Chú Bé

Lượt đọc: 1435 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XVIII - (tt)
năngtơ (nantes)

Mẹ tôi đã quấy rầy hỏi đi hỏi lại ông Săngle (Chanlaire) xem khi xuống tàu nên đến đâu thì tốt, và mẹ tôi đã làm phiền đến mức ông phải rủa mẹ tôi, - rủa thầm thôi - rồi tàu vừa cập bến ông lủi ngay. Ông quẳng địa chỉ của ông cho thầy tôi, va-li cho một người phu khuân vác, và thế là ông biến mất.

Ba người Pari cũng từ biệt. Chúng tôi bắt tay đám con bà, và thế là, ông Vanhtrax, giáo sư lớp sáu trường trung học Năngtơ, đứng trơ ra đó, trên vỉa hè thành phố, với hòm xiểng và vợ con ông.

Cái đặc điểm của gia đình tôi là tới chỗ nào cũng bằng sự có mặt của mình và đồ lề hành lý làm bừa bộn, trở ngại sinh hoạt của thành phố. Lúc này, chúng tôi có vẻ như muốn ở lì bên dốc bến tàu và người ta ngỡ chúng tôi sắp nhóm lửa nấu xúp ở đây. Chúng tôi làm trở ngại cho việc thông thương, việc dỡ hàng trên tàu xuống đâm khó khăn. - Riêng ba chúng tôi, chúng tôi chiếm chỗ quá mức cho phép ở một cảng buôn bán và đã có nhiều người tụ tập quanh bầu đoàn chúng tôi.

Mẹ tôi trách móc thầy tôi.

“Ông không thể hỏi ông Săngle được hay sao?...

- Thì bà đã tự nhận lấy việc ấy kia mà…

- Tôi à!

Giọng mẹ tôi rít lên, làm những người đi qua phải quay đầu lại. Người ta xúm đông.

Một người phu khuân vác bước tới.

“Khuân những thức này đi, mẹ tôi hỏi, lấy bao nhiên tiền?

- Ba phơrăng.

- Ba phơrăng kia à!

- Kém một xu không được.

- Để mặc tôi, tôi sẽ tìm ra một người không đòi tới ba phơrăng”, mẹ tôi nói, và trao lại cho thầy tôi những bọc, khăn quàng và một cái hộp, rồi bước tới gần một người khốn khổ mặc rách rưới đang thất thểu ở đấy.

Người đó chưa kịp trả lời thì người phu khuân vác tới giơ thẻ ra, xông vào đống hành lý, đánh người rách rưới và chửi gia đình Vanhtrax.

Trong cuộc ẩu đả, các hộp đổ nhào và lăn về phía sông.

“Jắc, Jắc!”

Tôi đuổi theo một bọc hàng, mẹ tôi đuổi theo một bọc khác; mẹ tôi kêu inh ỏi, người rách rưới cũng kêu; cảnh sát xô tới chỗ thầy tôi. Tôi lộn lên để cứu thầy tôi; người ta vây quanh chúng tôi. Chúng tôi vào thành phố Năngtơ như thế đó.

Chúng tôi thở phào!

Chúng tôi đã có chỗ trọ, không phải vất vả.

Chúng tôi sống tám ngày trong một quán trọ mà chủ quán tên là Huđơbin, tôi còn nhớ, không bao giờ quên được.

Tất nhiên chúng tôi đã cãi nhau với hắn ta, và mẹ tôi làm thế nào mà cái quán trọ lộn tùng phèo cả lên: nào chuyện hành lang, nào cãi nhau về cầu thang, nào gây sự với các bà ở trọ khác. Người ta tranh cãi về khoản tiền trọ: chị hầu phòng đòi tiền uống nước. Người ta đã tống cổ chúng tôi ra ngoài, thế là giữa trưa chúng tôi lại ra vỉa hè, ông Vanhtrax, vợ ông và con ông.

May sao ông Săngle đã tới giữa lúc chúng tôi đang canh gác hòm xiểng. Tôi thì đeo sẵn những bọc, để hễ khi nào biết đi đâu, là có thể đi ngay, như một sư đoàn túi đeo sẵn trên lưng.

Cả khu phố đã biết chúng tôi, vì chuyện cãi lộn với người phu khuân vác, rồi đồ lề lại vứt bừa ra giữa phố, hòm xiểng chồng chất lại làm gián đoạn hoạt động buôn bán trong thành phố, cái điệu bộ của tôi, tiếng kêu của mẹ tôi, vẻ bối rối của thầy tôi, tất cả đều làm kích động mọi người, trước họ còn tò mò, sau họ đâm ra ngờ vực.

Tôi những muốn ở trên một tàu biển, trong một trận thủy chiến, lưỡi búa trong tay, dưới đạn trái phá, xa đống hành lý này!

Chúng tôi đang ở ngoài phố, - mẹ tôi đứng một bên, tôi đứng một bên, thầy tôi nom như một người xích vệ thảm hại, - tình cờ ông Săngle đến, ông quả là cứu tinh của chúng tôi.

Ông dẫn chúng tôi như dẫn một đám tù vào một nhà trọ mà ông biết: tôi ngờ là có mật thám đi theo chúng tôi. Họ tự hỏi cái gia đình này muốn gì.

Thầy tôi không muốn nói rõ mình là ai, vì nhà trọ không xứng đáng với địa vị của thầy tôi, nên một không khí bí mật bao trùm lên chúng tôi.

Thầy tôi nhận chức vụ ngay hôm sau ngày chúng tôi dọn tới chỗ mới, lập tức thầy tôi làm bọn học sinh phải sợ ngay: cái đó bảo đảm cho thầy tôi được yên ổn vĩnh viễn trong lớp học và sẽ được nhiều món dạy tư. - Trông hắn gấu lắm, - ta nên nhờ hắn phụ đạo!

Mọi việc đều trôi chảy! - Giờ ta hãy xem đến thành phố!

Tất cả những ảo tưởng của tôi về Đại dương biến hết, tất cả những mơ mộng của tôi về bão táp rơi tõm xuống nước ngọt, vì đấy là nước ngọt!

Chẳng có chiến thuyền với súng đại bác ngoác họng, cũng chẳng có sĩ quan đội mũ chỉ huy, chẳng có những loạt súng bắn, cũng chẳng có những cuộc tập trận; không có cả những bộ mặt cướp biển, cũng như những hầm thuốc súng; chẳng có diễn tập chuẩn bị chiến đấu, chẳng có tập thủy chiến; mùi nhựa đường, chứ không phải hương vị biển khơi. Tôi còn một hy vọng: người ta nói với tôi những sọ người chất đống trên một con tàu ba cột buồm để lại những bánh phó-mát Hà-lan.

Tôi thấy cuộc đời thủy thủ mới chán làm sao!

Ở tầng dưới nhà chúng tôi có một quán rượu nhỏ, tôi tới đấy mua rượu vang đóng chai nửa lít cho bữa ăn của gia đình và thích cánh với thủy thủ ở đấy. Chẳng thấy họ nói chuyện chiến đấu bao giờ, họ lại không biết bơi; như vậy là họ không hề nhảy từ trên cột buồm lớn xuống “làn sóng ngầu bọt” bao giờ, họ không vật lộn với “những làn sóng dữ…”. Không, họ mà ngã xuống nước thì họ chết đuối. Trong mười thủy thủ không có đến năm người bơi nổi qua sông Loa. A ha! Xin kiếu!

Phải nói là gia đình tôi ở phía trên thành phố và những con tàu lớn đậu ở phía dưới, ở Fốtxơ; nhưng tôi không phân biệt lắm giữa tàu buôn lớn với tàu thường. Do không thấy có đại bác và quân phục, tôi lẫn lộn thủy thủ đi biển hay thủy thủ đường sông trong cùng một mối khinh bỉ; tôi gộp cả vào sự miệt thị của tôi, tôi lẫn lộn trong niềm vỡ mộng của tôi người lính già của biển cả với tay chở hàng phó-mát nhập khẩu.

GIÁO SƯ CỦA TÔI

 

Giáo sư của tôi là một người bé nhỏ đeo kính gọng bạc, mũi nhọn và giọng nói the thé, với một chút xíu ria mép, bộ giò ngắn ngủi hơi vòng kiềng, - nhưng bộ giò ấy không hề ngăn trở ông ta đi con đường của ông, - tâm ngẩm, soi mói, giảo quyệt như con cầy, con chồn, con chuột: ông ta ở Pari tới và cũng như Tuyếcfanh, ông là một trong những người thi thạc sĩ đỗ đầu; ở Pari ấy ta có những quan thầy thú vị với cái tinh quái của con người loắt choắt đó là ông ta đó; ông ta đã đưa từ Pari về một bà vợ trông hay hay, xinh xắn, và chắn phải thấy những con người tỉnh lẻ kia đều ngu ngốc tất.

Ông ta, tên là Lácbô, có phần cóc cần học sinh của mình, - ông dịu dàng với đám con cái nhà quyền thế, mà ông nể nang, và ông được lòng chúng, vì ông đối xử với chúng như người lớn, nhưng đối với các học sinh khác ông không ác. Miễn là người ta cười về điều ông nói! - ông pha trò và đôi khi ra cả câu đố, người ta gọi ông là dân Pari.

Tôi tin rằng ông cho tôi hơi đần, - vì những lời pha trò của ông không làm cho tôi thích thú lắm, hơn nữa ông đã nghe một thằng bạn của tôi đang học tư ông, nói hồi trước tôi muốn làm thợ giày và bây giờ muốn làm thợ rèn. Ông thấy tôi tầm thường, vả lại mẹ tôi, ông cho là phàm tục và thầy tôi trước con mắt ông là một người khốn đốn. Nhưng ông không hành hạ tôi, ông có vẻ tin tôi ngay cả khi tôi nói bỏ quên bài làm ở nhà hoặc học lầm bài học. Cuối năm, vào dịp thi lấy phần thưởng, ông đọc tiểu thuyết Oantơ Xcốt cho chúng tôi nghe.

Tới ngày phát phần thưởng long trọng, - tôi không được gì cả - hoặc có được cái gì đấy, - hình như tôi nhận được vài vòng hoa, và được lên bục để một ông ôm hôn làm chết ngạt. - Bao giờ thì cũng vậy!

Nhưng tôi không có đức tin, và bây giờ thầy tôi không hành hạ tôi nữa thì được thưởng hay không tôi cũng cóc cần.

NHÀ Ở

 

Chúng tôi ở trong một ngôi nhà cũ mới trát vữa, quét vôi lại, nhưng vẫn có mùi cũ kỹ, và khi trời nóng, có mùi nhựa thông và mùi gang bốc ra ninh nhừ tôi nhưcủ khoai hầm: không có không khí, chẳng có chân trời!

Tôi phải sống ở đấy những giờ khốn khổ, nhất là vàonhững ngày chủ nhật. Không một tiếng động nào ngoài tiếng chuông nhà thờ, vả lại dùvàonhữngngày thường trong tuần, nỗi buồn của tôi ở xứ này, dưới bầu trời trong sáng này, vẫn nặng nề hơn dưới bầu trời mù mịt khói của Xanh-Êchiên.(Saint-Étienne.)

Trước kia tôi thích nghe tiếng xe chở hàng, thích ở cạnh những người thợ rèn, thích ngọn lửa than hồng, và có tin hàng ngày về nỗi khổ của hầm mỏ và những cuộc nổi giận của thợ mỏ.

Còn ở đây, ít ra là trong khu phố chúng tôi, không có những nhà máy lóe chớp sáng và những người có con mắt rực lửa, như hầu hết những người luyện sắt và sống trước lò lửa hồng.

Có những người nông dân, tóc dài và thưa, rầu rĩ và xấu xí; họ lặng lẽ theo sau xe chở hàng của họ đi qua thành phố, và họ có vẻ tẻ ngắt và buồn bã của những người điếc. Không có những cử chỉ khỏe khoắn, chẳng có cái dáng đi khoáng đạt, cái tiếng nói mạnh mẽ! Môi thi mỏng hoặc mũi thì nhọn, mắt trũng và thái dương vẹt như đầu rắn, -họ, cũng như nông dân vùng Loa-thượng (Haute-Loire), không giống như bò,-họ không hăng mùi có mà là mùi bùn; họ không vận chiếc áo cánh rộng mầu da bò, họ vận áo chẽn, màu cháo lòng như chiếc áo tế bẩn thỉu. Những người của xứ Văngđê  (Vendée)ấy, những con người của vùng Brơtanhơ (Bretagne) ấy, tôi thấy họ có vẻ sùng đạo, khắc khổ và không thật.

Công viên Xanh-Pie (Saint-Pierre), sao tôi thấy nó trống trải đến thế -với vài cụ già tới ngồi trên ghế! Lại có những bóng người lướt đi như những con bọ đen ở phía nhà thờ…

Tôi muốn khóc lên!

Người ta không đánh tôi nữa. Có lẽ chính vì thế. Tôi đã quen với đau đớn hoặc giận dữ, - tôi vốn vẫn sống với một chút náo nức.

Người ta không đánh tôi nữa. Ông hiệu trưởng không thuộc trường phái đó. Ông nghe nói có một giáo sư cũng áp dụng phương pháp như thầy tôi lên mông con trai mình; - ông gọi giáo sư đó đến:

“Ông đi chỗ khác mà đánh con ông nếu ông không bỏ được cái thói ấy, - ông hiệu trưởng nói; -nhưng nếu tôi nghe nói ông vẫn tiếp tục như thế ở đây, tôi sẽ xin đổi ông đi, và tôi sẽ nhấn mạnh việc trừng phạt ông.”

Tin ấy tới tai thầy tôi và bảo vệ tai tôi.

Mẹ tôi mới làm quen với bà vợ một ông giáo sư, bà này bị gù.

Tối nào đẹp trời, mọi người đều đi dạo.

Tôi như một thằng tù được người ta cho ra ngoài chơi một chút. Tôi đi trước, với lệnh không được tách ra xa, không được chạy, và ngay cả không được cúi xuống để nhặt cành cây hay nhặt sỏi, - như vậy quần tôi sẽ bục mất.

Một hôm quần tôi bục, và bà Boarô, tuy nhìn không rõ, vẫn rất lấy làm mếch lòng. Người ta cấm tôi không được cúi xuống tới khi nào may được cho tôi một chiếc quần rộng.

Người ta đã may quần rộng cho tôi, không còn nguy hiểm gì nữa - tôi tung tăng thoải mái-nom tôi như một con vịt mới mọc lông đuôi.

Tôi thấy rõ là mọi người nhìn tôi, và nhiều thủy thủ xúm lại quanh nhưng tôi, người ta kính trọng tôi như cái gì xa lạ! Những thằng bạn quen biết tôi, chơi khăm tôi, khi đi qua chúng kéo quần tôi như giật đuôi một con chó - người ta lại còn bỏ cả muối vào đó,-người ta gọi tôi là Xiếcxê[44].

Y PHỤC VÀ PHẢN BỘI CHÍNH TRỊ

 

Cực hình về cách ăn vận của tôi lại tái diễn. Nhiều người ngỡ là tôi thuộc phái chính thống[45], - Tôi có chiếc ca-vát thắt vòng quanh cổ ba lần như bọn công tử bột thời Đốc chính[46], như bọn bảo hoàng thời Trung hưng[47].-Tuy nhiên những hy vọng mà phái ấy có thể đặt vào tôi chẳng bao lâu tan biến. Mẹ tôi lục trong đáy hòm thấy một chiếc vòng bằng lông ngựa, bên cạnh chiếc vòng cổ chó, thế là tôi đeo chiếc vòng ấy. Lần này người ta kêu tôi “thuộc phái Bônapác”! Đấy là dấu hiệu liên lạc của bọn kẻ cướp vùng sông Loa, đấy là kiểu ca-vát của bọn đấu gươm ở tiệm cà phê Lămblanh.

Phải chăng tôi tới để gây sự với đám hội viên của Câu lạc bộ trắng, nó đóng trụ sở ở ngay trên quảng trường kia? Người ta phân vân đoán già đoán non, nhưng sự kinh ngạc đổi chiều hẳn khi người ta thấy tôi xuất hiện trên công viên, một ngày chủ nhật, ăn vận như dưới nền cộng hòa ưu việt nhất[48].

Tôi vận chiếc áo rơđanhgốt màu hạt giẻ, tay cầm ô màu xanh lá cây, đầu đội mũ màu xám.

Đấy là y phục mùa mát của tôi. Mẹ tôi thấy tôi đã lớn, và muốn ăn vận cho tôi theo kiểu người lớn, thuộc lớp trung lưu, có thớ, không trai lơ, nhưng vẫn có cái đặc sắc của nó. Tôi có cái đặc sắc,-nhưng tôi nhũn nhặn, và tôi thích sống trong bóng tối, không muốn gây cho các đảng phái những hy vọng sớm bị bóp nghẹt, - mà cái đó cũng làm tôi nghẹt thở! chiếc rơđanhgốt ấy nặng làm sao, tay nó dài làm sao, đến nỗi tôi không xỉ mũi được.

Nay thuộc phái chính thống, mai thuộc phái Bônapác, ngày kia thuộc phái lập hiến, chính như thế mà người ta làm hư hỏng lương tâm và làm mất tinh thần quần chúng!

Hơn nữa, bạn bè vẫn còn đó,- chúng gọi tôi là vua Luy-Philíp. Ở cái thời buổi giết vua này, thế lại là nguy hiểm nữa.

Những ngày đi học lớp trung đẳng[49], khi tôi ăn vận theo lối công dân trưởng giả, tôi đau đớn trở về nhà.

NHỮNG CÔ SEN CỦA NHÀ TÔI

 

Gia đình tôi nuôi một cô sen,-hình như thầy tôi kiếm ra tiền.

Thầy tôi phụ đạo hàng loạt; thầy tôi nhận sáu bảy học sinh, mỗi đứa trả hai mươi nhăm phơrăng, và thầy tôi nói với chúng trong một tiếng đồng hồ những điều mà chúng không để tai nghe; cuối tháng, thầy tôi gửi biên lai đi, - và với cái việc phân phối những phân từ ấy, giữa hai buổi dạy ở lớp, thầy tôi mỗi quý thu được một món tiền kha khá.

Những đứa học phụ đạo ít bị phạt hơn, và thường đi loăng quăng ngoài hành lang trong những lúc học sinh qua lại. Chính trong thời gian ấy thường xuất hiện những câu viết hoặc tranh vẽ trên tường và trên bảng chế giễu các giáo sư, hoặc các giám thị,-cái mũi của ông này, bộ sừng của ông kia, với những câu thơ ý vị viết bằng than vẽ. Có những cái rất chướng, và bà vợ ông tổng giám thị thấy ngượng khi đi qua.

Chúng tôi nhòm trộm bà ta qua những lỗ, những kẽ hở: bà ta rất xinh, rất tươi; bà lấy ông tổng giám thị vìông có chút tiền, và rồi một ngày kia ông sẽ trở thành hiệu trưởng. - Tôi nghe thấy người ta thì thầm với mẹ tôi như vậy, và mẹ tôi còn nói thêm là bà ta không biết ăn mặc.

“Nếu đấy là thời trang ở Paris thì tôi còn thích kiểu của qu-ê t-ui hơn,”

Câu đó nói theo giọng nhà quê, giọng vui đùa, với tiếng cười khẩy có tác động của nó. Tôi thì tôi không thích kiểu quê tôi hơn!

Hết sức vô tư trong vấn đề này, - bởi lẽ tôi làm cho chính những người thợ may địa phương cũng phải ngạc nhiên và tôi ăn vận theo một kiểu từ thượng cổ tới nay chưa hề có! bù nhìn vô ý thức của một chủ trương chính trị mà tôi không hiểu, cơ hội ngoài ý muốn, - tôi có thể nói lên ý kiến của tôi, nó có trọng lượng của nó.

Vậy thì tôi thích chiếc khăn hồng mà bà vợ ông tổng giám thị quấn quanh thân hình mềm mại của bà hơn chiếc khăn san vàng vàng mà bây giờ mẹ tôi rất lấy làm hãnh diện. Tôi thích chiếc mũ của người đàn bà Pari ấy, có những bông hoa nhỏ rung rinh, với vài bông thúy cúc nhị vàng, hơn là chiếc mũ của người đã cho tôi, hoặc mượn người cho tôi bú mớm - tôi không còn nhớ nữa, - trên mũ có một trái dưa nhỏ và một con chim bụng to quá khổ.

Vậy là gia đình tôi sung sướng.

Tôi buồn chán về việc gia đình nuôi người ở! vì ít nhất trước kia tôi còn có việc, những khi đi lấy nước khuân củi lên, xê dịch những đồ đạc nặng. Tôi thích quai búa, ghé vai khiêng, kéo cưa. Tôi cảm thấy mình khỏe, và tôi tập luyện lấy lưng để khiêng tủ và giang thẳng cánh xách những thùng nước đầy. Bây giờ tôi không phải mó đến việc gì nữa, và nếu tôi vội, ngay cả giầy tôi cũng không được lau.

“Giầy dính bùn ở xung quanh!

- Đấy là việc của con sen.

- Lấy bàn chải to chải qua thôi à?

- Nhà ta nuôi con sen, không phải để cho nó ngồi ngáp vặt suốt ngày.”

Cô gái tội nghiệp, cô đâu có thì giờ để ngáp! Ôi chao! mẹ tôi có mắt!

Thế mà cô có phải là con, là cháu mẹ tôi đâu! Vậy sao lại đối đãi với cô cũng như với tôi thế? Mẹ tôi bây giờ đối xử với người ngoài cũng như trước đây với thằng Jắc. Mẹ tôi không phân biệt giữa người đầy tớ và đứa con trai mình. Chà! tôi bắt đầu tin là mẹ tôi chưa bao giờ yêu tôi cả!

Cô gái tội nghiệp không chịu được nữa. Tuy nhiên người ta cho cô ăn uống rất khá. Mẹ tôi cho cô ăn tất cả những thức mà cả nhà không ai muốn ăn.

“Tôi không phải người cho đầy tớ ăn uống dè xẻn!”

Và mẹ tôi để lên cạnh dĩa những gân, da, mỡ bòn ấu chín.

“Tạng nó ăn những thứ này rất tốt. Và những viên chả nguội, ăn khỏe người!”

Janơtông tội nghiệp! Nếu không được săn sóc chu đáo đến thế, cô sẽ chết dần chết mòn mất! Vì ngay với chế độ ăn uống đó, cô cũng đã ốm yếu, còn xơi mới béo được!

Tôi nhận thấy rằng hình như cô sen không mến mẹ tôi, và cố tình làm trái ý mẹ tôi.

“Mày có muốn uống một cốcrượu táo không, Janơtông?

- Cám ơn bà.

- Cám ơn có, hay cám ơn không?

- Không bà ạ.

- Mày không thích rượu táo à?”

Janơtông (Jeanneton)  lúng búng trong mồm.

“Tùy mày đấy con ạ!” Và mẹ tôi nói thêm, vẻ hờn giận:“Tao để cốc rượu đấy, lát nữa mày uống, nếu mày muốn; mày để cho nó hả đi, nếu màv thích vậy.”

Cốc rượu táo không hả, vì nó đã hả từ lâu rồi. Từ hai hôm nay nó lay lứt trong cái chai mà thầy tôi đã bỏ đikhông uống vìrượu đã có mùi chua và người ta quênkhông đậy nút.- Một con gián rơi vào trong chai. Nhưng lúc nãy mẹ tôiđã vớt con gián ra, thật cẩn thận, như làm để mình uống, và chính vì mẹ tôi ngửi thấy mùi chua nên mới quyết định đem mời cô sen.

“Rượu táo mới, rượu táo tươi, có chất axit rất hại cho đàn bà tạng yếu... Mày nên nhớ vậy, con ạ.”

Tôi sẽ nhớ điều đó. Ví thử bao giờ tôi bị yếu phổi, tôi sẽuống thứ rượu táo đó, không có chất axit, nhưng có mùi chua và mùi mốc. Liệu có nên bỏ thêm một con gián vào nữa không?

Mẹ tôi đã trông thấy tôi vừa nhìn con gián vừa ngẫm nghĩ.

“Cái này chứng tỏ rượu tốt. Nếu rượu xấu, con gián đã không chui vào. Loài sâu bọ cũng có trí xét đoán của nó đấy.”

A ha! những con vật ranh mãnh!

Lại thêm một nhận xét mà tôi cần chú ý đến. Khi nào có sâu bọ trong một thức gìđó là thức ấy tốt. Thế mà tôi lại cứ không muốn ăn phó-mát có ròi, và cứ thích không có ruồi sa vào dầu ăn!

Cô sen bỏ đi, và lại từ chối một cốc rượu vang của mẹ tôi thết khi từ biệt.

“Jắc, mẹ tôi bảo, mày đi lấy ra đây cái chai để làm dấm ấy, mày biết đấy, cái chai có nổi hoa ấy.”

Cô sen đã từ chối.

Người ta thay Janơtông(Jeanneton) bằng Mácgôtông (Margoton).

Nhưng nhà này bây giờ đã nổi tiếng về việc phân phát những gân, da, mỡ nấu chín cho đầy tớ. Mácgôtông (Margoton) ra điều kiện trước khi vào làm.

“Tôi thì tôi không bị yếu phổi, - cô nói, và cô tự đấm một cái vào bụng, một cái bụng to tướng nhún nhẩy trong chiếc áo vải bông in hoa; - tôi không bị yếu phổi và tôi ưng ăn thịt; tôi muốn ăn thức ăn nóng.”

Mácgôtông chơi nước bài to.

Nhưng cô ta do vợ chồng ông hiệu trưởng giới thiệu đến, và dạ dày của cô cũng được che chở như mông của thẳng bé Vanhtrax. Nhà chức trách để mắt theo dõi coi trong áo của cô sen cũng như trong đũng quần của thằng bé. Người ta không thể công khai cách chức được ông Vanhtrax vìtộitiệntay đánh con ông một trận, hoặc làm nghẹn cổ đầy tớ nhà ông bằng những viên chả ăn thừa, hoặc mỡ cừu; nhưng dù sao tốt hơn vẫn là không nên làm phật lòng cấp trên của ông vì thẳng nhóc con và đứa đầy tớ gái.

Chà! chẳng có sai lầm nào bằng làm bộ nhờ bà vợ ông hiệu trưởng, để ra vẻ xin ý kiến!

Người ta đã không dám gạt cô sen to béo được giới thiệu mặc dầu cô ta yêu sách này nọ, thế là cô ta vào làm.

Về cô sen ấy, mẹ tôi bao giờ cũng như tay để trên chiếc đùi cừu, và một chân thì để trên lỗ huyệt.

Mẹ tôi không khỏe, và thái thịt làm mẹ tôi mệt. Thái một khoanh cho chồng, cho con, đấy là bổn phận của người vợ, đó là vai trò của người mẹ; mẹ tôi không sai phạm ở đó!

Nhưng khi phải hầu cả Mácgôtông!...

“Mày còn đói không?

- Thưa bà còn.

- Như thế này nhé?

- Xin bà một miếng con nữa.”

Mẹ tôi chết đi được; tôi thấy rõ vậy, tôi thấy nó qua những tiếng rền rĩ mà mẹ tôi ghìm khi lại phải cầm con dao lên, qua ánh mắt của mẹ tôi khi phải rưới thêm nước xốt, và tới lúc ăn tráng miệng, mẹ tôi mệt quá đến nỗi buộc lòng phải bỏ anh đào vào đĩa con sen, từng quả một, tựa hồ bị xé ruột.

Mácgơrít bao giờ cũng hỏi thêm.

Nhưng mẹ tôi hồi lại trông thấy. Lạy Chúa! Ơn Chúa!

Mẹ tôi hồi lại, lại tinh nghịch, da dẻ lại hồng hào. Một hômmẹ tôivào buồng giấy của thầy tôi, nét mặt hớn hở.

“Ăngtoan! - và mẹ tôi nói thầm vào tai thầy tôi.

- Bàcó chắc như vậy không?”Thầy tôi vừa sững sờ hỏi lại vừa xoay chiếc mũ trùm đầu kiểu Hy-lạp.

Mẹ tôi chỉ vừa gật đầu vừa mỉm cười.

“Chỉ còn có việc rình bắt chúng nó quả tang thôi...”

Mẹ tôi nhấc chiếc mũ trùm đầu Hy-lạp lên và vừa uể oải vừa táo bạo, đặt lên tránĂngtoan, chồng bà, cha tôi, một chiếc hôn trộm.

Sáng nay người ta đã bắt chợt được chuyện gì đó, tôi không rõ, nhưng mẹ tôi đã quàng chiếc khăn san vàng và đội chiếc mũ đẹp, - chiếc mũ có trái dưa nhỏ và con chim bụng to- rồi tới nhà vợ ông hiệu trưởng.

Mẹ tôi ở đó về, vừa xoa xoa hai bàn tay, vừa vui vẻ lắc lư đầu: tưởng đến rơi cả con chim và trái dưa.

Mười phút sau, tôi thấy Mácgôtông sửa soạn khăn gói và mẹ tôi tính tiền công để trả. Cô ta để thừa thịt lại trong đĩa:có chuyện gì vậy?

Nước mắt cô ta trào ra như những giọt nước canh.

“ Thưa bà đó là duyên số!

- Duyên số!... trong một hầm rượu!”

Duyên số là cái gì? Người ta không nói cho tôi biết nhưng mấy hôm sau, mẹ tôi nói chuyện với thầy tôi, nhắc đến Mácgôtông: “May mà mình có dịp ấy mới tống khứ được nó mà không làm mất lòng ông hiệu trưởng. Nếu nó không nhân tình với thẳng đánh xe ấy!”

Tôi không hiểu.

Thầy mẹ tôi quyết định là sẽ không thuê đầy tớ cơm nuôi nữa: cái đó làm mẹ tôi mệt lắm!

Một buổi sáng, tôi thấy đến nhà tôi một cô gái to béo, đỏ da, đỏ ơi là đỏ! với những chấm tàn nhang, thân người ngắn ngủn và tròn xoay - như một quả bóng. Cặp mắt lồi, và cái bụng căng nứt cả áo! Thật là lắm bụng đến nhà tôi.

Cô đến để rửa bát, làm những công việc bẩn, và theo mẹ tôi đi chợ để mang thực phẩm. Mẹ tôi còn muốn côta đi với tôi nữa, để tỏ ra rằng nhà tôi vẫn nuôi con sen, có đầy tớ riêng theo hầu tôi. Tôi vâng lời, nhưng đi trước hoặc đi sau Pêtrôni một chút; đấy là tên cô ta. Rủi thay cô ta có cái tật hay chuyện và cứ bám riết lấy tôi; người ta trông thấy hai chúng tôi đi với nhau.

Người ta trông thấy chúng tôi, và một buổi sáng, tới trường, người ta gọi tôi là thằng kẹo mút. Trên tường lớp học, tôi trông thấy chân dung thầy tôi với chữ kẹo mút ở dưới, và từ đó người ta chỉ gọi hai bố con tôi là kẹo mút.

Nguyên do như sau:

Những lúc rỗi, Pêtrôni đi bán kẹo mạch ngoài phố và bọn học sinh biết rõ cô ta. Gặp tôi đi với cô ta, chúng tự hỏi có mối liên hệ bí mật gì giữa chúng tôi, và tiếng đồnđi là nhà tôi làm kẹo mạch ban đêm, thầy tôi đã kiêm thêm ngành công nghệ đó với nghề giáo sư.

Người ta còn nói là từ khithầy tôi hợp tác vớicôPêtrôni kẹo mạch kém ngon đi.

Tôi buồn quá! - Tôi thấy khó chịu vì người ta không cho phép tôi ngồi ở nhà, và người ta bắt tôi phải đi chơi mà không có quyền được nhặt hoa. Một đôi khi người ta cũng sai tôi nhặt, nhưng như thể tên tôi là Munitô[50] vậy - như thể hoa là quân bài cẩu, mà người ta đưa mắt ra hiệu là tôi phải đi nhặt, phải nhặt như thế này, rồi đặt vào chỗ như thế kia.

Ê Munitô!

Tôi bị gai tầm ma đâm, cắm vào thịt, thật là một việc khổ sai, một trò bựcmình! Đến nước tôi đâm căm những vườn hoa, ghét những bó hoa, lẫn lộn cả hoa cao quý với hoa khôi hài, hoa hồng và hoa gãi trôn[51].

Tôi phải bướcdài bước, như vậy ra vẻ người lớnhơn, và lạiđỡmòngiầy. Tôi bước những bước dài, và lúc nào tôi cũng có vẻ như đi đổi gác, như chạy theo cờ hiệu, như đi diễu binh. Tôi đi qua cuộcđời với dáng cứng nhắc của một người lính và sự nhanh nhẹn của một hình đèn chiếu.

Và bao giờ cũng có một cái đuôi vải ngắn ở đàng sau!

Tôi muốn bị giam, bị trói vào chân bàn, bị xích vào vòng xích ở tường mà không đi chơi xa gia đình vào buổi tối.

Sáng nay, tôi đi đất và dẫm phải cái ấy của một cái chai[52]. (Mẹ tôi bảo tôi đã lớn, và phải chuẩn bị vào đời; do đó mẹ tôi bắt tôi phải gọt rũa ngôn ngữ, và muốn tôi từ nay phải nói:gì đó của cái chai, và khi viết thì phải thay chữ gì đó bằng một gạch ngang.)

Tôi đã dẫm phải cái ấy của cái chai và bị thủy tinh cắm vào gan bàn chân. Ối chao! tôi đau đớn làm sao!Thầy thuốc lo sợ khi nhìn thấy vết thương.

“Cháu đau lắm phải không?”

Phải, tôi đau, nhưng vừa lúc đó, gió thổi làm cửa sổhémở; tôi trông thấy ở đàng cuối cái góc ngoại ô, cái quãng ngoại thành, cái ven nông thôn buồn bã mà tối nào người ta cũng dẫn tôi tới. Tôi không phải tới đó nữa trong một thời gian. Tôi bị đứt chân. May mắn làm sao!

Và tôi sung sướng nhìn vết thương gớm ghiếc và sâu hoắm.

VÀO ĐỜI

 

Mẹ tôi không chỉ dặn tôi cần phải ăn nói cho thuần khiết, mẹ tôi còn muốn tôi kết hợp được cả thanh nhã với e lệ.

Mẹ tôi nảy ra ý cho tôi học món “xã giao”.

Có ông Xubaxông (Soubasso) là thầy dạy múa, dạy võ vàdạy“phép lịch sự”.

Ông ta là một lính cựu, nghiện rượu nặng, hay đánh vợ, nhưng bơi giỏi như cá và đã được thưởng huy chương cứu nạn. Ông đã vớt được ông thanh tra Học chính sắp chết đuối ở dưới nước lên. Để thưởng công và giúp ông có kế sinh nhai, người ta cho ông chân dạy võ và dạy múa ở trường trung học. Ông kèm thêm vào đó môn dạy phép lịch sự, có rất nhiều người theo học, vì ông Xubaxông mắt kém, tai nghễnh ngãng, thích tu, và khi đã đưa lên môi ông một bầu đầy rượu mạnh thì tha hồ ai muốn làm gì thì làm trong lớp của ông.

Có Trời biết còn thiếu những trò gì ở đấy!

Nhưng tôi ngoài giờ học ở trường, tôi còn theo học những giờ riêng. Ông Xubaxông (Soubasso) tới nhà tôi. Ông dẫn thằng con trai ông đi theo; thầy tôi vội cho thằng bé một ít tiếng La-tinh, và đánh đổi lại, ông Xubaxông kèm tôi thêm về phép lịch sự.

Các buổi ấy, mẹ tôi đều dự.

“Lướt chân, một, hai, ba, - cúi chào! - mỉm cười!

- Nghe không, Jắc, mỉm cười đi! nhưng mày không mỉm cười kìa!”

Tôi không mỉm cười ư? Nhưng tôi có muốn cười đâu.

Dù sao vẫn phải cố thử, và tôi chúm miệng như cái ấy gà.

Mẹ tôi thì làm điệu làm bộ trước gương, làm thử, tìm tòi, cố gắng và cuối cùng tìm được một nụ cười mà mẹ tôi trình bày với tôi như một cái nhăn nhó.

“Đấy, như thế này này!”

Tôi còn phải giơ ngón tay út lèn trời, rất mỏi!

“Cẩn thận cái ngón ngoáy tai đấy”, bao giờ ông Xubaxông cũng nói vậy, ông đã tìm hỏi những danh từ khoa học của các ngón tay, và ông thấy tiếng La-tinh quả là một sự hay ho, bởi lẽ bao giờ ông cũng dùng ngón tay đó để ngoáy tai. Theo tôi thì ông ngoáy tai cũng hơi nhiều.

Mẹ tôi mắng tôi những lời tệ hại đến thế nào trong những buổi tập phép lịch sự ấy, tôi đã làm mẹ tôi, người đàn bà ấy, đau lòng vì cái tính ưa thanh lịch đến thế nào, tôi có vẻ tầm thường và quê mùa cục mịch tới mức nào, không thể nào tả xiết được! Tôi không tài nào lướt chân, cũng không giơ ngón tay út lên trời được!

“Tao cứ ngỡ là mày khỏe kia mà”, mẹ tôi nói, vốn biết tôi phần nào hay phôbắp tay, và muốn đánh vàotính tựphụcủa tôi.

Tôi không khỏe, có lẽ thế, vì chỉ được mười phút là ngón tay út đã giật giật, oẹo xuống xin tha tội, co rút như cái đuôi chuột bị bả! Bây giờ chỉ nghĩ lại chuyện đókhông thôi, ngón tay út của tôi vẫn còn co lại và người tôi sởn gai ốc.

Sau hai tháng, tôi mới chỉ biết qua loa về lối cúi chào lướt chân ba bước; dù sao thì tôi vẫn không thể nào vừa làm thế mà lại vừa nói được. Nếu nói được thì có lẽ tôi sẽ nói:bày t-ui chào ông n-ý ạ, vì tôi chào như kiểu nông dân trong các vở kịch. Lúc tập lại với mẹ tôi, tự dưng tôi chỉ muốn gọi mẹ tôi là “Nanét”,(Nanette) và thét bảo bà rằng tên tôi là “Jôbanh”, điều đó không đúng, ai cũng biết thế, và điều đó không tốt, tôi cảm thấy rõ vậy!

Tuy nhiên phải làm sao cho cả cái thời gian đó không mất toi, sớm muộn thế nào tôi cũng phải đem những bài học về phép lịch sự ra thực hành, và phải làm vinh dự ít nhiều cho ông Xubaxông, cho mẹ tôi.

“Jắc, thứ bảy mẹ con mình sẽ tới thăm bà hiệu trưởng. Con phải tập lại cách đi đứng.”

Tôi ráo riết nắn mạnh ngón tay út, cúi chào đi cúi chào lại, ngày thì toát mồ hôi, đêm thì ngủ mê về chuyện đó!

Ngày thứ bảy đã tới, mẹ con tôi vận lễ phục tới nhà bàhiệu trưởng.

“Cộc, cộc!

- Xin mời vào!”

Mẹ tôi vào trước, tôi không trông thấy mẹ tôi xoay xở ra sao, tôi như có đám sương mù che trước mắt.

Giờ đến lượt tôi!

Nhưng cần phải có chỗ rộng, tôi bất giác ra hiệu cho mọi người lùi ra xa.

Mọi người, kinh ngạc, lùi ra trước một người làm trò ảo thuật.

Mọi người tự hỏi không biết là trò gì: tôi sắp rút chiếc đũa ra chăng, tôi là phù thủy chăng? Tôi sắp nhẩy lộn mình chăng? Mọi người chờ đợi.

Tôi bước vào giữa vòng tròn và tôi bắt đầu:

Một - tôi lướt chân.

Hai - tôi lùi lại.

Ba - tôi kéo chân về, và tôi làm rách chiếc thảm như thể rạch bằng dao vậy.

Đó là tại chiếc đinh ở giầy tôi.

Mẹ tôi nhũn nhặn đứng sau mọi người và chưa trông thấygì cả.

Mẹ tôi nhắc tôi:

“Bây giờ mỉm cười đi!”

Tôi mỉm cười.

“Nó lại còn cười!”vợ ông hiệu trưởng lẩm bẩm, giận dữ.

Phải, và tôi tiếp tục rạch thêm chiếc thảm.

“Thế này thì quá lắm!”

Người ta xúm lại, vây kín lấy tôi, tôi bị cầm tù. Mẹ tôi xin tha tội cho tôi.

Tôi đâm hoảng kêu ầm lên: “Nanét! Nanét!”

“Việc thăng chức của tao thế là toi trong năm năm”, thầy tôi nói buổi tối hôm ấy, lúc đi ngủ.

Hôm sau người ta tống cổ ông Xubaxông như một kẻ lỗ mãng, và cả ba chúng tôi ốm cả người vì chuyện này. Tôi quay lại với những cung cách bất lịch sự; tôi không bực mình vì ngón tay út của tôi được duỗi ra, trở về hình thù quen thuộc của nó. Tôi đã có những cung cách bất lịch sự và không để ngón tay út co như đuôi chuột phải bả.

Trong tai họa, tôi có cái may.

Vết thương ở chân tôi không khỏi hẳn. Thỉnh thoảng nó lại há miệng, vả lại tôi cũng nói dối một chút để khỏi phải đi chơi, lấy cớ là tôi không đi được. Thậm chí tôi còn gãi vào vết thương, và giá như gãi vậy không làm tôi buồn thì tôi còn gãi thêm nữa.

Cái ấy của cái chai (mẹ ạ, con vâng lời mẹ) đã rất được việc cho tôi. Tôi được ở nhà, không còn phải đi vơ vẩn trên những con đường trống trải, hai bờ trồng cây mà tôi không được trèo lên viền cỏ, mà tôi không được lăn lên, và tôi cứ phải lê đi trong bụi đường, như một con bọ gẫy cẳng ngoi ngóp trong bùn.

Tôi ngồi trước bàn với những quyển sách như tuồng đang đọc, kỳ thực tôi thả mình vào những giấc mơ không ai biết được.

Thầy tôi làm việc ở phía bên kia và không làm rầy rà gì đến tôi, trừ khi thầy tôi xỉ mũi to quá. Thầy tôi rất săn sóc đến cái mũi của mình.

Tôi không phải kỳ cụi vất vả nhiều quá về bài vở nhà trường, tôi thường được nhất luôn, và tôi chỉ cần giở tự vị kêu phành phạch để thầy tôi tưởng tôi đang tra chữ, kỳ thực tôi đang chạy theo những kỷ niệmở Farâyrôn, ở Puy, ở Xanh-Êchiên...

Tôi thấy vui đến ngộ khi nhìn lại quá khứ đó!

Một đôi khi tôi phải tả cảnh trong bài văn kể chuyện. Tôi đưa những kỷ niệm của tôi vào.

“Tuần này bài của em kém”, giáo sư của tôi nói, vì nếulà thơ thì ông không thấy Viếcgin, Horaxơ[53]; nếu là tiếng La-tinh thì ông không thấy những tả của Xixêrông[54]; nếu là tiếng Pháp thì ông không thấy cả Tômát lẫn Mácmôngten[55].

Cứ đà này sẽ có ngày tôi bị bét mất!

Tôi cảm thấy là tôi đã lớn, tôi quen các bậc cổnhân. Tôi nghĩ về chuyện bản thân tôi sẽ ra sao, nhiều hơn là vị hoàng đế Lamã nọ đã ra sao. Cái dễ dàng của tôi, óc tưởng tượng của tôi tiêu tan, đang chết, đã chết!!! (Bốtxuyê, Điếu văn.[56])

Một ông tên là Đavít, chủ tịch Thị xã của Năngtơ, hay mở những dạ hội lớn. Ông mời các giáo sư và vợ tới nhẩy ở nhà ông.

Đó là một buồng khách rộng rãi trần trụi, có tượng Xôcrát bán thân đặt trên lò sưởi. Một bà trẻ tuổi nhìn tượng nói:

“Triết gia mà trông tởm thế này à?”

Mẹ tôi đến với thầy tôi, cố nhiên, và dạo đầu còn dẫn cả tôi đến nữa.

Tin chúng tôi đến được loan báo một cách hân hoan và chúng tôi được đón tiếp niềm nở.

Thầy tôi, vẫn như mọi khi, khô khan, gầy gò, mũikhoằm, vầng trán dô như mái nhà trên cặp mắt xám: trông như đôi mắt mèoở dưới máng nước. Thầy tôi có vẻ không được thoải mái lắm.

Mẹ tôi!... hừm!... mẹ tôi!.., Mẹ tôi vận áo màu nho với chiếc thắt lưng vàng; ở cổ tay, có thắt những chiếc nơ cũng màu vàng, hơi bồng bồng, như những nút rơm bện ở khấu đuôi ngựa. Ăn vận chỉ có thế thôi. Giản dị, đấy làphương châm của mẹ tôi.

Chỉ có một lần tôi trang điểm thêm con chim của chiếc mũ- cài ởngực, mỏ chúc xuống dưới, cái ấy chổng lên trên. Một cái ngông, một thí nghiệm, như kiểu mụ Méttécních[57] đeo xuyến hình rắn nước.

“Cái con chim đương làm gì thế kia?”người ta hỏi.

Có những người có lẽ ưng để con chim mỏ chĩa lên trên, cái ấy quay xuống dưới.

Mẹ tôi uốn éo, lấy tay nghịch mỏ con chim như thể chim thật.

“Ti... ti...cái con chim bé xin-xin..., con tim của tôi!”

Thầy tôi đã xin được với mẹ tôi cứ để con chim trên mũ-con tim xin x-in!...

Nhưng còn những chiếc nơ, một lần thầy tôi đụng đến: “Ăngtoan, - mẹ tôi đáp, - tôi có phải là một người đàn bà lương thiện không? Có hay không nào!Ông ngập ngừng, ông không nói gì cả! Ông im lặng là ông chửi tôi!

- Mình yêu quý của tôi!

Ông tin tôi là người lương thiện, phải không?... Chưa bao giờ ông có thể nghi ngờ là thằng Jắc, đứa con của chúng ta, lại có một nguồn gốc ô uế, là một trái quả thối, có con sâu ở trong phải không?

 - Có con sâu ở trong? - mẹ tôi nhắc lại. - Thế thì ông hãy cứ tin ở tôi. Vợ ông hơi làm đỏm một tí, có lẽ thế, - chúng tôi đều là con gái bà Evơ cả, biết làm sao được? Nhưng hãy cứ tin ở tôi, Ăngtoan ạ. Nếu tôi có đi quá xa, - tôi thì tôi dốt nát thôi! - ông sẽ có quyền trách mắng tôi. Nhưng không phải thế!... Ông chớ vội thấy người ta tỏ ra lịch sự đối với một chút trang điểm và ý vị mà cho là những lời tán tỉnh của một nhiệt tình tội lỗi”.

Mẹ tôi đập vào váy, và nghịch một chiếc nơ vàng, rồi phát khẽ một cái lên tay thầy tôi:

“Anh chàng xấu ghen!”

Mọi người khiêu vũ,

“Bà Vanhtrax, bà không nhẩy ư?

- Chúng tôi già quá rồi, thầy tôi nói, vừa cười mỉm vừa cúi chào.

- Già quá! Ông ám chỉ tôi phải không?” mẹ tôi hỏi.

Câu chuyện xẩy ra ở một góc phòng mà mẹ tôi đã dồn thầy tôi vào đàng sau một chiếc rèm.

“Câu đó chỉ có thể là nói tôi thôi, bởi vì ông ấy còn trẻ hơn bà vợ. Ăngtoan này, ông nghe tôi nói đây...

- Mình nói khẽ chứ.

- Tôi nói to hay nhỏ là tùy ý tôi.”

Mẹ tôi càng to tiếng.

“Ồ! ông đừng hòng bắt tôi im! Không. Nếu ông định chửi tôi, tôi không chịu đâu, ông nghe chưa? Già quá!

(Mẹ tôi đưa mắt ngắm thầy tôi từ đầu tới chân). Già quá!vì tôi khác tuổi con Brinhôlanh, phải không?”

Tôi như dẫm trên đống gai, và tôi gây một chút tiếng động bằng chân, một chút tiếng động bằng mồm. Để che lấp tiếng nói của thầy mẹ tôi, tôi đứng trong xó bắt chước các thứ kèn - với nguy cơ có thể bị mắng oan! Cuối cùng, người ta cũng nguôi đi ở đằng sau chiếc rèm.

Tôi không thấy thú trong những buổi chiêu đãi của ông hiệu trưởng; người ta thấy tôi buồn ỉu. - Tôi vận quần áo mới. Chỉ có điều người ta đã chọn một thứ vải trông thật ngộ, nom tôi như nhồi trong một chiếc bít tất len; màu nó xỉn, có kẻ sọc, nhưng màu nó mới xỉn làm sao!

Vì nó bạc, nên tôi nối thành vệt giữa những bộ áo lễ của người khác.

Người ta tránh tôi ra. Ngay mẹ tôi cũng chỉ nói với tôi từ đằng xa, gần như với một người lạ! - Ôi! Lạy Chúa!

“Tôi sẽ nhẩy”, mẹ tôi nói; và mẹ tôi nhẩy.

Mẹ tôi làm rối loạn điệu nhẩy bốn người, dẫm lên những bàn chân nào đó, nhưng, chậc! Mẹ tôi cứu vãn lại tất cả bằng những câu nói đùa nhí nhảnh và những điệu bộ nhí nhảnh; - một nữ sinh chính cống, thật đấy!

Tới đoạn nhẩy mau kết thúc, mẹ tôi chợt nảy ra ý muốn chia sẻ với thú vui của Técxicorơ[58] mẹ tôi liền rời khỏi vòng nhẩy một giây, túm lấy tôi và kéo tôi vào cơn lốc. Đoạn nhẩy mau đã xong mà tôi vẫn còn nhẩy, mẹ tôi thì như một người xứ Xavoa đang giật dây một con rối. - Hai cánh tay tôi mới đau làm sao!

Từ ít lâu nay, mẹ tôi đâm ra mơ mộng.

“Mẹ mày có một ý gì đó trong đầu”, thầy tôi nói, giọng như người đoán trước một tai họa.

Mẹ tôi đóng cửa ngồi một mình trong buồng, và người ta nghe thấy có tiếng động, tiếng kêu khẽ, tiếng sàn nhà rung chuyển; nhìn qua khe cửa người ta bất chợt thấy mẹ tôi đang ấn tay vào trán làm bộ làm điệu trước gương.

Dạ hội ở nhà ông Đavit. Vợ ông giáo dạy Sử, vốn là người Tây-ban-nha, nhẩy một điệu fanđăngô khá, hề! hề! mặc dù đã được xem lại và sửa chữa, như những tuyển tập của đức giám mục thành Tua.

Vợ ông giáo dạy tiếng Đức, một phụ nữ vùng Anxaxơ, vừa hát ti ti là ita, là ilu lá la, vừa quay một điệu vanxơ của quê hương.

Điệu nhảy đã xong. Bà ta tới ngồi nghỉ trên ghế, và nơi vòng nhẩy trống không.

Bỗng nghe có một tiếng kêu khẽ:

Hầy! húp! hầy! húp!

Thầy tôi đang đứng trước mặt tôi như bị trúng phong và tôi sắp nhẩy choàng vào tay thầy tôi.

Hầy! húp! hầy! húp! la! Catatina! hầy! húp!

Ngay lúc ấy một bóng người vụt qua buồng khách và quay tít trên sân nhà.

Bóng đó hát:

Sê là búara, là lá!

ú, là bứarà, fútstra!

Rồi tiếng hát trở nên rắn rỏi, bỗng gọi:

“Nheng, chàng ơi!”

Chàng đây, chính là Ăngtoan, ngay từ tiếng húp!húp! đầu tiên, đã linh cảm thấy nguy cơ, - chính là thầy tôi, bị cuốn đi như tôi hôm múa rối.

“Nheng, chàng ơi, nheng!“

Và mẹ tôi vừa dựng đứng thầy tôi trước mặt, vừa mắng thầy tôi là ỉu th-iu th-iu - trước th-ự ngạc nhiên của khán giả không được báo trước.

“Hát đê! hát đê l-ào!”

Tôi sợ người ta nói cả tôi vào! và tôi lủi vào nhà xí. Suốt cả buổi tối, tôi cứ phải trả lời:

“Có người!...”

Đêm khuya, tôi bơ phờ, bã người ra!

Cuối cùng, tôi bò ra lúc ánh đèn cuối cùng đã tắt, và tôi trở về nhà; không ai nghĩ đến tôi cả.

Mẹ tôi ngồi một mình với thầy tôi, rỉ tai thầy tôi:

“Thế nào! điệu buarê có bằng điệu fanđăngô không?”

Và mẹ tôi nói thêm, giọng hơi run run:

“Lói đi l-ào!”

Đó là cái nhí nhảnh trong kiêu hãnh, tinh nghịch trong hạnh phúc!

Mọi sự đâm hỏng cả.

Thấy tôi - Ăngtoan - không muốn đi cùng với mẹ tôi vào xã hội thượng lưu nữa.

Cái tối biểu diễn điệu bua-rê đã làm mẹ tôi “ bốc “, mẹ tôi say sưa với thành công của mình; ở lì trong cái mạch đã tìm thấy, ngoan ngạnh đi theo mạch đó, suốt ngày mẹ tôi ví von trọ trẹ, mẹ tôi xưng hô ông cỏ, ông hĩm.

Cuối cùng thầy tôi dứt khoát cấm mẹ tôi không được nói tiếng địa phương.

Mẹ tôi chua chát trả lời:

“Chà! mất bao nhiêu công của, học chữ học nghĩa để đi ghen với một người đàn và chỉ có mỗi cái ăn nói mộc mạc tự nhiên của mình! Tội nghiệp ông ơi, với cái mónla -tinh món Hy-lạp của ông, ông lại phải đến nước cấm vợ ông, là người quê mùa không được chơi trội với ông!”

Cãi nhau ngày càng độc địa.

“Ông Ăng-toan, ông biết là tôi đã hy sinh vì ông khá nhiều rồi, ông đừng đòi hỏi quá nữa! Ông không muốn tôi nói cái t-ượn, tôi đã làm theo ý ông. Ông không muốn tôi nói lử gượn, tôi đã không nói nữa rồi, nhưng đừng đẩy tôi tới chỗ cùng, ông thấy không, khéo mà tôi trở lại tất cả cho mà xem .”

Mẹ tôi nói tiếp:

“Mà trước hết, mẹ tôi vẫn nói cái t-ượn… mẹ tôi cũng đáng kính trọng như mẹ ông, ông nên biết rõ thế!”

Thầy tôi thấy mình bị đe dọa tứ phía, giữa cái t-ượn và ống cỏ.

Thầy tôi làm bừa, cấm tuốt tuột.

Mẹ tôi chửi để trả thù; mẹ tôi tìm những tiếng để chọc thầy tôi: nào là những con thên - cảnh t-ượn! dạ dài - bộ th-ươn! Những tiếng ngọng nghịu ấy thọc sâu vào tim thầy tôi. Thứ bảy sau, thầy tôi lẳng lặng mặc quần áo, đi dự dạ hội không có mẹ tôi.

Thứ bẩy tuần sau nữa, vẫn như vậy, nhưng tới nửa đêm, mẹ tôi đến đánh thức tôi dậy.

“Dậy con, mày tới đợi thầy mày ở cửa nhà ông Đavit, và khi thầy mày ra, mày kêu lên:Lá là, fútstra! Tao sẽ đến, để mặc thầy mày đấy với tao. “

Tôi đã kêu:Lá là, fútstra! tôi đã sai lầm.

Mẹ tôi gây chuyện với thầy tôi trươc mọi người, ầm ĩ cả lên, kể lể những là thầy tôi bỏ cả nhà chết đói để đi nhẩy.

“Đít nó to như thế mà bảo thằng bé chết đói. - có người nói.

- Phải, mẹ tôi nhắc lại, ông ấy để mẹ con tôi chết đói”.

Chúng tôi đã ăn một món xúp béo vào bữa tối, rồi đến dồi lợn; cuối cùng lại có thịt thỏ. Tôi thì không chết đói, mẹ tôi cũng đã ăn rất nhiều.

Mẹ tôi vẫn kể lể.

“Con tôi không có một manh áo che thân, các ông các bà nhìn xem nó ăn vận thế nào!”

Hôm nay tôi không vận đồ đen, tôi vận áo xám; trông tôi giống một anh y tá.

Thiên hạ xúm đông lại, thầy tôi định chui vào gầm một chiếc xe, nhưng lại mắc kẹt vào giữa các vó ngựa. Người ta phải kéo thầy tôi ra.

Cuối cùng thầy tôi ra được; chiếc mũ dạ hội bẹp dúm, trông như chiếc phong cầm. Mẹ tôi túm lấy cánh tay thầy tôi, như kiểu cảnh sát bắt người.

“Lại đây con, mẹ tôi vừa khóc vừa nói với tôi. Con lại đây, con hãy nói cho ông ấy biết con là con trai của ông ấy!”

Thầy tôi biết rõ điều đó, phải đâu thầy tôi không nhận ra tôi? Phải đâu mới có bảy tiếng đồng hồ mà tôi đã thay hình đổi dạng?

Suốt dọc đường, tôi cố tìm một chiếc gương ở cửa hiệu thời trang hay hiệu may để soi xem mặt mũi tôi thế nào từ khi tôi chết đói.

MÌNH, BÀ

 

Trong nhà lại trở nên sầu thảm gần giống hồi xưa, cái thời bà Bri-nhô-lanh, hồi ấy sao mà buồn đến thế. Thầy tôi không đi dự các buổi dạ hội nữa, thầy tôi đi đâu tôi không rõ.

Mẹ tôi, một tối, ra lệnh cho tôi phải lén theo dõi thầy tôi. Nhưng giữa lúc ấy thầy tôi chợt đến.

Tôi đang đứng trước mặt mẹ tôi, sợ quá, xấu hổ quá, trong bụng nhủ thầm: Đi rình mò thầy mình như vậy có đúng không?

“Vậy là bà muốn biến con bà thành mật thám à? - thầy tôi nói. - Tôi đã nghe thấy những lời bà dặn nó rồi.”

Chữ bà làm mẹ tôi tái mặt. Từ đó mẹ tôi không bao giờ nhắc lại với tôi chuyện ấy nữa.

Mẹ tôi cố tìm cách để vớt vát lại, người ta cảm thấy thế qua giọng nói, qua cử chỉ của mẹ tôi.

“Ấy là vì, - mẹ tôi nói, - chẳng vui vẻ gì tối nào cũng phải tỉnh dậy lúc mình về, thật chẳng vui vẻ gì…

- Tôi sẽ không làm mất giấc ngủ của bà nữa”, thầy tôi đáp lại.

Tối hôm ấy, thầy tôi vào buồng kho tìm một chiếc nệm và một chiếc ghế gấp.

Trong nhà, không còn nghe thấy tiếng động. Mỗi người sống trong xó của mình, họa hoằn mới nói với nhau.

Những bà giúp việc, chỉ được tám ngày là bỏ đi, bảo rằng ở cái quán này vàng võ cả người.

- Nhà ấy buồn ơi là buồn! - Đấy là câu nói truyền miệng trong khu phố.

Tình trạng đó kéo dài đã lâu. Buổi tối mẹ tôi bắt tôi ngồi cùng với mình. Và tôi đọc cho mẹ tôi nghe những chuyện thánh, trong buồng mẹ tôi, dưới ánh sáng của một cây nến xấu, bên cạnh một đống lửa lom khom.

Toàn những chuyện địa ngục và đau khổ. - Trong các sách nhà thờ ấy, bao giờ cũng chỉ có những câu chuyện sầu thảm.

Một cảnh ầm ĩ!

Thầy tôi, trong khi lục lại một chiếc hòm cũ, đã khám phá ra cái gì nằng nặng, kêu loảng xoảng.

Đấy là một chiếc bít tất ních đầy tới mắt cá những đồng một trăm xu.

Thầy tôi còn đang ngạc nhiên, thì mẹ tôi đã chạy vào như con mẹ dại, và lăn xả vào để giật lấy chiếc bít tất.

“Tiền này là của tôi. Tôi nhịn may nhịn mặc để dành được.”

Thầy tôi không buông ra, mẹ tôi kêu lên:

“Jắc, con giúp mẹ với!”

Tôi thì tôi chỉ biết kêu ầm lên, vừa chạy từ người nọ đến người kia vừa nói:

“Thầy ôi! Mẹ ôi!“

Thầy tôi làm chủ được chiếc túi, đem cất vào tủ riêng.

Thầy mẹ tôi đã làm lành với nhau!

Rất đơn giản, mẹ tôi tới gặp thầy tôi và nói:

“Tôi không thể sống như thế này được nữa, thà bỏ đi còn hơn - về nhà chị tôi, đem con tôi đi. “

Nhưng mẹ tôi không muốn đi, và cuối cùng mẹ tôi phải nói ra, phải thú thật với Ăngtoan như vậy, phải nhận là mình có lỗi - và xin thầy tôi quên đi.

Thầy tôi, chắc cũng đã ngán cái cảnh này, và thầy tôi chỉ cưỡng lại chiếu lệ thôi, thầy tôi để mẹ tôi phải năn nỉ một chút rồi mới chịu; thầy tôi khoái được người ta xin lỗi mình; đấy là bản chất của thầy tôi, người ta phải quỳ gối trước mặt mình; và bây giờ chắc chắn là mình đã làm chủ, mẹ tôi đã nhượng bộ, thầy tôi thoát ra khỏi cái cảnh khó chịu do bao nhiêu buồn bực và im lặng gây nên.

“Có phải cất nệm và ghế gấp vào kho không, hở thầy “?

Nói xong tôi đâm hối, tôi thấy làm thầy mẹ tôi bị lúng túng.

“Jắc, - thầy tôi đáp, -con có thể ra chơi với thằng bé ở gác một.”

Chú thích:

[39] Tức là Jan Đa, nữ anh hùng Pháp thời Trung cổ, đã đánh bại quân Anh, giải phóng nước Pháp, sau bị vu tội tà giáo, chịu chết thiêu trên giàn lửa (1412-1431)

[40] Rượu pha đường, có vắt chanh hoặc cam

[41]Một thứ tương cay làm bằng hạt cải

[42]Ám chỉ quân Phổ (Đức) cướp bóc nước Pháp khi sang xâm lược.

[43]Bêrăngiê: thi hào Pháp yêu nước và dân chủ, ủng hộ cách mạng Pháp 1830, 1848.

[44]Nữ phù thủy nổi tiếng trong thần thoại Hy-lạp, có một vai quan trọng trong Ôđitxê của Hôme.

[45 ]Phái ủng hộ chi trưởng của dòng họ Buốc bông làm vua Pháp.

[46]Chính quyền Pháp tổ chức theo hiến pháp năm 1794, tồn tại từ năm 1795 đến 1799.

[47]Thời kỳ kéo dài từ khi dòng họ Buốcbông trở lại ngôi vua Pháp cho đến khi bị phế truất (1814-1830)

[48]Ám chỉ cuốn sách mới xuất bản khi ấy, rất được hoan nghênh, Jêrôn Patnarô đi tìm nền cộng hòa ưu việt nhất của Luy Râybô.

[49]Chơi chữ khó dịch: classe moyenne vừa có nghĩa là lớp trung học vừa có nghĩa là giai cấp trung lưu (tư sản.)

[50 ]Chó xù làm xiếc ở Paris, vào năm 1818, biết đáp những câu hỏi bằng tiếng Hà-lan, tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng La-tinh. Nó biết chơi nhiều kiểu đánh bài, chơi món bài cẩu rất giỏi (chú thích của tác giả).

[51]Tên tục của hoa dã tường vi

[52]Tránh nói chữ đít chai.

[53]Các nhà thơ lớn thời La-mã cổ.

[54]Nhà hùng biện thời La-mã cổ.

[55] Tômát (Thomas): nhà thần học nổi tiếng của đạo Gia tô thời Trung cổ. Mácmôngten: nhà văn Pháp (1723-1749).

[56] Nhại lại một câu của Bốtxuyê, giám mục Pháp, tác giả những bài Điếu văn nổi tiếng (1627-1704).

[57] Vợ sứ thần Áo ở Paris hồi ấy.

58] Nữ thần về nghệ thuật múa

Đánh máy: bablu, lemontree123, tamchec, conguyen, Bac Nguyen, sun1911, Lynk_xu, nma.199x và 4DHN
Nguồn: NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC - Hà nội - NXB Éditeurs français réunis - Paris, 19581974 - tve-4u.org
Được bạn:Thanh Vân đưa lên
vào ngày: 6 tháng 12 năm 2023

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès