Chú Bé

Lượt đọc: 1432 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- XVI -
một bi kịch

Bà Brinhôlanh (Brignolin), một bà hàng xóm, trở thành người bạn thân của gia đình tôi.

Đó là một con người nhỏ nhắn, mũm mĩm, lanh lợi, cặp mắt rực lửa; bà ta rất vui tính và thật là thú vị khi nhìn bà chạy lon ton, đùa cợt, làm đỏm, ngửa người ra sau để cười, vừa vuốt tóc với một điệu bộ thủng thẳng như vuốt ve! Và bà có cái kiểu uốn éo khiến chính thầy tôi cũng phải thấy là lạ, vì thầy tôi đỏ mặt, rồi tái đi, lạc cả tiếng và làm đổ ghế.

Cái bà bé nhỏ ngộ nghĩnh làm sao! Bà có ba con.

Bà chăn dắt và nuôi nấng đàn con đến là nhộn nhịp, tất bật; vận quần áo cho đứa này, sát xà-phòng cho đứa kia, chụp chiếc mũ cát-két lên cái mặt này, đặt chiếc mũ trùm lên mảnh sọ kia, vá quần, là áo, xỉ mũi cho thằng con trai, rửa ráy cho đứa con gái. Lúc nào cũng tong tong tưởi tưởi!

Buổi tối, bà trưng diện chiếc áo choàng tinh tươm vào và mần một tí âm nhạc trên chiếc dương cầm cánh dơi cũ kỹ. Cứ hết mỗi bản nhạc, bà lại rứt một tiếng bùm trầm ở phía những nốt trầm và một tiếng hi êm ở phía những nốt thanh. Bùm, bùm, hi, hi…

“Ông Vanhtrax, trông ông rầu rĩ như một chiếc mũ trùm đầu để ngủ, là vì ông không đi cạo mặt đấy, ông thấy không. Ngày mai ở hiệu thợ cạo ra ông lại đây. Tôi sẽ hôn ông! Ông sẽ làm quà cho tôi bộ râu của ông”.

Và đồng thời bà bước tới gần thầy tôi, đặt tay lên tay thầy tôi, chạm váy vào người thầy tôi. Bà lại còn nắm cả lấy cánh tay thầy tôi, và cho thầy tôi nắm ngang thắt lưng.

“Ta nhẩy van-xơ đi”, bà nói.

Và vẻ hân hoan, đưa hai bàn chân nhỏ mạnh bạo tiến lên, thân người ngửa về đằng sau, tóc bay lòa xòa, bà đưa thầy tôi nhẩy theo; một hai vòng trong gian buồng quá chật, - rồi vừa cười vừa buông mình xuống một chiếc ghế kêu cót két trước mặt thầy tôi, thầy tôi im lặng không nói gì.

Rồi bà lẩn mau vào phía bếp vì nghe có tiếng động trong ấy.

Ra đứa con gái bé bị ngã; đứa con trai đánh vỡ cái hũ; bà lăn đi như lôi cuốn lượt là, ập vào, biến mất, trở lại, ồn ào và điên cuồng, kẹp hai bàn tay vào giữa hai đầu gối, cúi gập người xuống để cười cho dễ, vừa lắc lư cái đầu xinh xinh, vừa kể câu chuyện hóm hỉnh vừa xảy ra với một nhãi con của bà.

Bà lại tìm cách chạm vào người và đẩy ông Vanhtrax khi đi ngang qua.

Ông Brinhôlanh ít khi có nhà; ông ta là một nhà bác học. Ông có cổ phần trong một xưởng chế tạo hóa chất, và ông đã phát minh ra vô khối thứ làm gia đình ông sống sung túc: lúc nào ông cũng mê mải với các bình thủy tinh, và tôi lại nhận thấy người ta cười cợt khi nói đến tiếng ấy.

Có một cô em họ sống trong gia đình ấy: cô Miôlăng.

Cô vừa hai mươi tuổi: người dịu dàng, dễ dãi, da xanh nhợt, nhợt như sáp, và tôi nghe người ta xì xào là cô sắp chết.

Bà Brinhôlanh đối với cô rất tốt, tất cả chúng tôi đều mến cô; chúng tôi đánh bài và chơi súc-sắc trên đầu gối cô; cô lấy những mẩu băng tết hoa cho chúng tôi, - những ngón tay gầy của cô mới khéo léo làm sao! Trong túi cô có một chiếc ví khảm xà cừ ở bốn góc là vật duy nhất mà cô không cho chúng tôi mó vào: “Trái tim tôi ở đấy”, một hôm cô nói, và người ta kể là cô chết vì thất tình.

Hôm bà Brinhôlanh kể chuyện đó, thầy tôi ngồi cạnh bà ta. Mẹ tôi đi vắng. Tôi quay đầu đi: tôi nghe thấy một tiếng thở dài, và, khi nhìn lại, tôi thấy bà Brinhôlanh đang để tay lên tay thầy tôi, mắt nhìn vào mắt thầy tôi! Thầy tôi có vẻ ngượng nghịu. Bà ta dịu dàng mỉm cười và nói:

“Ngốc lắm!”,

Tôi đoán là tôi đã làm hai người lúng túng và cả hai người đồng thời nhìn tôi, mắt như muốn nói: “Đừng làm trước mặt nó”, hoặc “tại sao nó lại ngồi ở đây?”. Tôi không bao giờ quên tiếng “ngốc lắm!”rất mực âu yếm đó và cử chỉ rất mực dịu dàng đó.

Người ta thuê cho cô Miôlăng một căn nhà nhỏ ở thôn quê, buổi tối người ta về đó chơi một vài giờ sau khi tan trường; và những khi đẹp trời, người ta qua cả ngày chủ nhật ở đấy.

Những giờ phút đẹp đẽ biết mấy đối với trẻ con nhà Brinhôlanh và tôi!

Phong cảnh xung quanh nhà nghỉ mát không lấy gì làm đẹp, - nhà ở cuối một con đường vắng, đen vì than, vàng vì cát, xám vì bụi, có mùi khét, mùi tro, giầy đi thì bị toạc và xe thì kêu lọc cọc. Ở đó có một cái mỏ, và hai nhà máy gạch nhô lên những mái bằng trong khoảng đồng ruộng trống trải; - cỏ mọc xác xơ và cháy xém, lơ thơ từng quãng như những túm lông còn sót lại trên lưng con lạc đà; có những mảnh vụn than luyện và gạch đỏ cạnh và xỉn màu như những cục máu đông lại; nhưng chúng tôi lấy những cái đó chồng lên xếp thành cổng, thành những túp lều, và chúng tôi đào lỗ dưới đất, nhóm lửa, thổi lên, và ngọn lửa lấp lánh, khói cuộn bay trong gió. Những cái đó đượm mùi lao động, gợi lại chuyện Rôbanhxông; chúng tôi trơ trọi trong cánh đồng bao la đó - tựa hồ phải sống cô lập không có sự giúp đỡ của thành phố: chúng tôi nói năng như người lớn, và cũng như người lớn, chúng tôi có những xúc cảm mà cảnh tĩnh mịch thường gợi lên.

Khi đã chán cái cảnh thiên nhiên câm lặng và trống trải ấy, khi hơi lạnh ban đêm đổ xuống, khi những tiếng động lần lượt tắt dần như những hòn đá rơi vào vực thẳm, chúng tôi quay về ngôi nhà nhỏ, mái trên màu đỏ, dưới chân màu xanh.

Có một mảnh vườn con, hai gốc cây, vài luống hoa cánh bướm, một cây hướng dương.

Những cây hoa cánh bướm ấy, ngày nay tôi còn nhìn thấy với những tròng mắt và những mí mắt xanh lơ, tôi vẫn cảm thấy lá cây mượt như nhung, và tôi nhớ có một khóm do tôi chăm sóc; nay vẫn còn lại những cánh hoa tôi ép trong một quyển sách cũ.

Đến giờ ngôi nhà lên đèn, từ xa chúng tôi trông thấy ánh đèn lấp lánh như một vì sao.

Các bà ấy và thầy tôi biện một bữa ăn toàn trái cây với sữa và bánh mì đen. Người ta kiếm các thứ đó ở tận tít trong làng. - Yên tĩnh làm sao! Tôi sung sướng đến ứa nước mắt.

Ngày chủ nhật là một cuộc ồn ào! Chúng tôi đem thức ăn đến. Bà Brinhôlanh đeo một chiếc tạp-dề trắng, mẹ tôi xắn áo lên và thầy tôi giúp việc nhặt rau. - Còn chúng tôi, người ta ném cho chúng tôi vài củ cà-rốt sống để gậm, và chúng tôi phụ bếp, chúng tôi quay con gà trên than hồng (vừa hứng những giọt nước ngọt chảy xuống); chúng tôi làm rối mù lên, chúng tôi phá quấy, chúng tôi làm đổ vỡ, chẳng ai mắng mỏ gì cả.

Hết tiếng xoong chảo, bát đĩa, đến tiếng hàm nhai, rồi tiếng nút chai nổ! - Tới lúc ăn tráng miệng, mọi người được uống rượu vang trắng sủi bọt.

Người ta chạm cốc, rồi lại chạm cốc.

Lần nào cũng là uống để chúc sức khỏe bà Vanhtrax trước nhất!

Mẹ tôi đáp lại, sung sướng, đỏ ửng cả mặt: dòng máu nông dân của mẹ tôi chảy thanh thoát hơn trong bầu không khí thôn quê ấy, với những mùi vị nhè nhẹ của quán rượu và những cảnh trang trại ở xa xa!

Mẹ tôi hầu như không còn nghĩ đến chiếc quần mà tôi phải xắn lên, đôi giầy mới của tôi có những cục bùn. Vả lại, bà Brinhôlanh ngăn không cho mẹ tôi nghĩ tới những chuyện ấy.

“Mọi người đều phải được vui chơi chứ!”bà vừa nói vừa lấy tay bịt miệng mẹ tôi, và nắm cánh tay mẹ tôi kéo đi dạo quanh hoặc ra vườn.

Chính thầy tôi là có vẻ sung sướng!

Thầy tôi nô đùa như một đứa trẻ; chính thầy tôi làm hũ trong trò chơi “bốn góc”, đẩy chiếc đu khi mọi người chơi đã mệt, thầy tôi hát (thầy tôi có giọng thanh). Bà Brinhôlanh hát trêu thầy tôi những bài hát của miền Nam.

Mẹ tôi - con nhà nông dân - nói: “Đấy là những điệu lẳng lơ”, và hát bằng tiếng vùng Ôvécnhơ (Auvergne).

Bớ em Janét, (Janette)

Em hãy bay ra

Ấy a!

Bay ra kiếm một tấm chồng!

Biết lao động,

Ấy a!

“Ấy a!”Bà Brinhôlanh vừa nhắc lại, vừa phác ra một tư thế nhẩy - chỉ một cử chỉ, đầu ngửa ra đằng sau, nửa người trên gập lại, rồi thình lình tung mớ váy, hất cao hông!

Bà giậm chân, búng ngón tay, và cuối cùng có vẻ như muốn ngất, môi hé mở để qua một hơi thở làm bộ ngực bà căng lên: bà lặng đi một lát không cười, nhưng rồi lại lao rất nhanh vào một cơn vui nhộn lẫn lộn cả múa cachucha và múa buarê, cả tiếng Tây-ban-nha và tiếng Ôvecnhơ:

La Mađôna, và la fustra,

Ấy a!

“Thế là nghĩa lý gì?” ông Brinhôlanh hỏi, ông vốn là con người thực tế, thỉnh thoảng ông đến làm khổ các món nước xốt.

Ông làm thể nghiệm những thứ nước cốt đặc, dựa trên cơ sở hóa học, mang mùi vị bác học, và làm hỏng cả bữa ăn.

Người ta đánh bài, - ông làm rối cả nước bài, - không bao giờ đoán định gì cả!

Bao giờ ông cũng thế.

“Chính ông ấy thế đấy!”

Bà Brinhôlanh nói vậy một cách ngồ ngộ và hầu như lần nào cũng nhìn thầy tôi; rồi bà lay người ông chồng, nói thêm:

“Thôi, ông thì chỉ có việc đưa tay để khoác là tốt thôi; ông khoác tay bà Vanhtrax đi. - Ông Vanhtrax, ông đưa tay đây! - Còn Jắc, cháu đi với cô Miôlăng.”

Cô gái tội nghiệp! Trong khi chúng tôi vui chơi ầm ĩ, cô thường bị thắt tim hoặc nổi một cơn ho làm đỏ bừng đôi má tái nhợt, rồi để cô lại rơi mình lên gối đệm chiếc ghế dài; - nhưng cô vẫn mỉm cười, và cô không bằng lòng khi thấy chúng tôi im lặng vì cô.

“Không, không, xin lỗi, mọi người cứ chơi đi. Như thế tôi mới vui, mới dễ chịu hơn, cứ chơi đi.”

Tiếng cô ngừng lại, nhưng cử chỉ vẫn tiếp tục như bảo chúng tôi:

“Cứ chơi đi!”

THẤT NGHIỆP

Cuộc đời bỗng thay đổi đột ngột.

Cho đến nay tôi vẫn là cái trống để mẹ tôi đánh những tiếng cắc, tiếng bùng, mẹ tôi đã thử trên người tôi đủ các thứ đòn và đủ các thứ vải, mẹ tôi đã vần tôi đủ mọi cách, bấu, véo, rạch mặt, củng đầu, ục, thụi, tát, bạt tai, dứt tóc và dần xương, nhưng không vì thế mà tôi trở thành ngốc nghếch, méo mó, gù lưng hoặc thọt chân, cũng không mọc hành trong dạ dày, hay mọc lông cừu trên lưng - tuy đã phải xơi biết bao nhiêu chiếc đùi cừu!

Tới một lúc, niềm âu yếm của mẹ tôi ngãng ra. Mẹ tôi lơi lỏng sự kiểm soát tôi.

Xưa kia người ta chỉ nghe thấy những tiếng bôm bốp, veo véo, thôi thì đủ thứ! - Người ta gọi tôi là kẻ cướp, thằng du côn khốn lạn! - khốn lạn thay cho khốn nạn; - mẹ tôi còn nói vô nại thay cho vô lại.

Từ mười ba năm nay, tôi không thể đứng trước mặt mẹ tôi đến năm phút - không, không đến năm phút, mà không làm mẹ tôi phát khùng, không làm khích động tình thương yêu của mẹ tôi.

Hoạt động ấy, tiếng ồn ấy, cái trò bạt tai thường lệ ấy, bây giờ ra sao rồi?

Người ta gọi tôi là thằng kẻ cướp, thằng du côn, tôi không cấm, tôi đã quen rồi, - thậm chí tôi còn hơi hãnh diện nữa là đàng khác.

Kẻ cướp! - như trong truyện khắc tranh - Với lại tôi cảm thấy rất rõ là mẹ tôi vui thú khi hành hạ tôi; mẹ tôi cần vận động, và có thể tập thể dục mà không cần đi đến sân vận động, tới đó thì mẹ tôi phải vận quần cộc và áo ngắn. Mẹ tôi mà mặc áo ngắn, quần cộc thì không coi được.

Có tôi, mẹ tôi tập đâm gươm; mẹ tôi bắn chim bồ câu đoạt giải con thỏ, hạ đổ binh lính pháo thủ[37].

Vậy là ít lâu nay tôi sống như bó lúa đáng lẽ được nhún nhẩy dưới chiếc đòn gánh thì lại nằm mốc meo trong một xó, như con ngỗng bị trói chặt chân, căng phồng lên trước lửa, chẳng có gì làm cho mát mẻ hoặc ấm áp.

Tôi không còn phải đứng dậy để tới gần mẹ tôi, như một tấm bia nhẫn nhục; - tôi có thể ngồi yên suốt cả ngày!

Cảnh thất nghiệp đó làm tôi lo ngại,

Ngồi không như vậy rất tốt, - nhưng đến khi lại quay về với những thói quen cũ, khi giờ roi vọt lại điểm, tôi sẽ ra sao? Cái thú an nhàn sẽ làm hỏng tôi: tôi sẽ mất đi bộ áo giáp của thói quen, chiếc quần cụt của rèn luyện, cái thớ của tấm da nện!

Vậy thì có chuyện gì đã xẩy ra?

Tôi không hiểu gì hết, nhưng tôi thấy hình như bà Brinhôlanh có dính dáng thế nào đó trong nỗi buồn đen tối của gia đình, trong cơn giận tái mặt của mẹ tôi.

Nhưng buổi tối dài dằng dặc, mẹ tôi im bặt không nói gì cả, hai mắt đăm đăm và môi mím chặt. Mẹ tôi núp sau cửa sổ và vén rèm lên, có vẻ rình mồi.

“Bà không đến chơi bà Brinhôlanh nữa à?” một hôm một bà hàng xóm hỏi mẹ tôi.

- Có chứ, có chứ!

- Giận nhau tí chút phải không?

- Không, không!... Chủ nhật sắp tới chúng tôi sẽ cùng về quê chơi nữa kia.”

Quả vậy, tôi nghe nói sắp có cuộc đi chơi tựa hồ để làm lành với nhau sau vài tuần lạnh nhạt; tôi cũng nghe thấy mấy lời mẹ tôi nói nhỏ: “Làm như không biết gì cả, kệ họ một mình với nhau, rón rén đến...”

Người ta lại thân thiện với nhau, người ta gặp nhau hôm thứ năm và người ta trù tính mọi bề để đến ngày chủ nhật.

Vừa hay tôi bị phạt!

Tôi đã đánh rơi một cục than ngay giữa lớp - than nhặt được ở gần ngôi nhà thôn quê. Tôi đã nghe ông Brinhôlanh nói là có kim cương trong những mảnh than mỏ; và từ hôm ấy, tôi nhặt tất cả những mảnh than nào có vân bóng, có chấm vàng.

Thấy giáo tưởng tôi tinh nghịch; - thế là tôi bị tóm! Bắt buộc phải ở lại thành phố hôm chủ nhật ấy để đến giờ trưa đi ngồi phạt - trong buồng học nội trú, ngay tại trường.

Vĩnh biệt ngôi nhà ở nông thôn!

Tôi thấy mọi người ra đi với những làn thực phẩm.

Các bà hôm ấy vận áo dài mới.

Bà Brinhôlanh trông rất đẹp: áo hơi hở ngực, với chiếc khăn quàng sọc xanh, giầy mầu mận, và người bà thơm - thơm phức!

Mẹ tôi quàng mở hàng chiếc khăn san màu xanh lục, nó gào như quỷ bên cạnh chiếc áo sa mới lấm chấm hồng quanh người bà Brinhôlanh, nó tỏa sương mù.

Người ta đã vạch chương trình cho tôi. Tôi sẽ ăn bữa trưa, món đậu bột trộn dầu, rồi đi ngồi phạt - rồi tới nhà ông quản lý Lôriê, ông sẽ cho tôi ăn bữa tối.

“Mày được thế là quá lắm rồi”, mẹ tôi nói,

Viễn cảnh đó khá đẹp đẽ nên tôi không đến nỗi tiếc lắm là không được tới ngôi nhà ở thôn quê; tôi vui lòng chấp nhận số phận của tôi.

Tôi ăn đậu trộn dầu, - tôi chơi bi với đám trẻ làm nghề cạo ống khói mà tôi quen - Tôi tới ngồi phạt chậm, người đầy bồ hóng, - tôi lấy cớ đi ngoài, tìm cách ra thơ thẩn ở phòng thể dục, tháo đu dây ra đánh, suýt ngã gãy lưng; tôi viết qua quít bài phạt, uống một chút mực thì vừa đến sáu giờ tối.

Buổi phạt đã xong, người ta thả chúng tôi ra, tôi leo lên buồng ông Lôriê.

“Mày đấy à, nhóc?

- Vâng ạ!

- Lần nào cũng bị phạt hả?

- Không ạ.

- Mày có đói không?

- Có ạ.

- Mày có muốn ăn không?

- Không ạ!”

Tôi ngỡ là nói không thì lễ phép hơn: mẹ tôi đã dặn tôi rất kỹ là đừng nên nhận lời ngay tức khắc, trong giới thượng lưu, không ai làm như thế cả. Không nên vồ lấy lời mời như một kẻ phàm ăn, “nghe không”; và mẹ tôi nêu gương cho tôi theo.

Mẹ con tôi thỉnh thoảng được bố mẹ học sinh mời ăn.

“Bà xơi tí xúp nhé?

- Không, có, thế này thôi, rất ít...

- Bà không ưa món canh à?

- Ồ! có, tôi rất thích, nhưng tôi no rồi...

- Quái! Thế đã no!”

“Bao giờ mày ăn cũng phải để lại trong đĩa một ít”. Lại thêm một lời dặn nữa của mẹ tôi.

Để lại trong đĩa một ít.

Tôi làm theo như thế lúc ăn xúp, khiến ông quản lý kinh ngạc, lúc nãy ông đã thấy tôi rất là ngu vì bảo mình đói mà lại không muốn ăn.

Nhưng tôi, tôi biết là phải vâng lời mẹ - mẹ tôi biết phép lịch sự lắm chứ, - tôi để lại ít xúp trong đĩa, và tôi để cho người ta nài ép tôi.

Ông quản lý mời tôi món cá - Ồ, không!

Tôi không ăn cá như thế, mời một cái là ăn ngay như một anh nhà quê.

“Mày muốn ăn cá chép không?

- Thưa ông, không ạ.

- Mày không thích cá chép à?

- Thưa ông, có ạ.”

Mẹ tôi đã dặn kỹ tôi là ở nhà người khác thì phải thích tất cả mọi thứ; mình sẽ có vẻ coi thường những người mời mình, nếu mình không thích những thức họ mời mình ăn.

“Mày thích cá chép à? Thì đây!”

Ông quản lý gạt miếng cá chép cho tôi như vứt cho một thằng ngốc, muốn ăn thì ăn, không muốn thì bỏ đấy, mặc kệ.

Tôi ăn miếng cá chép - một cách khó khăn.

Mẹ tôi còn dặn: “Phải ngồi cách xa bàn ăn; không được ra vẻ tự do thoải mái như ở nhà mình”. Tôi ngồi hết sức khó chịu, - chiếc ghế cách xa đĩa ăn đến một dặm; hai ba lần tôi suýt ngã.

Tôi đã ăn hết bánh mì!

Mẹ tôi đã bảo tôi là không bao giờ được “hỏi xin”, trẻ con phải chờ người ta lấy thức ăn.

Tôi chờ! Nhưng ông Lôriê không quan tâm đến tôi nữa - ông mặc kệ tôi, và ông ăn, đầu chúi vào tờ báo.

Tôi khua khẽ chiếc dĩa, và tôi đánh răng lập cập như chiếc đầu người máy. Tiếng lịch kịch ấy cuối cùng làm ông phải nhìn lại, mắt nghé phía dưới tờ Giám thị thành Lyông, nhưng ông thấy trong đĩa của tôi vẫn còn cá chép với bao nhiêu nước xốt.

Ăn món đó không có bánh mì, tôi thấy buồn nôn, nhưng tôi không dám hỏi xin bánh!

Bánh mì, bánh mì!

Tay tôi nhầy nhụa như tay người thắp đèn ngoài đường, nhưng tôi không dám lau tay luôn luôn vào khăn.

“Làm thế sẽ có vẻ là ngón tay mình bẩn quá, - mẹ tôi đã nói, - và trông thấy chiếc khăn ăn nhơ nhớp lúc dọn bàn sẽ có ấn tượng không tốt.”

Tôi chùi tay vào đít quần, - một cử chỉ làm ông quản lý lấy làm lạ, lúc ông liếc mắt bắt chợt thấy. - Ông không hiểu ra sao cả!

“Mày ngứa à?

- Thưa ông, không ạ!

- Sao mày gãi?

- Cháu không biết ạ.”

Vẻ vô tâm ấy những câu trả lời kiểu người mê ngủ ấy và cái chủ nghĩa cam chịu thần bí ấy, tôi thấy rõ, cuối cùng đã gây cho ông Lôriê một niềm kinh tởm không sao dẹp nổi.

“Mày ăn cá xong rồi à?

- Thưa ông, vâng ạ!”

Ông Lôriê nhấc đĩa cá đi, và đưa tôi một đĩa khác, có thịt cổ họng bê non và nước xốt với nấm.

“Ăn đi kìa, cứ tự nhiên, ăn cho no.”

À! Ông chủ nhà đã khuyên nhủ vậy, tôi đâm xổ vào món cổ họng bê non.

Không có bánh mì! Không có bánh mì!

Bê non và cá gặp nhau trong dạ dầy của tôi trên một biển nước xốt, và đánh nhau một trận kịch liệt.

Tôi như thấy trong bụng có một con tầu, một con tầu bơ đang chảy, và miệng tôi như vừa ăn một lọ sáp sáu xu một lạng!

Bữa ăn tối xong: đã đến giờ! Ông Lôriê bảo tôi về, ông không quên đeo mục kỉnh vào để nhìn những đường vằn tôi đã bôi lên chiếc quần xanh; bữa ăn kết thúc bằng đuôi con báo[38].

7 giờ rưỡi

Tôi để nguyên quần áo nằm dài trên giường: một mảnh trăng soi qua cửa kính; không một tiếng động!

Đầu tôi nóng bừng bừng, và tôi như bị đập vỡ một bên sọ.

Tôi nhớ hết: bánh mì thiếu, con cá bơi lội, con bê bú mẹ...

Không sao cả, tôi có thể tự biện hộ rằng ít ra thì tôi cũng đã giữ được phép lịch sự. Tôi đã cực, nhưng tôi đã ngồi cách xa bàn ăn, tôi không có vẻ đi ăn mày một bữa ăn; tôi đã trung thành với những lời giáo huấn của mẹ tôi.

9 giờ

Ngủ được hai tiếng, tôi đã hết nhức đầu. Nếu thấy một con bê trong buồng, tôi sẽ nhẩy qua cửa sổ; nhưng cái đó chắc gì xẩy đến, và tôi vừa nghĩ vẩn vơ, vừa cởi quần áo.

10 giờ

Tôi thắp nến đọc sách; nhưng cây nến sắp hết, chỉ còn một mẩu để dành khi thầy mẹ tôi về.

Tôi leo lên gác lửng. Tôi thường leo thang lên ngủ ở trên đó; mùa hè ở đó ngột ngạt, mùa đông rét cóng; nhưng tôi được tự do, chỉ có một mình, và tôi yêu căn buồng nhỏ cheo leo trên cao ấy, tôi có thể xa lánh hết mọi người, những bức tường gỗ của nó đã từng nghe thấy tất cả những tiếng lẩm bẩm giận hờn và đau khổ của tôi.

Nửa đêm

Tôi đã ngủ thiếp đi! - Tôi chợt thức giấc!

Một tiếng động mơ hồ, những tiếng thét dữ dội, - đặc biệt một tiếng kêu đâm vào tim tôi như một nhát dao. Chính là tiếng mẹ tôi...

Tôi bổ xuống chân chiếc thang, mình chỉ mặc có áo lót; chiếc thang không móc và tôi ngã xuống đánh ầm, đầu gối đập xuống sàn gạch hầu như vỡ đôi.

Mà tấn bi kịch lại xảy ra ở ngay chỗ cầu thang; giữa mẹ tôi ngã ngửa người trên tay vịn, con mắt ngơ ngác, và thầy tôi kéo mẹ tôi lại, mặt mẹ nhợt nhạt, đầu tóc xổ tung.

Tôi vừa khóc vừa nhẩy vào giữa hai người. Có chuyện gì đây?

Tôi muốn kêu lên.

“Không, không! Thầy tôi vừa nói, vừa bịt mồm tôi lại, - không!”- Răng tôi gần như bị gẫy vì nắm đấm của thầy tôi, - “Không, không!”- Trong giọng nói có cả giận dữ lẫn kinh hoàng.

Tôi cúi xuống mẹ tôi đang bị ngất, nước mắt tôi ướt đầm mặt mẹ. Những giọt lệ của con rơi trên trán những người mẹ hình như có tác dụng tốt! Mẹ tôi bỗng mở mắt, và nhật ra tôi, mẹ tôi gọi: “Jắc! Jắc!”- Mẹ tôi nắm lấy bàn tay tôi, xiết mạnh. Đấy là lần đầu tiên trong đời mẹ tôi.

Trước kia tôi chỉ được biết vết chai trên tay, ánh thép của mắt và vị dấm chua trong giọng nói của mẹ tôi; lúc này, mẹ tôi qua một phút buông thả, một cơn âu yếm, một phút yếu đuối tâm hồn, mẹ tôi dịu dàng buông thả bàn tay và trái tim.

Tôi cảm thấy qua cử chỉ hồn hậu của mẹ tôi do mối kinh hoàng trong giờ phút nghiêm trọng đó, tôi cảm thấy rằng tất cả những cử chỉ hồn hậu trên đời đều có thể chinh phục được tôi.

“Lên ngủ đi”, thầy tôi bảo tôi.

Tôi leo lên buồng ngủ, người lạnh cóng, tôi đã bị cảm lúc đứng trên gạch lát ở cầu thang, rồi lúc vào trong buồng to, cửa sổ mở toang cho người bị ngất được thoáng khí!

Có chuyện gì xảy ra vậy?

Lòng tôi cũng có cơn dông tố của nó, và tôi không thể suy nghĩ cho có mạch lạc được, không thể suy nghĩ trong cơn sốt được! Hết giờ nọ đến giờ kia trôi qua.

Tôi nhìn đêm tàn dần, buổi sáng đến; một thứ khói trắng bốc lên ở chân trời.

Tôi, như một tên sát nhân, nhìn những giờ phút u ám cô đơn trôi qua trước mặt: tôi mở mắt trừng trừng trong lúc các đứa trẻ khác đang ngủ; tôi theo dõi trên trời mảnh trăng tròn không mắt nhìn như mặt một thằng điên; tôi nghe thấy trái tim trong trắng của tôi đập bên trên căn buồng im ắng ấy. Có một luồng gió già nua đã thổi qua cuộc đời tôi, tuyết đã rơi trên người tôi. Tôi cảm thấy tai họa đã giáng xuống đầu gia đình tôi!

Có chuyện gì đã xảy ra? Tôi muốn biết.

Tôi đã thường gặp những cảnh ngộ đau đớn; nhưng chưa bao giờ tôi run sợ như hôm ấy, lúc tôi tự hỏi liệu người ta sẽ đối xử với tôi thế nào, thầy tôi sẽ nhìn tôi ra sao, sau khi thầy tôi đã nói, mặt tái nhợt: “Không, không, đừng kêu lên!”

Tôi sợ thầy mẹ tôi sẽ xấu hổ với tôi.

Tôi nghĩ xem đứa con trong trường hợp này phải có bộ mặt thế nào, phải nói với bố mẹ mình những gì, liệu tới ôm hôn bố mẹ mình thì có nên không. - Nhưng hôn ai trước?

Và tôi run cả chân tay... lạ lùng thật, - tôi sợ mình vụng về, sợ đi tới, sợ khóc không đúng lúc, hơn là sợ tấn bi kịch bí mật mà tôi chưa biết ra thế nào.

Người ta mà đã không tin bụng dạ những người thân thuộc của mình và sợ làm họ cáu kỉnh vì những bộc lộ âu yếm của mình thì nó như thế đấy: theo bản năng, người ta cảm thấy là trước những đau khổ ấy không nên có thái độ độc ác, lòng sẽ không thể quên được cái đó, và sẽ giữ lại đen hay đỏ, một vết nhơ hoặc một vết thương, một nỗi buồn hoặc một sự giận hờn.

Do đó người ta lưỡng lự, người ta chùn lại!

Không nói gì chăng? - Nhưng họ sẽ có thể kết tội là anh nhẫn tâm, bởi lẽ anh không tỏ vẻ gì xúc động về nỗi anh nhấn mạnh vào những sai lầm hoặc tội lỗi của họ, về nỗi mới sáng ra, anh đã đem nước mắt - những trò vờ vẫn - đánh thức dậy những bóng ma đáng lẽ đã phải chết đi với tiếng kêu cuối cùng, với ánh mặt trời đầu tiên!

Thế là, tôi không biết mình phải làm gì!

Sáng đã lâu rồi. - Thầy tôi thường vẫn dậy vào bảy giờ để kịp dạy học vào tám giờ. Tôi cũng vậy.

Tôi làm như lệ thường; tôi mặc quần áo, nhưng rất thong thả, và chưa đi giầy vội; tôi ngồi trên giường đợi.

Từ buồng thầy mẹ tôi không có một tiếng động nào vọng ra: im như chết.

Cuối cùng, khoảng tám giờ kém mười lăm, thầy tôi gọi tôi.

Thầy tôi không có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi đã sẵn sàng; thầy tôi nói qua cửa bảo tôi đem giấy mực đến; thầy tôi viết một bức thư cho ông tổng giám thị và một bức khác cho ông thầy thuốc, và sai tôi đem thư đi.

“Mày đưa thư xong thì về ngay.

- Con không đi học à?

- Không, phải trông nom mẹ mày ốm. Nếu ông tổng giám thị hỏi mẹ mày làm sao, mày cứ nói là mẹ mày về quê bị một cơn hoảng sợ, bây giờ nằm liệt giường lên cơn sốt.”

Thầy tôi nói vậy, mặt không tỏ vẻ gì xúc động lắm, với những lời lẽ hơi thô kệch, - ông lê đôi giầy vải trên sàn nhà và xốc lại quần.

Có chuyện gì đã xảy ra?

Tôi không bao giờ được biết rõ. Qua những tiếng thét trong cơn thịnh nộ, qua những tiếng cãi cọ mà tai tôi nghe được, tôi ngỡ có thể biết được là mẹ tôi đã rình và bắt chợt thấy bà Brinhôlanh thì thầm với thầy tôi ở một chỗ ngoặt trong vườn, vào cái ngày chủ nhật tai họa ấy!

Tiếp đó là một cảnh đánh ghen và ẩu đả, hình như thế, tiếp diễn mãi tới nửa đêm là lúc tôi thấy thầy mẹ tôi về.

Tôi không thể hỏi ai được; vả lại, chỉ nguyên cái kỷ niệm về lúc ấy cũng đã ám ảnh tôi như một bệnh tật rồi, và tôi cố xua nó đi chứ không muốn tìm hiểu cho rõ chuyện!

Tìm hiểu chuyện gì? Chuyện đã qua rồi là đã qua!

Có lẽ tôi, đứa con, đứa trẻ ngây thơ, tôi bị đau nhất!

Từ hôm ấy, thầy tôi (phải chăng do cơn sốt hay vì ăn năn, vì xấu hổ hay vì hối tiếc?), thầy tôi đối với tôi khác hẳn. Cho tới nay thầy tôi sống ở ngoài gia đình nhiều, bởi lẽ hoặc lấy cớ là phải phụ đạo ở trường, hoặc dự nghe giao sư tu-từ-học diễn giảng cho các thầy giáo chưa đậu thạc sĩ.

Bây giờ, sáu ngày thì đến bốn ngày thầy tôi ở nhà; thầy tôi ở nhà, lông mày cau lại, mắt nhìn gườm gườm, môi mím chặt, mặt rầu rĩ và xanh xao, động một tí là thầy tôi nổi cáu và trở nên tàn nhẫn.

Thầy tôi nói với mẹ tôi, giọng thờ thẫn nghe như thở dài, hoặc như rít lên; người ta cảm thấy thầy tôi tìm cách tỏ ra mình tốt và ông đau khổ; đối với mẹ tôi, thầy tôi phô bầy vẻ lịch sự làm người ta khó chịu và sự âu yếm giả tạo nom mà thương hại!

Thầy tôi uất hận trong lòng, tôi thấy rõ thế.

Ôi chao! Căn nhà kinh khủng! Mọi người đi từng bước chậm chạp, nói khẽ.

Tôi sống trong cảnh im lặng đó và thở hít cái không khí nặng trĩu u sầu ấy.

Một đôi khi, tôi hét lên, phá rối cảnh yên tĩnh đó.

Thầy tôi cần trút nỗi đau khổ lên một người nào đó và thầy tôi trút buồn phiền, giận dữ lên đầu tôi. Mẹ tôi buông tha tôi, thầy tôi tóm lấy tôi.

Động một tí, thầy tôi quất tôi bằng roi da, đánh tôi bằng ba-toong, tôi thật không ngờ thường khi, tôi xin thề là như vậy, tôi không đáng bị đòn.

Tôi đã giữ rất lâu một khúc ba-toong người ta đánh tôi mà gẫy, tôi tự dưng cắm vào đó một lưỡi dao, và tôi tự nhủ là nếu khi nào tôi tự tử, tôi sẽ tự tử bằng cái đó - và một lần tôi đã có ý định tự tử thật!

Trường hợp ấy như sau.

Thầy tôi về đột ngột, mặt tái mét, và nắm lấy cánh tay tôi tưởng đến gẫy:

“Thằng khốn kiếp! - thầy tôi rít lên trong hàm răng, tao sẽ đánh mày chết lăn ra sàn nhà kia!”

Tôi thoáng nhìn thấy một cuộc nhục hình - mà đúng lúc tôi vừa mới hơi hồi lại sau trận đòn mới đây đã làm tôi ê ẩm cả chân tay.

Thầy tôi bảo là ở nhà ông hiệu trưởng, lúc bàn tới vấn đề cấp học bổng và miễn học phí, khi đến tên tôi, ông hiệu trưởng đã bước tới bảo thầy tôi:

“Ông Vanhtrax, con trai ông nếu chịu học sẽ có thể được xếp hạng trong lớp cao hơn hiện giờ. Chúng tôi khuyên ông nên kèm cặp nó... ông rõ không?

- Chính mày, thằng khốn nạn, chính mày làm tao bị ông hiệu trưởng khiển trách!” và thầy tôi giận dữ xông vào đánh tôi.

Trận đòn thật là đau, nhưng nỗi buồn của tôi còn lớn hơn nhiều!

Sao! Tôi lại có thể ảnh hưởng tới tương lai của thầy tôi, tôi lại là nguyên nhân làm người ta sẽ thuyên chuyển thầy tôi, hoặc có lẽ sẽ cách chức thầy tôi! Nếu vậy để xám hối, tôi sẽ tự đấm ngực, còn mạnh hơn cả những quả đấm của thầy tôi, và có lẽ tôi sẽ tự tử vì thất vọng, nếu tôi không nghĩ đến việc sửa chữa điều tai hại mà thầy tôi buộc cho tôi đã gây ra.

Tôi quay ra học thật hăng, thật hăng! Ở trường tôi không bị phạt nữa, nhưng ở nhà, tôi vẫn bị đòn như thường.

Dù tôi có ngoan như một thiên thần, người ta cũng vẫn đánh tôi, đến vặt trụi lông cánh của tôi, là vì tôi đã quyết định bấm bụng chịu đòn, và do tôi nuốt nước mắt kêu đau, thầy tôi lại càng thêm điên tiết.

Vài ba lần, tôi đã phải thét lên như những kẻ bị giết, đến thầy tôi cũng phát hoảng! Nhưng rồi thầy tôi lại vẫn tiếp tục vì tư tưởng của thầy tôi đã bệnh hoạn quá, đầu óc đen tối quá. - Thầy tôi tin rằng tôi là một thằng vô lại thật, tôi nghĩ vậy. - Thầy tôi nhìn tất cả mọi sự qua nỗi chán ngán hoặc cơn cuồng nộ!

Đôi khi, còn kinh khủng hơn, - mẹ tôi can thiệp vào; - và mẹ tôi đã từng bợp tai tôi chí chết, nay lại kết tội thầy tôi là dã man.

“Ông đừng có động đến thằng bé nữa!”

Thình thoảng thầy mẹ tôi lại làm lành với nhau, và cả hai cùng đánh tôi! Nhưng làm lành chẳng được bao lâu.

Tôi rất khổ, nhưng vẫn nhớ đinh ninh trong lòng lời trách mắng dữ dội của thầy tôi, và tôi tự nhủ là mình phải đền tội, bằng cách cúi đầu chịu đòn và học gạo để cho địa vị của thầy tôi ở nhà trường vốn đã bị thương tổn, sẽ không còn bị thiệt hại thêm nữa vì sự lười biếng của tôi!

Tôi làm tất cả những gì có thể làm được; đôi khi nửa đêm tôi mới đi ngủ, đến mức mẹ tôi vốn trước kia hay mắng tôi đi ngủ quá sớm, giờ lại mắng tôi đốt nhiều nến quá:“Để làm gì chứ? Toàn là trò con tiều cả.”

Thầy tôi cho là tôi lén lút đọc tiểu thuyết, người ta không biết đến sự khó nhọc của tôi, và chỉ tỏ vẻ hơi bằng lòng một chút khi thấy tôi được xếp hạng khá, vì tôi lại vọt lên đầu và đứng nhất lớp.

Muốn được thế, tôi đã phải trải qua bao nhiêu giờ phút buồn tẻ!

Quyển Tự điển làm thơ La-tinh kia, nơi tôi tìm những hình dung từ chọn lọc, và những vần ngắn vần dài, quyển sách khốn nạn đó làm tôi kinh tởm!

Quyển Tự điển Pháp-Hy và Hy-Pháp của tôi, các góc bị gậm rách; chính tôi đã cáu tiết cắn rách, và trong dạ dầy tôi có cả bìa da của nó.

Tất cả những chữ La-tinh, Hy-lạp đó, tôi thấy nó kỳ quái và dã man; tôi nhồi nhét nó vào đầu, tôi nuốt nó như nuốt bùn.

Tôi không nói chuyện, không ba hoa nữa; trước kia người ta yêu tôi hơn và bây giờ tôi nghe thấy người ta nói sau lưng:

“Ấy vì nó bị bố nó đánh lên đánh xuống.”

Người ta còn nói:

“Các cậu có thấy là nó đâm ra nham hiểm, và có vẻ đạo đức giả không?”

Tôi được nhất về môn gì không nhớ nữa, và đứa được nhất phải đem các bài đến đưa cho ông hiệu trưởng xem, nhưng ông lại đang nói chuyện riêng với một người nào đó, và người ta bảo tôi chờ trong buồng bên cạnh - ngồi đấy có thể nghe thấy hết.

Họ nói chuyện về gia đình tôi.

“Ta không nên nói gì về vụ Vanhtrax cả, đồng ý chứ?

- Không, không nên nói gì cả; nói ra sẽ hại cho cả cuộc đời hắn trong giáo giới, vả lại ông biết đấy, tôi mà ở địa vị hắn, với một người vợ như vợ hắn...

- Có thế! Mà lúc nào cũng kể lể nào đi chăn lợn, nào nhẩy buarê. - Húp là là! - còn cái bà Brinhôlanh thì hề hề!

- Khẽ chứ, - ông hiệu trưởng nói, - nhỡ nhà tôi nghe thấy!”

Tôi ngồi trong buồng thấy sợ. Tôi hình dung là họ đang đi ra cửa, hé cửa xem có ai nghe lỏm không?

Đấy là ông hiệu trưởng và ông thanh tra tôi nhận ra giọng nói của họ. Họ nói tiếp:

“Tôi đã cảnh cáo hắn một lần, thế là đủ. Tôi vin vào cớ con trai hắn.

- Thằng bé ấy thế nào?

- Một thằng bé khốn khổ ăn bận như con khỉ, bị đòn tối mắt, chẳng phải đần, tốt bụng. Lần trước, ông thanh tra rất hài lòng về nó... Tôi đã lấy nó ra làm cái cớ để nói. ”Ông hãy kèm cặp con ông nhiều hơn nữa”; có nghĩa là “Ông nên ở nhà với vợ nhiều hơn nữa”, - và hắn cũng đã quan tâm đến lời khiển trách ấy.”

Tôi mơ mơ màng màng suốt ngày hôm sau...

Thầy tôi đâm cáu và ẩy tôi với một cử chỉ giận dữ:

“Mày lại muốn vớ vẩn đấy phải không, đồ lười! Ông thanh tra chỉ ít bữa nữa sẽ tới, mày đừng làm tao phải xấu hổ, như năm ngoái, và làm cả nhà phải khổ vì sự lười biếng của mày!”

Xấu hổ thế nào? Lười biếng thế nào?

Thầy tôi đã nói dối tôi.

Chú thich:

[37]Trò bắn bia: bắn trúng hình con bồ câu bay lên thì được thưởng con thỏ, làm đổ hình người lính pháo thủ.

[38]Trò chơi chữ không dịch được. Thành ngữ Pháp có câu lerminer en queue de poisson: kết thúc hẫng, đầu voi đuôi chuột. Tác giả dùng lerminer en queue de léopard là vừa nói cái ý hẫng hụt đó, vừa ám chỉ cái đít quần bị bôi bẩn lốm đốm như da báo.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của jules vallès