Đời Ninh Tông, Nam Tống, theo tấu thỉnh của Sử Di Viễn, định ra cấp bậc các chùa thiền ở Giang Nam, từ đó Trung Quốc có danh xưng "Ngũ sơn thập sát" (Năm núi mười chùa).
Thiền tông sau khi hưng khởi, thiền tăng vì cầu giác ngộ tự tính và ấn chứng mức độ lãnh ngộ nên đi du phương hành cước tìm thầy thăm bạn để học đạo, trải qua cuộc sống lang bạt bất định. Sách chép Triệu Châu Tòng Niệm đến 80 tuổi vẫn còn đi hành cước, Phần Dương Thiện Chiếu một đời tham học 81 vị thiện tri thức. Thiền tăng đi hành cước hoàn toàn không có nơi đến cố định, đến thời Đường Mạt, Ngũ Đại, theo sự phát triển của tùng lâm, dần dần hình thành những địa điểm để các thiền tăng từ khắp nơi hướng đến.
Trong "Ngũ sơn thập sát", "Ngũ sơn" chỉ năm ngọn núi: Kính sơn ở Hàng Châu có chùa Hưng Thánh Vạn Thọ; Linh Ẩn sơn ở Hàng Châu có chùa Linh Ẩn; Nam Bình sơn ở Hàng Châu có chùa Tịnh Từ; Thiên Đồng sơn ở Ninh Ba có chùa Cảnh Đức; A Dục Vương sơn ở Ninh Ba có chùa Quảng Lợi. "Thập sát" là mười chùa sau: Chùa Vĩnh Tộ ở núi Trung Thiên Trúc, Hàng Châu; chùa Vạn Thọ ở Hồ Châu; chùa Linh Cốc ở Giang Ninh; chùa Báo Ân Quang Hiếu ở Tô Châu; chùa Tư Thánh ở núi Tuyết Đậu, Phụng Hóa; chùa Long Tường ở Ôn Châu; chùa Sùng Thánh ở núi Tuyết Phong, Phúc Châu; chùa Bảo Lâm ở Kim Hoa; chùa Linh Nham ở núi Hổ Khâu, Tô Châu; chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai. "Ngũ Sơn thập sát" trở thành những đạo trường chủ yếu mà các thiền tăng du phương kéo đến học đạo.
Theo tình hình suy yếu của Phật giáo và sự phai mờ nét đặc trưng của Thiền tông, đến đời Minh, đa số chùa trong "Ngũ sơn thập sát" đều suy vi. Lại do trong tùng lâm thiếu những bậc tôn túc đại đức khiến mọi người sùng kính, trình độ tu học của thiền tăng và tăng đồ Phật giáo suy giảm, "Tứ đại danh sơn" dần dần thay thế địa vị của "Ngũ sơn thập sát", trở thành nơi thiền tăng và tín đồ Phật giáo kéo đến tham học. "Tứ đại danh sơn" là bốn núi sau: Ngũ Đài sơn ở Sơn Tây; Phổ Đà sơn ở Chiết Giang; Nga Mi sơn ở Tứ Xuyên; Cửu Hoa sơn ở An Huy. Đời Minh có câu nói "kim Ngũ Đài, ngân Phổ Đà, đồng Nga Mi, thiết Cửu Hoa" (Ngũ Đài vàng, Phổ Đà bạc, Nga Mi đồng, Cửu Hoa sắt) cho thấy địa vị cao thấp của "Tứ đại danh sơn" trong lòng tín đồ.

Đại Hùng Bảo điện ở Phổ Đà sơn.
Ngũ Đài sơn có năm ngọn cao vút, theo truyền thuyết là đạo trường mà Bồ-tát Văn Thù hiển linh thuyết pháp, ở núi có nhiều tự miếu, có đặc điểm tông phái lẫn lộn, chỉ phân ra hai loại là Thanh (nơi ở của hòa thượng tộc Hán) và Hoàng (nơi ở hòa thượng Mông, Tạng) hoặc phân theo loại "Thập phương" (chùa thỉnh hòa thượng danh tiếng ở các nơi về trụ trì) và loại "Tử tôn" (chức trụ trì truyền theo kiểu sư phụ truyền đệ tử). Hiện nay, trong núi có 39 tự miếu, như Hiển Thông tự, Tháp Viện tự, ở ngoài núi có 8 chùa, như Phật Quang tự, Nam Thiền tự. Các chùa chủ yếu như Hiển Thông tự, Tháp Viện tự, Thù Tượng tự, Phổ Tế tự đều thuộc Thiền tông. Đến ngày nay, Ngũ Đài sơn vẫn là danh sơn được thiền tăng và tín đồ Phật giáo đến nhiều nhất. Phổ Đà sơn, theo tương truyền là đạo trường của Quán Thế Âm Bồ-tát. Sau thời Bắc Tống, tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ-tát thịnh hành, số lượng chùa miếu ở Phổ Đà sơn tăng lên, tăng chúng tụ tập rất nhiều, đến cuối đời Thanh đã có ba ngôi đại tự, hơn 70 am đường và hơn 100 mao bồng (chùa cỏ tranh, cỏ bồng). Ba ngôi chùa lớn là Phổ Tế tự, Pháp Vũ tự, Tuệ Tế tự, đều là tự viện Thiền tông. Vào ngày 19 tháng 2, ngày 19 tháng 6, và ngày 19 tháng 9 Âm lich là ngày đại lễ Quan Âm, các ngôi chùa đều tổ chức các hoạt động tôn giáo long trọng. Nga Mi sơn tương truyền là đạo trường Phổ Hiền Bồ-tát hiển linh thuyết pháp. Trong lịch sử từng có nhiều thiền sư đến Nga Mi thuyết pháp, như Triệu Châu, Hoàng Bá, Nam Tuyền... đều từng đến núi này. Nguyên hữu có hơn 70 tự viện lớn nhỏ, trải qua nhiều lần hưng phế, đến hiện nay quan trọng nhất có chùa Báo Quốc ở dưới núi, trên núi có chùa Vạn Niên là chùa lớn nhất, ở đỉnh núi chùa Quang Tướng, đều thuộc Thiền tông.
Cửu Hoa sơn tương truyền là nơi Địa Tạng Bồ-tát hiển linh thuyết pháp. Trải qua nhiều đời đến nay còn 78 chùa miếu lớn nhỏ, trong đó nổi danh nhất có chùa Hóa Thành, là ngôi chùa khai sơn sớm nhất, hiện là trung tâm của toàn bộ chùa miếu ở núi này, được vinh dự gọi là "Tổng tùng lâm", còn bốn chùa Kì Viên, Vạn Niên, Đông Nham, Cam Lộ là "Tứ đại tùng lâm".

Sơn môn chùa Vạn Niên ở Nga Mi sơn.
NHỮNG CHÙA THIỀN TRỨ DANH
Ở TRUNG QUỐC
Tự viện là nơi cư trú tu hành của tăng ni và cử hành các hoạt động tôn giáo của tín đồ Phật giáo. Thời nay, nhiều tự viện trứ danh còn là điểm du lịch rất hấp dẫn đối với du khách. Thiếu Lâm tự ở Tung sơn, Hà Nam là một nơi phát tường của Phật giáo Trung Quốc, có ý nghĩa tôn giáo không kém Thiếu Lâm tự là Nam Hoa tự. Linh Ẩn tự và Thiên Đồng tự cùng là hai ngôi chùa trứ danh của Thiền tông.
Chùa Nam Hoa tự, nguyên có tên là Bảo Lâm tự, o Tào Khê, tỉnh Quảng Đông. Theo thiền sư, Huệ Năng sau khi được Hoằng Nhẫn ấn khả, mật truyền y bát, trải qua một thời gian ẩn cư, bắt đầu khai pháp ở Bảo Lâm tự, truyền bá pháp môn đốn ngộ. Năm Khai Bảo thứ ba đời Tống (970), chùa được vua ban biển ngạch là Nam Hoa tự, từ đó được gọi tên này đến ngày nay. Trải qua nhiều đời hưng phế, đến năm 1934, khi Hư Vân hòa thượng đảm nhiệm trụ trì, chùa được đại trùng hưng, có được qui mô như hiện nay. Kiến trúc chủ yếu có Đầu Sơn môn (Tào Khê môn), Nhị Sơn môn (Bảo Lâm môn), Thiên Vương điện, Đại Hùng điện, Linh Chiếu tháp, Lục Tổ điện. Trong điện Lục Tổ còn lưu giữ chân thân Huệ Năng.
Linh Ẩn tự ở Hàng Châu là ngôi chùa lừng danh thiên hạ. Được xây dựng vào đời Đông Tấn, đến đời Nam Tống là một trong Ngũ sơn của Phật giáo Trung Quốc, thuộc Lâm Tế tông. Thời Nguyên, Minh bị phế rồi lập lại, đến năm Thuận Trị thứ 6 đời Thanh (1649) được xây mới toàn bộ, Khang Hy ban tên là Vân Lâm thiền tự. Từ năm 1949 về sau nhiều lần đại trùng tu, ngôi chùa hiện trông rất mới, có Đại Hùng bảo điện là kiến trúc từ đời Thanh, trong điện có tượng Phật Thích-ca cao 9.1m, được tạc từ 24 khối gỗ hương chương ghép lại. Trước Đại Hùng bảo điện là hai tháp đá bát diện cửu tầng, trước Thiên Vương điện có hai cột đã khắc kinh, là di vật từ đời Ngô Việt.
Chùa Thiên Đồng tự ở núi Thái Bạch thuộc huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang, là một trong tứ đại tùng lâm của Phật giáo cận đại. Chùa được xây vào đời Tây Tấn, trải qua nhiều đợt hưng phế, đến năm Đại Trung thứ nhất đời Đường (847) trở thành thiền tự. Vào đời Bắc Tống đổi tên thành Cảnh Đức thiền tự, là đạo trường trứ danh của Thiền tông. Năm Kiến Viêm thứ ba đời Nam Tống (1129), thiền sư Chính Giác thuộc Tào Động tông ở chùa này khởi xướng Mặc chiếu thiền. Năm Bảo Khánh thứ nhất (1225), thiền sư Như Tịnh trú ở đây, thời đó Đạo Nguyên từ Nhật đến theo học, sau khi về nước sáng lập Tào Động tông Nhật Bản. Đời Minh, chùa được định danh là Thiên Đồng thiền tự và được phong là một trong Ngũ sơn của tùng lâm. Hiện nay chùa có hơn 900 phòng ốc, qui mô rất lớn.

Tháp xá-lị ở chùa Thê Hà, Nam Kinh.
Kim Son tự ở Trấn Giang, Giang Tô được xây từ đời Đông Tấn, nguyên tên là Trạch Tâm tự. Lương Võ Đế vào năm Thiên Giám thứ tư (505) cử hành Thủy lục pháp hội ở chùa này. Từ đời Đường trở đi được gọi là Kim Sơn tự. Thiền sư Phật Ấn Liễu Nguyên thuộc Vân Môn tông cũng từng trú ở đây. Từ Nam Tống về sau, chùa trở thành thiền viện quan trọng của Lâm Tế tông. Hai vị vua nhà Thanh là Khang Hy và Càn Long đi nam tuần đều thiết lập hành cung ở đây. Chùa Kim Sơn tự trong "Truyện Bạch Xà" lưu truyền trong dân gian cũng chính là chỉ ngôi chùa này.

Tòa kiến trúc bằng đồng ở Ngũ Đài sơn.
Dũng Tuyền tự ở trên núi Thạch Cổ sơn, huyện Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến. Lúc sơ kiến vào năm Khai Bình thứ hai đời Hậu Lương, Ngũ Đại (908), chùa có tên là "Cổ Sơn Dũng Tuyền thiền tự". Là đệ nhất tùng lâm ở Phúc Kiến, thiền viện trứ danh ở Giang Nam, chùa có qui mô rất lớn với các kiến trúc chính là Thiên Vương điện, Đại Hùng điện, Pháp đường. Pháp đường về sau trở thành Thần Yến quốc sư tháp, hai bên có Khách đường, Tổ đường, Trai đường, Thiền đường. Tàng kinh điện tàng trữ nhiều điển tịch rất quý hiếm. Những danh tăng thời cận đại như Diệu Liên, Hư Vân, Viên Anh đều lần lượt là những vị trụ trì nên địa vị của chùa ngày càng cao.
Chùa Khai Nguyên ở Tuyền Châu, Phúc Kiến nổi tiếng với hai tháp đá hùng vĩ tráng lệ. Chùa được xây vào năm Thùy Củng thứ hai đời Đường (686), tên là Liên Hoa tự, đến năm Khai Nguyên thứ 16 (738) đổi thành Khai Nguyên tự. Trải qua hưng phế nhiều đời đến nay, kiến trúc chính hiện tồn có Sơn môn, Đại Hùng bảo điện, Cam Lộ giới đàn, Pháp đường, Tàng kinh các. Đại Hùng bảo điện còn có tên là Tử Vân đại diện, có 86 trụ đá lớn cỡ hai người ôm nên được gọi là "Bách trụ điện". Hai tháp đá được xây vào đời Nam Tống, một tháp cao 48m, tháp kia 44m, là tháp đá lớn nhất Trung Quốc. Trên tháp có phù điêu và tượng đá rất đẹp, trình độ nghệ thuật có thể sánh với các tác phẩm ở hang động Đôn Hoàng, Vân Cương, Long Môn.