Thiếu Lâm Tự ở dưới ngọn Ngũ Nhũ Phong, phía Bắc núi Thiếu Thất, cách Đăng Phong, tỉnh Hà Năm 13 km về phiá tây bắc. Thiếu Lâm Tự do thiền sư Ấn Độ là Phật-đà kiến lập vào năm 495 sCN (niên hiệu Thái Hòa thứ 19 đời Hiếu Văn Đế, Bắc Ngụy).
Thiền sư Phật-đà là học giả thiền học uyên bác, thu nhận đệ tử, truyền thiền pháp ở Thiếu Lâm tự. Theo truyền thuyết, vài năm sau, Bồ-đề Đạt-ma cũng đến Thiếu Lâm tu tập và truyền "Nam Thiền Trúc nhất thừa tông", được tôn là Sơ tổ của Thiền tông, do đó Thiếu Lâm tự được gọi là "Tổ đình Thiền tông". Câu chuyện Huệ Khả đến gặp Đạt-ma tự chặt cánh tay để cầu pháp theo truyền thuyết cũng xảy ra ở ngôi chùa này.
Vào đời Bắc Chu, Võ Đế diệt Phật giáo, Thiếu Lâm tự cũng bị phế bỏ. Đến niên hiệu Đại Tượng đời Tĩnh Đế (579-580), chùa được xây dựng lại, đổi tên là Trắc Hỗ tự. Niên hiệu Khai Hoàng đời Tùy Văn Đế (581-588), vừa hạ lệnh đổi lại tên cũ. Đầu đời Đường, do hai hòa thượng của chùa là Đàm Tông, Chí Thao có công hỗ trợ Lý Thế Dân bắt sống Vương Nhân Tắc, đánh bại Vương Thế Sung, nên Thiếu Lâm tự được Đường Thái Tông, Võ Tắc Thiên sùng kính, về sau phát triển rất mạnh, số lượng tăng đồ lúc nhiều nhất đến hơn 2000 người, được suy tôn là ngôi chùa "đệ nhất thiên hạ". Vào đời Đường Mạt, Ngũ Đại, theo tình hình suy sụp của Phật giáo phương bắc, Thiếu Lâm tự cũng suy tàn tiêu điều, đến năm Thuận Hựu thứ 5 đời Nam Tống (1245) mới chấn hưng trở lại. Niên hiệu Ung Chính thứ 13 đời Thanh (1735), Thiếu Lâm tự được trùng tu, hoàng đế Khang Hy ngự bút viết tấm biển sơn môn.
Thiếu Lâm tự lừng danh còn vì một nguyên nhân khác, đó chính là môn phái võ Thiếu Lâm. Tăng chúng của Thiếu Lâm tự trải qua nhiều đời đã sáng tạo môn phái võ thuật với quyền thuật và bổng pháp là chính. Đầu đời Tống, hòa thượng Phúc Cư ở chùa Thiếu Lâm chiêu thỉnh cao thủ võ lâm của tất cả các môn phái vào chùa, tổng cộng trải qua ba năm luyện tập, chọn sở trường của các môn phái bổ sung vào sở đoản, làm cho võ Thiếu Lâm càng hoàn thiện hơn. Võ Thiếu Lâm là một trong nhiều môn phái võ thuật Trung Quốc, không chỉ chiếm địa vị trọng yếu trong nền võ thuật Trung Quốc mà còn phát triển vượt ra ngoài biên giới, danh tiếng lừng lẫy trên võ đài thế giới.
Thiếu Lâm tự có quy mô rất lớn, bao gồm các kiến trúc chính như Sơn Môn, Thiên Vương điện, Đại Hùng bảo điện, Đạt-ma đình, Tì Lư điện, và Sơ Tổ am ớ tây bắc chùa, Nhị Tổ am ở tây nam chùa. Quần thể tháp của Thiếu Lâm tự có thể nói là một đại kỳ quan. Đây là khu mộ địa của các danh tăng qua nhiều đời của chùa. Thông thường tất cả những hòa thượng danh tiếng khi qua đời đều được xây tháp, hiện nay còn hơn 220 ngôi tháp từ đời Đường đến cuối đời Thanh. Kiến trúc tháp rất phong phú, mỗi kiểu thức đều có nghệ thuật tạo hình đặc sắc, thông thường được xây dựng dựa theo địa vị của tháp chủ ở trong chùa hoặc điều kiện kinh tế lúc đó. Trong chùa còn bảo tồn nhiều bia khắc, nổi tiếng có "Tần Vương cáo Thiếu Lâm tự chủ giáo bi", "Võ Hậu thi thư bi", "Linh Vận thiền sư công đức tháp minh", "Tung Nhạc Thiếu Lâm tự bi", "Tức Am thiền sư bi".
Theo cổ quy Phật giáo, tự viện chỉ có Tri sự tăng là Thượng tọa, Tự chủ, Duy-na đứng đầu, nắm quyền hành mọi việc trong chùa mà không có chức Trụ trì (vốn do Thiền môn đặt ra). Tự chủ đầu tiên của Thiếu Lâm tự là Phật-đà, kế tục Phật-đà làm Tự chủ là Tăng Trù. Đến thời Đường Mạt, Ngũ Đại, trên danh nghĩa thì Thiếu Lâm tự thuộc vào chùa luật, nhưng Tự chủ lúc này đã thực sự như Trụ trì thiền viện. Theo tư liệu hiện tồn, thời điểm Thiếu Lâm tự "cách luật vi thiền" (chuyển từ chùa luật sang chùa thiền) là thời hậu kỳ Bắc Tống.
NHỮNG THẮNG TÍCH THIỀN TÔNG
Ở NAM NHẠC
Nam Nhạc Hoành Sơn ở trung bộ Hồ Nam, chu vi vài trăm dặm, có 72 ngọn núi lớn nhỏ. Nam Nhạc vừa là đạo trường lừng danh của Thiền tông, là phát tường thắng địa của Ngũ gia thất tông, vừa là nơi tu tập chỉ quán của Tam Tổ Thiên Thai tông Huệ Tư.
Thắng tích đầu tiên của Thiền tông ở Nam Nhạc Hoành Sơn phải kể đến là chùa Nam Đài. Ngôi chùa này được sáng lập vào niên hiệu Thiên Lâm đời Lương (505-519). Năm đầu niên hiệu Quang Đại đời Trần (567), thiền sư Hải Ấn từng tu tập thiền pháp tại đây. Đầu niên hiệu Thiên Bảo đời Đường (742), Hi Thiên sau khi đắc pháp nơi Thanh Nguyên Hành Tư cũng đến nơi đây. Gần chùa Nam Đài có khối đá lớn, bằng phẳng, Hi Thiên dựng am ở trên đó truyền thụ thiền pháp Nam tông, nên có tên gọi là "Thạch Đầu hòa thượng". Hoài Nhượng ở Nam Nhạc vào thời đó rất nể trọng Hi Thiên. Danh tiếng Hi Thiên vang xa, người kéo đến học rất đông, không lâu sao trở thành một đại đạo trường của Thiền tông phương nam. Đệ tử Hi Thiên có 21 người, quan trọng nhất là Dược Sơn Duy Nghiễm và Thiên Hoàng Đạo Ngộ, về sau phát triển thành ba tông Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn. Do vậy, chùa Nam Đài là Tổ đình của bà tông phái này.
Thắng tích thứ hai là chùa Phúc Nghiêm. Ngôi chùa này thời xưa gọi là chùa Bát Nhã, do thiền sư Huệ Tư kiến lập. Huệ Tư ban đầu ở phương Bắc quy y Huệ Văn, sau đó Đông Ngụy và Bắc Tề chiến loạn nên đi xuống phương nam. Huệ Tư dẫn theo hơn 40 người vào Nam Nhạc, kiến lập chùa Bát Nhã vào năm Quang Đại thứ hai đời Trần, Nam Triều (568). Huệ Tư ở đây đề xướng "Định Tuệ song khai". Hoạt động mười năm ở Nam Nhạc của Huệ Tư có ý nghĩa nhất định đối với việc thúc đẩy thiền học phát triển lớn rộng. Hiện nay trong chùa có "Tam sinh tháp" chính là mộ tháp của Huệ Tư. Hoài Nhượng sau khi đắc pháp nơi Huệ Năng, vào năm Tiên Thiên thứ hai đời Đường (713) đến Nam Nhạc, ở chùa Bát Nhã ba mươi năm phát dương giáo nghĩa Nam tông, có đại đệ tử là Mã Tổ Đạo Nhất. Di tích "Ma kính đài" (đài mài gương) trong công án "Mài gạch làm gương" nổi tiếng của Thiền tông ở gần ngôi chùa này. Đạo Nhất theo Hoài Nhượng hơn mười năm, tận đắc thiền pháp, sau đó từ biệt sư phụ đi Giang Tây, sáng lập Hồng Châu thiền, sau này phát triển thành hai tông Qui Ngưỡng, Lâm Tế. Vì vậy chùa Bát Nhã cũng là Tổ đình của hai tông này. Vào niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc đời Bắc Tống, chùa đổi tên thành Phúc Nghiêm tự. Chùa hiện nay chúng ta thấy đã được xây lại vào năm Đồng Trị thứ 9 đời Thanh (1870), có các kiến trúc chính như Đại Hùng bảo điện, Tàng kinh các, Nhạc Thần điện, Thiền đường.

Rừng tháp của chùa Thiếu Lâm.