V. CHUNG QUANH CUỐN TIỂU THUYẾT ĐẦU TAY ẤY
Nhưng rồi mẹ tôi cũng phải về, và tôi cũng đã xong thiên truyện ấy.
Mẹ tôi về đang lúc tôi thiu thiu ngủ, bố dượng tôi và tôi ra ngõ ngoài đón, khiêng vào một sọt trầu vỏ. Chuyến hàng này tuy nặng và đã trốn được thuế nhưng chỉ bán được tám chín đồng bạc. Trả tiền nhà rồi, không hiểu mẹ tôi còn trả những tiền gì, - chắc phải là món tiền gạo đong trữ cho chúng tôi ăn - mà quanh quẩn mấy hôm vốn liếng chỉ còn được hơn hai đồng bạc. Mẹ tôi không đi chợ nữa, ở nhà làm bánh khúc bán sáng sớm và tối khuya. Nguyên chỉ vét những hột xôi dính chõ ấy, cũng là một hạnh phúc tuyệt vời của tôi!
... Hôm ấy mưa bụi đôi lúc lại tạnh. Nhưng gió vẫn to và lạnh hút. Bữa cơm chiều tôi ăn lại ít hơn, mồm miệng nhai cứ bã ra. Chương cuối cùng đã được già nửa. Chỉ còn độ hai ba trang viết nữa là tôi sẽ đề ngày, tháng, năm, nơi hoàn thành và ký tên. Chiều còn chạng vạng, tôi cứ lên đèn, ngồi vào bàn viết. Muỗi càng kêu lọng óc. Gió đùng đùng bên ngoài. Thỉnh thoảng tôi lại ngừng bút và lật lật từng mười, hơn mười tờ bản thảo. Năm mươi, bảy mươi... chín mươi, một trăm... một trăm ba mươi... một trăm sáu mươi... Hình như tập bản thảo đầu tiên ấy vào khoảng trăm bảy mươi trang... Và đây, tất cả đã xong. Cả cái câu nói cuối cùng của nhân vật mà tôi nhẩm biết từ tháng trước, tuần trước và trong bữa ăn chiều nay. Cả ba ngôi sao để đánh dấu hết. Cả ngày tháng năm và nơi viết. Cả cái tên làm bút danh, cái tên mà tôi nhất định không thay đổi, cứ giữ y nguyên của bố mẹ đặt cho.
Tôi đã muốn reo, muốn thét, muốn cười, muốn khóc. Tôi đã muốn kêu gọi lên mấy tên người thân thiết yêu dấu và cả yêu đương của tôi. Tôi đã muốn đứng vùng dậy, dang hết cánh tay mà ôm, mà hôn, mà cắn. Tôi đã muốn làm thêm mấy câu thơ để ngâm như hát lên với một cung có thể đứt hơi. Tôi đã muốn cuộn lại, bọc, gói hết sức cẩn thận rồi đề bì gửi ngay đến cho những tờ báo, những nhà xuất bản nổi tiếng. Hay tôi nhất định sẽ không đưa cho ai, đưa đi đâu vội, mà phải cất đi, để lần sau sẽ viết lại lần thứ hai, lần thứ ba, kỳ đến lúc không còn sửa chữa được nữa, và cũng là lúc gặp một người bạn mới, một nhóm người, một tờ báo, một cơ quan nào thật chân chính mới đưa. Tôi đã muốn và đã làm theo tất cả những điều tưởng tượng bấy lâu, những khi nghĩ đến hoàn thành chương cuối cùng của truyện.
Phải! Tôi lại chỉ nằm xuống cái chõng ngắn hẹp của tôi, hai tay khoanh ấp lấy gáy, mắt nhắm lại mà nghe một cảm giác bâng khuâng, nghẹn nấc và tràn đầy trong người giữa những tiếng muỗi ran ran gần như át hết cả mọi tiếng động khác ở chung quanh tôi. Rồi tôi đứng lên, gấp mấy tập bản thảo lại vào cái bìa mỏng, lấy mấy quyển thơ văn của Huy-gô, của Vi-nhi đẹn lên.
Tôi mặc áo chùng, đội mũ, lại ra đi. Từng làn mưa bụi thổi hun hút qua mặt tôi. Tiếng gió như sóng. Đèn điện đường phố mờ mờ. Mấy hiệu thợ may và tạp hóa to vẫn còn khách ra vào. Cửa rạp hát Lạc Mộng Đài đằng đầu đường lại như sáng hơn, đông hơn. Những đèn của các hàng quà bánh, hàng nước, hàng phở giăng ra sáng cả bờ hè bên kia đường. Tiếng rao, tiếng mời chào, tiếng cười nói và tiếng bước chân đến đây dồn lại làm không khí rực hẳn lên với tiếng đàn nhị, trống mõ trong rạp vẳng ra.
Tôi men theo những hàng cây cơm nguội. Nhiều hột nước táp xuống vào cả mặt, gáy tôi. Tôi cứ để yên. Không phải vì không thấy lạnh mà vì bằng lòng, vì vui lòng, vì sung sướng được đằm được thắm cái lạnh của giờ đây. Cái lạnh sao mà ngọt, sao mà dịu của một đêm xuân làm tôi thấy rõ thêm sự ngùn ngụt của một người sung sướng và sự hạnh phúc tràn đầy. Rõ ràng bên tai tôi chỉ có tiếng gió. Nhưng tôi thấy không phải chỉ là tiếng gió mà là tiếng nói của người, tiếng cười của người. Tiếng nói tiếng cười của chính những người đang hoạt động kia tuy không quen thuộc gì tôi, không hiểu biết một chút gì về công việc của tôi, nhưng cũng cười nói lên để tỏ lòng vui mừng với tôi.
Tôi có ý tìm xem mẹ tôi có bán hàng ở đây không. Chính trên quãng đường này, cái đêm trở lạnh ngày trong năm kia, tôi mệt mỏi ở trên phố đi về, thì nghe tiếng mẹ tôi rao: "Ai xôi nóng ra mua, ai xôi nóng ra mua". Tôi đã gọi mẹ tôi, hỏi mẹ tôi còn nhiều không. Lúc ấy đã gần mười giờ, mà chõ xôi mới bán được mấy đĩa. Mẹ tôi ép tôi ăn một đĩa rồi bảo tôi cứ về. Sau buổi hàng ấy mấy hôm, mẹ tôi lại hết vốn, và đó là đĩa quà ngon nhất tôi được ăn từ ngày ra Hải Phòng vậy!
Đêm ấy tôi không thấy mẹ tôi nhưng trông nhiều người sao cũng hao hao giống mẹ tôi thế ở cái dãy hàng quà lúi xúi bên kia rạp hát chuyên bán cho những người kéo xe và những người đi tầm muộn về.
Tôi qua phố Cầu đất rồi lại ngược lên đường sông Lấp, ra cảng Sáu Kho. A! Chính con đường tôi đi đêm giao thừa hơn tháng trước đây. Và đây này cái cây cơm nguội tôi chọn bẻ một cành lộc. Lại còn những cây cơm nguội, những hàng cây cơm nguội cao hơn, tôi đã đi dưới bóng tối ẩm lạnh của nó mà ngâm các bài thơ. Lại còn cả bầu trời mây gió vần vụ, sương tỏa mịt mùng nữa!...
"Sự sống ơi! Cuộc đời ơi! Những ai là người cũng nghèo khổ cùng kiệt đang sống cái cuộc đời lầm than khó khăn và tủi nhục vô cùng nhưng vẫn đáng yêu đáng tin vì nhất định một ngày mai đây những nỗi áp bức bất công, những sự tàn bạo, độc ác sẽ được vạch ra và trừ bỏ đến tận ngọn tận nguồn... những ai là người cùng chung số kiếp với tôi ấy, vì Người, do Người mà tôi đã viết xong được một thiên truyện đấy!... Người cho tôi gửi tặng nhá. Người đọc cho tôi nhá! Người làm chứng cho sự sống của tôi nhá. Người đánh giá việc làm của tôi nhá. Người hãy nhận cho tôi! Người hãy nhận lấy những trang chữ, hãy nhận lấy trọn vẹn trái tim và linh hồn tôi, một đứa con xấu số chỉ có thể sống với cuộc đời của Người, ăn ở với Người cho đến trọn đời.
Tôi đã mở hai cánh tay, nước mắt tràn ra, vừa đi vừa nói thầm, nói thầm rất nhiều như thế...
⚝ ❖ ⚝
Tôi nhất định không lấy những cái tên ấy. Những nàng thôn nữ lạc loài, Một kiếp trầm luân, Người con gái xấu số, hay cô Thắm, cô Hương, cô Sen, cô Lý, hay Một bản án thương tâm, Một linh hồn và đêm tối, Tội lỗi thuộc về ai, vân vân... Tôi gọi hẳn nó là Bỉ vỏ. Theo đúng tiếng lóng của cái xã hội ấy và cũng theo đúng với cuộc đời và câu chuyện của nó, bỉ là con, vỏ là ăn cắp: một con ăn cắp. Cũng như Hải Phòng đã gọi những ngõ Hàng gà, ngõ Tây cụt, ngõ Cô Ba chìa, ngõ Chè chai, ngõ Cố đạo, đường Máy nước hai vòi, đường Thiên lôi, đường Cầu đất, chợ Sắt, chợ Cột đèn, đường Quán bà Mau, hồ Quẹt, ao Than, vườn hoa Nhà kèn, vườn hoa Chéo, vườn hoa Đưa người, vân vân...
Phải, tiểu thuyết Bỉ vỏ là câu chuyện và cuộc đời của một con ăn cắp: Bính hay Tám Bính.
Nhà Bính ở một làng ven sông, bố đi làm nghề chở đò, mẹ và mình làm nghề xay xáo đi các chợ gần chợ xa. Bính đẹp và hiền lành. Chính vì đẹp và hiền lành nên Bính đã bị lừa dối và chịu nhiều nỗi oan ức, nhục nhã đau thương vô cùng.
Bính đã yêu và có mang với một thằng trai trẻ có chữ nghĩa, người thành thị, làm thư ký đạc điền mà Bính những tưởng trao xương gởi thịt. Không thể chịu được những tục lệ cay nghiệt và những tai tiếng quái ác, Bính đẻ xong, phải bỏ làng ra đi. Bính đi để tìm người tình nọ mà Bính vẫn còn nhiều tin yêu, trông cậy. Bính ra đến Hải Phòng. Bính lại liên tiếp sa vào những cảnh thê thảm tàn bạo khác. Bính bị hãm hiếp, bị lừa lọc và trở thành một tội phạm. Chuộc tội cho Bính là một chủ nhà chứa!
Ở đây, Bính đã phải làm nhà thổ, một hạng cùng mạt trong nghề mãi dâm, và cũng đã thấy rằng mình không thể sống được nữa. Vì bệnh tật, vì sự hành hạ và tuyệt vọng, Bính đã định tự tử.
Cứu Bính và khuyên can Bính, làm Bính hồi người lại là một người cũng làm nhà thổ như Bính, nhưng đã ở lâu trong nghề, tâm hồn cũng như thể xác tưởng như đã khô kiệt hoàn toàn. Thế rồi Bính đã được ra khỏi nhà chứa và được có chồng, được làm vợ hẳn hoi. Bính lấy Năm Sài Gòn. Năm Sài Gòn tứ cố vô thân, sống ở Hải Phòng làm nghề du côn, anh chị. Năm Sài Gòn đứng đầu các bọn này vì Năm Sài Gòn đã qua không biết bao nhiêu án tích. Đặc biệt vì Năm Sài Gòn không hề biết sợ. Sợ đổ máu! Không hề biết tiếc! Nhất là tiếc với bạn bè, với những người mà Năm Sài Gòn thích thú, yêu mến, quý trọng.
Nhưng càng được Năm Sài Gòn hết mực chăm sóc, chiều chuộng bao nhiêu, Bính càng lo nghĩ buồn phiền bấy nhiêu. Bính lo nghĩ buồn phiền vì Năm Sài Gòn. Bính không thể tưởng tượng sự sống của Năm Sài Gòn lại ghê sợ, khủng khiếp như thế. Và càng không thể tưởng tượng được một người như thế lại thương yêu mình, là chồng mình, thì Bính lại càng yêu và thương Năm Sài Gòn.
Trong tình yêu thương này, Bính nhất quyết lôi kéo Năm Sài Gòn đi sang con đường khác, con đường bình thường của những người làm ăn lương thiện, mặc dù sẽ khó khăn vất vả, túng thiếu chừng nào Bính cũng sẽ vượt lên, nuôi lại Năm Sài Gòn.
Một lần nữa Bính lại tính lầm. Tất cả những gì là chịu thương chịu khó, phải chăng, êm dịu, ngọt ngào, trìu mến và thương yêu của Bính gần như không thể một mảy may lay chuyển được người chồng ấy. Hai người đã bỏ nhau giữa những ngày sống trở nên khó khăn. Năm Sài Gòn ở lại Hải Phòng, Bính trở về Nam Định. Tình cờ Bính gặp lại người bạn cũ cùng nghề nhà thổ trước với mình. Bính được người ấy giới thiệu rồi lấy chồng mới, làm mật thám gác xà lim. Cuộc đời làm vợ lần thứ hai này cũng có thể là an nhàn sung sướng.
Nhưng rồi Bính cũng lại phải bỏ cuộc đời đó mà đi... Bính ra đi lại làm vợ Năm Sài Gòn. Sang đoạn này Bính theo hẳn Năm Sài Gòn làm nghề ăn cắp. Từ ăn cắp đường, đến ăn cắp trên xe lửa, trên tàu thủy, và từ vụng về đến lành nghề, sành sỏi và cũng tàn bạo như chồng, Bính mỗi lúc cố nhoi lên ánh sáng thì lại bị đẩy, bị kéo sập sâu hơn xuống vực thẳm.
Cuối cùng Bính đã bị bắt cùng Năm Sài Gòn trong một vụ vừa cướp của vừa giết người. Kẻ bị giết là một đứa bé con trai. Thằng bé này chính là đứa con mà Bính đã phải cho đi khi còn đỏ hỏn. Bính thỉnh thoảng còn có được chút hy vọng và thấy cái ý nghĩa sống thoi thóp trong cuộc đời tối tăm của mình, chính là chút hy vọng tìm gặp lại được giọt máu ấy!
Phút giây tra tay vào cặp khóa sắt cũng là phút giây đoàn tụ cuối cùng, rồi vĩnh biệt chồng, con và cuộc đời "tự do" của Bính...
Đã có những bạn đọc và cả những bạn viết trẻ thường hay hỏi tôi bằng thư hay trong những buổi gặp gỡ chuyện trò về công việc viết văn. Rằng Bỉ vỏ là truyện có thật hay không. Nếu là tưởng tượng, là "hư cấu", thì tưởng tượng "hư cấu" đến mức nào? Hay là tôi đã sưu tầm tài liệu, đã sống, đã đi thực tế như thế nào để viết? Nhiều bạn lại còn nghi ngờ tôi phải được ai kể hay "gà" cho thì mới có được một sáng tác như thế. Ấy là không kể nhiều câu hỏi tỉ mỉ và hóc hiểm khác về nào cốt truyện, nào nhân vật, nào ngôn ngữ, nào kỹ thuật, nào tư tưởng, và về cả sự học hành và nghiên cứu, luyện tập nghề nghiệp của tôi, vân vân...
Vậy thì, trong phạm vi chương này, tôi xin phép kể lại một số sự việc và có một số ý kiến sau đây để các bạn tham khảo. Và cũng xin phép được viết không thành mục A, B hay I, II, mà cứ nhớ đến đâu, nghĩ thế nào, tôi viết như thế.
⚝ ❖ ⚝
... Thuở bé, tôi thường phải đọc sách cho cha tôi và bà tôi nghe. Phần nhiều là truyện Tàu thuê mỗi ngày mỗi cuốn một xu, ở một hàng cho thuê truyện kiêm bán ô mai, chuối khô, v.v... Giá bán đề ở mỗi cuốn chỉ có ba hào, thường là của các nhà xuất bản trong Sài Gòn nhưng phải ký quỹ mất một đồng. Bao giờ thuê những pho truyện hay cũng phải chầu chực, hẹn hò và tranh giành nữa. Những cuốn này đều rách như sắp nát ra, phải vá, phải can, phải dán giấy bóng và bằng cả vải nữa. Có tập hình như nhà hàng san bớt ra để thêm cuốn. Vì thế, nhiều cuốn đáng lẽ là năm sáu mươi trang, lại chỉ có bốn mươi, hơn bốn mươi trang, và dày cộp lên, nặng trịch vì bìa bồi thêm, các tờ rách nát phải can phải vá.
Qua những pho truyện này, tôi gần như thuộc được phần nào sử của Trung Quốc ngày xưa, từ đời Phục Hy, Thần Nông, Tam hoàng Ngũ đế với các Lão Tử, Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Thượng Lão Quân, Phật Tổ Như Lai, Kiệt, Trụ, Đát Kỷ, Bao Tự, đến Đông Chu, Tây Hán, Đông Hán, Đường, Tống, Thanh... với những Phong thần, Đông Chu liệt quốc, Thất quốc chí, Tây Hán chí, Tam quốc chí, Thuyết Đường, Chinh Đông, Chinh Tây, Phấn Trang lâu, Vạn Huê lâu, Ngũ hổ bình Tây, Bao Công kỳ án, Tống Nhạc Phi, Thủy hử, Càn Long du Giang Nam, Tây du, Liêu trai chí dị, Kim cổ kỳ quan, v.v...
Có những pho cha tôi cứ bắt tôi đọc đi đọc lại, khiến tôi gần như học thuộc. Cả bà tôi cũng thế. Nhưng có những pho tôi tự ý "nghiền" như thế. Thích thú vẫn là những pho tôi rủ mấy thằng bạn mê tiểu thuyết, nghiện tiểu thuyết, kết nghĩa làm anh em để làm một số việc như trong tiểu thuyết, và để góp tiền thuê tiểu thuyết đọc chung với nhau. Việc này chắc không có ở những anh hùng nghĩa hiệp, hào kiệt dị nhân kia!
Hầu hết những sự việc và nhân vật chính của những truyện này đã hằn rất nhanh rất sâu trong tâm hồn và trí nhớ của tôi, còn do tôi được xem diễn những vở tuồng mà tôi say mê hơn cả đọc. Không thể nào có tiền đi xem, nên đành phải tìm các phép, các mưu, các cách giải quyết. Trốn vé, lậu vé, trèo tường, chui cửa. Đóng các thứ kịch: tìm cha, tìm mẹ về nhà ngay có người ốm, người chết. Làm con, làm cháu các ông lính, ông bếp và các cụ nhà quê đi xem. Hầu hạ các ông kép hát, kép đàn, làm quen với các tay kéo phông, quét rạp hay bán bia nước chanh, thuốc lá trong rạp, để được kéo quạt hầu khách sang xem hát mà không lấy tiền công, v.v...
Đát Kỷ mê hoặc Trụ Vương bắt mổ Tỷ Can để xem tim và ăn tim "thất khiếu" của Tỷ Can; Bao Tự buồn bã ủ ê, vua nhà Chu bắt xé hàng kho lụa để chuốc lấy tiếng cười của Bao Tự khi nghe lụa xé. Vợ Ô Hắc Lợi đã chết vẫn còn hiện hồn làm đom đóm tiễn chân đưa dẫn đường cho chồng đi báo thù. Bá Ngọc Sương giữ lời đính ước, lìa bỏ cha mẹ đi tìm La Côn cả ba họ bị tru diệt. Tôn Nhị nương, Cố Đại tẩu quái kiệt trong đám anh hùng khuấy nước chọc trời ở Lương Sơn Bạc. Đỗ Thập nương, gái lầu xanh nhảy xuống sông chết với tất cả châu báu của các khách làng chơi đã say đắm dâng hiến cho mình. Anh hàng bán dầu rong đường si tình đã đem tất cả tiền lãi của một đời đi bán dầu để "hát" một đêm, và anh đã "cảm" được hoa khôi nọ. Nữ tướng hồ ly nhả cả tinh ngọc của mình tu luyện để cứu chữa bệnh người yêu và người yêu xinh trai đẹp mã đã nuốt chửng cả ngọc quay lại giết mình (Tiết Giao đoạt ngọc). Và những hồ ly khác mê say, hào hiệp, tình nghĩa, thủy chung.
Và còn Kiều, - cái con Kiều: Làn thu thủy nét xuân sơn, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh và Phép nhà tay lựa nên xoang, nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.
Chao ôi! Cái truyện con Kiều này thì chính bà tôi lại "đọc" cho tôi nghe. Và bà tôi không đọc bằng sách, mà ngâm, và kể với một giọng bây giờ tôi khó lòng được nghe lại. Lúc đoạn này, lúc đoạn khác, cũng vào những buổi trưa nắng vắng vẻ, những chiều thu tàn lạnh, và cả những đêm xuân trong nhà rực hoa đào, hoa cúc, tranh tết, và quả mứt và cơi trầu đều có khăn lụa phủ lên...
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông mặt nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu...
Nổi danh tài sắc một thì
Xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh
Phận hồng nhan có mong manh
Nửa chừng xuân thoắt gẫy cành thiên hương...
Sống làm vợ khắp người ta
Hại thay thác xuống làm ma không chồng...
Nhà tôi trước bán hàng cơm và chứa trọ. Ngày đó có một người khách đàn bà làm tôi để ý. Tôi phải để ý đến người này vì thấy hình như y bị mọi người trong nhà ghê ghê, sợ sợ và khinh bỉ. Y nằm ở một tấm phản tồi tàn mé trong lối vào nhà bếp. Người xanh bủng, trông còn trẻ mà rã rượi, ốm yếu một cách lạ. Y ăn riêng, bát đũa phải rửa lấy và để ngay ở chỗ mình nằm. Thoạt đầu tôi cũng lây sự ghê ghê sợ sợ của mọi người. Nhưng sau được kín hở biết chuyện về y, rằng y làm nhà thổ, bị bệnh rất nặng, thì tôi lại càng tò mò, muốn có dịp đến gần và xem thế nào. Mặc dầu đã lấy hết sức can đảm, tôi cũng không thực hiện được sự rắp tâm nọ. Vì cứ đến gần y, tôi lại chùn cả người lại vì một thứ mùi hôi thối xộc ra ở chỗ y nằm, đặc biệt là ở ngay người y, khi y lần lần đi qua mặt tôi, hay khi tôi phải bước nhanh qua chỗ y. Cuối cùng, tôi còn thấy thêm một điều lạ này nữa. Không những y còn trẻ mà lại đẹp, và tuy ốm yếu, nhưng y vẫn lẳng lơ khêu gợi trong những lúc y trông hay nghe chuyện một người đàn ông khác có vẻ chú ý đến y.
Sao thế? Sao một người còn trẻ lại đẹp mà phải đi làm nhà thổ và bị bệnh nặng đến thế? Sao con nhà thổ ấy lại có họ với người làm bếp cho nhà tôi? Anh ta rất quê mùa cục mịch thế mà cũng lộ vẻ rẻ rúng khinh bỉ y, chỉ muốn mau mau chong chóng tống táng y đi đâu thì đi!
... Lớn lớn một chút, tôi được biết thêm một người nữa là chị L. Tuy bé nhưng tôi cũng ngượng ngượng vì chị. Chị làm nhà thổ. Chị có họ xa với nhà tôi. Không hiểu sao một hôm tôi lại dám vào cái nhà ghê khiếp của chị L. Chị đang đánh chắn, mặc quần đùi trắng, cởi trần đeo nịt vú, tóc vấn có lúc buột ra xã xượi. Chị vừa ăn phở, húp nước dùng đặc sệt ớt với hồ tiêu cứ xuýt xuýt, vừa lên bài, sắp bài, vừa "bốc" vừa "phát". Chị bắt tôi ăn một bát phở, cho tôi mấy xu, rồi mới cho tôi đi ra. Tôi cầm tiền, chẳng chào, chẳng cảm ơn, ù té chạy. Bẵng đi hàng mấy năm tôi lại gặp chị. Chị về nhà với mẹ và em. Em chị lấy chồng làm thư ký lục lộ. Ở cạnh nhà tôi. Chị cũng gọi tôi trước, kéo tôi vào chỗ chị ngồi. Chị không mặc quần đùi, không cởi trần, đeo nịt vú, mà mặc áo cánh quần dài, chít khăn hẳn hoi. Nhưng vẫn đánh bạc. Vừa "bốc" "phát", vừa hút thuốc. Hút cứ sòng sọc, tỏa khói làm mọi người ho sặc sụa. Người chị đen, gày khẳng, và cũng làm tôi ghê ghê, sợ sợ vì vẫn như là mùi thối của bệnh tật thoảng ra từ người chị. Được ván ù to, chị lại cho tôi mấy xu, bắt tôi luôn luôn sang chơi, đọc truyện cho chị nghe, muốn ăn quà gì cứ bảo chị.
Nhưng lần đó là lần cuối cùng tôi gặp chị. Không hiểu chị đi bán xới ở đâu hay chị chết bệnh cũng ở đâu? Tôi không biết hỏi ai và cũng không dám hỏi ai. Đúng tên chị là Lan.
... Trường học của tôi ở gần trường con gái. Cách trường con gái một mặt đường là nhà thương. Sau nhà thương là nhà tù và Sở mật thám. Không hiểu sao có những buổi đi học, về học, tôi cứ lại qua khu nhà thương và khu nhà tù, cách xa nhà tôi hơn cây số. Và con đường tôi chọn để đi là con đường qua khu nhà gióng trong nhà thương. Ở khu này có mấy dãy nhà không có cửa kính cửa chớp gì cả. Cửa ra vào lắp toàn bằng gióng gỗ lim rất to, ngoàm sắt, chốt sắt, khóa to bằng cái búa tạ. Tít trên cao có một khung cửa gióng nhỏ hơn bằng sắt, xây liền với tường. Hai dãy nhà trông thẳng vào nhau, một dãy nhốt những người điên, một dãy nhốt những nhà thổ. Bên dãy nhà thổ, bao giờ cũng đông hơn. Có lúc tôi trông thấy hàng chục người ở trong ấy. Chao ôi! Thế này thì họ ăn, họ ngủ, họ sống thế nào được? Họ làm nhà thổ nhưng cũng là người mà!
Họ nằm ngồi ở trên giường sắt và cả ở nền xi măng. Chỉ mấy người có quần áo lành lặn hẳn hoi. Còn đều là quần đùi, cởi trần, đeo coóc-xê. Gần như không có ai còn máu mặt, không ai không loét lở sần sùi. Cũng có người trông hơi beo béo và sạch sẽ thì vàng ủng, trắng bợt như phù thũng, và gương mặt hùm hụp lại còn sợ hơn. Những ai tô hô nằm yên mà hát còn khá, nhiều người lại trèo đu lên gióng gỗ cửa mà cười nói, vẫy gọi, khi có các kẻ bên ngoài là đàn ông. Sao họ bị bệnh nặng mà vẫn cứ hát, cứ đùa, cứ trêu cợt? Và họ đã ở nhớp nhúa chật chội lại còn ăn như thế kia thì sống sao được? Cơm mỗi suất đóng thành oản lật đít lên hum hủm đựng mấy con cá khô hay cá ươn kho muối và những cuộng rau muống, rau củ cải đã nẫu, quấn từng búi. Cũng như cơm của tù vậy. Đến giờ ăn, người đưa cơm tháo gióng gỗ ra, lấy chân đá đá cái mâm gỗ đựng những oản cơm vào cho họ, chứ không bước vào nhà họ...
Có những buổi trưa, tôi một mình đứng rất lâu dưới gốc cây đằng xa nhìn xem họ ngủ và nghe họ hát. Tôi nhìn xem và nghe cả những người nét mặt rất dữ rất ác lặng thinh ở mé cửa, ở góc nhà, lầm thầm như đang nguyền rủa. Mấy người này chính là người quần áo lành lặn hẳn hoi, nhưng lại bủng bớt vàng vọt có vẻ bệnh nặng hơn...
Một cảnh sống và một con người tôi muốn kể thêm nữa trong những ngày thơ ấu của tôi là: Cô Tắc Xê.
Cô Tắc Xê ở cùng phố tôi. Nhà tây hai tầng, tường đắp hoa từ chân lên tận nóc như kiểu Nhà hát Tây vậy. Cửa chính, cổng ra vào và cửa sổ đều bằng sắt. Ngoài cửa sắt còn có những khung gióng sắt và bịt lưới sắt. Trông vào nhà - tôi chỉ trông vào được gian nhà dưới và một khoảng trong cổng - không thấy chỗ nào không có đồ đồng, đồ sứ, pha lê, mặt gương, hoành phi, câu đối tranh ảnh. Các thứ kiểu tủ, bàn, ghế, sập, đôn... với một giá gụ cắm xà mâu, đao, chùy, kích, mười tám thứ binh khí ở cửa ra vào. Từ sập gụ khảm xà cừ, đến bàn ghế kiểu đời Càn Long, Khang Hy đến tủ bích phê, bàn rửa mặt chỉ những công sứ, chánh tòa mới có, đều kê bày chật kín cả nhà.
Cô Tắc Xê ở một mình, người hầu hạ có một con sen và một anh xe. Đi phố, đi chơi, cô Tắc Xê ngồi chiếc xe cũng khảm xà cừ, người kéo cũng cuốn xà cạp đỏ, quần áo trắng là, đội nón dứa chum chũm. Hình như tất cả vàng ngọc và nhung lụa, xa tanh, gấm của cả tỉnh đều đắp lên người cô. Từ những hột, dây chuyền, xuyến, vòng, nhẫn, hoa tai, trâm, cúc áo, ví, tráp, hộp phấn sáp, ống vôi, "bót" thuốc lá... đều bằng vàng hay nạm ngọc, cứ quấn quýt, chề chễ, lỉnh kỉnh khắp trên người, trên tay và chung quanh cô. Tôi không thể đoán được phải bao nhiêu sáp và phấn đã trạt lên mặt cô, mà tôi thấy cả đến mặt của những hình nhân của các hàng mã kỳ công nhất, cũng không thể bóng, trắng và mỡ mượt như thế. Mặc dầu vẫn không thể lấp được những nếp nhăn của một khổ mặt to xương và một lớp da đã nhăn đã vỡ.
Năm ấy cô Tắc Xê nghe đâu gần năm mươi hay ngoài năm mươi rồi. Tôi tuy ở cùng phố với cô và là đứa trẻ rất tò mò, nhưng tôi cũng không thể biết được chuyện chồng con của cô, cũng như quê quán, họ hàng, lai lịch của cô. Khi thì thấy đồn chồng cô là một quan tư giám binh, một công sứ, một chánh án. Khi thấy nói chồng cô là những chủ gì chủ gì ở trên Hà Nội, ở trong Sài Gòn. Cũng có người thì thào rằng chồng cô, và là người chồng có con với cô hẳn hoi, hay thật là người đầu tiên ăn nằm với cô, là một cố đạo! Cha này đã phải về Tây, sau khi nhà thờ làm lễ lột da cái bàn tay chuyên cầm mình thánh Chúa cho con chiên chịu lễ!
Đây là những chuyện nghe đồn, nghe nói. Và đây là những điều thật tôi được biết: cô rất hà tiện. Ít thấy cô đi chợ mua sắm gì cả. Nếu có hàng rong nào qua nhà như bán rau, bán thịt, bán cá ế cô mới gọi mua. Bao giờ cô cũng gọi trước mọi người, nhưng bao giờ cô cũng là kẻ trả tiền sau cùng, và thường là rau muống cá vụn hay vài lạng thịt bụng để rim mặn. Không ai ở được lâu với nhà cô. Từ con sen đến người kéo xe. Cả những con sen và người kéo xe nghe nói là người nhà, người họ của cô. Chính những người này ăn mặc trông ra vẻ đấy, nhưng toàn ăn đói, khi đi ngủ thì cửa buồng khóa, cô giữ chìa từ tám giờ tối hôm trước đến sáu giờ sáng hôm sau.
Cửa cổng lại càng nghiêm ngặt. Sau cổng, xích một con chó lài và trong nhà lại còn mấy con nữa. Ở nhà, khi ăn cơm, cô Tắc Xê cũng đánh phấn, mặc quần áo, đeo vàng ngọc đủ lệ bộ. Không hiểu giàu có mà lại ăn uống như thế, sao cô vẫn béo vẫn khỏe. Nghĩa là không thấy cô cân thuốc, hay có cụ lang, quan đốctờ nào đến nhà cô cả!
- Cha con mẹ đẻ mày! Bà làm đĩ, ừ thì bà làm đĩ, nhưng làm đĩ như bà có tàn có tán, có nhang án thờ vua, có trống chùa cầm canh!... Còn hạng đầu đường xó chợ như chúng mày có vào nhà bà giặt váy cho bà cũng không đáng!
Nhiều lần cô đã mua rẻ thịt, rau và còn quàm quắp của người ta. Người bán hàng nhiếc cô, và cũng là những tay bán hàng có sừng có mỏ, cô không thể túm đánh hay gọi đội xếp đến, thì đã vung tay mà chửi như vậy!
Tôi biết rõ không phải vì cô Tắc Xê không muốn chơi bời với ai, nên không thấy ai là bạn bè đến nhà, mà hàng phố như hết thảy bảo nhau không bắt nhời hay nhòm ngó gì đến "Con mẹ Tắc Xê" hết.
- Con mẹ Tắc Xê nó mà chết thì chết thối ra thôi. Chỉ có mõ tòa và cẩm sen đầm ở Nam Định đến nhà nó đi đưa nó!
⚝ ❖ ⚝
... Những ngày mới ra Hải Phòng đi tìm việc và những ngày tôi viết tập truyện ngắn đầu tiên, tiếp đó xây dựng thiên tiểu thuyết Bỉ vỏ, tôi thường qua phố Hạ Lý. Nếu như tôi thường ngồi ở vườn hoa Đưa người mà nghỉ ngơi suy nghĩ, và càng thấm thía vì những cảnh tối tăm không thể tưởng tượng được ở nơi đây, thì khi đi qua phố Hạ Lý, rồi ngồi ở cái vườn hoa bến tàu Tây điếc mà trông ra con sông Tam Bạc và trông sang phố đó, tôi cũng ngạc nhiên đau khổ như thế. Khu này có mấy xưởng nhỏ sửa chữa sà lan, mấy nhà máy nhỏ, mấy kho hàng của Tây và Hoa kiều và cũng nhiều thợ máy, cũng nhiều phu phen, nhưng sao cảnh làm ăn ở đây lại có một vẻ gì khang khác, đặc biệt. Có lẽ vì những nhà máy, những xưởng thợ ấy xập xệ chật chội, và tối tăm quá. Hay cũng vì những kho hàng ấy tồi tàn quá (Nhiều kho đề xây từ hai mươi, ba mươi năm nay, cổng kiểu cuốn thư, lưỡng long chầu nguyệt, nhưng nóc thì trống toác, cửa, cổng không còn gì cả, ăn mày tụ tập nấu khói um, rác rưởi ngập ngụa). Và đằng sau những dãy nhà này, trên bãi sông nơi thợ làm việc lại còn lầm lội, bẩn thỉu hơn.
Phần chính khu phố đây là khu nhà thổ cặn bã của Hải Phòng. Mấy chục gian nhà hai tầng ở ngay đầu phố và giữa phố hầu hết là nhà chứa, tiệm hút. Với mấy chục gian nhà ấy, tính ra có đến mấy trăm buồng. Mỗi buồng là một giường, mỗi buồng đều bưng ván, chịt giấy bịt liếp,... và sùm sụp buông màn che cửa. Quanh năm, chiếu ở trên cao giữa nhà, chỉ có một ngọn đèn vàng khè. Quanh năm nhớp nháp, mờ mờ hôi hám. Cả những ngày tết, ngày lễ. Những ngày tết Tây cũng như tết ta, những ngày lễ lớn mà các công sở đều được nghỉ, kéo cờ, mắc đèn. Không một lúc nào là không có cảnh cười đùa, kêu thét, hát xướng, chửi rủa, giằng xé, ăn uống, cờ bạc, hút xách.
Và quanh năm, bảo rằng ở đây người ta chỉ có đêm không có ngày cũng được, hay không có đêm chỉ có ngày cũng được. Quanh năm người ta chỉ thức không ngủ cũng được, hoặc chỉ ngủ mà không thức cũng được.
Trên đây là một phần lớn những người, những cảnh tôi đã được nghe được biết, được sống trước khi viết tiểu thuyết Bỉ vỏ. Tôi cũng xin phép kể thêm một số truyện của ta như: Anh hàng phở lấy vợ cô đầu, Mồ cô Phượng, Châu về hợp phố, v.v... tôi đã đọc khi còn bé.
Nhưng tất cả những truyện trên cũng như tất cả những tuồng, những phim tôi đã xem đi xem lại, đều chỉ đóng góp một phần nào đấy cho công việc viết của tôi. Là vì trong khi tôi xây dựng Bỉ vỏ, hoàn toàn tôi không tưởng nhớ, nghĩ ngợi gì đến những truyện kia cả. Cũng như khi tôi xây dựng nhân vật chính là Tám Bính, thì tất cả những nhân vật trong các tiểu thuyết hay trong cuộc đời, tôi cũng đều không tưởng nhớ nghĩ ngợi gì đến "họ" cả!
Hình ảnh Tám Bính, con người Tám Bính, cuộc đời Tám Bính, hoàn toàn do tôi tạo nên với tất cả sự tưởng tượng, suy nghĩ của tôi về sự đau khổ mà tôi đang sống và phải sống ở cái xã hội bấy giờ.
Phải! Chính vì sự đau khổ tôi phải sống và đang sống ở cái xã hội bấy giờ nên tôi đã tạo ra Tám Bính bị lừa phản, chịu những oan ức; bệnh tật phá hoại thể xác, tội ác phá hoại tinh thần; con người cứ vùng lên dập xuống, dập xuống lại vùng lên. Trải qua bao nhiêu cảnh đau đớn, tủi nhục, tối tăm, tất cả trái tim và linh hồn bị xẻo, bị nướng, bị tan nát... tất cả những ước mơ trong sáng, tươi thắm đẹp đẽ nhất của cả một đời bị tàn phá... tất cả những gì lành mạnh, cao quý thiêng liêng nhất, thể chất cũng như tinh thần đều bị thay đổi ngoài ý muốn của mình, cuốn đi, xô đi bởi một sức mạnh tàn nhẫn, độc ác vô cùng... Tám Bính lẻ loi, bơ vơ, trơ trọi ấy, cũng có cả một phần tôi và một phần của bao nhiêu người cùng cảnh. Tôi mượn Tám Bính để đưa ra giữa ánh sáng ban ngày của trái đất một sự thật trong những sự thật của một hạng người, một số người. Tôi mượn Tám Bính để làm cho nhiều người thấy có một sự thật trong những sự thật như thế của xã hội.
Tám Bính là một sự sống để làm chứng một đời sống, để làm sống một đời sống. Tám Bính thay tôi để làm chứng, Tám Bính thay tôi để làm chứng cho khách quan hơn, thuyết phục hơn. Tám Bính là một con người để tôi gửi gắm tin cậy, và cũng một con người để tôi đau xót vô cùng. Phải! Chính vì có Tám Bính mà tôi càng thêm thương yêu, càng thêm tin tưởng và có trách nhiệm với sự sống vậy! Hạnh phúc và tình nghĩa biết bao cho tôi! Và cũng lo âu, vất vả, hồi hộp bao nhiêu cho tôi!
Thế là chủ đề và nhân vật tôi đã suy nghĩ tưởng tượng được rồi, trên cơ sở của sự sống mình đã sống, và cuộc đời của những con người tôi dựng hẳn lên. Còn những nhân vật phụ, những sự việc, những tình tiết, những diễn biến, những lớp lang, những cảnh, những đoạn, những hồi, v.v... tôi cũng lại vừa rút ra ở những điều đã mắt thấy tai nghe, vừa sáng tạo hẳn hoàn toàn mới mẻ.
Những cảnh bến tàu hành khách bị lôi kéo và được chào mời quá như bị bắt nợ. Vé mua rêu rao tàu này lấy rẻ hơn tàu kia chênh lệch từng hai xu, ba xu, và mỗi suất vé mua còn được biếu nào một bao thuốc lá, mấy gói chè củ ấu hiệu Chính Thái chính cống, hay một bánh tây hai xu, một phong bánh khảo... Không kể lại có chiếu mới để ngồi, có võng nằm, v.v... Những ngày hội Đại cách mạng Pháp 1789 phá ngục Bátxtin với những người đi xem toàn những trò liếm chảo, chọc nước, nhảy bị, đập nồi, đập niêu, xóc đĩa, chẵn lẻ, ba que, bài tây và trẻ con bị ngã, bị đè, bị lạc kêu khóc như ri. Những vườn hoa còn hoang lạnh tăm tối hơn địa ngục. Những ngõ ngách quái gở. Những mụ chủ và những khách ăn chơi yêng hùng, tên tuổi không là Bạch Liên, Mộng Điệp, Phi Hùng Nga, Lục Kiếm Đồng, v.v... mà là Tài xế Cấu, mụ Béo và những Tư lập lơ, Ba trâu lăn, v.v... Và những nhà tù, ở đây, có những tên mật thám đã bị bọn tù thường phạm bắt ăn cả phân trộn tóc, chứ không phải là những nhà trinh thám kỳ tài gì cả. Và ở đây thành một giang sơn khủng khiếp, đất sống cuối cùng của đám du côn anh chị lừa lọc, xâu xé lẫn nhau, tuy trước kia vẫn cưu mang nhau, thuốc thang khi đau ốm, thăm hỏi quà cáp khi bị vận hạn.
... Tất cả những cảnh, những việc, những hoạt động và những không khí ấy lúc tưởng tượng sắp xếp, cũng như viết ra, tôi đều cố gắng sao cho thật là của tôi! Dù tôi non nớt, dù tôi vụng về, dù tôi không tài không giỏi không lọc lõi, không cao tay nghề, nhưng tôi nhất định không chịu kém trong tinh thần cố gắng, trong công sức sáng tạo, trong cá tính và nét riêng biệt của sự sáng tạo.
Về điểm cá tính và nét riêng biệt này, tôi thấy phải biết tởm lợm, phải biết sạm mặt, nếu vì để có được những "cái đó" mà phải cầu cứu đến sự bịp bợm, làm quỷ thuật, gian dối và trâng tráo, lì lợm. Để có cá tính và nét riêng biệt, ngay từ khi viết những truyện ngắn đầu tiên, nghĩa là ngay từ khi tôi rắp định bước vào nghề văn, làm nghề văn, tôi đã tự nhủ phải làm sao "cái đó" toát lên ở tâm hồn biết yêu thương của mình, ở màu sắc sự sống mà mình diễn tả, ở thái độ trước cuộc đời mà mình suy nghĩ, ở sự gửi gắm của mình với người đọc, ở cái mình đem lại cho người đọc thật có một sự kết đọng cao quý và trân trọng vì nhân sinh không.
⚝ ❖ ⚝
... Tôi đã thành cậu giáo với lớp học hơn mười học trò hẳn hoi chứ không phải chỉ được người ta gọi tên thôi như trước.
Khoảng đầu tháng tư năm 1936 ấy, bà Huề, con trai lớn làm dưới tàu to, còn bà chuyên bán trầu nước thuốc lào ngoài Sáu Kho, cũng thuê nhà của vợ chồng bác Tiểu với tôi, đã nhờ tôi dạy hai thằng con bé của bà. Sau đó nửa tháng, liền thêm ba đứa nữa. Tới khi có cái bé Xuân, cháu bà cụ ở xóm trong, trải mấy thầy dạy mà mặt chữ a b c cũng không thuộc, xin học tôi và cũng học tấn tới, thì tôi dọn vào ở nhà bà cụ ấy. Bà cụ Xuân còn có một cháu gái nữa học lớp ba. Tiền học hai cháu này vừa khoẳm tiền thuê nhà bà cụ. Rồi tháng sau lại thêm hai đứa nữa; tháng sau nữa cũng thế. Chưa đầy bốn tháng mà số học trò lên đến mức làm tôi phải suy nghĩ có lúc cuống cả người lên.
Hơn mười đứa bé ấy, đứa học vỡ lòng, đứa mới biết viết, đứa đã làm tính cộng dễ và viết ám tả bài ngắn, đứa đã bập bẹ le café là cà phê, père là cha, mère là mẹ, v.v... đều ngoan ngoãn tiến bộ trông thấy. Các bài học của chúng, tôi đều nghĩ ra, hay chúng có phải học sách, thì tôi chỉ chọn những bài thích hợp. Càng những đứa trẻ được bố mẹ giới thiệu là tối dạ và nghịch ngợm, lại càng vào nề nếp, chịu khó và trở nên học giỏi. Tất cả những ông bố bà mẹ làm thợ Máy tơ, Xi măng, khuân vác ở Sáu Kho, dệt thảm, đi đan, đi khâu, thầy lang, bồi bếp ở trại lính Tây và dưới tàu to, kéo xe, đội than, xe gạch, đi bán tào phở, xế cấu, xôi, bánh đúc, rau đậu, trứng quả này,... đều hoàn toàn trông cậy ở cậu giáo và nhờ cậu giáo chăm cho con họ sao có thể rồi đây cũng được đi thi như ở các trường ngoài phố, rồi cũng học đến lớp nhì, lớp nhất!
Từ ngày tôi không phải lo tiền nhà và mẹ tôi đong được hẳn từng thúng gạo, - dù phải đong gạo lứa mỗi đồng chỉ được ăn có hơn bảy hào hay tám hào, ấy là chỗ nể nang lắm, - thì tôi yên tâm hơn, trong dạ vui hẳn lên. Tôi không những chỉ đi tập thể dục buổi sáng mà cả buổi chiều. Còn viết, tôi viết cả buổi trưa, cả buổi tối, cả chiều thứ năm, cả ngày chủ nhật. Cái khoảng từ bảy giờ tối đến mười một giờ khuya trong những ngày mùa hè cũng như những ngày mùa rét, thật là quý báu vô cùng đối với tôi. Dù gian nhà thuê mái lá, vách đất, rất chật hẹp, mờ tối và ẩm thấp, vừa để ở, vừa làm lớp học,... dù cả ngày đã khản cả cổ, bù cả đầu, và nhiều lúc chóng cả mặt vì những học trò, nhưng tôi vẫn cho thế là tôi sung sướng lắm, hạnh phúc lắm. Vì tôi còn trẻ, tôi thấy mình sung sức. Tôi có một việc làm được quý trọng, được tin yêu. Tôi được sống một cách căn cơ, và lại còn được viết, viết đều hơn, viết nhiều hơn!
Tôi sửa chữa lại mấy truyện trong tập Những linh hồn đau khổ. Tôi viết những truyện mới. Tôi viết bản thảo lần thứ hai, thứ ba Bỉ vỏ. Và tôi đã gửi bài lên nhà báo trên Hà Nội: Tiểu thuyết thứ Bảy.
Báo Tiểu thuyết thứ Bảy đã bày bán ở cả hiệu sách nhỏ của cái phố đông đúc thợ thuyền phu phen đi về ngoài xóm tôi ở. Từ ngày tôi gửi bài cho báo, tôi càng phải vào hiệu sách này hơn. Tôi mua các thứ ở đây, từ thếp giấy, giấy hạng ba xu rưỡi, đến cái bìa, ngòi bút, và chiếc phong bì. Hôm này thứ này, hôm khác thứ khác, thứ gì đắt tiền thì dành đến hôm báo xuống để xem báo. Ngày ấy, giá báo những năm xu một số, mà chỉ với ba xu người ta có thể ăn được bữa cơm đầu ghế, hay với năm xu thì vào hẳn cao lâu, đàng hoàng gọi lấy bát phở áp chảo giòn với thịt bò, ăn hành tây, rau sống, giấm ớt tha hồ! Vì vậy dù là gửi bài cho báo, nhưng tôi vẫn không dám mua báo. Vì vậy mà tôi phải xem nhờ báo.
Chủ hiệu sách là hai cô. Chị em cô cũng vào tuổi tôi. Cô chị bé nhỏ hơn cô em và có vẻ là người quán xuyến chính. Cha hai cô là một ông phán gì đó về hưu và nhiều của lắm. Tuy chỉ được nhìn thoáng vào trong nhà và cái lối cửa ngõ bên cạnh, tôi cũng đủ thấy những gì là sang trọng, căn cơ và cách biệt. Cũng tủ chè, sập gụ, cũng vườn hoa cây cảnh, cũng nhà gác hai tầng cao rộng kiểu không mới lắm, nhưng gia đình hai cô gần như không giao du với ai, và chợ búa nay thịt mai cá gì cả. Đặc biệt là bà mẹ, tôi gần như không thấy bà ra cửa, ngay cả ra gian hàng sách.
Tôi rất ngượng vì phải xem nhờ báo, dù chỉ mở vội vàng mấy trang, liếc một số bài trong đó. Tôi càng ngượng hơn, từ khi gửi bài, tôi phải tìm tòi hộp thư, và chờ đợi từng số để xem có trả lời mình không. Những số hộp thư in vào trang trong không xén một nửa còn khá, vì tôi còn he hé ra mà đọc. Nhưng hộp thư lại nằm giữa trang ruột, và lại chỉ xén có phía dưới, thì thật là khổ tâm vô cùng. Chả nhẽ đã trót bỏ ra những ba xu rưỡi mua một thếp giấy còn lâu mới dùng hay quyển vở năm xu rồi sẽ phải bán lại cho học trò, mà biết số báo có tin cho các bạn gửi bài lại không được đọc! Tôi đã đỏ chín cả tai, chóng cả mặt, khi phải kệnh kệnh hẳn ruột trang sách lên, nghiêng nghiêng xoay chiều này giở chiều khác để xem xét. Tôi tưởng như mình là một kẻ có ý gian, nhà người ta đã khép cửa, còn cố ý nhìn vào, dù chỉ hé cửa nhìn...
Cuối cùng tôi phải đi một hiệu sách khác. Vì tôi có cảm giác rằng hai cô này, nhất là cô chị người bé nhỏ, ăn nói rất chặt chẽ, cặp mắt nhìn xét nét một cách rất nghiệt rất tinh, đã biết tôi có bài gửi đăng báo, tôi viết văn. Chao ôi! Anh chàng nhà giáo cà khổ, dạy ở một lớp không bằng cái gian nhà bếp, bằng cái nhà xe của hai cô kia, mà cũng định làm nhà báo, làm nhà văn đấy! Làm nhà báo và nhà văn như cái ngữ tôi thì để cho ai đọc?! Và biết đâu, dù hết sức giữ gìn đúng mực, từ cách ăn mặc, đi, đứng, hỏi, nói, tôi vẫn cứ làm người ta thấy, làm người ta nghĩ rằng tôi cũng chỉ là cái hạng văn sĩ, nhà báo viết văn, viết báo để... "chim gái" thì sao?!
Rồi chính là để tôi được sống trọn vẹn một cách thi vị và thiêng liêng với những công việc âm thầm của mình, nên tôi nhất định không đến hiệu sách của hai cô ngoài phố.
Bẵng đi một tuần, rồi hai tuần. Rồi một tối, ở một cửa hiệu vừa làm chi nhánh nhà thuốc lậu Hồng Khê dược phòng, vừa bán báo, tôi mở tờ Tiểu thuyết thứ Bảy ra xem, thì thấy rao số báo sau, trong những nhà văn "tên tuổi", đương thời sẽ có bài của tôi. Cố nhiên là kèm theo tên tôi. Tôi còn nghẹn ngào hơn, vì thấy số báo trước trong hộp thư cũng có tên tôi, mà tôi đã bỏ không chịu tìm đọc!
Tôi đã tưởng ngay tối hôm đó tôi về nhà sẽ có thể sửa chữa thêm mấy truyện đặc sắc nữa để gửi tiếp. Nhưng trong người cứ như bị rỗng hẳn đi, náo nức, rạo rực, bâng khuâng, không thể nào ngồi yên bên bàn, không thể nào cầm lâu được bút mà viết ra thành chữ! Phải chăng tôi như đã trúng số độc đắc với một món tiền hàng vạn? Không! Hơn thế! Phải chăng tôi như một ông tướng cố thắng một trận lớn nào đấy để lưu danh với đời? Cũng hơn thế!... Tôi thấy hơn thế, vì tôi không đánh số để lấy tiền, cũng như không phải xuất trận để lưu danh. Tôi đã lấy cả cuộc đời và trái tim và tâm hồn tư tưởng của mình, tôi đã đem tất cả hơi sức, hy vọng và lòng tin của mình để đánh cái số này, để đánh cái trận này...
Ngày ấy, riêng chỗ nhà tôi ở cũng có thể coi là một xóm. Hơn một chục gia đình sống chung ngõ, chung sân, gian nọ liền gian kia. Phần đông là đàn bà con gái làm ở cảng Sáu Kho. Nếu như sáng sáng tôi cùng họ ra đi, thì cũng đến khuya tôi mới cùng họ nghỉ. Chiếc đèn làm việc của tôi đã là một cây đèn bầu thủy tinh xanh biếc, thông phong cao như một cây nến, và có chao màu xanh dịu bằng bìa giấy gấp chếp nếp tôi làm lấy. Nhiều lúc tôi như nghe cả thấy tiếng còi tàu gọi ùm ùm trên sông, và tiếng ầm ầm không dứt của những máy cần trục mà gió biển thổi vang tỏa làm đêm khuya càng thêm sâu lặng. Vùng ánh sáng ngoài phía đó cũng nhiều lúc như mở ngay ra trên xóm tôi, dưới bầu trời sao.
Thường tôi viết và sửa chữa các truyện ngắn những ngày thứ năm, chủ nhật. Còn các tối ngày thường, tôi sửa chữa viết lại tiểu thuyết. Sang bản thảo thứ ba, tôi càng thấy ham. Tôi không viết bằng thứ giấy ba xu rưỡi một thếp nữa. Tôi mua thứ giấy trắng kẻ sẵn năm xu một thếp. Đang sửa viết lại chương bốn, chương năm phần một, tôi thấy còn cần phải sửa và viết luôn lần thứ bốn hay lần thứ năm. Nhìn từng thếp, từng thếp bản thảo mới cồm cộm thành tập ở trước mặt, và ở một bên mép bàn lại còn thêm một chồng bản thảo cũ, sao mà thấy mình giàu có, đáng tin và nhất là có thể tự hào! Những cảnh, những việc, những nhân vật cứ lần lần càng như bụ bẫm lớn chắc. Đôi lúc tưởng chừng như là những đứa con từ mười ba, mười bốn tuổi chuyển lên mười sáu, mười bảy tuổi vậy. Hay như những bức tranh những đoạn phim đang mờ tối, lộn xộn, ngây ngô bỗng thay đổi rực rỡ, nhịp nhàng, ý nhị.
Nhiều đêm, không những tôi chỉ ngồi nghe những bước đi về muộn nhất từ ngoài ngõ vào, mà rồi còn nghe cả những tiếng ngáy giòn của những người này, nghe cả những tiếng vỗ về nói mê nậng con và những tiếng ụt ịt làu bàu của những đứa bé còn bú sữa thấy hơi mẹ, mà mẹ thì mệt thiếp không còn thấy còn biết gì cả. Những nhân vật của tôi nhiều đêm cũng quấn rúc tôi như thế, và tôi cũng mệt thiếp như thế.
Vào khoảng tháng mười một thì tôi xong bản thảo lần cuối cùng. Tháng mười hai tôi ở Hải Phòng về Nam Định.
Cho tới bấy giờ tôi vẫn chưa có ý gì hoặc đưa xuất bản, gửi đăng báo. Hay dự thi giải thưởng này giải thưởng khác. Tôi chỉ yên tâm là đã viết xong một tác phẩm dài một cách thận trọng và sung sướng với một niềm bâng khuâng rất thi vị. Thôi thì không cho đăng báo, xuất bản và dự thi giải thưởng cũng được, nhưng tôi không thể không có một thời giờ nghỉ ngơi để lấy thêm sức, như một người mẹ sau khi sinh nở. Vậy thì tôi nhất định về Nam Định. Tôi về quê hương, như một cô gái lưu lạc đã có một tấm chồng đứng đắn giỏi giang. Tôi về quê hương cũng như một người đàn bà chăm chỉ đảm đang nghèo khó xiêu bạt, nay đã có cơ bản sinh sống và con cái đàng hoàng tử tế...
Tôi đưa "người chồng và đứa con" ấy về trước hết để thăm hỏi các người xưa chốn cũ quen thuộc thân tình, sau xem sau phong cảnh làm ăn của mọi người thay đổi ra sao. Đầu tiên tôi lại đến khu trường cũ, rồi đi tìm mấy người bạn học cũ. Xen vào công việc này, tôi đi viếng mộ cha tôi, mộ bà nội tôi và nhìn lại mấy chỗ ở ngày xưa, đặc biệt là cái nhà nơi sinh anh em tôi mà cha tôi đã bán đi...
Người thứ nhất tôi gặp là anh Th. đã học cùng trường với tôi, sau tôi hai lớp. Chúng tôi thường đi về với nhau. Chúng tôi thân nhau, mê nhau không phải chỉ vì tiểu thuyết mà còn vì đá bóng. Anh cũng mồ côi cha nhưng nhà giàu có. Bà mẹ anh rất nghiêm, nên anh chỉ đến trường mới đá, chứ không như tôi chơi nghịch cả trưa, cả chiều, khi thì ở bờ hè, khi ở giữa đường, nắng cháy vàng cả tóc, đen nhẻm cả người. Chỉ với quả bóng bằng nắm tay - quả bóng quần vợt rất được trẻ con ham thích lúc bấy giờ. Sau anh cùng vào đội bóng của nhà trường với tôi.
Tôi đón anh đi học về. Anh bị học "đúp" lớp nhất. Tôi không ngờ anh vẫn còn đi học, nhất là vẫn học ở cái trường Gốc Ngái ấy. Đầu tiên, tôi chầm vập hỏi anh và chuyện với anh về đá bóng, các bạn đá bóng cũ nay còn những ai, và những chân đá cừ của các trường khác, của các đội khác thuộc hạng ngổ ngáo đá ác đá dữ mà chúng tôi kình địch, đã được lên loại rồi.
Anh vồn vã chuyện trò nhưng chỉ sau ít phút anh cười hóm hỉnh nhìn vào mặt tôi mà hỏi:
- Cậu viết nhiều cho Tiểu thuyết thứ Bảy thế có được tiền không?
Tôi như bị hẫng, luống cuống vô cùng. Sao? Viết văn viết truyện để lấy tiền à? Mà sao viết nhiều thì lại được tiền?! Giờ tôi mới nhận ra thêm nhiều cái khang khác ở người bạn cũ ấy. Anh đội mũ dạ bẻ vành cúp xuống trán, mặc áo xa tanh hoa, quần trắng là, xăng đan có mũi như mũi giày. Anh cao hơn tôi gần nửa cái đầu, mặt đã sần sần điểm trứng cá, mép nhìn kỹ thấy lún phún ria hẳn hoi chứ không phải lông măng. Tiếng anh nói đã vỡ hẳn, giọng nói cũng từ tốn như trước nhưng chững chạc gần như của một người đã ra đời có từng trải. Sách vở của anh có lẽ thằng em anh mang trong cặp của nó. Anh đi cúi cúi đầu, tiếp chuyện tôi như có vẻ giữ gìn với người hai bên phố. Một người lạ nào đó sẽ tưởng anh là một thầy giáo hẳn hoi giữa những đám học trò rào rào như ong như chim.
Mặc dầu thấy cách ăn mặc đi đứng và nói năng khác hẳn trước, và mặc dầu anh đã hỏi tôi một câu quá sức tưởng tượng của tôi ấy, tôi vẫn như muốn cởi thêm ruột thêm gan cho anh:
- Mình viết truyện đăng báo ấy à, nếu nhà báo nó có bảo trả tiền mình thì mình sẽ... (tôi đỏ tía mặt lên, cổ họng như bị bóp) Th. ạ, viết văn chứ không bán văn, bán trái tim, bán linh hồn! Viết lấy tiền sẽ bị lệ thuộc thành thằng bồi! Văn chương mà đem đổi lấy tiền thì khốn nạn quá... khốn nạn vô cùng!...
Anh Th. vẫn cười bằng đôi mắt hóm hỉnh, và giọng nói anh vẫn rất bình tĩnh tự nhiên:
- Mình hỏi cậu thế để biết rõ thêm cậu. Những truyện của cậu mình đọc rất kỹ, khuynh hướng của cậu thế nào mình thấy cả.
Th. gật gù:
- Bao giờ cũng như bao giờ, viết văn, viết báo chân chính phải như thế... phải như thế. Thôi được!... Mình với cậu sẽ nói chuyện nhiều thêm với nhau về con đường lý tưởng.
Tôi rưng rưng cả người, muốn ôm lấy Th. Tôi không lầm, người bạn nhỏ cũng mê tiểu thuyết, thích văn chương của tôi sẽ lại cùng tiến với tôi trong cuộc đời, nhằm chung một mục đích.
- Th. có viết được nhiều không? Ông V. anh Th. có hay lên Hà Nội không, có giúp Th. viết lách gì không?
Giờ đến lượt Th. đỏ mặt lên:
- Mình viết xoàng lắm, có mấy cốt truyện mình nhường cả cho ông V. ông ấy viết. Vả lại ông V. ông ấy cũng bận lắm! Ông ấy đang soạn một trường giang tiểu thuyết tâm lý và xã hội... Cậu có chủ trương chuyên về tiểu thuyết xã hội nhỉ... Cậu vừa xong một cuốn khá dài phải không?
Tôi cuống quýt mở ngay tập bản thảo Bỉ vỏ thuê đóng rất cẩn thận đưa cho Th. Và không đợi Th. hỏi, tôi liền kể ngay với Th. tất cả những gì tôi đã nghĩ, đã định, đã viết cuốn tiểu thuyết đầu tay đó. Đặc biệt tôi nói hết với Th. những cái mà tôi cho là đặc sắc, là độc đáo, là mới lạ, là có một giá trị sẽ được công nhận của tác phẩm. Trong khi tôi sôi nổi và nói nhiều quá đến gần thành choáng váng, thì Th. giở giở lật lật chăm chú xem xét nhiều đoạn, nhiều trang của tôi vừa giới thiệu.
- Khá lắm! Khá lắm! Mình chỉ mới đọc qua mà cũng đã thấy có một cái gì rất lạ rồi! Thôi này, thế cậu để Bỉ vỏ cho mình đọc và có thể cậu cứ giao toàn quyền cho mình. Mình sẽ giới thiệu cậu thêm với ông V. Nhất định ông V. sẽ còn đánh giá cậu hơn mình đánh giá cậu. Nghĩa là ông ấy thế nào cũng giới thiệu lại cậu với các... (Th. kể một lô một xốc những tên tuổi đàn anh, đàn chị, bực thầy, bực ông, tiếng tăm như cồn như sóng lúc bấy giờ). Các tay ấy sẽ đọc, sẽ lăng xê cậu. Chả tội gì Hồng ạ! Ra đời muốn thế nào thì thế cũng phải có cánh. Và muốn tài năng thế nào thì thế, mà không được lăng xê thì cũng bị nghỉm đi. Mình tuy chưa có bài đăng nhiều như cậu, nhưng mình quen biết khá nhiều cái xã hội ấy. Mình sẽ ân hận vô cùng nếu để cậu cứ lụi hụi mãi, rồi mai một đi! Thà mình chịu thua chịu thiệt, chứ cậu mà chịu thua chịu thiệt, thì mình...!
Tôi nắm lấy Th. và run run nói bằng tiếng Pháp:
- Cám ơn Th., cảm ơn thằng Th. vô cùng tin yêu của mình! Thế Th. giữ lấy cuốn tiểu thuyết của mình và điều cốt yếu cần nhớ, là mình không cần tiền đâu đấy!
⚝ ❖ ⚝
Tôi như được chắp cánh thêm sau cuộc gặp gỡ Th. Với những cánh mới này, tôi càng man mát, bâng khuâng đi trên đường phố của tỉnh quê hương. Tôi lại tìm đến một người bạn cũ rất thân khác. Anh Nguyễn Ngọc M.
Anh M. đã học với tôi từ lớp nhì năm thứ nhất, lớp nhì năm thứ hai và lớp nhất rồi "đúp" lớp nhất với nhau. Có thể nói là anh M. gày yếu nhất lớp, hiền lành nhất lớp. Chân tay như cẳng gà, áo nào mặc cũng thấy rộng, cũng không thể bớt được vẻ gày yếu của cái thân hình bấy bớt và nhẹ thỏm của anh. Gương mặt anh thật là trái xoan, da anh còn trắng hơn ngó cần. Cả bàn tay cũng trắng muốt. Anh cũng có má hồng. Cái má chỉ hồng ở chỗ xương gồ những lúc e thẹn quá đỗi hay phải làm gì, chịu gì quá sức. Mắt anh cũng sáng. Thứ sáng long lanh của con trai thông minh, ý nhị, nhưng ít hoạt động. Tóc anh đúng là tóc mây, không cần chải chuốt cũng óng mượt một cách lạ.
Những lớp trước anh thường ngồi cùng hàng ghế với tôi. Đến năm "đúp" lớp nhất thì ngồi cạnh tôi.
Có lẽ vì học "đúp" nên chúng tôi trở nên loại khá năm ấy. Cũng vì thuộc vào loại khá nên chúng tôi càng thân nhau. Anh càng thân với tôi, vì tôi còn khá cả nghịch nữa. Mỗi lần lên bảng, thế nào anh cũng bị tôi thích cùi tay vào mạng mỡ hay cấu ngầm vào lòng bàn tay để dọa anh. Anh vốn đã dút dát nên khi đọc bài trước bàn thầy giáo lại càng luống cuống. Mặt anh đỏ ửng ngay từ lúc thầy gọi tên, rồi từ lúc anh lập cà lập cập bước ra khỏi hàng lên ghế, cạnh bục ngồi của thầy giáo, thì mặt anh cứ tái đi xanh xám lại. Vai anh đã hóp, cánh tay anh đã khẳng khiu, anh còn rúm lại để khoanh tay và run run vì phải cố sức dằn lên sự lo sợ và quên lẫn. Trông người anh lại càng thương.
Chính vì càng thương anh M., nên tôi càng lôi kéo anh vào các cuộc chơi. Nhất là đá bóng quần hay đá cầu lông. Đá bóng quần không bao giờ anh dám giữ các chân chạy. Vả lại lớp cũng không bao giờ dám cắt anh vào những chân này, để các địch thủ ăn tái anh. Vừa bị thua bàn, vừa thấy anh bị cướp ngon bóng, bị "cựa", thì có là đất thó cũng không chịu được! Ác nỗi, đá bóng anh còn giữ gôn được, dựa vào hàng tiền vệ và tiền đạo ngổ ngáo, liều mạng và có nhiều chân giỏi. Nghĩa là các bạn tôi hay tôi còn đỡ được cho anh nhiều thứ đòn, để anh chỉ có việc chộp nhẹ lấy quả bóng đối phương sút vào thành, sau đó chúng tôi cũng phải dàn ra che chở cho anh đá phát bóng đi. Nghĩa là chúng tôi có thể chèn, ẩy với đủ các xiếc thuật cho anh lập công. Nhưng đến những trận bàn tôi phải đá đấu giải cầu lông với các bàn khác thì không còn cách nào mà thay anh được. Bởi vậy cứ đến lượt chúng tôi được từ ngoài đá vào, thì tôi thật là vất vả. Bàn có bốn người, anh với tôi là lớn là biết đá, cố nhiên phải đi giữa hay ở hai cánh bên. Để anh đi giữa phát cầu, tôi có thể sút được nhiều. Nhưng anh vừa yếu vừa chậm lại vừa thật thà hiền lành - tôi không dám bảo là anh dát - hỏi anh làm sao mà lừa học truyền cầu, đón cầu, nhất là giao cầu cho cánh tôi và cánh bên kia. Có lúc hàng mười quả anh đã giao hụt, cứ bị đối phương đá tung cầu đi; hay có lúc anh không còn thể xoay giở được chân vì bị chèn riết quá, và thằng chèn anh lại khỏe, chỉ hơi xô vào anh, anh đã liêu xiêu nháo nhào...
Vì thế, hầu hết các trận cầu lông tôi đều phải giữ chân đi giữa để giao cầu. Thì khốn thay, anh đi bên và đi bên trái - anh M. lại chỉ đá được chân trái - mỗi khi nhận cầu của tôi, cả những quả cầu tôi truyền lại cho anh cứ ngon sớt đi vì các thứ mánh lới và đòn ngón của tôi, anh M. vẫn sút vào gôn... nhẹ đúng như cái lông gà rơi lúc trời im gió lặng! Thằng giữ gôn đã không thèm bắt và cũng không thèm chơi xấu đá tung ra xa để làm mất thì giờ. Nó giơ chân làm bộ thật hùng hổ chừng như có thể đá bật cả cái gốc cây làm cột gôn đi được, nhưng là hờ hờ đón lấy quả cầu sút nhẹ trả lại qua đầu anh M. vừa giơ tay lên mang tai chào anh!
Tiếng cười reo của vòng trong vòng ngoài các lớp bạn đứng xem đã như là mực là chàm giội xuống đầu tôi. À tôi suýt quên. Cả khi đá những trận cầu lông ác liệt đấu với các lớp khác, anh M. cũng nhất định không chịu cởi áo dài. Anh thường mặc áo the thâm (không phải là vì anh sợ mất áo, chúng tôi đã có một thằng bạn chuyên ngồi giữ, chuyên trông giày, guốc, mũ và quần áo xếp làm gôn cho anh em cơ mà!) Trời nắng đổ lửa, anh cũng cứ đóng cả áo dài mà đá bóng, đá cầu vì... anh không thể chỉ mặc áo cánh thôi, chứ đừng nói là cởi trần, mà chơi được!.
Anh M. ơi! Thế mà bàn ta vẫn là bàn cừ và lớp ta vẫn là lớp cừ, dù chân giữ gôn là anh và đi bên trái là anh. Như vậy thì còn giời đất nào nữa!
Càng về cuối lớp, sắp đến kỳ thi tốt nghiệp, chúng tôi càng thân nhau. Anh và tôi cùng hai thằng bạn nữa đuổi nhau từng bài một. Tôi xin phép được thú thật, dù thấy anh cũng được nhiều điểm cao, nhưng tôi vẫn coi thường anh, nhất là môn luận Pháp văn, tập đọc và sử ký. Hơn nữa tôi còn ngài ngại có thể anh bị "hóc" về tính mất! Sự lo lắng này khiến tôi nhắc nhở anh luôn phải bình tĩnh và trao đổi với anh rất kỹ càng. Những hôm gặp bài khó, tôi thì thấy vẫn dễ mà anh thì đăm chiêu luống cuống ra mặt. Sau cùng tôi phải như là đóng kịch, rất thân thiết mà cũng rất giận dữ, bực bội bảo anh rằng:
- Không có gì sợ cả! Không việc gì mà sợ cả! Không đỗ thì thôi. Vả lại sức của M. thì lo gì mà không đỗ. Phải tin ở mình, phải tin vô cùng ở mình! Cho dẫu có phải kỳ thi khó, thì cứ chọn lấy một trong hai bài cố làm lấy một, hay không đúng réponse thì đúng marche, chỉ cần gỡ lấy một điểm thôi!
Anh M. lại trượt. Anh không trượt vì tính cũng không trượt vì ám tả. Dù tính và ám tả năm ấy cũng khá "hóc". Anh trượt vì luận Pháp văn. Đầu bài luận là "Anh hãy tả một tai nạn xe đạp mà anh đã trải qua". Sau đây tôi làm bạn với nhà tôi, nhà tôi kể các chuyện ngày xưa học hành của mình cho tôi nghe, thì nhà tôi cũng bị trượt vì cái đầu bài ma quỷ tai ác ấy!
Thi xong, tôi rất buồn. Buồn vì cảnh thôi học, nhà trường bạn bè tan nát. Buồn vì tôi biết tôi không còn thể nào được tiếp tục đi học, mặc dầu tôi tin chắc cuộc thi chuyển cấp vào trường thành chung, tôi không những đủ sức thi mà còn được nhiều bạn vào học trước truyền cho nhiều kinh nghiệm rồi tôi còn học thêm với họ, như vậy sao tôi lại không đỗ được điểm cao, xếp ở loại trên. Điều cuối cùng tôi buồn là vì không còn được đá bóng, nhất là thiếu anh M. trên sân trường.
Hôm thi xong là mồng sáu tháng sáu năm 1943, dù còn bảy, tám ngày nữa mới nghỉ hè, nhưng anh M. cũng không đến lớp. Trong khi ấy không kể những học trò thi đỗ, mà cả những đứa vừa không thi đỗ vừa như là không có bạn bè thân thiết với ai, chúng cũng đến trường, và lại có vẻ quyến luyến khác thường.
Cứ trông xa chỗ hai cây bàng làm cột gôn cầu lông, cứ trông lên bảng đen trước đó anh M. rúm hết cả người và xanh xám mặt mày khi đọc bài dù là những bài anh rất thuộc, hay trả lời rất đúng những câu thầy giáo hỏi,... và cứ trông lên bục kê bàn thầy giáo, ở đấy anh M. và tôi đã lần lượt hai tay nâng đón những sách phần thưởng cuối năm vào loại nhất nhì của thầy giáo trao cho... tôi lại càng buồn.
⚝ ❖ ⚝
Tôi còn hồi hộp hơn cả khi đi tìm anh Th. Tôi đến phố anh M. Không hiểu tại sao tuy tôi đã đến gần nhà anh M. rồi mà vẫn cứ đinh ninh sẽ không được gặp. Vì anh được lên Hà Nội học hoặc anh đi một tỉnh xa nào rồi. Trống ngực tôi đập tưởng vỡ, tôi run cả người, khi bước vào cửa vẫn thấy một người đàn bà giống anh M. như đúc ngồi ngoài hàng, và một ông có tuổi, tóc búi, gày yếu, mắt kém cũng giống anh M. ngồi ở ghế bành bên cái kỷ gụ lối đi vào nhà trong.
Vẫn là chị gái và ông cụ đẻ ra anh M. Tôi cất mũ ấp vào ngực chào. Chị anh M. xét nét nhìn tôi giây phút rồi mới hỏi tên tôi và hỏi gặp anh M. có việc gì? Ông cụ anh M. nghiêng nghiêng đầu, nheo nheo mắt trông ra. Chính ông cụ lên tiếng gọi anh M. cho tôi, trong khi chị anh M. vẫn còn e ngại dù bà được biết tôi là bạn cũ của anh M. đi xa lâu ngày nay về thăm nhau.
Anh M. đã ra. Đúng anh M. đã ra. Anh cao hơn, gày hơn và cũng to người hơn trước, nhưng lưng hơi khòm khòm. Anh vẫn mặc áo chùng the thâm, tóc rủ xuống bên gò má xanh xao. Vẻ mặt mừng rỡ luống cuống, bước chân lập cà lập cập. Ông cụ đi lên gác nhường chỗ cho chúng tôi. Anh M. ngồi vào ghế ông cụ, tôi ngồi ghế ngoài. Bà chị ra vẻ không để ý gì đến chúng tôi, lại bổ cau để phơi. Anh M. rót nước ủ trong cái giành mây ra hai chén có nắp đậy. Cầm chén nước chè hột chế thêm hoa cúc mốc mà hương vị hàng bao năm nay tôi mới lại được thưởng thức này, và ngồi chiếc ghế nệm bông, phía trên đầu tôi treo một bức tranh cổ "ngư tiều" bồi lại và nẹp lụa, trước mặt tôi vẫn thấy kê đủ lệ bộ tủ chè, đỉnh đồng, độc bình, hoành phi, câu đối và sập gụ hai cánh trải chiếu cạp điều... tôi không thể nào không bùi ngùi và không nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ. Anh M. cố nhiên vẫn đi học. Anh học ở trường dòng ông thánh Tô-ma Đa-kanh ngay đầu đường trong kia, chiều theo ý muốn của cha. Cả trường tôi chỉ có anh và một thằng nữa con quan thương tá nhưng khác anh, rất nghịch ngợm và rất dốt tính là học ở đây. Vào đây, anh được học năm thứ nhất thành chung, cố nhiên là phải đỗ tốt nghiệp loại sơ học, và cố nhiên là không còn đá bóng, đá cầu lông nữa. Cố nhiên trước mặt người chị nọ, những chuyện lông bông này chỉ được kể bằng mắt và bằng những cái nhìn, những nụ cười rất ý tứ của nhau. Còn tôi, mặc dầu hết sức giữ gìn vẫn không thể kìm được những xúc động trong cái giọng nói sôi nổi và tiếng nói hơi to quá của mình! Anh M. cũng thế, nghĩa là giọng nói anh không sôi nổi và không hơi to quá như tôi, nhưng gò má đỏ lửng hẳn lên, mắt càng long lanh mà tôi chưa thấy như thế bao giờ.
Trong khi câu chuyện đang tiếp nối nhau rất từ tốn nhưng rất lưu luyến bỗng M. im lặng hẳn đi, cúi cúi mặt như để tránh nhìn tôi. Sau đó như phải cố gắng lắm, M. mới thốt ra được khe khẽ:
- Anh viết truyện, viết báo như thế mà đã lâu rồi đấy nhỉ?
- Sao? M. đọc tôi từ bao giờ mà bảo tôi viết đã lâu?!
Đúng là M. lại luống cuống và đổi hẳn sắc mặt đi.
- Có tôi được đọc và thấy anh từ năm 1935!
Tới đây thật là M. lại làm tôi choáng cả người!
Tôi nói M. "lại" làm tôi choáng cả người vì sau cái ngày thôi học không vui vẻ gì của tôi kia, giữa lúc tôi đang rũ rượi về nhớ tiếc, thì một cô Gì là em ruột cha tôi đi đánh chắn về qua nhà tôi, gọi tôi bảo "có việc này hay lắm". Tôi sững sờ, bồn chồn muốn được biết ngay thì cô tôi vẫn cứ lấp lửng: "Cậu có biết việc gì không? Cậu đừng giấu tôi! Cậu giỏi lắm đấy!". Rất lâu, gần như thấy tôi không thể chịu được sự chờ đợi nữa, cô tôi mới hỏi:
- Cậu có "cô" nào gửi thư cho cậu, viết những gì cho cậu thế?
Tôi càng rộn rực. Tôi không thể sao hiểu được! Tôi mà có "cô" nào?! "Cô nào" ấy lại gửi thư cho tôi, viết những gì cho tôi?! Chả nhẽ lại là cái cô bạn cùng phố vẫn đi học cùng đường với tôi? Cũng chả nhẽ lại là một cô nào đấy, mà tôi đã không chú ý; nhưng vì thấy tôi học giỏi vừa mới đỗ nên đã...?
Tôi gần như phát khóc, gắt hẳn lên:
- Thôi con không chuyện với cô nữa!...
Cô tôi càng tươi cười:
- Gớm chết có gì mà phải giấu giếm, mà phải bí mật như thế? Đây, thế tôi hỏi, không cô nào, sao lại có thư này... cái thư lại viết như thế này?
Tôi chồm cả người lên:
- Thư nào, thư đâu?
- Thư kẹp ở trong sách ấy... sách của mày ấy!...
- Giời ơi khổ quá, sách nào, sách ở đâu hở cô?...
Phải phải! Đúng có một phong thư, một thư không có phong bì, viết hết cả một trang giấy trắng đẹp vở Aviat, chữ nắn nót run rẩy, từ lời đến ý vô cùng trìu mến, yêu quý, luyến tiếc, cậy trông... Chữ của M. và thư của M... M. đã kẹp thư vào một cuốn vở của tôi mà tôi đã quẳng tất cả sách vở vào một xó bàn. Thư đề trước ngày đi thi hai hôm, trong thư M. đã căn dặn tôi phải đỗ, và phải đỗ với điểm cao để lấy tiếng cho cả lớp, cả trường. M. chúc tôi những may mắn, những tốt đẹp, những hạnh phúc sau khi ra trường và M. sẽ là người theo dõi, hằng nhớ đến tôi, với tất cả tấm tình bạn trong trắng thắm thiết trên hết mọi sự trong trắng thắm thiết của tình người!...
... - Sao? M. đọc bài tôi ở đâu... từ bao giờ?... Tôi chỉ mới viết ở Tiểu thuyết thứ Bảy, có mấy truyện thôi mà!
Tôi sẽ sàng hỏi lại M., cố lấy lại sự tự nhiên để M. khỏi luống cuống, đặc biệt để bà chị M. ở ngoài không chú ý đến câu chuyện của chúng tôi ở trong này. M. vẫn đỏ rửng mặt, anh cười ngượng nghịu:
- Không!... Anh còn viết trước nữa, bài anh đăng ở Ngọ báo năm 1935.
Phải dùng đến hình tượng "ngã ngửa người ra" mới có thể diễn tả được sự bàng hoàng của tôi, khi nghe thêm câu này. M. lại rót nước ra chén và rê rê cả đĩa lẫn chén đến tận tay tôi:
- Kìa anh uống nước đi!... Xin lỗi anh, cứ uống nước nhé, chờ tôi một tí nhé.
M. lên cái gác xép ngay trên chỗ chúng tôi ngồi. Bước chân anh làm rung rung cả cái thang gác gỗ đã mọt. Khi anh xuống, tôi thấy rõ trán anh vã mồ hôi và không những gò má mà cả mặt anh hừng hừng. Miệng anh chúm chím nụ cười, anh đưa cho tôi một tờ báo gấp tư mà hai cột rành rành chữ in có tên tôi dưới một đầu đề rất lạ. Tôi vồ ngay lấy, chỉ một loáng mắt, tôi đọc cả một đoạn đầu, rồi xuống gần hết đoạn cuối. Người tôi như sốt. Bừng bừng hết cả mặt mày và da thịt. Phải! Từng chữ, từng câu một đúng là của tôi mà tôi nhớ lại rành rành. Có khác là bài báo ngắn hơn, ngắn hơn vì bị bỏ một vài đoạn:
Cảm tưởng của một người học trò nhỏ sau khi thôi học bị tù.
Cái khác chính còn là cái đầu bài trên đây thay đi thành: Trong trại tù trẻ con.
Bài này tôi đã viết cùng lúc với những truyện ngắn trong tập Những linh hồn đau khổ. Có lẽ vì tôi cho là hồi ký kiểu bài loại ấy là xoàng xĩnh, không như truyện ngắn, nên đã không để vào thành tập. Rồi khi gửi đi cũng không tự tin và không đặt hy vọng nhiều nên đã không chú ý hết sức. Còn lý do này nữa và là lý do chính. Ngọ báo ra hàng ngày buổi sáng ở Hà Nội. Thường thường ở Hải Phòng buổi trưa mới bán.
Ngày đó, tôi cứ phải chiều chiều đến cái phòng gọi là thư viện hay là câu lạc bộ của những công chức ngạch dưới của Hải Phòng ở một con đường khuất nẻo nọ để đọc báo. Tất cả báo chí ở đây có ba tờ: Đông Pháp thời báo, Hà thành Ngọ báo và Tứ dân văn uyển. Báo hàng ngày đã xuống chậm, lại còn bị ngâm, bị chiếm. Ông gác cửa câu lạc bộ thường om báo ở trong buồng ông cả buổi chiều hôm báo ra. Trừ hôm nào may mắn có các hội viên đến đánh bi-a, tổ tôm hay bài sừng, thì bọn độc giả lèm nhèm loại chầu rìa như tôi mới được đọc. Không những thế báo còn bị mất. Chẳng những ông gác lấy mà cả những ngài hội viên cũng thủ túi! Đặc biệt là những số báo có tin tức gì lạ, hay truyện bài gì mà các ngài thích.
Không may cho tôi, bài đã đăng trong cái số "xấu số ấy". Thành thử dù tôi đã chờ đợi đón xem mà cũng không được. Phần vì báo hàng ngày lại đăng những bài sốt dẻo và không có lệ trả lời người gửi bài, nên tôi càng... yên tâm bài mình bị bỏ đi.
... Cầm tờ báo đăng bài viết đầu tiên ấy của tôi, từ hơn một năm trước đây, tôi ngậm ngùi vô cùng. Có nên ví nó như một đứa con còm cõi bị bỏ rơi hay xa lạc không? Chao ôi! Nếu sau khi tôi đưa tập truyện cho tuần báo văn chương nghị luận chính trị xã hội ở ngõ Cố đạo kia, dù không biết sự đánh giá tác phẩm mình ra sao nhưng mà thấy các bài nhỏ bé đó lại được đăng và đăng ở một tờ báo từng có những cây bút tên tuổi lừng lẫy ra đời, thì tôi sẽ suy nghĩ thế nào? Hay nói một cách "quan trọng", thì cuộc đời viết văn của tôi có thể có những ảnh hưởng và quyết định gì đặc biệt hơn không?
⚝ ❖ ⚝
Đêm ấy tôi lại không sao nhắm mắt được! Tôi lại phải nghĩ đến những ngày đói rét, tủi cực và bơ vơ, không thể nào quên được kia, những ngày mới chỉ có cách đây gần hai năm thôi nhưng sao mà xa xôi, sao mà chìm nặng?! Và tôi lại càng nghĩ đến những truyện đã viết, từ tập Những linh hồn đau khổ đến những truyện đang chờ tôi ở Hải Phòng sau đây về sẽ sửa chữa hay viết lại. Tôi lại nghĩ đến tiểu thuyết Bỉ vỏ với bao nhiêu tình, bao nhiêu cảnh, bao nhiêu con người, bao nhiêu nỗi niềm tâm sự, thương yêu đau xót. Tôi không cần tiền, tôi cũng không cần cả tên tuổi, tôi không có một mảy may ý định gì là không trong trắng, không chính đáng trong công việc viết, thì sao tôi lại vội vã trao gửi cuốn tiểu thuyết đầu tay ấy cho những ai ai một cách dễ dàng, nông nổi, nôn nóng như thế!
Ơi! Những Trong trại tù trẻ con, Những linh hồn đau khổ và Bỉ vỏ! Ta lại phải trở lại những ngày sống rất âm thầm, khắc khổ vừa qua mà ta đã viết nên các ngươi thôi! Nếu như tình yêu của cả một đời người, hay nói một cách khác, nếu như trái tim và tâm hồn của một con người, chỉ có thể sống với những gì là lý tưởng cao quý, thiêng liêng, thì việc phải làm ngay bây giờ là không được đưa đăng vội, không đưa in vội những tác phẩm mà mình quyết tâm viết ra phải có giá trị, phải được sự quý mến tin cậy của bạn đọc. Nghĩa là những tác phẩm không được phép phụ lòng tin cậy, sự chờ đón, theo dõi của một xã hội chân chính, vì nó và chỉ có nó, ngòi bút mới sống được!
Sáng sớm hôm sau tôi đón anh Th. ở cái ngã tư trước đây tôi vẫn chờ anh cùng đi học và đi đá bóng. Tôi khổ sở xin lỗi anh, nói với anh trả lại cho bản thảo Bỉ vỏ, anh Th. quay về nhà lấy đưa cho tôi lúc bảy giờ thì bảy rưỡi tôi ra bến tàu thủy, xuống tàu và trở về Hải Phòng... Ngày ấy đúng vào tháng chạp năm 1936. Ngày này, mùa rét năm trước, tôi đang viết bản thảo lần thứ nhất cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi đây.
VI. NHỮNG HÌNH ẢNH THẮM THIẾT, NHỮNG TẬP SÁCH KỲ DIỆU!
Cái tin ấy đã làm tôi náo nức một cách lạ, và tất cả những cuộc gặp gỡ ấy cũng làm tôi bâng khuâng vô cùng. "Tù chính trị ở Côn Lôn đã về! Những chính trị phạm ở Côn Lôn đã về! Những tù Cộng sản ở Côn Lôn đã về! Các ông tù Cộng sản đã về Hải Phòng"...
Tôi không nhớ bà nào, bá nào, cô nào, chị nào làm ngoài bến Sáu Kho đã về xóm truyền đi những tin ấy. Nhưng không chỉ riêng có những người làm Sáu Kho mà cả những người buôn gánh bán bưng, những phu xe, đội than, xe gạch, và cả những người bán hàng, làm sổ sách ở trên phố... cũng thấy nói với nhau những chuyện ấy, những tin ấy. Tuy mỗi người chỉ nói một đôi câu rất sẽ sàng và nhiều khi chỉ thoang thoáng thôi, nhưng trong giọng nói, trong ý tình, thảy đều không giữ được tự nhiên. Hơn nữa, tôi còn thấy có những người xưa nay đi là đi về là về, gần như mặc kệ tất cả mọi sự việc chung quanh, cũng trang trọng nét mặt mà thốt hẳn lên: "Đúng là chính phủ phải tha các chính trị phạm đi đày ngoài Côn Lôn về! Những người làm Cộng sản đi đày Côn Đảo không còn bị giam giữ nữa!".
Đang dạy lớp buổi sáng, chỉ thoang thoáng nghe nói, tôi liền bỏ chồng vở đang chấm, chạy vội ra sân. Rồi từ sân vào ngồi không đầy một phút, tôi chạy ra cổng. Rồi tôi lại vào lớp để rồi lại bỏ đi ra hẳn ngoài ngõ. Có lẽ bọn học trò bé nhỏ của tôi cũng ngạc nhiên vì tôi. Và chúng còn ngạc nhiên hơn thấy tôi sắp xếp các sách vở lại mà bảo: "Thôi hôm nay cậu cho các cháu nghỉ sớm! Các cháu về nhé!".
- Lạy cậu ạ!
- Lạy cậu ạ ạ ạ...
Tiếng chào ran ran, rối rít, ồn ồn và những bước chạy ùa ra ngõ, ra đường. Tôi mặc áo, đội mũ, chẳng dặn gì nhà ra đi. Lập cập đi khỏi ngõ nhà, và ra đến đường cái, nhìn người qua kẻ lại và xe cộ vận chuyển vẫn cứ như thường, tôi bỗng thấy hẫng trong người và tự hỏi: "Ta đi đâu bây giờ?! Ta đi đâu để đón những người tù chính trị ấy, những người làm cộng sản lại bị đi đày ấy, những người làm cách mạng đi tù về ấy bây giờ?!".
Trời không nắng, một màu xám lạnh giăng thấp nhưng rất xa rộng khắp cả bầu trời. Gió không mạnh, tuy vậy cũng làm cái rét thêm ngăn ngắt và những cây cối và mây trời heo hắt.
- Cứ đi!... Ra Sáu Kho, ra Sở mật thám, lên Đốc lý, đến ga chính, đến ngã tư trước Nhà hát Tây... Không thấy ở chỗ này thì thấy ở chỗ kia! Không gặp bọn này thì gặp bọn khác. Không gặp nhiều anh em này thì cũng gặp một vài anh em khác.
Tôi bồn chồn trông ngược, trông xuôi, chân đã bước xuống đường lại trở lên hè, vừa lên bờ hè bên phải lại quay sang bờ hè bên trái và bước lộn lại. Lại thêm một câu hỏi nữa làm tôi càng bâng khuâng hơn:
- Nhưng biết thế nào là các "ông ấy" là các anh em mà nhận ra?!
Tôi đã nghĩ đến những bộ quần áo trắng vẫn còn nguyên dấu đóng bằng hắc ín. Tôi đã nghĩ đến những cái đầu trọc, thân hình bủng beo, gày yếu. Tôi đã nghĩ đến những cổ tay vẫn bị khóa và những hàng xích xủng xoẻng va chạm nhau. Cũng có cả lính khố xanh và đội xếp đi kèm nữa!
Chao ôi! Nếu đúng như thế, thật như thế ở giữa một thành phố lao động lầm than và cái thời thế đã cho ăn cho nói như giờ đây mà vẫn còn những cảnh ấy với những con người ấy, thì tôi càng phải đi và tìm mà gặp cho kỳ được! Hôm ấy, hôm sau, hôm sau nữa, rồi tuần lễ sau nữa. Tôi đã đi cả buổi sáng, cả buổi trưa, cả buổi chiều, cả ngày chủ nhật ở các nơi các chốn dò hỏi, nghe ngóng... Nhưng tin tức vẫn hoàn toàn là tin tức. Hay còn nhiều chuyến nữa? Hay không về qua đường này? Hay mật thám, tòa án chỉ thả ra ban đêm? Hay chỉ có mấy chuyến vừa qua là hết?
⚝ ❖ ⚝
... Ngày tôi còn bé, người cha nghiện ngập, mệt mỏi và buồn thảm của tôi kia không những chỉ bắt tôi đọc truyện mà cũng lại dạy cả tôi học và kể tôi nghe nhiều bài thơ đặc biệt nữa. Từ bài Bể thảm mênh mông sóng lụt trời, Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi, Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió, Quanh lại cùng trong bể thảm thôi! mà tôi thấy tự tay cha tôi chép vào một cuốn sổ giấy rất dày, rất tốt, đến những bài thơ của Bà huyện Thanh Quan, tôi đã đọc thuộc lòng: "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...". Cha tôi còn dạy tôi những câu thơ mà tác giả đã được giới thiệu một cách hư hư thật thật, bí bí mật mật và rất kính cẩn:
Tam bôi hoàng tửu quần lệ huyết.
Nhất trản thanh trà bách tính cao
Nhân lệ lạc dư thiên lệ lạc
Ca thanh do xướng khấp thanh ca.. (6)
-----
(6) Ba chén rượu cúc vàng, máu của dân đen.
Một bình trà xanh, tủy của trăm họ
Trời đổ nước mắt cùng người đổ nước mắt
Tiếng ca hát cũng như tiếng khóc.
C.t.t.g.
Những chữ những tiếng nước nước, non non, giang sơn, ái quốc, ái quần... đã thành những chữ thánh thót man mác vô cùng của trí tưởng và sự xúc động thơ ngây của tôi, cùng với những tên, những hình ảnh, những sự việc được truyền tụng cũng một cách thật thật hư hư, bí bí mật mật và rất kính cẩn như những câu thơ trên kia: những Hàm Nghi, Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết, Cần Vương, Tán Thuật, Đề Thám...
Rồi cái tin bàng hoàng cụ Phan Bội Châu bị bắt... những cuộc vận động đòi thả cụ, nhất là đòi không được xử cụ án tử hình. Trên Hà Nội, ở những con đường, những ngã tư đông nhất, phải toàn đội xếp Tây đứng gác đường mà nhân dân cũng trương băng giữa đường, chắn cả tàu điện lại. Cùng với những học sinh, sinh viên, thầy giáo, có cả những bà cụ đầu tóc bạc phơ, da mồi vóc hạc, đứng đón bên đường, chờ ôtô toàn quyền qua mà đưa tận tay y đơn yêu cầu tha cụ Phan. Và những số báo về buổi xử án, những dư luận từ Bắc chí Nam, cả ở ngoài nước, ủng hộ nhà ái quốc bị đưa ra kết tội. Năm ấy tôi học lớp bét. Tôi đã đón mua những báo và đưa cả tập xử án có hình cụ Phan Bội Châu với những lời lẽ của cụ và của trạng sư cãi cho cụ đến trường, tụ tập các bạn cùng đọc nghe.
Sôi nổi, phiêu lưu, mạo hiểm, là việc chúng tôi để tang, chúng tôi đi dự lễ tưởng nhớ cụ Phan Chu Trinh. Cả cái trường từ lớp bét đến lớp ba, ở gần một gốc cây có điện thờ rất linh thiêng suốt ngày, suốt đêm, suốt tháng, suốt năm đều có người cúng lễ và lên đồng, gọi là trường Gốc Ngái hay trường Cây Ngái kia, đã bảo nhau bỏ học hết, đeo băng đen ở mũ ở tay mấy ngày liền và rủ nhau kéo đi kỷ niệm. Không hiểu vì người tổ chức trường chúng tôi nhận "mật hiệu" và liên lạc ra sao, để đến nỗi lễ tang làm ở chùa Cả, thì chúng tôi lại kéo đến Văn Miếu. Đúng là ở một đầu này tỉnh lại đi đến một đầu kia tỉnh. May chúng tôi bé quá nên không bị đuổi học!
Hàng tháng sau đó chúng tôi vẫn còn tiếc, còn hận. Chúng tôi bảo nhau tự làm lấy lễ. Thời gian vào tám chín giờ tối. Nơi chọn ở một khoảng rất vắng giữa một bệ cột đèn và một gốc cây xoan tây to gần đầu phố nhà chúng tôi. Chúng tôi chia nhau, thằng kiếm đất, kiếm cỏ về đắp mồ, thằng đi lấy lá lấy hoa về kết thành đài thành cổng chào. Tôi thường nhận phần việc dưới này. Lá và hoa tôi bẻ trộm ở vườn hoa thành phố. Chao ôi! Những giờ vắng lặng, bầu trời đen thẳm, sao nhấp nháy như hột thủy tinh có điện, hay như mắt thỏ cườm nhìn xuống các lùm cây xanh thẫm âm u. Tôi cố hình dung ra các thứ gian nan vất vả, các thứ đường trường sông núi, và đi quanh đi quất để làm lạc hướng cút lít và những người gác vườn. Tôi bẻ toàn cành ngâu và hoa phượng vỹ đem về, và, lần nào tôi cũng bịa thêm không biết bao nhiêu ly kỳ nguy hiểm trong những hành động phi thường của tôi...
Mộ đắp có cỏ tươi phủ, có đài hoa, cổng chào và rừng cây chung quanh. Chúng tôi xếp thành hàng cúi đầu lặng lẽ rất lâu, sau khi thầm thì không biết bao nhiêu điều căn dặn nhau về khí tiết cùng với bao nhiêu điều về giống nòi rất là văn hoa, lâm ly, thống thiết. Thường thường tôi ở lại sau cùng, ngồi gác mộ cho tới khuya. Nghĩa là ngoài đường chỉ còn một vài bóng người kéo xe, hoặc ngồi rù ở ngã tư hoặc đi lửng thửng càng cắp bên tay, không còn buồn cất bước, và một hàng phở gánh leo lét ngọn đèn chai chờ khách đi xem hát về muộn nhất ăn rẻ. Khắc giờ đó cũng là lúc những sóng gió biển khơi xa xôi ở những Âu châu, Trung Hoa, Nhật Bản nổi dậy trong trí tưởng tôi cùng với những hình ảnh không những của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, mà đặc biệt còn có một tên tuổi mà mọi người cùng kính phục theo dõi, nghe ngóng và hết lòng tin cậy trông mong: Nguyễn Ái Quốc.
Những năm 1927, 1928, 1929 này, có một số tiểu thuyết lịch sử viết về những anh hùng và những chiến công xưa của dân tộc, đề cao tinh thần yêu nước, thương nòi như: Tiếng sấm đêm đông (Ngô Quyền), Vua Bố Cái, Châu chấu đá xe (Lý Thường Kiệt). Có truyện in thành sách bán trọn một cuốn. Có truyện ra làm nhiều tập, bán hai, ba xu một tập. Châu chấu đá xe đang ra thì bị cấm. Tiếng sấm đêm đông ra được mấy tháng mới cấm.
Những truyện này chúng tôi chung nhau tiền mua đọc rất mê mải, và mặc dầu đã thấy đăng báo cấm, cả gia đình cũng như nhà trường đều căn dặn không được giữ, không được đọc nữa, chúng tôi vẫn cứ giữ cứ đọc... bí mật ở những bụi râm bụt, những gốc sấu, gốc bàng trong trường hay ở những bờ búi hẻo lánh của vườn hoa thành phố.
Năm học 1929, 1930 ấy tôi đổi trường. Tôi được vào trường Trong. Khu đây là một phần thành trì của tỉnh Nam Định cũ ngày trước, chỉ có những lớp nhì và lớp nhất. Học trò nhiều người bằng tuổi thầy giáo và đã có con, ở các phủ huyện lên tỉnh ở trọ, hoặc thuê chung một gian gác, mướn người thổi nấu cho. Lương tiền bố mẹ hàng tháng đem lên, còn gạo ăn đúng là vợ gánh từ nhà quê ra. Tất cả gần hai mươi lớp. Lớp học xây ngay trên bờ thành, cao ráo, thênh thoáng mà vẫn còn chừa lại hai hàng hiên rộng lợp mái hẳn hoi. Đi lại ở hàng hiên sau lớp, có thể trông ra các làng xa tít. Dưới hàng hiên trước mặt lớp lại còn bờ đất mà các cây cao um tùm, có khoảng như một bìa rừng. Râm bụt, ô-rô mọc chen nhau ken thêm vào nữa. Thành đã cao, dưới chân thành lại vẫn còn hào rộng, nhiều chỗ ngập quá đầu người, thả sen. Trên bờ hào là những thửa ruộng cấy lúa. Tôi vẫn đi trước giờ vào lớp hay ở lùi lại đến tối mịt mới về nhà, để đi bắt cá đuôi cờ, ăn trộm ngó sen, và đào củ chua me ở hào và chân thành.
... Những ngày mùa rét gần Tết năm ấy, chúng tôi thấy có một sự xôn xao và một không khí căng thẳng như chờ đợi nghe ngóng một cái gì đặc biệt, rất lạ, rất ghê gớm, đang chuyển biến và sắp nổ ra. Chúng tôi được lệnh ngặt của đốc học không được đến trường sớm, không được tụ tập đọc báo, đọc truyện, không được ra khỏi khu vực nhà trường trong giờ chơi, và không được chơi ở những chỗ vắng, những bờ búi, những góc thành, sau trường và chân thành ngoài hào. Rồi tất nhiên, không được một lớp nào đốt pháo. Hình như có mấy học trò dại dột liều lĩnh và không nghe lời, vừa nổ pháo thì bị bắt, bị đánh và bị đuổi ngay.
Ra giêng, không khí càng lặng hẳn đi. Rồi tin ở trường này có thầy giáo vừa bị bắt đêm, trường kia thầy giáo đang dạy học cũng bị mật thám Tây ập vào xích tay. Có cả những thầy giáo đã bỏ nhà trốn đi. Có mấy gia đình xin cho con cháu tạm nghỉ học. Cũng có gia đình cử hẳn người lớn đưa đón con cháu bốn buổi đi học về học. Còn nghe đồn có nhà phải chạy hàng bạc nghìn với Sở mật thám để xin tha cho con, cho cháu.
Yên Bái đã bạo động! Yên Bái đã bạo động!
Đêm đêm ở cái thành phố làm ăn buôn bán sinh sống rất nền nếp - thành phố Nam Định, quê hương tôi ấy - nhà nhà đóng cửa đã sớm lại càng sớm. Cả mấy phố chính cũng lên cửa tắt đèn từ bảy tám giờ tối. Các đường có thợ nhà máy đi về, ban đêm vừa vắng lại vừa lạnh hoang lạnh ngắt vì không mấy ai qua lại. Các báo trên Hà Nội xuống, hàng phố đón mua sớm từng giờ. Phải, đã có bạo động ở Yên Bái nhưng đã bị dập ngay và các người khởi xướng "phiến loạn" đã lần lượt bị bắt!...
Nguyễn Thái Học, Ký Con, Phó Đức Chính... đã giải lên chém ở Yên Bái. Chúng tôi nghe chuyện, đọc báo và nhất là nghe tin, nghe đồn về các cuộc truy nã, các vụ xử án, đặc biệt là những chuyện về đời Đoàn Trần Nghiệp tức Ký Con. Chúng tôi vẫn cố ý không tin Ký Con bị bắt. Nghĩa là Ký Con vẫn sống, vẫn hoạt động ở ngoài vòng pháp luật!
Năm học ấy, tôi cũng có mấy bạn khá thân. Nhưng từ ngày xảy ra những sự kiện kia, thì bẵng đi một dạo, tôi chỉ đi về một mình. Cả khi đến trường, ngồi với nhau chờ trống vào lớp, tôi cũng không muốn chuyện trò nô nghịch gì cả. Biết bao nhiêu ý nghĩ và những câu hỏi về cuộc bạo động, về Nguyễn Thái Học, Ký Con và Phó Đức Chính đã bị tử hình. Trong cái buồn này có cả sự bâng khuâng, thương xót vô cùng.
Rồi phần vì ai nấy thêm một tuổi là phải thêm một khôn, một lớn, cũng như phải đứng đắn khác trước, nên tôi không đi đào củ chua me, không đi mò trộm ngó sen, không đi bắt cá đuôi cờ ở chân thành, ở ngoài hào ngoài ruộng nữa. Tôi thôi nghịch như thế còn để các bạn tôi thấy tôi cũng là một người đã có "đầu óc" rồi đây!
Sau cùng, có những buổi tôi đi học, vào trường gần như sớm nhất. Tôi lại lên con đường dốc, cây cối bờ búi um tùm. Tôi lại đến chỗ bụi găng rậm đằng sau một gốc cây mà rễ ăn sang cả bên kia đường, ra mãi vườn ngoài kia, và có những cái hốc cái gồ vừa cao vừa sâu hoắm, ở đây tôi không cần vít thêm những cành lá của các cây con cây dại cũng đủ làm thành một cái động, một hẻo rừng rất là hoang vu và cũng rất nên thơ. Tôi lách vào ngồi thỏm trong đó, bứt lá rải cho êm, có thể nằm ngủ được. Tôi đã bưng lấy trán mà suy tưởng. Trước mắt tôi là một trang bìa không hiểu tháo ở cuốn truyện nào ra in một cảnh có sông, có núi, có trời mây. Sông núi trời mây đó là Giang sơn và Tổ quốc. Và cái mấu gồ gồ như một mâm bồng nổi ở dưới gốc cây là bàn thờ, là đài Nghĩa liệt yêu nước thương nòi.
Chữ "Yên Bái bạo động" đã chiếu ra trước mắt tôi thành một hình tượng cùng với những hình ảnh vừa lạ lùng vừa man mác từ từ đi qua cái mấu gồ ghề của hốc cây sâu lạnh. Trên cao, những tàn lá càng phấp phới nắng. Gió thổi ù ù. Mây trắng cuồn cuộn. Trời xanh thêm, bát ngát xa thẳm.
Bao nhiêu tên tuổi và bao nhiêu ảnh hình xa xưa khác cũng rưng rưng chiếu thêm ra và như có cả những âm vang của trống rung, chiêng dậy, ngựa hí, súng nổ, cờ phất, quân reo... mở nước, giữ nước và chống quân cướp nước. Lại đến mùa hè rồi mùa thu. Rồi hết cả năm 1930 ấy, cái thành phố yên tĩnh và nền nếp Nam Định của tôi quả là không còn thể giữ không khỏi xôn xao sợ hãi được nữa. Phố nào, đường nào, xóm nào cũng thấy có người bị bắt. Càng những đường những xóm khuất nẻo của thợ thuyền và những người nghèo đói làm ăn lam lũ xưa nay ít ai chú ý, thì lại càng nhiều nhà bị khám bị bắt. Những câu chuyện, những tin đưa ra từ Sở mật thám và đề lao càng rùng rợn khủng khiếp. Tra tấn và tra tấn. Kim đóng lách vào các đầu móng tay, quấn chăn bó lấy ngực mà quật chầy gỗ. Treo ngược người và lộn đến ứa máu ở cả lỗ tai, lỗ đít. Tra tấn cả đêm. Toàn Tây lai tra tấn. Vừa uống rượu vừa lấy búa đóng kim, lấy chầy gỗ quật, lấy giày sắng-đá dận xoáy lên ngực, vừa hét vừa chửi. Người bị tra đã bị xích tay, cùm chân lại còn đóng hàm thiếc và không được uống nước! Hay có uống thì phải uống nước vôi, nước xà phòng, và uống cả nước đái của mình hay của anh em.
Khám cộng sản. Bắt cộng sản. Truy tìm cộng sản. Cung khai cộng sản. Tra tấn cộng sản. Xử án cộng sản... Không còn là những câu chuyện kín hở, rì rầm, thì thào nữa, mà công bố hẳn hoi. Chính kẻ đánh "người" công bố. Công bố cho những người nhà làm cộng sản, những bạn bè thân thuộc người làm cộng sản, những bà con xóm làng chỗ người làm cộng sản, và cho bất kỳ ai dính dáng đến cộng sản được biết rồi truyền đi cho các người khác biết! Còn làm cộng sản thì là làm những tội sau đây: quân phân các của cải, phá đồn điền, phá kho, phá lẫm, chia nhau ruộng đất, cướp giữ nhà máy, chống lại nhà nước, làm rối loạn mọi sự làm ăn, buôn bán, học hành, tôn ti trật tự, đạo đức lễ nghĩa hiện hành. Và đi theo cộng sản thích và làm cộng sản số đông là những thợ thuyền, phu phen vô sản và những người nhà quê đói khổ, cùng túng, thoi thóp, xác xơ...
Nói cho mọi người biết, giảng giải cho mọi người hay về các "tội" cộng sản này, không phải chỉ là những chánh phó cẩm và các thanh tra mật thám, hay các chánh phó xứ, tổng đốc, án sát, thương tá. Cả những cha cố cũng dẽ dàng dặn bảo các ông già bà lão con chiên về những việc làm của các "ma quỷ" ấy và cấm các ông già bà lão không được cho con cháu sa vào chước cám dỗ, nếu không sẽ bị tước phép thông công.
Tôi lại đi tìm các báo ấy và giấu giếm các báo ấy. Đó chỉ là mấy số báo hàng ngày bấy giờ đã đăng những vụ xử án cộng sản. Trong những bài này thỉnh thoảng mới thấy đăng đôi câu của các người bị khép tội đối đáp với các dự thẩm, các chưởng lý hay chánh tòa, đặc biệt là những khẩu hiệu như: "Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm hay "Đả đảo chính phủ, v.v... còn thì phần nhiều là kê những án mười năm cấm cố, mười năm phát lưu, hai mươi năm phát lưu, hai mươi năm khổ sai và chung thân chung thân...
Tôi đã cố học thuộc những câu đối đáp rồi cũng hô những khẩu hiệu nọ. Tôi đã nghĩ nếu tôi cũng được giao cho công việc như phát truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm, v.v... rồi bị bắt, tôi cũng ra tòa lên tiếng kết tội lại chưởng lý và chánh án, và hô khẩu hiệu như những "ai" kia... thì "dù tù tội cũng vui lòng"... Rồi những tiếng đồn và bàn tán về bài thơ của Tống Văn Trân cắn lưỡi lấy máu viết lên tường xà lim, đã như là một thần thoại đối với tôi, bên cạnh những thần thoại khác về các trận tra tấn khủng khiếp mà các con người làm cộng sản ấy trải qua, tinh thần mà chí khí của họ đã khiến chính những kẻ cùm kẹp khảo tra phải khuất phục! Cũng như những việc làm của họ bị buộc, bị bêu là tội ác, thì tôi lại thấy rất đúng, rất phải, rất tốt, rất hay. Tôi không những chỉ kính phục những việc làm và những con người bị kết là tội ác kia, mà thấy còn phải bằng mọi cách chống lại sự nhận định qui kết vô lý bất công, và làm sao cho rất nhiều người cũng thấy như tôi, cũng có thái độ như tôi...
⚝ ❖ ⚝
Tôi đã đón đọc các báo ấy còn hơn cả tờ báo tôi gửi truyện và được đăng truyện: từ tờ Le Travail đến tờ Bạn dân, tờ Thời thế. Tôi xuống tận chỗ chia báo, mua ngay tự tay người bán số đầu tiên rút ở tập báo còn nham nháp mực và thơm nức. Tôi vừa đi vừa đọc. Càng những tin ngắn tôi càng đọc kỹ. Những bài xã luận, lý luận, bình luận chính trị, tôi đọc còn mê mải, hứng thú hơn cả những truyện ngắn hay tiểu luận mà tôi có một thói quen là đọc rất chậm, đọc đến gần như thuộc. Tôi đọc cả trong giờ dạy học. Sau đó tôi còn chọn đọc cho người chung quanh nghe những bài, những tin đặc biệt. Tôi đi cả mấy gia đình có con cháu học tôi ở ngoài xóm, ngoài ngõ giới thiệu những bài đó, số báo đó. Nhiều nhà tin tôi, và bất chấp những sự đe dọa, đã mua những số báo đó. Báo của cộng sản! Báo đang chống lại chính phủ! Có nhiều số tôi đã cố giữ, nhưng rồi phải cho mượn, và cho hẳn mấy gia đình ấy!
Đình công, bãi công, bãi thị,... chống các thứ thuế, chống các cuộc khám xét giam giữ, bắt bớ, cúp phạt đuổi thợ,... vạch mặt những việc làm trái phép, đen tối, gian giảo của nhà cầm quyền, của các chủ,... ủng hộ các phong trào đấu tranh của công nhân, của quần chúng trong nước và ngoài nước,... ủng hộ phong trào cách mạng của Mặt trận bình dân Tây Ban Nha và kháng Nhật cứu nước của Trung Quốc,... vạch mặt những dã man, tàn bạo và nguy hại của bọn phát xít và quân phiệt phản động xâm lược,... giảng giải về những nguyên nhân của các cảnh nghèo đói khổ sở, cùng cực lạc hậu của quần chúng trong nước và các xứ thuộc địa, đặc biệt là sự bóc lột và đàn áp của bọn tư bản, đế quốc thống trị... bàn luận giới thiệu những điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác, của xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, của Cách mạng Tháng Mười Nga và công cuộc kiến thiết xã hội chủ nghĩa của Nga Xô viết,... bàn luận và giới thiệu các cuộc cách mạng trên thế giới... Tất cả những tin ấy, những bài ấy, tất cả những cột, những khung, những trang sách báo ấy, không phải là những dòng chữ mà là những dòng ánh sáng, những luồng ánh sáng đi rất sâu, mở rất rộng trong tâm não trí tưởng của tôi. Đồng thời có cả một sự sống, một sự sống rất mới, rất giàu có, rất lớn mạnh, rất sắc sảo, làm tôi được thấy rõ thêm những ý nghĩa về xã hội này, ở cuộc đời, ở con người, ở mặt đất và ở tương lai của trái đất này.
Số học trò của tôi lại đông thêm. Cũng vào vụ nghỉ hè. Nhân giai đoạn phong trào lên, các báo đang đòi các quyền tự do dân chủ, tôi không dạy bốn buổi nữa, mà thu lại làm hai lớp dạy hai buổi. Tôi vẫn vừa dạy học vừa viết. Vào khoảng tháng bảy năm ấy (1937) tôi nhận được thư đặc biệt của Tiểu thuyết thứ Bảy. Phong bì đã viền xanh, lại còn viền mấy đường chỉ màu, tên và chỗ ở nhà báo in rất to. Giấy viết thư thì màu lụa mỡ gà, vân kiểu giấy bạc, mấy đường viền trong đây còn rực rỡ hơn, đúng là băng tam tài, còn cái thư thì như một cái bằng đấu xảo, địa chỉ và tên báo, chức vị chủ báo in toàn chữ nổi đen nhánh. Thư đánh máy, chính ông chủ nhà báo kiêm chủ nhà xuất bản ký tên.
Tôi đã hoa cả mắt, run rẩy cả tay và cả người, đọc đi đọc lại, cố hiểu thật sâu thật hết mọi ý của từng lời từng câu trong thư.
Thư nhà báo hoan nghênh tôi, mong muốn tôi viết tiếp nhiều truyện cho nhà báo. Để đáp lại sự cộng tác chặt chẽ đó, nhà báo sẽ trả tiền bài cho tôi bắt đầu từ ngày viết thư này. A ha! Thế là tôi thành một người viết báo có tiền nhuận bút, một văn sĩ mà các truyện viết ra không phải chỉ được đăng mà còn được trả tiền! Tôi sẽ có thể, rất có thể sống bằng viết báo, viết truyện. Tôi thành văn sĩ nhà nghề. Tôi là một trợ bút của hẳn một tuần báo to, có tiếng bên cạnh những văn sĩ có tên tuổi, vào bực đàn anh trong làng văn làng báo bấy giờ! Tôi đã tranh được một sự làm ăn mà bao người viết văn khác khao khát mơ ước, trong số đó có nhiều kẻ đã phải tìm các thứ mánh khóe, mưu mẹo, cày bẩy, luồn lọt, chạy chọt, thậm chí bán rẻ cả tài năng của mình để thực hiện ý đồ.
Tôi không khoe việc này với ai cả, kể cả mẹ tôi và em gái tôi. Nhưng có lẽ vì sự sung sướng hân hoan không thể nào không lộ liễu của tôi, và hình như em gái tôi đã đọc trộm được bức thư của tòa báo ấy, nên cả hai người cũng vui ra mặt, và trong những câu nói với nhau, tôi thấy còn bàn tính đến cả sự sắm sửa chi tiêu cửa nhà từ nay trở đi. Hơn thế nữa, những bà con xóm lán thân thuộc cũng thì thào và tỏ ý mừng cho sự làm việc chịu thương chịu khó, cặm cụi đêm ngày của tôi đã tới lúc khấm khá.
Những cô gái xóm càng nhìn tôi một cách khác lạ hơn, bởi vậy càng làm tôi lặng lẽ hơn, đi đường chào hỏi họ giữ gìn hơn, và cả sự ăn mặc cũng thế. Tôi bắt đầu mặc tây. Tôi chọn mua một sơ mi dệt cụt tay ở cửa hàng trên phố; tôi đóng hẳn một đôi dép da ở một hiệu nọ có tiếng về giày dép cũng trên phố, đắt hơn dép mua thường bày sẵn của các hiệu khác ba, bốn hào. Còn quần, tôi nhờ một ông bạn thợ may cùng ngõ, học tiếng Tây mà tôi viết dạy âm bằng chữ ta. Ông bạn này chữa từ một cái quần ngủ thành quần mới thường rất khéo cho tôi.
... Nhưng rồi cái không khí vui mừng ấy ở trong nhà tôi cùng với bao nhiêu tính toán dự định của mẹ tôi đã tới phút quyết định đảo lộn.
Tôi thôi dạy học, bỏ hẳn nhà, lên Hà Nội. Tôi lên Hà Nội để đi học. Tôi lại đi học!
Mẹ tôi không thể sao tưởng tượng và hiểu ra nổi ý định này của tôi. Thứ nhất là bà khổ tâm và buồn, thấy tôi bảo giải tán hẳn những lớp trẻ nhỏ. Chao ôi! Thật thế này thì mẹ tôi ăn nói gặp gỡ chuyện trò với các bà con bố mẹ người nhà những trẻ nhỏ này ra sao? Con cháu họ theo tôi học hành đang mỗi ngày một ngoan khá, tuy tôi không bao giờ đặt giá nhưng họ đều trả cũng bằng tiền học các trường ngoài phố cơ mà! Hay giờ tôi viết báo viết truyện được nhiều tiền nên tôi không còn thiết gì con cháu họ, nhất là lại có những bố mẹ nghèo túng thường trả lân tháng và chịu lâu quá của tôi?
Thứ hai là mẹ tôi thấy tôi dù hiền lành tốt người tốt nết đến đâu, nhưng một mình lên ở Hà Nội cũng sẽ đua ăn đua chơi như những thanh niên nào kia thì sao? Không hư hỏng kiểu như thế, tôi lại nông nổi dại dột, sẽ theo đòi làm những công việc nguy hiểm nào đấy! Chính sự lầm lỡ này mới thật đáng lo đáng nghĩ!
Thứ ba là gia đình sẽ bị thiệt thòi trông thấy. Tôi ăn uống ở nhà vừa được no đủ vừa không tốn kém. Hàng tháng tiền dạy học được bảy tám đồng, tiền viết truyện cũng được khoảng như thế. Ôi! Lương thư ký một nhà buôn Tây, một thầy giáo trường tiểu học nhà nước cũng chỉ như thế hay hơn thế năm, sáu đồng thôi, mà có được tự do như tôi đâu?
Đúng là tất cả những suy tính của tôi hoàn toàn ngược lại với mẹ tôi!
Tôi phải học cũng như phải viết cũng như phải sống. Tấm lòng tôi đối xử với học trò cũng như tấm tình tôi đối xử với bà con như thế nào, mẹ tôi không cần phải phân bua, thì bà con cũng rõ cả. Vả lại rồi đây các cháu cũng phải vào học trường công, học lên các lớp khác, tôi lẽo đẽo theo các cháu, nắm tay đưa chân mãi được sao? Như vậy thấy tôi lại đi học, bà con cũng chẳng giận gì, mà còn mừng cho là đằng khác. Chính nhiều bà con lúc tôi đến thăm hỏi, hay lúc đến chơi nhà tôi trả tiền học cho con cháu, đã tỏ ý tiếc tôi đang sức học mà phải bỏ dở!
Đã muốn đi học, nay được một hoàn cảnh tốt, tôi không thể tiếc thể tham mỗi tháng bảy, tám đồng tiền dạy học. Tôi không những phải dứt khoát, mà rồi ra có phải thiếu thốn ăn uống, tiêu pha kham khổ, thì càng phải chịu khó, càng phải quyết tâm.
Còn những sự ăn chơi hư hỏng hay theo đòi làm những việc gì nguy hiểm mà mẹ tôi lo nghĩ trước, thì sau đây sự sống và kết quả việc làm của tôi sẽ trả lời. Cũng như mẹ tôi đã thấy được một phần nào ở sự sống vừa qua của tôi.
Tươi sáng đẹp đẽ và thiêng liêng biết bao, những hình ảnh, những dự định mới của tôi kia!
Tôi sẽ xin vào học hẳn ở một trường trung học tư thục, như là trường Thăng Long bấy giờ có tổ chức chặt chẽ bề thế với những giáo sư rất giỏi, rất nghiêm, rất yêu và lành nghề sư phạm để theo chương trình tú tài, xây cơ sở cho tri thức. Trưa, tối các ngày nghỉ tôi cũng vẫn đọc sách và viết như trước. Nhưng có phần khác trước là tôi sẽ tìm đọc nhiều những sách chính trị, triết học; tôi sẽ cố tìm hỏi và làm quen với mấy nhà chính trị, đặc biệt là những chính trị phạm ở Côn Lôn hay ở Sơn La về, để nghe giảng, để được trao đổi ý kiến học tập kinh nghiệm hoạt động. Tôi sẽ nhận một số việc họ phân công cho mà làm, để chứng thực cho tinh thần, cho ý thức cùng thái độ, trách nhiệm của tôi trước cuộc đời, trước xã hội.
Ơi! Hà Nội, kinh đô ngàn năm văn vật, một trung tâm chính trị, một diễn đàn có ảnh hưởng lớn của các sinh hoạt, các phong trào! Tôi sẽ lên sống ở đây, đem cả tuổi thanh xuân của mình chọi lại với các sự quyến rũ, thách thức, lừa lọc bấy giờ.
Tôi sẽ lại một bóng, một đèn, thắt người lại trong một sự khoan khoái mê say là được sống và tiến theo một lý tưởng mà tôi thấy là cao quí, thiêng liêng vô cùng. Tôi sẽ vẫn ăn, vẫn mặc bằng mồ hôi và óc não tôi vắt ra thành chữ thành bài. Và những chữ những bài của tôi vẫn sẽ rèn giũa kết đúc từ trong một trí não đã sống cái đời thật là nẩy nở, lớn mạnh của nó.
Tôi ra xe lửa lên Hà Nội với một hòm gỗ. Cái hòm gỗ lần này vừa to, vừa mới, rất nặng, vì ngoài những sách báo mới mua, lại còn các thứ bản thảo. Cũng vẫn một ngày mùa thu nắng đẹp!
Tôi ở nhờ một ngôi đền của phố Châu Long. Còn ăn, tôi đi ăn ở các hàng cơm đầu ghế ở các ngõ, các đường phố, các ngã tư, các cửa chợ, các cửa ô Hà Nội. Mỗi bữa ba xu cơm và một xu canh dưa chua hay rau muống luộc, một xu cá kho. Chưa thể vào trường được vì tiền học hàng tháng hơn sáu đồng, nên tôi đi tìm hỏi các chỗ dạy trưa hay tối, và cũng tìm hỏi chạy chọt làm sao được đến thư viện đọc sách. Những phút giờ đi qua những con đường có các tòa báo Le Travail, Bạn dân, tôi càng bồn chồn cả người, vì tôi vẫn chưa làm quen được với một anh em nào ở đây, hay được một ai giới thiệu với anh em.
Trong người tôi dần dần thấy mệt, thấy mỏi một cách lạ. Có nhiều sách tôi đọc rất khó vào. Còn truyện thì tôi viết lại gần như có lúc không ra chữ. Càng ngày tôi càng thấy sự sâu sắc và da diết của một nỗi nhớ.
Tôi nhớ Hải Phòng; Hải Phòng mà tôi đã bỏ nó ra đi. Hải Phòng thân thuộc, yêu thương, đằm thắm vô cùng đối với tôi. Ôi! Có một điều tôi thấy cần phải viết thêm, là từ ngày tôi lên Hà Nội, tôi vẫn không nghĩ đến việc vào cái tòa báo Tiểu thuyết thứ Bảy của tôi kia, dù tôi luôn luôn đi qua đấy, dù loáng thoáng tôi vẫn gửi truyện đến, vẫn nhận được ngân phiếu nhuận bút. Và tôi vẫn không dám để người chung quanh thấy tôi là văn sĩ, là viết truyện gì cả!
⚝ ❖ ⚝
Trở về Hải Phòng đầu mùa thu năm 1937 ấy tôi tìm mượn và mua đọc được cả Léon Tolstoi, Maxime Gorky và những sách của nhà xuất bản Xã hội của Đảng Cộng sản Pháp trong đó có tập Tuyên ngôn Cộng sản của Mác và Ăng-ghen.
Sau cuộc đình công của hơn bốn ngàn công nhân Máy tơ và liên tiếp những cuộc đấu tranh thắng lợi của Cảng Sáu Kho, nhà máy Xi măng, các hãng vận tải, các anh chị em buôn bán chợ Sắt, các anh em thợ xẻ, kéo xe, thợ may... thì có thể nói không khí của Hải Phòng sôi nổi rần rật như đã qua những ngày hội đặc biệt. Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu tin tức, bao nhiêu điều phải thì thào, lẩn lút, tránh né, nay đàng hoàng cất lên thành tiếng thành lời ở các cửa miệng của từ người đàn bà đội than, người làm phu thùng và đến cả những kẻ đi ăn đi ở cho các hiệu các nhà tận hang cùng ngõ hẻm. Các ái hữu cũng lần lần thành lập, có trụ sở trương biển ở cả những phố to, những ngõ đường đông đúc nhất của thành phố.
Nhiều sách bằng tiếng Pháp của loại sách mác-xít phổ thông bày bán, song song với những Nắng mới của Tự lực văn đoàn, Phổ thông bán nguyệt san của nhà xuất bản Tân dân, trong những tủ kính trên những giá gương mạ kền sáng choang. Cũng ở giữa những phố buôn bán to và những ngả đường tấp nập thợ thuyền đi về.
Cuốn Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình đã truyền đi và được giữ gìn vô cùng quí giá. Cuốn Ngục Kôngtum của Lê Văn Hiến thì chưa kịp bày đã hết. Sở mật thám Hải Phòng cũng không kịp tịch thu. Từ ngày mở hẳn chi nhánh báo Thời thế thì những sách của ta đã đưa đến tận tay quần chúng lao động độc giả Hải Phòng. Tôi cũng đến đây mua báo, mua sách.
Trụ sở... Cơ quan... Chi nhánh, phát hành... Thường trực, liên lạc... và tòa báo hay nhà báo Thời thế ở Hải Phòng ấy, là một căn gác phố đường Cát Dài. Chỗ ở kê được một cái giường, một bàn làm việc và một bộ ghế tiếp khách. Tất cả đồ đạc này đều đi mượn và đều mọt, gẫy, xộc xệch, ố xỉn cả rồi. Nhưng rất đỏm dáng, đường hoàng. Đỏm dáng đường hoàng với sự sạch sẽ, gọn ghẽ, thanh bạch đặc biệt của nó. Ngoài những chồng sách báo là thứ duy nhất làm nổi màu sắc, còn thêm những ảnh cắt ở báo, những ảnh chỉ đóng bằng đinh hay dán hồ chứ không khung, không kính gì cả. Uy nghi trang trọng, gợi nghĩ và cổ vũ nhất vẫn là ảnh Lênin. Lênin đứng trên xe bọc sắt, cả người lao ra trước đám đông quần chúng ngùn ngụt khí thế mà nói chuyện về cách mạng. Thêm mấy tranh áp phích đề khẩu hiệu của cuộc chiến đấu của quần chúng Tây Ban Nha và Trung Quốc chống phát xít Phờrăngcô và quân phiệt Nhật Bản.
Dưới gác tòa báo có hai cửa hiệu: hiệu cắt tóc hai ghế ngồi có cả gội với một gia đình, và hiệu thợ giặt cũng với một gia đình. Ngoài những người chính thức của hai gia đình này còn một số khách không mấy lúc vắng. Đó là người trong nhà quê ra tỉnh chơi và tìm công ăn việc làm. Gian bếp chật hẹp chung cho cả nhà dưới và gác còn là chỗ ăn ngủ của khách, ngoài việc phải chất chứa than củi, các đồ dùng, hong quần áo và nuôi cả gà nữa. Có lẽ vì được lợi như thế nên họ mới nhường cho tòa báo thuê gian gác, mà tòa báo chỉ có ba người, và nhà tuy thường là đông khách nhưng không thổi cơm nấu nước hoặc có đồ đạc gì ở bếp cả.
Kể ra tòa báo cũng có một số đồ dùng lỉnh kỉnh và không quý giá gì đến mức cần phải xếp ở một chỗ kín. Đó là những giày cũ, cái thau sắt tráng men đã cờn miệng vừa để rửa mặt vừa để ngâm quần áo, hũ vôi bột, thuốc hít riêng của một đồng chí bị bệnh phổi: đồng chí Búa nhà ta. Những thứ này xếp ngoài hàng hiên gác. Gọi là hiên nhưng ít khi người ta ra đây, vì nó vừa chật hẹp ngắn ngủn, lại còn mọt nát hơn trong gác. Chỉ đi mạnh chân là có thể làm lở thêm từng mảng vữa xuống đầu khách đang gội và xuống ngay nơi ông chủ ra vào đổi bàn là ở bếp lò, chỗ này trơ trụi gần hết gỗ dầm trên trần.
Còn lý do này nữa: lan can hàng hiên lại treo một biển rất to. Biển sơn nền màu đỏ rực, kẻ chữ trắng tên báo, một bên vẽ hình một công nhân trẻ đội mũ cát két giơ ngang thái dương nắm đấm chào kiểu Mặt trận.
A! Giữa thanh thiên bạch nhật ở một thành phố công nghệ và bến cảng ra vào tàu các nước thế này, đúng là tù chính trị, tù cộng sản ở Côn Lôn về mở hẳn trụ sở công khai rồi còn gì nữa! Chỉ thiếu không kéo cờ đỏ búa liềm của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng bên "nó" là Đảng Cộng sản Pháp và chung quanh "nó" là Đệ tam Quốc tế thôi! Nhưng không cờ thì lại có tấm biển đỏ chói kia, hình công nhân trẻ đội mũ cát két và quả đấm giơ ngang thái dương kia, có kém phần kêu gọi, tuyên truyền, động viên tập hợp đấu tranh đâu?!
Chao ôi! Làm sao mà người ta lại biết được hết những ý tình của những trí tưởng tượng, óc suy nghĩ và mắt nhìn xa rộng của những đại thần toàn quyền Bờ-rê-vi-ê, thống sứ Xa-tiền hay các quan lớn chánh mật thám Đông Dương Gờ-răng Giăng, đốc lý Hải Phòng Viếc-gi-ti, hay các quan cẩm mật thám, thanh tra mật thám lúc đó? Và mặc dầu dù biết có các thứ a dăng mật thám, mật thám phụ, chỉ điểm, xú doóc thay hình đổi dạng với các thứ quần áo mặt mày, nghề ngỗng, ngày đêm chia nhau chực chõm từ hai đầu đường đến nhà báo, canh gác và ghi tên tất cả những ai ra vào lên xuống nhà báo... biết cả như thế mà người ta vẫn cứ lên xuống ra vào để không những chỉ mua sách báo mà còn tìm hiểu trình bày, nhờ cậy sự giúp đỡ chỉ bảo, rồi đưa tin, mách chuyện, góp tiền quyên giúp cho tòa báo. Toàn những công việc vào các loại phản đối, tố cáo, yêu sách, v.v... không làm vừa ý, vui lòng các nhà cầm quyền đương thời một tí gì cả!
Tôi đã gặp anh C., anh Nh., anh Tr., anh Ch. Các anh đều đã qua các nhà tù độc ác, tàn bạo và dã man nhất của thuộc địa Đông Dương. Anh Tr., và anh Ch ở thường trực nhà báo. Ch. người cùng quê ở Nam Định với tôi. Những tên trường, tên phố, tên xóm anh kể chuyện cho tôi nghe hầu hết là những nơi gần ngay nhà tôi trước. Anh Tr. đã ở Sơn La, anh Ch. ở cả Sơn La và Côn Lôn. Chỉ mới gặp các anh lần đầu thôi, bao nhiêu sự suy tưởng của tôi trước đây về những con người hoạt động chính trị và làm cộng sản gần như được đặt hẳn lại.
Riêng anh C. đã làm tôi chú ý đặc biệt. Anh trẻ quá. Không phải vì nghe giới thiệu hồi anh C. ở Côn Lôn chuyên đóng giả gái mà tôi thấy anh trẻ. Anh C. trẻ cả từ dáng người đến khuôn mặt. Anh lanh lẹn khỏe mạnh và chắc chắn như một thợ máy trẻ, lại vừa có vẻ thông minh ý nhị của một học sinh đức độ, rất nhiều nghị lực. Tôi không thể tưởng được rằng người anh C. như thế mà đã trải qua các thứ Sở mật thám đến nhà tù, rồi ở Côn Lôn về! Anh C. gặp và chuyện với tôi chỉ mấy lần thôi, thì sau mỗi lần gặp tôi lại càng không thể nào không quý mến anh thêm, và ao ước có được sự trẻ mạnh, sáng suốt, chiến đấu và đầy tự tin của anh.
Đi lại chuyện trò và làm việc với anh Tr. và Ch. ít lâu, tôi được hai anh công nhận cho tôi hoạt động trong tổ hai anh và chuyên liên lạc với các học sinh, các tiểu trí thức và viên chức. Muốn đỡ phiền và cũng đỡ tốn kém vì phải đi ăn cơm tháng, tôi nhận để mẹ tôi thổi nấu cho hai anh. Trước thì ngày ngày hai bữa tôi xách quang liễn cơm canh thức ăn đưa đến nhà báo. Sau hai anh về hẳn nhà tôi ăn uống. Một dạo ở với hai anh và theo về nhà tôi còn có thằng cháu con đồng chí Ng. L. B. Bố bị tù rồi vượt ngục rồi lại bị tù không có ngày về, cháu ở nhà quê tứ cố vô thân, lại phải ra đi sống với các đồng chí anh em của bố. Cháu đã cùng chúng tôi đi đưa sách báo nuôi mình bằng tiền hoa hồng sách báo. Bẵng đi bao năm tôi không gặp lại cháu, thì một hôm được tin cháu bị bom Mỹ chết không biết ngày nào ở Hải Phòng.
... Trong những buổi bàn luận rất sôi nổi, đốp chát, thường hay kéo dài và lôi cuốn thêm nhiều người đến nhà báo cùng tham dự, tôi càng hiểu, càng biết và càng thấy ra thêm nhiều vấn đề về chính trị, xã hội lúc bấy giờ, cũng như về các chủ nghĩa, các học thuyết...
Tôi rất thích và phục những tổ chức học tập và thảo luận trong nhà tù, đặc biệt là ngoài Côn Đảo với những anh em ở "ca xô", những anh em án nặng, những anh em chỉ võ vẽ biết đọc, biết viết. Bao nhiêu điều bấy lâu tôi được nghe nói và rất tin nhưng cũng thấy rằng rất cao, rất khó, cần phải có những tủ sách, những thư viện và trình độ của những học giả mới nghiên cứu và thấu suốt được, thì ở ngay trong bốn bức tường tù ngục kia, những con người hầu hết chỉ với trí nhớ, với những kinh nghiệm đấu tranh, với một tổ chức và tinh thần hiểu biết thật là cách mạng, đã dạy bảo lẫn nhau, soi sáng cho nhau, và vun xới cho nhau, để đi đến kết quả là cùng nhau nắm được chân lý.
Chân lý của tư tưởng. Chân lý của trí tuệ. Chân lý của hành động.
Trong khoảng những tháng cuối năm 1937 sang mùa hè 1938 ấy tôi gần như nghỉ hẳn viết truyện ngắn.
Tôi chuyển sang viết phóng sự, điều tra. Tôi đi làm điều tra và phóng sự để biết thêm về đời sống của thợ thuyền phu phen và các người lao động cùng khổ. Tôi chú trọng sâu hơn nữa về sự bần cùng hóa của họ. Tôi không những chỉ đi thu thập tài liệu ở Hải Phòng mà còn đi thêm những tỉnh khác. Tôi lại vào mỏ than Vàng Danh. Khi vùng mỏ Vàng Danh nổ những cuộc đình công rất quyết liệt, tôi vào ngay đây. Tôi có một người anh họ ngày trước đi phu cao su đất đỏ nay trở về làm thư ký nhà đo của mỏ, và lấy vợ là một chị làm than. Tôi liên lạc thêm với mấy người thư ký trong đám này có anh Văn Trọng người cùng quê Nam Định với tôi và cũng muốn viết báo, viết truyện. Tôi đã định xin việc làm hẳn ở đây, nhờ anh họ tôi và anh Văn Trọng (7)tìm cho nhưng không được.
Gần Tết ta tôi vào Vinh, vào Bến Thủy. Ra giêng tôi lên Bắc Giang theo mấy người làm tàu thủy vào điều tra ở những đồn điền của những địa chủ Pháp nổi tiếng bóc lột và có thế lực chính trị lúc bấy giờ. Sau những chuyến đi này tôi chuẩn bị viết một thiên phóng sự dài lấy tên là Bụi đen (8)về đời sống của phu mỏ Vàng Danh.
-----
(7) Anh Văn Trọng đã cùng tôi viết chung một số phóng sự, truyện ngắn và ký sự đăng ở báo Người mới và Mới. Anh thất nghiệp, ho lao chết năm 1942.
(8) Bụi đen viết được mấy chương đã rao đăng ở tuần báo Mới cơ quan của Đoàn Thanh niên dân chủ xuất bản ở Sài Gòn năm 1939.
Bao nhiêu chuyện mà trước đây tôi thấy như là thần kỳ của cách mạng, từ đời sống của các cán bộ, các cơ quan, các cơ sở quần chúng, đến các cuộc rải truyền đơn, treo cờ ở đường phố hầm mỏ, các cuộc bắt bớ, tra tấn, tù đầy, đến các đồng chí các anh em đã hy sinh, tới nay tôi đều thấy thật là khiêm tốn, thật là giản dị và cũng vẫn thật là thần kỳ.
Thần kỳ vì rất thật, rất người. Thần kỳ vì chất sống của nó ở ngay trong những con người lao khổ, những con người đã đem mồ hôi, xương máu, trí não và tâm hồn của mình làm thành của cải vật chất và tinh thần của cả xã hội, của cả nền văn hóa từ xưa tới nay, vậy mà đời sống rất văn minh lại chỉ có một bọn được hưởng. Bọn tư bản, bọn thống trị "bản xứ" và đế quốc, chúng chiếm giữ tất cả những của cải kia làm của riêng, biến thành những công cụ để càng bóc lột sâu sắc, càng đàn áp dữ dội những con người đã nuôi sống chúng.
Những con người ấy có một giai cấp tên gọi là giai cấp vô sản vô tư nhất, quyết liệt nhất, mạnh mẽ nhất, đang đấu tranh và là duy nhất lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng cho bản thân và cho đất nước xứ sở mình, với một bộ tham mưu sáng suốt và vô cùng anh dũng của mình: Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản Đông Dương, một đảng đang đi tiên phong trong phong trào cách mạng của các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và nhất định sẽ thành công với ngọn cờ soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Giai cấp lãnh đạo ấy, đảng lãnh đạo ấy, ngọn cờ và chủ nghĩa soi đường ấy, tôi đang đi tìm và tình nguyện nhập mình vào trong đội ngũ chiến đấu của nó đây.
Xã hội và đời sống càng thêm bao nhiêu ý nghĩa đối với tôi, giữa tuổi thanh xuân vào đời của tôi. Không! Không phải chỉ có thống khổ, đen tối và giàu sang xa hoa. Không phải chỉ có bóc lột đàn áp. Không phải chỉ có chịu đựng và rên xiết mà còn có ca hát và vùng lên. Không phải tương lai chỉ là những cảnh tươi sáng lành mạnh rực rỡ, tự do nẩy nở, nằm ở trong trí tưởng mà là những cảnh tự do nẩy nở, lành mạnh, tươi sáng, rực rỡ đã mở ra ở một phần sáu quả địa cầu trên một xứ sở gọi là Liên bang Xô viết thành trì của cách mạng thế giới kia. Cũng không phải đất nước Việt Nam mà tôi phải làm một dân mất nước, và cái xứ sở Đông Dương mà tôi phải làm một tên nô lệ khổ nhục, cứ chịu xiềng xích mãi mãi mà nhất định sẽ có sự lật đổ tan tành cả cái chế độ tù ngục để xây dựng thật sự cảnh sống lý tưởng trên kia...
Và không phải ngòi bút của tôi chỉ có sức sống vì đằm vào trong sự đau khổ, quằn quại, làm việc một bóng một đèn, mà sẽ dồi dào sinh lực chính ở trong lao động và đấu tranh sát cánh cùng với những con người lao động. Ơi! Những con người lao động, không ngừng chiến đấu, tin tưởng và nhất định chiến thắng kia. Cùng với tôi viết về những con người tự mình nắm giữ lấy vận mệnh của mình ấy, còn có đông đảo những ngòi bút khác. Những ngòi bút bạn, những ngòi bút đồng chí. Những ngòi bút đang hình thành sẽ dần dần tìm đến nhau, qui tụ lại dưới một ngọn cờ lý tưởng góp thêm sức mạnh vào sự tố cáo, phá bỏ và xây dựng, nỗ lực hoàn thành những nhiệm vụ thiêng liêng của những ngòi bút chân chính tình nguyện đảm nhận, trước xã hội, trước đời sống.