Tôi mười sáu tuổi, đang ở trong văn phòng của thầy Burton. Tôi ngồi trên một trong những chiếc ghế nhung sặc sỡ giống như cái ngày tôi đến đây hơn hai năm về trước, nhưng giờ đây có thêm một lớp phủ lên trên mặt ghế. Tôi cũng nhìn chằm chằm vào những tấm áp phích treo trên tường của căn phòng chật hẹp ấy. Những bức tường gạch sơn trắng vụng về, một số lỗ vẫn còn màu đen và không được quét sơn, các lỗ khác thì bám đầy những cục sơn trắng. Đó là tất cả hoặc không là gì cả trong căn phòng này, không bao giở thay đổi. Những miếng cao su Blu-Tack bám đầy các bức tường, các góc của tấm áp phích cũ vẫn còn dính lại trên các miếng cao su. Tôi hình dung ở một nơi nào đó trong trường có một căn phòng chứa đẩy những tấm áp phích mất góc.
"Em đang suy nghĩ gì thế?" cuối cùng thầy Burton cũng lên tiếng.
"Những tấm áp phích mất góc," tôi trả lời.
"À, chuyện cũ rích. Thầy gật đầu. "Em đã có một tuần thế nào?"
“Chán ốm.”
“Tại sao lại chán ốm?”
"Không có gì thú vị xảy ra."
"Em đã làm gì?"
"Đi học, ăn, ngủ, đi học, ăn, ngủ, nhân lên năm lần và nhân với hơn một triệu tuần trong đời. Tương lai của em thật là ảm đạm.”
"Cuối tuấn em có đi chơi đâu không? Tuần trước em nói rằng em được một nhóm bạn rủ đi chơi mà.”
Thầy luôn muốn tôi có thêm nhiều bạn. "Dạ, em có đi.”
“Và?”
“Và hôm đó cũng vui. Đó là một bữa tiệc tại nhà. Ba mẹ của ]ohnny Nugent đi vắng, vì vậy chúng em đã tụ tập ở nhà cậu ấy.”
"Johnny Nugent?" Thầy nhướng mày.
Tôi không trả lời, nhưng má đỏ lên.
"Có phải em đã có thể quên ông Pobbs và vui vẻ trở lại?"
Thầy hỏi rất nghiêm túc, tôi lại chăm chú nhìn những miếng dán cao su Blu-Tack, cảm thấy hơi xấu hổ. Tôi gắn bó với Ngài Pobbs từ khi còn nhỏ - ông gấu Teddy một mắt có bộ lông màu xám mịn, mặc bộ đổ ngủ sọc xanh, ông gấu luôn ngủ trên giường tôi, và trên bất kỳ chiếc giường nào tôi nằm ngủ mỗi đêm. Có lần tôi và ba mẹ đi chơi xa trong vòng một tuần và ngay sau khi chúng tôi trở về, tôi lại gói gém hành lý để đến ở với ông bà vào ngày cuối tuần. Một lúc nào đó trong khi thay quần áo, tôi đã để quên Ngài Pobbs. Điều đó khiến tôi buồn vô cùng trong suốt thời gian tôi ở nhà ông bà, và lúc trở về tôi đã mất hai tuần tìm kiếm khắp nơi trong nhà, cuộc tìm kiếm kéo dài đến mức ba mẹ tôi cũng trở nên mệt mỏi theo. Tuần trước chúng tôi thảo luận về việc tôi không muốn đi chơi với Johnny Nugent vào cuối tuần bởi vì tôi muốn tìm Ngài Pobbs hơn, người bạn yêu quý của tôi, dù cho điều này nghe có vẻ ngớ ngẩn làm sao. Thật khó khăn để ra khỏi nhà đi chơi vào buổi tối khi biết rằng ở đâu đó, Ngài Pobbs vẫn nằm đợi tôi đến tìm.
"Vậy là em đã đi chơi cùng Johnny Nugent?” Thầy Burton quay trở lại câu hỏi. "Dạ." Thầy cười một cách gượng gạo. Rõ ràng thầy cũng đã nghe những lời đồn đại. "Có phải mọi thứ... có phải em…?” Thầy ngừng nói và thay vào đó là bặm môi suy nghĩ làm thế nào để sắp xếp lại câu hỏi. Hiếm khi thấy thầy lúng túng như thế vì dường như thầy luôn có thể làm chủ bản thân. Dù gì đi nữa, thầy cũng đang ở trong căn phòng này. Ngoài những thông tin cá nhân lẻ tẻ mà tôi biết được về thầy khi thầy vô tình để lộ ra trong những lần nói chuyện như bạn bè giữa chúng tôi, tôi không biết gì về cuộc sống của thẩy bên ngoài bốn bức tường. Tôi cũng biết không nên hỏi bất kỳ câu gì, bởi vì thầy sẽ không trả lời và bởi vì tôi không muốn biết. Việc không biết, không hỏi và thầy không trả lời nhắc nhở tôi rằng chúng tôi là những người xa lạ ở một phương diện nào đó. Chỉ trong căn phòng này, chúng tôi mới quen nhau. Chúng tôi đã tạo ra thế giới riêng của mình, có quy tắc để làm theo và có vạch ngăn cách giữa chúng tôi, mặc dù nó không thể vượt qua, nhưng có thể giao nhau vào những ngày vui vẻ.
Tôi cắt ngang không cho chiếc kèn môi trompet của thầy phát ra giai điệu của nhân chiếc kèn đồng. "Thầy Burton, nếu thầy đang tự hỏi liệu em đã ổn chưa thì xin thầy đừng lo lắng. Trong đời em, em đã bị mất một số thứ và em không có ý định tìm kiếm hay mong đợi nó sẽ quay trở lại. Em nghĩ rằng em đã khỏi bệnh.”
Chúng tôi cười. Và cười. Và khi sự im lặng không lấy làm dễ chịu kéo đến trong lúc tôi hứng thú với việc thầy chữa khỏi cho mình, chúng tôi lại cười.
"Em sẽ gặp lại cậu ta chứ? Ý thầy là, em có thích làm bạn với những người khác? Em có thích đi chơi, em có cảm thấy thoải mái, em có thể quên đi tất cả những thứ đang mất không?” Thầy lại mỉm cười. "Có phải chúng có ý định tiếp cận hòn đảo của Scathach?"
Sau khi va đầu vào tấm ván đầu giường của cha mẹ Johnny Nugent, tôi bổng thấy Chúa Giêsu hiện hình. Tôi nhớ ra mình đã để ngài Pobbs ở đâu khi đóng gói quần áo. Ngay ngày hôm sau tôi gọi cho mẹ và mong rằng Ngài Pobbs được tìm thấy dưới gầm giường với một con mắt đang chằm chằm nhìn thanh lò xo bị gãy ở dưới gầm mướn . Nhưng ông không có ở đó và chúng tôi đã tổ chức một cuộc tìm kiếm ở nhà ông bà vào cuối tuần tiếp theo. Cho dù Johnny Nugent đã rủ tôi đi chơi. Tôi chuẩn bị giải thích tất cả điều này nhưng bỗng khựng lại. "Khoan đã, hòn đảo của Scathach là gì?”
Thầy Burton cười. "Xin lỗi, thầy lỡ lời. Đó là một sự suy luận ngớ ngẩn.”
"Thầy giải thích đi!" Tôi mỉm cười, nhìn gương mặt của thầy đỏ lên.
"Thầy không có ý đó. Nó chỉ bật ra. Đừng bận tâm ,nữa, chúng ta hãy tiếp tục nào.”
"Chờ đã, thầy không định giấu em đấy chứ! Em phải lặp lại mọi thứ em nói,” tôi cười, lần đầu tiên trong đời tôi thấy thầy túng túng.
Thầy tự dựng nên câu chuyện. "Đó là một truyền thuyết cổ vùng Celtic, và là một sự so sánh ngu ngốc.”
Tôi ra hiệu cho thầy kể tiếp.
Thầy vò đầu, "Thầy không thể tin thầy lại kể cho em nghe chuyện này. Scathach là một nữ chiến binh vĩ đại, bà đã đào tạo ra nhiều anh hùng thời đó. Truyền thuyết kể rằng tiếp cận hòn đảo của bà là điều gần như không thể, vì thế bất kỳ ai làm được điều đó xứng đáng được bà rèn luyện võ nghệ.”
Tôi há hốc miệng. "Thầy gọi em là người nữ chiến binh đào tạo võ thuật cho những vị anh hùng?"
Thầy lại cười "Vấn đề ở chỗ bà là người phụ nữ khó có thể với tới được. Thầy thôi không cười nữa khi bắt gặp nét mặt của tôi. Thầy vươn người về phía trước và nắm lấy tay tôi. "Thầy nghĩ em đang hiểu lầm thầy.”
"Em hy vọng như vậy,” tôi nói, khẽ lắc đầu.
Thầy lầm bầm và nói nhanh. "Chỉ có người mạnh nhất, dũng cảm nhất và xứng đáng nhất mới có thể tìm được bà.”
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm đôi chút, thích thú với điều này. "Làm thế nào họ tìm được bà ấy?"
Thầy cũng thư giãn một chút. "Đầu tiên họ sẽ phải vượt qua vùng đồng bằng mang tên Sự May Mắn Bất Hạnh nơi có những lá cỏ sắc như dao cạo cào cấu họ.” Thầy dừng lại dò xét biểu hiện trên gương mặt tôi đế xem liệu thầy có nên kể tiếp hay không. Hài lòng khi thấy tôi không có ý định phản kháng, thầy tiếp tục, "Sau đó, họ sẽ đến Thung Lũng Kinh Hoàng nơi có những con quái vật ăn thịt người. Nhiệm vụ cuối cùng của họ là vượt qua chiếc Cầu Treo Hai Lưỡi, cây cầu sẽ dựng thẳng đứng bất cứ khi nào có ai đó cố gắng vượt qua.”
Tôi tưởng tượng những người đã cố gắng tiếp cận tôi, cố gắng làm bạn với tôi, cố gắng để liên lạc với tôi. Tôi mường tượng cảnh mình đã từ chối họ.
"Chỉ cỏ những anh hùng thực sự mới có thể vượt qua , t hầy kết thúc..
Tôi nổi hết da gà. Tóc dựng ngược lên và tôi hy vọng thầy không để ý.
Thầy đưa tay vuốt tóc, rồi lắc đầu. "Đó không phải là một phần của... công việc , thầy gần như thì thầm. "Thầy không nên nói vậy. Xin lỗi em, Sandy.”
"Không sao mà thầy,” tôi khẳng định, và thầy nhìn như được giải thoát. "Chỉ cần cho em biết một điều, thầy ở đâu trong cuộc hành trình này?”
Đôi mắt màu xanh tuyệt đẹp nhìn tôi buồn bã. Thầy thậm chí không cần phải suy nghĩ, thậm chí không quay đi. "Thầy có thể khẳng định thầy mới chỉ vượt qua đồng bằng Sự May Mắn Bất Hạnh ngay phút này.”
Tôi suy nghĩ về điều đó. "Em sẽ dễ dàng vượt qua với những con thú ăn thịt nếu thầy hứa cho em biết khi nào thầy vượt qua cầu.”
"Em sẽ biết,” thầy mỉm cười, nắm lấy tay tôi và siết chặt. "Em sẽ biết.”
Jack dừng xe bên cạnh căn hộ của Alan và lật qua cuốn nhật ký của Sandy. Hôm qua cô ấy cũng có một cuộc hẹn vào lúc 1 giờ tại một nơi ở Dublin, anh cần phải biết liệu cô có đến đó không. Anh hy vọng dù cô gặp bất cứ ai thì người đó đều có thể giúp được anh.
Mặc dù Sandy có cuộc hẹn ở Dublin ngày hôm qua, nhưng cô cũng lên kế hoạch đến gặp Alan ở Limerick hôm nay. Hẳn cuộc hẹn ở Dublin rất quan trọng nên cô mới vất vả đi đi lại lại như thế.
Anh quay số điện thoại Dublin mà Sandy đã ghi lại.
Một người phụ nữ nhanh chóng nhấc điện thoại, có vẻ bị phân tâm bởi những tiếng chuông điện thoại khác đang réo bên cạnh.
"Xin chào, Scathach House nghe đây.”
"Xin chào, tôi tự hỏi liệu chị có thể giúp tôi,” Jack nói một cách lịch sự. "Tôi tình cờ thấy số điện thoại của chị trong cuốn nhật ký của mình và tôi không thể nhớ nổi tại sao tôi lại ghi chú ở đây là cần phải gọi cho chị.”
"Tất nhiên,” cô nói một cách lịch sự. "Scathach House là văn phòng của bác sĩ Gregory Burton. Có lẽ anh muốn đặt một cuộc hẹn?"
Tôi tỉnh dậy trong căn nhà nhỏ của mình ở Dublin bên âm thanh chói tai của chiếc điện thoại đang đổ chuông. Tôi chụp lấy chiếc gối trùm lên đầu và cầu cho điện thoại thôi đổ chuông. Tôi vẫn còn chóng mặt vì rượu. Tôi chồm người qua bên kia giường và thoáng thấy bộ đồng phục cảnh sát nhàu nát nằm cuộn tròn trên sàn. Tôi đã có một phiên trực muộn và sau đó đi uống vài ly. Một vài ly rõ ràng đã trở nên nhiều hơn một vài và tôi hoàn toàn không nhớ mình đã trở về nhà như thế nào. Tiếng chuông điện thoại cuối cùng cũng ngưng và tôi thở phào nhẹ nhõm, mặc dù những âm thanh vẫn còn vang vọng trong đầu tôi thêm vài giây nữa. Và sau đó nó lại bắt đầu reo lên. Tôi giật lấy điện thoại tử phía bên kia giường và áp nó vào tai dưới gối.
“Xin chào,” tôi cáu nhàu.
“Chúc mừng sinh nhật coooon, chúc cooon sinh nhật vui vẻ, sinh nhật vui vẻ, Sandeeeee yêu dấu, chúc mừng sinh nhật cooon.” Đó là mẹ tôi đang hát rất ngọt ngào như thể bà đang đứng trong dàn đồng ca nhà thờ.
“Hip, hip…”
“Hoan hô!” Đó là ba.
“Hip, hip…” “Hooray!” Ông thổi chiếc kèn vào ống nghe, chiếc ống nghe tôi đang đặt rất xa tai của mình khiến tay tôi trượt khỏi mép giường. Từ dưới gối, tôi vẫn nghe thấy tiếng ba mẹ đang chúc mừng khi tôi chìm vào giấc ngủ lần nữa.
“Mừng tuổi 21, con yêu,” mẹ tự hào nói. "Con yêu? Con còn đó không?”
Tôi đặt điện thoại trở lại tai. "Cảm ơn mẹ,” tôi lầm bầm.
"Mẹ ước gì con cho phép ba mẹ tổ chức tiệc sinh nhật cho con”, bà nói đầy tiếc nuối. "Không phải ngày nào cũng là ngày bé con của mẹ 21 tuổi.”
"Đó là sự thật," tôi nói một cách mệt mỏi. "Con còn ba trăm sáu mươi ngày 21 tuổi, do đó, chúng ta còn rất nhiều thời gian để ăn mừng.”
"Ồ, con biết nó không giống nhau mà.” "Mẹ biết con sẽ như thế nào với những thứ này không," tôi nói, ám chỉ ý tưởng tổ chức tiệc.
"Mẹ biết, mẹ biết. Phải, mẹ muốn con tận hưởng ngày của mình. Con có nghĩ đến việc về nhà ăn tối đấy chứ? Vào cuối tuần chẳng hạn? Chúng ta có thể làm một điều nho nhỏ, chỉ mẹ, con và ba. Chúng ta sẽ không đề cập đến từ sinh nhật,” bà cố gắng thuyết phục.
Tôi ngừng lại. "Không, cuối tuần này thì không thể được, con xin lỗi. Công việc của con đang rất bận,” tôi nói dối.
"Ồ, thôi được, thế nếu mẹ đến Dublin thăm con trong một vài giờ thì sao? Mẹ sẽ không ở lại qua đêm, chúng ta có thể uống một tách cà phê hoặc cái gì đó. Một cuộc trò chuyện ngắn và mẹ sẽ đi ngay, mẹ hứa đấy.” Bà cười lo lẳng. "Mẹ chỉ muốn kỷ niệm ngày này với con bằng một cách nào đó. Mẹ muốn trông thấy con.”
"Con không thể mà mẹ, con xin lỗi?'
Một sự im lặng. Kéo dài, quá dài.
Ba đến bên điện thoại. "Chúc mừng sinh nhật, tình yêu của ba. Ba mẹ hiểu con đang rất bận nên chúng ta sẽ để con quay lại làm tiếp những gì con đang làm.”
“Mẹ đâu rồi ạ?”
"Mẹ con ấy à, ừ, mẹ phải ra mở cửa.” Ba nói dối cũng tệ như tôi vậy.
Mẹ đang khóc, tôi biết điều đó.
"Được rồi, chúc con yêu có một ngày tuyệt vời. Hãy tận hường ngày của mình, được chứ?” ông nhẹ nhàng nói thêm.
"Vâng ạ," tôi khẽ đáp, nghe tiếng cách từ chiếc điện thoại đầu dây bên kia vừa đặt xuống và rồi một sự im lặng đáng sợ.
Tôi lẩm bẩm, trả điện thoại trở lại trên chiếc tủ đầu giường và ném chiếc gối ra khỏi đầu. Tôi để mắt hé mở từ từ để điều chỉnh theo ánh sáng của chiếc màn cửa rẻ tiền không có khả năng ngăn ánh sáng. 10 giờ sáng thứ Hai và cuối cùng tôi cũng đã có một ngày nghỉ. Tôi sẽ làm gì với ngày nghỉ của mình, tôi cũng không biết nữa. Tôi thích đi làm vào ngày sinh nhật của mình hơn, mặc dù tôi sẽ bận túi bụi với một trường hợp mất tích gần đây đang đi vào ngõ cụt. Một cô bé tên là Robin Geraghty đã biến mất trong khi chơi trước sân nhà. Tất cả các dấu hiệu đều ám chỉ đến gã hàng xóm trung niên trong việc Robin biến mất. Tuy nhiên, mặc cho chúng tôi đã cố gắng đào bới, chúng tôi vẫn không chạm được vào chiếc rương kho báu ở dưới đáy. Gần đây tôi bắt đầu tự theo dõi về những trường hợp như vậy, không thể bỏ qua mặc dù các tập tài liệu đã bị khóa chặt trong tủ.
Tôi quay lại nằm thẳng lưng trên giường và thoáng thấy từ khóe mắt một đống thù lù nằm bên cạnh. Cái đống thù lù nằm ở phía nửa giường bên kia, mớ tóc nâu sẫm rối bù trên gối. Tôi nhảy dựng lên, vơ lấy tấm mền và quấn chặt quanh người. Cái đống thù lù bắt đầu quay mặt về phía tôi, đôi mắt của nó mở ra. Một đôi mắt đỏ ngầu mệt mỏi.
"Anh nghĩ em sẽ không bao giờ trả lời cú điện thoại đó,” anh ta nói, giọng ồm ồm.
"Anh là ai?" Tôi hỏi lại ghê tởm, trèo ra khỏi giường mang theo chiếc mền quấn quanh mình, để lại anh ta nằm trần truồng trên giường. Anh ta mỉm cười, vòng tay ra sau đầu một cách trễ nải, và nheo mắt nhìn tôi.
Tôi lầm bầm. Tôi chỉ định im lặng và lầm bầm một mình nhưng không biết thế nào nó lại buột ra khỏi miệng tôi. "Tôi sẽ đi tắm và khi tôi quay lại, hy vọng anh không còn ở đây nữa. Tôi nhặt những thứ mà tôi cho là quần áo của anh ta và ném chúng lên giương. Tôi nhặt đống quần áo của tôi từ trên ghế, ôm chặt lấy chúng và đóng sập cửa lại. Rồi gần như ngay lập tức tôi quay lại và chộp lấy ví tiền của mình, đến mức khiến anh ta phẫn nộ. Tôi không có ý định để nó ở đó.
Không phải sau lần cuối đó.
Tôi ở lại trong phòng tắm thật lâu cho đến khi ông Rankin ở nhà kế bên bắt đầu đấm thình thịch lên cửa báo cho tôi và những người khác trong tòa nhà rằng ông sẽ cho nổ tung một phần cơ thể của ông như thế nào, một việc tôi chẳng hề quan tâm. Tôi mờ cửa đi vào, hy vọng cái gã xa lạ đầy lông kia đã biến mất. Không phải lúc nào cũng may mắn như vậy. Anh ta đang khép lại cánh cửa phía sau lưng.
Tôi từ từ đi về phía anh ta, không biết phải nói gì. Anh ta dường như cũng không biết nói gì, hoặc có thể anh ta cũng chẳng thèm quan tâm, nụ cười tự mãn của anh ta vẫn còn trên khuôn mặt.
"Có phải chúng ta…?” Tôi hỏi.
"Hai lần.” Anh ta nháy mắt và tôi sôi máu lên. "Gượm đã, trước khi em ném anh ra khỏi nhà, một anh chàng đã gõ cửa trong lúc em đang trong phòng tắm. Anh bảo anh ta có thể chờ nếu muốn, nhưng em có lẽ sẽ không nhận ra anh ta khi gặp đâu.” ã này lại cười toe toét.
"Ai chứ?" Tôi sắp xếp lại bộ nhớ.
"Thấy chưa, anh đã nói với anh ta rằng em sẽ không Nhớ ra anh ta là ai đâu.”
"Anh ta còn ở đó không?” Tôi nhìn vào cánh cửa đã đóng lại.
"Không, anh đoán anh ta không thích đi quanh căn phòng với một thằng đàn ông trần truồng đầy lông.”
"Anh ra mở cửa trong trạng thái trần truồng?” Tôi hỏi đầy giận dữ.
"Anh nghĩ đó là em,” anh ta nhún vai. "Dù gì thì anh ta cũng đã để lại tấm danh thiếp này cho em.” Anh ta đưa cho tôi tấm danh thiếp. "Anh không cho rằng anh cần phải đưa số điện thoại của anh cho em?"
Tôi lắc đầu, lấy tấm danh thiếp từ tay anh ta, "Cảm ơn, eh…” Tôi nói một cách yếu ớt.
"Steve.” Anh ta giơ tay ra.
"Rất vui được gặp anh.” Tôi mỉm cười, và anh ta bật cười. Anh ta thật dễ thương nhưng tôi chỉ đứng nhìn Steve đi xuống cẩu thang.
"Nhân đây anh muốn nói là trước đây chúng ta đã gặp nhau,” anh ta nói vọng lên, không hề quay đầu nhìn lại và đi xuống các bậc thang.
Tôi im lặng trong lúc cố gắng nhớ ra.
“Ở buổi tiệc của Louise Drummond vào Giáng Sinh năm ngoái?” Anh ta dừng lại và nhìn lên đầy hy vọng.
Tôi cau may.
"À, điều đó không quan trọng.” Anh ta vẫy tay một cách bâng quơ." Thế thì chắc chắn em cũng không còn nhớ buổi sáng sau đó. Anh ta cười và biến mất.
Tôi thần ra một lúc với cảm giác tội lỗi cho đến khi sực nhớ ra tấm danh thiếp nằm trong tay và những cảm giác tồi tệ biến mất. Đầu gối tôi như muốn quỵ xuống khi tôi nhìn thấy tên trên danh thiếp.
Thầy Burton dường như đã mở phòng khám ở Dublin - Scathach House trên đường Leeson. Khoan đã - bác sĩ Burton; cuối cùng thầy đã vượt qua những kỳ thi để trở thành bác sĩ.
Tôi nhảy chân sáo vui mừng. Tôi nghe thấy tiếng xả nước trong nhà vệ sinh và ông Rankin bước ra khỏi nhà vệ sinh với một tờ giấy trong tay, bắt gặp tôi đang nhảy múa.
"Cô có cần vào lại nhà tắm không? Tôi sẽ không quay trở lại trong một lúc.” Ông vẫy vẫy tờ báo.
Tôi lờ ông đi và quay vào phòng mình. Thầy Burton đã đến đây. Anh đã tìm tôi sau ba năm tôi chuyển đi nơi khác và đó là tất cả những gì quan trọng nhất. Cuối cùng một chiếc tất cũ đã xuất hiện trở lại.