Quỷ Cốc Tử Mưu Lược Toàn Thư

Lượt đọc: 2210 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN 10
MƯU THIÊN
(VẠCH MƯU KẾ)
nguyên văn

Phàm mưu hữu đạo, (1) tất đắc kỳ sở nhân, (2) dĩ cầu kỳ tình. (3) Thẩm (4) đắc kỳ tình, nãi lập tam nghi. (5) Tam nghi giả, viết thượng, viết trung, viết hạ. Tham dĩ lập yên, dĩ sinh kỳ. (6) Kỳ bất tri kỳ sở dụng, (7) thủy vu cổ chi sở tòng. (8)

Chú thích

1. Phàm mưu hữu đạo: Mưu là chỉ lập mưu, hiến mưu, đề xuất ý kiến. Đạo là quy luật, lý lẽ.

2. Đắc kỳ sở nhân: Biết được nguyên nhân của nó.

3. Cầu kỳ tình: Nắm vững tình hình thực tế có liên quan.

4. Thẩm: Thẩm tra xem xét, làm cho rõ ràng.

5. Lập tam nghi: Tam nghi là chỉ trời, đất và con người. Ở đây là chỉ 3 kiểu mưu lược.

6. Tham dĩ lập yên, dĩ sinh kỳ: Có nghĩa là vận dụng kết hợp Tam nghi thì có thể tạo ra sách lược kiệt xuất.

7. Kỳ bất tri kỳ sở dụng: Người tạo ra mưu kế kỳ diệu lại không phải là chúng ta.

8. Thủy vu cổ chi sở tòng: Đây là quy luật chung được tuân thủ từ thời cổ đại đến nay. Tòng có nghĩa là tuân thủ, làm theo.

“Mưu” là chỉ lập mưu, hiến mưu, “mưu” liền với “quyền”, “quyền mưu” thường được sử dụng liền với nhau. Nói theo kiểu binh gia thì là: “Quyền mưu giả, dĩ chính thủ quốc, dĩ kỳ dụng binh, tiên kế nhi hậu chiến, kiêm hình thế, bao âm dương, dụng kỹ xảo dã” (Người quyền mưu lấy chính giữ nước, lấy kỳ dùng binh, nghĩ kế trước, tấn công sau, kiêm hình thế, chứa âm dương chính là dùng kỹ xảo). Quyền mưu là chỉ nghĩ ra chiến lược, sắp xếp sách lược. Tách riêng quyền và mưu thì mang nghĩa cân nhắc, vạch mưu sách, suy đoán. Trong cuốn “Quỷ Cốc Tử” thì quyền mưu được phân thành hai phần “quyền” và “mưu”. Quyền là cân nhắc mưu lược, còn mưu là mưu hoạch nội dung. Trong ngôn từ thì quyền là nói thế nào, còn mưu là nói gì.

Dịch nghĩa

Phàm là sách lược mưu kế thì đều cần phải tuân thủ quy tắc nhất định, phải biết rõ nguyên nhân của sự việc và nắm vững tình hình thực tế liên quan. Nắm vững tường tận tình hình thực tế thì mới có thể chế định ra 3 kiểu sách lược. Ba kiểu sách lược chính là thượng sách, trung sách và hạ sách. Vận dụng kết hợp 3 kế sách này thì có thể tạo nên một sách lược hoàn hảo. Sách lược, mưu kế hoàn hảo thì không có gì là không làm được, không thể không thắng lợi. Tuy nhiên, người nghĩ ra mưu kế này lại không phải là chúng ta, mà là có từ thời xưa, đã được người xưa áp dụng.

Nguyên văn

Cố Trịnh nhân chi thủ ngọc dã, tải tư nam chi xa, vi kỳ bất hoặc dã. (1) Phù độ tài, lượng năng, sủy tình giả, diệc sự chi tư nan dã. Cố đồng tình nhi tương thân giả, kỳ câu thành giả dã; đồng dục nhi tương sơ giả, kỳ thiên thành giả dã; (2) đồng ố nhi tương thân giả, kỳ câu hại giả dã; đồng ố nhi tương sơ giả, thiên hại giả dã. (3) Cố tương ích tắc thân, tương tổn tắc sơ, kỳ sổ hành (4) dã. Thử sở dĩ sát dị đồng chi phân, kỳ loại nhất dã. Cố tường hoại vu kỳ khích, mộc hủy vu kỳ tiết, (5) tư cái kỳ phân dã.

Chú thích

1. Thủ ngọc: Có nghĩa là vào núi tìm ngọc. Tải: nghĩa là ngồi (xe). Tư nam chi xa: Chỉ xe có lắp thiết bị chỉ phương hướng như kim chỉ nam. Hoặc: mê hoặc, mất đi.

2. Đồng tình: Tình cảm giống nhau. Tương thân: gần gũi, thân thiết. “Câu” trong “câu tương thân” ở đây rõ ràng là từ thừa. Câu thành: Hai bên đều có thành quả, đều thu được lợi. Đồng dục: Nguyện vọng giống nhau. Tương sơ: Xa lánh nhau. Thiên thành: Chỉ một bên được lợi.

3. Đồng ố: Cùng bị người khác ghét bỏ. Câu hại: Hai bên đều bị tổn hại. Thiên hại: Chỉ một bên bị tổn hại.

4. Sổ hành: Nhiều lần phát sinh, thường xuyên xảy ra.

5. Tiết: Mấu cây trúc. Phân: Phân chia ranh giới.

Phần này chỉ rõ: “Phàm mưu hữu đạo, tất đắc kỳ sở nhân, dĩ cầu kỳ tình” (Phàm là sách lược mưu kế thì đều cần phải tuân thủ quy tắc nhất định, phải biết rõ nguyên nhân của sự việc và nắm vững tình hình thực tế liên quan). Quỷ Cốc Tử cho rằng: Chỉ có “đắc kỳ tình” (nắm vững tình hình thực tế) thì mới có thể “trị đúng bệnh”, mới có thể nghĩ ra mưu lược tương ứng. Nắm vững sự thực, hiểu rõ suy nghĩ thực sự trong lòng đối phương, đó chính là tiền đề của “mưu”. Chỉ có “đánh giá tài năng, nắm vững năng lực và suy đoán tình cảm” thì mới có thể hiểu rõ suy nghĩ thực sự trong lòng đối phương. Biết được nguyên nhân và nắm vững tình hình thực tế, đó là điều cần thiết khi vạch mưu kế.

Dịch nghĩa

Khi người nước Trịnh vào núi tìm ngọc, đều đi loại xe có lắp kim chỉ nam, để khỏi mất phương hướng. Đánh giá tài năng, cân nhắc năng lực và suy đoán ý nghĩ thực sự trong lòng đối phương cũng chính là kim chỉ nam mà mưu thần sách sĩ sử dụng khi làm việc. Phàm những người có cùng suy nghĩ, khát vọng và thân thiết với nhau thì sẽ cùng nhau hưởng thành quả; phàm những người có cùng suy nghĩ, song lạnh nhạt với nhau thì chắc chắn sẽ chỉ một bên được lợi; phàm những người cùng bị người khác ghét bỏ song quan hệ thân thiết thì hai bên đều sẽ bị tổn hại; phàm những người cùng bị người khác ghét bỏ song lạnh nhạt với nhau, thì nhất định sẽ chỉ có một số người bị tổn hại trước. Bởi vậy, cùng hưởng lợi ích thì nhất định có quan hệ thân thiết, gây tổn hại cho nhau thì nhất định có quan hệ lạnh nhạt. Đó đều là quy luật, hoàn toàn có thể dựa theo quy luật này để phán đoán sự giống và khác nhau của sự vật. Bởi vậy, bức tường bị phá hỏng thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ, cây cối bị chặt đứt thường bắt đầu từ các mấu, đó đều là quy luật do có sự giống nhau.

Nguyên văn

Cố biến sinh sự, sự sinh mưu, mưu sinh kế, kế sinh nghị, nghị sinh thuyết, thuyết sinh tiến, tiến sinh thoái, thoái sinh chế; (1) nhân dĩ chế vu sự, cố bách sự nhất đạo, nhi bách độ nhất số dã. (2)

Chú thích

1. Mưu: Mưu lược. Kế: Kế hoạch, suy xét. Nghị: Thảo luận, bàn bạc. Thuyết: Lời nói du thuyết. Tiến: Có chí tiến thủ. Thoái: Lùi bước, rút lui. Chế: Hạn chế.

2. Bách sự: Các loại sự vật. Bách độ: Các loại chuẩn mực. Số: Phép tắc, quy luật.

Dịch nghĩa

Bởi vậy, sự vật liên tục thay đổi, mới xảy ra vấn đề. Cần giải quyết vấn đề nên mới cần mưu kế. Chỉ có thông qua mưu kế mới sinh ra kế sách, nghiên cứu kế sách mới sinh ra biện pháp tương ứng, có biện pháp tương ứng rồi mới có thể du thuyết người quyết sách, khiến mọi việc tiến lên, nếu tiến không được thì lùi một bước, như vậy sẽ hình thành nên chuẩn mực tronowisc”tiến lùi”, dựa vào những chuẩn mực này để giải quyết vấn đề trong thực tế. Do đó, có thể thấy sự biến đổi của vạn vật đều tuân theo một đạo lý, kiểm soát vạn vật đều tuân theo một chuẩn mực.

Nguyên văn

Phù nhân nhân (1) khinh hóa, (2) bất khả dụ dĩ lợi, (3) khả sử xuất phí; (4) dũng sĩ khinh nan, (5) bất khả cụ dĩ hoạn, (6) khả sử cứ nguy; (7) trí giả đạt vu số, minh vu lý, (8) bất khả khi dĩ bất thành, khả thị dĩ đạo lý, khả sử lập công. (9) Thị tam tài (10) dã. Cố ngu giả dịch tế dã, bất tiếu giả dịch cụ dã, tham giả dịch dụ dã, thị nhân sự nhi tài chi. (11) Cố vi cường giả, tích vu nhược dã; vi trực giả, tích vu khúc dã; hữu dư giả, tích vu bất túc dã. Thử kỳ đạo thuật hành (12) dã.

Chú thích

1. Nhân nhân: Người hiểu đạo lý nhân nghĩa.

2. Khinh hóa: Khinh thường lợi ích vật chất.

3. Dụ dĩ lợi: Lấy lợi ích để dụ dỗ.

4. Xuất phí: Cung cấp phí tổn.

5. Nan: Khó khăn.

6. Hoạn: Lo nghĩ, suy tính.

7. Nguy: Nơi nguy hiểm.

8. Đạt vu số, minh vu lý: Tinh thông quy luật, hiểu rõ đạo lý.

9. Lập công: Lập công, tạo dựng sự nghiệp.

10. Tam tài: Là chỉ thiên, địa nhân, ở đây chính là người nhân nghĩa, dũng sĩ và người mưu trí.

11. Tài chi: Đưa ra quyết định đối với một sự việc nào đó.

12. Hành: Thể hiện, biểu hiện.

Có thể phân mưu kế thành thượng mưu, trung mưu và hạ mưu. Thượng mưu là mưu lược vô hình, nó khiến cho sự việc thành công mà con người không hề biết; trung mưu là mưu lược hữu hình, nó khiến cho sự việc thành công song để lại vết tích, đây là mưu lược được mọi người tán thưởng; hạ mưu là mưu lược sử dụng trong trường hớp bất đắc dĩ, nó cũng có thể giúp con người thoát khỏi nguy khốn, song hao tốn nhiều sức lực và vật lực. Ba mưu lược này hỗ trợ lẫn nhau thì có thể tạo ra phương án tốt nhất, được gọi là kỳ mưu (mưu kế kỳ diệu). Đã có kỳ mưu thì không có việc gì là không làm nổi, từ xưa tới nay vẫn thế.

Dịch nghĩa

Quân tử nhân đức coi khinh lợi ích vật chất, bởi vậy không thể dùng tiền bạc để đụ dỗ mua chuộc họ, do đó nên để họ cung cấp tiền của; dũng sĩ coi khinh tai nạn, bởi vậy không thể đem họa hoạn để dọa họ, do đó có thể để họ trấn giữ vùng nguy hiểm; người trí tuệ thông tỏ quy luật, hiểu rõ đạo lý, không thể lừa dối họ bằng những lời lẽ thiếu thành thực, ngược lại có thể nói đạo lý với họ để họ tạo dựng sự nghiệp, cống hiến công lao. Đó là ba kiểu nhân tài: Người nhân nghĩa, dũng sĩ và người mưu trí. Ngược lại, có thể dùng thủ đoạn lừa dối để bịt mắt kẻ ngốc nghếch, có thể dùng thủ đoạn dọa nạt để uy hiếp kẻ hèn nhát, có thể dùng tiền bạc để mua chuộc người tham lam, có thể thấy tùy từng sự việc và con người cụ thể để chọn ra biện pháp tương ứng. Bởi vậy, mạnh là do tích lũy nhiều yếu tạo nên; kiên cường là do tích lũy nhiều hèn nhát tạo nên; dư thừa là do tích lũy nhiều thiếu thốn tạo nên. Đó là kết quả tất yếu được hình thành trong quá trình phát triển của sự vật, là sự thể hiện của “đạo thuật”.

Nguyên văn

Cố ngoại thân nhi nội sơ giả, (1) thuyết nội; nội thân nhi ngoại sơ giả, thuyết ngoại. Cố nhân kỳ nghi dĩ biến chi, (2) nhân kỳ kiến dĩ nhiên chi, nhân kỳ thuyết dĩ yếu chi, (3) nhân kỳ thế dĩ thành chi, nhân kỳ ác dĩ quyền chi, (4) nhân kỳ hoạn dĩ xích chi. Ma nhi khủng chi, (5) cao nhi động chi, vi (6) nhi chứng chi, phù nhi ứng chi, ủng nhi tắc chi, loạn nhi hoặc chi, thị vị kế mưu.

Chú thích

1. Ngoại: Bề mặt bên ngoài; Thân: Thân thiết; Nội: Tình cảm sâu kín trong lòng; Sơ: Xa lạ.

2. Nhân kỳ nghi dĩ biến chi: Tùy vào thái độ nghi hoặc của đối phương để đưa ra lý lẽ phù hợp.

3. Nhân kỳ thuyết dĩ yếu chi: Dựa vào lời nói của đối phương để kết giao với anh ta.

4. Nhân kỳ ác dĩ quyền chi: Dựa vào tâm tư ác độc của đối phương để đánh giá lợi hại, được mất.

5. Ma nhi khủng chi: Dùng thuật “sủy ma” để dọa nạt đối phương.

6. Vi: Ngấm ngầm, âm thầm.

Dịch nghĩa

Bởi vậy, những người bề ngoài thân thiết, mà bên trong lòng lạnh lùng thì cần du thuyết anh ta bắt đầu từ nội tâm; những người bên trong thân thiết mà bề ngoài lại lạnh lùng thì cần du thuyết anh ta bắt đầu từ vẻ ngoài. Có thể dựa theo những vấn đề mà đối phương nghi ngờ để thay đổi nội dung du thuyết của mình; có thể dựa vào vẻ bề ngoài của đối phương để phán đoán việc du thuyết có đạt hiệu quả hay không; có thể dựa vào lời lẽ đáp trả lại của đối phương để xác định trọng tâm cần du thuyết; có thể dựa vào sự biến đổi tình thế để chinh phục đối phương; có thể dựa vào những điều đối phương ghét bỏ để đánh giá lợi hại, được mất; có thể dựa vào sự chất vấn của đối phương để tăng cường sự đề phòng. Sau khi dùng thuật sủy ma thì tiến hành đe dọa đối phương; sau khi đề cao đối phương thì hành động theo kế sách; sau khi làm suy yếu đối phương thì tăng cường cải tạo anh ta; sau khi kiểm chứng mức độ thật giả của đối phương thì tiếp tục quyết định xem có hưởng ứng anh ta không; sau khi ngăn cản đối phương thì đưa thêm sự chèn ép; sau khi làm đối phương rối loạn thì tiếp tục làm tăng thêm sự mê muội của đối phương. Tất cả những điều vừa nêu trên đều được gọi là mưu kế.

Nguyên văn

Kế mưu chi dụng, công bất như tư, (1) tư bất như kết, (2) kết tỷ (3) nhi vô khích giả dã. Chính bất như kỳ, kỳ lưu nhi bất chỉ giả dã. (4) Cố thuyết nhân sinh giả, tất dữ chi ngôn kỳ; (5) thuyết nhân thần giả, tất dữ chi ngôn tư. (6) Kỳ thân nội, kỳ ngôn ngoại giả, sơ; kỳ thân ngoại, kỳ ngôn thâm giả, nguy. Vô (7) dĩ nhân chi sở bất dục (8) nhi cường (9) chi vu nhân, vô dĩ nhân chi sở bất tri nhi giáo chi vu nhân. Nhân chi hữu hảo dã, học nhi thuận chi; nhân chi hữu ác dã, tị nhi húy chi. Cố âm đạo nhi dương thủ chi. Cố khứ chi giả, tung chi; tung chi giả, thặng chi. Mạo giả bất mỹ hựu bất ác, cố chí tình thác yên. Khả tri giả, khả dụng dã; (10) bất khả tri giả, mưu giả sở bất dụng dã.

Chú thích

1. Công bất như tư: Công khai lại không bằng giữ bí mật.

2. Tư bất như kết: Ngầm vạch mưu kế lại không bằng tăng cường thiết lập quan hệ tốt đẹp với đối phương.

3. Tỷ: Thân thiết không gì bằng.

4. Chính bất như kỳ, kỳ lưu nhi bất chỉ giả dã: Tuân theo đạo lý bình thường lại không bằng đưa ra kỳ mưu (mưu kế kỳ diệu). Kỳ mưu được đưa ra thì không thể ngăn cản nổi.

5. Ngôn kỳ: Hiến sách lược kỳ diệu.

6. Ngôn tư: Nói ra những lời lẽ liên quan tới lợi ích cá nhân.

7. Vô: Không, không cần.

8. Sở bất dục: Chuyện không thích.

9. Cường: Tăng cường, làm mạnh lên.

10. Khả tri giả, khả dụng dã: Người có thể hiểu thì có thể sử dụng.

Dịch nghĩa

Khi vận dụng mưu kế, công khai lại không bằng giữ bí mật, âm thầm vạch mưu kế lại không bằng tăng cường thiết lập quan hệ tốt đẹp với đối phương, nói ra lời lẽ thân thiết, chứa đầy tình cảm thì sẽ không có sơ hở khiến người khác ly gián. Tuân theo đạo lý bình thường lại không bằng đưa ra kỳ mưu, kỳ mưu được đưa ra thì không thể ngăn cản nổi. Bởi vậy, khi du thuyết bậc quân vương thì nhất định cần phải hiến sách lược kỳ diệu; khi thuyết phục quan quân thì nhất định phải nói tới những lợi ích thiết thực mà họ được hưởng. Quan hệ thân thiết mà nói chuyện thiếu tập trung thì sẽ trở nên xa lạ; quan hệ xa lại mà nói chuyện lại rôm rả, thân thiết thì sẽ rất nguy hiểm. Không nên ép buộc người khác tiếp nhận những điều mà người khác không muốn tiếp nhận; không nên giáo huấn người khác những điều mà người khác không muốn biết; người khác thích gì thì nên học cách chiều theo sở thích của họ; người khác ghét gì thì nên tránh không đề cập đến. Bởi vậy, dùng phương pháp giấu kín để thu về công khai; từ bỏ đi việc nào đó thì có thể giải thoát sự việc đó, mục đích của việc giải thoát chính là ở chỗ tìm ra cơ hội để lợi dụng. Người không dễ bộc lộ tình cảm yêu ghét qua sắc mặt thì có thể giao việc quan trọng cho anh ta. Người tri kỷ thì có thể dùng; người không thể tri kỷ hoặc người hay lo nghĩ, mưu kế sâu xa thì không nên dùng.

Vạch mưu lược cần phải dựa vào tình hình và con người cụ thể, đối tượng khác nhau thì sẽ chọn dùng mưu lược khác nhau. Phàm những người có cùng suy nghĩ, khát vọng và thân thiết với nhau thì hai bên đều hưởng thành quả; phàm những người có cùng suy nghĩ, song lạnh nhạt với nhau thì chắc chắn sẽ chỉ một bên được lợi; phàm những người cùng bị người khác ghét bỏ song quan hệ thân thiết thì hai bên đều sẽ bị tổn hại; phàm những người cùng bị người khác ghét bỏ song lạnh nhạt với nhau, thì nhất định sẽ chỉ có một số người bị tổn hại trước. Bởi vậy, cùng hưởng lợi ích thì nhất định có quan hệ thân thiết, còn gây tổn hại cho nhau thì nhất định có quan hệ lạnh nhạt. Đó đều là quy luật, hoàn toàn có thể dựa theo quy luật này để phán đoán sự giống và khác nhau của sự vật. Khi vạch mưu lược, cũng cần hiểu rõ quy luật này.

Nguyên văn

Cố viết: Sự quý chế nhân, nhi bất quý kiến chế vu nhân. (1) Chế nhân giả, ốc quyền dã. Kiến chế vu nhân giả, chế mệnh (2) dã. Cố thánh nhân chi đạo âm, (3) ngu nhân chi đạo dương; (4) tri giả sự dị, nhi bất tri giả sự nan. Dĩ thử quan chi, vong bất khả dĩ vi tồn, nhi nguy bất khả dĩ vi an; (5) nhiên nhi vô vi nhi quý tri hĩ. (6) Tri dụng vu chúng nhân chi sở bất năng tri, nhi năng dụng vu chúng nhân chi sở bất năng kiến. Ký dụng, kiên khả phủ, (7) trạch sự nhi vi chi, sở dĩ tự vi (8) dã. Kiến bất khả, (9) trạch sự nhi vi chi, sở dĩ vi nhân (10) dã. Cố tiên vương chi đạo âm, ngôn hữu chi viết: “Thiên đại chi hóa, tại cao dữ thâm; thánh nhân chi chế đạo, tại ẩn dữ nặc. Phi độc trung, tín, nhân, nghĩa dã, trung chính nhi dĩ hĩ. (11) ” Đạo lý đạt vu thử chi nghĩ giả, (12) tắc khả dữ ngôn. Do năng đắc thử, tắc khả dữ cốc viễn cận chi nghĩa. (13)

Chú thích

1. Sự quý chế nhân, nhi bất quý kiến chế vu nhân: Sự việc quý ở sự chủ động, luôn đi trước người khác, kiểm soát người khác, không nên bị động để người khác kiểm soát.

2. Chế mệnh: Vận mệnh là do người khác khống chế.

3. Thánh nhân chi đạo âm: Bậc thánh đức giấu kín phương pháp hành sự.

4. Ngu nhân chi đạo dương: Kẻ ngu ngốc khoe khoang, khuếch trương phương pháp hành sự.

5. Vong bất khả dĩ vi tồn, nhi nguy bất khả dĩ vi an: Cứu đất nước khỏi bị diệt vong hay chuyển nguy thành an đều là việc khó làm.

6. Vô vi nhi quý tri hĩ: Người khác không thể làm, chỉ có người trí tuệ mới làm được.

7. Kiến khả phủ: Phủ là từ thừa. “Kiến khả” và “kiến bất khả” ở câu dưới đối nhau. Kiến khả tức là có lợi cho bản thân.

8. Tự vi: Suy nghĩ cho bản thân.

9. Kiến bất khả: Bất lợi cho bản thân.

10. Vi nhân: Nghĩ cho người khác.

11. Phi độc trung, tín, nhân, nghĩa dã, trung chính nhi dĩ hĩ: Không cứ trung, tín, nhân, nghĩa mới có thể dùng, mà hễ là đạo hợp lẽ phải thì đều có thể dùng.

12. Đạo lý đạt vu thử nghĩa giả: Người có thể thông tỏ đạo lý này.

13. Do năng đắc thử, tắc khả dữ cốc viễn cận chi nghĩa: Nếu được như vậy thì có thể tạo dựng quan hệ xa gần.

Dịch nghĩa

Bởi vậy nói, sự việc quý ở sự chủ động, luôn đi trước người khác, kiểm soát người khác, không nên bị động để người khác kiểm soát. Kiểm soát người khác chính là nắm vững quyền chủ động của sự việc; bị người khác kiểm soát chính là đặt vận mệnh của mình vào trong tay người khác. Bởi vậy, bậc thánh đức giấu kín phương pháp hành sự, còn kẻ ngu ngốc lại khoe khoang, khuếch trương phương pháp hành sự. Người thông minh dễ làm mọi việc thành công, còn kẻ ngu ngốc làm việc gì cũng khó. Từ đó có thể thấy, khi đất nước bị diệt vong thì rất khó khôi phục và làm phát triển trở lại, khi đất nước gặp nguy khốn thì rất khó biến nguy thành an, tuy nhiên nếu là người tinh thông mưu lược thì có thể làm được mọi việc. Trí tuệ không thể dùng ở những người kém hiểu biết hoặc ở những nơi không thể thấy. Khi thực thi mưu kế, nếu có thể thì lựa chọn sự việc mà làm, đó là làm cho mình; nếu không thể, thì cũng lựa chọn sự việc mà làm, đó là làm vì người khác. Bởi vậy, các bậc cổ thánh tiên vương đều giấu kín biện pháp hành sự, có câu nói như sau: “Vạn vật do trời đất sinh ra tốt ở chỗ cao lớn và thâm hậu; phép tắc đối nhân xử thế của thánh nhân khéo ở chỗ giấu kín. Không cứ trung, tín, nhân, nghĩa mới có thể dùng, mà hễ là đạo hợp lẽ phải thì đều có thể dùng”. Người thông tỏ đạo lý này thì có thể bàn chuyên hệ trọng với anh ta. Hiểu rõ phép tắc này thì có thể tạo dựng quan hệ xa gần, từ đó hoàn thành đại sự trong thiên hạ.

ĐIỂN CỐ MƯU LƯỢC

Chu Đệ bí mật mưu đại sự

Trong “Quỷ Cốc Tử” có nói: “Kế mưu chi dụng, công bất như tư”, chính là nói công khai kế sách lại không bằng giấu kín kế sách. Minh Thành Tổ Chu Đệ vốn là vua nước Yên, giả vờ bị bệnh điên dại để thực hiện mục đích của mình, cuối cùng đã phát động cuộc phiến loạn, đánh bại Kiến Văn Đế, lên ngôi hoàng đế và trở thành vị vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Minh Thành Tổ Chu Đệ

Minh Thành Tổ Chu Đệ là hoàng đế đời thứ 3 của triều Minh, là con trai thứ 4 của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Năm Hồng Vũ thứ 3, Chu Đệ được phong là Yên vương, ông từng sống ở Phượng Dương nên rất hiểu dân chúng. Cuối triều Chu Nguyên Chương, thái tử Chu Tiêu, Tần vương Chu Sảng, Tấn vương Chu Phong lần lượt qua đời, Chu Đệ trở thành chư vương đứng đầu gia tộc theo thứ tự từ trên xuống. Sau khi Chu Nguyên Chương qua đời, người kế tục là Kiến Văn Đế Chu Doãn đã thực hiện cuộc tiêu diệt các phiên quốc. Tháng 7 năm Kiến Văn nguyên niên, Chu Đệ đã phát động chiến dịch tĩnh nạn (dẹp nạn triều đình), tháng 6 năm 4 tiến quân vào Nam Kinh, tước đoạt ngôi vua của Kiến Văn Đế.

Hoàng đế khai quốc triều Minh là Chu Nguyên Chương có rất nhiều con cái, trong đó Chu Đệ là người trầm tính, chững chạc nhất, rất giống Chu Nguyên Chương, sau khi thái tử Chu Tiêu bị bệnh chết, Chu Nguyên Chương từng nghĩ tới việc lập Chu Đệ lên thay, song rất nhiều đại thần phản đối. Họ đưa ra hai lý do: Thứ nhất, nếu lập Chu Đệ lên làm thái tử thì sẽ gây mất đoàn kết giữa các anh em; thứ hai làm trái với nguyên tắc của triều đình. Chu Nguyên Chương không còn cách nào khác, đành phải lập con thứ của Chu Tiêu (con trai cả đã bị bệnh chết) lên làm hoàng thái tôn. Sau khi Chu Nguyên Chương chết, hoàng thái tôn kế vị, trở thành Kiến Văn Đế. Kiến Văn Đế còn ít tuổi, tính tình lại yếu đuối, nhu nhược, do đó bị các chú ruột rất xem thường, họ ngang nhiên hống hách, mỗi người chiếm cứ một phương.

Lúc còn sống, Chu Nguyên Chương phân chia con cháu khắp mọi nơi và gọi họ là thân vương, mục đích là để giám sát hoạt động binh tướng các nơi, đề phòng họ làm phản, sau này lại phong đất cho họ và gọi họ là phiên vương. Như vậy, rất nhiều phiên vương nắm giữ trong tay đại quân hùng hậu, như Ninh Vương có 8 vạn quân tinh nhuệ, đại quân của Yên Vương Chu Đệ cũng vô cùng dũng mãnh. Có thể thấy, triều đình của Kiến Văn Đế chịu sự uy hiếp nghiêm trọng từ các phía. Nghe theo lời khuyên can và cổ vũ của một số đại thần, Kiến Văn Đế bắt đầu thực hiện chiến dịch tiêu diệt các phiên quốc. Trong quá trình tiêu diệt này, có rất nhiều thân vương bị giết chết một cách oan uổng.

Yên Vương Chu Đệ biết được tin này vô cùng lo lắng. May mà Chu Đệ được phong đất Yên ở cách kinh thành Kim Lăng khá xa, hơn nữa đất đai rộng lớn, quân đông nên nhất thời chưa bị động đến. Tăng nhân Đạo Diễn là mưu sĩ của Chu Đệ đã nói với Chu Đệ rằng: “Nhìn điện hạ, thần biết ngay rằng điện hạ sẽ là Thiên tử”. Tướng sĩ Viên Cũng cũng nói với Chu Đệ: “Điện hạ đã gần 40 tuổi rồi, qua 40 tuổi, râu dài tới rốn thì nhất định sẽ làm Thiên tử, nếu không phải như vậy thì thần sẽ tự chọc mù mắt mình”. Với sự cổ vũ và khích lệ của những người này, Chu Đệ quyết tâm tích cực rèn luyện binh mã, chờ thời cơ tới.

Mưu sĩ Đạo Diễn sợ bại lộ việc luyện binh nên đã cho đào một đường hầm trong cung điện, xây nhà ở dưới và xây tường bao kín xung quanh, bên trong đốc thúc việc rèn binh khí, bên ngoài tường lại cho nuôi rất nhiều chim, chim hót ríu rít ngày đêm nên người bên ngoài không nghe thấy tiếng động nào phát ra từ bên trong. Tuy nhiên, tin tức vẫn bị lộ ra ngoài, không lâu sau đó thì lan tới triều đình, hai đại thần là Tề Thái và Hoàng Tử Đãng vô cùng quan tâm tới chuyện này, Hoàng Tử Đãng chủ trương bàn bạc với nước Yên, còn Tề Thái cho rằng nên xuất quân tiến đánh vây cánh trước.

Kiến Văn Đế nghe theo lời khuyên của Tề Thái, bèn lệnh cho công bộ thị lang Trương Bính là bố chính sử Bắc Bình, cùng hai chỉ huy là Tạ Quý và Trương Tín trấn giữ Bắc Bình, lại lệnh cho đô đốc Tống Trung đóng quân ở Khai Bình, lệnh cho binh mã khắp các ngả đường trấn giữ Sơn Hải quan và bảo vệ kinh thành Kim Lăng. Việc bố trí đã xong xuôi, Kiến Văn Đế lại phong chư vương.

Chu Đệ biết được Kiến Văn Đế có ý nghi ngờ mình, liền cử ba người con trai của mình là Cao Xí, Cao Húc và Cao Toại tới Kim Lăng thắp hương cho Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Kiến Văn Đế đang sẵn có mối nghi ngờ trong lòng, bỗng thấy có người bẩm báo ba con trai của Chu Đệ tới thì lập tức cho vào triệu kiến. Qua cách ăn nói của họ, Kiến Văn Đế cảm thấy Cao Húc là người kiêu căng ngạo mạn, còn hai người kia thì cung kính lễ phép, nên có phần an tâm. Sau khi thắp hương cúng bái xong, Kiến Văn Đế muốn giữ ba người ở lại để làm con tin. Chu Đệ sớm đã đoán được việc này, trong lúc Kiến Văn Đế còn đang phân vân thì sai người tới báo cho Văn Đế biết ông đang bị bệnh hiểm nghèo, muốn ba con trai về ngay. Kiến Văn Đế không còn cách nào khác, đành phải để cho ba người về.

Ngụy quốc công Từ Huy Tổ biết tin này vội vàng tới triều kiến, khuyên Kiến Văn Đế nên giữ lại Chu Cao Húc. Từ Huy Tổ là con trai của Từ Đạt, là chú ruột của Cao Húc. Ông nói với Kiến Văn Đế: “Trong số ba người này, thần thấy Cao Húc ngông nghênh nhất, không những bất trung mà còn dễ làm phản, cho anh ta về tất sẽ gặp hậu họa, tốt nhất nên giữ anh ta lại kinh thành để tránh rắc rối sau này”. Kiến Văn Đế vẫn do dự chưa quyết, lại quay sang hỏi ý kiến người khác, mọi người đều nói không cần giữ Chu Cao Húc lại, thế là Kiến Văn Đế quyết định thả Cao Húc ra. Chu Cao Húc sợ Kiến Văn Đế đổi ý, bèn lén ăn trộm ngựa của Từ Huy Tổ, rồi phi thẳng về nhà. Trên đường đi, Cao Húc đã giết rất nhiều quan dịch thừa (quan lại ở các trạm ngựa chuyển công văn thời xưa). Thấy Cao Húc trở về, Chu Đệ vô cùng mừng rỡ, nói với các con: “Vậy là bốn cha con ta đã gặp lại nhau, đúng là ông trời đã giúp ta!”.

Từ Huy Tổ

Từ Huy Tổ tên thật là Doãn Cung, để tránh Hoàng thái tôn nên đổi tên là Huy Tổ, ông là người Hào Châu, là con trai cả của Từ Đạt. Ông là đại tướng của nhà Minh. Trong thời kỳ Hồng Vũ được phong làm Ngụy Quốc công.

Vài ngày sau, có thánh chỉ của Kiến Văn Đế tới, nói rằng Chu Húc trên đường đi đã giết rất nhiều người do đó muốn bắt Chu Húc để hỏi tội, Chu Đệ đương nhiên không chịu. Vài ngày nữa trôi qua, hai tay chân thân tín của Chu Đệ là Vu Lương và Chu Đạc đã bị người của Tạ Quý lừa bắt đi, đưa tới kinh sư xử chém. Sau khi hai người này bị xử chém thì lại có thánh chỉ của Kiến Văn Đế tới, trách móc Chu Đệ thậm tệ, nói rằng Chu Đệ ngấm ngầm luyện binh mã, với ý đồ không trong sạch Chu Đệ thấy sự việc đã đến lúc cấp bách, thế là nghĩ ra kế hoãn binh: giả điên.

Chu Đệ cạo trọc đầu, chạy điên cuồng khắp phố, miệng gào hét, nói năng lảm nhảm. Lúc thì giật thức ăn của người đi trên phố, cho vào mồm nhai ngấu nghiến, lúc thì chui vào trong cống ngầm nằm trong đó mấy ngày trời. Người của Tạ Quý nghe nói Chu Đệ bị bệnh liền tới dò la tình hình. Lúc đó đang vào mùa hè, trời nóng như thiêu như đốt, song lại nhìn thấy bếp lò cháy đùng đùng giữa phủ Yên Vương, Chu Đệ ngồi cạnh đó mặc một tấm áo lông cừu, tay chân run lập cập như đang trong mùa đông giá rét, miệng luôn mồm kêu lạnh. Khi hai người của Tạ Quý hỏi chuyện Chu Đệ thì ông thốt ra toàn những lời nhảm nhí. Hai người này thấy vậy chỉ biết nhìn nhau rồi cáo từ.

Minh Thành Tổ Chu Đệ

Sau khi lên ngôi vua, để ngăn chặn thế lực tàn dư Mông Cổ phương Bắc phục hưng, Chu Đệ đã 5 lần thân chinh Bắc phạt, và dời đô lên Bắc Kinh. Trong thời gian ông trị vì đã phái Trịnh Hòa dẫn thủy quân tiến tới Tây Dương, tập trung nhân lực khai thông sông. Minh Thành Tổ là người biên soạn bộ sách lớn nhất lịch sử Trung Quốc “Vĩnh Lạc đại điển”. Năm 1224, Chu Đệ bị bệnh mà chết trên đường chinh chiến Bắc phạt lần thứ 5, khi đó ông 65 tuổi.

Tạ Quý kể lại toàn bộ sự việc này lên triều đình, Kiến Văn Đế hơi tin là thật, không còn sốt ruột nghĩ cách đối phó với nước Yên nữa. Tuy nhiên, thuộc hạ của Chu Đệ là Cát Thành có quan hệ thân thiết với Trương Tín và Tạ Quý, nên đã nói với họ là Chu Đệ giả điên, phải cẩn thận, Trương Tín và Tạ Quý vẫn chưa tin lắm. Một thời gian sau, Yên vương phái Trịnh Dung tới triều đình dò la tin tức, đại thần Tề Thái bèn bắt anh ta lại, tra hỏi rất nghiêm, Trịnh Dung không chịu nổi đòn tra tấn đã khai báo từ đầu tới cuối việc mưu phản của Chu Đệ. Sau khi biết chuyện, Kiến Văn Đế vô cùng kinh ngạc, bèn lập tức hạ lệnh cho Trương Tín đi bắt bằng được Chu Đệ về chịu tội.

Trương Tín băn khoăn không biết phải làm thế nào, về nhà kể lại chuyện cho mẹ nghe, người mẹ nói: “Không thể làm vậy, mẹ nghe nói Yên Vương đang chiếm cứ thiên hạ, con không thể một mình mà bắt được ông ta”. Trương Tín nghe vậy càng không muốn đi bắt Chu Đệ, nhưng thánh chỉ của triều đình đã tới, thúc ông phải hành sự ngay, Trương Tín thấy không còn cách nào khác đành phải tới gặp Chu Đệ để điều tra xem tình hình ra sao, nhưng Chu Đệ bị bệnh không tiếp, sau nhiều lần như vậy, Trương Tín đành phải cải trang thành người khác, nói muốn gặp Chu Đệ để bàn chuyện bí mật, lúc này Chu Đệ mới đồng ý cho Trương Tín vào gặp.

Vào phủ Yên vương, Trương Tín thấy Chu Đệ đang nằm trên giường thì quỳ xuống vái lạy. Chu Đệ chỉ tay vào miệng, rồi nói lung tung. Trương Tín thấy vậy nói: “Điện hạ không cần phải giả vờ như vậy, có việc gì thì có thể nói với thần”. Chu Đệ hỏi: “Ngươi nói gì?”. Trương Tín nói: “Thần thực lòng quy phục điện hạ, điện hạ không cần phải dối thần như vậy, thần muốn nói cho điện hạ biết, thánh chỉ lệnh cho thần tới bắt điện hạ về kinh thành, nếu điện hạ thực sự có bệnh, thần giải điện hạ về kinh thành thì hoàng thượng cũng sẽ không coi điện hạ là gì, còn nếu điện hạ không bị bệnh thì vẫn còn kịp bàn kế sách”.

Chu Đệ nghe những lời này thì bừng tỉnh ngộ, vội nhảy xuống giường nói: “Cám ơn tiên sinh, đã cứu sống cả nhà ta”. Trương Tín thấy Chu Đệ đúng là giả điên thật thì vô cùng mừng rỡ, bèn bí mật bàn bạc với Chu Đệ, Chu Đệ còn gọi thêm những ngươi như Đạo Diễn lại để cùng vạch mưu kế, cảm thấy sự việc không thể chậm trễ được nữa mà phải hành động ngay. Lúc này, đột nhiên trời nổi gió lớn, mưa bão ập về, một viên ngói trên mái hiên rơi xuống, Chu Đệ tỏ vẻ không vui, thấy vậy Đạo Diễn nói: “Đây là điềm lành, điện hạ vui lên mới phải chứ?”. Chu Đệ tức giận quát: “Nói năng hồ đồ, mưa to gió lớn như vậy mà nói là điềm lành là sao?”. Đạo Diễn cười nói: “Rồng bay trên trời thì làm sao không có mưa gió đây? Ngói vỡ chính là điềm dự báo ngôi vua sắp thay đổi, nhất định là điềm lành” Chu Đệ nghe vậy, vui mừng khôn xiết.

Thế là, Chu Đệ nghĩ cách giết chết hai ngươi Trương Bính và Tạ Quý, đánh tan quân mã của chỉ huy sứ Bành Nhị, bình định Bắc Bình thành, thay đổi niên hiệu năm thứ 32 Hồng Vũ, sắp xếp quan lại, chế định pháp luật, công khai tạo phản. Sau ba năm chiến tranh gian khổ, cuối cùng Chu Đệ đánh bại Kiến Văn Đế, lên ngôi hoàng đế, dời đô tới Bắc Bình và trở thành vị hoàng đế nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Thành công của Chu Đệ chính là nhờ biết “kế mưu chi dụng, công bất như tư” giả vờ điên dại để thực hiện ý đồ giấu kín trong lòng, người như vậy thì làm việc gì cũng thành công.

Ba diệu kế trong túi gấm của Gia Cát Lượng

Sự vật liên tục thay đổi, sự vật thay đổi sẽ tạo nên rất nhiều mưu lược giải quyết vấn đề tương ứng, có mưu lược rồi thì có thể định ra kế sách cụ thể và tường tận, rồi vận dụng những kế sách này để kiểm soát sự vật, có thể tiến, cũng có thể lùi. Trong “Tam Quốc diễn nghĩa” đã miêu tả Gia Cát Lượng là bậc thầy vận dụng mưu lược, rất được Lưu Bị trọng dụng. Với ba diệu kế trao cho Triệu Vân đựng trong ba túi gấm, chúng ta có thể thấy rõ Gia Cát Lượng là người có khả năng quan sát và phán đoán tốt đến thế nào.

Chu Du

Chu Du tự là Công cẩn, người huyện Thư, quận Lư Giang. Ông là người túc trí đa mưu, am hiểu âm nhạc, dung mạo tuấn tú, được mọi người gọi là Chu Lang. Chu Du tính tình cởi mở, hào phóng, thường lấy đức để thu phục lòng người, hoàn toàn khác với gì mà tiểu thuyết thời nay hư cấu. Quan hệ giữa Trình Phổ và Chu Du có một thời gian không mấy tốt đẹp, Trình Phổ đã nhiều lần làm nhục Chu Du, song Chu Du lại không hề để bụng, không so bì với ông ta, sau này Trình Phổ rất khâm phục Chu Du, từng nói với mọi người rằng: “Trò chuyện với Chu Công Cẩn, giống như là đang nhâm nhi rượu ngon, say lúc nào không biết”.

Khi Tôn Quyền có được đất Đông Ngô thì Lưu Bị đã chiếm được vùng đất quan trọng là Kinh Châu. Tôn Quyền rắp tâm chiếm đoạt Kinh Châu đã lâu, song vẫn chưa được. Vừa hay lúc này phu nhân của Lưu Bị qua đời, tin tức bay tới doanh trại Đông Ngô, đại tướng Chu Du nghĩ ra một kế nói: “Vợ Lưu Bị mất thì nhất định ông ta sẽ lấy vợ khác, chúa công có một cô em gái rất can trường, lúc nào cũng có vài trăm thị tỳ cắp gươm hầu bên cạnh, trong phòng lại bày la liệt đủ thứ vũ khí, ngay đàn ông cũng không giỏi bằng. Chúa công nên sai người tới Kinh Châu làm mai mối, thuyết phục Lưu Bị tới cầu thân. Khi Lưu Bị tới rồi thì nhân cơ hội bắt giam ông ta lại, rồi cho sứ giả đưa tin đổi Kinh Châu lấy Lưu Bị. Có được đất Kinh Châu rồi thì ta lại liệu sau”.

Sứ giả Đông Ngô tới Kinh Châu, Gia Cát Lượng đã đoán trước được mưu kế của Chu Du, nên đã thúc giục Lưu Bị mau tới Đông Ngô cầu thân. Gia Cát Lượng nói: “Lượng tôi chỉ cần một kế nhỏ cũng phá tan được âm mưu của Chu Du, khiến em gái Ngô hầu thuộc về chúa công, mà Kinh Châu cũng không mất”. Sau đó, Gia Cát Lượng đã viết ra ba kế sách “phá âm mưu của Chu Du”, lần lượt để vào trong ba túi gấm, rồi giao cho Triệu Vân. Lệnh cho Triệu Vân hộ tống chủ công Lưu Bị sang Đông Ngô, còn không quên dặn dò, nếu có khó khăn gì thì làm theo đúng kế sách là được.

Triệu Vân cùng 500 quân sĩ hộ tống Lưu Bị tới Đông Ngô, vừa tới nơi thì mở túi gấm thứ nhất ra xem Gia Cát Lượng vạch kế sách gì. Triệu Vân đọc xong thì gọi 500 quân sĩ lại, dặn dò mỗi người mỗi việc, sau đó lệnh cho mọi người cứ thế thi hành, còn bảo Lưu Bị vào ra mắt Kiều Quốc Lão trước. Kiều Quốc Lão là cha của hai nàng Kiều, nhà ở Nam Từ. Lưu Bị mang dê và rượu vào bái kiến Quốc Lão, còn kể chuyện Lã Phạm sang làm mối cho Lưu Bị thành thân với Tôn tiểu thư. Thực ra đây chính là kế sách của Gia Cát Lượng, ông biết trước việc “chiêu thân” của Tôn Quyền và Chu Du chẳng qua chỉ là lừa dối, nên chắc chắn họ sẽ giấu kín chuyện này không cho dân chúng Đông Ngô biết, càng không để cho những người có địa vị và thế lực trong nội chính Đông Ngô như Kiều Quốc Lão và Ngô Quốc Thái biết, bởi vì nếu chuyện này bại lộ thì Tôn Quyền khó mà ăn nói với mọi người. Do vậy, Gia Cát Lượng đã thực thi diệu kế của mình, tung tin ầm ĩ chuyện này. Quả như Gia Cát Lượng dự đoán, nhờ có sự can thiệp của Ngô Quốc Thái và Kiều Quốc Lão mà Lưu Bị đã thoát khỏi nạn này, hơn nữa còn được thành thân với em gái Tôn Quyền.

Lại nói Chu Du biết được tin chuyện giả đã thành thật thì trong lòng vô cùng kinh ngạc, lại nghĩ kế giúp Tôn Quyền. Theo kế của Chu Du, Tôn Quyền cho sửa sang lại Đông phủ, trồng nhiều cây cối và lắp đặt rất nhiều đồ vật trang trí đẹp, rồi mời Lưu Bị và em gái sang ở cùng. Tôn Quyền còn kén vài chục con hát cực hay và mang tới nhiều đồ vật quý báu tặng Lưu Bị. Quả nhiên, Lưu Huyền Đức bị sắc đẹp và tiếng hát làm mê mẩn, không còn muốn trở về Kinh Châu nữa. Triệu Vân trong lòng lo lắng không yên, chợt nhớ tới túi gấm của Gia Cát Lượng, thế là mở túi thứ hai ra xem, quả là thần cơ diệu toán. Triệu Vân cứ theo kế mà làm, vội vào trong phủ, bẩm báo với Lưu Bị trong bộ dạng thất kinh: “Sáng nay, Khổng Minh sai người tới báo tin rằng, Tào Tháo đang dẫn 50 vạn binh tinh nhuệ tới để phục thù trận Xích Bích, đang thẳng tiến tới Kinh Châu, tình hình rất nguy cấp, xin chúa công trở về ngay”. Lưu Bị và Tôn phu nhân bàn bạc với nhau, kiếm cớ đi lễ chùa để che mắt Tôn Quyền, rồi nhân đó chạy ra ngoài thành, Triệu Vân và 500 quân sĩ đã chờ sẵn ở đó, cả đoàn gấp rút trở về Kinh Châu. Kế thứ hai này quả đúng như Gia Cát Lượng dự đoán: sau khi thành thân thành công, mâu thuẫn giữa Tôn Quyền và Lưu Bị vẫn chưa được giải quyết. Mưu kế đầu tiên thất bại thì chắc chắn Tôn Quyền và Chu Du sẽ nghĩ kế tiếp theo, đó là dùng gái đẹp và đồ vật quý báu để làm nhụt chí khí Lưu Bị, khiến Lưu Bị sa vào chốn vui, không dứt ra nổi. Bởi vậy Gia Cát Lượng đã nghĩ ra diệu kế “quân Tào Tháo tấn công” khiến Lưu Bị phải trở về Kinh Châu gấp.

Triệu Vân

Triệu Vân là danh tướng nhà Thục Hán thời kỳ Tam Quốc, tự là Tử Long, người huyện Chân Định, Thường Sơn. Năm Kiến Hưng nguyên niên triều Thục Hán, thái tử Lưu Thiện lên ngôi. Triệu Vân được bổ nhiệm làm trung hộ xa, Chinh Nam tướng quân, được phong Vĩnh Xương Đình hầu, sau làm Trấn Đông tướng quân. Năm Kiến Hưng thứ 7, Triệu Vân bệnh nặng mất ở Hán Trung. Triệu Vân cả đời xông pha nơi trận mạc, gan dạ và quả cảm, được Lưu Bị và mọi người hết lời ca ngợi.

Khi Lưu Bị và phu nhân chạy ra khỏi thành thì Tôn Quyền nhận được tin báo, vội lập tức lệnh cho Trần Vũ, Phan A chọn ra 500 quân tinh nhuệ, đuổi theo Lưu Bị không kể ngày đêm. Khi đoàn quân của Lưu Bị chạy tới đầu địa phận Sài Tang, thì thấy Chu Du đã cho người bố trí quân chắn đường ở đó. Lưu Bị hoảng hốt, không biết làm thế nào, lúc này Triệu Vân vội mở túi gấm thứ 3 ra, đưa cho Lưu Bị xem. Thế là Lưu Bị nhờ phu nhân giải nguy, Tôn phu nhân quả nhiên nói: “Anh thiếp đã không coi thiếp là ruột thịt thân thiết thì thiếp cũng chẳng muốn gặp lại nữa. Việc hôm nay, phu quân cứ để mặc thiếp tự giải quyết”. Thế là Tôn phu nhân đứng ra dẹp yên vài tên tướng ngáng đường, giúp Lưu Bị thoát nạn. Khi Lưu Bị tới địa phận của mình thì đã thấy Gia Cát Lượng và mọi người đưa thuyền tới đón. Sau đó, Chu Du dẫn quân thủy lục đuổi theo, nhưng lại bị Quan Vân Trường, Hoàng Trung và Ngụy Diên mai phục sẵn đánh cho đại bại.

Có thể thấy, Gia Cát Lượng đã sớm dự đoán mọi chuyện, biết chắc sau khi Lưu Bị trốn thoát nhờ kế thứ 2 thì đại quân Đông Ngô sẽ đuổi theo, mà Triệu Vân chỉ mang theo 500 binh sĩ nên khó mà chống cự nổi. Do vậy, Gia Cát Lượng cho rằng chỉ có thể dựa vào thân phận cao quý của Tôn phu nhân - con gái yêu của Quốc Thái và em gái của Ngô hầu thì mới có thể dẹp yên được tướng lĩnh Đông Ngô, do vậy kế thứ ba trong túi gấm chính là kế mượn uy của Tôn phu nhân để lui binh.

Nhờ giỏi vận dụng mưu kế, hiểu rõ mấu chốt thay đổi của sự vật trong quá trình phát triển mà Gia Cát Lượng đã nghĩ ra ba diệu kế phá tan âm mưu giả cầu thân để cướp Kinh Châu của Chu Du, khiến Đông Ngô “vừa mất phu nhân lại chết quân”.

Điền Kỵ đua ngựa với Uy Vương

Có thể phân mưu kế thành thượng mưu, trung mưu và hạ mưu. Thượng mưu là mưu lược vô hình, nó khiến cho sự việc thành công mà con người không hề biết; trung mưu là mưu lược hữu hình, nó khiến cho sự việc thành công song để lại vết tích, đây là mưu lược được mọi người tán thưởng; hạ mưu là mưu lược sử dụng trong trường hợp bất đắc dĩ, nó cũng có thể giúp con người thoát khỏi nguy khốn, song hao tổn nhiều sức lực và vật lực. Ba mưu lược này hỗ trợ lẫn nhau thì có thể tạo ra phương án tốt nhất, được gọi là kỳ mưu (mưu kế kỳ diệu). Đã có kỳ mưu thì không có việc gì là không làm nổi, từ xưa tới nay vẫn thế.

Không ai là không biết tới câu chuyện “Điền Kỵ đua ngựa”, qua câu chuyện này có thể thấy, mưu kế của Tôn Tẫn quả là vô cùng cao mình.

Sau khi từ biệt thầy Quỷ Cốc Tử, Tôn Tẫn cùng bạn học là Bàng Quyên tới nước Ngụy để hiến mưu lập nghiệp, hai người đều dựa vào tài trí của mình để có được địa vị cao trong triều đình, tuy nhiên Ngụy Vương có phần yêu mến Tôn Tẫn hơn, điều này đã khiến Bàng Quyên sinh lòng đố kỵ. Bàng Quyên đã nghĩ ra rất nhiều thủ đoạn tàn nhẫn để hãm hại Tôn Tẫn, còn khoét xương đầu gối của Tôn Tẫn, khiến Tôn Tẫn không thể đi lại bình thường. Sau này, Tôn Tẫn đã giả điên trốn thoát khỏi nước Ngụy, trở về nước Tề và sống ở nhà tướng lĩnh Điền Kỵ của nước Tề, trở thành môn khách của Điền Kỵ. Hai người thường ngồi với nhau thảo luận binh pháp, vạch định tình thế, có thể nói rất tâm đầu ý hợp.

Một hôm, đại tướng Điền Kỵ ủ rũ trở về nhà, chẳng nói với ai lấy một tiếng, ngồi thừ giữa nhà. Tôn Tẫn thấy vậy bèn hỏi thị vệ của Điền Kỵ xem có chuyện gì xảy ra thì được biết: Điền Kỵ rất thích đua ngựa, trưa nay, đã đua ngựa với Tề Uy Vương, khi đua ngựa, ngựa được phân thành 3 hạng, thượng (tốt), trung (trung bình) và hạ (kém), thượng mã thi với thượng mã, trung mã thi với trung mã, hạ mã thi với hạ mã. Do hạng ngựa nào của Tề Uy Vương cũng mạnh hơn của Điền Kỵ nên thi lần nào Điền Kỵ cũng thua, hôm nay lại thua nên buồn bã như vậy.

Tôn Tẫn

Tôn Tẫn là nhà quân sự nổi tiếng thời Chiến Quốc, tự là Gia Mưu, là người nước Tề, con cháu của đại tướng Tôn Vũ nước Ngô. Tương truyền, ông và Bàng Quyên đều là học trò của Quỷ Cốc Tử, cùng tới nước Ngụy để lập nghiệp dựa vào tài trí của bản thân. Bàng Quyên đố kỵ với tài năng của Tôn Tẫn nên đã dùng thủ đoạn đê tiện hại Tôn Tẫn (khoét xương đầu gối của Tôn Tẫn). Sau này Tôn Tẫn giả điên chạy khỏi nước Ngụy, về nước Tề, trở thành quân sư, giúp nước Tề trở thành một trong những cường quốc mạnh thời Chiến Quốc. Sách nổi tiếng của ông có “Tôn Tẫn binh pháp”.

Sau khi biết chuyện, Tôn Tẫn cười rất tươi, tới bên Điền Kỵ nói với Điền Kỵ rằng: “Ngài việc gì phải lo lắng như vậy, tiếp tục đua nữa đi, lần này nhất định sẽ thắng”. Tôn Tẫn còn chưa nói hết thì Điền Kỵ đã trừng mắt nhìn Tôn Tẫn quát: “Không ngờ ngươi cũng chọc vào nỗi đau của ta!”. Tôn Tẫn nói: “Tôi đâu dám chọc vào nỗi đau của ngài, tôi chỉ muốn ngài tiếp tục đua ngựa với Uy Vương, tôi đã có cách giúp ngài chiến thắng”. Điền Kỵ nhìn Tôn Tẫn với ánh mắt nghi ngờ hỏi: “Ý ngươi là muốn thay những con ngựa này phải không?”. Tôn Tẫn lắc đầu nói: “Không cần thay con ngựa nào hết”. Điền Kỵ vẫn bán tín bán nghi nói: “Như vậy thì lại thua thôi!”. Tôn Tẫn nói chắc như đinh đóng cột: “Ngài cứ làm theo kế của tôi đảm bảo sẽ thắng”.

Điền Kỵ thấy Tôn Tẫn nói chắc chắn như vậy thì yên tâm phần nào, cho rằng Tôn Tẫn đã sắp xếp kế hoạch chu đáo từ trước rồi bèn nói: “Vậy thì ta sẽ nghe theo ngươi”. Sau đó, lại đi thách chiến với Tề Uy Vương.

Tề Uy Vương giành thắng lợi liên tiếp nên rất đắc ý, khi Uy vương đang vuốt ve những con ngựa của mình, thì nhìn thấy Điền Kỵ đưa Tôn Tẫn tới, bèn đứng dậy nói với giọng khiêu khích: “Sao vậy, vẫn chưa phục ta sao?”. Điền Kỵ nói: “Đương nhiên không phục, chúng ta thi đấu thêm lần nữa đi!”, nói xong thì móc ra một đống tiền đặt lên trên bàn, bảo là đặt cược. Tề Uy Vương thấy vậy cười thầm trong bụng, bèn sai thuộc hạ mang hết số tiền thắng cuộc vài lần trước tới, còn đặt thêm hai nghìn lượng vàng nữa. Tề Uy Vương khinh khỉnh nói: “Ngày mai lại đua tiếp nhé”.

Hôm sau, Tề Uy Vương mang theo các vương phi, vương tử tới trường đua từ rất sớm, trong lòng đang nghĩ xem sẽ giễu cợt Điền Kỵ thế nào. Còn Điền Kỵ lại rất tự tin vì đã có quân sư Tôn Tẫn ở bên, khuôn mặt không giấu nổi niềm vui chờ đợi thắng lợi tới.

Tiếng chuông rung lên, cuộc đua bắt đầu. Trước hết, Tôn Tẫn cho con hạ mã của Điền Kỵ đấu với con thượng mã của Tề Uy Vương nên đã thua ở hiệp 1. Tề Uy Vương đứng dậy nói: “Không ngờ quân sư lừng lẫy như tiên sinh Tôn Tẫn đây mà lại nghĩ ra đối sách kém cỏi đến như vậy”.

Tôn Tẫn không thèm để ý đến Uy Vương. Vào hiệp 2, Tôn Tẫn cho con thượng mã của Điền Kỵ đấu với con trung mã của Tề Uy Vương và đã giành thắng lợi. Tề Uy Vương đã lộ rõ vẻ lo lắng trên nét mặt. Vào hiệp thứ 3, Tôn Tẫn lấy con trung mã của Điền Kỵ đấu với con hạ mã của Tề Uy Vương và lại giành được thắng lợi. Lần này, tới lượt Tề Uy Vương từ trố mắt ngạc nhiên, rồi chuyển sang tức giận mà không nói được lời nào.

Kết quả thi đấu là 2-1, đương nhiên người chiến thắng là Điền Kỵ. Vẫn là những con ngựa đấy, nhưng do đổi lại vị trí thi đấu nên đã có kết quả từ bại thành thắng. Ở đây, Tôn Tẫn đã sử dụng biện pháp “kỳ mưu chế thắng” (dùng mưu kế kỳ diệu để giành chiến thắng).

Ưu Mạnh Trí khéo khuyên Sở Trang Vương

“Trí sĩ đạt vu số, minh vu lý, bất khả khi dĩ bất thành, khả thị dĩ đạo lý, khả sử lập công”, câu này có nghĩa là, người trí tuệ thông tỏ quy luật, hiểu rõ đạo lý, không thể lừa dối họ bằng những lời lẽ thiếu thành thực, ngược lại có thể nói đạo lý với họ để họ tạo dựng sự nghiệp, cống hiến công lao. Đối với những người như vậy, người hiến kế cũng phải thận trọng, chú ý chọn biện pháp phù hợp, nói rõ đạo lý, mới có thể có được hiệu quả bất ngờ. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua câu chuyện Ưu Mạnh khéo khuyên sở Trang Vương.

Trong cung đình Trung Quốc thời cổ đại có rất nhiều kép hài, họ xuất thân hèn kém, song đa tài đa nghệ, hài hước và có trí tuệ, thường đưa ra những lời khuyên tế nhị và khéo léo cho nhà vua, Ưu Mạnh người nước Sở chính là một ví dụ điển hình. Ưu Mạnh cao lớn, có tài hùng biện, và là một kép hài rất được Sở Trang Vương yêu quý.

Sở Trang Vương có một con ngựa quý mà ông vô cùng yêu thích, ông cho ngựa mặc áo thêu hoa, ở trong phòng đẹp được trang trí công phu, nằm giường đệm êm, thức ăn toàn là táo khô. Nhưng không ai ngờ được rằng, con ngựa sống trong “nhung lụa” như vậy lại nhanh chóng bị bệnh rồi lăn ra chết, Sở Trang Vương buồn rầu khôn xiết, sai quần thần làm mai táng cho ngựa, cho vào quan quách để liệm và chôn theo nghi thức chôn cất quan đại phu. Các quan cận thần thấy vậy đều khuyên nhà vua không nên làm thế. Sở Trang Vương tức giận hạ lệnh: “Ai còn dám khuyên ta chuyện an táng ngựa quý thì sẽ giết chết người đó”.

Sau khi biết chuyện này, Ưu Mạnh vội vàng vào cung, vừa bước lên điện dã ngửa mặt lên trời khóc tu tu. Trang Vương cảm thấy rất kỳ lạ, hỏi vì sao lại khóc thì Ưu Mạnh trả lời rằng: “Con ngựa này là vật đại vương yêu quý, đại vương đường đường là vua nước Sở thì làm gì chẳng được, thần thấy chôn ngựa quý theo nghi thức chôn cất quan đại phu thì quả là bạc bẽo, xin đại vương chôn cất theo nghi thức quân vương mới xứng”. Trang Vương nói: “Chôn cất như thế nào?” Ưu Mạnh trả lời: “Thần thỉnh cầu đại vương cho đẽo ngọc làm áo quan, dùng gỗ hoa văn làm quách (bọc ngoài quan tài), chọn các loại gỗ thượng hạng làm quan tài, huy động binh sĩ tới đào huyệt, người già cả, sức khỏe kém thì bê đất xây mộ. Mời đại diện các nước Tề, Triệu tới tế lễ ở phía trước, còn đại diện các nước Hàn, Ngụy thì bảo vệ ở phía sau. Khi tế thì phải theo nghi thức ở miếu, tức là dùng bò, dê, lợn làm vật tế, sau đó lệnh cho huyện vạn hộ chăm lo hương khói. Các nước biết được chuyện này, chẳng phải sẽ cho rằng đại vương là người coi trọng ngựa mà khinh thường người sao?”.

Mộ của Tôn Thúc Ngao

Tôn Thúc Ngao, người Kỳ Tư nước Sở, là nhà thủy lợi thời Xuân Thu. Ông làm quan lệnh doãn thời Sở Trang Vương, giúp Sở Trang Vương xưng bá. Năm 605 TCN, ông cho xây dựng công trình hệ thống kênh rạch sớm nhất Trung Quốc - vùng tưới tiêu Vu Lâu, Kỳ Tư. Theo sử sách ghi chép thì ông còn từng chủ trì việc tu sửa Thược Bì, cũng từng khởi công xây dựng thủy lợi ở vùng Giang Lăng, Hồ Bắc hiện nay.

Trang Vương nghe vậy, bừng tỉnh ngộ vội hỏi: “Ta sai lầm đến như vậy sao? Làm thế nào bây giờ?”. Ưu Mạnh nói: “Theo thần thì đại vương cứ chôn cất nó giống như cách làm với súc vật. Xây bếp làm quách, dùng vạc đồng làm quan tài, thêm gừng, táo làm gia vị, dùng mộc lan để khử tanh, dùng gạo nếp làm vật tế, dùng lửa làm áo quần, rồi chôn vào trong dạ dày của con người” Trang Vương nghe theo lời khuyên của Ưu Mạnh, sai người giao ngựa chết cho viên quan trông coi bếp núc triều đình.

Tướng quốc nước Sở là Tôn Thúc Ngao giúp Sở Trang Vương trị vì đất nước, lập nên rất nhiều thành tích, nên được Sở Trang Vương vô cùng trọng dụng. Tuy nhiên, sau khi ông mất đi, Sở Trang Vương lại quên hết mọi công lao của ông, không còn quan tâm tới gia tộc của ông nữa. Lúc này Ưu Mạnh mặc áo và đội mũ quan của Tôn Thúc Ngao, bắt chước bộ dạng của Tôn Thúc Ngao bước tới phía trước Sở Trang Vương hành lễ chúc thọ nhà vua. Sở Trang Vương vô cùng ngạc nhiên, cứ tưởng Tôn Thúc Ngao sống lại, đòi làm tướng quốc.

Ưu Mạnh nói: “Làm gì thì làm chớ làm tướng quốc nước Sở, giống như Tôn Thúc Ngao, khi sống hết lòng trung thành, tận tụy với đất nước, nhờ vậy mà vua nước Sở mới được xưng bá, nhưng nay chết rồi, con trai ông ta phải đi kiếm củi sống qua ngày”. Lúc này, Sở Trang Vương mới phát hiện ra đó không phải là Tôn Thúc Ngao. Ưu Mạnh cởi bỏ quần áo của Tôn Thúc Ngao, miệng ngâm nga hát: “Quan tham được hưởng vinh hoa phú quý, con cháu không lo nghèo đói; còn ngài, hỡi Tôn Thúc Ngao, ngài thử nhìn xem, ngài vì việc công mà quên việc tư, cả đời thanh liêm, trong sạch, vậy mà con cháu lại phải chịu khổ, không có chỗ cậy nhờ, vậy người làm quan thanh liêm làm gì”.

Tượng Sở Trang Vương xuất chinh

Sở Trang Vương là vua nước Sở thời Xuân Thu, là một trong ngũ bá Xuân Thu. Trong thời gian trị vì đất nước, ông vô cùng coi trọng việc tuyển chọn nhân tài, ông lần lượt có trong tay các văn thần võ tướng tài năng kiệt xuất như Ngũ Sâm, Tô Tùng, Tôn Thúc Ngao, Tử Trọng. Khi Trang Vương mới lên ngôi, giới quý tộc nước Sở nổi loạn, các nước láng giềng cũng nhân cơ hội này quấy nhiễu nước Sở. Sở Trang Vương đã dẹp yên mọi chuyện, sau đó đã có một số cải cách về mặt nội chính, đề ra chế độ thưởng phạt nghiêm minh, do đó quần thần hòa hợp, dân chúng an cư lập nghiệp, đất nước giàu mạnh.

Sở Trang Vương nghe vậy vừa cảm động vừa xấu hổ, lập tức phong đất cho con trai của Tôn Thúc Ngao.

Sở dĩ Ưu Mạnh có thể ngăn cản thành công việc mai táng con ngựa quý của Sở Trang Vương theo nghi thức quan đại phu là vì anh ta đã biết vận dụng “biện pháp khuếch trương” trước thuận sau nghịch, từ đó khiến Sở Trang Vương hiểu ra vấn đề.

Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp kiểu người như thế này: Cố chấp và bảo thủ, luôn cho rằng mình đúng hoàn toàn. Trong trường hợp này, cách thuyết phục anh ta (cô ta) có hiệu quả chính là, trước hết giả vờ đối phương đúng, sau đó, thuận theo logic hoặc suy nghĩ của đối phương để từ đó khuếch trương hoặc tiếp tục suy luận mở rộng, khi đối phương cảm thấy cách làm của mình có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng thì sẽ lập tức thay đổi.

Tóm lại, muốn làm thức tỉnh người khác thì cần đặc biệt chú ý tới phương pháp và cách thức, phương pháp nào khiến đối phương dễ tiếp nhận nhất thì chọn phương pháp đấy. Quan điểm biện chứng đơn giản “tương dục phế chi, tất cố hưng chi” (muốn vứt bỏ, lại làm hưng lên) quả là đáng để chúng ta học tập.

Quách Tử Nghi một mình giải vây

Danh tướng nhà Đường Quách Tử Nghi có một thuộc hạ là đại tướng Bộc Cố Hoài Ân, đã từng lập chiến công trong cuộc phiến loạn An sử (là cuộc phiến loạn có quy mô lớn kéo dài 8 năm). Tuy nhiên, do không hài lòng với cách mà vua Đường đối xử với mình nên ông ta đã nổi dậy làm phản, cho người đi liên lạc với Hồi Hột và Thổ Phiên, nói dối họ rằng Quách Tử Nghi đã bị quan thái giám Ngư Triều Ân giết hại, muốn họ cùng liên minh để chống lại triều đình.

Năm 765, Bộc Cố Hoài Ân cùng Hồi Hột và Thổ Phiên dẫn vài chục vạn quân tiến đánh Trường An. Tuy nhiên, tới nửa đường, thì Bộc Cố Hoài Ân bị bệnh mà chết. Hồi Hột và Thổ Phiên vẩn tiếp tục dẫn quân tiến công, quân Đường không chống cự nổi, quân liên minh Hồi Hột và Thổ Phiên tiến đánh Kinh Dương ở phía bắc Trường An, Trường An cũng bị uy hiếp. Điều này gây chấn động triều đình. Mọi người đều cho rằng, chỉ có Quách Tử Nghi mới có thể đẩy lui được Hồi Hột và Thổ Phiên.

Lúc này, Quách Tử Nghi đang sống ở Kinh Dương, trong tay không có mấy binh sĩ. Một mặt, ông cho người xây dựng thành quách kiên cố, không cho phép kẻ địch giao chiến. Một mặt, ông phái người đi dò la tình hình của kẻ địch. Theo tin tức báo về, ông được biết Hồi Hột và Thổ Phiên liên minh với nhau để chống lại triều đình, song chỉ là vẻ bề ngoài, còn nội bộ bên trong lại mâu thuẫn nghiêm trọng. Thế là, ngay đêm hôm đó, Quách Tử Nghi đã phái bộ tướng Lý Quang Toán lén tới doanh trại của Hồi Hột để tìm gặp đô đốc của Hồi Hột là Dược Cát La. Nào ngờ Dược Cát La ngạc nhiên nói: “Quách lệch công còn sống sao? Sao bảo ông ấy bị giết rồi, ngươi đừng lừa ta!”.

Lý Quang Toán nói cho Dược Cát La biết, hiện tại Quách lệnh công vẫn đang sống ở Kinh Dương, song có nói gì thì lãnh tướng của Hồi Hột cũng không tin.

Lý Quang Toán trở về doanh trại, báo với Quách Tử Nghi rằng người bên Hồi Hột không tin ông còn sống. Quách Tử Nghi cho rằng mình phải đích thân tới thuyết phục Hồi Hột rút quân mới được. Các tướng lĩnh khuyên can nói nguyên soái đi một mình đi như vậy rất nguy hiểm. Có ngươi đề xuất, cho 500 kỵ binh tinh nhuệ đi hộ tống, đề phòng trường hợp người bên Hồi Hột bất ngờ ra tay.

Tuy nhiên, Quách Tử Nghi lại nói: “Không được, mang theo nhiều binh sĩ đi như vậy thì sẽ làm hỏng việc. Ta chỉ cần vài người đi cùng là được rồi. Hiện nay kẻ địch đông mà ta lại ít, nếu đánh thì khó thắng, triều đình cũng dễ gặp nguy. Để ta đi lần này, nếu thương thuyết thành công thì chính là đất nước có vận may mắn, dù ta có mệnh hệ gì thì vẫn còn có các ngươi!”.

Nói xong, Quách Tử Nghi chỉ đem theo một số kỵ binh, rồi nhảy lên ngựa đi thẳng tới doanh trại của Hồi Hột.

Binh sĩ của Hồi Hột nhìn thấy vài kỵ mã từ xa tới vội bẩm báo với Dược Cát La. Dược Cát La và các tướng lĩnh của Hồi Hột vô cùng ngạc nhiên, lệnh cho binh sĩ bày binh bố trận, chuẩn bị sẵn cung tên để nghênh chiến.

Quách Tử Nghi cùng các binh sĩ thẳng tiến tới trận địa trước sự ngạc nhiên của Dược Cát La và các tướng lĩnh, họ đồng thanh nói: “Đúng là Quách lệnh công thật!” Nói xong thì cùng xuống ngựa, quỳ quanh Quách Tử Nghi hành lễ.

Quách Tử Nghi nhảy xuống ngựa, tiến tới nắm tay Dược Cát La, nói với giọng thân thiết: “Người bên Hồi Hột các ngươi từng lập nhiều công lao với triều đình, triều đình cũng đối xử tốt với các ngươi, vì sao lại nghe theo lời xúi bẩy của Bộc Cố Hoài Ân làm phản như vậy? Hôm nay ta tới đây là để khuyên các ngươi ngừng ngay việc làm phản lại”.

Quách Tử Nghi

Quách Tử Nghi là người huyện Trịnh, Hoa Châu. Nguyên quán Phần Dương, Sơn Tây. Ông là nhà quân sự nổi tiếng đời Đường, giỏi võ nghệ, làm quan tới chức trung thư lệnh, được phong Phần Dương quận vương. Quách Tử Nghi cả đời xông pha trận mạc, lập nên nhiều chiến công hiển hách, tới năm 84 tuổi mới từ biệt chốn sa trường. Ông là một vị quan thanh liêm, được mọi người yêu mến.

Dược Cát La nói: “Lệnh Công đừng nói nữa. Chúng tôi bị Bộc Cố Hoài Ân lừa dối, nói là hoàng thượng và lệnh công đều bị chết rồi, Trung nguyên không có ai làm chủ nên mới theo hắn ta tới đây. Bây giờ, biết lệnh công hãy còn sống thì chúng tôi nào dám giao chiến với ngài?”.

Quách Tử Nghi nói: “Thổ Phiên có quan hệ thân thiết với triều Đường, hiện tại tới tấn công triều đình, cướp bóc của cải của dân chúng, thực chẳng ra sao! Quân triều đình phải dẹp yên bọn chúng. Nếu các ngươi giúp quân triều đình đẩy lui được quân Thổ Phiên thì cũng tốt cho các ngươi”.

Sau một hồi nói chuyện, cuối cùng Quách Tử Nghi đã thuyết phục được nguyên soái Hồi Hột, quân Hồi Hột đã nhận lời tấn công quân Thổ Phiên. Lúc này, quân Hồi Hột tiến lại gần Quách Tử Nghi, khiến mấy người tùy tùng của ông thoáng chút lo lắng, cũng áp sát vào ông để bảo vệ ông. Nhưng Quách Tử Nghi xua tay bảo đám tùy tùng lùi ra, tiếp đến bảo Dược Cát La cho người mang rượu tới. Sau khi rượu được đưa tới, hai người cùng ngồi uống rượu dưới đất và nói chuyện rất thân thiết. Quách Tử Nghi nói to: “Thiên tử đại Đường vạn tuế! Đại Hãn Hồi Hột vạn tuế!” Dược Cát La và Quách Tử Nghi cùng uống rượu thề và lập minh ước.

Sau khi quân Thổ Phiên biết được tin thì vô cùng hoảng sợ, vội vã bỏ chạy ngay trong đêm. Quân liên minh Hồi Hột và quân Đường truy kích, đánh bại quân Thổ Phiên đến cùng.

“Tư bất như kết, kết tỷ nhi vô khích giả dã”, có nghĩa là đồng tâm hiệp lực thì sẽ không có kẽ hở nào khiến kẻ địch có thể công phá. Quách Tử Nghi đã thành công nhờ biết vận dụng biện pháp “tư bất như kết”. Khi thấy mình đang ở tình thế bất lợi, khó thắng nổi đối phương thì Quách Tử Nghi đã phân tích tình hình hai bên và dùng biện pháp mềm mỏng để thuyết phục Dược Cát La liên minh với quân Đường chống lại quân Thổ Phiên và đã giành thắng lợi, bảo toàn được đại Đường. Có thể nói, nhờ có con mắt tinh tường và khả năng quan sát mà Quách Tử Nghi đã vận dụng kế này rất “đúng nơi đúng chỗ”.

Trần Bình hiến kế đẩy lui quân địch

Hiểu rõ chân tướng của sự việc và nắm vững xu thế thay đổi của sự vật trong quá trình phát triển thì có thể khiến đối phương làm cho sự vật phát triển theo chiều hướng có lợi cho mình, từ đó có được biện pháp giải quyết vấn đề hiệu quả. Hiểu rõ suy nghĩ thực sự của đối phương là tiền đề của “mưu”, sau đó thì cần suy xét tới sách lược của “mưu” chọn ra biện pháp có hiệu quả, cuối cùng là giai đoạn thực thi. Trong quá trình thực thi, còn cần phải điều chỉnh sách lược dựa vào hoàn cảnh cụ thể, có vậy mới có thể đạt được mục đích cuối cùng. Vậy nên, trong phần “Mưu thiên” có nói: “Cố biến sinh sự, sự sinh mưu, mưu sinh kế, kế sinh nghị, nghị sinh thuyết, thuyết sinh tiến, tiến sinh thoái, thoái sinh chế”, vòng tuần hoàn này là một hệ thống gồm các mắt xích xâu chuỗi lại với nhau.

Thuyền vu Mặc Đốn

Thuyền vu Mặc Đốn là con trai trường của Đầu Mạn, thuyền vu đầu tiên của quân Hung Nô. Thuyền vu của Hung Nô vốn là do các tộc trưởng trong bộ lạc tiến cử. Mặc Đốn đã giết cha cướp ngôi, từ đó bắt đầu chế độ quý tộc thế tập trong xã hội Hung Nô. Thời kỳ đầu Mạo Đốn chấp chính, bờ cõi của Hung Nô trải xuống tận cùng Liêu Hà phía Đông, tới Trường thành phía Nam, vượt Song Lĩnh phía Tây, tiếp giáp hồ Baikal phía Bắc, Mặc Đốn là người đầu tiên thống nhất các dân tộc du mục phương Bắc.

Đầu thời Hán, quân Hung Nô liên tục xâm chiếm phương nam, chúng tới đâu là cướp bóc, vơ vét, chết chóc ở đó, điều này đã trở thành mối họa lớn của triều Hán ở phương Bắc. Năm 200 TCN, Hán Cao Tổ Lưu Bang đích thân dẫn đại quân gồm 30 vạn người đi dẹp loạn.

Lúc đó, thuyền vu Hung Nô là Mặc Đốn dẫn vài chục vạn quân mã bao vây Tấn Dương, Mặc Đốn biết Hán Cao Tổ thân chinh đi dẹp loạn thì ngấm ngầm dẫn binh mã tới Bạch Đăng sơn phục kích.

Lưu Bang và 30 vạn quân bị vây khốn ở Bạch Đăng sơn. Đại quân của Lưu Bang nhiều lần đột phá mà không thành công. Đang đứng trước tình thế khó khăn, không biết làm thế nào thì mưu sĩ Trần Bình hiến kế nói: “Thưa hoàng thượng, thần có một diệu kế, không biết có được không?”

Lựu Bang nghe thấy có kế phá vòng vây thì quay ngoắt người lại, hỏi Trần Bình: “Mau nói đi, xem ngươi có diệu kế gì?”

Trần Bình tiến lại phía Lưu Bang, ghé sát vào tai ông nói: “Hôm qua, do thám báo về rằng Mặc Đốn là người vô cùng hiếu sắc, lúc nào cũng có gái đẹp bên mình, mà vợ của hắn là Yêm Thị nổi tiếng ghen tuông, hai người thường cãi nhau vì chuyện này, bởi vậy lần nào Mặc Đốn xuất quân chinh chiến thì Yêm Thị cũng đi theo giám sát, hơn nữa trong chuyện này Yêm Thị đã nắm được điểm yếu của Mặc Đốn, do đó Yêm Thị nói gì hắn cũng sẽ nghe theo. Thần nghĩ…”.

Lưu Bang vốn cho rằng mưu sĩ Trần Bình có diệu kế đẩy lui quân địch nên khi nghe thấy cách làm này của Trần Bình thì không thích lắm, thấy mình đường đường là một bậc quân vương, với hàng chục vạn quân lính trong tay, lẽ nào lại để một người phụ nữ đứng ra giải quyết hộ chuyện này? Do đó, Lưu Bang cảm thấy rất ít hy vọng.

Lúc này, mưu sĩ Trần Bình thấy Lưu Bang bồn chồn không yên thì vội nói: “Thưa hoàng thượng, xin để lão thần đi, đảm bảo sẽ thành công, hoàng thượng quyết ngay đi!”

Lưu Bang trầm ngâm hồi lâu, thấy hiện tại vẫn không có cách giải quyết nào hay hơn, bèn đồng ý với Trần Bình. Thế là, sau khi chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, Trần Bình và một sứ giả cải trang thành lính Hung Nô, lén đi xuống núi, trà trộn vào đám lính Hung Nô, rồi lẻn vào trong doanh trại, tới trước lều của hoàng hậu Yêm Thị.

Sứ giả nhẹ nhàng vén lều nhìn vào bên trong, không thấy Mặc Đốn, chỉ thấy một mình Yêm Thị đang ngồi trang điểm, anh ta vẫy tay một cái để ra hiệu cho Trần Bình, thế là hai người cùng bước vào lều.

Yêm Thị đột nhiên nhìn thấy hai kẻ lạ mặt bước vào trong lều thì nghiêm giọng hỏi: “Các ngươi là ai? Sao dám vào lều của ta?”.

Trần Bình cúi gập người, nói rõ từng tiếng: “Xin hoàng hậu bớt giận, chúng tôi là sứ giả của hoàng đế triều Hán, muốn tới gặp thuyền vu cầu hòa”.

Yêm Thị nghe nói là sứ giả của triều Hán thì đề cao cảnh giác, nói: “Thuyền vu không có ở đây, các ngươi có thể tới lều phía trước kia tìm thuyền vu”.

Trần Bình lại cúi gập người một cái, nói nhỏ: “Tuân lệnh. Tuy nhiên, hoàng đế triều Hán có một món quà muốn tặng hoàng hậu Yêm Thị và dặn rằng phải trao tận tay hoàng hậu” Trần Bình nói xong thì thò tay vào trong tay nải của sứ giả lấy ra một đĩnh vàng sáng lấp lánh và một ít đồ trang sức. Trần Bình để tất cả những thứ này lên trên bàn trang điểm của Yêm Thị. Nhìn thấy vậy, Yêm Thị mắt sáng ngời thích thú, nhẹ nhàng nâng chúng lên, mân mê, miệng không ngớt xuýt xoa khen đẹp, những đồ vật này quả là có sức cuốn hút ghê gớm đối với một người sống quá lâu trên vùng Mạc Bắc như Yêm Thị.

Trần Bình đứng bên quan sát nét mặt của Yêm Thị, cũng không bỏ qua bất kỳ cử chỉ nào của hoàng hậu Hung Nô. Một người từng trải và có kinh nghiệm sống phong phú như Trần Bình đủ sức phán đoán được rằng tin do thám báo về là đúng. Thế là ông nói: “Thưa hoàng hậu, hoàng đế triều Hán chúng tôi nghe nói thuyền vu thích gái đẹp, nên đã chọn một số gái đẹp cho thuyền vu, chuẩn bị mang tới tặng thuyền vu, đây là chân dung của các cô gái đẹp, muốn đưa trước cho thuyền vu lựa chọn, xin hoàng hậu lại xem có được không?” Trần Bình vừa nói vừa đỡ lấy những bức họa từ trong tay sứ giả.

Nhìn những bức họa đó, chẳng nói gì đàn ông mà ngay cả phụ nữ cũng phải công nhận đó là những mỹ nữ tuyệt đẹp.

Yêm Thị lâu nay vẫn bực mình vì chuyện này, lại nghe Trần Bình nói vậy thì máu ghen nổi lên, song không dám tỏ thái độ trước sứ giả của triều Hán, chỉ nghiến chặt hai hàm răng, mắt nhìn trừng trừng vào gương trang điểm, không nói lời nào.

Trần Bình thấy thái độ của Yêm Thị như vậy thì biết chắc hoàng hậu đã trúng kế của mình, trong lòng mừng thầm, song không dám biểu lộ ra, chỉ ho nhẹ một tiếng, rồi thu các bức họa lại, nói với Yêm Thị: “Thưa hoàng hậu, tình hình quân sự nguy cấp lắm rồi, hoàng hậu có thể sai người tới bẩm báo với thuyền vu để thuyền vu lại xem lễ vật và để xem thuyền vu có đồng ý cầu hòa không?”

Yêm Thị sững người trong giây lát rồi nói: “Không cần, các ngươi cứ để lễ vật lại đây, rồi về đi, ta sẽ bảo thuyền vu lui binh là được”, Trần Bình thấy mọi chuyện đã diễn biến theo đúng ý mình thì vô cùng vui sướng. Lúc này, ông lại tiếp tục khích tướng Yêm Thị nói: “Thưa hoàng hậu, việc quân sự vẫn cần bàn luận với thuyền vu”.

Yêm Thị nghiến chặt răng, trừng mắt quát: “Sao vậy, các ngươi không tin ta sao?”

Trần Bình lại cúi gập người, làm bộ dạng hoảng sợ, cố ý nói lấp lửng: “Thần đâu dám, chỉ là …”

Yêm Thị hét lên: “Mau về bảo với hoàng đế triều Hán của các ngươi là thuyền vu nhất định lui binh”.

Thấy hoàng hậu túc giận thực sự, Trần Bình và sứ giả đứng dậy, nói “tuân lệnh” một tiếng rồi vội vàng rút lui, trở lại doanh trại nhà Hán.

Sáng hôm sau, khi Lưu Bang vẫn còn đang mệt mỏi nằm trên giường thì nhận được tin báo, Mặc Đốn đã lui binh.

Lưu Bang vội vàng mặc quần áo, tới chỗ cao nhất để xem, quả nhiên, vài chục vạn quân của Mặc Đốn đã rút lui hết, mưu kế của Trần Bình quả là tuyệt vời.

Trần Bình hiến kế này, trước hết biết chắc Lưu Bang lúc này đang lo lắng không biết đối phó thế nào với đại quân Mặc Đốn, rồi sau đó dựa vào tình hình này để đưa ra kế sách khích tướng hoàng hậu Yêm Thị. Nếu đưa ra kế sách này trong lúc Lưu Bang có kế sách khác thì chưa chắc Lưu Bang đã đồng ý, bởi vậy có thể nói Trần Bình đã chọn đúng thời điểm để đưa ra kế sách, và đã được Lưu Bang hưởng ứng, cho thực thi. Trong quá trình thực thi kế sách, Trần Bình lại nắm bắt thời cơ, quan sát nét mặt và dùng kế khích tướng, cuối cùng đã thu được thành công.

ỨNG DỤNG TRONG THỜI HIỆN ĐẠI

Nắm vững thời cơ, kiểm soát người khác

Trong phần “Quỷ Cốc Tử - Mưu thiên” có nói: “Sự quý chê nhân, nhi bất quý kiến chế vu nhân. Chế nhân giả, ốc quyền dã. Kiến chế vu nhân giả, chế mệnh”, có nghĩa là sự việc quý ở sự chủ động, luôn đi trước người khác, kiểm soát người khác, không nên bị động để người khác kiểm soát. Kiểm soát người khác chính là nắm vững quyền chủ động của sự việc; bị người khác kiểm soát chính là đặt vận mệnh của mình vào trong tay người khác.

Trong chiến tranh, tướng giỏi chỉ huy tác chiếu thường nghĩ trăm phương nghìn kế để điều động kẻ địch mà không bị kẻ địch điều động. “Chế nhân” nắm vững quyền chủ động chiến tranh, thì có thể xỏ mũi người khác dắt đi, trở thành người nắm giữ vận mệnh của kẻ địch, và chủ động linh hoạt giành thắng lợi cuối cùng; Còn “chế vu nhân” mất quyền chủ động chiến tranh, từ đó bị đối phương xỏ mũi dắt đi, chỉ có tốn công vô ích mà chẳng được gì, luôn ở trong tình thế bị động.

Một người nắm vững nguyên tắc “chế nhân ốc quyền” thì sẽ không ở vào tình thế bị động trong cuộc sống hiện tại.

Năm 1944, phát-xít Đức đã nắm chắc thất bại. Các nước Anh, Liên Xô và Mỹ liên tiếp giành thắng lợi trên các chiến tuyến. Ba nước đầu não này đã quyết định tổ chức một cuộc họp cấp cao nhằm thảo luận xem nên xử lý thế nào những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh, đặc biệt là xử lý nước Đức bại trận như thế nào.

Lựa chọn và quyết định thời gian, địa điểm và trình tự của buổi họp cấp cao là một vấn đề quan trọng. Lúc đó, sức khỏe của tổng thống Mỹ Roosevelt không được tốt, do đó ông đã đề xuất nên họp vào mùa xuân năm 1945, lúc đó thời tiết ấm áp, sức khỏe của ông sẽ tốt lên.

Stalin túc trí đa mưu đã sớm biết được bệnh tình của Roosevelt, ông cũng hiểu rằng, một tổng thống sức khỏe yếu, tinh thần rệu rã sẽ không đủ ý chí và lòng nhẫn nại để đấu tranh đến cùng trong buổi họp, sẽ không thể đấu đá được với đối thủ khỏe mạnh, minh mẫn được. Roosevelt đang trong tình trạng sức khỏe như vậy thì ông ta sẽ dễ mệt mỏi, rệu rã, do đó sẽ mau chóng nhượng bộ đối phương. Thế là Stalin đã điện báo cho Roosevelt: Do tình thế đang rất cấp bách, cẩn phải giải quyết gấp hàng loạt vấn đề, nên phải tổ chức họp ngay, không được chậm trễ, chậm nhất thì buổi họp cũng phải được diễn ra vào tháng 2 năm 1945.

Roosevelt không còn cách nào khác, đành phải đồng ý thời gian này, song ông đề xuất, do vấn đề về sức khỏe, nên chỉ có thể đi thuyền tới họp, như vậy mất khả nhiều thời gian cho việc đi lại, bởi vậy ông mong muốn địa điểm họp không nên quá xa. Ngoài ra, địa điểm họp tốt nhất nên chọn nơi ấm áp, để có lợi cho sức khỏe.

Stalin lại không chịu tới những nơi ngoài sự kiểm soát của Liên Xô và kiên quyết sẽ tổ chức buổi họp ở khu vực biển Đen, còn nói rõ địa điểm cụ thể là thị trấn nhỏ Yalta trên bán đảo Crimean ở bờ biển Đen. Như vậy, Stalin có thể “dĩ dật đãi lao” (lấy nhàn đối nhọc), luôn nắm quyền chủ động, hơn nữa lúc nào cũng có thể liên lạc được với Moskva.

Roosevelt chẳng còn cách nào khác, đành phải lê tấm thân mỏi mệt, đội mưa gió, tới Yalta đầy băng tuyết. Sau mấy chục ngày gian khổ đi thuyền, Roosevelt mới tới được Yalta, lúc này mọi người đều nhận thấy vị tổng thống này đã quá mỏi mệt, dường như đã kiệt sức.

Stalin, Roosevelt và Churchill vừa tới Yalta thì đã vào họp ngay. Hơn nữa, lịch họp kín mít, cuộc họp diễn ra hơn 20 buổi mà lần nào Roosevelt cũng phải tham gia, ngoài ra còn có rất nhiều buổi tiệc tùng, chiêu đãi khác, thời gian kín mít như vậy đã vắt kiệt sức lực của Roosevelt, do vậy ông tỏ rõ sự thiếu tập trung trong khi đàm phán, không thể tranh luận nổi với Stalin, cuối cùng đành phải buông xuôi, đồng ý tất cả mọi đề nghị của Stalin, hiệp nghị cuối cùng đã được ký kết hoàn toàn theo ý của Liên Xô.

Roosevelt về Mỹ sau vài tuần thì mất. Người Mỹ đã phản đối kịch liệt “Hiệp định Yalta” giữa Roosevelt và Stalin, cho rằng Hiệp định đó hoàn toàn có lợi cho Liên Xô, mà bất lợi cho Mỹ.

Một nhà chính trị nổi tiếng từng nói, so tài chính trị tới hồi hết chính là đọ sức khỏe và đọ ý chí. Một nhà chính trị ưu tú giỏi kiểm soát người khác và nắm quyền chủ động thì sẽ biết lợi dụng điểm yếu về ý chí và sức khỏe của đối phương, khiến đối phương ngày càng sa sút về ý chí và sức khỏe, do đó anh ta có thể dễ dàng đánh bại đối thủ trong cuộc đọ sức này.

Tháng 5 năm 1958, tướng lĩnh thực dân và phần tử cực đoan của Pháp ở Algeria đã phát động cuộc phiến loạn. Bộ trướng nội chính Pháp đã báo cáo tình hình lên Nội các và cho rằng cuộc phiến loạn có thể sẽ tái diễn trên đất Pháp trong hai ngày 27 và 28 tháng 5, mới đầu sẽ diễn ra ở các tỉnh, sau đó sẽ ở Paris.

Tin tức này quá bất ngờ, chính phủ Pháp lo lắng không biết làm thế nào, còn nhân dân Pháp thì hoảng sợ. Trong tình thế hỗn loạn này, Charles de Gaulle - một người chưa từng đảm đương chức vụ quan trọng nào trong chính phủ, chỉ từng tổ chức Chính phủ lâm thời sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 nhưng nay đã bị mọi người lãng quên, lại có bài phát biểu rất hào hùng vào giữa trưa 12 giờ 30 ngày 21 tháng 3. Nội dung của bài phát biểu đại thể như sau:

“Hôm qua, tôi đã bắt đầu suy nghĩ để tiến tới xây dựng nên một Chính phủ cộng hòa có thể đảm bảo đất nước thống nhất và độc lập… Tôi hi vọng tam quân lục, hải, không tại Algeria tuân thủ mọi kỷ luật phép tắc, nghe theo mệnh lệnh chỉ huy của các tướng. Tôi cũng xin được bày tỏ rằng hoàn toàn tin tưởng vào những vị tướng này, và mong muốn liên lạc ngay với họ”.

Khi nghe được bài phát biểu này của de Gaulle, thù tướng Pháp khi đó là Pflimlin đã vô cùng tức giận vì de Gaulle không có chức vụ gì trong chính phủ mà lại dám thay mặt chính phủ phát biểu những lời lẽ như vậy. Bởi vậy, Pflimlin quyết tìm cách vạch trần mánh khóe này của de Gaulie, tuy nhiên tổng thống cộng hòa Coty lại ngăn chặn hành động này của thủ tướng vì muốn ổn định lại đại cục.

Hôm sau, do bị de Gaulle cướp trước quyền chủ động cần có của một vi thủ tướng, Pflimlin rơi vào thế bị động, buộc phải trình lên tổng thống đơn xin từ chức.

Charles de Gaulle đã nắm vững thành công thời khắc có lợi cho mình trong thế cục rối ren, lợi dụng danh tiếng từng là chủ tịch Chính phủ lâm thời để kiểm soát tình thế, kịp thời đứng ra ổn định chính cục và làm yên ổn lòng người, từ đó đã có được uy tín trong hội nghị, vài ngày sau, ông còn đảm đương chức thủ tướng nước Pháp đúng như mong muốn.

ỨNG DỤNG TRÊN THƯƠNG TRƯỜNG

Muốn giành thắng lợi trên thương trường phải có mưu kế

Thánh nhân thường giấu kín mưu lược, còn kẻ ngu ngốc lại thường khuếch trương cách lập thân xử thế của mình. Người không dễ bộc lộ tình cảm yêu ghét qua sắc mặt, hành động thì có thể giao việc quan trọng cho anh ta. Đã bị diệt vong thì rất khó khôi phục lại, gặp nguy nan thì rất khó chuyển thành an toàn, chỉ có ngầm vận dụng mưu lược thì mới có thể tránh được tai họa. Bởi vậy nói, vạn vật do trời đất sinh ra tốt ở chỗ cao lớn và thâm hậu; Phép tắc đối nhân xử thế của thánh nhân khéo ở chỗ giấu kín. Không cứ trung, tín, nhân, nghĩa mới có thể dùng, mà hễ là đạo hợp lẽ phải thì đều có thể dùng. Đây là quan điểm của Quỷ Cốc Tử tiên sinh, cũng là quan điểm của chủ nghĩa Machiavelli. Các nhà lý luận phê bình nó, còn các nhà doanh nghiệp lại sử dụng nó.

Địch mạnh ta yếu, mà ta lại chưa thể ngay lập tức mạnh lên được, nhưng lại muốn giành thắng lợi thì cần có một chút mưu trí. Người có mưu trí luôn được mọi người tán thưởng.

Vào đầu thế kỷ 20, người dân Trung Quốc sống trong xã hội rối ren, nửa thực dân nửa phong kiến. Công nghiệp dân tộc đang lâm vào tình cảnh bị tiêu diệt. Tuy nhiên, vẫn có một số tình hoa dân tộc “kiên cường bất khuất” trước kẻ địch, họ vẫn dũng cảm tìm cách cạnh tranh với kẻ mạnh ở bên ngoài nhằm giúp cho công nghiệp dân tộc phát triển. Ngô Ôn Sơ khỏi nghiệp bằng nghề sản xuất mì chính, ông đã nhanh chóng tìm được chỗ đứng trên thị trường với mì chính nhãn hiệu Thiên Trù (bếp trời). Người Nhật Bản cảm thấy mỳ chính Ajinomoto của họ có nguy cơ mất chỗ đứng trên thị trường nên đã đổ tiền bạc vào nhằm cạnh tranh với mỳ chính Thiên Trù về mặt giá cả, họ tin rằng, với giá thấp nhất, họ có thể đánh bật mỳ chính Thiên Trù ra khỏi thị trường.

Lúc này, mỳ chính Thiên Trù bán rất chạy, cung không đủ cầu, đơn đặt hàng tới tấp đổ về, muốn mở rộng sản xuất lại không phải là chuyện có thể làm được ngay, thế là Ngô Ôn Sơ nghĩ ra một cách, bí mật cho người thu mua hết mỳ chính Ajinomoto giá rẻ của người Nhật Bản, sau đó, đóng gói vào bao bì nhãn hiệu Thiên Trù, bán sang Hồng Kông và các nước Đông Nam Á. Chất lượng mỳ chính của người Nhật Bản không hề tồi. Người Nhật Bản bán một lượng lớn mỳ chính ra thị trường, song lại như muối đổ bể, chẳng thu được hiệu quả gì. Họ đâu biết rằng mình đã bị Ngô Ôn Sơ ngấm ngầm mua hết và thay đổi lại bao bì, kết quả là, người Nhật Bản đã không hạ được đối thủ, trái lại còn giúp đối thủ thu được lợi lớn.

Mọi người nhìn thấy thắng lợi này thì đều vui mừng, chỉ có Ngô Ôn Sơ là vẫn lo lắng, bởi vì ông hiểu rằng axit Clohydric (HCL) dùng để sản xuất mỳ chính đều được nhập từ Nhật Bản, lỡ người Nhật Bản “nổi giận”, không cung cấp hàng nữa thì nguy to. Thế là ông đã khích lệ các cổ đông xây dựng nhà mày sản xuất Chlorine Alkali đầu tiên của Trung Quốc, và đặt tên là Thiên Nguyên. Thiên Nguyên sản xuất HCL và NaOH (axit Natri- Hidroxit), mà khi đó NaOH ở Trung Quốc đều là do người Anh cung cấp, họ lũng đoạn thị trường mặt hàng này, nay người Anh thấy người Trung Quốc tự sản xuất ra NaOH thì vô cùng tức giận, bởi vậy họ đã nghĩ cách giảm giá thành xuống nhằm “bóp chết” Thiên Nguyên ngay từ khi còn trứng nước.

Trước tình hình này, các cổ đông rất lo lắng và tức giận. Họ nói, người Anh giảm giá thì họ cũng giảm, cứ giảm đi giảm lại thì người được lợi sẽ chỉ là người Trung Quốc. Song Ngô Ôn Sơ cảm thấy sức lực Thiên Nguyên không thể cạnh tranh được với người Anh, nếu cứ tiếp tục thì Thiên Nguyên sẽ không thể trụ nổi. Thế là ông nghĩ ra biện pháp “cầu hòa”, dùng chính sách nhu để làm yên lòng người Anh.

Trước hết, Ngô Ôn Sơ tìm gặp một nhân viên phòng thí nghiệm của công ty Anh, anh ta là người Trung Quốc, Ngô Ôn Sơ trò chuyện vui vẻ với anh ta và mời anh ta tới nhà hàng để chiêu đãi. Trong không khí thân mật, Ngô Ôn Sơ đã nói với anh ta về kỹ thuật lạc hậu của ngành hóa chất Trung Quốc, và khơi gợi lòng tự hào của người Trung Quốc đối với dân tộc, tiếp đến ông nói về khó khăn của Thiên Nguyên, và bảo nhân viên phòng thí nghiệm này nói với người Anh rằng, hai công ty tốt nhất không nên là đối thủ của nhau, Thiên Nguyên sẽ không là đối thủ của người Anh, mà ngược lại, người Anh nên giúp đỡ người Trung Quốc. Nói xong, còn tặng anh ta rất nhiều tiền. Trong cuộc cạnh tranh với người nước ngoài, làm gì có chuyện người Trung Quốc không giúp đỡ người Trung Quốc, huống hồ nhân viên phòng kỹ thuật đó đã nhận rất nhiều tiền của Ngô Ôn Sơ rồi.

Sau này, Ngô Ôn Sơ còn mời người Anh tới Thiên Nguyên để họ được khảo sát thực tế, người Anh đi khắp một lượt nhà máy thì tin rằng Thiên Nguyên không hề có ý cạnh tranh với họ. Huống hồ, họ thấy nhà máy này quá nhỏ bé, không cần thiết phải cạnh tranh về giá cả với người Trung Quốc, nếu làm vậy thì người Trung Quốc sẽ bị tổn thất rất lớn.

Người Anh đầu có ngờ rằng, trí tuệ của người Trung Quốc, cộng thêm tình cảm của người Trung Quốc, lại thêm thị trường của người Trung Quốc đã khiến Thiên Nguyên phát triển với tốc độ chóng mặt. Đợi khi người Anh nhìn nhận ra vấn đề thì người Trung Quốc đã có đủ sức cạnh tranh với họ rồi.

Có thể nói, Ngô Ôn Sơ là cao thủ dùng mưu lược, trước hết, ngấm ngầm cho người thu mua mỳ chính Ajinomoto của Nhật, rồi lén mang ra ra nước ngoài tiêu thụ; sau đó áp dụng biện pháp “cho người khác thấy mình yếu” với người Anh để cho họ tin rằng mình không hề có ý cạnh tranh với họ, từ đó khiến người Anh lơ là cảnh giác, còn mình thì ngày một mạnh lên, cuối cùng phát triển lớn mạnh khiến người Anh phải nhường lại thị trường.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của quỷ cốc tử