Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện 🔒

52 trả lời, 4.958 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2013 01:05:29 bởi Ct.Ly>
 
KHỔNG MINH GIA CÁT LƯỢNG
 
Tác giả: TRẦN VĂN ĐỨC
 
NGUYỄN QUỐC THÁI dịch (Tái bản lần II)
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ - THÔNG TIN, 2003
 
Đánh máy: hoi_ls
 
 
 
LỜI NÓI ĐẦU

    Đối với bạn đọc Việt Nam yêu thích văn học Trung Quốc, từ lâu Khổng Minh - Gia Cát Lượng đã trở thành nhân vật văn học rất đỗi gần gũi và quen thuộc. Những chiến tích lẫy lừng, tài thao lược, nhân cách vĩ đại của ông vượt khỏi thời gian, làm rung động biết bao thế hệ bạn đọc.
            Tuy nhiên, những chi tiết thực về cuộc đời, được bao phủ bởi lớp huyền thoại của ông đến nay vẫn còn những “tồn nghinhất định, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu, cũng như độc giả đương đại.
            Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin trân trọng giới thiệu cuốn “Khổng Minh - Gia Cát Lượng” của nhà văn Trần Văn Đức (Trung Quốc) do dịch giả Nguyễn Quốc Thái dịch. Đây là cuốn sách được viết và dịch khá công phu, toàn diện và chân thực. Bằng bút pháp hiện đại, xem xét từ nhiều góc độ cổ - kim tác giả đã đem lại một chân dung mới mẻ, sáng rõ về cuộc đời cũng như những cống hiến của Khổng Minh với lịch sử xã hội - văn hoá Trung Quốc.
            Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ THÔNG TIN
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.10.2013 04:32:01 bởi hoi_ls>
Lời dẫn truyện

            Đi tìm sự thực lịch sử:
                        Miếu thờ thừa tướng là đây
                        Cấm thành rừng bách phủ đầy trước sau
                        Nắng xuân cỏ biếc một màu
                        Tiếng oanh trong lá toả vào không gian
                        Ba lần cầu kiến cao nhân
                        Hai triều đã tỏ lão thần tận tâm
                        Kỳ sơn giữa trận từ trần
                        Khách anh hùng để tần ngần lệ rơi.
                                    (Thừa tướng đất Thục - thơ Đỗ Phủ)
 
            Trong lịch sử hơn 5000 năm của Trung Quốc, Gia Cát Lượng là nhân vật truyền kỳ rất nổi tiếng, là một hình tượng rất dẹp.
            Những đức tính cao đẹp như trí, dũng, trung thành đều gộp cả ở con người ấy, suốt một thời đại đều in dấu ở chính khách rất được tán thưởng này, thậm chí đến cả những phục trang bên ngoài của ông như quạt lông, khăn nhiễu cũng đã thành y trang độc nhất vô nhị.
            Trong tác phẩm nổi tiếng Tam Quốc Diễn Nghĩa qua ngòi bút tô điểm của nhà viết tiểu thuyết La Quán Trung đời Minh, Gia Cát Lượng chẳng những là nhà tiên tri khả kính, nhà chiến lược đa mưu túc kế, nhà ngoại giao ăn nói hùng hồn, nhà chính trị nhìn xa trông rộng, nhà binh pháp xuất quỷ nhập thần, hơn nữa còn là một đạo gia thuật sĩ có tài hô phong hoán vũ, giẫm đạp thất tinh và có một siêu năng khác người.
            Mọi người ngưỡng mộ ông ở phong thái phong lưu, trí lự siêu phàm, tài kiêm văn võ, bất luận với một đối thủ lợi hại như thế nào, ví như những nhà quân sự thiên tài trong lịch sử Trung Quốc: Tào Tháo và Chu Du, ông đều coi là chẳng ra gì, lại còn đùa bỡn nữa. Có thể nói hết thảy những biến hoá trong trời đất ông đều sớm nắm chắc, song Gia Cát Lượng trong Tam Quốc Diễn Nghĩa, dẫu rằng được La Quán Trung tô vẽ và thần thoại hoá ra sao, liên tục sáu lần ra Kỳ Sơn, luôn đánh không thắng, cuối cùng phải nhận một kết cục bi thảm, gió thu thổi mãi gò Ngũ Trượng.
                        Kỳ Sơn giữa trận từ trần
                        Khách anh hùng để tần ngần lệ rơi.
            Vậy suy cho cùng, một đời Gia Cát Lượng là được hay là thua? Vì sao với trí tuệ và nỗ lực siêu phàm của ông vẫn không đem lại kết quả mong muốn? Vì sao với một chính khách không thành công như vậy, sau hai nghìn năm, trăm họ ở Tứ Xuyên vẫn còn nhắc đến những kỳ tích trị quốc ở đất Thục của ông. Và những văn nhân mặc khách nổi tiếng nghìn năm như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Lý Thương Ẩn đều sùng bái ông, đến cả viên tướng thiên tài là Nhạc Phi đã lừng danh tận trung báo quốc, đều đã đọc kỹ bản viết Xuất Sư Biểu nổi tiếng của Gia Cát Lượng và cùng bày tỏ sự tôn sùng vô hạn đối với ông. Đằng sau lớp sương khói của cuốn tiểu thuyết, con người thực của Gia Cát Lượng rốt cục là như thế nào? Lý tưởng của ông, trí tuệ của ông, mưu lược của ông, phong cách của ông, cuối cùng đâu là cái ta có thể nắm bắt được; đấy cũng là vấn đề rất hứng thú mà cuốn sách này sẽ đề cập đến.
 
0
1. Sức thu hút của Gia Cát Lượng là ở đâu?
            Gia Cát Lượng có tên chữ là Khổng Minh, ông sinh ra vào năm thứ 4 Đời Ninh đế nhà Hán (năm 181 sau Công Nguyên), ở huyện Dương Đô, quận Lang Nha (nay là huyện Nghi Thủy, tỉnh Sơn Đông). Huyện Dương Đô vẫn gọi là Gia Huyện, huyện này có rất nhiều người họ Cát, thế lực rất lớn, họ Cát này rất nổi trội nên thường được gọi là họ “Gia Cát”. Gia Cát Lượng xuất thân ở Phủ Quan. Tổ phụ của Gia Cát Lượng là Gia Cát Phong từng giữ chức tư lệ hiệu úy (quan Tư lệnh cảnh bị kinh thành) nổi tiếng thanh liêm, bởi vậy cũng hay va chạm với không ít những kẻ quyền quý. Đến thời phụ thân của ông, chẳng còn hiển hách như xưa; phụ thân của Gia Cát Lượng thường trầm mặc ít nói, từng làm việc với chức Quận thừa ở quận Thái Sơn, song le cụ sớm nhất, cho nên cũng chẳng có gì đáng kể. Đáng nói là ông chú của Gia Cát Lượng là Gia Cát Huyền, là người giỏi giao thiệp có văn tài thường hay qua lại với những kẻ có quyền thế quanh vùng như Viên Thuật, Lưu Biểu.
            Gia Cát Lượng có ba người anh em và một chị gái, do cha mẹ sớm mất, ở quê làng lại gặp phải loan Hoàng Cân, ông chú là Gia Cát Huyền, mang cả nhà ròi đến ở Thành Tương Dương lúc đó do Kinh Châu mục Lưu Biểu cai quản, định cư ở mé núi Nam Dương gần đô thành. Người anh cả là Gia Cát cẩn đã lớn, để kế nghiệp cha đã đến học ở trường Thái học trong kinh thành Lạc Dương, về sau lại đến Đông Ngô theo lời mời của Lỗ Túc, thành ra một tân khách của Tôn Quyền, rồi ra làm quan với Đông Ngô, rất được Tôn Quyền sủng ái. Ít lâu sau, ông chú Gia Cát Huyền qua đời, Gia Cát Lượng và em trai Gia Cát Quân, dựa vào cái gia sản đạm bạc mà ông chú để lại, thường ngày cày ruộng, đọc sách, đợi có thời cơ để thi thố tài năng.
            Cũng do những mối thân tình từ trước, mà Gia Cát Lượng vẫn có quan hệ mật thiết với quý tộc ở thành Tương Dương. Gia Cát Lượng năm hai mươi tuổi lấy con gái nhà Hoàng Thừa Ngạn vốn có quan hệ thân thiết với Lưu Biểu đang làm quan Kinh Châu mục, và người chị gái của Gia Cát Lượng cũng đã lấy chồng là người quyền quý họ Bàng, sau này một người nổi tiếng tên là Phượng Sồ Bàng Thống cũng là người của họ ấy.
            Dân gian thường có câu “sức trói gà không nổi”, câu ấy dùng để chỉ cái vẻ thư sinh của Gia Cát Lượng, cũng dùng để nói cái ý rằng: ông là con người của đầu óc, thực ra lại không đúng với vẻ ngoài đích thực của ông.
            Gia Cát Lượng là người đạt được mức tiêu chuẩn của những chàng trai vạm vỡ đất Sơn Đông, thân cao dư 8 thước cổ xưa, chừng 1,8m bây giờ, trông thể hình rất cao lớn, thời còn trẻ thường vẫn làm các việc cày bừa, thích tự làm lấy mà cũng làm luôn chân tay, thích sáng tạo ra các loại công cụ. Về cuối đời ông còn chế ra “nỏ liên châu”, “trâu gỗ ngựa máy”, thiết lập “bát trận đồ” tuyệt đối không phải là một tư tưởng gia đơn thuần chỉ động não động khâu mà không động tay chân.
            Ví như câu “sức trói gà không nổi”, cũng để chỉ một nhà chiến lược nổi tiếng thời Tây Hán là Trương Lương: Sách “Sử ký” miêu tả, ông ta “diện mạo giống như phụ nữ” là người thông tuệ, phong lưu và giàu tình cảm, là một mẫu mực thư sinh.
            Song Trương Lương vốn là kẻ to gan lớn mật, thời trẻ, để rửa nỗi nhục vong quốc, ông đã phải khuynh gia bại sản để học võ công, đâm Tần Thủy Hoàng ở Bác Lãng Sa. Tuy việc ấy không thành, song khi bị truy bắt khẩn cấp vẫn khôn khéo thoát khỏi, rõ ràng là người thư sinh này cũng đã sôi sục dòng máu vũ dũng trong người.
            Cũng ví như nói Gia Cát Lượng là người “sách hoạch cao thủ’'’ cũng hoàn toàn không đúng, ông thường nghiêm túc, trầm ngâm suy nghĩ, song hành động lại cẩn thận, mực thước, bởi vậy ít giao tiếp với bạn bè. Ở vào thời Đông Hán bấy giờ, giới thượng lưu chưa đánh giá cao đối với chàng thanh niên Gia Cát Lượng.
            Như Tam quốc chí đã ghi lại, Gia Cát Lượng thường ví mình vối các danh tướng thời Xuân Thu như Quản Trọng, Nhạc Nghị, song lúc bây giờ, chỉ có những danh sĩ Kinh Châu thường qua lại với ông như Tư Mã Huy, Từ Thứ, Thôi Châu Bình, những người này không tài hoa bằng ông, xem những tư liệu của chính sử, Gia Cát Lượng là người trí tuệ tài giỏi, bên ngoài có vẻ trầm ngâm, bản tính là một người nghiêm túc; khi thảo luận công việc, nói năng sôi nổi, song thường thì rất ít nói, thích suy tư làm việc cẩn thận, quan sát thấu đáo, nắm chắc tình hình, lại có óc tổ chức và phân tích, làm việc có chuẩn bị và sách lược đúng, có khả năng suy tưởng, thực là một chuyên gia sách lược tiêu chuẩn.
 
0
2. Đi tìm người tổng quản.
            Gia Cát Lượng lúc còn trẻ, về mặt suy tư so với người khác có những bất đồng rất lớn. Tam quốc chí kể rằng, ông thích đọc Lương Phụ Ngâm. Lương Phụ Ngâm là một khúc ca từng nói về tướng quốc Án Tử nước Tề, bởi muốn ổn định chính quyền nên đã bày ra kế trừ khử ba viên võ sĩ đối địch, khúc ca này nói về những sự kiện lịch sử có thật, qua đó cho thấy Gia Cát Lượng không hẹp hòi trong tập tục và truyền thống, đã dám vượt qua những ràng buộc tư tưởng của mình để thấy được chân tướng của sự kiện.
            Sau này nhìn lại, có thể thấy, chàng tuổi trẻ Gia Cát Lượng thời ấy là một người rất tự tin. Ông từng suy nghĩ rất nhiều, nhận rõ vai trò người tổng quản là rất trọng yếu trong “tập đoàn”, bởi vậy ông đã chọn “tập đoàn” Lưu -Quan - Trương, muốn được phát huy hết năng lực của mình. Đương nhiên để phát huy được sở trường, trừ những người thích tự do, việc đảm nhận trọng trách là rất đáng chú ý. Sau này Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị đảm đương những công việc lớn, thực sự là người tổng quản cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi.
            Lưu Bị lúc ấy đang bị Tào Tháo đuổi đến cùng đường miễn cưỡng phải tìm đến Kinh Châu nhờ Lưu Biểu che chở. Lưu Biểu danh nghĩa là đồng minh với Lưu Bị song thực tế để Lưu Bị ở Tân Dã huấn luyện binh sĩ tạo thành một phòng tuyến bên ngoài chống trả lại Tào Tháo mà thôi. Tuy tình hình quân sự rất khẩn cấp song Lưu Bị vẫn chưa thể yên lòng bởi chưa tạo dựng được sự nghiệp lớn, chưa tìm ra một chuyên gia hoạch định được kế hoạch lâu dài. Được sự tiến cử của những danh sĩ đất Kinh Tương là Tư Mã Huy và Từ Thứ, Lưu Bị nhận định rằng người ấy không trọng công danh, con người trẻ mưu lược ấy, chính là một nhân tài rất quan trọng trước mắt của “tập đoàn”, bởi thế ông nghe theo ý kiến của Từ Thứ, đích danh tự mình dẫn theo hai nhân vật quan trọng khác là Quan Vũ và Trương Phi, xông pha gió tuyết lạnh lẽo, đến cầu kiến ở lều cỏ của Gia Cát Lượng tại Long Trung.
            Để thử thành ý của Lưu Bị, Gia Cát Lượng cố ý lánh mặt liên tục hai lần không ở nhà để Lưu Bị phải về không. Song Lưu Bị không nản lòng, đã ba lần đến Long Trung cầu kiến. Gia Cát Lượng rất cảm động, phải ở nhà chờ đợi để đáp lại. “Tam cố thảo lư cầu Gia Cát Lượng” là một giai thoại dã sử nổi tiếng nghìn năm. Trong bản viết Xuất Sư Biểu của Gia Cát Lượng sau này có viết “Tiên đế chẳng xem thần nhỏ mọn, ở nơi lẩn khuất, ba lần chiếu cố đến thần giữa nơi lều cỏ”, có thể coi đây là một sự thực lịch sử kể về ba lần cầu kiến Khổng Minh.
            Lưu Bị lúc này đã bốn tám tuổi, dấn thân dựng nghiệp đã hai mốt năm, có uy tín lớn với toàn quốc, từng giữ các chức: Từ châu mục và Dự châu mục (chức quan đứng đầu về quân sự ở địa phương). Gia Cát Lượng mới hai bảy tuổi là một “lính mới” vừa xong tu nghiệp, song Lưu Bị đã nhất nhất nghe theo “Long Trung Sách”, kế sách quan trọng của Gia Cát Lượng.
            Long Trung Sách được đưa ra khi hai người vừa mới biết nhau, hoạch định được kế hoạch lâu dài cho Lưu Bị. Hôm ấy, Gia Cát Lượng và Lưu Bị cùng đàm đạo rất tâm đắc, bản Long Trung Sách hiện còn lại là bản viết giản đơn do người đời sau chỉnh lý, song qua đó ta có thể thấy được ý tứ của nhà chiến lược trẻ tuổi là “giữ toàn tính mệnh ở đời loạn, chẳng cần nổi tiếng với chư hầu”, để mưu sự nghiệp to lớn về sau. Ông đã phân tích sáng suốt thời cục hiện tại với một nhãn quan thấu đáo, đề ra kế sách từng bước đi từ nhỏ đến lớn, trách chi mà Lưu Bị mừng như cá gặp nước vậy. Xem xét những cố gắng và việc làm của Gia Cát Lượng sau khi hạ sơn, có thể chia làm ba giai đoạn, mỗi lúc nổi trội khác nhau, dễ thấy những phong cách và kế sách không giống nhau.
            Giai đoạn thứ nhất kể về một “Quân sư” nổi tiếng từ trụ quân ở Tân Dã, rồi đến cuộc chiến ở Tương Dương, đại chiến ở Xích Bích, có được Kinh Châu, Hán Trung đều thấy vai trò phụ tá quan trọng của Gia Cát Lượng bên cạnh chủ tướng Lưu Bị, cho thấy rõ tính nổi trội ở những kế sách của ông.
            Giai đoạn thứ hai kể vể nhà “Chính trị gia” nổi tiếng: kể từ Lưu Bị tự phong là Hán Trung Vương, cho đến giai đoạn thành Bạch Đế gửi con. Đoạn này bề ngoài là Lưu Bị nắm quyền, song bên trong Gia Cát Lượng điều hành, tỏ rõ vai trò một người tổng quản lý tài giỏi kiến tạo cơ cấu phụ trách, chi viện hậu cần đưa mọi việc vào qui củ, thành vai chính trên sàn diễn.
            Giai đoạn thứ ba kế về một “Tổng tư lệnh” viễn chinh nổi tiếng, kể từ bắt đầu chiến dịch nam chinh tháng 5 vượt qua Lô Giang, đến bắc phạt Trung Nguyên, đến gò Ngũ Trượng mắc trọng bệnh từ trần ở giữa doanh trại. Gia Cát Lượng đã trở thành người tổng quản lý khai sáng cơ nghiệp, điều hành mọi việc trong nước.
            Tác giả của Tam Quốc Diễn Nghĩa đã miêu tả Gia Cát Lượng trong một luồng sáng rực rỡ, với nhiều tình tiết như nhờ sương mù mượn tên, mượn gió đông hoả thiêu Xích Bích, sáu lần ra Kỳ Sơn, hoả thiêu Cơ Cốc, bát trận đồ gây khốn Lục Tốn, Gia Cát Lượng đã chết mà đuổi được Trọng Đạt sống v.v..., cơ hồ như Gia Cát Lượng là một thiên tài quân sự siêu năng xưa nay chưa có, xuất quỷ nhập thần; song theo ghi chép của cuốn sử “Tam Quốc Chí” của tác giả Trần Thọ, thì Gia Cát Lượng được thể hiện rất thực qua ba giai đoạn, nhất là qua giai đoạn hai.
            Bình phẩm vê Gia Cát Lượng, tác giả Trần Thọ viết:
            “Gia Cát Lượng giữ chức tướng quốc, vỗ yên bách tính, tỏ rõ nghi thức, sắp xếp quan chức, điều hành chính sự, khai sáng dân tâm cùng là ban bố pháp luật... Có thể nói ông là bậc hiền tài trị quốc, sánh được với các năng thần như Quản Trọng, Tiêu Hà, song liên tục nhiều năm huy động sức dân đánh mãi không thắng nói về tháo vát ứng biến, có thể đó chẳng phải là sở trường vậy’’.
            Cứ như sử liệu mà xem, xét lời bình của Trần Thọ, đôi chiếu với sự miêu tả của La Quán Trung, nghĩ rằng cũng nên tìm hiểu con người Gia Cát Lượng một cách chân thực.
 
0
3. Quân sư trẻ tuổi với ngoại giao con thoi và sách lược rõ ràng.
            Kể từ Tào Tháo mang đại quân xâm nhập Kinh Châu cho đến cuộc chiến ở Xích Bích, thấy sự nghiệp của Lưu Bị ở vào vị trí rất chông chênh. Ở giai đoạn này, Gia Cát Lượng đã phát huy mưu lược và tài cán ngoại giao, giúp đỡ rất nhiều cho Lưu Bị. Tam Quốc Diễn Nghĩa đã miêu tả thiên tài quân sự tuyệt vời của ông, ví như trận hoả thiêu gò Bác Vọng và đại chiến Xích Bích thiêu hủy đoàn thuyền liên hoàn đều quy tụ ở công lao của ông, câu chuyện mượn gió đông mang đầy màu sắc thần thoại. Kỳ thực Gia Cát Lượng lúc đó còn ít tuổi, lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu, được lưu ở tuyến sau, cống hiến thực sự của ông chỉ là lo liệu việc hậu cần.
            Sau chiến dịch Tương Dương, Trường Bản, đội quân của Lưu Bị tan tác cả. Trong vạn phần nguy cấp, cũng nhờ Lỗ Túc dẫn lối Gia Cát Lượng, phục mệnh sang Giang Đông thuyết phục Tôn Quyển, để ông ta xuất binh cùng với Lưu Bị liên hợp chống trả Tào Tháo. Đấy chẳng những phải thuyết phục Tôn Quyền, mà phải chinh phục được cả quần thần văn võ của Đông Ngô, có thể nói là một nhiệm vụ rất khó khăn.
            Đảm nhiệm việc sưu tầm tình báo đưa ra phán đoán tổng hợp, Gia Cát Lượng đã thành công trong việc triển khai ngoại giao con thoi. Nhờ được sự giúp đỡ của Lỗ Túc, Gia Cát Lượng đã có biểu hiện kiệt suất, ông trù liệu chính xác, phân tích rõ ràng, khi cứng, khi mềm, khi thuận theo, khi khích tướng, cuối cùng hiệp trợ Tôn Quyền thắng được phái chủ hoà trong nước, xuất binh tiến hành một trận quyết chiến với Tào Tháo ở Xích Bích, có thể nói đã traọ chiếc chìa khoá mở cửa cho sự nghiệp của Lưu Bị được tiến triển.
            Trong cuộc chiến ở Xích Bích, thực tể là cuộc đối đầu giữa tập đoàn quân do Tào Tháo chỉ huy với thủy lục quân Đông Ngô do Chu Du chỉ huy. Đội quân của Tào Tháo bị chết trận và tan rã hơn mười vạn người mà bản thân Chu Du trong chiến dịch Giang Lăng sau đó cũng bị thương nặng, dẫn đến phải chết trong doanh trại, hai bên Tào Tháo và Tôn Quyền đều bị bại hoại, rốt cục người thu lợi chủ yếu lại là Lưu Bị. Tuy vậy Tào Nhân vẫn còn hùng cứ ở Tương Dương, Kinh Châu; Chu Du vẫn nắm giữ Giang Lăng, một vị trí quân sự quan trọng bên sông Trường Giang. Xong ở phía tây nam, một nửa phần Kinh Châu là ba quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa đã bị quân của Lưu Bị thừa cơ chiếm lấy, tạo ra đất sáng nghiệp trọng yếu của Lưu Bị, kế hoạch trên giấy “Long Trung Sách” của Gia Cát Lượng đã tiến được một bước có thể nói đã thành công được một nửa.
            Tuy ở giai đoạn này Gia Cát Lượng chưa tác động nhiều lắm đến sự sáng nghiệp của Lưu Bị, song việc phát triển sự nghiệp của Lưu Bị vẫn nằm trong quy hoạch phát triển của Gia Cát Lượng. Bước thứ hai của “Long Trung Sách” nhằm vào Ích Châu ở phía tây không lâu nữa cơ hội lại đến.
            Lưu Chương chiếm cứ Ích Châu, do nhiều năm bị quân Trương Lỗ ở Hán Trung phương bắc quấy nhiễu, thể theo những đề nghị của các trung thần Trương Tùng và Pháp Chính, đã chủ động mời quân của Lưu Bị đến giúp.
            Lưu Bị để Gia Cát Lượng hiệp trợ với Quan Vũ và Trương Phi trấn thủ Kinh Châu, tự mình dẫn theo Hoàng Trung tiến vào Ích Châu, còn có tổng tham mưu trứ danh Phượng Sồ tiên sinh. Trong đoàn xuất quân này, có thể thấy Lưu Bị rất xem trọng Gia Cát Lượng quân sư, tuy không xếp vào hàng mưu lược quân sự, song lại đặt ở vị trí điều hành hậu cần, giống như Tiêu Hà với Lưu Bang.
            Không bao lâu, các cánh quân của Lưu Bị tiến vào Ích Châu gặp phải sự cản trở của quân Lưu Chương, đội quân của Hoàng Trung tuy dũng mãnh thiện chiến, song le thế đơn lực mỏng khó địch lại được đại quân bên Thục. Lưu Bị vội hạ lệnh Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu, hai đội quân của Trương Phi và Triệu Vân theo hướng sông Nghi cùng tiến vào Ích Châu, hẹn hợp với quân Hoàng Trung cùng đánh Thành Đô.
            Tổng tham mưu trưởng của Trương Phi và Triệu Vân là Gia Cát Lượng, đây cũng là lần thứ nhất Gia Cát Lượng chủ động lãnh đạo việc quân. Do hai hộ tướng Trương Phi, Triệu Vân dốc lực phối hợp, khiến cuộc tấn công lần này gần như nắm chắc phần thắng.
            Không lâu, trong lần tiến đánh Thành Đô, Bàng Thống không may tử nạn, công việc tổng tham mưu chinh phạt đất Thục lại ở cả trong tay Gia Cát Lượng.
            Do thanh thế đội quân Lưu Bị rất lớn, lại có Pháp Chính trong đất Thục làm nội ứng, Lưu Chương thấy đại thế đã vỡ, bèn xin đầu hàng Lưu Bị. Bước thứ hai rất quan trọng mà “Long Trung Sách” đã hoạch định cũng là công việc khuếch triển rất khó khăn đã đạt được thành công thuận lợi.
            Sau khi chiếm được Ích Châu, không lâu Lưu Bị lại dẫn đội quân của Hoàng Trung và Triệu Vân, đánh vào đội quân Hạ Hầu Uyên được Tào Tháo phái đến Hán Trung, lấy sách lược đánh lâu dài, khiến đội quân viễn chinh của Tào Tháo không được viện trợ phải rút lui. Lưu Bị đã dần dần từng bước đi từ nhỏ đến lớn, sau tám năm Gia Cát Lượng hạ sơn giúp đỡ, đã tạo nên một kỳ tích là lập nên thế chân vạc chia ba thiên hạ (từ năm 207 đến 215). Trần Thọ trong Tam Quốc Chí viết rằng:
            “Lưu Bị sau khi bình định được Thành Đô, phong Gia Cát Lượng là Quân sư tướng quân, chức Tả tướng quân (đây là chức quan quan trọng của Lưu Bị) để trông coi việc lớn. Lưu Bị thường dẫn quân đội đi chinh chiến bên ngoài để Gia Cát Lượng ở Thành Đô trông coi triều chính, chẳng bao lâu khắp vùng Ích Châu đều dư thực dư binh”.
            Từ đó có thể thấy Gia Cát Lượng có tài điều hành và lập kế sách là một trợ thủ rất lớn bên cạnh Lưu Bị.
 
0
4. Đời loạn trọng khoan dung, đời bình trọng sách vở.
            Cứ theo bình luận của Trần Thọ, Gia Cát Lượng đã có những thành công rất lớn, đáng kể là giai đoạn thứ hai, với vai trò một chính trị gia nổi tiếng. Khi đã có địa bàn của mình (3 quận Kinh Châu mượn của Tôn Quyền) Gia Cát Lượng đã dốc tâm điều hành công việc quản lý. Sách Tư trị thông giám có ghi rằng: “Gia Cát Lượng phụ tá Lưu Bị cai quản đất Thục pháp lệnh rất nghiêm, tầng lớp thế gia quan liêu đặc quyền ở Ích Châu chịu không nổi thường vẫn oán thán”.
            Một nhân vật tiêu biểu cho giới quyền quý cũng là một công thần của Lưu Bị khi vào Thục là Pháp Chính bèn khuyên Gia Cát Lượng rằng: “Cứ như Lưu Bang - Hán cao tổ xưa sau khi vào được Quan Trung phế bỏ pháp lệnh của đời Tần chỉ còn giữ lại ba chương quy định khiến cho dân Tần rất cảm kích bởi đức độ khoan dung. Nay tướng quân được ủy thác cai quản cả Ích Châu, trông coi quốc sự nên vỗ yên dân chúng, thi hành pháp luật nghiêm minh, theo kế phản khách ví chủ tướng chẳng nên làm ư? Hy vọng ông sẽ khoan dung hình phạt, nhẹ bớt lệnh cấm, để hợp với mong mỏi của dân đất Thục”.
            Gia Cát Lượng đáp rằng: “Tiên sinh chỉ biết một mà không biết hai, nước Tần thi hành chế độ hà khắc dẫn đến dân tình oán hận, nơi nơi phản loạn, thiên hạ bởi thế đất lở ngói vỡ. Lưu Chương vốn nhu nhược lại cố chấp nên chính trị ở đất Thục không phát huy được, chẳng nêu đức độ, hình phạt chẳng đủ, tầng lớp quan liêu thế tộc thừa cơ giành độc quyền, đạo quân - thần chẳng rõ ràng, nền luân lý xã hội cũng tan mất cả. Thực ra, đối với những kẻ quan liêu có đặc quyền này, nếu được sủng ái thái quá, lại làm cho họ không nghĩ đến trọng danh vị, lơi là trách nhiệm. Nếu ban ơn cho họ sau này ân huệ ít đi, họ sẽ oán thán, lại làm khó cho việc thực thi pháp lệnh của chính phủ. Nay ở đất Thục chứng bệnh lớn là ở đấy, nên ta mới nêu cao chánh pháp, để pháp lệnh có thể phát huy hiệu quả khiến nhân dân được bảo vệ chu đáo. Nếu hạn chế quyền thế của bọn quan liêu thế tộc, khiến họ phải gìn giữ tốt vị trí của mình. Như thế, làm quân, làm thần, làm dân đều phải có bổn phận, trên dưới có tiếp chế mới có thể khiến được người, cảm thụ được ân huệ của chính phủ”.
            Những lời này đã phân tích thấu triệt về việc vận dụng quyền lực trong xã hội. Vấn đề của nưóc Tần là pháp lệnh hà khắc, không hợp với hoàn cảnh hiện tại, nếu không nhận thức đúng, vấn đề quyền lực xã hội sẽ hỗn loạn trật tự. Vấn đề điều hành quốc gia, một điều rất quan trọng là sự nhận thức chung, để mọi người cùng thừa nhận vai trò quyền lực, vậy nên chính sách bao dung của Lưu Bang lại không phù hợp ở chỗ này hay chỗ khác.
            Với tình hình ở Ích Châu lúc ấy, Lưu Chương làm đổ vỡ chính sự, quyền lực không được tôn trọng, bọn quan liêu chấp pháp lười nhác hoành hành đặc quyền, pháp lệnh rối ren. Ở đây Gia Cát Lượng tất nhiên sẽ chú trọng sự nghiêm minh của hình pháp, đấy là nguyên nhân chủ yếu để đề cao uy tín của quyền lực.
            Nghiêm chỉnh mà nói xã hội đời Tần là loạn lạc, còn đất Thục mà Lưu Chương cai quản là một xã hội bê trễ. Loạn lạc thì quyền lực không được nhận thức đúng, đây dó tranh chấp liên tục không thôi, lúc này tự nhiên rất cần một chính sách bao dung. Còn xã hội bê trễ thì quyền lực không được coi trọng, thấy rõ mà làm trái, quan liêu lười nhác, dân chúng làm liều, như thế ắt phải chỉnh đốn lại bằng pháp luật nghiêm minh. Bởi vậy, nguyên tắc để vận dụng quyền lực một cách chính xác, đó là: “đời loạn trọng khoan dung, bê trễ trọng điều luật”.
            Thực ra, không thừa nhận và không tôn trọng quyền lực là vấn đề thường tồn tại. Đối với người cầm quyền, rất nên hiểu rõ chỗ nào thì cần khoan dung, chỗ nào thì cần dùng luật. Về phương diện này mà nói, Gia Cát Lượng đã lý giải rõ ràng với Pháp Chính vậy.
 
0
5. Thành Bạch Đế gửi con, bày tỏ đạo quân thần
            Sau khi Tào Tháo tự phong làm Ngụy Vương, Lưu Bị cũng tự phong là Hán Trung Vương. Đến khi Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, Lưu Bị nghe theo lời đề nghị của Gia Cát Lượng lập ra nhà Thục Hán lên ngôi đế vị, lấy kế tục nhà Hán làm lễ chánh thống. Năm Chương Vũ thứ 2 (Niên hiệu của Lưu Bị), Lưu Bị lấy cớ báo thù cho Quan Vũ, cử binh đánh Đông Ngô, song bị tướng Ngô là Lục Tốn đánh bại ở Tỉ Qui, bi phẫn mà chết (tháng 4 năm Chương Vũ thứ 3). Trước lúc lâm chung, có cho gọi Gia Cát Lượng đến Bạch Đế thành dặn dò việc mai sau.
            “Khanh mới thực gấp mười Tào Phi, tất có thể giữ yên được nước, ổn định đại sự, nếu có thể phụ giúp cô tử thì giúp, nếu như nó bất tài, khanh hãy tự nắm lấy cả quyền hành”.
            Gia Cát Lượng nghe vậy thất kinh, dàn giụa nước mắt quì xuống mà tâu rằng: “Thần xin dốc sức làm tay chân, theo đúng lẽ trung trinh nguyện chết không đổi vậy”.
            Lưu Bị liền cho gọi Thái tử Lưu Thiện, dậy rằng: “Ngươi phải cùng với tể tướng (chỉ Gia Cát Lượng) điều hành công việc quốc gia này, phải tôn trọng tể tướng cũng như cha, cha phải đạo làm con”.
            Không ít sử gia cho rằng, Lưu Bị khi ở cung Vĩnh An, Thành Bạch Đế ủy thác con cho Khổng Minh, nói về đoạn đối thoại này, ít nhiều cho rằng đó là phép “khích tướng” của người làm chính trị, lại cũng nói rằng, cốt để cho Gia Cát Lượng không dám lộng quyền, mà phải dốc lòng phụ chánh Lưu Thiện. Xét ra, đoạn này nói về đạo lý, nếu xét kỹ tình thế nước Thục lúc bấy giờ, sự đồng nhất giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng, thấy rõ được là, nếu có ý ngờ, tức là lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử mà thôi.
            Lưu Bị trước lúc lâm chung, với Gia Cát Lượng đã có mười sáu năm tình nghĩa thắm thiết, con người Gia Cát Lượng ra sao ông đã quá rõ ràng. Huống như các quan văn võ nước Thục bấy giờ, đều tôn sùng Lưu Bị, nếu như không được Lưu Bị ủy thác, Gia Cát Lượng muốn làm tới cũng không nhận được ủng hộ của số đông. Lưu Bị đối với việc này cũng chẳng bận tâm lắm. Hơn nữa, lúc đó lại có cả đại thần Lý Nghiêm và Triệu Vân bên cạnh; nếu như Gia Cát Lượng có muốn tiếm quyền chẳng phải đã có một “cây gậy pháp lý” trong tay ư?
            Trái lại, Lưu Bị đã quá hiểu rõ con mình một cách tường tận. Chúng ta có thể tin được rằng khi ông bảo Gia Cát Lượng tùy nghi đoạt quyền, ít nhiều đã thấy trước vấn đề, muốn để Gia Cát Lượng có đủ cơ sở pháp lý, đề có thể ứng biến tùy thời. Trần Thọ trong Tam quốc chí đoạn nói về tiên chủ có bình rằng: “Tiên chủ là người khoan dung đại độ, trọng hiền đãi sĩ, có phong độ như Hán cao tổ Lưu Bang”.
            Người có khí chất anh hùng, khi gửi con cho Gia Cát Lượng lòng thanh thản không ngờ vực tỏ rõ đạo quân thần xưa nay hiếm vậy!
            Xét thấy, sự bận tâm của Lưu Bị chẳng phải Gia Cát Lượng có đoạt quyền hay không, mà là Lưu Thiện có đảm đương được việc nước hay không. Sau này Gia Cát Lượng có viết trong Xuất Sư Biểu rằng:
            “Tiên đế biết thần cẩn thận, trước lúc lâm chung có uỷ thác việc đại sự, kể từ lúc phụng mệnh đến nay, sớm tối lo lắng, sợ không xứng được sự ủy thác, phụ lòng mong mỏi của Tiên đế vậy”.
            Thật là câu nói từ gan ruột! Giữa hai vị quân thần cách nhau hai mươi tuổi này, đã để lại một hình ảnh đẹp trong sử sách Trung Quốc. Lưu Bị mừng như cá gặp nước, khi gặp Gia Cát Lượng, đấy không phải là một câu sáo ngữ mà là sự tán thưởng tri âm tri kỷ.
            Song, Gia Cát Lượng đơn độc một mình nắm trọn quyền điều hành nước Thục, rất cần một tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ. Sự uỷ thác của Lưu Bị trước lúc lâm chung là một tiếng nói như thế.
 
0
6. “Tác phẩm” của tổng tư lệnh quân viễn chinh: Bình loạn Nam phương.
            Sau khi Lưu Bị từ trần, hoàng thái tử Lưu Thiện mười bảy tuổi lên kế vị đổi niên hiệu là Kiến Hưng. Năm Kiến Hưng nguyên niên (là năm 223 sau Công Nguyên) phong Gia Cát Lượng là Vũ hương hầu, khai phủ trị sự không lâu lại phong thêm chức Ích Châu mục, trở thành người nắm quyền hành tối cao về hành chính ở nước Thục. Tam quốc chí có ghi: “mọi việc chánh sự lớn bé đều ở tay Gia Cát Lượng”. Lưu Thiện còn trẻ tuổi thiếu năng lực và kinh nghiệm nên mọi việc đều phó thác cho quan tể tướng. Năm đó, Gia Cát Lượng bốn mươi ba tuổi.
            Sau khi nắm được thực quyền, Gia Cát Lượng chú trọng việc điều hành chính sự, nỗ lực đề bạt nhân tài, tạo ra những quan chức ưu tú. Mặt khác, khuyến khích phát triển nông nghiệp cùng nuôi tằm dệt vải, thúc đẩy kinh tế dân sinh và chuẩn bị thực lực chiến đấu.
            Về ngoại giao ông vẫn thực hiện theo phương châm quy hoạch của “Long Trung Sách”, liên kết Đông Ngô để cùng chống lại Tào Ngụy. Lưu Bị sau khi bị bại trận ở Tỉ Quỵ, cũng hiểu ra rằng mình đã mắc một sai lầm chiến lược quan trọng, bèn chủ động với Đông Ngô cùng hoà đàm. Sau khi Gia Cát Lượng nắm chính sự, lại phái nhà ngoại giao kiệt suất là Đặng Chi, đến nước Ngô ký kết hoà ước tạo ra khối đồng minh lâu dài. Suốt thời gian Gia Cát Lượng còn hiện diện, Thục Ngô tuy khi nóng khi lạnh, song nhìn chung không phát sinh xung đột quân sự nữa, để Gia Cát Lượng có chỗ dựa, thực hiện mục tiêu quan trọng của “Long Trung Sách” là: Đánh bại Tào Ngụy, khôi phục nhà Hán. Song, vừa tránh khỏi một cuộc chiến, nguy cơ lại đến từ các quận miền nam Ích Châu. Sau khi Lưu Bị từ trần không lâu, các quận phía nam thừa cơ làm phản loạn, Gia Cát Lượng đang khi quốc tang không tiện xuất binh đành tạm cho qua.
            Năm Kiến Hưng thứ 3, quan hệ vối Đông Ngô sớm được ổn định, Gia Cát Lượng lệnh cho các đạo quân chủ lực của Mã Siêu, Triệu Vân, nghiêm cẩn đề phòng sự quấy rối của quân đội phía bắc, quyết định rằng: muốn vững ngoài trước phải yên trong, tự mình thống lĩnh đại quân nam chinh để bình định lại phía nam Ích Châu đang phản loạn.
            Dẫu rằng có rất nhiều bá quan văn võ đã can gián Gia Cát Lượng thân chinh đánh dẹp, bởi phương nam địa thế rất hiểm trở, lắm nguy cơ, chẳng bằng phái một viên đại tướng đi trấn áp là đủ. Song, Gia Cát Lượng kiên quyết tự mình xuất chinh, kết hợp nhân tố chính trị và quân sự nếu không có mặt trực tiếp giải quyết sẽ ít kết quả.
            Trước lúc nam chinh Gia Cát Lượng từng hỏi viên tổng tham mưu Mã Tắc về sách lược chủ yếu trong việc bình định phương nam. Mã Tắc thưa rằng: “Cần lấy công tâm làm đầu”. Gia Cát Lượng rất tán thưởng, do đấy có thể thấy rằng lần này trong quan điểm quân sự của Gia Cát Lượng nổi lên vấn đề chính trị kết hợp với quân sự, có thể không đánh mà kẻ địch cũng tan vậy. Những quan điểm này cùng đồng nhất với chủ nghĩa hoàn mỹ và nguyên tắc giao chiến cẩn thận mà ông sẽ vận dụng trong chiến tranh bắc phạt sau này. Tháng ba năm thứ 3 niên hiệu Kiến Hưng, Gia Cát Lượng tự mình dẫn đại quân vượt qua Trường Giang xuống miền nam Tứ Xuyên, thâm nhập vào vùng Vân Nam. Tháng Năm, vượt qua sông Lô Thủy đánh thẳng vào đại bản doanh của phản quân; bởi đã phát huy tốt nguyên tắc chính trị tác chiến, Gia Cát Lượng không thực hiện sự nghiêm khắc luật pháp như trước, trái lại vận dụng một chính sách khoan dung vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Trung Quốc .
            Sau khi đã bắt được nhân vật chính của quân phản loạn là Mạnh Hoạch, ông lại dẫn hắn tham quan trận địa quân Thục để thấy thế nào là lực lượng hùng hậu, rồi lập tức trả tự do cho hắn, hẹn sẽ giao đấu nữa để phân rõ thắng bại.
            Cuộc chiến này cho thấy những hành vi chiến tranh vốn tàn khốc có thể chuyển hoá thành một cuộc giao đấu trí tuệ chẳng những có thể giải toả được tâm lý thù hận của đối phương, lại khiến kẻ địch qua cuộc đấu trí ấy mà sợ hãi, dẫn đến sự đầu hàng triệt để. Có thể nói nghệ thuật chính trị tác chiến cao độ của Gia Cát Lượng ở đây đã biểu lộ một cách hoàn hảo; dựa vào truyền thuyết lịch sử, Gia Cát Lượng từng bẩy lần bắt được Mạnh Hoạch lại phóng thích cả bẩy lần. Hình thái chiến tranh thuyết pháp này, khiên người ta khó hình dung nổi, song cuối cùng Mạnh Hoạch tâm phục, khẩu phục, phải quì lậy giữa trận, cất lời thề rằng không bao giờ dám làm phản nữa, hoàn toàn chịu thần phục dưới sức mạnh của nước Thục.
            Sau khi bình định phản loạn phương Nam, Gia Cát Lượng lại trút toàn bộ quân đội trở về, lệnh cho Mạnh Hoạch cùng gia tộc tiếp tục điều hành phương Nam, rồi toàn quân ca khúc khải hoàn trở về kinh thành. Đây là thái độ khoan dung và tin cậy khiến cho các dân tộc dị chủng văn hoá phương Nam đã triệt để phục tùng. Suốt thời thuộc Hán, các quận miền Nam chẳng những không dám tạo phản, lại còn cung ứng nhiều vật tư lương thực giúp Gia Cát Lượng có thêm lực lượng đầy đủ tiến hành cuộc chiến trường kỳ với phương Bắc. Mạnh Hoạch sau này còn giúp nhà Thục Hán rất nhiều công việc khác.
            Gia Cát Lượng ở đây đã thấy rất rõ quyền lực chung không được thừa nhận và không được tôn trọng, có chính sách khoan dung hoặc nghiêm khắc để giải quyết vấn đề rõ ràng là một người điều hành chính sự rất có trí tuệ trong lịch sử Trung Quốc.
 
0
7. Theo đuổi đến cùng nguyên tắc quân sự cẩn thận
            Ở đoạn văn cuối cùng của bản viết “Long Trung Sách” Gia Cát Lượng muốn bày tỏ cùng với Lưu Bị rằng: “Một khi đại thế thiên hạ có biến nên sai một viên thượng tướng dẫn binh mã Kinh Châu tiến lên phía Bắc trực tiếp đánh vào Lạc Dương, tướng quân lại dẫn đạo quân Ích Châu theo đường Tần Xuyên tiến đánh Quan Trung, thì còn sợ gì trăm họ chẳng mang giỏ cơm bầu nước ra nghênh đón tướng quân? Nếu như cứ theo kế hoạch nàv mà làm, tướng quân sẽ tạo dựng được nghiệp bá, nhà Hán nhất định sẽ trung hưng được”.
            Trong “Xuất Sư Biểu” Gia Cát Lượng lại trình bày rõ ý kiến của mình với Lưu Thiện:
            “Nay phương Nam đã bình định, binh giáp đã đầy đủ đáng khích lệ ba quân; bắc định Trung Nguyên xin đem hết lòng khuyến mã trừ sạch gian ác phục hưng triều Hán về lại cố đô, như vậy là thần báo đáp được tiên đế, mà trúng với chức phận dưới bệ rồng vậy”.
            Từ đó thấy rằng Bắc phạt Trung Nguyên phục hưng triều Hán là một chí hướng đeo đẳng Gia Cát Lượng suốt một đời. Khéo thu thập chỉnh lý tin tức tình báo; Gia Cát Lượng đã dầy công chuẩn bị, mải mê với khôi phục “khí độ vương triều”, đây cũng là vấn đề quan tâm của nhiều người có tâm huyết. Đến cả những nhân vật thường gần gũi vói Tào Tháo như Tuân Úc, Thôi Diễm, Mao Giới cũng đều bởi muốn gìn giữ nhà Hán, cùng với Tào Tháo đối đầu mà dẫn đến bỏ mình hoặc chịu một số mệnh không sáng sủa. (Hai bên ở hai đầu trận tuyến mà đều vì nhà Hán vậy).
            Trong cuốn Tư Mạc, Chuyên Chương cho chúng ta thấy nguồn gốc loại tư tưởng này, bao quát Gia Cát Lượng và những người cùng thời. Gia Cát Lượng kiên trì chiến lược liên Ngô chống Tào mà không lượng sức mình Bắc phạt Trung Nguyên, cuối cùng phải lâm bệnh bỏ mình giữa quân doanh ở gò Ngũ Trượng, đấy cũng là lý tương thời đại của những phần tử trí thức lúc đó.
            Song Gia Cát Lượng vốn là người theo đuổi chủ nghĩa thực tế, trong cuộc chiến có thể nói lấy trứng trọi với đá này, ông giữ một thái độ luôn luôn thận trọng.
            Năm Kiến Hưng thứ 5, Gia Cát Lượng nhân khi Ngụy chủ Tào Phi vừa từ trần, Tào Duệ vừa mới lên ngôi, tình hình chính trị nước Ngụy đang rối ren quyết định tiến hành Bắc phạt để mở rộng địa bàn nước Thục, giúp cuộc chiến tranh trường kỳ có thêm uy thế. Sau khi đề xuất tờ sớ “Xuất Sư Biểu” với hậu chủ Lưu Thiện, Gia Cát Lượng dẫn đại quân tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ nhất.
            Từ năm thứ 5 Kiến Hưng đến năm thứ 12, suốt thời gian bảy năm chính sử còn ghi lại, Gia Cát Lượng trước sau tiến hành bốn cuộc chiến Bắc phạt. Tuy trong thời gian này có thu được một số thành công đáng kể, song cuối cùng đành phải rút về, ở đây có sự chênh lệch thực lực rất lớn, song Gia Cát Lượng lại là người quá thận trọng không dám mạo hiểm, mà trong binh pháp đôi khi mạo hiểm lại là cần thiết. Trần Thọ khi bình phẩm phần Gia Cát Lượng truyện có viết: “Nhiều năm huy động sức dân luôn đánh không thắng, nói về sự tháo vát ứng biến, đó chẳng phải là sở trường của ông vậy”. Điều đó có thể có lý.
            Trong cuộc Bắc phạt lần thứ nhất, tại hội nghị quân sự trước trận đánh, hổ tướng Ngụy Diên có đề xuất một chiến thuật đột kích táo bạo, dẫn đại quân ra Tà Cốc, trực tiếp đánh thẳng vào Trường An tranh thủ khi Ngụy quốc còn chưa kịp phản ứng, nhanh chóng chiếm lấy Quan Trung.
            Lúc đó quan trấn thủ Trường An là Hạ Hầu Mậu, con rể của Tào Tháo, thuộc loại con ông cháu cha thiếu kinh nghiệm tác chiến, nếu đột nhiên tiến đánh, có thể y sẽ kinh hoàng tháo chạy, bởi vậy kế hoạch này rất có khả năng thực hiện.
            Song, chiến cuộc này cũng không khác gì người dùng sức để thi vụt bóng gậy vào đích, tuy có khả năng song cũng chỉ là phỏng chừng. Đội quân đơn lẻ thâm nhập vào Quan Trung, nếu gặp phải đại quân Ngụy quốc triệt lộ ở tuyến sau sẽ bị khốn đốn. Bởi vậy với Gia Cát Lượng là một người theo nguyên tắc cẩn trọng, chẳng thể chấp thuận chiến thuật bạo phổi này.
            Chiến thuật mà Gia Cát Lượng tâm đắc, là vận dụng sách lược đánh ngắn ngày giành thắng lợi nhanh, hy vọng đánh dần dần để thắng lợi, tuy phải trả giá đắt và tốn thời gian song có thể tránh được mạo hiểm cùng thất bại.
            Mùa xuân năm thứ 6 Kiến Hưng, Gia Cát Lượng lại dẫn đại quân từ đưòng Tam Cốc đánh chiếm Mi Quận, ông phái lão tướng Triệu Vân có nhiều kinh nghiệm đánh nghi binh ở Cơ Cốc để dụ đạo quân của Tào Chân. Tào Chân quả nhiên trúng kế mang toàn lực bao vây quân Triệu Vân. Gia Cát Lượng bèn dẫn quân chủ lực vượt qua Kỳ Sơn, tập kích bất ngờ, một mạch đánh phá liền ba quận Nam An, Thiên Thủy, An Định, làm chấn động cả Quan Trung, khiến hạ Hầu Mậu hoảng hốt có ý vứt bỏ Tràng An mà chạy. Ngụy chủ Tào Duệ tuy còn trẻ tuổi, song cá tính rất ôn hoà khoan dung, rất có tinh thần trách nhiệm lại có tinh thần dũng cảm của tổ tiên Tào Tháo. Ông ta được tin cấp báo, lập tức ngự giá thân chinh, rất nhanh chóng đốc chiến ở Trường An, lại giao lão tướng trí dũng song toàn là Trương Cáp giữ cửa thành chuẩn bị quyết một trận sống mái với đội quân Bắc chinh của Gia Cát Lượng.
            Gia Cát Lượng cũng phái một tướng tài là Mã Tắc làm tiên phong, tại Nhai Đình đã cùng với Trương Cáp tiến hành hỗn chiến. Chẳng may Mã Tắc cậy tài mà kiêu ngạo, thiếu kinh nghiệm thực tế chiến đấu lại không nghe lời dặn dò trước đó của Gia Cát Lượng, phạm sai lầm nghiêm trọng về đóng quân, bị Trương Cáp khoét sâu nhược điểm, khiến đội tiên phong của Mã Tắc bị tan vỡ cả, sau đó bất đắc dĩ Gia Cát Lượng phải rút về Hán Trung.
            Đến mùa đông, Gia Cát Lượng lại dẫn quân ra ngoài quan ải bao vây Trần Thương, Tào Chân cũng dẫn quân chủ lực ra kháng cự, hai bên cùng đối trận với nhau. Gia Cát Lượng bởi thời tiết quá giá rét, lương thảo cung cấp lại không đủ phải đành rút quân. Mãnh tướng Ngụy quốc là Vương Song dẫn kỵ binh đuổi theo, lại vấp ngay phải mai phục của Gia Cát Lượng, binh tan, tướng chết, may mà Tào Chân doanh trại giữ nghiêm. Gia Cát Lượng vô kế khả thi đành dẫn quân rút về đất Thục chỉnh đốn lại đội ngũ, kết thúc cuộc Bắc phạt lần thứ nhất.
 
0
8. Hiến thân báo quốc, tổng tư lệnh liều mình
            Năm thứ 7 Kiến Hưng, Gia Cát Lượng tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Lần này ông dẫn quân từ Vũ Đô, Âm Bình đánh vào Ung Châu, thứ sử Quách Hoài anh dũng kháng cự, song chẳng thể ngăn chặn được thế công của quân Thục. Chiến sự kéo dài mãi, Ngụy chủ Tào Duệ chỉ biết hạ lệnh cố thủ, rồi phái Tào Chân từ phía Tà Cốc, Trương Cáp từ phía hang Tý Ngọ, Tư Mã Ý từ phía tây thành đồng thời đánh giáp công. Gia Cát Lượng phái Lý Nghiêm ở Hán Trung phòng ngự quân Ngụy song Lý Nghiêm lấy cớ lương thực không đủ đã kháng lệnh, Gia Cát Lượng chỉ còn biết rút quân về phòng giữ. Song tướng Thục Ngụy Diên vẫn ở lại Dương hê hội chiến, đánh phá quân Hác Chiêu tan tác mà lão tướng Tào Chân cũng không may ngã bệnh từ trần, hai bên đều cùng lui quân.
            Năm thứ 9 Kiến Hưng, Gia Cát Lượng lại ra Kỳ Sơn. Để khắc phục khó khăn vận chuyển lương thực, Gia Cát Lượng phát minh ra trâu gỗ để vận chuyển. Do công năng của khí cụ mới còn hạn chế khiến vấn đề vận chuyển chưa tháo gỡ được, Gia Cát Lượng trong tình hình lương thực vận chuyển không đủ lại phải lui quân. Song trong cuộc rút binh lần này, Gia Cát Lượng dùng kỳ binh mai phục tại Kiếm Các giết được danh tướng Ngụy quốc là Trương Cáp rửa được mối nhục Nhai Đình, có thể kể là thu hoạch rất lớn trong cuộc Bắc phạt lần này.
            Năm thứ 12 Kiến Hưng, đang mùa xuân Gia Cát Lượng lại dẫn đại quân từ Tà Cốc đánh vào nước Ngụy. Ông lấy khí cụ mối phát minh là ngựa máy để đảm nhiệm việc vận chuyển, hiệụ quả cũng khá tốt. Không lâu quân Bắc phạt đánh chiếm quận Vũ Công của Ung Châu, để quân lính đóng ở vùng Ngũ Trượng, chuẩn bị một trận quyết chiến với quân Ngụy. Thống soái của quân Ngụy lần này là đại danh tướng Tư Mã Ý, ông ta cũng theo phương thức tác chiến thận trọng đóng trại ở Vị Nam với quân Thục đối trận. Quan Thục là đội quân viễn chinh, vấn đề lương thực rất khó giải quyết, thường là nguyên nhân chủ yếu của những cuộc rút lui. Để triệt để giải quyết vấn đề này, Gia Cát Lượng chia quân làm đồn điền, lệnh cho quân sĩ khai khẩn bên sông Vị Thủy, hợp tác chặt chẽ với dân địa phương, hiệu quả cũng khá tốt, song do việc trong doanh trại rất nhiều lại thêm Gia Cát Lượng dốc sức lo lắng đảm đang, không lâu, lao lực mà thành bệnh.
            Tư Mã Ý dò thám thấy tình hình, đề phòng Gia Cát Lượng lắm mưu mẹo bèn hạ lệnh phòng thủ nghiêm ngặt, lấy cầm giữ lâu dài mà tiêu hao lực lượng. Hơn nữa, ông ta được biết Gia Cát Lượng ăn ít, việc nhiều, đoán rằng chẳng thể ở lâu, bèn hạ lệnh mặc quân Thục khiêu chiến ra sao cũng làm ngơ, đợi Gia Cát Lượng bệnh tình xấu đi, quân Thục sẽ bị khó khăn. Quả nhiên, sau hơn một trăm ngày, Gia Cát Lượng bị thổ máu do bệnh dạ dày biến hoá, trung tuần tháng tám vì bệnh nặng mất ở doanh trại hưởng thọ năm tư tuổi. Quân Thục đành phải rút quân, Tư Mã Ý thấy doanh trại trống trải của quân Thục đã rút, quan sát cách sắp xếp doanh trại, phải cảm thán rằng: “Thực thiên hạ kỳ tài vậy”.
            Khi quân Thục rút lui, Tư Mã Ý nghe mang máng rằng Gia Cát Lượng đã mất bèn thân tự xuất binh truy kích, không ngò Gia Cát Lượng đã sớm lệnh cho Khương Duy, tạo ra một hình người gỗ, ăn vận quần áo giả làm Khổng Minh, đánh trống thúc quân phản kích lại. Bởi Gia Cát Lượng khéo dùng kỳ binh, Tư Mã Ý không dám cả quyết, bèn hạ lệnh rút quân về, quân Thục an toàn trở về nước, sau khi qua cửa Tà Cốc mới chính thức phát tang. Người đương thời vẫn nói rằng: “Gia Cát Lượng chết còn đuổi được Trọng Đạt sống”. Tư Mã Ý cũng chỉ tự mình bào chữa rằng: “Ta chỉ lo việc sống, chẳng lo việc chết vậy”.
            Sau khi Gia Cát Lượng từ trần, Khương Duy kế tục làm chủ soái quân Thục, cũng đã nhiều lần dẫn quân Thục Bắc phạt, song do thực lực trong nước không đủ mạnh, quy mô chiến dịch vẫn không khác gì với thời Gia Cát Lượng còn sống. Nước Thục bởi nhiều năm chinh chiến, quốc lực suy vong, cuối cùng bị nước Ngụy tiêu diệt.
 
9. Chủ nghĩa hoàn mỹ tích thắng lợi nhỏ chẳng thành đại sự.
            Tuy Gia Cát Lượng cao lớn khác người, song ông chẳng hề biết một chút võ nghệ. Văn nhân cầm quân, lại thường dấn thân ở tuyến đầu, thực đáng để kính phục. Thời đại Tam quốc nhiều danh tướng, song cùng dạng với Gia Cát Lượng, tại chiến trường chỉ “động khẩu bất động thủ”, có lẽ chỉ có Lục Tốn danh tướng Đông Ngô từng đánh bại Lưu Bị trong cuộc đông chinh ở Tỉ Qui.
            Vốn không xuất thân từ binh nghiệp, Gia Cát Lượng chẳng có kinh nghiệm tác chiến phong phú, đây cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến ông không có năng lực ứng biến linh hoạt ở chiến trường. Bởi vậy, những hành động quân sự của Gia Cát Lượng nặng về sự sắp đặt cẩn thận từ trước, có thể thấy rõ ở mấy lần đánh bại những danh tướng nước Ngụy như Tư Mã Ý, Tào Chân và Trương Cáp, thể hiện tài năng quân sự lỗi lạc của Gia Cát Lượng. Trần Bình lấy “kết quả luận”, phê bình ông không khéo tháo vát, để đến nỗí chinh chiến mãi không thành công, thật cũng không công bằng cho lắm!
            Chiến lược định ra sáng suốt, song trong vận dụng chiến thuật, Gia Cát Lượng lại quá đỗi cẩn thận. Ông tư lự chu tất, có nhiều điểm sáng tạo, hành động thường nặng về chủ nghĩa hoàn mỹ, điều đó đã có lần Ngụy Diên góp ý với ông, thiếu tinh thần quyết đoán để nắm những thời khắc then chốt, bởi vậy tuy thường tích thắng lợi nhỏ lại không thể tạo thành đại sự mỹ mãn.
            Tương phản với Gia Cát Lượng, Tào Tháo hành động lại quá liều lĩnh, lấy tùy cơ ứng biến để thực hiện chiến thuật, song lại thường bị đánh cho đại bại. Có thể nói, sự hăng hái kiên cường của Tào Tháo, những hành động mạnh mẽ, có thể tạo ra sự phát huy thực lực, đè bẹp được kẻ địch dữ tợn, cuối cùng tạo thành đại sự.
            Thiên tài quân sự ở hai con người đối chọi này trong lịch sử Trung Quốc. “Binh pháp Tôn Tử” đã có nghiên cứu và kiến giải độc đáo, song trong thực tế ứng dụng lại có những khác biệt tương đối lớn, vấn đề này thật vi diệu vô cùng, triết học quân sự có nhận xét khác nhau đáng để cho chúng ta nghiên cứu. Cuốn sách này cũng sẽ bàn sâu về vấn đề đó.
            Gia Cát Lượng rất nghiêm túc, tính tình kín đáo, chẳng giống như sự khoát đạt biến hoá của Tào Tháo. Song Gia Cát Lượng tâm tư tư lự, có nhiều tính sáng tạo, thích tự mình nghiên cứu phát minh. Ví như những lần Bắc phạt thứ ba thứ tư đã vận dụng những xe vận chuyển nhẹ gọi là trâu gỗ, ngựa máy, trong trận Kiếm Các, lại dùng nỏ liên châu bắn hai mươi mũi tên tự động cùng lúc giết được danh tướng Trương Cáp, đều xuất phát từ những thiết kế của ông.
            Cũng bởi luôn trực tiếp dấn mình vào mọi việc như thế, một áp lực lớn đè nặng lên thân thể và tinh thần Gia Cát Lượng dẫn đến những tổn hao nghiêm trọng cho sức khoẻ. Sử liệu chép rằng, phàm xét tội phạt từ hai mươi roi trở lên đều do ông trực tiếp phê duyệt. Ông vốn yêu mến tướng sĩ như thế, xử phạt tuy hơi nghiêm khắc song rất được chúng yêu quý. Lấy cá tính như thế xử lý mọi việc quân sự thường ngày thiên biến vạn hoá, trách chi tì vị của ông chịu không nổi. Khi đối trận ở Ngũ Trượng Nguyên, Tư Mã Ý biết rõ Gia Cát Lượng ăn uống ngày mỗi suy giảm lại nhiều phiền nhiễu, rõ ràng là trường kỳ tư lự dẫn đến bệnh tì vị nghiêm trọng, bèn phán đoán Gia Cát Lượng sẽ không lâu tạ thế, bởi vậy lợi dụng đánh cầm giữ lâu dài để làm chứng bệnh kia thêm trầm trọng, mới hay một đại sự binh pháp cũng không khắc phục nổi những nhược điểm tâm lý của mình!
 
0
10. Giữ mình thanh liêm, cách tân chánh sự ở đất Thục
            Giáo sư Lâm Điền, một chuyên gia Trung Quốc học của Nhật Bản trong cuốn “Một đời thăng hoa” đã có miêu tả về đời sống của Gia Cát Lượng, ví như đời sống một loài hoa là hoa anh đào, sự rực rỡ gắn với tàn tạ, bỗng khiến người đọc không khỏi xúc động. Ông chỉ ra rằng Gia Cát Lượng sinh phải thời loạn lạc, vất vả lam lũ, nếm trải nhiều cay đắng như mọi người bấy giờ chỉ bởi ôm ấp một hoài bão lớn, dấn thân vào con đường hành động, tạo dựng nên cái đẹp trong suốt. Có thể nói bởi một tấm lòng chân thành nhiệt tình như thế, ông đã trở thành một nhân vật chính trị thiên thu vạn đại vẫn khiến người ta hâm mộ và thương nhớ.
            Trần Thọ cũng cho rằng Gia Cát Lượng có một đời cống hiến rất lớn, thể hiện ở cách tân phong khí chính trị. Ông vốn thanh liêm cao khiết lại nghiêm túc có tác dụng lãnh đạo to lớn. Xã hội nước Thục lúc bấy giờ nhiễu loạn trì trệ, cần những tác động mạnh của điều lệ pháp luật, có thể di phong dịch tục, ông đã phát huy được vai trò tể tướng điều hành.
            Tầng lớp quan liêu thế gia ở Thành Đô lúc ấy, thích hưởng thụ lối sống kim tiền phù hoa, khiến xã hội băng hoại đến cực điểm - Gia Cát Lượng quyết tâm ngăn chặn, ông lấy mình làm gương, đặt ra điều luật để trói buộc. Trong “Giới tử thư”, quan niệm của ông rất rõ ràng khi nhắc nhở con cái trong nhà:
            “Ta làm theo đạo của kẻ quân tử, tu thân thanh tịnh, cần kiệm dưỡng đức, đạm bạc để nuôi chí, tĩnh lặng để nghĩ xa. Ta học lấy sự thanh tịnh, tài do học mà có, chẳng học chẳng rộng tài, chẳng có chí thì chẳng thành công, buông thả hại cho tinh thần, mạo hiểm khó thuần được tính”.
            Trong “Giới ngoại sanh thư”, ông lại nói rõ trí ở nơi cao viễn dứt bỏ những dục vọng tầm thường, nhẫn nại khi co duỗi.
            Trong tờ biểu gửi cho Lưu Thiện, Gia Cát Lượng công bố tài sản của mình:
            “Thần sớm theo tiên đế, một đời chỉ biết theo quan gia, tuyệt không vun vén gì cho bản thân, nay ở Thành Đô bãi dâu có 800 gốc, ruộng bãi có năm mươi khoảnh, con cái quần áo cũng tạm đủ dùng, đời sống của thần thường ở ngoài cõi xa ăn mặc hoàn toàn do quốc gia cung cấp; bởi vậy mà cũng chẳng có thu nhập riêng hoặc tích góp tài sản gì. Sở dĩ kiên trì như thế, chủ yếu là nghĩ đến ngày mà thần không còn nữa, không để trong nhà thì có lắm tiền, ngoài ấp có lắm trang trại, phụ lại sự trông gửi của bệ hạ”.
            Sau ngày Gia Cát Lượng từ trần, Lưu Thiện cho người đến xem xét phủ thừa tướng, quả đúng như vậy. Trong thư ông viết trả lời Lý Nghiêm:
            “Nay tôi tài sản tư dinh chẳng có nhiều, vợ con còn chưa đủ áo mặc”.
            Qua đó cho thấy gia cảnh thanh đạm của ông. Là một vị tể tướng chỉ dưới một người, trên cả vạn người, thanh liêm như thế trách chi chẳng để lại bao nhiêu hoài niệm.
            Gia Cát Lượng một đời chí công vô tư vì nước, tuyệt không có một chút riêng tư, thực đã khiến không ít những đại thần nước Thục chịu ảnh hưởng. Ví như Tưởng Uyển với con cái cũng rất nghiêm: “Thường nhắc nhở trong nhà nên ăn chay, mặc áo vải thô, ra ngoài không dùng xe ngựa”. Ấy là chịu ảnh hưởng của phong cách Gia Cát Lượng. Khương Duy là tổng chỉ huy quân đội, là người ở ngôi cao thượng tướng, có vị trí đáng kể với các quần thần, nhà cửa cũng rất giản đơn, thậm chí có chỗ xiêu đổ, trong nhà không có thiếp hầu, sau sân chẳng hề nghe thấy tiếng đàn hát”. Còn Đặng Chi là nhà ngoại giao xuất sắc cũng chịu ảnh hưởng phong cách của Gia Cát Lượng, sử sách có ghi ông ấy làm quan hơn 20 năm thưởng phạt nghiêm minh, gần gũi chu cấp cho binh sĩ có khó khăn, sinh hoạt thường cần kiệm không lo riêng tư, đến cả vợ con cũng không thoát cơ hàn, khi ông ta mất gia cảnh quá đỗi thanh bần.
            Qua đấy có thể thấy tấm gương thanh liêm của Gia Cát Lượng rất có ảnh hưởng đối với đương thời.


            11. Khai sáng dân tâm, ban bố điều luật, đề cao uy tín của quyền lực.
            Ví như kể về tài hoa cá nhân với năng lực dùng binh của Gia Cát Lượng, ít nhiều có sự bình giá khác nhau, song về tấm trung trinh và tài trị quốc của ông thì chưa hề có sự hoài nghi nào. Trần Thọ trong Tam quốc chí có bình phẩm như sau:
            “Gia Cát Lượng làm tướng quốc rất đỗi quan tâm đến đời sống trăm họ, lấy mình làm gương về luân lý, điều hành chánh sự. Ông thanh trừ quan lại tham nhũng, giảm bớt các khoản chi quốc gia không cần thiết, tăng thêm hiệu suất bộ máy hành chính khai sáng dân tâm, ban bố điều luật, xây dựng được niềm tin của dân chúng toàn quốc với quyền lực của vương triều”.
            “Người tận trung với nước hoặc tận trung với xã hội, tuy là ở phía đối địch với mình cũng đều đáng khen, kẻ phạm pháp lười nhác dẫu là chiến hữu của mình cũng phải xử phạt, tuyệt đối không thể bao che. Kẻ phạm lỗi mà biết hối cải tuy mắc trọng tội cũng có thể chiếu cố một chút, kẻ quanh co che giấu, tuy tội nhẹ cũng nên phạt thêm....
            Cuối cùng, khắp trong lãnh thổ đều kính trạng mà nể sợ, hình phạt tuy nghiêm khắc song dân gian không oán thán, lấy chánh tâm công bằng mà khuyên thiện trừ ác vậy; thực là người hiền tài đại độ trong điều hành chánh sự, có thể nói ví như Quản Trọng và Tiêu Hà cũng chẳng thể hơn”.
            Có một số sử học gia lấy việc Gia Cát Lượng ném mình vào công việc, lao lực quá độ, dẫn đến tổn hại sức khoẻ, phê bình Gia Cát Lượng chẳng khéo dùng người lại không tích cực bồi dưỡng nhân tài kế cận, kỳ thực đấy là những lời rất không công bằng vậy.
            Trái lại, Gia Cát Lượng với việc đề bạt nhân tài rất đỗi quan trọng trong “Cử thố thiên” có viết: “Xét về đạo trị quốc, cần chú trọng ở việc đề cử hiền tài”. Lại nói: “Đề cử hiền tài có thể đem lại sự yên định”. Bởi đề cử hiền tài gắn liền với trị quốc, Gia Cát Lượng đã cho xây một cái đài cao ở phía Nam Thành Đô, để tiếp đón kẻ sĩ bốn phương, thường xuyên lại thiết lập một cơ cấu gọi là “Tham thự” để thu thập đóng góp ý kiến xây dựng của dân chúng.
            Trong “Thị thính thiên” ông lại nêu rõ: “Đã là người cầm quyền phải biết lắng nghe, thu nạp tiếng nói phải của dân chúng, cùng những mưu kế của kẻ trí giả, mắt thấy đủ vạn vật, tai nghe khắp xa gần”. Trong “Xuất Sư Biểu” ông đã tiến cử với Lưu Thiện những người như Tưởng Uyển, Phí Vỹ, Đổng Doãn, Hứa Sưng đó đều là những nhân tài ưu tú. Ông cũng rất chú ý đến Khương Duy, Đặng Chi đều là những người chọn từ thực tế mà ra.
            Trong lời chú giải Tam quốc chí có dẫn lời Quách Ban trong “Thế ngữ” bàn về nhân tài trong thiên hạ, họ muốn đến nước Thục hơn là Ngụy, Ngô, vậy nên quan lại đất Thục phần đông là những người tài giỏi trong thiên hạ. Ví như Ngụy tướng Chung Hội sau khi đánh chiếm được nước Thục đối với tình cảnh nước Thục đã mất, dân tâm sĩ khí vẫn kiên quyết chống Ngụy cũng phải thực sự cảm động cho rằng Gia Cát Lượng rất giỏi giáo hoá dân chúng. Triệu Dực trong cuốn “Sử trát ký” có một đoạn luận thuật như sau: “Tào Tháo dùng người lấy quyền lực mà chế ngự, Lưu Bị thì lấy tính tình làm trọng còn Tôn Quyền thì lấy ý khí làm đầu. Lấy quyền thuật chế ngự thì trọng ở cái cốt yếu, lấy tính tình đê mà tụ họp thì trọng ở chữ chân thành, Gia Cát Lượng thì dùng người, trên tình thần vận dụng sở trường của cả ba nhà đó”.
            Đường Thái Tông cũng rất tôn sùng Gia Cát Lượng, như khi ông nói chuyện với Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối, công nhiên tán thưởng Gia Cát Lượng làm “đệ nhất thừa tướng” rất đỗi tán dương tinh thần “chí công vô tư” của ông ta. Ông cũng chỉ ra rằng, Gia Cát Lượng đã từng rất nghiêm khắc trừng phạt những quyền thần nước Thục như Lý Nghiêm và Liêu Lập song hai người này nghe tin Gia Cát Lượng mất đều khóc lóc thống thiết, Lý Nghiêm vì thế mà âu sầu đến chết. Đường Thái Tông cảm khái mà nói: “Nếu chẳng phải là bậc chí công thì sao có thể như vậy được”. Ông đã có những lời đánh giá cao nhất dành cho Gia Cát Lượng.
            Gia Cát Lượng quả là con người đúng với những lời tán thưởng của Đường Thái Tông như “đại công vô tư”, “cao vời và sáng rực”, điều này qua thư tín mà Gia Cát Lượng trả lời Lý Nghiêm cũng thấy rõ. Sau khi bình định được phương Nam, danh tiếng của Gia Cát Lượng ở nước Thục đạt đến đỉnh tối cao. Lý Nghiêm bèn viết thư khuyến khích ông: “Nên nhận lễ phong cửu Tích đổi tước hiệu và xưng vương”. Gia Cát Lượng chẳng những không nghe theo mà trả lời rất thẳng thắn rằng:
            “Tôi với túc hạ tương tri đã lâu há chẳng hiểu nhau ư... Tôi vốn là kẻ sĩ quê mùa ở phương Đông tiên đế lầm dùng được đặt ở vị trí cao sang hưởng lộc trọng, nay trừ giặc chưa mấy hiệu quả, biết rằng chưa đền đáp được bao nhiêu, mà được tôn sùng thái quá, cho ngồi ở những vị trí quan trọng hơn thực hổ thẹn vậy!”.
            Nếu so với Tào Tháo tự phong lễ cửu Tích xưng làm Ngụy Vương, Gia Cát Lượng quả thật khả ái và đáng kính hơn nhiều lắm!
 
0
12. Bát trận đồ - mê cung thiên cổ
            Trần Thọ trong Tam quốc chí có viết: “Gia Cát Lượng thường hay tư lự hao tổn bởi nỏ liên châu, trâu gỗ, ngựa máy đều là những ý nghĩ kỳ lạ; suy diễn binh pháp làm ra bát trận đồ thật là huyền bí vậy”.
            Có thể là những năm tuổi trẻ còn cầy bừa gặt hái, Gia Cát Lượng đã thích tự tay mình làm lụng, có năng lực sáng tạo phát minh, dẫn đến những phát minh mới sau này như việc cải tiến nỏ liên châu lợi hại, và chế ra trâu gỗ, ngựa máy để vận chuyển lương thực.
            Sách “Ngụy thị Xuân Thu” có ghi: “Gia Cát Lượng dùng nỏ liên châu để tập kích giết được danh tướng Trương Cáp, gọi nỏ ấy là “nguyên nhung”, lấy sắt làm tên, mỗi mũi tên dài 8 tấc, mỗi nỏ bắn ra 10 tên, thực là một vũ khí sát thương mãnh liệt”.
            Trâu gỗ, ngựa máy là công cụ vận chuyển ứng dụng phát minh mới bởi nước Thục không đủ ngựa thồ, đường núi lại rất hiểm trở, ngựa không dễ qua lại, bởi vậy Gia Cát Lượng dùng nhân lực vận chuyển để khắc phục khó khăn này. Trâu gỗ là loại xe bốn bánh, còn ngựa máy là loại xe hai bánh. Cứ như sử kiện ghi chép, ngựa máy là loại trâu gỗ cải tiến, dùng trong cuộc Bắc phạt thứ 4, hiệu quả khá tốt đẹp. Trâu gỗ, ngựa máy đều là những loại xe thích hợp với việc vận chuyển. Cuốn truyện “Vũ Hầu" của Trương Chú viết: Trong Thục có xe nhỏ một người đẩy tải được 8 thạch phía trước như đầu trâu, lại có xe lớn dùng bốn người đẩy tải được hàng chục thạch gọi là ngựa máy.
            Cũng có không ít người cho rằng xe một bánh đã có ỏ Thục trước thời Gia Cát Lượng, vậy nên trâu gỗ chỉ là công cụ cải tiến còn ngựa máy thì cải tiến từ trâu gỗ.
            Trong rất nhiều phát minh, “Bát trận đồ” khiến người đời sau còn cảm thấy rất chi thần kỳ. Cũng bởi sự tô vẽ của La Quán Trung, “Bát trận đồ” cũng như việc mượn gió đông, đều thuộc về pháp thuật siêu năng kỳ môn độn giáp.
            Đỗ Phủ, thánh thơ đời Đường đứng trước di chỉ bát trận đồ, có những câu thơ dâng tràn cảm xúc:
                        Công vạch thế chân vạc
                        Danh bầy bát trận đồ
                        Sống trôi đá thì đứng
                        Hận không bình được Ngô.
            Năm ấy, đánh nhau lớn ở Tỉ Qui, Lục Tốn đuổi theo Lưu Bị vào trong đất Thục, bị khốn bởi “trận Thạch Đầu” do Gia Cát Lượng dự liệu trước, lấy các khối đá xếp lẫn lộn thành từng đông dựa theo sự sắp xếp kỳ môn độn giáp, y theo 8 cửa Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tư, Kinh, Khai, vào mỗi giờ mỗi ngày biến hoá khôn lường, khá so với mươi vạn tinh binh. Đại quân Lục Tốn bị khốn ở trong trận, loanh quanh mãi sau nhờ có nhạc phụ của Gia Cát Lượng là Hoàng Thừa Ngạn giúp mới qua được. Đây đương nhiên là một tiểu thuyết gia không hiểu quân sự, nẩy sinh từ trí tưởng tượng ra những hư cấu nghệ thuật.
            Song, trong sự tích lịch sử “Bát trận đồ” tồn tại như một thực tế, vậy tác dụng của trận Thạch Đầu là như thế nào? “Bát trận đồ” là một di tích lịch sử ở huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên, nơi giao lưu sông Cù đường và sông Trường Giang, trước mắt thấy không còn nguyên trạng song “Thái bình hoàn vũ ký” có ghi rằng:
            Bát trận đồ chu vi 480 trượng do các khối đá bị vận chuyển tụ tập mà thành, cao 5 thước, như được xếp đặt xúm xít bốn phía giống như một bàn cờ, mùa hạ thì nước dâng cao phủ lấp cả, mùa đông lại lộ ra.
            Kỳ thực “Bát trận đồ’' không chỉ thiết lập xếp đặt ở đấy, có thể thấy ở Thiểm Tây, Hán Trung, dọc đường Gia Cát Lượng Bắc phạt đều có những di tích ấy, tác dụng của nó ở chỗ nào? Có phải như trong tiểu thuyết đã nói là lũy thành phòng ngự ư?
            Theo như “Gia Cát Lượng tập” ghi chép, bát trận đồ ứng tới 89 trận là Đông Dương, Trung Hoàn, Long Đằng, Điểu Phi, Hổ Dực, Triết Hàn, Liên Hoành, Ác Cơ, cứ theo tên gọi mà thấy bố cục trận doanh, mỗi bát trận đồ là một doanh trại nhỏ mà không phải là đầu não quân đoàn tác chiến, bởi vậy nó không giông với các trận như Trường Xà trận, Ngư Lân trận, Điểu Hành trận có tác dụng tác chiến, nó chỉ là nơi trận địa đóng quân mà thôi, là một hành doanh tiện cho việc tổ chức chỉ huy, mà không nặng ở tính công kích và phòng thủ.
            Một học giả đời Hán là Trịnh Huyền có viết: có bát trận thập trận của Tôn Vũ, Tôn Tẫn, Đậu Hiến khi chinh phạt Hung Nô cũng có lợi dụng bát trận.
            Có thể thấy bát trận đã được Gia Cát Lượng sử dụng chỉ là sự bổ sung thêm, làm thành phương pháp cơ bản trong hành quân và đóng trại.
            Lịch sử có khen ngợi việc đóng quân của Gia Cát Lượng, có doanh lũy, bếp giếng, nhà xí, rào tre, chòi canh gắn liền với nhau, rất thuận lợi. Ở gò Ngũ Trượng, Tư Mã Ý đã nhìn thấy doanh lũy và công sự của quân Thục còn lưu lại, phải thốt lên rằng: “Thật thiên hạ kỳ tài vậy". Có thể đây là quân danh “bát trận đồ” mà Gia Cát Lượng cải biến ra.
            Xem xét di tích Thạch Đầu của bát trận đồ, thấy đó là sa bàn mà Gia Cát Lượng luyện binh mà thôi, chẳng phải là Thạch Đầu trận có siêu năng kỳ môn độn giáp. Để có thể hiểu được tường tận “Bát trận đồ” chúng tôi sẽ xin trình bày trong phần sau, để bạn đọc có thể hiểu sự thực đầy đủ hơn.


            13. Đi tìm sự thực của lịch sử
            Người Trung Quốc là những người thích tô điểm, phần nhiều đam mê với tiểu thuyết chương hồi dạng võ đài tình tứ mà rất ít người thích tìm sự thực lịch sử.
            Tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc tuy có không ít giá trị nghệ thuật song đa số lại là những sáng tác của văn nhân thất ý, đề tài câu chuyện thường lấy nội dung giảng tích cũ của các thầy đồ giảng sách.
            Thực không may, những sách ấy chỉ là những ghi chép cửa miệng, lời lẽ dung dị, câu cú khoa trương để cảm động người ta, chỉ muốn bày tỏ những tình cảm chủ quan, không để ý đến thời gian, không gian, nhân tích và tính chất hợp lý.
            Đã có không ít văn nhân cổ đại một đời chưa đến chiến trường, lại nữa thuở đó chưa có các máy ghi hình ghi lại thực cảnh của chiến tranh. Do hạn chế không nắm chắc được thực tế chiến trường, những tác giả ấy vung bút vô vẽ, cũng miêu tả chiến tranh nên cho thấy nhiều nét ấu trĩ. Bởi sự tương tượng của họ, sự kiện lịch sử trở thành ba phần là thực, bốn phần khoa trương, ba phần suy diễn thêm.
            Những văn nhân ấy luôn theo quan điểm chính nghĩa biến nhân vật lịch sử thành ra người tốt và xấu kiểu võ đài. Song họ thiếu độc lập suy nghĩ thấu đáo nên những hình tượng nghệ thuật đưa ra không ít chỗ bất cập. Nhiều người đã quen hình dung theo những hình tượng nghệ thuật cũ, có rất ít người đi tìm sự thực để đính chính lại. Trong khi đó, những nhà viết lịch sử Âu, Mỹ, Nhật Bản đang cố gắng theo các góc độ tìm hiểu, chỉnh lý lại lịch sử của họ, bới tìm những tư liệu mới, xây dựng quan niệm mới, nhằm mục đích giảm cổ tri kim.
            Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, có sắc thái truyền kỳ lịch sử dân gian, nó xây dựng nhân vật lịch sử theo chủ quan tô vẽ làm mất đi tính khách quan, làm méo mó sự thực lịch sử, bôi đen tô hồng hoặc thần hoá nhân vật.
            Có một câu chuyện vui, một ông kia mê Tam quốc diễn nghĩa, ngày nọ uống rượu đã có phần lơ mơ cố cãi rằng trận Xích Bích, Tào quân có 100 vạn, bạn ông bảo chỉ có 60 vạn, hai bên cãi vã đang hăng, vì mê tam quốc trong lúc hứng bèn chạy ngay về nhà lấy cuốn Tam quốc diễn nghĩa yêu quý kia để chứng minh. Đang lúc rượu say lại thêm vội vàng không chú ý đạp chết thẳng cẳng đứa bé mới sinh cạnh giá sách, vợ ông ta vội la lớn rằng: “Thế là ông giết mất bé gái rồi”. Ông ta nghĩ đến đoạn Tam quốc kia gắt lên rằng: “Bốn mươi vạn đại quân của người ta còn bị nó xoá bỏ, một đứa bé gái thì đáng kể gì”.
            Tuy chỉ là một câu chuyện vui bịa đặt, song cũng được miêu tả khá chân thực; dưới chính sách ngu dân trường kỳ, người Trung Quốc chẳng có cách gì biện giải đâu là thật, đâu là giả.
            “Tam quổc diễn nghĩa”, “Thủy hử truyện”, “Kim bình mai”, “Tây du ký” được gọi là tứ đại kỳ thư của Trung Quôc song xét về giá trị nghệ thuật “Tam quốc diễn nghĩa” cũng có ba bản khá khác nhau. Thủy hử, Kim bình, Tây du, tuy cũng đề cập được một số nhân vật chân thực, song ở góc độ chủ quan cơ hồ đều từ sáng tạo mà ra khiến Tam Tạng Pháp Sư với Huyền Trang của thế giới thực hoàn toàn bất tương đồng, bởi thế không nói được nhân tính chân thực của họ Tam quốc diễn nghĩa có nhiều chỗ tương phản, tác giả cơ hồ đã vũ đài hoá nhân vật, giá trị nghệ thuật thấp, song đối với người Trung Quốc, nó lại càng có sức hấp dẫn hơn bởi phù hợp với tâm lý của họ.
            Lịch sử Trung Quốc tuy có phong phú song tương đối đơn điệu cơ hồ chỉ có chính sử “Quan phương thuyết Pháp”, tiểu thuyết của văn nhân thất ý, thiếu đi những giác độ đi tìm sự thực lịch sử. Thời Xuân Thu chiến quốc bách gia chinh binh với sự gianh đua của các môn phái, từng biểu hiện những góc nhìn khác nhau về thời đại, lịch sử sau đó được ghi chép cơ hồ chỉ có “Hắc Bạch” hai bên rõ ràng.
            Đành rằng sự thực của lịch sử cũng không phải là chân tướng dễ thấy, song nó có phần đúng vối nhân vật và hợp lý đôi chút. Có nhiều góc độ khác nhau, phương pháp khác nhau làm lộ ra sự thực lịch sử, để chúng ta có cơ hội tiếp cận với chân tướng của lịch sử, cũng nhờ đó chúng ta có thể hiểu quá khứ của Trung Quốc, để quan sát được rõ ràng hiện trạng Trung Quốc hiện tại, có thể từ những phát hiện ở đấy, giúp chúng ta tiến đến tương lai một cách hợp lý.
            Với quan điểm như vậy, bút giả không nghĩ mình tài sơ học thiển, dám bạo gan đổi mới giác độ để xem xét các nhân vật lịch sử quen biết, hy vọng rằng việc ném gạch này có thể dẫn lại được ngọc quý ngày mỗi nhiều, để các sử học gia dân gian mở rộng tầm nhìn, khiến sự thực lịch sử của nước ta được chỉnh lý tốt hơn, làm sự thực lịch sử năm nghìn năm xa vời có thể sống lại, cũng để cuộc đời của bút giả còn lưu một nét khắc bé nhỏ. Đây cũng là tấm lòng của bút giả, chẳng ngại tận tâm tư lự lầm lũi trải qua những đêm dài, nỗ lực tìm tòi bởi muốn sáng tác một chút gì đó để lưu cùng bút mực trăm năm.
 
0
QUYẾN THƯỢNG
NGỌA LONG XUẤT SƠN
 
LỜI GIÁO ĐẦU
                   Dòng trong dòng đục
                        Tây An loạn lạc không nhà
                        Sói hùm lắm trốn gần xa bạo tàn
                        Trung châu lạc bước lang thang
                        Chiếc thân giạt đến Kinh Man chẳng ngờ
                        Bà con như thể lặng tờ
                        Bạn bè như chửa bao giờ biết nhau
                        Ra đường nào biết về đâu
                        Quạ kêu xương trắng dãi dầu bình nguyên
                        Có người thiếu phụ đói mèm
                        Đem con đặt giữa cỏ mềm quay đi
                        Tai nghe trẻ khóc tỉ ti
                        Cũng đành gạt lệ mà đi cho rồi
                        Thân ta như cánh bèo trôi
                        Lấy chi an ủi kiếp người lao đao
                        Quất roi, cho ngựa phóng ào
                        Cho quên những tiếng rào rào bi ai
                        Bá Lăng dừng mé thành ngoài
                        Ngoảnh đầu nhìn lại xa vời Tràng An.
                        Với người gặp bước gian nan
                        Muốn quên chẳng được lại tràn thương tâm
                                                                        Thơ Vương Sán
 
            Gia Cát Lượng sinh năm thứ 4 Hán Ninh Đế Quang Hoà đời Đông Hán (năm 181 sau Công Nguyên), ba năm sau, Ninh Đế cải niên hiệu làm Trung Bình nguyên niên. Song cũng ở năm đó, đã nổ ra một cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân làm lung lay cả cơ đồ nhà Đông Hán. Trong Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Lưu Bị là người bán dép cỏ, gặp được Quan Vũ và Trương Phi ở Trác Quận, sau kết nghĩa ba anh em ở Vườn đào, triển khai việc sáng nghiệp lớn lao rất được lòng người.
            1. Vương triều tan lở
            Từ Quang Vũ đế nhà Đông Hán thay Vương Mãng lên ngôi vua đến Hán Hiến đế nhường ngôi cho Tào Phi, cả thảy là 150 năm, sử gọi đó là vương triều Hậu Hán. Thống kê lại có mười bốn vị hoàng đế, bình quân mỗi vị ở ngôi hơn 10 năm một chút, vương triều này các hoàng đế ở ngôi tương đối ngắn, bởi hoàng đế sớm mất thái tử tức vị tuổi còn nhỏ, hoàng hậu lên làm thái hậu mà tuổi vẫn còn trẻ, có ảnh hưởng rất lớn với chính trị, phụ thân, huynh đệ của thái hậu đều nhân cơ hội ấy mà nhảy lên làm đại quan, thế lực lớn, đấy là ngoại thích can dự vào chánh sự. Ngoại thích nhà Đông Hán, phần lớn là những nhà thế tộc ở Nam Dương, nối nhau đời đời, rất có thế lực, khiến ngoại thích trở thành những đại biểu đặc quyền hàng đầu trong triều đình.
            Hoàng đế đời thứ 3 nhà Đông Hán là Chương Đế vốn bị mất sớm, khi Hoà Đế lên ngôi thay cho vua vẫn còn ít tuổi, Đậu thái hậu nắm mọi quyền bính, người anh là đại tướng quân Đậu Hiến nắm đại quyền quân chánh. Họ Đậu đều ai nấy nắm những vị trí trọng yếu. Tiếp đến An Đế lên ngôi khi 13 tuổi, người anh của Đặng thái hậu là Đặng Chất, cơ hồ độc quyền thao túng triều đình. Sau khi An Đế mất, người anh của Diêm thái hậu là Diêm Hiển cũng lập tức trở thành ông vua thứ hai. Song, đáng kể phải nói đến Lương Ký vốn xưng là “Bạt Hỗ tướng quân”, ông là anh Lương hoàng hậu Thuận Đế, sau khi Thuận Đế mất, ông ấy nắm triều chính suốt 20 năm. Lương Ký dung mạo xấu xí, hiếu sắc và lộng hành, lại rất tinh khôn, vợ là Tôn Thọ thì rất diễm lệ mà tham lam, họ Lương hoành hành trong triều đình, bách quan đều nể sợ. Vôn trước đó Lương Ký đã ủng hộ việc lập Sung Đế mới hai tuổi lên ngôi vua, sau đó Sung Đế chết không biết nguyên nhân vì sao, ngôi báu lại chuyên đến Chất Đế mới tám tuổi.
            Sử sách ghi rằng: “Chất Đế ít tuổi mà thông minh” sớm có khí chất, ông bất mãn với sự chuyên quyền và hung bạo của Lương Ký, Bạt hỗ tướng quân bất hoà với Chất Đế. Lương Ký vẫn ngoan cố như cũ, ngầm cho người đầu độc sát hại Chất Đế, lập Hoàng Đế mới mười lăm tuổi lên ngôi, Lương Ký vẫn nắm đại quyền thao túng triều đình.
            Thời Hoàng Đế, họ Lương chẳng những chiếm lấy các chức quan cao và bổng lộc của triều đình, người nhà Lương Ký cũng lợi dụng hoành hành hung bạo. Bất luận trong triều ngoài nội, nếu có ai nói năng đụng chạm đến họ Lương đều gặp phải cảnh tan nhà nát cửa. Cho nên muôn làm quan ở triều, đều phải hối lộ họ Lương, xây dựng quan hệ thầy trò. Các quan chức địa phương muốn triều cống lễ vật lên thiên tử cũng phải qua tay Lương Ký, nghiễm nhiên đã thành “Thái thượng hoàng”. Tôn Thọ, người vợ xinh đẹp của họ Lương, quần áo trang sức đều mô phỏng nghi thức của công chúa, tỏ ra công nhiên lộng hành. Một cửa Lương Ký thụ phong liệt hầu bảy người, ba người làm bà hoàng, sáu người làm quý nhân, hai người làm đại tướng, khiến cho quyền thế ngoại thích tại triều đình được đề cao đến mức chưa từng thấy.
            Nói về sự can dự triều chánh của ngoại thích, duy nhất khả dĩ ăn chia với họ là bọn hoạn quan. Hoàng đế nhỏ tuổi mới lên ngôi, tất cả mọi việc lớn đều ở mẫu hậu, ngoại thích nhân đó mà nắm đại quyền. Song sau khi hoàng đê dần dần lớn lên, những ngoại thích nắm quyền ấy nẩy sinh những mâu thuẫn trực tiếp vối hoàng đế. Bởi muốn đoạt quyền không chỉ dựa vào một người mà ngoại thích lại là số đông, hoàng đế tự nhiên phải nỗ lực kết hợp các lực lượng trong cung, những người ấy vẫn ở bên hoàng đế lâu ngàv, để giúp ông ta tiến hành kế hoạch đoạt quyền thường là những hoạn quan.
            Hoạn quan vốn là những người đàn ông ở trong cung đình phục vụ hoàng đế và hậu phi, bởi ở hậu cung ngoài hoàng đế ra, cái thế giới ấy chẳng thể có người đàn ông khác, cho nên những hoạn quan này ắt phải cắt sinh thực khí nam tính trở thành người trung tính gọi là “khứ thế'’.
            Nói chung chịu “khứ thế” để làm hoạn quan phần đông là con cái những người lao khổ. Song để có thể vào cung, ắt phải mi thanh mục tú diện mạo ưa nhìn. Ngoại diện của họ phần lớn khiến hoàng đế có thiện cảm, mà thành ra gần gũi, lại thêm họ xuất thân ti tiện không dám vượt mặt quyền uy của hoàng đế bởi vậy rất dễ được hoàng đế tín nhiệm.
            Do hoàng đế thường ngày truyền lệnh hoặc thảo văn thư, đều nhờ hoạn quan, khiến hoạn quan có cơ hội thâm nhập vào công việc chính trị. Họ đa phần thuận theo hoàng đế trẻ tuổi, cũng đau đớn với việc ngoại thích chuyên quyền hung bạo. Với lập trường như vậy, họ tự nhiên kết hợp với quan lại cấp dưới bị ngoại thích bài xích, đại biểu cho tầng lớp sĩ tộc được hình thành dần dần trong triều, cùng ủng hộ hoàng đế trẻ tuổi đấu tranh đoạt quyền của ngoại thích.


            2. Ngoại thích, hoạn quan, luân phiên đoạt quyền chém giết lẫn nhau
            Cuộc đấu tranh lần thứ nhất vào năm thứ 4 Vĩnh Nguyên đời Hoà Đế, ngoại thích có thanh thế hiển hách, hơn nữa trong cuộc chinh phạt Hung Nô lập được công lớn, đó là đại tướng quân Đậu Hiến. Hoà Đế kết hợp với hoạn quan Trịnh Chúng, lấy quân cấm vệ phát động chánh biến cung đình, bao vây phủ đại tướng, Đậu Hiến bị bức phải tự sát, tất cả họ Đậu đều bị bãi truất. Trịnh Chúng được thăng chức quan cao là Đại trường thu, bắt đầu thời kỳ hoạn quan trực tiếp can dự việc triều chính. Sách “Hậu Hán thư” chép rằng: “Hoạn quan rất được trọng dụng bắt đầu từ Trịnh Chúng”.
            Lần thứ 2, phát sinh ở thời kỳ An Đế, lợi dụng cơ hội Trịnh thái hậu từ trần, nhũ mẫu Vương Thánh của An Đế, liên hợp với hoạn quan Lý Nhuận, Giang Kinh phát động võ trang làm chánh biến, tiêu diệt đại tướng quân Đặng Chất và cả họ.
            Bốn năm sau An Đế từ trần, Diêm hoàng hậu kết hợp với người anh Diêm Hiển, lập Bắc hương hầu làm hoàng đế, bắt giết cả các hoạn quan. Đây cũng là bắt đầu sự phản kích mãnh liệt, uy hiếp lại các hoạn quan vốn có một lực lượng không nhỏ bên cạnh hoàng đế. Sau đó mấy năm Bắc hương hầu lại từ trần, Tôn Trình đứng đầu tập đoàn hoạn quan, phối hợp với tầng lớp quan lại thấp lập ra Thuận Đế lúc ấy mười một tuổi, dùng cấm vệ quân phản kích, giết Diêm Hiển cùng gia tộc, mười chín vị lãnh tụ hoạn quan có công làm chánh biến, đều được phong quan tước cao.
            Năm thứ 4 Dương Gia đời Thuận Đế (là năm 135 sau Công Nguyên), ban bố quy định tước vị của hoạn quan có thể được truyền tử cho con nuôi cũng được hưởng thừa kế gia sản. Kể như Tào Tháo nổi trội ở đầu thời Tam Quốc, phụ thân là Tào Tung vốn là dưỡng tử của hoạn quan Tào Đằng.
            Ngoại thích và hoạn quan luân phiên nhau tranh giành quyền bính, khiến không ngừng xảy ra tranh đoạt, chém giết, chánh biến đổ máu, song hai thực lực này qua đó cũng trưởng thành hơn. Đặc biệt là phái hoạn quan càng phong quan tiến tước chủ trì triều chính, tranh đoạt với người khác, trở thành một tầng lớp gồm Sĩ đại phu và các quan lại cấp thấp.
            Thời Thuận Đế đương triều lực lượng của hoạn quan đã bành trướng rất lớn, cho đến năm thứ 3 Hán An, Thuận Đế từ trần sau khi ở ngôi được 19 năm. Sung Đế lên ngôi mới hai tuổi, được Lương thái hậu và người anh là Lương Ký lập ra, lại xảy ra thanh trừng các hoạn quan nắm thực quyền, khiến thế lực ngoại thích nắm quyền lại trở thành rất mạnh.
            Không lâu, Sung Đế từ trần, Chất Đế mới tám tuổi lại được đặt lên ngôi; Chất Đế trưởng thành lên, tuy tuổi trẻ nhưng rất quan tâm đến việc triều chính, có ý định tập hợp các hoạn quan bên cạnh đợi thời mà hành động.
            Quan hệ vua tôi trong triều trở nên căng thẳng, Lương Ký phải sớm hành động trước, hạ độc Chất Đế, lại lập ra Hoàn Đế mới mười lăm tuổi. Song lần này được sự trợ giúp của Tào Đằng, thuộc lãnh tụ phái hoạn quan ôn hoà mà không xảy ra tranh giành lưu huyết, Lương Ký tiếp thu đề nghị của Tào Đằng, cùng lập ra Hoàn đế.
            Trong thời gian 20 năm, Lương Ký cơ hồ một mình thao túng triều chánh, chẳng có ai dám đối kháng với ông ta. Tháng bảy năm thứ hai Diên Hy, Lương thái hậu từ trần, Hoàn đế lập tức cùng với hoạn quan Đan Siêu đồng mưu, phát động chánh biến võ trang, Lương Ký bị bức phải tự sát, cả gia tộc họ Lương đều bị tàn sát và lưu đầy. Từ đó về sau lực lượng hoạn quan dần dần lấn lướt ngoại thích, một mình lộng hành ở triều chánh suốt 30 năm (từ năm 159 đến 189) năm Vĩnh Khang nguyên niên Hoàn Đế từ trần, Ninh Đế mới 12 tuổi lên ngôi, Đậu Vũ là anh của Đậu Thái hậu kết hợp Thái phó Trần Phiên, âm mưu trừ diệt hoạn quan cơ sự bị bại lộ mà hai bên đều bị hại, lại xảy ra tấm bi kịch của những phần tử trí thức - "Cái họa bè đảng lần thứ hai”. Trong thời kỳ Ninh Đê ở ngôi quyền lực của hoạn quan cũng đạt đến đỉnh tối cao, lại trở thành kẻ địch của những phần tử tri thức quan tâm quốc sự.
            Năm thứ sáu Trung Bình, là năm 189 sau Công Nguyên, Ninh Đế từ trần, Thiếu Đế mối 14 tuổi lên ngôi, Hà thái hậu nắm chánh sự, người anh của thái hậu là đại tướng quân Hà Tiến ngầm mưu liên kết với quân Tây Lương do Đổng Trác cầm đầu, trừ diệt hoạn quan, song âm mưu bị tiết lộ, Hà Tiến bị dụ vào cung rồi bị giết, quan tư lệ hiệu úy Viên Thiệu nhân thời cơ dẫn quân đánh vào cấm cung trừ sạch hoạn quan, sử sách gọi là “sự biến nội cung đời Trung Bình”. Trải suốt mười năm tranh giành quyền lợi giữa ngoại thích và hoạn quan đến đây hai bên đều bị tổn thương lốn dẫn đến đại loạn quân phiệt cát cứ, vương triều đại Hán cũng bởi thế mà diệt vong.
 
0
3. Bi kịch của phần tử tri thức: cấm ngặt bè đảng.
            Trong khi ngoại thích và hoạn quan luân phiên nhau đoạt quyền, đến cuối đời Đông Hán, những phần tử tri thức tận trung báo quốc, cũng bị cuốn vào vòng xoáy tranh quyền khiến cho tình hình lại càng phức tạp.
            Giai tầng sĩ đại phu của Đông Hán vốn dĩ lấy Khổng luận làm cơ sở (chỉ nhân cách kẻ sĩ), họ được các trưởng quan địa phương tiến cử với triều đình. Danh mục tiến cử gồm có “Hiền Lương”, “Phượng Chánh”, “Mậu Tài”, kể từ Hán Quang Vũ đế, người khai sáng vương triều Đông Hán đã coi trọng khí tiết kẻ sĩ, bởi vậy ông ấy lấy học thuyết nho gia làm cơ sở, “Đức Hành” là điều kiện hàng đầu của kẻ làm quan.
            Bởi sự tranh quyền giữa ngoại thích và hoạn quan ngày mỗi kịch liệt thành ra lôi kéo nhân mã, họ đều muốn độc chiếm nhân tài để tăng thanh thế cho mình, khiến các phần tử tri thức càng bị lâm vào ngõ cụt, bởi vậy tạo thành ý thức chống đối phổ biến của tầng lớp kẻ sĩ với ngoại thích và hoạn quan.
            Chế độ suy tiến người tài cũng khiến cho tầng lớp sĩ đại phu trở thành những người giỏi nghị luận chính trị và có tài phê bình. Những phần tử tri thức bất khuất ấy gọi sự phê bình của họ là “Thanh nghị”. Còn một số a dua với ngoại thích và hoạn quan theo đuổi quyền lợi gọi là “Trọc lưu”. Đối lại là những phần tử tri thức nho học chân chính “Thanh lưu”. Có lúc, học sinh ở Lạc Dương và các nơi, đến hơn 2000 người tràn vào kinh thành, tôn Quách Thái và Giả Bưu làm thủ lĩnh, nghiêm khắc phê bình sự lộng hành triều chính của bọn hoạn quan.
            Trong triều đình, trái lại những bậc quan cao của phái hoạn quan như Lý Ưng, Trần Phiên, Vương Sướng lại thành ra lãnh tụ của phái Thanh lưu rất được ủng hộ, trong đám học sinh vẫn lưu truyền câu nói: “Khuôn mẫu thiên hạ là “Lý Nguyên Lễ (Lý Hưng)”, chẳng sợ cường quyền là Trần Trọng Cử (Trần Phiên), tuấn kiệt thiên hạ là “Vương Thúc Mậu” (Vương Sướng).
            Lý Ưng “Khuôn mẫu thiên hạ” đương thời làm quan Tư lệnh úy (cai quản cấm vệ ở kinh đô), khi làm trưởng quan, công chính nghiêm minh, rất nổi tiếng, phàm những người được gặp Lý Ưng đều có địa vị rất cao ở “Thanh lưu”, cũng có rất nhiều đệ tử theo học ông, bởi vậy người đương thời đều gọi là “Đăng long môn” (Cửa rồng). Trần Phiên làm quan Thái úy (đứng đầu về quân sự) Vương Sướng từng làm Tư không (làm giám sát), họ đều ở trong triều, là lực lượng rất quan trọng đối trọng với phái hoạn quan tham chánh bấy giờ.
            Cuối đời Hoàn Đế, người đứng đầu Trung thường thị trong cung (nhóm hầu cận cạnh vua), có người em trai là Trương Sóc, giữ chức huyện trưởng huyện Mỗ trực thuộc kinh thành, ỷ thế người anh, tác oai tác quái tham dục vô đạo. Nghe nói hắn vì muốn xem thai nhi trong bụng người phụ nữ có chửa, đã mổ bụng người phụ nữ đó. Lý Ưng lấy trách nhiệm sở tại hạ lệnh truy bắt Trương Sóc, Trương Sóc chạy đến trốn trong biệt thự của anh là Trương Nhượng. Bởi Lý Ưng tìm bắt rất dữ, Trương Nhượng phải giấu Trương Sóc trong nhà kín. Song Lý Ưng sau khi thu được tin tình báo đích xác, đã tự dẫn quân xông vào nhà Trương Nhượng, phá ván ngăn bắt được Trương Sóc, y pháp xử tội chết.
            Trương Nhượng lập tức cầu xin Hoàn Đế đặc xá, Hoàn Đế cho vời Lý Ưng trao đổi lại, song trước áp lực lớn của Hoàn Đế, Lý Ưng vẫn cự tuyệt việc xá tội cho Trương Sóc, vẫn xử chém theo hình phạt. Trương Nhượng rất bực bội trước việc ấy mà Hoàn Đế cũng chẳng ra mặt. Song các Thái học sinh tụ tập ở kinh thành, lại rất cao hứng cho rằng đây là thắng lợi lớn chưa từng có của phái “Thanh lưu”, bởi vậy khắp nơi tán thưởng, cùng ăn mừng, khiến cho quan hệ giữa hai bên lại càng căng thẳng.
            Quả nhiên năm thứ 9 Diêm Hy đời Hoàn Đế (năm 166 sau Công Nguyên), hoạn quan Giáo Thành của Phái Trương Nhượng dâng thư lên Hoàn Đế, chỉ trách Lý Ưng xúi giục Thái học sinh, âm mưu kết đảng phỉ báng triều đình, phá hoại phong tục. Hoàn Đế hạ lệnh trị tội Lý Ưng, khi lệnh đến phủ Tam Công thái uý Trần Phiên rất phản đối thậm chí trả lại thánh chỉ của Hoàn Đế, song Hoàn Đế vẫn không nghĩ đến thể chế quốc gia trực tiếp hạ lệnh cho cấm vệ bắt Lý Ưng cùng hơn hai trăm người theo phái “Thanh lưu”, sách sử gọi là “tai họa cấm đảng lần thứ nhất”. Những người theo phái Thanh lưu bị bắt lần này đa số bị phán giam cầm chung thân song nửa năm sau đa số chỉ bị triệt miễn chức quan và được thả cả, hiển nhiên thấy rõ phái Thanh lưu vẫn có thực lực khiến triều đình e ngại. Đáng chú ý, phái Thanh lưu trong hành động bắt bớ này chẳng những không có ai chạy trốn, lại không có ít người tự nhận là người trong đảng, hơn nữa lại rất cao hứng cùng chịu án với Lý Ưng. Danh tiếng của Lý Ưng cũng bởi sự kiện này lại càng lan toả hơn.
            Quách Thái là một lãnh tụ rất nổi tiếng, tên chữ là Lâm Tông người huyện Giới Hưu, quận Thái Nguyên. Tuổi nhỏ cảnh nhà bần hàn song vẫn một mực theo học danh sư Bá Ngạn suốt 3 năm, tinh thông các sách cổ kim, lại học được tài ăn nói, khi Quách Thái lần đầu đến bái yết Lý Ưng, Lý Ưng rất cảm mến nhân phẩm của Quách Thái, khiến Quách Thái rất nhanh chóng trở thành nhân vật lãnh đạo Thái học sinh trong phái Thanh lưu. Khi xảy ra chuyện Trương Sóc, Quách Thái rất hăng hái càng thêm thân thiết với Lý Ưng, đến mức rất tuyên dương việc làm này của Lý Ưng, tư đồ Hoàng Quỳnh từng khuyến khích Quách Thái ra làm quan song cũng nói: “Tôi đêm xem thiên tướng, xét nhân sự khí tượng băng hoại, chẳng nên chèo chống mà làm gì”. Câu nói này lập tức trở thành danh ngôn của phái Thanh lưu, Quách Thái khi lữ hành qua Trần Lương, đội một chiếc khăn xếp, và mau chóng kiểu đó được lưu hành, các phần tử tri thức đều tranh nhau mô phỏng, gọi đó là “khăn xếp Lâm Tông” khiến cho danh tiếng cá nhân Quách Thái lại càng thêm cao. Thái độ cứng rắn của Lý Ưng cũng làm cho thanh thế của “Thanh lưu” càng thêm tăng, đương thời đã được gọi là thiên hạ danh sĩ, gồm có những nhóm “Tam quân”, “Bát tuấn”, “Bát cổ”, “Bát cập”, Lý Ưng được tôn làm người đứng đầu của Bát tuấn, còn Quách Thái thì nổi tiếng trong phái Bát cổ.


            4. Bi kịch đã qua, ý thức đổi mới của giới học thuật.
            Một năm sau “tai họa bè đảng” lần thứ nhất, Hoàn Đế từ trần, Lưu Hoành mới 12 tuổi lên kế vị gọi là Ninh Đế, cải niên hiệu là Kiến Ninh. Ninh Đế còn quá nhỏ, phái hoạn quan nhân cơ hội đó lại hoành hành bá đạo. Những phần tử tri thức phái “Thanh lưu” lại tranh đấu ác liệt với phái hoạn quan, cuối cùng sự việc lại càng nghiêm trọng.
            Một danh sĩ của phái “Thanh lưu”, Trương Kiệm đứng đầu nhóm Bát cập, lúc đó đang làm quan tuần sát ở quận Sơn Dương. Trong quận có người nhà của quan Trương Thị Hầu Lãm, thường ỷ thế khinh thường người hoặc ngược đãi quá đáng - Trương Kiệm sau khi sưu tầm sự thực tội lỗi của người nhà Hầu Lãm, lập tức dâng thư lên Ninh Đế xem xét. Song tờ tấu lại bị hoạn quan ỉm đi, gửi cho Hầu Lãm, Hầu Lãm bởi vậy rất căm giận Trương Kiệm, bèn ngầm mưu với Quan trưởng Trung Thường Thi, muốn cùng với phái “Thanh lưu” quyết một trận sống mái.
            Cuối đời Hoàn Đế, có việc phế bỏ hoàng hậu họ Đặng, do đề nghị của Trần Phiên, đưa Đậu quý phi xuất thân thế tộc làm hoàng hậu. Bởi vậy sau khi Ninh Đế lên ngôi, người anh của Đậu thái hậu là Đậu Vũ với Trần Phiên của phái Thanh lưu có quan hệ rất thắm thiết, đây cũng là sau gần 100 năm giữa phái Thanh lưu và hào tộc ngoại thích, lần đầu có sự kết hợp. Thời xảy ra tai họa lần thứ nhất, Trần Phiên toàn tâm ủng hộ phái ấy, Đậu Vũ và Trần Phiên đứng cùng một trận tuyến đối đầu với hoạn quan, cố gắng thuyết phục Hoàn Đế, để nhóm Lý Ưng được xuất ngục phục chức, giữ được ảnh hưởng tốt của “Thanh lưu phái” với triều chánh. Đây cũng là sự thay đổi của ngoại thích, kết hợp với phần tử tri thức, bắt đầu cùng với nhau chống lại hoạn quan.
            Lợi dụng quyền lực chính trị trống vắng khi Hoàn Đế từ trần, Đậu Vũ và Trần Phiên kết hợp những người trong phái Thanh lưu ngầm mưu phát động chánh biến võ trang để thanh trừ hoạn quan. Trần Phiên chủ trương lợi dụng khi toàn thể hoạn quan đến cung đình mừng thọ thái hậu, để bức bách hoạn quan phải chuyển giao đại quyền, không may do việc ấy bị hoàng đế trẻ tuổi vô ý tiết lộ với Tào Tiết, một hoạn quan ở trong cung, nên hoạn quan bèn ra tay trước, lấy cấm vệ quân đàn áp, dẹp được quân của Trần Phiên và Đậu Vũ, tăng cường bắt bớ, sát hại, lại phát sinh tai họa bè đảng lần thứ hai.
            Lợi dụng sự kiện Trần Phiên và Đậu Vũ, Hầu Lãm và Tào Tiết cũng nhân cơ hội đó vu cáo Trương Kiệm đã tham dự việc chánh biến, Ninh Đế hạ lệnh, bắt tất cả những người theo phái Thanh lưu, khép vào tội phản nghịch mà trừ đi.
            Lúc Trương Kiệm bị bắt, Lý Ưng đang lữ du ở xa, có người nhà vội báo cho ông rõ, khuyên ông hãy lập tức trốn đi. Song Lý Ưng cho rằng mình đã ngoài 60 tuổi, quốc gia hữu nạn, sao có thể lánh đi, huống như “sinh tử có mệnh, chẳng thể làm khác”. Bèn chủ động nhận án, bị tra khảo nặng nề, bất khuất chịu chết. Tai họa bè đảng lần này có đến hơn trăm danh sĩ phái Thanh lưu bị giết, những nhà nho học nổi danh thiên hạ, tuy không tham dự sự kiện ấy song bị vu cáo hãm hại cũng đến 600 người, làm chấn động trong triều ngoài nội, tiếng ác của hoạn quan càng lan toả, trở thành đối tượng căm giận của những nhân sĩ trong toàn quốc.
            Phạm Bàng là người đứng đầu nhóm “Bát cổ”, sau khi triều đình truy bắt những người bè đảng, tự động gặp tri huyện chịu án, song tri huyện Quách Ấp vốn quý mên Phạm Bàng có ý che dấu.
            Phạm Bàng khảng khái nói: “Tôi có chết, thì mọi hoạn nạn mới chấm dứt, tôi trốn thì lụy đến cả nhà, hơn nữa mẹ già cũng phải trăm bề khốn đốn nữa!”
            Tuy Quách Ấp vẫn có ý muốn cứu, song lão mẫu của Phạm Bàng cũng đến mà bảo rằng: “Lý Ưng và Đỗ Mật đều biết đã cùng đường, con ta sao nỡ một mình trốn tránh? - Như vậy thì một đời còn được giá trị gì?”.
            Người nghe đều không cầm được nước mắt, Phạm Bàng lâm nạn khi mới 33 tuổi.
            Sau tai họa bè đảng lần thứ 2, những người phái Thanh lưu còn sót lại, phải lánh mình trong rừng rú, họ không xuất đầu lộ diện, mà lấy giữ mình làm trọng, tu dưỡng tính tình làm kẻ ẩn sĩ, cuối đời Đông Hán thấy không ít những người ở ẩn như vậy, họ nhận được sự kính trọng của dân gian.
            Chuyện Viên Hoành trong “Hậu Hán thư” có ghi, Viên Hoành là một người theo bè đảng Thanh lưu, có tiếng tăm, gặp tai họa bè đảng, ẩn cư ở làng xóm, được sự che chở của địa phương suốt 18 năm, khi Hoàng Cân khởi nghĩa, bởi biểu thị sự tôn trọng với Viên Hoành, làng xóm mà ông ta ẩn cư chưa từng bị quấy nhiễu.
            Chuyện ẩn sĩ trong “Hậu Hán thư” có ghi, Bàng Đức Công là một ẩn sĩ cư trú ở Hiện Sơn, gần miền Tương Dương Kinh Châu. Nghe nói thứ sử Kinh Châu là Lưu Biểu từng nhiều lần mời ông ta ra làm việc, song đều bị thoái thác. Bàng Đức Công được Gia Cát Lượng rất kính trọng. Tư Mã Huy là bạn vong niên của Gia Cát Lượng, ông thường được gọi là “Thủy kính tiên sinh", cũng là người có quan hệ với Bàng Đức Công. Tư Mã Huy giỏi quan sát nhân phẩm và khí chất, danh hiệu “Thủy kính tiên sinh” từ đó mà ra. Theo sử liệu hiện có Gia Cát Lượng từng đến học Bàng Đức Công và Tư Mã Huy, chịu ảnh hưởng sâu sắc về suy nghĩ và cử chỉ của họ. Dựa vào niên kỷ của Gia Cát Lượng, thấy ông không tham gia vào cuộc đấu tranh kịch liệt giữa “Thanh lưu” và “Trọc lưu”, song ông cũng có tinh thần và tiết tháo của những phần tử tri thức phái “Thanh lưu” điều này không phải hoài nghi. Gia Cát Lượng lúc tuổi trẻ thích đọc Lương Phụ Ngâm, cũng thấy rõ ông tuy chưa làm quan song đối với thời cục và tình thế chính trị vẫn ôm ấp một sự quan tâm và một sứ mệnh lớn lao.
            Điều này khả dĩ giải thích tâm nguyện của Gia Cát Lượng một đời kiên trì “khôi phục nhà Hán”, “Xuất Sư Biểu” đã mở đầu bằng câu: “Hán tặc không ít kẻ”. Tuy đã có nhiều chứng cứ rõ ràng, Xuất Sư Biểu chẳng phải do chính Gia Cát Lượng viết ra mà do ngươi cháu ở Đông Ngô,, là đại tướng Gia Cát Khác viết ra, song có thể thấy ở đó ngôn hành thái độ thường ngày của Gia Cát Lượng, phù hợp với sự thể lúc đó. Thực ra tính hợp pháp của vương triều Đông Hán, trải qua khởi nghĩa Hoàng Cân và loạn Đổng Trác tiếp đó đã sớm bị phá sản. Song những phần tử tri thức từng đấu tranh dẫn đến bi kịch nghiêm trọng, vẫn giữ quan niệm phái “Thanh lưu” của họ, có thể nói là rất cố chấp. Với hình thái ý thức này đeo đẳng, họ gắng gỏi thực hiện suốt một đời. Gia Cát Lượng tuy là một nhà chiến lược thực tế, song vẫn không nghĩ đúng về bản thân thực lực, thời vận, thực hiện cuộc chiến tranh Bắc phạt chống Tào Ngụy, cuối cùng dần đến “Kỳ Sơn giữa trận từ trần, khách anh hùng để tần ngần lệ rơi”, để lại một bi kịch cá nhân, đấy là ảnh hưỏng của phái Thanh lưu, vẫn còn hướng về nhà Đông Hán.
            Sau tai họa bè đảng lần thứ 2, Ninh Đế tuổi còn nhỏ, bị phái hoạn quan thao túng, triều chính Đông Hán suy vong đến cực điểm.
            Ninh Đế đầu óc không sáng suốt, thường rất thích những thứ xa hoa. Năm Quang Hoà nguyên niên, ông hạ lệnh xây ở phía tây Ly Cung một cung thất mỹ lệ. Do dự toán không đủ, Ninh Đế phải nghe theo hoạn quan, công khai bán quan tước, tước quan 400 thạch giá 400 vạn đồng, tước quan 2000 thạch thì giá 2000 vạn đồng. Việc làm này đã vơ vét được không ít vàng bạc. Ninh Đế suốt ngày ở Ly Cung, chăm chút mấy con chó cảnh, lại phong cho quan chức cao, cùng chơi đùa vui vẻ. Quan lại triều đình cũng tranh nhau phong theo, thân phận của chó một thời có giá cao hơn con người nhiều lần. Tình thế chính trị như thế nếu không dẫn đến đại loạn nghiêm trọng có thể xem là chuyện lạ.
            Gia Cát Lượng sinh vào năm thứ 4 Quang Hoà đời Ninh Đế nhà Đông Hán, khi mới bốn tuổi, khởi nghĩa Hoàng Cân lan tràn khắp nửa phần Trung Quốc. Hán Ninh Đế tuy đã ân xá cho những người theo phái Thanh lưu, hiệu triệu khắp toàn quốc, những ai có ý chí cùng hợp sức để trấn áp, song thời cục đã chuyển hoá nghiêm trọng đến mức chẳng thể cứu vãn.
 
0
THIÊN THỨ NHẤT
KHỔNG MINH XUẤT SƠN
 
                        Tề thành bên cửa dừng chân
                        Trông vời có phải Đãng Âm phía này
                        Phải rằng ba mộ còn đây
                        Rưng rưng chợt hiện chuyện ngày xa xưa
                        Hỏi quanh:
                                    - Ai đó bấy giờ?
                                    - Điền Cương, Cổ Dã sức dư muôn người!
                        Nam sơn đủ sức chuyển dời
                        Ngờ đâu tuyệt địa, ngậm ngùi tài trai.
                        Giữa triều quỉ kế đặt bày,
                        Hai đào, ba mạng sự này lạ sao!
                        Hỏi ai bầy vẽ mưu sâu?
                                    - Án Anh Tướng quốc đứng đầu Tề quan
                                                                        “Lương Phụ Ngâm”
 
Chương I
TUỔI THƠ LOẠN LẠC 
 
            Chiến tranh liên miên, ruộng đồng hoang phế.
            Nhân dân cửa nhà tan tác, nông thôn chịu cảnh phá sản, dân lành trăm họ bị đẩy đến chỗ tuốt kiếm đứng dậy.
            Tình huống nhiều bi thảm đó, đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan của Gia Cát Lượng.
            1. Tức nước vỡ bờ, nông dân khởi nghĩa
            Trong thời gian gần trăm năm cuối đời Đông Hán, ngoại thích và hoạn quan trong triều thi nhau đoạt quyền, bọn quyền thế ở địa phương vội vàng chiếm đoạt đất đai tích lũy tài sản. Sự phân biệt giàu nghèo quá chênh lệch, nông dân bị phá sản lưu lạc bốn phương, cảnh đói kém và khốn khó lan tràn khắp nơi, trong xã hội cổ đại ở Trung Quốc lấy nông nghiệp làm trọng, nông dân mất đi ruộng đất, trở thành người bơ vơ, ắt phải dẫn đến bạo loạn xã hội nghiêm trọng.
            Khoảng 20 năm dưới thời Thuận Đế, những người dân nghèo không còn cách gì sinh sống phải lưu lạc khắp nơi, không thể không vung gậy đứng lên, giành lấy sự sống. Song sử sách truyền thống, ví như “Hậu Hán thư”, “Tư Trị thông giám”, đều gọi là “yêu tặc” hoặc “đạo tặc”, thực ra rất không công bằng. Gia Cát Lượng sau này theo giúp Lưu Bị chống lại Tào Tháo, sau khi bình định Cổn Châu, từng coi hơn 30 vạn quân “Hoàng Cân” là quân “Thanh Châu”, có thể nói là lần đầu tiên cùng đồng tình vói lập trường của các lãnh tụ khởi nghĩa nông dân.
            Những người khởi nghĩa nông dân này, đa số nhuốm màu sắc tôn giáo, họ thường xưng là Vô Thượng Tướng quân, hoàng đế hoặc hắc đế, tổ chức rộng lớn mà lỏng lẻo, toàn dựa vào các lực lượng tôn giáo kết hợp lại. Trong những cuộc khởi nghĩa như thế, cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân vào năm Trung Bình nguyên niên đời Ninh Đê (là năm 184 sau Công Nguyên), có qui mô lớn, ảnh hưởng cũng sâu sắc nhất, lãnh tụ của Hoàng Cân là người Cự Lộc (tỉnh Hà Bắc), tên là Trương Giác là một người thầy thuốc rất nổi danh trong dân gian, lấy y thuật thần bí để chữa cho những người nông dân bị bệnh. Phép chữa bệnh của Trương Giác là để người bệnh trước tiên tự xưng tội rồi mới cho uống bùa ngải. Chẳng biết hiệu quả ra sao, song có thể nói việc chữa bệnh của Trương Giác mang mầu sắc thần bí tôn giáo. Phép trị bệnh như vậy ngày nay ở vào cuối thế kỷ 20 vẫn thấy lưu hành, đương thời y học còn chưa phát triển tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn. Các đệ tử của Trương Giác toả khắp chốn trong nước và đều giỏi thuật thần bí trị liệu, gặp những năm khốn khó triền miên, tín ngưỡng bành trướng rất lớn, gọi chung là “Thái Bình đạo”.
            Cứ như Trương Giác tự thuyết pháp ở trong thâm sơn, từng được một tiên nhân truyền cho cuốn “Thái Bình thanh lãnh thư”, dặn dò ông ta triển khai đạo Thái Bình để cứu thế. Trong 10 năm lấy Thanh Châu (ở tỉnh Sơn Đông ngày nay) làm trung tâm, rồi lan ra các châu Ký, Từ, Kinh, Dương, Cổn, Dự, Đễ có đến mấy chục vạn tín đồ, chiếm cứ hai phần ba giang sơn khắp 13 châu.
            Đến năm Quang Hoà, ảnh hưởng của đạo Thái Bình đã không dừng ở tầng lớp nông dân, không ít địa chủ phú hào, thậm chí cả quan lại cũng bị kéo theo. Sách “Hậu Hán Thư” có chép, ngay cả đến Trương Nhượng, một hoạn quan, cũng thường có quan hệ mật thiết với Trương Giác.
            Thấy đạo Thái Bình phát triển nhanh chóng, những kẻ thức thời trong triều tự nhiên thấy trước nguy cơ. Diêm Tứ thuộc phái Thanh Lưu, vội dâng thư đề nghị một mặt chiêu dụ dân lưu vong, cấp cho họ đất canh tác, để ổn định đời sống; một mặt tìm bắt lãnh tụ đạo Thái Bình ở khắp nơi, để làm suy yếu lực lượng của họ. Lưu Đào, Lạc Tùng, Viên Quý cũng liên danh dâng thư lên Ninh Đế, chủ trương truy bắt Trương Giác, để chấm dứt sự mở rộng của phong trào ấy. Song bởi hoạn quan thân với đạo Thái Bình cản trở, Ninh Đế không có chính sách dứt khoát, cuối cùng tin tức bị tiết lộ ra ngoài khiến cho Trương Giác càng chuẩn bị kỹ hơn. Không lâu, Trương Giác lại chia các tín đồ làm 36 “phương”, mỗi phương lớn có hơn vạn người, mỗi phương bé cũng có 6 hoặc 7 nghìn người, mỗi phương này đều do những người thân tín thống lĩnh chỉ huy. Trương Giác tự xưng “Thiên Công tướng quân”, lại phong em trai là Trương Bảo làm “Địa Công tướng quân”, Trương Lương làm “Nhân công tướng quân” cùng thống lĩnh 36 vạn nhân mã.
            Năm Ninh Đế Trung Bình, Trương Giác nói với các tín đồ rằng: “Trời xanh đã chết, trời vàng đã thay, đến năm Giáp Tí thiên hạ đại cát” đến năm Giáp Tí, là bắt vòng quay can chi 60 năm đổi mới. Trương Giác quyết định ngày 5 tháng 3 năm đó ban bố cho các tín đồ 36 phương khắp nơi cùng khởi nghĩa. Cứ theo tư tưởng ngũ hành của Trung Quốc cũ, lý luận tuần hoàn về Kim, Mộc, Thủy, Hoả, Thổ, vương triều nhà Hán thuộc hoả đức, khắc hoả ấy là thổ, bởi vậy người thay thế vương triều nhà Hán phải ứng với thổ đức. Đất của cao nguyên hoàng thổ và bình nguyên hoàng thổ đều có sắc vàng, cho nên các tín đồ đạo Thái Bình đều lấy khăn đầu sắc vàng làm hiệu, đấy là lý do gọi bè đảng Hoàng Cân.
            Mã Nguyên Nghĩa là trưởng phương phụ trách việc đánh Lạc Dương, hành động không được cẩn thận lắm, ngày mồng 3 tháng 3 sự việc tiết lộ đã bị bắt, mấy nghìn tín đồ đều bị hại. Ninh Đế đến bấy giờ mới hoảng hốt chợt tỉnh và vội ra lệnh truy bắt Trương Giác.
            Bất đắc dĩ Trương Giác cùng với hai người em, phải phát động khởi nghĩa sớm. Tuy chuẩn bị không chu đáo vẫn có 7 châu 28 quận hưởng ứng, bè đảng đều quấn khăn đầu màu vàng, đánh phá phủ quan, chiếm lĩnh vườn ruộng không ít quan lại quận huyện mới nghe tin đã chạy trốn, truyện Hoàng Phủ Tung trong “Hậu Hán Thư” có ghi: “Suốt 10 ngày liền, thiên hạ đều hưởng ứng chấn động cả kinh thành”.
            Chiến trường chủ yếu của Hoàng Cân ở Dĩnh Châu gần Lạc Dương, phía bắc đến Kí Châu, phía nam đến tận Nam Dương, Triều đình cử Hà Tiến là anh của Hà hoàng hậu làm Hà Nam phủ doãn, phụ trách tổng chỉ huy chinh phạt, thực chất là phụ trách tác chiến một đạo quân tinh nhuệ, sắp đặt Hoàng Phủ Tung làm Tả trung nam, Chu Tuấn làm Hữu Trung nam, Lô Thực làm Bắc Trung nam cùng cầm quân.
            Trong “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung chương thứ nhất có chép tình tiết Lưu Bị khi ấy ở Trác Quận, hưởng ứng hiệu triệu của triều đình cùng đứng ra chống lại quân Hoàng Cân. Lưu Bị ở đó gặp được Quan Vũ và Trương Phi để lại một câu chuyện đào tiên kết nghĩa nghìn năm sáng mãi.
            Lúc bắt đầu cuộc chiến tranh, thanh thế quân Hoàng Cân rất lớn, Trương Giác đánh nhau to với Lô Thực ở Kí Châu, quân Lô Thực không địch nổi phải rút về Kiến An, quân Chu Tuấn phòng giữ gần Dĩnh Châu cũng rút theo, thái thú Nam Dương giữa trận phải bỏ mạng.
            Để giữ cho Lạc Dương được an toàn, Hoàng Phủ Tung đưa quân chủ lực bố phòng ở gần Dĩnh Châu. Trương Giác đem vài vạn binh mã trùng trùng bao vây, Hoàng Phủ Tung đích thân đến tuyến đầu thị sát, ông ta thấy quân Hoàng Cân đóng trong trại cỏ, nhân đêm tối lấy hoả công đột kích, quân Trương Giác đại loạn, quân Chu Tuấn đang bố phòng tại bờ nam Dĩnh Châu cũng nhân cơ hội đó mà phản công, Tào Tháo làm Điển quân hiệu úy cũng dẫn quân đến Cứu Lạc Đương, kỵ binh đến rất kịp thời, ba mặt cùng giáp công, quân Hoàng Cân đại bại, chết mấy vạn người; đây cũng là kỷ lục quân sĩ triều đình lần đầu ngăn chặn được quân Hoàng Cân.
            Tháng 8 năm Trung Bình đời Ninh Đế, Trương Giác ngã bệnh chết; tháng 10, quân của Nhân công tướng quân Trương Lương bị quân Hoàng Phủ Tung mai phục ở Dĩnh Châu, diệt hơn 3 vạn người, bản thân Trương Lương cũng bị chết trong số đó; tháng 11 Địa công tướng quân Trương Bảo cũng bị chết trận ở Nam Dương, quân lính chủ lực của quân Hoàng Cân đên đó hoàn toàn bị tiêu diệt, song quân Hoàng Cân còn ở các nơi vẫn còn khá quấy nhiễu. Quân Bạch Ba ở Tinh Châu, quân Hắc Sơn ở Kí Châu, quân Hoàng Cân ở Ích Châu và Thanh Châu thanh thế rất lớn, khiến các quan phủ địa phương, không ngớt đau đầu. Hoàng Phủ Tung tuy giành được thắng lợi ở gần Lạc Dương, song sau mấy lần giao chiến quân chủ lực cũng bị trọng thương, về căn bản chẳng giúp được các địa phương việc trấn áp, triều đình muốn củng cố địa phương trấn áp nhân dân, cũng chẳng thể không tăng cường hành chính việc quân ở đầu não phương bắc.
            Tháng ba năm thứ 5 Trung Bình (năm 188 sau Công Nguyên), triều đình tiếp thu đề nghị của Lưu Yên, thái thú Giang Lăng, khuyếch đại quyền hạn cho thứ sử địa khu đang loạn lạc, đổi gọi là “Chức mục”, Lưu Yên làm Ích Châu mục, Hoàng Uyển làm Dự châu mục, Lưu Ngụ làm U châu mục. Sách “Tư trị thông giám” có chép “coi trọng chức quan Châu, từ đấy mới được đặt ra”.
            Chức Châu mục ở những nơi đó, có quyền hạn ngày mỗi lớn hơn, dần dần hình thành một lực lượng độc lập, triều đình cũng bắt đầu mất đi quyền chỉ huy và sức khống chế, cuối cùng trở thành cục diện quần hùng cát cứ cuối đời Hán, vương triều Đông Hán cũng rơi vào tình cảnh hữu danh vô thực.


          2. Xã hội loạn lạc, lưu lạc cô nhi.
            Đúng tháng 2 năm Giáp Tí khởi nghĩa Hoàng Cân đó, Gia Cát Lượng vừa tròn bốn tuổi.
            Phụ thân của Gia Cát Lượng là Gia Cát Khuê, đương thời làm quận thừa ở quận Thái Sơn, núi Thái Sơn ở Thái Sơn quận là ngọn núi kỳ vĩ nổi tiếng khắp Trung Quốc từ cổ chí kim, Gia Cát Lượng đã ở nơi đó suốt những năm đầu thời thơ ấu của mình.
            Gia Cát Lượng vốn quê ở quận Lang Nha, đương thời gọi là huyện Dương Đô, ở giữa huyện Lâm Nghi và huyện Nghị Nam tỉnh Sơn Đông, cũng thuộc khu Tây Bắc tỉnh Sơn Đông. Tư Mã Thiên trong “Hoá thực liệt truyện có chép”:
            “Phía nam núi Thái Sơn có nước Lỗ, phía bắc thì có nước Tề, giữa vùng Tần Sơn Lâm Hải có một bình nguyên phì nhiêu, có nhiều sản phẩm nổi tiếng về Dâu Gai. Đô thành là Lâm Chuy, ở giữa Bột Hải và Thái Sơn, người vùng này tư lự sâu xa lại giỏi nghị luận, làm việc không cẩu thả, một số người ở đây có năng lực đặc biệt, song phần đông không giỏi võ nghệ, là một xã hội công thương điển hình, kinh tế ở đây thịnh vượng mà linh hoạt, người dân ở đấy được phân làm năm chức nghiệp là sĩ, nông, công, thương và tọa thương”.
            Những đức tính như tư lự chu tất, giỏi nghị luận không khinh cử vọng động, đều có thể thấy rõ ở con người Gia Cát Lượng.
            Kể từ đời Khương Thái Công dựng nước cho tới giờ, nơi này là trọng tâm của mậu dịch bắc nam, kinh tế giàu có, bởi vậy trình độ văn minh cũng rất cao so với nơi khác; từ thời Đông Hán đến thòi Lục Triều, có không ít danh nhân xuất thân ở đây, ví như Phù Kiên nổi tiếng với Vương Đại đời tiền Tần, nhà thư pháp bất hủ Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi là hai cha con, đến Nha Chi Thôi tác giả sách “Nhan thị tri huấn”, cùng nhà văn nổi tiếng đời Đường là Nhan Châu Khanh đều là những danh gia hào tộc của vùng này. Song cũng phải nói đến tư tưởng binh pháp đặc sắc của Tề quốc. Quân Tề vốn từ chiến trận mà ra, bởi vậy rất dụng tâm nghiên cứu kỹ sảo và phương pháp chiến tranh. Binh pháp của Khương Thái Công cũng là nguyên tắc chiến tranh, và là sách lược nổi tiếng. Đến như nhà binh pháp học lớn Tôn Vũ cũng là người nước Tề, sự chuẩn bị và ứng biến công phu của binh pháp Tôn Tử, có thể thấy sự tương quan triết học xử thế truyền thống của nước Tề. Quỷ Cốc Tử binh pháp cũng khởi nguyên từ nước Tề, Tôn Tẫn, Bàng Quyên thậm chí Tô Tần, Trương Nghi đều học thành tài ở đấy.
            Trừ thời kỳ sống ở Tương Dương với các học giả danh sĩ ở đó dùi mài nghiên cứu, có thể nói tư tưởng ngôn hành, nhân sinh quan của Gia Cát Lượng rõ là chịu ảnh hưởng mật thiết văn hoá truyền thống nước Tề.
            Sách “Ngô thư” của Vi Chiêu có chép: Tổ tiên của Gia Cát Lượng vốn họ Cát ở huyện Gia, quận Lang Nha lúc đó không biết vì sao, lại rời đến huyện Dương Đô. Bởi huyện Dương Đô cũng có nhiều người họ Cát khác, để phân biệt, họ Cát huyện Gia cũ gọi là họ Gia Cát.
            Tổ phụ của Gia Cát Lượng là Gia Cát Phong từng giữ chức Tư lệ hiệu uý ở Vương triều Đông Hán (là chức trưởng quân cảnh bị kinh thành) ông là một viên quan hết lòng về trách nhiệm, cá tính rất chính trực, giữ đúng phép tắc, không hề biết né tránh cường quyền.
            Có một kẻ ngoại thích làm quan lớn trong triều là Hứa Trương, vẫn mượn oai vua làm nhiều chuyện ngang trái, Gia Cát Phong hạ lệnh bắt giữ, Hứa Trương phải trốn ở cung cấm, yêu cầu hoàng đế bảo trợ. Gia Cát Phong dâng thư lên kể tội Hứa Trương, yêu cầu phân xử nghiêm minh để hoàng gia khỏi mang tiếng xấu. Tuy hoàng đế có ý giảng hoà giữa hai người, song Gia Cát Phong rất cương quyết, nhà vua bởi bất đắc dĩ đành phải bắt tội Hứa Trương. Không lâu Gia Cát Phong cũng bị cách chức Tư lệ hiệu uý còn bị phế làm dân thường, chẳng qua bởi Gia Cát Phong đã giữ đúng khí tiết chấp pháp nghiêm minh, hiển nhiên cũng có di truyền đến phẩm chất của Gia Cát Lượng. Ông bố của Gia Cát Lượng là Gia Cát Khuê từng làm quận thừa ở quận Thái Sơn (thư ký), mẹ là Chương Thị. Hai người có bốn người con, Gia Cát Lượng là thứ ba, người anh cả là Gia Cát Cẩn, em trai là Gia Cát Quân ngoài ra còn có một chị gái nữa. Khi ông chín tuổi thì bà mẹ qua đời, bởi nghĩ đến con cái còn nhỏ, ông bố lại lấy thêm bà nữa, song 3 năm sau, ông bố cũng qua đời. Thế là anh em Gia Cát mất cả song thân, bởi người mẹ kế chẳng thể nuôi dưỡng được họ, phải nhờ ở sự tiếp tế của ông chú là Gia Cát Huyền. Anh cả Gia Cát Cẩn hơn Gia Cát Lượng bẩy tuổi, khi mẹ từ trần, đã đi du học ở phủ Thái Học thành Lạc Dương, chuyên tâm với những “Mao thi” “Kinh thư”, Tả truyện Xuân thu, học vào loại giỏi, khi mẫu thân từ trần, anh ta phải chịu tang chăm lo các em đành vứt bỏ việc học và trở lại quê nhà.
            Quận Lang Nha thuộc Từ Châu vào thời kỳ đầu khởi nghĩa Hoàng Cân, ở đây cũng bị quấy nhiễu, song được triều đình phái một người là Đào Khiêm vốn xuất thân võ nghệ là Thứ sử Từ Châu nên tình thế nói chung là được bình an. Kế đó đến loạn Đổng Trác, xảy ra chiến tranh bởi các chư hầu Quan Đông khởi binh cần vương, Đào Khiêm ở Từ Châu theo chính sách trung lập kể như không dính dáng đến. Cho nên khi Lạc Dương bị loạn lạc, không ít người chạy ra phía đông nương náu ở đất Từ Châu, song kể từ năm thứ 4 đời Hiến Đế (năm 193 sau Công Nguvên) Tào Tháo hùng cứ ở Cổn Châu, người cha là Tào Tung bất ngờ bị sát hại ở Từ Châu, Tào Tháo bèn khởi binh đánh Từ Châu, Đào Khiêm tuy hăng hái đề kháng song khắp Từ Châu lập tức bị rơi vào cảnh hỗn loạn, Lang Nha quận ở phía bắc Từ Châu cũng bị cuốn theo. Có một số nơi thậm chí “không tiếng gà gáy chó sủa, đường xá không người qua lại”. Gia Cát Huyền phải gánh vác sự an nguy của cả nhà, chẳng thể không nghĩ đến việc chuyển nhà đi nơi khác, tạm tránh loạn lạc.
            Năm sau, khi Gia Cát Lượng mười bốn tuổi, Gia Cát Huyền được Viên Thuật đứng đầu giới quân phiệt ở Dương Châu, lãnh tụ phía nam chống Đổng Trác cử làm Thái thú quận Dự Chương (vùng Nam Xương - Giang Tây ngày nay) Gia Cát Huyền dẫn chị em Gia Cát Lượng còn đang nhỏ tuổi đến nơi ở mới. Cũng nhân đó mà tạm tránh loạn lạc. Song Gia Cát Cẩn đã hai mốt tuổi phải gánh vác trách nhiệm gia đình, bởi vậy anh ta quyết định tìm đường kiếm sống ở nơi khác, tìm cách xé rào, sau khi suy nghĩ kỹ, bèn theo người mẹ kế tìm đến tận Giang Đông làm ăn. Một nhà từ đấy ly tán cách biệt tây - đông.
            Nếu kể như ở Từ Châu, ngược lên bắc là Dự Châu xuống phía nam là Dự Chương mấy năm liền loạn lạc nghiêm trọng, Tào Tháo với Đào Khiêm đã mấy lần giao chiến dữ dội, không ít cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi lên ở vùng này. Gia Cát Lượng khi mới bước vào tuổi thanh niên đã tự mắt thấy những hậu quả của chiến tranh gây ra, đất đai hoang phế, người dân chịu cảnh thê li tứ tán, kinh tế nông thôn bị phá sản nghiêm trọng, dân tình trăm họ phải bức cầm dao kiếm đứng lên tìm đường sống, tình cảnh bi thảm như vậy đôi với nhân sinh quan của Gia Cát Lượng nghĩ rằng ắt phải có ảnh hưởng sâu sắc.
            Thực không may, Gia Cát Huyền được bổ nhiệm không lâu, triều đình Đông Hán lại phái Chu Hạo đến làm Thái thú Dự Chương. Khiến cho ngôi vị thái thú Dự Chương không biết đâu mà phân biệt. Khi Chu Hạo đến nhậm chức, được thứ sử Dương Châu là Lưu Phiên cho mượn một đội quân lớn, trực tiếp gây áp lực với Gia Cát Huyền được xem là không chính đáng. Xét về phía Gia Cát Huyền, Viên Thuật tuy có thanh thế lớn, song đang phải chuẩn bị giao chiến với Tào Tháo, chưa lo nổi mình, căn bản chẳng thể giúp đỡ Gia Cát Huyền được việc gì, huống chi tự mình chẳng phải làm mệnh quan của triều đình, danh bất chính, ngôn bất thuận, thế cô, lực mỏng, tự nhiên chẳng thể đề kháng, bởi lo đến sự an toàn trong nhà, chỉ còn biết rút chạy cho nhanh. Lúc này chẳng thể trở về quê cũ, Gia Cát Huyền chỉ còn biết dẫn anh em Gia Cát Lượng đến thành Tương Dương ở Kinh Châu, dựa vào sự che chở của người bạn cũ là Lưu Biểu đang làm thứ sử Kinh Châu. Lưu Biểu cũng là người nổi tiếng trong “Bát tuấn” năm xưa, là một lãnh tụ chủ yếu của phái Thanh Lưu ở quan trường. Ông không tán thành cuộc tranh chấp không đáng có, cho nên bế quan tự thủ, không tham gia vào bên này hay bên kia, đối với việc tranh chấp giữa anh em Viên Thiệu và Viên Thuật, ông cũng đứng trung lập, cho nên Kinh Châu cũng kể như yên ổn, không chịu ảnh hưởng của chiến loạn nhiều lắm, hơn nữa là nơi văn phong thịnh vượng có thê coi là “cảng lánh nạn” cũng chẳng sai.
            Song bởi từ Sơn Đông đến Giang Tây lại từ Giang Tây đến Hồ Bắc, di chuyển nghìn dặm đường xa, thấv rõ quang cảnh ngược Trường Giang lên Kinh Châu, có đến mười mấy ngày chèo thuyền vất vả, đối với Gia Cát Lượng ở độ tuổi mới lớn mà nói đã tăng trưởng không ít kiến thức, những cảnh lưu ly cơ khổ cũng thể hiện sự cần thiết, hoà bình đến mọi gia đình.
            Tuy Lưu Biểu rất cao hứng, cũng rất nhiệt thành tiếp đãi Gia Cát Huyền, song ông đâu hợp với quan chức, chỉ nhờ Lưu Biểu cho được sống nhờ ở đấy. Đối với một phần tử tri thức cao ngạo lại có nguyên tắc, việc này như một đòn đánh vào sự khốn khó của đời sống, bởi vậy một năm sau, Gia Cát Huyền sầu não thành bệnh, không dậy được may mà Lưu Biểu vẫn nghĩ tình cũ lo lắng sinh hoạt vật chất cho gia đình Gia Cát Lượng; trong một năm Gia Cát Huyền ở đấy, một số văn sĩ ỏ gần đó cũng kết thân, mang đến cho gia đình lắm tang tóc đó không ít sự khích lệ tinh thần và mọi sự giúp đỡ khác.
            Do quan hệ với Lưu Biếu, người chị của Gia Cát Lượng được gả cho Bàng Sơn Dân là cháu của Bàng Đức Công nổi danh ở Kinh Tương, nói chung là được như nguyện. Gia Cát Lượng năm mười sáu tuổi quyết định dẫn em trai ra sông độc lập, không nhận viện trợ nhân đạo của phủ Tương Dương nữa. Ông bán đi một số tài sản của ông chú còn lại, trực tiếp đến trình kiến Lưu Biểu, biểu lộ ý nguyện tự lập cánh sinh, Lưu Biểu rất vui mừng bèn giúp đỡ cho họ chút ít, ở cách thành Tương Dương hơn 20 dặm, có một nơi gọi là Long Trung, để hai anh em họ Gia ở đấy, hai người tự mình cày bừa; năm đó chính là năm Kiến An đời Hán Hiến Đế (năm 197 sau Công Nguyên), thế là hai anh em lưu lạc tìm được quê hương thứ hai của họ, bắt đầu một đời sông ẩn cư nửa cầy bừa nửa đọc sách.


*

            Lời bàn của Trần Văn
            Quan lại và nhà văn của Trung Quốc, mỗi khi nói đến pháp trị đều thích nêu khẩu hiệu “loạn thế dùng điều luật”; không hiểu rõ người Trung Quốc ở bản chất, chỉ thấy hiện tượng pháp luật không được xem trọng, chỉ thấy kết quả mà không thấy nguyên nhân.
            Người Trung Quốc thiếu quan niệm pháp trị, chủ yếu bởi chế độ pháp lệnh chưa hữu hiệu, đấy chẳng phải luật lệ ở Trung Quốc thiếu giấy trắng mực đen, song vấn đề là ở chỗ pháp chế liên quan với con người, nếu chỉ thích những quy định nghiêm khắc; thậm chí đến tàn bạo để biểu thị “chính nghĩa” và “quyền uy” của mình, khi chấp pháp lại có thái độ tùy tiện, biểu đạt một thái độ chưa thấu đáo nhân tình, bởi vậy pháp lệnh tuy rõ ràng song khi chấp pháp thì thiên biến vạn hoá hoặc lại theo “nhân trị”, đâu có thể xây dựng được tinh thần pháp trị.
            Pháp luật nghiêm khắc, chấp hành tùy tiện, thiếu chuẩn mực, lẽ tự nhiên đặc quyền sẽ hoành hành, những kẻ quyền thế, công khai dùng sức mạnh làm trái pháp luật luồn lót cửa sau để được việc, trong tình thế ấy sao có thể xây dựng tinh thần pháp trị cho dân chúng được? Sách “Pháp Y” của Mạnh Đức Tư Cưu, chủ yếu hạn chế việc lộng quyền của kẻ có quyền lực, mục đích chế độ không ở chỗ thống trị trăm họ mà là ngăn chặn lạm quyền. Tiên sinh Châu Văn Hải từng nói: “Pháp trị không ở chỗ bắt nhân dân phải răm rắp tuân thủ mà ở chỗ chánh quyền phải giữ nguyên pháp trị bởi vậy bất luận pháp trị hay nhân trị, mọi người dân đều tuân thủ theo pháp luật”.
 
0
Chương II
NGÀY NẮNG CÀY BỪA, NGÀY MƯA ĐỌC “LƯƠNG PHỤ NGÂM”
 
            Thời kỳ Quan độ đại chiến bắt đầu.
            Giai đoạn thế lực họ Viên bị suy giảm, Gia Cát Lượng đang ở Long Trung ngoài thành Kinh Tương hai mươi dặm.
            Thường ngày nắng cày mưa đọc sách.


            1. Loạn thế anh hùng: tranh xuất đầu
            Tai hoạ bè đảng lần thứ hai sau khởi nghĩa Hoàng Cân, đã dẫn vương triều Đông Hán đến chỗ suy vong. Song năm thứ 6 Trung Bình (năm 189 sau Công Nguyên) Hán Ninh Đế đang khi trai tráng đột ngột ngã bệnh, từ trần ở cung Vĩnh An. Thiếu Đế mới mười bốn tuổi lên kế vị, Hà Tiến là anh Hà thái hậu, là người phái Thanh lưu kết hợp phái ngoại thích, có ý diệt hoạn quan lại một lần nữa mắc sai lầm, dẫn đến sự kiện dẫn quân đốt phá cung Lạc Dương, dìm hoàng cung vào trong biển lửa và thảm kịch chém giết. Cùng với quân Hoàng Phủ Tung bao vây phía ngoài, quân Viên Thiệu và Tào Tháo tràn vào nội cung, hoạn quan bị tóm gọn, song kết quả cuối cùng là cò và trai tranh giành nhau mà ngư ông thì được lợi. Lãnh tụ quân Tây Lương là Đổng Trác, một thế lực rất lớn ở ngoài biên chớp thòi cơ dẫn quân vào Lạc Dương, mau chóng độc chiếm chính quyền nhà Hán, phế trừ Thiếu Đế, lập Hiến Đế làm tượng gỗ, dẫn vương triều Đại Hán đã có hơn 400 năm đến chỗ hữu danh vô thực.
            Trong thời kỳ Hán Vũ đế trị vì bởi muốn đế quốc Đại Hán cai trị được hữu hiệu đã chia toàn quốc thành 13 châu, đặt ra chức thứ sử, thay hoàng đế giám sát các quận huyện, bởi không có binh quyền nữa, các châu này không tách được ra khỏi cơ cấu chung. Song theo diễn biến thời gian lực lượng của các thứ sử ngày mỗi lớn, chẳng những nắm chính quyền còn nắm binh quyền địa phương. Đặc biệt là sau khởi nghĩa Hoàng Cân, ở các nơi dân không ngừng sinh biến, để tăng thêm phương tiện chiêu dụ và trừng phạt, năm thứ 5 Trung Bình, chính quyền Đông Hán lần đầu phong các thứ sử ở châu trọng yếu chức Mục, chính thức giao cho quân quyền và quyền hành chính. Không lâu những thứ sử chưa được phong chức Mục cũng tự mình bắt chước nắm lấy quân quyền và hành chính, khiến châu trở thành một cơ cấu địa phương có quyền hành rất lớn, hơn nữa trong tình thế trung ương dần dần không đủ sức khống chế, Châu mục và Thứ sử trở thành “hoàng đế địa phương độc chiếm một vùng”.
            Đổng Trác vốn là Thứ sử Ung Châu, là người đứng đầu trong số những Châu Mục rất hùng mạnh, ông ta cầm đầu quân Tây Lương (gồm quân Ung Châu, Lương Châu) bởi nhu cầu phòng ngự dị tộc tây bắc, cho nên rất có thế lực, thành ra một đại quân lớn. Song các đại quân khác lắm bè phái, không mạnh bằng quân Tây Lương đã được rèn giũa, bởi vậy Đổng Trác rất lộng hành, có ý tiếm quyền. Tuy có người nói với Hoàng Phủ Tung về dã tâm của Đổng Trác, song với Hoàng Phủ Tung rất có thanh thế, có thể nhắc nhở các quân khu, việc này cũng thật nan giải. Sau sự biến ở cấm cung, Đổng Trác ỷ thế binh hùng tướng mạnh, nhân lúc loạn mà nắm lấy quyền chánh, hơn nữa lại phế bỏ Thiếu Đế, lập ra Hiến Đế, tự nhiên dẫn đến sự tức tối của các Châu Mục có uy quyền ở các địa phương, được sự thúc đẩy của Viên Thiệu, Viên Thuật và Tào Tháo, các thứ sử châu và thái thú quận huyện, tại Hàm Cốc quân cùng liên minh chống Đổng Trác, tuy họ nêu lá cờ Cần Vương, thực ra chẳng ưa gì chính quyền Trung ương ở Lạc Dương. Quân đoàn này bao gồm Thái thú Bột Hải là Viện Thiệu, tướng quân Viên Thuật là em khác mẹ với Viên Thiệu, Thái thú Hà Bắc là Vương Khuông, Thái thú Trần Lưu là Trương Hùng, Thái thú Đông Quận là Kiều Mạo, Thái thú Sơn Dương là Viên Đại, tướng Tế Bắc là Bào Tín, Thứ sử Dự Châu là Khổng Dữu, Thứ sử Cổn Châu là Lưu Đại. Sau khi Kiêu kỵ Hiệu uý Tào Tháo trốn chạy cũng lập ra đạo quân riêng, tự xưng là Phấn vũ tướng quân, cũng tham dự liên minh quân sự này.
            Song thanh thế của liên minh chống Đổng Trác tuy rất lớn, mà không cùng một bụng, không gắn bó với nhau; lại ngần ngừ chờ đợi, bởi vậy tuy họ có mặt ở khắp nơi, có thể thấy ngoài quân của Tào Tháo và quân của Tôn Kiên thái thú Trường Sa từng đã giao chiến với quân của Đổng Trác, liên quân Quan Đông cơ hồ chỉ là tiếng sấm của một cơn mưa bóng mây mà thôi.
            Đổng Trác thấy các Châu Mục công khai phản loạn, lại thêm việc Hoàng Phủ Tung, Chu Tuất bất mãn ra mặt, trong ngoài gây áp lực, khiến ông ta có một quyết sách sai lầm nghiêm trọng, vứt bỏ Lạc Dương, rời đô về Tràng An. Nói cách khác ông ấy đã chủ động vứt bỏ nửa phần giang san.
            Song đạo quân Quan Đông liên minh chống Đổng Trác cũng chẳng truy đuổi mà lại tranh nhau chiếm đất dẫn đến đấu đá nội bộ, Tôn Kiên là người có công lớn trong việc chống Đổng Trác thậm chí chết trong cuộc giao tranh với Lưu Biểu thứ sử Kinh Châu, dẫn đến mối quan hệ thù địch sâu sắc giữa hai bên sau này.
            Đổng Trác ẩn thân ở Tràng An hưởng thụ cuộc sống một hoàng đế không ngai vàng, lại gặp phải họa chẳng ngờ bị Vương Tư Đồ và người con nuôi là Lã Bô liên hợp mưu sát. Song dư đảng của quân Tây Lương lại tràn vào Tràng An, sát hại Vương Tư Đồ đánh đuổi Lã Bố. Khiến cho Hán Ninh đế, hoàng đế cuối triều Đông Hán cũng chịu cảnh lưu ly điên đảo.
            Quyền lực vương triều chính thức không còn nữa, các đạo quân cát cứ từng vùng sớm quên mất khẩu hiệu cần vương năm nào lại công nhiên lấy lớn nạt bé, lấy mạnh nuốt yếu khắp nơi, đặc biệt là hai thế lực lớn của anh em Viên Thiệu, Viên Thuật tranh giành rất dữ.
            Hán Hiến đế cải niên hiệu thành Kiến An (năm 196 sau Công Nguyên), lúc đó, các châu quận thôn tính lẫn nhau, kết quả là suốt từ bắc đến nam, Trung Quốc bị phân thành mười mấy quân khu, các thủ lĩnh quan trọng gồm có:
            Công Tôn Độ chiếm cứ Lưu Đông (nay là Lưu Ninh).
            Lưu Ngu, Công Tôn Toản chiếm cứ U Châu (nay là Hà Bắc).
            Viên Thiệu chiếm cứ Kí Châu, Thanh Châu, Tinh Châu (nay thuộc các tỉnh Hà Bắc, Sơn Đông, Sơn Tây).
            Tào Tháo, chiếm cứ Cổn Châu (nay thuộc Sơn Đông).
            Viên Thuật, chiếm cứ Dương Châu (nay thuộc hạ du sông Hoàng Hà)
            Trương Tú, chiếm cứ Nam Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam).
            Đào Khiêm, Lưu Bị, Lã Bố trước sau chiếm cứ Từ Châu (nay là tỉnh Giang Tô).
            Tôn Sách, chiếm cứ Giang Đông (nay thuộc hạ du sông Trường Giang).
            Lưu Biểu, chiếm cứ Kinh Châu (nay là các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam).
            Trương Lỗ, chiếm cứ Hán Trung (nay thuộc Thiểm Tây).
            Đổng Trác, Lý Xác, Quách Phạm trước sau chiếm cứ Tư lệ quân khu (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây).
            Mã Đằng, Hàn Toại chiếm cứ Lương Châu (nay thuộc Cam Túc, Linh Hạ, Thanh Hải).
            Bởi những cuộc đao binh tranh giành đất đai, dân cư và tài vật liên tiếp xảy ra, thiên hạ không lúc nào được yên những cuộc sát phạt này khiến những người dân gắn liền với ruộng đất, bị chết hoặc lưu lạc không ít, ruộng vườn hoang phế, sức sản xuất cũng bởi vậy mà bị phá hoại nghiêm trọng. Đúng như Vương Sán, một trong 7 người được gọi là thất hiền có miêu tả trong “Thất ai thi”: “Ra đường nào biết về đâu, quạ kêu, xương trắng dãi dầu bình nguyên”, thật đúng với tình cảnh bi thảm chẳng khác gì địa ngục nhân gian.
            Bá chủ Hoa Bắc là Viên Thiệu; trong đám quần hùng cát cứ, thấy nổi trội lên ở hàng đầu là Viên Thiệu và Tào Tháo.
            Viên Thiệu tên chữ là Bản Sơ, người vùng Nhữ Nam thuộc Dự Châu, tổ phụ là Viên An từng giữ chức Tư Đồ, thứ tử Viên Sưởng của Viên An cũng làm quan đến Tư không. Con cả Viên An là Viên Kinh làm Thái thú Thục quận, con của Viên Kinh là Viên Thang từng giữ chức Thái úy. Viên Thang có 4 người con là Viên Bình, Viên Thành, Viên Phùng, Viên Khôi. Viên Bình và Viên Thành sớm mất, song Viên Phùng và Viên Khôi đều làm đến chức Tam công, người đời gọi là “bốn đời Tam công” để hình dung quyền thế gia tộc họ Viên. Thân thích, môn sinh của họ Viên đầy cả triều đình, có ảnh hưởng lớn với quyết sách chính trị.
            Viên Thiệu là con thứ của Viên Bình, do hình vóc cao lớn tuấn kiệt, khoẻ mạnh lại có uy vũ, trong xã hội thượng lưu vốn trọng hình thức, nên rất được trọng thị. Lại nữa bản thân Viên Thiệu cũng xem trọng kẻ sĩ, bởi vậy nhiều phần tử tri thức về hùa với ông ta, danh tiếng vượt hẳn. Danh tiếng còn vượt hơn cả người em khác mẹ là Viên Thuật, khiến Viên Thuật có vẻ rất tấm tức. Sau loạn Đổng Trác, hai anh em họ Viên xích mích nghiêm trọng, thậm chí hình thành nam bắc đối kháng, kéo dài thù oán chất chứa, nguyên nhân chủ yếu cũng bởi ở đấy.
            Do xuất thân từ một gia tộc như thế, con đường công danh của Viên Thiệu rất thuận lợi, mới bước chân vào quan lộ, đã làm bí thư phủ đại tướng, sau khi đã quen với việc quan trường lại được cử làm thị ngự sử (quan kiểm sát). Cuộc đời Hán Ninh đế, để ứng phó với cục diện ngày mỗi không ổn định, đã phải lập ra tám đại quân mới để bảo vệ kinh do bản thân Viên Thiệu và giới quân sự có quan hệ tốt, được bổ nhiệm làm Trung quân hiệu uý, địa vị gần được như đại hoạn quan Kiển Thạc nổi tiếng võ dũng.
            Sau khi Ninh đế tạ thế, các quan viên phái “Thanh lưu” lại đối kháng với nhóm Kiển Thạc ngày mỗi lớn, đại tướng quân Hà Tiến dâng thư đề nghị, đề cử Viên Thiệu làm Tư lệ hiệu úy (tư lệnh quân cấm vệ kinh thành); là một tướng lĩnh có thực lực rất lớn trong thành Lạc Dương, lúc đó Viên Thiệu mới có 35 tuổi mà thôi.
            Đêm trước chánh biến ở cung đình, đấu tranh với hoạn quan, Viên Thiệu là một viên tướng cứng rắn, muốn trừ diệt hoạn quan, thậm chí ông ta còn ủng hộ dẫn quân Đổng Trác vào thành. Tháng 8 năm thứ 6 Trung Bình, ngày 25 đã xảy ra sự biến ở cung đình, Hà Tiến bị hại, Viên Thiệu được sự giúp đỡ của Tào Tháo, trở thành người chỉ huy tối cao của đạo quân chống hoạn quan.
            Trong hành động quân sự trừ diệt hoạn quan, anh em Viên Thiệu và Viên Thuật là những diễn viên chính của vở diễn. Song trong hành động quân sự lần này cũng bộc lộ những khiếm khuyết về kinh nghiệm chỉ huy thực tế, bị Tào Tháo cực lực phản đối, anh em họ Viên vẫn kéo quân vào nội cung, vô luận hoạn quan già trẻ chẳng phân biệt xanh, đỏ, trắng, đen thẩy đều giết cả, thậm chí còn giết nhầm nhiều người, có một số người trẻ tuổi, bất đắc dĩ phải lộ quần áo, mới thoát tội chết, khắp vùng giết choc đưa số người chết đến 2000 người.
            Sau khi Đổng Trác đoạt quyền, Viên Thiệu công khai đối kháng đã chủ động bỏ quan chức chạy về Kí Châu, kết thành tập đoàn chống Đổng Trác, đã được tôn làm minh chủ. Hành động quân sự này đã không thành công. Song Viên Thiệu đã nhân cơ hội đoạt lấy Kí Châu của Hàn Phức, đã thu nạp được huyện trưởng các xứ ở Thanh Châu, chống lại Thứ sử Thanh Châu là Điền Khái, lại dẫn quân sang phía tây lấn chiếm Kinh Châu, đánh nhau ác liệt suốt mấy năm, đánh phá đạo quân của Công Tôn Toản hùng cứ bắc phương, bành trướng thế lực của mình dần dần ra khắp bôn châu Ký, U, Thanh, Tinh trở thành một bá chủ hàng đầu trong đám quần hùng cuối đời Hán.


            3. Nhà quân sự cứng cỏi kiêm nhà thơ: Tào Tháo
            Tào Tháo tên chữ là Mạnh Đức, người ở đất Bái (nay là tỉnh An Huy), tổ phụ của ông ta là Tào Đằng, một đại hoạn quan, bởi có công lao lớn lập ra Hiến Đế có địa vị rất cao trong nội cung. Song Tào Đằng vốn tính ôn hoà và cẩn thận, vẫn né tránh những hành động tranh quyền trực tiếp, cho nên trong cuộc đấu tranh cung đình nghiêm trọng cuối đời Hán, thái độ của Tào Đằng cũng rất khác thường. Phụ thân của Tào Tháo là Tào Tung là con nuôi của Tào Đằng, vốn là họ Hạ Hầu, xuất thân trong gia đình nghèo khổ, tuy tính tình hiền lành, làm việc chăm chỉ song rất thích tài vận, từng đem số tiền mười vạn đồng để mua chức Thái úy, bởi vậy địa vị trong triều tuy cao song không được tôn trọng. Nghe nói Tào Tháo lúc bé vốn thông minh, dũng cảm, lại rất hiếu động, sách “Thế thuyết tân ngữ” có chép ông ta khi ít tuổi đã là người đáng chú ý. Cuốn chính sử Tam quốc chí có chép: “Thái tổ ít để ý đến cái nhỏ, có quyền uy, thích phóng đãng, lại không lo làm việc gì”. Kỳ thực Tào Tháo bề ngoài có vẻ hiếu động song lại là một học sinh dụng công đọc sách, từ lúc bé đã cực kỳ thích binh pháp. Ông ta học đủ các binh pháp Chư Tử, tự mình phân tích, đặc biệt với “13 thiên binh pháp Tôn Tử”, có thê nói là có nghiên cứu rất sâu xa. Sau này Tào Phi trở thành Ngụy Văn đế có nói: “Cha ta khi còn sống rất thích đọc Thi thư và văn học cổ điển, khi ra ngoài tác chiến, thường không rời quyển sách, khi ở nhà thì quý sách như tính mệnh, ông từng nói: “Phải học ngay từ khi còn trẻ. Khi đã lớn tuổi trí nhớ cũng kém đi, thường chỉ thu được một nửa, dù như thế vẫn cần phải cố gắng đọc sách thêm một chút nữa!”.
            Kể từ ngày sáng lập thời Quang Vũ Đế trở về sau đã rất xem trọng “khí tiết”, “sĩ phong”, lại lấy tiến cử làm con đường cất nhắc chủ yếu; bởi vậy người đương thời rất chú trọng “nhân vật phẩm giám”; là một người tuổi trẻ sớm được chú ý đến, chớp cơ hội tiến triển, xem ra ông ta đã là người đáng được kể đến vậy.
            Do Tào Tháo có cá tính phóng đãng, “Tam quốc chí” cũng ghi rằng, người ta về căn bản đều không có thiện cảm với ông. Song khi ông mới mười lăm tuổi, lại có hai vị danh sĩ phái Thanh lưu, đã tán thưởng Tào Tháo hết mực.
            Hà Ngung người Nam Dương, là bạn thân thiết của Lý Ưng và Trần Phiên, từng ở ngôi Tam công với chức Tư không, là một nhân vật được tôn sùng lúc bấy giờ.
            Hà Ngung lần đầu thấy Tào Tháo đã cảm khái nói với một người bạn rằng, nhà Hán ắt sẽ diệt vong, muốn an định được thiên hạ, phải có được một người tài như người trẻ tuổi này.
            Kiều Huyền là người Lương Châu, từng có công bình định người Khương, làm đến chức Thái uý, con em của ông ta cũng không ít người giữ các chức quan cao trong triều. Kiều Huyền là người khiêm nhường chính trực, làm quan thanh liêm, có thể nói là một bậc gương mẫu, bởi vậy mà rất nổi tiếng lúc bấy giờ. Khi đối diện với một kẻ chưa nổi danh, lại đối địch với mình bởi là hậu duệ của hoạn quan, vối người thiếu niên mới mười lăm tuổi, Kiều Huyền vẫn nói với Tào Tháo những lời khích lệ rằng: “Thiên hạ không lâu nữa sẽ nhiễu loạn, chẳng có cái tài như anh thì chẳng thể giúp đời trị loạn, sau này giúp trăm họ có được hoà bình an lạc, ắt phải cần đến những người như anh!”.
            Hứa Thiệu là người Nhữ Nam, là một nhà tướng học có tiếng, ông ta cùng với người anh là Hứa Tĩnh mỗi lần gặp đều bình phẩm về những người trong vùng. Bởi Hứa Thiệu nổi danh, có không ít người ở xa xôi nghìn dặm xin ông đoán giúp, có thể nói đấy là nhà tiên tri nổi tiếng đương thời.
            Cuốn “Dị đồng tạp ngữ” của Tôn Thịnh, có chép như sau: “Tào Tháo đến gặp Hứa Thiệu yêu cầu thầy xem tướng cho mình, Hứa Thiệu đáp rằng: “Anh là người sẽ có tài năng thần trị thế, gian hùng ở đời loạn”, Tào Tháo nghe rồi cả cười mà đi”, (tác giả La Quán Trung trong Tam Quốc Diễn Nghĩa có đưa chuyện này vào trong tiểu thuyết).
            Từ những ghi chép này, chúng ta có thể thấy, Tào Tháo khi còn trẻ đã biểu lộ cá tính rất đặc sắc, ông có tính thích ứng với thời đại rất lớn, hơn nữa có tầm nhìn thấu đáo, những điều ấy gắn liền với cá tính hiếu động hoạt bát, lại cần cù đọc sách của ông.
            Những nhận xét của Hứa Thiệu, chủ yếu đã dự trắc trước, Tào Tháo chẳng những giỏi ở ứng biến khôn ngoan hợp lý mà lại có năng lực điểu hành trị quốc trong thời bình. Trong thời cục rối ren ông cũng có thể vứt bỏ những hạn chế quy phạm truyền thống, lấy thủ đoạn khác thường để ứng phó với cục diện nhiễu loạn. Ở nhà chính trị trẻ tuổi này, có đầy đủ tầm nhìn xa, năng lực thấu thị, hơn nữa lại sẵn có nhiệt tình vô hạn và tính hoạt bát, tự nhiên nhận được cái nhìn ưu ái và sự tiếp đãi của người có tâm với mình.


            4. Từ lý tưởng đến hiện thực
            Do tổ phụ và thân phụ có quan hệ với quan lại, Tào Tháo khi 20 tuổi, được tuyển làm Hiếu Liêm bắt đầu bước vào đường sĩ đồ. Quan chức đầu tiên của ông ta là Đô uý, đứng đầu toán quân cảnh bị bắc kinh thành, đấy cũng là một chức quan mà ít người đã có ngay được.
            Tào Tháo như con trâu nghé mới vực, có nhiệt tình và dũng khí, chẳng hề nghĩ đến những quan hệ đứt dây động rừng, vị tân quan này như có lửa nóng trong người, quyết làm việc chỉnh đốn đổi mới mà ông ta tâm đắc.
            Đầu tiên ông ta đã xử tội chết với người chú của Kiển Thạc, một đại hoạn quan, bởi phạm pháp, khiến cho giới đặc quyền kinh hãi song bởi Tào Tháo là người triệt để đi theo lập trường ủng hộ quyền lực Vương triều, phái đặc quyền cũng không biết làm sao, chỉ điều động ông ta nay đổi chỗ này mai đổi chỗ khác, khi ở trung ương khi ở địa phương, cuối cùng điều làm Nghị Lang một chức không có mấy quyền hành, song Tào Tháo chẳng hề thoái chí, ông lấy thơ ca để thể hiện lý tưởng chính trị của mình ví như hai bài thơ “Đối tửu” và “Độ quan Sơn” khác với những người cho rằng lập trường của ông tất cả vì nhân dân mà chẳng vì quan phủ, thực ra ông cho rằng lấy quyền lực đê tạo phúc cho dân, bởi vậy khi ông làm quan đã khích lệ sự tiết kiệm, khuyên dân giữ đúng phép tắc, ông cũng kịch liệt phản đôi quan lại nhiễu sách nhân dân, nhằm mục đích là dân được yên vui, với dân cùng hưởng. Để giúp bạn đọc hình dung chân thực về Tào Tháo, xin đưa bài châm sau đây:
            “Trong khoảng trời đất, con người là quý. Vua sáng chăn dân, làm ra phép tắc. Xe bon ngựa chạy, bốn hướng rõ ràng. Quét sạch bóng đêm, lê dân hoà lạc. Hậu thế ngợi ca, cải phong dịch tục. Dân vì vua sáng, chẳng tiếc sức lực. Đời vua Nghiêu Thuấn, khắp chốn yên vui. Di Tề ở ẩn, gương sáng còn lưu, chớ bày xa hoa, lấy kiệm cần làm đích...”.
            Xã hội nhiễu nhương, thời cục ngày mỗi xấu đi, dẫn đến sự biến cung đình, khiến cho Đổng Trác dẫn quân Tây Lương vào cuộc độc chiếm triều đình đoạt được chính quyền vương thất Đông Hán.
            Bởi Tào Tháo làm việc tích cực thanh liêm, danh tiếng rất cao, Đổng Trác có ý mượn tay ông ta để đề cao uy quyền của chính quyền mới, bèn cho Tào Tháo làm Kiêu kỵ hiệu uý (quan tư lệnh kỵ binh ở kinh thành). Song Đổng Trác là người bạo ngược, có lý tưởng chính trị trái ngược, Tào Tháo phải vứt bỏ quan chức chạy trốn, khốn khó vô cùng không may bị bắt, song lại được người hữu tâm giúp đỡ mới có thể trót lọt mà trở về quê hương.
            Bởi đeo đẳng lý tưởng chính trị Tào Tháo phải tán tận gia tài, được người giàu có ở làng giúp đỡ, chiêu mộ 5000 người, lần đầu giương cao cờ nghĩa, công khai trở thành một lực lượng vũ trang chống lại Đổng Trác.
            Sau khi bọn Viên Thiệu liên minh Quan Đông Tào Tháo gia nhập với họ, trở thành một trong hai đội quân giao đấu ác liệt với quân Đổng Trác (một đạo quân khác của Tôn Kiên là phụ thân của Tôn Quyền). Bởi vậy ông ta rất thất vọng với đạo quân Quan Đông, lại dẫn quân về Hà Nội chấn chỉnh giáo mác chờ đợi cơ hội.
            Khi đó quân Hoàng Cân ở Thanh Châu với 10 vạn người đánh vào Cổn Châu cướp lương, quân trấn thủ Cổn Châu do Lưu Đại, Bào Tín cầm đầu liên tiếp đại bại, thủ lĩnh đều giữa trận bỏ mạng, Tào Tháo được sự tiến cử của Bào Tín trước đó tạm lãnh Cổn Châu mục. Bởi Tào Tháo có sự thông cảm với dân biến loạn, chiêu phủ quân Hoàng Cân nhiều lần, ân uy đều có, đã nhanh chóng bình phục được sự kiện này. Tào Tháo phản đối bạo lực mù quáng, lại mở đường cho họ thu nạp 30 vạn quân Hoàng Cân đầu hàng vào biên chế, còn những người già yếu, phụ nữ, trẻ em cho về quê cày cấy, những thanh niên trai tráng được huấn luyện quân sự, tạo thành đại quân Thanh Châu. Từ đấy Tào Tháo chẳng những có địa bàn lại có quân lính của mình tranh bá quyền bính với thiên hạ.
            Sau khi đặt nền tảng ở Cổn Châu, Tào Tháo quyết định mở rộng địa bàn của mình, mục tiêu của ông ta là Từ Châu ở phía đông, ở đấy Đào Khiêm thứ sử Từ Châu đã toàn tâm phòng bị sẵn, bởi Tào Tung thân phụ của Tào Tháo đang tị nạn ở Từ Châu, Đào Khiêm căn cứ vào truyền thống võ trọng đức, phái bộ tướng Trương Khởi hộ tống Tào Tung xuất cảnh. Gia đình Tào Tung mang theo khá nhiều của cải, Trương Khởi nhân đó chiếm đoạt giết hại Tào Tung và đứa con nhỏ Tào Đức. Tào Tháo nghe tin rất đỗi bi thống, thề rằng tắm máu rửa thù cho cha ở Từ Châu. Đào Khiêm tuy liều mình song hiển nhiên không phải là tay đối thủ, sau khi công phá được vị trí quân sự trọng yếu Đàm Thành, Tào Tháo xuống lệnh hủy diệt toàn thành, nghe nói quân dân Từ Châu bị giết cả ở bên sông Tứ Thủy đến vài vạn người, đến nỗi nước Tứ Thủy không chảy được.
            May mà có Tôn Toản một chúa công ở Hoa Bắc, phái Lưu Bị đang làm huyện lệnh Bình Nguyên dẫn quân cứu viện, lại thêm ở bản doanh Cổn Châu của Tào Tháo, Trương Mạc cấu kết với Lã Bố làm phản, mới bức được Tào Tháo phải rút quân, song Từ Châu trải qua chiến loạn, nhân dân lưu tán, tài vật tổn thất không kể nổi, bị rơi vào cảnh binh hoang mã loạn, cả nhà Gia Cát Lượng, được ông chú Gia Cát Huyền mang theo, phải dời bỏ quê hương trước đến Dự Chương sau chuyển đến Kinh Tương tránh nạn chính là bởi sự kiện này. Kể từ khi rút binh khởi Từ Châu, ổn định lại Cổn Châu, Tào Tháo tiếp thu đề nghị của mưu thần Tuân Úc, Trình Dục, thực hiện quyết sách trọng yếu nhất một đời của ông ta là: Nhân Hán Hiến đế đang bị quân Tây Lương bức phải lưu lạc, nghênh tiếp về yên vị ở Hứa Đô, việc làm với ý nghĩa lớn này, sẽ để tiếng lại về sau là uy hiếp thiên tử để sai khiến Chư hầu. Các sử học gia đời sau cho rằng đây là một nước cờ rất thành công trong việc giành bá quyền của Tào Tháo, lại rất ít nhắc đến nỗi đau và hiểm cảnh chẳng mấy ai hay. Lấy cớ phụng giá thiên tử, như vậy ông ta đã chiếm được quyền lực tối cao, đối với một thủ lĩnh đại quân mà nói, đó là một sách lược rất mạo hiểm, ít có khả năng trở thành hoàn hảo, mà lại thành đối tượng bao vây của các đại quân, giống như Đổng Trác năm nào.
            Trong đại quân Viên Thiệu, binh lực gấp nhiều lần Tào Tháo; tổng tham mưu cũng bàn bạc kéo dài về đối sách với việc này, để chiếm ưu thế hơn. Song cựu thần Quách Đồ và đại tướng Thuần Vu Quỳnh kịch liệt phản đối, ông cho rằng phụng giá thiên tử, nhìn bề ngoài có ưu thế tuyệt đối song thực tế cũng có thể lập tức trở thành cái đích chịu nhiều mũi tên bắn. Hơn nữa thiên tử đang ở trong vòng, hành động ra sao, về nghi lễ đều phải báo cáo để ông ta rõ, sẽ phá hoại đến tính cơ động và tính bảo mật của quân cơ. Đương nhiên, nghiêm trọng hơn là các công khanh đại thần xung quanh hoàng đế lại không dễ qui thuận, rất khách khí, thì phụng giá thiên tử xét về căn bản chẳng phải là việc dễ dàng. Nếu thái độ cứng rắn quá, những đại thần đó tất nhiên sẽ không bằng lòng, tìm mọi cách chống đối, thế không thể tránh khỏi, chẳng khác gì vướng phải một quả mìn nổ chậm ở bên mình.
            Trên thực tế Tào Tháo về sau bị chỉ trích là gian hùng ông ta trường kỳ đấu tranh chính trị với các đại thần dẫn đến sự kiện Đổng quốc cữu và Phục hoàng hậu, đều bởi từ đó mà ra.
            Khi đề xuất sách lược phụng giá thiên tử, các tham mưu và tướng lĩnh trong doanh trại Tào Tháo, cơ hồ toàn bộ đều phản đối sách lược quá mạo hiểm đó, song Tuân Úc lại kiên quyết chủ trương: “Nay thiên tử đang ở giữa vạn nỗi gian khó, tướng quân là nghĩa binh hàng đầu, hợp lẽ phụng giá thiên tử, sẽ rất được lòng dân, như thế ắt thuận lợi vậy”.
            Rõ ràng rằng nếu đứng trên lập trường quân phiệt cát cứ tự chủ phụng giá thiên tử hại nhiều hơn lợi. Song nếu như lấy việc phục hồi trật tự trong thiên hạ, tiến đến nắm đại quyền quốc gia, xét ở góc độ sách lược, luân lý chính trị và lợi hại chính trị không thể không đi theo. Bởi vậy Tào Tháo bất chấp dư luận, quyết vận dụng đề nghị của Tuân Úc, lại sai tướng quân Tào Hồng hộ giá Hán Hiến đế từ Lạc Dương về Hứa Đô, điều này cho thấy bản chất tư lự chính trị của Tào Tháo, không đồng nhất với tập đoàn quân phiệt Viên Thiệu.


            5. Tự cổ dùng binh không ai như Tào Tháo.
            Xét về quân sự, tài năng của Tào Tháo đã được khẳng định rõ ràng.
            Tô Đông Pha, một trong bát đại gia Đường Tống, từng biểu thị: “Dụng binh từ thượng cổ, Tào Tháo chẳng ai bằng, một chuyện diệt Viên Thiệu, trí lự rõ tài năng”. Điều này cũng được Gia Cát Lượng nói rõ: “Tào Tháo dụng binh phảng phất như Tôn Ngô (chỉ Tôn Vũ và Ngô Khởi)”. Ngoài thực tế chỉ huy tác chiến, cuốn sách “Ngụy Vũ chú Tôn Tử” do Tào Tháo trước tác, trải qua hai nghìn năm vẫn được các nhà quân sự công nhận là từ xưa đến nay, đấy là tác phẩm giải thích rõ nhất về binh pháp Tôn Tử.
            Tào Tháo suốt đời cơ hồ không dừng vó ngựa chiến; liên tục Đông chinh, Tây phạt, Nam chinh, Bắc chiến. Ông chẳng những dũng cảm trong hành động, lại có tầm nhìn xa, sách lược thấu thị cùng qui hoạch chiến đấu rõ ràng. Do có một trí lự thiên bẩm, nên suy tư thấu đáo về những nguyên lý nguyên tắc trong binh pháp, ứng dụng dễ dàng, rất kỳ lạ. Trong điều kiện và cục diện ác liệt, cũng thường chuyển bại thành thắng, cuối cùng ông ta trở thành người nổi tiếng nhất giữa đám quần hùng cuối đời Hán.
            Trận chiến ở Quan Độ là điểm ngoặt trong sự nghiệp của Tào Tháo. Đối diện với đạo quân của Viên Thiệu hơn hẳn 10 lần, với các chiến tướng đông đảo, Tào Tháo đã vận dụng đầy đủ thiên thời, địa lợi của binh pháp; về chiến lược, ông chủ động chọn địa điểm Quan Độ, làm địa điểm quyết chiến triệt để nắm lấy điều kiện địa lợi. Sau đó, ông thực hiện chiến thuật dẫn dụ khiến đạo quân Viên Thiệu không thể không tập trung ở địa khu Quan Độ, gián tiếp tạo thành sự bất lợi cho Viên Thiệu về sự vận chuyển lương thảo.
            Sau khi đã bố trí, Tào Tháo dẫn dụ quân Viên Thiệu trúng kế húc vào, quân Nhan Lương và Văn Sú vốn dũng mãnh, đã vượt qua Hoàng Hà mắc phải chiến trường đợi sẵn. Trước sự quyết chiến lớn, với hai đạo quân đột kích đáng sợ, trận doanh của Viên Thiệu ngay từ lúc đầu đã rơi vào tình thế rất bất lợi.
            Tiếp đến là cuộc chiến kéo dài hơn 4 tháng, bất luận Viên Thiệu khiêu chiến ra sao, Tào Tháo đều lợi dụng địa hình để cố thủ. Lúc đó đang là cuối hạ đầu thu, lương thực ở Hoa Trung đã thu hoạch xong, kho lương của quân Tào đầy ắp, song quân Viên Thiệu quá đông, bởi đường xá vận chuyển xa xôi, khiến việc bổ sung lương thực thành ra là một vấn đê nghiêm trọng. Việc đánh kéo dài của Tào Tháo, hiển nhiên này là nhằm vào điểm yếu đó, nhờ được tin tình báo của Hứa Du, một hàng tướng đến từ phái Viên Thiệu biết được lương thảo của quân Viên Thiệu để ở Ô Sào, Tào Tháo nhân đó mà có ý định, tự mình dẫn một đạo quân bé đột kích chớp nhoáng đánh vào Ô Sào, dùng hoả công thiêu cháy hủy hoàn toàn lương thảo của quân Viên Thiệu. Nghe nói lương thực bị hủy sạch, phần lớn quân Viên Thiệu vô cùng kinh hoảng, chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến đánh đấm, trong quân tan rã, dẫn đến việc Trương Cáp một tướng tài dưới trướng đầu hàng Tào Tháo. Viên Thiệu bất đắc dĩ phải vội vàng rút quân về phía bắc, trong khi qua Hoàng Hà, lại bị Tào Tháo truy kích dữ dội, Viên Thiệu chẳng kịp đề kháng, số thương vong có đến hơn 8 vạn người, quân tinh nhuệ bị tiêu diệt sạch, Viên Thiệu được quân cận vệ liều chết bảo vệ chỉ cốt chạy tháo thân.
            Hai năm sau, Viên Thiệu ngã bệnh từ trần, các con Viên Thiệu đấu đá nhau, Tào Tháo dùng “chiến thuật phân biệt đối đãi”. Hai năm như vậy, để họ tự tàn sát lẫn nhau, thực lực đã hoàn toàn suy yếu, mới dễ dàng bẻ gẫy dần quân Viên Đàm, Viên Hy và Viên Thượng, từ đấy ngoài đạo quân Tây Lương của Mã Đằng, Hàn Toại còn chiếm cứ Quang Trung, trên thực tế Tào Tháo đã khống chế khắp cả Nam Bắc Hoàng Hà, chiếm nửa phần Trung Quôc. Từ đại chiến Quan Độ, bắt đầu một thời kỳ mới, đến giai đoạn này thế lực của họ Viên đã bị diệt trừ, Gia Cát Lượng đang ở Long Trung, cách thành Kinh Tương 20 dặm, hằng ngày vẫn nắng cày bừa, mưa đọc sách.


            6. Nhà chiến lược trẻ tuổi chưa ai biết đến.
            Khoảng 10 năm kể từ tuổi mười bẩy Gia Cát Lượng vẫn ở Long Trung phíạ ngoài thành Tương Dương ở Kinh Châu, hằng ngày cày bừa và đọc sách. Ở phía nam Hán Thủy, Long Trung chỉ có một con đường nhỏ hẹp dẫn vào, thôn Long Trung chạy dọc bên đường ước khoảng vài ba dặm. Đó là một thôn nhỏ vùng núi có sơn thủy diễm lệ. Tam quốc chí có chép, Gia Cát Lượng ở đấy có một ngôi nhà cỏ, hơn nữa lại tự mình cày ruộng, một người trẻ tuổi chẳng có gia sản và có ít quan hệ, tất cả phải dựa vào chính mình chẳng giống như bọn bạch diện thư sinh vẫn được chiều chuộng. Có thể thấy bởi có một đòi sống như vậy, Gia Cát Lượng phải tự tay chế tạo công cụ, từ bé phải tự lực cánh sinh có được sức sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú.
            Cuốn chính sử “Tam quốc chí” có chép về Gia Cát Lượng khi còn ít tuổi như sau:
            “Gia Cát Lượng tự mình cày ruộng, rất thích đọc Lương Phụ Ngâm, thân cao 8 thước ta, thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị khi xưa, người bấy giờ chẳng mấy ai biết đến, chỉ có Thôi Châu Bình ở Bác Lăng, Từ Thứ (Nguyên Trực) ở Dĩnh Xuyên với Gia Cát Lượng kết bạn tri kỷ; quả thực là vậy”.
            Độ cao 8 thước ta, có nghĩa là cao 1,8m bây giờ; có thể nói rằng Gia Cát Lượng chẳng phải như có người nói, kẻ sĩ yếu đuối “trói gà không chặt”, trái lại do sớm lao động từ bé, Gia Cát Lượng lớn lên có một cơ thể đại hán Sơn Đông khang kiện, hùng tráng uy vũ. Ông ta thường ví mình với hai vị danh tướng thời Xuân Thu chiến quốc là Quản Trọng và Nhạc Nghi, cho thấy có chí nguyện từ khi còn trẻ, muốn được lập công nơi trận mạc, là một võ tướng giầu mưu lược; cũng cho thấy thời thơ ấu trải qua loạn lạc khiến ông rất quan tâm đến chiến tranh, bởi vậy thời trẻ đã đọc thuộc lầu binh thư, nghiên cứu sâu xa về binh pháp. Song do hạn chế ở hoàn cảnh, khiến ông lúc nhỏ không có cơ hội tập võ, nay xem kỹ sử liệu, Gia Cát Lượng tựa hồ là người chỉ năng động não, mà không thể làm một đại tướng tự tay múa giáo. Trong những ghi chép còn lại, cũng chưa thấy Gia Cát Lượng cầm đao kiếm bao giờ.
            Đời sống gian khổ từ bé, đã nuôi dưỡng ông sớm chín chắn, nghiêm túc cẩn thận mà tôn trọng lễ tiết, tư lự chu đáo và cũng rất tự tin ở mình. Bởi vậy, người mà ông kết giao thường hơn tuổi ông rất nhiều. Theo tư liệu lịch sử thì Từ Thứ hơn Gia Cát Lượng khoảng 15, 16 tuổi, cơ hồ là đàn anh, còn Thôi Châu Bình, Thạch Quảng Nguyên, Mạnh Công Uy lại hơn tuổi Từ Thứ. Còn về sự qua lại với gia tộc Bàng Đức Công nổi tiếng trong vùng, Gia Cát Lượng lúc đó kém Bàng Đức Công khoảng 30 tuổi mà đối với Bàng Thống chỉ hơn ông ta 3 tuổi, sự tiếp xúc cũng không nhiều, bởi vậy bạn bè với Gia Cát Lượng không nhiều lại ít qua lại, đối với việc Gia Cát Lượng ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, là chuyện khó tin vậy.
            Chẳng qua, Gia Cát Lượng với những người bạn chênh lệch tuổi, thường không một chút tự ti, lại rất hoà đồng với họ, thường cùng có chí hướng thảo luận thời sự và tương lai. Bùi Tùng Chi chú giải “Tam quốc chí” có chép như sau:      Từ Nguyên Trực, Thôi Châu Bình, Mạnh Công Uy thường thảo luận với Gia Cát Lượng về học vấn, Từ Nguyên Trực về học vấn có tinh thông hơn ba người kia, nghiên cứu sâu xa về kinh điển, có kiến giải rõ ràng, có lòng vì người giúp đời. Song Gia Cát Lượng khi ấy lại không giống như thế, ông thích đại lược, cũng là nói ông thích mở rộng vấn đề, chú trọng ở ứng dụng thực tế, cốt ở thông hiểu nhiều mật, để có một tri thức toàn diện. Đương nhiên, Gia Cát Lượng có năng lực học tập hơn người, ông tinh thông kinh điển Chư Tử đủ cả nho, pháp, đạo, tạp, đối với thiên tượng địa lý, công trình thổ mộc binh pháp kinh dịch đều có nghiên cứu sâu xa, có thể gọi là một nhà “tạp gia”.
            Nói thế để thấy Gia Cát Lượng là người có tâm, chẳng phải như trong “Xuất Sư Biểu” đã nói: “Chỉ lo giữ yên mệnh ở đời loạn chẳng cầu nổi tiếng vối chư hầu” phỏng theo các danh sĩ, trái lại ông rất mong đợi ở con đường làm việc nay mai.
            Bùi Tùng Chi có chép: Có một hôm Gia Cát Lượng nói với Từ Nguyên Trực, các anh nay mai làm quan, xem tài cán chắc sẽ làm đến thứ sử hoặc quận trưởng”. Từ Nguyên Trực đáp rằng: “Còn anh thì sao?” Gia Cát Lượng chỉ cười mà không nói. Từ Nguyên Trực sau này ra làm quan với Tào Ngụy đến chức Trung lang tướng kiêm Ngự sử. Mạnh Công Uy thì làm thứ sử Lương Châu. Thạch Quảng Nguyên cũng làm đến quận trưởng, lại thêm chức Điển Nông hiệu uý. Gia Cát Lượng đã ví mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị, cho thấy hoài bão của ông, vẫn nuôi đại chí muốn làm kẻ bầy tôi chỉ dưới một người trên cả vạn người. Bùi Tùng Chi ngợi ca ông là người tài hơn người đời, khí chất nổi trội, ngay từ thòi trẻ đã cho thấy ông có những biểu hiện không giông với người khác.


            7. “Lương Phụ Ngâm” và nghi án thiên cổ
            Trần Thọ trong “Chuyện Gia Cát Lượng” có chép một đoạn văn khiến người đời sau rất hứng thú, kể việc họ Gia rất thích đọc Lương Phụ Ngâm. Lương Phụ Ngâm đã miêu tả cái gì? Vì sao Gia Cát Lượng khi còn trẻ lại đặc biệt thích đọc nó?
            Theo ghi chép sử liệu hiện có, Lương Phụ Ngâm là một bài ca dao cổ của quê hương Gia Cát Lượng vẫn được lưu truyền ở nước Tề, nội dung của nó được miêu tả như sau:
                        Tề thành - bên cửa dừng chân
                        Trông vời có phải Đãng Âm phía này
                        Phải răng ba mộ còn đây
                        Rưng rưng chợt hiện chuyện ngày xa xưa:
                        Hỏi quanh:
                                    - Ai đó bấy giờ?
                                    - Điền Cương, Cô Dã sức dư muôn người
                        Nam Sơn đủ sức chuyển rời
                        Ngờ đâu tuyệt địa ngậm ngùi tài trai.
                        Giữa triều quỷ kế đặt bầy,
                        Hai đào, ba mạng chuyện này lạ sao
                        Hỏi ai bày vẽ mưu sâu?
                                    - Án Anh tướng quốc đứng đầu Tề quan!
            Ý tứ của câu ca dao này là: Nếu có ai đó bước tới Đô thành Lâm Chuy nước Tề, nhìn xa về phía nam mà nhớ đến quá khứ, có một nơi gọi là Đãng Âm trong làng ấy có ba ngôi mộ cổ hình thức kiến tạo cơ hồ giống hệt nhau.
            Lại thử hỏi phần mộ ấy là của ai, người trong làng sẽ nói cho ta rõ, đấy là mộ phần của các dũng sĩ Điền Cương và Cổ Dã nước Tề đời Xuân Thu (ngoài ra còn có một ngôi mộ nữa là Công Tôn Tiết cũng nổi tiếng lúc bấy giờ). Đấy là ba dũng sĩ sức có thể dời đổi núi Nam Sơn, kiếm thuật tinh diệu vô cùng.
            Không may ba người cùng bị lời gièm pha hãm hại chỉ có hai quả đào mà giết hại cả ba dũng sĩ, hỏi ai là tay cao thủ xếp đặt âm mưu này? Đó là quan tể tướng lừng danh nước Tề tên là Án Tử! Câu chuyện bi thảm về hai quả đào giết hại ba dũng sĩ này xảy ra vào cuối đời Xuân Thu. Trong “Án Tử Xuân Thu”, có ghi chép tường tận việc ấy đại khái như sau:
            Lúc ấy vào cuối đời Xuân Thu, Tề cảnh Công đang ở ngôi báu, nước Tề đang có ba kẻ dũng sĩ nổi danh, họ tên là Điền Cương, Công Tôn Tiết và Cổ Dã võ dũng hơn người, một người đương nổi nghìn người, tiếc nỗi cá tính của họ kiêu ngạo mà cuồng vọng, nếu như họ cùng hợp lại, có thể uy hiếp được sự an toàn của vương triều nước Tề.
            Tể tướng Án Anh nước Tề biết rõ về ba người ấy, họ kiêu ngạo mà sĩ diện, bởi vậy khoét sâu vào nhược điểm ấy, bầy mưu để Tề cảnh Công trừ khử ba viên dũng sĩ nọ. Có một hôm, Lỗ Chiêu Công lại thăm, có tặng mấy quả đào tiên, Tề Cảnh Công đã ban phát cho mấy quan đại thần chỉ còn thừa có hai quả đào. Án Tử nhân đó nói với Tề Cảnh Công, không có gì bằng đem hai quả đào này cho mấy viên dũng sĩ đó, để biểu dương khả năng của họ. Tề Cảnh Công lập tức xuống lệnh, các thần dân đều có thể tự biểu dương công lao để giành được vinh dự này. Công Tôn Tiết dướn người lên tâu rằng: “Mấy năm trước, thần hộ giá chúa công đi săn ở Đồng Sơn, gặp phải hổ dữ thần đã ra tay bắt hổ, bảo vệ được chúa công, công đó hỏi có gì bằng?”.Nói xong tiến lên trước cầm một quả đào ăn ngay lập tức.
            Cổ Dã nhìn thấy hăng hái đứng dậy nói to rằng: “Bắt hổ có gì là lạ, thần có lần hộ giá chúa công qua Hoàng Hà, gặp phải con rồng tác oai tác quái, tình huống phi thường nguy hiểm, thần đã ra tay chém chết nó, sóng yên gió lặng, cứu nguy được thuyền, công này có gì bằng?”.
            Tề Cảnh Công cũng làm chứng rằng: “Đúng vậy, lúc đó sóng gió quá chừng, nếu tướng quân chẳng giết được rồng, chẳng thể giải nguy thực là kỳ công cái thế vậy, đáng được thưởng quả đào này!” Cổ Dã nghe rồi, cũng lập tức tiến lên cầm một quả đào ăn liền. Bỗng thấy Điền Cương chợt nổi xung lên la lớn rằng: “Thần từng phụng mệnh chinh phạt nước Từ, chém được danh tướng, bắt được hơn 500 người khiến vua nước Từ khiếp sợ phải chủ động đầu hàng, cầu xin làm nước phụ thuộc, chiến công lần đó, khiến các quốc vương nước Trịnh và nước Cử thảy đều kinh hãi, cùng tôn sùng chúa công làm minh chủ, công lao như vậy cũng đủ tư cách ăn đào lắm chứ!”.
            Án Tử cũng nhân đó tâu rằng: “Công lao của Điền Cương thực rất lớn, gấp 10 lần hai vị kia, tiếc đào tiên đều ăn hết rồi xin thưởng cho một chén rượu, dịp khác sẽ ban thưởng vậy!”.
            Tề Cảnh Công cũng chiều theo: “Công của Tướng quân rất lớn, đáng tiếc nói hơi chậm, giờ chẳng còn quả đào nào nữa để thưởng cho ngươi”.
            Điển Cương tuốt kiếm giơ lên mà rằng: “Chém rồng đánh hổ, chỉ là chuyện nhỏ, thần xông pha nghìn dặm đổ máu lập công, lại không được ăn đào tiên, thực là sỉ nhục, chẳng khác gì chuyện hai vua Tề, Lỗ hội yến, khiến cho vạn đại còn đàm tiếu, còn mặt mũi nào mà đứng giữa triều đình”. Nói rồi quay kiếm tự đâm mà chết.
            Công Tôn Tiết nhìn thấy thất kinh mà rằng: “Thần công lao bé nhỏ mà cướp lấy phần đào, Điền tướng quân công rất lớn lại không được ăn, thần không nhường phần đào thực chẳng phải kẻ sĩ liêm khiết, thấy người ta chết mà không dám theo thật chẳng phải hành động của kẻ võ dũng”. Nói rồi, cũng tự đâm mà chết.
            Cổ Dã vội la lớn rằng: “Ba người chúng thần tình như cốt nhục, thề cùng sinh tử, hai người đã chết, thần đâu dám ham sống chẳng đành lòng vậy!” cũng lại tự đâm mà chết.
            Tề Cảnh Công thấy ba người cùng biểu lộ chí khí của kẻ hào kiệt bèn lấy lễ trọng hậu táng; đấy là câu chuyện “Nhị đào sát Tam sĩ” vẫn còn lưu truyền. Các bậc phụ lão nước Tề đôi với ba kẻ hào kiệt, cùng cảm thương người giữ khí tiết mà ngộ nạn, đã làm ra khúc ca dao bi ai “Lương Phụ Ngâm” một mặt khác cũng nói mát Án Tử người vẫn nổi danh là hiền tướng, đã lấy mẹo gian bất nhân hại người vô tội.
            Có một số nhà sử học cho rằng Gia Cát Lượng thích đọc Lương Phụ Ngâm chỉ là do nhớ nhung quê hương nên thường ngâm ngợi khúc ca dao quê hương mà thôi, chẳng có nội dung gì khác, thậm chí có người cho rằng Lương Phụ Ngâm là khúc ca dao thông tục của nước Tề. Gia Cát Lượng sở dĩ ngâm ngợi chẳng phải bởi cái tiêu đề “Nhị đào sát Tam sĩ”. Tuy nhiên các sử liệu cũng không đủ bằng chứng để cho rằng Gia Cát Lượng thích đọc Lương Phụ Ngâm bởi bài ca dao ấy nói mát Án Tử, song cá tính đặc dị độc hành của Gia Cát Lượng thời trẻ, qua những dòng ghi chép trân trọng của Trần Thọ cho thấy không chỉ là tượng trưng cho nỗi nhớ quê hương mà thôi.
            Án Tử, tên gốc là Án Anh là một tướng quốc nổi tiếng trong lịch sử, từng nhiều lần bằng vào trí tuệ của mình, cứu vớt quốc gia qua những nguy nan. Ông là người chính trực, nổi danh bởi những lời can gián, rất được vua Tề tín nhiệm, có quyền lực bất nhất trong triều ngoài nội. Song An Tử làm quan thanh liêm, bữa ăn thường không có cá thịt, vợ con không mặc áo đẹp, đến cả Khổng Tử rất ít khi ca ngợi các chính khách, cũng có lời khen ngợi ông. Tư Mã Thiên trong “Sử kí”, cũng xếp ông với danh tướng Quản Trọng trong “Quản An liệt truyện” khá thấy Án Tử có địa vị rất cao trong con mắt những học giả lịch sử.
            Gia Cát Lượng thích đọc Lương Phụ Ngâm cho thấy ông cảm thụ sâu sắc về sự kiện ấy, ba dũng sĩ bởi sự yên định của quốc gia mà bất đắc dĩ phải hy sinh bi thảm, hình như quan tể tướng Án Tử trí lự có phần tàn nhẫn, lộ ra mặt trái tàn khốc sau những xưng tụng hoa mỹ, đối với nhân vật chính trị này, chẳng thể không luận rõ ứng xử; Gia Cát Lượng khi còn trẻ đã có ý thức về sân khấu chính trị có lãnh hội và giác ngộ triệt để.


            8. Bộ ba xe pháo mã.
            Cuối đời Đông Hán nhân tài xuất hiện nhiều ỏ Dĩnh Châu và Nhữ Nam (đều ở tỉnh Hà Nam), đặc biệt đại bản doanh của phái Thanh lưu cũng ở đấy; Phạm Bàng, Hứa Nhữ xuất thân ở Nhữ Nam, Lý Ưng thì nổi tiếng ở Dĩnh Châu. Trong thư của Tào Tháo viết cho Tuân Úc, có đề cập rằng: Nhữ Nam, Dĩnh Châu vôn nhiều danh sĩ, muốn Tuân Úc lưu ý nhiều về việc ấy, để đề bạt nhân tài. Tuân Úc và Quách Gia là tay trái, tay phải của Tào Tháo đều xuất thân ở Dĩnh Châu.
            Cuối đời Hán, các quân khu cát cứ, các nhân sĩ Dĩnh Châu đều dạt về phương nam hoặc phương đông tị nạn, đặc biệt Lưu Biểu trụ ở Kinh Châu bởi vận dụng sách lược bế quan tự thủ, không bị cuốn vào cuộc đấu đá, trở thành nhân vật rất được ái mộ của phái Thanh lưu. Những người bạn vong niên của Gia Cát Lượng như Từ Nguyên Trực, Thạch Quảng Nguyên đều xuất thân ở Dĩnh Châu, còn Mạnh Công Uy thì xuất thân ở Nhữ Nam, song có ảnh hưởng lớn đến cuộc đời Gia Cát Lượng lại là “Thủy kính tiên sinh Tư Mã Huy.
            Tư Mã Huy tên chữ là Đức Tháo là một học giả rất nổi tiếng ở Dĩnh Xuyên, thời loạn lạc ông không muốn rời quê nhà, song lúc đó danh sĩ Kinh Tương là Bàng Thống chẳng ngại đường xa nghìn dặm đến Dĩnh Xuyên thăm Tư Mã Huy khuyên ông hãy đến Kinh Châu tạm lánh, sau lại bởi người đồng hương là Từ Thứ nói mãi, đặc biệt là bởi lời của Bàng Đức Công, lãnh tụ phái danh sĩ Kinh Tương. Tư Mã Huy đã rời Dĩnh Xuyên đến Kinh Tương lập trường Tư Thục ở gần nhà Bàng Đức Công, chiêu tập các đệ tử xa gần.
            Có thể thấy là cùng với những người khác, Tư Mã Huy rất thích Gia Cát Lượng, ngoài việc giúp đỡ về học thuật còn xếp đặt để Gia Cát Lượng đến Nhữ Nam bái kiến đại sư. Nghe nói đại sư Phong cửu thông hiểu thao lược, khắp cả bách gia Chư tử môn phái, hơn nữa lại nghiên cứu sâu rộng vê binh pháp nổi tiêng là một danh sỉ ở Nhữ Dĩnh. Sau khi Tư Mã Huy đã đến bái kiến ông, ví mình như quả bầu với biển rộng để khen ngợi tài học của Phong Cửu. Bởi Phong Cửu vẫn ẩn cư ỏ Linh Son Nhữ Nam, Tư Mã Huy tự mình dẫn theo Gia Cát Lượng, tiến cử với ông ta, mới được nhập học. Nghe nói Gia Cát Lương thụ giáo được một năm rưỡi, đặc biệt về binh pháp học và đạo học, đã nhận được không ít chất truyền của Phong Cửu.
            Tư Mã Huy giỏi ở quan sát con người mà nổi tiếng, bởi vậy được gọi là “Thủy kính tiên sinh”, trở thành một lãnh tụ của những phần tử tri thức ở Kinh Tương. Trong số đàn em, ông rất thích Gia Cát Lượng và Bàng Thống. Gia Cát Lượng ẩn cư ở Long Trung chịu ân tri ngộ của Bàng Đức Công, được người đời gọi là “Ngọa Long”, còn Bàng Thống là hậu duệ của một dòng họ nổi tiếng, được gọi là “Phượng Sồ”. Sau này Tư Mã Huy đã đề cử với Lưu Bị cả hai người thanh niên anh tuấn, bởi họ có mưu lược, có tầm nhìn xa, lại thức thời đáng mặt tuấn kiệt, nổi trội hơn nhũng phần tử khác trong phái Thanh Lưu.


            9. Kết giao với danh sĩ, chẳng nhằm ở danh vọng.
            Vùng Kinh Tương vẫn là căn cứ địa của phái Thanh Lưu, gồm có sáu gia tộc lớn. đó là các họ Bàng, Hoàng, Khoái, Sái, Tập. Thứ sử Kinh Châu Lưu Biểu có vị trí rất cao trong phái Thanh Lưu, nổi danh là một người trong nhóm Bát tuấn, bởi vậy khi Kinh Châu bị rơi vào nhiễu loạn, Lưu Biểu là một viên quan của triều đình phái đến, được sự giúp đỡ của hai nhà Khoái, Sái, nhờ mưu lược của anh em Khoái Việt, Kinh Tương mới được yên định.
            Khoái Việt cùng Sái Mạo của họ Sái, đều là những trụ cột của Lưu Biểu, Lưu Biểu còn có một người vợ lẽ là em gái Sái Mạo, hai họ có quan hệ thân thích mật thiết.
            Song sự giúp đỡ của hai họ Khoái - Sái càng làm cho Lưu Biểu chỉ chú trọng ở hư danh, đúng như Từ Thứ đã nói, chẳng trọng dụng người hiền lại chẳng trừ khử kẻ xấu bởi vậy các danh sĩ trong vùng, vẫn đối với Lưu Biểu bằng thái độ “kính nhi viễn chi”, không hợp tác. Song Lưu Biểu cũng chẳng biết làm gì đối với họ.
            Trong số sáu nhà ấy, họ Bàng có lực lượng rất lớn, lãnh tụ của họ Bàng là Bàng Đức Công đã cho Gia Cát Lượng hai chữ Ngọa Long. Bàng Đức Công là người khảng khái trọng nghĩa khí, giao du rộng rãi, học vấn uyên bác. Lưu Biểu đã mấy lần mời ông ta ra làm việc, đều bị từ chối khéo. Sách “Hậu Hán thư” có chép về việc ấy:
            “Có một hôm, Lưu Biểu đích thân đến thăm Bàng Đức Công bảo rằng: “Tiên sinh không chịu ra làm quan sau này để lại gì cho con cháu nhỉ?” Bàng Đức Công mỉm cười mà rằng: “Tôi với người ta bất động, người ta chỉ đem lại sự nguy hiểm cho con cháu “bạn với vua như bạn với hổ”, còn tôi để lại cho chúng nó sự an toàn “một mình giữ thiện”.
            Gia Cát Lượng khi mới đến ở Long Trung đã rất kính trọng Bàng Đức Công. Nghe nói khi mới 8 tuổi, Gia Cát Lượng đã chủ động đến bái kiến Bàng Đức Công, được nhận làm tiểu đồ đệ, thường cúi chào cung kính, tỏ ra rất lễ phép. Bàng Đức Công thấy chú bé sớm hiểu lễ phép, cho chú bé đến thư viện riêng xem sách, lại còn chỉ vẽ cho phải làm những gì. Song không lâu Bàng Đức Công vốn là người giỏi xem tướng, thấy ở Gia Cát Lượng có những mặt khác thường, lại có chiếu cố đặc biệt, ông ta rất hy vọng ở tài năng của Gia Cát Lượng, xem việc Gia Cát Lượng ở Long Trung gọi đó là Ngọa Long (con rồng nằm), thấy trước một kẻ tuấn kiệt nay mai, cũng như con rồng nằm ở trong đầm lớn, chỉ đợi có cơ hội tất sẽ bay lên trời cao, thực hiện những việc lớn lao. Danh hiệu này được Bàng Đức Công trao cho đã khiến chàng thanh niên Gia Cát Lượng chỉ sau một đêm trở thành một danh nhân ở đất Kinh Tương. Được sự sắp xếp của Bàng Đức Công người chị gái của Gia Cát Lượng đã lấy một người con của họ Bàng là Bàng Sơn Dân; một người giầu có ở đất Kinh Tương, lại làm thông gia với một nhà cô nhi ngoại địa đã làm chấn động những kẻ sĩ ở Kinh Tương, đây cũng là một biểu thị thiện cảm mà họ Bàng dành cho Gia Cát Lượng.
            Người cháu của Bàng Đức Công là Bàng Thống (tên chữ là Sĩ Nguyên) hơn Gia Cát Lượng ba tuổi, dáng vẻ cao lớn mà thuần phác song rất có tài hoa, ngoài những kẻ sĩ Kinh Tương, biết ông ta là người họ Bàng mà tỏ ra rất coi trọng, rất ít người hiểu rõ năng lực của Bàng Thống. Chỉ có Tư Mã Huy do thường vẫn nói chuyện với anh ta, biết rõ tài hoa phi phàm của Bàng Thống, khen ông ta là người nổi trội ở Kinh Tương, gọi là “Phượng Sồ”.
            Gia Cát Lượng với Bàng Thống vẫn thường gặp nhau song Gia Cát Lượng cẩn thận có lễ, mà Bàng Thống thì xốc nổi thô lỗ cá tính tương phản, lại thêm Gia Cát Lượng vẫn thường ở gần với lão gia, nên Bàng Thông tuy cùng lứa tuổi, song cũng không thân thiết cho lắm.
            Người em trai của Bàng Thống là Bàng Lâm, lấy em gái của Tập Trinh, một phần tử chủ yếu của họ Tập ở phía nam thành Tương Dương, họ Tập vẫn được gọi là gia tộc giàu có, nổi tiếng trong vùng, người vùng ấy rất nể Tập Trinh. Bùi Tùng Chi khi chú giải “Tam Quốc chí” có chép rằng “Tập Trinh là ngươi phong lưu khéo ăn nói, cũng nổi tiếng như Bàng Thống, ở gần Mã Lương. Khá thấy Tập Trinh cũng được xem trọng, Gia Cát Lượng qua mối quan hệ họ Bàng, nên cũng qua lại thân mật với Tập Trinh”.
            Họ Mã ở Nghi Thành cách không xa Tương Dương. Mã Lương là một người trẻ tuổi nổi tiếng một thời, sau này Mã Tắc được Gia Cát Lượng yêu mến, chính là anh em với Mã Lương song Mã Tắc là em, kém Mã Lương nhiều tuổi. Trong thư Mã Lương viết cho Gia Cát Lượng có gọi là Tôn Huynh, giữa hai người có mối quan hệ thân thiết, sau này khi Lưu Bị xây dựng chính quyền ở Kinh Châu, họ Mã là một lực lượng giúp đỡ rất lớn. Bàng Thống, Bàng Lâm, Mã Tắc, Tập Trinh đều là những nhân vật trọng yếu trong chính quyền Thục Hán, đối với sự phát triển chính trị của Thục Hán có ảnh hưởng rất lớn. Ngoài ra, có một thế lực đáng kể gần như họ Bàng là họ Hoàng ở Miện Nam. Đứng đầu họ Hoàng là Hoàng Thừa Ngạn, ông ta là anh rể của Sái Mạo bởi vậy cũng có quan hệ thân thích với Lưu Biểu, ông ta cũng giống như Bàng Đức Công đều không chịu ra làm quan với Lưu Biểu mà chỉ giữ địa vị đáng kể trong nhà. Song Hoàng Thừa Ngạn cũng rất thích chàng thanh niên Gia Cát Lượng, có một hôm ông trực tiếp đến lều cỏ của Gia Cát Lượng nói rằng: “Ta có một người con gái, nó không được sáng sủa cho lắm hơn nữa lại còn có chút lập dị, tóc thì vàng, da thì đen, tuy dáng vẻ không dẹp, song cũng có tài, có phẩm hạnh, ta muốn gả nó cho anh, chẳng biết anh có đồng ý không?”. Chẳng ngờ Gia Cát Lượng tỏ ý vui mừng, đến như Hoàng Thừa Ngạn cũng thấy bất ngờ. Bởi Gia Cát Lượng cao lớn tuấn tú, có tài năng tuy cá tính cao ngạo, kết giao bạn hữu không nhiều, song lại được không ít bậc đàn anh phụ lão chú ý đến, không ít bậc cha mẹ ở Kinh Tương xem anh ta là chàng rể lý tưởng. Thấy Gia Cát Lượng có vẻ không vội vàng với việc thành hôn, mọi người cho rằng anh ta nhất định có con mắt kén chọn đã không dám tùy tiện nhận anh ta làm rể. Song ai cũng không ngò được rằng anh chàng Gia Cát Lượng thân cao 8 thước dung mạo uy nghi, lại xem con gái của Hoàng Thừa Ngạn là hơn cả. Bởi sử liệu đối với trạng thái tâm lý chọn lựa ngẫu nhiên này của Gia Cát Lượng, cũng không ghi chép rõ, chúng tôi cũng không dám đoán mò, song ở Nhật Bản dưới thời chiến quốc cũng có một người cao lớn tuấn kiệt rất mực tài hoa, tên là Điền Hạnh củng khước từ những cô gái đẹp trong gia đình quyền quý mà lấy con gái của một người mắc bệnh hủi làm vợ. Người hủi ấy là Đại Cốc quân sư, có nói với anh ta rằng: “Ví như con gái ta, mang mầm bệnh của ta, bệnh phong sẽ phát ra làm hủy hoại cả mắt mũi, anh còn cần đến nó nữa không?”
            Điền Hạnh trịnh trọng đáp rằng: “Thân làm võ tướng nếu như khi tác chiến tôi có bị mất tay mất chân hoặc bị trọng thương, hẳn con gái ông không thể không thừa nhận tôi là người chồng”.
            Rõ ràng rằng đối với một người có trí tuệ lớn lao, rất lý tính, khả dĩ thâu thị bản chất của sự vật thì nhân tố đẹp của cảm tính, đối với anh ta không phải là quan trọng. Tài hoa, cá tính và sự chân thực, mới là cái mà anh ta để ý. Gia Cát Lượng có nhân quan lựa chọn tương đồng với Điền Hạnh chăng, song người đương thời đối với việc Gia Cát Lượng kết hôn với con gái Hoàng Thừa Ngạn không cỏ cách gì lý giải được, Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam Quốc Chí có viết: “Chớ làm như Khổng Minh chọn vợ, chỉ được người con gái xấu xí của Hoàng Thừa Ngạn mà thôi”, ý tứ câu nói đó là Khổng Minh với nhiều điều kiện đến như vậy, lại chỉ chọn một người vợ xấu thực rất không đáng học tập.
            Cũng không ít kẻ hiếu sự, thậm chí cho rằng Gia Cát Lượng muốn dựa vào Hoàng Thừa Ngạn kết giao danh sĩ để sự nghiệp của mình có kẻ giúp đỡ mới chọn hạ sách ấy. Thực ra bình phẩm như vậy rất không công bằng. Bởi Gia Cát Lượng sớm có được sự ưu ái của Bàng Đức Công và Tư Mã Huy, có quan hệ tốt với nhiều danh sĩ, xét về căn bản chẳng cần phải nén lòng mà giao hảo với Hoàng Thừa Ngạn, hơn nữa nhìn vào tác phong cúc cung tận tụy của Gia Cát Lượng đối với Lưu Bị sau này, Gia Cát Lượng chẳng phải là người thích vụ lợi.
            Thực ra Gia Cát Lượng sau khi kết hôn, đối với người vợ của mình trước sau vẫn nể vì như khách, sau này đã làm đến tể tướng ông cũng không lấy thêm vợ lẽ. Mà họ Hoàng kể từ khi về với Gia Cát Lượng mọi việc trong nhà đều cư xử hợp lý, khiến Gia Cát Lượng không phải lo lắng gì về phía hậu phương, chuyên chú khuếch triển học vấn và sự nghiệp thực là một người vợ đảm đang để ông có thể hoàn toàn yên tâm.
            Cuốn “Chuyện kể về Gia Cát Lượng” có dẫn lời của Phạm Thành Đại như sau: “Bởi Gia Cát Lượng lúc đó đã nổi tiếng ở đất Kinh Tương, trong nhà thường có rất nhiều khách khứa để khoản đãi những người khách ấy, Hoàng phu nhân phải sáng chế ra một cỗ máy xay, đã giảm được thời gian lại giảm cả sức lực, hiệu quả rất cao đến cả Gia Cát Lượng cũng cảm thấy kinh ngạc đặc biệt còn bái phục vợ làm thầy, học tập nguyên lý chế tạo máy móc từ gỗ, nghe nói những trâu gỗ, ngựa máy mà Gia Cát Lượng phát minh sau này đều đã được Hoàng phu nhân sáng chế. Tài năng hơn người của Hoàng phu nhân có thể là nguyên nhân chủ yếu để Gia Cát Lượng xem trọng.
            Tương Dương là trung tâm kinh tế chính trị của đất nước Kinh Châu, giao thông thủy bộ đều rất phát triển, hơn nữa lại tập trung nhiều người tài giỏi, các phương tiện cũng nhờ đó mà rất dồi dào. Gia Cát Lượng trong thời kỳ ở Long Trung, vẫn cùng với em trai là Gia Cát Quân tự cày ruộng, song những lúc nông nhàn ông ta thường bái yết các vị phụ lão nổi tiếng tứ xứ quanh đó. Ngoài việc hấp thu được học thức cũng sưu tầm và phân tích tình hình phát triển của đại cục thiên hạ, hơn nữa đối với binh pháp Tôn Tử, ông cũng đã cảm thụ được sâu xa, sau này những phân tích rõ ràng và có tầm nhìn xa trong “Long Trung Sách” là kết quả nỗ lực của thời gian này. Nhà sách lược trẻ tuổi đó trải qua luyện rèn 10 năm, đối với sự quan sát, phân tích và thấu thị thời cục, đã thấy trước không ít điều tâm đắc sẽ lộ rõ.
            Song, qua tiếp xúc trong thời gian ở Long Trung, Gia Cát Lượng đã nhận rõ ý thức của phái Thanh Lưu. Trong Xuất Sư Biểu có câu: “Hán tặc gồm mấy kẻ...”. Tuy có thể coi người cháu là Gia Cát Khác làm ra song nghĩ rằng đó cũng là lời nói thường ngày của Gia Cát Lượng đã ảnh hưởng đến người cháu. Nhìn bao quát phương châm chính trị của Gia Cát Lượng, không dời đổi chiến lược liên Ngô chê Tào. Dẫu Gia Cát Lượng là nhà chính trị thực tiễn xem trọng tình thế khách quan song ông suốt đời vẫn xem Tào Ngụy là đối địch. Một đời không tiếc cúc cung tận tụy, dẫn đến bi kịch Kỳ Sơn giữa trận từ trần, với một cố gắng xoay chuyển lớn nhường ấy, để thoả nguyện phục hưng nhà Hán, rõ ràng đã ảnh hưởng bỏi quan niệm chính trị của phái Thanh Lưu.
            Năm thứ 12 Kiến An đời Hiến Đế, Gia Cát Lượng 27 tuổi, bắt đầu cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của Lưu Bị, một người có quan hệ huyết thống với Hoàng Tộc, dấn thân vào con đường không ít truân chuyên.


*
*   *

            Lời bình của Trần Văn
            Cuốn sách “Lục Thao” là sách binh pháp truyền thống của Trung Quốc, tương truyền do ông Lã Vọng làm ra song phân tích nội dung, thấy đó là tác phẩm thời Ngụy, Tấn nam bắc triều. Tuy là tác phẩm viết ra sau này, song vẫn đại biểu cho tư tưởng quân sự lúc đó. Ở đây vẫn tìm thấy nhiều ý nghĩa. Nghe nói những nhà tư tưởng thời Duy Tân của Nhật Bản lại thích “Lục Thaohơn cả binh pháp Tôn Tử, giàu có triết lý và trí tuệ đông phương.
            Trương Văn Thao trong cuốn “Lục Thao” có một đoạn bàn về phương pháp nhận biết tài năng, có nhiều điểm gợi mở, rất đáng để chúng ta tham khảo.
            Có một hôm, Chu Văn Vương hỏi Thái Công Vọng rằng: “Quân Vương đều phải nỗ lực để tìm hiền tài song ít có được người như vậy, trái lại còn làm hỗn loạn thế cục, thậm chí còn dẫn quốc gia đến chỗ suy vong như vậy là cớ làm sao?” Thái Công đáp rằng: “Đấy là bởi muốn tìm người tài song lại dùng nhầm người chẳng tài, thậm chí hữu danh mà vô thực”.
            Văn Vương nói: “Thế nào là dùng không đúng người tài?”
            Thái Công nói: “Đấy là bởi chúa công chỉ chú trọng ở danh tiếng mà không thấy người có tài thực”.
            Văn Vương nói: “Nguyên nhân là ở đâu?”
            Thái Công nói: “Đã là bậc quân vương, thường thích nghe ý kiến của một bọn người, họ đều cung phụng nhận mình là tài, không ai dám phê bình họ cho nên người khéo kết bè đảng, lắm bằng hữu, thường dễ được sử dụng, người có chủ biến, không cùng bè đảng, trái lại thường bị bỏ quên; bọn gian nịnh kết đảng như vậy lôi kéo nhau lên làm trở ngại con đường tiến thân của những người tài thực sự, đến như trung thần vô tội mà bị sát hại, gian thần hư danh mà được chức tước, cho nên tuy có nỗ lực tìm kiếm nhân tài song chính trị vẫn hỗn loạn, quốc gia vẫn không thoát khỏi suy vong.
            Gia Cát Lượng là một “thiên tài” không dễ biết đến, “Tam Quốc Chí” cũng ghi: “'Người đương thời chưa biết đến vậy”. Có thể thấy Gia Cát Lượng không chú trọng hư danh. Ngoài danh sĩ chân chính rất ít người thực sự hiểu rõ chân tài thực học của ông. Lưu Biểu là người phái “Bát tuấn”, rất nổi tiếng, thường lấy lễ mà đãi những người cũng nổi tiếng như Bàng Đức Công, Tư Mã Huy lôi kéo họ ra làm quan. Khá tiếc Bàng Đức Công về căn bản lại vô tâm với quan trường, trái lại những người tài giỏi trẻ tuổi như Gia Cát Lượng và Bàng Thống tuy ở ngay trước mắt mà không nhìn ra, trách chi Từ Thức công khai phê bình ông ta rằng: “Người giỏi thì không dùng, người xấu thì không đuổi đi!”
            Những nhà kinh doanh hiện đại cũng thường phạm phải sai lầm như vậy; lời nói của người tài tuy có thể ngang tai song nếu dựa vào người chẳng có thực tài, sẽ dẫn đến thất bại, tạo thành nguy cơ nghiêm trọng cho công ty, lúc ấy có hối cũng không kịp nữa.
 
0
Chương III
TAM CỐ THẢO LƯ VÀ LONG TRUNG SÁCH

            Lưu Bị khao khát cầu hiền sau khi hỏi han Từ Thứ kỹ lưỡng, biết rõ Gia Cát Lượng là nhân tài mà mình đang cần, bởi vậy đặc biệt quí trọng, tự mình dẫn hai đại tướng là Quan Vũ và Trương Phi đội tuyết lạnh mùa đông mà đi, lần đầu đến lều cỏ ở Long Trung gặp Gia Cát Lượng.


            1. Rồng lặn ao sâu: Lưu Bị thời trai trẻ.
            Gia Cát Lượng năm ấy 27 tuổi, lòng đầy háo hức lại được các bậc phụ lão Kinh Tương chú ý đến sau khi quan sát và khảo xét cẩn thận, thấy mình lúc đó thực không có quyền, cũng không có tiền, chỉ sống gửi bên cạnh Lưu Biểu; đã theo về với Lưu Bị đang chỉ huy một đạo quân, suốt đời đem hết tâm trí vì sự nghiệp của minh chủ.
            Lưu Bị tên chữ là Huyền Đức, người Huyện Trác ở U Châu (nay là tỉnh Hà Bắc). Nghe nói ông là người thuộc hoàng tộc nhà Hán (hậu duệ của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng). Sau này ông đã lợi dụng chiêu bài đó, tạo ra một hình tượng đặc biệt về sự tranh bá quyền giữa đám quần hùng.
            Tổ phụ của Lưu Bị là Lưu Hùng từng được cử làm Hiếu liêm, làm quận lệnh quận Đông Phạm. Phụ thân là Lưu Hoàng sớm mất chỉ làm được chức thư lại ở huyện, sau đó gia cảnh suy bại, thập phần khôn khó. Lưu Bị khi còn nhỏ chỉ biết cùng với người mẹ goá đan chiếu cỏ đem bán để sông, cơ hồ rơi vào tầng lớp dân nghèo.
            Song người thiếu niên quý tộc lưu lạc này tính tình lại rất khoát đạt, nghe nói nhà ông ở góc vườn có cây dâu lớn cao hơn năm trượng, cành lá xoà ra như một cái lọng, có người giỏi xem phong thủy, cho rằng cây ấy thực rất lạ, gần đó ắt có quý nhân. Cũng có thể lời ấy truyền đến tai Lưu Bị, ông ta lúc còn chưa có đại chí đã thường cùng với bạn nhỏ tuổi chơi đùa, bày đặt quán rượu dưới gốc cây mà nói rằng: “Ta có ngày sẽ ngồi cái xe có lọng như thế này (Xe hoàng đế thường ngự giá). Người chú nghe nói kinh hãi lập tức mắng rằng: “Không hiểu câu nói vọng ngôn này sẽ diệt cả nhà ư!” Song người chú thấy những biểu hiện lạ ở Lưu Bị vẫn thường chu cấp cho.
            Do ông ta là hậu duệ của hoàng tộc bởi vậy vẫn kết giao được những người bạn quý tộc như Công Tôn Toản và Lưu Đức Nhiên, cùng nhận Lô Thực, thái Thú quận Nho Cửu làm thầy. Lô Thực văn võ toàn tài, Lưu Bị có cơ hội học hành thấu đáo, song phần học phí cơ hồ đều do ông bố của Lưu Đức Nhiên chu cấp. Bà mẹ của Lưu Đức Nhiên không tán thành, song ông bố thì lại nói: “Trong họ nhà ta nếu có được đứa bé ấy, thực là điều đáng mừng”. Song trong nhãn quan của người thường, Lưu Bị không biểu hiện ra một chút gì đặc biệt. Với Tào Tháo, từ nhỏ đã chăm học không biết mệt, kiến thức quảng bác, còn Lưu Bị khi nhỏ thì trái lại, “không chăm đọc sách chỉ thích chó ngựa, đàn hát, mặc áo đẹp”, không để ý đến cảnh nhà bần hàn vẫn là một kẻ lãng tử mà thôi. So với Viên Triệu, Lưu Biểu, Lã Bố là những hào kiệt đời hán, ngoại diện của Lưu Bị cũng không có gì đặc sắc. “Tam quốc chí” có chép, ông cao bảy thước rưỡi ta (khoảng 1 mét 65), chỉ không nghịch ngợm bằng Tào Tháo mà thôi. Song tướng mạo của ông lại quái dị, vành tai rất lớn, hai tay rất dài. Nghe nói khi ông ta thả tay đứng thẳng ngón tay vượt quá đầu gối, mắt có thể liếc nhìn tai của mình. Dị tướng như vậy, đã rất có ảnh hưởng trong dân chúng, đối với ông sau này, có thể khiến người ta có cảm tình với ông, cũng có thể bị đả kích. “Tam quốc diễn nghĩa” có chép, người đương thời thường gọi Lưu Bị là “ông tai to”.
            Kể từ khi bắt đầu tuổi thanh niên, cá tính của Lưu Bị rất đặc sắc. Ông khảng khái giúp người, lại không để ý làm gì, bởi vậy ông nhận được sự tín nhiệm và cảm mến của mọi người và cũng dễ kết giao với bạn bè các tầng lớp. Đặc biệt là sự kiện kết nghĩa anh em với Quan Vũ huyện Giải, Hà Đông (nay là Sơn Tây) và Trương Phi người cùng huyện, thực là danh truyền thiên cổ, miệng thế vẫn thường nhắc nhở. Tam quốc chí có chép: “Lưu Bị là người ít nói, hoà mình với kẻ dưới vui buồn không đê lộ ra mặt, thích kết giao với kẻ hào kiệt, có nhiều thiếu niên cùng tuổi vây quanh”. Tai hoạ bè đảng và khởi nghĩa Hoàng Cân cuối đời Hán xảy ra, các địa phương trị an không ổn định, Lưu Bị đã kết hợp thanh niên trong xóm ấp đứng dậy giữ gìn trật tự, mấy người phú thương ở quận Chung Sơn là Trương, Tô tư trợ cho việc ấy, khiến Lưu Bị nghiễm nhiên có một đội quân riêng của mình.
            Sau khi quân Hoàng Cân triển khai rộng, nhà Hán có chiêu mộ quân lính ở các châu quận, Lưu Bị cũng hưởng ứng ở Trác Quận, ông tổ chức quân đội riêng, gia nhập tự vệ dân quân của hiệu úy Châu Tĩnh, hai người bạn chiên đấu gắn liền với Quan Vũ và Trương Phi cũng đứng vào đội ngũ của Lưu Bị lúc đấy. Chương thứ nhất trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung cũng mở đầu bằng “đào viên kết nghĩa” lúc đó Lưu Bị đang hai tư tuổi.


            2. Từ thượng úy nhảy lên thượng tướng.
            Đội quân của Lưu Bị đánh mấy trận với quân Hoàng Cân đều thắng lợi, bởi vậy sau sự kiện này kết thúc được phong làm Hiệu uý ở An Hỷ, đây là chức quan đầu tiên của Lưu Bị. Song không lâu triều đình phái quan tuần sát vùng ấy muốn ông ta phải hối lộ, Lưu Bị không cho, giám quan bèn cố ý gây khó dễ. Lưu Bị cả giận, trói quan giám sát lại, đánh đủ hai trăm roi, sau đó bỏ quan mà đi. Qua sự kiện này, cũng thấy được Lưu Bị đã thể hiện phẩm cách của một Hán nam tử.
            Không lâu đại tướng quân Hà Tiến phái Đô úy Khâu Nghị đến mộ binh ở Đan Dương, Lưu Bị đã lập công chuộc tội, đại phá quân giặc ở thành Hạ Phì, không những được tha tội cũ, còn được làm huyện thừa ở huyện Hạ Mật, song Lưu Bị cho rằng mình không thích hợp với quan trường, bỏ chức ấy mà đi, triều đình xét có công lao lại cho làm huyện úy huyện Cao Đường, lại thăng làm huyện lệnh, sau không ngăn được nông dân nổi loạn lại bị tước quan chức. Sau đó ông theo về với người bạn là Trung Lang tướng Công Tôn Toản, Toản cho làm Biệt bộ tư mã, lại phái Lưu Bị đến giúp Thứ sử Điền Khải, cùng chống lại Ký Châu mục Viên Thiệu, lập được công lao, nhờ được Công Tôn Toản và Điền Khải tiến cử ông được làm phòng vệ tư lệnh quân Bình Nguyên, ít lâu lại chính thức làm Hình Nguyên tướng. Trong khi làm việc, Lưu Bị không hợp với một người giàu có trong quận là Lưu Bình, vẫn thường xảy ra xung đột, Lưu Bình cho thích khách đến ám sát Lưu Bị, Lưu Bị vẫn không biết, còn lấy lễ long trọng mà đáp lại, thích khách rất cảm động không nỡ ra tay bèn cáo từ mà đi ra, do việc này có thể thấy Lưu Bị là người có lực hấp dẫn người khác. “Ngụy thư” có chép: “Lúc đó nhân dân đói kém tụ tập làm bạo loạn, Lưu Bị ngoài thì đánh dẹp, trong thì trợ giúp, chẳng kể sang hèn đều cho ngồi cùng chiếu, ăn cùng mâm, chẳng phân biệt làm gì, quần chúng đều theo về với ông”.
            Viên Thiệu kéo đến đánh Công Tôn Toản, Lưu Bị và Điền Khải vội đến cứu, đóng quân ở Tề quân. Cũng thời gian này, Lưu Bị gặp được một quý nhân có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp của ông, là Đào Khiêm.
            Đào Khiêm là Thứ sử Từ Châu lúc đó, Từ Châu nằm giữa Sơn Đông và Giang Tô, vào cuối đời Đông Hán, đấy là vùng giàu có của cải, bởi vậy cùng là nơi các nhà quân sự muốn tranh giành quần hùng cát cứ. Đào Khiêm xuất thân từ quân ngũ, làm gì chỉ thấy cái trước mắt, thiếu mưu cơ, suy nghĩ gì cũng chỉ lấy được việc làm đầu, có phần quê kệch. Song, Đào Khiêm lại có được tính cương nghị, ông từng công khai giúp đỡ cuộc nổi dậy của Khuyết, Tuyên, người Hạ Phì tự xưng là Thiên tử; thuộc hạ của ông lại cướp bóc và sát hại Tào Tung; phụ thân Tào Tháo, dẫn đến việc Tào Tháo mấy lần đánh báo thù, tàn sát khốc liệt ở Từ Châu. Đào Khiêm tuy hăng hái chống đỡ, song hiển nhiên không phải là đối thủ của Tào Tháo, chịu mất già nửa lãnh địa, không thể không nhờ Công Tôn Toản và Điền Khải giúp đỡ.
            Công Tôn Toản và Điền Khải đang bận đối phó với Viên Thiệu lấn chiếm miền nam U Châu, bởi vậy liền phái bộ tướng Triệu Vân và Lưu Bị đang ở bên trướng, hợp vài nghìn quân đến giúp Đào Khiêm. Trong chiến dịch Từ Châu, quân Đào Khiêm tuy có được sự giúp đỡ của quân Viên Thuật và Lưu Bị, vẫn bị quân Tào Tháo đánh tan tác, giữa chừng quân Lưu Bị đánh rất hay, tuy nhân số ít song rất phát huy tác dụng, đến cả Tào Tháo cũng phải có ấn tượng sâu sắc với Lưu Bị. Thế rồi xảy ra việc đại bản doanh Tào Tháo bị Lã Bố đột kích, phải vội rút khỏi Từ Châu. Đào Khiêm cảm tạ Lưu Bị đã vì nghĩa giúp đỡ, bèn dâng thư lên triều đình, tiến cử Lưu Bị làm Thứ sử Dự Châu, đóng quân ở huyện Bái, một điểm quân sự lợi hại thuộc Từ Châu, là chỗ dựa của Dự Châu.
            Không lâu, Đào Khiêm bị bệnh nặng, trước lúc lâm chung có dặn dò các nhà thế tộc, các tướng lĩnh thuộc hạ: “Chẳng có Lưu Bị chẳng giữ yên được Châu này”. Lưu Bị tự nhận thấy danh tiếng và thực lực chưa có gì, kiên quyết từ chối, song những nhân vật trọng yếu của địa phương như My Trúc, Trần Đăng, Khổng Dung, một mặt tuân theo di chúc của chủ tướng, một mặt cũng cảm tình riêng với Lưu Bị, cùng giúp đỡ Lưu Bị nhận chức Thứ sử Từ Châu. Qua một đêm, Lưu Bị từ chức Thiếu úy đã nhảy lên chức Thượng tướng đứng đầu một quân khu rất trọng yếu trong toàn quốc.
            Xem ra Lưu Bị chưa đủ thực lực, hơn nữa cũng chưa có kinh nghiệm thống lĩnh châu quận lớn lại không khéo xử lý quan hệ với các quân khu, khiến Từ Châu mấy lần rơi vào tay Lã Bố và Trần Cung, và chịu sự uy hiếp liên tục của Viên Thuật ở Hoài Nam, thực là điên đảo lưu ly, cuối cùng không thể không theo về với Tào Tháo ở Cổn Châu.
            Dầu luôn luôn bị thua trận, song qua chiến đấu liên tục, được sự yêu mến của mọi người, danh tiếng anh hùng quả cảm của Lưu Bị càng lan toả. Một điều rất quan trọng là, Lưu Bị đã học tập được ở các tướng lĩnh quân khu tài giỏi, cả vê nhận thức và kỹ xảo, điều đó có ảnh hưởng quan trọng đối với suốt cả sự nghiệp của ông.


            3. Thân ở trại Tào, lòng theo nhà Hán.
            Tào Tháo không những nhiệt thành tiếp nạp Lưu Bị lại đặc biệt dẫn ông ta yết kiến Hán Hiến đế, và xác định quan chức cho Lưu Bị là Dự Châu Thứ sử. Song ít ai ngờ được rằng, náu thân ở trại Tào, Lưu Bị tuy bị theo dõi, vẫn cả gan tham gia vào âm mưu của Xa Kỵ tướng quân Đổng Thừa mưu sát Tào Tháo, lúc ấy Lưu Bị tròn 40 tuổi.
            Cuối năm thứ 3 Kiến An, Hán Hiến đế nhân khi Tào Tháo đang ỏ Hứa Đô, đột nhiên triệu vời Xa kỵ tướng quân Đổng Thừa vốn là Quốc cữu, có giao cho một chiếc áo cẩm bào. Nghe nói trong đó một chiếu huyết thư do chính tay Hán Hiến đế viết ra, yêu cầu Đổng Thừa liên kết với các đại thần trong triều cùng trừ diệt Tào Tháo. Sử sách ghi chép về việc này rất giản đơn. Sách “Tư trị thông giám” có chép: “Thoạt đầu, Xa kỵ tướng quân Đổng Thừa được áo gấm của nhà vua có gài mật chiếu, cùng với Lưu Bị âm mưu trừ diệt Tào Tháo”. Sự kiện này có phải chính do Hán Hiên đế chủ mưu, lịch sử cũng chưa đưa ra chứng cứ xác thực, song sự thực hiển nhiên có liên quan đến mật chiếu, với thân phận đơn lẻ của Đổng Thừa phải chăng rất khó thuyết phục Lưu Bị tham gia vào âm mưu sát hại Tào Tháo. Trong thành Hứa Đô, binh mã quân Tào có ưu thế tuyệt đối, thực lực của Đổng Thừa về căn bản chẳng thể đè bẹp, Đổng Thừa vì thế nhất định đã phải bóp đầu bóp trán.
            Tuy Đổng Thừa là công khanh đương thời duy nhất có đạo quân hoàn chỉnh, song tướng lĩnh trong quân lính của mình có thể không hoàn toàn nghe theo chỉ huy, Đổng Thừa cũng chưa nắm chắc được. Bởi thế Đổng Thừa trước tiên phải lôi kéo thực lực đầy đủ cho đạo quân của mình, trước tiên là với tướng quân Vương Phục là người vốn có quan hệ thân thiết. Nhờ có Vương Phục lôi kéo, Trưởng thủy hiệu úy Chưng Tập, và Nghị lang Ngô Thạc cũng tham ra vào nhóm mưu sát bí mật này. Song chỉ dựa vào lực lượng của mình, khó có thể đối đầu được, ví như muôn tiếp cận Tào Tháo cũng không dễ dàng cho lắm, bởi thế Đổng Thừa cần phải lôi kéo người ở trong trại Tào và lại không có quan hệ ruột thịt với Tào Tháo; người ấy là Lưu Bị Thứ sử Dự Châu.
            Đổng Thừa thuyết phục Lưu Bị ra sao, chúng tôi cũng không được biết, bức mật chiếu huyết thư của Hán Hiến đế có thể tin là cái chìa khoá rất trọng yếu để Lưu Bị quyết định việc tham gia. Nghe nói khi Tào Tháo dẫn Lưu Bị đến yết kiến Hán Hiến đế, nhà vua được biết Lưu Bị là hậu duệ ở Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng thì rất vui mừng, có nói ngay lúc ấy là nếu kể thứ bậc họ hàng, thì Lưu Bị là chú của Hán Hiến đế. Đối với Lưu Bị, một người xuất thân bần cùng, chưa được tiếp cận với trung tâm quyền lực biểu hiện nhiệt tình và thân thiết của đức vua trẻ tuổi, nhất định đã khiến cho ông ta cảm động vạn phần.
            Nhưng, việc lôi kéo Lưu Bị là khá nguy hiểm vì các đại thần trong triều đa số còn chưa biết rõ về Lưu Bị, lại càng không muốn trò chuyện gì. Sự việc trọng đại này, những người tham gia phải rất gắn bó, bản thân Lưu Bị có một ma lực đặc biệt khiến người ta dễ gần và tín nhiệm, nguyên nhân chủ yếu là ở đấy. Rõ ràng, thuộc hạ của Đổng Thừa đã thử tiếp xúc vài lần, biết rõ Lưu Bị có cảm tình với Hán Hiến đế, sau khi quan hệ với Tào Tháo mói dứt khoát lôi kéo một viên tướng bên ngoài tham gia vào mật chiếu huyết thư này.
            Sự việc này đã xác định rõ tâm nguyện của Lưu Bị là tận lực khôi phục nhà Hán. Cũng với tinh thần hết lòng vì nhà Hán, Gia Cát Lượng vốn tự nhận là hậu duệ của phái Thanh lưu, đã vui vẻ lựa chọn người minh chủ có đại chí này.


            4. Thiên hạ anh hùng, chỉ có sứ quân và Tháo này.
            Nghe nói, Lưu Bị sau khi nhận được mật chiếu để che dấu âm mưu của mình, bèn chôn ra sân sau ngôi nhà ở thành Hứa Đô để trồng rau, tự tay mình cuốc đất tưới nước, làm một người ẩn dật. Có một hôm Lưu Bị đang làm việc ỏ sân sau, đột nhiên Tào Tháo phái người đến mời, rất đỗi kinh hãi, chỉ còn biết đến ngay tướng phủ để yết kiến.
            Không ngờ Tào Tháo rất nhiệt tình chiêu đãi ông ta ở vườn hoa sau nhà, hiển nhiên cũng có ý lôi kéo Lưu Bị.
            Đấy là cá tính đặc biệt của Tào Tháo, đối với nhân tài không dễ thu phục, thường để lộ nhiệt tâm, hơn nữa lại còn nhẫn nại đặc biệt.
            Biết rõ Lưu Bị chẳng phải là kẻ tầm thường cam chịu bó mình, song Tào Tháo vẫn muốn dùng mọi biện pháp để lôi kéo Lưu Bị vào các trận tuyến, vẫn thưòng mời mọc yến tiệc đế bàn chuyện phiếm, qua đó biểu thị cảm tình đặc biệt với Lưu Bị; yến tiệc hôm ấy được bày ra bởi thế.
            Bối cảnh “hâm rượu luận anh hùng” rất nổi tiếng trong “Tam quốc diễn nghĩa”, đã phát sinh vào ngày hôm ấy.
            Nghe nói, Tào Tháo với Lưu Bị sau khi uống vài chén rượu tình cảm cao hứng, cùng luận về những kẻ anh hùng trong thiên hạ. Lưu Bị lần lượt kể ra những anh hùng đóng binh cát cứ đương thời như Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Tôn Sách, Lưu Chương, Trương Lỗ, song đều bị Tào Tháo gạt đi cả. Cuốn chính sử “Tam quốc chí” có chép, lúc ấy Tào Công nói với tiên chủ rằng: “Nay anh hùng trong thiên hạ, chỉ có Sứ quân và Tháo này, bọn Viên Thiệu chẳng đáng đề cập đến”.
            Cuốn “Hoa Dương quốc chí” có chép bổ sung thêm rằng:
            “Lưu Bị nghe rồi lòng bỗng chấn động, cái thìa đang cầm trong tay bất giác rơi xuống đất, đúng lúc ấy có một tiếng sấm lớn, Lưu Bị nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bèn cúi xuống cầm cái thìa lên, tự mình cười đùa rằng: “Một tiếng sấm ra uy xảy đến nỗi như thế”.
            Tào Tháo nhìn thấy Lưu Bị thất sắc cũng cười mà nói rằng: “Kẻ trượng phu mà sợ cả tiếng sấm ư?”
            Lưu Bị đáp rằng: “Thánh nhân dậy: Sấm động thì gió nổi, chẳng đáng sợ ư?”
            Việc ấy rồi cũng mau chóng qua đi, Tào Tháo thấy Lưu Bị phản ứng quá độ, tưởng Lưu Bị theo về với mình, trong lòng khó tránh khỏi có áp lực cũng không truy cứu gì nữa.
            Lấy những chuyện tình thế đương thời mà suy ngẫm đoạn văn “hâm rượu luận anh hùng” có thể xứng với đoạn “quan thượng luận đàm”, ở Quan Lộ. Tào Tháo đang lâm phải sự uy hiếp của đạo quân Viên Thiệu gấp 10 lần ở phía trước, song có thể phá tan địch. Ở đây Lưu Bị lại đang bị phá sản không còn chỗ chạy, phải tạm thời nương náu dưới sự che chở của người khác chỉ mong được an thân mà thôi, song, nếu xem xét cục diện Tam quốc như ba chân vạc sau này, Tào Tháo thực đã có một cái nhìn sáng tỏ về nhân tài này.
            Do Lưu Bị có danh tiếng ở Hứa Đô sự nguy hiểm cũng theo đó mà tăng lên, ví như âm mưu còn chưa tiết lộ, Tào Tháo tiếc tài vẫn muôn lôi kéo ông ta. Song ai có thể bảo đảm thuộc hạ của Tào Tháo không phát giác ra? Bởi vậy Lưu Bị ngày đêm mong có cơ hội thoát khỏi tình cảnh khó khăn này.
Đúng lúc ấy, Viên Thuật ở Hoài Nam bởi không được sự giúp đỡ của quân Tôn Sách ở Giang Đông, cảm thấy thế đơn lực mỏng có ý muốn dựa hẳn vào Viên Thiệu ở Hà Bắc. Hai tướng họ Viên này sau loạn Đổng Trác đã nỗ lực chiếm cứ địa bàn nên diễn ra cuộc đối kháng Nam Bắc, song rốt cục họ vẫn là anh em cùng cha khác mẹ, nay tình thế đã có biến đổi, họ Viên lại hoà hảo với nhau.
Bởi vậy nhân cơ hội đề nghị rằng: “Viên Thuật nếu theo về với Viên Thiệu, ắt hẳn phải qua Dự Châu, nay Dự Châu mới bước đầu bình định phòng thủ yếu kém nên lập tức tăng cường. Tôi rất hiểu biết Dự Châu, lại nữa có quan hệ tốt, chẳng bằng tôi lĩnh một đạo quân cơ động ngăn chặn Viên Thuật đề phòng hai tướng họ Viên cùng uy hiếp từ hai phía Bắc Nam”.
Tào Tháo bởi muôn lôi kéo Lưu Bị, bèn đáp ứng ngay, phân cho Lưu Bị 5 vạn binh mã, lại sai hai viên đại tướng là Chu Linh, Lộ Chiêu cùng đi, lập tức chuẩn bị xuất binh. Lưu Bị sau khi nhận lệnh ngay trong đêm sắp xếp binh mã và lương thảo cùng lập tức khởi quân. Đổng Thừa chạy theo mười dặm trường đình đưa tiễn, hai bên cùng nhau thương nghị rồi Lưu Bị cấp tốc mang quân đến Từ Châu.
Những mưu thần trọng yếu của Tào Tháo lúc ấy là Trình Dục và Quách Gia, vừa đến Dự Châu xem xét lương thảo trở về nghe nói Lưu Bị mang quân đên Từ Châu, lập tức ngăn cản, Tào Tháo cũng phái một đội trưởng quân cấm vệ là Hứa Chử dẫn quân đuổi theo. Song Lưu Bị ngày đêm khẩn cấp hành quân, chẳng thể nào đuổi kịp.
Tào Tháo tuy có hối hận đôi chút, song Từ Châu vẫn được xem là đất cai quản của mình. Bởi vậy cũng không để tâm đến nữa.
Quân Viên Thuật mấy lần tiến lên phía Bắc đều bị Lưu Bị kịp thời ngăn cản bất đắc dĩ phải rút về phía nam, không lâu Viên Thuật lo nghĩ thành bệnh, khoảng tháng 6 năm thứ 4 Kiến An thổ huyết từ trần, quân lệ thuộc tan rã cả, có người theo về với Tôn Sách ở Giang Đông, quân dưới trướng theo về với Tào Tháo. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Lưu Bị liền phái Chu Linh, Lộ Chiêu trở về Hứa Đô báo công còn tự mình nắm quân chủ lực ở Từ Châu, chiêu mộ vỗ về dân lành ở Từ Châu đã nhiều năm phải chịu cảnh loạn lạc.
Tào Tháo thấy Lưu Bị có ý củng cố binh lực, ngầm phái người của mình làm Thứ sử Từ Châu, để Xa Trụ đợi thời sát hại Lưu Bị. Việc này cha con lão thần Trần Khuê, Trần Đăng biết rõ đưa tin về Lưu Bị. Lưu Bị sớm ra tay trước liền phái Quan Vũ đánh thành Hạ Phì giết Xa Trụ đi. Liền đó Quan Vũ ở lại Hạ Phì bảo vệ gia quyến và lương thảo, còn Lưu Bị và Trương Phi đóng ở gần huyện Bái, phòng quân Tào xâm lấn. Đến lúc ấy quan hệ giữa Lưu Bị và Tào Tháo cắt đứt hẳn. Chẳng bao lâu, Hứa Đô phát sinh sự kiện Đổng Thừa, âm mưu mưu sát lộ ra, toàn thể đại thần tham dự đều bị hại.


5. Theo về với Viên Thuật, giữa hai con hổ dữ.
Mùa xuân năm thứ 5 Kiến An, Đổng Thừa mưu sát Tào Tháo bị lộ, bởi sơ hở trong kế hoạch của mình; Tào Tháo bằng vào trí tuệ chính trị cao độ, căn bản không truy cứu sâu thêm về vụ Đổng Thừa, chỉ qui trách nhiệm hoàn toàn cho Đổng Thừa, Chủng Tập, Vương Phục, Ngô Tử Lan, chu di tam tộc, đoạt lấy quyền chỉ huy, quân lính của Đổng Thừa thu nạp cả vào trong thân thích của mình, còn trách nhiệm bên ngoài thì đổ cả cho Lưu Bị, tuyên bố lập tức trừng trị Lưu Bị.
Thực ra, lực lượng bên ngoài tham dự vào vụ Đổng Thừa hoặc đồng tình với Đổng Thừa không phải là ít, nghe đâu cả Thứ sử Tây Lương là Mã Đằng cũng có quan hệ, song Tào Tháo không truy cứu đến mà chỉ tuyên bố thảo phạt với Lưu Bị đã chạy đến Từ Châu. Hiển nhiên Tào Tháo không muốn phải đối địch với số đông, để tránh khỏi lại rơi vào tình hình khó khăn với quân Quan Đông năm nào, khiến chính sách phụng mệnh thiên tử không được lợi mà chỉ được hại.
Lưu Bị bởi phát triển rất nhanh, mắc phải khuyết điểm, chẳng có địa vị trong quân đội bên ngoài, huống chi ông ta vẫn được Tào Tháo bảo hộ, xét về tình về lý mà nói Tào Tháo có thể công khai trừng phạt, các quân đoàn ở các châu quận khác cũng không dám có ý kiến gì, bởi vậy sau khi sự việc mưu sát bị lộ, Lưu Bị rơi vào thế cá nằm trên thớt.
Lúc ấy đại quân Viên Thiệu đang chuẩn bị nam chinh quyết định đại cục thiên hạ, bởi thế không ít mưu sĩ đại thần phản đối trừng phạt Lưu Bị song Tào Tháo nói rằng: “Lưu Bị vốn là kẻ hào kiệt ở đời này không đánh dẹp, ngày sau ắt thành đại họa, hơn nữa nếu ông ta liên minh với Viên Thiệu ỏ phía Bắc đánh chúng ta từ phía Đông, thế thì lại càng thêm nguy hiểm”.
Tuy binh lực của Lưu Bị rất mỏng, song Tào Tháo vẫn không dám chủ quan, phải tổ chức 10 vạn binh mã động dụng cả Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên, Trương Đạt, Vu Cấm, Từ Hoảng đều là những đại tướng, chia làm năm đường tiến đánh Từ Châu.
Bởi muốn tránh cho Từ Châu phải rơi vào loạn lạc, Lưu Bị yêu cầu Trần Đăng cùng các trưởng lão Từ Châu trung lập không bị cuốn vào chiến tranh, tự mình dẫn quân chủ lực, đến chỗ Trương Phi cùng phòng giữ Bái huyện, lại lệnh cho Quan Vũ ở Hạ Phì bảo vệ gia quyến cùng lương thảo.
Quân chủ lực của Lưu Bị bị đánh tan, Trương Phi bị lạc giữa trận, Lưu Bị một mình một ngựa chạy đến Thanh Châu, được con cả Viên Thiệu là Viên Đàm giới thiệu, đã theo về với Viên Thiệu. Sự kiện Đổng Thừa khiến cho danh tiếng Lưu Bị thêm lớn, Viên Thiệu nghe nói Lưu Bị đến, tự mình dẫn các tướng ra ngoài Nghiệp Thành 30 dặm nghênh tiếp, tạm xếp Lưu Bị ở Ký Châu. Sau khi Lưu Bị thất trận, Từ Châu lập tức bị mất, Quan Vũ đang trấn thủ ở thành Hạ Phì, để bảo hộ gia quyến Lưu Bị, sau khi đàm phán với Tào Tháo đã dẫn toàn quân ra hàng. Tào Tháo tiếc tài hoa và nhân cách của Quan Vũ miễn cưỡng đáp ứng đề nghị của Quan Vũ là sau này nếu tìm được Lưu Bị sẽ lại theo về với chủ cũ; kể đến đây là hoàn toàn kết thúc sự kiện mưu phản của Đổng Thừa.
Mùa hạ năm thứ 4 Kiến An đến mùa đông năm thứ 6 là cuộc đại chiến Quan Độ kéo dài 2 năm rưỡi, Viên Thiệu sau khi có được Lưu Bị thu được không ít tin tình báo về doanh trại Tào Tháo, càng thêm tin tưởng, tuy bộ tham mưu phản đối, Viên Thiệu vẫn tổ chức đại quân, dự định Nam chinh thôn tính Tào Tháo.
Hơn một năm ở trong trại Viên Thiệu, Lưu Bị mắt thấy Viên Thiệu là người nhu nhược không quyết đoán, bộ tham mưu gồm nguyên lão và các tướng lĩnh mỗi người một ý, tuy có binh lực gấp mười Tào Tháo, song không phải là một khối thống nhất đủ mạnh. Lại thêm ở vào giai đoạn này, Lưu Bị cũng đã biết rõ mưu lược và thực lực của Tào Tháo, bởi vậy phán đoán rằng, nếu cuộc chiến kéo dài, Viên Thiệu có thể chẳng phải là đối thủ của Tào Tháo, bèn mượn cớ đến phía tây nam Dự Châu để ngăn chặn Tào Tháo. Được Viên Thiệu cấp cho một số quân mã, liên hợp với quân của Lưu Tích, một tướng Hoàng Cân thân Viên Thiệu, đánh du kích quấy rối quân Tào, chế ngự một phần binh lực của Tào Tháo.
Giai đoạn này Trương Phi đang tụ tập tàn quân sau trận thất bại ở Từ Châu, lạc mất Lưu Bị. Quan Vũ bị hãm mình trong trại Tào, cũng đã chia tay Tào Tháo hộ tống gia quyến của Lưu Bị rời khỏi Hứa Đô, về với Lưu Bị. Trải qua hơn một năm thất bại và phân ly, lại qui tụ được những người cũ, khá thấy Lưu Bị có một sức lực kinh người.
Trong số Bát đại gia Đường Tống được người sau suy tôn, Tô Đông Pha từng nói: “Kẻ dùng binh tự cổ đến giờ, chẳng bằng được Tào Tháo, việc đánh dẹp họ Viên thực rất khéo léo vậy”.
Cuộc đại chiến ở Quan Độ trong lịch sử Trung Quốc, là chiến dịch kinh điển vận dụng mưu lược lấy ít đánh nhiều, binh lực của Viên Thiệu vượt gấp 10 lần Tào Tháo, bởi vậy Tào Tháo nắm địa lợi lấy Quan Độ của mình làm đất quyết chiến, vận dụng chiến thuật cố thủ, chiến thuật đột kích, cuối cùng đã may mắn và khéo léo đánh bại quân viễn chinh to lớn của Viên Thiệu.
Sau đại chiến Quan Độ đến năm 12 Kiến An thì chấm dứt cuộc Bắc chinh Ô Hoàn, liên tục trong 8 năm, Tào Tháo đem toàn lực thâu tóm vùng Hoa Bắc diệt trừ thế lực to lớn của Viên Thiệu, đã mấy lần động binh suốt một dải từ Dự Châu đến Nhữ Nam, song phần lớn chỉ là những trận nhỏ không đáng kể đến.
Năm thứ 6 Kiến An, chiến dịch Thượng Đình nổ ra, Viên Thiệu lại bị Tào Tháo đánh bại, không lâu ưu phiền mà chết, bởi phải lo việc tang lễ, quân họ Viên tạm thời không triển khai cho nên Tào Tháo nhân cơ hội đó thanh trừ quân du kích của Viên Thiệu đang quấy rối hậu phương Dự Châu; ông ta phái đại quân tiến vào vùng Nhữ Nam, Lưu Bị không địch nổi chỉ còn biết rút chạy về Kinh Châu, chịu sự bảo hộ của Lưu Biểu, Thứ sử Kinh Châu. Lưu Biểu thấy Lưu Bị là kẻ anh hùng nổi tiếng, liền hậu đãi, lại sai trợ thủ ở Tân Dã, huấn luyện binh mã làm thành phòng tuyến thứ nhất ngăn chặn quân Tào đánh xuống phía nam. Lưu Bị mấy lần yêu cầu Lưu Biểu nhân khi hai bên giao tranh ở Quan Độ, xuất binh tập kích vào Hứa Đô, hậu phương của Tào Tháo, song Lưu Biểu không muốn bị cuốn vào cuộc tranh chấp giữa Viên với Tào, vẫn khéo léo cự tuyệt.
6. Rồng sa bãi lầy, ôm gối than thở.
Tháng giêng năm thứ 13 Kiến An, Tào Tháo tiêu diệt dư đảng của họ Viên. Từ Dịch Thủy đến Nghiệp Thành, sau khi thôn tính ba châu của Viên Thiệu là U, Thanh, Tinh, cộng với ba châu Cổn, Dự, Tư tự mình vốn có: trong số mười bốn đơn vị hành chính toàn quốc, Tào Tháo đã chiếm được bảy châu, nghiễm nhiên trở thành một tướng lĩnh quân sự hàng đầu bấy giờ. Theo đề nghị của Tuân Du, tổng tham mưu trưởng Tào Tháo cho đào ở Nghiệp Thành một cái hồ lớn gọi là hồ Huyền Vũ cho diễn tập thủy chiến ở đó, rõ ràng Tào Tháo đã có ý định Nam chinh bình phục Lưu Biểu ở Kinh Châu và Tôn Quyền ở Giang Nam.
Tôn Kiên, phụ thân của Tôn Quyền là một anh hùng xuất sắc phi thường trong đám quần hùng đời Hán mạt, được Viên Thuật tiến cử làm Thứ sử Dự Châu trong cuộc chiến tranh với Lưu Biểu, bị phục binh chết giữa trận, thuộc hạ phần lớn theo về với Viên Thuật. Con cả là Tôn Sách cũng kế thừa được thiên tài quân sự của phụ thân, sau khi trưởng thành đã nắm lấy số quân cũ, thoát ly tập đoàn Viên Thuật, vượt sông Trường Giang, về nam khai thác giang sơn mới, ông đã lần lượt bình định sự cát cứ của các sứ quân Giang Đông như Lưu Dao, Hứa Cống, Vương Lãng, khống chế các quận Đan Dương, Ngô Quận, Cối Kê, Lô Giang, Dự Chương, thâu tóm một vùng địa bàn rộng lớn ở Dương Châu, đang lúc ổn định nội bộ, chuẩn bị phát triển ra bên ngoài, lại bị chết bởi sự ám hại của thích khách. Người em trai là Tôn Quyền mới có gần 18 tuổi chịu mệnh lúc nguy hiểm gánh vác công việc điều hành trong vùng.
Tôn Quyền không có tài hoa quân sự như cha anh song về chính trị lại là người có tài. Ông được sự giúp đỡ của Trương Chiêu, Trương Tú, đã mau chóng ổn định được nội bộ. Là người biết chiêu hiền đãi sĩ, trải qua năm, sáu năm ngắn ngủi, ông đã tạo ra một tình thế mới, “tướng sĩ như rừng”. Không lâu, Lỗ Túc một nhà chính trị lớn của Giang Đông đã tiến cử Chu Du là người nổi tiếng đương thời. Lỗ Túc đề nghị Tôn Quyền củng cố Giang Đông, đoạt lấy Kinh Châu, thực hiện kế hoạch xưng bá chia ba thiên hạ, rất được Tôn Quyền vừa ý, xem ông ta là đại thần tham mưu chủ yếu bên cạnh mình. Người anh trai của Gia Cát Lượng là Gia Cát Cẩn cũng vào thời kỳ này, được Lỗ Túc giới thiệu với Tôn Quyền trở thành một người tài giỏi trẻ tuổi trong bộ tham mưu.
Phía tây Giang Đông là nửa phía nam của Kinh Châu, nếu đi về phía tây nữa, là Ích Châu một vùng đất núi rừng tươi đẹp. Địa bàn Ích Châu rất rộng, đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú, song ở dưới sự cai trị của cha con Lưu Yên và Lưu Chương, chính trị, kinh tế, xã hội đều rối loạn. Lưu Yên là tôn thất nhà Hán vốn là người Giang Hạ, trong cục diện hỗn loạn cuối đời Ninh đế được bổ nhiệm làm Ích Châu mục, có đại quyền về chính trị và quân sự. Song Lưu Yên chưa vỗ về được trăm họ Ích Châu, lại câu kết với những nhà quyền quí lúc ấy xây dựng đặc quyền, bóc lột trăm họ. Bởi ngăn ngừa phản loạn, ông đặc biệt tổ chức dân di cư ở Ích Châu thành quận Đông Châu, tiến hành khủng bố trấn áp. Sau khi con ông là Lưu Chương kế vị, tình hình ở đấy càng thêm nghiêm trọng, trong “Tam quốc chí” Bùi Tùng Chi khi chú giải có chép: “Lưu Chương tính nhu nhược, không có uy vũ, cơ mưu, ông ta dung túng bọn cường hào, quan viên, khinh rẻ trăm họ, khiến tình hình Ích Châu mất ổn định nghiêm trọng”.
Phía bắc Ích Châu là vùng lòng chảo Hán Trung do Trương Lỗ, thủ lĩnh quân đạo giáo thi hành chế độ thống trị quân sự. Nhưng Trương Lỗ là người giảng đạo nghĩa, giầu trách nhiệm, nên xem ra sự đoàn kết của quân dân Hán Trung tương đối ổn định.
Phía đông bắc Hán Trung là khu Tư lệ quân, sau khi Hán Hiến đế chạy ra Lạc Dương, khu Tư lệ rơi vào cục diện cát cứ của quân đội. Phía tây bắc Hán Trung là vùng Lương Châu và Ung Châu, do Mã Đằng và Hàn Toại cùng tiến hành chiếm lĩnh bằng quân sự, song vùng này đại đa số là những bộ lạc thiểu số, bởi vậy vẫn không nhận được sự chú ý của đám quần hùng cuối đời Hán.
Lúc này Lưu Bị là kẻ anh hùng duy nhất không có địa bàn, tuy được Lưu Biểu che chở song cũng bị cựu thần và tướng lĩnh Kinh Châu nghi kị, thành ra dưới chính quyền Kinh Châu chỉ là một đội trưởng quân cận vệ chẳng có quyền lực gì.
Trong “Tam quốc chí” Bùi Tùng Chi có chép: “Lưu Bị có một lần tham gia yến tiệc của Lưu Biểu, giữa chừng khi ra nhà sau, phát hiện bắp đùi của mình nằng nặng, lấy làm lo lắng, lệ rơi lã chã, trở về chỗ ngồi Lưu Bị vẫn sầu não"’, Lưu Biểu kinh ngạc hỏi có chuyện gì, Lưu Bị đáp rằng: “Tôi đã nhiều năm Nam chinh Bắc chiến, thân không rời yên ngựa, bắp chân rắn chắc, nay một thời gian dài không ngồi trên yên ngựa, chân cẳng xem chừng chậm chạp. Chợt nghĩ thời gian qua rất nhanh, bất giác đã sắp lên lão, song vẫn chưa được việc gì, cho nên không khỏi bi thương vậy”.
Lưu Bị chợt nhìn lại con đường quan lộ đầy gập ghềnh của mình: Xét về phương diện cá nhân, có tiếng tăm với toàn quốc gây ấn tượng rõ rệt, xét về phương diện vũ trang, đã có được các dũng tướng nức tiếng thiên hạ như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, xét về phương diện văn phòng cùng đã có những danh sĩ như Tôn Càn, Giản Ung, My Trúc; lại có lần từng nắm quyền ở Từ Châu và Dự Châu, song cuối cùng vẫn không có cách gì giữ được, lại còn lưu ly thất tán, đến nỗi phải nhờ người khác che chở.
Được bạn bè giới thiệu, Lưu Bị biết được “Thủy kính tiên sinh” Tư Mã Huy, ông ta tựa hồ chết đuối vớ được cọc, nài nỉ với Tư Mã Huy, xin chẩn đoán cho bước đường sự nghiệp của mình thực triệt để. Tư Mã Huy thấy sự chân thành ấy, trực tiếp nói rõ với ông ta, bọn Tôn Càn cố nhiên đã rất cố gắng song xét cho cùng bọn nho sinh tầm thường, chẳng hiểu biết cho lắm. Kẻ thức thời phải hiểu biết thiên hạ đại sự; hơn nữa phải là kẻ tuấn kiệt chân tài thực học, cũng là nói khuyết điểm lớn nhất của Lưu Bị là thiếu nhân tài qui hoạch chiến lược. Tư Mã Huy lại còn tiến cử với Lưu Bị hai người ở Kinh Châu, tuy trẻ tuổi mà rất nổi tiếng, đó là Ngọa Long tiên sinh Gia Cát Lượng và Phượng Sồ tiên sinh Bàng Thống.


7. Tam cố thảo lư, Long Trung hiến sách.
Song để Lưu Bị có quyết tâm dứt khoát, tìm kiếm hiền tài trị quốc lại là Từ Thứ (Từ Nguyên Trực) bạn thân của Gia Cát Lượng.
Từ Thứ có tên là Đan Phúc, lúc trẻ thích múa kiếm, nhất tâm muốn làm hiệp khách. Sau tuổi thành niên vì nghĩa mà giúp người làng báo thù, giết kẻ ác bá trong làng nên phải chạy trốn đến nơi khác, đổi tên là Từ Thứ. Từ đấy bỏ võ theo văn, nghĩa lý tinh thục. Tuổi trung niên, lánh thân ở vùng Kinh Tương, với Gia Cát Lượng kết làm bạn vong niên.
Từ Thứ vốn không ưa Lưu Biếu, thường phê bình ông ta là nhu nhược không quyết đoán, thích cầm hư danh, kẻ tài giỏi không được dùng đến, kẻ xấu xa không bị bỏ đi. Bởi vậy yên phận bần cùng, cũng không muốn nhận chức vụ trong phủ Lưu Biểu. Sau khi Lưu Bị đến Tân Dã, Từ Thứ rất muốn đếm thăm kẻ anh hùng đã dám tham dự vịệc mưu sát Tào Tháo, bèn chủ động tìm gặp. Lưu Bị với ông ta đàm luận rất thích thú, bèn lưu ông ta làm tân khách dưới trướng, làm cố vấn và quy hoạch.
Sau khi hiểu rõ tình thế của Lưu Bị, Từ Thứ nói với Lưu Bị: “Tôi có một người bạn thân tên là Gia Cát Lượng vẫn được gọi là Ngọa Long, có tài năng cao hơn tôi nhiều, tướng quân hãy nên tìm đến ông ấy”.
Đó là lần thứ 2 Lưu Bị bị nghe đến đại danh Gia Cát Lượng tự nhiên rất đỗi cao hứng bảo rằng: “Vậy phiền tiên sinh giúp tôi mời ông ấy lại đây!”.
Từ Thứ lại bảo: “Người này tính đạm bạc, trừ phi tướng quân đích thân đến mời, ông ấy không chủ động đên xin việc, tướng quân khá nên uốn mình thân chinh tận nơi thăm hỏi”.
Lưu Bị cần hiền tài như đang khát nước, sau khi hỏi kỹ Từ Thứ, biết rõ Gia Cát Lượng chính là người tài mình đang cần, bởi vậy đặc biệt quý trọng, tự mình dẫn hai viên đại tướng Quan Vũ và Trương Phi, đầu đội mưa tuyết lạnh giá mùa đông, tìm đến ngôi lều cỏ của Gia Cát Lượng ở Long Trung hỏi thăm.
Bởi muốn thăm dò thành ý của Lưu Bị, Gia Cát Lượng cố ý tránh mặt liên tục hai lần không ở nhà. Nghe nói khi Lưu Bị đến lần thứ hai đã gặp Hoàng Thừa Ngạn là nhạc phụ của Gia Cát Lượng, nghĩ rằng Hoàng tiên sinh cũng muốn tự mình giám định ông chủ tương lai của con rể, để có ý kiến tham gia với Gia Cát Lượng. Song, Lưu Bị thực là người nhẫn nại, ông ta ba lần đội mưa tuyết, vì hành động Long Trung, Gia Cát Lượng rất đỗi cảm động, đã ở nhà tiếp đón, đấy là một giai thoại thiên cổ phi thường nổi tiếng trong dã sử dân gian, vẫn gọi là “Tam cố thảo lư cầu Khổng Minh”. Sau này trong “Xuất Sư Biểu” Gia Cát Lượng có viết: “Tiên đế không coi thần là kẻ thấp hèn đem lòng chiếu cố, đã ba lần đến tận ngôi lều cỏ của thần” có thể tin được rằng câu chuyện Tam cố thảo lư là một sự thực lịch sử.
Đối vói một kẻ hậu sinh kém ông ta hai mươi tuổi, Lưu Bị vẫn rất đỗi thành thực đề xuất vấn đề rất khó khăn, mà mình đang quan tâm:
“Triều đình nhà Hán đang khuynh bại, gia thần chiếm cứ ngôi cao nắm quyền, hoàng thượng phải chìm đắm, tình thế rất đỗi nguy cấp. Bởi vậy, tôi không tự lượng sức cũng không biết mình thanh danh chưa đủ, nỗ lực quên mình, bởi muốn nêu cao đại nghĩa với thiên hạ. Phải nỗi không may tự mình hiểu biết nông cạn, đến nay vẫn không thành được một việc. Tuy vấp ngã liên miên, tôi vẫn muốn đem hết sức lực để hoàn thành tâm nguyện, hy vọng tiên sinh chỉ bảo cho tôi một đôi điều...”.
“Tam quốc chí” có chép: “Gia Cát Lượng đã đáp lại Lưu Bị bằng tấm chân tình”.
Từ loạn Đổng Trác đến nay, hào kiệt trong thiên hạ cùng nổi dậy, cát cứ châu quận làm đất của mình không kể xiết. Tào Tháo so với Viên Thiệu, thanh danh không bằng, binh lực lại rất chênh lệch, song cuối cùng Tào Tháo vẫn đánh được Viên Thiệu, lấy yếu thắng mạnh, không chỉ cần nắm được thời cơ, mà việc qui hoạch thực rất cần thiết với thời gian dài.
Nay Tào Tháo đã có trăm vạn hùng binh, hơn nữa lại uy hiếp thiên tử để sai khiến chư hầu. Bởi vậy chẳng thể lấy cứng chọi cứng. Tôn Quyền ỏ phía đông nam, chiếm cứ Giang Đông đã trải ba đời, chính quyền tương đối ổn định, địa thế có Trường Giang hiểm trở làm chỗ dựa, đời sống nhân dân sung túc, lương thực nuôi quân đầy đủ, có rất nhiều nhân tài lỗi lạc dưới trướng. Xem thế lực như vậy, hãy nên kết giao làm bằng hữu, chẳng nên gây thành việc thù oán.
Kinh Châu phía Bắc Hán Giang và Mậu Thủy hiểm trở, phía nam có nguồn của cải dồi dào của Nam Hải, đông liền Ngô quốc, tây thông Ba Thục, là đất binh gia muốn tranh chiếm bằng được. Xem tình thế trước mắt, chủ nhân của Kinh Châu hiện nay chẳng đủ sức giữ lấy địa bàn này, đấy chẳng phải là trời cao có ý cho tướng quân đấy ư? Song chủ yếu vẫn là vấn đề ý nguyện riêng của tướng quân.
Ích Châu ở phía tây, địa thế hiểm yếu, bình nguyên phì nhiêu nghìn dặm thực là xứ sở trong mơ. Hán Cao tổ ngày xưa đã kiến lập cơ nghiệp ở đấy tiến ra thống nhất thiên hạ. Lưu Chương làm Ích Châu mục hiện nay là kẻ hồ đồ nhu nhược, vẫn thường bị Trương Lỗ ở phía bắc uy hiếp. Tuy người dân cần cù thật thà, sản vật phong phú, song người lãnh đạo lại không biết quý những điều kiện thuận lợi ấy.
Bởi thê không khí trong nước thực bất an, kẻ thức thời mong mỏi có được minh chủ đến điều hành.
Tướng quân là hoàng tộc nhà Hán, là hậu duệ của Vương đế, có tín nghĩa với bốn biển, thu được nhân tâm anh hùng các nơi. Nay lại có lòng tiếp thu ý kiến của người khác, cầu tài như khát, biểu thị đầy đủ tấm lòng thành thực trung hưng. Bởi thế hãy nên làm theo đề nghị của tôi, trước hãy chiếm lấy hai châu Kinh, Ích dựa vào thế hiểm trở mà cố thủ, tây hoà với Nhung Địch, nam vỗ về Di Việt, về ngoại giao cần xây dựng đồng minh với Tôn Quyền, về nội chính cần điều hành sáng suốt, bồi dưỡng quốc lực, nhẫn nại đợi thời cơ tốt nhất sẽ hành động.
Một khi đại thế thiên hạ có biến, sẽ phái một viên thượng tướng dẫn binh mã Kinh Châu lên phía bắc trực tiếp đánh chiếm Lạc Dương, còn tướng quân hãy tự mình dẫn đạo quân Ích Châu, theo hướng Tần Xuyên tiên ra thì sợ gì trăm họ không mang giỏ cơm bầu nước ra nghênh tiếp tướng quân. Nếu như cứ theo kế hoạch này mà làm, vậy thì việc xưng bá của tướng quân sẽ thành công, nhà Hán nhất định sẽ trung hưng được.


8. Xác định cụ thể qui hoạch đi từ nhỏ đến lớn.
Cuộc đôi thoại này đương nhiên có chỉnh lý thêm bớt của người đời sau, song có thể tin được rằng vào lúc ấy, quân thần vừa mới gặp mặt, cuộc thảo luận nhất định sẽ kéo dài và tế nhị, trao đổi ý kiến giữa hai bên rất đỗi triệt để. Cuộc đàm thoại này hiển nhiên là được tiến hành rất bí mật, đương nhiên chẳng thể ghi chép đúng với sự thực, Lưu Bị nếu không tạm nương náu ở Kinh Châu, dám đoạt lấy cơ nghiệp từ tay người khác, chẳng những xét về tình về lý có chỗ không thông, hơn nữa lại còn nguy hiểm.
Long Trung Sách có thể nói là một giấc mơ giữa ban ngày, là một qui hoạch phát triển lâu dài đi từ nhỏ đến lớn. Qua cuộc nói chuyện ban đầu xem xét về việc này, chúng ta có thể nhìn thấy. Sau này trong Xuất Sư Biểu, Gia Cát Lượng ví mình “Lo giữ toàn tính mệnh ở đời loạn chẳng cầu nổi danh với chư hầu”, thực ra là người dồi dào nhiệt huyết, ông ta đã thu thập tình hình và phân tích đại thế trong thiên hạ một cách hoàn chỉnh và sáng suốt. Và sau này trở thành đầu não qui hoạch chu tường hợp lý, đề xuất được kế hoạch đi từ nhỏ đến lớn rất cụ thể, trách chi Lưu Bị đã rất mừng rỡ như cá gặp nước vậy.
Tuy Gia Cát Lượng là người theo phái “Thanh lưu” tận trung với hoàng tộc nhà Hán song về quy hoạch lại rất thực tiễn, ông ta chủ trương không lấy cứng chọi cứng với Tào Tháo, mà cần phải liên minh lực lượng vói Tôn Quyền ở Giang Đông, đấy là tinh thần căn bản của chiến lược lớn “liên Ngô chế Tào”.
Nói đến xây dựng cơ nghiệp, Gia Cát Lượng dựa vào lý tính hoàn toàn, ông ta thậm chí rất thực tiễn, nhiều năm ỏ Kinh Tương, lại gặp gỡ với nhiều bậc danh sĩ, Gia Cát Lượng đối với nội tình của chính quyền của Lưu Biểu đã hiểu rất thấu đáo. Ví như Bàng Đức Công, Tư Mã Huy không muốn ra làm việc, chính quyền của Lưu Biểu có nền tảng rất yếu, phái thân Tào và phái phản Tào chèn ép nhau. Lưu Biểu do dự không quyết, đấy là điều đại kỵ của một người lãnh đạo, một chính phủ như vậy sớm muộn sẽ bị sụp đổ; khi Lưu Biểu lâm bệnh nặng, phái thân Tào như Khoái Việt, Hàn Tung nắm quyền điều hành chính trị và ngoại giao, lại được sự ủng hộ của thủy quân như Sái Mạo, Trương Doãn, chẳng qua lục quân đứng riêng ra phản Tào, Hoàng Tổ trấn thủ Hạ Khẩu là chiến hữu rất có tín nhiệm với Lưu Biểu, lại cũng là một đại tướng của phái phản Tào. Lưu Bị vẫn nổi danh anh hùng lại là kẻ đối địch với Tào Tháo, nếu như Lưu Biểu có ý thức khác, Lưu Bị thu được phái phản Tào, trấn áp được lực lượng thân Tào, cũng chẳng phải không có khả năng, Gia Cát Lượng đã lưu ý Lưu Bị lợi dụng khéo léo cơ hội ấy.
Đối với chính quyền Ích Châu cách xa mấy nghìn dặm, những điều Gia Cát Lượng nắm được đã khiến người ta rất đỗi kinh ngạc. Là một người trẻ tuổi, có thể hiểu thấu đại thế thiên hạ đến như vậy, Gia Cát Lượng thực đã có chuẩn bị trước. Tư Mã Huy gọi ông ta là kẻ thức thời tuấn kiệt chính là nói về tài năng ở phương diện này của Gia Cát Lượng.
Ở đoạn cuối cùng lập trường phái Thanh lưu của Gia Cát Lượng là kiên định và sáng tỏ. Điều này cho thấy một nguyên nhân chủ yếu là ông ta rất có cảm tình vói Lưu Bị. Song, lập trường của Lưu Bị phản kháng Tào Tháo ít nhiều thể hiện cảm tính, cơ hồ là ảnh hưởng của việc dược Hán Hiến đế triệu kiến và sự kiến Đổng Thừa năm ấy. Song quan điểm của Gia Cát Lượng chỉ thuần lý tính, việc phục hưng nhà Hán là hình thái ý thức của phái Thanh lưu, nếu xét về tính thế đương thời và địa vị của Hán Hiến đế mà nói, đoạn cuối của Long Trung Sách là không sát thực tế. Gia Cát Lượng cuối cùng bị hãm vào bối cảnh “Cúc cung tận tụy vì nước quên thân”, chính là bị ý thức đó trói buộc cho đến chết xong sự tiến triển về sự nghiệp của Lưu Bị sau này cơ hồ là chiếu theo bản vẽ qui hoạch này. “Long Trung Sách” xác định thế chia ba thiên hạ, liên Ngô chế Tào là chiến lược lớn, cũng chính thực Gia Cát Lượng tuy còn ít tuổi song đích xác là một thiên tài qui hoạch đường dài kim cổ chưa từng có.
Chủ trương của Long Trung Sách thực ra không phái là sáng tạo riêng của Gia Cát Lượng; Lưu Bị nhiều năm bôn ba ở bắc phương, đối với sự thấu hiểu Kinh Tương Ích Châu, nghe được phân tích như vậy có thể lấy làm kinh ngạc. Song đối với sách lược gia ở Kinh Tương, Giang Đông đối với tình thế khách quan đều có nhìn nhận như thế. Lỗ Túc khi mới gặp Tôn Quyền đã từng đề xuất: “Dựng đỉnh ở Giang Đông, chiếm cứ Kinh Châu tiến lên tranh bá với thiên hạ” (Tam quốc chí - chuyện Lỗ Túc). Đại tướng Cam Ninh dưới trướng của Hoàng Tổ khi theo về với Tôn Quyền, cũng đã công khai biểu thị. cha con Lưu Biểu sẽ không giữ được cơ nghiệp, bởi vậy Tào Tháo sẽ đoạt lấy Kinh Châu, tiến sang phía tây mà thu lấy Ba Thục, về phía Tào Tháo, Trình Dục là một tướng lĩnh có tầm nhìn xa và giỏi mưu lược, trong đêm trước đại chiến Xích Bích nổ ra đã phân tích Tôn Quyền sẽ liên hợp với Lưu Bị để đối kháng với sự phát triển của Tào Tháo, đấy là sự tương đồng về sở kiến của khách anh hùng. Riêng trong Long Trung Sách của Gia Cát Lượng sự phân tích thấu triệt, sách lược đề ra rất hoàn chỉnh mà cụ thể, thể hiện rõ đầu óc của Gia Cát Lượng, trí tuệ của một cao nhân, đấy chẳng phải là ông ta có năng lực thần cơ diệu toán của kẻ dự đoán tiên tri như người ta vẫn tô vẽ.


*
*      *
 
Lời bình của Trần Văn
Bất luận ở thời đại nào, tin tức được sưu tầm chính xác, phân tích chỉnh lý có hệ thống, phán đoán đưa ra quyết sách hữu hiệu, cơ hồ là điều kiện khởi đầu ắt phải có đủ của một nhà sách lược ưu tú. Tư Mã Huy cho rằng kẻ thức thời là tuấn kiệt, ý nói đến điều kiện này.
Xung quanh mỗi cá nhân, xem ra tin tức có thu lấy bao nhiêu cũng không hết, cũng có không ít người thường dùng “sự thực thắng hùng biện” để biểu thị cái mà mình nắm được hoặc nhìn ra mới là sự thực, còn người khác thì không đúng, cho nên chỉ có lập trường của mình mới là có giá trị. Thực ra như vậy chỉ là luận thuyết chỉ biết mình mà thôi.
Vấn đề đầu tiên ở đây là những người này lẫn lộn giữa sự thực và chân thực, sự thực không phải là chân thực, song sự thực là yếu tố cần thiết để suy nghĩ tìm ra chân thực, trong quá trình đó, sự thực rất có giá trị; chưa có sự thực làm tiền đề cho suy nghĩ, chỉ thu được những thiên kiến độc đoán mà không có được chân thực.
“Vấn đề sự thực” là một cách xem xét của mỗi cá nhân trước các sự kiện của thế giới, quan điểm của mỗi cá nhân không giống nhau, sự thực cũng nhìn nhận không giống nhau. Sự thực không phải là cái mơ hồ, nó là điều kiện để suy luận, người thiếu khả năng suy luận, sự thực mà họ nắm được, chưa có giá trị gì. Trước mắt có không ít ý kiến của học giả, khiến chúng ta rất khó vận dụng. Thực ra những suy nghĩ trừu tượng về hệ lý luận của họ, về căn bản không đem đến cho chúng ta sự phân tích, chỉnh lý và phán đoán đúng đắn về vấn đề sự thực.
Cũng có không ít học giả nhận rằng họ là những chính trị gia và nhà kinh doanh đã hơn 30 năm, thực tế thu thập được không nhiều, họ đưa ra những phán đoán không mấy chính xác, thực ra vấn đề không phải nhiều ít nắm thực tế, mà từ những tin tức đã nắm được, phát hiện được “sự thực’' có thể dùng được. Những nhà chính trị và kinh doanh nổi tiếng trong quá khứ, có một quá trình từng trải và trường thành, có suy tư và hệ lý luận đúng đắn, bởi vậy từ những tin tức nhiều mặt, với quan điểm vận dụng của riêng mình, nêu ra được sự thực khả dĩ. Những chính trị gia và nhà kinh doanh hiện đại, phần lớn được đào tạo qua trường lớp và họ có thể lợi dụng công cụ khoa học để phát hiện sự thực song lại không có biện pháp hữu hiệu để vận dụng sự thực.
Nói cho cùng, có không ít người nhận mình là “chuyên gia”coi sự thực mà mình nhìn nhận là chân thực, để đạt đến mục đích, không vận dụng sự thực để tìm chân thực, mà chỉ cố thủ ở lập trường, “sự thựccủa mình, để phủ định “sự thực” của người khác; có thể nói như vậy đã xa rời thế giới thực tiễn, dẫn đến hình thái ý thức rất thiên kiến và độc đoán.
 
0
Chương IV
QUAN HỆ CÁ NƯỚC
(NGƯ THỦY CHI GIAO)

 
Ở thời kỳ này Gia Cát Lượng và Lưu Bị ăn cùng bàn, ngủ cùng giường, gắn bó với nhau để nghiên cứu tất cả qui hoạch phòng bị.
Bởi hai người cơ hồ như một, khiến Lưu Bị cũng xa rời Quan Vũ và Trương Phi, làm cho hai người ấy nẩy sinh vấn đề tâm lý.


1. Người đàn ông khiến đàn ông cũng phải yêu mến.
Long Trung Sách của Gia Cát Lượng đã làm cho Lưu Bị thấy rõ hoàn cảnh của mình, đầu tiên vận dụng tư duy trừu tượng để khái quát, phân tích thấu triệt, để mở rộng tầm nhìn của người khác, cũng làm cho người ta thêm tin tưởng vào việc tranh bá thiên hạ. Bởi vậy Lưu Bị thành khẩn mời Gia Cát Lượng làm quân sư, phụ trách việc qui hoạch. Qua thử thách “Tam cố thảo lư”, Gia Cát Lượng cũng có lòng tin với Lưu Bị, bởi vậy đã đáp ứng một cách vui vẻ, kết thúc cuộc sống ấn cư ở Long Trung, lựa chọn Lưu Bị làm minh chủ suốt đời không thay đổi của mình.
Một điều khiến người ngoài rất kinh ngạc, là Gia Cát Lượng tài trí như vậy, thường tự ví với Quản Trọng và Nhạc Nghị, lại lựa chọn một người chủ lạ lùng mà cả đến cái ăn cũng còn có vấn đề. Thực ra vấn đề chủ yếu ở con người của Lưu Bị có ma lực khiến người ta rất khó cự tuyệt.
Trong “Tam quốc chí” Trần Thọ có bình luận như sau: “Tiên chủ tính cởi mở khoan hậu, chiêu hiền đãi sĩ, có phong thái như Hán Cao tổ, có khí chất anh hùng vậy”. Lưu Bị nổi tiếng là kẻ anh hùng lúc đó, sự thành khẩn khoan hậu với người khác của ông ta, cùng với sự tin tưởng hoàn toàn khiến ông ta nhận được sự tin cậy của người khác. Thân thiết gắn bó, không nên hình thức, biết người khéo dùng, là ma lực rất lớn của Lưu Bị; ví như mãnh tướng Triệu Vân dưới trướng của Công Tôn Toản là người trung thành chính trực, ưa nói thẳng, bởi vậy không được Công Tôn Toản vừa ý, song ông ta rất gắn bó với Lưu Bị, rất thành tâm và Triệu Vân trở thành một trợ thủ đắc lực gần như Quan Vũ và Trương Phi ở dưới trướng của Lưu Bị. Ví như Từ Thứ là một hàn sĩ dám công khai phê bình Lưu Biểu, với Lưu Bị cũng rất thân thiết ngay từ đầu, còn giúp ông ta lôi kéo được Gia Cát Lượng, Lưu Bị với Từ Thứ cũng rất thành tâm, nhất nhất đều nghe theo. Đối với Quan Vũ và Trương Phi là hai người bạn thuở ban đầu, thường ngồi cùng chiếu, ngủ cùng giưòng, ăn cùng mâm, có thể nói đồng cam chịu khổ lâu dài, Lưu Bị thực là người chủ giàu tinh thần nghĩa hiệp.
Lại khi ở Bình Nguyên, từng có người phái thích khách muốn ám hại Lưu Bị, song khi ông ta tiếp đãi thích khách lại rất mực hậu hĩ, khiến thích khách không nhẫn tâm còn bộc lộ việc mình làm, lập tức ra đi. Khi ở Từ Châu, Đào Khiêm nài nỉ ông làm người kế nhiệm, bởi Lưu Bị được xem là minh chủ khéo lo cho dân, khiến trăm họ có nơi quy tụ. Bùi Tùng Chi có viết, người đương thời cho rằng, Lưu Bị khoan dung đại độ có thể làm cho người khác chết vì mình. Tào Tháo cũng nói trước mặt Lưu Bị rằng: Thiên hạ anh hùng duy chỉ có Sứ quân và Tháo vậy. Viên Thiệu xưng bá thiên hạ, khi Lưu Bị lưu lạc, cũng nhiệt tình tiêp đãi ông ta, xem Lưu Bị là người nhã nhặn mà có tiết nghĩa, đến cả một mưu sĩ trẻ tuổi quan trọng của Tào Tháo là Quách Gia cũng phải khen Lưu Bị: Có hùng tài mà rất được lòng người (truyện Quách Gia). Như thế đủ thấy, một người khiến cho kẻ địch, bạn bè, cả những người không quen biết cũng phải nể vì: Gia Cát Lượng thấy rõ điều ấy, có thể ông ta cho rằng chỉ có một người chủ như Lưu Bị, mới có thể được tôn trọng và tín nhiệm đầy đủ, mới có thể dựa vào đó để thực thi hoài bão của mình.
Đúng như Gia Cát Lượng sau này trong “Xuất Sư Biểu” có viết: “Tiên đế không xem thần là hèn mọn đem lòng chiếu cố, ba lần tìm đến lều cỏ của thần, bầy tỏ với thần việc thế sự, rất đỗi cảm kích, mong mỏi được hết lòng với tiên đế”. Kẻ sĩ vì tri kỷ mà chết, có thể tin rằng Gia Cát Lương sau này cúc cung tận tụy, cũng là bắt đầu từ đấy.
Lại nói Bùi Tùng Chi chú giải Tam quốc chí có chép: Mạnh Công Uy là bạn thân của Gia Cát Lượng, muốn về cố hương ở Trung Nguyên (Mạnh Công Uy là người Dự Châu), Gia Cát Lượng có khuyên ông ta rằng: “Trung Quốc giầu sĩ đại phu, ngao du hà tất phải nghĩ đến cố hương làm gì”, vấn đề là ở chỗ, nhà Hán ở Trung Nguyên, Tào Tháo đương nắm quyền bức hiếp cả nhà vua. Mà Gia Cát Lượng là người theo phái Thanh lưu vẫn nghĩ đến phục hưng nhà Hán, quan điểm ấy không lúc nào rời được. Nhìn khắp quần hùng trong thiên hạ, chỉ có Lưu Bị tận tâm với Hán Hiến đế, ông ta không những là hậu duệ của nhà Hán, cũng từng nhận mật thư của Hán Hiến đế, là tướng lĩnh dám tham gia việc mưu sát Tào Tháo. Nhìn chung sự gắn bó giữa Gia Cát Lượng và Lưu Bị âu cũng là đạo lý tất nhiên.


2. Anh em khác họ, giai thoại nghìn năm.
Không chỉ một mình Gia Cát Lượng bị hấp dẫn bởi ma lực của Lưu Bị, ngav khi còn điên đảo lưu ly cũng có không ít danh sĩ mãnh tướng, vẫn ở bên ông ta, đồng cam cộng khổ, chia sẻ hoạn nạn đối với Lưu Bị cơ hồ vĩnh viễn không rời đổi. Đáng kể nhất là đào viên kết nghĩa Lưu, Quan, Trương, vẫn lưu truyền trong dân gian, ba người “Dẫu không cùng ngày, tháng, năm sinh nhưng nguyện chết cùng ngày, cùng tháng, cùng năm”.
Quan Vũ tên chữ là Vân Trường, tên thực là Trường Sinh người Hà Đông (nay là Sơn Tây), khi tuổi trẻ vì trượng nghĩa có giết kẻ ác bá trong làng; một mình chạy trốn ở nơi khác, đổi tên là Vân Trường. Khi Lưu Bị ở Trác Quận khởi binh thảo phạt Hoàng Cân, Quan Vũ và Trương Phi cùng đến tiếp ứng, Quan Vũ thân cao hơn 9 thước ta (khoảng 1,90m), tướng mạo đường đường, cùng với Trương Phi, rất được Lưu Bị tín nhiệm. Tam quốc chí có chép: “Tiên chủ khi ở Bình Nguyên xếp Quan Vũ, Trương Phi làm Biệt bộ tư mã, chia nắm việc quân. Tiên chủ với hai người ngủ cùng giường, xem như anh em, song khi có việc công thì đứng hầu trọn ngày, mọi thứ đều do tiên chủ chu cấp, không ngại gì gian khổ”.
Năm thứ 4 Kiến An, Lưu Bị thoát khỏi sự không chê của Tào Tháo, lệnh cho Quan Vũ, nỗ lực ngăn chặn quân Tào, giữ thành Hạ Phì, bảo vệ gia quyến và lương thảo, có bổ nhiệm chức Thái thú. Còn Lưu Bị cùng Trương Phi trụ ở Bái huyện, để chống đỡ quân Tào xâm nhập.
Năm thứ 5 Kiến An. Tào Tháo dẫn đại quân Đông chinh. Lưu Bị ở Bái huyện bị quân Tào đánh bại, một mình chạy về với Viên Thiệu. Thành Hạ Phì cũng bị quân Tào vây chặt, Quan Vũ muốn tuẫn tiết, song một mặt phải bảo vệ gia quyến Lưu Bị, một mặt do Tào Tháo đưa ra điều kiện khuyến hàng rất là ưu đãi, Quan Vũ nếu như được tin tức của Lưu Bị, sau khi lập công đáp đền Tào Tháo sẽ lập tức tìm về với Lưu Bị, điều kiện được chấp nhận, ông ta đem quân đầu hàng Tào Tháo.
Tuy danh tiếng của Quan Vũ không cao song có tư chất tướng mạo, lại thêm có phẩm hạnh được Tào Tháo rất kính trọng; chẳng những đáp ứng điều kiện đầu hàng của ông, còn phong làm Thiên tướng quân.
Không bàn đến sự tô vẽ của “Tam quốc diễn nghĩa” những ghi chép của chính sử về quan hệ đặc biệt giữa Tào Tháo và Quan Vũ, vẫn có thể được gọi là không tiền khoáng hậu, cổ kim trong ngoài cũng không tìm được một câu chuyện thứ hai. Sau khi đầu hàng lại có thể tự do ra đi, hơn nữa lại có thể theo về với đối phương (Viên Thiệu) và lại có thể đối chọi với mình, điều kiện khoan dung như vậy có lẽ chỉ Tào Tháo mới có thể đưa ra.
Quan Vũ cũng ngoan cố khả ái, dẫu Tào Tháo đối với ông tận tình tận nghĩa, ông vẫn kiên trì nguyên tắc đã thoả thuận, tích cực tìm tòi Lưu Bị đã lưu lạc, đích xác được gọi là kẻ đại trượng phu “phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất” (giầu sang không dao động, uy vũ không khuất phục).
Bởi Quan Vũ với mãnh tướng Trương Liêu có chí khí hợp nhau, quan hệ thân mật, Tào Tháo bèn phái Trương Liêu thử thăm dò ý nguyện Quan Vũ phải chăng có thể dứt bỏ Lưu Bị ở lại trại Tào. Trương Liêu cứ theo chỉ thị của Tào Tháo đến ướm hỏi Quan Vũ, Quan Vũ biết Tào Tháo có thiện ý, than rằng: “Tôi rất biết Tào Công lấy lễ đối xử với tôi, song Lưu tướng quân với tôi đã có quan hệ lâu ngày, từng thề cùng sinh tử, chẳng thể bởi giàu sang bội ước, tôi chẳng thể ở lâu được, song nhất định lập công lao đền đáp, rồi mới ra đi”.
Trương Liêu chỉ còn biết báo cáo với Tào Tháo đúng như vậy, Tào Tháo không những không giận lại rất đỗi cảm động, công khai tán tụng Quan Vũ là người trung nghĩa. Không lâu, quân tiên phong của Viên Thiệu tràn qua bờ nam Hoàng Hà đánh vào thành Bạch Mã của Tào Tháo, tướng trấn thủ là Lưu Diên vội cấp báo, Tào Tháo phái Trương Liêu và Quan Vũ đến đó chống đỡ. Bởi Nhan Lương tự đắc có quân lực hùng mạnh, lơ là phòng vệ; Trương Liêu và Quan Vũ dẫn đội kỵ binh đuổi gấp, cách thành Bạch Mã khoảng vài mươi dặm gặp Nhan Lương đang dẫn quân đi tuần. Hai bên đột nhiên giáp mặt, không kịp chuẩn bị, Nhan Lương đang cười nói vui vẻ, ngồi trên một cỗ xe có lọng che và cờ hiệu, không nghĩ chuyện bất thường sẽ xảy ra. Quan Vũ dũng mãnh nhanh chóng nhìn ra nhược điểm của Nhan Lương, ông một mình một ngựa xông đến, huơ đại đao nhằm chém Nhan Lương, áp sát đến tận bánh xe, vệ binh của Nhan Lương đứng ngây cả ra, đến bản thân Nhan Lương cũng không kịp trở tay, liền bị Quan Vũ đâm chết lộn cổ xuống xe. Trong khi vệ binh còn đứng ngây như phỗng, Quan Vũ xuống ngựa lấy thủ cấp của Nhan Lương, sau đó ung dung lên ngựa mà đi.
Trương Liêu cũng vẫy quân kéo đến, quân Nhan Lương kinh hoàng tan tác cả, Quan Vũ và Trương Liêu không dừng lại, lại tiếp tục truy đuổi; bởi mất chỉ huy, quân Viên như rắn không đầu, chỉ còn biết nhanh chóng rút chạy về bờ bắc Hoàng Hà, thành Bạch Mã cũng mau chóng được giải vây. Kể từ đại chiến Quan Độ bắt đầu chưa được bao lâu, quân Viên Thiệu đã vấp ngay phải một tổn thất nghiêm trọng.
Thắng trận này công lao của Quan Vũ rất lớn, Tào Tháo sợ ông ta bỏ đi bèn ban thưởng rất hậu, phong làm “Hán thọ đình hầu” cứ ba ngày bầy một tiệc nhỏ năm ngày bầy một tiệc lớn có ý giữ chân ông. Song Quan Vũ được biết Lưu Bị đang ở với Viên Thiệu bèn từ biệt Tào Tháo, Tào Tháo tránh không gặp mặt, Quan Vũ không trình báo được, bèn gói cả quà thưởng và ấn tín, viết thư cáo từ, dẫn theo gia quyến Lưu Bị thẳng hướng doanh trại Viên Thiệu ở bờ bắc Hoàng Hà.
Trong khoảng giao tranh giữa đôi bên, Quan Vũ vượt qua không dễ dàng; các tướng trong trại Tào muốn đuổi bắt, song Tào Tháo ngăn lại nói rằng: “Kẻ ấy chỉ vì chủ cũ, chớ nên đuổi theo”.
Một mình một ngựa bảo vệ gia quyến Lưu Bị, vượt qua vùng giáp ranh giữa hai bên, giữa thòi kỳ chiến sự, không nghi ngờ gì đây là việc thực khó hiểu rõ được. Bởi thế trong Tam quốc diễn nghĩa có mô tả một câu chuyện ly kỳ: “Một ngựa vượt nghìn dặm, ngũ quan trảm lục tướng”. Giữa chừng lại có tình tiết Trương Liêu phụng mệnh Tào Tháo, tặng Quan Vũ giấy thông hành miễn tội quá quan trảm tướng, lý lịch tô vẽ thêm rất khó phân giải, song nếu như không có sự chiếu cố đặc biệt của Tào Tháo, Quan Vũ muốn bình yên đi qua phòng tuyến tiến sang doanh trại Viên Thiệu tưởng cũng không dễ dàng như thế.
Bởi ma lực đặc biệt của Quan Vũ, Viên Thiệu cũng bỏ quá cho ông ta tội chém chết Nhan Lương, lại cảm kích trước lòng trung nghĩa vẫn sắp xếp cho ở trong trại Lưu Bị. Tuy sự kiện đến hôm trước đại chiến Quan Độ bảo vệ đại thế trong thiên hạ, chỉ là một đoạn viết ngắn, song sự trung thành và can đảm của Quan Vũ, sự khoan dung và nhã ý khác thường của Tào Tháo, đã thành giai thoại lưu truyền thiên cổ.
Trương Phi tên chữ là Dực Đức, là người cùng quận Trác với Lưu Bị, năm xưa đã cùng Quan Vũ theo giúp Lưu Bị, cá tính thẳng thắn, bên trong sự thô lỗ là sự tử tế. Thân cao hơn 8 thước ta (khoảng 1,8m) trán cao mà dô, mắt tròn mà lớn, râu quai nón đầy mặt, tiếng to như sấm, hành động mau lẹ mà dũng mãnh, thoáng nhìn có vẻ hung tợn, bụng dạ lại trung thành mà lương thiện. Đối với kẻ quân tử có học thì rất mực tôn trọng, song coi cái ác như thù; đôi với kẻ tiểu nhân phạm sai lầm hoặc có ác ý dứt khoát không tha thứ, cũng bởi thế mà dễ đắc tội với người.
Lại thêm cá tính nóng nảy, thích uống rượu, đã từng mắc lỗi nghiêm trọng, Lưu Bị phải luôn răn bảo, song bản tính khó đổi. Trương Phi kiêu dũng thiện chiến coi cái chết nhẹ như lông hồng, nói về sức sát thương trên chiến trường, đến cả Quan Vũ cũng phải tự than là chẳng bằng. Thế nhưng ông ta đối với Lưu Bị rất đỗi trung thành, đối với Quan Vũ cũng rất nể vì, là một người bạn thuở hàn vi chẳng dễ gặp được.


3. Ban bệ của Lưu Bị
Ngoài Quan Vũ và Trương Phi, trong ban bệ của Lưu Bị, Triệu Vân là người cẩn thận, dám nói thăng, dũng mãnh vô cùng, giàu tinh thần trách nhiệm, dược xem là một nhân vật trọng yếu.
* Triệu Vân
Triệu Vân tên chữ là Tử Long, người Thường Sơn, thân cao hơn 8 thước ta, hùng tráng uy nghi, chuyên dùng cây trường thương với người khoan hoà, có năng lực lãnh đạo. Thời Hán mạt đại loạn, các phụ lão quân Thường Sơn cử Triệu Vân làm thủ lĩnh quân nghĩa dũng, khi Viên Thiệu và Công Tôn Toản đánh nhau, Triệu Vân dẫn quân nghĩa dũng theo về với Công Tôn Toản.
Bởi Viên Thiệu đang làm Ký Châu mục, Công Tôn Toản, thấy Triệu Vân đến với mình, phi thường cao hứng mới bảo rằng: “Nghe nói người Ký Châu đều theo về với Viên Thiệu, tướng quân lại về với ta ở đây, khá xem là người Ký Châu bỏ lối mê mà phản tỉnh”. Không ngờ Triệu Vân nghiêm trang nói rằng: “Thiên hạ đại loạn, ai phải ai trái, kỳ thực cũng khó phân biệt rõ, người dân chịu ảnh hưởng chiến loạn, ở nơi nước sôi lửa bỏng, bởi vậy người tệ quận mới phải đi tìm nơi nhân nghĩa, cứu họ khỏi cảnh nước lửa, đâu có nghĩ là thân cận với tướng quân mà xa rời Viên Thiệu!”. Công Tôn Toản nghe nói rất không vừa lòng song thấy quân lực to lớn, miễn cưỡng thu nạp, không trọng dụng cho lắm.
Lúc ấy Lưu Bị đã theo về với Công Tôn Toản đánh lại Viên Thiệu, với Triệu Vân rất có cảm tình, mến mộ tài năng, Triệu Vân cũng có ý hợp với Lưu Bị, kết làm chỗ thân thiết. Không lâu, anh cả của Triệu Vân ở quê từ trần, Triệu Vân xin phép về nhà, Lưu Bị biết rõ anh ta sẽ không trở lại với Công Tôn Toản; khi từ biệt nắm tay không rời, Triệu Vân cảm được thành ý, bèn nói rằng: “Sẽ có ngày đáp đền thành ý của tướng quân”. Sau này, Triệu Vân được biết Lưu Bị theo về với Viên Thiệu đã dẫn quân ở làng đến phối hợp, làm trọn lời hứa; Lưu Bị rất vui mừng thường ngủ cùng giường, cùng bàn bạc đại sự, Lưu Bị thấy Viên Thiệu chẳng thế dựa được bèn ngầm phái Triệu Vân chiêu mộ binh mã cho đội quân của mình. Chẳng bao lâu đã có hơn trăm người tham gia, sau khi Lưu Bị đến Nhữ Nam, đã có ban bệ hoàn chỉnh, đều là công lao của Triệu Vân bởi Triệu Vân dũng mãnh lại điều độ, giỏi đánh kỵ binh, nên Lưu Bị giao cho làm kỵ binh đốc đại, lại thường kiêm chỉ huy đội tiên phong.
Trong lúc lãnh đạo quân đội của Lưu Bị, sau này phối hợp tốt với Gia Cát Lượng cũng đều là công của Triệu Vân.
Ngoài ba vị võ tướng vạn người khó địch, trong ban bệ lúc đầu của Lưu Bị còn có ba văn quan trọng yếu họ là My Trúc, Tôn Càn, Giản Ung.
* My Trúc
My Trúc tên chữ là Tử Trọng người Đông Hải, tổ tiên theo nghề buôn bán, khách có vạn người, tài sản rất lớn, khi Đào Khiêm làm Từ Châu mục, thấy My Trúc là người nổi tiếng, bổ nhiệm làm Biệt giá tòng sự. Khi Đào Khiêm từ trần dặn dò My Trúc phải mời Lưu Bị làm Châu mục, cùng với Trần Đăng đã giúp đỡ được nhiều việc quan trọng, khi Lưu Bị làm Từ Châu mục sau này, Lã Bố thừa cơ Lưu Bị đang tranh giành với Viên Thuật tập kích Từ Châu, vợ con Lưu Bị mắc vòng vây hãm. Bất đắc dĩ Lưu Bị dẫn quân đến Quảng Lăng. My Trúc lấy tài sản riêng hiệp trợ cho Lưu Bị qua lúc khốn khó, lại mang em gái gả cho Lưu Bị làm vợ kế gọi là My phu nhân.
Tào Tháo đánh chiếm Từ Châu, My Trúc tuy xuất thân từ thương gia song bởi có lòng trung lại thanh liêm, được bổ nhiệm làm Thái thú doanh quận, cử em trai My Trúc và My Phương làm Bành thành tướng. Sau khi Lưu Bị thua Tào Tháo, anh em My Trúc đều từ quan đi theo Lưu Bị. Khi Lưu Bị về với Viên Thiệu, anh em My Trúc cũng từ giã quê hương, đến Nghiệp quận hợp với Lưu Bị, sau này Lưu Bị đánh du kích ở vùng Nhữ Nam quấy rối hậu phương Tào Tháo, My Trúc cũng giúp đỡ Lưu Bị rất nhiều tiền tài.
* Tôn Càn
Tôn Càn tên chữ là Công Hổ người Bắc Hải, khi Lưu Bị mới được bổ nhiệm Từ Châu mục, được cử làm Tòng sự, Tôn Càn có tài ăn nói, phản ứng sắc bén, song cá tính ôn hoà và là người trung thành. Thời kỳ Lưu Bị đang thất vọng, Tôn Càn luôn ở bên an ủi giúp đỡ, không biết mỏi mệt. Bất luận là khi về với Viên Thiệu hoặc Lưu Biểu, việc giao thiệp và sắp đặt trước đều do Tôn Càn phụ trách, chưa hề chịu nhục, có thể nói là có tài ngoại giao. Đặc biệt là Lưu Biểu cũng có ý quý trọng Tôn Càn. Khi viết thư cho Viên Thượng là con Viên Thiệu, luận về việc tranh giành giữa anh em họ Viên, Lưu Biểu có ý nhấn mạnh: “Mỗi lần cùng luận bàn việc này với Lưu tướng quân và Tôn Công Hổ, đều rất đau lòng, nghĩ mà bi thương”. Tuy như thế, Tôn Càn là người trung thành với Lưu Bị, song công việc không có gì nổi trội.
* Giản Ung
Giản Ung tên chữ là Hiến Hoà, người Trác quận cùng đồng hương với Lưu Bị, thời trẻ đã có quan hệ, khi Lưu Bị tổ chức đội quân riêng trấn áp Hoàng Cân khởi nghĩa, Giản Ung đã theo về với Lưu Bị phụ trách việc đàm phán, việc giao thiệp. Giản Ung cá tính khôi hài, giỏi trào phúng, không xem trọng lễ phép thế tục, thường giống như kẻ cuồng sĩ, có lúc Lưu Bị và Gia Cát Lượng cũng phải đau đầu, song ông ta vốn chính trực liêm khiết và không tư lợi, ở trang trại Lưu,Bi rất được quân sĩ kính trọng.
Có một lần trời đại hạn, Lưu Bị hạ lệnh cấm chỉ việc nấu rượu, ai vi phạm sẽ bị trừng phạt nghiêm trọng, có một nhà kia bị quan quân kiểm tra thu được thiết bị nấu rượu, luận vào hình phạt chuẩn bị phạm tội, Lưu Bị do dự không quyết. Hôm ấy, Lưu Bị với Giản Ung đang đi tuần sát trong quận, thấy một nam một nữ cùng đi, Giản Ung nói với Lưu Bị: “Hai người này sắp làm việc gian dâm, xin hãy mau bắt lấy”. Lưu Bị kinh ngạc bảo rằng: “Tiên sinh sao biết như thế’’. Giản Ung đáp rằng: “Hai người bọn họ chẳng phải đều có khí cụ gian dâm ư? Việc này so với việc có đồ nấu rượu là cùng một đạo lý vậy!”. Lưu Bị nghe xong cười lớn, bèn hạ lệnh, kẻ có đồ nghề nấu rượu vô tội, việc này nói rõ được tài trào phúng của Giản Ung.
Sau khi Từ Thứ, Gia Cát Lượng được bổ nhiệm, My Trúc, Tôn Càn, Giản Ung đã giảm bớt vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch ở quân danh, song họ đều không mảy may oán thán, lại còn tận lực hiệp trợ với Gia Cát Lượng, qua đấy thấy được dưới sự lãnh đạo khéo cảm hoá lòng người của Lưu Bị, nhóm quan văn dưới trướng cũng hoà hợp được vào không khí chung.


4. Tổ chức dân di cư, khuếch trương thêm quân lực
“Tam quốc diễn nghĩa” có chép, việc đầu tiên của Gia Cát Lượng sau khi hạ sơn là kế hoạch hoả thiêu gò Bắc Vọng, đánh bại Hạ Hầu Đôn, đại tướng quân Tào và liên quân Vu Cấm. Thực ra khi chiến dịch Gò Bác Vọng nổ ra, Lưu Bị chưa từng gặp Gia Cát Lượng và Từ Thứ, không thể có chuyện Gia Cát Lượng và Từ Thứ tham dự mưu lược.
Gò Bác Vọng ở vùng Nhữ Nam, đương khi Lưu Bị và Lưu Tích ở Nhữ Nam đánh du kích giữa hậu phương quân Tào, Hạ Hầu Đôn đang phụ trách phòng thủ ở Dự Châu, rất đau đầu. Bởi thế sau chiến thắng Quan Độ, Hạ Hầu Đôn chủ trương tiêu diệt quân du kích của Lưu Bị. Tuy Tào Tháo cho rằng thời cơ chưa chín muồi, song Hạ Hầu Đôn cứ thúc giục, Tào Tháo chỉ còn biết điều động tướng Vu Cấm đang ở bờ nam Hoàng Hà cùng hiệp trợ; binh lực quân Tào rất mạnh, bởi vậy ngay từ lúc ban đầu, quân Lưu Bị, Lưu Tích đều phải chịu áp lực rất lớn, Lưu Tích bị chết giữa trận. Hạ Hầu Đôn tranh thủ truy kích, Vu Cấm khuyên mãi không được đành phải làm theo, song khi quân đuổi đến gò Bác Vọng, liền bị hoả công vây bủa vào thế mai phục trước của Lưu Bị, quân Tào đại bại, Hạ Hầu Đôn và Vu Cấm cố chạy thoát thân. Nhưng Lưu Bị cũng thấy binh lực của mình rất mỏng, về căn bản chẳng thể đối chọi với quân Tào, theo sự sắp xếp của Tôn Càn, đánh rút về Kinh Châu, nhận sự che chở của Lưu Biểu; Lưu Biểu bèn lệnh cho trấn thủ Tân Dã phụ trách phòng thủ tiền tuyến phía đông bắc.
Gia Cát Lượng tuy có suy nghĩ sắc bén về chiến lược song chưa từng trải qua trận mạc, xét về căn bản chưa có kinh nghiệm tác chiến, thiết nghĩ nếu dựa vào chiến thuật quyết sách của ông ta, về thực tế là rất ít khả năng, bởi vậy Gia Cát Lượng sau khi hạ sơn, công việc chủ yếu vẫn là qui hoạch chiến lược và hành chính.
Lúc ấy chiến dịch quan khổ bắc chinh ô hoàn của Tào Tháo đã giành được thắng lợi, tại hồ Huyền Vũ ở bên Nghiệp Thành ở Ký Châu, thường tăng cường luyện tập thủy quân để chuẩn bị nam tiến, phía đông bắc Kinh Châu ở vào thế đối đầu, đội quân Lưu Bị trụ giữ Tân Dã là đối tượng của đợt tấn công thứ nhất. Song quân lực của Lưu Bị, chỉ có vài nghìn người mà thôi, kể riêng đội quân tiên phong của Tào Tháo cũng đã khó ngăn nổi. Bởi thế Lưu Bị cảm thấy bất an nhưng không nghĩ ra được biện pháp khắc phục, vì vậy trong lòng phiền muộn không yên.
Có một hôm Gia Cát Lượng đến quân trướng của Lưu Bị, thấy ông ta tết đuôi ngựa để tiêu khiển vội bảo rằng: “Tôi nghĩ tướng quân vôn có chí khí, không ngờ lại tự mình ngồi kết đuôi ngựa như thế”. Lưu Bị lập tức đứng dậy bảo: “Ta trong lòng phiền muộn nên mới bày trò chơi để cố quên đi!”.
Gia Cát Lượng cười bảo rằng: “Tướng quân rất phiền muộn bởi binh lực chúng ta ít như vậy làm sao ngăn được quân Tào tiến đánh chứ gì!”.
Nghe nói thế, Lưu Bị bỗng cảm thấy nhẹ nhõm hẳn: “Tiên sinh hẳn có phương pháp hay, bảo cho ta nghe với!”.
Gia Cát Lượng đã dự liệu từ trước liền bảo: “Thực ra nhân khẩu vùng Kinh Châu không ít, phải nỗi không nhiều người có đăng ký hộ tịch, nếu như chỉ căn cứ vào hộ tịch và trưng binh, ắt không đầy đủ, trái lại kể thêm số dân di cư không dễ quản lý. Chẳng bằng hãy đề nghị Lưu Biểu ra lệnh dân di cư trong vùng đều phải đăng ký, sau đó dựa vào đấy mà trưng tuyển quân sĩ, sẽ giải quyết được triệt để quân lính không đủ”.
Lưu Bị hiểu ra vấn đê lập tức đề nghị với Lưu Biểu “Kế hoạch trưng binh”. Lưu Biểu lúc ấy đã ngã bệnh nằm trên giường, hơn nữa cũng có nghi kỵ với Lưu Bị; Song ông ta thấy Tào Tháo sau khi bình định phương bắc đem quân về Nghiệp Thành tích cực triển khai huấn luyện thủy quân, xác định Tào Tháo đã dã tâm đánh chiếm Kinh Châu liền đáp ứng yêu cầu của Lưu Bị, không nghe ý kiến của anh em họ Khoái, Sái Mạo, Trương Doãn thuộc phái thân Tào, tích cực tăng thêm việc chuẩn bị chiến đấu.
Chính sách thanh tra dân di cư được thi hành không lâu, đội quân của Lưu Bị đã tăng thêm đến mấy vạn người, Lưu Bị phái Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân tăng cường huấn luyện, nhờ đó sức chiến đấu đã tăng lên mau chóng.
Gia Cát Lượng lại kiến nghị với Lưu Bị, nếu được sự đồng ý của Lưu Biểu, chuyển bộ tổng chỉ huy đến Phàn Thành (thuộc Hồ Bắc) gần với Kinh Dương Thành (trụ sở Kinh Châu), để có thể ngăn chặn đợt tấn công đầu tiên của Tào Tháo, khiến đội quân chủ lực của Lưu Biểu có nhiều thời gian chuẩn bị.
Vào thời gian này, Gia Cát Lượng và Lưu Bị ăn cùng bàn, ngủ cùng chiếu, khẩn trương nghiên cứu mọi việc qui hoạch phòng bị. Bởi hai người cơ hồ như một, khiến Lưu Bị cũng dần xa Quan Vũ và Trương Phi, tạo thành khúc mắt tâm lý ở hai người ấy. Có một hôm Trương Phi vốn thẳng thắn đã nói trước mặt Lưu Bị: “Gia Cát Lượng còn ít tuổi như vậy, lại thiếu kinh nghiệm, thẳng thắn mà nói có giúp đỡ được gì lớn cho anh?”. Lưu Bị nghe rồi lập tức nghiêm sắc mặt bảo rằng: “Gia Cát quân sư có kiến thức siêu việt, ta có được ông ấy, giống như cá gặp nước, nhưng các đệ đừng nói dài, nói ngắn nữa”. Quan Vũ, Trương Phi hai người thấy Lưu Bị nói rõ ràng và kiên quyết như thế, cũng chỉ biết lau mắt mà đợi, không nói gì thêm nữa.


5. Mạch nước ngầm dữ dội trong thành Tương Dương.
“Nói Tào Tháo, Tào Tháo đến liền!” Câu thành ngữ này lưu truyền trong dân gian đã lâu, một mặt cho thấy tai mắt của Tào Tháo ở khắp nơi thực đáng sợ, một mặt khác cũng lộ rõ việc sưu tập tin tức tình báo của Tào Tháo cũng như việc sử dụng gián điệp rất thấu tỏ.
Thiên thứ 13 trong binh pháp Tôn Tử, đã đề cập tính quan trọng của việc vận dụng công tác tình báo: “Xét về việc trong quân, quan hệ chớ thân với gian tế, thưởng chớ hậu hĩ, chẳng phải bậc trí thánh chẳng khéo dùng, chẳng phải bậc nhân nghĩa chẳng thể sai khiến được gian tế, chẳng phải kẻ khôn khéo chẳng thể được châu báu của gian tế, khó thay, khó thay, chẳng khéo chẳng nên dùng vậy!”. Tào Tháo thấu hiểu binh pháp Tôn Tử, với vấn để dùng gian tế rất tâm đắc và cũng rất độc đáo.
Trải qua tám năm cố gắng, Tào Tháo cuối cùng đã tiêu diệt sạch chính quyền họ Viên, thành ra kẻ thống trị rất có thực lực dọc hai bờ Hoàng Hà. Mục tiêu tiếp theo chính là: Kinh Châu ở phía nam, Dương Châu, Giao Châu ở đông nam, và Hán Trung cùng với Ích Châu ở phía tây nam.
Kinh Châu tiếp giáp với Dự Châu là đại bản doanh của Tào Tháo và khu Tư lệ, cho nên trong thời kỳ đối trọi với họ Viên, Tào Tháo đã có cố gắng khai thác ở Kinh Châu liền mấy năm. Ngoài Thứ sử Lưu Biểu có danh vọng còn kiên trì đứng ngoài cuộc, vùng phía bắc giáp khu Tư lệ và các quận huyện của Dự Châu, tâm lý đều đã sớm theo về phía Tào Tháo.
Ngay đến cả trong phủ Lưu Biểu ở thành Tương Dương lực lượng của phái thân Tào cũng rất lớn, các lão thần như anh em Khoái Việt, Khoái Lương, anh rể của Lưu Biểu là Sái Mạo, cùng với các danh sĩ Trương Doãn, Hàn Tung đều chủ trương liên minh với Tào Tháo, có thể thấy ở ngay trong lòng Kinh Tương, Tào Tháo đã có một lực lượng đồng minh khá lớn. Trừ Thái thú Giang Hạ là Hoàng Tổ vốn bạn thân vối Lưu Biểu vẫn kiên quyết phản Tào, cơ hồ phái Thiếu Tráng nắm quyền ở Tương Dương, đều chủ trương theo về với Tào Tháo. Bởi quan hệ lâu dài giữa Lưu Biểu với Viên Thiệu, phái thân Tào còn chưa dám nói rõ chủ trương của họ.
Mùa xuân năm 13 Kiến An, Tôn Quyền muốn trả mối thù phụ thân Tôn Kiên năm xưa bị giết, liền phái mãnh tướng Cam Ninh, Lăng Thống, Lã Mông tiến đánh Hoàng Tổ. Hoàng Tổ lệnh cho thủy quân đô đốc Trần Tựu ra trước đối trận. Lã Mông và Thiên tướng quân Đổng Tập dẫn một trăm người trong đội cảm tử, đánh lén thuyền lớn của Trần Tựu, Lã Mông một mình nhảy lên thuyền địch chém chết Trần Tựu. Quân Hoàng Tổ không chuẩn bị đầy đủ liền bị rối loạn phải rút về Hạ Khẩu; quân Đông Ngô vây bọc ngoài thành rất gấp, Hoàng Tổ dẫn quân đánh phá giải vây trong lúc hỗn chiến bị quân Đông Ngô giết chết. Tôn Quyền thấy thù cũ đã trả, bởi Hạ Khẩu nằm sâu trong vùng đối phương, phòng thủ không dễ bèn hạ lệnh cho toàn quân rút lui. Chiến dịch này tuy diễn ra nhanh chóng song lực lượng phản Tào ở Kinh Châu lại bị tiêu diệt bất ngờ.
Lưu Biểu có hai người con trai, con cả là Lưu Kỳ là con vợ cả, con thứ Lưu Tông là con người vợ kế họ Sái, các cựu thần của phái Thiếu Tráng như Sái Mạo, Trương Doãn đều ra mặt ủng hộ Lưu Tông, lại thêm sự xúi giục của họ Sái, Lưu Biểu đã yêu mến con thứ, mà ghét bỏ con cả, khiến cho Lưu Kỳ sâu sắc cảm thấy sự nguy hiểm, suốt ngày tâm can bứt rứt không yên.
Lưu Kỳ cá tính vốn ôn hoà, thân thể không được khoẻ, song đối với quân đội và các bậc trưởng lão đều có cảm tình, đặc biệt là có quan hệ thắm thiết với Lưu Bị, bởi vậy đối với quân sư Gia Cát Lượng giầu mưu lược cũng rất tôn kính.
Lưu Kỳ nhiều lần thỉnh cầu Gia Cát Lượng chỉ bảo cho anh ta kế sách tự cứu, song Gia Cát Lượng xem mình là khách không nên cuốn theo cuộc tranh giành quyền lực nội bộ ở Kinh Châu. Lại sợ bởi thế mà ảnh hưởng đến địa vị của Lưu Bị vốn không ổn định; cho nên vẫn một mực né tránh, thậm chí không muốn tiếp xúc với Lưu Kỳ. Lưu Kỳ biết rõ năng lực của Gia Cát Lượng, vẫn không ngừng tìm cơ hội thỉnh giáo Gia Cát Lượng.
Có một hôm, Lưu Kỳ nhân khi Gia Cát Lượng theo Lưu Bị đến Kinh Dương thảo luận việc quân, dẫn ông ta lên gác thư viện, Lưu Kỳ lại sai người rút thang gác, khiến không ai lên xuống được. Tiếp đó anh ta nói với Gia Cát Lượng rằng: “Hôm nay trên không đến trời, dưới không chạm đất, lời nói từ miệng, vào thẳng đến tai, ngài có thể nói với tôi được chưa?”. Gia Cát Lượng bất đắc dĩ nói nhỏ với Lưu Kỳ rằng: “Anh không thấy Thân Sinh ở trong mà nguy, Trùng Nhĩ ở ngoài mà yên ư?”
Sự tích này xảy ra ở nước Tấn vào thời Xuân Thu, Tấn Hiến Công chịu ảnh hưởng của Lệ Cơ, có ý bỏ con trưởng lập con thứ, song người con cả là Thân Sinh, thanh danh lan rộng, tài hoa xuất chúng, Lệ Cơ đã dùng mọi biện pháp ám hại, Thân Sinh bị bức bách phải tự vẫn. Còn người con thứ khác, tiếp liền với Thân Sinh, bởi trấn thủ ỏ phía bắc nước Tấn, mà thoát thân được. Thân Sinh bị hại, Trùng Nhĩ chạy ra nước ngoài, sau 42 năm, nước Tấn xảy ra đại loạn Trùng Nhĩ lại về nước nắm chính quyền, đó chính là Tấn Văn Công.
Câu chuyện này không nghi ngờ gì đã nói ngầm với Lưu Kỳ, xin được điều động ra biên giới, thoát khỏi nội thành mà tránh được tai hại khi Hoàng Tổ thất trận, Lưu Kỳ nhân cơ hội đó xin ra trấn giữ Giang Hạ, Lưu Biểu cũng sợ chuyện kế thừa sẽ tạo thành sự hỗn loạn cục diện chính trị Kinh Châu, sau khi thương lượng với Lưu Bị bèn để Lưu Kỳ làm Thái thú Giang Hạ, phòng thủ Hạ Khẩu.


*
*     *

Lời bình của Trần Văn
Một người lãnh đạo và quản lý giỏi phải có đầy đủ hai điều kiện lớn. Nếu lãnh đạo theo cảm tính, quản lý theo lý tính, hoặc chỉ có lãnh đạo mà thiếu quản lý, tuy có thể phát huy lực lượng của đoàn thể song đối với hoàn cảnh mà không thích ứng, rất khó giành được thành công hữu hiệu. Ma lực cá nhân của Lưu Bị, không nghi ngờ gì là điều kiện lãnh đạo rất tốt đẹp song do thiếu quy hoạch toàn thể, dẫn đến chế độ quản lý và năng lực thích ứng với hoàn cảnh khiến giai đoạn đầu của ông ta thực gian khổ và gập gềnh. Song chỉ biết quản lý mà không chú ý lãnh đạo, sẽ là khô cứng, thậm chí hà khắc. Chúng ta từng nói đến hợp tình, hợp lý, hợp pháp, pháp luật và chế độ, song chẳng thể là cái chỉ được viết lên giấy, thế rồi chẳng dùng đến, nó phải được viết ở trong trái tim con người. Đương nhiên nếu sợ sệt mà làm ra vẻ lấy lòng thì có thể được người ta ủng hộ, sản sinh hiệu quả, song cái quan trọng là chế độ quản lý và luật lệ, không phải chỉ là hạn chế hành động một cách tiêu cực, không khéo nó sẽ rơi vào khô cứng và không có sức sống.
Một chế độ quản lý, tuyệt đối không chỉ ở chỗ hạn chế một số hành động mà thôi. Nó cần phải mang tính sáng tạo khiến người ta tiến thêm một bước trong khi hành động, chẳng những phải hoàn chỉnh mọi điều kiện hành động, mà phải kích thích ý chí hành động tự động tự phát. Nói cách khác, lãnh đạo và quản lý, phải hợp làm một, mới có thể phát huy lực lượng vốn có.
Sự kết hợp giữa Lưu Bị và Gia Cát Lượng, khiến thế giới quan của Lưu Bị hướng đến chỗ thay cũ đổi mới.


*
*    *

Lại nói về quan điểm thực dụng:
Quy hoạch sách lược và việc thực hiện.
Không ít phần tử tri thức mới ra trường, vẫn nghĩ làm công việc kế hoạch, nhìn chung là thiết kế kế hoạch, chẳng những có thể chỉ động não, khả dĩ ngồi ở phòng làm việc có máy lạnh suốt ngày chẳng phải bỏ sức lực, cũng chẳng đổ mồ hôi, cho rằng như thế mới là “công việc vận dụng trí tuệ”. Thực ra có không ít công ty, nhân viên kế hoạch đều là những phần tử tri thức cao cấp cho rằng chỉ cần dùng đầu óc là có thể xong việc. Những người này thường náu mình sau bàn làm việc, phiếm đàm về đạo lý qui hoạch sách lược và chiến lược, chỉ đạo chiến lược việc quy hoạch chiến lược như vậy, thường chỉ là màu mỡ riêu cua mà thôi, hoa mỹ mà không thực dụng.
Trong cuốn “marketing” các tác giả Tack Trout viết:
Có rất nhiều công ty cho rằng, xây dựng chiến lược là triệu tập ba, bốn vị giáo sư kế hoạch cao cấp, để họ ngồi ở trong phòng phát huy đầu óc, cho đến khi họ tìm được phương pháp giải quyết vấn đề gọi đấy là “Tháp ngà trí tuệ...” Cũng có không ít xí nghiệp lại tập hợp các cán bộ quản lý cao cấp trong một hội nghị, cách xa với máy điện thoại, cách xa với công việc sự vụ hằng ngày mới có thể vẽ ra được sách lược tương lai... Bởi vì họ cho rằng chiến lược không giống như quyết sách thường ngày mang tính chiến thuật, thực ra đều là không đúng.
Hai mươi năm trước, bút giả từng được làm việc với tiên sinh Tá Đằng một nhà lập kế hoạch bậc thầy của công ty Tinh Trấn Biểu của Nhật Bản, tiến hành việc lập kế hoạch tiêu thụ để sản phẩm của công ty đổ bộ vào thị trường Đài Loan, thấy được tinh thần thực tiễn thể hiện đầy đủ ở đó, trong quá trình cộng tác, Tá Đằng thường nói với bút giả, cái cốt lõi tinh tuý của kế hoạch tiêu thụ, không phải là nhiều người dùng “óc” nghĩ ra mà là một thiểu số người dùng “chân” mà đạt đến vạch đích.
Trong thời kỳ đại chiến thế giới lần thứ II, tướng Bađôn nước Mỹ phụ trách quân đoàn 3 trong quân đồng minh vốn rất hùng mạnh, trong đoàn có 105 vị tướng lĩnh thực sự chiến đấu, song chỉ có một vị lập qui hoạch. Bởi vì Bađôn cho rằng, số nhân viên quy hoạch càng nhiều, có đưa ra những cơ hội chiến lược tốt lại rất ít. Những chiến lược kiệt xuất chân chính, luôn luôn do một cá nhân đã hết mình suy nghĩ ra, mới có thể xác thực được. Câu “Ba ông xách bầu chẳng có rượu uống”, trong công tác sách lược quy hoạch, cũng có chỗ tương đồng.
Trên thương trường, tuy thường có thể thấy những sáng tác tập thể cũng không có gì sai lầm, song nghiêm chỉnh mà nói đó vẫn chỉ có thể kể là tác phẩm phàm tục; còn tác phẩm chân chính, vẫn đều là kiệt tác tâm huyết của một đại sư. Sáng tạo trong sách lược quy hoạch là do sự rèn luyện cọ sát qua kinh nghiệm thực tiễn, cùng sự trầm tư lâu dài mà hoàn thành.
Khơlao Sai Uâytrơ mười hai tuổi đã ra nhập quân Phổ, từng tham gia cả trận đánh năm 1812 liên quân Nga Phổ chống trả Napôlêông, đến chiên dịch Oa téc lô sau này; qua thể nghiệm bản thân, khiến ông quan sát được sâu sắc, có suy nghĩ ngang tầm chiến thuật với thiên tài Napôlêông, sau này mới viết ra được tác phẩm kinh điển về chiến lược đấy là cuốn “Chiến tranh luận”.
Đích xác chiến lược không tách rời chiến thuật, mục đích của chiến lược ắt phải được vận dụng vào chiến thuật, chỉ có kinh nghiệm thực tiễn ở chiến trường mới có thể vạch ra được sách lược chiến tranh thực sự có hiệu quả.
Song người chỉ có chiến thuật mà không hiểu được chiến lược chẳng thể chỉnh lý kinh nghiệm chiến thuật thành tư duy trừu tượng, chẳng thể quy hoạch khách quan, kinh nghiệm tích lũy nhiều cũng chẳng thể có được đầu óc của nhà chiến lược.
Quy hoạch sách lược mà chẳng có kinh nghiệm thực tế, thường lập ra được kế hoạch hoàn chỉnh và cẩn thận, xem như là đầy đủ mọi mặt, song lại khô cứng và thiếu tính đàn hồi, những kế hoạch ấy thường lớn lao mà cẩn thận, lại không có khả năng thực hiện.
Tác giả cuốn “Chiến tranh và hoà bình” đã chỉ rõ, thiên tài quân sự Napôlêông đã không nắm rõ quân đội trong thực tiễn chiến đấu, Napôlêông quen chỉ huy bằng mệnh lệnh, hình dung chiến tranh qua một “nguyên bản hoàn chỉnh”. Tướng Bađôn cũng nói rõ sách lược quy hoạch của chúng ta, chẳng thể thích ứng đầy đủ được với hoàn cảnh, để tập trung lực lượng thích ứng với hoàn cảnh. Tôi cho rằng sự hơn kém ở một nhà lãnh đạo, là ở chỗ ông ta có nắm được điểm này hay không.
Sự lãnh đạo lực lượng kết hợp trong toàn thể, đi theo một hướng chung, là do các nhà chỉ huy tác chiến, quản lý quốc gia, kinh doanh xí nghiệp, giỏi điều khiển lực lượng ở nhiều mặt làm sao lực lương nhằm vào một mục tiêu, mà không phân tán, đấy là trách nhiệm chủ yếu của người vạch sách lược. Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể có thể thực hiện được, chỉ ra được phương hướng nỗ lực, để mọi người theo đó mà làm tuần tự, không nhất định phải thực chi tiết đên từng người, khống chế chặt chẽ mọi mặt; nếu không có tính đàn hồi sẽ thành ra một qui hoạch chỉ để ngăn mà không dùng được.
Thậm chí có người nghiên cứu cho rằng nhà qui hoạch trưởng thành từ va chạm thực tiễn, có thể trở thành một nhà chiến lược đại tài. Ví như Khơlaosaimâytrơ đã từng trải kinh nghiệm sau trận bị Napôlêông đánh bại, hơn nữa còn bị bắt làm tù binh. Có thể những nỗi thống khổ ấy, đã giúp ông ta có được suy nghĩ triệt để, để chỉnh lý kinh nghiệm thành lớp lang trừu tượng, trở thành cơ sở quan điểm cho cuốn sách kinh điển nghìn năm: “Chiến tranh luận”. Lại có nhà quy hoạch sách lược ưu tú khác, Gia Cát Lượng có những điều kiện cơ sở đáng kể. Ông tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, khá thấy ông xem trọng kinh nghiệm trong chiến thuật thực tiễn, không giống như những thư sinh thời bấy giờ, ông nhiều năm ở tiền tuyến thậm chí ở nơi giáp trận, để tích lũy kinh nghiệm chiến đấu thực tế.
Với một nhà sách lược ưu tú là Từ Thứ, Gia Cát Lượng có những mặt không giống với ông ấy; Từ Thứ là một chuyên gia chuyên chú giải quyết một sô vấn đề, song Gia Cát Lượng “quan sát đại lược”, thông suốt mọi mặt đối với vấn đề gì cũng quan tâm, đặc biệt là có thể nắm được xu thế thời đại. “Long Trung Sách” là sách lược qui hoạch hoàn chỉnh đến mức tuyệt vời, lại thể hiện đầy đủ xu thế lớn của thời đại, đích xác được nghiền ngẫm bởi suy nghĩ thâm trầm, thời kỳ nông nhàn Gia Cát Lượng thường đến bái kiến các danh sĩ hiền nhân ở nhiều nơi, ắt đã khảo sát tình hình ở các nơi ấy, sưu tập tư liệu, để so sánh đối với các danh sĩ “hiểu thư sinh” và “hiểu chuyên gia”, có được “thực tiễn” càng nhiều hơn.
Gia Cát Lượng chịu náu mình ẩn dật, là bởi ông đang giữ sức chờ thời, những năm tuổi trẻ khốn khổ, cho ông một cơ thể khoẻ mạnh, thường ngày cầy cấy tự nuôi mình, so với bọn thư sinh xưa nay chỉ nói mà không làm. Gia Cát Lượng đã thực tiễn hơn nhiều; bởi vậy ông rất tự tin, tuy không biết võ nghệ, mà dấn thân nơi chiến trường chẳng hề kinh hãi.
Song Gia Cát Lượng khi mới hạ sơn, chẳng thể giống như “Tam quốc diễn nghĩa” đã mô tả là một quân sư thần thánh, thực ra ông giống như một khối “mỹ ngọc”, được thực tiễn chiến đấu mài giũa mà thành. Ông lựa chọn Lưu Bị bởi đặt niềm tin ở ông ta; ở trong quân doanh của Lưu Bị ông rất có cơ hội để trải qua rèn luyện gian khổ mà hoàn chỉnh; đối với một danh sĩ trẻ tuổi mà nói, đấy là võ đài để diễn xuất tốt nhất.
Người xưa nói: “Mới học cạo đầu lại gặp ngay phải ông râu rậm”. Từ việc rút khỏi Kinh Tương đến trận Đương Dương Trường Bản, đối với quân sư mới ra lò, đích xác là một thử thách nghiêm trọng. Song Gia Cát Lượng dũng cảm chấp nhận “lớp huấn luyện tại chức” đầy gian khổ này hơn nữa lại có thừa tự tin đế gánh vác công tác ngoại giao ở tuyến đầu, tiến hành vận động liên minh Tôn - Ngô có tầm then chốt.
Nhiệm vụ gian khổ này khiến ông ta may mắn được tiếp cận với những đại cao thủ chiến lược bậc nhất lúc bấy giờ là, Lỗ Túc và Chu Du; trong quyết sách chiến lược hoả thiêu Xích Bích, Gia Cát Lượng có thể tham dự không nhiều, song ông là người chứng kiến từ đầu đến đuôi, đối với việc liên minh Tôn - Lưu đã sớm hình thành, với việc vận dụng chiến thuật cũng thấu tỏ triệt để. Kinh nghiệm thực tiễn lần này đã hình thành trong Gia Cát Lượng tư tưởng chiến lược, có ảnh hưởng tuyệt đối suốt cả sau này.
Lại nói về Lưu Bị, kinh nghiệm đã có mấy chục năm, khiến ông ta trở thành một nhà chiến thuật khá tài giỏi, đứng ở thế yếu lại luôn đánh, luôn bại, qua thất bại lại càng nổi tiếng, lại càng có khí thế trở thành một anh hùng nổi trội ở đời, đặc biệt là ở gò Bác Vọng, lấy chiến thuật khôn khéo đánh thắng cả Hạ Hầu Đôn và Vu Cấm của Tào Tháo, khá thấy Lưu Bị là người “biết đánh”, hơn nữa còn “đánh giỏi” là khác.
Có thể nói về nhược điểm duy nhất, lại là không đủ khả năng lực tư duy trừu tượng để chỉnh lý kinh nghiệm, khiến ông ta chẳng thể thấu thị được xu hướng thời dại, nỗ lực mà thiếu phương hướng, tự nhiên chẳng thể tập kết và tích lũy lực lượng cho nên trồi lên tụt xuống, phấn đấu mấy chục năm mà chẳng có được một mảnh đất của riêng mình.
Long Trung Sách có thể nói là đã mở rộng tầm nhìn cho Lưu Bị, để ông ta lần đầu tiên xem xét một cách khách quan về xu hướng lớn toàn cục, tuy chẳng kể cụ thể, song phương hướng chung của sự nghiệp thực rõ ràng, trách chi ông chẳng cao hứng, như cá gặp nước vậy!
 
0
THIÊN THỨ HAI
THÂN NGÔ CHỐNG TÀO

 
            Trường Giang cuộn chảy về Đông
            Thái ghềnh sàng lọc anh hùng nghìn năm
            Tây biên lũy cũ giăng giăng
            Lưu truyền Xích Bích hoả công thủa nào
            Sóng dâng bờ bãi sôi trào
            Cuốn bao tuyết trắng hoà vào mênh mông
            Giang sơn vốn đẹp lạ lùng
            Lại thêm bao khách anh hùng điểm tô.
                                    (Xích bích hoài cổ - Tô Đông Pha)


 
 
Chương V 
NHẬN SỨ MỆNH LÚC LÂM NGUY
(LÂM NGUY THỤ MỆNH)
 
Lưu Bị cũng cảm thấy bức bách,
Tào Tháo có thể mau chóng đánh đến Giang Lăng, quân lực ở Phàm Khẩu chẳng thể đối chọi được, bởi thế đồng ý để Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc đi Giang Đông, thương lượng liên hợp tác chiến.


1. Đại quân Tào Tháo đã khởi binh, Lưu Biểu bệnh tình càng trầm trọng
Sau khi bình định phương Bắc, Tào Tháo lại muốn thừa thắng xốc tới, Nam chinh để thôn tính Kinh Châu; lúc này Lưu Bị đang ở Tân Dã, tuyến đầu phòng thủ Kinh Châu. Người này chính là đối thủ anh hùng với Tào Tháo, nếu không mau chóng trừ đi sẽ mỗi ngày có thêm thế lực, trở thành một địch thủ đáng gờm.
Song một nguyên nhân quan trọng khiến Tào Tháo chưa dám dộng binh là sự thiếu thốn nghiêm trọng về số quân. Bốn châu vừa mới bình định là U, Ký, Thanh, Tinh, cần một sô lớn quân trụ giữ. Lại nữa các chư hầu ở Quan Trung vẫn tùy thời mà uy hiếp Cổn Châu, đại bản doanh của Tào Tháo. Sau khi bình định Viên Thiệu, Tào Tháo tuy nói phao lên rằng có trăm vạn hùng binh, thực ra đa số đều là quân Viên Thiệu mới đầu hàng được biên chế lại, tâm lý vẫn rất không ổn định, chẳng hoàn toàn tin cậy.
Sau sự kiện Đổng Thừa, Tào Tháo vẫn có ý tránh vào yết kiến Hán Hiến đế bởi thế vẫn đóng đồn ở Nghiệp Thành, để Tuân Úc phụ trách trông coi Hứa Đô giao thiệp với các công khanh nhà Hán. Do tránh những chuyện nguy cấp chẳng ngờ cho đại bản doanh Cổn Châu và Hứa Đô đều là những quân thân tín trụ giữ. Bởi vậy số quân có thể tự do điều động đã thiếu lại càng thiếu hơn. Dù rằng rất muốn Nam chinh song hành động thực tế phải rất để tâm thận trọng. Ông ta chỉ có thể không ngừng phái những người thân gần và cao cấp đi làm gián điệp, thu mua và phân hoá các thế lực ở trong Kinh Châu, xem xét kỹ việc trong thành Tương Dương, nhất là tình thế phát triển do kế thừa quyền lực mà dẫn đến đấu tranh chính trị.
Mùa xuân năm 13 Kiến An, vấn đề sức khoẻ của Lưu Biểu lại càng thêm nguy kịch, Lưu Kỳ đang đóng đồn ở Hạ Khẩu nghe được tin tức chuyển đến phải vội về Kinh Dương thăm hỏi, song bị Sái Thị và Sái Mạo cùng Trương Doãn ngăn cản. Lưu Kỳ vốn là người hiếu thảo, Lưu Biểu ỏ những khúc cuối có thể thay đổi ý định ban đầu. Sái Mạo nói với Lưu Kỳ rằng: “Chúa công lệnh cho công tử trấn thủ Giang Hạ phòng thủ Tôn Quyền, nhiệm vụ rất quan trọng, vì sao chưa được lệnh chúa công, nghe tin nói bừa, đã vội rời bỏ nhiệm vụ. Nếu để chúa công gặp công tử có thể bởi giận dữ mà bệnh tình càng thêm nguy kịch, công tử hãy trở về Giang Hạ ngay đi!”. Lưu Kỳ chẳng thể làm gì được đành hướng về phía Lưu Biểu đang nằm mà quỳ lậy, khóc lóc suốt đường trở về Giang Hạ.
Lưu Bị lúc này đang tăng cường phòng thủ Phàn Thành, đột nhiên được bí thư của Lưu Biểu là Doãn Tịch thông báo, bệnh tình của Lưu Biểu đã nghiêm trọng mời Lưu Bị đến để bàn luận đại sự.
Sách “Ngụy thư” có chép:
Lưu Biểu bệnh nặng mang việc nước nói với Lưu Bị rằng: “Nay con ta bất tài, chư tướng mỗi người một ý, chẳng thể hợp tác, sau khi ta chết khanh hãy nắm lấy việc quản lý Kinh Châu”. Lưu Bị rất đỗi cảm động chỉ biết an ủi ông ta rằng: “Các cháu đều là kẻ hiền tài xin ông hãy yên lòng dưỡng bệnh”. Y Tịch khuyên Lưu Bị nhân cơ hội mà tuyên bố nắm quyền hành song Lưu Bị thấy thời cơ chưa chín, nên miễn cưỡng mà làm, sẽ dẫn đến tranh giành quyền lực nội bộ, lại là điều bất lợi. Bởi thế mới khéo léo từ chối rằng: “Lưu Kinh Châu đãi tôi rất hậu, nếu y lời mà đoạt lấy quyền hành, người đời ắt sẽ cười tôi là tham lam, tôi chẳng nhẫn tâm được”.
Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí cho rằng, Ngụy thư chép thế là đáng ngờ, Lưu Biểu vốn yêu mến Lưu Tông, luôn có ý bỏ con trưởng, tại sao khi Lưu Tông sắp trở thành người kế vị, lại giao việc nước cho Lưu Bị như thế?
Song lúc ấy đã lan truyền tin Tào Tháo Nam chinh bệnh tình của Lưu Biểu đã nghiêm trọng, Lưu Tông bị phái thân Tào bao vây, xét về căn bản chẳng thể chống lại Tào Tháo, chẳng bằng ủy thác cho Lưu Bị, lại có thể bảo vệ được sự an toàn cho mẹ con Lưu Tông!
Tháng 6 năm 13 Kiến An, Tào Tháo nhận được tin tình báo ở Tương Dương, bệnh tình Lưu Biểu đã nhanh chóng nguy kịch, sinh mệnh không biết lúc nào sẽ chấm dứt. Phái Thiên Tráng ở Tương Dương đã quyết định ủng hộ Lưu Tông bởi thế hoàn toàn phong toả tin tức về bệnh trạng của Lưu Biểu đến cả Lưu Kỳ ở Giang Hạ và Lưu Bị ở Phàn Thành đều không biết rõ sự thể ra sao.
Tào Tháo một mặt triệu tập hội nghị quân sự ở Nghiệp Thành, nghe Tuân Du báo cáo về phòng thủ và quản lý bốn châu phía bắc, một mặt phái sứ giả đến Hứa Đô hỏi ý kiến Tuân Úc. Tuân Úc cho rằng đây là cơ hội nghìn năm có một, nên cấp tốc sửa soạn quân đội để nam chinh, ông ta cũng đề nghị thêm với Tào Tháo, khá lấy đường tắt từ Uyển Thành và Diệp Thành cấp tốc hành quân, để đối phương không kịp trở tay.
Được Tuân Du và Tuân Úc khích lệ, Tào Tháo quyết định thực hiện một hành động quân sự liều lĩnh. Ông ta phái Vu Cấm, Lý Điển phối hợp với Tuân Du trấn thủ bốn châu phía bắc mới giành được. Hạ Hầu Đôn phối hợp với Tuân Úc quản lý, khu Tư lệ do Hiệu úy Chung Dao phụ trách. Lại phong Mã Đằng đang thống lĩnh ở Quan Trung làm Vệ uý, Mã Siêu làm Thiên tướng quân, vỗ về đủ mặt, để phòng bị quân Quan Trung thừa cơ tập kích.
Biên chế đội quân nam chinh như sau:
Nguyên soái: Tào Tháo
Tổng tham mưu trưởng: Giả Hủ
Tham mưu: Điền Trù, Lâu Khuê.
Quân đoàn Tào Nhân: Dẫn hai vạn quân thân tín, làm đội chủ lực.
Quân đoàn Tào Thuần: Chỉ huy đội khinh kỵ binh trực thuộc Tào Tháo, gọi là đội kỵ binh hổ báo.
Quân đoàn Trương Liêu: Từ Hoảng làm tiên phong các đội quân thân tín có 5000 người mỗi đội.
Quân họ Viên có khoảng 13 vạn người, được sắp xếp thành quân trực thuộc của Tào Hồng và Trình Dục, lại cả Nhạc Tiến nữa.
Thái thú Nhữ Nam là Mãn Sủng phụ trách lương thảo và điều vận.
Hạ Hầu Uyên làm tổng quản hậu cần hành chính.
Cuối tháng 7, quân Tào Tháo từ Uyển Thành và Diệp Thành theo hai đường cùng tiến khẩn cấp, đầu tháng 8 được tin tình báo rằng Lưu Biểu đã từ trần. Dẫu rằng không ít các lão thần và tướng lĩnh cực lực phản đối ví như Văn Sính, Nguỵ Diên, song được sự giúp đỡ của Sái Mạo và anh em Khoái Việt, Lưu Tông vẫn doạt được chính quyền, trong khi đó quân Tào đã xuất kỳ bất ý đột nhập Kinh Châu, chỉ còn cách Phàn Thành không đầy 200 dặm.
Lưu Tông vẫn có ý liên hợp với lực lượng của Lưu Bị bố trí việc phòng ngự ở Tương Dương, song Sái Mạo cực lực phản đối, Khoái Việt lại cho rằng Tào Tháo mang quân đi với danh nghĩa triều đình, nếu kháng cự là chống đối lệnh trên, bởi thế nên sớm đầu hàng. Lưu Tông không thương lượng với Lưu Bị và Lưu Kỳ nữa mà phái sứ giả đến trực tiếp đàm phán với Tào Tháo, rồi hạ lệnh cho các quận huyện và tướng lĩnh quân đoàn chuẩn bị đầu hàng Tào Tháo vô điêu kiện.
Tào Tháo lệnh cho Lâu Khuê xử lý việc Lưu Tông đầu hàng, lại bổ nhiệm cho Lưu Tông làm Thứ sử Thanh Châu để cách biệt với Kinh Châu là nơi vẫn có thực lực. Ngoài ra các thủ trưởng quận huyện và tướng lĩnh quân đoàn, vẫn giữ nguyên như cũ, chỉ có hơn 8 vạn thủy quân Kinh Châu do Sái Mạo và Trương Doãn chỉ huy được tham gia đội quân nam chinh của Tào Tháo, là một đơn vị tùy thuộc.
Chinh phục được Kinh Châu một cách nhanh chóng và hoà bình, hôm sau Tào Tháo đã nhòm ngó Giang Lăng, chiếm cứ được nửa phía bắc Kinh Châu, liền đó đều phong hầu cho toàn thể mười lăm cựu thần phe Khoái Việt; Hàn Tung làm Đại hồng lư, Khoái Việt làm Quang lộc huân, Lưu Tiên làm Thượng thư, Đặng Nghĩa làm Thị trung. Từ mấy việc trên mà xem, trong khoảng gần hai năm, Tào Tháo đã vận dụng chiến thuật “dùng gian tế” ở Kinh Châu, đã nỗ lực thu phục nhân tâm, và phát huy công hiệu rất lớn của phép dùng binh không đánh mà khuất phục được người khác.
2. Lưu Bị khẩn cấp triệt thoái, mười vạn dân lành kéo theo
Lưu Bị đang trụ giữ Tân Dã, nghe tin quân Tào tràn xuống phía nam, bèn hạ lệnh cho toàn quân vào trong Phàn Thành chuẩn bị chiến đấu, lại khẩn cấp báo cáo việc quân cho Lưu Biểu ở Kinh Dương. Song vẫn không nhận được chỉ thị rõ ràng, khiến Lưu Bị rất băn khoăn. Gia Cát Lượng phán đoán Lưu Biểu có thể đã mất, nếu chỉ có thực lực của mình chẳng thể trụ giữ nổi Phàn Thành, liền đề nghị Lưu Bị phái sứ giả trực tiếp hỏi ý kiến Lưu Biểu, mặt khác sắp xếp việc rút quân về phía nam. Lưu Tông thấy lừa dối không nổi, mới lệnh cho Tống Trung thông tri việc Lưu Biểu đã mất để kịp chuẩn bị việc mang quân đầu hàng. Bởi đại quân Tào Tháo lúc này đã tiến gần Phàn Thành, Gia Cát Lượng đề nghị Lưu Bị khẩn cấp rút quân, mục tiêu là Giang Lăng, một điểm quân sự quan trọng liền kề Trường Giang, lấy quân lương và công sự phòng ngự có sẵn của Giang Lăng, liên hợp với quân chủ lực của Lưu Kỳ đang làm Thái thú Giang Hạ, có thế giữ được nửa phần phía nam Kinh Châu. Trung tuần tháng 8, Tôn Quyền đang hùng cứ Giang Đông, cũng biết được quân tình khẩn cấp là Lưu Biểu từ trần và đại quân Tào Tháo đã nam chinh, lập tức phái Lỗ Túc sớm đến Giang Lăng, thăm dò thái độ của Lưu Kỳ và Lưu Bị.
Lưu Bị đang ở Thượng Túc, lệnh cho quân sĩ trực thuộc vượt qua Hán Thủy, có không ít quân dân vùng bắc Kinh Châu tự động theo Lưu Bị chạy nạn về phía nam. Khi đến Tương Dương, Lưu Bị dừng ngựa hướng về phía trong thành gọi Lưu Tông trả lời. Lưu Tông không dám ra mặt, song trong thành Tương Dương có không ít quan lại và quân dân tìm đến Lưu Bị, Gia Cát Lượng đề nghị Lưu Bị nhân cơ hội mà đánh chiếm Tương Dương giành lấy quyền lãnh đạo, lại liên hợp với các quân đoàn ở đấy, cùng chống chọi với quân Tào, có thể chuyển bại thành thắng. Song Lưu Bị không nhẫn tâm trong khi giặc dữ kéo đến, nội bộ lại tàn sát lẫn nhau, vẫn giữ quyết định như cũ tiếp tục đến Giang Lăng ở phía nam khi đi qua phần mộ của Lưu Biểu ở ngoài thành. Lưu Bị thay mặt cho quân sĩ ra bái lậy khóc lóc không thôi, toàn quân thấy thế rất cảm động lại càng quyết tâm, kháng cự với Tào Tháo.
Lúc ấy quân tiên phong của Trương Liêu và quân Từ Hoảng đã tiến vào Tân Dã, cách Tương Dương chỉ khoảng 4 ngày đường.
Đầu tháng 9 quân Lưu Bị tiếp tục chặng đường hơn 400 dặm rút về nam, đến huyện Tương Dương, dân tị nạn kéo theo đầy cả đường, có đến hơn mười vạn người, xe chở hành lý lớn nhỏ có đến vài nghìn chiếc, chen cả lối đi, mỗi ngày hành quân không được 10 dặm đường, còn hơn 300 dặm mới đến Giang Lăng, với tốc độ như vậy ít ra phải mất một tháng mới đến nơi, nói chung chẳng thể tránh được quân truy kích của Tào Tháo.
Lưu Bị bất đắc dĩ phải triệu tập hội nghị khẩn cấp, đổi mới kế hoạch bố trí rút quân, ông hạ lệnh Quan Vũ dẫn hơn 1 vạn thủy quân theo đường Hán Thuỷ mà xuôi dòng, đến Giang Lăng trước lo việc phòng thủ, lại phái sứ giả đên Hạ Khẩu khẩn cấp trao đổi với Lưu Kỳ hẹn sẽ hợp quân ở Giang Lăng. Trương Phi dẫn 2000 nhân mã theo chặn hậu dự phòng Tào Tháo tập kích, Triệu Vân dẫn vài trăm người lo việc bảo vệ gia nhân. Còn tự mình với Gia Cát Lượng, Từ Thứ, dẫn quân chủ lực bảo vệ dân tị nạn, cứ từ từ mà đi như cũ.
Không ít quân tùy tùng và tướng lĩnh chỉ huy nói với Lưu Bị rằng: “Theo kế hoạch hiện nay, cần mau chóng đến Giang Lăng, hiện nay chúng ta tuy có mấy vạn người, nhưng người có thể cầm vũ khí thì ít, lại thêm quá nhiều xe chở nặng làm trở ngại hành động, nêu bị quân Tào Tháo đánh đến, biết xử trí thế nào?”
Lưu Bị kiên quyết nói: “Ta không phải không biết sự nguy hiểm song người có tâm sáng lập sự nghiệp, rất cần “đắc nhân tâm”, hiện nay mọi người đều theo ta mà đi, ta sao nỡ nhẫn tâm dứt bỏ họ cho đành?”.
Sau này vào thời Nam Triều, Tập Tạc Xỉ luận về việc này có viết:
“Lưu Huyền Đức tuy thân phận đang lúc điên đảo hoạn nạn, lại càng tuân thủ tín nghĩa, hình thế đã 10 phần nguy bách, mà vẫn có thể nói không lỗi đạo; cẩn thận với Lưu Biểu bạn cũ, không bội ước với người xưa, tình nghĩa cảm động cả ba quân. Bởi thế có không ít người một lòng nguyện với ông ta chia sẻ tai nạn, người ấy sau này có thể sáng lập đại sự nghiệp, có thể nói là đạo lý tất nhiên vậy!”.


3. Triệu Tử Long một ngựa cứu chúa, Trương Dực Đức thét lớn lui binh
Trung tuần tháng 9, Tào Tháo đến được Tân Dã, lập tức triệu tập hội nghị quân sự trong doanh trại. Theo tin tức của thám mã cho biết rõ ràng, Lưu Bị đang cố gắng rút lui về Giang Lăng, một điểm quân sự quan trọng ở giữa Kinh Châu. Giang Lăng có lương thực tàng trữ, đối với đội quân viễn chinh Tào Tháo thực có giá trị, bởi thế không thể để Lưu Bị cướp được chỗ quan trọng này, mà tăng cường lực lượng phòng thủ, Tào Tháo quyết định lựa ra 5000 kỵ binh tinh nhuệ, tự mình cầm quân, lại phối hợp với quân “hổ báo” của Tào Thuần, đi suốt ngày đêm, truy đuổi Lưu Bị.
Quân kỵ binh của Tào Tháo đi 300 dặm một ngày, cuối cùng đến gần Tương Dương Trường Bản thì gặp đội hậu bị của Lưu Bị. Trương Phi dẫn quân chặn hậu ráo riết chống đỡ song không thể ngăn nổi khí thế của quân Tào nên mau chóng bị đánh tan. Quân của Lưu Bị tuy nhiều hơn so với Tào Tháo, nhưng bất ngờ lại thêm phải bảo vệ dân lành, nhìn chung không thể chiến đấu nổi. Quân kỵ binh của Tào Tháo xung sát dữ dội, quân Lưu Bị thua to, Trương Phi chỉ biết lệnh cho quân chặn hậu bảo vệ Lưu Bị cùng Gia Cát Lượng, Từ Thứ sớm rút về phía nam.
Giữa đám loạn quân, Triệu Vân phát hiện đội quân đi theo gia quyến Lưu Bị bị đánh tan, bèn hạ lệnh cho toàn quân mau chóng rút chạy, tự mình một ngựa trở lại phía bắc, chém giết dữ dội để truy tìm gia quyến Lưu Bị. Không lâu gặp My Trúc đang hộ tống Cam phu nhân, Triệu Vân lệnh cho My Trúc đuổi theo Lưu Bị, lại quay lại phía bắc tìm A Đẩu, con trưởng của Lưu Bị. Lúc ấy hai người con gái của Lưu Bị đã bị bắt, Giản Ung bảo vệ My phu nhân mang theo A Đẩu chạy trốn, song bị quân Tào đuổi kịp, Giản Ung và My phu nhân đều bị trọng thương, may mà Triệu Vân đến kịp đẩy lùi được quân Tào, bởi My phu nhân bị thương nặng, không muốn đi nữa, Triệu Vân chỉ còn biết lệnh cho một quân sĩ đưa Giản Ung đi, tự mình ở lại chỗ ấy nài nỉ My phu nhân. Song phu nhân muốn cứu lấy ấu chúa, Triệu Vân không thể một mình bảo vệ được cả hai, bèn nhân khi Triệu Vân không chú ý lao đầu xuống giếng tự vẫn mà liều chết. Liền sau đó, Triệu Vân bọc ấu chúa vào trong áo, đơn thân độc mã phóng về phía nam, mong gặp được Lưu Bị, giữa đường gặp không ít quân Tào chặn đánh, Triệu Vân hăng hái chống trả, đột phá vòng vây trùng trùng, tấm chiến bào mầu trắng đều nhuốm đầy máu đỏ. Lưu Bị và Gia Cát Lượng vừa đánh vừa chạy hối hả cuối cùng dừng lại sau cầu Trường Bản, nơi hợp lưu của sông Chương Thủy và Tứ Thủy, tiến hành chỉnh biên đội ngũ. Bởi vậy Lưu Bị lệnh cho Trương Phi mang 20 kỵ binh chặn hậu, để chặn địch, cùng tiếp ứng cho tàn quân đang rút chạy. Không lâu, nhìn thấy Triệu Vân một ngựa bảo vệ ấu chúa đang chạy lại, Trương Phi lập tức chạy đến giúp ông ta qua cầu. Triệu Vân nói với Trương Phi, quân Tào đang đến gần nên mau chuẩn bị đối phó.
Trương Phi lệnh cho 20 kỵ binh quất ngựa chạy trên cánh đồng mé sau cầu, làm tung cát bụi mù mịt, để làm nghi binh. Tự mình ngồi trên mình ngựa cầm ngang ngọn giáo trấn giữ bên cây cầu, chuẩn bị nghênh chiến truy binh của Tào Tháo.
Ở chỗ này nước sông chảy rất dữ chẳng thể vượt qua, lại thêm cầu Trường Bản đã bị Trương Phi phá hoại, trừ khi mạo hiểm vượt sông, còn chẳng có đường nào khác, bởi thế quân Tào kéo đến sau đó cũng không biết phải làm gì.
Tào Thuần chạy đến tận nơi, chỉ thấy Trương Phi cầm giáo đứng trụ, lớn tiếng quát rằng: “Ta là Trương Dực Đức đây, có gan thì phóng ngựa sang đây quyết một trận sinh tử”. Tào Thuần thấy ông ta chẳng sợ hãi như thế không rõ Trương Phi có quỷ kế gì, bởi vậy không dám liều lĩnh qua sông.
Hai bên cách nhau hai phía cầu gẫy, cầm cự kéo dài, khiến Lưu Bị rút lui kịp thời về nơi an toàn. Bởi tránh sự truy đuổi của Tào Tháo, Lưu Bị quyết định vứt bỏ kế hoạch chiếm Giang Lăng, mà rút về Hạ Khẩu, gặp được Quan Vũ với một vạn quân thủy đang ở Hán Tân Khẩu, thanh thế khôi phục lại, nhìn chung ổn định được tình thế. Không lâu Thái thú Giang Hạ là Lưu Kỳ mang một vạn thủy quân lên chi viện và ở lại đấy, hai bên tạm thời đóng đồn ở Hạ Khẩu, sửa sang việc phòng ngự doanh trại.
Trận Tương Dương Trường Bản, Tào Tháo chẳng những bắt được nhiều người và đồ quân dụng, đến cả hai người con gái của Lưu Bị cũng bị Tào Thuần bắt giữ. Bà mẹ của Từ Thứ đi theo đoàn quân cũng bị bắt, Tào Tháo nói Từ Thứ là người hiếu thảo, bắt mẹ Từ Thứ viết thư gọi Từ Thứ về quy hàng.
Từ Thứ sau khi được thư, vội đến xin từ biệt với Lưu Bị và Gia Cát Lượng, ông ta lấy tay chỉ vào trái tim mà nói với Lưu Bị: “Tôi vẫn muôn giúp tướng quân dựng nên nghiệp bá, nay việc đến nỗi này, mẹ già bị giam hãm, rối loạn cả đầu óc, chẳng thể làm gì xin hãy cho tôi được ra đi!”.
Lưu Bị và Gia Cát Lượng đều không muốn thế, song cũng không biết làm như thế nào, đành để Từ Thứ đến trại Tào cứu mẹ già.
Kết quả trận Tương Dương là rất lớn, thực ra Tào Tháo sử dụng quân không nhiều trừ đội kỵ binh hổ báo đa số là quân họ Viên và quân Kinh Châu mới biên chế (quân đoàn Văn Sính cũng ở trong số đó). Song ông ta vận dụng chiến thuật chớp nhoáng, Lưu Bị về căn bản chẳng thể đánh giá hết về quân lực. Bởi vậy, không đầy hai tháng Tào Tháo đã chiếm được Giang Lăng, có được một nửa lãnh thổ Kinh Châu, thiên tài chỉ huy quân sự của Tào Tháo, thực khiến người ta kinh sợ. Có thể tin ở trận này Gia Cát Lượng trẻ tuổi đã có một ấn tượng sâu sắc về thực tế chiến đấu, giúp đỡ cho ông rất nhiều kinh nghiệm trong những trận đánh sau này.


4. Lâm nguy nhận sứ mệnh, lặn lội để ngoại giao.
Sau khi Tào Tháo đánh chiếm Giang Lăng, rất kiêu căng tự mãn, ông ta trù trừ thoả mãn, sai người đưa đến cho Tôn Quyền một phong thư: Ta phụng thánh chỉ để chinh phạt, cờ mao trở về nam, Lưu Tông chịu đầu hàng, nay lệnh cho 80 vạn quân thủy, sẽ cùng với tướng quân đi săn ở Đông Ngô.
Đây là một phong thư vừa đe dọa vừa chiêu hàng, Tôn Quyền lúc ấy cũng đến Sài Tang, một vị trí quân sự quan trọng tuyến đầu bên sông Trường Giang, một mặt quan sát tình thế chiến dịch Kinh Châu, một mặt khác tích cực chuẩn bị công việc phòng ngự. Sau khi tiếp được bức thư của Tào Tháo, Tôn Quyền lập tức triệu tập hội nghị quân sự lâm thời, xung quanh việc “dùng thư tín ra oai với quần thần, không vì thế mà sợ hãi”.
Tôn Quyền trẻ tuổi song rất bình tĩnh trước sự việc này, thực ra ông ta đã sớm quan tâm đến hành động nam chinh chiếm Kinh Tương của Tào Tháo, trung tuần tháng 8, đã từng phái Lỗ Túc đi Giang Lăng, nghe ngóng thái độ Lưu Bị và Lưu Kỳ.
Khi Lỗ Túc đến Nam quận, nghe nói Tương Dương đã bị chiếm, đại quân Lưu Bị đang rút về nam; lập tức vội đến Tương Dương, gặp được Lưu Bị đã rút về Trường Bản, đều cùng đi đến Hạ Khẩu để gặp Lưu Kỳ.
Sau khi đã thay mặt Tôn Quyền thăm hỏi Lưu Bị, Lỗ Túc hỏi Lưu Bị có dự định gì, Lưu Bị cho rằng Giang Lăng tuy có thể mất, song phần phía nam giáp Trường Giang chưa bị quân Tào chiếm lĩnh, bởi thế ông dự định sau khi chấn chỉnh đội ngũ ở Hạ Khẩu, sẽ dẫn quân xuống phía nam theo lối cuốn chiếu mà đi. Lỗ Túc hỏi ông ta có ai giúp đỡ, Lưu Bị nói: “Thái thú Thương Ngô là Ngô Cự, với tôi có quan hệ cũ, dự định đến nhờ ông ta giúp đỡ”.
Lỗ Túc không tán thành, “Đất Thương Ngô ở nơi xa xôi, Ngô Cự lại là kẻ tầm thường, chẳng thể nương nhờ được. Thảo Lỗ tướng quân (chỉ Tôn Quyền) thông minh nhân ái, kính hiền đãi sĩ, kẻ anh hào ở Giang Đông đều tụ về. Hiện nay đã có binh mã 6 quận Giang Đông, lương thảo đầy đủ, cơ sở vững vàng. Bởi thế kế hoạch hợp lý hiện nay là kết giao với thế lực Giang Đông, cùng gánh vác đại sự”.
Kế hoạch này với chiến lược thân Ngô đánh Tào mà Gia Cát Lượng đề nghị ở “Long Trung Sách”, tình cờ mà hợp Lưu Bị tự nhiên rất đỗi hứng thú, lại được Lỗ Túc chỉ dẫn, việc khó mà thành ra dễ.
Lỗ Túc lại đề nghị thêm với Lưu Bị, Hạ Khẩu ở phía bắc Trường Giang, dễ bị Tào Tháo đánh từ đường bộ, chẳng bằng rời phòng tuyến sang Phàn Khẩu ở phía bờ nam (nay là Hồ Bắc). Vào thời kỳ này Lỗ Túc mới nói với Gia Cát Lượng về quan hệ giữa mình và Gia Cát Cẩn, hai người bởi thế càng thêm thân thiết. Sau này, trong nhiệm vụ liên minh Tôn - Lưu rất gian khổ, tình bạn giữa Gia Cát Lượng và Lỗ Túc, đã phát huy ảnh hưởng khá quan trọng.
Sau khi hoàn thành công việc đóng doanh trại ở Phàn Khẩu, Gia Cát Lượng nói với Lưu Bị: “Việc rất đã gấp, xin được phụng mệnh nhờ Tôn tướng quân cứu giúp”. Lưu Bị cũng cảm thấy tình thế rất gấp, Tào Tháo có thể mau chóng từ Giang Lăng thuận dòng mà xuống, mà quân lực ở Phàn Khẩu chẳng thể ngăn cản nổi, bởi thế đồng ý để Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc đi Giang Đông, trao đổi về việc hợp tác chiến đấu. Hai mươi năm sau Gia Cát Lượng có viết trong Xuất Sư Biểu: “Sau này ngẫm lại, nhận việc trước lúc bại quân, phụng mệnh giữa lúc nguy nan”, chỉ rõ việc này.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Phần “cửu biến thiêntrong “binh pháp Tôn Tử” cỏ một đoạn viết: “Làm tướng có 5 điều nguy hiểm, có thể nói gộp lại, vào chỗ chết có thể bị chém, tìm chố sống có thể bị bắt, tức giận có thể phải hối, liêm khiết có thể phải nhục, yêu dân có thể phiền toái. Phàm 5 điều ấy, làm tướng phải biết rõ, tai nạn lúc dùng binh, thua quân mất tướng, đều ở bởi 5 điều nguy hiểm ấy, chẳng thể không xem xét kỹ”.
Nếu báo thù mà quyết tâm liều chết, sách lược không thấy hết khó khăn tiến thoái, sẽ dẫn đến hy sinh vô vị.
Nếu kẻ làm tướng quá tin ở viện trợ sẽ khó, thiếu quyết tâm của chính mình, sẽ rất dễ bị bắt.
Nếu gặp địch giữa trận, nôn nóng quá mức, chưa xem xét kỹ lưỡng toàn cục sẽ mắc phải âm mưu của kẻ địch.
Nếu quan tâm đến danh dự nhiều quá, sẽ không nhẫn tâm, cảm tình quá mức, chẳng thể kiên trì với suy nghĩ lý tính, dễ rơi vào cạm bẫy của địch.
Nếu yêu mến trăm họ hoặc quân dân thái quá, sẽ chẳng thể phát huy chiến đấu, ảnh hưởng đến hiệu suất tác chiến.
Năm điểm này đều là chứng bệnh mà các tướng lĩnh dễ mắc phải, cũng sẽ tạo thành tai họa khi dùng binh, phàm là toàn quân tan rã, đại tướng gặp nạn, đều bởi năm điểm này, chẳng thể không chú ý đặc biệt.
Quá cố chấp ắt sẽ dẫn đến chỗ mất tính đàn hồi, với việc chỉ huy đại cục, kẻ trí dũng rất khó tránh những sai sót.
Nghiêm chỉnh mà nói, từ Phàn Thành rút quân đến Tương Dương đại bại, Lưu Bị đã phạm không ít sai lầm về chỉ huy toàn cục, dẫn đến chỗ bị Tào Tháo triệt để khoét sâu, đành chịu chạy thoát thân, đã là cái không may trong cái may mắn. Kinh nghiệm về trận thảm bại này, đối với Gia Cát Lượng trẻ tuổi sau này vạch ra sách lược, sẽ có ảnh hưởng rất lớn đối với khuynh hướng cẩn thận tuyệt đối.
 
0
Chương VI
LIÊN MINH TÔN - LƯU
 
Lỗ Túc ra sức khuyên Lưu Bị chuyển sang hướng đông nam, liên hợp với Tôn Quyền ở Giang Đông cùng chống lại quân Tào.
Lưu Bị sau khi thương nghị với Gia Cát Lượng cũng quyết định dứt khoát.
Phái Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc đến Sài Tang yết kiến Tôn Quyền.
Tìm cơ hội hợp tác đôi bên.


1. Chính quyền họ Lưu, một họ lớn thời Tam Quốc. Chính quyền họ Tôn chiếm cứ Giang Đông, nghe nói là hậu duệ của Tôn Vũ, người đã viết binh pháp Tôn Tử.
Người sáng nghiệp là Tôn Kiên, phụ thân của lãnh chúa Tôn Quyền. Tôn Kiên là người Ngô Quận (nay thuộc Triết Giang), trong cuốn Biên niên sử “Tư trị thông giám” có chép, Tôn Kiên đã nổi tiếng từ năm Hỷ Bình thứ 3 đời Hán Ninh đế, trong những quần hùng đời Tam Quốc, kể thứ tự gần như Viên Thiệu, so với Tào Tháo thì sớm hơn 10 năm (theo Tư trị thông giám, Tào Tháo nổi tiếng vào năm Quang Hoà thứ 7 nhờ đánh dẹp quân Hoàng Cân).
Tôn Kiên tên chữ là Văn Đài, khi trẻ tuổi đã có biểu hiện lanh lợi vả vũ dũng. Năm 17 tuổi, có lần theo cha đến Tiền Đường, gặp ngay phải hải tặc Hồ Ngọc đang cướp bóc của cải công khai ở trên bờ sông, kẻ qua đường và thuyền bè đều không dám lại gần, Tôn Kiên nói với người cha rằng: “Bọn cướp này, có thể đánh được, xin được phép trừng phạt nó”. Không nghe người cha khuyên can, Tôn Kiên một đao nhảy lên bờ, với tay chỉ huy lung tung làm như có nhiều người đi theo. Bọn cướp biển thấy thế tưởng là có quan binh kéo đến, vứt cả của cải lại mà chạy bộ, Tôn Kiên đuổi theo, giết được một tên trong bọn thu lại được hết tài sản, bởi thế tiếng tăm lừng lẫy, quan phủ gọi ra cho làm Giá vệ.
Năm Hỷ Bình thứ 2, Hứa Xương ở quận Cối Kê làm phản tự xưng là Dương Minh hoàng đế, có mấy mươi vạn binh mã, Thứ sử Dương Châu là Tang Mân đã đến đánh dẹp, song lại bị thua. Năm sau Tôn Kiên chủ động tập hợp một đội quân hương dũng, được mấy nghìn người, tăng viện cho Tang Mân. Bởi Tôn Kiên chiến đấu dũng mãnh không ai bằng, mấy lần đại phá quân giặc, không lâu dẹp được loạn Cối Kê, triều đình ban thưởng cho làm quan địa phương.
Khi Hoàng Cân khởi nghĩa Tôn Kiên chiêu mộ nghĩa binh ở Hạ Phì được mấy nghìn người, bèn gia nhập đạo quân của Chu Tuấn, bằng công lao giành được chức quan Biệt bộ tư mã, đấy là chức quan đáng kể đầu tiên của Tôn Kiên.
Năm Trung Bình thứ 3, Khu Tinh người Trường Sa tự xưng là tướng quân, khởi nghĩa với hơn 1 vạn binh mã, triều đình lệnh cho Tôn Kiên làm Thái thú Trường Sa, dẫn quân hỏi tội Khu Tinh, sau đó ông được phong làm Ô Trình Hầu; Tôn Kiên bởi thế mà có đạo quân riêng của mình. Khi Đổng Trác làm loạn, Tôn Kiên dẫn đạo quân của mình, từ Trường Sa đánh vào Tương Dương, lại tiến lên quận Nam Dương của Dự Châu. Ông ta chém chết Trương Tư, Thái thú Nam Dương đã không cung ứng lương thực cho quân cần vương, đến hội quân với Viên Thuật ở Lỗ Dương. Tôn Kiên đoạt được Nam Dương quận, tặng cho Viên Thuật, cho nên Viên Thuật bèn xin triều đình phong Tôn Kiên làm Phá Lỗ tướng quân bổ nhiệm chức Thứ sử Dự Châu (Dự Châu do quân đoàn nhỏ chiếm đóng, chức Thứ sử ở đấy chẳng có ý nghĩa gì, bởi thế đã có nhiều người lấy đó làm một chức vị không đâu tặng lẫn cho nhau).
Trong quân đoàn Quan Đông, người tích cực hành động nhất trong việc đánh dẹp Đổng Thừa, ngoài Tào Tháo ra, chính là Tôn Kiên. Xét về công lao cụ thể, Tôn Kiên còn hơn cả Tào Tháo. Ông ta không những đánh thắng đại tướng tiên phong Từ Vinh của Đổng Trác mà trong chiến dịch tây tiến, lại một mình chém chết vô địch tướng quân Hoa Hùng, đến cả chiến tướng Lã Bố cũng chịu thua, khiến chính quyền Đổng Trác bị chao đảo.
Tháng 12 năm Sơ Bình Nguyên Niên, Tôn Kiên và thủ lĩnh các đội quân, cùng uống rượu trong doanh trại phía đông thành Lỗ Dương. Đột nhiên được tin báo mấy vạn kỵ binh và bộ binh của Đổng Trác, sẽ đánh Lỗ Dương. Tôn Kiên chẳng chút vội vàng, vẫn ngồi nguyên tại chỗ, chỉ huy bố phòng của quân sĩ. Sau khi mọi người đã vào vị trí chiến đấu, Tôn Kiên mới đứng dậy, dẫn những người thân tín nhất vào thành, thảo luận việc tác chiến. Thuộc hạ thấy ông ta trong lúc nguy cấp như thế, vẫn cười nói mà chỉ huy, chẳng thể không khâm phục.
Tôn Kiên lại cười mà nói rằng: “Ta đâu phải không khẩn trương, chẳng qua là nếu ta đứng lên đi khỏi chỗ ấy, ắt sẽ dẫn theo việc các binh sĩ vội vàng rút lui, như vậy sẽ tranh giành lẫn nhau, có thể bởi thế mà rối loạn, chư vị chẳng thể về lại được trong thành”.
Sau sự kiện này, Tôn Kiên nổi tiếng thiện chiến, lan truyền khắp toàn quốc. Bởi quân lực của Tôn Kiên rất lớn, dẫn đến sự nghi ngờ của Viên Thuật, xảy ra việc cố ý, chậm cung cấp lương thảo để cản trở việc tác chiến.
Tôn Kiên biết vậy rất bực tức, ông một mình một ngựa nhân khi đêm tối qua khỏi chiến tuyến, mau chóng đến thẳng doanh trại của Viên Thuật, thẳng thắn trách cứ việc làm sai lầm của Viên Thuật. Viên Thuật rất hổ thẹn liền hạ lệnh khẩn cấp bổ sung lương thảo. Tôn Kiên lại lập tức phóng ngựa về tiền tuyến trước khi trời sáng để chỉ huy tác chiến. Quân tâm bởi thế càng thêm hăng hái. Đổng Trác phải dùng đến cả Lã Bố cũng chẳng thể ngăn chặn nổi Tôn Kiên, thành Lạc Dương bởi thế mà thất thủ.
Tôn Kiên dẫn quân vào hoàng cung ở Lạc Dương vơ vét. Sách “Tư trị thông giám” có chép: Tôn Kiên ở sân sau hoàng cung, cướp được ngọc tỉ truyền quốc của nhà Hán, bí mật cất đi song Bùi Tùng Chi khi chú giải “Tam quốc chí”, lại rất hoài nghi về việc này, bởi trong đám quần hùng Tam Quốc, Tôn Kiên vốn là người trung liệt, nên chẳng thể tư riêng, huống chi, sau này cũng không thấy có ghi chép về việc người thừa kế chính quyền họ Tôn có ngọc tỉ truyền quốc.
Không lâu liên minh chống Đổng Trác tan rã, Viên Thiệu và Viên Thuật hai anh em đánh lẫn nhau. Viên Thuật đóng đồn ở Nam Dương, phối hợp với Công Tôn Toản đánh Viên Thiệu, hình thành thế đối đầu. Viên Thuật lôi kéo Thứ sử Kinh Châu Lưu Biểu, để chế ngự Viên Thuật. Đội quân Trường Sa của Tôn Kiên, đại bộ phận là người nam Kinh Châu, bởi thế Viên Thuật phái Tôn Kiên đến Kinh Châu, phân hoá và đánh phá lực lượng của Lưu Biểu.
Quân Tôn Kiên ở Đặng Huyện và Phàn Thành, tiến đánh quân Hoàng Tổ của Lưu Biểu, bao vây Tương Dương; Hoàng Tổ dẫn quân cảm tử trong đêm đến cướp trại, lại bị Tôn Kiên đánh bại; Hoàng Tổ chạy đến Thạc Sơn, Tôn Kiên tự mình dẫn quân đuổi theo, không ngờ ở chân núi Thạc Sơn trúng phải mai phục của Lưu Biểu, chết tại trận giữa chốn tên bay và đá nhảy mù mịt, mới 37 tuổi.


2. Tôn Sách: Alisanta đại đế của Trung Quốc
Alisanta quốc vương xứ Maxitu, sau khi phụ thân bị ám sát, lúc 20 tuổi đã cố gắng thống nhất bộ tộc Maxitu, tiến đánh các xứ khác, thống nhất được Hy Lạp, là một nhà quân sự thiên tài đáng nể, đã chinh phục được Ba Tư và các nước Tiểu Á, cơ hồ đã chạm đến Ấn Độ, sáng lập ra một đại đế quốc chưa từng có trong lịch sử nhân loại lúc bấy giờ, song mới 30 tuổi đã ngã bệnh từ trần, vương triều Maxitu bởi thế mà tan rã.
Sau khi Tôn Kiên từ trần, hậu duệ của ông cũng xuất hiện một thiên tài quân sự ít thấy trong lịch sử Trung Quốc, đấy là Tôn Sách, con cả của Tôn Kiên. Năm 20 tuổi, anh ta mau chóng nắm toàn bộ quân đội của cha để lại, xây dựng một lực lượng to lớn chưa từng thấv ở đông nam. So với Alisanta đại đế, cái không may của anh ta là, khi mang quân ra ngoài bị ám hại mà mất. Mà cái may là, anh ta có một người em trai ưu tú là Tôn Quyền, tuy chưa thể đại triển hồng đồ, song người ấy đã giữ được giang sơn mà cha anh để lại.
Tôn Kiên mất đi, quân đoàn họ Tôn lúc đó như rắn không đầu may mà được các cựu thần như Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương cùng đoàn kết nhất trí vượt qua khó khăn cùng giúp người cháu của Tôn Kiên và Tôn Bôn tạm thời nắm số quân còn lại, gửi gắm dưới trướng của Viên Thuật, lại đề nghị ngừng chiến với Lưu Biểu. Lưu Biểu vẫn muốn cùng tồn tại hoà bình nên vui vẻ chấp nhận, còn phái người đến doanh trại của địch để dâng lễ viếng Tôn Kiên.
Tôn Kiên có 4 người người con trai, đó là Tôn Sách, Tôn Quyền, Tôn Dực, Tôn Khuông. Tôn Sách là anh cả, tên chữ là Bá Phù, vào năm ấy mới 16 tuổi, kế thừa được thiên tài quân sự và chí lớn của người cha, hơn nữa lại còn vượt quá. Được sự giúp đỡ của các tướng lĩnh và cựu thần, theo Tôn Bôn tạm thời nương náu dưới trướng Viên Thuật. Ba năm sau cũng là lúc anh ta đã mười chín tuổi, Tôn Sách giành lại quyền lãnh đạo đoàn, cứng rắn quyết định dẫn đội quân cũ của cha tách khỏi Viên Thuật, trở về quê cũ ở Ngô quận, tự lực cánh sinh đứng ở một cõi.
Tam quốc chí có chép: “Tôn Sách là người có dáng tuấn tú hay cười nói, thích rộng rãi mà tiếp thu ý kiến, khéo dùng người, bỏi thế mà quân dân đều vì ông ta mà tận tâm, thậm chí dám nhảy vào chỗ chết. Có được ma lực khiến người ta vì mình mà dám chết, Tôn Sách thực là một nhân tài lãnh đạo bậc nhất ở đời”.
Bởi Viên Thuật bụng dạ nhỏ nhen, xa xỉ tham lam quyền bính, nên Tôn Sách không thể chịu được, đã tuyên bố thoát ly quan hệ với Viên Thuật, chủ động chấm dứt tham dự vào việc tranh bá quyền ở Trung Nguyên, chuyển toàn lực về sửa sang vùng đất Giang Đông của mình ở phía nam Trường Giang.
Đầu tiên Tôn Sách tập trung lực lượng đánh thắng quân của Nghiêm Bạch Hổ đang tự xưng là Thái thú Cối Kê, triệt để nắm quyền thống trị ở Giang Đông, ông ta đưa người cậu của mình là Ngô Cảnh ra làm Thái thú Đan Dương, lại đưa người anh họ là Tôn Bôn là Tôn Phụ làm Thái thú Lư Lăng, rất mau chóng họ Tôn trở thành một thế tộc hàng đầu ở Giang Đông. Ngoài ra ông ta tiếp tục trọng dụng các cựu thần cũ như Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, lại cân nhắc các danh sĩ Giang Đông như Chu Du, Trương Chiêu, Trương Hoành, tạo thành một bộ máy hoàn chỉnh.
Khi Viên Thuật xưng đế, từng đề nghị Tôn Sách đến chi viện, song bị Tôn Sách từ chối. Ông ta còn công khai gửi thông cáo cho những người đứng đầu quận huyện ở Hoài Nam, chỉ trích Viên Thuật dám mạo muội xưng đế, tạo ra tình hình người Hoài Nam thò ơ với Viên Thuật, mà Viên Thuật cũng bởi thế tuyệt giao với Tôn Sách. Năm Kiến An thứ 3, Tôn Sách dâng biểu bày tỏ trung thành với Hán Hiến đế ở Hứa Đô, cùng nhiều cống vật kèm theo. Tào Tháo lấy thế làm mừng, còn đặc biệt tiến cử với triều đình bổ nhiệm Tôn Sách làm Thảo nghịch tướng quân, phong làm Ngô Hầu. Lại còn đặc biệt đem cháu gái của mình gả cho Tôn Khuông, em trai Tôn Sách, hai bên thành ra quan hệ dâu gia với nhau.
Sau khi Viên Thuật bị diệt vong, Tôn Sách vẫn có quan hệ hữu hảo với Tào Tháo, còn Tào Tháo muốn biến Tôn Sách thành người kìm chế Lưu Biểu ở Kinh Châu. Không lâu, Tôn Sách bởi triệt để ngăn cản quân Kinh Châu từ Hạ Khẩu xâm nhập vào Dương Châu, mặt khác cũng để đáp ứng yêu cầu của Thái thú Quảng Lăng là Trần Đăng về việc thảo phạt tàn quân Nghiêm Bạch Hổ, mới từ Hoài Nam dẫn quân khẩn cấp trở về Giang Đông. Năm Kiến An thứ 5, vào mùa xuân, Tôn Sách ở Đan Đồ chỉnh đốn binh mã, chỉ đợi tập trung đủ lương thảo, sẽ đồng thời thực hiện một hành động quân sự đại quy mô là tây tiến và bắc chinh, kiến tạo “đại sự nghiệp” cho họ Tôn; song chính vào lúc ấy lại phát sinh một tấn bi kịch chẳng ngờ đến.
Vốn trước đó Thái thú Ngô quận là Hứa Cống, bởi tranh giành quyền thống trị địa phương với Tôn Sách, lại bị Tôn Sách giết, ba kẻ gia nhân của Hứa Cống nguyện một lòng báo thù cho chủ.
Tôn Sách thích đi săn, thường một mình một ngựa, rong ruổi nơi thảo dã, những kẻ hộ vệ luôn luôn đuổi theo không kịp. Gia nhân của Hứa Cống biết Tôn Sách có thói quen như thế bèn mai phục ở trong rừng, để bắn lén Tôn Sách. Do thiếu phòng bị, Tôn Sách bị trúng tên ở mặt song vẫn hăng hái chém chết cả ba tên thích khách. Khi quân hộ vệ đến kịp, Tôn Sách đã bị ngã dưới đất. Sau khi về trại, vết thương chuyển biến trầm trọng, ông ta lệnh cho em trai là Tôn Quyền tiếp tục làm thủ lĩnh quân Giang Đông.
Trước lúc lâm chung, Tôn Sách có khích lệ Tôn Quyền rằng: “Gây dựng nghiệp nhà ở Giang Đông, quyết định ở mấy trận đánh, tranh giành với thiên hạ, khanh không bằng ta. Chiêu hiền đãi sĩ, dốc lòng lo mọi việc giữ gìn được Giang Đông, ta không bằng khanh”.
Tối hôm ấy, do bệnh tình không qua khỏi mà từ trần, mới 26 tuổi, Tôn Sách khi tạ thế, đã tích cực sửa sang Giang Đông, chỉ trong vòng mấy năm ngắn ngủi, đã có được Cối Kê, Ngô Quận, Đan Dương, Dự Chương, Lư Giang, Quảng Lăng, tất cả 6 quận bao quát suốt một dải từ Giang Tô đến Giang Tây rộng lớn.


3. Hổ phụ lân nhi, sinh con phải như Tôn Trọng Mưu
Xuất phát bởi cơ sở mà cha anh để lại, tài năng chính trị của Tôn Quyền còn cao hơn tài năng quân sự của Tôn Kiên. Hậu duệ của hai thần tượng quân sự này ở chiến trường vẫn có phương bí truyền độc đáo của ông ta. Sau này, Tôn Quyền với Tào Tháo đối trận ở Hợp Phì, Tào Tháo sau khi xem xét kỹ bố cục bầy trận của Tôn Quyền, đã phải cảm khái mà than rằng: “Sinh con phải như Tôn Trọng Mưu” (chỉ Tôn Quyền).
Giang Biểu truyện có chép: “Tôn Quyền lúc nhỏ, dáng cao, cằm vuông mồm rộng, mắt sáng giống Tôn Kiên, có quý tướng. Tôn Sách khi sáng nghiệp ở Giang Đông, Tôn Quyền mới 15 tuổi, đã có tiếng tăm ở huyện Dương Tiêm, trông coi việc hiếu liêm, tiến cử hiền tài, làm Phụng Nghi hiệu úy, vẫn thường ở bên Tôn Sách, Tôn Quyền cá tính khoan dung, sáng suốt và có nghị lực, người bấy giờ gọi là “nhân ái mà quyết đoán”, lại thêm khảng khải chẳng đếm xỉa tiền tài, biết chiêu hiền đãi sĩ, theo gót được cha anh. Tôn Sách mỗi lần có việc trao đổi, Tôn Quyền đều đối đáp lưu loát, đến cả Tôn Sách cũng cho là lạ, tự xem là không bằng”.
Tam quốc chí có chép: “Khi Tôn Sách dâng biểu trung thành lên triều đình, Hán Hiến đế có sai sứ giả Lưu Uyên đến phong chức quyền; Lưu Uyên là người giỏi xem tướng, khi nhìn thấy Tôn Quyền, bèn nói với người xung quanh rằng: “Ta thấy anh em họ Tôn đều có tài khác thường, song chỉ sợ không thọ được lâu, chỉ có Tôn Quyền, hình dáng khôi ngô, khí chất mạnh mẽ, có tướng đại quý, tuổi thọ lại rất cao, các người hãy nhớ lời ta nói ngày hôm nay mà ngẫm xem”.
Tôn Sách từ trần, Tôn Quyền mới 22 tuổi đã tiếp quản làm lãnh tụ đoàn quân Giang Đông; bởi anh ta chưa có kinh nghiệm tự mình lãnh đạo các thủ lĩnh quân đoàn Giang Đông đều có vẻ nghi ngờ, không an tâm.
Theo đề nghị của Trương Chiêu, Tôn Quyền tự mình phi ngựa tuần tra các quân đoàn, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, quả nhiên mau chóng bình ổn sự dao động trong các quân đoàn. Tào Tháo sau khi nghe tin Tôn Quyền đã kế vị Tôn Sách, qua tin tình báo biết được tài cán của Tôn Quyển, lập tức dâng biểu lên triều đình tiến cử Tôn Quyền làm Thảo lỗ tướng quân kiêm Thái thú Cối Kê, đóng đồn ở Ngô quận; Bởi được triều đình công khai bày tỏ sự giúp đỡ tích cực, tình thế chính trị ở Giang Đông chuyển nguy thành an.
Tôn Quyền sau khi nắm quyền, lấy lễ thầy trò đáp lại Trương Chiêu. Trương Chiêu cá tính rắn rỏi ưa nói thẳng, bác học quảng vấn rất có tài lại trung thành, là một cố vấn riêng rất giỏi, về quân sự, Tôn Quyền đưa Trình Phổ, Chu Du, Lã Phàm làm tướng lĩnh quân khu, đóng đồn ở các nơi hiểm yếu. Ông xuống lệnh tạm thời đình chỉ tất cả các hành động khuyếch trương lấy ổn định nội bộ làm chính, lại chiêu hiền đãi sĩ, coi Lỗ Túc, Gia Cát Cẩn khách dưới trướng, thể hiện rõ tính tích cực sửa sang; về phát triển chính trị và kinh tế còn hơn Tôn Sách.
Lỗ Túc tên chữ là Tử Kính người Lâm Hoài, lớn lên đã mồ côi bố, ở với bà nội, trong nhà có rất nhiều tiền, song Lỗ Túc là người có chí lớn, không lo việc trong nhà, tính khảng khái thích ban ơn. Ông thấy thiên hạ sẽ loạn lạc bèn phân phát hầu hết tài sản trong nhà, mua lấy ruộng đất, giúp đỡ những thiếu niên bần hàn, cho cơm ăn áo mặc, lại thêm tổ chức họ lại giảng võ tập binh, nghiễm nhiên tổ chức ra một đội quân riêng. Chu Du lúc mới lớn lên thiếu thốn cả cái ăn, nhờ có người mách bảo tìm đên Lỗ Túc vay gạo; Lỗ Túc lúc ấy trong nhà có 2 kho gạo lớn, mỗi kho có 3 nghìn hộc gạo; Lỗ Túc chỉ vào một kho, bảo Chu Du mang đi mà dùng. Chu Du từ một kẻ nghèo hèn trở thành một kẻ phong lưu lỗi lạc đều bởi sự khảng khái ít thấy của ông ta. Tam quốc chí có viết: “Chu Du thấy việc kỳ lạ, liên kết thân với Lỗ Túc”. Không lâu, lại được Lỗ Túc tiến cử với Tôn Quyền.
Cũng giống như “Long Trung Sách” của Gia Cát Lượng, Lỗ Túc khi mới gặp Tôn Quyền cũng đề ra kế sách “Dựng đỉnh ở Giang Đông, đứng nhìn thiên hạ tranh giành, tiễu trừ Hoàng Tổ, tiến đánh Lưu Biểu, chiếm cứ suốt một dải Trường Giang, sau này lập nghiệp đế vương thâu tóm cả thiên hạ”. Tôn Quyền nghe nói, phi thường cao hứng, ngoài mặt tuy không tỏ vẻ tranh bá thiên hạ song trong bụng thì coi Lỗ Túc là tri kỷ.
Tam quốc diễn nghĩa đã miêu tả Lỗ Túc như một người thực thà, nhu nhược không có chủ kiến; thực ra Lỗ Túc có cá tính cao ngạo, văn vũ toàn tài, giầu mực lược, có tầm nhìn xa trông rộng, là một nhà quân sự, một nhà chính trị ưu tú phi thường. Dẫu rằng Trương Chiêu cùng các cựu thần Giang Đông rất không thích, Lỗ Túc một mình bài bác lại số đông thường nói xấu ông ta, song Tôn Quyền rất biết Lỗ Túc là bậc qui hoạch kỳ tài, hiểu biết sâu sắc, thường công khai mọi việc, đặc biệt xem trọng và khen ngợi với Lỗ Túc.
Gia Cát Cẩn tên chữ là Tử Du, là anh cả cùng mẹ với Gia Cát Lượng, là người cẩn thận trung thực, tài hoa ẩn chứa. Chỉ có anh rể của Tôn Quyền hiểu rõ, tiến cử ông với Tôn Quyền; Tôn Quyền coi là tân khách trong số các quan viên văn võ ở Giang Đông, cũng chỉ có Gia Cát Cẩn và Lỗ Túc hiểu nhau hơn cả, hai người kết làm tri kỷ.
Năm Kiến An thứ 8, Tôn Quyền sau khi được bổ nhiệm, ra quân lần đầu, đánh chiếm Hà Khẩu của Hoàng Tổ, nói là báo thù cho cha, thực ra ít nhiều cũng là hành động bước đầu trong chiến lược của Lỗ Túc. Tuy lần này chưa có thành quả cụ thề gì, song ở hành động quân sự đó, Tôn Quyền đã chính thức cất nhắc các doanh tướng bậc hai của Giang Đông như Thái Sử Từ, Lã Mông, Chu Thái, tiến thêm một bước tăng cường thực lực quân sự cho chính quyền họ Tôn.
Năm Kiến An thứ 12, Tôn Quyền lại tiến đánh Hà Khẩu, lần này Lỗ Túc vận dụng mưu lược trước tiên, xúi giục không ít quân sĩ và cư dân ở Giang Hạ chống lại Hoàng Tổ, khiến đội quân Hoàng Tổ đang trụ giữ ở Kinh Châu, tại tuyến đầu gặp phải sự đả kích nghiêm trọng. Năm sau Tôn Quyền lại phái Lã Mông, Lăng Thống, Đổng Tập, những tướng lĩnh trẻ tuổi của Giang Đông tinh nhuệ và hăng hái, lại tiến đánh Hà Khẩu. Hoàng Tổ không dám chống đỡ, trong lúc rút chạy bị quân địch đuổi theo chém chết, đội quân Giang Hạ nức tiếng một thòi bởi thế mà tan rã cả. Song Tôn Quyền cho rằng quân Giang Đông vẫn không đủ thực lực để trường kỳ đối kháng với quân Kinh Châu hùng mạnh, sau khi chém chết Hoàng Tổ ở Nam Hải để trả thù cho cha, bèn đưa quân sĩ chủ lực rút về Sài Tang, tạm đóng đồn ở đấy.
Lưu Biểu vẫn không thích việc chiến sự, lại đang có vấn đề sức khoẻ và việc tranh giành quyền bính nội bộ làm đau đầu, đối với cuộc chiến ở Giang Hạ cũng không nghĩ đến và truy cứu nữa. Bởi thế ông ta chỉ phái người con trưởng là Lưu Kỳ làm Thái thú Giang Hạ, sớm đến Hạ Khẩu chiêu phủ quân dân mới vừa qua cảnh nước sôi lửa bỏng, lại đổi mới công việc phòng thủ, xây dựng quan hệ hoà bình với chính quyền Giang Đông. Lưu Kỳ cá tính khoan hậu mà nhu nhược lại thích hợp xử lý công việc này khiến chiến tuyến Giang Hạ tạm thời khôi phục lại trạng thái hoà bình.


4. Gia Cát Lượng yết kiến Tôn Quyền.
Sau sự kiện này không lâu, Tôn Quyền nhận được tin mật báo, từ thành Tương Dương rằng Lưu Biểu đã ngã bệnh từ trần, lập tức phái Lỗ Túc đến Tương Dương viếng tang, cũng là quan sát khả năng diễn biến thời cuộc ở Kinh Châu.
Lỗ Túc mới đến Nam quận, đại quân nam chinh của Tàn Tháo đã đánh chiếm Phàn Thành, Lưu Tông ở thành Tương Dương vừa mới được cử làm Kinh Châu mục đã vội dâng thành đầu hàng, quân Lưu Bị bị bức rút vê Giang Lăng ở phương nam, lại rẽ ngang hợp quân với Lưu Kỳ ở Hạ Khẩu, tăng cường củng cố phòng tuyến. Lỗ Túc lập tức ngược lên phía bắc, gặp quân Lưu Bị ở Tương Dương vừa mới bị quân Tào đánh cho đại bại, Lỗ Túc bèn khuyên Lưu Bị chuyển hướng đông nam, liên hợp với Tôn Quyền ở Giang Đông cùng chống lại Tào Tháo. Lưu Bị sau khi trao đổi vói Gia Cát Lượng cũng quyết định dứt khoát, phái Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc đến Sài Tang yết kiến Tôn Quyên, tìm kiếm khả năng hợp tác đôi bên.
Lúc ấy Tôn Quyền mới chưa đầy 27 tuổi, nắm quyền bính chưa được 5 năm. Tuy còn ít tuổi, chưa từng trải sâu sắc, song lại là hậu duệ của những thần tượng quân sự, lại điểm tĩnh mà có chủ kiến.
Sau chiến dịch Tương Dương, Tào Tháo từng đưa thư chiêu hàng với giọng dọa nạt đến Tôn Quyền. Lập tức Tôn Quyền triệu tập hội nghị khẩn cấp, nói rõ tất cả với các quan văn võ Giang Đông về tin tức xấu này. Trong lúc số đông có vẻ hoảng loạn, người chủ trẻ tuổi này vẫn có sự tự tin đến mức bàng quan lãnh đạm.
Không lâu, Lỗ Túc trở về Sài Tang cùng với Gia Cát Lượng, với sự chân thành, đơn độc lần đầu yết kiến Tôn Quyền.
Ở doanh trại giản đơn mới dựng tạm, Tôn Quyền mặc áo vải thô tiếp kiến Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng vẫn giỏi xét người, mới đến cửa đã thấy được cá tính của Tôn Quyền. Nếu cử chỉ đơn phương bày tỏ lập trường của mình sẽ không lay chuyển được ông chủ trẻ tuổi này, bởi thế Gia Cát Lượng quyết định nhường Tôn Quyền nói trước về suy nghĩ, lựa chọn và qui hoạch của mình. Ông ta tin rằng chỉ cần sơ bộ định ra quyết sách, loại người như Tôn Quyền nhất định sẽ khắc phục mọi khó khăn kiên trì lập trường cuối cùng.
Sau hồi hàn huyên ban đầu, Gia Cát Lượng rất thản nhiên và khách quan phân tích thực lực và sách lược của Tào Tháo: “Từ khi đại loạn đến giờ, tướng quân khởi binh chiếm cứ Giang Đông, Lưu Huyền Đức tụ tập ở Hán Nam, cùng tranh thiên hạ với Tào Tháo. Nay Tào Tháo đã dẹp xong kẻ địch ở phía bắc, bởi thế thừa thắng nam chinh, chiếm được Kinh Châu, quyền uy lan khắp thiên hạ, khiến anh hùng không có đất dụng võ, Lưu Huyền Đức bị bức phải chạy đến mức đó, tình hình thực lực nguy cấp lắm vậy”. Tôn Quyền ngồi lặng nghiêng tai lắng nghe.
Gia Cát Lượng lại cường điệu uy lực hành quân chớp nhoáng của Tào Tháo, đến nay thế lực rất dữ dội, thời gian lại gấp gáp nên lập trường của Giang Đông là hoà hay là chiến nên lập tức quyết định ngay, để tránh dẫn đến những sai lầm về quân cơ.
“Tướng quân không lượng sức mà làm, nếu cho rằng lấy lực lượng Giang Đông, có thể đổi kháng với Trung Nguyên, không gì bằng sớm đoạn tuyệt quan hệ với họ, để hạ quyết tâm của mình, tập trung đủ lực lượng. Nếu thấy không đủ sức chống chọi, hãy lập tức mau chóng cởi giáp triệt binh, thần phục Trung Nguyên. Nếu tướng quân ngoài mặt giữ quan hệ hữu hảo với Tào Tháo, thực tế lại là chiến hoà do dự không quyết bên nào, rất có thể dẫn đến đại nạn cho quốc gia!”
Tôn Quyền nghe rồi, vẫn bình tĩnh hỏi lại rằng: “Tào quân có thực lực kinh người như thế, sao Lưu Huyền Đức không đầu hàng ở Kinh Châu lại vẫn không tự lượng sức chống chọi đến cùng như thế?”.
Gia Cát Lượng vội than rằng: “Năm xưa Điền Hoành chẳng qua là tráng sĩ nước Tề mà thôi, lại có thể kiên trì giữ nghĩa không chịu nhục, phản kháng đến cùng. Huống chi Lưu Huyền Đức đường đường là dòng dõi nhà Hán, danh tiếng lớn lao, sớm đã là lãnh tụ tinh thần của các lực lượng phản Tào khắp nước, về nghĩa lý dứt khoát chẳng thể tùy tiện để người ta sai khiến, nay dẫu có thất bại, cũng chỉ là mệnh trời mà thôi!”
Tôn Quyền hai mắt nhìn chằm chằm Gia Cát Lượng với giọng trầm trầm nói rằng, Tào Tháo bức thiên tử mà sai khiến chư hầu, kẻ dám đối chọi lại, duy chỉ có Lưu Biểu, Lưu Bị và Tôn Quyền này mà thôi, hiện nay Lưu Biểu đã tạ thế, Lưu Bị lại đang thất bại, chỉ còn lại một mình Đông Ngô. Bởi thế ông ta cũng dứt khoát không thể để mấy chục vạn quân dân Đông Ngô mặc kệ để người ta khinh nhờn; ông ta hy vọng Gia Cát Lượng có thể đưa ra sách lược Tôn - Lưu liên hợp để chống lại đại quân Tào Tháo.
Gia Cát Lượng thấy Tôn Quyền đã động tâm, bèn đưa ra phân tích thêm một bước; ông ta nói rõ rằng, ông đã sưu tầm được những tin tình báo thực tế ở trận chiến Kinh Châu, đại quân của Tào Tháo tuy nhiều, lại có 4 nhược điểm lớn:
Thứ nhất, quân Tào nói phao rằng có 100 vạn người, thực ra quân nam chinh chỉ có chừng 20 vạn người, mà đại bộ phận chẳng phải quân trực thuộc, đó là quân họ Viên và Kinh Châu biên chế thêm. Quân sĩ pha tạp này không tập trung vào mũi nhọn, trước mắt phải bố trí trên một vừng mới chiếm rộng lớn từ Tương Dương đến Giang Lăng, thực ra số quân có thể tập kết ở chiến trường chính rất có hạn. Bởi thế, chiến thuật tốt nhất là để phía Tôn - Lưu chủ động lựa chọn phương án, sẽ tranh giành lấy thắng lợi trọng điểm, hư trương thanh thế rằng quân Tào rất hùng mạnh ắt sẽ không đánh mà tan.
Thứ hai, Tào Tháo đã truy kích Lưu Bị, một ngày đêm khẩn cấp hành quân được hơn 300 dặm, khiến quân sĩ rất mỏi mệt, đúng như câu nói: “Cánh cung yếu, không bắn thủng lụa mỏng” sĩ khí và lực chiến đấu của quân Tào không còn mạnh được như trước.
Thứ ba, quân phương bắc đặc biệt là quân trực thuộc và quân họ Viên, sống ở vùng Trường Giang hiện nay, sẽ phát sinh hiện tượng không hợp thủy thổ.
Thứ tư, quân phương bắc không giỏi thủy chiến, đánh nhau ở Giang Đông ắt phải lấy thủy chiến làm chính, mà quân Tào ỷ vào thủy quân Kinh Châu làm chủ lực thủy chiến, căn bản là không thể được. Trái lại xem ra quân chủ lực của Lưu Bị tuy bị đánh tan, song Quan Vũ với hơn một vạn thủy quân và nhiều chiến thuyền vẫn chưa hề tổn thất, Lưu Kỳ ở Giang Hạ cũng có mấy vạn quân Kinh Châu tinh nhuệ, nếu như lại có thêm mấy vạn quân Đông Ngô dũng mãnh, hiệp lực tác chiến, nhất định có thể đánh tan đội quân pha tạp của Tào Tháo tuy lớn mà không đáng ngại. Tôn Quyền sau khi nghe phân tích kỹ, mạnh mẽ gật đầu, hạ quyết tâm sáng sớm ngày mai, sẽ lập tức triệu tập hội nghị quân sự để ra quyết định cuối cùng. Lúc này Gia Cát Lượng đã nhìn thấy từ nơi sâu thẳm trong tim của Tôn Quyền trẻ tuổi, sớm đã trỗi dậy một ý chí mãnh liệt.


5. Đối kháng - đầu hàng - hoà đàm.
Nhưng trong hội bàn quân sự ngày hôm sau, Tôn Quyền lại vấp phải một sự bất ngờ.
Đầu tiên Trương Chiêu đứng đầu nhóm văn quan, cho rằng quân Tào thế lực rất lớn, căn bản chẳng thể đối đầu, chẳng bằng sớm nhún mình với Tào Tháo, cũng có thể đem lại sự thống nhất ở Trung Quốc. Các lão tướng Trình Phổ và Hoàng Cái, thì chủ trương phòng thủ tiêu cực, tránh chọc giận Tào Tháo, để mưu cầu hoà đàm với họ. Chỉ có Lỗ Túc và một số người tướng lĩnh trẻ tuổi như Cam Ninh, Lăng Thống, Chu Thái, Lã Mông chủ trương tích cực tác chiến bởi ý kiến chia rẽ, hai bên tranh cãi không thôi, Tôn Quyền rất bực bội, mượn cớ thay áo khoác, lui vào phía sau một mình gọi Lỗ Túc đến bí mật hội đàm. Lỗ Túc rất thản nhiên nói rằng: “Những lời bàn bạc của mọi người vừa rồi, đối với tướng quân thực không phù hợp, nếu xét về lợi hại thực tế theo như góc độ nhìn nhận của Lỗ Túc này là hãy nên đón rước Tào Tháo mà đầu hàng triều đình; song địa vị của tướng quân lại không cho phép, Lỗ Túc có đầu hàng Tào Tháo cũng chẳng hề gì ảnh hưởng đến quan chức, có thể còn được quyền thế lớn hơn, song với tướng quân thì sao? Sau khi đón rước Tào Tháo, ngài sẽ bị điều đên xứ nào nhỉ? Xin hãy mau quyết định sách lược lớn! Không nên bận tâm ở ý kiến của nhiều người”. Tôn Quyền than rằng: “Những người này thực khiến ta thất vọng, chỉ có Lỗ Túc có cùng cách nhìn nhận với ta. Thực cảm tạ trời cao đã đem khanh cho ta”. Lỗ Túc cũng đề nghị với Tôn Quyền lập tức triệu hồi Chu Du, đô đốc thủy quân đang huấn luyện quân thủy ở hồ Bà Dương. Chu Du là chiến hữu lâu năm của Tôn Sách, Tôn Sách lấy mỹ nữ Đại Kiều của Giang Đông làm vợ, Chu Du thì lấy Tiểu Kiều, em gái của Đại Kiều làm vợ, quan hệ của hai người rất mật thiết. Tôn Sách trước lúc lâm chung có nói: “Việc trong không quyết thì hỏi Trương Chiêu, việc ngoài không quyết thì hỏi Chu Du”. Nay đang chuẩn bị đối kháng với sự xâm nhập của giặc ngoài, Chu Du tự nhiên là một nhân vật cố vấn rất quan trọng.


6. Chu Du: một thiên tài quân sự.
Chu Du tên chữ là Công Cẩn người Lư Giang, tổ phụ là Chu Cảnh, bác là Chu Trung đều làm quan đến chức Thái uý nhà Hán, phụ thân là Chu Dị từng làm Lạc Dương lệnh.
Tam quốc chí có chép:
Chu Du thân thể cao lớn, anh tuấn hào kiệt, cá tính cởi mở rộng rãi, được bạn bè nể vì... khi còn trẻ, đã tinh thông âm nhạc, trong lúc say rượu mà người tấu nhạc ở bên chỉ cần sai luật một chút, Chu Du lập tức ngoái đầu lại, cho nên người đương thời nói: “khúc nhạc lỡ sai, Chu Du ngoảnh lại”.
Sau khi nhận được tin Tào Tháo tiến quân vào Kinh Châu, Chu Du đang ở hậu phương lập tức phái một số lớn tình báo thâm nhập vào các vùng ở Kinh Châu, để mau chóng thu thập tình hình bố trí quân đội của Tào Tháo, và con đường mà quân chủ lực tiến công. Bởi thế sau khi nhận được lệnh triệu hồi của Tôn Quyền, Chu Du lập tức hạ lệnh kết thúc tập huấn, toàn quân bước vào trạng thái chuẩn bị chiến đấu, chỉ dẫn theo một số nhân viên tham mưu, hoả tốc phóng đến Sài Tang.
Ngay tối ấy Chu Du, Lỗ Túc bí mật hội đàm, trao đổi ý kiến vê việc ngày mai sẽ gặp Tôn Quyền.
Sáng hôm sau, Tôn Quyền lại triệu tập hội nghị quân sự.
Trương Chiêu đứng đầu phái chủ hoà phát biểu trước rằng: “Tào Tháo giảo quyệt như lang sói, nay lấy danh nghĩa Tể tướng triều đình, ép thiên tử mà đánh bốn phương, nếu công khai đối đầu với ông ta, về danh nghĩa trở thành phản tặc với triều đình, với chúng ta thực rất bất lợi. Hơn nữa Đông Ngô dựa vào Trường Giang hiểm trở, hiện nay Kinh Châu đã mất, đội thủy quân to lớn trong tay Lưu Biểu toàn bộ đã rơi vào quân đoàn nam chinh của Tào Tháo. Quân Tào chỉ cần xuôi theo dòng Trường Giang đánh bằng đường thủy, chúng ta không còn riêng lợi thế Trường Giang, mà địch và ta rất chênh lệch về thực lực. Bởi thế chúng tôi cho rằng kế sách hay nhất là đón rước quân Tào, cùng với họ tiến hành hoà đàm”.
Chu Du nghe vậy, lập tức phản bác rằng: “Các ông đều nhầm cả rồi, Tào Tháo tuy danh là Hán Tướng, thực ra là Hán Tặc, khinh nhờn cả thiên tử, xét về nghĩa lý là không đứng vững. Tôn tướng quân là người anh hùng, lại kế thừa sự nghiệp cha anh, chiếm cứ Giang Đông, bờ cõi có mấy nghìn dặm, quân đội lại tinh nhuệ, lương thảo thực đầy đủ, anh hùng hào kiệt đều theo về với sự nghiệp sáng tạo này, trước mắt nên giơ thẳng cánh tay giáng đòn trừ khử gian đảng triều đình mới đúng, sao lại biểu hiện ra tư thế nhu nhược như vậy? Huống chi nay Tào Tháo mang cái chết lại, vì sao còn phải đi đón rước ông ta nhỉ?”
Tôn Quyền nghe nói thế gật mạnh đầu khẳng định theo.
Tiếp đó Chu Du công bố những tin tình báo quân sự mà mình đã thu thập được bấy nay, phân tích chiến lược một cách sơ bộ. Ông ta cho rằng, tuy đối diện với áp lực quân sự to lớn của Tào Tháo, song về phía Đông Ngô vẫn có điểm mạnh tuyệt đối, lý do như sau:
Thứ nhất, quân Tào nói có 100 vạn người, thực ra đa số là quân họ Viên và quân Kinh Châu mới đầu hàng. Chính quyền họ Viên ở phía bắc mới bị diệt không lâu, ở đấy vẫn không ổn định, bởi thế Tào Tháo phải trụ lại rất nhiều quân lính. Quân đoàn của Mã Đằng, Thứ sử Lương Châu và quân Hàn Toại ở tây bắc, cũng tùy thời mà uy hiếp hậu phương quân Tào. Trong triều đình ở Hứa Đô, sau sự kiện Đổng Thừa, các quan công khanh nhà Hán, không ngừng phản kháng ngấm ngầm. Khiến Tào Tháo không thể không lưu giữ quân trực thuộc rất lớn ở hai châu Cổn, Dự để truy trì sự an toàn của đại bản doanh. Cũng tức là nói quân đoàn nam chinh của Tào Tháo, không thể vượt quá 15 vạn người. Hơn nữa căn cứ vào tình hình nhận được, trong đó có không ít quân của Viên Thiệu, về lòng dạ đối với Tào Tháo vẫn còn chưa biết thế nào.
Thứ hai Tào Tháo lần này tiến đánh Kinh Châu tuy có thuận lợi bất ngờ song trong lúc đột nhiên chiếm lĩnh mau chóng một vùng rộng lớn, quân đội ắt sẽ chẳng thể điều phối thoả đáng, quân chủ lực bị phân tán khiến cho sức chiến đấu bị dàn mỏng. Lại thêm chính quyền Lưu Tông không đánh mà hàng, quân các nơi lại không kịp chuẩn bị, tuy nghe lệnh mà làm, song quân quan các cấp và binh lính về tâm lý là không bình thường; những người này tạo thêm sự bất ổn định về tâm lý trong quân đội, chỉ làm tăng thêm áp lực tâm lý cho đội quân chủ lực mà thôi.
Thứ ba quân phương bắc đi đường dài qua núi cao sông sâu, thủy thổ không hợp, tình hình quân sĩ bệnh tật nảy sinh nghiêm trọng. Hơn nữa từ mùa thu, mùa đông trở đi, khí trời ngày một lạnh hơn, tuyến vận tải lương thực quân Tào rất dài, vấn đề này càng thêm khó khăn. Tào Tháo muốn đánh nhanh, đã bày ra hình thái quyết chiến ở Trường Giang. Quân Tào giỏi đánh trên bộ, nay bỏ sở trường dùng sở đoản, lựa chọn một phương thức tác chiến không quen thuộc, thể hiện sự bận tâm của họ, trạng thái tâm lý này với một trận đánh lớn là rất bất lợi.
Trái lại Đông Ngô ở Giang Đông đã từng trải qua ba đời, quân giỏi lương nhiều, thủy chiến vẫn là sở trường của họ. Bởi thế chỉ cần một đội quân tinh nhuệ khoảng 5 vạn người nhất định sẽ đánh thắng được trận này.
Qua cuộc tranh cãi này chúng ta có thể thấy sự phong phú và chính xác của tin tình báo mà Chu Du có được. Nói cách khác các quan viên của tướng lĩnh ở Sài Tang đều không bằng ông; liên tục ở chiến trường, Gia Cát Lượng vẫn chú trọng công việc tình báo cũng chẳng bằng được ông ta. Chu Du có thiên tài vạch sách lược chiến đấu, có thể thấy rõ ở đấy.


7. Liên quân Tôn - Lưu, trận tuyến bầy sẵn.
Tôn Quyền nghe vậy rất đỗi vui mừng, lập tức lớn tiếng tuyên bố rằng, lão tặc sớm đã dự tính cướp ngôi hoàng đế, chỉ sọ Viên Thiệu, Viên Thuật, Lã Bố, Lưu Biểu và ta phản đối, nay mấy vị anh hùng kia đều chết cả, chỉ còn lại mình ta, ta thề không chung trời với lão tặc.
Nói rồi bèn tuốt kiếm ra, chém mặt bàn thành hai nửa nghiêm mặt nói rằng: “Ai còn nói đến đầu hàng Tào Tháo, sẽ như cái bàn này!”
Sau quyết định dứt khoát của Tôn Quyển, các quan viên và tướng lĩnh cùng thề tuân theo quyết sách của chủ tướng, trên dưới đồng lòng tích cực chuẩn bị việc chiến sự chống lại Tào Tháo.
Tiếp đó Tôn Quyền chỉ thị cho Trương Chiêu, Lỗ Túc, Chu Du cùng họp bàn với Gia Cát Lượng về việc hợp tác hai họ Tôn - Lưu.
Sau cuộc họp, Tôn Quyền cho gọi một mình Chu Du đến, nói rõ phải lập tức điều quân chủ lực của Chu Du về, tăng thêm nhân mã ở Sài Tang, ước có hơn 3 vạn người, chiến thuyền, binh khí, lương thực cũng đã chuẩn bị đủ, có thể lập tức xuất phát. Nếu nhân mã chưa đủ số, sẽ sắp xếp hoàn thành trong thời gian ngắn nhất; mọi việc đều do Tôn Quyền tự mình điều khiển, tiếp ứng thẳng thắn cho tiền tuyến.
Trước lúc chia tay Tôn Quyền phấn khởi vỗ vai Chu Du, nói rằng: “Đô đốc có thể làm được đến đâu, xin tận lực làm ngay cho! Nếu có gì không thuận lợi còn có ta đây. Ta dứt khoát chẳng hối hận, nhất định ta sẽ quyết một trận sống mái với Tào Tháo”.
Sáng hôm sau, Tôn Quyền công bố việc sắp xếp tổ chức tác chiến chống Tào lần này, danh sách như sau:
Tổng chỉ huy: Hữu đô đốc Chu Du.
Phó tổng chỉ huy: Tả đô đốc Trình Phổ.
Đội tiên phong thủy quân: Vũ phong hiệu uý Hoàng Cái, Trung Lang tướng Hàn Đương.
Đội chủ lực thủy quân: Hiệu uý Cam Ninh, hiệu uý Chu Thái, Trung Lang tướng Lã Phạm, Trung Lang tướng Đổng Tập.
Đội chủ lực lục quân: Trung Lang tướng Thái Sử Từ, Trung Lang tướng Lã Mông, Trung Lang tướng Lăng Thống.
Hậu cần chi viện: Tán quân hiệu uý Lỗ Túc kiêm phụ trách liên hệ việc quân với Lưu Bị và Lưu Kỳ.
Quân Đông Ngô có hơn 3 vạn người lại thêm hơn hai vạn binh mã của Lưu Bị và Lưu Kỳ, binh lực động viên được đại khái chỉ bằng 1 phần 4 quân nam chinh và Kinh Châu mới bổ sung của Tào Tháo mà thôi.
Kế hoạch của Trương Chiêu tuy không được chấp nhận song ông ta thấy Gia Cát Lượng trẻ tuổi mà biết xem trọng bậc lão thần, nói năng giỏi giang, có ý muốn lôi kéo nhân tài cho quốc gia, bèn đề nghị Tôn Quyền lệnh cho Gia Cát Cẩn sớm đến thuyết phục Gia Cát Lượng. Tôn Quyền hỏi ý kiến Chu Du song Chu Du cười mà không đáp. Tôn Quyền bèn cho gọi Gia Cát Cẩn bảo rằng: “Gia Cát Khổng Minh là em của tiên sinh, là người có tài, em nghe theo anh là lẽ đương nhiên nếu ông ta muốn ở lại cùng lo đại sự, ta sẽ tự tay viết thư nói rõ vói Lưu Dự Châu”. Gia Cát Cẩn vội đến gặp Gia Cát Lượng, không ngờ Gia Cát Lượng lại nói trước, khuyên Gia Cát Cẩn theo về với Lưu Bị sẽ càng phát huy được khả năng.
Gia Cát Cẩn không nài ép được, đành trở về báo cáo với Tôn Quyền: “Em tôi phụ tá Lưu Dự Châu, vì nghĩa chẳng thể hai lòng, Lượng không chịu ở Đông Ngô, cũng như Cẩn không thể rời Giang Đông vậy”. Chu Du cũng khuyên Tôn Quyền chẳng cần nghĩ ngợi nhiều nên thành tâm thản nhiên, để cùng với Lưu Bị và Gia Cát Lượng bàn chi tiết về sự hợp tác.
Theo “Tam quốc diễn nghĩa” tô vẽ, Chu Du lòng dạ nhỏ nhen luôn nghĩ hãm hại Gia Cát Lượng. Thực ra Chu Du trong lịch sử chẳng những là người bao dung, lại còn khiêm tốn nữa, lại rất chiếu cố với Gia Cát Lượng. Đặc biệt là Lỗ Túc trong tiểu thuyết thì luôn luôn bị lừa phỉnh; song thực ra ông ta chẳng những là nhà chiến lược của Đông Ngô, lại có tầm nhìn lớn, ý chí rắn rỏi, ông ta cùng với Chu Du, Gia Cát Lượng đồng tâm hợp lực, cố gắng không mệt mỏi, trong chiến dịch liên quân Tôn - Lưu chống Tào Tháo lần này, đã thể hiện vai trò rất quan trọng.
Năm đó Chu Du 34 tuổi, Lỗ Túc 37 tuổi, về kinh nghiệm trên võ đài quốc tế và thực tế chiến trường, đều hơn hẳn Gia Cát Lượng mới 28 tuổi. Có thể tin rằng trong chiến dịch này, Gia Cát Lượng đã học tập được ở hai vị tiền bối ưu tú khá nhiều điều bố ích.


8. Chiến trường Xích Bích bầy ra thiên la địa võng:
Năm Kiến An thứ 13, cuối tháng 9, Lưu Bị nghe theo đề nghị của Lỗ Túc, đưa quân đội từ Hạ Khẩu thuận giòng mà xuống hơn 200 dặm nữa, đóng đồn ở Phàn Khẩu ở phía nam Trường Giang, để gần với quân Đông Ngô tiện phối hợp, chuẩn bị việc quyết chiến nay mai.
Căn cứ vào tin tình báo, đại quân của Tào Tháo đã chuẩn bị xong xuất kích ở Giang Lăng, đợi thời cơ sẽ theo giòng mà xuống, song Gia Cát Lượng và Lỗ Túc lại như không nắm được. Lưu Bị lòng như lửa đốt, hằng ngày đều phái người đến hạ du Trường Giang, thăm dò tình hình điều động của quân Đông Ngô. Không lâu tiêu binh đưa tin đội tiên phong Đông Ngô đang ngược giòng mà lên, sắp đến Phàn Khẩu. Lưu Bị lập tức phái Tôn Càn đến uý lạo, không ngờ Chu Du cũng ở trong thuyền.
Chu Du lấy cớ đang bận tâm việc quân chẳng thể tùy tiện rời sở chỉ huy, bèn mời Lưu Bị đến thuyền cùng hội kiến. Lưu Bị giao phó việc quân cho Quan Vũ và Trương Phi một mình ngồi thuyền nhỏ đến gặp Chu Du. Hai người cùng hàn huyên vui vẻ, Lưu Bị quay sang Chu Du hỏi quân Đông Ngô về số lượng có bao nhiêu.
Chu Du thản nhiên nói rằng, chỉ có hơn 3 vạn binh mã. Lưu Bị rất thất vọng, lo lắng bầy tỏ rằng, số người như thế phải chăng là rất ít.
Chu Du tin tưởng 10 phần trả lời rằng: “Lưu Dự Châu hãy xem tôi đánh bại Tào A Man nhé!”.
Lưu Bị lại hỏi tin tức Gia Cát Lượng và Lỗ Túc, Chu Du nói hai người đang ở trên thuyền phía sau, ước độ 3 ngày nữa sẽ đến. Lưu Bị sau khi về trại càng nghĩ càng lo lắng thêm, bèn ngầm đem một bộ phận nhân mã giao cho Quan Vũ đi bố trí ở bờ bắc Hán Thủy, đề phòng khi Chu Du bại trận, có thể phải chạy về đấy.
Tào Tháo lúc này đang ở Giang Lăng làm công việc sắp xếp tổ chức, chuẩn bị theo giòng mà xuống đánh Giang Đông. Ông ta sắp xếp quân Trương Liêu, Từ Hoảng, Trình Dục thành các đội thuyền, thêm bảy vạn thủy quân của Sái Mạo và Trương Doãn, đội thuyền từ đầu đến đuôi kéo dài vài trăm dặm, đội thuyền dóng hàng mà tiến, chiều ngang có 24 chiếc thuyền, nhìn như một bức thành trên mặt nước, khí thế rất mạnh, lại còn vài trăm chiếc thuyền nhỏ tuần tra xung quanh, đề phòng kẻ địch đánh lén. Bởi quy mô to lớn như vậy, việc sắp xếp nhân mã đã phải mất hơn một tháng, mãi đến cuối tháng 10 mới khởi binh đông chinh chuẩn bị một trận thủy chiến quy mô to lớn chưa từng thấy.
Cuối tháng 10, Chu Du đặt đội thuyền chỉ huy của mình ở Tam Giang Khẩu (mé dưới Hán Khẩu), một mặt tung một số lớn gián điệp đi nắm tình hình quân Tào, một mặt khác chọn đoạn sông Xích Bích, nơi quân Tào sẽ đi qua, làm điểm quyết chiến nay mai.
Tình hình giòng chảy của Trường Giang ở chỗ này có sai lệch rất lớn, có mười dặm nước chảy từ từ, có tám dặm nước chảy xiết, thường xuất hiện những xoáy nước lớn, ỏ đó thuyền bè bị chao đảo rất dữ, đối với quân phía bắc không chuyên thủy chiến là rất đỗi bất lợi.
Bờ sông Xích Bích cơ hồ toàn do nham thạch màu đỏ tạo thành, sóng nước ở đó cuộn chảy ghê gớm, không dễ lên được bờ, cách bờ bắc 20 dặm có một khu rừng rậm gọi là Ô Lâm. Chu Du đã tự mình quan sát kỹ lưỡng mặt nước và bờ sông, sau đó đã dày công bày ra ở đấy thiên la địa võng chỉ đợi quân Tào kéo đến.
Thực ra Chu Du chỉ có một số quân dùng vào việc không nhiều, bởi đề cao tinh thần binh sĩ, ông tự mình đi ở hàng đầu. Hai lão tướng Hoàng Cái và Hàn Lương có kinh nghiệm phong phú lại quen thuộc thời tiết và địa hình lưu vực Trường Giang, đảm nhận chỉ huy đội tiên phong trụ ở bờ đông nam cách Xích Bích nửa ngày đường; một mặt giám sát hành động của đội thuyền Tào Tháo, một mặt cũng chuẩn bị xuất binh lập công ở đấy, giao tranh trực tiếp với quân Tào.
Ở mé sau hai vị lão tướng quân là đội tiên phong của đội thuyền chủ lực thủy quân do Cam Ninh, Chu Thái, Đổng Tập chỉ huy, Chu Du và Trình Phổ cùng ngồi ở trung quân chỉ huy, đội thuyền của Lã Phạm làm dự bị, tùy thời mà chuẩn bị việc tăng viện.
Trên mặt đất, đội quân đóng ở tuyến đầu do Lã Mông, Lăng Thống và Thái Sử Từ chỉ huy, bố trí ở vùng Hán Dương, phía bắc sông Trường Giang. Đội quân của Lưu Bị ở cách đó 100 dặm tại vùng Hán Khẩu, tạo thành hai lớp trận tuyến, chuẩn bị đối phó với quân Tào tiến quân bằng đường bộ. Quân Hạ Khẩu của Lưu Kỳ thì dời về bố phòng ở Vũ Xương thuộc bờ nam Trường Giang. Nếu quân Đông Ngô bị thua trong trận thủy chiến, quân Tào có vượt sông bờ nam, ít ra có thể tạm cầm cự để Tôn Quyền đang chỉ huy ở Sài Tang có đủ thời gian tập kết quân Đông Ngô, để quyết chiến sống mái một trận sau cùng. Đối với trận thủy chiến có quy mô lớn chưa từng có này, Tào Tháo cũng đã rất cẩn thận; ông ta bỏ ra hơn một tháng để sắp xếp tổ chức, chuẩn bị sau khi tuyên thệ sẽ dẫn toàn quân xuôi dòng mà tiến. Lúc đó bộ tham mưu tiền tuyến của Tào Tháo, vẫn chưa biết tin tức gì về việc Sái Mạo và Trương Doãn tổng chỉ huy quân thủy Kinh Châu chuẩn bị dẫn quân làm phản.
Giả Hủ làm tổng tham mưu trưởng quân nam chinh của Tào Tháo do bất đồng với Tào Tháo về chiến lược, bị đổi đi trấn thủ Giang Lăng trông coi việc hậu cần đầy đủ. Việc tham mưu tiền tuyến do Điền Trù và Lâu Khuê đảm nhận. Điền, Lâu hai người là nhân tài về công việc hành chính song chang phải giỏi về kế hoạch chiến đấu, hiệu suất công tác tuy cao, song đôi với việc sưu tập, tìm tòi, phán đoán tin tức tình báo lại không làm tròn cho nên vấn đề này thực ra rất mắc mớ. Sái Mạo và Trương Doãn có danh tiếng lớn ở Kinh Châu; hai người đều theo phái thân Tào lâu ngày. Lưu Tông đầu hàng vô điều kiện, có công đóng góp lớn của hai người ấy, bởi thế rất được Tào Tháo ưa dùng. Song ở vào thời kỳ then chốt này, khi quay mũi giáo về phía Lưu Bị và Tôn Quyền, thực tế mà nói cũng có vấn đề.
Chẳng qua trong sự sắp xếp lần này, đội quân phương bắc trực thuộc Tào Tháo bởi không thông thạo thủy chiến, khi chỉnh biên quân đội có xảy ra nhiều sai sót, tạo nên những xung đột thường xuyên giữa ban tham mưu và thủy quân Ích Châu, về kế hoạch tác chiến của Tào Tháo lại lấy quân thủy Ích Châu làm tiên phong, sẽ đụng chạm lớn với quân Giang Đông, còn quân Tào thì đặt ở tuyến sau. Điều này rất mau chóng truyền khắp trong thủy quân Kinh Châu, thậm chí dẫn đến bạo động nghiêm trọng, khiến cho Sái Mạo và Trương Doãn đều chịu áp lực.
Tuy như thế, song trong thời kỳ bố trí đội ngũ, Sái Mạo, Trương Doãn không đề đạt gì với Tào Tháo, mà trực tiếp có hành động phản kháng thực ra là điều không thể không xảy ra. Nhìn chung quân thủy Kinh Châu binh biến tập thể, có khả năng bắt đầu từ sự kích động của những gián điệp do Chu Du phái đến, đã cố ý tung tin đồn nhảm, kích động hai bên nghi ngờ lẫn nhau. Sách Tam quốc chí Ngụy thư ghi chép không rõ ràng về việc này, còn “Tam quốc diễn nghĩa” thì miêu tả Tào Tháo phái Tưởng Cán đến trại Chu Du để do thám quân tình, lại bị Chu Du lừa dối, dẫn đến chỗ Tào Tháo hoài nghi Sái Mạo và Trương Doãn có bụng làm phản.
Chẳng qua Tưởng Cán bị lôi cuốn vào câu chuyện gián điệp Tam Giang Khẩu, hiển nhiên là chuyện mà La Quán Trung hư cấu ra. Tưởng Cán thực ra có đến Giang Đông, song lúc ấy trận Xích Bích đã xảy ra được mấy năm, sứ mệnh của Tưởng Cán chẳng phải do thám quân tình mà là hoà đàm, hơn nữa ông ta còn là nhà ngoại giao ưu tú hoàn thành được nhiệm vụ của mình.
Tào Tháo vẫn là người khéo dùng binh, chẳng thể dễ dàng trúng kế như thế. Hành động binh biến của Sái Mạo và Trương Doãn, có thể có nguyên nhân nhất định nào đó; bởi tình huống chuyển biến bất ngờ nghiêm trọng, Tào Tháo không thể không lập tức ngăn chặn, phải điều động quân sĩ của Từ Hoảng và Trình Dục đánh dẹp quân thủy Kinh Châu; Sái Mạo và Trương Doãn chết trong đám loạn quân, cũng khiến sự việc này trở nên khó lý giải được. Vô luận như thế nào, cuộc chiến ở Xích Bích của Tào Tháo còn chưa bắt đầu đã tổn thất hai viên tướng chỉ huy thủy chiến rất ưu tú và cũng rất quan trọng.
Bởi tình huống khẩn cấp, việc biên chế lại tổ chức cũng không có khả năng, huống chi việc bồi dưõng tướng lĩnh chỉ huy không phải là việc của một hai ngày. Tào Tháo đành phải giải tán đại bộ phận thủy quân Kinh Châu, phân tán họ vào trong đội thuyền của Trình Dục, Từ Hoảng và Trương Liêu, cải tạo ba đoàn thuyền này làm đội quân chủ lực, trực tiếp đảm đương tuyến mũi nhọn. Ngoài ra, Tào Thuần và Nhạc Tiến phối hợp quân kỵ binh và bộ binh, bố phòng ở vùng Di Lăng, tùy thời chuẩn bị vượt qua Trường Giang đánh vào lãnh thổ Đông Ngô. Nguyên trước đây Mãn Sủng phụ trách hậu cần, phối hợp vái Giả Hủ, phòng thủ Giang Lăng. Bởi trong quân đoàn tiền tuyến đội quân trực thuộc của Tào Tháo chiếm tỷ lệ rất ít bởi đề phòng chuyện bất ngờ, Tào Tháo khẩn cấp hạ lệnh, điều động Tào Nhân đang đóng ở thành Tương Dương, dẫn quân của mình về đóng ở Giang Lăng, để tăng viện. Nhìn bao quát chung, Chu Du duy trì thế thủ, song thấy rõ là có tự tin khá lớn, chuẩn bị đợi thời cơ sẽ phản công tích cực. Trái lại quân Tào bộc lộ thanh thế rất lớn, lại cũng lộ rõ thiêu tin tưởng, bởi quân sĩ trực thuộc rất ít, việc bố trí và điều động đều đã xuất hiện nguy cơ nan giải.


*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Kinh, nghiệm chỉ bảo cho chúng ta, vấn đề quan trọng hàng đầu luôn xảy ra là phải nắm bắt tốt thời khắc cơ hội chuyển biến trong “Tôn Tử binh pháp”, lấy “biết người mà người không biết “người lộ rõ mà ta không lộ rõ” làm hai nguyên tắc lớn để thảo ra sách lược chuyển thế yếu thành thế mạnh.
Tôn Tử cũng biết rằng: “Phàm là đầu tiên bày sẵn trận địa, lấy nhàn mà đợi địch đến; khi lâm trận phải ra sức tranh giành thắng lợi. Kẻ khéo điều khiển việc quân phải biết người mà người không biết đến”. - Nói cách khác, trước tiên phải dụ địch vào vị trí chiến đấu, trước lúc kẻ địch kéo đến, đã có thời gian nghỉ ngơi ấy là “dĩ dật đãi lao”. Khi kẻ địch đã kéo đến trận địa của mình, trước lúc giao chiến, thì đã bị mỏi mệt bởi phải hành quân. Bởi thế kẻ làm tướng giỏi tác chiến đại đa số biết chủ động lựa chọn chiến trường, hấp dẫn kẻ địch kéo lại, mà không để kẻ địch tạo ra chiến trường để hấp dẫn mình.
Thắng bại ở nơi chiến trường, thường quyết định ở cho tranh giành quyền chủ đạo. Để mất quyền chủ động dễ bị đối phương câu thúc, lôi kéo vào thế bị động, dễ dẫn đến thất bại. Thông thường kẻ phòng thủ là tác chiến tại chỗ, không dễ nắm quyền chủ đạo; kẻ tiến đánh là tác chiến ở ngoài dễ nắm chủ động hơn cho nên nhìn chung mà nói, tinh thần của kẻ tiến đánh thường mạnh mẽ hơn song đối với chiến trường có hoàn cảnh địa lợi quen thuộc, thi lại khác, kẻ phòng thủ quen thuộc địa hình dễ nắm quyền chủ đạo về địa lợi, kẻ tiến đánh thường không hiểu biết mà bị rơi vào cạm bẫy bầy sẵn của đối phương.
Bởi thế kẻ làm tướng tài giỏi trừ khi đã bị bao vây hoàn toàn, nếu không thì đại đa số cũng không chịu giữ phòng thủ tiêu cực, chỉ biết núp phía sau giữ thành khiến mình hoàn toàn rơi vào thế bị động. Trái lại họ thường chủ động xuất kích, tại vùng đất của mình tìm một nơi thích hợp tác chiến, sau khi làm tốt công việc phòng ngự, lại quyết đánh lại kẻ địch kéo đến bằng một trận sinh tử. Chiến thuật này, chẳng những có thể chủ động tác chiến, hơn nữa có thể nắm được hoàn cảnh chiến trường, là thủ đoạn rất hay để chuyển thế yếu thành thế mạnh.
Danh tướng nước Nga là Côtudôp, lấy không gian đổi lấy thời gian, khéo lựa chọn Oatéclo làm chiến trường khiến danh tướng bậc nhất Napôlêông phải gánh chịu thất bại nặng nề. Khi tác chiến ở Quan Độ, Tào Tháo củng sử dụng chiến thuật này đánh bại binh lực của Viên Thiệu gấp mình 10 lần. Trong trận đánh then chốt xảy ra ở bờ Xích Bích, lại chính Chu Du vận dụng nguyên tắc này để đối phó với Tào Tháo.
Chủ động nắm chiến trường, tranh thủ quyền chủ đạo, có thể tập trung binh lực, làm cho kẻ địch phân tán. Thái độ của kẻ địch bị chúng ta cố định, lại chẳng thể biến hoá, mất đi năng lực ứng biến trên chiến trường như thế ắt sẽ dẫn đến cái chết chẳng thể tránh khỏi. Tôn Tử nói: “Người lộ mà ta không lộ thì ta chuyên nhất mà địch phân tán, ta chuyên làm một địch phân tán làm người, là lấy mười chọi một vậy”. Đây cũng là phép chuyển cơ rất quan trọng giúp kẻ yếu đuối giành được thắng lợi.
 
0
Chương VII
HỎA CÔNG PHÁ TÀO THÁO
 
Đối mặt với khí thế thừa thắng xốc tới của Tào Tháo, với ưu thế tuyệt đối về binh lực và chiến thuyền, con chủ bài quyết thắng dấu kín trong bụng Chu Du chính là hoả công.
1. Phép lạ hoả công, lấy ít địch nhiêu.
Trong thời kỳ cuối đời Đông Hán đến thời Tam Quốc, những thủ lĩnh quân sự cát cứ ở nhiều nơi, chẳng thể không nghĩ mọi cách để triển khai phạm vi thế lực của mình; họ ngày đêm suy nghĩ, bóp đầu bóp trán, không có cách gì không được xem xét. Bởi cuộc chiến loạn kéo dài, binh pháp quân sự thực dụng rất được xem trọng. Đặc biệt là binh pháp Tôn Tử, một cuốn sách đã có từ lâu, được coi là khuôn phép nghiên cứu của các nhà quân sự. Cuốn sách “Tập giải chú Tôn Tử” do Tào Tháo viết ra (còn gọi là cuốn Ngụy Vũ chú Tôn Tử), được công nhận là một cuốn sách chú giải Tôn Tử rất nổi tiếng.
Thiên thứ 12 trong binh pháp Tôn Tử, có chuyên đề về kỹ xảo đánh hoả công, cho rằng đây là một chiến thuật mang tính hủy diệt lớn, cũng là một thủ đoạn tác chiến hữu hiệu trong thời gian ngắn; hơn nữa khi lấy ít đánh nhiều, vận dụng hoả công chính là sách lược hàng đầu.
Xem xét kỹ những trận đánh lớn thời Tam Quốc, chúng ta có thể phát hiện không ít trận quan trọng đều lấy hoả công phản bại thành thắng. Ví như khi Hoàng Cân khởi nghĩa, Hoàng Phủ Tung đang trấn thủ khu Tư Lệ, đã lấy hoả công đánh vào đội quân của “Thiên công tướng quân” Trương Giác gấp 10 lần mình. Khi đại chiên ở Quan Độ, Tào Tháo lấy hoả công thiêu hủy quân lương của họ Viên ở Ô Sào, làm tan rã tinh thần quân họ Viên, làm thay đổi thế lực quân Tào lúc đầu vốn non yếu. Lại nói gần đây, trước lúc Lưu Bị rút về Kinh Châu dựa vào Lưu Biểu ở gò Bác Vọng đã dùng hoả công đánh bại quân chinh phạt của Hạ Hầu Đôn. Sau này Lục Tốn của Đông Ngô trong trận Tỉ Quy, đã đánh bại Lưu Bị mang quân Thục Hán đông chinh báo thù cho Quan Vũ, cũng là dùng hoả công một cách hữu hiệu.
Tôn Tử trong “Thiên hoả công” có viết: “Phát hoả phải chọn thời điểm, ngày phát hoả phải là ngày không khí khô ráo, là ngày gió lớn”.
Nói cách khác, hoả công và thiên thời có quan hệ cực kỳ mật thiết. Nhà binh pháp thiên tài của Nhật Bản là Sơn Lộc Tô Hành, khi chú thích sách Tôn Tử có viết: “Việc này phải dựa vào thiên thời mà luận dùng. Nói là hoả chiến, thực ra là lấy thiên thời làm đầu. Hoả phải dựa vào thiên thời, tức là tuy nói hoả công, thực ra là nói thiên thời vậy”.
2. Vạn sự có đủ, chỉ thiếu gió Đông.
Đối diện với khí thế của quân Tào đang thừa thắng xốc tới, có ưu thế tuyệt đối về binh lực và chiến thuyền, con chủ bài quyết thắng dấu kín trong bụng Chu Du chính là hoả công.
Song vấn đề trọng yếu của hoả công chính là thiên thời, đặc biệt là hướng gió và sức gió. Trên mặt nước Trường Giang thường thấy gió thổi mây bay, sức gió cũng không có vấn đề. Song đêm hôm trước trận đánh Xích Bích, đã tiếp cận thượng tuần tháng 11, địa khu Hoa Trung sớm vào mùa đông, khí lạnh tràn xuống theo hướng tây bắc, cho nên chỉ có gió tây bắc thổi mạnh, đội thuyền rất lớn của Tào Tháo từ đầu nguồn Trường Giang mà xuôi giòng, chiếm thế thượng phong, mà đội thuyền của Đông Ngô lại ở cuối gió nếu như vận dụng hoả công, Chu Du chẳng phải thiêu hủy quân lính của mình ư? Đây cũng là câu chuyện “vạn sự đủ cả chỉ thiếu gió đông” nổi tiếng trong dã sử.
“Tam quổc diễn nghĩa” đã miêu tả Gia Cát Lượng lấy pháp thuật “kỳ môn độn giáp”, mượn gió đông như một chuyện thần thoại, xem như trận hoả công này hoàn toàn là công lao siêu năng lực của ông ta; xét theo quan điểm thực tiễn đấy là chuyện không có cơ sở. Song có không ít sử gia cho rằng, bởi Gia Cát Lượng thấu hiểu thiên văn học và khí tượng học, cho nên có thể dự đoán được sẽ có gió đông nam, đã ghi công đầu cho ông ta, thực ra khả năng này rất ít. Những nhân vật tham mưu cổ xưa, không ít người hiểu được thiên văn và khí tượng học, trong đội quân viễn chinh của Tào Tháo, tất nhiên cũng có chuyên gia về mặt này. Bằng vào những yếu tố thông thường về khí tượng học, muốn lừa được một thiên tài quân sự như Tào Tháo, dứt khoát là chẳng thể được.
Huống chi theo ghi chép của sử liệu, Gia Cát Lượng sinh ở Lang Nha quận (tỉnh Sơn Đông), lớn lên ở Nam Dương (tỉnh Hà Nam), cách Trường Giang mấy nghìn dặm, vào thời ấy giao thông và tin tức còn chưa thuận lợi, Gia Cát Lượng chẳng thể có khả năng thấu hiểu địa hình và tư liệu khí tượng của lưu vực Trường Giang.
Trong cuốn sử Tam quốc chí, phần nói về Chu Du và Hoàng Cái đều có nhắc đến tình tiết gió đông này. Sách Tư trị thông giám cũng ghi rõ rằng: “Lúc ấy gió đông nam thổi mạnh, Hoàng Cái lấy 10 chiếc thuyền nhằm thẳng về phía trước...”
Đối với sự xuất hiện gió đông nam, đều chưa phân tích hoặc giải thích rõ nguyên nhân, xem như chỉ là một biến cố đột xuất mà thôi. Song nếu như đó chỉ là một nhân tố ngẫu nhiên, Chu Du làm sao dám vận dụng chiến thuật hoả công, hơn nữa lại điều động quân mã tự tin như thế, lựa chọn thời gian và không gian định sẵn như thế, với đội quân to lớn của Tào Tháo quyết, đấu một trận sinh tử, trong đó ắt phải có cơ sở.
Đại chiến Xích Bích xảy ra vào năm Kiến An thứ 13, âm lịch là khoảng thời gian từ đêm 22 tháng 11 đên sáng ngày 23. Trong khoảng vài chục ngày trước đó, sử liệu đã ghi về đêm có sương mù ở vùng đó. Tào Tháo bởi không quen thủy chiến, lại phòng bị cẩn thận, đấy là nguyên nhân chủ yếu khiến Tào Tháo hạ lệnh dùng xích sắt tạo thành đoàn thuyền liên hoàn.
Vào lúc sáng sớm mấy hôm đó vùng Xích Bích có sương mù dày đặc trên mặt sông. Sương mù vào lúc sớm như thế, thường báo hiệu một ngày rất nắng. Đêm hôm trước đại chiến Xích Bích (có thể là ngày rằm), Tào Tháo mở yến tiệc trên thuyền để khích lệ tướng sĩ, trong tiệc rượu Tào Tháo cao hứng sáng tác bài “Đoản ca hành”, trong đó có câu thơ “trăng sáng sao thưa, quạ bay về nam”, cho thấy trời quang đãng không một đám mây.
Qua đoạn miêu tả thiên nhiên này, chúng ta có thể phán đoán vào mấy hôm trước đại chiến Xích Bích có thể, trời nắng nóng liên tục, ôn khí bốc lên cao không ít. Lại thêm sông Trường Giang uốn cong ở đấy, gần với vùng hồ lợi Đạm Thủy, kết hợp những nhân tố này dễ phát sinh gió địa hình tạm thời. Lúc này gió mùa tây bắc thổi qua đại lục bởi thế khí ấm nóng bốc lên khiến cho ôn độ ở vùng hồ Đạm Thủy phía đông nam Xích Bích cũng tăng lên không ít. Vùng hồ này khá rộng lớn mặt nước có công năng điều hoà cho nên ôn khí trên mặt hồ thấp hơn với lục địa tây bắc. Theo nguyên lý khí tượng học, khi độ nóng khác biệt, không khí lạnh từ mặt hồ sẽ tràn vào lục địa, đây có thể là nguyên nhân thực sự hình thành nên gió đông nam lúc ấy.
Sau cuộc chiến Xích Bích, bờ bắc Trường Giang bắt đầu có mưa rào, nghĩ rằng đấy là không khí ẩm của vùng hồ khi gặp rừng rậm Ô Lâm, đã hình thành mưa địa hình.
Chu Du vẫn được gọi là “Chu Lang nghển cổ”, trực giác của ông ta rất tốt, khả năng quan sát sắc bén, liên tưởng cũng phong phú đặc biệt. Lại thêm vốn có thói quen sưu tầm tình báo, có thể tin là ông ta sớm đã biết rõ vùng sông Xích Bích vào trung tuần tháng 11, mỗi năm đều có một số ngày trời rất nắng nóng, có ôn độ cao, như thế ắt sẽ sản sinh gió đông nam tạm thời. Hẳn là trên sông Trường Giang cơ hội phát sinh rất lớn mà sức gió cũng rất mạnh. Sách lược mà Chu Du bày ra, tựa hồ được xây dựng dựa theo những điều kiện ấy. Gió địa hình tạm thời này, mỗi lần xuất hiện có thể chỉ thấy ở một hai ngày ngắn ngủi, thậm chí chỉ vài giờ mà thôi, cho nên có một số người không chú ý, mà tư liệu khí tượng cũng không ghi chép, nghĩ rằng lừa dối được một thiên tài quân sự như Tào Tháo bí thuật duy nhất có thể là ở đây.
Sau này khi Hoàng Cái đưa thư trá hàng đến Tào Tháo cũng không chỉ định rõ ngày giờ quay giáo khởi nghĩa. Mà đội quân của Chu Du, khi Tào Tháo bố trí tu bổ đoàn thuyền liên hoàn ở Xích Bích, lại kiên trì chiến thuật phòng thủ, không có hành động tác chiến tích cực, tựa hồ như còn đợi sự xuất hiện của gió đông nam.
3. Hoàng Cái hoả thiêu đoàn thuyền liên hoàn
Do sông Trường Giang có sóng gió rất lớn, quân bắc không quen thủy chiến dễ bị say sóng, đã mấy lần bị quân Đông Ngô lừa mị, bởi thế theo đề nghị của nhân viên dưới trướng, bèn dùng xích sắt khoá đoàn thuyền chủ lực của mình thành một khối, lại cho thuyền nhỏ hộ vệ xung quanh, gọi đó là “đoàn thuyền liên hoàn”, quả nhiên quân bắc ở trên thuyền liên hoàn, ổn định như ở trên mặt đất, tinh thần binh sĩ bởi thế mà thêm hăng hái. Lúc ấy Trình Dục, Trương Liên là tướng tiên phong dưới trướng cũng nhắc nhở nên cẩn thận đề phòng về mặt hoả công có thể xảy ra. Song Tào Tháo cho rằng đang có gió tây bắc, nếu Chu Du dùng hoả công chẳng những không tổn hại đến đoàn thuyền của Tào Tháo ở tây bắc mà có thể thiêu sạch chiến thuyền của Đông Ngô đến từ phía đông nam. Sau khi sắp xếp xong đoàn thuyền liên hoàn, tình hình trên sông có thay đổi, lực lượng tác chiến của quân Tào tăng lên. Đội thuyền nhỏ của Đông Ngô nói chung không ra khỏi bờ.
Khi Chu Du được bổ nhiệm làm thống soái quân Đông Ngô ở tiền tuyến, Trình Phổ, vị thống soái cũ rất bất mãn; dẫn đến sự xung đột nghiêm trọng về ý kiến và tình hình giữa phái trẻ như Cam Ninh, Chu Thái với phái già như Hoàng Cái, Hàn Đương. Chu Du thông minh đối với việc này vẫn cố ý vờ như không biết, mọi việc làm đều không thiên lệch bên nào, khiến Trình Phổ vốn am hiểu đại cục cũng không an tâm, tự mình tìm đến Chu Du bày tỏ sự lo ngại; Chu Du vẫn cười nói như không, chẳng để lộ kế hoạch.
Việc này rồi cũng qua đi, song tin tức về sự bất hoà giữa hai phe trẻ và già của Đông Ngô, cũng đã truyền đến tai của Tào Tháo.
Khi đưa ra đối sách lớn quyết định một trận sinh tử, Chu Du đã rất thấu hiểu vùng Trường Giang, đặc biệt là thời tiết, địa hình, sức nước ở vùng Xích Bích, để các lão tướng Hoàng Cái và Hàn Đương trấn giữ tuyến đầu, đóng đồn ở bờ đông nam Xích Bích. Bởi Hoàng Cái vẫn để tâm và có kinh nghiệm phong phú, có thể cũng thấy Chu Du có ý lợi dụng gió đông nam tạm thời, lấy hoả công làm kế hoạch chủ yếu, nên ông ta thấy được Tào Tháo đã dùng chiến thuật liên hoàn, lập tức bí mật yết kiến Chu Du đề xuất một phương án tấn công rất táo bạo.
Hoàng Cái đề nghị rằng, tự mình sẽ dẫn mấy chục thuyền nhỏ có tốc độ, mang theo củi khô, diêm sinh, dầu đốt xông vào giữa đội thuyền liên hoàn của Tào Tháo. Kế hoạch lập tức được chấp nhận. Tiếp đó phải làm sao để Tào Tháo tin vào sự đầu hàng của Hoàng Cái, cũng tức là nói, phải dùng phương pháp gì, khả dĩ khiến gián điệp của Tào Tháo đang hoạt động ở Đông Ngô, chuyển những tin tức này đến tai Tào Tháo.
Sử sách không ghi rõ về việc này, song trong Tam quốc diễn nghĩa La Quán trung đã miêu tả khổ nhục kế “Chu Du đánh đập Hoàng Cái” rất được độc giả tán thưởng. Tiếp đó Hoàng Cái lại phái Hám Trạch, một tân khách dưới trướng giỏi ăn nói và can đảm, bí mật đưa thư đầu hàng đến Tào Tháo. Lá thư biểu lộ các quan chức văn võ vẫn chủ trương hoà đàm với Tào Tháo, chỉ có Chu Du, Lỗ Túc và số ít tướng lĩnh trẻ tích cực chủ chiến, hai bên mâu thuẫn đã lâu; bởi thế ông ta chuẩn bị vào ngày Đông Ngô sẽ dẫn thủy quân xuất trận, đội tiên phong sẽ kịp thời quay mũi giáo, dẫn binh mã trong trại Tào, trực tiếp tấn công vào đại bản doanh của Chu Du, khống chế phái trẻ tuổi, để giảm những thương vong không cần thiết.
Tào Tháo tuy có ý nghi ngờ sự đầu hàng của Hoàng Cái song trước hiệu quả của lá thư làm tăng thanh thế cho mình và thúc đẩy được nhân tâm, lại tỏ ra rất đỗi tin cậy. Mặt khác tin tức tình báo cũng cho biết lão thần Trương Chiêu vẫn quyết tâm chủ hoà. Bí mật về sự bất hoà lớn giữa phái già và phái trẻ đã gần như lộ cả ra. Huống chi chỉ cần không phát sinh hoả công, cứ để cho thuyền Hoàng Cái tiếp cận cũng chẳng có gì tai hại.
Sau khi hỏi han các việc, Tào Tháo chỉ hỏi vặn tại sao trong thư không ghi rõ ngày giờ sẽ khởi nghĩa? Hám Trạch nói rằng, Hoàng Cái chẳng phải là thống soái, hơn nữa lại bất hoà với Chu Du, làm sao có thể biết rõ ngày giờ Đông Ngô xuất quân? Đưa ra một tin tức sai lầm, chẳng bằng không đưa ra gì cả để khỏi mắc phải những sai lầm khác. Bởi thế hai bên cùng ước định lấy cờ hiệu vẽ rồng làm tín hiệu, đương khi Hoàng Cái dẫn đội thuyền đến chỗ Tào Tháo, chính vào lúc Đông Ngô phát động thủy quân tấn công, sẽ cùng với Hoàng Cái quay giáo bắt đầu cho hành động của mình: tấn công quân Ngô.
4. Gia Cát Lượng nhân nước đục mò cá.
Dẫu rằng Tam quốc diễn nghĩa đã biểu hiện Gia Cát Lượng trong đại chiến Xích Bích, miêu tả rất ly kỳ xem như chiến cục đều do ông ta chủ đạo, Tào Tháo và Chu Du chỉ là những vai phụ xung quanh ông ta. Song Gia Cát Lượng thực tế trong lịch sử ở giai đoạn này, ngoài việc hiệp thương và đàm phán công tác ngoại giao để liên minh Tôn - Lưu, thực ra chưa có gì là do ông ta chủ động thúc đẩy. Trong vấn đề then chốt này, đối với một người như Gia Cát Lượng còn thiếu kinh nghiệm tác chiến, phần lớn thời gian chỉ có thể là lạnh lùng quan sát mà thôi. Các vai chính của “võ đài chiến tranh” này đều diễn xuất hoàn hảo, bất luận là Chu Du, Lỗ Túc, Tào Tháo hay Lưu Bị đều là nhân tài bậc nhất thời đại, họ đã diễn xuất hết mình, có thể nói là Gia Cát Lượng được đến lớp dự một “khoá huấn luyện tại chức”.
Kể từ khi rời Sài Tang trở về Phàn Khẩu, Gia Cát Lượng đem toàn lực với Lưu Bị làm tốt công tác chuẩn bị tác chiến trên mặt đất. Theo sự phân nhiệm của Chu Du trong chiến lược chung, tác chiến trên sông do Đông Ngô phụ trách, tuyến thứ nhất tấn công trên bộ cũng do Đông Ngô phụ trách, quân Lưu Bị chỉ làm nhiệm vụ ở tuyến hai, là chặn đường rút của quân Tào mà thôi. Bởi thế một khi trận thủy chiến ở Xích Bích bắt đầu khua chiêng gióng trống, quân Lưu Bị sẽ lập tức di động lên phía bắc, san khi vượt qua sông Hán Thủy, các tướng Triệu Vân, Quan Vũ, Trương Phi sẽ chia làm ba ngả, để chặn đường rút của đội quân chủ lực của Tào Tháo từ Di Lăng về Hoa Dung. Lưu Bị tự nhiên chỉ còn biết nghe Chu Du phân bổ nhiệm vụ, toàn tâm sẽ làm tốt việc phối hợp. Song Gia Cát Lượng sau khi lạnh lùng quan sát tình thế toàn cục, lại đưa ra đề nghị bất đồng. Ông cho rằng nếu chỉ được giao nhiệm vụ hạng hai, sau này nếu có thắng lợi cũng chỉ thu được chiến công và chiến lợi phẩm hạng hai, như vậv tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Huống chi với một thiểu số quân sĩ của Lưu Bị và Đông Ngô ở bờ bắc muốn đánh tan quân Tào triệt thoái, về căn bản là không thể được. Bởi thế ông ta cho rằng Lưu Bị nhân cơ hội nước đục mò cá để tranh thủ một số chiến lợi phẩm. Cứ theo lệnh của Chu Du chỉ cần hư trương thanh thế mà thôi, chẳng để tổn hại binh sĩ của mình, giữ gìn thực lực để làm những công việc cần thiết sau đó.
Gia Cát Lượng cho rằng, Giang Lăng là mục tiêu rất quan trọng song cũng là điều mấu chốt mà Tào Tháo và Chu Du cùng quan tâm, bởi thế chẳng ngại gì khích lệ Chu Du đem toàn lực đoạt lại Giang Lăng, còn mục tiêu thực của Lưu Bị là chớp thời cơ bình định các quận phía nam Kinh Châu giáp Trường Giang, để tự mình có một địa bàn đứng chân, để có thể khôi phục được Kinh Châu sau này.
5. Cuộc rút chạy chiến lược dài 500 dặm.
Năm Kiến An thứ 13 theo âm lịch ngày 22 tháng 11 vào lúc buổi chiều, gió bỗng đổi chiều, đến giờ tuất (khoảng 9 giờ tối) gió đông nam bắt đầu mạnh, mấy chục chiếc thuyền nhỏ của Hoàng Cái bắt đầu xuất phát, triển khai trận đánh ở Xích Bích sẽ quyêt định thế Tam quốc ba chân vạc nay mai.
Lại nói về “trận đánh ở Xích Bích”, sau khi đoàn thuyền liên hoàn bị đánh hoả công, Tào Tháo lập tức rút chạy đến doanh trại phía bắc, song thế gió rất lớn, không lâu cả trại trên đất liền cũng bị cháy. Quân sĩ trên bờ, gặp phải quân Ngô và quân Lưu Bị cùng giáp kích, đánh áp sát cơ hồ không chống lại được. Nghiêm trọng hơn nếu quân Nhạc Tiến trên bờ bị bức rút về tuyến sau, quân Tào ở Ô Lâm thông đường với Giang Lăng có thể bị cắt đứt đường về.
Bởi muốn tránh thương tổn không cần thiết, Tào Tháo quyết định không về Giang Lăng mà đổi hướng từ Hoa Dung rút thẳng về Tương Dương. Ông ta hạ lệnh Trình Dục chấn chỉnh tổ chức, thành đội tiên phong triệt thoái, Trương Liêu và Từ Hoảng tổn thất quân số không lớn, sau khi sắp xếp lại bô phòng chặn hậu ở Ô Lâm, để Tào Tháo và ban tham mưu có đủ thời gian rút về phía bắc.
Đội kỵ binh hổ báo của Tào Thuần mau chóng chi viện cho Nhạc Tiến để củng cố an toàn tuyến đường Hoa Dung. Tiếp đó ông viết thư chỉ thị cho Giả Hủ và Mãn Sủng đang cố thủ ở Giang Lăng, trực tiếp rút về Dự Châu để quân đội giao cho Tào Nhân chỉ huy, cố gắng hết sức để giữ Giang Lăng, song nếu như áp lực của liên quân Tôn - Lưu quá lớn vẫn có thể rút về Kinh Dương.
Trong đại chiến Xích Bích, Tào Tháo bị tổn thất lớn nhất phải kể đến thủy quân Kinh Châu và đội quân tiên phong của Trình Dục, quân chủ lực của Trương Liêu và Từ Hoảng do Tào Tháo thấy đại thế đã mất, sớm hạ lệnh rút lui, cho nên tổn thất không đáng kể. Trên mặt đất quân hổ báo của Tào Thuần cố thủ ở đại bản doanh, bị tổn thất lớn, quân Nhạc Tiến hộ vệ Ô Lâm và Di lăng, sau khi bị Lã Mông, Lăng Thống, Lưu Bị luân phiên đánh, cơ hồ bị diệt sạch. Song Nhạc Tiến kiêu dũng chẳng chút sợ hãi, với một số ít quân còn lại, ông ta đã dũng cảm giữ vững vị trí, hăng hái chiến đấu đến cùng, đội quân Tào Hồng bảo vệ Tương Dương, cơ hồ không có tổn thất gì.
Song rốt cục bởi nguyên nhân gì Tào Tháo phải tiến hành quân đại triệt thoái suốt 500 dặm, lưu ly điên đảo mà chạy như thế?
Tam quốc chí có chép, do thủy thổ không họp, các quân đoàn bị ốm đau rất nhiều, khiến quân Tào mất dần sức chiến đấu lại thêm quân họ Viên và quân Kinh Châu bố trí ở vùng mới chiếm được, độ trung thành rất có vấn đề, khiến Tào Tháo không thể không vứt bỏ nửa phần phía bắc Kinh Châu mới chiếm được. Thực ra, điều khiến Tào Tháo phải lo lắng chính là phòng thủ phía bắc, nếu như tin chiến bại truyền lan, phía bắc vốn thuộc quân họ Viên và quân Tây Lương ắt sẽ nhân cơ hội mà manh động, thậm chí có thể phối hợp các cựu thần nhà Hán ở Hứa Đô chống lại Tào Tháo. Đến lúc ấy, mươi năm vất vả gây dựng sẽ thành bong bóng nước. Bởi thế Tào Tháo thấy trước tình hình vội chạy về trấn giữ phương bắc.
Song đường rút chạy từ Hoa Dung đến Tương Dương không dễ dàng gì. Buổi trưa ngày 23 tháng 11, trời mưa đổ rào, vùng Hoa Trung nhiệt độ hạ thấp, không khí ẩm thấp mà lạnh giá, đường đi đầy bùn lầy nhão nhoét ngựa xe rất khó qua lại. Tào Tháo phải hạ lệnh cho những binh sĩ không còn sức tác chiến ôm một bó cỏ, chạy lên trước phủ lên mặt đường, để cho đội kỵ binh của Tào Dục mới được sắp xếp lại, hộ tống Tào Tháo qua đó một cách vất vả, nghe nói đội tiên phong bậc nhất đã đến Tương Dương, nay không còn được 300 kỵ binh. Còn Trương Liêu và Từ Hoảng trên đường rút chạy cũng tổn thất không ít binh sĩ; Nhạc Tiến và Tào Thuần cơ hồ phải liều mình mà rút chạy. Cuộc rút chạy đáng sỉ nhục, sự thảm bại trên chiến trường làm mất tinh thần binh sĩ, tuy chưa bị quân địch truy kích gấp, song lòng quân dao động, khiến tướng sĩ tan tác quá nửa, tổn thất xem chừng còn nghiêm trọng hơn ở chiến trường. Đối với bản thân của Tào Tháo mà nói đây là đòn đánh nặng nề chưa từng có kể từ lúc dựng nghiệp đến giờ.
Tam quốc diễn nghĩa miêu tả, Gia Cát Lượng từng phái Triệu Vân, Trương Phi, Quan Vũ đến các địa điểm mai phục, tập kích quân Tào Tháo rút chạy, để cho Tào Tháo phải chạy thất điên bát đảo, giữa đường lại gặp phải Quan Vũ ở Hoa Dung vì nghĩa mà thả Tào Tháo, có thể nói thực khó tin và hoang đường. Thực ra đội quân Lưu Bị, tự biết thực lực có hạn, chỉ bố phòng một chỗ, về căn bản chưa từng nghĩ đến việc truy kích Tào Tháo. Đặc biệt là Gia Cát Lượng giữ lập trường bàng quan, đang tiến hành một “âm mưu xảo kế” khác là tranh thủ đoạt lấy bốn quận phía nam Kinh Châu.
6. Thâu tóm nửa phần phía nam Kinh Châu.
Chúng ta có thể tin rằng, Gia Cát Lượng sau khi từ Giang Lăng trở về, đã tin chắc rằng Chu Du sẽ có thể đánh bại Tào Tháo. Bởi thế, đương khi Lưu Bị và Quan Vũ đang lo thu xếp một điểm dừng chân an toàn nhỡ chiến dịch thất bại, Gia Cát Lượng đã nghĩ đên công việc phải làm sau khi chiến thắng. Do gánh vác nhiệm vụ chiến đấu rất ít, Gia Cát Lượng nghĩ rằng nếu có thắng lợi, Lưu Bị cũng không thu được chiến lợi phẩm gì đáng kể, thậm chí có thể chỉ là vật ăn bám dưới cái ô của người khác. Bởi thế ông ta cho rằng đợi sự ban thưởng của người khác chẳng bằng tự mình đoạt lấy phần hơn. Sau khi trận đánh Xích Bích kết thúc, vấn đề trước mắt là thu hồi các quận huyện Kinh Châu ở phía nam giáp với Trường Giang. Gia Cát Lượng đề nghị với Lưu Bị, nói với Tôn Quyền để Lưu Bị kế nhiệm làm Kinh Châu mục. Bởi Lưu Kỳ là con của Lưu Biểu, xét về nghĩa lý, Tôn Quyền đành phải đáp ứng đương nhiên, Lưu Kỳ đã là châu mục, thuận theo lẽ tự nhiên, các quận phía nam tạm thời sẽ rơi vào tay Lưu Bị quản lý.
Tiếp đó Gia Cát Lượng hy vọng Chu Du sẽ dồn sự chú ý vào vùng Kinh Châu phía bắc Giang Lăng đặc biệt là đại bản doanh mà Tào Nhân đang giữ, là Giang Lăng.
Trong hội nghị liên hợp quân sự Tôn - Lưu lần thứ nhất sau trận Xích Bích, Lưu Bị có đề nghị rằng: “Giang Lăng mà Tào Nhân đang trấn giữ, lương thực và khí giới tồn trữ rất nhiều, ắt nên lợi dụng quân Tào chưa ổn định mà nhanh chóng tấn công, nếu không một khi Tào Nhân đã ổn định được Giang Lăng, vấn đề Kinh Châu sẽ không dễ giải quyết”.
Chu Du nói: “Thưa ngài Lưu Dự Châu, ngài rất thong thuộc xứ Kinh Châu, xin hỏi có biện pháp gì chưa?”
Lưu Bị nói: “Uy tín của Tào Tháo ở Kinh Châu đã mất, không gì bằng lập tức tăng thêm áp lực, bức họ phải rút lui. Tôi sẽ phái Trương Phi dẫn 1000 binh sĩ đến giúp đỡ ngài, cũng hy vọng ngài cấp cho tôi thêm 2000 nhân mã, biểu hiện chúng ta cùng liên hợp tác chiến để tạo thêm thanh thế. Ngài từ chính diện mà tiến đánh Giang Lăng, tôi sẽ theo Hạ Thủy mà đánh vào sau lưng, tin rằng với áp lực ấy, Tào Nhân nhất định sẽ phải rút chạy”. Chu Du mau chóng đáp ứng kế hoạch của Lưu Bị, hơn nữa còn lập tức bắt tay hành động.
Năm Kiến An thứ 13, vào tháng 12, mùa đông Chu Du dẫn nguyên đội quân nhân mã từng đánh Xích Bích, nhằm hướng Giang Lăng khởi động một cuộc chiến mới. Chẳng ngờ Tào Nhân không rút chạy, lại còn ngoan cố chống đỡ suốt mấy tháng trời. Quân Đông Ngô đánh trận này rất đỗi gian khổ, Chu Du tự mình chỉ huy đánh thành ở mặt chính diện, không được một chút gì, lại bị Tào Nhân mấy lần đột kích, tổn thất không ít tướng sĩ.
Mãnh tướng Cam Ninh đề nghị một kế hoạch khác là đánh vào Di Lăng, để lôi kéo đội quân Tào Nhân, tiêu giảm ý chí đề kháng của họ song cánh quân này lại bị Tào Nhân dùng chiến thuật giương đông kích tây đánh bại, cơ hồ toàn thể tan tác cả. Cam Ninh chỉ còn biết chạy thoát thân. Hai bên đối đầu hơn một năm, khiến Chu Du đau đầu không thôi.
Trong trận đánh thành rất ác liệt, Chu Du bị trúng tên ở sườn phải với vết thương nghiêm trọng. Song để cổ vũ tinh thần quân sĩ, vẫn gượng chống gậy đứng dậy, chỉ huy việc quân trong doanh trại; Tào Nhân sợ hãi trước khí thế của Chu Du, lại sợ quân du kích của Lưu Bị chặn mất đường về, bèn làm theo chỉ dẫn của Tào Tháo từ trước, vứt bỏ Giang Lăng rút chạy về Tương Dương, để chỉnh đốn lại phòng tuyến.
Vết thương của Chu Du vẫn chưa lành, lại thêm việc công bận rộn chẳng thể tĩnh dưỡng; một năm sau, vết thương càng trầm trọng, từ trần ở giữa trại doanh.
Trong thời gian hội chiến Giang Lăng, Lưu Bị và Trương Phi cùng hiệp trợ tác chiến với Đông Ngô ở phía bắc. Gia Cát Lượng thì dẫn quân sĩ của Quan Vũ và Triệu Vân, phối hợp với quân Giang Hạ của Lưu Kỳ, lấy các quận phía nam làm đại bản doanh trước mắt nam chinh bình định bốn quận là: Vũ Lăng, Trường Sa, Quế Dương và Linh Lăng.
Khi Kinh Tương bị mất, bốn quận phía nam chưa bị quân Tào chiếm lĩnh, song về nguyên tắc họ đều chịu sự chỉ huy đương thời của Lưu Tông, hướng về Tào Tháo đầu hàng.
Quận Vũ Lăng do quận trưởng bỏ chức mà chạy, Tào Tháo lệnh cho Kim Toàn là cựu thần ở đấy làm Thái thú.
Theo kế hoạch của Gia Cát Lượng, quân Quan Vũ tập kích vào Vũ Lăng và Trường Sa, quân Triệu Vân đánh vào Quế Dương và Linh Lăng.
Triệu Vân khéo thi hành chính sách vừa cứng vừa mềm, Thái thú Linh Lăng là Lưu Độ sớm ra hàng.
Quan Vũ phải chiến đấu gian khổ ở Trương Sa, Thái thú ở đấy là Hàn Huyền, dựa vào thành trì hiểm trở mà cố thủ. May mà nhờ có Ngụy Diên, một tướng lĩnh ở Kinh Tương chạy về đấy trước đó, thuyết phục được người cầm đầu quân sĩ là Hoàng Trung làm phản, mới bức được Hàn Huyền ra hàng.
Hoàng Trung tên chữ là Hán Thăng, người Nam Dương rất giỏi cưỡi ngựa bắn cung, vẫn được Lưu Biểu nể trọng, bổ nhiệm làm Trung lang tướng, phụ giúp người cháu của Lưu Biểu là Lưu Bàn trụ giữ ở huyện Du thuộc Trường Sa, là giám quân các quận phía nam. Khi Tào Tháo chiếm được Kinh Tương, vẫn được làm việc, đóng đồn ở Trường Sa, hiệp trợ Thái thú Hàn Huyền. Khi quân Quan Vũ đến, Hoàng Trung ra chống trả, Quan Vũ không thắng nổi. Sau được Ngụy Diên khuyên giải, hiểu ra Lưu Biểu vẫn có ý nhường Lưu Bị nắm lấy Kinh Châu, bèn dẫn quân ra đầu hàng Quan Vũ.
Ngụy Diên tên chữ là Văn Trường người Nghĩa Dương khéo lo sĩ tốt dũng mãnh hơn người, rất được kẻ dưới kính trọng, song bạn bè thì không ưa. Trước lúc Kinh Tương bị mất, cũng từng đuổi theo Lưu Bị, song không gặp được bèn xuôi xuống Trường Sa theo về với Hoàng Trung.
Hai người này về sau đêu trở thành đại tướng dưới trướng Lưu Bị.
Sau khi quận Trường Sa sát nhập vào đất của Lưu Bị, Thái thú Vũ Lăng là Kim Toàn bị cô lập, đành phải đầu hàng Quan Vũ.
Quân Triệu Vân sau khi đến được Quế Dương, Thái thú Quế Dương là Triệu Phạm thấy Triệu Vân có dáng vẻ anh hùng, làm việc có phân tấc cẩn thận, bèn có ý kết thân. Ông ta ngoài việc đã mời Triệu Vân vào thành, lại có ý đem người chị dâu goá bụa rất có nhan sắc là Phàn Thị kết nghĩa trăm năm với Triệu Vân.
Song Triệu Vân nghiêm mặt nói rằng: “Anh và tôi cùng họ Triệu, huynh trưởng của anh cũng là huynh trưởng của tôi, chị ấy cũng là chị dâu của tôi, việc này thực rất khó nghe theo”.
Không ít kẻ dưới trướng cho rằng đấy là việc tốt lành, huống chi Phàn Thị vừa diễm lệ lại hiền thục, đều ra sức khuyên Triệu Vân nghe theo, thậm chí cả Gia Cát Lượng cũng có ý ấy. Triệu Vân chỉ biết nói rằng: “Phàn Thị đã hẳn là người rất xinh đẹp, song Triệu Phạm là người bị bức hàng, Quế Dương còn chưa được ổn định, Triệu Vân sao có thể bởi một mỹ nhân mà sao nhãng việc chính sự”. Quả nhiên không lâu sau đó Triệu Phạm bỏ trốn, Triệu Vân đối với việc ấy chỉ lặng lẽ cười thầm.
Kẻ viết sử đời sau, đối chiếu với Quan Vũ khi theo Lưu Bị đánh dẹp Lã Bố ở Hạ Phì, có nói với Tào Tháo ngày sau phá được thành xin được cùng với người vợ của Lại tần nghi lộc Lã Bố là Đỗ Thị, kết nghĩa trăm năm với mình; nếu so với sự việc vừa rồi ở Quế Dương, Triệu Vân thực có khí chất hơn Quan Vũ nhiều.
Bốn quận nam Kinh Châu đã về cả tay Lưu Bị, tin tức truyền đến tai Tôn Quyền và Chu Du, song lúc đó chiến sự ở Giang Lăng đang ác liệt, huống chi bản thân Lưu Bị cũng vẫn ở Di Lăng hiệp trợ với quân Đông Ngô, Tôn Quyền và Chu Du cũng đành tạm giương mắt mà nhìn, song sau khi chiến sự ở Giang Lăng kết thúc, Tôn Quyền lập tức bổ nhiệm Chu Du làm Thái thú Nam quận, Trình Phổ làm Thái thú Giang Hạ, công khai biểu lộ Lưu Bị trả lại Nam quận cho mình; dễ thấy rõ được rằng cả Tôn Quyền và Chu Du, đối với việc Lưu Bị thâu tóm bốn quận phía nam về tâm lý cũng khá bất bình.
Nghiêm chỉnh mà nói trong cuộc chiến Xích Bích, quân Tào Tháo và Tôn Quyền xét về thắng thua ít chênh lệch nhau, quân nam chinh của Tào Tháo tuy bị đánh bại triệt để song tổn thất thực sự không nhiều chỉ mất một ít lãnh địa Kinh Châu mới chiếm được mà thôi.
Trái lại Đông Ngô tuy giành được đại thắng ở Xích Bích song lại tổn thất không ít trong chiến dịch Giang Lăng sau đó, đặc biệt là thiên tài quân sự Chu Du bị trọng thương, dẫn đến cái chết sau này, mà sau chiến thắng chỉ thu được ba quận huyện ở Kinh Châu, thực ra cái được không bù nổi cái mất.
Kẻ thu được nhiều lại là Lưu Bị, tuy sau này bị bức phải trả một phần Nam quận, song theo như kế hoạch của Gia Cát Lượng nhân cơ hội thâu tóm bốn quận ở phía nam chẳng những hồi sinh sự nghiệp của mình, hơn nữa có được cơ sở rất quan trọng để sau này tranh đoạt thiên hạ.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Binh pháp Tôn Tử của Ngô Khởi được các nhà lịch sử học công nhận rằng, về tính quan trọng gần như cuốn sách kinh điển nổi danh binh pháp Tôn Tử. Hơn nữa về mặt thực tế Ngô Tử binh pháp so với cuốn binh pháp Tôn Tử thì cụ thể mà có sức thuyết phục hơn.
Thiên liệu cố trong Ngô Tử binh pháp có viết: “Kiến khả nhi tiến”, cho thấy tình huống tấn công, lại nói “Trị nan nhị thoái”, cho thấy cách xem xét tình hình cụ thể mà đề ra phương án tiến thoái.
Ông ta cho rằng có 8 tình huống, chẳng cứ xem quẻ được cát hay hung, lập tức có thể tiến công ngay:
1.    Gió lạnh rất dữ lại hành quân lúc còn sớm chẳng kể gian nan, tạo ra sự vất vả cho quân lính.
2.    Mùa hè nóng gắt, hành động vội vàng, không để ý đến đói khát, miễn cưỡng hành quân đường dài.
3.    Trường kỳ tác chiến, lương thảo không đủ, nhân dân oán giận, quân sự liên tục phát sinh những bất lợi, quan chỉ huy chẳng có cách ngăn chặn được việc ấy.
4.    Vật tư, lương thảo thiếu thốn nghiêm trọng, lại gặp mùa mưa lớn, đã khó khăn lại càng thêm khó khăn.
5.    Binh lực nắm tình hình cụ thể không được nhiều, đa số thủy thổ bất phục, nhân mã sinh bệnh nhiều, lại thiếu bổ sung kịp thời.
6.    Hành quân đường dài, binh sĩ mỏi mệt mà lo sợ, thiếu tinh thần, chẳng ăn no, chỉ nghĩ đến việc nghỉ ngơi.
7.    Quan chỉ huy chẳng có uy quyền, tướng sĩ thi a dua quân tâm phân tán, vẫn bị kẻ địch quấy rối mà kinh hãi lại chẳng có quân tiếp viện.
8.    Việc phòng ngự không được tốt, doanh trại lộn xộn, hoặc đã vào đến giữa chừng đoạn đường nguy hiểm.
Đối với tình hình chẳng thể công kích, Ngô Khởi cũng đưa ra những điều rất rõ ràng:
1.    Đất đai rộng lớn nhân khẩu dồi dào, đời sống no đủ.
2.    Đức vua yêu thương dân lành, lấy đức điều hành, rất được nhân dân yêu mến và ủng hộ.
3.    Thưởng phạt nghiêm minh, hành động hợp với thời cơ.
4.    Binh lực đông đảo, sức tác chiến mạnh mẽ, vũ khí tinh nhuệ.
5.    Có nước láng giềng hoặc nước lớn làm hậu thuẫn giúp đỡ.
Xét kỹ những điều ấy mà tiến hoặc thoái cho thích hợp. Lấy đó mà xem xét Tào Tháo và Tôn Quyền trong trận Xích Bích, ai thắng ai thua đã là việc rõ ràng vậy.
 
0
Chương VIII
TRANH GIÀNH BÁ QUYỀN Ở KINH CHÂU
 
Theo sử liệu ghi chép, chuyện “mượn Kinh Châu” khi truyền đến phương bắc.
Tào Tháo đang viết chữ, để bút rơi xuống đất.
Sự liên hợp của Tôn - Lưu, đã khiến cho Tào Tháo không thể không thấy hùng tâm thông nhất Trung Quốc của mình đã chết.


1. Ngoài mặt thì quân tử trong bụng thì ngấm ngầm.
Ở trận Xích Bích thế lực của Tào Tháo bị đuổi khỏi lưu vực Trường Giang, hy vọng thống nhất Trung Quốc trong một thời gian ngắn trở nên vô vọng. Song hai bên Tôn - Lưu vừa thắng trận, lại bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn tranh giành với nhau.
Sau khi chiến dịch Giang Lăng kết thúc, chính quyền Giang Đông của Tôn Quyền càng được củng cố. Đối với việc Lưu Bị nhân cơ hội mà đánh chiếm Nam quận vẫn thường bất mãn, song bởi sợ Tào Tháo nhân mâu thuẫn của hai bên Tôn Lưu mà lại kéo đến xâm lược, Tôn Quyền chưa có hành động gì can thiệp cụ thể, chỉ lập tức bổ nhiệm Chu Du làm Thái thú Nam quận, tổng binh trấn thủ Giang Lăng, Trình Phổ làm Thái thú Giang Hạ biểu thị ý đồ tích cực chiếm Kinh Châu.
Về phía Lưu Bị cũng không vừa, bởi Lưu Kỳ là Thái thú Kinh Châu, Lưu Bị vẫn giữ lý lẽ mà cai quản các vùng đất ở Nam quận, theo đề nghị của Gia Cát Lượng, Lưu Bị dâng thư lên triều đình; cử Tôn Quyền làm Xa kỵ tướng quân, giữ chức Từ Châu mục biểu thị hy vọng rõ ràng Tôn Quyền sẽ phát triển sự nghiệp ở đông bắc.
Song Tôn Quyền cũng chẳng kém, theo đề nghị của Chu Du và Lỗ Túc, chuyển hướng phát triển xuống Lĩnh Nam, rất mau chóng chiếm được Giao Châu và một phần Quảng Châu, cùng với bốn quận phía nam Kinh Châu, tạo thành thế bao vây từ hai phía đông và nam.
Hai bên đối đáp nhau, ngoài mặt tuy vẫn duy trì phong độ quân tử, lấy lễ mà tiếp đãi, song ngấm ngầm thủ đoạn với nhau sâu sắc hơn.
Lúc ấy đại tướng quân Tào là Lôi Tư làm binh biến ở quận Lư Giang, bị Hạ Hầu Uyên đánh phá, đành đem mấy vạn quân theo về với Lưu Bị, khiến quân lực của Lưu Bị càng thêm mạnh, Tôn Quyền muốn động binh cũng chẳng phải dễ dàng gì.
Kẻ chịu nhiều gian khổ nhất phải kể là Lỗ Túc. Chu Du trong chiến dịch Xích Bích, đã thấy Lưu Bị mau chóng khuyếch trương, có ý lo ngại, sau trở thành lãnh tụ của phái Chim Ưng ngăn cản thế lực của Lưu Bị. Bởi thế duy trì quan hệ Tôn - Lưu, chỉ còn một mình Lỗ Túc đơn thương độc mã. Song Lỗ Túc là người cứng cỏi, giữ vững nguyên tắc, ông ta không vì tình thế thay đổi mà chán nản, lại càng cố gắng dung hoà ý kiến đôi bên. Lúc ấy người duy nhất có thể giúp đỡ, an ủi ông ta một chút chính là Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng tuy quan tâm lấy trận doanh làm cơ bản sinh tồn mà hăng hái khuyếch trương, song “thân Ngô chống Tào” là quốc sách cơ bản rất quan trọng của ông ta, cho nên ông ta cũng không muôn thấy hai bên Tôn - Lưu đổi bạn thành thù, cho nên cô gắng hết sức để hoà hợp thuyết phục, sưu tầm công thức chung mà hai bên cùng có thể tiếp thu.
Vấn đề quan trọng hàng đầu lúc này lại là chuyện Lưu Kỳ ngã bệnh từ trần. Theo sách lược của Gia Cát Lượng, các quận huyện và tướng lĩnh phía nam Kinh Châu, cùng tuyên thệ ủng hộ Lưu Bị kế nhiệm chức Kinh Châu mục. Lưu Bị cũng nhân cơ hội này mà đóng dinh ở Du Giang Khẩu (nay là tỉnh Hồ Bắc), đổi tên là quận Công An, tạm thời là trung tâm điều hành của Kinh Châu. Sau việc này, Tôn Quyền càng không yên tâm, Chu Du ở Giang Lăng cũng triển khai tư thế sẵn sàng can thiệp quân sự. Lỗ Túc phải vội vàng tìm gặp Gia Cát Lượng, hy vọng hai bên tiến hành thương lượng, cho Tôn Quyền và Chu Du yên tâm, để tránh một cuộc xung đột không cần thiết xảy ra.
Gia Cát Lượng cũng không muốn hai bên trở mặt, bởi thế cố thuyết phục Lưu Bị, mềm dẻo để đạt lợi ích thực tế, thừa nhận Nam quận thuộc quyền cai quản của Tôn Quyền, song trước mắt tạm thời cho Lưu Bị mượn đất ở. Nói cách khác, Chu Du trở thành Thái thú Nam quận trên danh nghĩa, song Tôn Quyền cũng phải thừa nhận địa vị của Lưu Bị ở Công An.


2. Đối kháng - Hoà đàm - Mỹ nhân kế.
Vào giai đoạn này, ở những dinh sở cũ của Lưu Biểu tại bắc Kinh Châu, theo lời hiệu triệu của Hoàng Trung và Ngụy Diên, theo nhau ly khai Tào Nhân ở Tương Dương thành, vượt qua vùng Giang Lăng thuộc Chu Du, về nam đi theo Lưu Bị, khiến cho quân thế của Lưu Bị mạnh lên không ít.
Để tăng cường quan hệ Tôn - Lưu, Lỗ Túc chủ trương hai bên qua hôn nhân mà thêm gắn bó. Bởi vợ cả của Lưu Bị là Cam phu nhân mới từ trần, Ngô Quyền được sự đồng ý của Thái phu nhân, đem người em gái chưa đến 20 tuổi gả cho Lưu Bị đã 49 tuổi, để ổn định quan hệ chính trị giữa hai bên. Tam quốc chí có chép về việc này: “Tôn Quyền có ý giao hảo, đem em gái gả cho Lưu Bị”.
Em gái của Tôn Quyền, “Tam quốc diễn nghĩa” gọi là Tôn Nhân, có khi còn gọi là Tôn Thượng Hương. Nghe nói người con gái ấy cũng di truyền tinh thần thượng võ của phụ huynh. Tuy lớn lên khá xinh đẹp, song cá tính cứng cỏi, năm gần 20 tuổi vẫn chưa xuất giá (ở xã hội cổ đại Trung Quốc đã kể là cao số) gặp được Lưu Bị là khách anh hùng, kể như là sự phối hợp tuyệt đẹp, song cuộc hôn nhân chính trị này lại không có hạnh phúc. Sau thời gian Lưu Bị vào đất Thục, Tôn Quyền mang Tôn phu nhân về đất Ngô, còn chuẩn bị mang theo A Đẩu là con trưởng của Lưu Bị, may mà Triệu Vân, Trương Phi chặn đường thủy, cứu được A Đẩu. Song quan hệ liên minh Tôn - Lưu đến đây cơ hồ như chấm dứt.
Bởi ổn định việc điểu hành ở nam Kinh Châu, Lưu Bị bổ nhiệm Gia Cát Lượng là Trung lang tướng, đốc lý các quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa. Gia Cát Lượng chỉ huy ở trung tâm, đặt đại bản doanh ở Lâm Trưng (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), Lâm Trưng ở giữa ba quận, thuận tiện giao thông qua lại. Vai diễn của Gia Cát Lượng lúc ấy, cũng giống như Tiêu Hà thời kỳ ở Hán Trung và Quan Trung, chủ yếu ở việc lo liệu tích trữ lương thảo, đáp ứng nhu cầu của Lưu Bị.
Ở phía nam bốn quận này, có một số dân tộc thiểu số sinh sống, ghi chép của quan phủ thường gọi là Man tộc. Từ thời Tần Hán trở lại, triều đình đặt quận huyện thống trị ở đó; bởi “trời thì cao mà hoàng đế thì xa”, các quan lại ở đây đã bóc lột dân lành một cách tàn khốc thậm chí còn tàn sát hàng loạt khi họ chống lại. Thù hận chất chồng, những dân tộc thiểu số này thường đứng lên đấu tranh vũ trang, tạo thành sự bất bình.
Các quan lại hành chính cũ thường nói đến pháp trị, nghiêm khắc trừng trị bạo loạn, song nhìn chung vẫn loạn lạc triền miên, chỉ trấn áp được nhất thời mà không thể chữa được gốc bệnh. Gia Cát Lượng sau khi tiếp quản ba quận phía nam đã thay đổi tác phong; “Tam quốc chí” có chép, ông ta lấy thái độ khoan dung, dùng chính sách “phủ dụ” đối với “Man tộc”, làm cho cục diện hỗn loạn mau chóng được bình ổn lại. Trong “Long Trung Sách” có nhắc đến “Nam phủ di việt”, chính sách đó bưốc đầu được thực hiện cụ thể ở đây.
Năm Kiến An thứ 15, Lưu Bị đã ổn định được chính quyền ở Công An, song Chu Du đóng đồn ở Giang Lăng gần đó, không nghi ngờ gì là một áp lực lớn đối với Lưu Bị; phát triển lên bắc thì chẳng thể được, về phía nam hoặc tây thì đều vấp phải Chu Du; bởi thế muốn đến Giang Đông thương lượng với Tôn Quyền, hy vọng sát nhập Giang Lăng vào vùng đất mà Lưu Bị cai quản, đấy chính là sự kiện lịch sử gọi là “mượn Kinh Châu”.
Gia Cát Lượng thấy tâm lý Lưu Bị bất an, thể hiện rất rõ ràng, huống chi quy hoạch của “Long Trung Sách” bước tiếp theo là tây tiến sang Ích Châu. Song vướng nỗi Chu Du đang trấn thủ ở Giang Lăng, tất cả kế hoạch về căn bản không có khả năng thực hành. Lưu Bị phải đích thân đến Đông Ngô đàm phán, tựa hồ rất chi nguy hiểm song ông ta cũng chưa tìm thấy phương pháp gì cụ thể để giải quyết, Lưu Bị và Tôn Quyền ít ra cũng là chỗ thân thiết, nếu như việc giao thiệp có thành công ở mức nào, Gia Cát Lượng cũng chưa lường hết, cho nên ông ta chỉ có thể “khuyến cáo” về phương thức, hy vọng Lưu Bị sẽ xem xét cẩn thận.
Thái độ của Lưu Bị lại là khá cương quyết; ông ta cho rằng Tôn Quyền thực ra vẫn đau đầu với phương bắc, bị Tào Tháo uy hiếp, Tôn Quyền vẫn muôn có sự viện trợ, cho nên không cho rằng Đông Ngô sẽ đưa ra những điều “bất lợi” cho hành động của mình. Gia Cát Lượng tuy trong bụng không yên tâm, cũng không thể cản trở nổi ông ta, đành gửi gắm cả ở viên tùy tùng, dặn có chuyện gì phải tìm ngay Lỗ Túc, đối với sự phản ứng của Chu Du, phải luôn đặc biệt chú ý.
Lưu Bị một mình hội kiến với Tôn Quyền ở Kinh Khẩu (thuộc tỉnh Giang Tô) tuy đã thành thân thích song hai vị hào kiệt này mới lần đầu giáp mặt, đều không tránh khỏi có ý ngưỡng mộ nhau; Tôn Quyền lấy lễ thủ trưởng châu quận mà khoản đãi Lưu Bị.
Không như Gia Cát Lượng trù liệu, khi Lưu Bị đề xuất vấn đề mượn Kinh Châu, Tôn Quyền sẽ lập tức phản ứng; ông ta không dễ từ chối trước mắt, đành đẩy vấn đề về phía Chu Du. Giang Lăng là nơi mà Chu Du đã liều mình cướp được, nên để ông ta chuyển giao Giang Lăng, ít ra cũng phải để ông ta đồng ý một cách tình nguyện. Bởi thế đáp lại yêu cầu mà Lưu Bị đưa ra, Tôn Quyền đã ủy thác cả cho Chu Du.
Chu Du khi nghe Tôn Quyền nói về việc ấy tự nhiên kiên quyết phản đối; ông ta còn lập tức đề nghị với Tôn Quyền rằng:
“Lưu Bị có tư thế kiêu hùng, mà lại có Quan Vũ, Trương Phi như hổ như gấu, ắt chẳng thể ở vị trí luồn cúi người khác lâu dài. Bởi thế, tôi cho rằng tốt nhất là cầm chân Lưu Bị ở Đông Ngô, ban cho ông ta cung thất đẹp nhất, cấp cho ông ta nhiều mỹ nữ giỏi múa hát để làm vui tai mắt. Lưu Bị lâu ngày xa cách Quan Vũ và Trương Phi khiến những người ấy không gắn bó nữa, Chu Du tôi có thể nhân cơ hội ấy thu lại bốn quận phía nam. Nếu như đưa Giang Lăng cho Lưu Bị để ba người này tụ họp ở đấy, sợ rằng giống như Giao Long gặp mưa lành, cuối cùng chẳng chịu ở trong ao nữa”.
“Tam quốc diễn nghĩa” miêu tả Chu Du dùng em gái Tôn Quyền để giam lỏng Lưu Bị, kỳ thực đại khái là phong tỏa mà dần dần làm cho hủ bại. Tôn phu nhân khi theo chồng về đất Công An, Chu Du về căn bản không thể hiện ý kiến gì; “Tam quốc chí” có chép, việc đem em gái ra để củng cố tình thân đôi bên và Chu Du có đề nghị ra sao, chẳng qua là khẩu khí của phái Diều Hâu mà thôi, còn trong bụng ông ta cũng đã rõ, Tôn Quyền nặng về nhìn nhận đại cục chẳng thể nhân khả năng này mà phá hoại sách lược “đoàn kết”.
Song Tôn Quyền cho rằng liệu định của Chu Du cũng cao kiến; ông ta triệu tập đại diện của phái Diều Hâu là Thái thú Lã Phạm và đại diện phái Bồ Chu là Lỗ Túc cùng thương nghị. Lã Phạm chủ trương giam lỏng Lưu Bị cũng giống như đề nghị của Chu Du. Lỗ Túc thì lấy đại cục “cùng chống Tào Tháo” làm xuất phát điểm, cho rằng có thể đưa Giang Lăng cho Lưu Bị, để cùng hợp lực mà phòng ngự tốt hơn với phương Bắc”.
Lỗ Túc lại nói với Tôn Quyền rằng: “Tướng quân là bậc anh hùng cái thế, song thực lực của Đông Ngô chúng ta về căn bản chẳng thể so với Tào Tháo, huống chi Kinh Châu vừa mới chiếm được, chúng ta còn chưa có ân huệ gì với trăm họ Kinh Châu, chẳng bằng cứ để cho Lưu Bị vỗ yên họ, ổn định tình thế Kinh Châu, cộng đồng đế kháng Tào Tháo, đấy chẳng phải là có lợi lắm ư?”.
Sau đó không lâu, Lưu Bị khẩn khoản xin về Công An, Tôn Quyền không thể giữ mãi, phải chuẩn bị tiệc lớn đưa chân; còn về chuyện mượn Kinh Châu, cứ tạm thời gác lại sau. Cuốn “Sơn dương công tải ký” có chép:
Lưu Bị sau khi giáp mặt với Tôn Quyền, trở về nói với tùy tùng rằng: “Xa kỵ tướng quân Tôn Quyền khoảng thân mình thì dài mà chân thì ngắn loại người như thế thì khó một mình mà thuyết phục nổi ông ta, chúng ta hãy mau chân mà chạy cho thoát thôi!”.


3. Tất cả đều xem Ích Châu là miếng mồi ngon.
Chu Du thấy thế lực của Lưu Bị mau chóng bành trướng, Tôn Quyền lại thiếu sách lược lôi kéo hữu hiệu, trong lòng không yên, mấy quận nam Kinh Châu muốn thu hồi lại, đã không thể được; bởi thế ông ta đề nghị với Tôn Quyền, xuất phát từ Giang Lăng mà đánh lấy Ích Châu, lại từ hai phía đông tây mà giáp kích nam Kinh Châu, như thế thế lực của Lưu Bị sẽ mắc vào giữa cạm bẫy.
Ông ta nói với Tôn Quyền rằng: “Tào Tháo sau khi thất bại ở Xích Bích, uy tín đã mất đi, đành phải ngồi yên ở phía bắc, trong một thời gian ngắn chẳng thể động binh xuống phía nam; bởi thế đây là cơ hội rất tốt để chúng ta thu được cả vùng đất phía nam giáp với Trường Giang. Vùng đất Ích Châu phía tây, lãnh chúa là Lưu Chương vốn nhu nhược, chẳng thể tự giữ mình, xin hãy để tôi và Phấn uy tướng quân Tôn Du cùng tiến quân đoạt lấy đất Thục, sau khi được Thục sẽ tiến lên phía bắc đoạt lấy Hán Trung, thôn tính Trương Lỗ, nếu có thể kết thân với Mã Siêu ở Quan Trung, có thể nhờ đó mà tranh thiên hạ với Tào Tháo ở xứ bắc”.
Tôn Quyền bỗng thấy vấn đề rất rõ ràng, mục tiêu của Chu Du trong sách lược này là áp chế Lưu Bị, song ông ta rất phục chí hướng lớn lao và khí phách của Chu Du, mau chóng phê chuẩn kế hoạch này, còn đề nghị Chu Du khẩn trương tiến hành việc chuẩn bị. Do vết thương của Chu Du chưa lành, bèn lệnh cho Tôn Du dẫn thủy quân đến trước đóng đồn ở Hạ Khẩu.
Nhưng Lỗ Túc vẫn cương quyết cho rằng làm thế không được; tiến công Ích Châu nếu không được Lưu Bị giúp đỡ, nhỡ tạo thành xung đột, quân viễn chinh Đông Ngô sẽ rơi vào thế đỡ địch ở sau lưng, thực là rất nguy hiểm. Huống chi một khi xung đột với Lưu Bị, kẻ rất vui mừng hẳn là Tào Tháo ở phương bắc. Nếu Tào Nhân tranh thủ thời cơ từ Tương Dương đánh xuống, Giang Lăng có thể không giữ vững được.
Tôn Quyền nghĩ cũng phải, liền viết một phong thư, ước hẹn với Lưu Bị cùng đánh Ích Châu; trong thư có viết:
Mễ tặc Trương Lỗ (hậu duệ của phái Trương Thiên Sư, vẫn xưng là đạo giáo năm đấu gạo) xưng vương ở đất Bá Thục, Hán Trung, làm tai mắt cho Tào Tháo hiện mưu toan chiếm Ích Châu. Lãnh chúa Ích Châu là Lưu Chương, yếu kém về võ bị, sợ khó tự giữ mình được. Nếu Ích Châu rơi vào tay Tào Tháo, Kinh Châu ắt sẽ nguy hiểm. Bởi thế, tôi nghĩ nên sớm ra tay, tiến đánh Lưu Chương, sau sẽ trấn áp Trương Lỗ, nếu nối liền được Giang Đông, Kinh Châu, Thục Hán, dẫu có đến 10 Tào Tháo, cũng chẳng phải bận tâm nữa.
Việc đoạt lấy Ích Châu, là mục tiêu thứ hai rất quan trọng trong Long Trung Sách, rõ ràng chẳng thể nhường cho Đông Ngô. Lưu Bị và Gia Cát Lượng nhận được lá thư ấy đều rất đau đầu buốt óc. Huống chi Tôn Quyền tuy mời mọc khách khí, thực ra ý tứ khẩu khí lộ rõ ý muốn cưỡng đoạt.
Gia Cát Lượng đề nghị với Lưu Bị, với tình hình như vậy thái độ càng phải cứng rắn; chỉ có như thế mới có thể triệt để ngăn chặn dã tâm của Tôn Quyền và Chu Du.
Bởi vậy Lưu Bị lập tức viết một lá thư trả lời Tôn Quyền:
Ích Châu là vùng đất nhân dân giàu có, địa thế hiểm trở, Lưu Chương tuy nhu nhược, cũng đủ tự giữ mình. Trương Lỗ xảo trá, chưa hẳn đã tận tâm với Tào Tháo. Nay vội vàng lấy sức mạnh mà tiến đánh Thục Hán, riêng việc vận chuyển lương thực, vạn dặm xa xôi, hiển nhiên là gian khó trùng trùng. Nghĩ rằng dễ dàng đánh thắng trong cuộc chiến tranh này mà không phải hy sinh rất nhiều quân lực; ngay đến Tôn Vũ và Ngô Khởi với thiên tài quân sự như vậy cũng không làm nổi.
Trước mắt Tào Tháo vẫn còn nuôi dã tâm, khinh nhờn cả hoàng đế, song ít ra ông ta vẫn phụng mệnh thiên tử, có danh nghĩa thay mặt triều đình. Tuy có không ít người cho rằng Tào Tháo sau thất bại ở Xích Bích, đã chịu náu mình không còn đủ ý chí thống nhất thiên hạ. Thực ra phán đoán như vậy là sai lầm, Tào Tháo đã có hai phần ba thiên hạ, có thể tin rằng không lâu nữa, ông ta nhất định khuyếch trương thế lực đến tận Thượng Hải, lại thách đấu với Đông Ngô, sao có thể ngồi ở đất bắc mà đợi cái già kéo đến nhỉ? Nay chúng ta cùng thề sát phạt lẫn nhau như vậy, ắt sẽ bị Tào Tháo lợi dụng, khiến kẻ địch lại tìm được nhược điểm của chúng ta, bởi thế tôi cho rằng kế hoạch đánh Thục không bao giờ chấp nhận được.
Tôn Quyền chẳng dễ bị thuyết phục như thế; ông ta lệnh cho Tôn Du đang đóng đồn ở Hạ Khẩu bắt đầu sắp xếp nhân mã, dự bị để sắp tới sẽ nhảy vào cuộc.
Lưu Bị không chịu kém, ông ta lệnh cho Quan Vũ đóng đồn ở gần Giang Lăng, Trương Phi đóng đồn ở Tỉ Quy, Gia Cát Lượng tiến quân đến đóng ở Nam quận, còn Lưu Bị cũng tự mình kéo đên Sàn Lăng, hơn nữa còn cho người đên nói với Tôn Quyền rằng:
“Lưu Bị tôi với Lưu Chương cũng là hoàng tộc, xét về lý phải cùng phò giúp triều đình, nay Lưu Chương đắc tội với xung quanh, Lưu Bị tôi cũng có phần trách nhiệm, bởi thế hy vọng ngài hãy nể mặt tôi mà tha thứ cho hắn, nếu không tướng quân cứ kiên quyết đánh Ích Châu, Lưu Bị tôi đành phải vào nơi núi sâu làm kẻ ẩn dật cũng bởi việc này, để khỏi thất tín với thiên hạ”.
Hiển nhiên đấy là “tối hậu thư” vừa mềm vừa cứng, một mặt cầu xin Tôn Quyền, buông tha cho Lưu Chương, một mặt khác cũng biểu thị đầy đủ, nếu như Tôn Quyền cứ ương ngạnh không nể mặt mình, sẽ cho ông ta biêt mình cũng ương ngạnh đáo để. Thái độ cứng rắn ấy của Lưu Bị đã đặt Tôn Quyền trước một sự lựa chọn, còn chưa rõ tình huống sẽ ra sao, đành phải lệnh cho Tôn Du đình chỉ mọi hành động chuẩn bị.


4. Chu Du từ trần, Lỗ Túc tiếp nhiệm.
Đương khi quan hệ giữa Đông Ngô và Lưu Bị rất căng thẳng, Quan Vũ gây áp lực ở Giang Lăng, làm cho Giang Lăng càng phải tăng cường phòng thủ, Chu Du đang dưỡng bệnh đành phải gượng đứng dậy, từ kinh thành vội đến Giang Lăng. Chẳng ngờ mới đến giữa đường, nhọt tên vỡ ra, chết ở Ba Lăng (thuộc tỉnh Hồ Nam), thiên tài quân sự một thời cuối cùng cũng đành phải nuốt hận.
“Tam quốc diễn nghĩa” tô vẽ thêm, Chu Du và Gia Cát Lượng luôn tranh giành nhau, đã lấy “Tam chí Chu Công Cẩn” để miêu tả cái chết của Chu Du, bầy đặt ra rằng Chu Du vốn có tâm địa nhỏ nhen, còn Gia Cát Lượng thì có trí tuệ dự trắc cao xa, thực ra đều không dựa vào một chút sử liệu nào.
Dẫu là đấu trí hoặc đấu lực, Chu Du chưa từng đọ cao thấp với Gia Cát Lượng; nghiêm chỉnh “vai phụ” chưa đủ tư cách để vượt qua “minh tinh màn bạc siêu hạng” như Chu Du. Thậm chí có thể nói nếu không có sự ưu đãi đặc biệt của Lỗ Túc và Chu Du, Gia Cát Lượng trong công tác ngoại giao liên hợp trận tuyến Tôn - Lưu, có thể đã không được thuận lợi như vậy.
Chu Du lúc đầu vẫn ủng hộ Lưu Bị, song ở chiến dịch Giang Lăng, thái độ của ông ta rất thay đổi. Có thể là trong chiến dịch Giang Lăng, phía Đông Ngô tổn thất rất nặng còn Lưu Bị lại là ngư ông mò cá, nhân cơ hội mà chiếm được một vùng đất rộng lớn của bốn quận phía nam, khiến ông ta có tâm lý bất thường. Huống chi tự mình lại mang trọng thương, vẫn chẳng thể có chuyển biến tốt, khiến ông ta trong lòng lúc nào cũng bị một áp lực lớn, về mặt suy nghĩ có khuynh hướng chết cứng. Hơn nữa ông ta mang trọng trách phòng thủ quốc gia, đối với thế lực Lưu Bị mau chóng bành trướng từ chỗ không có gì, không thể không cảnh giác; bởi thế, sau trận Xích Bích, Chu Du thay đổi thái độ để đối phó tích cực với sự phát triển lực lượng của Lưu Bị.
Song trước lúc ra đi vào cõi vĩnh hằng, Chu Du vẫn lấy lý trí để dằn tình cảm của mình; ông nhận thức sâu sắc rằng uy hiếp lớn nhất với Đông Ngô vẫn là Tào Tháo, nếu chắng có sự giúp đỡ của Lưu Bị, Đông Ngô sẽ chẳng thể đơn độc chống lại Tào Tháo, hơn nữa sẽ phải trả giá nghiêm trọng. Bởi thê ông viết một lá thư vĩnh biệt gửi lại cho Tôn Quyền, tiến cử người bạn thân thiết của ông, có lập trường vững vàng đủ đối phó được với Lưu Bị, sẽ nối tiêp nhiệm vụ của ông, đó là Lỗ Túc. Ông ta viết rằng:
Đương khi thiên hạ đang giữa thế cờ lớn, đầy xung đột và căng thẳng, cũng là lúc tôi ngày đêm lo lắng muốn đem hết tâm lực, vì sự an toàn của quốc gia mà sớm quy hoạch được tốt nhất, nay tôi xem Tào Tháo là kẻ địch, Lưu Bị thì ở Công An gần kề với Giang Lăng, trăm họ còn chưa theo về với ta, tình thế chưa ổn định, rất nên lấy bậc đại hiền lương tướng mà vỗ yên họ. Lỗ Túc đủ tài chí để làm công việc ấy, xin được cho ông ta thay tôi kế nhiệm chức vụ. Chu Du tôi số mệnh có hạn chẳng thể hầu hạ tướng quân nữa, chỉ có một ý cuối cùng này bày tỏ với tướng quân mà thôi.
Lá thư này lộ rõ tấm lòng lo nước quên thân của Chu Du; ông ta có chí lớn, không chịu bó mình trong sự hạn chế vốn có của ý thức cũ, nỗ lực tìm một người thích hợp nhất với lợi ích quốc gia. Qua đấy có thể thấy Chu Du đích xác là một nhân vật anh hùng thực có khí chất.
Tôn Quyền nhận được tin buồn về Chu Du, bỗng khóc ầm lên. Ông ta nói với các đại thần rằng: “Chu Công Cẩn là chỗ dựa của ta, nay bỗng nhiên ra đi, ta còn dựa vào ai sau này nữa?”. Ông ta thuận theo đề nghị của Chu Du bổ nhiệm Lỗ Túc làm Đô đốc trấn thủ Giang Lăng.
Chu Du khi tạ thế mới có 36 tuổi.
Tôn Quyền khi mới kế nhiệm ở Giang Đông, do tuổi còn trẻ lại từ con đường văn nghiệp xuất thân, một số tướng lĩnh cũ, vẫn có ý xem thường, khi yết kiến thường qua loa cho phải lệ mà thôi, chỉ có Chu Du ở vị trí một Đô đốc, vẫn giữ quân lễ long trọng để biểu thị trung thành với lãnh tụ trẻ tuổi ấy, khiến tính hợp pháp và tính uy quyền của Tôn Quyền chỉ trong thời gian ngắn đã được đề cao.
“Giang biểu truyện” có chép, lúc mới đầu lão tướng Trình Phổ đối với Chu Du còn trẻ tuổi mà sớm được cất nhắc vào vị trí lớn thường bất mãn, cố ý tỏ thái độ ngạo mạn; song Chu Du không kể đến, lại còn biểu hiện sự khiêm tốn trước mặt Trình Phổ, khiến cho Trình Phổ vốn ngoan cố cuối cùng không thể không cảm phục, hơn nữa còn nói với mọi người rằng: “Tiếp xúc với Chu Công Cẩn, như được uống rượu ngon, đặc biệt lúc mới uống chưa cảm thấy rõ, song uống rồi thì càng say càng thích khẩu”.
Tào Tháo khi ở Ký Châu, vẫn thường nghe Chu Du tài hoa hơn người, đối với người thì khiêm tốn lễ độ, bèn phái Tưởng Cán, một người tài ở đất Cửu Giang giỏi ăn nói hùng biện, lấy tình riêng mà đến du thuyết Chu Du, sớm quy phục về với triều đình.
Chu Du với Tưởng Cán là bạn chăn trâu đánh đáo, nghe tin Tưởng Cán đến, lập tức ra tận ngoài cửa đứng đón, lại mỉm cười bảo: “Tử Ký (tức Tưởng Cán) sao phải khổ sở bôn ba là vậy, chắc đang làm thuyết khách cho Tào Tháo chứ gì?”
Tưởng Cán nói: “Sau khi khôn lớn, chúng ta mỗi người một đường, xa xôi cách trở tuy thường nghe danh Công Cẩn, mà không gặp được một lần, khó thấy cơ hội, nay mừng được gặp sao cứ nhất định xem là thuyết khách nhỉ?”.
Chu Du cười bảo: “Tôi tuy chẳng hiểu được thanh âm ngoài tiếng đàn, song cũng tạm hiểu được tiếng đàn nói gì vậy!”.
Thế rồi chủ khách cùng vào trong quân trướng thưởng thức rượu thịt. Sau khi ăn, Chu Du nói với Tưởng Cán: “Tôi đang có việc gấp phải đến họp, chẳng thể ngồi tiếp ông, đợi khi họp về sẽ cùng hàn huyên; ông có thể tự do tùy tiện dạo chơi đâu đó”.
Nói xong để Tưởng Cán ở lại, còn mình đi ra ngoài lo công việc. Ba ngày sau Chu Du lại cho mời Tưởng Cán, dẫn ông ta đi tham quan doanh trại, thậm chí cả nơi để quân khí lương thực. Sau khi về trại lại mở yến tiệc khoản đãi; xong tiệc Chu Du trỏ vào các báu vật xung quanh thản nhiên bảo: “Trương phụ ở đời gặp được minh chủ tri kỷ, ngoài nghĩa quân thần, trong có ân cốt nhục, mọi lòi nói việc làm, có đủ họa và phúc; kể như Tô Tần, Trương Nghi sống lại, Ly Tẩu xuất hiện tôi cũng vỗ vai mà bắt bẻ; để họ biết đường mà rút, huống chi ông với tôi là chỗ bạn bè thuở nhỏ, hiểu nhau quá rõ, có gì mà phải biện luận nữa?”
Tưởng Cán chỉ biết mỉm cười chẳng thể nói gì thêm; sau này có nói với Tào Tháo rằng: “Chu Du khí chất rất lớn, chẳng phải người có thể dùng biện thuyết mà thuyết phục được”.
Những phần tử thức thời ở Trung Nguyên cũng có nhiều lời tán thưởng hoa mỹ về Chu Du.
Khi Lưu Bị sắp rời Kinh Khẩu về Kinh Châu, Tôn Quyền cùng bọn Trương Chiên, Lỗ Túc đưa tiễn; sau khi yến tiệc, bọn Lỗ Túc đã ra ngoài, Tôn Quyền ngồi với Lưu Bị nói chuyện trong nhà với nhau; Tôn Quyền than thở với Lưu Bị rằng: “Chu Du văn võ thao lược, trong vạn người khó thấy một người tinh anh như thế, tôi thấy ông ta có khí chất rất lớn, dứt khoát chẳng phải là hạng bầy tôi tầm thường, nay bị nhọt tên chữa lâu mà không khỏi vẫn sợ rằng trời cao lại đố kỵ với anh tài vậy!”.
Sau này Tôn Quyền khi nhớ lại trận Xích Bích, thường nói với mọi người rằng: “Quả nhân nếu không có Chu Công Cẩn dứt khoát không bao giờ có ngôi vị hoàng đế này!”.


5. Lỗ Túc cho mượn Giang Lăng, Tôn - Lưu trở lại liên hợp.
Sự ra đi của Chu Du đối với Lưu Bị và Gia Cát Lượng mà nói, lại đem đến một sự thoải mái. Chẳng những áp lực của Giang Lăng ít đi, mà Tôn Quyền cũng không nhắc nhở đến chuyện Ích Châu nữa.
Lỗ Túc lên kế nhiệm, nhờ được Chu Du tiến cử, ông ta kiên trì nguyên tắc liên hợp Tôn - Lưu để chống Tào Tháo, càng tích cực theo đuổi chủ trương cho Lưu Bị mượn Giang Lăng, để Lưu Bị phụ trách nhiệm vụ bảo vệ phòng tuyến phía tây.
Đã dùng người phải tin ở người, Tôn Quyền cũng mau chóng phê chuẩn đề nghị ấy, Lỗ Túc bèn đưa quân đoàn Giang Lăng mà Chu Du thống lĩnh dời về phía đông đóng ở Lục Khẩu, Lưu Bị thì dời trụ sở từ Công An về Giang Lăng. Lại bổ nhiệm Quan Vũ làm Đãng khấu tướng quân, Thái thú Tương Dương đóng đồn ở Giang Bắc, Trương Phi thì làm Chinh lỗ tướng quân, kiêm thức Thái thú Nam quận. Nhiệm vụ của giai đoạn một trong Long Trung Sách, có được Kinh Châu, đến nay đã hoàn toàn đoạt được.
Kinh Châu vào cuối đời Đông Hán gồm có bảy quận: Nam Dương, Nam Quận, Giang Hạ, Võ Lăng, Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng. Tào Tháo khi triệt thoái ở Kinh Châu, thực ra vẫn còn dinh sở ở Tương Dương thành, đấy là một vị trí rất quan trọng ở phía bắc Kinh Châu, thuộc quận Nam Dương. Tôn Quyền thì chiếm được quận Giang Hạ và phía đông Nam Quận. Ngoài ra Lưu Bị sớm đã nhân khi rối loạn bởi trận đánh Xích Bích, tranh thủ thời cơ chiếm được bôn quận kia và một phần Nam Quận. Bởi thế việc “mượn Kinh Châu” mà Lỗ Túc đưa ra, kỳ thực chỉ là việc đem Giang Lăng một vị trí quan trọng về quân sự nằm giữa Nam Quận, chuyển giao cho Lưu Bị trấn thủ mà thôi.
Trình Phổ nguyên là Thái thú Nam Quận của Đông Ngô được điều động về làm Thái thú Giang Hạ; Lỗ Túc thì đảm đương Đô đốc phòng vệ tuyến phía tây, phụ trách chỉ huy ở Lục Khẩu.
Giao Giang Lăng cho Lưu Bị cai quản, thực ra là “dưỡng hổ chi họa”, song đứng trước sự uy hiếp lớn của Tào Tháo; phòng tuyến Hợp Phì ở phía đông vẫn thường bị đe dọa; nếu Giang Lăng vẫn để Đông Ngô phòng thủ, áp lực thực tế rất to lớn. Huống chi quân Tào Nhân, Tào Hồng đang ở Tương Dương vẫn có ý nhòm ngó. Chẳng bằng để Lưu Bị trực tiếp đối đầu với quân Tào, Đông Ngô sẽ được yên tâm hơn.
Lịch sử ghi chép rằng, chuyện mượn Kinh Châu khi truyền đến phương bắc, Tào Tháo đang ngồi viết chữ, cây bút trong tay tuột rơi xuống đất. Sự liên hợp lại của Tôn - Lưu, đã khiến cho Tào Tháo không thế không thấy rằng, hùng tâm thông nhất Trung quốc năm nào của mình thực ra đã chết rồi. Với nhãn quan toàn cục mà nói đích xác rằng, Lỗ Túc có tài trí hơn Chu Du. Về phương diện trận mạc của Lưu Bị, sự khổ tâm xếp đặt tình hình của Lỗ Túc, người hiểu rõ nhất và cùng đồng cảm nhất chính là quân sư Gia Cát Lượng trẻ tuổi.


6. Ngọa Long, Phượng Sồ cùng vào Ích Châu.
Với Gia Cát Lượng mà nói chiếm được Kinh Châu chỉ mới là bước thứ nhất của kế hoạch mà ông đã đề ra với Lưu Bị, công việc tiếp theo còn quan trọng hơn là giai đoạn thứ hai của Long Trung Sách, mục tiêu là chiếm lĩnh Ích Châu và Hán Trung, xác định thế ba chân vạc, nắm được cánh cửa vào ra ở Hán Trung, tiến lên phía bắc phạt - Trung Nguyên, đấy là cơ sở rất quan trọng để tranh bá thiên hạ.
Lúc này Lưu Chương đang cai quản Ích Châu, là người về tài trí kém cỏi ai cũng thấy rõ. Bởi thế chính trị trong nước thì hắc ám, đặc quyền hoành hành, còn kẻ sĩ có tâm thì rất chi bất mãn trước việc ấy. Ví như “Tư trị thông giám” có chép, Quân nghị hiệp úy Pháp Chính có tài trí phi phàm, đầy đủ danh vọng, lại chẳng được Lưu Chương trọng dụng, rất bất mãn. Lại như biệt giá Trương Tùng, nói năng hợp lẽ ứng biến linh hoạt, đáng kể là bậc nhất lúc ấy, cũng không được Lưu Chương trọng dụng, vẫn thường bất mãn than thở một mình. Đúng như Gia Cát Lượng trong “Long Trung Sách” đã nói, khắp vùng Ích Châu ở trong tình thế bất ổn, “Kẻ sĩ thức thời mong ngóng gặp được minh quân”, tính hợp pháp của chính quyền Lưu Chương đã lâm vào tình thế nghiêm trọng.
Miếng mồi béo bở như vậy tự nhiên không chỉ có Gia Cát Lượng dòm ngó mà thôi, Tôn Quyền sớm đã có nhiều ham muốn, mà Tào Tháo cũng chẳng vô tâm. Sau khi thất bại ở trận Xích Bích, Tào Tháo vẫn để đội quân tinh nhuệ của Tào Nhân, Tào Hồng trấn giữ Tương Dương và Phàn Thành, hơn nữa còn tự mình dẫn quân ra Quan Trung, thanh trừ quân Mã Siêu và Hàn Toại, mục đích là khống chế được cánh cửa vào ra Hán Trung và Ích Châu. Đúng như Tôn Quyền đã nói: “Tào Tháo chiếm được đất Thục thì Kinh Châu ắt bị nguy hiểm!”.
Tình thế ấy rõ ràng khiến người ta không thể yên tâm, bởi thế không ít lão thần ở Kinh Châu khuyên Lưu Bị tiếp thu đề nghị của Tôn Quyền, cùng vào Thục, chặn đứng mưu đồ của Tào Tháo. Quan chủ bạ An Quan kịch liệt phản đối, ông ta cho rằng như vậy thực rất nguy hiểm - “Nếu bị Đông Ngô tiến đánh, tiến chưa thể chiếm được Thục, thoái thì vướng phải quân Ngô lấn chiếm, sợ đại sự hỏng mất!”.
Với Gia Cát Lượng mà nói, trong lòng cũng mâu thuẫn không thôi; liên hợp Tôn - Lưu chống lại Tào Tháo, vẫn được xem là quốc sách cơ bản quan trọng nhất; song Ích Châu là đất cơ sở sáng nghiệp không thể chia phần cho người khác. Bởi thế đương khi Tôn Quyền đề nghị cùng thu lấy Ích Châu, Gia Cát Lượng đã khuyên Lưu Bị lấy thái độ nghiêm chỉnh mà khéo léo cự tuyệt, song khi nào mới có thể nghiêm chỉnh mà chiếm được Thục, lại không đắc tội với Tôn Quyền, có thể tin rằng Gia Cát Lượng đã rất đau đầu.
Lúc này, trước mắt Lưu Bị, đã xuất hiện một nhân vật khiến Gia Cát Lượng và Lưu Bị yên tâm mà tích cực chuẩn bị tiến vào đất Thục; người ấy khi ở Nam Dương, cùng với Ngọa Long Gia Cát Lượng đã nổi danh là “Phượng Sồ” Bàng Thống.
Bàng Thống tên chữ là Sĩ Nguyên, người Tương Dương, ông ta là cháu của đại lão Bàng Đức Công, một người ở phái Thảo dã. Trong mắt của “Thủy kính tiên sinh” Tư Mã Huy, tài hoa của Bàng Thống gần được như Gia Cát Lượng. Song nói về cá tính, phong cách của hai người lại rất khác nhau.
Gia Cát Lượng cao lớn anh tuấn, là người cẩn thận, cá tính tuy cao ngạo song bề ngoài vẫn khiêm tốn có lễ độ, giữ đúng chừng mực. Bàng Thống trái lại hình dong thấp lùn thô tục, cá tính thì hào phóng, không chịu ràng buộc, thường làm những việc không đáng làm, khiến người ta rất khó hiểu.
Khi còn trẻ Bàng Thống đã vẻ “đại trí như ngu”, nếu chỉ nhìn bề ngoài chẳng thấy có gì đặc biệt, chỉ có Dĩnh Châu danh sĩ Tư Mã Huy thấy rõ biệt tài; Bàng Thống với cung cách cơ hồ cuồng vọng lại rất được Tư Mã Huy kính trọng đặc biệt. Đương khi chiến loạn thời Hán mạt tràn đến Dĩnh Châu danh sĩ Bàng Đức Công mấy lần mời mọc Tư Mã Huy tạm lánh về Nam Dương, song Tư Mã Huy lại đang vướng mắc vào việc nhà chưa thể rứt ra được, vẫn còn do dự. Bàng Thống trẻ tuổi đã không ngại đường xa nghìn dặm, mấy lần tìm đến Dự Châu, bái kiến Tư Mã Huy. Tư Mã Huy cũng không để ý ở bên ngoài, vẫn lúi húi hái dâu, Bàng Thống thì ngồi ở dưói gốc cây mà nói chuyện huyên thuyên với ông ta, thường từ sáng sớm đến tối mịt, tựa hồ nói mãi không hết đề tài; với người bạn trẻ mới 20 tuổi, học vấn uyên bác và giỏi nói năng, Tư Mã Huy cảm thấy kỳ lạ, khen ngợi là danh sĩ hàng đầu ở Nam Châu; cũng bởi thế danh tiếng của Bàng Thống rất được đề cao, được gọi là Phượng Sồ. Bàng Thống thường lười nhác, tư lự nhiều giờ, ít để ý đến việc thế tục, sau khi lớn lên, làm một chức quan nhỏ trông coi văn thư pháp lệnh ở Nam Quận, hàng ngày làm quấy quá cho xong việc. Chẳng qua, ông thích được diễn thuyết dài dòng, mỗi khi bàn luận thường bày tỏ những suy nghĩ đâu đâu vượt cả chức phận của mình, bởi thế thường bị người khác chế giễu, song Bàng Thống chẳng để ý chút nào, ông tự biện hộ rằng: “Nay thiên hạ đang đại loạn, đạo lý chân chính chẳng thấy đâu, người tốt thì ít, kẻ ác thì nhiều. Tôi muốn nêu tỏ đạo lý trước phong tục, để mọi ngươi cùng xem trọng mà theo, nên tự nhiên phải bàn đến những điều đặc biệt với người khác, nếu không phải người để tâm xem xét sẽ lĩnh hội được ít, tôi có kể đủ 10 việc, giữa chừng có 5 việc rơi rụng, song nhìn chung còn được một nửa, đủ để đề cao giáo hoá xã hội, khiến kẻ có chí được khích lệ, chẳng phải là việc rất nên ư?”
Chu Du khi đang làm Thái thú Nam quận, cũng xem trọng Bàng Thống, bổ nhiệm làm bí thư cơ yếu. Bởi thế khi Chu Du từ trần, chính Bàng Thống đã hộ tống linh cữu về Giang Đông.
Các danh sĩ ở Giang Đông như Lục Tích, Cố Thiệu, Toàn Tông sớm nghe danh tiếng Bàng Thống, đều thường đến “hội xương công quán” của Bàng Thống, để cùng nhau bàn luận.
Bàng Thống sau khi nói chuyện với họ bầy tỏ rằng: “Lục tiên sinh giống như con kiêu mã, cá tính phiêu lãng, chí ở nghìn năm. Cố tiến sinh chẳng khác gì con trâu mộng kéo xe nặng mà đi xa vậy. Với Toàn Tông thì bảo, tiên sinh có cá tính chuẩn mực, là người biết trọng danh tiếng, có thể ví với Phàn Tử Chiêu ở Nhữ Nam, có điều trí lực không nhiều, song cũng đáng kể là người có danh một thời!”.
Tuy ăn nói có hơi mất lòng, song Bàng Thống thường biểu hiện là người chân thành, bỏi thế dẫu chỉ việc nhỏ cũng dễ nổi cáu. Lục Tích và Cố Thiệu cùng nói trêu rằng: “Luận điểm của tiên sinh thật có hứng thú, nếu như thiên hạ thái bình, bọn chúng tôi xin theo tiên sinh đến gặp danh sĩ bốn biển để cùng bàn luận”.
Cũng có kẻ giúp việc nói với Bàng Thống rằng: “So với tiên sinh, Lục Tích xem chừng giỏi giang hơn”. Bàng Thống chỉ cười mà nói rằng: “Kiêu mã tuy kiêu ngạo song chí hướng của hắn, chỉ đủ dùng cho một mình, trâu mộng một ngày đi được 300 dặm, song ông ta không chỉ nghĩ đến một mình mà thôi”. Cố Thiệu đêm đến ngủ lại ở chỗ Bàng Thống, thỉnh giáo Bàng Thống rằng: “Tiên sinh biết xem tướng người, xin cho hỏi trong hai chúng tôi ai sẽ thành đạt hơn?”. Bàng Thống thản nhiên nói rằng: “Khuôn mẫu thế tục, kén chọn nhân tài, khảo sát thành tích, tôi không bằng tiên sinh; song nói đến kế sách nghị luận về đế, vương, vạch vẽ kế hoạch cho một chỉnh thể chính trị thì tôi hơn hẳn tiên sinh”.
Cố Thiệu nghe vậy rất đỗi khâm phục, từ đấy càng gần gũi với Bàng Thống.
Lỗ Túc tuy có ý trọng dụng Bàng Thống, tiến cử ông ta với Chu Du song Tôn Quyền trẻ tuổi lại rất không ưa sự thô tục và đại ngôn của Bàng Thống. Bàng Thống muốn trở về quê hương, đúng lúc Gia Cát Lượng đến viếng tang Chu Du, Lỗ Túc bèn đưa việc Bàng Thống ra trao đổi với ông ta; Gia Cát Lượng gặp được người bạn năm xưa đương nhiên rất đỗi vui mừng, song còn đang thực hiện công vụ, phải cùng với Lỗ Túc thảo luận tiếp về việc hợp tác Tôn - Lưu, bèn viết một lá thư tiến cử mời Bàng Thống sớm đến Giang Lăng yết kiến Lưu Bị.
Bàng Thống gặp được Lưu Bị, chưa vội đưa lá thư giới thiệu của Gia Cát Lượng, chỉ nói là được Lỗ Túc giới thiệu. Lưu Bị thấy Bàng Thống cử chỉ thô lỗ trong bụng rất không ưa, song ngại Lỗ Túc phàn nàn, bèn bổ nhiệm làm tòng sự, giữ chức huyện lệnh Lai Dương. Song Bàng Thống đến huyện đường, lại thích ăn uống mà lười làm việc, suốt ngày không mó tay vào công việc, mau chóng bị Lưu Bị bãi miễn quan chức. Lỗ Túc nghe việc ấy, lập tức cho người mang thư đến, vội vàng đưa với Lưu Bị rằng “Bàng Sĩ Nguyên chẳng phải là người chỉ có tài mọn, hãy nên dùng ở bên mình, bổ nhiệm cho ông ta chức Trị trung hoặc Biệt giá mới phát huy được hết tài năng lớn lao”. Lúc ấy, Gia Cát Lượng mới từ Giang Lăng trở về, nghe được chuyện của Bàng Thống lập tức trịnh trọng tiến cử với Lưu Bị. Lưu Bị từ lâu đã nghe Tư Mã Huy nói về Ngọa Long Phượng Sồ, giờ lại có lời đề nghị của Lỗ Túc và Gia Cát Lượng, nên Lưu Bị cũng đành tin theo. Ông ta cùng Bàng Thống trao đổi ý kiến về nhiều việc cụ thể, mới biết rằng Bàng Thống đích xác có tài nghìn dặm, cũng cảm thấy ân hận vô cùng, bèn bổ nhiệm Bàng Thống làm Tri trung tòng sự, trong công việc tham mưu sách hoạch, địa vị cũng gần như Gia Cát Lượng, không lâu lại được Gia Cát Lượng sắp xếp lại, với Gia Cát Lượng cùng làm Quân sư trung lang tướng.
Bàng Thống đề nghị với Lưu Bị rằng: “Kinh Châu đã trải qua chiến tranh mấy năm, tình cảnh hoang tàn, nhân tài tan tác các nơi, ở phía đông có Tôn Quyền, ở phía bắc có Tào Tháo; thiết nghĩ muốn dựa vào vùng đất này với Tôn Quyền và Tào Tháo tạo lập thế ba chân vạc là rất không thể được. Nay Ích Châu quốc phú dân cường, hộ khẩu có đến trăm vạn hộ, binh đông lương đủ, khá nên mau chóng tranh đoạt lấy để ổn định đại kế hoạch”.
Lưu Bị vẫn ngần ngại nói rằng: “Đối với lập trường của chúng ta mà nói, kẻ địch không dung hoà như nước với lửa vẫn là Tào Tháo. Tào Tháo xem trọng việc chiếm lợi ích, nói đến hiệu quả thiết thực, bởi thế ta cần đặc biệt biểu thiện sự khoan hoà. Tào Tháo xem trọng cường quyền, ta thì thiên về nhân ái; Tào Tháo ăn nói quỷ quyệt, ta thì nói năng trung thực; ta phải tạo ra một hình tượng bất đồng với Tào Tháo, để kiến lập sự nghiệp của mình. Nếu trong việc chinh phạt Ích Châu lần này lại phải gánh lấy sự phản bội với Tôn Quyền và Lưu Chương, sẽ thất tín với thiên hạ, đấy là việc mà ta chẳng muốn làm vậy!”.
Bàng Thống lại cười mà nói: “Bậc quốc quân đối với đại sự cần phải quyền biến, chẳng thể hạn chế bởi quan điểm của mình, thôn tính nơi nhược tiểu, chiếm lấy nước vô đạo, kể như công nghiệp của Ngũ Bá thời Xuân Thu cũng vậy. Chỉ cần sau khi đoạt được đất nước, với nhân dân thì thi hành nhân đức, lại cấp đất cho Lưu Chương để ông ta có thể sinh sống, đấy chẳng phải là thất tín với thiên hạ; nay không nhân cơ hội này mà đoạt lấy, nếu Tào Tháo và Tôn Quyền cùng kéo đến tranh đoạt thì có hối cũng muộn vậy!”.
Lưu Bị cũng yên tâm được một mặt, khi tự mình dẫn quân vào Ích Châu, phía bắc có Tào Tháo, phía đông có Tôn Quyền, khó bề phòng bị hữu hiệu; nay tự nhiên có được một tham mưu ưu tú, có thể hai đầu cùng tiến, khỏi phải lo lắng về sắp xếp kế hoạch cả hai phía Kinh Châu và Ích Châu.


*
*     *

Lời bình của Trần Văn
“Tam lượcvà “Lục thao”, cùng được công nhận là hai bộ binh pháp truyền thống giàu có trí tuệ của Trung Quốc. “Lục thaotheo truyền thuyết là tác phẩm của khai quốc nguyên huân Khương Tử Nha đời nhà Chu, “Tam lượcthì càng giàu sắc thái thần bí, theo truyền thuyết thì Hoàng Thạch Công đã truyền cho Trương Lương cuốn Thái công binh pháp. Theo khảo cứu thực tế hai cuốn sách này đều do người đời sau làm ra, đương nhiên chẳng phải vì thế mà nó không có giá trị, trái lại những tác phẩm kiểu ấy thường là sáng tác tập thể của nhiều người, thậm chí trong đó có thể có không ít trước tác của Khương Thái Công và Trương Lương, hoặc là những lời nói việc làm còn ghi lại được. Ở Nhật Bản đạo sĩ Cát Điền Tùng Ấm cho rằng, Lục thao và Tam lược giàu trí tuệ hơn binh pháp Tôn Tử. Còn nhà binh pháp Tiểu Phan Cảnh Hiến đối với tinh thần của hai cuốn binh pháp này, cũng rất tôn sùng.
Đặc biệt là Tam lược, đã trực tiếp đề cập sách lược lấy nhu khắc cương, lấy nhược khắc cường. Nó nhắc đến câu sấm ngôn trong binh pháp Thái Công: “Nhu có thể chế cương, nhược có thể chế cường”. Tiếp đó lại thuyết minh rõ rằng: “Bởi vì nhu là loại đức tính, dễ bao dung người khác, cũng dễ được người ta chấp nhận. Cương là loại nguy hiểm dễ sát thương người khác cũng thường bởi thế mà bị người ta trừ hại. Kẻ nhược tiểu dễ được sự đồng tình và giúp đỡ của người khác, kẻ hùng cường thường bị sự tấn công từ bốn phía”.
Song kẻ nhu nhược dễ bị khinh rẻ, nhu nhược dễ dẫn đến hủy diệt; bởi thế trong nhu vẫn nên có cương, từ nhược ắt nên chuyển thành cường thịnh, kiêm đủ bốn yếu tố ấy tùy thời thế mà vận dụng thích hợp ắt sẽ lên được.
Cương nhu tinh tế, cường nhược hỗ tương, hành động biến hoá tự do, không dễ nắm bắt, cũng như sự biến hoá vô thủy vô chung của đại tự nhiên, là chỗ mà trí tuệ của nhiều người còn chưa dễ thấu hiểu được.
Phép dùng binh cần phải linh hoạt, không câu nệ hình thức cố định, dập khuôn theo hình thế trước đó mà phải tùy cơ ứng biến căn cứ vào hành động của kẻ địch, vận dụng đối sách thích hợp; có một quân đội như thế, mới có thể xưng bá thiên hạ, thành ra bậc đế vương ở đời.
Cho nên có thể nói: “Năng nhu năng cương, quốc gia ắt sẽ ngày mỗi thêm uy tín, năng nhược năng cường thì quốc gia ắt sẽ có thế lực hùng mạnh; thuần nhu thuần nhược thì quốc gia ắt sẽ bị xâm lược; thuần cương thuần cường thì quốc gia dễ bị suy vong”.
Khi xảy ra trận Xích Bích, có thể nói Lưu Bị đang ở thời kỳ thuần nhu thuần nhược, dẫu nói rằng Tôn - Lưu liên quan, thực ra quyền chủ đạo tác chiến đều ở phía quân Tôn Quyền. Dẫu nói rằng quân Lưu Bị phối hợp công kích trên mặt đất, quân Lưu Kỳ giữ Nam Ngạn tạo ra phòng tuyến phía sau của liên quân, thực ra chỉ là ngồi yên trên ghế mà thôi, ví như có đánh thắng, cũng chẳng được phân chia quyền lợi gì đáng kể. Gia Cát Lượng trẻ tuổi mà bình tĩnh sớm nhìn ra điều ấy, bởi vậy ông khuyên Lưu Bị ngoài mặt thì phục tùng, trong bụng lại nhân cơ hội Chu Du và Tào Nhân đánh nhau ác liệt ở Giang Lăng ngầm phái quân đánh lấy bốn quận, đấy là một thế cục cương nhu phối hợp khiến cho ở vào thời khắc then chốt của sự nguy hiểm lại có địa bàn, thực của mình.
Không ít người cho rằng, đã giành được bốn quận nam Kinh Châu cũng nên cắt hoàn toàn Nam Quận, để cho Tôn Quyền và Chu Du một chút đường mật, song Lưu Bị và Gia Cát Lượng không nghĩ như vậy, Nam Quận nếu như hoàn toàn rơi vào tay Đông Ngô, con đường thông với phía bắc của Lưu Bị hoàn toàn bị cắt đứt. Đến lúc ấy, đành phải chết già ở phía nam mà thôi. Bởi thế Lưu Bị phải quyết tâm phát huy chiến thuật một cách mềm dẻo khi thì hỏi mượn, khi thì ép đánh đã đưa lực lượng của mình về đóng đồn ở Công An để Chu Du trấn giữ ở Giang Lăng; sau lưng đều có quân đội các phe phái, bản thân bị vây chặt, trách chi Chu Du chẳng lập tức trở thành lãnh tụ phái Diều Hâu để đối đáp với Lưu Bị.
Ở trong giai đoạn tranh đoạt Kinh Châu ngày, Lưu Bị đã không còn là kẻ thuần nhu thuần nhược, song ông ta vẫn hiểu được phải biểu thị tư thế thấp kém thích hợp, tự mình mạo hiểm thâm nhập vào Đông Ngô, với Tôn Quyền cùng trao đổi về sự hợp tác cần thiết. Ông ta đã vận dụng thoả đáng thông minh sự giúp đỡ của Lỗ Túc, rất có bài bản, khiến cho Tôn Quyền không thể không lựa chọn chiến lược của Lỗ Túc là liên hợp với Lưu Bị khống chế Tào Tháo, tiếp tục giữ thái độ hợp tác với Lưu Bị.
Nhìn lại từ đầu, Lưu Bị tuy là nhà chiến thuật không mấy sai lầm song vẫn đứng ngoài một chiến lược mang tính toàn cục, bởi thế ở giai đoạn này, biêu hiện khác lạ “lấy nhu khắc cương, lấy nhược khắc cườngchính là công lao của quân sư Gia Cát Lượng trẻ tuổi.
 
0
*
*     *
 
Phụ chương
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
 
Quy hoạch sách lược bắt đầu từ số không.
Cổ nhân nói rằng: “Sáng nghiệp rất khó, thủ thành không dễ”. Thực ra sáng nghiệp so với thủ thành còn khó hơn nhiều.
Cái khó lớn nhất của sự sáng nghiệp là thiếu phương hướng và chuẩn bị, thiếu phương hướng chẳng thể tập trung và tích lũy lực lượng, thiếu chuẩn bị sẽ chẳng thể bước qua thời kỳ vấp ngã, là “giai đoạn đầu tư”, nếu muốn làm tốt công việc của hai mặt này, rất cần phải vạch được sách lược.
Trước khi có được sự giúp đỡ của Gia Cát Lượng, biểu hiện của Lưu Bị trong thời kỳ sáng nghiệp xem ra cũng không có sai lầm gì lớn, ông ta rất hiểu được việc nắm bắt cơ hội, năng lực ứng biến cũng không tồi, hơn nữa rất có nguyên tắc, chấp nhận gian khổ, giữ được tín nghĩa. Tuy mấy lần trồi lên tụt xuống, kẻ anh hùng có tiếng vẫn không có đất dừng chân. Chẳng qua thời vận không giúp, tuy từng có một vùng giang sơn ở Từ Châu, là một ông chủ đàng hoàng, lại vẫn giữ không được, thành một kẻ lưu lạc giang hồ, đến ông ta tự mình đã cân nhắc cũng không sao hiểu được vì đâu lại suy như thế.
Tư Mã Huy sau khi bắt mạch cho sự nghiệp của Lưu Bị, đã chân thành chỉ ra thiếu sót lớn nhất trong trận tuyến của Lưu Bị chính là một con người tuấn kiệt thức thời, một nhà hoạch định sách lược chưa thấy xuất hiện.
“Hoạch định sách lược” (Strategic Plans) là danh từ lưu hành từ năm 1980 trong giới quản lý xí nghiệp phương Tây, thời đại Gia Cát Lượng tất nhiên chưa nghe nói đến, song nhìn suốt công việc một đời Gia Cát Lượng có thể nói chắc rằng ông là một nhà hoạch định sách lược tài năng.
“Trò chơi thương trường” (Businees Wargames) là một cuốn sách của tiến sĩ James có định nghĩa về sách lược như sau:
“Sách lược là một đối sách liên quan dùng để giải quyết vấn đề, đặc biệt là vấn đề cạnh tranh có tính xung đột. Bởi thế sách lược ắt phải có các điều kiện cần thiết của kế hoạch, để đạt được mục đích, hơn nữa giành được ưu thế cạnh tranh”.
James lại đem hoạch định sách lược chia thành mấy hình thái sau:
1.    Sách lược tuần tự: bao quát mấy bước tuần tự liên hoàn dựa theo những bước ấy mà mục tiêu cuối cùng được thực hiện một cách có kế hoạch.
2.    Sách lược tích lũy: tập kết các chủng loại sẽ sử dụng được, song lại được sắp xếp theo kế hoạch, để tạo thành một hiệu quả khiến người ta không ngờ được.
3.    Sách lược gián tiếp: chẳng cần phải đối kháng trực tiếp mà là dùng tâm lý chiến khiến đối phương phải khuất phục.
4.    Sách lược trực tiếp: trực tiếp có hành động phụ giúp cho mục tiêu được thực hiện mau chóng.
5.    Sách lược liên hợp: kết hợp các chiến hữu cùng có mục tiêu cùng có hành động chung đối đầu với kẻ địch.
6.    Sách lược phản kích: tập trung lực lượng để bẻ gẫy hoặc làm tê liệt một số lực lượng kẻ địch, để ngăn cản kẻ địch đạt được mục đích cuối cùng.
7.     Sách lược hoá giải: phá hoại hoặc làm hỏng thiết bị của kẻ địch để giảm thấp năng lực tác chiến của kẻ địch.
Gia Cát Lượng sau khi tiếp thu nhiệm vụ, việc hoạch định sách lược của mình đích xác đã phù hợp với những nguyên tắc trên.
Đương nhiên khó khăn lớn nhất chính là phải bắt đầu thế nào từ số không, Long Trung Sách đề ra sách lược tuần tự. Đầu tiên lợi dụng cơ hội về “lâu đài gần nước”, chiếm lấy Kinh Châu, lấy đó làm cơ sở sự nghiệp, lại nhân cơ hội mà tây tiến sang Ích Châu, đoạt lấy Hán Trung. Ở hướng đông liên hợp với chính quyền họ Tôn, cùng đối đầu với Tào Tháo ở phương bắc. Đợi đến khi thời cục có biến, sẽ chọn một viên thượng tướng dẫn quân Kinh Châu từ Tương Dương đánh lên phía bắc, còn Lưu Bị tự mình dẫn đại quân Ích Châu, ra khỏi Tần Xuyên, hai bên cùng giáp kích vào khu Tư Lệ, chỉ cần chiếm được Tràng An và Lạc Dương, thì việc phục hưng nhà Hán chỉ là vấn đề ngày giờ. Do thực lực của Lưu Bị rất yếu, Long Trung Sách không đưa ra được phương pháp bổ trợ cụ thể nào, song bước đi trong sự phát triến sự nghiệp của Lưu Bị mà mục tiêu từng giai đoạn, ít ra cũng đã kể được rõ ràng.
Để làm cho thực lực của Lưu Bị mạnh lên, Gia Cát Lượng đã vận dụng sách lược tích lũy, ông sớm đề nghị với Lưu Bị sắp xếp lại dân di cư, xây dựng lực lượng cơ bản. Với tình thế Kinh Châu lúc ấy đã lợi dụng được một cách hữu hiệu, làm tăng thêm danh tiếng của Lưu Bị ở Kinh Châu.
Lưu Bị tuy có danh tiếng ở các nơi, song ông không có chỗ dựa ở chính Kinh Châu, kể như khi Lưu Biểu từ trần nói gì cũng không đến được Lưu Bị, dùng võ lực mà cưỡng đoạt lấy, lại trái với nguyên tắc xử thế mà Lưu Bị vẫn theo đuổi, gắn bó với những ngày dựng nghiệp gian khổ.
Gia Cát Lượng đã lợi dụng đầy đủ tình thế Tào Tháo với bất cứ lúc nào cũng có thể xâm lược miền Nam, để tích lũy điều kiện cho Lưu Bị. Trong thành Tương Dương ở Kinh Châu lực lượng của phái thân Tào rất lớn, nếu như chẳng phải là Lưu Biểu ở đấy đã có thái độ từ lâu thân Viên phản Tào, thì tình hình chính trị ở Kinh Châu sớm đã đảo lộn. Song về phía quân đội thì đa số vẫn cảnh giác trước Tào Tháo, các quan tướng của phái thân Tào cũng không dễ hiểu, đặc biệt là sau khi lão tướng Hoàng Tổ vẫn chống lại Tào Tháo phải bỏ mình giữa trận, những người lãnh đạo có xu hướng phản Tào chỉ còn có Lưu Biểu đang lâm trọng bệnh và công tử Lưu Kỳ nhu nhược lắm bệnh tật mà thôi.
Gia Cát Lượng nhìn thấy phái phản Tào ở Kinh Châu như rắn không đầu, bèn có ý nhắc Lưu Bị lôi kéo Lưu Kỳ, để Lưu Kỳ làm vây cánh cho mình. Lập trường này, khiến Lưu Bị trở thành chỗ dựa của dân Kinh Châu, thành người lãnh đạo phía sau của trận tuyến phản Tào. Bởi thế sau khi Lưu Biểu từ trần, Lưu Kỳ còn ở mãi Giang Hạ ở phía Nam, Lưu Bị đã lập tức đứng ra bảo vệ cho dân Kinh Châu. Từ Tương Dương đến Đương Dương, Lưu Bị tuy bị đánh tan tác, suýt nữa thì nguy đến tính mệnh, song với khí thế 10 vạn dân đi theo mà xem, Lưu Bị với tinh thần là trung tâm của dân Kinh Châu đã chính thức thành ra người kế nhiệm của Lưu Biểu.
Danh tiếng và địa vị cố nhiên đã được xây dựng, song đối diện với quân nam chinh của Tào Tháo, trận tuyến của Lưu Bị cũng đã đến ngưỡng cửa của sự tồn vong nguy cấp. Gia Cát Lượng lập tức vận dụng sách lược liên hợp, ông ta đã chuẩn xác tìm ra được những chiến hữu như Lỗ Túc, Chu Du và Tôn Quyền, cuối cùng đã tạo ra được một chiến dịch rất quan trọng trong lịch sử Trung quốc, đó là đại chiến Xích Bích.
Tuy chẳng phải do Gia Cát Lượng chủ đạo, song sách lược chủ yếu Tôn - Lưu liên hợp, đã tập trung lực lượng tác chiến để phản kích có trọng điểm, quả nhiên một trận phản công đã đánh tan thủy quân của Tào Tháo bẻ gẫy tinh thần binh sĩ của Tào Tháo, bức Tào Tháo không thể thực hiện cuộc đại triệt thoái chiến lược suốt 500 dặm, cũng định ra được thế Tam quốc ba chân vạc sau này.
Lúc ấy Gia Cát Lượng có thành công lớn nhất là sách lược chiếm lấy bốn quận nam Kinh Châu; đấy hiển nhiên là một phần của sách lược tích lũy, trong lúc nguy cơ rốt cục cũng đã tóm được cơ hội chuyển biến. Tuy sách lược này chẳng được quang minh chính đại, song với một tập đoàn nhược tiểu mà nói, nếu như chẳng tóm được cơ hội này, sẽ có thể đổ vỡ hết những gì đã có được, không tránh khỏi dẫn đến ngõ cụt bất ngờ.
Ở giai đoạn này, sự hoạch định sách lược của Gia Cát Lượng, có thể nói là táo bạo, hơn nữa lại rất thành công.
 
0
QUYỂN TRUNG
HỔ GẦM GIÓ THỐC
 
 
 
THIÊN THỨ BA
XỨ SỞ THẦN TIÊN
 
 
                        Gớm sao
                                    núi thực cao vời
                        Đường treo vách dựng
                                    lên trời khó ghê!
                        Nghìn năm
                                    dấu cũ còn chi
                        Ải Tần ngọn khói
                                    bay đi ngả nào?
                                                (Thục đạo nan - thơ Lý Bạch)
 
 
 
Chương IX
TIẾN QUÂN VÀO ÍCH CHÂU
 
Lưu Bị nghe tin Trương Tùng bị giết, cũng trả đũa giết Dương Hoài và Cao Bái.
Chính thức bầy trận trước Lưu Chương, bắt đầu cuộc chiến tranh đoạt lấy Ích Châu.


 
1. Thời đại truyền thuyết thần thoại của đất Thục
Ích Châu còn gọi là đất Thục, là tỉnh Tứ Xuyên hiện nay.
Theo văn tự giáp cốt ghi chép từ thời vương triều Ân Thương, đã nói đến đất Thục. Cứ theo lịch sử mà nói, vào lúc ấy đã có trên 3000 năm phát triển.
Theo “Ngũ đế bản ký” trong cuốn “Sử ký”, con cả của Hoàng đế là Xương Ý, từng đến nước Thục, lấy một người con gái nước Thục là Sơn Xương Phó làm vợ, sinh được một người con, gọi là Chuyên Húc.
Khi Chu Vũ Vương thảo phạt vua Trụ, trong “Mục Thệ Thiên” có chép, tám trăm người cùng họp nhau ăn thề; trong đó có bộ lạc Thục của Man quốc cũng tham gia. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, nước Thục chính thức bước lên võ đài của Trung Quốc, hơn nữa còn có một sự kiện quan trọng là cuộc viễn chinh vào nước Thục của danh tướng nước Tần là Tư Mã Thố.
Tuy từng xuất hiện trong lịch sử Trung Nguyên, song đất Thục và Trung Nguyên khá cách trở, vẫn có hình thái độc lập tương đối; nguyên nhân chủ yếu bởi đường giao thông từ Trung Nguyên vào đất Thục rất khó khăn, dễ phòng thủ mà khó tấn công, ảnh hưởng của Trung Nguyên cũng không dễ xâm nhập.
Thánh thơ Lý Bạch đời Đường (năm 701 đến năm 162 sau Công Nguyên) có viết bài thơ “Thục đạo nan”, miêu tả rất sinh động địa hình ở đây:
                        Gớm sao
                                    núi Thục cao vời
                        Đường treo vách dựng
                                    lên trời khó ghê!
                        Nghìn năm
                                    dấu cũ còn chi
                        Ải tần ngọn khói bay đi ngả nào?
Đường vào đất Thục khó như lên trời xanh, bởi thế từ xưa đến giờ vẫn là vùng đất riêng, ít có quan hệ văn hoá với Trung Nguyên. Thời Tần Huệ Vương, Tư Mã Thố dẫn đại quân xâm nhập, đất Thục mới sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc.
Theo “Thục vương bản kí” của nhà văn Dương Hùng đời Hán, truyền thuyết thần thoại về tổ tiên của ngươi Thục còn sớm hơn cả văn hoá Trung Nguyên; họ sớm đã biết nuôi tằm, khơi ngòi, tưới nước, đánh cá, đắp đầm hồ và thắp lửa, nghe đâu có lịch sử bắt đầu từ 34 nghìn năm trước, có lễ nghi, văn tự, âm nhạc riêng của mình.
Ở thượng du Mân Giang gần Thành Đô, có dấu vết đời sống của người Đê và ngươi Khương, và cả người Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Theo “Thuyết văn giải tự” của Hứa Thận đời hậu Hán, những tộc người này rất giỏi trồng dâu nuôi tằm, dệt vải lụa, nên được gọi là người “Tâm Tùng”.
Lại theo “Hoa dương quốc chí” của Thường Cừ đời Tấn, truyền thuyết về đất Thục đời cổ đại, từng bị nạn Hồng Thủy, nên người ở đấy đã sớm khơi ngòi, bắt cá, đắp hồ. Ông vua cuối vương triều Bồ Trạch là Vọng đế, sau thất bại về trị thủy, trao ngôi kế vị cho tể tướng Khai Minh. Khai Minh thờ thần Rùa, tương truyền là một nhà thủy lợi cuối đời Hạ, được ủy thác việc trị Hồng Thủy, sau này được giao quyền bính, trở thành người thống trị đất Thục. Câu chuyện này có chỗ na ná với chuyện thần thoại về vua Nghiêu, vua Thuấn và Đại Vũ, có thể là một phiên bản cũng nên; nhìn chung đấy là một vùng đất biệt lập có nhiều biến động lịch sử.
Trong thời kỳ Khai Minh làm vua đất Thục, từng lệnh cho năm lực sĩ trong họ, lấy những khối đá lớn trong núi làm bia mộ của nhà vua; những khối đá lớn ấy dài ba trượng, nặng mấy vạn cân, người sau gọi là măng đá.
Có người cho rằng hai cây trụ đá ở ngoài cửa tây Thành Đô là những măng đá ấy, cây phía bắc cao một trượng sáu thước, chu vi chín thước rưỡi, cây phía nam cao một trượng ba thước, chu vi một trượng hai thước. Nghe nói những măng đá ấy vào đời Hán đã bị sứt mẻ nên không cao như trước nữa. Đỗ Phủ là thánh thơ đời Đường có viết bài thơ “Thạch duẩn hành”, ngợi ca về khối đá ấy:
            Anh có hay chăng ngoài Ích Châu
            Có cây cột đá đã bao lâu
            Phải chăng khanh tướng thời xưa đó
            Mượn đá đề danh vạn kiếp sau.
Lại có một truyền thuyết khác không giống như Đỗ Phủ đã viết. Tương truyền rằng những khối đá lớn mà năm lực sĩ vận chuyển không phải là măng đá ở Thành Đô, mà là đá gương ở Vũ Đảm Sơn, phía tây bắc Thành Đô. Đá gương ở đấy, có đường kính một trượng, cao năm thước nhưng hiện giờ không còn dấu tích. Chỉ còn lưu lại trong câu chuyện truyền miệng của dân quanh vùng về một thôn nhỏ ở gần đá gương. Lục Du là một nhà thơ đời Tống trong bài “Xuân tàn thiên” ở “Kiếm Nam Thi Cảo” có viết:
            Đá gương lấp lánh ánh trời
            Nghìn xuân chuyện cũ miệng người truyền lưu.
Nói chung, văn hoá đất Thục phát triển từ rất sớm, có sắc thái riêng, không giống với văn hoá Trung Nguyên.


2. Văn hoá Trung Nguyên xâm nhập vào đất Thục.
Văn hoá đất Thục chính thức bước vào lịch sử Trung Quốc từ thời Tần Huệ Vương.
Sau khi Thương Ưởng cải biến tình hình, nước Tần rất hưng phấn, khách khanh Trương Nghi muốn phát triển sách lược liên hoành sang phía đông, song danh tướng phái Bản Thổ là Tư Mã Thổ lại muốn đánh Thục. Nước Thục lúc ấy đang mắc nội loạn, vua Thục và em trai là Tra Hầu tranh giành quyền bính, Tra Hầu ở quan ải Hà Minh gần nước Tần bèn cầu xin nước Tần viện trợ. Tần Huệ Vương cũng muốn nhân cơ hội ấy mà xâm nhập chiếm lấy nước Thục.
Trương Nghi lại có ý kiến phản đối, ông ta cho rằng: “Đất Thục là nước ở phía tây, đánh một nước man di như thế sẽ làm mất tiếng tăm của chúng ta. Lại thêm vào đường Thục rất khó khăn, khiến quân sĩ gặp phải mỏi mệt và khốn khổ, dẫu có đánh thắng, cũng chưa được gì, bấy giờ là thời khắc rất quan trọng để nước Tần dương danh với Trung Nguyên, lại dùng vũ lực với một nước man di, chỉ làm tổn thất tiếng tăm bấy lâu của nước Tần mà thôi”.
Tư Mã Thổ thì bầy tỏ ý kiến hoàn toàn khác hẳn:
“Nước Tần muốn được quốc phú binh cường, trước hết phải có đất rộng lớn, và đời sống quốc dân no đủ. Nước Thục ở phía tây nước ta nay đang mắc nội loạn, nếu nước Tần tiến đánh chẳng khác hùm sói nhảy vào giữa đàn dê, dễ dàng giành được thắng lợi. Đất Thục có vật tư phong phú, tiềm lực vô cùng, sẽ đem lại sự giúp đỡ rất lớn cho sự hùng mạnh của đại quân nước Tần. Hơn nữa đất Thục vẫn là xứ man di, nếu ta có đánh chiếm, các nước chư hầu Trung Nguyên sẽ chẳng bàn luận, chê trách nước Tần làm gì. Giành được thực lợi mà không ảnh hưởng đến danh tiếng với lân bang, đấy chẳng phải là việc rất nên làm ư?”
Tần Huệ Vương nghe theo ý kiến của Tư Mã Thổ, tiến quân vào đất Thục; tháng 10 năm 316 trước Công Nguyên, đánh chiếm được nước Thục, giết được vua Thục, lại phân chia nước Thục thành hai vùng hành chính là Thục quận và Ba quận. Thủ phủ của Thục quận là Thành Đô, Thủ phủ của Ba quận là Giang Châu, tức là Trùng Khánh ngày nay.
Sau khi thôn tính nước Thục, Tần Huệ Vương lại sai Trương Nghi phụ trách việc qui hoạch lại nước Thục. Trương Nghi muốn đem văn hoá Trung Nguyên vào đất Thục, bèn đề nghị đem một vạn hộ dân Tần di cư vào đấy lại ủy thác cho Trương Nhược, một công trình sư nổi tiếng thiết kế việc xây dựng lại Thành Đô.
Sách “Hoa dương quốc chí” có chép: thành trì ở Thành Đô có chu vi 20 dặm, tường thành cao bảy trượng bố trí cung thất thành nội và phố xá phỏng theo thủ đô Hàm Dương của nước Tần thời bấy giờ. Cung thất chủ yếu phân làm Thái Thành và Thiếu Thành; Thái Thành ở phía đông, Thiếu Thành ở phía tây, tường thành bấy giờ toàn dùng đất để đắp, bởi chất đất rất tốt, nghe nói bức tường ấy vẫn còn đến đời Tống mới hoàn toàn bị hủy hoại. Chẳng qua vào khoảng đời nhà Đường, đã có sự cải tạo lại Thành Đô, tạo ra qui hoạch cơ sở của Thành Đô bấy giờ. Bởi thế những kiến trúc còn lại của Trương Nghi năm nào không nhiều, trong đó còn lại cửa Tuyên Minh ở phía tây nam Thiếu Thành rất nổi tiếng, không ít thi nhân đã đề thơ ở đấy, để nhớ tiếc một thời cổ xưa. Sầm Tham là nhà thơ ở nơi biên ải đời Đường rất nổi tiếng, có bài thơ “Trương Nghi lâu” như sau:
            Lầu Tần nơi đó ngày xưa
            Cửa son gác tía bây giờ còn đây
            Hai sông vẫn chảy mé ngoài
            Nghìn năm vẫn thế miệt mài về xuôi
            Nghe đâu mỹ nữ bao người
            Trôi theo dòng nước một thời trẻ trung.
Cửa Tuyên Minh đối diện với Tuyết Sơn, phía trước có dòng Mân Giang, sơn thủy hữu tình, là vùng đất thắng cảnh đáng để bầy rượu mà thưởng lãm.


3. Máng nước Lý Băng và nghìn dặm phì nhiêu
Khi nước Tần mới xâm chiếm, nước Thục còn chưa phát triển, đất đai tuy phì nhiêu, song luôn bị ngập lụt, mùa màng thường bị phá hoại, sản vật không được phong phú.
Vùng bồn địa Tứ Xuyên, từ bắc xuống nam có ba con sông lớn chảy qua. Sông Gia Lăng ở phía đông chảy vào Trường Giang ở Trùng Khánh, sông Đà Giang ở giữa nhập với dòng chính ở Lô Châu, sông Mân Giang hợp lưu ở Nghi Tân. Thành Đô ở phía tây bắc bồn địa, trong lưu vực của Đà Giang và Mân Giang, bởi thế luôn bị ngập lụt, khiến dân địa phương rất đau đầu. Song Mân Giang là dòng sông phù sa nổi tiếng, mỗi năm mang theo một lượng đất màu rất lớn bồi đắp lên bình nguyên Thành Đô nghìn dặm phì nhiêu.
Thượng du Mân Giang là tỉnh Cam Túc bấy giờ, có độ cao so với mặt biển là 4000 mét, địa thế hiểm trở, khi chảy vào huyện Quán ở Tứ Xuyên, sai lệnh độ cao khoảng 2000 mét, nước sông chảy xiết, cứ tưởng tượng cũng thấy.
Mỗi khi mùa hè đến, tuyết tan ở trên núi, chảy xuống phía dưới, khiến bình nguyên Thành Đô bị sự hủy hoại vô tình của nạn Hồng Thủy. Bởi thế đất đai tuy phì nhiêu song mùa màng thường bị phá hoại.
Sau khi nước Tần vào đất Thục được 60 năm, Lý Băng làm Thái thú ở Thục quận, ông ta vốn là một chuyên gia về công trình thủy lợi, vận dụng sở trường, triển khai một công trình thủy lợi xuất sắc trong lịch sử Trung Quốc, đó là đại công trình kênh dẫn nước Đô Giang.
Kênh Đô Giang chảy từ huyện Quán đến Thành Đô, dài hơn 60 cây số, chẳng những có thể dẫn nước tưới lại còn điều tiết thủy lưu, thuận tiện việc vận chuyển. Nước sông Bỉ Giang và Tiền Giang phục vụ đắc lực cho việc tưới nước cho đồng ruộng, bởi thế Bỉ Giang còn gọi là Thành Đô Giang, cái tên kênh Đô Giang cũng bởi thế mà có.
Kênh Đô Giang được hoàn thành, là cống hiến rất lớn cho sự phát triển nông nghiệp ở bình nguyên Thành Đô, chẳng những giải quyết được nạn lụt hàng năm, mà còn biến vùng Thành Đô xứ sở thần tiên nổi tiếng. Gia Cát Lượng trong Long Trung Sách, có nhắc đến vùng đất nghìn dặm phì nhiêu chính là nơi ấy.
Sau này kênh Đô Giang đã được mở rộng và tu bổ, trong đó có Thị Lang Yển Tăng Kiến đời Đường rất nổi tiếng. Nghe nói năm đó, kênh Đô Giang Lý Băng đã tưới cho vùng bình nguyên Thành Đô, song theo ghi chép của tỉnh Tứ Xuyên, diện tích tưới nước đã đạt đến hàng vạn mẫu.
Do cha con Lý Băng có cống hiến lớn như vậy, đến nay ở Đông Trắc Sơn bên sông Mân Giang vẫn còn hai miếu thờ để tưởng nhớ cha con Lý Băng.
Một điều khiến người ta ngạc nhiên là năm 1974, khi tu bổ lại kênh Đô Giang, ở dưới lớp đất bùn sâu 4 mét rưỡi, tìm thấy một pho tượng đá thân cao 2 mét 9, vai rộng 90 phân, nặng bốn tấn rưỡi, theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ học, pho tượng đá Lý Băng được tạc từ thời Hán Linh đế, để trấn áp nạn lụt lội, qua đấy có thể thấy sự tôn kính của nhân dân đối với Lý Băng.
Kênh Đô Giang được hoàn thành, Thục quận trở thành một địa phương giàu có bậc nhất của Trung Quôc.
Tương truyền Tư Mã Thiên tác giả Sử ký là hậu duệ của danh tướng Tư Mã Thố, bởi thế mà đối với sự hình thành và phát triển của đất Thục đã rất quan tâm và thấu hiểu. Sử ký có chép: “Ba Thục đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú, nhất là gỗ, gừng, chu sa, đồng, sắt, tre trúc, kinh tế rất giầu mạnh”.
Song do địa thế từ Thục đến Quan Trung hiểm trở, phải dùng đường Sàn Đạo nhỏ hẹp để vận chuyển, khiến nước Thục thành nơi dễ giữ mà khó đánh, trong sự phát triển chính trị của Trung Quốc vẫn có phong thái độc lập.
Hán cao tổ Lưu Bang ở thời Tần Mạt bị Hạng Vũ phong làm Hán Vương, trông coi một vùng Ba Thục, sau này lấy đó làm cơ sở đánh bại Hạng Vũ thông nhất toàn Trung Quốc, kiến lập vương triều đại Hán, khiến đất Thục trở thành nơi có vị trí rất quan trọng trong lịch sử Trung Quốc.


4. Chính quyền họ Lưu ở Ích Châu và đại quân Trương Lỗ ở Hán Trung
Vào cuối đời Tây Hán, uy quyền của triều chính bị giảm sút, phái quân phiệt ở đất Thục do Công Tôn Thuật đứng đầu tuyên bố độc lập ở thành Bạch Đế, lợi dụng địa thế hiểm yếu, khoá chặt đường Sàn Đạo, khiến đất Thục không bị cuốn vào cuộc chiến loạn cuối đời Tây Hán. Sau này bị danh tướng Ngô Hán của vua Hán là Quan Vũ tiêu diệt, tuy ảnh hưởng của lực lượng chính trị Trung Nguyên bị suy giảm, danh nghĩa là một bộ phận của Trung Quốc song đất Thục về chính trị, kinh tế, văn hoá lại tương đối độc lập.
Cuối đời Đông Hán, loạn lạc liên miên, nhiều dân di cư khỏi Kinh Châu, vào ở đất Thục khiến nhân khẩu ở Ích Châu đạt đến 724 vạn người, số hộ khẩu đạt đến 152 vạn hộ, ở thời Tây Hán đã là vùng đất suối hoa đào khác hẳn với cảnh loạn lạc xung quanh.
Lãnh tụ Ích Châu lúc đó là Lưu Yên đã đề nghị Hán Linh đế phong chức Châu mục.
Lưu Yên tên chữ là Quân Lang, người Giang Hạ, là hậu duệ của Lỗ Cung Vương. Lưu Yên khi còn trẻ, đã làm quan ở Châu Quận, không lâu được giao làm Trung lang lo việc thờ cúng Tôn Miếu.
Về sau bởi sư phụ Trúc Điềm tạ thế, Lưu Yên từ quan ẩn cư ở Dương Thành Sơn, kế thừa công việc của sư phụ, nghiên cứu học vấn, dạy dỗ môn đồ. Tiếp đó bởi có tiếng là người hiền tài, được tiến cử làm quan chức ở trong triều, từng giữ nhiều chức như Quan viên ở phủ Tây Đồ, Huyện lệnh Lạc Dương, Thứ sử Ký Châu, Thái thú Nam Dương, đạt đến chức Tông Chính thái thường.
Lưu Yên là người thâm trầm, có chí lớn, đầu óc minh mẫn, suy nghĩ thấu đáo, quan lại chính phủ chìm đắm, dân tình biến loạn, quan địa phương chẳng thể bình định, khiến dân tình rất thống khổ, bèn để nghị rằng: “Thứ sử, Thái thú dùng tiền bạc để mua quan chức, bóc lột trăm họ dẫn đến phản loạn không dứt. Kế sách sửa gốc, là chọn lão thần có danh vọng cử làm trưởng quan, để có thể bình ổn được tình hình Hoa Hạ”.
Hán Linh đế trước tình hình các nơi sôi sục phản loạn, phải bó tay cam chịu, bèn đồng ý với đề nghị ấy, tích cực chọn lựa nhân tài làm Châu mục, để tăng cường quân quyền, các nhà viết sử bình luận, bắt đầu từ đó đã xảy ra loạn quần hùng cát cứ cuối đời Hán.
Lưu Yên vẫn có ý đoạt lấy chức Châu mục giao chỉ, để tách ra khỏi Trung Nguyên đang rơi vào hỗn loạn, đến một nơi xa tạo dựng một đất nước độc lập. Có một người bạn là Thị Trung Đổng Phù nói với ông ta rằng: “Kinh đô sẽ mắc vào hỗn loạn, tôi xem thiên văn đoán trước Ích Châu có khí thiên tử có thể thành đại sự”.
Lưu Yên bèn xin Hán Linh đế phong cho chức Ích Châu mục.
Đang lúc Thứ sử Ích Châu là Khước Kiệm ráo riết thi hành thu thuế, tạo ra sự bất mãn lớn trong nhân dân, lại thêm tàn dư quân Hoàng Cân nhân đó nhảy vào, thổi bùng ngọn lửa khỏi nghĩa với quy mô lớn, làm ảnh hưởng đến các châu ở chung quanh. Thứ sử Trương Nhất ở Tinh Châu, Thứ sử Cảnh Bỉ ở Lương Châu đều bị chết trong lúc chiến loạn, địa vị của Khước Kiệm thực là nghìn cân treo sợi tóc.
Linh đế chẳng biết làm sao, bèn lệnh cho Lưu Yên làm Ích Châu mục, đến đó trấn áp. Cũng được bổ nhiệm làm Châu mục, còn có U Châu mục Lưu Ngu, Kinh Châu mục Lưu Biểu và Ký Châu mục Giả Tông.
Sau khi Lưu Yên đến Ích Châu, lập tức thực hiện sách lược khoan dung vỗ yên dân chúng, cố gắng tranh thủ sự giúp đỡ của giới hào tộc địa phương. Đổng Phù và Thái Thương lệnh Triệu Vỹ cũng từ quan, theo Lưu Yên vào đất Thục cùng bắt đầu tạo dựng một vùng trời đất mới. Lưu Yên bổ nhiệm Đổng Phù làm Đô uý trông coi phía tây, Triệu Vỹ làm Tham mưu dưới trướng của Lưu Yên.
Lãnh tụ quân Hoàng Cân là Mã Tương, Triệu Chi lấy Miêu Trúc làm căn cứ, được không ít dân chúng, Lý Thăng ở Miêu Trúc bị giết, thanh thế quân Hoàng Cân càng nổi trội, tập hợp được hơn 1 vạn người; tiếp đó Lạc huyện bị đánh phá, Khước Kiệm phải tự mình đốc chiến cũng chết giữa đám loạn quân. Bởi Thục quận, Kiện Vi liên tục báo tin nguy cấp, Lưu Yên phải lệnh cho Giả Long ứng chiến mới tạm ngàn chặn được Mã Tương quấy nhiễu.
Không lâu Lưu Yên dẫn quân chủ lực bình định được Miêu Trúc vỗ yên dân chúng, thực hiện một chính sách khoan dung, có ý xưng làm vua ở đấy. Trương Lỗ theo đạo “Ngũ đổng mễ”, do người mẹ được quỷ núi truyền cho; Lưu Yên bèn ngầm cho Trương Lỗ làm Đốc nghĩa tư mã, trấn thủ bồn địa Hán Trung, ngăn chặn đường thông với triều đình. Lưu Yên lại dâng thư lên triều đình, nói rằng tập đoàn “Ngũ đổng mễ” làm phản, ngăn chặn giao thông, phải tạm thời đình chỉ quan hệ với triều đình. Bọn cường hào trong châu như Lý Quyên, Vương Hàm nghi ngờ Lưu Yên có ý khác, ngầm bàn bạc với Thái thú Kiện Vi là Nhiệm Kỳ và tòng sự Giả Long. Lưu Yên sau khi được tin tình báo, lập tức cho người giết chết Lý Quyền; Nhiệm Kỳ và Giả Long dẫn quân chống lại, bị quân Lưu Yên đánh tan, cả hai đều tự sát.
Sau khi đánh bại địch thủ, Lưu Yên khẩn trương xây dựng đội quân ở Ích Châu, chuẩn bị cát cứ tự lập. Kinh Châu mục Lưu Biểu xét thấy sự tình, lập tức dâng thư lên triều đình đề nghị kiểm tra. Lúc ấy, con trai Lưu Yên là Lưu Đảng, Lưu Phạm, Lưu Chương đều làm quan ở Trường An, Đổng Trác đang nắm triều chính bèn hạ lệnh bắt giữ bọn Lưu Phạm, lệnh cho Lưu Chương quay lại Ích Châu, thuyết phục Lưu Yên về với triều đình, song Lưu Yên giữ Lưu Chương lại không trả lời triều đình nữa.
Chinh tây tướng quân Mã Đằng trước sự bạo ngược của Đổng Trác, chuẩn bị dấy quân Tây Lương làm phản; Lưu Chương ngầm phái người chỉ thị cho Lưu Phạm làm nội ứng, song âm mưu bị tiết lộ, Đổng Trác hạ lệnh giết Lưu Phạm, Lưu Đảng, lại dẫn quân đánh tan liên quân Mã Đằng và Lưu Yên. Mã Đằng rút về Lương Châu, quân Lưu Yên bị đại bại, rút về Ích Châu, họa vô đơn chí, Thành Đô bị hoả hoạn nặng, khiến sự cố gắng của Lưu Yên trong mấy năm hoá thành tro bụi. Lưu Yên rút về cố thủ ở Thành Đô, vừa thương tiếc con trai ngộ nạn, vừa bị thiên tai nặng nề, ý chí tan rã, không lâu lại bị ung thư mà chết.
Trưởng quan Triệu Vỹ lập Lưu Chương làm Ích Châu mục, Triệu Vỹ đảm nhiệm Chinh đông trung lang tướng, lập tức thảo phạt Lưu Biểu ở phía đông, để trả mối thù cũ. Song do chiến sự bất lợi, các mãnh tướng Cam Ninh, Lâu Phát, Thẩm Di lại làm phản mà đầu hàng Lưu Biểu; Lưu Biểu bố trí họ vào đội quân của Hoàng Tổ. Sau này Cam Ninh lại phản lại Hoàng Tổ, theo về dưới cờ Tôn Quyền.
Lưu Chương là con thứ ba của Lưu Yên, cá tính trái hẳn với phụ thân, ôn hoà mà thiếu quyết đoán, hay nghe theo người khác, quyết sách cơ hồ dựa vào cả các trọng thần; bởi thế chính quyền họ Lưu ở Ích Châu mau chóng suy giảm.
Kẻ đầu tiên chuẩn bị việc tạo phản chính là Trương Lỗ, người đã được Lưu Yên cố ý bồi dưỡng. Sau khi Lưu Yên chết, Trương Lỗ lập tức tuyên bố độc lập ở Hán Trung. Lưu Chương nghe theo đề nghị của thuộc hạ bắt giết mẹ và con trai Trương Lỗ khiến quan hệ hai bên càng thêm căng thẳng. Trương Lỗ rất đau đớn, chuẩn bị có thời cơ nam chinh báo thù, khiến Ích Châu rơi vào nguy cơ quân sự rất nghiêm trọng.
Lại nữa, từ thời Lưu Yên đến giờ đội quân địa phương của các hào tộc Ích Châu với đại quân (quân Trường An và Nam Dương) vẫn thường xung đột với nhau; Lưu Yên nghiêng về phía quân thân thuộc của mình, khiến cho quan hệ đôi bên ngày càng thêm thù oán sâu sắc. Sau khi Lưu Yên chết, các hào tộc Ích Châu ngả về phía Triệu Vỹ, mưu toan chiếm lấy chủ quyền ở Ích Châu của Lưu Chương. Song được sự giúp đỡ của đại quân Đông Châu, Lưu Chương đánh thắng Triệu Vỹ, tạm thời lấy vũ lực để khống chế cai quản Ích Châu. Với tinh thần chiến loạn liên tục như vậy, vùng Ba Thục rơi vào sự bất ổn định nghiêm trọng. Kế sách chia ba thiên hạ của Gia Cát Lượng, đề nghị của Chu Du, Lỗ Túc, Cam Ninh với Tôn Quyền đều muốn nhân cơ hội loạn lạc mà thôn tính Ích Châu, nguy cơ có thể chỉ rõ đều ở cả đấy.


5. Trương Tùng, Pháp Chính âm mưu nhường lại Ích Châu.
Chẳng qua, do địa thế Ích Châu hiểm yếu thế lực bên ngoài xâm nhập không dễ, đến cả đại quân Trương Lỗ ở Hán Trung gần kề gang tấc, cũng khó có thể đánh chiếm được đất Thục. Bởi thế chính quyền Lưu Chương được sự giúp đỡ của đại quân Đông Châu, vẫn kéo dài sự hấp hối chống chọi được mười mấy năm.
Năm Kiến An thứ 13, cũng là năm thứ 14, Lưu Yên từ trần, Lưu Chương kế tục, đã nổ ra cuộc chiến ở Xích Bích. Tào Tháo để mất Kinh Châu mới chiếm được, Lưu Bị và Tôn Quyền hiển nhiên đã khống chế hữu hiệu ở lưu vực sông Trường Giang, và tạo thành hình thế nam bắc đối kháng.
Tào Tháo không giành được thắng lợi ở phía nam, đã tích cực chuyển hướng sang Quan Trung ở phía tây và Hán Trung ở tây nam. Chẳng những Mã Siêu, Hàn Toại ở Quan Trung bị uy hiếp, đội quân Trương Lỗ ở Hán Trung cũng tuyên bố tình trạng khẩn cấp, tích cực chuẩn bị tác chiến.
Đối với Ích Châu mà nói nguy cơ tuy còn rất xa, song Lưu Chương thấy Trương Lỗ đáng gờm bị uy hiếp bèn nhân thể ném đá xuống giếng, giải quyết vấn đề Trương Lỗ. Ông ta tiếp thu đề nghị của các lão thần phái Bản Thổ là Pháp Chính và Trương Tùng, chẳng để ý đến chủ trương phản đối tham gia chiến tranh Trung Nguyên của Trương Nghiêm, thủ lĩnh đại quân Đông Châu vẫn giúp đỡ ông ta, ông ta chủ động phái sứ giả đến liên hệ với Tào Tháo, có ý phối hợp nam bắc cùng tấn công Trương Lỗ.
Sứ giả Âm Phổ báo cáo rõ tình thế Ích Châu với Tào Tháo, khiến ông ta rất đỗi vui mừng, lập tức phong Lưu Chương làm Trấn uy tướng quân, người anh Lưu Mạo làm Bình khấu tướng quân. Không lâu sứ giả Ích Châu là Trương Túc mang khá nhiều cống vật đến dâng, Tào Tháo rất thích thú, bèn bổ nhiệm Trương Túc làm Quảng hán Thái thú. Nhưng đến sứ giả thứ ba là Trương Tùng thì lại nảy ra vấn đề mới.
Trương Tùng là em trai Trương Túc, người cao không đến 5 thước ta, diện mạo xấu xí, song học vấn rất uyên bác, biện luận giỏi giang, bởi thế thường cậy tài mà kiêu ngạo. Vào năm đó Tào Tháo mất một đứa con trai bé rất tuấn tú tên là Tào Xung, bởi thế việc chiêu đãi không khỏi có phần sơ lược và lãnh đạm.
Trương Tùng vẫn nhạy cảm về diện mạo của mình, rất không bằng lòng trước cử chỉ của Tào Tháo, cho ràng có ý khinh thường ông ta, khi trở về thâm tâm ngầm sang Giang Lăng yết kiến Lưu Bị.
Nghe nói Trương Tùng mới đến, Gia Cát Lượng rất vui mừng, lập tức đề nghị Lưu Bị tiếp đãi đặc biệt, khiến Trương Tùng rất thoả mãn. Bởi thế, Trương Tùng về Thành Đô, đã không tiếc lời khen ngợi về cách đối xử của Lưu Bị ngay trước mặt Lưu Chương.
Trương Tùng nói với Lưu Chương rằng: “Tào Tháo tuy làm tể tướng triều đình thực ra là Hán tặc khinh nhờn Hoàng thượng, Lưu Dự Châu là hoàng tộc nhà Hán, với chúa công cùng một họ, thực là người nổi tiếng anh hùng, đến cả Tào Tháo cũng phải sợ ông ta; nếu chúng ta liên hợp chẳng những có thể chống chọi lại sự uy hiếp của Trương Lỗ, ví như Tào Tháo chẳng làm gì chúng ta được”. Lưu Chương vốn hay nghe theo, ý chí không định, cũng có ý bắt cá hai tay, bèn quyết định chọn một người khác, để tiến hành việc liên minh với Lưu Bị.
Trương Tùng tiến cử Pháp Chính để Quan Trung và Mạnh Đạt làm sứ giả. Tổ phụ của Pháp Chính là Pháp Chân còn gọi là Huyền Đức, là một đại sư nho học thời ấy, thực là người nổi tiếng khí tiết. Thân phụ của Pháp Chính là Pháp Diễn, từng làm quan Tư Đồ và Đình uý tả giám.
Năm Kiến An thứ nhất, Trung Nguyên bị đói kém nghiêm trọng, Pháp Chính trẻ tuổi và người bạn đồng hương là Mạnh Đạt, cùng vào đất Thục dựa vào Lưu Chương; song Lưu Chương đang bận tranh giành nội bộ, về căn bản không chiếu cố đến Pháp Chính. Rất lâu sau đó, mới theo đề nghị một số người, bổ nhiệm ông ta làm Tân quận lệnh, sau lại cho làm Quân nghị hiệu uý; song cuối cùng vẫn không trọng dụng, với một người có địa vị gia truyền như Pháp Chính, mà đãi ngộ như vậy tự nhiên có sự bất mãn sâu sắc.
Mạnh Đạt là người đồng hương với Pháp Chính, văn vũ toàn tài, rất có mưu lược, bởi giỏi quan hệ giao tiếp, trở thành người cung cấp tin tức chủ yếu cho Pháp Chính và Trương Tùng.
Gặp Pháp Chính, Trương Tùng nói: “Về việc này, Lưu Chương nhu nhược, thiếu tài cán điều hành, chẳng thể dựa vào được, Lưu Bị anh minh tài cán, Tào Tháo còn phải nể sợ, nếu kết giao với ông ta, đại sự có thể thành công”.
Lưu Bị mới gặp Pháp Chính, qua câu chuyện ban đầu rất đỗi vui mừng, kết làm chỗ thân tình; Pháp Chính cũng bị phong độ của Lưu Bị hấp dẫn, bèn nói rõ đề nghị của Trương Tùng với Lưu Bị, hy vọng sau này có may mắn cùng sáng tạo ra sự nghiệp lớn. Gia Cát Lượng lưu ý Lưu Bị nhận việc này mà hết sức bầy tỏ tính tích cực chủ động, tránh để người ta có ý nghi ngờ là mình có dã tâm. Lưu Bị bèn lấy tình cùng họ vói Lưu Chương, chỉ biểu thị mong muốn giúp đỡ mà không có ý đoạt lấy, khiến Pháp Chính, Mạnh Đạt càng thêm kính trọng Lưu Bị.
Sau khi về Thành Đô, Pháp Chính nói lại với Trương Tùng rằng, Lưu Bị có hùng tài, muốn được tôn phò, chỉ tiếc không có duyên may, có ý sắp đặt mưu kế chỉ đợi thời cơ hành động.


6. Lưu Chương dẫn sói vào nhà.
Năm Kiến An thứ 16, Tào Tháo đánh tan đội quân của Mã Siêu và Hàn Toại ở Quan Trung, hạ lệnh, cho Tư lệ hiệu uý Chung Dao tích cực tiến hành kế hoạch đánh chiếm Hán Trung. Tào Tháo tự mình sắp xếp binh mã ở Lạc Dương, lệnh cho Hạ Hầu Uyên đang trấn thủ ở Quan Trung hội quân ở Trường An, hiển nhiên có ý đồ lớn sẽ nam chinh nay mai.
Bắt đầu từ đó, chẳng những Trương Lỗ khẩn trương, đến cả Lưu Chương cũng cảm thấy sự uy hiếp của “mưu giông gió giật quanh lầu”.
Trương Tùng nhân cơ hội mà nói với Lưu Chương “Quân Tào rất hùng cường, là vô địch trong thiên hạ, một mai bình định được Hán Trung ắt sẽ nam chinh thảo phạt nốt đất Thục, đến lúc đó tướng quân có đối sách gì?”.
Lưu Chương nói: “Về việc này, ta cũng đã nghĩ rất lâu, song vẫn chưa tìm ra sách lược hữu hiệu”.
Trương Tùng nói: “Hiện nay tướng quân Lưu Dự Châu đang trấn thủ Kinh Châu, là người cùng họ với ngài, lại có môi thù truyền kiếp với Tào Tháo. Ông ta đã trải qua trăm trận, có tài thao lược, đến Tào Tháo cũng phải nể mặt. Mấy năm nay, chúng ta đã có quan hệ với ông ấy, sao không liên hợp với ông ấy để tăng thêm sức mạnh, chinh phạt Trương Lỗ, chỉ cần Trương Lỗ sụp đổ, Ba Thục và Hán Trung có thể kết làm một chỉnh thể liên hợp phòng ngự, quân Tào có mạnh đến đâu, cũng không dễ phá được phòng tuyến liên hợp ấy, như vậy, Ích Châu sẽ giữ được sự thái bình mãi mãi”.
Lưu Chương vẫn có ý nghi ngại về việc dẫn quân ngoài vào nhà, ngần ngừ không quyết.
Trương Tùng lại tiến thêm một bước: “Mấy năm nay, đại quân Đông Châu và đại quân Bản Thổ đối kháng với nhau nghiêm trọng. Ví như Bàng Hy, Lý Dị ở phe Bản Thổ cậy công lao mà kiêu ngạo, chẳng chịu nghe theo chỉ huy. Trước mặt họ đang cố thủ ở phòng tuyến phía bắc, một mai trở giáo, Ba Thục sẽ rơi vào nguy cơ khó lường; bởi thế cần mượn thế lực của Lưu Dự Châu, có thể ngăn cản được dã tâm của Tào Tháo, cũng như ngăn ngừa được Bàng Hy có hành động tạo phản với Thành Đô”. Nghe nói sự tình nghiêm trọng như vậy, Lưu Chương bèn nghe theo, lại cử Pháp Chính làm sứ giả, đến Giang Lăng mời Lưu Bị vào Thục, cùng bàn bạc việc liên minh quân sự.
Pháp Chính sau khi đến Kinh Châu, lập tức yết kiến Lưu Bị, trình bày rằng: “Tướng quân là người anh tài, hãy nhân cơ hội Lưu Chương đang nhu nhược, lại thêm lão thần Ích Châu là Trương Tùng có ý làm nội ứng ắt có thể thuận lợi đoạt được Ích Châu, xin tướng quân mau nắm lấy cơ hội, dốc toàn lực mà làm”.
Lưu Bị vẫn lấy cớ Lưu Chương là người cùng họ, khéo léo cự tuyệt.
Pháp Chính bèn nghiêm trang biểu thị rằng: “Tào Tháo sau khi thắng trận ở Quan Trung, nay lộng hành trước thiên tử, vào triều không giữ lễ, mang kiếm vào triều, hiển nhiên có ý muốn tiếm quyền. Tướng quân là người giữ hương hoả của nhà Hán, rất nên mau chóng đoạt lấy Ba Thục, lấy Ba Thục vốn có địa thế hiểm trở, sản vật phong phú, rút lui có thể giữ, tiến công có thể tranh bá với thiên hạ, nếu không Tào Tháo một mai bình định được Hán Trung, lại chiếm nốt Ba Thục, thiên hạ ắt sẽ về tay ông ta”.
Lưu Bị cho rằng việc này rất trọng đại, phải trao đổi thêm với Gia Cát Lượng và Bàng Thống, bèn mời Pháp Chính đến ở khách quán, đợi tin trả lời.
Trong hội nghị quân sự, Gia Cát Lượng, Quan Vũ đều tán thành sách lược vào Thục. Bàng Thống còn tích cực bày tỏ rằng: “Trải qua mấy năm loạn lạc vừa rồi, Kinh Châu nhân tài phiêu tán, đời sống nhân dân thấp kém, nếu chỉ dựa vào Kinh Châu sẽ không đủ thực lực tạo thành thế ba chân vạc với Tào Tháo và Tôn Quyền; nay Ích Châu đất đai rộng lớn, sản vật phong phú, số hộ khẩu có hơn trăm vạn, chỉ cần chỉnh đốn hữu hiệu thêm, về căn bản không cần dựa vào điều kiện bên ngoài, là một căn cứ địa rất tốt để phục hưng nhà Hán, cơ hội này dứt khoát chẳng thể vứt bỏ”.
Lưu Bị nói: “Kẻ địch của chúng ta là Tào Tháo chứ không phải Lưu Chương, huống chi tôi nói đến nhân nghĩa, vẫn là hình tượng bất đồng với Tào Tháo; nếu chiếm lấy Ích Châu như vậy, xét về lâu dài mà nói, đấy lại là điều kiện bất lợi với chúng ta!”
Bàng Thống nói: “Nay thiên hạ đại loạn, tiêu chuẩn đạo nghĩa cũng có chỗ bất đồng, xưa kia Ngũ Bá thời Xuân Thu vẫn thôn tính các nước nhược tiểu, lấy chiến tranh ngăn chặn chiến tranh, tránh cho dân tình khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, chẳng những kiến tạo được nghiệp lớn, lại hợp với “Nguyên tắc đại nghĩa”. Đấy cũng là ý tứ câu nói “thấy ngược mà lấy, thấy thuận mà lấy”. Tướng quân nếu như hoàn thành được đại nghĩa phục hưng nhà Hán thì việc đoạt lấy Ích Châu của Lưu Chương có đáng kể gì? Bởi muôn dân thiên hạ mà phải bội tín cũng là điều bất đắc dĩ vậy! Xin tướng quân suy nghĩ kỹ, nếu bây giờ không đoạt lấy Ba Thục, mà để người khác chiếm mất, thì sau này có hối cũng không kịp nữa”.
Sau khi trao đổi kỹ với Gia Cát Lượng, Lưu Bị quyết định nhận lời mời của Lưu chương, dẫn quân vào Thục, chớp lấy cơ hội mà đoạt lấy Ích Châu.


7. Bàng Thống lập kế hoạch, Hoàng Trung dẫn quân đi.
Để biểu thị sự vô tâm chẳng ở mãi Ích Châu, và cũng để tránh sự nghi ngờ và phòng bị của Lưu Chương, Gia Cát Lượng đề nghị với Lưu Bị, đại quân vào Thục lần này sẽ hoàn toàn dựa vào các tướng lĩnh mới gia nhập làm nòng cốt. Các lão tướng đều ở lại, một mặt để đề phòng cẩn thận sự tập kích của Đông Ngô và Tào Tháo, một mặt cũng để Lưu Chương thấy hành động quân sự này chỉ có mục đích giới hạn.
Đại quân vào Thục được sắp xếp như sau:
Chủ soái: Lưu Bị
Tổng Tham mưu trưởng: Bàng Thống
Tiền quân: Đại quân Hoàng Trung
Trung quân: Lưu Bị tự mình chỉ huy, có thêm Lưu Phong, Quan Bình làm lãnh đội.
Hậu quân: Đại quân Ngụy Diên
Trận tuyến phòng bị ở Kinh Châu được sắp xếp như sau:
Tổng chỉ huy ở Giang Lăng: Gia Cát Lượng
Quân tiền tiêu phía bắc: Do Quan Vũ bố trí ở cửa ải Thanh Nê, đề phòng bị quân Tào Nhân ỏ Tương Dương tấn công.
Trấn thủ Trường Giang: Đại quân Trương Phi.
Chỉ huy ở Công An: Đại quân Triệu Vân, hiệp trợ với Gia Cát Lượng cai quản Kinh Châu và ba quận Kinh Nam được an toàn.
Từ đó có thể thấy hành động quân sự của Lưu Bị lần này khá nguy hiểm, bởi không để Lưu Chương nghi ngờ, đạo quân vào Thục có số lượng rất ít, nếu như Lưu Chương phản bội, sự an toàn của Lưu Bị có thể nói là trứng để đầu đẳng vậy.
Bàng Thống bạo gan mà bụng thì chín chắn, giầu sức tưởng tượng, trong hành động lần này lại thích hợp nếu so với Gia Cát Lượng. Lại nữa việc trấn thủ Giang Lăng là nhiệm vụ sống còn, chẳng thể tìm được một người thứ hai như Gia Cát Lượng, đã cẩn thận lại nhiều mưu kế.
Sắp xếp đạo quân vào Thục, hiển nhiên cho thấy Lưu Bị táo bạo hơn người, Hoàng Trung, Nguỵ Diên đều là các tướng cũ của Kinh Châu, vốn được Lưu Bị hoàn toàn tín nhiệm, thậm chí mang cả sinh mệnh ủy thác ở trong tay họ. Trong cuộc chiến tranh ở Thục, hai người này cơ hồ đã mang toàn lực để giành lấy thành công; Lưu Bị đối đãi với họ rất tốt, đó là nguyên nhân chủ yếu khích lệ họ.
Lại nói vê nội bộ Ích Châu trước việc Lưu Bị dẫn quân vào Thục lần này cũng có lắm suy nghĩ nghi ngờ.
Hoàng Quyền thì kịch liệt phản đối, ông ta nói với Lưu Chương rằng: “Lưu Bị nổi tiếng vũ dũng, sao có thể lâu dài làm một kẻ khách mời bên cạnh tướng quân. Nếu như lấy lễ trọng mà tiếp đãi, lại là việc một nước chẳng có hai chúa. Nếu chúa công nghe lời thần thì nước Thục có núi Thái Sơn bền vững, nếu không nghe lời thần, chúa công ắt gặp phải nguy hiểm khôn lường”.
Trướng tiền tòng sự Vương Lũy, lại tự mình treo ngược ở trước cửa thành, hết sức can gián Lưu Chương: “Trương Lỗ phạm vào bờ cõi chỉ như ghẻ lở mà thôi, tuy có làm phiền song không nguy hiểm. Lưu Bị vào Thục, ấy là hoạ lớn gần kề, sợ Ích Châu sẽ không còn nữa!”.
Song Lưu Chương vốn là người không có chủ kiến, đã phái sứ giả mời Lưu Bị, tự nhiên chẳng thể hối lại, huống chi ông ta cũng nghĩ không ra một phương pháp gì để rút lại lời nói của mình trước đây. Theo tin thám thính trước đó, có thể thấy đại quân vào Thục của Lưu Bị không nhiều, ông ta dứt khoát cự tuyệt lời đề nghị của Hoàng Quyền, lại còn hết sức cung phụng Lưu Bị, mời ông ta đến nơi ở sang trọng như tạo cảm giác đang ở nhà vậy.
Khi đạo quân của Lưu Bị đến ba quận, Thái thú ở đấy là Nghiêm Nhan là kẻ cầm đầu già dặn ở Ích Châu; ông ta có mưu lược, trọng nghĩa khí, đối với việc Lưu Chương mời Lưu Bị vào Thục lần này chẳng hiểu như thế nào, đã nói với các tướng lĩnh thuộc hạ rằng: “Chiến lược này có vẻ giống như ngồi ở nơi rừng sâu, lại thả hổ để bảo vệ mình”.
Các tướng lĩnh và trọng thần ở Ích Châu cũng bàn luận sôi nổi về việc này, khiến Trương Tùng và Pháp Chính phải chịu một áp lực lớn, may mà Mạnh Đạt giải thích giúp; thuyết phục được không ít người và dần dần ủng hộ lập trường của Trương Tùng và Pháp Chính.
Để tránh những điều bất ngờ, trung quân của Lưu Bị đóng ở Điếm Giang, Mạnh Đạt tự mình đến Phù Thành đón tiếp. Thay mặt Lưu Chương hoan nghênh Lưu Bị, Mạnh Đạt mời Lưu Bị hãy tạm ở Phù Thành, đợi Lưu Chương đến ra mắt. Không lâu Lưu Chương dẫn đạo quân hỗn hợp bộ kỵ binh hơn 3 vạn người rầm rộ đến nghênh tiếp Lưu Bị. Phù Thành cách Thành Đô 360 dặm, qua đấy cũng thấy được thành ý của Lưu Chương như thế nào. Hai người gặp nhau rất đỗi vui mừng, và tình cảm rất thắm thiết. Song Mạnh Đạt phụ trách việc tiếp đãi, lại gặp riêng Bàng Thống truyền đạt ý của Trương Tùng, hy vọng Lưu Bị nhân cơ hội đó mà giết Lưu Chương, tránh khỏi phiền nhiễu về sau. Bàng Thống ngầm báo cáo việc ấy với Lưu Bị, song Lưu Bị cho rằng “Việc đại sự như thế chẳng thể vội vàng” đã cự tuyệt.
Bàng Thống lại hiến một kế khác với Lưu Bị, nhân cơ hội này mà bắt giữ Lưu Chương; tuy là việc bất chính song tránh được một cuộc chiến tranh mà khuất phục được người ta, chẳng phải là việc đáng làm ư?
Lưu Bị nghiêm sắc mặt bảo: “Chúng ta mới vào đất Thục, chưa có ân đức với trăm họ lại vội vàng làm việc thất đức như thế, ắt sẽ không được ủng hộ, đó không phải là kế lâu dài”.
Thực ra với một số ít binh mã trong tay Lưu Bị, mà 3 vạn quân của Lưu Chương tiến đánh, tuy có Mạnh Đạt làm nội ứng song có bắn được hươu còn chưa biết về tay ai, điều ấy thực chưa biết rõ! Bởi thế Bàng Thống không dám nói lại nữa.


8. Giả đò chứ không thực làm, Lưu Bị nấn ná bội ước
Lưu Chương và Lưu Bị hằng ngày đều dự yến tiệc ở Phù Thành, như thế đã hơn ba tháng. Lưu Chương tiến cử với triều đình để Lưu Bị làm Đại tư mã, kiêm chức Tư lệ hiệu uý. Lưu Bị cũng đề nghị với Hán Hiến đế cử Lưu Chương làm Trấn tây tướng qưân, kiêm chức Ích Châu mục. Đương nhiên những việc này chỉ là trò chơi văn tự về danh nghĩa mà thôi, quyền bính trong triều đều do một mình Tào Tháo nắm giữ, những văn bản tiến cử tốn không ít vàng bạc và sức lực, tự nhiên nhanh chóng chui cả vào cái ống bút bụi bậm của Tào Tháo.
Chẳng qua, Lưu Chương không muốn mời Lưu Bị vào Thành Đô, trái lại ông ta ở Phù Thành để chiêu đãi quân Lưu Bị, mời Lưu Bị xuất phát từ Phù Thành lên phía bắc để thảo phạt Trương Lỗ. Từ việc đó mà xem, Lưu Chương dù sao vẫn được kẻ cao thủ mách nước, khiến Lưu Bị không thể không cải biến kế hoạch ban đầu, chỉ giả đò nấn ná sẽ tiến đánh Trương Lỗ nay mai.
Song Lưu Chương vẫn đối xử chân thành, thậm chí giao cả ải Bạch Thủy để Lưu Bị chỉ huy, lại đưa 20 vạn hộc gạo, hơn một nghìn ngựa chiến, hơn một nghìn xe cộ và rất nhiều quần áo, vũ khí cho Lưu Bị. Đợi mọi việc đã sắp xếp xong, Lưu Chương mới dẫn quân trở về Thành Đô.
Nhưng Lưu Bị cũng là kẻ khôn ngoan, ông ta trì hoãn việc tiến lên phía bắc, đóng đồn ở Hà Minh Quan, (Nay là Tứ Xuyên) phối hợp với các thủ lĩnh ở Bạch Thủy Quan như Dương Hoài và Cao Bái để chỉ huy quân sĩ. Tiếp đó, như Tam quốc chí có chép, ông ta chưa nghĩ đến việc đánh Trương Lỗ, chỉ lo vun trồng ân đức, để thu phục nhân tâm.
Cũng vào thời gian ấy, Kinh Châu phát sinh một việc chẳng ngờ, khiến Lưu Bị có thể mượn cớ tạm thời trì hoãn việc thảo phạt Trương Lỗ.


9. Tôn phu nhân trở về Đông Ngô, Triệu Vân chặn sông cứu ấu chúa.
Vốn trước đây Tôn Quyền từng ước hẹn với Lưu Bị cùng đoạt lấy Ích Châu, Lưu Bị lấy cớ vì đại nghĩa mà cương quyết cự tuyệt, lại còn lập tức bầy quân phòng vệ phía đông khiến Tôn Quyền không thể sang phía tây được đành phải từ bỏ ý định của mình. Nay Lưu Bị tự mình lại dẫn quân vào Thục, ngoài mặt nói là liên minh với Lưu Chương, thực ra thì nhằm cơ hội mà đoạt lấy Ích Châu.
Tôn Quyên cho rằng Lưu Bị lừa dối, bởi thế phái sứ giả triệu hồi người em gái đã gả cho Lưu Bị, mượn cớ mẹ nhắn về, mang theo cả ấu chúa A Đẩu là con cả của Lưu Bị để làm con tin, sẽ cứng rắn đối đầu với Lưu Bị.
Bởi Gia Cát Lượng đến tiền tuyên với Quan Vũ trao đổi việc phòng thủ phương bắc, thuộc hạ ở Giang Lăng địa vị thấp kém, chẳng thể cãi lý với Tôn phu nhân, đành đứng giương mắt nhìn Tôn phu nhân dẫn A Đẩu xuống thuyền về Đông Ngô.
Tôn Càn biết việc ấy, lập tức phái người khấn cấp thông báo cho Triệu Vân đang trấn thủ ở Công An và Trương Phi đang tuần tra ở Trường Giang. Do Trương Phi nay đây mai đó, nên không dễ tìm được.
Triệu Vân sau khi được thông báo, thấy tình hình khẩn cấp, cũng không kịp trao đổi với ai, chỉ dẫn theo số ít tuỳ tùng, lấy một con thuyền nhỏ mau chóng đuổi theo.
Tướng lĩnh phòng thủ bên sông không dám ngăn cản Tôn phu nhân, huống chi bên cạnh còn có sứ giả Đông Ngô là Chu Thiện và mấy trăm quân hộ vệ. Triệu Vân đuổi đến trấn Sa Đẩu thì gặp thuyền của Tôn phu nhân.
Chẳng để ý đến sự uy hiếp của Chu Thiện, Triệu Vân chỉ một mình đứng ở mũi thuyền, cố thuyết phục Tôn phu nhân đợi tin tức của Lưu Bị rồi hãy về Đông Ngô. Song Tôn phu nhân dứt khoát cự tuyệt, Triệu Vân đành phải xuống thang, yêu cầu để lại A Đẩu. Tôn phu nhân không nghe, Triệu Vân vung kiếm đoạt lấy, Chu Thiện có ý muốn giết Triệu Vân, song Triệu Vân chỉ một mình tả xung hữu đột, quân Đông Ngô không dám lại gần. Trong lúc nguy cấp, đột nhiên thấy một số thuyền lớn từ phía thượng du lao đến, do Trương Phi cũng được tin báo, biết Triệu Vân đã đuổi theo Tôn phu nhân, sợ Đông Ngô phái chiến thuyền đến tiếp viện, bởi thế dẫn đội thuyền chủ lực đến tiếp ứng.
Do hai bên lực lượng chênh lệch, Tôn phu nhân đành để A Đẩu lại cùng với Chu Thiện về Đông Ngô, đây là lần thứ hai Triệu Vân cứu được ấu chúa khỏi vòng nguy hiểm.
Lưu Bị nhân đó báo cáo với Lưu Chương, tuyến phòng thủ Đông Ngô đang có vấn đề, phải đợi Gia Cát Lượng đàm phán với Đông Ngô, sau khi xác định căn cứ địa của mình, không có vấn đề, mới có thể yên tâm lên phía bắc.
Chỉ có một việc ấy, cũng phải đợi đến mấy tháng.


10. Lưu Bị phản bội hiệp ước, Ích Châu đổi bạn thành thù.
Đến năm thứ 2, tướng giữ Bạch Thủy Quan là Dương Hoài và Cao Bái vẫn nổi tiếng ở Ích Châu, thấy Lưu Bị không có ý mang quân bắc phạt Trương Lỗ, bèn ngầm phái người báo cáo với Lưu Chương bày tỏ tình hình như vậy, Lưu Bị có thể đi chệnh quỹ đạo, đề nghị lập tức đuổi Lưu Bị về Kinh Châu, Lưu Chương cũng không biết làm thế nào, đành phái sứ giả mang mật thư chỉ thị cho Dương Hoài phải cẩn thận giám sát mọi hành động của Lưu Bị.
Bức mật thư ấy lại bị Pháp Chính đang ở trong quân Lưu Bị bắt được, ông ta lập tức đến trao đổi với Bàng Thống. Bàng Thống cũng thấy sự tình đã gấp, sau khi cùng Pháp Chính nghiên cứu tình thế chung, đề nghị với Lưu Bị kế hoạch ba điểm:
Kế sách thứ nhất, là không đếm xỉa đến Dương Hoài và Cao Bái, trực tiếp ngầm tuyển lựa một đội cảm tử, tập kích Thành Đô đoạt lấy quyền bính ở Ích Châu, đó là thượng sách.
Kế sách thứ hai, là bắt ngay Dương Hoài và Cao Bái, giành quyền không chế Bạch Thủy Quan, lại tập hợp nhiều binh mã nhằm hướng Thành Đô tiến đánh, đó là trung kế.
Kế sách thứ ba, là sớm rút về thành Bạch Đế, sau khi củng cố phòng tuyến, sẽ liên hợp với quân Kinh Châu, tấn công mạnh vào Ích Châu, đó là hạ sách.
Bàng Thống cho rằng, không nên do dự nữa nếu không đội quân đánh Thục sẽ rơi vào nguy hiểm, có hối cũng không kịp.
Lưu Bị cũng biết rõ binh lực của mình, dẫu có hành động thế nào cũng cần phải táo bạo. Ông ta cho rằng kế đầu rất mạo hiểm, kế dưới lại khá trì hoãn, bèn quyết định vận dụng kế sách thứ hai.
May mà Dương Hoài chưa nắm được chỉ thị mới của Lưu Chương nên không dám có hành động mạnh mẽ. Lưu Bị mời Dương Hoài, Cao Bái đến để thảo luận quân tình, Dương Hoài không nghi ngờ gì, đến doanh trại của Lưu Bị, lập tức bị bắt giữ, rồi bị tống giam; Lưu Bị đã nắm được quyền chỉ huy quân sự không chế Bạch Thủy Quan.
Lúc ấy Lưu Bị nhận được thư của Tôn Quyền, Tào Tháo bởi muốn báo thù trận đại bại ở Xích Bích đang chuẩn bị đại quân nam chinh, hy vọng Lưu Bị mau chóng trở về Kinh Châu cùng bàn bạc kế sách phòng thủ lớn.
Bởi việc Tôn phu nhân dứt khoát trở về Đông Ngô, mối liên minh Tôn - Lưu đã bị phủ một bóng đen. Huống chi qui mô nam chinh của quân Tào lần này không lớn, hơn nữa Quan Vũ đã bố trí phòng thủ, và ngăn chặn thành công sự manh động của Tào Nhân, cho nên tình hình khẩn cấp này dẫu thế nào cũng đã rõ, song Lưu Bị lại nhân đó mà mượn cớ. Lưu Bị lập tức phái sứ giả báo cáo với Lưu Chương rằng môi hở răng lạnh, chẳng thể vứt bỏ được đồng minh, muốn nhờ Lưu Chương viện trợ, để Lưu Bị có đủ thực lực đối kháng với Tào Tháo. Còn vấn đề Trương Lỗ sẽ giải quyết như thế nào? Lá thư của Lưu Bị bầy tỏ Bạch Thủy Quan đã tăng cường phòng thủ, Trương Lỗ chẳng qua là bọn giặc tự xưng, trong một thời gian ngắn chẳng cần lo lắng, đợi sau khi vấn đề Tào Tháo được giải quyết, sẽ bắc phạt vẫn chưa muộn.
Đối với Lưu Chương mà nói, lý lẽ như vậy là rất khó thuyết phục, cơ hồ giống như vươn mỏ gà chẳng thể moi được gạo, làm sao có thể cam tâm tình nguyện viện trợ cho Lưu Bị nhỉ? Song lại sợ Lưu Bị trở mặt, đành phải cấp cho Lưu Bị 4000 quân, lương thực, xe cộ cứ theo yêu cầu mà giảm đi một nửa. Việc này cho thấy sự do dự không quyết của Lưu Chương, sợ đắc tội với người mà không dám thoái thác, nếu xét kỹ đủ thấy Lưu Bị vốn đã bội ước, đó là một lý do phản lại những lời lẽ nghiêm chỉnh của ông ta.
Lưu Bị tự nhiên hiểu được cơ hội lợi dụng, lập tức đùng đùng nổi giận mà rằng: “Ta vì Ích Châu mà đối kháng với cường địch, chẳng ngại đường xa nghìn dặm mà đến giúp đỡ, nay ta gặp phải khó khăn, cần một ít nhân mã và quân trang cũng không được, làm sao bảo ta cam tâm tình nguyện mà bán cả sinh mệnh nhỉ?”.
Sự việc viện trợ này hiển nhiên cho thấy mối quan hệ giữa Lưu Bị và Lưu Chương có chiều hướng xấu dần.
Vào lúc ấy, lại phát sinh bi kịch Trương Tùng bị Lưu Chương bắn giết.
Trương Tùng vốn là người đưa ra kế sách mời Lưu Bị vào Thục, nhìn thấy Lưu Bị đã nắm quyền ở phía bắc, thành công ở ngay trước mặt, lại đưa tin muốn trở về Kinh Châu. Trương Tùng không rõ ra sao, vội phái người đưa thư đến Lưu Bị và Pháp Chính, hỏi rõ sự việc tiến triển ra sao và nhận làm nội ứng. Lá thư ấy lại rơi vào tay Trương Túc, ông ta rất kinh hãi sợ liên lụy đến gia đình mình, bèn tố giác âm mưu của Trương Tùng và Lưu Bị với Lưu Chương. Lưu Chương cũng rất kinh ngạc, lập tức bắt giữ Trương Tùng, chém cả nhà, lại hạ lệnh tăng cường phòng thủ các nơi cửa ải, cũng tuyên bố cắt đứt quan hệ với Lưu Bị.
Lưu Bị nghe tin Trương Tùng bị giết, cũng lập tức trả đũa, đem giết Dương Hoài và Cao Bái, chính thức ngả bài với Lưu Chương, bắt đầu mở màn cuộc chiến tranh đoạt lấy Ích Châu.
Quân Lưu Bị tuy không nhiều song được chuẩn bị chu đáo. Lại thêm được sự giúp đỡ của Pháp Chính và Mạnh Đạt, còn quân Ích Châu của Lưu Chương hiển nhiên là không có ý chí chiến đấu. Sau khi chiếm được Bạch Thủy Quan, Lưu Bị cử Hoàng Trung làm tiên phong, dẫn quân xuống phía nam chiếm lấy Phù Thành. Từ hành động quân sự này mà xem, việc Lưu Bị đưa tin trở về Kinh Châu, căn bản chỉ là giả dạng.
Lưu Chương điều Trương Nhiệm, lãnh tụ quân Bản Thổ làm chỉ huy, phôi hợp với Lưu Quý thủ lĩnh quân thân tộc, cùng với quân của Ngô Ý, Đặng Hiền, Lãnh Bào ở phái Đông Châu lên phía bắc bố trí phòng thủ. Theo như cách sắp xếp của Lưu Chương, thấy có sự đoàn kết của các phe phái Ích Châu quyết tâm chống lại Lưu Bị. Thực ra theo như phán đoán của Mạnh Đạt, các đại quân Ích Châu cũng không ưa gì nhau.
Hoàng Trung đóng quân ở Miên Trúc, triển khai thế trận, quân Ngô Ý sớm quay giáo, Trương Nhiệm thiếu chuẩn bị, bị đánh tan tác, Phù Thành thất thủ. Trương Nhiệm đành rút về phía nam Phù Thành bố trí phòng thủ, yêu cầu Lưu Chương tiếp viện. Chẳng ngờ Lưu Chương lại phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Lần này ông ta phái quân Đông Châu do lão tướng Lý Nghiêm chỉ huy đi cứu viện, Lý Nghiêm là người Nam Dương, là bạn của Pháp Chính và Mạnh Đạt, đã có Kinh Châu nhiều năm, bởi thế đối với Lưu Bị có cảm tình đặc biệt. Do tác dộng của những người quen cũ như Pháp Chính và Bàng Thống, Lý Nghiêm sau khi đến Phù Thành, không đánh mà hàng, khiến tinh thần binh sĩ quân Ích Châu bị giáng một đòn nghiêm trọng.
May mà Trương Nhiệm già dặn kinh nghiệm, lại giỏi thao lực, ông ta lập tức chỉnh đốn quân trực thuộc của mình và quân Lý Quý còn chưa có vấn đề gì. Thế rồi rút về Lạc Thành cùng với Lưu Tuần cố thủ ở đấy.
Thu phục được quân Ngô Ý và Lý Nghiêm, quân Lưu Bị có thanh thế rất lớn. Song Trương Nhiệm cố thủ ở nơi hiểm trở, ngăn chặn được quân Lưu Bị đánh xuống phía nam, bởi thế Lưu Bị lập tức làm theo kế hoạch ban đầu, khẩn cấp điều động Gia Cát Lượng ở Kinh Châu, dẫn đội quân của Trương Phi và Triệu Vân, từ phía đông Ích Châu nhằm thẳng Thành Đô, Gia Cát Lượng tiến quân cuốn theo cuộc chiến tranh vào đất Thục.
Chẳng qua việc Tôn Quyền bị Tào Tháo đe dọa, Kinh Châu có nguy cơ môi hở răng lạnh, song lại mang đại quân vào Thục, cho thấy một điều rằng, việc Lưu Bị báo tin khẩn cấp vừa rồi thực đáng ngờ lắm vậy.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong “Binh pháp Ngô Khởi” phần “luận tướng thiên” có chép:
“Việc tác chiến quan trọng hàng đầu là phải triệt để hiểu thấu tướng lĩnh của đối phương, sau đó dựa vào cá tính, tài năng, đề ra kế hoạch đối phó với thủ đoạn của họ; nếu không tốn nhiều công sức như vậy, làm sao có thể giành được thắng lợi dễ dàng.
Với tướng lĩnh phản ứng chậm chạp lại dễ tin người khác có thể dùng mưu kế xảo trá mà dẫn dụ.
Với người tham lam mà không xem trọng danh tiết, có thể dùng vàng bạc mà mua họ.
Với người dễ thay đổi ý kiến của mình, thiếu mưu lược hoạch định, có thể dùng chiến thuật quấy nhiễu khiến họ mỏi mệt và bỏ chạy.
Với các tướng lĩnh cao cấp, xa xỉ ngạo mạn, trong khi các thuộc hạ thì nghèo khó, có thể dùng cảm tình mà ly gián họ.
Với người nhu nhược không quyết đoán, không dứt khoát tiến thoái, không có chỗ dựa vững chắc, có thể dùng áp đảo thanh thế mà đánh gục họ.
Với người hiểu được mà vận dụng những chiến thuật này, ắt sẽ dễ dàng nắm bắt được nhược điểm của đối phương, giành được nhiều thắng lợi”.
Lưu Bị lần thứ nhất tiến quân vào Ích Châu, đã nắm được đầy đủ ưu thế này; Lưu Chương nhu nhược không quyết đoán, đối với hình thế và tình hình hiển nhiên thiếu ứng phó sắc bén, bởi thế sau khi Trương Tùng và Pháp Chính tác động, Lưu Chương rất dễ rơi vào cạm bẫy tự bán mình.
Song cũng thấy rất rõ ràng các văn võ đại thần Ích Châu phản đối và ngăn cản âm mưu của Trương Tùng uà Pháp Chính cũng không nhiều, ngoài Hoàng Quyền và Vương Lũy đã hết sức ngăn cản, tựa hồ đại bộ phận tướng lĩnh quân sự và đại thần, đều “cách sơn quan hổ đấu(đứng trên núi xem hổ chọi nhau), mà chẳng quan tâm gì đến vận mệnh quốc gia của mình.
Nghiêm Nhan là một viên thượng tướng, cũng chỉ ngồi một chỗ mà thôi. Danh tướng Trương Nhiệm tuy đứng ở chiến tuyến thứ nhất song chưa có thể phán đoán những sai lầm của Lưu Chương để ngăn cản hữu hiệu. Lý Nghiêm là lãnh tụ quân đoàn Đông Châu, chỗ dựa chủ yếu của Lưu Chương, theo sự tác động của Pháp Chính và Mạnh Đạt không đánh mà hàng. Nhược điểm của các tướng lĩnh Ích Châu tựa hồ đã hoàn toàn nằm trong tay Lưu Bị.
Pháp Chính, Mạnh Đạt, Trương Tùng đều là danh sĩ Ích Châu, họ sở dĩ bán rẻ chủ củ, xét kỹ chẳng phải bởi công danh và hư vinh; họ không tín nhiệm Lưu Chương, tuy chính quyền Lưu Chương đã kéo dài hơn 10 năm, song ông ta tựa hồ chỉ làm được những điều sai lầm. Không chỉ Pháp Chính không thừa nhận ông ta, hy vọng tìm được người thay thế ông ta, những người khác không biểu lộ ý kiến hoặc thấy gió quay lái thuận chiều, hiển nhiên cũng thiếu tín nhiệm Lưu Chương.
Nói cho cùng Lưu Chương hoàn toàn không biết thuộc hạ bất mãn với mình, vẫn chưa có thể trọng dụng được Pháp Chính và Mạnh Đạt, sớm đã dẫn đến sự oán hận trong lòng họ, dẫn đến hành động quyết định đưa Lưu Bị vào Thục; Pháp Chính hiểu rằng đấy không phải là một đại biểu duy nhất xứng đáng, trách chi phải rơi vào cạm bẫy của người khác. Sự mơ hồ của Lưu Chương đã dẫn ông ta đến chỗ mất mạng. Còn nhớ năm nào Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng: “Quả nhân có tật hiếu sắc, thích săn bắn phải chăng sẽ ảnh hưởng đến bá quyền?”.
Quản Trọng thản nhiên nói rằng: “Chẳng phải! Người làm vua mà không biết như thế nào là bầy tôi hiền tài, như thế nào là người có dã tâm, mới ảnh hưởng đến bá quyền, nếu dùng người hiền tài mà không tín nhiệm, cũng sẽ ảnh hưởng đến bá quyền”.
Người kinh doanh rất xem trọng “lý tính” nỗ lực khắc phục nhược điểm, về cá tính của mình, lấy lợi hại mà phán đoán. Không sợ làm sai, chỉ sợ do dự không quyết, hoặc làm sai cũng không biết mình làm sai chỗ nào, đấy mới là chỗ đáng buồn trong kinh doanh.
 
0
Chương X
GlA CÁT LƯỢNG VÀO ĐẤT THỤC
 
Lưu Bị không thể không nắm lấy cơ hội, chẳng để ý đến sự uy hiếp của Tào Tháo và Tôn Quyền có thể xảy ra ở Kinh Châu, phái người theo đường thủy đưa mật thư đến Giang Lăng, lệnh cho Gia Cát Lượng bắt đầu đợt công kích thứ hai, từ phía đông đánh vào đất Thục, hẹn hợp quân ở Thành Đô.
 
1. Từ tham mưu đến chủ soái.
Kể từ ngày chấn chỉnh việc quân ở Tân Dã đến trận đánh Đương Dương Trường Bản, vai diễn của Gia Cát Lượng là người vạch kế hoạch, tuy có tài cán nổi trội, song kinh nghiệm thực tế có hạn, chỉ có thể làm người phụ tá cho Lưu Bị mà thôi. Trước ngày xảy ra trận Xích Bích, trong khi nguy cấp, con người trẻ tuổi ấy trong thời gian ngắn, tự mình rèn luyện thành nhà ngoại giao khá thành công; ở thời kỳ này, tiềm năng của Gia Cát Lượng trước sự khiêu chiến mãnh liệt đã phát huy khá hoàn chỉnh.
Trong đại chiến Xích Bích, Gia Cát Lượng là người bàng quan, song ông ta cũng là người thức thời không để tuột mất cơ hội. Ngoài trí tuệ hấp thụ được ở Chu Du, Lỗ Túc, Tào Tháo, lại lấy ưu thế một kẻ đứng ngoài cuộc, chớp thời cơ đoạt lấy một vùng đất rộng lớn ở ba quận ở Kinh Châu và Nam Quận, làm căn cứ địa quan trọng cho sự sáng nghiệp của Lưu Bị. Trong khoảng không đến nửa năm, đã trưởng thành trong kinh nghiệm thực tế đáng kinh ngạc, năng lực độc lập của Gia Cát Lượng, qua sự khẳng định của Lưu Bị.
Sách lược “mượn Kinh Châu” cho thấy sự khéo léo về ngoại giao của Gia Cát Lượng, Lưu Bị lúc ấy vẫn ở tình thế yếu kém, diễn xuất như vậy là do Gia Cát Lượng. Ở giai đoạn này, Gia Cát Lượng trong cương vị tham mưu trong quân, tựa hồ đã hoàn toàn nắm địa vị chủ đạo.
Tiến quân vào Ích Châu tuy là quốc sách cơ bản mà Long Trung Sách đề ra, nhưng ở kế hoạch vào Thục, Gia Cát Lượng lại để cho Bàng Thống “Phượng Sồ” mới đến, điều đó ít nhiều cho thấy sự tín nhiệm của Gia Cát Lượng với tài cán của Bàng Thống, cùng là sự bận rộn trong công việc điều hành nội chính của ông ta, cũng như thái độ rõ ràng không tranh công của Gia Cát Lượng. Theo sử liệu, ghi chép về giai đoạn này phần nhiều là trao đổi giữa Lưu Bị và Bàng Thống, còn Gia Cát Lượng không nói một câu nào. Song có thể tin được rằng một quốc sách quan trọng như thế, Lưu Bị ắt hẳn cũng đã trao đổi cặn kẽ với Gia Cát Lượng, chẳng qua không phụ trách qui hoạch chủ yếu. Gia Cát Lượng tựa hồ cố ý né tránh biểu lộ ý kiến rõ rệt, sợ che lấp hình ảnh của Bàng Thống. Từ đó có thể thấy Gia Cát Lượng là nhà đại sách lược suy nghĩ chu tất, khéo hiểu lòng người, có sự phân định quyền hạn rõ ràng hợp lý.
Song khi Lưu Bị vào Thục, chỉ mang một số ít binh lực, rõ ràng ở Kinh Châu vẫn có đội quân dự bị thứ hai đang đợi thời cơ mà vận động. Trước khi vào Thục, Lưu Bị sắp xếp Gia Cát Lượng ở Giang Lăng chỉ huy đại cục, khá thấy trong mắt Lưu Bị, Gia Cát Lượng trẻ tuổi, địa vị đã vượt qua lão tướng Quan Vũ và Trương Phi mà nhảy lên ngôi thứ nhất.
Sau khi Lưu Bị giao tranh với Lưu Chương, lại liên tục tác động Ngô Ý và Lý Nghiêm qui hàng, thanh thế rất lớn, trước mắt thấy quân Ích Châu đã gần đến chỗ tan rã. Đấy tuy là công lao lớn của Pháp Chính và Mạnh Đạt, song đối với tổng tham mưu trưởng Bàng Thống mà nói, hình ảnh của ông rất được đề cao.
Song danh tướng của Thành Đô là Trương Nhiệm đứng đầu phái Bản Thổ, lại khéo léo níu giữ đội quân đang tan rã, rút về giữ Lạc Thành, vị trí quân sự quan trọng bậc nhất ở phía bắc Ích Châu; Lạc Thành có địa thê hiểm yếu, công sự phòng ngự kiên cố, cuộc tấn công chớp nhoáng của Lưu Bị phải dừng lại ở đấy, Bảng Thông tuy vắt kiệt đầu óc vẫn không có được một biện pháp nào.
Không lâu tiếp được tin của tướng Hoắc Tuấn đang giữ ải Hà Minh khẩn cấp báo cáo quân tình, Lưu Chương đã từ Lãng Chung, phái binh bao vây Hà Minh, rõ ràng muốn cắt đứt quân tiếp cận của Lưu Bị, tiến đánh đội quân của Lưu Bị từ hai phía. Một điều khiến Lưu Bị lo lắng là nếu Lưu Chương cắt đứt sự liên hệ với Kinh Châu, đội quân tây chinh sẽ bị cô lập. Bởi thế Lưu Bị không thể không quyết đoán cũng không nghĩ đến Tôn Quyền và Tào Tháo có thể uy hiếp Kinh Châu, phái người theo đường thủy đưa mật thư đến Giang Lăng, lệnh cho Gia Cát Lượng bắt đầu cuộc tấn công thứ hai, đánh vào đất Thục từ phía đông, hẹn hợp quân ở Thành Đô.
Gia Cát Lượng sau khi nhận được tình hình khẩn cấp, lập tức làm theo chỉ thị của Lưu Bị, lệnh cho Quan Vũ đang ở tiền tuyến phía bắc, trở về trấn thủ Giang Lăng, cùng với các văn quan như My Trúc, Mã Lương, và các võ quan như Quan Bình, Liêu Hóa, lo liệu việc bố phòng ở phía đông và phía bắc Kinh Châu. Khổng Minh cùng với Trương Phi, Triệu Vân mang theo những đạo quân hùng mạnh cùng vào đất Thục, thực hiện hành động quân sự mau chóng giải quyết vấn đề Ích Châu.
Cuộc tấn công thứ hai so với cuộc tấn công thứ nhất là rất lớn, hơn nữa lại động viên nhanh chóng khiến người ta phải ngạc nhiên. Quy hoạch quân sự lần này cho thấy, so với đợt Lưu Bị vào Thục sớm đã được chuẩn bị tốt hơn.
Đội quân vào Thục đợt hai và đội quân giữ Kinh Châu được biên chế như sau:
Tổng chỉ huy quân viễn chinh: Gia Cát Lượng.
Tổng tham mưu trưởng: Gia Cát Lượng kiêm nhiệm.
Tham mưu: Tưởng Uyển, Giản Ung.
Quân đoàn tiền phong: Trương Phi từ Ba Đông theo đường bộ vào Thục có khoảng 1 vạn 5 nghìn quân.
Quân đoàn hậu quân: Triệu Vân theo đường thủy đến Giang Châu, có 5.000 quân.
Tổng chỉ huy giữ Kinh Châu: Quan Vũ
Tổng tham mưu trưởng: Mã Lương
Tổng quản văn thư: My Trúc
Quân đoàn phòng thủ: My Phương, Sĩ Nhân, Liêu Hóa, Quan Bình.


2. Trong thô có tinh tế, Trương Phi bắt Nghiêm Nhan.
Đạo quân tiền phong của Trương Phi từ Ba Đông vào Thục, vấp phải sự chống cự mãnh liệt của quân Ích Châu, chỉ huy phòng ngự ở đấy là lão tướng Thái thú Nghiêm Nhan.
Nghiêm Nhan là một tướng lĩnh cao tuổi ở Ích Châu, kinh nghiệm phong phú, ông ta tuy phản đối mạnh mẽ để Lưu Bị vào Thục, song lại có thái độ không phục trong chính quyền Lưu Chương. Bởi thế ngoài việc chê bai bóng gió, cũng chưa từng có lời can gián cụ thể với Lưu Chương. Song, nghe nói Trương Phi dẫn đại quân đến, Nghiêm Nhan lập tức hợp hơn 5000 quân dựa vào thế hiểm mà cố thủ. Trương Phi về quân lực tuy có ưu thế tuyệt đối, nhưng tạm thời cũng chưa biết phải làm gì.
Biết Trương Phi vẫn có tính táo bạo, bởi thế Nghiêm Nhan cho rằng ông ta nhất định thiếu nhẫn nại, chỉ cần kiên trì đối trận, vấn đề chỉ huy của Trương Phi ắt sẽ lộ ra sai sót, đợi đến lúc ấy chỉ cần đem một sô ít quân phản kích, ắt sẽ đánh được Trương Phi.
Song không ngờ Trương Phi trong thô có tinh tế, ông ta thấy Nghiêm Nhan dựa vào thế hiểm yếu mà cố thủ cũng đoán phỏng được bảy, tám phần tâm lý, bèn tương kế tựu kế, sau mấy lần đánh thành không được, ở giữa trại quân sinh bực tức, quát tháo binh sĩ, lại bắt một số nông dân gần đấy dẫn đường tắt để vượt qua quan ải.
Không lâu dân ở đấy chẳng thể không nói với Trương Phi đường tắt vượt qua núi. Trương Phi hạ lệnh tức thì vứt bỏ việc vây thành, mang toàn quân sĩ đêm tối mà vượt qua núi vào Thục.
Bởi đội quân của Trương Phi rất lớn, hành động quân sự đó không qua được mắt tình báo của Nghiêm Nhan. Nghiêm Nhan phán đoán Trương Phi không nhẫn nại được nữa, nên đã dự tính tìm đường mòn mà vượt qua cửa ải, bởi thế cũng hạ lệnh ngay đêm đó kéo quân ra khỏi thành, tập kích đội quân Trương Phi đang di động.
Chẳng ngờ hành động quân sự ấy của Trương Phi chỉ là giả vờ, viên đại tướng đêm hôm đó dẫn quân qua núi chỉ là người đóng giả mà thôi, Trương Phi dẫn đội quân rất tinh nhuệ chuẩn bị tập kích Nghiêm Nhan ở ngoại thành. Quả nhiên, Nghiêm Nhan mau chóng dẫn quân đuổi theo đội quân của Trương Phi ở trong núi. Trương Phi thực vẫn nhẫn nại mai phục đợi đội quân của Nghiêm Nhan đến khá gần mới nổi trống đổ ra đánh dữ. Đội quân đang đi trong núi nghe tiếng trống cũng lập tức quay lại đón đánh, Nghiêm Nhan biết đã trúng kế, vẫn liều mạng tử chiến mau phá vòng vây trở về thành, song Trương Phi tự mình dẫn quân ngăn lại, chẳng thể mở được đường máu tháo chạy.
Mặt khác Trương Phi lại đã lệnh cho một đội binh mã đóng giả làm quân Nghiêm Nhan, lấy danh nghĩa quân Ích Châu trở về gọi mở cửa thành. Trong đêm tối, quân trên thành không nhìn kỹ, vội mở cửa, binh mã của Trương Phi tràn vào trong thành, hoàn toàn khống chế quân Ích Châu ở đấy.
Cuộc ác chiến kéo dài đến sáng, Nghiêm Nhan biết không dễ dàng bèn dẫn mấy trăm tàn quân đột phá vòng vây chạy về Ba Quận, Trương Phi dẫn quân đuổi sát phía sau.
Nghiêm Nhan chạy đến trước cửa thành, gọi ra mở cửa, song quân giữ thành đã là quân Kinh Châu, Nghiêm Nhan lại phải quay lại, gặp ngay phải đại quân Trương Phi đuổi đến, địch đông ta ít, chênh lệch rất lớn. Nghiêm Nhan tuổi đã cao lại vừa mới tận lực chiên đấu, sức lực sớm bị hao kiệt, cuối cùng toàn bộ tàn quân đều bị bắt.
Sau khi vào thành, Trương Phi lập tức thăng đường yêu cầu Nghiêm Nhan đầu hàng, Nghiêm Nhan lại lớn tiếng mắng Trương Phi vô cớ cướp đất, thét lên rằng: “Ích Châu chỉ có tướng bị chặt dầu, chẳng có tướng đầu hàng”.
Trương Phi nghe thế giận lắm, lệnh cho tả hữu dẫn đi chém đầu.
Nghiêm Nhan thấy Trương Phi nổi cáu, lại cười nhạt mà rằng: “Muốn giết thì giết, hà tất phải bực tức đến mức như vậy!”. Trương Phi cảm phục dũng khí của Nghiêm Nhan, vội chạy xuống dưới chân thềm, tự tay cởi trói cho Nghiêm Nhan, thản nhiên nói rằng: “Tướng quân thực là lão anh hùng, Trương Phi thật đắc tội, mong được tha thứ!”. Lúc ấy Nghiêm Nhan cũng nao lòng, Trương Phi lấy lễ mời Nghiêm Nhan ngồi xuống, lại nói rõ việc Lưu Bị vào Thục, chủ yếu là muôn xây dựng cơ sở phục hưng nhà Hán, bởi thế đã nhận được sự đồng tình sâu sắc của các danh sĩ Trương Tùng, Pháp Chính, Mạnh Đạt, họ đã có những giúp đỡ đặc biệt, nay hy vọng lão tướng cũng nên như thế.
Nghiêm Nhan vốn chẳng phải là người theo phái tận trung với Lưu Chương, lại thấy Trương Phi vốn nổi tiếng như thế, khuyên nhủ chân thành đến thế, bèn thành tâm qui phục.
Bởi những đội quân gần Ba quận đều lệ thuộc Nghiêm Nhan nên nghe theo những lời vận động của Nghiêm Nhan, cơ hồ chưa từng xảy ra một cuộc giao tranh nào nữa, Trương Phi bởi thế đã thuận lợi hơn Gia Cát Lượng đến Giang Châu trước một bước.
Sau khi vào Giang Châu, đạo quân viễn chinh đợt hai của Gia Cát Lượng đã chiếm được vùng đất Ba Đông. Bởi Lưu Bị đang phải ác chiến ở Lạc Thành, Gia Cát Lượng không dám chậm trễ, ngoài việc khẩn cấp báo tin cho Lưu Bị, lại cùng với Trương Phi, Triệu Vân, chia quân làm ba đường tiến thẳng đến Thành Đô.
Tuyến thứ nhất, quân đoàn Trương Phi từ Điếm Giang tiến lên phía bắc thu phục Ba Tây, ngăn chặn sự uy hiếp của quân Ích Châu với Lưu Bị, uy hiếp Thành Đô từ phía bắc.
Tuyến thứ hai, Triệu Vân theo Trưòng Giang ngược lên phía tây, chiếm lấy Giang Dương, bình định vùng Kiện Vi phía dưới, lại bao vây Thành Đô từ phía tây.
Tuyến thứ ba, Gia Cát Lượng tiếp tục đánh thẳng phía tây vào Đức Dương, sau đó đánh vào Thành Đô.


3. Quyết chiến ở Lạc Thành, Bàng Thống bị mắc nạn.
Quân Trương Phi được Nghiêm Nhan giúp đỡ, cơ hồ quân không phải động đao, mau chóng bình định được Ba Tây, lại hợp với quân Gia Cát Lượng ở Đức Dương. Lưu Chương phái lão tướng Trương Duệ thuộc phe Bản Thổ dẫn binh ra ngăn cản, lại bị Trương Phi đánh cho tan tác, tàn quân Trương Duệ phải rút về Thành Đô sắp xếp lại phòng tuyến.
Đội quân của Triệu Vân cũng thuận lợi đánh xuống Giang Dương chiếm được Kiện Vi, rồi từ đó đánh vào Thành Đô.
Đội quân viễn chinh lần đầu của Lưu Bị và Bàng Thống, thanh thế tuy lớn, song phần nhiều là quân Ích Châu, bởi thế trước sự ngăn cản hữu hiệu của Trương Nhiệm, kéo dài suốt một năm, vẫn không hạ được Lạc Thành. Nhưng nghe nói Gia Cát Lượng đã đánh được Ba Đông, hơn nữa còn chiếm được đại bộ phận Ích Châu, đặc biệt là Triệu Vân đã chặt đứt được sự bao vây của Lưu Chương ở phía sau Lưu Bị, nên cũng đã yên tâm hơn.
Không lâu, lại nghe nói Mã Siêu, lãnh tụ quân Quan Trung sau khi bị Tào Tháo đánh tan, theo về với quân Trương Lỗ ở Hán Trung, lại không được vừa ý, bởi thế phái danh sĩ Lý Khôi nổi tiếng ở Ích Châu, ngầm đến Hán Trung kết thân với Mã Siêu.
Đến mùa hạ năm Kiến An thứ 19, Lưu Bị bắt được thông báo, Gia Cát Lượng và Trương Phi đã đến được phía đông và đông bắc Thành Đô, còn quân Triệu Vân đã đánh phá được Kiện Vi, sau đó tiến đến Thành Đô, chỉ đợi Lưu Bị ra chỉ thị, sẽ phát động tổng công kích Thành Đô.
Lưu Bị và Bàng Thống lại tấn công mãnh liệt vào Lạc Thành, Bàng Thống dẫn quân nhử Trương Nhiệm ra khỏi thành, quả nhiên Trương Nhiệm cậy khỏe khinh địch dẫn quân xông ra, trụ quân ở Nhạn Kiều phía nam Lạc Thành, Lưu Bị nhân cơ hội chặt đứt đường về của Trương Nhiệm,
Bàng Thống cũng dẫn quân quay lại tấn công mãnh liệt vào Trương Nhiệm ở trận địa Nhạn Kiều. Trương Nhiệm bắn tên ra như mưa, Bàng Thống đang tự mình đốc chiến ở phía trước, bỗng nhiên không may bị trúng tên, chết ngay giữa trận, lúc ấy mới có 36 tuổi.
“Tam quốc diễn nghĩa” đã miêu tả Lưu Bị và Bàng Thống chia quân tiến đánh Lạc Thành, Bàng Thống ở gò Lạc Phượng trúng phải mai phục của Trương Nhiệm phải bỏ mình, Gia Cát Lượng đang ở Kinh Châu nghe được tin, thảm thiết khóc Bàng Thống, rồi dẫn quân vào Thục, ở Lạc Thành lập kế bắt được Trương Nhiệm, đấy hiển nhiên là có sai lệch lớn với thực tế. Gia Cát Lượng đã vào Thục trước lúc Bàng Thống hy sinh chừng nửa năm, hơn nữa quân Trương Phi và Triệu Vân chưa hế đến Lạc Thành, trận Lạc Thành hoàn toàn do Lưu Bị và Bàng Thống đơn độc đối phó.
Bàng Thống chẳng những không bị trúng kế, trái lại còn dùng kế mai phục để bắt Trương Nhiệm, chẳng qua trong lúc kịch chiến ở đấy, vị quân sư không giỏi võ nghệ đã vì trách nhiệm mà đi ở hàng đầu, cuối cùng trúng tên bỏ mình, song trước cánh quân Kinh Châu cùng giáp kích, quân chủ lực của Trương Nhiệm đúng là bị đánh tan ở Nhạn Kiều, còn Trương Nhiệm bị thuộc hạ của Bàng Thống bắt được.
Lưu Bị đã từ lâu nghe danh Trương Nhiệm trung dũng có ý chiêu hàng song Trương Nhiệm tuổi đã cao, không muôn thay đổi thờ phụng chủ khác, cự tuyệt việc đầu hàng, lại thêm Bàng Thống bị nạn, lòng quân Kinh Châu rất phẫn uất, chẳng thể tha thứ cho Trương Nhiệm, Lưu Bị đành phải xử tử Trương Nhiệm để yên lòng quân.
Chiến dịch Lạc Thành giành được toàn thắng, công lao hy sinh của Bàng Thống là rất lớn.


4. Lưu Bị tấn công chính trị, Lưu Chương vứt bỏ đề kháng
Lưu Bị tuy rất nhớ tiếc Bàng Thống bỏ mình giữa trận, song ông vần rất bình tĩnh nghĩ cách dùng thủ đoạn chính trị, khuyên nhủ Lưu Chương đầu hàng, để tránh tạo thành thù hận sâu sắc giữa hai bên, đôi với việc thống trị Ích Châu sau này, sẽ không có lợi.
Bởi thế theo đề nghị của Pháp Chính, đầu tiên là Pháp Chính sẽ tự mình viết một lá thư gửi cho Lưu Chương, ngoài việc nói rõ tình thế cho Lưu Chương, còn chân thành khuyên Lưu Chương sớm đầu hàng, lá thư viết:
“Pháp Chính tuy thiếu năng lực, song đã nhận nhiệm vụ ký hiệp ước với Lưu Kinh Châu, cố gắng không để nhục sứ mệnh, hoàn thành nhiệm vụ. Song sợ tướng quân và xung quanh không hiểu rõ gốc ngọn, lại đổ lỗi nguyên nhân thất bại lần này cho Pháp Chính khiến tôi chịu nhục không đâu, lại còn tổn hại đến nhiệm vụ đã làm. Nay sự tình đã rơi vào hỗn loạn, phải đình tạm ở trong trại Lưu Kinh Châu, tiếp tục giao thiệp, chưa thể trở về Thành Đô để báo cáo lại với tướng quân.
Cũng bởi như vậy có không ít lời nói gièm, công kích thân phận của thần, khiến tướng quân không hiểu Pháp Chính, mà thần cũng rất băn khoăn... Nay trong nước nguy cấp, tai họa đã ở ngay trước mắt, thân đang tại ngoại, chẳng đủ để tướng quân tín nhiệm, song vẫn muốn bày tỏ không cùng tấm lòng trung của mình...
Ý định của tướng quân mời Lưu Kinh Châu, Pháp Chính cũng đã biết rõ, cũng là nguyên nhân chính để Pháp Chính tiếp tục ở lại bên cạnh Lưu Kinh Châu, cố gắng suy nghĩ để hoàn thành nhiệm vụ. Song nay tình hình lại diễn biến nhùng nhằng như thế chủ yếu là những thuộc hạ của tướng quân không hiểu lẽ anh hùng tòng quyền, suy nghĩ không ra, có cái nhìn sai lầm trước tình hình, dẫn đên việc binh nhung chẳng thu được kết quả gì... Nay quân chủ lực của Ích Châu đã bị đánh tan, còn lại được hơn một vạn quân, thực ra ý chí chiến đấu đều đã mất. Trái lại quân chủ lực Lưu Kinh Châu sau khi chiêm được Lạc Thành, giành được rất nhiều lương thực xe cộ, cũng có được ưu thế tuyệt đối, mà tướng quân thì đất đai mỗi ngày thêm mất, trăm họ mỗi ngày thêm khốn đốn... Cho rằng phải kiên quyết, nghĩ việc cố thủ, sẽ không được lâu vậy.
Quân của Trương Dực Đức (Trương Phi) có vài vạn người, đã bình định được Ba Đông, Triệu Vân lại từ Kiện Vi đánh vào, cùng với Tư Trung, Đức Dương ba đường cùng tiến, tướng quân sẽ liệu định thế nào.
Nay Ích Châu có ba phần thì hai phần đất đai đã bị chiếm, tuy vẫn giữ được Thục Quận và Thành Đô, thực ra nhân dân mỏi mệt khốn khổ, nghĩ rằng có đến 8 phần 10, khiến chưa thấy kẻ địch tiến vào mà trăm họ đã chẳng thể chịu nổi, chỉ cần quân Lưu Dự Châu đánh thêm vào, ắt sẽ chỉ trong một ngày đã theo về... ấy là thế còn mất, đã thấy rõ ràng vậy.
Cứ theo ngu ý của Pháp Chính, cũng còn biết sự việc đã hỏng, huống chi tướng quân xung quanh còn có nhiều bậc trí giả cao minh, thế mà không thấy rõ ư?
Nghĩ rằng những trọng thần bên cạnh tướng quân, lúc bình thường chỉ biết giành lấy ân sủng, ra sức nịnh hót mà không đứng ra bầy vẽ cho tướng quân, lại chưa từng tận tâm hiến kế sách. Nay sự đã bức bách, các thuộc hạ tự tìm đường sống, giữ gìn sự an toàn cho riêng mình, tin rằng cũng không thể liều chết vì tướng quân.
Pháp Chính tuy bị phỉ báng là bất trung, vẫn vắt óc tự hỏi, vẫn không phụ lại tình nghĩa của tướng quân. Bây giờ kết quả như vậy, thực ra Pháp Chính cũng rất khổ tâm. Tả tướng quân Lưu Bị đã giành được ưu thế tuyệt đối, song đối với tướng quân vẫn giữ tình cảm ngày nào, chẳng muốn tướng quân phải khó xử. Bởi thế kẻ ngu này muốn tướng quân hiểu được lẽ quyền biến, để giữ được tính mệnh và sự tôn nghiêm của dòng họ”.
Lá thư của Pháp Chính có lời lẽ binh vận, được viết ra khá sắc xảo, rõ ràng cho thấy ông ta tuy vẫn chưa được Lưu Chương trọng dụng, song đối với cá tính của Lưu Chương thì khá thấu hiểu, nghĩ rằng tài cán ấy không thể không được Lưu Chương trọng dụng, chẳng qua bởi ông ta kiên trì giữ nguyên tắc của mình, mà không phụ theo vậy.
Khi Lưu Bị từ Phù Thành xuống đánh Lạc Thành, Trịnh Độ là tham mưu dưới trướng của Lưu Chương có nói: “Tả tướng quân Lưu Bị dẫn quân đánh chúng ta, song binh lực không đầy vạn người, lòng quân không yên định. Bởi thế về việc phòng thủ, không gì bằng đưa dân ở Ba Tây, Tử Đồng chuyển về phía tây Phù Thủy, lại thiêu hủy những kho lương ở đấy, lấy thành cao hào sâu, lấy tĩnh mà chế động. Khi quân địch đến, chớ vội giao chiến, đợi một thời gian lâu, họ thiếu thốn lương thực, không đến trăm ngày ắt phải rút quân, đến lúc ấy ta sẽ truy kích, nhất định sẽ giành được đại thắng”.
Có thể nói chiến thuật ấy đối với quân viễn chinh của Lưu Bị, sẽ gây khó khăn nghiêm trọng, bởi thế nghe được tin đó, cả Lưu Bị lẫn Bàng Thống đều rất lo lắng, Pháp Chính lại bình tĩnh nói rằng: “Chẳng cần bận tâm, Lưu Chương là người không dám dùng kế sách ấy”.
Quả nhiên không bao lâu, Lưu Chương đã không nghe theo kế hoạch của Trịnh Độ. Ông ta nói: “Ta chỉ nghe nói đến kế an dân cự địch, chưa từng nghe nói đên kế làm phiền dân để đánh địch”.
Từ đấy có thể thấy Pháp Chính khá thấu hiểu cá tính và thái độ của Lưu Chương, lá thư chiêu hàng do ông ta viết ra, nghĩ rằng ắt có hiệu quả tâm lý khá lớn với Lưu Chương. Hơn nữa, những bầy tôi ở Thành Đô, cũng có không ít người có tâm lý đầu cơ chủ nghĩa, dứt khoát sẽ không vì Lưu Chương mà tận trung đến chết.
Đương khi quân Lưu Bị đột phá phòng tuyến Lạc Thành theo phía bắc tiến sát Thành Đô, Thái thú Thục quận là Hứa Tĩnh bèn dự định mở cửa thành đầu hàng may mà quân giữ thành phát hiện được, ngăn cản hành động binh biến ấy Lưu Chương nhìn thấy địa thế đã mất, sự nguy vong đang đến gần, lại thêm Hứa Tĩnh rất có danh tiếng, nên chưa biết phải xử trí Hứa Tĩnh thế nào.
Lưu Chương sau khi nhận được thư khuyên hàng của Pháp Chính, do dự không quyết, lúc ấy lại phát sinh một cuộc binh biến.
Tuy Lưu Chương không ưa gì Trương Lỗ, đương khi quân Kinh Châu vây khốn Thành Đô, Lưu Chương lại nhớ đến phụ thân Lưu Yên từng có ân huệ với Trương Lỗ, lại nhờ Trương Lỗ giúp đỡ. Trương Lỗ bèn phái Mã Siêu, một tướng lĩnh quân Quan Trung mới theo về không lâu, dẫn một đạo quân tiếp viện đên tiếp ứng.
Chẳng ngờ, Lưu Bị lại nhanh hơn một bước, khi trận đánh Lạc Thành đang gay go, từng phái Lý Khôi đến Hán Trung liên hệ với Mã Siêu, mong Mã Siêu cùng liên minh với Lưu Bị. Bởi Lưu Bị là chỗ thân tình với Mã Đằng, phụ thân của Mã Siêu, lại thêm Mã Siêu sau khi vào Hán Trung, Trương Lỗ vẫn lãnh đạm với anh ta, khiến Mã Siêu có tâm lý bất mãn.
Vì thế khi Lý Khôi đến thuyết phục, Mã Siêu không được trọng dụng đã mau chóng ngả về phía Lưu Bị, trao mật thư hẹn sẽ theo về với Lưu Bị. Chẳng ngờ Trương Lỗ lại phái anh ta đến chi viện cho Lưu Chương, Gia Cát Lượng bèn đề nghị Lưu Bị tạm thời dấu kín tin tức này, lại ngầm phái một đội quân cho Mã Siêu chỉ huy, bảo anh ta xuất kỳ bất ý dùng quân mới để khống chế lại quân Hán Trung tiếp viện, cùng hội quân với Lưu Bị ở Thành Đô.
Quả nhiên đương khi Mã Siêu uy phong lẫm liệt dẫn đại quân đến phía tây bắc Thành Đô, Lưu Chương vẫn cho là quân tiếp viện kéo đến, rất đỗi vui mừng lập tức cho sứ giả mạo hiểm phá vòng vây đến liên hệ với Mã Siêu. Ngờ đâu Mã Siêu chẳng những không phải là viện binh, lại là quân của Lưu Bị, ngay lúc này nẩy sinh sự tác động tâm lý rất lớn, là một đòn đánh không nhẹ cân với Lưu Chương. Quân dân trong thành nghe nói mãnh tướng số một của Tây Lương là Mã Siêu đã theo về với Lưu Bị, đều hết sức hoang mang, ý chí chiến đấu cơ hồ đã mất cả.
Lưu Bị đợi đến lúc ấy, lại phái lão thần Giản Ung giỏi ăn nói đến yết kiến Lưu Chương, Lưu Chương thấy đại thế đã mất, định mở cửa thành đầu hàng.
Đại thần Đổng Hòa khuyên rằng: “Thành Đô còn ba vạn tinh binh, lương thực, ngựa xe đủ dùng một năm sao đã vội đầu hàng”. Trưởng lão Hoàng Quyền, Lưu Ba cũng cho rằng dân tâm sĩ khí vẫn còn nên tận lực mà chiến đấu.
Lưu Chương lại than rằng: “Hai cha con ta đã ở Ích Châu 20 năm, vẫn không tăng thêm ân đức cho bách tính, hiện nay lại bắt quân dân Ích Châu phải chinh chiến suốt ba năm, tin rằng họ đã rất khốn khổ, nếu cứ kéo dài mãi như vậy, ta sao nỡ nhẫn tâm?”.
Các đại thần Ích Châu nghe vậy cũng không khỏi rơi lệ, Lưu Chương bèn cùng Giản Ung ra ngoài thành, cùng ngồi một cỗ xe, đến hội kiến Lưu Bị.
Lưu Bị thấy Lưu Chương đến, lại nhớ chuyện cũ, Bàng Thống khi còn sống đã có lời khuyên: “Nghịch mà thuận vậy, chiếm lấy là thuận với nghĩa lý”. Ông ta nói: “Chẳng phải ta không nghĩ đến đạo nghĩa, việc xảy ra như thế, thực là bất đắc dĩ vậy!”.
Gia Cát Lượng cũng khuyên Lưu Bị nên đưa Lưu Chương rời xa Ích Châu, để triệt để cắt đứt mưu toan phản kháng của những đại thần cứng rắn, Lưu Bị tuy không nỡ, song nghĩ lý tính là trách nhiệm rất lớn của người điều hành. Bởi thế Lưu Bị bèn phong Lưu Chương làm Chấn uy tướng quân, mang theo toàn bộ tài sản của mình với ấn thụ tân quan, đến định cư ở quận Công An thuộc Kinh Châu.
Theo Long Trung Sách, bước thứ hai tranh bá thiên hạ, sách lược có được Kinh Châu đến đây đã hoàn toàn thành công; đấy là năm Kiến An thứ 19, tức là năm 214 sau Công Nguyên, đúng vào tháng 5, Lưu Bị 54 tuổi, Gia Cát Lượng 34 tuổi, nếu tính ngày Tam cố thảo lư mời Gia Cát Lượng hoạch định kế hoạch là đúng bảy năm.


5. Thu dọn yến tiệc thắng lợi, bày ra ân uy điều hành.
Lưu Bị sau khi vào Thành Đô, lập tức bày tiệc lớn mừng công, khao thưởng cho quân viễn chinh vào Thục, bày ra một không khí tưng bừng chiến thắng.
Lưu Bị lấy danh nghĩa Kinh Châu mục kiêm Ích Châu mục, Tả tướng quân, đại tư mã đứng ra cai trị. Lại phong Gia Cát Lượng làm Quân sư tướng quân, lấy Đổng Hòa vốn là Thái thú quận Ích Châu làm Trung lang tướng, Gia Cát Lượng được bố trí làm tả tướng quân Đại tư mã trông coi chính sự.
Lại cho mở cửa kho, luận công ban thưởng, Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Trương Phi, Pháp Chính mỗi người được thưởng 500 cân vàng, 1000 cân bạc nén, cùng nhiều tiền bạc gấm vóc. Ngoài ra Triệu Vân, Hoàng Trung, Ngụy Diên, Mạnh Đạt, cũng xét theo công lao lớn nhỏ được ban thưởng hậu hĩ.
Tiếp đó Lưu Bị dự định lấy nhà cửa của quan lại cũ ở Thành Đô, cùng vưòn tược cấp cho các văn quan võ tướng mới đến. Những người được phần thưởng đều vui mừng trước chiến lợi phẩm không dễ có được.
Lão tướng Triệu Vân một mình đứng ra khuyên Lưu Bị rằng: “Ngày xưa Hoắc Khứ Bịnh (danh tướng đánh Hung Nô đời Hán Vũ để) từng nói: “Hung Nô chưa diệt được sao nghĩ đến việc nhà”. Nay Tào Tháo tàn hại nhà Hán, chẳng khác gì Hung Nô ngày xưa, tuy chúng ta đã thu được Ích Châu song chẳng thể cầu an tại chỗ. Để đến khi thiên hạ bình định, cởi giáp về quê, đấy mới là lúc hưởng thụ thái bình! Huống chi dân Ích Châu vừa mới trải qua chiến tranh điêu linh, lại đoạt lấy ruộng vườn của họ, ắt sẽ ảnh hưởng đến sinh kế, tạo ra sự không yên ổn trong xã hội như thế là rất không công bằng. Không gì bằng trả lại ruộng vườn của họ, để an cư lạc nghiệp, có được không khí phấn khởi, sau này mọi việc binh lương giao dịch, mới có được sự giúp đỡ và ủng hộ chân chính từ họ”.
Những lòi lẽ nghiêm chỉnh của Triệu Vân, hoàn toàn đứng trên lập trường ổn định và hợp pháp của chính quyền mới, thể hiện đầy đủ một nhân cách cao quý, quan tâm đến dân tình thống khổ, chí công vô tư. Bởi thế Lưu Bị rất đỗi cảm động, lập tức tuyên bố đình chỉ chính sách phân chia trước đây, để tập trung vào việc vỗ yên trăm họ ở Ích Châu. Thế rồi những người có công đều được ban khen một chén rượu quý; bởi Triệu Vân chí công vô tư như thế nên cũng đắc tội với bằng hữu, nhiều người không vừa lòng cũng không tiện nói ra.
Về phương diện giai cấp thống trị, Lưu Bị dung hòa thế lực Kinh Châu và Ích Châu biểu hiện bề ngoài thì Đổng Hòa cùng với Gia Cát Lượng nắm đại quyền, còn về phân phối quyền lực thực tế, đều dựa cả vào Gia Cát Lượng và Pháp Chính. Theo đề nghị của vài người, Lưu Bị đã sử dụng những kẻ sĩ tài giỏi thời cũ, chẳng kể gì thân sơ, theo tài năng mà đề bạt thích hợp.
Đổng Hòa nguyên là người Kinh Châu, thời trẻ theo Lưu Yên vào Thục, là một viên quan hành chính rất có năng lực, phàm là những nơi ông ta cai trị, đều đã biến đổi phong tục, sợ uy mà không phạm lỗi. Thời Lưu Chương, Đổng Hòa ra làm Thái thú quận Ích Châu ở phía nam; ông ta có quan hệ tốt với các dân tộc thiểu số ở địa phương, được dân yêu mà tin theo. Dưới thời Lưu Chương hôn mê, những quan lại địa phương có thành tích như Đổng Hòa rất ít. Gia Cát Lượng biết rõ Đổng Hòa là một nhân tài khó kiếm được, bởi thế yêu cầu Lưu Bị đặc biệt đề bạt, trở thành cánh tay quan trọng của Gia Cát Lượng trong việc điều hành Ích Châu.
Hứa Tĩnh là Thái thú Thục quận, là anh của Hứa Thiệu, nổi tiếng ở Nhữ Nam, vẫn có tiếng ở vùng Giang Nam, Lưu Chương đặc biệt cho ngươi mời mọc ông ta làm Thái thú Thục quận cũng là một trưởng quan hành chính rất quan trọng ở Thành Đô, có thể nói là một đại thần được Lưu Chương tín nhiệm và tôn trọng, song đang khi Thành Đô nguy cấp, Hứa Tĩnh thấy sinh mệnh của trăm họ là điều quan trọng nhất, bởi thế chủ trương hòa bình giải quyết vấn đề Thành Đô, do Lưu Chương ngần ngừ không quyết, Hứa Tĩnh đã dự định lén mở cửa thành để tiếp đón quân Kinh Châu, may mà Lưu Chương cảnh giác, âm mưu chưa thể thực hiện. Song bởi Hứa Tĩnh có danh vọng cao, rất được lòng người, nên Lưu Chương đối với việc làm phản này cũng chưa thể truy cứu.
Lưu Bị sau khi nắm quyền bính, đối với hành vi bán chúa lúc lâm nguy của Hứa Tĩnh, không được vừa ý, bởi thế có dự định không trọng dụng ông ta nữa.
Pháp Chính lại nhìn nhận khác hẳn, ông ta nói: “Trong thiên hạ có không ít người hữu danh vô thực, Hứa Tĩnh là một người như thế. Song chúa công hiện nay đang sáng nghiệp, chẳng thể khiến trăm họ Ích Châu nhìn rõ được Hứa Tĩnh, ông ta có danh vọng lớn khắp trong vùng nếu không trọng dụng ông ta, thiên hạ sẽ nhìn nhận chúa công là có ý khinh mạn hiền sĩ. Theo đề nghị của thần, vẫn phải trọng dụng ông ta, mới có thể lôi kéo nhân tài xa gần, đấy cũng là cốt lõi”. Yến Chiêu Vương ngày xưa trọng dụng Quách Hòe! Quách Hòe là một đại thần của Yến Chiêu Vương thời Chiến Quốc, Yến Chiêu Vương lên ngôi trong lúc loạn lạc, tích cực tìm kiếm nhân tài, gây dựng cơ đồ. Bởi nước Yên ở tận phương bắc, không dễ lôi kéo nhân tài ưu tú ở Trung Nguyên, Yến Chiêu Vương bèn hỏi han Quách Hòe về sách lược cầu hiền.
Quách Hòe cười mà nói với ông ta rằng: “Xin trước hãy trọng dụng Quách Hòe tôi đây! Nếu kẻ tài hèn như tôi vẫn được đức vua trọng dụng, kẻ sĩ có thực tài tự nhiên sẽ không ngại nghìn dặm mà tìm đến”. Yến Chiêu Vương bèn phong Quách Hòe làm Thái phó, đặc biệt tôn trọng, quả nhiên có không ít kẻ sĩ thực tài, rối rít từ Trung Nguyên đến nước Yên tìm cơ hội. Danh tướng Nhạc Nghị cũng vào thời gian ấy, theo về với Yến Chiêu Vương, rất được trọng dụng, đã giúp đỡ Yến Chiêu Vương xưng bá thiên hạ.
Ý tứ của Pháp Chính là tiếp tục lợi dụng danh tiếng lớn của Hứa Tĩnh, đối với chính quyền mới của Lưu Bị ở Ích Châu đang thu hút nhân tài, sẽ có được sự giúp đỡ rất lớn.
Lưu Bị cũng làm theo đề nghị của Pháp Chính để Hứa Tĩnh làm Tả tướng quân Trưởng sử, Lưu Bị sau khi xưng làm Hán Trung Vương, lại cất nhắc Hứa Tĩnh làm Thái phó, sau này lập ra đế chế Thục Hán lại phong làm Tư đồ. Gia Cát Lượng sau khi nắm quyền cai trị, cũng rất tôn trọng Hứa Tĩnh.
Lưu Ba ở Linh Lăng, lúc đầu là người tích cực giúp đỡ chính quyền của Tào Tháo, Lưu Bị trong thời gian liên hợp với Tôn Quyền chống Tào Tháo, thì Lưu Ba cùng với các nhân sĩ thân Tào ở Kinh Châu, chủ trương Trung Quốc thống nhất, tiếp thu yêu cầu của Tào Tháo, đến chiêu an ở ba quận Trường Sa, Linh Lăng, Quê Dương ở phía nam.
Trận đánh Xích Bích, thế lực Tào Tháo bị bức rút khỏi Kinh Châu, ba quận phía nam ấy bị rơi vào phạm vi thế lực của Lưu Bị. Gia Cát Lượng thấy Lưu Ba có tài năng và nhân cách, đã viết thư chiêu dụ, song Lưu Ba lại bỏ quan mà đi, để lại lá thư không muốn phò tá một chính quyền không chính thống như Lưu Bị, khiến Lưu Bị đối với Lưu Ba rất chi căm giận.
Sau này Lưu Ba đến Giao Chỉ theo giúp Lưu Chương được Lưu Chương cho làm một chức quan cao cấp ở văn phòng. Đến khi Trương Tùng, Pháp Chính nêu kế hoạch mời Lưu Bị vào Thục cùng chống lại Trương Lỗ, Lưu Ba đã phản đối mãnh liệt, ông ta cho rằng Lưu Bị có dã tâm rất lớn, vào Thục ắt sẽ mang theo tai họa lớn. Đến khi Lưu Bị đã vào Thục chuẩn bị bắc phạt Trương Lỗ, thì Lưu Ba lại nói: “Nếu để Lưu Bị đi đánh Trương Lỗ như thế là thả hổ về rừng”.
Sau mấy lần can gián, đều không được Lưu Chương tiếp thu, Lưu Ba đành đóng cửa cáo bệnh, không tham dự vào chính sự ở Ích Châu.
Khi Lưu Bị bao vây Thành Đô mọi người đều cho rằng lần này Bưu Ba số đã hết, song Lưu Bị lại nghe theo đề nghị của Gia Cát Lượng, hạ lệnh rằng: “Nếu ai làm hại Lưu Ba thì phải tru di tam tộc”. Lưu Ba nghe vậy rất đỗi cảm động, sau khi Lưu Bị vào Thành Đô, Lưu Ba đến tận nơi tạ tội, Lưu Bị tự nhiên không trách cứ ông ta, lại nghe theo sự tiến cử của Gia Cát Lượng, để Lưu Ba giúp việc ở phủ thừa tướng.


6. Khoan dung trong mọi mặt, xây dựng công thức chung.
Ngoài những đại thần Ích Châu như Hoàng Quyền năm nào phản đối Lưu Bị vào Thục, hoặc những trưởng lão như Lý Nghiêm, Ngô Ý năm nào ở chiến trường đã đi theo Lưu Bị, Bành Dạng là người có tài năng, song vẫn chưa được Lưu Chương trọng dụng; Gia Cát Lượng đã cân nhắc tài cán và ý nguyện, trao cho chức vị để những người như ông ta tham gia chính phủ mới, phát huy hết tài năng.
Trong 5, 6 năm, có được hai châu Kinh, Ích, trận tuyến của Lưu Bị đã khuyếch đại mau chóng, các mặt lập trường, ý kiến, lợi hại cũng có nhiều mặt. Bởi thế Gia Cát Lượng phải đặc biệt chú ý mâu thuẫn giữa các quan lại văn võ mới cũ, để họ dốc lòng cống hiến, vì sự ổn định và phát triển của chính phủ mói mà nỗ lực ở mức lớn nhất.
Lại ví như danh tướng Quan Trung là Mã Siêu, vốn là lãnh tụ hùng cứ một phương, nay mắc nạn phải theo về với mình, đã cấp cho địa vị đặc biệt, bởi thế sau khi vào Thành Đô, Lưu Bị đã phong Mã Siêu làm Bình tây tướng quân. Địa vị ấy đã vượt cả lão tướng Triệu Vân, thậm chí còn bằng vai với Trương Phi.
Triệu Vân vẫn không coi trọng quyền tước, còn Trương Phi đối với danh sĩ có biệt tài, cũng hiểu rằng phải đặc biệt tôn trọng. Song Quan Vũ đang trấn thủ Kinh Châu xa xôi lại có vẻ không vừa ý, Quan Vũ vẫn tự coi mình là bậc cao, ông ta thấy Mã Siêu chỉ một bước đã lên đến chức Bình tây tướng quân, trong lòng sôi sục bất bình, lại đặc biệt viết thư cho Gia Cát Lượng bầy tỏ rằng Mã Siêu có tài năng đến đâu, thao lược so được với ai? Gia Cát Lượng rất hiểu Quan Vũ, bèn viết thư trả lời rằng: “Mã Siêu tài kiêm văn võ, anh hùng hơn người, là người hào kiệt trên đời, ví như Kình Bành có thể tranh cao thấp với Trương Phi, chẳng thể so sánh được với ông râu dài về tài năng phi phàm vậy (người đời vẫn khoe Quan Vũ có bộ râu đẹp)”.
Gia Cát Lượng qua lá thư ấy đã ví Mã Siêu với những mãnh tướng hữu dũng vô mưu như Bành Việt và Anh Bố, hoặc giống như Trương Phi mà thôi, dứt khoát không bằng Quan Vũ có văn võ toàn tài, vượt cả đám quần hùng. Quan Vũ xem thư rất đỗi cao hứng, đặc biệt còn đưa thư cho các tân khách xung quanh cùng thưởng thức, xem thế khá thấy thái độ ngạo mạn tự đắc của Quan Vũ lúc bấy giờ. Đấy cũng là nguyên nhân chủ yếu gây ra việc để mất Kinh Châu sau này. Song Gia Cát Lượng muốn để Quan Vũ yên tâm mới làm như thế. Đương nhiên Gia Cát Lượng cũng tự mình làm gương, có quan hệ tốt với các nhân sĩ, Kinh Ích Châu, ông với Đổng Hòa cùng vui lo với công việc. Hai người đắp đối dài ngắn, đồng lòng đồng trí, trở thành đôi bạn tâm giao. Ví như nhân vật Lưu Ba lại là người không dễ gần, ông ta tài hoa hơn người, có hiểu biết sâu rộng. Năm ấy, khi Lưu Bị bao vây Thành Đô, từng hứa với các tướng lĩnh vây thành là đánh xong Thành Đô, sẽ mang tài vật trong kho làm chiến lợi phẩm để mọi người cùng hưởng. Bởi thế sau khi chiếm được thành, các tướng sĩ đã vơ vét sạch châu báu trong kho, đến nỗi sau này đồ quân dụng không đủ, thường bị tài chính bó buộc, cũng khá đau đầu.
Lưu Ba lại đề nghị với Lưu Bị rằng: “Việc ấy thực ra chẳng khó khăn gì, chỉ cần cho đúc nhiều tiền 100 quan bình ổn vật giá, quan phủ định ra giá cả, sẽ quản lý được tình hình thị trường”. Có thể nói đây là một chính sách kinh tế tốt, lại là một chính sách phối hợp tiền tệ với hàng hoá để chủ động điều chỉnh và không chế thị trường, người có đầu óc như vậy thực không nhiều. Lưu Bị làm theo phương pháp của Lưu Ba, quả nhiên sau vài tháng kho tàng đã mau chóng đầy đủ cả.
Song Lưu Ba rất cao ngạo, ông ta xem thường võ tướng; đến cả Trương Phi cũng vậy. Có rất nhiều lần khi Trương Phi xin ông ta chỉ giáo, ông ta đều thoái thác, khiến Trương Phi rất bất bình.
Gia Cát Lượng khuyên Lưu Ba rằng: “Tướng quân Trương Dực Đức tuy là quan võ, song ông ta rất kính phục túc hạ, chúa công tập hợp cả văn võ để định đại sự. Túc hạ bản tính thanh cao, lẽ ra phải hiểu được một chút mới phải”.
Không ngờ Lưu Ba kiêu ngạo đáp rằng: “Đại trượng phu ở đời, phải rộng giao tiếp với anh hùng bốn biển, còn với kẻ võ phu thô lỗ thì có gì để nói”.
Gia Cát Lượng thấy thế, cũng không muốn nói nữa. Song Lưu Bị nghe được lại rất giận giữ mà rằng: “Ta muốn tập hợp đủ mọi người có văn tài và võ bị, để ổn định thiên hạ, Lưu Ba chỉ chuyên môn chống đối ta, ông ta hẳn muốn thích đến chỗ nào với Tào Tháo để làm quan à! Ông ta chỉ khiêu khích chúng ta mà chẳng có thành ý giúp đỡ chúng ta vậy!”.
Lưu Ba thấy Lưu Bị tức giận, phải vội vàng lui lại.


7. Nội chính vừa ổn định, ngoại nạn lại liên miên
Ích Châu vừa ổn định Gia Cát Lượng đã nghĩ ngay đến việc bình ổn nhân sự ở Trung ương và pháp chế, Lưu Bị thì thường đến các châu quận để giám sát, triệt để không chế Ích Châu một cách hữu hiệu. Song một điều khiến Lưu Bị và Gia Cát Lượng lo lắng là Tôn Quyền ở phía đông và Tào Tháo ở phía bắc, đối với Lưu Bị mới có được hai châu Kinh, Ích, đỏ mặt tức tối, vẫn thường có hành động khiêu chiến, khiến Lưu Bị và Gia Cát Lượng đang lúc chưa ổn định không khỏi lo lắng, để tâm đối phó cẩn thận.
Năm Kiến An thứ 15, cũng tức là hai năm sau khi Lưu Bị bình định Ích Châu, Tào Tháo phát động tấn công vào Trương Lỗ và Hán Trung, Lưu Bị lập tức phái một số lớn tình báo bí mật chú ý tình hình quân sự phái bắc, lại điều động hai đại tướng Trương Phi và Mã Siêu có kinh nghiệm phong phú đến phía bắc Ích Châu, để tăng cường việc phòng bị.
Không lâu sứ giả của Tôn Quyền là Gia Cát Cẩn, đến Ích Châu yết kiến Lưu Bị, yêu cầu trả lại Kinh Châu.
Lưu Bị đối với việc Tôn Quyền nhân khi ông ta vào Ích Châu, đã triệu hồi em gái là Tôn phu nhân về nước, hơn nữa lại còn bắt cả A Đẩu đi theo, thì tức giận không thôi. Song Gia Cát Cẩn lại là anh ruột của Gia Cát Lượng, một nhân sĩ Đông Ngô vẫn có cảm tình với Lưu Bị, nên Lưu Bị đành phải nói rằng: “Đợi chúng tôi chiếm được Lương Châu, tự nhiên sẽ đem Kinh Châu trả cho các ông”.
Gia Cát Cẩn tuy biết rõ đấy chỉ là lời thoái thác, song cũng không dễ cưỡng bức nữa đành mang ý kiến của Lưu Bị về báo lại cho Tôn Quyền.
Chẳng ngờ Tôn Quyền nghe vậy rất giận dữ, lập tức lệnh cho đại tướng Lã Mông dẫn quân tập kích vào ba quận phía nam là Trường Sa, Linh Lăng và Quế Dương.
Lưu Bị biết được quân tình, lập tức giao Ích Châu lại cho Gia Cát Lượng và Pháp Chính, tự mình dẫn 5 vạn quân chủ lực trở về Kinh Châu, đến đóng trại ở Công An để chỉ huy chung. Lại lệnh cho Quan Vũ dẫn quân Kinh Châu theo đường Giang Lăng xuống phía nam, cùng với quân Trường Sa trấn giữ Ích Dương, để biểu thị thái độ cứng rắn.
Song Tôn Quyền cũng không chịu lùi, ông ta lệnh cho Lỗ Túc và Hạ Khẩu theo phía nam đến Ích Dương chuẩn bị với Quan Vũ cùng lấy cứng trọi cứng còn mình thì đóng ở Lục Khẩu, nắm diễn biến quân sự, trước mắt mối liên minh hai bên sắp bị phá vỡ, tình thế đại chiến có thể sẽ nổ ra.
Đang vào lúc khẩn cấp như thế, có tin ở phía bắc Hán Trung đang có chiến sự, Tào Tháo đã giành được thắng lợi quyết định, Lưu Bị thất kinh, sợ Tào Tháo thuận đà tràn xuống phía nam, Ích Châu có thể có biến, bèn chủ động phái sứ giả đàm phán với Tôn Quyền hai bên ký hiệp định phân chia Kinh Châu, lấy sông Tương Thủy làm ranh giới, ba quận phía đông Tương Thủy là Giang Hạ, Trường Sa, Quế Dương thuộc Tôn Quyền các quận phía tây Tương Thủy là Nam Quận, Linh Lăng, Vũ Lăng thuộc Lưu Bị; như vậy chiến tranh tạm thời hoà hoãn lại, kéo dài thêm liên minh Tôn - Lưu vốn đã rệu rã.
Thực ra với tình thế lúc ấy mà nói, chẳng những Lưu Bị đang chịu uy hiếp, nếu như Tào Tháo hoàn toàn khống chế Hán Trung, thì chiến tuyến Hợp Phì ở phía đông cũng ắt sẽ bị nguy cấp, Tôn Quyền sẽ bị áp lực nghiêm trọng cho nên liên minh Tôn - Lưu đối với cả hai bên đều rất cần thiết.
Quân chủ lực của Lưu Bị không dám quay lại Kinh Châu mà đến thẳng Giang Châu ở phía bắc Ích Châu để tuần tra. Trương Lỗ lúc ấy đã chạy khỏi Ba Trung, tham mưu Hoàng Quyền nói với Lưu Bị rằng, Hán Trung đã mất, ba quận Ba Đông, Ba Tây, Ba Trung đều khó phòng thủ hữu hiệu, nếu ba quận ấy mà mất, ví như Ích Châu mất cánh tay, tình huống sẽ rất nghiêm trọng, bởi thế không gì bằng liên hợp với Trương Lỗ, cố thủ ở Ba Trung để chống lại quân Tào Tháo tràn xuống phía nam. Lưu Bị lập tức lệnh cho Hoàng Quyền làm hộ quân, dẫn quân lên phía bắc đón Trương Lỗ.
Không ngờ Hoàng Quyền mới đến Ba Trung (nay là Gia Lăng) Trương Lỗ đã trở về Nam Trịnh, chính thức tuyên bố đầu hàng Tào Tháo.
Hoàng Quyền lập tức tấn công vào ba quận ấy, uy hiếp Thái thú Ba Đông là Phác Hồ, Thái thú Ba Tây là Đỗ Hỗ và Thái thú Ba Quận là Nhiệm Ước, thế là Ba Trung hoàn toàn bị Lưu Bị khống chế.
Lúc đó Tào Tháo cũng phái đại tướng Trương Tích xuất binh thu hồi ba quận ấy, đến đóng đồn ở Nhan Cừ, Lưu Bị lệnh cho Trương Phi đang làm Thái thú Ba Tây dẫn quân nghênh chiến, hai hên đối trận hơn 50 ngày. Trương Phi dùng kế đánh bại được Trương Cát, Trương Cát rút quân về Nam Trịnh. Diện mạo ba quận ở đấy tạm thời được ổn định, thực ra qui mô chiến tranh lại càng lớn, đang ủ men ngấm ngầm. Quân Lưu Bị vừa mới được nghỉ ngơi, lại không tránh khỏi bị cuốn vào cuộc tranh giành Hán Trung với Tào Tháo ở phía bắc.
 
*
*    *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong chiến dịch công thủ liên tục, không tránh khỏi va chạm với cường địch khó khắc phục, lúc ấy chiến thuật khéo léo đến đâu, hoặc liều mạng quyết đâu, đều rất khó có hiệu quả. Ngô Khởi tác giả cuốn Ngô tử binh pháp cho rằng, như thế phải có binh lực rất lớn, hoặc mưu kế của thánh nhân. Nói cách khác, khi đối diện với cường địch, chiến lược có tầm quan trọng lớn hơn so với chiến thuật.
Trong cuốn Ngô Tử có chép: “Ngụy Vũ Hầu hỏi rằng: Có quân rất đông, lại có võ dũng, hơn nữa địa hình rất có lợi, lưng dựa vào núi lớn, mặt nhìn ra nơi hiểm trở, bên phải là núi, bên trái là sông, hào thì sâu, lũy thì cao, lại có lắm nỏ cứng, công sự phòng ngự cẩn mật, trụ vững như núi, tiến như gió lốc, lương thực rất nhiều, khó đối trận lâu dài với họ, như vậy là thế trận bất lợi với ta, phải đối phó như thế nào?”.
Ngô Khởi đáp rằng: “Đấy là vấn đề rất quan trọng! Song không thể dựa vào số ngựa xe binh lính để giải quyết, mà phải dựa vào mưu kế của bậc thánh nhân, từ đại cục mà cân nhắc, vận dụng trí tuệ, tìm kiếm sách lược, mới có thể giải quyết vấn đề.
Đầu tiên phải bố trí trận địa nhiều tầng lớp, bởi thế binh lực điều động nhất định phải đầy đủ, nếu không quân lực phải chia ra, lực lượng ắt suy yếu, bề mặt nên chia thành năm tuyến, hơn nữa các tuyến đều phải nắm được vị trí xung yếu.
Bố trí chia quân làm năm tuyến, chủ yếu làm cho kẻ địch khó nhận ra, không biết quân ta sẽ hành động ra sao, cũng khiến họ phải phân tán binh lực để phòng thủ.
Nếu quân địch cố thủ không ra, bảo thủ thực lực, nên lập tức phái gián điệp, trinh sát tường tận hành động và mưu toan của kẻ địch, để hiểu rõ phải chăng họ có quân tiếp viện. Đồng thời phái sứ giả hoà bình, đến đàm phán hoặc chiêu hàng. Kẻ địch nghi ngờ thực lực của quân ta, nếu biết rõ tình thế, kẻ địch có thể thấy khó mà rút lui, không cần phải huyết chiến cứng chọi với cứng, sẽ có thể giải trừ được thế đông cứng.
Nếu như đàm phán không xong thì năm tuyến quân cùng nhất tề tiến đánh. Nếu giành được thắng lợi, chẳng nên truy đuổi, để tránh rơi vào cạm bẫy của đối phương; còn không giành được thắng lợi, nên lập tức rút lui mau chóng, vận dụng phương pháp tác chiến cơ động. Song khi giả vờ rút chạy phải chú ý đến trật tự, chẳng thể hỗn loạn. Một tuyến sẽ đánh vào chính diện; một tuyến sẽ dùng chiến thuật vu hồi, chặt đứt phía sau để tác động tinh thần binh sĩ đối phương; hai tuyến khác thì tập kích vào bên trái hoặc bên phải; còn một tuyến nữa thì dùng chiến thuật du kích đánh vào điểm yếu của đối phương. Năm tuyến cùng tương hỗ công kích như vậy, để sáng tạo ra nhiều cơ hội có lợi, đấy chính là phương pháp tốt nhất để tiến đánh cường địch”.
Trận đánh ở Lạc Thành, quân viễn chinh của Lưu Bị, trước sự phòng thủ vững chắc của mãnh tướng Trương Nhiệm bị rơi vào thế đông cứng. Trong lúc nguy cấp, Lưu Bị và Gia Cát Lượng chẳng những không chịu rút lui về thế co cụm, trái lại không để ý đến tuyến phòng thủ ở phía đông và phía bắc, lại chọc vào tổ kiến, tập trung lực lượng để giải quyết gọn vấn đề.
Trong đợt công kích thứ hai, Gia Cát Lượng lại dùng chiến thuật phân tán mà tiến đánh, để Trương Phi mang quân chủ lực đánh vào chính diện, tự mình với Triệu Vân chia làm hai mũi giáp kích, mục đích chủ yếu để tạo ra những nguy cơ làm nhiễu loạn suy nghĩ của đối phương. Hơn nữa cánh quân của Triệu Vân đánh ở phía tây bắc, chẳng những có thể cắt đứt hậu phương của Trương Nhiệm, mà còn bức Trương Nhiệm không thể không ra ngoài thành quyết chiến với Bàng Thống, cũng tạo thành sự uy hiếp khá lớn với quân phòng thủ ở Thành Đô.
Song chiến thuật phân tán mà đánh này nghiêm chỉnh mà nói cũng khá nguy hiểm. Quân đội tác chiến lấy tập chung cơ động làm nguyên tắc. Phân tán rất dễ bị đánh phá từng phần, bởi thế khi vận dụng chiến thuật này cần phải chú ý đặc biệt.
Gia Cát Lượng trong đợt tây tiến thứ hai, có thể nói ông ta trong quá trình phân tán quân đội, vẫn không ngừng hội quân. Hội quân lần đầu ở Giang Châu, lại phân làm ba đường trong thời gian rất ngắn, theo các hướng đông nam tây bắc, hẹn hội quân ở Thành Đô. Mục đích chủ yếu vẫn là khi phân tán binh lực, để sau đó lại tập trung, mà không vấp phải nguy cơ trong khi tiến hành.
Trong phân tán có hợp nhất, trong hợp nhất có phân tán, trong chân chính có kỳ ảo, trong kỳ ảo có chân chính, đấy là nguyên tắc rất thần diệu trong vận dụng binh pháp chiến thuật.
 
0
Gia Cát Lượng là nhân vật mình thích nhất trong Tam Quốc diễn nghĩa, cảm ơn bạn đã chia sẻ nhé chắc chắn mình sẽ theo dõi đầy đủ [:)]
 
P.S: không biết đăng chen ngang bài đăng của các bạn đang đánh máy cho thư viện như thế này có vi phạm gì không, nếu có nhờ chị Ly hay mod nào đó xoá giúp nhé. Cảm ơn mọi người.
0
Chương XI
BÌNH ĐỊNH HÁN TRUNG
 
Tào Tháo trong hội nghị quân sự đã ví Hán Trung như gân gà. “Gân gà ăn thì vô vị, vứt đi thì tiếc”.
Về tình cảm tuy không đành lòng, song theo suy nghĩ lý tính, Tào Tháo vẫn hạ lệnh nhổ trại rút quân, khoanh tay đưa Hán Trung cho Lưu Bị.
 
1. Vùng đất ít xung đột Quan Trung và Thục Trung.
Hán Trung liền với vùng Quan Trung và Thục Trung, ít xung đột, được Lưu Yên có kế hoạch tác động và ổn định, là vùng đất mà Trương Lỗ, lãnh tụ quân đoàn đạo giáo chiếm cứ khi Tào Tháo bình định Quan Trung, Lưu Bị đã chiếm được Ích Châu, tầm quan trọng của vùng Hán Trung lại càng tăng thêm.
Đối với Lưu Bị mà nói, Hán Trung là đất ắt phải tranh chiến. Trong Long Trung Sách, Gia Cát Lượng đã nhắc đến Lưu Chương nhu nhược, Trương Lỗ chiếm cứ ở phía bắc, cũng là nói Hán Trung đối với sự an toàn của Ích Châu, có sự uy hiếp rất lớn. Huống chi sau này nếu muốn bắc chinh thống nhất Trung Nguyên, Hán Trung lại là đất cửa ngõ.
Lại chẳng may đương khi Lưu Bị và Gia Cát Lượng còn bận chỉnh đốn Ích Châu, năm Kiến An thứ 20, Tào Tháo đã đánh bại được Trương Lỗ, giành được toàn bộ vùng Hán Trung.
Chiến dịch Hán Trung của Tào Tháo, phai khá vất vả mới thắng được, từ mùa đông năm Kiến An thứ 19, bắt đầu sắp xếp quân viễn chinh, đánh kéo dài đến mùa đông năm 20, suốt một năm mới giành được thắng lợi then chốt. Sở dĩ như thế, chính là vùng Hán Trung địa hình hiểm trở, dễ giữ mà khó đánh vào, đối với quân đội bên ngoài mà nói, chẳng thể nắm ưu thế địa hình có lợi, nên phải hãm vào trận chiến gian khổ.
Tháng 12 năm Kiến An thứ 20, Tào Tháo sau khi khôi phục được trật tự chính trị ở Hán Trung, dự định ca khúc khải hoàn dẫn quân về Nghiệp Thành. Tổng tham mưu trưởng Lưu Diệp và tham mưu Tư Mã Ý đề nghị với Tào Tháo, nên thừa thắng truy kích, đánh vào Ích Châu, diệt gọn thế lực của Lưu Bị.
Tư Mã Ý nói: “Lưu Bị vẫn âm mưu đoạt lấy cơ nghiệp của Lưu Chương, không ít đại thần ở Thục Trung bất bình. Hơn nữa phòng tuyến của Lưu Bị hiện nay rất xa Giang Lăng, quân lực phân tán, chính là cơ hội tốt nhất để tấn công. Đại quân chúng ta vừa chiến thắng ở Hán Trung, Ích Châu ắt bị chấn động mạnh, khi quân ta kéo đên, lòng dân, quân ở đây dễ dàng tan rã, xưa nay thánh nhân tạo ra đại sự nhờ thời cơ bột phát, xin thừa tướng lập tức xuống lệnh hành động”.
Tào Tháo thấy lớp trẻ xuất sắc như vậy, lại có ý chí tranh hùng tranh bá, rất là vừa ý. Nhưng ông ta biết rõ trận đánh Hán Trung thắng được cũng nhờ may mắn, mà Ích Châu hiểm trở phải gian khổ gấp trăm lần, lại nữa Lưu Bị ở đấy cũng chẳng phải tay vừa.
Bởi thế Tào Tháo cười mà rằng: “Sự thống khổ của người ta, đều ở chỗ không biết thế nào là đủ, nay đã được voi sao còn muốn được tiên nhỉ?”.
Lưu Diệp cũng đề nghị với Tào Tháo rằng: “Lưu Bị là người hào kiệt, có lý tưởng, có nghị lực, chẳng qua thời vận lúc đầu chưa đến, nay đã tạm thời ổn định, không thể không đề phòng. Ông ta mới giành được đất Thục, lòng người chưa theo về, tấm bình phong Hán Trung ở phía bắc bị chúng ta đoạt mất, tin rằng đất Thục hiện nay đang bị chấn động rất lớn, thế lực ắt suy giảm, nay lấy đội quân hùng mạnh của chúa công, thuận đà mà đánh, không thể không thành công. Nếu như cứ trì hoãn, để Gia Cát Lượng có thời gian trị quốc, Quan Vũ, Trương Phi luyện quân thành thục, lòng dân đất Thục không lâu nữa sẽ mau chóng ổn định, lại thêm đất Thục hiểm yếu khó đánh, thiết nghĩ muốn tấn công họ sẽ càng khó khăn hơn. Hôm nay không trừ ngay đi, ắt là hậu hoạ về sau”.
Tào Tháo cười mà không đáp, chỉ yêu cầu Lưu Diệp xem xét kỹ tình báo trong đất Thục.
Bảy ngày sau, có người ở Thục đến đầu hàng, báo cáo với Tào Tháo: “Thục Trung lan truyền tin tức, quân dân toàn Ích Châu bởi sự kiện Hán Trung mà rất chấn động, chỉ trong một ngày, thậm chí có đến mấy chục sự biến, tuy nhà cầm quyền đã trấn áp nghiêm khắc, song cơ hồ vẫn chẳng thể ổn định được”.
Tào Tháo sau một lúc trầm tư, nói rằng: “Thục Trung đã ổn định, không thể tiến đánh được”.
Tin tức tình báo ở chiến trường thực hư khó phán đoán, phải dựa vào kinh nghiệm mà trực tiếp phán đoán. Nếu đối phương có nhược điểm mà chưa nhìn ra thì ta phải hoàn toàn chiếm lợi thế. Những tin tức tình báo lạc quan, thường có nhân tố ẩn tàng phía sau. Tào Tháo chỉ trong một thời gian ngắn, đối với tình hình thực lực hai bên có đánh giá hoàn chỉnh không bị mông lung, có thể nói là đã “biết mình, biết người, trăm trận chẳng thua” vậy.


2. Mãnh tướng Trương Phi khéo dùng kế chiếm thế thượng phong.
Đối với điều kiện địa lý mà nói, Hán Trung giáp với phía đông bắc Ích Châu, núi non vây bọc, ở giữa là bồn địa Hán Trung, đất đai phì nhiêu, sản vật phong phú, bất luận là quân sự, kinh tế, chính trị đều có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong cuốn “Quận quốc huyện đạo ký”, danh tướng Nam Tống là Trương Tuấn có viết:
“Hán Miện là đất có hình thế đặc biệt, phía trước khống chế quân sáu ngả đường, phía sau có thóc gạo Tây Thục, bên trái thông với Kinh Tương giàu có, bên phải liền với Tây Lương lắm ngựa, đấy là đất binh gia tranh chiến vậy!”. Bởi thế về tấn công và phòng thủ, Hán Trung đối với Tào Tháo và Lưu Bị đều quan trọng như nhau.
Để tăng cường phòng thủ Hán Trung, Tào Tháo phái Hạ Hầu Uyên vốn cùng họ với ông ta và đã được quan tâm bồi dưỡng làm Đô hộ tướng quân (Tào Tháo vốn họ Hạ Hầu), dẫn theo Trương Cáp và Từ Hoảng đã có kinh nghiệm tác chiến phong phú đến đó trấn giữ, lại lấy trưởng sử Tập Tuy làm quan hành chính để đôn đốc công việc ở Hán Trung.
Tập Tuy trông coi việc bình ổn dân tình ở Hán Trung, ông ta lấy phương thức nửa tự nguyện nửa cưỡng bức, đưa hơn 8 vạn người, ở Hán Trung có thế lực, dời đến vùng Lạc Dương và Nghiệp Thành, khiến cho việc cai quản ở Hán Trung mau chóng ổn định lại.
Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã thấy rất rõ ràng, phải đoạt lấy Hán Trung trong tay Tào Tháo, so với Trương Lỗ lúc trước khó khăn gấp trăm nghìn lần, bởi thế chẳng thể xem thường, chỉ cần có một chút cơ hội cũng phải dốc sức nắm lấy.
Vì vậy khi Hoàng Quyền đến Ba Trung đón Trương Lỗ đang thất bại, Lưu Bị đã chỉ thị ông ta nhân cơ hội tiến đánh bộ lạc Phác Hồ, đoạt lấy cả vùng đất Ba Sơn.
Hạ Hầu Uyên không chịu nằm yên, ông ta hạ lệnh cho Trương Cáp khẩn cấp dẫn quân đến đóng ở vùng Ba Sơn. Ông ta tích cực động viên dân ở đấy dời vào Hán Trung, có ý biến nơi ấy thành bãi chiến trường lớn. Hành động của Trương Cáp lại thuận lợi ngoài ý muốn đến cả vùng đất quân sự quan trọng như Trá Cừ, Đãng Thạch của Ích Châu cũng đều bị sát nhập. Lưu Bị cũng lập tức ngả bài, ông ta phái Trương Phi đang làm Thái thú Ba Tây đến giao tranh với Trương Cáp. Trương Phi vẻ ngoài thô bạo, thực ra trong lòng rất tốt, trong trận Đương Dương Trường Bản, nếu như chẳng có ông ta can đảm dùng nghi binh chặn hậu, Lưu Bị phải chăng đã có được hôm nay, sợ rằng vẫn còn chưa có đất đứng chân.
Đối diện với binh lực của Trương Cáp hùng mạnh, Trương Phi cậy hiểm cố thủ lại, dùng quân sỹ quen thuộc địa hình Ba Trung, lấy chiến thuật du kích để quấy nhiễu đối phương.
Trương Cáp cũng là tay đối thủ đáng gờm, hai bên giao tranh kéo dài hơn 50 ngày, bất phân thắng bại. Do đường vận chuyển của quân Trương Cáp rất dài, lương thực mau chóng tiêu hao hết, nóng lòng không yên, tự nhiên mong ngóng đánh nhanh thắng nhanh. Ông ta phái không ít gián điệp, giám sát kỹ mọi hành động quân sự của Trương Phi.
Sau khi biết được tình thế của Trương Cáp, Trương Phi lại dùng sách lược đối phó với Nghiêm Nhan năm nào, cố ý dẫn hơn một vạn binh mã, giả vờ theo đường mòn đến đánh lén Trương Cáp.
Sau khi nghe thám mã nói rõ như thế, Trương Cáp phán đoán rằng Trương Phi muốn nhân cơ hội quân địch thiếu lương, lòng quân không yên mà đánh tập kích, lập tức dẫn quân chủ lực đuổi theo, cứ lối đường mòn mà bám theo phía sau Trương Phi, chuẩn bị thời cơ phản kích.
Chẳng ngờ quân đuổi theo khi đến Ngoã Ải Khẩu thì mất hút dấu vết của Trương Phi. Trương Cáp biết đã trúng kế, song đường núi nhỏ hẹp, quân trước sau không cứu giúp nhau được, trong khi đó quân mai phục của Trương Phi từ hai bên vách núi lấy đá lớn và mưa tên mà tiến đánh, chỉ trong chớp mắt quân sĩ tinh nhuệ của Trương Cáp cơ hồ đều bị chết cả.
Trương Cáp vốn không ít từng trải phải vứt ngựa leo lên vách núi, thoát được sự săn đuổi của Trương Phi, mấy vạn binh mã chỉ còn lại vài chục người chạy được. Thất bại rất nặng nề, cũng là kỷ lục thất bại đầu tiên của Tào Tháo ở Hán Trung.


3. Hai bên như kiến vỡ tổ, Hán Trung khói lửa mịt mờ
Năm Kiến An thứ 22, Đô đốc Đông Ngô là Lỗ Túc ngã bệnh từ trần, tin tức truyền lan, như một đám mây đen tức thì trùm lên Ích Châu, Gia Cát Lượng một mặt rất thương tiếc chiến hữu tâm đầu ý hợp ngày nào, một mặt cũng bởi thế mà lo lắng, cái chết của chính trị gia có ảnh hưởng với đại cục, sẽ dẫn đến tác động ít với mối liên minh Tôn - Lưu.
Quan Vũ ở Kinh Châu, chỉ có võ lược, thiêu nhãn quan chính trị, nếu chẳng được Lỗ Túc cố gắng sắp xếp, quan hệ Tôn - Lưu sớm đã rắc rối. Lã Mông tiếp thu công việc ấy là người thao lược, song thái độ chính trị lại khác, tình thế Kinh Châu sẽ phát triển như thế nào là mối lo lắng của Gia Cát Lượng.
Bởi thế sau khi Lỗ Túc tạ thế, sợ sau này chiến tuyến phía đông có biến, Gia Cát Lượng và Lưu Bị nhận định rằng phải rất mau chóng đoạt lấy Hán Trung, củng cố phòng tuyến Ba Thục, mới có thể cướp được thời gian, xử lý tốt quan hệ Tôn - Lưu.
Pháp Chính cũng đề nghị với Lưu Bị: “Năm ngoái mối đánh được Trương Lỗ, bình định được Hán Trung chẳng thừa thế đánh lấy Ba Thục, chỉ để lại Hạ Hầu Uyên và Trương Cáp trấn giữ, còn mình lập tức rút quân về phía bắc, xét ra như không trí lược, thực bởi có chỗ bất cập! Đương nhiên cũng bởi liên quan với Hứa Đô (Hán Hiến đế) và Nghiệp Thành (Tào Tháo) ở gần đó, quan hệ ngày mỗi xấu đi, mới phải vội vàng rút về. Hạ Hầu Uyên và Trương Cáp thao lược không bằng chúa công, nếu ta mang quân tây chinh tháo phạt, ắt sẽ thành công. Sau khi có được Hán Trung, mới có thể trồng nhiều lương thực, tích trữ quân nhu, đợi đến thời cơ. Thứ nhất có thể diệt sạch kẻ địch, phục hưng nhà Hán. Thứ hai có thêm hai châu Ung, Lương mở rộng được lãnh thổ. Thứ ba có thể củng cố hiểm yếu, với kẻ địch đối đầu lâu dài. Đây là cơ hội tốt mà ông trời cho chúng ta, dứt khoát không thể để mất!”.
Đúng mùa xuân năm Kiến An thứ 23, Lưu Bị theo đề nghị của Pháp Chính qua hơn một năm tích cực bố trí đã hoàn toàn chuẩn bị tốt việc tiến đánh Hán Trung.
Mặt khác, Hạ Hầu Uyên cũng dốc toàn lực tăng cường phòng ngự suốt một dải Dương Bình Quan. Tạm thời đám mây chiến tranh phủ khắp Hán Trung, chỉ đợi bùng nổ không biết lúc nào.
Lưu Bị lưu Gia Cát Lượng trông coi Thành Đô, tự mình dẫn đại quân Ích Châu đông như đàn kiến, khí thế rất hùng dũng.
Đội quân của Lưu Bị bắc phạt Hán Trung được sắp xếp như sau:
Thống soái: Lưu Bị
Tổng tham mưu trưởng: Pháp Chính
Đạo quân thứ nhất: Quân đoàn Hoàng Trung
Đạo quân thứ hai: Quân đoàn Trương Phi
Đạo quân thứ ba: Quân đoàn Mã Siêu
Đạo quân thứ tư: Quân đoàn Ngô Lan
Đạo quân dự bị: Quân đoàn Triệu Vân
Lưu Bị phái Trương Phi, Mã Siêu, Ngô Lan lên phía bắc đánh quân Vũ Đô, đóng đồn ở Hạ Biện, có ý cắt đứt liên hệ giữa quân Tào Tháo ở Hán Trung với vùng Quan Trung. Tự mình dẫn quân Hoàng Trung đi trước, trực tiếp đánh vào vùng then chốt Hán Trung. Triệu Vân thì tạm thời ở lại Ích Châu, tùy thời đợi lệnh.
Tào Tháo sau khi được tin báo, lập tức hạ lệnh cho Tào Hồng đang làm Đô hộ tướng quân trấn thủ Tràng An, cùng với quân Tào Hưu đến ngăn chặn đường tiến của Trương Phi.
Trung tuần tháng 3, quân Tào Hồng đã đến đóng ở quận Vũ Đô, dự định đánh quân Ngô Lan đang ở Hạ Biện, nhưng quân Trương Phi và Mã Siêu ở vùng Cố Sơn hợp với quân Ngô Lan theo thế ỷ giốc, hiển nhiên nếu Tào Hồng mang quân đến, họ sẽ có ý đồ chặt đứt đường tiếp viện của Tào Hồng; trước việc uy hiếp ấy Tào Hồng rất đau đầu, bởi thế vội triệu tập hội nghị quân sự để thảo luận đối sách. Các tướng lĩnh tham dự hội nghị đều cho rằng nên dừng lại để tránh rơi vào thế giáp kích của Trương Phi và Ngô Lan, hơn nữa còn có quân Tây Lương của Mã Siêu, vẫn dũng mãnh có tiếng, với quân Tào lại có oán thù sâu sắc, dứt khoát chẳng thể xem thường. Tào Hưu một mình đứng ra nói rằng - Quân địch nếu thực có ý cắt đứt đường vận chuyển của chúng ta, xét về lý phải bí mật hành động mới có hiệu quả. Nay khoa trương thanh thế biểu lộ họ không đủ binh lực, mới phải làm thế. Bởi vậy tôi cho rằng, trước lúc họ chưa ổn định, trực tiếp tập kích quân Ngô Lan, chỉ cần quân Ngô Lan tan vỡ, Trương Phi và Mã Siêu ắt sẽ chẳng thể giữ được Cố Sơn.
Tào Hồng nghe theo ý kiến Tào Hưu tự mình dẫn quân chủ lực tập kích quân Ngô Lan, Ngô Lan không địch nổi, phó tướng Nhậm Quỳ bỏ mình tại trận. Ngô Lan chạy đến Âm Bình, cũng bị người Đê ở đây giết chết. Trương Phi và Mã Siêu muốn đến chi viện, song Tào Hưu tự mình chỉ huy đại quân cố thủ quận Vũ Đô, khiến Trương Phi vô kế khả thi, đội quân thứ tư của Lưu Bị trước lúc vào được Hán Trung đã bị đánh tan.
Cuối tháng 3, quân Trương Phi và Mã Siêu, quả nhiên không thể chịu đựng áp lực của Tào Hồng có ưu thế về quân lực, lại thêm lương thực bổ sung rất khó khăn phải nhằm hướng nam rút về vùng Hán Trung.


4. Phản bại thành thắng, Pháp Chính dùng mưu
Tháng 4 quân chủ lực Lưu Bị đã hạ trại ở gần Dương Bình Quan. Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp, Từ Hoảng, cũng không chịu nằm yên rối rít kéo ra giao tranh.
Lưu Bị phái đại tướng Trần Thức vội đánh chiếm đường Mã Minh Các, lấy thế ở trên cao mà nắm ưu thế. Quân Từ Hoảng tập kích Trần Thức, do thiếu chuẩn bị nên Từ Thức bị thua to, khiến quân Lưu Bị mới xuất trận, về địa lợi và thanh thế đều xuống thấp.
Trương Cáp nhân cơ hội đến đóng đồn ở Quảng Thạch, đối đầu chính diện với quân chủ lực của Lưu Bị, Lưu Bị đã mấy lần lệnh cho Hoàng Trung tấn công mạnh mẽ, song đều phải rút quân, đạo quân thứ nhất cũng phải chịu không ít tổn thất, Lưu Bị đành phải điều động đạo quân Triệu Vân đang ở Ích Châu đến chi viện.
Tháng 7, Tào Tháo xét thấy tình thế chiến cục ở Hán Trung, Lưu Bị đang ở thế rất cố gắng cũng không thể xem thường, nếu như mình không tự xuất binh, phải chăng không dễ ngăn cản được cuộc tiến công ấy. Thế rồi có kế hoạch sắp xếp lại toàn bộ, đầu tiên điều động quân Từ Hoảng trở về, để hiệp trợ Trương Liêu đối phó với Tôn Quyền ở phía đông. Tự mình thì điều động Hạ Hầu Đôn đang trấn thủ ở Dự Cổn, và Tào Chân đang độ sung sức, cùng với Tào Hưu mới ở Vũ Đô trở về lập tức tiến hành cuộc tây chinh.
Tháng 9 đại quân của Tào Tháo đến Tràng An lập tức cho người triệu hồi Tào Hồng đang ở Vũ Đô, để hiểu rõ hơn quân tình ở Hán Trung.
Tổng chỉ huy Hạ Hầu Uyên là người nổi tiếng bởi dũng mãnh, trách nhiệm và thấu đáo, bởi thế được Tào Tháo cân nhắc, ở trong quân đội của Tào Tháo, uy danh còn hơn cả người anh là đại tướng Hạ Hầu Đôn. Hơn nữa sau khi được bổ nhiệm làm thống soái quân Hán Trung, lại độc lập đối kháng với Lưu Bị từng nổi tiếng hào kiệt ở đời, đã mấy lần đánh bại được quân Lưu Bị mà thêm nổi tiếng, cũng đã bộc lộ ra sắc thái kiêu ngạo ít thấy.
Khẩu khí của Hạ Hầu Uyên rất ghê gớm, khiến Tào Tháo cũng phải lo hộ ông ta. Trong thời gian đối đầu ở Dương Bình Quan, Tào Tháo đã đặc biệt viết thư nhắc nhở ông ta: “Kẻ làm đại tướng phải hiểu rõ lâm trận là đáng sợ, hiểu được chỗ yếu của mình, chẳng thể quá dựa vào võ dũng. Đã rõ là bản chất của Tướng quân là vậy, song hành động phải có trí tuệ. Nếu chỉ hoàn toàn vũ dũng, chỉ có thể địch nổi kẻ thất phu mà thôi”.
Hạ Hầu Uyên sau khi được thư, lại cho rằng Tào Tháo đánh giá Lưu Bị quá cao, nay quân Hán Trung đang có khí thế, nếu quân tiếp viện của Lưu Bị có đến thêm nữa, cũng chẳng thể làm được gì.
Tháng giêng năm Kiến An thứ 24, Lưu Bị ở Dương Bình Quan đã kéo dài cuộc chiến đấu với Hạ Hầu Uyên gần một năm. Gia Cát Lượng từ Thành Đô vội đến tiền tuyến, cùng với Pháp Chính bàn bạc đối sách, theo đề nghị của hai người, Lưu Bị dự định sẽ vận dụng chiến thuật dụ địch.
Lưu Bị cũng thấy Hạ Hầu Uyên kiêu căng khinh địch, lại xem thường quân Ích Châu, bởi thế quyết định làm cho ông ta càng thêm kiêu ngạo. Đầu tiên Lưu Bị giao quyền chỉ huy đạo quân tiền tuyến cho lão tướng Hoàng Trung vốn có kinh nghiệm phong phú lại dũng cảm, tự mình dẫn quân chủ lực, Pháp Chính cùng quân sĩ dưới trướng rút về phía nam, để biểu thị ý đồ, vứt bỏ Hán Trung, khiến Hạ Hầu Uyên càng thêm kiêu ngạo. Tiếp theo, Lưu Bị lệnh cho Hoàng Trung đến Đông Thành đánh Trương Cáp bằng một trận hoả công mãnh liệt. Hạ Hầu Uyên nghe tin, lập tức lệnh cho Hạ Hầu Thượng và Hàn Hạo dẫn quân chi viện, quân Hoàng Trung rút chạy, Hạ Hầu Thượng thừa thắng truy kích, Trương Cáp khuyên mãi không được đành phải theo sau tiếp ứng.
Quân Hoàng Trung mỗi ngày rút một chặng, mau chóng đến được Đãng Sơn. Hàn Hạo và Hạ Hầu Thượng đuổi đến, Hoàng Trung mãnh liệt quay lại phản kích, quân mai phục 2 bên đều đổ ra, Hàn Hạo, Hạ Hầu Thượng bị đánh bất ngờ, toàn quân hỗn loạn, hai viên tướng đều bị chết. Trương Cáp thấy Hoàng Trung dũng mãnh hơn người, không dám ham chiến, phải rút về Đông Thành để thủ thế.
Hoàng Trung thừa thắng đánh đến tận đại bản doanh của Hạ Hầu Uyên ở Nam Thành, Hạ Hầu Uyên cả giận, dốc tổ mà ra, muốn diệt sạch quân Hoàng Trung để trả thù cho Hạ Hầu Thượng.
Lưu Bị vội phái sứ giả báo cho Hoàng Trung không nên quyết chiến, mau chóng rút về phía Miện Thủy, cùng với quân chủ lực của Lưu Bị hợp quân đóng trại ở trên núi, từ trên cao nhìn xuống, cậy hiểm mà giữ. Do liên tục điều động mau chóng, quân Hoàng Trung lộ rõ thứ tự hỗn loạn, Hạ Hầu Uyên thấy thế, tưởng có thể đánh tan bèn dẫn một số ít quân cận vệ đuổi theo, muốn giết chết Hoàng Trung. Trương Cáp nghe tin, sợ có mưu kế lập tức cũng dẫn quân đuổi theo.
Song Hạ Hầu Uyên muốn lập công lớn, hành động vội vàng, dẫn quân đến dưới núi. Pháp Chính ở trên núi đốc chiến thấy quân Hạ Hầu Uyên cờ xí rối loạn, quân đội không chỉnh tề, bố trí sơ hở nhiều chỗ, cho rằng thời cơ đã đến, bèn nói với Lưu Bị: “Có thể đánh được rồi”.
Lưu Bị hạ lệnh cho Hoàng Trung từ bên trên tràn xuống đánh vào quân Hạ Hầu Uyên, quân Hạ Hầu Uyên chẳng hề chuẩn bị lại không ngờ bị đối phương tập kích. Bị quân Ích Châu dốc sức xung sát, rơi vào thế hỗn loạn kêu trời kêu đất mà chạy mỗi người một ngả, chủ soái Hạ Hầu Uyên và phó tướng Triệu Ngưng bị giết hại tại trận, 5000 quân vệ binh cơ hồ hoàn toàn bị tiêu diệt.


5. Trương Cáp nhận lệnh lúc lâm nguy.
Quân chi viện của Trương Cáp chạy đến hiện trường, nghe thấy sự tình như thế, lập tức hoả tốc rút về Dương Bình Quan cố thủ. Bởi Thống soái đột nhiên bỏ mạng, như rắn không đầu, lòng quân hoang mang, chẳng biết làm gì, tham mưu trưởng Quách Hoài đứng ra lo liệu, ông ta tiến cử Trương Cáp thay mặt nguyên soái, được các tướng lĩnh đồng ý. Trương Cáp nhận sứ mệnh lúc lâm nguy, sớm lo phòng thủ vững chắc Dương Bình Quan, lại phái sứ giả cấp báo cho Tào Tháo đang ở Tràng An ngay đêm Hạ Hầu Uyên bỏ mạng, quân chủ lực của Lưu Bị lại đến trước ải Dương Bình, đối trận với doanh trại của Trương Cáp ở bên kia sông Hán Thủy.
Dương Bình Quan im lặng cố thủ trong bóng đêm. Chỉ thấy bờ bên kia đèn lửa sáng trưng, chắc hẳn sáng mai quân địch sẽ vượt sông sang đánh. Trong không khí rầu rĩ và khẩn trương, Trương Cáp triệu tập hội nghị quân sự, không ít tướng lĩnh cho rằng hãy tạm thời cậy hiểm mà giữ để ngăn cản những đợt tấn công của Lưu Bị.
Nhưng Quách Hoài lại cực lực phản đối, ông ta cho rằng đấy là chiến thuật bị động, nếu như hiện nay quân Tào tinh thần đang suy sút mà Lưu Bị dốc sức tấn công, thì Dương Bình Quan chẳng thể giữ được. Chẳng bằng bố trí trận địa ở cách xa bờ sông Hán Thủy, biểu thị thái độ quân ta không sợ đánh nhau, nếu quân địch vượt sông sang bên này, ắt sẽ bị đánh giữa chừng. Bởi Lưu Bị tính cách tác chiến vốn cẩn thận, lại thấy có chỗ nghi kỵ không dám trực tiếp tiến đánh. Trương Cáp mạnh dạn làm theo ý kiến ấy dẫn quân chủ lực bầy trận bên sông Hán Thủy. Đến khi trời sáng, Lưu Bị đến trước trận tiền, quan sát cách bố trận của Trương Cáp, phán đoán đối phương có dũng khí quyết chiến, sợ có phục binh, không dám tràn qua sông, bởi thế rút quân đi.
Trương Cáp lúc bấy giờ mới thở phào lại theo kế hoạch của Quách Hoài, tăng cường việc phòng ngự, biểu thị quyết tâm tử thủ đến cùng.


6. Tào Tháo dẫu có đến, cũng chẳng thể làm gì.
Tào Tháo sau khi tiếp được báo cáo của Quách Hoài, rất khen ngợi sự ứng biến của ông ta, lại lập tức chính thức bổ nhiệm Trương Cáp làm Thống soái quân Hán Trung. Tháng 3 Tào Tháo tự mình dẫn quân từ Trương An kéo ra Tà Cốc, dẫn đại quân đến Dương Bình Quan, quân ở đấy tung hô như sấm, sĩ khí rất hăng hái.
Lưu Bị ở phía bên kia sông nhìn thấy lại nói một cách rất tự tin: “Tào Tháo dẫu có lại, cũng chẳng thể làm gì, ta ắt sẽ có cả hai đất Hán Xuyên”.
Rồi hạ lệnh dựa vào chỗ cao cậy hiểm mà giữ, không tiến hành giao chiến lớn với Tào Tháo.
Bởi kho lương ở Thiên Đãng Sơn đã mất, quân Tào càng thêm khó khăn về vận chuyển lương thực, khiến đến như Tào Tháo có thiên tài quân sự, cũng phải rất đau đầu.
Tào Tháo không thể không sửa sang đường vận chuyển lương thực, song thiếu điều kiện thuận lợi thường phải dùng một số quân lớn để hộ tống.
Khéo thay Lưu Bị tóm ngay được chỗ yếu ấy lại thường xuyên nghĩ cách cướp lương thực, làm cho Tào Tháo đau đầu không thôi, cố gắng suy nghĩ tìm tòi đối sách ứng phó.
Có một lần, quân lương của Tào Tháo chuyển qua Bắc Sơn, Hoàng Trung lập tức dẫn quân chủ lực quân đoàn số một đến cướp lấy lại rơi vào sự mai phục của quân Tào, phải chiến đấu ác liệt mà không thể thoát thân. Tướng quân Triệu Vân thấy Hoàng Trung mãi không về lại sợ đem quân đi sẽ tạo thành lỗ hổng phòng ngự, bèn lệnh cho phó tướng Trương Duệ giữ trại, tự mình dẫn vài chục quân kỵ đến nơi xem xét. Đúng lúc quân Tào đang đuổi sát Hoàng Trung, tình hình rất cấp bách cả tướng lẫn quân đang hoảng hốt rối rít tìm đường rút chạy. Triệu Vân lệnh cho bầy trận một mình một ngựa ra trước đợi quân Tào đang kéo đến, tiếp ứng cho quân Hoàng Trung đang tán loạn. Bởi quân Tào có ưu thế áp đảo, Triệu Vân vừa đánh vừa chạy, rút về doanh trại của mình ở bờ bắc sông Hán Thủy.
Đại quân Tào Tháo kéo đến, Trương Duệ muốn đóng cửa trại cự địch. Chẳng ngờ Triệu Vân chạy về, lại hạ lệnh mở cửa trại, sau đó toàn doanh trại hạ cờ im trống, giữ yên lặng hoàn toàn, tự mình dẫn mấy chục kỵ binh ra trước trại, chuẩn bị giáng trả quân xung kích của Tào Tháo. Thấy doanh trại Triệu Vân đứng dựa bên sông, quân Tào kéo đến trước trại lại ngờ có phục binh, không dám liều lĩnh xông lên. Triệu Vân thấy khí thế quân Tào đã mất lệnh cho nổi trống ầm ĩ, tự mình dẫn quân sung sát, lại lệnh cho Trương Duệ dẫn quân cung nỏ, lấy một trận mưa tên mà nhằm vào quân Tào đang rút chạy. Chỉ trong một thời gian mà quân Tào mất cả ý định ban đầu, kinh hãi dẫm đạp lên nhau, ngã xuống sông Hán Thủy chết không biết bao nhiêu mà kể.
Hôm sau Lưu Bị đích thân đến thăm doanh trại của Triệu Vân, thị sát tình hình, sau khi biết rõ tình thế lúc ấy không khỏi cảm thán rằng: “Triệu Tử Long thực là người rất can đảm”.


7. Tào Tháo phải than thở, Hán Trung như gân gà.
Quân Tào để mất cơ hội đánh bại quân Ích Châu lại còn bị đại bại, tính thần trong quân sút kém, lại thêm tình hình lương thực không đủ, ngày mỗi nghiêm trọng, tuy đã nghĩ mọi cách, vẫn rất khó triệt để giải quyết vấn đê vận chuyển, thậm chí không ít quân đoàn bắt đầu có binh lính bỏ trốn, Tào Tháo cảm thấy sâu sắc tình hình tiến thoái lưỡng nan.
Tháng 5 đang mùa hè thì mùa mưa Hán Trung lại đến, đội quân Tào với số lượng rất lớn lại càng thêm khó khăn về cung cấp lương thực, đến như Vương Bình phụ trách hướng đạo cũng đã bỏ trốn đầu hàng Lưu Bị. Tào Tháo bất đắc dĩ, trong hội nghị quân sự, đã ví Hán Trung là “kê cân” (gân gà): “Kê cân lại kê cân, ăn thì vô vị vứt đi thì tiếc”.
Về tình cảm tuy chẳng muốn song suy nghĩ theo lý tính, Tào Tháo vẫn hạ lệnh nhổ trại rút quân, đành khoanh tay đưa Hán Trung cho Lưu Bị.
Khi Tào Tháo rút khỏi Hán Trung vẫn để lại hai quân đoàn của Trương Cáp và Tào Hồng chia ra đóng đồn ở Trần Thương và Vũ Đô, để ngăn chặn Lưu Bị sẽ từ Vũ Đô mà tiến vào Quan Trung; mặt khác lại hạ lệnh cho Trương Ký đang làm Thứ sử Ung Châu tăng cường phòng thủ ở biên giới, hạ lệnh cho Tào Chân là người em trai tài giỏi yểm hộ Tào Hồng dần dần rút khỏi Vũ Đô, kết thúc chiến dịch Hán Trung đã kéo dài hơn một năm.
Về điều này sự miêu tả của Tam quốc diễn nghĩa có chỗ bất đồng, chiến dịch Hán Trung lần này từ đầu đến cuối chỉ có Lưu Bị và Pháp Chính chỉ huy tác chiến, Gia Cát Lượng sau này tuy có đến tiền tuyên bàn bạc việc quân, song đại bộ phận thời gian vẫn ở Thành Đô. Dứt khoát chẳng có những chuyện như trong Tam quốc diễn nghĩa, như Gia Cát Lượng khéo nói khích Hoàng Trung, giết chết Hạ Hầu Uyên, điều khiển Triệu Vân đánh trận Hán Thủy, cuối cùng lại dùng nghi binh bắt Tào Tháo phải rút quân.
Theo lịch sử ghi chép, Tào Tháo sau này biết âm mưu lấy Hán Trung đều do Pháp Chính, còn trào lộng rằng: “Ta đã biết rằng Lưu Bị chẳng thể có được năng lực như thế”, thực ra, thân làm đại tướng, âm mưu hà tất đều phải tự mình nghĩ ra; Ngô khởi đã từng phải than rằng: “Chỉ lo quần thần không ai theo kịp”.
Lưu Bị có thể dùng kế sách của Gia Cát Lượng đế lấy Kinh Châu, dùng hoạch định của Bàng Thống để lấy Tây Xuyên, lại dùng mưu lược của Pháp Chính để đoạt lấy Hán Trung, biểu thị rõ ràng ông ta là người hiểu được việc cân nhắc nhân tài, vận dụng được sự nổi trội của những người ấy!
Sau đại chiến Xích Bích, Tào Tháo lại bị thua Lưu Bị, đấy là hai địch thủ truyền kiếp cuối cùng đã trực tiếp giao đấu với nhau. Từ cuộc chiến tranh này, chúng ta có thể thấy, Lưu Bị sau nhiều năm bôn ba đã định hình được, lời tiên đoán “thiên hạ anh hùng chỉ có Sứ quân và Tháo vậy” đã ứng nghiệm.
Kể từ trận đánh Hợp Phì trước đó không lâu với Tôn Quyền, đến chiến dịch Hán Trung lần này, Tào Tháo cơ hồ đã đánh mất nhuệ khí chiến đấu đến cùng. Ban đầu, có thể trong thâm tâm ông ta, đã thấy việc thống nhất là vô vọng, thiên hạ chia ba theo thế chân vạc là điều không thể tránh khỏi.


8. Có được hai Châu Kinh, Ích, vương triều mới đã hình thành.
Cùng thời gian giành được Hán Trung, Lưu Bị đã lệnh cho Mạnh Đạt đang là Thái thú Nghi Đô, từ Tỉ Quy đánh lên Phòng Lăng phía bắc. Mạnh Đạt sau khi đánh được Phòng Lăng, giết được Thái thú Khoái Kỳ, lại còn tiến lên phía bắc, đến tận Thượng Dong.
Lưu Bị lo Mạnh Đạt có sơ xuất, phái con nuôi là Trung lang tướng Lưu Phong từ Hán Trung dong thuyền theo Miện Thủy xuôi xuống, cùng Mạnh Đạt tấn công Thượng Dong, Thái thú ở Thượng Dong là Thân Đam do Tào Tháo bổ nhiệm phải vứt thành mà đầu hàng, còn vợ con và họ hàng đều bị bắt về Thành Đô làm con tin. Lưu Bị lại phong Thân Đam làm Chinh bắc tướng quân vẫn làm Thái thú ở Thượng Dong, lại lấy người em trai là Thân Nghi làm Kiến tín tướng quân, lĩnh chức Thái thú Tây Thành. Lưu Phong thì xin làm phó quân tướng quân ở lại giữ Thượng Dong, để làm bình phong che chở cho phía đông nam Hán Trung.
Tháng 7 đang mùa thu, Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương, chính thức cai quản đại bộ phận Kinh Châu và toàn bộ Ích Châu (gồm cả Hán Trung) kể từ trận đánh Đương Dương năm Kiến An thứ 13, một cơ sở luôn bị phá sản, sau mười năm được Gia Cát Lượng với vai trò một tổng quản lý chuyên nghiệp qui hoạch lại đã thoát khỏi khó khăn, trở thành một trong ba chân đỉnh lớn của toàn quốc.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Phất cờ gióng trống giữa chừng trận đánh, thời cơ thắng bại thường xảy ra trong chớp mắt.
Binh pháp Tôn Tử từng chỉ ra rằng khi rơi vào trận chiến gay go nếu duy trì được sức tác chiến, của mình kiên trì đến cùng, thường phản bại thành thắng.
Bởi thế nếu kẻ địch binh lực ít hơn ta, thì quân ta chia thành mấy đội mà luân phiên công kích. Nếu kẻ địch binh lực nhiều mà ta thì ít, nên vận dụng thế trận ngưng kết nội bộ, mới có thể phòng được sự khiêu chiến từ bên ngoài, ấy là “dĩ dật đãi lao” vậy.
Trận đánh Hán Trung, có ba lần đánh lớn, đều bởi kiên trì phòng thủ đến cùng, mới phản bại thành thắng được.
Lúc mới đầu, quân Hạ Hầu Uyên của Tào Tháo, có binh lực và thanh thế chiếm ưu thế, ví như Tào Hồng đánh bại được Ngô Lan, bắt Mã Siêu và Trương Phi rút chạy, Trương Cáp chém được Trần Thức. Có thể nói lúc ấy, quân viễn chinh của Lưu Bị, tựa hồ ở thế yếu hoàn toàn.
Song theo qui hoạch của Pháp Chính, được Hoàng Trung dũng mãnh và rất có trách nhiệm, đã ra mặt dẫn dụ được Hạ Hầu Uyên. Chiến thuật được Hoàng Trung vận dụng khá khéo léo, trước dụ giết được Hàn Hạo và Hạ Hầu Thượng, đến khi Hạ Hầu Uyên đã rất giận dữ, lại vờ thua dẫn dụ ông ta đến đóng quân dưới núi, lợi dụng địa hình mà giết được Hạ Hầu Uyên.
Đại tướng quân biết quên mình, tinh thần binh sĩ rất hăng hái chiến đấu, Tào Tháo cuối cùng không thể không nhường Hán Trung , Hạ Hầu Uyên phải bỏ mình, nhân tố then chốt chính là ở đấy.
Sau khi Hạ Hầu Uyên bỏ mạng tại trận, thanh thế quân Tào suy sụp, Lưu Bị thừa thắng bao vây Dương Bình Quan tình thế rất nguy cấp. Theo đề nghị của Quách Hoài, Trương Cáp tạm thời thay mặt thống soái giữa lúc nguy cấp ở trước cửa, Trương Cáp cổ động dũng khí, bầy trận ở ngoài thành tích cực chuẩn bị chiến đâu, lại khiến Lưu Bị không dám qua sông đánh thành.
Ở giai đoạn này, dũng khí của tướng sĩ quân Tào, khiến họ tạm thời vãn hồi được thế yếu.
Trận đánh Hán Thủy là một việc phát sinh ngẫu nhiên, song nếu như chẳng phải Triệu Vân dựa vào bờ sông bầy trận, Lưu Bị bố trí quân ở phòng tuyến Hán Thủy khả năng chỉ một trận phá tan, sẽ không ảnh hưởng đến đại cục cuối cùng, ít ra sẽ kéo dài chiến tranh thêm mấy tháng nữa.
Đại tướng có tài có thể chống đỡ được khi nguy cấp, là báu vật của quốc gia.
 
0
Chương XII
GIA CÁT LƯỢNG ĐIỀU HÀNH Ở ĐẤT THỤC
 
Gia Cát Lượng vừa mềm vừa cứng đối diện với việc pháp lệnh bị sao nhãng, đặc quyền hoành hành ở Ích Châu thừa tướng mới nhận chức, ban hành pháp trị, để triệt để chỉnh đốn.
Ông đặc biệt nhấn mạnh trị thực không trị hư, tình hình thực tế mà tìm kiếm hiệu quả.
 
1. Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương
Tháng 7 năm Kiến An thứ 24, 120 văn quan võ tướng của Lưu Bị cùng liên doanh, dâng biểu lên Hán hiến đế tôn Lưu Bị làm Hán Trung Vương.
Trước đó, năm Kiến An thứ 21, Tào Tháo đã tự phong làm Ngụy Vương, Hán Hiến đế tuy miễn cưỡng còn giữ được đế vị, thực ra chỉ là bù nhìn mà thôi.
Lưu Bị đã có hai Châu Kinh, Ích, để biểu lộ ý đồ mãnh liệt phục hưng nhà Hán, theo kế sách của Gia Cát Lượng cũng tự lập làm Hán Trung Vương kế thừa thể chế của Vương triều nhà Hán, để bằng vai với Tào Tháo song qua biểu văn ấy khá thấy rõ hình thái đầy đủ của chính quyền Lưu Bị.
Tờ tấu biểu này do một văn quan Ích Châu viết, ông ta tên gọi Lý Triêu người Quảng Hán, có biệt hiệu Lý Thị Tam Long, bởi là công văn chính thức, các chức quan ghi trong ấy đã thế hiện tôn ti trật tự đầy đủ. Những phần tử hạt nhân của chính quyền Lưu Bị tuy là những người chân chính song hiển nhiên là không hợp thời thức triều đình.
Biểu văn ấy ghi rõ: Bình tây tướng quân Mã Siêu, Trấn quân tướng quân Hứa Tĩnh, Doanh tư mã Bàng Hy, Trung lang tướng Tạ Viện (con rể Hoàng Phủ Tung), Quân sư tướng quân Gia Cát Lượng, Đãng khấu tướng quân Quan Vũ, Chinh lỗ tướng quân Trương Phi, Chinh tây tướng quân Hoàng Trung, Trấn viễn tướng quân Lại Cung, Dương vũ tướng quân Pháp Chính, Hưng nghiệp tướng quân Lý Nghiêm, tất cả là 120 người.
Chỉ có Mã Siêu là lãnh tụ quân đoàn Quan Trung, kế tục tước vị của phụ thân là Mã Đằng, là có địa vị rõ ràng. Là phần tử hạt nhân trong tập đoàn Lưu Bị, Gia Cát Lượng đã chính thức vượt cả Quan Vũ và Trương Phi trở thành một người lãnh đạo chân chính.
Biểu văn đề cập chuyện từ Đường Nghiêu đến Hán Chiêu đế, thiên hạ an nguy biến hoá, cũng nhấn mạnh bàn về việc Tào Tháo và Đổng Trác đã làm loạn cả thiên hạ, tàn hại sinh linh, sau lại thuật chuyện Lưu Bị với Đổng Thừa năm nào mưu giết Tào Tháo, tiếc rằng không thành công. Lại lo lắng bởi chuyện Diêm Nhạc giết hại Tần nhị thế Hồ Hợi, cùng là Vương Mãng phế bỏ Nhụ Tử Anh làm phát sinh cuộc chính biến Định An Công. Tiếp theo lại nói rõ việc Lưu Bị hết lòng tôn phò nhà Hán, tự mình đại phá Tào Tháo ở Hán Trung, nức tiếng anh hùng trong thiên hạ; nếu như tước hiệu không rõ, chưa được phong lễ cửu tích, không đủ để giữ yên xã tắc, chiếu sáng muôn đời. Tào Tháo ngoài thì thôn tín thiên hạ, trong lòng áp bức đại thần, khiến triều đình có nguy cơ nội bộ tan rã, lại chẳng có một lực lượng ràng buộc được thế lực Tào Tháo đang mở rộng thực là điều khiến người ta phải đau lòng.
Bởi thế không thể không liệt danh quần thần, theo như lệ cũ, phong Lưu Bị làm Hán Trung Vương, kiêm chức Đại tư mã để tập hợp đồng minh, quét sạch nghịch tặc Tào Tháo, hợp lại các vùng Hán Trung, Ba Thục, Kiện Vi, Quảng Hán thành một quốc gia, kế tục điển chương chế độ nhà Hán, xây dựng nền móng để phục hưng nhà Hán.
Đương nhiên đấy chỉ là văn chương cửa quan, về căn bản không cần Hán Hiến đế phê chuẩn. Cùng với việc dâng biểu văn, lại lập đàn tràng ở Miện Dương (tỉnh Thiểm Tây) trong vùng Hán Trung, các quan văn võ đều đến, cử hành nghi lễ trọng thể. Bởi thế sau khi đọc xong biểu văn, chấp lễ quan dâng vương miện, ngọc tỉ theo nghi lễ, Lưu Bị đã thành Hán Trung Vương.
Vì sao không cử hành nghi lễ ở Thành Đô mà phải đến tận Miện Dương ở gần tiền tuyến nhỉ? Có thể tin rằng như thế ít nhiều là để tượng trưng cho việc kế thừa hương hoả vương triều nhà Hán! Năm xưa cơ nghiệp của Hán Cao tổ Lưu Bang đã bắt đầu ở đấy, vì vậy với ý nghĩa chính trị đối kháng lại Tào Tháo, Hán Trung quan trọng hơn Thành Đô.
Đương nhiên Lưu Bị cũng tự mình viết một tờ tấu biểu lên Hán Hiến đế, bầy tỏ việc mình bị quần thần thôi thúc đành phải làm ra như thế. Ông ta cũng nhắc lại việc cùng với Đổng Thừa mưu giết Tào Tháo, đáng tiếc việc không thành, bởi thế nghĩ đến Hán tặc hùng bạo, quốc nạn chưa dứt, tôn miếu đổ nát, xã tắc lung lay, tự mình đành thuận theo quần thần, nhận lấy ấn tỉ để có quốc uy mà tôn phò thanh miếu, chẳng dám từ chối việc nhảy vào nước sôi, lửa bỏng. Lại nữa, muốn tận lực chân thành khích lệ quân thuận theo mệnh trời mà thảo phạt nghịch tặc, giữ yên xã tắc. Cũng tức là muốn chính thức bầy tỏ với Hán Hiến đế, sẽ đem hết sức lực để tìm mọi cách khôi phục nhà Hán.
Tuy trong doanh trại của Tào Tháo có không ít hậu duệ của phái Thanh Lưu, như Tuân Úc, Thôi Đàm, Mao Giới, Tuân Du, nhưng do cuộc đấu tranh chính trị giữa Tào Tháo và Hán Hiến đế ngày mỗi nghiêm trọng, lập trường của những người ấy rất nhùng nhằng, cuối cùng thậm chí cùng huyên náo với Tào Tháo. Lại nữa, không được như Lưu Bị, ở xa tận chân trời, có thể dốc lòng mà chẳng sợ gì trói buộc, bởi thế mà họ công khai giương lá cờ phục hưng nhà Hán, khiến trong trận tuyến của phái Thanh Lưu, dưới sự lãnh đạo của Hứa Tĩnh thuộc phái Nguyên Lão và Gia Cát Lượng thuộc phái Thiếu Tráng, đã xuất hiện ý thức chủ đạo của phái Thanh Lưu.
Sau khi làm Hán Trung Vương, Lưu Bị đã trả lại triều đình cũ chức Tả tướng quân, và ấn thụ kèm theo, lập A Đẩu (Lưu Thiện) làm Thái tử, trở về Ích Châu lấy Thành Đô làm bản doanh của mình.


2. Đề bạt Ngụy Diên, trọng dụng Hoàng Trung
Chính quyền Thục Hán đã được thành lập!
Kẻ địch quan trọng vẫn ở phía bắc, bởi thế từ Thành Đô đến Bạch Thủy Quan, xây dựng quán xá lập ra Dịch Đình, gồm hơn 400 nơi khiến liên hệ giữa Hán Trung và Thành Đô được hoàn chỉnh.
Sau khi xưng vương ở Hán Trung, Lưu Bị đã dẫn văn vũ bá quan, trở về Thành Đô, bắt đầu việc điều hành đất nước. Song Hán Trung là đất chiến lược quan trọng, cần có một viên đại tướng trấn thủ ở đấy. Đa số quần thần đều cho rằng Lưu Bị sẽ phái Trương Phi đến đấy, Trương Phi cũng muốn như vậy, việc ấy như đã chắc chắn.
Song Lưu Bị sau khi bàn bạc kỹ lưỡng vói Pháp Chính và Gia Cát Lượng, lại lựa chọn nha môn tướng quân Ngụy Diên vốn không được mọi người nể trọng, đề bạt làm Trấn viễn tướng quân, ra làm Thái thú ở Hán Trung.
Sự việc ấy khiến mọi người rất kinh ngạc.
Nguỵ Diên khi đang ở Kinh Nam đã theo về với Kinh Châu, ông ta vẫn tín phục Lưu Bị, năm ấy đã thuyết phục lão tướng Hoàng Trưng vứt bỏ việc phòng ngừa Trường Sa, Ngụy Diên đã quay giáo binh biến giữa trận, bởi thế rất được Lưu Bị trọng dụng.
Ngụy Diên có cá tính mạnh mẽ, tích cực trong công việc, có mưu đồ lớn, bởi thế quan hệ với mọi người không tốt đẹp. Song ông ta gắn bó với sĩ tốt dưới quyền, đồng cam cộng khổ, rất được lòng quân, có sức chiến đấu mạnh mẽ. Trong chiến dịch Hán Trung, tuy phụ thuộc quân đoàn Hoàng Trung, song Ngụy Diên lập được nhiều công lao, khiến những người chung quanh dẫu có bất mãn cũng không thể không cảm phục.
Lưu Bị họp các quần thần, trịnh trọng tuyên bố lệnh điều động. Ông ta đứng trước các đại thần hỏi Ngụy Diên rằng: “Nay uỷ thác cho ngươi việc quan trọng này, ngươi dự định gánh vác nhiệm vụ như thế nào?”
Ngụy Diên rắn rỏi biểu thị: “Nếu Tào Công cử binh thiên hạ đến đó, thần sẽ vì đại vương mà kháng cự, nếu Tào Công phái một viên tướng dẫn 10 vạn quân đến đó, thần sẽ vì đại vương mà nuốt gọn”.
Lưu Bị gật đầu tán thưởng, các đại thần thấy Ngụy Diên dám nói quả quyết như thế để biểu thị quyết tâm của mình, cũng cảm động không thôi.
Thực ra, Lưu Bị đối với việc lựa chọn này đã khá thận trọng. Sau khi Lỗ Túc mất, tình hình ỏ Kinh Châu rất căng thẳng, Ích Châu cũng mới bình định được không lâu, muốn ổn định các vùng ở đấy, phải có cố gắng lớn. Quân Trương Phi là chủ lực của Lưu Bị, chẳng thể thủ thế ở đấy. Mã Siêu có địa vị cao trong xã hội, nếu để ông ta nổi loạn thì rất không an toàn. Hoàng Trung tuy phong phú kinh nghiệm lại rất trung thành song tuổi đã cao, đối với việc điều hành ở lĩnh vực mới là không thích hợp. Chỉ có Triệu Vân là nhân tài thích hợp, song cũng giống như Trương Phi đều là hạt nhân nòng cốt lâu năm, bố trí ở Hán Trung cũng có chỗ đáng tiếc. Bởi thế đề bạt một người xem ra chưa có địa vị song lại rất trung thành, có năng lực đảm đương một vùng, thì Ngụy Diên sắp xếp ở đấy là hợp lý nhất.
Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương, phong Hứa Tĩnh làm Thái phó, Pháp Chính làm Thượng thư lệnh, để quân sư tướng quân Gia Cát Lượng nắm giữ mọi việc quân quốc đại sự.
Lại cử ra Thống soái bốn đại quân đoàn mới, Quan Vũ làm Tiền tướng quân, có địa vị lớn trong quân, thứ đến Trương Phi làm Hữu tướng quân, Mã Siêu làm Tả tướng quân, Hoàng Trung làm Hậu tướng quân.
Gia Cát Lượng đối với việc bổ nhiệm làm, có một chút lo lắng, đã nói với Lưu Bị rằng: “Tướng quân Hoàng Trung là lão tướng nổi tiếng ở Kinh Châu, song không nổi tiếng với lân bang, chẳng thể bằng vai với Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu. Nay Hoàng Trung ngồi cùng chiếu với họ, kể như Mã Siêu, Trương Phi ở gần, đều thấy rõ những biểu hiện của Hoàng Trung ở Ích Châu và chiến dịch Hán Trung, có thể so sánh mà chẳng có dị nghị, song Quan Vũ ở tận Kinh Châu, có thể rất không bằng lòng”.
Lưu Bị cười mà rằng: “Việc này ta đã có biện pháp”, thế rồi Lưu Bị phái Tư mã Phí Thi đến Kinh Châu mang ấn tín Tiền tướng quân phong cho Quan Vũ, trước lúc lên đường còn đặc biệt dặn dò.
Quả nhiên không ra ngoài dự liệu của Gia Cát Lượng, Phí Thi đến Kinh Châu, Quan Vũ vừa nghe nói Hoàng Trung làm Hậu tướng quân không thể không bực tức nói: “Đại trượng phu thề không bằng vai với tên lính già!”. Kiên quyết không nhận ấn tín.
Phí Thi cười mà rằng: “Từ xưa đến nay, người khai sáng vương nghiệp phải khéo sử dụng nhân tài mọi mặt. Năm xưa Tiêu Hà, Tào Tham đều là bạn thủa nhỏ với Hán Cao tổ, mà Hàn Tín, Trần Bình đều là người sau này mới đến. Song Hán Cao tổ sau khi xưng đế, phong tước vị thì Hàn Tín cao nhất, nhưng chưa hề nghe nói Tiêu Hà, Tào Tham có dị nghị gì. Nay Hán Trung Vương, xét theo chiến công, xếp Hoàng Trung bằng vai với tướng quân, mà trong thâm tâm của Hán Trung Vương, thực ra Hoàng Trung và Tướng quân đâu có cùng cân lạng? Hán Trung Vương với tướng quân như cùng cơ thể, đã cùng sinh tử, lại cùng vui lo có nhau. Cứ như ý tôi, tướng quân không nên kể đến quan chức cao thấp, tước lộc ít nhiều. Tôi chỉ là một viên sứ giả, phụng mệnh mà đến, tướng quân nếu không chịu nghe, tôi cũng đành phải trở về mà thôi song tôi lấy làm tiếc về hành vi của tướng quân, sợ tướng quân sẽ phải hối hận”.
Quan Vũ nghe rồi chợt tỉnh ngộ, lập tức lạy tạ nhận ấn tín.
Thực ra liên quan đến việc nhân sự này, có chỗ không công bằng nhất là Triệu Vân có công lao rất lớn trong chiến dịch Hán Trung. Triệu Vân có tính chính trực, cẩn thận cũng kể được là một người cộng sự sáng nghiệp của Lưu Bị từ đầu, hơn nữa đã hai lần cứu được A Đẩu, công lao rất lớn, tin rằng trong đáy lòng Lưu Bị, địa vị của Triệu Vân không thua kém Quan Vũ, Trương Phi. Đã rõ ràng Triệu Vân là người chính trực, hiểu rõ đại thể, nhân cách và khí chất rất được xem trọng, chỉ phải tính hay nói thẳng, can ngăn khiến xung quanh không được vừa lòng.
Song Triệu Vân ngoài những lời lẽ chính đáng lại lấy mình làm gương, rất có trách nhiệm, vốn không sợ bất kể nguy hiểm gì, bởi thế rất được mọi người tôn kính.
Bởi Gia Cát Lượng khi ấy còn trẻ tuổi, trong việc lập kế sách và chỉ huy các lão tướng già dặn, đích xác không dễ dàng, mà Triệu Vân phối hợp ăn ý với Gia Cát Lượng, đối với công tác ở ban tham mưu, cơ hồ nghiêm chỉnh chấp hành không so đo gì, có người thậm chí còn gọi ông là phái Gia Cát Lượng. Song Triệu Vân trong việc đề bạt này vẫn chỉ giữ chức Dực quân tướng quân, chẳng những thấp hơn Quan Vũ, Trương Phi, mà còn dưới cả Mã Siêu và Hoàng Trung.
Đây chủ yếu là vấn đề chiếu cố đến sự cân bằng lực lượng giữa cũ và mới. Những chiến hữu trước trận Xích Bích đều thuộc phái Lưu Bị. Những người mới đến sau chiến dịch Kinh Nam đặc biệt là những lão thần Ích Châu ắt nên trọng dụng; đấy là sự hy sinh cần thiết cho một nền tảng chính trị. Giống như Gia Cát Lượng có vị trí hàng đầu dưới trướng, Hứa Tĩnh rất được Lưu Bị chú ý, tiếp đó phải kế đến Pháp Chính nữa.
Trong những trọng thần phái Ích Châu, Pháp Chính là người có công rất lớn, được Lưu Bị kính trọng. Khi Lưu Bị còn sống, đối với các văn võ lão thần tạ thế, kể cả Quan Vũ, Trương Phi, chỉ có Pháp Chính sau khi chết mới được đặt Thụy hiệu, ngoài ra đều do hậu chủ Lưu Thiện truy phong Thụy hiệu, qua đó có thể thấy đối với nhân sĩ Ích Châu, Lưu Bị đã lấy lễ nghi mà khoản đãi.
Triệu Vân vẫn có đầu óc chính trị, hơn nữa biết quên mình, đối với việc Lưu Bị phải khổ tâm cân bằng lực lượng chính trị, cũng dễ thông cảm cho nên trong việc sắp xếp nhân sự mới lần này, ông ta tuy chịu thiệt thòi rất lớn, lại chẳng hề oán trách, vẫn là một cây cột rất quan trọng trong chính quyền Lưu Bị.
Chức vụ của Gia Cát Lượng tuy chưa được tăng thêm, vẫn là Quân sư tướng quân, thực ra theo ghi chép sử liệu, ông vẫn là người lập kế hoạch và điều hành việc chính sự chủ yếu nhất.


3. Đời loạn trọng khoan dung, trễ nải cần pháp luật.
Tuy danh nghĩa vẫn là Quân sư tướng quân, sau khi Lưu Bị tự xưng Hán Trung Vương, Gia Cát Lượng trên thực tế đã đảm nhiệm vai trò của tể tướng.
Gia Cát Lượng vừa mềm vừa cứng, đối với Ích Châu lâu nay vẫn buông lỏng pháp lệnh, đặc quyền hoành hành, ở cương vị mới của mình, đã lấy pháp trị mà chẩn đốn mọi mặt.
Ông ta đặc biệt nhấn mạnh trị thực không trị hư, để ứng phó với thực tế phát sinh, tìm kiếm hiệu quả thiết thực.
Vấn đề nghiêm trọng nhất ở Ích Châu là quan lại câu kết với cường hào địa phương, bóc lột trăm họ, nông dân ngày càng mâu thuẫn ác liệt với quan phủ, tuy gọi đấy là xứ sở thần tiên, thực ra của cải giàu có sáng tạo ra đều bị quan lại và cường hào bóc lột, đòi sống nông dân rất khó khăn.
Lưu Yên sở dĩ bổ nhiệm làm Ích Châu mục, là do Thứ sử Khước Kiện trước đó hoành hành tư lợi ở Ích Châu, tạo thành cuộc khởi nghĩa nông dân của Mã Tương và Triệu Chi, tự xưng là hậu duệ của Hoàng Cân. Từng công phá Lạc Huyện, giết Huyện lệnh Lý Thăng và Thứ sử Khước Kiện, chiếm được Thục quận và quận Kiện Vi.
Lưu Yên dựa vào quân bên ngoài và lực lượng cường hào địa phương, dẹp yên được cuộc phản loạn ấy, song vấn đề cơ bản vẫn chưa được giải quyết, trái lại bởi được cường hào tiếp tay, hiện tượng bóc lột biến tướng càng tăng thêm. Tam quốc chí đã phê bình việc cai trị của cha con Lưu Yên. Lưu Chương là đức chính không nêu, uy hình chẳng đủ. “Pháp Chính truyện” cũng chỉ rõ, Lưu Chương cai trị ở đất Thục, nhiều sĩ đại phu cậy có tiền của, khinh rẻ dân thường, khiến lòng dân rối loạn, kể đến 8 phần 10.
Để triệt để cải tiến tình hình ấy, Gia Cát lượng thi hành sách lược pháp lý cứng rắn, có kết hợp với luật lệ khoan hoà. Đấy là thi hành pháp trị, hạn chế và đả kích quan lại và cường hào chuyên quyền tư lợi, điều lệ khoan hoà để nỗ lực giúp đỡ nông dân phát triển sản xuất.
Bởi Gia Cát Lượng đả kích đặc quyền không kể mặt, khiến quan lại Ích Châu không cảm thấy dễ chịu, họ bắt đầu chỉ trích Gia Cát Lượng dùng hình pháp nghiêm khắc mà không mở mang ân đức, rối rít yêu cầu ông ta nới lỏng hình luật. Được phái làm đại biểu trao đổi với Gia Cát Lượng lại là lão thần Pháp Chính rất được Lưu Bị kính trọng.
Pháp Chính đương thời đã là Thái thú Thục quận, cũng là người đứng đầu giới cường hào ở Thành Đô, ông ta nói với Gia Cát Lượng rằng: “Khi xưa Hán Cao tổ vào Quan Trung, xoá bỏ pháp lệnh hà khắc của nước Tần, rút gọn luật pháp còn ba chương, giảm nhẹ hình luật. Trăm họ ở Quan Trung, không thể không cảm tạ ân đức của ông ấy. Nay chúng ta mới dùng võ lực chiếm được Ích Châu, còn chưa rủ ân đức với địa phương, đã sớm lạm dụng uy quyền tăng thêm áp chế, phải chăng như thế là xứng đáng? Hy vọng việc thi hành chính sách sau này, sẽ giảm nhẹ hình luật để tranh thủ sự giúp đỡ và niềm tin của các nhân sĩ địa phương với chúng ta”.
Gia Cát Lượng lại cười mà đáp rằng: “Tiên sinh chỉ biết một mà không biết hai, nước Tần lấy chính sách bạo ngược mà bức hiếp dân lành khiến mọi người không thể không tạo phản, Hán Cao tổ muốn giải chứng bệnh ấy, lấy chính sách giảm nhẹ hình phạt, như vậy là đúng.
Nhưng tình hình Ích Châu thì khác hẳn, Lưu Chương nhu nhược, chẳng có năng lực khống chế quan lại và cường hào, kể từ Lưu Yên đến nay, đức chính không nêu, uy hình không đủ, từ cường hào địa phương đến quan lại triều đình, thảy đều lộng hành, ham muốn, đạo quân thần dần dần bị phá hoại. Đối với giới đặc quyền hung hãn ấy, Lưu Chương trong quá khứ vẫn sủng ái họ, lại cho họ những chức tước cao, quan chức đã cao họ lại không biết là đáng quý mà thuận với mọi người, mở mang ân huệ; khi giầu sang đến tột đỉnh, họ lại khinh mạn vô lễ, đấy mới là chứng bệnh tệ hại trước mắt của Ích Châu.
Hiện nay chúng ta lập uy ở pháp luật, để sau khi pháp luật thi hành, mọi người mới biết thế nào là ân đức; hạn chế tước vị, để sau khi có thêm tước vị, mọi người mới cảm thấy sự tôn vinh của tước vị; hình pháp và ân huệ dựa lẫn nhau, có trật tự trên dưới, thì chính trị mới được trong sáng”.
Nước Tần lấy chủ nghĩa khủng bố quân sự để hoàn thành việc thống nhất lãnh thổ, lại cũng sản sinh không ít thù hận với chư hầu, bởi áp chế sự phản kháng, nên phải lấy hình pháp nghiêm ngặt mà khống chế. Gia Cát Lượng cho rằng, nước Tần lúc bấy giờ quyền lực không được tôn trọng, lại tăng cường áp chế, bởi thế dẫn đến đại bại. Điều hành một quốc gia như vậy, điều quan trọng nhất là tranh thủ hoà hợp, để quyền lực được thừa nhận thêm nhiều, cho nên Hán Cao tổ đã lấy thái độ khoan hoà để bao dung được càng nhiều.
Song tình hình Ích Châu không giống như thế, chính quyền Lưu Chương sao nhãng chính sự, nước Thục pháp lệnh không rõ ràng, bởi thế mà quyền lực không được tôn trọng, quan lại chấp hành thì quen lười biếng, thành ra đặc quyền hoành hành, quyền lực không tỏ rõ, trăm họ lại càng bị bóc lột, bởi thế ắt phải dùng hình luật nghiêm ngặt để chỉnh đốn hành vi của quan lại, để khiến tập uy tín của quyền lực.
Nghiêm chỉnh mà nói, tình thế thiên hạ khi Hán Cao tổ vào Quan Trung là đời loạn, thời thế Ích Châu khi Gia Cát Lượng vào Thục là trễ nải chính sự. Mà đã trễ nải thì quyền lực không được tôn trọng, quan lại lười biếng, dân chúng xem thường pháp luật nên phải lấy điều luật để chỉnh đốn. Đời loạn thì quyền lực không được mọi người thừa nhận, đây đó lập trường khác nhau tranh giành không thôi, điều quan trọng nhất lúc ấy là sách lược khoan dung để tranh thủ hoà hợp.


4. Định rõ pháp lệnh, nghiêm chỉnh chấp hành.
Khi ban hành pháp luật, ắt nên có tiêu chuẩn rõ ràng, nếu không sẽ làm cho người ta oán hận; bởi thế Gia Cát Lượng mau chóng vì chính quyền mới mà xác định tiêu chuẩn khách quan trong khi chấp hành.
Trong cuốn Tam quốc chí của Trần Thọ, phần nói về “Gia Cát Lượng tuyển tập” có nhắc đến những cuốn “Pháp kiểm”, “Khoa lệnh”, “Quân lệnh”, đều gắn liền với việc này.
Trong những cuốn sách ấy, đáng để ý là cuốn “Khoa lệnh”, gồm những luật lệ được Gia Cát Lượng cùng với Y Tịch, Pháp Chính, Lưu Ba, Lý Nghiêm viết ra. Đáng tiếc những điều lệ ấy đều đã thất truyền chẳng thể biết được nội dung cụ thể của nó.
Gia Cát Lượng không nghĩ đến miễn trừ, ông ta cho rằng pháp lệnh phải có chuẩn mực không nên tùy tiện miễn giảm, cho nên nhiều người lúc bấy giờ phê bình ông không thể tất nhân tình. Gia Cát Lượng chỉ đáp rằng: “Cai trị nên dựa vào đại đức, không lạm dụng tiểu đức, kể như Lưu Biểu, Lưu Chương làm ví dụ, thường rộng tha thứ, không thích hợp với việc cai trị quốc gia. Tể tướng Tiền Hán là nhà doanh nho Khuông Hành, lão thần đời Hậu Hán là Ngô Hán, cũng đều phản đối việc đại xá, đã bồi dưỡng cho mọi người sự tôn trọng đầy đủ về pháp lệnh”.
Gia Cát Lượng theo đúng pháp lệnh mà làm việc, không né tránh kẻ quyền quý, không nể tình riêng. Ví như con nuôi của Lưu Bị là Lưu Phong, sau này bởi xem thường quân lệnh mà bị xử tử; Lý Nghiêm sau khi Lưu Bị chết, đảm nhiệm địa vị phụ tá, một chức vụ gần với Gia Cát Lượng, song bởi sai lầm trong việc quân cơ, phải bãi quan làm dân, lưu đầy đến quận Tử Đồng.
Liêu Lập rất được Lưu Bị kính trọng, nhưng lại cậy tài mà ngạo mạn quá đáng, cho rằng đương nhiên mình là người kế thừa Gia Cát Lượng bổ nhiệm những quan lại xét ra là loại người tầm thường, các tướng lĩnh cũng chỉ là đồ trẻ nít, lại thường gây bất hoà với quần thần; Gia Cát Lượng sau khi xem xét kỹ, bãi bỏ quan chức của ông ta, lưu đầy đến quận Vấn Sơn.
Mã Tắc là tướng thân cận của Gia Cát Lượng, là người được bồi dưỡng kế thừa, song sau này trong trận Nhai Đình, có sơ xuất việc trấn thủ, tạo thành sự vấp ngã nghiêm trọng trong cuộc bắc phạt lần thứ nhất, cũng bị Gia Cát Lượng xử tử hình.
Nhưng phía sau sự nghiêm khắc ấy, Gia Cát Lượng cũng khá công bằng; Lý Nghiêm bị bãi miễn quan chức, song con trai là Lý Phong vẫn được trọng dụng. Ông đặc biệt phản đối lạm phát hình phạt, chức quan coi ngục được ông để ý lựa chọn, phải có cá tính trung thực liêm khiết. Ông cũng phản đối dựa vào tình cảm cá nhân mà lộng sát ra oai “lúc vui chẳng thể tha kẻ có tội, lúc giận chẳng thể giết người vô tội”, yêu cầu chức quan chuyên môn khi quyết định hình phạt nặng, nhất định phải đặc biệt cẩn thận, cố nhiên không thể buông tha kẻ xấu, song cũng dứt khoát không thể xử oan người tốt. Đối với việc này, Tập Tạc Sỉ đời Tấn đã bình luận rằng:
“Hành pháp thận trọng, giao hình tựa hồ như mình có lỗi, ban tước lộc không tư riêng, trách phạt mà không giận dữ, người như thế ai mà không nể phục! Có thể nói Gia Cát Lượng thực là người giỏi dùng hình luật; từ Tần Hán đến nay chưa hề có vậy”.


5. Hành pháp và giáo hoá.
Tư tưởng pháp trị của Gia Cát Lượng chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi các quan gia đời Tần như Thương Ưởng và Hàn Phi, hoặc Đổng Trọng Thư đời Tiền Hán, chủ trương trị quốc là pháp luật và lễ nghi cùng vận dụng, uy quyền và đạo đức cùng thi hành; ông ta nhấn mạnh giáo huấn để hiểu rõ pháp luật, khuyến khích điều thiện mà đẩy trừ cái ác, lấy pháp làm thể, đề cao công bằng khách quan; lấy đức mà vận dụng, đề cao giáo hoá làm gốc.
Gia Cát Lượng tuy theo pháp trị của Thương Ưởng, lại không đam mê với chủ nghĩa uy quyền. Ông ta phê bình Thương Ưởng chú trọng ở pháp luật, xem nhẹ giáo hoá, ấy chỉ là thấy một phía. Bởi thế phải lấy dài vá ngắn, kết hợp hành pháp và giáo hoá.
Do vẫn đang ở trạng thái chiến tranh, bởi thế pháp luật điều lệnh trong nước như “Tam thân, ngũ giới” mọi người đều phải hiểu rõ triệt để, để cảnh giác, tránh vi phạm lệnh cấm.
Để khuyên răn các quan viên, tướng sĩ nước Thục, ông đã định rõ các điều luật chấp hành như “Bát vụ”, “Thất giới”, “Lục khủng”, “Ngũ cụ”, chỉ ra cụ thể đâu là thiện đâu là ác, đâu là việc nên làm, đâu là việc không nên làm; cũng giống như những sách gối đầu giường bây giờ, để hướng dẫn mọi người biết đúng làm đúng.
Bùi Tùng Chi cũng đã dẫn lời Lý Hưng đời Tấn nhận định về Gia Cát Lượng, cho rằng ông ta dùng hình pháp phỏng theo nước Trịnh, giáo hoá phỏng theo nước Lỗ, cũng là nói phong cách pháp trị của Gia Cát Lượng vừa có tác phong nghiêm minh mà công bằng của Tử Sản danh tướng nước Trịnh thời Xuân Thu, cũng lại có tinh thần khuyên người không mỏi của Khổng Tử nước Lỗ. Trần Thọ cũng đã nói:
“Cuối cùng trong khắp nước, đều sợ mà cảm mến, hình pháp uy nghiêm mà không oán, lấy lòng thành mà khuyên răn sáng tỏ vậy”.
Tấm lòng nhân ái, xử sự công bằng, định ra pháp luật rõ ràng, khuyến thiện không mỏi, giữ pháp luật nghiêm chỉnh tuyệt đối không tư riêng, tinh thần pháp trị của Gia Cát Lượng trong lịch sử của Trung Quốc được kể là một thí nghiệm lớn thành công.
Gia Cát Lượng lấy mình làm gương để thi hành pháp trị, rõ ràng đã giành được những thành công lớn, các văn võ bá quan nước Thục ở thế hệ thứ hai, đại bộ phận đều chấp pháp nghiêm minh. Tam quốc chí có chép: Dương vũ tướng quân Đặng Chi thưởng phạt rõ ràng, khéo vỗ về binh lính, Trù hàng đô đốc Trương Dực chấp pháp cẩn thận, Đốc quân tòng sự Dương Hí, làm tròn việc trông coi hình ngục, định án rõ ràng, Tang ca thái thú Mã Trung rất có ân uy...
Trải qua cuộc vận động đổi mới pháp trị như vậy, công tác của chính quyền Thục Hán rõ ràng nâng cao hiệu suất, việc quan cũng sáng tỏ, đặc quyền bị tẩy trừ, đời sống nhân dân được cải thiện không ít. Trương Duệ thuộc phái Đại Lão Ích Châu sau này cũng công khai tán dương: Thừa tướng Gia Cát chí công vô tư, thưởng phạt không phân biệt thân sơ xa gần, kẻ không có công thì không được thưởng, kẻ quyền quý cũng không thoát khỏi được, đấy là nguyên nhân chủ yếu nhất để mọi người đều hăng hái.
Trần Thọ khi viết Tam quốc chí cũng khẳng định về phương diện này:
Giáo huấn nghiêm minh, thưởng phạt đúng mực, không có tội thì không trừng phạt không có công thì không ban thưởng, làm trong sạch cửa quan, khích lệ được mọi người, giữ đạo phải chẳng rời, mạnh không lấn yếu, phong hoá bởi thế mà hưng thịnh.


6. Dùng người bởi chân tài, chẳng câu nệ hạn chế
Có không ít nhà sử học đời sau, chịu ảnh hưởng của Tam quốc diễn nghĩa, khẳng định năng lực thần kỳ cá nhân của Gia Cát Lượng, lại cho rằng ông dùng người không đích đáng, mới dẫn đến nỗi cảm hoài nghìn năm “xuất quân chưa thắng đã bỏ mình”. Thực ra thành bại của Thục Hán sau này có những điều kiện chủ quan, khách quan của nó, vận động từ bên trong, song phê bình Gia Cát Lượng không thấu hiểu việc dùng người và bồi dưỡng nhân tài, thì cũng không thoả đáng.
Sử liệu có ghi chép: Gia Cát Lượng rất xem trọng việc tuyển lựa nhân tài, trong “Gia Cát Lượng văn tập” có nhấn mạnh “xét đạo trị quốc cốt ở cử hiền”, cũng là nói việc tiến cử hiền tài là then chốt điều hành quốc gia, cũng là việc đại sự liên quan đến vấn đề còn mất của quốc gia.
Tiêu chuẩn tiến cử hiền tài của Gia Cát Lượng là:
Một là phải có tài hiểu biết, là người có thể cống hiến tâm lực cho đại sự nước nhà.
Hai là phải trung thành với chính quyền họ Lưu, biết rõ công việc mình làm.
Ví như trong công việc đang làm của mình, Gia Cát Lượng yêu cầu người khác phải làm tận tụy với chức vụ, đối với người cậy tài xem nhẹ công việc, không được việc, ông rất không vừa ý, thường chỉ trích nặng nề. Lý Nghiêm và Liêu Lập là những lão thần, bởi phạm lỗi lầm mà bị tước quan làm dân. Song Gia Cát Lượng cũng rất chú trọng việc dùng người, có tài thì tiến cử không kể đến địa vị cao thấp. Ví như Trương Nghi người Ba Quận, xuất thân hèn mọn, song có năng lực làm việc, lại dám can ngăn, bởi thế thường bị các lão thần phê bình là phóng đãng vô lễ, dưới chính quyền Lưu Chương không được chọn lựa. Gia Cát Lượng cho rằng ông ta là người thức thời lại có lòng trung thành bởi thế đề bạt ông ta làm Thái thú Việt Huề, để xử lý quan hệ dân tộc thiểu số đang rất phức tạp. Trương Nghi sau khi đến đó lấy ân mà phủ dụ, man di đều phục, qui hàng ở cửa quan, có cống hiến không ít trong chính sách hoà Di của Gia Cát Lượng.
Vương Bình người Ba Tây, xuất thân binh sĩ, không ham sách vở, nhận biết không quá mười chữ, lại là người dẫn đường tài giỏi, cá tính cẩn thận, trung thành chấp hành pháp lệnh. Ông ta vổn làm một chức quan nhỏ ở Hán Trung, song Gia Cát Lượng thấy ông là người hiểu rõ địa thế mà trọng dụng, sau đó nhờ công lao trong trận Nhai Đình mà được thăng tiến, làm Thảo khấu tướng quân, trong chiến dịch bắc chinh ông đã có không ít cống hiến.
Tưởng Uyển vẫn chỉ là một viên tiểu lại dưới triều Lưu Biểu, từ trước trận Đương Dương đã theo Lưu Bị xuống phía nam, sau khi vào Thục được bổ nhiệm làm Quảng Đô huyện trưởng. Lưu Bị khi đến Quảng Đô xem xét, phát hiện ông ta không sửa sang chính sự, say sưa rượu chè muốn đem trị tội. Gia Cát Lượng nghe tin lập tức ngăn lại: “Tưởng Uyển là khí chất của xã tắc, không phải là người chỉ có tài trong trăm dặm, ông ta lấy việc yên dân, yêu nước làm gốc, mà không lấy việc trang sức làm đầu”.
Lưu Bị bởi thế chỉ bãi miễn quan chức của Tưởng Uyển mà không xử tội.
Gia Cát Lượng sau khi làm Thừa tướng, đề bạt Tưởng Uyển làm tham mưu quân đội, thời bắc phạt làm trưởng sử, kiêm thủ quân tướng quân phụ trách việc giữ Thành Đô. Tưởng Uyển trong công tác chi viện tiền tuyến, đã cung cấp lương thực cho binh lính luôn đầy đủ, Gia Cát Lượng sau này cũng khen ngợi: “Tưởng Uyển có lòng trung thành, là người cùng với ta xây dựng nên vương nghiệp vậy”.
Khi Gia Cát Lượng mắc bệnh nặng, có dâng mật biểu lên hậu chủ Lưu Thiện, tiến cử Tưởng Uyển làm người kế nhiệm, sau khi Gia Cát Lượng mất, Tưởng Uyển kế tục nắm quyền bính, quán triệt chính sách của Gia Cát Lượng, xử lý tốt công việc, khiến chính quyền nước Thục ổn định trong một thời gian dài.
Từ đấy có thế thấy Gia Cát Lượng thực là biết người khéo dùng vào việc.
Ngoài ra, Gia Cát Lượng rất xem trọng người có biệt tài, vì vậy, đối với nhân tài ông thường có sự tôn trọng đặc biệt. Ví như Bồ Nguyên là một người như thế, Gia Cát Lượng cho ông ta làm chức Tây tào, đã chế tác và cải tiến binh khí và công cụ vận chuyển có công hiến không ít. Trong “Bác hảo kỹ nghệ” do Lý Soạn ghi chép, Gia Cát Lượng lấy ông ta làm Thư tá, sau lại đề bạt làm Thượng thư lệnh sử.
Trương Duệ có tài cán chính trị, lại hiểu được kỹ thuật sản xuất, Gia Cát Lượng bổ nhiệm ông ta làm Trung lang tướng, phụ trách việc chế tạo binh khí và nông cụ. Sau này lại đề bạt làm Tạ Thanh hiệu uý, giữ chức trưởng sử, trông coi ở Đô Thành, đại lý phủ thừa tướng, có địa vị rất cao.
Được Gia Cát Lượng lưu ý sửa sang, chính quyền mới mau chóng được ổn định.
Năm Hán Trung Vương thứ hai, hậu tướng quân Hoàng Trung bởi tuổi già bệnh nặng qua đời. Khi trước Hoàng Trung không được cử làm Thái thú ở Hán Trung, phải chăng là lo lại phải thay người khác kế nhiệm ở đấy, sẽ gây phiền phức. Hoàng Trung sau này được hậu chủ Lưu Thiện đặt cho tên thụy là Cương Hầu, cũng năm đó Thượng thư lệnh Pháp Chính đang lúc 45 tuổi đã ngã bệnh từ trần, được đặt tên thụy là Dực Hầu. Đối với hai đại thần bình định Hán Trung này, Lưu Bị rất thương tiếc, bởi thế mà khóc lóc suốt ngày. Pháp Chính mất đi, Lưu Ba kế nhiệm làm Thương thư lệnh.
Không lâu lại phát sinh một việc khiến Lưu Bị càng thêm đau lòng, làm lay động cả chính quyền Thục Hán, đó là sự kiện Quan Vũ để mất Kinh Châu.
 
*
*      *
 
Lời bình của Trần Văn
“Úy Lạo Tử” là một trong bảy cuốn sách binh thư của Trung Quốc, tương truyền là tác phẩm của Úy Lạo đã suy nghĩ cặn kẽ, tìm kiếm tính hợp lý, nhân cách đặc biệt ấy trong binh pháp của ông ta đã biểu hiện rất rõ.
Phần mở đầu “Úy Lạo Tử” có viết: “Việc quan không gì bằng việc nhân sự”. Cũng tức là nói thực chất thành bại của việc quan quốc là ở việc nhân sự mà thôi. Ví như có một toà thành, đánh phía đông tây không được, mà đánh phía nam bắc cũng không được, chẳng nhẽ nói bởi phương hướng, đông tây nam, bắc đều có nhược điểm về phương vị ư? Đương nhiên chẳng thể được, sở dĩ đánh trăm trận mà không phá được, chẳng bởi phương vị cát hung mà bởi vì thành thì cao, hào thì sâu, vũ khí trang bị hoàn thiện, lương thực đầy đủ, quân đội anh dũng và đoàn kết chặt chẽ. Nếu như tường thấp ngòi nông, tin vào ngôi sao cát hung, chẳng bằng nỗ lực việc nhân sự đấy mới là việc trọng yếu, nhưng việc nhân sự đầu tiên là xác lập chế độ, cho nên Úy Lạo Tử đã nhấn mạnh: “Phàm là việc binh ắt nên tiên định. Cũng tức là nói việc quan trọng thứ nhất chuẩn bị chiến đấu là xác lập pháp chế, pháp chế có được định rõ, kỷ luật nghiêm minh, kỷ luật đã không loạn thì chế độ tự nhiên được chấp hành. Pháp lệnh rõ ràng, chỉ rõ điều này điều nọ, thì trăm người như một, sẽ phát huy được sức chiến đấu, khi xung phong hãm trận, nghìn người cũng vẫn một lòng một khối, chiến đấu đến cùng khi tiêu diệt kẻ địch, mọi người có thể cùng vác giáo xông lên, chẳng chút phân tâm, trở thành một đội quân vô địch trong thiên hạ. Song duy trì pháp chế phải dựa vào hiền tài, ấy là bởi thắng lợi chiếm được nước người ta, phải sửa sang việc cai trị ở đấy, lại càng phải dựa vào pháp chế và hiền tài. Nếu chẳng thể đề bạt được nhân tài, ắt sẽ thất bại. Nếu thiếu nhân tài, lại muốn bắt quân giết tướng, tuy có giành được chiến thắng, mà nước thì thêm yếu tuy có thể giành được đất của người ta mà nước thì thêm nghèo; đấy là bởi chăng có nhân tài giỏi giang, không có chế độ, không có năng lực thi hành, mà tạo thành hỗn loạn.
Gia Cát Lượng khi còn ít tuổi đã thấu hiểu binh pháp, nghĩ rằng với binh pháp của Úy Lạo Tử, cũng rất tâm đắc, bởi thế việc quan trọng hàng đầu khi điều hành nước Thục, là thi hành pháp trị, pháp trị được thi hành, thì việc đại sự quân quốc trước tiên sẽ thắng lợi ở triều đình, về mặt này Gia Cát Lượng đã làm triệt để mà đạt được thành công. Ông ta đặc biệt bồi dưỡng nhân tài, biết rõ pháp luật không thể tự nó thi hành được. Phải có nhân tài giỏi giang thì pháp luật mới thực sự phát huy hiệu lực.
 
*
*     *
 
Phụ chương
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
 
Xây dựng qui hoạch sách lược cho đại bản doanh. Trong xã hội hoàn toàn tự do cạnh tranh, chỉ cần có một chút kinh nghiệm xử thế lại có một chút tài lực, nghĩ rằng sáng nghiệp cũng không khó khăn, vấn đề là “nghiệp” gì mới có thể khai sáng, ổn định lâu dài.
Căn cứ vào thống kê không chính thức, một xí nghiệp mới xây dựng, có thể tồn tại khoảng 5 năm, tỷ suất không đến 20%. Đặc biệt với nghề phục vụ, lại dưới 10%, cho nên nói sáng nghiệp gian nan, chính là như thế.
Nắm bắt được cơ hội có thành công lớn lúc đầu, chưa hẳn đã là thành đạt. Thành công đến rất nhanh, thường hư trương thanh thế, mà thiếu công phu chuẩn bị cần có, lại không thể chịu đựng và khắc phục được những bắt bẻ và khó khăn tiếp theo; công tác tổ chức buông lỏng thiếu thực tiễn, mà thành công rất dễ dàng, rất đột nhiên, lại thường cũng dễ thất bại.
Viên Thuật khoa trương thanh thế liên minh chống Đổng Trác, một dạo đã là người đứng đầu bá chủ phương nam, song không baơ lâu, lại tan tành mây khói. Vương quốc Kinh Châu của Lưu Biểu vãn gọi là thế lực lớn thứ hai trong nước, Lưu Biểu mất đi, người kế tục cũng không chịu nổi một đòn ban đầu, ngoài đạo quân Lưu Bị với lực lượng rất yếu vẫn cố gắng chống đỡ, mấy mươi vạn quân Kinh Châu cơ hồ đều đầu hàng vô điều kiện.
Không ít xí nghiệp mắc chứng bệnh ấy. Có cơ hội tốt, kinh doanh dễ dàng, họ không ngừng tự mình bành trướng. Lực kết dính của tổ chức không đủ, nhân tài thiếu vắng, thông lộ không hoàn thiện, chuẩn bị về tài vụ lại mỏng manh; hơn nữa sự chi viện của tài vụ (cung cấp lương thực trong chiến tranh) giống như máu của người ta, nếu như thân thể đột nhiên mập mạp, dễ tạo thành chứng bầm huyết và thiếu dinh dưỡng, nói một cách nghiêm trọng thậm chí dẫn đến suy tim, nếu không để ý sẽ không tránh khỏi nguy ngập.
Bởi thế một xí nghiệp nắm được cơ hội mà mau chóng giành được thành công, công tác quan trọng nhất chẳng phải thừa thắng xốc tới, mà là mau chóng đạt được ổn định nền tảng lâu dài.
Thành công của Tào Tháo chủ yếu nhờ tham mưu Tuân Úc giúp người ta đứng vững ở Cổn Châu. Song sau khi bình định được lực lượng của họ Viên ở phía bắc, bởi nắm chắc thời cơ Lưu Biểu bệnh tình nguy cấp, Tào Tháo chưa ổn định được bốn châu phía bắc vẫn mạo hiểm nam chinh, lúc đầu tuy có thể giành được thắng lợi lớn chưa từng có, song đến khi vấp ngã ở trận thủy chiến Xích Bích, lại không thể không vội vàng triệt thoái 500 dặm, chủ yếu là thực tại đại bản doanh hậu phương rất yếu khiến Tào Tháo không có cách khác là phải mau chóng rút về.
Gia Cát Lượng trong Long Trung Sách, sách lược chủ yếu mất, là theo tình thế chủ khách quan, giúp Lưu Bị tìm kiếm một đại bản doanh. Bôn ba nửa đời người, có danh tiếng và hình tượng tốt đẹp, Lưu Bị vẫn rất yếu kém, thiếu một đất nền móng để ổn định cơ nghiệp. Năm trước được Đào Khiêm tặng cho đất Từ Châu, bởi là đất binh gia tranh chiến, mọi người đều muốn cướp lấy, Lưu Bị lại không hiểu phải làm gì, ghế Đổng sự trưởng còn chưa có người ngồi lại bị người ta đuổi chạy, cuối cùng phải vội vàng giao cho Tào Tháo ở bên cạnh.
Sau trận Xích Bích, Gia Cát Lượng tuy nhân cơ hội giúp Lưu Bị đoạt được bốn quận Kinh Nam, song nơi ấy so với Từ Châu còn nóng bỏng hơn, hai bên hàng xóm (Tào Tháo và Tôn Quyền) như hổ báo gờm gờm, nếu nghĩ ở yên nơi đấy là điều chẳng thể được. Bởi thế sách lược của Gia Cát Lượng điều hành Kinh Châu, là tăng cường sức tác chiến, so với công việc ban đầu còn quan trọng hơn.
Nhưng ở Ích Châu thì không giống như vậy. Phía đông gần với thế lực của Tôn Quyền, song còn cách Kinh Châu, phía bắc gần với trận tuyến của Tào Tháo, nhưng lại cách Hán Trung. Trong một thời gian ngắn sẽ không có nguy cơ trực tiếp, dễ giữ mà khó bị đánh, đấy chính là miền đất hứa đế xây dựng đại bản doanh.
Việc kinh doanh (xây dựng chế độ) và mở mang cơ nghiệp (chỉ huy tác chiến) không cùng một dạng, vấn đề ở đấy chẳng những phải giải quyết đối diện còn phải ổn định tất cả, đi vào quỹ đạo, tự động vận chuyển để xây dựng sức sống lâu dài. Về sách lược vận dụng, chuẩn bị thật chu đáo cho việc biến đổi phù hợp về cơ cấu, đối với một người như Gia Cát Lượng, tinh tế, cẩn thận và biết giữ gìn, đích xác là sẽ hoàn thành được nhiệm vụ.
Công việc quy hoạch đại bản doanh kinh doanh, so với sách lược tác chiến thì khó khăn hơn nhiều; tác giả cuốn sách “Trò chơi thương chiến” tiến sĩ James từng chỉ ra, đại bản doanh của chiến trường ấy ít ra phải có năm công năng.
1.    Vũ khí: Bao quát cả kỹ thuật, sản xuất, tài vụ, tiêu thụ.
2.    Tình báo: Bao quát hình thế cạnh tranh, thị trường và hoàn cảnh.
3.    Tổ chức và sức lãnh đạo
4.    Câu kết với bên ngoài
5.    Bổ sung hậu cần: bao gồm nguyên liệu, sản xuất, phối hợp tiêu thụ và viện trợ.
Trong đó sự chi viện hậu cần hữu hiệu rất là quan trọng; Hán Cao tổ Lưu Bang sau khi giành được thiên hạ đã luận song ban thưởng, xét Tiêu Hà có công đầu, ấy là Lưu Bang cho rằng nhiệm vụ điều hành đại bản doanh là gian khổ và quan trọng nhất.
Muốn cho nguồn cung ứng lương thực không gián đoạn, người lãnh đạo phải cứng rắn và có năng lực, mới có thể đáp ứng lâu dài và đầy đủ cho đòi hỏi rất lớn của chiến trường. Chiến tranh là công việc tiêu tốn rất nhiều tiền, bởi thế mà việc chấn chỉnh nội bộ, đích xác là việc quan trọng hơn việc liều mình ở chiến trường.
Thắng bại của đại bản doanh kinh doanh, thường là có tầm quan trọng hơn so với tiền tuyến.
Gia Cát Lượng sớm đã dốc toàn lực vào việc ổn định đại bản doanh, ấy cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến nước Thục từ chỗ rất khó khăn thành ra ngày mỗi lớn mạnh. Sau khi Lưu Bị mất, Gia Cát Lượng cơ hồ nhiều năm ở chiến trường, việc hậu phương phải giao cho cán bộ ưu tú, song họ không giỏi giang được như Gia Cát Lượng. Thời gian dài sau này nước Thục năng lực không thể lớn mạnh, cuối cùng bởi liên tục nhiều năm động binh, lực lượng kinh tế và sĩ khí hao tổn nhiều mà đến chỗ phải suy vong.
 
0
THIÊN THỨ TƯ
GỬI CON Ở THÀNH BẠCH ĐẾ
 
Tiên chủ quả cảm mà khoan hậu, chiêu hiền đãi sĩ . Có phong thái của Hán Cao tổ, khí chất của bậc anh hùng. Đến khi gửi con và ủy thác việc nước cho Gia Cát Lượng mà tấm lòng không chút nghi ngờ, đúng với đạo quân thần, tất cả vì việc công, là tấm gương sáng tự cổ chí kim vậy (Tam quốc chí của Trần Thọ).
 
 
 
Chương XIII
QUAN VŨ ĐỂ MẤT KINH CHÂU
 
Quan Vũ vẫn cậy tài, ngạo mạn, một mình một đường, khiến các tướng lĩnh trong quận, đối với ông ta thì sợ hãi hơn là tôn kính.
Với một tướng lĩnh như vậy mà phụ trách nhiệm vụ quân sự đơn thuần, tự nhiên là có thừa rộng rãi, nhưng để phụ trách việc phòng ngự Kinh Châu, mảnh đất nóng bỏng về chính trị, thực ra lại là không thích hợp.
 
1. Kinh Châu, đất binh gia tranh giành.
Cuối năm Kiến An thứ 24, phát sinh câu chuyện mượn Kinh Châu và mất Kinh Châu rất nổi tiếng trong tiểu thuyết và sân khấu. Ở ba vị trí quân sự quan trọng tại Kinh Châu là Tương Dương, Phàn Thành và Giang Lăng, ba thế lực Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền thường giao tranh liên tục khó phân địch ta, biến hoá khôn lường, khiến quan hệ hợp tác Tôn - Lưu đổ vỡ, hai nước đả kích nhau nghiêm trọng. Đặc biệt là ở Kinh Châu luôn bị vây hãm bởi Nguỵ Ngô tham lam, đối với chiến lược chia ba chân vạc của Gia Cát Lượng, lấy đó làm bàn đạp bắc phạt Trung Nguyên khôi phục nhà Hán, hiện tại đang bị những đòn chí mạng. Đối với diễn biến chiến tranh ở đấy, nhiều cuốn sách đã mô tả cặn kẽ, xin không kể lại. Ở đấy với vị trí chiến lược của Kinh Châu, chiến thuật được vận dụng vào mặt trận phức tạp này có ảnh hưởng về sau, phân tích đầy đủ, để độc giả có thêm nhận thức và hiểu rõ ảnh hưởng của cuộc chiến tranh này với sự nghiệp suốt đời của Gia Cát Lượng.
Nếu như lấy bản đồ địa lý mà xem thế ba chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, Kinh Châu là vùng tiếp giáp với ba nước, bởi thế có vị trí chiến lược rất quan trọng. Gia Cát Lượng trong Long Trung Sách đã phân tích:
Kinh Châu phía bắc dựa vào địa điểm của Hán Giang và Miện Thủy, phía nam lại có nguồn của cải của Nam Hải, phía đông liền với nước Ngô, phía tây thông với Ba Thục, là đất binh gia tranh giành vậy.
Nếu lấy các châu quận của nhà Hán mà nói, thì Kinh Châu lớn nhất, tổ chức cũng phức tạp nhất. Ở đấy, xưa kia là lãnh địa của nước Sở, trong văn hoá Trung Hoa, nước Sở có sắc thái riêng, có nhiều chỗ khác với Trung Nguyên. Do địa hình rộng lớn, lại phức tạp, giao thông nội bộ không đủ phương tiện, hình thành nên hình thể chính trị phân tán mang tính liên minh truyền thống nước Sở. Các bộ lạc có tính độc lập cao, có văn hoá riêng. Trong chiến tranh diệt Tần lập Hán, quân Sở có vai trò rất quan trọng, đến như Hán Cao tổ Lưu Bang cũng xuất thân từ quân Sở. Hán Sở tranh hùng nói xuyên suốt thực ra là Lưu Bang thuộc phái thứ hai kết hợp với các chư hầu khác, cùng với Hạng Vũ thuộc chính phái tranh giành thiên hạ. Sau khi vương triều nhà Hán thành lập, đối với tình hình nước Sở khá đau đầu, đã cố gắng giữ nguyên trạng thái cũ, về hành chính đã thiết lập Kinh Châu, về quản lý thì vẫn phân tán.
Phạm vi Kinh Châu rất lớn bao quát những vùng Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Quý Châu và một phần Quảng Tây ngày nay. Nam bắc kéo dài mấy nghìn dặm, quản lý rất khó khăn, hình thể hành chính chia làm hai phần nam và bắc.
Lưu Biểu từ quân “không hàng” trở thành Thứ sử Kinh Châu, danh nghĩa là người đứng đầu quân chính ở Kinh Châu, thực ra quyền hành của ông ta chỉ ở quanh vùng Tương Dương mà thôi.
Năm Kiến An thứ 13, Tào Tháo nhân lúc Lưu Biểu bệnh nặng, triển khai xâm lấn, chiếm ba quận phía bắc Trường Giang là Nam Dương, Giang Hạ, Nam Quận. Sau trận Xích Bích, Tào Tháo rút về phía bắc lấy Tương Dương làm phòng tuyến mới; sau chiến dịch Giang Lăng toàn bộ Nam Quận đều về tay Đông Ngô, Chu Du lập thành lũy tiền tiêu ở Giang Lăng; quận Giang Hạ tuy phần lớn do quân Tào khống chế, nhưng vùng đông nam thì rơi vào tay quân Đông Ngô.
Để tăng cường khống chế, Tào Tháo ngoài quận Nam Dương còn tăng cường củng cố Tương Dương và Ngụy Hưng, thêm vào với hai quận cũ là Giang Hạ và Nam Dương, thành ra bốn quận (về sau lại đặt thêm các quận Nam Hương, Nghĩa Dương, Tân Thành, Thượng Dong thành ra tám quận).
Trong thòi kỳ đại chiến Xích Bích, Đông Ngô tuy đoạt được quyền không chế một phần Nam Quận giáp với Trường Giang, nắm được vùng giữa Kinh Châu, song Lưu Bị lại nhân cơ hội chiếm lĩnh bốn quận phía nam là Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Vũ Lăng và một phần quận Giang Hạ, chẳng những cải tử hồi sinh cho sự nghiệp của mình, mà còn có đại bản doanh rất quan trọng để sau này giành thiên hạ.


2. Chiến lược “mượn Kinh Châu” của Lỗ Túc.
Đối với việc Lưu Bị bỏ sức rất ít lại giành được rất nhiều, tâm trạng của Tôn Quyền và Chu Du chất đầy những ghen ghét và bất mãn, song vận may của Lưu Bị lại không dừng ở đấy.
Hai năm sau đại chiến Xích Bích, Tào Tháo vẫn không ngừng lấn xuống phía nam gây sức ép quân sự, chiến tuyến Hợp Phì phía đông và Giang Lăng phía tây cùng lúc rất căng thẳng, hơn nữa ở phía tây sau khi đại đô đốc Chu Du qua đời, Tôn Quyền lại càng đau đầu lo lắng việc phòng thủ Giang Lăng.
Chu Du trước lúc lâm chung, tiến cử Lỗ Túc, một người rất thân với mình, song lại có nhiều ý kiến tương phản làm người kế nhiệm. Lỗ Túc là một nhà quân sự, ngoại giao có tư tưởng chiến lược hoàn chỉnh hàng đầu đời Hán Mạt. Ông ta đề nghị với Tôn Quyền mau chóng mang Nam Quận trong đó có Giang Lăng cho Lưu Bị mượn, để Lưu Bị phụ trách nhiệm vụ chủ yếu phòng ngự phía tây, quan hệ hữu hảo Tôn - Lưu cũng đạt được đỉnh cao nhất.
Tôn Quyền lấy Trình Phổ làm Thái thú Giang Hạ, Lỗ Túc Thái thú Hán Xương, đóng quân ỏ Lục Khẩu, là phòng tuyến thứ hai, tùy thời chi viện và giám sát việc làm của Lưu Bị.
Tuy “Tam quốc diễn nghĩa” thường miêu tả Lỗ Túc là người thực thà luôn bị người ta khinh nhờn, thực ra Lỗ Túc tinh tế mà quả cảm, ông ta có hoài bão lớn, tầm nhìn xa, lại thấu thị với diễn biến tình hình. Chiến lược mượn Kinh Châu kể cũng khá cao tay, chẳng những ổn định cơ sở liên minh Tôn - Lưu, cũng khiến Tào Tháo phải tuyệt vọng với ý đồ thống nhất, nếu hai bên thực sự duy trì lâu dài quan hệ hợp tác như thế, sau này vận mệnh của Đông Ngô và Thục Hán sẽ được lâu dài.
Đáng tiếc tầm nhìn chiến lược của Tôn Quyền và Lưu Bị đều chẳng bằng Lỗ Túc, Gia Cát Lượng lúc đó ảnh hưởng cũng có hạn chế. Quan Vũ, Lã Mông, tuy là những nhà quân sự thiên tài song đều đứng ngoài ngoại giao, hoặc quá hăng hái tham muốn lập công, khiến quan hệ Tôn - Lưu rất căng thẳng, thậm chí còn gây ra bi kịch làm dao động cả hai nước.
Trước đây Gia Cát Lượng quản lý Kinh Châu, đã cùng Trương Phi và Triệu Vân dẫn quân vào Thục, bởi muốn đối phó hữu hiệu với danh tướng Tào Nhân ở Tương Dương, Gia Cát Lượng đã đặc biệt đế lại Quan Vũ, một tướng lĩnh nổi tiếng dũng mãnh danh vọng rất cao trấn giữ Giang Lăng, để duy trì an toàn cho đại bản doanh.
Quan Vũ là người tín ngưỡng, trong những tướng lĩnh nổi tiếng thời Tam Quốc, nổi tiếng bậc nhất, vẫn là cánh tay quan trọng của Lưu Bị. Ông có sức hút rất lớn, được mọi người xung quanh sùng bái, bởi thế có thể lãnh đạo rất tốt. Chỉ phải nỗi ông ta cậy tài ngạo mạn, một mình một đường, khiến các tướng lĩnh trong quân đối với ông thì sợ hãi hơn là tôn kính - lấy một tướng lĩnh như vậy để phụ trách nhiệm vụ quân sự đơn thuần, tự nhiên là có thừa rộng rãi, song để phụ trách phòng thủ Kinh Châu vốn nóng bỏng về chính trị, thực ra chẳng phải là thích hợp.
Vậy sao Lưu Bị và Gia Cát Lượng vẫn lựa chọn Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu nhỉ? Nguyên nhân chủ yếu nhất là trong tập đoàn Lưu Bị nhân tài thiếu ở mức nghiêm trọng, thực khó kiếm được một viên tướng có khả năng độc lập.
Trương Phi cá tính nóng nẩy, giỏi tấn công mà không giỏi phòng thủ. Triệu Vân là một tướng tài thích hợp, song ông ta đang hợp tác tốt với Gia Cát Lượng, rất ăn ý, Gia Cát Lượng vào Thục chẳng thể thiếu ông ta, bởi thế chẳng thể để lại giữ Kinh Châu.
Quan Vũ dũng mãnh mà rắn rỏi, rất có danh tiếng trước thiên hạ, dùng ông ta để đối phó Tào Nhân, có khí thế hơn cả Trương Phi, Triệu Vân.
Lịch sử có ghi chép Quan Vũ bị nhọt tên, ở cánh tay trái, sau này tuy lành, song mỗi khi trở trời mưa gió, vẫn nhức nhối trong cánh tay, ảnh hưởng đến thao tác võ nghệ, thầy thuốc chẩn đoán rằng: “Mũi tên có độc, độc ngấm vào xương cốt chỉ có khoét chỗ thịt ở cánh tay đến tận xương, dùng dao nạo chất độc bám vào xương cốt mới có thể điều trị triệt để chứng nhức xương”.
Quan Vũ nghe rồi lập tức duỗi cánh tay, để Hoa Đà làm trị liệu, lúc ấy Quan Vũ đang cùng chư tướng uống rượu, ông ta cũng không hạ lệnh dừng lại, một mặt vẫn yến tiệc như cũ, làm phẫu thuật ở cánh tay máu chảy như rót, cơ hồ đầy cả chậu, song Quan Vũ vừa ăn, uống vừa cười nói như không, mặt không đổi sắc, thực là người dũng cảm chịu đau hơn người, khiến các tướng lĩnh ở đấy khâm phục không thôi.
Chu Du đã gọi Quan Vũ là viên tướng hổ báo, Lục Tốn cũng phải tán tụng là hùng kiệt ở đời, đến như tham mưu của Tào Tháo là Trình Dục cũng khen Quan Vũ là “vạn người khó địch nổi”. Khá thấy Quan Vũ bấy giờ rất được nể trọng.
Lại nữa, Quan Vũ với Lưu Bị một lòng trung thành sáng láng, cổ kim khó thấy. Trong lúc hoàn ảnh rất khó khăn, ông vào sinh ra tử, chẳng hề oán thán. Năm xưa Tào Tháo đưa ra những điều kiện rất tốt đẹp, muốn giữ Quan Vũ cũng chẳng thể được. Quan Vũ đã rõ ràng là một người trung thành với lập trường chính trị, lại cũng là một viên đại tướng ngoan cố và cũng đáng kính.


4. Chiến lược ở Kinh Châu, quái thai đã chứa sẵn.
Sau trận Xích Bích không lâu, Tôn Quyền theo đề nghị của Chu Du, Lỗ Túc, Cam Ninh, có kế hoạch tiến quân vào Ích Châu, đoạt lấy chính quyền Lưu Chương đang không ổn định, lấy Trường Giang làm ranh giới, cùng với Tào Tháo chia đôi thiên hạ.
Ông ta lấy chiến lược ấy trao đổi với Lưu Bị cùng phe đồng minh, chẳng ngờ Lưu Bị có phản ứng lớn, lấy cớ Lưu Chương cùng với mình đều là tôn tộc nhà Hán chẳng thể làm trái, thậm chí còn biểu lộ sẽ bảo hộ cho Lưu Chương, không ngại sẽ trở mặt với Tôn Quyền. Đương khi Tôn Quyền phái Tôn Du đến Hạ Khẩu sắp xếp quân tây chinh, Lưu Bị cũng lập tức lệnh cho Quan Vũ mang binh lực phía bắc đến Giang Lăng, Trương Phi đến đóng ở Tỷ Qui, Gia Cát Lượng đóng quân ở Nam Quận, còn tự mình dẫn quân đến đóng ở Sàn Lăng, bầy ra một hình thái đối đầu triệt để, Tôn Quyền được Lỗ Túc khuyên can, để bảo toàn đại cục, bất đắc dĩ phải lệnh cho Tôn Du hủy bỏ việc tây chinh.
Song không lâu Lưu Bị lại tự mình tây tiến vào Ích Châu đoạt lấy chính quyền của Lưu Chương.
Tôn Quyền thấy thế tự nhiên rất phẫn nộ, thậm chí nhân cơ hội triệu hồi em gái là Tôn phu nhân đã gả cho Lưu Bị, nếu như Triệu Vân không liều mình ngăn sông để cản Tôn phu nhân mang ấu chúa đi, có thể A Đẩu của Lưu Bị đã phải làm con tin ở Đông Ngô. Quan hệ Tôn - Lưu sau sự kiện này bị rơi vào tình thế căng thẳng cao độ.
Lỗ Túc lại làm khó Lưu Bị, yêu cầu trả lại Kinh Châu vẫn đang mượn để ở. Thực ra Đông Ngô chỉ cho Lưu Bị mượn Nam Quận mà thôi, song yêu cầu lần này của Lỗ Túc, lại bao gồm cả ba quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa. Bởi đánh thắng trận Xích Bích chính là Đông Ngô, lãnh địa mà Lưu Bị nhân cơ hội giành được, cũng chỉ là Đông Ngô mặc nhiên tạm cho mượn mà thôi, đã có lợi mà không phải trả tiền trông nom, chiến lược cho mượn Kinh Châu của Lỗ Túc thực ra rất có lợi. Song Lưu Bị lại không biện bạch cho việc mình chiếm Kinh Châu trước đây, chỉ trả lời vu vơ là đợi đến khi chiếm được Lương Châu, tự nhiên sẽ đem toàn bộ Kinh Châu trả cho Tôn Quyền.
Tôn Quyền cũng không dễ mắc lừa, ông ta phái Lã Mông lấy võ lực đánh chiếm ba quận là Linh Lăng, Quê Dương, Trường Sa. Quan Vũ lo phòng thủ phía bắc không dám tùy ý chi viện, chỉ phái sứ giả báo cáo với Lưu Bị ở Ích Châu. Lưu Bị lập tức dẫn viện binh đến đóng ở Công An, lại lệnh cho Quan Vũ nhanh chóng thu lại ba quận Kinh Nam.
Tôn Quyền cũng lệnh cho Lã Mông, một viên tướng thuộc phái Diều Hâu, chuẩn bị dốc toàn lực đối đầu với Lưu Bị, lại lệnh cho Lỗ Túc tiến hành đối trận với Quan Vũ.


5. Một đao phó hội, níu giữ hoà bình.
Lỗ Túc lấy đại cục làm trọng, cự tuyệt mệnh lệnh của Tôn Quyền, trái lại cùng với Quan Vũ tiến hành hoà đàm “một đao phó hội”. Một đao phó hội chẳng phải là chuyện Quan Vũ múa đại đao trong Tam quốc diễn nghĩa, mà là một nơi phi vũ trang hoặc có thể gọi là cuộc đàm phán trước trận được vũ trang nhẹ.
Theo đề nghị của Lỗ Túc, quân sĩ hai bên bầy binh bố trận ở ngoài năm trước, để tránh xung đột, các tướng lĩnh tham dự hội đàm, mỗi người chỉ mang theo một cây đao, chẳng có vệ sĩ đi kèm, sử sách gọi đó là một đao phó hội. Tam quốc chí có chép:
Trong hội nghị, Lỗ Túc hỏi thẳng Quan Vũ, vì sao không mang trả ba quận Kinh Châu.
Quan Vũ giải thích rằng, trận Ô Lâm (trên bờ Xích Bích) tả tướng quân Lưu Bị tự mình xông pha chiến trận, tận lực đánh bại kẻ địch, sao có thể vất vả mà không có công, mà không có được một dải đất, chẳng nhẽ một chút đấy này các ông cũng muốn đoạt về ư?
Lỗ Túc nghiêm sắc mặt đáp rằng: “Chẳng thể nói như thế, năm xưa Lưu Dự Châu ở trận Đương Dương Trường Bản, chỉ còn một đội quân nhỏ, thế cùng lực kiệt, chuẩn bị phải chạy đến phương xa. Chúa công tôi thương ông ta, mới tìm đất để ông ta được yên và cùng đối phó với Tào Tháo. Sau này lại cho ông ta mượn ba quận bên sông, cũng là sự ước định rất chí công vô tư. Nay các ông đã đoạt được Ích Châu, cứ theo ước định mà trả lại toàn bộ Kinh Châu mới phải, mà Lưu Dự Châu bởi tham lam quá trớn, muốn lấy vùng đất mượn của chúng tôi. Tin rằng đến cả bọn phàm phu tục tử cũng không làm như vậy huống chi là một lãnh chúa châu quận nhỉ?”.
Quan Vũ bấy giờ nghĩ lại, chẳng biết nói gì.
Từ đoạn đối thoại này, chúng ta có thể thấy về dư luận thiên hạ bấy giờ tựa hồ không thừa nhận hành vi đánh lén ba quận Kinh Nam, mà đánh thắng trận Xích Bích chính ra là Đông Ngô, nói về lý lẽ thì Kinh Châu phải thuộc về Tôn Quyền.
Song Kinh Châu lại có địa vị chiến lược rất quan trọng. Lưu Bị sau này muốn bắc phạt Trung Nguyên, thì Kinh Châu không bị nghi ngờ gì là bàn đạp rất tốt, cho nên nói gì thì nói cũng không thể trả cho Tôn Quyền, nói rằng đoạt được Lương Châu chỉ là nói quanh mà thôi.
Bởi ba quận Kinh Nam đã bị Đông Ngô tiến đánh, đúng lúc ấy lại lan truyền Tào Tháo tự dẫn đại quân, tham dự chiến dịch Hán Trung, Lưu Bị sợ Ích Châu mới chiếm được bị áp lực lớn bởi muốn tăng cường phòng thủ nội bộ, tránh phân tán binh lực, bèn chủ động phái sứ giả cầu hoà với Tôn Quyền.
Tôn Quyền trước ý chí chủ hoà mãnh liệt của Lỗ Túc, lấy đại cục làm trọng, lệnh cho Gia Cát Cẩn là anh trai của Gia Cát Lượng phụ trách việc hoà đàm, ký lại hiệp ước.
Hai bên đồng ý cùng chia Kinh Châu, lấy sông Tương Thủy làm ranh giới, các quận Trường Sa, Giang Hạ, Quế Dương phụ thuộc Tôn Quyền. Nam Quận (cả Giang Lăng), Linh Lăng, Vũ Lăng thuộc về Lưu Bị, miễn cưỡng duy trì quan hệ hoà bình giữa hai bên.
Song Quan Vũ là viên đại tướng không giỏi xử lý vấn đề chính trị, ông ta đối với sự khổ tâm của Gia Cát Lượng để liên hợp Đông Ngô và giữ yên Kinh Châu, lại hoàn toàn không hiểu nổi. Ông ta ngạo mạn khinh địch, cố chấp lại tự cao tự đại, thường va chạm với Lỗ Túc về chuyện biên giới, gây ra phiền phức. Hơn nữa đương khi Tôn Quyền phái sứ giả đến cầu hôn xin con gái ông ta cho con trai của mình, Quan Vũ chẳng những không hứa hôn, mà ngay lúc ấy lại mắng nhiếc sứ giả của Tôn Quyền, khiến quan hệ hai bên đã căng thẳng lại càng xấu đi. Tuy Tôn Quyền xuất chiêu lần này có ý cầm bắt con tin, song ít ra cũng muốn tăng cường quan hệ hữu hảo. Ví như không đáp ứng, cũng nên nói lại với Lưu Bị, sau đó sẽ phái sứ giả mà khéo léo cự tuyệt. Quan Vũ phản ứng quá độ như thế, chẳng những khiến tình thế Kinh Châu càng xấu đi, cũng làm cho không khí chiến tranh càng tăng thêm, thực ra còn chưa biết thế nào. Trái lại, Lỗ Túc vẫn lấy dại cục đồng minh làm trọng, thường có thái độ vui vẻ. Bởi thế suốt thời gian Lỗ Túc còn sống, vẫn chưa từng phát sinh vấn đê gì nghiêm trọng.


6. Diều hâu chọi lại Diều hâu, quan hệ Tôn -Lưu căng thẳng.
Tháng 10 năm Kiến An thứ 22, cây cột trụ quan trọng nhất để duy trì quan hệ hợp tác Tôn - Lưu là Đô đốc Lỗ Túc qua đời, Tôn Quyền phái Lã Mông một viên tướng Diều Hâu nổi tiếng lên thay thế. Tình thế đông cứng của Tôn - Lưu ở Kinh Châu càng mau chóng xấu đi.
Thực ra, bất luận là Gia Cát Lượng hay Lỗ Túc, đều rất biết rõ chiếm được Kinh Châu, đối với sự phát triển của cả hai bên là quan trọng. Khi đưa ra Long Trung Sách, Gia Cát Lượng đã luôn luôn nhấn mạnh tính quan trọng của Kinh Châu, trong kế hoạch của ông ta, hành động bắc phạt phục hưng nhà Hán, phát động từ Kinh Châu là lý tưởng nhất. Sau khi mất Kinh Châu, Gia Cát Lượng trong cuộc bắc phạt lần thứ nhất, thực ra cũng đã có kế hoạch lôi kéo Mạnh Đạt ở quận Tây Thành phía tây bắc Kinh Châu làm nội ứng, bởi vì từ Kinh Châu trực tiếp đánh vào Lạc Dương là đường thuận lợi nhất. Lỗ Túc cố nhiên là chẳng có tâm nguyện phục hưng nhà Hán, song cũng có hùng tâm giúp đỡ Tôn Quyền tranh bá thiên hạ, nếu như có thể hoàn toàn nắm vững Kinh Châu, chẳng khác lấy Trường Giang làm ranh giới với Tào Tháo chia đôi thiên hạ, tiến thoái đều thích hợp, bởi thế Kinh Châu trong quy hoạch chiến lược của ông ta là vô cùng quan trọng. Tôn Quyền lấy Lỗ Túc làm người kế nhiệm Chu Du, chỉ huy phòng thủ chiến tuyến phía tây, cũng bởi ông ta hiểu biết rất rõ về tầm chiến lược của Kinh Châu.
Song sự uy hiếp của Tào Tháo lại càng trực tiếp, với thực lực của Tôn Quyền và Lưu Bị là rất khó đơn độc đối phó với với Tào Tháo, ví như ở trận Xích Bích hai thế lực cùng liên hợp, ít nhiều cùng có phần may mắn, bởi thế duy trì hợp tác hai bên là vấn đề sinh tồn hiện nay, tự nhiên việc nắm giữ Kinh Châu lại càng quan trọng.
Sau khi Lỗ Túc mất, trên võ đài chiến trường Kinh Châu, còn lại hai vị đều là tướng lĩnh Diều Hâu nổi tiếng của đôi bên, đó là Quan Vũ và Lã Mông.
Hai người này đều là những nhà tác chiến thiên tài, cũng có nhiều mưu lược, chỉ phải nỗi họ tự tin quá độ, có khuynh hướng chủ nghĩa bản vị rõ rệt, xem trọng thành đạt của mình, mà lại không thấy hết tầm quan trong chiến lược mang tính toàn cục của thế trận ba chân vạc lớn.


7. Bắc phạt Tương Dương
Tháng 7 năm Kiến An thứ 24. Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương, Quan Vũ được phong làm Tiền tướng quân, tích cực chuẩn bị Bắc phạt. Quan Vũ là người tận trung với việc phục hưng nhà Hán, tuy duyên phận năm xưa ông ta có chút quan hệ riêng với Tào Tháo, song Quan Vũ tuyệt đối phân biệt rõ ràng giữa công và tư, chỉ cần mới nói đến việc thống nhất “phản công Trung Nguyên”, Quan Vũ sẽ là người hưởng ứng đầu tiên. Khi xưa Tào Tháo với Tôn Quyền đại chiến ở Hợp Phì, Quan Vũ rất muốn dẫn quân lên phía bắc đoạt lấy Tương Dương, nhưng bởi quân Hạ Hầu Uyên vẫn ở Hán Trung, đang uy hiếp sự an toàn của Ích Châu, bởi còn tùy thời chi viện cho Lưu Bị, Quan Vũ không dám khinh xuất phát động chiến sự lên phía bắc.
Đến khi Tào Tháo rút quân về theo đường Tà Cốc, Lưu Bị đã ổn định được Hán Trung, Quan Vũ đành lòng chẳng được. Ông ta chẳng phải là võ dũng vô mưu, xuất binh bắc phạt đã có khảo lự tất yếu. Đông Ngô một lần nữa yêu cầu trả lại Kinh Châu song nếu như Quan Vũ có thể khôi phục lại Tương Dương, bố trí phòng tuyến vững chắc, thì quân Đông Ngô đồng minh không dễ thu hồi Kinh Châu. Hơn nữa nếu như Lưu Bị nắm được quá nửa Kinh Châu, thì ba quận Giang Bắc có thể sẽ về tay, bởi thế phát động chiến dịch Tương Dương đối với Quan Vũ khá quan trọng.
Theo kế hoạch của Long Trung Sách, khi phương bắc có biến, Kinh Châu mới có thể nhân đó huy động quân lên phía bắc. Song khi ấy Tào Tháo mới từ Trường An rút về Lạc Dương, chuẩn bị trở về Nghiệp Quận. Tuy chiến dịch Hán Trung bị thất bại, song lực lượng quân Tào khá tập trung, sức phòng thủ ở chiến tuyến phía nam có thể nói là không có vấn đề. Huống chi Tào Nhân đang trấn thủ ở Tương Dương, tình huống khá ổn định tựa hồ không có điều kiện để phát sinh cuộc Bắc phạt mà Long Trung Sách nói đến.
Tuy nói rằng tướng ở ngoài biên, quân lệnh có chỗ không theo, song nếu như mức độ chiến lược quan trọng, phải động dụng rất nhiều binh lực, tài lực, nếu chẳng được Lưu Bị phê chuẩn, thì Quan Vũ sẽ không dám phát động cuộc chiến tranh có quy mô lớn như vậy.
Có thể bởi Lỗ Túc vừa mất, Lưu Bị , Gia Cát Lượng, Quan Vũ phán đoán rằng quân Đông Ngô đang lo việc đề phòng, mà không có động tác gì. Đằng sau bộ mặt vui vẻ của Lã Mông, lại làm cho Quan Vũ mất cảnh giác, phải chăng đều là tâm lý chính vậy.
Nói tóm lại Quan Vũ phát động cuộc chiến lần này có thể thấy khá khẩn trương, ông ta hạ lệnh cho Thái thú Nam Quận là My Phương đến đóng quân ở Giang Lăng, giữ gìn kho tàng quan trọng ở hậu phương, lại phái Sỹ Nhân trấn thủ ở Công An, phòng ngừa Đông Ngô có manh động gì, Quan Vũ tự mình dẫn quân chủ lực Kinh Châu, lấy khôi phục nhà Hán làm ngọn cờ chính trị, tiến đánh đội quân của Tào Nhân, kể từ trận Xích Bích đến nay vẫn đóng đồn ở Tương Dương và Phàn Thành.


8. Tương Dương nằm ở giữa Kinh Dự, yết hầu nam bắc quan trọng.
Tương Dương nằm ở vùng giáp ranh giữa quận Nam Dương và Nam Quận, từ đời Tần đến giờ vẫn lấy sông Hán Thủy làm ranh giới, phía bắc là quận Nam Dương, phía nam là Nam Quận. Thành Tương Dương nằm ở phía nam Hán Thủy, lệ thuộc Nam Quận, song đối diện với Phàn Thành thuộc Nam Quận bên kia sông. Hiện nay hợp nhất lại thành Trương Phàn thuộc tỉnh Hồ Bắc.
Nhiệm sở cũ của Kinh Châu ở Hán Thọ, quận Vũ Lang, khi Lưu Biểu làm Thứ sử Kinh Châu, đối với nam Kinh Châu không đủ sức khống chế, bởi thế phải chuyển nhiệm sở về Tương Dương ở phía bắc. Lại thêm tự mình là quân sĩ không đầu hàng của triều đình, ở gần với khu Tư Lệ, nếu có biến cố chạy xuống phía nam có thể dựa vào sông Trường Giang cố thủ, Hán Thủy lại chạy qua Tương Dương mà xuống Trương Giang, vị trí Tương Dương về đường thủy và đường bộ đều rất quan trọng. Lấy vị trí địa lý mà nói Tương Dương cố nhiên là đất trọng yếu song bởi ở bình nguyên bờ nam Hán Thủy, cơ hồ hoàn toàn không phải là đất hiểm trở dễ phòng thủ, cho nên về quân sự có tác dụng phụ trợ cho Phàn Thành ở bờ bắc.
Nhận được tin do thám đại quân của Quan Vũ tiến lên phía bắc, Tào Nhân lập tức hạ lệnh, cho toàn quân vượt sông sang đóng đồn ở Phàn Thành, chỉ lưu lại tướng quân Lã Thường, để duy trì trị an nội thành về danh nghĩa, điều một số ít quân cảnh vệ phong toả giao thông với bên ngoài, khiến Tương Dương trở thành nơi không giao tranh, thu hút Quan Vũ về phía Phàn Thành. Quả nhiên, Quan Vũ chỉ phái một đội quân đặc biệt bao vây Tương Dương, tự mình dẫn quân chủ lực vượt sông tiến đánh Phàn Thành. Chỉ cần Phàn Thành thất thủ, Tương Dương tự nhiên sẽ rơi vào trong tay, lúc ây Quan Vũ sẽ khống chế được vùng đất then chốt của ba thế lực lớn là Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền. Có thể đấy là mục đích chủ yếu của việc Quan Vũ mạo hiểm tiến lên phía bắc, phát động chiến dịch Tương Phàn.


9. Nước ngập cả Phàn Thành, Tào Nhân thề tử thủ.
Chiến sự lúc đầu của Quan Vũ rất thuận lợi, chẳng những bao vây chặt quân phòng thủ của Tào Nhân, khiến cho viên đại tướng hàng đầu của Tào Tháo bó tay thúc thủ. Tào Tháo không dám xem thưòng, phái một viên tướng tài trí là Vu Cấm dẫn bảy đội quân lớn chi viện, lại cử mãnh tưóng Tây Lương là Bàng Đức làm tiên phong.
Quan Vũ lợi dụng mùa mưa trung tuần tháng 7, phá đê ven sông, dẫn nước lũ Hán Thủy, làm ngập đại quân của Vu Cấm đang đóng đồn ở ngoài Phàn Thành, bắt sống Vu Cấm, chém chết Bàng Đức. Tào Nhân ở trong thành đành giương mắt nhìn viện binh tan rã chẳng thể giúp đỡ. Thanh thế Quan Vũ chấn động, Tào Tháo đã có ý đưa Hán Hiến đế rời Hứa Đô lánh nạn, bởi tham mưu Tư Mã Ý cực lực phản đối mới thôi. Song để nâng cao tinh thần quân dân tiền tuyến, Tào Tháo tự dẫn đại quân, đến đóng ở Lạc Dương, để quan sát tình hình chiến sự, tùy thời mà chi viện.
Bốn bên Phàn Thành đều bị nước lụt uy hiếp, tường thành thấm nước lâu ngày, dần dần sụt lở, Tào Nhân phải chuẩn bị bỏ thành chạy về Dự Châu. Tham mưu trưởng Mãn Sủng cho rằng, nếu Tương Phàn thất thủ, thì Lạc Dương, Trường An sẽ trực tiếp bị uy hiếp, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của triều đình, nên phải liều chết cố thủ với trách nhiệm vì dân vì nước. Tào Nhân nghe theo đề nghị ấy, dìm con ngựa trắng mà mình rất yêu quý xuống nước, để thề quyết tâm không lùi, ông ta với quân dân nội thành cùng tuyên thệ: “Ta được Tào Công giao trách nhiệm bảo vệ thành này, nên phải đem hết sức lực để gìn giữ đến chết không lùi, ai nói bỏ thành thì chém”.
Toàn thể già trẻ trong thành, gánh đất đá lấp tường thành, sau mười mấy ngày kiên trì phòng giữ, nước lũ dần dần rút đi, tình thế khẩn trương ở Phàn Thành mới tạm lắng xuống. Tào Nhân lập tức hạ lệnh sửa sang lại việc phòng thủ để có thể kháng cự lâu dài. Tào Tháo lại phái đạo quân Từ Hoảng cẩn thận và có năng lực tác chiến độc lập, đến đó chi viện cho Tào Nhân. Từ Hoảng muốn đấu trí hơn là đấu lực, ông ta bố trí quân đội ở ngoài thành đối trận với Quan Vũ, lại bao vây quân Quan Vũ, dùng tâm lý chiến để gây áp lực, quả nhiên quân Quan Vũ chẳng thể thắng nhanh, giảm dần thanh thế.
Tào Tháo lại nghe đề nghị của Tư Mã Ý, quyết định dẫn dụ Tôn Quyền, từ phía sau Kinh Châu mà giáp kích.


10. Lã Mông nói: Kẻ sĩ xa nhau ba ngày, dụi con mắt mà ngóng đợi.
Đô đốc Lã Mông mới nhậm chức là danh tướng giàu mưu lược của Đông Ngô. Trần Thọ trong Tam quốc chí đã khen ông ta có khí chất của kẻ quốc sĩ, Tôn Quyền cũng khen ông ta: thao lược kỳ tài gần như Chu Công Cẩn (Chu Du).
Lã Mông tên chữ là Tử Minh, người Nhữ Nam từ nhỏ đã thông minh ít ai bằng, thích việc nghĩa hiệp, mà ít đọc sách. Bởi trông nom công việc cẩn thận, tận tụy với chức vụ, rất được Tôn Quyền và Chu Du tín nhiệm.
Bởi từ một bước mà được trọng dụng, Tôn Quyền vẫn khuyên Lã Mông phải đọc nhiều sách, mới có thể triệt để nắm được việc quân chính và công việc hành chính địa phương. Lã Mông lấy cớ việc quân nhiều bận rộn, chẳng có lúc nhàn rỗi đọc sách.
Tôn Quyền lại nói: “Ta khuyên ngươi đọc sách, chẳng phải muốn ngươi trở thành tiến sĩ, chỉ muốn ngươi xem nhiều sử sách, học được kinh nghiệm làm việc của tiền nhân, để ứng dụng vào công việc thường ngày. Ngươi nói rằng tạp vụ rất nhiều, ta xem ra cũng không ít hơn ngươi! Ta tuy bận vẫn thường đọc sách để bổ trợ cho mình!”.
Đang lúc Lã Mông bệnh cũ tái phát, xin dưỡng bệnh tại nhà, ông ta làm theo đề nghị của Tôn Quyền đóng cửa ngày đêm đọc sử sách. Không lâu Lỗ Túc đến Thẩm Dương, thăm hỏi Lã Mông, cùng với ông thảo luận việc đại sự quốc gia. Sau lúc nói chuyện không khỏi kinh ngạc mà rằng: “Tướng quân! thao lược hiện nay của ông đã chẳng phải là Lã Mông ngày xưa nữa!”.
Lã Mông chỉ cưòi mà nói: “Kẻ sĩ xa nhau ba ngày, dụi con mắt ngóng đợi, đại huynh sao đến muộn thế?”.
Lỗ Túc với Lã Mông về lập trường tuy thường trái nhau, song Lỗ Túc rất khen ngợi tài cán của Lã Mông, chẳng những thường tiến cử với Tôn Quyền, lại chính thức nhận mẹ Lã Mông làm mẹ mình, với Lã Mông kết làm huynh đệ.
Lã Mông xuất thân nghèo khổ, Lỗ Túc là một quý tộc có danh tiếng, trong quan hệ tình cảm của hai người khá thấy Lỗ Túc rất xem trọng Lã Mông. Song Lã Mông sau khi tiếp nhiệm phần việc Lỗ Túc để lại, lập tức điều chỉnh chiến lược phòng thủ phía tây.
Lã Mông gặp riêng Tôn Quyền nói rằng: “Quan Vũ là người kiêu dũng, rất nhiều dã tâm, sớm muộn ắt có ý thôn tính phía đông Kinh Châu, bởi thế nên sớm ra tay trước, tiến hành bố trí lại”. Ông ta rất tự tin nói rằng: “Chỉ cần Chinh lỗ tướng quân Tôn Kiểu giữ Nam Quận, Phan Chương đóng đồn ở thành Bạch Đế ngăn cản sự uy hiếp của Lưu Bị từ phía tây lại, Lã Mông tôi phụ trách việc sửa sang lại Kinh Châu thì chẳng còn phải sợ sự uy hiếp của Tào Tháo xuống phía nam, sao phải dựa vào quân Quan Vũ ở Giang Lăng nhỉ? Huống Chi, Lưu Bị, Quan Vũ đều là đồ phản phúc vô thường, dứt khoát chẳng thể coi là đồng minh tâm phúc. Dựa vào người khác không bằng dựa vào mình, khuếch trương thực lực của người ta để làm chỗ dựa của mình, một mai thực lực của đối phương vượt quá mình ắt sẽ nguy đến bản thân...”.
Cách nghĩ của Lã Mông là rất thực tiễn, trong một thời gian ngắn có thể tạm ngăn cản được Tào Tháo và Lưu Bị, có thể nắm được nhiều lãnh thổ và quyền lợi. Thực ra, đấy cũng là tâm thế cơ bản của những cán bộ cao cấp ở thời đại cạnh tranh lớn; những tướng lĩnh cao cấp và ban tham mưu của Lưu Bị và Tôn Quyền tuyệt đại đa số đều có cách nhìn bản vị theo chủ nghĩa anh hùng này. Quan Vũ không nghĩ đến toàn cục mà mạo hiểm bắc phạt, chưa chủ động xin ý kiến tham khảo của phía Tôn Quyền, nguyên nhân chính cũng ở đây.


11. Xem thường đại thế, anh hùng lâm nguy
Có quan điểm chiến lược toàn cục, lâu dài để thấy tình thế ba chân đỉnh lớn, có thể nói chỉ có Lỗ Túc, Gia Cát Lượng và Triệu Vân mà thôi, ba người ấy kiên trì quan điểm Tào Ngụy còn tồn tại thì Tôn Quyền và Lỗ Túc chẳng có điều kiện xung đột với nhau; xét nhu cầu rất lớn về nhân lực và tài lực để kháng chiến lâu dài, điều kiện của Tôn Quyền và Lưu Bị đều còn lâu mới bằng Tào Tháo.
Đương nhiên Tào Tháo không phải không có nhược điểm, cai quản một vùng rộng lớn, bởi lợi hại ắt có xung đột, các thế lực gắn với nhau, thực ra đều mang quái thai, không như một đoàn thể nhỏ dễ chỉnh hợp. Người chỉ huy có năng lực (như Tào Tháo) tự nhiên có thể giải quyết được vấn đề, nếu như gặp chuyện, nguy cơ tất nhiên rất lớn.
Trong Long Trung Sách Gia Cát Lượng vẫn chủ trương “Liên Ngô chế Tào” cũng biểu thị nếu phương bắc có chuyện, Kình Châu có thể phái một viên Thượng tướng đánh Tương Dương, Lưu Bị và Tôn Quyền chia làm hai đường tiến công, có thể khôi phục được nhà Hán. Nói rằng phương bắc có chuyện, tức là nói một mai Tào Tháo mất đi, chính quyền Tào Ngụy về lực lượng chung ắt có nguy cơ giảm sút, lúc ấy chính là cơ hội tốt nhất để bắc phạt.
Đáng tiếc là Quan Vũ, Lưu Bị đều thiếu tính nhẫn nại, Tôn Quyền và Lã Mông cũng vội vàng nắm lấy lợi ích quốc gia riêng mình mà ít có tầm nhìn xuyên suốt cục diện thiên hạ. Chỉ cần sau một năm mà thôi, Tào Tháo từ trần trong tháng giêng năm Kiến An thứ 25, nếu như Lỗ Túc sống thêm hai năm, Quan Vũ có thể không vội vàng phát động cuộc bắc phạt, hoặc như Tôn Quyền và Lã Mông có tầm nhìn xa hơn một chút, thì đại thế thiên hạ thắng lợi cuối cùng thuộc về ai, cũng chưa biết sẽ thế nào.
Cuộc tập kích của Lã Mông khiến đại bản doanh của Quan Vũ ở Giang Lăng rơi vào tay Đông Ngô, Quan Vũ không thể không từ chiến trường Tương Phàn vội vàng rút về, giữa đường lại bị Lã Mông phái Phan Chương tập kích đường sông, tạo thành sự đại bại của quân bắc phạt, dẫn đến Quan Vũ thua chạy về Mạch Thành, trong quá trình đột phá vòng vây thất bại mà bị giết, đấy là sự tích chủ quan để mất Kinh Châu, trong sử liệu có ghi chép rõ ràng, ở đây không kể lại. Quan Vũ lâm nạn lúc 58 tuổi.
Rất thú vị là Lã Mông cũng tạ thế không lâu sau chiến dịch này, Tôn Quyền mang thủ cấp của Quan Vũ dâng cho Tào Tháo, Tào Tháo cho người bổ sung thân thể với quần áo mũ mão đầy đủ, lại lấy lễ táng chư hầu ban cho. (Quan Vũ từng được Tào Tháo tiến cử với Hán hiến đế được phong là Hán Thọ đình hầu). Tôn Quyền nghe tin, cũng lấy lễ nghi trọng thể mà mai táng thi hài Quan Vũ, có thể lúc ấy đã là cuối năm Kiến An thứ 24. Khéo thay Tào Tháo vào đầu tháng giêng năm Kiến An thứ 25, bởi bệnh cũ tái phát mà qua đời. Tác giả “Tam quốc diễn nghĩa” La Quán Trung, bằng vào trí tưởng tượng, viết ra câu chuyện Quan Vũ hiển linh đòi hồn Lã Mông, nạt chết Tào Tháo. Thực ra nếu như Quan Vũ thực có hiển linh ắt phải báo thù Tôn Quyền mới đúng mà không phải Tào Tháo. Tam quốc diễn nghĩa không biết dựa vào đâu, vói Phan Chương đã tập kích Quan Vũ năm nào, cũng miêu tả ông ta bị chết trận trong chiến dịch đông chinh báo thù của Lưu Bị. Thực ra theo sử liệu, Phan Chương chẳng những không chết ở chiến trường, lại bởi có quân công mà được thăng tiến và trọng dụng, khá thấy sự miêu tả của Tam quốc diễn nghĩa, có rất nhiều đoạn theo cách nghĩ chủ quan. Đề cập về cái chết của Lã Mông ra sao, tin rằng là vấn đề mọi người rất hứng thú.
Lã Mông vốn sức khoẻ không tốt, ông thấy rõ được trách nhiệm, làm việc rất vất vả, lại thêm thích uống rượu nên bệnh tỳ vị khá nghiêm trọng. Kể từ cuộc tập kích Giang Lăng, công việc rất căng thẳng bề bộn hay tư lự, bởi thế cuối tháng 11, bệnh cũ tái phát, thổ huyết không thôi, có thể là vỡ dạ dày hoặc dạ dày chảy máu.
Tôn Quyền đón ông ta về hành cung ở Công An, phái ngự y săn sóc cẩn thận, song bệnh tình của Lã Mông ngày một xấu đi. Tôn Quyền không dám làm phiền ông ta, bèn cho khoét một lỗ hổng trên tường để quan sát bệnh tình của Lã Mông. Mỗi lần thấy Lã Mông chuyển biến tốt có thể ăn được một chút, Tôn Quyền suốt ngày rất cao hứng, nếu như thấy bệnh xấu đi thì suốt ngày âu lo, đêm không ngủ được.
Không lâu Lã Mông đã có hiện tượng hồi quan phản chiếu, tự biết số mệnh chỉ còn sớm tối, bèn yêu cầu Tôn Quyền mở yến mừng công, để được tiếp xúc với các tướng sĩ có công. Ông ta tự mình miễn cưỡng ôm bệnh tham gia, giữa tiệc lại yêu cầu Tôn Quyền đại xá cho hàng tướng và tù binh để củng cố thành tích sau chiến thắng. Tôn Quyền bùi ngùi mà ưng thuận, lại trịnh trọng tuyên bố Lã Mông có công lao bậc nhất, quần thần đều chúc mừng Lã Mông, Lã Mông miễn cưỡng đứng lên đáp tạ, bỗng chết ngay giữa tiệc, hoàn thành được di nguyện sau cùng. Lúc ấy ông ta mới 42 tuổi.
Tôn Quyền vô cùng đau xót, lệnh cử hành lễ mai táng long trọng, hậu đãi gia tộc của Lã Mông.
Lã Mông chất phác suốt đời, có thể nói là khắc kỷ vì công việc, trước lúc lâm chung, lấy toàn bộ những thứ được ban thưởng hiến cho triều đình, lại còn dặn dò việc tang nên tiết kiệm. Tôn Quyền nghe những lời nói cuối cùng của Lã Mông lại càng thương cảm muôn phần đau xót khôn nguôi.


12. Sơ xuất để mất Kinh Châu, lực sĩ khó ngăn sóng cả
Sự kiện Kinh Châu với cái chết của mấy nhân vật chính, đã chấm dứt một giai đoạn. Song người chết đã vậy, lại để cho người còn sống chồng chất những vấn đề lớn.
Xem xét sự kiện ấy, kiểm điểm đến cùng, là ảnh hưởng của nó với cục diện ba chân đỉnh sau này, trong đó bị tác hại rất lớn chính là chính quyền Thục Hán mà Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã khổ công sáng lập.
Trong kế sách ba chân đỉnh của “Long Trung Sách”, Kinh Châu chính là điều kiện cần có rất quan trọng, chiến sự bắc phạt Trung Nguyên sau này, quân sĩ chủ lực dựa vào đấy mà xuất phát, chiếm được Tương Phàn sẽ có thể trực tiếp uy hiếp khu Tư Lệ và Dự Châu, tiến tới tranh thủ được sự giúp đỡ của các công khanh nhà Hán để đối lập với Tào Tháo, uy hiếp thiên tử, sai khiến chư hầu, chuyển thế yếu thành thế mạnh. Một mai khu Tư Lệ và Dự Châu có biến, các vùng Ký, U, Tinh, Ung và Lương Châu mà Tào Tháo mới chiếm được sẽ cùng phát sinh dao động, khiến đại bản doanh Cổ Châu và Tào Tháo rơi vào cô lập, muốn đánh bại chính quyền Tào Ngụy, Kinh Châu đích xác là chìa khoá rất quan trọng.
Sau khi mất Kinh Châu bàn đạp trực tiếp đánh Tương Phàn chẳng còn, sau này Gia Cát Lượng tuy có ý tác động Mạnh Đạt ở quận Tân Thành phía bắc Kinh Châu làm phản, song vẫn bị Tư Mã Ý ngăn cản nên không thành công. Từ đấy Gia Cát Lượng chẳng thể tiếp tục đánh Tương Phàn. Con đưòng bắc phạt gần nhất là vượt dải Tần Lĩnh tiến đánh Trường An, con đường này gập ghềnh khó đi, lại có nhiều khó khăn, rất dễ bị quân Tào nắm được, hướng vận động khá là nguy hiểm. Khởi đầu chiến dịch bắc phạt, mãnh tướng Ngụy Diên từng đề nghị từ đường Tý Ngọ đánh trực tiếp vào Trường An, Gia Cát Lượng không tán thành, bởi ở con đường ấy quân Tào phòng thủ rất dễ, quân viễn chinh thì gặp phải rất nhiều nguy hiểm, đối với quân Thục Hán ở thế yếu là bất lợi.
Sau này Gia Cát Lượng không thể không lựa chọn phương thức an toàn, đường vòng quanh Lương Châu là con đường chủ yếu để bắc phạt. Thời gian kéo dài, hiệu quả lại ít, đấy là di chứng nghiêm trọng. Thời gian sau này, do việc mất Kinh Châu gây ra ảnh hưởng lại càng lớn là bởi một Kinh Châu, Quan Vũ bị hại, Lưu Bị cơ hồ phải mang hết quân tinh nhuệ vào Thục, sau này đông chinh hỏi tội Tôn Quyền lại bị Lục Tốn dùng hoả công đánh bại ở trận Hồ Đình. Nhân lực tài lực của quân Thục Hán tổn thất rất lớn. Chiến bại lần này, khiến Gia Cát Lượng bắc phạt sau này khó khăn về nhân lực và lương thực bội phần, cuối cùng bạo lực thành bệnh bỏ mình ở gò Ngũ Trượng (Kỳ Sơn giữa trận từ trần, khách anh hùng để tần ngần lệ rơi). Quan Vũ chủ quan để mất Kinh Châu, cũng là nguyên nhân chủ yếu làm cho Gia Cát Lượng không có cách nào đột phá được thế đông cứng ba chân đỉnh lớn.
Sau chiến dịch Kinh Châu, Ngô - Thục tuy hoà đàm, xây dựng lại liên minh, song sự khác biệt tâm lý cũng rất lớn, căn bản chẳng thể giống sự hợp tác trước đây.
Lục Tốn là Tư lệnh chiến tuyến phía tây của Đông Ngô, vốn dĩ xuất thân từ văn quan, ông ta tuy không giống Lã Mông giàu mưu đồ, song cũng không giống như Lỗ Túc chỉ lo giữ đại cục. Trong lúc ông ta đương chức, quan hệ Ngô Thục chưa xung đột quá, song nếu muốn cùng phối hợp hành động thì khá lãnh đạm.
Song Đông Ngô chưa từng làm được như Lã Mông nói, có thể độc lập chi phối bắc Kinh Châu, Lục Tốn tuy phát động chiến tranh lên phía bắc, song quy mô không lớn, Tương Phàn trước lúc nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, vẫn nằm trong sự cai quản của chính quyền phương bắc.
Tào Tháo sau trận Tương Phàn, lại cho lập ra quận Tương Dương, đến sau khi Tào Phi lên ngôi vua, lại lập thêm các quận Nam Hương, Nghĩa Dương và Ngụy Hưng. Đến thời Tào Tuấn là con Tào Phi, lại lập thêm hai quận Tân Thành, Thượng Dong ở phía tây bắc. Trong thời gian ngắn, từ hai quận Kinh Bắc biến thành tám quận, khá thấy chính quyền Tào Ngụy đối với việc phòng thủ Kinh Bắc rất xem trọng và để tâm. Phần phía nam của Nam Quận, do chính quyền Đồng Ngô cai quản cũng bắt chước lập ra mười tám quận, riêng quận Giang Hạ cũ bị chia làm hai nửa, phần bắc thuộc Tào Tháo phần nam thuộc Tôn Quyền. Việc tăng cường quản lý hành chính, cho thấy rõ chính quyền Đông Ngô đôi với vùng đất này không dám khinh xuất bao giờ, tầm quan trọng về quân sự chính trị của Kinh Châu qua đấy khá thấy.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Tam lược là một trong bảy cuốn Binh kinh của Trung Quốc, tương truyền là cuốn “Thái công bí truyềndo Hoàng Thạch Công tặng cho Trương Lương, để ông ta trở thành người thầy của bậc đế vương, bởi thế theo truyền thuyết được công nhận là một kiệt tác binh pháp rất thần bí.
Song Tam lược còn lưu truyền đến nay, khảo cứu cho thấy là tác phẩm mới viết trước đời Tống, tuy vậy vẫn rất có giá trị, tác phẩm ấy là một sáng tác đại biểu cho trí tuệ tập thể, trong đó có không ít những bí truyền thực sự của Thái Công. Là sáng tác tập thể trải qua 2000 năm, tự nhiên hàm chứa rất nhiều trí tuệ truyền thống văn hoá Trung Quốc. Đạo Sư Cát Điền Tùng Âm đời Mạc Phủ của Nhật Bản cho rằng Tam lược so với Tôn Tử binh pháp lại có hương vị Trung Quốc hơn.
Mở đầu Tam lược có nói, nhu có thể thắng cương, nhược có thể thắng cường, đấy là danh ngôn trí tuệ nghìn xa.
Bởi nhu là đức tính bao dung, cương thì làm hại người ta nên mọi người đều không thích. Kẻ nhược tiểu được mọi người có ý muốn giúp đỡ, kẻ cường bạo tuy làm cho người ta sợ hãi, song cũng là đối tượng để mọi người trừ bỏ cho nhanh.
Rõ ràng nhu có thể có nguyên tắc, cương mà có thể thi hành, nhược lại có ưu điểm để vận dụng, cường lại có thể không ngừng lớn mạnh. Bốn điểm ấy hỗ trợ lẫn nhau, vận dụng đầy đủ mới có thể phát huy được sức mạnh lớn nhất. Hành động biến hoá phù hợp, khiến người ta không dễ nắm bắt, giống như sự biến hoá của đại tự nhiên, trong biến có thường, trong thường có biến, lấy trí tuệ siêu việt của nhân loại mà suy diễn biến hoá của mọi vật. Kẻ dùng binh nắm chắc những biến hoá ấy mới có thể không câu nệ ở tâm thế hình thức mà ứng phó được với những hoàn cảnh thích ứng.
Không giữ lập trường cứng nhắc, có đối sách thích đáng với thái độ của đối phương, không cố định chiến thuật, mà có thể biến hoá ra vô hạn. Người có tấm lòng, có kiến thức như thế, mới có thể tranh bá thiên hạ yên định tám hướng, khiến bốn biển bình lặng, giữ được hoà bình thế giới, người có mưu lược như thế có thể làm người thầy của bậc đế vương.
Cho nên, khó khăn là ở dục vọng của người ta, người ta thường vẫn theo đuổi sự lớn mạnh của mình mà rất ít có thể kiên trì đến cùng trong lúc suy nhược.. Kiên trì lúc suy nhược là bí quyết gìn giữ sự sống, đấy cũng là trí tuệ rất quan trọng của thánh nhân, trước sau nắm chắc được biến hoá của sự vật, tự nhiên sẽ có hành động thích hợp nhất.
Người nắm được bí quyết ấy khi đắc chí thì thi thố với thiên hạ, khi không được như ý thì ẩn dấu tung tích của mình, để đối phương chẳng thể làm hại, chẳng cần có sự bảo vệ của thành lũy hữu hình. Tất cả mọi cơ mưu đều dấu ở trong lòng, trước mắt chỉ là kẻ yếu thế, cuối cùng có một ngày vẫn có thể đánh được kẻ cường bạo.
Bởi thế vừa nhu lại vừa cương, thì uy danh của quốc gia ngày mỗi lớn, vừa nhược lại vừa cường, thế lực quốc gia nqày mỗi mạnh; nếu thuần nhu thuần nhược thì quốc lực ắt sẽ suy bại; nếu thuần cương thuần cương, thì quốc gia ắt bị diệt vong, Quan Vũ muốn cấp tốc bành trướng thế lực, thực ra đấy là tín hiệu rất nguy hiểm đối với ông ta, với vùng đất then chốt nóng bỏng, hai phía bắc và đông đều có cường địch dòm ngó, càng không nên dùng đến tấn công chủ động, khuếch đại chiến tuyến của minh, cũng tăng thêm nguy cơ của mình. Việc mất Kinh Châu, thực ra chẳng phải do chủ quan, mà là sự thất sách trong việc vận dụng chiến thuật. Lưu Bị đã biết rõ cá tính của Quan Vũ, lại chưa từng phạt người thích đáng để phụ tá, với Gia Cát Lượng là người nắm công tác kế hoạch, thực cũng không tránh khỏi khuyết điểm.
 
0
Chương XIV
LƯU BỊ ĐÔNG CHINH
 
Bởi Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng Trung đều mất đi cả, trong doanh trại của Lưu Bị, những tướng lĩnh thống soái có năng lực độc lập tác chiến không nhiều, Lưu Bị lấy danh nghĩa Hoàng đế tự mình chỉ huy việc đông chinh, đích xác là có tinh thần bi kịch ở đấy, có thể Lưu Bị đã sớm thấy sự ra đi của mình.


1. Tào Tháo từ trần, đại cục đột biến
Sau khi Quan Vũ và Lã Mông nối nhau từ trần, Tôn Quyền phái Lục Tốn làm Trấn tây tướng quân đóng đồn ở Di Lăng, giữ cửa khẩu Tam Hiệp, khiến lực lượng của Lưu Bị không phát triển sang phía đông. Từ đấy phạm vi thế lực của ba nước cũng cố định lại.
Cuối năm Kiến An thứ 24, Tào Tháo dâng biểu phong Tôn Quyền làm Phiêu kỵ tướng quân, Ích Châu mục và Nam Xương hầu, Tôn Quyền cũng phái Hiệu uý Lương Ngụ đưa đồ cống lễ, dâng thư xung thần với Tào Tháo. Trong thư Tôn Quyền ngầm bầy tỏ với Tào Tháo rằng thuận theo mệnh trời nên tiếm ngôi nhà Hán.
Tào Tháo trái lại nói với những đại thần xung quanh rằng: “Người bạn nhỏ này đang xui ta ngồi vào lò lửa đây!”.
Thị trung Trần Quần lại đề nghị rằng: “Phúc nhà Hán đã hết, chẳng phải bây giờ mới thấy! Điện hạ công đức cao ngất, là gương để muôn người nhìn vào, nên Tôn Quyền ở nơi xa cũng phải nhận làm bề tôi, đấy là điềm tốt lành ứng hiện vậy! Điện hạ nên nhận lấy địa vị lớn, chẳng cần nghi ngại gì nữa”.
Tào Tháo cười mà rằng: “Nếu như thực có thiên mệnh, ứng cho lời nói của ta, ta muốn được làm như Chu Văn Vương”, (ý tứ là cũng giống như Chu Văn Vương, bởi con trai là Chu Vũ Vương đánh bại được vua Trụ, làm chủ cả thiên hạ mà cha được truy tôn).
Thực ra đến năm đó Tào Tháo vất vả quá độ, sức khoẻ rất sút kém lại thêm chứng thiên đầu thống ngày mỗi thêm nghiêm trọng, tự biết ở lại nhân thế chẳng được lâu, bởi thế không có hứng thú kiến lập quốc gia mới. Quả nhiên năm sau, cũng là năm Kiến An thứ 25, vào tháng giêng, Tào Tháo bệnh cũ tái phát, không kịp trở về Nghiệp Thành, từ trần giữa doanh trại ở Lạc Dương, thọ 66 tuổi. Con trai là Tào Phi, kế nhiệm làm Ngụy Vương.
Lưu Bị ở Thành Đô, lúc đầu nhận được tin tức Quan Vũ luôn giành thắng lợi, tự nhiên rất vui mừng. Gia Cát Lượng đã nhắc nhở Lưu Bị phải chú ý hậu phương của Quan Vũ, Lưu Bị bèn phái sứ giả truyền lệnh cho Mạnh Đạt và Lưu Phong đóng đồn ở Thượng Dong, yêu cầu họ luôn chú ý tình hình của Kinh Châu, để có chi viện cần thiết.
Song khi Lã Mông đánh lén Giang Lăng, Lục Tốn cũng đồng thời chiếm được Tỉ Quy, phong toả cửa khẩu Tam Hiệp, khiến tin tức giữa Kinh Châu với Lưu Bị đứt đoạn.
Bởi chờ đợi tin tức từ Thượng Dong, Lưu Bị tuy tích cực chuẩn bị đông chinh, song nghĩ rằng nếu có tình huống khẩn cấp thì Mạnh Đạt và Lưu Phong ắt sẽ sớm chi viện, hơn nữa lại dựa vào những tin tức đã có được, bởi thế mà chưa có chú ý đặc biệt.
Đợi đến khi Giang Lăng bị mất, Quan Vũ, Quan Bình và Đô đốc Triệu Vỹ bị hại, sau khi tin tức truyền đến Thành Đô, tất cả đều đã muộn. Lưu Bị vừa giận dữ vừa đau xót ngã lăn tại chỗ, Gia Cát Lượng phải cố khuyên nhủ, tình hình mới tạm yên ổn. Bởi ông ta biết Quan Vũ từng cầu cứu Mạnh Đạt không được, giận muốn nghiền nhỏ, lập tức hạ lệnh triệu hồi Lưu Phong và Mạnh Đạt, Gia Cát Lượng khuyên ông ta chớ thúc giục quá để đề phòng có biến.
Quả nhiên không lâu đã nhận được thư từ chức của Mạnh Đạt, nói rõ ông ta thường bị Lưu Phong xem thường, về căn bản mà nói chẳng thể chỉ huy được quân đội, lại thêm sợ rằng không giúp đỡ được Quan Vũ sẽ bị Lưu Bị bắt tội, nên phải đầu hàng quân Tào.
Tào Phi vui mừng tiếp đón Mạnh Đạt, lại phong ông ta làm Thái thú ở Tân Thành để làm quân tiên phong tấn công Ích Châu. Tiếp đó lại lệnh cho hữu tướng quân Từ Hoảng, cùng với Mạnh Đạt phản công Lưu Phong. Lúc đó Thái thú Thượng Dong là Thân Đam đã đầu hàng, Lưu Phong tuy đã phản kích, cuối cùng thân đơn thế cô, lại thêm kinh nghiệm không bằng Từ Hoảng, bị đánh đại bại, chỉ biết vứt bỏ lại Thượng Dong chạy về Thành Đô xưng tội.
Lưu Bị tuy giận Lưu Phong chưa giúp đõ được Quan Vũ song với tình cảm là cha nuôi không nỡ xử phạt nặng. Gia Cát Lượng lại cho rằng thái tử Lưu Thiện cá tính hoà thuận, Lưu Phong thì tính tình mạnh bạo, kiêu sa hung hãn, về danh nghĩa lại là anh Lưu Thiện sợ sau này khi kế thừa sẽ thành ra nguy cơ, bởi thế ra sức khuyên Lưu Bị nhân cơ hội này mà trừ bỏ đi, Lưu Bị lệnh cho Lưu Phong được nhận cái chết bằng cách tự xử.
Ở giai đoạn này, Tôn Quyền và Tào Phi có quan hệ thắm thiết, khiến Lưu Bị ở phía bắc và đông đều bị uy hiếp. Lưu Bị tuy vội vàng muốn báo thù cho Quan Vũ song lại lo cho toàn đại cục, sợ phương bắc có biến nên không dám xem thường.


2. Tào Phi thoái vị, nhà Hán cáo chung.
Quả nhiên tháng 10 năm Kiến An thứ 25, truyền lan tin tức không may, do sự bức bách của Tào Phi, Hán Hiến đế nhường ngôi cho Ngụy, cải đổi làm Sơn Dương Công. Tào Phi chính thức phế bỏ vương triều nhà Hán, chiếm lấy ngôi Hoàng Đế, gọi là Ngụy Văn đế, lại truy tôn Tào Tháo là Ngụy Vũ đế.
Tào Phi tên chữ là Tử Hoàn, là con thứ của Tào Tháo, bởi con cả là Tào Ngang bị chết trong trận chinh phạt Trương Tú, bèn lấy Tào Phi làm người kế thừa, năm Kiến An thứ 16, làm Trung lang tướng, phó thừa tướng, năm Kiến An thứ 22, Tào Tháo tự lập làm Ngụy Vương, lại lấy Tào Phi làm Thái tử. Sau khi Tào Tháo từ trần, Tào Phi kế vị làm Thừa tướng, Ngụy Vương, lại đổi năm Kiến An thứ 25 làm năm Diên Khang thứ nhất.
Tào Phi cá tính thâm trầm, có văn phong đôn hậu, từ nhỏ đã sớm chín chắn, khi lớn lên Tào Tháo thường cho đi kèm, bởi thế mà được giáo dục thành ra có văn võ toàn tài.
Sách “Ngụy thư” có chép “Tào Phi năm lên 8 tuổi đã có tài văn chương, hiểu rộng các kinh truyện cổ kim của Bách gia chư tử, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, khéo múa kiếm”, nghiễm nhiên là một kỳ đồng thiên tài.
Song Tào Phi vốn mài miệt với từng trang sách văn chương, có thể nói ông ta do khổ học mà thành tài, Tào Tháo đối với Tào Phi có nhu cầu rất lớn, khi 5 tuổi đã luyện tập cung tên, 6 tuổi đã luyện tập cưỡi ngựa, lại được huấn luyện kiếm thuật nghiêm chỉnh. Được rèn luyện nghiêm chỉnh về văn chương và võ thuật, khiến Tào Phi có được sự tự tin khá lớn.
Tào Phi sau khi nắm quyền, vẫn quan tâm đến văn chương đương thời, lấy lễ mà đối đãi với các phần tử tri thức, hiển nhiên còn vượt quá Tào Tháo về võ công. Cuốn Điển luận do ông ta viết, có giá trị cao trong giới phê bình văn học lúc đó, hơn nữa trong những thư từ gửi cho Ngô Chất đối với văn phong của Kiến An tài tử, được đánh giá cao. Lấy văn chương phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc, Tào Phi là một người lãnh đạo tối cao, được giới văn học đương đại xem trọng.
Tháng 2 năm Kiến Khang nguyên niên, Tào Phi lấy danh nghĩa Ngụy Vương, lệnh cho đại phu Giả Hủ làm Thái úy, đại phu Hoa Hâm làm Tướng quốc, đại lý Vương Lãng làm quan Ngự sử, lập ra ban bệ của mình.
Tháng 4, đại tướng Hạ Hầu Đôn từ trần, quyền chỉ huy quân đội của Tào Phi lại càng tăng thêm.
Tháng 7, Tôn Quyền cho sứ đến tiến công, tướng Thục là Mạnh Đạt cũng dẫn quân đến hàng, thanh thế của Tào Phi tăng lên rất cao, chính quyền mới mau chóng ổn định lại.
Tháng 10, Hán Hiến đế thấy đại thế đã mất, bị các quần thần gây sức ép mạnh, cuối cùng phải tế cáo ở miếu Hán Cao tổ, lệnh cho Ngự sử đại phu Trương Âm bưng ấn thụ trao cho Tào Phi.
“Nay truyền ngôi cho Nguỵ Vương, cũng như ngày xưa Nghiêu đế truyền ngôi cho Thuấn đế, Thuấn nhường cho Vũ, thiên mệnh vô thường, duy theo về người có đức. Đạo nhà Hán đã hết, mất cả trật tự, khiến thiên hạ đại loạn cả, vũ trụ cũng phải điên đảo... Nay thuận theo đại lễ báo cùng vạn quốc, để thuận theo thiên mệnh”.
Lại thiết đàn ở Phần Dương, cử hành lễ nhường ngôi, đổi năm Diên Khang thành năm Hoàng Sơ thứ nhất.
Theo cuốn “Ngụy thị xuân thu” có chép, Tào Phi lúc làm lễ xong ngoảnh đầu nói với đại thần rằng: “Đến hôm nay ta mới biết được câu chuyện Thuấn nhường ngôi cho Vũ như thế nào”.
Khi Tào Tháo mất hồi đầu năm, do việc đột nhiên xảy ra, nước Ngụy từng rơi vào nguy cơ nghiêm trọng, thậm chí có người đề nghị thi hành quân quản; song Tào Phi không muốn thế, chỉ trong khoảng nửa năm, Tào Phi không những ổn định được đại quyền, lại chiếm được ngôi vua của nhà Hán, khá thấy năng lực của Tào Phi, chẳng hề thua kém Tào Tháo, Trần Thọ trong Tam quốc chí có bình luận rằng: “Tào Phi có thiên tư văn chương, hạ bút thành thơ, hiểu biết rộng rãi, tài nghệ gồm đủ, nếu như lại có phong độ khoáng đạt, chân thành khích lệ, có chí xa xôi, trau dồi tâm đức, thì có kém gì những vua hiền ngày xưa”.


3. Lưu Bị xưng làm hoàng đế, Thục Hán dựng xây chính quyền.
Tào Phi thoái vị nhà Hán, lại thêm những lời đồn đại Hán hiến đế bị hại, tin đó đối với Lưu Bị và Gia Cát Lượng không kém khi nghe tin Quan Vũ bị hại, Kinh Châu thất thủ, bởi thế việc báo thù Đông Ngô tạm gác một bên.
Vốn là hậu duệ nhà Hán lại xưng là Hán Trung Vương, tự nhiên đối với việc quốc gia đại sự này ắt phải có lập trường. Đầu tiên Lưu Bị thông báo với thiên hạ, lệnh cho văn võ bá quan nước Thục đều để tang, lại làm lễ tưởng niệm Hán Hiến đế, đặt tên thụy là Hiến Mẫn hoàng đế, các quần thần ở Ích Châu đều khuyên Lưu Bị kế nghiệp nhà Hán lên ngôi hoàng đế.
Lưu Bị do dự chưa quyết, lại nghe nói cho sứ dâng biểu xưng thần vói Tào Phi, Tào Phi đã tấn phong Tôn Quyền làm Ngô Vương, không khỏi giận giữ, muốn cử binh đánh Đông Ngô. Gia Cát Lượng bèn dẫn câu chuyện Quang Vũ đế, nói với Lưu Bị: “Đời Đông Hán khi xưa, Cảng Yển từng khuyên Quang Vũ đế lên ngôi hoàng đế. Thế tổ trước sau khiêm nhường bốn lần, Cảnh Thuần phải nói rằng anh hùng trong thiên hạ theo ngài vào sinh ra tử, nên đều làm theo hy vọng nếu nay không thuận theo, họ sẽ tan tác đi cả, không nghe lời ngài nữa. Thế tổ cảm thấy lời nói chân thành bèn làm theo. Nay Tào Phi cướp ngôi, thiên hạ vô chủ, đại vương lại là hậu duệ nhà Hán, càng phải kế tục dựng nghiệp, hiện tại lên ngôi hoàng đế, chính là hợp thòi, các sĩ đại phu theo đại vương chinh chiến lâu năm, cũng mong được một chút công lao, giông như Cảnh Thuần nói với Thế tổ vậy”.
Lưu Bị không biết nói sao, cũng không từ chối nữa.
Sau năm Tào Phi xưng đế, Lưu Bị lên ngôi Hoàng đế ở phía nam núi Vũ Đương thuộc Thành Đô, vẫn lấy quốc hiệu là Hán, “Quỹ đạo của Hán Cao tổ lại hưng thịnh ở Hán Trung”. Lịch sử gọi là nhà Thục Hán.
Lại đổi là năm Chương Vũ, lấy Gia Cát Lượng làm Thừa tướng, Hứa Tĩnh làm Tư Đồ; Trương Phi được phong làm Xa kỵ tướng quân, chức Tư lệ hiệu uý, Mã Siêu làm Kiêu kỵ tướng quân, chức Lương Châu mục. Lại lập Vương hậu Ngô thị (em gái Ngô Ý) làm hoàng hậu, Lưu Thiện làm Hoàng thái tử. Lại lập con gái của Trương Phi làm Thái thử phù. Lại lập các con Lưu Vĩnh làm Lỗ Vương, Lưu Lý làm Lương Vương.
Lúc này, Trương Phi vẫn nghĩ đến chuyện Quan Vũ, không nhẫn nại được nữa, ông ta từ Lãng Trung gửi thư cho Lưu Bị bầy tỏ mối thù của Quan Vũ còn chưa trả được, dẫu phú phú chẳng mảy may ý nghĩa, lại biểu thị nguyện vọng tự mình đông chinh đánh Tôn Quyền.
Lưu Bị bèn hạ lệnh Trương Phi từ Hán Trung dẫn hàng vạn quân đến Giang Châu, đợi ông ta sẽ ngự giá thân chinh cùng thảo phạt Đông Ngô.
Gia Cát Lượng trong lòng có trăm mối tơ vò, song ông ta hiểu rõ cá tính Lưu Bị, có hết sức khuyên can cũng vô tác dụng, bởi thế mà đau đầu không thôi.
Trái lại tướng quân Triệu Vân lại hay nói thẳng, trong lúc các đại thần đều không dám can gián, là người đã cùng với Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi có mấy chục năm thân thiết, hơn nữa lại chịu hy sinh cá nhân, lão tướng Triệu Vân đành đứng ra làm người can gián sau cùng: “Quốc tặc là Tào Tháo, không phải là Tôn Quyền, nếu như đã diệt được Tào Tháo, Tôn Quyền sẽ tự nhiên khuất phục. Trước mắt Tào Tháo tuy đã chết, Tào Phi thoái vị, nhân tâm thiên hạ không phục, nếu chúng ta nhân cơ hội này, tiến công Quan Trung, chiếm cứ Hoàng Hà và thượng du Vị Thủy, lại thảo phạt nghịch tặc thì ở vùng Quan Đông, những kẻ sĩ trung thành với nhà Hán ắt sẽ phản lại họ Tào, xách cơm dắt ngựa đến đón chúng ta.
Nếu quên lãng việc đánh Ngụy, lại mang quân đánh Ngô vốn là bạn đồng minh, là rất bất lợi, huống chi chiến trận đã nổ ra, chẳng dễ thu lại, tuyệt đối chẳng phải kế sách mà kẻ sáng suốt vận dụng!”.
Lưu Bị cho rằng Triệu Vân không hiểu mình, rất không vừa lòng, song Triệu Vân là bạn cũ, có chiến tích lớn, Lưu Bị tuy giận mà không nỡ trách cứ, huống chi lời nói của Triệu Vân lại khá có lý.
Học sĩ Ích Châu là Tần Mật cũng can gián thêm, dùng thiên văn để khuyên Lưu Bị chớ vội chinh phạt Đông Ngô, Lưu Bị nghe nói giận lắm, cho rằng Tần Mật nhiễu loạn quân tâm, bèn cho tống giam trị tội. May mà Gia Cát Lượng sau đó cố gắng khuyên can, xin cho Tần Mật nên mới được tha tội. Từ đấy chẳng có ai có biểu hiện phản đối nữa. Lưu Bị lệnh cho Gia Cát Lượng giúp thái tử trấn giữ Thành Đô, tự mình chọn ngày tốt dẫn quân chinh phạt Đông Ngô.


4. Trương Phi bị hại, Tôn Quyên cầu hoà.
Trước lúc xuất quân, chợt có tin khẩn cấp từ doanh trại Xa kỵ tướng quân Trương Phi báo về, Lưu Bị thất kinh tái mặt, vội nói to rằng: “Hỏng rồi! Trương Dực Đức có chuyện rồi”.
Quả nhiên có tin Trương Phi đã bị sát hại, đêm trước ngày xuất quân ở Lãng Trung, Trương Phi bị bộ tướng Trương Đạt, Phạm Cương ám sát, thậm chí thủ cấp còn bị mang sang Đông Ngô để dâng công.
Trương Phi với Quan Vũ tuy tình cảm gắn bó như tay chân, hơn nữa có quan hệ thắm thiết hơn 30 năm, song cá tính không giống nhau. Trần Thọ, tác giả “Tam quốc chí” có nhận xét: “Quan Vũ khéo đối xử với sĩ tốt mà kiêu ngạo với sĩ đại phu, bởi thế với đồng sự và tướng lĩnh nước khác vẫn thường va chạm, thường vô ý đắc tội với người mà không tự biết. Trương Phi thì yêu thích con người quân tử mà không thương kẻ tiểu nhân, thường đòi hỏi rất nhiều ở thuộc hạ. Lưu Bị thường vẫn khuyên Trương Phi: “Khanh dùng hình phạt quá mức, hay tức giận mà đánh sĩ tốt, sau khi xử phạt vẫn để ở bên mình, ấy là rước lấy họa vậy”. Nói cách khách, Trương Phi là người bạo tợn, ngoài mặt có vẻ hung dữ mà trong thì mềm lòng, sau lúc giận lại tha thứ cho người, người ta có thể khắc ghi thù hận, mà ông ta thì không đề phòng, bởi thế Lưu Bị rất lo lắng cho sự an toàn của ông.
Sau khi Quan Vũ mất hơn một năm, Lưu Bị bận rộn việc nước, hàng ngày còn biết như thế, song Trương Phi ở Quan Trung tâm lý không ổn định, cá tính của ông ta lại càng bạo tợn, thường dùng bạo lực gây ra việc thù oán.
Sau khi Lưu Bị xưng đế, Trương Phi phái sứ giả dâng biểu tấu tỏ thái độ rất cứng rắn, nửa chỉ trích nửa hy vọng Lưu Bị hãy mau chóng báo thù cho Quan Vũ, chớ quên lời thề cũ năm nào mới khởi sự.
Lưu Bị rất bị kích động, bèn hạ lệnh Trương Phi từ Lãng Trung chuẩn bị mang hơn vạn binh mã, đến Giang Châu cùng hợp quan để cùng tiến đánh Đông Ngô, việc sắp xếp binh mã rất là bề bộn, song Trương Phi lòng như có lửa trong công việc lại yêu cầu quá mức. Trương Đạt và Phạm Cương bị bức đến chân tường, thế rồi ám sát Trương Phi, chạy theo Tôn Quyền. Trương Phi mất lúc 55 tuổi. Trần Thọ nói:
“Quan Vũ với Trương Phi, hùng tráng lại uy mãnh, điều đáng gọi là vạn người khó địch, là hổ tướng ở đời khó thấy một lần. Quan Vũ năm xưa sau khi trả ơn Tào Tháo, mới rời khỏi trại Tào, không ngại khổ cực và nguy hiểm, tìm về với Lưu Bị. Trương Phi vì nghĩa mà thả Nghiêm Nhan, để trả giá cho cuộc chiến ở giá thấp nhất, chiếm được Ba Đông, việc làm và công tích của hai người đều đáng là bậc quốc sĩ. Đáng tiếc Quan Vũ cứng cỏi mà kiêu căng, Trương Phi quả quyết mà vô tư, đều là người có sở đoản, dẫn đến họa sát thân, ấy là lẽ thường của số phận vậy”.
Được tin Trương Phi bị sát hại, Lưu Bị rất thương tâm, bèn trút cả tức bực lên đầu Tôn Quyền. Bởi thế không lo nghĩ đến những khó khăn về sắp xếp quân đội, sau khi Trương Phi từ trần vẫn cứ tập hợp hơn 4 vạn binh mã ở Giang Châu, chuẩn bị mau chóng xuất binh.
Biên chế quân Thục Hán đông chinh như sau:
Thống soái: Lưu Bị
Tổng tham mưu: Mã Lương, Hoàng Quyền, Trình Kỳ
Quân đoàn 1: Ngô Ban
Quân đoàn 2: Phùng Tập
Quân đoàn 3: Trương Nam
Quân đoàn dự bị: Triệu Vân
Sau khi đến Giang Châu, Lưu Bị lệnh cho Triệu Vân đóng quân ở đấy, lại lệnh cho Ngô Ban làm tiên phong, dẫn quân ra Tam Hiệp, vào đất Kinh Châu, tự mình dẫn đạo quân thứ 2 và 3 đi sau.
Việc sắp xếp lần này cơ hồ đều tập trung cả ở một mình Lưu Bị. Ông ta để Mã Siêu và Ngụy Diên ở lại giữ Hán Trung và Thục Bắc đề phòng quân Tào. Triệu Vân là người có kinh nghiệm phong phú, có nhiều công lao lại được xếp làm quân dự bị ở đại bản doanh, trụ giữ Giang Châu, một mặt để biểu thị thái độ của Lưu Bị đối với sự bất mãn của Triệu Vân, một mặt khác cũng dự phòng nhỡ ra quân Đông Ngô phản công lại thì Triệu Vân có thể ngăn chặn ở đó, giữ an toàn cho Thục Trung.
Bởi Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng Trung đều đã mất, trong doanh trại của Lưu Bị, những tướng lĩnh có cấp bậc thống soái có khả năng độc lập tác chiến không nhiều, Lưu Bị lấy danh nghĩa Hoàng đế, tự mình chỉ huy việc đông chinh đích xác đã có tinh thần bi kịch, có thể Lưu Bị cũng đã sớm thấy sự ra đi của mình.
Xem xét thanh thế rất lớn của quân Lưu Bị, lại thêm Lỗ Túc từ trần, những lão thần Đông Ngô có cùng quan niệm thân Thục cũng không ít, Tôn Quyền bèn phái Thái thú Nam Quận là Gia Cát Cẩn đến điều đình với Lưu Bị để giảm nguy cơ trước mắt. Gia Cát Cẩn biết Lưu Bị đang rất tức giận Tôn Quyền bèn lấy danh nghĩa của mình cho sứ giả đưa thư hoà giải với Lưu Bị, trong thư viết:
“Tôi nghe nói đại quân đã đến thành Bạch Đế, tin rằng là do không ít kẻ dưới đã cho rằng Ngô Vương xâm chiếm Kinh Châu, giết hại Quan Vũ, dẫn đến thù hận sâu sắc giữa hai bên, dứt khoát không thể hoà giải được. Thực ra người có cách nghĩ như vậy là dụng tâm ở chỗ nhỏ hẹp, chưa lưu ý ở chỗ lớn vậy, bởi thế tôi muốn được trao đổi với bệ hạ về chỗ nặng nhẹ và lớn bé của việc ấy. Xin bệ hạ tạm dẹp nỗi oán giận trong lòng, bình tĩnh nghe Gia Cát Cẩn tôi phân tích, tin rằng sẽ lập tức có thể rút ra được kết luận, chẳng cần phải hỏi han những kẻ dưới vốn chỉ có tầm nhìn hạn hẹp.
Bệ hạ nhận định Quan Vũ và Hán Hiến đế ai nặng hơn ai? Kinh Châu và thiên hạ đâu là chỗ nặng nhẹ? Giải quyết mối thù hận này phải như thế nào? Tin rằng chỉ cần ngài để ý tính toán một chút, căn nhắc nặng nhẹ, sẽ có hành động đúng”.
Lá thư này của Gia Cát Cẩn là muốn Lưu Bị lấy thù nước làm trọng, thù riêng là nhỏ, tiếp tục hợp tác với Đông Ngô để chống lại quân Tào. Về trọng điểm và phạm vi, điều không vượt qua những lòi khuyên của Triệu Vân trước đó, đối với Lưu Bị đang nóng lòng phục thù, tự nhiên chẳng thể lọt tai.
Sau khi Lỗ Túc mất, người vẫn có quan hệ với Lưu Bị, chỉ còn lại Gia Cát Cẩn, bởi thế đây là cơ hội cuối cùng để điều đình giữa Thục Hán và Đông Ngô, bạn đồng minh với nhau trong trận Xích Bích cuối cùng lại đổi bạn thành thù tiến hành chiến tranh với nhau.
Tại thời khắc quan hệ hai nước căng thẳng, việc Gia Cát Cẩn lấy danh nghĩa cá nhân viết thư cho Lưu Bị, lập tức dẫn đến sự hiểu lầm của người ta, có người đã lấy việc đó mà ngầm mật báo với Tôn Quyền, cho rằng Gia Cát Cẩn có bụng khác, nếu để ông ta trấn thủ ở Nam Quận sẽ là mối nguy cho sự an toàn của tiền tuyến, chủ trương lập tức điều động đi chỗ khác.
Tôn Quyền lại cười mà rằng: “Ta với Gia Cát Cẩn đã có lời thề sinh tử chẳng đổi dời, nếu ông ta không phản lại ta, thì ta cũng không thể vứt bỏ ông ta được!”.
Song những kẻ dưới của Tôn Quyền, lại lấy việc Gia Cát Lượng đã làm tể tướng Thục Hán, nắm giữ quyền bính, việc này thay đổi Gia Cát Cẩn khó tránh khỏi cách nghĩ khác, bởi thế thảo luận rùm beng, thành ra chuyện nghiêm trọng.
Lục Tốn đang giữ Di Lăng, lo lắng những lời lẽ vu vơ đó sẽ ảnh hưởng tinh thần binh sĩ ở tiền tuyến, bèn công khai dâng biểu về việc Gia Cát Cẩn yêu cầu Tôn Quyền làm rõ, Tôn Quyền phải bộc bạch rằng:
Tử Du (Gia Cát Cẩn) với ta cùng làm việc đã nhiều năm, tình như cốt nhục, nghĩ rằng cũng chẳng cần phải kể ra. Tử Du với người ta, cẩn thận chú ý, chẳng phải việc đạo lý thì chẳng làm, chẳng phải việc nghĩa thì chẳng nói. Năm xưa Lưu Huyền Đức từng phái Gia Cát Khổng Minh đến Đông Ngô, ta cũng nói với Tử Du: “Khanh với Khổng Minh là anh em ruột, em đi theo anh, về nghĩa lý mà nói cũng là đương nhiên, sao không nhân cơ hội này mà giữ Khổng Minh lại, nếu như Khổng Minh tự nguyện ở lại đây, ta sẽ tự mình viết thư cho Lưu Huyền Đức, tin rằng ông ta sẽ chiều theo ý Khổng Minh mà không giữ nữa”.
Song Tử Du lại nói với ta: “Em trai thần đã gửi thân ở Lưu Bị, quan hệ chủ tớ đã định, thần tin rằng nó nhất định sẽ không hai lòng. Gia Cát Lượng không ở lại Đông Ngô, cũng giống như thần dứt khoát chẳng thể theo với Lưu Bị”.
Ta tin rằng ông ta đã nói rất chân thành, có quỷ thần chứng giám, nay làm sao lại nghĩ khác mà theo về với Lưu Bị?
Lá thư tố cáo của những kẻ rỗi hơi, ta đã đưa cho Tử Du xem, đã cùng hủy đi, ta với Tử Du đã rằng tình nghĩa thắm thiết, chẳng có những lời phỉ báng nào ảnh hưởng được. Tướng quân Lục Tốn đã có thư đềê nghị, ta cũng phân giải rõ để các tướng sĩ ở tiền tuyến được yên tâm, rằng ta không bao giờ nghĩ khác về Tử Du.
Sau khi lá thư này được công bố, tình hình quân sự ở tiền tuyến của Đông Ngô cũng ổn định hơn.


5. Nhận lệnh lúc lâm nguy, nho gia làm Thống soái.
Hoà giải không thành, chiến tranh là việc không tránh khỏi, Lưu Bị muốn chiếm ưu thế, ông ta biết Lã Mông đã từ trần, thực lực ở chiến tuyến của Đông Ngô rất mỏng, lập tức hạ lệnh Ngô Ban với đạo quân thứ nhất và Phùng Tập với đạo quân thứ hai cùng phát động tấn công. Sau khi Lý Dị và Lưu Hà giữ trọng điểm ở Vu Huyện bị đánh bại, thanh thế quân Lưu Bị rất lớn, khi tiến quân đến thành Tỉ Qui đã tập kết được hơn 4 vạn binh lính. Các tù trưởng dân tộc thiểu sô ở Vũ Lăng đều rối rít hưởng ứng gia nhập vào trận tuyến của Lưu Bị.
Thực ra trong cuộc chiến tranh này cả hai bên đều không dám dốc toàn lực, Tào Phi tuy mới tiếp nhiệm song chính quyền Tào Ngụy vững như núi Thái Sơn, hiện giờ lại đã kiến quốc, thanh thế đang thịnh, đang có ý muốn nam chinh.
Lưu Bị lấy danh nghĩa Hoàng đế, gây ra cuộc chiến tranh để trả thù riêng, tuy có thế lực mạnh, song không dám điều động một đại tướng chỉ huy độc lập. Bởi Trương Phi là chủ tướng đông chinh đã không may bỏ mạng, Lưu Bị không tìm được người có thể thay thế. Gia Cát Lượng ắt phải giữ đại bản doanh để tránh chuyện bất thường, còn Triệu Vân vẫn phối hợp tốt với Gia Cát Lượng tuy là người thích hợp với cuộc đông chinh này, song do ông ta đã công nhiên phản đối chiến tranh khiến Lưu Bị không muốn phái ông ta tác chiến, vẫn bố trí làm quân dự bị ở Giang Châu, nếu nói về thực chất là người giữ cửa phía đông cho Gia Cát Lượng mà thôi.
Hán Trung tình hình cũng không thực ổn định, bởi thế cũng không điều động được Ngụy Diên đi khỏi đó. Còn Mã Siêu có địa vị cao lại đang phải trấn thủ Thục Bắc, để đề phòng quân Lương Châu xâm nhập. Bởi thế cuộc đông chinh lần này tuy huy động hơn 4 vạn quân, song vai trò của Lưu Bị, thực ra là “hiệu trưởng kiêm đánh trống”.
Song, về phía Tôn Quyền cũng không dễ dàng gì, lão tướng Trình Phổ đã mất, những tướng lĩnh như Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông đều đã qua đời đang lúc phong độ. Còn Hoàng Cái, Hàn Đương tuy dũng mãnh, lại khó có thể đảm đương chức trách đại soái. Lại cũng không điều động được các tướng Chu Thái, Cam Ninh đang giữ chiến tuyến Hợp Phì ở phía đông đối phó với quân Tào vẫn thường xâm lấn, mà lực lượng quân Tào lại lớn hơn Thục Hán; bởi thế Tôn Quyền so với Lưu Bị lại còn thê thảm hơn vì căn bản không rời mắt được khỏi chiến tuyến phía đông. Chỉ có một người đủ tư cách giữ chiến tuyến phía tây là Từ thì không đủ tính độc lập về thảo kế hoạch và thống lĩnh quân đội, khiến Tôn Quyền đau đầu không thôi.
Lã Mông trước lúc lâm chung từng tiến cử Lục Tốn thay thế cho nhiệm vụ của mình.
Lục Tốn là con rể của Tôn Sách, tuổi còn rất trẻ thuộc thê hệ thứ ba của Đông Ngô, bản thân là nho sinh, không hiểu võ nghệ, sao có thể cầm đầu được các lão tướng ỏ thế hệ thứ nhất và thứ hai? Ví như Tôn Quyền có giúp đỡ mạnh mẽ thì Lục Tốn liệu có thể đối địch được với Lưu Bị đã từng qua trăm trận đánh.
Lục Tốn tên chữ là Bá Ngôn, người Ngô Đô, tên thực là Nghị, vốn hậu duệ của một dòng họ lớn ở Giang Đông. Lục Tốn khi còn trẻ bố mẹ đều đã qua đời, phải theo người chú là Lục Khang đang làm Thái thú Lư Giang, Lục Khang có hiềm khích với Viên Thuật, Viên Thuật muốn đánh Lư Giang, Lục Khang bèn đưa thân nhân vê Ngô Huyện, Lục Tốn lại hơn con cả của Lục Khang nhiều tuổi, thành ra là người lãnh đạo trong gia tộc.
Khi Tôn Quyền làm tướng quân, Lục Tốn được cử làm phó tướng sau đó lại làm huyện trưởng Hải Sương, đang lúc đại can, trộm cướp nổi lên khắp vùng. Lục Tốn liền mở kho gạo phát chẩn cho dân nghèo, đôn đốc việc nông nghiệp, vỗ yên trăm họ, lại tự mình cầm quân bình phục được đạo tặc. Tuy là nho sinh song rất tinh thông binh pháp, lại giầu thao lược, một dải hồ Ba Dương nạn thủy tặc đều được ổn định, Tôn Quyền bởi thế mà phong cho Lục Tốn làm Định uy hiệu uý, lại mang con gái Tôn Sách gả cho.
Lục Tốn có tầm nhìn xa, có sở trường lập kế hoạch.
Tôn Quyền thường phải ra mệnh lệnh, nên lấy ông ta làm Hữu đô đốc ở dưới trướng. Trước trận đánh Xích Bích, bọn giặc cỏ Phí Sa ở Đan Dương nghe theo Tào Tháo, làm loạn ở hậu phương của Tôn Quyền. Bởi các đại tướng Chu Du, Trình Phổ đều bận chiến đấu, Tôn Quyền bèn phái Lục Tốn đến đó dẹp loạn. Lục Tốn tuy binh lực ít, lại nhân đêm tối mà tập kích đại phá quân Phí Sa và lấy sách lược chiêu hồi, thu được vài vạn quân số, bình phục hậu phương bị chiếm trước đó ở vùng Vu Hồ, giải trừ được nguy cơ hậu phương của Đông Ngô.
Thái thú Cối Kê là Thuần Vu Thức đôi với Lục Tốn thường bất mãn, chống lại pháp lệnh, thường tự mình tổ chức ra dân binh, còn nói với Tôn Quyền kiểm điểm Lục Tốn về tội quấy nhiễu dân lành, song Lục Tốn khi nói với Tôn Quyền lại khen ngợi Thuần Vu Thức là viên quan tốt yêu dân.
Tôn Quyền không hiểu nổi, hỏi Lục Tốn: “Thuần Vu Thức nói xấu ngươi, ngươi lại khen ông ta, đấy là cớ làm sao?”.
Lục Tốn đáp: “Thuần Vu Thức bởi muốn bồi dưỡng nhân dân mới xét nét Lục Tốn, nếu như Lục Tốn lại lấy ý kiến cá nhân bất động, xem ông ta là kẻ gây loạn, đấy mới là không đúng”.
Tôn Quyền không khỏi than rằng: “Thế mới là hành vi đáng kể! Lục Tốn còn trẻ vậy, đã tu dưỡng đến thế, và việc mà người khác dứt khoát không làm được”.
Khi Lã Mông thác bệnh về nhà, đã tiến cử Lục Tốn với Tôn Quyền, cho rằng đấy là người xứng đáng nhất thay thế mình sau này, ông ta nói: “Lục Tốn có suy nghĩ mẫn tiệp sâu xa mọi việc, qua công việc mới làm, đã thấy có kế hoạch chu đáo, cuối cùng có thể đảm nhận được việc lớn”.
Trong trận tranh giành Kinh Châu vừa rồi, Lục Tốn dẫn quân từ Lục Khẩu đoạt lấy Nam Quận và Công An, đánh tan phòng tuyến được xây dựng ỏ đó. Sau khi chiến tranh kết thúc, Lã Mông bởi bị bệnh mà từ chức, Lục Tốn đóng quân giữ Di Lăng, thống lĩnh chỉ huy quân sĩ phòng thủ chiến tuyến phía tây. Lục Tốn đề nghị với Tôn Quyền, nên lấy sách lược khoan dung như ngày xưa Lưu Bang vào Quan Trung, trọng dụng các nhân sĩ ở đấy để xây dựng lại Kinh Châu, Tôn Quyền nghe lời cho nên quân tình hỗn loạn ở Kinh Châu mau chóng được ổn định lại.
Lưu Bị đông chinh với số quân hơn 4 vạn người, Tôn Quyền nếu muốn cân bằng được ắt phải động dụng nhiều quân đoàn, bởi các tướng lĩnh quân đoàn đều là những tướng tài thuộc thế hệ thứ nhất và thứ hai, mà Lục Tốn lại thuộc thế hệ thứ ba, tuy có tài cán, phải chăng dễ gì thu phục được lòng người, khiến Tôn Quyền trong lòng do dự chẳng quyết đoán được.
Song Thái thú Nam Quận là Gia Cát Cẩn, lại cho rằng Lục Tốn là người xứng đáng nhất, bèn hăng hái tiến cử với Tôn Quyền. Tôn Quyền đành trực tiếp cho gọi Lục Tốn đến, hỏi han ý nguyện và chủ trương cá nhân.
Chẳng ngờ Lục Tốn ứng đối khảng khái rõ ràng, lại tức khắc đề ra kế hoạch sắp xếp quân đoàn và tác chiến, cho thấy ông ta sớm đã chuẩn bị và suy nghĩ nhiều ngày. Lục Tốn đề nghị sắp xếp một đạo quân hơn 5 vạn người, vượt quá đội quân mà Chu Du đã thống lĩnh trong trận Xích Bích. Đội ngũ bao gồm những danh tướng thế hệ thứ nhất và thứ hai Đông Ngô, có khí phách lớn lao, khiến người ta phải kinh hãi. Tôn Quyền rất cao hứng phê chuẩn kế hoạch mà ông ta đưa ra.
Tổng tư lệnh: Lục Tốn (kiêm Tham mưu trưởng)
Đội quân thứ 1: Chu Nhiên (danh tướng thế hệ thứ hai)
Đội quân thứ 2: Phan Chương
Đội quân thứ 3: Tống Khiêm
Đội quân thứ 4: Hàn Đương (danh tướng thế hệ thứ nhất)
Đội quân thứ 5: Từ Thịnh (danh tướng thế hệ thứ hai)
Quân dự bị: Tôn Hoàn (danh tướng thân tộc Tôn Quyền)
Qua cách sắp xếp này có thế thấy, bất luận về quân lực hay tác chiến, quân phòng vệ Đông Ngô của Lục Tốn hiển nhiên có ưu thế hơn đạo quân đông chinh của Lưu Bị.
 
6. Với Tào Ngụy xưng thần, dốc toàn lực chống Thục.
Chẳng qua, điều khiến Tôn Quyền lo lắng nhất, vẫn là Tào Ngụy ở phương bắc, nếu như nhân cơ hội Ngô Thục đại chiến, Tào Phi sai một viên đại tướng dẫn quân xuống phía nam, vấn đề sẽ khá nghiêm trọng. Bởi thế, sau khi Gia Cát Cẩn hoà giải thất bại, Tôn Quyền vào tháng 8 năm đó liền sai sứ đến gặp Tào Phi dâng biểu xưng thần đầu hàng, đã khúm núm dâng biểu tấu, lại trao trả Vu Cấm bị Quan Vũ giam cầm ở Giang Lăng. Quần thần nước Ngụy đều nhân đó chúc mừng Tào Phi. Sự nghiệp mà Tào Tháo một đời không đạt được, cuối cùng được Tào Phi hoàn thành, về danh nghĩa Tào Ngụy đã thu phục được Giang Nam. Song Thị trung Lưu Diệp lại ngầm gặp Tào Phi, nói rằng Tôn Quyền vô cớ đầu hàng, ắt là nội bộ có nguy cơ khẩn cấp! Tôn Quyền năm trước tập kích giết chết Quan Vũ, Lưu Bị sớm muộn sẽ dẫn đại quân báo thù, bên ngoài bị áp lực, nội bộ ắt không ổn định, lại thêm lo lắng, chúng ta nhân cơ hội nam chinh, mới phải tạm thời giả vờ đầu hàng, hai là để biểu thị với Lưu Bị rằng ông ta với chúng ta là liên minh, khiến Lưu Bị sinh ra nghi ngò. Nay thiên hạ chia ba, Trung Quốc mười phần ta đã có tám, còn Ngô Thục mỗi phe giữ một châu, dựa vào núi non hiểm trở, cứu giúp lẫn nhau, đấy là lợi thế của nước nhỏ! Hiện tại họ lại đánh lẫn nhau, đấy là thiên mệnh báo trước sự suy vong vậy.
Chúng ta khá nhân cơ hội này dẫn một đội quân lớn vượt sông tập kích, Lưu Bị đánh ở ngoài, chúng ta đánh ở trong, Đông Ngô không quá mười ngày sẽ mất. Đông Ngô mất rồi, Thục Hán bị cô lập, ví như chúng ta chỉ giành được một nửa Đông Ngô thì họ cũng không tồn tại được lâu, huống chi chúng ta lại giành được vùng giàu có của Đông Ngô nữa!”.
Tào Phi nói: “Người ta đã chịu làm bầy tôi, mà lại đánh trộm họ, thì người ta sẽ nghi ngờ chúng ta; chẳng bằng trước hãy tiếp thu sự đầu hàng của Đông Ngô, lại nhân cơ hội mà đánh Lưu Bị, thì có lợi hơn”.
Lưu Diệp nói: “Nước Thục xa mà nước Ngô gần, huống chi Gia Cát Lượng vẫn trấn thủ ở Thành Đô, đã có chuẩn bị sẵn, nếu nghe chúng ta tấn công, nhất định họ sẽ rút quân về. Nay Lưu Bị đang điên đầu, nếu nghe nói chúng ta đánh Đông Ngô, ắt sẽ cao hứng tăng cường tấn công, yêu cầu chúng ta cùng chia Đông Ngô, bởi thế lập trường của chúng ta là đánh Ngô thì lợi mà đánh Thục thì bất lợi”.
Song Tào Phi cho rằng Đông Ngô chẳng dễ bị đánh bại như vậy, nếu không thành công, chẳng những sự thần phục về danh nghĩa chẳng có, hơn nữa lại trở thành cái cớ để thiên hạ chê cười, bởi thế cự tuyệt lời đề nghị của Lưu Diệp.
Hình Trinh đi sứ nước Ngô, các đại thần Đông Ngô thấy Tôn Quyền chỉ được phong Ngô Vương rất không vừa ý, đều đề nghị với Tôn Quyền nên tranh thủ chức Thượng tướng quân, cửu châu bá, nếu không thì không tiếp thu sự tấn phong của Tào Ngụy.
Thực ra Tôn Quyền về căn bản không chú trọng việc phong vương, ông ta xem đấy chỉ là một mưu kế quyền biến, chỉ cần Tào Phi không nhân cơ hội mà xuất binh, kể như đã đạt được mục đích. Bởi thế đã khuyên nhủ quần thần hãy tạm thời nhẫn nại, lại tự mình biểu thị sự khiêm tốn, còn đặc biệt ra tận ngoài thành nghênh tiếp Hình Trinh.
Hình Trinh thấy thế rất vui mừng, ngang nhiên vào thành cũng không thèm xuống xe. Trương Chiêu đứng bên cạnh thấy thế, lớn tiếng nói với Hình Trinh: “Phàm việc lễ không thể không kính, pháp luật không thể không theo, ông lại dám tự cao tự đại, há bởi Giang Nam nhược tiểu mà không có một tấc gươm sắt ư?”.
Hình Trinh thất kinh lập tức phải xuống xe.
Trung lang tướng Từ Thịnh thấy Hình Trinh lộng hành, rất bực tức nói với các tướng lĩnh xung quanh rằng: “Từ Thịnh với các vị chẳng phải đã dâng hiến sinh mệnh, để có được cả Hứa Đô, Lạc Dương, Ba Trung, Ích Châu, trái lại chúa công thoả hiệp với Hình Trinh thực là điều sỉ nhục”. Nói rồi khóc rống tại chỗ, Hình Trinh nghe thấy thế cũng phải nói với các thuộc hạ: “Tướng lĩnh của Giang Nam trung thành rắn rỏi như thế, Đông Ngô chẳng phải là đất ở lâu được”.
Sau khi nghe chuyện, Tào Phi cũng tạm thời vứt bỏ ý định dùng võ lực thôn tính Đông Ngô, Tôn Quyền cuối cùng dứt được một nửa mối lo, song tâm lý vẫn không ổn định. Bởi thế đặc biệt đến đài câu cá ở Vũ Xương, cử hành yến tiệc uống rượu quá chén cho thực say, lại gọi người tưới rượu lên các quần thần, thuộc hạ biết Tôn Quyền trong lòng đang phiền muộn cũng không tìm hiểu, chỉ có Trương Chiêu có biểu hiện gay gắt, rời khỏi bàn tiệc về ngồi trong xe của mình. Tôn Quyền lập tức cho mời ông ta lại và nói rằng chỉ là uống rượu mua vui mà thôi, ông hà tất phải giận giữ thực sự như thế.
Trương Chiêu nghiêm sắc mặt nói rằng: “Ngày xưa vua Trụ đã từng làm ra gò xôi ao rượu, cùng đùa vui với quần thần, làm vui thâu đêm, giờ đây mọi người cùng đều rất cao hứng, chẳng nghĩ đó là một tội ác ư!”.
Tôn Quyền đành lặng im, cho đình chỉ tiệc rượu, chấn chỉnh lại tinh thần.


7. Lấy nhu khắc cương, đóng trại luyện lính.
Lục Tốn tuy có ưu thế về binh lực, lại có địa lợi hiểm trở, song ông ta cho rằng lòng quân chưa thuần, bởi thế vẫn cẩn thận giữ Di Lăng, không muốn chủ động xuất kích.
Lúc ấy đang là mùa đông, Lưu Bị ở Tỉ Qui nửa năm, đến tháng 2 năm sau, vùng Hoa Trung vào lúc xuân ấm hoa nở, Lưu Bị dự định dẫn quân đánh vào Di Lăng của Đông Ngô.
Hoàng Quyền đang làm Trị trung tòng sự trong ban tham mưu, cố sức khuyên can rằng: “Người Đông Ngô rất có sở trường về thủy chiến, nếu quân ta cũng dựa vào đội thuyền xuôi dòng mà xuống, sợ sẽ dễ tiến mà khó rút vậy. Hai là để Hoàng Quyền này làm tiên phong, đến đối trận với bọn giặc cỏ Đông Ngô! Bệ hạ nên ngồi ở hậu phương chỉ huy, thống lĩnh đại cục”.
Lưu Bị bởi muôn quán xuyến hết, nóng vội nghĩ đến đối trận với Tôn Quyền nên không nghe, lại lệnh cho Hoàng Quyền làm Trấn bắc tướng quân, đôn đốc đạo quân ở Giang Bắc, tự mình theo Trường Giang xuôi dòng, tiến sát Di Lăng.
Lục Tốn thấy Lưu Bị đang hăng hái, khí thế hùng dũng, không muốn cứng rắn đối đầu tạo thành thương vong không cần thiết, bèn hạ lệnh cho tiền quân vứt bỏ Di Lăng, rút về Hồ Đình củng cố phòng tuyến, tự mình thì đặt sở chỉ huy ở Di Đạo phía nam Trường Giang, tạm dùng sách lược cậy hiểm cố thủ.
Lưu Bị thấy Lục Tốn rút quân, bèn nhân đó chiếm Di Lăng, đặt sở chỉ huy tiền tuyến, lại chia quân làm hai đường, cánh trái do Phùng Tập chỉ huy, vượt qua vị trí Hồ Đình của Đông Ngô, bầy trận ở bờ bắc Di Đạo, Lục Tốn thấy quân chủ lực của Lưu Bị ở Giang Bắc, lại cũng tự mình đóng trại ở bờ bắc với quân tiên phong của Lưu Bị đối trận.
Cánh phải quân Lưu Bị vượt sông ở Hồ Đình, đánh vào trại chính của Đông Ngô ở Di Đạo, Lục Tốn phái quân dự bị của Tôn Hoàn giữ Di Đạo. Bởi binh lực rất ít, bị Ngô Ban dẫn quân cánh phải của Lưu Bị giữ chân ở đấy, quân hậu bị của Lưu Bị đóng ở Tỉ Qui, còn quân tùy tùng đóng ở phía tây Vu Huyện. Quân tiên phong của Lưu Bị đã áp sát Hồ Đình và vùng Di Đạo, đóng trại kéo dài đến sáu, bảy trăm dặm, về vận chuyển và thông tin đều hoàn toàn dựa vào sông Trường Giang cả.
Bởi quân Thục phân tán, các tướng lĩnh Đông Ngô đều chủ trương mau chóng phản kích, Lục Tốn lại cho rằng: “Lưu Bị dẫn quân đông chinh, khí thế đang mạnh, hơn nữa địa thế phía tây khá cao, ngửa mặt mà đánh không dễ, nếu muốn đánh bại được họ, sợ cũng phải trả giá lớn, nhỡ bị thất bại, như vậy sẽ làm khí thế quân ta bị tổn thất nghiêm trọng. Bởi thế trước mắt nên cẩn thận giữ trận địa, khích lệ binh sĩ, lấy quân nhàn đợi kẻ địch mỏi mệt, chờ tình hình biến đổi.
Lại nữa, nếu như ở đây đều là bình nguyên, chúng ta có thể dựa vào ưu thế đông người mà triển khai quyết chiến. Song từ Di Lăng đến Di Đạo, đều là núi cao vực sâu, hành quân không dễ, ưu thế về binh lực khó thi thố. Về chiến thuật mà nói trước nên đứng vững để cố thủ, đợi quân địch suy yếu mới là thích hợp”.
Các lão tướng Từ Thịnh, Phan Chương, Hàn Đương cùng cho rằng Lục Tốn sợ giao chiến, đều rất không vừa lòng, song Lục Tốn lại cố ý làm ra mắt nhắm mắt mở, giả vờ không biết.
Hai bên giằng co từ tháng 2 tới tháng 6, đến một trận đánh nhỏ cũng chưa xảy ra. Đối với việc không giao chiến của Lục Tốn , Lưu Bị cũng vô kế khả thi, chỉ biết lệnh cho Phùng Tập làm Đại đô đốc, Trương Nam làm Tiền bộ đô đốc nắm quân tình ở vùng Di Đạo, còn tự mình đến đóng ở khoảng giữa Tỉ Qui và Hồ Đình đế chỉ huy toàn cục.
Trung lang tướng Tôn Hoàn, bị Ngô Ban bao vây dày đặc, từ Di Đạo báo tin khẩn cấp cho Lục Tốn , Lục Tốn lại ra lệnh phải cố thủ, dứt khoát cự tuyệt việc mang quân đến cứu trợ.
Từ Thịnh đang ở đấy đề nghị rằng “Tướng quân Tôn Hoàn là họ nhà vua, dứt khoát không thể để bị bắt, nay đang nguy khốn sao lại không đi cứu ông ta nhỉ?”.
Lục Tốn nói: “Tôn Hoàn vẫn được lòng binh sĩ thành Di Đạo vốn là đại bản doanh của chúng ta, thành vững mà lương thực đủ, chẳng có gì đáng lo. Đợi kế hoạch của ta phát động, ví như không đi cứu họ, tự nhiên cũng được giải vây”.
Từ Thịnh tuy không phục, song đang ở tiền tuyến, quân lệnh như sơn, cũng chẳng thể nói gì hơn.
Các tướng lĩnh trong trại Đông Ngô, cho rằng về số người đã chiếm ưu thế, nóng nẩy muốn đánh thắng nhanh, song Lục Tốn lại kiên trì chiến thuật kéo dài tránh mũi nhọn của quân địch. Những tướng lĩnh ở đây có người là lão tướng thê hệ thứ nhất của Tôn Sách, như Hàn Đương. Không ít người là danh tướng thê hệ thứ hai như Từ Thịnh, Phan Chương, cũng có người là vương thân quốc thích như Chu Nhiên, Tôn Hoàn, đối với vị thống soái trẻ tuổi thực ra thì mỗi người một ý chẳng chịu nghe theo, đặc biệt lại còn nói bóng nói gió, ảnh hưởng lòng quân không ít.
Ban tham mưu đề nghị với Lục Tốn phản ánh với Tôn Quyền, song Lục Tốn không nghe theo. Để duy trì kỷ luật trong quân, Lục Tốn triệu tập hội nghị các tướng lĩnh, tuốt kiếm tại chỗ mà nói: “Lưu Bị là anh hùng nổi tiếng trong thiên hạ, đến cả Tào Tháo cũng phải nhường nhịn ông ta vài phần, nay ông ta dẫn đại quân đến đáy, là kẻ địch mạnh chẳng thể xem thường. Các vị tướng quân đều có nhiệm vụ của mình, ắt nên phối hợp với ta, há lại chối từ? Quân lệnh như sơn, chẩng thể sai phạm!”. Lục Tổn nói như vậy, trong mềm có cứng, lời lẽ có hợp lý, các tướng lĩnh cũng không thể xem thường. Nếu không vị thống soái đang nắm quân lệnh nhỡ ra trở mặt, thì tuổi tác và địa vị cao của các tướng lĩnh cũng chẳng đáng kể gì. Thôi thì chỉ biết tạm thời để suy nghĩ trong lòng, y theo quân lệnh mà làm tròn phần việc của mình.
Kéo dài như vậy, lại làm cho Lưu Bị phải bận tâm suy nghĩ, quân viễn chinh vào sâu, vận chuyển khó khăn tuy thuận theo dòng Trường Giang mà xuống, giảm được không ít nhân lực vật lực, song cứ tổn hao như thế, sự trang trải của Thục Hán ắt nảy sinh vấn đề. Bởi thế ông ta chẳng thể chờ đợi mãi.
Để sớm kết thúc đối đầu, Lưu Bị hạ lệnh Ngô Ban bao vây Di Đạo, dẫn một số quân vượt sang bờ bắc, từ hai phía nam bắc đánh vào hậu phương của Lục Tốn. Các tướng Đông Ngô thấy Ngô Ban ít quân, đều rõ là hành vi khiêu khích, cùng chủ trương mở trại để giao chiến. Song Lục Tốn nói rằng: “Đấy là kế xảo trá, nếu các vị không tin, cứ đợi mấy ngày sẽ rõ”.
Quả nhiên Lưu Bị thấy kế ấy không nghiệm, hạ lệnh cho Ngô Ban rút về bờ nam, tám nghìn binh sĩ mai phục ở trong khe núi cuối cùng cũng lộ rõ, cùng theo về bờ nam. Lục Tốn đứng ở trên thành chỉ tay nói: “Sở dĩ không lệnh cho các ông đuổi đánh bọn Ngô Ban, cũng là bởi bọn phục binh này!”.
Lưu Bị thấy Lục Tốn kiên trì đối đầu, bèn hạ lệnh cho thủy quân rút cả lên bờ, bỏ thuyền lên bộ, kết trại liên tiếp.
Đến cuối tháng 6, Lục Tốn thấy quân đông chinh của Lưu Bị đã dần dần mỏi mệt, nhiệt tình phục thù rửa hận đã mất, bèn ngầm dâng lên một bức mật thư cho Tôn Quyền đang đóng trại ở Vũ Xương. Trong thư viết:
Di Lăng tuy là vị trí quân sự quan trọng của quốc gia, song gần với cửa khẩu Tam Hiệp, thời dễ đánh mà khó giữ, để bảo toàn quân lực, vứt bỏ Di Lăng là mang tính sách lược tuyệt đối chẳng phải thực sự sợ hãi áp lực của Lưu Bị vậy!
Nay Lưu Bị làm trái lẽ thường, không cậy hiểm mà giữ, lại nóng nẩy muốn giao chiến là ông ta tự tìm lấy cái chết. Thần tuy bất tài, phụng thờ uy linh của chúa công, thuận thời mà trừ nghịch tặc, sắp tới sẽ đánh bại quân Lưu Bị, xin chớ lo lắng. Thần lúc đầu lo lắng là bởi Lưu Bị có nhiệt tình báo thù rửa hận, quân thủy bộ cùng tiến, gây áp lực khá lớn cho chúng ta, nay lại bỏ thuyền lên bộ, kết trại liên tiếp, lại tự mình rơi vào định hình, cảnh tượng thất bại của Lưu Bị đã hiện rõ. Ngô Vương có thể kê cao gối nằm mà đợi tin thắng trận vậy!
Cuộc đối kháng Thục Ngô giằng co nửa năm, cuối cùng bởi sự chủ động xuất kích của Lục Tốn , rất mau chóng triển khai cuộc quyết chiến lần đầu mà cũng là lần sau cùng.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Việc binh chẳng lành vậy, đã rằng nước tuy lớn, hiếu chiến ắt suy vong, đã chỉ rõ trí tuệ cao nhất của các nhà binh pháp là ở chỗ biết dừng cuộc chiến, thậm chí không giao chiến, nên Tôn Tử lấy không chiến đấu mà thắng được người là chỗ tinh túy của kẻ thiện chiến vậy. Úy Lạo Tử, một nhà binh pháp theo chủ nghĩa thực dụng nổi tiếng bởi câu nói “việc quan không gì bằng việc nhân sự”, trong thiên “binh đàm”, đã đề cập cụ thể phép tắc cơ bản về chiến tranh và dùng binh. Ông ta nói: “Khởi binh chẳng thể bởi giận dữ, thấy thắng thì đẩy mạnh, thấy không thắng thì dừng lại; tai họa ở trong trăm dặm, không khởi binh quá một ngày; tai họa ở trong nghìn dặm, không khởi binh quá một tháng; tai họa ở trong bốn biển, không khởi binh quá một năm”.
Nói cách khách, chiến tranh là đại sự của quốc gia, không nên hành động theo cảm tính, phải lấy lý tính mà phán đoán, chỉ khi nào tuyệt đối cần thiết mới phát động chiến tranh. Có nắm chắc phần thắng thì mới duy trì chiến sự, nếu không nắm chắc phần thắng thì nên đình chỉ.
Hơn nữa chiến tranh cần đánh nhanh thắng nhanh, chẳng thể kéo dài việc chiến sự, trong vòng trăm dặm, nên mau chóng bình định trong vòng một ngày. Khi tình huống phát sinh xa xôi nghìn dặm, chẳng thể kéo dài quá một tháng, khi tình huống phát sinh ờ nơi biên cương xa xôi, chiến sự cũng chẳng thể kéo dài quá một năm vậy.
Quân đông chinh phục thù của Lưu Bị, cơ hồ đã phạm phải sai lầm với những điều mà Úy Lạo Tử chỉ ra, cho nên từ lúc cuộc chiến tranh chưa bắt đầu đã mất đi viên tướng của quân đoàn quan trọng là Trương Phi. Trương Phi chưa xuất quân mà thân đã mất, bản thân bởi tức giận mà xuất quân, trong công việc chuẩn bị chiến tranh bận rộn và khẩn trương, do vẫn nóng giận, thậm chí có chỗ vô cớ huyên náo, bộc lộ tình cảm quá mức, cuối cùng uy hiếp nghiêm trọng đến sinh mệnh của kẻ dưới mà bị đối phương sát hại; khiến cuộc chiến tranh còn chưa bắt đầu đã bị một bóng đen nặng nề bao phủ.
Trước khó khăn như thế Lưu Bị vẫn giữ ý chí báo thù, miễn cưỡng xuất thân, về kế hoạch và chuẩn bị đều làm chưa đầy đủ. Trong khi đó ở chiến tuyến phía tây của Đông Ngô, bởi Lã Mông mới từ trần mà chưa ổn định, những tác động quân sự lúc đầu vẫn có thể chiếm được ưu thế. Song khi đến Đông Ngô gặp phải đội quân do Lục Tốn chỉ huy, sự tấn công của Lưu Bị cũng lập tức bị trở ngại.
Chính sách cố thủ chiến đấu của Lục Tốn khiến hành động viễn chinh của Lưu Bị rơi vào đông cứng. Song Lưu Bị vẫn chưa có thể kịp thời phản tỉnh, tu bổ lại qui hoạch chỉnh thể, trái lại bởi vấn đề “tâm tính “thể diện”, khiến đạo quân to lớn đình trệ bất động, thậm chí rời thuyền lên bờ, lại dự định trường kỳ đối trận. Đối với một đội quân viễn chinh như vậy là rất bất lợi, huống chi về qui hoạch chung Lưu Bị chưa có suy nghĩ tường tận, tự nhiên đẩy mình vào cạm bẫy rất nguy hiểm.
Rõ ràng những nhà kinh doanh nói chung cũng thường rơi vào cạm bẫy như vậy, không muốn hao phí thời gian, chấp nhận vất vả, khiến kinh doanh dần dần đi vào quĩ đạo, chỉ muốn một bước thành công. Bởi thế nghĩ thì nhiều, làm thì ít, thực tế trong việc làm ra sản phẩm mới, hoạt động quảng cáo hao phí nhân lực, vật lực, giống như một cuộc chiến tranh không ngừng, chính phủ thời chiến chưa được thừa nhận.
Chế độ hoá, binh thường hoá, lợi nhuận chân chính, thường sản sinh ở chỗ người khác nhìn không thấy, chế độ phải đi kèm với sự nỗ lực không ngừng, đổ mồ hôi xương máu, thậm chí còn phải đầu tư tiền tài vật lực, mới có thể dần dần thành hiện thực. Nếu sản phẩm mới kế hoạch mới, đều cứ sản sinh tự nhiên như cũ, mà không ra sức cải tiến, thì sản phẩm làm ra số phận không biết thế nào mà nói. Luận điểm thắng địch đầu tiên ở hậu phương của binh pháp Tôn Tử, đã đề cập đến công phu chuẩn bị chu đáo. Nếu chỉ biết cầu may mắn, một bước thành công, chỉ có thể làm một kẻ bại trận ảo tưởng mà thôi.
Then chốt của sự thắng bại, nói là rất dễ hiểu, chỉ là mộng tưởng của những nhà kình doanh dễ gặp may, thiếu hiểu biết điều kiện của mình và đánh mất mình.
 
0
«« « 1 2 » »»