Những bước đường tư tưởng của tôi

Lượt đọc: 10892 | 2 Đánh giá: 7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Phần IV
vài ý kiến về bệnh sơ lược

❊ ❊ ❊

Bệnh sơ lược và tác hại của nó Một nhà văn mắc bệnh sơ lược, khi diễn tả sự việc một cách nông cạn như vẽ một cái sơ đồ đại khái, khi trình bày cuộc sống cách mạng như một việc dễ dàng trót lọt, khi có khuynh hướng giật dây các nhân vật, mớm cho họ nói theo ý muốn chủ quan của tác giả, chứ không để họ ăn làm đúng theo quy luật trong cuộc đời, khi thiên về tuyên truyền khẩu hiệu, nhẹ về nghiên cứu thực tại trăm hình nghìn vẻ. Nhà văn mắc bệnh sơ lược nhiều khi có ý tốt, muốn ca ngợi cuộc cách mạng thiêng liêng và đời sống mới phấn khởi, nhưng quên rằng: cách ca ngợi vẻ vang nhất, là nói cách mạng chiến thắng qua nhiều vấp váp, trồi sụt, gay go. Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tác hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và lý tưởng hoá. Do thiếu sống và xa đời thực, những tác phẩm sơ lược thường tẻ nhạt, làm cho người đọc dễ chán; gây một sự hờ hững nào đó của công chúng đối với nền văn học mới, làm cho nền văn học mới kém tác dụng đi nhiều. Do đâu có bệnh sơ lược Sự lãnh đạo có một phần trách nhiệm trong bệnh sơ lược. Do quan niệm hẹp hòi, phiến diện về nhiệm vụ của văn học, trong một giai đoạn khá lâu của Kháng chiến, lãnh đạo đã để kéo dài việc minh hoạ chính sách, kéo dài việc diễn ca; những việc này cố nhiên cũng có ích lợi trong một phạm vi nào đó, nhưng thực chất không phải là món ăn tình cảm của quần chúng. Điển hình là việc cho ra hai quyển Đóng góp và Chính phủ tạm vay, hai quyển này chứng tỏ một cách cảm động thái độ phục vụ không điều kiện của hai nhà văn Nam Cao và Tô Hoài, nhưng thật là hết sức sơ lược. Lãnh đạo cũng không uốn nắn sự phê bình của thời đó, một sự phê bình gò bó, máy móc, không hiểu được đặc trưng của văn nghệ, coi một thiên truyện ngắn bằng như một bài xã luận, bắt một tác phẩm nào cũng phải có đủ các yếu tố chính trị, đủ công nông liên minh, đủ vai trò của Đảng, đồng thời đủ vai trò của Mặt trận, lại đủ bảo vệ hoà bình thế giới, v.v… chất lên trên lưng con ngựa tác phẩm nhiều thứ quá, đến nỗi nó cất bước không được nữa. Những người phê bình lại thường non gan, không dám để cho những vai phản diện phát biểu, sợ nó phản tuyên truyền, hoặc mới thấy tác giả nói ít nhiều khuyết điểm của cán bộ hay của nông dân, đã vội lo là bôi nhọ… Những quan niệm hẹp hòi trên đây gò bó các tác giả, làm cho họ ít dám phát huy sáng tạo, dễ khiến họ cầu an, đi theo con đường vô sự nhất, không dám sai âm binh dậy, sợ không điều khiển nổi thì rắc rối to. Tuy nhiên, phê bình cái khuyết điểm này của lãnh đạo, chúng ta cũng phải thấy rằng: trong những năm đầu của cuộc Kháng chiến, việc giáo dục tư tưởng ưu tiên nhất, nền tảng nhất vẫn phải là giáo dục lập trường kháng chiến, giáo dục phân rõ địch, ta, giáo dục lập trường giai cấp, chứ không thể san bằng chống bệnh sơ lược, một bệnh ấu trĩ của văn học mới, cũng như là chống đế quốc và phong kiến. Một mặt khác, theo ý tôi, nguyên do chính của bệnh sơ lược không phải ở sự lãnh đạo, mà chính ở hoàn cảnh khách quan của việc sáng tác sau Cách mạng. Nhà văn trước Cách mạng tháng Tám có thể nói là tương đối thuộc lòng cuộc sống cũ, nhưng nhà văn sau Cách mạng chưa thuộc được cuộc sống mới. Cuộc đời cũ là một cuộc đời đứng lại, đọng lại. Cuộc đời thực dân hàng trăm năm, phong kiến hàng nghìn năm thuộc vào một hệ thống cuộc đời hàng vạn năm người bóc lột người, người áp chế người. Các nhân vật điển hình cũ rõ nét từ lâu lắm. Những ông quan, thầy lý, chú lính lệ, những ông sứ, ông cẩm, thầy phán, những cô đầu, anh nghiện, những thầy giáo hồ lơ v.v… nhà văn cũ biết họ rất kỹ, lột tả được họ. Vả lại nhiều thế hệ nhà văn, lớp này tiếp lớp khác, để lại cho nhau những tìm tòi nghiên cứu về cái khổ truyền kiếp của con người. Ở các nước phương Tây, mỗi nét hiện thực phê bình có sức ủng hộ của bao nhiêu nhà văn cổ điển; ở nước ta, mỗi câu, mỗi chữ nói cái buồn, cái đau, cái hận, có sức ủng hộ của Nguyễn Du, Thị Điểm, Xuân Hương…, của ca dao. Những chữ buồn đau ấy có một sức vang ngân vô hạn trong tâm hồn của con người. Ví dụ trong thơ, chỉ vài chữ như: Gió chiều hiu hắt, mưa thu, đêm thu, mây thu, một buổi chiều thu… cũng gợi lên bao nhiêu tình cảm xưa man mác. Chỉ nói một chữ ly biệt cũng đã thấy “lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm”. Trái lại, cuộc sống mới sau Cách mạng tháng Tám của chúng ta là một cuộc đổi thay căn bản; chúng ta không những dành độc lập dân tộc mà còn tiến lên xoá bỏ cái xã hội có giai cấp hàng vạn năm người bóc lột người. Những tình cảm mới của chúng ta chỉ có mươi mười hai năm, nếu kể cả nhân loại, thì chỉ mới có từ Cách mạng tháng Mười Nga. Cuộc sống mới ở nước ta đổi tiến vùn vụt, mà nhà văn Việt Nam ta thì chưa nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin để phân tích cho đúng và có con mắt mới, lại lăn lộn vào thực tế, vào quần chúng chưa sâu sắc, và nếu xét nghiêm khắc, thì cái vốn học vấn của chúng ta cũng lại còn nông cạn; cho nên, dọn bữa ăn tinh thần cho nhân dân, nhà văn chúng ta nấu cơm chưa chín! Theo ý tôi, cái nguyên do chính của bệnh sơ lược là như vậy! Bởi thế cho nên, trong cuộc đời cũ, phóng sự là một thể văn điều tra, tường thuật, mà có người viết phóng sự dài về đời sống xã hội, về “làm tiền” chẳng hạn, thảng hoặc có một vài kỳ ngồi nhà “sáng tạo” ra, mà người đọc vẫn cứ thấy đúng, thấy lột như thường. Trái lại, với lối văn tiểu thuyết là lối văn không quá trói buộc vào tài liệu, thế mà những bạn văn chúng ta lăn đi lộn lại quan sát một người nông dân hiện nay, đến lúc viết vẫn còn sai bét! Là vì người nông dân Việt Nam hiện nay vĩnh viễn không phải là bố cu ngày trước nữa rồi, những đổi mới trong tâm trí anh, từ xưa đến nay chưa từng có. Theo tôi nghĩ, vấn đề có tác phẩm hay, là một vấn đề đào tạo cán bộ. Xã hội cần đào tạo các nhà văn, các nhà văn cần tự đào tạo mình chóng lên đến mức trưởng thành; khi các nhà văn đã có một khối óc, một tài năng trưởng thành theo tinh thần của thời đại rồi, nhiều khi họ quay trở lại tìm tài liệu về những giai đoạn lịch sử đã qua, và sáng tác rất sát, đúng. Và khi mà họ chưa đủ vũ khí về tư tưởng, về thực tế và về nghề nghiệp, thì dù đang nằm giữa thời đại, vẫn cứ chòng chành, chuệch choạc, mắc bệnh sơ lược. Việc sáng tác gian khổ như vậy. Mà chính vì nó gian khổ như vậy, nên nó mới có vinh quang. Bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng ta Chúng ta chống bệnh sơ lược là đúng, là cần thiết. Nhiệm vụ nhà văn đòi hỏi chúng ta điều đó. Quần chúng cấp bách đòi hỏi chúng ta điều đó. Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh sơ lược là do ở bản chất nền văn học mới của chúng ta, cũng như có người nói tệ sùng bái cá nhân là ở bản chất của chế độ Xô viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại vì Đảng lãnh đạo nhúng tay vào văn học, nên văn học mới bị sơ lược, công thức như thế này; nếu cứ để văn nghệ sĩ hoàn toàn tự do, thì văn nghệ đã vô cùng phong phú… Theo tôi thấy, chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim, đông tây, đời nào và ở đâu cũng có. Những nền văn học trước Cách mạng vô sản có biết bao nhiêu quyển sách tiên thiên bất túc, bị công chúng ruồng bỏ ngay lúc mới đẻ ra. Văn học phong kiến cũng đã có những tác phẩm sơ lược của mình, với những câu chuyện rẻ tiền của những tráng sĩ mờ nhạt, những trận đấu kiếm vô nghĩa lý, những “nữ hiệp”, những “quái hiệp”, những phi thân, những bửu bối tung ra không đúng chỗ, những loạn trong cung mà dân chúng không muốn nghe… Văn học tư sản khi đã mắc bệnh sơ lược thì lại càng xuống giá “ba xu”, với những chuyện tình tiền, chuyện mọc sừng quanh quẩn, chuyện trinh thám nhạt thếch, chuyện tâm lý chán như một cái ngáp dài, chuyện khiêu dâm hạng bét… Ở Việt Nam ta, những thơ văn sơ lược trước Cách mạng tháng Tám vẫn là số nhiều. Biết bao nhiêu bài thơ anh anh em em đã làm chán tai độc giả! Có những người đã viết những truyện thơ mộng về nông thôn, ca tụng đời sống hiền hoà của nông dân giữa đồng lúa xanh rờn, dưới trời xanh quang đãng. Bệnh sơ lược phải đâu là chỉ ở trong bản chất của nền văn học mới chúng ta nay! − Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc: số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi; chúng nó luôn luôn rêu rao: Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tạo nên những con người máy. Nhưng sự thật là chính chủ nghĩa tư bản coi con người như cái máy. Chúng ta hãy nhớ lại phim Thời mớI (Les temps modernes) của Charlie Chaplin; chính chủ nghĩa thực dân buôn bán con người: trên báo Phê bình mới (Nouvelle critique) đã có chụp ảnh một cái hoá đơn của một hãng buôn Pháp tại Phi châu bán một số đàn ông và đàn bà da đen như bán bò, lợn. Còn chúng ta? Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe xã hội chủ nghĩa, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách “công thức” chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước, yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, cũng được Đảng khuyên vứt bỏ cái tự do vô chính phủ rất xấu, mà tự nguyện đứng vào hàng ngũ, vào tổ chức và kỷ luật rất đẹp! Vâng! nếu có một cái khuôn nào, thì đó là cái khuôn cao cả, vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh! Chúng ta không ưa chút nào cái sáo mới trong những tác phẩm sau Cách mạng, như những anh bí thư chi bộ hoàn toàn gương mẫu, giải quyết được mọi vấn đề, như những truyện phát động quần chúng lúc nào cũng có đủ ba giai đoạn: nông dân có khổ, nông dân vùng lên, và nông dân thắng lợi. Nhưng văn học trước Cách mạng há chẳng đầy rẫy những cái sáo cũ như: chàng bên sông gò ngựa, nàng ngồi đan áo len bên cửa sổ, đan đi rồi lại tháo ra đan lại, như giang hồ vặt, như tự tử vì tình, v.v… Chúng ta ghét cay ghét đắng bệnh sơ lược, công thức trong văn học mới chúng ta, nhưng chúng ta không muốn có người định dùng hai thứ đó như vũ khí để đánh vào những nguyên lý đúng đắn về văn học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, tuy nhiên động cơ của nó là muốn nói cái mới, cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó có hảo ý, chứ còn cái công thức của tư sản phản động, của văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng; nó cố tâm ném cát vào mắt con người, đổ mực đen trên lương tâm con người; làm cho con người ngu đi, hoang mang đi, để dễ xỏ mũi! Cái công thức Mỹ rất là rối lắm, ly kỳ, nhưng nghèo nàn một cách thảm hại; nó trộn những đùi, những vú lẫn với những cao bồi, súng lục, rừng cây, ngựa, giây thừng, cảnh thì xẩy ra ở miền Tây Hoa Kỳ, ở cái xứ Farwest [1] lắm vàng, và dù nhiều khi có thay việc bắn người da đỏ bằng việc giết người da đen, nhưng muốn trộn đi trộn lại thế nào, cũng cứ phải quay về đùi, vú, súng lục. Văn hoá phản động Mỹ quả là nhiều óc sáng tạo, cho nên chỉ có một việc giết người, mà bày ra được bao nhiêu là món, là cuốn phim mà chỉ đọc đến tên cũng đủ ngấy lên tận cổ và rợn tóc gáy. Hôm nay chiếu: Khẩu súng lục – Dưới nòng súng lục – Người cầm súng lục – Thôi Any, hãy rút khẩu súng lục ra em – Vài chuyện về vấn đề súng lục – Bản hoà âm của sáu khẩu súng lục… hoặc Hôm nay phim mới: Sinh ra đời để giết – Kẻ giết người – Tên giết người được tự do – Những kẻ giết người ở thung lũng chết – Tôi đã giết Dét-sơ-jam – Tôi đã giết Giê-rô-si-mô – Tôi đã giết Kít Bi-ly – Giết hay là bị giết – Bắn để giết, v.v… Cái thứ sơ lược và công thức thoái hoá, phản động này tràn lan trong phe tư bản và đế quốc, và hiện nay nó tác hại ở miền Nam của chúng ta. Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng: không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm nào khác! Nhưng sở dĩ người ta nói nhiều về bệnh sơ lược trong văn học xã hội chủ nghĩa, là vì, nó đúng là bệnh ấu trĩ trong khi lớn lên: nó rất dễ trông thấy, bởi thực tế xã hội chủ nghĩa tiến nhanh quá, thế giới xã hội chủ nghĩa cải tạo mau quá, văn học cứ bị chậm bước đuổi theo sau; với lại dĩ nhiên người ta chú ý đến bệnh trong trưởng thành của một nền văn học sống, nhiều hơn chú ý đến bệnh già nua của một nền văn học chết. Muốn chữa bệnh sơ lược Có hai cách chữa bệnh sơ lược: một cách giả tạo và một cách chân chính. Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa những “trò chơi” quái ác, bằng cách bẻ quặt quẹo thực tế khách quan cách mạng theo thích thú cá nhân của mình, không biết rằng giản đơn có khi là công thức, mà rắc rối cũng lại là công thức. Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống giòng nhiều quá sự cần thiết. Những cách chữa đó rơi vào một sự lập dị nặng nề, và công chúng là người biết chọn đá thử vàng giỏi nhất, công chúng không lầm vàng thực với vàng mạ! Muốn chữa bệnh sơ lược có hiệu quả, theo ý tôi, cách chân chính vẫn là nghiên cứu sâu thực tế cách mạng. Quần chúng sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra cuộc sống, tức là đồng thời cũng sáng tạo ra cái chất của văn học. Nếu không nghiên cứu đời sống thực tại, mà lại nặng về tìm tòi kỹ thuật ở trong căn buồng, thì tác phẩm sẽ không có chất, sẽ nông cạn, giả tạo. Cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng; những ý thức tập thể, ý thức chủ nhân ông, ý thức dành quyền chủ động, những tình cảm yêu con người đến mức tuyệt cao là xoá tất cả áp bức bóc lột, những cái ấy chưa từng có trước đây trong lịch sử; ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ “Mới chủ nghĩa”, đi tìm những cá tính lập dị nào. Chúng ta cũng không cần quá câu nệ, đừng cho rằng sự lặp lại nào cũng là rập khuôn, chớ thấy quần chúng muôn người như một hay nói đến đoàn kết, đến phấn khởi chẳng hạn, mà cho là họ nói như vẹt. Chúng ta phải cảm nghe trong đó tất cả cái mới mẻ, cái hân hoan, cái tin tưởng của những giai cấp trẻ trung mới bước lên vũ đài của lịch sử, họ nói đến những chữ mà có người cho là rập khuôn đó, cũng như người thanh niên nói đến tình yêu; chế diễu những chữ “anh yêu em”, những câu thề ước hẹn hò là thái độ của những kẻ già nua và hằn học. Ví dụ như ở một đám cưới đời sống mới, mặc dầu có cái vỏ công thức nào đó như “tuyên bố lý do”, “hai họ phát biểu”, kể cả cái khẩu hiệu “Vui gia đình không quên nhiệm vụ” nữa, − những cái đó người nào đi dự nhiều đám cưới rồi thì dễ chán, − nhưng chúng ta cần có con mắt xanh, con mắt yêu thương giai cấp thật sâu sắc để thấy cái ý tốt đẹp của những người tổ chức nên, thấy cái đạo đức mới đang thành hình, để cảm thông với lòng phơi phới mới toanh của cô dâu chú rể; và những chú thiếu nhi, thiếu niên chen chúc đứng nhìn kia, họ không thấy “rập khuôn” gì cả, mà lại thấy đám cưới đời sống mới thật ý nghĩa, thiêng liêng! Thấu hiểu được cái ruột tươi thắm của sự việc rồi, nếu anh góp được cho nhiều sáng kiến, sáng tạo để làm cho các đám cưới đời sống mới sinh động hơn, hình thức không giống nhau, thì hay biết mấy! Cũng như anh đừng nên bực mình vì quần chúng cứ hát mãi một bài cũ “Kết đoàn”, mà nên bực mình vì nhạc sĩ chưa sáng tác được những bài đồng ca mới vừa hay vừa dễ hát cho quần chúng. Dưới cái vỏ công thức, phải biết nhìn cái bản chất không công thức một chút nào, và có vậy mới xé được cái vỏ công thức một cách đúng đắn, hiệu quả! Người ta tặng cho nhà văn là “kỹ sư tâm hồn”, nhưng trước khi là kỹ sư, phải là thợ học việc. Trước khi dạy quần chúng, thì chúng ta phải học quần chúng cái đã. Chúng ta phải biết yêu, ghét với quần chúng. Nếu ta chưa thiết tha yêu quần chúng, thì làm sao quần chúng yêu tha thiết được tác phẩm của ta? Tôi không nói đến việc hiểu biết về nghề nghiệp, về chuyên môn, vì cái đó lẽ dĩ nhiên là phải biết, mà phải biết thấu đáo. Và cũng dĩ nhiên cần phải có năng khiếu văn nghệ nữa, vì một người dốt thì học phải thông, chứ người không có cổ họng tốt thì hát mãi cũng không thể nào hay được. Nhưng cái mà người ta gọi là độc đáo, theo tôi nghĩ, không phải tự đâu ở ngoài đến; khi đã có con mắt nhìn đúng đắn, sâu sắc, khi nhiệt tình cách mạng nung cháy tâm hồn, thì tự nhiên sinh ra cái độc đáo. Vì những cái gì toát ra tự toàn tâm toàn ý của ta, tất phải có bản sắc, sắc thái riêng của ta. (Nếu vẫn cứ không có bản sắc riêng, thì có lẽ đã chọn nhầm nghề, và đã thành ra một vấn đề khác). Sống trong một cuộc đời ào ào như thác, giữa những con người mới vùn vụt tiến lên, những người có tài, có năng khiếu nhất cũng không thể chỉ cậy ở tài mà không lăn vào thực tế. Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống lại, và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng khổ đau gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần chúng hiện tại! Khi đã nghiên cứu kỹ thực tế của quần chúng, thì ta sẽ thấy rằng tô hồng là sơ lược, mà bôi đen cũng là sơ lược, hồng hay đen chẳng qua cũng như màu dùng dưới tay hoạ sĩ, hoạ sĩ có thể dùng nhiều màu hồng hay dùng nhiều màu đen, nhưng xong cả bức tranh, thế tất phải là một bức tranh tích cực, lạc quan, chứng tỏ rằng cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu trong chế độ ta, cái tốt phải thắng và càng ngày càng thắng.

❊ ❊ ❊


Nguồn: Talawas
Được bạn: Thành viên VNTQ. Net đưa lên
vào ngày: 8 tháng 3 năm 2008