Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Bà Chúa Hòn - Sơn Nam

33 trả lời, 97 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 03.06.2021 21:31:58 bởi Ct.Ly>
Bà Chúa Hòn - Sơn Nam
Nhà xuất bản Kỷ Nguyên

 
HÀ TIÊN LÀ TỈNH XA XUÔI NHỨT của miền Nam thời xưa cũng như thời nay nếu ta lấy Huế hoặc Saigon làm tiêu chuẩn. Khác với vùng sình lầy mũi Cà Mau, Hà Tiên có khung cảnh khá ngoạn mục, trong đất liền là đồi núi trùng điệp, ngoài biển là năm bảy chu4c hải đảo lớn nhỏ, Hà Tiên còn là nơi ‘‘ba biên giới’’ :Việt Nam, Cao Miên và vượt qua eo biển là đến Thái Lan . Mỗi ngọn đồi, mỗi hải đảo đều có một ông Chúa hay bà Chúa thống trị, khi chết, các ông bà này được tôn thờ trong miếu nhỏ, giống như trường hợp mấy ông Thành Hoàng. Lẽ dĩ nhiên các ông bà đều là người phàm mắt thịt, nhờ mưu mô, nhờ tài kinh doanh mà gây được thế lực với đám dân chúng ở xung quanh. Vài ông bà Chúa nếu còn sống đến năm nay chỉ độ non trăm tuổi, bởi vậy thành tích của họ còn được nhắc nhở tỉ mỉ với bao nhiêu tánh tốt và thói xấu.
Chúng tôi xin thuật lại những giai đoạn gay cấn và thơ mộng nhứt của bà chúa hòn Me, một ngọn đồi nhỏ dính vào đất liền sát mé biển phía Bắc chợ Rạch Giá. Trước kia, bà là con gái một nông dân nghèo tên là Tư Thính, có lẽ họ Huỳnh ; Tư Thính cất căn nhà nhỏ ở chân đồi, giữa tư bề rừng rậm. Như đã nói, hòn Me xưa kia là hải đảo, đất phù sa lấn ra biển, nối hòn vào đất liền. Vùng chung quanh hòn quá ẩm thấp chịu ảnh hưởng nước mặn ngoài biển tràn vào nên cây cối mọc xơ rơ. Hằng năm, Tư Thính cày chừng một mẫu ruộng, kiếm chút ít lúa gạo đủ ăn trong gia đình.
Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng.
– Ngày mai, cho con ra ruộng nghe ba !
Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng, vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Chú từ chối khéo léo:
– Con ở nhà, ra ruộng nắng lắm.
Nhưng bé Huôi vịn vai chú, nói thật nhanh:
– Ngoài ruộng có cây thị, bóng mát.
Nghe qua, chú Tư Thính giựt mình. Đành rằng đến tám chín tuổi thì đứa bé có chút ít trí khôn, ghi nhớ những gì mà người lớn thường nói nhiều lần. Tại sao bé Huôi biết ở ngoài ruộng có một cây thị, cây ấy to lắm, ở xa nhà, bé Huôi chưa ra tới đó lần nào? Hồi năm ngoái trái thị sai quằn, chú với tay hái năm sáu trái đem về nhà cho bé Huôi, trái thị mầu vàng da láng tỏa ra mùi thơm kỳ diệu mà nhiều người cho rằng có thể quyến rủ ma quỉ hoặc thần thánh.
Chú Tư Thính hơi e ngại :
– Mùa nầy thị chưa có trái. Ra đó, làm sao con ngủ trưa?
Bé Huôi nói rành rọt như người lớn.
– Con đội nón, ngồi dựa vô gốc cây.
Vì không muốn quở mắng vô lý đứa con thân yêu, Tư Thính tìm cách từ chối:
– Bữa nào rảnh, ba cho con ra ruộng. Ngoài đó muỗi mòng, đủ thứ kiến lửa, kiến vàng. Lâu lâu, vài con rắn bò ra…
Bé Huôi cười dòn:
– Con đâu sợ rắn. Ba hứa lâu rồi. Ngày mai, con ra ruộng mới được. Ba không bồng con thì con đi một mình.
Gương mặt bé Huôi lúc bấy giờ trông thật dễ thương, mà cũng dễ sợ. Mắt nó sáng lên, hai tròng mắt đen lánh, hàm răng đều đặn, chói màu trắng ngà.
Tư Thính ngỡ rằng người khuất mặt đã thúc giục bé Huôi nói những câu quá khôn ngoan, dành riêng cho mấy đứa bé ít lắm là mười bốn, mười lăm tuổi. Chú đốt đèn lên. Bé Huôi nghiêm nét mặt, đôi môi ửng đỏ như tô son. Chú Tư Thính nhìn kỹ đứa con gái rồi tự trấn an: “Lớn lên, nó xinh đẹp nhứt làng nầy. Con nít khôn trước tuổi là sự thường”.
Bé Huôi ngáp dài:
– Con muốn đi ngủ, sáng mai con ra ngoài gốc cây thị để coi ba cày ruộng. Ngoài đó vui lắm.
Hôm sau, Tư Thính cố ý thức thật trể. Chú vác cày trên vai, cho đôi trâu đi trước, bé Huôi lững thững theo sau, đến gốc cây thị, nó ngồi xuống. Mặt trời lên cao, chưa chi, chú đã đổ mồ hôi lưng, bao nhiêu ý nghĩ đen tối hồi chiều hôm qua đều tan biến. Chú được yên tâm vì bé Huôi đã dựa lưng vào gốc cây thị. Nó nằm yên, như đã ngủ. Đôi trâu đi tới rồi đi lui, được ba rồi đến bốn, năm, sáu, bảy luống cày.
Trong khi đó, từ dưới hang sâu bên gốc cây thị, một con rắn hổ to tướng bò lên. Rắn quấn mình chung quanh bụng bé Huôi, quấn một vòng, hai vòng, ba vòng rồi đến bốn vòng. Sau rốt, rắn ngẫng cổ lên, cao khỏi đầu bé Huôi.
Rắn quơ đầu, hất mạnh cái nón lá trên đầu con bé rồi nghiêng cổ tới, im lìm.
Đột nhiên Tư Thính giựt mình. Đôi trâu đứng lại, không chịu bước tới. Chú quơ roi quất mạnh :
– Xe ! Pháo!
Hai con trâu Xe và Pháo rống lên quậy chân sau xuống bùn. Cả hai day mặt về phía Tư Thính, mắt trợn tròn như giận dữ. Tư Thính hỏi:
– Điên rồi sao chớ? Cái gì?
Nhưng đôi trâu dường như nhìn xéo về gốc cây thị. Tư Thính chợt nhớ tới bé Huôi. Chú trố mắt:
– Trời ơi! Rắn quấn con tôi!
Rồi bỏ đôi trâu, chú cố gắng chạy đến gò đất. Chú lê lết như có sức mạnh nào níu đôi chân trở lại. Bé Huôi vẫn ngồi yên, con rắn hổ quá to, nào kém gì con trăn. Kỳ dị nhứt là cái đầu rắn, cái đầu vươn lên nghiêng tới như cố ý che nắng cho bé Huôi. Vì sợ con rắn nọ siết chặt khiến bé Huôi nghẹt thở hoặc gãy xương ngực, chú đành liều bước đến gần với dụng ý xua đuổi con rắn, nếu cần, chú sẵn sàng chịu chết thay con.
Con rắn nọ day mỏ về phía Tư Thính. Dưới ánh nắng tỏ rõ buổi trưa, chú thấy nó trợn mắt, mớ vảy lấp lánh như hàng trăm miếng kiếng màu xanh đậm.
Nó hạ cái đầu xuống rồi từ từ tháo ra. Trong lúc ấy, Bé Huôi vẫn ngồi xếp bằng, xuôi tay. Khi rắn tháo mình đến vòng chót, Tư Thính chẳng còn kiên nhẫn được nữa. Chú la lớn :
– Con ơi, chạy cho mau !
Nhưng Tư Thính không đủ can đảm và không còn đường nào để chạy. Nhanh như cơn gió lốc, con rắn to tướng nó phóng ngang mặt chú, như để chận đường. Chú té quị xuống bùn rồi lồm cồm đứng dậy, vuốt mặt. Bé Huôi từ từ cựa quậy:
– Ba ! Sao ba té ?
Chú mừng quýnh vì đứa con thân yêu vẫn mạnh khỏe và tỉnh táo. Để vững bụng hơn, chú hỏi đôi ba lượt:
– Con! Biết ba đây là ai không?
Tay chú véo mạnh vào lưng bé Huôi, miệng nói lia lia :
– Con có đau không? Con thức hay ngủ?
Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười:
– Ba nói, con tức cười quá…
Nhưng Tư Thính cứ tiếp tục mở nút áo đứa con gái, xem kỹ làn da. Bấy lâu chú nghe đồn đãi rằng rắn hổ có hơi độc từ trong miệng phun ra.
Bé Huôi nói :
– Đói bụng rồi, về nhà ba nấu cơm cho con ăn nghe ba.
Lập lức chú cõng đứa bé sau lưng, bước nhanh về căn chòi, hai con trâu rống lên, kéo mạnh cái cày vô chủ.
Mâm cơm dọn ra, chú ăn sơ sài vài miếng rồi tháo ách cho đôi trâu vào chuồng. Con rắn to tướng ấy là điềm lạ, chưa biết lành dữ thế nào. Chú muốn gặp ông đạo Đất ở trong cốc phía Đông hòn Me để nhờ giải đáp.
Bé Huôi lại đòi ngủ. Chú khuyên lơn:
– Con đi xóm với ba, nghe con?
– Con muốn ở nhà.
– Rủi con rắn tới đây thì ai cứu con? Ba cõng trên vai, con cứ ngủ. Phải con ở nhà thì nãy giờ ba cày xong công ruộng rồi. Từ rày về sau, con đừng đòi ra gốc cây thị nữa.
Bé Huôi trả lời :
– Hồi nãy đâu phải con rắn!
 
Cốc của ông đạo Đất hiện ra. Đó là cái chòi nhỏ bé lợp bằng tranh. Theo chữ nho, cốc là hang đá. Vùng Hòn Me thiếu những hang đá thiên nhiên. Đá xanh mọc nhô ra từng tảng lớn chỉ vừa cho đôi người ngồi núp mưa nắng mà thôi. Mùa mưa đến, nước chảy tuôn tràn, thỉnh thoảng mấy tảng đá sụp xuống, mang theo mấy giề đất sỏi. Mấy ông lên non tầm đạo vì không tìm được cái hang thiên tạo nên cất tạm căn chòi nhỏ bằng cây. Gọi cốc cho có vẻ huyền bí của một đạo sĩ tu tiên.
Ông đạo Đất gây được khá nhiều uy tín nhờ tài trị bịnh. Bất cứ bịnh nhân nào đến, ông cũng hốt cho một mớ đất để làm thuốc: bỏ cục đất trong một cái túi nhỏ, đeo dưới ngực để trị bịnh tà ma, đem cục đất nướng cho dòn rồi tán nhỏ, uống với nước nóng để trị bịnh ăn uống khó tiêu, đau bao tử. Gặp trường hợp trặc chân gãy tay, ông đạo vẫn dùng đất sét mà bó rịt vết thương.
Tư Thính giữ thái độ im lặng kính cẩn khi đến cốc. Ông đạo nằm dài trên nền đất, không trải chiếu đắp mền gì cả. Khi Tư Thính lên tiếng:
– Kinh chào thầy….
Ông đạo vẫn lim dim, hồi lâu mới chịu gật đầu. Bé Huôi nói khá to, phá rối sư yên tĩnh :
– Ở đây buồn quá, ba ơi! Con muốn về nhà.
Ông đạo Đất lồm cồm ngồi dậy, nhìn bé Huôi. Tư Thính bèn lên tiếng như để biện hộ cho đứa con :
– Nó còn nhỏ, thầy tha thứ cho. Mấy ngày rày nó nói bậy bạ, lại xảy ra vài điều lạ. Bởi vậy tôi tới đây nhờ thầy giúp giùm.
Sau khi sờ tay lên trán bé Huôi, ông Đạo nói :
– Cháu nó vui chơi nhưng mà cặp mắt hơi khác thường.
Không đợi Tư Thính trả lời, ông Đạo nói giọng bí mật:
– Chắc là vừa xẩy ra chuyện gì xúc phạm tới…đất!
‘‘ Xúc phạm tới đất’’ là lời nói mà ông Đạo thốt ra trước tiên, khi gặp bất cứ bệnh nhân nào. Vì quá tin tưởng nên ai nấy đều nhìn nhận rằng ông nói đúng : đau bụng, trúng thực đều do sự ăn uống, thức ăn vẫn là cơm gạo, thịt cá, những món từ đất mọc lên, hoặc đứng trên đất, cảm mạo là do hơi đất ẩm ướt gây ra…
Tư Thính nói:
– Thầy ở trong cốc mà nói chuyện ngoài đời quá đúng. Vậy thì điềm lúc nãy tốt hay xấu đối với gia đình tôi? Con gái tôi sau nầy ra sao?
– Điềm gì? Cứ nói đầu đuôi tự sự. Tôi thấy nó… ngồi trên đất, thiệt là lạ lùng, chú nói trước, tôi nói sau.
– Dạ, nó ngồi trên mô đất cao, ỏ gốc cây thị ngoài ruộng. Tôi lo cày nên không chú ý, dè đâu…
Thế là Tư Thính thuật lại tất cả chi tiết với sự tưởng tượng khá dồi dào của chú. Chú cho rằng con rắn nọ to bằng cây cột nhà, vảy lấp lánh ngũ sắc, khi biến mất thì gió thổi rung chuyển mấy gốc cây cổ thụ. Lúc rắn quấn vào bé Huôi, gió như ngừng thổi, chim trên trời như ngừng bay và hai con trâu như chết đứng trên mặt đất.
Ông đạo Đất chắp tay xá bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói:
– Mô Phật! Cháu bé ngồi trên đất gặp con rắn hổ đất. Tất cả đều là đất. Nhưng con rắn hổ đất to lớn ấy là thuộc vào loại phi thường, tên nó là gì chú biết không?
Tư Thính chắp tay thưa:
– Dạ… chắc là mãng xà vương!
Ông đạo lắc đầu :
– Đó là con rồng đất! Trên mặt đất nầy nó là vua. Vua của đất phù hộ, chầu chực cháu bé chẳng khác nào con rồng vàng chầu chực ông vua ở chốn đế đô. Rồng đất là vua của đất. Rồng đến tìm cháu bé, đó là điềm mai sau có ông vua ông chúa nào đó đến ra mắt. Rồng quấn chung quanh cháu bé để che chở phò hộ, đó là sau nầy cháu bé trở thành một bà hoàng, bà chúa. Chú nên vui mừng đi, ráng chịu cực chừng năm bảy năm nữa.
Tư Thính chắp tay lạy ông đạo Đất:
– Thiệt vậy hả ông? Trời Phật giúp tôi, làm sao tôi tạ ơn? Dè đâu con tôi tốt phước như vậy ? Ông vua nào, ông chúa nào tới đây cưới con tôi?
– Ông chúa hòn hoặc ông chúa đảo, hoặc ông chúa tàu, tàu buôn Hải Nam. Tôi chưa biết rõ. Mai chiều, chú đưa cháu bé trở lại.
Nghĩ một lát, ông đạo hỏi:
– Cháu tên gì, năm nay mấy tuổi?
Bé Huôi cất tiếng sỗ sàng :
– Tên Huôi. Hỏi bao nhiêu tuổi để làm gì ? Bộ tôi ngu dại phải không? Nãy giờ, tôi đâu làm điều gì sai quấy với thầy.
Ông đạo càng tin tưởng nơi tài đoán điềm giải mộng của mình. Lập tức ông khều Tư Thính ra sân mà nói khẽ:
– Thấy chưa? Nó là đứa khôn trước tuổi, ăn nói lanh lợi đâu thua gì người hai ba chục tuổi. Chú nên nuôi dưỡng tử tế. Nó có trí khôn, có nhan sắc. Tôi xem không lầm đâu. Năm bảy chục năm, con Rồng đất mới xuất hiện một lần. Rồng đất mà phò hộ che nắng che mưa cho con Huôi thì phải biết.
Tư Thính chắp tay xá ông đạo;
– Cám ơn ông, về sau nầy nếu may ra con tôi nên danh nên phận thì tôi chẳng bao giờ dám quên ơn lớn.
– Kìa !
Ngón tay ông đạo Đất chỉ ra ngoài sân. Lần nầy chú Tư Thính không khỏi kinh ngạc vì bé Huôi đứng xớ rớ bên bụi cây quỳnh hoa. Nó nâng niu từng lá dài rồi đột nhiên nói to:
– Cây gì mà trồng hoài không trổ bông?
Ông đạo giải thích :
– Cháu ơi! Nhiều khi đôi ba năm nó mới trổ một lần.
– Ông cho cháu vài lá, đem về trồng vài tháng thì nó trổ hàng chục cái bông cho ông coi.
Để chiều theo ý bé Huôi và để biết thêm về tương lai của đứa con gái kỳ lạ nọ, ông đạo Đất hái một lá dài trao cho Tư Thính.
Hai cha con lững thững về nhà theo con đường mòn sình lầy. Tư Thính nghe tim đập mạnh trong lồng ngực. Chú muốn kêu to:
– Con tôi trở thành bà chúa ! Thiệt vậy sao? Trời đất xui khiến hay ma quỷ xúi giục? Nhiều đứa bé khôn ngoan nhưng chết yểu hoặc là trở thành điên khùng, lên đồng lên bóng.
Chú nắm tay con. Căn chòi hiện ra. Trong phút giây chú ngỡ là cung vàng điện ngọc. Chắc còn nhiều năm nữa bé Huôi mới trở thành bà chúa. Chừng đó chú già nua rồi. Chú chỉ muốn có căn nhà cao ráo để dưỡng già…
+++
Hòn Chông là dẫy đồi thấp, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chài lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi to nhứt vẫn là nghề trồng tiêu (hồ tiêu). Với mười lăm hay hai chục dây chăm bón kỹ lưỡng là một gia đình sống dễ dàng. Bao nhiêu đất tốt để trồng tiêu đều thuộc về ông Thần Phước cai quản, vì là người Triều Châu lai Cao Miên rồi lai Việt Nam nên tên ông được đọc là Xìn Phóc.
Mấy người kỳ lão ở địa phương, nhứt là người tá điền, đều kiêng nể, gọi ông là ông Chúa Hòn, ông vua nho nhỏ giàu có và sang trọng nhứt của vùng Hòn Chông. Với số vốn tích trữ từ mấy đời trước, ông thuê nhân công để khai thác mấy ngọn đồi ở vùng kế cận: núi Còm, núi Mo So.
Khi bán hồ tiêu cho bọn thương gia Mã Lai, ông chỉ lấy vàng, không dùng hình thức tiền bạc nào khác. Bọn gia nhân đồn đãi ông dùng số vàng ấy để trấn ếm một vài “linh huyệt” trên Hòn Chông, nơi có phủ thờ của tiên nhân – một người từ Triều Châu qua lập nghiệp ở Hà Tiên, theo chân họ Mạc vào thế kỷ thứ XVIII.
Năm được 86 tuổi, ông Thần Phước giao cho đứa con trai đầu lòng là cậu Hai Minh cai quản tài sản. Cậu Hai chưa được bốn mươi tuổi nhưng đã có một vợ chánh và hàng chục tì thiếp. Ở vùng hẻo lánh, thú vui duy nhất của cậu Hai vẫn là uống rượu và tìm gái đẹp. Vợ chánh sanh đứa con trai duy nhất là cậu Hai Điền. Ăn ở với khá đông tì thiếp từ mười năm qua, cậu Hai Minh không hài lòng cho lắm, vì chẳng nàng nào sanh được con trai.
Một buổi chiều, cậu Hai Minh ra lịnh cho gia nhân:
– Đưa tao qua núi Mo So.
Bọn gia nhân dạ rân lên, đem chiếu bông trải xuống chiếc ghe mui vuông sơn son thếp vàng. Bấy giờ là mùa hạn, sông rạch đều cạn ráo. Bọn gia nhân buộc bốn sợi dây luộc trước mũi và sau lái ghe, mỗi sợi dây chắc chắn ấy nối liền vào một con trâu đực to tướng, gọi là trâu cổ.
Đáy sông quá cạn phơi lớp bùn sình. Ấy thế, mà chiếc ghe vẫn lướt nhanh. Bốn đứa bé mặc áo xanh cỡi trên lưng trâu, quất roi thật mạnh.
Cậu Hai Minh nằm dài, dựa tay vào cái gối thêu:
– Chừng nầy, ở núi Mo So…mình làm cái gì cho vui?
Hai Ú trả lời:
– Dạ, chừng nầy con gái trong xóm tới bờ mới gánh nước và tắm…
– Hay quá!
Vừa cười, cậu Hai vừa vỗ tay lia lịa. Lát sau, cậu gật đầu nhòm Hai Ú:
– Mầy giỏi quá. Mầy chưa dở lần nào hết. Lát nữa tao tới đó bất ngờ. Mầy làm thế nào cho mấy cô gái cứ gánh nước tự nhiên, đừng chào đón.
– Thưa cậu, vậy thì tôi phải đi trước mới được.
– Họ biết trước thì mất vui. Phải tình cờ mới vui.
Hai Ú chắp tay thưa:
– Dạ, đón rước long trọng là chuyện dễ, đón rước tự nhiên là chuyện khó, cần sắp đặt trước. Không khéo mấy cô gái e lệ rồi hoảng chạy thì sao? Cậu cứ tin lời tôi.
Lập tức, Hai Ú đến trước mũi ghe, nhảy lên bờ rất nhẹ nhàng. Anh ta giành lấy một con trâu cổ, cởi sợi dây ra rồi quất mạnh cho trâu chạy nhanh đến núi Mo So. Vì chỉ có ba con trâu kéo nên chiếc ghe tiến chậm. Cậu Hai khen ngợi:
– Thằng Ú giỏi quá, nó biết lo trước lo sau. À! Cái gì mà chộn rộn ở chân núi?
Bọn gia nhân phía sau reo lên:
– Cậu Hai ơi, họ đốt đuốc…
Xóm nhỏ ở chân núi Mo So hiện ra, náo nhiệt như buổi chợ phiên. Khi đến chân núi, cậu Hai Minh gặp ngay Hai Ú. Anh ta cầm bó đuốc đứng sẵn:
– Thưa cậu, mời cậu đến bờ suối…
– Ủa! Tại sao xóm giềng im lặng quá vậy?
– Dạ, tôi ra lịnh cho ai nấy đóng cửa lại ngủ sớm để một mình cậu tới bờ suối, mặc tình nói chuyện với các cô. Tôi đã khuyên các cô cứ gánh nước tự nhiên. Các cô cười giỡn kìa! Cậu nghe không?
Trong phút giây, cậu Hai ngỡ mình sống trong khung cảnh thần tiên nơi thượng giới. Ánh đuốc rọi chập chờn vào vách đá hai bên con đường dốc.
Đêm mười bốn, trăng khá sáng tỏ.
Lúc cao hứng, cậu Hai Minh ra lịnh:
– Hai Ú cứ đi trước, thật xa. Tao đi dưới bóng trăng vui hơn. Cần gì qua bên Tàu mới hưởng được vui thú.
Nhưng Hai Ú như còn ngập ngừng. Anh ta khoát tay đôi ba lần như làm dấu hiệu riêng với người phía sau. Cậu Hai Minh chẳng mảy may chú ý đến chi tiết đó, cứ hỏi đồn dập :
– Tới chưa ? Chà! Mấy cô cười nghe dòn quá. Còn ở phía sau, ai mà đông dữ vậy?
Hai Ú đáp :
– Cậu coi thử ! Đó là mấy người khiêng rượu cho cậu uống.
– Thằng nầy giỏi thiệt.
Thật ra Hai Ú đã dàn cảnh khéo léo từ lúc nãy với Mười Hấu – người có khá nhiều quyền thế ở vùng núi Mo So. Mười Hấu rất tinh thông võ nghệ, con gái ông ta thuộc vào hàng đẹp nhứt trong vùng. Khi gặp Mười Hấu, Hai Ú đưa ra ý kiến:
– Ông Mười muốn làm giàu không ? Đây là dịp may hiếm có. Cậu Hai Minh tới để tìm gái đẹp. Nếu ông Mười vui lòng, làm thế nào cho cậu Hai được thỏa mãn thì…
Mười Hấu nhớ đến đứa con gái tên là Ngó :
– Con gái tôi chắc hạp nhãn với cậu Hai Minh.
Hai Ú đáp:
– Cậu Hai chỉ thích như vậy thôi! Ông Xìn Phóc già khú rồi. Bây giờ, cậu Hai Minh là ông Chúa Hòn chớ còn ai đâu xa lạ.
Ngọn suối ở núi Mo So quá nhỏ hẹp. So với vùng cao nguvên thì đó là nơi dơ bẩn kém thơ mộng, nhưng ở chốn sình lầy nước mặn đồng chua thì quả là mạch nước tiên ngọt ngào và tinh khiết. Hai Ú dừng lại báo tin trước :
– Mấy cô nên vui vẻ… bởi vì cậu Hai thương mấy cô, chịu khó lặn lội tới đây. Cậu tới kìa. Đừng làm cho cậu giận. Ngày mai các cô sẽ được ban thưởng, mỗi cô ít nhất được một lượng vàng. Đó là chưa nói sau nầy hễ túng thiếu tiền bạc thì các cô tới gặp tôi, tôi nói giùm một tiếng với cậu Hai là xong.
Câu Hai Minh cười dòn:
– A ha ha! Đêm nay là đêm vui sướng nhất của đời tôi! Mấy cô cứ tự nhién, đẹp quá. Hai Ú đâu rồi ? Đốt thêm vài ngọn đuốc.
Mười Hấu và đứa gia nhân để cần xé đựng hàng chục hũ rượu trên tảng đá rồi nói nhanh:
– Thưa cậu, tôi có đuốc…
Cậu Hai vỗ vai Mười Hấu :
– Chú ở đâu ? Tôi nhớ gặp mặt vài lần rồi. Đuốc ở đâu? Đốt lên.
Ba ngọn đuốc cháy chập chờn. Trong đám thôn nữ rõ ràng cô Ngó là hoa khôi.
Nàng mặc áo ngắn tay, đứng bỡ ngỡ trong dòng suối, nước ngập lên tận gối. Ánh sáng chói chang làm nàng giựt mình :
– Ai làm chi vậy? Chỗ này… của người ta gánh nước.
Mười Hấu hơi e ngại, nói khéo cho con nghe:
– Ngó ơi! Cậu Hai tới thăm là vinh hạnh cho con. Con cứ vui cười.
Cậu Hai Minh hơi xúc động. Mấy tháng qua, cậu chỉ lân la với mấy nàng hầu thiếp ở trong phòng kín đáo, toàn là những cô gái ăn mặc sạch sẽ và ốm yếu mảnh khảnh. Cô Ngó đúng là một pho tượng, căng đầy nhựa sống. Cậu Hai cầm ngọn đuốc, đến gần. Cô lính quýnh, bước ra giữa dòng. Cậu vói tới, nắm tay cô mà kéo lại:
– Lên bờ cho vui. Tôi đã nói là cứ tự nhiên. Tôi tới đây để tìm cái… tự nhiên mà.
Cô Ngó mỉm cười, để lộ hai hàm răng đều đặn:
– Dạ, mắc cỡ lắm, cậu Hai! Mình mẩy ướt mem như vầy khó coi quá, thành ra vô lễ với cậu.
Hai Ú nói:
– Cô Ngó cứ lên bờ, ngồi bên tảng đá để nghe cậu Hai dạy việc.
Cậu Hai dìu người đẹp lên bờ, Mười Hấu bèn đem bầu rượu trao tận tay:
– Xin mời cậu…
– Ngon lắm ! Ngon Iắm. Tôi uống rượu một mình coi sao được? Xưa nay vua đâu uống ruợu một mình. Vua uống thì các quan đại thần và hoàng hậu đều uống. Đem rượu ra, uống không hết thì đổ bỏ xuống dòng suối tiên nầy.
Hai ba cô gái gánh nước đứng gần cô Ngó cũng hưởng được chút ân huệ, nhưng làm sao các cô nuốt được thứ rượu đế quá cay, quá nồng! Hai Ú nhắc nhở từng chập:
– Cứ uống. Uống không nổi thì cứ làm bộ đưa lên môi.
Bầu rượu được cậu Hai đưa sát môi cô Ngó. Cô nhăn mặt liếc qua Mười Hấu như để hỏi ý kiến. Mười Hấu nói:
– Uống đi con. Cậu Hai đoái tưởng tới con đó.
Cậu Hai lim dim đôi mắt, một tay vuốt mái tóc người đẹp, một tay nghiêng bầu rượu. Rượu đổ tràn xuống ngực người đẹp. Cậu đưa tay ra phía sau:
– Rượu nữa! Rượu nữa! Cô tên gì? Uống rượu không được thì chắc là tắm bằng rượu được…
Cô Ngó ôm ngực van nài:
– Lạnh lắm… Cho tôi về.
– Tôi cho cô về… chiếc ghe của tôi. Hai Ú đâu rồi? Sửa soạn về. Nãy giờ tao cũng hơi lạnh. Muỗi cắn quá. Xứ nầy nhiều muỗi. Bây giờ cô Ngó cầm đuốc dẫn đường cho tôi xuống bến.
Hai Ú đi sát bên cô Ngó mà nói khẽ:
– Nên hầu hạ khéo léo cho cậu Hai vui. Tài sản của ông Chúa Hòn để lại cho cậu Hai, nghĩa là để cho cô. Cậu Hai nhiều khi khờ dại, cô nên hy sinh để cho cha mẹ và chòm xóm được nhờ.
Dân chúng hai bên đường ngồi nép mình bên cánh cửa mà trông ra. Họ vừa mừng vừa sợ. Nếu cô Ngó được cậu Hai đem về Hòn Chông làm tì thiếp thì cha cô là Mười Hấu trở nên hách dịch, ai chịu cho nổi.
Cô Ngó vào nhà, thay quần áo mới, trong khi cậu Hai Minh nằm trên ghe, thúc hối từng chập:
– Trốn rồi sao chớ! Muỗi cắn chết. Tụi bây lo cho tao chớ.Tao hơi mệt rồi đó. Đắp mền cho tao. Con nhỏ đó sao chưa xuống đây quạt muỗi cho tao!
Lát sau, chiếc ghe hầu trở về Hòn Chông, bốn con trâu kéo hì hục. Tội nghiệp cho mấy thằng bé cỡi trâu. Chúng nó ngủ gục từng chập, bị Hai Ú chửi rủa không ngớt mồm.
Cô Ngó ngồi bên gối của cậu Hai, cầm cây quạt lông mà phe phẩy, cậu Hai khen ngợi từng chập:
– Giỏi quá, khỏe quá! Quạt mạnh tay cho muỗi bay bớt thì ta mới ngủ được. Về Hòn Chông ít muỗi mòng hơn. Mỗi ngày, cô em cứ ở không mà quạt cho ta ngủ, khỏi gánh nước.
Cậu Hai Minh đến Hòn Chông vào lúc hừng sáng. Hai Ú cõng cậu lên nhà. Cô Ngó hơi sợ vì lần đầu tiên trong đời, cô bước vào căn nhà sang trọng, đúng ra là ba bốn căn nhà cất chung trong vòng rào kiên cố.
Năm sau cô Ngó hạ sanh một đứa con trai. Mấy nàng tì thiếp khác lấy làm bất mãn và ganh tị. Bà chánh thất lo ngại hơn ai cả, vì đứa bé nọ có thể tranh giành gia tài và ngôi vị với đứa con của bà. Bà đến gặp cậu Hai để cằn nhằn :
– Ông làm như vầy còn gì thể diện !
Cậu Hai đáp :
– Tôi là… ông Chúa Hòn. Ba tôi đã trao quyền hạn cho tôi. Hằng ngày, nếu không đùa giỡn thì tôi làm gì bây giờ? Tôi thích đi đó đi đây, lâu lâu uống rượu say một lần.
Bà chánh thất nói khẽ :
– Con Ngó là đứa mà tôi không ưa. Nó làm mất thể diện dòng họ.
– Trời ơi! Bà đừng vu cáo mà tội nghiệp nó. Nó là gái quê, là tì thiếp, hằng đêm cầm quạt đuổi muỗi cho tôi ngủ. Nhờ nó mà bà được rảnh rang, vả lại, hễ gặp bà là nó chắp tay xá…
– Nó sanh đứa con trai. Nó là con của thằng Mười Hấu quê mùa dốt nát ở núi Mo So. Mười Hấu trở thành… cha vợ của ông Chúa Hòn, thiên hạ đàm tiếu nhiều lắm rồi.
Cậu Hai bị chạm tự ái nên quát to :
– Bà đừng nói vậy. Muốn tôi đuổi con Ngó sao? Tôi chưa đuổi nó được trong năm nay, nhưng tôi hứa là vài năm nữa nó không còn ở nhà nầy.
– Nhưng thằng con của con Ngó! Nay mai nó tranh quyền hạn với con tôi thì sao? Ông nên suy nghĩ lại…
Câu nói ấy khiến cậu Hai Minh bâng khuâng. Lập tức, ông vào phòng riêng nằm dài, vỗ trán cho bớt nhức đầu. Nãy giờ, cô Ngó đã nghe ngóng được câu chuyện. Chờ khi cậu Hai ngồi dậy uống chén trà, cô mới than thở;
– Tội nghiệp em, nếu ở đây hoài, chắc có ngày em chết vì bà lớn. Tốt hơn, ông cho em bồng con về núi Mo So để rồi xin vô chùa, đi tu.
– Đâu được !
Đôi mắt đen huyền và làn da trắng mịn của cô Ngó khiến cậu Hai ngây ngất. Cậu vuốt ve cô nhưng cô ngồi lui ra, cầm cây quạt mà phe phẩy, cánh tay với tới. Những cảnh ghen tương giận hờn và tranh chấp quyền lợi đã xảy ra quá nhiều lần, nào riêng gì trong năm nay. Tin rằng thời gian trôi qua thì mọi việc đều tự dàn xếp êm thấm, cậu Hai uống thêm vài chén rượu rồi ngủ khò. Cô Ngó ngưng tay, không quạt nữa. Đến trưa, khi cậu mở mắt thức dậy thì cô lanh tay cầm cây quạt đứng thẳng người phía sau lưng. Đột nhiên cô buông tay. Cây quạt rơi xuống nền gạch, cán bằng ngà gây tiếng động vừa khô khan, vừa tức tối.
Cậu day lại.
Cô Ngó giả vờ như giựt mình, vội cúi mình lượm cây quạt đem lên, xem kỹ rồi run rẩy đến quì bên cạnh cậu Hai:
– Ông tha cho tôi. Cán quạt nứt bể rồi. Cây quạt nầy quý giá lắm.
Nói xong, nàng ngả người, quơ tay lên trời, kêu lên ú ớ mấy tiếng rồi nằm dài trên gạch. Cậu Hai đứng dậy quì bên cạnh đỡ nàng lên :
– Em! Sao vậy? Tôi ở đây thì em cứ ở đây. Tôi chưa nói điều gì mất lòng em mà. Làm vậy tôi buồn…
Cô mở mắt ra, nói khẽ :
– Em chưa đủ sức để hầu hạ ông, ông nên tìm người khác. Em đâu dám hờn giận ai. Chẳng qua là em thức quá nhiều. Nãy giờ, em đứng mà quạt không nghỉ tay. Mấy ngón tay tê cóng, phần thì hồi sáng đến giờ em chưa rảnh để ăn món gì ráo…
Lần đầu tiên trong đời, cậu Hai để rơi hai giọt nước mắt. Suốt đêm rồi, Ngó ngồi ngoài mùng mà quạt cho cậu được mát mẻ, đến canh ba, khi giật mình thức dậy, cậu vẫn thấy cô ngồi lì một chỗ, bảo đi ngủ thì cô trả lời rằng còn đủ sức quạt hầu. Rồi đến trưa nay, cô Ngó lại đứng quạt. Đúng là một cực hình mà cô chịu đựng không một lời than thở.
Cậu Hai nói:
– Mệt thì em lên giường tôi.
Cô Ngó lắc đầu :
– Em đâu dám. Rủị bà chánh thất bắt gặp, chắc em bị giết…
– Tôi gọi đứa khác vô đây để em nghỉ tay. Từ rày về sau, em khỏi làm công việc cực nhọc nầy.
– Thôi, cho em về mà nuôi con. Nó là con trai, em thương nó lắm.
Hai tiếng ‘‘con trai’’ khiến cậu Hai thêm kiêu hãnh. Đây là đứa con trai thứ nhì của cậu, phải nuôi nó bằng được để dự phòng trường hợp đứa con trai của bà vợ lớn chết thình lình. Cậu đáp:
– Em ở đây. Người chánh thất giận vì em có con trai, tôi biết. Bây giờ, em tìm cách gởi đứa con đó đi xa, đặt tên xấu xí. Hễ mang tên xấu thì làm sao nó trở về đây chia gia tài được?
Thế là hôm sau, mọi sự thắc mắc trong gia đình cậu Hai Minh đều được giải quyết êm ái. Đứa con mới sanh phải mang tên là thằng Cẩu – nghĩa là con chó. Mười Hấu được mời đến Hòn Chông để lãnh đứa cháu ngoại đem về, nuôi tại núi Mo So. Cậu Hai ban cho Mười Hấu mười lượng vàng. Cô Ngó bị đày xuống nhà bếp, lo cơm nước cho cậu Hai.
***
Mười lăm năm trôi qua.
Ông Thân Phước từ trần. Cậu Hai Minh trở thành ông Chúa Hòn. Mấy năm liên tiếp, vườn tiêu ở Hòn Chông được mùa, cậu Hai ăn xài như nước. Bọn thương gia ở Xiêm, ở Mã Lai ra vào tấp nập. Dân chúng không gọi cậu là cậu Hai nữa. Cậu mặc áo gấm, chiếc áo truyền tử lưu tôn từ mấy đời.
Tất cả tiền bạc, sổ sách chi thu của cậu Hai đều do ông Bá Vạn nắm giữ. Ông nầy là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi hơn 60. Hằng ngày ông Bá Vạn tiếp xúc với bọn thương gia và bọn tá điền mướn đất trồng tiêu. Khi cần dùng tiền bạc, cậu Hai nói một tiếng là ông xuất ra.
Sự tín nhiệm to lớn ấy sở dĩ có là do lòng ngay thẳng của chính ông Bá Vạn. Lúc hấp hối, ông Thần Phước gọi cậu Hai đến mà căn dặn :
– Bá Vạn là người giúp đỡ dòng họ mình lừ lâu đời. Ba chết đi, con trở thành ông Chúa Hòn thì cứ xem ông Bá Vạn là tể tướng.
Ngày giỗ ông Thần Phước năm ấy, ông Bá Vạn quỳ bên bàn thờ. Ông Chúa Hòn – tức là cậu Hai Minh- mặc áo gấm ngồi uống rượu, bên cạnh là cậu Hai Điền, đứa con mà cậu với bà chánh thất sanh ra.
Hai Điền năm ấy được 30 tuổi, tánh tình kiêu hãnh, thích săn heo rừng và thích ra các hải đảo mà ăn uống, giữa cảnh trời nước mênh mông. Cậu ngồi im lặng, bực dọc vì nghi lễ phiền phức.
Người bày nghi lễ ấy, chính là ông Bá Vạn.
Cậu hỏi:
– Ông Bá Vạn ơi ! Tới giờ chưa ?
Ông Bá Vạn xem cậu Hai Điền là trẻ con nên ung dung ra trước sân xem bóng nắng. Lúc sau ông trở vô, đến trước mặt ông Chúa Hòn mà thưa:
– Đến giờ thắp nhang, thưa ông.
Ông Chúa Hòn day lại:
– Để đó cho ta…
Nhưng ông Bá Vạn đã lanh lẹn đến cạnh bàn thờ, lấy ba cây nhang thật to, loại nhang trầm hương do mấy người thương gia từ Quảng Nam đem vào dâng tặng hồi năm ngoái. Ông Bá Vạn đốt nhang, cúi đầu trao cho Chúa Hòn.
Từ lâu rồi, cậu Hai Điền không ưa ông Bá Vạn vì ông nầy quá nịnh bợ. Cậu muốn, buổi lễ nầy chấm dứt nhanh chóng để còn thời giờ lên chót hòn săn heo rừng. Bọn gia nhân cho biết rằng mấy ngày qua, dân chúng sợ hãi vì con heo rừng  ‘‘độc giác’’ từ Dương Hòa chạy lạc tới, con độc giác nầy đã đánh chết hai người thợ săn. Cậu muốn giết nó để rửa hận cho những người quá cố, đồng thời cũng là để biểu dương ‘‘khí tượng’’ của một ‘‘thái tử’’ trẻ tuổi. Cậu chép miệng, quỳ xuống phía sau cha.
Ông Chúa Hòn là cậu Hai Minh cầm ba cây nhang. Mọi người đều im phăng phắc vì giờ phút hành lễ đã đến. Ông Bá Vạn bỗng nhiên lại chắp tay xá ông Chúa Hòn rồi nói:
– Thưa ông, ông là ông Chúa trong vùng rộng lớn nầy, hàng vạn người từ bao đời rồi có cơm ăn áo mặc là nhờ công đức bao la trời biển của tiên nhân để lại.
Nghe tới đó, cậu Hai Điền thêm bực tức, nhưng vì nể oai quyền của cha và muốn giữ trật tự nên đành im lặng mà chửi rủa lầm thầm.
– Tao còn nhỏ, ba tao hiền lành. Bằng không thì tao đuổi mầy từ lâu. Ai dạy mầy cái thói nịnh bợ quá mức? Già nua lụm cụm rồi mà nết na không đàng hoàng. Cái gì mà công lao trời biển? Chi cho lắm mà ruồi nó bu….
Cậu day lại phía sau, nơi hàng trăm người đang quỳ, dài ra tới ngoài sân cỏ. Đó là những bô lão đã làm tá điền cho ông Thần Phước. Cậu nhăn mặt; bịt mũi như để phản đối ngầm ông Bá Vạn.
Trước bàn thờ, ông Chúa Hòn cầm ba cây nhang đưa lên ngang trán, khấn vái rồi hỏi:
– Bá Vạn! Xong chưa? Bây giờ ta cắm nhang vào lư nhang.
Ông Bá Vạn đáp:
– Gia đình tôi hưởng bổng lộc mấy đời của tiền nhân, vậy xin ông cho phép tôi  ‘‘thỉnh’’ mấy cây nhang nầy, đem cắm vào lư nhang.
Cắm xong mấy cây nhang, ông Bá Vạn đứng khoanh tay. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Lễ thành chưa?
‘‘Lễ thành’’ hoặc ‘‘lễ tất’’ là danh từ xưa, nghĩa là xong buổi lễ. Ông Bá Vạn nói, giọng run run:
– Thưa ông, bâv giờ buổi lễ mới bắt đầu.
– Ủa ! Sao vậy? Thức ăn dọn lên từ nãy giờ. Chẳng lẽ ta đứng mãi mãi trước bàn thờ. Mọi khi, ta nhớ rằng người trưởng tộc như ta chỉ thắp nhang rồị… ngồi chờ cho tuần nhang cháy dứt.
Cậu Hai Điền lắng tai nghe ông Bá Vạn trả lời:
– Dạ, ông ngồi mà chứng kiến. Hôm nay, tôi có rước bọn học trò lễ ở đình Dương Hòa tới. Bọn nầy giỏi lắm, biết cách cúng kiếng theo lễ nghi… ở ngoài triều đình Huế.
Vì tò mò, vì thích được nịnh bợ nên ông Chúa Hòn gật đầu :
– Cứ gọi bọn nó vào đây cho ta xem. Cúng theo nghi lễ ở triều đình, phải lắm. Ta là Chúa Hòn. Cha ta trước kia cũng là ông chúa. Vua với chúa nào có khác gì đâu.
Ông Bá Vạn mừng rỡ vô cùng:
– Ông nói chí lý. Vua trị vì một nước. Chúa thì trị vì một vùng… giang sơn gấm vóc, như ông vua nhỏ.
Vì quỳ gối quá lâu hơi mỏi nên cậu Hai Điền cứ cựa quậy đôi chân. Cậu toan đứng dậy, chửi vào mặt Bá Vạn một câu cho hả giận, đại khái như : ‘‘Tao chán cái trò nịnh bợ’’. Nhưng ông Bá Vạn cứ trầm tĩnh, khoát tay về phía sau. Hai tên học trò lễ bước vào, mặc áo dài mầu vàng, đầu đội mão có sợi dây lòng thòng xuống nửa lưng. Hai tên gia nhân khiêng cái bàn nhỏ và cái chuông, để bên cạnh. Bá Vạn trình bày:
– Thưa ông, nếu ông cho phép thì tụi nó bắt đầu…
Tuy chưa hiểu những gì sắp xảy ra, ông Chúa Hòn vẫn gật đầu :
– Ta cho phép.
Tiếng chuông thứ nhứt gõ lên.
– ‘‘ Boong…’’
Hai người học trò lên đến bàn, mỗi đứa bưng một chén cơm, nâng ngang trán rồi bước nhịp nhàng, nhún chân xuống, đá một chân rồi bước, rất chậm rãi. Hai cậu quỳ xuống, để hai chén cơm lên bàn thờ.
Ông Bá Vạn chắp tay :
– Xin ông chúa… hành lễ.
Ông Chúa Hòn trợn mắt:
– Hành… cái gì?
– Dạ, ông cầm đôi đũa nầy mà xẻ mở cơm trong chén rồi trộn lại..
Để khỏi mất thì giờ, ông Chúa Hòn làm theo lời dặn của ông Bá Vạn. Một tiếng chuông vang lên. Hai người học trò lễ nâng hai chén cơm, để trên bàn thờ bên cạnh lư nhang. Rồi lại một tiếng chuông khác, hai đứa đứng bưng hai dĩa thịt luộc quỳ xuống, ông Chúa Hòn cầm đũa trộn mấy miếng thịt…
Nghe tiếng chuông hơi nhàm ấy, cậu Hai Điền ngáp dài, lim dim đôi mắt. Chừng nghe hồi chuông liên tiếp, cậu đứng dậy trước hơn ai hết. Ông Chúa Hòn chắp tay xá bàn thờ rồi đi nhanh ra sân, mồ hôi ướt đẫm sau lưng. Ông Bá Vạn vuốt râu cười nói với hai đứa học trò lễ:
– Tụi bây làm coi được quá !
Cậu Hai bĩu môi khi chạm mặt ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn chắp tay :
– Tôi mong sau nầy được theo chân cậu. Đời tôi thọ ơn gia đình cậu quá nhiều, như ơn trời biển.
Nhịn không được nữa, cậu Hai Điền quát to:
– Già rồi mà chưa nên nết. Tao ghét mấy thằng nịnh !
Ông Bá Vạn vẫn bình tĩnh:
– Tội nghiệp tôi mà cậu Hai. Ở đây đông đảo, tôi phạm lỗi gì, xin cậu rầy la lúc về nhà. Ăn thua với người già như tôi để làm gì?
Nhanh như chớp, cậu Hai Điền bước tới chụp cái tô đựng nước mắm, ném mạnh vào mặt ông Bá Vạn. Ông nầy né tránh không kịp nên mặt mày râu ria dính nước mắm. Như chưa hả cơn giận, cậu Hai ném cái tô đựng thịt kho vào ngực ông Bá Vạn. Hai cái tô rơi xuống gạch, bể nát.
Cử tọa nhốn nháo lên. Mấy ông bô lão không muốn dính líu đến cuộc tranh chấp nầy, chạy nhanh ra sân, mỗi người đi tản mác một hướng để khỏi làm nhân chứng. Ông Chúa Hòn hỏi :
– Chuyện gì vậy?
Ông Bá Vạn lấy tay vuốt mặt, trả lời:
– Thưa ông, không có gì hết.
Cậu Hai Điền hơi giựt mình, biết mình vừa làm một chuyện gây ra nhiều hậu quả tai hại. Trong khi đó, ông Bá Vạn ung dung đến bên hè, đứng lại gần lu nước, múc một gáo nhỏ rồi rửa mặt, rửa thật chậm.
Cậu Hai Điền ra khỏi cửa, đến nhà riêng ở gần phủ thờ. Đứa nữ tỳ lại gần ông Bá Vạn, nói khẽ :
– Để con về nhà, đem cái áo khác cho ông thay.
Ông Bá Vạn lắc đầu:
– Thây kệ tao !
Tên hộ vệ của ông Bá Vạn múc thêm gáo nước rồi yêu cầu :
– Ông cúi đầu xuống, tôi rửa trên tóc cho…
Vài người tò mò đứng ở góc sân nhìn cảnh tượng ấy.Tên hộ vệ quát to:
– Có gì lạ mà coi! Hồi nãy, cậu Hai say rượu. Đi chỗ khác, mấy người điếc sao chớ?
Như đau đớn tột độ, ông Bá Vạn ngồi xuống bên thềm phủ thờ. Đôi mắt ông đổ sao, lỗ tai lùng bùng. Hơn mười năm qua, chưa bao giờ ông bị hạ nhục giữa đám đông như thế. Cậu Hai Minh được dân chúng tôn là ông Chúa Hòn thì mặc nhiên ông Bá Vạn là bực tể tướng. Ông lo gìn giữ sản nghiệp cho cậu Hai, tại sao con ruột cậu Hai lại đành cư xử tàn nhẫn như thế, còn hơn là đối với bọn tôi đòi trong nhà.
Tên hộ vệ nói:
– Xin ông về, ở đây ích lợi gì!
Ngoài đường, người qua kẻ lại rộn rịp, đa số là bọn dân phu làm công trong vườn trồng hồ tiêu. Dường như ai nấy đều biết chuyện ông Bá Vạn bị tạt thịt kho và nước mắm vào đầu, vì cái tội nịnh bợ ông Chúa Hòn.
Họ liếc vào phủ thờ. Lúc ban đầu, ông Bá Vạn cúi mặt. Nhưng lát sau, ông ngẫng đầu lên:
– Ích lợi chớ. Tao ở đây cho thiên hạ thấy bằng cớ.
Nói đến đó, ông tự kềm chế lại. Tư tưởng ông đã đến lúc dứt khoát, từ nay trở đi ông có thái độ sẽ dứt khoát. Ông Chúa Hòn phải chết. Cậu Hai Điền, người thừa kế của ông Chúa Hòn, người tạt tô thịt kho và tô nước mắm, cũng phải chết. Trong phút giây, ông Bá Vạn nắm chặt hai bàn tay để tập trung sinh lực, mắt sáng lên. Tuổi ông già rồi, ông không thể chờ đợi… thời gian trả lời. Những cuộc âm mưu truất phế, tranh giành ngôi thứ trong truyện Tàu đời Đường, đời Tây Thái Hậu cứ hiện ra. Nhưng giết ông Chúa Hòn, giết cậu Hai Điền bằng cách nào cho khéo léo, cho dân chúng không phản đối? Bên cạnh ông Chúa và cậu Hai có hàng chục vệ sĩ tài ba và mạnh khỏe, ông Bá Vạn lẩm bẩm:
– Mình nên lấy độc trị độc…
Nghĩ vậy, ông đứng thẳng người, nói với tên hộ vệ:
– Đưa tao về. Mầy đi trước. Tao cứ ăn mặc dơ dáy như vầy cho thiên hạ thấy cái tội tày trời của cậu Hai Điền. Hôm nay tao xấu xí bao nhiêu thì ngày nào đó, tao sạch sẽ bấy nhiêu. Hôm nay tao khiếp nhược, ngày nào đó tao trở thành người anh hùng.
Tên hộ vệ can gián:
– Ra tới cổng rồi ! Ông nên dè dặt lời nói.
Tên hộ vệ vừa sợ vừa mừng. Tài sản của ông Chúa Hòn đâu phải là ít, nào châu báu ngọc ngà, nào đất ruộng và vườn tiêu. Muốn đi tuần tra vùng đất bao la nầy, phải đi hai, ba ngày mới giáp vòng. Một khi ông Bá Vạn soán ngôi Chúa Hòn thì tên hộ vệ sẽ trở thành nhân vật quan trọng, một ông Bá Vạn thứ nhì.
Nhưng bao nhiêu nguy hiểm sẽ xẩy ra.
Ông Bá Vạn nói:
– Ai kia?
Tên hộ vệ giựt mình, nhòm qua bên kia đường. Bên quán nhỏ, cô Ngó đứng trang nghiêm, cầm trong tay năm bảy đóa hoa sen còn búp. Cô Ngó cúi đầu chào ông Bá Vạn. Đột nhiên mà ông Bá Vạn nảy ra một sáng kiến thần tình. Bấy lâu, cô Ngó được ông Chúa Hòn tưng tiu, nhưng cô buồn vì đứa con trai là thằng Ba Cẩu bị đuổi ra xa, nuôi tại nhà của ông ngoại nó là Mười Hấu ở núi Mo So. Nếu giết ông Chúa Hòn, ông Bá Vạn sẽ đưa Ba Cẩu lên thay thế, vì nó là con trai thứ nhì của ông Chúa.
Cậu trai thứ nhứt, kẻ thù của ông Bá Vạn sẽ bị giết dễ dàng. Cậu ta ưa đi săn heo rừng.
– Thời cơ đã tới !
Ông Bá Vạn mỉm cười, cúi đầu đáp lễ rồi đến bên kia đường. Cô Ngó lên tiếng trước:
– Ông Bá Vạn chưa về sao? Lễ giỗ đã tàn từ nãy giờ. Ủa! Sao lạ quá?
Rồi cô cau mày, nói khẽ với ông Bá Vạn:
– Thiên hạ tò mò.
Tên hộ vệ khoát tay. Mấy người trong quán hoảng sợ rút lui vào trong, đồng thời ông Bá Vạn và cô Ngó từ từ rảo bước. Cô Ngó giả vờ như chưa biết gì ráo nên hỏi dọ để thử phản ứng của ông Bá Vạn:
– Trên đầu ông, trên áo… còn dính cái gì?
Ông Bá Vạn muốn nhờ cô giúp một tay quan trọng trong kế hoạch truất phế sắp tới, nên trình bày vắn tắt:
– Tôi chưa dám hờn giận cậu Hai Điền. Cậu còn nhỏ mà bất chấp người có tuổi tác như tôi. Chắc cô nghe thiên hạ nói nhiều rồi.
– Tôi nghe nói nhưng chưa vội tin. Chừng gặp ông, tôi mới hiểu rằng cậu Hai cư xử quá đáng. Bởi vậy…
Ông Bá Vạn nín thinh, chờ nghe cô Ngó nói tiếp :
– Bởi vậy, tôi mừng vì thằng Cẩu, con tôi được nuôi nấng ở nơi quê mùa hẻo lánh. Nếu nó sống sung sướng như con trưởng nam thừa hưởng gia tài thì ai cấm cản nó làm chuyện phách lối.
– Cám ơn cô. Cô nghĩ tới tôi, tôi không quên ơn đó. Xin cô kín tiếng, nói chuyện lâu bất tiện.
Dứt lời, ông Bá Vạn bước chậm rãi về tư thất ở cách xa nhà ông Chúa Hòn gần mười công đất. Dọc đường, nhiều người đứng khép nép nhìn cái áo lem lấm với thái độ mỉa mai châm chọc. Mấy bệt nước mắm vẫn chưa khô. Vì bực dọc, bị hạ nhục lây nên tên hộ vệ nhiều phen nổi giận, quát mắng những kẻ tò mò. Ông Bá Vạn chỉ khuyên nhủ hắn :
– Đừng rầy rà họ. Họ được quyền chứng kiến sự nhục nhã của tao hôm nay. Chắc là họ nói lén, chê tao là thằng già nịnh bợ, khiếp nhược, hèn hạ. Dư luận thế gian, hơi đâu mà nghe. Họ ghét tao, họ khinh khi tao nhưng rồi đây họ sẽ sợ tao.
Khi đến nhà, ông Bá Vạn vào phòng cởi cái áo lem lấm hôi tanh ra. Đứa nữ tỳ đến gần, đón chiếc áo.
– Ông đưa cho con giặt sạch sẽ.
Ông Bá Vạn trợn mắt:
– Để đấy ! Lấy cái tráp đằng kia cho tao. Phải để nguyên mùi vị hôi hám để sau nầy làm bằng cớ.
Rồi ông xếp cái áo thật kỹ, để gọn trong cái tráp, khóa lại :
– Tao gối đầu trên cái tráp nầy. Bây giờ, mi múc thau nước rửa đầu, chải tóc cho tao.
Lúc ngồi uống trà, ông Bá Vạn chợt thấy tên hô vệ bước vào :
– Thưa ông, ông Chúa Hòn nhắn gặp.
Ông Bá Vạn đáp :
– Tao đương buồn vì chuyện xẩy ra lúc nãy nên không tới được. Cứ trả lời như vậy. Ai tới đây nhắn tin, mời người đó vô đây.
Chừng gặp mặt đứa nữ tỳ, ông Bá Vạn nhận lời ngay, hứa đến gặp ông Chúa Hòn trong giây lát. Nữ tỳ nói khẽ:
– Thưa ông, ông Chúa Hòn đã biết cái tội vô lễ của cậu Hai. Ông hứa sẽ rầy la…
Khung cảnh vui vẻ trên giường của ông Chúa Hòn khiến ông Bá Vạn ngạc nhiên, ông Chúa cứ uống rượu, sau lưng có cô Ngó đứng quạt hầu. Cô Ngó liếc về ông Bá Vạn, gật đầu như khuyên nhủ ông đừng nóng nảy, ông Chúa Hòn reo lên:
– Bá Vạn tới rồi! Ngồi trên giường nầy cho thân mật hơn.
Giường là cái sạp đóng bằng cây cẩm lai, chân thấp, phía trên có đóng khung sơn son thếp vàng để giăng cái mùng bằng nhiễu đỏ.
Mùng đươc vén lên khéo léo. Ông Chúa Hòn vỗ vai Bá Vạn:
– Cứ ngồi. Ta mới sắm cái giường nầy, ông thấy sao ?
– Dạ, đẹp lắm.
Ông Chứa Hòn ngồi ưỡn ngực, dựa hai tay trên hai cái gối vuông rồi nói chậm rãi:
– Tháng sau, ta tặng cho một cái giường như vầy. Đó là danh dự lớn của người thành công, thành danh.
– Dạ, tôi sắm một cái giường rồi.
– Nhưng chưa sơn son thếp vàng. Bấy lâu, ông giúp gia đình ta nhiều lắm mà ta chưa ban thưởng.
Câu nói ấy khiến ông Bá Vạn bớt giận phần nào. Chúa Hòn gọi ông bằng ông, đó là sự biệt đãi. Nhưng tại sao ông Chúa chưa đề cập tới chuyện cậu Hai Điền phải xin lỗi về cái tô thịt kho và cái tô nước mắm? Ông Chúa Hòn tiếp lời:
-Ta ngủ trên cái giường, viết chữ trên cái giường, uống trà trên cái giường. Nhiều người hút á phiện, đánh bài và khảy đàn trên cái giường, ngồi tại đó, nằm tại đó. Khi ta cỡi hạc qui tiên thì con cháu giành cái giường ấy mà thờ. Bởi vậy, về sau, gọi là cái giường thờ. Ta tặng cho một cái giường. Ta muốn ban thưởng bởi vì lúc nãy có điềm lạ quá.
– Dạ điềm gì?
– Hai con cò trắng từ đâu bay tới, chạy lững thững vô nhà. Theo ông thì đó là điềm lành hay điềm dữ?
Ônq Bá Vạn nghĩ kế hoạch giết hoặc truất phế ông Chúa Hòn rồi đem thằng Cẩu, con cô Ngó lên thay thế, đồng thời ông tìm cách giết luôn cậu Hai Điền để rửa hận! Dư luận sẽ tha thứ, vì chừng đó ông vẫn tiếp tục đóng vai trò quản gia cho thằng Cẩu, đứa con rơi của ông Chúa Hòn. Con cò giống như con hạc, ở đồi núi Hà Tiên làm sao con hạc sống được? Hạc vào nhà, đến tận giường ông Chúa Hòn là điềm cỡi hạc qui tiên, tức là chết. Phải chăng Trời Phật muốn giúp ông? Ông cau mày, chờ khi ông Chúa Hòn hỏi đến lần thứ ba:
– Điềm gì? Bá Vạn cứ nói thiệt?
– Dạ, sau lễ giỗ, hai con hạc vào nhà tức là vong linh tiên nhân xuống cõi trần để thăm con cái. Theo tôi hiểu đó là điềm tốt. Tiên nhân cỡi hạc xuống đây.
Ông Chúa Hòn vẫn thắc mắc:
– Đành vậy, nhưng mà ta hơi buồn. Con trưởng nam của ta thì ngỗ nghịch, thích săn heo rừng. Nó đi vắng rồi. Ta gọi ông đến để cùng nhau lên núi Đất, gần Hòn Me, nhờ thần linh chỉ dạy.
Ông Bá Vạn gật đầu:
– Bên đó, có ông đạo Đất xem quẻ giỏi lắm.
– Nhưng ông đạo Đất chỉ là người phàm. Ta muốn bà Chúa Xứ xem giùm một quẻ.
– Ông dạy thì tôi vâng lời.
Sáng hôm sau, hai chiếc ghe chở ông Chúa Hòn và bọn hộ vệ đến Hòn Me. Chuyến đi, ông Chúa Hòn qua ngang nhà Tư Thính và cô Huôi. Ông Bá Vạn nào chú ý đến gia đình đó, cứ thúc hối bọn hộ vệ chèo ghe thật nhanh đến sườn núi phía bờ biển. Hai tên hộ vệ lên trước để dọn đường. Miễu bà Chúa Xứ ở bên sườn Hòn Me, khá cao. Ông Bá Vạn nài nỉ:
– Ông Chúa ngồi đây mà chờ. Tôi cho xác bà hay trước để khỏi mất thời giờ.
Con đường quanh co, đầy sỏi gai, đôi khi phải trèo lên mấy tảng đá gồ ghề. Phải mệt nhọc lắm, ông mới đến miễu bà Chúa Xứ được. Miễu hiện ra với mái ngói đen đúa. ‘‘Xác bà’’ là cô gái chừng hai mươi tuổi, chưa chồng. Hay tin ông Chúa Hòn tới, ông lão giữ miễu hơi sợ sệt :
– Dạ, làm sao tôi đón rước được? Mọi năm cúng vía bà vào ngày mùng sáu tháng năm. Bây giờ, chỗ ngồi không sạch sẽ, trà rượu không có, tôi sợ ông Chúa Hòn phiền giận. Xin ông Bá dời lại ngày mai hoặc ngày mốt.
– Ông Chúa muốn thì đừng cãi. Dọn dẹp bàn thờ sạch sẽ, kéo ghế nào hơi lớn cho ông chúa ngồi là đủ rồi. Ông tới nhờ bà coi quẻ rồi về chớ đâu phải cúng kiếng.
Ông từ giữ miễu vẫn cau có:
– Cô Tư lên xác cuốc rẫy ở đằng kia, rủi cổ vắng nhà thì không ai thay thế được !
– Cứ gọi cô lên xác tới đây. Mua thêm nhang đèn, trà rượu. Tốn kém một, thời ông Chúa trả lại bằng mười. Già rồi mà ông còn khờ quá, đây là dịp kiếm thêm tiền để mua rượu đủ bốn, năm tháng.
Ngồi trên ghế chờ đợi hơi lâu, ông Chúa Hòn ra lịnh :
– Tụi bay đưa tao lên miễu! Nóng ruột quá.
Ồng Chúa Hòn đứng trước mũi ghe, hai tên hộ vệ bồng khéo léo đưa lên bờ. Bọn chúng muốn cõng ông lên sườn núi, ông nói to:
– Để tao đi một mình.
Một tên hộ vệ nói:
– Dạ trèo núi cực lắm, nào rắn rít, kiến vàng.
– Để tao đi một mình cho được phước.
Nhưng chưa được nửa đường, ông Chứa Hòn đành chịu thua:
– Cao quá, hễ leo tới cục đá trên kia thì tao đuối sức, rủi trợt té thì sanh bịnh. Nãy giờ, tao chứng minh lòng thành rồi. Tụi bay cõng tao lên. Cõng cho mau.
Đến trước sân miễu, ông Chúa Hòn mừng thầm vì ông Bá Vạn đứng sẵn để chào đón. Chúa Hòn hỏi:
– Xác bà tới chưa ?
– Dạ, vì ông đến thình lình nên nãy giờ ông từ đi kiếm. Lát nữa về chứ gì. Mời ông ngồi nghỉ.
Ông Chúa Hòn tin rằng phen nầy xác bà sẽ đoán điềm hai con cò trắng vào nhà. Bấy lâu, ông Bá Vạn thích nịnh bợ nên căn dặn trước những gì mà xác bà phải nói cho ông hài lòng. Bá Vạn chưa tiếp xúc với xác bà. May quá.
Cô gái lên xác đã tới. Ông Chúa Hòn mừng rỡ và nói khéo với ông Bá Vạn :
– Lên xác cho mau. Hai con cò bay vô nhà tôi chắc là điều may mắn. Đừng nói cho người xác biết bất cứ chuyện gì.
Ông Bá Vạn vuốt râu cười:
– Gặp ông thì họ cứ nói dối để nịnh bợ. Bởi vậy hôm nay, ông đừng cho tiền trước. Nhang đèn, đã có ông từ giữ miễu lo rồi. Ông ngồi chờ.
Ông từ lấy miếng vải, lau chùi bàn thờ cho sạch sẽ. Trong khi đó ông Bá Vạn cố ý làm vừa lòng ông Chúa Hòn bằng cách gọi ba tên hộ vệ đến, khuyên chúng phải canh phòng bốn phía miễu, cấm ngặt không cho ai lại gần, nhứt là không cho tên hộ vệ nào khác đến tiếp xúc với cô gái lên xác, đề phòng trường hợp cô ta lên xác giả rồi nói những lời nịnh bợ.
Bọn nhạc công đã tới. Họ chắp tay chào ông Chúa Hòn rồi ngồi xuống, bắt đầu so giây đờn. Vùng nầy còn người Cao Miên nên chịu ít nhiều ảnh hưởng, tô điểm vài hương sắc kỳ lạ. Thay vì dùng kiểu trống cơm, trong ban nhạc cổ kiểu trống vỗ, hình tròn như cái gối. Thân trống làm bằng cây, mặt kia bịt miếng da dày.
Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ kiêu hãnh :
– Chú kia ! Trống còn tốt không ?
Anh nhạc công trả lời :
– Thưa ông , kiểu trống Miên, bịt miệng da sấu. Xin ông cho phép tôi đốt lửa.
Ông Bá Vạn nói với ông từ :
– Làm gì thì làm. Đừng thúc hối cô gái lên xác. Cứ tự nhiên như vậy, chừng nào lên cũng được.
Bếp lửa cháy bừng bừng, trước bàn thờ bà Chúa Xứ. Anh nhạc công đến gần, lăn tròn cái trống rồi hơ cho miếng da sấu được nóng, ông Bá Vạn giải thích với ông Chúa Hòn:
– Da nóng thì tiếng trống mới dòn.
Ông từ ra trước sân, cắm ba cây nhang vào cái miễu nhỏ ở gốc cây dừa, lâm râm khấn vái rồi trở vô:
– Vỗ trống lên !
Anh nhạc công bèn cởi áo ra, trợn mắt, hai bàn tay vỗ mạnh vào miếng da sấu. Anh ta ngồi xếp bằng, thân trống nằm gọn trong lòng. Tiếng ‘‘tung tung’’ vang dội. Vài người trong xóm chạy tới, muốn đến gần miễu. Bọn hộ vệ xua đuổi :
– Muốn chết sao mà lại gần! Mấy người không thấy ông Chúa Hòn ngồi đó sao?
Thời khắc cứ trôi qua, ông từ giữ miễu đến gần ông Bá Vạn mà trình bày :
– Thưa ông, người lên xác còn tắm gội sạch sẽ để hôm nay…
Ông Chúa Hòn hơi bồn chồn :
– Tắm rửa gì lâu dữ vậy? Tắm ở đâu?
Ông Bá Vạn cau mày, trong khi ông từ bối rối:
– Thưa.. ở gần bờ suối. Tắm gần đây thì sợ ô uế, bà không về nhập xác.
– Coi một lần nữa rồi cho ta biết còn bao lâu mới lên xác được ! Lâu quá rồi.
Chính ông Bá Vạn cũng hơi ngạc nhiên vì sự trể nải ấy. Thật ra việc tắm gội ấy chỉ là hình thức mà thôi. Nhiều cô gái lên xác tuy gọi là ‘‘đồng trinh’’ nhưng còn gì là trinh tiết. Các cô có tình nhân trong xóm, như trong trường hợp miễu bà Chúa Xứ nầy thì chàng trai vỗ trống nọ có thể là tình nhân của cô ta. Để làm vừa lòng ông Chúa Hòn, ông từ giữ miễu bèn thắp hai ngọn đèn sáng trên bàn thờ, thắp nắm nhang cắm vào lư rồi ra phía sau miễu.
Ông Chúa Hòn vốn tin dị đoan nên vẫn cằn nhằn :
– Hai con vô nhà tôi là phụng hoàng hay là con hạc? Điềm lạ quá.
Nhớ đến hai tô thịt kho và nước mắm mà cậu Hai Điền đã tạt lên mình, ông Bá Vạn gật đầu, nói giọng trầm trầm.
– Có lẽ là chuyện lạ. ‘‘Lạ’’ nhiều khi là may mắn…
– Hộ vệ đâu? – Ông Chúa nói gắt
Hai tên võ sĩ chạy đến khoanh tay chờ lịnh. Chúa Hòn như ray rứt, khó chịu, cứ trợn mắt nhìn xung quanh rồi quát to :
– Cái gì mà vỗ trống hoài! Đừng vỗ nữa.
Đột nhiên, ông từ giữ miễu chạy tới, mặt mày tái mét:
– Chết rồi! Ông ơi ! Cứu cô xác !
Ông Bá Vạn đứng dậy, hỏi kỹ :
– Cô chết rồi à ? Ai giết cô ?
Ông Chúa Hòn nói :
– Chỗ nào? Hộ vệ đâu, theo tao. Bọn nào dám tới đây, tụi bây canh phòng như vậy đó hả?
Bọn nhạc công hoảng sợ, đứng dậy và trong lúc mất bình tĩnh, anh chàng vỗ trống quơ tay đụng nhằm ngọn đèn trên bàn thờ. Ngọn đèn ngã xuống, lửa bắt qua mớ chân nhang. Ông Chúa Hòn chạy ra sau miễu, hơn mười tên hộ vệ bao bọc chung quanh. Việc gì đã xẩy ra ? Ông Bá Vạn cố gắng chạy theo, nài nỉ ông Chúa Hòn :
– Xin ông đừng tới bờ suối. Nếu kẻ gian bắt cô gái lên xác thì tôi… xé xác bọn nó. Ra ngoài đó nguy hiểm lắm.
Nhưng ông Chúa Hòn như say máu, như sợ sệt, như bị chạm tự ái :
– Đứa nào giết cô gái lên xác là đứa đó muốn xúc phạm tới tao ! Quá lộng rồi sao chớ ! Điềm gì vậy ?
Đến bờ suối, ông Bá Vạn đứng tần ngần, mấy tảng đá bên bờ đều ướt mem, chứng tỏ rằng cô gái lên xác đã tắm gội tại đó và đã cựa quậy chống cự. Điều ngạc nhiên là hai tên hộ vệ đã mất dạng. Ông gọi to :
– Tụi bây đâu rồi?
Từ phía bụi rậm ở ngọn suối, có tiếng trả lời :
– Cứu tôi, cứu cô gái. Mau lên đây ! Con rắn to lớn lắm.
Cả bọn đến nơi, dẫn đầu là ông Bá Vạn. Ông Chúa Hòn trố mắt, mặt mày tái mét :
– Chết rồi à ! Con rắn đâu?
Cô gái lên xác đã tắt thở. Rõ ràng là con rắn hoặc con trăn đến quấn cô. Cô nằm đây, thân hình co quắp, chắc là xương sống bị gãy làm đôi. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, tay cầm ngọn dao đỏ lòm, máu nhễu giọt lóng lánh ở mũi dao :
– Dạ, tụi tôi chặt được khúc đuôi con rắn…
Ông Chúa Hòn hỏi :
– Con rắn mất đuôi thì còn sống. Tụi bây không đem cái đầu rắn về cho tao thì ngày mai tao giết cả bọn !
Ông Bá Vạn van nài :
– Xin ông về nghỉ. Đây là chuyện thường lệ, rừng núi thiếu gì rắn độc, tắm ở bờ suối mà bị rắn hoặc trăn quấn, đâu có gì quan trọng…
Nhưng lời thuyết phục ấy không làm cho ông Chúa Hòn được yên tâm. Bọn hộ vệ la hoảng, đứng bao vây chung quanh:
– Cháy ! Miễu bà Chúa Xứ cháy rồi !
Ông Bá Vạn ngại rằng sắp có chuyện bất lợi xảy ra nên mời ông Chúa Hòn xuống núi, về nhà lập tức. Tuy là độc tài, giàu tự tin, nhưng lần nầy ông Chúa Hòn đành ngoan ngoãn vâng lời ông Bá Vạn, để cho bọn hộ vệ cõng lên vai. Dân chúng ngơ ngác, xem việc miễu cháy là điềm ông Chúa Hòn sắp chết trong ngày rất gần.
Nằm dài trên chiếc ghe hầu, ông Chúa Hòn bắt đầu tỉnh táo khi bọn hộ vệ vừa chèo chống vừa báo cáo:
– Thưa ông, ngọn lửa đã tắt.
– Bá Vạn đâu? Ngồi gần ta cho ta vui. Tại sao ta cứ phập phồng, xung quanh ta có tiếng dậm chân rầm rập trên đất, như toán quân nào đông đảo lắm đang kéo tới ? Mắt ta hơi mờ..
Bọn hộ vệ đưa chiếc ghe ra đến khoảng đồng trống, gió thổi hiu hiu. Lần hồi ông Chúa Hòn cảm thấy khoẻ khoắn, ngồi dậy dựa tay lên chiếc gối vuông:
– Dường như sắp xảy ra chuyện gì xui xẻo cho ta. Hai con cò vô nhà, rồi tới việc nầy. Cô gái lên xác nào có tội tình gì mà bỏ mạng? Ông xem sách tử vi nhiều, hãy bàn bạc thử cho ta nghe.
Tâm trí ông Bá Vạn hơi bối rối vì tình thế biến chuyển quá nhanh. Ông Chúa Hòn nếu chết bất ngờ thì cậụ Hai Điền thay thế. Cậu Hai Điền sẽ đuổi ông hoặc bày ra nhiều điều sĩ nhục khác, còn nặng nề hơn là tạt thịt kho và nước mắm.
Theo kế hoạch dự định thì ông Bá Vạn sẽ đem thằng Cẩu lên ‘‘ngôi’’ ông Chúa Hòn tương lai. Muốn sắp đặt cho ăn khớp nhịp nhàng thì cần một khoảng thời gian khá dài, ông Bá Vạn cần tiếp xúc vói Mười Hấu và thằng Cẩu. Năm nay Cẩu được 17 tuổi, chưa hiểu tánh tình ra sao. Lại còn bài toán gay go hơn. Đó là giết khéo léo cậu Hai Điền để có lý do chánh đáng mà đem thằng Cẩu lên thế.
Bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn tuy đông đảo nhưng dễ mua chuộc. Ông sẽ cho chúng nó tiền bạc, nhà cửa, đa số đều do ông tiến cử, hễ ông nói đúng lý thì chúng nó nghe ngay.
Ông Chúa Hòn chết.
Vài ngày sau là cậu Hai Điền chết.
Lập tức, thằng Cẩu được tôn làm ông Chúa Hòn.
Ba giai đoạn ấy tuy rời nhưng dính liền nhau, trong vòng ba ngày. Nếu chuẩn bị non kém, ông Bá Vạn sẽ bị giết về tay cậu Hai Điền. Bởi vậy, ông Bá Vạn nói khẽ :
– Theo tôi thì trên đời nầy có nhiều điều xui xẻo, nhưng do sự tình cờ.
– Không đâu! Phải chăng bọn nhạc công vô lễ với bà Chúa Xứ ?
Ông Bá Vạn gật gù lấy lệ:
– Ông nói có lý. Bà Chúa Xứ không ưa cái trống bịt da sấu ở dưới nước. Nhưng theo ý tôi thì có lẽ cô gái lên xác đã bị ô uế, bà nổi giận. Cô ta lén lút tình tự với cậu trai nào đó nên bà Xứ phạt. Tháng sau, tôi biểu ông từ giữ miễu chọn cô gái khác trinh bạch hơn.
Đến chiều, đoàn ghe về tới Hòn Chông. Khi lên bờ, ông Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ không được đồn đãi về chuyện bất trắc đã xảy ra. Khi ông Chúa Hòn vào phòng nằm nghỉ, ông Bá Vạn về nhà riêng. Cậu Hai Điền đi săn mới về. Dưới sông, bọn thủ hạ hò hét ỏm tỏi vì uống rượu say mèm. Ông Bá Vạn ngồi trước cửa, trong bóng tối, để ngắm nghía khung cảnh.
Chiếc ghe chở cậu Hai trông thật quái dị. Trước mũi, sau lái đều có hai tên hộ vệ đứng thẳng người, cầm đuốc. Cậu Hai ngồi chễm chệ trên chiếc ghế nhỏ. Chiếc ghe lúc lắc qua lại mà cậu vẫn ngồi vững, tay nâng bầu rượu, ngực để trần.
Ổng Bá Vạn trù rủa lầm thầm:
– Nó mà làm ông Chứa Hòn thì ai mà chịu nổi ! Nó bắt chước bộ điệu ông vua con, nhưng lại giống hệt một tên cường sơn thảo khấu.
Tiếng cậu Hai Điền vang lên lồng lộng :
– Con heo độc giác chưa tới số. Bữa nay, tao hơi say nên chưa giết được nó. Tao thề giết tất cả mấy con thú dữ ở Hòn Chông nầy. Tao là thần thánh, chưa bao giờ chịu thua loài súc vật. Nếu nó còn sống, đó vì là tao còn lòng nhơn đạo, phải không tụi bay?
Ban hộ vệ reo lên:
– Da, cậu nói phải!
Cậu Hai ngửa mặt nốc cạn bầu rượu, rồi quăng mạnh cái bầu lên sân nhà ông Bá Vạn. Ông Bá Vạn cúi đầu chua xót, vì dường như cậu Hai Điền cố ý so sánh ông với một loài thú. Cái bầu rượu không bể, lăn tròn rồi nằm sát gốc cây xoài.
Chờ khi đoàn ghe qua khỏi, ông Bá Vạn đứng dậy đến gốc cây mà lượm cái bầu, đưa lên mũi hửi. Lát sau, ông vào nhà, để cái bầu bên cạnh cái tráp, trên đầu nằm. Trong tráp, cái áo dính thịt kho và nước mắm còn đó, chưa giặt rửa.




Đăng nhập để trả lời
0
- 2 -
 
 
Một người tá điền đến chào ông Chúa Hòn để trả nợ. Ông hỏi.
– Chú ở đâu tới? Nghe thiên hạ bàn tán gì về ta không?
Người nọ đáp:
– Dạ, từ Hòn Me giữa khoảng Hòn Me, và Hòn Đất. Con không nghe chuyện gì hết.
Câu trả lời ấy khiến ông Chúa Hòn vui vẻ và tươi tỉnh thêm lên. Như vậy là uy tín của ông chưa bị giảm sút thì vận ông còn đỏ. Ông hỏi thêm.
– Tại xóm chú mày, có gì vui không?
– Dạ, dân chúng làm ăn bình thường, ruộng nương tươi tốt, ai nấy đều mang ơn ông.
– Ta muốn cái gì vui, cái gì đặc biệt kìa !
Người nọ suy nghĩ mãi, chưa đóan được sở thích của ông Chúa. Chắc là ông ta muốn tìm gái đẹp. Nếu nói ra sớm, e phạm tội vô lễ. Trong xóm, mấy ngày rày thiên hạ bàn tán xôn xao về một chuyện nhỏ. Quỳnh hoa là loại cây ít khi trổ bông, bông trổ là điều may mắn cho gia chủ. Ấy thế mà trước nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa trổ một lượt bảy nụ nhỏ, bụi hoa ấy do cô Huôi chăm sóc, tưới nước hằng ngày. Cô Huôi là hoa khôi trong vùng.
Người tá điền bèn trả lời:
– Thưa ông, có bụi quỳnh hoa trổ ra một lượt bảy cái nụÔ
Ồng Chúa Hòn hơi giựt mình:
– Thiệt sao? Nụ nhỏ hay nụ to? Trổ chưa? Ta xem kịp không?
– Nếu ông tới trong ngày nay thì kịp.
– Ta tới bây giờ. Đừng đón rước long trọng, ta phiền lắm. Hôm nay, ta muốn ngắm đồng quê với núi non. Nếu vui thì ta chờ xem hoa nở.
Khi người khách ra về, ông Chúa Hòn lâp tức đến nhà ông Bá Vạn. Thấy ông Chúa Hòn đến thình lình với quần áo xuề xòa, ông Bá Vạn không được yên tâm; hay là cậu Hai Điền mét thót với ông Chúa để thanh toán ông? Nhưng nụ cười hiền hòa của ông Chúa đã làm cho ông Bá Vạn vững bụng. Ông Chúa ngồi xuống rồi khoát tay về phía hai tên hộ vệ:
– Tụi bây cứ về, đừng lo cho tao. Tao ở đây chơi. Lo sửa soạn chiếc ghe, đem theo rượu. Chừng nào muốn đi thì ta ra lịnh.
Ông Bá Vạn rót nước dâng cho Chúa Hòn. Ông Chúa nói khẽ :
– Lại có điềm mới lạ, khó hiểu. Bá Vạn giải thích giùm ta.
– Ông nói thử, từ sáng đến giờ, tôi ở nhà một mình.
Giọng nói của ông Chúa Hòn trở nên rắn rỏi, lạc quan:
– Đêm nay ta đi chơi, về phía Hòn Đất.
Hòn Đất và Hòn Me là hai vị trí gần nhau, khoảng giữa là cánh đồng khá phì nhiêu, dân chúng sống bằng nghề ruộng và nắn nồi đất. Ông Bá Vạn hơi e ngại:
– Hôm qua, ông tới miễu bà Chúa Xứ gặp chuyện rắc rối. Hôm nay, tốt hơn là đi nơi khác, xa miễu. Hay là ông được tin tức gì về cô gái xác?
Ông Chúa Hòn lắc đầu :
– Cô gái lên xác đã chết, miễu bà Chúa Xứ bị cháy, đó là chuyện cũ, xui xẻo. Nhưng bù đắp lại, ta gặp chuyện may mắn hơn, ở chỗ cách đó không xa, sát chân Hòn Đất. Nầy, Bá Vạn biết bông quỳnh hoa không?
Ngón tay ông Bá Vạn chỉ ra ngoài sân. Bụi quỳnh hoa mọc xanh um, từng lá to gắn liền xuống đất, xòe ra :
– Dạ, tôi trồng từ ba năm nay mà chưa thấy trổ bông lần nào cả. Năm ngoái, hòa thượng chùa Phước Vân mời tôi xem hoa nở, hoa đẹp lắm. Hòa thượng bảo rằng nhà ai có quỳnh hoa nở là điều may mắn. Hoa trắng mà to, thơm ngát, nở lúc ban đêm, đến hừng sáng tàn rụng. Ba năm, tôi chờ đợi mãi mà chưa thấy nụ nào.
– Bá Vạn nói sao? Quỳnh hoa nở là điềm may, hiếm có?
– Dạ, ai cũng nói vậy.
– Bá Vạn thấy một bụi quỳnh hoa trổ một lượt mười nụ không? Mười nụ hoa trổ trong một đêm. Đó là điềm gì?
– Dạ, đó là đại phước cho cả vùng nầy. Có thật hay không?
– Ở Hòn Đất, mau đi với ta để xem hoa nở. Hòn Me là nơi ta gặp chuyện xui xẻo với cô gái mất xác vì rắn độc, thì Hòn Đất là nơi mà ta gặp may mắn. Đời có vậy mới vui chớ.
Lát sau, bọn hộ vệ chèo chiếc thuyền nhỏ đi trước. Ông Chúa Hòn và Bá Vạn ngồi trong chiếc thuyền to theo sau. Mặt trời vừa xế. Phía chân trời, hàng chục cụm khói bốc lên. Đó là mấy cái sân đốt nồi đất. Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn lẫm bẩm:
– Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Chông đều là giang san của ta, phải không Bá Vạn!
 
+++
Ông Tư Thính phập phồng khi hay tin Chúa Hòn sắp đến viếng nhà. Ông gọi đứa con gái thân yêu:
– Huôi ơi! Mau quét dọn nhà cửa.
Mười mấy năm trôi qua khiến Huôi trở nên mạnh khỏe, thêm tươi đẹp. Hôm nào, cô còn là đứa bé ranh mãnh nghèo nàn, suốt ngày quanh quẩn trước sân. Giờ đây, cô nổi danh là hoa khôi trong vùng, dáng điệu khoan thai. Bọn trai làng không thích cô lắm. Họ bảo rằng cô quá kiêu căng.
Ông Tư Thính đội nón lên, nói với lại:
– Lát nữa ba về. Con ở nhà, đừng đi vắng!
Đóan chừng có chuyện quan trọng sắp xảy ra, cô Huôi hỏi:
– Thưa ba, hôm nay khách nào tới nhà?
Ông Tư Thính giựt mình, kiêu hãnh vô cùng vì rõ ràng con gái ông có thiên tư, biết đóan xa, gần đúng sự việc. Phải chăng tương lai nó sẽ rạng rỡ, sau cuộc viếng thăm nầy? Ông trả lời nhanh :
– Một ông khách quan trọng.
– Nếu khách tới, con trả lời sao?
– Con chớ lo xa. Ba về bây giờ.
Lập tức, ông Tư Thính đến gặp ông đạo Đất trong thảo am. Ông đạo ung dung uống rươu. Cái tật uống rượu nầy bị dân chúng chê trách nhưng ông đạo trả lời bình thản rằng rượu do nếp sinh ra, nếp do đất sanh ra. Uống rượu thì thích hợp với ý nghĩa ” Đất” do ông đề xướng.
Uống quá nhiều rượu, ông đạo Đất ngả lăn trên giường. Khi thấy Tư Thính đến, ông đạo lồm cồm ngồi dậy rót thêm rượu nữa.
– Ủa! Sao trở lại đây? Lo dọn dẹp nhà cửa cho mau. Tôi nói ông Chúa Hòn sắp tới: Đừng để trễ.
Ông Tư Thính hỏi:
– Nếu ông Chúa Hòn tới, tôi ăn nói chuyện gì cho hợp tình hợp cảnh? Chắng lẽ tôi khoe đứa con gái đẹp rồi năn nỉ ông Chúa để dâng cho ông?
Ông đạo Đất cười dòn:
– Con Huôi đã tới lúc trở thành bà Chúa rồi. Rốt cuộc tất cả mọi người đều theo cái đạo lớn, do Đất sắp đặt trước. Đất sanh ra bụi quỳnh hoa. Đất nuôi dưỡng con mãng xà vương hồi năm xưa. Ông Tư thấy tôi là thánh sống không ! Mười mấy năm trước, rắn quấn con Huôi, tôi nói là điềm tốt. Bây giờ là sự việc bày ra nhãn tiền.
Ông Tư Thính vẫn thắc mắc :
– Hồi sáng, không hiểu ông già Chót nói gì với ông Chúa?
– Tôi gặp ông già Chót rồi, ổng nói chuyện bụi bông quỳnh hoa, nhờ vậy mà lát nữa ông Chúa tới. Nay mai, nếu cô Huôi trở thành bà Chúa thì nên nhớ khen thưởng ông già Chót. Ổng lên núi rồi. Ông Tư cứ trả lời bình tĩnh, rồi có quới nhơn giúp đỡ. Hàng chục người đang sẵn sàng nịnh bợ ông.
– Phải chi ông tới nhà tôi để trả lời khi ông Chúa Hòn hỏi những câu ngặt nghèo, thí dụ như tại sao bông nở mười nụ một lần.
Ông đạo Đất cau mày:.
– Tôi lại đó là hư chuyện, vì ông Chúa Hòn nghi ngờ rằng đây là viêc giả tạo, sắp đặt từ trước. Khi nào cần thì ông Chúa Hòn phải tới cái cốc nầy hoặc mời tôi. Ông cứ về. Đừng lo gì hết.
Khi về tới nhà, ông Tư Thính gặp hai người lực lưỡng đứng trước sân. Ông biết ngay đó là bọn hộ vệ, nên hỏi giả vờ:
– Chào mấy cậu ! Chắc là ông Chúa Hòn…
– Phải vậy đó. Nhưng mà ông đừng lo xa.
– Ông Chúa tới, tôi phải lo rượu thịt, trà tươi để đón rước. Rủi bề gì ổng giận, năm sau cha con tôi không có đất cày cấy. Nhà nghèo, mấy cậu hiểu, châm chế giùm.
Ông Tư Thính đến sân, nhòm lại kỹ bụi quỳnh hoa. Đôi ba chục lá dài, xanh tươi như lưỡi kiếm vươn lên. Ồng đếm kỹ tất cả đúng mười nụ còn búp, nhứt định là đêm nay hoa nở rộ một lượt. Ông gọi :
– Huôi ơi! Lát nữa ông Chúa Hòn đến, con nên chào hỏi lễ phép. Ông dạy điều gì, con nên vâng lời, cúi đầu vui vẻ. Thời vận đã tới. Nhờ Trời Phật, năm nay gia đình mình gặp may mắn, ba được khỏe thân mà con thì hiển vinh.
Cô Huôi nói giọng kiêu hãnh :
– Con ăn mặc như vầy được không? Chưng diện quá mức, mặc quần áo mới thì không ích lợi gì, người ta cho rằng gia đình mình cầu cạnh.
“Đúng là, câu nói của một… bà lớn’’. Ông Tư Thính tin tưởng rằng nhan sắc đứa con gái thân yêu sẽ làm hài lòng, nếu không làm chóa mắt ông Chúa Hòn.
Ông căn dặn thêm :
– Lát nữa, con nên nói thật ít cho thiên hạ nể nang.
Cô Huôi liếc ra sân, nói khẽ với cha:
– Họ tới rồi kìa. Cha đừng lo. Con không nói bất cứ tiếng nào hết, như vậy họ mới kính trọng.
Ông Chúa Hòn lên bờ nhanh nhẹn, trong khi ông Bá Vạn chậm chạp hơn, đưa tay cho tên hộ vệ níu mạnh. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Đây hả? Bụi quỳnh hoa ở đâu? Chủ nhà là ai? Tối nay bông quỳnh hoa nở thì còn gì may mắn cho bằng.
Đứng trước thềm nhà, ông Tư Thính chắp tay, nghe rõ lời ông Chúa Hòn nhưng Tư Thính dành quyền trả lời cho bọn hộ vệ. Bá Vạn đến gần Tư Thính, nói khẽ :
– Tôi giúp ông phen nầy. Nên chiều chuộng ông Chúa Hòn bằng mọi cách. Ra sân mà nói chuyện. Hôm nay, ông Chúa vui lắm.
Tư Thính cúi đầu thật sâu:
– Mấy thuở ông tới, nhà nghèo không tiếp đãi trọng thể, xin ông tha thứ cho. Bụi bông nầy do con gái tôi trồng nở được mười nụ. Thật may mắn cho tôi, ông Chúa đến đúng lúc.
Ông Chúa Hòn liếc sơ bụi quỳnh hoa, thấy hàng chục nụ đeo lủng lẳng, từ nách lá nẩy ra: Nhưng ông muốn tò mò để hiểu việc khác :
– Hoa nở rộ như vầy, mười năm chưa ắt có một lần. Hoa do con gái chú trồng. Cô đó đâu rồi ?
– Dạ, con nhà nghèo nên nãy giờ chưa dám trình diện với ông. Xin mời ông vô nhà.
Bá Vạn kéo cái ghế, phủi bụi đôi ba lần rồi kính cẩn.
– Mời ông Chúa.
Trong khi đó,Tư Thính chạy vào nhà trong. Cô Huôi vẫn bình thản lụm củi vào bếp, lo bữa cơm chiều. Tư Thính nói:
– Huôi! Ra chào ông Chúa.
Cô Huôi đáp:
– Ba ra trước, con ra sau.
Ông Chúa Hòn hơi nóng nảy nhưng còn giữ chút thể diện, ông ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Đem rượu với đồ ăn lên đây ! Uống rượu mà xem hoa nở thì còn gì cho bằng.
Cô Huôi bước chậm rãi, ông Bá Vạn thấy trước, lấy làm đắc ý vì gương mặt cô gái trẻ nầy vừa đẹp, vừa kiêu hãnh. Nếu cô Huôi được về với ông Chúa Hòn thì Bá Vạn sẽ thêm vây cánh, ăn thua với cậu Hai Điền và bà chánh thất. Bá Vạn lên tiếng:
– Thưa ông, con gái Tư Thính đây.
Ông Chúa Hòn sửng sốt, há miệng. Dè đâu ở chốn quê mùa hẻo lánh nầy lại có người đẹp tuyệt trần vóc đáng cao ráo, nước da trắng mịn, trán cao, môi đỏ như thoa son, hai tay thật dài, gần chấm đầu gối. Ông nói:
– Tuyệt đẹp. Tên gì?
Cô Huôi liếc về phía Tư Thính:
– Thưa ba…
Tư Thính đáp:
– Thưa ông, nó tên Huôi, mười bảy tuổi, mẹ nó mất sớm. Nó trồng bụi quỳnh hoa nầy mười năm rồi, hồi nó mới được bảy tuổi. Đây là lần đầu tiên mà bụi quỳnh hoa nở.
– Lại gần đây !
Cô Huôi đến gần ông Chúa Hòn. Ông ngây ngất, dường như mùi thơm của da thịt cô gái bay ra thoang thoảng. Nếu vắng người thì ông ta đã ôm ghì miếng mồi ngon ấy vào lòng. Nhưng đây là nơi đông người, ông muốn kiên nhẫn chờ đợi. Ông muốn tìm nơi người đẹp một nguồn sinh lực mới để bù trừ vào những điều xui xẻo đã xảy ra liên tiếp.
– Đẹp lắm !
Cô Huôi hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn đã bị chinh phục. Cô nhìn thẳng vào ông Chúa Hòn không chớp mắt. Và ông Chúa đã cúi mặt xuống như e thẹn.
Tất cả chi tiết đều được Tư Thính và Bá Vạn thấy rõ, hiểu rõ. Như thế là họ thành công được chín phần mười.
Ông Chúa Hòn muốn thay đổi không khí nên đứng dậy:
– Ta ra xem hoa trước khi nó nở.
Rồi ông nói tiếp như yêu cầu cô Huôi :
– Ra đây cho vui. Tánh ta dễ dãi lắm.
Bá Vạn ra sân, đến gần bụi bông. Nhưng ông ta lại chạy trở vô nhà, đem cái ghế ra, để xuống:
– Xin mời ông Chúa ngồi !
Ông Chúa Hòn nào thiết gì đến bụi hoa nữa. Hình ảnh người đẹp cứ chập chờn, ông day qua day lại như sợ cô Huôi đi mất. Cô Huôi đứng yên, oai vệ vô cùng, ông Chúa nói :
– Cô gái ngồi ghế. Gái đẹp ngồi gần hoa đẹp, còn gì hơn!
Bá Vạn lại lính quýnh, chạy vô nhà đem cái ghế thứ nhì ra cho ông Chúa Hòn ngồi. Để tăng thêm phần long trọng cho buổi chiều nhiều ý nghĩa nầy, Tư Thính đi vòng ra sau hè, múc một thùng nước lạnh. Ông đem ra, để gần đứa con gái rồi nói với ông Chúa Hòn:
– Xin phép ông cho tôi tưới bụi quỳnh hoa để đêm nay nó nở đều, để nó thơm tho hơn.
Ông Chúa cười hề hề :
– Cô gái tên gì? Ta nghe tên cô là Huôi, Huôi là hoa, nói theo tiếng Triều Châu. Người đẹp tên Hoa tưới đóa hoa đẹp thì mới thích ý ta.
Lần nầy, cô Huôi vẫn im lặng, trên môi nở nụ cười kín đáo. Dụng ý của cô là dò xét cho biết ông Chúa si mê đến mức nào.
Đúng như dự đóan của cô, ông Chúa Hòn đứng dậy, đến gần thùng nước :
– Vậy thì ta tưới trước. Chắc cô gái muốn giữ lễ phép.
Hai tên hộ vệ khúm núm nâng cái thùng bằng cây và trao cho ông Chúa cái gáo dừa. Ông múc một gáo đầy, tưới ngay gốc bụi quỳnh hoa, tưới thật chậm với nụ cười tươi rói.
Nãy giờ, Tư Thính phập phồng vô cùng, lỡ con gái ông nói ra điều gì quá đáng thì tình cảm ông Chúa sẽ bị sứt mẻ. Bá Vạn tin rằng cô Huôi đã làm đẹp lòng ông Chúa, nếu cô được chọn làm vợ thứ thì rồi đây kế hoạch sẽ thành công, Bá Vạn lần lượt giết ông Chúa Hòn rồi giết cậu Hai Điện. Cô Huôi mặc nhiên là nhân vật quan trọng nhất. Bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền là chướng ngại không đáng kể. Con chết rồi thì mẹ đâu còn thế lực. Vả lại, bọn hộ vệ chưa ắt còn trung thành với bà ta.
Bá Vạn gây cảm tình và lập công với Tư Thính:
– Chú Tư thấy chưa? Ông Chúa tưới bụi hoa, tưới chậm rãi. Lần đầu tiên trong đời, ông chịu làm công việc tầm thường đó. Tôi cầu mong cho cô Huôi gặp nhiều may mắn. Sau nầy, nếu cô Huôi trở thành người quyền thế, chú Tư đừng quên lão già Bá Vạn nầy.
Tư Thính đáp với lòng thành thật:
– Làm cha, ai không muốn cho con cái nên danh phận. Dám mong ông giúp giùm. Cháu gái còn khờ khạo lắm. Ơn ông tôi nào dám quên. Tôi chỉ muốn có ngôi nhà nhỏ, sống rảnh rang dưỡng già, khỏi vất vả cày bừa.
Như vậy là Tư Thính chẳng muốn theo đứa con gái để rút rỉa tiền bạc hoặc gia tài ông Chúa Hòn để lại, Bá Vạn thầm mừng :
– Dịp may đã đến…
Nhớ đến ông đạo Đất, người dàn cảnh tài tình của cuộc gặp gỡ nầy, Tư Thính gợi ý :
– Ông đạo Đất giúp gia đình tôi. Hồi mười năm trước ông đóan được vận mệnh con Huôi…
Bá Vạn sáng mắt lên. Đã từng phục vụ ông Chúa Hòn nhiều năm, Bá Vạn hiểu tâm lý đám bần dân. Đa số đều ham tiền bạc, ruộng đất, danh vọng trong làng xóm. Ông đạo Đất phải là kẻ ham danh vọng, ham hơn ai hết.
– Ông đạo Đất ở gần đây không ? Tôi muốn tới thăm với ông Chúa Hòn.
Tư Thính chưa trả lời kịp thì giựt mình, vì ông Chúa Hòn cười lên sặc sụa:
– Mỹ nhân cứ tưới bụi hoa nầy cho nó mau nở. Tưới bằng rượu được không? Đem ra đây vài bầu ruợu quý. Ta uống cho say sưa.
Cô Huôi nâng bầu rượu, tưới xuống theo lời thỉnh cầu của ông Chúa Hòn. Ông Chúa khen ngợi :
– Bàn tay yểu điệu quá. Lát nữa, cô ăn cơm với ta. Cô chưa ăn cơm mà!
Bá Vạn đánh trúng vào tâm lý của ông Chúa Hòn:
– Nhà chật chội, xung quanh còn nhiều kẻ tò mò, nên tìm chỗ nào yên ấm hơn, theo ý tôi thì nên bày tiệc ở dưới ghe hầu!
Ông Chúa Hòn quên tất cả những xui xẻo trong mấy ngày qua, ông muốn làm lại cuộc đời mới, sống những phút tươi trẻ, cuồng bạo:
– Phải rồi. Lát nữa, cô gái xuống ghe với ta..
Cô Huôi e thẹn, từ chối nhiều lần:
– Dạ, không dám.
Tư Thính nói khẽ:
– Con nên làm vừa lòng ông Chúa. Hàng ngàn cô gái ao ước được may mắn như con, vậy mà Trời Phật không giúp họ. Nãy giờ, con nói ít là phải. Đã đến lúc con nô đùa… cho tự nhiên để trở thành bà Chúa Hòn. Không khó đâu. Ông Bá Vạn hứa giúp đỡ gia đình ta.
Ông Chúa Hòn xuống chiếc ghe hầu. Cô Huôi bước chậm rãi theo sau, trong lúc trời sụp tối. Cô đến mũi ghe, nũng nịu:
– Chờ hoa nở rồi hãy uống rượu.
– Khuya nay, hoa mới nở. Trước khi hoa nở thì cô xuống đây cho vui. Cô là đóa hoa hiếm có, một đóa trị giá bằng mười đóa.
Bọn hộ vệ đốt hai ngọn đèn sáp, bày rượu thịt ra rồi từ từ rút lui lên bờ. Chúng hiểu ngầm rằng ông Chúa Hòn muốn đùa giỡn với cô gái nõn nà. Uống rượu vào thật say, ông sẽ hóa ra con thú dữ. Nếu thấy ai thấp thoáng đứng gần, ổng trừng phạt gắt gao. Chưa chi ông đã đổ rượu vào ngực người đẹp. Cô Huôi cứ van nài:
– Lạnh lắm. Em chưa quen uống rượu.
Lập tức, ông Chúa Hòn mở cái tráp nhỏ, đem ra gói giấy đỏ. Cô Huôi trố mắt nhìn:
– Thưa ông…
– Nàng đừng ngại, đây là loại thuốc quý dành riêng cho ta với nàng. Nhân sâm, nàng xem kỹ. Nàng ngậm trong miệng, thủng thẳng hãy nhai nhỏ. Thuốc trường sinh mà. Nhờ đó mà nàng luôn luôn trẻ đẹp, thức suốt đêm không mệt, uống rượu nhiều không biết say. Đói thì ăn. Mệt thì nằm xuống…
Để cho cô Huôi được yên tâm, ông Chúa Hòn đẩy cánh cửa nhỏ bên hông chiếc ghe, gọi to.
– Bá Vạn đâu?
Bá Vạn chạy đến gần, chắp tay thưa:
– Ông Chúa dạy điều gì ?
– Chừng nào hoa quỳnh gần nở hãy gọi ta. Ta đang vui dưới nầy. Bảo bọn hộ vệ đứng xa. Người đẹp còn e thẹn…
Bá Vạn và Tư Thính đứng trên sân nhìn về chiếc ghe hầu. Ông Chúa Hòn cười dòn từng chập. Tư Thính hỏi:
– Rồi con gái tôi sẽ về ở với ông Chúa ? Tôi sợ nửa chừng, ông đuổi con tôi về, uổng đời con gái.
– Tôi hứa là có. Chú Tư biết không! Xưa nay ông Chúa gặp nhiều cô gái đẹp nhưng chưa bao giờ si mê như vậy. Dầu gì đi nữa ông ta cũng giữ thể diện, không muốn cho người đời hiểu rằng ông ta háo sắc. Hôm nay quả thật ông ta bị nhan sắc lôi cuốn.
Tư Thính vẫn chưa yên tâm:
– Ông Chúa tin thời vận, tin điềm may rủi hay không?
Bá Vạn hỏi:
– Ông đạo Đất mà chú nói lúc nãy ở gần hay xa?
– Gần lắm! Để tôi mời lại đây. Nhưng làm thế nào cho ông Chúa tin ông đạo Đất?
Bá Vạn cười dòn:
– Thế gian nầy, chưa ai mê tín dị đoan bằng ông Chúa Hòn. Tôi tìm cách nói khéo để ông Chúa đích thân tới gặp ông đạo Đất. Ông đạo tới đây là hư mọi việc. Chú sao khờ khạo quá !
Tư Thính chạy nhanh đến cốc, đánh thức ông đạo Đất.
– Ông ơi! Rảnh chưa ? Nên thức tới khuya để chờ ông Chúa Hòn. Ông Bá Vạn đồng ý rồi. Nếu ổng chưa tới, ông ráng coi giùm một quẻ. Hôm qua, ông Chúa gặp chuyện xui xẻo như thiên hạ đồn đãi, ông nghe chớ?
– Miễu bà Chúa Xứ bị cháy. Cô gái lên xác bị trăn quấn mất xác.
Tư Thính nói khẽ :
– Lúc coi quẻ, ông cứ nói rằng… nếu ông Chúa Hòn chọn con Huôi làm thứ thất, thì tương lai ông được bảo đảm, bao nhiêu điều xui xẻo đều tan mất.
Ông đạo Đất vẫn nằm dài, nói giọng nhừa nhựa:
– Đừng lo. Tôi sẽ nói nhiều chuyện lạ lùng hơn nữa. Miễn là chú Tư làm cách nào khuyên nhủ con Huôi. Nó là gái tơ, nhiều khi bực bội khi sống với chồng già. Rồi đây, khi ông Chúa Hòn mãn phần, nó tha hồ tìm người chồng khác đẹp đẽ, trẻ trung hơn. Đẹp như nó, có thêm tiền bạc trong tay thì mặc sức lựa chọn. Miễn là nó đừng quên tôi.
Để chứng tỏ rằng mình sành tâm lý, Tư Thính chống tay nói nghiêm nghị: .
– Công việc được trôi chảy tới ngày giờ nầy là nhờ ông sắp xếp khéo léo. Con Huôi sẽ cúng cho ông một kiễng chùa tốt đẹp, sơn son thiếp vàng…
Như không màng đến lợi danh, ông đạo Đất nói qua chuyện khác:
– Con Huôi… xuống ghe ông Chúa Hòn chưa?
– Nó xuống từ nãy giờ. Chắc là ông Chúa Hòn thích ý.
– Vậy là điều may mắn. Ông Chúa ít khi nào nóng nảy như vậy. Thôi, chú Tư cứ về nhà, để mặc tôi. Lát nữa, tôi ngủ một giấc, giả vờ như bất chấp thế sự. Làm như vậy, ông Chúa mới thán phục và tin lời lôi.
Khi Tư Thính trở lại nhà thì ông Bá Vạn ngồi sẵn trước sân, nhìn kỹ bụi quỳnh hoa. Bá Vạn giựt mình day lại:
– Xong chưa ? Nãy giờ tôi chờ ông. Ông coi kỹ, dường như nó gần nở rồi. Làm gì mà lâu vậy ?
Sau khi nghe rõ những gì đã bàn bạc tại cốc ông đạo Đất, Bá Vạn gật gù :
– Ông đạo nầy tài tình thiệt. Chú Tư coi kỹ. So với lúc ban chiều thì mấy nụ quỳnh hoa to lớn gấp đôi. Cuống bông như kéo dài ra, mọc từ nách lá, mỗi lá dày và dài ăn rễ vào đất, giống như lá thơm, lá xương rồng. Búp hoa căng đầy, lớn bằng ngón chân cái, bốn cái lá dài màu xanh bao học chung quanh, mấy cánh hoa trắng còn gom lại, he hé.
Mấy tên hộ vệ xúm lại gần, có đứa thử đưa tay ra để rờ mó nụ hoa. Ông Bá Vạn nói gắt:
– Tụi bây muốn chết sao chớ! Quỳnh hoa nầy dành riêng cho ông Chúa thưởng thức.
Tư Thính bèn giải thích để xoa dịu lòng tự ái của bọn hộ vệ. Dầu sao đi nữa, giờ phút nầy chú là bần dân, không quyền hạn gì, trong khi bọn hộ vệ được ông Chúa Hòn tin cậy hơn:
– Quỳnh Hoa khó trồng lắm, mấy chú à.. Hễ rờ mó thì nó chai, nở không lớn, không tròn. Hôm nay ông Chúa muốn gặp chuyện hên. Rủi trong mười bông mà có một bông lép thì ổng giận.
Bá Vạn thúc giục:
– Gần nở rồi
Chú Tư Thính đáp:
– Chưa đâu, mấy lá dài màu xanh chưa hé ra thì mấy cánh trắng ở trong còn cuốn tròn. Để cho ông vui say.
Bá Vạn lầm bầm, khoát tay để ra lịnh cho bọn hộ vệ ra xa, đừng nghe lóm được cơ mưu:
– Chú Tư ơi! Bọn đàn ông mau chán bất cứ món ngon nào. Nên mời ông Chúa lên đây xem hoa nở. Rủi hoa nở quá thì sao? Ông Chúa sẽ bực tức, nhưng cô Huôi còn đó. Vì bực tức nên ổng sẽ mời cô Huôi về nhà, càng gần gũi, ổng càng thấy nhiều nét đẹp kín đáo khác.
– Vậy thì ông Bá Vạn cứ ra lịnh. Tôi nào có quyền hạn gì mà sai khiến bọn hộ vệ.
Bá Vạn nhìn xuống con rạch. Chiếc ghe hầu còn đó, ánh đèn bên trong chiếu leo lét, nước chảy hơi mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại chòng chành. Cửa mui sau lái vụt mở. Ông Chúa Hòn chun ra, hát nghêu ngao không đúng bài bản nào cả:
– Anh hùng tử …ư ư…khí hùng nào tử…ử!
Bá Vạn mừng thầm vì rõ ràng ông Chúa Hòn gần đến ngày chết bất đắc kỳ tử, “cô hồn” xúi giục ông ta nhắc nhở mấy tiếng “tử” chớ gì! Bá Vạn ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Tụi bây mời ông Chúa lên bờ, bông quỳnh hoa gần nở rồi!
– Ổng say rượu, tôi không dám mời, ông tới mời dễ hơn.
Lập tức, Bá Vạn đến bờ rạch, đứng cách xa ông Chúa Hòn chừng năm bảy bước, ấy thế mà ông Chúa như không trông thấy gì cả. Miệng ông Chúa phun phèo phèo như say rượu, buồn nôn. Ông Chúa đến lái ghe, nhổ cây sào. Lần thứ nhứt, nhổ không xong, ông hơi giận:
– Mầy là cây sào! Cây sào là…cao sầy.
Rồi ông hè hụi, khom lưng nhổ lần thứ nhì. Cây sào tuột lên. Vì dùng quá nhiều sức lực nên ông Chúa tự kềm chế không kịp, suýt té xuống rạch. Chiếc ghe lại chòng chành, suýt chìm. Từ trong mui, cô Huôi kêu la:
– Cho tôi lên bờ, dưới nầy nực lắm.
Ông Chúa Hòn đáp:
– Nực hả! Đó là vì say ruợu, say tình. Bởi vậy, ta nhổ sào, cho chiếc ghe nầy trôi tới chốn….bồng lai tiên cảnh. Bồng lai tiên cảnh giống như …tiên cảnh bồng lai, nói tới nói lui cũng vậy thôi. Phải không ái khanh! Nãy giờ ta mới đi một chặng đường, còn nhiều chặng nữa, thơm tho kỳ lạ hơn. Chưa tới tiên cảnh mà! Ừ, tiên cảnh như cảnh tiên…
Bọn hộ vệ lắc đầu vì nếu can gián thì sẽ bị ông Chúa quở mắng. Bá Vạn nhìn cô Huôi rồi làm dấu hiệu, chỉ tay về phía bụi quỳnh hoa. Trong lúc chiếc thuyền trôi nhanh về phía vàm rạch, cô Huôi nói to:
– Ông ơi! Em muốn điều nầy.
Ông Chúa Hòn hỏi:
– Điều gì? Miễn là tới chốn bồng lai tiên cảnh, hôm nay ta uống rượu nhiều mà cớ sao ta không say.
Cô Huôi đáp:
– Em đưa ông tới chốn bồng lai tiên cảnh, hoa nở thơm tho, ngàn năm mới có một lần. Bụi quỳnh hoa gần nở rộ rồi.
– Em là nụ quỳnh hoa muôn màu muôn sắc…
– Nhưng bụi bông đó quý lắm, do em chăm sóc từ mấy năm nay. Ông lên bờ với em, xem hoa rồi hãy trở xuống ghe nầy. À, làm sao lên bây giờ?
Bá Vạn lên tiếng kịp thời:
– Hộ vệ đâu? Tụi bây lội xuống rạch, kéo chiếc ghe vô bờ rồi câu tay lại làm cái kiệu rước ông Chúa xem hoa.
Cô Huôi nói chêm vào:
– Ông lên trước, em lên theo ông.
Lúc ban đầu, ông Chúa Hòn ra lịnh đốt đuốc để xem hoa. Nhưng ông Bá Vạn đã nịnh bợ khéo léo khuyên bọn hộ vệ nên đốt một ngọn đuốc mà thôi. Ánh đuốc và hơi lửa có thể làm cho hoa quỳnh nở quá nhanh, mất đẹp. Ông Chúa Hòn gật gù.
– Nở nhanh thì không đẹp, phải không cô em? Sao cô em chưa trả lời! Cô em là đóa hoa nở, càng nở càng đẹp.
Hai cái ghế nhỏ được nhắc tới, sát bụi bông. Gió thổi rì rào, mấy nhánh hoa đong đưa, mỗi nụ trắng chiếu ngời như một viên bạch ngọc. Như còn quyến luyến hương vị tình yêu, ông Chúa nói:
– Đem rượu cho ta. Ta uống rượu, ngồi trên chiếc chiếu dưới đất là sung sướng rồi. Thưởng hoa mà ngồi trên cao thì không thích. Cô em rót rượu cho ta uống thêm, ngồi bên cạnh ta.
Uống xong bầu rượu, ông Chúa Hòn bèn nằm lăn. Cô Huôi cau mày, ngồi bên cạnh. Ông Chúa lẩm bẩm:
– Cô em không nằm thì ta nằm “dựa đất” một mình vậy. Chà, hoa nở đẹp quá. Mấy người thấy chưa?
Cả bọn hộ vệ đến bao vây bụi hoa. Lá quỳnh hoa nghiêng xuống từ từ, dường như trong phút giây thần diệu ấy, tất cả tinh hoa của trời đất, bao nhiêu gió trăng, bao nhiêu sương tuyết đều gom lại làm cho nụ hoa nặng thêm. Ai nấy há miệng, ngạc nhiên. Năm cánh hoa từ từ nở tung ra, mùi thơm bay ngào ngạt, cánh hoa màu trắng tuyết. Khi nở được hơn phân nửa, mấy cánh như ngừng cử động trong giây phút, để hé mấy cọng nhụy vàng. Sau phút giây ấy, mấy cánh hoa chuyển mình, nở toé ra thật nhanh, như bàn tay xoè ra.
Tất cả đều buột miệng:
– Ồ! Trời đất có nhiều chuyện lạ…
Một tên hộ vệ nói:
– Hồi nhỏ tới từng tuổi nầy, tôi mới thấy quỳnh hoa nở lần đầu tiên trong đời. Thơm quá, để tôi hửi thử!
Trong khi ấy, ông Chúa ghì mạnh cho cô Huôi nghiêng mình xuống:
– Nàng là một đóa quỳnh hoa, là mười đóa quỳnh hoa.
Bá Vạn và Tư Thính nhìn nhau. Khi hoa nở là hết chuyện mầu nhiệm rồi. Nếu không thực hiện kế hoạch thì lát nữa ông ta sẽ xuống chiếc ghe hầu để bày trò ân ái. Bởi vậy Bá Vạn nói to:
– Thằng hộ vệ kia! Đừng hỗn láo. Ai dạy mầy lại gần? Đây là điềm may mắn của riêng ông Chúa. Muốn ăn đòn sao chớ? Ai dạy mầy phạm thượng…
Ông Chúa Hòn trợn mắt:
– Cái gì vậy Bá Vạn? Đứa nào phạm thượng?
Bá Vạn day qua tên hộ vệ, nói khẽ:
– Mầy ráng chịu nhục, sau nầy tao khen thưởng.
Rồi Bá Vạn quơ tay, tát mạnh vào mặt tên hộ vệ:
– Đi chỗ khác! Mầy ở đây làm xui xẻo.
Ông Chúa Hòn vẫn còn bị ám ảnh về chuyện hai con cò trắng vào nhà và chuyện cô gái lên xác, nên quát to:
– Bá Vạn ! Tha tội cho nó đi. Mười nụ hoa nở một lượt là điềm may mắn của ta!
Dịp may để Bá Vạn bắt đầu dàn một cảnh khác:
– Thưa ông , bụi hoa quý báu nầy do chú Tư Thính làm chủ. Nên hỏi chú Tư là người có may may mắn hơn thiên hạ trong xóm nầy…
– Chú Tư! Theo ý chú là ta gặp dịp hoa nở hôm nay là điềm may mắn chớ? Cơ nghiệp ta sẽ vững bền chừng mấy ngàn năm?
Tư Thính đáp:
– Thưa ông, tôi là kẻ quê mùa tới đây lập nghiệp. Hễ gặp điềm lạ thì tôi nhờ ông đạo Đất bàn giải giùm. Ông đạo là người kỳ tài.
– Đạo Đất! Cái tên nghe ngộ quá.
Rồi ông Chúa hỏi cô Huôi:
– Đạo Đất là ông đạo như thế nào vậy em?
Cô Huôi đáp:
– Dạ, ông đạo đó chẳng màng tiền bạc danh vọng gì hết, cứ nằm trên đất mà ngủ, bất chấp giường chiếu. Xưa kia mấy nhánh quỳnh hoa nầy do ổng cho, em đem về trồng.
– Vậy thì ta đến gặp ông đạo Đất. Gần hay xa? Trong vùng nầy thiếu gì nhân tài, vậy mà ta không biết. Bá Vạn tệ quá! Đưa ta tới đó. Đi bộ hay đi ghe?
Mười cây đuốc cháy sáng rực dẫn đường. Qua vài đoạn sình lầy, Tư Thính lên tiếng trước, bọn hộ vệ ngỏ ý cõng ông Chúa lên vai. Nhưng vì quá say nên ông phản đối:
– Để ta đi cực nhọc. Có cực nhọc mới được trời chứng giám, phải không Bá Vạn! Gần tới chưa cô em?
Giọng cô Huôi ngọt ngào hơn bao giờ hết. Cô hiểu dụng ý của cha và của Bá Vạn. Ông đạo Đất là người quen thân, nhứt định phen nầy sẽ giúp cô lên địa vị bà Chúa, mặc dầu cô là kẻ đến sau.
– Dạ, gần tới rồi. Dưới bóng cây. Chỗ thắp đèn lù mù đó.
Lúc cao hứng, ông Chúa Hòn đáp:
– Đất thì sáng lai rai. Đó là ánh sáng ngôi sao của ta và của cô em, chớ đâu phải ánh đèn.
Nãy giờ ông đạo Đất uống trà mà chờ đợi với giấc mơ tốt đẹp. Nếu cô Huôi trở thành bà Chuá thì nhứt định ông sẽ được ngôi chùa sơn son thếp vàng. Chờ quá lâu, ông ngồi dựa lưng vào vách. Khi nghe tiếng rầm rộ và thấy ánh đuốc chập chờn từ xa, ông bèn rửa mặt, thắp bốn cây nhang ở giữa nền cốc.
Bá Vạn nói, cố ý báo tin cho ông đạo biết trước:
– Thưa ông, tới rồi!
Ông Chúa Hòn hỏi:
– Sao ta chẳng thấy sư sãi nào đón tiếp?
– Dạ, ông đạo Đất chẳng bao giờ thâu nạp đệ tử, bởi vậy ổng nghèo, ai cũng khen là có đức. Chắc là ổng ngủ.
Để tăng phần huyền bí, ông đạo nằm dài trên nền đất, hai tay buông xuôi, thở đều đều. Hai cây đuốc do bọn hộ vệ mang theo được đem vào cốc. Ông đạo vẫn giả vờ ngủ, ngáy pho pho.
Ông Chúa Hòn im lặng, ngắm nhìn ông đạo Đất. Đúng là kẻ bất chấp thế sự, ngạo mạn và có nếp sống kỳ lạ. Bởi vậy khi thấy Bá Vạn nghiêng mình đánh thức thì ông Chúa ra lịnh:
– Để ổng ngủ. Thế nào ổng cũng thức.
Ông đạo Đất đã nghe và đã thấy mọi việc. Chờ khi ai nấy yên lặng, ông bèn nói khá to, như trong mơ:
– Vui rồi! Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai.
Ông Chúa Hòn nghiêng tai như để nghe tiếng. Ông đạo Đất bèn nói vu vơ, mắt nửa mở nửa nhắm:
– Trời sáng rồi. Mặt trời mọc.
Rồi ông mở to đôi mắt, lồm cồm ngồi dậy:
– Xin chào vị quý nhơn! Xin chào ông Chúa! Nãy giờ ông đến mà tôi không thức kịp để tiếp rước.
Bá Vạn lên tiếng:
– Ông Chúa muốn xem một quẻ. Đừng để ông Chúa chờ đợi lâu. Hôm nay, ở nhà Tư Thính, bụi quỳnh hoa nở mười bông một lượt, ấy là điềm gì?
Ông đạo Đất chắp tay xá về bốn cây nhang mà nói:
– Tôi ăn ngay nói thẳng, rủi sơ sót điều gì, ông Chúa sẵn sàng hỉ xả không?
Ông Chúa Hòn hơi nóng ruột:
– Cứ nói, hôm nay ta vui vẻ vô cùng, muốn ban bao nhiêu tiền, ta vẫn sẵn sàng. Ta còn sống bao nhiêu năm nữa? Phong thủy vùng Hòn Chông nơi ta cư ngụ có gì thay đổi không?
Để chứng tỏ rằng mình là người làm việc cẩn thận, không nịnh bợ và có lương tâm, ông đạo Đất nói khẽ:
– Thưa ông, nên mời cô Huôi ra ngoài…
– À! Vậy mới đúng điệu. Nãy giờ tôi quên. Nơi trang nghiêm như vầy mà có đàn bà con gái tới thì mất tinh khiết. Nàng ơi! Nàng ra mà đợi ta.
Vì không hiểu rõ thủ đoạn của ông đạo Đất nên cô Huôi hơi phật ý. Bá Vạn và Tư Thính bèn khoát tay, ngầm khuyên cô đừng phản đối. Bấy giờ ông đạo Đất mở cái hộp nhỏ, đem ra một cây đèn sáp, đốt lên.
Tay ông đạo nâng cây đèn, đưa sát vào mặt ông Chúa Hòn rồi lẩm bẩm:
– Xin lỗi ông, nhiều điềm xui xẻo xảy ra…
Ông Chúa Hòn nói nhanh:
– Đúng lắm.
Ông đạo Đất nói:
– Nhưng hãy còn vài chuyện sắp tới. Điềm xui từ trên cao xảy ra, phải không ?
Câu nói mơ hồ và bí hiểm ấy khiến ông Chúa Hòn day lại phía Bá Vạn. Bá Vạn phải tinh ý lắm mới giải thích được cho ăn khớp với dụng ý của ông đạo Đất :
– Thưa ông, ông đạo nói đúng.
– Cái gì mà đúng? Từ trên cao là như thế nào?
Bá Vạn đáp:
– Nên hỏi ông đạo kỹ hơn.
Ông đạo Đất lại từ chối:
– Tôi nằm một chỗ, chưa bao giờ rời khỏi cốc. Chuyện đời mơ màng quá, thấy đâu tôi nói đó, biểu tôi nói rõ thì không được. Tôi biết cái may cái rủi từ đâu. Tài tôi chỉ vậy thôi..
Ông Chúa Hòn cau mày, nhớ đến hai con cò bay đáp xuống sân rồi chạy vào nhà nên hỏi:
-Bá Vạn! Chắc là đúng. Chuyện con cò vô nhà.
Bá Vạn lấy tay che miệng:
– Ông đừng nói lớn. Ông đạo nầy giỏi thật. Cô gái lên xác miễu bà Chúa Xứ và con rắn …đều ở trên núi cao. Đúng là tai hoạ từ trên cao giáng xuống.
Ông Chúa Hòn gật đầu trong khi ông đạo Đất lim dim đôi mắt, thỉnh thoảng đưa ngọn đèn sáp lên cao quơ qua quơ lại như tìm vật gì phía bên kia nóc nhà, tận trăng sao mờ mịt. Hơi nóng của ngọn đèn khiến ông Chúa đổ mồ hôi, từng giọt chảy dài trên trán. Ấy thế mà ông vẫn không than phiền. Hồi lâu, ông hỏi:
– Tai họa từ trên cao, vậy thì làm cách nào để ngừa được? Còn bao nhiêu tai họa nữa?
Ông đạo Đất hạ ngọn đèn, lẩm bẩm:
– Còn vài chuyện vụn vặt không đáng kể. Nhưng mà xem quẻ là để tìm cách thay đổi thời thế. Thí dụ như gặp nước ngược thì ta nên chạy buồm, nếu gió thổi xuôi. Tai họa từ trên cao giáng xuống thì ta dùng cái may mắn, cái phước đức từ dưới đất nẩy lên mà sửa trị.
– Hay lắm!
Đột nhiên, ông Chúa Hòn vỗ tay bôm bốp rồi phát biểu thao thao bất tuyệt như để bộc lộ sự thông minh của mình:
– Cô Huôi, tên chữ là Hoa, một đóa hoa từ dưới đất nẩy lên. Bụi quỳnh hoa mà ta ngắm lúc nãy cũng là của đất. Dùng cái may mắn của đất để sửa cái rủi ro từ trên trời. Phải không Bá Vạn?
Ông đạo Đất hỏi:
– Cô Huôi đâu rồi?
Ông Chúa Hòn đáp:
– Ở ngoài sân, cho phép cô Huôi vô đây để xem một quẻ chớ?
– Đuổi cô Huôi ra xa đừng cho cổ rình nghe. Nầy chú Tư Thính, nếu tôi không quên thì năm xưa, hồi nhỏ cô Huôi ngồi ngoài ruộng, trên đất…
Ông Chúa Hòn hỏi:
– Chuyện gì vậy?
Tư Thính mới kể lể đầu đuôi chuyện cô Huôi bị rắn quấn, lúc ngồi bên gốc cây thị, ngoài ruộng. Bao nhiêu chi tiết khiến ông Chúa Hòn hài lòng, tin tưởng vào tương lai:
– Vậy thì ta đem cô Huôi về Hòn Chông, phong cho một chức vụ đặc biệt. Ta không may mắn, cô là người may mắn, hai người mà sống gần nhau thì vạn sự như ý, lấy điều may mắn mà ngăn ngừa điều rủi. Nhưng có điều gì khác không?
– Lúc nầy ở Hòn Chông không tốt vì…Hòn Chông là nơi cao, gần trời. Nếu rảnh rang, xin ông đi du lịch đó đây, nơi đồng bằng sình lầy hoặc ra biển, nơi thấp. Tóm lại nên tránh những gì ở trên cao!
Nói dứt lời, ông đạo thổi mạnh cho đèn tắt. Ông Chúa vỗ trán, đòi uống rượu, đòi xuống chiếc ghe hầu để an ủi cô Huôi. Cô giả vờ khóc lóc:
– Nãy giờ, ai cũng được ở trong cốc, tôi có tội gì mà đuổi ra ngoài sân…
– Ta ban thưởng vàng bạc, châu báu. Nàng đừng lo. Nàng theo ta về Hòn Chông rồi vài ngày nữa thì ngao du đây đó…tránh chuyện ở…trên cao, phải không Bá Vạn?
Sau khi ông Chúa Hòn ra khỏi cốc, Bá Vạn hơi bực dọc nên tìm lý do cho ông đạo Đất đi theo đến nhà Tư Thính. Bá Vạn nói to để ông Chúa đừng nghi ngờ:
– Nên tiễn đưa tới bến, lâu lâu ông Chúa viếng thăm cốc một lần.
Ông đạo Đất chống gậy, lững thững theo sau, Bá Vạn hơi phàn nàn:
– Ông Chúa tin dị đoan. Bày cái chuyện ngao du làm chi vậy?
Ông đạo Đất dừng chân, chờ khi bọn hộ vệ và Tư Thính đi thật xa rồi mới nói:
– Ông Bá tính việc lớn, việc ấy nên xảy ra ở xa. Làm việc lớn trước mắt thiên hạ thì khó.
“Việc lớn” được Bá Vạn hiểu ngầm là ám sát ông Chúa Hòn để đưa cô Huôi và thằng Cẩu lên địa vị thay thế. Bá Vạn vẫn chưa có kế hoạch nào cụ thể cả, nên hỏi dò:
– Tôi định cho ổng…ăn uống.
Ông đạo Đất nói:
– Bày cho ổng đi săn heo rừng rồi xảy ra tai nạn gì đó, giữa rừng tràm sình lầy. Cậu Hai Điền thích đi săn bắn nên khi ông Chúa đòi đi săn thì cậu sẵn sàng. Hai cha con đi săn một lượt, ở nơi nào hẻo lánh. Ông có thể ra tay, miễn là mua chuộc được bọn hộ vệ.
+++
Bà chánh thất và cậu Hai Điền đều bực dọc khi nghe ông Chúa Hòn tuyên bố long trọng:
– Cô Huôi là nữ thần hộ mạng của ta. Từ nay về sau, cô Huôi thay mặt ta để bàn những chuyện quan trọng với Bá Vạn!
Nói xong, ông rót rượu vào hai chén nhỏ trên bàn thờ rồi đích thân đốt ba cây nhang, xá ba lần.
Khói nhang bay thơm ngào ngạt, ai nấy đều nín thinh, bực tức. Năm sáu cô tì thiếp cúi mặt, đứng ngoài thềm trông vào. Tại sao cô Huôi là kẻ đến sau mà lại được lên chức mau đến thế? Phải chăng cô dùng bùa ngải để mê hoặc ông Chúa.
Khấn vái xong, ông Chúa cắm nhang rồi day lại. Ông đã biết rằng có nhiều người bất bình nhưng chưa dám nói ra. Người phản đối đầu tiên chính là cậu Hai Điền. Bấy lâu, cậu ví mình là “đông cung thái tử”, mẹ cậu trở thành mẫu hậu. Buổi lễ hôm nay là ngày mà mẹ cậu bị truất phế, kẻ thay thế là cô gái bần hàng ở Hòn Me mới rước về.
Ông Chúa nói:
– Hôm nay ta vui, tại sao con không uống rượu?
Quả thật, chén ruợu cậu Hai Điền còn đầy. Cậu có dụng ý rõ rệt là chẳng uống một giọt nào để phản đối cha. Bà mẹ nói:
– Con nói đi. Có mẹ đây.
Cậu Hai tuy ngang ngược nhưng là đối với người khác. Hôm nay, trước mặt cha, cậu cân nhắc từng tiếng:
– Cô Huôi là người mới tới. Hơn nữa…
Chưa chi mà ông Chúa đã chận lời con:
– Mẹ con mầy làm điều xui xẻo cho ta. Hôm rày xảy ra mấy chuyện bực bội quá. Vì mẹ con mầy xui xẻo nên ta đem một cô gái còn trinh bạch, tốt phước về đây để bù lại. Hiểu chưa? Ta mà chết sớm thì chưa ắt gia tài nầy còn mãi mãi để mẹ con chúng mầy hưởng! Nghe đâu quân Lang Sa kéo binh tới Gia Định, Định Tường.
Bà chánh thất bèn cằn nhằn:
– Quân Lang Sa là chuyện ở xa. Cô Huôi là chuyện gần. Hổm rày, cô Huôi chưa ra mắt bất cứ ai trong gia đình nầy. Hôm nay cô vắng mặt, đó là điều vô phép. Ai bày chuyện đem cô Huôi về đây, tôi biết hết.
Cậu Hai Điền nói thêm:
– Bá Vạn chớ ai! Tôi biết lão già nịnh bợ ấy. Hôm nọ tôi trừng phạt một lần rồi…
Ông Chúa Hòn vẫn giữ thái độ cứng rắn:
– Mầy câm miệng! Tao chết, mầy thay thế tao, chừng đó muốn làm gì thì làm. Nhưng tao còn sống đây, mầy nên kính nể Bá Vạn. Bá Vạn xây cất ngôi nhà nầy, từ hồi ông nội mầy còn sống. Tao đâu ngu dại gì mà nghe lời một lão già.
Nãy giờ, Bá Vạn và cô Huôi ở trong phòng bên cạnh, nghe tỏ rõ những lời qua tiếng lại bên nầy. Bá Vạn mừng thầm vì ông Chúa Hòn là người oai vệ, đủ sức trấn áp vợ con. Đột nhiên, cánh cửa hé mở. Ông Chúa Hòn bước vào nói nhanh:
– Trước là cô Huôi, kế đến là Bá Vạn qua đây.
Bá Vạn và cô Huôi đã bàn bạc từ trước là nên giữ thái độ yên lặng, nếu mẹ con cậu Hai Điền nói điều gì vô lễ thì cả hai xin từ chức, về vườn làm ăn.
Cô Huôi vào phòng lễ, cúi đầu chào bà chánh thất rồi cúi đầu ba lần trước bàn thờ. Dáng điệu khoan thai của cô, nhứt là gương mặt trầm tĩnh đã khiến bà chánh thất nể nang.
– Nữ thần hộ mạng của tôi là đây…
Ông Chúa Hòn nói gằn từng tiếng như thách đố bà chánh thất. Bà hơi lúng túng:
– Chờ xem…Còn trẻ quá vậy.
Cô Huôi nhìn thẳng vào mặt bà chánh thất:
– Tôi vào nhà nầy nào phải để giành chức vụ. Vui thì tôi ở. Buồn là tôi về. Xin ai nấy hiểu cho tôi.
Ngỡ rằng người đẹp nổi giận, ông Chúa can gián:
– Cô là người đem phước đức, giúp tôi khỏi tai nạn. Cô ở đây mãi mãi. Bá Vạn đâu?
Bá Vạn chắp tay, cúi đầu:
– Xin vâng lời ông…
Cậu Hai Điền bĩu môi. Bá Vạn nhủ thầm: ‘‘Tao cho mầy sống thêm vài ngày nữa. Rồi tới lúc mầy lạy tao, nhờ tao tha tội’’.
Ông Chúa Hòn nói:
– Bá Vạn giúp ta từ lâu, nhờ Bá Vạn mà ta gặp ông đạo Đất ! Ta thưởng cho Bá Vạn một cái giường, kiểu giường mà ta nói hôm trước đó, ngồi, nằm, ăn uống trên giường. Gọn gàng, sang trọng biết bao nhiêu! Uống rượu để mừng ngày hôm nay.
Ông Chúa Hòn làm một chuyện thách đố khác là bưng hai chén rượu cúng trên bàn thờ trao cho cô Huôi và Bá Vạn. Theo lịnh ông Chúa, tất cả nâng chén dứt buổi lễ. Lẽ dĩ nhiên, bà chánh thất từ chối, cứ khoanh hai tay trước ngực. Cậu Hai Điền nói khẽ:
– Mẹ nên uống rồi lo chuyện khác, chẳng lẽ ngồi ở đây mãi!
– Chuyện gì?
– Mẹ nên uống. Con biết đầu đuôi rồi, ông đạo Đất mới là người chủ mưu. Uống cho mau, đừng để cha con nghi ngờ.
Buổi lễ chấm dứt. Bá Vạn được mời ở lại để nghe ông Chúa bàn bạc:
– Theo lời ông đạo Đất, ta nên dạo chơi nơi nào thấp, để xua đuổi những cái rủi từ trên cao. Lát nữa, ta với cô Huôi đi săn heo rừng ở Lung Tràm. Bá Vạn thấy ssao?
Lung Tràm là khu rừng trầm thủy, cách xa Hòn Chông chừng một ngày đường, nơi có nhiều heo rừng. Nên bố trí khéo léo để giết ông Chúa, nhơn dịp đi săn nầy. Bá Vạn nhớ lời ông đạo Đất . Lúc nãy, ông Chúa tiết lộ danh tánh cho cậu Hai Điền nghe được. Nếu chậm thì trở tay không kịp. Cậu Hai dám cho người tới Hòn Me để hạ sát hoặc làm áp lực cho ông đạo Đất xua đuổi cô Huôi .
– Ông đi săn là tốt lắm. Theo ý tôi, ông nên đi vắng chừng mười ngày để cậu Hai và bà chánh thất bớt giận. Ông đem cô Huôi theo chớ?
– Để ở nhà sao được! Ta ở đâu thì nàng đó. Ta muốn vui say với nàng suốt ba tháng trường. Lần đầu tiên ta gặp một giai nhân tuyệt thế. Nầy Bá Vạn !
– Dạ, ông dạy gì?
– Lúc nầy, cô Huôi xứng đáng là …con chim phụng, quanh nàng, tất cả tì thiếp đều xấu xí như bầy gà. Bá Vạn theo ta không?
Vì muốn có thời giờ để gặp ông đạo Đất và bố trí cuộc mưu sát nên Bá Vạn từ chối khéo léo:
– Năm bảy ngày nữa, tôi tới Lung Tràm để gặp ông. Bây giờ, nếu tôi đi theo thì cậu Hai và bà nổi giận, cho rằng tôi theo phe cô Huôi. Ông Chúa thương giùm tôi. Hôm nọ, tôi bị cậu Hai hạ nhục một lần rồi.
– Nó là con nít, hơi đâu mà giận. Bá Vạn nói cũng phải. Ở nhà, tránh gây gổ với cậu Hai, rảnh thì dạo đó dạo đây, đốc thúc bọn tá điền. Năm nay chắc ruộng nương đều tốt. Năm ngày nữa, ta chờ ở Lung Tràm.
Bá Vạn từ giã ông Chúa Hòn, về nhà. Sáng hôm sau, bọn hộ vệ lên đường. Hai chiếc ghe đi trước, cách khoảng xa rồi mới tới ghe hầu chở ông Chúa và cô Huôi. Cậu Hai Điền có mặt tại bến, nhắn nhủ với cha:
– Ba làm cách nào đâm được con heo rừng độc giác, lấy cái nanh làm bùa đeo thì chẳng ai ám hại được. Hôm qua con săn hụt.
Ông Chúa Hòn vui mừng vì cậu con đã hết thắc mắc về vấn đề ngôi thứ:
– Con ở nhà, lo lắng công việc giùm ba.
Cậu Hai Điền cau mày:
– Con ghét công việc lặt vặt.
– Thì con tập tành cho quen. Ai tới mượn tiền, con cứ từ chối, nói rằng chờ ba về. Ai đem tiền bạc tới thì con cứ thâu. Ba biết con không ưa Bá Vạn. Con lo lắng công việc một mình, đừng gọi lão tới.
Nhưng cái nanh heo ‘‘độc giác’’ vẫn ám ảnh cậu Hai Điền. Nếu không có buổi tiệc ra mắt hồi hôm qua thì cậu đã theo dõi con heo độc giác ấy để lấy cho bằng được cái nanh quý giá, một nanh có “thần lực” bằng hai nanh. Theo sự tin tưởng của người Cao Miên ở địa phương thì con heo mài nanh có tật là luôn luôn hung hăng, sức mạnh tập trung vào chót nanh. Nanh ấy trong nhà thì kỵ lửa, chống được hoả hoạn; tiện hình ông Phật, làm phép rồi đeo vào cổ thì chủ nhân tránh được dao búa, tên đạn.
Ông Chúa Hòn mỉm cười, nói thêm:
– Chắc là ba chưa săn được con heo đó. Phải là người có tài như con thì họa chăng. Ba muốn ngao du đó đây với người đẹp.
– Năm ngày nữa, nếu ba chưa về thì con tới Lung Tràm với bọn hộ vệ. Săn không được thì dân chúng khinh thường.
Cậu Hai Điền vào nhà, đóng cửa lại mà uống rượu. Lát sau, Bá Vạn giả vờ đi ngang qua, hỏi tên hộ vệ canh phòng trước cửa:
– Cậu Hai đâu rồi?
– Dạ cậu biểu đóng cửa, chắc là đang ngủ
Như vậy có nghĩa là cậu chưa tìm ông đạo Đất để hành hung hoặc bắt buộc ông đạo xem một quẻ thứ nhì, trái hẳn quẻ thứ nhứt để truất phế cô Huôi. Như vậy, kế hoạch sẽ đổ vỡ. Ông xuống chiếc tam bản bốn chèo, không quên căn dặn tay em.
– Đem theo hai cây sào! Bữa nay, tụi bây làm việc tận tình, rồi đây có phần thưởng xứng đáng. Thừa, Thiếu! Ra khỏi chỗ nầy cho mau, kẻo cậu Hai thấy.
Thừa và Thiếu là hai anh em sanh đôi, giống nhau như khuôn đúc. Hai đứa đã theo Bá Vạn từ năm rồi, luôn luôn trung thành. Hôm nay, vì sợ bọn dọ thám của cậu Hai Điền trà trộn vào nên Bá Vạn chỉ đem hai đứa nầy mà thôi.
Đến giữa cánh đồng hoang, con rạch trở nên chật hẹp. Nước cạn dần, hai mái chèo đụng vào bờ. Thừa, Thiếu bèn rút sào, gác chèo lên mũi ghe. Bá Vạn thúc hối:
– Chống cho lẹ, tới Hòn Me để gặp ông đạo Đất !
Thừa nói nhanh:
– Chiếc tam bản lướt nghe re re…còn hơn là trâu kéo.
Bá Vạn nói:
– Tụi bay hễ rảnh là do tập dượt võ nghệ, tới lúc tụi bay ra nghề rồi đó. Tao nói cho tụi bay đề phòng. Bây giờ chỉ còn có hai đường, một là sống, hai là chết.
Thiếu nói nhanh:
– Mình theo phe cô Huôi, phải không ông?
– Chớ theo phe nào bây giờ! Vài ngày nữa, mình đi Lung Tràm thăm ông Chúa Hòn, sẵn dịp mình…ra tay. Tao nói, tụi bây dư hiểu.
Thừa là đứa khôn lanh nên đưa ra sáng kiến:
– Ông cho tôi nghỉ một ngay.
– Chi vậy?
– Để làm cây giáo đặc biệt. Lưỡi giáo là một khúc nanh heo rừng, tôi lựa cái chót nanh thiệt bén.
Bá Vạn phục thầm. Thằng Thừa tinh ranh quá. Nếu dùng cây giáo đó mà đâm ông Chúa Hòn thì làm sao phân biệt được chuyện ám sát với tai nạn lúc đi săn. Bởi vậy Bá Vạn hứa long trọng:
– Về già, anh em tụi bay trở thành sang trọng như tao. Tao với cô Huôi đâu bao giờ quên ơn kẻ giúp việc. Bữa nay, tụi bây biết tao làm chuyện gì không ?
Thừa và Thiếu đều im lặng. Bá Vạn nói:
– Tao đem vàng bạc đền ơn cho ông đạo Đất. Ổng sẽ làm chủ một ngôi chùa lớn nhứt.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2021 12:25:44 bởi Ct.Ly>
- 3 -


 
Đến xế trưa, chiếc tam bản đến Hòn Me. Công việc đầu tiên của Bá Vạn là gặp Tư Thính để trình bày sự việc. Đại khái, cô Huôi được giới thiệu long trọng là “nữ thần hộ mạng” trước mặt cậu Hai Điền và bà chánh thất. Họ phản đối dữ dội, nhưng nhờ sự dàn xếp khéo léo của Bá Vạn nên họ đành chịu thua. Hiện giờ, ông Chúa và cô Huôi ở trên đường về Lung Tràm để săn heo rừng.
Tư Thính chắp tay xá Bá Vạn:
– Ơn ông, tôi không bao giờ quên. Nhưng tôi thấy khó khăn quá, rủi họa hổ bất thành thì cha con tôi đều bị giết.
Bá Vạn cười dòn:
– Đây là ông Chúa Hòn ở chốn quê mùa chớ nào phải “ông vua chánh hiệu” mà chú Tư sợ bản án tru di tam tộc? Có tôi mà.
– Nhưng trước khi làm điều gì, nên hỏi ý ông đạo Đất.
– Ông đạo Đất có ở trong cốc không?
– Dạ có, để tôi đi với ông tới đó.
Bá Vạn nói khẽ rỉ vào tai Tư Thính:
– Để tôi đi một mình. Như vậy thiên hạ ít đồn đãi. Biết đâu ở chốn nầy có vài đứa do thám. Chú nên ẩn mặt vài ngày, giả vờ như lên rừng đốn củi hoặc đi thăm bà con ở Rạch Giá. Cậu Hai Điền dám cho bọn tay em đến đây gây rắc rối hoặc ám sát.
Tư Thính hơi sợ sệt cúi đầu ngỏ lời cám ơn Bá Vạn. Bá Vạn ra khỏi nhà, đi xăm xăm đến cốc.
Ông đạo Đất ngồi uống trà, chợt reo lên khi thấy Bá Vạn:
– Kính mời ông. Sự việc tới đâu rồi? Suốt đêm tôi không ngủ được. Ông tới đây thình lình, chắc là có chuyện gấp.
– Gấp lắm. Ông Chúa vô ý nhắc tên ông. Bởi vậy mẹ con cậu Hai Điền tức giận. Ông nên ẩn lánh năm, mười ngày. Bọn hộ vệ của cậu Hai dữ lắm.
Ông đạo Đất nghiêm mặt, yêu cầu Bá Vạn trình bày tình hình nội bộ gia đình của Chúa Hòn. Khi nghe nói tới tên thằng Cẩu, đứa con rơi mà ông Chúa sanh với cô Ngó, ông đạo Đất reo mừng:
– Thằng Cẩu đâu rồi? Ông tới gặp nó, dạy nó tới Lung Tràm chờ khi ông Chúa gặp nạn thì…thằng Cẩu có mặt tại chỗ. Như vậy mới lấn quyền cậu Hai Điền được!
Bá Vạn chắp tay xá ông đạo Đất:
– Quả thật ông giỏi hơn tôi. Vậy thì tôi đi gặp Mười Hấu, ông ngoại thằng Cẩu. Nó ở núi So Mo.
Ông đạo Đất trả lời:
– Đừng để trễ. Đừng khinh thường cậu Hai Điền. Bọn hộ vệ thân tín của ông đáng tin cậy không ? Võ nghệ tới đâu?
Bá Vạn khoe khoang bọn thằng Thừa, thằng Thiếu và cây giáo có lưỡi nhọn làm bằng nanh heo rừng. Tuy nhiên ông đạo Đất vẫn chưa yên tâm. Xung quanh ông Chúa Hòn tại Lung Tràm, hẳn còn nhiều tên hộ vệ khác trung thành với ông Chúa và sẵn sàng theo phe cậu Hai Điền. Dưới mắt ông, kế họach chưa được khéo léo. Bá Vạn khuyên nhủ:
– Ông đạo nên tin tôi. Thằng Thừa thằng Thiếu hiểu rành về cách săn heo rừng ở vùng sình lầy. Hơn nữa, bọn hộ vệ theo phe cậu Hai sẽ bị giết một lượt. Tôi tìm cách chọc tức cậu Hai Điền, mời cậu tới để lãnh trách nhiệm mới: kế vị cho cha. Rồi thì tôi cho cậu theo cha, về chầu Diêm Chúa.
Ông đạo Đất vỗ vai Bá Vạn:
– Ông nên khéo léo, ra tay nhanh chóng, mua chuộc bọn hộ vệ. Rồi đây khi thành công, ông đừng quên tôi. Nhớ đi gặp Mười Hấu và thằng Cẩu. Lúc ông Chúa nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh. Ông đi gặp may mắn!
Bá Vạn nhắc nhở lần chót:
– Ông đạo nên rời khỏi cái cốc nầy chừng năm bảy ngày. Cậu Hai Điền dám mướn người tới giết ông đó.
– Tôi lên núi, còn thiếu gì nơi ngao du. Dễ gì bọn nó đụng tới tôi.
Chiếc tam bản tiếp tục hành trình. Thừa và Thiếu vì quá hăng hái, muốn lập công nhanh chóng với Bá Vạn nên thúc giục:
– Bây giờ đi Lung Tràm! Sẵn nước lớn, tụi tôi chèo tới đỏ đèn là xong. Ghé dọc đường làm gì? Tụi tôi đủ sức chịu đói. Hễ thành công, thưởng tụi tôi món gì?
Bá Vạn cười:
– Cưới cho tụi bây mỗi đứa hai con vợ. Đừng nóng nảy, chuyện đó sẽ tới. Coi chừng bọn hộ vệ của ông Chúa.
Thừa bèn nói:
– Phần đông tụi nó đều ghét cậu Hai Điền. Đáng ngại nhứt là thằng A Mách, nó biết gồng Xiêm, gồng Chà. Nhưng cái thứ gồng đó dở lắm. Muốn giết thằng Mách, tôi bồng nó cho hai chân hỏng mặt đất rồi dùng nanh heo rừng hoặc khúc cây đâm ngược vô hậu môn. Bấy lâu nay thằng Mách phách lối, khoe rằng dao chém không đứt. Nó tưởng rằng tôi không biết chỗ nhược của nó.
Mui tam bản hóa ra chật chội, Bá Vạn nằm ngồi chẳng yên. Khí trời oi bức là một lẽ nhưng nguyên do chánh vẫn là những việc quan trọng sắp xảy ra: Giết hai cha con ông Chúa Hòn! Trong phút giây ông hơi ngao ngán, nhớ đến tuổi già chẳng còn hưởng được bao nhiêu năm nữa, làm cho dữ thì cũng nằm dưới ba tấc đất. Nhưng Bá Vạn lại tự biện hộ:
– Mấy ông Chúa Hòn trước đây có kẻ thiện kẻ ác, đời không nhắc nhở bất cứ một ai. Tai sao mình không chịu khó trong vài ngày để hưởng sung sướng trong những năm còn lại? Nếu mình rút lui, chưa ắt được yên ổn. Mối thù còn đó!
Ông Bá Vạn đưa tay lên vuốt mái tóc đã từng bị ô uế vì tô thịt và dĩa nước mắm. Ông nhớ đến cái áo dơ dáy còn xếp lại, cất kỹ trong tráp.
– Ai ở đằng sau kia? Mấy đứa hộ vệ chớ ai! Ai trong cái ghe hầu vậy ông?
Bá Vạn ra phía sau lái mà nhìn. Phản ứng đầu tiên của ông là câu hỏi nhẹ nhàng:
– Ông Chúa đi Lung Tràm theo con rạch Mù U, bọn hộ vệ đông lắm. Chiếc ghe hầu ở đằng sau dường như không có sơn son thếp vàng trên mui. Tụi bây tỏ con mắt thì coi giùm tao.
Thừa nói nhanh:
– Ghe hầu thứ thường.
Bá Vạn vẫn trầm tĩnh:
– Chẳng lẽ cậu Hai Điền theo dõi tao để rồi giết tao ở dọc đường? Nó ưa ngồi trên ghế, bắc ở giữa chiếc ghe không mui. Nếu đi săn thì nó đem theo bầy chó…
Thừa day lại, nói to:
– Lạ quá. Không có chó săn. Chẳng lẽ cậu Hai Điền?
Bá Vạn tỏ ra dè dặt. Nếu đụng độ với ghe cậu Hai trong tình thế nầy, thì ông ta chịu thất thế. Thằng Thiếu nóng nảy hơn, nói nhanh:
– Thưa ông, làm cách nào bây giờ? Tụi nó như chèo lẹ lắm rượt theo chiếc tam bản của mình!
Bá Vạn đáp:
– Đậu tam bản lại, cho tao lên bờ. Tụi bây cứ bình tĩnh. Cái gì kìa? Tụi nó múa tay múa chân, phải không?
Thằng Thừa trố mắt:
– Trước mũi ghe, cô Ngó đứng ngoắt kìa!
Nghe tên cô Ngó, Bá Vạn thờ phào khoẻ khoắn, vì cô không phải là kẻ thù. Nhưng còn mối lo khác: tại sao cô rời Hòn Chông quá hấp tấp? Hay là cậu Hai muốn ra tay trước, nắm tất cả quyền hạn tại Hòn Chông rồi tìm cách giết Bá Vạn?
Bá Vạn nói:
– Tụi bây cứ đậu tại đây.
Tam bản vừa cập sát bờ là Bá Vạn nhảy lên đứng thẳng người. Đằng kia cô Ngó cũng ra lịnh đậu ghe rồi lên bờ. Nụ cười nở trên môi cô Ngó. Thừa và Thiếu ngồi xuống, khoát nước rửa mặt.
Cô Ngó mặc bộ quần áo lụa trắng, dáng đi yểu điệu. Bá Vạn hỏi trước:
– Cô kiếm tôi? Chuyện gì quan trọng đó? Nãy giờ tôi giựt mình.
Cô Ngó đến gần Bá Vạn:
– Dạ, cậu Hai lo tập dượt mấy con chó săn. Cậu chưởi rủa vu vơ làm tôi nóng ruột quá. Chắc ông đi núi Mo So thăm ba tôi với con tôi.
Bá Vạn hơi xúc động trước vẻ đẹp tươi trẻ của cô Ngó:
– Vậy chớ đi đâu bây giờ? Tôi lo cho cô từ hồi nào tới giờ!
Cô Ngó cười tình:
– Biết lấy gì đền đáp cho xứng đáng?
Rồi liếc về phía thằng Thừa thằng Thiếu, cô hỏi khẽ:
– Hai thằng nầy tốt chớ?
– Người của tôi. Cô xuống tam bản nói chuyện cho vui, ở phía sau cứ chèo theo. Sợ gì!
– Tôi sợ lắm, sợ ông quên tôi. Từ khi cô Huôi được ông Chúa xem là “nữ thần hộ mạng”, tôi biết rằng mình hết thời rồi, chỉ còn trông cậy vào ông, miễn là thằng Cẩu được nở mày nở mặt.
Hai người xuống chiếc tam bản, ngồi gần nhau. Bá Vạn gật đầu:
– Đêm nay tại nhà cô, tôi nói nhiều chuyện hơn. Tôi quên cô hồi nào? Chẳng qua vì phận sư, vì việc lớn chưa làm xong.
Mặt trời đã lặn khi chiếc tam bản đến chân núi Mo So. Ông Mười Hấu đứng sẵn dưới bến. Chừng thấy Bá Vạn và cô Ngó trong mui, ông hơi ngạc nhiên:
– Ông Chúa đâu rồi?
Bá Vạn đáp:
– Ông Chúa lúc nầy lo ngao du.
Sự có mặt của cô Ngó trong mui tam bản khiến Mười Hấu lo nghĩ, đoán mãi không ra. Nhứt định là ở Hòn sắp thay đổi lớn. Nếu ông Chúa còn oai quyền như thuở nào thì làm sao Bá Vạn dám ngồi gần người vợ của ổng? Phải chăng Bá Vạn đang say mê nhan sắc cô Ngó, bày ra âm mưu thâm độc để chiếm riêng một cõi núi Mo So nầy? Đứng về luân lý, chuyện lân la giữa hai người không thể nào dung thứ được. Nếu ông Chúa biết thì bao nhiêu quyền hạn, lợi lộc của gia đình Mười Hấu sẽ mất. Nghĩ vậy, Mười Hấu hỏi kỹ lần thứ nhì:
– Ngó ơi! Sao con dại dột như vầy! Trước khi đi, con có xin phép ông Chúa không?
Bá Vạn lên bờ, trả lời thay cho cô Ngó:
– Chú Mười yên tâm. Tôi và cô Ngó đâu ngu dại gì làm chuyện trái với luân thường đạo lý. Vô nhà, tôi nói chuyện riêng. Đừng cho người nào lạ tới lui trước sân. Thằng Cẩu đâu rồi?
Mười Hấu đáp:
– Ông Bá nhắc tới tên thằng đó làm gì, không ai chịu nổi.
– Tôi muốn gặp thằng Cẩu.
Mười Hấu lắc đầu:
– Dạ, nó đi chơi rồi. Lát nữa, tôi kêu nó về. Chắc ông Bá chưa ăn cơm. Đêm nay ông ở đây chớ?
Bá Vạn vẫn chưa hết thắc mắc. Ông muốn gặp mặt thằng Cẩu, trước tiên là để xem tướng mạo cho biết nó có “khí tượng đế vương” hay không? Điều thứ nhì, không kém phần quan trọng hơn là dạy dỗ thằng Cẩu những lời ăn tiếng nói cho hợp với hoàn cảnh mới, khi ông Chúa Hòn vừa nhắm mắt.
Cô Ngó hỏi Bá Vạn:
– Ông tính chuyện gì thì nên làm gấp. Tôi sợ bọn cậu Hai Điền theo dõi, hạ sát mẹ con tôi. Hồi tôi ra đi, cậu Hai nằm ngủ nhưng bọn hộ vệ thì nói chuyện riêng như bí mật lắm. Mỗi đứa đều cầm mác, cầm dao mà mài cho bén.
Bá Vạn day lại:
– Chú Mười đuổi những người lạ mặt cho xa nhà nầy.
Cô Ngó trả lời thay cha:
– Má tôi mất lâu rồi, đâu còn ai trong nhà nầy. Ông Bá cứ bàn bạc.
– Tôi muốn nhờ chú Mười kiếm thằng Cẩu thiệt gấp.
Từ lâu, thỉnh thoảng về thăm nhà, cô Ngó hiểu phần nào tánh tình thằng Cẩu. Lớn lên, nó chỉ lo ăn chơi xài phí tiền bạc. Lại còn cái tật hỗn láo, cãi với ông ngoại. Cô biết thằng Cẩu đang dạo xóm để chọc gái và đá cá lia thia. Nói ra quá sớm, ông Bá Vạn sẽ thất vọng vì nếu thằng Cẩu mà lên ngôi Chúa Hòn thì sự nghiệp sẽ tan tành: hoặc là dân chúng sẽ nổi loạn, không thèm đóng một hột lúa nào cả.
Cô Ngó nói:
– Để tôi xuống nhà bếp nhờ ba tôi đi kiếm thằng Cẩu, gọi nó về đây gặp ông. Bây giờ hơi khuya, không nên là xáo động xóm giềng. Chắc ông mệt? Miễn là ăn cơm xong “mình” gặp thằng Cẩu. Nó khờ dại lắm, nhờ ông dạy dỗ.
Tiếng “mình” từ miệng cô Ngó nói ra thật là ngọt ngào và gợi tình. Làm sao Bá Vạn làm ngơ trước đóa hoa tươi trẻ ấy được? Bá Vạn lẩm bẩm một mình:
– Nếu cô Ngó và Mười Hấu đột nhiên theo phe cậu Hai Điền thì nguy cho mình. Mình nên chiều theo ý họ.
Ông xuống bến nói với thằng Thiếu:
– Mầy buồn ngủ chưa? Mầy đói bụng không ?
Thiếu đáp ngay:
– Ông dạy thì tôi vâng lời. Hơi đói nhưng chịu nổi.
Bá Vạn nói khẽ:
– Mầy qua Lung Tràm rồi trở về đây cho tao biết ông Chúa với cô Huôi tới đó chưa?
Thằng Thiếu gật đầu rồi hỏi:
– Thưa ông, thì tôi mượn chiếc xuồng độc mộc của ông Mười Hấu, dùng sào mà chống tắt qua đồng cỏ. Hừng sáng, tôi về tới đây. Ông còn nhắn thêm điều gì không? Chẳng lẽ tới Lung Tràm rồi trở về thì uổng công trình của tôi quá.
Bá Vạn vỗ vai thằng Thiếu:
– Mầy coi vậy mà khôn. Tao thấy chống xuồng mệt hơn là cỡi trâu. Lát nữa tao mượn một con trâu cổ cho mày cưỡi. Nếu gặp cô Huôi, mày lại gần nhắn giùm tao. Mà thôi, chưa chi đã lộ bí mất.
Thằng Thiếu trố mắt:
– Theo tôi thì chẳng có điều gì bí mật nữa. Một là tôi sống, hai là tôi chết. Chẳng lẽ cô Huôi tìm cách hại tôi? Còn ông Chúa Hòn thì…
Bá Vạn lấy tay bụm miệng thằng Thiếu:
– Mầy đừng lớn tiếng. Ông Chúa đến Lung Tràm để chết vì ngọn giáo của mầy, tao hiểu rồi. Nếu gặp cô Huôi, mày nhắn rằng nên chờ ngày mai hoặc ngày mốt, nói vậy là cổ hiểu.
Từ nhà trên, cô Ngó bước ra sân, Bá Vạn đưa tay ngoắt rồi nói:
– Thằng Thiếu đi Lung Tràm, thằng Thừa lên sân kiếm cơm ăn rồi canh phòng rủi có kẻ lạ mặt tới đây gây chuyện. Tao ở dưới nầy tìm cách thuyết phục cô Ngó. Cô Ngó coi vậy mà không tỉnh táo.
Thằng Thừa sẵn sàng lên bờ để kiếm cơm ăn cho no lòng rồi ngủ cho khoẻ. Nó muốn cho Bá Vạn và cô Ngó bày chuyện yêu đương. Rồi đây nếu âm mưu được thành công, Bá Vạn và cô Ngó ắt nhớ công lao của nó.
Cô Ngó xuống tam bản, vào trong rồi đốt ngọn đèn sáng. Cha cô đã khuyên cô tìm cách quyến rũ Bá Vạn vì tình thế đã thay đổi. Nếu cậu Hai Điền thắng thế thì chưa ắt cô và thằng Cẩu còn sống được.
Bá Vạn vào trong mui, cười hề hề:
– Đêm nay ở dưới nầy mát mẻ nhưng …muỗi cắn.
Cô Ngó cười tủm tỉm:
– Trên nhà, có nhiều chuyện bất lợi. Ở dưới nầy, thảnh thơi hơn. Tôi giăng mùng cho ông ngủ. Hễ nực hay là muỗi vô mùng quá nhiều, tôi quạt. Tôi biết… ông Bá thương tôi nhiều nên lo cho mẹ con tôi…
Bá Vạn hiểu rằng cô Ngó đã sẵn sàng trao thân cho ông. Muốn cho đêm dài được trọn vẹn ý nghĩa, ông hỏi:
– Ăn cơm uống rượu xong, tôi nói cho cô nghe nhiều điều.
Cô Ngó hỏi:
– Điều gì? Ông nói đi rồi…em đem cơm xuống đây ăn một lượt, em còn đói hơn ông nữa đó.
Bá Vạn ôm cô Ngó vào lòng. Cô Ngó giả vờ e thẹn:
– Để em lên nhà đem cơm xuống…
Đêm sáng, trời trong, Bá Vạn mở cánh cửa nhỏ bên hông mui ghe để thưởng thức trọn vẹn cảnh đẹp bên ngoài. Cô Ngó bước thong thả lên sân, dáng đi yểu điệu lạ thường, thỉnh thoảng day lại hé miệng cười. Cá đớp bọt sát bờ, vài con hạc ăn sương bay lướt qua như xé không gian với tiếng kêu oang oác hiền lành…
Chừng nầy thằng Thiếu đang cưỡi trâu đến Lung Tràm. Trễ lắm là hừng sáng nó trở về báo tin. Bá Vạn thầm nghĩ:
– Sống lênh đênh trên chiếc ghe, giữa cảnh đồng quê mộc mạc vẫn vui thú hơn ở trong nhà. Ông Chúa Hòn là người quá khôn, biết hưởng thụ. Hồi xưa, ông đến đây để gặp cô Ngó lần đầu tiên. Ngày ấy, còn nhớ cô Ngó là gái tơ múc nước bên suối. Vật đổi sao dời, bao nhiêu nước chảy qua cầu. Thằng Cẩu lớn lên, ai biết rằng nó sắp trở thành ông vua nho nhỏ trong vài ngày sắp tới.
Thấy cô Ngó trở lên, Mười Hấu khuyên răn:
– Con nên cẩn thận. Liệu Bá Vạn lật đổ ông Chúa nổi không ?
Cô Ngó đáp:
– Bá Vạn là tay đầy mưu mẹo, dư sức làm. Ông Chúa đang đi săn ở Lung Tràm, bọn hộ vệ đã bị mua chuộc, chờ lịnh Bá Vạn là chúng nó giết khéo léo.
Mười Hấu đáp:
– Nhưng còn cậu Hai Điền! Làm sao thằng Cẩu tranh giành địa vị được. Cậu Hai lớn tuổi hơn, lại là con giòng chánh.
– Ông Bá Vạn nói sẽ cho cậu Hai “đi đời” dễ dàng. Thằng Cẩu đâu rồi? Phải cho nó gặp ông Bá Vạn để được chỉ dạy về lời ăn tiếng nói. Nó ham chơi quá.
Mười Hấu cau mày:
– Tánh tình thằng Cẩu, con dư biết vì con là mẹ của nó. Nó ăn chơi không ai bằng. Đã vậy mà nó còn cứng đầu cứng cổ, muốn làm gì thì làm. Hôm trước nó xách cây gài cửa để rượt ba. Mấy ông thầy ở trên núi nói rằng nó bị bùa ngải hành xác.
Cô Ngó nói khẽ:
– Ba đừng cho ông Bá Vạn biết căn bệnh của nó. Liệu ngày mai nó về đây không?
– Ba cho người đi kiếm nó rồi. Nó đang xổ cá thia thia để tuyển thứ cá nòi, cá rặc. Sáng mai, ba đi gặp nó, năn nỉ nó về đây. Con xuống ghe, kẻo ông Bá Vạn chờ. Ba hồi hộp quá…
Mâm cơm đã bưng xuống tam bản. Bá Vạn uống rượu, ăn ngon lành. Cô Ngó cầm đũa, lựa mấy miếng thịt ngon gắp để trong chén sẵn cho ông Bá Vạn. Hồi lâu, cô mới dám ngỏ lời tâm sự:
– Ông à! Em sợ điều nầy…
Bá Vạn đáp:
– Được làm vua, thua làm giặc, đó là thế gian thường tình. Nếu không xong, xứ nầy còn nhiều nơi để ta ẩn náu. Giặc Tây nghe đâu đã đánh tới Vĩnh Long, Tân An. Mình tới mấy chỗ đó là yên thân. Ông Chúa đâu có đủ binh mã mà rượt theo. Với năm ba chục lượng vàng, mình đủ sống năm mười năm.
Cô Ngó đáp:
– Em muốn nói chuyện khác. Em sợ nửa chừng ông bỏ em bơ vơ.
Bá Vạn hỏi:
– Sao vậy? Em làm cho tôi giựt mình. Tôi làm điều gì mà em nghi ngờ?
– Còn cô Huôi ?
Bá Vạn cười sặc sụa:
– Cô Huôi trở thành “mẫu hậu”. Tôi ngu dại gì mà yêu cô Huôi cho nhọc thân, cho thiên hạ nghi ngờ rằng tôi tham lam.
Tôi sống với cô em như vầy là quá vui rồi. Cô em sẽ thấy đời cô Huôi là khổ, tiền bạc oai quyền rất nhiều nhưng phòng the khép kín.
Cô Ngó như chợt hiểu:
– Như vậy, ai dám nói xấu mình được! Em đâu ngờ ông tài giỏi, thấy xa hiểu rộng tới mức đó. Cô Huôi và thằng Cẩu đều là người dưng nhưng…nắm quyền vùng nầy, bởi vì ông Chúa với cậu Hai Điền đều ngộ nạn thình lình. Bà chánh thất như con rắn mất đầu…
Bá Vạn ưỡn ngực, vuốt râu:
– Bởi vì bà ta không biết dạy con. Thằng Hai Điền vô phép quá, nó hạ nhục tôi, bây giờ …trời hại nó. Cô còn nhớ không? Tôi không thèm rửa mặt, không thèm thay áo, cứ mang cái áo dính thịt kho với nước mắm mà đi ngoài đường cho thiên hạ thấy. Từ lâu rồi, thiên hạ biết thằng Hai Điền là đứa gian ác. Thằng Cẩu của em chắc hiền lành hơn.
Nghe hỏi tới đó, cô Ngó suy nghĩ, chưa dám trả lời. Cô nói lảng qua chuyện khác:
– Hồi đó, thấy ông mặc cái áo dơ, em tức giận cậu Hai nhưng biết nói sao bây giờ. Em đón ông, bữa đó em cầm bó bông sen.
– Nhớ rồi! Mấy cái bông sen… Rót rượu thêm. Đêm nay vui quá. Ở Lung Tràm, ông Chúa Hòn với cô Huôi hưởng lạc thú nào thì ở đây mình hưởng lạc thú đó. Em đem cơm ra ngoài. Buồn ngủ quá..
…Hai người nằm kề nhau, đến hừng sáng, cô Ngó thức trước. Ánh nắng chói chang bên ngoài tạt qua khe cửa mui tam bản. Bỗng dưng mà cô sợ sệt. Nếu bọn dọ thám của cậu Hai theo dõi thì chúng bắt gặp quả tang cuộc yêu đương vụng trộm nầy. Cô muốn lên nhà, để Bá Vạn ngủ dưới nầy một mình nhưng làm vậy Bá Vạn buồn, tưởng cô chỉ yêu ông ta vì quyền lợi tạm thời, vì tương lai của thằng Cẩu.
Trên bờ, có tiếng gọi:
– Ông ơi!
Thằng Thiếu nhảy gọn xuống đất, con trâu cổ đứng lóng nhóng, le lưỡi như đói khát. Cô Ngó mở cửa rồi đánh thức:
– Ông ơi, có chuyện.
Bá Vạn mở mắt, thằng Thiếu đã xuống tam bản. Bá Vạn ra lịnh cho cô Ngó:
– Cô lên nhà, để tôi bàn chuyện.
Rồi nói riêng với thằng Thiếu:
– Gặp không ?
Thằng Thiếu cho biết là ông Chúa và cô Huôi đang ở Cây Gừa, một xóm phì nhiêu gần Lung Tràm. Đêm rồi ông Chúa uống rượu say mèm, gọi mấy cô gái Cao Miên trong xóm đến múa hát. Nó gặp cô Huôi, cô Huôi trả lời rằng ngày mai hoặc ngày mốt, ông Chúa mới săn heo rừng. Con heo độc giác còn lẩn trốn chưa ai gặp tung tích. Bọn hộ vệ đang dẫn bầy chó săn lùng kiếm….
– Mầy với thằng Thừa lên nhà kiếm cơm mà ăn rồi lo canh phòng xung quanh xóm nầy, đừng cho bất cứ ai lẻn vào. Tao kiếm thằng Cẩu.
Bá Vạn lên nhà. Mười Hấu đang bối rối vì thằng Cẩu chưa chịu về để trình diện với Bá Vạn. Hôm nay, có độ đá thia thia ở núi Còm. Nó lỡ ăn thua, chắc tới chiều mới về đây được.
Nói ra sự thật e Bá Vạn thất vọng. Một ông Chúa tương lai mà ham chơi, thì ai dám tin cậy, như vậy là kém xa cậu Hai Điền.
Hồi lâu, Mười Hấu mới viện được lý do:
– Thưa ông, hôm nay mời ông đi núi Còm chơi cho biết phong cảnh. Thằng Cẩu muốn về nhà gặp ông nhưng rủi quá, nó hơi bịnh.
Câu nói ấy khiến Bá Vạn lo âu. Thằng Cẩu mà mang bịnh thì công việc khó thành. Trước khi ông Chúa Hòn nhắm mắt, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận chức vị mới. Và trong khi ông Chúa hấp hối, chưa biết nên nhường cho ai thụ hưởng, Cẩu phải tỏ ra khiêm tốn, ăn nói đàng hoàng để giành được cảm tình. Bá Vạn hỏi nhanh:
– Nó đau nhiều hay ít?
Mười Hấu đáp:
– Dạ, chắc nó cảm mạo sơ sài thôi.
Ý kiến của Bá Vạn khiến Mười Hấu trút được bao nhiêu lo âu:
- Vậy thì tôi đến núi Còm gặp nó, săn sóc cho nó.
- Tôi lo sợ quá, sợ ông hiểu lầm rằng nó vô phép.
-       Mình đi lập tức.
Mười Hấu xuống chiếc tam bản. Bá Vạn vào mui. Thiếu và Thừa ra sức chèo mạnh tay. Bá Vạn thấy hai bên bờ xóm nhà khá đông, nhiều người tò mò đứng nhìn, thì nói:
– Chú Mười chịu khó ngồi trước mũi tam bản. Ngoài đó nắng, nhưng nếu chú vô mui với tôi thì thiên hạ hiểu lầm.
Mười Hấu phục ngầm sự bố trí của Bá Vạn:
– Dạ, ông nói đúng. Đừng để dân chúng cho rằng ông toa rập với tôi để giành quyền với cậu Hai Điền. Con Ngó ở nhà là phải…
Tuy nhiên dân chúng cũng kéo xuống mé rạch để tỏ lòng cung kính với Bá Vạn, nếu Bá Vạn thương thì họ được vay tiền nhiều trong mùa tới. Bá Vạn đành xuất hiện từng chập, ló đầu ra khỏi cửa tam bản để chào mấy ông kỳ lão và nhận vài món quà xứng đáng như mật ong, sáp ong.
Núi Còm hiện ra với hình dáng đặc biệt như con cóc đang ngồi giữa vùng đất sình lầy. Xưa kia núi Còm là một hòn đảo giữa biển, lần hồi đất phù sa lấn vào, chôn lấp chân núi. Vách đá bị sóng đánh vào, khuyết từng mảng lớn. Xung quanh núi, còn con rạch nhỏ chảy cong queo. Bọn người săn ổ ong dường như làm việc không ngừng. Vách đá cheo leo, ấy thế mà họ buộc dây vào eo lưng, đầu dây có vòng tròn máng vào hòn đá trên cao hơn. Họ cứ di chuyển tòn teng như thế, tìm mấy ổ ong ở kẹt đá.
Bá Vạn mải mê xem, chợt nghe Mười Hấu nói:
– Thưa ông, tới rồi.




Đăng nhập để trả lời
0
- 4 -
 
 
 
Cẩu là chàng trai kiêu hãnh, thích ăn chơi, mê gái. Năm ngoái, một ông lục người Cao Miên làm phép cho cậu ta, trao cho sợi dây cà tha. Cậu ta lạy ông lục rồi nhận sợi dây bùa ấy: một sợi chỉ tơ se lại khá to và chắc, từng miếng vàng lá được cuốn tròn rải rác quanh sợi chỉ. Ông lục nói:
– Từ rày về sau, không ai chém cậu được. Khi đụng vào da thịt cậu, lưỡi dao dội ngược ra.
Cậu hỏi về tiền tài, tình duyên. Ông lục nói:
– Cậu là người đầy đủ quyền thế, sung sướng mãn đời, sống hơn tám mươi tuổi. Cứ ngồi một chỗ cũng có hàng chục cô gái tới hầu hạ.
Bởi vậy, Cẩu bất chấp lời khuyên dạy của mẹ nó và ông ngoại. Thỉnh thoảng, cậu ta được mẹ ban thưởng vàng bạc, tha hồ xài phí. Món giải trí ưa thích vẫn là đá cá thia thia.
Hôm qua, cậu gặp người nhà đến gọi:
– Ông Mười kêu về nhà!
Cậu lắc đầu:
– Ngày mốt tao mới về được, mai nầy, còn đá một trận lớn.
Người nhà van nài:
– Ông Bá Vạn và mẹ cậu tới thăm.
Cậu trả lời chậm rãi:
– Tao mạnh khoẻ, cần gì thăm viếng. Tao đâu phải là thằng dân quèn dưới quyền ông Bá Vạn.
Sáng nay cậu tới trường đá cá thia thia. Đó là ngôi nhà khá rộng, dành riêng cho người sành điệu tới ăn thua, sát phạt. Nghe danh cậu Cẩu, người ở vùng lân cận kéo tới tấp nập. Cậu ta dám thua sạch túi, không bao giờ gian lận. Cậu nhìn ra sân như áy náy:
– Mặt trời lên chậm quá. Có nắng nóng thì cá đá mới hăng. Tụi bây lựa con cá “mun” đem ra đây.
Cá mun là loại cá thia thia đen, nhỏ con, màu giống như cục than. Dân sành điệu ít dám nuôi cá mun vì đa số đều “bở” đá không lâu, vừa bị đòn là đã chạy. Tuy nhiên, thỉnh thoảng họ gặp con “cá thần” trăm trận trăm thắng.
Tỏ ra là người quân tử, cậu Cẩu lên tiếng:
– Tôi cho bà con biết trước rằng con cá mun nầy là “cá thần”.
Có người hỏi:
– Cậu hớt tại đâu?
– Trên chót núi Còm. Cá ở trên chót núi là điều phi thường. Còn điều phi thường thứ nhì là nó sống trong bộng cây. Trên chót núi, có cây thị bị trời đánh tét đôi, nước mưa đọng trong gốc cây, con cá…từ trên trời…đáp xuống.
– Làm sao từ trên trời rớt xuống được? Theo ý tôi thì đó là một cái trứng cá nhỏ, từ dưới đất bay lên theo gió rồi rớt vô vũng nước. Nhiều khi cá đẻ trên đất bùn rồi gặp nắng….
Cậu Cẩu trợn mắt. Người vừa cãi với cậu là ông lão hơn sáu mươi tuổi.
Nếu quát tháo thì hóa ra vô lễ, cậu nén cơn giận, mặt mày tái mét, hai bàn tay giựt lia lịa như mắc chứng kinh phong:
– Cá nầy đâu phải phàm tục, dính bùn đất. Ông dám đá với nó không?
Ông lão vuốt râu cười:
– Xin lỗi cậu, tôi hiểu tới đâu thì nói tới đó.
Cậu Cẩu bèn cởi áo ra, để lộ sợi dây cà tha trên ngực:
– Tôi ở đây hoài, đá đủ một chục độ. Con cá mun của tôi sẽ thủ đài!
Nói dứt lời, cậu đứng dậy, ra trước sân. Mười Hấu và Bá Vạn đằng kia đi lững thững đến. Mười Hấu bước nhanh, lại gần mà nói:
– Cháu bận áo vô. Làm gì mà ở trần vậy, coi không được. Ông Bá Vạn tới thăm để giúp cháu…một chuyện lớn. Nhớ chắp tay chào ổng.
Cẩu nhướng mắt, nhìn về Bá Vạn:
– Ông già đó…gần sụm rồi! Chắc là muốn đá thia thia. Mời ổng ở lại coi vài độ…
Mười Hấu giựt mình:
– Đâu được, con đừng ăn nói hỗn láo. Bá Vạn còn nhiều chuyện khác. Dẹp cái vụ đá cá qua một bên. Đừng hỗn hào.
Nhưng cậu Cẩu đã lớn tiếng:
– Chào ông Bá. Bữa nay ông tới đây để chung vui hả? Đem theo bao nhiêu tiền? Già rồi mà không chơi cho vui là…dại dột.
Bá Vạn vô cùng thất vọng. Người như thằng Cẩu làm sao đóng vai trò ông Chúa Hòn trong tương lai được! Nhưng nếu chê bai nó thì ông còn biết chọn ai. Bởi vậy, ông mỉm cười:
– Cậu rảnh rang quá!
– Đời tôi cực khổ lắm. Lo cho con cá mun nầy. Nó thắng chín độ rồi. Hôm nay là độ thứ mười. Có phần không cần gì lo.
Bá Vạn nôn nóng, muốn nói riêng với thằng Cẩu về kế họach sắp tới, thí dụ như chàng ta phải đến gặp ông Chúa Hòn và cô Huôi tại Lung Tràm, trước khi ông Chúa săn heo rừng để rồi thọ nạn.
– Cậu uống rượu với tôi cho vui.
Mười Hấu bước vào, vỗ vai thằng Cẩu:
– Cháu ơi! Uống rượu cho ông Bá Vạn mừng. Lâu lâu, ông Bá tới thăm cháu một lần. Nên nghe lời ông Bá. Cái chuyện đá cá thia thia nầy đợi tới chiều cũng không muộn. Rủi ông Bá giận cháu thì sao? Xuống tam bản, uống chén rượu…
Thằng Cẩu vẫn lì lợm, gõ tay xuống bàn mà hát:
Dẫu sao cũng chẳng làm sao. Dẫu có bề nào, cũng chẳng làm chi. Ủa! Dầu chi cũng chẳng làm chi…
Bá Vạn khều ông Mười Hấu:
– Nó mê chơi thì để cho nó mê.
Mười Hấu nghĩ đến địa vị “quốc phụ” trong tương lai nên hơi lo ngại. Nếu thằng Cẩu vô lễ thì Bá Vạn dám ngả về phe cậu Hai Điền, chừng đó cậu Hai giết thằng Cẩu để trừ hậu họa. Mười Hấu lại khuyên:
– Cháu nghe lời ông ngoại một lần.
Thằng Cẩu cười hề hà:
– Lát nữa mới nghe. Ông ngoại làm gì gấp dữ vậy? Mọi khi, hễ thấy cháu đá cá thia thia thì ông ngoại khen. Nghề nầy của ông ngoại truyền lại cho cháu mà!
Mười Hấu ra sân, nói khẽ với Bá Vạn:
– Ông tha thứ cho cháu. Cái tật của nó lớn lắm. Cứ ham chơi và ham gái đẹp.
Bá Vạn đáp:
– Vậy thì chú Mười biểu nó đá vài độ cá thia thia, sau đó tôi nói chuyện với nó. Chú tìm cách đưa nó về nhà ở núi Mo So, dễ bàn bạc hơn. Ở đây rừng có mạch, vách có tai.
Mười Hấu bèn đổi thái độ:
– Cháu đem cá ra “cáp độ” cho ông coi. Ông Bá Vạn cùng ngồi đây để xem..
Thằng Cẩu thích chí vô cùng:
– Có vậy mới được chớ!
Người chủ trường khiêng ra cái ghế trường kỷ để mời Mười Hấu và Bá Vạn ngồi. Thằng Cẩu nói với cử toạ:
– Bà con mình cứ cáp độ! Tôi đem con cá mun ra! Bà con cứ tới coi cho kỹ con cá thần nầy!
Cử toạ im lặng, chẳng ai muốn làm chuyện vô lễ trước mặt Bá Vạn, Mười Hấu cả. Thật ra, “cá mun” chỉ là huyền thọai mà thôi, đa số đều đá dở, chưa tới nước khuya là chạy rót, nếu bị cắn đau.
Một ông lão đến gần cái thố bằng đất, ngắm nghía kỹ lưỡng. Phép xem cá thia thia vẫn là từ trên cao nhìn xuống để xem bề ngang cái lưng con cá. Ông lão cau mày:
– Cá nầy hơi lớn. Tụi tôi sợ rồi.
Thằng Cẩu đáp:
– Tại sao ông sợ?
Mười Hấu liếc về phía ông lão nọ rồi sờ tay vào túi như ngầm bảo “Cứ đá, nếu thua thì tôi chịu cho một số tiền”. Ông lão nọ hiểu ý bèn lên tiếng:
– Dạ, ít tiền quá…
Thằng Cẩu đáp:
– Cái gì chớ ít tiền thì dễ quá. Bây giờ tôi nói rõ. Hễ tôi ăn thì ông chịu thua… hai ngày công. Nghĩa là ông chèo ghe cho tôi đi chơi hai ngày mà không ăn tiền. Còn nếu cá của ông mà thắng thì tôi…chèo ghe cho ông đi chơi …bốn ngày ròng rã. Tôi nói là tôi làm.
– Dạ, cậu muốn thì tôi không dám cãi.
Thằng Cẩu ra vẻ bình dân:
– Cái gì dám với không dám. Mình chơi theo “điệu nghệ” mà. Phải cho con cá mun thắng độ thứ mười rồi tôi mới về nhà ngủ yên được.
Lát sau, ông lão đem con cá thia thia thả vô cái keo lớn. Thằng Cẩu xoa tay khấn vái rồi cầm cây vợt nhỏ xúc con cá mun thả vô keo.
Ai nấy nín thở chờ đợi, tin rằng con cá mun sẽ thắng đối phương dễ dàng.
Con cá của ông lão bắt đầu lên sắc, vẩy trổ màu xanh ngời, đuôi, kỳ và phướn đều xoè ra, xáp lại gần cá mun.
Nhưng lạ thay, con cá mun cứ lội lững lờ rồi từ từ xuống sắc. Màu đen của vẩy trở thành màu “sọc dưa” gọi theo danh từ nhà nghề của giới đá cá thia thia. Bá Vạn mừng thầm, tin rằng độ cá nầy sẽ kết thúc sớm. Ông ta vuốt râu, rồi lấy tay che miệng, cười tủm tỉm.
Thằng Cẩu trợn mắt:
– Kỳ cục quá.
Rồi chàng ta đứng dậy nắm cái keo bằng sành, quơ tay lên, ném mạnh ra phía ngoài sân. Cái keo bể ra từng mảnh nhỏ, nước văng tung toé, hai con cá dường như mất tích. Cậu nói to:
– Xui xẻo quá! Tại mấy ông tới mà con cá mun phải hư! Về! Mướn tôi ở lại mười lượng vàng tôi cũng không thèm. Về!
Bá Vạn đủ bản lãnh để chịu đựng thái độ ngạo mạn ấy. Nãy giờ, ông chú ý một điều: quả thật, thằng Cẩu mang chứng bệnh lạ kỳ, có thể là nóng gan. Lúc giận, chàng ta run hai tay, mặt mày tái mét. Chuyện lúc nãy không đáng giận đến mức ấy. Nay mai, nếu trở thành ông Chúa, chàng sẽ làm nhiều chuyện lạ lùng và khó hiểu hơn cậu Hai Điền.
Mười Hấu phàn nàn với Bá Vạn:
– Ông thương nó giùm. Tuổi trẻ thì ham chơi. Nếu làm chức lớn, chắc nó siêng năng, trầm tĩnh hơn.
– Nó có bản lãnh. Bây giờ nó chịu về nhà rồi chớ? Tôi còn nhiều chuyện quan trọng khác. Sáng mai, tôi gặp cô Huôi rồi trở về Hòn Chông.
– Ủa! Rồi tôi với thằng Cẩu làm chuyện gì? Ông bỏ tôi sao?
Bá Vạn nói khẽ:
– Hai ngày nữa, ông dẫn thằng Cẩu tới Lung Tràm và chờ cơ hội tốt. Biểu nó về nhà!
Chiếc tam bản chở Bá Vạn đi trước. Thằng Cẩu ngồi trên chiếc ghe mui, phía sau. Chàng ta đang đùa giỡn với ba bốn cô gái quê. Các cô cười sặc sụa.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2021 13:57:20 bởi Ct.Ly>
- 5 -
 
Sau khi trao cho Mười Hấu chút ít tiền, Bá Vạn sẽ đến Lung Tràm để ra mắt cô Huôi và ông Chúa Hòn. Cuộc tiễn đưa khá ngậm ngùi và sôi nổi. Mười Hấu đem ra thứ rượu quý, rót cho Bá Vạn một chén nhỏ, bảo là rượu tê giác…Bá Vạn nói khẽ vào tai Mười Hấu vài câu. Mười Hấu rưng rưng nước mắt:
– Cầu Trời Phật phò hộ. Vắng ông, tôi như cái xác không hồn. Mong ngày gặp mặt ông…
Khi gần tới Lung Tràm, Bá Vạn nghe tiếng nhạc ngũ âm vang rền hai bên bờ rạch, người Cao Miên ca hát nghêu ngao, tất cả già trẻ bé lớn đều say sưa. Có người nằm dài trên bãi cỏ, mửa ra mật xanh vì uống rượu đế quá nhiều.
Một tên hộ vệ nhận ra thằng Thừa thằng Thiếu nên cười to:
– Tụi bây cực quá vậy! Lên đây cho no say.
Bá Vạn nhô đầu ra khỏi mui tam bản:
– Đứa nào đó?
Tên hộ vệ giựt mình:
– Xin lỗi ông Bá, tôi uống rượu hơi nhiều.
– Làm gì cả xóm đều vui say vậy?
– Dạ, hôm qua là ngày mừng bà Chúa. Ông Chúa thết đãi dân làng. Rồi còn một trận săn heo rừng dữ dội.
Bá Vạn mừng quýnh vì cô Huôi quả thật là người đầy đủ bản lãnh. Cô đã thuyết phục ông Chúa Hòn để được phong là bà Chúa.
Như vậy, nếu ông Chúa nhắm mắt thình lình, bà nắm trong tay khá nhiều quyền hạn.
Ông Chúa Hòn nằm trong chiếc ghe hầu, ngáy khò khò. Bá Vạn rất mừng khi gặp cô Huôi. Cô ngồi trong gian nhà khá sang trọng của người điền chủ. Bá Vạn hỏi nhanh:
– Chắc bà trông đợi tôi? Xin lỗi bà…Ông Chúa đâu rồi? Sao bà không săn sóc ổng?
Lập tức, cô Huôi khoát tay cho bọn nữ tỳ và bọn hộ vệ lui ra xa. Bá Vạn đuổi khéo người chủ nhà:
– Vài tháng nữa, tôi cho ông mượn thêm tiền để làm mùa. Xóm nầy sung túc quá. Tôi thích ăn rắn hổ đất, chiều nay ông kiếm một con, nấu cháo đậu xanh ăn chơi.
Cô Huôi nói:
– Tôi được phong làm bà Chúa rồi! Ông Chúa nằm dưới ghe, năm bảy cô gái lo đấm bóp, quạt hầu cho ông ta. Cái tật gì lớn quá, dọc đường hễ gặp gái tơ là ổng mời xuống ghe. Tôi giận quá, nói phải nói quấy. Bởi vậy, ổng sẵn sàng phong cho tôi chức bà Chúa để tôi hết ghen tương lặt vặt.
– Buổi lễ đông đảo không?
– Sao không đông đảo, hai ngày hai đêm rồi mà dân chúng còn uống rượu…
Bá Vạn nâng chén nước lên, uống một hơi rất khoẻ khoắn:
– Như vậy là dân chúng vùng Lung Tràm nầy đã tôn sùng và nhìn nhận cô rồi. Nay mai, nếu cần chống cự với cậu Hai Điền, cô sẵn một số dân trung thành trong tay.
– Chừng nào ông ra tay? Tại sao ông còn sợ cậu Hai Điền?
Bá Vạn đáp:
– Đó là đề phòng chuyện bất ngờ. Chừng ba ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung để săn heo rừng. Tôi phải vắng mặt trong lúc xảy ra tai nạn để cậu Hai Điền đừng nghi ngờ rằng có bàn tay tôi nhúng vào.
Là người thông minh, cô Huôi chưa được yên tâm cho lắm. Trên gương mặt Bá Vạn, cô bắt gặp nhiều nét lo âu, buồn bực. Tuy nhiên, cô mỉm cười mà chờ đợi. Bá Vạn sắp sửa vào đề. Đây là vấn đề khó nói, sẽ gặp phản ứng của cô Huôi. Hồi lâu, ông nói:
– Thưa cô, công việc đã xong xuôi rồi nhưng còn chút ít khó khăn.
– Bá Vạn sợ điều gì?
– Rồi đây, thằng Cẩu thay cho cậu Hai Điền. Nó trở thành ông Chúa, cô là mẹ của nó. Nó gọi cô bằng “má lớn”.
Cô Huôi cau mày:
– Phiền quá. Tôi muốn về nhà, sống cho an nhàn, miễn là cha tôi khỏi cày bừa cực nhọc. Tôi muốn tranh giành quyền hạn với ai đâu? Thằng Cẩu là con trai ông Chúa, nó thay thế cha nó là phải. Trừ khi nào ông Chúa không có con trai, dòng vợ lớn như dòng vợ nhỏ, thì tôi mới thay quyền.
Bá Vạn vội đính chánh:
– Nếu cô không ở lại Hòn Chông mà nắm giềng mối thì chắc tôi cũng rút lui về vườn cho khoẻ. Tôi bày chuyện săn heo rừng nầy đâu phải vì muốn chiếm đoạt chức vị. Bá Vạn vẫn là Bá Vạn coi sổ sách cho ông Chúa Hòn, dầu ông Chúa là người già hay người trẻ, tôi cũng phải tùng phục.
Cô Huôi mừng thầm vì nãy giờ cô đã áp đảo được Bá Vạn. Quả thật, Bá Vạn đã kiêng nể cô Huôi, mặc dầu nhỏ, đáng bực con cái, nhưng cô đủ bản lãnh. Bấy giờ, Bá Vạn mới cúi đầu, nói ra vấn đề khó giải quyết, tế nhị nhứt:
– Cô sẽ điều khiển thằng Cẩu, nó còn nhỏ dại.
– Thì tôi giúp nó trong vài năm rồi tôi về nhà.
– Thưa cô, nó mang tật lớn lắm….
– Tật gì?
Bao nhiêu lời hỗn láo như còn vang rền trong tai Bá Vạn. Và nhứt là hình ảnh thằng Cẩu đang vung tay ném cái keo đựng hai con cá thia thia. Lúc ấy, mặt mày thằng Cẩu tái mét, tay run run như thằn lằn đứt đuôi. Theo sự hiểu biết của Bá Vạn, đó là thằng Cẩu bị mất trí vì bùa phép hành hạ. Nó uống quá liều lượng. Hoặc còn lý do xa vời hơn là thằng Cẩu mang chứng bịnh di truyền. Ông Chúa Hòn là người ăn chơi trác táng, bịnh phong tình còn ngấm ngầm hành hạ cơ thể, mấy đứa con của ông đều yếu đuối về thần kinh. Cậu Hai Điền tạt tô thịt kho vào đầu Bá Vạn cũng giống như trường hợp thằng Cẩu ném cái keo đựng con cá thia thia mun, vì cậy quyền thế, vì cơn điên nổi lên.
Bá Vạn nói chậm rãi:
– Thưa cô, thằng Cẩu ham chơi, tánh tình buồn vui bất thường, muốn nổi giận thì cứ…nổi giận không cần duyên cớ. Tôi sợ rồi đây giữa nó và cô xảy ra nhiều phiền hạ.
Cô Huôi đáp:
– Tôi là “má lớn” của nó. Nó phải nghe lời tôi. Bằng không thì…
– Thưa cô, đó là tôi nói trước để đề phòng, chắc cô đủ bản lãnh để sửa trị nó.
– Được rồi. Nói nhiều quá cũng vậy thôi. Bây giờ, sửa soạn điều gì? Thời giờ gấp rút lắm.
– Dạ, tôi về Hòn Chông, ở bên cạnh Hai Điền để biết rõ cơ mưu cậu ta và để cậu ta đừng nghi ngờ. Hai ngày nữa, cô thúc hối ông Chúa vô Lung Tràm, tôi để thằng Thừa thằng Thiếu tại đây. Nó giỏi về nghề săn và có thể làm bất cứ chuyện gì.
Uống cạn chén nước trà thứ nhì, Bá Vạn cáo từ cô Huôi rồi đến chiếc ghe hầu để ra mắt ông Chúa Hòn. Ông Chúa Hòn vừa thức dậy, cằn nhằn từng chập:
– Nực nội quá. Tao muốn tắm cho khoẻ.
Tên hộ vệ lên tiếng:
– Thưa ông, Bá Vạn tới…
– Ừ! Bá Vạn là người quen thân, như trong gia đình. Phải có Bá Vạn tới, ta mới bàn tính đại sự được.
Thấy nụ cười phảng phất trên môi ông Chúa Hòn, Bá Vạn mừng thầm. Hai cô gái quê đang quạt hầu, ông ta ngồi dựa lưng vào cái gối cao:
– Xuống đây!
– Ông Chúa bữa nay vui quá.
Ông Chúa như suy nghĩ hồi lâu, ba bốn nếp nhăn trên trán:
– Ông đạo Đất nói đúng. Tai họa từ trên cao giáng xuống, muốn trừ khử thì ta ngao du nơi thấp sình lầy. Dè đâu miền núi Còm, miền Lung Tràm nầy còn nhiều hoa đẹp.
Bá Vạn hỏi ướm thủ:
– Hổm rày, ông săn được con heo rừng nào chưa?
– Cái đó thì chưa. Ta còn đợi ngày lành tháng tốt, cô Huôi khuyên ta chờ đợi, đừng nôn nóng. Xưa nay, hễ săn được con thú dữ thì hết chuyện, ta về nhà luôn. Bởi vậy, ta chưa muốn chấm dứt cuộc vui. Đây mới là mở đầu mà thôi.
“Hết chuyện”, “Chấm dứt” là những tiếng xui xẻo. Bá Vạn càng tin rằng thời vận của ông ta đang lên và ông Chúa Hòn sắp chết bất đắc kỳ tử nên cô hồn xúi giục nói nhiều tiếng kỳ lạ. Bá Vạn hỏi, giọng chậm rãi:
– Lung Tràm là nơi mà từ xưa tới giờ chưa ai dám vô. Bởi vậy, con heo độc giác tới làm sào huyệt.
– Ta nghĩ tới chuyện đó rồi. Cô Huôi khuyên ta chờ đôi ngày. Ta kiếm được thằng Lục Nhét. Bá Vạn ở đây cho vui để gặp thằng đó. Ta chưa rành việc săn heo rừng nhưng chắc là vui lắm.
Bá Vạn đáp:
– Ông đi tới nơi mà chờ. Bọn hộ vệ và thợ săn rành nghề cứ lùa con heo tới trước mặt ông. Đâu đó xong xuôi, ông cầm con dao hoặc cầm cái mác mà đâm một nhát chí tử. Sau đó, ông khen thưởng bọn thợ săn rồi ăn tiệc tại chỗ với nó.
– Hèn gì mấy ông vua…bên Tàu ham đi săn. Mấy ổng chưa ắt còn mạnh khoẻ như ta.
– Lục Nhét là người thế nào?
Ông Chúa Hòn đáp:
– Nó tới bây giờ. Bá Vạn gặp nó, dạy dỗ nó. Ta không bao giờ tiếc vàng bạc, miễn là hết xui xẻo. Nanh con heo rừng nầy nhứt định là quý giá vô song, một nanh linh nghiệm bằng hai nanh.
– Dạ, ông nói đúng, bao nhiêu vàng bạc cũng không đổi được. Mang vào mình thì tính mạng an toàn, đem chưng trong nhà thì nhà chẳng bao giờ bị cháy. Cái nanh nầy mà đem lên Nam Vang thì ông vua trên đó cũng không dám chê. Theo chỗ tôi hiểu thì từ hai năm trước, con heo độc giác ấy ở bên kia biên giới, chẳng ai săn được. Khi tới Hà Tiên, một đêm nó phá hàng chục công rẫy khoai lang.
Bọn hộ vệ báo tin rằng Lục Nhét đã tới. Bá Vạn nói khéo với ông Chúa Hòn:
– Để tôi chỉ dạy nó. Ông nằm nghỉ. Nãy giờ, nói chuyện cũng hơi lâu rồi.
Ông Chúa Hòn cười dòn:
– Chiều nay, chắc ta…. đi tắm ở bờ suối. Rồi Bá Vạn gặp ta chớ? Thôi, gặp làm gì. Nếu rảnh thì Bá Vạn về Hòn Chông, coi tiền bạc sổ sách giùm cho cậu Hai.
Bá Vạn mừng thầm:
– Dạ, ông viết lá thơ nhỏ, kẻo cậu Hai nghi ngờ rằng tôi muốn lấn lướt quyền hạn.
Sau khi nhận lá thơ, Bá Vạn lên bờ để gặp Lục Nhét. Gương mặt lão thợ săn nầy đen đúa và xanh mét, tay chân yếu đuối. Lục Nhét tin rằng sẽ được thưởng số tiền khá to nên chắp tay xá Bá Vạn. Bá Vạn hỏi:
– Nhà ở đâu? Về nhà nói chuyện chơi…Ông Chúa giao tôi trọn quyền gặp chú. Săn heo rừng mà có một mình chú sao?
Lục Nhét hơi lúng túng:
– Dạ, nhà ở giữa Lung Tràm, làm sao ông tới được! Khổ cho tôi quá. Đây là dịp để tôi có tiền xài nhưng ông Chuá muốn đi săn bất ngờ, mấy đứa tay em của tôi đi vắng.
– Vậy thì xuống tam bản của tôi.
Vừa xuống ghe, Bá Vạn vừa cảm động, như muốn quỳ xuống lập tức để tạ ơn Trời Phật. Bọn tay em đi vắng thì thằng Thừa, thằng Thiếu sẽ thay thế, dưới quyền điều khiển của Lục Nhét. Nếu án mạng xảy ra – tai nạn thì đúng hơn – Bá Vạn và thằng Thừa, thằng Thiếu cứ đổ tội cho Lục Nhét . Và chừng đó, để Lục Nhét khỏi cung khai lôi thôi, Bá Vạn sẽ giết lão ta.
Bá Vạn rót rượu mới Lục Nhét rồi hỏi kỹ:
– Đi săn bao nhiêu năm rồi? Cứ ngồi tự nhiên, nói đầu đuôi cho tôi nghe. Tay em gồm mấy đứa, chó mấy con? Hôm rày, ăn uống đầy đủ không? Lát nữa đem hũ rượu nầy về nhà mà uống. Nếu thiếu người thì tôi có hai đứa gan dạ lắm.
Linh tính như báo trước với Lục Nhét điều gì bất thường. Nhờ sống lưu lạc nhiều năm từ Hà Tiên đến Hòn Chông, ông ta hiểu rành sanh hoạt của loại thú rừng. Quả thật con heo độc giác mới đến Lung Tràm là nguy hiểm. Hồi tháng trước, nó ở chân núi Hòn Chông, gây nhiều thiệt hại cho dân làm rẫy. Khi cậu Hai Điền tới bao vây thì nó chạy mất, chạy vì nó hiểu vùng chân núi Hòn Chông chưa phải là nơi nương tựa kín đáo.
Lục Nhét đáp:
– Tôi còn bốn con chó mực thứ tốt. Tay em chỉ có hai đứa, nếu ông giúp cho hai người gan dạ thì còn gì may mắn cho bằng. Nhưng tôi xin nói trước điều nầy…
– Cứ nói.
– Tôi sợ chưa giết được con heo độc giác! Hôm kia tôi rình một lần, gặp nó. Nó lớn như con bò con, luôn luôn sôi bọt mép như con heo điên. Cái nanh của nó to lớn lạ thường, đen thui như bằng đá. Thứ heo nầy dám chống cự với cọp. Lâu lâu nó “khịt” một tiếng nghe mà ớn xương sống.
Bá Vạn nghĩ thầm ‘‘Điều qua trọng là giết ông Chúa Hòn chớ đâu phải giết con heo. Nếu con heo còn sống thì ta chọc tức cậu Hai tới đây săn cho bằng được để trả thù cho cha. Rồi sẵn dịp đó ta ra tay….”
Bởi vậy, Bá Vạn an ủi Lục Nhét:
– Cứ lấy nén vàng nầy. Ngày mốt, chắc là ông Chúa Hòn muốn đi săn. Nếu lần thứ nhứt thất bại thì đi lần thứ nhì. Cô Huôi không rầy rà đâu.
Bá Vạn đuổi khéo Lục Nhét lên bờ rồi gọi thằng Thừa, thằng Thiếu:
– Hai đứa bây ở lại mà giúp ta, công ơn ấy không bao giờ ta quên.
“Công ơn” có nghĩa là ám sát khéo léo ông Chúa Hòn giữa Lung Tràm, lúc ông ta sửa soạn giết con heo độc giác để lập thành tích. Thừa và Thiếu hơi lo sợ, cứ nhìn nhau, nghĩ đến hậu quả to lớn. Thừa là anh cả nên nghĩ nhiều đến tương lai gia đình. Rủi mà “họa hổ bất thành” thì hai anh em bị cậu Hai Điền hay ông Chúa Hòn giết không nương tay, chừng ấy Bá Vạn đã chạy trốn, hai anh em biết nhờ ai bênh vực?
Bá Vạn trợn mắt:
– Tụi bây sợ ai? Chẳng lẽ hai đứa không đủ tài trí để giết ông Chúa Hòn. Nó già yếu, bao nhiêu sức lực đều bị đàn bà rút rỉa. Đó là chưa nói tới chuyện khác…
Rồi Bá Vạn nói rõ vào tai thằng Thừa:
– Trước khi đi săn, cô Huôi ép nó uống một thứ rượu đặc biệt, tụi bây chỉ cần thúc vào hông bằng cùi chỏ là nó đủ té rồi nhập thổ chết luôn.
Thằng Thừa chắp tay, nói giọng cung kính:
– Anh em tôi chỉ có hai đứa, cha mẹ chết hết rồi. Rủi bề gì, lấy ai thờ cúng cha mẹ. Phải chi ông ở bên cạnh chúng tôi, lúc đi săn ở Lung Tràm! Cậu Hai Điền sẽ trả thù, nếu…
Bá Vạn cười dòn:
– Tao đâu phải hèn nhát, trốn tránh chuyện khó khăn. Tao đi gặp cậu Hai Điền là để lo cho tụi bây an toàn. Cậu Hai Điền làm điều gì thì tao hay biết trước để chận kịp thời. Rồi tụi bây thấy tao là thằng nịnh, tao sẽ làm thế nào cho cậu Hai mê tao. Trước khi cậu ra tay, làm điều gì ám hại tụi bây, thì tao biết trước vài ngày.
Thằng Thừa mừng thầm:
– Tôi tin ông là người lớn tuổi, nhiều mưu mẹo. Nhưng rủi xảy ra khó khăn, ai bảo vệ cho ông?
Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu rồi gật đầu:
– Vậy thì mầy theo tao, để thằng Thiếu ở laị. Thằng Thiếu xoay trở giỏi chớ? Tao hiểu nãy giờ mầy thắc mắc chuyện gia đình, sợ giòng họ bị tuyệt tự. Được rồi!
Thằng Thừa trao cây dao đặc biệt cho thằng Thiếu, anh em nói chuyện riêng khá lâu. Đại khái Thừa bảo Thiếu nên đâm vào đùi ông Chúa Hòn vì heo rừng thường dùng nanh mà đánh vào đùi bọn thợ săn. Nanh heo rừng không bén như lưỡi dao bằng thép, nếu dùng cây dao khác thì cậu Hai Điền sẽ nghi ngờ.
Bá Vạn nói chêm vào:
– Nếu con heo độc giác chạy vuột sau khi “đánh” ông Chúa Hòn thì hay biết chừng nào! Tao mời cậu Hai tới Lung Tràm. Nhưng điều quan trọng là mày theo sát thằng Lục Nhét để giết nó, đừng cho nó cung khai bậy bạ…
Chiếc tam bản đưa Bá Vạn về Hòn Chông, thằng Thừa chèo một mình phía sau lái. Bá Vạn ngủ khò trong mui. Đến tối, thằng Thừa đánh thức:
– Ông Bá ơi! Tới rồi!
Bá Vạn dụi mắt rồi căn dặn lần chót:
– Mấy đừng nói chuyện nhiều, cứ để tao trả lời.
Bọn hộ vệ của cậu Hai Điền ngồi uống rượu trước sân. Bá Vạn đi chân không, đầu tóc rối nùi, mặt mày âu sầu:
– Cậu Hai có trong nhà không? Tao cực khổ hơn tụi bây nhiều. Tụi bây cười tối ngày chớ tao thì khóc từng chập.
Từ trong phòng, cậu Hai Điền chạy ra, trố mắt nhìn Bá Vạn:
– Sao vậy ông?
Bá Vạn đáp:
– Thủng thỉnh rồi tôi nói cho cậu nghe. Nói sớm quá, cậu cười thằng già nầy.
Hai ngày qua, cậu Hai bắt đầu thấy yên ổn, bao nhiêu lo âu đều tan mất. Bọn do thám qua Hòn Me trở về cho cậu biết rằng ông đạo Đất và Tư Thính đều trốn mất dạng. Lúc ban đầu, cậu lo ngại một âm mưu táo bạo do cô Huôi bày ra để đuổi mẹ cậu ra khỏi gia đình. Nhưng cậu đã quyết định chiếm giữ ngôi nhà nầy với bất cứ giá nào và nếu cần, cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ ngăn cản cô Huôi và thằng Cẩu không cho họ đặt chân tới Hòn Chông. Bá Vạn đến chắc có chuyện lạ. Theo sự nhận xét của cậu thì lão nầy rất thông minh, luôn luôn nịnh bợ kẻ nào thắng thế. Cậu sẽ bắt buộc lão ta ở bên cạnh đến khi nào tình thế trở nên bình thường.
– Sao mà buồn vậy ông?
Bá Vạn lên tiếng:
– Cô Huôi đập cây quạt lên đầu tôi. Có tức không!
– Còn ba tôi? Mọi khi ba tôi thương ông lắm mà.
– Dạ, ông Chúa dạy cô Huôi nên đập tôi bằng cây chổi quét nhà. Tôi nào có tội tình gì? Thấy cô Huôi hơi yếu, tôi sai dân làng múc nước suối đem tới cho cô tắm. Tắm nước phèn dễ sinh bịnh. Núi Mo So, núi Còm là nơi nhiều muỗi mòng…
Như thích chí, cậu Hai Điền ngã dài trên ghế trường kỷ, ôm bụng mà cười lăn.
– Ông tởn chưa. Tôi khuyên ông đừng nịnh bợ. Nịnh đúng lúc thì có duyên nhưng nhiều khi lại vô duyên. Cô Huôi tự hào là giai nhân tuyệt thế mà ông chê rằng bịnh hoạn, thì làm sao cô không nổi giận? Được rồi! Từ rày về sau, ông ở đây với tôi.
Bá Vạn thò tay vào túi, đem ra mảnh giấy nhỏ:
– Thưa cậu, ông Chúa gởi thơ nầy.
Xem qua, cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:
– Đó là ba tôi chưa muốn đuổi ông. Ông lo sổ sách, đòi nợ giùm tôi, tôi hứa đối xử tử tế. Cứ bỏ qua chuyện cũ. À! Ba tôi nói gì thêm không?
– Dạ, ông Chúa ở núi Còm, gần Lung Tràm để săn heo độc giác.
Cậu Hai lấy tay che miệng cười:
– Ổng săn đàn bà chớ tài ba gì mà săn heo? Phải chờ tôi.
Rồi cậu ngồi dậỵ, cau mày:
– Chừng nào săn? Con heo độc giác có cái nanh hiếm có. Hôm trước, tôi rượt một trận, phần số nó chưa tới. Lấy cái nanh đó mà tiện ông Phật thì suốt đời mình gặp may mắn. Tôi gởi qua bên Xiêm, nhờ ông sãi cả làm phép.
Bá Vạn nói giọng khiêu khích, với dụng ý rõ rệt là làm cho cậu Hai Điền lạc hướng khi điều tra thủ phạm:
– Ông Chúa kêu thằng Lục Nhét ở Lung Tràm!
– Lục Nhét! Thằng đó tài nghệ cũng tạm xài được nhưng thua tôi xa. Nó nổi danh nhờ mấy con chó săn. Nhưng gặp con heo độc giác thì nó đành chịu bó tay.
Bá Vạn nói:
– Ông Chúa ban số tiền lớn, chắc nó phải trổ tài để còn ăn những dịp khác.
– Một là nó không săn được …cái gì ráo. Hễ ham tiền thì nó chết. Tôi nói rõ: con heo đó lọt về tay tôi. Nếu nó sống được thì …nó là anh hùng xứ nầy, giành quyền bá chủ của tôi rồi. Chẳng lẽ tôi đi Lung Tràm thì coi kỳ quá. Người đời chê cười, cho rằng hai cha con phải hiệp sức lại mới săn được con heo rừng. Thế nào ba tôi cũng gọi tôi tới. A! Nãy giờ nói chuyện hơi lâu, quên hỏi ông Bá ăn cơm chưa?
Bá Vạn muốn chấm dứt cuộc hội kiến nên trả lời nhanh:
– Dạ, lát nữa về nhà ăn. Để cậu nghỉ ngơi chớ.
Ông ta ra ngoài vì đã đạt được mục đích. Khi gần tới mé sông, chợt đâu ông nghe tiếng gọi:
– Thưa ông, bà mời lên nhà…
Đó là đứa nữ tỳ của bà chánh thất, mẹ ruột cậu Hai Điền. Lại thêm nhiều mối âu lo! Lẽ dĩ nhiên, Bá Vạn khó bề từ chối cuộc gặp gỡ mà ông ta thấy là quan trọng vô cùng. Bà chánh thất đã lớn tuổi, ắt đã theo dõi tình hình và buồn bực từ khi cô Huôi được long trọng giới thiệu là nữ thần hộ mạng. Bà chánh thất tin dị đoan hơn ai hết. Không tin sao được khi bà thấy địa vị bị suy sụp rõ rệt. Linh tính như báo trước với và rằng ông Chúa Hòn sắp chết. Và người khôn ngoan quỉ quyệt nhứt vẫn là Bá Vạn.
Bà ở ngôi nhà riêng, phía sau sảnh đường, kiểu nhà thấp, không cửa sổ. Ban ngày phải đốt đèn sáp mới ăn uống hoặc thấy đường đi tới lui. Bà đứng trước cửa, đón chào Bá Vạn:
– Ông Bá mới về?
Bá Vạn giựt mình. Rõ ràng bà ta am hiểu tình hình. Trong giây phút, ông Bá ngỡ rằng có bọn dọ thám nào đó theo dõi cuộc hành trình. Chẳng lẽ thằng Thừa làm phản? Giả thuyết ấy hoàn toàn vô lý. Lúc nãy ông thấy nó nằm chèo queo sau lái chiếc tam bản. Nhưng Bá Vạn lầm to.
Chưa chi bà chánh thất đã khoát tay, đuổi đứa nữ tỳ:
– Ra ngoài. Khi nào ta gọi thì hãy vô.
Bà đẩy nhẹ cánh cửa, gian phòng lạnh tanh. Lâu rồi, Bá Vạn không được dịp vào đây. Bỗng nhiên, bà chánh thất làm một cử chỉ khiến Bá Vạn rởn tóc gáy: bàn tay bà nắm tay Bá Vạn, siết mạnh rồi đẩy vào phòng. Bá Vạn đứng lại:
– Tội nghiệp tôi! Lạy bà…
– Ông cứ vô đây.
Thoạt tiên Bá Vạn nghĩ đến cuộc mưu sát do bà bố trí cẩn thận. Trót vào đây rồi làm sao ông trở ra cho được? Ắt là bọn hộ vệ hoặc bọn nữ tỳ đã vây tứ phía. Nhưng bà chánh thất nói khẽ:
– Đừng ngại gì hết. Mười năm rồi, ông Chúa không còn ăn nằm với tôi nữa, ông thấy buồn tủi cho tôi không ? Vô tới đây rồi, ông đừng sợ mang tai tiếng.
– Dạ, tôi là tôi tớ của ông Chúa, đâu dám phạm thượng. Rủi tai vách mạch rừng thì ắt tôi bị phanh thây.
Bà Chúa cười hiền lành, cứ bước tới rồi ngồi trên cái sạp cẩm lai, bóng láng. Bá Vạn ríu ríu theo sau. Bên cạnh cái sạp là giường ngủ, cái mùng bằng nhiễu đỏ phủ xuống. Bà chánh thất nói:
– Ông sợ…có người rình để giết hả?
Rồi bà với tay, nắm mí mùng vén lên. Bên trong chỉ có cái mền, cái gối thêu. Bà rút tay, mí mùng rủ xuống. Bấy giờ, Bá Vạn hơi yên tâm. Ông ta ngắm nghía bà chánh thất, tuy đã hơn bốn mươi tuổi, bà ta vẫn còn giữ nét đẹp, trán chưa nhăn, hàm răng vẫn đều đặn không hư chiếc nào. Bá Vạn thở mạnh, lo ngại. Mùi thơm bay thoang thoảng. Phải chăng hôm nay, bà mời Bá Vạn vào để bày trò ân ái bất chánh? Quả thật, Bá Vạn hơi rung động nhưng ông ta vẫn còn sợ. Giọng bà chánh thất nói tỏ rõ:
– Ở đây kín đáo lắm. Ông Chúa đã đi xa, chưa biết ngày nào về. Nghĩa là đêm nay, ông khỏi sợ bị quấy rầy.
Bá Vạn vẫn van nài:
– Thưa bà, còn cậu Hai.
– Tôi đang lo cho nó. Nó sợ tôi. Tôi mời ông vô đây, nó mừng lắm. Chuyện cũ bỏ đi. Bây giờ, ông Bá ơi, mọi việc đều mới.
– Thưa bà, tôi chưa hiểu.
– Ông là người thân tín trong gia đình nầy. Ông biết rành hơn tôi mà. Ông Chúa mê cô Huôi và cô Ngó. Phen nầy ổng truất phế mẹ con tôi. Nhưng mẹ con tôi đâu nhịn được. Cô Huôi, cô Ngó khó về Hòn Chông nầy một lần nữa. Nếu trời giúp, ông cứ ở đây, tiếp tục coi giấy tờ sổ sách.
– Thưa bà, tôi là tôi tớ…
Bà chánh thất day về phía sau, lấy bầu rượu và một cái chén nhỏ. Rượu chảy ra lóng lánh:
– Ông cứ uống.
Nghĩ đến chuyện đầu độc, Bá Vạn từ chối khéo léo. Bà chánh thất táo bạo hơn, nâng chén rượu lên môi, uống một hơi. Bà mím môi, cau mày, đôi má nóng bừng bừng. Lập tức Bá Vạn rót một chén mà uống cạn.
– Bây giờ, tôi cởi áo ra.
Nghe tới đó, Bá Vạn sửng sốt, toan phá cửa mà chạy. Bà chánh thất cười dòn:
– Ở lại chớ. Ông làm bùa giùm tôi. Đây là bùa của ông đạo Đất. Cô Huôi nhờ ông đạo Đất mà trở thành “nữ thần hộ mạng”. Nói thiệt với ông Bá, tôi đã gặp ông đạo Đất, ổng giúp tôi lá bùa nầy.
Cái hộc tủ kéo ra, Bá Vạn liếc nhanh, ngỡ là trong đó có một con dao để giết ông ta. Nhưng bà chánh thất lại cười:
– Cái trứng gà! Tôi cho bọn nó tới Hòn Me. Lúc đầu, ông đạo Đất lánh mặt vì gặp bọn hộ vệ. Lần sau tôi cho bọn nữ tỳ tới. Ông đạo Đất đưa ra cái trứng gà nầy rồi căn dặn nên đem lăn trên da thịt, nhờ bàn tay người nào già cỡ…sáu mươi tuổi. Tôi nhớ tới ông đó. Ông đạo Đất nói rằng tôi đã tới lúc hên, nếu rút được hơi độc trong mình ra.
Bá Vạn nửa tin nửa ngờ. Hôm nọ ông khuyên ông đạo Đất nên trốn lánh, đề phòng bị ám hại. Tại sao ông đạo Đất lại ra mặt, đón tiếp đứa nữ tỳ của bà chánh thất?
Cái trứng gà nhuộm son được trao vào tay Bá Vạn. Ông ta nhìn tứ phía, liên tưởng những chuyện kỳ bí trong chốn thâm cung, hồi thuở nào. Có thể là trong phút giây hàng chục ngọn gươm sẽ kết liễu đời Bá Vạn trong khi cậu Hai Điền cười ha hả.
– Ông lăn cái trứng gà lên lưng giùm tôi! Đừng ngại gì hết.
Thái độ do dự của Bá Vạn khiến bà chánh thất hơi bực dọc. Thật ra bà chưa cho đứa nữ tỳ nào đến núi Đất cả. Cậu Hai Điền khuyên bà nên dàn cảnh để quyến rủ Bá Vạn, thế thôi. Bà hơi buồn giận vì cậu Hai chưa tới. Buổi dàn cảnh nầy khá tế nhị nhưng bà sẵn sàng nghe theo lời con, với mục đích đuổi cô Huôi không cho về Hòn Chông.
Bá Vạn lăn cái trứng gà nhè nhẹ trên lưng bà chánh thất, mấy ngón tay ông bám víu khó khăn, sợ cái trứng gà rớt xuống đất, nhưng cũng sợ đụng vào làn da trắng mịn chưa nhăn của bà chánh thất. Bà nói hơi to:
– Khoẻ quá! Cái trứng gà nầy rút hơi độc trong mình tôi. Ông ráng giùm.
Bá Vạn không còn nghĩ đến nguy hiểm nữa. Lúc sau, ông ta xoè bàn tay ra mà đỡ cái trứng gà. Lòng bàn tay đụng vào da lưng bà chánh thất. Vì hơi nhột, bà day lại cười tủm tỉm:
– Cám ơn ông!
Đột nhiên, cánh cửa mở tung. Bá Vạn giựt mình rút tay ra. Cái trứng gà nhuộm son rớt xuống nền gạch. Cậu Hai Điền xuất hiện, mặt mày hậm hực. Bá Vạn vội chắp tay:
– Thưa cậu, bà mời tôi vô đây.
Gương mặt cậu Hai Điền lại biến đổi đột ngột. Cậu cười dòn mà không nói thêm lời nào. Bá Vạn lại càng sợ sệt. Lần nầy mồ hôi trán chảy từng giọt. Ông ta nói lẩm bẩm với bà chánh thất:
– Bà cắt nghĩa giùm tôi.
Cậu Hai mới chịu khai khẩu:
– Được rồi. Nếu là người ngay thẳng thì chẳng bao giờ ông vô đây. Tôi gặp ông tại đây, ông đừng chối cãi. Đáng lý ra, tôi được quyền giết ông hoặc là chém lấy theo.
– Cậu tha cho tôi, tôi hứa…
Cậu Hai đắc ý:
– Hứa điều gì? Phải hứa rằng ông giết con Huôi. Con đó nhỏ xíu mà đòi làm mẹ tôi, đâu được! Vài ngày nữa, tôi giao cho ông một trách nhiệm…
Để thóat khỏi cơn nguy, Bá Vạn bèn gợi ý để tỏ rằng ông ta luôn luôn ngoan ngoãn:
– Cậu trao cho tôi một mớ thuốc độc?
Cậu Hai đáp:
– Tôi giết tất cả, từ thằng đạo Đất tới thằng Tư Thính rồi tới thằng Mười Hấu. Ông hứa thì tôi nghe nhưng tôi chưa tin. Từ rày về sau, ông theo tôi, phải không?
Bá Vạn cúi đầu:
– Cậu tha tội cho tôi, tôi phục đức độ của cậu. Nếu cần, tôi sẵn sàng viết lên giấy.
Cậu Hai mừng thầm vì đã đắc thắng:
– Ông cứ nịnh bợ hoài, tôi buồn quá. Người như tôi làm gì có đức độ. Đức độ dành cho kẻ yếu đuối. Tôi là anh hùng, suốt mấy năm đi săn, tôi gặp tử thần hàng chục lần rồi. Anh hùng thì không cần đức độ. Đi săn mà sợ mang tội sát sanh thì làm sao cầm dao được? Tôi nói ít, ông hiểu nhiều. Bây giờ, tôi về ngủ.
Nói xong, cậu Hai khom lưng, lượm cái trứng gà bể. Đó là trứng gà luộc chín nên hình dáng còn nguyên vẹn.
– Bằng cớ nầy đủ rồi!
Nãy giờ, bà chánh thất thương hại cho hoàn cảnh Bá Vạn nên can gián:
– Điền! Con đừng làm quá đáng. Bá Vạn là người lớn, lời nói cũng đủ rồi. Con ra khỏi phòng nầy để rồi má còn bàn tính chuyện khác.
Cánh cửa đóng lại. Lần nầy bà chánh thất khóa cửa cẩn thận, thổi tắt bớt một ngọn đèn sáng. Bà rót chén rượu mời Bá Vạn:
– Đêm nay, ông ở đây bàn chuyện với tôi.
Bá Vạn hơi giận:
– Còn chuyện gì nữa mà bàn bạc. Thân tôi như cá chậu chim lồng. Tôi trót nghe lời bà.
– Còn chuyện khác. Ông chưa vợ, sống với bọn hầu non, chắc là chưa bao giờ bàn chuyện tâm sự với đàn bà. Đêm nay, tôi muốn hiểu ông hơn. Đừng sợ. Con trai tôi sẽ nắm mọi quyền hạn, ông theo nó, giúp nó trong vài tháng. Nó còn trẻ thì hỗn hào, hơi đâu mà chấp nhứt.
Bà chánh thất nằm xuống. Bá Vạn cười lạt, nghĩ thầm:
“Trót lên lưng cọp thì cứ cỡi luôn! Mình ra về hoặc đính chánh để làm gì? Mình chỉ muốn cho cậu Hai Điền tin dùng, đừng nghi mình nhúng tay vào việc hạ sát ông Chúa Hòn tại Lung Tràm. Vái trời cho Lục Nhét và thằng Thiếu thành công”.
Bà chánh thất khoát mùng chui vào trong. Bá Vạn cởi áo, tằng hắng vài tiếng rồi chui vào, nằm kế bên. Bà chánh thất nói khẽ:
– Mấy năm rồi, ông Chúa bỏ bê tôi. Ông ở đây cho tới sáng, bọn nữ tỳ chẳng bao giờ dám thót mét. Rồi đây, khi giết được con Huôi, tôi thưởng ông tiền bạc. Ngày mốt, ông đi gặp con Huôi, con Ngó được không? Đầu độc xong, ông cứ chạy về đây mà trốn.
Bá Vạn buông mình vào lạc thú ái ân. Trong phút giây, ông ta ngỡ mình là ông Chúa.




Đăng nhập để trả lời
0
- 6 -
 
Chiếc ghe bầu tiến sát vào Lung Tràm. Đó là vùng rừng trầm thủy, đầy cây tràm và dây choại rộng hàng chục mẫu. Mùa nắng, nước vẫn còn đọng dưới lung, hơi bùn lầy bốc lên khó thở.
Cô Huôi hơi buồn rầu, nhìn phía sau lái chiếc ghe bầu. Mắt cô sáng lên. Hai chàng trai đang cong lưng chống sào, trên ghe còn hai người khác, mà cô đoán chắc là Mười Hấu và thằng Cẩu. Họ tới hơi trễ nhưng tình thế còn cứu vãn được. Theo kế hoạch do Bá Vạn hoạch định thì khi ông Chúa hấp hối, thằng Cẩu phải có mặt bên cạnh để nhận lãnh chức vị. Cô nói:
– Ông ơi! Ai tới kìa!
Ông Chúa Hòn day lại:
– À, thằng Cẩu, con chó con. Nó tới, vui lắm. Cái thằng tánh tính không giống ai.
Rồi ông Chúa truyền lịnh cho bọn hộ vệ:
– Chờ một lát, tụi bây đừng chèo chống nữa. Gấp gì! Thằng Lục Nhét đâu rồi?
Tên hộ vệ đáp:
– Dạ, còn chờ ở Lung Tràm
Cô Huôi biết rằng cuộc gặp gỡ nầy do Bá Vạn bố trí kỹ lưỡng. Nếu vắng mặt thằng Cẩu lúc ông Chúa nhắm mắt thì cậu Hai Điền có lý do để tranh chấp. Cô nói:
– Lục Nhét có phận sự lùa heo rừng tới một chỗ nào đó, hắn phải chờ đợi mình. Thằng ngồi giữa là ai vậy?
Chiếc ghe phía sau đến gần giúp ông Chúa thấy tỏ rõ, ông ta cao hứng vỗ tay:
– Thằng Cẩu, hồi nãy tao nhìn không ra. Cỡ nầy mầy mập quá!
Mười Hấu chắp tay thưa:
– Hay tin ông Chúa tới, tôi có món nầy quý giá.
– Món gì?
Đôi mắt cô Huôi liếc nhanh, nhận ra cái hũ da rạn, đậy nắp cẩn thận, dưới nắp có miếng vải đỏ. Trước khi từ giã, Bá Vạn cho cô biết Mười Hấu đem dâng cho ông Chúa một thứ rượu đặc biệt. Mười Hấu nãy giờ đang sửng sốt vì nhan sắc cô Huôi nên quên trả lời. Thằng Cẩu bèn nhảy lên bờ mà nói:
– Thưa ba, rượu của ông ngoại ngâm mấy năm rồi.
– Đem lại đây.
Vì muốn tránh tai tiếng, Mười Hấu trao hũ rượu cho thằng Cẩu để tự tay nó dâng cho ông Chúa Hòn. Nhưng Mười Hấu hơi thắc mắc vì chưa tiếp xúc được với cô Huôi.
Chiếc ghe hầu dừng lại để đón rước thằng Cẩu. Thừa dịp ấy, Mười Hấu cũng lên bờ, ngồi xuống với dụng ý nhìn mặt cô Huôi. May thay, thằng Cẩu đem hũ rượu xuống chiếc ghe hầu, nói lia lịa:
– Rượu nầy bổ lắm, ngâm sừng con tê giác.
Ông Chúa Hòn cười hề hề:
– Mầy là đứa con có hiếu.
Thằng Cẩu đáp:
– Dạ, của ông ngoại con…
Cô Huôi ngỏ lời với ông Chúa Hòn :
– Tôi lên bờ nói chuyện với ông Mười trong giây lát. Cô Ngó là con ông Muời, vậy thì ông Mười đáng bực cha chú của tôi .
Vì ham uống thuốc bổ nên ông Chúa nói lơ đãng:
– Cô nên gặp…
Cô Huôi lên bờ, Mười Hấu biết ý trước, bước lui ra. Cô Huôi đi theo, nói khẽ:
– Lát nữa, ông đi theo cho vui chớ. Bấy lâu, chưa gặp ông, tôi xin chào ông. Cô Ngó tới gia đình ông Chúa trước tôi.
Mười Hấu chắp tay thưa:
– Nhưng con Ngó của tôi thì quê mùa, nhan sắc kém xa. Mong cô giúp đỡ thằng Cẩu cho nó nên người. Ơn đức ấy, muôn đời tôi không quên.
– Tôi chỉ mong như vậy – Cô Huôi đáp.
– Nó còn trẻ, ăn nói ngang tàng, mong cô dạy dỗ nó.
Rồi Mười Hấu hỏi thăm:
– Ông Bá Vạn dạy tôi đem hũ rượu tới dâng cho ông Chúa và đem thằng Cẩu tới trình diện cô. Như vầy là xong rồi. Theo ý cô, tôi nên đi theo thằng Cẩu vô Lung Tràm hay nên về?
Cô Huôi đáp:
– Nên về núi Mo So rồi cho người canh chừng cẩn mật. Nếu dư người, ông cho họ tới gần Hòn Chông để dò xét. Bá Vạn ở Hòn Chông, ông đừng lo. Nhưng nếu xảy ra chuyện rắc rối, ông cho tôi hay biết.
Mười Hấu cúi đầu, phục tài cô Huôi.
Dưới chiếc ghe hầu, sau khi uống cạn chén rượu đầu tiên, ông Chúa cảm thấy hăng hái:
– Đi cho mau. Ăn cái gan con heo độc giác rồi uống thêm chút rượu tê giác thì còn gì sung sướng cho bằng!
Mười Hấu nghiêng mình như để chào. Thằng Cẩu nghe đến chuyện săn heo rừng thì sáng mắt lên:
– Cái nầy…vui hơn đá cá thia thia, phải không ba?
Dường như rượu độc đã bắt đầu công phạt, ông Chúa ngả lưng vào vách ghe hầu:
– Nàng ơi! Ta thấy cảnh tiên.
Cô Huôi bèn ra lịnh:
– Hộ vệ đâu ? Vô Lung Tràm rồi về. Chẳng lẽ đậu ghe ở đây hoài?
Rồi cô liếc thằng Cẩu. Nó cúi mặt, hơi e thẹn. Cô nói gắt như để xem bản lãnh nó tới mức nào:
– Đỡ ba mầy, đừng cho ổng nằm. Hễ hơi say thì ổng dựa ngửa nghiêng.
Ông Chúa phều phào:
– Rót cho tao một chén nữa. Rót nữa. Cẩu đâu rồi! Ba thương con quá…
+++
Thằng Thiếu và Lục Nhét đứng một chỗ mà chờ đợi. Nắng chiều đã lên cao. Muỗi rừng vẫn bay ào ào. Vài con rắn nước bò cong queo trên bãi bùn. Bầy cò trắng bay sập sận, toan đáp xuống trong khi bầy chó sủa oăng oẳng. Hồi lâu Lục Nhét ngồi xuống, lẩm bẩm:
– Sao lâu quá vậy?
Thằng Thiếu đáp:
– Tụi mình cứ chờ. Ông Chúa cho tiền, mình lãnh đủ rồi. Nếu săn được con heo độc giác, nhứt định là ổng cho thêm gấp đôi.
Lục Nhét nhai bùa trong miệng, thỉnh thoảng nghiến ken két. Ông ta nhìn bóng nắng, cau mày. Đột nhiên từ phía sau có tiếng cắc kè kêu inh ỏi, từng tiếng rời rạc. Ông ta bấm đốt tay mà đếm. Tiếng cắc kè sau cùng chấm dứt vào lóng giữa của ngón áp út.
Mặt ông ta cúi xuống:
– Không xong! Tôi chờ rồi…về nhà?
Thằng Thiếu hỏi:
– Sao vậy? Phải săn cho được! Thí dụ như ông Chúa ra lệnh dời lại ngày khác mình cũng ở lại. Chẳng lẽ hai người tài ba như bọn mình lại đi thua trí một con heo.
Lục Nhét lắc đầu:
– Bữa nay xui xẻo lắm. Rắn bò trên bãi cát rồi cắc kè kêu. Đó là có người…bị thương, chưa biết ai. Tôi về!
Lục Nhét về là một thất bại lớn cho Bá Vạn và cô Huôi. Thằng Thiếu nghĩ đến người anh ruột, đang theo chân Bá Vạn về Hòn Chông. Anh ta hơi bực tức:
– Ở lại lát nữa, thế nào ổng cũng tới.
Bầy chó sủa to, day mỏ về phía đầu rạch. Đúng là chiếc ghe hầu của ông Chúa Hòn. Thằng Thiếu mừng rỡ vô cùng, chắp tay xá. Sau lưng thằng Thiếu là căn chòi nhỏ, lợp sơ sài bằng lá dừa nước để cho ông Chúa và cô Huôi tạm nghỉ nắng.
Chưa chi thằng Cẩu đã lớn tiếng:
– Con heo đâu? Mấy người làm ăn chậm chạp quá vậy!
Lục Nhét hỏi khẽ thằng Thiếu:
– Cậu nào vậy?
– Con ông Chúa chớ cậu nào!
Ông Chúa Hòn lú đầu ra khỏi mui ghe, hỏi nhanh:
– Gặp con heo độc giác chưa? Lùa nó tới đây cho mau. Rượu ngon uống vô, sao mà chóng mặt quá. Hễ trễ nải thì tao làm thịt tụi bây.
Cô Huôi nghĩ thầm: Thời cơ đã đến. Bên cạnh Lục Nhét còn hai người khác, tay cầm ngọn lao sáng ngời. Nên tranh thủ thời giờ, lúc cơ thể bị thuốc độc ngấm vào nhứt định ông Chúa Hòn mất bình tĩnh, không phân biệt chuyện nào dễ làm, chuyện nào nguy hiểm cho tánh mạng.
Thằng Cẩu bồn chồn trong dạ, muốn theo bọn thợ săn để sống những phút hồi hộp cho thoả chí:
– Heo độc giác ở đâu? Tại sao mấy người chuẩn bị kỹ lưỡng như ra trận mạc? Để tôi đâm nó..
Cô Huôi gắt giọng:
– Con heo nầy đã giết nhiều người rồi. Cậu đừng liều lĩnh. Hồi còn ở Hòn Chông, nó đánh chết một con cọp!
– Ghê vậy! Nhưng cô cho phép tôi đi theo để coi cho biết cách săn heo rừng.
– Cậu ngồi chơi với ông Chúa. Lát nữa, bọn thợ săn lùa nó tới trước mặt cho cậu thấy. Cậu là “hoàng tử”, tội tình gì mà phải chạy nhảy dưới bùn lầy! Đó là phận sự Lục Nhét.
Ông Chúa Hòn nói giọng phều phào:
– Cho ta nằm! Con heo tới chưa?
Cô Huôi ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Cõng ông Chúa vô chòi.
Lúc bọn hộ vệ đang làm phận sự, cô lên bờ gọi thằng Thiếu mà nói khẽ:
– Nhớ đâm ổng bằng con dao mà Bá Vạn nói đó. Làm cho mau. Mấy biết hai thằng hộ vệ nầy không?
– Dạ, tụi nó theo phe ông Bá Vạn từ lâu. Nếu tụi nó trở mặt, cô ra lịnh là tôi giết tụi nó.
– Việc đó phải chờ tao ra lịnh. Bây giờ thì bắt đầu. Để trễ nải quá, ổng thấm rượu rồi nằm mê man…
Lục Nhét chắp tay thưa với cô Huôi:
– Thưa cô, đây là cây mác mài thiệt bén để lát nữa ông Chúa đâm con heo độc giác. Tụi tôi lùa nó tới trước chòi, chó săn bao vây tứ phía. Nó không tài nào chạy thoát được.
Đề phòng trường hợp Lục Nhét làm phản, cô nói:
– Chú đâm trước con heo bị thương nặng, cho mất sức rồi hãy lùa tới đây. Mau đi! Tánh ông Chúa khó lắm.
Cô Huôi, hai tên hộ vệ chèo ghe lúc nãy, ông Chúa Hòn và thằng Cẩu ngồi trong chòi, trên cái sàn bện bằng cây tràm con và dây choại. Thằng Cẩu nói liền miệng:
– Chỗ nầy dường như mọi lần tôi vô hớt cá thia thia… Muỗi cắn quá. Phải hồi nãy ba cho tôi theo tụi nó.
Nhưng ông Chúa Hòn không còn tỉnh táo nữa.
– Rượu! Thứ rượu gì mà uống vô…thêm nhức mỏi.
Hai tên hộ vệ cứ ngồi yên, thở phào. Bọn chúng hơi mệt, vì hồi sáng chưa kịp ăn cơm là phải xuống ghe. Cô Huôi hơi lo ngại. Bọn nầy không mang dao nhưng võ nghệ khá giỏi. Cô hỏi thử để biết phản ứng:
– Hai chú muốn rượu không? Rượu tê giác…mạnh lắm.
Rồi cô rót vào một chén nhỏ tự tay trao cho bọn nó. Bọn nó liếc qua liếc lại như hỏi ý kiến. Cô thúc hối:
– Lát nữa, mặc sức mà ăn thịt heo rừng! Uống đi.
Tên hộ vệ thứ nhất đưa chén rượu lên môi uống cạn một hơi vì rượu quá ngon. Tên thứ nhì nói khôi hài:
– Nó uống hết phần của tôi rồi!
Cô Huôi đáp:
– Ta cho chú mầy một chén đầy. Ta cũng chán việc săn bắn nhưng đây là ý muốn của ông Chúa.
Ông Chúa lim dim đôi mắt rồi ngả lưng vào vách, không nói một lời, mặc cô Huôi đề cập tới ông.
Bình thời, ông ưa cười, ưa nói. Thằng Cẩu cầm cây mác, đi tới đi lui. Cô Huôi liếc qua kẽ lá. Nó đứng sau vách để rình chém…một con cắc kè. Con cắc kè đã rút vào bộng cây. Cô nhắc nhở:
– Cậu đừng đi đâu xa. Chó sủa gần lắm rồi đó. Con heo độc giác sắp chaỵ qua đây.
Hai tên hộ vệ như hiểu rằng loại rượu tê giác nọ công phạt quá mạnh. Một đứa phun nước bọt vào vách. Cô Huôi nhìn chòng chọc. Hắn ngồi yên, tay chân ngay ngắn. Bầu không khí như quá yên lặng. Muỗi bay vo vo, một con muỗi to, vàng lườm bay vòng tròn chung quanh đầu Chúa Hòn rồi đáp xuống, đậu ngay mép ông. Trong phút giây, cô Huôi nhìn kỹ gương mặt người chồng bất đắc dĩ. Thật là khó thương, tuổi tác già nua, tuy ăn nhiều món ngon nhưng thân xác gầy guộc như thanh củi. So với cha ruột cô thì lão Chúa Hòn lớn tuổi hơn nhiều. Vài giọt nước dãi nhễu xuống từ bên khoé miệng.
Đột nhiên, thằng Cẩu kêu to:
– Tới rồi kìa!
Chó sủa rộ lên, bốn con chó phèn đang bao vây không cho con heo độc giác chạy thoát. Nhưng con heo độc giác cứ tiến tới, hươi cái nanh đen đúa. Chó nhào vô cắn. Để chống trả lại, con heo độc giác cứ xoay tròn.
Và vô tình, nó đang di chuyển về phía ông Chúa Hòn.
Ông Chúa nằm ngủ say. Dịp may để cô Huôi ra lịnh cho hai tên hộ vệ:
– Mấy chú ra trước chòi mà chận con heo rừng!
Hai tên hộ vệ trố mắt. Quả thật con heo độc giác thuộc vào loại quái đản, to xương, bề dài trên một sải, lông lá vàng lườm như cỏ khô, cái đuôi bị chặt đứt, bốn chân cao nghệu như chân nai, mỏ dài, lởm chởm răng, thoạt nhìn qua ngỡ là mỏ con gấu. Cái nanh duy nhứt to gấp ba loại nanh thông thường, chót nanh có lẽ bị gãy, tuy là ở hai bên mép nhưng khúc còn lại chĩa về phía trước. Nó táp “phập, phập”, nước bọt sủi ra, một bên mắt nhắm lại, bên kia chỉ thấy tròng trắng.
Lục Nhét và thằng Thiếu đầu ở trần, sau lưng còn hai con chó săn khác.
Thằng Thiếu kêu lên như làm dấu hiệu với cô Huôi:
– Nó dữ lắm. Chưa được đâu!
Ông Chúa Hòn mở mắt, quát to:
– Cái gì? Cho ta đâm nó! Con cọp hả?
Lục Nhét rút bên lưng, đem ra một cái còi nhỏ. Anh ta thổi lên bốn tiếng:
– Te! te! te! te!
Tức thời bốn con chó săn nhào vô, cắn vào bốn cái đùi con heo độc giác, như có sự phân công từ trước.
Con heo độc giác cứ chịu đau, không chống trả, hai chân sau cứ dậm, cứ bươi dưới đất bùn. Thằng Cẩu hỏi:
– Nó làm cái gì vậy! Bộ heo nầy mắc đẻ hả?
Nhưng Lục Nhét và nhứt là thằng Thiếu đâu rảnh trí để trả lời câu hỏi vô duyên đó. Ông Chúa mở mắt, bên mép vẫn còn chảy nước bọt:
– À! Con heo độc giác. Nó lớn như con bò mà tụi bây dẫn tới đây được. Ta khen cho tụi bây.
Cô Huôi nói khích:
– Bởi vì ông là người “khí tượng đế vương” nên bọn thằng Thiếu và Lục Nhét đưa con heo tới chờ ông giết…
Và để thúc hối, cô nói tiếp, hướng về bọn thợ săn:
-       Xong chưa?
Lục Nhét la hoảng:
– Coi chừng! Dực một, Dực hai, Dực ba, Dực tư!
Dực theo chữ nho là cánh chim. Mỗi con chó săn mang một tên riêng, tùy theo sự phân công. Dực một, Dực hai là hai con chó lãnh trách nhiệm tấn công hai chân trước của con heo rừng, chân bên mặt và bên trái…Dực ba, Dực tư lo tấn công hai chân sau. Mỗi con chó được so sánh với một cánh quân.
Bốn con chó săn nhào vô. Con heo độc giác “khịt” một tiếng. Lần nầy, nó chiếm vị trí thuận lợi, phía sau mông được che chở nhờ bùn đất.
Nó choi thẳng hai chân trước, thoạt trông qua, thấy giống như con cọp đang ngồi.
Con chó săn nhào vô cắn chân phải con heo độc giác. Nhanh như chớp, con heo quơ nanh đánh trả lại. Nhưng con chó Dực của Lục Nhét nào phải là loại tầm thường: Để khỏi bị đổ ruột, nó nhảy mạnh lên trên không. Ai nấy trố mắt, nín thở. Quả thật con chó Dực nầy khoẻ mạnh, xứng danh là con chó nòi. Nó nhảy lên, cao hơn ngọn sạp.
Con heo khịt một tiếng, đưa nanh lên. Lục Nhét kêu rú:
– Chết con chó của tôi rồi!
Khi con chó vừa rớt xuống, con heo độc giác đưa cái nanh đen thui mà hứng rồi đánh thật mạnh.
Con chó mực bị lủng ruột, ngả lăn ra, máu me lênh láng, miệng sủa vài tiếng khàn khàn như trăn trối.
Thằng Thiếu liếc về phía cô Huôi, hai tên hộ vệ của ông Chúa trố mắt nhìn. Giờ phút nầy, hai tên hộ vệ nọ là chướng ngại độc nhứt. Thằng Thiếu hơi bực dọc, thấy rằng kế hoạch mà Bá Vạn vạch ra còn thiếu sót, chưa đề cập tới hai tên hộ vệ nầy. Cô Huôi như hiểu ý thằng Thiếu nên ra lịnh:
– Hai chú tiếp tay với bọn thợ săn. Đứng đây mà làm gì?
Một tên hộ vệ nói:
– Tụi tôi chưa rành việc săn bắn.
Ông Chúa Hòn hỏi như vừa tỉnh giấc:
– Thằng nào cãi cọ điều gì đó?
Cô Huôi nói nhanh:
– Dạ thưa ông, hai chú hộ vệ nầy phải ra ngoài kia lùa con heo cho bằng được, kẻo thiên hạ nói rằng ông Chúa nuôi bọn hộ vệ bất tài.
– Ừ! Tụi bây lùa con heo lại trước mặt tao!
Lúc hai tên hộ vệ còn lưỡng lự, cô Huôi nói khẽ:
– Hai chú cứ lại gần con heo để giữ thể diện cho tôi. Chết chóc gì mà sợ! Tụi nó đi trước, hai chú cứ chạy sau.
Hai tên hộ vệ đến gần vũng bùn, mỗi đứa mang một cây dao nhỏ. Việc ấy hơi chạm tự ái Lục Nhét. Ông ta bàn với thằng Thiếu:
– Con heo còn hăng sức! Cho nó chạy thêm vài vòng nữa thì mới đuối sức. Hai thằng hộ vệ nầy làm phách, phen nầy, tụi nó chạy le lưỡi như chó!
Lập tức, ông ta thổi còi. Ba con chó rút lui ra xa. Thằng Thiếu nói, như để báo cáo với cô Huôi:
– Xin ông Chúa chờ lát nữa. Giết được con chó Dực, con heo thêm hăng sức.
Cô Huôi nói khéo:
– Hai chú hộ vệ chưa quen đường đi nước bước, nếu đi chậm thì chú nên chờ…phía sau.
Thằng Thiếu hiểu ngầm rằng đó là lịnh của cô Huôi dạy nên giết bọn hộ vệ. Chó vẫn sủa nhưng chẳng con nào dám lại gần con heo độc giác vì xác con chó nọ hãy còn nằm đó. Thằng Thiếu hươi ngọn lao đâm vào lưng con heo. Con heo day lại rồi phóng tới. Thằng Thiếu né kịp. Trong chòi, thằng Cẩu xám mặt ngồi nép vào ông Chúa:
– Ghê quá. Bày cái chuyện nguy hiểm nầy, đâu sướng gì! Đâu bằng đá cá thia thia!
Con heo đứng một chỗ, day qua day lại rồi dậm hai chân sau. Thằng Thiếu nói với Lục Nhét:
– Cho nó chạy, chẳng lẽ mình chờ mấy con chó Dực cắn nó. Nó làm thịt hết bầy chó của mình bây giờ.
Lục Nhét chưa trả lời thì thằng Thiếu đứng nép một bên, cố ý mở lối thoát cho con heo. Nó chạy vào bụi rậm. Bầy chó và bọn người theo sau. Nó chui ra khỏi bụi rậm, núp vào gốc cây tràm con. Cây tràm ngã xuống, nhánh tràm cản trước mặt. Nghe chó sủa vang dậy, nó biết rằng khó bề thối lui nên hả miệng táp nhánh tràm mà nhai răng rắc. Nhánh tràm bị gãy nát, nó chạy tới. Trước mặt nó là vũng đất thấp, cỏ mọc lưa thưa.
Hai tên hộ vệ kêu la ỏm tỏi:
– Chờ tôi với! Anh em chạy lẹ quá, tôi theo không kịp.
Lục Nhét nói với thằng Thiếu:
– Anh đứng lại, chờ bọn đó. Rủi con heo chạy vuột thì tôi biết ăn nói như thế nào với ông Bá Vạn?
Thằng Thiếu đứng chờ. Hai tên hộ vệ thở hổn hển, một đứa hỏi phều phào:
– Sao chưa đâm con heo?
Thằng Thiếu đáp:
– Để cho ông Chúa đâm nó. Tụi tôi có phận sự là làm cho nó mệt mỏi, vậy thôi.
– Nhưng chẳng lẽ rượt suốt ngày như vầy?
Thằng Thiếu quan sát địa thế. Lục Nhét và bầy chó đang bám sát con heo, mất dạng đàng xa. Thời cơ đã tới cho thằng Thiếu hành động. Nó cầm ngọn lao trong tay, đó là cây lao cán dài, lưỡi thép bén nhọn, cong lên như cổ con phụng hoàng với cái mồng bên trên. Hai tên hộ vệ nhìn ngọn lao trong khi thằng Thiếu nói:
– Mình cứ ngồi nghỉ tại đây. Thằng Lục Nhét rượt đúng một vòng thì trở lại.
Hai tên hộ vệ mừng ra mặt, cất hai ngọn dao vào bên sườn rồi ngồi xuống. Thằng Thiếu nói:
– Hai chú lại đằng kia mà ngồi, cao ráo hơn!
Khi bọn chúng vừa đứng dậy, thằng Thiếu nắm chắc cán lao, đâm mạnh từ phía sau lưng đâm tới. Tên hộ vệ thứ nhứt còn đủ sức la:
– Trời! Giết nó!
Hắn té xuống, úp mặt vào vũng bùn. Tên hộ vệ thứ nhì hươi ngọn đoản đao, đâm vào ngực thằng Thiếu. Chỉ còn cách là té lăn xuống bùn để tránh né vì tay thằng Thiếu chẳng còn thứ khí giới nào cả. Nó lăn tròn một vòng rồi với tay chụp ngọn dao mà tên hộ vệ thứ nhứt còn giữ bên sườn. Tên hộ vệ thứ nhì quát to:
– Mầy muốn gì?
Thằng Thiếu vụt đứng dậy rồi co chân đá thốc vào hông tên hộ vệ. Hắn lách qua một bên rồi co chân chạy lủi vào đám sậy gần đó. Bây giờ thằng Thiếu mới đổ mồ hôi, lo ngại vô cùng. Tên hộ vệ nầy nhứt định sẽ chạy về Hòn Chông, báo cáo đầu đuôi sự việc với cậu Hai Điền. Do đó tánh mạng của Bá Vạn khó được bảo đảm. Thằng Thiếu toan chạy theo tên hộ vệ nọ để giết cho bằng được nhưng đã trễ rồi. Chó sủa vang phía sau lưng. Lục Nhét lên tiếng:
– Tụi bây đâu rồi? Tiếp tao!
Nghĩ rằng Lục Nhét là người không đáng tin cậy cho lắm, thằng Thiếu bèn trả lời:
– Đây nè! Tôi trở lại.
Anh ta cố sức rút ngọn lao ra khỏi lưng tên hộ vệ, chùi cho sạch máu. Lục Nhét lại cằn nhằn:
– Lại đây “chịu” với tao!
Thằng Thiếu chạy đến trước căn chòi, nơi cô Huôi và ông chúa Hòn đang chờ đợi. Quả thật, giờ phút quyết định đã đến. Thằng Cẩu chạy lăng xăng, dòm tới rồi quay mặt. Ba con chó đang bao vậy con heo độc giác. Thằng Thiếu chạy tới:
– Để tôi !
Lục Nhét hỏi:
– Hai người kia đâu rồi?
Thằng Thiếu đáp:
– Tụi nó than mệt, chạy lẹ thì bị gai đâm. Chắc là tụi nó kiếm chỗ nào mà ngủ.
Cô Huôi mừng thầm vì hai tên hộ vệ nọ đã mất dạng. Cô tin rằng thằng Thiếu đã làm xong công việc thanh toán. Chỉ còn lại Lục Nhét mà thôi. Cô nói:
– Tụi bây làm chậm trễ công việc. Ông Chúa…buồn ngủ rồi. Ai chờ đợi tụi bây được?
Thằng Thiếu hiểu rằng đó là lịnh cô Huôi thúc giục nó ra tay. Nó phóng ngọn lao vào sườn con heo độc giác. Con heo nhảy dựng, chạy thẳng tới. Với kỹ thuật tinh vi, thằng Thiếu giựt mạnh cán cây lao cho cán và lưỡi sút ra.
Con heo mang lưỡi lao nơi sườn, chạy lủi vào bụi cây tràm khá to nhưng được vài chục bước là đứng lại vì cán lao dính vào lưỡi, bị lôi kéo phía sau. Cán lao nằm ngang, vướng vào hai gốc cây tràm.
Lục Nhét đến trước mặt con heo độc giác, hươi ngọn mác. Con heo táp lưỡi mác, nhả ra rồi táp lần thứ nhì. Khi rút ngọn mác ra, Lục Nhét tập trung sức lực, cắm vào hông con heo. Rồi ông ta ngả tới trước, dùng sức nặng của thân người mà đè xuống.
Con heo đã bị gài tại chỗ với ngọn lao cổ phụng của thằng Thiếu và ngọn mác của Lục Nhét.
Cô Huôi hỏi:
– Rồi chưa?
Thằng Thiếu đáp:
– Xin mời ông Chúa…
Ông Chúa Hòn lắc đầu:
– Tao mệt quá. Ai đỡ thì tao đứng dậy mới được. Thằng Cẩu đâu?
Thằng Cẩu lại gần, ông Chúa vịn lên vai nó. Nó tò mò muốn lại gần con heo nên bước nhanh. Cô Huôi cầm cây mác trao cho ông Chúa.
Con heo cứ hả miệng mà thở, máu tuôn xối xả, thỉnh thoảng nó nghiêng mình qua một bên khiến Lục Nhét lảo đảo. Thằng Cẩu nói:
– Ba đâm nó đi!
Ông Chúa Hòn cầm cây mác, hai tay run run. Thằng Thiếu rờ bên hông, đem cây dao đặc biệt ra. Đó là kiểu dao ngắn với cái lưỡi làm bằng một khúc nanh heo rừng. Ông Chúa Hòn hỏi:
– Đâm chỗ nào cho nó chết tốt?
Vì quá mệt nên Lục Nhét lên tiếng:
– Dạ, ngay cổ nó. Hoặc là trên ngực.
– Làm sao đâm được?
Lục Nhét nghiêng mình, ghì ngọn mác qua bên trái cho con heo cử động. Thằng Cẩu nói:
– Chỗ đó, ba cứ đâm!
Ông Chúa Hòn phóng ngọn mác tới trước. Con heo day mỏ lại khi chịu đựng vết thương thứ ba.
Nhanh như chớp, thằng Thiếu hất chân ông Chúa Hòn rồi đưa lưỡi dao ngắn mà đâm vào đùi ông. Ông kêu lên:
– Chết tao!
Lục Nhét hốt hoảng, hai tay buông lỏng. Con heo độc giác quay lại, đánh cái nanh vào cây mác, toé lửa. Ông Chúa Hòn ngã xuống. Lục Nhét đứng chết trân trong khi bầy chó sủa vang rân. Con heo cố sức chạy để khỏi bị chó cắn. Mũi lao sút ra.
Cô Huôi, thằng Cẩu đều quì xuống, đỡ ông Chúa Hòn lên. Ông Chúa từ từ nhắm mắt, hai chân duỗi ra thật mạnh. Lúc thằng Cẩu bối rối, cô Huôi nói:
– Con lấy cái khánh ngọc của ông Chúa mà đeo!
Cô Huôi tháo khánh ra, cái khánh mầu xanh đậm mà ông Chúa tưng tiu, đeo mãi trong mình. Thằng Cẩu nhận lấy, ngỏ lời cám ơn.
Lục Nhét day mặt một bên, đưa tay vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Cô Huôi lên tiếng:
– Chú mầy tệ quá, biết hối hận thì ta tha cho. Chờ gì nữa?
Thằng Thiếu và Lục Nhét khiêng xác ông Chúa xuống chiếc ghe hầu. Chiếc ghe di chuyển chậm chạp ra khỏi Lung. Cô Huôi cứ im lặng và sự im lặng ấy khiến Lục Nhét lo sợ. Lúc nãy, ông ta hốt hoảng nên không hiểu ông Chúa bị thương trong trường hợp nào.
Riêng về thằng Thiếu thì tâm trạng quá bối rối. Nó nhớ đến tên hộ vệ còn sống sót. Nhứt định tên ấy sẽ trốn về Hòn Chông để tố giác âm mưu nầy với cậu Hai Điền




Đăng nhập để trả lời
0
- 7 -


 
Thằng Thừa thức suốt đêm không ngủ được. Theo lịnh Bá Vạn, nó lãnh trách nhiệm theo dõi những ghe xuống từ phía núi Còm tới Hòn Chông. Dưới tay nó, còn hơn hai chục tên hộ vệ. Đa số bọn nầy đều theo Bá Vạn và bà chánh thất. Hôm qua, Bá Vạn thết tiệc, đãi đằng cả bọn hộ vệ. Cậu Hai Điền thì qua Hòn Đất để theo dõi ông đạo Đất.
Ghe xuống từ phía núi Còm và Lung Tràm đến dường như thưa thớt hơn mọi ngày. Thằng Thừa đã hiểu lý do. Những người đi đường đã truyền tin cho nhau. Họ muốn tránh sự kiểm soát vì nói chung bọn hộ vệ của ông Chúa Hòn rất hách dịch, thích chọc ghẹo gái tơ hoặc xin dừa, chuối.
Anh ta ngồi dưới bến, trong ngôi nhà mát. “Nhà mát” là tiếng gọi nôm na để chỉ kiểu nhà thủy tạ mà ông Chúa cho xây cất ở bên sông, nhà hình lục giác, lợp ngói men xanh, mua từ Triều Châu bên Trung Hoa.
Anh ta rót rượu uống rồi dựa lưng vào cột mà ngủ. Bỗng đâu có tiếng gọi:
– Ngủ hoài vậy! Nghe chuyện gì lạ không?
Đó là Bá Vạn tới thăm. Anh ta trả lời:
– Từ sáng tới giờ, bọn hộ vệ lục soát ở đằng kia. Nếu gặp chuyện lạ thì bọn nó cho tôi biết lập tức!
Bá Vạn nhìn ra xa. Đằng kia, bọn hộ vệ ngồi dụm bên gốc cây, múa men tay chân. Một đứa nâng bầu rượu lên rồi đứng thẳng người mà uống. Cả bọn vỗ tay, đứa nọ uống cạn bầu rồi vung tay, ném mạnh. Cái bầu chìm lỉm, mặt nước gợn sóng…
Bá Vạn cằn nhằn:
– Bữa nay phải có tin tức ở Lung Tràm. Lẽ nào…
Thằng Thừa cau mày vì hai ngày qua, thái độ của Bá Vạn quá úp mở. Ông ra vào nhà bà chánh thất bất chấp dư luận. Bọn hộ vệ tung ra dư luận cho rằng Bá Vạn không nịnh bợ cô Huôi và ông Chúa Hòn như trước, có lẽ Bá Vạn thấy ông Chúa già nua, sắp cỡi hạc qui tiên nên lo xa. Ai nấy cho rằng Bá Vạn thiếu khí phách, quên mối hận ngày nào do cậu Hai Điền gây ra.
Thằng Thừa cau mày, nhớ đến đứa em là thằng Thiếu đứng lãnh trách nhiệm quá nguy hiểm ở Lung Tràm.
– Thưa ông, tôi không hiểu rõ, cứ ngồi chờ. Riết rồi muốn sanh bịnh. Vái trời cho đâu đó xong xuôi, tôi về vườn lo cày sâu cuốc bẫm để nuôi mẹ già.
Bá Vạn nói gắt:
– Đừng nói bậy bạ. Đêm rồi, tao nằm chiêm bao thấy nhiều chuyện lạ. Khi thức dậy quên ráo trọi. Tao nhớ thằng Thiếu quá chừng. Hổm rày, tao giả dại qua ải. Mầy đừng hiểu lầm.
Thằng Thừa ngước lên. Gương mặt Bá Vạn khá nghiêm nghị. Bá Vạn nói tiếp:
– Hai đêm rồi, ta không ngủ. Thằng Hai Điền qua Hòn Đất để tìm ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Bữa nay nó vắng nhà…
Thằng Thừa không kịp trả lời vì bọn hộ vệ đằng kia chợt la lên bài hãi:
– A Mách!
A Mách là một trong hai đứa hộ vệ trung thành nhứt của ông Chúa. Đúng là A Mách đang về phía Bá Vạn và thằng Thừa. Bá Vạn hơi run giọng:
– Chắc là …xong rồi! Nhưng thằng Thiếu để thằng Mách chạy thoát về đây. Coi chừng nó nói bậy bạ.
Khi đến gần nhà mát, A Mách vuốt mồ hôi trán. Bá Vạn đưa tay ngoắc:
– Lại đây! Trên nhà không có ai đâu.
– Chuyện động trời! Ông ơi! Phải làm sao…bây giờ?
– Mầy cứ nói.
– Thằng Thiếu giết thằng bạn của tôi rồi toan giết tôi. Tôi chạy thoát về đây.
Rồi A Mách chỉ tay vào mặt thằng Thừa:
– Thằng nầy xài không được, đồ sớm đầu tối đánh. Ông bắt nó.
Bá Vạn nói to:
– Ngoài ra, còn chuyện gì nữa không?
A Mách đáp:
– Tui nghe đâu ở núi Còm nói rằng ông Chúa…mất rồi. Bị heo rừng đánh ngay đùi. Cô Huôi đang làm đám ma.
Bá Vạn lườm thằng Mách:
– Đừng nói giỡn. Mầy có tới đó hay không?
– Dạ, làm sao tôi dám tới đó. Thôi! Tôi sợ rồi. Chuyện nầy hệ trọng lắm, tôi phải cho bà chánh thất và cậu Hai biết.
Nói xong, A Mách chạy thẳng vào cổng. Thằng Thừa hỏi:
– Ông tính sao?
– Đáng lý thì mình phải giết thằng Mách. Nhưng nên để nó sống vài ngày. Mầy cứ bình tĩnh ở đây, tao lên nhà để….lèo lái bà chánh thất. Đừng lo. Nhiều khi bà ta thích nghe cái tin hung dữ nầy. Tao nói là bả nghe.
– Nhưng còn cậu Hai Điền?
Bá Vạn đáp:
– Thằng con nít đó quá nóng nảy. Tao trừng trị nó dễ dàng. Nó hất tô thịt kho lên đầu tao, cái áo đó tao còn để, chưa giặt sạch mà! Cứ ngồi đây.
Nói xong, Bá Vạn bước ra khỏi nhà mát. Ông ta vào sân. Thằng Mách vẫn còn đứng lóng nhóng vì chưa ai mở cửa. Nó gào lên:
– Bà! Ông Chúa mất rồi!
Cánh cửa hé mở. Bà chánh thất trố mắt, chưa tin lời nên hỏi kỹ:
– Mầy nói sao? Trời ơi! Ông mất rồi, tôi sống với ai…
– Dạ, khó nói quá!
Mách liếc về phía Bá Vạn. Bá Vạn bèn giả đi xa nơi khác, kỳ thật là ông ta qua phòng bên cạnh để nghe ngóng. Thằng Mách và bà chánh thất nói chuyện quá nhỏ, Bá Vạn không nghe rõ được. Bá Vạn tức mình, nhìn qua kẽ vách ván. Thằng Mách đang sờ vào túi, đem ra lá thơ nhỏ.
Bà chánh thất hỏi:
– Cái gì vậy? Gởi cho ai? Ai đưa cho mầy?
Thằng Mách đáp:
– Dạ, dọc đường tôi gặp cậu Cẩu. Cậu chận đường, bắt buộc tôi đem lá thơ nầy.
– À! Cái thằng Cẩu, hèn gì mẹ nó là con Ngó trốn mất dạng. Tại sao mầy không giết thằng Cẩu? Cái gì trong nầy, tao không biết chữ, làm sao đọc được?
Rồi bà đổi giọng:
– Ông Bá Vạn ơi! Đọc giùm.
Bá Vạn ra ngoài rồi lên tiếng:
– Dạ, tôi đây.
Bà chánh thất nói nhanh:
– Ông vô đây đọc giùm. Thật là chuyện ngạo ngược, làm sao tha thứ bọn đó được. Tôi hiểu rồi, con Huôi bày ra chuyện sát nhơn nầy. Tôi kêu thằng Điền về, tới núi Còm để xé xác con nhỏ Huôi.
Bá Vạn liếc về phía thằng Mách. Nó cúi mặt xuống, hai tay đưa ra như toan giựt lá thơ. Nó đoán chắc rằng thằng Thiếu là tay sai trung thành của Bá Vạn, người bày mưu kế thâm độc chính là Bá Vạn chớ nào phải cô Huôi và thằng Cẩu. Bà chánh thất đưa lá thơ tới:
– Ông đọc thử. Tôi nóng nghe thơ. Rồi còn lo tống táng cho ông Chúa. Thằng Điền phải đi Lung Tràm để chịu tang cha nó. Thằng Cẩu là cái gì chớ?
Bá Vạn tỏ ra do dự. Nếu thằng Mách gặp cậu Hai Điền thì cơ mưu bất thành, ông sẽ bị cậu Hai bắt giữ. Bởi vậy ông lườm thằng Mách:
– Mầy làm gì vậy? Tại sao mấy nhìn tao lấm lét? Nếu là đứa ngay thẳng thì không có gì giấu diếm cả. Tại sao mầy không ở lại coi cho biết ông Chúa đã chết vì săn heo rừng hay vì lý do khác?
Vì quá tin và quá yêu Bá Vạn, bà Chúa bèn mắng thằng Mách:
– Mầy ra ngoài. Hồi nào, ông Chúa nuôi mầy mập xác. Gặp lúc hoạn nạn thì mầy chạy trốn.
A Mách lầm lũi bước ra. Đề phòng nó chạy qua Hòn Đất để cấu kết với cậu Hai Điền, Bá Vạn nói khẽ với bà chánh thất:
– Đừng cho nó ra ngoài. Coi chừng nó chạy trốn.
Bà chánh thất mở cửa tìm bọn hộ vệ để sai cầm giữ thằng Mách trong khi Bá Vạn đọc thơ. Đại ý, thằng Cẩu nhắn với bà chánh thất rằng trước khi nhắm mắt, ông Chúa có lời trăn trối giao cho nó kế vị thay vì giao cho cậu Hai Điền. Thằng Cẩu ghi chú thêm rằng tang lễ ông Chúa Hòn được cử hành tại núi Mo So. Nó mời bà chánh thất và cậu Hai Điền tới đó…
Khi trở vô, bà chánh thất thở dài mà nghe Bá Vạn thuật lại nội dung lá thơ. Bà ôm ghì lấy Bá Vạn:
– Ông đừng quên tôi. Hèn gì mấy bữa nầy tôi ăn cơm không được, con mắt cứ giựt lia lịa. Theo ý ông thì tôi nên làm cách nào? Thằng Hai Điền còn nhỏ, nếu ông không giúp tôi, ở bên cạnh tôi thì chắc là tài sản nầy không còn. Ai chủ mưu việc nầy? Con Huôi, thằng Cẩu, hay là Mười Hấu, con Ngó?
Bá Vạn mừng thầm vì công việc đã thành tựu. Tuy cậu Hai Điền là đứa võ phu ngang ngược nhưng ít ra cậu cũng phải nể nang người mẹ ruột, Bá Vạn đủ uy thế để điều khiển bà chánh thất, trong những ngày sắp tới. Ông ta đóng kịch khá khéo léo:
– Bà tin cậy tôi thì tôi mừng, nhưng việc nầy quan trọng, không nên nóng nảy.
Bà chánh thất đáp:
– Để trễ thì tụi nó qui tụ bè lũ lâu la, kéo tới Hòn Chông để giết mẹ con tôi!
Bá Vạn nói:
– Nếu bà chết thì mạng tôi cũng không còn. Hiện giờ, bà có nhiều kẻ thù: cô Huôi, Mười Hấu và thằng Cẩu. Phải giết bọn nó, giết từng đứa như bẻ đũa vậy.
Lập luận ấy khiến bà chánh thất sáng mắt:
– Giết con Huôi trước! Đũa mà bó lại khó bẻ gãy, mình bẻ từng chiếc một.
Bá Vạn cau mày:
– Nếu giết con Huôi thì bà mang tiếng là tiểu nhân. Thủng thỉnh rồi hãy giết. Người ta nói bà giết vì ghen.
– Vậy ông muốn giết ai?
– Giết thằng Cẩu, vì nó đòi làm ông Chúa con.
– Phải lắm. Giết thật gấp. Tôi nhắn thằng Hai Điền trở về. Nhưng làm sao tôi dám đi dọc đường! Ông đi giùm tôi, kêu nó về. Bọn thằng Cẩu nhiều hay ít vậy ông?
Bá Vạn đáp:
– Nhiều hay ít, điều đó không quan trọng. Ít mà làm được việc tày trời, nhiều mà lắm khi làm không xong chuyện nào cả.
– Sao vậy?
– Đời bây giờ, mọi việc đều do bọn dọ thám. Phải nhốt thằng Mách, chờ cậu Hai về quyết định.
Lập tức, bà chánh thất chấp nhận ý kiến ấy. Để được yên tâm, Bá Vạn theo sát cạnh. Nãy giờ, thằng Mách bị bọn hộ vệ cầm giữ, nó ngồi cú rũ trong góc nhà.
Bà chánh thất nói:
– Nhốt nó sau hè!
Mách chắp tay xá, đoán chừng rằng đó là cơ mưu của Bá Vạn để giết anh ta. Nhưng van nài bằng cách nào bây giờ! Nếu lỡ lời thì Bá Vạn sẽ giết anh ta lập tức, qua bàn tay bà chánh thất. Trong lúc bối rối, anh ta hối hận vô cùng, vì trước đó không lâu, anh ta nghi ngờ Bá Vạn chủ mưu việc ám sát.
Bá Vạn cười hề hề:
– Mầy nhỏ mà phách lối. Hồi nãy mầy muốn ăn thịt tao! Mầy làm…khổ nhục kế, phải không ? Thằng Cẩu biểu mầy đem thơ tới đây để dọ thám.
– Tức chết đi! Thưa bà….
Rồi anh ta quì lạy bà chánh thất. Bá Vạn nói:
– Bà con thấy chưa? Nó không nhìn mặt tôi.
Để làm đẹp lòng Bá Vạn, bà chánh thất quát to:
– Mai chiều, mầy lạy cậu Hai Điền! Ra ngoài cho mau.
Bá Vạn bèn từ giã bà chánh thất:
– Lát nữa, tôi đi Hòn Đất kiếm cậu Hai.
– Còn lá thơ?
– Bà cứ giữ, mang theo trong mình, rủi gặp bất trắc thì sao!
Trong khi bà chánh thất vào phòng, Bá Vạn ra sân, đưa tay ngoắt thằng Thừa.
Như hiểu ý, thằng Thừa chạy nhanh tới:
– Thưa ông ?
– Lát nữa, tao đi Hòn Đất kiếm cậu Hai báo tin. Mầy ở lại coi chừng thằng Mách.
Rồi Bá Vạn nói rỉ vào tai thằng Thừa:
– Sáng mai tao mới về. Giao cho người khác là hư việc. Mầy nên tìm cách nào…
Thừa gật đầu khi nghe rõ kế hoạch của Bá Vạn. Anh ta theo sau thằng Mách. Bá Vạn bèn nói với bọn hộ vệ:
– Mấy chú nên canh phòng cẩn thận, bắt giữ bất cứ người quen kẻ lạ từ phía núi Còm, núi Mo So tới. Thằng Thừa đứng ở nhà mát làm gì? Mầy nên san sẻ cực nhọc với anh em. Coi chừng thằng Mách. Hễ nó chạy trốn thì tao giết mầy.




Đăng nhập để trả lời
0
-8 -


Cậu Hai Điền ngồi giữa chiếc ghe, với cái tật cố hữu là chống nạnh. Cậu liếc mắt. Dường như dân chúng đóng cửa lại khi thấy cậu và bọn hộ vệ đi ngang qua. Nhà của Tư Thính, cha ruột cô Huôi, hiện ra giữa chòm cây xanh um. Cậu ra lịnh cho bọn hộ vệ:
– Lên bờ, bao vây xung quanh nhà.
Bọn hộ vệ tuân lời rồi hỏi thêm:
– Thưa cậu, nếu ai kháng cự, chúng tôi đối phó thế nào:
– Cứ bắt sống, bắt nhưng đừng trói, lúc trói thì đừng nói nặng lời. Cô Huôi, Tư Thính hay bất cứ ai cũng đáng bị bắt. Tụi nó làm lộng!
Bọn hộ vệ kéo nhau đi từng hàng dài. Dọc đường ai nấy đều chán nản vì hôm trước bọn họ tới một lần rồi, nhà để trống, không đóng cửa nhưng tuyệt nhiên bên trong chẳng thấy một bóng người. Hôm nay là lần thứ nhì chưa ắt thâu được kết quả.
Cậu Hai nói vọng, từ dưới ghe:
– Mau lên. Tụi bây chậm chạp quá!
Bọn hộ vệ bao vây ngôi nhà. Cậu Hai nhảy lên bờ ra dấu hiệu như ngầm bảo:
– Siết vòng vây!
Cậu chỉ ngón tay vào cửa cái như ra lịnh lục soát. Lát sau, một tên chạy trở ra, đến gần cậu.
Cậu hỏi nhanh:
– Có ai không ?
– Dạ, nhà bỏ trống nhưng dưới bếp than lửa còn cháy.
– Lạ thật. Tụi bây dại quá, nó lẻn ra ngoài mà không hay biết.
Tên hộ vệ trả lời:
– Dạ, chắc là xảy ra chuyện gì quan trọng. Trên bàn, tôi thấy tấm giấy viết chữ lăng nhăng.
Câu Hai chạy nhanh vào nhà, chụp miếng giấy rồi đọc. Đại ý, Tư Thính cho biết rằng ông ta tới núi Mo So để dự lễ an táng ông Chúa Hòn, đồng thời ra mắt “cậu Ba Cẩu”.
Dè đâu tình thế biến chuyển quá nhanh! Ai giết cha cậu? Tại sao thằng con nít bị bỏ rơi lại được gọi là “Cậu Ba”! Cậu co chân, đạp nhanh cái bàn, xé nát tấm giấy nọ.:
– Tụi nó giết ba tao! Tao hiểu rồi, chắc là ba tao bị thiệt mạng tại Lung Tràm. Tao phải trả thù, giết thằng Cẩu với con Huôi. Con Huôi…là con nít, bấy lâu nay lấn quyền hạn của mẹ tao. Tao phải cho ông Bá Vạn hay biết.
Ra khỏi nhà, cậu Hai trợn mắt rồi ra lịnh:
– Đốt nhà thằng Tư Thính. Cha con nó muốn soán ngôi vị của tao! Tao không nhịn đâu.
Lửa bốc cháy mù mịt. Dân trong xóm chạy tán loạn, bồng bế nhau, đuổi trâu ra ruộng. Bụi quỳnh hoa run phần phật, nhà cháy khiến gió nổi lên, xoay tròn. Nhớ tới giai thoại xưa, cậu Hai đến gần bụi hoa. Chẳng còn nụ nào cả! Cậu vung tay, nhổ sạch, ném mấy lá quỳnh hoa vào đống lửa. Bọn hộ vệ nhìn nhau ngơ ngác, nêu câu hỏi thầm kín mà chính họ không trả lời nổi:
Ông Chúa chết, đồn điền nầy chia ra hai phần. Họ sẽ theo ai? Rồi đây chắc cuộc tranh chấp sẽ quyết liệt…Cậu Hai và bà chánh thất đứng một phía, thằng Cẩu và cô Huôi, cô Ngó đứng một phía. Nếu đổ máu thì chính họ phải xả thân…
Cậu Hai Điền lập tức xuống bến:
– Tao kiếm ông Bá Vạn mới được. Ông già đó nhiều mưu mô lắm. Ổng sẽ bày kế hoạch cho tao giết thằng Cẩu. Tao thưởng cho ổng một số tiền.
Bọn hộ vệ xuống mấy chiếc ghe lườn, cầm dầm mà chờ. Cậu Hai vỗ trán rồi nói:
– Còn chuyện nầy nữa! Chưa đi được!
Rồi cậu khoát tay:
– Hộ vệ đâu? Kiếm thằng đạo Đất cho tao. Tao xé xác nó. Nó nói toàn là chuyện xui xẻo cho gia đình tao!
Bọn hộ vệ hơi bực dọc vì nhảy lên bờ rồi nhảy xuống ghe quá nhiều lần. Nhưng tất cả đều yên lặng. Phía sườn đồi, là khói trắng bốc lên, lửa cháy vàng hực, đúng ngay hướng nhà ông đạo Đất. Cậu Hai lẩm bẩm:
– Nguy rồi! Đây là việc sắp đặt trước. Tại sao Tư Thính biết tao tới đây? Chắc là Tư Thính và thằng đạo Đất đốt lửa để chọc tức tao! Lên đó làm gì cho mất công! Thôi! Trở về Hòn Chông…
Rồi cậu dậm chân thật mạnh, chiếc ghe nghiêng qua nghiêng lại, suýt chìm:
– Đi qua núi Mo So! Tao muốn gặp thằng Tư Thính, con Huôi, thằng Cẩu. Toàn là quân bất nhơn chiếm đoạt tài sản ông cha tao mấy đời để lại.
Bọn hộ vệ nhìn nhau chưa biết cho đoàn ghe đi về hướng nào vì cậu Hai thay đổi ý kiến như chong chóng. Ai nấy cứ ngậm miệng. Nếu lỡ thốt ra lời sai quấy, cậu Hai sẽ trừng trị gắt gao, đánh đập hoặc giết chết.
Cậu Hai khoát nước dưới rạch để rửa mặt cho tỉnh táo rồi nói:
– Cũng tại con heo rừng ở Lung Tràm! Đi núi Mo So rồi đi Lung Tràm! Tụi bây dám ăn thua với bọn không? Ở đó, đâu có thợ săn, đâu có võ sĩ!
Nhưng, một tên hộ vệ chỉ ngón tay phía Hòn Chông mà reo lên:
– Ai kia, thưa cậu Hai!
Thoạt tiên, cậu Hai không nhận rõ. Trên con rạch, một chiếc ghe độc mộc phóng tới, trước mũi và sau lái có ba người đang dùng sào mà chống. Giữa ghe, một ông lão đứng lom khom, cứ đứng một chập, lại ngồi, như sợ té.
– Ai vậy tụi bây?
Một tên hộ vệ đoán:
– Dường như người quen. Ông già đó hơi giống ông Bá Vạn.
– Phải rồi! Bá Vạn. Chắc tin quan trọng. Tụi bây chống ghe cho tao gặp ổng.
Nói xong, cậu Hai đưa tay ngoắt. Đằng kia, Bá Vạn cũng đưa tay lên trời, để trả lời. Trong phút giây, cậu Hai thương mến Bá Vạn hơn bao giờ hết.
Đúng là người lão bộc gương mẫu của gia đình!
Đằng kia, Bá Vạn mừng thầm khi gặp cậu Hai. Để chuẩn bị tình cảm, ông ta chờ khi gần gặp mặt mới khóc rống lên:
– Cậu ơi! Ông mất rồi. Thằng Cẩu làm phản, chiếm cứ đất đai ở núi Mo So. Cậu cho phép tôi giết nó. Như vầy nhục nhã cho tôi quá. Nó là đứa con rơi, nó là…con chó.
Cậu Hai hỏi:
– Ai đem tin cho ông biết? Chắc như vậy không? Tôi mới vô nhà Tư Thính gặp lá thơ. Thằng đạo Đất đốt chòi để khiêu khích tôi.
Bá Vạn đáp:
– Chuyện hơi dài và hơi bí mật. Tôi muốn nói riêng với cậu. Rủi người khác nghe thì bất lợi. Hay là tôi với cậu lên bờ…
Trước biến cố nầy, thật ra chẳng ai cảm động cả. Cậu Hai hơi mừng vì nay mai sẽ thừa hưởng gia tài, sự chống đối và tranh giành của thằng Cẩu không đáng kể. Bá Vạn thì ra vẻ xúc động để cậu Hai đừng nghi ngờ. Ông ta vuốt mồ hôi trán. Mồ hôi chảy ra vì ông ngồi suốt buổi trên chiếc ghe nhỏ không mui, bị nắng thiêu đốt. Nhưng nó được cậu Hai hiểu là những giọt mồ hôi lo âu của người tôi tớ già.
Bá Vạn thuật chuyện thằng A Mách từ núi Mo So và Lung Tràm trở về với bức thơ.
Cậu Hai hỏi:
– Nó đâu rồi?
– Nó bị bà chánh thất nhốt sau hè. Dường như nó lôi thôi lắm, dính líu tới thằng Cẩu.
– Tại sao lôi thôi?
– Nó nói không ra lời, mặt mày tái mét. Phải chăng nó muốn gieo tin thất thiệt? Làm hộ vệ mà tới lúc nguy nan nó đành bỏ ông Chúa, tội ấy thật đáng đánh.
Cậu Hai tức giận vô cùng.
– Về nhà, tôi giết nó. Bây giờ, theo ý ông, tôi phải làm gì?
– Cậu nên tới núi Mo So để rước linh cữu ông Chúa đem về Hòn Chông mà mai táng. Ngày nay thằng Cẩu với cô Ngó, cô Huôi còn giữ được linh cữu thì dân chúng tin lời họ.
– Phải lắm. Nhưng đi bằng cách nào? Bọn thằng Cẩu đông đảo không? Dao mác, cuốc xuổng nhiều hay ít?
Để thúc giục cậu Hai lên đường, Bá Vạn đáp:
– Cậu cho tất cả số hộ vệ đi theo. Hơn nữa, tôi tình nguyện phò cậu mà. Tụi nó làm sao hơn tôi được? Bấy lâu nay, tôi chưa làm mất lòng ai. Luôn luôn, tôi nhẫn nhịn.
Cậu Hai bèn vỗ vai Bá Vạn:
– Chuyện xưa ông cứ bỏ qua…
Bá Vạn hiểu ý nên nói thẳng ra:
– Hồi xưa, tôi bị cậu làm nhục, nhứt định thằng Cẩu sẽ dạy tôi, để tôi theo nó. Nhưng tôi ngu dại gì! Bây giờ cậu về Hòn Chông gấp chớ.
Chạng vạng tối, cậu Hai và Bá Vạn tới Hòn Chông. Bà chánh thất chạy ra sân, khóc lóc với cậu Hai. Bá Vạn lo lắng vô cùng, chưa biết thằng Mách ra sao. Ông ta nói:
– Cậu nằm nghỉ giây lát, tôi về nhà tắm rửa rồi trở lại.
Không chờ sự đồng ý của bà chánh thất, Bá Vạn ra sân sửa đoạn đi vòng ra phía sau nhà. Lúc bấy giờ, bọn hộ vệ dụm năm dụm ba trước bến, Bá Vạn lên tiếng để thị oai:
– Tụi bây đề phòng kỹ lưỡng, bắt giữ tất cả những người lạ mặt.
Rồi ông ta đến gian nhà ẩm thấp gần cầu xí. Thằng Thừa hỏi:
– Ai đó?
Bá Vạn đáp:
– Tao mà! Xong chưa?
– Dạ, xong mà chưa xong. Tôi đưa chén cơm mà thằng Mách không chịu ăn. Nó cứ la lên. Tôi nhét nùi giẻ trong miệng nó.
Bá Vạn bực tức vô cùng:
– Cậu Hai về tới rồi mà nó còn sống thì chết cả bọn. Tại sao không giết nó? Mầy tệ quá. Giao phó một công việc nhỏ xíu, quá dễ dàng như vậy mà mấy làm không xong. Để tao coi. Đốt đèn lên!
Bị rầy oan ức, thằng Thừa trả lời:
– Làm sao tôi giết nó lúc ban ngày được? Bây giờ mà đốt đèn lên thì lộ bí mật.
Cánh cửa hé mở, thằng Thừa bước vào, đạp mạnh vào ngực A Mách. Thằng Mách thở hồng hộc, đập hai tay xuống nền. Bá Vạn bước theo sau, chân ông đá nhằm chén cơm:
– Mầy lôi thôi quá!
Thằng Thừa hỏi:
– Ông cứ dạy tôi. Siết cổ nó, phải không?
– Để tao coi. Ừ! Phải rồi! Mầy đập cái chén nầy ra, lấy miểng chén mà cắt cho đứt mạch máu ở cườm tay. Rồi mầy tri hô lên. Nhớ bịt mũi, nhét thêm nùi giẻ vô miệng cho nó nghẹt thở. Khi tao trở lại thì mầy rút nùi giẻ ra…
Bá Vạn ra sân, về nhà để rửa mặt rồi thay quần áo. Chưa chi đứa nữ tỳ chạy tới gọi:
– Thưa ông! Cậu Hai mời ông.
– Tao tới bây giờ.
Khi đến sân, ông ta đứng chậm rãi chờ đợi thằng Thừa thi hành kế hoạch. Ông chắt lưỡi chửi lầm thầm:
– Cái thằng chậm lụt quá.
Cậu Hai hỏi:
– Ông tới đó hả? Chừng nào đi núi Mo So? Má tôi cản lại, e gặp rủi ro dọc đường. Vả lại, nếu bọn hộ vệ theo tôi thì nhà nầy còn ai giữ gìn. Thằng Cẩu kéo chừng vài chục tên cướp tới thì sao?
Đột nhiên, từ sau nhà giọng thằng Thừa vang lên:
– Nó chết! Nó đánh tôi nè! Nó tự vận.
Cậu Hai Điền hỏi:
– Cái gì vậy?
– Thằng Mách tự vận rồi. Bậy quá. Tôi muốn nói với cậu nên đánh đập nó để hiểu thêm chuyện ở Lung Tràm. Đúng là nó muốn chạy tội.
– À! Hộ vệ đâu! Đốt đuốc lên, theo tao.
Ánh đuốc chói sáng rực. Thằng Thừa chắp tay thưa:
– Mấy ông ơi! Nó tắt thở rồi.
Cậu Hai Điền vì quá nông cạn nên xông vào nhà giam nắm lỗ tai thằng Mách, xách đầu nó lên mà chửi liền miệng:
– Thằng phản phúc. Nó tự tử bằng cách nào? Tại sao máu me chảy linh láng vậy?
– Nó cắt mạch máu cườm tay, nó đập cái chén ăn cơm, để lấy miểng…
Đôi mắt thằng Mách như mở trao tráo, chỉ còn tròng trắng, miệng hả ra. Cậu Hai đứng dậy:
– Quăng nó xuống sông cho diều quạ rỉa xác. Nó ăn tiền của thằng Cẩu để giết hại ba tôi, còn ai xa lạ nữa!
Cậu Hai trở ra trước sân, hỏi Bá Vạn:
– Làm sao?
Bá Vạn nói:
– Để tôi cho đứa nào đó đi núi Mo So dọ dẫm trước, sáng mai khi mặt trời mọc, cậu với tôi hãy đi.
Nói xong, Bá Vạn gọi thằng Thừa:
– Mầy đáng tin cậy. Chuyện nguy hiểm lắm, mầy phải lo cho tròn. Nuôi quân ba năm, dụng quân một ngày, mầy hiểu chưa?
Thấy cậu Hai Điền còn đứng gần, Bá Vạn đến sát bên cậu mà nói:
– Thằng Thừa võ nghệ cao cường lắm. Nó là đứa khôn lanh. Cậu Hai có sẵn trong mình chút ít vàng bạc thì cho tôi mượn để ban thưởng cho nó.
Cậu Hai Điền tháo chiếc nhẫn, gọi to:
– Thằng Thừa lại đây. Mày nhớ dò xét kỹ lưỡng nơi thằng Cẩu ẩn núp để tao giết nó, trong ngày mai, trễ lắm là ngày mốt. Tao không tiếc với mầy bất cứ món gì. Chiếc nhẫn nầy có nhận hột ngọc bích, trị giá ba bốn lượng vàng ròng.
Thằng Thừa mừng ra mặt:
– Cám ơn cậu.
– Chừng nào mầy trở về?
– Dạ, trong đêm mai.
– Để trễ thì tao giết mầy.
Bá Vạn nói cố ý cho cậu Hai Điền nghe:
– Thừa à! Ai hỏi thì mầy trả lời rằng cậu Hai đang đi săn heo rừng ở Hòn Đất.
Cậu Hai bị chạm tự ái nên cằn nhằn:
– Đáng lý thì nói rằng tao tới núi Mo So để xé xác thằng Cẩu. Tại sao cha tao chết mà thằng Cẩu tự ý chôn cất ở nơi quê mùa hoang vắng? Ông nội tao chôn ở Hòn Chông thì nó phải đưa linh cữu về Hòn Chông. Nó muốn xin tiền bạc thì tao cho nhưng tao không tha thứ cái tội soán ngôi đó được.
Bá Vạn van nài:
– Thằng Thừa dọ thám, làm sao nó dám nói lại đúng theo ý của câu. Vả lại, tôi ngăn cấm không cho nó gặp mặt thằng Cẩu.
– Tại sao vậy?
Bá Vạn nói khẽ vào tai cậu Hai:
– Nó theo dõi thằng Cẩu, chờ cậu tới mà giết để trả thù. Chắc rằng thằng Cẩu đang mướn nhiều đứa hộ vệ. Nếu bọn hộ vệ của hai bên đánh nhau thì đổ máu vô ích, chi bằng cậu tới núi Mo So thình lình để bắt thằng Cẩu vào lúc ban đêm. Hôm sau, cậu đem nó ra xử trước mặt để thị oai với dân chúng.
Cậu Hai vỗ vai Bá Vạn:
– Ông nói phải. Chẳng lẽ tôi giết tất cả dân chúng ở núi Mo So. Dân chết hết, còn ai là tá điền cho tôi. À! Còn con Huôi?
– Cậu giết thằng Cẩu thì cô Huôi sẽ quì lạy cậu, xin tha tội. Cậu bắt buộc cô ta vô chùa tu, thế là xong chuyện.
Cậu Hai Điền trông theo, mãi đến khi thằng Thừa khuất bóng sau rằng cây tràm.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2021 20:19:36 bởi Ct.Ly>
-9-
Đám tang ông Chúa Hòn vẫn chưa xong xuôi. Theo ý kiến của cô Huôi thì linh cữu ông Chúa phải quàn lại để chờ cậu Hai Điền và bà chánh thất tới. Địa điểm quàn tạm là sườn núi Mo So. Thoạt tiên ông Mười Hấu và cô Ngó hơi lo ngại. Ông Mười nói:
– Nên chôn gần nhà tôi, để canh phòng.
Cô Huôi cãi lại:
– Rủi bọn Hai Điền tới đào mồ, đem xác ông Chúa Hòn về Hòn Chông thì cậu Cẩu làm sao xưng là ông Chúa được?
Mười Hấu và cô Ngó đều khen cô Huôi là người thông minh sáng suốt. Cô Huôi vẫn bực vì thằng Cẩu quả là đứa trẻ ăn chưa no, lo chưa tới. Chưa chi nó đã xin tiền để đá cá thia thia và bày kế hoạch cất tại Hòn Chông một sòng bạc, ai vào sòng thì tha hồ đá gà, đá cá, đánh me. Biết rằng để thằng Cẩu ở bên cạnh thì hư hỏng việc lớn, cô Huôi tặng cho nó vài lượng vàng rồi gọi thằng Thiếu đến mà căn dặn:
– Chú mầy lo thật gấp hai chuyện: Đừng cho cậu Cẩu đi chơi xa và giết thằng Lục Nhét.
Thằng Thiếu đáp:
– Tôi giết nó hồi hôm qua rồi, chỉ còn chờ lịnh cô.
Cô Huôi sửng sốt:
– Tại sao giết rồi mà còn chờ lịnh?
– Tôi trói tay chân nó, để trong chòi giữa rừng. Thằng Lục Nhét quả thật là đứa có gồng, da thịt cứng như cây nhưng tôi có cách trị. Dùng cây cau vạt nhọn mà đâm.
– Cứ đâm cho gấp. Nhưng tại sao mầy buồn bực như vậy?
Nỗi lo âu của thằng Thiếu vẫn là việc A Mách còn sống, trốn thoát. Mấy đêm rồi, thằng Thiếu ăn ngủ không yên. Nó chẳng dám tiết lộ chi tiết ấy cho cô Huôi biết. Cô Huôi đã hỏi, nó trả lời rằng đã giết trọn hai tên hộ vệ rồi. Hôm qua, nó dạo chung quanh núi, gặp cậu Cẩu đang điều khiển một bọn hơn mười người hớt cá thia thia cho cậu tuyển lựa lại. Cậu Cẩu đã nói khóac lác:
– Tao viết thơ cho thằng Mách cầm đem về Hòn Chông mà tại sao thằng Hai Điền chưa tới để ăn thua với tao!
Chờ khi Mười Hấu ra ngoài, cô Huôi hỏi:
– Thiếu! Mầy buồn rầu việc gì? Hay là mầy sợ cậu Hai Điền? Ông Bá Vạn đang theo sát cậu Hai, cậu Hai không qua mặt ông ta được đâu!
– Dạ, hôm nọ tôi để sống sót một đứa hộ vệ. Cậu Cẩu lại tha tội nó, viết thơ cho nó đem về Hòn Chông khiêu khích cậu Hai…
– Đừng lo. Mấy cứ giết thằng Lục Nhét.
Vầng trán cô Huôi bỗng nhăn nheo. Cô thở dài. Quả thật thằng Cẩu là đứa ngu dại, liều lĩnh. Nó dám làm nhiều chuyện to lớn mà không cần hỏi ý kiến của bất cứ ai.
Nếu thằng A Mách còn sống thì tình thế ra sao? Liệu Bá Vạn có đủ tài trí để giựt dây, điều khiển mọi hành động của cậu Hai Điền không? Hay là Bá Vạn đã bị cậu Hai giết?
Cô vừa nằm xuống để nghỉ trưa là Mười Hấu chạy vào, mặt mày hơ hãi:
– Cô ơi! Tụi nó đánh mõ, đánh trống ở đằng xa.
Cô Huôi lồm cồm ngồi dậy:
– Tụi nào?
– Dạ, tụi dân trong xóm tôi bố trí canh phòng dọc theo bờ rạch, đề phòng cậu Hai Điền đem bộ hạ tới bao vây.
Cô Huôi ra trước sân, lấy tay che mắt. Đằng xa, chỉ có một bóng chạy lại, theo sau là năm bảy người dân làng. Cô Huôi reo lên:
– Thằng Thừa chớ ai đâu lạ!
Lập tức, cô nói với Mười Hấu:
– Biểu họ ngưng tiếng trống, đừng làm náo động dân chúng.
Khi thằng Thừa đến sân nhà, cô Huôi gọi:
– Vô đây. Thủng thỉnh hãy nói chuyện.
Rồi cô và Mười Hấu vào trong, đóng cửa lại. Thằng Thừa bước vào, gương mặt nghiêm nghị:
– Thưa cô, ông Bá Vạn nhắn tin. Vì sợ lộ bí mật nên ông nhắn miệng. Tôi tới đây để dọ thám.
Mười Hấu vì chưa kịp suy nghĩ nên vung tay:
– Mầy làm phản?
Cô Huôi trầm tĩnh hơn, bèn trấn an Mười Hấu:
– Thằng Thừa là đứa đáng tin cậy. Nếu là dọ thám của cậu Hai Điền thì nó ngu dại gì mà thú nhận.
Thằng Thừa trình bày:
– Cậu Hai tới Hòn Đất để đốt nhà ông Tư. Ông Tư đã trốn từ lâu…
Cô Huôi tức giận vô cùng. Đã đến lúc quyết liệt, vì hành động đốt nhà của cha cô đúng là vô lễ và có nghĩa là tuyên chiến.
– Còn gì nữa? – Cô hỏi – Chừng nào cậu Hai Điền tới đây?
Bỗng dưng mà Mười Hấu tái mặt. Là người quê mùa, ông ta sợ một cuộc tấn công bất ngờ. Nếu cậu Hai Điền cho vài chục võ sĩ tới thì làm sao ông ta chạy kịp. Tại núi Mo so nầy, hổm rày ông ta chỉ tuyển chọn được chừng mười thanh niên trai tráng để canh phòng mà thôi. Cô Huôi khoát tay:
– Ông Mười đừng lo, nên tin tài trí ông Bá Vạn. Sao nữa?
Thằng Thừa nói khẽ:
– Hai ngày nữa là cậu Hai và ông Bá Vạn tới. Cô và ông Mười nên chạy trốn cho cậu Hai hứng chí sanh chứng kiêu ngạo. Ông Bá Vạn sẽ dẫn cậu Hai lên núi để bắt cậu Cẩu. Chừng đó, sẽ làm như vầy…
Cô Huôi gật đầu từng chập. Thằng Thừa nói:
– Bây giờ tôi phải trở về Hòn Chông, vì tôi tới đây để dọ thám mà.
Cô Huôi vỗ vai thằng Thừa:
– Cám ơn chú. Ở lại ăn cơm.
– Dạ, tôi về gấp với mặt mày hốc hác để cho cậu Hai tin lời tôi. Còn thằng em tôi?
– Thằng Thiếu mạnh khoẻ, chú đừng lo.
Thằng Thừa ra ngoài sân. Cô Huôi căn dặn ông Mười Hấu:
– Cứ đánh trống đánh mõ rồi rượt thằng nầy. Ruợt nhưng đừng giết nó.
Cô Huôi nói thêm:
– Giựt cái áo thằng Thừa, cho rách một vạt.
Thằng Thừa phục thầm sự bố trí của cô Huôi. Ra khỏi khu vực núi Mo So, anh ta xuống xuồng, bơi một mạch về tới Hòn Chông.
Trời nhá nhem tối, thằng Thừa đến chân Hòn. Bọn hộ vệ chạy tới ngăn cản. Thằng Thừa bèn giả vờ nổi giận:
– Người như tôi mà anh em dám nói là do thám của ông Mười Hấu! Nếu chưa tin, anh em mời ông Bá Vạn tới để lãnh tôi về.
Dụng ý thằng Thừa là muốn nói chuyện riêng với ông Bá Vạn, không cho cậu Hai Điền nghe. Lát sau, Bá Vạn tới nói với bọn hộ vệ của cậu Hai:
– Mấy chú cẩn thận như thế, nghĩ cũng phải. Nhưng chú nầy là người thân tín của cậu Hai.
Bá Vạn đi bên cạnh thằng Thừa:
– Nói cho mau. Xong chưa?
– Dạ, cô Huôi mừng lắm. Ngày mai, trễ lắm là ngày mốt, trên núi Mo So sẽ có một căn nhà rộng rãi, giống như trường đá cá thia thia. Khi tới núi, tất cả mọi người đều chạy trốn. Ông Bá cứ đưa cậu Hai tới đó là xong chuyện.
+ + +
Trước sân nhà, cậu Hai Điền đi tới đi lui rồi cằn nhằn:
– Tao mổ ruột thằng Cẩu, bêu đầu nó dưới bến cho thiên hạ trông thấy.
Chợt nhìn thấy Bá Vạn và thằng Thừa, cậu Hai Điền hỏi:
– Sao? Tụi nó ở đâu? Canh phòng thế nào? Ngày mai tao tới núi Mo So được chưa?
Thằng Thừa giả vờ như sắp nói chuyện quan trọng:
– Cậu ơi! Chuyện nầy mà đổ bể ra, chắc tôi bị giết. Tôi về đây, suýt chết mấy lần. Bọn hộ vệ của thằng Cẩu nắm áo tôi. Tôi liều chết chạy thật lẹ…
Nhìn cái vạt áo rách của thằng Thừa, cậu hai không nghi ngờ gì cả. Cậu hỏi:
– Sao? Thằng Cẩu ở đâu?
– Dạ, trên núi. Mỗi ngày nó lo đá cá thia thia. Nếu bao vây hoặc giả dạng thường dân, lên núi thình lình thì giết nó tại trận.
– Ngày mai lúc mặt trời đứng bóng, chắc là thằng Cẩu không còn sống.
Bá Vạn đáp:
– Chắc chắn như vậy, nhưng dọc đường cậu nên cẩn thận. Chuyến đi, cậu đừng cho ai biết nhiều. Chuyến về thiên hạ sẽ khâm phục, cho cậu là “chơn mạng đế vương” có tài xuất quỉ nhập thần. Cậu nghỉ sớm để dưỡng sức.
Cậu Hai Điền lẩm bẩm
– Giết thằng Cẩu xong rồi thì Tư Thính, cô Huôi phải hàng phục thôi.
Bá Vạn nói thêm:
– Nhưng Mười Hấu và cô Ngó thì phải đền tội. Mẹ và ông ngoại gánh tất cả trách nhiệm của con, làm sao chối cãi được. Chừng đó xong xuôi, chắc cậu ban thưởng tôi.
– Đừng lo. Tôi cho ông một ngôi nhà cao ráo, ở gần tôi. Căn nhà của ông hư nát rồi. Lúc tôi săn heo rừng, ông coi chừng tiền bạc, rầy la bọn tá điền…
Bá Vạn cười hiền lành, tưởng rằng thế gian nầy chẳng còn ai đóng trò khéo hơn được:
– Tôi không màng danh lợi, chỉ dám mong cậu xuất tiền xây cất một kiểng chùa để thỉnh thoảng tôi tới đó tụng niệm.
Sau khi từ giã cậu Hai Điền, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất ở bên cạnh. Đứa nữ tỳ đưa ông vào trong. Bà chánh thất đóng cửa lại rồi ra lịnh:
– Ra ngoài mà chờ. Ta nói chuyện riêng. Thằng Hai Điền tính sao? Trăm sự đều nhờ ông. Tôi bây giờ như người goá phụ…
Bá Vạn ngồi xuống rồi mở nút áo:
– Xin lỗi bà, nực nội quá. Hồi chiều tới giờ, tôi chưa ăn cơm. Cậu Hai hơi nóng nảy, muốn đem tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So. Tôi ngăn cản, vì làm vậy thì còn ai bảo vệ bà, rủi bọn thằng Cẩu tới bao vây thình lình.
– Tôi dạy thằng Điền, chắc nó nghe lời tôi. Nhưng mà làm cách nào để giết thằng Cẩu? Theo ý tôi thì con Huôi là đứa lợi hại hơn. Còn con Ngó? Chẳng lẽ tha tội cho nó? Từ ngày hai đứa nó về nhà nầy, bao nhiêu chuyện lộn xộn xảy ra.
Rồi bà đến ngồi sát Bá Vạn:
– Ông đừng bắt chước ông Chúa Hòn ngày xưa làm khổ vợ con. Bấy lâu, ngồi trên đống vàng mà tôi khổ sở, buồn bực không kém gì cô gái quê mùa.
Bá Vạn cười dòn:
– Tôi muốn đi tu, sống an nhàn. Lâu lâu, nếu bà nhớ tưởng thì gọi tôi tới để dạy việc.
Bà chánh thất nói giọng tình tự:
– Ông dạy tôi, chớ tôi biết gì mà dạy ông. Ông nói phải. Nếu yên mọi việc thì tôi cất nhà ở xa, hoặc trên chót Hòn mà ở cho yên tịnh. Nhà nầy cất theo kiểu xưa, tối om om. Bọn nữ tỳ quá đông đảo, sớm muộn gì bọn nó cũng nói xấu chủ.
Uống cạn chén rượu, Bá Vạn giả vờ đòi về. Nhưng bà chánh thất cầm giữ khéo léo:
– Ông ở đây cho vui, vắng ông tôi buồn. Thằng Điền không giận ông đâu.
– Tôi sợ tới hừng sáng thức dậy không kịp. Cậu Hai nóng nảy muốn đi sớm.
– Dễ quá, để tôi biểu một đứa nữ tỳ qua nhà thằng Điền mà chờ. Hễ nó thức thì con nữ tỳ qua đây báo tin.
Suốt đêm ấy, tuy nằm bên cạnh bà chánh thất nhưng ông Bá Vạn suy nghĩ chuyện đâu đâu. Trong số ba người vợ mà ông Chúa để lại, ông thích nhất là cô Huôi nhưng làm sao ông với tới. Ông cười thầm:
– Mình đã chiếm được hai bà rồi!
Nhưng hình ảnh cậu Hai Điền cứ hiện ra chập chờn. Hai Điền là đứa khá gan dạ, khôn lanh. Liệu ngày mai anh em thằng Thừa thằng Thiếu đủ sức giết cậu Hai? Làm cách nào cho cậu ta đừng đem tên hộ vệ nào lên núi Mo So? Nếu kế hoạch thất bại, ông sẽ bị Hai Điền giết tại trận. Trong phút giây, ông nghĩ đến chuyện phản bội cô Huôi và thằng Cẩu, nhưng ông sực nhớ đến cái áo lem lấm thịt kho mà ông còn cất giấu kỹ lưỡng.
Rồi đây khi nắm trọn quyền hành, Hai Điền sẽ hách dịch bội phần và một trong những đứa hộ vệ giỏi nghề săn sẽ nắm vai trò “quân sư”. Biết đâu, Hai Điền sẽ trừng trị ông vào dịp khác. Và hổm rày có điều đáng chú ý là cậu ta thắc mắc việc ông giao thiệp thân mật với mẹ ruột của cậu! Đó là bản án treo mà sau nầy cậu được quyền xét xử, bất cứ lúc nào!
Đang ngủ say, Bá Vạn bị đánh thức:
– Ông ơi! Cậu Hai kêu..
Đứa nữ tỳ gõ nhẹ vào cửa, lập tức ông ngồi dậy.
Bà chánh thất ôm Bá Vạn mà hôn:
– Ông giúp giùm tôi. Thằng Điền còn trẻ lắm. Nhớ đem linh cữu chồng tôi về đây. Tôi hứa đền ơn ông.
Bá Vạn đáp:
– Bà nên dạy cậu Hai vài lời. Tôi nói, nhiều khi cậu không tin.
– Dạy điều gì?
– Cậu Hai nên giả dạng thường dân, đừng đem theo bất cứ tên hộ vệ nào cả. Tôi cũng ăn mặc xuề xoà.
Trong lúc Bá Vạn rửa mặt, bà chánh thất đến gặp cậu Hai, lát sau trở lại:
– Ông ơi! Nó chịu rồi. Sẵn đây, tôi đem bộ quần áo đen cho ông.
– Cậu Hai vui vẻ chớ?
– Lúc đầu, nó nhăn nhó mặt mày. Tôi cắt nghĩa rằng giết thằng Cẩu giống như giết heo rừng, nếu ăn mặc sang trọng thì làm tăng giá trị thằng Cẩu.
Bá Vạn ra ngoài. Công việc đầu tiên của ông ta là đánh thức thằng Thừa. Vắng thằng Thừa là hư chuyện. Tuy nhiên, ông dè dặt đến gặp cậu Hai Điền.
Cậu Hai đứng sẵn dưới bến. Hai tên hộ vệ lui cui đánh quai chèo. Thấy Bá Vạn tới, cậu hỏi:
– Như vậy được chưa? Giống như thằng đốn củi.
Bá Vạn trấn an cậu Hai:
– Được rồi, nhưng cậu nên mang theo hai cây dao nhỏ, giấu kín trong áo.
– Thì tôi mang theo hai cây với hai thằng hộ vệ.
Bá Vạn đáp:
– Hai đứa nầy không rành đường sá, mặt mày coi dữ tợn quá. Cho tụi nó ở nhà. Tôi với cậu thay phiên nhau mà chèo chống..
Cậu Hai Điền trố mắt:
– Như vậy mệt lắm. Ông tính sao? Rủi bị chận dọc đường làm sao chống cự được. Phải chi ông mạnh khoẻ…
Bá Vạn vỗ trán rồi nói nhanh:
– Tôi nhớ rồi! Thằng Thừa là đứa hộ vệ của tôi, nó rành đường sá, võ nghệ nào kém ai. Cậu với tôi cứ ngồi để nó chèo sau lái. Chiều nay mình tới Mo So là vừa. Thằng Thừa đã dọ thám hôm qua.
– Kêu nó đi theo. Nhưng tôi muốn làm chuyện bất ngờ. Thay vì đi êm thấm thì mình cho bọn hộ vệ chừng vài chục đứa đốt đuốc, cầm dao mác. Thằng Cẩu là con heo rừng, nên giết nó như giết heo.
– Đó là chuyến về. Nếu gây động, nó trốn thì dễ gì bắt sống nó mà xử cho hả dạ?
Cậu Hai đang do dự. Bá Vạn bèn ngoắt thằng Thừa.
Mặt trời xuống thấp, muỗi kêu vo vo. Thằng Thừa cầm cây sào, xuống chiếc ghe lườn nhỏ. Đó là kiểu ghe độc mộc, tuy nhỏ hẹp nhưng di chuyển nhanh chóng, bị đụng thì không bể, rủi chìm thì cứ nâng lên rồi tát nước cho cạn.
Cậu Hai hỏi:
– Muỗi cắn, mình làm sao bây giờ? Phải un khói trước mũi ghe chớ.
Biết rằng nếu sơ suất một tiếng nói thì kế hoạch bị gãy đổ, Bá Vạn đáp:
– Dạ, un khói thì muỗi tan, nhưng có đóm lửa chập chờn, mình chưa tới là dân chúng hay biết…
– Phải đem rượu theo thật nhiều. Mình uống say thì hơi rượu thấm vô máu, muỗi cắn hút cũng say rượu luôn.
Thằng Thừa lên nhà đem hũ rượu xuống. Bá Vạn nháy mắt rồi khoát tay. Chưa chi thằng Thừa đã trổ tài chống ghe. Với cây sào dài, nó điều khiển khéo léo, chiếc ghe không lúc lắc vì di chuyển quá nhanh. Cậu Hai Điền bắt đầu vui vẻ:
– Ghe đi lẹ thì bớt muỗi, làm sao muỗi bay theo kịp? Uống rượu chớ!
Bá Vạn mở hũ rượu, rót ra chén mời cậu Hai uống trước. Uống cạn chén, cậu trố mắt:
– Tại sao cây cối hai bên bờ hơi lạ?
Bá Vạn đáp:
– Dạ, mình đi tắt trên bưng, đừng lo thiên hạ thấy. Núi Mo So hiện ra kìa!
– Phải chỗ hôm trước không mậy? Mầy còn nhớ chỗ thằng Cẩu đá cá lia thia không?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ tôi nhớ. Ban đêm cậu Cẩu ngủ tại trường đá cá không ai canh phòng cả. Mình chỉ sợ phía chân núi, chỗ nhà Mười Hấu và cô Huôi đang trú ngụ. Luôn luôn, trước sân có năm bảy đứa cầm dao.
Lý lẽ ấy chưa thuyết phục được cậu Hai Điền:
– Tại sao thằng Cẩu ngủ trên sườn núi một mình? Ban đêm, cá thia thia cũng ngủ chớ đâu có thức mà đá. Mầy nói hơi vô lý. Nẫy giờ tao muốn trở về!
Bá Vạn rùng mình lo sợ, nhưng cậu Hai vội nói tiếp:
– Tao trở về kêu vài chục đứa hộ vệ tới đốt nhà Mười Hấu, đốt luôn con Huôi thử coi nó có sống mãi không? Cái thứ bông quỳnh hoa thì lâu lâu nở một lần. Cha tôi lầm tưởng con Huôi là nữ thần hộ mạng.
Để tranh thủ thời giờ, Bá Vạn cứ nhắc nhở:
– Mầy chống cho lẹ kẻo muỗi cắn cậu Hai.
Bỗng dưng cậu Hai la hoảng:
– Con gì vậy?
Một con cá thát lát trắng bạch từ ngoài bưng nhảy vào chiếc ghe lườn, ngay trước mặt cậu Hai. Cậu cằn nhằn:
– Điềm xui xẻo. Đêm nay tôi sao giận trong bụng quá. Hay là mình về?
Bá Vạn đưa tay ra sau lưng như khuyên thằng Thừa đề phòng cẩn thận. Cậu Hai rút ngọn dao ra mà nói tiếp:
– Bá Vạn nghĩ sao? Con cá nhảy vô ghe rồi nằm im. Chắc là có kẻ rình mọ.
Bá Vạn đáp:
– Cậu đừng lo ngại. Ban đêm bọn tay em của Mười Hấu uống rượu rồi ngủ hết rồi.
– Chống xuồng ra ngoài rạch, mát mẻ hơn. Mầy cho chiếc ghe quẹo ra. Trong bưng u ám quá. Hay là con cá nầy là điềm của Trời Phật khuyên bọn mình nên theo con đường khác?
Thằng Thừa tức giận vô cùng, muốn nhảy tới giết cậu Hai Điền cho rảnh. Nó thắc mắc không hiểu tại sao Bá Vạn chưa giết cậu Hai. Nhưng Bá Vạn lại suy nghĩ cách khác. Đến giờ phút nầy, tánh mạng cậu Hai Điền đã nằm trong tay lão. Nếu giết quá nhanh chóng vội vàng thì thằng Cẩu, Mười Hấu và cô Huôi đều sẽ xem thường công việc, sau nầy khi nắm quyền hành thì họ cho rằng lão chẳng góp công lao đáng kể. Mười Hấu và cô Huôi đều là người tham tiền bạc, địa vị. Thằng Cẩu nuôi nấng nhiều cao vọng. Với cái tật ngang tàng, phách lối, rồi đây cậu ta sẽ chửi lão như cậu Hai đã từng làm. Được chim bẻ ná, đước cá quăng nơm. Là người tôi tớ già, lão hiểu trò đời hơn ai hết. Lão nhớ cái tráp, trong đó đựng cái áo dính thịt kho chưa giặt sạch. Khi Hai Điền chết, lão sẽ sung sướng mở tráp ra, ném cái áo cho mọi người xung quanh thấy. Dù sao đi nữa, bà chánh thất vẫn hiền lành, khả ái và vô tội. Nếu có dư luận không đẹp cho rằng lão giết Hai Điền thì còn mặt mũi nào lão nhìn bà chánh thất. Chẳng lẽ lão giết luôn bà ta! Làm như vậy thì Tư Thính và Mười Hấu sẽ cho rằng lão gian ác, sẵn sàng phản bội tất cả mọi người. Họ sẽ giết lão sau khi họ thắng thế để ngừa hậu hoạn.
Thằng Thừa lên tiếng:
– Xuồng ai bơi ngược về phía nầy kìa.
Bá Vạn nhắc nhở khéo léo:
– Có tao. Chắc là xuồng mấy người đốn củi đặt trúm.
Nhà hai bên bờ đều đóng kín cửa. Đã đến địa phận chân núi Mo So. Quả thật cô Huôi đã bố trí khéo léo, dọc đường cậu Hai không gặp ai xét hỏi cả. Cậu Hai Điền thích chí:
– Đêm nay tao cho tụi nó chết. Thừa à! Nhớ kỹ nhà Mười Hấu không?
– Dạ nhớ. Chỗ có mấy cây cau lão đằng trước.
– Mầy ghé lại, tao ngồi chờ. Mầy tới đó rình thử rồi cho tao biết.
Thằng Thừa lên bờ, bước nhanh. Vài con hạc kêu oang oác trên bầu trời đầy sao thưa. Cá đớp bọt sát mé cỏ. Bên kia bờ, nhà nọ còn thức. Có tiếng trẻ con khóc và tiếng hát ầu ơ.
Cậu Hai mò tay, lấy hũ rượu uống cạn một chén rồi căn dặn Bá Vạn:
– Đừng nói chuyện.
Ngồi trên ghe với cậu Hai, Bá Vạn lo sợ vô cùng. Nếu cậu trở mặt dùng dao nhọn mà giết lão thì ai che chở giùm.
Thời khắc trôi qua chậm chạp. Phía núi Mo So vài đốm sáng chập chờn. Mây đen kéo tới nườm nượp che khuất trăng sao. Bỗng dưng mà Bá Vạn ngờ mình đang bị chôn sống trong cái hố sâu thẳm. Ếch nhái kêu inh ỏi bên tai. Bầy đom đóm từ xa bay lại như những oan hồn, đều bắt đầu làm quen với Bá Vạn.
Cậu Hai tằng hắng:
– Nó về kìa!
Thằng Thừa chạy hổn hển, đứng lại thở phào:
– Dạ xong rồi. Nhà Mười Hấu đóng cửa kín.
Cậu Hai nói:
– Mầy kiếm một mớ nhánh cây khô để tao đốt. Nó chạy ra là gặp tao. Tao giả dạng như người chòm xóm tới coi đám cháy. Làm sao nó biết trước được.
Cả ba người lên bờ, đến nhà Mười Hấu. Bầy chó sủa vang nhưng lạ thay, họ chẳng nghe ai lên tiếng cả. Cậu Hai hỏi:
– Sao vậy?
Thằng Thừa đáp:
– Dân chúng ngủ mê hoặc là xóm nầy chó cứ sủa từng chập, chẳng ai thèm chú ý.
Cậu Hai đến trước sân rồi đạp mạnh cánh cửa:
– Chủ nhà đâu?
Thừa lúc ấy, Bá Vạn hỏi thằng Thừa:
– Mầy gặp ai lúc nãy?
– Dạ, cô Huôi. Cô bảo rằng cứ tới…rồi lên núi.
Cánh cửa mở tung, bên trong thắp đèn leo lét. Một người lồm cồm ngồi dậy trên bộ ván. Cậu Hai xông vào. Lúc ấy, cậu tin sức mình, với ngọn dao nhỏ cầm sẵn trong tay. Người nọ chạy xuống nhà bếp rồi đạp cửa sau nghe rầm rầm. Thằng Thừa đoán chắc là Mười Hấu, nên chờ khi Mười Hấu chạy ra vườn, nó kêu lên:
– Nó chạy kìa! Để tôi rượt theo.
Cậu Hai đáp:
– Mầy ngu quá. Đốt nhà cho tao!
Không đợi thằng Thừa tiếp tay, cậu Hai lấy thếp đèn để sát vách, đổ mớ dầu ra rồi dùng tim đèn mà châm vào. Lửa bốc lên. Bá Vạn bịa chuyện để cậu Hai tin rằng đã thắng cuộc:
– Nó chạy ra sau vườn kìa! Nó xuống mé sông.
Lập tức, cậu Hai trở ra với nụ cười trên môi và cây dao trên tay. Bá Vạn nói khéo:
– Bây giờ cậu lên sườn núi để bắt sống thằng Cẩu. Chờ lâu quá thì ngọn lửa bốc sáng, nó nghi ngờ.
Cậu Hai Điền nhìn mấy nhà chung quanh, nêu câu hỏi:
– Dân chúng đâu hết rồi?
Bá Vạn hiểu rằng dân chúng đã tản cư trước, theo lệnh cô Huôi, ông ta đưa lý do không vững lắm:
-       Mười Hấu phách lối, ăn ở bất nhân nên dân chúng không phục. Ngày mai, họ vui mừng khi hay tin cậu tới cứu giúp.
– Phải lắm. Mười Hấu là cái gì mà đòi làm cha ông Chúa Hòn? Bây giờ, tao giết thằng Cẩu. Dẫn đường cho tao đi!
Thằng Thừa đến gốc cây to, dừng lại để chờ cậu Hai và Bá Vạn. Con đường mòn hiện ra, dốc núi thoai thoải và trên kia, ánh đèn leo lét chiếu sáng từng chập. Lúc hăng hái, cậu Hai đi nhanh, hỏi lấy lệ:
– Tao biết rồi. Thằng Cẩu ở chỗ có ánh sáng trên đó?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ phải.
– Để tao giết nó một mình. Tưởng rằng bọn nó canh phòng chu đáo; quanh nhà có thiên binh vạn mã. Ngờ đâu chuyện đời quá dễ.
Bá Vạn và thằng Thừa theo sau. Ông ta cau mày nói khẽ:
– Mầy thấy chưa? Cậu Hai muốn phản tụi mình.
– Ông nói sao?
– Hễ giết được thằng Cẩu thì cậu cho rằng đó là do cậu can đảm, đủ tài trí. Nhưng thằng Thiếu có ở trên đó không?
– Dạ, hồi nãy nó hẹn ở đó.
Cậu Hai Điền gọi từng chập:
– Theo tôi cho mau. Tôi chỉ sợ khi nào Mười Hấu và con Huôi lên núi báo tin. Hồi nãy, họ xuống bến phải không ?
Căn nhà hiện ra đúng là nơi mà thằng Cẩu bố trí sẵn để đá cá thia thia hồi mấy tháng trước. Nhà rộng bốn gian vách phên sơ sài. Đến trước sân, cậu Hai dè dặt đứng lại để chờ thằng Thừa. Bá Vạn nói:
– Coi chừng lầm nhà, mầy nhớ kỹ chưa?
Thằng Thừa đáp:
– Dạ, đúng là nhà nầy.
Cậu Hai nhìn qua kẽ vách. Có người nằm trong cái mùng bằng nhiễu đỏ. Cậu khều Bá Vạn:
– Ông vô trước, đánh thức nó. Rồi tôi hạch hỏi nó trước khi giết cho sướng tay.
Bá Vạn đáp:
– Thằng Thừa vô trước. Nó có võ nghệ. Nó vô trước, cầm dao đứng sẵn rồi cậu hãy lên tiếng.
Thằng Thừa tuân lênh, vạch mấy miếng lá bên vách mà xông vào. Mừng rỡ biết chừng nào! Nó thấy đúng em nó là thằng Thiếu đang nằm nghiêng trong mùng giả dạng thằng Cẩu. Nãy giờ, thằng Thiếu phập phồng chờ đợi với cây mác nhọn và sợi dây khá chắc.
Thằng Thừa nhìn kỹ. Em nó mở mắt ra, nháy đôi ba lần. Nó khoát tay.
Từ bên ngoài, cậu Hai Điền đạp cửa phên. Cửa ngã xuống, cậu cười dòn:
– Thằng kia! Thức hay ngủ!
Nhanh như chớp, thằng Thừa đổi vị trí, đến sát cậu Hai Điền như để làm phận sự hộ vệ. Cậu Hai cầm ngọn dao trên tay, đến sát bên mùng. Thằng Thiếu vụt ngồi dậy. Bá Vạn cười to:
– Cậu Hai! Biết tôi là ai không?
Khi day lại, cậu Hai bủn rủn tay chân vì thằng Thừa và thằng Thiếu đều hươi khí giới, để sát ngực cậu. Bá Vạn vuốt râu, trợn mắt:
– Biết tôi là ai không? Cậu nhớ thằng già nầy hồi mấy tháng trước bận cái áo gì không? Cái áo dính thịt kho…Cậu buông cây dao xuống. Ở đây, hôm nay thằng Cẩu không chết mà người chết là thằng Hai Điền.
Mồ hôi tuôn xuống nườm nượp, cậu Hai xám mặt, từ từ buông cây dao rớt nhẹ xuống đất. Bá Vạn nói tiếp:
– Chung quanh đây còn mười võ sĩ khác, cậu đừng chống cự vô ích.
Cậu Hai ôm mặt khóc, quì xuống trước mặt Bá Vạn:
– Trời! Dè đâu đêm nay tôi chết như vầy. Tôi là đứa ngu dại. Ông không tha thứ cho tôi được sao?
Bá Vạn sung sướng vô cùng. Lần đầu tiên trong đời, ông ta đã bắt buộc một ông chúa con phải quì gối để xin tha mạng. Trước khi giết Hai Điền, ông muốn nói vài tiếng cho hả giận, bù lại khoảng thời gian đau khổ mà ông đã chịu đựng suốt mấy tháng qua:
– Mọi khi, chú mầy xem trời đất nhỏ như hột tiêu. Bây giờ chú mầy nhỏ hơn hột tiêu, hiểu chưa? Đừng tưởng mầy giỏi hơn con heo rừng. Tao là con cọp kỳ lân. Bao nhiêu tài sản ông bà mầy để lại đều thuộc về tay tao nắm giữ. Tao làm tôi mọi nhiều năm rồi.
Niềm hy vọng mong manh vẫn còn thấp thoáng trong trí óc cậu Hai Điền. Cậu day lại nhìn thằng Thừa, thằng Thiếu. Hai đứa nó cầm dao trong tay. Cậu cúi mặt, hai ba giọt mồ hôi rớt xuống long lanh. Thếp đèn dầu mù u cứ cháy chập chờn:
– Hồi đó, tôi là đứa con nít, tôi trót dại, làm chuyện hổn láo. Nay mai khi trở thành ông Chúa, tôi hứa đền ơn xứng đáng. Hòn Đất và núi Mo So sẽ thuộc về tay ông.
Bá Vạn quát to:
– Không bao giờ mầy trở thành ông Chúa Hòn được!
– Trời ơi! Xin ông thương tưởng giùm, cho tôi sống để ăn năn tội lỗi. Tôi trở thành thường dân..
-Mầy không xứng đáng làm thường dân.
– Dạ…ông cho tôi sống thêm vài năm, tôi hứa vô chùa tu cho tới chết.
– Thà mầy chết bây giờ, sướng thân mầy hơn. Lúc trước mầy hất tô thịt kho lên áo tao, mầy hất thêm một tô nước mắm lên đầu tao. Đáng lý ra, hai ba ngày sau mầy kiếm tao để xin lỗi. Cha mầy là đứa không biết phải quấy, tao giết cha mầy rồi. Mạng mầy là đồ bỏ.
Liệu chừng năn nỉ không xong, cậu Hai Điền nghĩ tới biện pháp chót là chạy trốn. Căn nhà nầy vách phên thưa thớt, nếu đạp mạnh là thoát ra ngoài. Thà ra ngoài nhảy xuống hố, đập đầu vô đá mà chết còn đỡ nhục nhã hơn ở đây.
Nhưng Bá Vạn lên tiếng:
– Thừa, Thiếu đâu rồi? Dẫn nó ra trước sân, làm thịt cho kỹ.
Cậu Hai giãy dụa kêu la:
– Tôi không có tội tình gì hết, cho tôi sống với chớ! Mấy ông cho tôi sống rồi muốn làm gì thì làm. Oan ức quá. Trời ơi!
Bá Vạn ngồi xuống. Ngoài kia, cậu Hai thở hồng hộc, tiếng thở thỏn mỏn dần. Bá Vạn nhìn ra:
– Nó chết thiệt chưa? Giết cho kỹ lưỡng, quăng xác xuống hố.
Lát sau, ba người xuống chân núi. Nhà Mười Hấu chỉ bị hư hao sơ sài. Cửa trước sau đều mở rộng. Vừa liếc vào, Bá Vạn thấy cô Huôi đang ngồi trên bộ ván. Gương mặt cô trầm tĩnh và nghiêm nghị lạ thường. Mười Hấu ngồi phía sau lưng cô Huôi và phía sau Mười Hấu là cô Ngó. Thoạt tiên, Bá Vạn chờ đợi lời khen ngợi và đón tiếp rầm rộ của Mười Hấu. Bá Vạn nghĩ rằng mình đã lập công lớn, cô Huôi và Mười Hấu phải nhớ ơn và khâm phục. Ông ta bước vào, cúi đầu.
Cô Huôi cất tiếng:
– Xong xuôi rồi chớ? Ngày mai ta về Hòn Chông.
Mười Hấu là người quê mùa nên kém trầm tĩnh:
– Ông ơi! Nãy giờ tôi lo múc nước để chữa lửa. Nhà nầy bị cháy một lỗ lớn. Thằng Cẩu cứ lo…
Cô Huôi chận lời Mười Hấu:
– Xong rồi thì ta nghỉ cho khoẻ. Thằng Thừa, thằng Thiếu đâu rồi? Rửa tay chân cho sạch máu. Mai chiều, Bá Vạn thưởng tiền cho.
Nói xong, cô Huôi vào trong. Bá Vạn nằm trên bộ ván cứ thao thức trong khi anh em Thừa, Thiếu xuống bến tắm rửa. Chó sủa ma, văng vẳng trong đêm thâu. Bá Vạn rởn tóc gáy từng chập khi thấy một con đom đóm từ ngoài sân, phía núi Mo So bay vào. Phải chăng đó là oan hồn của cậu Hai Điền? Con đom đóm vào, bay trở ra. Bá Vạn chưa yên tâm cho lắm vì những ngày sắp tới ắt còn nhiều khó khăn. Cô Huôi đẹp thật, nhưng lúc nầy vẻ đẹp ấy hơi bí hiểm.
Bất giác, lão thở dài:
– Mình làm cho thiên hạ hưởng. Chẳng lẽ mình lại ngu dại làm chuyện hại ngược lại mình? Cô Huôi còn trẻ nhưng khác xa bà chánh thất và cô Ngó…Đêm nay nếu không có cô ta thì mình được an ủi bên cạnh cô Ngó! Còn thằng Cẩu? Nó ngủ say hay là đang trửng giỡn với mấy cô thôn nữ? Thiệt là đứa tốt phước!




Đăng nhập để trả lời
0
-10-

Xóm Hòn Chông trải qua những ngày vui tươi. Việc làm đầu tiên của cô Huôi là dạy Bá Vạn nên xoá bỏ một phần lớn nợ nần của bọn tá điền. Ai nấy mừng quýnh. Đối với họ, đây là dịp tốt để uống rượu, ăn chơi. Sòng bạc mọc lên rải rác. Ban đêm, họ đốt đuốc ngoài sân để ăn uống, ca hát. Thằng Cẩu ưỡn ngực, mặc áo gấm, mặc nhiên trở thành ông Chúa Hòn.
Cậu ta rước một đoàn lực sĩ “Sơn Đông” từ Rạch Giá để xem chơi. Trong khi ấy, cô Huôi ngồi trên bộ ván cẩm lai, gương mặt ưu tư hơn bao giờ hết.
Đối diện với cô là ông Bá Vạn. Bá Vạn hiểu rằng nên khéo nịnh hót cô Huôi, ông ta được hưởng chút ít tiền bạc, còn hơn là tổ chức một cuộc chống đối quá phiêu lưu. Bọn hộ vệ có thể nghe theo lời ông, nhưng ông Chúa Hòn không còn đứa con trai nào khác ngoài thằng Cẩu.
Cô Huôi cất tiếng:
– Hổm rày, ông Bá mệt nhọc, tôi biết.
Bá Vạn muốn nhơn cơ hội nầy bảy tỏ nỗi thắc mắc thầm kín nhứt:
– Nhưng xin lỗi cô, tôi muốn hỏi…
Cô Huôi trợn tròn đôi mắt:
– Phải kêu tôi bằng bà cho quen miệng. Thằng Cẩu chỉ là con của tôi. Tôi đứng trên thằng Cẩu.
Bá Vạn lại ấp úng:
– Thưa bà…
Cô Huôi mỉm cười:
– Bá Vạn đừng buồn. Tôi chưa khen thưởng Bá Vạn, để thủng thỉnh rồi tính sau. Tôi lo xa nên chưa vui. Thằng Cẩu là đứa khó dạy. Không hiểu nó mang chứng gì mà mặt mày xanh mét, run tay run chân, tánh tình bất thường. Điên không ra điên, khùng không ra khùng. Rồi đây, nó hại tất cả mọi người.
Bá Vạn chắp tay thưa:
– Thưa bà, lần nầy bà dạy dỗ nó. Vì bà là mẹ, còn hơn mẹ ruột.
Cô Huôi đáp:
– Nhưng tôi không tham quyền cố vị! Tôi tránh tai tiếng kẻo thiên hạ đồn rằng tôi bày mưu kế giết cậu Hai Điền. À! Nghe nói Bá Vạn quen thân với bà chánh thất?
– Dạ, xin bà hiểu giùm, lúc trước tôi tới lui với bà ta để dọ thám đừng cho Hai Điền kéo tất cả bọn hộ vệ tới núi Mo So.
Cô Huôi cau mày hồi lâu không trả lời. Lúc nầy Bá Vạn thấy mình yếu đuối và cô độc hơn bao giờ hết. Nếu cô Huôi lật ngược thế cờ, tố cáo ông Bá Vạn là kẻ âm mưu giết ông Chúa và Hai Điền thì ắt là ông ta bị giết ngay, không ai binh vực, che chở. Từng giọt mồ hôi chảy dài trên trán Bá Vạn. Cô Huôi nói:
– Lau mồ hôi cho tỉnh táo, có gì mà sợ! Tôi không phải là người thất đức, miễn là Bá Vạn biết phải quấy với tôi. Đừng ham công danh.
Bá Vạn đáp:
– Dạ, nếu bà cho tôi nghỉ việc thì còn gì may mắn cho bằng. Từ nay về sau, bà trọn quyền coi sóc tất cả mọi việc. Tôi thì già yếu, chỉ mong được dưỡng nhàn.
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn ở lại để điều khiển cậu Cẩu. Chẳng lẽ tôi gây gổ với nó mỗi ngày đôi ba lần. Thỉnh thoảng tôi rầy rà một lần thì nó mới sợ. Nhưng tôi buồn giùm bà chánh thất. Hỗm rày tôi chưa gặp mặt. Để bà ở đây thì khó xử.
Hai ngày qua, Bá Vạn chưa dám gặp bà chánh thất vì sợ cô Huôi tình nghi. Hơn nữa, Bá Vạn là người phản bội dưới mắt bà ta. Bà ta có thể liều chết, chưởi một trận nên thân rồi theo chồng theo con qua bên kia thế giới.
– Bà dạy thì tôi vâng lời…
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn có quen thân với bà chánh thất thì đến gặp mà an ủi rồi khuyên bà nên lựa chọn nơi nào mà dưỡng thân cho khoẻ. Ta hứa cho tiền bạc thêm để xài…
Lập tức, Bá Vạn qua nhà bà chánh thất. Bà hỏi nhanh:
– Gì nữa đó? Cô Huôi đã chiếm đoạt tất cả quyền hạn. Nói rằng thằng Cẩu nắm quyền chớ cô ta từ rày về sau nắm hết quyền hạn, đúng là bà Chúa, là mẫu hậu. Cô ta có hỏi tới tôi không?
Bá Vạn trình bày ý kiến của cô Huôi. Bà chánh thất cười gượng:
– Thà rằng đi mà chắc sống thêm mươi năm, còn hơn là ở đây. Ông thấy cô Huôi là người thế nào?
– Dạ, là người khôn khéo, đáng mặt đàn bà.
Bà chánh thất thở dài:
– Đêm rồi, ta nằm chiêm bao, thấy nhiều điềm kỳ lạ quá. Chồng ta và con ta hiện về, mặc quần áo tang. Ta hỏi thì họ trả lời rằng vui lắm. Ta hỏi thêm cho biết tại sao họ vui. Họ trả lời rằng…
Bà nghiêng sát đầu vào tai Bá Vạn mà nói tiếp:
– Nói rằng cô Huôi không làm bà Chúa được lâu đâu.. Đó là bông quỳnh hoa sớm nở tối tàn. Quỳnh hoa được người chờ đợi khi là nụ, khi nở thì thơm lạ lùng nhưng mặt trời chưa mọc là đã tàn. Vả lại tôi nghe nhiều người nói rằng hễ đàn bà cầm quyền thì… gia đình suy sụp. Ông tin lời tôi không?
Bá Vạn nói:
– Tin chớ…
– Ông tìm cách xin đi xa. Bởi vì ông với tôi là hai
người án bóng cô Huôi. Trước sau gì cô ta cũng đuổi. Thà rằng mình đi trước.
– Nhưng …hiện giờ cô Huôi bắt buộc tôi ở lại. Tôi buồn quá. Tôi ở lại để nghe cậu Cẩu chưởi mắng như lúc trước tôi đã từng chịu đựng với cậu Hai.
Ngoài đường, dân chúng la hét và cười giỡn rầm rộ lên. Có người nói:
– Hát thuật “Sơn Đông” bên chợ Rạch Giá tới. Một người nuốt hai ba cây gươm! Ông Chúa mới lên dám tốn tiền cho dân được vui.
Bá Vạn hỏi:
– Chuyện gì vậy?
Bà chánh thất đáp:
– Ông rảnh thì coi thử. Cái thằng Cẩu thiệt là khó chịu. Thằng Điền của tôi coi vậy chớ khôn ngoan hơn.
– Tôi về. Vài ngày nữa lại thăm bà…
Ra khỏi nhà bà chánh thất, Bá Vạn lầm lũi theo đám người đông như thác lũ đang kéo về xóm chợ. Cậu Cẩu ngồi trên cái ghế to, trước kia dành cho cậu Hai Điền ngồi trên ghe để thị oai khi săn heo rừng. Nhóm Sơn Đông mãi võ gồm mười đứa cao lớn, mang theo nào đao, siêu, chùy, đinh ba, song kiếm. Bá Vạn đứng sau lưng cậu Cẩu.
Hai tên võ sĩ đánh nhau, đứa cầm song kiếm, đứa đỡ gạt với hai bàn tay không! Dân chúng hò reo từng chập để tán thưởng tài nghệ anh chàng tay không. Lắm khi anh ta né một bên, nhảy thật cao hoặc ngã mình cho té sấp để tránh lưỡi kiếm sáng ngời của đối phương. Bá Vạn thừa hiểu đó là những cuộc sắp xếp ngoạn mục. Có điều đáng chú ý là ở góc sân có một chàng trai mặt mày nghiêm nghị, nhỏ con. Đúng là người Việt Nam chớ nào phải là Hoa kiều từ đất Sơn Đông tới. Chàng nầy cầm cây cờ đuôi nheo, ba góc. Giữa cờ, thêu năm chữ “Sơn Đông Quỉ Mãi Khoan” nhưng điều khiến Bá Vạn đổ mồ hôi là lá cờ nọ có những tua dài bằng kim tuyến . Bá Vạn lẩm bẩm:
– Bọn nguy hiểm. Kim tuyến màu vàng nhưng tại sao lại là màu xanh, màu trắng và màu đỏ?
Cậu Cẩu day lại:
– Cái gì?
Bá Vạn đáp:
– Thưa cậu, bọn nầy không phải là Sơn Đông.
– Miễn là nó đánh võ coi sướng mắt thì thôi. Nếu không phải là Sơn Đông thì nó là gì?
– Dạ có lẽ là dọ thám…
– Ông nói có lý. Lát nữa tôi mời cái thằng chủ chốt tới nhà ăn cơm rồi bắt nhốt luôn…Ông về đi. Cứ để nó múa vài chập nữa.
Bá Vạn tất tả vào tư thất của cô Huôi. Theo ý ông thì ba sọc xanh trắng đỏ là màu cờ của người Lang Sa. Năm ngoái, ông đã nghe nói rằng bọn Lang Sa đã chiếm thành Gia Định, rồi đến Định Tường, đến chợ Hà Tiên. Mấy tháng qua, vùng Hòn Chông sống yên lành, có lẽ vì người Lang sa cho rằng Hòn Chông không quan trọng.
Cô Huôi nghiêm mặt khi nghe Bá Vạn trình bày buổi trình diễn:
– Bọn đó là ai?
Bá Vạn suy nghĩ hồi lâu:
– Quân Lang Sa tới, nhưng là ở xa. Nghe đâu bọn nó ra ngoài Huế để ra mắt nhà vua. Mấy tháng rồi, ông Chúa không đụng chạm tới họ thì chắc là rồi đây họ không đụng chạm tới xứ Hòn Chông nầy.
Cô Huôi nói:
– Bá Vạn ra chợ, mời một đứa trong bọn rồi hỏi kỹ lưỡng. Nên đối xử tử tế rồi khuyên họ đừng nên tới lui xứ nầy.
Thật là một công việc khó khăn! Từ khi cậu Cẩu “lên ngôi” đến giờ, Bá Vạn luôn luôn tìm cách lánh mặt để tránh dư luận xấu, cho rằng ông âm mưu giết cậu Hai Điền. Cậu Cẩu thì xem thường Bá Vạn, suốt ngày cứ lo ăn uống và cờ bạc.
Ngoài chợ, bọn Sơn Đông mãi võ đang biểu diễn một trò nguy hiểm: nhảy qua vòng lửa!
Bá Vạn đến gần cậu Cẩu, nói khẽ:
– Thưa cậu…
Cậu Cẩu nắm tay Bá Vạn mà kéo xuống:
– Ngồi đây coi chơi.
– Dạ, bà má nuôi của cậu muốn xét hỏi. Bọn nầy đáng tình nghi.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Coi cho sướng cái đã. Tụi nầy có tài. Người ta đang trổ tài mà…
Giữa sân, một tên lực sĩ đang cầm cái vòng bằng sắt, có cán như cây vợt. Trống chiêng nổi lên. Tên lực sĩ khác lấy vải nhúng dầu chai, quấn chung quanh cái vòng châm lửa. Bỗng nhiên tên cầm cờ trao cây cờ cho người bên cạnh rồi chạy tới gần cái vòng, đứng lại.
Anh ta trợn mắt, lui ra. Rồi anh ta quát to, như tập trung thần lực. Cậu Cẩu nói:
– Bá Vạn vô coi! Nó nhảy vô trong vòng đó!
Nhưng anh ta cụt hứng vì chàng lực sĩ nọ chạy tới gần cái vòng rồi đứng lại, khom lưng, hai tay cặp sát mép tay. Cậu Cẩu nói lớn:
– Mầy giỡn với tao hả? Mầy gạt tao?
Anh ta thối lui, đứng ngắm nghía vị trí cái vòng rồi đứng thẳng người, buông xuôi hai tay. Cậu Cẩu nói:
– Mầy điếc hả? Tới xứ nầy mà mầy không phục tùng lời nói của tao.
Anh ta vẫn không trả lời, khoanh tay trước ngực rồi quát lên như con thú bị thương:
– Sát ! Sát!
Bá Vạn và cậu Cẩu đứng dậy một lượt, nghĩ đến một vụ ám sát. Bọn Sơn Đông mãi võ nầy phải chăng là tay sai của bà chánh thất muốn lợi dụng cơ hội để lật ngược tình thế? Nhưng Bá Vạn và cậu Cẩu lầm to. Anh ta nhảy tuốt qua vòng lửa. Qua bên kia, anh ta đứng dậy, mỉm cười rồi day qua cậu Cẩu mà xá ba lần!
Cậu Cẩu bắt đầu nổi giận:
– Mầy khinh tao! Lại đây!
Anh nọ đến trước mặt mà trình bày:
– Thưa cậu, tôi liều nguy hiểm để cho cậu vui mắt.
– Nhưng tại sao mầy cười? Tại sao mầy kêu tao bằng cậu? Tao…chém mầy.
Bá Vạn phập phồng lo sợ. Nếu tên mãi võ nầy là tay sai dọ thám của quân Lang Sa thì việc chém giết quả là hành động khiêu khích, bỗng dưng mà rước lấy tai họa cho cả vùng Hòn Chông.
Ông nói:
– Thưa ông…nên hỏi kỹ lưỡng.
Cậu Cẩu lườm Bá Vạn:
– Đây là chuyện của tôi. Tôi giết nó.
Rồi nhìn anh chàng mãi võ, cậu la lớn:
– Ai dạy mầy cái tật hỗn láo!
Anh chàng nọ nhìn vào cậu Cẩu như để dò xét ngầm, lát sau mới nói:
– Dạ, người Lang Sa dạy tôi! Muốn được yên thân, cậu nên cầu hòa với người Lang Sa.
Vì sống quanh quẩn ở núi Mo So nên cậu Cẩu chẳng hiểu gì cả. Cậu lại hỏi:
– Lang Sa là thằng nào?
Bá Vạn quả quyết rằng bọn mãi võ nọ là quân dọ thám nên ra lịnh:
– Hộ vệ đâu? Bắt bọn nó!
Bọn Sơn Đông mãi võ hò hét vang rân trong khi bọn hộ vệ tìm cách bao vây. Dân chúng tán loạn trong khi Bá Vạn và cậu Cẩu chạy trối chết về tư thất. Cuộc tranh tài diễn ra trong chớp nhoáng rồi tự giải tán vì bọn Sơn Đông rút lui quá nhanh. Chúng hươi mấy cây đinh ba, chùy, song kiếm rồi chạy xuống núi. Đó là sự may mắn cho bọn hộ vệ, vì nếu bọn Sơn Đông kháng cự thật sự thì làm sao bọn chúng chống đỡ nổi với những cây dao ngắn.
Cậu Cẩu về nhà, gọi đứa nữ tỳ:
– Quạt cho mát coi!
Rồi day lại:
– Ủa! Sao có một đứa hè? Ba bốn đứa quạt một lượt cho nổi giông nổi gió.
Bá Vạn vuốt mồ hôi trán, theo sau mà nói:
– Thưa ông, đóng cửa lại! Bọn nó dám làm loạn.
Cậu Cẩu cằn nhằn:
– Ông già rồi mà ông còn nói bậy nói bạ. Thằng nầy chưa sợ bất cứ ai. Lát nữa, bọn hộ vệ lôi đầu thằng nhảy vòng lửa về đây chớ gì? Nếu sợ thì ông lại trước hàng ba mà canh chừng.
Tủi thân biết chừng nào! Bá Vạn không dám cãi cậu Cẩu. Đứng trước hàng ba, ông liếc về phía xóm chợ. Mấy tên hộ vệ cúi đầu đi lặng lẽ như bầy chuột mắc mưa. Đúng là họ đã thất bại và bọn Sơn Đông mãi võ đã tẩu thoát.
Cậu Cẩu hỏi:
– Tụi nó đâu? Dẫn bọn Lang Sa tới chưa? Lang Sa là cái giống gì?
Bá Vạn đáp:
– Bọn hộ vệ không bắt được ai hết. Bọn dọ thám chạy trốn rồi.
Bỗng dưng mà cậu Cẩu cười ha hả:
– Bọn Lang Sa chạy trốn thì…đâu đáng sợ. Ông hô hoảng làm náo loạn dân chúng. Từ rày về sau, ông đừng sợ bóng sợ gió vậy nữa…




Đăng nhập để trả lời
0
 
 
-11-

Hai ngày liên tiếp, cậu Cẩu vắng mặt, lý do rất đơn giản: Cậu về núi Mo So để thăm mẹ và ông ngoại. Mười Hấu bày cho dân chúng ăn uống linh đình và tuyên bố rằng năm tới cậu Cẩu sẽ miễn tất cả nợ ăn và địa tô.
Người chờ đợi cậu Cẩu là cô Ngó. Cô buồn phiền vì thái độ gần như bạc bẽo, vô tình của Bá Vạn. Bá Vạn phải chăng đã quên đêm ân ái, trước khi xảy ra việc săn heo rừng? Cô Ngó hơi buồn tẻ, trở thành goá phụ. Cô không được tái giá vì vùng Hòn Chông nầy chẳng còn ai xứng đáng với cô. Ngoài ra, còn dư luận và áp lực của cậu Cẩu. Bá Vạn là niềm an ủi duy nhứt của cô.
Cô gọi:
– Cậu Ba đâu rồi?
Cậu Cẩu bước vào nhà:
– Thưa má, tại sao còn là cậu Ba? Là cậu Hai chớ!
Cô Ngó biết rằng cậu Cẩu đang kiêu hãnh nên vội sửa chữa:
– Ừ! Thì cậu Hai, má quen miệng. Hồi đó thằng Hai Điền còn sống, nó là đứa thứ hai.
Cậu Cẩu đáp:
– Má đừng nhắc tới nó nữa. Bây giờ, con là ông vua rồi.
– Bà chánh thất, cô Huôi và ông Bá Vạn đối xử với con ra sao? Con nên kính trọng và nghe lời mấy người đó. Má buồn vì quê mùa, ăn nói không lịch thiệp.
– Má về Hòn Chông ở với con…
– Chưa được đâu. Hễ má về thì thiên hạ đồn đãi…
– Chuyện đó thiên hạ bàn tán rồi bỏ qua chứ gì! Ai mà không biết ba con với thằng Điền bị cô Huôi và Bá Vạn giết chết. Tụi nó lợi hại lắm.
– Nhưng nhờ đó mà con thêm oai quyền. Đừng nói vậy không nên.
Vì ghen tương, cô Ngó muốn cho bà chánh thất và cô Huôi đi xa Bá Vạn. Cô hỏi:
– Bà chánh thất đi tu chưa? Má nghe đồn đãi rằng bà đi tu.
– Hơi đâu mà nhắc tới mụ đó. Mụ ta lấn hiếp má từ mấy năm qua. Đáng lý ra, con giết mụ ta.
– Con đừng nói nhảm. Còn Bá Vạn?
Cậu Cẩu cau mày:
– Cái đó khó hiểu. Bá Vạn tới lui thăm bà chánh thất rồi tới thăm cô Huôi.
Cô Ngó suy nghĩ hồi lâu. Vì đã từng sống gần cô Huôi nên cô Ngó tin rằng Bá Vạn chẳng bao giờ làm chuyện tình ái bất chánh được. Một là vì Bá Vạn đã già, hai là vì cô Huôi là người tự trọng và kiêu hãnh, dám hy sinh thú vui riêng để làm việc lớn.
Nhưng dầu sao đi nữa, Bá Vạn vẫn là người phụ bạc. Nghĩ vậy, cô Ngó nói:
– Bá Vạn là người tham lam.
Cậu Cẩu thích chí, nhớ tới chuyện Sơn Đông mãi võ hôm nọ:
– Nó muốn làm vua. Nó coi con là con nít. Con đi đâu, nó theo sát bên cạnh để dạy dỗ rồi mét thót với cô Huôi. Con cách chức nó.
Bỗng dưng mà cô Ngó nghĩ đến một thủ đoạn ác độc. Mấy tháng qua, cô sống hiền lành, phó mặc cho hoàn cảnh. Nhưng cô thấy rằng nếu quá hiền lành thì sẽ mất hạnh phúc:
“Rồi đây Bá Vạn sẽ năn nỉ ta cứu giúp”.
Nghĩ vậy, cô lại nói:
– Con hãy làm việc kỹ lưỡng. Bá Vạn làm công nhiều năm rồi, tất cả mọi người vùng Hòn Chông nầy đều biết mặt ông ta. Ông ta nghỉ việc, bao nhiêu sổ sách nợ nần đều mất. Chờ một hai năm nữa rồi hãy hay. Tạm thời, con tìm cách lấn quyền hạn ông ta, nắm giữ sổ sách.
– Hay lắm. Má cứ tin con.
– Nhắn Bá Vạn tới cho má dạy việc…
– Dạ.
Rồi cậu Cẩu lên núi Mo So để tìm mấy người bạn đá cá thia thia hôm nọ.
– Tụi bây tới Hòn Chông mà thăm tao!
Có người trả lời:
– Cậu là người giàu sang, như ông Chúa Hòn rồi. Tụi tôi bần hàn, ăn bận rách rưới, gia đình túng thiếu. Nếu bỏ công việc lấy sáp ong thì làm sao mà đủ cơm gạo cho vợ con ăn?
Cậu Cẩu đáp:
– Tao nuôi tụi bây luôn. Về đó, tụi bây ăn cho mập rồi tập luyện võ nghệ. Tao ở Hòn Chông một mình buồn bực vô cùng, xung quanh là người xa lạ, họ chắp tay xá tao, họ lạy tao nhưng tao không tin cậy bằng tụi bây.
Ai nấy vui mừng, hứa đi Hòn Chông để làm người hộ vệ cho cậu Cẩu.
Trên đường về Hòn Chông, cậu Cẩu bỗng dưng nảy ra ý nghĩ táo bạo:
– Qua Hòn Đất. Tụi bây biết nhà Tư Thính ba cô Huôi không? Đưa tao tới đó.
Bọn hộ vệ đáp:
– Thưa cậu, đường hơi xa. Đêm nay ngủ dọc đường, nào muỗi mòng, mưa gió.
– Tụi bây dốt quá. Ở Vàm Rầy có xóm nhỏ, cứ đậu ghe lại. Tụi bây ngủ, tao cũng ngủ luôn.
Câu nói vớ vẩn của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ trố mắt nhìn nhau. Tại sao cậu đòi đi Hòn Đất thật gấp rồi lại muốn ngủ dọc đường? Nhưng khi cậu Cẩu nói thì chẳng một ai dám cãi lời.
Nằm trong ghe bầu, cậu Cẩu nhớ lời căn dặn của me. Phải hạ nhục Bá Vạn mới được! Cậu Cẩu hiểu rằng hiện nay mình đang nắm tất cả quyền hạn và tài sản. Nhưng Bá Vạn là kẻ đang chia sớt quá nhiều quyền hạn ấy. Cô Huôi là người đáng cho cậu kính nể, chưa rầy rà cậu lần nào.
Ghe tới xóm Vàm Rầy.
Bọn hộ vệ hỏi:
– Thưa cậu, ngủ tại đây chớ?
Cậu Cẩu ngồi dậy, nhìn qua cửa hông mui ghe. Đèn đuốc sáng rực. Năm ba căn phố ngói hiện ra. Năm ngoái, cậu đến đây một lần nhưng xóm Vàm Rầy còn chưa sầm uất.
Cậu nói:
– Ghé lại. Nhà cửa của ai vậy?
Bọn hộ vệ đáp:
– Dạ, tụi tôi chưa rõ.
Tiếng đàn hát từ mấy căn phố vang ra. Cậu Cẩu nổi giận:
– Bọn nó vô lễ!
Bọn hộ vệ chưa hiểu cậu Cẩu muốn nói gì. Thật ra bọn người ở xóm Vàm Rầy nầy đâu hay biết trước để đón tiếp ông chúa con. Một tên hộ vệ hỏi:
– Thưa cậu, chắc họ đờn ca inh ỏi, cậu khó ngủ. Để tôi lên bờ nói một tiếng là họ dọn dẹp ngay.
– Không đâu! Tao muốn chuyện khác.
Một tên hộ vệ bèn ngỏ lời nịnh hót:
– Chắc là có cô nào đẹp mà lại hát hay. Tôi mời cô ta xuống đây hát cho cậu nghe.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Đừng giỡn mặt với tao. Thằng nào nói hỗn xược đó! Xuống đây tao dạy việc…
A Chúa là người Hoa kiều lai Việt, làm cai điền cho Bá Vạn hơn mười năm qua. Mới đây ông Bá Vạn trao một số tiền, bảo A Chúa xây cất ba căn phố lợp ngói. Ngoài ra, A Chúa còn lo dự trữ hàng hóa quan trọng. Sống trong địa phương nhỏ, A Chúa được dân chúng nể nang. Lúc ngồi nghe ca nhi đờn ca, anh ta ngỡ mình là ông vua nhỏ, bên cạnh cung phi mỹ nữ. Chuyến trước, Bá Vạn an ủi anh ta:
– A Chúa ráng vài năm là tôi chia cho một phần ba gia tài.
Lúc ngồi dựa lưng vào gối, A Chúa bỗng giựt mình vì thấy có một tên hộ vệ bước vào. Lối ăn mặc của bọn nầy khác hẳn với thường dân: áo ngắn, dây nịt da to bản. Thoạt tiên, A Chúa ngỡ rằng Bá Vạn tới nên reo to:
– Vui quá. Ổng tới rồi!
Rồi anh ta day qua bọn ca nhi:
– Chúng bây nghỉ ngơi giây lát để dưỡng sức. Đêm nay thức tới khuya. Ông Bá Vạn ban thưởng tụi bây.
Nhưng anh chàng hộ vệ quát to:
– Xuống bến! Biết ai không?
– Ông Bá chớ ai?
– Ông Bá hả? Coi chừng ăn đòn! Ông Chúa tới đó. Xuống ghe để nghe ông Chúa dạy việc.
– Sao tôi không hay trước? Vậy mà nãy giờ tôi tưởng là…
A Chúa gài nút áo, xỏ chân vào đôi giày hàm ếch. Bọn ca nhi ngồi yên trên chiếu, cúi mặt, sau khi dẹp cây đàn và đôi song lang sát vách. Ra đến sân, A Chúa nghe tiếng chưởi:
– Xứ nầy lạ quá, tụi bây làm ăn kiểu gì vậy?
Trong lúc A Chúa bối rối thì tên hộ vệ nhắc nhở:
– Ổng rầy chú mầy đó!
A Chúa nói khẽ:
– Thưa ông, xin ông tha thứ cho. Tôi chưa biết mặt ông. Xin mời ông vô nhà…
Khi đến trước thềm, cậu Cẩu dừng lại, ưỡn ngực trông lên:
– Nhà mới cất. Bên kia, ai làm chủ? Tại sao thiên hạ mau giàu quá vậy?
A Chúa run sợ nhưng làm sao anh ta dám nói dối. Song nếu tiết lộ sự thật thì chắc là cậu Cẩu nổi giận.
– Hả? Ai làm chủ? Chú mầy làm chủ chớ ai?
– Dạ, của …ông Bá Vạn!
– Rồi! Tao nói không sai. Được lắm, được lắm! Nhà nầy cất bao lâu rồi? Còn mới tinh khôi. Làm giàu mau thiệt.
Đúng là cậu Cẩu oán ghét ông Bá Vạn nên mới cằn nhằn ganh tị. A Chúa buồn bực vô cùng. Đáng lý ra, cậu Cẩu phải mừng rỡ khi thấy kẻ ăn người ở được khá giả hơn trước.
– Dạ thưa ông, cất bốn tháng rồi!
Thật ra, ba căn phố nầy chỉ mới cất xong từ hôm kia. A Chúa rước bọn ca nhi tới để chờ đón rước Bá Vạn ăn mừng tân gia. Nếu bảo rằng mới cất xong thì cậu Cẩu sẽ cho rằng đó là tiền mà Bá Vạn lường gạt trong ngân quỹ.
Cậu Cẩu vào nhà, ngồi trên bộ ván gỗ, lắc đầu:
– Bốn tháng không? Nếu vậy thì Bá Vạn đã ăn trộm tài sản của tao từ khi tao chưa…kế vị! Chắc còn nhiều chỗ khác. Xóm Vàm Rầy nầy, Bá Vạn còn nhà cửa, ruộng đất gì không?
Để tránh cơn phẫn nộ của ông Chúa, A Chúa đáp:
– Thưa ông, tôi chỉ biết ba căn phố nầy.
– Mở cửa hai căn kia cho tao coi!
Bọn hộ vệ đi trước, theo sát A Chúa mà nói khẽ:
– Chú mầy sắp tàn mạt rồi! Năn nỉ thì tao dạy cho.
A Chúa đáp:
– Mấy cậu thương giùm. Tôi chỉ là người làm công cho ông Bá Vạn. Ăn cây nào rào cây nấy, biết sao?
– Nè! Kiếm cô nào đẹp, đánh đàn rồi hát cho ông Chúa ngủ. Ổng chịu thứ tiêu khiển đó.
Nhưng, cậu Cẩu đã theo, bén gót. Vừa bước vào căn phố thứ nhì, cậu trố mắt, nói lậy dậy:
– Trời! Nó giàu hơn tôi. Bá Vạn thiệt là khôn ngoan. Cái gì dự trữ đầy kho, đựng trong bao cà-ròn?
– Dạ, tôm khô…
– Còn gì nữa, nói thiệt đi.
– Dạ, căn bên kia dự trữ bong bóng cá, vi cá.
Cậu Cẩu đáp:
– Đóng cửa lại. Tao mệt rồi.
A Chúa hơi lúng túng, chưa biết cậu Cẩu dùng thái độ cứng rắn hay mềm dẻo. Dân chúng xúm lại khá đông, hỏi lăng xăng. A Chúa buồn rầu vô cùng vì đây là điều sỉ nhục lớn. Từ rày về sau, anh ta không còn được dân chúng kính nể như trước – khi cậu Hai Điền còn sống.
Tên hộ vệ gọi to:
– Chủ phố đâu?
A Chúa chắp tay thưa bẩm:
– Dạ tôi đây.
– Cậu dạy chú mày kiếm ông Bá Vạn để chịu tội…
A Chú hỏi khẽ:
– Anh biết tôi là người làm công, nắng bề nào che bề nấy, tại sao cậu Cẩu ghét ông Bá Vạn như vậy?
– Tao không biết. Nhưng là cậu Cẩu muốn xưng vương một cõi. Bấy lâu nay, Bá Vạn làm giàu. Cậu Cẩu là ông Chúa mà kém oai quyền hơn người quản gia.
Trời quá tối, đêm vào khoảng canh ba. A Chúa nghĩ đến con đường xa lăng lắc từ đây đến Hòn Chông nên van nài:
– Anh năn nỉ giùm tôi, nếu tôi trở về không kịp thì nói với cậu Cẩu như thế nào cho cậu đừng rầy la.
– Làm cách nào thì làm. Hừng sáng ông Bá Vạn phải tới cho kịp. Dầu sao đi nữa, ổng cũng là công thần. Nếu ăn nói khéo léo, chưa đến nỗi nào, phải gãi đúng chỗ ngứa.
– Anh nói sao?
Tên hộ vệ của cậu Cẩu nói:
– Tôi làm việc mấy trào rồi, ông Bá Vạn chưa rầy la lần nào. Tôi thương ổng lắm vì tánh tình điềm đạm, ít nổi nóng. Nghe gì chưa? Coi trên bờ kia!
Đứng dưới bến, A Chúa thấy cửa phố mở ra rồi đóng lại đôi ba lần. Tiếng đàn địch trỗi lên. Cậu Cẩu cười ha hả, bước vào. Cánh cửa đóng lại kín mít.
Tên hộ vệ lẩm bẩm:
– Cậu Cẩu ưa gái đẹp! Nói như vậy là ông Bá Vạn hiểu.
Vì sợ trễ nải nên A Chúa cong lưng chèo ghe đến Hòn Chông. Dọc đường, anh ta không dám dừng tay để rửa mặt, uống nước.
Đầu canh tư, anh ta đến bến, buộc dây ở mũi xuồng vào cây nọc trên bờ rồi chạy tất tả vào sân. Bọn hộ vệ hỏi:
– Ai đó?
– Tôi là A Chúa, coi điền đất cho ông Bá Vạn ở Vàm Rồng, Vàm Rầy. Cho tôi gặp mặt ông Bá.
Bị đánh thức thình lình, Bá Vạn biết là có chuyện quan trọng xẩy ra. A Chúa thuật đầu đuôi tự sự rồi nói thêm:
– Cậu Cẩu đang ngủ với mấy đứa “phì phà chảy”. Lúc đầu, cậu chưởi mắng tôi khi nghe tụi nó đờn hát. Nhưng riết rồi, coi bộ cậu trở nên phàm tục. Ông tới cho kịp, nếu trễ thì tôi còn gì thể diện với dân chúng bến phố. Theo ý cậu ta thì mớ tôm kho và bong bóng cá dự trữ trong kho đều là….bất chánh.
Bá Vạn thở dài hỏi A Chúa:
– Đói bụng lắm hả? Xuống bếp kiếm cái gì ăn cho no. Tao rửa mặt rồi đi liền. Chắc là cậu Cẩu coi tao như thằng ăn cướp. Già rồi, tao có quyền làm ăn mua bán chớ sổ sách ghi chép đàng hoàng, tao ăn gian chỗ nào? Dè đâu thói đời như vầy…
Lúc A Chúa xuống bếp, Bá Vạn qua tư thất cô Huôi. Cô Huôi đang uống nước trà, với cái tô kiểu vẽ hình long phụng. Thấy Bá Vạn, cô Huôi hỏi:
– Chuyện gì vậy?
– Thưa cô, cậu Cẩu hạ nhục tôi. Nhờ cô cứu giùm.
Cô Huôi nghiêm mặt:
– Ông ngồi, nói tiếp cho tôi nghe. Ông phải biết trước chuyện nầy, trước khi xảy ra chuyện ở Lung Tràm. Đừng hoảng hốt.
Rõ ràng cô Huôi là người đủ bản lãnh, còn trẻ nhưng không thiếu kinh nghiệm đối nhân xử thế. Bá Vạn cúi mặt.
Gà gáy eo óc. Hai ngọn đèn sáng cháy chập chờn. Sương mù bay lẩn quẩn trong nhà. Cô Huôi gọi rót tô nước trà mời Bá Vạn uống rồi xua tay đuổi đứa nữ tỳ ra ngoài.
– Cậu Cẩu đòi tôi tới Vàm Rồng. Nếu tới trễ, tội của tôi thêm nặng. Cô nghĩ coi. Tôi như thằng già cõng đứa bé lên vai để nó xem hát. Dè đâu, nó cú trên đầu thằng già. Đành rằng “được cá quăng nơm” là thế gian thường tình, nhưng cậu làm quá đáng. Hai căn phố giá đáng là bao. Tôm khô, bong bóng cá dự trữ trong kho là số vốn mà tôi dành dụm bấy lâu nay. Tức quá!
Cô Huôi bĩu môi:
– Ông nhớ không? Lúc ông bàn kế hoạch với tôi, tôi đâu có cười. Nhưng ông đừng lo. Sự đời là như vầy, mỗi người đều trải qua ba giai đoạn, từ khi lớn lên đến nhắm mắt. Chưa làm nên sự nghiệp, chịu lao đao lận đận. Nên sự nghiệp rồi thì suy tàn, nên tỉnh táo đề phòng. Vả lại ông chưa suy tàn đâu!
Bá Vạn hơi bực dọc vì cô Huôi không chịu dùng quyền lực để can gián cậu Cẩu. Cô Huôi nói tiếp:
– Tôi còn nhỏ, chưa dám dạy đời cho bất cứ ai. Nhưng tôi nghe ba tôi dạy như vậy. Ba tôi nói rằng đó là lời dạy của Trời Phật, trong kinh kệ.
Bá Vạn không còn kiên nhẫn được nữa:
– Trời ơi! Tôi phải gặp mặt cậu Cẩu để trả lời về tội gian tham. Rủi cậu nổi giận đánh đập hoặc có những cử chỉ thất lễ, làm sao tôi sống được. Xưa kia, tôi bị cậu Hai Điền hất tô nước mắm với tô thịt kho lên đầu. Cái áo đó còn để trong cái tráp.
Cô Huôi nói:
– Tôi khuyên ông nên chịu đựng tất cả. Lần trước giết cậu Hai Điền thì có người thay thế. Nhưng lần nầy, nếu giết cậu Cẩu thì còn ai? Phải để cậu Cẩu sống hoài. Vả lại, bọn Sơn Đông mãi võ hôm nọ làm tôi suy nghĩ. Cậu Cẩu không sống dai để làm ác đâu! Chuyện đời còn nhiều thay đổi.
– Thà rằng bị chưởi mắng nơi kín đáo chớ chịu đựng giữa đám đông thì chết còn sướng hơn.
Cô Huôi mỉm cười:
– Cậu Cẩu đang háo thắng, muốn chưởi mắng, hạ nhục vài người có quyền thế giữa đám đông. Ông nên vui vẻ chịu đựng.
Kể ông chịu đựng được thì cậu ta thương mến ông chớ gì!
Bá Vạn gật đầu:
– Cám ơn cô. Cô nói phải. Lúc nầy cậu ta muốn khoe khoang quyền thế. Tôi hứa chịu đựng tất cả.
Nói xong, Bá Vạn ra ngoài sân, về nhà rồi xuống ghe với A Chúa cho kịp lúc trời chưa sáng.
Cậu Cẩu uống rượu say mèm, ngủ thẳng giấc. Mặt trời lên cao, tên hộ vệ đứng gần bên cạnh. Cậu mong cho A Chúa rước Bá Vạn đến kịp giờ.
Bọn ca nhi rửa mặt, thay quần áo rồi ngồi cú rũ ở căn phố bên cạnh. Tên hộ vệ hỏi đùa:
– Hồi tối vui không? Mấy cô sao mà buồn vậy?
Một cô đáp:
– A Chúa rước chị em tôi từ Rạch Giá tới đây, nửa chừng A Chúa đi vắng. Hôm nay, lấy gì mà ăn, ai trả tiền chợ cho chị em tôi?
Tên hộ vệ chú ý đến nhan sắc cô gái hơi lớn tuổi.
– Đẹp như cô, chắc làm giàu mau lắm, toàn là người giàu sang đến rước, họ trả tiền nhiều…Cô tên gì?
Cô gái trố mắt:
– Hỏi chi vậy? Tôi tên Xí Vĩnh.
– Tên lạ quá…
– Có gì lạ. Tên tôi viết như vầy.
Ngón tay cô gái vẽ trên cát. Tên hộ vệ đọc nhanh:
– Xí Vĩnh là Thúy Anh. Tên đẹp quá. Mấy cô chờ lát nữa là có tiệc tùng ăn uống. A Chúa bận việc riêng…
Dân chúng cứ xúm xít dưới bến. Đột nhiên, có người reo to:
– A Chúa về rồi kìa !
Tên hộ vệ xuống bến, vừa mừng vừa lo khi thấy ông Bá Vạn ngồi xếp bằng trước mũi ghe.
Ghe cập bến, Bá Vạn lên bờ, hỏi nhanh:
– Cậu Ba đâu rồi:
Tên hộ vệ đáp:
– Dạ thưa, cậu còn ngủ. Hồi tối thức khuya với mấy phì phà chảy, uống rượu hơi nhiều. Nếu cần, tôi đánh thức cậu Ba.
– Thôi! Cậu là ông Chúa, rủi bề gì…A! Mày nghe cậu hờn giận tao điều gì đó? Khổ quá. Dầu sao đi nữa, cậu cũng giữ thể diện cho tao làm ăn. Nếu biết cậu tới đây, tao bày tiệc đón rước trọng thể.
A Chúa mời Bá Vạn qua căn phố bên cạnh. Ông không chờ cậu Cẩu thức. Bá Vạn nhìn cô gái xinh đẹp tên là Xí Vĩnh:
– Hồi tối, cô săn sóc cậu Ba…
– Dạ. Cậu đó ác quá, bắt tôi uống rượu hoài.
A Chúa bèn giới thiệu:
– Đây là cô Xí Vĩnh.
Rồi nói với Xí Vĩnh:
– Ông nầy có thể giúp cô làm nên sự nghiệp. Cậu hồi tối đó giàu lắm.
Xí Vĩnh cau mày:
– Hèn gì cậu xưng là ông Chúa Hòn, nắm trời đất trong tay. Cậu hăm giết vài người để …lấy máu tế cờ!
Bá Vạn rùng mình:
– Nói thiệt hay nói chơi? Chắc là lúc uống rượu hơi nhiều. Cậu hiền lắm mà.
Xí Vĩnh đáp:
– Cậu đâu có hiền. Uống rượu bao nhiêu cũng tỉnh, tỉnh mà như say, hai bàn tay hơi run, mặt tái mét. Hồi tối cậu đòi mổ bụng tôi để…ăn gan.
Bá Vạn thở dài, nhớ tới lời khuyên của cô Huôi. A Chúa nói khẽ:
– Xí Vĩnh sẽ giúp mình nhiều chuyện về sau nầy nếu cậu mê nhan sắc nó.
Bá Vạn trao cho Xí Vĩnh nén bạc:
– Để dành mà xài.
Bên kia vách, có tiếng dậm rầm rầm trên giường. A Chúa hơi mừng vì cậu Cẩu dường như đã quên chuyện cũ. Cậu nói:
– Hai đứa con gái đâu rồi? Có một đứa coi được quá. Con Xí Vĩnh! Để tao đem nó về làm vợ. Thứ con gái đó coi vậy mà xài được, dễ sai biểu. À! Tao nhớ! Đêm rồi mầy đi đâu? Mầy nói lại cho tao nghe thử. Nè! Nếu nói láo thì tao giết mầy.
– Dạ, tôi rước ông Bá Vạn tới đây để nghe cậu dạy việc.
– Ủa! Bá Vạn tới rồi hả? Sao lão ta chưa qua đây hầu hạ tao? Tao nhỏ tuổi thiệt nhưng tao thề không bao giờ chào ổng trước. Ổng là cái …thằng ở đợ, quá tham lam. Tao ngồi đây coi ổng muốn gì? Ổng muốn gặp mặt tao chớ tao gặp mặt ổng để làm cái gì chớ?
Bá Vạn nghe rõ, uống chút rượu, gài nút áo cẩn thận. Lời căn dặn của cô Huôi còn văng vẳng bên tai ông. Cậu Cẩu là đứa bần tiện, khi thắng thế thì phách lối. Nên nhịn nhục cho qua buổi rồi chờ cơ hội khác.
Ông đến trước cửa, chắp tay xá:
– Xin ra mắt…
Cậu Cẩu đưa tay ngoắt:
– Bá Vạn vô đây! Nghe tôi hỏi rồi trả lời kỹ.
– Dạ, cậu là bề trên của tôi.
– Trên dưới gì, nghe nhức đầu quá. Tôi muốn trừng trị một tên gian ác, vậy thôi. Ba căn phố dự trữ tôm khô, bong bóng cá, vi cá nầy là của tôi…
Bá Vạn cố nài nỉ:
– Xin cậu thương giùm. Tuổi già sức yếu, bấy lâu nay tôi dành dụm lần hồi.
– Dành dụm gì mà nhiều dữ vậy?
– Dạ tôi không ăn xài cờ bạc gì ráo. Vợ con thì không có. Mấy năm qua, nhờ gặp chuyến nên lời nhiều, cất được ba căn phố nầy.
– Lời gì nhiều dữ vậy? Ông ngoại tôi ở núi Mo So còn chưa có tài sản như vầy. Má tôi ở trong căn nhà ông ngoại tôi.
Bá Vạn bực tức, muốn nói thẳng rằng Mười Hấu, ông ngoại cậu Cẩu, cách đây vài tháng chỉ là kẻ thất phu, sống bằng nghề leo lên sườn núi mà hái ổ ong mật. Mẹ cậu Cẩu là cô gái gánh nước ở bờ suối, chính Bá Vạn đã cầm đuôi dẫn đường cho ông Chúa Hòn đến ăn uống no say. Nghĩ vậy, Bá Vạn nói khẽ:
– Lần hồi, ông ngoại cậu trở nên giàu có. Tài sản như tôi đáng là bao!
– Đừng nói lảng qua chuyện khác. Tôi muốn nói là ông không được quyền chiếm đoạt tài sản của tôi. Cãi hả? Cái thằng A Chúa đâu? Nó chịu tội giùm ông.
A Chúa trố mắt, chưa hiểu cậu Cẩu giở trò gì, nên trốn trách nhiệm:
– Cậu ơi, tôi là người làm công.
Cậu Cẩu đắc ý chỉ vào mặt A Chúa:
– Quỳ xuống! Chẳng lẽ tao bắt ông Bá Vạn phải quỳ!
A Chúa riu ríu vâng lời, quỳ trước thềm nhà. Bá Vạn vẫn còn tin rằng cậu Cẩu chỉ muốn thị oai với dân trong xóm, nhứt là với cô Xí Vĩnh. Nhưng ông lầm to. Cậu Cẩu truyền lịnh:
– Đánh mõ lên! Tụ họp dân chúng cho mỗi người thấy một chút.
Tên hộ vệ đã quen tánh ý cậu Cẩu biểu là phải làm, nếu cãi thì số phận anh ta sẽ tệ hại hơn A Chúa. A Chúa liếc về Bá Vạn như cầu khẩn.
Bá Vạn nói:
– Cậu dạy thì chú mầy cứ nghe lời. Cậu mới lên, thế nào cũng dễ dãi, ăn ở nhơn đức với kẻ ăn người ở.
Dân trong xóm đến bao quanh sân nhà. Cậu Cẩu gọi:
– Ông Bá Vạn! Lại đây mà nghe. Tôi hỏi ông điều nầy.
– Dạ, tôi sẵn sàng quỳ dưới chân cậu.
– Thằng A Chúa nầy giúp việc từ bao lâu rồi?
Bá Vạn đáp:
– Dạ từ bốn năm nay, tánh tình hiền hậu. Mỗi năm đến ngày Tết, ngày giỗ, nó đều có mặt tại đường ở Hòn Chông để cúng lạy.
– Mặc kệ. Ai mướn nó?
Bá Vạn đáp:
– Dạ tôi mướn nó.
Cậu Cẩu trợn mắt:
– Mướn nó…nhưng tại sao ông không cho tôi biết? Muốn làm gì thì làm sao chớ?
Bá Vạn bỗng nổi nóng:
– Thưa cậu, đây là chuyện riêng của tôi, tôi trình chỉ làm mất thời giờ của cậu.
– Nếu vậy mai mốt đây, ông mướn hàng trăm võ sĩ để xâm chiếm vùng nầy? Quyền hạn của ông nhỏ lắm, không có gì hết.
Cậu Cẩu vui sướng vô cùng khi thấy mồ hôi tuôn xuống từng giọt, ướt lưng Bá Vạn. Cậu nhớ lời mẹ dạy nên tìm cách hạ uy thế Bá Vạn, đề phòng trường hợp lão ta soán quyền hạn.
Bá Vạn thì nhớ lời cô Huôi, cố gắng van nài đến mức chót:
– Thưa cậu, từ rày về sau tôi hứa trình với cậu bất cứ chuyện gì dầu lớn dầu nhỏ.
– Được lắm, thằng A Chúa cứ quỳ đó mà phơi nắng cho tới trưa.
A Chúa khóc rấm rứt:
– Thưa cậu, thà rằng cậu chém tôi giăng xác cho quạ rỉa. Bà con chòm xóm đâu còn kính nể tôi…
Cậu Cẩu khoát tay:
– Đứng dậy rồi đi tới xứ khác mà ở. Tao không muốn thấy mặt mầy nữa.
Rồi day qua Bá Vạn:
– Còn ông, ông nên lo việc tìm cách làm ăn. Mấy căn phố nầy với bao nhiêu tôm khô, vi cá, bong bóng cá ở trong đều là của tôi. Ông không còn món gì ráo.
Nói xong cậu Cẩu vào trong, ngồi xuống gọi Xí Vĩnh đem bầu nước và bầu rượu. Dân chúng tản mát vì sợ sệt. A Chúa chạy thẳng một hơi tới xóm Vàm mất dạng.
Bá Vạn ngồi trên cái ghế nhỏ, bên cạnh cậu Cẩu. Ông hy vọng rằng qua cơn thạnh nộ vô lý ấy, cậu sẽ hồi tâm.
Bầu không khí trở nên yên lặng.
Cậu Cẩu lên tiếng trước:
– Nầy Bá Vạn, tôi không muốn thấy mặt ông nữa.
– Xin cậu suy nghĩ giùm. Lúc nãy trước mặt đông người, tôi đã bị hạ nhục. Chắc cậu đã thoả mãn.
Cậu Cẩu đáp:
– Ông là người ác độc. Tôi còn tỉnh táo lắm. Đây nầy, đãi ông một bầu rượu cuối cùng gọi là tiễn đưa ông về chùa mà hưởng già!
– Trời! Phải có chùa mà tu thì đời tôi chưa đến đỗi nào. Sau mấy chục năm trời lo trong lo ngoài, tôi còn hai bàn tay trắng như vầy.
– Tôi nói là tôi làm. Tôi không mướn ông nữa. Ông còn nắm níu để…ở đợ cho ai?
Bấy giờ Bá Vạn mới bình tĩnh day qua Xí Vĩnh:
– Cô đem cho tôi cái chén!
Xí Vĩnh chưa hiểu ông Bá Vạn muốn nói điều gì xa xôi.
Bá Vạn lắc đầu:
– Chén lớn mới được. Có cái tô càng hay.
Cậu Cẩu cười hề hề:
– Uống rượu cho say rồi nằm vạ ở đây để bêu xấu tôi sao chớ? Tôi còn nhỏ nhưng tánh tôi cứng lắm.
Bá Vạn ung dung chọn bầu nước lạnh, rót đầy tô đưa ngang môi. Bỗng dưng, ông trợn mắt ném cái tô xuống nền gạch.
Cái tô bể ra ba mảnh, nước văng tung toé. Cậu Cẩu rút chân lên càu nhàu:
– Ướt quần tôi!
Bá Vạn nói rõ từng tiếng:
– Hồi mấy năm về trước, có một cô gái múc nước suối, nhờ tôi mà gặp ông Chúa Hòn. Cô gái đó không bao giờ bận quần áo khô!
Cậu Cẩu hiểu rằng ông Bá Vạn kể công ơn. Ông Mười Hấu đã cho cậu biết rõ qua về trường hợp mẹ cậu gặp ông Chúa Hòn, do Bá Vạn làm trung gian. Thái độ ấy quả khiêu khích phạm thượng. Phải chăng Bá Vạn muốn chưởi xiên chưởi xéo rằng cậu là kẻ bần hàn, có địa vị cao là nhờ ông ta.
Gương mặt cậu Cẩu hơi biến sắc. Tên hộ vệ và Xí Vĩnh đều bước ra xa, đoán chừng cậu Cẩu sẽ rút dao ra đâm cho Bá Vạn chết tại chỗ.
Hồi lầu, cậu nói:
– Nầy Bá Vạn, ông giỏi lắm. Khi bắt được con cá thì người ta quăng nơm. Tôi cũng vậy thôi. Để ông làm chức lớn thì có ngày nào đó, ông giết hại tôi, như ông đã giết cậu Hai Điền, thiên hạ đồn rằng cha tôi bị ông giết. Tôi muốn ông đền tội. Tôi xử bản án nhẹ quá. Ông nghĩ sao?
Bá Vạn đáp:
– Mấy căn nhà nầy phải là của tôi!
Cậu Cẩu đáp:
– Tôi cho ông hưởng thêm vài tháng. Bù lại, cô Xí Vĩnh phải theo về Hòn Chông…




Đăng nhập để trả lời
0
-12-

Bà chánh thất ngồi trên cầu, thả câu xuống ao sen. Gió chiều mát rượi, hương sen tỏa thoang thoảng. Ở thảo am, mấy vị sư nữ đang tụng thời kinh “công phu chiều”.
Một con cá lội gần sợi nhợ, đứng lại. Cá nhìn mồi rồi do dự. Nhờ nước trong leo lẻo nên bà chánh thất theo dõi được sự dịch vẫn của con cá rô. Cá chúi đầu xuống dưới sâu. Đáng lý ra, bà phải đỡ cần lên cho miệng mồi nằm ngang mặt nước. Cá đến gần mồi, quạt đuôi rồi chạy mất, khuất dưới lá sen.
Bà chánh thất ngẩng đầu lên. Lũ chăn trâu nói to:
– Bà ơi! Có chiếc ghe lớn lắm, xóm nầy không ai có chiếc ghe như vậy.
Bà chánh thất đứng dậy, nhận ra chiếc ghe của Bá Vạn, có mui vuông, thếp vàng phía trước. Bà vừa mừng vừa lo. Mừng vì được gặp Bá Vạn, tha hồ bày tỏ tâm tình. Hơn tháng qua bà đoán rằng cậu Cẩu đã lộng quyền, làm nhiều chuyện thất lương tâm.
Nhưng tại sao Bá Vạn lại đến đây không có bọn tay em tiền hô hậu ủng như dạo nào? Phía sau lái, một lão gầy guộc đang cầm sào, chống thật nhẹ, bằng cớ là chiếc ghe lướt tới quá chậm chạp.
– Hay là Bá Vạn không có mặt trong chiếc ghe ấy? Ông ta giàu sang rồi, sắm chiếc ghe mới!
Nhưng Bá Vạn đã xuất hiện. Ông ta mặc áo dài đen, hỏi chuyện với mấy chiếc xuồng chỗ cửa qua lại. Đáng lý ra, bà chánh thất phải ngoắt tay làm hiệu. Nhưng bà muốn giữ thể diện với mấy sư nữ trong am.
Lát sau, Bá Vạn đến trước bến. Ông chạy nhanh đến bờ am, gương mặt buồn bã vô cùng, nụ cười héo hắt gượng nở trên môi:
– Thưa bà.
Bà chánh thất hỏi:
– Sao bơ phờ vậy?
Bá Vạn nói:
– Bà có tưởng được không? Thằng Cẩu nó đuổi tôi, tịch thâu tất cả tài sản.
– Ác thiệt! Chồng con tôi mà nó còn giết, huống gì ông. Ông ăn cơm chưa? Mời ông vô nhà.
Bá Vạn hơi lúng túng, chẳng biết tại sao bà chánh thất dám làm chuyện mà luật tu hành không bao giờ cho phép.
Bà chánh thất nói nhanh:
– Tôi như cư sĩ tu tại gia. Những bà sư nữ bên am theo giới luật, tôi thì sống dễ dãi hơn. Nhà ở bên cạnh đó, ông cứ tự nhiên. Tôi chỉ ăn chay vào ngày sóc, ngày vọng.
Đi theo sau bà chánh thất, Bá Vạn suy nghĩ mông lung.
Phải chăng bà chánh thất còn nhiều dục vọng muốn trở lại địa vị cũ nên chưa muốn thí phát qui y? Khi vào nhà, Bá Vạn thấy bàn ghế khá tươm tất, toàn là cây danh mộc. Bà chánh thất dùng cái chén bằng ngọc xanh như hôm nào. Bà đem cái chén ngọc thứ nhì, rót nước mời Bá Vạn.
– Tại sao nó đuổi ông?
– Bởi vì nó sợ tôi chiếm đoạt tài sản.
Bà chánh thất vẫn không quên đối thủ lợi hại nhứt:
– Còn cô Huôi? Nó dám đụng tới cô Huôi không? Tôi suy nghĩ mãi, hiểu rằng kẻ chủ mưu giết chồng tôi chính là cô Huôi. Tôi phải giết nó. Ông giúp tôi được không?
Bá Vạn mừng thầm vì ít ra đêm nay ta cũng còn được ngủ một đêm êm ấm bên bà chánh thất. Hồi lâu, ông mới trả lời:
– Tôi sẵn sàng giúp bà, nhưng lúc nầy tôi là kẻ sa cơ thất thế, không còn đứa hộ vệ nào đi theo.
– Thằng Cẩu là đứa chết yểu. Đêm rồi tôi nằm chiêm bao thấy nó bị đâm chết.
– Có lẽ vậy. Nhưng lúc nầy nó mạnh lắm.
– Mạnh mà yếu, ông ơi! Ba bốn ngày rồi, ở đây có nhiều người mới tới. Họ ở núi Mo So. Họ nói rằng xung quanh núi đầy khói, nhiều nhà bị cháy. Ông Mười Hấu với cô Ngó làm nhiều điều tàn ác. Dân chúng nổi lên…
Rồi bà nói khẽ vào tai Bá Vạn:
– Có thằng Thừa chèo ghe cho ông mọi lần, nhớ nó không?
Nghe qua, Bá Vạn cau mày. Quả thật cậu Cẩu quá ác độc. Chắc là sau khi cách chức ông, cậu ta về Hòn Chông đuổi thằng Thừa ra khỏi nhà, ngôi nhà mà ông Chúa Hòn ban cho từ trước. Hồi xuống ghe để đến núi Đất nầy, Bá Vạn vẫn nuôi hy vọng trở về Hòn Chông để di chuyển chút ít vàng bạc và ghé thăm cô Huôi, nhờ cô chỉ dạy cách đối phó.
Nếu đến sớm quá thì bất lợi, cậu Cẩu đang tức giận. Ông muốn tránh né về ngay, đến thăm bà chánh thất. Thằng Thừa đến núi Mo So làm loạn, phải chăng là cậu Cẩu đã hành hung nó, hoặc đã đập phá, tịch thu ngôi nhà của ông ở Hòn Chông rồi!
– Làm cách nào cho nó chết? Mọi khi, ông nhiều mưu kế lắm mà! – Bà chánh thất hỏi.
Bá Vạn trở lại thực tế:
– Nên nhẫn nhịn, bà ơi. Giông tố nổi lên thì cây cỏ phải rạp đầu xuống, nếu không muốn bị trốc gốc.
– Thằng Cẩu là đứa thất học, so sánh nó với trận giông thì hơi quá đáng.
– Bởi vì thất học nên mới đáng sợ. Hồi xưa, tôi gặp nó một lần. Nó đang đá cá thia thia. Lúc tức giận, nó không thèm đá cá nữa, đem con cá quí nhứt mà ném xuống đất.
– Bởi vậy, tôi nói nó là đứa không ra gì. Tại sao những người lớn tuổi như ông, như tôi lại sợ nó.
– Để tôi nói tiếp… Khi liệng con cá xuống đất, mặt thằng Cẩu xanh lè, coi dễ sợ. Tóm lại, tôi muốn nói rằng nó là thằng điên. Khi thằng điên lên cơn, mình nên tránh mặt chạy trốn.
– Nhưng muốn giết thằng điên thì dễ quá, vì điên là ngu dại, mất trí khôn.
– Phải. Tôi hiểu rồi. Nhưng chờ xem tình thế ra sao! Nếu quả thật thằng Thừa đã xúi giục dân chúng ở núi Mo So nổi dậy chống Mười Hấu và cô Ngó thì đó là cơ hội tốt. Thằng Cẩu không đủ sức chống cự đâu. Bọn hộ vệ còn hơn vài chục đứa…Nhưng trước tiên, mình nên giữ bí mật. Không khéo, thằng Cẩu cho người tới đây giết hại tôi với bà.
Hồi lâu, bà chánh thất giựt mình, vỗ vai Bá Vạn:
– Nầy ông! Nghe nói ông đạo Đất ở gần đây! Tại sao ông với tôi không tới gặp, nhờ xem giùm quẻ? Ông đạo xem giỏi, nói đúng thời vận cô Huôi. Nếu ông đạo bảo rằng tôi với ông hạp tuổi với nhau thì ông nên tìm cách giết thằng Cẩu, nhập bọn với thằng Thừa.
Trời đã khuya.
Sau bữa cơm, Bá Vạn và bà chánh thất nằm chung một giường. Tuy hưởng hạnh phúc, nhưng ông vẫn lo âu. Bà chánh thất hỏi:
– Tôi làm điều gì khiến ông không hài lòng?
Bá Vạn nắm tay bà chánh thất. Ngoài song cửa, ánh trăng soi chênh chếch. Nếu được hưởng hạnh phúc mãi mãi như vầy thì có chi đáng rầu lo. Ông nghĩ đến cuộc khởi loạn ở núi Mo So. Dân chúng Lung Tràm ắt sẽ khởi loạn theo. Đứng về phía nào bây giờ? Nếu đang lúc trai tráng mà gặp cơ hội nầy, nhất định ông sẽ xông pha trận mạc, dẫn bọn hộ vệ và võ sĩ đến Hòn Chông để cướp phá, bắt sống cậu Cẩu. Bây giờ tuổi già sức yếu rồi…
– Ông buồn điều gì? – Bà chánh thất hỏi.
Bá Vạn đáp:
– Tôi không biết làm cách nào để sống yên ổn
– Liệu chừng bọn thằng Thừa ở núi Mo So có thắng nổi không?
Bá Vạn đáp:
– Ở trên núi thì được địa thế tốt, cầm cự lâu ngày, nhưng lần hồi dân chúng mỏi mệt. Nếu thắng trận mà sống trên núi với rắn rít muỗi mòng thì thắng để làm gì?
– Như vậy là thằng Cẩu đang nắm ưu thế.
– Nó không mạnh hơn ai hết! Vài chục tên hộ vệ, sẵn sàng liều chết để canh giữ vòng rào ngôi nhà. Vậy thôi. Nhưng trong ngôi nhà có bàn ghế tốt, có thức ăn ngon, có nữ tỳ. So sánh cho kỹ thì mình ở đây vui nhứt.
Bà chánh thất đáp:
– Vui mà buồn! Hôm nào thằng Cẩu sẽ cho người tới đây hạ nhục tôi với ông. Bởi vậy, tôi khuyên ông tìm cách giết thằng Cẩu. Dễ quá mà! Bỏ thuốc độc vào thức ăn. Cần gì cầm gươm dáo.
Bá Vạn đáp:
– Nhưng liệu cô Huôi cho phép tôi làm chuyện đó không?
Bà chánh thất nảy ra ý nghĩ ghen tương:
– Sao ông sợ cô Huôi? Cô ta nào có binh lực gì trong tay!
– Tôi sợ cái trí khôn của cổ. Không bao giờ cô Huôi là người yếu thế.
– Tại sao lúc nầy cô Huôi không ngăn cản cho thằng Cẩu bớt hung ác?
– Nó càng hung ác thì thiên hạ càng tin cậy vào cô. Nhưng mà rốt cuộc, cô Huôi lại khổ vì chẳng bao giờ có chồng được. Hễ có chồng, dân chúng không tín nhiệm như trước.
Bà chánh thất gật đầu:
– Ông nói hữu lý. Chưa ai chê cô Huôi lời nào cả. Đàn bà mà tỉnh táo như vậy thì quá khéo léo. Ông đạo Đất bói quả đúng. Tại sao mình không gặp ông đạo Đất?
Ý kiến ấy khiến Bá Vạn vui mừng. Thật ra ông ta còn quá nhiều tham vọng, muốn trở lại Hòn Chông để tiếp tục vai trò quản gia, vơ vét thêm vàng bạc. Lúc nầy, bà chánh thất yêu ông chỉ vì ông là người quen thuộc, có tài. Lâu ngày chầy tháng, bà sẽ chê ông là bất tài, nếu suốt ngày ông chỉ biết làm tình rồi uống rượu, câu cá. Hơn nữa, bà chánh thất dám cho sống trong căn nhà ầy, bên cạnh thảo am mà không sợ dư luận?
Nếu muốn hưởng lạc thú, ông có thể tìm vài cô gái tơ. Như vậy đời ông tươi mát hơn. Bên cạnh bà chánh thất, ông chỉ là kẻ thuộc hạ, tôi tớ của …
– Ngày mai, gặp ông ta thử xem…Hỗm rày tôi quên…
Ăn xong bữa cơm sáng, bà chánh thất và Bá Vạn đi bộ lên núi Đất. Dọc đường, Bá Vạn sực nhớ đến ông Tư Thính cha ruột của cô Huôi. Ngôi nhà cũ được tu bổ lại sơ sài, sau khi bị Hai Điền đốt cháy. Bên cạnh, ngôi chùa khá to đang xây cất.
Tư Thính mặc áo lụa ra cửa đón tiếp hai vị thượng khách. Bá Vạn chắp tay xá:
– Tôi không còn là quản gia nữa. Cậu Cẩu đuổi tôi rồi.
Tư Thính đáp:
– Tôi kính trọng ông hơn xưa. Nhưng mà ngày mai ông sẽ làm chức lớn.
– Ai nói vậy?
Tư Thính đáp:
– Ông đạo Đất ! Đôi ba ngày, ông tới đây thăm tôi một lần.
Bà chánh thất hỏi:
– Ông đạo Đất bây giờ còn ở trên am?
– Còn đó chớ đi đâu. Xin lỗi bà, ông đạo khen bà là người nhiều phước đức. Về già, bà được yên vui.
– Ông mới là nhiều phước đức chớ? Con gái ông bây giờ là người sang trọng nhứt…
– Tôi chỉ dám cầu mong cho nó được trong sạch nhứt, để cha mẹ khỏi mang tiếng xấu. Con người sanh ra, chịu cực khổ, bỗng vui sướng rồi chết. Mời bà và ông vô nhà.
Vì ganh tức với địa vị cô Huôi, bà chánh thất cương quyết từ chối:
– Tôi chỉ xứng đáng đứng ngoài sân nhà nầy. À! Nghe nói trước sân có bụi quỳnh hoa đẹp lắm.
Tư Thính chắp tay xá bà chánh thất:
– Xin bà đừng giận tôi.Tới ngày giờ nầy, con gái tôi cho tôi đủ tiền để cất một ngôi chùa. Tôi hứa đi tu mà! Ông đạo Đất nói rằng nếu không tu hành, theo con cái về Hòn Chông mà hưởng vinh hoa phú quý thì tôi bị giết!
– Ghê vậy! Để tôi lên gặp ông đạo Đất …
Rồi bà giải bày:
– Hỗm rày, tôi ở ngoài am. Tình cờ gặp Bá Vạn nên tôi nhờ ổng dẫn đường. Bụi quỳnh hoa ở chỗ nào? Cho tôi xem.
Tư Thính đưa bà chánh thất tới trước sân. Chỉ là bụi cây um tùm. Ông cho biết từ đó đến nay, nó không trổ thêm nụ nào hết.
Bá Vạn nói khẽ:
– Nên an hưởng tuổi già, ông Tư à!
Tư Thính cau mày:
– Ai mà không muốn được an nhàn? Nhưng mà ông đạo Đất dạy rằng: Khôn cất trại, dại cất nhà. Ổng dám đoán rằng vài năm nữa, con gái tôi trở về đây để tưới rau, trồng cải, cấy lúa. Ông tin không? Theo ông đạo Đất thì đời nầy sắp thay đổi. Vùng đồi núi Hòn của ông Chúa Hòn xưa kia chỉ là cánh bèo trên biển Đông. Khi tươi khi héo. Có bao giờ cánh bèo sống trăm năm, ngàn năm?
Bá Vạn bèn thúc hối bà chánh thất:
– Thưa bà, tôi muốn lên gặp ông đạo Đất. Ông nói nhiều chuyện lạ quá. Quá khứ, ông nói đúng, thì nhất định là đâu có sai lầm những chuyện vị lai. Tôi muốn biết thằng Cẩu sống bao lâu?
Ông Tư Thính muốn dẫn đường nhưng Bá Vạn nói khéo:
– Bà chánh thất nầy không ưa cô Huôi. Nếu ông có mặt thì làm sao ông đạo Đất dám bói quẻ.
Rồi ông nói riêng:
– Hôm nào gặp cô Huôi, nhờ ông nói giùm. Lúc nầy tôi thất thế.
Ông Tư Thính nói:
– Sống ngoài vòng danh lợi như tôi, thích hơn. Chừng gặp ông đạo Đất, ông sẽ nói nhiều điều mầu nhiệm lắm.
Khi Bá Vạn và bà chánh thất đến thảo am thì gặp ngay ông đạo Đất. Ông ngồi trên bộ ván sơ sài, gương mặt mệt mỏi:
– Tôi ít nói lắm.
Bà chánh thất bèn tự giới thiệu dài dòng. Ông đạo Đất đốt ngọn nến, soi tứ phía rồi để ngay trước mặt bà chánh thất:
– Về già, bà được hưởng chữ nhàn.
Bà chánh thất chưa được thoả mãn cho lắm:
– Nhờ ông coi kỹ lại. Nhàn mà bị đày ải nơi xa xôi, ngày đêm lo lắng thì sướng ích gì? Cô Huôi mới là người nhàn rỗi, ở không cũng có ăn, bên cạnh luôn luôn có người hầu hạ.
Ông đạo Đất nói:
– Cô Huôi lo lắng hơn. Rồi đây cô sẽ cất một cái thảo am như bà vậy thôi. Về già, ai cũng bớt nóng nảy.
– Nhưng chẳng lẽ số phận tôi và cô Huôi lại giống nhau? Trời sanh ra, giọt nước nầy rơi trên đồng, giọt nước kia rơi xuống giếng.
Ông đạo Đất cười hiền lành:
– Nhưng tất cả đều về biển. Chỉ khác một điều là cô Huôi đi tu sớm hơn bà. Bà đi tu năm nầy, năm được ngoài bốn mươi tuổi. Cô Huôi thì… cũng đi tu năm nay, chừng vài tháng nữa thôi.
Bá Vạn nãy giờ ngồi trầm tĩnh, đoán chừng ông đạo Đất chỉ xem quẻ chiếu lệ để trấn an bà chánh thất. Khi nghe chi tiết lạ lùng ấy, ông sửng sốt hỏi:
– Vài tháng nữa là cô Huôi đi tu?
Ông đạo Đất gật đầu:
– Thiên cơ mầu nhiệm lắm. Đây là thời Ma Pháp. Tôi ở non cao nên thấy vài chuyện ma, người ở dưới không thấy. Ngoài biển khơi hôm nào trời trong vắt…luôn luôn có vài con cá kình nổi lên!
Bà chánh thất cằn nhằn:
– Ông nầy nói nhiều chuyện khó tin quá.
Nhưng ông đạo Đất đứng dậy nói với Bá Vạn:
– Muốn thấy cá kình thì hôm nào rảnh, ông Bá tới với tôi, đứng trên chót núi.
Bá Vạn bước theo chân ông đạo. Bà chánh thất ngồi lì trong am, thắp ba cây nhang cắm trong cái lư nhỏ. Nếu quả thật vài tháng nữa cô Huôi phải đi tu thì bà vui mừng biết chừng nào. Chừng đó, tất cả mọi người đều tủi nhục, ngang hàng với nhau. Và người nào nếm mùi tủi nhục trước thì sẽ được xem là khôn ngoan.
Đến tảng đá bằng phẳng, ông đạo ngồi xuống.
– Ông Bá nói chuyện cho vui. Vì bà chánh thất ở trong am nên tôi muốn tới đây.
Bá Vạn ngồi xuống với vẻ mặt hơi bực dọc:
– Đầu đuôi cũng tại ông. Nếu không có cô Huôi thì tôi đâu nhục nhã như vầy! Thằng Cẩu đuổi tôi, chưởi tôi trước đám đông rồi còn tịch thu tài sản. Hồi xưa cậu Hai Điền chỉ làm một chuyện nhỏ là hất tô thịt kho vô áo tôi. Bởi vì tử vi cô Huôi quá hên, nên tôi hứng chịu bao nhiêu nhục nhã.
– Kìa!
Ông đạo Đất chỉ về phía Tây. Núi Đất ở xa bờ biển chừng trăm mẫu đất. Mặt biển xanh chàm, gió thổi mát lạnh. Hòn Nghệ, hòn Heo nằm im lìm. Và cánh buồm như không di chuyển. Nơi bãi bùn, vài chiếc thuyền câu sắp rời bến.
Bá Vạn hỏi:
– Ông muốn nói chuyện trời biển tang thương hay là ông rủ tôi ra ngoài hoang đảo để lánh nạn?
– Không! Gần Hòn Nghệ phía trái hai ngày trước, dân chúng thấy hai con cá kình nổi lên. Cá kình lớn hơn cá ông. Nhưng vài người chài lưới bảo rằng đó không phải là cá kình.
– Vậy chớ cá gì?
– Là hai chiếc tàu sắt, phun khói đen kịt. Trên tàu có nhiều người da trắng bạch, tóc hoe, mắt đục. Họ cầm súng, bên cạnh họ còn nhiều người “An Nam” khác. Sau lái tàu, có lá cờ xanh trắng đỏ. Bọn đó tới Hòn Chông, thì …liệu cậu Cẩu chống cự nổi không? Nghe đâu miệt trên, Vĩnh Long, Định Tường đều thất thủ. Bọn nó tới chợ Rạch Giá rồi.
Bá Vạn nhăn mặt. Ba màu xanh, trắng, đỏ khiến ông ta nhớ đến bọn Sơn Đông mãi võ đến Hòn Chông để nhảy qua vòng lửa. Bọn chúng là quân dọ thám, nghi ngờ gì nữa! Như vậy có nghĩa là sớm muộn gì Hòn Chông nầy cũng lọt vào tay người lạ mặt. Nhưng Bá Vạn vẫn còn thắc mắc:
– Biết đâu họ đem tàu sắt tới xứ nầy để thị oai rồi qua xứ khác. Bên kia bờ biển là nước Xiêm!
Ông đạo Đất nói:
– Sự đời thấy thì hay vậy! Tôi không dám bàn thêm. Mỗi ngày, tôi tới thăm ông Tư Thính, nói chuyện đạo hạnh cho vui. Bởi vậy …tôi khuyên ông Bá đừng nóng nảy.
Bá Vạn đứng dậy, nhắc ông đạo Đất ở trong am còn bà chánh thất đang chờ. Trên đường về am, Bá Vạn nài nỉ:
– Ông coi cho tôi một quẻ, coi thiệt tình, đừng nịnh bợ, thấy sao nói vậy…
Ông đạo Đất lẩm bẩm:
– Thế nào vùng Hòn Chông cũng lộn xộn. Cậu Cẩu phải nhờ tay ông. Ông ở đây mà chờ….




Đăng nhập để trả lời
0
-13-
Cậu Cẩu về Hòn Chông, vui sướng vô cùng vì đã giải chức Bá Vạn mà không gặp sự chống đối nào cả. Cậu cho người đến núi Mo So, rước mẹ và ông ngoại về Hòn Chông.
Ông Mười Hấu và cô Ngó đến cư ngụ tại ngôi nhà trước kia dành cho bà chánh thất và ông Chúa Hòn.
Là người thận trọng, ông Mười Hấu hỏi:
– Cháu đã làm điều gì hỗn hào không? Dầu sao đi nữa, ông Bá Vạn giúp cháu quá nhiều.
Cậu Cẩu đáp:
– Hễ cháu đuổi là làm chuyện hỗn hào rồi. Cháu nghĩ rằng dung dưỡng Bá Vạn thì ngoại đâu còn công chuyện mà làm! Theo ý cháu thì từ rày về sau, ông ngoại sẽ lên chức quản gia thay thế Bá Vạn.
– Không được cháu ơi, thiên hạ bàn tán xôn xao. Họ nói rằng ông đây chủ mưu giết cậu Hai Điền.
– Cháu liệu định rồi. Thỉnh thoảng, ông ngoại tới Vàm Rầy mà ở. Bá Vạn cất ba căn phố, dự trữ đầy đủ nào là tôm khô, bong bóng cá để bán với giá cao trong mùa tới. Ông ngoại tới đó làm sổ sách…
Ông Mười Hấu đáp:
– Để tính kỹ lại. Khó lắm.
– Có gì mà khó! Cháu đủ quyền hạn mà.
Thật ra, ông Mười Hấu đang khổ tâm vì chuyện khác. Từ khi cậu Cẩu nắm quyền thay thế cậu Hai Điền và ông Chúa Hòn thì dân chúng núi Mo So vô cùng phẫn uất. Họ không tin cậu Cẩu, xem cậu là đứa ngu dại, khùng điên. Ông Mười Hấu nói:
– Khó lắm. Cháu thì khác…
– Chắc ông ngoại muốn uống rượu chớ gì? Xí Vĩnh đâu?
Xí Vĩnh xuất hiện trước sự ngạc nhiên của Mười Hấu. Nàng mặc áo gấm, chân đi dép cườm. Cậu Cẩu nói:
– Đây ông ngoại. Em hãy chào ông ngoại.
Mười Hấu nói:
– Được rồi! Cô nầy là ở đâu vậy cháu?
Cậu Cẩu nói:
– Cháu nhìn nhận Xí Vĩnh là vợ. Ông ngoại thấy sao? Chưa ai xinh đẹp bằng. Thấy Xí Vĩnh ở đây, ông Bá Vạn nổi cơn ghen mà chết. Thằng A Chúa rước bọn gái đẹp để dành cho Bá Vạn. Dè đâu cháu chận trước đem về đây.
Day qua Xí Vĩnh, cậu Cẩu nói:
– Em hát một bài, hay là đem cây đờn tranh ra khẩy một bản Hành Vân, Lưu Thủy gì đó cho ông ngoại nghe.
Trong phút giây, ông Mười Hấu thấy cảnh suy sụp của gia đình. Theo ý ông thì công việc đầu tiên mà cậu Cẩu nên chỉnh đốn là phòng thủ, tuyển chọn thêm một số đông hộ vệ quân, cho bọn nầy ăn uống đầy đủ, phòng khi hữu sự thì chúng nó dám liều chết cứu chủ.
Nghe chưa dứt bản đàn, ông Mười Hấu đứng dậy:
– Cháu cứ nghe. Ông muốn nằm nghỉ.
Cậu Cẩu hỏi:
– Hay là Xí Vĩnh đờn quá dở. Nếu vậy cháu phạt nó uống rượu?
– Thôi! Ông đã già rồi. Cháu cứ vui…
Cậu Cẩu cau mày:
– Hay là ông ngoại chê cháu ham chơi ? Cháu làm công việc dữ lắm. Phải trừ tuyệt bọn tay em của Bá Vạn.
Khi Mười Hấu ra cửa, cậu Cẩu ra lịnh:
– Hộ vệ đâu? Đưa ông ngoại tao tới nhà ông Chúa Hòn. Tụi bây quét dọn trong ngoài cho sạch sẽ.
Tên hộ vệ theo chân ông Mười Hấu. Lần đầu tiên, ông bước vào căn nhà sang trọng, từ trước đến nay. Tên hộ vệ mở khóa rồi chỉ dẫn:
– Đây là bàn thờ…
Ông Mười Hấu sực nhớ một việc quan trọng nên dừng lại.
Sau khi đốt nhang khấn vái lâm râm, ông xá ba lần trước bàn thờ. Trên ấy, có nhiều bài vị, nhưng còn thiếu cái bài vị đề tên ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền.
– Trưa nằm ngủ bên nầy.
Cánh cửa mở rộng. Người hộ vệ vào trước, đốt mấy ngọn đèn sáp. Vì quen sống bên ngoài nên Mười Hấu đứng lại mà quan sát rồi hỏi:
– Tại sao tối om om vậy?
– Dạ ban ngày ban đêm gì cũng phải thắp đèn sáng. Hồi trước ông Chúa Hòn nói rằng nhà phải kín đáo thì làm ăn mới khá. Đây là kiểu nhà của vua quan bên Tàu. Nếu khoét cửa thì có ba điều hại.
Mười Hấu hỏi thành thật:
– Điều gì?
– Dạ gió lọt vô dễ bị cảm mạo. Tiền bạc bên trong có thể…bay ra ngoài.
– Ngộ quá! Vậy vua chúa có nhiều phong tục lạ. Nhưng còn điều thứ ba?
– Ông cho phép thì tôi mới dám nói.
– Cứ nói. Ta thưởng tiền bạc cho.
Nhìn kỹ gương mặt người hộ vệ, Mười Hấu hơi sửng sốt vì lão nầy hơi già, trán nhăn lại, gân tay nổi lên. Mười Hấu nói tiếp:
– Tôi lớn tuổi rồi, muốn hưởng nhàn. Cháu tôi mời mọc, tôi phải tới đây. Còn điều thứ ba?
Người hộ vệ bèn cúi đầu:
– Tôi hầu hạ ông Chúa hơn mười năm rồi. Tôi không phải là hộ vệ vì sức lực đã suy giảm. Điều thứ ba là nếu nhà có cửa sổ thì kẻ gian bên ngoài có thể nhảy vào mà thích khách…
Mười Hấu rởn tóc gáy khi nghe hai tiếng đó. Ông ta bèn trao cho lão nọ một nén bạc, với dụng ý mua chuộc tình cảm để lão nói cả sự thật.
Lão cúi đầu, ngỏ lời cám ơn. Mười Hấu nằm xuống sạp, lão cầm quạt phe phảy đứng bên cạnh. Mười Hấu vẫn chưa hết thắc mắc:
– Rủi người ngoài vào đây thích khách thì ta làm sao?
– Dạ, bên ngoài đã có bọn hộ vệ trẻ tuổi. Trong nầy có cách khác…tôi lo món ăn cho ông Chúa Hòn ngày trước. Hỗm rày tôi muốn trình cậu Ba vài việc nhưng chưa dám. Một khi nắm quyền hành trong tay, con người nên cẩn thận việc ăn uống, coi chừng bị đầu độc!
Trong một thoáng, Mười Hấu nhớ đến Xí Vĩnh và cái bầu rượu trên bàn cậu Cẩu lúc nãy:
– Phải đó. Đề phòng bị đầu độc bằng cách nào?
Người hộ vệ thưa:
– Đáng lý ra, trước khi ăn uống, cậu Ba nên hỏi ý tôi.
Mười Hấu trợn mắt:
– Ông làm thầy thuốc? Làm sao biết món ăn có trộn thuốc độc? Ông hửi thử hay là ăn trước vài miếng? Lúc nầy tôi nên đề phòng, dân chúng ở núi Mo So bắt đầu chống đối, hăm he không chịu góp lúa ruộng.
Người hộ vệ bèn kéo cửa tủ rồi mở cái ngăn nhỏ bên trong. Ông ta đem ra một cái dĩa màu xanh mướt trao cho Mười Hấu.
Ông nầy trố mắt, đem cái dĩa lại gần ngọn đèn sáp mà ngắm xem. Nước men nổi lên màu xanh láng kỳ diệu, rờ vào là mát lạnh:
– Ngộ quá! Hồi nhỏ tới lớn, tôi chưa thấy cái dĩa nầy.
Người hộ vệ đáp:
– Đó là cái dĩa quí của vua chúa bên Tàu. Mấy người thương gia đem qua “cống sứ” cho ông Chúa Hòn. Nhờ nó mà hồi mười năm trước, ông Chúa thoát nạn. Ông xem kỹ thì thấy cái màu xanh kỳ lạ, nước biển không ra nước biển, xanh lá cây thì khác hơn…
Mười Hấu thích chí, hỏi thêm:
– Có chén bằng ngọc không?
Người hộ vệ đáp:
– Cái dĩa nầy còn quí hơn ngọc. Nghe đâu nó còn phép lạ khác, để đồ ăn vô dĩa đôi ba ngày mà không hôi thúi.
– Tôi bỏ cái dĩa nầy trong túi. Khi nào nghi ngờ thì đem ra xài.
Người hộ vệ đáp:
– Ngày xưa, ông Chúa Hòn giữ kín, không cho ai thấy cái dĩa nầy, lâu lâu mới đem ra xài một lần. Nếu ông cho người khác thấy thì ai ngu dại gì ám hại bằng cách đầu độc?
– Vậy thì tôi để đây!
Vừa lúc ấy, bên ngoài có tiếng kêu la ơi ới. Mười Hấu chạy ra sân. Cậu Cẩu nói hơ hãi:
– Ông ơi. Nguy rồi ! Ông cầm…binh được không?
Mười Hấu hoảng hốt:
– Cầm binh là làm sao? Thì cháu có sẵn mấy chục đứa hộ vệ. Chuyện gì mà đánh mõ ỏm tỏi vậy?
Cậu Cẩu nói khẽ:
– Dân ở núi Mo So chạy giặc lên đây. Thằng Thừa tay sai của ông Bá Vạn tới đó, đốt nhà cửa, xúc lúa đem lên núi.
– Cháu tính cách nào?
– Ông qua đây mà xem thử. Ông sẽ thấy chuyện nầy lớn chớ không nhỏ đâu.
Bên nhà cậu Cẩu, hàng trăm người ngồi chồm hỗm trước sân. Mười Hấu nhận ra tất cả những người quen thuộc:
– À! Tư Hinh!
Trước kia, Tư Hinh sống bằng nghề hái ổ ong, lấy sáp và mật. Tư Hinh vuốt mồ hôi trán, chắp tay thưa:
– Ông Mười ơi! Nguy lắm. Xóm mình không còn một căn nhà nào đứng vững. Nhà ông bị đốt trước. Thằng Thừa gom tất cả dao mác. Dẫn chừng bốn năm chục cậu trai lên núi để luyện tập võ nghệ. Phải chi ông cầm binh đánh một trận cho nó sợ.
Nhiều người mạnh dạn đến gần cậu Cẩu, chắp tay xá dài để xin cơm nước, xin chỗ tá túc. Cậu Cẩu bèn nghiêm nét mặt:
– Tại sao không dám ở núi Mo So? Thằng Thừa bây giờ ở trên chót núi? Ai dám trở về giết nó thì tôi trọng thưởng. Phải về xứ mà ở. Đây là nhà tôi, làm sao chứa chấp hàng trăm người được?
Có người khóc mếu máo mà nói:
– Cậu ơi! Nó mạnh lắm. Mỗi đêm, nó đốt đuốc trên núi, đánh trống mõ vang trời. Nó hẹn năm ngày nữa là kéo binh tới Hòn Chông để …trả thù cho ông Bá Vạn!
– Sao? Mấy người nói gì?
Ông Mười Hấu truyền lịnh nấu cơm cho bọn người tản cư ấy ăn tạm rồi dẫn Tư Hinh vào nhà. Trước kia, Tư Hinh thường uống rượu và đánh cờ tướng với Mười Hấu nên được tin cậy.
Vào trong phòng, ông Mười hỏi kỹ:
– Thằng Thừa mạnh yếu thế nào? Bá Vạn tới núi Mo So chưa?
Tư Hinh đáp:
– Làm sao tôi so sánh được? Nếu ở đây mạnh thì nó yếu. Nó có hơn năm mươi đứa, cầm dao mác.
Nghe qua, Mười Hấu hoảng sợ vì với lực lượng ấy, thằng Thừa đủ sức đốt phá Hòn Chông. Chừng ấy, chưa ắt bọn hộ vệ còn giữ lòng trung thành với cậu Cẩu. Nếu Bá Vạn đi theo thằng Thừa thì mặc nhiên ông ta sẽ thắng thế.
Mười Hấu hỏi tiếp:
– Ai xúi giục thằng Thừa? Bá Vạn có ở đó không?
– Dạ, không thấy Bá Vạn. Nhưng dường như thằng Thừa có chiêu mộ được một người “Sơn Đông mãi võ”. Người nầy ở chợ Rạch Giá mới tới, loan tin rằng quân Lang Sa đang tràn về phía Hòn Chông!
Cậu Cẩu nằm yên trên giường, mồ hôi để tuôn nườm nượp, mặc dầu cô Xí Vĩnh quạt không ngừng tay. Con nít khóc ré trước sân, mấy người tản cư như đói khát lắm giành nhau từng chén cơm. Cậu đếm lẩm bẩm:
– Mười, mười bảy, ba chục đứa hộ vệ. Yếu quá!
Ông Mười Hấu bước vào, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài rồi nói với cậu Cẩu:
– Cháu tính sao? Ông thấy rằng để trễ thì…không còn nơi nào chạy trốn. Bọn hộ vệ của thằng Thừa hăng hái lắm…
– Nguy thiệt. Ông tính cách nào thì cháu tuân theo.
Mười Hấu cau mày, sực nhớ đến cô Huôi. Lập tức, ông qua tư thất của cô vấn kế..
Cô Huôi cười lạt:
– Gieo gió thì gặt bão. Người như Bá Vạn đâu dễ kiếm. Bởi vì cậu Cẩu cách chức Bá Vạn nên thằng Thừa hoảng sợ. Muốn dẹp loạn thì nên…
Mười Hấu đáp:
– Thưa cô, nên mời ông Bá Vạn về, biểu cậu Cẩu xin lỗi vài tiếng.
– Không! Nên để cho cậu Cẩu tới núi Mo So dẹp loạn một lần.
Mười Hấu trố mắt:
– Nó đi thì chắc là chết dọc đường. Trước đây, cậu Hai Điền có oai thế nhờ biết săn bắn. Thằng Cẩu là cháu ngoại tôi, nó chỉ biết giỡn gái và đá cá thia thia.
Cô Huôi nói:
– Đây là dịp cho cậu ta thấy rằng làm ông vua con đâu phải dễ. Sau đó, hãy rước Bá Vạn. Nhưng Bá Vạn đâu phải con nít. Theo tôi thì cậu Hai Điền chỉ có tật là “nói bậy nói bạ” cho vui chớ chưa bao giờ dám đuổi Bá Vạn, tịch thu tài sản.
Mồ hôi tuôn giọt vắn giọt dài trên trán Mười Hấu:
– Thưa cô, nhờ cô giúp…
– Phải cho cậu Cẩu hiểu rằng đời là khó.
– Nhưng nó chỉ sợ cô thôi. Cô dạy dỗ nó. Ở xứ nầy cô là người nhiều quyền hạn nhứt.
– Điều đó hơi khó. Thú thật với ông tôi muốn đi tu cho rồi, nhưng chưa rảnh nợ đời. Cha tôi đã cất gần xong một kiểng chùa ở núi Đất… Cứ biểu cậu Cẩu tới núi Mo So ra trận một lần. Chỉ khi nào bại trận, cậu ta mới bớt háo thắng. Thôi! Ông nên ra ngoài, kẻo nó giận tới tôi.
Ra khỏi nhà cô Huôi, Mười Hấu gặp cậu Cẩu, khuyên đứa cháu ngoại nên ra trận, tiến vào núi Mo So để tiễu trừ bọn phiến loạn. Phản ứng đầu tiên của cậu là chờ đợi. Ông Mười Hấu hơi bối rối:
– Nếu cháu không giết nó trước thì nó kéo tới đây. Ông chạy trốn bây giờ.
– Theo ý ông thì nên làm gì?
– Cháu đi thử một chuyến, cho bọn hộ vệ quân đi trước, nếu gặp bất trắc thì chúng nó chết trước.
– Xí Vĩnh với cháu đi sau…Rời Xí Vĩnh cháu thấy buồn quá. Nhưng phải chờ sáng mai, cho bọn hộ vệ tập dượt trước.
Quá thất vọng vì thái độ khiếp nhược của đứa cháu ngoại. Mười Hấu bèn đến gặp cô Huôi lần thứ nhì. Sau khi suy nghĩ khá lâu cô đáp:
– Ông viết thơ năn nỉ Bá Vạn. Có Bá Vạn thì việc nầy mới xong.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.06.2021 13:56:31 bởi Ct.Ly>
-14-
Sau hai đêm sống ấm áp với bà chánh thất, Bá Vạn buồn rầu vì mấy vị sư nữ bên am tỏ vẻ phản đối. Họ không qua đến sân nhà bà chánh thất, không nhắc nhở bà tụng kinh gõ mõ. Bá Vạn ra ngoài ao sen. Bà chánh thất đến gần mà nói:
– Tình thế thiệt khó xử. Nếu có dư luận xấu, khổ cho tôi. Hay là ông qua nhà Tư Thính, hoặc đi viếng ông đạo Đất. Nếu lân la như thế nầy, chắc là mấy vị sư nữ buồn phiền.
Bá Vạn hơi bực dọc:
– Ở nhà thì bị đuổi, tới đây ẩn náu qua ngày cũng bị đuổi. Ấy thế mà ông đạo Đất bảo rằng mạng tôi còn lớn nay mai trở lại chức vị cũ.
Bà chánh thất đáp:
– Hồi nãy mấy bà sư nữ hăm he tôi.
– Bà tu tại gia, theo lịnh độ, ai nói nặng bà được?
– Mấy bà sư nữ bảo rằng nếu ông cứ ở với tôi thì mấy bả sẽ bỏ am mà về núi…
– Được rồi! Năm mười ngày, tôi qua thăm bà một lần. Chắc là ở núi Mo So xảy ra nhiều chuyện lớn.
Lát sau, ông Bá Vạn đến nhà Tư Thính. Tư Thính mừng rỡ kêu lên:
– May quá! Cậu Cẩu gởi thơ cho ông nè!
– Ai đem thơ?
Tư Thính đáp:
– Đứa hộ vệ. Nó chờ để rước ông về Hòn Chông. Nghe qua, Bá Vạn mừng đến run tay, phục tài tiên đoán của ông đạo Đất. Đúng là ông còn nặng nề công danh. Mở phong thơ ra, ông đọc nhanh. Đại ý trong bức thơ là ông Mười Hấu xin lỗi Bá Vạn về những lỗi lầm mà cậu Cẩu mắc phải trong thời gian qua. Theo Mười Hấu thì cậu Cẩu muốn mời Bá Vạn đi theo để tiễu trừ bọn cướp ở núi Mo So. Nếu thắng trận, Bá Vạn sẽ nắm quyền hạn quản gia như cũ.
Một khi cô Huôi khuyên bảo thì nhứt định chuyện sẽ thành công. Nghĩ vậy, Bá Vạn bèn lên tìm ông đạo Đất, nhờ ông cho người đến gặp thằng Thừa. Bá Vạn khuyên thằng Thừa giả vờ thua, chạy trốn. Nó sẽ được bảo đảm tánh mạng. Nếu quá sợ thì đến am ông đạo Đất mà cư ngụ trong một đôi tháng.
Những hàng chữ dưới bức thơ khiến Bá Vạn tin cậy hơn. Cô Huôi viết cho ông, khuyên ông nên về, vì đây là dịp để cậu Cẩu giảng hoà trong danh dự, tạm thời như thế.
Bá Vạn nói với Tư Thính:
– Vậy thì tôi về. Cho tôi một hũ rượu.
Uống chén rượu, Bá Vạn thấy đầu óc minh mẫn thêm. Mấy tiếng “tạm thời như thế” khiến ông ta suy nghĩ kỹ hơn. Phải chăng cô Huôi khuyên Bá Vạn nên chuẩn bị kỹ lưỡng để sau nầy giết cậu Cẩu.
Tên hộ vệ chèo ghe thật nhanh, đến nửa đêm là tới Hòn Chông. Mười Hấu rước Bá Vạn qua nhà cô Huôi vì biết Bá Vạn còn ghét cậu Cẩu.
Cô Huôi nói:
– Ông Mười về nghỉ cho khoẻ. Cậu Cẩu làm gì bên nhà?
– Dạ, nó uống rượu say mèm, con Xí Vĩnh thì quạt hầu sáng đêm.
– Sáng mai, ông nhớ kêu cậu thức sớm.
Khi Mười Hấu vừa ra ngoài, cô Huôi đóng cửa lại rồi mỉm cười:
– Việc đời lắm khi quá khó rồi trở nên quá dễ.
Bá Vạn thêm kính nể đối với cô Huôi:
– Nhờ cô giúp mà tôi được trở về Hòn Chông.
Cô Huôi đáp:
– Trước kia, nghe ba tôi nói lại thì ông giúp tôi quá nhiều. Bây giờ tôi bàn như vầy. Chuyến đi đầu tiên, phải làm cách nào cho cậu Cẩu chết hụt rồi sau đó, ông ra tay cứu cậu Cẩu.
Bá Vạn nói:
– Thằng Thừa làm giặc vì nó binh vực tôi. Tôi nhắn tin rồi, làm đúng theo lời cô dạy. Nhưng còn chuyện nầy, tôi muốn hỏi kỹ: sau khi thắng trận, chẳng lẽ để cậu Cẩu sống hoài?
Cô Huôi cau mày:
– Ông muốn giết nó? Nên thận trọng vì lúc nầy cậu đang thắng thế. Sau khi dạy được bọn giặc cỏ ở núi Mo So, cậu được thiên hạ sợ sệt hơn trước. Với lại có Mười Hấu bên cạnh. Nầy Bá Vạn! Tôi thấy cậu Cẩu là người bất thường, khi thì dại dột nhưng lắm lúc quá thông minh. Người hơi điên, tánh tình khó lường được.
– Cậu ta hơi điên?
– Còn gì nữa! Luôn luôn người điên không bao giờ sống lâu. Ông cứ tin tôi, đừng nóng nảy hờn giận vô lý. Chưa ắt cậu sống dai hơn ông…Bây giờ thì ông cứ đi núi Mo So, chuyện dễ quá.
Nhơn chuyến lên núi vừa rồi, ông Bá Vạn đã suy nghĩ nhiều khi nghe ông đạo Đất nói đến những con cá kình, bằng sắt, đậu ngoài khơi Vịnh Xiêm La. Sớm muộn gì người Lang Sa cũng tới Hòn Chông. Bá Vạn sẽ chiếm đoạt một mớ tài sản của cậu Cẩu rồi chạy trốn, khi người Lang Sa đến! Bởi vậy phải giết cậu Cẩu, nhờ bàn tay của Xí Vĩnh.
Khi ngang nhà cậu Cẩu, Bá Vạn ghé vào. Cậu còn ngủ. Bá Vạn hỏi:
– Cô Xí Vĩnh, cậu thức chưa?
Xí Vĩnh khoát tay, nói khẽ:
– Cậu ngủ nhưng cũng như thức. Để tôi kêu thử.
Thừa lúc cậu Cẩu còn nhắm mắt, Bá Vạn sờ vai Xí Vĩnh bóp mạnh:
– Nhớ chuyện cũ không?
Xí Vĩnh hiểu đó không phải là cử chỉ mất dạy của lão già háo sắc. Nàng đoán chừng Bá Vạn khuyên nhủ nên nhớ đến mối thù xưa. Xí Vĩnh là tình nhân của A Chúa, người đã bị cậu Cẩu hạ nhục công khai.
Xí Vĩnh sờ bàn tay Bá Vạn, day lại, cúi đầu. Rồi nàng gọi to:
– Cậu ơi!
Cậu Cẩu mở mắt nhận ra Bá Vạn:
– Cái gì? Đi đánh giặc chưa? Ông đủ sức đánh tụi nó chớ?
Bá Vạn đáp:
– Nhưng phải có cậu đi mới được. Tôi là người quản gia, xưa nay chưa ra trận lần nào.
Cậu Cẩu vươn vai:
– Vậy thì tôi đi. Nhưng phải đi dọ thám trước. Để lâu sanh ra nhiều điều bất lợi.
Lát sau, năm chục tên hộ vệ mang dao mác lên đường. Vì sợ chết nên cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghe hầu, đi sau chót. Xí Vĩnh cầm quạt, ngồi bên cạnh cậu Cẩu. Mặt trời lên cao. Núi Mo So hiện ra ở chân trời. Hai bên bờ rạch, nhà cửa vắng tanh, không bóng người. Bọn hộ vệ kêu lên từng chập:
-       Thây ma chết trôi! Ghê quá !
Bá Vạn ngồi trên mui ghe, chui vào mui nói với cậu Cẩu :
-       Gần tới chỗ nguy hiểm rồi.
Cậu Cẩu giựt mình ngồi dậy. Hai bên đồng cỏ hoang vu từng bầy quạ đen bay chập chờn. Có lẽ trên ấy vẫn còn vài cái thây ma hôi thúi.
-Lạ vậy ? Mùi gì kỳ cục !
Bá Vạn đáp :
-       Thưa cậu, chắc là nhiều người chống cự lại thằng Thừa, bị nó giết. Một cái thây ma vừa trôi qua.
-       Bọn hộ vệ thấy điều gì lạ không !
-       Theo ý tôi thì bọn thằng Thừa là cố thủ ở chân núi.
-       A ? Tụi nó chưa đụng độ.
Gần tới núi Mo So, bọn hộ vệ lên bờ, đi bộ. Chiếc ghe hầu của cậu Cẩu đậu lại. Tiếng mõ nổi vang lên. Một căn nhà lá bốc cháy sát chân núi. Cậu Cẩu la hoảng:
– Hộ vệ đâu? Đánh thử một trận!
Nghe qua, Bá Vạn nực cười vì rõ ràng cậu Cẩu là đứa trẻ con. Bọn hộ vệ tiến nhanh trong khi cậu Cẩu ra lệnh dừng ghe lại. Bỗng đâu một tên hộ vệ chạy trở về, mặt mày hơ hãi:
– Cậu ơi! Bên mình chết hai người!
Cậu Cẩu xám mặt:
– Sao vậy? Làm sao bây giờ?
Tên hộ vệ đáp:
– Trên núi, có treo hai ngọn cờ, một lá tam sắc, xanh trắng đỏ; một lá đen. Mấy người hộ vệ chết khi tới gần ngọn cờ màu đen. Bọn nó núp trong mấy căn nhà bỏ hoang, chạy ra thình lình, bên mình trở tay không kịp. Chém xong, bọn nó chạy lên núi, vô hang đá.
Cậu Cẩu hỏi Bá Vạn:
– Làm sao bây giờ? Ông tới coi thử.
Bá Vạn làm núng để hăm dọa cậu Cẩu:
– Tôi sợ quá. Tuổi già, hễ gặp bọn nào dùng võ lực thì tôi chạy. Cậu còn trẻ, dai sức hơn tôi.
Xí Vĩnh nói thêm:
– Cậu đánh một trận là tụi nó sợ. Cậu là người có tài..
Cậu Cẩu cằn nhằn:
– Bá Vạn tới trước, dò xét thật kỹ rồi tôi tới sau.
Nghe qua, Bá Vạn mừng thầm vì đây là dịp tốt để ông tiếp xúc riêng với thằng Thừa. Ông nhận lời nhưng nói dè dặt, đề phòng trường hợp cậu Cẩu nghi ngờ:
– Dò xét là phận sự của tôi. Nhưng cậu phải đánh chiếm núi Mo So mới được. Đó là nơi mà cậu hiểu rành từng gốc cây, từng cục đá.
Cậu Cẩu chau mày:
– Trên đó ghê lắm. Ai chiếm trước là thắng trận. Một cục đá là một bức thành. Ông đi trước xem thử.
Bá Vạn đáp:
– Hễ làm dọ thám thì phải cải trang đi trong đêm tối. Rủi nó nhìn mặt, bắt giết tôi thì sao. Xin cậu cho tôi hẹn tối nay, tôi ăn mặc rách rưới, đi một mình. Điều quan trọng là biết nơi ẩn núp của thằng Thừa. Giết được nó thì xong chuyện. Rắn mất đầu, bọn phản loạn chỉ còn chạy trốn.
Trời xế dần. Mấy đống lửa cứ cháy bên sườn núi, Bá Vạn hơi lo sợ khi nghe tên hộ vệ nói đến lá cờ đen và lá cờ tam sắc cắm trên sườn núi. Phải chăng quân Lang Sa đã tới núi Mo So, sau khi chiếm bờ biển núi Đất? Tin rằng thằng Thừa còn giữ tình cũ nghĩa xưa, Bá Vạn đánh bạo đến nơi, để hiểu rõ hơn.
Mặt trời vừa lặn, ông đến chân núi, ngay nền nhà Mười Hấu. Nhà bị cháy sạch. Hai tên hộ vệ của cậu Cẩu, còn đứng núp lén bên gốc cây. Thấy Bá Vạn tới, bọn nó mừng rỡ
-       Ông liệu lẽ nào ? Tại sao cậu Cẩu còn xài ông ?
Bá Vạn nhớ kỹ từng gương mặt. Toàn là bọn mới vô nghề, được cậu Cẩu trọng dụng sau khi lên ngôi ‘‘ông chúa Hòn’’. Bá Vạn hơi bực mình vì bọn nó ăn nói vô phép.
-       Muốn chết tao cho chết – Bá Vạn nghĩ thầm như thế. Ông ta đáp vu vơ :
-       Tao là thằng già rồi. Tụi bay dẫn cho tao đi dọ thám. Nãy giờ thấy động tịnh ở chỗ nào không ?
Một tên hộ vệ đáp :
-       Có hai cây cờ, một cây đen, một cây ba sọc. Giỏi thì ông bước tới. Tụi tôi ở đây trong giây lát, nếu không đụng độ thì trở về. Ngu dại gì mà chịu chết lãng nhách.
-       Tụi bây đi trước, dẫn đường cho tao.
Vừa nói, Bá Vạn vừa giả vờ run rẩy. Hai tên hộ vệ ngồi xuống rồi dựa lưng vào vách một căn nhà lá vắng chủ, Bá Vạn xem chừng để tìm ám hiệu của thằng Thừa. Ông đi tới lui chợt nhận ra một bàn tay lú ra, bên vách nhà Mười Hấu. Nhà cháy sập, cây cột vách và một mảnh tường vôi còn đứng vững.
Bọn hộ vệ hỏi :
-       Mạng ông gần tàn rồi. Hôm trước, nghe đâu cậu Cẩu muốn cho ông chết. Tôi mà như ông thì chết sướng hơn, sống mà tài sản không còn một món thì lấy gì mà ăn ?
Bá Vạn bèn cương quyết ra tay, nói trở lại :
-       Tụi bây lo canh phòng tứ phía. Hễ hai cây cờ nọ di chuyển tới lui là tụi nó xuống núi đánh bọn mình. Chẳng lẽ tao chết tại đây.
Nói xong, Bá Vạn bước tới. Ông thử ho lên vài tiếng sù sụ như báo hiệu rằng “ta đây là Bá Vạn…”. Một con quạ đen bay vòng tròn trên nhà Mười Hấu rồi đáp xuống. Điềm gì đây? Sau khi suy nghĩ, Bá Vạn cương quyết đến gần miếng vách tường loang lổ. Trong hoàn cảnh nầy, ông là người tốt phước nhứt, vì chẳng ai muốn giết ông cả!
Đến gần miếng vách, ông hỏi:
– Thừa phải không?
Đúng là giọng thằng Thừa:
– Chờ ông gần chết.
– Tao cũng chờ mầy nhưng tao sợ hộ vệ của cậu Cẩu.
Thằng Thừa nói:
– Ông vô đây mà ngồi cho kín đáo. Có chuyện gì thì nói gấp. Tôi luôn luôn trung thành với ông.
Ba Vạn nhìn lại hai tên hộ vệ rồi nói khẽ :
-       Đó là hai thằng chó chết. Nó chế nhạo tao khi tao mất chức vị. Mình cứ nói chuyện dông dài. Có đứa nào theo mầy không ?
-       Dạ. Hơn mười đứa sẵn sàng giết cậu Cẩu. Tụi nó ngồi ở sát vách bên kia. Tôi khoát tay là có.
-       Vậy thì …cứ giết thằng hộ vệ của cậu Cẩu. Nó ngồi dựa vách cái nhà lá đằng kia.
Ba cậu trai lực lưỡng, đứng dậy thi hành lịnh của Bá Vạn. Lát sau, bọn chúng trở lại :
-       Chết hết rồi. Tụi tôi siết cổ, hai đứa nó chết không kịp ngáp. Nó cắn muốn đứt thịt cườm tay tôi.
Bá Vạn lấy vạt áo chùi mồ hôi mà hỏi nhanh:
– Chú mầy về núi Đất, ở với ông đạo Đất cho yên, tình thế chắc còn nhiều đổi thay.
Thằng Thừa cau mày:
– Hỗm rày, tôi sắp đặt kế hoạch để báo thù cho ông. Nè! Ông thấy cây cờ tam sắc trên núi không? Thằng đó ở chợ Rạch Giá, lúc trước giả dạng Sơn Đông mãi võ để dọ thám. Nghe tôi nổi lên chống lại cậu Cẩu, nó đem bốn, năm đứa tay em tới xin gia nhập. Thiệt là đáng nghi ngờ. Nó mang theo một cây súng lạ lắm, bắn nổ lớn tiếng. Nó rủ tôi theo phe nó. Tôi hỏi phe nào thì nó không trả lời.
Bá Vạn nghĩ xa hơn; nếu gầy dựng sự nghiệp mà bỗng nhiên quân Lang Sa tới xâm chiếm thì thật là uổng công. Từ nửa tháng qua, cô Huôi và ông đạo Đất đều nhắc tới quân Lang Sa nhưng chưa ai biết mặt mày bọn chúng ra sao.
Ông ta nói khẽ:
– Bây giờ mầy giúp tao chuyện nầy được không Thừa? Bắt thằng đó, đem cây súng về coi thử. Được như vậy thì cậu Cẩu, Mười Hấu, cô Huôi đều nể mặt tao.
Thằng Thừa đáp:
– Nó làm dọ thám cho quân Lang Sa ở chợ Rạch Giá. Tôi nói thì nó tin, nhưng ông nên ra tay nhanh chóng tới đây bắt nó.
– Rồi làm sao tao cự nổi với súng đạn!
– Tôi cho nó uống rượu rồi trói như con heo. Ông cứ khiêng nó về.
Bá Vạn gật gù, nói vài tiếng với thằng Thừa rồi trở về. Khi đi ngang qua tấm vách lá, ông nhận ra xác hai tên hộ vệ vừa bị giết…Ông nói lẩm bẩm như kẻ say rượu.
-       Chế nhạo tao làm gì ? Bây giờ một đứa theo tao…
Ông nắm chân một cái xác, kéo lê lết. Vì chưa chết hẳn cái xác nọ vụt co chân. Ông buông ra:
-       Cái gì vậy?
Xác lại nằm yên. Ông nghiêng mình, nắm cái xác lần thứ nhì rồi kéo lê lết, miệng la bài hải
-       Tụi nó tới! Tụi nó đông lắm…
Cậu Cẩu đứng sẵn trước mũi ghe. Xí Vĩnh ngồi bên cạnh. Cậu cằn nhằn:
-       Bá Vạn chết rồi sao chớ? Hay là bị thương. Hộ vệ đâu .
Bọn hộ vệ tới gọi Bá Vạn
-       Thưa ông!
Bá Vạn giả vờ run sợ:
-       Nó giết hai đứa hộ vệ rồi. Nó rượt sau lưng tao đó? Đứa nào cõng tao lên vai mà chạy. tao sợ quá.
Cậu Cẩu hỏi:
-       Sao vậy Bá Vạn
-       Cậu nên đề phòng. Tụi nó giết hai đứa hộ vệ. Tôi hết sức cứu được một cái xác.
Xí Vĩnh nhận ra bên kia bờ rạch, hàng chục người lạ mặt vừa xuất hiện, lưng trần, tay cầm dao mác sáng ngời. Cô ta la hoảng :
-       Cậu ! Cậu ! Đánh nó !
Bọn người bên kia bò đưa tay ngoắc :
-       Đứa nào tên Cẩu đâu ?
Cậu Cẩu vội chui vào mui ghe, đóng cửa lại kín mít. Hai ba chục tên hộ vệ được lịnh sẵn sàng canh phòng chgo cậu và Xí Vĩnh lên bờ đi bộ về phía Hòn Chông. Bá Vạn hỏi :
-       Thưa cậu ! Như vầy thì sao ?
Cậu Cẩu chạy một hơi đến giữa đồng trống, ngồi xuống mà chờ Xí Vĩnh. Bá Vạn hỏi tiếp ;
-       Thưa cậu ! Để tôi rửa nhục cho cậu ! Tôi lên núi thì tự nhiên bọn nó rút lui. Bọn nó có đứa chạy lăng xăng dưới này. Trên đó, cắm cờ để thị oai chớ không có ai ráo.
Cậu Cẩu hơ hải, nhìn trở lại
-       Mấy căn nhà bên kia rạch bốc cháy kìa ! Tôi muốn về, đem bọn hộ vệ theo. Nếu ông dẫn tụi nó lên núi, rủi dọc đường tôi bị bắt rồi sao ? Úy trời ! Coi kìa !
‘‘Quả thật thằng Thừa là đứa quá giỏi !’’. Kế hoạch của nó khiến Bá Vạn khâm phục, đứng vào địa vị nó, chưa chắc ông thực hiện khéo léo hơn. Toán võ sĩ của thằng Thừa lội ngang qua rạch, cầm đuốc lửa trong tay, nhảy lên chiếc ghe hầu mà đốt.
Bọn vệ sĩ của cậu Cẩu đã chạy từ trước. Bá Vạn nói khẽ :
-       Cậu về Hòn Chông với bọn hộ vệ. Chỉ cần ba bốn đứa đi theo tôi là được. Tôi ráng tránh né, đốt sào huyệt bọn nó, chỗ căn nhà mà trước kia cậu tới lui đá cá thia thia.
Giữa đồng hoang cậu Cẩu cứ vuốt mấy giọt mồ hôi trán. Xí Vĩnh cúi mặt, thở dài :
-       Cậu nên trở lại mà trả thù.
Bị mất thể diện trước người đẹp, cậu Cẩu bỗng dưng nổi cơn nóng giận tay hơi run. Đúng là bịnh điên mà cô Huôi đã nói. Cậu phun nước miếng phèo phèo.
-       Như vầy, còn mặt mũi nào mà về Hòn Chông ? Bộ tao bại trận sao chớ ! Tao giết hết bây giờ.
Bá Vạn bèn nghĩ ra sáng kiến.
-       Cậu chớ lo ? Bây giờ cậu tới Vàm Rầy mà chờ tôi. Sau khi bắt sống bọn nó và tịch thâu mấy cây cờ trên núi, tôi gặp cậu để về Hòn Chông một lượt.
-       Phải ! Nhưng chiếc ghe bị đốt cháy rồi! Chẳng lẽ ta đi bộ ?
-       Thì bọn hộ vệ cõng cậu lên vai…
-       Hừ ! Quần áo lem lấm như vậy…
Bá Vạn nói:
-       Thưa cậu, quần áo có lem lấm, chiếc ghe có bị đốt thì dân chúng ở Hòn Chông mới tin chắc rằng cậu ra trận, tả xung hữu đột để …chiến thắng.
-       Phải! Bá Vạn cứ lên núi, bắt sống vài đứa tịch thâu lại ngọn cờ. Tôi chờ tại đó. Nhưng mà đừng để tôi chờ quá lâu.
Lát sau, bọn hộ vệ đưa cậu Cẩu và Xí Vĩnh về Vàm Rầy mà chờ đợi. Bá Vạn chọn lựa hai tên hộ vệ quen biết, những đứa đã từng quen với ông hồi mười năm trước, Bá Vạn cười xoà:
– Tụi bây thấy sao?
Nãy giờ bọn hộ vệ đã bất mãn với cậu Cẩu nên đồng thanh trả lời:
– Thiệt là lỡ cười lỡ khóc. Nhưng nắng bề nào che bề nấy. Hồi xưa, cậu Hai Điền đâu quá tệ như vầy.
Bá Vạn nói:
– Mấy ngày trước, tao bị cậu Cẩu hạ nhục tại chợ Vàm Rầy, mấy căn phố bị lấy lại. Tụi bây cứ yên tâm. Tao còn thì tụi bây còn…Ăn cho no rồi ra trận là thắng.
Nãy giờ hai tên hộ vệ tưởng lầm rằng Bá Vạn không dám đương đầu với bọn phản loạn. Có đứa van nài:
– Ông ơi! Ông đã già mà tụi tôi thì vỏn vẹn có hai đứa. Rủi gặp ngày xui xẻo thì sao?
– Tao nghĩ kỹ hơn tụi bây. Bọn thằng Thừa chắc cao bay xa chạy rồi, đầu đuôi không tới ba chục đứa. Dễ đánh quá, ban đêm, mình ngủ mà chờ đợi. Núi Mo So lớn chớ đâu phải nhỏ. Nếu tụi nó chống cự thì tao mướn đàn bà trên núi may hai lá cờ, đem nhúng bùn, coi như là tịch thâu của bọn nó. Tao dư tiền trong túi, chuyện gì mà làm không được?
Hai tên hộ vệ vào căn nhà trống hoang bên đường trong khi Bá Vạn đứng trước sân, giả vờ ngắm nghía núi Mo So. Nếu cho bọn chúng hiểu rõ sự sắp đặt đã có từ trước thì ông sẽ bị tình nghi. Bọn hộ vệ nầy chưa đáng tin cậy cho lắm.
Ông day lại:
– Tụi bây mệt thì ngủ cho khoẻ. Tao đi lại đằng nầy để dọ thám.
Một tên hộ vệ nói:
– Ông đi trước là phải, vì dân núi Mo So xưa nay mến chuộng ông…
Đến gần nhà Mười Hấu, Bá Vạn đứng lại. Thằng Thừa xuất hiện bên vách:
– Ông ơi! Như vầy là xong. Để tôi lên núi bắt sống cái thằng Sơn Đông mãi võ.
Bá Vạn lẩm bẩm:
– Như vậy là gọn nhứt. Kiếm cho tao một chiếc ghe. Đem thằng Sơn Đông đó với hai cây cờ xuống đây. Cậu Cẩu là thằng ngu dại, không biết gì ráo. Rồi cho hai ba thằng bá vơ nào đó chèo ghe cho tao ngồi, tao nói rằng đó là bọn đầu hàng…Khuya nay, tao về Vàm Rầy để lấy lại thể diện. Nhớ về núi Đất chờ tao…
+++
Cậu Cẩu nằm ngủ trên giường, Xí Vĩnh quạt hầu mỏi tay rồi nằm bên cạnh. Bọn hộ vệ ngồi ngoài sân mà canh phòng. Dân chúng cứ qua lại bàn tán xôn xao vì Cậu Cẩu đưa ra tin thắng trận.
Đột nhiên Xí Vĩnh kêu rú:
-       Sao cậu đánh tôi.
Xí Vĩnh khều thấp đèn đứng khá xa. Rõ ràng Cậu Cẩu đang ngủ say, mắt trợn trắng mà nói:
-       Tôi giết ai mà ai giết tôi? À? Tôi không sống lâu. Tại sao tôi không sống lâu ? Ba đi đâu vậy ? Ba đánh thì tôi đỡ.
Bàn tay Cậu Cẩu nắm lại, răng nghiến ken két. Cậu đập mạnh xuống giường mà la lớn :
-       Chết …chết !
Bọn hộ vệ chạy vào hỏi nhanh :
-       Cô ơi ! Cậu làm sao?
Xí Vĩnh đáp:
-       Cậu nằm chiêm bao ngủ mê. Mấy chú ra ngoài. Làm gì mà chộn rộn vậy?
-       Xin lỗi cô. Hồi nãy tôi nghe lầm, tưởng rằng bọn bất lương vào nhà…
Trong mùng, Cậu Cẩu lại đập tay thật mạnh xuống giường. Giựt mình thức dậy; cậu nhìn ngơ ngác:
-       Xí Vĩnh đâu?
Xí Vĩnh đến bên cạnh mà hỏi:
-       Cậu nằm chiêm bao? Chắc là gặp điềm gì hung dữ lắm.
-       Ừ! Nhưng mà …
Nói tới đó, cậu Cẩu bèn cúi mặt, vỗ trán để xua đuổi ám ảnh không tốt cho lắm. Lúc nãy, cậu nằm chiêm bao thấy ông chúa Hòn hiện về, hạch hỏi tội lỗi và khuyên cậu nên đề phòng kẻo gánh lấy hậu quả tai hại. Khi cậu hỏi kỹ lưỡng hơn thì ông chúa Hòn trói cậu lại mà đánh đập. Cậu muốn chạy nhưng hai chân tê cóng.
Xí Vĩnh hỏi:
-       Thưa cậu…
-       Nãy giờ thức hay ngủ? Bá Vạn về chưa?
Bọn hộ vệ dưới bến chạy tới, báo tin:
– Thưa cậu, có bốn ngọn đuốc. Chắc là Bá Vạn thắng trận.
– Đứa nào đi với tao…
Cậu Cẩu ra sân, đứng ngóng về phía ngọn rạch. Theo lịnh cậu, một tên hộ vệ chạy đi săn đón tin tức. Bá Vạn đứng trước mui ghe, trong khoang có hai người bị trói nằm chèo queo.
Ông ta hỏi:
– Cậu đâu rồi?
Tên hộ vệ trở về báo tin. Cậu Cẩu vô cùng mừng rỡ, gọi Xí Vĩnh:
– Mình về Hòn Chông chớ?
Lát sau, chiếc ghe lướt tới, dừng lại đón cậu Cẩu. Bá Vạn báo cáo:
– Tịch thâu được hai cây cờ, bắt sống được hai đứa, hai đứa ra đầu hàng…
Cậu Cẩu ngồi trước mui ghe, cười dòn:
– Như vầy là từ rày về sau không ai dám làm phản nữa…Ngày mai, ta ra lịnh cho dân Hòn Chông ăn lễ ba ngày ba đêm. Nầy Bá Vạn…
Bá Vạn tin rằng lời nói đầu tiên của cậu Cẩu là khen ngợi công lao. Nhưng ông ta thất vọng cười chua chát khi nghe nói:
– Ông thấy tôi …sống dai không? Thiên hạ đồn rằng tôi bất tài. Nhưng tôi có tài hơn anh tôi là Hai Điền.
Bá Vạn nói phân bai:
– Người có đức thì sống dai. Cậu chỉ có tài…
– Hai Điền chỉ biết săn heo rừng… Tôi thì… dẹp được bọn làm phản. Bởi vậy… Rượu đâu?
Bọn hộ vệ dân rượu cho cậu Cẩu. Cậu uống một hơi cạn bầu rượu rồi trợn mắt.
– Bậy quá. Thiệt là chó chết.
Lời trách móc vu vơ khiến Bá Vạn phật ý. Hay là cậu muốn hại ông, theo kiểu được chim bẻ ná? Cậu Cẩu bỗng dưng đứng trên mui ghe, quát to:
– Dân làng đâu! Tại sao không đánh trống, đốt đuốc lên để mừng khi ta thắng trận?
Rồi cậu cầm hai lá cờ trong tay, múa qua múa lại như ông tướng trong tuồng hát bội. Xí Vĩnh nói khẽ với Bá Vạn:
– Cháu bực mình quá.
Bá Vạn nói khéo:
– Vài ngày nữa, bác đưa cháu… cháu bỏ vô thức ăn.
Xí Vĩnh gật đầu:
– Dạ như vậy là để…
Bá Vạn cười tủm tỉm:
– Nó là thằng điên nhưng là thứ điên giết người. Để nó sống thì bác cháu mình chết.
Dân chúng Hòn Chông tha hồ cờ bạc và uống rượu. Bọn người tản cư được lịnh về núi Mo So. Họ xin ra mắt cậu Cẩu để cám ơn.
Cậu Cẩu uống rượu với Bá Vạn. Cô Huôi ngồi nghiêm mặt, trên bộ ván gõ, cách độ chừng vài bước.
Rượu say ngà ngà. Cậu nói:
– Bây giờ ta nên hạch hỏi tụi nó! Tại sao trên núi có hai lá cờ? Dẫn tụi nó lên đây!
Thật ra Bá Vạn còn nóng nảy hơn cậu Cẩu. Người bị bắt hiện đang bị giam trong nhà riêng sau hè. Bọn hộ vệ dẫn hắn đến. Hắn cự nự lâu lắm mới chịu quỳ lạy
Cậu Cẩu hỏi:
– Tên gì? Mặt mày sạch sẽ quá vậy? À! Dường như tao gặp chú mầy một lần. Mấy chú là ai?
Người nọ nhìn thẳng về Bá Vạn. Bá Vạn hơi e ngại vì thật ra địa vị của ông không được vững cho lắm. Cậu Cẩu sẽ hạch tội, xem ông là kẻ thù, tùy sự cao hứng. Để đánh tan sự nghi ngờ, ông lên tiếng, đứng hẳn về phe cậu Cẩu:
– Nó là đứa Sơn Đông mãi võ, hồi tháng trước tới đây một lần.
Cậu Cẩu nói nhanh:
– Nó là cái thằng nhảy qua vòng lửa. Tội đáng chết.
Nhưng Bá Vạn lại hạ giọng vô tư như để cứu vớt người có tội:
– Lúc bị bắt, nó không kháng cự. Nó nói rằng lá cờ tam sắc do người Lang Sa trao cho nó, muốn nó đem cắm tại núi Mo So và Hòn Chông!
Cậu Cẩu lại cười:
– Như vậy là người Lang Sa yếu ớt lắm.
Bá Vạn muốn nói rõ hơn để cậu Cẩu kiêng oai người bị bắt:
– Có một khẩu súng lạ lùng nhưng bắn không được! Người nầy tên là Tư Thiện…
– Dạ, tôi là Tư Thiện. Người Lang Sa mướn tôi đến đây. Vậy thì cậu đừng giận, tôi là người thừa hành phận sự.
Cậu Cẩu chưa bao giờ ra khỏi vùng Hòn Chông nên trố mắt:
– Lang Sa là cái gì? Cây súng đâu?
Tư Thiện kéo vạt áo ngay ngắn, nói chậm rãi, tin rằng nếu xử sự khéo léo thì thoát nạn, được trọng dụng là đường khác. Dầu sao đi nữa, cậu Cẩu cũng cần dùng anh ta để tìm hiểu thêm về người Lang Sa.
Ngoài ra, theo Tư Thiện nhận định thì Bá Vạn và người con gái xinh đẹp kia chưa đến đỗi khờ dại mà gây sự quá sớm với những người Lang Sa đang chiếm đóng vùng phụ cận Hòn Chông và kiểm soát bờ biển.
Tư Thiện nói:
– Thưa cậu, Lang Sa là Phú Lang Sa. Đó là một nước hùng cường. Họ chiếm cứ thành Sài Gòn, Biên Hoà, Vĩnh Long…
Cậu Cẩu nói nhanh:
– Nhưng Hà Tiên và chợ Rạch Giá còn hay không?
Tư Thiện nói không do dự:
– Mất mà như còn. Còn như đã mất.
Cô Huôi nhìn thẳng vào Tư Thiện. Anh ta quả là người thông minh, biết ăn nói khéo léo. Anh ta chưa lớn tuổi, hơn bốn mươi, nước da trắng, trán cao, mặc kiểu áo vạt hò, chân đi dép. Có thể nói là đẹp trai.
Cậu Cẩu trợn mắt:
– Cái gì mà còn còn, mất mất? Tôi không đụng chạm tới người Lang Sa thì người Lang Sa đừng đụng chạm tới tôi. Sao ăn nói khó nghe quá.
Cô Huôi bèn lên tiếng để cậu Cẩu đừng nổi điên lúc nghiêm trọng nầy. Theo ý cô thì Tư Thiện có thể ở lại đây, gióng nhiều sáng kiến. Từ bên kia bờ biển phía Tây mà người Lang Sa qua tới đây để mua bán thì rõ ràng họ có tài hơn cậu Cẩu. Quân sĩ triều đình Huế còn chịu thua người Lang Sa, huống hồ gì bọn hộ vệ ở vùng đồi núi cheo leo nầy. Quả thật cậu Cẩu là con ếch ngồi đáy giếng.
– Tư Thiện nói rõ cho cậu hiểu tình hình ở chợ Rạch Giá như thế nào. Hoặc là nay mai, cậu cho người đến kết thân với người Lang Sa.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Nói rõ tại sao chú mầy đem lá cờ tam sắc tới đây? Chắc là dọ thám. Chú mày quen với thằng Thừa như thế nào?
Tư Thiện liếc thấy cô Huôi mà anh ta đã nghe danh từ lâu. Hồi ở chợ Rạch Giá, viên cai đồn người Lang Sa giao cho anh ta trách nhiệm đến Hòn Chông để dò xét sự kháng cự của dân chúng, những sào huyệt bí mật do quan lại địa phương điều khiển. Anh ta trở về báo cáo sự thật.
Khi biết rằng ở Hòn Chông và vùng đồi núi phụ cận chỉ có vài chục hộ vệ quân mang dao mác, sống một cõi với ông Chúa Hòn thích đá cá thia thia, viên cai đồn nhận định rằng Hòn Chông là nơi không cần xâm chiếm quá sớm. Lần thứ nhì, Tư Thiện được lịnh đến núi Mo So để nghiên cứu sản phẩm địa phương, nguồn lợi sáp và mật ong. Anh ta gặp thằng Thừa, liên kết với nó rồi bị bắt.
Nếu trả lời không khéo léo, anh ta biết rằng tánh mạng khó bảo toàn, khi cậu Cẩu nổi giận. Nhưng anh ta chưa yên tâm vì có Bá Vạn và nhứt là cô Huôi xinh đẹp. Hai người nầy vẫn giữ nhiều quyền hạn, can gián cậu Cẩu.
Anh ta nói:
– Người Lang Sa đóng quân ở chợ phố, ở cửa biển. Trong xóm hẻo lánh, nơi đồi núi, ai làm gì mặc kệ.
Cậu Cẩu hỏi:
– Nhưng chú mày đến tới đây để dọ thám?
Tư Thiện nhìn thẳng vào cô Huôi rồi cúi đầu:
– Tôi đến đây tìm mật và sáp ong, đem về bán lại cho thương gia ở chợ Rạch Giá. Thằng Thừa bắt sống tôi, lấy tiền bạc.
Cậu Cẩu quát to:
– Còn lá cờ tam sắc? Xứ của tôi mà tại sao người Lang Sa đem cờ tới cắm, không xin phép?
Câu hỏi bất ngờ ấy khiến Tư Thiện lúng túng. May thay cô Huôi lên tiếng:
– Cậu à! Đó là Tư Thiện muốn chứng tỏ lòng thành thật. Nếu là dọ thám thì ai ngu dại gì mang theo lá cờ cho thiên hạ thấy mà bắt sống. Vả lại, lá cờ tam sắc…chỉ là miếng vải có ba màu, như lá cờ ghi rõ tên một đoàn hát Sơn Đông mãi võ vậy thôi. Cây cờ đó đã vào tay cậu. Cậu cứ xé bỏ hoặc để dành coi chơi. Từ nãy giờ, tôi không nghi ngờ Tư Thiện. Đó là người mà cậu xài được, hoặc cho ghi chép sổ sách, hoặc cho luyện tập bọn hộ vệ. Nghe nói Tư Thiện có khẩu súng.
Cậu Cẩu thích chí:
– Tư Thiện hầu hạ tôi. Nay mai tôi đi chợ Rạch Giá một chuyến. Cây súng hư rồi, không có đạn.
Tư Thiện nói khéo:
– Thưa cậu, người Lang Sa chỉ cần tiền. Hễ cậu đem tiền tới là họ bán súng cho cậu…
– Ừ! Phải đó. Đem rượu ra uống chơi.
Bá Vạn rót rượu mời cậu Cẩu. Cậu Cẩu nói giọng kiêu hãnh:
– Tư Thiện uống đi, ta tha tội cho. Nhưng nói rõ những điều tai nghe mắt thấy. Chợ Rạch Giá, chợ Sàigòn, chợ Mỹ Tho lớn hay nhỏ so với chợ Hòn Chông của ta?
Tư Thiện đáp:
– Thưa cậu, chợ Sàigòn kém xa chợ Hòn Chông!
Câu nói khoác lác, nịnh bợ khiến cậu Cẩu sung sướng:
– Thật vậy sao? Nhưng Sàigòn có khác hơn chớ? Lang Sa làm cách nào mà vượt biển tới đây? Họ ăn uống như thế nào? Họ biết săn heo rừng không?
Bá Vạn và cô Huôi lắng tai nghe. Những chi tiết mà Tư Thiện sắp nói rất quan trọng. Cả hai hiểu rằng người Lang Sa quá mạnh dám dùng người. Ít nhứt là bên phía Lang Sa còn nhiều nhân vật tài ba hơn Tư Thiện.
Tư Thiện đáp:
– Người Lang Sa dùng tàu sắt. Lúc tàu chạy thì máy móc nổ ầm ầm, tàu chạy rẽ sóng, không cần chạy buồm hoặc chèo. Lúc chạy, tàu phun khói đen kịt, còn hơn con rồng. Họ ăn bánh mì dùng tay xé từng miếng nhỏ. Rượu thì chát, lạt hơn rượu đế. Chợ Hòn Chông nầy đẹp hơn Sàigòn về phong cảnh, có núi non hữu tình…
 
– Nhưng tại sao quân sĩ triều đình lại thua người Lang Sa?
– Dạ, họ có súng to, đứng xa một hai dặm, họ bắn trúng đích. Tàu sắt của họ chạy mau. Họ mang giày da…
Cậu Cẩu vỗ trán:
– Tại sao ta không giăng dây ngang sông mà cản mũi tàu?
– Tôi nghe đồn rằng trước mũi tàu họ có cái ống bễ và cái lò rèn nhỏ. Khi gặp dây sắt, họ thổi lửa lên, dây sắt chảy ra.
Cậu Cẩu buột miệng:
– Giỏi thật.
Tư Thiện nói thêm, để chứng tỏ lòng thành thật của mình:
– Còn giày da thì đi không vững khi gặp đất sình lầy. Ở Trung Lương – Mỹ Tho, quân sĩ triều đình chống cự, treo bảng cầu hiền. Có người đến dâng kế là lấy trái mù u khô, rải đầy mặt đường, tin rằng người Lang Sa phải trợt té vì dưới chân mấy trái mù u cứ lăn tròn.
– Rồi họ có té không?
– Không ai té hết vì trái mù u bị dập nát khi chiếc giày đạp lên! Hiện giờ, người Lang Sa mua bán khắp Nam kỳ Lục tỉnh.
Cậu Cẩu xám mặt lại, thấy nguy cơ sắp xảy ra. Nhưng chẳng lẽ cậu lo sợ trước mặt Tư Thiện! Cậu hơi run tay.
Cô Huôi biết rằng nếu để chậm trễ thì cậu Cẩu sẽ ăn nói hỗn láo hoặc ra lịnh xử tử Tư Thiện. Nãy giờ, cô đã có cảm tình và kính nể người mới đến. Tình thế đã thay đổi. Bá Vạn không còn đủ sáng suốt để ứng phó với chuyện rắc rối mà người Lang Sa sắp gây ra ở vùng Hòn Chông nầy. Tư Thiện mới đúng là người của thời cuộc. Cô nói rõ từng tiếng:
– Cho Tư Thiện ở căn nhà riêng. Mai chiều, ta nhờ Tư Thiện mua súng ống của quân Lang Sa. Tư Thiện có lỗi nhưng ta đang cần dùng…để làm tay sai.
Cậu Cẩu vui sướng, cười tươi tỉnh:
– Phải! Người giỏi như Tư Thiện chỉ đáng làm tay sai của ta. Bây giờ ta mệt, nên ăn uống cho khoẻ.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.06.2021 14:18:42 bởi Ct.Ly>
-15-

Bá Vạn ra khỏi cửa, muốn xuống ghe để về Vàm Rầy, thâu hồi lại mấy căn phố mà cậu Cẩu đã ra lịnh tịch thâu.
Mười Hấu mừng thầm vì thì giờ còn đủ để ông ta thi hành thủ đoạn. Lúc Tư Thiện trình bày về thực lực quân Lang Sa, Mười Hấu qui tụ bọn hộ vệ lại để nghe báo cáo về tổn thất ở núi Mo So.
Bọn hộ vệ cho biết là Bá Vạn đánh thắng quá dễ dàng. Mười Hấu nghĩ thầm:
– Cuộc phản loạn do thằng Thừa, tay sai Bá Vạn gây ra. Nhứt định đó là do lịnh của Bá Vạn. Ông ta chiến thắng vì thằng Thừa rút lui, để gây uy tín cho chủ cũ. Quả thật Bá Vạn là tay nguy hiểm. Phải giết mới được!
Vì lo cho tương lai cho đứa cháu ngoaị, Mười Hấu đề phòng trường hợp Bá Vạn chiếm tất cả quyền hạn ở Hòn Chông. Bá Vạn có sống thì không ích lợi gì. Ông ta dẹp loạn chăng? Loạn là do ông ta gây ra. Ông ta chết thì không còn loạn. Điều quan trọng vẫn là giết khéo léo không cần bày ra những cuộc săn heo như trước. Nếu bàn mưu kế với cậu Cẩu hay cô Ngó thì ắt gặp nhiều trở ngại. Cậu Cẩu làm ầm lên, Bá Vạn sẽ trốn hay ra tay trước. Cô Ngó thì có tình riêng với Bá Vạn nhưng lại ghen tương với bà chánh thất.
Mười Hấu nhớ đến cái chết của ông Chúa Hòn ngày xưa. Bước đầu vẫn là phục rượu, trong rượu có thuốc độc. Hình ảnh cái dĩa màu xanh hiện ra trong tâm trí Mười Hấu. Người lão bộc bảo rằng cái dĩa ấy sẽ biến màu sắc khi có món ăn giết người để vào.
Thuốc độc pha vào rượu thì giết người quá dễ dàng. Mấy tháng trước chính Mười Hấu đã trao cho cô Huôi bầu rượu để làm cho ông Chúa Hòn mất trí, tại căn chòi ở Lung Tràm.
Không chút do dự, Mười Hấu ra đón đường:
– Thưa ông Bá! Ông thắng trận, may quá.
Bá Vạn tin vào Mười Hấu:
– Nhờ trời vậy thôi.
– Nhà cửa của tôi ở núi Mo So ra sao?
– Cháy hết. Còn mấy cây cột và một miếng vách tường.
– Nhờ ông mà tôi còn được thể diện với dân chúng. Hôm nay tôi mời ông qua, ăn cơm uống rượu cho vui.
Trong lúc Bá Vạn do dự, ông Mười Hấu giới thiệu:
– Con gái tôi lo cơm nước. Nó nhắc ông hoài…
Hình ảnh duyên dáng cô Ngó hiện ra. Từ lâu, Bá Vạn chưa gần gũi với cô. So với bà chánh thất, cô còn trẻ hơn nhiều. Nhứt định là sau bữa ăn, Bá Vạn được dịp nói chuyện riêng với cô …
Bao nhiêu mệt nhọc đều tiêu tan khi Bá Vạn bắt đầu ngồi lên bộ ván cẩm lai. Mười Hấu nhớ đến gói thuốc độc đã từng có công hiệu ở Lung Tràm. Nhưng nếu bỏ thuốc độc vô rượu thì quá sớm. Cô Ngó đang ngồi trong phòng, gói thuốc để trong ngăn tủ. Cô sẽ phản đối việc làm ác độc ấy. Bá Vạn mà chết tại nhà này thì cô Huôi nổi giận ngay…
Bá Vạn nâng chén rượu, khen ngợi:
– Rượu ngon quá. Mời cô Ngó ra đây uống với tôi một chén.
Cô Ngó được dịp tốt để ra chào hỏi:
– Thưa ông! Lâu quá không gặp ông. Tôi thì hỏi thăm ông, ông chẳng bao giờ thăm tôi.
Bá Vạn biết rằng cô Ngó hờn ghen nên an ủi ngay:
– Tôi nghĩ đến cô nhưng tôi muốn tránh tai tiếng. Vả lại, tôi không rảnh rang. Nào là nhà cửa tài sản bị tịch thâu, nào là đánh Nam dẹp Bắc.
Cô Ngó đáp:
– Dường như ông thích nghỉ ngơi ở núi Đất! Bà chánh thất còn tu hành ở đó không?
Đôi mắt Bá Vạn liếc quanh, ngại ngùng vô cùng. Ông không muốn cãi vã những chuyện riêng tư trước mặt Mười Hấu. Mười Hấu lanh trí, nói ngay:
– Để tôi đi kiếm thêm vài con mực hoặc tôm khô.
Khi Mười Hấu vừa khuất nhà sau, cô Ngó lên giọng:
– Ba tôi vắng mặt rồi đó. Ông cứ trả lời đừng giấu diếm.
– Tôi …đi gặp ông đạo Đất để xem quẻ. Cô biết, tôi tin ổng, trước khi làm bất cứ chuyện gì.
– Bọn hộ vệ nói rõ rồi. Ông đừng chối. Ông ghé nhà ai?
Bá Vạn đáp:
– Thì ghé nhà bà chánh thất để thăm viếng. Bà đang tu…
– Tôi không tin. Ăn cơm rồi, ông đi đâu? Nơi ông ở laị một ngày một buổi…
Đột nhiên, cô Ngó nghe tiếng rít ken két phía trong buồng. Cô hỏi:
– Cái gì vậy?
Mười Hấu lính quính. Ông ta đang kéo cái ngăn tủ để lấy gói thuốc độc:
– Có gì đâu! Tao kềm cái …hũ rượu!
Cô Ngó cằn nhằn:
– Rượu gì trong đó. Rượu thuốc trên nóc tủ. Để con đem ra cho ba. Phải bắc ghế lên cao.
Cô Ngó vào buồng, trong lúc Mười Hấu đang đẩy nhẹ cái ngăn tủ. Cô chụp tay cha:
– Ba! Làm gì vậy?
Mười Hấu khoát tay. Cô Ngó đã hiểu. Nếu nói lớn tiếng hoặc cãi vã phản đối thì còn gì tình cha con. Nếu hiểu được ác ý đó, chưa ắt Bá Vạn còn mến thương cô như trước.
Đời cô gặp cảnh không may là ông Chúa Hòn chết sớm, người duy nhứt mà cô có thể gần gũi là Bá Vạn. Hoàn cảnh không cho phép cô đi tìm hạnh phúc với người khác, vì dư luận bên ngoài.
Ngỡ rằng cô Ngó chịu nhượng bộ, ông Mười Hấu rút nhanh gói thuốc độc. Nhưng cô cúi mặt, cắn vào tay cha. Ông Mười Hấu bèn bỏ gói thuốc vào hộc tủ như trước rồi trở ra với gương mặt tươi tỉnh:
– Uống rượu như vầy, kém vui.
Bá Vạn hỏi:
– Phải có ông tôi mới uống nhiều được! Ông làm gì mà cô Ngó phản đối?
– Có gì đâu! Tôi muốn đem ra một hũ rượu lớn. Nhưng con gái tôi ngăn cản, sợ rằng ông uống nhiều, say sưa. Muốn uống nhiều thì phải ăn cơm no dằn bụng. Con gái tôi xuống bếp thúc hối bọn nữ tỳ nấu cơm. Ông ở đây cho vui. Tôi qua nhà thằng cháu, kiếm vài miếng khô cá biển.
Nói xong, Mười Hấu đi xăm xăm qua nhà cậu Cẩu. Nhà đã khép cửa, ông cứ vô. Trong phòng, tiếng đờn tranh vang lên, từng âm thanh lảnh lót. Thấy ông ngoại của ông Chúa con nên bọn hộ vệ cứ chắp tay chào, không dám kiểm soát hành động của Mười Hấu.
Ông ta đến cái án thư, kiếm miếng giấy. Chưa hết, ông dòm dáo dác trong cái hộp nhỏ tìm chút ít son tàu. Ông cạo lớp mực khô dày trên cái nghiên bằng đá.
Dụng ý của ông là tìm một thứ bột đỏ để đánh tráo cô Ngó. Ông gói mớ son và mực ấy vào miếng giấy bản, bỏ vào túi.
Vừa sửa soạn bước ra, ông nghe cậu Cẩu quát mắng:
– Cô nầy tệ quá!
Xí Vĩnh trả lời:
– Xin cậu dạy em…
– Cô đẹp thiệt, nhưng ở gần cô, tôi không gặp chuyện gì may mắn hết! Nguời Lang Sa ở gần đây, tại sao tôi chưa đánh họ được? Xứ nầy là xứ của tôi mà! Tại sao thằng Tư Thiện bảo rằng chợ Hòn Chông không sung túc bằng chợ Sàigòn? Chắc là tụi Lang Sa …có nhiều vợ. Ừ! Con người có nhiều vợ, nhiều tì thiếp mới được. Ở mãi với một cô thì dễ u mê!
Mười Hấu nghe Xí Vĩnh trả lời:
– Thưa cậu, em đâu dám cản ngăn.
Cậu Cẩu đáp:
– Tao mời ông ngoại qua để hỏi việc nầy. Hộ vệ đâu?
Lập tức Mười Hấu lên tiếng:
– Ông đây! Cháu mời qua làm gì?
Cánh cửa hé mở. Xí Vĩnh cúi đầu chào ông Mười Hấu. Vì muốn nói chuyện riêng, cậu ra lịnh:
– Xí Vĩnh lo nấu nước cho ta tắm. Mấy ngày rày, sao ta bực bội quá.
Ông Mười Hấu ngồi xuống:
– Cháu mệt thì uống thuốc, sâm nhung thiếu gì?
Cậu Cẩu ngồi dậy, nắm tay Mười Hấu:
– Ông ngoại à! Mấy đêm rày cháu nằm chiêm bao thấy chuyện lạ quá. Đây là lần thứ chín, thứ mười rồi. Ba con hiện về đeo tòn ten trên nóc nhà, thòng đầu xuống, ổng le cái lưỡi dài thòng rồi hăm doạ:”Mầy chết! Mầy chết!”.
Mười Hấu gật đầu:
– Chắc là cháu mệt mỏi nên nằm chiêm bao. Từ rày về sau, ban đêm nhớ ngủ sớm…
– Nhưng mà ngủ không được. Hễ nằm gần con Xí Vĩnh thì ngủ không được! Không thay đổi thì tôi chết.
– Nói bậy đi!
– Nhưng ông ngoại phải dạy cháu điều gì? Bây giờ, sao mà nhiều bữa, gặp bất cứ ai cháu cũng thương. Nhưng mà nhiều bữa khác cháu muốn giết tất cả đàn bà con gái. Cháu là ông vua con. Cháu cưới năm mười con vợ…
Mười Hấu suy nghĩ thầm: “Xí Vĩnh là người của A Chúa và Bá Vạn. Nếu Xí Vĩnh cứ ở bên cạnh cậu Cẩu thì có ngày xảy ra chuyện lớn, trở tay không kịp”. Theo sự nhận xét của ông ta thì cuộc khởi loạn vừa rồi ở núi Mo So là cuộc dàn cảnh của Bá Vạn để trả thù cậu Cẩu. Bá Vạn sẽ tiếp tục trả thù, để chiếm đoạt tất cả quyền hạn, ngày nào mà ông ta còn sống.
– Nên tuyển chọn vài đứa tì thiếp. Ban đêm, nên ngủ một mình.
– Ông ngoại nói nghe được!
Mười Hấu hơi bực dọc vì lời khen vô lễ của đứa cháu ngoại. Nhớ đến Bá Vạn, ông Mười vội đứng dậy:
– Ông đi về. Cháu cứ ngủ cho khoẻ.
– Mấy thằng Lang Sa làm cháu phiền quá. Tại sao tụi nó giỏi hơn cháu…
Mười Hấu đi nhanh về nhà, thấy Bá Vạn nằm trên bộ ván gõ. Cô Ngó sai bọn tớ gái dọn cơm ra. Thừa lúc vắng bóng người, Mười Hấu vào phòng cô Ngó mở hộc tủ, lấy gói thuốc độc ra, đem cái gói có son và mực Tàu thay thế vào.
Bá Vạn chợt mở mắt:
– Ông Mười về đó hả? Nãy giờ tôi ngủ…
Mười Hấu nói:
– Ăn cơm chớ. Ông Bá rửa mặt cho tỉnh táo. Ngó đâu! Con đem rượu ra, ông Bá đòi uống rượu đó!
Phản ứng đầu tiên của cô Ngó là vào phòng, mở cái hộc tủ. Nhìn thoáng qua, cô tin rằng gói thuốc độc vẫn còn nằm ngay chỗ cũ.
Ngoài nầy, Mười Hấu sung sướng vô cùng:
– Ông Bá uống rượu!
Bá Vạn hơi nghi vì từ nãy giờ, Mười Hấu chỉ nói rượu. Nhưng Mười Hấu nhủ thầm:
– Mình ngu dại gì bỏ thuốc vào nước trà đậm. Uống rượu quá say, Bá Vạn không đủ tỉnh táo để phân biệt mùi vị nữa.
Bởi vậy Mười Hấu rót rượu ra chén, uống trước một hơi:
– Ngon quá. Bây giờ, mạnh ai nấy rót.
Bữa cơm kéo dài, Bá Vạn vui sướng vì cô Ngó ngồi bên cạnh, thúc hối bọn tớ gái đem thêm thức ăn. Để cho Bá Vạn khỏi nghi ngờ, ông Mười Hấu cứ đi tới đi lui, rót rượu thật nhiều, uống một cách tự nhiên.
Khi bữa cơm gần tàn, Mười Hấu nghĩ ra một thủ đoạn tinh vi:
– Từ lâu, tôi nghe danh ông đạo Đất. Phải chi ông đưa tôi tới đó, xem một quẻ.
Bá Vạn vẫn còn luyến tiếc, muốn được ở gần cô Ngó. Thỉnh thoảng, ông ở lại đây một đêm, thì chắc rằng không ai nghi ngờ gì cả:
– Ông đạo là người có tài. Nhưng bây giờ đi rồi trở về, e không kịp. Núi Đất là nơi sầm uất, có thể thằng Thừa tới khuấy rối. Chẳng lẽ ta đi xem quẻ mà đem theo quá nhiều quân hộ vệ. Cậu Cẩu sẽ than phiền.
Mười Hấu bèn bịa chuyện:
– Đêm rồi, tôi nằm chiêm bao thấy điềm kỳ lạ. Tôi bị rượt. Khi tôi vấp té thì phía sau lưng người rượt tôi lại biến mất. Nếu sợ nguy hiểm thì ta đi ngay, trời chạng vạng tối ta về, đừng ngủ tại đó. Hoặc là…
Bá Vạn hỏi:
– Ông Mười tính sao? Miễn là thuận lợi cho ông thôi. Hôm rày tôi hơi mệt, muốn tìm nơi nghỉ ngơi.
Mười Hấu hiểu ngầm rằng câu nói đó nhắm vào cô Ngó. Cô Ngó cúi mặt nói khéo:
– Vậy thì ông Bá cứ đi cho ba tôi vui.
Mười Hấu muốn thi hành thủ đoạn thật gấp. Ông sẽ bỏ thuốc độc vào rượu để Bá Vạn uống rồi chết trên đường đi núi Đất.
Trong khi đó, cậu Cẩu giết Xí Vĩnh.
Hai người nầy mà chết thì địa vị cô Huôi sẽ lung lay. Gia đình Mười Hấu nắm trọn quyền hạn những ngày sắp tới. Bá Vạn còn sống thì nhất định còn nhiều chuyện thay đổi đột ngột, vì ông ta làm quản gia quá nhiều năm, mua chuộc được bọn tay em và những người lớn tuổi trong vùng.
Mười Hấu nói:
– Theo ý tôi thì mình không nên quá rình rang. Hai bạn già xuống xuồng, đây qua có nước xuôi, chuyến về nếu cần thì mình kiếm vài đứa tiếp sức chèo chống. Đêm mười bốn có trăng, uống rượu vui biết chừng nào.
Cô Ngó nói thêm:
– Ông Bá Vạn cứ đi rồi khuya nay về.
Mười Hấu đến cái tủ ở góc nhà, tìm mấy bầu rượu ngon. Vì ao ước được gần gũi Bá Vạn, cô Ngó đến gần nói khẽ:
– Đêm nay tôi chờ ông. Nhớ về cho sớm và làm thế nào cho ba tôi uống rượu say. Nếu ông ở lân la tại nhà nầy, thiên hạ bàn tán bất lợi…Đi vắng mặt một buổi rồi trở về, êm ấm và kín đáo hơn.
Bá Vạn mừng thầm, nói nhanh:
– Đời tôi lúc nầy không màng công danh gì cả.
Mười Hấu mang bốn bầu rượu Ngũ gia bì. Việc đầu tiên mà ông ta làm để tránh mọi sự nghi ngờ là trao rượu cho Bá Vạn:
– Ông cầm lấy. Tôi xuống bếp kiếm vài con khô mực.
Hai người ngồi xuống chiếc xuồng nhỏ. Mười Hấu cầm dầm bơi sau lái, cố ý nói to cho hộ vệ đừng bàn tán, đòi đi theo:
– Đây là bơi xuồng trên rạch để uống rượu. Tụi bây theo làm gì? Khuya nay, tao về còn một tiệc khác để khao thưởng tụi bây.
Ra khỏi vùng đồi núi Hòn Chông, Bá Vạn hơi mệt mỏi vì nắng quá gắt. Thấy bóng hai cây me trước mặt, ông ta ngỏ ý:
– Mình ghé lại, uống thử một bầu cho mát.




Đăng nhập để trả lời
0
-16-

Sau khi ra lịnh cho bọn tì gái dọn dẹp chén bát, cô Ngó vào phòng, cười tủm tỉm một mình. Cô muốn chải tóc rửa mặt, nhưng thấy trời còn sớm. Lâu rồi cô không được hưởng lạc thú yêu đương. Thuở ấy, ông Chúa Hòn chỉ gần gũi cô được mấy tháng rồi từ đó, ông cứ ôm lấy cô Huôi. Mười bảy năm rồi, đâu phải là khoảng thời gian ngắn!
Cô lấy cái thau bằng đồng, đổ nước vào để soi mặt. Dường như trán cô hơi nhăn. Nhưng cô tự an ủi:
– So với mình thì Bá Vạn lớn tuổi hơn nhiều. Bây giờ mình rửa mặt, chải tóc thì hơi sớm. Nên làm công chuyện khác, cần thiết hơn.
Hồi lúc mới về hầu hạ ông Chúa Hòn, cô được thưởng một gói trầm hương. Ông Chúa căn dặn cô nên đốt trầm, xông vào quần áo. Quả thật mùi trầm hương đầy quyến rũ.
Tiếc thay cô chỉ xông áo có ba bốn lần. Khi thằng Cẩu chào đời, cô bị xem như lỗi thời, ông Chúa cứ gần gũi cô Huôi vì cô là thần hộ mạng, đóa hoa còn tươi.
Cô đến gần tủ kéo mạnh cái hộc để tìm gói trầm hương. Trầm hương được chẻ ra từng que nhỏ cho dễ đốt, gói ấy khá to.
Đột nhiên, cô Ngó trố mắt. Cái gói thuốc độc dường như bị đổi chỗ. Hồi sáng, cô bắt gặp lúc cha cô toan lấy nó ra, để đầu độc Bá Vạn. Cô chụp gói giấy. Đúng là loại giấy bản còn mới trắng tinh. Mở gói ra, cô đưa lên mũi hửi.
Loại thuốc độc mà ông Chúa uống lúc đi săn heo rừng ở Lung Tràm có mùi thơm nồng, màu đỏ bầm. Nhờ vậy mà khi pha vào rượu, nạn nhân không bao giờ nghi ngờ, tưởng là rượu ngâm thuốc bổ. Mớ bụi đỏ đen trong gói giấy nầy còn quá tươi.
Cô đưa lên mũi, hửi nhẹ.
Không một mùi gì bốc lên cả!
Như vậy có nghĩa là cha cô đã đánh tráo, mang theo thuốc độc để giết Bá Vạn.
Nghi ngờ gì nữa! Cha cô bơi xuồng, không cần bọn hộ vệ, ra đi lúc trời còn nắng. Nếu Bá Vạn chết vì thuốc độc thì cô chịu trách nhiệm một phần lớn. Lúc nãy cô đã xúi giục Bá Vạn nên đi để trở về lúc nửa đêm. Ông chết vì quá yêu cô.
Nhưng nếu Bá Vạn không chết, tình thế càng rắc rối hơn. Ông tố giác với cô Huôi. Chừng ấy, những người cầm đầu ở Hòn Chông sẽ giết hại nhau, chia ra ba phe.
Lập tức, cô xuống xuồng gọi tên hộ vệ:
– Đưa tôi qua Hòn Đất!
Tên hộ vệ ngơ ngác hỏi:
– Thưa cô, đi ghe có mui, mát mẻ hơn.
Cô Ngó quát to:
– Đi xuồng lẹ hơn. Mấy chú cãi lời tôi sao chớ? Tôi có chuyện riêng…
Chiếc xuồng lướt nhanh. Lần đầu tiên bọn hộ vệ không hiểu tại sao ông Mười Hấu, Bá Vạn và cô Ngó lại trở về với nếp sống của dân nghèo, không có “tiền hô hậu ủng” như mọi khi. Dường như cô Ngó quá xúc động bối rối. Chiếc xuồng lủi vô bờ, cô vội cho mũi xuồng trở ra.
Bọn hộ vệ nói với theo:
– Cô để chúng tôi…
Cô Ngó không thèm trả lời.
Mặt trời xuống dần. Muỗi bay vo ve từ đám lau sậy bên bờ. Dân chúng cứ nhìn nhau mà chỉ chỏ bàn tán. Mặc kệ! Cô bơi mạnh không dám ngừng tay. Trời sắp tối. Cô hối tiếc vô cùng vì đã tính toán vụng về. Bá Vạn và ông Mười Hấu bơi xuồng đi trước, cả hai cầm dầm, xuồng của họ đi nhanh gấp đôi.
Cô đuổi theo quá chậm trễ, chắc giờ này ông Mười là cha cô đã đến Hòn Đất rồi, và Bá Vạn chỉ còn là cái xác không hồn.
Cô mừng thầm vì đã đến Doi Lửa, cách Hòn Đất không xa cho lắm. Gọi là Doi Lửa vì nơi đây khúc sông chảy quanh co. Nghe đâu, mấy trăm năm về trước, để đề phòng bọn cướp biển, quân sĩ đã bố trí nơi đây một chòi canh. Hễ thấy thuyền bè lạ vào bãi thì họ đốt lửa làm ám hiệu.
Cô Ngó gặp một chiếc ghe chở củi đi ngược chiều, nên vội hỏi:
– Thấy ai ở phía trước không?
Người trên ghe không nhận ra cô, nên trả lời vu vơ:
– Thiếu gì ghe xuồng…
Cô hỏi kỹ:
– Có chiếc xuồng hai người bơi…
Người trên ghe trả lời:
– Dường như có …ông Bá Vạn say rượu. Chẳng lẽ ông Bá lại ngồi trên xuồng?
Cô Ngó càng sợ sệt, hỏi thêm:
– Ông Bá ở đâu? Gần hay xa?
Người nọ đáp:
– Khó nói lắm. Dường như chiếc xuồng đậu gần đây. Cô là ai? Nếu tôi không lầm thì… Đời là vậy. Chắc là ông Bá Vạn buồn rầu, sau khi bị cách chức.
Cô Ngó không muốn phí thì giờ nên bơi nhanh hơn. Bên trái, sát đám cây, cô nhận ra chiếc xuồng không người. Mặt trời khuất hẳn. Cô chú ý một điều là chim cò bay bổng lên, đảo vòng quanh.
Tại sao có hiện tượng lạ? Chiều thì chim cò đáp xuống, để ngủ. Nhứt định là trong đám lau sậy có người nào đang làm náo động.
Phải chăng cha cô và Bá Vạn đang đánh đấm nhau? Bá Vạn chết rồi, cha cô đang đào huyệt để dấu xác?
Quá nóng nảy, cô la lớn:
– Ai đó? Ai làm gì trong đám sậy?
Đám sậy lại khua động xào xạc mặc dầu trời không nổi gió. Lập tức, cô cho xuồng lui vô bờ rồi chạy ngay vào đám sậy:
– Ai đó?
Cô la hoảng.
Từ trong đám sậy, một bóng người nhô ra:
– Ai?
Nhận ra ông Mười Hấu, cô Ngó kêu lên:
– Trời ơi! Cha giết ông Bá Vạn !
Mười Hấu hốt hoảng, nói khẽ:
– Con đừng nói lớn tiếng, gần đây có nhà cửa, thiên hạ nghe được thì sao?
Cô Ngó dậm chân.
– Trời ơi! Ổng ở đâu?
– Bá Vạn là cái gì mà con mến tiếc? À! Cha biết rồi. Bá Vạn tuổi tác đã cao, còn lớn hơn tuổi của cha.
Dụng ý của Mười Hấu tranh thủ thời giờ. Bá Vạn say mèm và bắt đầu mửa ra máu thì thuốc độc bắt đầu công phạt.
Lúc ngồi xuống xuồng, Bá Vạn kêu rú như con chó điên rồi đưa tay vào miệng mà móc tận cổ họng. Mười Hấu thấy có vài người bơi xuồng đến gần nên cương quyết cầm cây dầm, đập vào đầu Bá Vạn. Bá Vạn té xuống rạch. Mười Hấu vất vả lắm mới kéo Bá Vạn lên tận đám sậy này.
Giờ đây Bá Vạn đang hấp hối. Mười Hấu nói qua vấn đề khác:
– Con đi thình lình như vầy nguy hiểm lắm. Con có cho thằng Cẩu biết không?
Cô Ngó hỏi:
– Sao ba hỏi quẩn quanh vậy? Ông Bá Vạn đâu? Chôn tại đâu? Nhờ ổng nên ba với con được lên địa vị cao sang. Sao ba không nói?
Mười Hấu nói:
– Bá Vạn chết rồi! Cha mướn người quăng xác ông ta ngoài biển.
Đột nhiên, trong đám sậy có tiếng ụa mửa, tiếng rú vang ra. Vài cây sậy nằm xuống, gãy rôm rốp. Và bầy chim cò cứ bay lượn, kêu oang oác.
Cô đã biết sự thật, cắm đầu chạy vào giữa đám sậy. Biết chuyện đã vỡ lở, ông Mười Hấu chửi đổng:
– Con gái bất hiếu! Tao giết nó chỉ vì nó muốn giết tao. Tao về. Mầy ở lại rồi chết theo thằng già đó cho trọn đạo. Mất nết!
Nhưng cô Ngó không còn nghe thấy gì nữa hết. Bá Vạn nằm úp mặt trên mấy cây sậy bị dẫm nát, tóc rối nùi che khuất mặt mày. Ông đập chân thở hồng hộc như con trâu bị chọc tiết.
Quỳ bên cạnh, cô Ngó hỏi:
– Ông! Có sao không? Em đây..
Bá Vạn không trả lời. Cô Ngó sờ vào ngực ông ta, thấy còn nóng. Lập tức cô đỡ cho ông đứng dậy, nhưng ông không đi được bước nào cả. Cô đành kéo lết ông ra khỏi đám sậy, đưa xuống xuồng.
Giọng Mười Hấu quát to từ xa:
– Đưa nó về phía Hòn Đất. Hễ mầy đưa nó về Hòn Chông thì tao giết mầy. Nghe chưa Ngó?
Cô Ngó không trả lời, cố ý bơi để tìm xóm nhà đốt lửa lên hơ cho Bá Vạn, hoặc là kêu cứu với mấy ông thầy thuốc.
Tiếng chuông vang lên, ngân nga rồi dứt hẳn. Tiếng mõ tụng kinh dường như phảng phất trong sương đêm. Cô Ngó nhận ra dãy nhà trước mặt.
Cô kêu lên:
– Bà con ơi! Cứu người chết!
Dường như có người chạy lao xao trên bờ sông. Cô Ngó bơi nhanh hơn, kêu từng chập:
– Họ giết người ! Ai biết thuốc thang thì cứu giùm…
Trên bờ, một bó đuốc chiếu sáng, nhờ vậy cô Ngó nhận ra bóng dáng hai, ba vị sư nữ. Và cô trố mắt, kêu rú:
– Bà.. ở đây! Ông Bá Vạn chết kìa!
Bà chánh thất nhận ra:
– Cô Ngó sao lạc tới đây? Ông Bá đâu?
Cô Ngó chỉ nhắm vào việc cần kíp là cứu Bá Vạn. Giữa cô và bà chánh thất, tuy tình cảm không được êm đẹp nhưng chưa xảy ra gây gổ hoặc hiềm khích sâu sắc. Cô nói:
– Bá Vạn bị …bọn hộ vệ đầu độc, mình còn nóng, có thể cứu được.
Bà chánh thất hốt hoảng:
– Am này là nơi thờ phượng. Vậy cô với tôi đưa ông Bá Vạn qua nhà riêng của tôi, bên nầy.
Bá Vạn vẫn nhắm mắt. Người hàng xóm hiểu rằng đây là cuộc tranh giành quyền hạn từ khi ông Chúa Hòn mất. Họ không thắc mắc cho lắm khi thấy hai người vợ của ông Chúa đang khiêng Bá Vạn.
Đèn đốt thêm ngọn, chiếu sáng.
Bá Vạn nghiêng mình qua một bên, nằm xuôi trên bộ ván. Bà chánh thất hồ nghi rằng đây là âm mưu của cậu Cẩu. Hỏi cô Ngó thì khó tìm ra sự thật. Phải cứu Bá Vạn!
Bà nói:
– Bây giờ chỉ còn ông đạo Đất là biết thuốc men điều trị, nhưng ở quá xa…
Cô Ngó cứ bóp chân Bá Vạn:
– Thưa…hay là bà đốt lửa. Xin bà thương xót giùm tôi…
Bà chánh thất sực nhớ đến phương pháp cổ truyền để cứu bệnh nhân là nấu nước nóng, cho uống vài lát gừng sống:
– Uống rượu có thuốc độc, phải không? Nấu nước thêm ở dưới bếp. Chụm thêm bếp lửa, để dưới bộ ván…
Bá Vạn bỗng nhiên mở mắt. Cô Ngó mừng quýnh:
– Ông…
Nhưng Bá Vạn bị nấc lên, máu trào ra từ khoé miệng, đôi mắt lại nhắm, hai chân co lên. Bà chánh thất hỏi:
– Nhờ hơi nóng ở dưới bộ ván xông lên đó.
Cô Ngó đến cái tủ, kiếm gừng sống trong cái thố nhỏ.
Chén nước gừng bốc hơi nồng ấm khiến Bá Vạn đổ mồ hôi. Khi mở mắt ra, ông không cản ngăn được hai hàng nước mắt. Không cảm động sao được!
Bá Vạn sống đến tuổi già không lấy vợ, không có con, lúc nguy nan hấp hối, ông được diễm phúc là được nằm giữa hai bà goá phụ của ông Chúa Hòn, cả hai đều là người yêu.
Nhưng ông khóc, có lẽ vì chua xót, cô độc và hối hận. Ông cất tiếng:
– Hai cô đừng buồn.
Bà chánh thất nắm tay ông, van nài:
– Ai đã giết ông? Tôi hứa trả thù.
Bá Vạn day qua cô Ngó. Cô Ngó để rơi hai hàng nước mắt gần như xin lỗi, nhờ ông khoan hồng đừng nói ra danh tánh ông Mười Hấu.
Bá Vạn nói phều phào:
– Thù thì phải trả. Nhưng ta lớn tuổi rồi. Trả mà làm gì? Nói ra vô ích. Ta …tha thứ cho người đã hại ta.
Rồi ông khóc rống lên:
– Ta đã tham lam. Sống thêm vài năm nữa chẳng ích lợi gì. Những người tham lam giết ta để sống…chưa ắt họ sung sướng. Ngoài biển, mấy con cá kình nổi lên, có lá cờ tam sắc. Ông đạo Đất nói đúng.
Rồi Bá Vạn ho lên, mồ hôi tươm ra ướt trán, máu thắm đỏ môi.
Bà chánh thất nói:
– Để tôi đưa ông gặp ông đạo Đất. Đường không xa lắm đâu.
Bá Vạn trợn mắt rồi cau mày lại:
– Chết…Thế nào tôi cũng chết. Ông đạo Đất đoán rằng trước khi chết, tôi qua một giai đoạn sáng sủa. Đó là…tôi dẹp loạn ở núi Mo So. Đó là…hôm nay. Cám ơn hai cô.
Bà chánh thất đoán chừng căn bịnh không quá nguy ngập nên muốn có thái độ cứng rắn:
– Ai giết ông? Tôi chở ông về Hòn Chông cho dân chúng hay rằng ông bị kẻ hèn hạ giết hại.
– Thôi…
Rồi Bá Vạn nằm im, nhắm mắt. Ông trở nên tỉnh táo lạ thường. Dạo trước, ông Chúa Hòn đã chết vì loại rượu thuốc nầy, do ông sắp đặt kế hoạch đầu độc và ám sát. Hôm đó, ông không có mặt ở Lung Tràm nhưng chắc chắn là ông Chúa Hòn đã nhào lăn, hộc máu từng chập như ông.
Mắt ông như tối lại.
Kìa! Một người ngoài cửa bước vô. Đúng là ông Chúa Hòn. Cậu Hai Điền theo sau. Hai người nầy bước chập chờn, chân không dính đất.
Họ mặc quần áo tang, thân hình gầy guộc. Họ cười không ra tiếng. Gió nổi lên ào ào. Bỗng nhiên, ông Chúa Hòn rút ngọn đoản đao, chạy tới. Bá Vạn đưa tay đỡ, té xuống.
Ông ta kêu lên:
– Nó giết tôi!
Bà chánh thất hỏi:
– Nó là ai?
Bá Vạn phều phào:
– Là…cuộc đời tội lỗi của tôi. Thôi, ông đạo Đất nói đúng. Mọi người đều trở về Đất…




Đăng nhập để trả lời
0
 
-17-

Cô Huôi ngồi trầm ngâm khi hay tin Bá Vạn chết. Mười Hấu cho rằng ông Bá chết vì bệnh cảm mạo, nhưng cô Huôi không tin.
Cô khéo che giấu sự lo âu, ra lịnh cho Mười Hấu:
– Nhớ chôn cất kỹ lưỡng, dựng mộ bia, làm tuần bảy ngày, mười bốn ngày. Dầu sao đi nữa, Bá Vạn cũng là người có công trong gia đình.
Mười Hấu hỏi thêm:
– Cô là người lớn nhứt. Vậy đem ai thay thế Bá Vạn?
Cô Huôi nói chậm rãi:
– Chẳng ai thay thế được cả. Bây giờ, ta chỉ cần một người ghi chép sổ sách. Bọn tá điền cứ vay nợ liên miên. Nợ cũ chưa dứt là vay thêm nợ mới. Tạm thời, nên cho Tư Thiện lãnh công việc ghi chép.
Mười Hấu hỏi khẽ:
– Người đó đáng tin không?
Cô Huôi muốn nâng đỡ Tư Thiện để có người sớm hôm đàm đạo:
– Đáng tin về việc ghi chép sổ sách, vậy thôi. Hay là ông nghi ngờ rằng Tư Thiện làm phản, đưa bọn Lang Sa tới đây? Ta kiểm soát việc làm của Tư Thiện mà. Anh ta đâu có làm dọ thám mà sợ! Bọn Lang Sa đến đây làm gì? Ta trọng dụng Tư Thiện tức là người Lang Sa hài lòng rồi. Nay mai, nếu người Lang Sa muốn mua bán, ta sẵn sàng. Và ta nhờ Tư Thiện mua súng đạn.
Lý luận ấy khiến Mười Hấu khá an tâm. Ông ta chẳng đủ thông minh để nhìn xa. Điều cần thiết vẫn là để cho cậu Cẩu nắm trọn quyền hạn, để lần lần lấn hiếp cô Huôi. Hiện giờ, cô Huôi chưa có tội tình gì cả. Khi nhìn cô, Mười Hấu đâm ra kính nể và sợ sệt. Nếu không có cô, ắt giờ nầy cậu Cẩu chỉ là chàng trai cờ bạc ở núi Mo So, ông Mười chỉ là một nông dân dư ăn dư xài.
Hơn nữa chưa bao giờ cô Huôi tranh giành quyền hạn. Trong lúc tiếp xúc với Mười Hấu, cô tỏ ra khiêm tốn lạ thường.
Mười Hấu hỏi thêm:
– Theo ý cô thì cậu Cẩu phải làm gì?
Cô Huôi đáp:
– Cậu là…ông Chúa Hòn rồi, nắm trọn quyền trong tay, nên làm thế nào cho người chung quanh kính nể.
Khi Mười Hấu vừa bước ra, cô nói thêm:
– Tôi thì muốn đi tu, về nhà sống với cha mẹ, sáng thì trồng bông hoa, chiều thì ra ngoài ruộng, xem cảnh chim bay về núi. Nhớ nhà quá.
Mười Hấu lo sợ, day lại:
– Thưa cô! Cô nên ở lại. Cậu Cẩu còn nhỏ dại. Cô là người lớn hơn mẹ ruột nó.
Cô Huôi nói rõ từng tiếng:
– Đó là lời mời của ông. Ông nhớ giùm. Tôi đã chán tất cả…
– Cậu Cẩu là cháu ngoại tôi, tôi nói, nó tin lời.
Khi Mười Hấu vừa đi khuất, cô Huôi đứng dậy, đến trước sân, lòng mừng khấp khởi. Cô gọi tên hộ vệ:
– Mở cửa ngục ra cho Tư Thiện tới đây. Bảo rằng ngồi mà chờ ta.
Rồi cô căn dặn tên hộ vệ thứ nhì:
– Qua nhà cậu Ba, mời cậu đến. Không có thì gọi cô Xí Vĩnh.
Ngồi trên sạp, cô Huôi nghĩ đến kế hoạch sắp tới. Sau khi Bá Vạn chết, quả thật địa vị của cô hơi lung lay, tuy còn vững. Mười Hấu kính nể cô nhưng tình thế đã khác trước.
Nếu không biết lo xa, một ngày nào đó cậu Cẩu và Mười Hấu sẽ hại cô. Lại còn tai họa khác lớn hơn đang bao trùm vùng Hòn Chông. Cô tin rằng quân Lang Sa sẽ kéo đến sau khi rảnh tay ở các tỉnh lỵ Rạch Giá, Hà Tiên.
Tên hộ vệ đến gần, chắp tay thưa:
– Tư Thiện tới kìa! Thưa cô…
– Cho vô đây!
Vừa thấy mặt cô Huôi, Tư Thiện chắp tay xá, ngỏ lời cám ơn. Hỗm rày, vì kính nể Tư Thiện, cô Huôi đã khuyên bọn hộ vệ đối xử tử tế. Tư Thiện được ăn uống no đủ, quá ngon.
Anh ta cúi đầu:
– Xin cô giúp tôi…được sống thảnh thơi hơn, có công ăn việc làm. Tôi là người ham thích mua bán.
– Ngồi đó!
Cô Huôi chỉ cái ghế vuông, cẩn đá cẩm thạch. Tư Thiện mừng thầm nghĩ rằng đã gây được cảm tình với người đẹp.
Anh ta nói:
– Cám ơn cô! Đây là ơn huệ. Nếu không có cô thì hỗm rày chắc là tôi bị chết chém vì cậu Cẩu rồi.
– Đừng nói vậy! Cậu Cẩu là người ưa giận hờn. Cậu muốn xem tất cả mọi người như bọn tay sai trung thành. Muốn lãnh việc ghi chép sổ sách không?
– Dạ, còn gì may mắn hơn. Nhờ cô…
Cô Huôi nói:
– Gặp người hoạn nạn, tôi giúp đỡ. Từ lúc nầy, tôi gọi chú…bằng chú. Lát nữa, cậu Cẩu tới… Cậu ham vui, ưa biểu diễn oai quyền… Chú muốn được trọng dụng thì nên bày những trò chơi để cậu tiêu khiển.
Một tên hộ vệ bước vào:
– Thưa cô!…Xí Vĩnh tới.
Cô Huôi nhìn Tư Thiện với đôi mắt trìu mến:
– Chú là người thông minh. Tôi mong được gặp chú để nói thêm nhiều chuyện. Sống như tôi buồn lắm. Phải chi tôi được rảnh rang, đi đó đi đây như người khác! Tôi không được quyền tái giá, trong lúc nầy.
Tư Thiện sung sướng vô cùng, đứng dậy chắp tay xá. Cô Huôi nói với tên hộ vệ:
– Dẫn chú nầy qua gặp ông Mười, nói rằng nên để chú ở tại nhà Bá Vạn lúc trước. Bá Vạn chết, chú nầy tiếp tục ghi chép sổ sách.
Tư Thiện theo tên hộ vệ. Và khi Xí Vĩnh vào phòng, cô Huôi vội đóng cửa lại:
– Xí Vĩnh! Biết tôi không? Trước khi Bá Vạn căn dặn những gì? Bây giờ ông chết rồi…
Xí Vĩnh cau mày. Đã đến lúc nó nói tất cả sự thật:
– Thưa cô…Bá Vạn khuyên tôi nên trả thù ngay khi còn sống. Hai ngày rày, cậu Cẩu thay đổi tánh ý bất thường, đòi đánh tôi.
– Hồi nãy, cậu Cẩu thức hay ngủ?
Xí Vĩnh đáp:
– Cậu nằm lim dim rồi sai tôi tới gặp bà.
– Được lắm. Bây giờ, ta nói chuyện thật mau. Xí Vĩnh có hai chuyện làm. Một là đi xứ khác mà ở, hai là ở lại đây để làm chuyện nguy hiểm. Đi xứ khác thì dễ nhưng quá hèn nhát. Con người sớm muộn gì cũng chết. Xí Vĩnh biết tại sao Bá Vạn chết không?
– Thưa bà, theo chỗ con hiểu thì ông Bá Vạn quá hiền lành chậm chạp. Trước kia, ông Bá khuyên con nên kiên nhẫn chờ cơ hội trả thù, có bà giúp đỡ.
Cô Huôi thấy rằng Xí Vĩnh là đứa khôn ngoan và khá can đảm, giữ được lòng trung thành đối với chủ.
– Ta buồn vì không cứu được Bá Vạn. Nhưng ta còn đủ thời giờ để trả thù.
– Thưa bà, bằng cách nào?
– Chỉ có một cách là dùng thuốc độc bỏ vào rượu hoặc thức ăn. Nếu thất bại, Xí Vĩnh có thể chối cãi.
– Chừng nào ra tay, thưa bà? Con hơi lo sợ vì hỗm rày cậu Cẩu ngủ mơ, chửi mắng con thậm tệ, lắm khi lại đánh đập. Nếu ra tay chậm thì chắc là con bị bắt hoặc không còn được trọng dụng, làm sao còn hoàn cảnh thuận lợi ở gần cậu Cẩu.
Rồi nó nói khẽ:
– Thuốc độc ở đâu? Bà có sẵn trong nhà?
– Có chút ít nhưng chưa nên đem dùng. Khi nào cần, ta đưa cho. Nên chờ dịp nào đông người, bày yến tiệc linh đình. Chừng đó, chẳng ai biết thủ phạm. Thôi về đi. Cậu Cẩu hỏi thì bảo rằng ta muốn bày ra cuộc vui chơi để ăn mừng ngày cậu nắm trọn quyền hành, không còn bị Bá Vạn chia sớt quyền hạn như trước.
Ra khỏi sân nhà cô Huôi, Xí Vĩnh gặp ngay ông Mười Hấu. Nãy giờ, ông Mười theo dõi Xí Vĩnh nhưng ông ta không dám vào nhà để nghe lén…
Gặp ông Mười Hấu, Xí Vĩnh chắp tay chào, gương mặt kém bình tĩnh:
– Thưa ông!
Mười Hấu muốn chận đường để điều tra, hạch hỏi nhưng làm quá sớm thì khó nắm bằng cớ. Trong thâm tâm, Mười Hấu biết rằng cô Huôi không quí trọng cậu Cẩu. Bề ngoài, cô tỏ ra hiền lành nhưng biết đâu cô ôm ấp nhiều tham vọng. Tư Thiện là người bị cầm tù, ấy thế mà cô Huôi muốn ưu ái, cho ăn uống tử tế.
Mười Hấu suy luận:
– Cô Huôi và Tư Thiện sẽ liên kết nhau để tạo thế lực, chờ khi thuận tiện là ra tay giết cậu Cẩu. Cuộc gặp gỡ lúc nãy nhất định là có nhiều ý nghĩa, vì Xí Vĩnh là người thân cận của Bá Vạn. Lũ ca nhi sống bừa bãi, nay làm tình với chủ, mai làm tình với bọn tôi tớ.
Xí Vĩnh vào nhà, đến phòng cậu Cẩu là thấy tên hộ vệ đến.
Cậu Cẩu vẫn ngủ lim dim. Xí Vĩnh nói:
– Đưa phong thơ cho ta.
Tên hộ vệ đáp:
– Đây là của bà.
“Bà” tức là cô Huôi. Trong khi Xí Vĩnh còn do dự chưa biết có nên đánh thức cậu Cẩu hay không, thì cửa phòng lại mở. Mười Hấu bước vào:
– Cái gì vậy?
Cậu Cẩu giựt mình, nhìn Xí Vĩnh rồi nhìn ông Mười Hấu.
– Lạ quá, tôi nằm chiêm bao. Hửi mùi gì kỳ cục quá. Cho tôi uống rượu. Tay chân nó sưng vù lên…
– Cháu ơi! Có lá thơ..
Rồi ông tự ý khoát tay, đuổi Xí Vĩnh ra ngoài. Ông mừng thầm vì cậu Cẩu không có phản ứng gì cả.
– Ừ! Thơ của ai? Tôi biết chữ nghĩa gì đâu. Ông ngoại đọc giùm coi…Hôi thúi quá…
Rồi cậu nhăn mặt, nói tiếp:
– Tôi thấy Bá Vạn hiện về. Bá Vạn cầm cái chén liệng vô mặt tôi. Tôi chụp cái chén, liệng ngược lại trúng ngay đầu Bá Vạn. Ông ta xỉu, xương thịt rã tan, dưới đất chỉ còn một vũng nước tanh hôi.
Ông Mười Hấu giở lá thư ra xem. Đó là cô Huôi ngỏ ý với cậu Cẩu để cho Tư Thiện làm việc ghi chép sổ sách. Ngoài ra Tư Thiện không có quyền hạn gì cả. Nếu dư tiền Tư Thiện chỉ có thể mua bán với những nơi ở ngoài vùng Hòn Chông. Tư Thiện không được mua ruộng đất, nuôi nấng tá điền.
Ý kiến ấy được cậu Cẩu tán thành:
– Phải khác với Bá Vạn ! Xứ nầy tôi là ông vua nho nhỏ, đừng có thằng nào đòi án bóng tôi. Ông ngoại à! cô Huôi còn nhắn điều gì không?
– Còn nữa. Cô khuyên nên bày ra cuộc lễ để ăn mừng ngày Bá Vạn không còn quyền hạn.
Cậu Cẩu vỗ tay như đứa bé:
– Phải lắm. Như vậy là cô Huôi muốn giết Bá Vạn từ lâu. Nhưng ông ngoại à, tại sao Bá Vạn trúng gió chết? Tôi nằm chiêm bao, thấy Bá Vạn hiện về mấy lần rồi. Chắc là ổng chết oan. Ổng liệng cái chén, tôi chụp được!
Trả lời câu hỏi ấy là vấn đề quá tế nhị. Hôm kia ông Mười chỉ thuật lại sơ qua trường hợp của Bá Vạn, nói láo là bịnh cảm mạo. Bá Vạn hiện về trong giấc ngủ của cậu Cẩu, phải chăng Bá Vạn khá linh thiêng và cậu Cẩu có linh tính?
Phải chăng Bá Vạn đang tìm cách trả thù? Bá Vạn chết rồi, người trả thù chính là Xí Vĩnh và cô Huôi, chớ còn ai xa lạ.
Xí Vĩnh đã từng hầu hạ Bá Vạn. Cô Huôi thì muốn mượn tay Bá Vạn để lấn hiếp cậu Cẩu.
Ông Mười Hấu nói:
– Cháu à! Nên đề phòng …con Xí Vĩnh.
– Thì ông ngoại nói nhiều lần rồi. Cháu muốn giết nó nhưng gẫm lại thì tội nghiệp.
Mười Hấu cau mày. Cậu Cẩu là người thay đổi tính tình bất ngờ. Lúc cao hứng cậu sẽ…đứng về phe cô Huôi. Mười Hấu suy nghĩ về cái chén của Bá Vạn ném cậu Cẩu trong giấc chiêm bao.
Ông nhớ cái chén màu xanh nước biển mà người lão bộc cho rằng kỳ diệu, đề phòng được những vụ đầu độc. Hay là cô Huôi và Xí Vĩnh bày ra chuyện đầu độc để trả thù cho Bá Vạn? Làm cách nào cho cậu Cẩu đuổi Xí Vĩnh ra khỏi nhà thì ông Mười Hấu mới yên tâm. Tuy còn vương vấn nhưng cậu Cẩu không còn quí mến và si mê Xí Vĩnh như lúc trước.
Ông Mười Hấu nói:
– Cháu à! Con Xí Vĩnh mới gặp cô Huôi lúc cháu ngủ say. Nãy giờ nó có thuật lại cho cháu nghe điều gì không?
Cậu Cẩu day lại:
– Đâu có.
Mười Hấu bèn chọc tức đứa cháu ngoại:
– Như vậy là hỗn hào, dám qua mặt cháu! Xưa nay chẳng ai được quyền thay mặt ông vua để làm bất cứ chuyện gì. Huống hồ con Xí Vĩnh là đứa ca nhi. Nó làm lộng rồi đó. Ông lo quá. Từ khi Bá Vạn chết đến giờ, cô Huôi với con Xí Vĩnh cứ bàn chuyện riêng.
Cậu Cẩu nhăn mặt, rót nước trà uống rồi cằn nhằn.
– Khó dữ đa! Khó dữ đa!
Rồi cậu đổi giọng:
– Ông ngoại thấy cháu xứng đáng làm ông vua không?
Mười Hấu trả lời:
– Vua ở ngoài Huế. Cháu là ông Chúa, làm vua ngay vùng đất…không nhỏ.
– Vậy thì cháu phải giết con Xí Vĩnh. À! Cháu nhớ rồi…Từ khi nắm bao nhiêu quyền hạn trong tay, cháu chưa giết người nào …để lấy máu thị oai…
– Khó lắm, đừng làm cho cô Huôi nổi giận.
Nghe nói đến cô Huôi, cậu Cẩu cứ vò trán suy nghĩ. Thật ra, cậu kính nể cô. Chưa bao giờ cô rầy rà hoặc khuyên dạy cậu với lời lẽ gay gắt. Chưa bao giờ cô đòi hỏi tiền bạc. Nếu muốn gây gổ thì chưa có lý do.
Cậu Cẩu nói:
– Cháu chém đầu con Xí Vĩnh thì biết cô Huôi hiền hay dữ.
– Nhưng lấy bằng cớ gì để chém đầu nó? Muốn chém phải cho cô Huôi biết trước…Muốn làm gì, cháu nhớ cho ông biết trước.
Cậu Cẩu đáp:
– Ngày nay hoặc ngày mai là có chuyện lớn.
Khi ông Mười Hấu ra về, cậu Cẩu ra sân, nhìn kỹ từng tên hộ vệ. Xí Vĩnh ngồi trên cái đôn sành ở góc sân. Nó nhảy mũi, rồi ho lên một chuỗi dài. Cậu Cẩu thích chí, nhủ thầm:
– Mình có bằng cớ!
Cậu ra đến cổng. Bọn hộ vệ theo sau. Có đứa nói:
– Thưa cậu, cậu muốn đi đâu? Tụi tôi chèo ghe cho cậu, bất cứ lúc nào.
Gió thổi mát rượi, cậu Cẩu chợt nhìn về bên phải. Ngôi nhà dành cho cô Huôi hiện ra sừng sững. Dường như Tư Thiện ngồi trước mé sông để gảy đàn tranh. Tư Thiện và cô Huôi đều là người khôn ngoan đáng sợ. Cậu Cẩu nghĩ tới mình, tới mẹ và ông ngoại. Tất cả đều dốt nát, không biết chữ nghĩa tính toán.
Muốn sống thì nên triệt hạ đám người khôn ngoan ấy. Nên giết con Xí Vĩnh trước để hăm dọa cô Huôi và Tư Thiện, thử xem họ đề phòng cách nào?
Vào sân cậu truyền lịnh:
– Xí Vĩnh ! Đem cái ghế cho ta ngồi.
Xí Vĩnh lại nhảy mũi và ho. Cậu Cẩu day lại. Dạo nầy dường như Xí Vĩnh kém đẹp. Hốc hác quá chừng. Giết là phải. Xí Vĩnh đã bán rẻ trinh tiết cho Bá Vạn chăng?
Nghĩ tới đó, cậu Cẩu nói gắt:
– Đánh trống lên! Hộ vệ đâu?
Xí Vĩnh vào trong, đem cái ghế ra để bên cạnh cậu Cẩu. Lần nầy cậu giận xám mặt, dường như có thể Xí Vĩnh là cặn bã của Bá Vạn.
Cậu nói:
– Thằng nào mà đánh trống hoài vậy? Tao biểu đánh một hồi rồi dừng tay.
Tên hộ vệ chắp tay, cúi đầu:
– Thưa cậu, tôi chưa rành…
– Đánh trống để gom bọn hộ vệ lại đây cho ta dạy việc. Gom lại đủ chưa?
Tên hộ vệ đáp:
– Dạ, đủ rồi.
– Quỳ xuống! Đứa nào còn đứng đó? Tao chém bây giờ!
Bầu không khí trở nên khó thở. Chưa bao giờ cậu Cẩu ra lịnh đánh trống, hăm he chém giết như hôm nay. Phải chăng cậu nổi cơn điên. Ai nấy đều mong sự rắc rối nầy chỉ là tạm thời, vì hết cơn mưa thì trời lại nắng ráo.
– Đứa nào chưa quỳ? Thằng nào lại gần tao cho lịnh…
Đột nhiên, cậu Cẩu ưỡn ngực, đi tới đi lui.
– Ừ! Quỳ như vậy mới đúng phép tắc. Tao nói cho tụi bây biết: Hỗm ray, tao là người ham vui. Nhưng xung quanh đây, nhiều người phá tao. Thí dụ như ông Bá Vạn. Tao là người “chơn mạng đế vương”. Bởi vậy cho nên ông Bá Vạn chết…vì tay tao.
Xí Vĩnh giận sôi gan, vì chưa bao giờ cậu Cẩu hống hách đến mức ấy. Nó cúi mặt, đứng gần cái ghế.
Cậu Cẩu bèn chỉ vào mặt Xí Vĩnh:
– Sao chưa quỳ! Ai cho mày đứng?
Xí Vĩnh nén cơn giận, chờ dịp khác đến gặp cô Huôi để xin chút ít thuốc độc, đem về giết cậu Cẩu cho xong.
Xí Vĩnh quỳ chậm rãi rồi lấy tay che miệng mà ho rồi nhảy mũi.
Cậu Cẩu nói:
– Nín! Tao đang nói chuyện mà bày ra chuyện ho hen. Muốn kiêu ngạo tao sao chớ!
Xí Vĩnh chắp tay lại:
– Thưa Cậu, em lỡ dại.
– Mầy kêu tao bằng cái gì? Tao là ông. Nghe chưa?
Day qua bọn hộ vệ, cậu Cẩu nói:
– Tao là ông. Từ nầy về sau, đứa nào ho hen, nhảy mũi trong lúc tao nói chuyện thì tao chém đầu. Nghe cho rõ rồi đề phòng, kẻo chết oan như lão Bá Vạn.
Xí Vĩnh trợn mắt, từ trong lồng ngực dường như cơn ho sắp tuôn ra, cổ họng ngứa ngáy lạ thường. Làm sao ngăn cản trận ho nầy cho được?
Xí Vĩnh mím môi, đưa hai tay lên miệng. Nếu tiếng ho vang ra trong trường hợp nầy, ắt là cô mang tội phạm thượng, vì dường như cậu Cẩu bày ra luật lệ ấy để áp dụng riêng cho cô ta thôi.
Cậu Cẩu day lại khi nghe có tiếng gầm gừ phía sau.
Xí Vĩnh trợn mắt. Cơn ho muốn chui ra khỏi cổ họng, toàn thân cô run rẩy, mồ hôi tuôn ra trên trán. Đoán chừng khó đè nén được cô ta day mặt qua một bên, hy vọng rằng nếu ho ra tiếng phía sau cậu Cẩu thì tội vạ sẽ nhẹ hơn.
Vì nín ho nên cô nín thở. Cô cắm đầu, toan chạy trốn. Bên góc sân có cái lu nước. Cô đến đó, lấy một tay giở nắp lu ra.
 Nắp lu rơi bể trên nền gạch. Tiếp theo đó là một loạt tiếng ho.
Biết mình đã phạm tội nầy, Xí Vĩnh quỳ xuống nhắm mắt lại như ngất xỉu tại chỗ.
Bọn hộ vệ nhìn nhau. Gương mặt cậu Cẩu trở nên tái ngắt.
Trường hợp này quá tế nhị. Có thể là cậu Cẩu bỗng dưng cười dòn, ban lượng khoan hồng. Nhưng rất có thể là cậu ra lịnh xử tử Xí Vĩnh để thị oai.
Cậu bước tới quát to:
– Mày làm gì vậy?
Ông Mười Hấu đến kịp thời, nói nghiêm giọng:
– Nó ho lớn tiếng sau khi cháu ra lịnh nghiêm cấm. Như vậy còn gì là oai quyền.
Cậu Cẩu đến gần Xí Vĩnh:
– Con kia!
Vì quá sợ, Xí Vĩnh nín thinh. Cậu Cẩu day lại ông Mười Hấu :
– Làm sao?
Ông Mười Hấu không bỏ lỡ cơ hội để dò xét phản ứng của đối thủ lợi hại nhứt là cô Huôi :
– Nó không trả lời. Nó ho lớn tiếng. Nó làm ô uế cái lu nước. Như vậy là có tội.
Cậu Cẩu lại chống nạnh, nhìn bọn hộ vệ:
– Đem giam nó sau nhà cho tao. Ngày mai, tao giết nó. Giết nó tại sân này thêm ô uế. Phải đem xuống bếp.
Hai hộ vệ lại gần Xí Vĩnh, kéo lết cô ta đem ra phía sau nhà.
Khi cậu Cẩu vào trong thì bọn hộ vệ từ từ xuống bến, dụm ba mà bàn tán. Nhưng cậu Cẩu lại trở ra sân, cười dòn nghe ghê rợn:
– Bá Vạn giết cuộc đời con gái của Xí Vĩnh thì ta cũng không thua Bá Vạn. Tụi bây biết tại sao không?
Đôi mắt trợn trắng của cậu Cẩu khiến bọn hộ vệ hoảng sợ. Không khéo cậu sẽ ra lệnh xử tử thêm vài người nữa.
Thấy không ai trả lời, cậu đi thẳng xuống bến, nói vu vơ:
– Ủa! Tụi bây khi rẻ tao sao chớ? Tao không xứng đáng làm ông Chúa Hòn sao chớ? Hôm nay tao lên ngôi. Tao biết xung quanh đây có người coi tao như đứa con nít, thua tài thua trí Bá Vạn.
Rồi cậu nắm tay một đứa hộ vệ:
– Sao? Trả lời thử coi.
Đứa hộ vệ run rẩy:
– Dạ, cậu hỏi, con không nghe rõ…
– Ủa! Tao chém mầy bây giờ? Tao nói mà mầy không thèm nghe. Mầy có hai tội đáng chết. Một là kêu tao bằng “cậu”. Tao là “ông”. Nghe chưa? Còn tội thứ nhì là khinh thường lời nói của tao. Tao phạt sơ sơ cho mầy sợ. Ngày mai tao chém mầy. Trước khi chém, tao hành hạ tới mức. Tánh tao là vậy. Tao thấy người ta làm thịt gà thịt vịt không cần cắt cổ. Cứ đem nhúng nước sôi rồi nhổ lông lúc con vịt còn sống.
Đứa hộ vệ chắp tay:
– Xin ông tha cho.
– Ừ! Ghét mầy quá. Tao chém mầy bây giờ. Biết tại sao tao không thua tài ông Bá Vạn không? Bá Vạn giết con Xí Vĩnh, phá hại trinh tiết của nó. Tao thì giết…tất cả tánh mạng con Xí Vĩnh. Hộ vệ đâu? Chém thằng này.
Tên hộ vệ sợ quá sợ, nhìn ông Mười Hấu như kêu cứu. Lần nầy, ông Mười hơi lúng túng. Ông nắm tay cậu Cẩu:
– Cháu ơi!
Cậu Cẩu quơ chân, đá vào hông tên hộ vệ.
Đứa hộ vệ thối lui rồi nhảy xuống sông lặn mất dạng. Khi trồi lên, anh ta vuốt mặt, nghe tiếng cười sang sảng của cậu Cẩu:
– Cho nó tắm. Ngày mai nó chết.
Anh ta nín thở, lặn một hơi dưới nước. Khi trồi đầu lên, anh ta lội vô bờ…




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.06.2021 21:24:11 bởi Ct.Ly>
-18-

Cô Huôi ngồi nhà, bỗng đứa nữ tỳ chạy vào mặt mày hơ hải:
– Cô ơi! Ở đằng kia, cậu Ba la hét. Mấy người hộ vệ đứng sắp hàng dưới bến.
Cô Huôi đoán chừng:
– Chuyện nhà nầy, mi cứ lo. Hơi đâu lo chuyện đằng kia.
Linh tính như báo trước với cô điều gì quan trọng, lát sau, cô đứng dậy:
– Ra ngoài sân coi thử.
Đứa nữ tỳ ra ngoài rồi trở vào, hai tay run run vịn vào cánh cửa:
– Thưa cô…
– Cái gì?
– Dạ…có người nào tóc tai rối nùi, quần áo ướt mem đứng trước sân. Người đó đưa tay ngoắt tôi.
Cô Huôi ngạc nhiên. Khi nhận ra tên hộ vệ, cô hỏi:
– Tới đây làm gì? Ta gọi hồi nào mà tới? Say rượu rồi làm càn sao chớ? Đi ra.
Tên hộ vệ chắp tay:
– Thưa cô! Cậu Ba lên án chém đầu tôi, ngày mai nầy. Cô Xí Vĩnh bị nhốt rồi, ngày mai cũng bị chém. Trăm lạy cô. Cô nói một tiếng thì cứu được mạng tôi.
Cô Huôi nói:
– Vô đây. Nói đầu đuôi cho ta nghe.
Tên hộ vệ đứng khép nép bên góc cột, tay chân run rẩy.
– Thưa bà, tôi sợ quá. Chắc là tôi chết. Nếu cậu Ba biết tôi vô đây, làm sao tôi trở ra. Cậu Ba hung hăng, tự xưng là ông Chúa.
– Cứ ngồi xuống, tự nhiên. Ta hứa cứu giúp cho. Ta còn sống đây thì không ai dám lấn hiếp, giết chú mầy vô cớ. Nếu cậu Cẩu không dùng mày thì ta trả tiền hàng tháng, chú mày canh giữ nhà này.
Tên hộ vệ nói tỉ mỉ những gì xảy ra. Lần đầu tiên, kể từ khi về Hòn Chông, cô gặp một trường hợp khó xử, vô cùng nguy hiểm. Chuyện giam cầm Xí Vĩnh nào phải là sự cao hứng ngẫu nhiên.
Đồng ý rằng cậu Cẩu thường nổi cơn điên, nhưng đó là cơn điên khôn ngoan để thỏa mãn tham vọng vô bờ bến.
Từ khi Bá Vạn chết, Mười Hấu mất bình tĩnh, muốn nắm trọn quyền. Những gì ông ta nói luôn luôn được cậu Cẩu tuân theo. Hỗm rày cô Huôi chỉ giữ thái độ yên lặng. Việc giam cầm Xí Vĩnh là âm mưu của ông Mười để dò xét phản ứng.
Suy luận như thế, cô Huôi thấy mình cô độc hơn bao giờ hết. Trước mặt chỉ còn hai đường: một là sống ngoài vòng thế sự, mỗi ngày dùng hai bữa cơm ngon, tai ngơ mắt điếc. Hai là phản ứng lại để cho Mười Hấu và cậu Cẩu hiểu rằng người có nhiều quyền hạn nhứt ở Hòn Chông hiện giờ chính là cô.
Nếu giữ thái độ thụ động, trong cơn hốt hoảng nào đó, cậu Cẩu dám cho bọn hộ vệ bao vây căn nhà nầy
Cô Huôi ra lịnh cho tên hộ vệ:
– Xuống nhà bếp mà ngủ. Ngày mai, ta cứu chú mầy…
Nhưng tên hộ vệ vẫn chắp tay:
– Tôi sợ quá. Rủi ngày mai bà cứu không được. Còn cô Xí Vĩnh?
Cô Huôi gật đầu, nhìn nhận rằng tên hộ vệ biết lo xa:
– Mi trở lại nhà ông Mười Hấu.
Tên hộ vệ run lên:
– Hễ trở lại là tôi bị bắt luôn.
– Ta chết thì mi mới bị bắt. Mi quên rằng ta là người có quyền hạn rộng. Ta là mẹ của cậu Cẩu. Muốn làm việc gì lớn thì phải…nghe ta can gián. Nếu ông Mười Hấu hỏi, mi cứ nói đúng lời ta.
Tên hộ vệ mừng thầm:
– Xin bà dạy việc.
– Không có gì lạ. Nói rằng ta mời ông Mười Hấu đến.
Khi tên hộ vệ ra đến thềm nhà, cô Huôi gọi:
– Trở vô đây. Nếu ông Mười Hấu do dự thì bảo rằng đó là lịnh của ta.
Vừa ra tới đường cái, tên hộ vệ bắt đầu lo. Trời đã xế, dưới sông không còn một chiếc ghe xuồng qua lại. Trước nhà cậu Cẩu, hai tên hộ vệ cầm đoản đao đi tới đi lui.
Đến gần cổng nhà ông Mười Hấu – nơi ông Chúa Hòn cư ngụ trước kia – tên hộ vệ nghe tiếng gọi:
– Hy! Mầy về đây làm gì? Chỗ anh em, ta khuyên mầy nên lánh mặt.
Hy là tên đứa hộ vệ. Nó trả lời:
– Tao muốn trốn qua xứ khác, nhưng cô Huôi bắt buộc tao tới đây gặp ông Mười.
– Nãy giờ ông Mười cằn nhằn. Ông biết mầy cầu cứu với cô Huôi. Khi người lớn ăn thua với nhau thì kẻ nhỏ hứng chịu tất cả. Mầy thấy cô Xí Vĩnh không? Cô ta bị giam về tội làm tình với ông Bá Vạn hồi mấy năm về trước.
Đột nhiên tên hộ vệ nghiêm mặt, nói khẽ:
– Ông Mười tới.
Rồi anh ta đổi giọng:
– Mầy đứng lại cho tao trói.
Thằng Hy tin vào quyền lực của cô Huôi nên bình thản trả lời:
– Lát nữa hãy trói. Bây giờ, tôi là người tới đây theo lệnh của cô Huôi.
Ông Mười Hấu hơi ngạc nhiên vì cô Huôi đã có phản ứng quá nhanh. Cô là người mà ông ta ghét nhưng kính nể:
– Sao? Cô Huôi nói gì? Mầy vô đây.
Đến phòng khách, thằng Hy dừng lại:
– Thưa ông, cô Huôi dạy tôi mời ông tới thật gấp.
Để khai thác tin tức, ông Mười bèn giở giọng quát nạt:
– Mầy nói xấu tao điều gì? Ai cho mầy vô nhà đó?
– Dạ, cô Huôi gọi tôi vô rồi bắt buộc tôi tới đây.
Mười Hấu quát mắng:
– Tại sao mầy không cãi lại?
– Dạ, lúc ban đầu tôi cãi.
– Mầy cãi như thế nào?
– Dạ…tôi nói rằng…tôi là tôi tớ vừa bị rầy la.
– À! Mầy có cho cô Huôi biết chuyện con Xí Vĩnh bị lên án chém đầu không?
– Dạ, cô Huôi hỏi thì tôi phải trả lời…
– Mầy chưa nói thật. Tao giết mầy! Tôi tớ không được phép nói xấu chủ. Mầy hiểu chưa? Mầy là tôi tớ của tao chớ đâu phải của cô Huôi. Tại sao mầy vâng lời người ngoài?
Đã đến lúc thằng Hy nói liều:
– Cô Huôi bảo rằng cô là mẹ cậu Cẩu, ở Hòn Chông nầy không ai có quyền hạn lớn hơn cô.
– Xuống nhà bếp!
Câu trả lời của thằng Hy khiến ông Mười lo sợ. Nếu đến gặp cô Huôi lập tức thì còn gì thể diện? Nhưng nếu không đến thì đó là hành động khiêu khích quá đáng.
Lúc nầy, nói chung thì dân chúng vùng Hòn Chông đều nhớ tới ông Chúa Hòn ngày trước. Hoặc cô Huôi bị giết, hoặc cô ra đi thì cậu Cẩu không tài nào trấn áp dư luận được. Kinh nghiệm cuộc khởi loạn ở núi Mo So đã cho ông Mười thấy rằng cậu Cẩu quá sợ chết và dân chúng sẽ kéo đến Hòn Chông nếu không có Bá Vạn cản ngăn kịp thời.
Lát sau, ông cũng mặc chỉnh tề ra sân. Ông cố ý đến trễ để chứng tỏ rằng mình chỉ tuân lịnh cô Huôi trong chừng mực nào đó thôi.
Đứa nữ tỳ đã thấy dạng ông Mười. Nó chạy vào. Nhưng cô Huôi nghiêm nét mặt:
– Cứ đứng đó hay vô đây luôn. Đừng chạy. Không có chuyện gì quan trọng cả.
– Ông Mười mặc áo gấm.
Cô Huôi cười thầm vì rõ ràng ông Mười đã xuống nước. Từ khi về Hòn Chông, chưa bao giờ ông ta ăn mặc như thế. Vì muốn ra vẻ trang nghiêm bệ vệ, vô tình ông ta để lộ mặt sợ hãi, thiếu tự tin.
Đứng lóng nhóng hồi lâu, đứa nữ tỳ bèn vào trong, chuẩn bị rót nước trà. Cô Huôi lại nhắc nhở:
– Ông Mười là ông của cậu Cẩu nhưng là người không làm chức gì ở Hòn Chông nầy. Lát nữa, khi nào ông ta gọi cửa thì mi ra đón rồi vào đây xin phép ta. Ông ta thắc mắc thì mi trả lời như ta vừa nói.
Thoạt tiên, ông Mười Hấu bước nhanh. Nhưng khi thấy đứa nữ tỳ chạy nhanh vào nhà cô Huôi, ông ta thêm kiêu hãnh, nghĩ thầm:
– Cô Huôi đang sợ. Hiện giờ, cô không còn vây cánh ở xứ nầy.
Đến trước cổng, ông Mười đứng thẳng người để chờ đợi đứa nữ tỳ. Ông hơi sốt ruột. Bên trong cửa mở he hé. Đứa tớ gái mở cánh cửa rồi khép lại.
Ông Mười đưa tay ngoắt:
– Đứa nào đó! Mở cửa chớ.
Nhưng đứa tớ quay mặt. Mười Hấu chưa biết nên chọn thái độ nào? Một là về, không thèm gặp cô Huôi. Hai là xô cổng tự tiện vào sân.
Đứa tớ gái bước chậm rãi:
– Thưa ông…
Mười Hấu ngoắt tay:
– Lại đây cho tao hỏi. Tại sao mầy không chào tao lúc nãy? Tao tới đây. Mầy không có mắt?
Đứa nữ tỳ chắp tay:
– Thưa ông, cô dạy rằng…ông là…
– Là gì?
Đứa nữ tỳ nói khéo léo:
– Nếu nói ra, chắc tôi bị rầy. Ông tha thứ thì tôi mới dám nói sự thật. Cô nói rằng ông là người không có quyền hạn gì ở xứ nầy. Nhưng cô dạy tôi mời ông vô.
Mười Hấu hơi ngại ngùng. Bỗng dưng, ông nảy ra ý nghĩ trở về nhà vì cô Huôi cố ý làm mất thể diện ông. Hai cánh cửa mở rộng. Đứa nữ tỳ thứ nhì chạy ra, chắp tay chào:
– Thưa ông, cô tôi xin mời.
Cô Huôi ngồi trên bộ ván gõ. Khi bước vào, ông Mười Hấu cứ im lặng, đến cái trường kỷ ở sát vách đối diện mà ngồi xuống.
Bầu không khí trở nên khó chịu. Ông Mười muốn rằng cô Huôi lên tiếng chào trước. Cô Huôi thì chờ đợi ông Mười. Ông Mười tằng hắng để lấy nghị lực.
Cô Huôi càng tự tin, cứ nâng tô trà lên uống rồi hạ cái tô xuống khá mạnh. Nghe tiếng động, Mười Hấu nhìn thẳng về cô Huôi. Cô Huôi lên tiếng:
– Sao ông Mười chưa nói gì? Tôi thì không quên ông, nhưng có lẽ vì bận rộn công việc nên ông quên tôi. Chắc không có chuyện gì lạ.
Mười Hấu đành chịu thua trước vẻ đẹp lộng lẫy nhưng oai nghiêm của đối phương:
– Dạ, thưa cô. Con Xí Vĩnh bị lên án xử tử. Chắc cô mời tôi tới đây vì chuyện đó!
Cô Huôi lắc đầu:
-Xí Vĩnh là người nhỏ tuổi. Nó bị lên án, đó là chuyện riêng trong gia đình cậu Cẩu. Tùy ý cậu biện định. Ngày cậu đem Xí Vĩnh về làm vợ, tôi không được báo trước. Nhưng đó là chuyện của cậu.
– Vậy cô mời tôi tới đây có việc gì?
Cô Huôi lườm ông Mười Hấu:
– Tôi muốn hỏi về ông Bá Vạn.
– Hôm đó, tôi có trình với cô: Bá Vạn chết vì cảm mạo.
Cô Huôi khoát tay:
– Con người chết rồi thì thôi. Nhưng tại sao không ai lo mồ mả cho Bá Vạn, hoặc lo cúng kiếng? Bá Vạn là người có tội nhưng cũng có công.
Mười Hấu dọ thử phản ứng của cô Huôi để biết cô có kiêng nể cậu Cẩu chăng:
– Tôi muốn làm lễ cầu siêu tại đây nhưng cậu Cẩu ghét Bá Vạn. Nếu vậy, xin cô nói cho cậu biết…
– Cứ làm lễ nơi khác. Hỗm rày, chắc cậu Cẩu muốn làm lễ “xưng vương”? Ông cứ nói thiệt. Tôi đồng ý chuyện đó.
Nghe qua, Mười Hấu mừng rỡ như mở cờ trong bụng:
– Thưa cô, nếu vậy còn gì may mắn cho bằng. Tôi không dè cô lo lắng cho cháu tôi đến mức đó. Vậy mà bấy lâu nay nó thất lễ với cô. Trời ơi! Mừng quá.
– Nó được nở mặt nở mày thì tôi vui mừng.
– Cô còn dạy điều gì không?
– Ngày mai tôi tới thăm cậu Cẩu. Sẵn có Tư Thiện, người ở chợ Rạch Giá mới vô, tôi muốn bày ra nhiều trò vui để chứng tỏ rằng ở Hòn Chông dân chúng không kém …người Lang Sa .
Mười Hấu ra khỏi ngưỡng cửa, day lại xá dài.
– Thưa cô!
– Gọi tới đây thật gấp.
Khi Mười Hấu vừa khuất dạng ngoài cổng, cô Huôi uống thêm một chén trà. Thế là bao nhiêu kế hoạch sẽ được thi hành như ý muốn. Cô cho một tên hộ vệ thân tín đến núi Đất, nhờ cha cô tìm một mớ thuốc độc.
– Gọi ông Tư Thiện tới đây!
Đứa nữ tỳ vào với Tư Thiện. Cô Huôi nói:
– Ông nên bày ra một buổi lễ với nhiều trò chơi…giống hệt như ở Rạch Giá. Mới đây, cậu Cẩu nổi cơn điên đòi giết những người chung quanh. Nếu không trấn áp kịp thời thì cậu ta sẽ nghi ngờ tới ông.
Mấy ngày qua, Tư Thiện sống vui vẻ, được cô Huôi che chở. Nhiều khi, ông ta muốn trốn ra khỏi vùng đồi núi nầy nhưng về Rạch Giá để tiếp tục nghề mua bán và dọ thám là điều ông ta không thích cho lắm. Ở đây, bên cạnh cô Huôi, ông ta thấy yêu đời hơn. Cô quá xinh đẹp, có cử chỉ nhã nhặn. Nếu cô từ chối không yêu, chừng đó ông ta trốn cũng không muộn.
Tư Thiện nói:
– Sống chết là do cô. Cô dạy là tôi tuân lời. Bày cuộc lễ tại đâu? Tốn kém bao nhiêu? Cô nói rõ thì tôi mới lo liệu được. Ở ngoài chợ Rạch Giá, khi người Lang Sa mới đến, có nhiều trò giải trí tuyệt diệu.
– Thì ông cứ chờ ý kiến cậu Ba.
Tư Thiện mừng khấp khởi. Rồi đây, nếu quân kéo vào chiếm Hòn Chông, ông ta sẽ giúp một tay đắc lực, cho bên này hay bên kia, tùy theo tình thế.
Lẽ dĩ nhiên, mấy tên hộ vệ làm sao chống cự nổi với binh hùng tướng mạnh. Nhưng trước khi xảy ra cuộc náo loạn đó, Tư Thiện có thể đứng về phe cậu Cẩu để kiếm chút ít bổng lộc. Mấy chục năm qua, ông Chúa Hòn đã vơ vét bao nhiêu vàng bạc của đám tá điền.
Nhưng cái bồng bột mà Tư Thiện ao ước trước tiên là vóc dáng yểu điệu của cô Huôi. Cô đã xinh đẹp, còn trẻ lại thông minh.
Liệu rồi đây ông ta được dịp thố lộ tâm tình? Cô Huôi ăn nói nghiêm nghị, lúc bối rối nầy nếu ông ta nói chuyện yêu đương ắt bị từ chối. Cô sẽ khinh rẻ và trừng phạt là chắc.
Đứa nữ tỳ chạy vào, bàn tán rằng cậu Cẩu sắp tới.
Cô Huôi nghĩ đến tánh mạng Xí Vĩnh. Nó sống thì kế hoạch đầu độc mới thực hiện được. Cậu Cẩu là đứa ngạo mạn mà chịu hạ mình tới đây thì cô nên tâng bốc để cậu ta vui lòng. Trong ngày lễ tưng bừng chánh thức nhìn nhận cậu là ông Chúa trẻ, Xí Vĩnh sẽ có dịp tốt nếu Tư Thiện bày ra nhiều trò vui lạ khiến cậu Cẩu quên đề phòng những chi tiết nhỏ nhặt lúc ăn uống.
Trước ngưỡng cửa, cô Huôi cười dòn:
– Cậu Ba hôm nay coi đạo mạo quá.
Khi ra đi, cậu được ông Mười Hấu dạy tỉ mỉ cách xưng hô vì cuộc gặp gỡ nầy có lợi cho cậu. Nhưng cậu quên phần lớn lời căn dặn.
– Dạ! Dì nói đúng quá. Hết thời buổi ăn chơi thì tôi phải đạo mạo cho thiên hạ sợ. Dì nhớ hôm ở núi Mo So không? Tôi ưa giỡn, luôn luôn dưới ghe có vài cô gái hầu hạ.
– Mời cậu ngồi!
Cậu Cẩu ngồi xuống ghế trường kỷ. Cô Huôi bèn ra lịnh:
– Nữ tỳ đâu? Rót nước rồi ra ngoài. Hôm nay, ta nói chuyện riêng với cậu. Chúng bây trót khờ dại hôm nay, ta tha tội cho. Lần sau đừng vô phép như vậy nữa.
Một đứa nữ tỳ cúi đầu trình bày:
– Xin cô dạy con.
– Hễ gặp cậu Ba thì chắp tay xá ba lần. Ra ngoài đi!
Khi đứa nữ tỳ khuất dạng bên kia cánh cửa, cô Huôi gọi:
– Cậu Ba lại đây! Cậu mến tôi không? Lúc sau nầy, thấy cậu làm được nhiều chuyện quan trọng, tôi mừng.
Cậu Cẩu thích chí vì được khen ngợi:
– Thưa dì, hôm qua tôi muốn giết một người để ăn mừng. Đó là con Xí Vĩnh.
Giả vờ như chưa hay biết chuyện ấy, cô Huôi hỏi:
– Nó là cái gì mà giết?
Vì nghe không rõ, cậu Cẩu trả lời:
– Thưa dì, nó dám ho lớn tiếng khi tôi ra lịnh cấm tất cả mọi người không được ho, trước mặt tôi.
Đối với cô Huôi thì chỉ cần một lời nói khéo léo là gỡ được tội cho Xí Vĩnh:
– Tôi hỏi: Nó cái gì? Tôi đâu có hỏi : Nó làm chuyện gì ? Cậu trả lời kỹ lưỡng giùm.
Cậu Cẩu cau mày:
– Dạ, nó là cô gái mà tôi đem về để mua vui.
– Nó phải là vợ cậu không?
– Dạ, đâu phải là vợ! Một thứ đầy tớ. Ngày xưa, nó ở với ông Bá Vạn rồi qua tay thằng A Chúa, đàn hát tại xóm Vàm Rầy, trong căn phố dự trữ bong bóng cá, tôm khô. Dơ dáy quá. Bởi vậy mà tôi ghét. Nó sống để làm gì?
Lời lẽ ấy xúc phạm đến tự ái của cô Huôi. Là đàn bà, cô chẳng bao giờ muốn nghe lời khinh miệt hồ đồ ấy. Cô Huôi sống vui vẻ, im lặng trả thù những ai khinh miệt rằng đàn bà bất tài. Nếu không gì bất trắc xảy ra, nhứt định trong đôi ba ngày nữa cậu Cẩu phải chết vì tay con người mà cậu Cẩu xem là trò chơi dơ dáy.
– Cậu nói đúng!
Dáng điệu cậu Cẩu lúc bấy giờ thật dễ ghét, với hàm râu lún phún và đôi mắt xếch, như chỉ muốn nhìn lên cao. Cậu ta ưỡn ngực:
– Dì muốn tôi trừng trị nó cách nào? Hồi đó, đá cá thia thia ở núi Mo So, hễ bực mình thì tôi ném bỏ. Có con cá mun, hớt được ở trên núi trong bọng cây. Ai cũng nói nó là cá quí. Vậy mà tôi coi như con trùn, con dế.
Giọng cô Huôi tỏ rõ từng tiếng:
– Người sắp được tôn làm Chúa Hòn, người có khí tượng đế vương như cậu thì chớ nên ăn thua với những cô gái dơ dáy.
Bị công kích thình lình, cậu Cẩu nắm tay lại:
– Dì nói sao? Tôi làm một chuyện không xứng đáng à?
– Chớ còn gì nữa. Người có khí tượng đế vương nên ăn thua với kẻ khác, ngang hàng với mình. Thí dụ như bọn Lang Sa. Nếu cậu ăn thua với con Xí Vĩnh thì thiên hạ có thể hiểu lầm rằng cậu ngang hàng với nó, phàm tục như nó.
Cậu Cẩu chụp lấy cái tô đựng nước trà trước mặt. Cô Huôi bèn khiêu khích:
– Trước kia, khi còn đá cá thia thia, cậu là người phàm. Bây giờ, cậu là người cao cả hơn. Nếu tha tội cho con Xí Vĩnh, cậu được tiếng tốt.
– Nhưng người ta nói tôi hèn nhát…
Cô Huôi đáp:
– Ai nói thì cậu giết người đó. Thí dụ như ông Bá Vạn cậy thần cậy thế.
Hồi lâu, cậu Cẩu mới buông cái tô ra:
– Dì nói đúng.
– Nãy giờ, cậu muốn làm gì? Đừng nóng nảy vô cớ. Vua chúa luôn luôn bình tĩnh và rộng lượng.
– Nhưng mà tôi lỡ lên án xử tử nó rồi. Chẳng lẽ tôi nói ngược với tôi.
– Nhơn dịp lễ “tôn vương”, cậu tha tội cho Xí Vĩnh. Đồng thời, cậu cho mọi người ăn uống no say suốt ngày đêm. Trong kho, còn nhiều tiền mà! Ngày xưa, khi lên ngôi, vua chúa mở ngục, ân xá tất cả tội nhơn…Ân xá vì khinh rẻ họ, chớ đâu phải vì sợ họ…
Bỗng dưng, cậu Cẩu cười dòn, vỗ tay như đứa bé đang gặp cái bánh:
– Tôi tha tội cho Xí Vĩnh. Buổi lễ chừng nào cử hành vậy dì? Nhờ dì giúp đỡ.
Hồi lâu, cô Huôi giảng dạy cho cậu Cẩu nghe rõ về tình hình ở chợ Rạch Giá. Trong khi quân Lang Sa muốn dò xét sự việc ở Hòn Chông, buổi lễ nầy là một lời hăm dọa. Tư Thiện biết những trò chơi lạ mắt, vui tai. Nếu dám tốn tiền thì ảnh hưởng lớn lao vô cùng. Bọn dọ thám sẽ báo cáo với quân Lang Sa rằng ở Hòn Chông có ông Chúa thông minh, oai vệ không kém bọn chúng. Muốn gây sự, chúng cũng do dự. Hơn nữa, người tài giỏi nhứt của quân Lang Sa đã đầu hàng…ông Chúa rồi.
Cậu Cẩu nói:
– Xin dì cho Tư Thiện tới gặp tôi để biết rõ tốn kém bao nhiêu tiền.
Cô Huôi tiễn cậu Cẩu ra cửa:
– Tư Thiện là tôi tớ của cậu. Hỗm rày ông ta ghi chép sổ sách rành mạch lắm.
Hai ngày sau, dân chúng Hòn Chông tha hồ ăn uống, khỏi tốn tiền. Tư Thiện muốn biểu diễn tài năng của mình để lấy lòng cậu Cẩu, nhứt là để làm vui mắt cô Huôi.
Thật ra, Tư Thiện chỉ là người có tài bắt chước. Năm ngoái, tại chợ Cái Bè (Mỹ Tho) ông ta chứng kiến một buổi lễ khao quân do người Lang Sa tổ chức, sau khi dẹp loạn ở Đồng Tháp Mười.
Quan tổng đốc Lộc vì viên quan ba người Pháp ngồi trên cái đài khá cao để uống rượu và cổ võ dân chúng.
Tư Thiện gây lại bầu không khí lạ lùng ấy, thêm thắt nhiều chi tiết. Lẽ dĩ nhiên, từ cô Huôi đến ông Mười Hấu, cậu Cẩu đều trố mắt. Từ thuở bé đến lớn, chưa lần nào họ thấy cuộc vui sôi nổi, hoàn toàn mới lạ so với những buổi hội hè đình đám vào dịp kỳ yên.
Bọn hộ vệ khăn xanh, lưng thắt dây nhiễu đỏ, ống quần túm gọn, bó sát phía trên mắt cá. Mỗi đứa cầm ngọn dao ngắn, trên ngực có vải vuông, vẽ chữ “tốt”.
Trên khán đài, cậu Cẩu ngồi trên chiếc ghế vuông cẩn đá cẩm thạch. Ông Mười Hấu ngồi bên cạnh, phía sau có hai đứa bị quạt đứng hầu.
Giữa sân, một thân cau lão cặm đứng, bào trơn láng chấp chóa dưới ánh mặt trời. Trên chót cây cau, treo lủng lẳng nào là gấm vóc lụa là, tiền điếu, những giỏ đựng trái cây, bánh ngọt.
Mấy món nầy buộc chung quanh vành tròn. Vành nối lên ngọn cau, dựa vào cái rỏ rẻ, có sợi dây dài điều khiển từ bên dưới.
Tư Thiện nắm đầu dây kéo mạnh.
 Cái vành tròn và mấy miếng lụa, mấy cái giỏ đựng bánh được rút lên cao.
Ông ta từ từ buông dây.
Cái vành tròn từ từ hạ xuống.
Cậu Cẩu cười híp mắt:
– Cái trò nầy chắc vui lắm. Tại sao chưa bắt đầu? Dân chúng chờ đợi từ nãy giờ…
Đôi mắt Tư Thiện phảng phất chút gì buồn bã. Phải chi cô Huôi có mặt trên khán đài để chứng kiến trò vui nầy, do ông ta bắt chước theo kiểu của người Lang Sa.
Ông ta đâu có dè cô Huôi có ý vắng mặt để tỏ ra khiêm tốn, khinh thường địa vị. Cô ngồi trong nhà mà ăn trầu. Bọn nữ tỳ chạy lăng xăng dọn chén dọn dĩa. Từ nhà bếp, thức ăn thơm ngon bay mùi quyến rũ.
Tư Thiện giựt mình khi nghe cậu Cẩu thúc hối:
– Xong chưa? Người ta đang chờ. Dòm cái gì vậy?
Tư Thiện đáp nhanh, che giấu tâm trạng của mình:
– Dạ, chờ cho đông hơn. Tôi không dè vùng nầy dân chúng giàu có đến mức nầy.
Cậu Cẩu hỏi:
– Giàu hơn chợ Rạch Giá không?
– Dạ, hơn nhiều.
– Nghe nói thành Gia Định – Sàigòn sung túc lắm.
– Nhưng thưa ông, vùng Hòn Chông nầy đâu kém..
– Tư Thiện đáng được thưởng. Này, uống một chén rượu với ta. Ngươi thoa dầu chai với mỡ heo lên thân cây cau để làm gì?
Nãy giờ ông Mười Hấu ngồi ưỡn ngực, khoe chiếc áo gấm. Để cho Tư Thiện đừng chê cậu Cẩu là trẻ con, dại dột, ông bèn đỡ lời:
– Để trèo lên, hễ sảy chân thì té.
Một dịp để Tư Thiện nịnh hót khéo léo:
– Thưa ông, trò chơi nầy thú vị ở chỗ có nhiều người té vì ham leo trèo giựt phần thưởng.
Cậu Cẩu cằn nhằn:
– Nắng quá! Ta ra lịnh. Đừng cãi ta.
Tư Thiện khoát tay. Hai tên hộ vệ đánh trống inh ỏi theo nhịp trống múa lân. Ông ta đưa một tay lên cao. Tiếng trống dứt hẳn.
– Bà con cứ trèo lên cây cau nầy mà lãnh thưởng. Cứ được món nào đem về nhà món ấy. Nhưng hễ té thì ráng chịu.
Sợi dây được buông lơi. Cái vành tròn hạ xuống thấp. Năm ba chàng trai chạy tới, đưa tay giựt mấy miếng lụa. Nhanh như chớp, Tư Thiện rút sợi dây, cái vành lên cao, khỏi tầm tay bọn trai.
Các cậu đứng sát gốc cột.
Tư Thiện nói:
– Anh em cứ trèo lên. Cây cau ngoài vườn, anh em lên tới ngọn, huống gì cây nầy thấp chủm.
Các cậu ôm thân cau, trợt chân nhưng cố gắng phóng. Một ông lão nói:
– Nè! Làm như vầy.
Rồi ông ta quỳ gối xuống đất:
– Tụi bây đứng trên vai tao. Hễ tao đứng thẳng chân thì tụi bây ôm sát cây cau, làm sao té được? Dù cho cây cau..cao tới đâu, mình cũng trèo tới.
Cậu Cẩu trố mắt, chờ xem kết quả. Một chàng trai đứng trên vai ông lão. Để gây sự hào hứng, Tư Thiện cố ý buông thòng cái vòng.
Chàng trai chụp được cái giỏ đựng bánh. Nhưng chàng ta ôm gốc cau với một tay còn lại nên mất thăng bằng té nhào xuống đất.
Bánh trái văng ra, bọn người chung quanh vỗ tay:
– Cho tụi tôi ăn với.
Ông lão nói:
– Cứ ăn đi. Lần hồi, tôi giựt tất cả mấy món trên cái vòng. Anh em trai tráng ra đây, người nầy đứng trên vai người kia, đứng hai lớp là tới chót ngọn.
Ba chàng trai cởi áo, chạy ra. Ông lão và chàng trai lúc nãy cười hì hì, tay chân đều lem lấm dầu mỡ. Tư Thiện mừng thầm vì trò chơi nầy đã làm hài lòng cậu Cẩu.
Cậu đưa tay ngoắt:
– Tư Thiện ! Đưa sợi dây cho ta nắm. Ta điều khiển giỏi hơn mi! Ngồi gần ta cho vui.
Cậu Cẩu nói to giọng:
– Ta nóng nảy lắm. Một là tụi bây té gãy tay. Hai là tất cả mấy món quà bị mất sạch. Nè!
Cậu thòng cái vòng xuống. Bao nhiêu lụa là, hoa quả di chuyển tòn ten, trong tầm tay.
Ông lão quỳ xuống. Cậu giựt cho cái vòng chạy lên cao. Một chàng trai đứng lên vai ông lão rồi với lên. Cậu rút cái vòng tận chót ngọn cây cau. Ông lão đứng dậy.
Tình cờ, cậu hạ thấp xuống, khi chàng trai vừa đưa tay lên thì cậu giựt mạnh. Chàng trai chới với, đạp lên vai ông lão để lấy trớn.
Khi té xuống, chàng ta nắm trong tay một xâu tiền kẽm..
Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:
– Một năm, ta bày mười cuộc lễ như vầy. Cho thiên hạ té lăn cù…như con heo.
Tư Thiện đáp:
– Hễ ông ra lịnh thì tôi sẵn sàng. Còn trò chơi khác vui hơn, ở mé sông.
– Vậy hả?
Cậu buông sợi dây, cái vòng hạ sát đất…Trẻ con chen nhau chạy tới. Cậu Cẩu gật đầu:
– Người Lang Sa bày trò nầy khéo thật, nhưng còn thua ta. Lần sau ta làm như vầy. Tư Thiện đoán thử…
Mặc dầu muốn nịnh hót để làm vừa lòng ông Chúa trẻ con ấy, Tư Thiện vẫn không tìm ra lời nói duyên dáng nào cả:
– Thưa ông, người Lang Sa ngu dốt.
– Họ ngu dốt lắm. Nếu khôn ngoan thì họ lấy lọ chảo mà thoa vào cây cột. Mấy người giành giựt sẽ đen đúa, mặt mày có vằn có vện. Thôi! Ta ăn uống cái gì cho vui miệng rồi hãy xuống bến.
Cậu Cẩu và Mười Hấu rời khán đài vào nhà. Nãy giờ cô Huôi chờ đợi một cơ hội thuận tiện nhất. Hôm nay, ở nhà bếp hơn chục đứa nữ tỳ làm việc không hở tay. Khi được tha tội, Xí Vĩnh ăn mặc như đứa nữ tỳ, đi tới lui sau bếp.
Xí Vĩnh tin chắc rằng hôm nay thể nào cậu Cẩu cũng chết. Cô ta đến gần cô Huôi:
– Thưa cô, chừng nào?
Cô Huôi trả lời:
– Lát nữa. Bây giờ hơi sớm.
– Dạ thưa, cậu vô kìa!
Cô Huôi nghiêm nét mặt:
– Kêu bằng ông. Ngu dại quá! Nên mềm mỏng, nịnh hót. Còn sớm lắm. Rủi cậu ta té lăn sau khi ăn uống thì ông Mười Hấu dễ truy ra thủ phạm. Chờ khi ban nhạc Dù Kê múa hát, cậu uống rượu. Nhớ chưa?
Khi bước vào nhà, ông Mười Hấu sanh nghi vì Xí Vĩnh và cô Huôi nói chuyện với nhau, gương mặt kém trầm tĩnh. Ông Mười đến gần cô Huôi:
– Hôm nay vui quá. Tư Thiện là người có tài. Phải chi cô ra xem cho đỡ buồn.
Cô Huôi nghiêm mặt:
– Đàn bà không nên ngồi trên cao. Nếu ngồi gần cậu Cẩu thì thiên hạ hiểu lầm, cho rằng tôi muốn án bóng. Thà rằng tôi ở đây, coi sóc chuyện bếp núc. Hôm nay là ngày lễ của cậu Cẩu chớ đâu phải của tôi.
Cậu Cẩu bước tới:
– Cám ơn dì. Lát nữa vui lắm. Tụi nó giựt giàn tại mé sông. Dì ra thì con mới vui.
Cô Huôi muốn từ chối, ngặt vì chưa có lý do xác đáng. Xí Vĩnh bạo dạn nhưng vụng về. Cô muốn ở bên cạnh nó để đỡ gạt giùm nếu có điều gì lộ bí mật. Hơn nữa, trong trường hợp Xí Vĩnh bị bắt quả tang, Mười Hấu sẽ làm hỗn, tra tấn tàn nhẫn để bắt buộc nó tố cáo cô.
Cậu Cẩu ngồi xuống ghế, nâng chén uống rượu cạn rồi hinh hỉnh lỗ mũi:
– Cái gì ngon quá vậy?
Cô Huôi cười:
– Cậu muốn ăn thử? Chắc là mùi tôm chiên. Tôm tươi, nướng lửa than.
– Ngon thiệt. Cho ta ăn thử một con.
Theo lịnh cô Huôi, Xí Vĩnh bưng cái dĩa:
– Thưa cô, con tôm này chưa chiên, chờ đợi lát nữa thì mới ngon…
Cậu Cẩu nói đùa, liếc về Xí Vĩnh:
– Con nhỏ này bữa nay coi ngộ quá!
Xí Vĩnh cúi mặt, không dám trả lời. Cậu Cẩu chụp lấy con tôm, lột vỏ rồi đưa lên miệng nhai lua láo:
– Chưa chín thì ngọt hơn là chín. Ta uống rượu vô cái gì mà không cháy? Hay lắm. Vừa ăn vừa uống, ta lại xem trò hề dưới nước. Nè! Lát nữa, nướng thêm vài con tôm, làm nước mắm thật ngon.
– Được rồi…Cậu cứ vui chơi, lát nữa đói hơn, ăn còn ngon hơn lúc nầy.
Ông Mười Hấu hơi áy náy vì khi cậu Cẩu nói chuyện, Xí Vĩnh như lúng túng, hai tay rờ vào túi áo rồi rút ra vuốt tà áo cho thẳng. Hôm nọ, lúc chuẩn bị đầu độc Bá Vạn, ông Mười đã từng trải qua cơn khủng hoảng tương tự. Nếu cô Huôi không có mặt tại đây, ông Mười ra lịnh xét bắt lập tức.
Đôi mắt cô Huôi sáng ngời lên khi nhìn Mười Hấu:
– Ông muốn ăn? Hồi sáng tới giờ, tôi nhịn đói vì bận rộn bao nhiêu công chuyện.
Ông Mười nói:
– Đáng lý thì hôm nay con gái tôi phải có mặt. Từ khi ông Bá Vạn mất, con gái tôi cứ bấn loạn, điên không ra điên. Thằng Cẩu cũng mang một chứng bịnh như mẹ nó. Chắc là tôi chưa làm điều gì từ thiện. Tội nghiệp ông Bá Vạn.
Dụng ý của Mười Hấu là dò xét phản ứng cô Huôi để biết rõ cô dính líu tới mức nào trong âm mưu sắp tới. Cô Huôi dư hiểu rằng Bá Vạn chết vì đầu độc. Nhưng cô Huôi nói lảng qua chuyện khác:
– Hôm nào, ông gọi cô Ngó tới nhà tôi cho vui.
Cậu Cẩu ăn xong con tôm, đưa mấy ngón tay lên góc cột mà quệt cho sạch. Đó là cử chỉ không sang trọng chút nào cả. Cô Huôi hơi bực nên ra lịnh:
– Còn trò tiêu khiển nào thì cứ làm cho nốt, còn ăn uống nữa chớ? Đêm nay, ban hát Dù Kê của người Cao Miên diễn một tuồng xuất sắc.
Cậu Cẩu đi nhanh xuống bến. Mười Hấu ngỏ lời với cô Huôi:
– Mời cô coi cho vui trong giây lát.
Tình thế thật khó xử. Cô Huôi muốn ở gần Xí Vĩnh. Nếu từ chối lời Mười Hấu thì ông ta thêm nghi ngờ. Chưa chi mà cô Huôi hơi buồn bực. Cô nhớ tới Bá Vạn. Hồi còn sống, Bá Vạn là người giàu sáng kiến và cũng là người thực hành quá giỏi. Hay là việc đầu độc sẽ thất bại?
Cô thì có đủ quyền lực để tự biện hộ. Nhưng ai cứu cho Xí Vĩnh lần thứ nhì!
– Tôi đi bây giờ. Nhưng tôi nói trước là tôi đứng trong giây lát.
Tư Thiện mừng rỡ về việc cô Huôi đến chứng kiến một trò chơi mới mẻ do ông ta bày ra.
Một cây cau trơn láng được đóng vào bờ, thân cây giơ ra ngoài như cây cầu. Ngoài chót cây cau, có miếng vải để treo vào cây cờ.
Cậu Cẩu cúi xuống khen ngợi:
– Tư Thiện giỏi quá. Cây cau nầy giống như cây cột hồi nãy trơn láng, thoa dầu. Dầu gì hôi hôi.
Tư Thiện đáp:
– Dạ, dầu mù u. Tốt lắm.
Như sực nhớ đến khí tượng đế vương của mình, cậu Cẩu ưỡn ngực hỏi:
– Người Lang Sa dùng dầu gì?
– Dạ, họ thoa cây cau bằng một thứ mỡ, kêu là mỡ bò.
– Mỡ bò tốt hay là dầu mù u tốt?
– Dạ, dầu mù u trơn hơn nhiều. Người Lang Sa đâu có dầu mù u. Họ dốt lắm. Xứ họ quá nghèo, làm sao có dầu nầy.
Một hồi trống nổi lên. Tư Thiện tuyên bố điều kiện dự giải. Mỗi người phải đứng trên bờ, ngay gốc cây cau rồi chạy ra ngoài giựt cho bằng được lá cờ để sau đó lãnh thưởng. Dân chúng tỏ ra vui vẻ, bàn qua lại:
– Dễ ăn hơn hồi nãy. Rủi té thì mình tắm luôn, không sợ gãy tay, trặc chân.
Tư Thiện liếc phía sau. Cô Huôi bước chậm rãi, đến gần cậu Cẩu. Tư Thiện khoát tay. Một hồi trống nổi lên.
Hai ba người đến gần cây cau, chạy thẳng ra ngoài như đi trên cây cầu trơn trợt. Vừa di chuyển được vài bước là tất cả đều té. Nước văng lên trắng xoá. Họ trồi đầu lên, lội vào bờ.
Cậu Cẩu thúc giục:
– Không lẽ xứ mình thiếu nhân tài? Té hoài vậy?
Một chàng trai bước chậm rãi đến gốc cây cau, ngắm nghía hồi lâu. Anh ta nói với đồng bọn:
– Mình đi cho chậm..Để tôi đi một mình. Cây cau nầy giơ ra ngoài, như cây cần câu. Nhiều người đi một lượt thì đầu cầu giựt lên, dễ té.
Nhưng vừa đi được bốn bước, anh ta lảo đảo như người say rượu, nhào xuống nước.
Cậu Cẩu day lại Tư Thiện:
– Thứ nầy sao khó chơi quá vậy? Người Lang Sa đi qua cây cầu như vầy được không?
Để làm thỏa mãn tự ái cậu Cẩu, Tư Thiện đáp:
– Tụi nó lớn con, dễ té hơn người mình. À! Chú nầy…
Một chàng trai đứng ưỡn ngực, lướt thật nhẹ rồi nhắm mắt chạy nhanh trên cây cau. Ngọn cây đưa qua đưa lại. Nhưng trước khi té, anh ta đã kịp thời phóng tới chụp cây cờ, nắm gọn trong tay.
Cử toạ vỗ tay ầm ĩ.
Nhưng có hai người không vỗ tay. Đó là cô Huôi và Mười Hấu. Cô Huôi day lại:
– Ông Mười có xem không?
Mười Hấu biết rằng cô Huôi nói châm chọc. Người theo dõi đang bị theo dõi ngược lại. Lúc nầy, nếu buông lơi, xem thường mọi cử chỉ của cô Huôi thì ông Mười và cậu Cẩu có thể bị suy sụp tan tành sự nghiệp. Mười Hấu càng nghi ngờ khi bắt gặp trong ánh mắt Tư Thiện một chút gì tình tứ kín đáo. Tư Thiện đã mê cô Huôi. Nếu cô Huôi liên kết với hắn thì còn gì là cậu Cẩu! Hèn gì cô tìm cách giúp đỡ Tư Thiện, giao phó cho bao nhiêu công việc quan trọng.
Cuộc vui đã kết thúc.
Cậu Cẩu ra lịnh:
– Bây giờ thì ăn uống.
Cô Huôi nghĩ đến Xí Vĩnh. Lúc vắng mặt cô, nãy giờ nó còn giữ vững tinh thần hay không? Mớ thuốc độc phải để trong món ăn mà cậu Cẩu thích nhất. Cô chưa căn dặn kỹ lưỡng. Phải gặp Xí Vĩnh để nói một lần chót. Rõ ràng Mười Hấu muốn theo dõi cô.
Khi đến gần nhà bếp, cô Huôi day lại:
– Ông Mười! Ông đi đâu?
Mười Hấu hơi bẽn lẽn:
– Tôi mừng ngày hôm nay. Hồi nãy tôi mời cô xuống bến coi tụi nó đi…cầu.
Cô Huôi chụp lấy tiếng nói kém thanh tao ấy:
– Trước mặt bọn nữ tỳ, ông đừng ăn nói cẩu thả.
Mười Hấu giận căm gan. Lần đầu tiên, ông bị cô Huôi mắng nhiếc. Nhưng đó là lỗi của ông. Ông vừa đi vào nhà vừa nghĩ tới lúc cậu Cẩu đưa con tôm nướng vào miệng mà nhai rồi lột con tôm khác, chấm vào chén nước mắm. Cậu té lăn ra, chân co lại rồi đạp mạnh, hai tay bíu vạt áo, thò vào cổ họng. Đúng là hình ảnh của Bá Vạn, trong đám sậy.
Mười Hấu muốn chạy trở lại để khuyên đứa cháu đừng ăn uống bất cứ món gì từ nhà bếp dọn lên. Đồng thời, ông khuyên cậu Cẩu nên bắt con Xí Vĩnh mà tra tấn, đừng cho cô Huôi hay biết.
Ông quơ tay:
– Lão bộc đâu?
Bàn tay đụng nhằm chồng dĩa. Lão bộc vào khom lưng, lượm mớ miểng bể:
– Thưa ông!
– Ai biểu lượm? Đốt đèn lên, hai cây đèn sáng. Trong tủ không còn tăm dạng cái dĩa xanh, vậy chớ nó ở đâu?
Hai ngọn đèn sáp được đốt lên. Mười Hấu cầm một cây, rọi lên cái án thư mà không bao giờ ông dùng đến. Ông nhớ đến cái rương xe, đựng nào quả, nào tráp, nào chén uống trà:
– À! Đây rồi!
Lão bộc tiếp một tay, dỡ nắp rương lên. Ông Mười Hấu mở cái tráp:
– Nó ở đây. Vậy mà nãy giờ…
Cái dĩa khá nặng, mát lạnh nằm gọn trong bàn tay ông. Ông quăng ngọn đèn sáp ra sân, đi thẳng đến nhà cậu Cẩu. Vì ông đi quá nhanh, bầy chó cứ sủa theo.
Ông la lên:
– Chó! Mày quên tao rồi hả? Tao đập bây giờ.
Đó là mấy con chó săn của cậu Hai Điền còn để lại. Với cái dĩa ngừa thuốc độc trong tay, ông Mười mừng thầm, cầu mong rằng đằng kia bữa tiệc chưa mở đầu vì còn chờ ông.
Con chó chạy theo, cong đuôi. Nó cắn ống quần ông, đôi ba lần.
Ông nghĩ thầm:
– Chó là loài thú có linh tánh. Cứ cho nó đi theo. Bữa nay nó làm điềm gì lạ quá!
Trên bộ ván cẩm lai, cậu Cẩu ngồi uống rươu, tay nâng cái đùi gà lên mà khen ngợi:
– Ngon quá!
Phường nhạc ngũ âm trổi lên. Ông Mười Hấu đến ngồi gần đứa cháu ngoại. Ông liếc tứ phía không có Xí Vĩnh và không có cô Huôi. Phải chăng họ từ bỏ tham vọng, dời việc đầu độc qua một dịp khác?
Gương mặt cậu Cẩu vẫn hồng hào. Ông Mười hỏi:
– Cháu ăn lâu mau rồi?
Cậu Cẩu không nhòm ông Mười, cứ trả lời:
– Ăn uống là chuyện kéo dài. Nãy giờ ăn nhiều lắm nhưng mà cũng như chưa ăn.
– Cháu nói lạ quá. Rượu ngon không?
– Mới uống được hai chén, chưa say.
Đôi mắt cậu Cẩu trở nên mơ màng lim dim. Thật là khó xử cho ông Mười. Nên dẹp tiệc rượu nầy, ném bỏ tất cả các thức ăn, hay cứ ngồi mà chờ đợi?
Thuốc độc có loại chỉ công phạt sau khi ăn một buổi hay đôi ba ngày. Nghe đâu mấy ông thầy Chà chế biến ra thứ thuốc lợi hại, nạn nhân chỉ chết sau khi ăn nhằm thịt bò hoặc thịt vịt Xiêm.
Đó là chưa nói đến những thứ thuốc bột giống như tiêu sọ đâm nhỏ. Hễ ăn vào, nạn nhân lần hồi mang chứng đau bụng kinh niên. Mớ bột ấy nở ra to dần rồi quấn lại, tạo ra những mớ tóc rồi, những cây đinh dày gần một tấc trong bao tử.
Vài con ruồi bay gần dĩa thịt. Một con ruồi nhỏ rơi vào chén nước mắm. Ông Mười rùng mình tự hỏi:
– Phải chăng con ruồi là miếng da trâu trá hình? Nhiều người bị “thư” miếng da trâu. Vô bụng, miếng da nở to ra, choán đầy cái bao tử.
Cậu Cẩu hạ chén xuống:
– Ông ngoại nghe ngũ âm không?
Để dò xét sức khoẻ của đứa cháu ngoaị, ông Mười nắm tay cậu Cẩu:
– Uống rượu giỏi quá vậy? Thôi, bây nhiêu đủ rồi. Uống nhiều sanh bịnh. Cỡ nầy tiết trời độc địa.
Cậu Cẩu đáp:
– Ông ngoại coi kìa! Mấy con đó múa coi được quá.
– Cháu buồn ngủ thì nằm xuống..
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Làm gì mà buồn ngủ!
Như vậy có nghĩa là từ khi ông Mười vắng mặt, cậu Cẩu chưa ăn hoặc uống món gì có chất độc.
Giàn ngũ âm biểu diễn khá vui, gồm những dụng cụ lạ lùng: trống bịt bằng da sấu, những miếng tre già dày mỏng khác nhau, mỗi miếng tạo một âm thanh. Ngoạn mục nhứt là mớ cồn bằng đồng, sắp xếp theo hình vòng cung.
Nhạc công ngồi xếp bằng trên chiếu, giữa vòng cung ấy. Anh ta dùng hai cái dùi nhỏ, mỗi lần gõ trên hai miếng cồn.
Âm thanh dồn dập, một nhạc khí mà rộn rịp bằng hai nhạc khí cộng lại. Nơi góc nhà, một ông lão mù loà đờn cây đờn kìm khổng lồ. Đờn có cần dài, bốn dây. Thùng đờn là con cần đước ôm không xuể trong vòng tay, bị móc ruột. Mai và yếm láng bóng vì xài quá lâu năm.
Cậu Cẩu vỗ tay:
– Hay lắm! Hay lắm!
Một hàng vũ nữ gồm bốn đứa, từ góc phòng tiến ra. Mỗi vũ nữ đầu đội mão nhọn, mấy ngón tay có gắn chóp nhọn bằng đồng, bóng láng.
– Hay lắm! Hay lắm!
Cậu Cẩu đứng dậy, nghiêng mình như muốn nhìn bọn vũ nữ từ phía sau lưng.
Cậu cười toe, nói tiếp:
– Rượu đâu! Rượu với tôm nướng!
Nghe lịnh ấy, Xí Vĩnh chạy xuống nhà bếp. Từ nãy giờ, nó đứng ngoài cửa. Cô Huôi hỏi:
– Dọn thức ăn ra?
– Dạ, cậu đòi rượu với tôm nướng.
Cô Huôi nói khẽ với
– Đem ra quá sớm họ nghi ngờ. Chờ lát nữa. Mi trở lên coi ông Mười Hấu đang làm gì? Nãy giờ ổng tức lắm.
Xí Vĩnh đến gần ngưỡng cửa. Nó thấy bàn tay ông Mười đang thò vào túi áo, đem ra cái dĩa màu xanh.
Cậu Cẩu vỗ tay, nói to:
– Rượu đâu! Tôm đâu! Lúc này ăn …cho chết. Uống cho chết. Ta muốn chết với mấy nàng tiên này.
Ông Mười Hấu hơi áy náy. Giờ này, cô Huôi đang suy nghĩ và theo dõi kế hoạch giết cậu Cẩu và giết luôn ông.
Nếu bỗng dưng ông ra về thì vô lý quá. Biết đâu cô Huôi và Xí Vĩnh không giết cậu Cẩu bằng thuốc độc nhưng dùng một thủ đoạn khác. Bỗng dưng bọn vũ nữ bước đến trước mặt cậu Cẩu, điệu vũ đã chuyển biến theo một tiết tấu khác.
Có bóng người thấp thoáng ngoài cửa.
Day lại, ông Mười thấy cô Huôi. Cô vẫn nghiêm nét mặt, nói với đứa nữ tỳ:
– Tôi về nhà.
Như quá ham vui, đứa nữ tỳ ngỏ lời:
– Thưa bà, họ múa hát đẹp quá…
Cô Huôi nói gắt:
-Ta hơi mệt, buổi lễ còn kéo dài tới nửa đêm.
Đứa nữ tỳ ngoan ngoãn vâng lời. Cô Huôi nói nhưng không nhòm thẳng vào mặt ông Mười Hấu:
– Tôi về. Ông ở lại với cậu Ba. Buổi lễ nầy là trò giải trí của đàn ông.
Cô Huôi và đứa nữ tỳ khuất dạng ngoài cổng.
Hai đứa nữ tỳ bước chậm rãi; dọn thức ăn. Đó là món tôm nướng, bên cạnh dĩa tôm còn có dĩa nước mắm. Tất cả là bốn dĩa đầy, mùi tôm bay phảng phất, hửi qua là khó nhịn thèm.
Ông Mười Hấu cau mày. Bọn vũ nữ cứ bước tới một bước là trở lui một bước. Cậu Cẩu cười hề hề:
– Đẹp lắm! Lại gần đây…
Cô vũ nữ dẫn đầu khá mạnh khoẻ, mắt đen đậm mở rộng nhìn cậu Cẩu. Mấy ngón tay cô ta đều có gắn chóp nhọn, mười ngón tay trở thành mười mũi dùi sắc bén. Nhớ đến vài mẩu chuyện nghe lóm đó đây, ông Mười hơi run tay. Phải chăng bọn vũ nữ nầy là võ sĩ, được luyện tập kỹ lưỡng! Nếu bọn chúng thét lên một tiếng, xúm nhau bao vây cậu Cẩu rồi dùng ngón tay mà đâm thì làm sao trở tay cho kịp?
Cậu Cẩu nói:
– Đẹp lắm! Lại đây..
Rồi cậu thò tay vào dĩa, đưa lên con tôm khá to, lột cái vỏ cứng ở đầu con tôm.
Cậu đưa cho cô vũ nữ xinh đẹp đang múa lượn trước mặt:
– Ăn cho vui. Tài nghệ tuyệt diệu, đáng khen thưởng!
Cô vũ nữ cứ mỉm cười, nụ cười chai đá. Cậu Cẩu đứng dậy bỏ con tôm xuống:
– Hay là muốn uống rượu?
Thừa lúc cậu Cẩu không chú ý đến thức ăn, ông Mười Hấu bèn để thử một con tôm vào cái dĩa màu xanh mà khấn vái lầm thầm:
– Xin thần linh phò hộ tai qua nạn khỏi. Nếu xảy rủi ro, xin cho tôi chết thay thế đứa cháu.
Màu xanh chấp chóa, dường như không thay đổi. Như vậy, có nghĩa là cô Huôi và Xí Vĩnh dùng thủ đoạn khác để trả thù. Khi ngước mắt lên, đột nhiên ông Mười gặp Xí Vĩnh. Xí Vĩnh đứng nép bên ngưỡng cửa ăn thông xuống nhà bếp. Nó bước lui như để tránh né. Ông tằng hắng lên, gọi to:
– Xí Vĩnh !
Xí Vĩnh vẫn đứng yên tại chỗ. Ông Mười không phiền hà cho lắm vì ban nhạc ngũ âm bắt đầu chuyển qua một điệp khúc nhanh hơn, có lẽ để chấm dứt.
Cậu Cẩu chụp bầu rượu, đưa lên uống. Ông Mười toan cản lại. Bên ngưỡng cửa, Xí Vĩnh cúi mặt, liếc xéo, hai giọt mồ hôi chảy long lanh trên trán.
– Nhứt định là có âm mưu gì đây. Cô Huôi về trước để khỏi gánh lấy trách nhiệm. Tại sao thời tiết không nóng bức mà Xí Vĩnh lại đổ mồ hôi? Nó đứng bên ngoài, nơi có gió thổi.
Nghĩ vậy, ông Mười bèn kiểm soát cẩn thận cái bầu rượu. Ông hửi thử mớ rượu còn đọng trên đáy bầu rồi nhủ thầm:
– Rượu nầy không có thuốc độc. Vậy thì con Xí Vĩnh đứng lên còn chờ đợi cái gì? Hay là cô Huôi về nhà gọi bọn hộ vệ đến. Chúng nó dùng gươm giáo chạy tràn vào.
Nghĩ vậy, ông Mười bước ra sân. Bọn vũ nữ cứ bước tới, mỗi cô nghiêng mình khi đi ngang qua cậu Cẩu. Cậu chụp một con tôm, đưa lên miệng.
Ông Mười Hấu la hoảng:
– Cháu ơi!
Rồi chạy vô ấp úng. Nếu tri hô rằng con tôm nọ có tẩm thuốc độc thì quá sớm, cô Huôi mà biết được thì xảy ra chuyện rắc rối. Cô sẽ trách mắng rằng ông Mười muốn vu khống.
Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì? Sao làm cho ông giận?
Bỗng đâu một con chó săn từ ngoài sân chạy vào, con chó mà cậu Hai Điền nuôi lúc trước để săn heo rừng. Bọn vũ nữ la hoảng. Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì? Giết con chó cho tôi!
Con chó nhảy chồm lên, hai chân trước vịn vào bộ ván. Nó sủa lớn tiếng rồi hả miệng, lỗ mũi phồng lên, hướng về dĩa tôm, cái dĩa màu xanh mà người lão bộc bảo rằng có thể ngừa thuốc độc.
Không bỏ lỡ cơ hội, ông Mười Hấu cầm lấy một con tôm nướng, ném vào miệng con chó.
Con chó gục đầu xuống, há miệng ra.
Cậu Cẩu hỏi:
– Ông ngoại làm gì vậy?
– Con chó nầy không chịu ăn tôm nướng.
Bọn nữ tỳ đứng hơ hải nhìn nhau.
Ông Mười Hấu chú ý một điều quan trọng là Xí Vĩnh vẫn đứng đó, mồ hôi chảy ròng ròng trên trán.
Cậu Cẩu hỏi:
– Ông ngoại…nói sao?
– Đừng ăn mấy con tôm nướng đó!
Rồi ông Mười day ra sau lưng:
– Hộ vệ đâu? Bắt con chó nầy cho nó đứng tại chỗ. Nhét vô miệng nó vài con tôm nướng.
Bọn hộ vệ vừa đến là cậu Cẩu ra lịnh:
– Bắt tất cả bọn nữ tỳ dưới nhà bếp.
Con chó hả miệng, hửi từng con tôm trên nền gạch. Nó trợn mắt, day mũi qua hướng khác.
Ông Mười Hấu truyền cho bọn hộ vệ:
– Bắt con chó lại!
Hai tên hộ vệ chạy tới, cầm giữ bốn chân con chó. Con chó cứ sủa, hả miệng lởm chởm răng. Cậu Cẩu hỏi:
– Cái gì vậy, ông ngoại?
– Đầu độc! Con đi súc miệng…
Cậu Cẩu vẫn bình tĩnh:
– Ai đầu độc hồi nào? Cháu là người chơn mạng đế vương, tại sao nãy giờ cháu mạnh như rồng?
Nhanh như chớp, ông Mười Hấu lấy một con tôm đút liền vào miệng con chó. Con chó cứ sủa, không chịu nuốt. Bấy giờ cậu Cẩu bắt đầu lo sợ. Chó mà gặp tôm nướng thì táp ngay, đâu có bao giờ do dự.
Quả thật là mấy con tôm trong dĩa đều có tẩm thuốc độc.
Là người tinh ranh, Mười Hấu nói:
– Tụi bây cầm bốn chân nó cho chắc. Đứa nào mạnh thì cạy miệng nó ra.
Con chó săn vùng vẫy vô hiệu quả. Con tôm nướng nằm trong miệng con chó trong khi ông Mười nói gắt:
– Tao làm vầy coi mầy nuốt không?
Ngón tay ông ta bóp lỗ mũi con chó. Vì ngộp thở con chó nấc lên để tìm không khí. Con tôm chạy tuốt qua cuống họng.
– Được rồi!
Ông Mười Hấu ra lịnh buộc con chó vào góc cột. Quả nhiên, con chó trợn mắt đập đầu xuống nền gạch, đôi mắt đỏ ngầu như hai cục than lửa.
Rồi nó dậm chân, quào móng xuống nền, quào thật mạnh đến chảy máu. Nó nằm xuống, quơ bốn chân lên trời, sủa không ra tiếng.
Con tôm văng ra khỏi miệng con chó.
Cậu Cẩu lắc đầu:
– Ghê thiệt! Nhưng mà…nó còn sống.
Ông Mười Hấu quỳ xuống sờ vào ngực con chó. Con chó rú lên một tiếng dài, giống như trường hợp sủa ma lúc ban đêm.
Nó nằm nghiêng, bốn chân nhịp đều đều rồi nằm yên, miệng há hốc, máu đỏ tuôn chảy dài theo khoé mép.
– Nó chết rồi! Còn chối cãi nữa thôi!
Nói xong câu ấy, ông Mười mới sực nhớ đến một việc làm cần kíp:
– Hộ vệ đâu! Bắt nó!
Bọn hộ vệ nhìn nhau và chẳng một đứa nào biết rõ thủ phạm.
Một đứa hỏi:
– Thưa ông! Bắt ai bây giờ?
Cậu Cẩu vỗ bàn:
– Bắt tất cả mọi người ở…xứ nầy!
Ông Mười bèn nói với bọn hộ vệ:
– Cứ nghe lời tao. Bắt tụi đàn bà con gái ở nhà bếp.
Rồi ông ta nói rỉ tai tên hộ vệ thân tín nhứt:
– Coi cho kỹ đứa nào chạy trốn phía sau vườn. Phận sự của mầy là vậy thôi! Đừng bỏ sót bất cứ ai.
Con chó há miệng, bốn chân co rút lại. Cậu Cẩu trợn mắt, không có đủ thời giờ để mà sợ. Hai bàn tay cậu run lên, mấy ngón tay duỗi ra, co lại mò mẫn trên bộ ván, như hai con nhền nhện khổng lồ.
Bọn hộ vệ trở lên, lùa một đám bảy tám đứa nữ tỳ và hai ba bà lão. Họ cúi mặt, người này nắm tay người kia cho bớt run sợ. Họ biết rằng, cậu Cẩu đang giận dữ, đang nổi cơn điên. Hôm trước vì ho hen một tiếng mà Xí Vĩnh bị tuyên án tử hình. Hôm nay, nhứt định cậu sẽ hung hăng, xử tử cả bọn.
Nỗi vui mừng của ông Mười Hấu là thấy Xí Vĩnh đứng gần đám nữ tỳ ấy.
Nếu điều tra Xí Vĩnh, nhứt định ông tóm ra manh mối. Nhưng dầu sao đi nữa, ông vẫn còn nể nang cô Huôi. Nếu Xí Vĩnh khai ra cô Huôi giữa đám đông như vầy thì e xảy ra nhiều điều bất lợi.
Uy tín cô Huôi còn quá cao đối với bọn hộ vệ và dân chúng ở Hòn Chông.
Nếu Xí Vĩnh cung khai, ông phải bắt cô Huôi. Chừng đó chẳng một ai tin là sự thật. Thiên hạ sẽ bất mãn, đồn đãi rằng đây là âm mưu để trả thù cá nhân.
Bởi vậy ông Mười nói:
– Đem nhốt bọn nó, chiều nay ta liệu định. Những người khác thì về nhà. Ta cấm không được bàn tán, ra khỏi nhà.
Nhưng cậu Cẩu quát to:
– Ông ngoại hiền quá vậy! Đây là quyền hạn của tôi. Tụi nó giết tôi, tôi được quyền xử phạt theo ý muốn. Bọn vũ nữ này…hôi hám quá! Tao là người “chơn mạng đế vương”, trời đánh không chết, huống gì mấy con tôm nầy!
Cậu vung tay, ném từng cái dĩa vào mặt bọn vũ nữ, nhạc công:
– Đứa nào tránh né? Tránh né là xem thường ta!
Bọn vũ nữ kêu la ơi ới. Vài cô ôm mặt, miểng chén cắt đứt thịt da, máu chảy ròng ròng.
Cậu Cẩu ném tơi bời, hết dĩa tới chén:
– Đứa nào đầu độc tao?
Ông Mười Hấu liệu bề không đình hoãn được cuộc điều tra, nên đành lên tiếng:
– Mấy đứa nữ tỳ! Ai dọn mấy con tôm đó ra?
Một đứa lên tiếng:
– Thưa ông…cô Xí Vĩnh.
Nghe nói tới tên mình, Xí Vĩnh mím môi. Vì nãy giờ, nó đã chọn lựa một thái độ: liều chết, không bao giờ nhắc đến cô Huôi. Cô Huôi là người đáng kính nể. Để cô sống thì có ngày cô sẽ trả thù giùm nó. Vả lại, lúc đầu độc, cô Huôi vắng mặt.
Cậu Cẩu rít lên:
– Ư…Nhục nhã quá! Tao muốn cho mầy sống để làm gì? Bá Vạn giết chết cuộc đời con gái của mầy. Tao phải giết mầy, xé xác mầy mà ăn tươi nuốt sống. Phải mầy không?
Xí Vĩnh đáp:
– Nếu cậu bảo rằng tôi thì tùy ý cậu!
Cậu Cẩu chụp cái bình rượu, ném mạnh về phía Xí Vĩnh.
Xí Vĩnh hụp xuống.
Bầu rượu bể nát, rượu văng ra ướt áo. Cậu Cẩu nói:
– Mầy…dám kêu tao bằng cậu? Mầy không nhìn nhận tao là vua?
Xí Vĩnh cười lạt:
– Cậu chỉ là người phàm thôi.
Người phàm! Hai tiếng ấy khiến cậu Cẩu giận tột độ, hai tay run run:
– Tao là người phàm mà được nối nghiệp ông Chúa Hòn? Đừng nói xấu tao. Hộ vệ đâu?
Xí Vĩnh đáp:
– Tôi không sợ chết nữa. Để tôi nói chuyện.
Ông Mười Hấu không ngờ rằng Xí Vĩnh có bãn lãnh đến thế ấy. Nếu để lâu, cô ta sẽ chửi mắng, gây ảnh hưởng không tốt trước mặt bọn hộ vệ.
Nhưng cậu Cẩu nói to:
– Ai cấm mầy nói? Mầy là người không ra gì. Mầy mất nết với lão Bá Vạn.
Bọn hộ vệ cứ nhìn nhau. Tuy không nói ra, ai cũng nhận thấy rằng cậu Cẩu là người quá nhỏ mọn. Lý do khiến cậu oán ghét Xí Vĩnh hiện rõ rệt: khi về ở với cậu, Xí Vĩnh đã mất trinh tiết. Vì vậy, cậu mang mặc cảm nặng nề, muốn giết Xí Vĩnh. Và chỉ khi nào giết được, cậu ta mới cảm thấy rằng mình có oai quyền cao hơn Bá Vạn ngày trước.
– Cháu đem nó về nhà rồi tra tấn để hiểu đầu đuôi công việc. Chẳng lẽ nó dám làm chuyện nầy một mình! Đập rắn thì đập trúng ngay đầu, chớ cắt khúc đuôi thì ích lợi gì?
Vì quá tức giận, cậu Cẩu chỉ biết nhắm vào Xí Vĩnh:
– Tôi giết nó.
– Nhưng mà nếu nó chết thì còn nhiều đứa khác nổi lên để giết cháu.
Cậu Cẩu vẫn chưa hiểu được thâm ý của ông Mười Hấu:
– Đứa nào dám nổi lên? Tôi là bực “chơn mạng đế vương”.
Ông Mười đáp:
– Hoặc là…trong bọn nữ tỳ còn vài đứa khác, ác độc hơn con Xí Vĩnh. Nè! Uống rượu thêm đi cháu. Hộ vệ đâu? Bắt con Xí Vĩnh, trói lại rồi đem qua nhà tao.
Dường như cậu Cẩu chưa hết cơn điên. Hai tay cậu vung lên, ném tứ tung mớ chén dĩa còn lại trên bộ ván. Bọn nữ tỳ kêu la bài hải. Cậu nói:
– Lần nầy, nó phải chết. Ông ngoại à! Tôi nghe lời ông nhưng mà …ông nên nghe lời tôi.
Câu nói vô lễ ấy vẫn được ông Mười Hấu chấp nhận với thái độ bình thản:
– Cháu nói gì? Thì sớm muộn gì nó cũng chết. Lần nầy không có ai xin tội cho nó được đâu.
– Nó phải chết thật lâu.
– Lâu nghĩa là làm sao?
– Khó nói quá! Lát nữa, tôi tính toán kỹ lưỡng rồi nói cho ông biết. Như mấy người làm thịt gà, để con gà sống nhăn rồi nhổ lông. Coi nó dãy chết, tôi sung sướng lắm.




Đăng nhập để trả lời
0
 
-19-

Ông Mười Hấu ngồi uống trà, suy nghĩ cẩn thận. Nếu hỏi ý kiến cậu Cẩu thì tốn thời giờ và khó giải thích. Theo ý ông thì Xí Vĩnh ra tay theo lịnh cô Huôi .
Giết cô Huôi trong lúc nầy là thất sách, chưa ắt Xí Vĩnh cung khai sự thật. Nhưng ít ra, vụ án này khiến cô Huôi mất khá nhiều uy tín. Cô đã xin tội cho một đứa có tội, và đứa ấy đã tái phạm.
Ông Mười úp chén trà xuống dĩa, đứng dậy thay áo.
Trời đã xế chiều.
Khi ra sân, ông thấy bầu không khí quá buồn tẻ. Dường như sắp xẩy ra một biến cố quan trọng mà ông không đoán được. Bọn hộ vệ ngồi trong nhà mát ở mé sông. Ghe xuồng đều vắng bóng.
Nãy giờ một trận mưa nhỏ đã tuôn xuống Hòn Chông. Mấy ngọn đồi hiện ra sừng sững bên kia sông, màu xanh chàm
Gà gáy nghe não nuột từng hơi dài rồi chấm dứt, nặng nề. Mỗi tiếng gáy là mảnh kim khí rơi rụng xuống đáy nước. Gió thổi nhẹ, mấy ngọn trúc gục đầu xuống rồi hất lên.
 Ông Mười quơ tay, lau mặt.
Hai tên hộ vệ chạy theo, như thường lệ.
Ông khoát tay:
– Ai biểu? Để tao đi một mình.
Rồi ông lưỡng lự, đứng nhìn bọn nó. Rủi bọn nó là tay sai thân tín của cô Huôi thì làm sao ông trở tay kịp? Nhưng nếu đi một mình, dọc đường gặp kẻ bất lương thì ai chống trả giùm ông?
Mấy bụi lức, bụi nhãn lồng hiện ra bên đường. Vài con chim nhẩy nhót trên mặt đất.
Dưới mắt ông, mỗi gốc cây, mỗi ngọn cỏ đều là nơi ẩn nấp của quân thù. Bước chân ông như chập chờn, không chấm đất. Trong phút giây, ông nhớ tới cái chết của Bá Vạn. Dường như oan hồn Bá Vạn còn phảng phất đâu đây. Bọn hộ vệ của ông ta gồm trên năm mươi đứa, làm sao tin cậy được?
Rốt cuộc, ông quyết định:
– Ta cứ đi một mình. Nãy giờ chưa thấy ai hăm dọa ta. Nếu dẫn theo vài đứa hộ vệ, cô Huôi sẽ tức giận.
Đứa nữ tỳ đưa ông Mười vào gặp cô Huôi.
Cô vẫn bình thản, nụ cười trên môi như không chuyện gì xảy ra cả.
Ông Mười hơi sợ, vô cớ. Có lẽ vì cô Huôi quá xinh đẹp.
– Thưa cô…
Cô Huôi không nhìn lên:
– Ông ngồi! Buổi lễ vui vẻ chứ? Làm gì mà tôi nghe tiếng la hét, chén dĩa bị đập nát…
“Thật là lạ”. Ông Mười Hấu nghĩ thầm như thế. Hay là lúc xảy ra vụ đầu độc, cô Huôi có mặt tại nhà bếp?
Trong khi ông ngồi yên, cô nói thêm:
– Bọn nó cho tôi biết…
Dịp tốt để Mười Hấu đi vào vấn đề:
– Thưa cô, Xí Vĩnh đầu độc, con chó nằm chết. May là cậu Cẩu không ăn con tôm nướng…
Rồi ông nói rõ từng tiếng, như để tố cáo cô Huôi:
– Tôm nướng ở nhà bếp.
Cô Huôi đã hiểu nhưng vẫn trầm tĩnh trả lời:
– Ông Mười ngồi đó. Để tôi bảo đứa nữ tỳ đốt thêm một ngọn đèn sáng. Hôm nay, nhà hơi tối.
Ngọn đèn cháy sáng. Đứa nữ tỳ rút lui. Cô Huôi nói:
– Chuyện đó, tôi không biết rành. Vùng cậu Ba, muốn làm gì mặc ý.
Ông nắm hai tay như để giữ vững niềm tin. Trong khi ông còn phân vân chưa biết trả lời thế nào cho ổn thì cô Huôi lại cười, lần đầu tiên mà ông Mười nghe và thấy cô cười ra tiếng:
– Phận sự của tôi ở đây không phải là lo chuyện nhỏ nhặt. Bởi vì cậu Cẩu còn nhỏ, tánh tình nóng nảy bất thường nên tôi ở ngôi nhà nầy cho qua ngày. Tôi muốn về núi Đất từ lâu rồi, ở đây, tôi chán lắm! Đừng tưởng tôi thích ăn ngon, ở nơi cao ráo, có nữ tỳ bên cạnh.
Ông Mười Hấu nói:
– Thưa cô, cậu Ba muốn xử tử con Xí Vĩnh vì nó thú nhận tội lỗi. Cô muốn khuyên can gì không ?
Cô Huôi trợn mắt, nói to:
– Ông nói sao? Ông muốn ngồi trong nhà nầy hay là muốn ra ngoài sân? Tôi mà khuyên can cậu Ba để bênh vực con Xí Vĩnh. Tại sao ông…không khuyên can, vì nó là cháu ngoại của ông?
Đã đến đây rồi, chẳng lẽ về không. Lần đầu tiên, ông Mười Hấu bị mắng nhiếc to tiếng như vậy.
Mười Hấu van nài:
– Thưa cô, tôi nói lỡ lầm điều gì, xin tha thứ…
Nhưng không thèm nghe lời Mười Hấu, cô Huôi nói tiếp:
– Tôi bày ra cuộc lễ hôm nay là để cho cậu Ba nở mày nở mặt, lên địa vị cao. Ngoài ra còn gây tiếng tốt, khiến quân Lang Sa nể nang vùng Hòn Chông nầy. Nếu muốn đem binh rồng tướng mạnh tới đây, bọn Lang Sa phải điều đình, xin cầu hoà. Vậy thôi. Ở núi Đất, tôi sung sướng hơn. Tôi cất một kiểng chùa, mỗi ngày, tôi đến chùa hai lần. Tôi cho người đào ao sen, thỉnh thỏang tôi câu cá. Nhà chùa rộng rãi và mát mẻ hơn ở đây.
Mười Hấu cúi mặt:
– Thưa cô, cô ở đây để dạy cậu Cẩu. Nó là cháu ngoại, tôi nói nó không nghe bằng cô.
Cô Huôi hỏi:
– Bây giờ ông muốn gì? Tôi chỉ khuyên ông nên cẩn thận. Cậu Ba là đứa con nít, tôi tới đó để nghe cậu dạy đời sao?
– Dạ đâu có!
Mười Hấu cau mày, nghĩ ra một lời mời mọc khéo léo hơn:
– Tôi đâu dám nghĩ vậy. Nhưng con Xí Vĩnh khóc lóc muốn gặp cô, chắc cô thương xót người sắp chết.
– Thế gian nầy, sớm muộn gì vua chúa hay thường dân cũng chết. Tôi đi đây. Nhưng ông nên nhớ rằng tôi đi vì lời mời mọc của ông.
– Dạ, cô đến thì dễ dàng hơn. Trước khi quyết định chuyện quan trọng, tôi muốn hỏi ý cô.
Tại phòng khách của Mười Hấu, Xí Vĩnh bị trói vào cây cột, hai chân quỳ xuống.
Khi cô Huôi đến, Xí Vĩnh ngẩng mặt lên rồi nói cương quyết:
– Con xin cô ở lại bình yên. Con chết nhưng con vui lắm.
Ông Mười Hấu và cậu Cẩu ngồi trên ghế trường kỷ đối diện với cô Huôi. Bấy giờ, ông Mười biết mình vừa làm một việc vô ý thức, bất lợi.
Cậu Cẩu nói:
– Như vậy chừng nào tra tấn nó?
Cô Huôi cười dòn, nhìn thẳng vào mặt ông Mười Hấu:
– Ông gọi tôi tới đây để xem tra tấn chớ gì? Nếu vậy thì tôi về. Xí Vĩnh đã chịu chết, đã nhận tội. Tra tấn là làm chuyện ác độc.
Cậu Cẩu trợn mắt, chưa hiểu nên ứng phó cách nào. Lúc này, cậu muốn đánh đập Xí Vĩnh để nó cung khai rằng người bày mưu đầu độc chính là cô Huôi. Giờ đây, cô Huôi không tán thành việc đó. Cậu thử nhìn lên.
Đôi mắt cô Huôi như tỏa ra ánh hào quang. Cô nói:
– Cậu Ba nên nhớ hồi nào…cậu đem con Xí Vĩnh vô nhà. Muốn giết nó thì giết. Tra tấn trước khi giết là thái độ tầm thường. Người có “chơn mạng đế vường” chẳng lẽ lại cãi vã tay đôi với nó!
Bỗng dưng mà cậu Cẩu lại vỗ tay, reo lên như đứa bé:
– Phải rồi! Ta cãi vã, đánh đập người tầm thường để làm gì, giết thì giết cho nhanh.
Day qua ông Mười Hấu, cậu Cẩu nói như trách móc:
– Vậy mà ông ngoại biểu tra tấn nó cho nó cung khai.
Cô Huôi hỏi:
– Ông Mười, đúng vậy không? Ông muốn nó cung khai như thế nào? Tại sao cần có mặt tôi? Ở đây, ông có chức vị lớn hơn tôi hay là tôi có chức vị lớn hơn ông?...
Mười Hấu cúi mặt, trong khi cô Huôi đứng dậy nói tiếp:
– Vậy thì tôi về. Ở đây, mấy đứa hộ vệ lo cho ông.
Mồ hôi tràn xuống từng giọt trên trán ông Mười Hấu. Phải chăng cô muốn hăm dọa rằng tất cả bọn hộ vệ đều đứng về phe cô và giờ nầy cậu Cẩu cằn nhằn:
– Phải dè như vậy, tôi giết nó hôm qua cho xong…
Bầu không khí trở nên nặng nề. Thật ra, cô Huôi muốn ở lại an ủi Xí Vĩnh. Xí Vĩnh biết rằng mình đã thoát khỏi cuộc tra tấn dã man, nhưng dầu sao đi nữa, nó vẫn mang bản án tử hình. Nó gào lên:
– Xin cô ở lại.
Cậu Cẩu đấm mạnh xuống ghế:
– Mầy có quyền gì mà nói chuyện với cô?
Xí Vĩnh đáp:
– Cậu không được quyền gì chưởi mắng người sắp chết. Hay là cậu quen thói…lưu manh? Cậu là đứa hèn hạ, nếu không có cô đây giúp đỡ thì cậu chẳng ra cái gì cả! Hồi ở núi Mo So, tôi nhớ kỹ mấy người lớn tuổi nói rằng cậu chỉ biết đá cá thia thia.
Cậu Cẩu muốn giết ngay Xí Vĩnh nhưng còn nể nang cô Huôi:
– Ta là người …khí tượng đế vương. Hơi đâu mà nghe lời của người phàm.
Xí Vĩnh cười khanh khách:
– Nhưng người phàm tục nầy cứ chưởi kẻ chơn mạng đế vương như cậu lại tức giận. Cậu là đứa phàm tục, háo sắc, bất tài. Cậu bày mưu giết ông Bá Vạn. Không có cô giúp đỡ, giờ nầy cậu chỉ là đứa du đãng, sống vất vưởng với nghề hái ong ở núi Mo So…
Cô Huôi không ngăn được hai giọt lệ:
– Được rồi, Xí Vĩnh cứ yên tâm. Ngày mai ta rước ông đạo Đất tới cho mi được yên ổn tinh thần.
Rồi day qua ông Mười và cậu Cẩu, cô Huôi nói gắt:
– Sao nãy giờ chưa tuyên án xử tử nó cho ta nghe! Cứ xử vào trưa mai. Cậu Ba còn do dự quá.




Đăng nhập để trả lời
0
-20-

Tư Thiện ngồi uống trà. Lần đầu tiên ông ta được hân hạnh uống trà do cô Huôi rót ra, trao tận tay. Theo lời cô Huôi thì đây là chén trà thưởng tài năng và công lao, sau buổi lễ.
Nhưng ông ta cứ trầm ngâm. Chiều hôm qua cô Huôi đến nhà ông Mười Hấu để lo chuyện riêng, Tư Thiện lên trên núi để ngắm về phía Tây.
Vài người tiều phu đến chào ông rồi cho biết thêm:
– Phía biển, có mấy chiếc tàu đen ngòm, chạy tới lui phun khói.
Ông cau mày, giả vờ như chưa tin:
– Hay là…cá Ông, ông Nam Hải đại tướng quân hiện ra để cứu ghe khi sóng gió.
Họ đồng thanh trả lời:
– Làm sao tụi tôi lầm lẫn được!
Như vậy có nghĩa là người Lang Sa sớm muộn gì cũng tới vùng Hòn Chông nầy. Một trận chiến sẽ diễn ra. Cậu Cẩu sẽ chống cự tuyệt vọng vì quá khờ khạo như con ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung. Hồi ra đi, Tư Thiện đã hay tin rằng chợ Hà Tiên đã mất. Đó là phố thị cuối cùng lọt vào tay quân Lang Sa .
– Sao ông hơi buồn?
Câu hỏi của cô Huôi khiến Tư Thiện trở lại thực tế.
– Thưa, có chuyện gì?
– Nói trước thì ông hốt hoảng vô ích. Cậu Cẩu làm mà chẳng bao giờ nghĩ đến dư luận. Mấy chục đứa hộ vệ đâu phải là lực lượng mạnh.
– Tôi bình tĩnh lắm. Xin cô nói ra để tôi chia sớt phần nào…
– Chuyện riêng. Lát nữa ông thấy rõ. Uống thêm chén nước nữa đi.
Tư Thiện hơi thất vọng? Mối tình của ông ta chưa đến đỗi tuyệt vọng, nhưng ai dám đặt hy vọng vào một tương lai xa xăm, trong tình thế biến chuyển đột ngột.
Đứa nữ tỳ chạy vào, mặt mày hơ hải:
– Thưa cô…
Cô Huôi nghiêm mặt:
– Cái gì?
– Trời ơi! Họ làm lớn chuyện lắm. Năm bảy chục người ngồi sẵn dưới bến. Có một cái lồng bằng cây, như cái cũi nhốt heo.
– Còn gì nữa?
– Dạ, để con ra ngoài coi thử.
Tư Thiện không biết chuyện đầu độc nên hé miệng hỏi:
– Thưa cô…
Cô Huôi đáp:
– Ông cứ ngồi nhà, nếu rảnh thì đến trước sân mà xem cho hiểu thêm sự đời. Tôi bực bội lắm rồi. Thà về núi Đất mà vô chùa.
Đứa nữ tỳ lại trở vô nhà. Lập tức cô Huôi xỏ chân vào dép. Tên hộ vệ đến, nói khá to:
– Thưa bà, ông Mười dạy tôi đến trình với bà rằng lát nữa cậu Ba xử tử Xí Vĩnh trước bến.
Trong lúc cô Huôi muốn hỏi thêm vài chi tiết, bỗng đâu có tiếng trống nổi lên inh ỏi. Trống đánh ba hồi dài để chấm dứt bằng ba tiếng rời rạc, khô khan.
Cô ra lệnh cho tên hộ vệ:
– Ta đến bây giờ.
Dân chúng tụ họp khá đông ở bên kia rạch. Nắng lên cao, dưới rạch không một bóng người. Vài giề lục bình trôi nhanh về phía vàm biển, báo hiệu cơn nước ròng. Trước nhà cậu Cẩu, bọn hộ vệ đứng chỉnh tề, bao vây căn nhà mát. Đó là kiểu nhà thủy tạ cất gie ra ngoài sông hình lục giác. Khi ông Chúa Hòn còn sống, thỉnh thỏang ông và bọn hộ vệ xuống đó để câu cá, uống rượu.
– Cái gì vậy?
Nghe cô Huôi hỏi, tên hộ vệ hơi ấp úng. Mặc dầu câu hỏi quá mơ hồ, nhưng anh ta biết rằng cô muốn nói đến cái cũi thật to mà suốt đêm qua cậu Cẩu vẽ kiểu và kiểm soát thực hiện. Đó là cái lồng to cao vừa đầu người để nhốt Xí Vĩnh.
Cái lồng ấy được treo tòn ten trên cây trụ cắm nghiêng ra ngoài sông.
Tên hộ vệ thưa:
– Dạ, đó là để xử tử. Để…nhận nước cho Xí Vĩnh chết ngộp.
Cô Huôi thở dài, nghĩ đến Bá Vạn. Đúng là Bá Vạn đã làm bài toán sai lầm khi dựng cậu Cẩu lên làm ông vua con. Nếu cậu Hai Điền còn sống, làm sao xảy ra thảm cảnh nầy. Bá Vạn chết rồi, hơi đâu mà phiền trách.
Đáng lý ra, trong dịp nầy cô Huôi nên huy động dân chúng và bọn hộ vệ đến nhà cậu Cẩu để đốt phá. Nhưng bọn hộ vệ còn sợ oai cậu ta. Việc làm táo bạo như vậy khó bề thành công. Tốt hơn là nên nhẫn nhịn chờ dịp khác, không xa lắm.
Cô Huôi được mời ngồi ghế. Cô trả lời:
– Sao để ta ở gần mé sông? Ghê gớm lắm. Xí Vĩnh đâu có tội tình gì với ta? Ta đâu có lên án xử tử nó bằng cách nầy!
Mười Hấu hơi sượng sùng. Mục đích ông ta vẫn là áp đảo tinh thần cô Huôi. Dường như cô Huôi đã lo âu. Ông ta đã thành công một phần rồi.
Ông Mười Hấu nói:
– Xin lỗi cô.
Cô Huôi đáp:
– Để tôi ngồi phía sau, cậu Ba ngồi phía trước.
Cậu Cẩu bỗng dưng cười khan:
– Để tôi …trả thù ông Bá Vạn. Tôi nói nhiều lần rồi. Hễ làm chức lớn, mình phải được quyền giết vài người chớ. Giết được nó, tôi mới sung sướng.
Chiếc cũi cứ treo lủng lẳng, bốn phía bện bằng tre, với dây mây chằng chịt. Bên trong chưa có mặt Xí Vĩnh.
Cậu Cẩu nói lớn tiếng:
– Nó muốn giết tôi thì tôi giết nó! Đánh trống lên. Dẫn nó ra đây.
Cậu ngồi xuống, mặt day qua như dò xét phản ứng của cô Huôi.
Nãy giờ, cô chưa biết nên xử trí thế nào. Để Xí Vĩnh chết như vầy, cô đau xót và tủi hổ vô cùng, vì chưa tận dụng quyền lực để cứu nó.
Đột nhiên, một tên hộ vệ la lên:
– Có người tới! Người đó…
Ông Mười Hấu giật mình, ngỡ rằng cô Huôi đang xúi giục dân chúng nổi loạn:
– Ai? Người nào?
Cậu Cẩu quát to:
– Tụi bây đứng án bóng, dạt ra hai bên cho tao. Tao muốn biết ai tới đây? À!
Khi bọn hộ vệ bước qua một bên, cô Huôi nhận ra bóng dáng người đang đi tới. Đúng ông đạo Đất, không lầm lẫn gì cả. Ông chống gậy, mặc quần áo màu da, bước chân nhanh nhẩu. Từ xa, ông đưa cây gậy lên trời như làm dấu hiệu:
– Có tôi đây! Nên chờ tôi!
Trong phút giây, cô Huôi hối hận vô cùng. Sau hôm gặp Mười Hấu, cô biết rằng Xí Vĩnh phải bị xử tử nhưng chưa rõ ngày giờ và cách thức xử phạt. Cô đã nghĩ đến ông đạo Đất , muốn mời ông đến để an ủi Xí Vĩnh, luôn dịp cô hỏi ông đạo vài điều tương lai. Nhưng cô đã quên lửng.
Dầu sao đi nữa, sự có mặt đúng lúc nầy của ông đạo cũng là điều may mắn. Ít ra, Xí Vĩnh cũng được an cư trước khi thọ hình, sống thêm giây lát. Cậu Cẩu hỏi:
– Thưa dì…
Cô Huôi nói:
– Ông đạo Đất là người tu hành đáng kính mến. Xưa kia, nhờ ông mà cậu được ngày nay.
Ông đạo Đất tiến đến gần. Mười Hấu đoán chừng cô Huôi muốn nhờ oai quyền ông đạo để xin ân xá cho Xí Vĩnh.
Theo ý ông Mười thì hôm nay cậu Cẩu bày ra hình thức xử phạt quá độc ác dã man, nhốt Xí Vĩnh trong chiếc cũi rồi nhận xuống nước cho nó chết ngộp. Nhưng việc xử tử rất đúng, để hăm dọa gián tiếp cô Huôi, đồng thời để làm gương cho kẻ khác, nhất là bọn hộ vệ sẽ sớm đầu tối đánh.
Ông Mười Hấu hơi lúng túng:
– Chuyện gì đây, thưa cô?
– Thì ông đạo đến đây chứng kiến việc làm của cậu Ba.
Ông hỏi nhanh:
– Thưa cô, tại sao ông đến đúng giờ…bọn hộ vệ như bàn tán! Cô nghĩ thế nào?
Cô Huôi nói gắt, như tạt một gáo nước vào đầu Mười Hấu và cậu Cẩu:
– Tôi còn đây thì bọn hộ vệ còn tuân lời tôi. Hay là ông còn nghi ngờ bọn nó dính líu tới ông đạo Đất? Không đâu. Trăm việc đều do tôi. Khi ông Chúa Hòn và cậu Hai Điền chết bất ngờ, sau chuyến săn heo rừng, đáng lý ra, bọn nó đã nổi loạn, không phục tòng người mới. Nhưng có tôi. Tôi là người cũ. Tôi nói, thừa lịnh ông Chúa ngày xưa. Nãy giờ ông sợ hả?
Ông Mười cúi mặt, trong khi cậu Cẩu hơi bối rối. Theo lệnh cô Huôi, một tên hộ vệ đem ghế tới, mời ông đạo Đất.
Ông đạo mỉm cười, không nói gì hết, mặc dầu Mười Hấu nói vài câu xã giao.
Uống chén nước, ông đạo Đất lấy khăn lau mặt. Dường như ông muốn hỏi ý kiến cô Huôi bằng giọng nhỏ nhẹ:
– Hồi đêm rồi, tôi nằm chiêm bao, thấy một vì sao rụng ngay phía nầy. Hừng đông, thì thức dậy sớm, tôi tới đây.
Trong lúc ấy, cậu Cẩu và ông Mười Hấu đều nghiêng tai để nghe ngóng. Họ hiểu rằng xưa kia ông đạo nầy được cô Huôi kính trọng và chính ông đã tiên đoán ngày vinh quang của họ.
Cô Huôi nói rõ rệt:
– Ông đến đây là điều may cho Xí Vĩnh. Nó chết sau khi nghe ông dạy về việc sống chết trên cõi đời nầy.
Rồi cô nhìn thẳng vào cậu Cẩu:
– Ta không xin tha tội cho Xí Vĩnh đâu. Cậu cứ làm điều gì cậu thích. Nhưng cậu phải để cho ông đạo nói riêng vài lời với Xí Vĩnh.
Cậu Cẩu hơi lưỡng lự. Bao nhiêu thói xấu, hung bạo dường như tạm lắng xuống. Hôm qua, khi tuyên án Xí Vĩnh, cậu sung sướng như người lần đầu tiên cầm cây dao bén trong tay, gặp đâu cứ chém đó cho sung sướng. Người xung quanh kính nể và sợ cậu.
Hôm nay bầu không khí hơi khác.
Ngồi chờ quá lâu, dường như dân chúng bắt đầu chán nản. Bọn hộ vệ cứ nhìn nhau, vài đứa bàn tán chuyện riêng. Người lớn tuổi như Mười Hấu đâu khờ dại gì mà không hiểu tâm lý dân chúng. Nồi nước để trên bếp lò, nếu muốn nấu thì cứ chụm củi cho thật nhanh, chụm không dừng tay. Nếu do dự thì nồi nước trở nên nguội lạnh. Cậu Cẩu nói với cô Huôi:
– Dì tính sao?
– Tôi không muốn xen vô việc làm của cậu. Cứ hành động.
Ông đạo Đất nói:
– Tôi nghe dân chúng đồn đại về buổi lễ, tôi biết thế nào cô Xí Vĩnh cũng chết. Tôi tới đây, nếu cậu không thích thì tôi về.
Ông Mười Hấu nghĩ thầm: nên cứu vãn tình thế, cho ông đạo Đất an ủi Xí Vĩnh vài lời rồi hãy giết. Dân chúng và bọn hộ vệ sẽ cho rằng cậu Cẩu không quá ác độc.
Trong khi ấy, cô Huôi đè nén bao nhiêu tình cảm. Xí Vĩnh chết, cô ân hận suốt đời. Nhưng nó chết có lợi cho đại cuộc hơn. Dân chúng sẽ gớm ghiếc cậu Cẩu. Cậu ta có thể nổi cơn điên, làm nhiều điều xằng bậy, thất nhân tâm.
Đến lúc thuận tiện, cô ra tay nhanh chóng. Nếu cô xin tội cho Xí Vĩnh lúc nầy thì ông Mười Hấu và cậu Cẩu sẽ ngạo mạn, lấn hiếp và thanh trừng cô.
Cô Huôi nói gắt gỏng:
– Cậu Ba cho ông đạo an ủi Xí Vĩnh hay không? Đây là chuyện của cậu, ta không muốn can dự vào. Ta mệt rồi.
– Dạ, ông đạo cứ…tụng kinh.
Ông đạo trợn mắt:
– Đạo của ta không cần kinh kệ.
E rằng ông đạo sẽ nói nhiều chuyện kín với Xí Vĩnh, Mười Hấu truyền lịnh:
– Vậy thì đem con Xí Vĩnh tới đây, gần bên ông đạo.
Bọn hộ vệ vâng lời, hai đứa đến phía nhà sau.
Đứa hộ vệ giữ cái trống lên tiếng:
– Thưa cậu…đánh trống hay không?
Cậu Cẩu nổi cơn bực dọc:
– Kêu tao bằng cậu hả? Dẹp cái trống qua một bên.
Xí Vĩnh bước chậm rãi, ông Mười Hấu muốn tỏ vẻ khoan hồng rộng lượng nên ra lịnh cho bọn hộ vệ không trói tay.
Cô Huôi ngồi yên khi nghe cậu Cẩu hỏi:
– Dì tính sao?
Cô đáp:
– Cậu đã quyết định rồi, cứ thi hành.
Ông Mười Hấu hỏi:
– Rồi ông đạo ngồi ở đâu mà nói chuyện?
Cô đáp:
– Đó là chuyện riêng của ông ấy và người sắp chết. Tốt hơn là ta đừng dính líu vào. Nếu muốn nghe ổng giảng dạy, ông cứ lại gần. Tôi thì không.
Ông Mười Hấu cho trải chiếc chiếu, mời ông đạo Đất ngồi. Nhưng ông nầy lại từ chối, nhường chỗ sạch sẽ ấy cho Xí Vĩnh:
– Cô ngồi giây lát. Tôi ngồi trên đất dơ dáy cũng được. Vì tất cả mọi người, từ vua chúa đến dân gian đều lần lượt nằm trong lòng đất.
Câu nói vừa nghiêm trang vừa khôi hài ấy khiến bọn hộ vệ trố mắt nhìn nhau. Ông đạo Đất nói tiếp:
– Tôi lại đây đâu phải để nói chuyện với mấy chú! Ai mời mấy chú nghe.
Ông Mười Hấu ngồi sau lưng ông đạo với dụng ý nghe ngóng từng lời nói, đề phòng trường hợp ông đạo xúi giục bọn hộ vệ nổi loạn. Ông đạo như hiểu ý, day lại:
– Thưa ông, ông còn sống nhiều ngày, nghe làm gì? Tôi là bạn của ông mà! Ngày trước, tôi tiên đoán cô Huôi sẽ làm chức lớn. Và nhờ vậy mà ông và cậu Ba mới được quyền xử tử người khác, như hôm nay.
Ông Mười Hấu hơi bẽn lẽn:
– Xin lỗi ông…
Khi Mười Hấu đến ngồi bên cạnh cậu Cẩu, ông đạo Đất mới ngỏ lời:
– Cô Xí Vĩnh, chắc cô vui lòng mà chết.
Xí Vĩnh đáp:
– Tội tôi làm, tôi chịu. Nhưng thưa ông, chết là làm sao? Sau khi chết, người như tôi đi về đâu? Cực khổ hay là sung sướng? Đêm rồi, tôi sợ quá, nhưng sáng nay, tôi không còn biết lo sợ gì nữa. Bất quá tôi đau đớn thể xác trong giây lát. Hôm nay, gặp ông tôi quá mừng. Nghe đồn rằng ông biết tất cả mọi việc trong cõi nầy và sau khi chết.
Ông đạo Đất gật đầu:
– Người biết suy nghĩ như cô thì không còn phân biệt cái chết cái sống. Vì người chết sớm muộn gì cũng sống lại và người còn sống là người đang chết.
Xí Vĩnh rưng rưng nước mắt:
– Dầu sao đi nữa, sống mà chịu cực vẫn sướng hơn chết. Tôi chưa trả xong mối thù. Thù oán là chuyện vô ích, nhưng nếu để cậu Cẩu sống vài chục năm nữa thì bao nhiêu người phải chết oan ức. Ai mà tôn thờ được một người điên khùng như vậy. Tôi liều lĩnh nghĩ rằng mình nên trừ hậu họa cho dân chúng và bao nhiêu nữ tỳ khác. Bây giờ tôi hỏi ông: Nếu chết, tôi đi về đâu? Có thiên đường, địa ngục không?
– Câu hỏi đó, tôi nghe quá nhiều lần rồi. Bây giờ cô cứ nghĩ như vầy. Nếu có địa ngục, cô xuống đó chắc còn gặp nhiều người quen thân. Dưới địa ngục, từ mấy ngàn năm rồi, số tội nhân đông đảo gấp ngàn lần người trần thế. Trong đó, nhiều người là bà con với cô, họ chết từ trước. Nếu có thiên đường, cô lên trên ấy thì còn gì vui cho bằng.
Xí Vĩnh hỏi:
– Nếu như không có thiên đường địa ngục thì tôi đi về đâu?
Ông đạo Đất cười:
– Thì cô không đi về đâu hết. Tâm hồn cô thảnh thơi, không mừng vui, cũng không sợ sệt. Cô xem cái chết như trò chơi vậy thôi…
– Ông nói có lý.
Từ nãy giờ, ông Mười Hấu chờ đợi cho thời khắc trôi nhanh để giải quyết dứt khoát. Ông day qua cô Huôi:
– Cô tính sao?
Cô Huôi lắc đầu:
– Chuyện nầy do ông với cậu Ba bày ra thì hai người nên hỏi với nhau rồi sau này gánh lấy hậu quả.
Nói xong cô đứng dậy ra về.
Lúc bối rối, cậu Cẩu nổi cơn điên, nắm tay đấm mạnh xuống ghế:
– Xong chưa! Đánh lên một hồi trống. Dẫn nó vô trong cái cũi. Chẳng lẽ ta bày ra cái cũi mà không xài tới.
Khi bọn hộ vệ đến gần, Xí Vĩnh hỏi, giọng run run:
– Thưa ông, tôi đủ sức để chịu đựng cái chết này không?
Ông đạo Đất gật đầu:
– Dư sức chịu. Cô nên can đảm. Rồi đây tất cả mọi người có mặt hôm nay đều lần lượt gặp cô trong cõi chết. Cô đâu chết một mình. Nhiều ông vua giàu sang đã chết trước cô rồi!
Xí Vĩnh bước nhanh, hai tay bị trói ra sau lưng. Khi đến gần cậu Cẩu, Xí Vĩnh la rống lên:
– Cậu giết tôi cậu nhớ đó!
Cậu Cẩu xám mặt lại:
– Sao? Xí Vĩnh muốn sống thì cứ quỳ lạy, ta tha cho.
Xí Vĩnh đáp:
– Cậu là người sắp chết, đâu có quyền lực gì để tha tội cho một người như tôi. Tôi không cần.
– À! Cho nó chết.
Xí Vĩnh phun nước bọt vào mặt cậu Cẩu:
– Cậu là người đáng khinh. Vì khinh rẻ cậu nên tôi chết cho cậu thấy. Thế gian nầy có ai sợ cậu đâu? Cả xứ này nổi lên giết cậu.
Cậu Cẩu đứng dậy:
– Nhốt nó trong cũi. Đóng cửa cũi lại rồi thòng xuống nước, từ từ.




Đăng nhập để trả lời
0
-21-

Cậu Cẩu trở mình, đập tay xuống giường.
Ông Mười Hấu ngồi bên cạnh, thỉnh thỏang lấy cái khăn nhúng vào dấm, đắp lên trán đứa cháu ngoại.
Nhưng dường như cơn bịnh không thuyên giảm chút nào cả. Hồi chiều cậu không ăn cơm, cứ ném dĩa vào đầu bọn nữ tỳ. Ông Mười Hấu năn nỉ mãi cậu mới chịu uống chút nước nóng rồi nằm xuống.
Ngỡ rằng cậu đã ngủ yên, ông Mười đặt lưng, dỗ giấc ngủ. Đột nhiên, ông Mười thức dậy, nhào tới để cản ngăn. Thế rồi cậu Cẩu bứt tất cả nút áo ngồi dậy sẵn.
Ông Mười lên tiếng:
– Cháu uống rượu không?
Cậu chụp cái tô, đưa lên miệng. Ông Mười nói:
– Không được! Đó là dấm, chua lắm, để ông kiếm nước nóng.
– Cứ uống cho mát.
Vừa nói, cậu vừa nâng cái tô, uống ngon lành. Ông Mười giựt ra. Cậu trợn mắt, nắm vành cái tô ném mạnh vào vách:
– Muốn chết thì lại gần tôi ! Còn ông nầy! Ra ngoài! Tôi giết bây giờ, ông là ai?
Trong lúc ông Mười bối rối, cậu Cẩu nghiêng mình đỡ cái ghế cẩm thạch lên vai. Lạ thật, cái ghế quá nặng, ấy thế mà đêm nay cậu đủ sức làm lay chuyển. Dẫu biết rằng lời can gián không còn hiệu quả nữa, ông Mười vẫn thét:
– Cháu ơi! Để ông khiêng cho!
Cậu Cẩu đứng thẳng người :
– Đâu cần tới ông…
– Nhưng cháu coi chừng, rủi cái ghế rớt xuống, dập tay dập chân thì sao? Để xuống nền gạch đi. Cháu muốn gì thì ông gọi bọn hộ vệ vô tiếp…
Cậu Cẩu nghiêng mình, buông tay. Cái ghế rớt xuống khiến nền đất rung rinh. Thân ghế tiện bằng cây trai, nặng như đá, trên ghế lại còn miếng cẩm thạch Vân Nam khá dày.
– Làm sao bây giờ?
Lúc bối rối, ông Mười Hấu định dùng võ lực để đè đứa cháu xuống. Lần này, ông lại thua mưu trí cậu Cẩu. Cậu nhảy tới chụp thếp đèn dầu, ném vào vách. Gian phòng tối om như mực.
Tiếng cậu quát to:
– Tao giết mày. Mười Hấu ơi!
Nhanh như chớp, ông Mười chạy ra ngoài, vói tay lại đóng cánh cửa. Đến phòng bên cạnh, ông thấy đứa con gái đang ngồi, hơ hải. Ông gọi:
– Ngó ơi! Thằng con của mầy tệ quá rồi.
Cô Ngó hỏi:
– Sao vậy? Nãy giờ con muốn qua thăm nhưng con sợ…
Ông Mười Hấu đáp:
– Nó nổi cơn điên.
Vì quá thương con, cô Ngó nói để cho riêng cô nghe:
– Thì hồi nào đến giờ, nó nổi cơn từng chập.
– Nhưng con ơi! Lần này thì khác. Con nên giữ kín, đừng cho người ngoài biết. Hồi đầu hôm, nó ra lịnh đuổi tất cả bọn hộ vệ ra ngoài thật xa. Nó sợ bị ám sát. Bây giờ nó nhịn cơm, cứ uống giấm thay nước, rồi nó ném cái ghế cẩm thạch.
– Ba kêu thầy thuốc tới chưa?
Ông Mười lắc đầu:
– Nó giết luôn ông thầy thuốc. Rước thầy bùa thì họa chăng? Khổ lắm. Nếu thiên hạ đồn đãi rằng nó mang bịnh ngặt thì còn ai tin cậy nó nữa.
Trong phòng, cậu Cẩu gào lên:
– Má ơi! Lại đây con biểu.
Lối ăn nói vô lễ ấy khiến cô Ngó cười ra nước mắt. Con cái trong nhà, biết làm sao bây giờ. Dầu gì đi nữa, cô cũng mừng thầm vì cậu Cẩu vẫn còn sống và khoẻ mạnh.
Ông Mười tìm cái thếp đèn, đốt lên rồi trao cho con gái:
– Con qua thăm nó. Bên đó, đèn tắt rồi.
Khi chưa đến ngưỡng cửa, cô Ngó đứng lại vì có tiếng khóc nức nở:
– Khổ tôi quá. Tôi chết rồi.
Cô Ngó kêu cứu với cha:
– Ba đi theo con.
– Phải đó. Nhưng con nên cẩn thận. Nó đang lên cơn điên. Đừng vội vã, nó giận thêm vô ích.
Ánh đèn chiếu sáng gian phòng. Khi bước vào, cô Ngó sửng sốt vì không thấy hình bóng cậu Cẩu ở đâu cả.
Cái ghế nằm ngổn ngang choán góc phòng. Miểng tô, miểng chén chớp lên, đầy nền gạch. Cô gọi to:
– Con ơi!
Đến gần giường, cô mở mí mùng lên. Ngoài cái gối và cái mền thì chẳng còn gì khác. Cô day lại gọi ông Mười Hấu:
– Ba ơi! Nó đâu rồi?
Ông Mười chạy vào, quan sát kỹ lưỡng. Phòng kín không có cửa sổ thì cậu thoát ra bằng nẻo nào được! Ông ngẩng đầu, trông lên mái ngói:
– Lạ thiệt!
Trong lúc đó, cô Ngó quỳ trên nền, khom lưng trông vào gầm giường. Đúng là cậu Cẩu. Cậu đang nằm khoanh, đầu gục xuống ngực, hai tay che mặt, hai chân co rút.
Cô gọi:
– Con ơi! Má đây nè.
Cậu Cẩu nói:
– Má cứu con. Con té xuống nước.
Bấy giờ cô Ngó mới đoán ra lý do cậu Cẩu phát điên. Đó là hình ảnh Xí Vĩnh. Hồi sáng, Xí Vĩnh bị nhốt trong cũi thòng xuống nước cho chết ngộp.
Lúc nóng nảy và hăng hái, cậu Cẩu chưa thấy hậu quả tai hại. Về nhà, khi nằm lên giường, cậu mới nhớ đến Xí Vĩnh. Chăn gối còn đó, làm sao cậu quên được.
Cô Ngó chui vào, vỗ nhẹ lên đầu con:
– Má đây nè! Con ra ngoài chơi. Có gì mà sợ sệt! Đói bụng không? Má nấu cơm cho con ăn.
Cậu Cẩu ngoan ngoãn bò ra ngoài rồi ngồi lên giường. Cậu lại la lên:
– Nó đó! Nó nằm dưới nước, mình mẩy lạnh ngắt. Nó thò hai tay bóp cổ tôi…
Cô Ngó đáp:
– Con đừng sợ. Con Xí Vĩnh chết, bị chôn rồi.
Cậu Cẩu cau mày:
– Chôn cách nào? Phải làm một cái quan tài bằng đá, tệ lắm là bằng cây trai, để xung huyệt rồi dằn lên mấy lớp đá. Còn cái cũi nhốt nó, đâu rồi?
Vì sơ ý, cô Ngó trả lời vu vơ:
– Chắc là bỏ đâu đó! Con hỏi làm chi vậy?
Cậu Cẩu đập đầu xuống giường, gào khóc thảm thiết:
– Hèn gì tôi thấy con Xí Vĩnh trồi hụp, tay nó xé mấy cái cây chấn song, móng tay nó sứt ra hết, máu chảy có vòi, mặt nước thì sôi ùng ục. Một chân nó đạp xuống, dính vào kẽ hở rút lên không được. Da thịt nó lạnh ngắt, hồi nãy nó chạy vô đây….
– Con ơi!
Cô Ngó kêu gọi tuyệt vọng nhưng chưa dám lại gần. Chưa chi cậu đã hăm he:
– Lại gần đây tao liệng cái thếp đèn, phun máu đầu nghe chưa?
Cô chạy ra, đóng cửa phòng lại.
Một tiếng “bốp” vang lên. Thếp đèn đổ vỡ, tim đèn bốc cháy thành ngọn khá cao trên nền gạch. Thấy ánh lửa, ông Mười Hấu la hoảng, lấy cái mền ở bên ông, chạy vào chụp thật nhanh.
Ngọn lửa tắt hẳn.
Dưới gầm giường, cậu Cẩu rên hừ hừ:
– Nó nhốt tôi trong cái cũi. Nó nhận nước, tôi thở không ra hơi.
Đã đến lúc ông Mười Hấu đưa ra quyết định, nhưng ông chưa đủ tự tin. Ông bàn với cô Ngó:
– Con nghĩ sao? Ba mời cô Huôi tới.
– Chi vậy?
– Họa chăng cô Huôi mới đủ tài trí dàn xếp chuyện nầy.
Cô Ngó vốn ganh tị nên phản đối ngay:
– Làm vậy, cô Huôi thấy mình là quan trọng.
– Con ơi! Lúc nầy địa vị mình ở đây yếu ớt lắm. Nếu biết thằng Cẩu mắc bịnh điên nặng, không tài nào chạy chữa thì bọn hộ vệ sẽ đứng về phía sau cô Huôi. Ai còn tin cậy cha con mình!
– Nhưng mình nên giấu kín.
– Khó lắm. Sớm muộn gì bọn hộ vệ và dân chúng Hòn Chông cũng biết. Họ ghét, có một thì đồn đãi tới mười. Chi bằng cha chịu mất mặt, đến gặp cô Huôi, nhờ cô bày mưu kế.
– Liệu cô giúp đỡ không? Con biết chuyện thằng Cẩu giết Xí Vĩnh khiến cô Huôi buồn giận.
– Để ba lo. Con ở nhà coi chừng trong ngoài. Ba đi bây giờ…
Khi ông Mười Hấu ra sân trong phòng vang ra nhiều tiếng khua động ầm ầm. Bọn hộ vệ ngồi dụm năm dụm ba trước sân.
Gà gáy văng vẳng báo hiệu canh tư.
Ông Mười Hấu giựt mình khi bọn hộ vệ trước cổng vụt đứng dậy.
-       Cài gì! Tao mà! Tụi này đêm nay sao không ngủ bớt.
Một tên hộ vệ nói :
-       Thưa ông, thấy ông thức, tụi tôi ngủ sao được. Đó là phận sự. Nếu có điều gì, ông cứ dạy tụi tôi.
Đột nhiên, ông Mười Hấu nảy ra một sáng kiến ; bắt nhốt tất cả bọn hộ vệ. Nhưng làm vậy bất tiện quá, nếu bọn chúng kháng cự thì ông làm sao ? Vả lại, muốn làm được chuyện đó ông phải nắm sẵn trong tay ba bốn đứa thân tín.
Bọn hộ vệ nhìn nhau lấm lét. Ông cằn nhằn :
-       Ra ngoài. Ai cho tụi bây nghe lén chuyện trong nhà ! Ra ngoài thật xa…




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2021 13:31:26 bởi Ct.Ly>
 
-22-

Tư Thiện ngồi uống rượu, trong căn nhà riêng sau nhà cô Huôi. Tuy không được chứng kiến cái chết của Xí Vĩnh, ông ta đã nghe dư luận đồn đãi, với khá nhiều chi tiết: nào là Xí Vĩnh bị nhốt trong cái cũi rồi trấn xuống nước, nào là cậu Cẩu muốn giết Xí Vĩnh để hăm dọa cô Huôi.
Nhưng đó là vấn đề phụ thuộc.
 Cô Huôi đã vắng nhà. Đứa nữ tỳ cho biết là cô đến nhà cậu Cẩu. Tư Thiện khen thầm:
– Đàn bà như vậy thiệt là đủ khí phách, xứng đáng làm bà chúa một cõi. Nếu nhu nhược thì bọn Mười Hấu sẽ giết luôn tới cô.
Nghĩ vậy, Tư Thiện bèn khóa cửa lại, không muốn cho bất cứ ai thấy mặt ông ta. Cũng may là bọn Mười Hấu quá quê mùa. Nếu biết nhìn xa hơn, Mười Hấu đã bắt ông ta để hăm dọa cô Huôi, như trường hợp Xí Vĩnh.
Tuy chưa đầu độc cậu Cẩu, nhưng Tư Thiện vẫn còn bản án treo mà bất cứ giờ phút nào Mười Hấu cũng được quyền đem ra xét xử lại: tội tình nghi làm gián điệp cho quân Lang Sa.
Mười Hấu chưa làm, vì dưới mắt ông ta, Lang Sa chỉ làm một nhóm vài trăm người, đến Rạch Giá vài mươi hôm để thị oai rồi qua xứ khác.
Tư Thiện khóa chốt cửa, nằm xuống.
Đột nhiên có tiếng gọi to:
– Ông ơi!
Đúng là giọng đứa nữ tỳ. Ông ta hỏi kỹ:
– Ai đó?
– Dạ, con!
– Chuyện gì lạ mà kêu tôi?
– Dạ, có người mang đến cho ông một gói trà.
Lập tức, Tư Thiện mở cửa. Đứa nữ tỳ cầm gói trà trên tay. Ông ta hỏi:
– Người đó đâu rồi?
– Dạ, họ muốn vô đây, nhưng con không cho. Họ nói rằng gói trà nầy để khen thưởng ông về buổi lễ.
– Được rồi!
Khi đứa nữ tỳ vừa quay mặt, Tư Thiện đóng cửa thật nhanh rồi mở gói trà. Trống ngực ông đánh mạnh nghe thình thịch. Ông để gói trà trên bàn, tự hỏi:
– Ai mà có quen với ta?
Gói trà được mở ra, để hé miếng giấy nhỏ, bên góc có ghi rõ ba lằn màu, hai lằn thì đúng hơn: xanh và đỏ, chính giữa có khoảng trắng.
Tư Thiện chụp miếng giấy, xé cái góc có ba sọc ấy mà bỏ vô miệng nhai nuốt. Ông ta trợn mắt, đọc mấy hàng chữ bên dưới. Đó là chữ Nho, do người thông ngôn ở đồn binh Rạch Giá gởi cho ông.
Lá thơ rất ngắn, đại ý người thông ngôn chuyển lời hỏi thăm đến Tư Thiện, cho biết rằng chừng mười ngày nữa có thể người Lang Sa kéo binh đến Hòn Chông.
Binh số Lang Sa rất ít, chừng mười người. Nếu thấy không có gì bất lợi, ngày mai Tư Thiện nên ra mé rạch mà đứng hai tay khoanh trước ngực để làm dấu hiệu.
Xem xong, Tư Thiện xé miếng giấy bỏ vô miệng. Với một tô nước trà nóng, ông ta nuốt gọn cái tài liệu quan trọng ấy.
Dưới mắt Tư Thiện thì vùng Hòn Chông nầy có địa thế hiểm trở. Gặp lúc khác, chưa ắt quân Lang Sa kéo đến được. Nhưng đây là lúc nhân tâm ly tán, ai nấy đều ngán cậu Cẩu. Với mười người và đôi ba khẩu súng, người Lang Sa và lính mã tà có thể bắt sống hoặc giết cậu Cẩu.
Điều thắc mắc của Tư Thiện vẫn là cô Huôi. Cô Huôi nên thương thuyết rồi đầu hàng trong danh dự với quân Lang Sa, Tư Thiện sẽ đóng một vai tuồng quan trọng.
Dạo nầy chắc cô Huôi đã chán chê cái địa vị bà Chúa Hòn rồi. Nếu cô thỏa thuận, nhà cầm quyền Lang Sa sẽ phong cho Tư Thiện làm chức tri huyện hoặc cai tổng. Chừng đó cô Huôi được tự do tái giá, không sợ dư luận. Hai vợ chồng tha hồ ngao du đó đây, sống với chút ít bổng lộc và huê lợi ruộng vườn.
Nói ra quá sớm, liệu cô Huôi tin lời không?
Lại còn cậu Cẩu! Nhứt định là cậu sẽ phản ứng mãnh liệt để rước lấy thảm bại nhục nhã. Nghe tiếng súng, bọn hộ vệ sẽ chạy trốn. Đó là chưa nói đến trường hợp vài đứa làm nội ứng hoặc đến đầu hàng trước khi người Lang Sa nổ súng.
Tư Thiện qua thăm cô Huôi.
Cô ngồi dậy đón tiếp ân cần:
– Khó lắm. Ông ráng chịu đựng vài ngày nữa là xứ nầy có nhiều chuyện thay đổi.
Nghe qua, Tư Thiện sửng sốt. Hay là cô Huôi đã bắt gặp đứa nữ tỳ lúc nó liên lạc với người từ Rạch Giá đến?
Ông ta hỏi:
– Thưa cô, hỗm rày chắc có chuyện lạ.
Cô Huôi lơ đểnh:
– Ông biết rồi, thấy rồi. Cậu Cẩu đang hung hăng đến mức tôi muốn tránh xa vài ngày. Ở đây, lúc cậu nổi cơn điên, có thể tôi bị mang họa. Còn ông thì nên tránh mặt. Ông Mười Hấu như người cỡi con trâu điên. Con trâu chạy lẹ, đụng đâu chém đó. Ông Mười chỉ biết cầm roi quất mạnh cho con trâu bớt điên, quay trở lại chuồng cũ. Nhưng càng quất thì con trâu càng chạy mau.
Tư Thiện phục thầm sự nhận xét của cô Huôi. Nhưng nếu cô Huôi ra đi, ông ta sẽ bị lấn hiếp, tội trạng cũ còn rành rành đó.
– Thưa cô, cô tránh về đâu?
Đôi mắt cô Huôi trở nên mơ màng:
– Về quê, ở với cha. Cha tôi hiền lành và khôn ngoan lắm. Ông không bao giờ đòi hỏi địa vị, danh vọng. Năm ngoái, tôi giúp ông một số tiền. Tuổi già, đâu cần ăn uống, rượu thịt. Ông đem tiền ấy trao cho một ông đạo, nhờ xây cất một ngôi chùa nhỏ. Tôi về ngôi chùa đó, xem thử còn thiếu sót điều gì không? Hoặc là cần dùng ít tiền nhưng mấy tháng qua, sư sãi không cho tôi biết.
Tư Thiện nói:
– Làm sao tôi theo cô cho tấm thân được an nhàn!
Như hiểu thâm ý của Tư Thiện, cô Huôi nói:
– Bây giờ thì chưa được. Nhưng ông đừng buồn. Đó là trời định. Ngày xưa, nghe ba tôi nói lại thì phen đó bông quỳnh hoa nở rộ. Ông đạo Đất biết rằng hễ hoa nở thì tôi được làm bà Chúa. Điều ấy đúng thật. Nhưng khó lắm. Số mạng của tôi giống như đóa hoa.
– Cô nói sao tôi chưa hiểu.
– Hoa có ba thời kỳ: khi mới trổ búp, khi nở và khi tàn héo rụng xuống.
– Bây giờ, cô đang lúc trổ bông?
Cô Huôi cười:
– Ông khen tôi. Nhưng tôi hiểu tôi nhiều hơn người khác. Quỳnh hoa là thứ hoa sớm nở tối tàn. Đáng lý ra tôi gặp nhiều tai nạn. Nhờ biết xử sự khéo léo, tôi sống đến ngày nay. Hoa trổ búp là lúc mới gặp ông Chúa Hòn. Bây giờ thì hoa nở, sắp sửa tàn héo.
Sự nhận xét ấy khiến Tư Thiện ngạc nhiên. Tuy rằng cô Huôi không hiểu tình hình chiến sự, không liên lạc với người Lang Sa hoặc triều Huế, nhưng cô đi đến một kết luận giống như Tư Thiện, căn cứ vào số tử vi.
Quả thật, cái địa vị bà Chúa Hòn của cô đã quá lung lay, chỉ còn là danh từ đẹp, tượng trưng, cho hậu thế nhắc nhở thôi.
Một khi quân Lang Sa kéo đến, làm sao cậu Cẩu chống nổi! Với tư thế yếu kém, dẫu ăn nói khéo léo đi nữa, cô cũng phải đầu hàng kẻ có khí giới mạnh hơn.
Tư Thiện cúi đầu chào:
– Thưa cô, tôi về.
Cô Huôi hỏi kỹ:
– Ông gặp tôi, có chuyện gì không? Nếu ai lấn hiếp, cứ cho biết.
Tư Thiện đã quá thỏa mãn. Ngày giờ mà ông ta được gần gũi cô Huôi đã gần kề. Cô Huôi là người biết sống tùy thời.
Cô Huôi nằm ngủ thiu thiu.
Đâu vào khoảng nửa đêm, cô giựt mình thức dậy. Phía nhà ông Mười Hấu đèn đuốc tối om.
Cô ra lịnh cho nữ tỳ:
– Tắt đèn ở phòng khách, khóa cửa cẩn thận, ai kêu thì đừng mở.
Nữ tỳ hỏi:
– Nếu họ kêu theo lịnh ông Mười hoặc cậu Ba thì làm sao?
Cô Huôi nói:
– Cứ bảo rằng ta đi vắng, thí dụ như ta đi chùa lễ Phật.
Bọn hộ vệ cứ chạy tới lui ngoài đường. Chúng nó bàn tán qua lại về cơn điên của cậu Ba. Có đứa quả quyết rằng oan hồn cûa Xí Vĩnh hiện về, nước dưới sông sôi lên ùng ục rồi từng cục lửa đỏ ké bay bổng đáp xuống nhà cậu Cẩu.
Cô Huôi ngáp dài, cố quên sự thất bại.
Ngủ một giấc, cô giựt mình thức giấc. Đứa nữ tỳ đem ngọn đèn từ nhà bếp lên. Nó khoát tay:
– Thưa cô, có người lạ.
Cô Huôi hỏi:
– Ai mà đến giờ nầy ? Ta đã căn dặn đừng cho họ vào nhà. Bọn hộ vệ ở ngoài cổng có xét hỏi không?
Nữ tỳ đáp:
– Đứa hộ vệ kêu cửa trước rồi kêu cửa sau. Con sợ bị cô rầy nên không dám lên tiếng. Lát sau đứa hộ vệ nói rằng ông Mười Hấu muốn tới đây.
Nghe qua, cô Huôi hơi bối rối. Mười Hấu đến nhà, lúc mặt trời chưa mọc, thì quả là ông ta đang thi hành thủ đoạn đen tối gì đó.
Chẳng lẽ ông ta tới đây để giết cô, hòng dẹp trừ tất cả những người chống đối!
Nhớ đến Mười Hấu, cô Huôi vẫn giữ thái độ cố hữu, không xem ông ta như kẻ thù. Là người lớn tuổi, ông ta luôn luôn trầm tĩnh. Nếu muốn giết cô, ông ta cũng cần chờ một vài tháng nữa. Bá Vạn và Xí Vĩnh bị giết, dân chúng đang xôn xao, bọn hộ vệ thì hoang mang đến cùng cực. Ngu dại gì mà Mười Hấu đến gặp cô để giết? Nghĩ vậy, cô nói lớn giọng:
– Ai muốn gặp ta? Hộ vệ đâu.
Từ ngoài kia, tên hộ vệ nói vọng vào:
– Dạ, ông Mười!
Như chờ đợi quá lâu nên sốt ruột, Mười Hấu lên tiếng:
– Thưa cô, tôi đây.
Cô Huôi hỏi:
– Ta là đàn bà, chẳng một ai được tới đây gặp ta lúc ban đêm. Tại sao không đến lúc ban ngày. Hãy chịu khó chờ khi mặt trời mọc. Phải Mười Hấu không? Hay là người khác giả dạng, tới đây bày trò ám muội?
Mười Hấu đau xót và lo sợ vô cùng. Lời của cô Huôi quá cứng rắn và lạnh lùng. Dường như cô muốn bỏ rơi tất cả sự nghiệp và khinh thường ông. Cô dám thách đố công khai.
Ứng phó cách nào bây giờ? Mười Hấu cứ gãi đầu, nói lẩm bẩm:
– Tội nghiệp tôi. Tôi đến một mình. Đến lúc nầy là thất lễ, nhưng…
Làm sao ông Mười dám nói sự thật! Cậu Cẩu đang nổi cơn điên, bò lăn trên nền nhà. Trời gần sáng rõ, nếu cơn bịnh kéo dài thì còn gì thể diện?
Bọn hộ vệ đang bàn tán và khinh khi cậu Cẩu. Lúc nầy, nếu cô Huôi triệu tập bọn chúng rồi ra lệnh là cậu Cẩu và luôn cả ông Mười phải trở thành xác không hồn.
Cô Huôi nói:
– Tại sao biết thất lễ mà cứ tới? Ông là đàn ông, tôi là đàn bà. Rồi đây, nhiều người nói xấu tôi.
Mười Hấu chưa biết trả lời thế nào cho gọn. Mặt trời sắp mọc, phương đông vài đợt mây nằm vắt ngang chân trời. Nếu chờ đợi thì e trễ nải công việc.
Một tên hộ vệ chạy nhanh vào:
– Ông ơi! Thưa ông…
– Cái gì?
– Đằng kia lửa cháy!
Mười Hấu truyền lịnh:
– Cứ múc nước tưới! Tụi bây chậm chạp quá.
– Dạ, lúc nãy ông không cho phép tụi tôi lại gần nhà.
– Bây giờ tao cho phép…
Rồi ông Mười gõ cửa nói nghẹn ngào:
– Cô ơi! Xin cô giúp giùm. Bằng không, tôi tự tử.
Cô Huôi nghe được câu chuyện bên ngoài. Đúng là cậu Cẩu nổi cơn điên. Vì chính ông Mười đang sợ sệt, không dám cho bọn hộ vệ đến gần nhà.
Cô ra lệnh cho nữ tỳ:
– Đốt thêm một ngọn bạch lạp rồi mở cửa.
Vừa qua khỏi ngưỡng cửa, ông Mười quỳ xuống:
– Xin cô giúp giùm.
Để ông Mười được bình tĩnh, cô Huôi khoát tay đuổi đứa hộ vệ. Nữ tỳ khép cửa lại.
Cô ra lệnh cho nữ tỳ vào trong rồi nói:
– Ông Mười cứ nói thật.
– Tôi biết cô buồn giận…
– Ừ! Đã biết thì còn tới đây làm gì? Cậu Ba giết ai thì giết. Cậu đủ quyền hạn, nhưng dùng cái cũi để nhốt một cô gái rồi nhận nước thì quả thật là tàn ác. Dân chúng tới xem, họ sợ sệt. Hễ quá sợ thì họ không còn sợ nữa. Ít ra, khi đóng cái cũi, ông nên cho tôi biết. Bây giờ cậu Ba nổi cơn điên!
– Dạ phải. Xin cô tới, nói cách nào cho cậu …bớt điên.
– Ông đến đây chỉ vậy thôi?
– Vì sợ cậu Ba chết thình lình, tôi cầu cứu với cô. Lúc nãy, cậu đốt nhà…
Cô Huôi đứng dậy, ra đứng trước sân. Ngọn lửa từ từ hạ xuống. Đúng là điềm cậu Cẩu sắp chết. Bỗng dưng mà cô Huôi cười khanh khách:
– Ông cho tôi là người lên đồng lên bóng, là thầy phù thầy pháp sao chớ? Tôi mà trị bệnh điên cho kẻ khác? Lát nữa tôi mới tới. Ông về đi.
Ông Mười Hấu chết điếng trong bụng. Ngọn lửa tắt là do bọn hộ vệ chạy chữa. Nhứt định là cậu Cẩu đang quát mắng, ghen tức với bọn hộ vệ.
Lúc nầy nếu cô Huôi bỏ đi nơi khác hoặc gọi tất cả bọn hộ vệ đến đây thì cậu Cẩu bị truất phế trong nháy mắt.
Ba bốn đứa hộ vệ chạy nhanh về phía ông Mười, theo sau là chín mười đứa khác. Đứa dẫn đầu lên tiếng:
– Ông ơi! Cậu Ba đòi xử tử bọn tôi như …cô Xí Vĩnh. Ai cứu bọn tôi bây giờ?
Mười Hấu khoát tay:
– Trở về đằng kia!
Cô Huôi nhận ra thâm ý ấy nên cười to:
– Tôi trở thành người trị bệnh điên sao chớ! Ông coi tôi ra gì?
– Dạ, tôi lạy cô. Cô là người …có quyền lực cao siêu. Xin lạy cô lần chót.
Mười Hấu đi trước, cô Huôi và đứa nữ tỳ theo sau. Bọn hộ vệ cúi đầu chào cô Huôi rồi không ai bảo ai, xúm nhau xếp hàng phía sau
Mười Hấu ngỡ rằng bọn chúng muốn tập họp lại để chờ cô Huôi ra lịnh khởi loạn.
Cô Huôi như không chú ý tới chi tiết ấy. Khi đến cổng, cô nghe tiếng khóc mếu máo trong nhà. Đúng là giọng cô Ngó. Thoạt tiên, ông Mười ngỡ rằng cậu Cẩu đã chết. Nhưng cô Ngó đã đến ngoài thềm mà phân trần:
– Nó chưởi tôi. Nó xé quần áo, rồi nằm lăn ra đất. Hồi nãy nó đốt nhà…
Cô Huôi vào trong, truyền cho ông Mười Hấu đốt đèn lên thật sáng. Cậu Cẩu hỏi:
– Ai làm gì vậy?
Cô Huôi thấy tình thế quá phức tạo. Nếu bỗng dưng mà cậu Cẩu gọi đích danh cô để chưởi mắng thì còn gì là thể diện. Trong số người đang nắm quyền hành ở vùng Hòn Chông, chỉ riêng cô là có danh nghĩa đứng đắn, là trong sạch nhứt. Cô không trả lời, cứ bước vô phòng.
Cậu Cẩu lồm cồm ngồi dậy:
– Ai đó?
Cô Huôi nói:
– Tôi đây. Nãy giờ ai lấn hiếp cậu? Cậu cứ nói rõ, tôi hứa trừng trị người ấy.
Đôi mắt cậu Cẩu trợn tròn:
– Con Xí Vĩnh.
– Nó chết rồi. Ngày mai, nên cúng món gì cho nó ăn..
– Tại sao nó khuấy rối tôi?
Cô Huôi không còn lạ gì cái bản tánh ngạo mạn, xem trời bằng vung của cậu Cẩu:
– Nó là ma quái, đâu dám khuấy rối cậu? Hơi đâu mà cậu tốn thời giờ để ăn thua với con ma đó. Cậu ban bố chút ít muối gạo là nó chạy đi nơi khác.
Thời khắc trôi qua, yên lặng. Đôi môi cậu Cẩu như mấp máy, nói chưa ra lời. Cô Huôi truyền lịnh:
– Nữ tỳ đâu! Rót rượu cho cậu uống.
Cậu Cẩu nhìn vào cô Huôi. Cô trợn mắt:
– Cậu chưa tin tôi sao? Lúc trước, tôi nằm chiêm bao thấy ma quỷ hiện về. Nhờ lớn tuổi nên tôi không nổi giận như cậu. Mình là người giàu sang, nhiều quyền thế. Hơi đâu mà giận kẻ đói khát. Túng thế, họ phải liều mạng. Cậu tin lời tôi không? Nãy giờ, vì có tôi ở đây nên con Xí Vĩnh không dám tới. Xưa kia nó sợ tôi lắm.
– Cô là người …nhiều oai quyền. Lạ thật, nãy giờ con Xí Vĩnh biến mất. Để tôi nằm xuống coi thử nó còn ở đây không?
Tuy không phải là người chuyên trị bệnh điên nhưng cô Huôi biết dùng tâm lý để điều khiển con bệnh. Dưới mắt cô, cậu Cẩu chỉ là cái xác không hồn, quá mệt mỏi chán chường
Ông Mười Hấu đến gần, ngỏ lời khen ngợi:
– Nhờ cô chỉ dạy nó. Nó muốn nằm ngủ rồi. Ngày mai, theo ý cô, nó nên uống thuốc hay là đến gặp ông đạo Đất?
Cô Huôi cười dòn:
– Cậu ta sợ con Xí Vĩnh rồi sanh ra rối trí. Tôi giải thích cặn kẽ.
Đột nhiên, cậu Cẩu ngồi dậy:
– Nó đó!
Cô Huôi vội trấn áp ngay, giả vờ như thấy rõ con Xí Vĩnh:
– Tôi thấy rồi. Nó sợ sệt, chắp tay xá tôi?
Rồi cô lớn giọng:
– Xí Vĩnh muốn ăn thì ta cho chút muối gạo. Đứng ngoài cửa mà chờ. Rằm tháng bảy năm nay ta xây cho mi một căn nhà. Vừa ý chưa…Thôi cám ơn làm gì! Cứ lấy một chút ít gạo muối rồi về cõi âm.
Lát sau, cậu Cẩu cầm một nắm nhang, cắm trước sân. Tên hộ vệ trao cho cậu một dĩa muối, một dĩa gạo. Cậu ném gạo tứ phía rồi cười tủm tỉm như đứa bé lên năm:
– Hồi nhỏ, cúng rằm tháng bảy, má tôi làm như vầy! Má đâu rồi?
Cô Ngó đến an ủi cậu con. Ông Mười Hấu mừng rỡ vì cậu Cẩu đã chịu lên giường nằm. Nhưng cậu vẫn cự nự, muốn đốt cái giường để xua đuổi Xí Vĩnh.
Cô Huôi khuyên bảo:
– Nên gọi nó đi ngủ, cho nó nằm trên bộ ván ngoài phòng khách.
Lần đầu tiên, cô Huôi gọi cậu Cẩu bằng “nó”.
Cô quay mặt, ra về.
Bọn hộ vệ chắp tay xá. Cô đi khuất mà bọn chúng còn bàn tán:
– Cô xứng danh là bà Chúa Hòn, ma quỷ phải sợ.
Mặt trời lên cao tự bao giờ.
Rõ ràng cô Huôi không muốn xúi giục bọn hộ vệ khởi loạn. Nhưng lúc nầy uy tín cô đang lên tột độ. Dường như Mười Hấu bắt đầu lo sợ. Trong hiện tại, cô Huôi chưa làm cái gì để trả thù cái chết của Xí Vĩnh, nhưng ngày mai, ngày mốt, ai biết cô sẽ làm gì.
Cảm thấy mình không còn uy tín đối với bọn hộ vệ, ông Mười nghĩ đến biện pháp duy nhứt là quỳ lạy để xin lỗi.
Đến trưa, ông ta mặc chỉnh tề đến nhà riêng của cô Huôi. Cô mời ngồi. Ông ta quỳ xuống xin phép lạy hai lạy. Cô Huôi mỉm cười chua chát:
– Lạy lục để làm gì? Phải chi hồi tháng trước ông biết sợ tôi thì ngày nay đâu đến nỗi nầy. Bọn hộ vệ kỳ cục lắm.
Ông Mười Hấu hỏi:
– Cô dạy điều chi?
– Ông nên nhớ rằng bấy lâu bọn hộ vệ phục tùng thằng Cẩu là vì bọn nó tin rằng thằng Cậu là “Chơn mạng đế vương” hoặc ít ra cũng có số tử vi. Dè đâu thằng Cẩu lại sợ ma. Mà con ma đó do thằng Cẩu tạo nên. Nó ác độc quá!
Ông Mười Hấu cúi mặt, sợ sệt. Cô Huôi khinh rẻ cậu Cẩu, gọi bằng “thằng” tức là cô khinh rẻ ông. Ông cúi lạy trong khi cô can gián:
– Được rồi. Tôi hứa không bao giờ tranh giành quyền lợi với bất cứ ai…
Ông Mười nói:
– Cậu Cẩu còn đau yếu. Mỗi ngày, dám mong cô đến thăm vài lần..
Cô Huôi hỏi:
– Chi vậy?
– Dạ, để cho bọn hộ vệ kính nể.
Cô Huôi đáp:
– Bọn nó đâu phải là trẻ con. Nên làm cách khác. Dân chúng ở đây tin Trời Phật. Lẽ dĩ nhiên họ cho rằng cậu Cẩu nổi cơn điên chỉ vì Trời Phật muốn trừng phạt kẻ làm điều ác đức. Ngày trước ông Bá Vạn chết bất ngờ, thiên hạ bàn tán vì không thấy tận mắt đám ma của ổng. Giờ đây cậu Cẩu trấn nước con Xí Vĩnh; nó là người đầu ấp tay gối với cậu, ấy thế mà không được khoan hồng. Nếu người dân đen phạm tội, cậu còn dùng đến hình phạt dã man hơn.
Ông Mười Hấu hỏi:
– Xin vâng lời cô. Tôi hứa nói với cậu là cất ngôi chùa thật to để tạ lỗi Trời Phật.
Cánh cửa vụt mở.
Cậu Cẩu xuất hiện với nụ cười hiền hòa. Chưa chi cậu quỳ xuống để lạy cô Huôi:
– Thưa dì…
Trong phút giây, cô Huôi xúc động:
– Thôi đứng dậy đi. Nhớ lo cất chùa. Nãy giờ, cậu nghe rõ câu chuyện chớ?
Cậu Cẩu nghiêm mặt:
– Khi nào tôi nổi giận thì khác. Bây giờ tôi hết giận, hết sợ ma quỷ rồi. Tôi giết con Xí Vĩnh vì tôi ghen với ông Bá Vạn.
Cô Huôi đứng dậy:
– Nhớ cất chùa. Chuyện cũ bỏ qua đi.
Trên đường về cô Huôi hơi bực dọc. Rõ ràng là cậu Cẩu quá khôn ngoan, muốn bám víu lấy địa vị cũ. Như vậy là từ rày về sau cô vẫn đóng vai trò tượng trưng để rồi thỉnh thỏang nâng đỡ và củng cố địa vị cho cậu Cẩu. Mỗi lần cậu và ông Mười Hấu năn nỉ là mỗi lần cô mất uy tín với dân chúng.
Mặc nhiên, họ xem cô là đồng loã với kẻ làm điều ác. Hình ảnh Xí Vĩnh hiện ra với đôi mắt u buồn. Chừng nào cô rửa hận cho nó? Nó chết vì quá tin vào cô.
Làm sao bây giờ? Xúi giục Tư Thiện và bọn hộ vệ nổi loạn, giết Mười Hấu và cậu Cẩu chăng? Chuyện ấy dễ thực hiện lắm, với điều kiện thi hành nhanh chóng trong khi bọn hộ vệ đang oán ghét cậu Cẩu! Trong giây phút, cô thở dài.
Ông đạo Đất tiên đoán rằng đóa hoa có ba thời kỳ. Phải chăng đây là giai đoạn chót, khi đóa hoa héo, sắp rụng? Cô nghĩ thầm:
– Ngày mai ta về núi Đất thăm nhà, sẵn dịp thăm cha ta để hỏi ý kiến. Cầu mong ông đạo Đất bói cho ta một quẻ tốt miễn là đóa hoa đừng rụng xuống bùn nhơ.
Tư Thiện cứ áy náy, trông cho mặt trời mọc.
Trời bừng sáng, ông ta thức, rửa mặt. Công việc đầu tiên là giả vờ qua thăm cô Huôi. Hổm rày, cô đối xử tử tế, xem ông là bạn quý. Nhưng nếu biết rằng ông cố ý thông đồng với quân Lang Sa để bán đứng vùng Hòn Chông này thì chưa chắc cô tha thứ.
Từ bao lâu rồi, cô sống với cái thể diện ‘‘bà chúa Hòn’’. Quân Lang Sa đến cô chắc là người đàn bà không quyền hạn. Hoặc là cô sẽ tự tử. Hoặc là cô bị giết, nếu chống lại.
Với nhan sắc sẵn có, cô có thể là miếng mồi xác thịt khá ngon lành, dành cho tên cai, tên đội Lang Sa nào đó tha hồ hưởng thụ
Vì yêu cô Huôi, Tư Thiện muốn cho cô tránh bao nhiêu nhọc nhằn. Nhưng nói trước thì nhứt định là có sự hiểu lầm, nguy hại cho tánh mạng ông ta.
Khi ra trước sân, ông gặp đứa nữ tỳ. Nó múc nước từ ngoài suối đem về. Đúng là đứa nữ tỳ hôm qua đem cho ông gói trà, bên trong có bức thư.
Nó cúi đầu chào. Ông mỉm cười thân mật :
-       Cháu làm việc cực nhọc quá.
Nó đáp :
-       Nhưng làm như vậy sung sướng hơn ở nhà.
-       Cô có ở nhà không ?
-       Cô đi nhà ông Mười vào lúc hừng sáng.
Tư Thiện nghĩ ra một mưu kế để mua chuộc con bé. Nếu nó tiết lộ chuyện người lạ mặt tặng gói trà thì tánh mạng ông như chỉ mành treo chuông. Ông nói:
- Cứ nghỉ cho khỏe. nếu rảnh thì xách cho tôi một vài hũ nước, tôi hứa…
Đứa nữ tỳ lộ vẽ mừng rỡ :
-Bên nhà còn nước, ở không thì buồn, nên cháu tìm công việc mà làm. Để cháu múc cho ông bốn hũ nước.
Chờ khi nữ tỳ vô nhà. Tư Thiện mở tủ đem ra nửa nén bạc. Đó là số bạc mà ông ta gìn giữ kỹ lưỡng khi bị bắt tại suối Mo So. Suốt tháng qua ông không làm gì ra tiền.
Đứa nữ tỳ đổ nước vào cái lu sau nhà.
Khi nó trở ra, Tư Thiện nói :
-      Cháu cứ nhận phân nửa nén bạc này cho tôi vui. Hôm qua, cháu giúp tôi một chuyện, hôm nay thêm một chuyện nữa là hai.
Sau khi nhìn quanh quất nữ tỳ đưa tay ra nhận lãnh phân nửa gói bạc. Nó dấu vào túi áo thật nhanh.
-      Sợ quá. Ông cho cô biết thì ắt là tôi bị đuổi.
Tư Thiện đáp:
-      Tôi là người lớn. Cháu cũng vậy, đừng cho ai biết bất cứ chuyện gì. Thấy cô Xí Vĩnh không ? Bị nhốt rồi bị chấn nước, chết thê thảm. Cô thì hiền lành, nhưng còn nhiều người khác nữa.
Khi nữ tỳ ra đến sân, Tư Thiện nói với theo :
-      Được rồi. Khi nào cần tôi gọi. Hũ nước ban nãy đủ cho tôi xài đôi ba ngày.
Khi nữ tỳ đi khuất, Tư Thiện hối tiếc vô cung. Nếu có nhiều tiền bạc hơn, ông sẽ mua chuộc nó, để nó ra chợ Rạch Giá tìm người cai đồn, hỏi kỹ về kế hoạch sắp thi hành.
Cô Huôi từ nhà ông Mười Hấu trở về. Tư Thiện bèn quay mặt chỗ khác, để khỏi có sự hiểu lầm về sự tiếp xúc vừa rồi.
Buổi cơm dọn ra, do đứa nữ tỳ khác mang đến. Tư Thiện ngồi ăn chậm rãi, chờ lúc đúng ngọ. Ăn xong, ông ta ra ngoài sân đứng thẩn thơ.
Hôm nay là ngày quyết định. Quân Lang Sa sẽ đến, chắc là trong giòng mươi ngày hoặc một tháng. Trong phút giây, Tư Thiện cảm thấy buồn buồn.
Con rạch chạy cong queo trước mặt nhà, vài bầy vịt trắng phau lội nhởn nhơ, rỉa mấy giề lục bình. Sương đã tan. Bên trái ông, trên sườn đồi, bọn tiều phu lo đốn củi, vài đám khói bốc lên. Chiếc ghe thương hồ nào đó đã khuất dạng, còn bỏ lại chút ít âm hưởng điệu hò.
-      Họ đâu biết rằng sự vật đổi sao dời ! Mười Hấu và cậu Cẩu chắc là sẽ chết. Tháng sau vùng Hòn Chông đâu còn cảnh yên lặng với nét đẹp cổ kính ngư, tiều, canh, độc …Người Lang Sa đến, nhứt định là xảy ra nhiều trường hợp ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông. Ngôi nhà của Mười Hấu sẽ cháy. Mình chỉ thương cho cô Huôi.
-      Nếu sanh trong thời hòa bình, thạnh trị, cô làm được nhiều việc lớn hơn !
Bóng dáng cô Huôi hiện ra ngoài đầu ngõ. Bấy giờ Tư Thiện mới nhận ra sự vô ý của mình. Ông ta cúi đầu chào :
-      Chào cô…
Cô Huôi muốn tìm một người để nói chuyên( cho đỡ buồn. Lúc nãy sau khi giải quyết xong công việc cô thấy rẳng cậu Cẩu còn nắm quyền một thời gian nữa. Và suốt thời ấy cô chịu đựng bao nhiêu bu6c dọc khác :
-      Ông rảnh không ? Mời ông ăn cơm với tôi. Hồi sáng đến giờ tôi hơi mệt.
Nếu nhận lời dùng cơm thì làm sao ra trước mé sông để làm ám hiệu với người thay mặt cho viên cai đồn chợ Rạch Giá ? Bỏ lỡ cơ hội này, bao nhiêu phiền phức sẽ xảy ra. Quân Lang Sa kéo đến bất ngờ. Làm sao ông trở tay cho kịp.
Đó là chưa nói đến trường hợp cai đồn lên án Tư Thiện về tội phản bội nhà nước Lang Sa cố ý giúp sức cho cậu Cẩu để chống cự lại.
Tư Thiện nói lẩm bẩm :
-      Dạ tôi mới ăn cơm rồi.
Nhưng cô Huôi vẫn cương quyết :
-      Ăn rồi thì uống trà, ăn mứt hột sen. Tôi cần bàn bạc với ông.
Tư Thiện riu ríu theo sau cô Huôi. Nắng lên cao. Làm sao từ chối lời mời mọc này cho được?
 Khi vô nhà cô Huôi, Tư Thiện buồn rầu như một tử tội sắp đến giờ hành hình. Hai cánh cửa đóng lại, bên trong chỉ có thếp đèn và hai ngọn nến cháy lờ mờ.
Làm sao ông ta vừa nói chuyện, vừa liếc ra ngoài để xem chừng bóng nắng?
Mâm cơm dọn ra. Cô Huôi vào phía sau để rửa mặt. Đứa nữ tỳ đến gần ông. Đúng là con bé vừa nhận nửa nén bạc hồi sáng. Không bỏ lỡ cơ hội, ông nói khẽ:
-      Lát nữa, cháu coi chừng ngài sân. Ai đến tìm, thí dụ như người tặng gói trà hôm trước thì cháu vô đây cho tôi biết.
Đứa nữ tỳ hỏi khẽ:
-      Có cô ở đây, tôi làm sao?
-      Cháu gãi lên đầu là tôi hiểu…
Cô Huôi trở ra, nâng chén cơm lên, ăn ngon lành.
-      Tôi định vài ngày nữa là về quê
Tư Thiện sửng sốt nghĩ đến ngày ly biệt:
-      Nếu vậy, thưa cô, tôi ở đây một mình, buồn lắm.
Cô Huôi đáp:
-      Nhưng ông theo tôi thì khó coi quá. Ông chờ vài ngày chớ gì? Hồi nãy, tôi bàn cuyện như vầy: cậu Cẩu xuất tiền ra, xây cất một kiểng chùa để tạ tội với Trời Phật. Còn tôi nhơn dịp đó về quê nhà, thăm cha, thăm ngôi nhà cũ. Mệt lắm rồi. Tôi cố ý cho cậu Cẩu và Mười Hấu hiểu rằng không bao giờ tôi ham địa vị. Ông nghĩ sao?
Tư Thiện mừng thầm. Nếu chỉ một mình ông ta ở lại đây may mắn biết chừng nào? Ông ta tha hồ tiếp xúc với viên dọ thám, từ chợ Rạch Giá đến, lúc cô Huôi vắng mặt. Quân Lang Sa đến nhứt định là cô nhờ ông bảo vệ cho, ngoài ra còn ai nữa!
Hồi lâu, Tư Thiện giả vờ suy nghĩ:
-      Cậu Cẩu mà cất chùa, chuyện không ai tin được!
Cô Huôi đáp:
-      Nhưng ông nên nhớ rằng dân chúng dễ nhớ mà cũng dễ quên.
-      Chừng nào cất chùa, thưa cô? Liệu cậu đủ kiên nhẫn hay không?
Cô Huôi không trả lời ngay. Tư Thiện giựt mình vì đã trót xen vào công việc riêng của cô. Vì thấy viễn ảnh bi quan, ông cho rằng ngôi chùa không bao giờ cất xong. Tiền bạc thì có dư nhưng vài tháng nữa, cậu Cẩu sẽ hóa ra người thiên cổ.
Cô Huôi gật đầu như theo dõi ý nghĩ riêng.
-      Ngôi chùa xây cất càng lâu cáng tốt. Ít ra, trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu không dám giết hại bất cứ người nào khác.
Bữa cơm vừa chấm dứt.
Tư Thiện nhìn phía sau bếp. Đứa nữ tỳ bước ra, gãi lên đầu. Đó là dấu hiệu có khách đến.
May thay, cô Huôi đứng dậy.
-      Để tôi rửa tay, phía sau.
Đứa nữ tỳ đến gần Tư Thiện:
-      Làm sao bây giờ? Người đó tới. Một người đàn ông.
Lúc bối rối, Tư Thiện quyết định.
-      Dẫn người đó vô nhà tôi. Bây giờ, tôi còn ở đây, đừng cho cô biết.
Đứa nữ tỳ xuống nhà bếp, sau khi giả vờ châm thêm nước vào cái ấm. Cô Huôi nói:
-      Ngày mai hoặc ngày mốt là tôi về quê, luôn dịp mời vài ông sư đến đây xem địa thế cất chùa. Ở nhà, có túng thiếu gì không?
Và muốn kiếu từ thật gấp, Tư Thiện đáp:
-      Dạ, tôi không cần dùng tiền. Cơm nước như vậy, đủ rồi…
Cô Huôi nói, giọng tình tứ
-      Tôi về nhanh. Đi xa thì nhớ ông lắm đó.
Ra khỏi nhà cô Huôi, Tư Thiện mừng quýnh. NHà ông ta và nhà cô cách nhau bằng một bức tường rào. Đứa nữ tỳ đứng lấp ló, nói với theo:
-      Người khách tới, đòi vô nhà ông.
Tư Thiện hoảng sợ. Nếu sự việc này thấu tai cô Huôi hoặc người nào khác, thí dụ như bọn hộ vệ ở nhà Mười Hấu thì tánh mạng ông ta như chỉ mành treo chuông. Tư Thiện không dám nhìn thẳng đứa nữ tỳ:
-      Được rồi. Đừng cho ai biết, họ sẽ giết cháu như con Xí Vĩnh vậy. Vài ngày nữa, tôi cho thêm bạc. đây là người bà con tới thăm.
Vào nhà, ông Tư Thiện cứ nhìn dáo dác. Phòng khách không một bóng người. Bỗng nhiên ông nghe tiếng ho trong phòng ngủ. Ông nói:
-      Ai?
Trong buồng có giọng trả lời, kéo dài như người ghiền thuốc phiện:
-      Ta là …Mười Hấu!
Tư Thiện đã yên tâm, nhớ đến một giọng quen thuộc. Đó là một giọng khôi hài, người nói có vẻ thoải mái lắm. Ông hỏi:
-      Ai vậy? Nói chơi là tối kỵ…
Khi vô phòng ngủ, ông cố gắng lắm mới khỏi la lên :
-      Mầy ! Năm Hí ! Trời ơi !
Năm Hí chính là chàng trai đã từng theo Tư Thiện lúc biểu diễn ‘‘sơn đông mãi võ’’. Anh ta còn trẻ, tuổi hơn ba mươi, cuè1 lo đánh trống và đánh phèng la mỗi khi Tư Thiện sắp nhảy vòng lửa.
Bàn tay Tư Thiện đè vai rồi bịt miệng Năm Hí :
-      Tình thế khó khăn lắm. Để tao ra ngoài khép cửa lại. Rủi bề gì, hai đứa mình bị nhốt trong cái cũi rồi bị nhận nước.
Năm Hí ngồi dậy vấn điếu thuốc.
-      Làm sao có chuyện đó được. Ngày hôm kia, tôi thấy rồi. Cậu Cẩu và Mười Hấu thật quá tàn ác. Nhưng cô Huôi đủ sức bảo vệ tánh mạng ông chớ ! Ông là người tình của cô ta mà ! Tốt phước quá, hèn gì ông không chịu trở về chợ Rạch Giá. Vài năm nữa, ông được phong chức ‘‘ông chúa Hòn’’ !
Thái độ vui vẻ, lạc quan của Năm Hí khiến Tư Thiện hết lo âu. Ông ta hỏi :
-      Chừng nào ?
-      Thì ra ngoài khép cửa he hé vậy thôi. Đáng lý thì tôi mời ông về chợ Rạch Giá để bàn tính. Làm ăn như ông có ngày chết cả bọn. Tôi giao hẹn đúng ngọ, ông ra trước bến để làm dấu hiệu. Cực chẳng đã, tôi phải lủi vô đây. Ra về mà không gặp ông thì khổ quá.
-      Đó là gặp chuyện thình lình. Cô Huôi đang ăn cơm chẳng lẽ nửa chừng tôi bỏ đi.
Câu chuyện giữa Tư Thiện và Năm Hí trở nên thân mật. Trước tiên, Năm Hí cho biết nội trong đêm nay anh ta phải về chợ Rạch Giá để gặp viên cai đồn mà báo cáo sự việc. Năm Hỉ cho biết thêm :
-      Ông quan ba ở Vĩnh Long mới tới để ra lịnh chiếm cứ tất cả vùng đồi núi Hòn Chông.
Tư Thiện hỏi
-      Chừng nào kéo binh tới đây ?
Năm Hí đáp :
-      Chiếm cứ mà không kéo binh tới, điều đó mới khó. Bởi vậy, người Lang Sa mới cần dùng tôi và ông, làm cách nào … cho dân chúng miệt này đầu hàng theo người Lang Sa.
Chưa chi,Tư Thiện cau mày :
-      Khó lắm. Đánh giặc mà không dùng súng đạn thì khó quá. Cậu Cẩu là đứa liều mạng,  hung hăng. Chỉ còn một cách là đầu độc hoặc ám sát. Nhưng con xí Vĩnh bị bắt quả tang, ai dám bắt chước nó lần thứ nhì ?
Năm Hí đáp :
-      Tôi bàn kỹ với viên cai đồn Rạch Giá. Ông không muốn giết bất cứ ai ở Hòn Chông, miễn là tất cả đều …đầu hàng rồi lãnh chức vụ mới.
Tư Thiện vẫn chưa hiểu :
-      Vậy thì chiếm vùng đồi núi này để làm gì ? Cứ để cho cậu Cẩu làm chúa. Cậu Cẩu đâu có đụng chạm gì người Lang Sa ở ngoài chợ Rạch Giá hoặc Hà Tiên !
-      Ông chưa hiểu rõ ý định người Lang Sa. Họ muốn cho vùng Hà Tiên thành đất của họ. Nếu ai chống cự với họ, cậu Cẩu truy nã ráo riết. Phía Đồng Tháp Mười, nhiều toán nghiã quân nổi dậy. Họ sợ nay mai Hòn Chông trở thành sào huyệt…
-      Tôi hiểu rồi. Nhưng chắc chắn là cậu Cẩu không đầu hàng bất cứ ai. Giết cậu Cẩu lúc này là điều khó, cô Huôi còn chịu bó tay.
Năm Hí cằn nhằn :
-      Người Lang Sa hứa ban thưởng cho ông chức cai tổng, tôi làm phó tổng. Ngoài ra, khi nào có lịnh trưng khẩn đất đai, tôi với ông sẽ trở thành đại điền chủ, mỗi người được ban thưởng vài ngàn mẫu ruộng. Trong thời loạn, bao nhiêu người chạy trốn, bỏ ruộng. Nhà nước Lang Sa không nhìn nhận những người chủ đất bối đảng cựu vì bộ sổ đã xiêu lạc.
-      Khó quá !
-      Tại sao khó ? Nếu vậy thì hổm rày ông ở đây chỉ là để giải trí, bày lễ lộc cho vui mắt cậu Cẩu. Tôi ở ngoài bờ biển thỉnh thoảng bơi xuồng vô đây, nghe ngóng tin tức.
Tu Thiện cười dòn :
-      Tôi như người ở tù, làm sao thuyết phục được cậu Cẩu và cô Huôi ? Ít ra, người Lang Sa cũng giúp tôi vài chuyện, thí dụ như biểu dương lực lượng, cho nổ vài phát súng khi xa khi gần.
Năm Hí đáp :
-      Vậy thì dễ. Tôi hứa giúp ông. Ngoài biển, bốn năm chiếc tàu sắt chạy tới lui …
-      Nhưng như vậy chưa đủ. Cậu Cẩu là người quá ngạo mạn, tin dị đoan…
-      Tôi trao ông một khẩu súng, ông dám gìn giữ không ?
Tư Thiện đáp :
-      Chưa cần. Nhưng đôi ba ngày nữa. Cô Huôi và cậu Cẩu sẽ tới Hòn Đất mà cất kiểng chùa và viếng ông Đạo Đất. Chú làm cách nào tùy ý. Miễn là đừng đụng chạm tới tánh mạng dân chúng.




Đăng nhập để trả lời
0
-23-

Ngày cô Huôi về thăm núi Đất tuy không được tổ chức trọng thể nhưng dân chúng địa phương muốn cho cô hãnh diện. Vùng núi Đất nghèo nàn nhưng là nơi phát tích của một bà Chúa hiền lành, uy nghi, có khả năng cảm hóa kẻ hung ác như cậu Cẩu.
Ông Tư Thính và hai ba ông kỳ lão đến tận Hòn Chông để rước cô Huôi. Cậu Cẩu xin phép đi núi Đất để tìm nơi xây ngôi chùa. Cô Huôi không đồng ý cho lắm, gọi ông Mười Hấu đến mà chỉ dạy:
– Chẳng lẽ ta bỏ vùng Hòn Chông nầy trong vòng năm bảy ngày, rủi Hòn Chông làm phản thì làm sao trở tay cho kịp.
Mười Hấu lại lo âu. Hay là cô Huôi tạm rời Hòn Chông để tránh mọi trách nhiệm? Cô cố ý đi vắng, thừa cơ hội ấy, bọn hộ vệ nổi lên. Dường như mọi người đều ngao ngán, trông chờ một sự đổi thay, sau khi họ chứng kiến cái chết thê thảm của Xí Vĩnh.
Cô Huôi nói thêm:
– Vài tháng nữa, tôi về quê ở luôn. Ông Mười Hấu và cậu Ba tha hồ hành động. Đừng hỏi ý kiến tôi bất cứ chuyện gì. Tôi còn có thể diện với dân chúng. Và sau khi chết, tôi không muốn ai nguyền rủa cả dòng họ.
Mười Hấu đáp:
– Nếu không có cô, gia đình tôi đâu được sung sướng như vầy. Chúng tôi mang ơn cô và muốn đền ơn.
Cô Huôi cười lạt:
– Người đáng cho ông mang ơn là ông Bá Vạn. Bá Vạn đã sắp xếp mọi việc. Ông Chúa Hòn quá linh thiêng nên trừng phạt Bá Vạn rồi…Thôi, cứ yên tâm mà ở lại Hòn Chông, tôi đi chừng vài ngày là trở về.
Lát sau, cô Huôi cho đứa nữ tỳ gọi Tư Thiện đến. Tư Thiện hơi ngạc nhiên, hỏi nữ tỳ:
– Cô gọi ta để làm gì? Hay là…
Đứa nữ tỳ lanh miệng trả lời:
– Chắc cô gọi ông vì chuyện khác. Cô sửa soạn đi núi Đất.
Khi vào phòng khách, Tư Thiện bắt đầu yên tâm. Mấy ông kỳ lão ngồi uống rượu với một ông lão mặc áo có thêu chữ Thọ. Tư Thiện đoán đó là cha ruột cô Huôi. Sau khi chắp tay chào, Tư Thiện đứng lóng nhóng.
Cô Huôi đến góc phòng khách, ngồi xuống ghế, gọi nữ tỳ mang chiếc ghế thứ nhì cho Tư Thiện:
– Nầy ông! Tôi muốn hỏi chuyện nầy. Trước kia ông ở chợ Rạch Giá biết người Lang Sa chớ? Mấy người ở núi Đất cho tôi biết rằng dường như người Lang Sa đem chiếc tàu sắt đến bờ biển. Sau bệ tàu, có treo cờ tam sắc.
Tư Thiện muốn che giấu sự liên lạc bí mật với Năm Hí nên trả lời vu vơ:
– Dạ, trước kia tôi mua bán ở chợ Rạch Giá. Người Lang Sa từ phương Tây vượt biển đến. Họ dùng tàu sắt, súng của họ bắn nổ thật to, vách đá cũng ngã sập. Nhờ vậy mà họ chiếm cứ lần hồi các tỉnh thành.
– Thật vậy sao?
– Đó là điều mà tôi nghe nói lại. Hôm trước, tôi đã trình bày một lần cho cô và cậu Cẩu nghe. Người Lang Sa thích ăn uống, ai thuận lòng thì họ bán chức tước. Hơn một tháng rồi, tôi ở đây, không được dịp đi Rạch Giá.
Bỗng dưng cô Huôi nghiêm nét mặt, nói khẽ:
– Ông có thể về Rạch Giá một đôi ngày…
Phản ứng của Tư Thiện là từ chối thật nhanh, với giọng nói cương quyết.
-       Tôi muố ở đây suốt đời.
Cô Huôi nói :
-       Tôi nhờ ông, tôi ra lịnh cho ông . Ông nghĩ sao ?
Tư Thiện cau mày, chưa hiểu cô Huôi muốn dùng thủ đoạn gì. Chẳng lẽ đứa nữ tỳ lại tố cáo với cô Huôi rằng ông đã phản bội ?
-       Thưa cô, tôi đi thì có sự hiểu lầm.
-       Tôi hiểu rồi. Nhưng trước kia hồi ở núi Mo So, ông đứng về phe thằng Thừa chống lại cậu Cẩu.
Tư Thiện đáp :
-       Đi thì dễ nhưng về thì khó. Cậu Cẩu và người Lang Sa đều ngi ngờ tôi. Nếu đi thì ắt là tôi đi luôn cho tất cả mọi người đừng nghi ngờ.
Cô Huôi vẫn chưa đoán ra ý nghioa4 những lời nói sâu xa của Tư Thiện :
-       Vậy thì ông ở lại, khi nào cần thì tôi nhờ ông.
Trên đường về núi Đất, cô Huôi thấy khung cảnh thay đổi khác xưa. Ông Tư Thính không quên nhắc nhở:
– Huôi à! Con thấy gốc cây tràm đằng kia không?
Cô Huôi đáp:
– Dạ, thấy ở mé ruộng.
– Ba chục năm trước, con là đứa bé đi chưa vững. Một buổi sáng, ba đem con ra đó. Con ngủ gục, dựa đầu vô gốc cây. Một con mãng xà vương hiện ra, che chở cho con. Ông đạo Đất đoán rằng lớn lên con trở thành bà Chúa!
Cô Huôi mỉm cười:
– Chuyện ấy, cha nói con nghe nhiều lần rồi. Sự may mắn chỉ đến một lần, nhắc lại làm chi thêm buồn. Lúa trổ tốt quá, màu lúa xanh mát, mấy con cò trắng bay lướt quanh trên ngọn lúa để về núi. Thà là nghèo, làm thường dân mà sống trong khung cảnh mộc mạc.
Ông Tư Thính trả lời:
– Cha nhắc lại để con nghe rằng ông đạo Đất là người quá giỏi, biết quá khứ, vị lại. Ngày xưa, ổng nói đúng thì ngày nay chắc ổng nói không sai chạy cho lắm. Bởi vậy, cha rước con về nhà, bàn tính kỹ lưỡng.
– Chuyện người Lang Sa đến Hòn Chông. Cha nói rồi.
Ông Tư Thính đáp:
– Đến bằng trăm cách khác nha. Cha sợ rằng bọn nó đem binh hùng tướng mạnh tới bao vây rồi nã đạn. Con nên xa lánh trong mười ngày, một tháng. Thằng Cẩu là đứa ngu dại. Con ở lại Hòn Chông chỉ là để gánh chịu bao nhiêu trách nhiệm.
– Cha thương con. Con biết đền đáp cách nào bây giờ? Nhưng trước tiên, con xuống gặp ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Chắc là quẻ cuối cùng.
– Con đừng nói vậy xui xẻo lắm.
– Thưa cha, con không sợ xui xẻo.
– Sao vậy?
– Bao nhiêu xui xẻo đều vượt qua rồi. Nhờ ơn đức của cha để lại nên con xử khéo léo, không tham lam quá mức.
Chiếc ghe cập trước bến nhà ông Tư Thính. Khi lên sân, cô Huôi hơi ngậm ngùi. Bụi quỳnh hoa vẫn còn đó, cành lá xum xuê.
Bên ngoài, ông Tư Thính đã làm thêm một vòng rào ngăn cấm không cho trẻ con đến gần.
Thấy đứa con gái đến gần bụi bông, ông Tư cũng ngậm ngùi mà nói:
– Nó còn đó. Hằng ngày ba tưới nước cẩn thận. Nhiều người tới đây xin để làm giống, ba không cho. Con thấy không, bụi hoa to gấp mấy lần trước. Nhờ nó mà con trở nên người sang trọng, ba cũng hưởng lây. Tiếc là má con không còn sống để thấy ngày hôm nay. Thôi, vô nhà mà nghỉ.
Nãy giờ ông Tư Thính buồn rầu. Dường như linh tính báo trước cho ông điều gì không may mắn. Ngồi trong nhà mà đôi mắt ông cứ theo dõi bóng dáng đứa con gái thân yêu, ngoài sân.
Ông sợ nhất là cô Huôi hỏi về bụi bông quỳnh hoa. Nếu hỏi thì ông trả lời cách nào cho vui vẻ?
Trước sân, cô Huôi cứ đứng tần ngần. Lát sau, cô quỳ xuống rồi day lại nói với đứa nữ tỳ:
– Vô nhà, kiếm nhang đèn đem ra đây.
Nữ tỳ vào nhà gặp ông Tư Thính. Ông Tư hỏi:
– Chuyện gì?
– Thưa ông, cô hỏi nhang đèn.
– Trên bàn thờ kia ! Cứ vô đó mà lấy.
Cô Huôi quỳ xuống thắp nhang khấn vái lâm râm. Cô đưa mấy nén nhang lên ngay trán rồi xá ba lượt. Bỗng dưng ông Tư Thính để rơi hai hàng nước mắt.
Ông kéo vạt áo mà chùi. Ông day phía sau. May quá! Mấy ông lão đã về nhà. Nếu có người chứng kiến cảnh tượng này ắt uy tín nhà ông bị suy giảm.
Cô Huôi bước chậm rãi vào nhà.
Để khỏi buồn bực, ông Tư Thính cố ý gợi một chuyện khác:
– Chiều nay, con muốn ăn cơm với món gì? Mùa nầy cá rô ngon lắm.
Cô Huôi nhìn cha. Rõ ràng bên khoé mắt cha còn vài ánh nước mắt, chùi không sạch. Cô đã hiểu. Cha cô khóc lúc cô đang thắp nhang mà khấn vái, tạ ơn Trời Phật trước bụi quỳnh hoa. Bao nhiêu năm tháng trôi qua rồi!
Ông Tư Thính hỏi:
– Con ăn cơm với cá rô?
– Dạ. Lâu rồi, con thèm ăn bất cứ món gì ở quê nhà. Ngộ thật! Lớn lên, con người cứ thèm những món mà mình ăn lần đầu tiên hồi còn nhỏ.
Ngỡ rằng câu chuyện đã trôi qua, ông Tư Thính rót trà vào chén. Cô Huôi vội đến gần cha:
– Ba để con lo. Lâu rồi, con không hầu hạ cha được.
Ông Tư đáp:
– Đó là phước đức ông bà để lại, con à. Con người sanh ra trên cõi đời nầy, ai cũng có máu tham. Nếu ba đi theo con thì có thể là ba ác độc như ông Mười Hấu. Ở nhà, ba biết rõ những gì xảy ra. Con thiệt là hiền lành, khôn ngoan. Cầu Trời Phật phò hộ con.
Cô Huôi lại rơi nước mắt:
– Ba là người hiền lành, để phước cho con nhờ. Con muốn hỏi ba một chuyện thôi. Con về đây là để hỏi kỹ…
Rồi không đợi sự đồng ý, cô Huôi ghé miệng vào tai cha mà hỏi:
– Thưa ba, bụi quỳnh hoa có nở lần nào không?
Ông Tư cười dòn:
– Từ bốn năm nay, nó chưa nở lần nào nữa cả. Nhưng biết đâu nó lại nở bất thường. Bông đó kỳ cục lắm. Khi nó trổ nụ thì dầu không săn sóc, nó cũng cứ trổ. Ngược lại thì…
Cô Huôi hiểu ý cha:
– Trổ một lần, được rồi. Nhưng thưa ba, hồi nãy con thấy điều gì kỳ lạ lắm. Mấy lá to cứ nghiêng một bên. Nếu nó không trổ, chắc chẳng ai có bùa phép gì được. Nhưng nếu nó trổ….
Ông Tư Thính lại cười dòn:
– Con nói vòng vo, ba không hiểu. Nghĩa là hồi nãy con khấn vái cho bụi quỳnh hoa trổ bông lần thứ nhì?
– Dạ, con khấn vái như vậy. Nhưng tại sao ba buồn rầu? Con thấy ba lau nước mắt.
– Trổ lần thứ nhì! Con ơi! Đừng quá tham lam. Như vậy đủ rồi. Ngoài biển, lâu lâu có tàu Lang Sa chạy tới lui. Nhiều người chài lưới ra khơi, bị xét hỏi rồi thả cho về. Họ bảo rằng Lang Sa sẽ tới Hòn Chông trước Tết năm nay.
Cô Huôi lại để rơi hai giọt nước mắt:
– Ba đừng rầy mà oan ức cho con. Con đâu có tham lam. Hồi nãy con thắp nhang khấn vái Trời Phật. Nếu lần thứ nhứt bông quỳnh nở mà con được danh vọng thì lần thứ nhì, nếu bông nở thì con đi tu.
-Trời ! Con khấn vái như vậy ?
-Xin lỗi ba. Con về đây là để khấn vái, luôn dịp nhờ ông đạo Đất xem một quẻ ? Ở Hòn Chông, nhiều chuyện xảy ra, rắc rối quá. Trong nhà mà có loạn thì người ngoài trông vào làm sao tin cậy được !
Sau bữa cơm chiều, cô Huôi ra ngoài sân dạo mát. Nhiều người trong xóm tới thăm cô, khen ngợi và chúc mừng. Cô chỉ trả lời:
– Cám ơn bà con. Đáng lý ra, hồi tháng trước tôi về đây giúp đỡ người nghèo khổ, nhưng tôi không có tiền nhiều.
Đến căn nhà mát ở dưới bến, cô ngồi thật lâu. Vài ánh sao chấp chóa trên nền trời xanh, rồi rơi xuống. Cô dụi mắt hỏi đứa nữ tỳ:
– Thấy gì trên trời không?
Nữ tỳ đáp:
– Dạ không! Nhưng mà nãy giờ dường như có ai đánh trống ở đằng kia, trên núi.
Cô Huôi lắng tai nghe rồi đứng dậy:
– Đâu có tiếng trống. Dường như có tiếng súng. Nổ to lắm như trời gầm. Có nghe không? Thôi, ta vô nhà, lạnh lắm.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 08.06.2021 10:02:47 bởi Ct.Ly>
-24-
 
 
Năm Hí trở lại Hòn Chông vào lúc mặt trời sắp lặn. Anh ta cứ đội nón lá, đi thong dong ngoài đường cái. Sau khi đi ngang qua nhà cô Huôi, anh ta đánh bạo đi ngang qua nhà ông Mười Hấu và cậu Cẩu. Bọn hộ vệ nằm dài sau khi uống rượu say mèm. Cửa nhà đóng chặt, Năm Hí đếm kỹ rồi kết luận :
-       Còn có sáu đứa. Nếu viên cai đồn cho phép thì dễ xoay trở quá. Nhưng ông ta căn dặn nên làm thế nào để cậu Cẩu và cô Huôi chịu đầu hàng có thể diện. Thiệt là rắc rối. Xứ Hòn Chông này đáng mất vào tay người Lang Sa, vậy mà cậu Cẩu còn mê ngủ…
Năm Hí trở lại đi, xăm xăm vào căn nhà dành riêng cho Tư Thiện. Tư Thiện đang ngồi trước sân, uống trà. Chưa chi Năm Hí đã lên tiếng :
-       Chờ thời hả ?
Tư Thiện giật mình day lại:
-       Trời! Chú mày làm tôi hết vía. Trở lại đây hồi nào ? Sao không cho hay trước? Chừng này, trời chưa tối hẳn.
Năm Hí đáp:
-       Đứa nữ tỳ có ở nhà không?
-       Bọn nó theo cô Huôi về núi Đất rồi. Hỏi chi vậy? Coi chừng bọn hộ vệ ở nhà ông Mười Hấu …
Năm Hí đáp :
-       Bọn nó say rượu, vài ba đứa vậy thôi. Nếu quan trên cho phép…Uổng quá !
-       Mình vô nhà !
Cực chẳng đã, Năm Hí mới chiều theo ý Tư Thiện.
-       Ở ngoài sân mát hơn.
Tư Thiện sực nhớ đến vai trò của mình nên nói gắt với Năm Hí :
-       Lúc dễ dàng chính là lúc nguy hiểm nhứt. Đừng quá dễ ngươi. Ai cầm đầu chuyện này? Viên cai đồn chợ Rạch Giá dạy như thế nào thì ta làm như thế ấy để lãnh thưởng. Nếu làm trái ý ông ta, liệu chúng ta có bị khiển trách hoặc tình nghi là phản bội hay không?
Năm Hí vẫn chưa hiểu:
-       Hôm qua, tôi nói rồi. Mấy ổng dạy nên làm cách nào cho cô Huôi và cậu Cẩu đầu hàng không đổ máu.
Tư Thiện nói :
-       Ai điều khiển chuyện này ? Chú mày hay là tôi. Nếu chú mày muốn ra tay giết bọn hộ vệ chiếm đoạt căn nhà cậu Cẩu thì tùy ý. Tôi về chợ Rạch Giá cho khỏe thân. Chú mày ở đây xoay trở một mình !
Năm Hí bắt đầu sợ sệt :
-       Anh có quyền hạn nhiều hơn tôi. Quan trên dạy tôi đến gặp anh.
-       Vậy thì nên nghe lời tôi. Đừng tưởng rằng cậu Cẩu và cô Huôi quá yếu. Chú mày có thể giết mấy người hộ vệ ở dưới bếp rồi vô nhà cậu Cẩu để xâm chiếm. Nhưng liệu người Lang Sa đến tiếp cứu và đóng đồn tại đây không, trong vòng đôi ba ngày. Họ có hứa không ? Họ dám kéo binh tới đây không ?
Năm Hí cúi đầu :
-       Dạ không có hứa,
-       Không hứa thì bọn mình chết luôn ! Chẳng lẽ giết mấy đứa hộ vệ rồi mình chạy trốn ? Mà giết làm chi cho mệt sức ? Nếu vô nhà cậu Cẩu chẳng khác nào bọn mình bó tay nạp mạng. Ông tưởng ở trong thành chỉ mạnh khi nào có quân sĩ, khí giới và lương thực.
Như sực nhớ điều gì quan trọng, Năm Hí đáp :
-       Vô đó, lấy gì mà ăn ? Trong nhà đâu có dao mác.
-       Có chớ. Đồ ăn thì dư, dao mác thì không thiếu. Nước ngọt, gạo muối đủ cho bọn mình ăn suốt tháng nhưng rủi… cậu Cẩu phóng lửa đố nhà thì mình ẩn núp ở đâu cho khỏi trở thành con heo quay vàng lườm.
Bầu không khí trở nên yên lặng.
Tư Thiện thấy kế hoạch mà người Lang Sa giao cho thật là rắc rối. Nếu lính mã tà đến yểm trợ chừng mười đứa, bắn hàng chục phát súng để thị oai thì họa chăng cậu Cẩu mới điều đình, xin đầu hàng trong danh dự ? Đối với Tư Thiện điều quan trọng vẫn là được sống gần cô Huôi, như vợ chồng, cô Huôi sẽ yêu ông ta thêm lên khi nhờ ông ta cứu vớt tánh mạng trong cơn khói lửa.
-       Không nổ súng thì khó làm xong việc – Tư Thiện lẩm bẩm như thế.
Nhưng Năm Hí lại nổi giận :
-       Anh muốn vậy thì ra chợ Rạch Giá mà trình bày với viên cai đồn.
-       Tôi đi thì hư việc. Sớm muộn gì tôi cũng đi. Đêm nay, chú mày rảnh không ? Đi theo tôi cho biết tình hình. Hiện giờ, người Lang Sa không chịu kéo quân tới vì họ cho rằng vô ích. Nhưng khi thấy cần thiết, họ sẽ thay đổi ý kiến. Cậu Cẩu với cô Huôi nào phải ngu dại như trẻ con. Cậu ta xem trời đất nhỏ bằng hột tiêu, huống hồ gì bọn Lang Sa…
Hai người nằm kề nhau mà ngủ. Đâu vào khoảng canh năm, Tư Thiện thucè1 dậy
-       Năm Hí ! Mình đi
-       Đi đâu ?
-       Qua núi Đất, cô Huôi và cậu Cẩu đều tới đủ. Để xem họ làm chuyện gì.
Hai người ra khỏi nhà, đi bộ theo mé rạch rồi đến bến sông mà dừng chân. Tư Thiện khoát nước rửa mặt. Dưới sông, vài chiếc xuồng qua lại. Đó là bọn người đi tới núi Mo So để đốn củi và ăn ong ? Năm Hí ngồi cú rũ :
-       Lạnh quá, nếu cứ đi bộ, làm sao đủ sức. Đây qua núi Đất, đường xa chớ đâu phải gần !
Tư Thiện chú ý đến chiếc xuồng nằm trên bờ, chủ nhà còn ngủ, cửa chưa mở. Ông ra ra lịnh :
-       Thì cứ đẩy chiếc xuồng xuống sông. Mình giả dạng như dân làm ruộng, mua bán. Lúc này cậu Cẩu chẳng bao giờ đề phòng người lạ mặt. Cậu đi tu mà. Nhưng trước khi cất chùa cậu ta còn muốn gặp ông đạo Dắt. Mình tới gặp ông đạo là biết rõ mọi sự.
Năm Hí nói :
-       Phải chi mình nhờ ông đạo Đất nói vài lời. Khuyên cậu  Cẩu nên tuân theo … luật tuần hoàn của trời đất !
Tư Thiện đáp :
-       Tôi nghĩ tới chuyện đó rồi. Mình cứ làm trước. Tại sao bọn mình không là ông đạo Dất ?
Chiếc xuồng lướt nhanh. Khi đi ngang qua thửa ruộng khá phì nhiêu, Năm Hí bèn lên giọng :
-       Hổm rày, tôi có tới vùng này. Đằng kia là nhà ông Tư Thính, cha ruột cô Huôi. Mình nên dè dặt. Nếu cô bắt gặp thì khó ăn nói.
Tư Thiện đứng dậy, nhìn về phía xa. Một ngôi nhà ngói cao ráo nhô lên màu đỏ hường. Sau nhà khu vườn cau xanh mướt, ngọn cau như tiếp nối với mây trắng. Núi, Đất trông nhỏ nhưng dài. Nhiều tảng đá trắng tinh, phản chiếu ánh nắng gay gắt buổi trưa.
Trước nhà Tư Thính, có ngôi nhà thủy tạ xinh xắn. Hai chiếc ghe mui vuông đậu sẵn buộc vào cột nhà.
Tư Thiện nói :
-       Cô Huôi đang ở trên nhà.
Năm Hí như hăng hái thêm :
-       Tại sao mình không bơi qua thiệt mau để đến núi Đất ! Cậu Cẩu đi về hướng nào ?
Tư Thiện đáp :
-       Đây là xứ lạ quê người, tôi cũng như chú mày thôi. Muốn biết rõ thì mình nên làm việc mạnh dạn hơn.
-       Thế nào là mạnh dạn ?
-       Thì cứ lên bờ, hỏi thăm dân chúng. Chẳng lẽ họ rượt chúng mình, bắt trói lại. Mình có tội gì đâu ? Vả lại mình không mang khí giới.
Qua nhà cô Huôi, Tư Thiện liếc mắt nhìn kỹ. Đứa nữ tỳ quen thuộc đang cầm chổi quét lá khô trước sân. Cô Huôi ngồi trên chiếc ghe nhỏ, trước hàng ba, ngắn khung cảnh bên hông nhà, trong cái ao hình bán nguyệt, sen nở rộ phô bày hàng chục đóm trắng. Lá sen xanh mướt che phủ mặt nước, giữa ao, chiếc xuồng con nằm yên một ông lão tóc bạc phơ đang cầm cán câu.
Đúng là cảnh điền viên với bao nhiêu thú vui. Xuồng đi xa mà Tư Thiện còn ngoảnh mặt lại. Cô Huôi đến gần ao sen. Có lẽ hai cha con đang nói với nhau chuyện câu cá.
Tư Thiện buồn lâng lâng :
-       Tham danh lợi để làm gì chớ ?
Năm Hí day lại, cười dòn
-       Chắc anh muốn lên nhà, ngồi bên cạnh cô Huôi.
Tư Thiện thú nhận :
-       Ai mà không ao ước như vậy. Đời tôi Trời Phật cho hưởng phước đức tới đó là hết. Theo người Lang Sa để đánh Nam dẹp Bắc, chưa ắt tôi làm được chức phủ huyện vì tại học không tới đâu cả.
Năm Hí nói :
-       Nhưng … ẩn sĩ quy điền, vợ chồng ngồi bên ao sen ngắm hoa rồi câu cá là một thứ danh lợi đắt tiền. Người bần hàn, làm sao ở ẩn như vậy cho được ? Cơm gạo đâu mà ăn ? lại còn tốn tiền mướn bọn nữ tỳ. Tôi thì mong sao người Lang Sa ban thưởng chút ít tiền bạc. Về chợ Rạch Giá, tôi mướn hoặc mua căn nhà, làm nơi dự trữ cá khô và nước mắm. Hai món đó luôn luôn có người cần dùng.
-        Ầm! …
Tiếng nổ long trời từ ngoài biển vang vang đụng vào sườn núi Đất rồi dội trở lại, lâu lắm mà dư âm không dứt.
Tư Thiện và Năm Hí đều cúi đầu, bơi thật nhanh. Họ biết đó là súng của tàu Lang Sa, bắn từ ngoài biển. Dân chúng hai bên bờ rạch chạy ra trước sân, nhôn nháo. Nhiều đứa bé đang tắm dưới song vụt chạy lên bờ, kêu khóc ỏm tỏi.
Phía trước mũi xuồng, Tư Thiện nhận ra một toán người khá đông đảo. Họ chạy tán loạn, kẻ lên chân núi, người xuống ruộng.
Năm Hí bèn hỏi ông lão đang bước nhanh trên bờ:
-       Đi đâu vậy ông?
Ông lão đáp:
-       Mấy ông điếc hay sao? Tàu Tây tới rồi.
Tư Thiện hỏi:
-       Còn mấy người đằng kia? Phải chăng là …binh sĩ của ông chúa?
Ông lão đáp:
-       Dân trong xóm bị bắt đi làm xâu. Cậu Cẩu bày chuyện xây chùa cất miễu. Chùa thì muốn cất thật cao, cơm gạo thì không cho người ta ăn? Giặc tới rồi!
Tư Thiện như phấn khởi thêm lên. Khi dân chúng mang tâm trạng hoang mang thì làm sao cậu Cẩu và cô Huôi giữ vững tinh thần được.
Nếu người Lang Sa kéo binh đến, cậu Cẩu có thể chạy trốn, cô Huôi ở lại để thương thuyết.
Hàng chục chiếc xuồng phía ve biển bơi nhanh về phía Tư Thiện. Ông ta hốt hoảng :
-       Mình lên bờ thì mới yên thân.
Năm Hí hỏi :
-       Sao vậy ?
-       Ai nấy chạy giặc, rồi bờ biển trong khi bọn mình lại ra bờ biển. Họ cho rằng bọn mình là dọ thám ! Mình lên bờ, đi bộ đến núi Đất, chờ xem tình thế.
Hai người vượt qua cánh đồng nhỏ hẹp. Đến sườn núi, họ ngồi nghỉ, chờ khi chạng vạng tối mới dám xuất hiện để xin cơm. Theo con đường mòn, họ đi thẳng lên núi. Mùi nhang bay thoang thoảng. Qua kẽ lá, ánh đèn chiếu vàng vọt.
Tư Thiện nói :
-       Đây là chùa miễu. Ta vào đó là có cơm ăn. Chẳng lẽ giờ này bọn hộ vệ của cậu Cẩu lại rình sẵn trong miễu.
Năm Hí vụt la lên :
-       Nó đó !
Từ bên vách đá có tiếng quát :
-       Ai ? Mấy người đi đâu ?
Đúng là bọn hộ vệ của cậu Cẩu, Tư Thiện khoát tay như ngầm bảo Năm Hí đừng chống cự. Ông lấy giọng bình tĩnh :
-       Tôi đây mà. Tôi ở Hòn Chông…
Hai dau971 hộ vệ trợn mắt rồi thối lui. Tư Thiện nói tiếp :
-       Tôi đi tìm anh em. Quên rồi sao ?
-       Cậu Ba không cho ai gần miễu. Ông là ai ? Tôi quên rồi ?
Đã đến lúc Tư Thiện tỏ thái độ tàn nhẫn. Ông ta đá thốc vào hông tên hộ vệ bên trái. Hắn té xuống. Ông bước tới, vặn tay tên hộ vệ thứ nhì.
Năm Hí tiếp sức, quỳ xuống khiêng một tảng đá to, đập vào đầu tên vừa té. Hắn kêu rú, lăn lộn để tránh tảng đá. Không hiểu hắn tránh kịp hay không, điều chắc chắn là người và viên đá đều lăn xuống hố.
Từ đáy hố, nhiều tiếng động vang lên. Nhánh cây gãy nghe răng rắc, tảng đá đụng vào vách hố, văng ra rồi lại đụng vào vách đối diện.
Tư Thiện cầm lòng không đậu nên rầy la :
-       Đừng giết nó !
Năm Hí hỏi :
-       Tại sao anh chưa giết thằng đó ! Nó rút ngọn đoản đao kìa !
Tư Thiện bước lui. Tên hộ vệ bèn xuôi tay. Biết mình hành động quá trễ. Bóng tối tràn lan nhanh chóng. Hai người ngồi xuống. Tên hộ vệ run lên :
-       Tội nghiệp tôi. Hồi nãy tôi không biết ai ?
Tư Thiện muốn tìm hiểu sự thật nên hứa trước :
-       Mày cứ nói thiệt tao tha cho, tao là người lên núi viếng cảnh chúa. Tại sao tụi mày với thằng kia lại giết tao ?
-       Dạ, tôi xin lỗi rồi. Ông là Tư Thiện, ở gần nhà cô Huôi. Trời chạng vạng, làm sao tôi phân biệt được người quen kẻ lạ ?
-       Bọn mày còn mấy đứa, lên đây làm gì ?
Tên hộ vệ đáp :
-       Dạ, chỉ có hai đứa. Tại sao ông nghi ngờ tôi ? Tôi với ông đâu thù oán nhau. Ông bày ra lễ lộc, tôi nhớ rõ. Tôi không hiểu gì hết.
Trong phút giây Tư Thiện quyết định nên tra tấn tên hộ vệ này rồi giết cho nó chết luôn. Để nó sống thì hư mọi công việc. Nó đã biết tên ông và nó sẽ thuật lại cho cậu Cẩu và cô Huôi biết rằng ông đến đây với người lạ mặt, người ấy đã giết một đứa hộ vệ.
Nó phải chết, vì Tư Thiện còn gặp mặt cô Huôi và cậu Cẩu. Nghĩ vậy, ông ta hỏi gắt :
-       Tại sao tụi bây xông vào giết tao ?
Tên hô( vệ kêu lên :
-       Trời ! Tôi làm dữ với ông hồi nào ? Ngoài biển súng thần công nổ. Tôi đứng trên này mà canh chừng. Dường như có tàu nhỏ chạy vô bãi biển, hàng chục người ngồi trên tàu.
Chắc là lính của Lang Sa muốn chiếm Hòn Đất. Không che dấu được sự mừng rỡ, Năm Hí khều nhẹ Tư Thiện :
Tư Thiện day lại :
-       Để tôi hỏi nó.
Rồi ông ta đổi giọng :
-       Nói thiệt đi ! Tôi tới đây để theo dõi người Lang Sa. Chú mày thấy rõ người Lang Sa vô bãi biển. Tàu lớn chạy ngoài khơi, nếu vô bãi thì mắc cạn.
-       Dạ, tôi nói láo để làm gì. Dường như họ cướp giựt chiếc ghe lưới rồi chèo vô gành ông Bảo.
-       Gành ông Bảo ở đâu ?
-       Lại đằng kia, sau miếu bà chúa Xứ, nhìn xuống thấy mỏm đá kêu là gành ông Bảo.
Nói tới đó, ten6nho65 ve-5 từ từ đứng dậy. Nhưng Tư Thiện ra lịnh :
-       Đừng giỡn. Ngồi xuống. Muốn chạy sao chớ ? Tại sao mày đòi giết tao lúc nãy.
-       Dạ tôi nghe súng nổ rồi mấy người Lang Sa, tôi sợ chạy xuống núi để tìm cậu Cẩu.
-       Cậu Cẩu biểu tụi mày lên đây để làm gì ?
-       Dạ, đêm nay, cậu Cẩu với ông Mười Hấu ở nhà ông Đạo Đất. Ngày mai, họ lên miễu bà chúa Xứ để chờ lên xác. Tụi tôi lên đây canh chừng trước !
Như vậy là đủ rồi. Tình thế biến chuyển nhanh chóng ngoài mức tưởng tượng của Tư Thiện và Năm Hí. Nếu có nơi nào kín đáo, Tư Thiện sẽ giam giữ tên hộ vệ, chờ khi tình thế yên ổn sẽ thả hắn ra.
Nhưng lúc này, nếu giữ lòng nhân đạo, Tư Thiện có thể bị hắn phản bội, tố giác với cậu Cẩu.
Nghĩ vậy, Tư Thiệu nói :
-       Tao xin lỗi mày. Hôm nay mày chết tao hứa nhờ ơn mày.
Tên hộ vệ la hoảng :
-       Ông giết tôi sao ? Hay là ông… theo phe Lang Sa ?
Tư Thiện bước tới, vung tay đâm vào ót tên hộ vệ. Vì trời tối, hắn không thấy mà đề phòng. Hắn lăn tròn xuống hố.
Năm Hí và Tư Thiện nhìn nhau. Tư Thiện hỏi :
-       Làm cách nào bây giờ ? Sao hôm trước chú mày bảo rằng người Lang Sa không đem quân đến ?
Năm Hí đáp :
-       Đó là chuyện của họ. Tôi là thuộc hạ, làm sao hiểu rành. Biết đâu bọn Lang Sa ở dưới tàu, ngoài biển khơi lại thuộc về cánh quân khác.
Tư Thiện nói :
-       Nên rút lui, xuống núi để tìm nơi cư trú của ông đạo Đất. Giờ này cậu Cẩu và ông Mười Hấu đang ở đó. Mình lên núi để làm gì ? Vô ích lắm. Lúc nãy,tôi tưởng rằng ông đạo Đất ở gần Miễu. Ngày mai, chú mày thử xuống bãi biển để xem kỹ cho biết toán quân đổ bộ hồi nãy là của ai ?
Rốt cuộc, Năm Hí đành tuân lời Tư Thiện. Dọc đường về, hai người ghé vào căn chòi bên đường để xin cơm. Họ tự xưng là hộ vệ quân của cậu Cẩu. Chủ nhà vừa oán ghét vừa lo sợ. Khi Tư Thiện hỏi :
-       Ông đạo Đất ở gần xa ?
Chủ nhà nói thật nhanh để đuổi khách :
-       Xuống triền núi, quẹo sang bên trái rồi hỏi thêm. Trước sân nhà luôn luôn có thắp nhang.
Trời tối như mực, Năm Hí muốn ngủ cho khỏe chờ sáng. Tư Thiện cãi lại, cho rằng nên xê dịch ban đêm. Ông ta đến gần thảo am nghe ngóng những gì xảy ra bên trong.
Nhất định là tiếng súng hồi chiều khiến cậu Cẩu và Mười Hấu suy nghĩ nhiều. Cậu Cẩu sẽ có hai thái độ trái ngược, một là quá sợ, sẵn sàng đầu hàng, hai là khinh thường ngạo mạn vì quá tin vào lá số tử vi của mình.
Năm Hí đáp :
-       Để tôi ở đây.
Tư Thiện nói :
-       Ra ngoài sân, mình bàn tính riêng.
Hai người đi thẳng, đến căn chòi trước mặt. Tiếng mõ tre vang lên từng chập, đó là mấy người làm rẫy, đánh mõ để xua đuổi mấy con heo rừng phá hoại hoa màu. Tư Thiện bèn bàn:
-       Năm Hí cứ vô chòi, làm quen với mấy người làm rẫy. Tôi đi một mình mới xong.
-       Tôi ở lại, nguy hiểm quá
-       Đừng sợ. Chừng nửa đêm tôi trở lại. Chú mày cứ ngủ dưỡng sức vì ngày mai còn nhiều công việc khác. Vái trời cho quân Lang Sa đổ bộ, kéo qua Hòn Chông đánh một trận. Bọn mình đi tới lui để đánh giặc miệng, làm dọ thám như vậy cực khổ quá. Coi thì khỏe khoắn nhưng có thể chết lãng nhách bất cứ lúc nào.
Nói xong Tư Thiện theo con đường mòn mà xuống dốc sườn đồi. Hàng chục bó đuốc cháy sáng, di chuyển theo con rạch. Ông ta đoán chắc là bọn thường dân đang tản cư.
Đến ngã ba đường, Tư Thiện dừng lại. Hai tên hộ vệ, đang uống rượu bên đóng lửa. Tên thứ nhứt nói khôi hài :
-       Đừng sợ chết. Con người, ai cũng qua cái chết một lần thôi. Ông đạo Đất phù hộ mà.
Như vậy có nghĩa là cậu Cẩu còn bố trí canh phòng sơ sài. Tư Thiện ngồi phía chân đồi, cách đó chừng hai mươi ánh đèn chiếu sáng.
‘‘Phải chi mình mang theo con dao’’ !
Tư Thiện lo lắng, đề phòng trường hợp bọn hộ vệ xông ra, bắt tất cả những người lạ mặt đang đi tới lui gần chỗ cư ngụ của cậu Cẩu. Ông ta đi vòng ra sau lưng bọn hộ vệ, trèo lên tảng đá cao ngất.
Làm cách nào đến gần am của ông đạo Đất.
Hồi lâu, Tư Thiện làm bài toán liều lĩnh. Ban đêm bọn hộ vệ chỉ chú ý đến những gì xảy ra trên mặt đất.
Ông ta liếc cái nhánh cây đang quơ qua quơ lại trên đầu. Dường như nhánh cây ấy khá to. Không do dự ông ta nhảy thót lên. Nhánh cây quằn xuống đưa ông ta gần sát đất. Bọn hộ vệ như chú ý.
-       Cái gì vậy ?
Nhanh như chớp, ông buông mình, chụp nhánh cây bên cạnh. Thế là cái nhánh cây đầu tiên bị quật ngược lên cao, ông dùng hai tay mà phăng tới.
Đến nhánh thứ ba, anh trèo lên mà ngồi , thở phào. Cái thảo am của ông đạo đất ở sát gốc cây. Ngồi trên này, nếu lắng tai nghe rõ thì Tư Thiện có thể theo dõi câu chuyện trong nhà.
Dường như trong am ai nấy đều ngủ rồi ? Tư Thiện không tin như thế. Ông ta trèo xuống thấp, ôm sát nhánh cây, tay còn lại thì vạch kẽ lá, trên nóc am.
Một nhánh cây khô rơi xuống, gây tiếng chạm nhẹ.
-       Ai đó ?
Đúng là giọng cậu Cẩu. Tư Thiện cứ lặng thinh, chờ nghe trả lời. Hồi lâu, ông nghe một giọng già.
-       Hơi đâu mà lo. Bọn Lang Sa nếu kéo tới đây thì là mượn đường qua Hòn Chông. Tôi hứa chắc mà. Mạng cậu còn lớn lắm.
Một giọng khác phụ họa theo :
-       Bởi vậy, đừng lên tiếng, đừng bắt bớ tất cả những ai gần am này. Tôi ra lệnh cho bọn hộ vệ cứ ăn rồi ngủ trong đêm nay.
Biết rằng cậu Cẩu muốn tạm thời mai danh ẩn tính. Tư Thiệu không ngần ngại vạch một lỗ nhỏ trên nóc thảo am. Bụi bay xuống, Tư Thiện ghé mắt thấy rõ Mười Hấu đang ngồi uống trà. Cậu Cẩu thì nằm trên manh chiếu, thân hình gầy guộc. Hồi lâu ông đạo Đất lại nói :
-       Người Lang Sa không đáng sợ cho lắm. Tránh voi không xấu mặt nào ! Tôi xem quẻ rồi. Cậu cứ tin tôi.
Ông Mười Hấu hỏi :
-       Sao ông biết ?
-       Đây là trận gió. Thần linh mách bảo với tôi như vậy. Người Lang Sa như cơn giông tố. Rốt cuộc họ phải chết.
Mười Hấu hỏi :
-       Liệu người Lang Sa dám đánh phá Hòn Chông không ? Bọn hộ vệ của tôi đủ sức chống cự chớ ?
Ông Đạo Đất trả lời.
-       Ngày mai, tôi xem quẻ khác. Tài năng của tôi chỉ vậy thôi…
Đột nhiên, cậu Cẩu vụt ngồi dậy :
-       Không được ! Chẳng lẽ tôi ăn năn sơ sài, sống núp lén như người ăn trộm trên núi này với ông ? Như vậy là tôi đầu hàng rồi. Bọn Lang Sa chắc là ít người. Bọn nó có súng nhưng bắn riết rồi cũng hết đạn dược.
Mười Hấu như tán thành ý kiến của đứa cháu ngoại :
-       Sáng nay hoặc trưa mai, ta đến miễu bà chúa Xứ nhờ lên xá bà…
Cậu Cẩu gật đầu
-       Làm thế nào mới được ! Chẳng lẽ tôi nằm trên đất mà ngủ để sanh bịnh. Tôi có tội, tôi cất chùa để tạ tội như vậy đủ rồi.
Ông đạo Đất trả lời :
-       Tài năng chỉ có vậy. Cậu không tin thì tôi biết làm sao…
Cậu Cẩu đứng thẳng người, đến gần ông đạo Đất
-       Ông có giỏi thì cầm binh đánh người Lang Sa. Nằm một chỗ để chờ chết rồi chôn xác dưới đất thì dễ quá. Ông già rồi, nói như ông thì có nhiều ông già khác nghe theo. Tôi còn trẻ. Tôi đánh lại bọn Lang Sa. Bọn nó ở ngoài biển lâu ngày, lấy gì làm cơm gạo ? Tôi sẵn sàng cho tụi nó tới Hòn Chông. Nếu tụi nó biết phải quấy, xin tiền bạc cơm gạo thì tôi cho chút ít. Xứ này của tôi chứ đâu phải của nó.
Ông đạo Đất cứ nhắm mắt, nằm nghiêng một bên.
Tư Thiện mừng thầm vì cậu Cẩu đã trở lại tật cũ : phách lối, ngạo mạn, xem thường người Lang Sa. Cậu sặn sàng tiếp rước nếu người Lang Sa biết lễ phép, tôn kính cậu.
Như vậy là đủ rồi Tư Thiện trèo lên nhánh ba rồi buông mình, trở về căn chòi để gặp Năm Hí.
Hừng sáng hôm sau, Năm Hí thức dậy sớm. Tư Thiện nói vài lời, trước khi chia tay :
-       Nên thận trọng tìm cách tiếp xúc với mấy người ở dưới tàu, vừa đổ bộ. Chú mày chắc quen mặt với bọn đó ?
Năm Hí nói :
-       Có thể viên cai đồn Rạch Giá đến đây thám thính. Hồi ra đi ông ta căn dặn nên giữ lá cờ tam sắc, thêu ở góc khăn. Chỉ khăn đó thôi để sẵn trong túi. Phải chi anh rảnh rang, tới đó nghe ông ta dạy việc.
Tư Thiện đáp :
-       Như vậy quá nguy hiểm cho tôi. Rủi có người thấy tôi tiếp xúc với người Lang Sa thì cậu Cẩu giết tôi. Khi gặp cô Huôi, tôi khó bàn bạc. Tốt hơn hết là chú mày nên khuyên viên cai đồn đến Hòn Chông, đến công khai với tánh cách thân thiện. Tôi sẽ thay mặt cậu Cẩu mà đón tiếp. Nên mang theo một khẩu súng và mười người lính mã tà. Đi nhiều quá thì cậu Cẩu nổi giận.
Năm Hí bèn chận lời
-       Chắc không bao giờ người Lang Sa chịu kéo ‘‘Đại đội hùng binh’’ đến Hòn Chông. Họ còn lo trấn giữ mấy đồn lớn ở Hà Tiên và Rạch Giá. Nếu đi quá ít, rủi bị giết thì sao ? Nhiều khi bọn hộ vệ dám liều mạng, trở mặt rồi liều mạng giết trọn mấy người lính mã tà ?
-       Nhưng tôi hứa giúp đỡ , giàn xếp giữa đôi bên để chuyện đổ máu đừng bao giờ xảy ra. Lúc nguy nan cậu Cẩu và Mười Hấu luôn luôn hỏi ý kiến của cô Huôi. Luôn luôn, tôi ở bên cạnh. Bây giờ tôi về Hòn Chông trước để gặp cô Huôi. Nếu tôi vắng mặt, cô nghi ngờ.
Khi Tư Thiện xuống chân núi, công việc đầu tiên của Năm Hí là trở lại con đường hồi đêm rồi. Đến miệng hố, nơi xảy ra chuyện bất trắc, Năm Hí nghiêng mình trông xuống. Xác hai tên hộ vệ đã bị nhánh cây che lấp.
Đi một đỗi anh ta dừng lại nghe có tiếng nói chuyện ồn ào. Trong ngôi miếu cổ, hai ba người nằm dài trên chiếc đệm. Ông từ giữ miếu thắp nhang, cắm vào một cái lư nhỏ. Dường như chẳng một ai chú ý đến Năm Hí. Ông từ nói to như ra lệnh :
-       Anh em rửa mặt cho sạch sẽ, rủi cậu Ba với ông Mười tới thình lình.
Một chàng trai nói :
-       Giặc giã đến nơi mà còn lên xác ! Ông nên bàn với cậu Ba nên dời qua ngày khác.
-       Ông từ cằn nhằn :
-       Cậu Ba muốn thì ai dám cãi. Anh em ráng chịu cực một buổi rồi lãnh tiền xài chơi. Hồi xưa, trước khi ông chúa Hòn cưới cô Huôi, chắc anh em còn nhớ Bà chúa Xứ linh thiêng lắm. hễ bà quở phạt thì vua chúa khó sống dai. Thôi ! Tai vách mạch rừng. Hai ông ‘‘hộ vệ’’ đâu rồi ?
Lập tức, Nam Hí đi vòng ra sau miễu, tìm con đường tắt xuống bãi biển. Từ trên cao nhìn xuống, anh ta trố mắt vì chiếc tàu sắt đen ngòm đậu sát bãi, khi thủy triều đang dâng cao.
Dường như dân chúng ở bãi biển đã chạy tán loạn. Ở miền quê, ai nấy đều nấu cơm sớm, ăn buổi sáng cho thật no trước khi đi đánh lưới ngoài biển hoặc lên sườn đồi mà cuốc rẫy.
Hồi lâu, Năm Hí nhận ra một làn khói.
Anh ta nhắm hướng ấy chạy xuống
-       Lính mã tà nấu cơm, còn ai đâu xa lạ !




Đăng nhập để trả lời
0
-25-


 
Tư Thiện đến Hòn Chông, mừng rỡ vô cùng vì cô Huôi và cậu Cẩu hãy còn ở núi Đất.
Ông ta nằm ngủ một giấc dài rồi thức dậy, tự tay vo gạo nấu buổi cơm chiều. Ăn xong, ông ta ra đường cái, dạo tới lui theo bờ rạch như để chứng minh với bọn hộ vệ rằng ngày hôm qua ông ta không vắng mặt.
Bọn hộ vệ cứ ăn uống và khi thấy Tư Thiện, họ ngoắt tay :
-       Tới đây cho vui, còn rượu thịt mà !
Dưới nhà thủy tạ, bọn hô( vệ nướng ba bốn con gà. Chúng trao cho Tư Thiện một bầu rượu nhỏ :
-       Ông cứ uống. Tụi tôi đang lo rầu chớ ông thì khỏe khoắn.
Ngỡ rằng có tên dọ thám theo sát bên ông. Ông trố mắt hỏi nhanh.
-       Tại sao khỏe ? Anh em còn trẻ, được đi tới đi lui. Tôi như bị giam lỏng trong nhà.
Một đứa nâng hủ rượu sát môi ông Tư Thiện :
-       Uống rồi ăn lớn miếng như tụi tui. Nè ! Đừng nói lại cho biết rằng lúc cậu Ba vắng mặt, anh em tôi bày tiệc này. Rượu này là rượu … ăn cắp ở trong quán. Còn gà vịt… món mà tui gặp đâu xin đó. Ăn no đi rồi nghe tụi tôi hỏi.
Uống cạn hũ rượu, Tư Thiện cười tủm tỉm.
 
-       Hỏi điều gì ? Tôi thì chỉ biết bày trò vui, khi có lễ lộc…
Tên hộ vệ lắc đầu.
-       Từ rầy về sau, chắc là hết chuyện leo cây thoa mỡ bò rồi.
-       Sao vậy ?
-       Hồi tối tôi nằm chiêm bao, thấy nước dưới sông sôi ùng ục, bốc khói. Từ dưới đáy rạch, một cái cũi trôi lên…
Tư Thiện nói :
-       Chắc là hồn oan cô Xí Vĩnh…
-       Cô Xí Vĩnh đứng trong cái cũi, quơ hait ay. Cái cũi tung ra. Cô Xí Vĩnh nhảy lên bờ, trợn mắt, nghiến răng mà nói với tụi tôi rằng cô đang trả thù. Tôi hỏi trả thù bằng cách nào thì cô trả lời vắn tắt hai tiếng ‘‘chết hết’’.
Nghe qua, Tư Thiện nắm được một sự kiện. Quả thật tinh thần bọn hộ vệ đang sa sút. Nếu xảy ra một trận đụng do865 nhỏ, chưa chắc bọn chúng dám kháng cự.
Vài chuếc xuồng bơi nhanh trước bến. Họ chở theo nào đàn bà, trẻ con, heo gà, cối xay, Tư Thiện giả vờ như chưa biết tình hình.
-       Họ đi đâu vậy, mấy chú ?
-       Họ chạy giặc. Đêm qua, súng nổ phía ngoài biển. Đáng lý ra, dân chúng đến Hòn Chông tụ tập lại để nhờ cậu Ba che chở. Nhưng họ đến vùng khác, phía núi Mo So…
Đột nhiên một tên hộ vệ nói lớn :
-       Về rồi ! Cậu Ba về rồi ! Coi chừng cậu Ba nổi giận.
Để tránh mọi nghi ngờ, Tư Thiện đứng dậy, bước nhanh về. Ông ta đến trước nhà cô Huôi, nép mình bên cây dừa. Quả thật là cô Huôi, nhưng điều đáng chú ý là cô không dùng chiếc ghe mui vuông.
Đứa hộ vệ chèo phía sau, nữ tỳ cầm dù che cho cô. Dường như cô về Hòn Chông quá gấp rút, Tư Thiện hơi bối rối, chưa hiểu Năm Hí đã tiếp xúc với quân Lang Sa ở bãi biển hay chưa ?  
Hay là quân Lang Sa cương quyết dùng vũ lực, tiến về phía Hòn Chông ?
Trước tình thế nguy hiểm và cấp bách này, Tư Thiện tự nhủ :
-       Nên cẩn thận từ lời ăn tiếng nói. Mình là người bị tình nghi làm dọ thám cho quân Lang Sa. Một cử chỉ sơ sót có thể bị hiểu lầm và bị xử tử.
Khi chiếc xuồng gần đến, Tư Thiện chạy vào nhà đóng cửa lại rồi lên giường nằm như người nhàn rỗi không biết làm cách nào để giết thời giờ. Ông chờ mãi mà chẳng thấy cô Huôi gọi.
Nếu quả thật quân Lang Sa kéo đến, ít nữa cô Huôi cũng gọi ông đến để hỏi ý kiến. Buổi chiều, ông đem mớ cơm nguội ra ăn rồi dỗ giấc ngủ cho đến khi gần sáng.
Trong tư thất, Cô Huôi cứ trằn trọc. Đối với cô thì quân Lang Sa quá mạnh, nếu khéo điều đình thì vùng Hòn Chông khỏi bị tàn phá. Cậu Cẩu có thể đưara một số vàng bạc, mua chuộc bọn dọ thám. Chắc là quân Lang Sa sẽ giữ thể diện cho cậu trong vài năm !
Cô ngồi dậy, rót nước trà.
Bao nhiêu hình ảnh quái đản như bao vây cô. Đứa nữ tỳ báo cáo những gì xảy ra trên núi Đất, tại miễu Bà chúa Xứ.
Vì tự trọng, xem mình cao hơn người khuất mặt nên cô từ chối, không đến dự buổi lên xác ấy. Rủi người xác nói chuyện xui xẻo, xúc phạm đến uy tín cô, hoặc tiên đoán ngày suy sụp thì chẳng lẽ cô lên án xử tử.
Người Lang Sa đến bãi biển. Họ dám mướn người để ám sát cô ! Đứa nữ tỳ đến miễu bà, trở về thuật lại nhiều chi tiết quá mức tưởng tượng, cô chưa tin hẳn. Cô đoán chừng :
-       Hay là vì còn trẻ nên nó nhận xét sai lạc ?
Nghĩ vậy, cô rời bộ ván, đến cái giường bên cạnh mà gọi :
-       Nữ tỳ ! Ngủ mê quá vậy ? Nấu nước cho ta uống.
Gió thổi ngoài hiên, đem hơi lạnh buốt vào gian nhà quá rộng. Bỗng dưng mà cô nhớ đến Tư Thiện. Gọi Tư Thiện đến quá sớm thì còn gì thể diện một bà Chúa, trong lúc bị quân thù dùng võ lực uy hiếp ? Hơn nữa, Tư Thiện là người của Lang Sa, chưa đáng tin cậy. Nên chờ thái độ của cậu Cẩu
Ấm nước reo trên bếp. Nữ tỳ châm vào cái ấm nhỏ rồi đứng khép nép bên gốc cột
Cô Huôi hỏi :
-       Chừng nào cậu Ba về đây ?
Nữ tỳ đáp :
-       Con về trước. Sau buổi lên xác, cậu Ba xuống chân núi ghé nhà ông đạo Đất, với ông Mười. Phận tôi tớ trong nhà, con đâu dám lại gần cậu để hỏi.
-       Cẩn thận như vậy là phải. Hồi lên xác, mi có ở tại đó không ? Hay là mi nghe thiên hạ đồn đãi rồi thuật lại, thêm bớt…
Nữ tỳ nói như kêu gào :
-       Con đâu dám nói láo. Nếu sau này cô nghe thiên hạ đồn đãi khác hơn lời con thì cô cứ giết con.
Để biết rõ, cô Huôi nói như trách mắng :
-       Tại miễu có người lên xác, đó là cô gái còn trinh. Nhưng tại sao mi bảo rằng cậu Ba lên xác. Ta suy nghĩ mãi chưa tin lời nói.
Bấy giờ, đứa nữ tỳ mới phân trần :
-       Lúc ban đầu cô gái lên xác. Lát sau, cậu Ba đứng dậy, mặt mày đỏ khé như uống rượu. Cậu múa hait ay rồi la lớn
-       La chuyện gì ? Mi nghe rõ không ?
-       Cậu ta nói ‘‘Ta sắp chết. Một là ta chết. Hai là nó chết’’. Người ở chung quanh hoảng sợ vì cậu Ba đấm ngực, cởi áo ra. Ông Mười năn nỉ cậu Ba…
Cô Huôi hỏi, chận lời đứa nữ tỳ :
-       Mi nghe rõ lời cậu Ba không ?
-       Dạ, lúc đó con ở gần. Ông Mười đuổi con ra xa cho ngồi tới bờ suối, múc nước tạt vào mình cậu. Lát sau, khi tỉnh dậy, cậu đánh ông Mười
-       Được rồi ! Ta cấm không cho mi đồn đãi. Coi chừng chết oan như cô Xí Vĩnh.
Thế là cô Huôi nằm xuống suy nghĩ. Người Lang Sa đến, toan dùng võ lực uy hiếp. Nếu cậu Cẩu bị giết hoặc chạy trốn thì cô đâu còn địa vị ‘‘bà chúa Hòn’’. Dầu muốn hay không, cô vẫn vào phe cậu Cẩu. Tiếc thay ! Cậu ta lại nổi cơn điên như lúc trước. Xem người khác lên xác rồi tự mình lên xác, chuyện ấy dễ tin. Mùi nhang khói, tiếng trống dồn dập, tiếng đàn du dương có thể làm cho người yếu bóng vía trở thành kẻ mê hoặc, mất trí khôn.
Liệu cậu Cẩu đã bình tĩnh để nghe lời cô dạy chăng ? Nếu bịnh điên nổi lên từng hồi, ắt là cậu Cẩu sẽ có những hành động liều lĩnh, không ai ngăn cản kịp.
Cậu liều lĩnh thì cô Huôi sẽ mang họa lây.
Làm sao bây giờ ?
Nếu gọi Tư Thiện lúc đêm khuya thì ông này sẽ có thái độ tự phụ, khinh thường cô.
Cô nằm chờ trời sáng, ra lịnh nữ tỳ gọi Tư Thiện đến.
Tư Thiện chắp tay chào, chúc mừng cô được bình yên khi trở về. Cô Huôi nói ngay :
-       Ông ơi ! Người Lang Sa đến đây rồi !
Tư Thiện hỏi :
-       Thưa cô, ai nói vậy ?
-       Vài ngày nữa, họ đến. Tôi muốn nhờ ông một việc. Theo ý ông, ngừi Lang Sa có ý định tàn sát dân chúng vùng Hòn Chông này không ?
-       Dạ, họ ngu dại gì mà tàn sát.
-       Họ chưa giết cậu Cẩu, ông Mười Hấu, cô Ngó và tôi ?
Tư Thiện đáp :
-       Chưa chắc như vậy. Họ chỉ giết ai chống cự họ bằng võ lực. Tôi nghe rằng khi đến chợ Rạch Giá hồi năm ngoái, họ không giết một người nào cả…
Cô Huôi trợn mắt :
-       Ông nói sao ? Nếu không giết người thì họ mang súng, sắm tàu để làm gì ?
Tư Thiện đáp :
-       Tùy hoàn cảnh mà họ hành động. Nếu ở đây, cô ứng phó khéo léo thì chưa chắc họ dùng võ lực.
-       Thí dụ như tôi giao phó cho ông trách nhiệm giàn xếp với họ, liệu ông có thể…
Chưa chi Tư Thiện đã từ chối :
-       Khó lắm. Cô tin tôi là một việc nhưng còn cậu Ba và ông Mười Hấu… Ngày trước tôi đã mang tội lớn khi dậy giặcở núi Mo So. Rủi giàn xếp không xong cậu Ba sẽ giết tôi, còn tàn nhẫn hơn là cậu giết cô Xí Vĩnh.
-       Cám ơn ông, nghĩa là khi nào cần tôi gọi ông tiếp dùm. Điều quan trọng là thể diện, Cậu Ba là người ngạo mạn, lúc nổi cơn điên thì xem tất cả mọi người như trò chơi. Mấy tháng rồi tôi phó mặc công việc cho cậu hoàn toàn chịu trách nhiệm. Chuyện nào ác độc thiên hạ ghét cậu chớ đâu ghét tôi. Bây giờ thì khác, nếu để cậu tự tung tự tác thì vùng Hòn Chông này mất vào tay người Lang Sa. Chừng đó chắc tôi bị người Lang Sa làm nhục.
Lẽ nào người như tôi mà lại đầu hàng, nhân nhượng quá nhiều trong khi cậu chưa sáng mắt, còn chống cự.
Nghe qua, Tư Thiện càng thêm kính mến cô Huôi. Trên đường về ông thêm lo lắng vì nếu cậu Cẩu còn ngạo mạn, nổi cơn điên từng chập thì nhứt định là xảy ra một cuộc đụng độ đẫm máu. Có lẽ cậu Cẩu sẽ chết nhưng tội nghiệp cho đám lương dân vô tội . Trong phút giây. Tư Thiện nhớ đến bọn hộ vệ.
Đúng là bọn người khó tin cậy. Nếu vì oán giận cậu Cẩu, vì ham tiền mà có vài đứa làm nội ứng thì tình thế lại càng rắc rối.
Người Lang Sa quá ngạo mạn, làm sao họ chịu đầu hàng, trở thành đàn em hoặc tay sai của cậu Cẩu như cậu mong muốn. Người mắc bịnh điên luôn luôn tự tôn. Chưa chắc cô Huôi thuyết phục cậu Cẩu được, khi tình thế trở nên khó xử.
Đêm ấy, Tư Thiện giựt mình thức dậy. Dưới bến, bọn hộ vệ đốt đuốc, đón rước cậu Cẩu và ông Mười Hấu. Vài tiếng súng nổ to phía ngoài biển như nhắc nhở với Tư Thiện rằng người Lang Sa không bỏ rơi vùng Hòn Chông. Họ đang tiến binh.
Dân chúng kéo nhau lũ lượt, tốp dưới sông, tốp trên bờ để chạy giặc. Trước cảnh hỗn loạn ấy, Tư Thiện nằm trong nhà không yên. Ông ta đến trước bến, núp sau gốc cây. Cậu Cẩu đứng thẳng người, giữa chiếc ghe :
-       Cứ vể Hòn Chông mà ở !
Trên chiếc ghe phía sau, ông Mười Hấu quát to :
-       Mấy người cứ tá túc gần nhà tôi. Ai chạy quá xa thì tôi giết. Hồi nào, mấy người ăn của tôi, bây giờ mấy người phải tiếp tay. Tụi nó chỉ có vài đứa, mình thì đông đảo gấp trăm ngàn lần. Hộ vệ đâu ?
Vài tên hộ vệ lên tiếng. Mười Hấu ra lịnh cho bọn hộ vệ kiểm soát dân chúng, đừng cho người nào chạy trốn.
Đến hừng sáng. Tư Thiện lại bị đánh thức. Nữ tỳ cho biết rằng cô Huôi gọi ông ta để đến nhà cậu Ba…




Đăng nhập để trả lời
0
-26-

Năm Hí bắt đươc liên lạc với toán lính mã tà dưới bãi Hòn Đất. Cầm đầu toán lính này là quan một Ăn Sa. Bên cạnh người Lang Sa này còn có đội Cần.
Quan một Ăn Sa là tên võ biền, ưa uống rượu, tánh tình nóng nảy. Đội Cần ăn nói dịu dàng hơn. Sau khi khen ngợi Năm Hí, đội Cần nói :
-       Ngày mai, ta đến Hòn Chông !
Năm Hí sợ hãi :
-       Đến bất ngờ như vầy sao ? Rủi bị bao vây.
Đội Cần vuốt râu mép :
-       Đừng cãi vã. Ông quan một muốn như vậy thì mình tuân mời. Sao ? Gặp Tư Thiện chưa ? Bọn hộ vệ của cậu Cẩu gồm bao nhiêu đứa ?
Trong khi Năm Hí báo cáo tình hình, quan một Ăn Sa cứ lo cạo râu. Ông ta nghe và nói được chút ít tiếng Việt Nam nên thúc hối từng chập :
-       Một là tụi bây chết vì thằng Cẩu. Hai là tụi bây chết vì viên đạn của tao. Thằng Cẩu là đứa con nít, bọn hộ vệ dùng toàn là dao mác…Ngày mai mà không chiếm được Hòn Chông thì tao giết.
Đêm ấy lính mã tà chiếm ngôi chùa ở bên kia núi, gần am ông đạo Đất. Đa số dân chúng đều tản cư, trong chùa không còn ai cả. Dường như vài người tìm cách ẩn núp ở đám vườn sau chùa.
Bọn lính mã tà nổ vài phát súng để thị oai ? Quan một Ăn Sa quát to :
-       Bắn làm gì cho tốn đạn ? Tụi bây đi chiếm Hòn Chông chớ đâu phải tới đây để đánh giặc với mấy người cầm dao búa ? Trưa mai ta cắm cờ ở Hòn Chông ? Năm Hí đâu ?
Nghe gọi đến tên mình, Năm Hí lo sợ
-       Bẩm quan lớn…
-       Đêm nay, chú mày ngủ yên rồi suy nghĩ cách nào thuận lợi.
-       Quan lớn dạy, tôi nghe chưa rõ.
-       Mầy ngu quá, đã nói hôm truocè1 rồi. bên này có mấy người, tuy có súng đạn nhưng ít oi, nếu bị thương hoặc bị giết chừng bốn người là thua trận. Quan trên dạy làm cách nào tới Hòn Chông mà không tốn một viên đạn, một người lính mã tà ! Đừng cho tụi lính mã tà biết … Rủi xảy ra chuyện rắc rối, chẳng ai tiếp cứu được.
-       Dạ, tôi gặp Tư Thiện một lần rồi. Trước khi tới Hòn Chông, quan lớn cho phép tôi gặp Tư Thiện.
-       Làm gì thì làm ! Ngày mai, đến Hòn Chông, ngày mốt ta trở về. Miễn là thằng Cẩu chịu đầu hàng cho ta treo ngọn cờ tam sắc trước nhà nó.
Nói xong, quan một Ăn Sa cgung vào mùng. Ngoài này Năm Hí cứ bàn chuyện với đội Cần. Hai người uống rượu đến say mèm. Đội Cần nói :
-       Ngày mai, khi gặp Tư Thiện ta mới bàn tính được. Cứ ăn rồi ngủ.
Trời tờ mờ sáng. Đội Cần đánh thức Năm Hí. Quan một Ăn Sa cứ thúc hối :
-       Đi cho mau. Ta chỉ thắng khi mặt trời rọi sáng. Ban đêm mà ngủ ở Hòn Chông thì thật là nguy hiểm. Năm Hí đâu ?
Năm Hí hơi run sợ :
-       Dạ, tôi đây !
-       Tối nay, ta ở Hòn Chông ?
Câu hỏi tối nghĩa ấy khiến Năm Hí càng thêm bối rối. Tại sao viên quan một này không muốn ngủ tại Hòn Chông mà là yêu cầu tới Hòn Chông đêm nay.
-       Dạ, đường không xa cho lắm. Nếu đường trở về bãi biển thì mất thì giờ.
Viên quan mộT trợn mắt :
-       Tới Hòn Chông, ta không thèm trở về. Đêm nay, ta ở lại đó, chiếm trọn ngôi nhà cậu Cẩu.
-       Bẩm quan lớn…còn thương thuyết như lời quan lớn dạy. hai bên nói chuyện nhau, chắc là khó khăn vì cậu Cẩu khó đầu hàng nhanh chóng.
-       Nó không đầu hàng thì ta nổ súng. Ta muốn thương thuyết thật mau rồi trở về chợ Rạch Giá. Xong chưa ? Đến lượt Đội Cần day lại :
-       Bẩm quan lớn, Ai nấy ăn cơm rồi, còn chờ lịnh…
-       Chờ gì nữa ! Đi ngay bây giờ. Năm Hí đâu ?
-       Dạ…
-       Mi đi trước. Nếu dọc đường mà có người lính nào bị thương thì ta bắn mi chết tại chỗ.
Năm Hí run sợ, kêu cứu với đội Cần :
-       Thầy nghĩ coi, xứ này có nhiều lùm bụi . Làm sao tôi dám bảo đảm. Đánh giặc thì bên này hoặc bên kia phải chịu thiệt hại đôi ba người.
Như muốn tránh sự cãi vã vô lý, đội Cần nói khẽ :
-       Chết ai nấy chịu. Ông quan một nóng nảy có lý. Hổm rày chú mày với Tư Thiện làm gì ? Nếu vô đây mà hai bên bắn nhau, đốt nhà giết dân chúng thì ai thèm mướn hai đứa bay.
Đoàn người lên đường, Năm Hí đi trước với hai bàn tay không vì anh ta không được mang súng. Hơn nữa vài người lính mã tà dùng gươm, súng vẫn thiếu làm sao có đủ mỗi người một cây.
Khi xuống núi Đất, mặt trời vừa lên. Năm Hí mừng thầm vì phía thảo am của ông đạo Đất chỉ còn vài người đàn bà đứng xớ rớ.
Đột nhiên, Năm Hí nghĩ đến một sáng kiến.
-       Thầy đội ơi ! Bắt ông đạo Đất dẫn đi là chắc ăn. Ai dám giết ổng ?
Đội Cần hỏi :
-       Ổng ở đâu ?
-       Trong thảo am, ở chòm cây bên trái. Cậu Cẩu và cô Huôi đều kính trọng ông.
-       Không được…
Vừa lúc ấy, quan một Ăn Sa quát to :
-       Đi tới chứ không đi lui, chú mày kho6ngbiet61 đường đi sao ?
Đến mé sông, Năm Hí đứng lại nhìn dáo dác. Anh ta muốn tìm được một chiếc xuồng hoặc một chiếc ghe. Bên kia bờ, hai người đàn bà đang chống chiếc ghe lườn, trên ghe nào bộ ván, lu hũ.
Năm Hí quay lại quan một Ăn Sa.
-       Xin phép quan lớn cho phép bắn vài phát súng. Đường xa đi bộ thì mệt. Tụi tôi chịu được nhưng sợ quan lớn chưa quen. Mưa làm cho đường xá trơn trợt.
Lần đầu tiên Năm Hí thấy quan một A8nSa nở nụ cười. Ông ta ngồi xuống mà nói :
-       Bắn nhưng để dành đạn dược. Đội Cần bắn một phát thôi. Bắn để chiếm ghe, đừng cho trúng bất cứ người nào.
Phát súng nổ ầm !
Hai người đàn bà trên ghe vụt nhảy xuống nước. hai tên lính mã tà cởi áo ra, lội qua chiếm chiếc ghe, quăng tất cả vật dụng xuống nước. Ngồi bên này bờ, quan một Ăn Sa cứ cằn nhằn :
-       Như vầy chưa phải là đánh giặc. Thằng Cẩu là  đứa con nít… Đội Cần thấy thế nào ?
-       Dạ, nhất định là cậu Cẩu chịu đầu hàng nếu quan ba chờ đợi dưới tàu. Nhưng làm cách nào cho nó đầu hàng ?
Năm Hí đáp :
-       Tư Thiện dàn xếp xong xuôi rồi. Xin quan lớn cứ yên tâm.
Lát sau bọn lính mã tà xuống ghe với quan một Ăn Sa. Năm Hí đi bộ để dò xét phản ứng hai bên bờ.
Ngôi nhà ông Tư Thính hiện ra. Năm Hí mừng rỡ vô cùng vì đây là nơi tá túc thuận lợi nhất, trong khi chờ đợi Tư Thiện đến.
Năm Hí nói với đội Cần :
-       Đây là nhà cha ruột cô Huôi. Để tôi đến trước. Mấy chú lính mã tà chèo thật chậm. Đừng bắn súng.
Thái độ trầm tĩnh của Tư Thính khiến Năm Hí kiêng nể. Ông Tư hỏi :
-       Người Lang Sa và lĩnh mã tà đi đâu ?
Năm Hí đáp :
-       Họ muốn gặp cậu Cẩu để bàn bạc vài chuyện quan trọng. Xin ông cho họ vô nhà nghỉ ngơi trong giây lát.
Bỗng nhiên ông Tư Thính thấy buồn rầu xót xa vô hạn.
Mấy tháng qua, ông nghe tiếng súng nổ rền, ngoài biển khơi. Bây giờ thì người Lang Sa lại đến. Họ đến, nhứt định là con gái ông mất địa vị và có thể chết, nếu xảy ra cuộc xung đột. Ông nói nhanh :
-       Tôi là người không mong danh lợi. Người ta chạy trốn, tôi ở lại, chú thấy không. Nếu người Lang Sa muốn chiếm ngôi nhà này, tôi sẵn sàng để cho họ, nhưng xin phép, cho tôi vắng mặt.
Năm Hí đáp :
-       Tôi là bạn của Tư Thiện. Nhờ ông đi Hòn Chông, nói với cô Huôi rằng tôi và người Lang Sa chờ tại đây. Đừng để trễ, chẳng ai có lợi hết. Ông cứ đi… kìa tụi nó tới rồi.
Ông Tư Thính ra sau hè, gọi đứa gia nhân. Hai người chạy qua cái mương nhỏ, xuống xuồng bơi về Hòn Chông.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.06.2021 12:57:15 bởi Ct.Ly>
-27-
 
Mặt trời xế dần. Tư Thiện ngồi trong nhà mà tâm trí cứ bồn chồn. Phía ngoài biển, nhiều phát súng vang rền, xa lắm. Đứa nữ tỳ chạy đến nhà gọi :
-       Thưa ông, cô mời ông …
Khi đến phòng khách nhà cô Huôi, Tư Thiện hơi mất bình tĩnh vì cậu Cẩu và Mười Hấu có mặt sẵn tại đó. Bốn tên hộ vệ nai nịt hẳn hòi đứng sau lưng cậu Cầu.
Bởi vậy, Tư Thiện đứng thấp thoáng ngoài ngưỡng cửa để chờ đứa nữ tỳ trở ra.
Nhất định là hôm nay có chuyện quan trọng. Từ khi được ân xá đến giờ, lần cuối cùng mà Tư Thiện gặp cậu Cẩu là dịp ăn mừng, với những trò chơi giải trí, trước khi xảy ra chuyện Xí Vĩnh đầu độc.
Dạo đó, nếu Tư Thiện nhớ kỹ thì cậu Cẩu xem ông ta như một tay sai kém quan trọng.
Hôm nay, cậu mời ông đến. Nếu ăn nói vụng về, ông có thể sẽ bị giết, khi bỗng nhiên mà cậu Cẩu nổi cơn điên.
Nữ tỳ trở ra :
-       Cậu mời ông !
Vừa bước vào phòng khách, Tư Thiện đã nghe giọng nói dịu dàng của cô Huôi :
-       Quỳ xuống để chào cậu Ba và ông Mười.
Tư Thiện vâng lời, không cần suy nghĩ vì lời dạy của cô Huôi luôn luôn có ẩn ý, binh vực và đề cao ông ta. Ông ta quỳ xuống, chắp tay xá nhưng không lạy.
Kinh nghiệm trường đời đã dạy ông ta đừng quá nịnh bợ và sợ sệt bất cứ một ai …
Nhiều khi, người ta chết oan chỉ vì cái tội nịnh bợ, vì nịnh bợ là thái độ của kẻ yếu ớt.
Như hiểu tâm trạng Tư Thiện, cô Huôi nói :
-       Xá được xá ! Xá cậu Ba, rồi xá ông Mười. Đứng dậy ngồi ghế đằng kia.
Tư Thiện ngồi trên cái đôn sành, cách xa cậu Cẩu chừng năm bước. Ông ta cúi mặt liếc về phía cô Huôi. Tuy chưa biết hôm nay cậu Cẩu muốn bố trí hài kịch nào nhưng Tư Thiện đã yên tâm.
Nhứt định ông không bị rầy, bị giết. Dường như cậu Cẩu và Mười Hấu sẽ trọng dụng ông ta. Cô Huôi ngoắt tay, cậu Cẩu đến gần cô rồi cười dòn :
-       Hay lắm ! Ta lấy độc mà trị độc. Phải có đứa nào từng làm việc cho người Lang Sa để nói chuyện với người Lang Sa !
Cô Huôi gật đầu :
-       Cậu Ba nói phải. Bấy lâu, tôi nuôi dưỡng Tư Thiện là để nhờ cậy trong dịp này.
Cậu Cẩu đáp :
-       Ta phải thắng.
Ông Mười Hấu nói khá to :
-       Tư Thiện là người mặt mày sáng láng. Cho ông ta gặp bọn nó thì hay biết mấy. Để bọn nó hiểu rằng, người như Tư Thiện còn phải đầu hàng. Nuôi quân ba năm, dụng quân một ngày ! Tư Thiện đâu !
Nghe gọi đến tên mình, Tư Thiện đứng dậy. Cô Huôi nói chậm rãi, như chủ nhà nói với tôi tớ :
-       Người Lang Sa sắp tới để ra mắt cậu Ba. Ông nghĩ sao ?
Tư Thiện đáp :
-       Nếu ở đây ai nấy đều tin tôi, tôi hứa ra sức chống cự với bọn nó, dùng lời nói đuổi chớ không cần gươm đao.
Cậu Cẩu vỗ tay
-       Hay lắm…
Rồi bỗng dưng cậu trợn tròn đôi mắt
-       Nếu dùng gươm đao thì … mệt cho cả đôi bên. Nếu Tư Thiện giàn xếp xong, ta đền ơn cho. Bọn nó cho người tới đây, xin ra mắt. Tư Thiện nghĩ sao ? Hử !
Đôi mắt trợn trắng ấy cứ lườm Tư Thiện. Đúng là cậu sắp trở chứng. Tư Thiện nói nhanh :
- Thưa cậu, cậu là bực ‘‘cao cả, đầy đủ khí tượng đế vương’’. Thấy cậu, bọn nó khiếp vía.  Bọn nó ở xa tới đây, chưa quen phong thổ. Nếu chứng minh rằng cậu là người hùng mạnh thì bọn nó rút lui.
Mười Hấu nhìn cô Huôi. Trong thâm tâm, Mười Hấu thấy rằng Tư Thiện nịnh bợ quá đáng. Hay là Tư Thiện là kẻ làm nội ứng cho quân Lang Sa?
Mười Hấu nói gắt :
-       Làm sao chứng minh rằng cậu Ba là người hùng mạnh ?
Trước khi tới đây, bọn Lạng Sa đã cho người dọ dẫm. Hai ba chục đứa hộ vệ, đâu phải là lực lượng vô địch! Nếu ta có vài khẩu súng đồng, bắn trả ra ngoài biển thì họa chăng ?
Tư Thiện đáp :
- Bọn Lang Sa muốn gặp mặt cậu Ba. Đó là chúng nó sợ oai danh cậu Ba rồi !
Cậu Cẩu cười dòn
— Phải ! Tư Thiện nói đúng. Đây là giang san cẩm tú của ta. Vùng Hòn Chông là nơi linh thiêng. Thử hỏi ở Rạch Giá, ở Mỹ Tho có nơi nào nhiều đồi núi như Hòn Chông không?
Rồi cậu day qua cô Huôi
— Nó bắn súng ngoài khơi bởi vì nó... chịu thua ! Súng đạn làm sao bắn đồi núi đượ.  Bọn Lang Sa chiếm chợ phố ở xứ khác, vì đó là vùng đồng bằng. Phải không Tư Thiện ?
Tư Thiện suy nghĩ miên man. Như vầy là Năm Hí đã tới và ra mắt cậu Cẩu. Người Lang Sa chỉ muốn đặt sự cai trị ở đây rồi rút lui chớ không muốn đóng quân. Nên xúc tiến cuộc gặp gỡ giữa đôi bên.
Sau này, nếu cuộc gặp gỡ bất thành thì Tư Thiện không chịu trách nhiệm. Phận sự ông ta đã chấm dứt.
—Dạ phải ! Bởi vậy, tôi xin trình với cậu ý kiến này. Nếu tôi nói sai, xin cậu tha thứ cho.
— Cứ nói.
— Nên làm thế nào cho người Lang Sa và bọn lính của họ kính nể. Xin cậu tự phong cho mình một chức cao hơn.
— Ta là... ông chúa Hòn !
Mười Hấu gật đầu :
- Tư Thiện nói đúng. Cậu Ba xưng là... ông vua nhỏ để bắt buộc người Lang Sa cúi đầu chào và quỳ gối khi nóị chuyện. Mình nên dằn mặt, thị oai trước.
Cậu Cẩu nói :
- Nếu tụi nó biết lễ phép, ta sẵn sàng chấp nhận để kết tình anh em. Bằng không thi tùy cơ ứng biến, ta đánh một trận !
Cô Huôi mừng thầm vì Tư Thiện đánh trúng vào óc tự tôn của cậu Cẩu
— Chức gì bây giờ? Để ta lựa xem.
Tư Thiện ra vẻ khiêm tốn,trình với cử tọa :
- Xưng là vua thì quá đáng, vì ở đây không có cung điện đầy vàng ngọc như ở ngoài Huế.
Cậu Cẩu như không vừa ý với ý kiến ấy
-       Như ta không phải là quan to.  Ta là ông chúa, cha truyền con nối, nào khác gì ông vua.
Hồi lâu, Mười Hấu mới chịu lên tiếng. Nãy giờ, ông ta chưa tin là thiện chí của Tư Thiện. Ý kiến của Mười Hấu là chọn một chức vụ khá cao cho đứa cháu ngoại để bọn Lang Sa hiểu rằng nếu đụng chạm đến thể diện người địa phương thì chúng khó bề cai trị dân chúng:
- Tư Thiện lựa thử...
Tư Thiện không kém tế nhị nên trả lời:
- Đó là quyền của ông. Tôi là người dưng chưa dám xen vào chuyện riêng trong gia đình cậu Ba,
— Hễ người nói đúng thì ta khen thưởng.
Tư Thiên đáp như gợi ý cho cô Huôi.
— Ngày xưa dường như ở Hà Tiên có ông quan ta, oai quyền vang lừng, trên là vua ngoài Huế, kế đó là ông quan.
Cô Huôi đáp :
- Ông Mạc Cửu. Sau này gọi là Mạc Lịnh Công. Cậu Ba họ Trần nên xưng là Trần Lịnh Công...
Cậu Cẩu gật đầu:
— Lịnh là... mạng, lịnh. Công là gì ?
Tư Thiện nói:
 - Thưa cậu, là công hầu. Theo ý tôi thì nên thêm một chức tước gì cho long trọng hơn. Người Lang Sa thích chức tước. Gọi là ‘‘ trấn thủ Hòn Chông’’ Trần lịnh Công.
Cậu Cẩu đắc ý, ra lịnh :
 - Tư Thiện gặp thằng... sứ giả của tụi Lang Sa để bàn bạc cách thức tiếp rước. Tụi nó đến đây một buổi rồi đi chỗ khác, ta sẵn sàng kết tình thân thiện nếu chúng nó đừng hỗn láo.
Khi cậu Cẩu về nhà, Mười Hấu ở lại nhà cô Huôi bàn bạc, với Tư Thiện :
 - Chú ráng lo liệu, tụi Lang Sa cần bao nhiêu tiền bạc tôi đóng góp cho. Hòn Chông là xứ nghèo nàn. Miễn là người Lang Sa để cho tôi và cậu Ba chút ít thể diện. Muốn mua món gì người Lang Sa cứ nói rõ. Hơn nữa người Lang Sa đến dây, dân chúng sẽ bàn tán xôn xao khinh thuờng cậu Ba. Chú nên khuyên họ giữ lễ phép. Nếu cậu Ba không, đồng ý thì tôi sẵn lòng gặp riêng người Lang Sa để bàn bạc, tôi xuất tiền ra mua chuộc họ.
Cộ Huôi thở dài
Dường như tình thế đã thay đổi hẳn và đúng như lời ông Đạo Đất tiên đoán, trước áp lực của người Lang Sa nhứt định, là cậu Cẩu không còn địa vị gì cả.
Chờ khi ông Mười Hấu ra về, cô , Huôi nói gặp Tư Thiện, Tư Thiện lên tiếng trước
 - Thưa cô, ai là người thay mặt cho quân Lang Sa?
- Người đó ngồi dưới ghe, ở dưới bến cậu Cẩu. Cậu không cho lên bờ, e rằng người đó làm dọ thám. Này Tư Thiện, tôi hỏi thật ông cứ trả lời thật.
Tư Thiện cúi mặt
- Tôi đâu còn gì để dấu diếm với cô.
- Liệu người Lang Sa có buông tha vùng Hòn Chông này không ?
Hồi lâu, Tư Thiện mới hở môi
- Họ muốn xâm chiếm mà không tốn hao nhơn mạng và súng đạn. Là người mạnh, đánh đâu thắng đó lẽ dĩ nhiên họ ngang ngược.
- Cậu Cẩu lại nổi cơn điên, chắc là đôi bên khó thỏa thuận với nhau. Chỉ còn một con đường là...
Tư Thiện nín thở khi cô Huôi đến gần, ghé miệng sát tai ông ta. Chưa bao giờ cô Huôi có cử chỉ quá thân mật như thế.
Thoạt tiên, Tư Thiện đoán rằng cô Huôi muốn trốn với Tư Thiện để xây tổ uyên ương ở chân trời xa xăm nào. Nhưng Tư Thiện Ịầm to. Cô Huôi nắm vững vai trò và gánh lấy trách nhiệm một bà Chúa.
- Con đường ấy là…giết cậu Cẩu. Tư Thiện thấy sao?
Tư Thiện liếc về phía cô Huôi:
- Thưa cô, tôi không dám bàn bạc. Nói nhiều quá, tôi bị tình nghi là dọ thám, là nội ứng. Nhưng theo tôi thì không nên.  
- Sao vậy ? Ông cứ trả lời để tôi đóan ông thông minh đến mức nào?
Như để Tư Thiện khỏi bối rối, cô Huôi nói khẽ :
— Cậu Cẩu chết thì tôi là người có tiếng mà không có miếng. Bấy lâu nay, cậu Cẩu làm ác. Nhưng điều ác ấy có lợi cho tôi. Thiên hạ kính nể tôi vì tôi có chức tước cao hơn cậu Cẩu. Bởi vậy, tôi muốn đi tu...
Liệu lúc nguy nan cô can gián cậu Cẩu được không?
- Cậu Cẩu chẳng đáng kể và có lẽ cậu Cẩu chỉ là đứa bé hiền lành nếu không có Mười Hấu ở một một bên. Mười Hấu làm hộ mọi việc. Cô Ngó thì suốt ngay chỉ biết ăn trầu mà nhớ mong vong hồn ông Bá Vạn. Nếu Bá Vạn còn sống, chắc rằng ông ta đến gặp người Lang Sa mà thương thuyết tại chợ Rạch giá chớ không đợi khi họ kéo binh đến sát bên nhà.
Tư Thiện phục thầm sự nhận xét của cô Huôi. Truớc khi ra đi, ông ta hứa sẽ trở lại, trước khi người Lang Sa đến để hỏi ý kiến thêm. Làm thế nào cho cậu Cẩu chịu nhận mọi điều kiện.
Đến bến nhà cậu Cẩu, Tư Thiện được phép xuống chiếc.ghe nhỏ. Đúng là Năm Hí đang ngồi chờ. Hai bên đều làm mặt lạ, để tránh sự tò mò của bọn hộ vệ.
Tư Thiện ra lịnh:
- Anh em hộ vệ đưa tụi tôi qua bên kia rạch là đủ rồi. Cám ơn.
Khi lên bờ, Tư Thiện hỏi Năm Hí :
- Người Lang Sa hiện ở đâu ?
- Ở nhà ông Tư Thính. Liệu cậu Cẩu chịu đầu hàng ?
Tư Thiên hỏi ngược lại
- Người Lang Sa muốn gì?  Mấy người? Bao nhiêu súng ống?
Năm Hí đáp
- Dọc đường, tôi nói cho anh nghe. Bọn mình không có quyền hạn gì hết. Đội Cần thì hiền lành, muốn cho đâu đó êm thắm. Quan một Ăn Sa thì nóng nảy, cứ đòi bắn và đốt Hòn Chông nếu cậu Cẩu chống cự hoặc tỏ ra vô lễ..
Nghe đến tên Đội Cần, Tư Thiện hơi bực tức. Đội Cần là tay lợi hại, đã từng giúp cho quan phủ Lộc trong cuộc truy nã Thiên hộ Dương ở Đồng Tháp Mười. Hắn quá tham, lam,  hăm dọa để giết người cướp của.
Nhứt là khi gặp đàn bà con gái có nhan sắc, hắn chẳng bao giờ buông tha. Trong những ngày sắp tới, nếu ứng phó quá vụng về thì Tư Thiện sẽ mất tất cả quyền lợi. Đội Cần sẽ cưỡng bức cô Huôi chăng ? Không thể nào được !
Tư Thiện cương quyết bão vệ người mà ông ta yêu thầm bấy lâu nay. Chỉ còn cô Ngó, tuy nhan sẳc hơi kém nhưng còn xinh tươi. Cô Ngó hiện đang gìn giữ tiền bạc. Từ khi Bá Vạn mất, ít khi nào cô xuất hiện nơi đông người. Thú vui duy nhứt của cô là tích trữ vàng bạc.
- Nên làm thế nào cho đội Cần nhìn về phía cô Ngó !
Vì bận rộn suy nghĩ nên Tư Thiện không nghe Năm Hí hỏi. Năm Hí hỏi gắt :
- Sao, chừng nào xong chuyện ?
Tư Thiện đáp
- Làm sao tôi biết được ? Tùy theo ông quan một với đội Cần.
Năm Hí thở dài
- Nếu vậy thì anh em mình đành trốn qua xứ khác?
- Sao vậy ?
- Ông quan một nóng nảy, nếu không xong bọn mình mang tội. Nói thật cho anh thương! Hồi đi dọ thám, tôi có lãnh trước của viên cai đồn Rạch Giá 40 quan, để lại cho vợ con xài, Miễn là cậu Cẩu chịu đầu hàng...
Tư Thiện không trả lời. Hai người đứng hồi lâu trên bờ, chờ chiếc ghe đi qua là quá giang.
M.y thay, có ông lãọ già nua đang chở mấy giạ lúa, Ông lão đưa bọn Tư Thiện đến nhà ông Tư Thính.
Quan một Ăn Sa nằm trên bộ ván, lính mã tà canh phòng bốn phía nhà. Vừa gặp Tư Thiện quan một ngồi dậy:
- Tụi bây hành hạ tao !  Muỗi cắn, tao bị bệnh rét. Xứ gì mà ban đêm muỗi bay đầy, quơ tay là đụng nhằm hàng chục con!
- Nếu quan lớn mệt thì...
Quan một ngắt lời :
- Tụi nó có bao nhiêu đứa ? Tao mệt. Thà rằng bẳn vài phát súng.
Tư Thiện đáp:
- Như vậy, làm sao cậu Cẩu đầu hàng…
- Nó mạnh lắm sao ?
Tư Thiện bèn bịa chuyện.
- Cậu Cẩu có hằng trăm tên hộ vệ, họ dùng gươm dáo nhưng khi rút lên núị cậu ta có thể phòng thủ. Bọn hộ vệ bắn mũi tên tẩm thuốc độc !
- Làm sao cho nó đầu hàng ? Tao mệt lắm. Ngày mai tao mới đi được. Ngày mai đi, ngày mốt tao xuống tàu về Rạch Giá.
Tư Thiện chấp tay để quan một Ăn Sa tin lời :
- Xin quan lớn để tôi lo liệụ. Ngày mai quan lớn gặp cậu Cẩu; cậu Cẩu nhận lá thơ của quan lớn rồi ký tên vô chịu đầu hàng. Thế là xong !
Quan một Ăn Sa gật đầu
- Hay lắm. Nó đâu biết chữ. Lúc nguy nan nó ký tên để kéo dài thời gian. Tao đem lá thơ đó về cho viên cai đồn Rạch Giá là xong. Sau này nếu nó phản bội, quan trên ở Saigon bày ra cách khác. Đem binh số tới. Tao chỉ lãnh trách nhiệm điều đình. Mau đi. Tụi bây cứ viết lá thư. Viết rồi đọc cho tao nghe. Tao mệt !
Nói xong, quan một Ăn Sa trùm mền lại che khuất đầu cổ. Ông ta rên hù hù. Cơn rét rừng hành; ông ta run rẩỵ đến mức độ cạo. Bộ ván gõ cứ khua động, ông ta đập chân xuống ván nghe rầm rầm.
Bấy giờ, Tư Thiện mới bàn đến đội Cần :
- Ông viết lá thơ..
Đội Cần nheo mắt :
- Ra ngoài sân mình bàn chuyện. Mấy đứa lính mã tà này quá tò mò.
Đến đây, đội Cần ngồi trên cái ghế nhỏ. Tư Thiện ngồi đối diện mà nói :  
- Thầy đội tính lẽ nào ?
Đội Cần vì tham lam nên ngỏ ý.
- Chú Tư lớn tuổi hơn tôi, ở Hòn Chông lâu ngày rồi chắc là chú hiểu...
- Hiểu chuyện gì?
- Hiểu rõ cậu Cẩu có bao nhiêu tiền, bao nhiêu vợ bé, vợ lớn ? Tụi mình chia với nhau mà xài. Quan một Ăn Sa chê cái thứ Hòn Chông này, nhưng bọn mình thì khác, một đồng, một quan là số tiền lớn. Nếu gặp lúc thuận lợi mình lấy vườn tược tại đây...
Như vậy có nghĩa là đội Cần muốn tránh mọi cuộc xung đột đẫm máu và hắn quá tham lam. Bỗng dưng mà Tư Thiện làm một bài tóan để phân chia tất cả tài sản và người đẹp ở Hòn Chông,
Tư Thiện sẽ là chồng cô Huôi, ông ta xin chức cai tổng, sống tại nhà nầy với ông Tư Thính. Lẽ dĩ nhiên, người Lang Sa để lại cho Tư Thiệu một số ruộng đất.
Đội Cần thì gặp cô Ngó, tha hồ vơ vét tiền bạc. Có lẽ cô Ngó sẽ rời vùng này, đến chợ Bạch Giá để mua bán.
Muốn thực hiện cuộc phân chia nói trên, phải giết hai người cậu Cẩu và Mười Hấu.
Đội Cần nhắc nhở:
- Anh tính sao ?
Tư Thiện đáp .
- Tôi rất đồng ý. Bây giờ thầy đội cứ viết lá thơ để cho cậu Cẩu ký tên vào, chịu đầu hàng. Quan một Ăn Sa chỉ muốn chuyện đó thôi. Người Lang Sa thì ham chuyện giấy tờ.
Đội Cần đáp:
- Viết như thế nào ? Anh cứ viết rồi đọc cho tôi nghe.
Tư Thiện nói, nghiêm sắc mặt :
- Thầy cứ nói cho tôi viết. Vì ngày mai thầy đưa lá thư cho cậu Cẩu.
Đội Cần cằn nhằn
- Ai viết không được. Tôi là đứa thiếu học... Nên nói cho gắt. Còn việc đưa lá thư thì nên giao cho quan một Ăn Sa. Nguy hiểm lắm, ông ưa rầy rà nếu thất bại, ổng cho rằng mình làm việc không hết lòng.
Tư Thiện lục lạo trên bàn. May thay ông Tư Thính có nghiên mực và cây bút lông để viết chữ nho. Tư Thiện suy nghĩ một hồi lâu rồi quyết định nên dùng chữ nôm cho có vẻ long trọng. Thật ra, mấy hàng chữ ông ta sắp viết dường như chữ để cho riêng ông đọc mà thôi.
Chữ nôm đòi hỏi cách phiên âm khó , khăn, mượn cách phát âm của chữ Hán, mỗi người viết một kiểu. Thí dụ như hai tiếng ‘‘ Hòn Chông’’ cũng đủ rắc rối vì chữ nho thiếu chữ Hòn và chữ Chông.
Từ cậu Cẩu,  Mười Hấu đến cô Huôi đến quân một Ăn Sa, bọn lính mã tà, bọn hộ vệ...đều không biết chữ nho. Tuy nhiên, Tư Thiện cố gắng viết, trách nhiệm thuộc về ông ta nếu sau nầy quan phủ, quan huyện xem lại, thấy có điều sơ sót.
Lại còn trường hợp cậụ Cẩu và Mười Hấu ăn nói ngược ngạo để mưu toan nổi loạn, khi họ thấy rằng người Lang Sa không đủ binh lực để trấn đóng nơi đèo heo hút gió nầy.
Bức thư mà Tư Thiện thảo ra gồm mấy hàng vắn tắt như sau :
- Hôm nay, ngày Dần, tháng Sửu, năm Quý Mẽo, tôi là thượng tướng Ăn Sa có đến gặp Trần Lịnh Công, trấn thủ vùng Hòn Chông.
Trần Lịnh Công bằng lòng quân đội Lang Sa chiếm đóng và thâu thuế vùng Hòn Chông. Quân đội Lang Sa cho phép Trần Lịnh Công làm chức cai tổng.
Vì không có bàn cãi thêm nên đôi bên ký tên dưới đây làm bằng chứng...’’
Viết xong, Tư Thiện đọc khẽ cho đội Cần nghe. Đội Cần đáp :
-       Lời lẽ hơi quá đáng. Người kiêu hãnh như cậu Cẩu đâu thèm nhận lời.
Tư Thiện đáp
- Nhưng nếu chỉ nói là gặp nhau để giao hảo thì sau này còn nhiều rắc rối. Cậu Cẩu cho rằng người Lang Sa không có quyền hạn gì hết.
Đột nhiên, Tư Thiện và đội Cần giựt mình nghe tiếng quát tháo.
- Cái gì...Không có quyền hạn ? Ai nói như vậy ? Người Lang Sa tới đây để đầu hàng đứa con nít ?
Tư Thiện chưa kịp trả lời là quan một Ăn Sa nói tiếp, ông ngồi dậy, cầm chiếc giầy dạ mà đập trên bộ ván
- Ngày mai tao về. Hay là tao đốt phá Hòn Chông ! Thành Sàigòn, Gia Định, Vĩnh Long tao còn chiếm được huống gì cái xứ muỗi mồng này...
Đội Cần bèn chắp tay nài nỉ :
- Bẩm quan lớn, chúng tôi đâu có viết như vậy !
- Chúng bây làm gì, tao không cần biết. Tao đốt xóm nầy, thử coi thằng Cẩu dám đem binh tới không? Nó là con ruồi con muỗi.
- Thưa ông, bởi vậy nên quan cai đồn ở Rạch Giá dạy tôi nên giết nó mà không tốn một viên đạn. Miễn là nó chịu ký tên.
- Đọc cho tao nghe. Tao có quyền nghe mà, tụi bây nên nhớ rằng vua An Nam mà người Lang Sa còn xem thường, huống gì thằng con nit...
Tư Thiện run giọng, đọc từng chử, không dám sửa đổi vì ông ta không muốn gánh tất cả trách nhiệm. Lúc này, đội Cần đứng về phe ông ta nhưng biết đâu mai sau, hắn sẽ châm chọc báo cáo với quan trên rằng ông ta nhân nhượng quá nhiều, làm nội ứng cho cô Huôi.
Giọng Tư Thiện cố ý nhấn mạnh:
- Bằng lòng cho quân đội Lang Sa chiếm đóng và thâu thuế vùng Hòn Chông.
Quan một Ăn Sa cầm chiếc giầy da mà nện thật mạnh, như ngụ ý nện trên đầu Tư Thiện
- Ngu quá. Tại sao bằng lòng ? Ngườl Lang Sa xin phép tới đất Hòn Chông sao chớ?
Tư Thiện cúi mặt
- Bẩm quan, đó là phép xã giao. Ngài cứ dạy, tôi sẵn sàng sửa lai...
- Xẻ bỏ. Viết tờ giấy khác. Ta muốn giết thằng Cẩu nhưng thằng Cẩu năn nỉ để nó được sống. Ta cho phép nó sống để làm… tôi tớ. À !
Quan một Ăn Sa lẩm bẩm vài tiếng Pháp như ‘‘xẹt vi te’’ ‘‘cổ lô ni’’. Chính ông ta cũng chưạ hiểu nên dịch lại như thế nào cho gọn nghĩa.
Ông ta vỗ trán :
- Phải rồi, Lang Sa là nước mẹ. An Nam là đứa con, sống nhờ mẹ. Thằng Cẩu ở Hòn Chông này là con của vua An Nam. Như vậy, nó là cháu nội của ta !
Đội Cần bèn thay mặt Tư Thiện mà trả lời.
-Bẩm quan lớn ! Hay quá. Tay tôi viết đúng theo ý quan lớn.
Quan một Ăn Sa đáp:
- Viết gì ty ý tụi bây. Tao mệt lắm. Nhưng mà tao nói trước rằng ngày mai tao mang súng tới gặp thằng Cẩu. Tốn thời giờ quá.
Hai người trở lại cái án thư của ông Tư Thính. Tư Thiện hơi bất mãn
- Thầy nhận lời thì cứ viết. Tôi thấy khó khăn lắm. Làm sao cậu Cẩu chịu nhận làm cháu nội quan một Ăn Sa ?
Lại còn lão Mười Hấu gian ác ?
Đội Cần đáp :
- Quan một đang nóng giận. Cãi với ông là bọn mình bi nện chiếc giày trên đầu, tụi lính mã tà cười cho một trận. Cứ viết.
Lần nầy, Tư Thiện vui vẻ vô cùng. Một nụ cười thoải mái nở trên môi ông ta. Ngày mai người đọc lá thư nầy, hoặc người trao thư chính là đội Cần. Như vậy, cô Huôi Và cậu Cẩu sẽ trút oán hận lên đầu kẻ khác, ông ta sẽ đứng về phía cô Huôi để giải thích...




Đăng nhập để trả lời
0
 
-28-
 
Tư Thính chạy đến Hòn Chông để giúp đứa con gái thân yêu. Ông cho biết rằng quân Lang Sa đang chiếm căn nhà. Cô Huôi bèn an ủi cha
— Người ăn ở hiền lành như ta thì chắc là Trời Phật phò hộ. Người Lang Sa tạm trú ẩn lại đó một buổi rồi tới đây.Thời buổi nầy, miễn tánh mạng được an toàn là quí rồi.
Ông Tư Thính cau mày :
- Ba là người tu tại gia. Nếu tham lam thì bấy lâu nay ba lợi dụng quyền thế để vơ vét cho đầy túi tham. Khó nói quá. Nếu ba khổ một mình thì dễ...
Cô Huôi giật mình :
- Chuyện gì xảy đến cho con ? Ai hăm dọa ba ? Ba gặp bọn Lang Sa ở dọc đường.
— Làm sao gặp được ? Tụi nói vừa tới là ba chạy trốn rồi. Nhưng đêm rồi, ba suy nghĩ nhiều lắm. Đáng lý ra, ba lên núi mà ở, lẫn lộn với bọn người tản cư. Từ khi con có được địa vị, ba mới tới Hòn Chông, lần đầu tiên, chẳng qua là ba thương con.
- Xin ba nói rõ.
- Hồi tối ba nằm chiêm bao, thấy mấy nụ quỳnh hoa nó rộ. Lạ quá. Ba thắp nhang khấn vái nhưng không nụ nào trổ. Trong giấc chiêm bao lạ quá.
Vì không hiểu câu nói ấy, cô Huôi bèn an ủi cha:
- Có gì là hại. Như người nghèo, ao ước được giàu sang bỗng nhiên nằm chiêm bao thấy vàng bạc chất đầy kho.
- Quỳnh hoa nở là sự thường. Nhưng trong điềm chiêm bao hàng chục nụ nở ra trắng mướt. Lát sau, hoa không rụng. Từng cánh hoa bay lên trời, biến mất trong đêm trăng, như vậy là điềm gì? Nếu không có người Lang Sa tới ba đã tới gặp ông đạo Đất để hỏi.
Cô Huôi mỉm cười :
-       Chắc là con gặp may mắn. Chiêm bao mộng mị khó tin; Xin ba cứ yên tâm. Lúc nầy khó khăn lắm. Nhưng người Lang Sa chẳng lẽ giết con.
- Sao vậy? Con đầu hàng người Lang Sa?
Niềm đau sót thầm kín hiện trên gương mặt hốc hác của Tư Thính. Cô Huôi chưa biết trả lời thế nào cho gọn. Hồi lâu cô trình bày :
— Nếu lúc trước con giành nắm quyền hạn với thằng Cẩu và Mười Hấu thì hôm nay con mang tiếng là phản quốc, là khiếp nhược, Bây giờ, người mang tiếng xấu là bọn đó chớ đâu phải con. Bọn đó gặp người Lang Sa để thương lượng. Con lánh mặt cũng được nhưng tội nghiệp cho dân lương thiện trong vùng này.
Từ lâu, họ chịu sưu cao thuế nặng, làm ra mười đồng thì đóng hết bảy, tám đồng.
Tư Thính đưa tay lên, lau nước mắt
- Con ăn ở có nhơn đức. Trời Phật phò hộ con được minh mẫn. Bây giờ theo ý con thì ba nên làm gì?
Làm sao cô Huôi đoán được chuyện gì xảy ra vào trưa hoặc chiều hôm nay ?
Tư Thiện yêu cô giúp đỡ cô nhưng Tư Thiện nào nắm tất cả quyền hạn ? Người Lang Sa hung hăng, nếu cần, bọn chúng dám sa thải hoặc giết Tư Thiện. Trong phút giây đó, cô Huôi nghĩ ra một sáng kiến
- Ba nên về ẩn lánh vài ngày đừng cho ai biết.
Tại sao người Lang Sa có thể cầm giữ ba, để làm con tin nếu cuộc thương lượng bất thành, cậu Cẩu mà nổi điên thì bao nhiêu hậu quả tai hại xảy ra. Đó là chưa kể tới ông Mười Hấu ông ta dám liều lĩnh giết ba và con.
Khi ông Tư Thính ra sân cô Huôi tiễn đưa bằng giọng ngậm ngùi :
- Hơn chục năm rồi con không tham lam nên chẳng có gì gởi cho ba đem dấu cất. Vẫn là tay trắng ba ơi! Được mớ quần áo và căn nhà này.
Tư Thính như hài lòng vì Cô Huôi nói đúng theo lý thuyết mà ông đã giảng
- Nhắm mắt với hai tay không. Cái nhà, quần áo, con người đều là giả. Ba thấy con xứng đáng lắm. Nếu đất Hòn Chông nầy mà không có con thì dân tình chắc điêu đứng hơn.
- Thưa ba, con hổ thẹn, chưa dám nhận lời khen đó. Bao nhiêu người chết oan, thiếu ăn thiếu mặc mà con chẳng cứu giúp được. Bây giờ, thêm tai nạn mới.
Cô Huôi vào nhà, tâm hồn thảnh thơi hơn bao giờ hết. Thời khắc trôi qua, chậm chạp. Đã xế trưa, khi sửa soạn nằm nghỉ thì cô nghe nữ tỳ gọi :
- Thưa cô, ông Mười với cậu Ba mời.
- Chuyện gì ?
Nữ tỹ đáp :
-       Con không rõ, nhưng mới đây có chiếc ghe nhỏ, chỗ ông Tư Thiện...
- Nói với cậu Ba rằng ta đến...
Bước vào nhà cậu Cẩu; cô Huôi mừng thầm và khâm  phục Tư Thiện. Nếu ông ta gặp cô trước thì cậu Cẩu và Mười Hấu đã nghi ngờ, cho rằng có sự thông đồng giữa cô và Tư Thiện để bán vùng đất nầy cho người Lang Sa.
Tư Thiện ngồi trên ghế, chăm chú nghe Mười Hấu hỏi :
- Chừng nào nó tới ?
- Dạ chừng lát nữa nó tới. Khi tôi đi thì họ sửa soạn rồi. Họ treo cờ tam sắc trước mũi ghe.
Cậu Cẩu hỏi
- Mấy đứa ?
Tư Thiện đáp to giọng như cố ý cho cô Huôi nghe rõ :
- Viên quan một Ăn Sá người Lang Sa. Ngoài ra còn đội Cần và bảy người lính mã tà.
Cậu Cẩu trợn mắt:
-       Mã tà là cái gì ? Bọn đó cỡi ngựa ? Mã là ngựa?
Tư Thiện đáp :
- Dạ không biết. Đó là tiếng...chào. Vài tiếng Lang Sa, tôi chưa rành... Tất cả là chín đứa với chín khẩu súng.
Mười Hấu hỏi:
- Mỗi khẩu súng có bao nhịêu viên đạn ?
- Dạ chừng hai mươi viên.
Chưa chi, cậu Cẩu vỗ tay :
- Hai mươi viên, bắn bậy bạ chừng mười sáu, mười chín viên, còn đôi ba viên là đáng sợ! Mình có gươm dáo, cung tên. Dễ quá. Bây giờ; tôi làm bộ như đang ngủ trưa, tụi nó tới thì tôi thức dậy. Hơi đâu mà chào đón.
Mười Hấu nói với cậu Cẩu
- Cháụ cứ nằm nghỉ.. Để ông bàn bạc thêm. Đừng qúa nóng nẩy. Chắc là người Lang Sa muốn thương lượng…
Cô Huôi nói
- Ông Mười với cậu Ba lo đón tiếp người Lang Sa. Tôi là đàn bà...
Tư Thiện đứng dậy, xin ra ngoài, lấy cớ là đói bụng. Cô Huôi hiểu ý, ra về. Đến nhà, Tư Thiện mới xin phép cô Huôi.
- Chuyện này rắc rối lắm, tôi nói ra cho cô nghe riêng thôi. Người Lang Sa có binh rồng tướng mạnh ỷ thế, tìm cách lấn hiếp.
Cô Huôi cau mày :
- Lấn hiếp bằng cách nào ? Sao ông bảo họ muốn giao hảo, thương lượng để cậu Ba đóng thuế rồi thì đâu vào đó họ rút lui. Cậu Ba vẫn nắm quyền như cũ.
Với tất cả lòng thành thật, Tư Thiện đề cập đến bức thư mà quan một Ăn Sa bắt buộc ông ta thạo ra, với lời lẽ thóa mạ, xem cậu Cẩu như đứa cháu nội. Hơn thế nữa Tư Thiện cho biết.
- Quan một Ăn Sa là người hung hăng, đội Cần là kẻ tham nhũng, háo sắc. Quan một muốn giết người  cho sướng tay trong khi đội Cần ôm ấp giấc mộng làm chủ vùng Hòn Chông.
Hồi lâu, cô Huôi mới thở dài :
- Nếu cậu Cẩu chấp nhận bức thư ấy thì lẽ nào ông quan một Ăn Sa lại chém giết.
Tư Thiện hỏi:
-Theo ý tôi thì cậu Ba quá ngạo mạn..
- Miễn là đừng đọc lá thư. Cậu Ba dốt nát.
Tư Thiện đáp :
- Nếu không đọc lá thư thì chưa chắc quan một Ăn Sa đồng ý. Hắn tới đây để biểu dương uy thế người Lang Sa mà.
Dưới biển, bọn hộ vệ hò reo ầm ĩ. Tư Thiện và cô Huôi trông ra. Nữ tỳ vào nhà, cho biết :
-       Bọn hộ vệ sắp hàng bên bờ rạch để đón rước người Lang Sa...
Cô Huôi hỏi
- Họ tới chưa ?
Nữ tỳ đáp :
- Một chiếc xuồng đi trước, phía sau, còn chiếc ghe với lá cờ tam sắc.
Cô Huôi  và Tư Thiện nhìn nhau. Trong phút giây, Tư Thiện nảy ra ý tưởng : rủ cô Huôi trốn lên núi, ra hải đảo nào đó mà sống cho thảnh thơi. Cuộc thương thuyết nầy không êm thắm như Tư Thiện đã gây cảm tưởng cho cô Huôi biết, từ mấy ngày qua.
Đạn sẽ nổ, lửa sẽ bốc cháy. Liệu cô Huôi can giám được cậu Cẩu và Mười Hấu không ?
Nhưng cô Huôi lên tiếng trước :
- Tôi ở đâỵ, chờ xem.
Dưới biển, bọn hộ vệ quát to, như truyền lịnh cho nhau :
- Tụi bây ơi ! Bịt lỗ tai lại. Người Lang Sa nã súng. Họ bắn lên trời để chào mừng cậu Ba.
Đứa khác cãi lại :
-       Ai cho phép tụi nó bắn ? Phải chờ cậu Ba đồng ý chớ.
Một tiếng nổ ầm vang lên.
Tư Thiện quan sát tình thế.
Dường như bọn hộ vệ còn đầy tinh thần chờ không quá sợ súng đạn, như ông đã tưởng. Người đứng trước mũi ghe là Năm Hí. Khi chiếc ghe đi ngang qua nhà, Năm Hí trông lên.
Để trốn trách nhiệm và để khỏi bị tình nghi, Tư Thiện nép mình sau gốc cột. Cô Huôi vẫn bình tĩnh:
- Ta ở đây.  Cậu Ba không hỏi ý ta khi tiếp rước, đó là điều may mắn. Lúc này mà trốn tránh thì quá hèn nhát.
Tư Thiện không hiểu rõ cô Huôi
- Thưa cô...
- Nhiều khi, người ta chết chỉ vì hèn nhát.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.06.2021 20:46:04 bởi Ct.Ly>
                                  -29-
Khi chiếc ghe cặp vào bến, Năm Hí nhảy lên bờ với cây súng mang sau vai. Hắn lên tiếng
- Xin ra mắt... cậu Ba.
Bọn hộ vệ nhìn nhau, chưa muốn trả lời.
Năm Hí nhìn vào cổng. Cổng đóng kín mít. Hắn hơi lo ngại, day lại.
Đội Cẩn nói :
- Tới cổng lên tiếng cho đàng hoàng.
Quan một Ăn Sa cứ nhìn hai bên bờ rạch. Là người võ biền ông ta chú ý đến địa thế, trước khi nã súng.
Trong thâm tâm ông ta muốn giải quyết bằng võ lực cho nhanh chóng để xuống tàu, về Saigon. Nếu dùng lời lẽ mà cãi vã với nhau chưa ắt một ngày một buổi là xong chuyện. Ông ta gật gù, vạch ra chiến lược : Bọn hộ vệ khá đông nếu để tập trung trong nhà thì chúng lợi dụng địa thế, núp vào vách bên gốc cây. Nên làm thế nào cho bọn chúng chạy ra đồng cỏ trống hoang !
Bởi vậy, quan một Ăn Sa cứ ngồi yên, mặc cho Năm Hí và đội Cần cãi vã.
Năm Hi đến sát cổng :
- Thưa Ngài, chúng tôi là phái viên của quân đội Lang Sa đến.
Một tên hộ vệ từ thềm nhà đi chậm rãi đến cổng, mở toang hai cánh cửa rồi quay mặt, không nói lời nào.
Nhìn mớ khí giới quá thô sơ, Năm Hí nói giọng kiêu hãnh:
- Sao không trả lời ?
Theo lịnh từ trước của cậu Cẩu, bọn hộ vệ cứ yên lặng.
Năm Hí hỏi Đội Cần.
-Thầy tính sao?
Đội Cần đề phòng trường hợp bị mai phục theo con đường từ cỔng đến nhà nên hỏi quan một Ăn Sa.
- Ông tính sao ?
Quan một Ăn Sa nói :
- Tụi bây lo liệu, tụi bây là ‘‘An Nam’’ thì nói với người ‘‘An Nam’’. Tao lo chuyện khác. Nãy giờ, tốn thời giờ quá nhiều. Cứ vô nhà. Tục lệ kỳ quá ?
Từ nãy giờ, cậu Cẩu và Mười Hấu theo dõi phái đoàn Lang Sa. Họ không muốn gọi cô Huôi đến vì cô bị nghi ngờ là muốn đầu hàng. Tên hộ vệ vào, báo cáo rằng phái đoàn Lang Sa chỉ gồm có bảy, tám người. Cậu Cẩu cười dòn
- Ông ngoại coi ! Tụi nó yến ớt quá. Phen nầy, mình bắt buộc tụi nó phải giữ lễ phép, trước khi vô nhà, mọi người nên cởi giày ra.
- Phải ! Mười Hấu đổi ý tin rằng người Lang Sa chỉ đòi chuyện mua bán.
Cậu Cẩu nói :
- Tụi nó tới đây để năn nỉ mình. Mình nên bắt buộc tụi nó đóng thuế hoặc... .Cống sứ lễ vật. Biển Hòn Chông là của xứ Hòn Chông. Hỗm rày, tụi nó vô lễ. À ! Tới rồi kia. Mười Hấu bắt đầu lo ngại vì chưa chi đứa cháu ngoại đã quá kiêu hãnh, nếu để cậu ta ăn nói thì cuộc thương thuyết bất thành.
Bởi vậy, ông ta vỗ về cậu Cẩu.
- Cháu cứ ngồi trên ghế, đừng trả lời với bọn nó. Mọi việc có ông lo liệu. Cháu giữ gương mặt nghiêm trang, bọn đó mới kiêng nể.
Lính mã tà sắp hàng đôi, bước đều, dậm chân xuống nền sân trải đá. Cậu Cẩu và Mười Hấu hơi hoảng sợ khi thấy một tên râu đỏ, tóc hoe, cao lớn dình dàng đi bên cạnh một người Việt Nam mặc áo vàng sậm.
Lúc đến ngưỡng cửa, người Việt Nam đứng lại mà nói
- Xin phép cậu cho tôi vô trước...
Mười Hấ đáp
-       Cứ vô. Vộ một mình thôi !
Người dẫn đầu không ai khác hơn là Năm Hí. Anh ta hơi ngạc nhiên vì Tư Thiện vắng mặt trong buởi tiếp rước này. Năm Hí đến gần Mười Hấu, cúi đầu mà nói
- Chúng tôi vô để bàn việc. Cậu cho phép ?
Mười Hấu hỏi khẽ
- Việc gi ? Họ mang súng ở sau lưng đó hả?
- Dạ. Đó là súng. Lính thì phải mang súng.
- Có đạn không ?
Năm Hí liếc trở lại như dò xét thái độ của đội Cần. Đội Cần và quan một Ăn Sa cứ đứng yên, lát sau, quan một khoác tay như ngầm bảo. Năm Hí phải cương quyết
Năm Hí đáp :
- Súng thì luôn luôn có đạn.
- Để súng đạn ngoài cửa. Đây là chỗ nói chuyện, chớ đâu phải đánh giặc.
Năm Hí trả lời khéo léo
- Lính đi theo ông quan một để hầu hạ. Nếu để súng ở ngòai sân, rủi mất thì sao ?
Mười Hấu nhìn kỹ sắc mặt những người ngoài sân. Dường như tất cả đều hiền lành, gương mặt lộ vẻ mệt mỏi, trừ người Lang Sa !
Nhưng người Lang Sa này chỉ là thiểu sốj, ông Mười nói :
- Cứ vô ! Ta không ngại…
Câu Cẩu nói
-       Cho họ vô. Tốn thời giờ quá. Nhưng... tất cả phải cởi giày ra. Đây là chỗ tôn nghiêm. Giày của mấy người dơ dáy quá, dính bùn sình.
Lần này, Năm Hí thấy vấn đề khá to lớn nên xin phép trở ra ngưỡng cửa mà hỏi ý kiến.
Ngoài này, đội Cần nghe rõ câụ chuyện nên nhận định với Năm Hí
-       Cứ cởi giày… Sau nầy mình sẽ mang giày.
Quan một Ăn Sa cứ quan sát vị trí. Cậu Cẩu là đứa đáng ghét. Nhứt định ông ta phải nổ vài phát súng, dùng võ lực chiếm cứ ngôi nhà nầy. Nhà khá to, thiệt là chắc chắn. Tại sao không đóng cửa thình lình, nhốt cậu Cẩu lại và Mười Hấu trong này để làm con tin?
Bọn hộ vệ gồm chừng sáu đứa, đứng hầu sát vạch. Chúng mang gươm giáo, không đáng kể.
Linh mã tà ngồi xuống, cởi giày.
Quan một Ăn Sa vì muốn tiến nhanh vào trong nhà để lập căn cứ nên giả vờ ngồi xuống. Ông ta rờ vào đôi giày nói với đội Cần
-       Tao không cởi giày. Lát nữa, tao giết tụi nó;
Đội Cần nói như van nài
- Xin quan lớn bớt nóng giận. Thế nào bọn nó cũng chấp nhận việc đóng thuế cho quan lớn. Viên cai đồn ở Rạch Giá dạy tôi...
Quan một Ăn Sa mỉm cười
- Tao đi sau chót tao mang giày để xem bọn nó sơ hay không sợ ! Cứ vô nhà. Đừng xin phép nữa, Thằng Năm Hí xin phép rồi.
Đoàn người kéo vào phòng khách. Trước mặt cậu Cẩu và Mười Hấu là bộ ván gõ khá dày chùi bóng láng.
Mười Hấu nói:
- Mời ngồi !
Đội Cẩn đáp
- Thưa ông, chúng tôi đứng được rồi. Người Lang Sa không thích ngồi xếp bằng.
- Ừ! Lạ qúa. Tới đây làm gì? Ai cầm đầu
Quan một Ăn Sa cứ lo quan sát địa thế, phải chi bọn hộ vệ có súng hoặc có gươm dài thì cuộc tranh tài sẽ vô cùng ngoạn mục. Nhà này tuy vách ván nhưng cột to và cứng như sắt. Núp bên góc cột mà bắn thì sung sướng biết chừng nào!
Nhưng gẫm lại thì dường như bọn hộ vệ nắm được ưu thế.
Đội Cần nói:
-       Tôi… cầm đầu!
Cặu Cẩu nói :
- Cứ nói chuyện, nếu biết lễ phép lát nữa ta đãi tiệc, cho nghe phường nhạc ngũ âm...
Đội Cần thò tay vàotúi,  đem ra phong thư rồi vâng lệnh đọc khá to.
Gương mặt Mười Hấu và cậu Cẩu trở nên tái mét vì lời lẽ trong thư đã miệt thị chẳng riêng gì họ, Đội Cần hơi run giọng khi đọc tiếp phần quan trọng nhứt
- Nước Lang Sa là cha là mẹ, triều đình Huế là con. Bởi vậy các quan ở Hòn Chông đều là cháu của nước Lang Sa.
Cậu Cẩu hỏi to:
- Cái gì? Ai là cháu? Ai là ông nội, ông ngoại ?  
Quan một Ăn Sa đứng chống nạnh, lên tiếng dõng dạc với dụng ý khiêu khích để ông ta dùng võ lực :
- Người Lang Sa làm chủ mặt biển Hòn Chông. Mấy người biết rõ chứ ! Mấy tháng qua vì không muốn giết hại dân chúng ta còn do dự...
Mười Hấu nhịn không được
- Tại sao lại so sánh chúng tôi như cháu nội, cháu ngoại ?
Đội Cần thay Iời quan một Ăn Sa :
- Đó là so sánh với nước Lang Sa. Nước Lang Sa to và rộng bằng mấy chục lần xứ Hòn Chông này,
Cậu Cẩu vẫn bực rọc
- Xứ to hay nhỏ, ta không cần biết. Hôm nay...mấy ông là khách mà không biết lễ phép.
Quan một Ăn Sa lên tiếng:
- Tai sao ? Như vậy là lễ phép rồi.
Mười Hấu liếc về Cậu Cẩu rồi nhìn vào quan một Ăn Sa
- Ông mang giày vào nhà tôi; Hồi nãy, tôi nói trước mà ông bất chấp. Ông khinh chúng tôi chớ gì ..? Như vậy, làm sao có tình giao hảo được?
Đội Cần tìm cách cứu vãn, tình thế
- Ở bên Lang Sa, mang giày là giữ lễ phép. Nếu đến nhà bạn mà không mang giày thì phạm tội vô lễ.  Xin các ông miễn chấp vì quan một là người Lang Sa.
Quan một Ăn Sa khiêu khích :
- Chiều nay, tôi muốn mời một người xuống tàu, ngoài biển. Mấy ông nên đi để chứng tỏ lòng thành thật. Tôi đến nhà mấy ông, mấy ông phải đến tàu biển của chúng tôi để đáp lễ.
Mười Hấu và cậu Cẩu đều mất bình tĩnh trước sự nhục mạ ấy. Quan một Ăn Sa muốn bắt cóc một người. Mười Hấu hoặc cậu Cẩu. Mười Hấu nói
- Xin hẹn ngày khác. Hôm nay mấy ông quá vô phép.
 Quan một Ăn Sa quay mặt:
- Để tôi ra ngoài. Mấy ông ghét người Lang Sa mang giầy.
‘‘ Ra ngoài’’, phải chăng là bày binh bố trận để tấn công ?
Biết mình thiếu chuẩn bị và thất thế vì không có súng đạn,Mười Hấu bèn rời ghế, đưa tay ngoắc đội Cần:
- Ông lại đây. Còn ăn cơm nữa chớ. Mấy ông ở lại đêm nay. Tôi đâu có đuổi mà ông quan một lại ra ngoài? Lát nữa, có cơm.
Mười Hấu và Cậu Cẩu bàn tán với nhau khá lâu. Đại để, họ cho rằng nóng giận ra mặt là bất lợi.
Tốt hơn hết là nên dục hưỡn cầu mưu và đối xử nhã nhặn với người Lang Sa.
Hai tên hộ vệ đến ngưỡng cửa, đưa đội Cẩn và quan một Ăn Sa đến ngôi nhà bên cạnh, bấy lâu dành cho Mười Hấu cư ngụ.
Đó là ngôi nhà chắc chắn, bên trong có nhiều phòng. Vì không chuẩn bị kịp nên bọn hộ vệ chỉ cho phép phái đoàn Lang Sa ở ngay phòng khách. Mấy phòng kia đều khóa chặt. Mười Hấu chấp nhận biện pháp này vì bao nhiêu vàng bạc do ông ta trích trữ đều được chôn dấu dưới đất, bọn lính mã tà không tài nào lục lạo được.
Đồng thời, ông Mười Hấu ra lịnh cho cô Ngó đến nhà cô Huôi mà tạm trú.
Mười Hấu đến gặp cô Huôi, thuật đầu đuôi cuộc gặp gỡ rồi tiết lộ:
-       Đêm nay, chắc là cậu Cẩu đánh bọn nó.
Cộ Huôi lắc đầu :
- Đáng lý ra, giữa chúng ta và người Lang Sa không xảy ra chuyện cãi vã. Mình biết bọn nó ngạo mạn, chỉ cầu mong cho bọn nó đến rồi về thật nhanh. Liệu cậu Cẩu thay đổi ý kiến không?
 Mười Hấu hỏi gắt
- Cô nói sao ?
Cô Huôi trở lại thực tế, lúc này, Mười Hấu dám làm chuyện liều lĩnh là giết cô... để lập công với người Lang Sa. Cô nói :
- Tôi đứng theo phe cậu Ba. Cậu muốn là tôi tán thành.
Mười Hấu :
- Còn Tư Thiện ? Nó đâu rồi ? Đêm nay ta giết nó. Nó làm phản. Nhưng trước khi giết, ta lợi dụng nó đi dọ thám. Cô ra lịnh để nó tin lời cô. Chừng nào hai bên đánh nhau, tôi cho cô hay trước để... rút. về núi Mo So. Bọn Lang Sa có súng đạn nhưng phải chết đói... trong ngôi nhà. Ngoài nầy, bọn hộ vệ cứ bao vay, rồi đốt nhà. Bọn nó như bầy chuột vô hang.
Nói xong, Mười Hấu ra về. Cô Huôi gọi Tư Thiện mà nói
- Đến gặp người Lang Sa, đừng trở về đây nữa.
Tư Thiện cau mày, đoán được phần nào ý định của cô Huôi.
- Cám ơn cô. Đêm nay, có lẽ...
Cô Huôi nghiêm nét mặt :
- Ta là... bà chúa Hòn. Ta không thể đầu hàng. Đối với ông, ta chỉ nói bấy nhiêu lời. Ráng giữ gìn thân thể.
Tư Thiện quỳ xuống :
- Cô đuổi tôi. Bấy lâu, tôi ao ước được quỳ dưới chân cô.  Rồi cô đi đâu ?
Cô Huôi nói giọng ngậm ngùi:
- Tôi chưa nói được. Đáng lý ra, tôi phải tự tử sau khi mấy ngôi nhà nầy bị đốt phá.
- Trời! Nếu vậy thì cô cho phép tôi ở lại ! Tôi không ưa người Lang Sa. Lúc trước vì cần dựa thế lực bọn nó để làm ăn, tôi bèn đến đấy. Nhưng đời người không gì cao hơn là... hanh phúc, xin cô đừng tự tử.
Cô Huôi cười lạt
- Ông đừng lo. Tôi sợ rằng ông sẽ tự tử vì chuyện nhỏ mọn. Bây giờ, tôi nói thật với ông...
Quả tim của Tư Thiện như ngừng đập... Lời nói của cô Huôi sẽ quyết định tương lai ông. Cô Huôi sẽ nói lời hứa hẹn yêu đương chăng ?
Nhưng Tư Thiện lầm to. Cô Huôi nói khẽ.
- Tôi không tự tử vì tôi có nơi nương tựa. Tôi về đồng quê gần chùa với cha tôi. Tôi muốn về nhà từ lâu nhưng tôi còn ở lại đây chỉ vì Mười Hấu. Nó là đứa ác độc.
Vì nó mà đêm nay, hàng chục người chết. Tôi oán người Lang Sa nhưng tôi chê bai vài người An Nam mình,
Tư Thiện chùi hai giọt nước mắt
- Thưa cô !
Cô Huôi thúc hối :
- Ông cứ đi đừng ở đây quá lâu. Ông là người mà tôi quý mến nhứt.
Trong phút tuyệt vọng, Tư Thiện cố nói thêm :
- Tai sao quý mến mà cô nhẫn tâm đuổi tôi.
- Vì ở đây bất tiện cho ông. Mười Hầu nghi ngờ. Tôi  đã quyết định rồi. Dầu sao đi nữa, thể diện của tôi vẫn là xứ Hòn Chông này...
- Chừng nào tôi gặp cô được ?
- Gặp để làm gì ? Đêm nay chắc nhiều chuyện lạ xảy ra. Theo ý tôi thì cậu Cẩu và người Lang Sa đều điên khùng. Họ muốn làm tất cả những chuyện ác độc để thỏa thích dục vọng, họ bất chấp mạng sống của kẻ khác! Trời Phật dành cho họ nhiều hình phạt không chóng thì chầy.
Ra khỏi cổng nhà cô Huôi, Tư Thiện trở lại thực tế. Dường như bọn hộ vệ trở nên hung dữ hơn mọi khi. Tư Thiện phải vất vã lắm mới đến căn nhà của Mười Hấu, giờ đây trở thành nơi trú đóng của lính mã tà và quan một Ăn Sa.
Mười Hấu đứng trước cổng, nói với Tư Thiện:
- Chú mầy ráng điều đình.
Tư Thiện hơị bối rối :
- Tôi là người sống nhờ  ơn đức của ông bấy lâu nay. Người Lang Sa hung hăng lắm. Ông chỉ dạy dùm, tôi hứa nói tất cả những gì ông muốn.
Hồi lâu, Mười Hấu đáp
- Một là cậu Ba chịu đóng thuế hàng năm Lang Sa nếu họ đừng gọi cậu Ba bằng… cháu nội, Hai là bên này không chịu gởi người xuống tàu để làm con tin cho người Lang Sa. Họ nên giữ thể diện cho người bên này chứ.
- Dạ còn gì nữa không ?
- Còn điều này nữa, chú mày nên trấn an người Lang Sa khuyên họ nên ngủ yên giấc. Ngày mai có thể cậu Ba chịu nhượng bộ. Nhớ chưa.
Tư Thiện vào trong nhà. Quán một Ăn Sa cứ hút thuốc trong khi bọn lính mã tà đem từng viên đạn ra mà lau chùi
Đội Cần hỏi
- Đến đây là may cho chú...Có gì lạ không ?
Quan một Ăn Sa nói gắt:
- Đừng hỏi. Tất cả mọi người nên dưỡng sức, nấu cơm riêng mà ăn, coi chừng bọn nó đầu độc.
Rồi quan một nói to giọng hơn
- Tư Thiện đâu! Nó nói với mày chuyện gì?
Tư Thiên mời đội Cần, Năm Hí đến gần họ bàn bạc khá lâu, trước mặt quan một Ăn Sa đế đi đến kết luận
- Đêm nay, bọn Mười Hấu và cậu Cẩu bao vây thình lình.
Tư Thiện nói thêm :
-       Nó cho phép tôi vô đây loan tin thất thiệt.
Bọn lính mã tà đuổi mấy đứa nữ tỳ ra ngoài sau khi lãnh mớ gạo để nấu cơm. Mặt trời xuống thấp rồi trời sẩm tối. Mưa rơi rắc rắc trên mái ngói.
Tên lính mã tà canh trước cổng bỗng nhiên chạy vào:
- Thầy đội ơi! Bọn nó gom về đằng kia!
Đội Cần hỏi:
-      Về đâu làm sao tao biết được?
Một hồi tù và vang lên. Quan một Ăn Sa ra trước sận. Trời đã tối hẳn. Ông ta truyền lịnh:
- Đội Cần lên nóc nhà coi thử.
Từ trên mái ngói, đội Cần nói vòng xuống :
— Tụi nó thổi tù và rồi đốt đuốc.
Tư Thiện hơi bối rối. Chưa bao giờ ở vùng Hòn Chông nầy có hiệu lịnh thổi tù và. Đội Cần nói tiếp
- Bọn nó gom về nhà cậu Cẩu.
Quan một Ăn Sa nói :
- Lính mã tà đâu? Nai nịt gọn gàng chưa? Chờ lịnh…
Rồi đícn thân quan một ra trước sân. Quả thật bọn hộ vệ tập trung về nhà cậu Cẩu. Tư Thiện phục thầm tinh thần của bọn hộ vệ.
Quan một Ăn Sa gọi đích danh
- Tư Thiện ! Mầy tính sao ?
Để khỏi bị nghi ngờ rằng làm nội ứng cho đối phương ông ta nói:
-Nên đánh lập tức?
- Giỏi lắm. Tao tin mầy, theo sát bên tao. Còn lục soát căn nhà thằng Cẩu nữa. Tụi nó chừng bao nhiêu đứa?
- Dạ, chừng năm mươi đứa nhưng hăng hái lắm.
- Đốt đèn lên !
Bọn lính mã tà tuân lời quan một, tìm khắp trong nhà được mươi ngọn đèn sáp.
Đèn cháy sáng, cắm ở bàn, trong phòng khách. Quan một thích chí vô cùng
-       Cắm vài ngọn ở sau bếp!
Tiếng tù và thổi lên.
Quan một Ăn Sa ra ngoài sân rồi truyền lệnh thật khẽ:
- Không được hút thuốc, không được nói chuyện. Tất cả rút ra phía này.
Lính mã tà đã hiểu kế hoặch thầm tính của quan một Ăn Sa.
Lát nữa đây, bọn hộ vệ tưởng rằng linh mã tà còn ngủ trong nhà nên đến bao vây, đánh úp… Khi bọn nó lọt vào trong thì ngoài này, lính mã tà sẽ nổ súng, nhốt cả bọn trong nhà.
Quan một Ăn Sa dẫn lính mã tà ra sau vườn rồi ra lệnh:
- Ngồi xuống.
Tư Thiện tin chắc rằng bọn hộ vệ sẽ bị thảm sát trong giây lát, ông ta ngồi nín thinh. Quan một hỏi:
- Tư Thiện đâu ?
- Dạ.
- Vô nhà. Lát nữa, chú mày thổi tắt từng ngọn đèn rồi hãy trở ra. Khi nào bọn nó sắp sửa tới. Nghe chưa. Ta chờ chú mày tại đây.
Mựa rơi trong bóng đêm. Muỗi bay, bọn lính mã tà cứ đập bôm bốp. Tư Thiện thở dài nghĩ đến cô Huôi. Nhứt định là bọn hộ vệ sẽ bị giết trong nhà nầy. Cô Huôi chạy thoát được không ? Ai bảo vệ cô?
 Thời khắc trôi qua.
 Tư Thiện đứng trong nhà chờ đợi.
Thỉnh thoảng, và tên lính mã tà ho sù sụ. Quan một Ăn Sa ngồi sát gốc mít, lù lù trong bóng tối. Điều khiến Tư Thiện ngạc nhiên là ở dưới rạch, vài chiếc ghe buôn lướt qua, bạn ghe vẫn hát hò nghe não nuột.
Phải chăng họ không hay biết những gi xảy ra.
Tư Thiện trả lời một mình.
- Có lẽ họ cho rằng, cuộc thương thuyết đã tiến hành êm đẹp. Là người mua bán, họ không bao giờ chống đối hoăc làm hại quyền lợi của bất cứ phe nào ?
Từ trên núi, tiếng chuông chùa vang lên ngân nga. Tại sao giờ nầy lại có chuông? Tư Thiện đoán chừng là mấy ông đạo đi lu trong ‘‘cốc’’ mỗi người một môn phái riêng. Đó chẳng phải là ám hiệu của cậu Cẩu.
Chờ quá lâu, Tư Thiện hơi sốt ruột. Ông ta đến ngưỡng cửa nhà trước. Mấy ngọn đèn sáng đã tàn lụn hơn phân nửa. Mấy khung cửa sơn son thiếp vàng sáng ngời lên.
Nếu nổ súng, những công trình mỹ thuật này ắt là bị cháy.
Phía nhà cậu Cẩu dường như đèn cháy sáng.
Khi tiến thêm một bước đến trước sân Tư Thiện giựt mình , ngồi xuống thật nhanh. Một bóng người xuất hiện, từ phía nhà cậu Cẩu tiến về phía cổng. Người ấy cầm cây đèn lồng bằng giấy.
Điều gì đây ?
Tư Thiện muốn trở vào nhà để thổi tắt đèn rồi đến sau vườn để chiến đấu, bên cạnh bọn lính mã tà.
Nhưng lại có một sự ngạc nhiên mới. Người cầm đèn chính là nữ tỳ của cô Huôi.
Nó đến đây làm gì ? Phải chăng cô Huôi muốn nhắn nhủ vài lời với Tư Thiện.
Trong phút giây, Tư Thiện hơi do dự. Có nên theo đứa nữ tỳ đến đường cái rồi nhảy xuống rạch, lội qua bên kia bờ để rồi trở lại gặp cô Huôi. Hai người sẽ tới vùng khác, mặc cho cậu Cẩu và quan một Ăn Sa sát hạị lẫn nhau.
- Tư Thiện !
Giựt mình day lại, Tư Thiện nhận ra quan một Ăn Sa. Ông này táo bạo đáng sợ thật. Nếu Tư Thiện liên lạc với nữ tỳ thì quan một bắt gặp tại trận rồi.
Để chứng minh lòng thành thật của mình, Tư Thiện đến gần quan một, nói thật khẽ:
-       Đứa nữ tỳ !
Quan một ngồi xuống, nói với Tư Thiện :
- Nó đi đến dọ thám. Thằng Cẩu kéo binh tới. Chú mày vô nhà. Cây súng của tao đây! Mầy cầm trong tay rồi hò hét.
Nói vừa dứt lời, quan một chạy ra sau vườn.
Nữ tỳ đến cổng, nhìn vào.
Tư Thiện biết có người đang theo dõi mọi hành động dè dặt hơn bao giờ hết :
- Ai ?
Nữ tỳ kêu rú lên
- Tôi !
- Dọ thám hả? Tao bắn bây giờ ? Lính mã tà đang ngủ, tới làm gì?
Vừa nói, ông ta đưa bá súng lên vai.
Nữ tỳ la hoảng :
- Tôi đi chơi…
Quan một Ăn Sa đã có mặt sau lưng Tư Thiện :
-Bắn một phát chỉ thiên !
Phát súng nổ ầm ! Nữ tỳ hoảng chạy kêu rú lên, quăng cái lồng đèn giấy xuống đất.
Lòng đèn phát cháy, ánh sáng bừng lên khá lâu rồi tắt ngấm. Quan một Ăn Sa bước tới sát bên Tư Thiện.
- Đóng cửa thật mạnh cho bọn nó nghe tiếng động.
Tư Thiện vâng lời, phục thầm tài điều khiển của quan một Ăn Sa. Mấy ngọn nến còn lại sắp tàn lụn. Quan một khép cánh cửa rồi mở ra.
- Đi theo tao!
Khi đến khu vườn sau hè nhà, quan một nói dõng dạc:
- Đừng nói chuyện. Tôi bảo đi đâu thì tất cả phải theo không được do dự. Tôi đứng rồi khoát tay, luôn luôn tôi đi trước. Nằm xuống hết.
Muỗi dưới bãi cỏ bay vo ve, ai nấy đều bực rọc, chẳng dám đập mạnh sợ gây tiếng động. Hồi lâu, quan một Ăn Sa nắm tay Tư Thiện :
- Chú hiểu rành xứ nầy phải không ? Đi theo tôi.
Lần thứ nhì, Tư Thiện ra ngoài sân với quan một Ăn Sa theo sát bên cạnh. Dụng ý người Lang Sa này thật khó hiểu nhưng Tư Thiện không dám hỏi thêm.
Quan một ngồi xuống, nép mình vào tườnng rào,  nhìn về phía nhà cậu Cẩu
- Sao nó chưa tới?
Tư Thiện nói trước, để khỏi chịu trách nhiệm.
- Mười Hấu là đứa gian xảo, quan lớn nên đề phòng cẩn thận.
- Nó tới đây, bao vây căn nhà nầy đêm hay. Tại sao nó chưa tới ?
Tư Thiện chợt nhìn xuống sông, ông ta lạnh rởn óc nhận ra sự vô ý của mình từ nãy giờ. Bốn chiếc xuồng bơi, theo hàng dài, tuy bầu trời thiếu trăng nhưng ông không còn nghi ngờ gì nữa. Mỗi xuồng chở hơn mười người.
Khi gần tới bến, bốn chiếc xuồng đen đúa ấy dừng lai đậu sát bờ.
Từ phía sau chót, chiếc xuồng thứ năm tiến tới. Xuồng này chỉ có một người bơi sau lái và một người đứng thẳng lưng trước mũi.
Quan một Ăn Sa hỏi
- Ai cầm đầu ?
Tư Thiện đáp :
- Chắc là Mười Hấu.
- Như vậy là thằng Cẩu còn ở nhà. Được lắm, lát nữa bọn nó bị tiêu diệt.
Hai người vào nhà. Mấy ngọn nến cháy leo lét, gần lụn. Quan một Ăn Sa lại đẩy cửa rồi đóng lại thật mạnh, cố ý gây tiếng động. Ông ta cùng với Tư Thiện xuống nhà bếp rồi ra sau vườn.
Lính mã tà và Tư Thiện đều sửng sốt khi thấy quan một Ăn Sa chỉ ngón tay về phía nhà cậu Cẩu.
Họ rút từ từ ra khỏi khu vườn.
Bọn hộ vệ bắt đầu đổ bộ, vào sân. Mười Hấu nói giọng kiêu hãnh
- Nó đang ngủ trong nhà. Để tao lên tiếng trước.  
Bây giờ Tư Thiện đã hiểu âm mưu thâm độc của quan một Ăn Sa. Quan một dừng lại, lắng tai thật kỹ rồi hỏi
- Phải cha thằng Cẩu không ?
Tư Thiện đáp :
- Dạ, đúng là Mười Hấu...
Quan một Ăn Sa ra lịnh cho Tư Thiện
- Dẫn tao tới nhà thằng Cẩu. Nhớ vô nhà phía sau hè. Tới đó, mình nhảy tường rào.
Ngôi nhà cậu Cẩu xuất hiện lù lù trước mặt: Khi tiếng hò reo nổi lên, ánh đèn trong nhà vụt tắt. Quan một Ăn Sa nói.
- Tư Thiện là người quen biết với thằng Cẩu. Chú mày vô nhà, theo cửa trước, giả bộ như chú mày đứng về phe nó. Hễ thấy lính mã tà tới thì theo sát, giết nó.
Tư Thiện day lại, trình bày với quan một Ăn Sa
- Nó có vài đứa hộ vệ ở gần. Nếu tôi mang súng thì chắc là bị giết trước khi quan lớn tới.
- Ừ! Đưa súng cho tao.




Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.06.2021 09:02:43 bởi Ct.Ly>
                           -30-
 
Tiếng hò reo khiến cậu Cẩu vui sướng vô cùng. Cậu ra sân, đứng ngóng về phía ngôi nhà dành cho lính mã tà trú đóng. Trong nhà, còn năm đứa hộ vệ. Ngoài ra, còn mẹ cậu Cẩu là cô Ngó.
Cậu Cẩu tức giận vô cùng, ra lịnh với tên hộ vệ
- Mầy coi thử! Tại sao chưa nổ súng ?
Tên hộ vệ muốn từ chối. Đi mạo hiểm đến nơi người Lang Sa trú đóng thì chẳng khác nào nạp miệng cho cọp. Nhưng từ chối bằng cách nào. Cậu Cẩu nhìn vào bóng đêm.
- Đèn thì tắt. Tại sao người Lang Sa không nổ súng?  Mầy cải lời tao hả ?
Bấy giờ tên hộ vệ không còn do dự nữa. Do dự là chết, chết vì bàn tay cậu Cẩu.  Anh ta đã khuất dạng trong bóng tối, ra đi với mục đích trốn luôn. Nhưng trốn theo đường nào bây giờ ? Đi ngoài đường cái bị cậu Cẩu theo dõi, hơn nữa có thể anh ta bị lính mã tà tình nghi là làm dọ thám.
..Đị được vài chục bước, anh ta qụẹo ra sau vườn.
- Ai đó ?
Anh ta giựt mình, toan chạy, một bàn tay cứng như sắt nắm anh ta lại
- Mầy là hộ vệ? Tao là Tư Thiện đây.
Tên hộ vệ vẫn ngạc nhiên:
- Cậu Ba đang nổi giận, ở trong nhà.
- Đưa tao vô nhà gặp cậu Ba. Ra ngoài vườn làm gì?
Rồi Tư Thiện nói khẽ:
- Bọn Lang Sa nằm sắp hàng ngoài vườn bao vây cậu Ba từ nãy giờ. Mầy ra ngoài đó để nạp mạng sao chớ.
- Vậy chớ tôi chạy đi đâu bây giờ?
- Vô nhà, nói với cậu Ba rằng có tao đến, tao không mang khí giới gì cả. Khi tao gặp cậu Ba, mày cứ rút lui, xuống bến mà lặn qua bên kia bờ rạch. Đừng cãi lời tao. Tao với mày đâu có thù oán gì!
- Tại sao ông không vô một mình !
- Đừng hỏi...
Tên hộ vệ bèn lủi thủi trở vào cổng :
- Thưa cậu, Tư Thiện tới kiếm cậu.
- Coi chừng nó làm phản!
- Dạ, Tư Thiện đi một mình, không mang súng ống gì hết ! Ông tới kìa!
Tư Thiện chắp tay xá cậu Cẩu.
- Thưa cậu, nguy lắm. Nhưng phe mình có thể thắng được, dịp khác.
Cậu Cẩu hỏi
- Tai saọ bọn Lang Sa không nổ súng.
Tư Thiện đáp khẽ:
- Bọn nó bao vây nhà này, nằm phía sau vườn. Ông Mười lại đằng kia để đánh căn nhà trống rỗng, không có ai hết !
Hàng chục tên lính mã tà với súng đạn đầy đủ quả là lực lượng đáng sợ. Quan một Ăn sa quá khôn ngoan vượt ngoài mức tưởng của cậu Cẩu. Cậu hơi run.
- Làm sao bây giờ?
Tư Thiện đứng trong tình trạng khó xử. Nếu trở ra sau vườn để báo tin cho lính mã tà bao vâỵ, bắt sống cậu Cẩu thì ông ta mang tiếng là hèn nhát. Sau khi thắng trận, chưa chắc ông ta được thưởng số tiền lớn vì đội Cần sẽ cướp công và dèm xiểm ông ta.
Ngoài ra, còn hình bóng cô Huôi. Cô đã từng tâm sự với ông ta rằng Mười Hấu mới là kẻ thù Biết rõ sự thật, cô Huôi sẽ khinh bỉ ông ta.
Cậu Cẩu hỏi
- Làm sao ? Bây giờ ta rút ra ngoài! Trong nhà, có ba bốn đứa hộ vệ cầm dao mác mà thôi. Mấy chục đứa kia thì đi theo ông Mười rồi.
Một cảnh tượng vừa buồn cười, vừa cảm động hiện ra trước mắt Tư Thiện. Cô Ngó đang quỳ trước bàn Phật mà lạỵ. Có lẽ cô biết ngày tàn của dòng họ đã đến, không phương cứu chữa.
Tư Thiện đang lưỡng lự
- Tùy theo cậu ! Tôi là tôi tớ trong nhà nầy.
Cận  Cẩu sờ vào ngón tay bên phải, tháo chiếc nhẫn ra:
- Cứ lấy chiếc nhẫn, Làm sao? Miễn là tôi còn sống.
Tư Thiện nhớ đến cô Huôi nên nhận chiếc nhẫn
- Cám ơn cậu. Cậu đi một mình tới gặp cô Huôi. Rồi đến núi Mo So mà chờ tôi. Tôi không thể nào theo cậu được! Bọn Lang Sa tới rồi kìa.
Hàng chục phát súng nổ ầm. Đèn trong nhà tắt ngấm
Cậu Cẩu cắm đầu chạy xuống bến. Tư Thiện bèn quát to, để cho quan một Ăn Sa đừng nghi ngờ.
- Nó kìa ! Vô nhà mà bắt sống!
Bọn hộ vệ giận sôi gan
- Tư Thiện làm phản!
Ba bốn đứa hộ vệ toan chạy ra ngoài, nhưng lính mã tà đã tràn vô. Bọn hộ vệ chạy trở vào, mở cửa sau. Đội Cần lên tiếng :
- Đừng bắn, uổng đạn. Ai chạy ra ngoài thì cứ bắn!
Quan một hỏi
- Thằng Cẩu đâu rồi !
Từ Thiện đáp
- Nó ở nhà sau!
Cuộc lục soát bắt đầu. Hai phát súng nổ vang. Hai đứa, hộ vệ nằm gục trong vũng máu trong khi bọn lính mã tà, phá cửa sau, chạy ra vườn.
Quan một Ăn Sa đứng trước thềm rồi ra ngoài cổng với mục đích chận đánh Mười Hấu, nếu lão ta đến tiếp cứu.
Trong nhà, Đội Cần làm chủ tình hình, ông ta cười vang :
- Cô Ngó đâu? Tôi nghe danh cô là người đẹp nhứt, giàu nhứt. Ra đầu hàng thì tôi cứu cho.
Tư Thiện cố giữ vai trò thụ động. Đồng ý rằng cậu Cẩu áp bức dân chúng tại Hòn Chông nhưng hiện  người Lang Sa có tốt hơn cậu Cẩu không ? Là người Việt Nam, Tư Thiện thấy tủi nhục đau xót.
Ông ta lo ngại cho cô Huôi. Phía nhà cô Huôi, đèn đuốc tối om. Vì quân lực quá yếu, quan một Ăn Sa không dám bố trí một cánh quân thứ nhì đến bao vây nhà cô Huôi, Tư Thiện cầu mong cậu Cẩu được sống sót để cùng với cô Huôi chạỵ về núi Mo So như ông ta chỉ chạy lúc nãy.
Quan một Ăn Sa cười dòn :
- Xong rồi! Mười Hấu chưa dám tới tiếp viện. Nãy giờ, nó đánh giặc với ma quỉ !
Rồi quan một đến hai cây trụ to, trước cổng. Trên mỗi cây trụ lâu đời rồi, có gắn một con kỳ lân bằng sành.
Hắn ta trèo lên, cỡi trên con kỳ lân.
Tư Thiện ngồi chồm hỗm trước thềm. Trong nhà, bọn lính mã tà thi nhau cạy cửa tủ, quơ tay vơ vét. Đội Cần đi lom khom để quan sát phía dưới bộ ván.
Ông ta reo lên
- Ra đây !
Từ dưới bộ ván, cô Ngó kêu Ịên thống thiết :
- Tôi không có tội gì hết.
- Thằng Cẩu đâu rồi ?
Cô Ngó vẫn ngồi dưới bộ ván :
- Dạ tôi không biết.
Đội Cần thích chí vô cùng; Cô Ngó có gương mặt sáng rực, làn da trắng mịn. Lúc này đội Cần quả thật là ông vua nhỏ, ông ta ra lênh:
- Tôi hứa không làm khó dễ. Cô đừng sợ. Cứ ra ngoài này để trả lời.
Lúc này, cô Ngó tưởng rằng người Lang Sa và lính mã tà quá ác độc, gặp ai giết nấy. Giờ đây giọng nói khá ôn hòa nhã nhặn của đội Cần khiến cô được yên tâm phần nào. Cô ra ngoài, đứng dậy.
Rõ ràng cô Ngó khá xinh đẹp, hình dung yểu điệu, hai tay thòng xuống gần đụng đầu gối. Nếu chiếm cô Ngó làm vợ nhỏ thì còn gi vui sướng cho bằng. Đội Cần ra lệnh :
- Thắp thêm một ngọn đèn sáp.
Cô Ngó mở tủ, lục lạo hồi lâu.
Thừa lúc ấy, đội Cần đến gần vịn vai cô. Cô day lại:
- Cái ông nầy!
- Tôi thương cô nên cứu dùm. Tại sao...
Cô Ngó im lặng, hồi lâu mới trả lời :
- Tôi là đàn bà. Bao nhiêu đồ đạc trong tủ nầy biến mất rồi.
Đội Cần liếc ra ngoài cửa. Tư Thiện và quan một Ăn Sa đều vắng dạng, Bọn lính mã tà bắt đầu đập phá dưới nhà bếp. Khung cảnh thật thích hợp cho ông ta giở trò tán tỉnh:
- Cô nên mừng mà gặp tôi!
Rồi ông ta ôm cô Ngó vào lòng. Cô Ngó vụt la lên :
- Cái gì ? Thà rằng ông bắt tôi, đem về chợ Rạch Giá.
Từ ngoài cửa, quan một Ăn Sa vọng vào:
- Thằng Cẩu đâu? Hàng chục người mà không bắt sống được một đứa con nít ?
Lợi dụng cơ hội ấỵ đội Cần nói với cô Ngó.
- Cô không thuận lời, tôi giết cô bây giờ. Quan một cho phép tôi tra tấn cô.
Cô Ngó day lại nhìn đội Cần. Hai hàng nước mắt chua xót chảy dài.
Cô tháo, chiếc nhẫn, trao cho đội Cần
- Tôi hứa theo ông, nếu ông cứu mạng cho tôi.
Đội Cần đưa bá súng lên vai, bắn một phát lên nóc nhà.
Khói bay mù mịt và cô Ngó ngất xỉu khi nghe tiếng nổ. Đội cần thổi ngọn đèn sáp, ôm cô Ngó vào lòng rồi nói to :
-Nó...ở trên nóc nhà nhảy xuống đó !  Rượt theo nó.
Tư Thiện theo dõi mọị hành động của đội Cần.
Đêm đã quá khuya. Quan một Ăn Sa ngáp dài nhưng ông ta không rời vị trí trước cổng vì đó là nơi thuận lợi nhứt để quan sát.  
 Ông ta đến mé sông.
Chiếc xuồng từ từ bơi lại, trên xuồng có hai người, một bơi sau lái, một người cầm đuốc:
Quan một gọi :
- Ai đó? Tư Thiện đâu ?
Khi đến mé sông,Tư Thiện trố mắt… Người cầm đụốc trên xuồng không khác hơn là Mười Hấu.
Mười Hấu nói to :
-  Quan lớn tha tội cho tôi. Tôi xin đầu hàng.
Quan một Ăn Sa hỏi :
- Mấy thằng hộ vệ đâu?
- Dạ, tụi nó chạy trốn ngoài ruộng hết rồi..
Còn một mình tôi thôi, xin quan lớn tha mạng cho con tôi, cho cháu tôi. Nếu thằng Cẩu bị bắt, mấy ông đừng giết nó.
Khi xuồng cập bến, Mười Hấu lên bờ, quỳ xuống ôm chân quan một Ăn Sa khóc nức nở.




Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»