Quỷ Cốc Tử Mưu Lược Toàn Thư

Lượt đọc: 2211 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN 11
QUYẾT THIÊN
(QUYẾT ĐOÁN SỰ VẬT)
nguyên văn

Phàm quyết vật, tất thác vu nghi giả. (1) Thiện kỳ dụng phúc, (2) ác kỳ hữu hoạn; (3) thiện chí vu dụ dã, trung vô hoặc thiên. (4) Hữu lợi yên, khứ kỳ lợi, tắc bất thọ dã, kỳ (5) chi sở thác. Nhược hữu lợi vu thiện giả, ẩn thác vu ác, tắc bất thọ hĩ, trí sơ viễn. Cố kỳ hữu sử thất lợi giả, hữu sử ly hại giả, thử sự chi thất. (6)

Chú thích

1. Quyết vật: Quyết đoán sự tình. Thác: Gửi gắm, nhờ vào.

2. Thiện kỳ dụng phúc: Có được hạnh phúc là thiện, có nghĩa là thích có hạnh phúc.

3. Ác kỳ hữu hoạn: Ghét có họa hoạn.

4. Dụ: Khuyên bảo, dạy dỗ. Hoặc: nghi hoặc. Thiên: Nghiêng, lệch.

5. Kỳ: Chỉ mưu kế kỳ diệu.

6. Thất lợi: Mất đi lợi ích. Ly hại: Gặp tai họa. Sự chi thất: Sai lầm khi quyết đoán sự vật.

Phần này chủ yếu thảo luận về vấn đề liên quan tới quyết đoán sự vật, nói rõ tầm quan trọng của việc quyết đoán, và dạy chúng ta phải quyết đoán thế nào. Phần này cho rằng “quyết tình định nghi, vạn sự chi cơ, dĩ chính trị loạn, quyết thành bại, nan vi giả”, (quyết đoán sự tình, giải quyết nghi ngờ là điểm mấu chốt để xử lý mọi chuyện. Nó liên quan tới sự thái bình hay biến động trong xã hội, liên quan tới sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp của một người, đây là một việc rất khó làm tốt) đã cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc quyết đoán, quyết sách đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xã hội. Quyết sách rất khó làm, song lại có sức ảnh hưởng rất lớn, do đó cần hết sức thận trọng.

Dịch nghĩa

Phàm là quyết đoán sự vật đều nhằm vào người đang nghi ngờ. Con người luôn muốn gặp hạnh phúc, mà không muốn gặp tai họa; nếu giỏi khuyên bảo, thì sẽ có thể xóa tan mọi nghi ngờ và thiên kiến. Khi quyết đoán giúp người khác thì nền xem quyết đoán như vậy có mang lại ích lợi không, bởi vì nếu mất đi ích lợi thì sẽ không được tiếp nhận, cũng chính là dựa vào đó để vạch ra kỳ sách. Bất cứ sự quyết đoán nào đều nên có lợi cho người được gửi gắm, song nếu trong đó ẩn chứa nhân tố bất lợi thì người được gửi gắm sẽ không chấp nhận, quan hệ giữa hai bên sẽ trở nên lạnh nhạt. Bởi vậy, về mặt quyết sách, nếu khiến đối phương mất đi lợi ích nào đó, hoặc khiến đối phương gặp tổn hại thì đó là sai lầm trong việc đưa ra quyết sách.

Nguyên văn

Thánh nhân sở dĩ năng thành kỳ sự giả hữu ngũ: Hữu dĩ dương đức chi (1) giả, hữu dĩ âm tặc chi (2) giả, hữu dĩ ngôn thành chi (3) giả, hữu dĩ tế nặc chi (4) giả, hữu dĩ bình tố chi (5) giả. Dương lệ vu nhất ngôn, âm lệ vu nhị ngôn, bình tố, khu cơ dĩ dụng tứ giả, vi nhi thi chi. (6) Vu thị độ dĩ vãng sự, nghiệm chi lai sự, tham chi bình tố, khả tắc quyết chi; (7) Công vương đại nhân chi sự dã, (8) nguy nhi mỹ danh giả, khả tắc quyết chi; bất dụng phí lực nhi dị thành giả, khả tắc quyết chi; dụng lực phạm cần khổ, nhiên bất đắc dĩ nhi vi chi giả, khả tắc quyết chi; khứ hoạn giả, khả tắc quyết chi; tùng phúc giả, khả tắc quyết chi.

Chú thích

1. Dĩ dương đức chi: Công khai cảm hóa người khác bằng đạo đức.

2. Dĩ âm tặc chi: Ngấm ngầm sát hại người khác bằng thủ đoạn độc ác, nguy hiểm. Chính là ngầm hại người.

3. Dĩ ngôn thành chi: Thu phục đối thủ bằng thái độ trung thực.

4. Dĩ tế nặc chi: Che chở và bảo vệ người khác bằng phương pháp giấu kín tung tích.

5. Dĩ bình tố chi: cảm hóa một bên bằng sự liêm khiết.

6. Dương lệ vu nhất ngôn, âm lệ vu nhị ngôn: Làm việc công khai thì ngôn từ phải nhất trí; ngấm ngầm làm việc, thì phải giỏi hai kiểu nói chuyện. Bình tố, khu cơ dĩ dụng: Vừa dùng biện pháp công bằng, lại vừa dùng biện pháp khéo léo, linh hoạt. Tứ giả: Chỉ nhất ngôn, nhị ngôn, bình tố và khu cơ. Vi nhi thi chi: Sử dụng tinh tế và khéo léo.

7. Cả câu này có nghĩa là: Đánh giá dựa vào sự việc đã qua, kiểm nghiệm bằng sự việc sắp tới, kiểm chứng bằng sự việc thường xuyên xảy ra, nếu có thể thì quyết đoán ngay.

8. Công vương đại nhân chi sự dã: Tức là hậu hạ, cung phụng vương công, đại nhân, vạch mưu kế giúp họ.

Những việc hệ trọng nào của quân vương chư hầu mới đáng để mưu thần sách sĩ quyết đoán nghi hoặc đây? Tác giả đã đưa ra những nguyên tắc như sau: Thứ nhất, việc tao nhã, có thể tạo danh tiếng tốt đẹp; thứ hai, việc dễ thành công mà không hao tổn sức lực; thứ ba, việc khó khăn, mất nhiều công sức, song bắt buộc phải làm; thứ tư, việc có thể làm mà không phải lo lắng; thứ năm, việc có thể mang lại hạnh phúc. Chỉ cần là một trong năm sự việc ở trên thì có thể quyết đoán ngay. Quyết đoán nghi ngờ giúp người khác, giống như là dắt nhà vua tới ngã ba đường, nếu bước nhầm đường thì sẽ phải đối mặt với khó khăn, tai họa; còn nếu bước đúng đường thì có thể giúp vua hoàn thành nghiệp đế vương.

Dịch nghĩa

Sở dĩ thánh nhân có thể hoàn thành đại sự là vì họ dựa vào năm cách chính: Công khai cảm hóa người khác bằng đạo đức; ngấm ngầm hại người khác bằng mưu kế; thu phục đối phương bằng thái độ trung thực; che chở và bảo vệ người khác bằng phương pháp giấu kín tung tích; cảm hóa một bên bằng sự liêm khiết. Làm việc công khai thì ngôn từ phải nhất trí; làm việc giấu kín thì phải giỏi hai kiểu nói chuyện. Vừa dùng biện pháp công khai, lại vừa dùng biện pháp linh hoạt, cả bốn cách làm này đều cần phải sử dụng tinh tế và khéo léo. Khi quyết đoán sự vật, cần đánh giá dựa vào sự việc đã qua, kiểm nghiệm bằng sự việc sắp tới, kiểm chứng bằng sự việc thường xuyên xảy ra. Nếu có thể được thì quyết đoán ngay. Khi vạch mưu kế cho vương công, đại nhân, nếu thấy sự việc tao nhã, lại có thể tạo danh tiếng tốt đẹp, mà có thể thực thi thì nên lập tức quyết đoán ngay; nếu thấy sự việc dễ dàng thành công mà không phải hao tốn sức lực thì lập tức quyết đoán ngay; nếu thấy sự việc khó khăn, mất nhiều công sức, song không thể dừng lại được mà vẫn phải làm tiếp thì nên lập tức quyết đoán ngay nếu thấy vẫn có thể làm được; nếu sự việc có thể thực thi mà không phải lo lắng thì lập tức quyết đoán ngay; nếu sự việc có thể mang lại hạnh phúc mà có thể thực thi thì lập tức quyết đoán ngay.

Quyết đoán sự vật nên được tiến hành theo quy luật. Trước hết, hiểu rõ sự thực rồi mới quyết đoán; Cần dựa vào “kỳ”, dĩ kỳ mưu sự; lấy thuật Âm Dương làm chính đế phụ cho “bình tố”, “khu cơ”; Cần “độ dĩ vãng sự, nghiệm chi lai sự, tham chi bình tố” có nghĩa là đánh giá dựa vào sự việc đã qua, kiểm nghiệm bằng sự việc sắp tới, kiểm chứng bằng sự việc thường xuyên xảy ra. Nếu có thể được thì quyết đoán ngay. Dù thế nào, người quyết sách cũng cần thận trọng và cẩn thận, để đưa ra sự quyết đoán chính xác.

Nguyên văn

Cố phu quyết tình định nghi, (1) vạn sự chi cơ. (2) Dĩ chính trị loạn, quyết thành bại, nan vi (3) giả. Cố tiên vương nãi dụng thi quy (4) giả, dĩ tự quyết (5) dã.

Chú thích

1. Quyết tình định nghi: Quyết đoán sự tình, giải quyết nghi ngờ.

2. Vạn sự chi cơ: Mấu chốt để xử lý mọi việc.

3. Nan vi: Rất khó làm tốt.

4. Thi quy: Vật để xem bói. Thi: tên một loại cỏ. Quy: mai rùa.

5. Tự quyết: Dùng để giúp bản thân quyết đoán.

Dịch nghĩa

Do vậy nói, quyết đoán sự tình, giải quyết nghi ngờ là điểm mấu chốt để xử lý mọi chuyện. Nó liên quan tới sự thái bình hay biến động trong xã hội, liên quan tới sự thành công hay thất bại trong sự nghiệp của một người, đây là một việc rất khó làm tốt. Bởi vậy, các tiên vương cổ đại thường dùng cỏ thi và mai rùa để xem bói, rồi dựa vào đó đưa ra sự quyết đoán của mình.

ĐIỂN CỐ MƯU LƯỢC

Trương Lương dựa vào tình thế để giải quyết nghi ngờ

Quỷ Cốc Tử nói: “Phàm quyết vật, tất thác vu nghi giả. Thiện kỳ dụng phúc, ác kỳ hữu hoạn; thiện chí vu dụ dã, trung vô hoặc thiên. Hữu lợi yên, khứ kỳ lợi, tắc bất thọ dã, kỳ chi sở thác”, “Vu thị độ dĩ vãng sự, nghiệm chi lai sự, tham chi bình tố, khả tắc quyết chi”

Chu Võ Vương là vị vua thế hệ đầu tiên của nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông họ Cơ, tên Phát, là con thứ của Chu Văn Vương. Ông kế tục sự nghiệp của cha tiêu diệt triều Ân Thương vào thế kỷ 11 TCN, giành chính quyền toàn quốc, xây dựng triều Tây Chu. Ông đả trở thành vị vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc với tài năng quân sự, chính trị siêu việt của mình.

Năm Hán Cao Tổ thứ 2, Hán Vương Lưu Bang mắc sai lầm lớn trong chiến lược nên đã bị Hạng Vương đánh cho một trận thua tan tác ở Bành Thành, Lưu Bang chỉ dẫn theo vài chục tùy tùng trở về. Trong tình cảnh thất bại thảm hại này, Trương Lương đã vạch cho Lưu Bang một viễn cảnh tươi đẹp, lợi dụng mâu thuẫn, liên quân phá Sở. Đó chính là “Hạ Ấp chi mưu” nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Không lâu sau “mưu kế Hạ Ấp”, Lưu Bang lại phạm vào một sai lầm nghiêm trọng, cũng may, nhờ vào tài của Trương Lương nên một lần nữa Lưu Bang lại cứu được đất nước.

Khi đó, quân Sở liên tục tập kích tuyến đường vận chuyển lương thực của quân Hán, khiến quân Hán thiếu lương thực nghiêm trọng, để giải quyết tình hình này, Hán Vương đã bàn với mưu sĩ Lịch Thực Kỳ xem nên làm thế nào để thực lực của quân Sở yếu đi.

Lịch Thực Kỳ hiến kế: “Trước đây, Thương Thang chinh phạt Hạ Kiệt, rồi phong đất Kỷ cho con cháu của Hạ Kiệt; Chu Võ vương chinh phạt Thương Trụ, rồi phong đất Tống cho con cháu Thương Trụ. Nếu ngày nay triều Tần làm việc thất đức, trái với đạo nghĩa, xâm chiếm các nước chư hầu, sau khi tiêu diệt sáu nước thì không cho con cháu của họ có chỗ dung thân. Nếu bệ hạ cấp đất cho con cháu của sáu nước này, để họ được nhận ấn tín của bệ hạ, thì quần thần, dân chúng của các nước này nhất định sẽ cảm tạ đại ân đại đức của bệ hạ, và ngưỡng mộ tài đức của bệ hạ, do đó sẽ cam tâm tình nguyện làm thần dân của bệ hạ. Nếu bệ hạ thực thi theo đạo nghĩa thì bệ hạ sẽ dễ dàng xưng bá thiên hạ, tới lúc đó, Sở Vương cũng sẽ mũ áo chỉnh tề tới bái kiến bệ hạ.”

Những lời nói này của Lịch Thực Kỳ như rót mật vào tai Lưu Bang, khiến Lưu Bang sung sướng, ngây ngất, Lưu Bang cười rất tươi nói với Lịch Thực: “Tiên sinh quả là cao kiến, mau tìm người khắc ấn tín, ta sẽ giao cho tiên sinh đi sứ sang sáu nước chư hầu!”

Lịch Thực Kỳ đang chuẩn bị lên đường thì đúng lúc này Trương Lương vào bái kiến Hán vương. Hán vương đang dùng bữa nên nói với Trương Lương: “Lại đây Tử Phòng, có một vị tân khách đã vạch cho ta một cách rất hay, có thể làm yếu đi thực lực của quân Sở”. Lưu Bang nói lại kế của Lịch Thực Kỳ cho Trương Lương nghe, rồi hỏi: “Ngươi thấy cách này hay chứ Tử Phòng?”

Trương Lương nghe xong, lắc đầu nói: “Đây là kế của người xưa, chỉ hợp với tình hình lúc đó, không hợp để áp dụng cho thời nay, nếu bệ hạ làm theo cách này thì đại nghiệp thống nhất thiên hạ của bệ hạ coi như là chấm hết!”.

Lưu Bang hoảng hốt, vội hỏi: “Sao lại như vậy?”

Trương Lương với tay lấy đôi đũa trên bàn mân mê rồi nói: “Xưa kia, sở dĩ Thang Thương, Chu Võ Vương phong đất cho con cháu Hạ Kiệt, Thương Trụ là vì thấy rằng mình có thể nắm vững được quyền sinh tử của họ trong tay. Còn hiện nay, Liệu bệ hạ có quyết định được vận mệnh của con cháu các chư hầu hay không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ nhất khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Xưa kia, Chu Võ vương tấn công kinh thành của Ân Thương, từng biểu dương đức hạnh của hiền nhân Thương Dung tại nhà ông ta, còn thả trung thần Cơ Tử đang bị cầm tù và tu sửa mộ phần của trung thần Tỷ Can, hiện nay liệu bệ hạ có làm được như vậy không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ hai khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Xưa kia, Chu Võ Vương có thể phát lương thực và tiền bạc cho Thương Trụ Vương để cứu giúp dân chúng đang trong cảnh khốn khó, còn hiện nay, liệu bệ hạ có thể làm như vậy không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ ba khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Xưa kia, sau khi tiêu diệt Ân Thương, Chu Võ Vương vứt bỏ xe chiến để dùng cỗ xe bình thường, vứt bỏ binh khí, rồi bẩm báo lên trời cao sẽ không dùng binh nữa, còn hiện nay bệ hạ có làm được điều đó không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ tư khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Xưa kia, Chu Võ Vương không chỉ vứt giáo mác vào kho, mà còn thả ngựa đầy Nam Sơn, và bẩm báo với trời cao sẽ không dùng tới giáo mác, chiến mã nữa, còn hiện nay bệ hạ có làm được điều đó không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ năm khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Xưa kia, Chu Võ Vương thả trâu bò chuyên vận chuyển lương thảo tới rừng đào ở phía bắc, và bẩm báo lên trời cao sẽ không dùng trâu bò để vận chuyển lương thảo nữa, còn hiện nay bệ hạ có làm được điều đó không? Đương nhiên là không thể. Đây là nguyên nhân thứ sáu khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Cuối cùng, nguyên nhân quan trọng nhất là: sở dĩ mưu thần sách sĩ trong thiên hạ từ biệt bố mẹ, anh em mình, để lại vợ con nơi quê nhà, rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn và tạm biệt bạn bè, người thân để theo bệ hạ chinh chiến khắp nơi, chẳng qua là vì muốn được phong một chút đất của triều đình. Hiện nay, lại thấy bệ hạ phong đất cho thế hệ con cháu của sáu nước, đã thế còn khiến mưu thần sách sĩ trong thiên hạ lũ lượt trở về quê hương để phụng dưỡng, hầu hạ quân vương của họ, lúc đó, bệ hạ còn dựa vào ai để chiếm đoạt thiên hạ đây? Đây là nguyên nhân thứ bảy khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu của sáu nước chư hầu. Huống hồ, hiện tại chỉ có Hạng Vương mới là người có thực lực mạnh nhất, nếu khôi phục lại con cháu sáu nước, mà họ lại quay sang thần phục Hạng Vương thì bệ hạ còn khiến họ thần phục mình không? Đây là nguyên nhân thứ tám khiến bệ hạ không thể phong đất cho con cháu sáu nước chư hầu. Bởi vậy, thần mới nói, nếu bệ hạ nghe theo mưu kế của vị tân khách này thì nhất định đại kế thống nhất thiên hạ của bệ hạ sẽ tan thành mây khói”.

Hán vương nghe vậy chợt bừng tỉnh, không nuốt trôi nổi miếng cơm nào nữa, quát lớn: “Tên tân khách này quả là ngốc nghếch, suýt làm hỏng việc lớn của ta!” Nói xong thì hạ lệnh dừng việc khắc ấn tín lại.

Trương Lương quả là có con mắt tinh đời, ông phân tích tình hình rất cụ thể và chi tiết. Ông hiểu rõ sự khác biệt của thời thế, do đó không thể dùng cách của “cổ thánh tiên hiền” để áp dụng cho thời nay được. Nhà chính luận Tuân Duyệt cuối năm Đông Hán đã Chú thích và phân tích việc này như sau:

“Có ba yếu tố quan trọng quyết định quyết sách thắng lợi hay thất bại: Thứ nhất là hình, thứ hai là thế và thứ ba là tình. Hình là chỉ xu hướng được và mất về đại thể; Thế là chỉ tình thế ứng phó linh hoạt và tùy cơ ứng biến khi xảy ra vấn đề; Tình là chỉ trạng thái tâm lý kiên cường, có ý chí hay là mệt mỏi, rệu rã. Bởi vậy, cùng là một sách lược, cùng là một sự việc song hiệu quả thu về lại khác nhau, đó chính là do có sự khác biệt trong việc vận dụng ba yếu tố quan trọng này.

Mới đầu, Trương Nhĩ, Trần Dư khuyên Trần Thắng kiếm cớ khôi phục sáu nước để mở rộng vây cánh của mình, Lịch Thực Kỳ cũng khuyên Hán Vương Lưu Bang như vậy. Sở dĩ cùng khuyên giống nhau, song kết quả có được lại khác khau là vì, khi Trần Thắng khởi binh làm phản chống Tần thì người trong thiên hạ đều muốn tiêu diệt triều Tần. Còn hiện tại, Tần và Hán còn chưa phân định tình thế, người trong thiên hạ chưa chắc đã muốn tiêu diệt Hạng Vũ. Bởi vậy, khôi phục lại thế hệ con cháu sáu nước, đối với Trần Thắng mà nói thì chính là mở rộng vây cánh của mình và làm lớn mạnh kẻ địch của triều Tần. Huống hồ, khi đó Trần Thắng còn chưa có đất trong thiên hạ, thì chính là đem tặng những thứ không phải của mình cho người khác, do đó lấy được lòng người khác. Còn việc khôi phục lại thế hệ con cháu sáu nước đối với Hán Vương mà nói thì lại là đem tặng đồ vật của mình cho quân địch, tưởng là tạo được tiếng thơm, song thực tế là chịu tổn thất. Đây chính là ví dụ cho thấy sự tình giống nhau mà kết quả khác nhau.

Có thể nói, không thể dự đoán trước được sự thay đổi của thời thế, không thể lường trước được sự thay đổi của trạng thái sự vật, cần phải biến đổi theo sự biến đổi của thời thế, thay đổi theo sự thay đổi của trạng thái sự vật, đó là điểm mấu chốt của việc vạch định sách lược”.

Lưu Bá Ôn tùy cơ ứng biến, tính toán như thần

Người có thể tùy cơ ứng biến phải có tố chất linh hoạt, giỏi ứng phó với mọi tình huống xảy ra, chứ không thể ngồi ỳ một chỗ, bị động nhìn sự việc xảy ra mà không có bất cứ phản ứng nào. Khi thời cơ tới, cần phải tập trung tinh thần, mới có thể nghĩ ra được mưu kế kỳ diệu, mới có được quyết sách chính xác. Lưu Bá Ôn có khả năng tính toán như thần, được mọi người cho là sánh ngang với Gia Cát Lượng. Ông là người mưu trí, giỏi lường trước sự thay đổi thế cục, biết nắm bắt thời cơ để từ đó đưa ra quyết sách đúng đắn.

Năm Chí Chính thứ 20, Lưu Bá Ôn tới Ứng Thiên, lúc này danh tiếng của ông đã được nhiều người biết đến. Chu Nguyên Chương đã sai người mang lễ vật tới mời Lưu Bá Ôn tới gặp mặt. Đây là một cuộc gặp gỡ hết sức quan trọng, là mưu sĩ thì cần trổ hết tài năng của mình để cho minh chủ thấy rõ.

Lưu Bá Ôn ôm ấp hoài bão lớn, nắm vững “Trần thời vụ thập bát sách” (18 sách lược vận dụng trong tình thế đương thời), quyết tới giúp Chu Nguyên Chương tạo dựng sự nghiệp. Buổi gặp mặt diễn ra vui vẻ, có chút hơi men trong người, Chu Nguyên Chương vô cùng cao hứng, chưa vội đề cập tới sách lược ngay mà chỉ hỏi Lưu Bá Ôn: “Tiên sinh có biết làm thơ không?”. Lưu Bá Ôn trả lời: “Nho gia lắm tài vặt, có gì mà không thể làm được”. Chu Nguyên Chương chỉ vào đôi đũa trước mặt nói: “Lấy đôi đũa làm chủ đề nhé”.

Lưu Bá Ôn suy nghĩ một lát, rồi ngâm: “Nhất song Tương Giang ngọc tính khan; Nhị phi tằng sái lệ ngân ban” (Một đôi ngọc Tương Giang cùng xem; Hai nàng phi từng nhỏ lệ còn in dấu nước mắt), câu này chính là nhắc tới điển cố hai cung phi của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh khóc thương vua khi vua chết, nước mắt của họ vẩy lên cây trúc tạo thành những vết đốm, sau này được gọi là trúc đốm tương phi. Chu Nguyên Chương nghe vậy tấm tắc khen: “Quả là phong cách của văn nhân!”.

Lưu Bá Ôn thấy vậy đổi ngay đề tài, ngâm tiếp: “Hán gia tứ bách niên thiên hạ; Tận tại Trương Lương nhất tá gian” (thiên hạ bốn trăm năm của nhà Hán, đều là nhờ vào một lần mượn đũa của Trương Lương), câu này chính là nhắc tới điển cố Lưu hầu Trương Lương mượn đũa làm kế giúp nhà Hán diệt nhà Tần. Do đó, hai câu thơ này đã thể hiện được hoài bão của Lưu Bá Ôn, hơn nữa còn gãi đúng chỗ ngứa của Chu Nguyên Chương.

Chu Nguyên Chương sung sướng vô cùng, hận vì đã gặp Lưu Bá Ôn quá muộn, vội vàng hỏi Lưu Bá Ôn xem bình định thiên hạ ra sao. Lúc này, Lưu Bá Ôn mới vận dụng “Trần thời vụ thập bát sách”. Làm thơ chỉ là sự mào đầu, không phải là vấn đề chính, song nó lại vô cùng quan trọng để tạo ấn tượng tốt đẹp trong lần đầu gặp mặt. Sau khi Lưu Bá Ôn nghe thấy Chu Nguyên Chương khen mình có phong cách bậc văn nhân thì hiểu ngay rằng, sự nghiệp bình định thiên hạ không phải việc của nhà văn, nhà thơ bình thường, mà là của nhà mưu lược.

Khi đó, Chu Nguyên Chương đã có Lý Thiện Trường giỏi sánh ngang Tiêu Hà, lại có Từ Đạt giỏi sánh ngang Hàn Tín, chỉ đang thiếu mưu thần sánh ngang Trương Lương mà thôi. Bởi vậy, sự nhanh trí, giỏi tùy cơ ứng biến của Lưu Bá Ôn trong lần đầu gặp Chu Nguyên Chương đã cho thấy rõ, ông có thể trở thành một Trương Lương tài ba xuất chúng, đúng là người mà Chu Nguyên Chương đang cần.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương

Chu Nguyên Chương thuở nhỏ tên là Trọng Bát, còn gọi là Hưng Tông, tự là Quốc Đoan. Ông là người Chung Ly, Hào Châu, xuất thân trong gia cảnh khốn khó, thời niên thiếu từng làm sư ở chùa Hoàng Giác. Cuối nhà Nguyên, ông tham gia đội quân Khăn Đỏ do Quách Tử Hưng làm thủ lĩnh tiến đánh nhà Nguyên, xưng là Ngô Quốc Công, sau xưng là Ngô Vương, sau này ông còn tiêu diệt Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành. Ông xuất binh bắc phạt triều Nguyên và tấn công kinh thành triều Nguyên và hoàn thành đế nghiệp sau 15 năm. Năm 1368, Chu Nguyên Chương lấy phủ Ứng Thiên làm kinh đô, lập nên triều Minh với quốc hiệu là Đại Minh, niên hiệu là Hồng Vũ.

Chỉ mưu trí không thôi chưa đủ, còn cần sự kiên nghị và thận trọng, Trước các biến đổi, cần phải nắm bắt thời cơ, hơn nữa còn cần thận trọng suy nghĩ, không được hành động nông nổi.

Năm Long Phượng thứ 6, Trần Hữu Lượng dẫn quân tiến đánh Thái Bình, đội quân của Trần Hữu Lượng hùng dũng tiến vào thành Nam Kinh, ông ta còn phái sứ giả tới gặp Trương Sĩ Thành, nói rằng hẹn Trương Sĩ Thành tiến đánh Nam Kinh từ phía sau. Quân của Trần Hữu Lượng lúc này rất mạnh và tràn đầy khí thế, bởi vậy rất nhiều tướng lĩnh của Chu Nguyên Chương tỏ ra sợ hãi, có người khuyên nên đầu hàng, có người khuyên nên từ bỏ Nam Kinh, kiên trì trấn giữ Chung sơn ở Thành Đông là được. Rất nhiều ý kiến được đưa ra trong cuộc họp trước trận chiến, duy chỉ có Lưu Bá Ôn là không nói gì. Chu Nguyên Chương gọi ông vào trong phòng, hỏi ý kiến của ông. Có lẽ, đây vừa là thử thách, cũng là cơ hội đối với Lưu Bá Ôn. Trước kẻ địch lớn mạnh, nếu hoảng sợ thì quả là xấu hổ trước Chu Nguyên Chương, còn nếu tìm ra được kế sách hay đẩy lui được quân địch thì sẽ tạo được niềm tin rất lớn đối với Chu Nguyên Chương. Do đó, Lưu Bá Ôn nói với giọng kích động: “Ai chủ trương đầu hàng và bỏ chạy thì sẽ chém đầu”.

Lưu Bá Ôn không dám liều lĩnh làm gương, cũng không phải đủ dũng cảm, song ông đã đủ bình tĩnh để phân tích tình thế hỗn loạn trước mắt và phát hiện thấy điểm yếu của kẻ địch và điểm mạnh của phe mình. Bởi vậy, trước hết ông thể hiện rõ quyết tâm “chống cự đến cùng”, để lấy lại tinh thần cho những người có chủ trương hàng. Trước kẻ địch mạnh, còn chưa đọ binh đao, mà đã nói tới chuyện đầu hàng thì sẽ không thể làm lật ngược được tình thế. Lưu Bá Ôn đã kiên quyết nói rằng “kẻ nào chủ trương hàng và bỏ chạy thì sẽ chém đầu”, điều này có tác dụng ổn định cục thế, yên ổn lòng quân. Tiếp đến, ông chỉ ra điểm yếu của kẻ địch và đề ra sách lược quân sự chống lại kẻ địch; Kẻ địch đang kiêu căng, nôn nóng, sức khỏe lại giảm sút do từ xa tới. Bên ta có thể lợi dụng điểm yếu này của kẻ địch để “dĩ dật đãi lao”, dụ kẻ địch vào sâu, rồi mai phục và tiêu diệt. Kế nữa, Lưu Bá ôn để ra sách lược chính trị chống lại kẻ địch dựa vào sự đoàn kết nhất trí của quân ta: Mở kho tàng, thưởng cho tướng sĩ, cứu tế dân nghèo, tuyên bố toàn dân đoàn kết, nhất trí một lòng cùng giúp đất nước. Có thể thấy, những lời phân tích này của Lưu Bá Ôn quả là rõ ràng và chính xác, cho thấy rõ tài năng của ông không kém gì so với Chu Du trong trận Xích Bích, lại sánh ngang với Gia Cát Lượng khẩu chiến quần nho.

Không hoang mang, nao núng trước sự biến đổi, đó là điều kiện tiên quyết của việc nhận biết thời cơ. Khi thời cơ tới thì phải nắm bắt ngay, quyết đoán quyết sách, dụng binh thần tốc, không được lề mề chậm trễ, đáng quyết mà không quyết.

Sau khi đánh bại Trần Hữu Lượng trong cuộc chiến Long Loan, một năm sau đó, Chu Nguyên Chương mới bắt đầu tiến đánh đội quân còn sót lại của Trần Hữu Lượng. Tháng 8 năm Chí Chính thứ 21, Chu Nguyên Chương chinh chiến phía tây, cuộc chiến giữa hai bên đã diễn ra ác liệt tại An Khánh.

Lý Thiện Trường

Lý Thiện Trường là đại thần đầu thời Minh, tự là Bách Thất, người Định Viễn. Năm Chí Chính thứ 14, ông tới làm việc cho Chu Nguyên Chương, nắm giữ giấy tờ, sổ sách, trợ giúp Chu Nguyên Chương bình định thiên hạ, làm quan tới chức tả thừa tướng, được phong Hàn Quốc Công, sau này, bị xử chết do liên quan tới vụ án Hồ Duy Dung.

Đội quân giữ thành kiên quyết không ra, liều chết giữ thành tới cùng. Từ sáng sớm tới tối mịt, tình hình vẫn không có gì tiến triển, hai bên đều bị thương nặng nề. Lưu Bá Ôn phân tích cho Chu Nguyên Chương thấy rằng: Thực lực của Trần Hữu Lượng rất mạnh, hơn nữa đội quân của Trương Sĩ Thành có thể tập kích từ phía sau bất cứ lúc nào, quân ta đang ở trong tình thế khó khăn, cứ để tình hình này kéo dài thì rất dễ gặp nguy hiểm, do vậy cần đánh nhanh quyết nhanh thì mới có thể khiến Trần Hữu Lượng hoảng sợ, khiến Trương Sĩ Thành nhụt chí, cũng chính là cần phải kiểm soát kẻ địch để giành phần thắng. Lưu Bá Ôn khuyên Chu Nguyên Chương từ bỏ kế hoạch tấn công thành, thực hiện chiến lược “lục quân và cánh quân vây thành” để nghi binh, hối thúc thủy binh mau chóng tiến lên, đánh thẳng vào sào huyệt của Trần Hữu Lượng ở Giang Châu.

Chu Nguyên Chương cứ theo kế mà làm. Trước sự uy hiếp của đại quân Chu Nguyên Chương, cánh quân được bố trí dọc sông của Trần Hữu Lượng sợ hãi bỏ chạy tan tác, thủy quân của Chu Nguyên Chương thừa thắng xông lên, tiến tới thành Giang Châu. Có nằm mơ, Trần Hữu Lượng cũng không ngờ rằng kẻ địch lại bất ngờ tấn công như vậy, ông ta vội vã đưa vợ con chạy trốn ngay trong đêm tới Võ Xương. Giang Châu là kinh thành của chính quyền Trần Hán, vùng đất này vừa bị mất thì gây chấn động khắp Giang Tây, An Khánh cũng chẳng cần đánh mà vẫn chiếm được.

Không nằm ngoài dự đoán của Lưu Bá Ôn, khi Trương Sĩ Thành nhận được tin Chu Nguyên Chương tấn công phía tây, sau một hồi do dự đã điều động chục vạn binh, kết hợp với thủy lục, cùng tấn công thành Trường Hưng - vị trí quan trọng nối liền bờ tây Thái Hồ tới Ứng Thiên. Lúc này, lính giữ thành Trường An không quá 7 nghìn, tình hình cực kỳ nguy cấp. Tuy nhiên, Lưu Bá Ôn và Chu Nguyên Chương đã dụng binh thần tốc, quyết đoán quyết sách, hiểu rõ sự lề mề chậm chạp trong việc bày binh bố trận của Trương Sĩ Thành, do vậy khi quân của Trương Sĩ Thành tới được Trường Hưng, thì Chu Nguyên Chương sớm đã thắng trận ở tuyến tây. Trương Sĩ Thành tưởng tới đánh úp từ phía sau, nào ngờ lại phải đối diện với quân địch đang ở thế thắng, bởi vậy đành phải mau chóng lui binh.

Khi còn sống, Lưu Bá Ôn đã được coi là nhân vật có tài tiên đoán, lường trước mọi sự việc xảy ra. Những việc ông dự đoán đa phần đều xảy ra đúng như vậy, ngoài ra, ông còn am hiểu Âm Dương Ngũ hành, được người đời cho là nắm vững thiên cơ. Kỳ thực, điều này ở ông chính là thứ mà Chu Nguyên Chương cần, mọi người cũng tin rằng chính quyền trong tay ông đại diện cho ý trời.

Lưu Bá Ôn

Lưu Bá Ôn tên là Lưu Cơ, tự Bá Ôn, là một trong những công thần khai quốc triều Minh. Ông có tài quân sự, mưu lược, rất được Chu Nguyên Chương trọng dụng. Ông không chỉ là nhà mưu lược tài ba, mà còn là nhà văn, học giả xuất chúng. Ông để lại cho đời rất nhiều tác phẩm như 10 tập “Úc Ly Tử”, 20 tập “Thành Ý Bá văn tập”. Trong đó, bộ “Úc Ly Tử” chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử văn học và tư tưởng của người Trung Quốc.

Những dự đoán của Lưu Bá Ôn đại thể có thể chia làm ba loại: Thứ nhất là dự đoán lâu dài, mang ý nghĩa chiến lược, thuộc về phạm trù mưu lược. Quyết sách và sự dự đoán chiến lược của ông đối với Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành thuộc loại này. Thứ hai, dự đoán mang tính đề phòng, chỉ ra khả năng ở một giai đoạn nào đó sẽ xảy ra tai họa và nguy hiểm. Đây cũng chính là tiến hành dự đoán cục diện dựa trên sự nắm bắt và cảm nhận. Con người nhờ dự đoán trước mà có thể tránh được tai họa hoặc giảm bớt áp lực về mặt tâm lý. Con người thường ghi nhớ sự dự đoán trước để kiểm chứng thực tế, từ đó loại bỏ đi những nhân tố không đúng. Thứ ba là dự đoán sự biến đổi của sự vật và hành vi trong thời gian ngắn.

Nghe nói, trong đại chiến hồ Phồn Dương, Lưu Bá Ôn đột nhiên dự đoán trước được tình hình xấu, đã đổi thuyền cho Chu Nguyên Chương. Không lâu sau đó, quả nhiên thuyền mà Chu Nguyên Chương ngồi trước đó đã bị tấn công, chìm nghỉm dưới nước. Tuy nhiên, những dự đoán trong thời gian ngắn của ông vẫn còn mơ hồ, xem ra không rõ ràng. Là một người biết tùy cơ ứng biến thì cần hiểu rằng, dù là chính quyền hay bản thân mình đều cần đảm bảo tính thần bí, bởi vậy, khi đang dự đoán cũng cần tùy cơ ứng biến, bởi lẽ càng tùy cơ, càng mơ hồ thì càng dễ tạo ra không khí thần bí.

Tháng 2 năm Chí Chính thứ 22, Lưu Bá Ôn trở về Thanh Điền lo liệu tang lễ cho mẹ, lúc này Chu Nguyên Chương vừa đánh bại Trần Hữu Lượng ở Giang Tây. Có lẽ, Lưu Bá Ôn cảm nhận được nhân tố nguy hiểm tiềm ẩn trong nội bộ Chu Nguyên Chương sắp sửa bột phát, có lẽ ông quan sát thấy âm mưu làm phản trong triều đình nên đã viết ngay cho Chu Nguyên Chương một bức thư nói rằng vào giữa tháng 6 hoặc 7 khởi binh hoặc làm chuyện gì đều bất lợi, chính là nói mọi việc trong tháng 6 và 7 đều không may mắn. Và đúng như ông dự đoán vào tháng 7 đã xảy ra cuộc mưu sát Chu Nguyên Chương do Thiệu Vinh và Triệu Tục Tổ cầm đầu, may mà Chu Nguyên Chương đề phòng cẩn thận nên thoát nạn, từ đó Chu Nguyên Chương càng khâm phục Lưu Bá Ôn hơn. Kỳ thực, Lưu Bá Ôn lại không trực tiếp nói rằng sẽ có chuyện hành thích, mà chỉ nói bất lợi cho việc xuất binh mà thôi.

Lưu Bá Ôn để lại ấn tượng về một người tài trí, thông minh và sáng suốt trong lòng mọi người. Sự quyết đoán, cùng với khả năng tùy cơ ứng biến, phán đoán mơ hồ sự việc trong lúc cần thiết của ông chính là bài học để cho người đời sau học tập.

Mãn Sủng dũng cảm quyết đoán trong lúc nguy cấp

Trong phần này, Quỷ Cốc Tử tiên sinh đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc “quyết”, cho rằng quyết là “gốc rễ của mọi vấn đề”, có ảnh hưởng rất lớn tới phúc họa, thành bại, rối loạn chính trị. Quyết đoán chính xác thì sẽ thành công; ngược lại, quyết đoán sai thì sẽ gặp tai họa. Không quyết đoán kịp thời, đáng quyết đoán mà không quyết đoán thì khó mà đạt được mục đích.

Tướng Ngụy thời Tam Quốc Mãn Sủng là một người giỏi quyết đoán, ông tự là Bá Ninh, người Xương Ấp, Sơn Dương thời cuối nhà Hán đầu nhà Ngụy, là tướng quân đắc lực của Ngụy Vương Tào Tháo, Văn Đế Tào Phi và Ngụy Minh Đế. Ông giỏi vạch mưu kế, bình tĩnh khi đối mặt với nguy hiểm, nhiều lần xông pha trận mạc bất chấp tính mạng và cũng có không ít lần làm thay đổi cục diện nguy thành an.

Năm Kiến An thứ 13, sau khi thảo phạt Kinh Châu, Tào Tháo đã bổ nhiệm Mãn Sủng làm tướng quân phấn uy, đóng quân ở Đương Dương, ông rất được lòng binh lính và dân chúng ở đó. Sau này, bị Tôn Quyền quấy rối ở phía đông, Tào Tháo lại cử Mãn Sủng làm thái thú Nhữ Nam, phong tước Quan Nội Hầu. Trong thời kỳ này, Mãn Sủng tỏ rõ tài năng chính trị xuất chúng của mình, và đã lập nên nhiều chiến công hiển hách, do đó rất được lòng Tào Tháo, đương nhiên càng được Tào Tháo trọng dụng.

Năm Kiến An thứ 24, Lưu Bị xây dựng nước Thục, định đô ở Thành Đô, và trở thành vua Hán Trung. Sau khi lập nước, Hán Trung Vương Lưu Bị quyết định tấn công nước Ngụy, với mong muốn thống nhất thiên hạ trên danh nghĩa là chính thống Hán Vương thất. Lưu Bị lệnh cho Quan Vũ bao vây Tương Dương, tấn công Phàn Thành. Phàn Thành là khu vực quân sự quan trọng phía nam Hoàng Hà, mất Phàn Thành thì coi như phía nam Hoàng Hà thuộc cả về nước Thục. Đại tướng trấn giữ Phàn Thành khi đó là Tào Nhân, Tào Nhân dũng cảm, giỏi đánh trận, song lại không có mưu. Do đó, Tào Tháo thấy không an tâm, đã phái Mãn Sủng tới trợ giúp Tào Nhân bảo vệ Phàn Thành.

Khi đó, nước sông Tương Giang lên rất cao, đại tướng Quan Vũ nước Thục bèn chỉ huy quân lính bơi ra chỗ nước nông đổ đầy sỏi đá ở đó, rồi cho xây đê dọc Tương Giang, đợi khi nước lên cao tới mức cần thiết thì sẽ phá đê cho nước tràn vào.

Khi nước sông Tương Giang ồ ạt đổ vào, tướng sĩ của bảy đạo quân do tướng Tào là Vô Cấm dẫn đầu đóng ở chỗ thấp đều bị nước sông dìm chết, bảy đạo quân tan tác, Vô Cấm bị ép đầu hàng. Nước sông vẫn tiếp tục lên cao không rút, chỉ cần nước dâng cao thêm vài mét nữa là sẽ tràn vào thành. Trong Phàn Thành, Tào Nhân chỉ có vài nghìn binh mã, mà quân của Quan Vũ lại đang ồ ạt chèo thuyền tiến lại.

Trong ngoài Phàn Thành bị phân cách, quân cứu viện thì chưa tới, lương thảo thì gần hết, mọi người đều hoang mang lo lắng, không biết phải làm thế nào.

Tào Nhân cùng mọi người bàn bạc đối sách. Một tướng lĩnh nói với Tào Nhân: “Hiện Phàn Thành đang gặp nguy khốn, trước mắt chúng ta chưa thể cứu được. Chi bằng nhân lúc Quan Vũ còn đang bao vây bên ngoài, chưa tấn công quyết liệt, ta tìm kẽ hở, chèo thuyền đột phá vòng vây ngay trong đêm nay, như vậy, vừa không mất Phàn Thành mà lại bảo toàn được tính mạng.” Rất nhiều người đồng tình với ý kiến này, song Mãn Sủng lại phản đối.

Mãn Sủng nói: “Trước mắt, chúng ta bị nước sông vây khốn, tình thế vô cùng cấp bách. Song nước sông dâng nhanh thì rút cũng nhanh. Nghe nói Quan Vũ còn cử một đội quân tới Giáp Thành, có lẽ đã gây hoang mang cho dân chúng ở phía nam Hứa Đô, nên mọi người đang táo tác bỏ chạy. Tuy nhiên, sở dĩ hiện nay Quan Vũ còn chưa dám tấn công Hứa Đô ngay là vì sợ rằng đội quân của chúng ta sẽ chặn đường rút chạy của chúng. Mặc dù, hiện tại chúng ta có thể bỏ chạy, song nếu chúng ta chạy thì vùng phía Nam Hoàng Hà này sẽ không còn thuộc về nước Ngụy nữa. Theo tôi thì vẫn nên đợi. Hơn nữa, dù nước sông gây bất lợi cho chúng ta, song cũng bất lợi cho quân Thục tấn công chúng ta, chúng ta cố thủ Phàn Thành cũng không vấn đề gì, chỉ cần nước rút đi thì nhất định sẽ có quân cứu viện tới. Chúng ta sẽ được cứu thoát”.

Mọi người im lặng không ai nói được lời nào, Tào Nhân cũng do dự không quyết.

Trong thời khắc nguy cấp này, Mãn Sủng hiểu rằng, các tướng lĩnh phải chịu sức ép quá lớn do thời thế liên tục thay đổi, do đó cần phải ổn định lại tâm lý mọi người, để họ có quyết tâm bảo vệ thành, nếu không, chỉ cần bỏ chạy thì coi như số phận nằm chắc trong tay quân Thục rồi, có quay về nước Ngụy thì cũng sẽ phải chịu hình phạt mà thôi. Nghĩ vậy nên ông đã dắt con ngựa trắng yêu quý của mình, bảo tất cả các tướng sĩ trong thành lên trên tường thành. Phía dưới tường thành nước chảy cuồn cuộn, mọi người đều không biết lên đây để làm gì. Mãn Sủng lệnh cho quân lính bày bàn thờ cúng, rồi kéo ngựa trắng dìm xuống nước cho nó chết chìm để làm vật tế lễ lên trời cao, sau đó nói với mọi người rằng: “Chúng ta hãy thề với trời cao rằng, quyết bảo vệ Phàn Thành tới cùng!”

Tào Nhân thấy được lòng quyết tâm của Mãn Sủng thì như được tiếp thêm sức mạnh, nói với các tướng sĩ: “Được, thề bảo vệ Phàn Thành tới cùng!”. Thế là mọi người cùng thề. Lúc đó sĩ khí được đẩy lên rất cao, không còn ai có ý định bỏ chạy nữa.

Quả nhiên, không lâu sau đó, nước sông rút xuống. Tào Tháo phái đại tướng Từ Hoảng dẫn quân tới cứu viện, Mãn Sủng lãnh đạo binh mã chống cự tới cùng, trong ngoài hợp sức, cuối cùng Quan Vũ phải rút lui.

Quan Vũ

Quan Vũ sinh ra dưới triều Hằng Đế nhà Đông Hán, tự là Vân Trường, còn gọi là Trường Sinh, là người huyện Giải, Hà Đông. Ông là tướng lĩnh nổi tiếng của Thục Hán thời Tam Quốc. Ông rất được dân chúng yêu quý và tôn sùng làm Quan Thánh Đế Quân, Phật giáo gọi ông là Già Lam Bồ Tát. Ông được các bậc vua sau này gọi là “Võ thánh”, sánh ngang với hiệu “Văn thánh” của Khổng Tử.

Tào Tháo hết lời khen ngợi lòng trung thành, quả cảm của Mãn Sủng, và phong cho ông làm An Xương Đình Hầu.

Trong lúc nguy khốn, không nao núng, không sợ hãi, mà phải chứng tỏ dũng khí của mình. Là tướng lĩnh, chỉ dũng cảm không thôi chưa đủ, còn cần có đầu óc dự tính mọi chuyện. Khi nguy cấp, thể hiện rõ sự dũng cảm, anh hùng, khi tình thế biến chuyển theo chiều hướng xấu, biết an định lòng người, khơi gợi ý chí chiến đâu, đó cũng là một kiểu thể hiện sự quyết đoán.

Hạng Vũ do dự gây ra quả nghiêm trọng

Quyết đoán đúng thời điểm là việc vô cùng quan trọng để thành công. Nếu để lỡ thời điểm tốt nhất thì sẽ dễ bị thất bại. Khi thời cơ chín muồi thì phải nhanh chóng nắm bắt lấy, đưa ra quyết đoán thì khả năng thành công sẽ cao nhất, ngược lại, để lỡ thời cơ, không hoàn thành việc lớn, thì sẽ phải hối hận cả đời.

Cuối triều Tần, quân khởi nghĩa nổi lên ở khắp các ngả đường, trong đó có hai đội quân mạnh nhất là của Lưu Bang và Hạng Vũ. Họ từng hẹn với nhau rằng, ai tấn công được kinh đô Hàm Dương của triều Tần trước thì người đó sẽ được xưng vương ở Quan Trung. Kết quả là, Lưu Bang đã tránh quân chủ lực của triều Tần, đi vào lối nhỏ hoang vu, vắng bóng quân địch. Nhờ vậy, Lưu Bang đã tới được Hàm Dương mà không phải trải qua những cuộc chiến đẫm máu với quân chủ lực triều Tần. Tần Tam Thế là Tử Anh đã đầu hàng Lưu Bang vô điều kiện, thế là Lưu Bang đã chiếm cứ được Hàm Dương trước, kiểm soát được Hàm Cốc quan. Còn Hạng Vũ đi men theo lưu vực Hoàng Hà, đây là tuyến đường tấn công vào cửa chính của Quan Trung, dù Hạng Vũ có 10 vạn kỵ mã tài giỏi, đi đến đâu thắng lợi đến đó, song do liên tục phải chiến đấu trong nhiều ngày nên tốc độ hành quân của Hạng Vũ bị chậm lại. Khi Hạng Vũ tới được Hàm Cốc quan thì đã thấy Lưu Bang ở đó trước rồi.

Hạng Vũ vô cùng tức giận, ông ta nghĩ mình có hơn 40 vạn quân mà không thể xưng vương, trong khi Lưu Bang chỉ có 10 vạn binh mã mà lại xưng vương. Bởi vậy ông ta muốn quyết chiến với Lưu Bang một trận ở Quan Trung. Hạng Vũ có một người chú họ tên là Hạng Bá có quan hệ tốt đẹp với mưu sĩ Trương Lương của Lưu Bang. Khi biết tin này, Hạng Bá vội vàng tới doanh trại của Lưu Bang tìm gặp Trương Lương, khuyên Trương Lương mau chóng rút lui. Trương Lương không muốn phản bội Lưu Bang, bèn giới thiệu Hạng Bá lên Lưu Bang, Lưu Bang nhiệt tình tiếp đón Hạng Bá, đồng thời kết thông gia với Hạng Bá. Hạng Bá khuyên Lưu Bang tới Chú thích, xin lỗi Hạng Vũ để tránh đại chiến xảy ra.

Ngày hôm sau, Lưu Bang mang theo hơn 100 người tới Hồng Môn xin được vào gặp Hạng Vũ để tạ lỗi, Chú thích cho Hạng Vũ hiểu rằng ông vốn chưa từng có ý định xưng vương tại Quan Trung, mà ngôi vị này chỉ có Hạng Vũ là xứng đáng. Chẳng qua là ông may mắn mới tới Quan Trung trước Hạng Vũ mà thôi. Ông chỉ là muốn giúp Hạng Vũ giữ cửa chính Quan Trung, không cho kẻ khác tới cướp mất. Hạng Vũ nghe vậy, nguôi ngoai phần nào. Mưu sĩ Phạm Tăng của Hạng Vũ từng khuyên Hạng Vũ trừ khử Lưu Bang trong tiệc rượu, Hạng Vũ cũng đã đồng ý và sớm bố trí quân mai phục, hẹn trước rằng khi Hạng Vũ nâng cốc lên thì lập tức ra tay hành động ngay. Tuy nhiên, trong bữa tiệc, Lưu Bang lại tỏ ra cung kính, khúm núm trước Hạng Vũ, Hạng Vũ là người thẳng tính, không giỏi mưu kế, thấy thái độ này của Lưu Bang thì hết cả tức giận, còn nhớ gì tới kế hoạch giết Lưu Bang nữa!

Mặc dù Phạm Tăng đã vài lần ra hiệu, song Hạng Vũ đều không nhìn thấy, không hề có phản ứng gì. Phạm Tăng thấy kế hoạch không được thi hành thì gọi người anh em của Hạng Vũ là Hạng Trang lại và nói: “Hạng vương nhân từ quá, có lẽ không thể ra tay trừ khử Lưu Bang được. Ngươi mau chóng biểu diễn múa kiếm, rồi nhân cơ hội đó giết chết Lưu Bang!” Hạng Trang bèn dâng rượu, xin được múa kiếm cho mọi người xem. Hạng Trang múa càng ngày càng hăng, lưỡi kiếm sáng loáng lướt qua lướt lại, Hạng Trang dần dần tiến lại phía Lưu Bang. Hạng Bá nhìn thấy vậy thì nói với Hạng Vũ: “Một người múa kiếm, không hay, để tôi được múa kiếm cùng anh ta!” Nói xong, Hạng Bá cũng cầm kiếm lên múa, ngầm lấy thân mình che chắn cho Lưu Bang, khiến Hạng Trang không có cơ hội ra tay giết Lưu Bang. Trương Lương thấy tình hình này vội nói với võ tướng của Lưu Bang là Phàn Khoái rằng: “Hạng Trang đang múa kiếm là có ý đồ giết Bái Công!” Phàn Khoái nghe vậy, lập tức cầm vũ khí xông lên bàn tiệc. Hành động dũng cảm không sợ Hạng Vũ của Phàn Khoái đã khiến Hạng Vũ vô cùng tán thưởng, Hạng Trang mới múa xong một bài thì dã bị Phàn Khoái làm rối tung hết lên. Một lát sau, Lưu Bang kiếm cớ đi vệ sinh, rồi lén bỏ trốn, Trương Lương bảo ông mau chóng trở về doanh trại, nếu không sẽ khó bảo toàn được tính mạng. Chỉ còn Trương Lương ở lại, sau khi đoán chắc Lưu Bang đã trốn chạy xa thì Trương Lương mới trở lại bàn tiệc dâng lễ, nói Lưu Bang không được khỏe, xin phép về trước. Hạng Vũ vẫn không cho là có gì bất thường, chỉ có Phạm Tăng là bực tức không yên, oán thán Hạng Vương đã để kẻ thù trốn thoát.

Hạng Vũ

Hạng Vũ tên Tịch, tự Vũ, là một trong những tướng lĩnh phản Tần nổi tiếng cuối nhà Tần, sau khi nhà Tần bị diệt vong, ông tự phong mình làm Tây Sở Bá Vương. Ông nội của Hạng Vũ là Hạng Yên, là một danh tướng nước Sở cuối thời Chiến Quốc, đã bị tướng Tần là Vương Tiễn giết chết. Hạng Vũ tài năng xuất chúng, khí khái hơn người. Trong chiến tranh Sở Hán, mặc dù Hạng Vũ giành được nhiều thắng lợi, song ông lại bộc lộ rõ điểm yếu của mình về mặt chính trị, quân sự. Ông đã bị thất bại trong cuộc chiến Cai Hạ, chạy tới Ô Giang và tự sát ở đó. Hán vương Lưu Bang đã làm lễ chôn cất Hạng Vũ ở Cốc Thành theo nghi lễ chôn cất Lỗ Công.

Quả nhiên, sau bữa tiệc Hồng Môn, Lưu Bang suýt chết trở về đã bức chết Hạng Vũ trong cuộc chiến Cai Hạ, giành được thắng lợi cuối cùng trong chiến tranh Sở Hán.

Mặc dù Hạng Vũ có dũng khí của bậc trượng phu, song lại có tấm lòng nhân ái của người phụ nữ, trong bữa tiệc Hồng Môn, mưu sĩ Phạm Tăng của Hạng Vũ đã phái Hạng Trang tới múa kiếm, rồi nhân đó giết chết Lưu Bang, Phạm Tăng cũng đã nhiều lần ra hiệu cho Hạng Vũ, song Hạng Vũ lại không quyết đoán ngay. Khi đó, chỉ có Lưu Bang và Hạng Vũ là có khả năng tranh cướp thiên hạ, song Hạng Vũ lại bỏ lỡ cơ hội tốt, tha cho Lưu Bang, khiến Lưu Bang trốn thoát, để về sau lại phải chịu thua trước Lưu Bang, và phải tự sát. Bữa tiệc Hồng Môn chính là thời điểm tốt nhất để Hạng Vũ có thể giết chết Lưu Bang. Trong lúc Lưu Bang đang yếu thế, thì Hạng Vũ nhất thời lại làm việc theo tình cảm, do dự không quyết, kết cục là, Lưu Bang trốn thoát, còn Hạng Vũ bị thua thảm hại trước Lưu Bang.

Lý Tịnh chiến thắng kẻ địch nhờ kết hợp kỳ chính

Khi quyết sách, cần phải khéo kết hợp cả công khai và giấu kín, cần có sách lược cụ thế đối với từng thay đổi đang diễn ra. Người cao minh hiểu rõ đạo lý này nên rất giỏi tùy cơ ứng biến theo tình hình và yêu cầu cụ thể, cũng như khéo léo vận dụng phương pháp nêu trên. Có lúc, cần dựa vào tình hình thực tế để đưa ra phán đoán khách quan, có lúc lại cần suy xét tới quan hệ lợi hại, tiếp nhận nhân tố tình cảm, năng lực; linh hoạt trong thực thi; tùy vào người, vật và mục tiêu cụ thể để quyết đoán. Làm được như vậy thì có thể đưa ra quyết đoán chính xác.

Lấy việc dụng binh làm ví dụ, thế cục và kẻ địch luôn biến đổi, không có kẻ thù nào giống kẻ thù nào, bởi vậy cần có đối sách cụ thể cho từng kẻ thù khác nhau. Nền tảng của sự thay đổi là cần hiểu rõ tình thế và tình cảm của con người. Lý Tịnh là bậc thầy dụng binh đời Đường, có sở trường thay đổi kỳ chính, ông rất giỏi kết hợp kỳ kế ngụy mưu (mưu kế kỳ lạ) với chính đồ thường quy (đạo lý hợp lẽ phải).

Lý Tịnh xuất thân danh giá, thời niên thiếu ôm ấp hoài bão, có chí tiến thủ, ông rất chịu khó đọc binh thư. Tuy nhiên, khi mới lập nghiệp lại không gặp thuận lợi. Khi Lý Uyên chuẩn bị khởi binh ở Thái Nguyên thì Lý Tịnh đã báo việc này lên nhà Tùy, do đó bị Lý Uyên ghét bỏ, và luôn tìm cách trả thù. Sau này, khi Lý Tịnh tới làm việc dưới trướng của Lý Đường thì Lý Uyên rắp tâm phải giết chết ông, may có Lý Thế Dân tiếc tài năng của Lý Tịnh nên đã bảo vệ ông. Tuy nhiên, sau này, Lý Tịnh vẫn không có cơ hội phát triển sự nghiệp, chỉ tới khi gần kết thúc chiến tranh thống nhất, ông dẫn binh chinh chiến Tiêu Tiển thì bước đầu mới bộc lộ ra tài trí hơn người của mình; sau lập quốc, ông vào sâu trong sa mạc, tiêu diệt dân tộc du mục Đông Đột Quyết, giúp triều Đường trừ được mối họa lớn; vào năm Hoa Giáp, ông lại tiếp tục chinh phạt cao nguyên Đại Phi Xuyên, tiêu diệt Thổ Cốc Hồn, lập được nhiều chiến công và được người đời ca ngợi. Hai đặc điểm dụng bình của Lý Tịnh là thông và kỳ. Thông chính là kẻ địch thay đổi, ta cũng thay đổi. Ông thường dựa vào sự thay đổi của tình hình để đưa ra sách lược tương ứng dựa trên nền tảng đã nắm vững hình thế, hoàn cảnh và suy nghĩ của đối phương. Còn kỳ là dựa trên quy tắc thường gặp, vận dụng nhiều suy nghĩ và mưu kế kỳ lạ để kẻ địch không ngờ tới.

Khi nào thì dùng chính mưu và khi nào thì dùng kỳ mưu?

Lý Tịnh cho rằng, khi kẻ địch dồi dào sức lực, nắm bắt được nhiều tin tức, nội bộ đoàn kết, bên ta không dễ gì thực thi mưu kế thì nên dùng chính binh, cũng chính là lấy thực lực đối với thực lực. Còn khi kẻ địch yếu ớt thì nhất thiết phải dùng kỳ binh. Ông cũng nhấn mạnh, cần kết hợp cả kỳ và chính. Trước hết dùng chính binh, sau đó dùng kỳ binh. Có rất nhiều cách lý giải về chính kỳ: Xa bộ binh là chính, kỵ binh là kỳ; quân đánh chính diện là chính, quân đánh mai phục là kỳ,… Tư tưởng kỳ binh của ông đã thể hiện một cách đầy đủ nhất trong cuộc chiến đánh bại Đột Quyết.

Lý Tịnh

Lý Tịnh tự là Dược Sư, là người Tam Nguyên, phủ Kinh Triệu, ông là nhà quân sự, nhà lý luận quân sự, thống soái vĩ đại của triều Đường. Thời Đường Cao Tổ, ông nhận chức Hành quân tổng quản, thời Thái Tông, ông nhận chức Binh bộ thượng thư, làm quan tới chức đại tổng quản hành quân đạo Tây Hải, được phong làm Ngụy Quốc Công. Đường Túc Tông liệt ông vào một trong mười vị tướng tài giỏi nhất trong lịch sử Trung Quốc, và thờ cúng ông tại miếu Võ Thành Vương (Khương Thái Công). Ông giỏi cả văn và võ, đóng góp nhiều công lao trong việc thống nhất và xây dựng triều Đường.

Đột Quyết là kẻ thù lớn của thời kỳ đầu nhà Đường. Lý Uyên trước và sau khi khởi binh từng xưng thần với Đột Quyết, Đường Thái Tông mới đầu phải chịu sự uy hiếp của Đột Quyết, song do thực lực còn yếu nên phải nhẫn nhịn, chưa dám hành động. Năm Trinh Quán thứ 4, Đường Thái Tông cảm thấy cơ hội đã chín muồi nên quyết định tấn công Đột Quyết, và giao cho Lý Tịnh nhiệm vụ này. Đánh Đột Quyết không dễ dàng như là thảo phạt Đông Nam, Đột Quyết toàn kỵ binh, tốc độ di chuyển nhanh, khả năng tấn công vũ bão, hơn nữa chiến tuyến sa mạc dài, khí hậu ác liệt, do đó đánh thắng được Đột Quyết là một việc vô cùng khó khăn.

Tuy nhiên, kẻ địch cũng có điểm yếu, chính là tác chiến cô độc và thiếu sự chuẩn bị. Thế là Lý Tịnh quyết định “xuất kỳ chế thắng” (tiến đánh bất ngờ để giành chiến thắng). Ông chọn ra 3 nghìn kỵ binh tinh nhuệ, lao thẳng vào sào huyệt của địch, khiến kẻ địch trở tay không kịp.

Lý Thế Dân

Lý Thế Dân là con trai thứ của Cao Tổ Lý Uyên, là vị vua thứ hai của đời Đường. ông sinh ở Võ Công, năm 4 tuổi từng có thầy xem tướng dự đoán rằng sau này có thể “tề thế an dân”, do đó rất nổi tiếng. Dưới triều Tùy Dạng Đế vào niên hiệu Đại Nghiệp thứ 11, Dạng Đế bị dân tộc Đột Quyết do Thủy Tất Khả Hãn cầm đầu vây khốn tại Ưng Môn, Lý Thế Dân khi đó mới 16 tuổi đã đứng ra dẹp loạn, tỏ rõ tài năng của mình.

Thủ lĩnh của Đột Quyết là Hiệt Lợi Khả Hãn không thể ngờ rằng quân Đường lại tới nhanh như vậy. Ông ta nói: “Quân Đường nếu không phải là bất ngờ tấn công như vậy thì làm sao dám một mình xâm nhập vào sào huyệt của ta?”

Kỳ mưu của Lý Tịnh không phải ở tấn công vùng đất, mà là tấn công lòng người, khiến Đột Quyết cảm thấy hoang mang và sợ hãi từ trong lòng. Còn chưa đánh nhau thì quân Đột Quyết đã có người ra hàng. Hiệt Lợi Khả Hãn không chiến mà đã bỏ chạy. Trong cuộc chiến Đại Phi Xuyên, Lý Tịnh cũng đã áp dụng sách lược này và giành thắng lợi. Đại Phi Xuyên nằm trong sự kiểm soát của Thổ Cốc Hồn.

Năm Trinh Quán thứ 8, nổ ra cuộc chiến giữa nhà Đường và Thổ Cốc Hồn, Đường Thái Tông điều binh năm lộ, cử Lý Tịnh làm thống soái, lúc này Lý Tịnh đã 63 tuổi. Cuộc chiến này khó ở chỗ xảy ra tại vùng địa thế cao, nhiệt độ thấp, kẻ địch thì thoắt ẩn thoắt hiện. Hai bên đã có một cuộc chiến ác liệt ở Xích Thủy, bên nào cũng chịu tổn thất nặng nề. Thủ lĩnh của Thổ Cốc Hồn là Phục Doãn bỏ chạy, trước khi đi còn phóng hỏa, khiến ngựa của quân Đường không có cỏ để ăn. Lý Tịnh lệnh cho quân lính đuổi theo vào tận Đại Phi Xuyên. Lúc này, quân Đường lâm vào tình cảnh khó khăn, lương thảo hết, không tìm ra nguồn nước. Người phải gặm băng, còn ngựa thì ăn tuyết. Một số tướng nhà Đường cho rằng, nếu tình hình này kéo dài thì quân Đường sẽ không thể chịu nổi, do đó phải lập tức ra khỏi Đại Phi Xuyên. Lý Tịnh phản đối, ông cho rằng, kẻ định đã sắp tới đường cùng rồi, họ cũng nghĩ rằng quân ta nên rút lui. Nếu ta rút lui lúc này thì cũng sẽ không thể có lương thực hay nước uống được, hơn nữa còn bị kẻ địch đuổi theo ở phía sau. Hiện nay, quân ta đã ở vào tình cảnh như vậy rồi thì phải nhanh chóng quyết chiến với kẻ địch, mà càng nhanh càng tốt. Suy nghĩ như vậy nên Lý Tịnh đốc thúc quân lính gia tăng tốc độ, truy tìm đội quân còn sót lại của kẻ địch. Vài ngay sau đã tìm thấy và tiêu diệt toàn bộ bọn chúng.

Kỳ binh chính là đội quân xuất hiện vào thời gian và địa điểm mà kẻ địch không ngờ nhất, đôi lúc cần dựa vào tốc độ, đôi lúc lại cần dựa vào ý chí và lòng nhẫn nại. Điểm mấu chốt vận dụng kỳ chính, chính là hiểu rõ sự thay đổi của lòng người và tình thế, để từ đó đưa ra quyết đoán chính xác.

Tiêu Tiển là hậu duệ của Nam triều, năm Võ Đức nguyên niên xưng đế ở Giang Lăng, nắm trong tay 40 vạn binh lính. Lý Tịnh dẹp Tiêu Tiển là một cuộc chiến “thử sức”. Lý Tịnh dẫn vài nghìn kỵ binh đánh lén, bao vây Giang Lăng. Quân Đường cho rằng rất khó thắng lợi, song Lý Tịnh hiểu rằng, Tiêu Tiển thực thi chế độ “ngụ binh vu nông” (chia quân làm ruộng), bình thường phân chia quân đội tản mát khắp ruộng đồng. Quân Đường đột nhiên tập kích, quân địch còn chưa kịp tập hợp, nếu nán lại dưới thành lâu, quân địch tới viện trợ thì sẽ nguy to. Thế là, ông đã hiến kế lên chủ soái, bảo rằng vứt bỏ thuyền chiếm được của kẻ địch ở lại sông. Mọi người không hiểu vì nghĩ rằng, thuyền của kẻ địch có thể trang bị cho quân ta, sao lại để lại cho quân địch? Lý Tịnh nói: “Đất Tiêu Lương rộng lớn, phía nam trải dài tới Lĩnh Biểu, phía đông tới Động Đình, chúng ta không thể liều lĩnh đột nhập vào sâu. Nếu Giang Lăng chưa bị tiêu diệt, quân viện trợ của kẻ địch lại tới thì quân ta trong ngoài đều bị tấn công, tiến hay lùi đều không thể được, vậy thì dùng bao nhiêu thuyền đi chăng nữa cũng có ích gì. Hiện tại, vứt bỏ thuyền của kẻ địch lại, cho thuyền trôi theo dòng nước, quân viện trợ đi dọc theo dòng sông nhìn thấy những con thuyền này thì sẽ cho rằng Giang Lăng đã bị nguy khốn, nên sẽ không dám tiến lên, mà cho người đi thám thính tình hình, như vậy ít nhất cũng phải mất mười ngày, lúc đó chúng ta đã phá được thành rồi”. Mọi người nghe xong đều khâm phục tài phán đoán của ông.

Không những phải nắm vững chính xác tâm lý của kẻ địch, mà còn cần hiểu rõ ý đồ thực sự của kẻ địch. Sự nghiệp lớn thường ẩn chứa nhiều điều mơ hồ và quan trọng, đôi lúc giữa người mình với nhau cũng không thể nói rõ, nói hết, mà cần dựa vào quan sát thực tế để tìm hiểu ý đồ thực sự, tránh để xảy ra sai sót, gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Sau khi bị đuổi tới Thiết sơn, Hiệt Lợi Khả Hãn mới có được thời gian nghỉ ngơi đôi chút. Hiệt Lợi quyết định dùng kế hoãn binh, để có thời gian chỉnh đốn lại quân ngũ. Ông ta phái người tới Trường An, xin nhận tội với Thái Tông. Đường Thái Tông không phải là ông Đông Quách, nên không muốn tha cho “con sói” này. Tuy nhiên, nhà vua tương kế tựu kế, để làm mụ mị kẻ địch đã giả vờ đồng ý, còn phái người tới an ủi Hiệt Lợi. Thời đó còn chưa có điện thoại điện báo, nên Thái Tông chưa thể nói với tướng lĩnh chỉ huy nơi tiền tuyến ý đồ thực sự này của mình, hoàn toàn để họ tự hiểu ra.

Lý Tịnh và một đại tướng khác nhận được lệnh từ triều đình là ngừng tấn công và đón Hiệt Lợi vào triều. Quan quân trên dưới đều cho rằng chiến tranh đã kết thúc, có thể trở về kinh thành. Chỉ có Lý Tịnh và một đại tướng khác là vẫn tỉnh táo, suy đoán được ý đồ của Thái Tông. Hai người hiểu rằng: Mặc dù Hiệt Lợi thất bại, song thuộc hạ của hắn vẫn còn rất đông, nếu thả bọn chúng tới phía bắc sa mạc thì vùng sa mạc hoang vu, địa hình khó nắm vững sẽ bất lợi cho quân ta, lúc này e rằng có muốn đuổi cũng không kịp nữa rồi, Hiện tại sứ giả mang thư tới báo Hiệt Lợi đã đầu hàng, thì chắc chắn bọn chúng đang lơ là không có sự phòng bị, nếu chọn ra 1 vạn kỵ binh tinh nhuệ mang theo lương thực đủ dùng cho 20 ngày thì có thể đánh một trận mà bắt được Hiệt Lợi. Bộ tướng Trương Cẩn phản đối: Chiếu thư đã cho phép đầu hàng rồi, sứ giả vẫn đang ở đây, làm sao có thể xuất binh tập kích? Lý Tịnh nói: Đó là mưu trí của hoàng thượng! Thời cơ không được để lỡ, sở dĩ Hàn Tín phá được Tề chính là vì đã nắm bắt được thời cơ chiến đấu.

Thế là Lý Tịnh thân chinh dẫn một vạn binh sĩ lén đi theo sau sứ giả. Hiệt Lợi nhìn thấy sứ giả, cho rằng kế hoãn binh đã thành công nên vô cùng sung sướng. Chính trong lúc ông ta vừa “thở phào nhẹ nhõm” thì đại quân của Lý Tịnh đã xuất hiện ngay trước mặt.

Lý Tịnh giỏi quan sát điều kiện trong ngoài của sự việc, coi trọng thực tế, chú trọng hoàn cảnh, từ đó đưa ra quyết sách phù hợp với tình hình thực tế. Trí tuệ, mưu kế và cách dụng binh kỳ ngụy của ông khiến ai cũng khâm phục.

Ngụy Trưng quyết sách lập đại công

Nếu quyết sách mang lại bất lợi, thậm chí là nguy hiểm cho con người thì đó là quyết sách sai lầm. Ngược lại, nếu quyết sách đưa ra phù hợp với mong muốn của đối phương, mang lại lợi ích cho đối phương thì quyết sách đó sẽ được đối phương chấp nhận. Vua Đường trị vì đất nước thành công có thể nói là nhờ công lao của Ngụy Trưng - một người luôn tích cực hiến sách lược.

Triều Đường được xây dựng sau khi dẹp yên cuộc đại loạn cuối nhà Tùy. Năm Trinh Quán thứ nhất, quốc khố trống rỗng, dân số thưa thớt, đồng ruộng hoang tàn, kinh tế tiêu điều, mâu thuẫn xã hội vẫn chưa giải quyết ổn thỏa, lòng dân đang hoang mang, nao núng. Làm thế nào trị vì đất nước và làm lành vết thương chiến tranh mau chóng? Đó là vấn đề cấp bách cần được triều Đường giải quyết ngay. Đường Thái Tông cho triệu tập các đại thần lại để bàn kế sách trị vì đất nước, nhà vua lo lắng nói: “Sau cuộc đại loạn, trị vì thiên hạ quả là việc không hề dễ!”.

Ngụy Trưng thấy Thái Tông lo lắng cho việc chấn hưng đất nước như vậy thì động viên nói: “Không có gì dễ hơn là việc trị vì thiên hạ sau đại loạn, thì cũng dễ như chuẩn bị lương thực cho người đang đói”.

Đường Thái Tông vẫn không yên lòng nói: “Chẳng phải người xưa vẫn nói, người giỏi trị vì thiên hạ cũng phải cần tới 100 năm mới có thể khắc phục được hậu quả của chiến tranh sao?”

Ngụy Trưng đáp lời: “Đó không phải nói tới quân chủ thánh minh. Quân chủ thánh minh trị vì đất nước cũng cũng giống như vừa nói đã nghe thấy tiếng rồi, có được hiệu quả trong vòng một năm cũng không phải là chuyện khó”.

Thượng thư Hữu bộc xạ Phong Đức Di nói với Thái Tông: “Không đúng! Sau ba thời đại, lòng người ngày một nham hiểu, thời Tần thực thi pháp luật, thời Hán dưa thêm bá đạo vào đều là vì muốn trị vì tốt thiên hạ, song đều không làm được, không phải là vì không muốn làm! Ngụy Trưng là một con mọt sách, thích lý thuyết suông, ông ta sẽ chỉ làm rối loạn đất nước lên thôi, xin bệ hạ chớ nghe theo lời ông ta!”

Ngụy Trưng

Ngụy Trưng, tự là Huyền Thành, là người Khúc Dương, Cự Lộc Hạ. Ông là nhà chính trị, danh thần đời Đường, từng đảm nhận các chức vụ như gián nghị đại phu, mật thư giám, thị trung, được phong làm Trịnh Quốc Công. Ông nổi tiếng vì là người thẳng thắn khuyên người khác sửa sai lầm, thụy hiệu là Văn Trinh.

Ngụy Trưng lập tức phản bác lại: “Ngũ đế và Tam vương không thay đổi dân chúng để thực thi giáo hóa, chiếu theo cách làm của Ngũ đế thì có thể thực hiện chính trị của Ngũ đế, chiếu theo cách làm của Tam vương thì có thể thực hiện chính trị của Tam vương, xem họ làm thế nào thì chính là cái chúng ta cần. Hoàng đế thảo phạt Xuy Vưu, trải qua 70 cuộc chiến, dẹp yên đại loạn, cho thiên hạ hưởng thái bình. Ngũ Lê làm loạn, bị Chuyên Húc đi chinh phạt, sau khi thắng lợi, thiên hạ cũng được an định. Hạ Kiệt có hành vi sai trái, bị Thương Thang đánh đuổi đi. Thương Trụ tàn bạo, vô đạo, bị Chu Võ Vương khởi binh thảo phạt. Thương Thang và Chu Võ Vương đều đích thân tới Thái Bình. Nếu nói lòng dân ngày một nham hiểm thì làm sao lại có thể khiến họ trở nên thật thà, chất phác như vậy, mà đến ngày hôm nay thì chắc chắc họ đều biến thành quỷ dữ hết, làm sao có thể giáo hóa nổi đây?”

Phong Đức Di bị Nguy Chính phản bác lại, cứng họng không nói được lời nào, song trong lòng vẫn hậm hực không yên. Đường Thái Tông nghe theo lời khuyên của Ngụy Trưng, tin tưởng vào quan điểm chính trị tiến bộ này, do đó tăng thêm niềm tin và nghị lực để chấn hưng đất nước.

Dưới sự chủ trì của Đường Thái Tông, các đại thần như Ngụy Trưng, Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Mai đã nghiêm túc tổng kết và rút ra những giáo huấn từ sự diệt vong của triều Tùy, chế định ra phương châm trị quốc, bắt tay vào các mặt như phát triển sản xuất, thay đổi chính trị, thực thi hàng loạt các biện pháp cải cách khá văn minh tiến bộ để giảm bớt thuế má, hình phạt, giảm mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc, mau chóng làm lành vết thương chiến tranh. Chẳng hạn như, phân chia đất cho nông dân không có đất hoặc có ít đất, tịch thu lại ruộng đất của các gia đình quý tộc cường hào; giảm thuế cho nông dân. Đường Thái Tông còn cho xây dựng lại thủy lợi, khai khẩn ruộng vườn, khích lệ phát triển sản xuất. Sau vài năm chỉnh đốn và trị vì, nền kinh tế của đất nước nhanh chóng được phục hồi và phát triển, nông dân được mùa lớn, mọi nhà ấm no. Nông nghiệp đã phát triển, lại tiếp tục phát triển thêm thủ công nghiệp, thương nghiệp và vận tải, toàn quốc đã có các thành phố lớn với dân số vài chục vạn người. Năm Trinh Quán thứ 4, giá gạo mỗi đấu là 3 đồng, xã hội thanh bình, hầu như không phải dùng đến hình phạt, trong một năm cả nước chỉ có 29 vụ án bị xử tử hình. Lãnh thổ của đất nước rộng lớn, phía đông trải dài tới bờ biển, phía nam vượt Ngũ Lĩnh, dân chúng sống yên ổn, hòa thuận, đêm ngủ không phải đóng cửa, đi xa không phải mang theo lương thực mà có thể lấy được dọc đường di. Lịch sử gọi đây là “thời trị Trinh Quán”.

Phòng Huyền Linh

Phòng Huyền Linh tên là Kiều, tự là Huyền Linh, là người Lâm Tri, Tề Châu. Khi đánh giá về các tể tướng thời Đường, các nhà lịch sử sau này thường nhắc tới Phòng Huyền Linh đầu tiên, họ cho rằng: hiền tướng thời Đường trước có Phòng Đỗ, Sau có Diêu Tông. Tháng 6, năm Trinh Quán thứ 22, Phòng Huyền Linh qua đời, thọ 71 tuổi. Ông được an táng tại núi Thái Thạch, Tế Nam, tỉnh Sơn Đông. Mộ ông được đặt cạnh lăng tẩm Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông vô cùng cảm kích nói với các đại thần: “Tất cả đều là nhờ vào Ngụy Trưng đã khuyên ta thực thi nhân nghĩa, đáng tiếc là Phong Đức Di không thấy được!” Câu nói này của Đường Thái Tông đã chứng minh một cách đầy đủ nhất về sự thành công và đúng đắn của quyết sách “thời trị Trinh Quán” của Ngụy Trưng.

Dương Khản hiến kế giải vây thành

Năm Ngụy Hiếu Xương thứ 3, quan thứ sử Ưng Châu là Tiêu Ngọc Dần làm phản, chiếm cứ Quan Trung, tự xưng là Tề Đế, thượng thư bộc xạ Trưởng Tôn Trĩ phụng mệnh đi chinh phạt, đi theo trợ giúp ông còn có Hoa Âm Bá Dương Khản. Dương Khản được bổ nhiệm làm trấn viễn tướng quân, gián nghị đại phu, và làm Hành đài Tả thừa của Trương Tôn Trĩ, không lâu sau, ông lại được bổ nhiệm làm thông trực kỵ tán thường thị.

Trưởng Tôn Trĩ dẫn quân tới Hoằng Nông và đóng trại ở đó, sau đó triệu tập thuộc hạ lại để bàn bạc phương án tác chiến. Dương Khản biết rằng, quân làm phản chiếm cứ vùng đất hiểm trở, nếu tấn công trực tiếp thì khó mà thắng lợi, do đó chủ trương dùng mưu kế. Ông đã phân tích tình hình quân sự cho Trưởng Tôn Trĩ thấy và đưa ra rất nhiều ví dụ về các cuộc chiến trước đây.

Trưởng Tôn Trĩ nói: “Năm xưa, Ngụy Võ Đế Tào Tháo đánh nhau với Hán Toại, Mã Siêu. Mỗi người đều nắm giữ một cứ điểm quan trọng, khó mà chiến thắng nổi họ. Tuy nhiên, không đánh thắng nổi họ lại không phải là do họ có tài năng, dũng khí và mưu lược gì, chẳng qua là vì họ có được điều kiện thuận lợi ủng hộ như núi non hiểm trở, địa hình phức tạp, dễ phòng ngự khó tấn công. Hiện tại quân làm phản cũng đang trấn giữ Đồng quan, nơi có địa hình hiểm trở, dù Tào Tháo có sống lại cũng khó mà đánh thắng nổi”.

Dương Khản khuyên rằng: “Quân ta cần tấn công phía Bắc để cướp lấy Bồ Bản, tiếp đó chèo thuyền vượt sông tới bờ tây, nếu như vậy thì binh sĩ sẽ không có đường rút lui, chiến đấu mà phía sau là nước thì chỉ có cách liều mình xông lên phía trước mới có thể thoát thân, nếu vậy thì binh sĩ sẽ rất hưng phấn, đua nhau xông lên. Kẻ địch thấy quân ta hùng dũng như vậy thì chắc chắn sẽ sợ hãi, không dám nghênh chiến, vậy thì Hoa Châu có thể giải được nguy khốn mà không cần phải chiến. Kẻ địch trấn giữ Đồng Quan nghe nói Hoa Châu đã được giải vây thì chắc chắn sẽ sợ hãi mà bỏ chạy. Như vậy các châu thành sẽ lần lượt được bình định, Trường An cũng sẽ được giải vây mau chóng. Nếu chọn dùng kế sách này của tôi thì hãy để tôi dẫn quân đi tiên phong, nghênh chiến với địch trước”.

Trưởng Tôn Trĩ lắng nghe chăm chú ý kiến của Dương Khản, suy nghĩ một hồi lâu, vẫn do dự chưa quyết, ông nói: “Quân làm phản do Tiết Đọa Nghĩa cầm đầu đã vây khốn Hà Đông, quân làm phản do Tiết Phong Hiền cầm đầu lại đang bảo vệ An Ấp, quân ta tới bình định chúng, sẽ bị chặn lại ở vùng đất Ngu Bản mà không thể tiến lên được. Mặc dù kế của ngươi rất hay, song ta vẫn lo quân địch đông, thế lực mạnh, chúng sẽ hỗ trợ cho nhau kịp thời, kế sách của ngươi khó mà có hiệu quả, do vậy ta vẫn còn băn khoăn, chưa dám quyết đoán”.

Dương Khản nghe Trưởng Tôn Trĩ phân tích tình hình của địch như vậy, hiểu rằng đã tới lúc cấp bách rồi mà Trưởng Tôn Trĩ vẫn còn lo lắng, chưa dám quyết đoán, nên ông vội đưa ra một kế rất hay để phá địch, ông nói: “Tông Chính Trân Tôn vốn là một ngũ phu trong quân ngũ, may mà gặp thời nên sự nghiệp phát triển nhanh chóng, kỳ thực ông ta lại chẳng có tài cán gì, ông ta chỉ có thể bị người khác kiểm soát, chứ không thể chỉ huy được người khác, do đó vừa được giao chức vụ quan trọng, chỉ huy 3 đội quân tác chiến thì đã hoang mang, lo lắng, không biết phải làm như thế nào. Tầm thường như vậy thì làm sao có được mưu trí để ngăn chặn quân giặc vây thành, làm sao có thể chiến thắng được quân giặc. Ngoài ra, quận Hà Đông thuộc Bồ Bản, phía tây dựa vào Hoàng Hà, rất nhiêu dân chúng trong quận lại ở phía đông. Tiết Đọa Nghĩa hùng dũng tiến quân bao vây quận thành, song bố già và vợ con vẫn ở lại Nguyên Chỉ, nếu quân ta tiến đánh nơi này thì sẽ khiến quân địch hoang mang, chúng sẽ nhớ tới gia đình và sẽ trở về nhà ngay, quân bao vây quận thành tự khắc sẽ rút lui, không cần chiến đấu vẫn có thể giải vây, điều này chẳng phải đã quá rõ ràng rồi sao?”.

Trưởng Tôn Trĩ nghe Dương Khản nói rất hay đạo, phân tích hợp tình hợp lý, do đó đã nghe theo kế sách của ông, lệnh cho con trai mình là Trưởng Tôn Nghiêm dẫn kỵ binh và Dương Khản từ Hoằng Nông vượt sông tới phía Bắc. Dương Khảm lại nghĩ kế, lệnh cho thuộc hạ dán cáo thị khắp nơi thông báo rằng: “Hiện tại, quân ta đóng doanh trại trên đất này, đợi bộ quân tới thì cùng phát động tấn công, đồng thời muốn tìm hiểu lòng dân ra sao, sau đó mới quyết định có hành động hay không. Nếu lòng dân quy thuận thì khi thấy quân ta đốt lửa, cũng phải đốt lửa theo, báo hiệu là đã quy thuận; nếu quân ta đốt lửa mà không thấy đốt lửa theo, thì có nghĩa là không quy thuận, sau khi quân ta tới thì sẽ trừng phạt công khai, dẹp bằng thôn xóm, để khao thưởng cho ba quân”. Dân chúng khắp các thôn sau khi đọc cáo thị thì bàn tán xôn sao, cho dù là đang nửa đêm, hễ thấy trong quân đốt lửa thì cũng đốt lửa theo dù không biết họ quy thuận thật hay giả. Vào một đêm nọ, lửa được đốt lên kéo dài tới vài trăm dặm. Quân làm phản đang vây thành, thấy cảnh tượng này, không hiểu xảy ra chuyện gì, không dám liều lĩnh hành động, họ đã âm thầm rút lui, Tiết Đọa Nghĩa thấy quân lính táo tác, không chịu nổi áp lực, cũng đành phải bỏ chạy.

Sau đó, Trường An đã được giải nguy, kế sách của Dương Khản đã thành công.

Quỷ Cốc Tử chỉ ra rằng: “Độ dĩ vãng sự, nghiệm chi lai sự, tham chi bình tố, khả tắc quyết chi”. Khi quyết đoán vấn đề, cần đánh giá dựa vào sự việc đã qua, kiểm nghiệm bằng sự việc sắp tới, kiểm chứng bằng sự việc thường xuyên xảy ra. Nếu có thể được thì quyết đoán ngay. Dương Khản đã đưa ra quyết sách chính xác là vì hiểu rõ đạo lý này.

Lịch Thực Kỳ hiến kế chiếm thành Trần Lưu

Năm 208 TCN, Lưu Bang nhận lệnh Sở Hoài Vương tiến về phía Tây, tấn công kinh đô Hàm Dương của nước Tần.

Quân của Lưu Bang không tới 1 vạn người, hơn nữa trên đường đi gặp phải rất nhiều thành trì, cửa ải quan trọng của quân Tần nên rất khó tiến lên. Để làm đội quân lớn mạnh thêm, Lưu Bang vừa tiến quân, vừa chiêu mộ thêm binh sĩ, tuy nhiên khi tấn công Xương Ấp, Lưu Bang đã gặp thất bại. Lưu Bang đành phải tìm con đường khác để tiến về phía Tây. Khi tới Cao Dương, binh lính bẩm báo rằng: “Có một lão Nho sinh tên là Lịch Thực Kỳ muốn xin vào gặp”. Lưu Bang vốn rất coi thường Nho sinh, nhưng lúc này hai nữ hầu đang rửa chân cho ông đã nhanh miệng nói: “Tướng quân cứ cho ông ta vào đi”. Lịch Thực Kỳ vào tới nơi mà Lưu Bang cũng chẳng thèm ngẩng đầu lên nhìn, vẫn coi như không có chuyện gì xảy ra. Lịch Thực Kỳ thấy vậy cũng không quỳ xuống, mà chỉ chắp tay nói to: “Túc hạ dẫn binh tới đây là giúp Tần đánh các nước hay là giúp các nước tiêu diệt Tần?” Lưu Bang nghe Thực Kỳ nói vậy thì bực mình quát lớn: “Ở đâu ra con mọt sách này thế nhỉ? Lẽ nào cả thiên hạ đang muốn diệt Tần mà ta lại giúp Tần sao?” Lịch Thực Kỳ nói: “Thế thì tại sao túc hạ lại tiếp kiến trưởng lão vô lễ, ngạo mạn như vậy. Đánh nhau thì không thể không có mưu kế, túc hạ kiêu ngạo như thế thì làm gì có ai muốn tới đây hiến kế nữa?” Lưu Bang nghe thấy những lời nói này thì lập tức ra hiệu cho hai người hầu ngừng rửa chân, chỉnh đốn lại mũ áo, kính cẩn đỡ Lịch Thực Kỳ lên ghế ngồi, rồi thỉnh giáo rất lễ phép.

Lịch Thực Kỳ nói thao thao bất tuyệt về nguyên nhân sáu nước chiến bại, khiến Lưu Bang vô cùng khâm phục, Lưu Bang hỏi Lịch Thực Kỳ làm thế nào để tấn công Hàm Dương. Lịch Thực Kỳ cười nói: “Túc hạ có trong tay hơn một vạn binh mã mà muốn nghênh chiến với quân Tần thì chẳng khác nào xua dê vào miệng hổ, vô cùng nguy hiểm”. Lưu Bang vội hỏi đối sách thì Lịch Thực Kỳ nói: “Theo ý kiến của tôi thì trước hết chiếm lĩnh thành Trần Lưu đã. Trần Lưu là cửa ngõ giao thông quan trọng, thông tới mọi ngả đường, tiến có thể thắng, rút lui có thể phòng ngự, hơn nữa trong thành còn có rất nhiều lương thực”. Lưu Bang đang lo quân thiếu lương thực, thấy vậy vội hỏi có cách gì hay để chiếm được Trần Lưu không. Lịch Thực Kỳ nói: “Nếu túc hạ muốn có được Trần Lưu thì tôi sẽ giúp sức. Huyện lệnh Trần Lưu là bạn thân của tôi, tôi sẽ giúp túc hạ khuyên ông ta tới hàng”. Lưu Bang lại hỏi liệu huyện lệnh Trần Lưu có chịu đầu hàng không. Lịch Thực Kỳ trả lời: “Nếu ông ta không chịu hàng thì túc hạ dẫn quân tấn công thành vào lúc nửa đêm, tôi sẽ làm nội ứng trong thành. Khi đã tấn công được Trần Lưu rồi thì có thể chiêu binh mãi mã ở đó, rồi tiếp tục tiến về phía Tây đánh Hàm Dương”. Lưu Bang vô cùng vui mừng, vội vàng sai Lịch Thực Kỳ tới gặp huyện lệnh Trần Lưu, còn mình thì dẫn quân tinh nhuệ đợi sẵn ở bên ngoài thành.

Lịch Thực Kỳ tới Trần Lưu, huyện lệnh gặp lại bạn cũ thì vui mừng mở tiệc tiếp đón. Trong bữa tiệc, Lịch Thực Kỳ đã nói về tình hình trong thiên hạ, tới sự thành bại, lợi hại, khiến huyện lệnh không khỏi xúc động, bày tỏ mong muốn trung thành bảo vệ thành đến cùng. Lịch Thực Kỳ thấy vậy, đành phải thực hiện phương án 2. Huyện lệnh bị chuốc rượu say, không còn biết gì nữa. Tối nửa đêm, Lịch Thực Kỳ lén mở cửa thành cho Lưu Bang đưa quân vào thành. Lưu Bang dẫn quân xông vào huyện sở, giết chết huyện lệnh vẫn còn đang say mèm trên giường. Quân giữ thành thấy vậy, vội vàng đầu hàng. Sau khi Lưu Bang chiếm được thành, kiểm tra kho lương, quả nhiên thấy lương thực dồi dào, trong lòng vô cùng sung sướng, lập tức phong cho Lịch Thực Kỳ làm Quảng Dã Quân. Quân Lưu Bang đủ lương thực ăn, trên đường hành quân không chém giết, không cướp bóc, do vậy rất được lòng dân, ngày càng nhiều người gia nhập đội quân của Lưu Bang.

Sau đó, Lưu Bang đã hành quân thuận lợi, cuối cùng vào tháng 10 năm 206 TCN, Lưu Bang đã vây khốn được Hàm Dương. Vua Tần là Tử Anh không chiến, cũng không phòng thủ mà tự động ra khỏi thành xin hàng, triều Tần diệt vong từ đó.

Có một số sự việc nếu nói thẳng ra thì lại khó lòng thực hiện được, nên giấu kín những chuyện không nên nói, rồi ngấm ngầm hành dộng, đó chính là phương pháp Âm tặc (đánh lén). Lưu Bang chiếm Trần Lưu, nếu công khai nói thẳng ra là sẽ đánh Trần Lưu thì khó mà thành công, bởi vậy ông đã chọn sách lược của Lịch Thực Kỳ, lấy việc khuyên hàng làm cái cớ, còn ngấm ngầm ra tay hành động, do đó dễ dàng hạ gục huyện lệnh Trần Lưu và chiếm được Trần Lưu. Đây chính là một ví dụ về quyết sách thành công nhờ vận dụng phương pháp “Âm tặc”.

ỨNG DỤNG TRONG THỜI HIỆN DẠI

Dẹp bỏ nghi ngờ, kích thích tiêu dùng

Theo Quỷ Cốc Tử thì quyết sách chính là nói nhằm vào sự nghi ngờ, tức là “phàm quyết vật, tất thức vu nghi giả”, bởi vậy, trong quan hệ đối nhân xử thế, cũng cần giỏi quyết đoán sự tình, giải quyết nghi ngờ, cân nhắc lợi hại, từ đó giúp đối phương đưa ra quyết sách chính xác.

Đôi khi, khách hàng nghi ngờ chất lượng và uy tín của sản phẩm của một công ty nào đó, do đó từ chối mua sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ của công ty, thậm chí, họ còn nói ra những lời lẽ ngờ vực rất khó nghe.

Đối mặt với tình hình này, muốn bán chạy sản phẩm và được người tiêu dùng sử dụng dịch vụ, cũng như giữ được hình tượng tốt đẹp thì công ty cần tiến hành biện luận và phản bác lại những lời phê bình của khách hàng không mua sản phẩm và không sử dụng dịch vụ, cần quyết đoán sự tình, giải quyết khúc mắc, từ đó gạt bỏ mối nghi ngờ trong lòng khách hàng.

Một đôi nam nữ sắp kết hôn tới mua tủ lạnh tại gian hàng của một tập đoàn sản xuất thiết bị điện nọ, khi chiếc tủ lạnh đã được đóng thùng chuẩn bị đẩy ra ngoài và chàng trai đang móc ví trả tiền thì cô gái đột nhiên thay đổi ý định nói: “Em thấy, chúng ta nên mua tủ lạnh Toshiba của Nhật Bản thì hơn”. “Sao lại thay đổi nhanh như vậy? Vừa lúc nãy đã đồng ý rồi cơ mà?” “Nhưng em thấy chất lượng tủ lạnh nội địa không tốt bằng của Nhật Bản. Bỏ thêm ít tiền mua tủ lạnh Nhật Bản chẳng phải tốt hơn à”.

Lúc này, nhân viên bán hàng thấy khách hàng thay đổi ý định, nên cảm thấy nuối tiếc cho công sức thuyết phục họ từ nãy đến giờ. Anh ta tức giận nói: “Được rồi, được rồi, không mua thì cũng đừng hỏi này hỏi nọ nữa. Tủ lạnh của Nhật tốt, hai người lại có tiền thì sao không tới Nhật Bản mà mua, còn tới đây làm gì?”

Đôi nam nữ thấy thái độ bực bội của nhân viên bán hàng đó thì lập tức quay người bỏ đi. Lúc này, giám đốc kinh doanh tươi cười bước lại.

“Hai bạn trẻ dừng lại nào, tôi muốn hỏi các bạn vài câu”. Nghe câu nói này, đôi nam nữ bèn quay người lại, song nét mặt vẫn lộ vẻ tức tối.

“Thật xin lỗi các bạn, vừa rồi, nhân viên bán hàng của chúng tôi nói năng thất lễ quá, đã xúc phạm tới hai bạn, người đáng trách phải là tôi, bình thường đã không bảo ban họ nghiêm khắc”. Nghe những lời nói này, đôi nam nữ dường như đã hết giận.

“Hai bạn mua hay không mua tủ lạnh của chúng tôi cũng không sao, chỉ có một chuyện muốn hỏi hai bạn”.

Thấy nói “có chuyện muốn hỏi”, đôi nam nữ tỏ rõ sự nghiêm túc lắng nghe.

“Vừa rồi, bạn nữ đã nói là chất lượng tủ lạnh của chúng tôi có vấn đề, liệu có thể nói rõ một chút được không, để sau này chúng tôi còn cải tiến”.

Cô gái không ngờ lại bị hỏi như vậy, bất giác không biết trả lời thế nào, nghĩ mãi mới ấp úng nói được vài lời: “Tôi cũng chỉ là nghe người khác nói tủ lạnh Toshiba rất tốt thôi”.

“Như vậy thì bạn nữ hoàn toàn hiểu sai rồi, đương nhiên, Toshiba là một thương hiệu nổi tiếng, có rất nhiều ưu điểm, song tủ lạnh do chúng tôi sản xuất gần đây cũng có nhiều cải tiến, các bạn không thấy sao, tủ lạnh của chúng tôi đang được bán ra thị trường quốc tế đấy”.

Thấy đôi nam nữ bán tín bán nghi, vị giám đốc này nói tiếp: “Khi thiết kế tủ lạnh, nhân viên kỹ thuật của chúng tôi đã tính toán rất kỹ lưỡng, ống giải nhiệt được lắp lộ ra ngoài nên tốc độ giải nhiệt cao gấp hai lần, do nhiệt lượng phân tán nhanh, nên tốc độ làm lạnh bên trong cũng nhanh, như vậy vừa nâng cao năng suất, lại tiết kiệm điện năng. Thực tế đã chứng minh, so với các loại tủ lạnh khác có cùng dung tích thì tủ lạnh của chúng tôi bao giờ cũng tiết kiệm được 1/3 điện năng tiêu thụ. Nếu một ngày có thể tiết kiệm được nửa số điện thì các bạn thử tính xem, một năm có thể tiết kiệm được bao nhiều tiền điện?”.

Giám đốc nghỉ một lát, rồi lại nói tiếp: “Còn nói về mỹ quan thì điều này cũng không vấn đề gì cả, ống giải nhiệt được chúng tôi lắp ở phía sau tủ lạnh, mà tủ lạnh thường kê sát tường, do đó sẽ không thể nhìn thấy được. Hai bạn cứ yên tâm”.

Cô gái vẫn im lặng, không biết nói gì, lúc này, vị giám đốc lại tiếp tục “tấn công”: “Thế này đi, nếu hai bạn tin những lời tôi nói, thì chiều nay tôi sẽ cho người giao tủ lạnh tới tận nhà hai bạn. Đây là giấy biên nhận, xin mời lại đằng kia lấy hóa đơn và giấy bảo hành”.

Như vậy, vị giám đốc này đã giúp khách hàng suy đoán tình hình và giải quyết nghi ngờ, từ đó khiến họ không còn lo lắng nữa, và quyết định mua hàng.

ỨNG DỤNG TRÊN THƯƠNG TRƯỜNG

Thành công nhờ phán đoán chính xác thị trường

Trong quyết sách, nếu lãnh đạo có con mắt nhìn xa trông rộng, nắm vững tình thế, phán đoán toàn diện, phân tích tổng hợp thì chắc chắn sẽ tìm ra được phương án giải quyết tốt nhất, từ đó giành được thắng lợi.

Tiền thân của công ty Nintendo, Nhật Bản vốn là một xưởng sản xuất nhỏ được thành lập vào năm 1889. Trong vòng 100 năm sau khi thành lập, họ chỉ chuyên sản xuất các sản phẩm phục vụ vui chơi giải trí rất đơn giản và bình dân như tu-lơ- khơ, mạt chược, cờ tướng. Xưởng sản xuất thủ công quy mô nhỏ này âm thầm hoạt động, không mấy ai biết đến.

Sau khi tiếp quản Nintendo, Hiroshi Yamauchi quyết phải đưa công ty phát triển lớn mạnh thoát khỏi tình cảnh ảm đạm này.

Năm 1964, Tokyo tổ chức thành công Thế vận hội Olympic. Từ lúc này, nhu cầu giải trí của người dân ngày một cao, Tú-lơ-khơ khó mà đáp ứng nổi nhu cầu của thị trường, có thể nói đây là cơ hội tốt để công ty Nintendo bứt phá khỏi chính mình.

Trong bối cảnh kỹ thuật điện tử ngày một phát triển, năm 1975, tại Nhật Bản dấy lên cơn sốt điện tử, bởi vậy mà ngành trò chơi điện tử cũng vì thế trở nên đắt giá. Các công ty sản xuất đồ chơi giải trí đua nhau đầu tư tiền của nhằm chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, tình hình này kéo dài không được bao lâu, khủng hoảng về dầu mỏ đã khiến kinh tế trở nên suy thoái, thị trường trò chơi điện tử vừa mới hưng thinh đã sớm lụi tàn.

Vững tin vào ngành trò chơi điện tử sẽ phát triển huy hoàng trong tương lai, công ty Nintendo vẫn quyết bám trụ tới cùng, kiên quyết tiến bước. Thế là, bất chấp nguy hiểm, công ty vẫn tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực trò chơi điện tử.

Công ty Nintendo ý thức được rằng, thị trường ngành trò chơi điện tử ở Nhật Bản là “quần hùng hỗn chiến”, diễn ra vô cùng khốc liệt, nếu muốn xưng hùng trong lĩnh vực này thì cần có bước đột phá, liên tục sáng tạo. Qua phân tích tìm hiểu kỹ thị trường giải trí, Hiroshi Yamauchi phát hiện thấy:

Thời gian tồn tại của sản phẩm vui chơi giải trí rất ngắn, bởi vậy cần liên tục cải tiến, khai thác sản phẩm mới. Ngoài ra, cần làm cho sản phẩm mới có tính năng giải trí vượt trội hơn so với sản phẩm cũ cùng loại.

Nhu cầu giải trí phân thành tiêu tốn thời gian và tiêu tốn tiền bạc. Vui chơi giải trí mà tốn ít tiền thì sẽ có sức hấp dẫn rất lớn, do đó đây là phương hướng phát triển.

Ngành trò chơi điện tử là ngành vui chơi giải trí kiểu kỹ thuật rất mới mẻ, là sản vật kết hợp giữa ngành điện tử và ngành vui chơi giải trí, vừa có thể phát huy triệt để ưu thế của ngành điện tử, lại vừa có thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu vui chơi giải trí của mọi tầng lớp nhân dân.

Ngành trò chơi điện tử khác với ngành vui chơi giải trí truyền thống ở chỗ nó có tính kết hợp sử dụng: Phần cứng là nền tảng, không có phần cứng thì phần mềm có tốt đến mấy cũng không thể sử dụng được; tuy nhiên, nếu phần mềm không được cải tiến liên tục thì phần cứng sẽ thiếu sức hấp dẫn. Do vậy, phần mềm và phần cứng bổ trợ lẫn nhau, thúc đẩy và ràng buộc lẫn nhau.

Mọi phần mềm chơi game trên thị trường trò chơi điện tử của Nhật Bản lúc này đều phụ thuộc vào máy tính, còn giá phần cứng của các loại sản phẩm như máy chơi game chuyên dụng cỡ lớn lại rất cao. Hơn nữa, muốn những phần cứng này trở nên thông dụng như máy tính và tới với các gia đình thì phải cần một khoảng thời gian dài. Do vậy, ngành trò chơi điện tử vẫn là một ngành giải trí tốn kém, khó mà được toàn dân sử dụng.

Sau khi phân tích như vậy, Hiroshi Yamauchi nhạy bén cho rằng, “vui chơi giải trí mà tôn ít tiền” chính là một khe hở của thị trường nhu cầu giải trí, là cơ hội phát triển mà ngành trò chơi điện tử vẫn chưa nhận ra.

Năm 1981, máy tính cá nhân bắt đầu trở nên thông dụng ở Nhật Bản, khi đó đã có một bài báo viết hẳn một trang phân tích và dự đoán thị trường máy tính cá nhân. Bài báo đó nhận định rằng, đa phần mọi người đều chơi điện tử bằng máy tính, và đây sẽ là cơ hội kinh doanh tốt cho các nhà sản xuất trò chơi điện tử. Hiroshi Yamauchi vô cùng quan tâm tới thông tin “đa phần mọi người chơi điện tử bằng máy tính”. Ông cho rằng, nếu không suy xét tới các chức năng khác của máy tính, mà chỉ sản xuất ra máy tính đơn thuần dùng đê chơi trò chơi điện tử thì có phải sẽ tốt hơn không? Và thế là ông bắt tay vào thực hiện việc này, công ty Nintendo đã nỗ lực nghiên cứu và cho ra đời phần mềm, phần cứng máy chơi game vi tính.

Công ty xét thấy mình khai thác phần cứng khá muộn, nên không có khả năng cạnh tranh thị trường. Do đó, sau khi máy chơi game ra đời thì công ty vẫn chưa vội tung ra thị trường ngay, mà bình tĩnh quan sát và chờ đợi thời cơ tới. Tháng 7 năm 1983, Nintendo đã đưa ra thị trường lô sản phẩm đầu tiên với giá rẻ và có sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại khác. Trong khi các công ty khác tuyên truyền rằng sản phẩm máy tính của họ có rất nhiều tính năng như học tập, chơi game, tính toán, sắp xếp… thì Nintendo lại chỉ tuyên bố rằng máy tính chơi game của mình có một chức năng duy nhất là chơi game, thao tác đơn giản, dễ sử dụng nên rất tiện lợi, bởi vậy không chỉ thu hút được đối tượng thiếu nhi, mà người lớn cũng thích. Giá mỗi chiếc máy tính của các công ty khác khoảng từ 30-50 nghìn Yên Nhật, trong khi giá máy tính chơi game của Nintendo chỉ khoảng 14.800 Yên Nhật, giá thấp tới mức khó tin. Công ty cho rằng cần phải giảm bớt giá thành và giá bán của sản phẩm thì mới hấp dẫn người tiêu dùng. Sách lược bán giá rẻ của Nintendo chính là “thả dây dài, câu cá to”, sau khi mọi người hồ hởi, phấn khởi bỏ tiền ra mua phần cứng máy tính giá rẻ của Nintendo thì lại tiếp tục mua phần mềm của họ (nếu không sẽ không thể chơi game được), hơn nữa còn thường xuyên mua phần mềm mới (vì như vậy mới liên tục cập nhật trò chơi mới). Giá một bộ phần mềm xê dịch trong khoảng từ 4-6 nghìn Yên Nhật, lợi nhuận khá cao, do vậy, tiền bạc cứ đổ về Nintendo ào ào. Như vậy, năm 1983 với ưu thế “hình ảnh rõ nét, nội dung phong phú, giá cả hợp lý” máy chơi game của Nintendo vừa đưa ra thị trường đã được người tiêu dùng tranh nhau mua sạch, sản xuất liên tục mà cung không đủ cầu, có thể nói chỉ một đòn tấn công mà Nintendo đã hạ gục 8 đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực, và bước lên ngôi vị bá chủ thị trường.

Sau thắng lợi rực rỡ với máy tính có chức năng duy nhất là chơi game, Nintendo tiếp tục bắt kịp tốc độ phát triển của kỹ thuật mới, liên tục cho ra đời các sản phẩm phong phú và đa dạng. Công ty luôn chứng tỏ được khả năng vượt trội của mình trên thị trường.

Từ lúc bắt đầu đẩy mạnh phát triển máy chơi game vào năm 1983, trong vòng 10 năm, công ty đã tiêu thụ được hơn 34 triệu máy chơi game các loại trong cả nước, 50% các hộ gia đình đều sử dụng sản phẩm của công ty, phần cứng chiếm lĩnh 80% thị trường trong nước. Trong số 74 triệu máy chơi game bán ra nước ngoài thì thị trường Mỹ chiếm 1/3 con số đó. Tổng số phần mềm bán được trong cả nước là 320 triệu bộ, bán ra nước ngoài là 400 triệu bộ. Phần mềm chơi game chiếm lĩnh 90% thị trường Nhật Bản. Đây quả là một thành tích đáng tự hào, mà không phải doanh nghiệp nổi tiếng nào cũng có thể đạt được.

Phán đoán tình thế, giải quyết nghi ngờ là điểm mấu chốt giúp doanh nghiệp thành công. Nếu có thể nắm vững toàn diện, chính xác và kịp thời mọi tình hình, cũng như thông tin cần thiết cho đối sách, nếu có thể phân tích hợp tình hợp lý và suy luận logic đối với thông tin dữ liệu thì sẽ có thể đưa ra dự đoán khá chính xác, được như vậy thì sai lầm trong quyết sách là rất nhỏ mà khả năng thành công lại cực lớn. Sở dĩ, công ty Nintendo thành công rực rỡ như vậy, chính là vì họ đã phân tích tỉ mỉ và chính xác thị trường, đây là điều hết sức cần thiết đối với bất cứ sách lược nào của bất cứ doanh nghiệp nào.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của quỷ cốc tử