Lối Thoát Trong Đêm

Lượt đọc: 6384 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương XIX

Cánh cửa mở.

Cô ta đứng đó nhìn mặt hắn. Rồi cô ta nhìn hắn từ đầu đến chân. Rồi cô ta lại nhìn mặt hắn.

Cô ta gầy. Cô ta cao khoảng một mét sáu hai và không nặng quá bốn lăm cân.

Cô ta có một khuôn mặt bình thường không có nét gì xinh đẹp. Cô ta có đôi mắt màu cột điện thoại cũ. Mũi cô ta ngắn và rộng ở gốc và quá rộng so với khuôn mặt và miệng cô ta quá lớn. Nhưng cô ta không thực sự xấu. Chỉ là cô ta không xinh đẹp. Cô ta rám nắng và có gì đó nhân tạo ở làn da rám nắng đó, như thể cô ta có được nó từ một loại đèn nào đó. Tóc cô ta nhuộm màu cam sẫm. Cô ta rẽ ngôi giữa và vén ra sau để lộ đôi tai. Cô ta mặc một chiếc áo choàng mặc trong nhà màu cam sáng và quần ống rộng màu cam nhạt và cô ta đi xăng đan để lộ móng chân sơn màu cam sáng. Cô ta cầm điếu thuốc trên tay và khói bay lên cuộn tròn chậm rãi trên đầu cô ta.

"Vào đi," cô ta nói.

Parry bước vào và đóng cửa lại. Hắn đứng trên tấm thảm trải sàn rộng màu cam sẫm. Nó khá mới. Mọi thứ trong căn hộ đều đã thay đổi và khá mới. Mọi thứ đều màu cam hoặc ngả sang màu cam. Có những đường kẻ màu cam chạy dọc và ngang trên khung cửa sổ lớn. Có một bình gốm tráng men màu cam to tướng bên trái cửa sổ và bên phải có một hội nghị đồ gốm da đỏ toàn màu trắng ngoại trừ những đường ziczac màu cam quanh thân.

Cô ta ngồi xuống chiếc ghế thấp tròn màu cam nhạt và chỉ vào chiếc ghế sofa màu cam sẫm.

Parry ngồi xuống. Hắn nhìn cô ta. Hắn đặt gói quà lên ghế sofa.

Cô ta nói, "Tôi không nghĩ tôi nên để anh vào đây."

"Cô không thích những gì cô thấy à?"

"Đó không phải vấn đề. Tôi thường không làm những chuyện thế này."

"Chà, tôi mừng là tôi đã đến."

"Anh uống gì không?" Cô ta nhìn gói quà.

"Làm ơn. Cái gì đó lạnh."

Cô ta đứng dậy và đi vào bếp. Cô ta quay ra với một cái khay có hai ly cao đựng đầy một nửa đá, một đĩa chanh cắt lát và một chai nước có ga. Cô ta mở một cái tủ màu cam nhạt lấy ra chai rượu gin. Cô ta pha đồ uống.

Parry nhấp một ngụm và nhìn tấm thảm.

Cô ta nói, "Chồng tôi nói gì?" Cô ta liếc nhìn gói quà.

Parry ngước lên. Cô ta đang mở miệng để uống. Hắn thấy những miếng trám vàng lấp lánh trong hàm răng cô ta.

Hắn nói, "Anh ấy mô tả cô cho tôi."

"Chính xác không?"

"Chính xác."

Cô ta uống một ngụm lớn. "Còn gì nữa?" Cô ta lại liếc gói quà.

"Anh ấy bảo cô không dễ hòa hợp."

"Có lẽ thế."

"Có lẽ đó là điều tôi thích."

"Anh có dễ hòa hợp không?"

"Thỉnh thoảng. Còn tùy."

Cô ta cười với hắn. Miệng cô ta mở và hắn lại thấy những miếng trám vàng. Cô ta nói, "Còn gì nữa?"

"Về tôi à?"

"Không. Chồng tôi nói gì về tôi." Cô ta nhìn gói quà.

"Anh ấy bảo cô suýt làm anh ấy phát điên."

"Và gì nữa?" Cô ta mở miệng rộng khi cười.

Hắn nhìn những miếng trám vàng. Hắn nói, "Chà, chồng cô cho rằng cô có thói quen diễn kịch."

"Diễn kịch kiểu gì?"

"Diễn như thể cô không có não, chỉ là một loại ký sinh trùng ngu dốt."

"Anh ta thực sự nói thế à?"

"Phải, và anh ấy bảo cô thực sự là một kẻ thao túng sắc sảo và khi cô quyết tâm lấy cái gì thì cô không từ thủ đoạn nào. Anh ấy bảo anh ấy bỏ cô vì anh ấy sợ cô."

"Và anh nghĩ sao?"

"Tôi nghĩ anh ấy có lý."

"Anh nghĩ anh có sợ tôi không?" Cô ta nhìn gói quà.

"Thỉnh thoảng. Và đó là vấn đề của cô. Cô sẽ phải đoán xem là khi nào."

Cô ta cười. Những miếng trám vàng bắt lấy chút ánh nắng và tung hứng nó. Cô ta nói, "Anh làm nghề gì?" Và cô ta lại cười.

"Tôi làm việc trong một công ty chứng khoán."

Cô ta ngừng cười. Cô ta nhìn hắn. Cô ta nói, "Anh làm gì ở đó?"

"Tôi là nhân viên môi giới."

"Công ty nào?"

"Kinney."

"Anh làm ở đó bao lâu rồi?"

"Mới vài tuần thôi. Tôi bảo cô tôi mới đến thành phố này mà."

"Sao anh gặp chồng tôi?"

"Anh ấy đến đầu tư."

"Anh ta lấy đâu ra tiền mà đầu tư?"

"Anh ấy không đầu tư nhiều."

"Bao nhiêu?"

"Tôi không nói đâu."

Cô ta đứng dậy. Cô ta nói, "Anh có định nói cho tôi biết không?"

"Không."

"Được rồi, thế thì biến khỏi đây."

"Được thôi." Hắn đứng dậy và đi về phía cửa.

Cô ta bắt đầu cười. Hắn quay lại nhìn cô ta. Những miếng trám vàng có vẻ được phóng to lên. Cô ta nói, "Anh định đi thật đấy à?"

"Phải."

"Và anh sẽ không liên lạc lại với tôi nữa à?"

"Không."

"Tại sao không?" Cô ta nhìn gói quà trên sofa.

"Cô sẽ bắt đầu hỏi về anh ấy. Cô luôn nghĩ về anh ấy."

"Đừng ngốc thế."

"Được rồi, vậy thì cô luôn nghĩ về tiền của anh ấy."

"Anh không tin chuyện đó chứ?"

"Một phần tôi không tin. Tôi không quan tâm cô nghĩ gì. Nhưng khi tôi ở đây tôi không muốn nghe những câu hỏi về anh ấy hay tiền của anh ấy."

"Ai bảo anh sẽ được ở đây?"

"Tôi không bảo. Cô cũng không. Nhưng cả hai chúng ta đều biết."

"Đừng nói cho tôi biết tôi biết cái gì." Cô ta nhìn gói quà.

"Được rồi, tôi sẽ không nói. Chẳng ích gì khi nói cho cô điều cô đã biết."

Cô ta nhìn gói quà. Cô ta nói, "Cái đó cho tôi à?"

"Phải."

Cô ta đi tới và mở gói quà. Cô ta cởi ruy băng satin tím và mở hộp và nhìn những viên kẹo sô cô la.

Cô ta cười. Cô ta rất hài lòng. Cô ta nói, "Đáng yêu quá."

"Tôi mừng là cô thích."

Cô ta bỏ một viên sô cô la vào miệng và hắn lại thấy những miếng trám vàng. Cô ta nhai sô cô la và nói, "Ngon lắm."

Cô ta ngồi xuống chiếc ghế thấp tròn với hộp kẹo trong lòng. Miệng cô ta mềm mại vì thỏa mãn và mắt cô ta lấp lánh sự mong đợi. Giờ cô ta đã bị kích thích và đó là điều hắn muốn thấy.

Cô ta nói, "Cảm ơn vì hộp kẹo, Allan. Allan gì nhỉ?"

"Linnell."

Cô ta đang nhìn miệng hắn. Cô ta nói, "Khi tôi nhìn hộp kẹo tôi biết tôi sẽ thích vị của nó." Cô ta cứ nhìn miệng hắn.

Hắn nói, "Chà, cô nghĩ sao? Cô nghĩ chúng ta có cơ hội không?"

Cô ta ngả người ra sau và nhón thêm một viên kẹo. Cô ta mỉm cười và nói, "Allan Linnell." Rồi cô ta bỏ viên kẹo vào miệng và cắn.

Và điều đó cho hắn biết hắn đã sẵn sàng.

Hắn nói, "Lẽ ra tôi nên mang kẹo trong một cái hộp màu cam."

Cô ta nhìn hắn đang ngắm tấm thảm màu cam sẫm. Cô ta nói, "Phải, đó là điểm yếu lớn của tôi."

"Tôi cá là mọi thứ cô sở hữu đều nghiêng về màu cam."

"Gần như thế." Cô ta đang nhìn miệng hắn.

"Cả xe của cô nữa?"

"Cả xe tôi. Nó màu cam sáng. Và trang sức của tôi là đá beryl cam. Và đồ uống yêu thích của tôi là cocktail Orange Blossom, chỉ vì màu sắc."

"Phải," hắn nói. "Tôi đoán những màu sắc nhất định hấp dẫn những người nhất định."

Cô ta đang nhìn miệng hắn khi hắn nói câu đó, và khi câu nói lọt qua tai vào đầu cô ta cái nhìn của cô ta hạ xuống và cô ta đang nhìn bộ com-lê của hắn. Rồi mắt cô ta lại ngước lên và cô ta nhìn mắt hắn. Rồi cái nhìn của cô ta hạ xuống lần nữa và cô ta nhìn chất vải len worsted xám và đường kẻ sọc màu tím. Và cô ta nhìn hộp kẹo màu tím. Và cô ta nhìn những đường kẻ tím trên bộ com-lê xám. Và cô ta nhìn mắt hắn.

Rồi cô ta rùng mình và nhắm mắt lại.

Rồi cô ta mở mắt và nhìn hắn.

Không rời khỏi ghế cô ta đang cố gắng đưa mình ra khỏi căn phòng.

Hắn nói, "Cô biết mà. Cô nhận ra bộ com-lê. Cô đã nhìn kỹ nó đêm hôm đó. Giờ cô đang nhìn mặt tôi và cô không tin nhưng cô không thể làm gì khác và không có cách nào khác để tiếp nhận nó. Cô buộc phải tin thôi."

Cô ta đang cố rời khỏi ghế và cô ta không thể cử động.

Hắn nói, "Thực sự là tôi đây."

"Đi đi," cô ta nói. "Đi đi và để tôi yên."

"Tôi không thể làm thế, Madge. Giờ tôi không thể làm thế. Giờ tôi là Kẻ Quấy Rầy. Cô luôn là Kẻ Quấy Rầy nhưng giờ tôi là Kẻ Quấy Rầy. Tôi buộc phải thế. Là thế này, Madge, tôi phải ở lại đây với cô và tôi phải quấy rầy cô vì tôi biết cô đã giết Gert và cô đã giết Fellsinger và tôi phải bắt cô thú nhận."

"Đi đi."

"Cô không thể đuổi tôi đi đâu, Madge. Cô đã làm thế một lần nhưng giờ cô không thể làm thế. Cô rất thông minh, Madge, nhưng cô không phải là phù thủy. Trong một giấc mơ tôi thấy cô là một mụ phù thủy màu cam sáng trên chiếc xà đu cao tít, và cô dụ tôi lên đó với cô trên xà đu, và một khi cô có tôi trên đó cô thả tôi rơi xuống. Tôi tan nát và hấp hối và mọi người thương hại tôi. Và cô ở trên tít cao trên xà đu, cười nhạo tôi và khoe những miếng trám vàng. Nhưng tôi đã thoát khỏi giấc mơ. Còn cô thì không thể thoát. Cô vẫn ở trên tít cao trên xà đu và cô hoàn toàn cô độc."

"Đi đi, Vincent. Làm ơn đi đi. Nếu anh đi ngay bây giờ họ sẽ không bao giờ tìm thấy anh."

"Giờ tôi muốn họ tìm thấy tôi."

"Họ sẽ giết anh."

"Tôi trông có vẻ lo lắng không?"

Cô ta lại rùng mình. Cô ta trừng mắt nhìn hắn.

Hắn nói, "Không, Madge, tôi không lo lắng. Tôi biết cô làm và tôi biết tôi có thể thuyết phục họ cô làm. Tôi có bằng chứng cho thấy cô đã theo dõi tôi từ căn hộ của Irene Janney vào đêm Fellsinger bị giết. Đó là điều đầu tiên tôi sẽ đưa cho họ. Rồi tôi sẽ đưa họ trở lại cái ngày cô giết Gert. Tôi sẽ nói cho họ biết tại sao cô giết cô ấy và tôi sẽ chỉ cho họ thấy cô giết cô ấy thế nào. Cô giết cô ấy vì cô đang ở trên xà đu và cô cô đơn. Cô muốn tôi ở trên đó với cô. Tôi chưa bao giờ nhận ra cô khao khát tôi đến mức nào. Hẳn phải kinh khủng lắm khi biết rằng cách duy nhất để có được tôi là loại bỏ Gert. Nên cô đeo găng tay vào và cô cầm cái gạt tàn đó lên và cô giết cô ấy. Và cô có được tôi. Cô có tôi trên xà đu nhưng một khi cô có được tôi cô không muốn tôi nữa. Nên cô ném tôi đi. Cô bảo cảnh sát Gert nói tôi làm. Tại phiên tòa cô làm chứng một cách khôn khéo, đưa ra cho họ mọi lý do tại sao tôi muốn giết Gert, nhồi sọ họ rằng tôi đã giết cô ấy. Họ có dấu vân tay của tôi trên gạt tàn và họ có câu chuyện của cô và thế là đủ với họ. Và tôi chẳng có gì. Vì tôi chẳng biết gì cả. Tôi tưởng tai nạn đã giết cô ấy và tôi không biết cô khao khát tôi đến mức nào."

"Anh không thể lôi họ quay lại quá khứ được."

"Nhưng tôi có thể, Madge. Đêm hôm nọ khi cô và Bob ở trong căn hộ của Irene cô đã đưa ra vài tuyên bố và Bob đã đưa ra vài tuyên bố và tôi có thể lôi họ quay lại bằng những cái đó."

Cái nhìn của cô ta trôi qua hắn. Cô ta nói, "Anh có Bob đứng về phía anh."

"Anh ta chưa biết đâu, nhưng anh ta đứng về phía tôi. Còn cô thì cô độc. Và khi tôi đưa họ quay lại cái ngày Gert bị giết tôi sẽ có tất cả bọn họ đứng về phía tôi và cô sẽ vẫn cô độc. Suy cho cùng, Madge, cô luôn cô độc—"

"Bỏ cuộc đi, Vincent. Bỏ đi đi. Anh không thể bán hàng khi anh chẳng có gì để bán."

"—bởi vì cô muốn cô độc. Bởi vì bất cứ khi nào cô có được thứ cô muốn cô lại nóng lòng muốn tống khứ nó. Nhưng khi cô thấy ai đó khác có được nó cô không chịu nổi. Cô biết Irene Janney muốn tôi và cô giết Fellsinger vì đó là cách tốt nhất để đảm bảo cô ấy không bao giờ có được tôi. Cô biết họ sẽ cho tôi ngồi ghế điện vì tội giết Fellsinger. Đó là điều to lớn trong đầu cô khi cô giết cậu ấy, khi cô tự nhủ cô đã tống khứ được tôi một lần và mãi mãi và không ai khác sẽ có được tôi. Điều đó quan trọng hơn bất cứ thứ gì khác, ngay cả những lý do thực dụng của cô để giết cậu ấy."

"Nghe lời khuyên của tôi đi, Vincent, và bỏ cuộc đi. Không đời nào anh buộc tội được tôi đâu."

"Cô thấy không, Madge? Ngay cả bây giờ cô vẫn đang cố đảm bảo cô ấy không có được tôi. Cô đúng là một mẫu vật, Madge. Gần như không thể hiểu nổi cô. Nhưng tình cờ là màu cam sáng lại nổi bật trên con phố tối tăm."

"Đó không phải bằng chứng. Anh chẳng có gì cả. Cái anh cần là một lời thú tội. Đó là cái anh đang cố lấy, đúng không?"

"Chà, dù sao thì nó cũng sẽ đơn giản hóa vấn đề. Như tình hình hiện tại tôi biết cô đã làm gì, lý do và phương thức. Và những vấn đề cô phải đối mặt. Vấn đề thực sự đầu tiên của cô đến khi cô gõ cửa căn hộ của Irene và rồi cô nghe thấy tiếng máy quay đĩa và rồi cô nghe thấy tôi bảo cô đi đi. Cô có cảm giác đó không phải giọng của Bob và khi cô ở bên ngoài cô cứ nhìn lên cửa sổ. Và rồi cô kiểm tra Bob, và trong khi đó cô biết tôi đã trốn thoát khỏi San Quentin. Và đây là chỗ cô nhận giải Oscar, vì cô biết cô ấy quan tâm đến tôi, cô đã phân tích điều đó ngay từ đầu, và bên dưới cái mặt nạ của một kẻ quấy rầy ngu dốt cô đang cười nhạo cô ấy, vì cô ấy ở đó, cố gắng vì tôi mà tôi thậm chí còn chẳng biết có một người tên là Irene Janney tồn tại."

"Cô ta nói với anh điều đó. Cô ta bảo anh đến đây."

"Không. Cô đoán sai bét rồi. Giờ tôi là người cầm cái (banker). Tôi nắm hết bài rồi. Tôi có thể thấy cô với những rắc rối của cô. Tôi có thể thấy cô suy nghĩ kỹ, tự nhủ tôi đang lẩn trốn, và chừng nào cô biết và tôi biết tôi không giết Gert, thì có khả năng tôi sẽ dùng sự tự do của mình để cố tìm ra ai đã giết cô ấy. Rồi cô lo lắng về điều đó, cô biết cô phải làm gì đó dứt khoát và quyết liệt. Có một bất ngờ lớn, rằng Irene Janney có não hơn cô tưởng và cô ấy đang giấu tôi trong căn hộ. Nên cô biết cô phải bắt đầu bằng việc để mắt đến căn hộ. Rồi khi tôi đi ra cô đã theo tôi. Chiếc xe mui trần màu cam sáng của cô đã theo chiếc taxi đến chỗ Fellsinger. Cô quan sát khi tôi bấm nút. Khi tôi lên lầu cô vào và thấy tên Fellsinger bên cạnh cái nút đó. Cô biết chỉ là vấn đề thời gian trước khi cảnh sát đến thăm Fellsinger và hỏi xem tôi có cố liên lạc không. Yếu tố thời gian đó rất quan trọng. Cô muốn tôi nhanh chóng đi xuống, và khi tôi đi xuống cô lẻn ra từ chỗ trốn và cô vào và bấm đúng cái nút đó. Cô đã lên kế hoạch lúc đó, khi cô đi lên lầu. Và điều cô muốn nhất là đảm bảo Irene Janney không bao giờ có được tôi. Kế đến cô muốn đảm bảo Fellsinger sẽ không giúp tôi tìm ra ai giết Gert. Rồi cô lại biết nếu cô giết Fellsinger mọi ngón tay sẽ chỉ vào tôi vì cảnh sát biết tình bạn của tôi với Fellsinger và cô chắc chắn họ sẽ tìm thấy dấu vân tay của tôi trong phòng và thế là đủ với họ. Nên cô vào đó và giết Fellsinger. Cô bắt chuyện với cậu ấy và cô làm cậu ấy mất cảnh giác và cô thủ tiêu cậu ấy. Đúng không?"

"Đúng."

"Cô sẽ nói điều đó với cảnh sát chứ?"

"Không."

"Đằng nào họ cũng moi ra từ cô thôi. Vì họ sẽ có sự thật để làm việc. Họ sẽ có khía cạnh động cơ. Đừng quên mục lớn về Bob. Anh ta sẽ đứng về phía tôi."

Cô ta cười. "Vô ích thôi. Bob sẽ bị coi là nhân chứng thiên vị. Hơn nữa, anh ta có thể nói gì? Anh ta sẽ nói tôi muốn anh. Anh ta có bằng chứng hữu hình nào?"

"Một bản tường trình có chữ ký của người đàn ông cô thuê theo dõi anh ta. Người đàn ông đã quay ngoắt lại và ăn hai mang và theo dõi tôi đến căn hộ của cô. Bản tường trình đó, Madge, chốt hạ vấn đề."

Cô ta ngừng cười. Cô ta nói, "Được rồi, bản thân nó là cụ thể, nhưng chưa đủ. Yếu tố ghen tuông chưa đủ mạnh."

"Vậy hãy làm cho nó mạnh hơn. Hãy đưa vào một chút tin đồn tồi tệ liên quan đến Bob và Gert."

"Bob. Và Gert. Bob và Gert. Không. Không, đừng thử trò đó với tôi. Không thể nào."

"Nhưng sự thật là thế. Và khi Bob đứng lên thừa nhận mối quan hệ của mình với Gert thì mọi chuyện sẽ vỡ lở toang hoác."

"Tôi sẽ bảo họ tôi chưa bao giờ biết chuyện gì như thế diễn ra. Và tôi sẽ nói sự thật."

"Họ sẽ không tin cô đâu, Madge. Cô đã thuê người theo dõi Bob. Đó là hành động điên cuồng và nó thiết lập động cơ. Giờ cô đang sợ. Và tôi nói cô nghe điều này—ngay khi cô biết tôi ở trong thành phố cô đã sợ cứng người. Nếu không cô đã tìm cách báo cảnh sát và cho họ biết tôi đang trốn ở căn hộ Irene Janney. Nhưng đến lúc đó cô đã thực sự sợ hãi, trong khi trước đó cô chỉ thấy khó chịu thôi. Và giờ cô không thể lôi cảnh sát vào vì cô nghĩ Irene Janney và tôi đang âm mưu gì đó và có lẽ chúng tôi đã đi đến điểm sắp sửa giao nộp cho cảnh sát. Cách duy nhất cô có thể phá hỏng chuyện đó là tạo ra vụ giết người thứ hai, giết Fellsinger. Đó là chỗ khía cạnh thực dụng xuất hiện, nhưng nó chưa đủ thực dụng. Cô đã bỏ qua một vấn đề lớn. Nếu tôi có bằng chứng chứng minh tôi không giết Gert, tại sao tôi lại muốn giết Fellsinger?"

"Anh biết không, tôi đã nghĩ đến điều đó."

"Cô nghĩ đến khi đã quá muộn. Fellsinger đã chết rồi. Cô đã sơ suất chuyện đó và có lẽ cô đã sơ suất những chuyện khác, nên cô vẫn sợ báo cảnh sát. Đêm cô đến chỗ Irene cô không hề diễn kịch. Cô thực sự đang trong tình trạng tồi tệ. Cô hy vọng tôi sẽ không ở đó và điều đó có nghĩa là tôi đã bỏ trốn khỏi thành phố và tôi đang chạy trốn khỏi toàn bộ sự việc. Đó là điều cô muốn, vì khi đó cô biết chắc khoản đầu tư Fellsinger đang sinh lời theo ý cô, và cô cuối cùng có thể nói chuyện với cảnh sát. Nhưng rắc rối lại đến. Irene bảo Bob sắp đến bất cứ lúc nào và cô ấy không cho cô trốn trong phòng ngủ. Nên cô biết tôi ở trong phòng ngủ đó. Rồi cô phát ốm. Cô đang quay mòng mòng trên bánh xe và không thể xuống được. Vincent Parry đang định làm gì? Cái gì giữ hắn lại San Francisco? Tại sao hắn không chạy trốn? Hắn đang đợi cái gì? Và hắn định đợi bao lâu? Tôi sợ—tôi sợ. Đúng không, Madge?"

Cô ta chạy ngón trỏ gầy guộc dọc theo nếp gấp quần màu cam nhạt. Cô ta nhìn đầu gối, rồi cô ta sắp xếp hộp kẹo màu tím vào giữa lòng và nghiên cứu những viên kẹo.

Parry khoanh tay nhìn cô ta.

Cô ta chọn một viên sô cô la và đưa chậm rãi lên miệng và khi được nửa đường cô ta dừng lại, cô ta để nó rơi vào lòng bàn tay và tay cô ta nắm chặt lại và bóp nát nó. Lớp vỏ sô cô la vỡ ra và kem bơ trắng trào ra giữa các ngón tay cô ta. Đầu cô ta lắc lư từ bên này sang bên kia và cô ta mở miệng như thể đang điên cuồng cần không khí. Cô ta cứ bóp nát viên kẹo bẹp dí rồi đột nhiên bật mở tay ra và nhìn những gì mình đã làm. Có một đống hỗn độn sô cô la vụn và kem bơ khắp lòng bàn tay và nhỏ giọt giữa các ngón tay. Cô ta phát ra tiếng nghiến răng ghê tởm và chùi thứ đó vào quần. Rồi cô ta chùi tay vào chiếc áo choàng màu cam sáng, cứ chùi mãi cho đến khi tay sạch lại. Rồi cô ta nhìn đống hỗn độn trên quần và áo choàng và cô ta ngẩng đầu lên và miệng cô ta vẫn mở, mở to hác ra một cách lỏng lẻo, xệ xuống.

Cô ta nói, "Tôi muốn anh, Vincent. Đêm nào tôi cũng khóc vì khao khát anh."

Hắn mở tay ra và giữ cứng đờ, xa khỏi sườn.

"Được rồi, Vincent. Hãy xem xét vấn đề. Cô ta có được anh rồi. Cô ta có anh và anh có tôi. Nhưng nếu anh không giữ được tôi thì nghĩa là họ vẫn đang săn đuổi anh. Và chừng nào anh không có tôi thì nghĩa là anh không thể chứng minh được gì vì tôi sẽ không ở đó để thừa nhận bất cứ điều gì. Động cơ thôi chưa đủ. Họ sẽ muốn những sự thật nhất định."

"Cô sẽ ở đó," hắn nói. Hắn lùi vài bước để chắn giữa chiếc ghế thấp và cửa ra vào.

"Anh sai rồi, Vincent. Anh sẽ không bao giờ chứng minh được vì tôi sẽ không ở đó. Anh cần bằng chứng, anh cần cái gì đó cụ thể, anh cần nhân chứng. Và anh không có nhân chứng, đúng không? Không. Tất nhiên là anh không có."

Hắn nhìn cô ta. Cô ta bắt đầu cười nhẹ và đầy thích thú.

Các sắc thái màu cam khác nhau đang hòa quyện và tan chảy và chảy về phía hắn.

Cô ta cứ cười. Cô ta nói, "Anh không có nhân chứng—không nhân chứng."

"Tôi có sự thật và tôi có cô và thế là đủ."

"Sự thật không đủ. Anh không thể chứng minh chúng nếu thiếu tôi."

"Nhưng tôi có cô."

"Không, Vincent. Anh không có tôi." Cô ta đứng dậy. Cô ta cười với hắn.

Hắn nói, "Cô nghĩ tôi sẽ đứng đây và để cô thoát sao?"

Cô ta hít một hơi dài và hắn có thể nghe tiếng rít trong cổ họng cô ta. Cô ta nói, "Họ sẽ luôn tìm kiếm anh. Cô ta khao khát anh lắm. Và đó là lý do cô ta sẵn sàng bỏ trốn cùng anh và cứ chạy trốn mãi và luôn sợ hãi, luôn chạy trốn. Và điều đó sẽ hủy hoại mọi thứ của cô ta nhưng cô ta sẽ không bận tâm vì cô ta được ở bên anh và đó là tất cả những gì cô ta muốn. Và anh biết điều đó và đó là lý do anh sẽ không đưa cô ta đi. Đó là lý do cô ta không có anh bây giờ và cô ta sẽ không bao giờ có anh và không ai sẽ bao giờ có anh. Và đó là cách tôi muốn. Và đó là sự thật. Và nó sẽ luôn như thế."

Cô ta cười vào mặt hắn và hắn thấy những miếng trám vàng. Hắn thấy màu cam sáng lùi lại và xa dần hắn, đi quá nhanh. Cô ta đang chạy lùi, ném mình ra sau khi hắn lao theo cô ta nhưng cô ta quá nhanh và hắn thấy những miếng trám vàng lấp lánh và màu cam sáng bùng lên khi tay cô ta dang rộng khi những miếng trám vàng lóe sáng khi cô ta đập vào cửa sổ và cửa sổ vỡ toang và kính vỡ bắn tung tóe và cô ta lao qua đó.

Hắn ở bên cửa sổ. Hắn nhoài người qua cửa sổ vỡ và hắn thấy cô ta rơi xuống, nữ nghệ sĩ nhào lộn màu cam sáng rơi khỏi xà đu. Và như thể cô ta đang kéo hắn theo khi cô ta rơi xuống, màu cam sáng cuộn tròn và nhào lộn và rơi xuống và đập vào vỉa hè năm tầng lầu bên dưới. Hắn thấy hai chiếc xe nôi và hai người phụ nữ và hắn nghe thấy những người phụ nữ thét lên.

Rồi hắn thấy những khuôn mặt ngước lên của những người phụ nữ. Và hắn biết họ đang nhìn chằm chằm vào khuôn mặt người đàn ông trên cao kia, đóng khung trong những mảnh kính vỡ. Họ thét to hơn.

Hắn chạy ra khỏi căn hộ, nghĩ về Irene, lao về phía thang máy, nghĩ về Irene, biết hắn không thể dùng thang máy hay cửa chính. Hắn chạy dọc hành lang và dùng cầu thang thoát hiểm. Hắn đang nghĩ về Irene. Hắn dùng một con hẻm và một con phố hẹp và một con hẻm khác và cuối cùng là một con đường có đường ray xe điện. Hắn đợi ở đó, nghĩ về Irene và rồi một chiếc xe điện đến và đưa hắn về trung tâm thành phố. Hắn chạy về khách sạn, não hắn chật cứng hình ảnh Irene. Hắn lên phòng và mặc bộ quần áo mới và thu dọn đồ đạc. Rồi hắn xuống lầu trả tiền một ngày và nói hắn bị gọi đi khỏi thành phố đột xuất và hắn đang nghĩ về Irene và hắn đang thấy cô một mình trong căn hộ nhỏ và bên cửa sổ khi hắn đi xa và muốn hắn quay lại, muốn hắn đưa cô đi cùng. Và hắn đang cố nói với cô hắn muốn đưa cô đi cùng đến mức nào nhưng hắn không thể đưa cô đi cùng vì giờ không còn cách nào chứng minh sự vô tội của hắn và họ sẽ luôn phải chạy trốn và mặc dù con đường rộng nhưng nó tăm tối, điên cuồng, và không có gì chắc chắn. Sẽ có nơi trú ẩn thỉnh thoảng nhưng không có sự chắc chắn và hắn không thể làm thế với cô. Hắn tự nhủ cô hoàn toàn cô độc và hắn sẽ luôn nghĩ về cô là hoàn toàn cô độc và hắn tự nhủ hãy quay lại đó và đưa cô đi cùng. Hắn tự nhủ hắn không thể làm thế với cô. Ở đây cô có nhà và cô an toàn. Với hắn cô sẽ không bao giờ an toàn và cô sẽ không bao giờ có nhà vì nhà không bao giờ là nhà khi nó là nơi ẩn náu và hắn biết trốn chạy và lẩn trốn là thế nào. Hắn không thể yêu cầu cô chia sẻ điều đó mặc dù hắn biết cô sẽ nhảy bổ vào chia sẻ nó. Và hắn biết một khi cô có nó, một khi nó ập đến với cô, cô sẽ không nói gì và cô sẽ che giấu và mỉm cười và nói mọi chuyện đều ổn. Đó là Irene. Đó là cô gái của hắn. Đó là hạnh phúc, sự trong sáng ngọt ngào hắn hằng mong muốn và mong muốn bây giờ hơn bất cứ thứ gì. Và hắn có thể nghe thấy cô van xin hắn quay lại và đưa cô đi. Hắn có thể nghe thấy chính mình van xin bản thân quay lại và đưa cô đi. Và dưới ánh nắng chói chang con đường vẫn tăm tối.

Hắn bước ra khỏi khách sạn và tiếp tục đi cho đến khi tìm thấy một trạm xe buýt tồi tàn. Hắn vào trong và rất nhiều người mặc quần áo rẻ tiền đang ngồi trên ghế dài đối diện một cái quầy gỗ nứt nẻ. Hắn đi tới quầy và một chàng trai trẻ sau quầy hỏi hắn muốn đi đâu và hắn nói Patavilca và chàng trai trẻ hỏi lại cái gì cơ và hắn nói Arizona và chàng trai trẻ hỏi chỗ nào ở Arizona và hắn nói Maricopa.

Chàng trai trẻ cầm bản đồ tuyến đường và hỏi hắn đi một mình à và hắn gật đầu. Rồi hắn có vé và hắn tìm một chỗ trên ghế dài và ngồi xuống chờ. Trong đó rất ấm và dính dáp. Hắn bắt đầu nghĩ về Arbogast.

Họ sẽ không bao giờ biết ai đã thủ tiêu Arbogast. Họ thậm chí sẽ chẳng buồn bỏ công tìm hiểu. Họ liệt kê Arbogast là một tên lừa đảo rẻ tiền và sẽ rất tiện để gạch tên hắn khỏi danh sách. Tất cả đều rất nhanh và tự động, dễ hình dung. Ai đó sẽ tình cờ thấy cái xác và cảnh sát sẽ nhận dạng cái xác và chôn nó và nói nhẹ nợ. Nhưng bức tranh đã bị đảo lộn.

Toàn bộ sự việc đã bị đảo lộn. Và thế giới đang quay sai hướng. Họ đã chẩn đoán hoàn toàn sai. Không có một mảy may nghi ngờ nào trong đầu họ. Người đàn ông này đã giết vợ mình. Và rồi hắn tiếp tục giết người bạn thân nhất của mình. Và rồi trong khi đang làm thế hắn đã tìm người phụ nữ làm chứng chống lại mình và hắn đã đẩy cô ta qua cửa sổ.

Môi hắn đang tạo nên một nụ cười mờ nhạt. Gã tài xế taxi đang hiện lên trong tâm trí hắn, cùng với Coley. Hắn tự hỏi họ có còn nói chuyện với nhau không. Chắc là có, vì họ không thể thảo luận sai lầm khủng khiếp của họ với bất kỳ ai khác. Gã tài xế taxi sẽ nói tử tế với người ta chẳng được tích sự gì. Coley sẽ nói họ chẳng làm gì được và tốt nhất là quên chuyện đó đi. Và họ sẽ không bao giờ quên chuyện đó. Họ sẽ luôn cảm thấy chắc chắn họ đã giúp một kẻ sát nhân giết thêm hai người nữa. Hắn thấy thương hại họ. Hắn ước có cách nào đó để làm sáng tỏ chuyện đó cho họ.

Ai đó nói, "Mấy cái xe buýt này có bao giờ chạy đúng giờ không nhỉ?"

Một người phụ nữ gầy gò với hai đứa trẻ trong lòng nói, "Họ quan tâm đếch gì? Ông nghĩ họ lo lắng cho chúng ta à?"

"Chuyện đời là thế." Người đó là một người đàn ông cao lớn đội mũ rơm. Ông ta có cái miệng mỏng trễ xuống ở khóe mép. Cà vạt của ông ta thắt nút trễ xuống tận hai inch dưới cổ áo. "Phải," ông ta nói, mấp máy miệng như thể có gì chua loét bên trong, "đời là một cuộc chiến hỗn loạn từ đầu đến cuối. Chẳng ai thèm quan tâm đến kẻ khác."

"Trong này nóng quá," người phụ nữ nói. Đứa bé nhỏ hơn bắt đầu trượt khỏi lòng cô và cô kéo nó lại và nói, "Ngồi yên."

Người đàn ông thở dài. Ông ta bỏ mũ rơm ra, gãi đỉnh đầu hói. "Phải," ông ta nói, nhìn vào tường, "chuyện đời là thế."

"Đôi khi," người phụ nữ nói, "tôi thấy mệt mỏi. Tôi phát ốm và mệt mỏi với mọi thứ. Chẳng có gì để mong đợi cả."

Người đàn ông chỉ về phía lũ trẻ. "Cô có lũ trẻ kia," ông ta nói. "Thế là có gì đó rồi. Nhìn tôi này. Tôi chẳng có ai."

"Đây là con của chị tôi," người phụ nữ nói. "Chị ấy bị ốm và tôi chăm sóc chúng. Giờ chị ấy khỏe rồi và tôi đang đưa chúng về."

"Về đâu?"

"Tucson. Rồi tôi sẽ quay lại đây và tôi sẽ lại cô độc. Tôi nói ông nghe thật không thể chịu nổi khi một người chẳng có gì để mong đợi."

"Ý cô là đây không phải con cô à?"

"Tôi ước là phải. Nhìn chúng xem. Chúng là những cậu bé ngoan."

Người đàn ông đang nhìn người phụ nữ. Người đàn ông chỉnh cà vạt và kéo nút thắt lên cổ áo. Nút thắt rực sáng như một ngọn đèn tít đằng xa trên con đường tăm tối.

Parry rời ghế dài và bước ra khỏi trạm xe buýt. Hắn đi nhanh. Hắn vào một hiệu thuốc ở góc đường và cầm danh bạ điện thoại lên. Hắn tìm số cần tìm và vào bốt điện thoại bỏ đồng năm xu vào khe. Hắn quay số và chờ trong khi đầu dây bên kia reo một lần rồi hai lần và rồi cô nói a lô.

Hắn nói, "Allan đây."

"Anh ở đâu? Anh ổn chứ?"

"Ừ. Em đang làm gì thế?"

"Chỉ ngồi đây thôi."

"Được rồi. Nghe này. Là Madge. Nhưng anh không thể dùng thông tin đó được. Anh đã lên đó để đối chất và cô ta đã tự sát. Lao qua cửa sổ. Em sẽ đọc tất cả trên báo chiều. Em sẽ đọc thấy là anh đẩy cô ta. Anh chỉ muốn em biết anh không đẩy cô ta."

"Đó không phải lý do anh gọi. Có chuyện khác anh muốn em biết."

Hắn cười toét miệng trong khi nước mắt trào ra. Hắn nói, "Thật tốt khi em có cái gì đó để mong đợi. Hãy kiếm một tấm bản đồ Nam Mỹ. Ở Peru có một thị trấn nhỏ bên bờ biển. Patavilca. Nói đi. Nói cho anh biết nó ở đâu."

"Patavilca. Ở Peru."

"Tốt. Giờ nghe này. Anh sẽ không viết thư. Không được có bất kỳ sự liên lạc nào. Và chúng ta phải chờ đợi. Chúng ta phải cho chuyện này thật nhiều thời gian. Có thể họ sẽ nghi ngờ em và họ sẽ để mắt đến em một thời gian. Trong khi đó nếu anh xoay xở xuống được dưới đó anh sẽ đợi em ở đó. Và nếu em thấy đường quang mây tạnh—nghe toàn chữ 'nếu' kìa."

"Bỏ qua mấy chữ 'nếu' đi," cô nói. "Em hiểu ý tưởng rồi và đó là tất cả những gì em cần. Ý tưởng chung. Giờ cúp máy đi. Cứ thế—cúp máy đi."

Hắn cúp máy. Hắn vội vã quay lại trạm xe buýt và thấy chiếc xe buýt đang lướt vào chỗ đậu bên cạnh phòng chờ. Hành khách xếp thành một hàng lởm chởm và khi lên xe họ di chuyển một cách đói khát về phía những chiếc ghế trống. Parry tìm một ghế ở cuối xe và nhìn lên phía trước hắn thấy người đàn ông đội mũ rơm ngồi cạnh người phụ nữ gầy gò và hai đứa trẻ ngồi cùng nhau bên kia lối đi. Tài xế nhảy lên xe và đóng cửa lại. Vài người bên ngoài vẫy tay tạm biệt. Tài xế nổ máy rồi quay lại nhìn hành khách và nói, "Sẵn sàng chưa?"

HẾT

Chú thích:

(1)  4-F: Một mã phân loại nghĩa vụ quân sự của Hoa Kỳ (đặc biệt phổ biến trong Thế chiến II), chỉ những người không đủ tiêu chuẩn nhập ngũ do lý do thể chất, tâm lý hoặc đạo đức. Vào thời điểm đó, bị gọi là 4-F thường mang hàm ý xấu hổ, bị coi là yếu đuối hoặc trốn tránh trách nhiệm.

2) Coupé: Kiểu xe ô tô mui kín, 2 cửa, dáng thể thao hoặc gọn nhẹ hơn sedan (thường chỉ có 2 chỗ hoặc 2+2).

3) (Cách nói ẩn dụ hài hước) Đang hoàn thành thập kỷ đầu tiên của chúng = Chiếc quần đã cũ mèm, chừng 10 năm tuổi.

4) Gallon: Đơn vị đo thể tích xăng ở Mỹ(Cách nói ẩn dụ hài hước) Đang hoàn thành thập kỷ đầu tiên của chúng = Chiếc quần đã cũ mèm, chừng 10 năm tuổi.

5) Hopping a freig (Tiếng lóng): Nhảy tàu (thường là tàu chở hàng) một cách lén lút để đi lậu vé, một cách di chuyển phổ biến của những người lang thang hoặc tội phạm bỏ trốn thời bấy giờ.

6) Swing: Một thể loại nhạc Jazz phát triển mạnh ở Mỹ vào thập niên 1930-1940, đặc trưng bởi tiết tấu mạnh, nhún nhảy, thường được chơi bởi các ban nhạc lớn (Big Bands).

7) Basie: Tức Count Basie (1904–1984), một nghệ sĩ dương cầm, organ, nhà soạn nhạc và trưởng ban nhạc Jazz người Mỹ nổi tiếng. Ông là một biểu tượng của dòng nhạc Swing. Các bài hát được liệt kê như Every Tub, Swinging the Blues, Texas Shuffle... đều là các tác phẩm kinh điển của ông.

8) Máy quay đĩa cổ điển phát nhạc bằng cách đặt một chiếc kim nhỏ. Nhấc kim để nhạc tắt hoặc dừng, đặt kim xuống để bắt đầu nghe.

9) Whippet: Một giống chó săn thỏ có tốc độ rất nhanh, dáng người mảnh khảnh và mượt mà.

10) Homestretch: (Thuật ngữ đua ngựa) Đoạn đường thẳng cuối cùng dẫn về đích. Trong âm nhạc, ý chỉ đoạn kết cao trào của bài hát.

11) 

Strike one / Strike two / Strike three: (Thuật ngữ bóng chày)

Trong bóng chày, khi người đánh bóng đánh trượt 3 lần thì sẽ bị loại.

Trong hội thoại tiếng Anh, người ta dùng phép ẩn dụ này để đếm lỗi sai hoặc đoán sai của đối phương.

Strike one: Đoán sai lần 1.

Strike two: Đoán sai lần 2.

Strike three: Đoán sai lần 3 (hoặc kết thúc cuộc chơi).

Ở đây Parry dùng để mỉa mai những phán đoán của gã tài xế về đời tư của hắn là sai bét.

12) Two-base hit: (Thuật ngữ bóng chày - Double) Một cú đánh tốt giúp người đánh bóng chạy được đến chốt 2 một cách an toàn. Gã tài xế dùng từ này để phản bác lại cú "Strike one" của Parry, ngụ ý rằng: "Không phải tôi đoán sai đâu, mà tôi đoán trúng phóc đấy, thậm chí trúng đậm".

13) Roped in: (Thành ngữ - Nghĩa đen: Bị thòng lọng bắt) Bị dụ dỗ, lôi kéo vào làm việc gì đó (ở đây là bị dụ lấy vợ).

14) Carpet was ready to give up: (Cách nói nhân hóa) Tấm thảm đã quá cũ nát, rách rưới, không còn chịu đựng nổi việc bị giẫm đạp nữa (đầu hàng).

15) 

Preliminary to sleep: (Nghĩa đen: Vòng sơ loại/Bước chuẩn bị cho giấc ngủ).

Đây là một cách nói ẩn dụ đậm chất văn học để mô tả trạng thái sắp ngất đi/sắp mất ý thức. Cú va chạm mạnh khiến hắn choáng váng, đầu óc quay cuồng trước khi chìm vào bóng tối (được ví như "giấc ngủ").

16) Con trai người đàn ông đang chiến đấu trong Thế chiến II (chống lại Đức Quốc xã và phe Trục).

17) Calling a spade a spade: (Thành ngữ) Gọi cái xẻng là cái xẻng - Nói thẳng, nói thật, làm việc trực diện không vòng vo, không hoa mỹ.

18) Take the bull by the horns: (Thành ngữ - Nghĩa đen: Nắm sừng con bò tót) Đối mặt trực diện với khó khăn/nguy hiểm một cách dũng cảm, quyết liệt (Nắm đằng chuôi/Chủ động giải quyết vấn đề).

19) A dime a dozen: (Thành ngữ - Nghĩa đen: Một hào một tá) Rất rẻ mạt, tầm thường, đầy rẫy, không có giá trị đặc biệt.

20) Cosmic-ray: Tia vũ trụ. Fellsinger dùng từ này để ví von cảm hứng âm nhạc của mình như một nguồn năng lượng siêu nhiên, mạnh mẽ và bí ẩn đến từ ngoài không gian.

21) Rushing: Tức Jimmy Rushing (1901–1972), ca sĩ chính nổi tiếng của ban nhạc Count Basie Orchestra. Ông được mệnh danh là "Mr. Five by Five" (Ngài Năm nhân Năm) vì chiều cao khiêm tốn nhưng bề ngang to lớn, và có giọng hát Blues cực kỳ mạnh mẽ, vang dội.

22) Trumpet take-off: (Thuật ngữ nhạc Jazz) Đoạn độc tấu ngẫu hứng của kèn trumpet, khi nghệ sĩ tách khỏi giai điệu chính để "bay bổng" sáng tạo.

23) 

Cái vồ (hoặc Búa gỗ/Búa cao su):

Khác với búa sắt tạo ra âm thanh sắc lạnh, vồ thường có đầu bằng gỗ hoặc cao su, tạo ra âm thanh trầm, đục và nặng nề (thịch, thịch). Tác giả dùng hình ảnh này để ẩn dụ cho tiếng bước chân của kẻ thù đang đến gần: nó không chỉ là âm thanh bên ngoài mà dội thẳng vào hộp sọ nhân vật như một cơn đau đầu nhức nhối, gây ra sức ép tâm lý nghẹt thở.

24) 

Tố thêm: Xuất phát từ thuật ngữ Poker (Xì tố). Arbogast ví việc hắn theo dõi Parry và Irene như một ván bài Poker căng thẳng.

Hai con Át úp: Trong Poker, đây là bài tẩy rất mạnh. Ý Arbogast là hắn đã nắm trong tay những bằng chứng cực khủng ngay từ đầu (biết Parry vượt ngục, biết Irene là tiểu thư giàu có).

Tố thêm: Hành động tăng tiền cược lên.

25) Quay đầu chữ U (tiếng Anh: U-turn): một thuật ngữ giao thông phổ biến, mô tả hành động lái xe quay ngoắt 180 độ để đi về hướng ngược lại so với hướng đang di chuyển.

26) Cái ống: Một hình ảnh ẩn dụ siêu thực mô tả trạng thái của Parry khi bị siết cổ. Sự thiếu oxy biến khí quản đau đớn thành một đường hầm thị giác, nơi hắn nhìn thấy viễn cảnh tương lai đen tối nếu hắn chết.

27) Huy hiệu giải ngũ: Vào thời Thế chiến II, những người lính giải ngũ vì lý do y tế hoặc danh dự thường đeo huy hiệu này để tránh bị người đời (nhất là phụ nữ) coi là kẻ trốn lính.

28) Trận đèo Kasserine (1943) ở Tunisia, Bắc Phi. Đây là trận đánh lớn đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Đức trong Thế chiến II, nơi quân Mỹ chịu tổn thất nặng nề. Chi tiết này cho thấy gã nhân viên bán hàng là cựu binh đã từng tham chiến ác liệt.


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 12 tháng 2 năm 2026

« Lùi
Tiến »