Nguyên Hồng Toàn Tập 1

Lượt đọc: 9268 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IX. ĐÓI BỐN NHĂM

IX. ĐÓI BỐN NHĂM

1. BỘ BÀN GHẾ GỞI NHÀ TÔ HOÀI

Cái bàn ấy bằng gỗ tạp có hai ngăn kéo là của một người họ đã dùng làm bàn ăn để lại cho. Chị ta phải để lại nó cho tôi vì chị không thể đi đâu cũng tha nó theo, nhất là chị lại làm cái nghề gọi là cái nghề lấy Tây. Cái bàn bằng gỗ tạp lại chỉ đánh véc ni nhếnh nhoáng nên trông càng rẻ giá, mua đâu có bảy đồng nhưng giấy biên lai lại kê những mười đồng. Thế là nguyên cái bàn chị ta đã được đôi ba đồng. Ấy là không kể trong món tiền sắm sửa đồ đạc, chị còn khai thặng lên hàng chục bạc nữa. Chị đã chìa thêm một nắm biên lai nữa, ném ra giữa bàn ăn có đủ cả rượu vang, cua phá xí cà chua, đậu vàng trộn dầu giấm và trứng. Không kể còn một đĩa tú ụ nem rán và một bát ô tô hành tây cà rốt ngâm giấm ớt đặc sệt nữa. Và chị quát với thằng cai Tây da đen chồng mới kia rằng:

- Toa ba bôồng, moa tút-xê săng piết, moa a-xơ-tê cẩm xà, toa điếc moa ga-nhê bố cu. Sí toa công-tăng bôồng mác xê... a lê...a lê xeéc-sê con gái vườn hoa... Moa xăng phú toa, phút toa la phót tút suýt. (12)

-----

(12)Mày không tốt, tao chỉ lấy mày có một trăm đồng, tao sắm sửa như thế, mày bảo tao hời nhiều. Như vậy nếu mày thích của rẻ thì đi mà tìm con gái ở vườn hoa. Tao không cần mày đâu! Đuổi mày ra cửa ngay bây giờ!

Kể ra bỏ có một trăm đồng rồi mặc cả đi đến ngã ngũ với nhau, mua được nào giường có nệm, màn mới, bàn ghế và hai tháng nhà trả tiền trước. Lại còn một tháng ăn ở nhà có đủ bốn bữa chiều thứ bảy và cả ngày chủ nhật, sang ngon hơn cả ô-ten thế kia. Lại còn được cả vợ nữa, một người hiểu và nói tiếng Tây vào loại thành thạo, biết làm các món ăn đúng với khẩu vị của người chủ chi tiền, thì cũng là một sự tính toán khá là sát sóng và đẹp đẽ rồi!

Tôi đã mua lại cái bàn ấy khi tôi ở trại giam về lấy nhà tôi. Lúc đầu nhà tôi có ý không bằng lòng việc mua bán và sử dụng này. Lý do thứ nhất, nó là của một người chết. Chị S. bán lại đồ đạc cho tôi xong, lên Cao Bằng thì mất, một người bạn cùng nghề phải đứng ra lo liệu chôn cất cho ở trên ấy. Lý do thứ hai, nó cũng chẳng tốt đẹp gì mà lại là thứ đồ của... Tây, Tàu. Chao ôi! Nhà tôi, một người con gái ở gia đình có một ông anh ruột mẹ đã ăn cơm muối ngủ đất, không súc miệng xỉa răng, mượn quần áo nâu rách vá mặc, để tang bà mẹ đúng bốn mươi chín ngày, cái người con gái học rất thông minh, từ lớp bét đến lớp nhất toàn được khen thưởng, nhưng nhà vẫn nhất định không cho đi học thêm vì đã mười sáu, mười bảy tuổi rồi,... cái người con gái thuộc lòng gần hết Truyện Kiều và các bài thơ, đặc biệt là thơ của Thế Lữ, mà khi lấy tôi, tôi muốn tra cứu về thơ thì phải hỏi và bảo đọc cho nghe những bài, những câu của nhiều bài thơ mình quên lẫn, - một người con gái như thế thì làm sao yên tâm được với cái bàn như vậy! Nhất là cái bàn nọ lại kê ngay ở gian buồng ngủ của mình và là bàn viết của chồng!

Nhưng sau nhà tôi dần dần cũng theo ý tôi. Theo ý tôi, vì việc đã rồi, vả lại đồ đạc cứ mỗi ngày một đắt. Theo ý tôi, nó là kỷ niệm của tôi, một kỷ niệm sâu sắc thấm thía cũng như một số đồ đạc trong cái gian nhà lá ở tỉnh Nam Định quê hương chôn rau cắt rốn của tôi mà chúng tôi quen biết rồi yêu nhau và quyết tâm lấy nhau.

⚝ ❖ ⚝

Trước đấy ba năm, cũng khoảng hết xuân sang hè như dạo tôi đón nhà tôi về ấy, cũng dưới cái mái nhà lặng lẽ và trên cái bàn nọ, tôi đã viết và viết để rồi đi trại giam.

Tháng 5 và tháng 6 năm 1940. Danh sách những người đưa đi tập trung từng đợt, từng đợt đã đầy đủ ở Sở mật thám Hải Phòng.

Tôi không cần đợi ai mách bảo cũng biết chắc chắn có mình. Không những thế, tôi còn có thể tính được vào khoảng nào mình sẽ bị bắt đi. Vì nhà tôi, mỗi ngày có hẳn một thằng mật thám cứ ngồi chơi hết ở cửa hàng mẹ tôi bán kẹo bánh dưới gốc đa, lại vào tận trong nhà mà hút thuốc, đọc báo, đọc truyện.

Tôi càng thấy không thể không viết được. Sau nửa năm tù ở đề lao Hải Phòng ra, viết đối với tôi càng như là sự sống chết. Tập Tù trẻ con hơn 300 trang của tôi gởi lại Như Phong giữ thế là hoàn toàn tiêu hủy! Nó đã bị mật thám trên Hà Nội đốt. Tập phóng sự Bụi đen dành viết cho báo Mới của Đoàn Thanh niên dân chủ xuất bản trong Sài Gòn cũng bị giữ lại ở Sở mật thám Hải Phòng. Dù đã có tập Những ngày thơ ấu viết xong phần đầu và một số truyện ngắn đã xếp thành tập Bảy Hựu rồi, nhưng đó là những cái cũ, những cái đã viết đã đăng! Mười tám, hai mươi tuổi, đã tìm được đến Cách mạng và Đảng, đã thấy thế nào là sự sống, nhất là đã thấy thế nào là ý nghĩa của sự sống, và là một sự sống có ý thức, thì tôi phải bằng bất cứ cách nào, bất cứ giá nào viết thêm những dòng chữ, có thêm những tác phẩm! Những dòng chữ và những tác phẩm chứng nhận sự sống của tôi, lý do và nội dung của sự tồn tại của tôi. Những dòng chữ và những tác phẩm để góp một phần nhỏ bé chứng tỏ sự sống của một nền văn học nghệ thuật chân chính và cách mạng. Những dòng chữ và những tác phẩm để góp thêm một tiếng thét vào mặt bọn đế quốc thống trị cùng bè lũ tay sai của chúng: chính Cách mạng và chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chân lý và nhất định chiến thắng!

Vào khoảng từ ngày 22, 23 tháng năm đến ngày 3, 4 tháng sáu tôi viết được sáu hay bảy chương của tập Xóm cháy. Xóm cháy là cuộc đời của những quần chúng lao động nghèo khổ, giác ngộ đấu tranh ở chung quanh tôi, họ là đất sống và lẽ sống của bước đường viết văn của tôi. Với sáu, bảy chương viết khi còn ở nhà và hơn hai mươi chương chừng hơn hai trăm trang giấy

pơ-luya viết trên trại giam Bắc Mê đã bị lấy mất đi, tôi đã viết lại thành một phần chính của tập Sóng gầm trong bộ Cửa biển sau đây.

Những ngày vào hè năm 1940 ấy tôi gần như không còn biết gì là nóng nực. Cái nung nấu của không khí khủng bố đang hết sức dồn dập để kịp với tình thế diễn biến của chiến tranh, còn hầm hập và ngột ngạt gấp bội cái thời tiết nắng chói chang và nhoi nhói dông bão. Càng khuya, nhìn vào bức vách quét vôi trắng, một mình trước cái mặt bàn véc ni đã bạc trông như mặt ván thôi, đưa ngòi bút tràn qua những trang giấy quyết định sự sống còn của mình, tôi gần như không còn biết mệt mỏi, gần như không còn dám để cho mình một phút trống trải chậm chạp.

... Sắp sắp gọn ghẽ những trang bản thảo cuối cùng, tôi để lại cho mẹ tôi, rồi ra xe ngồi cùng thằng mật thám thường trực canh gác tôi đến Sở mật thám. Đúng hai hôm sau, tin Pa-ri tuyên bố bỏ ngỏ, quân Pháp đầu hàng không điều kiện, quân phát xít Hít-le tràn vào khắp đất Pháp như một bãi tha ma. Chúng đưa tôi lên Sở mật thám Hà Nội vào khoảng giữa tháng sáu, sang tháng bảy thì giải đi trong chuyến thứ hai lên trại giam Bắc Mê Hà Giang.

Cũng vào hồi cuối tháng năm, đầu tháng sáu tôi lấy nhà tôi, đón nhà tôi từ Nam Định về Hải Phòng. Năm ấy là năm 1942. Và tôi lại viết trên cái bàn ấy. Cái bàn nay kê sát cạnh giường chúng tôi.

⚝ ❖ ⚝

Nhưng rồi chúng tôi cũng phải bỏ cái gian nhà tổ ấm kia, nghĩa là chúng tôi cũng phải bỏ cả Hải Phòng đầy kỷ niệm mà đi tỉnh khác.

Sau trận ngày 9 tháng tám 1942, Mỹ bỏ bom Hải Phòng càng dữ dội. Không hiểu có những chỗ nào của quân đội Nhật đóng hay là những kho gỉ kho gì quan trọng đã bị tình báo hay gián điệp Mỹ tìm ra và báo cho Mỹ bắn phá, chứ những nơi, những khu trúng bom của Hải Phòng toàn là phố xá, nhà cửa của dân cư, và người chết toàn là Việt Nam và Hoa kiều. Ngay trước xóm nhà tôi ở, cái xóm chỉ có những người đi làm ở bến tàu to Sáu Kho và những người làm ruộng, đã bị trận mở màn tấn công ấy của Mỹ bằng máy bay trên đất Hải Phòng mà Nhật chiếm đóng quân. Rồi thì đến phố Khách, đến chợ Sắt, phố Tám Gian, Hạ Lý, bến tàu. Toàn những chỗ buôn bán làm ăn, đông đúc thợ thuyền và toàn là thường dân! Chẳng nhẽ lại bỏ nhầm! Chẳng nhẽ lại lạc bom! Sao không thấy nhầm, thấy lạc vào các khu mà ai cũng biết rằng sờ sờ có trại lính Nhật? Sao không thấy nhầm thấy lạc vào các khu phố Tây ở, những khu dinh thự cố định đã chụp in thành bưu ảnh và họa sẵn thành bản đồ: tòa Đốc lý, trại lính Cát-dem, nhà băng, v.v...

Trong những người chết bom Mỹ có một ông cụ vừa ra quán mẹ tôi mua diêm thuốc và mấy chiếc kẹo bột về cho cháu và anh em thằng bé vừa cõng nhau nhong nhong chơi dưới gốc đa cạnh quán, đón mẹ đi tầm ngoài Sáu Kho về để ăn quà.

Nhà tôi bị hen kinh niên và hen nặng. Những cơn lên bệnh, đang thở tưởng đến bứt cả ruột cả gan và tím đen cả mày cả mặt lại, mà còn chạy bom, thì tôi yên tâm làm sao? Chỉ nói là nhìn nhà tôi thôi chứ không nói là ngồi lấy tứ lấy hứng hay tập trung tập triếc cảm xúc mà viết được?! Trên đây là một lý do.

Còn lý do nữa là tôi không thể đi đâu một bước mà không có mật thám theo dõi dù đã được bỏ sổ quản thúc phải trình diện hàng tháng rồi! Vậy nhân cái dịp chạy loạn lung tung này, tôi cứ đi các nơi đã. Văn hóa cứu quốc đã thành lập. Vũ Quốc Uy, Như Phong, Tô Hoài và tôi đã chính thức họp nhóm và chia nhau công việc. Tôi có thể để nhà tôi ở một nơi tạm tạm ổn định rồi phải tích cực hoạt động. Tôi sẽ trở lại Nam Định hay lên Hà Nội nơi quen biết và có nhiều anh em, nhiều cơ sở.

Chúng tôi đã đóng đồ, liều đi tàu thủy mà chạy bom Hải Phòng. Chúng tôi về Hưng Yên. Giang sơn của hai vợ chồng son chúng tôi vẻn vẹn có một cái giường, một cái hòm và một cái bàn. Cố nhiên vẫn là cái bàn gỗ tạp, véc ni bợt bạt đã mọt nhiều chỗ ấy. Và một cái ghế cũng bằng gỗ tạp, mặt mây đan, mua sau ngày cưới của chúng tôi.

Chuyến tàu ấy đi trót lọt.

Chúng tôi thuê một gian nhà lá ở cuối một phố chợ chung nhà với mấy gia đình làm ăn buôn bán nhỏ nhặt. Vì gian này là một cái chái trước kia làm buồng chứa đồ, nên chật hẹp, ẩm thấp, mờ tối. Tôi lại phải kê bàn sát cạnh giường nằm. Nhiều khi cũng không ngồi ghế mà ngồi ngay mép giường viết. Vì cái khoảng đất trống chỉ hơn hai thước chừa ra để lấy chỗ ra vào lại còn xếp nào hòm, nào rổ rá gạo củi mắm muối.

Về đây tôi chỉ có vợ chồng một anh bạn cũng làm báo viết văn. Còn nhà tôi thì có một chị bạn nhiều tuổi hơn khá thân nhau. Chồng chị là nhà giáo nhưng không dạy mà làm thư ký ở bàn giấy Đốc học. Con đường phố tôi ở đã vắng lại gần đường trong làng trồng nhãn nên càng yên tĩnh. Cả ngày tôi như không có ai gọi đến mình. Những lúc nhà tôi ra chợ mua thức ăn hay đi chơi nhà bạn, tôi lại càng lụi hụi với cái bàn viết.

Ánh sáng vào buồng qua mấy khe cửa và khoảng trống đằng sau lưng tôi. Một thứ ánh sáng lúc trời nắng to nhất cũng vẫn dịu mát. Phần vì cũng nhờ các bóng cây ngoài vườn và những làn gió thổi từ ruộng lúa và hồ sen khu đằng sau. Chao ôi! Cái dịu mát của ngày thu nắng thoảng những hương lý, hương cúc, và chuối tiêu, na, bưởi. Trong khi tôi sống với nó thì nhân vật của tôi lại đang ở trong một vực thẳm.

Vực thẳm là một truyện vừa, truyện một người con gái, truyện dựa theo một phần đời sống của người con gái ở chung nhà với tôi ngoài Hải Phòng. Câu chuyện ấy phải để đến khi tôi bỏ Hải Phòng ra đi thì mới dám viết!

Người con gái của tôi ấy đã bị sự nghèo đói cùng kiệt và những tục lệ ác nghiệt của xã hội tàn phá cả một tuổi thơ ấu và thanh xuân gần như không được thoảng qua một làn gió, một ánh dương. Và từ cái vực thẳm của xã hội tàn bạo đó, những tiếng kêu thống thiết cất lên với những dòng chữ của tôi. Những dòng chữ viết trên cái bàn chật hẹp kia mà tôi phải tìm các cách nói sao cho lọt được kiểm duyệt, cho được in thành sách lúc bấy giờ! Và những dòng chữ, những trang sách ấy đang nuôi sống tôi đây, nuôi sống vợ chồng tôi đây!

Càng trưa nắng nhà tôi càng im ắng. Tiếng mọt đều đặn rền rĩ thành nhịp của bàn tôi ngồi viết càng nổi rõ, càng miết vào không khí, càng xuyên sâu vào tâm trí tôi. Nhiều lúc tôi không sao viết được ra chữ! Cái thị xã Hưng Yên chỉ đông vui buổi sáng ở phố chợ. Ngoài phố chợ còn có bến ô tô cũng được đôi lúc nhộn nhịp. Và ngoài bến ô tô và khu phố chính có các cửa hàng tạp hóa, hàng vải lụa, hàng mũ, hàng giày, hiệu thợ may, cắt tóc, hiệu sách báo, v.v..., thị xã cũng tấp nập trong những ngày phiên chợ, nhưng chỉ đến trưa là đã thưa vắng rồi. Ấy là ban ngày. Ban đêm, chỗ trưng đèn và ồn ào độc nhất là rạp hát ngoài chợ. Đèn măng sông. Âm nhạc nổi nhất là tiếng trống, tiếng mõ và đàn nhị cử lên đến mức như thét, như vỡ.

Tất cả phố xá, bến chợ đã nhỏ bé hiền lành lại càng nhỏ bé hiền lành trong những buổi trưa nắng thu dịu mát ấy. Và như càng làm tăng thêm cái vẻ bề thế trang nghiêm chừng như bất di bất dịch của những dinh Công sứ, Tuần phủ vẫn đủ lệ bộ tòa nọ phòng kia của các thứ quan, các thứ chức với các lính gác lính hầu. Ảnh của Thống chế Quốc trưởng Pê-tanh không những chỉ treo ở những nơi này để mọi người chiêm ngưỡng và suy nghĩ về cái đời sống được phục hưng yên ổn, mà còn treo cả ở cái rạp hát trống tuềnh trống toàng bẩn ngập lên gần phố chợ. Và trước giờ kéo phông, người xem cũng phải bắt buộc đứng lên chào vị cứu tinh của cả nước mẹ Đại Pháp và các thuộc địa, các xứ bảo hộ.

1943

Trên đất nước Pháp bị phát xít Hít-le chiếm đóng, máu của chiến sĩ và đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, và máu của nhân dân Pháp đang hàng ngày nhỏ giọt ở các bãi bắn và nhà giam đây! Trong khi đó ở những trại tập trung Ốt-ven-xim, Ao-xơ-vích, và Bun-khơn-van tại Ba Lan, Tiệp Khắc và Đức, những lò thiêu xác đang ngày đêm lừ đừ rỉ khói.

Hàng vạn con người, hàng vạn con người đang bị đúng là một bọn thú dữ mặt người mang dấu hiệu chữ thập ngoặc trên trán, chúng nó tàn sát và lấy công việc này làm sinh thú, làm văn minh và lý tưởng.

⚝ ❖ ⚝

Về Hưng Yên ở được hai tháng thì chúng tôi lên Hà Nội. Cũng lại bằng tàu thủy. Giang sơn vẫn vẻn vẹn một cái giường, một cái hòm đựng quần áo, sách vở bản thảo, và bộ bàn ghế để ngồi viết. Tìm nhà cho tôi là Như Phong. Nhà thuê dưới bãi Nghĩa Dũng.

Gian này tuy chỉ gần hai mươi thước vuông, nhưng với chúng tôi thế cũng là quá rộng rãi. Chúng tôi ở có một nửa, còn một nửa chủ nhà để khung cửi. Cái khung cửi này bày đấy làm vì, để hàng tháng mua sợi. Chỗ sợi bà chủ nhà đưa về trên quê Phú Thọ, lúc thì bán lại cho các nhà dệt trong xóm rồi mua chè đem về Hà Nội, lúc thì cho bà con dệt hoặc chia vải hoặc trả công. Giường chúng tôi kê cạnh khung cửi đó. Còn bàn viết lần này đàng hoàng có cửa sổ đón ánh sáng và gió mát từ phía tay trái vào.

Chung quanh tôi cũng vẫn những gia đình làm ăn buôn bán nhỏ nhặt. Nhưng cảnh sống không heo hắt quá như ở cái xóm nghèo cuối phố chợ Hưng Yên, và không nhiều thợ nhà máy và phu phen như cái xóm Cấm hay làng Đông Khê của tôi ở Hải Phòng trước. Từ ngày dọn lên đây, tôi cũng đỡ nhớ Hải Phòng. Viết cũng thấy chạy tay hơn. Vừa phần được gặp gỡ nhiều anh em và luôn luôn được tin tức của tổ chức, đặc biệt là được đọc đều báo Cứu quốc. Vừa phần, hình như sau những cuộc gọi một cách văn vẻ theo lối nói lúc bấy giờ là "xê dịch" hay "thay đổi không khí" ấy, nhà tôi thấy đỡ bệnh, khỏe mạnh hẳn lên. Việc chép bản thảo cho tôi đều đặn và được nhiều hơn. Nhà tôi còn tính đến cả chuyện đi nhận các hàng len về đan để lấy tiền thêm cặp sinh sống. Sáng chiều nhà tôi cũng mượn thùng cùng bà con ra ngoài sông gánh nước về đổ đầy vại đánh phèn ăn chứ không thuê mua nước máy. Quần áo chiếu cũng đem ra bến đây giặt, lên xuống hàng hai chục bậc đá.

Tôi đã sửa lại tập Hơi thở tàn để đưa nhà xuất bản Thời đại.

Tập này viết từ đầu 1942 ngày tôi ở Nam Định và đã đưa nhà xuất bản Kiến thiết in một nửa lấy tên là Ngoài kia. Tiền tác giả của Ngoài kia được hơn trăm đồng. Cộng với tiền tác giả của tập Cuộc sống đưa nhà Tân dân được vào khoảng hơn trăm đồng nữa cũng viết vào khoảng đầu năm đó, tôi đã cưới nhà tôi. Đã phải viết liền hai tác phẩm và đã dồn tất cả tiền để lo liệu, mà tôi vẫn hồi hộp và có lúc tưởng như việc lấy nhau của chúng tôi không thành. Vì bà đẻ nhà tôi bảo ít ra cũng phải đủ năm hay bốn trăm đồng thì mới thu xếp được!

Không phải vì bà đẻ nhà tôi muốn bán con gái để lấy tiền công đẻ công nuôi. Cũng không phải vì bà đẻ nhà tôi định làm cỗ nọ tiệc kia lấy tiếng lấy tăm! Cũng không phải vì lo cho tương lai con gái, mà phải có vàng có ngọc, có quần nọ áo kia, có của mặt, có của chìm khác để làm vốn liếng riêng tây. Tôi đi tù về sốt rét vàng vọt, quản thúc ở Nam Định. Có mỗi bà mẹ thì ở mãi ngoài Hải Phòng bán cái quán bánh kẹo diêm thuốc cho các người đi làm Sáu Kho, Máy tơ. Cảnh như thế còn trông thấy cái gì mà thách mà đòi! Nhưng dù là yêu nhau, dù là cùng cảnh nghèo, dù là thật thà hiền lành, dù người cùng xóm cùng tỉnh, dù tôi là văn sĩ có tài, có tiếng và có giời đất gì đi nữa... thì hai chúng tôi cứ phải lấy nhau có miếng trầu chia cho bà con anh em họ hàng và mọi người quen biết. Chao ôi! Miếng trầu để nhìn nhận, miếng trầu để chứng thực, miếng trầu để báo tin, miếng trầu để được mừng cho, để được nhắc đến.

... Vẻ gì một miếng trầu cay,

Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không!

Vì vậy bà đẻ nhà tôi cùng các bà con thân thiết trong họ đã tính nát ra mà cũng phải mất ba trăm đồng để mua trầu mua cau, mua chè lạng, chè bao, chè lọ và mua mứt! Còn quần áo hoa nhẫn không có thì thôi. Mặc kệ, vợ tôi muốn cởi trần về ở với tôi cũng được!

Các bạn văn tôi trên Hà Nội nghe chuyện này, nhất là cái chuyện đem những hơn hai trăm đồng tiền của cả hai cuốn sách để lo liệu việc thách cưới, thì có người nổi xung lên:

- Cái thằng Nguyên Hồng nó không lấy vợ thì chết ngay à? Làm gì mà nó phải đem tiền đổ đi như thế!

Thậm chí có người định kéo anh em về hẳn Nam Định mà phá cái vụ cưới xin vô lý hoang phí khốn nạn này của tôi.

Chao ôi! Ừ thì tôi không lấy vợ, cũng không chết ngay. Nhưng tôi thấy tôi không chết ngay thì cũng không thể sống như thường mà viết được nữa. Thôi, tôi xin được làm một con người xoàng xĩnh thấp hèn bên cạnh những con người thiên tài sống hào hoa phong nhã, giang hồ lạc phách và thấy mình phải còn cao quý ngang ngạnh hơn cả thần linh kia! Nghĩa là tôi đưa tất cả tiền tác giả của Cuộc sống và Ngoài kia cho mẹ tôi, còn mẹ tôi thì nhờ bà con nói khó một lần cuối cùng để bà đẻ nhà tôi cố thu xếp sao cho hai cháu vui vẻ!

... Cùng lúc tôi sửa chữa xong Ngoài kia thành tập Hơi thở tàn, và viết thêm được một số truyện ngắn trong đó có truyện Lúc chiều xuống, nhà tôi cũng làm quen với nhiều bà con xóm ngõ ở đây. Cái không khí thân thuộc khiến chúng tôi đã nghĩ đến có thể bám lấy nơi đây như đã bám lấy xóm Cấm hay xóm chùa Đông Khê của Hải Phòng vậy. Chỉ chờ đợi ít lâu nữa là chúng tôi sẽ đón mẹ tôi lên, và mẹ tôi sẽ lại dựng cái quán ở đầu dốc xuống bãi hay gần bến tàu điện để vừa lấy nơi sinh sống, vừa làm chỗ nghe ngóng tình hình, hẹn hò gặp gỡ liên lạc với một số anh em đồng chí.

Bến bãi sông Hồng vốn đã đẹp, mùa đông năm ấy thuận thời tiết lại càng đẹp. Cả những hôm nắng to, cũng như hôm sương mù gió lạnh. Cả những buổi rạng đông tưng bừng báo hiệu, cũng như những buổi ráng chiều man mác quan san, cũng như những buổi trưa nắng gió lộng lẫy. Chao ôi! Đất bãi phù sa, rau ngô, khoai đỗ và mây nước sông Hồng.

... Hồng Hà,

Tên con

Dòng sông lặng lẽ

Cát bạc trời xanh mây trắng

Mây trắng cát bạc trời xanh

Bè gỗ lênh đênh

Buồm nắng

Không! Những cánh chim

Không! Những mây rơi

Không! Những thuyền xuôi ra biển...

... Hồng Hà

Tên con

Dòng sông lấp lánh

Những sớm mai tràn nắng

Cát bãi thở hơi

bờ sương quấn quýt

Giờ lúa xanh lại hát

Quả chín nhức thơm

Vỏ cây nhựa nứt nồng nàn

Hoa mọng như môi người

Sóng nước sơn ca dào dạt...

Hồng Hà

Tên con dòng sông bát ngát

Con dắt tay cha trên dòng sông đi mãi...

Nhà tôi đã có mang đứa con đầu lòng trên bờ sông Hồng và lấy tên dòng sông đặt cho con.

⚝ ❖ ⚝

Nhưng rồi cả Hà Nội cũng bị ném bom!

Cũng toàn những chỗ không hiểu đã được do thám và chỉ điểm ra sao mà lại là những đích tàn phá đầu tiên và dữ dội đến thế? Trong những chỗ này có cả đường Hàng Bột, chợ Hàng Da. Con đường Hàng Bột không những đã chật vướng vì đường tàu điện, mà còn vì sự đi lại của tất cả những xe kéo, xe bò, xe ngựa, xe ô tô, từ Hà Đông ra Hà Nội hay từ Hà Nội vào Hà Đông, và cũng là con đường nhà cửa so le, chen chúc, cống rãnh ngập ngụa nhất nữa. Còn chợ Hàng Da, nếu có một cái gì đáng chú ý, thì có thể là cái nhà thờ Tin lành bé nhỏ khuất lảnh, và cái bãi trống trơ đội trời họp chợ, thường đông về chiều kia! Nhà bị phá bị cháy la liệt trần trụi. Xác đàn bà trẻ con tung lên, chân tay đầu tóc dính bết vào các ngọn cây, các cột điện. Đấy là những cảnh chính mà mọi người phải nhìn phải nghĩ. Và cũng là đầu đề của những câu chuyện truyền miệng rất tỉ mỉ với tất cả sự hãi hùng, ghê lạ, khủng khiếp trước cái trận đánh đưa tin là oanh tạc, tuyệt diệu của máy bay Mỹ mạnh mẽ, tài giỏi, vô địch!

Tiếng còi gọi là phòng thủ thụ động đã được đón chờ, rú lên ngay từ sáng sớm. Từ lúc còn tối đất, các cửa ô và ngả đường về các vùng quê Hà Đông, Chèm - Vẽ và Sơn Tây, lân cận Hà Nội, đều ùn ùn những chuyến xe kéo và đàn bà trẻ con, ông già bà lão dắt díu nhau ra đi. Mấy nơi như bờ hồ Hoàn Kiếm, phố Bờ Sông, hay vườn hoa Sở dây thép cũng có "tăng sê" đấy, nhưng đúng là những cái rãnh nông choèn, và nếu có người trú ẩn thì chỉ mấy trăm người là ứ chỗ. Nhưng các hầm của các quan nọ, chủ kia, ông này bà khác, giàu có sang trọng, quyền quý tiếng tăm của Hà Nội, thì chỉ nghe đồn, nghe tả thôi, cũng đủ thấy chiến tranh hay bỏ bom như thế chứ gấp mười thế nữa, và kéo dài đến năm năm hay đến trăm năm mươi năm, cũng không mùi vần gì. Nghĩa là mỗi cái hầm như thế, nguyên tiền cốt sắt và xi măng đã hàng vạn đồng. Còn chắc hơn quả núi! Bom nào có ném trúng đấy cũng trượt đi. Cốc nước cam hay tách sữa để mấp mé trên bàn dưới hầm cũng không việc gì. Ấy là không kể nhà chủ có thể ăn ngủ, đánh xúc xắc, bài sừng hay hút thuốc phiện ở cả dưới hầm nữa.

- Thôi không về nhà quê hay quê hương Nam Định thì về đâu cũng được!

- Thôi đã chịu khó viết thì ở đâu cũng viết được!

- Thôi nếu như các nhà xuất bản có chạy loạn, đóng cửa tạm ngừng ra sách, thì mình tìm cách làm ăn khác mà sinh sống!

Nhà tôi lại bàn và nhất định không ở Hà Nội nữa.

Đúng lúc chúng tôi nếu không đem cầm đôi hoa tai hay chiếc nhẫn cưới đi, là không còn tiền nong gì cả. Nhưng, dù lại phải đem mấy thứ ấy đi cầm, thì ai đi bây giờ! Nhà Vạn Bảo đến bảy giờ sáng mới mở cửa. Đúng vào tầm máy bay Mỹ ném bom. Vả lại vợ chồng đem nhau về quê nào đấy, dù có người quen biết thân thuộc, cũng phải tính đến cảnh hết tiền mà không tiện vay mượn ai cả. Như thế nhất định phải cố để dành mấy phân vàng kia mà độ thân. Chứ lúc này quẫn quá phải liều đến gửi Vạn Bảo, cũng chỉ được mươi lăm đồng thôi! Đã thế lại còn lúc chuộc, từ nhà quê ra Hà Nội ăn chực nằm chờ để hứng lấy bom đạn mà chuộc vàng ư?!

Nếu vậy hay là bán đồ đạc. Phải, chỉ nên bán đồ đạc thôi! Đã chạy về quê còn cần gì bàn với ghế. Vả lại, còn có chỗ tàu xe nào chuyên chở đi xa được bây giờ? Ấy là không kể chỉ một chuyến xe ba gác hay xe kéo chở từ nhà ra ga thôi, cũng phải thuê hàng hai ba đồng. Không khéo lằng nhằng lại chết vì đồ với đạc! Vừa phần không thể nào chen chúc được với mọi người đang tranh cướp nhau từng phút, từng chuyến tàu lúc bấy giờ. Vừa phần đồ đạc của mình nào có đáng giá gì.

Một buổi chiều trở gió, trời chóng tối và lạnh ngắt. Tôi đi lên phố gõ cửa các nơi để xoay xở lấy ít tiền chạy loạn mà không sao được. Khi về nhà, bỗng thấy vợ tôi tươi tỉnh khác thường. Đặc biệt là chăn màn, quần áo đều xếp gọn.

- Xong cả rồi!

- Sao?

- Có tiền rồi!

- Tiền nào?

- Tiền của mình ấy!

- Tiền nào của tôi?

- Tiền bài của mình ấy!

- Bài nào?

- Tiền bài Lúc chiều xuống ấy! Anh Huy Cận và anh Xuân Diệu vừa đưa cho hai mươi đồng đây này!

Phải, đúng hai mươi đồng! Nó là hai mươi đồng đưa trước của báo Thanh niên số Tết anh Huỳnh Tấn Phát làm chủ bút tập hợp một số bài của anh em xuất bản ở Sài Gòn. Trong số đó có thơ của Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh và tùy bút của Nguyễn Văn Bổng: "Say nửa chừng".

Sáng hôm sau, chúng tôi lại thu dọn tất cả đồ đạc vào một xe ba gác. Vẫn cái giường, cái hòm và bộ bàn ghế. Chúng tôi thuê hai đồng bạc xe lên Bưởi, gởi tất cả cái giang sơn ấy ở nhà Tô Hoài làng Nghĩa Đô.

⚝ ❖ ⚝

Tôi lại viết như kiểu ở trại giam và khi về quản thúc ở Nam Định.

Lúc tôi lấy cái va li làm bàn. Lúc tôi cuộn chặt cái chăn kê thêm sách báo, mở rộng tờ báo to có bìa cứng làm mặt bàn. Lúc tôi lấy thúng đồ khâu và thuốc men của nhà tôi độn thêm sách báo, và viết trên cái mẹt đậy thúng. Còn chỗ viết thì trên giường, dưới đất, bên liếp vách, cạnh bậc cửa, tùy theo thời tiết và chỗ ở.

Chúng tôi ở nhờ. Một dạo nhờ nhà N. trên làng Đề Cầu huyện Thuận Thành Bắc Ninh. Sau dọn xuống xóm Đạo làng Đình Tổ huyện Văn Lâm Hưng Yên. Mẹ tôi và nhà tôi gánh nón đi bán các chợ Cầu Nôm, chợ Hè, chợ Huyện gần đấy. Vốn liếng cụt dần. Tất cả dây chuyền, hoa tai và nhẫn cưới của nhà tôi đã đem giả lại hiệu để lấy tiền làm vốn. Nghe nói thì giá vàng cao lắm, vậy mà không hiểu sao bọn đồ của chúng tôi lại chỉ được có hơn trăm bạc. Ấy là mua của hiệu Khách lại trả cũng hiệu Khách. Trả của chính hiệu mình đánh vàng mà sao lại trừ vẩy hàn, trừ hao mòn mất nhiều thế này, và lại chỉ được giá thế này?! Mấy bản thảo tiểu thuyết và truyện ngắn của tôi đưa cho mấy nhà xuất bản quen trầy trật lắm mới được tiền. Nhưng lần năm mươi đồng, lần ba mươi đồng, quanh quẩn thế nào lúc ra sách tính tiền nhuận bút thì mình đã ký vay nhiều hơn. Nghĩa là mình còn nợ và lại nợ!

Chúng tôi sinh cháu trai đầu lòng. Bà đẻ vợ tôi đã bỏ cả nhà ở quê mình Nam Định về quê chồng Sơn Tây mà đến bế con cho chúng tôi. Hai bà nội, ngoại càng thương, càng quý, càng chăm cháu bao nhiêu thì tôi càng... lo bấy nhiêu.

Đúng sau vụ mùa năm 1944 ấy, nhà tôi vét bồ còn được một thúng thóc, và kiểm đi kiểm lại mãi gánh nón chỉ còn được hai mươi cái nón lá vàng đồng mốt, đồng hai một cái, năm sáu cái nón lá trắng, đồng ba, đồng tư một cái và ba bốn cái áo tơi cũng chỉ hơn đồng một cái. Lúc này thóc gạo đã từ ba mươi đồng một gánh lên đến một trăm ba mươi đồng, rồi một trăm sáu mươi đồng.

Chúng tôi chỉ ngày bữa cơm, mỗi người ba lưng bát, độn khoai, và bữa cháo thôi, cũng phải ba thúng thóc một tháng!

Đã lắm lúc tôi ngồi viết như ngồi trên đống lửa. Người đói đã về chết ở cả ngay chợ, trong quán mẹ tôi bán hàng và ở cả cửa ga tôi thường ra đón tàu lên Hà Nội. Trời càng rét. Rét năm ấy thật là đặc biệt.

Sau chuyến đi Hà Nội với Kim Lân, đem bản thảo gõ cửa các nhà xuất bản không nơi nào cho vay tiền cả, tôi trở về quê, đến nhà thì toát người ra.

Vì cả đói, mệt và rét.

Và cũng vì thấy bà đẻ nhà tôi ở Sơn Tây lại xuống. Đẻ nhà tôi dỡ ra nào mũ thóp, nào yếm dãi có thể mặc kín cả ngực, nào bột sắn, nào đường phèn cho "thằng Hà của bà", nào cương tàm thuốc hen của mẹ nó, và nào những rễ gỉ rễ gì để mẹ nó sắc uống cho nhiều sữa! Rồi bà giằng ngay lấy thằng cháu, bế xốc lấy nó, và cầm miếng chè lam chấm chấm vào miệng cháu:

- Cháu bà lại ho hay sao mà khò khè thế này? Mẹ nó có chịu mặc ấm cho nó hay không? Trời rét có rửa ráy cho con thì phải mang nó vào trong buồng kia, và phải đốt sẵn đống lửa, để sẵn quần áo tã thay bên cạnh ấy!

Một tay ôm cháu, một tay cầm miếng bánh to bằng nửa viên ngói để đấm mồm đấm miệng ấy, đẻ nhà tôi quài lại sau lưng đưa cho nhà tôi và giục:

- Mẹ nó ăn đi, ăn đi! Rồi đi xin ngay ít hoa hồng bạch về hấp với đường phèn cho nó uống đi...

Phiên chợ ấy, mẹ tôi bán được mấy cái nón và áo tơi thì đong cả gạo. Nhà tôi lại nắm cho tôi một nắm to và rang vừng muối giã gói để tôi đem đi Hà Nội ăn. Tàu đến ga, khách xuống gần hết mà tôi vẫn còn ở trên toa. Rồi khi ra khỏi cửa ga, tôi gần như mặc cho bước chân muốn đưa mình đi đâu thì đi, đến đâu thì đến. Cố nhiên là tôi không thể nào đi đến nhà xuất bản.

Tôi đã lên tàu điện. Tàu điện tôi đi từ Bờ Hồ lên Bưởi.

A! Sao tôi lại lên Bưởi? Thế là tôi nhất định lên nhà Tô Hoài à? Tôi lên Tô Hoài để hỏi Tô Hoài xem vẫn còn nhà xuất bản nào nhận bản thảo ư? Không! Tôi lên Tô Hoài hỏi vay Tô Hoài tiền ư? Không! Hay không hỏi vay Tô Hoài tiền thì nhờ Tô Hoài giới thiệu ai đó để vay tiền ư? Cũng không! Vậy tôi đi để làm gì?

Câu hỏi thầm ấy càng rõ tiếng, càng rành mạch trong tâm trí tôi bao nhiêu, thì người tôi lại càng như bị dao lách. Và tâm trí như có lửa nướng.

Tôi lên... để xem những đồ đạc của tôi. Cái giường, cái hòm và bộ bàn ghế của tôi.

Sao lại phải xem? Hai, ba lần trước, lần nào cũng vậy, mỗi lần tôi cố lên chơi với Tô Hoài, tôi lại chỉ dám nhìn qua cái đống đồ đạc xếp dưới nhà ngang.

Đúng tôi đã là một thứ ăn vạ ở nhà Tô Hoài.

Nhà anh tuy có nhà trên và nhà ngang nhưng đâu có phải là thừa cái sự rộng rãi để làm kho chứa đồ cho tôi. Ấy là không kể đến tính bà mẹ anh rất mực gọn gàng, sạch sẽ. Tôi đã để ý từ cái sân gạch, đến bực thềm lên nhà trên, từ miếng vườn con xum xuê mấy cây hồng bì, nhãn, hồng, sói, vân vân. Rồi đến cái bể nước con, cái chum nhỏ và mấy hòn gạch kê thêm để rửa chân, cái rẻo đi đất thịt xuống nhà bếp xuống cầu tiêu,... tất cả lúc nào cũng như vừa mới quét dọn sắp đặt xong, hay như là bao năm nay không hề có chiếc lá rụng, có ngọn rác, vụn que nứa cành củi gạch ngói nào vương vãi cả! Thật là êm ả, ngoài vườn nghe rõ cả tiếng chim sâu lích chích. Trong nhà, tiếng mọt đều đều ở những câu đầu, những chiếc cột đen mốc.

Một hôm nhà tôi ra Hà Nội, lên chợ Bưởi cất nón, có ghé vào nhà Tô Hoài chào bà mẹ anh và thăm anh, lúc về nhà tôi đến bữa cơm đã bảo tôi:

- Mình này! Bà cụ Tô Hoài có hỏi tôi "Bao giờ thì bác giai xe đồ về quê đấy?".

Đồ đạc của tôi không những được xếp được kê làm một đống gọn, mà cả mặt đất và chân vách chỗ xếp kê lại còn rắc vôi bột nữa. Càng thấy nhà Tô Hoài giữ gìn cẩn thận cho tôi như thế, tôi càng không dám nhìn lâu, nhìn kỹ. Giá như ở một nhà khác, những thứ ấy bị vứt lỏng chỏng lên nhau trong một xó bếp hay dưới giọt tranh sau nhà, rồi chất thêm củi rác, chiếu cũ, bao tải, làm chỗ cho chó rúc, cho gà đẻ, thì tôi lại đỡ ngậm ngùi...

Tô Hoài ơi! Làm sao tôi có được chỉ là một gian nhà, như cái gian nhà ngang của ông thôi, để mà lại kê cái giường, cái hòm và bộ bàn ghế ấy? Cái gian nhà này, tôi không ở nhờ và cũng không phải thuê. Cái gian nhà này, tôi làm lấy hay mua được cũng bằng tiền sách, như ông đã chuộc lại cả năm gian nhà gỗ kỷ niệm nhà thờ của họ mình bằng... Dế mèn phiêu lưu ký vậy! Cái gian nhà này cũng trông ra mảnh vườn đất có mấy cây ăn quả, mấy luống hoa cỏ xum xuê và một khoảng trời cao. Rồi tôi lại ngồi cái ghế gỗ mặt mây, viết trên cái bàn gỗ tạp của tôi có thể đủ bày cả mấy tập bản thảo, sách báo tài liệu, và một tấm khung kính lắp hình thằng chó con ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò của chúng tôi.

Chao ôi! Tôi đã sắm được cả một cái giường, một cái hòm, đặc biệt, là cả một bộ bàn viết tuy ghế thì mặt mây đã trũng, đứt thủng, còn bàn thì véc ni đã bợt bạt, nhiều chỗ lấm tấm mọt!

Vậy mà hôm nay tôi sẽ lên thăm nó đây! Lên thăm nó để rồi đi dạm bán nó đây! A ha! Hay là Tô Hoài ơi! Tôi cứ liều hỏi Tô Hoài xem Tô Hoài có mua không, thì tôi sẽ để lại với bất cứ giá nào cho Tô Hoài dùng còn hơn vậy. Nhất là thỉnh thoảng tôi vẫn còn được lại ngắm, lại trông thấy nó! Hay không, tôi nhờ mẹ Tô Hoài có chỗ quen thuộc tốt nào thì làm mối để tôi cứ bán, sau đây tôi lại có tiền sách, sẽ chuộc lại gấp rưỡi, gấp đôi cũng được.

⚝ ❖ ⚝

Phải, tôi đã nói cảm ơn và xin lại bà mẹ anh Tô Hoài những đồ đạc ấy. Tôi đem nó đến với Nguyễn Huy Tưởng. Nguyễn Huy Tưởng đã hỏi thuê được nhà và thôi không ăn cơm hàng nữa. Tôi ở chung với Nguyễn Huy Tưởng, hai thằng thổi nấu lấy ăn. Đồ đạc các thứ sẵn sàng cả rồi. Chỉ còn thiếu cái bàn để Nguyễn Huy Tưởng ngồi viết. Nguyễn Huy Tưởng không như tôi, ngồi ở đâu, ngồi ở chỗ nào, ngồi cái gì cũng viết được. Tôi sẽ nhường cả bàn và ghế cho ông bạn đẻ đái khó khăn này.

Tháng 4-1945 ở Hà Nội.

Đang lúc người chết đói gần như không kịp chôn. Không chỉ xe bò chở xác mà còn chất cả các cam nhông đem đi để chôn thành hố chung.

Cái giường, cái hòm và cái bàn viết của tôi lại xếp gọn vào một xe ba gác. Giá gạo từ cuối năm 1943 hơn ba đồng một tạ nay hơn năm trăm đồng một tạ, mà người kéo chỉ dám xin có hai đồng chuyến xe. Vẫn bằng cái giá thuê năm xưa.

Người phu xe tóc như tóc cò, mình trần đeo chỉ có bên vai áo và một vạt trước, quần đùi rách xơ buộc túm bằng dây gai, chân tay gầy khẳng khiu như chỉ còn xương, cũng đen sạm như những xác chết la liệt đang nằm ở hai bên hè và những xác đang kìn kìn chở đi dọc đường.

Tôi đẩy sau xe. Chốc chốc tôi lại phải giữ xe lại bảo người kéo hãy nghỉ đã. Tôi thấy chính ngực tôi cũng rúm lại vì không phải chỉ nghe những tiếng khò khè mà còn là những tiếng như nấc của bác ta, và thấy càng xe cứ chúi xuống bồng lên, nhiều lúc bật cồng cộc vào mặt vào trán bác. Chưa bao giờ tôi thấy một đôi mắt vàng nhớt, sâu tối và cái nhìn ngờ ngạc mà chợt lại sáng dữ như thế.

Trên cái bàn của tôi ấy, Nguyễn Huy Tưởng đã viết được hơn 50 trang tiểu thuyết Những người dệt vải rồi bỏ dở.

Sau cái bàn ấy, trên chồng chăn và sách báo kê thật phẳng phiu, tôi đã viết chưa được 5 trang tiểu thuyết Tù trẻ con. Và cũng phải bỏ dở...

2. ĐÔI CHIM THÀNH

Tiếng chó cắn tua tủa rồi có tiếng người gọi to tận đầu cổng ngoài ao:

- Ông Hồng ơi! Ông có khách... Ông Hồng ơi! Có khách.

Trời đất còn mù mịt. Gió lạnh hun hút. Cả nhà tôi đang ngủ, tôi choàng dậy, luống cuống hớt hải gọi vợ tôi:

- Bu Hà ơi! Diêm đâu? Khổ quá, còn bao diêm của tôi cũng lấy nốt, rồi cũng lại vứt đi đâu ấy!

Bà mẹ vợ tôi ngủ trong buồng với vợ tôi và thằng con đầu lòng của tôi vẫn là người dậy trước trong những lúc như lúc này, lục đục tìm ở thúng thuốc, đầu giường, ở bị đồ khâu. Bà lắc lắc bao diêm để tôi đến lấy. Châm được lửa, tay cầm đèn, tay cầm đòn gánh, tôi chạy ra cổng, tâm trí bàng hoàng, trong người chờn chợn. Khách nào đây? Ai mà lại tìm đến tôi ở chỗ này, vào lúc này?

Tôi chưa kịp soi đèn để trông rõ mặt khách, thì cả khách và tôi cùng reo lên:

- Ông Hồng!...

- Ông Lân!... Ông Kim Lân, ối giời ơi! ông Kim Lân!

Tôi gọi, tôi reo, đôi lúc, tôi cười. Và tôi vẫn ngạc nhiên vì cái người tìm đến tôi, ăn mặc thế kia lại là ông bạn Kim Lân của tôi.

Anh Kim Lân đội nón sùm sụp, vai khoác một cái bị. Quần áo tây! Vét tông thùng thình, quần ngắn hũn. Đi guốc. Thấy chúng tôi tay bắt mặt mừng ngay từ phút đầu tiên, cả những người đầy tớ ông bà chủ nhà ngoài cổng, đến bà chủ nhà trong này có hai gian bếp cho vợ chồng tôi ở nhờ, đều vui vẻ đi theo chúng tôi vào hẳn trong nhà một lúc lâu sau mới ra. Họ lại bắt đầu người vo gạo, người nhóm bếp, người băm bèo rửa rau nấu cám. Cả bà mẹ vợ tôi và vợ tôi cũng ra nhà ngoài cùng thằng "Cún" ủm trong cả một cái chăn bông. Mẹ tôi cũng gấp lại chiếu để nhường thêm phản làm chỗ tiếp khách. Ngọn đèn hoa kỳ vẫn ngùn ngụt. Mẹ tôi lên vay ông chủ nhà ít chè hột. Bà mẹ tôi nấu nước mới, hãm chè bằng cái phích độc nhất của nhà, chuyên để chứa nước sôi hay nước cháo cho cháu.

Phiên chợ hôm ấy, mẹ tôi lại nghỉ. Phần vì trời rét, ra giêng có gánh nón đi bán cũng chẳng ai mua. Vừa phần để chạy thức ăn làm cơm thết khách. Mặc dù có cả sự nhắn lời khẩn khoản của gia đình cụ Bá là họ thông gia với anh Kim Lân - đây là lần đầu anh Kim Lân đến chơi với vợ chồng tôi mà chúng tôi lại ở nhờ nhà em trai cụ Bá, và anh cất công từ Bắc Ninh qua Hà Nội mới xuống đây - anh Kim Lân cũng nhất định chỉ ở lại một ngày với vợ chồng tôi, rồi mai ra Hà Nội sớm.

- Sao thế ông? Sao lại vội thế ông?!

Câu hỏi trên đây tôi còn nhắc lại mấy lần nữa, khi đưa anh Kim Lân đi chợ Nôm và mấy làng gần đấy, cũng như khi ăn cơm lại chuyện với nhau về viết, về những truyện ngắn, truyện dài, và những áng văn thơ tuyệt diệu của cổ kim, Đông, Tây mà "yêng em" tuy vừa bái phục nhưng cũng càng thấy mình tin mình, chắc ở mình.

- Sao lại vội thế ông?! Ông mà cứ nhất định về, không chịu ở lại chơi với vợ chồng tôi mấy hôm, cơm dưa muối với chúng tôi, anh em đôi hồi với nhau, thì tôi giận ông lắm đấy!

Và tôi cười ngất:

- Hay ông sợ chúng tôi thiếu gạo, phải nhường cơm cho ông ăn?!

Mãi về chiều, anh Kim Lân mới ngượng nghịu đặn đà cho tôi biết lý do. Anh đã thu nhặt xong những truyện ngắn của anh, sửa chữa kỹ thêm, chọn lọc thành được một tập rồi. Trong tập này có cả mấy truyện tôi thích nhất và đã nhiều lần nhắc anh nên gom lại mà in thành sách. Tôi sẽ cùng ra Hà Nội với anh. Tôi sẽ giới thiệu tập Đôi chim thành với bất kỳ nhà xuất bản nào đấy mà tôi thấy tốt. Rồi đưa họ in, quyền lợi thế nào, đều hoàn toàn do tôi quyết định với cái thế và cũng với cả sự thông thạo của tôi về công việc xuất bản hiện thời. Thấy tôi hoan hỉ, anh Kim Lân vẫn dẽ dàng, lấp lửng kiểu "Kim Lân":

- Ông giới thiệu và ông vay trước cho tôi một món tiền...

Úi úi! Cha mẹ ơi! Thì ra sự thể là thế này đây! Ông bạn kém tuổi mới viết văn, nhưng rất thân rất quý của tôi này, cũng lại bắt đầu cần tiền rồi, cần tiền quá rồi!

Tôi càng cười ngất:

- Ông ăn hết cả tay nải của bà ấy rồi?!

Kim Lân càng ngượng nghịu:

- Hết từ trong Tết kia. Ra giêng này nhà tôi lại định chạy vốn đi chợ nhưng không còn thể vay mượn cửa nào được nữa...

Và anh ngậm ngùi:

- Trên tôi phiên chợ trước lại càng nhiều ăn mày, đã có mấy người chết ở ngay cổng làng, cổng chợ...

Tim tôi như bị bóp chặt. Trong tâm trí tôi, cái màn tối đen và lạnh ngắt ấy càng vu vu thăm thẳm. Tôi như nghẹn hẳn tiếng:

- Cả trên anh cũng có người chết đói rồi! Chết ở ngay cổng làng nhà anh, ở ngay cổng chợ nhà anh?

Chúng tôi im lặng. Chợ Dầu, chợ làng nhà anh Kim Lân. Chợ của làng Phù Lưu, của huyện Từ Sơn nay là Tiên Sơn, quê hương những bà chúa Chè, bà chúa Nành, những dân ca, quan họ, của những đình chùa cầu quán, của những đường sá đông vui nhất vùng Bắc. Cổng làng Phù Lưu mở ra ngay cảnh một khu "mộ sống" của một tên quan to họ Hoàng, đây có đủ các kiểu đài, tạ "nghênh phong các", "thưởng liên trì", cây cối hoa cỏ um tùm kỳ lạ với những bia đá, những cửa sắt chừng như ngàn năm không thể di chuyển. Còn cổng chợ thì mở ra trước một cửa đình thênh thang, cũng bia đá, cũng cửa sắt uy nghi, xum xuê sừng sững những gốc bàng, gốc đề hàng chục vòng tay còn rộng. Giữa làng chạy dài một con đường lát toàn đá tảng, hai bên san sát những nhà gác có nhà còn to hơn cả những hiệu buôn ở Hà Nội, nhưng cũng có những nhà rất cổ, cửa đóng im ỉm quanh năm, thì cũng lại là những cửa hàng tấm giàu nhất... Chao ôi! Cái khu chợ Dầu và cái làng Phù Lưu này mà người ta có thể vẽ có thể chụp bất kỳ cảnh nào để làm kiểu mẫu cho sự sầm uất, trù phú, khang trang của vùng Bắc thôn quê kia, cũng lại nhiều ăn mày và có người chết đói rồi!

... Những chiếc chiếu bó ấy lại lừng lững từ một cái màu đen tối vu vu thăm thẳm đi ra trước mắt tôi. Những chiếc chiếu cũ có, mới có... những áo tơi vá đụp vá chằng chịt bằng bao tải, bằng mo nang, bằng giấy bao xi măng, bằng lá chuối, bằng nguyên một ống quần hay một bức sống, bằng cả dây, dợ lưới, vó bè, võng, v.v... tất cả buộc túm lại như kiểu mũ mấn đội trùm lên đầu, che xuống gần đầu gối. Họ đi đều đều thất thểu, ủ rũ khặc khừ. Họ rên, chập chững, lê lết... Từng chiếc chiếu và áo tơi hay từng đám chiếu và áo tơi không để trông thấy mặt mà chỉ có hai ống chân, những ống chân gầy teo, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà có, trẻ lên năm lên bảy có. Cứ những lúc nắng nghĩa là có mặt trời lên cao, là họ kéo nhau đi, trên các ngả đường, đặc biệt là các đường nhựa chạy qua các huyện các tỉnh đổ về Hà Nội.

Nhưng dù có nắng, có mặt trời, nhưng sao cảnh giữa ban ngày năm ấy, cái nắng như loáng trên tuyết, trên băng, còn mặt trời thì vàng vọt như sắp chìm vào phút giây cuối cùng của một buổi chiều cũng tuyết băng xa thẳm. Phải, cái đói đã đến. Cái đói thật là dữ dội và càng ngày càng dữ dội. Chỗ tôi ở giờ mới hết tháng giêng sang tháng hai mà thóc đã lên hơn trăm đồng một gánh. Giữa ngày mùa thóc đang 10 đồng lên 12 đồng. Rồi phiên sau 14 đồng, rồi phiên sau 20 đồng, 25 đồng, 30 đồng, 35 đồng. Và cứ thế, cứ từng cuộn, từng bó bạc giấy giở ra mà quờ lấy thóc, vồ lấy thóc, ôm lấy thóc. Đã có cả giấy 500 đồng... Chính các quan phủ, quan huyện, các đại lý trên tỉnh đã đem toàn giấy 500 đồng và mỏ cân về các chợ nhà quê mua thóc, đong thóc, cân thóc...

Vốn liếng của gia đình tôi cũng có một gánh hàng: gánh nón và áo tơi. Nón lá già bán mỗi cái kiếm được một hào hay tám xu. Nón gủ, thứ nón to như cái nia có khua, được sáu bảy xu. Nón lá trắng được hơn một hào. Mỗi cái áo tơi cũng thế. Bán chạy nhất và người mua đông nhất là bà con nhà quê, là nón lá già, nón gủ. Nhưng năm ấy lại rét sớm. Gạo không có ăn thì đói, chứ không có nón vẫn đội trời đi làm được. Nên nhiều phiên chợ, gánh hàng mẹ tôi chỉ bán được một hai nón lá trắng cho các bà, các cô ở Hà Nội ở các tỉnh chạy loạn về, và cũng một hai cái nón lá già nón gủ cho các bà con nhà quê thôi. Ra giêng, hai phiên mẹ tôi cố đi bán mở hàng đầu năm, thì chỉ bán được một phiên một cái nón, mà bán hòa vốn để khỏi về không.

Thường những hôm tôi viết xong hay đang viết gặp đoạn bí, phải chỗ tắc, tôi lại bỏ đi chơi chợ. Thì cả những phiên chính chợ Nôm và chợ huyện nơi tôi ở không những càng xào xạc mà còn càng thêm nhiều ăn mày. Chưa tan chợ, ở gốc cây này, ở bụi găng kia, sau miếu Âm hồn, ở chân mả ông Đống... khói rơm rác lá lẩu cứ ùn lên. Mẹ con ăn mày, vợ chồng con cái ăn mày, ông bà cháu nhớn cháu bé ăn mày, bồ côi bồ cút ăn mày, điên dại, mù què ăn mày... Các lều, các mái, các bếp ăn mày rải khắp từ ga vào tới chợ. Đông nhất là ở chợ. Họ nấu nước ăn uống với bất cứ thứ gì xin được, nhặt nhạnh được, tìm bới được, làm nhiều người địa phương không những chỉ hỏi họ là ở đâu, kéo nhau về nữa đây làm gì mà còn phải kêu lên: "Giời đất sẽ khó khăn kém cót còn làm đói đến thế nào nữa, cả những thứ như thế kia cũng là những thứ người ta nấu nướng, ăn uống với nhau được vậy?!!".

Đúng một tuần trước ngày anh Kim Lân về, sau phiên chợ gánh hàng về không, mẹ tôi phải mua một cân muối những hơn đồng bạc và đong xỉ một đấu gạo nếp mất ngót bốn đồng, nhưng lại rẻ hơn gạo tẻ, để trả bà chủ nhà chỗ gạo vay nấu cháo cho thằng con tôi ăn thêm, thì nhà tôi phải dốc bồ, vét thúng, ao lại xem ngay tất cả số thóc ăn dự trữ trong nhà. Vừa còn đúng một thúng thóc tẻ và một hũ thóc nếp. Cả mẹ tôi, bà mẹ vợ tôi và chúng tôi đều choáng cả người. Vợ tôi phải tính ngay số tiền giắt lưng và gánh hàng còn lại. Thì tất cả số tiền vốn bán hàng ngày Tết dồn lại không được 60 đồng, và hàng thì còn đúng 30 cái nón, phần lớn là nón lá già đã xộc xệch vì người chọn nhiều quá, nón đã tuột cả vành lại đứt cả chỉ. Mẹ tôi phải bỏ ra cả buổi khâu lại. Các áo tơi cũng rách, có cái đã xơ cổ.

Thế là bữa ăn của nhà hôm ấy lại bớt thêm một bơ gạo, và chiều hôm ấy mẹ tôi lại nắm cơm ra ga để lên Hà Nội cất hàng ngay. Đi hôm trước, hôm sau mẹ tôi về liền. Cũng còn tối đất, sương muối mờ mịt lạnh buốt, vẫn tiếng chó cắn tua tủa, tiếng người lao xao ngoài ngõ, nhưng hôm ấy tôi thấy có một cái gì khang khác. Tôi vặn to đèn, vừa bước ra khỏi cửa, thì một hình thù rất lạ nhấp nhô đi sau mẹ tôi với gánh hàng nhẹ thênh. Tôi càng phải cố nén ngạc nhiên, hồi hộp khi trông thấy rõ hình thù nọ.

Đó là một người trần truồng và đen một cách lạ. Y khoác cái bao tải của mẹ tôi thường trùm lên gánh nón để chằng buộc cho khỏi hỏng. Quần ngắn đến bẹn, rách mướp. Tóc không ra vấn, không ra buộc, không ra cắt ngắn. Một thứ tóc rối lùm xùm của người điên người dở. Hai con mắt rất sáng. Khi y khuất sau bóng tối của cái cột góc nhà, vẫn thấy mắt nhìn lóng lánh, trắng bật lên.

Một người con gái còn khỏe mạnh hẳn hoi, tuy gày xương, ngực lép teo.

Mẹ tôi chưa kịp uống nước liền toang toang, giọng rất cảm động, kể chuyện bắt gặp người con gái nọ nằm trốn ở gầm ghế, xó buồng đái, đang bị lôi ra đánh đuổi xuống tàu, thì mẹ tôi xin tội cho, mua vé chuộc và đem về nhà đây. Tôi hoảng cả người, kêu ngay lên:

- Giời ơi! Mẹ đưa về nhà làm gì hở.

Mẹ tôi vẫn cười, giọng cứ như không:

- Đưa về nhà không nuôi thì để bên bà A. nuôi.

Ông bà A. chủ nhà tôi ở nhờ, không có con. Ông bà nuôi một anh con trai và một bé gái. Anh C. năm ấy đã gần ba mươi tuổi, gánh năm mươi hom lúa chạy cứ như không. Đi cày từ tờ mờ sáng đến quá trưa, chiều lại còn gánh hết năm sào rạ ruộng nhà. Người hâm hấp. Bực giận điều gì chỉ vừa lẩu bẩu vừa khóc một mình. Bà A. đã cưới vợ cho anh. Chưa đầy năm, vợ xin về ở nhà mình mấy bữa. Sau mấy chuyến bà A. đến tận nơi gọi, rồi nhắn hết người này đến người khác hỏi han gặng nhẽ, nhưng chị con dâu vẫn không chịu về. Chị ta lấy người khác được hai con. Rồi lại lấy người khác, được một con. Nay ở góa. Tuy vậy mỗi lần nhắc đến chuyện người vợ nọ, anh C. vẫn cứ mủm mỉm:

- Giờ mà nó lại xin về với đây, thì đây cũng thèm vào!

... Sau mấy ngày quen quen, người con gái nhặt được nọ xuống bếp thổi cơm, xay thóc giã gạo. Tôi hỏi chuyện, được biết chị ở Thái Bình, bồ côi bố sớm, mẹ vừa chết đói. Còn vợ chồng người anh ruột, thì anh chị lại bỏ làng từ hôm mồng bốn Tết đem con cái lên Hà Nội. Nghe nói vừa lên tới nơi thì gặp ngay đảo chính Nhật - Pháp.

⚝ ❖ ⚝

Buổi trưa hôm ấy ăn cơm xong, tôi chỉ để anh Kim Lân nằm thiu thiu một lúc rồi đánh thức anh dậy uống nước. Tôi lại kéo anh đi chơi. Chúng tôi lên nhà N.G. ở làng trên. Nhưng đi chơi đêm, anh Kim Lân lại càng nằng nặc đòi mai ra Hà Nội sớm. Chao ôi! Chúng tôi đã đi chơi cho nhẹ cái đầu, cho thoáng cái tâm trí, cho vui cơ mà!

Đúng, trên nhà N.G. vui thật. Có đúng hai bàn chắn tổ tôm và một bàn xóc đĩa. Bàn xóc đĩa, là của cả khách ngoài tỉnh và các người lom lem trong làng. Bàn chắn và tổ tôm thì riêng của các cụ chức sắc, từ chánh hội trở lên tiên, thứ chỉ và các ông các bà các cụ chạy loạn về. Toàn những chủ hàng đồng, hàng sắt, và là hàng đồng, hàng sắt buôn bán với Nhật. Kẻ ở Hải Phòng, vừa có cổ phần thầu được cả một cái tàu bị bom Mỹ đánh đắm. Người ở Nam Định nhưng tất cả phủ huyện, Thái Bình, Ninh Bình đều phải mua tôn, mua sắt, mua đinh, dây thép của nhà họ, vì chỉ mỗi nhà họ là còn những vật liệu kia. Người ở Hà Nội lại đứng ra mua cho một hãng độc quyền của Nhật các thứ đồng vơ vét của các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn... Tất cả đều là họ nội, họ ngoại dây mơ rễ má của nhà N.G.

Nhà N.G vừa mới làm xong to như một cái đình và cái đình toàn cửa kính, cửa chớp, cửa sắt. Dập dìu trai gái, con cháu, cháu con. Chỉ nguyên cháu con trai gái của họ nhà N.G. và những công tử, tiểu thư cũng của các tay buôn đồng bán sợi ở làng Đồng Xá bên cạnh, đưa nhau đi chợ ăn quà thôi, cũng đủ làm cho cái chợ Nôm mẹ tôi bán nón ấy đông vui hay tẻ vắng. Và có thể thấy đây đúng là đại diện tất cả tai to mặt lớn những phố Hàng Đồng, Hàng Sắt của Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương kéo về hai làng nọ, cùng với các giống quan từ tham phán, đốc tờ, đốc học đến quan hường, quan án, quan tuần... ở hai cái làng đồn rằng được đất được hướng đình nọ.

Chúng tôi thấy không thể nào bắt chuyện thêm được với N.G. sau khi được N.G. đưa đi xem cái giang sơn cảnh thổ của y về ẩn dật, cũng như chúng tôi không thể nào ngồi yên, đứng yên lấy một hai phút giữa những đám người nọ. Cũng như chúng tôi không thể nào cười lấy một tiếng, dù chỉ là cái cười gọi là cười xã giao. Nhưng rồi anh Kim Lân cuối cùng cũng phải cười. Lại cái cười ngượng nghịu và cái giọng đà đặn anh Kim Lân bắt tay từ biệt N.G. - một nhà văn quyết tâm đi về với "đất", với "người", với "thuần hậu nguyên thủy", lúc nào nét mặt cũng thê thảm và đăm chiêu suy nghĩ, vì bất đắc chí, vì mải mê theo đuổi những dự định, những công trình, những tác phẩm thật lớn, thật sâu, thật "bác ái", "nhân đạo", "xã hội". Và thật vì nghệ thuật trên hết!...

Trong khi đi đường rồi sau bữa cơm chiều, uống nước nói chuyện với nhau, tôi ngoài miệng vẫn vui đùa cười ngất với anh Kim Lân, nhưng trong bụng, trong tâm, trong trí càng như lửa đốt. Anh Kim Lân đã lấy ở bị ra cuộn bản thảo. Một tập khá dày. Chữ anh Kim Lân vốn đẹp, giờ chép lần chót đưa xuất bản lại càng như một thứ chữ in. "Đôi chim thành", đúng như là chữ khắc ở ngoài bìa với tên tác giả.

"- Ông Lân ơi! Đây là giờ phút tôi nhận đứa con đầu lòng của ông đây. Tôi sẽ đi điều đình sao để ông có tiền, những cũng chính là để ông có sách. Ông mới chơi với tôi, thân với tôi ngay, điều đó thật thú. Nhưng ông còn là đồng chí của tôi nữa, của chúng tôi nữa. Sách của ông mà ra được thì bên cạnh những Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng..., - Văn hóa cứu quốc lại có thêm một sự đóng góp, một sự hoạt động. Một đóng góp hoạt động nhỏ nhặt thôi, nhưng thật là cần là quý trong lúc này, chống lại cái nền văn hóa thối nát, quái gở, phản động và phản cách mạng đang hoành hành. Đây cũng còn là cả một nguồn cổ vũ cho ông một khi ông đã được tiếp xúc với quần chúng, tìm thấy ở đây thêm sức mạnh và niềm tin mà bước nữa bước nữa làm nghề văn. Chao ôi! Một đứa con đầu lòng, một tập truyện đầu tay, một công tác. Một tập truyện đầu tay, một công tác, một chứng nhận hoạt động của một ngòi bút trong đội ngũ cách mạng. Và một gì nữa nhỉ? À, một món tiền để ông sống, để nhà văn trẻ có cái tên là Kim Lân mà chẳng ai biết là mô tê răng rứa gì kia sống với bà vợ bị chồng ăn lậm vào hết cả cái tay nải hàng vải vốn liếng đi vay mượn của người ta".

Đêm ấy hai chúng tôi lục sục đến khuya. Gà vừa gáy thứ nhất chúng tôi đã dậy, uống vội vàng mấy chén nước rồi thu xếp ra ga.

- Anh Hồng ơi! Sao lại còn nắm cơm thế kia?

Nghe anh Kim Lân khe khẽ gọi, tôi liền giật ngay lấy nắm cơm vợ tôi đang nén nén trong cái khăn mặt ướt. Thì vợ tôi lại giật ngay lại, xúc thêm bát nữa nắm vào. Tôi lại cười ngất bảo vợ tôi:

- Hai ông Bách lý Lân - Hồng với nắm cơm đi làm sự nghiệp đây; chỉ tiếc không có con gà mái ấp để giết làm cơm tiễn chân.

Nắm to cơm nếp, thổi với chỗ gạo để riêng nấu cháo cho thằng con tôi, còn kèm một gói muối vừng cũng gói bằng lá chuối hơ lửa. Chỗ lương ăn đường lên Hà Nội của chúng tôi này lại bọc thêm hai lần giấy báo bỏ trong cái bị lúc trước cất bản thảo. Anh Kim Lân đeo bị, tôi xách cái cặp đựng tập bản thảo sửa sang vuốt ve rất đẹp. Sương vẫn mù mịt. Gió ngăn ngắt. Tiếng gà gáy ran. Tôi vào buồng hôn thằng con, dặn dò thêm cả nhà.

- Chừ thương, thì thương, hai ông Bách lý Lân - Hồng không bao giờ quên được nắm cơm nếp to và ngày ra đi này đâu!

Anh Kim Lân và tôi cùng cười ra cổng.

⚝ ❖ ⚝

Hình như chuyến tàu hôm ấy đến Hà Nội sớm quá. Chúng tôi xuống ga Đầu Cầu. Ngay khi tàu đến Gia Lâm và qua sông Cái, tôi đã ngạc nhiên vì sự vắng lặng một cách lạ của buổi sáng gần Hà Nội.

Người lên xuống ga Gia Lâm chỉ loáng thoáng. Còi thét lần thứ hai, chuyển bánh xình xịch, trước sân ga chỉ có mỗi người phất cờ, gió thổi phần phật quần áo, mặt mày như nhuộm chàm. Cầu sông Cái thì lào thào mấy người gồng gánh và kình kịch mấy cái xe bò người kéo chở toàn khoai khô sắn khô. Giữa bộ khung cầu đen lạnh nổi lên giữa vùng trời, mây, sông, nước, bến bãi xa hút vắng tanh, tất cả những hình dáng người và vật kia cứ như đi ra từ một cõi hồn ma bóng quái nào ấy. Cũng có mấy túm chiếu buộc đầu, hai chân lẳng khẳng, đã lừ đừ ra đi nhưng không phải sang Hà Nội mà lại ở Hà Nội sang phía Bắc Ninh. Nếu người ta không lầm thì mấy đống chiếu, đống bao tải ở mấy quãng đường rộng khuỳnh ra trên cầu và ở mé bực lên xuống bãi cát là của người chết. Vì không thấy "nó" nhúch nhích gì cả, còn khi có người đi qua thì cố dạt về một bên, rảo bước.

Ga Đầu Cầu cũng vắng quá. Ngay khi chúng tôi ở cửa soát vé ra, đã thấy chỗ này một đống chiếu, chỗ kia một đống chiếu. Có những đống dề dề ngay cạnh những vũng cứt đái vỏ ốc và còn nguyên các mảnh nồi, ống sắt gỉ, gáo mẻ, quần áo thắt dây buộc túm, cũng với hoặc một đứa bé, hoặc một ông già bà già ngờ ngạc ngồi bên đã thiu thỉu thiu thỉu. Rác rưởi ngập lên. Mặt trời còn chìm lạnh trong sương mà ruồi nhặng đã rào rào vo vo.

Đầu quãng đường lối vào đằng sau chợ Đồng Xuân lại càng nhiều người chết. Đống thòi đầu, thòi chân; đống người còng queo gày đét vẫn ôm bị; đống mẹ con co quắp ôm nhau.

"- Sao lại nhiều người chết đói, nhiều cảnh chết thế này?"

Mấy lần tôi định cất lên thành tiếng hỏi anh Kim Lân. Nhưng tôi nghĩ tôi chỉ thốt lên một câu thôi, thì tất cả sự đóng kịch của tôi sẽ trớ ra. Nghĩa là anh sẽ thấy tôi đang suy tính ghê lắm với cả một sự lo lắng và thất vọng nữa. Khó khăn... khó khăn!... Cảnh đói đã đến thế này thì cái công việc chúng tôi đang chạy vạy rất có thể...

Thì ra những chuyện mà tuần trước sau khi đi cất hàng về mẹ tôi đã kể cho hết bà hàng xóm này đến cụ hàng xóm khác, hết khách đến chơi này đến khách đến chơi khác, đều là những chuyện có thật và là những chuyện sẽ chẳng thấm gì với những chuyện đang tiếp diễn và còn tiếp diễn nữa! Những chuyện mẹ tôi đã kể bằng một giọng và bằng những dáng vẻ, tình, ý mô tả cứ ngày càng lâm ly, thống thiết và lạ lùng về những người chết đói ở Hà Nội ấy, nhiều lúc đã làm tôi phải gắt hay thét hẳn lên, kêu xin mẹ tôi đừng kể nữa. Nào là chuyện mẹ tôi trông thấy ở bờ hồ Gươm dưới gốc đề đền Bà Kiệu có một người đã chết mà thằng con bé cứ trằn trên bụng, trên ngực kéo vú ra nhay. Nào chuyện ở sau chợ Đồng Xuân người ta bắt được hai con chuột, thoạt tiên tưởng là hai con lợn dũi, gần đấy có một cái hang thấy cả đầu lâu và đùi trẻ con...

- Ông Lân ơi! Chúng ta phải ăn cái gì chứ.

- Ông có đói thì ăn, tính tôi không hay ăn vặt!

Chúng tôi đi trên đường bờ sông. Gió thổi như bão. Mấy lần cái nón cầm ở tay anh Lân bị giật tung lông lốc trên hè. Anh vẫn xách cái bị. Tôi liếc mắt nhìn càng thấy mặt anh đăm đăm. Cuộc bàn định lần chót của chúng tôi bước đầu đã dứt khoát rồi. Tôi sẽ chỉ đưa Đôi chim thành đến ba nhà xuất bản đã in sách của tôi trong đó có một nhà là cơ sở của Văn hóa cứu quốc. Nhà xuất bản Mới. Nếu như hai nhà xuất bản kia không được thì mới đến nhà Mới. Vì để tránh dồn bản thảo anh em ở đây. Cũng vì vốn liếng và sự khó khăn của nó tôi đã rõ hết. Ngay từ tập Ngọn lửa của tôi đã qua được Sở kiểm duyệt, và tập Tạp văn của anh Đặng Thái Mai phát hành đã hơn ba tháng rồi, mà việc ra Ngọn lửa vẫn chưa chạy được nhà in. Còn tiền, hình như khoản tạm ứng bản quyền tác giả cho tôi, anh T. đứng ra quản lý nhà Mới sau đây cho tôi biết là đã phải lấy cả món tiền để may chăn cưới của vợ chồng anh giấu mẹ mà đưa.

Chúng tôi đã đi một vòng từ phố Hàng Chiếu qua các đường Hàng Ngang, Hàng Đào, xuống phố Huế, lên nhà ga, qua phố Cửa Nam, phố Đường Thành, phố Hàng Bột... rồi lộn về trước chợ Đồng Xuân. Cứ mỗi lần tôi đem Đôi chim thành vào nhà nào, thì anh Kim Lân lại đứng chờ tít đầu ngã tư hay một xó hè gần đấy. Không những tôi đến ba nhà nọ, mà còn vào bốn, năm nhà bạn thân, chỗ quen biết chắc chắn và rất tốt, để bàn định thêm về việc xuất bản Đôi chim thành.

Đã mười giờ. Tiếng xe điện rít lên càng lọng óc! Nhưng mặt trời vẫn vàng vàng, nhòa nhòa. Mây đùn như khói trên các tầng, các nóc nhà hàng phố chất ngất. Trông nhiều nhà như bỏ hoang hay có người điên bị giam giữ, người ốm yếu bại liệt đang hấp hối. Các cửa hàng tạp hóa vải lụa to nhất ở Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Bồ cũng xào xạc, người bán cứ ngồi vêu ra. Có vẻ tấp nập nhất vẫn là ở Hàng Buồm với mấy hiệu cao lâu Mỹ Kinh, Đông Hưng Viên và hàng cơm tám giò chả. Nhưng đây lại nhiều ăn mày hơn cả. Chỗ này một người nằm mắt đã nhắm nghiền, chỗ kia một người nằm mắt đờ ra. Chẳng còn ai để ý đến.

Ầm ầm ầm... những xe cam nhông sơm xám của nhà binh Nhật, cái chở đầy rau, đậu, gà, vịt, trứng, chuối, cái che kín vải bạt không hiểu chở gì, cái lố nhố những lính cầm súng nét mặt ngơ ngác, ngây thộn, thỉnh thoảng lại lồng qua đường như để làm giảm đi cái không khí hoang mang, ngao ngán, tan rã của giữa Hà Nội vừa qua một biến cố "trọng đại và lịch sử"!

... Đi chớ để hình bóng

Nỗi nhớ thương em ở bên lòng...

Xa nhắn nhủ thời gian

Đem đến trả... a, a, a... tình quân...

Tiếng sáo rền rĩ với một giọng hát tã tượi thỉnh thoảng lại nhói lên từ một ngã tư, một đầu đường vẳng tới.

- Anh Hồng ơi! Tôi về ngay phủ Từ thôi.

Tiếng anh Kim Lân nhỏ nhẹ bỗng làm tôi choàng hẳn người:

- Sao lại thế? Anh hãy cứ ở đây với tôi đến ngày mai. Để tôi chạy hỏi thêm, xoay giở thêm cho anh.

- Thôi anh ạ, anh cứ để tôi về. Tôi cũng hiểu tình thế bây giờ nó thế nào. Viết đã khó, ra được sách lại càng khó. Nhất là quê mùa thật thà như kiểu viết sách viết của tôi.

Tôi cười:

- Không! Anh nên ở đến ngày mai.

Kim Lân cũng cười, tay cứ xé xé giựt giựt miếng giấy dầu bọc bản thảo lòi thòi trong bị. Anh cúi mặt, cười không bằng miệng mà bằng cặp mắt nhoi nhói ánh ánh:

- Anh cứ để tôi đem Đôi chim thành về. Rồi đây xem xem có nhà xuất bản khác nào tử tế, tin cậy được...

Tôi như nghẹn:

- Không! Không đời nào tôi cho anh cầm bản thảo về. Tôi nhất quyết tìm mọi cách để anh có sách ra. Còn tiền, nếu như bây giờ không đưa bán ngay được bản thảo của anh, thì tôi đi vay một nhà xuất bản khác. Tôi vay tiền ký cược bằng bản thảo của tôi.

Hai chúng tôi đi vòng sau chợ Đồng Xuân đến ngõ Hàng Bạc. Đã mười một giờ. Phải ăn chứ. Dù không thấy đói cũng phải ăn chứ. Ngõ Hàng Bạc có một hàng cơm đầu ghế ở bờ hè. Chúng tôi đã toan ngồi xuống hỏi mua thức ăn để ăn với nắm cơm vẫn xách trong bị kia. Nhưng anh Kim Lân vội giật giật cánh tay tôi:

- Đừng! Đừng anh Hồng ạ! Cơm nhà có muối vừng rồi.

Thế là chúng tôi đặt cái cặp lên một gờ cửa của rạp Hàng Bạc, giở nắm xôi gói muối vừng ra bẻ chấm ăn với nhau.

"Đi chớ để hình bóng..."

Tiếng sáo, tiếng hát rền rĩ tã tượi đi qua hẳn chỗ chúng tôi với một người mù đeo thùng chống gậy bán lạc rang.

- Ông ăn đi, ông ăn thêm đi...

- Kìa sao ông lại bẻ cho tôi miếng to thế này.

Vừa ăn tôi vừa cố kéo dài cái phút gần gụi nhau và cũng là cái phút quyết định của một việc thứ hai: mua vé tàu và có tiền cho Kim Lân về quê. Sở dĩ anh Kim Lân không để tôi mua thức ăn của hàng cơm đầu đường nọ, một phần vì sợ cảnh ăn uống bị coi là bệ rạc, cỏ rả, một phần vì biết trong người tôi cũng không còn tiền. Nghĩa là hai chúng tôi nếu vét túi nhau thì may ra chỉ đủ một suất tàu cho một người thôi. Bởi vậy anh cũng ăn chậm, cũng bịn rịn như tôi.

Chợt Kim Lân choàng lên:

- Ông Hồng, ông bảo vào hiệu vàng làm gì?!

Tôi nhắc lại câu nói và ấn vai Kim Lân xuống:

- Anh cứ ngồi đây, cẩn thận cái cặp nhé. Để tôi vào hàng vàng này vậy.

Anh Kim Lân vẫn sững sờ, cặp mắt nhoi nhói của anh chau hẳn lại mà nhìn tôi.

- Tôi còn cái mặt nhẫn. Cái nhẫn cưới của chúng tôi. Vàng thì nạy bán từ ngày bỏ vốn làm ban kịch Hà Nội với tiền bỏ ống của vợ Như Phong và các anh đấy. Còn cái mặt, vợ tôi định đem bán từ ngày thằng Hà của chúng tôi được ba tháng.

Kim Lân nắm như ghì lấy cánh tay tôi:

- Ông đừng làm thế!

Tôi lắc đầu cười:

- Đằng nào tôi cũng phải bán. Nhà tôi nuôi con bú mà ăn bã cháo thì...

Tôi bước đánh sầm vào cái hàng vàng bên cạnh nhà mụ Bé Tý. Không đầy năm phút tôi trở ra. Cái mặt nhẫn bằng ngọc đá xanh ấy chỉ được có bảy đồng, nhà hàng bảo như thế là mua giúp cho tôi, trả cho cái giá thật đặc biệt đấy! Bảy đồng! Gạo phiên hôm qua lúc anh Kim Lân và tôi đi chơi chợ, bán đúng sáu đồng một đấu.

... Đôi chim thành không ra sách. Tập bản thảo sau đấy mấy tháng anh Kim Lân đã lấy về, cứ xé dần để mất dần. Phải! Xé dần đi, để mất dần đi còn hơn bán nó một giá quá vòng tử, anh Kim Lân ạ. Nhất là bán nó cho những nhà xuất bản cho những tên lái sách chúng buôn bán tên người và chữ viết như buôn nhà bán đất, như buôn đồng bán sợi, như buôn thóc bán gạo lúc bấy giờ. Thà xé dần đi, để mất dần đi còn hơn phải bán ngòi bút, bán trái tim, bán linh hồn. Cũng như thà đói cơm đói cháo để mà giữ vững ngòi bút trái tim và linh hồn không bị ngập, bị chìm lầy lụa trong sự gian dối, hèn hạ, ô nhục. Nhất là không phải bán thêm cả trái tim linh hồn vợ con mình, thấy cả trái tim và linh hồn vợ con mình cùng bị ngập bị chìm, lầy lụa trong sự gian dối, hèn hạ, ô nhục. Chúng ta phải giữ nhiều điều, nhiều việc, nhưng mà việc trước nhất, việc trọn vẹn trong lúc này là phải bảo nhau giữ ngòi bút...

Tôi đưa Kim Lân ra tàu. Chiều hôm ấy tôi đi tìm Nguyễn Huy Tưởng. Tôi lại nghe Nguyễn Huy Tưởng mê ly nói về Jean Christophe (Giăng Cờ-rít-tốp-phơ). Tôi lại ân hận đã để ông Kim Lân nhà tôi về quê.

3. GÁC NGUYỄN HUY TƯỞNG

Ngày.... tháng... năm...

... Tôi rất giận Nó, ghét Nó nhưng mà cũng thật là thương Nó, thật là quý Nó. Cái mặt Nó thì bệu ra, khinh khỉnh và lỳ lỳ. Khi Nó bực tức, chán ngán cũng như khi Nó gắng gỏi mê say.

...

Ngày... tháng... năm...

... T. ơi! Càng nghe mày chuyện, càng thấy mày viết thì tao càng phải nghĩ ngợi. Mày mà chuyện thì thật là thông kim bác cổ, chi li cặn kẽ, và sao mà sinh động, cuốn hút? Nhưng khi mày viết, tao đọc mấy cái của mày thì thấy sao mà nghèo nhạt.

Tễnh toãng, cứ trơ ra như đất thó ấy! Không thể nào tao không nói thật với mày điều này. Nhưng nếu đã nói thì nói như thế nào với mày? Và tao nói làm sao được ra lời khi thấy mày ngồi viết như cắn lấy bàn, bắt vít vào ghế, nặng nhọc và cực khổ và chịu khó phải nói là vô cùng kia! Ơi T.! Ơi T....

Ngày... tháng... năm...

Ông "Tônxtôi" của tôi ơi! Ngày mai thì nhất định tôi phải bắt ông viết giấy thật là thúc bách và tàn nhẫn để tôi đi lấy tiền cuốn sách ấy về cho ông! Ông mà cao quý và thương yêu và rộng rãi cả với những con buôn chủ hàng sách và xuất bản như thế... thì xin phép ông, tôi phải gọi là thằng ngố! Và lúc này đây, ngần ấy tiền mà để ỉm đi, lờ đi, thì ông còn là một thằng khốn nạn nữa!

(Trích nhật ký)

... Như thế là tôi đến ở với Nguyễn Huy Tưởng.

Ông bạn thư ký nhà Đoan người chậm chạp vừa kỹ tính và cũng vừa dễ dàng của tôi này, không đi ở trọ và ăn cơm hàng nữa. Anh đã hỏi thuê được nhà. Đó là một tầng gác rộng có thể vào loại sang thời bấy giờ, ở một phố khá sạch sẽ, im ắng, phần đông gồm các công chức hạng trung: phố Pescadore nay là Phù Đổng Thiên Vương. Anh lại được cấp sổ gạo, nhưng vợ con cũng chạy loạn về mãi tận cái huyện gì của Thái Bình ấy, chỉ ngày Tết anh mới về thăm nhà ngoại và cũng chỉ chân trước chân sau là biến ra Hà Nội.

Nguyễn Huy Tưởng vốn đã vụng nên lại càng ngại công việc lo chạy ăn uống bếp núc. Vậy tôi xin làm chân nấu bếp cho ông ta vậy.

Giang sơn của Nguyễn Huy Tưởng chỉ có một cái giường ở nhà trọ. Cái giường cưới. Như tôi đã giới thiệu, anh vốn kỹ tính nên không thể nằm chạ giường và là giường xoàng xĩnh của nhà chủ. Vừa phần anh cũng muốn giữ lại hơi hướng của vợ con, đồ đạc kỷ niệm duy nhất của gia đình phải xa rời ấy! Cũng không ngại. Cố nhiên là tôi không ngủ chung cái giường bát bảo ấy của ông ta. Còn như cái giường cũ kỹ và cũng xoàng xĩnh của tôi nó không xứng kê song song với cái giường của ông trên một mặt sàn đá hoa, giữa một tầng gác bốn bề cửa kính và cửa chớp sáng choang ban công trước, ban công sau mở ra thênh thoáng, thì tôi xin bao sạch một góc, nằm "đất" càng mát.

Sang tháng ba ta rồi mà!

Rồi đến việc ông ta viết khó khăn. Ông ta không thể như tôi ngồi chỗ nào, ngồi cái gì cũng viết được, thì tôi xin nhường ông bộ bàn ghế lịch sử của tôi ông hãy tạm dùng mà làm cái việc thiêng liêng, khẩn thiết là sáng tạo kia.

Chỗ này ở một góc nhà, xê xế trước mặt là cửa trông ra ban công, ánh sáng và gió mát lùa đúng vào mé tay trái. Phía mé lưng cũng lại có đủ cửa kính cửa chớp. Tôi đã bê hàng bốn năm chậu nước, bao đi bao lại cả bên trong bàn và lùa dây thép cạy từng khe từng kẽ cho hết những cáu bụi của mấy năm két lại. Chính vì thế, lần véc ni đã bợt nhợt lại càng bợt nhợt hơn. Tôi đã luống cuống cười bảo Nguyễn Huy Tưởng:

- Chỉ cốt thật sạch thôi ông nhỉ! Mất cái màu nhếnh nhoáng hàng mã kia đi, trông cái bàn lại hóa ra đẹp đấy!

Cái ghế của tôi mặt mây đan bị trũng bị thủng cũng sửa sang lại. Tôi đi xin những dây đàn hỏng ken lại. Chưa đủ, tôi còn tìm những đinh đồng dành cho va li mà đóng vào những chỗ mộng hơi chệch chẹo và những đường nép mặt ghế. Đã cầu kỳ và công phu đến vậy, tôi vẫn thấy bộ bàn ghế của tôi nó lạc lõng thế nào ấy ở cái nhà gác quá ư là sang đối với tôi này. Nhất là lại trông sang gác nhà bên kia. Đây, nào giường lò xo, nào tủ gương, nào bàn đánh phấn, nào tủ sách. Lại còn không biết bao nhiêu thứ đồ lịch sự quý giá khác: đèn bàn, lọ hoa, bình cốc pha lê, với các thứ khăn, các thứ màn, các thứ diềm đăng ten. Cảnh sống còn phong lưu sang trọng hơn cả mấy nhà giàu và công chức cao cấp có tiếng ở khu này.

- Mặc kệ cha chúng nó!

Có lần tôi ngượng nghịu định khép hai cánh cửa mở trông sang bên đó, thì Nguyễn Huy Tưởng hất hàm, lừ lừ cái mắt, bều bễu cái miệng bảo đừng. Rồi cái mặt nặng trịch ấy càng nặng trịch thêm trước những trang bản thảo có ngày chỉ nhích được mấy dòng nhưng cuối cùng lại gạch xóa hết.

Tuy lĩnh lương tháng gần một trăm đồng nhưng cả Nguyễn Huy Tưởng và những người cùng sở gần như không phải làm việc gì... ngoài cái việc hai buổi đi đến sở ngồi hút thuốc, chuyền đọc nhau nghe các thứ báo, kháo với nhau các thứ tin tức và tán các thứ chuyện trên đời với nhau rồi về. Riêng Nguyễn Huy Tưởng và mấy tay đồng sự có tiếng là bạt mạng, coi trời bằng vung, không cần sếp siếc gì cả ngay thời kỳ còn dưới quyền Pháp, nay lại càng bây bửa. Trước còn hai buổi đi chậm về sớm, sau chỉ láng cháng một lúc cho có mặt. Sau bỏ hẳn một buổi, rồi tiến đến nghỉ cả ngày luôn mấy ngày ở nhà.

Tấn tuồng đảo chính Nhật Pháp diễn ra đã được hơn hai tháng. Nội các bù nhìn Trần Trọng Kim với các thứ bộ các thứ giám đốc và các thứ tỉnh trưởng của nó chỉ thấy hoạt động bằng lưỡi. Và những cái lưỡi này chỉ liếm láp nhiều hơn là nói, dù là nói thiên hô bát sát, hứa nhăng hứa cuội, phét lác ba hoa các thứ nào tự do, độc lập, kinh bang tế thế, trị nước an dân, và quốc gia nòi giống... trong khi người chết đói lại càng đầy phố, đầy chợ, đầy đường. Và càng đầy đường, đầy chợ, đầy phố người chết đói, thì cái không khí tan hoang, ngao ngán chán nản và chờ đợi ở các sở các bàn giấy, các dinh, các tòa, các nơi các chốn của cái gọi là "nội các" là "chính phủ" càng nhão ra, xác ruỗng, thảm hại không thể nào tưởng tượng được.

Đã mấy lần, chẳng có việc phải liên lạc gấp với Nguyễn Huy Tưởng, tôi cũng đạp xe vào tận cửa bàn giấy anh, hất hàm nháy mắt cho nhau rồi thủng thẳng đi ra Bờ Hồ chơi.

Sổ gạo của Nguyễn Huy Tưởng có hai suất, cứ như sức tôi ăn thì thiếu, nhưng Nguyễn Huy Tưởng khảnh ăn, mỗi bữa chỉ vài lưng bát. Thứ gạo chở từ Sài Gòn ra và đã tích trữ từ mấy năm nay ở các thứ kho, vừa nấu chín xong đơm ra bát một lúc là hết hơi, khi nhai cứ thấy hình như là một thứ cám bột gì hôi mốc. Cũng vì thế tôi phải ăn cố. Cũng vì thế, tôi càng phải xoay xở làm món ăn sao cho bữa cơm được ngon miệng, dù chỉ có rau muống, cà chua, đậu phụ hay thỉnh thoảng có được mớ cá, lạng thịt.

Nhà gần ngay chợ Hôm nhưng tôi đã đạp xe đi các chợ Mơ, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa, mua thức ăn và mua cả củi đóm nữa. Tất cả đều xếp vào một cái làn đặc biệt và bọc giấy dầu trông cứ như một gói đồ gì lĩnh ở nhà dây thép về hay vừa sắm sửa để đi biếu. Tôi thổi cơm, làm thức ăn trong buồng tắm. Những bữa nào chỉ có muối vừng và luộc rau, lấy cà chua dầm nước mắm, thì người ngoài thấy như chúng tôi không thổi nấu ăn uống gì cả.

Lúc trước, con mụ ở gác bên kia còn luôn luôn trông sang chỗ chúng tôi. Sau chỉ khi nào ra ban công nó mới đưa mắt nhìn trộm. Cuối cùng nó đóng bịt cái cửa phía đó lại. A! Cái con mụ lúc nào cũng như sắp đi dự tiệc hay đến Nhà hát Tây để xem kịch này! Không bao giờ tôi thấy nó không quần áo nguyên nếp là, không phấn sáp, và không có cái vẻ sửa soạn để đón tiếp hay hẹn hò ai đấy. Nghe nói vợ chồng nó làm cho Nhật. Làm cái gì chỉ vợ chồng nó biết. Cái thằng chồng đã đỗ bằng tú tài toán, người gầy đét, da mặt xanh mét, cũng không lúc nào không quần áo như đóng khung, mặt mày đầu tóc mướt bóng. Và cũng không lúc nào nó giữ được một vẻ đàng hoàng tự nhiên, nếu không xun xoăn nhún nhín, thì lại hầm hầm, bầm bầm nét mặt bên cạnh con vợ cũng gầy yếu, cũng chải chuốt, nhưng cứ hơn hớn hừng hừng một cách rất có ý thức, thành nếp thành nghề rồi vậy.

Hai vợ chồng nó có một con, nhưng trong nhà đủ cả vú em, con sen, kéo xe, và tất cả những kéo xe, con sen và vú em kia chỉ biết có con mụ vợ là chủ. Cũng như nhiều lúc nó cười nói, hỏi gọi người kéo xe của nó tuy vẫn hách dịch nanh ác, nhưng lại thấy có ý tứ và thân mật hơn cả với chồng vậy.

Nhiều buổi, bữa cơm đã dọn ra phòng ăn ở dưới nhà rồi, la liệt các thứ món, các kiểu xào rán, ninh nấu, nhưng lại đậy lồng bàn. Sau đó quá trưa hay tối khuya, con vợ mới đi xe nhà về. Hai vợ chồng ngồi ăn với nhau như hai con thú, một con thì thỏa thuê khinh mạn, một con thì bất lực, chịu thèm, chịu nhục!

⚝ ❖ ⚝

... Đã hết tháng ba sang tháng tư rồi. Những gánh vải đỏ mòng, và các thứ dưa gang, dưa chuột đã thấy đi bán nhan nhản ở các ngả đường. Những người ăn mày và chết đói ở Hà Nội vẫn đông vẫn nhiều, nhưng dù sao đến bấy giờ cũng thấy vãn. Có nơi đã gặt lúa chiêm. Gạo cũng hạ xuống một tạ được năm chục, bảy chục rồi một trăm đồng. Nhưng trên đường ra chợ Hôm, hay lên các chợ Đồng Xuân, Cửa Nam, Hàng Da vẫn đây một xác chết, kia một xác chết, và đây mấy mẹ con, kia mấy đứa bé hay một ông già, một người bố ngắc ngoải. Kẻ sống và thây ma vẫn lẫn lộn nằm ngồi với nhau.

Cái không khí đói kém cùng kiệt vẫn kéo dài này càng thêm ngột ngạt. Bởi vậy càng chạy công việc, càng hoạt động, phải lo lắng bận rộn, tôi càng thấy thênh thoáng đầu óc. Trái lại càng cắm vào những trang bản thảo, tôi càng thấy khó viết quá. Nhất là lại càng thấy nhớ nhà, thương nhà vẫn đang phải lần hồi từng đấu gạo, từng mẻ khoai, ở nhờ trong xóm đạo cạnh cái ga nhỏ Đồng Xá heo hút bên đường tàu hỏa Hà Nội - Hải Phòng kia.

Gác chúng tôi gần ngay chợ Hôm. Những buổi đi chợ mua vội mấy mớ rau muống hay mấy quả cà chua, tôi đã để ý một đám trẻ. Trong đám này có những đứa nằm rù ra, có những đứa trông vẫn tỉnh táo cười đùa với nhau, tuy chúng đúng là chỉ còn da bọc xương, và là thứ da mốc mác đen sạm. Một đứa làm tôi chú ý hơn cả vì lần nào cũng vậy, tôi đi qua đều bắt gặp nó nhìn tôi như cười cười. Thằng này cũng gầy tóp, đầu tóc nó cũng chỉ còn lơ phơ như tóc cò, da đầu mốc sần lên có chỗ đóng vẩy rồi. Nhưng từ quần áo đến gương mặt nó không tả tơi, bẩn thỉu, lem luốc quá như chung quanh. Đặc biệt là gương mặt nó, một gương mặt có một vẻ hiền lành và thông minh của một trẻ đã được ăn học vậy.

Nhưng tại sao nó cứ nhìn tôi và chỉ cười cười, chứ không hỏi xin tiền xin ăn gì cả? Hai lần, ba lần, rồi bốn, năm lần. Một hôm, vào khoảng gần mười giờ sáng, tôi lại đến cái hàng rau dưới gốc cây gần chỗ đám trẻ này tụ tập, vừa mua xong quay ra thì giật mình vì tiếng chào:

- Lạy cậu ạ!

Đúng cái thằng tóc cò, da đỏ sần và gương mặt nhỏ nhắn tươi tỉnh ấy chào tôi, và đến hẳn trước mặt tôi.

"- Thôi! Lần này thế nào mình cũng phải cho nó tiền rồi. Mà không chỉ năm ba xu thôi! Ít ra cũng phải một hào! Nó để dành đến bây giờ mới xin mình đây!"

Phải, thằng bé ấy đã đến trước mặt tôi, hai tay nó khoanh lại, cúi đầu đúng như một học trò lễ phép trước khi thưa gửi. Mắt nó chớp chớp, lại nhìn tôi như cười cười:

- Cậu mua rau về làm bữa ạ. Thưa cậu để con về thổi cơm hầu các cậu.

Chính là tôi luống cuống. Tôi luống cuống không phải vì cái tình huống đột ngột này. Đúng là mấy lâu nay, khi bắt đầu nóng bức tôi đã thấy ngại việc đun nấu. Không phải vì vất vả. Vất vả gì một niêu cơm, một xoong rau đánh giấm cà chua và ít vừng rang với củi đóm khô chẻ sẵn sàng và vòi nước máy ngay bên cạnh?! Tôi ngại vì đang viết và khó viết quá như đã nói trên kia. Lẽ nữa, tôi có thói quen là không viết được thì thôi, chứ đã viết hay đang viết được thì phải viết cho xong một đoạn, một quãng cũng như một chương vậy. Khi ấy, tôi phải giữ lúc nào đầu óc và mặt mày cũng mát mẻ, nhẹ nhàng. Bởi vậy, trước khi vào viết, tôi phải nằm hàng giờ vừa để tập trung tinh thần, vừa quạt cho ráo rẻ mát mẻ, rồi vào đánh vật với chữ, tới lúc nào thấy đầu đã nặng, đã nóng và mặt mày đã hừng hừng là phải thôi ngay.

Chao ôi! Như thế mà phải bỏ ra hơn một giờ hay hai giờ, dù là một giờ hay hai giờ làm cái việc không nặng nhọc, chật vật như việc viết kia. Nghĩa là chỉ phải thổi phù phù cho lửa cháy... phải lấy đôi đũa cả ghế cơm... phải đun nước luộc rau... phải ngồi canh bếp cho cơm chín, rau chín... cuối cùng phải sắp bát đũa chờ nhau ăn cơm! Mỗi ngày hơn ba giờ, một tuần hơn hai mươi giờ. Rồi một tháng mất đi hơn bốn ngày.

Mỗi ngày mất hơn ba giờ. Mỗi tuần lễ mất một ngày! Mỗi tháng mất hơn bốn ngày... trong lúc tình thế đang chuyển biến sắp đến những giờ phút quyết định, trong lúc phong trào cách mạng đang tiến bước và cũng sắp bùng nổ với những phút giờ quyết định! Mà tôi phải tranh thủ sao vừa hoạt động vừa có được những sáng tác thật tốt thật hay.

- Mày định xin tiền hay xin cái gì?

Tôi đã cất tiếng hỏi, ngoài cả ý muốn của mình. Tôi sắp sẵn tờ giấy hai hào gấp gọn trong túi ngực để cho thằng bé.

- Thưa với cậu, cháu không dám xin gì cậu đâu ạ! Cháu chỉ muốn thưa với cậu, với các cậu, nếu chỗ các cậu bận thì cho cháu về ở, cháu thổi nấu hầu hạ các cậu.

- Sao? Thế nào? Thôi tao cho hai hào đây!

Thằng bé lại cười cười, hai tay vẫn khoanh trước ngực, đầu nó hơi ngửng lên vừa đủ để tôi nhìn thấy ở mặt nó một đôi mắt hiền lành, van lơn cầu khẩn:

- Thưa với cậu, cháu không dám xin tiền cậu đâu ạ! Cháu chỉ dám...

- Thế nào? Thế nào? Mày định về ở với tao, mày định về ở với chúng tao?

- Thưa với cậu xin cậu thương tình mà cho con về hầu hạ các cậu.

Tôi đã toan gắt lên:

"- Im đi! Im ngay đi! Chúng tao là cái thứ người gì mà phải có đầy tớ, có kẻ hầu hạ? Thằng ranh con này! Sao mày không nói thẳng ngay rằng mày về với chúng tao để chúng tao nuôi mày".

Tôi đã nghĩ thế, đã quát thầm trong tâm trí như thế, nhưng không hiểu sao tôi lại ngẩn mặt ra. Và cũng không hiểu tại sao tôi đã buông gói rau cho nó.

Và nó đã chạy theo xe đạp tôi, thở hồng hộc, về cái gác của chúng tôi.

⚝ ❖ ⚝

Tôi đã phải tìm ngay cái áo sơ mi cộc tay rung rúc chỉ mặc khi đi ngủ và cái quần đùi vải thâm chưa phải vá miếng nào đưa cho nó rồi kéo nó vào buồng tắm:

- Xà phòng giặt ở cái bát sắt, khăn mặt bé của tao vắt ở đinh kia, lấy mà tắm. Nhớ gội thật kỹ cái đầu và vò thật kỹ bộ quần áo của mày rồi để tao tìm chỗ phơi cho. Kìa! Cởi hẳn... cởi hẳn truồng ra mà giội nước đi!

Tôi vừa nhóm bếp, vo gạo, luộc rau, thổi cơm ở ngay cái bếp gò bằng nửa vỏ thùng ét xăng nhỏ cạnh chỗ nó. Có lúc tôi còn lấy gáo múc giội cho nó liên tiếp và cào cào tóc tai, cổ và lưng của nó. Khi tôi ghế xong nồi cơm thì nó cài xong cúc áo và... lạ quá! Đúng là một thằng bé nào ấy tuy run rẩy, xanh xám, bỡ ngỡ trong bộ quần áo rộng thùng nhưng vẫn tinh nhanh, đã lạc lên gian gác của chúng tôi.

Nguyễn Huy Tưởng đã về, lộp cộp đi lên thang gác. Vừa lúc đến cửa buồng, mặt anh thuỗn ra, mắt lừ lừ đảo nhìn qua tất cả cái quang cảnh bất thường và gần như quái lạ bỗng xảy đến với mình. Thằng bé lại khoanh tay cúi đầu:

- Cháu lạy cậu ạ!

Tiếng nó nhi nhí, mặt nó cắm xuống, mắt chơm chớp và hình như nó chỉ chờ một cái hất hàm hay một tiếng hỏi to, là cũng có thể tối tăm mày mặt, hoặc sẽ ngồi sụp xuống, hoặc ngất hẳn đi.

Bữa cơm hôm ấy tôi lại là người chuyện nhiều hơn với Nguyễn Huy Tưởng. Chuyện về nó. Tất cả những sự việc và sự tình tôi đã hỏi nó và nó đã cặn kẽ cho tôi nghe lúc tôi giúp nó tắm gội, lúc nó thay tôi vào đun bếp nấu nước pha chè vừa sưởi vừa chuyện, tôi đều kể lại với Nguyễn Huy Tưởng.

Tên nó là Lê Văn Hậu, quê ở Hưng Yên. Nhà nó có ba sào ruộng và có nghề làm đậu, đổi bún, nhưng đói quá đã phải bỏ làng ra đi (Nó còn cho biết, không kể hai năm học chữ Nho ông bác, nó còn được học chữ quốc ngữ đã gần làm đến tính đố, và cả đứa em trai lớn của nó cũng được đi học). Bố nó chết ở dọc đường số 5. Mẹ nó chết ở Hà Nội. Còn hai em nó nay không biết ở đâu, đã chết hay vẫn còn sống. Cái hôm nó theo một bọn đi chôn xác, giúp họ và xin được nắm cơm về, thì không thấy hai em, mặc dầu nó đã dặn đi dặn lại "Hai em cứ ngồi ở chỗ này, thế nào tối anh cũng về, anh không bỏ hai em đâu, về anh sẽ về đem cả cơm ăn nữa!".

Sau bữa trưa, đến tối khi đi phố với Nguyễn Huy Tưởng, tôi vẫn còn chuyện với Nguyễn Huy Tưởng về nó. Và tôi phải lựa tất cả những chữ ý nhị nhất để đến cái "nút" này: tôi xin cho nó ở với Nguyễn Huy Tưởng, ở với chúng ta. Cái lý do như lòng thương, tình yêu người, vân vân... tôi miễn phải nói. Mà tôi chỉ nhấn có mấy nét: là nó hiền lành sạch sẽ, nó sẽ chăm lo việc cơm nước cho hai thằng, để nhỡ khi tôi phải chạy việc này, đi chỗ kia, liên lạc và công tác bất thường, thì "Tưởng" không phải chờ "mình", không phải đi ăn cơm hàng, cũng như quần áo thay ra và nhà cửa đã có người giặt giũ sắp xếp cho.

Một điểm nữa và là điểm căn bản: hai suất gạo của Nguyễn Huy Tưởng và tôi ăn sẽ không đụng chạm gì tới. Anh đã nhường gạo của vợ con mình cho tôi, tôi không đời nào dám lạm dụng, mặc dầu nhiều lúc anh lại còn ân cần bảo tôi nên bớt phần của "hai thằng" mà đưa gạo về quê cho mẹ tôi, vợ tôi, con tôi. Như thế, nuôi Lê Văn Hậu tôi sẽ đong gạo ăn thêm. Đã vay được tiền của nhà xuất bản, tôi sẽ... (đến việc ăn tiêu này tôi lại càng phải ý tứ). Suốt ngày hôm ấy Nguyễn Huy Tưởng lại càng ít cười nói. Vẻ mặt lặng lẽ đăm chiêu của anh càng làm tôi áy náy e ngại và cũng càng suy nghĩ yêu thương anh thêm. Về chiều, ăn cơm xong đi chơi, tôi đã cố ý chen thêm vào những phút vui vui, nhưng anh vẫn như giữ ý. Mãi đến lúc gần trở lại nhà, Nguyễn Huy Tưởng mới cười cười:

- Thôi tùy ông, ông thường gọi tôi là Tôn-xtôi, thì nay tôi xin nhường ông cái tên quý trọng kia vậy. Kể ra có người thổi cơm, nấu nước, giặt giũ và quét dọn cho mình, thì cũng đỡ bận đấy, yên trí sáng tác hơn đấy!

Để ăn mừng cái quyết định và sự thỏa thuận này, tôi bảo ngay Lê Văn Hậu đun nước sôi để pha chè mới. Và tôi ra hiệu Phúc Nguyên trước chợ Hôm mua hẳn hai phong bánh đậu xanh mỗi phong một đồng. Món chi này tôi không tính vào tiền chợ hàng ngày của hai đứa.

Nguyễn Huy Tưởng hất hàm bảo tôi:

- Không! Tôi sẽ trả! Chính tôi phải khao ông! Khao một việc làm nhân đạo, táo bạo của ông. Đặc biệt là khao ông đã có tiền mà là tiền sách!... Ông Hồng! Ngày mai ông phải viết thêm hàng mười trang cho tôi đọc đấy!

Tôi liền quàng lấy vai ông Nguyễn Huy Tưởng đôn hậu ấy, reo lên bằng một tiếng Ăng-lê mà tôi vẫn thường đùa nhại ông ta:

- Tờ rai... tờ rai!... (13)

-----

(13) Tin tưởng... tin tưởng...

⚝ ❖ ⚝

Không những chỉ chiều chiều bốn giờ tôi đạp xe đi mà cả những lúc vào hồi mười giờ sáng. Nhiều buổi tôi quên cả đong gạo và dặn dò làm bữa. Lúc nhận các báo Cứu quốc, Cờ giải phóng, lúc đưa sách báo đến những cơ sở, lúc đi lấy tình hình tin tức, lúc phổ biến công tác và thảo luận về các vấn đề mới... bận rộn cũng có, thong dong cũng có, nhưng đi đâu về cũng có cơm nước ngon lành sạch sẽ chờ mình. Mấy bộ quần áo của chúng tôi thay đổi đều được giặt giũ gấp rất cẩn thận. Đồ đạc chỉ có mấy thứ nhưng không hôm nào không lau chùi. Cầu thang cửa kính cứ sạch bóng, sáng choang!... Gian gác của chúng tôi dần dần có thêm nhiều anh em đi lại. Không kể những anh Hương Đen, Như Phong, Lưu Văn Lợi, Kim Lân quen thân mà còn đón cả những anh Trần Huy Liệu, Khuất Duy Tiến vừa vượt ngục về, trực tiếp liên lạc với chúng tôi.

Một số anh em nhà văn, đến chơi với chúng tôi, ai cũng cho đây là một cái "popote"... lý tưởng. Hai thằng bạn thân, vợ con đều ở nhà quê, có một chú hề đồng chăm lo cơm nước, ăn uống với nhau xuềnh xoàng; có nhiều tiêu nhiều, có ít tiêu ít, chỗ ở riêng biệt, lặng lẽ, mát mẻ; muốn viết, muốn đọc, thằng viết, thằng đọc, thằng đọc, thằng viết; thằng viết, thằng đi làm, thằng đi chạy tiền, chạy việc, thằng ở nhà viết... tùy ý tùy hứng. Chao ôi! Chúng tôi thế nào chả phải cho ra những tác phẩm làm lác mắt các anh em!

Chính vì cái diễm phúc này, nên tôi càng phải dằn tâm trí xuống để không nghĩ gì đến một sự thật tuy nhỏ nhặt nọ. Đó là những bữa cơm mà tôi không thể nào không thấy cứ mỗi ngày một thiêu thiếu. Trước ngày chưa có hề đồng Lê Văn Hậu, thì Nguyễn Huy Tưởng và tôi chỉ thổi có niêu mốt cơm, mà vẫn cứ phải ép nhau ăn cố, và nhiều bữa lại còn thừa hàng bát cơm đầy nguội. Chỉ sau mấy ngày có được cái sự gọi là hầu hạ hai bữa không phải vào bếp, thì Nguyễn Huy Tưởng phải về quê đem ra cái nồi đồng của bà mẹ anh khi còn sống vẫn thổi cho hai mẹ con và cả chó mèo trong nhà ăn. Gọi là nồi hai nhưng là hạng nồi giấu cơm, cả một đấu gạo thổi vẫn đủ. Bởi vậy tôi đã lấy thêm non bát gạo nữa cho mỗi bữa ăn. Cẩn thận hơn tôi tự đơm cơm. Những bát cho Nguyễn Huy Tưởng tôi vừa xới đầy, vừa xới chặt để anh ăn như thường lệ. Còn của tôi, tôi xới nống lên cũng vẫn đầy nhưng chỉ bằng nửa bát cơm của anh. Nghĩa là tôi bớt phần của tôi cho hề đồng, và giữ ý với Nguyễn Huy Tưởng, bữa nào tôi cũng phải làm ra bộ no căng, no tức, no mòng cả bụng.

Trời mỗi ngày một nóng bức oi ả. Nguyễn Huy Tưởng không những chỉ ăn có bữa ba lưng bát mà chính tay Nguyễn Huy Tưởng còn xới bớt, chỉ bằng hai bát mọi khi. Chúng tôi đã ăn đến mức như thế mà vẫn thấy thiếu. Chỗ cơm để lại cho Lê Văn Hậu thường chỉ là hơn hai bát, hay còn đúng hai bát lum lủm.

"Hay gạo mục không nở, thổi hao?"

"Hay đại lý gạo bán cân non? Hay mình mua phải con mẹ ở chợ đong gạo ống cân thiếu?"

Tôi chỉ dám tự hỏi như thế. Và cũng chỉ tự hỏi như thế, tôi càng thấy buồn buồn, hơn nữa, gần như xót xa đau đớn. Thế rồi một hôm mẹ tôi ở nhà quê ra chợ Mơ để cất nón về bán. Bữa cơm ăn xong, chờ lúc Nguyễn Huy Tưởng đi làm và hề đồng đi chợ, mẹ tôi gọi tôi bảo:

- Thằng bé này ở đâu nhặt về nuôi thế?

Tôi gắt lên:

- Ở đâu thì ở! Người nhà anh Nguyễn Huy Tưởng ở trong quê ra thổi nấu đấy! Thôi cụ cứ đi phố mua gì thêm thì đi đi...

Mẹ tôi e hèm một tiếng:

- Thì cứ để tôi hỏi mấy câu nào. Này tôi bảo thật, cái thằng ấy không hiền lành thật thà gì đâu. Bữa nào nó cũng xới một bát cơm đầy, giấu trong bị quần áo của nó đấy.

Tôi suýt hét lên. Nhưng tuy không hét, tôi cũng thấy cổ họng như tắc lại, như khô hẳn:

- Làm sao mẹ tìm thấy cơm? Mẹ biết nó giấu?

Mẹ tôi cho biết, hôm kia mẹ tôi lấy gạo thổi cơm cho cả nhà, vẫn chỉ ba bát gạo thì đầy nồi, ăn mỗi người đúng ba bát đầy, lại còn thừa. Suất để phần cho nó cũng như thế. Nhưng chiều qua lấy gạo xong, mẹ tôi ra chợ xem giá nón, lúc về thấy cơm vừa thổi xong mà sao lại có hột cơm vãi ra đất, mà bếp lửa lại nguội ngấm thế này. Mẹ tôi mở vung ra thì thấy cơm trong nồi chỉ ở dưới ngấn cổ. Mẹ tôi đã sinh nghi, nhưng cũng không dám nghĩ rằng ở quý bộc của chúng tôi tà tất. Bữa trưa hôm nay, mẹ tôi lấy hẳn ba bát đầy, và cũng để lại cho Hậu thổi cơm. Chờ khi Hậu đi đổ rác, mẹ tôi mở vung ra xem lại. Vẫn chỉ thấy cơm dưới ngấn cổ nồi. Mẹ tôi chợt ngẩng đầu quay lại góc nhà tắm, chỗ xếp đống củi, thì một con chuột vừa nhảy ở trong cái bị của Hậu ra, và hình như có cái gì nong nóng ươn ướt ở trong đó.

- Thế mẹ có nói gì với anh Nguyễn Huy Tưởng không?

Mẹ tôi rên rỉ theo thói quen:

- Giê-su-ma lạy Chúa tôi! Tôi đã ngần này tuổi đầu mà không biết ý tứ hay sao?

- Thôi được, vậy mẹ có nói gì với thằng Hậu không?

- Giê-su! Tôi cũng không nói gì với nó! Tôi chỉ bảo nó, các cậu ấy đã thương mày đã phải bớt bát đem mày về nuôi thì mày cũng phải biết thương lại các cậu ấy chứ!

Thấy tôi lặng thinh, mẹ tôi càng luống cuống:

- Tôi chỉ nói thế thôi, Giê-su! Tôi chỉ nói với nó như thế mà thôi!...

Rồi mẹ tôi gánh nón về quê. Rồi chúng tôi vẫn đi về ăn uống đề huề vui vẻ. Riêng tôi, càng phấn chấn hơn, vì mấy cơ sở tôi nhóm họp và liên lạc đều cùng phong trào tiến lên, có nhiều triển vọng. Những chuyến đi Bắc Ninh về phủ Từ Sơn, sinh hoạt với nhóm anh Kim Lân hay nhóm anh Vũ Đức Phúc ở Gia Lâm, những chuyến về gặp anh Nguyễn Công Mỹ ở Hải Dương, hay những anh em nhà giáo, viên chức nhỏ chạy về các làng Đồng Xá, Đình Tổ, và cũng trên đường đó, tôi đã được đặc biệt anh em cho nghe tình hình phong trào địa phương và được mắt thấy tai nghe những chuyện những việc của những bà con nông dân thôn xóm nơi gia đình tôi ở nhờ. Tất cả những công việc và những chuyến đi đó của tôi, tôi về "báo cáo" với Nguyễn Huy Tưởng, đều được Nguyễn Huy Tưởng chăm chú nghe, rất thích thú.

Thường thường ông bạn của chúng tôi ngạc nhiên hay thích thú điều gì, thì bộ mặt bệu bệu và lỳ lỳ của ông đổi khác hẳn. Nghĩa là nó thuỗn hẳn ra, với tất cả vẻ hồn nhiên ngây thơ. Đã có anh em tai quái nghịch ngợm, lợi dụng tính cả tin và đôn hậu này của ông, thỉnh thoảng lại "sáng tác" ra một vài tin vài chuyện kể cho ông nghe. Họ không những chỉ nhắm ông, mà còn gợi ông để ông kể lại với nhiều người khác một cách rất trân trọng và cũng rất sống và duyên dáng là đằng khác. Rồi họ cười ngay vào mũi ông, cười bò ra với nhau, trong khi ông càng ngạc nhiên hơn, lại thuỗn mặt ra, càng hồn nhiên và ngây thơ, như vẫn không tin có màn kịch ấy được!...

Thế rồi, trên các ngả đường tôi hay qua lại dần dần không những chỉ ở mấy tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nam... bớt hẳn ăn mày mà ở cả ngay Hà Nội. Những người sống sót lại lần mò lê lết trở về quê quán. Một hôm tôi lại ở bên Bắc Ninh về, dọc đường được nghe mấy người ở huyện Thuận Thành và Văn Lâm của tôi, kháo nhau về trận dân làng kéo nhau phá kho thóc và cướp thóc ở chùa Dâu như trảy hội ấy. Ghi nhớ được mấy tình tiết, mấy câu nói rất đặc biệt, tôi càng cố đạp nhanh về để kể cho Nguyễn Huy Tưởng nghe. Buổi ấy tôi về muộn, các đồng hồ đều suýt soát mười hai giờ mười lăm, mười hai giờ hai mươi. Lên khỏi thang gác, tôi bỗng thấy cái gì khang khác. Nguyễn Huy Tưởng của tôi ăn cơm xong không nằm ngủ trưa một lúc như thường lệ. Ông ta đang ngồi ở bàn; ông không viết mà đọc sách. Tôi vừa vồn vã gọi ông thì liền nhận ra ngay cái mặt ông lại bệu ra, khinh khỉnh, lỳ lỳ. Tôi cứ đến cạnh ông, giữ vẻ bình thường tươi vui:

- Ông lại bí, lại không viết được? Ông vừa mượn được sách gì mới? Lại của Romain Rolland hay Léon Tolstoi đây!

Không! Đúng là "Nó" vẫn cứ lặng thinh, và trong cái lặng thinh này tôi không thể nào không thấy một sự tức giận vô cùng.

- Tưởng lại phải chờ cơm tôi!

Buông xong thêm câu hỏi này, tôi càng bị hẫng thêm. Rồi không những thấy mình hẫng, mà còn choáng váng. Không có cơm nước gì để phần tôi hết! Cả hề đồng Hậu của chúng tôi mọi khi vẫn cười cười đón hỏi tôi từ cầu thang và đon đả thưa cậu đã về ăn cơm, giờ không hiểu làm gì hay đi đâu mà không thấy!

- Thằng Hậu nó đi rồi?!

Tôi phải bật lên thành lời.

Nguyễn Huy Tưởng càng lầm lầm.

Tôi liền đảo mắt nhìn khắp nhà. Không! Cái màn tuyn, cái chăn gấp gọn mỏng và quần áo của Nguyễn Huy Tưởng cũng như quần áo của tôi treo ở mắc, gối ở đầu giường vẫn y nguyên.

- Thằng Hậu nó đi nó không lấy gì cả à?

Tôi lại phải lên tiếng. Đầu gối Nguyễn Huy Tưởng hơi đung đưa, mắt Nó lim dim nhìn tôi, giọng Nó nhạt thượt:

- Ông vào bếp mà xem.

Tôi chạy bổ vào buồng tắm. Cái bị quần áo của Hậu không còn và cả bị gạo của chúng tôi nữa. Tôi lại đâm bổ ra:

- Còn sáu ống cân gạo để ăn mấy hôm cuối tháng nó lấy đi cả?!

- Phải! Nó chỉ lấy đi cả sáu ống cân gạo và cái nồi của tôi ông ạ! Ông Giê-su Hồng ơi! Ông đúng thật là cao cả và nhân đạo! Nhân vật của ông phản lại ông đó. Nhưng thôi! Bị mất gạo, tôi cũng không cần, không nghĩ gì đâu! Tôi chỉ cần chỉ nghĩ về cái nồi thôi. Cái nồi của mẹ tôi, bà cụ sắm để thổi cơm từ ngày còn bố tôi. Bố tôi chết, bà cụ lại thổi cơm ăn với tôi. Tôi giữ mãi ở nhà quê, giao cho bà chị dâu cất đi cùng với hòm quần áo cưới của mẹ tôi và các sách của bố tôi...

Tôi đạp xe lồng ra chợ Hôm. Tôi lại đến chỗ ăn mày tụ tập thì chỉ thấy còn mấy đứa bé. Hỏi chúng, chúng bảo ban sáng có thằng Hậu đeo một bị gì nặng ra đây, nó và thằng bạn thân nhất ngày ngày nó đem ra cho hàng bát cơm, vẫn cứ ở đây chờ nó, hai đứa cùng nhau ra bến tàu thủy lâu rồi. Nghe nói hai đứa đưa nhau về quê, không hiểu về quê thằng Hậu hay quê thằng kia. Chúng nó về quê gặt rồi đi tìm em chúng nó...

⚝ ❖ ⚝

Sang cuối tháng sáu, đầu tháng bảy năm 1945 ấy, chúng tôi trả lại cái gác nọ. Nguyễn Huy Tưởng chuẩn bị lên chiến khu, tôi về Bắc Ninh tìm Kim Lân để lập ban kịch tuyên truyền lưu động.

Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau đây làm với nhau tờ Tiền phong ra công khai, rồi trong kháng chiến chống Pháp cùng nhau nhóm rau nhóm bếp tờ tạp chí Văn nghệ ở Gia Điền, Phú Thọ, đi theo hội Văn nghệ Việt Nam chuyển trong các rừng núi Tuyên Quang, Thái Nguyên... rồi hòa bình lập lại trong những buổi chuyện ngày xưa, chuyện về nhau - cả những chuyện có thật và những sáng tạo về nhau - đặc biệt là các cái "chuế" của nhau, Nguyễn Huy Tưởng không còn nữa của tôi thường nhắc đến chuyện hề đồng Lê Văn Hậu mà tôi đã đưa về nhà nuôi kia... và cố nhiên lại nhắc đến cái gác phố Pescadore lịch sử và cái nồi của anh. Vẫn ý vẫn lời của những câu trên kia đã nói với tôi hôm đó, nhưng Nguyễn Huy Tưởng tức Chánh Hòa ấy, không bệu cái mặt, lỳ lỳ, khinh khỉnh nữa. Ông ôm hẳn lấy người tôi mà cười hô hố hẳn lên cũng vẫn rất chi là hồn nhiên ngây thơ, khoái trá trong tiếng cười ngất của anh em như mưa xuống đầu tôi.

Thưa ông Chánh Hòa, tôi đã trót cao cả và nhân đạo nhưng nhân vật của tôi không phản tôi đâu!

Ăn cắp của ông, của chúng ta chính là cặp vợ chồng ở cái tòa nhà mà cửa sổ gác chúng ta phải trông sang kia, - cái tòa nhà chổng mông vào mũi chúng ta với tất cả sự lộng lẫy, sung sướng, hãnh tiến của chủ nó.

Ăn cắp của ông, của chúng ta, của những ai là người lương thiện, làm ăn cơ cực, chính là cái tổ chức, cái chế độ lúc bấy giờ, - cái chế độ và tổ chức đã trả lương ông và mua bản thảo của tôi một cách lăng nhục như đối với một công việc hành nghề cùng mạt, - cái chế độ và tổ chức ngang nhiên xây nhà lầu, đóng hòm giấy bạc, vàng, kim cương, và tha hồ ăn uống nhảy hát dâm dật trên xương máu con người và ở ngay trước mặt cả ông lẫn tôi.

Và làm chúng ta khổ sở, uất ức, căm giận vô cùng trong những tháng ngày Bốn nhăm kia mà nông dân và các người lao động cùng kiệt khác đã bị cái đói cướp đi từng xóm, từng ấp, từng làng, từng phố, từng khu, từng chợ... từng vạn, từng vạn rồi lên đến hai triệu sinh mệnh ấy, cũng là cái tổ chức và chế độ lúc bấy giờ đã dồn ông và tôi đến chân một bức tường lửa không còn thể nào chịu nổi, ngoài bước phải tìm các cách cùng mọi người bị giam hãm với mình đạp cho nó sập xuống, vùng ra, xây dựng một đời sống khác mà sống.

Phải! Nhân vật của tôi không phản tôi mà chính là đã trung thành với tôi. Trung thành ở với tôi cho đến ngày nay, trong những dòng chữ này, để tôi kể lại với ông, và càng nhớ ông, tiếc ông, mến ông, quý ông, ông Huyễn Huy Tưởng bố đẻ Truyện anh Lục ạ!

X. GIỮA NHỮNG GỌNG KÌM 1942 - 1945

Cuối năm 1941 tôi ở trại giam Bắc Mê (Hà Giang) về quản thúc ở thành phố Nam Định đến tháng 5-1942 thì ra Hải Phòng. Cũng là bị quản thúc nhưng được về Hải Phòng tôi thấy nhẹ hẳn người. Nghĩ lại những ngày ở Nam Định vừa qua, tôi càng thêm ngột ngạt.

Nam Định là nơi chôn rau cắt rốn của tôi. Nhưng tôi như không còn chút gì ràng buộc với nơi đây ngoài những kỷ niệm của một thời thơ ấu trải qua những cảnh tan nát của gia đình. Ở Sở mật thám, cầm quyển sổ quản thúc dán tấm ảnh in lại chụp từ năm xưa khi tôi bị bắt và xử tù ở Hải Phòng - tấm ảnh mặt mày hốc hác, mồm miệng vêu vao, tóc tai bờm xờm đúng là kiểu mặt tù, kiểu mặt của một thứ người ở một xã hội riêng biệt trông vừa gớm ghiếc, vừa rất dễ nhận - tôi tìm về cái nhà cũ của bà ngoại tôi, gần như bỏ hoang, mà cả mẹ tôi và tôi đã tưởng khó lòng lại bước chân đến. Chính ở cái nhà lá dột nát, cửa ngõ trống hơ trống hác, vườn tược gai góc này, tôi đã phải tính ngay đến việc sinh sống. Nghĩa là tôi phải viết ngay sách để nuôi thân rồi nghe ngóng tìm kiếm sao để lại có liên lạc với một số anh em đồng chí và bắt được mới với phong trào.

Viết sách để sinh sống nhưng phần chính còn để lại được gặp gỡ bạn đọc, gặp gỡ quần chúng. Một lẽ sống của ngòi bút. Chiến tranh thứ hai vừa bùng nổ thì tôi bị bắt xử tù rồi đưa đi "căng". Khi tôi ở trại giam, một số truyện ngắn, hồi ký của tôi đăng rải rác trên các báo từ năm 1936 được thu thập lại in thành sách. Mẹ tôi làm công việc này để lấy tiền mua thuốc men, quần áo, thức ăn gửi gắm cho tôi. Trên trại giam nhận được hai cuốn Những ngày thơ ấu và Bảy Hựu trong cái hòm dây thép có nào thuốc vôi bổ phổi, đường phên, tôm kho mặn và cả giấy bút nữa, tôi đã thao thức nhiều đêm không sao ngủ được.

Những tấn kịch ấy diễn ra mới được hơn một năm thôi! Pa-ri tuyên bố bỏ ngỏ. Trào đình chính trị của nước Pháp bị đuổi bạt về Vi-xi. Một chính phủ đầu hàng và bán nước được thành lập với lão thống chế Pê-tanh làm quốc trưởng. Rồi đến Đông Dương. Ngựa chiến, tàu bò và giầy sàng đá của lính Nhật Bản ngang nhiên trèo qua lưng, qua cổ từ toàn quyền, đô đốc, trung tướng, tham mưu Pháp mà vào Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội, Sài Gòn, Huế. Quan lớn quan bé của Thiên Hoàng tha hồ đóng quân, chiếm đất, kiểm soát cửa biển, lấy gạo thóc, quật mả, mở đồn điền, đòi in thêm giấy bạc và lê gươm đi chơi đêm với cả đĩ đầm, đĩ Thượng Hải, rồi hò hét tuyên truyền thuyết Đại Đông Á.

Phải, mới hơn một năm thôi, cũng như ở Đông Âu dưới gót sắt của quân đội phát xít Hít-le và các chính phủ phản động tay sai của nó, đất nước Việt Nam như sống lại hàng nghìn năm của thời Trung cổ.

Những báo chí chỉ nhen nhói một vài ý kiến không làm chúng nó vừa lòng thôi cũng bị rút giấy phép. Sách xuất bản phải qua kiểm duyệt, và kiểm duyệt đóng dấu vào giữa từng đoạn một. Một danh sách, những ngòi bút, những tên tuổi cần phải nghi ngại đề rõ hẳn ra, tuyên bố hẳn với các nhà xuất bản, các nhà in, nhà báo. Các hàng sách, quán sách một ngày một vắng, hàng tháng mới lèo tèo bày vài cuốn mới. Ở những phòng đọc, phòng mượn của mấy thư viện thành phố lớn, thẻ đọc cấp rất ngặt nghèo. Một số lớn sách của các nhà văn tiến bộ trên thế giới bị thu cất đi. Nếu còn quyển nào cho đọc thì người đọc bị đặc biệt theo dõi. Phim ảnh chiếu lại toàn những chuyện tình cổ lỗ của các hãng phim Pháp. Phim ngoại quốc độc nhất được chiếu là các phim Nhật, ca tụng những cái chết vinh quang vì Thiêng Hoàng, vì Đại đế quốc Mặt trời, hay những tình ca với những chinh phu Phù Tang bứt áo ra đi các sa trường vạn lý.

Đi chớ để hình bóng

Nỗi nhớ thương em để bên lòng

Xin nhắn nhủ thời gian

Đem đến trả tình quân...

Những tiếng hát sướt mướt rên rỉ khắp các đường phố, rạp hát, bến tàu, bến đò, nhà cầm đồ, tiệm hút, xóm cô đầu, máy nước, cổng chợ... từ sáng đến canh khuya. Ban đêm, cái thành phố Nam Định xưa nhỏ của tôi kia càng lạnh vắng trong ánh đèn bóng màu xanh nhờ, chao bên ngoài sơn đen, gọi là đèn phòng thủ. Cùng thức với ánh đèn này là tiếng máy chạy ầm ì, triền miên, ngao ngán của Nhà máy sợi trước làm ba kíp thợ nay rút làm hai kíp, đuổi ra hàng ngàn thợ. Cái nhà máy lớn nhất của thành phố Nam Định này cũng là một nhà máy lớn nhất của Đông Dương còn chạy như thế là "phúc" cho cu li và thợ thuyền bản xứ lắm! Vì bao nhà máy đã phải đóng cửa rồi.

... Bước gian nan ai cũng đã nhọc nhằn. Bao nhiêu dân Pháp trung thành đã chịu một cách cao thượng, đã cố gắng giúp tôi gánh vác trọng trách. Đối với tôi thế chưa đủ. Tôi muốn các người phải có đức tin, tin trong cõi lòng, tin vào lý trí. Tôi muốn các người phải khôn ngoan và nhẫn nhục.

... Nhờ có sự bại trận mà mối đồng tâm của quốc gia được thắt chặt... Quốc dân nên hiểu rằng cơ phục hưng đã bắt đầu mà các người đương noi theo đường chính.

Những lời lâm ly của Pê-tanh nọ ra rả trên khắp các mặt báo, các tranh ảnh đóng khung với lá cờ tam tài.

Phê thì tành... Pê thì tành, một bài hát phỏng theo điệu Đêm thì rầm của xẩm xoan đã được đặt ra, cho đi hát ở khắp các cổng chợ, bến đò lò rào để ca tụng công đức lão quốc trưởng chiến bại đem thân trâu ngựa ra gánh vác việc nước trước quốc xã quốc trưởng Hít-le chiến thắng. Và trên cả quốc trưởng thống chế, còn có một vị nữa để cho tất cả những ai là kẻ đau khổ bơ vơ trong cái cảnh chiến tranh khủng khiếp báo hiệu cho loài người sắp phải đến ngày phán xét nọ tìm đến cầu xin một nguồn an ủi: đó là Đức Chúa Trời. Phải, Đức Chúa Trời với những Đức Mẹ, Đức Chúa Giê-su, các thánh tông đồ và các bà thánh trọn đời đồng trinh... Chỉ các chúa các thánh này mới có đủ quyền pháp làm cho loài người thoát khỏi những tai ương khổ não. Chính dưới chân các chúa các thánh này, cả những kẻ đương là cao trọng quyền hành nhất thời cũng phải sấp mình xuống mà chịu các ơn phép thiêng liêng, chịu sự thưởng phạt.

Trong khi thợ thuyền lần lượt bị đuổi ra khỏi nhà máy, xưởng thợ, thì nông dân cày ruộng cũng lần lượt bỏ làng mạc quê quán ra đi tha hương cầu thực. Ruộng đất của họ càng dồn vào tay các địa chủ và nhà chung, - ruộng đất bao đời tổ tiên cha ông họ truyền nhau làm ăn sinh sống tới nay không hiểu tại sao đã cùng kiệt, khiến bao nhiêu mồ hôi nước mắt của họ đổ xuống cũng không làm cho họ kiếm đủ miếng ăn. Những con người cày sâu cuốc bẫm ấy, trước khi gồng gánh bên chiếu, bên con bên nồi bỏ làng ra đi, những sở mộ phu cao su hay lên những vùng đồi núi mở trại lập ấp, đều đã đến hôn chân Chúa ở nhà thờ, xưng tội, chịu lễ, chào xin cha xứ để được thật trọn vẹn ơn Chúa, ơn cha trên bước đường xiêu tán.

Những đoàn thanh niên thợ thuyền công giáo (J.O.C) mọc lên khắp các thành phố có nhiều nhà máy, trong khi các ái hữu thợ kim khí, thợ thông phong, máy tơ, máy sợi v.v... đều bị giải tán hết. Những anh em hoạt động đấu tranh đều bị tra tấn, bị kết án xử tù, các trụ sở triệt hạ không còn một dấu vết; thanh gỗ của tấm biển đề tên ái hữu chỉ còn mờ mấy nét cũng bị đem chẻ làm củi đun... Rồi đoàn thanh niên học sinh công giáo (J.E.O). Quán cơm cũng của công giáo. Đồng tử quân cũng của công giáo ùn ùn tiếp theo.

Những ngày đầu xuân tất cả Nam Định nhỏ bé xơ xác tiêu điều như ốm như liệt kia, chỉ còn có chung quanh khu nhà thờ lớn là đông vui, luôn luôn rước kiệu mình thánh những ngày thứ sáu đầu tháng. Tiếng cầu kinh như ri. Tiếng kèn đồng, tiếng chũm chọe inh ỏi như hành quân xuất trận hay xử án thiêu ai. Thanh niên công nhân, quần xanh, áo trắng, cầm cờ nửa vàng nửa trắng và cờ trắng hình đuôi nheo in chữ thập đỏ. Đồng tử quân và hướng đạo sinh, đội mũ vải, mặc quần cộc áo cộc cùng màu lá cơi hay màu nâu, cũng cầm cờ đuôi nheo nửa vàng nửa trắng, và cờ in hình thập tự đỏ. Toàn những con cháu khôi ngô của các nhà quyền quý, giàu sang, đạo đức thời bấy giờ. Các đám rước thánh thế này diễn ra như những đám Thập tự quân khi xưa trẩy một cuộc viễn chinh trong đói rách, nắng mưa và máu để được sang thành Jê-ru-sa-lem mà ôm hôn đất thánh...

⚝ ❖ ⚝

Nhưng tôi ra Hải Phòng chỉ ít lâu rồi cũng lại thấy tâm trí càng bị đè trĩu, và một sự đau xót vô cùng cứ da diết lấy người.

Cái thành phố công nghiệp và hải cảng quen thuộc của tôi ấy tuy bề mặt có vẻ tấp nập vui hơn cái thành phố bé nhỏ Nam Định chôn rau cắt rốn của tôi, nhưng cả đến cái bề mặt nhếnh nhoáng này rồi cũng để trơ trật ra sự sa sút, kiệt cùng của cái bên trong đã ruỗng. Tôi về một xóm lao động cũ sống với gia đình chưa được bao lâu thì phải chứng kiến không biết bao nhiêu cảnh tàn phá của chiến tranh, mà những người phải chịu đựng đều là những bà con anh em chung quanh.

Xóm tôi ở rất đông người làm Máy tơ có bà Oắt. Nhà Máy tơ đóng cửa. Từ ngày bà Oắt ở nhà, bà càng nói nhiều. Người bà như con cò rạc, răng lợi trơ ra vêu vao, mắt kèm nhèm càng toét thêm. Chưa sáng người trong xóm đã thấy tiếng bà. Bà chửi, bà réo, bà rủa thằng Oắt. Bà được mỗi mình thằng Oắt. Thằng này đã mười bốn, mười lăm tuổi, người cũng như con cò rạc, nhưng khác mẹ là mặt nó lúc nào cũng như mặt long thần. Bọn trẻ chung quanh gọi là thằng Ót. Cả ngày Ót đi hôi cá, bắt ếch, tìm ngó sen, đánh giậm, lấm láp, cứ như ma chôn ma vùi ở bờ đầm, ở ngoài ruộng. Bao nhiêu sách bút mẹ mua cũng mất hết. Không học cậu giáo nào đậu được tuần lễ. Có lúc người mẹ, yếm xoạc trễ cả vú, quần rách mướp, ống thấp ống cao bay như phướn, tay cầm dao và cầm cả sách bút của Oắt mà réo gọi và chửi Oắt.

Năm ấy bà Oắt gần năm mươi tuổi. Bà thôi việc, chủ nhà máy cho đâu được ba mươi đồng bạc và sáu thước vải. Người "cu li" này đứng máy như thế có hơn hai mươi năm, từ cái ngày nhà máy mới mở, trẻ con đàn bà bị bắt vào làm, sợ máy, sợ nhà máy như sợ nhà tù, sợ beo, sợ cọp...

Mẹ tôi dọn một quán dưới gốc đa bên đường ở ngõ nhà bà Oắt. Bán quà bánh diêm thuốc lào. Phía bên đường là làng An Đà. Người làng vừa làm ruộng vừa đi làm ở bến tàu to Sáu Kho. Chiều chiều ông cụ Hương bên An Đà thường bảo cháu cầm nậm ra hàng mẹ tôi mua rượu và mấy xu kẹo bột. Ông cụ Hương cấy được hơn năm sào ruộng công. Bà cụ, con trai, em dâu đi làm Sáu Kho. Một ngày chủ nhật cả nhà đương quây quần ăn cơm thì còi báo động "Máy bay Mỹ!... Máy bay Mỹ!...". Máy bay Mỹ thật! Và lần đầu tiên đến Hải Phòng. Mọi người còn đương tò mò, ngơ ngác thì bom nổ rầm trời, chuyển đất. Một sự kinh khủng lần đầu tiên dội xuống ngay trên đầu mình. Mười lăm phút sau. Máy bay đã kéo đi, nhưng cảnh vật và mọi người vẫn còn như chết lịm, trời đất rùng mình, đen mù đen mịt. Mãi sau người trong làng trong xóm ở các ngõ ngách bờ bụi, cống rãnh mới chui ra. Có tiếng khóc tiếng kêu gọi thất thanh. Bom thả trúng giữa sân nhà cụ Hương. Bác Hương gái bế đứa con bón cơm cho nó bị hơi bom xì vào cháy đen như than. Xương thịt hai mẹ con dính vào nhau tưởng như một người có hai đầu, một đầu người lớn đàn bà trụi trọc và một đầu trẻ con chỉ còn nửa mặt, bết vào bên vú mẹ, và hai bộ chân tay... Cả gia đình, chín con người ấy còn lại hai người. Đó là cụ Hương, bà cụ đi làm kho về muộn, còn ra ao rửa chân tay. Và thằng bé trên con bé út bữa ấy bị mẹ mắng, cốc cho một cái, dỗi cơm bỏ ra ngõ...

Hôm ấy là ngày 9 tháng 8 năm 1942.

... Tất cả cuộc sống nọ càng trĩu xuống ngòi bút của tôi.

Tôi phải viết. Nhưng viết thế nào đây? Viết tất cả sự thật ấy hay một phần của nó. Hay viết một phần của nó nhưng chỉ lấy vài nét, vài việc nhẹ nhất trong đó thôi? Dầu chỉ là vài nét nhẹ, vài việc nhẹ nhất của một phần sự thật thôi, nhưng giọng văn và cách đưa ra phải thế nào để lọt qua được kiểm duyệt? Hay không viết gì cả, hay để dành sự thật đó như là một thứ quặng chờ đến khi nào có sự chuyển biến mới, tiện lợi khai thác thì hãy sử dụng?

Hay nói dối? Chịu để cho bàn tay của thống trị đưa ngòi bút của mình đi. Viết ngược hẳn lại như trên mặt đất không có sự thật ấy? Hay viết cho sự thật ấy thành ra chỉ là một nhận thức chủ quan, hơn nữa làm người đọc coi đó như là một định mệnh? Hay viết sao để thấy không có sự thật ấy, hay là nó không đáng quan tâm gì cả? Hay viết sao để thấy rằng những cái đáng viết không phải rút ra từ sự thật, mà từ những cái gì cao quý, trọng đại, thiêng liêng của thời thượng bấy giờ đương đi tìm ở sự thuần túy của triết lý, học thuật, nghệ thuật, tư tưởng, tinh thần, v.v... không dính dấp vì với những cái tầm thường khổ não vật chất! Chiến tranh đã đen tối thì còn đi sâu vào những thống khổ, những kiếp sống làm gì? Nguyên nhân của tất cả những thảm họa kia đã không sao tìm hiểu nổi, cũng như tất cả những sự xảy ra không thể tránh được, thì còn đi sâu vào đời sống, vào những chuyện buồn thảm của nó làm gì?

Văn học nghệ thuật đâu chỉ là để theo sát đời sống và những chuyện nọ? Còn bao nhiêu điều để suy nghĩ và phải sáng tạo bằng những khả năng kỳ diệu và thần bí nhất của tinh thần thì mới đạt được đến cõi "chân, thiện, mỹ". Những kẻ nào muốn được thật là nghệ sĩ, được thật là phụng sự nghệ thuật, thì phải tìm hết cách và vận dụng tất cả giác quan cùng trí tuệ của mình để thấu triệt những lẽ mầu nhiệm kia đến mức thấu triệt của "đạo" mới được. Đạo nghệ thuật, đạo mỹ cảm, đạo của tinh thần, đạo của những con người có giác quan và những sức cảm thông rất đặc biệt mà khoa học chịu không thể phân tích nổi... Mỗi lúc tôi nghĩ đến sự sáng tác của mình cũng như mỗi lúc tôi nghĩ đến sự kìm kẹp của thống trị, nghĩ đến những lý luận, những luận điểm và tính chất trên kia của cái nền văn học nghệ thuật tự nhận và được coi là chính thống, là chân chính, là cao quý nhất của lúc bấy giờ, thì trong người tôi lại càng bị xé ra, lại càng bị rợn lên vì ghê tởm.

"... Một điều nghĩ đã ghi trên mẩu giấy.

Cái lầm lớn nhất của loài người, tai hại và bi thảm nhất có lẽ là cuộc đi tìm hạnh phúc. Cái lầm ấy đã làm bao nhiêu cuộc đời trở nên bao nhiêu tấn thảm kịch.

Ta muốn quan niệm một cuộc sống không lấy hạnh phúc làm đích. Sống, đó là một sự đương nhiên. Kẻ hiền giả phải tìm cách sống cho xứng đáng, cho phong phú nhịp nhàng với cuộc sống của vũ trụ cao quý và đường bệ".

Xuân thu nhã tập (Thanh khí)

"Và trong cái "bát nháo" của người, ta tự vạch con đường. Soi sáng cái đạo thực.

Trong cái vô ý thức của đời, ta tự thực hiện.

Với cái ta - thuần túy: Tri thức tuyệt vời và tuyệt đối... Cuộc sống của ta phải phát triển trên cái nền móng thực là ta trước hết.

... Có những tâm hồn hiến cho Xuân thu.

Biết đâu một bầu trời không có một tâm hồn "Xuân thu", một tinh thần tiền phong đi cầu đất thánh, một vị thích ca đi tìm giác ngộ, một siêu nhân tìm một thủ đoạn trong trẻo, một tinh thần còn biết chết vì một nụ cười".

Xuân thu nhã tập (Quan niệm).

Mặc dầu càng cố cất ngòi bút lên nhưng ngòi bút chỉ càng quằn xuống, tôi vẫn thấy phải viết. Dù rằng chỉ được viết một phần nào sự thật, hay một khía cạnh của phần đó, tôi cũng cứ phải viết, để người đọc phải nghĩ về sự thật và thấy cuộc sống không cho phép mình trốn tránh, vô trách nhiệm, nhẫn tâm đối với chung quanh. Tôi phải viết, đồng thời phải liên lạc với các anh em, các đồng chí, các ngòi bút tiến bộ già trẻ để thôi thúc nhau viết. Chúng tôi phải giành lấy bạn đọc, lấy quần chúng. Chúng tôi phải đem hết sức mình mà chống lại các sức phản động, phải đem hết sức mình cùng với hoạt động của cách mạng làm công việc bóc đi, dập đi những màng những lưới ma mị đen tối mà bọn thống trị cố che phủ lên chân lý. Dù chỉ được cất lên dăm ba tiếng, qua những gọng kìm của đàn áp, để bảo vệ chính nghĩa, để ca ngợi sức đấu tranh tiến hóa, nói bóng gió xa xôi về cách mạng và thổi thêm cho rực rỡ những ánh tương lai, thì chúng tôi cũng phải cất những tiếng đó lên.

Tờ báo và nhà xuất bản. Đó là hai khí giới chúng tôi phải có trong tay. Chúng tôi phải tìm kiếm người tốt để ra báo cho được, mở nhà xuất bản cho được. Chúng tôi phải tổ chức được nhiều người làm "nhân" trong những nhà báo, nhà xuất bản tương đối ít chịu sự chỉ đạo của thống trị lúc bấy giờ. Một mặt khác, trong những nhóm, những cánh văn học nghệ thuật đương chia ra năm bè bảy phái, chúng tôi sẽ tranh thủ lôi kéo những anh em trung thực về với ảnh hưởng của mình. Bằng sự làm việc, có một mục đích, một lý tưởng, bằng tư cách và lối sống ngay thẳng trong sạch, bằng tinh thần chiến đấu của những kẻ dám đương đầu với những sức mạnh tàn bạo để giành giữ lấy sự tự do chân chính, bằng những quan điểm nghệ thuật vì con người, vì quần chúng, vì dân tộc, bằng những ý chí vươn lên một ngày mai thật là tươi sáng nhân đạo... Chúng tôi sẽ tìm đến liên lạc chuyện trò, bàn luận với các anh em. Trong sự hoạt động này, chúng tôi được thêm những anh em cùng đi vào con đường văn học nghệ thuật theo chủ nghĩa Mác rồi thành đồng chí, cùng đứng trong tổ chức chiến đấu dưới lá cờ của Đảng là điều quý nhất. Không thế, cách mạng cũng được những quần chúng có cảm tình, chúng tôi thì được những người bạn nghệ sĩ. Chúng tôi khoác lấy cánh tay họ, không để cho họ ngã vào trong tay bọn phản động. Chúng tôi gây thêm cho họ niềm tự hào của một nghệ sĩ dám đứng thẳng người và cất cao đầu trước bọn thống trị oai quyền tàn bạo và bọn giàu sang hãnh tiến, nhẫn tâm một cách quái gở, đương làm chúa xã hội bấy giờ.

Tôi kiểm điểm anh em đồng chí thấy có: Như Phong, Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Đình Thi là những người tôi có thể liên lạc được ngay. Nam Cao, Tô Hoài và Nguyễn Đình Thi tôi không quen và cũng chưa được gặp mặt. Nhưng chỉ đọc mấy truyện ngắn, mấy trang sách của anh em, tôi đã thấy ngay một cái gì khang khác, một hơi hướng gì rất gần gũi, một cái gì rất có thể tin cậy, như kiểu các đồng chí hoạt động chính trị, đương khi tìm kiếm liên lạc và chắp mối với Đảng, bỗng đánh hơi thấy dấu hiệu của "người mình" vậy. Tôi đoán những anh em đây nếu không có liên lạc với Đảng thì chí ít cũng là những người đương tìm đến Đảng bằng những tình cảm, tư tưởng ý tứ, giới thiệu mình rất khéo trên những sách báo công khai. Tôi còn có thêm một ý nghĩ hồi hộp đặc biệt này nữa: hay chính đó là những đồng chí 1936-1937 đương hoạt động trong một tổ chức của Đảng, anh em đang có ý tìm đến mình, mà mình chưa biết đó thôi?!

"Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình. Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa. Biết bao cực khổ và lầm than? Không, không, Điền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy, sự thực giết chết những mơ ước lãng mạn, gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn trốn tránh sự thật nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa cũng một cảnh ngộ như Điền! Cái khổ làm héo một phân lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dậy lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh. Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời...

Sáng hôm sau Điền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà".

Trăng sáng (Nam Cao)

Phải! Chỉ là đoạn kết của một truyện ngắn đăng trên tờ tuần báo rất thường gọi là Tiểu thuyết thứ Bảy. Nhưng thật là một màn kịch mở ra ngay trước mắt mình bắt phải xem, phải suy nghĩ. Và nghe đúng là một bản tuyên ngôn, đúng là những lời tuyên bố, của một thái độ, và đúng là một bài hiệu triệu của một trường phái một khuynh hướng văn học văn nghệ thuyết dám nhận là nhân đạo, là chân chính lúc bấy giờ.

Tô Hoài, trong một truyện ngắn tả một lớp học trẻ em nghèo ở xóm ngoại ô kia, cũng đã cất lên như là những lời nhắc nhủ kêu gọi:

Anh hùng xưa,

Nhớ hồi niên thiếu

Dấy binh lấy lau làm cờ...

... "Tiếng hát! Tiếng hát xoáy vào đám đông...". Tôi không nhớ trọn những câu hát mà Tô Hoài đã trích dùng và những câu văn đã làm dậy lên vang động trong đêm tối của những con người lầm than trong truyện của anh. Tôi cũng không còn giữ được bản in truyện đó để trích dẫn cho đúng những câu của đoạn cuối. Tôi chỉ rút ra từ trí nhớ với tất cả những cảm xúc chắc chắn không còn được tươi thắm mạnh mẽ như khi lần đầu đọc được những dòng chữ và ý tình trên kia của Tô Hoài mà gợi nhắc lại về Tô Hoài.

Vào khoảng tháng 9-1942, Như Phong ở Hà Nội xuống Hải Phòng, tìm tôi. Năm 1939-1940 khi tôi đi tù thì Như Phong bị bắt vào Sở mật thám Hà Nội. Kẻ ở tù, người ở Sở mật thám ra, chúng tôi chỉ gặp nhau một lần. Tôi đọc cho Như Phong chép bài thơ Tâm tư trong tù của đồng chí Tố Hữu, rồi đôi hồi với nhau được ít chuyện, thì tôi bị đưa lên trại giam Hà Giang. Trên trại giam và khi về quản thúc ở Nam Định, tôi không dám viết thư hay nhắn tin tức gì cho Như Phong cả. Vì đây là cơ sở và cái mối chắc chắn để tôi chắp lại liên lạc với Đảng.

Tôi đã hoàn toàn vui sướng khi gặp lại Như Phong. Sau hơn hai năm vẫn theo dõi sự sống và tinh thần tư tưởng của nhau tuy không gửi cho nhau một dòng chữ, một lời thăm hỏi, chúng tôi nắm tay nhau mà càng nghĩ thêm về câu thơ:

Tôi sẽ cười như kẻ sẵn lòng tin

Giữ trinh bạch linh hồn trong bụi bẩn.

Tâm tư trong tù (Tố Hữu)

Như Phong tuy không nói rõ nhưng tôi cũng thấy Đảng vẫn chú ý đến một số anh em trong phong trào cũ, trong đám anh em nghệ sĩ đó có chúng tôi. Còn người đặc biệt chú ý đến văn học, nghệ thuật và chúng tôi, là đồng chí Trường Chinh quý mến tin tưởng vô cùng của chúng tôi, mà đế quốc đương tìm hết cách vây bắt, tòa án quân sự và mấy án tử hình đương sắp sẵn kết xử. Đồng chí Trường Chinh có cả thư về nhắc nhủ anh em chúng tôi.

Trong tất cả mọi chuyện, mọi suy nghĩ về bàn tính của chúng tôi đều quy vào mấy điểm này: Văn nghệ sĩ và trí thức đương bị bóp nghẹt cổ họng. Văn nghệ sĩ và trí thức đương bị chúng nó nhét thuốc độc vào tay bắt phải gieo rắc: thuốc độc kết trong họa, trong thơ, trong nhạc, trong màu sắc, trong hát ru, trong triết học, triết lý, trong các bài dạy ở nhà trường, trên sân khấu, và cả trên các sân vận động thể dục thể thao nữa... Văn nghệ sĩ và trí thức đương bị chúng nó bắt cùng chúng nó rũ một tấm màn đen tối sầu thảm bịt lấy mắt quần chúng, quấn lấy tâm hồn và lòng tin của quần chúng.

Chỉ có một cách duy nhất là bẻ cho gẫy nát những bàn tay kìm kẹp gieo rắc độc hại của chúng. Chỉ có một cách duy nhất là đạp đổ, vượt qua bức tường lửa hiện tại đương vây bọc lấy tư tưởng, sáng tạo và sự hoạt động của mình, để đi về tương lai mà sống. Và khí giới của những anh em viết văn chúng tôi cũng vẫn duy nhất là ngòi bút, với những cỗ súng cỗ xe chiến đấu là tờ báo là nhà xuất bản. Đảng cũng đặt nhiệm vụ ấy cho chúng tôi. Chúng tôi phải làm tròn nhiệm vụ ấy.

Đến đầu năm 1943 chúng tôi được tin Đảng chủ trương thành lập Hội Văn hóa cứu quốc và chúng tôi sinh hoạt thành một nhóm. Cuộc họp đầu tiên của nhóm chúng tôi gồm có các đồng chí Vũ Quốc Uy, Tô Hoài, Như Phong và tôi ở trên sân thượng cái gác bếp nơi nhà trọ đồng chí Vũ Quốc Uy ở đường dốc xuống Ngũ Xã, một trong những địa điểm liên lạc của Văn hóa cứu quốc.

Tôi xiết bao cảm động, dào dạt. Tôi càng thêm tin tưởng ở phong trào dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đến buổi họp đó tôi được biết thêm đồng chí Tô Hoài đã tham gia hoạt động trong thời kỳ Mặt trận bình dân. Tô Hoài đã đến báo Thế giới, cơ quan của Đoàn Thanh niên dân chủ và đến cả báo Tin tức cơ quan công khai của Đảng. Tô Hoài ngày đó còn là một học sinh của một làng thủ công nghiệp chuyên làm giấy và dệt cửi, anh cũng mới tập viết văn. Còn Vũ Quốc Uy là bạn học thời thơ ấu của tôi. Chúng tôi học một trường nhỏ ở thành phố Nam Định từ lớp nhì năm thứ hai cho đến hết lớp nhất, ngày nào cũng chơi cầu lông hay đá bóng quần với nhau.

⚝ ❖ ⚝

Có một tờ báo và nhà xuất bản riêng,... cùng một nhóm anh em cùng chí hướng làm việc,... dung nạp một cách rộng rãi, trân trọng những tác phẩm thật có giá trị về tư tưởng, về nghệ thuật nhằm mục đích xây dựng một nền văn học nghệ thuật tiến bộ, một nền văn học nghệ thuật dân tộc, một nền văn học nghệ thuật chiến đấu chống lại những sức phản động thoái hóa, để góp phần vào hạnh phúc công cuộc giải phóng và xây dựng đời sống tươi đẹp tương lai của quần chúng... đó là tất cả những khát vọng, mơ mộng của chúng tôi lúc còn là những tuổi đôi mươi. Trong tất cả những phút hào hùng thống khoái, hay những khi phẫn uất trằn trọc, chúng tôi đều cùng nhau tâm sự, chia sẻ với nhau những sự say mê cũng như những điều đau xót da diết trên kia. Tới khi được tham gia phong trào Mặt trận dân chủ, được liên lạc với một số đồng chí Đảng, được giao công tác, chúng tôi càng "cay" với việc ra báo, mở nhà xuất bản. Nhất là sau khi tờ Thế giới và tờ Người mới cơ quan của Đoàn Thanh niên dân chủ liên tiếp bị đình bản, Đoàn phải vào Sài Gòn ra báo. Giữa lúc đó bọn thống trị cho tung ra các thứ tuần báo, và in sách, trâng tráo làm những công việc "vui vẻ trẻ trung" khiêu dâm, trâng tráo ca ngợi sự trở lại chế độ vua quan, với và các quyền hành phong kiến được gia hạn, thì chúng tôi càng bị nung nấu trong tâm trí. Nhận được chỉ thị của Đảng, một số đồng chí và Như Phong đã đi điều đình ngã giá mua được một nhà in. Còn tôi đã thu thập xong một số truyện ngắn thành tập Tội ác và chuẩn bị thêm tập Những ngày thơ ấu để dành cho chương trình xuất bản.

Chiến tranh thứ hai bùng nổ, 1939-1941, rồi 1942, rồi 1943... Thế là đã bốn năm, những tiếng nói công khai của Đảng, của cách mạng bị thắt nghẹt. Tới nay được Đảng tổ chức, dìu dắt, chiến đấu trên mặt trận văn hóa chống quân thù, chúng tôi càng bồn chồn vì ra báo, mở xuất bản.

Thời kỳ này, bọn thống trị đàn áp và phá hoại tư tưởng quần chúng đã tới độ tột cùng sự tàn bạo của chúng nó. Hai tầng phản động đế quốc và quân phiệt Pháp. Nhật đè lên đời sống văn hóa của nhân dân. Bọn Pháp càng khắc nghiệt siết chặt hơn nữa các guồng máy của chúng.

Những ai muốn ra báo đều phải được Sở mật thám thông qua lý lịch. Nhiều khi phủ thống sứ ký nghị định rồi nhưng người được ra báo vẫn cứ bị Sở mật thám gọi đến bảo thẳng vào mặt rằng Sở mật thám không cho ra, nếu kẻ đó cố tình không tuân lệnh thì đã có nơi đi an trí, nghĩa là trại giam. Tất cả chúng tôi và những anh em bè bạn nào chỉ hơi có cảm tình với cách mạng thôi, cũng không có hy vọng gì xin được giấy phép cả. Bởi vậy chúng tôi tính đến nước cuối cùng là lại "thuê" báo để làm. Chúng tôi tìm những tờ báo đương ngắc ngoải hay được phép rồi mà vẫn không ra, mặc cả với những người quản lý của nó, giả cho họ tiền hàng tháng, hay mua hẳn tờ báo với một món tiền, nhờ họ vẫn đứng tên để chúng tôi làm tờ báo đó. Gạo bấy giờ giá hơn sáu đồng một tạ. Một người ăn trọ cơm tháng ở Hà Nội mất mười đồng là sang quá. Vậy mà chúng tôi đã chịu "thuê" báo với giá ba mươi đồng một tháng hoặc giả hẳn cho quản lý báo nguyên một món tiền hai ba trăm đồng.

Hết tờ này đến tờ khác!... Chúng tôi điều đình đã xong, í ới gọi nhau lập ban biên tập, chuẩn bị bài hàng ba số đầu và sắp cả quảng cáo trên các báo có tiếng lúc bấy giờ. Người đứng ra điều đình thuê báo, mua báo, chạy vạy công việc cũng không có tên tuổi hay mắc míu gì với Sở mật thám cả. Thì đùng cái lại tắc. Hoặc Sở mật thám đánh hơi thấy quản lý tờ báo nọ liên lạc với chúng tôi liền gọi đến đe dọa. Hoặc có kẻ tính đi tính lại bèn xoay ra đòi giá rất cao, một là y bắt chẹt, vì y phải đứng tên trước một công việc mà y không làm nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm, hai là y cứ giữ tờ báo thì y còn có cái lợi khác mà lại là lợi nhiều hơn. Giấy in báo lúc bấy giờ rất khan. Mỗi tạ giấy do Sở kiểm duyệt và Liên đoàn giấy cho phép mua chênh nhau với giá chợ đen năm, sáu trăm phần trăm. Nhiều tên chủ báo đã ra báo như ma trơi. Báo của chúng hàng ba tháng hay nửa năm mới ra một số, chỉ láng cháng mấy bài còn đăng toàn hình với lời kêu gọi của thống chế Pê-tanh và quảng cáo thuốc lậu, biệt thự cho thuê, ôtô đám cưới và các món ăn kỳ lạ, v.v... Nhưng chúng dấm dúi với nhà in, khai thặng hàng mấy nghìn bản, thật ra chỉ có độ hai trăm bản để biếu những nhà đăng quảng cáo và cho các hàng dầu cù là, hôi nách, sâu răng đưa đi các chợ nhà quê bán tống bán tháo.

Ra báo thì thế, còn mở nhà xuất bản phải có vốn. Vốn mua giấy được phép mua, vốn mua giấy chợ đen. Mua găm lại, chờ giá cao rồi bán đi một nửa, cũng lại bán chợ đen. Còn một nửa in sách báo bán giá đắt, tru tréo với độc giả nào là phải mua giấy cao, phải chạy vạy các cửa khó khăn, nào phải hy sinh vì mục đích học thuật. Và phải còn có thứ vốn này nữa: mặt dày mày dạn, vô liêm sỉ, ngửi cứt thấy thơm! Được giấy rồi còn phải có sách in. Muốn có sách được in cũng phải dúi tiền cho những thằng làm kiểm duyệt, mời chúng nó đi ăn, đi hát và nhận in một hay hai tác phẩm của chúng, hay một loại sách gì đó của ai soạn cũng không nên biết, không cần biết.

Trong tình trạng đó, có những tờ báo rất lạ. Báo mà in dày hàng hơn trăm trang, mỗi số lại mang một bìa khác nhau với tên tác phẩm và tên tác giả hẳn hoi như: Ba chuyện mổ bụng, Rắn báo oán, Luân lý thực nghiệp, Nhân loại tiến hóa sử, v.v... Báo mà bán giá sách và sách lại gửi Nhà dây thép cước phí phát hành theo thể lệ báo chí! Ấy là chưa kể giấy in báo lại tính ra giấy in sách và giấy in sách lại tính ra giấy giá chợ đen.

Ngoài việc in báo, in sách như trên còn một loại mấy con mẹ chuyên đầu cơ tích trữ giấy. Chúng nó cũng mở nhà xuất bản, in vô tội vạ, in không biết lần thứ bao nhiêu những Kinh Ma vương, Truyện Tả ao, sách xem số tướng, sấm Trạng Trình, Võ Tây, Võ Tàu, Võ Nhật, thuật thôi miên, v.v... và chúng nó đem nhuộm giấy, độc quyền bán cho các hàng vàng mã, các chợ tết...

Nếu như chúng tôi tam tứ phen tưởng rằng phải mở tiệc ăn mừng vì sắp ra được tờ báo, thì cũng nhiều lần chúng tôi bị hẫng như thế với nhà xuất bản. Cuối năm 1943, đồng chí Tô Hoài và tôi liên lạc được với nhà xuất bản Bách Việt. Chủ nhà Bách Việt là con trai đầu lòng một cửa hàng buôn đồng bán sắt. Nhà này mới phất từ khi các thứ hàng đồng, chì, nhôm, sắt chỉ có giấy của nhà binh Nhật mới được phép mua bán di chuyển, và từ khi máy bay Mỹ ném bom dữ dội, tàu thủy, ca nô bị đắm nhan nhản ở các cửa biển, cửa sông, bọn nhà thầu bỏ thầu mua cả các tàu to bị đắm ngoài biển thuê trục về để dỡ lấy đồng, sắt. Anh trẻ tuổi chủ nhà xuất bản này gặp được chúng tôi thì rất mừng. Chúng tôi đều có tác phẩm khá đưa anh in và tiền nong chúng tôi lại không đặt ra gay gắt. Chúng tôi còn soạn cho anh cả một chương trình làm việc. Đầu tiên in tập truyện Xóm giếng của Tô Hoài, nhưng tập truyện bị kiểm duyệt bỏ chỉ còn lại có cái tựa là Xóm giếng ngày xưa. Tiếp đó in một số sách của anh Vũ Ngọc Phan, rồi đến Những ngày thơ ấu của tôi. Những ngày thơ ấu của tôi tái bản đưa kiểm duyệt tuy phải chờ đợi khá lâu nhưng cũng được phép. Nhìn bản thảo của mình đỏ ngòm những dấu kiểm duyệt và những chữ ký của tên nhân viên nghiện hút, bẩn như đỉa và cũng làm nhà văn nọ, tôi thấy mình như bị xẻo thịt, đóng chàm vào trán.

Cuốn thứ tư là một tập in chung. Tôi đã đi lấy truyện của Nam Cao, của Nguyễn Huy Tưởng, của Kim Lân, và cả truyện dịch của Như Phong. Tên tập là Luống cày, bìa Luống cày do một anh em có cảm tình với Văn hóa cứu quốc trình bày. Sửa soạn xong tập Luống cày, tôi xuống Hải Phòng tìm Nguyễn Công Mỹ. Nguyễn Công Mỹ vừa viết xong cuốn tiểu thuyết khá dài Cái chân gỗ. Chúng tôi đã đọc Cái chân gỗ (sau đồng chí Nguyễn Công Mỹ đổi là Gió Tây) và xếp ngay vào chương trình in sau Luống cày. Như thế có thể nói hầu hết những anh em đồng chí trong Văn hóa cứu quốc và những anh em tốt, có cảm tình với cách mạng là những cây bút chính của nhà xuất bản Bách Việt, chúng tôi là trụ cột, giữ quyền quyết định, và chúng tôi không phải chạy vạy vốn liếng, lo toan việc in lộ mặt gì cả.

Công việc đang tiến hành rôm rả như vậy (chúng tôi càng hết sức giữ gìn ý tứ nhất là về các chuyện tiền nong, sách in trước, in sau), thì chúng tôi thấy anh trẻ tuổi chủ nhà xuất bản của chúng tôi (có lẽ lần thứ nhất trong đời làm báo viết văn, chúng tôi thấy một người đứng đắn thật thà như vậy) cứ ngày một nhạt công nhạt việc. Chúng tôi càng tìm đến anh đôn đốc chạy vạy công việc, càng thấy có sự khác ý, càng thấy như có nước đá dội vào gáy. Cuối cùng Tô Hoài cho biết, một hôm Tô Hoài đến nhà anh thấy rõ ràng anh vừa đi lên gác, vậy mà người nhà lại bảo anh đi vắng.

Cửa hàng của bố mẹ anh đóng cửa hẳn đến nơi rồi. Phần vì đồng, sắt trong nhà chỉ còn chơ chỏng mấy đống lưỡi cày, lưỡi cuốc, nồi vỡ, chảo rạn của hàng chè chai mua về. Hàng nửa năm rồi, các bọn nhà thầu thần thế với nhà binh Nhật và có nhiều tiền mua vét hết cả hàng. Phần vì nhà anh sợ bom quá. Ngày ngày, ông anh, bà anh, cha anh, mẹ anh, các em gái em trai anh, cứ sáng sớm đã lốc nhốc cơm nắm nước phích thuê xe tay vào Hà Đông, hay lên Bách thú chạy bom. Vú bõ con trai lớn ở nhà thì chỉ rình có còi báo động là đóng cửa chạy ra Cổng đục. Hôm nào mưa gió thì cả nhà ngồi vêu ra như bụt ốc đầy cả cửa hàng. Hôm gần đây, nhà chỉ để một u già nghễnh ngãng ở lại coi cửa hàng, còn tất cả kéo nhau về Hưng Yên chạy loạn.

Tô Hoài của tôi cười cười bằng đôi mắt, rất nhẹ nhàng tả những cảnh những việc "biến" kia cho tôi nghe.

Giữa lúc tình cảnh ra báo, xuất bản sách, kiểm duyệt giấy in, và nhà in như thế, thì có một nhà xuất bản nọ hoạt động thật đàng hoàng, công việc cứ ăn nên làm ra ùn ùn... Nhà xuất bản ấy có hẳn một chiêu bài và đi đâu cũng vỗ ngực là "mác-xít". Đó là nhà xuất bản Hàn Thuyên, một nhóm tự nhận toàn là nhà "lý luận" là "lãnh tụ" và "chiến sĩ" cách mạng chân chính. Chúng ra sách, đi tuyên truyền và có cả người luồn lọt trong mấy nhà in, trường học, công khai chửi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, lôi kéo người và phá hoại những cuộc tranh đấu của thợ, lôi kéo và khiêu khích những thanh niên học sinh. Chúng chửi và hoạt động như thế bảo rằng để chống lại chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương là "làm cách mạng thỏa hiệp, làm cách mạng đầu hàng giai tầng tư sản, làm cách mạng vô sản không triệt để, làm cách mạng tay sai cho Nga Xô viết". Còn đối với những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, thì chúng bảo là "Xuẩn động" "đem con bỏ chợ", "đem quần chúng làm thí nghiệm", thậm chí còn là "khiêu khích để đế quốc tiêu diệt cách mạng"! Và mỗi lần nghe tin các cơ sở quần chúng, những đảng viên Đảng Cộng sản có tên tuổi bị bắt bị khủng bố, chúng liền cười khẩy và hất hàm ha hả kể chuyện lại với những người quen biết.

Chúng vừa là chủ nhà xuất bản, đốc công nhà in, chạy hàng giấy in, chấm công thợ, chi tiền cho thợ, nhận giấy giao kèo của nhà văn đưa bản thảo đến bán bản quyền tác giả... Nhưng từ "nhà lý luận" đến "nhà sáng tác" làm những công việc của nhóm Hàn Thuyên này vẫn cứ cho mình là "vô sản", "thuần túy cách mạng", đầu óc "cộng sản" hơn cả những người cộng sản đương bị tù đầy bắn giết lúc đó. Nếu ai muốn gặp chúng, thảo luận về quan điểm triết học văn học hay đường lối cách mạng mà chúng đánh thấy hơi là nguời "thiên về đệ tam quốc tế", là được chúng mời lên tầng gác thứ ba của nhà xuất bản, đặt vào ngồi trước một cái bàn rộng như bàn giấy của nhà Đoan, hay sở Cẩm ở giữa phòng, có bộ xa lông to xù, rồi bốn năm cái điếu tẩu cứ nhâu nhâu ở xung quanh, bắt người khách nghe liên chi hồ điệp các giọng, các câu dẫn chứng của Mác, Ăngghen, Lênin và của cả Tơrốtxki nữa, với đủ các kiểu mặt và điệu bộ của một thứ kịch nhiệt tình với chân lý.

Câu đầu lưỡi và sự tự mãn nhất của chúng biểu lộ trong tất cả mọi trường hợp với chung quanh là chúng tự phong là chân chính duy vật, khoa học, chân chính chiến đấu cách mạng và cả khôn ngoan nữa... tiêu biểu cho những người làm "cộng sản" mà không cần "Đảng" và không bị bó buộc gì trong tổ chức!

Nhưng chân lý chỉ càng ngày càng chói rực.

Chân lý thuộc về cách mạng. Trên đất nước Việt Nam, với máu đã đổ ra của Đảng Cộng sản Đông Dương và quần chúng chiến đấu, chân lý đã được rửa khỏi những vết thương và các thứ bụi bặm. Những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn Nam Kỳ không những không bị dập tắt, trái lại đã trở thành những bài học thôi thúc, những tấm gương cổ vũ thấm thía, những sức sống. Càng qua những giai đoạn khủng bố khốc liệt đen tối, càng qua những thử thách bằng sắt thép và lửa đạn của quân thù, ngọn cờ búa liềm lại càng vững vàng, càng giương cao, càng phấp phới. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng những gốc rễ của cách mạng của Đảng bắt vào quần chúng thì không sức gì lay bật đi được. Cũng như lòng tin ở Đảng của quần chúng càng qua những chặng gian nguy khốn khổ thì càng thêm tươi thắm.

Sức sống của cách mạng, sự hy sinh chiến đấu của quần chúng,... sự lãnh đạo sáng suốt và tinh thần sắt đá của Đảng vượt qua các cơn bão lửa của khủng bố,... lòng tin ở tương lai chắc chắn rực rỡ của nhân loại bất khuất trước bất kỳ sức mạnh dã man phản tiến hóa nào,... và dân tộc Việt Nam cần cù anh dũng, tự mồ hôi và máu của mình đã viết nên bao trang sử tuyệt vời... tất cả đó là những dòng sữa nuôi dưỡng cho máu thịt và tâm hồn của chúng tôi, đó là những dòng ánh sáng luôn luôn rực lên trong tư tưởng và tinh thần chúng tôi.

Chính giữa thời kỳ này Đề cương văn hóa của Đảng đã đến với chúng tôi.

Tôi còn nhớ bản Đề cương viết chữ tay nhỏ xíu, khổ giấy nhỏ chỉ bằng bàn tay gồm có tám trang. Như Phong đưa cho tôi vào một ngày mùa rét 1943 ở nhà một anh bạn làm kịch ở Hà Nội, nơi đây chúng tôi vừa lấy làm địa điểm liên lạc, vừa làm chỗ tụ họp của những anh em văn nghệ sĩ có cảm tình với cách mạng, và của cả những anh em văn nghệ sĩ chỉ muốn sống làm văn học nghệ thuật không thôi. Chiều chiều Như Phong và tôi đi phố trao đổi ý kiến với nhau. Sau đó, chúng tôi tìm cách đưa ba điểm chính Dân tộc, Khoa học, Đại chúng trong bản Đề cương gợi ý và nêu thành những vấn đề để anh em bàn cãi, nhận định trong những buổi gặp gỡ nói chuyện với nhau về văn nghệ, về lịch sử, về triết học, v.v... về thế nào là chất cao quý, chất "người", chất tiến bộ của văn học, nghệ thuật, của văn hóa.

Từ cuối năm 1944, chúng tôi đã phổ biến tương đối được sâu rộng bản Đề cương trong những anh em có cảm tình với cách mạng, với Đảng, và trong những anh em thành thực đi tìm phương hướng cho đời sống trí tuệ, tư tưởng và sáng tác nghệ thuật của mình. Đầu năm 1945, đúng ngày mồng một Tết Ất Dậu, Văn hóa cứu quốc tổ chức một hội nghị thảo luận bản Đề cương. Địa điểm họp trong làng Nghĩa Đô, ngay cạnh Hà Nội, nhà đồng chí Tô Hoài, tham dự có đồng chí Lê Quang Đạo, Trần Độ, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài và tôi. Chúng tôi nghe hai đồng chí Trần Độ, Lê Quang Đạo phổ biến nhận định của Trung ương về những chuyển biến mới của tình hình chính trị lúc bấy giờ, và yêu cầu của Trung ương về cuộc thảo luận bản Đề cương. Cuộc thảo luận làm từ chiều mồng một Tết đến chiều mồng bốn Tết. Chúng tôi chia tay nhau ra về được mươi hôm thì nổ ra cuộc Nhật đảo chính Pháp mồng 9 tháng 3, đúng như Đảng đã phân tích về những mâu thuẫn giữa bọn Nhật - Pháp, và thời cơ để đẩy thêm cao trào cách mạng...

1943 - 1944

Trong hai năm ấy, mặc dầu những gọng kìm của hai tầng thống trị Nhật - Pháp càng siết chặt, chúng tôi vẫn viết và càng say viết. Chúng tôi dằn mọi sự đau khổ, quằn quại, nặng nhọc, chật vật của ngòi bút xuống mà viết. Truyện ngắn của đồng chí Nam Cao và Tô Hoài vẫn đều đặn ra mắt trên tờ Tiểu thuyết thứ Bảy. Những tác phẩm sâu sắc, rắn chắc, cảm động của Nam Cao đã được bạn đọc đặc biệt chú ý. Các đồng chí còn viết rất nhiều truyện cho trẻ em. Với những truyện trẻ em của Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài và Nam Cao, nền văn học thiếu nhi của dân tộc đã được xây bằng những viên gạch có bản sắc rất quý. Bài nói chuyện của đồng chí Nguyễn Đình Thi về văn học dân tộc và những sách nghiên cứu của đồng chí, cũng được phân biệt hẳn ra với những sách đao to búa lớn, nói nhảm nói nhí, xuyên tạc chủ nghĩa Mác và phang bút vào lưng cha ông, tổ tiên dân tộc là những sách của nhà xuất bản Hàn Thuyên như Hai Bà Trưng của Nguyễn Tế Mỹ, Nguyễn Du và Truyện Kiều của Nguyễn Bách Khoa, v.v... Những tiểu thuyết và kịch lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng cũng được công chúng chú ý. Công phu nghiên cứu, vốn hiểu biết rộng rãi, sức cảm xúc sâu sắc về lịch sử và nhất là một số nhân vật chính của Nguyễn Huy Tưởng tha thiết với vận mệnh của dân tộc, với vấn đề tri thức, sự sáng tạo và sự nghiệp văn hóa của dân tộc, đã nổi bật lên, phân biệt rất rõ giữa cái đám người viết bậy bạ, buôn bán tên tuổi cha ông đất nước lúc bấy giờ. Một số nhà xuất bản phải tìm đến chúng tôi để lấy tác phẩm in đầu tiên trong chương trình ra sách của mình. Dòng văn học hiện thực phê phán tách bạch hẳn ra, lôi cuốn quần tụ được nhiều bạn đọc. Nhiều lần đồng chí Nam Cao cao hứng lên, vừa cười rung rung hai bắp đùi xếp phẳng dẹt trên chiếu, è è cái giọng nói, và giơ một ngón tay lên: "- Bạn đọc cứ thấy ba cái tên những thằng này trên bài báo hay sách vở nhà xuất bản nào, là thấy ngay chúng nó có khuynh hướng gì và thấy ngay một cái gì khang khác, phân biệt hẳn với những thứ nghệ thuật giả dối và bán mình lúc này!".

Tuy cười nói với nhau như thế, nhưng chúng tôi vẫn thấy cả một chế độ đè nặng trên ngực mình. Các mạch máu trong tâm hồn, trong tư tưởng chúng tôi cần được giao thông với thịt da, cuộc đời quần chúng, vẫn cứ bị những dây những cặp thắt lại tuy không thể làm tắc nghẽn hẳn. Các cánh bay của tinh thần luôn luôn bị cắt xén đi, và khoảng trời để cùng chan hòa với tư tưởng quần chúng vẫn dằng dặc những lần lưới chặt sít. Chúng tôi thấy càng phải có những hành động trực tiếp, càng chờ đợi cái phút quyết định lấy máu và gươm súng đánh thẳng vào những thành trì dinh lũy thống trị, lật đổ tan tành cái chế độ ngục tù này đi...

Để gây thêm cơ sở và mở rộng sự hoạt động, mấy anh em chúng tôi chuyển sang ngành kịch.

Lúc bấy giờ lập một ban kịch cũng phải lấy môn bài và xin phép của Sở mật thám. Vở diễn phải qua kiểm duyệt rồi, nhưng có vở mà không có sân khấu nhà hát thì cũng đành chịu. Ở Hà Nội ngày đó chỉ có hai ban kịch, một ban là của người Pháp, gánh Claude Bourrin. Hai ban kịch này đã được đặc quyền diễn ở Nhà hát Tây. Nhà hát Tây, cái tháp ngà, cái đền vàng son nghệ thuật thuở ấy, khó mà ai bén mảng đến được. Trừ những tổ chức giúp quỹ chiến tranh, dạ hội tiếp khách của các quan lại cao cấp, nơi biểu diễn ca vũ nhạc của giới thượng lưu trí thức và nhà quyền quý Tây đầm và "bản xứ". Người được mời đến các tối hoa lệ ở đây còn là những trưởng giả "bản xứ", những con buôn đồng, bán sợi, chủ thầu và tay sai đặc biệt của quân đội, hiến binh và phái đoàn Nhật.

Giới sân khấu ngày đó cũng chia ra nhiều "giai cấp", nhiều phái. Có một "giai cấp", một phái được đặc quyền và được cả đặc ân nữa của bọn thống trị, "giai cấp" này, phái này tự cho là thượng lưu, là tiêu biểu, là đứng đắn nhất trong việc làm nghệ thuật. Trong khi đó ở ngoài rìa cái xã hội có lương tháng to, xủng xoảng ung dung, có vai vế, có vốn liếng lớn và có cả tổ chức nữa của những thượng lưu trí thức và văn nghệ sĩ đặc biệt kia, là cái giai cấp hạ lưu, với những nhóm, những cánh làm báo, viết văn, làm thơ, soạn kịch, diễn kịch, vẽ tranh, v.v... lem nhem mạt hạng. Họ lương tháng không có, trường này trường kia, văn bằng cũng không. Ông chủ, ông bầu có vốn có thế không thèm vời đến họ. Họ kiếm ăn lần hồi, giật đầu cá vá đầu tôm, làm thêm các nghề khác, và có khi là nghề chính, công nợ như lông lươn, có vợ con gia đình thì vợ con gia đình bù nheo bù nhóc. Những anh chị em của các giai cấp hạ lưu này, trong các nhóm, các cánh nghệ sĩ tã tưởi này, lại thích tự do, đặc biệt, rất yêu nghề, rất suy nghĩ, cay nghề. Trong giới sân khấu lại đông anh chị em này hơn cả.

Trong những anh chị em trên đây, chúng tôi đã được gặp đồng chí Kim Lân ngày đó còn vừa làm chú thợ sơn guốc ở phố phủ Từ Sơn, vừa viết truyện, vừa làm kịch. Qua đồng chí Kim Lân, chúng tôi còn liên lạc được với một số anh chị em làm kịch, diễn kịch nữa bên Bắc Ninh đến ngày nay vẫn là những người hoạt động tích cực cho sân khấu. Tìm đón được anh chị em tốt và có tài, nhưng làm sao lập được ban kịch bây giờ? Giấy phép của Sở mật thám và môn bài, chúng tôi đã có một người ra đứng tên xin. Nhưng cốt tử là vốn. Phải có vốn. Phải có vốn. Vốn sắm từ tấm ri-đô, cánh gà, đến vốn ăn để tập vở, thuê rạp để diễn... Tất cả những khoản chi tiêu này dù chỉ là sắm sửa, trang trải một cách vá víu lèm nhèm thì cũng phải có tiền.

Trong bọn anh chị em "cay" làm kịch nọ, còn có cả một công tử. Y là con một nhà buôn sợi to và có xưởng dệt ở Hà Đông. Y nhập với anh em và hứa sẽ bỏ vốn. Tiền này y còn phải đợi cơ hội để lấy ở cái két mà đến nhà băng Đông Dương cũng không kiên cố và hóc hiểm bằng, đó là cái tráp văn tự khảm xà cừ và cái ruột tượng của bà mẹ y. Trong khi chờ đợi sự đóng góp của y hứa hẹn chắc chắn là phải ra tấm ra miếng, chúng tôi đã cuống lên vì chạy tiền. Cuối cùng đồng chí Như Phong, Nam Cao và tôi, kẻ thì lấy tiền của gia đình, kẻ thì bỏ cả tiền bán bản quyền sách, kẻ đem cầm hoa nhẫn của vợ, người được một trăm đồng, người được hơn trăm đồng đem góp vốn. Với số tiền này, ban kịch đã sắm được một ri-đô có thể trương cả ở Nhà hát Tây, một bộ cánh gà, có thể dùng ở tất cả mọi sân khấu, và chúng tôi tập hợp được khá đông anh chị em diễn viên, anh chị em viết văn, làm báo, họa sĩ, nhạc sĩ chuẩn bị diễn hai vở. Hai vở đã tập xong, ban kịch lên đường đi diễn, còn công tử yêu kịch, thích làm kịch, hằng tâm hằng sản, con một của một bà "triệu phú" kia vẫn chưa bỏ ra một xu. Nhưng trong các buổi ăn uống tập vở, và các chuyến đi các tỉnh được phụ cấp tiền tàu xe và cả tiền ăn sáng, ăn bữa cơm chính nữa, không buổi nào, không chuyến nào là không có mặt quý công tử kia cả.

Chúng tôi đi diễn ở các tỉnh: Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Dương. Từ vẽ tấm biển quảng cáo, đến khuân vác đồ đạc, quét dọn sân khấu và có khi thổi cơm nữa, chúng tôi đều làm lấy. Tổ chức những buổi diễn phần nhiều nhờ những anh chị em trong Hội truyền bá quốc ngữ ở ngay tỉnh đó, hay những bà con yêu thích kịch.

Kết quả cuộc vận động này chúng tôi đã tập hợp được nhiều anh chị em văn nghệ sĩ, trong đó có người vào Văn hóa cứu quốc, có người có cảm tình. Còn những vở kịch ảnh hưởng của nó trong quần chúng thì quá ít! Đã thế lại còn có vở không tốt như vở Bóng giai nhân. Khuyết điểm chính của chúng tôi là không có một chương trình diễn với những vở tốt; chúng tôi không tuyên truyền, giáo dục và tổ chức anh chị em một cách tích cực, không kịp thời phát huy những điểm tốt của anh chị em, lấy những anh chị em đó làm "nhân" mở rộng tuyên truyền, vận động tổ chức trong quần chúng.

Đến ngày cao trào cứu quốc, hội nghị Tân Trào đương tiến hành, chúng tôi đã chuẩn bị cho đồng chí Kim Lân thoát ly và tổ chức một đội kịch lưu động với những anh chị em đã nhằm sẵn trong ban kịch kia và tuyển ở mấy địa phương đương hoạt động kịch mạnh. Đội kịch này sẽ phục vụ trên chiến khu và đi tuyên truyền võ trang. Đồng chí Kim Lân tổ chức xong thì Tổng khởi nghĩa...

1942 - 1945

Những năm mà tất cả những ai là người có thiện chí đều phải ghê tởm vì sự gian dối quái gở của cái nền văn hóa gọi là "phục hưng" của bọn thống trị lúc bấy giờ.

Trước những cái lạc hậu, thối nát, ngột ngạt nhất mà lại được ca tụng là văn minh là thoải mái, là tốt đẹp, là đạo đức vĩnh cửu ấy, chỉ còn có một con đường đấu tranh với nó. Nghĩa là không thể nào không vạch mặt chỉ trán đánh thẳng vào sức phản động của thống trị, đồng thời phải bảo vệ những thành quả mà nền văn hóa chân chính của dân tộc và của nhân loại đã vun trồng không ngừng qua nhiều đời, nhiều thế kỷ. Phải tiến lên xây dựng một nền văn hóa mới, sẽ kế thừa những truyền thống nhân đạo tươi thắm và cao quý kia. Phải mở rộng phát triển không ngừng nền văn hóa mới ấy để giáo dục tư tưởng, tâm hồn quần chúng, để khai thác những khả năng vô tận của quần chúng, để tạo thành một nguồn hạnh phúc, một niềm tự hào, một lẽ sống và sức sống của loài người ngày càng tiến bộ trên mặt đất này.

Muốn chiến đấu và xây dựng nền văn hóa mới ấy của dân tộc của quần chúng, không thể nào không gắn liền hành động với phong trào cách mạng, phong trào cứu quốc lúc bấy giờ. Muốn chiến đấu và xây dựng nền văn hóa mới ấy của dân tộc, của quần chúng, không thể nào không có sự soi chiếu của chủ nghĩa Mác - Lênin. Phong trào cứu quốc càng dâng cao, những nguyện vọng, nhận thức và quyết tâm kia càng mạnh mẽ, càng tích cực. Vì vậy chủ trương vẫn tranh thủ mọi khả năng, mọi điều kiện công khai để tuyên truyền, để tổ chức tập hợp quần chúng, song cần phải xúc tiến ra được báo bí mật làm cơ quan chiến đấu chính thức, trực tiếp và kịp thời của Văn hóa cứu quốc. Chủ trương ấy đã được anh em đồng chí và những quần chúng cảm tình của Văn hóa cứu quốc vui mừng đón nhận như một trong những nghị quyết hành động chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa vậy.

Cơ quan này là báo Tiền phong ra thành tạp chí.

Cái lần tôi bày tập giấy trắng ngồi viết gần bực cửa dưới hàng hiên của ngôi nhà cũ ở quê hương thành phố Nam Định sau hơn hai năm tôi ở tù và ở trại giam về, tôi đã nghẹn ngào nao nức không sao viết ngay được. Lần này tôi cũng trở lại những cảm xúc ấy, khi chuẩn bị bài cho tạp chí Tiền phong mà địa điểm tôi được ngồi viết lại ở ngay một cơ quan hẳn hoi. Đây là nhà xuất bản của một đồng chí trong Văn hóa cứu quốc: Nhà xuất bản Mới. Mới đã in được một cuốn của đồng chí Đặng Thái Mai dịch tạp văn của Trung Quốc, và một truyện vừa của tôi: truyện Ngọn lửa. Cơ quan ở đường bờ sông Hà Nội, có một gác xép có lối cổng hậu ăn ra một ngõ hẻm ở phố đằng sau. Tôi vẫn đi lấy các báo Cứu quốc, Cờ Giải phóng, Độc lập và các tài liệu đem về đây, phân phối cho những tổ, những anh em và quần chúng Văn hóa cứu quốc. Một mình một bàn rộng, một gian gác vắng, tôi ngồi viết truyện ngắn, truyện Buổi chiều xám, mà một số sự việc, cảnh tượng và tình ý đã do đồng chí Như Phong gợi ra.

Vào khoảng giữa tháng 5-1945.

Những tin chiến thắng dồn dập của hồng quân Liên Xô đang tiến mạnh về Bá Linh như bão lửa... Những tin chiến thắng của các trận đánh du kích ở căn cứ địa Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên cũng liên tiếp dội về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng... Những tin phá kho thóc, chia thóc cho nông dân, những tin tước khí giới của các đồn các huyện tới tấp đổ thêm về Hà Nội và tràn đi khắp các làng các chợ. Những gạch chéo, những ngôi sao đánh dấu các vùng giải phóng cứ một ngày một mở rộng trên bản đồ Bắc Bộ in ở báo Cứu quốc. Trên các đường số 1, số 5 và đường các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, nông dân nghèo đói còn sống sót sau trận đói giết hàng hai triệu người, đã lũ lượt trở về quê hương làng mạc gặt hái cày cấy và tham gia vào phong trào cứu quốc. Cả Hà Nội âm ỉ, rần rật, nung nấu... Con sông Hồng ở bên kia đường trước cửa nhà tôi ngồi viết càng cuồn cuộn, ì ầm phù sa nước lũ. Chiều chiều, các đỉnh Tam Đảo, Ba Vì mây trắng lung linh, rực rỡ, vang âm như có cờ bay, quân trẩy, súng dậy, ngựa reo... Hà Nội như một ngọn núi lửa rình phụt...

Buổi chiều xám của tôi viết một lần, rồi hai lần, rồi ba lần bản thảo. Tôi tung hoành ngọn bút như chưa bao giờ được như thế. Lần chép sạch sẽ cuối cùng để gửi đã xong. Buổi chiều xám đăng lên Tiền phong, tôi không ứa nước mắt như những năm tôi bắt đầu vào đời văn, khi xong những truyện ngắn, tiểu thuyết mà tôi đặt hết hy vọng của mình vào. Nhưng mà nước mắt vẫn vỡ ra ở trong lòng tôi. Tôi vừa nghe thấy nước mắt rỉ mặn trong người, vừa cất thầm lên những tiếng hát, vừa nghe dội lại rùng rùng, vang chuyển không biết bao nhiêu tiếng hát...


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 24 tháng 2 năm 2025

« Lùi
Tiến »