Những bước đường tư tưởng của tôi

Lượt đọc: 10891 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Phần V

❊ ❊ ❊

Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ Những người làm báo Nhân văn đã rất khéo dùng cái chiến thuật “chặn họng”: họ trình bày những cuộc đấu tranh tư tưởng của chúng ta chống họ, như là những sự hiềm khích cá nhân, tranh giành ảnh hưởng. Đó là vũ khí của kẻ yếu, chúng ta không sợ cái lối chặn họng ấy! chúng ta đường hoàng vạch rõ thủ đoạn xuyên tạc vu khống hệt như lối “tác động tinh thần”, và nhất là tính chất phi chính nghĩa, tính chất chống Đảng, chống chế độ của báo Nhân văn và các tập sách Giai phẩm. Với mấy ý kiến về đấu tranh tư tưởng trong thơ này, tôi chưa tranh luận đến vấn đề kỹ thuật. Tôi cũng rất chống cái hẹp hòi của chủ nghĩa giáo điều; tôi rất hiểu rằng thơ không phải lúc nào cũng phải vui; cái buồn mà không bi quan, cái buồn đó nhiều khi cũng bổ ích; tôi rất yêu những câu thơ của Na-dim Hít-mét như:

Đừng nhìn vào mắt tôi anh em hỡi,

Một tiếng nấc đang quằn quại trong cổ họng tôi;

Tôi vô cùng quý những nỗi Tan nát lòng (Le crève-coeur), những nỗi Lại tan nát lòng (Le nouveau crève-coeur) của A-ra-gông kết tinh vào một tập thơ đầy đau khổ mà rất lạc quan và nhiều tính chiến đấu như tập Quyển truyện dở dang (Le roman inachevé). Không, chúng ta không chặt cánh của thơ đâu, mà chúng ta lại muốn thơ xã hội chủ nghĩa của ta mở đôi cánh lớn của tư tưởng vô sản bay lên cùng với vệ tinh xô viết. Chúng ta trông chờ, khuyến khích và phấn đấu cho trăm thứ hoa thơ xã hội chủ nghĩa đua nở, khoe tươi. Nhưng ở đây, dù áng sương mơ mộng có thường bao phủ lấy thơ, chúng ta cũng nhất định dọi ánh sáng vào mà truy kích những con quỷ, con ma ẩn núp vào sương đó. Một luồng thơ chống Đảng, chống chế độ Những người viết báo Nhân văn và các tập Giai phẩm xây dựng và tung ra cái lý luận là: phải để cho các trường phái, các khuynh hướng văn nghệ tha hồ nẩy nở. Ngày 14/11/1957, đồng chí Khơ-rút-sốp đã trả lời một phóng viên Mỹ rằng (đây tôi tóm tắt ý): trường phái, khuynh hướng văn nghệ là phản ánh những quyền lợi của một số tầng lớp nào đó trong xã hội. Liên Xô không còn có giai cấp của những người tư bản nữa, ở Liên Xô không có những giai cấp và tầng lớp nhân dân đối lập nhau nữa, mà chỉ có những người lao động. “Bởi thế, − đây là lời đồng chí Khơrútsốp, − những công dân Liên Xô, những nhà công tác văn học nghệ thuật của chúng tôi không cần phải tạo ra những khuynh hướng đối địch nhau”. Vâng, chúng ta không cần phải bắt chước ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp, cố nặn ra những khuynh hướng văn nghệ đối địch nhau. Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chúng ta, tuy hãy còn có những giai cấp đối lập, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta muốn có hàng trăm, hàng ngàn bút pháp, hàng vạn, hàng vạn sáng tạo, nhưng văn nghệ ta chỉ có một khuynh hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cái lý luận về khuynh hướng văn nghệ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm hoàn toàn sai lầm. Lớn tiếng kêu gào lập ra nhiều trường phái, nhóm Nhân văn – Giai phẩm chỉ có một đường hướng, là chống lại sự lãnh đạo của Đảng ta, chống lại chế độ ta. Trần Dần nói: Chút tài mọn tôi làm thơ chính trị. Đúng! Họ làm thơ chính trị, nhưng đó lại là thứ chính trị chống Đảng, chống chế độ, chống chủ nghĩa xã hội. Trong báo Nhân văn, trong các tập Giai phẩm, trong mấy tập thơ khác, trong những thơ họ chép hoặc đánh máy chuyền tay, họ tung ra một thứ thơ mà họ cho là “làm lớn con người”. Con quạ đen đầu đàn là bài "Nhất định thắng" của Trần Dần. Trong khi quân đội viễn chinh Pháp còn đóng sát nách ta, tại Hải Phòng, và giữa không khí nhân dân đang vui mừng ngày mới giải phóng, họ không tiếc lời mô tả xã hội miền Bắc ta rất đen tối, đến một con chó cũng không sống được:

Con chó mực nghe mưa là rú…

… Nó thiếu ăn – Hay là giết đi ư?

Nó đỡ khổ – cả em đỡ khổ.

Họ khinh những người chung quanh là “không tim không óc”. Cái hình ảnh xuyên tạc về “con người không tim, không óc” đó, sau này, họ sẽ còn đem ra bêu riếu trên báo Nhân văn, Trần Duy còn lấy hình ảnh đó kể chuyện ngụ ngôn để mạt sát những người cộng sản.

Những “thi sĩ” của báo Nhân văn, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, chộp lấy ngay rất kịp thời để quy trách nhiệm giết người ấy là tại chế độ ta đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Lê Đạt làm bài thơ đó, mấy lần đay đi, nghiến lại: “Sao họ lại đưa nhau đi tự tử. – Có phải vì họ không bằng lòng chế độ, – bất mãn với cuộc đời?”, “Chế độ ta không cấm họ yêu nhau. – Mà sao họ chết?”. Lê Đạt luôn luôn đặt vấn đề con người: “Cho con người được làm người”, “Ngang nhiên xúc phạm con người”; cùng với nhóm Nhân văn, Lê Đạt lại hát cái điệp khúc:

Nhưng còn tim

còn óc con người?

Nhưng họ quan niệm con người theo kiểu của họ chứ không phải theo kiểu của ta. Trong bài “Mới”, Lê Đạt thấy chúng ta, những người đặt quyền lợi riêng dưới quyền lợi chung, những người cố gắng, cần cù, biết trọng từng việc vô danh hàng ngày, là “công thức xỏ giây vào mũi – Những kiếp người sống lâu trăm tuổi - Ỳ như một chiếc bình vôi – Càng sống càng tồi – Càng sống càng bé lại”. Được sự giáo dục của Đảng, những con người cũ trong chúng ta càng ngày càng bé lại thật, cố gắng thu hẹp cái cá nhân chủ nghĩa của mình càng nhỏ càng tốt, để cho con người mới, con người tập thể càng lớn mạnh lên: đó là điều đáng vui mừng của chúng ta! nhưng những người làm thơ trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm thì lại cho là: “Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại – Khôn ngoan không dám làm người”. Hoàng Cầm cũng luôn luôn nói đến nhân phẩm, như trong bài “In dấu chân” (Văn số 15):

Dù sợi tóc còn cứa vào nhân phẩm

Tôi còn thét to, dù khản tiếng, tàn hơi.

Nhưng người “đảng viên cộng sản”, tù vượt ngục Sơn La, do Hoàng Cầm dựng lên tháng 8/1957, thực chất không phải là đảng viên cộng sản, mà chỉ là hiện thân tư tưởng của Hoàng Cầm: anh ta là “sứ giả của tự do vô hạn”, anh ta “sẽ phá hết” các thứ “tù”: “tù Sơn La, tù Côn Lôn, Lao Bảo”, anh ta phá đã đành, chứ tại sao bất cứ “phố hẹp”, bất cứ “dòng sông nước cạn” nào anh cũng cho là tù, mà phá? Chúng ta chỉ phá “phố hẹp” khi nào có lợi cho giao thông, phá “dòng sông nước cạn” khi nào vấn đề thuỷ lợi đòi hỏi, phá hay không là do từng hoàn cảnh cụ thể, chứ chúng ta không hề phá để mà phá, cho sướng tay; người “cộng sản” của Hoàng Cầm cũng không quên đả đụng tới “tim óc” theo kiểu nói của Nhân văn:

Tù trong sách, chữ đen ngòm vênh váo

Cũng như tù óc lụi, trái tim mòn.

Nếu bài thơ này làm trong thời thuộc Pháp, người ta có thể tha thứ cho những sai lầm tư tưởng của nó; nhưng nó lại làm tháng 8/1957, trong chế độ của ta; nó bộc lộ cái luồng “tự do vô hạn” yêng hùng, phá phách, vô chính phủ. Với một loạt “thơ tình” bảy bài, làm từ 1950 đến 1956 (Giai phẩm), Hoàng Cầm một mặt bi quan, hoang mang, một mặt khác, dưới cái trá hình chống giáo điều, đã hằn học nhìn tất cả những sự phân tích, giải thích, giáo dục của ta như là một sự giả dối tàn ác: “Tình yêu là cái chi – Mà lắm thầy mổ xẻ – Dao cắt đôi lòng người – Ruột thầy không sứt mẻ”, “Thầy ban bố đạo đức – Như bóng cậu về già”, “Diễn văn cót két chân giường mới – Gặm hết tình yêu, hết ước mơ”. Còn trá hình một cách tinh tế hơn, Hoàng Cầm rất khéo léo nói bóng gió để cho người ta đoán hiểu:

Thôi anh đừng viết thư

Mỗi dòng một thêm tội

Thầy mẹ em mất rồi

Em có thầy mẹ mới…

Đêm nay sao lặn góc trời

Bao giờ em được mồ côi.

Hoàng Cầm bất bình với những thứ “giáo điều” đến mức nào, mà phải liên hệ đến những cha mẹ phong kiến? Mà phải mong cho chết cha, chết mẹ? Dùng chiến thuật “nói ngọt lọt đến xương”, thơ của Hoàng Cầm không có thiện cảm gì với ta, trái lại, nhìn xã hội ta qua một chủ quan oát ghét.

Cái In đầu chân “cộng sản” kiểu Hoàng Cầm, đến Trần Dần lại được phóng đại lên thành “Hãy đi mãi” to tát (Văn số 28). Mục đích của Trần Dần và những người làm thơ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm là sống “táo bạo”, táo bạo để mà táo bạo. Họ “có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục tằn”, họ không coi tiếng chửi chống Đảng, chống chế độ là ô nhục, họ chỉ sợ có:

Trừ tiếng chửi

– sống không sáng tạo!

Đó là cái tôi siêu nhân bạo chúa, cái tôi hôn quân vô đạo. Họ “mới” để mà “mới”, nổ “tan xác pháo mọi cái gì cũ rích”, coi cái gia đình cụ thể của mình là “hàm răng chuột nhắt”, coi mọi người cần cù, kỷ luật của ta là “mọi thứ rũa đã quen rũa người tròn trặn quá hòn bi”. Trần Dần đi, “khi bàn tay chết cứng vẫn ôm cờ”; Trần Dần thề: “Tôi yêu chủ nghĩa này – cờ đỏ cãi cho tôi”. Nhưng chính cái cờ đỏ này đã bị anh ta nhắm mắt không thèm nhìn trong bài “Nhất định thắng”:

Tôi bước đi

không thấy phố

không thấy nhà}

Chỉ thấy mưa sa

trên màu cờ đỏ!}

Họ huênh hoang khoác loác như vậy, nhưng ta không thấy họ đi với ai cả, họ không đi với Đảng, họ không đi với phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo, họ chỉ có đi một mình cho gió sương đầu độc, cho nắng thiêu đốt; họ đi như vậy, để tìm khoái cảm, để phiêu lưu tột độ, để tự phong mình là anh hùng, đi mãi kiểu như thế thì rồi sẽ đi đâu? đến “thế giới tự do” nào? Chúng ta, những người xây dựng cuộc đời mới, vâng, chúng ta cũng đi mãi, đi đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nhưng chúng ta đi rất cụ thể chứ không đi trừu tượng; vâng, chúng ta mới, mới mãi, nhưng từ cày bừa cá thể xưa cũ đi sang cái mới của tổ đổi công, rồi đi sang cái mới của hợp tác xã, lại đi sang cái mới nữa của nông trường tập thể, mà trong khi đó, ta luôn luôn siết chặt quanh Đảng lao động Việt Nam cụ thể, do đồng chí Hồ Chí Minh vĩ đại lãnh đạo. Vâng, chúng ta đi mãi như thế, đi với vệ tinh Liên Xô vào vũ trụ, chứ không đi trong những đám mây làm bằng nước bọt của bọn vô chính phủ!

Những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm rất khoái trá khi họ ném được hoả mù vào mắt của toà soạn báo Văn, khi báo Văn đăng những In dấu chân, Hãy đi mãi, đăng những Lời mẹ dặn của họ. Lời mẹ dặn của Phùng Quán vờ ngây thơ như một chú bé, “Yêu ai cứ bảo là yêu – Ghét ai cứ bảo là ghét”, cái chân thật kiểu Phùng Quán là một thứ “ngây thơ cụ”, một thứ “chân thật” bới móc, ám chỉ xỏ xiên vào chế độ ta. Phùng Quán tại sao lại phải đặt một vấn đề không có, là:

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi…

than phiền như vậy, và “yêng hùng” như vậy, nhưng chẳng cần đến sét nổ đâu, chỉ cần một cái vỏ chuối của bọn muốn phá hoại chế độ ta vứt ra cũng đủ làm cho Phùng Quán trượt ngã thảm hại!

Phùng Quán cũng nói tới Đảng, có “Bài thơ làm theo yêu cầu của Đảng”, kêu gọi “Trung ương Đảng ơi!... Có tôi!...”, chúng ta cũng hoan nghênh Phùng Quán chống tham ô lãng phí, vì đó là việc Đảng ta luôn luôn làm; nhưng Phùng Quán có thật yêu Đảng hay không, ta hãy nghe cái thái độ của Phùng Quán khi nói những tên quan liêu (Giai phẩm):

Khắp mặt đất

Như ruồi nhặng,

Ở đâu cũng có!

Đảng muốn phê bình tất cả

Phải một nghìn số báo Nhân dân!

Nhìn thấy tất cả nhà nước dân chủ nhân dân đầy những ruồi nhặng, đó là một sự ác cảm không thường, đến như đối với cơ quan Trung ương của Đảng mà xách mé như vậy, đó có phải là phê bình xây dựng không? hay muốn ngậm mực phun đen lên cả tờ báo Đảng? Đừng có nhầm chế độ Tôi muốn nói đến bài thơ “Cửa hàng Lê Đạt” mà Lê Đạt đã tìm cách đưa in, công bố ra, để làm một đòn hằn vào chế độ ta. Lần đầu khi xem xong “Cửa hàng Lê Đạt”, tôi nói: − Bài thơ này mà làm ra ở miền Nam hiện nay thì rất đúng, rất tốt. Là vì cả bài thơ toát ta một tiếng S.O.S: Cứu tôi với! Tôi bị đè đến nghẹt thở, người ta không cho tôi sống, không cho tôi suy nghĩ! Đó là thực trạng phát xít ở miền Nam hiện nay. Lê Đạt “đẻ sau đến muộn”, muốn mở một cửa hàng thơ, nhưng bị chèn ép, Lê Đạt ghen với:

Bao nhiêu chỗ ngon

người ta cắm trước…

… Anh em tôi đành ra góc phố

Đăng ký mở hàng

Chưa có tiếng tăm

rồi sẽ có tiếng tăm

Lê Đạt mở cửa hàng, theo anh nói thì sẽ có bạn bè xúm lại giúp đỡ. Cửa hàng Lê Đạt sẽ có sao, có trăng, có gan ruồi, phổi muỗi, có công, có phượng, có cả bú dù, “có những thứ đời quên bỏ – Những rế cùn – dẻ rách, - mảnh sắt – mảnh chai”…

Từng đoạn, từng đoạn, Lê Đạt lại điệp khúc gào than: nào những ông phê bình

Nhai chữ mòn răng – không hiểu cuộc đời

Mấy chữ i tờ – lòng người chưa biết

Ngắt ngọn bao nhiêu suy nghĩ – tìm tòi.

Nào

Có những ngày – tôi chỉ còn muốn chết

Nào những cảnh đau đớn:

Còn anh

con sát

vợ chửa

Sòn sòn hai năm đôi

Quanh quẩn tã con thuốc vợ.

………………………………

Còn anh

mơ ước trong đầu nhức mủ

Bao nhiêu dự định quay cuồng

Bực bội tay chân

đói thèm cửa sổ.

vân vân…

Sau những lời gào than đó, Lê Đạt lại tập trung dồn vào liền nhau bao nhiêu là u uất, là rên siết; cả bài thơ Lê Đạt toát ra một cảnh tối đen, ngột ngạt:

… Nước mắt vẫn còn rơi

Vẫn còn những đầu xanh sớm bạc

Những thành kiến – nghi ngờ – dốt nát

Vẫn còn hạ thấp con người.

Sao ta chưa biến được cung trăng

thành chỗ ở.

vân vân…

“Cửa hàng Lê Đạt” dọn theo kiểu ấy là một sự bày biện hoàn toàn lệch lạc, một cửa hàng buôn lậu về tinh thần ở giữa miền Bắc chúng ta. Xem bài thơ, tôi có cảm tưởng như Lê Đạt khóc thật. Nhưng Lê Đạt nhầm mất rồi! Trước đây, Vũ Hoàng Chương nói:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh;

chứ bây giờ Lê Đạt và những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm:

Lũ các ngươi đầu thai nhầm chế độ!

Nhầm cái gì chứ nhầm chế độ thì nguy hiểm lắm! Lê Đạt đem những tiếng khóc để buộc tội chế độ áp bức bóc lột cũ mà buộc tội cho chế độ đang nhằm xoá người áp bức bóc lột người. Cho nên càng khóc lóc “thành thật” bao nhiêu, thì chỉ càng chống lại chế độ mới một cách sâu cay, độc địa, và rẫy rụa bấy nhiêu! Những tiếng rên siết sai lầm đó chỉ có kẻ địch lắng tai nghe để hòng lợi dụng, chứ chúng ta thì biết ngay cái thực chất của nó. Những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm không hiểu rằng: đấu tranh tư tưởng là đấu tranh quyết liệt, không nhân nhượng. Tư tưởng chuộng lao động, yêu tập thể và trọng kỷ luật đúng đắn và tốt đẹp của giai cấp vô sản, nhất định đè nát không cho những tư tưởng vô chính phủ, tự do vô hạn độ, anh hùng siêu nhân, đi mãi phiêu lưu…ngóc dậy, không cho nó thở, không cho nó sống. Nhất định tư tưởng tư sản phải đầu hàng ta. Đối với những tư tưởng lạc hậu, chúng ta giúp đỡ, chăm nom, cải tạo, nhưng đối với những tư tưởng chống Đảng, chống chế độ, chúng ta không thoả hiệp, bắt phải quy hàng. Nói rộng ra, ở trong văn học, sự nhầm lẫn chế độ nhất định dắt đến chỗ chết của tư tưởng. Trước kia, trong những chế độ áp bức bóc lột cũ, anh say rượu, anh hút thuốc phiện, thì chế độ áp bức bóc lột chịu trách nhiệm; anh vô chính phủ trong chế độ đó, thì cũng phần nào là có giá trị chống đối. Nay trong chế độ ta, anh say rượu, anh bê tha với giai cấp tư sản, anh cá nhân chủ nghĩa, anh vô tổ chức, thì chế độ không chịu trách nhiệm thay cho anh đâu, mà những cái ấy là tại anh. Đem những cái nhược điểm về tư tưởng của Nguyễn Du, của Ban-dắc (Balzac), mà khoác vào mình rồi tưởng mình làm Nguyễn Du, làm Ban-dắc là ngây ngô; cóp nguyên xi những lệch lạc của Véc-len, của Bô-đơ-le mang vào trong chế độ của ta, là tự đưa mình vào ngõ cụt. Nếu Mai-a-kốp-ski mà sống lại Chúng ta rất tức giận khi thấy báo Nhân văn và các tập Giai phẩm đăng thơ Mai-a-cốp-ski, khi thấy Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm khen thơ Mai-a-cốp-ski theo lối của họ, khi thấy cả bọn họ phất ngọn cờ Mai-a-cốp-ski, để làm hoàn toàn trái ngược với Mai-a. Mai-a là nhà thi sĩ yêu mến, ngợi ca, trung thành với chế độ Xô Viết, với Đảng cộng sản Liên Xô, Mai-a không thoả hiệp chút nào hết với chủ nghĩa đế quốc, văng vào mặt chúng tất cả cái kiêu hãnh chiến thắng của những người không đội trời chung với giai cấp tư sản; bên cạnh đó, Mai-a cũng có một số bài thơ vạch những phía tiêu cực còn lại trong chế độ Xô Viết, vạch với một nhiệt tình xây dựng rõ rệt. Đồng thời, theo sự hiểu riêng của tôi, Mai-a thoát ra từ chủ nghĩa vị lai, vẫn còn mang ít nhiều ảnh hưởng của trường phái văn học đó trong cách diễn tả. Những người làm thơ mong nhóm Nhân văn – Giai phẩm đi học trước tiên là thơ leo thang của Mai-a, mà không học cái yêu chế độ của Mai-a, họ mài rất nhọn cái cá nhân chủ nghĩa của họ mà họ cho là cá tính theo kiểu Mai-a. Mùa đông năm 1919, Mai-a đi đến nhà người yêu, phải cầm hai củ cà rốt và một thanh củi đến biếu, nghèo khổ như vậy, Mai-a lại càng yêu miếng đất mà trên đó người ta đã trải qua cái đói. Còn Trần Dần, năm 1955, mới gặp một ít khó khăn khi chưa xin được việc cho vợ, mà đã mờ mắt đi, “chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”, làm thơ đâm sau lưng chế độ ta trong khi địch còn đóng tại Hải Phòng, Trần Dần học Mai-a ở chỗ nào? Mai-a thì “nói lớn”, còn họ thì đại ngôn, Lê Đạt đề tựa cho tập thơ dịch Mai-a, làm như là mình là một Mai-a đang bị oan uổng, bất công, vùi dập. Hoàng Cầm giới thiệu tập thơ dịch đó, cho rằng chúng ta chưa hiểu nổi Mai-a vì Mai-a là biển. Không, nếu chúng ta chưa hoàn toàn thưởng thức được cái cách diễn tả của Mai-a, là do một sự khác nhau nào đó giữa hai tính cách dân tộc, do dịch chưa được nhiều nhạc điệu như trong nguyên văn, do chưa quen hơi bén tiếng lắm, chứ không phải do vì chúng ta thấp bé, tồi; vì Mai-a là biển, mà Nguyễn Du cũng là biển, một dân tộc yêu được biển của Nguyễn Du thì cũng yêu được biển của Mai-a, một quần chúng nhân dân làm nên biển lớn Điện Biên Phủ, tất nhiên có đầy cái tinh thần ưu tú mà Mai-a đã đại diện. Những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm cho rằng thơ của họ quá cao, quá làm lớn con người, nên bọn họ bị chúng ta không hiểu nổi họ. Nhưng nếu Mai-a mà sống lại, thì Mai-a sẽ cốp vào đầu họ, mà bảo: – các ngươi đừng có nấp vào ta mà phản lại tinh thần của ta! Nhấn mạnh và nâng cao tính chất quần chúng trong thơ Nền văn học theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một nền văn học nhân đạo nhất, vì nó là nền văn học lần đầu tiên trong lịch sử loài người đề ra việc phục vụ cho quần chúng nhân dân, cho đa số, cho công nông binh. Chúng ta học tập chỉ thị của Lê-nin, kế thừa tất cả những gì tinh hoa và tiến bộ do loài người đã sáng tạo ra trải qua các chế độ; đồng thời chúng ta cũng hiểu rằng trong các chế độ trước, căn bản là quần chúng chưa có những nhà văn của giai cấp họ, phục vụ trực tiếp cho giai cấp họ. Dưới chế độ của ta, quần chúng sáng tạo ra lịch sử càng mạnh mẽ và huy hoàng hơn bao giờ hết, nhưng trừ một vài trường hợp thì quần chúng hiện nay còn chưa có những nhà văn từ trong lòng họ xuất thân ra. Chủ nghĩa xã hội cần có những chuyên gia đỏ, đỏ hẳn, chứ không phải hồng hồng. Chúng ta cũng cần có những nhà văn đỏ, đỏ hẳn, chứ không phải hồng hồng; trong khi chúng ta tự cải tạo mình để thật sự thành những nhà văn của quần chúng, ta phải thông hiểu điều đó, rằng chúng ta còn xa, còn xa nhiều cái mức cần thiết, cái mức là những nhà văn cộng sản, những nhà văn toàn tâm toàn ý cộng sản, chứ không chỉ những nhà văn có thẻ đảng viên. Tình hình thơ của ta trong vài năm nay, có những triệu chứng tách rời quần chúng rất là không tốt. Mà quần chúng đã cảnh cáo rồi đấy: nhiều tập thơ đã bị ế, bị quần chúng chán rồi. Những biên tập viên của Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho đó là vì thiếu tuyên truyền quảng cáo; thật là một sự phân tách rất ngây ngô. Quần chúng Việt Nam ta hiện nay vẫn yêu thơ như trong Kháng chiến, như bao giờ, nhưng quần chúng không yêu một thứ thơ nào đó hiện nay cố lan tràn, thứ thơ xa quần chúng về nội dung và xa quần chúng về hình thức. Vấn đề nâng cao trên cơ sở phổ cập là vấn đề còn cần bàn cãi khi áp dụng cụ thể, ở đây ta chưa đi sâu vào các khía cạnh. Nhưng, tôi nghĩ, rồi từ ý thức sẽ thấm vào ngòi bút. Cái thứ thơ Nhân văn – Giai phẩm, nội dung nó xa quần chúng hàng vạn dặm, vì nó chống chủ nghĩa xã hội, chống tập thể, nó đi vào chủ nghĩa cá nhân, siêu nhân, “anh hùng táo bạo”. Về hình thức, nó càng xa quần chúng, nó nhảy lò khò một chân, lai căng, ném sỏi vào tai bạn đọc, nó lập dị đến điên khùng. Nội dung thơ phải có tính chất quần chúng Theo tôi hiểu, trước hết, các đề tài phải mang tính chất quần chúng, phải là những vấn đề quần chúng có thể thông cảm được. Quần chúng không cần cái thứ Hãy đi mãi, một mình chết thiêu giữa sa mạc của Trần Dần, quần chúng cũng không muốn Trung ương Đảng điều động Lê Đạt vào “Bộ tâm hồn quần chúng”, hay Lê Đạt bày cửa hàng buôn lậu bán “gan ruồi, phổi muỗi”, quần chúng không muốn nhìn những giọt nước mắt cá sấu của Lê Đạt, khóc lóc vì chế độ ta không cho họ tự do bừa bãi, độc lập siêu nhân. Quần chúng cũng không dung nạp cái thơ quanh co và bạc ác của Hoàng Cầm, ao ước được chết cha, chết mẹ để được làm kẻ mồ côi. Nội dung của thơ cần phải phong phú trên cơ sở giản đơn. Trên cơ sở những tình cảm của hàng triệu con người, trên nét lớn đó, chúng ta đi sâu tìm các chi tiết thật sâu sắc. Phong phú mà không có cơ sở, thì sẽ thành rắc rối, phức tạp theo kiểu Một trò chơi nguy hiểm; nếu nội dung mà cô đơn, ốc chui sâu vào vỏ, thì dù hình thức diễn tả có giản đơn chăng nữa, cũng không ai hiểu được. Nội dung có tính chất quần chúng, tức là dành ưu tiên cho những đề tài chính, những tình cảm lớn, những vấn đề nước sôi lửa bỏng của thời đại. Ngay từ thế kỷ 19, Bi-ê-lin-ski (Biélinsky) đã nói: “Không một nhà thơ nào có thể tự mình nói đến những đau khổ, những sung sướng riêng của mình mà thôi, mà trở thành một nhà thơ lớn được…Chỉ có nhà thơ bé mới khổ riêng cho mình, và tự mình làm lấy khổ”. Béc-tôn Bờ-rết (Berthol Brecht) cũng nói: Đừng có làm như một anh hoạ sĩ đứng trên một chiếc tàu sắp chìm, đã lật ngược trở vỏ lên rồi, mà vẽ tranh tĩnh vật trên mu tàu. Nhà văn, nhà thơ là kỹ sư tâm hồn, tức là kỹ sư tâm hồn của quần chúng, thông qua tâm hồn nhà thơ. Các nhà thơ, nhà văn thường quá tự phụ là tâm hồn mình “tinh vi” phong phú. Nhưng theo tôi nghĩ, một nhà văn trong một thời kỳ cách mạng mà quần chúng là vai chính của lịch sử, có lẽ cần phải trải qua một quá trình ba điểm: điểm đầu tiên là bỏ cái vốn nhà giàu cũ, bỏ cái kho đầy những sợi tóc của mình chẻ ra làm tư, đầy những móng tay của mình cắt ra tích luỹ, đầy những “phong lưu mỹ tật” rất xa rời quần chúng; điểm thứ hai là học tập cái giản đơn, rắn chắc của quần chúng; điểm thứ ba là trên cơ sở đó, lại xây dựng những cái giàu mới, hợp với quần chúng, những cái tinh vi của lao động và đấu tranh; ba điểm này cũng chỉ là một. Phải thấy rằng mình trước kia là dốt, cần phải học lại quyển sách đời viết theo lối của quần chúng. Có như vậy, tâm hồn mình mới trở thành tâm hồn quần chúng, để có được một nội dung thơ của quần chúng. Không thể san bằng các đề tài được, không thể xoá nhoà dòng chính và dòng phụ. Lấy một ví dụ khá điển hình trong văn xuôi: Việt Nam dân chủ cộng hoà chúng ta có giận hờn gì với phở, rất yêu phở, nhưng sở dĩ công chúng kêu bài Phở của Nguyễn Tuân, là vì phở đã từ giòng phụ bị đưa lên giòng chính, phơi bày la liệt trên hai kỳ báo Văn, trong khi giòng chính là sản xuất, là phấn đấu thì lại dìm xuống là giòng phụ hay rất phụ. Hình thức thơ cũng phải có tính chất quần chúng Không những nội dung có tính chất quần chúng mà hình thức cũng phải có tính chất quần chúng. Nguyễn Du làm Truyện Kiều bằng thơ lục bát, và câu thơ lục bát của Kiều lại là nâng cao trên cơ sở phổ cập, gần gũi đại chúng, nên quần chúng rất thuộc, rất yêu. Còn câu thơ lục bát của Hoa Tiên thì còn sang trọng quá, khúc mắc quá, mặc dù là lục bát, quần chúng vẫn khó gần, và khó yêu, khó thuộc. Chúng ta nay không đóng khung chỉ hiểu hình thức quần chúng tức là lục bát; ta không hẹp hòi như vậy. Vả lại ở đây ta chưa bàn sâu vào khía cạnh các thể thơ và vần điệu, mà chỉ nói đến cái tư tưởng của vấn đề, trong khi lấy thơ cổ làm ví dụ. Những người làm thơ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm ý chừng tự cho mình là kế thừa Mai-a-cốp-ski, đã học hình thức thơ Mai-a một cách rất giáo điều. Họ bất chấp cả công chúng Việt Nam, họ tìm một thứ mới lập dị lai căng nào đó. Cố nhiên, tính chất quần chúng và tính chất dân tộc không đứng bất di bất dịch. Sta-lin nói: “Tính cách dân tộc không phải một cái gì làm sẵn một lần; nó chuyển biến dần với các điều kiện sinh sống thay đổi; nhưng nó mà tồn tại trong một lúc nào đó, thì nó để một dấu vết trên cục diện của dân tộc”. Theo nhà phê bình cách mạng Ý Gờ-ram-xi (Gramsci, 1891-1937), muốn giữ được tính chất dân tộc của một nền văn học, thì “ngữ ngôn” diễn tả của văn học phải “gắn chặt mật thiết với đời sống của quần chúng trong nước, phải phát triển chầm chậm và chỉ từng ít một”. Như vậy, tôi hiểu rằng: về hình thức, cần phải đưa những cái xa lạ vào dần dần, từng ít một, để dần dần hợp tạng của công chúng, để tránh đấm vào tai công chúng một cách vô ích và trắng trợn, tránh ngang phè phè đè lên ngực người đọc. Ta phải đi trước quần chúng, nhưng nên nhớ lời Lê-nin, đi trước một bước, để có thể lôi kéo quần chúng theo. Nếu ta cho là Lê-nin nói vậy quá khắt khe, thì ở trong thơ, các thi sĩ hãy đi trước mười bước, hai mươi bước cũng được, nhưng thỉnh thoảng phải nhớ ngoái đầu lại xem quần chúng có còn ở sau lưng mình không, chứ đừng đi tuốt mất hút vào trống rỗng. Chúng ta không đòi hỏi bất cứ một bài thơ nào làm ra cũng phải đọc được cho đại chúng công nông binh hiểu ngay. Trong khi Đảng làm cuộc cách mạng văn hoá nâng cao trình độ văn hoá của đại chúng lên, và trong khi ta vươn lên đến cái gương nâng cao trên cơ sở phổ cập của thi hào dân tộc Nguyễn Du, ngõ hầu ai cũng thích được thơ của ta, thì ít nhất hiện nay, thơ ta cũng phải làm cho những cán bộ công đoàn, những cán bộ trung đội, đại đội, những huyện uỷ viên, những con cái nông dân học lớp bảy, lớp tám, những sinh viên, những viên chức yêu và hiểu; những người đó có thể coi như, theo lời Mai-a-cốp-ski nói, những trạm chuyền điện, nguồn điện vào trạm, rồi từ trạm tia về các nơi. Nếu những người ấy mà cũng không tiếp nhận được thơ của ta, thì rất nguy! Thì chỉ còn có “tiểu chúng” các nhà văn nào đó hiểu với nhau, thậm chí chỉ có những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm bù khú công kênh thán phục lấy nhau, thì thật là nguy hiểm! Chúng ta cần phải nhớ rằng thời đại ta có nhiều cái to lớn lắm, chứ không phải cái thời thuộc Pháp, các cô đan áo len hay học sinh ngồi bên cửa sổ, nhàn vô sự, dễ xuýt xoa về những bài thơ; chúng ta phải nhớ rằng nhân dân ta bận rất nhiều việc lo nghĩ và làm lụng to lớn. Cho nên thơ phải tìm hết mọi cách bám vào trí nhớ của công chúng, ấy thế mà còn sợ bị rơi, bị bật ra thay! Huống chi thơ lại như lối thơ Nhân văn – Giai phẩm tìm hết mọi cách để ẩy trí nhớ của quần chúng ra, thì còn ai yêu, ai thuộc được? Có một sự việc không thể để cho kéo dài, là gần đây, do bộ máy Xuất bản của Hội nhà văn và tuần báo Văn bị tư tưởng của nhóm Nhân văn – Giai phẩm lũng đoạn nên bất chấp dư luận, cứ đi theo hằn bánh xe của Nhân văn và Giai phẩm, vẫn khuyến khích, đề cao cái thứ thơ đó! Một nhà xuất bản như Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cứ in thơ theo kiểu Nhân văn – Giai phẩm, nếu có ế, thì cứ xếp đống vào kho, đã có Đảng, Chính phủ và nhân dân nai lưng ra mà chịu! Vấn đề cá tính Thơ cũng theo quy luật chung của sáng tác văn nghệ, cần phải cụ thể hoá và cá thể hoá. Cần phải thông qua tâm hồn của một thi sĩ để nói cái chung thì mới sâu sắc được. Cái chung phải đầu thai qua cái riêng; nhưng cái riêng đó lại phải tiêu biểu cho cái chung; cần phải có cái riêng, cần phải có cá tính, có bút pháp riêng, cần phải độc đáo. Nhưng cá tính của nhà thơ hay nhà văn là để tôn tình cảm của đa số lên, xuyên qua những khía cạnh đặc biệt; cá tính không phải là mục đích cuối cùng mà chỉ là môi giới để phản ánh cuộc sống. Chứ không phải mới bước vào ngưỡng cửa của bài thơ, đã thấy lù lù cái cá tính phát phì của đức ông thi sĩ, đã thấy đức ông thi sĩ bắt mọi người cúi quỳ, khuất phục trước đức ông. Bạn tôi là chiến sĩ thi đua ưu tú, đồng thời cá tính hay hút thuốc lào, hơi nóng nảy, và cũng hay tán gái; tôi yêu bạn tôi, mặc dù những nhược điểm đó; nhưng hút nhiều thuốc lào, nóng tính và hay tán gái là những cá tính vặt; mà tôi rất hiểu rằng chính sự lao động cần cù và nhiều sáng kiến lại là cá tính sâu sắc nhất của bạn tôi. Không phải là nhà thơ cứ vặn vẹo câu thơ, ngổ ngáo trong thơ là mới có cá tính. Nhà thơ cứ lăn vào quần chúng, yêu mến quần chúng hết lòng hết dạ đi, trút cả tâm hồn mình ra phục vụ quần chúng rồi làm thơ, cái độc đáo nhất định là gắn liền với nhiệt tình của thi sĩ, chứ không đi tìm ở đâu xa cả. Nhà thi sĩ có tài cũng như người đàn bà có duyên, cứ làm việc đi, cứ ca hát đi, duyên sẽ toát ra ngoài, chứ chẳng cần phải ưỡn ẹo đi trên sợi giây thép, chẳng cần phải soi gương cố nặn ra cho mình một dáng điệu người hùng, chẳng cần phải cố tình táo bạo bằng những hình ảnh làm xiếc như thơ Lê Đạt:

Kinh tế không thể vác ba lô đi bộ

hoặc những con đường

Vạch cỏ vạch lau đứng dậy

Giơ tay chào những công trường

hoặc

Trái đất

không chúng ta

Ngơ ngác mù loà

Chống gậy bước đi loạng choạng.

Kinh tế vác ba lô, con đường giơ tay chào, và trái đất chống gậy bước, đó, cái thứ cá tính cố làm lấy được ấy thật chỉ là một cái bong bóng thổi phồng.

Nói chung, chúng ta vẫn đi tìm chất thơ của thời đại. Cố nhiên, mỗi thi sĩ tìm mỗi khác, nhưng theo tôi nghĩ, chất thơ của thời đại ta phải có một cái gì trong sáng, lạc quan, giản đơn và phong phú, mê say mà lại tỉnh táo, táo bạo mà không điên loạn, một chất thơ có tính chất quần chúng, để cho hàng triệu người yêu, thuộc, có thể bồi dưỡng cho tâm hồn người như một chất phù sa thần diệu; chứ không phải là cố nặn ra một chất thơ ác, đập vào giác quan bằng mọi cách, cố giật gân người đọc như Trần Dần, huênh hoang như Lê Đạt, trá hình nhiều cách lập lờ, giả trá như Hoàng Cầm.

Người thi sĩ của chế độ ta luôn luôn phải có một thắc mắc: tìm tòi làm thế nào mà hàng vạn quần chúng yêu thích thơ ta được. Nếu ta chưa làm được như thế, thì ít nhất cũng phải thấy có làm được như vậy thì mới đúng chân lý; mà chưa làm được như vậy, thì phải thấy là mình hãy còn bất lực, hãy còn nợ lớn với quần chúng. Chứ có ai lại cố tự phụ mình là “biển”, tự phụ rằng ba trăm năm sau mới có người hiểu ta. Khoác lời của Nguyễn Du vào mình như vậy, cho khéo kẻo mà đầu thai nhầm chế độ đấy. Nhà thơ muốn tác động được vào lịch sử, thì phải tác động thông qua quần chúng, muốn lấy thơ đấu tranh cho thống nhất, thì phải đem thơ mình thúc đẩy quần chúng đấu tranh cho thống nhất, chứ cứ tự phụ mai sau mới có người hiểu ta, thì là đợi đến lúc thống nhất đã thực hiện được rồi, lúc đó thơ thống nhất của mình mới có người hiểu hay sao?

❊ ❊ ❊


Nguồn: Talawas
Được bạn: Thành viên VNTQ. Net đưa lên
vào ngày: 8 tháng 3 năm 2008