùng một chiếc tây hoặc quần nhung lùng bùng, và hai ống quần được nhét vào đôi bốt cưỡi ngựa. Nói cách khác, ông ăn mặc giống như một chủ đồn điền Virginia đang làm việc hơn là một cựu chính khách hoặc một biểu tượng quốc gia đầy cảm hứng. Dù có làn da loang lổ và thường phải chống gậy, dù có sự khác biệt giữa thái độ lãnh đạm của ông và những kỳ vọng về ông như một vị thần, hầu hết mọi người xung quanh đều nhận xét rằng Jefferson có ngoại hình tương đối trẻ trung, ở tuổi 80, ông trông như 60 tuổi. 4
Chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hằng ngày của ông vẫn theo lối cũ. Ông ăn rất ít thịt đỏ, thích rau củ, thịt gia cầm và các loại hải sản có vỏ, mặc dù các loại hải sản thường không phù hợp với hệ tiêu hóa của ông. Ông uống cà phê và trà vào bữa sáng, rượu mạch nha và rượu táo vào bữa tối. Trong khi tránh tất cả các loại rượu mạnh, ông lại thưởng thức ba hoặc bốn ly rượu vang mỗi ngày. Ông thức giấc cùng Mặt trời bất kể mùa nào trong năm. Ông thường dành năm đến tám tiếng để ngủ, độ dài tùy thuộc vào giờ giấc nghỉ ngơi, mà giờ giấc này lại phụ thuộc vào chất lượng của cuộc trò chuyện khi có khách viếng thăm hoặc mức độ hứng thú của ông với cuốn sách ông đọc tối hôm đó. Ông ngâm chân trong nước lạnh vào mỗi buổi sáng, dành phần đầu giờ sáng cho thư từ và công việc vườn tược, cưỡi ngựa mỗi chiều, trò chuyện với gia đình và khách đến thăm từ bữa tối cho đến đêm. Thính giác của ông vẫn rất tốt, ngoại trừ như ông vẫn nói, “khi một số tiếng nói cắt ngang nhau”, nghĩa là không phải lúc nào ông cũng theo kịp những cuộc trò chuyện trong bữa tối. Mắt ông nhìn xa rất tốt, nhưng ông phải dùng đến kính khi đọc sách, đặc biệt vào ban đêm. 5
Có những cảnh tượng vô cùng xúc động, giống như cảnh trong tranh vẽ nhưng có thêm âm thanh, được kể lại từ hồi tưởng của những đứa cháu ông. Giống như mô tả về những chuyến dã ngoại hằng ngày trên lưng Eagle Già, những cảnh tượng ấy dựng lại những khoảnh khắc hấp dẫn nhất, mang đến cảm giác bình dị, và trong những tháng ngày nghỉ hưu, ông có thể bắt trọn khung cảnh thanh bình nơi thôn quê mà ông hằng theo đuổi trong suốt cuộc đời. Có một cảnh trong vườn nhà, ngay sau bữa sáng, bên cạnh Wormley, người làm vườn phụ trách thuổng cuốc của ông, Jefferson sắp xếp ngay ngắn các hàng hoa và rau bằng một thước đo hoặc cắt bớt phần nụ và lá bằng con dao tỉa. Hoặc có một cảnh khác trên sân thượng, sau bữa tối, khi Jefferson tổ chức thi chạy quanh nhà cho đám cháu, ông thả một chiếc khăn tay màu trắng làm hiệu lệnh xuất phát, sau đó những đứa nhỏ hơn và chậm hơn vẫn nhận được những miếng hoa quả như những đứa thắng cuộc. 6
Có hai sự xâm phạm nho nhỏ nhưng dai dẳng vào cảnh tượng thanh bình nơi thôn dã trên đỉnh núi, và cả hai sự xâm phạm này đều là hậu quả trực tiếp của việc Jefferson là một trong những người sống sót cuối cùng của năm 1776. Thứ nhất, dòng khách khứa, khách du lịch và những người theo phong cách Jefferson tự xưng đều đặn đổ về, gần như biến Monticello thành một khách sạn ít nhất tám tháng trong năm. “Tôi không cần phải nói cho bạn biết cửa nhà ông ấy rộng mở thế nào”, một khách tham quan kể lại vào năm 1815, “vì bạn cũng quá biết rằng ngọn núi của ông ấy giống như một kiểu thánh địa Mecca”. Các đại biểu Quốc hội, các chức sắc nước ngoài, đại diện của người da đỏ, các sĩ quan quân đội và hải quân đã nghỉ hưu, những nhà truyền giáo Tin Lành, những người bán sách lưu động, những chính khách Virginia đầy tham vọng - tất cả đều cảm thấy phải làm một chuyến hành hương đến Monticello. Một khi đến đó, một số lượng lớn đến đau đầu những người này đã chọn cách xem sự hiếu khách của Jefferson như một lời mời đích danh vị khách này lưu lại vài ngày. Con gái của Martha, Ellen, nhớ lại rằng mẹ cô đôi khi phải phục vụ ăn uống và chăm lo cho 50 vị khách nghỉ lại qua đêm. Những người không hề quen biết, chỉ đơn giản là đi ngang qua, dường như cũng tin rằng Monticello là một ngôi đền quốc gia nơi họ có thể coi là thánh đường. Họ thường nhìn qua cửa sổ khi gia đình đang ngồi ăn tối, đi thẳng vào hành lang trước nhà, bẻ những mẩu gạch hoặc gỗ làm quà lưu niệm, thậm chí là tham gia cùng đám khách mời uống trà hoặc rượu vang và chủ động bắt chuyện với vị tộc trưởng (Jefferson), thậm chí chính ông đôi khi cũng không chắc liệu mình đang tiếp một vị khách mời hay một kẻ chen ngang. Tới năm 1816, vì dòng khách khứa liên tục này đã gần như trở thành một cơn lũ, Jefferson quyết định, ba hoặc bốn lần một năm, rút lui về căn nhà của ông ở hạt Bedford, cách Monticello khoảng 90 dặm. Ông giám sát khâu hoàn thiện của công trình đã trở thành tổ ấm thứ hai của ông mang tên Poplar Forest, một nơi trú ngụ nhỏ hơn nhưng thậm chí còn đặc biệt hơn về mặt kiến trúc so với Monticello (Poplar Forest có hình bát giác hoàn hảo) và biến ngôi nhà thành nơi trú ẩn riêng của mình bất cứ khi nào Monticello bị quá tải. 7
Thứ hai, thư từ của ông đã trở thành một gánh nặng ghê gớm và tốn thời gian. Jefferson nhận được hơn 1.000 lá thư mỗi năm từ khi nghỉ hưu. Năm 1820, ông cố gắng lập con số chính xác và đếm được 1.267 lá thư riêng biệt, hầu hết từ những người ông không quen biết, rất nhiều thư đặt ra những câu hỏi lịch sử đòi hỏi những câu trả lời dài. Ông đã dành ba hoặc bốn tiếng đồng hồ mỗi buổi sáng để cố gắng trả lời thư, sau đó ông sẽ quay lại bàn làm việc trước khi đi ngủ. “Liệu đây có phải cuộc sống không nhỉ?”, ông hỏi Adams, và tự trả lời câu hỏi đó bằng cách mô tả mình là “một con ngựa kéo cối xay, mà chỉ có cái chết mới giúp nó thoát khỏi vòng quay”. Adams bày tỏ cảm thông với những gì mà Jefferson gọi là “trọng trách thư tín”, lưu ý một cách tinh nghịch rằng ông không gặp phải vấn đề của Jefferson bởi ông đã tiên tri được điều này và làm cho mình trở nên khó ưa. Hơn nữa, như Adams giải thích, ông chỉ đơn giản là bỏ qua việc trả lời những lá thư từ những kẻ lập dị và người lạ có ý tốt, để ông có thể cống hiến sức lực còn lại của mình cho những lá thư quan trọng, nhất là thư của chính ông, Jefferson. 8
Nhưng khiếu hài hước của Adams lại không có tác dụng với Jefferson, người mà bằng cách nào đó luôn cảm thấy phải có trách nhiệm trả lời từng lá thư. Madison khuyên ông nên chuẩn bị sẵn một mẫu thư, “một lời đáp tiêu chuẩn mà gia đình có thể gửi đi để bày tỏ lòng biết ơn”, nhưng ông không làm theo được. Đặc biệt là sau khi bệnh viêm khớp ở cổ tay và các ngón tay của ông chuyển biến nặng hơn theo với tuổi tác, ông phàn nàn rằng “việc viết lách nhàm chán không ngừng làm tôi đau đớn và dễ nổi nóng”. Chỉ vài tháng trước khi qua đời, ông than thở rằng việc ông thoát khỏi bàn viết hay không phụ thuộc vào “hy vọng cho đến nay vẫn ảo tưởng rằng những người không liên quan gì đến tôi, sau một thời gian, sẽ tính đến tình trạng tuổi tác và bệnh tật của tôi, mà cảm thấy cần phải buông tha cho cả hai thứ này”. Nhưng sự việc lại không diễn ra như vậy. Ông đã không tài nào buộc được cả những người hành hương táo bạo tới Monticello hay vô vàn những lá thư từ khắp cả nước tôn trọng sự riêng tư của ông và để ông yên. Là một huyền thoại sống, ông đã trở thành tài sản công. 9
Ông tuyên bố rằng có một người quen bí ẩn mà ông sẵn sàng gặp tại Monticello bất cứ lúc nào. Viễn cảnh về cái chết không làm ông sợ hãi bằng cái mà ông gọi là “tuổi già lẩm cẩm”. Ông đã nói với bạn bè, trong hơn 20 năm qua, rằng cơ thể ông khỏe mạnh đến mức đôi khi ông lo mình sẽ sống quá lâu. Sự sợ hãi tột cùng là tình trạng lão suy mà Adams gọi là “chết ở trên đỉnh”. Tình trạng đáng lo ngại không kém là sự thoái hóa dần dần của cơ thể khiến ông mất đi vẻ ngoài tự chủ và chủ quyền cá nhân. (Một lý do ông coi trọng chuyến đi hằng ngày trên lưng Eagle Già là vì nó tượng trưng cho sự sống còn của tinh thần độc lập nơi ông). Cuối cùng, có một cách hiểu đặc trưng kiểu Jefferson rằng ta không nên lưu luyến quá lâu khoảng thời gian dành cho thế hệ của ta, rằng ta có nghĩa vụ gần như thuộc về phạm trù đạo đức, đó là dọn dẹp mặt bằng cho thế hệ tiếp theo bằng cách đặt minh bên dưới mặt bằng ấy. “Tôi là người tiếp theo”, ông viết cho tình cũ của mình là Maria Cosway vào năm 1820, “và tôi sẽ đón nhận số phận bằng thiện chí; và sau khi tất cả bạn bè của tôi đã ra đi trước tôi, và cả những năng lực của tôi cũng ra đi, lần lượt từng thứ, thì tại sao tôi lại phải níu kéo cuộc sống, trong tình trạng thực vật, giống như một thân cây đơn độc trên cánh đồng hoang vu, nơi tất cả bè bạn trước đây đã không còn”.
Cảm giác sống quá thời này ở Jefferson càng tăng lên theo số tuổi của ông. Vào năm trước khi ông qua đời, Jefferson tuyên bố rằng nhìn lại cuộc sống của ông “giống như nhìn vào một bãi chiến trường. Tất cả, tất cả đã chết! và tôi còn lại một mình giữa một thế hệ mới mà tôi không biết họ, và họ cũng chẳng biết tôi”. 10
Một cảnh đáng nhớ đã chứng minh điểm này một cách tương đối rõ rệt về mặt hình ảnh. Năm 1824, Lafayette có chuyến thăm cuối cùng đến Mỹ, và dĩ nhiên đã lên kế hoạch hẹn gặp Nhà thông thái của Monticello. Một đoàn hộ tống gồm 120 kỵ sĩ và một đám đông 200 người xem đi cùng Lafayette lên núi để chứng kiến màn hội ngộ của những người đồng chí cũ. Madison mô tả vị tướng “có sức khỏe tốt và tinh thần phấn chấn, nhưng phát tướng nhiều và thay đổi theo khía cạnh mà tôi trước giờ không hề biết tới”. (Lafayette bị giam nhiều năm trong ngục tối ở Thụy Sĩ, bị những kẻ cực đoan cầm tù vì đứng về phe ôn hòa trong Cách mạng Pháp, rồi bị béo phì sau khi được thả). Trong khi đó Lafayette mô tả Jefferson “yếu ớt và già đi nhiều”, mặc dù “tâm trí và trái tim ông ấy vẫn tràn trề sức sống”. Trong lúc hai con người đáng kính lớn tuổi ấy lảo đảo bước lại ôm nhau trước đám đông, những nhân chứng khẳng định họ đã nhìn thấy hai con ma từ một thời đại đã qua hiện hình lần cuối, vì lợi ích của thế hệ hiện tại. Với mong mỏi biến Jefferson thành một biểu tượng lịch sử, thật khó xử khi ta nhận ra rằng ông vẫn còn sống. 11
Hoặc một cảnh mang tính biểu tượng cao nhưng đáng sợ vào năm sau đó, 1825, khi Jefferson đồng ý ngồi để làm “mặt nạ sống”, sẽ cho phép hậu thế có được một chân dung đáng tin cậy về người anh hùng nước Mỹ, nó dựng lại hình tượng của biểu tượng sống khi sử dụng một kỹ thuật đặc biệt được thiết kế để chuyển sự diễn giải nghệ thuật thành hình dạng và đường nét thực tế của khuôn mặt. Nhà điêu khắc người Mỹ John Henri Browere đổ liên tiếp nhiều lớp thạch cao bí ẩn lên đầu Jefferson, nhưng chất lỏng này khô và cứng lại nhanh hơn so với dự kiến, khiến Jefferson cảm thấy cực kỳ khó chịu và buộc Browere, như cách nói của Jefferson là, “thoải mái dùng vồ và đục để đập vỡ cái mặt nạ thành nhiều miếng” với những cú đập mạnh và liên tục đến nỗi “một con rùa cũng cảm nhận được…” Trải nghiệm này đã thuyết phục Jefferson “nói lời từ biệt với những bức tượng bán thân và kể cả những bức chân dung”. Ngoài việc minh họa quan niệm phổ biến về Jefferson như một di tích sống của quá khứ Mỹ huy hoàng, sự cố Browere vô tình báo hiệu các vấn đề sau này trong trường hợp có ai đó định thiết lập một mối liên hệ chặt chẽ giữa hình ảnh của Jefferson và con người thật sự của ông. Ngay cả khuôn thạch cao của Browere cũng dựa vào những mảnh vỡ được ghép lại từ chiếc “mặt nạ sống” bị đập bể. Giống như chính con người ông, ngay cả khuôn mặt của Jefferson cũng dường như chống lại những mô tả thực tế. 12
Nhưng việc phác họa lại một cách trung thực những khoảnh khắc mang tính biểu trưng - khi ông cưỡi trên lưng Eagle Già, đón Lafayette, chịu đựng những kỹ thuật lưu giữ của Browere - chỉ cung cấp cho chúng ta cái nhìn thoáng qua về con người thật của Jefferson ở giai đoạn về già của ông. Những cảnh như vậy cũng cắt gọt, và do đó đã bóp méo với ý tốt, giai đoạn tiến hóa cuối cùng của Jefferson trong khoảng 10 năm, khi mà mặc dù có những cuộc đột nhập dai dẳng của du khách và nỗi đau dai dẳng không kém của tuổi tác, ông vẫn tận hưởng di sản của mình một cách thoải mái và trọn vẹn hơn so với bất kỳ thời điểm nào khác trong đời. Một cảnh tượng cuối cùng, mặc dù chỉ là một cái nhìn thoáng qua nhất thời, đem lại cho ta có lẽ là góc độ tốt nhất để từ đó nắm bắt được tình trạng tâm lý của Jefferson trong suốt thập niên cuối cùng của ông bằng cách cung cấp một đầu mối cho những mối quan tâm luôn hiện hữu trong tâm trí và trái tim ông.
Đó là buổi sáng cuối cùng trong đời ông, như thể ý trời đã định, vào ngày 4 tháng 7 năm 1826, kỷ niệm 50 năm ngày công bố Tuyên ngôn Độc lập. Ông rơi vào tình trạng hôn mê từ tối hôm trước, và khi tỉnh dậy, ông đã hỏi bác sĩ và những người trong gia đình ông có mặt bên giường bệnh, “Hôm nay có phải Ngày 4 không?” Tất cả đều thấy rõ, kể cả ông, rằng đây sẽ là trận ốm cuối cùng của ông, và trong vài ngày, khách khứa và gia đình đã tỏ lòng tôn kính, ghi nhận sự kiên định của tinh thần độc lập nơi ông; đêm đến, ông khăng khăng chỉ để một mình Burwell mà ông tin cậy bên cạnh, còn ban ngày ông sẽ tự đuổi ruồi. Lời cầu nguyện của cả gia đinh rằng ông có thể cầm cự đến Ngày 4 đã được ứng nghiệm, mặc dù trong những thời khắc cuối đời, ông đã không còn biết gì nữa. Ông có động đậy một chút, lẩm bẩm điều gì đó mà cả bác sĩ và gia đình đều không thể hiểu được, cho đến khi Burwell, người duy nhất hiểu được những gì ông chủ của mình đang yêu cầu, bước về phía trước để điều chỉnh gối. Yêu cầu cuối cùng của ông, trên thực tế đã được đáp ứng bởi một nô lệ, giống hệt như ký ức đầu tiên của ông, ít nhất là theo truyền thuyết, khi còn nhỏ được một nô lệ đặt lên một chiếc gối để đem đi. Những âm thanh cuối cùng của ông là những lời lan man nửa tỉnh nửa mê, rõ ràng là dựa trên những giấc mơ của ông. Ông trở lại thập niên 1770, chỉ đạo cho ủy ban An toàn về sự cần thiết phải cứng rắn trước chế độ độc tài Anh. Ông ra đi lúc xế trưa ngày 4 tháng 7, trong lúc hồi tưởng về những năm đầu hỗn loạn của Cách mạng Mỹ. Điều này vừa đau xót vừa mang tính biểu tượng. Đối với ý nghĩa của Cách mạng Mỹ - vai trò cá nhân và ý thức không lay chuyển của ông về ý nghĩa của cách mạng đối với hậu thế - cũng là nỗi ám ảnh trung tâm của ông trong suốt thập niên cuối cùng ông nghỉ hưu. 13
NGÔN TỪ VÀ ÂM NHẠC
Mặc dù theo định nghĩa, nỗi ám ảnh không cần bất cứ sự thúc giục nào, nhưng trong trường hợp của Jefferson, rất nhiều lần ông nhìn lại là do có một sự thúc giục, cũng có thể nói là sự đốc thúc điên cuồng của John Adams. Khi nhìn lại, việc nối lại thư từ giữa hai vị tộc trưởng dường như là việc không thể tránh khỏi. “Ngài và tôi không nên chết”, như Adams đã rất hùng hồn nói, “trước khi Chúng ta giải thích được cho nhau”. Nhưng trong nhiều năm, điều mà giờ đây có vẻ không thể tránh khỏi và gần như bi thương thì lúc đó lại là hoàn toàn không thể. Chiến thắng sít sao của Jefferson trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1800 đã đẩy Adams về nghỉ hưu tại Quincy, nơi ông đã dành gần 12 năm đắm mình, biểu lộ sự đau đớn và co rúm trong sự oán giận hầu như không bị kìm nén, sau đó bắt đầu tiến hành theo phong cách Adams hiệu quả nhất của mình, nã một loạt ngôn từ công kích vào tất cả những kẻ thù chính trị của ông, trong đó có Jefferson. “Ngài Jefferson có lý do để nhìn lại mình”, Adams nhận xét một cách căm ghét về việc Jefferson từ chức tổng thống. “Tôi không biết làm thế nào ông ấy rũ bỏ được sự hối hận về hành động từ chức của mình. Ông ấy phải biết rằng mình rời bỏ chính phủ trong tình trạng chắc chắn là tồi tệ hơn khi ông ấy tiếp nhận nó, và đó là lỗi của ông ấy hoặc sự thiếu hiểu biết của chính ông ấy. Tuy vậy, tôi mong rằng những chiếc kính thiên văn và các công cụ toán học của ông ấy có thể bảo vệ được hạnh phúc của ông ấy”. Adams có một cách vừa biểu lộ sự tức giận sâu xa đối với Jefferson vừa cố gắng phủ nhận sự tồn tại của nỗi tức giận này. “Tôi không thù hận ông ấy”, ông giải thích cho Benjamin Rush, “mặc dù ông ấy đã vinh danh và trả lương cho gần như mọi nhân vật phản diện, như ông ấy có thể nhận thấy, đã từng là kẻ thù của tôi”. 14
Câu nói cuối cùng này nhằm ám chỉ chiến dịch tuyên truyền của phe Cộng hòa chống lại Adams trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, chủ yếu là những cáo buộc bôi nhọ của James Callender trong cuốn Viễn cảnh trước mắt ta , mà Jefferson trong thực tế đã trợ cấp và thông qua. Cuốn sách mô tả Adams là một công cụ vô ích (đúng), thiếu cân bằng một cách nguy hiểm (bóp méo một cách phóng đại sự thật) và quân chủ ngẩm (chủ yếu là không đúng sự thật) của sự tham nhũng Liên bang (hoàn toàn không đúng sự thật). Jefferson đã thực hiện một nỗ lực chung nhằm mở lại đường dây liên lạc với Nhà thông thái của Quincy năm 1804, thử một tuyến đường gián tiếp thông qua Abigail. Nhưng ông đã mắc một sai lầm gấp đôi khi nhắc đến sự tức giận của ông đối với Adams về việc bổ nhiệm những thẩm phán nửa đêm và sau đó tuyên bố hoàn toàn không biết gì về vụ Callender. Abigail trả lời giống như một con sư tử cái bảo vệ đàn của nó. Jefferson đã từng là một người bạn đáng tin cậy, bà giải thích, và tình cảm còn sót lại “vẫn luôn tồn tại trong Trái tim, ngay cả khi sự quý trọng đã không còn nữa”. Nhưng bà không còn tôn trọng hoặc tin cậy một người có khả năng vừa đạo đức giả vừa tự dối mình, và bà thừa nhận bản thân có một ý thức riêng về công lý thơ mộng khi “con rắn bạn vẫn nâng niu và ủ ấm [tức Callender] lại quay ra cắn bàn tay đã nuôi dưỡng mình”, điều này ám chỉ các cáo buộc về Sally Hemings. “Vết thương mà người bạn gây ra vẫn còn đó”, bà nhận xét chua cay, sau đó tuyên bố không cần thư từ gì nữa. (Adams đã không đọc được bất kỳ lá thư nào trong số này cho đến tận vài tháng sau, khi Abigail đưa chúng cho ông, và ông ghi nhanh bên lề: “Tôi không có nhận xét gì vào lúc này và tại nơi này”). Không có thêm trao đổi gì nữa giữa Quincy và Monticello trong tám năm sau đó. 15
Nếu Adams dành nhiều thời gian đến thế để liếm láp vết thương chính trị của minh, thì Jefferson cũng đang phải chịu một loạt thương tổn xảy ra với mình. Những đánh giá hà khắc của Adams về những năm sau này với tư cách là Tổng thống của Jefferson chỉ là một cách diễn tả dữ dội hơn của một bản án nhìn chung là tiêu cực. Những thứ đã từng diễn một cách bình yên trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông dường như sụp đổ trong đống thảm họa bất hạnh ở nhiệm kỳ thứ hai. Nguyên nhân cơ bản của những thất bại này, hóa ra lại nằm trong chính những thành công trước đó, cụ thể là sự mâu thuẫn ở châu Âu giữa Anh và Pháp. Hòa bình tạm thời giữa hai đấu sĩ trọn đời này đã cho phép thương mại Mỹ phát triển cực thịnh từ năm 1800 đến năm 1803; điều này đã cho phép Jefferson, với sự hỗ trợ tuyệt vời của Gallatin, thực hiện trò làm phép chính trị, đó là vừa giải quyết khoản nợ vừa cắt giảm thuế. Ngay cả khi chiến tranh Anh-Pháp quay trở lại vào năm 1803, Jefferson và chính quyền của ông là những người hưởng lợi trực tiếp khi Napoleon quyết định làm giảm thiệt hại của mình ở Bắc Mỹ bằng cách bán lãnh thổ Louisiana với giá rẻ mạt. Nhưng việc nối lại cuộc chiến trên toàn Lục địa vào năm 1803, sau đó là việc áp đặt phong tỏa hải quân ở Đại Tây Dương và khu vực Caribe, đã khiến động cơ kinh tế của Mỹ bị đảo ngược. Sự tha thiết của Jefferson trong việc thắt lưng buộc bụng về tài chính khiên lực lượng hải quân non trẻ của Mỹ phải phơi khô ở trên bờ hoặc bị giải tán, thật sự là có rất ít lựa chọn chiến lược cho Jefferson trong lúc các tàu thương mại Mỹ bị tàu chiến Anh hoặc Pháp cuỗm mất ngoài khơi. 16
Câu trả lời của Jefferson trước những thách thức này là Đạo luật Cấm vận năm 1807, trong đó chủ yếu đóng cửa các cảng của Mỹ với mọi giao dịch thương mại với nước ngoài. Ý tưởng về lệnh cấm vận xuất phát từ Madison, người đã thuyết phục chính bản thân mình rằng đóng cửa các hoạt động xuất khẩu và thị trường nội địa của Mỹ sẽ buộc Anh và Pháp thay đổi chính sách của họ. Đây luôn là một ảo tưởng, nhưng lại được pha trộn rất hợp với tầm nhìn đạo đức của Jefferson, nghĩa là chỉ chăm chăm cắt đứt tất cả mối liên hệ đến những quốc gia nhưỡng nhiêu, hiếu chiến của châu Âu. Kết quả là một tai họa nghiêm trọng đã giáng xuống nền kinh tế Mỹ, không những không có tác động rõ rệt đối với chính sách hay nền kinh tế của Anh hoặc Pháp mà còn buộc chính phủ liên bang phải dùng đến quyền cưỡng chế để thi hành lệnh cấm vận, do đó mâu thuẫn với nguyên tắc của Jefferson về chính phủ hạn chế. Tệ hơn nữa, trong lúc cuộc khủng hoảng quốc tế đang gia tăng, Jefferson đồng thời phải đối phó với khủng hoảng trong nước, với khả năng nghiêm trọng không kém khi Aaron Burr, cựu Phó Tổng thống của ông, bị bắt vì âm mưu khởi động một kế hoạch tham vọng một cách hoang đường - ngay cả ngày nay, những mục tiêu kỳ lạ của Burr vẫn thật khó hiểu - đó là tách một phần đáng kể của miền Tây Nam Mỹ để thành lập một quốc gia độc lập, và ở đó, Burr là vị bạo chúa nhân từ. Việc bắt giữ và cuối cùng là đưa ra xét xử Burr chỉ gây thêm khó khăn cho Jefferson, người háo hức được nhìn Burr bị kết tội phản quốc đến nỗi ông sẵn sàng vi phạm nguyên tắc hiến pháp căn bản để làm theo cách của mình, nhưng một lần nữa lại thấy cách thức ấy bị ngăn chặn bởi vị linh mục tối cao đại diện cho sự thách thức của phe Liên bang, đó là John Marshall bất khuất, người kết luận Burr không có tội. 17
Tổng kết lại, nhiệm kỳ đầu tiên của Jefferson vinh quang bao nhiêu thì nhiệm kỳ thứ hai của ông bất hạnh bấy nhiêu. Ông thông báo quyết định tuân theo tiền lệ của Washington và nghỉ hưu sau hai nhiệm kỳ vào tháng 12 năm 1807, ngay khi Đạo luật Cấm vận được Quốc hội chấp thuận. Từ thời điểm đó trở đi, trong hơn một năm, ông chuyển giao tất cả các quyết định quan trọng cho Madison và Gallatin, theo cách ấy tạo ra một cảm giác trôi dạt trong chính sách của Mỹ đúng vào thời điểm lệnh cấm vận không được quẩn chúng ưa chuộng và nặng nề, đòi hỏi có sự điều hành. Có người buột miệng, thậm chí trong giới Cộng hòa, về việc Pontius Pilate muốn rũ sạch những trách nhiệm khó nhằn. Trong số những người Liên bang đã có những so sánh mang tính khiêu khích nực cười về việc Jefferson chuyển đổi một cách đáng hổ thẹn thành người lính Anh trong những ngày cuối từ vai trò Thống đốc ở cuộc cách mạng bang Virginia. Ông rõ ràng là một tổng thống hết thời. “Chưa bao giờ một tù nhân, được thoát khỏi xiềng xích”, ông nhân xét trước lễ nhậm chức của Madison, “cảm thấy nhẹ nhõm như tôi khi được rũ bỏ gông cùm quyền lực”. 18
Đó là một kết thúc không mấy dễ chịu và có phần trống rỗng với một người có hơn 40 năm phục vụ nhân dân hầu như không nghỉ. Như chính ông đã dự đoán trong Diễn văn Nhậm chức đầu tiên của minh, không người nào có khả năng rời khỏi văn phòng tổng thống mà giữ được uy tín như khi đặt chân vào đó. Với tất cả những lợi ích của việc nhìn nhận lại, giờ đây có thể dễ dàng thấy rằng những thất bại trong nhiệm kỳ thứ hai của ông có nguyên nhân bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh Napoleon, và điều này nằm ngoài sự kiểm soát của Jefferson, hoặc dùng ra là của bất kỳ ai. May mắn ở thời kỳ đầu làm tổng thống của ông đơn giản là đã hết. Tuy nhiên, sự ảm đạm ở giai đoạn cuối của nhiệm kỳ tổng thống đã phủ một màn sương mù lên cả quá trình; điều này giúp giải thích tại sao ông đã quyết định không liệt kê giai đoạn này trong sự nghiệp chính trị của mình trên bia mộ. Lúc đó ở Quincy, một ngày sau khi nhiệm kỳ của Jefferson kết thúc, Adams viết thư cho Benjamin Rush, tuyên bố rằng ông đã biết trước tất cả những kết cục đáng thất vọng này. Nhưng ít nhất kết cục của ông với tư cách tổng thống, Adams ghi nhận, có tính chất rõ ràng và sắc nét của một thất bại trong bầu cử. Bất cứ ai cố gắng đọc bài kinh tạ ơn về nhiệm kỳ tổng thống của Jefferson cũng khó có thể tìm được lời nào để nói. “Jefferson đã hết thời và Madison đến với cuộc đời vào đúng 12 giờ đêm qua”, Adams đã nói đùa với Rush. “Ngài có thể vui lòng đánh một giấc ngắn, mơ thấy những lời chỉ dẫn của tôi và sự soi sáng tên tuổi Jefferson và chính quyền của ông ta không?” Tất nhiên, để an toàn thì nên nói “chỉ hậu thế mới có thể định đoạt”. 19
Cả Adams và Jefferson đều để ý đến sự phán xét của hậu thế, vì vậy có lẽ điều đầu tiên cần phải nhớ trong đầu khi chúng ta xem xét những thư từ hùng hồn trong mấy năm cuối đời của họ là họ không chỉ viết cho nhau mà còn viết cho hậu thế chúng ta. Adams liên tục bị Rush thúc giục phá vỡ sự im lặng giữa Quincy và Monticello trong nhiều năm, Rush tuyên bố rằng ông liên tục nằm mơ thấy hai vị tộc trưởng nối lại quan hệ năm xưa, khi họ thành lập nên, theo cụm từ đáng nhớ của Rush, “cực Bắc và cực Nam của Cách mạng Mỹ”. Ban đầu Adams nói với Rush rằng giấc mơ đó giống như ác mộng với ông; Jefferson là một “cái bóng” bí ẩn, người có tính cách “giống như những con sông lớn êm ả ta không nhìn thấy đáy”. 20
Nhưng dần dần lớp băng tan chảy ở Quincy. Ông không ấp ủ “oán giận hay thù địch chống lại Quý ngài ấy” và chắc chắn sẽ trả lời “nếu tôi nhận được thư của ông ấy…”, có nghĩa là Jefferson sẽ phải là người viết thư trước. Sau đó, Adams trở nên hết sức vui vẻ về vấn đề này, ông tuyên bố sẽ đổi tên bất động sản ở Quincy của ông thành “Montezillo”, một phiên bản thu nhỏ từ ngôi nhà lớn của Jefferson, tự hỏi thành tiếng với Rush những điều đã gây chia cắt giữa ông và Jefferson lúc đầu và kết luận “rằng điều gây chia rẽ giữa Jefferson và tôi chính là kiểu tóc”. Ông thích tóc thẳng và Jefferson lại chuộng tóc quăn. Hay là ngược lại? Adams rõ ràng đang đi men về phía xích lại gần nhau. 21
Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 1 năm 1812, ông đã có một bước đi mang tính quyết định với đôi lời nhắn nhủ chân tình, phản đối rằng sự hòa giải này chẳng có gì quan trọng hay mang tính lịch sử . “Jefferson luôn là một cậu bé với tôi”, ông nói đùa; “Tôi dám nói tôi là thầy dạy cậu ta về Chính trị và đã dạy cậu ta mọi thứ về cách ứng xử chính trị sao cho tốt và chỉnh chu”. Làm thế nào một người lại có thể có ác cảm đối với đệ tử của chính mình? Adams ngụ ý rằng, sự khác biệt giữa hai người là sản phẩm của sự bóp méo cộng thêm phóng đại của những kẻ thù chung của họ, đặc biệt là Hamilton. Tình bạn ấy có thể được khôi phục dễ dàng bởi nó chưa bao giờ hoàn toàn mất đi. “Nó giống như việc một thủy thủ gặp một thủy thủ anh em, sau 25 năm vắng bóng”, Adams châm biếm, “và bắt chuyện với nhau, dạo này thế nào, Jack?” Tất cả những chuyện này đều nửa đùa nửa thật, và việc viện dẫn lý do hài hòa đã giúp Adams tránh được chuyện phải đối mặt với thực tế rằng ông đang với tay qua cái đã trở thành sự ngăn cách cá nhân và chính trị to lớn. 22
Trong quá trình suốt 14 năm sau đó, họ đã trao đổi 158 lá thư và tạo ra cái mà nhiều sử gia coi như là những ghi chép thư từ phong phú nhất giữa các chính khách nổi bật trong lịch sử Mỹ. Điều mà hầu hết các độc giả ngày nay cảm nhận được trong những bức thư này là một giọng điệu bi thương và sự thanh thản cám dỗ của hai phiên bản nhà triết học kiêm đấng quân vương của Mỹ, đang trầm ngâm thành tiếng với nhau tất cả các chủ đề vượt thời gian, đôi khi khẩu chiến với nhau để giành giải hùng biện như hai cậu học sinh khôn sớm. “Tính khí của tôi là lạc quan”, Jefferson viết năm 1816. “Tôi điều khiển con tàu tiếng nói với Hy vọng nơi đầu tàu, để lại Nỗi sợ hãi nơi đuôi tàu”. Adams đáp lại hiền từ: “Tôi ngưỡng mộ khả năng điều khiển của ngài và muốn giong buồm đi cùng ngài, dù trên con tàu tiếng nói của ngài hay của tôi, sát cánh bên ngài; đặt Hy vọng với Phù hiệu vui vẻ của mình bày ra ở Mũi tàu; để Sợ hãi với đám Yêu quái của nó ở cuối tàu”. Và rồi cả hai còn nhại theo phong cách Cicero. “Nhưng tính ba hoa người già đang dẫn tôi đến đâu đây?” Jefferson hỏi tu từ: “Tới chính trị, nơi rút cục tôi đã ra đi… Tôi đã từ bỏ báo chí để đổi lấy Tacitus và Thucydides, Newton và Euclid; và tôi thấy mình hạnh phúc hơn”. Adams trả lời bằng cách phô diễn hỏa lực văn chương của mình: “Tôi đã đọc Thucydides và Tacitus thường xuyên, và lâu đến nỗi cảm thấy mệt mỏi với phong cách thanh lịch, sâu sắc và mê hoặc của họ”; ông nói đùa rằng “Tính ba hoa người già của tôi hơn cả trả đũa ‘tính ba hoa người già’ của ngài” và sau đó kết thúc bằng một lối thăng hoa gần như theo kiểu Jefferson trong phong cách lặp âm: “Dù một tộc trưởng cáu kỉnh có nói gì đi nữa, tôi chưa bao giờ thấy ngày mà tôi có thể nói rằng tôi không cảm thấy Vinh hạnh; hoặc là tôi có nhiều Niềm đau hơn Vinh hạnh”. 23
Họ thích thú và phấn khích một cách có ý thức khi viết cho nhau về một loạt các chủ đề an toàn: quá trình lão hóa; vẻ đẹp và sự mục nát của Ki-tô giáo; các nhân vật kỳ lạ và đôi khi điên rồ - những người khách không mời mà tới thăm vị Tổng thống bận rộn (Adams tuyên bố rằng bất cứ khi nào những nhà tiên tri tự xưng yêu cầu một cuộc phỏng vấn trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, ông sẽ yêu cầu họ thực hiện phép lạ trước, do đó tránh được tất cả các cuộc gặp gỡ không cần thiết như vậy; những cuốn sách đáng đọc; sự phát triển ấn tượng của một ngôn ngữ bản địa Mỹ. Jefferson đặc biệt thẳng thắn về sự cần thiết của việc cho phép đưa những từ mới như “coi thường” (belittle) và ‘‘cách nói mới” (neologism) vào sử dụng. “Từ điển là nơi lưu trữ các từ ngữ đã được hợp thức hóa thông qua việc sử dụng chúng”, ông nhận định, và những cuộc trò chuyện hằng ngày “là hội thảo, nơi những từ ngữ mới được tạo ra”. Adams hoàn toàn đồng ý, lập luận rằng họ nên phối hợp với nhau để phản đối chế độ độc tài Anh, lần này là bác bỏ sự kiểm soát độc tài của Anh đối với từ ngữ. “Chúng tôi không còn bị ràng buộc bởi từ điển của Johnson”, Adams nhận xét, “hay bởi… Luật Nhà thờ của Anh”.
Adams thừa nhận rằng từ ngữ là lĩnh vực đặc biệt của Jefferson. (Đó là một trong những lý do ông thích nói với bạn bè rằng ông đã đề nghị Jefferson trẻ tuổi soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập). “Chúng ta chẳng mấy chốc sẽ được đánh dấu sao”, Adams ghi nhận vào năm 1821, thêm là, “Sic transit Gloriola (có từ Latin như vậy sao?) Mundi”. (16) Jefferson cũng đồng tình về số lượng ngày càng ít những người sống sót từ năm 1776, sau đó khẳng định rằng chính Cicero đã sử dụng từ “Gloriola”, có nghĩa là “chút vinh quang”, một mô tả khiêm tốn phù hợp xứng đáng với ông, Adams và những đồng chí cách mạng của họ. Adams đáp lại và dự đoán rằng Jefferson, “là người trẻ nhất và năng động nhất về mặt tâm trí cũng như thể xác”, sẽ là người sống sót cuối cùng. Giống như người cuối cùng đi ngủ trong nhà, nên Jefferson có trách nhiệm đóng lò sưởi lại “và cào tro trong đống than…” 24
Đỉnh cao tình cảm trong loạt thư từ với tư cách một cuộc đối thoại cổ điển giữa hai vị tộc trưởng hòa giải là vào năm 1823. Trong những năm đầu khi mới nghỉ hưu, Adams đã viết một số bức thư trong đó lên án Jefferson về sự lừa dối và chỉ trích chính sách tổng thống của
(16) Tạm dịch: Vinh quang chẳng mấy chốc sẽ qua đi. (ND)
ông. Khi một số bức thư này được đăng trên các báo vào năm 1823 mà không có sự cho phép của ông, Adams đã rất bối rối và lo lắng rằng chúng sẽ làm tổn hại tình bạn mới được phục hồi của hai người. Nhưng Jefferson đã có một phản ứng tuyệt vời trước tình huống này: “Hãy yên tâm, bạn thân mến”, ông viết, “rằng tôi không tài nào tiếp nhận nổi một ấn tượng, dù là nhỏ nhất, từ nỗ lực nhằm cắm gai nhọn lên chiếc gối tuổi tác, giá trị, và sự khôn ngoan, và gieo cỏ dại giữa những người bạn đã bên nhau trong gần nửa thế kỷ. Tôi khẩn cầu ngài đừng bắt tâm trí phải chịu đựng và lo lắng về những nỗ lực độc ác đầu độc sự thanh thản này, và cầu nguyện ngài sẽ ném sự lo lắng ấy đi bằng cách…” Adams vui mừng khôn xiết, đòi đọc to lá thư của Jefferson cho cả nhà cùng nghe tại bàn ăn sáng. Đó là “lá thư hay nhất từng được viết…, lá thư như tôi mong đợi, chỉ là nó được thể hiện hay hơn nhiều”. Ông kết thúc lá thư với loạt đạn theo phong cách điển hình của Adams chống lại “sự tuôn trào cáu kỉnh và phiền nhiễu của các chính khách… [những người] không đáng nhớ, chứ chưa nói đến chuyện là đáng quan tâm… Tôi xin trân trọng gửi lời chào tới tinh thần chiến đấu của ngài”, sau đó đã ký tên “J. A. đang ở tuổi 89 và vẫn quá béo nên không thể sống lâu hơn”. 25
Và như vậy, mặc dù cả hai người đều đang làm duyên cho hậu thế, lại có một sự thật đáng kể trong bức chân dung cổ điển của Adams và Jefferson với tư cách hai nhà hiển triết hội ngộ trò chuyện với nhau, và sau đó qua các thời đại nói chuyện với chúng ta, trong vai trò đặc biệt của họ với tư cách người Mỹ gốc. (ít nhất cũng rất khó để tìm được và cùng một thời điểm tiếng cười châm biếm bật ra, hai vị tổng thống đã nghỉ hưu trong lịch sử Mỹ mà lại tương đương nhau về năng lực văn chương và sự tinh tế về tri thức như vậy). Tuy nhiên, ở một bức tranh khác, có thêm một vài sự thật đặc biệt quan trọng đối với việc tìm hiểu tâm lý của Jefferson trong những năm cuối đời. Trong bức tranh này Jefferson đang đứng thẳng người, cao lớn với cánh tay khoanh trước ngực như thường lệ, và Adams đang thoăn thoắt đi đi lại lại trước mặt ông, nói chuyện với phong cách một dặm một phút của mình, cứ định kỳ dừng lại tóm lấy vạt áo Jefferson để làm rõ quan điểm gây tranh cãi và sống động của mình. Thật sự là có rất nhiều việc còn dở dang giữa hai vị tộc trưởng, đặc biệt là nếu Adams đã nhất quyết tỏ ra nghiêm túc, như ông rõ ràng đang làm như thế, với niềm tin của mình rằng họ không được phép chết trước khi giải thích bản thân cho nhau. Adams có lẽ là người duy nhất trên thế giới có khả năng thách thức, thường với phong cách gây hấn đầy ngang ngạnh, niềm tin được trân trọng nhất của Jefferson về ý nghĩa thật sự của Cách mạng Mỹ.
Jefferson muốn phân biệt giữa một bên là tình cảm chân thật của mình dành cho Adams với tư cách một người đàn ông khôn ngoan và dũng cảm có tính cách không phải bàn cãi, một trong những thành viên của “nhóm huynh đệ” thời đầu, đã làm nên Cách mạng Mỹ, với một bên là bất đồng của ông với thương hiệu tư duy chính trị của Adams. Theo cách ông nói với Rush thì ông luôn bảo vệ tính cách của Adams “với ngoại lệ duy nhất liên quan đến quan điểm chính trị”. Nhưng xét đến sự kết hợp trơn tru của chính trị và cá tính trong con người Adams, thì đây giống như nói rằng một người luôn trung thành lắng nghe Giáo hoàng, trừ khi người đó lên tiếng về vấn đề đức tin và luân lý. Ngoài ra, Adams còn có ưu thế nhất định về tâm lý so với Jefferson do tuổi tác và kinh nghiệm của người đi trước trong từng vị trí mà hai người đều kinh qua: trong Quốc hội Lục địa ở thập niên 1770, châu Âu trong thập niên 1780, Phó Tổng thống những năm 1790, và sau đó là Tổng thống. Mặc dù Adams nói đùa khi ông mô tả Jefferson là đệ tử trẻ tuổi của mình, nhưng điều này chí ít cũng có một phần sự thật trong đó. Vì những lý do này, Jefferson có xu hướng vì nể Adams theo cách mà những người được ông bảo hộ vì nể ông - Madison, Monroe, Gallatin. Hơn nữa, trong khi các nhà lãnh đạo phe Liên bang khác, chủ yếu là Hamilton và Marshall, là những kẻ thù thuần túy - người rõ ràng đứng hẳn một bên của ranh giới đạo đức trong tâm trí Jefferson với một bên là sức mạnh của ánh sáng và bên kia là sức mạnh của bóng tối, Adams dường như đứng ở cả hai bên lằn ranh ấy, trong thực tế ông phủ nhận sự tồn tại của một lằn ranh như vậy. Ông chỉ đơn giản là không thích hợp với bất kỳ hạng mục nào của Jefferson. Còn nữa, Adams có một văn phong dào dạt điên khùng trong đó phản ánh chính xác thương hiệu trò chuyện nổi tiếng về tài mở khóa của mình, trong đó một ý tưởng nảy ra từ một ý tưởng khác ở góc độ không thể đoán trước và với tốc độ khiến cho khó có được ý niệm về một cuộc trao đổi thận trọng, mang tính ngoại giao và tránh né những chủ đề không an toàn vốn dĩ là không có khả năng. 26
Có lẽ điểm bất đồng rõ nhất giúp cho ta thấy hai người đàn ông đã đầu tư kỳ công thế nào trong việc định hình câu chuyện Cách mạng nhằm nâng cao danh tiếng của mình liên quan đến ký ức của hai người về Tuyên ngôn Độc lập. Khi tài liệu này lần đầu tiên được xuất bản và ra mắt thế giới vào năm 1776, chỉ có các đại biểu dự Quốc hội Lục địa mới biết rằng Jefferson là tác giả chính. Mãi đến giữa thập niên 1780, khi Jefferson ở Paris, người ta mới bắt đầu công nhận mối liên kết giữa từ ngữ của Tuyên ngôn với một cá nhân. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo, khi Ngày 4 tháng 7 trở thành dịp kỷ niệm Quốc khánh, thì người ta mới bắt đầu chính thức liên hệ Jefferson với ngôn ngữ của Tuyên ngôn, và danh tiếng của ông cũng từ đó mà lên theo văn bản thiêng liêng này. Hành động chính thức cuối cùng với tư cách tổng thống của Madison là vào mùa xuân năm 1817, ông chọn ra bốn bức tranh của John Trumbul cho mái vòm Capitol Rotunda, những bức tranh đó đã được phục hồi sau vụ cháy do người Anh gây ra trong Chiến tranh năm 1812. Lựa chọn đầu tiên là bức tranh Trumbull mô tả Jefferson bàn giao bản thảo Tuyên ngôn cho Chủ tịch Quốc hội Lục địa, đằng sau là Adams và các thành viên khác của Ban soạn thảo. 27
Có thể cảm nhận được cái tôi đau nhói của Adams đằng sau tất cả những than phiền của ông về tính biểu trưng của cảnh tượng này. Ví dụ như năm 1819, một tài liệu xuất hiện ở hạt Mecklenburg, Bắc Carolina, được cho là được viết vào tháng 3 năm 1775, hơn một năm trước khi Tuyên ngôn ra đời, và có lời văn giống với văn bản thiêng liêng một cách kỳ lạ. Hàm ý rõ ràng là nếu những nghị quyết Mecklenburg là thật, thì văn bản này đã phủ một bóng đêm lên tuyên bố của Jefferson về tính nguyên bản của Tuyên ngôn. Adams khá khiêu khích khi hỏi Jefferson liệu ông có biết tí gì về sự phát hiện đáng ngạc nhiên này không. Jefferson trả lời ngay lập tức, cho rằng những nghị quyết Mecklenburg gần như chắc chắn là một sự giả mạo, và ông chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Mặc dù Adams đã viết lại cho Jefferson để nói rằng ông tin lời của Jefferson, nhưng ông lại đi nói với những người bạn khác điều ngược lại. “Tôi có thể tin ngay rằng một tá hoa tú cầu trước mắt tôi bây giờ chỉ là tình cờ”, ông buôn chuyện, “cũng giống như cách tôi tin rằng những nghị quyết Mecklenburg và bản tuyên ngôn của ông Jefferson không liên quan đến nhau”. 28
Tuy nhiên, nhìn chung Adams có xu hướng không đặt câu hỏi về tính xác thực trong sáng tác của Jefferson mà nhấn mạnh vào tầm quan trọng của quá trình soạn thảo hoặc thâm chí là của chính Tuyên ngôn. Trong phiên bản của Adams về câu chuyện này, lần đầu tiên được trình bày trong cuốn tự truyện của ông và sau đó chuyển tải trong những bức thư cho bất cứ ai có câu hỏi về vấn đề này, ban soạn thảo đã bổ nhiệm ông làm chủ tịch một tiểu ban gồm hai người là Jefferson và ông. Sau đó, ông đã giao phó công việc soạn thảo thật sự cho Jefferson. Khi phiên bản này quay trở lại với Jefferson, ông ngay lập tức nhận ra rằng Adams đã cố gắng ăn cắp phần công trạng viết nên những từ ngữ kỳ diệu của ông (bạn có thể nghĩ theo hướng nhằm đẩy Adams lên vị trí phía trước trong bức chân dung của Trumbull), và ông nhanh chóng đưa ra một lời đáp lịch sự nhưng chắc nịch: “Bộ nhớ của ngài Adams đã dẫn ông ấy đến một lỗi lầm rõ ràng. Ở tuổi 88, và 47 năm sau ngày Độc lập, điều này chẳng có gì hay ho. Và tôi, ở tuổi 80, cũng không dám ỉ vào sự khác biệt tuổi tác để bộ nhớ của tôi chống đối lại của ngài ấy, nếu không có bằng chứng bằng văn bản do chính tay tôi viết ra tại thời điểm đó và ngay tại nơi đó”. Ghi chú của Jefferson, được ông đưa vào cuốn tự truyện của mình, cho thấy ông và Adams đích thực đã tham khảo ý kiến trước khi bắt đẩu quá trình soạn thảo, nhưng việc tham khảo sau đó đã bị “nhớ sai thành hoạt động của một tiểu ban”. Không có sự hợp tác, thậm chí ở hình thức hành chính nào tại thời điểm sáng tạo. Jefferson đã cố gắng chối bỏ bất cứ cáo buộc nào liên quan đến tính độc đáo về mặt triết học trong Tuyên ngôn. Như Madison đã nói rất ngắn gọn về điều này, mục tiêu của Jefferson “là khẳng định không phát hiện ra sự thật, và để biến sự thật thành Hành động Cách mạng”. Nhưng để làm vậy, Jefferson khẳng định, ông đã hành động một mình. 29
Khi nhìn lại, có vẻ sẽ thật vụn vặt khi ta cứ đi sâu vào lịch sử chuyện này, nhưng sự kiện ấy đã mô tả rõ nét cách thức cả hai người công nhận đầy đủ tầm quan trọng mang tính biểu tượng mà Tuyên ngôn đã đạt được, ngay cả lúc họ đang sống, và do đó cũng mô tả luôn vị trí của họ trong ngôi đền vinh danh các vị thần nước Mỹ phụ thuộc nhiều đến đâu vào mối liên hệ của họ với việc tạo nên Tuyên ngôn. Đó là một thực tế làm Adams trăn trở hơn bất cứ điều gì khác. “Liệu bao giờ sẽ có một đoạn cao trào, có tác động lớn như sự kiện Jefferson chấp bút cho Tuyên ngôn Độc lập hay không?” Ông hỏi Rush. Ông đủ thẳng thắn để nói với Jefferson rằng ý nghĩa của Tuyên ngôn đã được nhiều người đánh giá quá cao; Tuyên ngôn chỉ giống như “trò bắn bi hoặc ném lon của trẻ con mà thôi… Chỉ là quần là áo lượt và đồ trang trí chứ không phải là Thể xác, Tâm hồn và bản chất”. Ông tuyên bố không ai tại Quốc hội Lục địa coi ngôn ngữ của Tuyên ngôn là một thứ gì khác hơn một tài liệu tuyên truyền hùng hồn. Tuyên ngồn chỉ đơn thuần là “một vở diễn sân khấu bên lề” mà các thế hệ tiếp theo đã biến thành sự kiện chính. Kết quả là, “Jefferson đã chạy theo hiệu ứng sân khấu… và tất cả vinh quang của nó”. 30
Vậy thì, câu chuyện thực về Cách mạng Mỹ là gì? Cả hai đều thống nhất rằng câu chuyên ấy có lẽ sẽ theo họ xuống mồ và không bao giờ tìm được đường đi vào sử sách. Adams thích lưu ý sự gia tăng đột ngột của những lời kể giả mạo đã làm nhiễu loạn các ghi chép và hồi ký tự viết, rằng như ông và Jefferson có thể làm chứng, đó là mấy phiên bản giả tưởng về những gì đã thật sự được nói ra trong các dãy hành lang và các cuộc họp riêng, nơi những quyết định thật sự được đưa ra. Jefferson đồng tình rằng chỉ những “sự kiện bên ngoài” mới đi vào các ghi chép lịch sử, và rằng “cuộc sống và tâm hồn của lịch sử mãi mãi không được phép biết đến”. Tuy nhiên, trong phiên bản của Adams về câu chuyện có thật, thời điểm đỉnh cao không phải là ngày 4 tháng 7 năm 1776, và tài liệu mang tính quyết định không phải là Tuyên ngôn Độc lập. Bản thân cuộc chiến đã bắt đầu nổ ra từ thời điểm đó. Hầu hết các đại biểu tham dự Quốc hội Lục địa coi Tuyên ngôn như một bản xác nhận mang tính nghi lễ về những gì đã xảy ra; giá trị thực tiễn chính của nó, ngoài việc công bố một kết cục khó tránh bằng ngôn ngữ trữ tình, là nhằm nâng cao triển vọng về một liên minh thời chiến với Pháp, và tất cả các nhà lãnh đạo cách mạng hiểu liên minh với Pháp là vấn đề cấp bách lúc bấy giờ. Tuyên ngôn của Jefferson giống như sấm sét trong một cơn bão; Tuyên ngôn ấy gây ra nhiều tiếng vang, nhưng sét đã lóe lên trước đó và có hiệu quả thật sự. 31
Đối với Adams, thời điểm đỉnh cao đã xảy ra vào ngày 15 tháng 5 năm 1776, khi Quốc hội Lục địa thông qua một nghị quyết - không tình cờ cho lắm, vì ông đã đề xuất điều đó - kêu gọi đưa ra hiến pháp mới tại mỗi bang. Đây chính là hành động mang tính quyết định, như cách Adams nhìn nhận, vì ba lý do: Thứ nhất, đó là quyết định đòi hỏi phải tạo ra một Chính phủ Mỹ riêng biệt và độc lập; thứ hai, nghị quyết quy định rằng mỗi bang nhóm họp để soạn thảo hiến pháp của từng bang, do đó ủng hộ học thuyết về chủ quyền phổ biến, ý tưởng thiêng liêng rằng “nhân dân là nguồn cội của tất cả chính quyền và gốc gác của tất cả quyền lực”; thứ ba, và đáng chú ý nhất trong phiên bản của Adams, điều này có nghĩa Cách mạng Mỹ là một cam kết có trách nhiệm và tích cực với các hình thức mới của kỷ luật chính trị, chứ không phải chỉ là một sự khẳng định vô trách nhiệm và tiêu cực của việc tách khỏi Anh dựa trên một lời hứa quyến rũ về sự giải phóng hoàn toàn. Theo Adams, Jefferson là một trong số ít, có lẽ là người duy nhất tham gia các cuộc tranh luận, coi ngôn ngữ trong phần quyền tự nhiên của Tuyên ngôn là một tuyên bố nghiêm túc về sự rũ bỏ sạch trơn và triệt để những khôn ngoan chính trị tích lũy từ quá khứ. Mặt khác, theo Jefferson, nếu Adams đã đúng, thì Cách mạng Mỹ thật sự không phải là một cuộc cách mạng. 32
Sự bất đồng về ý nghĩa của cuộc cách mạng cho thấy mối căng thẳng tiềm ẩn xuyên suốt những bức thư giữa Adams-Jefferson. Nó chưa bao giờ thể hiện ra ngoài dưới hình thức một cuộc trao đổi quan điểm đầy đủ và tự do, vì cả hai đều không muốn đặt sự hòa giải muộn mằn của họ vào rủi ro. Những bắt buộc về mặt ngoại giao của cuộc đối thoại trên thực tế khiến hai vị tộc trưởng Mỹ không thể hoàn thành lời hứa của Adams và phân bua cho bản thân trước khi họ qua đời. Thật vậy, nếu Jefferson làm theo cách của mình, thì các chủ đề nhạy cảm sẽ được tránh nói đến hoàn toàn, phần vì ông ghét sự xung đột bao nhiêu thì Adams lại thích thú điều đó bấy nhiêu, và phần vì tình cảm của ông với Adams quan trọng đối với ông hơn bất cứ sự giải thích nào về khác biệt chính trị giữa hai người. Kết quả là, thư từ của họ giống như những tuyên bố ngoại giao cấp cao mà các chuyên gia chính sách thường nghiên cứu khi tìm hiểu về sự im lặng được thai nghén và những ý nghĩa bị che giấu. Động lực trung tâm của cuộc đối thoại có xu hướng tuân theo một mô hình nhiều tập: Jefferson sẽ vô tình nêu lên một trong những vấn đề bất trắc và gây ra một loạt phản ứng bằng lời từ Adams, trong giây lát soi rọi sự khác biệt về ý thức hệ giữa họ; sau đó việc trao đổi sẽ trở lại kiểu bình dị của nó.
Một trong những tập như vậy trong thực tế đã xảy ra với chính thuật ngữ “hệ tư tưởng”. Đây là một trong những từ mới mà cả hai tin rằng nên được chấp nhận trong vốn từ vựng. Jefferson sử dụng từ này lần đầu tiên vào năm 1816, để ám chỉ các tác phẩm của Destutt de Tracy, một triết gia người Pháp đã truyền bá thuật ngữ này ở Pháp. “Thuật ngữ này có nghĩa là gì?” Adams hỏi. “Tôi rất thích thuật ngữ này, theo nguyên tắc Chung của niềm vui thích với mọi Điều Chúng ta không hiểu được. Có phải nó có nghĩa là Chủ nghĩa ngốc nghếch không? Khoa học của Chủ nghĩa phi sáng suốt? Khoa học của Sự điên khùng?” Danh sách những định nghĩa lố bịch và hài hước của Adams kéo dài nhiều dòng, cùng với đề xuất mang tính châm chọc rằng vì từ này rõ ràng là một trong những từ tiếng Pháp mà Jefferson nay muốn chuyển lậu sang tiếng Mỹ, từ này phải có nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu. Nhưng dưới lớp đánh bóng hài hước, Adams muốn chuyển lậu vào cuộc đối thoại của ông với Jefferson một điểm cực kỳ nghiêm túc, cụ thể là phong cách tư duy chính trị của Jefferson “mắc nợ nhiều đến việc phát minh ra từ TƯ TƯỞNG” vì Jefferson nuôi dưỡng một tập hợp các ý tưởng hấp dẫn, như niềm tin vào sự hoàn thiện của con người hoặc bình đẳng xã hội, rằng niềm tin sai lầm của ông có thể được thực hiện trong thế giới này chỉ đơn thuần là vì những niềm tin ấy tồn tại trong đầu ông. Đây là cách tư duy của người Pháp về chính trị, một tiên nghiệm và thói quen không tưởng ngầm của tư duy, mà như Adams nhớ lại thì ông và Jefferson đã gặp phải ở Paris hồi trước cách mạng trong các cuộc hội thoại với Lafayette, Turgot và Condorcet. Đó là một truyền thống trí tuệ mà Adams mô tả như là “trường phái điên rồ” vì sự nhầm lẫn có hệ thống giữa những gì người ta có thể tưởng tượng ra với những gì có trong thực tế và khả thi. Về cơ bản, ông đã cáo buộc Jefferson ôm ấp những giấc mơ hấp dẫn, sau đó buộc tội tất cả những lời phê bình về sự ngây thơ của Jefferson chính là kẻ thù của mục tiêu, trong khi trên thực tế, lời phê phán chỉ nhằm vào tính chất ảo tưởng của những giấc mơ ấy mà thôi. Đó là lời chỉ trích kinh điển của một người theo chủ nghĩa hiện thực dành cho một người theo chủ nghĩa lý tưởng. 33
Một vụ nổ khí có tính soi rọi khác xảy ra năm 1816, khi Jefferson, trong lúc cố gắng chứng minh một điểm vô hại rõ ràng rằng người ta không nên đắm mình trong nỗi đau, đã đặt một câu hỏi tu từ rằng “tác dụng của nỗi đau lên nền kinh tế [con người] là gì, và điều đó đem lại lợi ích gì…?” Adams tiếp tục bùng nổ trong một tràng “các công dụng của đau buồn”, một chủ đề mà ông tuyến bố mình là một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ. Theo cách ông nhìn nhận, đau buồn là một cảm xúc con người quan trọng, trong đó “gọt giũa những Hiểu biết và Làm mềm lòng”. Đau khổ đối với thành tựu của con người giống như là cái gai đối với hoa hồng. Lẽ nào Jefferson chưa bao giờ nhận thấy rằng các bức chân dung hay tượng của tất cả những nhân vật vĩ đại trong lịch sử đều trưng ra khuôn mặt đầy nếp nhăn đau buồn? Jefferson đã cố gắng giương cờ trắng: “Với câu hỏi thật sự về Lợi ích của Đau buồn, vẫn chưa có câu trả lời nào được đưa ra. Ngài đã nói hết về chủ đề này rồi”. Nhưng Adams mới chỉ bắt đầu. Bên cạnh “những công dụng khác nhau của đau buồn” còn có rất nhiều “sự lạm dụng đau buồn”, bao gồm - Jefferson chắc chắn có thể đánh giá được điều này - việc Hamilton lạm dụng danh tiếng của Washington để có được sự hỗ trợ cho các chương trình ngân hàng của mình. Hóa ra, đau buồn là một thứ cảm xúc đa diện và huy hoàng. 34
Jefferson đã cố gắng chống trả sự tấn công của Adams bằng một lập luận thông minh, rằng vì đau buồn được sử dụng và bị lạm dụng nhiều như nhau nên có lẽ hai việc đó bù trừ lẫn nhau và khiến cho toàn bộ đối tượng trở nên vô dụng. Adams hoàn toàn không đổng ý với quan điểm này. Nghiên cứu về tình cảm con người là nhiệm vụ cao nhất của chính khách, Adams tuyên bố: “Niềm đam mê của chúng tôi… sở hữu quá nhiều sự tinh tế siêu hình và hùng biện áp đảo, tới nỗi hai điều này luồn vào nhau và biến thành Hiểu biết và Lương tâm và chuyển đổi cả hai thành Đảng của họ…” Đức tin không gì lay chuyển được của Jefferson trong chiến thắng cuối cùng của lý tính con người đối với định kiến và mê tín dị đoan, như Adams thừa nhận, là một niềm hy vọng đáng ngưỡng mộ. Nhưng cái ông quan tâm, và như toàn bộ lịch sử cho thấy, là “có vẻ như Lý tính con người và Lương tâm con người, mặc dù tôi tin rằng có những điều như vậy, không Tương xứng với, Đam mê của con người, Tưởng tượng của con người và Sự nhiệt tình của con người”. Đó là cuộc tranh luận kinh điển giữa một người duy lý và một người duy nghiệm. 35
Cuối cùng có một sự trao đổi bền lâu và trực tiếp nhất về nguyên tắc chính trị trong toàn bộ thư từ. Jefferson vô tình bắt đầu với một tuyên bố quen thuộc, và hẳn là ông cho rằng nó hoàn toàn bình thường về tầm nhìn Jefferson đối với các đảng chính trị:
Những đảng phái chính trị giờ đây đang khuấy động nước Mỹ chính là những đảng phái đã tồn tại từ xưa tới nay. Sức mạnh của nhân dân hay sức mạnh của tầng lớp quý tộc , cái nào nên chiếm ưu thế chính là những câu hỏi khiến các thành bang Hy Lạp và Rome mãi chìm trong biến động; vì giờ đây họ đang ly giáo tất cả những người mà tâm trí và miệng lưỡi vẫn chưa bị bạo chúa nhét giẻ… Đối với tôi dường như đã có sự khác biệt giữa các đảng phái… từ ngày đầu thành lập các chính phủ, cho đến ngày nay… mọi người đều theo phe ông ấy vì nhiều người, hoặc vì ít người. 36
Jefferson nhanh chóng nhận ra ông đã đi lang thang vào lãnh thổ chính trị nguy hiểm nhất. Trong công thức của Jefferson, tất cả lịch sử chính trị được coi là một cuộc đụng độ đạo đức giữa đa số nhân từ và giới tinh hoa chuyên chế, từ đó gán Adams và phe Liên bang vào vai trò nhơ nhuốc của những kẻ bảo trợ tham nhũng cho số ít kẻ được hưởng đặc quyến, thách thức có hệ thống ý muốn của đa số người Mỹ. Rõ ràng, đây không phải là một quan điểm hùng biện làm cho Adams cảm thấy thoải mái hoặc chấp nhận được.
Ngay cả Nhà Thông thái xứ Quincy hùng hổ cũng cảm nhận được đây là một khu vực rải đẩy mìn và đòi hỏi vô cùng thận trọng. Bản năng đầu tiên của ông là tìm kiếm một nơi trú ẩn an toàn. “Chính xác”, ông viết lại cho Jefferson; sự khác biệt giữa số ít và số nhiều quả là “xưa như Aristotle”, một lý do tại sao ông tuyên bố rằng chính trị, không giống như các ngành khoa học khác, “đã được hiểu rõ hơn một chút; thực hành tốt hơn một chút so với ba hoặc bốn nghìn năm trước đây”. Và nếu Jefferson định ám chỉ Cách mạng Mỹ đã cam kết gắn quốc gia mới vào các nguyên tắc của Locke về chủ quyển phổ biến, một học thuyết cho rằng tất cả quyển lực chính trị bắt nguồn từ nhân dân - thì hai người đã hoàn toàn đổng thuận. Tuy nhiên, cũng tại đây, Adams bắt đầu chạm vào những khối thuốc nổ chôn dưới tình bạn của họ, sự phân biệt đơn giản giữa một bên thuộc về đa số lành tính và bên kia thuộc về giới tinh hoa độc ác là một cách nói hay ho hơn là một mô tả về thực tế chính trị. Nguy hiểm có thể đến từ nhiều hướng khác nhau, từ đa số cũng như thiểu số. “Điều khoản căn bản trong Tín điều chính trị của tôi”, Adams tuyên bố đầy thách thức, “là Chế độ chuyên quyền, hoặc Chủ quyền không giới hạn, hoặc Quyển lực tuyệt đối là như nhau dù nằm trong tay đa số của một Hội nhóm dân chúng, một Luật sư Quý tộc, một phe đảng chính trị đẩu sỏ hay một Hoàng đế duy nhất”. 37
Nếu tiếp tục cuộc trao đổi này thì nguy cơ đe dọa tình bạn đối với cả hai người đều nghiêm trọng đến nỗi không ai theo đuổi kết luận logic trong thư từ giữa hai bên. Adams chuyển cuộc đối thoại sang vấn đề tài sản thế chấp, một đặc điểm của tầng lớp quý tộc, mà ông nhớ lại rằng Jefferson đã kêu gọi ông viết trong khoảng thời gian họ cùng nhau ở Paris, tuyên bố rằng ông “vẫn luôn viết về chủ đề này”, vấn đề duy nhất ở đây là “rất không may là tôi không làm người khác hiểu được mình”. Cốt lõi của quan điểm Adams là giới tinh hoa đã và sẽ luôn là một thứ cố định thường trực trong xã hội. Tại sao? Bởi vì “sự bất bình đẳng giữa Tâm trí và Thể xác đã được Chúa thiết lập trong hiến pháp của người về Bản chất Con người, rằng không một Nghệ thuật hay chính sách nào có thể hạ thấp sự bất bình đẳng ấy xuống một cấp độ được”. Adams tiếp tục viết một tràng dài và màu mè phản đối ảo tưởng về bình đẳng xã hội, kết luận rằng ông “chưa bao giờ cảm thấy Lý tính vô lý hơn, Phép ngụy biện thô tục hơn lao động tinh tế để chứng minh cho Tín điều Athanasian hoặc Sự biến thể… để thể hiện Sự bình đẳng Tự nhiên của Nhân loại”. Bây giờ Adams chính là người xâm phạm vào khu vực được nâng niu nhất của Jefferson, về cơ bản Adams gọi lý tưởng của Jefferson về bình đẳng của con người là một ảo tưởng quyến rũ trong đó nhầm lẫn đầy thách thức giữa một hy vọng đẹp đẽ (nghĩa là “hệ tư tưởng”) với thực tế xã hội lộn xộn và kém hấp dẫn hơn. Trên thực tế, ông đã buộc tội Jefferson nói cho người Mỹ những gì họ muốn nghe, để lại cho Adams nhiệm vụ khó khăn hơn, đó là nói những gì họ cần biết. 38
Jefferson nhận thấy thư từ của hai người đã rơi vào một trong những chủ đề bất ổn mà ông và Adams không bao giờ có thể đồng ý với nhau. “Chúng ta đều đã quá già để thay đổi ý kiến”, ông thừa nhận, “kết quả của cả một đời tìm hiểu và nghiền ngẫm”. Tuy nhiên, ông cũng cố gắng giải cứu cuộc trao đổi khỏi thế bế tắc một cách ngượng ngùng bằng cách làm một điều mà ông hy vọng sẽ giữ được thể diện cho cả hai. Thứ nhất, ông cho rằng quan điểm của Adams về quyền lực của quý tộc là phù hợp ở châu Âu, nơi đặc quyền phong kiến, tước hiệu gia đình và các cơ hội kinh tế hạn chế hơn cho phép duy trì sự phân biệt đẳng cấp. Mặt khác, ở Mỹ, việc loại bỏ chế độ con trưởng thừa kế và chế độ thừa kế theo thứ tự cùng sự tồn tại của một lục địa chưa bị tác động có nghĩa là “tất cả mọi người có đất để lao động cho chính mình theo cách họ chọn”, vì vậy giới tinh hoa lâu đời khó có khả năng xuất hiện ở đây. Thứ hai, Jefferson phân biệt giữa tầng lớp quý tộc tự nhiên, dựa trên đạo đức và tài năng, với tầng lớp giả quý tộc “dựa trên sự giàu có và xuất thân, mà không có cả đạo đức hay tài năng”. Ông cho rằng, sự phê bình của Adams về tầng lớp quý tộc, thực ra là lời cảnh báo chống lại tầng lớp giả quý tộc, mà Jefferson đã thống nhất là “một thành phần gây hấn trong chính phủ, và cần có những điều khoản để ngăn chặn uy thế của thành phần đó”. Với pháp luật thuận lợi và đất đai phong phú của Mỹ, âu cũng là hợp lý khi cho rằng “cấp bậc, và xuất thân, và những thứ hào nhoáng quý tộc rút cục sẽ co cụm lại và trở nên không còn quan trọng…” 39
Adams không có gì trong đó. “Cách ngài phân biệt giữa quý tộc tự nhiên và giả quý tộc”, ông nhấn mạnh, “tôi thấy không có căn cứ vững chắc”. Người ta có thể tách sự giàu có và tài năng thành những thế giới lý tưởng trong lý thuyết hoặc tưởng tượng, nơi chúng không phụ thuộc lẫn nhau (một lần nữa lại là “hệ tư tưởng”), nhưng trong thế giới thực chúng lại gắn bó chặt chẽ theo những cách thức không tuân theo lý thuyết của Jefferson. Adams cũng phê phán cái nhìn của Jefferson về một xã hội Mỹ không giai cấp. “Không Sự trữ tình nào có thể thú vị hơn”, ông khiển trách, vì môi trường rộng mở của Mỹ sẽ chỉ bảo đảm sự bất bình đẳng lớn hơn và sự tích lũy tài sản ngày càng bất bình đẳng trừ khi chính phủ can thiệp để phân phối lại của cải. Trừ khi có người tin rằng bản chất con người bằng cách nào đó đã thay đổi trong lúc di cư từ châu Âu sang Mỹ, quyền lực không cân xứng của “thiểu số” cũng sẽ phá hoại đời sống chính trị ở Mỹ. Các lý tưởng của Jefferson về bình đẳng xã hội, trong ngắn hạn là một ảo tưởng, và bằng cách cố giả vờ rằng đó là một thực tế, càng chỉ làm tăng khả năng khiến vấn đề trở nên tồi tê hơn. Dưới đây là một cuộc đối đầu kinh điển, thật sự là một lập luận chính trị rõ ràng nhất trong thư từ, mặc dù không thể gắn cho cuộc đối đầu này một cái nhãn đơn giản. (Tự do đụng độ bảo thủ sẽ không lột tả được hết). Chắc có thể gọi nó là cuộc đụng độ giữa một người lạc quan lãng mạn và một người bi quan mới giác ngộ. 40
Khi Rush gọi Adams và Jefferson là “cực Bắc và cực Nam của Cách mạng Mỹ”, có lẽ ý ông chỉ đơn thuần là nói về mặt địa lý. Nhưng cuộc đối thoại giữa một người New England và một người Virginia cho thấy phép ẩn dụ của Rush có ý nghĩa sâu rộng hơn nhiều. Bên dưới lớp vỏ bình dị và có phần giả tạo của những triết gia Mỹ, hai nhà cách mạng lão luyện đã tạo ra một cuộc đối thoại giữa hai cách hiểu biết đặc trưng và khác biệt về ý nghĩa của Cách mạng Mỹ trong vai trò một phong trào chính trị. Trong phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình, Jefferson coi “tinh thần năm ’76” và học thuyết “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” là một cách biểu đạt dứt khoát rõ ràng của việc đoạn tuyệt với quá khứ và với tất cả các hình thức truyền thống của tổ chức chính trị đã áp đặt những hạn chế không cần thiết lên tự do cá nhân. Vì thế, ông kết luận rằng phe Liên bang là những kẻ phản bội, họ phản bội các nguyên tắc được coi là hiển nhiên này và ủng hộ một chính phủ liên bang cưỡng chế, thứ sẽ phục hồi chính những cơ chế mang tính thể chế mà cuộc cách mạng định loại bỏ. Giờ đây, Adams, người mà ta không thể phủ nhận tư cách người sáng lập và định hình Cách mạng Mỹ, kháng khăng cho rằng phiên bản này của câu chuyện không phải là những gì ông nhớ được, thậm chí ông còn cho rằng cách hiểu của Jefferson cực kỳ mang tính cá nhân bởi cách nó nhấn mạnh vào một sự đoạn tuyệt với quá khứ và đặc tính chống chính phủ của nó.
Ở cấp độ biểu tượng và tâm lý, cuộc đối thoại 14 năm của Jefferson với Adams có ý nghĩa quan trọng, vì Jefferson thấy rằng không tài nào phủ nhận nổi người đồng nghiệp cũ có tính cách nóng nảy của mình. Mặc dù có ác cảm với xung đột, ông vẫn cho phép Adams cuốn ông vào một cuộc tranh luận kéo dài, một cuộc tranh luận đã dựng nên tượng đài văn học cho cuộc cách mạng yêu dấu của họ như một sự kiện phức tạp với nhiều ý nghĩa. Hai người họ là hai lối cách ngôn đối lập đầy thu hút. Hoặc nếu Cách mạng Mỹ đã trở thành khúc thánh ca quốc gia, thì hai người họ là phần lời và phần nhạc của khúc ca ấy. Thật trớ trêu khi cậu con trai phải tự lực cánh sinh của bác nông dân kiêm thợ đóng giày ở New England cứ khăng khăng cho rằng mục tiêu của thế hệ cách mạng chẳng phải là tự do cá nhân hay bình đẳng xã hội, trong khi nhà quý tộc Virginia được thừa kế đồn điền đất đai và nô lệ lại khăng khăng tin vào điều ngược lại. Cùng lúc Jefferson bắt đầu phát triển ý tưởng của mình về trường Đại học Virginia như một tấm bia đá cho sự nghiệp của mình và một đài tưởng niệm cho di sản của ông, ông đã vô tình và đôi khi đi ngược lại bản năng của riêng mình, cùng với Adams tạo nên thứ hóa ra lại trở thành di sản văn học cuối cùng của Cách mạng Mỹ dưới hình thức một cuộc khẩu chiến đang tiếp diễn giữa xung lực lý tưởng và xung lực hiện thực.
Trong lá thư cuối cùng ông gửi cho Adams, được viết ngay trước khi ông rơi vào cơn bạo bệnh cuối cùng, Jefferson đã nhờ người cháu mang tên ông, Thomas Jefferson Randolph (hoặc “Jeffy”), tới thăm Nhà thông thái xứ Quincy trong chuyến đi của cậu tới Boston. “Giống như những thanh niên khác”, Jefferson giải thích, “ông ấy muốn trong những đêm đông của tuổi già, có thể kể lại cho những người xung quanh những gì ông ấy đã nghe thấy và biết được về thời đại anh hùng… cái thời của những Argonauts mà ông ấy đặc biệt kịp nhìn thấy”. Giống như các vị thần trong thần thoại bị đông cứng trong những tư thế kinh điển, Jefferson và Adams đã trở thành pho tượng sống cho thế hệ đang trưởng thành. Những thư từ của họ được gìn giữ cho hậu thế đã thể hiện chính tính chất năng động và đầy tranh cãi của cuộc Cách mạng mà họ đã cùng nhau chiến đấu và rèn luyện. 41
NHÌN LẠI
Nếu thư từ của họ khá giống một bức tranh được sắp đặt, định kỳ được cứu thoát khỏi việc trở thành một phiên bản tranh tĩnh vật của cách mạng Mỹ do sự bất lực của Adams trong việc ngồi yên hoặc giữ mồm giữ miệng, thì điều đáng chú ý là cả hai người đã chịu diễn trong nhiều năm. Giống như tất cả thành viên lãnh đạo của thế hệ cách mạng, Adams và Jefferson từ lâu đã tự coi mình là những người sáng lập với vị trí nổi bật trong sử sách. (Dù sao thì Adams đã bắt đầu sao chép lại tất cả các lá thư của ông vào năm 1776, còn Jefferson thì đã giữ gìn hầu hết thư từ của ông kể từ năm 1782). Alfred North Whitehead có lần nhận xét rằng chỉ có hai trường hợp lịch sử đã ghi nhận tài năng lãnh đạo chính trị một đế quốc mới nổi thể hiện tốt như người ta thật sự có thể mong đợi: Trường hợp đầu tiên là Rome dưới thời Caesar Augustus, và trường hợp thứ hai là Mỹ trong thời kỳ cách mạng. Trong khi các sử gia đưa ra một số giải thích cho sự bùng nổ đáng chú ý này về vấn đề lãnh đạo ngay từ những ngày đầu của nước Cộng hòa Mỹ - điều này thật sự đáng chú ý - thì việc tự ý thức được rằng tương lai đang quan sát đã giúp nâng cao các tiêu chuẩn và kỳ vọng cho tất cả các bên liên quan. Ít nhất theo một cách nhỏ bé, chúng ta đã đồng lõa với thành tích của họ, vì chúng ta là những khán giả cuối cùng chiêm ngưỡng buổi biểu diễn của họ. 42
Mặc dù Jefferson chưa bao giờ quên vấn đề phán xét của hậu thế, vào khoảng năm 1816 mối quan tâm của ông trước những gì lịch sử sẽ nói về mình tăng lên ghê gớm. Lý do hiển nhiên cho sự thay đổi rõ rệt này là tuổi tác. Dù ông có muốn sửa đổi hay thêm thắt gì vào các ghi chép lịch sử thì việc này cũng không thể chờ lâu hơn được nữa vì thời gian của ông đã sắp hết. Việc thư từ qua lại với Adams, theo hướng buộc ông vào cuộc đối thoại với một nhân vật phản diện đáng yêu, có lẽ cũng góp phần vào xu hướng hồi tưởng của ông. Hơn thế, năm 1816, ông đã bị kéo vào cuộc tranh luận liên quan đến cuốn tiểu sử rất thành công về Patrick Henry của William Wirt. Wirt đã tham khảo ý kiến Jefferson về nguồn cội phong cách giả dối của Henry. “Ngài đã thêm vào những nguồn cội ấy vẻ lộng lẫy theo đúng yêu cầu”, Jefferson thông báo với Wirt, qua đó thể hiện một cách ngoại giao quan điểm từ xưa của ông rằng Henry được đánh giá quá cao. Jefferson chỉ đề nghị một chỗ chỉnh sửa, một đoạn văn trong đó mô tả Wirt Henry đang thật sự đọc một cuốn sách. “Những tìm tòi, nghiên cứu được gán cho ông ta, trong đoạn này”, Jefferson rất tế nhị nhận xét, sẽ là không phù hợp với “bức tranh xuất sắc về sự lười biếng của ông ta trong suốt phần còn lại của tác phẩm”. Để phần nào bù đắp cho thực tế rõ ràng rằng ông xem thường Henry, Jefferson cho phép cuốn sách được xuất bản trích dẫn bài phát biểu của ông về công lao đáng khen của Henry trong việc kích động phản đối chính sách của Anh hồi thập niên 1760, nói rằng “Ông Henry chắc chắn đã tạo ra xung lực đầu tiên cho quả bóng cách mạng”. 43
Nhận xét rõ ràng là vô hại này đã gây ra một tiếng gào lớn từ vài người New England, trong đó có Adams hùng hổ, người diễn giải việc ca tụng những nỗ lực ban đầu của Henry thay mặt cho nền độc lập Mỹ là một âm mưu quỷ quyệt biến Virginia chứ không phải Massachusetts thành buồng lái thật sự của Cách mạng. Jefferson tỏ ra bất ngờ về sự trả đũa dữ dội từ New England. Ông là người cuối cùng muốn ca tụng Henry như một nhân vật quan trọng; cuộc tranh luận xem ai là người dại dột trước, cũng như việc đặt ra câu hỏi “ai là người phát hiện ra lực hấp dẫn”. Nhưng cuộc tranh luận vẫn cứ kéo dài - Adams được truyền cảm hứng để đưa James Otis ở Massachusetts với tư cách người tiền nhiệm của Henry trong cuộc thi về tính ưu việt trở thành “nhà cách mạng Mỹ đầu tiên” - cho đến khi Jefferson đưa ra một nhượng bộ. Ông “không bao giờ có ý ngăn chặn danh tiếng chính đáng của bang Massachusetts, vì tinh thần kháng chiến nhanh nhẹn và kiên cường từ thuở ban đầu”. Ông thậm chí còn sẵn sàng nhường lại cho bang này danh hiệu “cái nôi của nền độc lập”, mặc dù ông cảm thấy bắt buộc phải thêm rằng, liên quan đến các nguyên tắc của cuộc cách mạng, một vài người trong chúng ta tin rằng bang ấy đã đi chệch khỏi những nguyên tắc này trong quá trình thực hiện”, ngay cả khi “chúng tôi vẫn hoàn toàn tin tưởng rằng cuối cùng thì bang ấy vẫn sẽ trở lại với những nguyên tắc này”. 44
Jefferson muốn tránh mấy tranh luận tầm thường như vậy về những sự kiện hay con người cụ thể, trừ khi chủ đề tranh cãi là Tuyên ngôn độc lập; với chủ đề đó, ông sẵn sàng bảo vệ phiên bản của mình trước mọi sự xâm phạm, cảm giác như thể đó là một nguồn phun trào lịch sử. Mối quan tâm chính của ông nằm ở bản phác thảo lớn hơn của câu chuyện mà sẽ được truyền lại cho hậu thế về ý nghĩa của Cách mạng Mỹ. Việc Madison nghỉ làm tổng thống vào năm 1817 đã làm tăng kỳ vọng về việc đối tác cũ của ông trong các cuộc chiến tranh chính trị sẽ dành năng lượng để viết một phiên bản Jefferson về lịch sử Mỹ. Ông kêu gọi Madison hãy “sử dụng những tháng ngày hưu trí một cách hữu ích nhất có thể, vào một công việc mà chúng ta đều mong rằng nó được thực hiện tốt…” Ông hứa sẽ đặt tất cả các thư từ cá nhân và ghi chú của mình “hoàn toàn dưới quyển chỉ huy của ngài”. Như trong các trận chiến giữa các đảng phái những năm 1790, Jefferson muốn Madison nắm lấy điểm này; việc Jefferson trốn trong hậu trường và tránh xa chiến trường là cần thiết với tầm vóc của ông, đồng thời, đó cũng là một mệnh lệnh cảm tính. Nhưng lần này, Madison lấy lý do sức khỏe giảm sút và đang cảm thấy vô cùng mệt mỏi để từ chối lời mời. 45
Như Jefferson nhìn nhận, việc này đã hoàn toàn trao trận địa vào tay kẻ thù. Ai cũng biết con trai của Hamilton đã viết sẵn một cuốn tiểu sử về cha mình, mà Jefferson đã cảnh báo rằng việc này chắc chắn sẽ thúc đẩy “sự hận thù của chủ nghĩa liên bang hung hăng nhất”. Rồi cả một kho tàng những trải nghiệm không theo lối Jefferson dự trữ tại Quincy được tìm ra. “Giấy tờ của ngài Adams”, Jefferson ghi nhận đầy quan ngại, “và tiểu sử của ông ấy, tất nhiên sẽ truyền lại cho con trai ông ấy [John Quincy Adams], người mà ngòi bút… được vót nhọn, và có thành kiến với chúng tôi”. Lối phân đôi đạo đức thuở xưa đã nắm quyền chỉ huy trí tưởng tượng của Jefferson một lần nữa: một bên là phái Whig và một bên là Đảng Bảo thủ; một bên là Đảng Cộng hòa và bên kia là Đảng Liên bang; một bên là “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” và một bên là những kẻ mạo danh tham nhũng. Sau khi chiến thắng tất cả các trận đánh lớn trong đời, Jefferson sợ rằng ông và các đệ tử chính trị của mình sẽ thua trong cuộc chiến quyết định cho hậu thế sau khi họ đã chết. 46
Trên thực tế, kẻ phản bội chính đã ra tay và gieo rắc những lời dối trá trong các ghi chép lịch sử, và dối trá đến mức, như cách Jefferson nhìn nhận sự việc, người ta không còn có thể nhận ra câu chuyện thật của Cách mạng Mỹ. Thủ phạm không ai khác hơn chính là người bao lâu nay đã hành hạ Jefferson, John Marshall tháo vác, người đã bằng cách nào đó có thời gian, khi làm Chánh án, xuất bản từ năm 1804 đến năm 1807 một tuyển tập gồm năm cuốn tiểu sử về cuộc đời George Washington. Adams, người được mong đợi sẽ thích thú với cách diễn giải kiểu Marshall về phe Liên bang, thay vì thế lại mô tả công trình khổng lồ này là “một Lăng tẩm, phần móng rộng 100 feet vuông và cao 200 feet”, được dự đoán rằng nó sẽ “bền như xã hội nhân từ kiểu Washington”; nói cách khác, nó sẽ sụt xuống vì sức nặng của chính mình và mạch văn chậm chạp. Nhưng Jefferson khá chắc chắn rằng tiểu sử của Marshall, dựa trên thư từ thực tế của Washington và hưởng lợi từ danh tiếng của Marshall về tính chu đáo và trung thực, sẽ được coi là một trong những thứ gần nhất với lịch sử chính thức của thời đại. Jefferson coi lối dẫn chuyện của Marshall là một lời nói dối khéo léo. Cuốn thứ năm, có ý xúc phạm nhất, đã đưa ra một tuyên bố tóm tắt như sau:
Lục địa được chia thành hai chính đảng lớn, một đảng đã nghiền ngẫm cách để biến Mỹ thành một quốc gia, và hoạt động không ngừng nghỉ để đầu tư cho người đứng đầu liên bang những quyền lực cho phép bảo vệ được liên minh. Đảng kia thì lại gắn mình với quyền lực nhà nước, tỏ ra ganh tị với tất cả quyền hạn của Quốc hội, và miễn cưỡng chấp thuận các biện pháp cho phép người đứng đầu hành động, dù sao thì, độc lập với các thành viên. Những người có tâm hồn rộng mở và tự do… nói chung xếp mình vào đảng đầu tiên.
Marshall đang tranh luận về cách giải thích hiến pháp trong đó miêu tả các liên minh chính trị của những năm 1790 như các sản phẩm của những quan niệm đối lập về việc dàn xếp hiến pháp năm 1787-1788. Mặt khác, đối với Jefferson, sự khác biệt cốt lõi mang tính ý thức hệ hơn là về mặt hiến pháp, những thập niên có tính khai sinh là thập niên 1770, khi đức tin thật sự được công bố, và thập niên 1790, khi đức tin ấy bị phản bội. Như ông nói, sự khác biệt thật sự không phải giữa chính quyền liên bang và bang, mà là “độ nghiêng khác nhau về phía chế độ quân chủ hay cộng hòa”. 47
Do sự miễn cưỡng có thể hiểu được của Madison trong việc dành những năm nghỉ hưu của mình cho nhiệm vụ chống lại lịch sử của Marshall, thì Jefferson đã bị ném trở lại trận địa của chính mình. Năm 1818, ông quyết định chỉnh sửa và gộp ba cuốn gồm thư từ cá nhân, ghi chú và biên bản ghi nhớ từ những năm ông làm Ngoại trưởng, để công bố sau khi chết, do đó tạo ra một kho tàng lưu trữ được thiết kế để thu hút các sử gia sau này thoát khỏi con đường lầm lạc bị Marshall dẫn dắt. Những biên tập viên hiện nay về tài liệu của Jefferson gợi ý chúng ta gọi các tài liệu này là “Jeffersoniana” thay cho thuật ngữ được sử dụng bởi các biên tập viên trước đó là “Anas”, trong tiếng Latin nghĩa là tuyển tập những giai thoại, câu chuyện bên bàn ăn và tin đồn. Dù ta gọi chúng là gì đi nữa, thì những ghi chú được biên tập của Jefferson, như ông nhớ lại vào năm 1818, là “những mảnh giấy đầu thừa đuôi thẹo, tiện tay lấy ra khỏi túi… do đó nhăn nhúm, vo viên và chữ viết nguệch ngoạc”, dự định sẽ mang lại giao diện và âm thanh của lịch sử thật sự ; đây là những câu chuyện bí mật và những cuộc trò chuyện kín đáo xảy ra trong hành lang và đằng sau cánh cửa đóng kín, nơi mà các quyết định thật sự đã được đưa ra, các lập luận thật sự đã được tung ra, quyền lực thật sự đã được thực thi. Mục đích rõ ràng của Jefferson là gợi ý rằng câu chuyện của Marshall về chính quyền Washington chỉ là phiên bản chính thức; những gì Marshall kể không bao giờ xuyên qua được bề mặt lịch sự để lộ ra những sự thật hỗn độn. Jefferson đưa vào trong các ghi chép thiết bị nổ thủ công của mình, chúng được thiết kế sẽ phát nổ sau khi ông chết và phơi bày lịch sử của Marshall chỉ là một truyền thuyết phe Liên bang. Nên “Anas” hoặc “Jeffersoniana” của ông có thể được hiểu như là những tiết lộ thế kỷ 20 phiên bản Mỹ thời đầu giống như Hồ sơ Lầu Năm góc (The Pentagon Papers). 48
Câu chuyện của Jefferson, mà ông muốn hậu thế biết với tư cách chúc thư cuối cùng của ông về lịch sử thật sự của nước Mỹ cách mạng, có dạng một kịch bản cựờng điệu được ấp ủ bởi những kẻ chủ mưu và bao che tham nhũng, tất cả đều nhất nhất câu kết với nhau. Ông đặt mình vào địa vị một người Mỹ vô tội, vừa trở về từ Pháp sau khi vắng mặt một thời gian dài, đã phát hiện ra khi đến thành phố New York vào năm 1790 rằng các nguyên tắc cộng hòa mà ông từng hết mực trung thanh trên thực tế đã bị bỏ rơi bởi đa số các quan chức chính quyền Washington. Gần như tất cả các bữa tiệc tối mà ông tham dự ngay sau khi ông trở về, cuộc trò chuyện đều quay quanh chủ đề chế độ quân chủ, về việc làm thế nào để sự khôi phục chế độ quân chủ đem lại hy vọng duy nhất cho sự ổn định chính trị và quan trọng là làm thế nào để thuyết phục Washington chấp nhận lớp áo hoàng gia. Khi Jefferson cố gắng bảo vệ một phiên bản không có vua của chính phủ cộng hòa cùng những dòng chữ năm 1776, ông tuyên bố mình “hiếm khi tìm được… một người cùng quan điểm… trừ khi một số thành viên cũ của Quốc hội tình cờ có mặt”. “Nhóm huynh đệ” cũ đã bị thay thế bởi một băng đảng những kẻ thân hoàng gia. Hamilton là một kẻ ủng hộ chế độ quân chủ gian ngoan, thật sự “không chỉ là một kẻ ủng hộ chế độ quân chủ, mà còn là kẻ ủng hộ chế độ quân chủ dựa trên tham nhũng”. Ngay cả Adams, con ngựa chiến già của năm ’76, cũng bị “cuốn theo những kẻ chủ trương Liên bang quân chủ”, chạy theo những phù phiếm tai tiếng và tham vọng chính trị để biến mình thành một “con ngựa rình rập” cho những kẻ theo thuyết Hamilton. Bằng chứng cho tất cả điều này bao gồm nhiều giai thoại, những báo cáo chuyền tai nhau về các cuộc trò chuyện riêng tư và tin đồn đáng tin về những gì mà một thành viên nội các tuyên bố đã nghe thấy Hamilton hoặc tay chân của ông ta thì thầm với nhau nơi cổng chào với những điều xì gà. 49
Điều này rất quan trọng đối với phiên bản bí ẩn của Jefferson về lịch sử để khẳng định rằng chính Washington cũng không biết gì về âm mưu này. Đây không phải là một việc dễ dàng, vì Washington rõ ràng là nhà lãnh đạo của phe Liên bang và được tất cả các thành viên khác của nội các cho là ứng viên cho buổi lễ đăng quang. Giải pháp mà Jefferson đưa ra là Washington đã không ý thức được nhiều về những việc đang diễn ra quanh mình. Hình ảnh của Washington trong ông chưa bao giờ là sự sùng kính hay tâng bốc quá đà. “Trí tuệ của ông ấy vĩ đại và mạnh mẽ”, Jefferson nhận xét, “nhưng không phải xuất chúng nhất”; tài đàm thoại của ông ấy “không vượt hơn mức tầm thường là bao”, và trong nhiều tình huống “khi bất ngờ được hỏi ý kiến, ông ấy sẽ tỏ ra không sẵn sàng, nói ngắn và ngượng ngùng”. Trên thực tế, ông ấy thiên về con người của hành động hơn là hiểu biết sâu sắc; điều đó khiến ông ấy dễ bị những kẻ mưu đồ khôn ngoan và xảo quyệt như Hamilton nghi ngờ. Jefferson cũng dành một phần đáng kể trong lịch sử được giấu kín của mình để kể lại nhiều cuộc tiếp xúc riêng của ông với Washington, trong tất cả những cuộc gặp đó, Washington thể hiện mình hoàn toàn tán đồng với Jefferson về sự cần thiết phải thiết lập “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy”. Ngay cả những cuộc tiếp đãi tai tiếng của Tổng thống, mà Washington cho là cuộc họp triều đình trong cương vị một ông vua nước Mỹ, cũng gây hiểu nhầm. Thư ký riêng của Washington đã nói với Bộ trưởng Tư pháp, người đã nói với Madison, rồi Madison kể lại với Jefferson, rằng Washington khinh thường những cái bẫy hoàng gia trong những dịp này. Dù tiểu sử chính thức và không chính thức của Marshall có như thế nào đi nữa thì ý kiến sâu kín nhất của Washington vẫn hoàn toàn đồng ý với Jefferson. Đó là một tiết lộ khá lạ thường nhưng cũng là một mảnh ghép tuyệt đẹp của lịch sử khi được soi xét lại, nhưng sự thật căn bản về người hùng cốt yếu của nước Mỹ là ông hết lòng với phe Cộng hòa hơn phe Liến bang. 50
Mặc dù nỗ lực này nhằm kéo Washington ra khỏi phe Liên bang, nhưng thực chất là để biến Washington thành một người theo thuyết Jefferson - nói một cách lịch sự nhất, là một phiên bản rất nhiều vấn đề của lịch sử chính trị Mỹ, Jefferson hoàn toàn chính xác khi công nhận rằng trong cuộc chiến lịch sử cũng như trong cuộc chiến chính trị của những năm 1790, bất cứ ai có được Washington về phe mình đều sở hữu một lợi thế quyết định. Thật không may cho các toan tính của Jefferson khi những người đầu tiên biên tập giấy tờ của ông không bao giờ xuất bản những tài liệu ông đã sửa đổi vào năm 1818 trong định dạng mà ông dự định. Được thiết kế như một quả bom chính trị phát nổ sau khi ông đã ra đi, “Anas” hoặc “Jeffersoniana” tỏ ra là một thứ vô dụng. Các sử gia đã không chắc chắn về việc làm thế nào để phân loại tài liệu này, nên nói gì về nó, thậm chí gọi nó là gì. Thẩm định mang tính học thuật tốt nhất và gần đây nhất thì coi tài liệu này là một ví dụ rõ nét về cách thức “những lời đồn thổi chính trị” định hình cách sắp xếp tư tưởng trong những ngày đầu của nước cộng hòa, đồng thời tài liệu này cũng minh họa cách làm thế nào mà các thể chế chính trị chưa từng có và vẫn còn mong manh của những năm 1790 lại tạo ra được một tâm lý âm mưu với tất cả các bên, trên thực tế là một mức độ nghi ngờ lẫn nhau và mưu đồ có vẻ như là hoàn toàn hoang tưởng với chúng ta, ít nhất là cho đến khi chúng ta nhận ra thế giới chính trị của Mỹ sau cách mạng thiếu chắc chắn và ổn định như thế nào đối với các thể chế này. 51
Tuy nhiên, vì mục đích của chúng ta, việc Jefferson hồi tưởng những tranh cãi năm xưa giữa các chính đảng về linh hồn của Cách mạng Mỹ đã tiết lộ thêm về cách thức bộ não Jefferson hoạt động hơn là về chính những tranh cãi này. Ngay cả khi về già, là lúc người ta thường sẽ hoài cổ và những tích lũy lờ mờ về tình cảm từ đó đến nay tạo ra một xu hướng mờ nhạt nhất định, thì ông vẫn là một chiến binh chính trị tận tụy. Ngay cả khi Adams thúc giục ông một cách cực đoan không thể cưỡng lại, từ bỏ những phạm trù đạo đức đơn giản giữa “chúng ta” và “họ”, Jefferson vẫn bám vào những phạm trù chặt chẽ hơn bao giờ hết. Những màu sắc nguyên thủy của hình dung chính trị nơi ông vẫn chỉ có đen và trắng. Câu chuyện về Cách mạng Mỹ mà ông thấy trong đầu mình như hồi năm 1776 vẫn là một bộ phim tình cảm đạo đức. Dù ông có muốn đưa ra bất kể sự điều chỉnh hoặc thỏa thuận nào vào phút chót như một sự nhượng bộ cho độ phức tạp hà khắc của lịch sử, thì chúng đều buộc phải được đưa ra trong khuôn khổ đạo đức không thể đàm phán đó.
Trên thực tế, có một số điều chỉnh như vậy, trong tất cả các tác phẩm với phong cách hồi tưởng ngày càng tăng của ông trong thập niên cuối cùng. Năm 1821, ông đã dành sáu tháng cho cuốn tự truyện của mình, kể câu chuyện từ khi ông sinh ra cho đến năm 1790, thời điểm được cho là lời dẫn chuyện chuyển tiếp sang lịch sử được giấu kín mà ông đã biên soạn từ các ghi chú của mình. (Ông chọn cách không viết bất cứ điều gì về nhiệm kỳ tổng thống của mình). Cuốn tự truyện được dành để kể lại hai câu chuyện quen thuộc theo cách ông muốn chúng được nhớ đến. Câu chuyện đầu tiên là về việc soạn thảo và cuộc tranh luận sau đó trong Quốc hội Lục địa về Tuyên ngôn Độc lập. Ông không chỉ muốn làm rõ thời điểm quyển tác giả của ông về cuốn tài liệu chính thức mà còn để ghi chép lại dự thảo ban đầu của mình, trước khi văn bản này được chỉnh sửa bởi Quốc hội. Trên thực tế, trong cuốn tự truyện của mình, ông đã cố gắng bảo vệ ngôn ngữ gốc của ông, rằng sự nhút nhát bẩm sinh của ông đã ngăn cản việc ông đọc Tuyên ngôn trước Quốc hội vào thời điểm đó. Ông cũng muốn nhấn mạnh rằng, ngược lại với các lời khai và trí nhớ của những người khác, tất cả các đại biểu thật ra đã ký Tuyên ngôn vào ngày 4 tháng 7. Rõ ràng việc chứng thực tính chính xác mốc lịch sử của ngày tháng sau này được coi là quốc khánh, là rất quan trọng đối với ông. 52
Câu chuyện thứ hai là về thời điểm của Cách mạng Pháp. Ở đây mục đích chính của ông là để chống lại lời quở trách, mà các nhà phê bình phe Liên bang đã biến thành một điệp khúc quen thuộc, rằng ông đã đóng góp vào chủ nghĩa không tưởng cực đoan của những triết gia Pháp đã đẩy Pháp vào bể máu, hoặc ít nhất là trôi dạt về phía thảm họa cùng với họ trong những ngày mộng mơ trước khi gặp máy chém. Phiên bản của ông về những tháng ngày quan trọng nhấn mạnh đặc điểm có trách nhiệm của những quý tộc Pháp ôn hòa do Lafayette cầm đầu. Cuộc cách mạng Pháp sẽ là một quá trình chuyển đổi không đổ máu và hoàn toàn hòa bình, Jefferson lập luận, nếu không vì sự hèn nhát và do dự của Louis Capet. Và ông tuyên bố, việc nhà vua không theo phe tương lai mà lại theo phe quá khứ, chủ yếu là vì ảnh hưởng của vợ ông ta. “Tôi đã từng tin rằng”, Jefferson viết, “nếu không có hoàng hậu, có lẽ sẽ không có cuộc cách mạng”. Toàn bộ bi kịch không phải do những lực lượng lịch sử lâu đời, thứ mà không có cách nào quản lý được, mà là do sự can thiệp không đúng lúc của một người phụ nữ. 53
Vượt ra khỏi ranh giới cuốn tự truyện về bản thân, chủ yếu thông qua đống thư từ chồng chất ngổn ngang của mình, ông đã cố gắng đưa ra ba điều chỉnh trọng yếu theo cách ông muốn người ta nhớ đến mình. Điều chỉnh đầu tiên là xem lại bài viết được trích dẫn nhiều lần của ông về cuộc sống nơi thôn dã lần đầu được công bố trong cuốn Những ghi chép của ông. Ông muốn người ta biết đến nó, và cho phép trích dẫn vấn đề này trên báo chí, rằng thế giới đã thay đổi đáng kể kể từ khi ông viết cuốn Những ghi chép , khi ông thúc giục người Mỹ làm ruộng và tránh xa mọi hình thức sản xuất công nghiệp. “Bây giờ chúng ta phải đặt những nhà sản xuất công nghiệp bên cạnh nhà nông”, ông thừa nhận, ủng hộ một cam kết với ngành sản xuất trong nước có quy mô nhỏ. Bất cứ ai phản đối sự chuyển dịch khiêm tốn này trong nền kinh tế Mỹ đều sẽ mất liên lạc với thực tế và “hẳn là nhằm vào việc ép chúng ta lệ thuộc vào quốc gia bên ngoài đó [Anh], hoặc để khoác lên mình những lớp da, và sống như con thú hoang trong hang động”. 54
Mặt khác - ông không muốn bị hiểu lầm về điều này - rằng Mỹ nên duy trì một nền kinh tế xã hội với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Được phép sản xuất trong nước nhưng phản đối các nhà máy lớn. Quan trọng nhất là bằng mọi giá cần tránh các mô hình của người Anh về một xã hội hoàn toàn thương mại và công nghiệp, trong đó nền kinh tế bị cai trị bởi các thương gia, chủ ngân hàng và những nhà công nghiệp. “Chúng ta có thể loại trừ họ khỏi lãnh thổ của mình”, ông cảnh báo “như cách chúng ta làm với những người bị nhiễm bệnh”, thậm chí đi ông khuyến nghị rằng nếu một khu vực của Mỹ lúc nào đó bị thương mại hóa triệt để, thì các khu vực nông nghiệp còn lại phải ly khai để tiếp tục miễn dịch với sự tham nhũng này. Ông thừa nhận rằng việc ông coi trọng tính chất nông nghiệp “có thể là giấc mơ của một ông già, và rằng dịp để thực hiện những giấc mơ ấy có thể đã qua đi mà không trở lại”. Nhưng mục tiêu của tất cả các chính khách dành cho những giá trị mà ông ấp ủ nhất chính là giữ gìn càng nhiều các tính chất nông nghiệp của Mỹ càng tốt. Nếu điều đó hóa ra có nghĩa là đơn thuần trì hoãn những điều không thể tránh khỏi, vậy thì cứ để như vậy đi. 55
Việc giải thích quan trọng thứ hai liên quan đến niềm tin vào tôn giáo của ông. Báo chí phe Liên bang và các giáo sĩ New England đặc biệt luẩn quẩn về điểm này trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, lấy lý do là tình bạn của ông với Tom Paine và quan điểm lịch sử của ông phản đối bất kỳ mối liên kết nào giữa nhà thờ và nhà nước, như bằng chứng cho việc ông có khả năng là một người vô thần và chắc chắn không phải là một người theo đạo Ki-tô. Năm 1816, ông thông báo hoàn thành những gì ông gọi là “một cuốn sách nhỏ”, mà thực ra là một phác thảo cho cuốn sách có nhan đề Đạo đức và Cuộc đời của Jesus thành Nazareth (The Morals and Life of Jesus of Nazareth). Đỉnh cao của một dự án tương tự bắt đầu vào năm 1802, khi các cuộc tấn công vào niềm tin tôn giáo của ông khai mào một cách chính thức, Jefferson định dùng phác thảo của ông về Jesus như hình mẫu về đạo đức làm “một tài liệu chứng minh rằng tôi là một người Ki-tô chân chính , nghĩa là một đệ tử của giáo lý Jesus…” Điều ông thật sự muốn nói là ông ngưỡng mộ những giá trị đạo đức được thể hiện trong cuộc đời của Jesus, nhưng vẫn muốn tách “những gì thật sự là của ông khỏi đống rác mà nó bị chôn vùi” theo cách “những viên kim cương bị vùi trong đống phân”. Ki-tô giáo sơ khai, trong quan điểm của ông, cũng giống như với ý nghĩa ban đầu của Cách mạng Mỹ: một đức tin đơn giản sâu sắc sau đó bị sai lệch bằng cách thể chế hóa nó. Trong trường hợp của các giáo phái Ki-tô, “sự trừu tượng siêu hình của Athanasius, và cơn đói khát điên cuồng của Calvin, được đổ màu phong phú với những giấc mơ mù sương của Plato, đã bị quá tải bởi những nghịch lý và phi lý” hầu như không thể phục hồi được “sự đơn giản và thuần khiết bản địa”. Ông đặc biệt nói rất gay gắt về Yale, Harvard và Andover, rằng đó là “những lò chuyên quyền”. Nếu ông là người hoàn toàn thận trọng, ông đã có thể mô tả mình như một nhà thần học, ngưỡng mộ lời giảng đạo của Jesus với tư cách một con người chứ không phải là đứa con của Chúa. (Trong cách nói ngày nay, ông là một nhà nhân bản thế tục). Nhưng bằng cách khẳng định tình trạng của mình như một người Ki-tô giáo, hoặc ít nhất là trên giấy tờ, cá nhân ông chấp nhận thuật ngữ này, ông đã làm cùn một trong những thách thức sắc nhọn nhất đối với vị trí nổi bật của mình trong nhánh chính của lịch sử Mỹ. 56
Cuối cùng, khoảnh khắc nhìn lại buổi hoàng hôn của Jefferson cho phép ông thấy thành tích chính trị của riêng mình từ một quan điểm ở tầm xa hơn, từ đó nói về nó bằng một thành ngữ mới. Ví dụ, hành động chuẩn bị cho sự kiện lịch sử được giấu kín của ông về những năm 1790 đòi hỏi ông phải xem lại và sau đó khẳng định cảm nghĩ của mình về Cách mạng như một phong trào giải phóng để đem lại tự do cho nước Mỹ, không chỉ thoát khỏi chế độ độc tài của Anh, mà còn thoát khỏi mọi hình thức áp bức chính trị. Phong trào này đã bị chững lại và gần như bị đảo ngược bởi phe Liên bang vào những năm 1790, sau đó lại được giải cứu và khôi phục bởi phe Cộng hòa vào năm 1800. Theo một nghĩa nào đó, ông luôn mang theo cốt truyện này trong đầu mình, nhưng khi về già, ông thậm chí còn thấy nó rõ ràng hơn, rõ ràng tới mức đặt cho cao trào của nó một cái tên. Năm 1819, lần đầu tiên, ông đã sử dụng cụm từ “cuộc cách mạng năm 1800” để mô tả cuộc bầu cử của chính mình, tuyên bố rằng đó là một sự kiện “thật như một cuộc cách mạng theo những nguyên tắc của chính phủ chúng ta như cuộc cách mạng năm 1776 trong hình thức của nó”. Hành động gán nhãn mô tả mới cho việc nhậm chức tổng thống đã không thật sự làm thay đổi niềm tin lâu nay của ông về tầm trọng yếu của việc đó, nhưng đã làm cho sự kiện này trở nên đáng nhớ hơn và cung cấp cho phiên bản của ông về lịch sử một cách tiếp cận dễ dàng hơn. Những thế hệ sử gia tiếp theo đã nhanh chóng nắm lấy cơ hội này, do đó mặc nhiên ủng hộ cách diễn giải của Jefferson về toàn bộ thời kỳ cách mạng. 57
Tất nhiên, đưa ra một cụm từ mới và nảy ra một ý tưởng mới không phải là hai việc giống nhau. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1816, có một dấu vết rõ ràng về bằng chứng trong thư từ của Jefferson, cho biết ông đã có lối suy nghĩ mới về những gì ông gọi là “các nguyên tắc năm 76”. Một lần nữa, thư từ đã giúp Adams thúc đẩy chuyện này, vì như Adams nhấn mạnh trong một nhận xét được trích dẫn nhiều lần rằng thuật ngữ “chủ nghĩa cộng hòa” là một trong những từ nói giảm nói tránh mà mỗi người hiểu một kiểu. Công thức quen thuộc nhất của Jefferson có xu hướng đi theo hệ thống phân đôi trong tư duy chính trị, tạo nên sự tương phản giữa “cộng hòa” và “chế độ quân chủ”, nhưng rồi để vấn để dừng ở đó, không nói cụ thể “cộng hòa” có nghĩa là gì ngoài việc loại bỏ các đặc quyền của hoàng gia và quyền nắm giữ thần thánh các quyền lực. Thật vậy, một trong những tính năng hấp dẫn nhất trong công thức của Jefferson là sự im lặng hùng hồn của nó trước toàn bộ câu hỏi về ý nghĩa của một chính phủ cộng hòa. (Adams đã viết bốn cuốn sách lớn về chính chủ đề này, và Madison đã dành cho vấn đề này sự chú ý tương đương ở những phân tích trong Luận cương Liên bang . Có lẽ khía cạnh lý thú nhất trong thói quen tư duy của Jefferson là giả định ngầm rằng người ta không cần phải lo lắng hoặc thậm chí nói về những câu hỏi phức tạp như vậy, rằng sự hủy diệt của chế độ quân chủ phong kiến và cạm bẫy phong kiến dẫn tới một trật tự chính trị mới. Tên tốt nhất cho trật tự mới đó luôn là “cộng hòa”.
Tới năm 1816, ông bắt đầu thấy ngôn ngữ này là không đầy đủ. “Sự thật là, sự lạm dụng chế độ quân chủ đã lấp đầy khoảng trống của các quan niệm chính trị”, ông nhận xét, “rằng chúng ta tưởng tượng mọi thứ cộng hòa không phải là chế độ quân chủ”. Nhưng sự kiện sau đó đã chứng minh rằng “chúng ta vẫn chưa thâm nhập vào nguyên tắc mẹ, đó là ‘các chính phủ chỉ cộng hòa theo tỷ lệ khi họ thể hiên ý chí của nhân dân, và thực hiện nó’”. Ông cũng đưa ra điều này theo cách hơi khác với John Taylor, đồng hương Virginia của ông và thậm chí đam mê nông nghiệp còn nhiệt thành hơn cả ông: “Càng tránh xa được sự kiểm soát trực tiếp và liên tục của nhân dân, chính phủ càng có ít thành phần theo chủ nghĩa cộng hòa”. Để đáp lại tuyên bố của Adams rằng “chủ nghĩa cộng hòa có thể có nghĩa là bất cứ điều gì hoặc tất cả mọi thứ”, Jefferson thông báo với Taylor rằng học thuyết thật sự là “các chính phủ ít hay nhiều mang tính cộng hòa khi chúng có ít hay nhiều các yếu tố của cuộc bầu cử phổ thông và kiểm soát thành phần tham gia”. Dù điều xấu xa gì có thể phát ra từ những thứ ông gọi là “sự lừa bịp nhân dân” thì chắc chắn là cũng ít đe dọa hoặc gây tổn hại “hơn so với những thử xuất phát từ cái tôi đại diện của họ”. Không nhận thức đầy đủ vào thời điểm đó, ông và các đồng chí cách mạng của mình đã phát dộng một phong trào chính trị vào năm 1776 mà ý nghĩa đầy đủ của nó bây giờ mới được thấm vào các khớp nối của nhận thức. Ở đây, lần đầu tiên, Jefferson đã nắm bắt ý tưởng đó mà cuối cùng và vĩnh viễn gắn liền với tên tuổi của ông. Cái mà ông luôn gọi là “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy” thực ra chính là “nền dân chủ”, và những gì ông thật sự đã làm trong “cuộc cách mạng năm 1800” là để khôi phục xung lực dân chủ của Cách mạng Mỹ sau sự phản bội của phe Liên bang. 58
Theo một nghĩa nào đó, khá giống như Jefferson đã tuyên bố, các tác động dân chủ của Cách mạng Mỹ đã có từ lâu, nhưng một khi ông bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn với thuật ngữ này, ví dụ mô tả tất cả người Mỹ là “nhà dân chủ hợp hiến và tận tâm” thì việc sử dụng thuật ngữ này lại buộc phải có một sự giải thích đầy đủ hơn về tầm quan trọng diệu kỳ của nó và soi một luồng sáng mới vào thái độ cũ của ông đối với chính phủ. Sự đồng ý tự nguyện của từng công dân, giờ đây đã rõ ràng, chính là nguyên tắc và nguồn lực chính trị căn bản. Mức độ thiếu tin tưởng của Jefferson đối với các nhánh khác nhau của chính phủ liên bang tuân theo một cách tự nhiên từ nguyên tắc này: Các tòa án liên bang là những thành phần xa rời khỏi sự cho phép của quần chúng nhất, và ông ghét họ nhất; tiếp theo là Thượng viện, theo sát là Tổng thống, sau đó đến Hạ viện; các cơ quan lập pháp nhà nước lúc đó gần gũi hơn với ý chí nhân dân; đại diện hạt thì còn gần gũi hơn nữa, và viên chức thị trấn hoặc những người mà ông gọi là cán bộ phường thì phải đứng mặt đối mặt với chính thành phần trọng yếu này, đó là “ý chí gần như tôn giáo của nhân dân”. 59
Sự lý tưởng hóa của Jefferson về chính quyển địa phương như một hình ảnh thu nhỏ từ kinh nghiệm dân chủ có lẽ gắn với một chương trình giáo dục trên toàn bang mà ông đang thiết kế cho Virginia vào khoảng thời gian này (chút nữa ta sẽ bàn nhiều hơn về điều này); trong đó, phân chia từng hạt thành 10-12 phường, nơi ông muốn thành lập những trường tiểu học được bang tài trợ. Tính chất thân mật, trực tiếp của chính quyển ở cấp phường đã giúp Jefferson hình dung ra bản chất dân chủ. Hầu hết các nhà tư tưởng chính trị khác ở Mỹ, đặc biệt và triệt để nhất là Adams và Madison, đã bắt đầu với giả định rằng sự thân mật của chính quyển địa phương không thể được nhân rộng ở cấp quốc gia, do đó đòi hỏi các nguyên tắc chính trị phức tạp hơn cũng như cần có các cơ chế thể chế để làm việc hiệu quả, mà thực ra, để có thể vận hành được. Nhưng Jefferson lại không nghĩ về chính trị theo lối thông thường này. Theo quan điểm của ông, dân chủ đối với chính trị giống như nông nghiệp đối với kinh tế, hay sức khỏe đối với con người. Không bao giờ có thể hoàn toàn hoàn hảo, nhưng càng gần sự hoàn hảo thì càng tốt. Phát hiện của ông về phường với tư cách đơn vị dân chủ nguyên thủy hay “chủ nghĩa cộng hòa thuần túy và căn bản” đã dẫn ông tới cái mà chúng ta có thể gọi là một lý thuyết về sự lan truyền dân chủ: Kết hợp các phường sẽ hình thành nên một bang dân chủ; tiếp đó, khi các bang tương tác để hình thành một quốc gia, họ “sẽ tạo ra một nền dân chủ thật sự”. 60
Nói chung, những miêu tả về nền dân chủ mà ông nêu ra trong thư từ của mình sau năm 1816 có xu hướng cực đoan tưởng tượng. Một mặt, có những cử tri trong thị trấn hoặc phường, tuyên bố nguyên vọng cá nhân của mình. Mặt khác, cũng có một tập hợp phi cá nhân và vô hình được gọi là nhân dân. Khi buộc phải nói rõ thành phần chính của “nhân dân”, ông đã đưa ra một lời giải thích dựa trên những người không nằm trong bức tranh này. Trẻ sơ sinh và trẻ em rõ ràng là bị loại trừ, cũng như phụ nữ, những người “không thể trà trộn bừa bãi vào những cuộc họp chung với cánh đàn ông”. Nô lệ cũng vắng mặt, theo nguyên tắc là “người không có ý chí thì không được thể hiện gì hết trong hội họp quần chúng”. Bức tranh về “nhân dân” mà ông nhìn thấy trong đầu mình, lúc đó bao gồm “chỉ những công dân đủ điều kiện”. Về vấn đề liệu quyền công dân có đòi hỏi quyển sở hữu tài sản hay không thì ông vẫn giữ im lặng cho đến gần cuối đời. Tuy nhiên, năm 1824, để đáp ứng yêu cầu về việc sửa đổi hiến pháp Virginia, ông đã ủng hộ việc loại bỏ các yêu cầu về tài sản đối với quyền biểu quyết, nói rằng nó tước đi quyển bầu cử của những người dự kiến sẽ phục vụ trong lực lượng dân quân. Phán quyết cuối cùng của ông về thành phần xã hội của “nhân dân”, lúc đó bao gồm tất cả các nam giới da trắng trong dân cư. 61
Tuy nhiên, khi không bị ép buộc, Jefferson thích có một sự mập mờ ở đây. Những câu hỏi cụ thể về việc ai nên bỏ phiếu đã bỏ qua một điểm lớn hơn, đó là nhờ Cách mạng Mỹ, sự chấp thuận đã thay thế cho sự ép buộc và trở thành nguyên tắc vận hành của chính phủ, và quyền lực chính trị, nếu mong ước trở thành quyền bính hợp pháp, thì nó cần phải được chấp nhận bởi da số công dân. Những nỗ lực làm rõ khái niệm có phần lờ mờ và huyên bí về “nhân dân” hay “nguyện vọng của người dân” chưa bao giờ đạt được nhiều tiến bộ với ông, điều đó có lẽ cho thấy ông hiểu rằng nếu dân chủ trở thành một tôn giáo chính trị, nó cần phải duy trì một cảm giác bí ẩn trong cốt lõi. Ông thậm chí còn phản đối những nỗ lực tổ chức các nhóm lợi ích riêng biệt để đại diện cho các phân khúc của ý chí quần chúng trước chính phủ liên bang, mà ngày nay chúng ta gọi là vận động hành lang. Ông coi các hiệp hội như “những cỗ máy nguy hiểm” mà phải bị “cau mày nhìn xuống” với tư cách là “những thành viên đơn thuần trong câu lạc bộ của Washington”, những người “không cần thiết, quá tự tin, và là các ví dụ nguy hiểm”. Tính chất trì trệ và lộn xộn của quan điểm quần chúng có vẻ như là một trong những giáo lý căn bản không được phép can thiệp, được dàn xếp hay phân tích. Ngay cả bản thân thuật ngữ “dân chủ” mặc dù ông sử dụng nó thường xuyên hơn trong những năm sau này, nhưng không bao giờ có được một nơi an toàn và nổi bật trong từ vựng chính trị của ông, và với ông, thuật ngữ này vẫn duy trì một số ý nghĩa cũ từ thế kỷ 18 của quy tắc đám đông hoặc tình trạng vô chính phủ, những điều mà ông kiên quyết phản đối hoặc truyền đạt cho thế hệ trẻ đặc biệt là những người miến Tây, sự trỗi dậy chính đáng của những công dân bình thường trong các nhiệm sở, điều mà ông cũng thấy rằng không thể chấp nhận được. Điều quan trọng nhất với ông chính là ý tưởng cốt lõi bên dưới mọi khái niệm và sự khác biệt, điều đó khiến ông nhận ra rằng ít nhất là khi nhìn lại, ông đã giúp đưa nó vào cuộc sống. 62
HỢP NHẤT VÀ PHÂN TÁN
Một lĩnh vực cần xét lại sau này đáng được đặc biệt chú ý, vừa vì ý nghĩa lịch sử bi thảm và lâu dài của nó, vừa vì nhiệt huyết mà Jefferson dành cho việc xem xét lại nó. Lĩnh vực đó tất nhiên là chế độ nô lê, một chủ đề mà Jefferson là một đối thủ thẳng thắn trong thời kỳ đầu sự nghiệp của mình, nhưng lại chỉ là một nhà phê bình lưỡng lự và khó nắm bắt ở giai đoạn sau. Hậu thế phải biết rõ là Jefferson ghê tởm chế độ nô lệ, ông tin tưởng chân thành rằng chế độ nô lệ không phù hợp với các nguyên tắc mà dựa vào đó nước cộng hòa được thiết lập, và điều này nhất thiết phải được lịch sử ghi nhận, đồng thời nó cũng rất quan trọng với vị trí riêng của ông trong đền thờ nước Mỹ. Vì thế, ông đã sắp xếp để một trong những lời kết án rõ ràng nhất của ông về chế độ nô lệ được nổi bật trong cuốn tự truyện của mình: “Không gì trong cuốn sách của số phận chắc chắn hơn việc những người này sẽ được tự do. Thực vậy, tôi run rẩy cho đất nước tôi khi ngẫm thấy Chúa thật công bằng, công lý của người không thể mãi ngủ say: nếu chỉ xem xét những con số, bản chất và phương tiện tự nhiên, thì một cuộc cách mạng của bánh xe vận mệnh, một sự đảo ngược thế cục hoàn toàn có thể xảy ra; Đấng Toàn năng không đời nào ủng hộ chúng ta trong một cuộc thi như thế”. 63 Sự rõ ràng vang lên trong tuyên bố này được thiết kế để không ai nghi ngờ gì về những suy nghĩ cuối cùng của ông trước sự bất thường lớn lao của Mỹ. Khi Abraham Lincoln cuối cùng đã quyết định giải phóng nô lệ, ông hồi tưởng về Jefferson như ngọn hải đăng đạo đức của mình, thậm chí dùng một số ngôn ngữ từ tuyên bố trong tự truyện của Jefferson trong bài Diễn văn Nhậm chức lần thứ hai của mình.
Gạt những tuyên bố đạo đức sang một bên, Jefferson cũng đã để lại một hồ sơ dài và rõ ràng về sự trì hoãn, phủ nhận vấn đề nô lệ. Mặc dù bị thúc giục bởi một số bạn bè miền Bắc, mà lương tâm của họ thừa nhận là không bị vướng bận với những trở ngại tài chính thực tế ông phải đối mặt với tư cách một chủ nô, và một vài người bạn miền Nam muốn ông nắm vai trò lãnh đạo tinh thần cho sự nghiệp bãi bỏ dần dần ở Virginia, nhưng Jefferson vẫn kiên quyết từ chối nói ra. “Tôi đã cẩn thận tránh hầu hết mọi hành vi hoặc các biểu hiện có thể có về chủ đề đó”, ông viết cho một người cầu xin Quaker và cách nói ấy đã trở thành phản ứng tiêu chuẩn của ông. “Nếu có một dịp nào đó xảy ra mà tôi có thể xen vào với ảnh hưởng mang tính quyết định”, ông giải thích, “tôi chắc chắn sẽ biết và làm nhiệm vụ của tôi”. Trong lúc chờ đợi, bất kỳ tuyên bố công khai nào “sẽ chỉ tước bỏ ảnh hưởng của tôi để sử dụng những cách thức nhỏ”. Tuy nhiên, thời điểm thuận lợi cho hành động mang tính quyết định cứ tiếp tục lùi ra xa, để đến năm 1817, khi nhận được một kế hoạch giải phóng dần dần từ một người hâm mộ miền Bắc, ông đã ủng hộ nó một cách chung chung nhất (“Các chi tiết phụ có thể dễ dàng sắp xếp”), sau đó tuyên bố ông rất thất vọng vì thế hệ chính khách Mỹ đang lên, “những người tôi từng gửi gắm hy vọng lạc quan”, đã không thể tự mình đưa ra những chi tiết. Ông không còn tin rằng kết cục của chế độ nô lệ đã gần kề. Chắc chắn ông sẽ không còn sống để nhìn thấy điều ấy: “Do đó, tôi đành để đấy cho thời gian”. Giữ im lặng đã trở thành chính sách chính thức của ông. 64
Thứ đã phá vỡ sự im lặng và đẩy danh tiếng của ông vào giữa tâm điểm chú ý của quốc gia, và theo cái cách mà ông muốn tránh bằng mọi giá, chính là các cuộc tranh luận về chế độ nô lệ ở lãnh thổ Missouri. Cuộc tranh luận bắt đầu vào năm 1819 khi một nghị sĩ từ New York, James Tallmadge, Jr., đề xuất việc sửa đổi dự luật thừa nhận Missouri vào Liên minh, được thiết kế để ngăn cấm chế độ nô lệ ở bang mới. Trong thư của ông với Adams, phản ứng đầu tiên của Jefferson trước cái được gọi là Vấn đề Missouri là bình tĩnh và an tâm. Ông bày tỏ hy vọng rằng vấn đề sẽ trôi qua “giống như những con sóng dưới thân tàu trong cơn bão”. Nhưng khi cuộc tranh luận quốc gia về Vấn đề Missouri nổi lên, Jefferson mất hết tự tin và cân bằng chính trị. Ông bắt đầu mô tả cuộc khủng hoảng là “một trong những cuộc khủng khoảng báo hiệu điểm xấu nhất từng đe dọa Liên minh của chúng tôi” và là mối đe dọa lớn nhất đối với sự sống còn của nước Cộng hòa Mỹ “kể từ những ngày ảm đạm của cuộc chiến tranh [Cách mạng]”. Một đồng nghiệp cũ từ những năm làm tổng thống viếng thăm Monticello vào năm 1820 và mô tả ông bị ám ảnh với Vấn đề Missouri, vung tay vung chân trong khi đi lại, cảnh báo nội chiến sắp xảy ra có thể dẫn đến chiến tranh chủng tộc và sau đó là “một cuộc chiến tranh hủy diệt người châu Phi trên đất nước ta”. 65
Tuyên bố sinh động nhất của ông, đã trở thành một phần vĩnh viễn trong các ghi chép lịch sử vì lối ẩn dụ đáng nhớ của nó, đến trong một bức thư gửi cho John Holmes, một nghị sĩ bang Massachusetts. Jefferson giải thích rằng cho đến gần đây ông vẫn hài lòng với việc né tránh báo chí và tự coi mình là “một người không liên quan trong cái vỏ của chúng ta tiến đến bờ mà tôi cách đó không xa”. Nhưng Vấn đề Missouri đã đánh thức ông “giống như một tiếng chuông báo cháy trong đêm, dựng tôi dậy và làm tôi hoảng sợ”. Ông tiếp tục khẳng định rằng không người nào trên Trái đất muốn chấm dứt chế độ nô lệ hơn ông, rằng xua tan chế độ nô lệ khỏi toàn nước Mỹ “sẽ không làm tôi mảy may suy nghĩ lại, nếu theo cách đó có thể đem lại sự giải thoát nói chung và biệt xứ ..? Nhưng không có phương án nào khả thi được đưa ra để đền bù cho chủ sở hữu và tái định cư những nô lệ được giải phóng. Vì vậy, “như thế là chúng tôi chỉ tóm được phần tai sói, và chúng tôi vừa không giữ được nó, vừa không thể thả nó ra một cách an toàn”. Đó là một tình thế khó xử không thể chấp nhận được và không thể giải quyết được: “Công lý ở một bên cán cân và sự tự vệ ở cán cân bên kia”. Ông kết thúc lá thư viết cho Holmes bằng một nhận xét bi quan và định mệnh nhất về Mỹ mà ông từng đưa ra: “Tôi lấy làm tiếc rằng giờ đây niềm tin trong tôi đã chết, rằng sự hy sinh vô ích của những người trong thế hệ năm 1776… sẽ bị vứt bỏ bởi những đam mê thiếu khôn ngoan và không xứng đáng của đám con cháu, và niềm an ủi duy nhất của tôi là, tôi sống không phải để khóc than về điều đó”. 66
Có gì đằng sau, hoặc có lẽ bên dưới, cơn phẫn nộ và tuyệt vọng đột ngột này? Sau tất cả, Vấn để Missouri không phải là không có ngoại lệ; câu hỏi về chế độ nô lệ tại các vùng lãnh thổ phía Tây mà Jefferson đã gặp phải trong thập niên 1780 và đáp lại bằng cách phủ nhận một cách rõ ràng và vang dội đã được nêu ra tại địa điểm mới; câu hỏi ấy đã ẩn nấp trong bóng tối chính trị kể từ khi quyết định xuất sắc duy nhất trong thời kỳ làm tổng thống của ông, Vụ mua lại Louisiana, đưa toàn bộ vùng thung lũng Mississippi vào lãnh thổ đất nước. Hơn nữa, ý tưởng về việc cấm mở rộng chế độ nô lệ ở các vùng lãnh thổ phía Tây có thể dễ dàng được xem như là một sự công nhận hơn là một sự phủ nhận Cách mạng Mỹ, thật ra là một sự hiện thực hóa tầm nhìn ban đầu của Jefferson về một nước cộng hòa mở rộng trong đó cư dân là những nông dân độc lập không phải chịu gánh nặng của thứ di sản bất chấp những nguyên tắc năm 1776. Adams trong thực tế đã diễn giải Vấn đề Missouri chính xác bằng những thuật ngữ này, thông báo cho một số bạn bè của mình rằng việc mở rộng chế độ nô lệ đã vi phạm vào những gì ông hiểu về ý định của những người sáng lập; cuộc khủng hoảng hiện nay, ông nghĩ, là một cơ hôi quý để đưa ra một lập trường đạo đức chống lại “sự tàn ác ở mức độ khủng khiếp” trước khi nó phát triển quá lớn và không thu lại được, đặt sự sống còn của nước Cộng hòa Mỹ vào nguy cơ. 67
Ông không viết cho Jefferson về mạch chủ đề này; đó là một trong những chủ đề nhạy cảm có thể đặt tình bạn mong manh của họ vào rủi ro. Khi có người nói cho ông biết một số môn đệ miền Nam của Jefferson đang tranh cãi rằng vấn đề cốt lõi ở đây mang tính hiến pháp, rằng chính phủ liên bang không có đủ thẩm quyển làm luật trong lĩnh vực này - Adams khăng khăng rằng vấn đề cốt lõi ở đây rõ ràng là đạo đức, không phải hiến pháp, và ông thích thú vì có cơ hội nhắc nhở những bạn bè miền Nam của mình rằng Jefferson đã thiết lập các tiền lệ hiến pháp năm 1803. “Tôi chưa bao giờ nghi ngờ Việc mua lại Louisiana là không hợp hiến hay là cực kỳ hợp hiến, nhưng tôi nghĩ rằng các quý ông miền Nam, những người coi đây là vấn đề Hiến pháp không nên nghĩ rằng đó là một sự vi hiến trong Quốc hội nhằm kiểm chế sự mở rộng của chế độ nô lệ trong lãnh thổ đó thời điểm này”. 68
Jefferson trên thực tế đã nói ra nỗi lo của mình về tiền lệ hiến pháp ông đã thiết lập với việc mua lại Louisiana vào năm 1803. Theo nghĩa đó, lo lắng của ông đã được chứng minh là chắc chắn. Toàn bộ cuộc tranh luận của Quốc hội năm 1819-1820 về Vấn đề Missouri đã nêu lên vấn đề chủ quyền liên bang so với chủ quyển bang, căn bản là cuộc xung đột về hiến pháp, trong đó sự phản đối từ lâu của Jefferson đối với quyền lực liên bang đã rõ ràng và dứt khoát, Vụ mua lại Louisiana là một ngoại lệ và giờ đang quay trở lại ám ảnh ông. Nhưng cũng giống như đặc điểm hiến pháp của các cuộc tranh luận tại Quốc hội chỉ là nhằm để che giấu những vấn đề đạo đức và tư tưởng sâu sắc hơn đang bị đe dọa, cảm giác hối hận riêng của Jefferson về sự đồng lõa của mình trong việc cung cấp tiền lệ hiến pháp cho việc sửa đổi Tallmadge chỉ làm trầy xước phần bề mặt sự thất vọng của ông. Đối với ông cũng như đối với Adams, những vấn đề sâu sắc hơn nằm ở mặt đạo đức và lịch sử, ý định ban đầu của thế hệ cách mạng mà họ là biểu trưng sâu sắc. Và đối với ông cũng như với các thành viên Quốc hội, chủ đề không thể nhắc đến chính là chế độ nô lệ. Trong rất nhiều thư từ về Vấn đề Missouri ông viết trong những năm 1819-1820, cũng như trong các cuộc tranh luận của Quốc hội cùng thời gian đó, từ “nô lệ” hiếm khi xuất hiện, nhưng cũng giống như phương ngôn ma quái tại bữa tiệc, từ này chi phối các cuộc đối thoại căn bản trong Quốc hội và trong tâm trí của Jefferson. Nó buộc ông phải nói rõ ý kiến của mình về dự định ban đầu và cuối cùng của ông về chủ đề không được phép nhắc tới vì ông biết điều này trông sẽ không hấp dẫn với hậu thế.
Một nhận xét được đưa ra trong cuộc khủng hoảng Missouri mà Adams nghĩ ông có thể gửi đến Monticello một cách an toàn, đã cung cấp một cánh cửa dẫn vào sâu trong nỗi tuyệt vọng của Jefferson. “Tôi đã thấy vấn đề nô lệ tại quốc gia này lơ lửng như một đám mây đen suốt một nửa thế kỷ”, Adams viết: “Có lẽ tôi có thể nói rằng tôi đã nhìn thấy những đội quân da đen diễu hành và phản công trong không trung, tỏa sáng trong bộ giáp. Tôi sợ hãi hiên tượng này tới mức trước đây, tôi liên tục nói với các quý ngài miền Nam rằng tôi không thể hiểu được đối tượng này. Tôi phải để lại nó cho các ngài. Tôi sẽ bỏ phiếu lựa chọn cách không ép buộc bất cứ một biện pháp nào chống lại sự phán xét của các ngài”. Ở đây Adams đã cung cấp một cách hiểu rõ ràng mà không cần nói ra, như ông đã tuyên bố, trong đó định hình hành vi của thế hệ cách mạng đối với những khía cạnh chính trị mong manh của chế độ nô lệ, cụ thể là người miền Bắc sẽ đẩy vấn đề nhạy cảm là việc giải quyết chế độ nô lệ cho người miền Nam, vốn rõ ràng có nhiều thứ bị đe dọa hơn. Đây có lẽ là ý nghĩa đầy kịch tính và kín đáo nhất trong mô tả của Benjamin Rush về Adams và Jefferson, đó là “cực Bắc và cực Nam của Cách mạng Mỹ”. Từ quan điểm này, điều giày vò Jefferson nhất về cuộc tranh luận liên quan đến Vấn đề Missouri là có hay không một cuộc tranh luận như vậy. Vì các cuộc tranh luận thể hiện sự vi phạm một phần hiểu biết và lời thề giữ im lặng mà Adams, một người yêu nước New England tinh túy, vẫn thủy chung tuân theo. Theo nghĩa đó, di sản cách mạng thật sự liên quan đến vấn đề nô lệ không phải là một niềm tin vào sự giải phóng mà thực ra là một cam kết chung để trì hoãn và một niềm tin phổ biến rằng người miền Bắc sẽ không can thiệp vào sự lãnh đạo ở miền Nam nhằm thực hiện một chính sách giải phóng dần dần. Đây là lý do tại sao Jefferson lại căm ghét sâu sắc lãnh đạo miền Bắc về Vấn đề Missouri, tuyên bố rằng “họ [người miền Bắc] đang lãng phí những lời ai oán vào những khốn khổ của chế độ nô lệ, cứ như thể chúng ta là người ủng hộ cho chế độ ấy”. Liên minh cắt lớp được biểu trưng hùng hồn bởi tình bạn Adams-Jefferson đã bị thế hệ chính khách phía Bắc đang lên bác bỏ. 69
Mặc dù văn minh thư từ của họ không cho phép làm điều này, nhưng Adams có thể đã nhắc nhở Jefferson rằng sự hiểu biết không nói ra của họ phụ thuộc vào một số biện pháp tiến bộ có thể thấy rõ việc hướng tới kết thúc chế độ nô lệ. Trong thực tế, cuộc tranh luận Missouri đã đưa ra một số sáng kiến mới ở Virginia, một được bảo trợ bởi con rể của Jefferson, Thomas Mann Randolph, Jr., về một chương trình giải phóng dần dần, đi cùng với kế hoạch giả định nhằm trục xuất những nô lệ được giải phóng đến châu Phi hoặc Santo Domingo. Cuộc khủng hoảng Missouri dường như kích thích chính Jefferson đảm trách một vai trò tích cực hơn trong việc ủng hộ những sáng kiến này và suy nghĩ cụ thể hơn về những gì ông đã chối bỏ trước đó vì cho rằng đó chỉ là tiểu tiết. Năm 1824, ông biên soạn phần phân tích đầy đủ nhất ông từng làm về các thực tế nhân khẩu học và kinh tế, tính toán rằng sẽ mất 900 triệu đô-la để giải phóng và sau đó trục xuất 1,5 triệu nô lệ tại Mỹ trong khoảng thời gian 25 năm. Đặc điểm đáng sợ về chi phí, ông thừa nhận, đã làm cho ông “không dám nhìn lại vấn đề này lần thứ hai”. Tệ hơn nữa, con số 1,5 triệu nô lệ sẽ tăng lên gấp đôi trong lúc kế hoạch được thực hiện, và nhiều người trong số những nô lệ được giải phóng, khi được đề nghị lên đường sang châu Phi hay Tây Ấn, chắc chắn sẽ nói, “Chúng tôi không đi”. 70
Trong thực tế, càng nghĩ về chủ đề này, càng nhận ra rằng nghĩ về nó chẳng đem lại mục đích gì hữu ích. Chỉ có một chính sách giải phóng dần dần mới là khả thi, nhưng số lượng ngày càng tăng của nô lệ khiến cho bất kỳ chính sách dần dần nào cũng trở nên không khả thi vì tốc độ tăng dân số sẽ nhanh hơn tốc độ di dời. Không một ai, chắc chắn không phải Jefferson, muốn nói ra điều này hoặc đối mặt trực diện với nó, nhưng nếu từng có một cơ hội để kết thúc chế độ nô lệ một cách từ từ và hòa bình thì cơ hội ấy cũng đã tự kết thúc, đặc biệt là nếu ta giả định, như Jefferson đã làm, rằng những người da đen tự do có thể không được phép ở lại Mỹ. Nếu đã có một cách hiểu ngầm và không chính thức rằng nô lệ là một vấn đề người miền Nam nên được phép giải quyết mà không có sự can thiệp của miền Bắc, thì tới năm 1820 rõ ràng sự trì hoãn và né tránh, cũng là quyết định căn bản của Jefferson về chủ đề này, đã khiến cho bất kỳ giải pháp nào được người miền Nam hậu thuẫn đều cực kỳ khó xảy ra. Nhận xét tiếc nuối của Jefferson về việc không thể đảo lộn tình thế chỉ mở ra một vết nứt nhỏ của hy vọng. “Liên tiếp các sự kiện đã không thể làm cho việc này được hoàn thiện trong thời hạn dành cho tôi”, ông thừa nhận, “và tôi xin nhường lại việc hoàn thành nó cho thế hệ sau”. Hoặc, cũng cùng một dòng suy nghĩ: “Về vấn đề giải phóng tôi đã không còn nghĩ đến nữa vì [nó] không còn là công việc trong thời đại của tôi”. Xét về di sản của ông, và trong bối cảnh có một sự thỏa thuận ngầm giữa các lãnh đạo của thế hệ cách mạng giờ đã ra đi, thì tuyên bố này chính là lời thú nhận thất bại của ông. Nhánh phía Nam được giác ngộ của thế hệ cách mạng, mà dứt khoát Jefferson là người đứng đầu, đã không giữ lời hứa của mình. Cuộc khủng hoảng Missouri làm thực tế khó chịu trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết và làm cho việc tránh những tác động kém hấp dẫn của nó trở nên khó khăn hơn, thậm chí đối với cả Jefferson. 71
Tuy vậy, ở cấp độ khác, cuộc tranh luận về Missouri đã biến khu vực miền Trung Tây to lớn mà Jefferson mua lại vào năm 1803 từ một nơi mang tính giải thoát và giải phóng trở thành một nơi tranh chấp tiếp diễn. Phía Tây, như Jefferson đã luôn hình dung ra, là một nơi mà những vấn đề xã hội và chính trị đang mưng mủ đi tìm câu trả lời. Nhưng Vấn đề Missouri dường như đảo ngược quá trình Jefferson; câu hỏi biến miền Tây trở thành một đấu trường mới của xung đột, tạo ra sự thù địch mà sau đó tràn ngược về Washington và làm trầm trọng thêm những căng thẳng chính trị cũ. Nếu miền Tây đã từng có vẻ như suối nguồn tươi trẻ của Mỹ, thì Missouri giờ đây đầu độc nó bằng một chủ đề nguy hiểm đơn nhất nhất mà nước Cộng hòa Mỹ có thể nghĩ ra.
Quan điểm mà Jefferson cuối cùng đã thông qua về Vấn đề Missouri phụ thuộc đáng kể vào sự chối bỏ của ông với đức tin gần như huyền bí vào sức mạnh chữa trị của vùng đất phía Tây. Trong thực tế, ông lập luận rằng các vùng đất rộng lớn của khu vực xuyên Mississippi sẽ pha loãng và sau đó hòa tan các sản phẩm độc hại của chế độ nô lệ và cuối cùng là chính chế độ nô lệ. Ông gọi câu trả lời của mình là “sự phân tán”, tin rằng việc cho phép chế độ nô lê tràn vào các vùng lãnh thổ phía Tây sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng dần của chính chế độ này. Như ông nói, “sự phân tán trên một bề mặt lớn hơn sẽ làm cho họ [những nô lệ] hạnh phúc hơn về mặt cá nhân, và theo tỷ lệ, giúp họ đạt được sự giải phóng bằng cách chia sẻ gánh nặng cho một số lượng lớn các trợ lý giám mục”. Trong một bức thư gửi Henry Dearborn, Bộ trưởng Chiến tranh cũ của ông, Jefferson nói bóng gió là ông đã mở rộng lập luận của mình về việc Madison lần đầu tiên thực hiện Chế độ liên bang 10. “Tôi vẫn tin rằng phần mở rộng về miền Tây của liên minh chúng ta sẽ được lâu dài”, ông giải thích, “bằng cách bác bỏ những phe phái địa phương, thứ có thể làm rung chuyển một tập hợp nhỏ hơn”. Ông dường như đang gợi ý rằng, dù bằng cách không chính xác trong đó đòi hỏi những phỏng đoán đầy cảm hứng về phần chúng ta nhằm hoàn thiện suy nghĩ của ông, rằng với việc mở rộng các khu vực địa lý nơi tồn tại chế độ nô lệ, người ta có thể nhân lên các phe phái ủng hộ và chống lại sự kéo dài chế độ nô lệ, do đó ngăn ngừa một sự phân chia rõ ràng theo mặt cắt giữa miền Bắc và miền Nam mà có thể dẫn đến nội chiến. Nếu đây là những gì ông muốn ám chỉ khi nói đến “sự phân tán” và bằng cách “chia sẻ gánh nặng cho một số lượng lớn các trợ lý giám mục”, đó là một kế hoạch được thiết kế để tranh thủ sự ủng hộ của người miền Tây và cung cấp cho những chủ nô đơn độc ở miền Nam các đối tác mới trong chính sách giải phóng dần dần. Các khía cạnh chính trị trong tư tưởng của ông khá mờ nhạt. Hình ảnh mà ông nhìn thấy trong trí tưởng tượng của mình rõ ràng hơn nhiều: Chế độ nô lệ sẽ di chuyển về phía Tây, và đơn giản biến mất trong sự bao la của không gian trống rỗng. 72
Khi Adams nghe nói người bạn cũ của mình, cùng với Madison và Monroe, đang vận động cho phép chế độ nô lệ lây lan như một cách để cải thiện ảnh hưởng của nó và cuối cùng để chấm dứt chế độ đó, ông đã bày tỏ sự ngạc nhiên, viết liên tiếp nhiều thư cho con trai mình là John Quincy và con dâu Louisa Catherine Adams để tuyên bố rằng triều đại Virginia đã mất đi bộ óc tập thể của nó. Như Adams nhìn nhận thì chế độ nô lệ là một căn bệnh ung thư; việc tuyên bố rằng sự lây lan khắp cơ thể chính trị bằng cách nào đó sẽ làm giảm tính sát thương của căn bệnh là một suy nghĩ thật kỳ quái. Ông cũng nhấn mạnh rằng học thuyết mới về sự phân tán này mâu thuẫn với ý định ban đầu của các thế hệ cách mạng, hoặc ít nhất là với nhóm lãnh đạo, mà chắc chắn bao gồm cả Jefferson, dành cho việc dần bãi bỏ chế độ nô lệ. Tất cả sau đó đã đồng ý rằng chuyện chấm dứt chế độ nô lệ phụ thuộc vào việc hạn chế chế độ này ở miền Nam. Sự xuất hiện của bông với tư cách một loại cây trồng sinh lợi và sự lây lan đồng thời của chế độ nô lệ ở các bang mới ở khu vực Deep South (Cực Nam) đã làm lộ ra điểm yếu kém của chiến lược này, nhưng không có ai đến nay đã từng tuyên bố rằng việc mở rộng này của chế độ nô lệ là hữu ích cho sự nghiệp bãi bỏ chế độ nô lệ. Chính xác là ngược lại, sự lan truyền của chế độ nô lệ làm triển vọng giải phóng trở nên xa vời hơn bao giờ hết. Trong khi Jefferson tin rằng việc miền Bắc khăng khăng đòi xua chế độ nô lệ khỏi các vùng lãnh thổ phía Tây là đã vi phạm vào một phần hiểu biết của những người trong thế hệ sáng lập, thì Adams lại cáo buộc Jefferson đã bác bỏ các giả định được chia sẻ từ lâu rằng kết thúc chế độ nô lệ có nghĩa là cô lập nó ở miến Nam. 73
Trong cuộc tranh luận này về ý nghĩa thật sự của Cách mạng Mỹ, điều mà không bao giờ trở nên rõ ràng vì một lần nữa nó là một chủ đề quá mong manh để chia sẻ giữa hai vị tộc trưởng, Adams có phần bằng chứng lịch sử lớn hơn nghiêng về phía mình. Thật vậy, căn nguyên sự thất vọng cùng cực của Jefferson với Vấn đề Missouri, cũng như nguồn gốc của những nỗ lực điên cuồng và cường điệu của ông để trả lời câu hỏi đó mà không cần tuyên bố rõ quan điểm chống chế độ nô lệ của ông, chính là ông đã bị mắc kẹt trong những mâu thuẫn ông tự tạo ra bởi sự trì hoãn và chối bỏ. Missouri trở thành một nghịch lý lâu dài về chế độ nô lệ mà ông đã rất khéo léo đưa thành một mâu thuẫn không thể phủ nhận. Ông vẫn luôn nói dối.
Đây là điều khó mà chấp nhận được, cũng như ta không thể chấp nhận được việc những chính khách miền Bắc nắm trong tay nền tảng đạo đức cao vời, thường là lãnh địa của Jefferson, mà từ trên đó họ giờ đây lại đang đổ bóng xuống di sản của ông. Xét đến tính chất không thể chấp nhận được của tình trạng này, Jefferson một lần nữa lại tìm về cách phân loại nguyên thủy trong hình dung chính trị của ông, đó là như mọi khi, theo đạo đức và chia làm hai phần rõ rệt. Càng nghĩ về cuộc tranh luận Missouri, ông càng tự thuyết phục mình rằng chương trình nghị sự thật sự không liên quan mấy đến chế độ nô lệ. Đó hoàn toàn chỉ là một cái cớ, một sự thao túng tài tình của cùng những lực lượng nham hiểm đã cố gắng phá hoại nước Cộng hòa Mỹ ngay từ khi mới ra đời. Họ được gọi là những người bảo thủ trong thập niên 1770, những kẻ theo chế độ quân chủ hoặc độc tài vào những năm 1790, những kẻ Liên bang cực đoan trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, nhưng tất cả họ thực ra đều là nhân tố của cùng một quá trình thối nát. “Vấn đề Missouri hoàn toàn là một thủ đoạn đảng phái”, ông giải thích cho Charles Pinckney. “Các nhà lãnh đạo của chủ nghĩa liên bang, bị đánh bại trong các kế hoạch thâu tóm quyền lực, đã thay đổi chiến thuật của họ và ném ra một thùng mồi khác cho cá voi”. Mặc dù đã bị đánh bại hết lần này tới lần khác, nhưng các tàn dư còn sót lại này của sự tham nhũng liên bang lại dùng tới những thủ đoạn cũ, “lợi dụng tình cảm đạo đức của nhân dân” để giành lại quyền lực chính trị, sử dụng thông điệp chống chế độ nô lệ như một công cụ mới để củng cố quyền kiểm soát của nó. 74
“Hợp nhất” là thuật ngữ mới mà Jefferson sử dụng - những người Virginia khác cũng sử dụng từ này - để gắn nhãn các mục tiêu bí mật của những kẻ bị cáo buộc là chủ mưu này. Theo một nghĩa nào đó thì những người chủ trương củng cố chỉ đơn giản là những người ủng hộ chế độ quân chủ cũ trong vỏ bọc hơi khác nhau. Hoặc họ là đám cận thần và tay sai chính trị xung quanh George III trong thời kỳ cách mạng nay được cấu hình lại. Thâm tâm tất cả họ đều nhắm đến cùng một mục đích tương tự: tích lũy quyền lực chính trị cho bản thân thông qua việc ép buộc chặt chẽ và tách xa khỏi bất kỳ hạn chế hoặc trách nhiệm công chúng nào, sử dụng chế độ nô lệ theo cùng một cách mà Hamilton đã từng dùng nợ nần để biện minh cho âm mưu của họ. Dù lời giải thích ma quỷ này có thiếu sót tới đâu thì đó cũng là một mô tả chính xác về các lực lượng chính trị đã được huy động xoay quanh Vấn đề Missouri, đó là phản ứng được kiểm nghiệm qua thời gian của Jefferson trước mọi xung đột chính trị phức tạp, cụ thể là biến những lực lượng xoay vòng thành một cuộc thi giữa hai bên thiện và ác. Sự đơn giản hóa và cường điệu đã luôn có tác dụng tốt với ông trong quá khứ: George III thực ra không định nô dịch người dân thuộc địa Mỹ, mà chính ra là định thắt chặt kiểm soát của triều đình với những vùng thuộc địa xa xôi; chẳng phải Hamilton hay Adams là người ủng hộ chế độ quân chủ, mà chính là những người ủng hộ một chính phủ liên bang có quyền điều hành mạnh hơn và tràn đầy năng lượng hơn. Hơn nữa, nhãn mới mà ông dành cho kẻ thù - những kẻ chủ trương củng cố - thực ra là một mô tả chính xác hơn về những gì đã luôn làm ông đau khổ về nồng độ nguyên thủy của dã tâm chính trị mà ông đã thấy qua lăng kính mình: Nó được tổ chức và nhóm lại với nhau để tối đa hóa ảnh hưởng cưỡng chế của nó lên quan điểm của quần chúng. Sự phân tán, mặt khác, lại chuyển tải một cách chính xác tính năng cốt lõi của tất cả quyền lực chính trị thật sự chính đáng như ông quan niệm trong trí tưởng tượng của mình: Nó thiếu tổ chức; nó đạt được mục tiêu của mình một cách lặng lẽ, chậm rãi và thấm dần mà không bao giờ phải viện đến sự ép buộc cố ý; đó là một quá trình tự nhiên, gần như vô thức.
Như Jefferson nhìn nhận, lúc đó cuộc khủng hoảng năm 1820 vẫn chưa phải là một phiên bản của cuộc đấu tranh đang tiếp diễn mà ông đã tiến hành và giành được chiến thắng năm 1776, và thắng thêm lần nữa vào năm 1800. “Các đảng hiện tồn tại mà đã tồn tại trước đây”, ông viết cho Lafayette vào năm 1822, chỉ là bây giờ kẻ thù đã nhận ra rằng “chủ nghĩa quân chủ là một mong ước vô vọng ở đất nước này, và đang tập họp lại một lần nữa để nhắm đến mục tiêu tốt nhất tiếp theo, một chính phủ hợp nhất”. Hôm sau, ông viết cùng một giọng điệu ấy cho Gallatin, mở rộng định nghĩa của ông về âm mưu củng cố, trong đó bao gồm cả các đề nghị cho phép sự kiểm soát liên bang đối với đường giao thông và kênh mương, nghĩa là tất cả các “cải tiến nội bộ”. Khi phục vụ trong nội các của Jefferson, Gallatin thực tế đã chủ trì một nghiên cứu đầu tiên về hệ thống đường giao thông và kênh mương quốc gia, và hầu hết phe Cộng hòa từ lâu đã chấp nhận nguyên tắc liên bang chịu trách nhiệm về mạng lưới giao thông vận tải giữa các bang nhằm nối các khu vực địa lý với nhau và kết nối các bang ven biển với các bang trong đất liền. Tuy nhiên, giờ đây Jefferson thông báo với Gallatin rằng cải tiến nội bộ lại là một khía cạnh khác trong âm mưu của những kẻ củng cố. “Mặc dù điều này vẫn chưa được thừa nhận (như với chủ nghĩa quân chủ, bạn biết đấy, cũng chưa bao giờ được thừa nhận) nhưng dứt khoát là có tồn tại”, ông đoan chắc với Gallatin, “và là chìa khóa thật sự cho các cuộc tranh luận tại Quốc hội…” 75
Những điều mà Gallatin thật sự nghĩ về thuyết âm mưu của Jefferson đã không được lưu lại trong sử sách. Nhưng phiên bản mở rộng hơn và toàn diện về tầm nhìn có toan tính của Jefferson, giờ đây đã vượt ra ngoài vấn đề chế độ nô lệ ở Missouri và bao hàm toàn bộ chương trình quốc gia về cải tiến nội bộ, đã gây khó khăn cho việc hiểu rõ cuộc thập tự chinh đạo đức của ông chống lại xu hướng củng cố theo cách ông hiểu như một chương mới trong câu chuyện đang diễn ra của Cách mạng Mỹ. Những tiếng nói tổ tiên mà ông nghe và những bóng ma của Chủ nghĩa liên bang mà ông thấy giờ đây hẳn nhiên có dáng vẻ của một ảo tưởng lớn. Thậm chí tệ hơn, sự thật đáng xấu hổ là ông đã cho phép uy tín lớn gắn với tên tuổi của mình bị phân khúc phản động nhất của nền ván hóa chính trị miền Nam nắm giữ, với việc bảo vệ chế độ nô lệ của nó và thuyết về quyền của các bang. 76
Ngôn ngữ của ông trở nên cuồng loạn hơn như thể tận thế đến nơi. Quyết định hạn chế việc mở rộng chế độ nô lệ chỉ là một cái cớ để tuyên bố sự bất hợp pháp của chế độ nô lệ trên khắp nước Mỹ, “trong trường hợp đó, tất cả những người da trắng ở phía nam sông Potomac và Ohio phải sơ tán khỏi bang mình, và những kẻ may mắn nhất là những kẻ làm được việc này trước”. Đó chính xác là cùng một loại chương trình mà Nghị viện đã cố gắng thử trong thập niên 1760, theo đó quyền đánh thuế người dân thuộc địa chỉ là một cái nêm mở nhằm thiết lập chế độ độc tài một cách toàn diện. Ông và các đồng nghiệp mình trong thế hệ cách mạng đã nhìn thấu thủ đoạn gian trá này, nhưng những người kế nhiệm họ lại “không có chút nào trong người những cảm xúc hay nguyên tắc của năm ’76” giờ đây hoàn toàn bị lừa trong việc ủng hộ “một chính phủ duy nhất và lộng lẫy của tầng lớp quý tộc, được thành lập dựa trên các thể chế ngân hàng và các công ty nhiêu tiền… cưỡi lên và cai trị dân cày bị cướp bóc và những tiểu địa chủ đang van xin”. Đó là lối thuyết phục kiểu cũ của phái Whig, nhưng bây giờ được khai thác nhằm phục vụ tối đa lợi ích tỉnh lẻ của giới chính trị Virginia. Mặc dù ông bày tỏ hy vọng tha thiết rằng ông sẽ không sống để nhìn thấy điều đó, “không thể có chút do dự nào”, ông kết luận, nếu phải đối mặt với một sự lựa chọn giữa “sự tan rã của Liên minh chúng ta… hoặc tuân theo một chính phủ với quyền lực vô hạn”. Ly khai được ưa chuộng hơn củng cố. Đó là một cảnh tượng đáng buồn và đáng thương, càng não nề hơn vì nó dường như ngân lên các hợp âm quen thuộc của những năm 1776 và 1800, nhưng trong thực tế ông đang kết nối di sản của mình với sự hủy diệt của nước cộng hòa mà ông đã góp phần tạo ra. 77
SỰ PHẢN ĐỘNG NỔI LOẠN
Có các tình tiết giảm nhẹ mà những người hâm mộ cuồng nhiệt nhất của Jefferson, kể từ thời ông lẫn mãi sau này, cố nặn ra. Một cách để giải thích việc ông rơi vào tình trạng tâm thần gần như bệnh lý là nhìn nhận điều này như một hệ quả của sự hoảng loạn năm 1819 hơn là cuộc khủng hoảng Missouri, hai sự kiện xảy ra cùng lúc. Cuộc khủng hoảng rối loạn đã gây rớt giá và sụt giảm giá trị đất đai trên toàn bang Virginia. Những vấn đề tài chính của Jefferson và các khoản nợ từ lâu đã buộc ông phải bán thư viện khổng lồ (gần 7.000 cuốn) của mình vào năm 1815 với mức giá tương đối thấp là 23.950 đô-la. Và suy thoái kinh tế bắt đầu từ năm 1819 có lẽ đã đủ để phá hỏng bất cứ triển vọng mong manh nào của việc trả hết nợ. Nhưng đòn tột đỉnh là khi ông cùng ký tên vào một giấy hẹn trị giá 20.000 đô-la cho Wilson Cary Nicholas, một người bạn cũ giàu có và là họ hàng bên vợ. Cuộc khủng hoảng đã hủy hoại giá trị phần sở hữu đất đai rộng lớn của Nicholas, đẩy ông ta rơi vào tình trạng vỡ nợ và để lại cho Jefferson khoản lãi suất phải thanh toán hằng năm là 1.200 đô-la. Jefferson ngay lập tức nhận ra sự bất hạnh này và gọi đó là “ cú dứt điểm ”. Ông đã được cứu thoát khỏi sự thất vọng hoàn toàn chỉ bởi phong cách Jefferson không thể bắt chước. “Trách nhiệm tôi phải gánh thay ngài”, ông viết cho Nicholas, “quả thực đã đặt dấu châm hết cho tôi bằng một thảm họa tôi chưa bao giờ lường được”. Tình hình tài chính của ông vô vọng một cách không thể phủ nhận sau năm 1819. Tất cả các tuyên bố chính trị của ông sau thời điểm đó, về lý thì phải được coi là những lời huyên thuyên của một ông già chán nản bị tê liệt khi nhận ra tình trạng phá sản của mình có thể tước Monticello khỏi những người thừa kế. Di sản lớn trong nước của ông sẽ là một khoản nợ. Những tuyên bố chính trị của ông trong mấy năm cuối cùng này, một lần nữa về lý thì đã được tô điểm bởi không khí u ám bao trùm do những xui xẻo tài chính của ông gây ra. 78
Ông cũng là nạn nhân của sự cô lập ông tự đặt cho mình. “Thời gian này tôi không đọc báo ngoài tờ của Ritchie”, ông viết cho Nathaniel Macon vào năm 1819, và “Tôi cảm thấy quan tâm và muốn tìm hiểu những gì đã qua trong hai hoặc ba ngàn năm trước hơn so với những gì đang diễn ra bây giờ”. Thomas Ritchie là biên tập viên tờ Richmond Enquirer , một phương tiện cho cuộc bút chiến về quyền của các bang chiến trường, còn Macon là một thành viên cũ trung thành khác của phe Cộng hòa, người coi cuộc khủng hoảng Missouri là một âm mưu nhằm chấm dứt chế độ nô lệ ở miền Nam. Ngoài Adams, gần như tất cả những người thường xuyên thư từ với Jefferson đều là đồng hương Virginia như Macon, William Branch Giles và John Taylor, John Taylor là người bảo vệ dông dài nhất các giá trị nông nghiệp và quyền của các bang trong cả nước. Ngoài Old Dominion, nguồn cung cấp thông tin chính về vấn đề hiến pháp của Jefferson là William Johnson, một thẩm phán Tòa án Tối cao từ Nam Carolina, người nổi tiếng chủ yếu là nhờ những nỗ lực không thường xuyên và thường không đẩy đủ nhằm phản đối Chánh án Marshall về việc ủng hộ tình trạng quyền của liên bang hơn là bang. Dù sao thì lúc đó các nguồn thông tin chính trị của Jefferson mang tính đảng phái cao và tính địa phương hạn hẹp. Một ngạc nhiên nhỏ là quan điểm riêng của ông đã bị bóp méo bởi những thành kiến tương tự. 79
Cuối cùng, có một lời bênh vực của Madison được trích dẫn nhiều lần. Jefferson đã nhờ đệ tử cũ của mình “lo liệu cho tôi khi chết”, một tâm nguyện đáng thương mà Madison trung hiếu đã hoàn thành vào những năm 1830, khi những kẻ ly khai miền Nam cố gắng kéo Jefferson về phe mình. Không ai có thể nghi ngờ tuyên bố của Madison về việc ông biết Jefferson rõ hơn bất kỳ ai trên đời này, và ông bày tỏ niềm tin rõ ràng của ông rằng “các cáo buộc chống lại ông Jefferson”, nghĩa là những tuyên bố về gia sản của ông từ những kẻ ly khai và ủng hộ quyền tuyệt đối của bang “có thể bị bác bỏ một cách hợp lệ”. Madison nhận xét rằng “các khoản phụ cấp cũng phải được thực hiện theo thói quen của Jefferson cũng như những người khác có thiên tài vĩ đại trong việc thể hiện bằng từ ngữ mạnh mẽ và tròn đầy, ấn tượng tại thời điểm này”. Một vài phát biểu sau này, được tách khỏi bối cảnh, cho là không nên xếp di sản lâu dài của Jefferson cạnh các yếu tố phản động nhất ở miền Nam. Theo một người thân tín nhất của Jefferson, cũng là một người Virginia có kinh nghiệm hoàn hảo về bênh vực lợi ích miền Nam, việc Madison khăng khăng rằng không nên cho Jefferson là một người ủng hộ ly khai theo nghĩa đen vừa hợp lý vừa thuyết phục. 80
Mỗi nỗ lực nhằm giảm nhẹ tình tiết và giải thích hữu ích là có thật, đặc biệt là lời cảnh báo của Madison rằng không nên coi những tuyên bố đơn lẻ cực đoan và bớt thù địch nhất của Jefferson như các ví dụ công bằng cho những suy nghĩ cuối cùng của ông. Nhưng cũng đúng là các nỗ lực để chối bỏ những tuyên bố chính trị sau này của ông như là những lầm lạc đã không có tác dụng. Dù tình trạng khó khăn tài chính của ông đã có tác động như thế nào lên sự ổn định cảm xúc của ông, thì ông vẫn tìm ra cách để bảo vệ mình khỏi những ảnh hưởng đầy đủ của khoản nợ cho đến tận vài tháng trước khi chết, ông vẫn sử dụng cùng một cơ chế từ chối mà ông đã dùng rất hiệu quả trong suốt cuộc đời mình. Và tính chất đảng phái hẹp hòi trong thư từ của ông không phải chỉ là một tai nạn nào đó của số phận; Jefferson đã chọn cách tập trung trao đổi về chính trị với những người phát ngôn cho một phiên bản “Virginia rõ ràng” của Mỹ, vì họ có xu hướng chia sẻ cảm giác của ông về cái kết rình rập của xã hội nông nghiệp và một lối sống gắn bó chặt chẽ với chế độ nô lệ. Kể cả lối bênh vực đầy thuyết phục của Madison - rằng không nên lúc nào cũng hiểu theo nghĩa đen lối hùng biện vốn có của Jefferson với các ý tưởng cũng phải bị đặt câu hỏi, vì sức mạnh tu từ của lời phát biểu chính trị của Jefferson chính là tâm điểm khiến chúng bị phản kháng và là chìa khóa trọng yếu duy nhất cho sự bền lâu trong di sản của ông. Tóm lại, suy nghĩ cuối cùng của Jefferson về ý nghĩa của Cách mạng Mỹ và ý nghĩa của nó với chính phủ của quốc gia Mỹ mới nổi là cực đoan, nhưng không phải theo nghĩa bất thường hay bị hiểu sai nghiêm trọng; chúng là sự tăng cường và thanh lọc những gì ông vẫn luôn nói.
Có lẽ Madison là người duy nhất trong số những người đương thời với Jefferson hiểu được điều này. (Adams tiếp tục cố gắng hiểu, nhưng giả thuyết cổ điển của ông về sự cần thiết phải xử lý kỷ luật và cân bằng quyền lực chính trị đã ngăn cản ông nắm bắt sự khơi mở trong thông điệp của Jefferson). Sự bênh vực Jefferson của Madison trong thực tế còn hơn cả sự không trung thực, vì thư từ cá nhân và những trò chuyện của ông với thầy mình trong năm năm cuối đời Jefferson đã cho ông tiếp cận đặc biệt tới biểu hiện cuối cùng của sự thông thái chính trị Jefferson, đặc biệt dễ bị nắm bắt bởi những kẻ ly khai miền Nam. Nhưng Madison cũng hiểu hơn ai hết rằng Jefferson là một người có tầm nhìn về chính trị hơn là một nhà tư tưởng chính trị. Trong ý nghĩa cuối cùng đó, thông điệp của ông không thuộc về một nhóm đơn lẻ hoặc nhóm lợi ích nào, bao gồm cả những kẻ ly khai miền Nam đang lên; thật sự thông điệp ấy thách thức mọi giả định truyền thống về những gì có thể có trong chính trị.
Madison có xu hướng chia sẻ những lo ngại linh tính của Jefferson về việc củng cố. Giống như Jefferson, ông bị mắc kẹt trong những tác động kém hấp dẫn của vấn đề chế độ nô lệ; ông cũng phản đối việc hạn chế chế độ nô lệ bị áp đặt bởi Thỏa hiệp Missouri và tìm kiếm sự giải thoát trong ảo tưởng của thuyết phân tán, cũng như có niềm tin ảo tưởng không kém rằng sự giải phóng dần dần bằng cách nào đó vẫn khả thi. Hơn nữa, một trong những hành động cuối cùng của ông với tư cách tổng thống là phủ quyết dự luật về cải tiến nội bộ với lý do là nó cấp cho chính phủ liên bang những quyền hạn vi hiến. Việc thống nhất trong tất cả những vấn đề quan trọng như trên giữa ông và Jefferson khiến lương tâm Madison cảm thông với người thầy già và những suy nghĩ giày vò ông sau năm 1820. 81
Tuy nhiên, có một lĩnh vực mà Madison muốn kín đáo giữ im lặng, đó là điệp khúc quen thuộc của Jefferson về những gì đã được dự định tại Hội nghị Lập hiến. “Có thể tin được không”, Jefferson hỏi một cách hoa mĩ, “khi mà dưới sự ganh tị đang hiện hành chống lại Chính phủ Chung, trong lúc thông qua Hiến pháp, các Bang định từ bỏ quyền bảo lưu mệnh lệnh, thực thi nhiệm vụ đạo đức và kiềm chế thói xấu, trong lãnh thổ riêng của họ?” Công thức lâu nay của Jefferson rất đơn giản: “Tôi tin rằng các Bang có thể quản lý tốt nhất những vấn đề nội tình và Chính phủ Chung là những vấn đề với bên ngoài”. Hoặc, theo công thức rõ ràng nhất của ông thì, “liên bang, về mặt sự thật, là chính phủ nước ngoài của chúng ta…” Madison thích đáp lại các khẳng định như vậy bằng những tuyên bố đầy ẩn ý. “Nút thắt Gordion của Hiến pháp”, ông nhận định, “dường như nằm trong vấn đề xung đột giữa quyền lực liên bang và bang…” Trong khi chính Madison không muốn làm rõ cả câu hỏi về chủ quyền lẫn mức độ bất đồng của ông với Jefferson, thì Dolley vợ ông, trong một lưu ý kèm giấy tờ của chồng ngay sau cái chết của ông, đã nói điều này thẳng thắn hơn: “Thomas Jefferson đã không ở Mỹ trong lúc xây dựng khung Hiến pháp, thông tin về tất cả những gì đã diễn ra tại Hội nghị, về động cơ và ý đồ của những người xây dựng khung, đều từ Madison mà ra, ý kiến của Madison đã dẫn dắt Jefferson trong việc xây dựng công cụ đó, và ông ấy được nhiều người ngưỡng mộ với tư cách là cha đẻ của tác phẩm và gần như tất cả đều nhất trí ông ấy là người đích thực duy nhất tạo ra nó”. Khi nói đến vấn đề hiến pháp, nói ngắn gọn thì Jefferson thường không biết mình đang nói về cái gì. 82
Bất đồng ngày càng xấu đi, theo logic và theo pháp luật, liên quan đến sự tố cáo đầy màu sắc của Jefferson về Tòa án Tối cao. Biểu tượng cuối cùng của xu hướng củng cố đối với Jefferson là Tòa án Marshall, ngồi trên nóc chính phủ liên bang như một khu bảo tồn phe Liên bang, với Marshall đang phân phát những bản án tư pháp của mình như Phật tổ độc ác. “Cái tôi sợ nhất là tư pháp liên bang”, Jefferson viết vào năm 1821. “Cơ quan đó giống như lực hấp dẫn, từng hành động với bước chân khẽ khàng, những bước tiến không báo trước, từng bước từng bước chạm xuống đất, và nắm giữ những gì nó đạt được, đang ngấm ngầm đẩy những chính phủ đặc biệt vào bộ nhá đang nuôi chúng”. Hình ảnh thường xuyên nhất của ông về Tòa án Tối cao là “những quân đoàn tinh tế gồm công binh và thợ mỏ liên tục làm việc dưới mặt đất để phá hoại nền tảng nước cộng hòa liên bang của chúng ta”. Đáng bực hơn cả là Marshall, người dường như sở hữu quyền lực kỳ diệu có ảnh hưởng tới những thẩm phán đồng nghiệp của mình. “Một ý kiến được quẳng ra trong buổi họp kín”, Jefferson ghi nhân trong sự ghê tởm, “được đưa ra cứ như thể có sự nhất trí, và với sự đồng tình im lặng của những cộng sự lười biếng hoặc nhút nhát, do một chánh án xảo quyệt, người biến hóa tài tình luật pháp theo ý mình bằng cách lý luận của riêng mình”. Ít nhất, Jefferson nhấn mạnh, sự chuyên quyền lặng lẽ của Marshall cần phải bị đặt câu hỏi bằng cách yêu cầu tất cả các thẩm phán Tòa án Tối cao đưa ra “lần lượt từng ý kiến” riêng rẽ, để bất đồng chính kiên trong Tòa án có thể được hé lộ và những ảo ảnh về sự nhất trí thần thánh - hiệu ứng ưa thích của Marshall - bị hủy hoại. 83
Madison có xu hướng đồng tình với Jefferson về ảnh hưởng ghê gớm của Marshall và nhu cầu có ý kiến rõ ràng của tất cả các thẩm phán trên tòa. Chừng nào vị Chánh án vẫn tại vị, thì ta cứ biết là sẽ không có giới hạn nào cho sự xâm lấn của chính phủ liên bang liên quan đến một trong hai câu hỏi về chế độ nô lệ tại các vùng lãnh thổ phía Tây và giả định về sự kiểm soát liên bang với những cải tiến nội bộ. Nhưng Jefferson đã đi xa hơn nữa, phủ nhận hoàn toàn quyền lực của Tòa án Tối cao trong việc quyết định các vấn đề về tính hợp hiến. “Trọng tài cuối cùng”, ông nhấn mạnh, “là người dân của Liên bang, tập hợp bởi các đại biểu của họ trong hội nghị, theo lời kêu gọi của Quốc hội, hoặc hai phần ba số bang”. Nói cách khác, Jefferson đã bác bỏ những nguyên tắc rà soát tư pháp và lập luận rằng các quy định được đưa ra để sửa đổi Hiến pháp là những thủ tục đúng đắn duy nhất để quyết định tất cả các vấn đề về hiến pháp. 84
Madison, từng là một nhà ngoại giao cùng với người đồng nghiệp và người bạn cả đời của mình, cố gắng tránh một sự tạm nghỉ bỏ ngỏ bằng cách đầu tiên gợi ý rằng Jefferson ưa một lối làm việc quy ước hơn là cồng kềnh, rồi nhất trí rằng các quyết định của Marshall quả thực đã đủ để kiểm tra sự kiên nhẫn của ai đó. Tuy nhiên, sau đó lại đưa ra cú dứt điểm nặng nề: “Nhưng việc lạm dụng tín nhiệm lại không thể bác bỏ sự tồn tại của nó”. Madison thừa nhận, và đã từ lâu luôn thừa nhận, nguyên tắc rà soát tư pháp. Nếu “tinh thần năm ’76” là có thật, điều mà Jefferson cho rằng, một cách hợp lý, mình là người biết rõ nhất, thì “tinh thần năm ’87” cũng là có thật, điều mà Madison cũng cho rằng, hợp lý không kém, mình biết với mức độ rõ ràng có thể sánh được.
Mục đích rõ ràng của những kẻ dàn xếp Hiến pháp, Madison nói với người bạn mình, là biến Tòa án Tối cao thành trọng tài tối hậu trong cuộc chiến giữa thẩm quyền liên bang và thẩm quyền bang, vị thẩm phán cuối cùng, như cách nói của Madison, là của bất kỳ “sự xét xử nào về sức mạnh giữa một đội do Marshall đứng đầu và một đội do cảnh sát trưởng đứng đầu”. 85
Một thực tế khá kinh ngạc là hai người Virginia đã làm việc với nhau vô cùng chặt chẽ và hài hòa trong nhiều năm, sự khác biệt căn bản về quan điểm này chưa bao giờ nổi lên trước đó. Mặc dù Madison luôn dùng giọng điệu nhẹ nhàng và khác biệt khi nói với người bạn cũ, nhưng Jefferson vẫn không thể nào bỏ qua được điểm này, vì nó lại nổi lên hơn một năm sau đó trong một bối cảnh khác. Jefferson đã chuẩn bị một đề xuất dự thảo mang tên “Tuyên bố và Phản đối long trọng Khối thịnh vượng chung Virginia”, trong đó ông cố gắng đưa ra một quan điểm cho phép bang quê hương phản đối đạo luật liên bang về cải tiến nội bộ. Ông coi quyền kiểm soát các công việc nội bộ là một trong những “quyền được duy trì bởi các bang, các quyền chưa bao giờ được nhường lại, và bang này sẽ không bao giờ tự nguyện nhường lại…” Sau khi Jefferson phủ nhận bất kỳ mong muốn nào nhằm đe dọa Liên minh hoặc chối bỏ khả năng “đổ vỡ ngay tức khắc”, tuyên bố rằng “một sự đổ vỡ như vậy nằm trong số những tai họa lớn nhất có thể xảy ra với họ”, ông lại đe dọa thực hiện chính những hành động mà ông vừa chối bỏ: Phá hoại Liên minh sẽ tạo ra một tai họa, hẳn rồi, “nhưng không phải là tai họa lớn nhất”; vẫn còn. “một tai họa lớn hơn, đó là một chính phủ với quyền lực vô hạn”. Ông đã gửi đề xuất dự thảo cho Madison với một lưu ý, nói rằng ông “không dám phỏng đoán một biện pháp quan trọng như vậy mà lại đi ngược ý ngài, hay thậm chí không có sự ủng hộ”. 86
Madison đã viết lại ngay trong tuần. “Ngài yêu cầu một câu trả lời sớm”, ông nhận định, “và tôi đã vội vã đáp lại, với rủi ro rằng một số trong câu trả lời về chủ đề này có thể thô kệch”. Nội dung chủ yếu trong câu trả lời dài dòng là đề xuất dự thảo của Jefferson là “một sự bất thường mà không có tính chất thực hiện”. Quốc hội đã thông qua việc cải thiện tài trợ nội bộ theo đa số quyết định. Cơ sở duy nhất để lật ngược hành động này là nếu Tòa án Tối cao thấy nó vi hiến, một quá trình khó có thể xảy ra nếu tính tới lòng yêu thích của Marshall, và trớ trêu của trớ trêu, dù sao đây cũng là một quá trình mà Jefferson cho rằng bất hợp pháp. Dù ai đi nữa có nghĩ về cải tiến nội bộ như một con ngựa rình rập sự xấu xa trong việc củng cố, thì Virginia vẫn phải tuân theo pháp luật. Muốn đề nghị khác đi nghĩa là phải nêu lên được nỗi lo rằng các bang không cần phải tuân thủ nếu phản đối được những luật này. Đây là công thức cho nội chiến và cuối cùng là tình trạng hỗn loạn, chính xác là sự nguy hiểm mà Hiến pháp được thiết kế để tránh và Madison nhấn mạnh một cách cực kỳ kín đáo, cũng là thứ mà Jefferson không muốn gắn liến với tên tuổi mình. Jefferson hầu như luôn lắng nghe khi Madison đưa ra lời khuyên về hiến pháp. “Tôi đã đọc phần cuối cùng với toàn bộ sự tán thành và thông qua quan điểm của phần này”, ông thông báo lại cho Madison, và “do đó đã đè nén phần tài liệu của tôi…” Một vài năm sau, khi Madison đang bảo vệ di sản của Jefferson trước tuyên bố của những người ủng hộ quyền tuyệt đối của bang trong Khủng hoảng vô hiệu hóa, quyết định của Jefferson rút lại đề xuất của mình làm công việc của Madison dễ dàng hơn nhiều, và trò hai mang ôn hòa nhằm bảo vệ ông cũng dễ biện minh hơn. 87
Tuy nhiên, sự trao đổi cuối cùng và kết cục là hợp tác với Madison này cực kỳ lộ liễu, và vì những lý do đã vượt ra ngoài vấn đề dễ bị tổn thương của Jefferson, hay cứu thoát khỏi những kẻ ly khai miền Nam mới nổi. Adams đã nói với Jefferson trong nhiều năm rằng phiên bản của Jefferson về ý nghĩa của Cách mạng Mỹ thật sự vừa mang phong cách riêng vừa vô trách nhiệm. Giờ thi Madison nói với ông rằng ông đã thất bại trong việc nắm bắt các thành tựu trung tâm của việc dàn xếp hiến pháp năm 1787-1788, đem lại cho chính quyền liên bang đủ chủ quyền để bảo đảm một hệ thống quốc gia về pháp luật mà tất cả các bang và tất cả các cá nhân có nghĩa vụ phải tuân theo. Cả Adams và Madison, theo những cách khác nhau, đều thông báo với Jefferson rằng thành tựu nổi bật của thế hệ cách mạng chính là sự công nhận thực tế việc cần phải có những giới hạn cũng như sự giải phóng mà nước Cộng hòa Mỹ đã chịu đựng, vì những người tạo ra nó đã thỏa hiệp hợp lý với quyền lực chính trị, rằng thiên tài của cách mạng Mỹ nằm ở khả năng khai thác, thực ra là củng cố, các nguồn năng lượng được giải phóng bởi các phong trào giành độc lập.
Nhưng hóa ra, Jefferson không hề nhìn nhận cuộc cách mạng như vậy. Ông tự coi mình là tinh hoa chưa được thuần dưỡng của xung lực cách mạng thuở ban đầu, không bị ô nhiễm bởi bất kỳ sự hiểu biết ngầm nào của năm 1776 (ở đây ông khác với Adams) hoặc bất kỳ thỏa hiệp rõ ràng nào với quyền lực chính trị những năm 1787-1788 (ở đây ông khác với Madison). Quả thật điều mà hai người bạn cũ của ông coi như các giới hạn thực tế được thiết kế để bảo đảm sự ổn định của cuộc thí nghiệm cộng hòa, thì ông lại tin là sự phản bội ý nghĩa thật sự của Cách mạng Mỹ, không phải để kiểm soát, mà để phát huy năng lượng cá nhân. Ngay cả những cộng sự thân thiết như Adams và Madison cũng có thể xem tầm nhìn của ông vô trách nhiệm một cách quyến rũ, một loại ác cảm lãng mạn nguy hiểm đối với chính quyền hiện tại mà người ta cần phải vượt qua, Nhưng những tuyên bố của Jefferson trong mấy năm cuối đời, không phải là những lời huyên thuyên bất thường, mà thể hiện một sự gắn kết trở lại một cách thống nhất với các nguyên tắc mang tầm nhìn của ông. Tất cả những thỏa hiệp với quyền lực chính trị là các hiệp ước với ma quỷ. Tất cả các nỗ lực củng cố chính trị là những hành vi phản nghịch.
Theo nghĩa đó, ít nhất Madison đã đúng khi nhấn mạnh rằng người thầy cũ của mình sẽ chối bỏ bất kỳ tuyên bố nào về di sản của ông bởi những kẻ đấu tranh cho quyền ở các bang miền Nam. Di sản vĩnh cửu của ông là một sự nghi ngờ sâu sắc về quyền lực của chính quyền ở mọi loại hình và lối hùng biện chính trị trong đó miêu tả bất kỳ mối quan hệ nào giữa người dân và chính phủ đều là có vấn đề và mang tính ngẫu nhiên. Nhận xét không tốt duy nhất về Madison mà Jefferson từng đưa ra, ít nhất là nhận xét duy nhất được ghi chép trong lịch sử, là khi ông hấp hối trên giường trong những giờ khắc cuối cùng, lúc tỉnh lúc mê: “À nhưng!” ông thốt ra. “Ông ấy không bao giờ, trong đời mình, dám đứng lên chống lại sự phản đối kịch liệt”. Mặc dù như vậy không hoàn toàn công bằng với người bạn trung thành nhất của mình, nhưng nhận xét đó nói lên cảm giác bất bình của Jefferson trong đó cho rằng mọi sự thỏa hiệp chính trị đồng nghĩa với sự phản bội các nguyên tắc. Ông vẫn là một kẻ nổi loạn đến phút chót. 88
GIẤC MƠ GIÁO DỤC
Những khoảnh khắc hạnh phúc nhất trong mấy năm cuối buồn bã rõ ràng là những lúc ở riêng: những giờ trong vườn nhà; những buổi chiều trên lưng ngựa; những lúc nô đùa buổi xế chiều cùng đám cháu trên mấy bãi cỏ sau tòa Monticello. Một điểm sáng trong chuỗi ngày trầm lắng về việc nước là dự án đang hình thành cách đó một vài dặm ở Charlottesville, hầu như có thể nhìn thấy vào những ngày quang đãng từ đỉnh núi của ông, được Jefferson gọi là “làng học thuật”. Giờ đây được biết đến, tất nhiên, là Đại học Virginia và được Viện Kiến trúc Mỹ công nhận tại lễ kỷ niệm 200 năm vào năm 1976 là “thành tích đáng tự hào nhất của kiến trúc Mỹ trong 200 năm qua”. Ngôi trường đã trở thành dự án hưu trí lớn của Jefferson năm 1817. 89
Trong năm đó, ông đã gửi một lời nhắn có ý quở trách đến Madison, người vẫn đang bàn giao vị trí tổng thống, vì đã bỏ lỡ cuộc họp đầu tiên của ủy ban chịu trách nhiệm lập kế hoạch về cái lúc đó được gọi là Cao đẳng Trung tâm (Central College): “Tôi đoán một sự giam cầm tại Washington đã ngăn cản ngài tham dự… Ngài sẽ được giải thích về tình huống làm cho chúng ta tin rằng một cuộc họp đẩy đủ của tất cả du khách, ít nhất là nhân dịp đầu tiên, sẽ quyết định một dối tượng lớn trong hệ thống nhà nước về giáo dục phổ thông; và theo dó tôi đã ép chủ đề về Colo. Monroe [Tổng thống đương nhiệm thay thế Madison] như tôi nghĩ sẽ chắc chắn tham dự, và tôi hy vọng ngài củng sẽ đến được”. Trong trường hợp Madison bỏ qua mất điểm này, Jefferson đã nhắc lại sự khó chịu của mình trước sự vắng mặt của Madison và ông mong rằng các phiên họp tiếp theo sẽ là “một cuộc họp đầy đủ của tất cả…” Thời kỳ này minh họa sự đắm chìm của Jefferson trong công việc giáo dục và kiến trúc mới của mình; chưa bao giờ ông nghĩ rằng những tổng thống mãn nhiệm và tổng thống mới đắc cử của Mỹ lại có thể có các việc quan trọng hơn để làm. 90
Ông lao vào các dự án với sự nhiệt tình trẻ trung như ông đã dành cho việc trùng tu Monticello. Thật vậy, ta có thể hiểu những thách thức về mặt kiến trúc và xây dựng được đặt ra trong dự án trường Đại học Virginia giống như những ống dẫn thuận tiện cho cùng một nguồn năng lượng không ngừng nghỉ mà ông đã dành cho tòa biệt thự trên núi của mình mà hiện vừa hoàn thiện; đó là một dự án xây dựng hoàn hảo khiến ông bận rộn. Nhưng nó còn hơn thế, vì nó liên quan đến việc thuyết phục cơ quan lập pháp bang Virginia bỏ tiền ra, lựa chọn giảng viên, xây dựng một thư viện, hình thành một chương trình giảng dạy, trên thực tế là tạo ra một trường đại học Mỹ kiểu mẫu theo hình dung và ý thích của ông. Khi Madison bắt đầu tham dự các cuộc họp của Hội đồng Quản trị, ông lập tức nhận ra rằng tổ chức này lập ra nhằm thể hiện cá tính của Jefferson. Tất cả các thành viên Hội đồng hiểu họ được chỉ định để làm theo chỉ dẫn của Jefferson, và tất cả đều thể hiện “sự tôn kính tuyệt đối… với phán đoán và kinh nghiệm của ông ấy”. Họ chỉ là những kẻ đồng lõa đơn thuần trong lúc ông cố gắng, rõ ràng là lần cuối cùng, để thể chế hóa giấc mơ của mình. 91
Giấc mơ giáo dục của ông đã trở lại. Lúc đầu với tư cách Thống đốc bang Virginia và sau đó trong Những ghi chép , ông đã đề xuất một hệ thống giáo dục công trên toàn bang nhằm đưa Old Dominion thoát khỏi tình trạng thiếu thốn tiếng tăm và đặt nó tương xứng với các bang của New England. Là Tổng thống, ông đã tiếp nhận chương trình yêu thích của George Washington về một trường đại học quốc gia, dự định đặt ở thủ đô của quốc gia. Nhưng ý tưởng đã không được thực hiện, và học viện được thành lập tại New York nhờ phước lành của ông đã trở thành một trường kỹ thuật cho sĩ quan quân đội tại West Point, không giống với những gì ông định ra trong đầu. Chẳng bao lâu sau khi ông thôi chức tổng thống, những suy ngẫm của ông trở nên hữu hình hơn dưới hình thức một kế hoạch tổng thể cho Virginia. Mỗi hạt sẽ được chia thành một loạt “hàng trăm” địa phương hoặc “phường” theo mô hình thị trấn New England. Mỗi phường sẽ dùng tiền thuế để hỗ trợ một trường tiểu học, đem lại cho Virginia khoảng 200 trường học địa phương dạy chữ cơ bản. Sau đó, mỗi hạt sẽ có một học viện hay trường trung học, nơi mà các sinh viên giỏi nhất của các trường phường khi tốt nghiệp có thể học tiếng Latin, tiếng Hy Lạp và các nguyên lý căn bản của khoa học, sinh viên nghèo sẽ được chính quyền chi trả. Điểm chính của kế hoạch này là một trường đại học bang nơi sinh viên giỏi nhất của các học viện hạt sẽ nhận được sự giáo dục tốt nhất ở Mỹ, những sinh viên nghèo nhất trong số học giỏi nhất tiếp tục nhân học bổng được chi trả từ tiền thuế. 92
Kế hoạch này thuần túy do Jefferson đạo diễn: chủ trì ý tưởng, đáng ngưỡng mộ trong ý định, không khả thi trong thực tế. Cơ quan lập pháp bang Virginia từ chối cung cấp kinh phí cần thiết cho kế hoạch toàn diện nhưng đã chỉ định một ủy ban, họp tại Rockfish Gap năm 1818 và đưa ra khuyến cáo cho địa điểm của một trường đại học bang. Jefferson đã tự bổ nhiệm mình và Madison vào ủy ban, chi phối các cuộc thảo luận và đích thân viết Báo cáo Rockfish Gap trong đó ủng hộ việc thành lập một trường đại học bang tại Charlottesville. Madison giúp biên tập theo cách quen thuộc của mình, gợi ý Jefferson sử dụng thuật ngữ “tu viện” để mô tả bầu không khí trường đại học ưa thích, gây ấn tượng mà “có thể không xúc phạm’’, và rằng “ý tưởng tìm kiếm các giáo sư nước ngoài có thể kích thích định kiến ở một số người…” Jefferson bày tỏ sự lo âu của mình rằng Virginia đang quyết định dựng bia đá trên một nền tảng giáo dục không có thực, nhưng sự nhiệt tình của ông cho dự án đã áp đảo sự e dè nơi ông. Ông thích thú với viễn cảnh phục hồi sự hợp tác Jefferson-Madison một lần cuối, song trong một chiến dịch khác để dẫn dắt những công dân còn lưỡng lự về phía chân lý đang nằm ngay ngoài tầm nhìn của họ. Ví dụ, trong ủy ban bang, Jefferson đã giải thích cho Madison rằng “có người hoài nghi và dao động”, vì vậy trong báo cáo của mình ông viết “Tôi, do đó, đã tung ra một số ý tưởng dẫn dắt về các lợi ích của giáo dục… với hy vọng những ý tưởng đó có thể vướng vào một số cái móc trong tâm trí họ, và mang họ lại phía chúng ta”. Giống như những ngày xưa. 93
Một số mô hình Jefferson cũ và quen thuộc cũng hiển hiện, giống như những nhân vật trong một vở kịch trở lại sân khấu trong cảnh tái diễn cuối cùng. Có vô số chi tiết tỉ mỉ bên cạnh một tầm nhìn lớn nhưng rõ ràng đang dẫn dắt ông, song thành công vẫn chưa hẳn đạt được ở nơi lưng chừng, khi mà chi tiết giao với tầm nhìn và tạo ra chi phí quá mức. Jefferson tự mình khảo sát địa điểm cho khuôn viên Charlottesville, thậm chí còn tự mình đặt các cọc mốc. Đối với Rotunda, trung tâm kiến trúc, ông đã chọn đền thờ của Rome làm mẫu và thiết kế tòa nhà vừa như thư viện vừa như một vũ trụ, với những hành tinh di chuyển và các vì sao bên trong mái vòm, được điều khiển bởi một bộ ròng rọc và các thiết bị khéo léo vô hình. (Không bao giờ nên trưng ra hệ thống điều khiển). Ông làm việc bốn tiếng mỗi ngày trong nhiều tháng để sắp xếp danh mục cho thư viện gồm 6.860 đầu sách, mà ông ước tính sẽ trị giá 24.076 đô-la. Những con số chính xác như vậy khiến ông cứ ngỡ mình đang làm chủ tình hình, nhưng có ngờ đâu tình hình tài chính thực tế luôn xói mòn những tính toán cẩn thận nhất của Jefferson. Năm 1820, cơ quan lập pháp bang Virginia, tin rằng mình đã hành động có trách nhiệm để đáp ứng tổng chi phí, cho phép Hội đồng Quản trị vay 60.000 đô-la. Nhưng Rotunda hóa ra lại đắt hơn Jefferson dự đoán, và ông phải đẩy dự toán lên, một lần nữa lại sai lệch về độ chính xác, đến 162.364 đô-la. Năm sau đó, đối mặt với những chỉ trích nặng nề từ cơ quan lập pháp về các chi phí của Rotunda, ông dự đoán rằng 195.000 đô-la sẽ bao gồm được mọi chi phí. Đương nhiên, điều này đã không xảy ra, nhưng đến lúc đó phần mái đã được dựng lên, sự hùng vĩ không thể phủ nhận trong tầm nhìn kiến trúc của Jefferson đã trở nên rõ mồn một và động lực sự nghiệp đã vượt qua điểm mà bất cứ ai, trừ kẻ hoang phí ngốc nghếch, cũng không thể yêu cầu dừng lại. 94
Việc tuyển dụng giảng viên lại một lần nữa thể hiện thái độ mâu thuẫn của ông trước châu Âu với tư cách một hang ổ chính trị và cái nôi của sự học. Ông khăng khăng chỉ có các học giả châu Âu mới có thể cung cấp trình độ tri thức xuất chúng mức độ cao cần thiết cho một trường đại học hàng đầu, do đó ông đã thuyết phục Hội đồng Quản trị đang lưỡng lự phái Francis Gilmer, một luật sư Virginia trẻ trung thông minh, đi tuyển mộ giảng viên tiềm năng ở Anh, Pháp và Đức. Khi Adams biết tin người bạn cũ của ông lùng sục khắp châu Âu để kiếm học giả, ông đã giễu cợt kế hoạch thiếu yêu nước này và nhắc nhở đùa Jefferson về sự kết án màu mè nhất của ông đối với châu Âu như một đầm lầy trí tuệ đầy ắp những bệnh truyền nhiễm chính trị. Nhưng Jefferson vẫn kiên trì trong cuộc tìm kiếm những người giỏi nhất của mình, cho đến khi Gilmer báo cáo rằng không ai trong số các học giả hàng đầu châu Âu muốn chuyển đến một giảng đường còn chưa hoàn thiện ở nước Mỹ hoang sơ. Ông đã cố gắng trưng ra bộ mặt tốt nhất trước biến cố bất ngờ này: “Tôi biết sự trở về của anh ấy [Gilmer] mà không đem theo bất kỳ giáo sư nào sẽ hoàn toàn dập tắt mọi hy vọng của tổ chức… Do đó, tôi nghĩ anh ấy tốt hơn nên mang theo những gì tốt nhất anh ấy có thể có. Họ sẽ thích hợp với những trường cấp hai của nước ta vì tầm vóc của chúng đã được biết đến, trong khi ngôi trường mà anh ấy hứa hẹn với họ thì lại chưa được biết đến, và chỉ được tưởng tượng ra là thuộc cấp cao theo như tính toán của chúng ta”. Trong ngắn hạn, các cam kết về sự xuất chúng thuần khiết phải bỏ ngang. Tội cho Gilmer, sức khỏe của anh đã bị chuyến đi phá hủy, cuối cùng trở về Mỹ vào cuối năm 1824, đem theo cam kết của năm học giả nước ngoài trẻ tuổi đồng ý sẽ đến một thời gian ngắn. Adams trêu ngươi bằng cách gợi ý với Jefferson rằng ít nhất một trong những người nước ngoài này sẽ chịu trách nhiệm giảng dạy về “các giới hạn trong kiến thức con người đã đạt được… mặc dù tôi cho rằng ngài sẽ nghi ngờ về tính đúng đắn của việc thiết lập bất kỳ giới hạn nào… đối với Trí khôn của con người và Đức hạnh của con người”. Jefferson đã chọn cách không trả lời. Ít nhất và cuối cùng, ông cũng đã có được đội ngũ giảng viên của mình. 95
Thế rồi có người hăng hái bảo vệ cho sự tự do tư tưởng và nghiên cứu đến mức cực đoan, hăng hái không kém về việc những người hưởng lợi từ sự tự do tư tưởng đó tìm đến những chân lý phổ quát nhất định để rồi tất cả sau đó có thể nắm lấy như điều hiển nhiên. Jefferson có xu hướng gắn sự hạn chế về tự do tư tưởng với các tín điều tôn giáo và nguyên tắc giáo lý được nhà thờ yêu cầu. Một trong những tính chất đặc biệt nhất của trường Đại học Virginia là sự chối bỏ bất kỳ liên hệ nào với tôn giáo - hầu như tất cả các trường cao đẳng lớn trong cả nước tính đến thời điểm này đều xác định mình là trường dòng của các nhánh tôn giáo hoặc giáo phái nhất định - và Jefferson còn đi xa đến mức cấm giảng dạy thần học hoàn toàn. Ông cũng cực kỳ nhạy cảm với cách thức mà ban ủy thác tại các trường đại học khác của Mỹ, thường bị chi phối bởi các giáo sĩ, áp đặt các hạn chế về những gì được giảng dạy hoặc những cuốn sách được phép đọc. Ông khăng khăng trường đại học của mình sẽ không có các hình thức kiểm duyệt như vậy.
Và ý ông là thế. Nhưng sự quá nhạy cảm với tín điều tôn giáo của ông lại không chuyển sang mảng chính trị. Như ông giải thích cho Madison, “có một nhánh tại đó tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ là những quan tòa tốt nhất”, một ngành học quan trọng tới nỗi “khiến chúng ta có nhiệm vụ đặt ra các nguyên tắc sẽ được giảng dạy”. Lĩnh vực đó là nghiên cứu về chính phủ, nơi Hội đồng Quản trị có trách nhiệm bảo vệ những bộ óc còn non nớt khỏi tư tưởng phản nghịch của “phe Liên bang và những kẻ chủ trương củng cố có hạng”. Jefferson tiếp tục chuẩn bị một danh sách các văn bản tiêu chuẩn cần phải có trong các lớp học về luật và chính phủ; danh sách của ông bao gồm Tuyên ngôn Độc lập, Luận cương Liên bang , các Nghị quyết của Virginia năm 1799, Diễn văn Nhâm chức và Từ biệt của George Washington. Mặc dù số lượng nhất định Luận cương Liên bang đáng ra phải khiến cho Jefferson tạm dừng, nhưng danh sách lại đại diện cho nỗ lực của ông nhằm bảo đảm rằng các thế hệ đang lên hấp thụ được học thuyết của chủ nghĩa cộng hòa theo phiên bản Virginia về Cách mạng Mỹ. 96
Một lần nữa, Madison đã cứu ông khỏi sai sót trong suy xét và gọi ông trở lại với những nguyên tắc đầu tiên của mình. Có những tín điều chính trị giống như có những tín điều tôn giáo, Madison nhận xét, mà Jefferson sẽ không muốn áp đặt, dù vô tình, các giá trị chính trị của minh theo cách thức của một linh mục hay giáo hoàng. Hơn nữa, cũng “không dễ dàng gì để tìm được những cuốn sách tiêu chuẩn vừa dùng làm sách hướng dẫn vừa dùng làm tài liệu lập luận”. Ví dụ, Tuyên ngôn Độc lập, có thể được đọc theo những cách khác nhau bởi những người khác nhau (một trong những hành động nói giảm đanh thép và chua cay nhất của Madison), và việc lựa chọn Nghị quyết Virginia 1799 của Jefferson, mặc dù với Madison người đã viết ra chúng thì đó là một sự tâng bốc, vẫn để lại nhiều “khoảng trống do dự” vì chúng có “trọng điểm hẹp và mang tính địa phương”. (Madison đã cảm nhận thấy nguy hiểm trong việc bảo vệ từ thuở ban đầu các quyền của bang, muốn bảo vệ cả Jefferson và mình khỏi việc bị nhiều diễn giả chiến đấu miền Nam chiếm dụng). Dù sao thì chính cái ý tưởng về một danh sách các bài phải đọc, Madison kết luận, có lẽ là một sai lầm. “Tôi đã, mong ngài chỉ giao, phác thảo ra phần sửa đổi của đoạn văn quan trọng trong dự thảo - của ngài”, ông kín đáo lưu ý, “với mục đích làm nhẹ đi tính tuyệt đối trong lệnh cấm của nó…” Như thường lệ, khi Madison nói theo cách thận trọng này, Jefferson đã nghe theo: “Tôi hoàn toàn đồng tình và hài lòng với phần ngài sửa đổi nghị quyết của tôi”. Bất chấp bản năng ban đầu của người sáng lập, sẽ không có bài kiểm tra nào về niềm tin chính trị tại trường đại học của Jefferson. 97
Tuy nhiên, vẫn còn đó một sự căng thẳng chưa được giải quyết giữa tầm nhìn của Jefferson về Đại học Virginia với tư cách một tổ chức quốc gia hàng đầu về giáo dục đại học của Mỹ, với đặc điểm cắt lớp ngày càng tăng trong tư duy của ông. Thứ bắt đầu như một lựa chọn thay thế phù hợp của Mỹ với Oxford hay Cambridge, nơi mà tầng lớp quý tộc tự nhiên của Mỹ có thể được đào tạo để đảm trách công việc lãnh đạo quốc gia, giờ lại mang tính địa phương hơn trong khi nỗi ám ảnh của Jefferson với “âm mưu của những kẻ củng cố” miền Bắc ngày càng nặng nề hơn. Trong khi những tòa nhà ở Charlottesville đang vươn lên, phiên bản lạc quan của ông về một trường đại học quốc gia lại đi xuống, được thay thế bằng một cảm giác hẹp hòi và phòng thủ hơn về ngôi trường của mình như là một pháo đài phía Nam, nơi thanh niên Virginia có thể tìm nơi ẩn náu khỏi môi trường độc hại của Harvard hay Yale, hiện chuyên sản xuất “những kẻ cuồng tín và bảo thủ”. Đây lại là một biểu hiện khác của phiên bản “Virginia rõ ràng” của ông về chủ nghĩa yêu nước vào giai đoạn cuối. 98
Hai tính năng thật sự đặc biệt của trường đại học thể hiện rõ cá tính của Jefferson. Thứ nhất, bỏ rơi hầu hết các quy tắc truyền thống và yêu cầu về giáo án điều chỉnh hoạt động của tất cả các trường đại học khác của Mỹ. Không có sự phân biệt nào giữa các tân sinh viên, sinh viên năm thứ hai hoặc sinh viên khóa trên. Jefferson cũng muốn “để mọi người tự do tham dự bất cứ môn học nào mà mình muốn, và từ chối những gì mình không muốn”. Không có khóa học hay chương trình học cụ thể nào được yêu cầu. Đó là một hê thống hoàn toàn tự chọn, thật sự là một sự phủ nhận bất kỳ hệ thống được quy định nào. Và cũng không có một cơ quan quản lý hành chính riêng biệt nào. Nhà trường được vận hành bởi các giảng viên với sự hợp tác của sinh viên, tất cả do Hội đồng Quản trị giám sát. Jefferson kiên quyết bảo đảm cho trường đại học của ông tuân theo nguyên tắc “tự quản lý”, điều đó có nghĩa là các giám thị, hiệu trưởng và thậm chí cả chủ tịch đều không cần thiết. Khi có cơ hội thu hút William Wirt, nhà viết tiểu sử nổi tiếng của Patrick Henry, làm giáo sư luật đầu tiên, Jefferson đã rất phấn khởi, cho đến khi ông được biết Wirt chấp nhận với điều kiện phải được làm chủ tịch. Ông đã ngăn chặn việc bổ nhiệm với lý do là trường đại học của ông không cần có sự điều hành. (Để tuân theo mong muốn của ông, Đại học Virginia đã không có một vị chủ tịch nào cho đến năm 1904). Tóm lại, kiến trúc nội thất của “làng học thuật” của Jefferson có tính đặc sắc giống như ngoại thất vật chất của nó, và các nguyên tắc dẫn hướng ở đây không phải là những thứ cổ điển hay theo phong cách Palladian, mà đúng hơn là việc loại bỏ tất cả các hình thức quản lý bên ngoài. Không cần có các xà ngang để giữ ổn định cấu trúc bên trong trường đại học của ông; mọi quy tắc có ý nghĩa đều được đưa vào bên trong và vô hình. Đó là hình ảnh thu nhỏ cho lý tưởng của Jefferson về một xã hội không có chính phủ.”
Đặc điểm cá nhân tiêu biểu thứ hai trong kế hoạch của ông về trường đại học là sử dụng kiến trúc để thể chế hóa một phiên bản giáo dục thân mật và hòa hợp trong nước. Ở một mức độ, bản vẽ khu giảng đường của trường được thiết kế nhằm tái hiện các làng mạc xứ New England bình dị với những khu dân cư tách biệt nhưng vẫn gần gũi vây quanh một công trình công cộng chung hoặc bãi cỏ xanh. Bản vẽ này tối đa hóa cả sự độc lập và những cuộc gặp gỡ trực tiếp hằng ngày giữa các láng giềng. Gần như vượt ra ngoài suy nghĩ là những gì ông đã làm với các phường, với tư cách là các đơn vị chính trị và giáo dục nguyên thủy ở Virginia, nơi mà các cuộc họp thị trấn và trường học đã được truyền thứ năng lượng chỉ có được khi những người tham gia đã biết nhau trong nhiều ngữ cảnh và có sự tin tưởng công dân, giống như một lực lượng tự nhiên, đơn giản được coi là đương nhiên. Sai lầm chính trong kế hoạch giáo dục cấp phường của ông là, ngoài việc cơ quan lập pháp không chấp nhận kế hoạch vì quá đắt đỏ, thì Virginia còn khác biệt về mặt dân cư so với New England; dân cư tản mát chứ không tập trung thành các thị trấn. Tuy nhiên, sự thân mật và tính xác thực của các tương tác xã hội trong môi trường làng xóm hấp dẫn Jefferson như nguồn sản sinh thứ mà ông giờ đây sẵn sàng gọi là “tinh thần dân chủ”, hoặc phiên bản văn minh của sự thuần khiết chính trị hiện hữu trong nền văn hóa bộ lạc của người Da đỏ. Dù ở Virginia có vấn đề nhân khẩu học gì đi nữa, thì “làng học thuật” của ông vẫn sẽ tạo ra nhân khẩu của riêng mình. Không như Oxford hay Cambridge, sự tái hiện của thế giới Gothic những lâu đài và cầu nâng, hoặc mô hình đại học Mỹ được ưa thích về một tòa nhà lớn duy nhất trong đó gợi nhắc đến một pháo đài hay nhà tù, trường học kiểu Jefferson sẽ dựng lại sự thân mật tự trị của ngôi làng New England. 100
Lại ở một mức độ khác, các giáo sư và sinh viên được ghép đôi thành từng cụm theo kiểu mỗi khu nhà cho giáo sư thì bên hông sẽ là các phòng ký túc xá sinh viên chạy dọc theo một hàng cột. Mục đích ở đây là để tạo ra sự mô phỏng môi trường gia đình với các giáo sư trong vai trò giống như cha mẹ hoặc người giám hộ. Nếu ngôi làng là tinh hoa bình dị của một xã hội hài hòa, thì gia đình là thành phần thiết yếu của ngôi làng, là nơi mà không gian trong đó có cả tình thương và sự thân thuộc, và là nơi người ta học được sự tiếp thu kỷ luật bằng những cách vô hình. Chính thiết kế hàng cột ba mặt đã nắm bắt được ý tưởng trẻ trung của Jefferson mà ông hằng ấp ủ trong ký ức về William Small và George Wythe tại trường William & Mary, về người thầy vừa là người hướng dẫn, người bạn, vừa là người giám hộ riêng của ông. Nó nhằm kéo gần lại khoảng cách về cả thể chất lẫn tinh thần giữa giảng viên và sinh viên, do đó làm cho việc học được hưởng lợi từ sự gắn kết tương tác mạnh mẽ thường có giữa các thành viên trong gia đình qua các hình thức tình cảm và hấp dẫn nhất. 101
Mặc dù minh họa được niềm tin sâu sắc nhất và trìu mến nhất của Jefferson, nhưng đây đơn thuần là lý thuyết. Hiện thực trần tục và rõ ràng dội lại bằng một sự trả thù vào tháng 9 năm 1825, khi một nhóm 14 sinh viên say rượu đã nổi loạn, phá vỡ cửa sổ trên và dưới hàng cột, đe dọa làm bị thương hai giảng viên. Trong một phiên bản bị đảo ngược của quy tắc danh dự, không ai trong số các sinh viên tỏ ra sẵn sàng nhận tội hoặc làm chứng chống lại các bạn mình. Vụ việc này đòi hỏi phải triệu tập một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Quản trị vào tháng 10 với sự tham dự của Jefferson khi đó đã 82 tuổi. Thật là một cảnh tượng đáng nhớ. Vị tộc trưởng lụ khụ, ngồi hai bên là Madison và Monroe - bông hoa của triều đại Virginia và tất cả các cựu Chủ tịch - bên một chiếc bàn lớn trong căn phòng Rotunda vừa mới được hoàn thiện. Một trong những sinh viên, Henry Tutwiler, mô tả những gì đã xảy ra. Jefferson đứng lên nói với các sinh viên. Ông bắt đầu bằng việc tuyên bố rằng đây là một trong những sự kiện đau đớn nhất của cuộc đời mình, nhưng ông đã mau chóng dừng lại trước khi để tình cảm lấn lướt và kiểm soát, và ông ngồi xuống, nói rằng ông sẽ nhường lại cho những người giỏi giang hơn nhiệm vụ nói thay những gì ông muốn nói. Thế giới của riêng ông đã đổ vỡ ngay khi ông sắp rời khỏi nó. Ngay cả thế giới lý tưởng về sự tự do hoàn hảo, dân chủ thuần túy và tình cảm con người mà ông từng cho là mình đã tạo ra ở Charlottesville cũng từ chối hợp tác với kỳ vọng của ông. Dường như định mệnh đã sắp đặt ông kết cục sẽ là một nhà lý tưởng bị thất vọng. 102
THẢM KỊCH
Những tháng cuối toàn một sự buồn bã và ảm đạm, được nhấn mạnh bằng nỗ lực sau cùng nhằm cứu vớt ít nhất là một phần gánh nặng tài sản của ông cho người thừa kế, một sự trưng ra cuối cùng và thật sự bướng bỉnh cái phong cách không thể bắt chước được của Jefferson. Khoản nợ của ông trầm trọng tới mức thách thức cả khả năng chối bỏ tuyệt vời của ông, và cảm giác lờ mờ vế cái chết của ông đã bác bỏ ảo tưởng lâu nay rằng một điều gi đó sẽ xảy đến trước khi ông ra đi mãi mãi. “Để giữ được bất động sản ở Virginia đòi hỏi người chủ sở hữu phải có cả kỹ năng lẫn sự chú ý”, ông giãi bày với Monroe, người có triển vọng tài chính cũng ảm đạm, nhưng “kỹ năng tôi chưa bao giờ có và sự chú ý tôi không tài nào có được, và thật sự khi tối ngẫm lại hoàn cảnh của mình, tôi băn khoăn rằng tôi có cần phải mất đến 60 năm để rơi vào tình trạng đi xuống của mình như bây giờ”. Ông nợ khoảng 100.000 đố-la; theo thời giá hiện nay tương đương vài triệu đô-la. 103
Niềm hy vọng của ông là chơi xổ số công khai, bị chính thức coi là phạm pháp và do đó đòi hỏi Hội đồng lập pháp Virginia cho miễn trừ. Tuy nhiên, nếu ông có được sự miễn trừ và nếu thắng xổ số, ông sẽ có một số cơ hội bán bớt một phần tài sản của mình và giữ lại Monticello, theo đó có đủ đất để lại cho những người thừa kế của ông và một phần nhỏ số nô lệ. Tháng 2 năm 1826, ông đã soạn thảo một bản kiến nghị lê thê với cơ quan lập pháp, trong đó ông xem xét lại lịch sử trước đó của trò xổ số ở Virginia và - đây hẳn là một điều đau đớn tột cùng - kể lể công lao đóng góp lâu dài của ông nhân danh bang và quốc gia. Với một người kiêu hãnh và tự trọng như ông, đây là một hành động thật sự tuyệt vọng chỉ có thể được giải thích bởi hoàn cảnh tuyệt vọng của ông. Sau đó, cơ quan lập pháp, xử sự một cách vô ơn không tài nào giải thích nổi và càng làm ông thêm hổ thẹn, đã từ chối kiến nghị của ông. “Ta quả rất hổ thẹn”, ông thú nhân với cậu con rể cũng phá sản của mình, “khi nhận ra cho đến nay ta vẫn đánh giá mình quá cao tới nỗi quá tự tin đánh cược vào nó [xổ số]. Ta thấy, trong sự thất bại của niềm hy vọng này, một vụ nổ chết người phá tan mọi thanh thản trong lương tâm ta những ngày còn lại. Con thật tử tế khuyến khích ta giữ vững tinh thần; nhưng, trong sự o ép của bệnh tật, suy nhược, tuổi tác, và những chuyện đáng hổ thẹn, điều này rất khó khán. Về bản thân, ta không nên gục ngã trước của cải, nhưng ta bị choáng trước viễn cảnh ta có thể phải rời xa gia đình mình”. 104
Tuy nhiên, một vài tuần sau đó, nhiều bạn bè và người hâm mộ của Jefferson đã vận động hành lang thành công các cơ quan lập pháp để đảo ngược lại quyết định. Việc phê duyệt xổ số đã tiêm một tia hy vọng cuối cùng vào những tháng cuối đời ông. (Hy vọng này hóa ra cũng chỉ là ảo tưởng, nhưng Jefferson đã không ở đó để đối mặt với sự thật). Ông chuẩn bị di chúc của mình vào tháng 3 với kỳ vọng rằng Monticello sẽ được các chủ nợ buông tha, và một số đất đai của ông sẽ được truyền lại cho những người thừa kế của ông. Biết rằng cuộc đấu giá sẽ lấy đi nhiều, nếu không muốn nói là hầu hết, những nô lệ của mình, nên ông đã chọn cách giải phóng năm thành viên của gia đình Hemings: Burwell, người hầu riêng của ông, ngay sau khi ông qua đời; John Hemings và Joe Fossett một năm sau đó; Madison và Eston Hemings, hai con trai của Sally, họ sẽ được học nghề với John Hemings cho đến khi 21 tuổi, sau đó sẽ được giải phóng. Bản thân Sally không được giải phóng hay đề cập trong di chúc. 105
Có lẽ phấn chấn bởi niềm hy vọng sai lầm rằng trúng xổ số sẽ cứu ông khỏi đống đổ nát, ông đã có một cơn bùng nổ can đảm cuối cùng vào cuối tháng 6, ngay trước khi cơn bệnh cuối cùng buộc ông phải nằm liệt giường. Các quan chức lên kế hoạch tổ chức Ngày Độc lập ở Washington đã mời ông tham dự các buổi lễ mừng kỷ niệm 50 năm ngày ra đời Tuyên ngôn Độc lập vào 4 tháng 7. Jefferson không đủ sức khỏe để rời khỏi đỉnh núi, nhưng ông đã đồng ý gửi một tuyên bố bằng văn bản. Ông cảm thấy đây sẽ là lời phát biểu cuối cùng trước công chúng của mình, vì vậy ông vận hết công lực một lần cuối, sửa chữa và rà soát lại tuyên bố của mình với sự tập trung vào chi tiết ngang với khi ông đưa ra dự thảo ban đầu của Tuyên ngôn và Diễn văn Nhậm chức đầu tiên của mình. Sau khi bày tỏ sự luyến tiếc một cách duyên dáng về việc không thể cùng tham gia ở Washington với “nhóm nhỏ những chủ nhà đáng kính đã từng sát cánh bên chúng tôi ngày đó còn sót lại, trong cuộc bầu cử can đảm và ngờ vực… giữa việc quy hàng và gươm kiếm”, sau đó ông đưa ra lời nhận định cuối cùng được cân nhắc kỹ càng về những việc mà nhóm người đáng kính đã làm được:
Có thể với thế giới, tôi tin rằng điều đó sẽ xảy ra, (một số sẽ sớm hơn, một số khác thì sau này, nhưng rút cục tất cả sẽ đến) tín hiệu sẽ tới để cổ vũ con người phá tan xiềng xích mà sự ngu dốt tu tập và mê tín đã dùng để kìm kẹp họ, đón nhận các phước lành và an ninh của sự tự quản… Mọi con mắt đã và đang mở ra trước các quyền của con người. Sự lan truyền rộng rãi ánh sáng khoa học đã đặt ra trước mắt chúng ta sự thật rỗ ràng, rằng nhân loại không phải sinh ra với yên ngựa trên lưng, hay một vài kẻ may mắn, chân đi bốt và thúc ngựa, sẵn sàng cưỡi lên người khác một cách hợp pháp, bởi ân sủng của Chúa. Đây là căn cứ hy vọng cho những người khác; cho chính chúng ta, hãy để sự trở lại hằng năm của ngày này mãi mãi làm mới ký ức chúng ta, và một lòng cống hiến trọn vẹn cho những quyền này. 106
Đó là một Jefferson cổ điển: tầm nhìn nâng cao về Cách mạng Mỹ ở chương mở đầu trong cuộc đấu tranh toàn cầu chống lại những định kiến cố hữu của quá khứ; ngôn ngữ trữ tình, vút cao khiến ai cũng phải dõi theo và cảm thấy bừng bừng khí thế trong khi ngẩng cao đầu đón nhận sự thăng hoa của từ ngữ. Như với dự thảo Tuyên ngôn của ông, ý tưởng cốt lõi này không phải do ông nghĩ ra và chưa bao giờ có ý định đó; Jefferson vẫn luôn khăng khăng nhìn nhận Cách mạng như một phong trào giải phóng, một sự phá bỏ, suốt một nửa thế kỷ. Một lần nữa giống như Tuyên ngôn, văn phong khéo chọn ở đây cũng không phải của ông mà được vay mượn từ một bài phát biểu nổi tiêng của Đại tá Richard Rumbold trên giá treo cổ năm 1685 trước khi bị xử tử vì tội phản quốc. Rumbold, một chiến binh Thanh giáo cục cằn, đã nghĩ ra cụm từ “yên ngựa trên lưng” và “một vài kẻ may mắn, chân đi bốt và thúc ngựa, sẵn sàng cưỡi lên người khác” ngay trước khi chết. Jefferson sở hữu một vài bản sao in lại bài phát biểu của Rumbold trong lịch sử Anh. Có lẽ những cụm từ nhất định đã lọt vào bộ nhớ của ông, sau đó vô tình nhảy vào tâm trí ông trong lúc viết. Hoặc có lẽ việc vay mượn này được thực hiện một cách có ý thức hơn, được biện minh trên cơ sở là giống như Rumbold, ông là một người sắp chết và do đó cần được thoải mái một chút trong việc biến một cách diễn đạt yêu thích thành của mình. Dù sự thật là gì đi nữa, và dù cá nhân ông có thất vọng đến đâu về số phận tương lai của gia đình mình và Monticello yêu quý, thì Jefferson vẫn âm vang một giai điệu vinh quang cuối cùng, nắm bắt chính xác thông điệp lạc quan mà ông gửi cho hậu thế. Về ý nghĩa cốt lõi và tầm quan trọng lâu dài của Cách mạng Mỹ, ông không nghi ngờ gì. 107
Jefferson cũng không thể tham dự một buổi lễ khác sáu tháng sau đó, vào ngày 15 tháng 1 năm 1827, khi bất động sản và nô lệ của Monticello được đem bán đấu giá. Mặc dù nỗi sợ hãi phải sống quá lâu của ông hóa ra cũng hợp lý, nhưng mệnh trời sắp đặt ông ra đi vào ngày 4 tháng 7 năm 1826 đã tránh cho ông khỏi bi kịch cuối cùng, đó là nhìn thấy những tài sản lớn của minh, bao gồm cả “130 người da đen có giá trị” được đem bán đấu giá. Cả nước Mỹ vẫn đang xôn xao về cái chết đồng thời của Adams và Jefferson vào lễ kỷ niệm 50 năm ngày hợp tác tuyệt vời năm 1776, mặc dù ở Virginia đã có một số người thể hiện sự oán giận rằng Adams đã len lỏi được vào bối cảnh ra đi đẩy xúc động của một người Virginia vĩ đại, thâm chí nói rằng những báo cáo vào ngày Adams qua đời hẳn phải là “một thủ đoạn của đám Yankee đáng nguyền rủa”. Nhưng đó là sự thật. Và những lời cuối cùng của Adams - “Thomas Jefferson sống mãi” - đã chứng tỏ là một lời tiên tri chuẩn xác bền vững, mặc dù tại thời điểm đó nhận xét này sai bét. Jefferson đã may mắn theo cả hai nghĩa, ông bất tử với thời gian nhưng đã chết từ lâu, vào cái ngày tháng 1 lạnh giá khi cô con gái còn sống và cháu chắt của ông phải chứng kiến Monticello bị chia cắt và phá hủy. Jeffy cháu trai ông không bao giờ quên cảnh tượng buồn thảm, cậu đã so sánh nó với cảnh “một ngôi làng bị chiếm giữ thời xa xưa khi tất cả bị bán làm nô lệ”. Cuộc đấu giá kéo dài năm ngày, và khi kết thúc, số tiền thu về chỉ đủ trang trải một phần khoản nợ khổng lồ của Jefferson để lại cho đám con cháu, còn những nô lệ mà ông đã thề sẽ bảo vệ như một người cha nhân từ thì được đem bán đấu giá. Cuộc đời ông luôn là những lời hứa. Và di sản lâu dài của ông đã trở thành một phiên bản vang vọng nhất của lời hứa Mỹ trong huyền thoại quốc gia. Nhưng trong đời ông, nếu không phải là trong di sản của ông, đã có một số lời hứa ông không thể giữ. Chúng ta không biết ông đã hứa hẹn gì với Sally Hemings trong suốt những năm ấy. Chúng ta biết cô không nằm trong số những nô lệ được ông giải phóng trong di chúc của mình. 108