Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Khổng Minh Gia Cát Lượng đại truyện 🔒

52 trả lời, 4.959 lượt xem — Trang 2 / 2
Chương XV
SỨ MỆNH PHỤ CHÁNH
 
Lưu Bị nhìn chăm chăm vào Gia Cát Lượng, dặn dò than thở rằng:
“Ông mới gấp mười Tào Phi, ắt sẽ giữ yên được nước, định được đại sự, nếu có thể giúp được ấu chúa thì giúp, nếu thấy nó bất tài, ông hãy tự mình thay thế”.
 
l. Lục Tốn phản công, Lưu Bị đại bại
Một người là lão tướng xa trường từng trải trăm trận, kinh nghiệm phong phú, song rất ít thành công;
Một người là thống soái thư sinh bước ra từ lều cỏ, sở trường lập kế hoạch, song trưởng thành từ tuổi trẻ, chưa trải qua thất bại;
Một người lòng đầy phẫn nộ, tình cảm xao động quyết tâm trả thù;
Một người mưu lược đầu óc bình tĩnh, có suy nghĩ lý tính.
Hai lực lượng này từ tháng 7 năm Hoàng Sơ thứ hai đến tháng 6 năm Hoàng Sơ thứ ba, từ chuẩn bị điều động đến đối trận kéo dài suốt một năm, riêng thời gian giáp trận, cũng kéo dài đến 6, 7 tháng. Tháng 6 nhuận, Lục Tốn rất kiên trì giữ thành, đợi thời cơ chín muồi mới quyết định chủ động phản kích.
Từ Thịnh là tướng lĩnh mà lại khờ khạo, cho rằng “Muốn đánh Lưu Bị thì khi ông ta mới đến Hồ Đình, trận địa chưa ổn định mới là đúng, nay ông ta đã lập trại vững chắc suốt sáu, bảy trăm dặm, đã được 7, 8 tháng, và bố trí binh lực hoàn thiện ở các nơi xung yếu, có đánh ắt sẽ bất lợi vậy”.
Lục Tốn cười mà rằng: “Lưu Bị có kinh nghiệm tác chiến phong phú, hơn nữa lần này lại có chuẩn bị mà đến. Khi họ mới tập kết, suy nghĩ ắt khá chu đáo, có đánh họ cũng rất bất lợi, nay họ đóng đồn đã lâu, lại không có được thuận lợi gì, tướng không lập công, quân thì mỏi mệt, lại không vạch được kế hoạch gì, nghĩ rằng thời cơ đánh được họ chính là lúc này”.
Thế rồi phái đạo quân Chu Nhiên đến tấn công mặt trước doanh trại Lưu Bị, song phải lập tức rút quân ngay về vì bất lợi.
Từ Thịnh nói mát rằng: “Đấy chẳng phải là hiển nhiên tổn thất không ít binh sĩ?”.
Lục Tốn lại rất tự tin mà rằng: “Ta đã biết phải làm gì để đánh bại đại quân của Lưu Bị rồi”.
Tháng 6 nhuận, vùng Hoa Trung gió mùa đông nam rất mạnh, Lục Tốn hạ lệnh cho đại quân Chu Nhiên theo đường thủy ngược dòng mà lên, trực tiếp đánh vào đại bản doanh của Lưu Bị ở Hồ Đình, trên thuyền chứa nhiều cỏ khô và đồ dẫn lửa, dự định sẽ đánh hoả công. Hàn Đương và Phan Chương đi vòng đưòng bên phải tiến sâu vào Trác Hương hai trăm dặm dự định chặt đứt đường rút của đội tiên phong Lưu Bị. Từ Thịnh và Tống Khiêm sẽ đánh vào Di Đạo, giải vây cho Tôn Hoàn, sau sẽ hợp với quân Tôn Hoàn từ Nam Ngạn đánh thẳng vào doanh trại Di Lăng. Nếu tất cả thuận lợi, sẽ vượt sông ở Trác Hương hợp quân với Hàn Đương theo hướng tây đuổi đánh Lưu Bị đên tận Tỉ Qui. Các đội quân mang theo cỏ khô và đồ dẫn lửa, khi đánh vào trại Thục thuận theo chiều gió mà nổi lửa, quân Thục từ Hồ Đình đến Tỉ Qui có 40 trại, chỉ thiêu 20 trại giãn cách mà đốt để tiết kiệm nhân lực và vật lực, chỉ cần tạo ra sự hỗn loạn trong quân Thục là được. Các đạo quân mang theo lương khô, không được nghỉ ngơi và tạm rút, sớm tối truy kích, quân Thục ắt sẽ chạy đến cửa Tam Hiệp, đương nhiên nếu bắt sống được Lưu Bị, được xem là công lớn nhất.
Đối với việc động binh nhanh chóng của quân Đông Ngô, quân sĩ tiền tiêu của Lưu Bị tự nhiên đã phát giác ra. Song do mấy ngày trước đó, từng xảy ra mấy trận đánh ở trước doanh trại, quân Thục cho rằng quân Đông Ngô binh lực không mạnh, bởi thế ngoài việc mau chóng báo cáo với Lưu Bị, đợi chỉ thị, đều chưa có sự ứng biến khẩn cấp nào.
Quả nhiên đúng như Lục Tốn dự liệu, Lưu Bị ở Trại Hồ Đình tiếp tục được báo cáo, lập tức hạ lệnh cho Phùng Tập, Trương Nam vội nghênh chiến, lại thông báo cho Ngô Ban vượt sông lên phía bắc, tự phía nam đánh vào quân chủ lực của Lục Tốn. Lưu Bị lúc đó chẳng ngờ Lục Tốn không kéo quân đến trước Phùng Tập và Trương Nam, mà từ đường thủy đi vòng đánh vào đại bản doanh ở Hồ Đình. Bởi thế sau khi đã sắp đặt đâu đấy, Lưu Bị vẫn ở tại sở chỉ huy chờ đợi tập hợp tin tình báo để bố trí hành động tiếp theo.
Khoảng nửa đêm gần sáng, quân tiêu binh trên bờ phát hiện rất nhiều thuyền Đông Ngô ngược dòng mà lên đánh vào đại bản doanh Hồ Đình. Lưu Bị cả sợ lập tức hạ lệnh toàn doanh trại chuẩn bị chiến đấu. Lúc đó gió đông nam thổi mạnh, Chu Nhiên ở trên thuyền phát động hoả công, doanh trại Lưu Bị lập tức bốc lửa. Lúc ấy đang là mùa hạ, doanh trại Lưu Bị phần nhiều ở bên rừng cây để tránh nóng. Lửa làm cháy cây, doanh trại Hồ Đình lập tức rơi vào biển lửa. Quân Thục trong lúc hoảng loạn, tự giẫm đạp lên nhau mà chạy, chết không biết bao nhiêu mà kể.
Quan tế tửu Trình Kỳ thấy đại thế đã mất, lập tức hộ tống Lưu Bị chạy về phía tây, lại thông báo cho các trại đến để hộ giá.
Phùng Tập và Trương Nam đang ở tiền tiêu, nghe nói đại bản doanh có biến, lập tức mặc kệ quân chủ lực của Lục Tốn , rút về phía tây, đến cứu viện cho Lưu Bị.
Ngô Ban mới vừa vượt qua sông Trường Giang, chuẩn bị tập kích Lục Tốn ở bờ bắc; lại chỉ thấy trống rỗng, biết có chuyện không hay, lập tức hạ lệnh rút về phía tây. Không lâu lại thấy các trại Thục bên bờ sông bốc lửa; Ngô Ban không nghĩ đến việc ở Di Đạo, chỉ biết khẩn cấp đến Hồ Đình chi viện.
Quân Thục đang bao vây Di Đạo, chẳng hề có chuẩn bị, lại bị Từ Thịnh, Tống Khiêm từ phía sau tập kích, Tôn Hoàn nhân cơ hội giáp công, cơ hồ toàn quân tan tác, số đầu hàng không biết bao nhiêu mà kể.
Quân Chu Nhiên chưa lên bờ, trực tiếp theo đường thủy tiến đánh Trác Hương, chuẩn bị phối hợp với Hàn Đương, Phan Chương cắt đứt đường rút của Lưu Bị.
Từ lúc trời sắp sáng, sức gió rất lớn càng giúp lửa bốc cao, khắp Hồ Đình đến Di Lăng, các trại đều bốc lửa, Lưu Bị chỉ biết vượt qua Di Lăng, chuẩn bị rút về thành Tỉ Qui để phòng ngự.
Song lúc đó Hàn Đương, Phan Chương đã đi vòng phía bắc chiếm được Trác Hương, hoàn toàn cắt đứt đường rút của quân Thục. Quân Từ Thịnh, Tống Khiêm, Tôn Hoàn từ Di Đạo kéo về phối hợp với quân chủ lực của Lục Tốn từ phía đông tiến công lên. Quân Chu Nhiên theo đường thủy giáp công, trước mặt quân Hàn Đương lại bày ra tường đóng vách sắt để ngăn cản. Phùng Tập, Trương Nam, Ngô Ban đều đã hợp quân lại trong lúc hoảng loạn đại bộ phận binh lực đều tan tác. Ngô Ban tự nguyện dẫn đội cảm tử đánh thẳng vào quân Hàn Đương, toan mở một con đường máu. Phùng Tập chặn hậu, Trương Nam thì hộ tống Lưu Bị, rút chạy về Mã Yên Sơn ở phía đông bắc Trác Hương.
Ngô Ban liều chết một mình một ngựa, đột phá tuyến phòng ngự của Hàn Đương, song quân Phan Chương lập tức lấp lỗ trống khiến quân Thục của ông ta chẳng thể vượt qua. Ngô Ban muốn quay đầu lại để hộ tống Lưu Bị song quân lực ít, căn bản không đủ sức giao chiến chỉ dẫn theo tàn quân, vượt qua thành Tỉ Qui, đến thẳng Giang Châu để báo với Triệu Vân đến chi viện.
Quân chặn hậu của Phùng Tập quay lại đánh dữ, để Lưu Bị tranh thủ có thời gian rút chạy. Chẳng bao lâu, bên mình chỉ còn lại vài chục kỵ binh, lại gặp quân Từ Thịnh, Phùng Tập thét to một tiếng, một ngựa xung sát, lập tức bị chém nhừ như tương.
Trương Nam cùng phó tướng là Phó Đồng, hộ tống Lưu Bị và Trình Kỳ cùng tùy tùng chạy về Mã Yên Sơn, Từ Thịnh, Tống Khiêm, Chu Nhiên đuổi gấp phía sau, Phó Đồng, Trình Kỳ đều bị lạc cả. Trương Nam thấy đại thế đã mất, dặn dò ngự lâm quân hộ tống Lưu Bị rút trước, tự mình dẫn tàn dư đội quân thứ ba quay lại đánh quân Ngô. Từ Thịnh tuy dốc toàn lực tấn công, song Trương Nam cương quyết không lùi, vẫn cố gắng cầm giữ để Lưu Bị an toàn rút về trong núi, tàn quân của Trương Nam cũng tan tác cả, bản thân Trương Nam cũng chết trong đám loạn quân.
Phó Đồng bảo vệ Trình Kỳ rút đến bờ sông, nghe nói Lưu Bị rút về Mã Yên Sơn, Trình Kỳ bèn đốc thúc Phó Đồng lập tức phá vây, đến đó chi viện. Tự mình với các viên tham mưu dẫn tàn quân ở bên sông, đợi quân Đông Ngô đến, chẳng bao lâu đều bị giết cả, Trình Kỳ không muốn bị bắt, tự sát mà chết.
Hồ Vương Sa Ma Kha dẫn quân dự bị đến đóng ở Tỉ Qui trước đó, nghe tin tiền tuyến thua trận, lập tức dẫn quân chi viện gặp ngay Hàn Đương, Phan Chương đánh đến, Sa Ma Kha không địch nổi chết trong đám loạn quân.
Giang Bắc đốc quân Hoàng Quyền nghe có biến cũng dẫn quân xuống phía nam, hăng hái phản kích quân chủ lực của Lục Tốn, song quân lực rất ít bị đánh tả tơi, Hoàng Quyền chỉ biết quay đầu rút chạy, nhìn thấy phía nam đã bị quân Ngô hoàn toàn cắt đứt, chẳng có cách nào rút về Thục Trung, Hoàng Quyền chỉ biết vọng về phía trại của Lưu Bị mà quỳ lạy, dẫn quân ngược phía bắc theo về với Tào Ngụy.
Tàn quân của Lưu Bị sau khi rút về Mã Yên Sơn lập tức phòng bị quanh núi, không lâu lại thấy Phó Đồng đến phối hợp mới thấy yên tâm.
Lục Tốn dẫn quân đến bao vây Mã Yên Sơn, quân Thục liều chết kháng cự, chiến đấu ác liệt hơn một ngày, quân Thục bị chết rất nhiều, Phó Đồng khuyên Lưu Bị đột phá vòng vây. Lưu Bị cũng lo lắng quân Thục tan tác cả, bèn nhân đêm tối mà thoát khỏi vòng vây, bởi thành Tỉ Qui đã mất, Lưu Bị chỉ biết tiếp tục chạy về phía tây vượt qua Vu Huyện, chạy thẳng đến thành Bạch Đế.
Phó Đồng chận hậu, thiêu hủy các xe quân nhu trên đường để làm vật cản, ngăn chặn truy binh vừa đánh vừa chạy, ở vùng gần Tỉ Qui, bị Từ Thịnh, Chu Nhiên đuổi kịp, Phó Đồng bị bao vây trùng trùng không thoát nổi. Từ Thịnh tiếc là người trung dũng, đã gọi hàng, song Phó Đồng cắn chặt hàm răng thúc ngựa tiếp tục chiến đấu, cuối cùng kiệt sức chết trong đám loạn quân.


2. Lấy đại cục làm trọng Lục Tốn rút đại quân.
Lưu Bị sau khi rút về thành Bạch Đế, không khỏi than thở rằng: “Chẳng ngờ ta đại bại gã Lục Tốn trẻ tuổi, há chẳng phải là mệnh trời ư!”
Hình như những con sóng Trường Giang cũng truyền lan lời than này.
Lần này số quân của Lưu Bị tổn thất hơn một vạn người, còn những chiến thuyền, khí giới, xe cộ, quân nhu mang theo, cơ hồ đều bị mất cả. Chỉ có quân sĩ của nha môn tướng Hướng Sủng, vẫn duy trì được kỷ luật trong lúc hoảng loạn, chẳng mất một người, đều rút về thành Bạch Đế, trở thành quân cận vệ lâm thời của Lưu Bị, tăng cường việc phòng ngự, khiến Lưu Bị cũng được nghỉ ngơi một chút. Đây là câu chuyện mà sau này Gia Cát Lượng trong Xuất Sư Biểu có nhắc đến: “Tướng quân Hướng Sủng, tính hạnh thuần thục, hiểu rõ việc quân, đã thấy ở việc cũ, từng được tiên đế khen ngợi”.
Triệu Vân đang ở Giang Châu được Ngô Ban báo tin khẩn cấp, lập tức hạ lệnh cho toàn quân sẵn sàng chiến đấu, lại cho sứ giả vội báo tin cho Gia Cát Lượng ở Thành Đô. Tự mình dẫn một số quân, đến thẳng tiền tuyến xem xét quân tình. Nghe nói Lưu Bị đã rút về thành Bạch Đế, Triệu Vân lập tức hạ lệnh cho quân sĩ đóng ở Vu Huyện, dựa vào hiểm trở mà cố thủ để ngăn cản quân Đông Ngô truy đuổi.
Được quân Triệu Vân bảo vệ, Lưu Bị đã có thể hoàn toàn yên tâm, thế rồi ông ta đổi Ngư Phúc thành đất Vĩnh An, tĩnh dưỡng ở đấy, tạm thời không về Thành Đô, việc phòng vệ chiến tuyến phía đông giao cho Triệu Vân phụ trách.
Trong suốt chiến dịch, quân Triệu Vân chưa vượt quá Vu Huyện, quân Lục Tốn cũng chưa vượt qua phòng tuyến này. Tam quốc diễn nghĩa đã miêu tả Triệu Vân đến hộ giá ở Mã Yên Sơn, một ngựa đẩy lùi quân Lục Tốn , cùng câu chuyện Lục Tốn dẫn quân truy đuổi bị mắc vào “Bát trận đồ”, hiển nhiên đểu là những tình tiết hư cấu khoa trương của nhà viết tiểu thuyết mà thôi.
Khi Lưu Bị đã rút về thành Bạch Đế, thì các tướng lĩnh Từ Thịnh, Phan Chương đều rối rít dâng biểu lên Tôn Quyền, chủ trương nhân cơ hội này tấn công thành Bạch Đế, ắt sẽ bắt sống được Lưu Bị, đánh bại quân Triệu Vân.
Tôn Quyền hỏi ý kiến Lục Tốn, Lục Tốn cùng với Chu Nhiên đều nói rằng: “Theo tin do thám phương bắc cho thấy, Tào Phi đang có sắp xếp lớn về quân đội, ngoài mặt nói là giúp chúng ta đánh Lưu Bị, thực ra là muốn tìm cơ hội đánh vào chiến tuyến phía đông của chúng ta, bởi thế cần lấy đại cục làm trọng, nên kết thúc chiến tuyến phía tây, để tăng cưòng việc bố trí quốc phòng”.
Tôn Quyền thấy thái độ cương quyết của Lục Tốn, hơn nữa lại tập hợp đầy đủ tin tình báo, suy xét mọi mặt, bèn hạ lệnh toàn diện rút quân...


3. Gia Cát Lượng và trách nhiệm trước cuộc chiến vừa qua.
Tam quốc diễn nghĩa có dẫn câu thơ của Đỗ Phủ cảm khái về Bát trận đồ của Gia Cát Lượng: “Công trùm cả ba nước, danh thơm Bát trận đồ, sông trôi đá chẳng chuyển, hận chẳng nuốt xong Ngô”. La Quán Trung đã miêu tả Lục Tốn đuổi đánh Lưu Bị đến Vu Huyện, lại bị Gia Cát Lượng mai phục sẵn, nhạc phụ của Gia Cát Lượng là Hoàng Thừa Ngạn cứu giúp mới có thể thoát được nguy hiểm. Hoàng Thừa Ngạn lại hình dung Bát trận đồ “Biến hoá vô cùng chẳng thể học được”, tô vẽ như chuyện thần tiên khiến người đời sau kinh ngạc không thôi.
Thực ra Bát trận đồ chỉ là sa bàn đóng quân mà Gia Cát Lượng bày ra mà thôi, chẳng phải đặc biệt thần bí, hồi sau xin bàn thêm.
Song thánh thơ Đỗ Phủ sinh ở đời Đường làm sao lại có câu thơ cảm thán như thế? Có thể ở đời Đường, dân gian đã có câu chuyện lưu truyền như thế. La Quán Trung sau này viết tiểu thuyết, cụng là căn cứ vào câu chuyện mà Đỗ Phủ đã kể mà thôi.
Song, Tô Đông Pha đời Tống, khi nói về bài thơ ấy, lại chỉ ra rằng, bài thơ ấy của Đỗ Phủ cảm thán Gia Cát Lượng chưa có thể ngăn cản cuộc chiến tranh của Lưu Bị muốn thôn tính nước Ngô, tạo thành sự đại bại sau này, để hận suốt đời (theo Đông Pha chí lâm). Tuy Đông Pha lấy quan điểm sử học để giải thích thơ Đỗ Phủ, song từ việc này có thể thấy, ở đời Đường đối với di tích Bát trận đồ đã có những truyền thuyết thần bí.
Thực ra Lục Tốn chưa từng đuổi đánh Lưu Bị đến Vu Huyện, càng không thể bị nguy khốn ở Bát trận đồ. Lục Tốn sau khi về nước, được phong làm Phụ quốc tướng quân, chức Kinh Châu mục, sau lại phong làm Giang Lăng hầu.
Cuốn “Thư trị thông giám” có chép việc tự kiểm điểm của Gia Cát Lượng với vấn đề này:
Đầu tiên, Gia Cát Lượng và Thượng thư Pháp Chính, ý kiến về chính trị thường có chỗ bất đồng, song kỳ mưu trí thuật của Pháp Chính, lại rất làm cho Gia Cát Lượng ngưỡng mộ. Pháp Chính mất vào năm thứ hai, Lưu Bị xưng là Hán Trung Vương, song sau khi tin Lưu Bị thua trận truyền về Thành Đô, Gia Cát Lượng vẫn than rằng: “Pháp Chính nếu còn, ắt có thể ngăn cản chúa thượng đông chinh, kể như chúa thượng vẫn kiên trì đông chinh, có ông ta giúp đỡ kế sách, cũng không thể dẫn đến thất bại hôm nay”.
Pháp Chính từng nêu kế sách đưa Lưu Bị vào Thục, tự mình làm nội ứng, Lưu Bị có được Tứ Xuyên, ông ta với Trương Tùng đã mất có công rất lớn. Sau này Pháp Chính làm Tổng tham mưu trưởng, giúp đỡ Lưu Bị lấy được Hán Trung, trong doanh trại của Lưu Bị, ông ta vẫn được gọi là chủ mưu, các kế hoạch kỳ lạ của ông, rất được Lưu Bị tín nhiệm. Bởi thế nếu như ông vẫn còn khoẻ, có thế nghĩ ra biện pháp tốt để ngăn cản Lưu Bị xuất binh.
Nói một cách nghiêm chỉnh về việc Lưu Bị đông chinh, Gia Cát Lượng đang làm thừa tướng, tuy không tán thành song chưa cực lực phản đối. Triệu Vân và Tần Mật đều đã phản đối mạnh mẽ, Gia Cát Lượng là người bầy tôi đứng đầu lại chưa từng có lời nào. Ngoại trừ việc ông ta rất hiểu rõ Lưu Bị, biết có khuyên nhủ cũng chẳng có tác dụng, từ lời cảm than với Pháp Chính thì thấy ở sự kiện này, cũng có sai lầm về phán đoán.
Trong Long Trung Sách, Gia Cát Lượng sớm đã xác định quốc sách cơ bản là “Liên Ngô kháng Tào”, song kế sách trọng yếu lại là nắm hai châu lớn Kinh, Ích, để làm cơ sở bắc phạt Trung Nguyên sau này.
Trận Xích Bích, Gia Cát Lượng lấy sách lược khôn khéo đoạt được ba quận Kinh Nam, lại lấy thủ đoạn ngoại giao kiệt xuất mượn được đại bộ phận Kinh Châu, để làm tiền vốn cho Lưu Bị tranh bá với thiên hạ.
Tiếp đó ông ta với cương vị tổng quản lý kế hoạch trong trướng Lưu Bị, ở vị trí phó thổng soái phụ trách công tác điều hành dưới trướng của Lưu Bị.
Như trên đã nói, trong việc thúc đẩy “nghiệp vụ” Gia Cát Lượng lại không làm vai diễn chính, mà để Bàng Thống và Pháp Chính nắm công tác vạch kế hoạch. Ít thể hiện trên sàn diễn, song trên thực tế nhiệm vụ của Gia Cát Lượng rất trọng yếu. Đã thành lệ, Lưu Bị thường bị kiêm nhiệm việc lập kế hoạch khi xuất trận, bởi thế Gia Cát Lượng cũng thường ở bên ông, để thúc đẩy việc ổn định và chi viện đại bản doanh, rất cần có một người tin cậy được tín nhiệm hoàn toàn, hơn nữa có thể một mình đảm đương đại cục. Gia Cát Lượng sau khi điều hành ở Kinh Châu, lại điều hành ỏ Ích Châu, trách nhiệm của ông ta so với quân sư trận mạc thì quan trọng hơn nhiều, cũng thấy rõ Lưu Bị đã tín nhiệm và trọng dụng ông ta vượt cả Bàng Thống và Pháp Chính.
Đương nhiên biểu hiện của Bàng Thống và Pháp Chính cũng khá kiệt xuất, Ích Châu và Hán Trung nhờ sự hoạch định của họ, đã hoàn toàn giành được thuận lợi. Đáng tiếc hai người không được thọ, trong thời khắc rất trọng yếu đều theo nhau từ trần, điều này đối với sự phát triển nghiệp của Lưu Bị là một đòn đánh rất lớn.
Nhiệm vụ quản lý của Gia Cát Lượng rất trọng yếu, bởi thế chẳng thể kiêm nhiệm lập kế hoạch cụ thể, mà Lưu Bị vẫn thiếu bộ phận này. Hoàng Quyền, Mã Lương kế tục tuy đều là những nhân tài, song so với Bàng Thống, Pháp Chính và Gia Cát Lượng đều thấp hẳn một đầu. Thiếu mất người lập kế hoạch ưu tú, Lưu Bị cuối cùng trong chiến dịch đông chinh quan trọng, gặp phải thất bại nặng nề.
Gia Cát Lượng đối với nhược điểm của Lưu Bị, đã khá hiểu rõ, song ông ta vì sao chưa tận lực ngăn cản Lưu Bị phát động cuộc chiến tranh mù quáng này? Từ việc làm của ông ta sau này thì thấy, chẳng phải như ông ta than thở thiếu Pháp Chính ở bên hoặc Lưu Bị chưa hẳn đã tín nhiệm ông, mà chính là ông ta rất bận rộn. Sau khi chiếm được Ích Châu và Quan Trung, nhất định có không ít vấn đề nội chính, kinh tế và tài chính, cần được lập tức xử lý, quy hoạch, và thúc đẩy. Sau khi mất Kinh Châu, tình hình chung nhiều biến động, càng tăng thêm không ít khó khăn về ngoại giao và quốc phòng. Lưu Bị sau khi Quan Vũ và Trương Phi nối nhau từ trần, rối loạn đầu óc, gánh nặng quốc gia đè lên vai Gia Cát Lượng, có thể tin rằng ông ta đã bận đến mức chẳng có thời gian để hỏi han việc Lưu Bị đông chinh. Bởi thế ở giai đoạn này, ông ta thực tế không đưa ra được ý kiến hoàn chỉnh hoặc có tính xây dựng, lòng luôn vội vàng, đến một chút biện pháp cũng chẳng có, đối với Gia Cát Lượng mà nói, đó là nỗi khổ tâm không nén nổi. Song, Gia Cát Lượng chẳng có sự ngăn cản lớn với cuộc đông chinh của Lưu Bị, tin rằng ông ta cũng khá tin tưởng. Ông ta cho rằng nước Thục lực lượng đã thành, Lưu Bị có kinh nghiệm mấy lần đại thắng, hơn nữa với Tào Tháo giao chiến ở Hán Trung, lại bức Tào Tháo phải rút chạy, thấy rõ ông ta trong việc chỉ huy trận đánh lớn đã hoàn toàn thành thục. Lại thêm phía Đông Ngô các đại tướng tài giỏi như Chu Du, Lỗ Túc, Trình Phổ, Lã Mông đều nối nhau từ trần, đối với Lưu Bị mà nói, là không có nguy cơ lớn. Chẳng ngờ Đông Ngô lại xuất hiện Lục Tốn có thiên tài quân sự, là người mà lúc đầu Gia Cát Lượng chưa dự liệu đến.
Bộ Tổng tham mưu đông chinh lần này, cơ hồ đều bị xoá sổ, lão thần Mã Lương chủ nhiệm ban tham mưu bị chết ở trận Ngũ Khê. Trình Kỳ ở bên sông cũng tự sát mà chết, đến như Hoàng Quyền vẫn được Gia Cát Lượng xem trọng, bởi bất đồng với Lưu Bị mà được điều làm Giang Bắc đốc quân, sau chiến bại, mất đường về bất đắc dĩ cũng phải đầu hàng quân Tào.


4. Chân thành cùng trao đổi, vua tôi chẳng hồ nghi.
Trong thời kỳ Lưu Bị dưỡng bệnh ở Vĩnh An, Gia Cát Lượng đã mấy lần phái Thượng thư Lưu Ba và Trung lang tướng Tạ Viện đến thăm, song Lưu Bị tựa hồ đã uỷ thác mọi việc quốc gia đại sự cho Gia Cát Lượng, chưa có chỉ thị gì. Có mấy lần Gia Cát Lượng muốn đến Vĩnh An để cùng Lưu Bị bàn về việc nước, song bởi việc ở Thành Đô quá bận rộn chẳng thể đi được, mà Lưu Bị cũng có thư chỉ thị, phải lấy việc quốc gia làm trọng, chớ lo lắng đến ông ta mà khéo léo từ chối việc Gia Cát Lượng đến thăm.
Không lâu, có tin Hoàng Quyền đã đầu hàng quân Ngụy. Các đại thần ở Vĩnh An đều chủ trương bắt gia quyến Hoàng Quyền trị tội. Lưu Bị lại thở dài mà rằng: “Chính ta phụ lại Hoàng Quyền, mà chẳng phải Hoàng Quyền phụ ta vậy!”.
Lại hạ lệnh đặc biệt chiếu cố đến gia quyến của Hoàng Quyền ở Thành Đô.
Mặt khác, Tào Phi ở Lạc Dương cũng cho vời Hoàng Quyền đến.
Tào Phi nói với Hoàng Quyền: “Tướng quân đã bỏ Lưu Bị, về đầu hàng trẫm, là bỏ trái về với phải, là muốn theo gót Trần Bình, Hàn Tín bỏ Sở về với Hán ngày xưa vậy!”.
Hoàng Quyền lại thản nhiên nói: “Thần từng được sự hậu đãi của Lưu chủ, bởi thế dứt khoát chẳng thể hàng Ngô, lại chẳng có đường về với Thục, bởi không muốn thuộc hạ phải hy sinh không ít mới phải đến đây đầu hàng. Hơn nữa phải làm một viên bại tướng, khỏi chết đã là may mắn lắm, đâu còn dám mô phỏng với việc làm của cổ nhân!’’.
Tào Phi rất cảm mến nhân cách và tài hoa của Hoàng Quyền, cho ông ta làm Trấn nam tướng quân, phong Dục dương hầu, lại cho làm Thị trung ở bên mình, làm tấm gương chiêu hồi.
Lúc đó lại có tin gia quyến Hoàng Quyền bị sát hại, Tào Phi muốn phát tang cho. Song Hoàng Quyền lại phản đối, ông ta cho rằng: “Thần với Lưu Bị vẫn chân thành cùng trao đổi, họ nhất định hiểu được nỗi khổ của thần, dứt khoát không thể sát hại gia quyến của thần, thần tin rằng những tin tức này không đúng, xin để điều tra rõ!”.
Sau này thấy đó chỉ là những lời đồn tầm bậy mà thôi!
Tào Phi thấy Lưu Bị và Gia Cát Lượng có thể thu phục thuộc hạ như thế, cảm thán mãi không thôi.
Không chỉ với Lưu Bị, Hoàng Quyền mà Gia Cát Lượng cũng vẫn duy trì được sự cảm thông cao độ. Tam quốc chí có chép, sau này Tư Mã Ý có viết thư cho Gia Cát Lượng bày tỏ sự ngợi khen: “Hoàng Quyền là người chính trực, thường không ngại ngần biểu lộ sự ngưỡng mộ của ông ta đối với ngài”. Con trai của Hoàng Quyền là Hoàng Sùng, sau này trước ngày nước Thục diệt vong, theo con trai Gia Cát Lượng là Gia Cát Chiêm chiến đấu ở Miên Trúc đã hy sinh tại trận.
Lưu Bị trong lúc tĩnh dưỡng, ở tiền tuyến đã có Triệu Vân canh giữ, hậu phương lại có Gia Cát Lượng điều hành tự nhiên cũng thấy yên tâm nhiều. Song mất hai người bạn thủa sáng nghiệp là Quan Vũ và Trương Phi, bị Lục Tốn đánh bại trong cuộc đông chinh, đối với ông là những đòn đánh rất lớn, tâm can suy kiệt, sức khoẻ ngày mỗi giảm sút. Vừa may Thái thú Ba Tây là Diêm Chi phái Mã Trung người Hán Xương dẫn 5000 binh mã đến hộ giá, Lưu Bị sau khi đàm đạo với Mã Trung rất đỗi vui mừng, nói với Thượng thư Lưu Ba rằng: “Tuy mất Hoàng Quyền lại được Mã Trung, khá thấy ở đời vẫn không thiếu nhân tài giỏi giang vậy!”
Mã Trung sau này cũng rất được Gia Cát Lượng trọng dụng.


5. Nguỵ Ngô lại náo động, ba chân đỉnh vững vàng.
Đương khi Lưu Bị dẫn quân đông chinh, với Lục Tốn đối trận ở Di Đạo, Hồ Đình, Tào Phi muốn chính thức thu phục Tôn Quyền, đã yêu cầu đưa con cả Tôn Quyền là Tôn Đăng đến Lạc Dương làm con tin. Bởi tình hình tiền tuyến căng thẳng, Tôn Quyền không dám cự tuyệt thẳng thắn, chỉ biết lấy cớ Tôn Đăng đang còn nhỏ để trì hoãn.
Đợi đến khi Lục Tốn đánh bại được Lưu Bị, Tào Phi sợ Tôn Quyền thừa thắng khuếch trương thế lực, không phục tùng nữa, bèn tăng cường yêu cầu đưa con tin. Song Tôn Quyền cố ý bỏ qua, cự tuyệt việc đưa con tin đến Lạc Dương. Tuy Tào Phi đã phái Thị trung Tân Tỷ và Thượng thư Hoàn Gia đến trao đổi, song Tôn Quyền không nghe.
Tào Phi cả giận lại muốn dùng vũ lực để bức bách Tôn Quyền, đại thần Lưu Diệp không tán thành, ông ta cho rằng Tôn Quyền mới giành được thắng lợi lớn, vua tôi đều rất tự tin, lại có sông Trường Giang hiểm trở rất dễ phòng thủ, nếu vội vàng dứt khoát chẳng thể đánh bại được họ.
Tào Phi không nghe, lại phát động một đạo quân rất lớn, chuẩn bị theo ba đường mà thảo phạt Tôn Quyền:
Tuyến phía đông: Chinh đông đại tướng quân Tào Hưu, Tiền tướng quân Trương Liêu, Trấn đông tướng quân Tang Bá từ Động Khẩu đánh Tôn Quyền ở cánh phải.
Tuyến giữa: Đại tướng quân Tào Nhân, tự dẫn đại quân trực thuộc, đánh vào cửa Nhu Tu.
Tuyến phía tây: Thượng tướng quân Tào Chân, Chinh nam đại tướng quân Hạ Hầu Thượng, Tả tướng quân Trương Cáp, Hữu tướng quân Từ Hoảng, từ Nam Quận đánh vào cứ điểm quan trọng Giang Lăng.
Tạm thời, Đông Ngô phải chịu áp lực chẳng thua kém trước trận Xích Bích.
May mà Lục Tốn có kiến giải sáng suốt, chủ động kết thúc xung đột ở phía tây, Tôn Quyền có binh lực đầy đủ, chi viện cho việc phòng thủ phía bắc.
Lục Tốn nói với Tôn Quyền, quân tinh nhuệ của Tào Phi tuy dốc cả ra, song thiếu hợp nhất, cũng như sấm to mà mưa nhỏ, khoa trương thanh thế để nạt nộ mà thôi. Bởi thế cần chia quân để chống đỡ, chỉ cần hình thành cục điện đối đầu, chẳng bao lâu, Tào Phi sẽ nhất định hạ lệnh rút quân.
Thế rồi phái Kiến uy tướng quân Lã Phạm, dẫn năm đội thuyền chiến, đóng ở Lục Khẩu dựa vào Trường Giang hiểm trở mà chống quân của Tào Hưu. Tả tướng quân Gia Cát Cẩn, Bình bắc tướng quân Phan Chương, Tướng quân Dương Sáu, dẫn quân phòng thủ Nam Quận.
Ở cửa Nhu Tu thuộc tuyến giữa, là vị trí quân sự quan trọng, được xây dựng từ thời Lã Mông, lại thêm thanh thế Tào Nhân rất lớn, Tôn Quyền phải tự mình đôn đốc, để tỳ tướng Chu Hoàn chống đỡ lại Tào Nhân.
Tào Hưu đến Động Khẩu, vội vàng vượt sông, các lão tướng Trương Liôu, Tang Bá, bởi đã mấy lần thủy chiến bị dính đòn, đều không tán thành. Tào Hưu quyết định vượt sông một mình, lại gặp phải đội thuyền Lã Phạm tấn công mạnh mẽ, tổn thất không ít quân lính, quân Đông Ngô cũng rơi vào tình thế nguy cấp. Tang Bá vượt sông đuổi quân Ngô lại bị viện binh đánh bại, tướng tiên phong là Duẩn Lô bị chết tại trận.
Chu Hoàn trấn giữ cửa Nhu Tu, bởi dũng mãnh trung thành mà nổi tiếng. Tào Nhân mang mấy vạn bộ binh tấn công, Chu Hoàn cậy hiểm quyết liệt kháng cự. Tào Nhân đã già, thực sự chỉ huy do con trai là Tào Thái phụ trách, Tào Thái kinh nghiệm không đủ, trong khi đánh tập kích bị Chu Hoàn áp đảo nên mất cả đại tướng Vương Song và Thường Liêu, rơi vào thế đông cứng. Không lâu, Tào Nhân ngã bệnh từ trần, sự uy hiếp ở tuyến giữa không đánh mà tan.
Trái lại cuộc giao tranh ở tuyến tây rất ác liệt. Khi Lã Mông năm xưa bị bệnh nặng, Tôn Quyền đích thân đến thăm hỏi, có hỏi ai sẽ trấn thủ được Giang Lăng. Lã Mông nói “Chu Nhiên là người can đảm, hiểm nguy chẳng sợ, có thể đảm nhiệm được”.
Sau khi Lã Mông mất, Tôn Quyền phong Chu Nhiên làm Trấn thủ Giang Lăng. Chu Nhiên là con nuôi Thái thú Chu Trị ở Cửu Châu, lúc đó làm Chiêu vũ tướng quân.
Ở chiến tuyến phía tây, mãnh tướng Đông Ngô là Tôn Tịnh coi giữ Tào Chân phái Trương Cáp làm tiên phong, Tôn Thịnh khinh Trương Cáp còn trẻ tuổi, cuối cùng trong trận đánh ở ngoài thành, lại bị Trương Cáp kinh nghiệm phong phú đánh bại, tiền tuyến thất thủ, quân Tào bao vây Giang Lăng, Gia Cát Cẩn từ Nam Quận đến chi viện, lại bị Hạ Hầu Thượng ngăn lại, thành Giang Lăng bị cô lập, nguy cơ rất lớn. Viên quan Diêu Thái ở đấy muốn dẫn quân đầu hàng, bị Chu Nhiên phát giác, giận mà giết đi.
Chu Nhiên hạ lệnh cho quân dân toàn thành tử thủ, Tào Chân bao vây sáu tháng ròng, nghĩ hết mọi cách phá thành, đều bị Chu Nhiên liều mình chống trả, lại phải lúc đang có đại dịch bệnh, quân Ngụy đành phải rút lui.
Đúng như phỏng đoán của Lục Tốn , Tào Phi chẳng có quyết tâm thôn tính, chỉ là hư trương thanh thế mà thôi. Chỉ cần ngăn cản được đòn đánh ban đầu, lại cậy hiểm mà giữ, quân Tào Ngụy thiếu tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, sức tác chiến ắt sẽ suy giảm.
Lưu Bị ở Vĩnh An nghe nói đại quân Tào Phi nam chinh, liền viết thư cho Lục Tốn nói rằng: ‘‘Nay giặc Tào lại tiến công Giang Hán, nếu tôi dẫn quân đến, thì tướng quân xem tôi có thể làm được gì”.
Lục Tốn xem xét kỹ hàm ý trong thư của Lưu Bị, viết thư trả lời rằng: “Quân đội của ngài vừa mới bị trọng thương, rất nên tĩnh dưỡng, không nên khởi binh. Nếu như chúng ta tiến hành hoà đàm, có thể lấp kín sai lầm vừa qua, cắt bỏ việc dùng binh, để tránh những thương tổn nghiêm trọng, chỉ sợ lúc ấy không đến mà thôi”.
Thái độ của Lục Tốn tuy cứng rắn, song ông ta cũng lập tức báo cáo với Tôn Quyền, bởi Lưu Bị cứ trường kỳ ở lại Vĩnh An, chẳng về Thành Đô, hiển nhiên chưa chịu cam tâm, nếu lại nhân cơ hội mà liên hợp hành động với Tào Ngụy, có thể sẽ uy hiếp nghiêm trọng với Đông Ngô. Ông ta đề nghị với Tôn Quyền chủ động cầu hoà với Lưu Bị, Tôn Quyền cũng cho rằng có lý, bèn phái Thái trung đại phu Trịnh Tuyền đến xin hoà với Lưu Bị.
Trải qua lần vấp ngã này, số mệnh lại mỉm cười với Lưu Bị. Ông ta bình tĩnh suy nghĩ thêm, nếu Đông Ngô bị diệt vong, thì Thục Hán cũng có nguy cơ nghiêm trọng, bởi thế mà tiếp thu yêu cầu của Trịnh Tuyền, phái Thái tôn đại phu Tôn Vỹ sang Đông Ngô đáp lễ Tôn Quyền. Sau chiến dịch Hồ Đình, đây là lần đầu tiên bên Tôn - Lưu tìm được cơ hội hoà hiếu. Đáng tiếc không lâu sau đó, bệnh tình Lưu Bị nguy kịch, nỗ lực ngoại giao này lại bị đứt đoạn.


6. Gửi con thành Bạch Đế, vua tôi bàn việc quốc gia.
Chiến dịch Hồ Đình, đối với Lưu Bị có tiếng là anh hùng, cơ hồ là một đòn chí mạng, làm tổn thất lớn đến uy tín của Thục Hán mới kiến lập, chí lớn bắc phạt Tào Ngụy, khôi phục nhà Hán cơ hồ đã tuột khỏi tầm tay, bi thống có thừa, tình hình sức khoẻ xấu đi nghiêm trọng.
Thành Đô lại truyền đến những tin xấu, đầu tiên là Tư đồ Hứa Tĩnh tuổi già đã mất. Tiếp đến là Kiêu kỵ tướng quân Mã Siêu nổi tiếng ở xứ Tây Lương cũng bệnh mà mất lúc 47 tuổi, bốn tướng lĩnh quân đoàn của Hán Trung Vương nối nhau từ trần, kể về hàng đại tướng có danh tiếng đảm đương được một vùng chỉ còn Triệu Vân và Ngụy Diên.
Đến như Thượng thư Lưu Ba mới đến Vĩnh An thăm hỏi, trở về Thành Đô không bao lâu cũng bị bệnh mà mất, Lưu Bị vạn phần thương tâm, bèn bổ nhiệm Kiện Vy Thái thú Lý Nghiêm thay thế chức vụ của Lưu Ba.
Có thể ông ta cũng cảm thấy mệnh vận sắp hết, chẳng thể đoạt lại Kinh Châu, liền hạ lệnh chuyển phần mộ Cam phu nhân về đất Thục. Đến mùa xuân năm thứ hai (tức là năm Hoàng Sơ thứ tư), bệnh tình nhanh chóng xấu đi, bèn phái người đến Thành Đô mời Gia Cát Lượng mau chóng đến Vĩnh An.
Lại nói từ lúc tin chiến bại ở Hồ Đình truyền đi, Thục Trung đã có không ít chấn động. Cao Định, một thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở quận Việt Huề đã xâm phạm huyện Tân Đạo, bị Lý Nghiêm đánh bại. Hán Gia Thái thú Hoàng Nguyên vốn bất hoà với Gia Cát Lượng, có ý đồ chờ thời làm loạn, đây cũng là nguyên nhân chủ yếu khiến Gia Cát Lượng vẫn không dám rời Thành Đô, song Lưu Bị đã cho mời gấp, không thể không đi, ông ta để tòng sự Dương Hồng vẫn có hiểu biết rộng phụ tá Thái tử Lưu Thiện giữ Thành Đô, tự mình dẫn hai hoàng tử Lưu Vĩnh, Lưu Lý đến Vĩnh An.
Từ tháng 2 đến tháng 4 năm Hoàng Sơ thứ tư, Gia Cát Lượng đợi ở Vĩnh An, cùng với Lưu Bị lập quy hoạch tương lai ở Thục Hán, Thượng thư Lý Nghiêm mới được bổ nhiệm, bởi Lưu Bị bệnh nặng cũng vẫn chầu trực ở Vĩnh An, do ông ta là lão thần Thục Trung, bởi thế là đối tượng hỏi han rất tốt của Lưu Bị và Gia Cát Lượng.
Sau chiến dịch Hồ Đình, tình thế chung có biến hoá rất lớn, Ngụy Ngô liên hợp mà lại phân chia, quan hệ Tôn -Lưu lại có dấu hiệu hoà hiệu, thế ba chân đỉnh trong thiên hạ tựa hồ đã thành hình hoàn toàn.
Song tình hình Thục Hán lại rất không ổn. Về quốc phòng, bốn đại tướng có uy tín với Hoa Hạ là Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu, Hoàng Trung nối nhau từ trần, lại thêm đạo quân Hồ Đình mất đi, sức tác chiến của vương triều Thục Hán gần như tan rã, sau này việc đối kháng với Tào Ngụy và Tôn Ngô, sẽ ngày mỗi khó khăn.
Việc điều hành ở Ích Châu và Hán Trung chưa hoàn toàn ổn định lại nối tiếp phát sinh hai nguy kịch mất Kinh Châu và đại bại trong cuộc đông chinh, đối với tài chính và kinh tế nước Thục ắt tạo thành một gánh nặng nghiêm trọng, như thời khắc then chốt này với Lưu Bị, nếu tình hình lộn xộn, sự ổn định nội chính có thể sẽ lập tức nẩy sinh nguy cơ.
Đúng như Gia Cát Lượng sau này trong Xuất Sư Biểu có viết: “Tiên đế sáng nghiệp chưa lâu, giữa đường đứt gánh, đang lúc thiên hạ chia ba, Ích Châu mỏi mệt, đúng là nguy cơ còn mất đã ở trước mắt...”.
Lưu Bị đương nhiên cũng biết rất rõ nguy cơ rất lớn, ông ta khẩn cấp cho vời Gia Cát Lượng, chính là nghĩ lợi dụng những ngày giờ cuối cùng của đời mình cùng với người thực chất kế nhiệm, triệt để trao đổi ý kiến, cùng đề ra kế hoạch ứng phó của mình sau này.
Quả nhiên, Gia Cát Lượng vừa rời Thành Đô, Hoàng Nguyên đã phát động chính biến quân sự ở Hán Gia, ông ta thiêu hủy lâm cung, cướp lấy bản doanh chẳng chút sợ hãi. Dương Hồng lập tức phái tướng quân Trần Vẫn, Trịnh Sước đến trừng phạt.
Tại hội nghị quân sự, không ít tướng lĩnh cho rằng Hoàng Nguyên nếu lực lượng không đủ tấn công Thành Đô sẽ từ Việt Huê rút về Nam Trung, chiến đấu lâu dài.
Song Dương Hồng lại có cách nhìn khác, ông ta cho rằng: “Hoàng Nguyên vốn là người hung bạo, đối với nhân dân không có ơn huệ, không thế có lực lựơng như thế. Ông ta nhất định sẽ cưỡi thuyền xuôi dòng, đến Vĩnh An gặp Hoàng Thượng xưng tội, hoặc tự trói chịu bắt. Nếu làm không được sẽ đầu hàng Đông Ngô, để giữ mạng sống”. Bởi thế ông lệnh cho Trần Vẫn và Trịnh Sước, mai phục ở Nam An, đợi Hoàng Nguyên tự mình chui đầu vào lưới.
Quả nhiên Hoàng Nguyên không dám ở lại Việt Huề muốn cưỡi thuyền xuôi dòng, cuối cùng bị Trần Vẫn bắt sống đưa về Thành Đô chém đầu.
Dương Hồng mau chóng phái người báo cáo về Thành Đô về chuyện Hoàng Nguyên, đối với Gia Cát Lượng mà nói, nhìn chung bớt được một mối lo.
Do nhân tài ở Thục Hán mau chóng tàn lụi, Gia Cát Lượng cũng đã chú ý đề bạt những thanh niên tài giỏi. Ông ta đối với người em trai của Mã Lương là Mã Tắc rất đỗi cảm mến, lấy làm tham mưu, thường cho theo bên mình, lần này đến Vĩnh An, do có thể cần thảo luận nhiều việc, bởi thế đặc biệt mang theo Mã Tắc từ Thành Đô đến, giúp đỡ việc chỉnh lý và thảo luận ý kiến.
Mã Tắc tên chữ là Ấu Thường, là em trai của Đại lão Kinh Châu Mã Lương, đầu óc rất sáng suốt, ăn nói giỏi giang hơn hẳn người anh, vốn lại đa tài rộng học, hay nghị luận binh thư và mưu lược, quan sát kỹ lưỡng, phân tích tinh tế, nói đâu ra đấy, rất được Gia Cát Lượng tán thưởng.
Lưu Bị khi ở Kinh Châu, đã có quan hệ thân thiết với Mã Lương, tự nhiên biết rất rõ về Mã Tắc, song ông lại không thích Mã Tắc chỉ giỏi ăn nói, tuy bàn đến những việc cao xa song nhìn chung không có thực tế. Đối với Lưu Bị là người dầu dãi phong sương, thì những mưu sĩ như Mã Lương, Hoàng Quyền, Mã Trung nhiều kinh nghiệm tuyệt đối hơn hẳn Mã Tắc giỏi nói lý luận mà thiếu kinh nghiệm thực tế. Bởi thế, đối với ý kiến của Gia Cát Lượng đề bạt Mã Tắc thì không vừa ý, ông ta nhắc nhở rằng với Gia Cát Lượng: “Mã Tắc nói quá sự thực, chẳng thể dùng vào việc lớn, thừa tướng nên từ nhiều phương diện quan sát tinh tế ông ta mới phải vậy!”.
Song Gia Cát Lượng nhìn chung lại cho rằng về quan hệ tuổi tác, có thể có chỗ câu nệ, cho nên Lưu Bị đã không vừa ý.
Trung tuần tháng 4, Lưu Bị bệnh tình nguy kịch, lập tức viết di chiếu cho Thái tử Lưu Thiện ở Thành Đô, cùng đưa trước cho Gia Cát Lượng và Lý Nghiêm xem. Toàn văn như sau:
“Trẫm lúc đầu mắc bệnh lị, sau chuyển bệnh khác, xem tình hình bệnh không khỏi. Người ta 50 tuổi đã không gọi là chết yểu, nay ta đã hơn 60, chẳng có gì ân hận, bởi thế chẳng lo lắng cho mình chỉ nghĩ đến tương lai của anh em các ngươi (chỉ Lưu Thiện).
Nghe thừa tướng Gia Cát Lượng nói, ngươi có khí chất lớn, tiến bộ rất nhanh, vượt quá mong mỏi của ông ta, nếu như thực sự như thế ta còn phải lo gì, hy vọng ngươi cũng phải nỗ lực, chớ làm một điều ác nhỏ, cũng chớ không làm một điều thiện nhỏ.
Tất cả phải lấy cầu hiền, cầu đức làm mục tiêu, khiến cho thần dân có thể đối với ngươi tâm phục hoàn toàn. Phụ thân, của ngươi vẫn bạc đức, không nên phỏng theo.
Hy vọng rằng ngươi chăm đọc nhiều sách, đặc biệt là “Hán Thư” vàLễ Ký” nhất định phải đọc kỹ, khi thong thả cũng cần nghiên cứu thêm “Lục Thao” và “Thương Quân Thứ” (Thương Ưởng), có thể tăng cường được trí tuệ và ý chí.
Nghe nói thừa tướng Gia Cát Lượng có chỉnh lý những sách “Thân Bại Hại”, “Hàn Phi Tử”, “Quản Tử”, “Lục Thao”, rất nên thỉnh giáo ông ta nhiều”.
Gia Cát Lượng xem rồi đỏ mặt nói rằng: “Xin bệ hạ yên tâm, phụ tá Thái tử vốn là trách nhiệm của thần, xin cứ yên lòng dưỡng bệnh, sớm phục hồi sức khoẻ để đáp lại trông mong của thiên hạ”.
Lưu Bị nhìn chăm chăm vào Gia Cát Lượng, hồi lâu buông một tiếng thở dài, đinh ninh dặn dò rằng: “Ông mới gấp 10 Tào Phi, ắt có thể yên được việc nước, định được đại sự. Nếu ấu chúa có thể giúp được thì giúp; nếu có bất tài, ông có thể đảm nhiệm”.
Gia Cát Lượng nghe nói thế, biến cả sắc mặt, kinh hoàng và cảm động cùng lúc, nước mắt lại lã chã rơi, lập tức quỳ ở bên giường nói rằng: “Thần đâu dám không tận tâm tận lực, giữ mực trung chính, dẫu đến chết mới thôi!”.
Lưu Bị lệnh cho quan hầu nâng Gia Cát Lượng dậy, gọi Lý Nghiêm đến trước mặt, dặn dò ông ta giúp đỡ thừa tướng cùng phò tá Thái tử. Lại gọi hai hoàng tử Lưu Vĩnh, Lưu Lý, dặn họ nói lại với Thái tử Lưu Thiện: “Anh em các ngươi sau này phải xem thừa tướng giống như phụ thân, đồng tâm cộng sự, không được sai trái”.
Nói xong, lệ tuôn như mưa.
Cùng ngày, Lưu Bị nói với các quan cận thần ở Vĩnh An, tuyên bố việc gửi ấu chúa cho Gia Cát Lượng, lấy Thượng thư Lý Nghiêm làm phó, cùng phụ chính.
Năm Ngụy Văn đế Hoàng Sơ thứ 4, tức là năm Thục Hán Chương Vũ thứ 3, vào ngày 24 tháng 4, Lưu Bị ngã bệnh từ trần ở cung Vĩnh An, thọ 63 tuổi, đặt tên thụy là Chiêu Liệt Hoàng đế.
Tuy là việc đã có dự liệu, song sự ra đi của Lưu Bị vẫn dẫn đến chấn động lớn với vương triều Thục Hán, Gia Cát Lượng không dám vội về Thành Đô, tạm thời ở lại Vĩnh An, để sắp đặt công việc phía đông và việc quốc phòng phía bắc. Bởi Triệu Vân đang trấn thủ thành Bạch Đế, trong thời gian ngắn tạm thời không có vấn đề. Việc phòng thủ phía bắc bởi Trương Phi và Mã Siêu nối nhau từ trần, tướng lĩnh mới bổ nhiệm uy tín quốc tế không đủ, những tham vọng lớn lao của quân Tào ở Quan Trung chẳng thể xem thường, chỉ dựa vào Ngụy Diên giữ bồn địa Hán Trung đích xác là chịu không ít áp lực.
Lưu Bị vừa mới mất, các quận ở nước Thục khó tránh khỏi hiện tượng bất ổn. Tào Ngụy và Đông Ngô đều có thế nhân cơ hội quấy nhiễu, bởi thế việc ổn định biên cương là rất cấp bách.
Đến tháng thứ 2, Gia Cát Lượng mới cho phát tang, trở về Thành Đô, lại lệnh cho Lý Nghiêm làm Trung đô hộ ở lại giữ Vĩnh An.
Tháng 5, Thái tử Lưu Thiện lên ngôi, tôn hoàng hậu Ngô Thị làm Hoàng thái hậu, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Kiến Hưng.
Lịch sử gọi Lưu Bị là tiên chủ của Thục Hán, còn gọi Lưu Thiện là hậu chủ.
Linh cữu mẫu thân Lưu Thiện là Cam Phu nhân cũng từ Nam Quận chuyển về Thành Đô, tháng 8 hợp táng với Lưu Bị ở Huệ Lăng phía nam Thành Đô.
Lúc đó, Lưu Thiện mới 17 tuổi, cá tính ôn hoà, lại có chút nhút nhát, thực tại chẳng phải là một lãnh tụ chính trị thích hợp, sở trường duy nhất là giống phụ thân của ông ta, rất có nhân duyên, quần thần nói chung đều thích ông ta.
Bởi thiếu kinh nghiệm, chỉ biết làm theo di chiếu của phụ thân, phong Gia Cát Lượng làm Vũ hương hầu, giữ chức Ích Châu mục, còn mọi việc quốc gia đại sự chẳng kể lớn bé đều uỷ thác cả cho Gia Cát Lượng.
Đã nhận sự ủy thác của Lưu Bị, Gia Cát Lượng cũng chẳng hề do dự với trách nhiệm gánh vác hoàn toàn.
Thục Hán kể từ lúc kiến quốc đến nay chiến tranh liên miên, cho nên chưa chỉnh đốn được chế độ, tuy Lưu Bị mất đi, song nói chung vào giai đoạn này, vẫn có thể duy trì được hoà bình. Gia Cát Lượng bèn ra sức chỉnh đốn tham nhũng, tu bổ pháp chế, sửa sang lại biên chế hành chính và quy tắc chính trị.
Gia Cát Lượng đầu tiên họp các đại thần Thục Hán, công bố quan niệm chính trị điều hành quốc gia từ nay về sau: “Khi vạch kế sách chính trị, nên cố gắng tập hợp trí tuệ nhiều người, cùng những đề nghị thẳng thắn. Nếu xử lý sợ đắc tội người ta hoặc bởi ý riêng mà xa lánh người khác, thì chẳng thể giành được các ý kiến bất đồng, kéo dài như thế, sẽ có tổn thất rất nhiều. Có quan điểm từ những bất đồng mà xem xét sự việc, thì quyết sách như vậy mới là thích hợp nhất.
Phải nỗi người ta rất khó tận tâm đưa ra cách nhìn bất đồng, chỉ có Từ Thứ ngày xưa, từ nhiều vấn đề ông ta đều nghiên cứu tường tận mọi mặt. Đổng Hoà, làm công tác tham mưu bảy năm, khi rút ra kết luận từ sự việc, có mười cách nhìn khác nhau, cũng không ngại phiền mà đề xuất, nếu mọi người đều có tinh thần của hai người ấy, trung với quốc gia, không ngừng đề xuất ý kiến bất đồng, như vậy sẽ giúp đỡ ta trong lúc quyết định giảm bớt được những sai lầm.
Tiếp đó lại nói đến thời ở Long Trung, những chuyện về quan hệ bạn bè: “Thời trẻ đã có qua lại với Thôi Châu Bình, bởi ông ta nhiều tuổi hơn, kiến thức sâu rộng nên học được ở ông rất nhiều. Sau này biết Từ Nguyên Trực lại mở mang thêm được trí tuệ. Tham mưu Đổng Ấu Tể mỗi lần đề nghị đều nói đâu ra đấy, lời lẽ không dài dòng, sau nàv lại được Hồ Vĩ Độ (phó tướng của Gia Cát Lượng) giúp đỡ, thường cho ta, không ít những lời can ngăn trực tiếp. Tuy ta thiên bẩm tối tăm chẳng thể hoàn toàn hiểu được ý tứ của bốn tiên sinh kia, có lúc cũng không thu nạp hết, song ta với bốn vị ấy mãi mãi là bạn tốt, tuyệt đối chẳng bởi họ đã phê bình ta mà không vừa lòng, đối với sự chân thành của họ cũng chẳng bao giờ nghi kỵ. Xin các vị sau này chớ khách khí, hết sức bày tỏ cách nhìn của riêng mình!”.
“Tư trị thông giám” có chép:
“Gia Cát Lượng lúc mới làm thừa tướng, thường tự mình hiệu đính các công văn giấy tờ. Phó tướng Dương Ngung thấy thế trực tiếp can rằng: “Thúc đẩy việc chính sự, điều rất quan trọng là phải dựa vào chế độ, trên dưới có phân quyền, không nên giẫm chân lên nhau. Tôi nay lấy công việc về nghề nông để đưa một ví dụ thử ngẫm xem. Nay có một hộ nông nghiệp, người chủ phái nông nô cày bừa, tỳ nữ xử lý việc bếp núc, gà trông trông coi việc báo sáng, chó thì trông coi việc canh trộm, bò thì trông coi việc kéo cày, ngựa thì trông coi việc kéo xe.
Như vậy công việc của họ nhất định điều hành rất tốt, đều có người phụ trách, chủ nhân của họ nói chung rất thoải mái, kê cao gối mà ngủ chẳng lo nghĩ mọi việc.
Nếu như, có một ngày đột nhiên ông ta nghĩ khác, việc gì cũng đều muốn tự mình làm không chịu giao phó cho người khác, như vậy nhất định sẽ vất vả muốn chết, bởi những việc này phức tạp, mỏi mệt về thể xác lẫn tinh thần, cuối cùng vẫn không xong được một việc.
Ở đây không phải muôn nói trí tuệ của sáu người không bằng nô tì gà chó, mà muốn nói ông đánh mất chức trách người chủ cần có là chỉ huy đại cục! Câu châm ngôn xưa có nói, ngồi mà luận đạo, đã rằng chúa công, thi hành công việc đã rằng sĩ đại phu. Thời Hán Tuyên đế, tể tướng Bích Cát chẳng qua nhầm lẫn mà chết người, trái lại lo việc cày bừa lúc đầu xuân chưa bận rộn, thì không gấp gáp. Tể tướng Trần Bình thời Hán Văn đế, chẳng phải xem xét tiền tài trong kho tàng, mà nói “đã có người chủ sự”, đạo lý ấy là chia thang bậc mà phụ trách.
Nay minh công tự mình rà soát giấy má văn thư, lo từ việc nhỏ hành chính, mồ hôi mồ kê suốt ngày, phải chăng phải quá vất vả như thế!”.
Gia Cát Lượng lập tức đứng lên cảm tạ, tiếp thu kiến nghị của ông ta. Sau này Dương Ngung từ trần, Gia Cát Lượng còn nghĩ đến ông ta khóc lóc bi thương suốt ba ngày ròng rã.
Qua đoạn văn trên có thể thấy thái độ chân thành và sự cố gắng trong công việc của Gia Cát Lượng. Hơn nữa cũng cho thấy một nhà chính trị tiếp thu được những ý kiến bất đồng, lời nói và việc làm đều nhất quán. Ví như thái độ của Lưu Bị khi nói rằng: “Ông có thể tự đảm nhiệm” đích xác là một việc xưa nay chưa từng có trong lịch sử. Đại đa số những tiên chủ gửi con côi đều nghĩ mọi cách sau này gìn giữ cho hậu duệ của mình, đặt ra những phương pháp ràng buộc, để đề phòng khả năng người phụ chính đoạt mất vương triều. Ví như những phụ chính Chu Công Đán, Hoắc Quang rất có khí tiết cuối cùng chỉ sai một chút là xảy ra bi kịch. Ví như sự tín nhiệm của Lưu Bị với Gia Cát Lượng ở đây, cơ hồ không gì so sánh nổi.
Không ít người đọc sử sách cho rằng, Lưu Bị ở cung Vĩnh An khi gửi con có nói như vậy, ít nhiều là cách khích tướng theo kiểu chính trị. Thời Tam quốc, đạo đức chính trị suy vong, phần nhiều là sự dối trá, bởi thế Lưu Bị muốn nói trắng ra như thế, để Gia Cát Lượng không dám công nhiên đoạt quyền, chỉ lo một lòng phò tá Lưu Thiện.
Nhìn trên bề mặt, cách nói này tựa hồ rất hợp lý, song chỉ cần hiểu sâu tình thế nước Thục lúc ấy, phân tích tinh tế cá tính của Lưu Bị và Gia Cát Lượng, sẽ thấy được phỏng đoán sai lạc trên bề mặt, ít nhiều là thiên kiến, lấy lòng của kẻ tiểu nhân để đo lòng quân tử vậy.
Lưu Bị trước lúc lâm chung, đã có với Gia Cát Lượng 16 năm gắn bó, Gia Cát Lượng là người như thế nào, trong lòng Lưu Bị cũng đã rõ ràng. Huống chi, trong tập đoàn của Lưu Bị, Gia Cát Lượng tuy là người phụ tá thứ nhất song người được tín phục nhất vẫn là Lưu Bị, nếu chưa được Lưu Bị trao quyền rõ ràng, Gia Cát Lượng muốn nhân cơ hội đoạt lấy vương quyền, không thể giành được sự ủng hộ đầy đủ, Lưu Bị đối với việc ấy chẳng cần lo lắng quá. Trái lại câu nói “ông có thể đảm nhiệm”, càng dễ giúp cho Gia Cát Lượng cơ sở hợp pháp để đoạt lấy vương quyền. Lưu Bị về việc này đã nói rõ ràng vậy.
Cũng giống như Lưu Bị đối với ấu chúa Lưu Thiện đã hiểu rất rõ, Lưu Thiện là người như thế nào, Lưu Bị đã thấy trước. Ông ta cho phép Gia Cát Lượng đoạt lấy vương quyền, ít nhiều là nghĩ đến cơ nghiệp mà mình đã sáng tạo, để Gia Cát Lượng có đủ căn cứ pháp lý, vào lúc cần thiết, sẽ có thủ đoạn phi thường để ứng biến. Trong Tam quốc chí, Trần Thọ có nhận định:
“Tiên chủ là người cương nghị mà khoan hậu, chiêu hiền đãi sĩ lại có phong độ của Hán Cao tổ, khí chất của bậc anh hùng, đến khi gửi ấu chúa, trao việc nước cho Gia Cát Lượng mà lòng không hồ nghi, đúng là vua tôi đều chí công vô tư, là gương sáng xưa nay chưa từng có”.
Trần Thọ là người sống gần thời bấy giờ, phán đoán theo những điều nghe được, vấn đề mà Lưu Bị thực sự lo lắng lại chẳng phải là Gia Cát Lượng sẽ đoạt lấy vương quyền mà là vấn đề Lưu Thiện điều hành quốc gia trong lúc rất nhiều nguy cơ như vậy, phải chăng có thể đảm nhiệm được.
Sau này trong Xuất Sư Biểu, Gia Cát Lượng có viết: “Tiên đế biết thần là người cẩn thận, nên trước lúc lâm chung có ủy thác cho thần việc đại sự, từ lúc nhận lệnh đên nay, sớm tối lo lắng, sợ không đáp ứng được lòng mong mỏi, phụ lại tiên đế cao minh”, đúng là những lời nói từ tâm can.
Vua tôi cách nhau 20 tuổi như vậy, đích xác trong lịch sử Trung Quốc khó thấy được một quan hệ tốt đẹp hơn. Lưu Bị năm xưa gặp được Gia Cát Lượng “như cá gặp nước”, tin rằng đấy chẳng phải là lời nói khách sáo, câu nói của Trần Thọ: “vua tôi thực chí công vô tư” cũng chẳng phải không có căn cứ.
Ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai cùng chân thành với nhau như thể lịch sử cổ kim kể ra chỉ có một.
Song, Gia Cát Lượng đảm đang một mình điểu hành các viên quan chính, có được thực quyền tổng chỉ huy, là việc mà Lưu Bị từng quan tâm trước lúc lâm chung.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Cuối Binh thư “Lục Thaođược công nhận rất giàu chất trí tuệ Trung Quốc, ở phần mở đầu, có chép hỏi đáp giữa Chu Văn Vương và Khương Thái Công về cai trị thiên hạ, như sau: Chu Văn Vương hỏi: “Phải làm thế nào mới có thể khiến trăm họ thiên hạ theo về?”.
Khương Thái Công đáp: “Thiên hạ chẳng phải một người mà có vạn người mới thành thiên hạ. Cùng mối lợi với người thiên hạ thì được thiên hạ. Nếu độc chiếm mối lợi thiên hạ vào riêng một người, ắt sẽ mất thiên hạ. Nắm được biến hoá bốn mùa của trời đất không làm trái nông nghiệp, với những của cải tàng chứa trong lòng đất cùng hưởng với mọi người, là hiểu được đạo nhân ái của bậc quân vương, thì thiên hạ sẽ theo về. Khiến mọi nqười sống vui vẻ, có khó khăn thì kịp thời ra tay chi viện, lúc cấp bách cũng lập tức giúp đỡ họ, chính là hiểu được lẽ đức chính của bậc quân vương. Có thể với mọi người cùng lo, cùng vui, cùng hay, cùng dở là hiểu được nghĩa lý của bậc quân vương. Mọi người không thể không chán ghét chết chóc, thích được sông hạnh phúc, song cũng đều muốn theo đuổi tìm kiếm một không gian sinh tồn công bằng và no đủ, khiến mọi người đạt đến mục đích ấy, là hiểu được suy nghĩ lý tính của bậc quân vương, thiên hạ ắt sẽ theo về”.
Lấy một công ty mà nói, người sáng nghiệp trải qua nhiều vất vả, trong đó chua ngọt, chỉ có một mình hay biết. Bởi thế người sáng nghiệp khi thành công, mới có xu hướng độc tài.
Đối với một thống soái sáng nghiệp thuộc hạ nói chung đối với sự “hoành hành bá đạo” của ông ta, thường có khuynh hướng nhường nhịn. Ví như thế, viên thống soái này vẫn không thể cho rằng công ty này là “công ty của riêng tôi”. Đối với bản thân ông ta mà nói, điều ấy có thể xem là phải, song lại cũng là khá nguy hiểm.
Như vậy cán bộ có suy nghĩ độc lập, có thể một mình đảm đương một mặt, sẽ không chịu nổi cách nghĩ này của vị thống soái, thường bởi thế quay lưng lại với ông ta, khiến công ty mất đi không ít nhân tài.
Mỗi người mỗi ngày chỉ có 24 giờ, có cố gắng cũng không làm nổi được nhiều việc, hơn nữa đương lúc phát sinh sự cố khẩn cấp, nếu dựa vào sức một người thì chẳng được việc. Khi công ty có nguy cơ, ắt sẽ ảnh hưởng rất nhiều người: Viên chức, thân quyến, khách vãng lai, cơ sở liên quan, có thể khiến họ phát huy tâm lý cùng hội cùng thuyền, giúp đỡ công ty cùng vượt qua khó khăn, đấy mới là ông chủ có trí tuệ. Nếu không một mai có thất bại, chẳng những hại cho mình cũng hại cho người từ trước đến nay vẫn giúp đỡ. Vị thống soái hiểu được điều này, không thể nói “công ty là của tôi, tôi muốn làm gì cũng được”. Đã là một công ty, là tổ chức của nhiều người, về tư cách pháp nhân là có sinh mạng độc lập, người điều hành chỉ là được ủy thác để xử lý công việc của mọi người mà thôi. Khương Thái Công cũng đã chỉ rõ: “Thiên hạ đã thấy rõ, thì không thể không thấy, thiên hạ đã nghe thấy, thì không thể không biết”'. Trí tuệ có thể quy tụ mọi nhân tài vốn có năng lực, tập trung có chế độ, mới là bảo đảm tốt cho sự nghiệp thành công.
Lưu Bị có thể coi thiên hạ là của công, gửi con côi cho Gia Cát Lượng, Gia Cát Lượng cũng lập tức công bố thái độ tự tiếp thu phê bình, rộng chứa đề nghị của mọi người, đúng là đều có trí tuệ và tấm lòng quy tụ được người trong thiên hạ. Vua tôi như vậy, có thể trong tình thế ác liệt vẫn mau chóng đoạt được thành công, đích xác là hợp đạo lý vậy.
 
 
 
Phụ chương
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
 
Qui hoạch sách lược trong lúc nguy cơ.
Cổ nhân nói: “Sống hay lo việc, chết được yên tâm”, đích xác là điều khá chân thực. Từ việc lớn quốc gia đến việc nhỏ cá nhân, thường trong một giây lát mà có được thành công bước đầu.
Đối diện với sự khiêu khích của khó khăn, đại đa số nhà kinh doanh đều nơm nớp lo lắng, để tâm cẩn thận mà nỗ lực, từ hành động bảo thủ, không phạm phải những sai lầm lớn, chỉ cần chống chọi vững vàng, phần nhiều đều đạt được những thành công tốt đẹp.
Trái lại khi vận may đến, thành quả đáng vui mừng liên tiếp xuất hiện, nhà kinh doanh dễ mắc sai lầm về đánh giá. Có thể tự cho rằng đã sẵn vận may mà mạo hiểm khuyếch trương, có thể vô địch mà mạo hiểm tiến lên quá mức, thường tạo thành sự đổ vỡ đột nhiên.
Qua hơn 20 năm gian khổ, cuối cùng tập đoàn Lưu Bị cũng giành được đại bản doanh sáng nghiệp, sau khi thành công mau chóng, cũng rơi vào nguy cơ khinh địch, nhìn nhận sự việc thiếu suy nghĩ chín chắn. Đầu tiên là Tiền tướng quân Quan Vũ trấn giữ ở Kinh Châu, trước khi làm tốt việc phòng ngự hậu phương, đã tự mình dẫn đại quân bắc phạt, cuối cùng bị quân Ngô đột kích, binh bại tướng chết. Trận tuyến Lưu Bị chẳng những mất đi bàn đạp bắc phạt rất quan trọng, mà sự tan rã quân đoàn Quan Vũ rất giầu sức tác chiến là một tổn thất không thể bù đắp được.
Lại tiếp đến Trương Phi đột nhiên mất đi, trước nguy cơ thiếu một chủ tướng tự mình đảm đương một vùng, Lưu Bị bởi muốn phục thù tự mình dẫn đại quân đông chinh. Chẳng nghĩ đến Đông Ngô có địa lợi, lại cơ ưu thế binh lực, Lưu Bị vẫn nóng nảy báo thù, cuối cùng lâu dài ở nơi đất giặc với quân Ngô đối trận. Cũng bởi chủ quan, bị Lục Tốn dùng hoả công đánh bại, quân Thục lại bị một đòn nghiêm trọng đại bại hơn cả đạo quân ở Kinh Châu. Bởi thế ở nơi biên ải, chủ soái Lưu Bị âu lo thành bệnh, bệnh tình chẳng khỏi, cũng khiến cho nguy cơ của Thục Hán càng diễn biến xấu đi mau chóng.
Gia Cát Lượng trước tình thế ấy đã tiếp thu đặc quyền điều hành đất nước.
Xử lý nguy cơ rất vất vả là xem xét những công việc chẳng thể làm thì dừng lại, trước nguy cơ uy hiếp từ bên ngoài, phải điều chỉnh tốt lực lượng nội bộ.
Bởi đối phó với tình thế phát sinh, người quyết định phải có uy quyền tuyệt đối, mau chóng quyết định hành động để tập hợp lực lượng nội bộ. Nếu mỗi việc đều phải thương lượng hoặc hội họp, ắt bởi chậm trễ không quyết mà mất thời cơ; lịch sử Nhật Bản có chép câu chuyện “bình định Điền Nguyên” gắn liền với viên tướng Bắc Điền Thị nổi tiếng, ông ta đã ứng xử không dứt khoát. Bắc Điền Thị khi ứng phó lại những lời công kích của Phong Thần Tú Cát, đã liên tục họp hội nghị quân sự suốt ba tháng, vẫn không thể đưa ra nghị quyết là đánh hay hoà, đến khi quân địch kéo đến trước thành mới vội vàng đầu hàng vô điều kiện, khiến đạo quân Bắc Điền Thị to lớn hoàn toàn chung nói “ông có thể tự đảm nhiệm được”, trao cho Gia Cát Lượng quyền uy tuyệt đối, mà Gia Cát Lượng cũng có được chức phận hợp pháp, với quyết tâm không lùi bước độc lập ứng phó lại nguy cơ.
Lý Nghiêm cùng làm phụ chính đại thần, là Trung đô hộ giữ cung Vĩnh An. Bởi Gia Cát Lượng một mình trở về Thành Đô, ngoài việc trao cho Lý Nghiêm đại quyền biên phòng, cũng ngăn cản thành công Lý Nghiêm có thể tham gia vào những quyết sách xử lý nguy cơ của Gia Cát Lượng.
Sự mất đi của chủ tướng ắt sẽ tạo thành sự không ổn định nội bộ nghiêm trọng, đối với việc tập hợp lực lượng có ảnh hưởng rất bất lợi. Bởi thế, Gia Cát Lượng trước tiên công bố quan niệm trị quốc từ nay về sau của ông ta, rõ ràng chỉ ra tính quan trọng của việc đoàn kết nội bộ để cùng nhận biết, và khẩn thiết nói rõ những bất đồng của mình, khiến quyền lực lãnh đạo Trung ương được củng cố hơn.
Nội bộ đã mau chóng được củng cố, tiếp đến phải làm sao ổn định quan hệ với bên ngoài.
 
0
THIÊN THỨ NĂM
NHÀ CHÍNH TRỊ TÀI NĂNG
 
Gia Cát Lượng làm tướng quốc, vỗ yên bách tính, định lễ nghi, hạn chế quan lại, định rõ uy quyền, ban bố pháp luật, bồi dưỡng nhân tâm, đối với người tận trung tuy có thù riêng vẫn ban thưởng, với kẻ phạm pháp dẫu thân vẫn phạt tội, với kẻ cải tà quy chính thì khoan dung, với sự xảo quyệt thì loại trừ; với việc thiện không làm thì không thưởng, với việc ác không làm thì không phạt, mọi sự tinh luyện xét việc ở góc trọng thực tế không hão huyền, cuối cùng khắp trong nước cảm uy danh mà yêu mến, hình phạt tuy nghiêm mà không oán, bình tĩnh mà khuyên răn, phải thừa nhận rằng đấy là người có tài trị quốc, sánh được với Quản Trọng, Tiêu Hà ngày xưa (Tam quốc chí của Trần Thọ).
 
 
 
Chương XVI 
NGOẠI GIAO: LIÊN MINH ĐÔNG NGÔ KHỐNG CHẾ TÀO NGỤY
 
Nhà chính trị ắt phải hiểu được duy trì thế quân bình, để tất cả những cái chính cái phụ đều phát triển khi thời cơ chưa đến nhất định phải nhẫn nại.
Bởi thế dẫu Tôn Quyền có xưng đế hay không, chỉ cần Tào Ngụy vẫn còn, chính sách liên minh Đông Ngô khống chế Tào Ngụy vẫn rất quan trọng.
Năm Kiến Hưng Nguyên niên, tức là năm 223 sau Công Nguyên, cũng là năm Hoàng Sơ thứ 4, Lưu Bị từ trần, Gia Cát Lượng 43 tuổi một mình điều hành nước Thục với sứ mệnh lớn lao khôi phục nhà Hán. Là hậu duệ của phái Thanh Lưu, lý tưởng chính trị khó thành đạt với trách nhiệm mà ông không thể từ chối.
Lưu Thiện lên ngôi không lâu, các quận phía cực nam của Ích Châu đã không ngừng truyền đi tin tức các thủ lĩnh dân tộc thiểu số khởi binh làm loạn.
Tôn Quyền ở phía đông, tuy sau khi Lưu Bị mất, lập tức phái Tín đô uý Phùng Hy đến viếng tang, nói là nối lại hoà hiếu, thực ra là đến thám thính tình thế của nước Thục. Các cường hào làm phản ở phía nam cũng có không ít liên hệ với Tôn Quyền, Tôn Quyền nói chung vẫn hưởng ứng còn phong cho quan chức. Hiển nhiên về tinh thần cấp cho không ít sự giúp đỡ khiến chính quyền mới ở Thành Đô càng bị thêm áp lực.
Tôn Quyền sau khi chiếm lại Kinh Châu muốn đưa Lưu Chương trước là Ích Châu mục đang ở Công An về Tỉ Qui, vẫn gọi là Ích Châu mục để đợi thời thay thế cho chính quyền Thành Đô hiện có. Tuy Lưu Chương đã mất khi Lưu Bị đông chinh, song sau khi Lưu Bị bại trận, Tôn Quyền lại lấy con Lưu Chương là Lưu Siển làm Ích Châu thứ sử đến đóng ở biên giới Giao Châu và Ích Châu để làm đầu cầu liên hệ giữa Tôn Quyền với tộc thủ lĩnh dân thiểu số Ích Châu phản loạn. Rõ ràng Tôn Quyền vẫn có thái độ không hữu hảo với Thục Hán.
Chính quyền Tào Ngụy ở phương bắc, khi tin tức Lưu Bị từ trần truyền đến, bèn tỏ thái độ đối địch mạnh mẽ, mở hội lớn ăn mừng không ngớt, chỉ có Hoàng Quyền một mình sầu muộn lộ rõ ra mặt. Tào Phi cũng thể tất cho, chưa trách cứ gì. Song Tào Phi nghe nói Tôn Quyền với Thục Hán vẫn có quan hệ qua lại rất không vui. Sứ giả Phùng Hy trước đến Thục Hán dự tang lễ, lại gọi về Lạc Dương để thuyết minh, được Tào Phi trực tiếp hỏi han và giữ ở lại, Phùng Hy sau này chết ở đấy. Tào Phi lại hạ lệnh cho mấy vị danh sĩ của Ngụy quốc trao đổi ý kiến chính trị với Gia Cát Lượng, bao gồm Tư đồ Hoa Hân, Tư không Vương Lãng, Thượng thư Trần Quần, Thái sử Hứa Chi, Phó tạ Gia Cát Chương, muốn Gia Cát Lượng hiểu rõ thời thế, thuận theo thiên mệnh nhân tâm, đem thân qui hàng, làm phên giậu cho Ngụy quốc.
Gia Cát Lượng đối với những lá thư ấy, chẳng hê dao động, lại viết một bức thư công khai trả lời, bày tỏ quan điểm, lập trường của mình trước tình thế chính trị đương thời. Đấy là bài văn chính luận, tỏ thái độ chống đối với Tào Ngụy khôi phục nhà Hán, toàn văn như sau:
“Hạng Vũ ngày xưa, đã phản lại nguyên lý chính trị, có được chính quyền bằng mọi cách, bởi thế tuy chiếm được đại bộ phận vùng đất Hoa Hạ, có được thanh thế của hoàng đế song cuối cùng vẫn thân bại danh liệt, có thể coi là tấm gương soi cho hậu thế.
Chính quyền Tào Ngụy, chưa thấu tỏ sự thực lịch sử, vẫn giẫm lên vết chân Hạng Vũ, phi pháp đoạt lấy chính quyền, tức là cầu may mà có nhất thời, cũng sẽ rước họa về sau vậy. Các vị tiên sinh là những kỳ lão của xã hội, lại vì chính quyền Ngụy mà viết thư cho tôi, đúng như cuối đời Đông Hán Trần Sùng, Trương Tủng lại ca tụng công lao của Vương Mãng, tiếp tay cho việc Vương Mãng thoái vị, thực là những kẻ đầu sỏ tội lỗi đã phá hoại luân lý chính trị.
Năm xưa vua Hán là Quang Vũ đế, kế tục cơ nghiệp cũ của nhà Hán, thúc đẩy chính quyền hợp pháp, bởi thế chỉ với vài nghìn binh mã, đã phá được 40 vạn đại quân Vương Mãng ở Cổn Dương. Kiên trì chính nghĩa, thảo phạt tà đạo không ở số quân nhiều hay ít. Tào Tháo tuy nhiều mưu lược tự dẫn đại quân đến cứu Trương Cáp ở Dương Bình, vẫn khó tránh mất Hán Trung vào tay tiên đế. Tin rằng cái chết của Tào Tháo là sự trừng phạt của thiên mệnh. Song Tào Phi dâm dật không biết tỉnh ngộ, làm việc thoán vị xấu xa mà các ông lại thuyết lý, tuyên dương cho ông ta. Khiến cho những luân lý chính trị của những thánh vương truyền lại như vua Nghiêu, vua Thuấn, Văn Vương đều hoen ố, thực khiến những kẻ quân tử không chịu nổi”.
Bài văn này đã khẳng định lập trường chính trị của Gia Cát Lượng, không bởi tình thế chính trị dao động mà biến đổi. Thực ra Gia Cát Lượng đã biểu hiện lập trường cứng rắn, thậm chí tiếc cho những học sĩ lão thần ấy đã a dua, song chủ yếu là ổn định lòng tin chính trị của thần dân Thục Hán, ở tình thế khó khăn trong ngoài, kiên định lập trường chính trị cho trận tuyến của mình.
Trong Tam quốc diễn nghĩa có tình tiết Gia Cát Lượng mắng chết Vương Mãng trước trận. Đoạn đối thoại ở đó căn cứ vào đoạn văn này, trong thực tế thì không có chuyện đó chỉ là lời tô vẽ của nhà viết tiểu thuyết mà thôi.


2. Sửa đổi hiệp ước, ổn định phía đông.
Đối với sự phản loạn ở Nam Trung, dẫn theo nhiều vấn đề nội chính, chẳng phải chỉ dựa vào quân đội mà có thể giải quyết được. Huống chi Lưu Bị vừa thất bại trong cuộc đông chinh, tinh thần binh lính rệu rã cần một thời gian nghỉ ngơi chỉnh đốn lại, cho nên chưa tức thì thảo phạt được. Gia Cát Lượng hạ lệnh cho Lý Nghiêm thông qua các mối quan hệ vỗ về thủ lĩnh của dân tộc thiểu số ở đấy, lại cho quân đóng đồn ở nơi hiểm yếu, tăng cường phòng thủ, ngăn cản phản loạn lan ra Thục Trung đợi thời cơ thuận lợi sẽ giải quyết sau.
Công việc rất khẩn cấp lúc ấy vẫn là tình thế ba chân đỉnh, làm sao định vị được.
Với lập trường cơ bản mà nói, Tào Ngụy có thực lực rất lớn, chẳng thể hoà giải được, về lĩnh vực thống trị mà nói, Thục Hán tuy nhỏ, nếu nghĩ cứng rắn đối đầu với hai kẻ địch rất lớn, dứt khoát là sách lược mù quáng. Quốc sách cơ bản của Long Trung Sách là liên Ngô chế Tào, về khách quan là điều tất yếu. Bởi thế với tình hình trước mắt, mau chóng hoà giải giữa Ngô và Thục là nhiệm vụ rất khẩn trương.
Song sự việc không giản đơn, nói hoà giải là hoà giải ngay được, kể từ Quan Vũ để mất Kinh Châu, Lưu Bị đông chinh thất bại ở Hồ Đình đến nay, quan hệ rất căng thẳng giữa Ngô và Thục, nói hoà giải đâu có dễ.
Thực ra, sau khi Lưu Bị mất, mối lo lắng của Gia Cát Lượng là thái độ của Tôn Quyền. Khi Lưu Bị đóng quân ở thành Bạch Đế, Tôn Quyền từng phái sứ giả thăm hỏi, tìm kiếm hoà giải, song chủ yếu bởi áp lực của Tào Phi từ phương bắc xui khiến. Đến khi Đông Ngô giành được một chút thắng lợi, lại công khai biểu lộ phục tùng Tào Ngụy, biến số của thái độ Tôn Quyền rất lớn. Gia Cát Lượng để Lý Nghiêm ở Công An, chủ yếu phòng ngự Tôn Quyền. Bởi thế khi Lưu Thiện lên ngôi, Gia Cát Lượng đợi đến cuối năm, vào tháng 11, lấy Thượng thư Đặng Chi làm Trung lang tướng, tích cực chủ động triển khai nối lại công tác ngoại giao liên minh giữa Ngô và Thục.
Đặng Chi tên chữ là Bá Miêu, người Tân Dã, là hậu duệ của Đặng Vũ, một công thần đời Quang Vũ đế. Thòi Lưu Yên, Đặng Chi từ Kinh Châu vào Ích Châu tìm kiếm cơ hội, song chưa được trọng dụng, chỉ làm một chức quan nhỏ trông coi kho lương ở Bì Huyện.
Song Đặng Chi không nhụt chí, ông tự mình thiết kế biện pháp quản lý lương thực hợp lý, rất tiện lợi cho nhân dân, tuy không được cấp trên xem trọng, Đặng Chi vẫn vui vẻ thực hiện công việc.
Sau khi Lưu Bị đến Ích Châu đi tuần tra các quận huyện, có lần đến Bì Huyện, thấy cách quản lý của Đặng Chi khá kỳ lạ, cùng đàm đạo hồi lâu thấy là người có tài, bèn thăng cấp làm Huyện lệnh ở đấy, không lâu lại đề bạt làm Thái thú ở Quảng Hán, mỗi lần đến địa phương nào, Đặng Chi đều có phong cách đặc biệt, bởi thanh liêm mà đạt được kết quả. Bởi thế sau khi Lưu Bị xưng đế, Gia Cát Lượng lấy làm Thượng thư ở phủ Thừa tướng, đặc biệt với Đặng Chi là từ địa phương lên Trung ương được sắp xếp ngay làm Thượng thư.
Muốn thuyết phục được Tôn Quyền vốn cứng rắn, ắt phải dựa vào một sứ giả có hiểu biết và thông minh. Gia Cát Lượng đang tìm người thích hợp không khỏi tư lự, tạm thời vẫn chưa nghĩ ra được ai là hơn.
Đang lúc ấy, Đặng Chi chủ động đến gặp Gia Cát Lượng, nói rằng: “Nay chúa thượng còn ít tuổi, mới lên ngôi, nên lập tức phái sứ giả đến Đông Ngô giao hảo”.
Gia Cát Lượng nghe rồi, gật đầu cười mà rằng: “Ta đã ngẫm nghĩ rất lâu rồi, mà vẫn chưa chọn được người thích hợp, nay bỗng nhiên lại tìm được rồi”.
Đặng Chi hỏi thế nào là người thích hợp?
Gia Cát Lượng nói: “Chính là Sứ quân vậy”. (Đặng Chi là Thái thú nên gọi là Sứ quân).
Đúng như Gia Cát Lượng đã thấy, Đặng Chi với việc nối lại quan hệ Ngô - Thục đã sớm có suy nghĩ sâu xa, dùng ông ta vào việc đàm phán ngoại giao phức tạp cần phải tùy cơ ứng biến này, là thích hợp hơn cả.
Sau khi Đặng Chi đến Đông Ngô, Tôn Quyền quả nhiên trong lòng đang hồ nghi, chưa tiếp kiến ông ta ngay được. Đặng Chi đợi đã mấy ngày, chẳng có kết quả bèn chủ động dâng thư lên Tôn Quyền: “Thần nay đến Đông Ngô, cũng là bởi Đông Ngô mà đến, chẳng phải chỉ bởi nước Thục mà đến!”.
Tôn Quyền vốn làm việc khẩn trương, sau khi gặp Đặng Chi, bèn lập tức biểu lộ cách nghĩ của ông ta về vấn đề này.
Tôn Quyền nói: “Tôi rất muốn nối lại quan hệ cũ với nước Thục, chỉ lo lắng vua nước Thục còn nhỏ, nước bé thế yếu, sợ sớm tối bị Tào Nguỵ thôn tính, đến lúc ấy ta cũng khó giữ mình, cho nên kế sách lớn liên minh với Thục hay Ngụy vẫn còn chưa quyết”.
Đăng Chi nghe rồi, bởi đã có dự liệu nên đáp rằng: “Ngô Thục có đất bốn châu (Kinh, Dương, Lương, Ích), đại vương là anh hùng của đời này mà Gia Cát Lượng cũng là người tuấn kiệt. Nước Thục có địa hình hiểm trở dễ giữ mà khó đánh vào. Nước Ngô cũng có Tam Giang (Ngô Tùng, Tiền Đường, Trường Giang), là bức bình phong thiên nhiên, muốn tấn công đâu có dễ. Nếu như cộng những điều kiện hai bên, môi hở răng lạnh, tiến thì có thể nuốt được thiên hạ, thoái thì cũng giữ được thế ba chân đỉnh, đấy chẳng là lẽ rất tự nhiên ư? Đại vương nếu nghĩ quy phục Tào Ngụy, Tào Phi sớm muộn sẽ cưỡng bức ngài đến Lạc Dương, đến lúc ấy ắt thành mối lo. Ví như đại vương kiên trì không đi, Tào Phi sẽ yêu cầu đại vương đưa Thái tử làm con tin, nếu không nghe theo Tào Phi sẽ lập tức lấy lý do thảo phạt phản nghịch mà dẫn quân đánh Đông Ngô. Lúc đó nếu như nước Thục cũng nhân cơ hội thuận dòng mà xuống, thì đất Giang Nam không thuộc đại vương nữa”.
Tôn Quyền ngồi nghe im lặng không nói.
Đích xác Tào Phi yêu cầu Thái tử Tôn Đăng đến Lạc Dương làm con tin, đã không chỉ một lần. Điều kiện này chẳng những Tôn Quyền không thể đáp ứng hơn nữa quần thần Đông Ngô cũng cho rằng đấy là điều đại sỉ nhục, dẫu phải liều mạng cũng chẳng thế nghe theo. Nghĩ đến đó, Tôn Quyền không khỏi than rằng: “Ông nói rất phải!”
Thế rồi lập tức hạ lệnh cắt đứt quan hệ với Tào Ngụy, nối lại hoà hiếu với Thục Hán, Đặng Chi cũng lập tức dâng lên 200 ngựa tốt, 1000 thếp gấm, cùng không ít đặc sản nước Thục, nói chung đã hoàn thành được sứ mệnh.


3. Trương Ôn tỏ ra kiêu ngạo, Tần Mật ứng đối trổ tài
Mùa hạ năm thứ hai, Tôn Quyền phái Trung lang tướng vào Thục đáp lễ, trước lúc lên đường Tôn Quyền dặn dò Trương Ôn rằng: “Ta vốn chẳng muốn phiền ông phải đi xa, song sợ thừa tướng Gia Cát Lượng chẳng hiểu cho nguyên nhân ta với Tào Phi trước đây có qua lại, cho nên phiên ông đi lần này, hy vọng sẽ thuận lợi hoàn thành nhiệm vụ”.
Trương Ôn đáp rằng: “Gia Cát Lượng hiểu biết sâu xa, nhất định có thể hiểu biết được lẽ co duỗi của đại vương, thần đoán rằng ông ta sẽ chẳng nghi ngờ gì”.
Thế rồi Trương Ôn đến nước Thục cứ làm theo chỉ thị của Tôn Quyền, ca tụng sự tốt đẹp của chính quyền nước Thục, cùng tình cảm giao hảo vốn có đã lâu, Gia Cát Lượng thấy Trương Ôn hiểu biết rộng, giỏi ăn nói cũng rất tán thưởng.
Trương Ôn là học giả của Đông Ngô, từng làm Thái phó cho Thái tử Đông Ngô, vẫn xem thường các văn quan võ tướng, lại thấy Thục Hán ở nơi xa xôi, xem ra cũng chả có văn hoá bao nhiêu. Bởi thế ngoài sự tôn trọng Gia Cát Lượng, đối với các quan lại Thành Đô, thường tự xem mình là hơn, lại còn có vẻ ngạo mạn nữa.
Tam quốc chí có chép: “Trương ôn đi sứ nước Thục ứng đối giỏi giang, khiến hậu chủ và Gia Cát Thừa tướng đều phải cảm mến tài năng, Trương Ôn lại có vẻ tự đắc ra mặt.
Trước lúc chia tay, Gia Cát Lượng đặc biệt dẫn trăm quan văn vũ Thành Đô, bầy yến tiệc ở Trường Đình đưa chân. Mọi người đều đã đến, chỉ còn quan biệt giá Tần Mật chưa đến, Gia Cát Lượng lập tức phái người đi mời, khiến Trương Ôn rất ngạc nhiên.
Ông ta không thể không hỏi Gia Cát Lượng rằng: “Vị quan Biệt giá này là người như thế nào?”
Gia Cát Lượng nói: “Đấy là Đại học sĩ Tần Mật”.
Trương Ôn thấy Gia Cát Lượng xem trọng Tần Mật như thế rất không vừa ý. Tần Mật tên chữ là Tử Sắc người Quảng Hán, lúc trẻ đã có tài học, lại có tính đạm bạc thường không muốn ra làm quan. Lưu Bị sau khi bình định Ích Châu tha thiết mời Tần Mật làm Tòng sự tế tửu. Lưu Bị khởi binh đánh Ngô, ngoài Triệu Vân ra, chỉ có Tần Mật dám trực tiếp can gián, bị xem là nhiều loạn lòng quân, tống ngục trị tội. May mà Gia Cát Lượng cố gắng bênh vực, mới được tha tội, khi Gia Cát Lượng làm thừa tướng, bởi Tần Mật rộng học lại chính trực, đặc biệt bổ nhiệm làm Biệt giá, tiếp đó lại phong làm Tả trung lang tướng, lại kiêm Trường thủy hiệu uý.
Hôm đó, Tần Mật chậm trễ đến sau. Trương Ôn cho rằng ông ta ra vẻ ta đây, có ý làm khó ông ta tại trận.
Trương Ôn nói: “Tiên sinh được gọi là đại học sĩ, phải chăng thật có thực học?”.
Tần Mật nghiêm sắc mặt nói rằng: “Nước Thục đến nhi đồng cũng có học vấn, hà tất phải hỏi đến ta?”
Trương Ôn lại hỏi rằng: “Vậy xin hỏi trời có đầu không?”
Tần Mật nói: “Có chứ”
Trương Ôn: “Ở phương nào?”
Tần Mật: “Ở phương tây, có thơ rằng “Lại ngoảnh về tây” từ đấy suy ra đầu trời ở phương tây” (ngầm nói Tây Thục)
Trương Ôn: “Trời có tai không?”
Tần Mật: “Có chứ, trời ở cao mà nghe được cả dưới thấp. Có thơ rằng: “Tiếng gà gáy sáng, thấu trời xanh”, nếu không có tai làm sao nghe được”.
Trương Ôn: “Trời có chân không?”
Tần Mật: “Có thơ rằng “Trời đi chập chững, giống như trẻ thơ”, nếu không có chân sao lại bước được’'.
Trương Ôn: “Trời có họ không?”
Tần Mật: “Có!”
Trương Ôn: “Họ gì?”
Tần Mật: “Họ Lưu”
Trương Ôn: “Sao lại biết vậy?”
Tần Mật: “Thiên tử họ Lưu, từ đó có thể thấy vậy”.
Trương Ôn: “Mặt trời chẳng phải lên từ phía đông ư?” (ám chỉ Đông Ngô)
Tần Mật: “Tuy lên ở phía đông lại rơi về phía tây”. (Ám chỉ Tây Thục)
Trương Ôn và Tần Mật người tung kẻ hứng đối đáp đâu ra đấy đều khiến tất cả kính phục.


4. Hoà hợp được hai nước, duy chỉ có Đặng Chi
Năm đó Đặng Chi lần thứ hai đi sứ Đông Ngô, bởi Trương Ôn đã cố gắng xúc tiến, quan hệ chính thức giữa hai nước Ngô - Thục lại được đổi mới, từ đấy tin tức Đông Ngô và Thục Hán liên tục qua lại.
Song Lục Tốn vẫn giữ Giang Lăng, ổn định biên phòng giữa hai nước, Tôn Quyền còn đặc biệt trao ấn tín “Truyền quốc tướng quân”, phàm là những thư từ Tôn Quyền gửi cho hậu chủ Lưu Thiện hoặc Gia Cát Lượng, nếu có chỗ không thoả đáng đều được Lục Tốn hiệu đính, sau khi đóng dấu ấn của ông ta mới được gửi đi.
Song mối liên minh Ngô - Thục chỉ là thủ đoạn sách lược để duy trì thế bình quân ba chân đỉnh, hai bên chẳng phải chân thành hợp tác bởi thế Đặng Chi đi sứ lần thứ hai thì Tôn Quyền trực tiếp làm khó ông ta.
Tôn Quyền nói: “Nếu như có một ngày Tào Ngụy đã diệt vong, thiên hạ thái bình, hai nước Ngô - Thục cùng phân chia Trung Quốc, thì ông có tán thành không?”
Chẳng ngờ Đặng Chi thản nhiên trả lời rằng: “Có được hoà bình cố nhiên là tốt, chỉ phải nỗi từ xưa đến nay thiên hạ chưa có hai mặt trời, trong một nước sợ rằng cũng khó có hai vua. Nếu như có một ngày thực nuốt được Tào Ngụy, đại vương chưa thể biết rõ mệnh trời sẽ về ai, đâu chỉ có vua hai nước tự thi hành chính đức, quần thần hai nước tận lực trung thành. Song từ đấy về sau sợ lại có một cuộc chiến tranh mới bắt đầu”.
Tôn Quyền nghe rồi, lại vỗ tay cười lớn mà rằng: “Đúng! nói rất hay, ông thật là thành thực, cuối cùng phải nói rõ được như vậy”.
Thời kỳ này Gia Cát Lượng cũng từng phái Đinh Hoành, Âm Hoá làm sứ thần, đến Kiến Nghiệp yết kiến Tôn Quyền, Tôn Quyền so sánh ba người ấy, viết thư cho Gia Cát Lượng rằng: “Đinh Hoành thì nói năng phù phiếm, cầu kỳ, Âm Hoá thì ăn nói dài dòng, lại hay bảo thủ, sứ thần có thể hợp được hai nước duy chỉ có Đặng Chi”
Thân làm sứ thần, có thể để vua nước khác nể phục, Đặng Chi đích xác là một viên quan ngoại giao ưu tú.
Đặng Chi sau này trở thành phó soái của Triệu Vân, sau khi Triệu Vân từ trần, tiếp tục thống lĩnh đội quân dự bị tinh nhuệ của Thục Hán.


5. Phí Vỹ, Trần Chấn làm sứ thần, chẳng bị sỉ nhục đến sứ mệnh
Ngoài Đặng Chi, về quan hệ qua lại giữa Thục với Ngô, còn có Phí Vỹ người Giang Hạ, Trần Chấn người Nam Dương cũng có những biểu hiện nổi trội. Phí Vỹ tên chữ là Văn Vỹ, trong Tam quốc chí có chép: Gia Cát Lượng lấy Phí Vỹ làm Chiêu tín hiệu uý đi sứ Đông Ngô, Tôn Quyền thấy Phí Vỹ còn trẻ thường vẫn trêu đùa lại còn trào phúng Thục Hán, lại thêm những đại thần như Gia Cát Khác (con trai Gia Cát Cẩn), Dương Cù có học vấn rộng thường vẫn bày trò làm khó Phí Vỹ.
Chẳng ngờ Phí Vỹ trẻ tuổi lại giỏi văn chương, đối đáp đâu đấy chẳng dễ khuất phục. Có một lần Tôn Quyền có ý dùng rượu hảo hạng, làm cho Phí Vỹ say rượu, lại chất vấn việc đại sự quốc tế, mỗi vấn đề đều khá phức tạp. Phí Vỹ mượn cớ say từ chối, hẹn hôm sau trả lời, chẳng ngờ sáng hôm sau ông ta đã trả lời từng vấn đề rõ ràng đâu đấy, không sai lạc một chút gì.
Tôn Quyền rất xem trọng ông ta, có khen ngay trước mặt rằng: “Tiên sinh là người hiền đức trong thiên hạ, sau này ắt sẽ là đại thần trụ cột của Thục Hán, sợ sau này lại không thường đến thăm Đông Ngô của ta nữa”.
Ông là sứ thần chủ yếu liên hệ với Đông Ngô, trong thời kỳ bắc chinh Trung Nguyên, Phí Vỹ làm tham quân vẫn thường phụng chỉ đi sứ, qua lại giữa Thục và Ngô.
Tôn Quyền rất thích Phí Vỹ, lại đặc biệt cầm cây bảo đao vẫn mang bên mình, muốn tặng cho Phí Vỹ. Phí Vỹ cảm tạ mà rằng: “Thần nay bất tài sao có thể nhận sự ban thưởng này? Bảo đao vốn để thảo phạt kẻ làm phản, ngăn cấm nghịch tặc, thần vẫn muốn đại vương nỗ lực tạo dựng sự nghiệp, và chúng ta nhất định phục hưng được nhà Hán. Thần tuy ngu muội song không thể đáp ứng được ý muốn của đại vương”.
Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí có chép: Có lần Phí Vỹ đi sứ Đông Ngô, trong tiệc tiễn biệt, Tôn Quyền uống đã say, giữa tiệc có nói với Phí Vỹ về Ngụy Diên và Dương Nghi.
Ngụy Diên là mãnh tướng hàng đầu của nước Thục, Dương Nghi là Phó tướng của Gia Cát Lượng, ở đấy không nói về năng lực của hai người này, bởi họ hay tự phụ, quan hệ với mọi người không tốt, hai người lại bất đồng như nước với lửa chẳng thể hợp tác với nhau.
Tôn Quyền cho rằng hai người đều là hạng tiểu nhân tầm thường: “Nếu như triều đình không có Gia Cát Lượng ắt họ sẽ gây ra tai họa!”. Khá thấy Tôn Quyền đối với nhân vật và tình thế nước Thục vẫn rất quan tâm. Đúng như Tam quốc chí có chép: “Gia Cát Lượng rất mến tài cán của Dương Nghi và sự kiêu dũng của Ngụy Diên, thường ân hận hai người bất bình với nhau, song cũng không nỡ phế bỏ người nào”, bởi thế Phí Vỹ rất hiểu nỗi khổ tâm của Gia Cát Lượng, cũng rất hiểu rõ mối bất hoà giữa Ngụy Diên và Dương Nghi sẽ tạo thành tổn hại cho quốc gia, vẫn thường đóng vai trò ở giữa điều hoà Ngụy Diên và Dương Nghi. “Phí Vĩ truyện” có chép: “Gia Cát Lượng lúc đang còn sống, rất nỗ lực hoà giải sự tranh chấp giữa Dương Nghi với Ngụy Diên; để họ phát huy được sức chiến đấu phải kể đến công lao của Phí Vỹ”.
Sau khi Gia Cát Lượng mất, Phí Vỹ với Tưởng Uyển đồng lòng phụ chính, về sau lại kế tục Tưởng Uyển nắm giữ quyền bính, trở thành đại thần trụ cột của Thục Hán.
Quan hệ hữu hảo giữa Thục Hán và Đông Ngô duy trì đến năm Kiến Hưng thứ 7 lại xuất hiện nguy cơ mới. Năm đó Tôn Quyền xưng đế ở Vũ Xương, bởi triều đình Thục Hán tự coi là nhà Hán chính thống, nội bộ lập tức nẩy sinh tranh cãi kịch liệt. Có người cho rằng Tôn Quyền tiếm quyền xưng đế, là sự khiêu khích với Thục Hán, chủ trương không quan hệ, cắt đứt liên minh.
Song phe thực tiễn lại chủ trương lấy lợi ích quốc gia làm trọng, nếu đánh mất quan hệ hữu nghị với Đông Ngô, rất có thể bị Tào Ngụy lợi dụng, đến chỗ hai bên cùng bị thương tổn nặng. Lúc ấy đang là lúc Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ ba, đã chiếm được Vũ Đô, Âm Bình là những vị trí quan trọng. Bởi phải tu bổ lương thực đầy đủ, trừ đạo quân tiên phong ra quân chủ lực của Gia Cát Lượng rút về Hán Trung tạm thời chấn chỉnh lại đội ngũ chờ đợi sẽ xuất binh.
Từ Thục Trung có công văn khẩn cấp gửi đến, hậu chủ Lưu Thiện đặc biệt cần người trực tiếp đến Đông Ngô, bởi triều đình có hai phái tranh luận, mời Gia Cát Lượng quyết đoán. Gia Cát Lượng tuy nhận thức rõ lập trường cùng Thục Hán kế thừa đại nghiệp, song ông ta cũng rất biết tình hình thực tiễn về chính trị bên ngoài, nếu làm tăng thêm thực lực thì hơn là khẩu hiệu suông, cho nên Gia Cát Lượng viết một bức thư phân tích đại cục, báo cáo với hậu chủ Lưu Thiện, cần khéo léo duy trì quan hệ với Đông Ngô, lại không trái với lập trường cơ bản quốc gia, lá thư viết:
“Tôn Quyền có ý phản nghịch đã lâu, song nước ta vẫn không truy cứu về tâm lý phản nghịch ấy, mà quan trọng nhất là cần ông ta đứng làm thế ỷ giốc. Nay nếu công nhiên tuyệt giao với họ, ắt sẽ tạo thành thù hận, như thế chúng ta chẳng thể không mang quân giao tranh với họ, thôn tính đất đai của họ, rồi mới có thể tiếp tục bắc phạt Trung Nguyên được.
Rõ ràng là Đông Ngô hiền tài rất nhiều, văn võ bá quan đều một lòng vì nước, chẳng thể dễ dàng đánh bại được. Trường kỳ giao tranh, ắt tướng mỏi binh mệt, trái lại để Tào Ngụy lợi dụng cơ hội, với chúng ta là có hại chứ không có lợi.
Ngày xưa Hiến Văn Hoàng đế, lấy khiêm tốn im lặng mà giữ gìn hoà bình với Hung Nô, tiên đế khi còn sống cũng hết sức giữ gìn liên minh với Đông Ngô, đấy là một chính sách quyền biến vậy. Cần phải suy nghĩ chu đáo, có tầm nhìn xa, tuyệt đối chẳng thể lạm phát bực tức với những lời gay gắt, điều này cần nhớ kỹ.
Có không ít thuộc hạ cho rằng Tôn Quyền có lợi với thế ba chân đỉnh, thực ra lực không đủ, chẳng có dã tâm gì, không cần phải luận bàn thị phi như thế.
Tôn Quyền đầu óc rất sáng suốt, ông ta sở dĩ tự hạn chế ở vùng đất Giang Đông, chỉ cầu tự bảo toàn, là có nguyên nhân của nó. Tôn Quyền không thể vượt quá Trường Giang, cũng như Tào Ngụy không thể vượt quá Hán Thủy, đấy là bởi họ không có sức, chẳng phải không muốn làm vậy!
Nếu tạm thời để họ duy trì sự bất đồng, đối với chúng ta mới là có lợi. Như vậy, khi chúng ta bắc phạt, sẽ chẳng phải lo phía sau, cũng có thể lôi kéo được đại quân Tào Ngụy, giảm nhẹ áp lực với chúng ta. Bởi thế tội tiếm quyền của Tôn Quyền, tạm thời chẳng nên truy cứu. Chính sách hiện thực chẳng thể hô khẩu hiệu suông, cũng chẳng thể mặc ý một mình tùy tiện làm việc. Sách lược gì đều có lợi hại, bởi thế nguyên tắc quyết sách là có lợi nhất cho tương lai, hại ít nhất cho hiện tại.
Chỉ cần vấp phải vướng mắc, lập tức phản ứng, một mực chỉ muôn đánh bại đối phương, một nhà chính trị như thế chẳng phải là tài giỏi. Nhà chính trị ắt phải hiểu được duy trì thế quân bình, để phát triển được mọi mặt, khi thời cơ chưa đến nhất định phải nhẫn nại. Bởi thế dẫu rằng Tôn Quyền có xưng đế hay không, chỉ cần Tào Ngụy chưa diệt được, thì chính sách liên Ngô chế Tào tuyệt đối phải xem là tất yếu”.
Đúng như Gia Cát Lượng đã nói, nếu Tôn Quyền đứng yên bất động thì có thể lôi kéo một nửa quân Tào Ngụy, đối với cuộc bắc phạt của Thục Hán là một giúp đỡ rất lớn. Trong thời gian hai bên liên minh, Tôn Quyền cũng không dám dễ dàng xuất binh tấn công vào biên giới nước Thục, có thể giảm được mối lo phía sau, đối với sự phát triển lâu dài của Thục Hán là một sự giúp đỡ rất lớn.
Cho nên Gia Cát Lượng đã nói rõ ràng với các đại thần Thục Hán, chính sách liên minh với Đông Ngô là một thủ đoạn cho quốc gia, bản thân nó chẳng phải là mục đích. Tôn Quyền nói liên minh, nhưng tuyệt đối không ngộ nhận được là Tôn Quyền đã hoàn toàn có thiện ý, như vậy sẽ rất dễ rơi vào cạm bẫy. Cho nên tội tiếm quyền của Tôn Quyền, không thể không trừng phạt, mà là thòi cơ chưa đến không nên công khai lộ ra.
Chính sách được quyết định rồi, song nói chung cần có người phụ trách thúc đẩy, đấy là nhiệm vụ của sứ thần, chẳng thể kém hơn Đặng Chi và Phí Vỹ. Gia Cát Lượng lựa chọn Vệ uý Trần Chấn, đến chúc mừng Tôn Quyền xưng đế. Trần Chấn tên chữ là Hiếu Khởi, người Nam Dương, khi Lưu Bị làm Kinh Châu mục thấy Trần Chấn là người chân thành, tâm lực với công việc mà mình hiểu rõ, đã bổ nhiệm làm tòng sự, đốc thúc công tác ở các quận. Lưu Bị vào Thục, Trần Chấn được bổ nhiệm làm tham mưu, điều hành các quận huyện về hành chính đều do ông phụ trách qui hoạch. Bởi có năng lực độc lập làm việc, đã giảm bớt phiền não cho Lưu Bị không ít. Thục Trung đã ổn định, lại thấy Trần Chân làm Đô uý ở Thục quận, rồi làm Thái thú Vấn Sơn, sau chuyến đến Kiện Vy. Năm kiến Hưng thứ ba được phong làm Thượng thư, không lâu lại thăng Thượng thư lệnh, từng được đi sứ Ngô mấy lần, bởi thế với Tôn Quyền cùng quần thần Đông Ngô vẫn có quan hệ tốt.
Nhưng nhiệm vụ lần này rất quan trọng, bởi vậv khi Trần Chấn lên đường, Gia Cát Lượng còn đặc biệt viết thư cho anh trai ông ta là Gia Cát Cẩn đứng đầu giới nguyên lão Đông Ngô. Trong thư viết: “Trần Hiếu Khởi cá tính trung trực, thực thà mà năng nổ, nay cử ông ta lo việc hoà hiếu hai nước, tin rằng với sự chân thành của ông ta có thể khiến hai nước được vui vẻ hoà hợp, cùng tôn trọng lẫn nhau”.
Trần Chấn vừa vào nước Ngô, đã công khai bày tỏ lập trường rõ ràng của mình, giải trừ nghi ngờ của đối phương, ông ta nói với quan chức của Đông Ngô ra tiếp đón, mục đích của chuyến đi này là củng cố hữu hảo, hy vọng xây dựng được quan hệ liên minh hai bên một cách cụ thể.
Ông cố ý kéo dài ngày ra mắt Tôn Quyên, mục đích để Tôn Quyền thảo luận trước hiệp định thật kỹ càng, chỉ một lần nói chuyện là xong, tránh được mối nghi ngờ mang sẵn trong lòng ảnh hưởng đến việc phát triển quan hệ giữa hai bên.
Quả nhiên đến Vũ Xương, Tôn Quyền được báo cáo nhiều lần của Gia Cát Cẩn và các quan viên tiếp đãi, đã rõ được ý định lần này của Trần Chấn, bởi thế đã mấy lần họp hội nghị nội bộ, quyết định kế sách ứng đối chung. Trần Chấn khi đến Vũ Xương lập tức dâng lên Tôn Quyền thư chúc mừng và lễ vật, hai bên đăng đàn tuyên thệ, ước định sau khi diệt trừ được Tào Ngụy, sẽ cùng chia thiên hạ. Các châu phía đông nam như Từ, Dự, U, Thanh, thuộc về Tôn Quyền, các châu tây bắc như Tinh, Lương, Kí, Cổn thuộc về Thục Hán. Còn khu Tư lệ thì lấy cửa Hàm Cốc làm ranh giới phân thành hai phần đông tây.
Bởi công việc trước đã có chuẩn bị, cho nên chẳng có tranh chấp gì, hiệp ước mau chóng được thông qua. Tuy quy định này chỉ là một bản văn không đâu, không có ý nghĩa thực chất, song về tâm lý lại có tác dụng ổn định tức thì quan hệ Ngô - Thục, khiến cho sự phát triển vốn có mau chóng đi vào quỹ đạo.
Quả nhiên, tháng 9 năm ấy, Tôn Quyền triệt để giải trừ được nỗi lo ở phía tây, yên tâm dời đô đến Kiến Nghiệp, chỉ lưu lại đại tướng quân Lục Tốn, phụ tá Thái tử Tôn Đăng giữ Vũ Xương. Trần Chấn sau khi về nước, được phong làm Dương đỉnh hầu, từ đấy Gia Cát Lượng đã giải toả được ở chiến tuyến phía đông, có thể yên tâm với việc bắc phạt Trung Nguyên, phục hưng nhà Hán. Gia Cát Lượng với nước cờ này cùng với nỗ lực khác, dẫn đến tình hình suốt về sau này quan hệ Ngô - Thục về cơ bản vẫn bình an vô sự, chưa xuất hiện vấn đề gì phức tạp.
 
*
*      *
 
Lời bình của Trần Văn
“Binh pháp Tôn Tử” tuy được công nhận là cuốn sách kinh điển về chiến tranh nổi tiếng từ xưa đến nay, song tinh thần chủ yếu là ngược lại với đầu tư chiến tranh, tiến đến chỗ tìm kiếm nguyên tắc né tránh chiến tranh.
Trong “Mưu công thiêncó nói, tinh thần cơ bản của chiến tranh là “Phàm là phép dùng binh, bảo toàn quốc gia làm đầu, phá tán quốc gia xếp ở sau, bảo toàn quân lực làm đầu”. Khai chiến là sách lược bất đắc dĩ, cho nên “Bách chiến bách thắng, chẳng phải là điều hay nhất, không chiến tranh mà khuất phục được người ta mới là hay nhất vậy”.
Nhà binh pháp Nhật Bản nổi tiếng là Sơn Lộc Sách Hành, cho rằng, đấy là chỗ lớn nhất trong binh pháp Tôn Tử, là binh pháp vượt qua cả các binh pháp đông tây. Bởi thế trong cuốnTôn Tử ngạn nghĩacó viết: “Ta có thể nêu chính đức, giương cờ nghĩa thuận với trời hợp với người, trên dưới một chí hướng, lấy đạo mà cảm người ta, khiến họ tự khuất phục. Khiến cho bậc quân vương suy nghĩ lại, những thần dân ắt sẽ quay ngọn giáo, nếu tạo ra được tình thế ấy mới là hay nhất vậy”.
Làm sao đạt đến chỗ ấy? Tôn Tử đã nói: “Phải nên xem là đầu việc phạt mưu, thế đến phạt giao, rồi mới đến phạt binh, cuối cùng mới nói đến việc đánh thành”.
Thế nào là phạt mưu, phạt giao, phạt binh, đánh binh? Phạt binh và đánh thành là động dụng vũ lực, là điều dễ hiểu vậy. Song phạt mưu, phạt giao là như thế nào, nó có quan hệ gì với nhau.
Tào Tháo khi chú giải binh pháp Tôn Tử, đã giải thích phạt mưu như sau: “Địch mới có mưu, phạt ấy dễ vậy”. Nói cách khác, phải hiểu kẻ địch đang nghĩ gì, để lựa chọn phương pháp, đề ra sách lược cụ thể mà giải quyết. Chẳng thể đợi đến khi sự việc đã khuếch đại đến mức không nắm được, chỉ biết đứng mà nhìn binh mã tràn qua. Cho nên phạt mưu là công phu suy nghĩ và chuẩn bị, song để thực hiện tốt thì phải phạt giao.
Đỗ Mục khi chú thích Binh pháp Tôn Tử đặc biệt đề cập đến dự liệu của An Tử, tránh được một cuộc giao chiến, để giải thích ý nghĩa của việc dùng binh thế nào là phạt mưu và phạt giao.
Thời Xuân Thu, Tấn Bình Công muốn đánh nước Tề bèn phái sứ giả Phạm Chiêu sang nước Tề thám thính tình hình, Phạm Chiêu yết kiến Tề Cảnh Công, giả vờ say rượu muốn làm nhục Tề Cảnh Công, lại bị An Tử biết mà ngăn chặn, Phạm Chiêu sau khi về nước nói với Tấn Bình Công: “Nước Tề chưa thể đánh được, thần muốn làm nhục vua nước ấy mà An Tử đã biết rồi”.
Bởi An Tử giỏi công việc ngoại giao nên có thể ngăn cản dễ dàng âm mưu xảy ra chiến tranh lần ấy. Khổng Tử từng khen rằng, “không vượt quá một hội nghị quốc tế, mà bắt bẻ được việc ở nơi nghìn dặm. An Tử thực tài giỏi vậy”. Cũng tức là nói An Tử lấy kỹ xảo ngoại giao kiệt xuất, đã hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu là phạt mưu.
Bởi đã phạt mưu và phạt giao thì không cần phải phạt binh và đánh thành. Bởi thế làm một nhà lãnh đạo chính trị, công tác rất quan trọng là duy trì hoà bình tất yếu. Gia Cát Lượng nỗ lực xây dựng liên minh Ngô - Thục có thể có không ít đại thần phái Diều Hâu, Thục Hán không hiểu cho ông ta, song lấy đại cục mà nói, để thúc đẩy chính quyền Thục Hán khôi phục lại nhà Hán vinh quang ngày xưa, nếu như muốn có lực lượng đầy đủ đối chọi được Tào Nguy cướp ngôi nhà Hán, kiên trì lập trường của mình, xây dựng sự ổn định chiến tuyến phía đông và trạng thái hoà bình, đích xác là điều tuyệt đối cần thiết.
 
0
Chương XVII
ƯU TIÊN KHUYẾN NÔNG, THỰC HÀNH PHÁP TRỊ
 
Gia Cát Lượng phụ tá Lưu Thiện điều hành nước Thục, chính sách chủ yếu là thúc đẩy nông nghiệp mọi mặt, đóng cửa bồi dưỡng sức dân. Đối mặt với tình hình trì trệ lâu dài ở Thục Trung, đặc quyền hoành hành, công quyền không được tôn trọng, Gia Cát Lượng lấy nghiêm khắc hình pháp ức chế quan liêu, cường hào, lấy tăng cường quyền lực để bảo hộ cho trăm họ yếu đuối.


1. Khuyến khích nông nghiệp mọi mặt, đóng cửa bồi dưỡng sức dân.
Việc cai quản ở đời loạn, chẳng thể tránh khỏi quan tâm khuếch trương thế lực, với khẩu hiệu vì dân vì nước, song mối quan tâm thực sự đến đời sống dân tình thường không nhiều. Ở cuối đời Hán, quần hùng cát cứ, hiểu được sinh hoạt của nhân dân, biết rõ những nỗi thống khổ của họ, đại khái chỉ có Tào Tháo và Lưu Bị. “Luận anh hùng trong thiên hạ duy chỉ có Sứ quân và Tháo”. Tin rằng đấy là ý nghĩ chân thực của Tào Tháo vậy. Đất Giang Nam vẫn là nơi giàu có, chính quyền Tôn Quyền có được địa lợi nhân hoà, trong khi đó dân sinh chẳng phải là vấn đề quan trọng. Trung Nguyên nhiều năm chiến loạn, đời sống dân lành khổ cực không chịu nổi, Tào Tháo có thể thuận lợi đánh bại được thế lực của Viên Thiệu gấp mình mười lần, do hiểu được nhân tâm, đã giành được sự giúp đỡ của nhân dân, đấy cũng là nguyên nhân chủ yếu. Vùng Tây Thục cố nhiên xa cách Trung Nguyên loạn lạc song trước đó bởi cha con Lưu Yên chỉ biết tăng cường thuế má, phóng túng cho cường hào quan lại đè ép dân lành, sản xuất bị phá hoại, đời sống dân lành rất khốn khổ.
Lưu Bị có thể thuận lợi đoạt lấy Ích Châu, nguyên nhân chủ yếu cũng ở đấy, là bởi những nhân sĩ, có chí hướng, muốn có được minh chủ điều hành.
Bởi thế, Gia Cát Lượng khi nắm công việc điều hành chính trị ở Ích Châu đối với vấn đề này đặc biệt quan tâm.
Để phục hưng đặt nền móng, việc quan trọng nhất là tăng cường quốc lực, mới không làm gián đoạn nhu cầu quân sự ở tiền tuyến của Lưu Bị. Song Gia Cát Lượng cũng hiểu rất rõ, chỉ dựa vào việc thu thuế chẳng thể làm cho quốc gia giàu mạnh, nước giầu thì dân phải giầu trước, dựa vào sự giàu có của dân là điều tất yếu. Trung Quốc cổ đại lấy nghề nông làm chính, bởi thế muốn tích cực cải cách quốc kế dân sinh ở Ích Châu ắt phải lợi dụng được những điều kiện tự nhiên ưu tú, lấy chính sách thúc đẩy nông nghiệp mọi mặt để có nhiều của cải. Nhân dân có tiền, chính phủ mới có nguồn thuế khoá, cách làm giống như thời cha con Lưu Yên, chẳng qua không giết gà lấy trứng mà thôi.
Muốn quán triệt chính sách, đối với nông dân đang ở thế yếu ắt phải bảo hộ hữu hiệu cho họ. Gia Cát Lượng xác định kế sách, chú trọng khuyến nông, không xâm chiếm thời vụ, chú trọng giảm thuế, không vơ vét hết của cải trong dân, hạ lệnh chính quyền các cấp, quan tâm thật sự đến nông dân, chẳng thể hô khẩu hiệu suông mà thôi. Ông yêu cầu các quan chức hành chính Thục Hán, khi sắp xếp quân sĩ và trưng dụng phu phen tạp dịch, tuyệt không chiếm dụng thời gian gieo trồng và gặt hái của nông dân, giảm nhẹ thuế má, ức chế cường hào bức hiếp nông dân, bảo hộ được cho nông dân có không gian sinh tồn và sinh hoạt ổn định. Tam quốc chí có chép, Gia Cát Lượng phụ tá Lưu Thiện điều hành nước Thục, chính sách chủ yếu là khuyến khích nông nghiệp mọi mặt, bồi dưỡng sức dân, giữ gìn hoà bình lâu dài để nhân dân có cơ hội nghỉ ngơi. Ví như có chiến tranh nổ ra cũng phải lợi được lúc thời vụ không bận rộn, khuyến nông cho quân nghỉ ngơi, chia quân làm đồn điền, thực hành chế độ binh nông hợp nhất để giảm nhẹ gánh vác của nông dân. Cũng giống như Tào Tháo, Gia Cát Lượng rất xem trọng chính sách đồn điền. Hơn nữa ở vùng Hán Trung gần tiền tuyến, lại phải có những cơ sở đồn điền chủ yếu, đồn điền không những là nơi đóng quân khi có chiến tranh, làm tốt quan hệ quân dân, lại có thể giải quyết vấn đề lương thực. Lã Nghĩa sau khi kế tục Ngụy Diên làm Thái thú Hán Trung, lại có kế hoạch chiêu mộ dân du cư ở đấy làm đồn điền, chẳng những giải quyết không ít vấn đề xã hội, lại làm cho sức sản xuất quốc gia tăng rất nhiều. Tam quốc chí có chép, khi Lã Nghĩa làm Thái thú ở Hán Trung kiêm nhiệm đôn đốc nông nghiệp, tăng cường quân lương, lập được không ít công lao.


2. Bồi dưỡng sức dân đủ mọi bề: Thủy lợi, dệt gấm và khai mỏ.
Ở bình nguyên Thành Đô xưa kia, được Lý Bằng cố gắng sửa sang đã hoàn thành công trình lớn nổi tiếng nghìn năm, đó là kênh Đô Giang. Chẳng những là màng lưới thủy lợi tưới tiêu rất lớn lúc đó, cũng là mạch máu sinh hoạt của nông dân Ích Châu. Gia Cát Lượng đối với kênh Đô Giang rất xem trọng, ông đặt ra quan chủ quản phụ trách bảo quản, tu bổ và quản lý, có 1800 tráng đinh làm ở vùng kênh, để vĩnh viễn giữ kênh Đô Giang ở trạng thái tốt nhất, nâng cao được sức tưới nước giúp cho sản xuất nông nghiệp ở Thục Trung được rất nhiều. Đương nhiên thủy lợi mới xây dựng cũng không ít. Hiện nay ở Bá Hà phía tây bắc Thành Đô, có một con đê dài hơn 9 dặm, gọi là đê “Gia Cát”, truyền thuyết nói là Gia Cát Lượng để ngăn chặn hồng thủy tràn vào vùng đất nông nghiệp thấp, đã đặc biệt sắp xếp nhân dân xây dựng nên. Hiện nay ở Thành Đô vẫn lưu truyền câu chuyện Gia Cát Lượng dẫn đầu các tráng đinh đắp đê.
Muối và sắt vẫn là những đặc sản của Ích Châu, cũng là nguồn của cải chủ yếu phát triển kinh tế dân sinh. Thời Đông Hán từng phế bỏ lệnh cấm kinh doanh muối sắt, giao cho dân được kinh doanh, kết quả là quan lại địa phương câu kết với cường hào nắm đặc quyền kinh doanh muối sắt, đặt ra giá cả, chẳng những tạo thành khốn khó cho dân sinh, cũng giảm thu nhập của quốc gia không ít. Lưu Bị sau khi bình định Ích Châu, theo đề nghị của Gia Cát Lượng thiết lập lại cơ cấu quốc doanh về muối sắt, quan Tỳ diêm hiệu ứng (đầu tiên là Vương Liên) và Ty kim trung lang tướng (đầu tiên là Trương Duệ) phụ trách quản lý sản xuất muối sắt, và chế tạo nông cụ, binh khí, không để cường hào và quan lại câu kết chiếm làm của riêng nguồn lợi quốc gia.
Nghề nấu muối của Thục Trung từ đời Hán đã rất phát đạt, muối được lấy từ các giếng muối, ở Lâm Cung, Quảng Đô, Thập Phương đều có giếng muối, dân Thục giỏi kỹ thuật nấu muối có nơi còn dùng khí thiên nhiên để nấu muối.
Cuốn “Bác vật chí” của Trương Hoa có chép, “Lâm Cung còn có giếng khí thiên nhiên, rộng năm thước, sâu khoảng ba trượng. Gia Cát Thừa tướng từng đến tận nơi xem xét hơi nóng của trong thiên nhiên được lấy lên từ những cái giếng đế đun muối mỏ thành muối ăn”.
“Gia Cát Lượng cố sự” cũng có chép, nước Thục có 14 giếng muối. Ở đấy chép theo truyền thuyết không thực phù hợp với lịch sử, song có thể thấy Gia Cát Lượng đối với khí thiên nhiên khá xem trọng và quan tâm, cố gắng ứng dụng rộng rãi.
Từ những bức vẽ giếng muối trên gạch tìm thấy ở ngôi mộ cổ đời Hán ở Thành Đô, có thể thấy tình hình sản xuất muối mỏ lúc đó. Giếng muối nói chung đều ở trong núi, trên giếng có đặt giá gỗ khá cao, trên giá có con lăn. Người làm đứng ở bên giá, lợi dụng con lăn để kéo những thùng nước giếng lên, sau đó, dùng ống máng để dẫn nước vào nồi để đun, hết phần nước thì phần còn lại là muối. Thục Trung có vùng núi Nhan Thọ chứa nhiều quặng sắt, gọi là núi sắt. Gia Cát Lượng đã lợi dụng nó để đúc binh khí và nông cụ, lịch sử có chép câu chuyện lấy sắt ở Kim Ngưu Sơn đúc kiếm, Gia Cát Lượng xem trọng cải tiến kỹ thuật, Phổ Nguyên người Ích Châu là một tay luyện thép cao thủ, nổi tiếng về nấu kim loại đặc biệt, Gia Cát Lượng đề bạt ông ta làm quan ở Thục Hán, để nâng cao chất lượng binh khí của Thục Hán. Bởi chiến tranh là nhu cầu lúc ấy, nên kỹ thuật đúc sắt rất mau chóng tiến bộ. Đến thời Tấn Hán người ta đã nắm được phương pháp nhiệt luyện để xử lý nhiệt chế ra kiếm sắc, binh khí có độ bền chắc cao. Thời Hán Vũ đế, dựa vào những binh khí này, khiến sức tác chiến của quân đội nhà Hán tăng rất nhiều. Phổ Nguyên khi chế tạo binh khí cho Gia Cát Lượng ở Tà Cốc, phát hiện chất nước không hợp với yêu cầu tôi sắt, phải cho người về Thành Đô lấy nước đến. Ông ta luyện ra 3000 cây đao cứng, để thử độ sắc, dùng ống trúc bọc lấy thanh sắt tròn, rồi dùng đao chém ngọt ngang đoạn trúc, mọi người xung quanh đều kinh ngạc, gọi đó là thần đao.
Đương nhiên, một công năng rất lớn khác của đúc sắt là cải tiến nông cụ, khiến đất đai được mở rộng rất nhiều, là sự giúp đỡ lớn cho sản xuất.
Tam quốc chí có chép: “Ty diêm hiệu uý của Thục Hán đem lại mối lợi rất lớn về muối, giúp ích nhiều cho quốc gia”.
Gấm Thục cũng là đặc sản của Thục Trung, hoa văn rõ nét, sáng bóng, rất tươi đẹp. Từ bức vẽ vườn dân ở ngôi mộ cổ thuộc Tứ Xuyên và bức vẽ khung dệt ở Thành Đô, có thể thấy ở thời Đông Hán, vùng Tứ Xuyên sớm đã phát triển mạnh nghề trồng dâu dệt vải.
Lưu Bị sau khi bình định Ích Châu, đã ban thưởng cho Gia Cát Lượng, Pháp Chính, có dùng rất nhiều gấm Thục. Gia Cát Lượng sau này trong tấu biểu dâng lên Lưu Thiện cũng nói: “Nay dân nghèo, nước rỗng, của cải đáng kể chỉ còn có gấm vậy”. Khá thấy gấm Thục có vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế của nước Thục.
Gia Cát Lượng bởi thế đặt ra chức cẩm quan, để quản lý chuyên môn, Thành Đô cũng bởi thế cũng được gọi là Cẩm quan thành.
Gia đình Gia Cát Lượng ở huyện Song Lưu gần Thành Đô cũng có 800 gốc dâu, khá thấy ông ta xem trọng nghề dâu tằm, bắt gia nhân cũng tham gia vào công việc ấy. Do sự nỗ lực của ông ta, sản lượng gấm Thục tăng thêm chưa từng thấy, theo ghi chép lịch sử, khi nhà Thục Hán mất, số gấm Thục và lụa bóng trong kho có 20 vạn thếp.
Cuốn “Hậu Hán thư” của Phạm Diệp có chép, Tào Tháo từng phái người đến đất Thục mua gấm. Bùi Tùng Chi trong khi chú giải Tam quốc chí có chép, gấm Thục được dùng làm lễ vật quốc gia đem tặng cho Tôn Quyền. Khá thấy gấm Thục đã rất nổi tiếng với lân bang lúc đó. Có được đặc sản này, sự phát triển của nước Thục đã được sự giúp đỡ rất lớn.


3. Nước giàu dân mạnh, đủ lương đủ lính.
Gia Cát Lượng thời kỳ ở Tân Dã, với số lượng nông dân lưu lạc bởi chiến sự, đã sắp xếp lại, đăng ký sổ sách gọi là du dân, để quản lý được hữu hiệu. Chẳng nhũng vấn đề trị an được cải thiện ngay mà còn thúc đẩy sản xuất, tăng thêm được binh lính và lương thực, có được sự giúp đỡ trực tiếp về thực lực.
Sau khi ổn định Ích Châu, Triệu Vân cũng đề nghị đưa các dinh thự cũ, đất vườn, ruộng dâu, trả lại tất cả cho nhân dân, để họ an cư lạc nghiệp, sau này mới điều động được. Gia Cát Lượng thấy đó là chủ trương nước giàu nhà vững, dốc sức giúp đỡ Lưu Bị cũng rất cảm động, lập tức cho thi hành.
Gia Cát Lượng khi làm thừa tướng đã công khai nói rõ: Lúc này dân như phù vân, tay chân không yên, cho nên về chủ trương, tất cả lấy yên dân làm gốc. Gia Cát Lượng khi thấy Tưởng Uyển làm việc sơ ý, có nói với Lưu Bị: “Việc chính sự lấy yên dân làm gốc, không lấy trang sức làm đầu”. Ông ta từng hạ lệnh cho các quan địa phương, tuyệt đối không được lộng hành, khoa trương không đâu. Cũng tức là ông ta cho rằng Tưởng Uyển là người hiểu được việc yên dân, không cầu kỳ hình thức cửa quan, thực đã hiểu rõ dân tình. Cho nên sau khi Lưu Bị mất, ông ta đề bạt Tưởng Uyển làm Trưởng sử ở phủ Thừa tướng, sau này lại đề bạt làm người tiếp nhiệm. Bởi Gia Cát Lượng quan tâm đến đời sống ở Ích Châu, nên sau 3 năm, Ích Châu đủ lương, đủ lính, có thể cung ứng đầy đủ cho nhu cầu tiền tuyến của Lưu Bị. Viên Chuẩn đời Tấn đối với việc này có khen rằng:
“Việc điều hành của Gia Cát Lượng ở Thục đã đem lại ruộng đất mở mang, kho lương sung túc, khí giới sắc bén, sản vật dồi dào... từ chỗ suy yếu mà sửa sang được mọi việc, khuyên khích dân cố gắng”. Bởi ổn định tài chính của Thục Hán, Gia Cát Lượng theo đề nghị Lưu Ba, cho đúc tiền mới, bình ổn vật giá, lập ra quan chợ chuyên quản lý thị trường. Kể từ cuối đời Hán, Đổng Trác dời đô về Trường An, bỏ tiền lớn đúc tiền nhỏ, kết quả tạo ra sự hỗn loạn thị trường, tiền tệ không có giá trị làm cho đời sống trăm họ bị ảnh hưởng nặng nề. Sự phân chia ba chân đỉnh về chính trị, dẫn theo sự phân biệt về chế độ tiền tệ; Tào Tháo lại dùng tiền lớn “Ngũ thù”, vẫn chẳng thể cứu vãn được tình hình. Đến năm Hoàng Sơ thứ hai không thể không phế bỏ tiền cũ, lấy giá trị ngũ cốc thay cho tiền tệ, song lại có người lợi dụng tích trữ hàng hoá, tạo thành sự hỗn loạn vật giá nghiêm trọng, tuy có phạt nặng cũng không cấm tiệt được. Đến thời Ngụy Minh đế lại cho dùng tiền lớn “Ngũ thù”, song tiền tệ nước Ngụy vẫn trong vòng hỗn loạn.
Ở Đông Ngô vấn đề này cũng không đơn giản, Tôn Quyền vào năm Gia Hoà thứ năm và năm Xích Ô thứ nhất, tức là khoảng năm 236 đến năm 238 sau Công Nguyên, trước sau đã hai lần thay đổi đồng tiền, một lần cho đúc tiền 500 đồng, lần sau cho đúc tiền 1000 đồng, khá thấy tiền tệ cũng rất không ổn định, hơn nữa còn chưa có cơ cấu đề phòng việc đúc tiền giả, nên vấn đề này khá phức tạp.
Lưu Bị sau khi chiếm được Ích Châu, cho đúc tiền 100 đồng, cũng chưa có biến đổi gì xáo trộn, hiển nhiên cho thấy cách xử lý của Gia Cát Lượng về vấn đề này khá đúng đắn. Tiền tệ của nước Thục, chẳng những được lưu thông trong nước mà ở vùng Kinh Châu lúc đó cũng lưu hành tiền tệ của Thục Hán; khá thấy sự lưu hành rộng rãi vượt quá biên giới quốc gia. Được Gia Cát Lượng cố gắng điều hành, sự phát triển kinh tế của Thục Hán lúc đó được xem là khá thành công.


4. Lấy mình làm gương, để cùng trói buộc.
Bởi nền chính trị suy đồi của Khước Kiệm và Lưu Yên, xã hội phân chia giàu nghèo rất chênh lệch, cường hào xa xỉ kiêu ngạo, kẻ nghèo không có đất đứng chân. Tình thế dao động không yên, đấy là nguyên nhân chủ yếu nhất để Gia Cát Lượng quyết tâm đổi mới lại. Trong tờ biểu trước cuộc bắc phạt thứ nhất, Gia Cát Lượng từng nói với hậu chủ Lưu Thiện:
“Thần lúc đầu phụng mệnh tiên đế, mọi thu thập đều dựa vào công quỹ, về căn bản chẳng nghĩ gì đến mức sinh hoạt. Nay ở Thành Đô có 800 gốc dâu, 15 khoảnh ruộng, cái ăn cái mặc của con cái cũng được đầy đủ, còn về việc dẫn quân ra ngoài, lại không cần lo về sự sinh hoạt, cái ăn cái mặc toàn bộ đều do nhà nước cung cấp, nên không lo đến sản nghiệp riêng, của cải ít nhiều đều không nghĩ đến làm gì. Phải khắc khổ như thế là mong mỏi sau ngày thần mất, thì trong nhà chẳng có thừa vải lụa, ngoài thì chẳng có điền sản gì, đề khỏi phụ lại sự tín nhiệm của bệ hạ đối với thần!”.
Sau khi Gia Cát Lượng mất, Lưu Thiện cho người xem xét của cải của Gia Cát Lượng, quả nhiên như đã nói một chút cũng chẳng sai khác. Thực ra, Gia Cát Lượng không phải không hiểu cách kiếm tiền, như trên đã nói ông rất xem trọng đời sống nhân dân cho nên khi điều hành Thục Hán, kinh tế ở đấy cũng khá giàu mạnh. Có thể lúc ấy không khí xa xỉ đua đòi khá nghiêm trọng, Gia Cát Lượng muốn thay đổi phong tục, chỉ có cách dùng thuốc đắng phải bắt đầu từ mình, lấy mình làm gương, thực hành tiết kiệm, cũng là phản đối sự lãng phí.
Nỗ lực của Gia Cát Lượng đã phát huy không ít hiệu quả, không ít quan chức cấp cao của Thục Hán, đều phỏng theo sự thanh bạch của Gia Cát Lượng mà triệt để tiết kiệm ví như Đặng Chi là một nhà ngoại giao kiệt xuất, “Tam quốc chí” kể rằng, ông ta không nghĩ đến tài sản riêng, vợ con không tránh khỏi đói rét. Lại như đại tướng quân Khương Duy người kế nhiệm Gia Cát Lượng về quân sự thì nhà cửa sơ sài, tài sản chẳng có gì đáng kể, lại còn ham học không mệt, tiết kiệm đến mức thanh bạch. Cũng phải kể đến tể tướng Phí Vỹ sau này, nhã nhặn khiêm nhường, nhà không tích chứa của cải, con cái mặc áo vải thô ăn cơm chay, không thích ngựa xe, chẳng khác người thường, do những nỗ lực như vậy mà Ích Châu yếu kém dưới thời Lưu Bị, chẳng bao lâu trở thành một nơi ruộng đồng bát ngát, kho tàng đầy ắp, khí giới sắc bén, của cải phong phú. Gia Cát Lượng sau này có thể trường kỳ phát động chiến tranh bắc phạt là bởi dựa được vào sự giàu có về của cải như vậy.


5. Giáo dục đi đôi với hành pháp, nghiêm minh mà lại không hà khắc.
Đối mặt với sự trì trệ của Thục Trung lâu dài đặc quyền hoành hành, công quyền không được tôn trọng, Gia Cát Lượng lấy pháp luật nghiêm minh, ức chế quan liêu và cường hào, lấy công quyền để bảo hộ cho trăm họ yếu đuối, bởi thế trong thời kỳ ông điều hành, sự thanh bình về chính trị của nước Thục được xem là nổi trội. Bởi quán triệt tinh thần điều hành, Gia Cát Lượng y theo pháp luật mà hành động, không né tránh kẻ quyền quý, cũng không vị nể tư riêng. Ví như con nuôi Lưu Bị là Lưu Phong có tội làm trái quân kỷ, do sự kiên quyết của Gia Cát Lượng, bị Lưu Bị xử tử hình. Đến cả Lý Nghiêm và Liêu Lập là người có tiếng tăm cũng bị xét xử. Lý Nghiêm sau đổi tên là Lý Bình là quan Thượng thư lệnh của Thục Hán. Khi ở thành Bạch Đế cùng được bổ nhiệm với Gia Cát Lượng để phò tá hậu chủ, địa vị gần như Gia Cát Lượng.
Khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ 2, Lý Nghiêm phụ trách việc cung ứng hậu cần. Bởi ông ta cá tính kiêu ngạo, trọng hư danh mà không thiết thực, cho nên việc cung ứng quân lương bị chệch choạc. Lý Nghiêm tự cậy mình quyền cao chức trọng, về văn bản không lo lắng cách khắc phục, lại giả truyền thánh chỉ, yêu cầu Gia Cát Lượng rút quân.
Đợi đến Gia Cát Lượng đã rút quân, ông ta lại phái người nói bừa với Lưu Thiện rằng: “Quân lương cung cấp rất đầy đủ, không biết thừa tướng Gia Cát vì sao lại rút quân”. Sau đó lại nói rằng việc rút quân của thừa tướng chẳng qua là giả vờ, mục đích là dẫn dụ kẻ địch đuổi theo, sau sẽ quay lại giao chiến.
Sự thao túng của ông ta, khiến quân lệnh và hệ thống quân chính của Thục Hán rối loạn, Gia Cát Lượng sau khi biết rõ, lập tức hạ lệnh triệt để thanh tra, coi việc Lý Nghiêm làm vừa rồi là xem thường việc quốc gia đại sự, rối loạn quân kỷ, đùa giỡn không đâu, mưu toan trốn tránh trách nhiệm, an thần cầu danh, không lo quốc sự, dâng thư kể tội với hậu chủ bãi miễn quan chức của Lý Nghiêm, phế làm thường dân, lại đầy đến tận Tử Đồng.
Liêu Lập tên chữ là Công Nguyên, người Vũ Lăng khi còn trẻ đã có danh vọng, cùng với Bàng Thống được gọi là người tài nước Sở. Sinh thời Lưu Bị từng cử ông ta làm Thái thú Trường Sa.
Khi Tôn Quyền phái binh đánh ba quận Kinh Nam, Liêu Lập đóng ở tuyến thứ nhất, chưa từng giao chiến mà đã vội rút quân. Song Lưu Bị quí trọng tài hoa chưa từng khiển trách lại còn bổ nhiệm cho làm Thái thú Ba Quận. Có thể do kiêu ngạo quá mức, đương khi Lưu Bị mất ở thành Bạch Đế, Liêu Lập làm Trương thủy hiệu uý; song ông ta tự coi mình chẳng phải thường, cho rằng Gia Cát Lượng vẫn chú ý đến ông ta, bởi thế thường vẫn công khai tự nhận là người kế nhiệm của Gia Cát Lượng, đáng lẽ phải nắm phần việc quan trọng ở triều chính.
Tam quốc chí có chép, ông ta xem thường cả tiên đế, khinh rẻ quần thần, tỏ ý công kích chính sách của Thục Hán, lại chỉ trích Gia Cát Lượng bổ nhiệm những quan lại đều là phường thô tục, còn tướng lĩnh xung quanh chí xem là “tiểu tử” mà thôi. Bởi không ngừng sai trái như vậy, cuối cùng đến năm Kiến Hưng thứ 3, Gia Cát Lượng dâng biểu kể tội Liêu Lập, phế ông ta làm thường dân, lại lưu đầy đến quận Vấn Sơn.
Hướng Lãng từng làm một trợ lý giỏi rất được Gia Cát Lượng trọng dụng, được làm Trưởng sử ở phủ Thừa tướng; khi Gia Cát Lượng nam chinh, để ông ta lại trông coi phủ Thừa tướng, quản lý công viêc hậu phương. Khi bắc phạt, Hướng Lãng làm Giám quân, song khi Mã Tắc ở Nhai Đình tự ý co về cố thủ, Hướng Lãng bởi rất mến mộ tài năng của Mã Tắc trẻ tuổi, cố ý giấu giếm tội lỗi thực tế. Gia Cát Lượng cho rằng ông ta vì tư riêng mà hại đến việc công, cũng chẳng nể nang, ngay lúc đó bãi miễn tất cả quan chức, đến khi đã trở về Thành Đô, mới cho làm một chức quan không mấy thực quyền.
Do đấy khá thấy Gia Cát Lượng thi hành pháp luật nghiêm chỉnh, chẳng kể người nào, nếu phạm pháp đều bị trừng phạt, dứt khoát không châm chước. Đặc biệt với những người ở chức cao có quyền thế, lại là đối tượng để mọi người mô phỏng, tuyệt đối chẳng thể giảm nhẹ hình phạt. Gia Cát Lượng nghiêm minh mà không hà khắc, ông ta không tán thành việc liên quan, cho rằng việc làm sai lầm của cá nhân, tuyệt đối không ảnh hưởng đến những hậu duệ có tài cán.
Lý Nghiêm bị bãi miễn quan chức, song con trai vẫn được làm Giang châu đốc quân, sau lại được thăng làm Thái thú ở Chu Đề, chẳng bị ảnh hưởng gì lắm.
Hướng Lãng bị cách chức, song người cháu là Hướng Sủng lại được đề bạt thẳng ngoại lệ, đảm nhiệm chức trách quan trọng trong hệ thống phòng thủ quốc gia.
Gia Cát Lượng tuy ra sức thực hiện minh pháp, lại phản đối việc lạm dụng hình phạt, ông ta thường chú ý lựa chọn những viên quan chủ quản việc coi ngục phải trung thực liêm khiết, phản đối những quan lại mặc ý cá nhân chủ quan thích thị uy tùy ý sinh sát, nếu yêu thích thì không bắt tội, nếu bực tức thì có thể giết kẻ vô tội. Ông lại tự mình yêu cầu, cũng yêu cầu những cán bộ trọng yếu, phải thật cẩn thận trong khi tống ngục hành hình. Tùy tiện vận dụng hình luật mà lạm dụng hình phạt chẳng thể khuyên người ta hướng thiện. Tập Tạc Sỉ đời Tấn từng bình luận rằng:
“Hình luật không thể không dùng, khi gia hình mà như mình có lỗi, khi ban tước lộc mà không tư riêng, khi trừng phạt mà không giận dữ, thiên hạ còn ai chẳng phục; Gia Cát Lượng là người giỏi dùng hình phạt, từ Tần Hán đến giờ chưa từng có vậy”.
Thưởng phạt chuẩn xác, người bị phạt tự nhiên tâm phục khẩu phục. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Liêu Lập khóc lóc mà rằng: “Ta cuối cùng phải chết già ở nơi biên cương này rồi!”.
Lý Nghiêm sau khi nghe tin dữ, cuối cùng quá thương tâm, lo nghĩ thành bệnh mà chết. Bởi những người này biết rằng, chỉ cần một thời gian nữa. Gia Cát Lượng cho rằng trừng phạt thế là đủ sẽ tha thứ cho để họ có được cơ hội mới; Gia Cát Lượng mất đi, chẳng có ai có thể cầm cân nẩy mực như thế, cho nên họ cũng mất đi hy vọng trở lại triều đình.
Trong những tập văn sách mà Gia Cát Lượng để lại, cũng công nhiên nói rõ quan niệm phép trị của ông ta, cho rằng mình là người thừa kế của Thương Ưởng, Hàn Phi Tử và tinh thần của nhà đại chính trị thời Tây Hán là Đổng Trọng Thư, chủ trương “pháp”, “lễ” cùng dùng, “uy”, “đức” “cùng đi” song lại nhấn mạnh bảo ban pháp luật, khuyến thiện truất ác. Ông phê bình Thương Ưởng giỏi ở điều luật, lại không để ý giáo hoá mà đã xử phạt nặng, lấy dài vá ngắn, cùng thực thi giáo hoá và hành pháp. Bởi thế pháp luật điều lệnh của quốc gia và quân đội được ông gộp vào ba mệnh năm lệnh, để mọi người triệt để hiểu rõ, đề phòng để không vi phạm. Ông cũng định ra các chương điều luật như “ngũ cụ”, “lục khủng”, “thất giới”, cụ thể chỉ rõ cái gì nên làm, cái gì không nên làm, mục đích chế độ hoá tất cả, không cần phải cố gắng đặc biệt mọi người đều có thể làm được, như vậy quốc gia mới có thể bền vững lâu dài, tinh thần pháp trị mới được phát huy thực sự.
Nỗ lực của Gia Cát Lượng đích xác đã phát huy công hiệu thay đổi phong tục. Không ít quan chức cao cấp ở Thục Hán, đã lĩnh hội và chấp hành tinh thần pháp trị của Gia Cát Lượng; Tam quốc chí có chép: Dương vũ tướng quân Đặng Chi thưởng phạt rõ ràng, rất quan tâm đến binh lính; Trù hàng đô đốc Trương Dực giữ nghiêm pháp luật, Đỗ quân tòng sự Dương Hý trông coi hình ngục đúng mực, luận rõ pháp luật, định án rõ ràng; Tang ca Thái thú Mã Trung rất có ân huệ. Mấy mươi năm suy vi, cuối cùng nước Thục trong một thời gian ngắn giành được sự hưng thịnh, đấy là kỳ tích nghìn năm ít thấy. Đúng như Trần Thọ đã nói, Gia Cát Lượng ứng biến với chiến trường không linh hoạt, song chỉ kể thành tích điều hành nước Thục của ông, sự vĩ đại của Gia Cát Lượng cũng là điều chẳng thể gì so sánh được.
Trưởng lão ở Ích Trung là Trương Duệ có bình luận rằng: “Thừa tướng Gia Cát Lượng chí công nghiêm minh, thưởng phạt chẳng kể thân sơ xa gần, kẻ không có công thì không ban thưởng, kẻ quyền quý cũng chẳng được miễn tội, đấy là nguyên nhân chủ yếu nhất để mọi người nước Thục hăng hái tiến lên”.
Trần Thọ tuy không thừa nhận thiên tài quân sự của Gia Cát Lượng như trong truyền thuyết, song với thành tích điều hành cũng rất khen ngợi, trong Tam quốc chí có bình luận rằng: Gia Cát Lượng thi hành pháp luật, giáo huấn nghiêm minh, thưởng phạt rõ ràng, không có tội thì không bị trừng trị, không có công thì không thưởng, không dung tha kẻ có tội dù là ai, mọi người tự mình cố gắng, đạo lý không bỏ sót, mạnh không lấn yếu, không khí thịnh vượng tràn khắp vậy.
 
*
*      *
 
Lời bình của ‘Trần Văn
Tôn Tử viết trong “Thiên tác chiến”: Phàm về cách dùng binh trước đã có nghìn cỗ xe tứ mã, nghìn cỗ xe chở quân, 10 vạn binh giáp, đủ lương thực ở nơi nghìn dặm, các khoản chi phí nội ngoại, khách khứa tài vật mọi mặt dồi dào, tiền bạc đầy đủ, rồi sau mới nói đến cử mười vạn binh chinh phạt.
Đúng như Napôlêông của nước Pháp đã nói: “Vấn đề quan trọng thứ nhất của chiến tranh là tiền, quan trọng thứ hai cũng là tiền, quan trọng thứ ba cũng vẫn là tiền”.
Chưa có tiền chẳng thể đấu đá, ngày xưa như thế, chiến tranh hiện đại lại càng xem trọng. Cứ thử xem cuộc chiến tranh vùng Vịnh vừa rồi, sự tiêu tốn khổng lồ trong những ngày ấy, rõ ràng cho thấy chẳng có lực lượng kinh tế, chiến tranh dứt khoát không thể tiến hành.
Không chỉ trong chiến tranh, việc tiêu thụ quảng cáo trong xí nghiệp hiện đại cũng như vậy, thiếu chuẩn bị thực lực, chỉ nghĩ cầu may mà được thắng lợi là điều chẳng thể dễ dàng. Quản Trọng thời Xuân Thu, đã hiểu được vận dụng lực lượng kinh tế để nâng cao địa vị quốc tế. Cuốn “Quản tử” từng chỉ rõ: “Đến ngày xuất binh, nếu như trong nước nghèo nàn thì chiến đấu không giành thắng lợi, nếu ngày đó mà trong nước giàu mạnh thì chiến đấu ắt giành thắng lợi”.
Sự giàu mạnh của đất nước là điều kiện rất quan trọng để chiến thắng. Trong đại chiến thế giới thứ 2, sự thất bại của khối trục Đức, Ý, Nhật, chẳng những ở chiến lược và chiến thuật, mà còn do thực lực kinh tế không đầy đủ.
Ở Nhật, Đức Xuyên Gia Khang thời Mạc Phủ, kế thừa tinh thần của Điền Tín Huyền, rất xem trọng bồi dưỡng lực lượng kinh tế. Ông ta cho rằng chẳng có thực lực, cũng sẽ chẳng có cơ hội tốt. Thực lực được tích lũy hàng ngày, bởi thế nhất định phải tiết kiệm đến chân tường. Có như vậy, mới có thể đáp ứng nhu cầu bất thường, xây dựng thực lực bền vững lâu dài.
Giữa đám quần hùng thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng rất hiểu rõ về sức mạnh kinh tế, phương diện này làm triệt để hơn so với Tào Tháo, bởi thế kinh tế của Thục Hán cũng rất mạnh so với các nước kia.
Đáng tiếc ông không chú ý đến “thiên tác chiến” của Tôn Tử nói về thắng lợi của chiến tranh, cần xem trong nguyên tắc đánh ngắn ngày, không kéo dài, cuộc bắc phạt lâu dài, khiến hao phí của chiến tranh vượt quá sức chịu đựng của quốc gia. Kỳ tích kinh tế của Thục Hán, chưa phát huy hữu hiệu thực lực chính trị, trái lại quốc gia lại sớm bị diệt vong bởi đánh lâu dài.
 
0
Chương XVIII
TIẾN CỬ NGƯỜI HIỀN
 
Sau khi Gia Cát Lượng làm thừa tướng, đặc biệt cho xây dựng ở phía nam Thành Đô một “đài đọc sách”, để tập hợp các nhà nho gia, kiêm tiếp đãi hiền sĩ bốn phương. Ông ta cũng đặc biệt đưa ra hai nguyên tắc lớn để thu thập nhân tài: một là có tầm hiểu biết rộng, hai là có năng lực thực tế.
 
1. Đạo lý trị quốc, xem trọng cử hiền.
Theo như ghi chép lịch sử, Gia Cát Lượng là một nhân vật bi kịch một đời tận tụy cho đến chết, bởi thế mà không ít nhà sử học phê bình Gia Cát Lượng không biết dùng người, chẳng hữu hiệu bồi dưỡng thế hệ kế cận mới tạo thành thất bại sau này. Thực ra trong Tam quốc diễn nghĩa, sau khi mô tả tô vẽ quá mức kỳ tài của Gia Cát Lượng, để giải thích cho thất bại của Thục Hán, không thể không cho là Gia Cát Lượng không biết dùng người, tạo ra ấn tượng sai lầm Thục Hán thiếu nhân tài.
Trong Tam quốc diễn nghĩa có nói: “Thục Trung không còn đại tướng, đến như Lưu Hoá cũng được cử làm tiên phong”, như vậy là rất không công bằng, trong thời gian Gia Cát Lượng còn sống và cả sau này nữa, Thục Trung có rất nhiều nhân tài, giỏi văn giỏi võ không kém thời đại Lưu Bị. Thất bại của Thục Hán, có những nguyên nhân khác, riêng về nhân tài thì một chút cũng không thiếu vậy.
Trong “Gia Cát Lượng văn tập” từng chỉ rõ đạo lý trị quốc, phải xem trọng việc tiến cử hiền tài. Bởi thế Gia Cát Lượng điều hành nước Thục rất quí trọng nhân tài. Như trên đã nói, ông từng đề bạt Trương Nghi xuất thân hèn kém, Vương Bình không biết chữ nào, chỉ cần là người có tài thực sự, bất luận bối cảnh xuất thân, đều có thể được trọng dụng, Trương Nghi và Vương Bình sau này đều lập công lớn, trở thành nhân vật quan trọng của vương triều Thục Hán.
Dương Hồng là thuộc hạ của Lý Nghiêm, khi Lưu Bị với Tào Tháo đối trận ở Hán Trung, tiến thoái do dự không quyết. Dương Hồng đề nghị rằng: “Hán Trung là yết hầu của Ích Châu, không có Hán Trung làm bình phong, Thành Đô luôn bị uy hiếp. Vì phải huy động tất cả con trai ra chiến đấu, con gái đều phải vận chuyển lương thực, chiến trường này không thể không đánh đến cùng”.
Được sự giúp đỡ của Dương Hồng, Lưu Bị cuối cùng đã đoạt được Hán Trung, Gia Cát Lượng rất khẳng định năng lực của Dương Hồng, dâng biểu đề bạt ông ta làm Thái thú Thục Quận. Dương Hồng là người chủ quản rất hiểu rõ việc đề bạt nhân tài. Ông ta có một viên thư lại tên gọi là Hà Chi, rất có tài cán, đã tiến cử với Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng sau khi xem xét kỹ, cũng rất thích tài cán quản lý về hành chính của Hà Chi, trong mấy năm, cuối cùng đã đề bạt ông ta làm Thái thú Quảng Hán, ngang hàng quan chức với Dương Hồng.
Có lần hai người chạm mặt ở trong triều, bởi đã cùng thứ bậc, Dương Hồng nói đùa rằng: “Ngựa của ông sao chạy nhanh đến thế?”. Hà Chi cũng cười mà rằng: “Chẳng phải ngựa của tôi chạy nhanh đâu, bởi ông chưa quất roi phóng ngựa ấy thôi!”
Câu chuyện giữa hai người trở thành giai thoại đương thời.


2. Quyền thuật - Tính tình - Ý chí
Khương Duy là người kế thừa Gia Cát Lượng về mật quân sự sau này, cũng là người được Gia Cát Lượng đặc biệt đề bạt.
Khương Duy là người Thiên Thủy, vốn là một viên quan nhỏ ở quận lị của Tào Ngụy, khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ nhất, Khương Duy qui hàng, Gia Cát Lượng rất cảm mến tài năng, ngoài việc để ở bên mình làm tham mưu chủ yếu, lại phong ông ta làm Phụng nghĩa tướng quân, Khương Duy lúc đó mới 27 tuổi mà thôi.
Gia Cát Lượng trong thư gửi cho Trương Duệ và Tưởng Uyển vẫn khen ngợi Khương Duy là người trung cần với công việc, suy tư kỹ lưỡng, là kẻ sĩ hàng đầu của Lương Châu, hơn nữa lại mẫn cảm về quân sự, có can đảm, hiểu rõ binh pháp. Không lâu lại đề bạt làm Chinh tây tướng quân trở thành một tướng lĩnh quân sự quan trọng của vương triều Thục Hán. Trong cuốn sách của Trương Dực có tên là “Sử trát ký”, có so sánh đạo dùng người của Tào Tháo, Lưu Bị, anh em Tôn Quyền và Gia Cát Lượng. Ông ta cho rằng Tào Tháo dùng người thì tìm kiếm ở phương pháp, thậm chí nặng về quyền thuật. Lưu Bị thì nặng về cảm tính, về việc dùng người thì xem trọng tính tình phù hợp. Anh em Tôn Quyền hào kiệt, tìm kiếm người hợp với chí khí. Gia Cát Lượng thì tổng hợp cả ba mặt nêu trên.
Bởi vương triều Thục Hán ở nơi xa xôi, so với Ngụy Ngô thì lãnh thổ bé mà người thì ít, bởi thế Gia Cát Lượng càng phải chú ý đến, yêu mến nhân tài chỉ cần có tài năng một mặt ví như họ có khuyết điểm, cũng phát huy hết sở trưởng của họ. Ông ta với Ngụy Diên, Dương Nghi, Hứa Tĩnh, Lý Nghiêm, Lưu Lập, cách nhìn nhận là cơ thuật, có thể nói ít nhiều là quyền thuật.
Song về bản tính Gia Cát Lượng mà nói, ông ta vẫn thích những kẻ sĩ trung trực. Xem những hiền tài là cây cột trụ bền vững. “Xuất Sư Biểu” cũng nói đến thân hiền thần, xa tiểu nhân, ông ta cũng tiến cử với hậu chủ Lưu Thiện những người như Quách Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn, Hướng Sủng, và sau này là những trụ cột hàng đầu của triều đình như Trần Chấn, Trương Duệ, Tưởng Uyển; những người này tài cán có chỗ khác nhau, song tư tưởng phẩm cách đều là những kẻ sĩ trung trực, ông ta cho rằng gỗ tốt mọc ở rừng sâu, kẻ chân sĩ ở trong quần chúng. Bởi thế thường chú ý tìm kiếm các quan lại địa phương bình thường, những kẻ sĩ tài cán có kinh nghiệm.
Phương Hiếu Nhụ là nhà nho học lớn đời Minh, cho rằng Gia Cát Lượng làm thừa tướng, đã nỗ lực tiến cử hiền tài, các tể tướng từ Tần Hán đến nay cũng chẳng thể sánh kịp.


3. Chú trọng giáo dục, tăng cường thực tiễn
Bởi muốn tiến cử được nhiêu người hiền tài giúp nước, Gia Cát Lượng rất xem trọng việc giáo dục. Thời Lưu Yên, Lưu Chương nước Thục có thể nói rằng suy vi về học vấn.
Sau khi Lưu Bị cai trị Ích Châu, Gia Cát Lượng xem trọng giáo dục, còn đặc biệt lập ra người chủ quản phụ trách giáo dục, gọi là khuyến học tòng sự, những đại nho ích Châu như Trương Sản, Duẩn Mặc, Tiều Chu đều đã từng đảm nhiệm chức vụ này.
Sau khi Lưu Bị xưng đế, Gia Cát Lượng lại chính thức thành lập Phủ thái học tối cao, do những tiến sĩ truyền dạy. Lấy kinh sách cổ văn và sách kinh điển nho gia làm giáo trình chủ yếu, bởi thế chính quyền Thục Hán đã bồi dưỡng được không ít nhân tài. Tiều Chu đảm nhiệm chức Khuyến học tòng sự rất lâu, là một nhà sử học và kinh điển học nổi tiếng lúc đó, đôi với thiên văn tướng số nghiên cứu rất sâu sắc. Học sinh được ông bồi dưỡng, bao gồm cả nhà đại sử học Trần Thọ từng viết Tam quốc chí, và Lý Mật nổi tiếng với Trần tình biểu.
Sau khi Gia Cát Lượng làm thừa tướng đặc biệt cho xây dựng ở Thành Đô một đài đọc sách để tập hợp các nhà nho, kiêm tiếp đãi các hiền sĩ bốn phương. Ông ta đặc biệt nêu ra hai nguyên tắc tập hợp nhân tài một là có suy nghĩ sâu rộng, hai là có năng lực thực tế. Trước là động viên thuộc hạ nói hết ý mình, tập hợp trí tuệ để tìm kiếm được sách lược và chế độ tốt nhất cho quốc gia, lại bởi những can gián phê bình trực tiếp mà bồi lấp những khuyết điểm điều hành. Sau là thông qua những khảo sát nghiêm chỉnh, để tìm kiếm những thành tích thực tế tránh hư danh phủ lấp làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân.
Ví như khi đang bắc phạt rất bận rộn, Gia Cát Lượng vẫn không quên công việc thu thập nhân tài. Ông thậm chí còn áp dụng chế độ này ở tiền tuyến, nơi biên cương cũng cho lập không ít đài đọc sách. Tương truyền ở ngoài cửa bắc Miếu huyện có một nơi cũng gọi là Ngọa long cương, trùng tên với Gia Cát Lượng sống thời nhỏ, cũng có một đài đọc sách của Gia Cát Lượng. Lục Du là nhà yêu nước đời Tống từng qua đấy thăm đài đọc sách của Gia Cát Lượng có để lại bài thơ, trong đó có viết: “Thế sự nho gia từng hiểu rõ, đài cao ngày đó đọc thơ gì”. Mở rộng việc xây đài đọc sách, tin rằng đối với việc thu thập của chính quyền Thục Hán có ảnh hưởng rất lớn.
Tam quốc chí có chép: “Diêu Điền là Thái thú ở Quảng Hán, Gia Cát Lượng đặc biệt trước trăm quan ở triều đình, khen ngợi Diêu Điền rằng: “Người làm quan, công việc có ích nhất đối với quốc gia là tiến cử hiền tài. Diêu Điền không ngừng tiến cử hiền tài cho triều đình, hy vọng mọi người sẽ làm được như ông ta, đó là cống hiến rất lớn cho quốc gia”.
Đề bạt nhân tài, còn phải hiểu được vận dụng nhân tài, để vận dụng đầy đủ trí tuệ của họ, thì cách làm này mới có ý nghĩa. Bởi thế, sau khi bình định Ích Châu không lâu, Gia Cát Lượng thiết lập một cơ cấu gọi là “Tham thự”. Gia Cát Lượng nói: “Tham thự là nơi tập hợp tư tưởng quần chúng để có những đóng góp lớn”. Hấp thụ các ý kiến địa phương, khiến mỗi quyết sách đều được thảo luận đầy đủ, lấy ý kiến mọi người để châm chước lợi hại trong trước tác của mình. Gia Cát Lượng từng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thu thập lời ăn tiếng nói, để thông suốt trên dưới, kế sách tập hợp được ý kiến quần chúng. Bỏi thế “đạo lý chính trị trọng ở nghe nhiều, phàm lắng nghe để thu nạp lời nói quần chúng, mưu kế của kẻ sĩ, thì vạn vật như ở trước mắt, mọi âm thanh đều ở bên tai”. Ông rất xem trọng thuộc hạ dám nói thẳng, bởi mọi người có thể biểu đạt ý kiến đầy đủ thì sai lầm về quvết sách mới giảm đến mức thấp nhất.
Hơn 1700 năm trước, mối liên hệ giữa cấp trên với cấp dưới đã được chú ý, làm công việc chủ quản vất vả, trách nhiệm của vị thống soái ở chỗ để mọi người biểu đạt đầy đủ ý kiến, để tổ chức và vận dụng hữu hiệu, ví như quản lý xí nghiệp hiện đại cũng khó làm triệt để như thế.
Ông ta nhắc nhở những quan chức cao cấp chớ không chịu lo lắng nghe lời nói của kẻ dưới, nếu như các cán bộ cao cấp tự đắc thái quá, ắt sẽ làm hỏng việc này, khiến cho tất cả pháp lệnh đều không thể thúc đẩy. Cho nên ông vận dụng kinh nghiệm hưng vong trong lịch sử, huấn thị các cán bộ cao cấp rằng: “Nguy sinh ra trong lúc yên, mất sinh ra trong lúc còn, loạn sinh ra trong lúc đang bình trị”. Lại biểu thị: “Người không lo xa, ắt có hoạ gần”. Ông nhắc nhở mọi người muốn an cư phải nghĩ đến nguy hiểm, chẳng thể chủ quan, lắng nghe nhiều ý kiến phản đối, có thể đưa ra được những phản đối, có thể đưa ra được những phán đoán chính xác hơn.


4 . Thêm điều thiện, bỏ điều ác, làm hạn chế bớt tham nhũng
Sau khi đảm nhiệm chức Thừa tướng, Gia Cát Lượng viết huấn lệnh bảo ban mọi người, động viên mọi người nói thẳng hơn nữa, ông nói: “Nếu tránh những xích mích nhỏ, không trao đổi với nhau thì hại đến triều đình”. Nếu như nhận phê bình mà không vừa lòng hoặc bởi tránh hiềm nghi, sợ đắc tội với người, không thể thảo luận rõ hai mặt trái phải của vấn đề, thì quyết định kế sách sẽ có sai lạc mà tạo thành tổn thất quốc gia. Gia Cát Lượng chủ trương, quyết sách gì cũng phải qua trao đổi mà thống nhất, cũng tức là vận dụng phương pháp tranh luận phản để để đưa ra kết luận chính xác. Chẳng những yêu cầu thuộc hạ phải làm được, Gia Cát Lượng tự mình thi hành, lấy kinh nghiệm bản thân ngày xưa quan hệ với những người thầy, người bạn tốt như Thôi Châu Bình, Từ Thứ mà thản nhiên nói với mọi người. Đặc biệt với những trợ lý thân cận lâu năm đi theo ông như Đổng Hoà và Hồ Tế, thái độ xử sự của ông là luôn luôn nhắc nhở thẳng thắn, chỉ bảo rõ ràng, để các quan chức cao cấp và thuộc hạ cùng tham khảo.
Tích cực khuyến thiện cố nhiên là quan trọng, song việc xua đuổi cái xấu cũng là trách nhiệm của người làm việc quan.
Trong thiên “Tiện nghi” Gia Cát Lượng nhấn mạnh, làm việc quan phải nghĩ đến “Tăng điều thiện bớt điều xấu” cũng tức là thái độ tiến cử hiền tài, giảm bớt tham nhũng. Trong “Xuất Sư Biểu” ông muốn hậu chủ Lưu Thiện thân hiền thần, xa tiểu nhân, ông cho rằng thiếu vắng hiền tài thì sẽ còn kẻ xu nịnh, là bắt đầu sự bại hoại tất cả, cho nên “phàm nước nguy không sửa sang, dân không an cư, bởi thiếu hiền tài mà không nguy, được hiền tài mà không yêu, chưa từng có vậy”.
Gia Cát Lượng tuy thuộc phái Thanh Lưu, song rất trọng thực tiễn, ông rất biết những phần tử tri thức cuối đời Hán trọng hư danh dựa dẫm với nhau, phong cách kẻ sĩ bại hoại, người thích xa xỉ quá nhiều, là nguyên nhân chủ yếu nguy vong quốc gia, là sự không biết nhục của sĩ đại phu, là mối sỉ nhục cho quốc gia.
Gia Cát Lượng nhấn mạnh nguyên tắc “trị thực mà không trị hư”. Ông ta nói: “Vì người mà chọn quan thì loạn, vì quan mà chọn người thì tốt”. Ông coi trọng thực tiễn, cốt là người hiền, không cứ xuất thân, không kể từng trải, lựa người không nghĩ đến hạn chế của họ. Dương Hồng, Hà Chi được đề bạt đặc biệt là phát huy tinh thần ấy của Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng đối với người ta tuy có điểm nghiêm túc mà ít thông biến, song ông đối đãi khiêm nhường, tuyệt không áp chế kẻ dưới. Ông rất phản đối hành vi cậy mình lão thần, tranh quyền đoạt lợi, nếu bị phát hiện, thường không xét đến địa vị cao, quan hệ thân thuộc, nhất định nghiêm khắc chỉ trích, đối với những việc hỗn loạn nội bộ nguy hại lớn cho quốc gia quân đội, thì nhất luật trừng trị tuyệt không tha thứ. Đối với những người có cá tính riêng mình cậy tài, đố kỵ nhỏ nhen, tuy không phải là điều xấu lớn, cũng nhẫn nại thuyết phục để có thể sửa đổi được. Trong chính quyền Thục Hán, những người có địa vị cao như Lý Nghiêm, Liêu Lập, Lai Mẫn đều bị bãi chức, phế làm thường dân. Còn Lưu Đàm, Trương Duệ, thì được Gia Cát Lượng khuyên răn không mỏi, có được cơ hội hối lỗi. Lý Nghiêm, Liêu Lập như trên đã nói không được phục chức. Lai Mẫn là người Nam Dương vốn hậu duệ của đại lão thần Lai Hấp đời Quang Vũ đế, là dòng dõi cao sang. Ông vốn là tân khách của Lưu Chương sau khi Lưu Bị chiếm được Ích Châu được bổ nhiệm làm Điển học hiệu uý.
Chỉ phải Lai Mẫn vẫn tự cho mình là danh sĩ nước Sở, thích phê bình chính sự, xem thường các đại thần trong triều, làm căng thẳng quan hệ với mọi người, thường có xung đột với xung quanh.
Gia Cát Lượng thường cảm thán rằng: “Lai Mẫn làm rối loạn quần thần, chẳng khác Khổng Văn Cử” (Khổng Văn Cử là cháu Khổng Tử tự coi mình là danh sĩ, thường va chạm với Tào Tháo, sau bị Tào Tháo giết đi). Lưu Bị xưng đế, lúc đó Thượng thư lệnh Lưu Ba tiến cử Lai Mẫn làm Thái tử gia lệnh. Lưu Bị tuy không vừa ý, song ngại mặt Lưu Ba miễn cưỡng bổ nhiệm.
Sau khi Lưu Thiện lên ngôi, bổ nhiệm Lai Mẫn làm Hổ bôn trung lang tướng, nắm quân túc vệ, có quyền lớn trong triều đình.
Gia Cát Lượng khi chuẩn bị bắc phạt, đối với Lai Mẫn rất không yên tâm, bèn đề bạt Đổng Doãn là người biết lo công việc, kiêm chức Hổ bôn trung lang tướng thay cho Lai Mẫn. Còn Lai Mẫn thì được thăng làm Tế tửu, phục quốc tướng quân đi theo ở trong quân để dễ khống chế. Song lại dẫn đến sự bất mãn của Lai Mẫn, chẳng những phê bình Gia Cát Lượng dùng người không đích đáng, lại công khai phỉ báng Đổng Doãn, tạo nên không khí căng thẳng trong triều đình. Gia Cát Lượng đành phải phạt tội bồng bột của Lai Mẫn, bãi cả quan chức, lại lệnh cho đóng cửa suy nghĩ, đối với việc này Gia Cát Lượng còn viết ra một thiên giáo lệnh, nhắc nhở các quan chức trong triều đình chẳng thể tái diễn hiện tượng như Lai Mẫn, nếu không sẽ xử tội nặng.
Trương Duệ tên chữ là Quân Tự, là danh sĩ ở Ích Trung, rất ham nghiên cứu lịch sử. Thời Lưu Chương làm Trướng hạ tư mã, từng dẫn quân kháng cự lại Lưu Bị, sau thua trận phải đầu hàng. Lưu Bị có được Thục Trung, lại bổ nhiệm Trương Duệ làm Thái thú Ba Quận, kiêm Trung lang tướng. Khi Ung Khải phản loạn ỏ phía nam, được bổ nhiệm làm Thái thú Ích Trung, song Trương Duệ không bình loạn được mà còn bị giặc bắt, đưa đến Đông Ngô thành tù binh.
Gia Cát Lượng thấy Trương Duệ có học vấn, làm việc tích cực, đã lệnh cho Đặng Chi trao đổi với Tôn Quyền, xin tha cho Trương Duệ. Trương Duệ sau khi về nước Thục, Gia Cát Lượng rất quý trọng ông ta, hai người có quan hệ khá sâu đậm. Năm Kiến Hưng thứ năm, khi Gia Cát Lượng đóng ở Hán Trung chuẩn bị bắc phạt, đặc biệt bổ nhiệm ông ta làm Trưởng sử, cùng với Tưởng Uyển phụ trách việc chỉ huy phủ Thừa tướng.
Song Trương Duệ có quan chức cao, lại chỉ nghĩ đến tư riêng, với các đại thần trong triều thường xảy ra xung đột. Hơn nữa với Thái thú Dương Hồng và Hiệu uý Sầm Thuật lại xảy ra va chạm nghiêm trọng. Dương Hồng với Trương Duệ vốn không có thù hằn, song con trai Trương Duệ là Trương Úc, là thuộc hạ của Dương Hồng, bởi phạm lỗi mà bị xử phạt, Trương Duệ bèn nhân việc ấy, cãi cọ với Dương Hồng, hai người đổi bạn thành thù. Sầm Thuật bởi công tác lâu năm giỏi giang, được Gia Cát Lượng xem trọng. Trương Duệ uy hiếp địa vị của Sầm Thuật, sẵn lòng ghen ghét, thường kiếm cớ làm phiền ông ta tạo thành sự bất hoà nghiêm trọng.
Việc này khiến Gia Cát Lượng khá bực mình, song Tưởng Uyển bởi nể nang không tiện khuyên can, nên tình hình càng ngày xấu đi. Gia Cát Lượng nghĩ đến tình cảm cũ, đặc biệt viết thư khuyên răn:
Từ cổ đến nay, bạn hữu có quan hệ sâu nặng, càng phải cử người hiền mà không nghĩ đến thù riêng, xử tội mà không nghĩ đến thân tình, mọi việc đều lấy phép công làm đầu, huống chi ta trọng dụng Sầm Thuật cũng là bồi dưỡng nhân tài quốc gia, ông sao chẳng hiểu ra nhỉ?
Bởi thái độ Gia Cát Lượng cương quyết mà thành khẩn, Trương Duệ rất cảm động, bèn chủ động giao hoà với Dương Hồng, Sầm Thuật lại cùng với Tưởng Uyển hợp tác mật thiết, cùng trông coi việc triều đình. Trương Duệ sau này khen Gia Cát Lượng “Thưởng không kể xa, phạt không kể gần”, nghĩ rằng cũng là kinh nghiệm thân thiết, lời nói chân thực vậy.
Lưu Đàm tên chữ là Uy Thạc, người nước Lỗ, thời Lưu Bị làm Dự Châu mục, có cho ông ta làm tòng sự. Bởi cùng họ với Lưu Bị cho nên rất thân thiết. Tam quốc chí có chép: Lưu Đàm phụng chỉ cung kính, giỏi việc đàm luận, Lưu Bị rất cảm mến ông ta thường dẫn theo ở bên mình.
Danh vị ở triều đình gần với Lý Nghiêm, kể ra trong nội các của Gia Cát Lượng là một quan chức trọng yếu. Song Lưu Đàm lại sinh tính xa xỉ, sinh hoạt bừa bãi, thị tỳ thường có vài chục người, trong nội các thanh liêm của Gia Cát Lượng kể ra đó là người đặc biệt. Gia Cát Lượng đối với hành vi của ông ta rất đau đầu, bất đắc dĩ đành phải biên chế ông ta vào đạo quân bắc phạt, nếm trải những ngày gian khổ ở doanh trại. Song Lưu Đàm cậy mình có công lớn, với chính quyền họ Lưu có quan hệ mật thiết, thường vẫn uống rượu ở trong quân, nói năng bừa bãi, đến như mãnh tướng Ngụy Diên đứng đầu trong quân, cũng không vừa lòng với ông ta, khiến cho Gia Cát Lượng chẳng thể nhường nhịn, cho gọi đến doanh tướng, nghiêm khắc trách cứ cùng cảnh cáo nặng nề. Lưu Đàm bị nạt nộ như vậy, ông ta chẳng ngờ Gia Cát Lượng rất bực tức với mình. Song kiểm thảo lại tự mình có việc làm thái quá, lại nhận ra sự bực tức của Gia Cát Lượng không có ác ý, tất cả vẫn là tại mình, vì thế viết một bài tự kiểm điểm, công khai nói rõ:
Lưu Đàm tôi bản tính trống rỗng, thao lược nông cạn, lại có bệnh rượu chè, từ thời tiên đế đến nay, thường gây phiền phức, thậm trí còn động đến sự an nguy của triều đình.
Nay Minh Công (chỉ Gia Cát Lượng) một lòng vì nước, không khinh bỉ sự uế tạp của tôi, vẫn tận lực giúp đỡ khiến tôi có được địa vị hôm nay. Song tôi thường vẫn u mê nói năng có sai phạm, gây ra không ít phiền phức, may mà Minh Công nhân từ nhường nhịn, không quá bắt bẻ trách cứ, khiến tôi dưới trăm sự sai lầm, còn miễn cưỡng giữ được tước lộc và tính mạng. Từ này về sau, tôi sẽ nghiêm khắc với mình, sửa lỗi đến chết, thể với thần linh không tái phạm nữa, nếu không sẽ chẳng có mặt mũi nào mà thấy người ta.
Lời văn kiểm thảo này khá sâu sắc, chân thành, xét thân phận của Lưu Đàm cũng khó phù hợp với thực tế quân đội, bởi thế Gia Cát Lượng tha thứ cho ông ta, cho ông ta trở về Thành Đô vẫn làm chức vụ Quân kỵ tướng quân. Từ đấy về sau, Lưu Đàm tự sửa lỗi lầm, giữ mình trong sạch. Chỉ tiếc sau khi Gia Cát Lượng mất, ông ta lại trở về bệnh cũ, không lâu sau bởi có lỗi với LưuThiện, bị tự xử mà chết.
Sự việc này cho thấy Gia Cát Lượng là một chính trị gia có tài, có thành tích điều hành nước Thục, các quan chức của Thục Hán, đại đa số đều từ bỏ lối sống xa hoa, lo lắng trung thành với chức vụ, cố gắng từ bỏ sự giả dối phù hoa, khiến cho Thục Hán thành ra một quốc gia chính trị trong lành, quan lại đoan chính nổi trội trong ba nước.
Trần Thọ khen ông ta có thể làm cho quan lại Thục Hán tự cố gắng không giả dối, chủ yếu là ông ta đối nhân xử thế, có thể triệt để làm được việc, tha cho kẻ biết hối lỗi, trừng phạt nặng kẻ giả dối. Công bằng nghiêm minh, tất cả vì việc công, cho người ta có cơ hội vươn lên, thành tích điều hành của Gia Cát Lượng đích xác là nghìn năm khó thấy.


5. Nước lấy quân đội để cậy, vua lấy bề tôi để nhờ.
Dẫu rằng Tam quốc diễn nghĩa coi thiên tài quân sự của Gia Cát Lượng là thần thông vô hạn, song lấy thực tế chiến đấu mà nói, biểu hiện của Gia Cát Lượng không đặc biệt kiệt xuất, Tam quốc chí của Trần Thọ cho rằng ông ta sở trường ở điều hành chính trị, sở đoản ứng biến kỳ mưu. Nói cách khác, Gia Cát Lượng giỏi chỉ ra kế sách chiến lược, định ra chế độ, có thể nói về quản lý việc quân còn có thể được, song về biến hoá kỳ diệu ở chiến thuật cũng tức là phương diện dùng binh, thực chẳng phải sở trường. Bước ra từ lều cỏ ở Long Trung, Gia Cát Lượng đã biết rõ, muốn thực sự sáng nghiệp được ở đời loạn, về quân sự chẳng có thực lực là chẳng thế được. Bởi thế ông đề nghị với Lưu Bị, thu nhập dân lưu vong Kinh Bắc để tăng cường số binh lính, tập hợp lương thảo, tích cực xây dựng quân đội. Gia Cát Lượng từ nhỏ đã đọc thuộc binh pháp, tuy là văn quan, song quan tâm với quân sự cơ hồ là không gián đoạn bao giờ. Từ mục lục cuốn “Gia Cát văn tập” mà Trần Thọ dâng lên Tấn Vũ đế, thấy có các thiên “binh yếu” và “quân lệnh”. Cuốn “Gia Cát Lượng tuyển tập” cũng có ghi trước tác liên quan với khoa học quân sự gồm 10 điều binh yếu và 15 điều quân lệnh, thấy rõ Gia Cát Lượng có dụng tâm về quân sự.
Yếu tố quân sự của ông lại thiên về quản lý, huấn luyện, ứng dụng vũ khí, phương pháp xây dựng doanh trại và bầy trận, tìm kiếm hiệu suất và chẳng có mưu lạ. Nước Thục vốn hẹp lại ít người, muốn đối chọi được với Tào Ngụy có lực lượng gấp bội, không thể không dựa vào tổ chức huấn luyện và công phu bố cục trên dưới, đặc biệt là vấn đề lương thảo, vẫn là điều Gia Cát Lượng đau đầu. Lưu Bị khi nội bộ chưa ổn định, phát động đại quan đánh Đông Ngô lại thảm bại, khiến cho lực lượng trong nước của Thục Hán bị một đòn nặng nề. Gia Cát Lượng thấy rõ tự nhiên ghi nhớ kỹ nỗi đau này. Bởi thế sau khi phụ tá Lưu Thiện cai trị nước Thục, lập tức khôi phục sớm mối bang giao với Đông Ngô, giữ gìn trạng thái hoà bình.
Tiếp đến đóng cửa bồi dưỡng sức dân, động viên tinh thần, nắm nội chính về kinh tế, tăng cường binh lính và lương thảo cho nhu cầu quân sự, đương nhiên bổ sung binh khí và huấn luyện là điều kiện quan trọng nhất để tăng cường sức chiến đấu.
Gia Cát Lượng về điều hành việc quân, xem trọng hai điểm giáo hoá (về tâm lý) và luyện tập (về sức chiên đấu). Ông dẫn lời Khổng Tử ‘‘Không dạy mà chiến đấu, ắt hẳn thất bại” để thuyết minh tinh thần chủ yếu của giáo hoá, lại cụ thể chỉ ra “Bảo ban lễ nghĩa, bồi dưỡng lòng trung thành, răn đe bởi hình luật, lập uy ở thương phạt, để mọi người biết mà cố gắng”. Nói cách khác, chẳng những phải có giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng tâm lý, lại phải có luật lệ quân pháp cụ thể. Ông rõ ràng không giống Tào Tháo nói chung chỉ xem trọng việc kích động tinh thần binh sĩ, xây dựng thanh thế, mà xem trọng sự quản lý hợp lý trong quân đội, để nâng cao sức chiến đấu.
Đối với Gia Cát Lượng mà nói, trị quân cũng như trị quốc, quân đội giữ vững quốc gia làm yên xã tắc. Ông ta cho rằng “Nước lấy quân đội làm cậy, vua lấy bề tôi làm nhờ, cánh tay mạnh thì nước yên, cánh tay yếu thì nước nguy, xem đấy thì biết” Tào Tháo coi trọng sự ứng biến và kỹ xảo lãnh đạo của tướng lĩnh, Gia Cát Lượng thì xem trọng quản lý và nhân cách của tướng lĩnh. Ông ta cho rằng, tướng lĩnh phải đầu tiên là yêu dân, hoà đồng với dân, nếu không chỉ biết đánh đấm, lại không hiểu được việc nắm dân tâm, dứt khoát chẳng phải tướng lĩnh giỏi. Ông lại chỉ rõ: “Làm tướng không có dân, làm phụ tá không có nước, cũng như làm chủ soái mà không có quân”. Trị quân cũng như trị quốc, phải nên lựa chọn người có cả tài lẫn đức, mới là tướng lĩnh giỏi. Trong suy nghĩ của ông ta, tướng soái ưu tú, chẳng giống như mãnh tướng Ngụy Diên thiện chiến. Trong Xuất Sư Biểu ông đặc biệt khen ngợi và tiến cử Hướng Sủng; sau này trong thư gởi Trương Duệ và Tưởng Uyển, cũng đánh giá Khương Duy rất cao. So với người tinh thông quyền biến, giỏi cung kiếm, hiển nhiên đối với người trung thành với công việc, có tầm nhìn đại cục chí công vô tư, ông có phần xem trọng hơn.


6. Việc binh vốn chẳng lành, chẳng thể không lo không sợ.
Quân đội xem tướng soái là chủ, bởi thế lựa chọn tướng soái không thể không nghiêm minh. Trong trước tác binh pháp của ông, thiên “tướng uyển” chiếm một phần rất quan trọng.
Song về việc dùng binh, Gia Cát Lượng rất là cẩn thận, ông cho rằng việc binh là việc chẳng lành, bất đắc dĩ mới dùng vậy. Lại nói kẻ làm tướng, là tư lệnh của mọi người, là lợi khí của quốc gia. “Quân đội là người bảo vệ nhà nước và nhân dân, sự ưu tú của tướng lĩnh có quan hệ đến sự an toàn của nhà nước và nhân dân”.
Bởi thế, Gia Cát Lượng cho rằng, tướng lĩnh ắt phải “biết rõ đạo trời đất, hiểu lòng mọi người, luyện tập tốt binh khí, rõ được lễ thưởng phạt, hiểu được mưu đồ của địch, thấy được chỗ hiểm của đường đi, chiếm được tình cảm chủ khách, biết tiến lại biết thoái, thuận theo thòi cơ, biết chuẩn bị phòng thủ, tăng cường thế lực chinh phạt, đề cao được tinh thần binh sĩ, hiểu được kế sách thành bại, thấu rõ việc sinh tử”. Như thế mới có thể gọi được là tướng lĩnh cầm quân, cầm bắt được kẻ địch.
Đạo làm tướng của ông, có điểm giống với tướng đạo thời chiến quốc của Nhật Bản, dụng binh và trị quân đều xem trọng làm tướng lĩnh chẳng những cần dùng sức, lại càng cần dùng đầu não. Tướng lĩnh phải suy nghĩ lo lắng công việc, luôn quan tâm đến đòi sống tinh thần và vật chất của kẻ dưới. Ông cho rằng: Tướng không tư lự, quân không khí thế, không đủ tâm lực mà chuyên lo mưu mẹo, tuy có trăm vạn quân, mà kẻ địch lại không sợ vậy. Dẫn binh rất trọng yếu là ở tâm lực, trên dưới đồng tâm hiệp lực, mới phát huy điều kiện cơ bản tác chiến. Ông cũng cho rằng chỉ có nghiêm minh kỷ luật, luận công luận thưởng, xây dựng chế độ tốt lành, mới xứng được gọi là tướng soái hợp cách.
Trong binh pháp cổ đại, Gia Cát Lượng xem trọng không phải đạo ứng biến, mà là xây dựng kỷ luật quân đội. Ông cho rằng Tôn Vũ có thể đánh thắng thiên hạ, là do cách vận dụng sáng tỏ vậy. Ông lại nói cụ thể rằng, quân đội có kỷ luật tốt ví như sự chỉ huy của tướng lĩnh, kỹ xảo ứng biến có hơi sai lạc, cũng chẳng thể dễ bị đánh bại. Quân đội có kỷ luật không tốt, các tướng lĩnh năng lực tốt thì cũng ít khi giành được thắng lợi. Mã Tắc khi được ông ta xem trọng, trong chiến dịch ở Nhai Đình, do phạm phải sai lầm nghiêm trọng, dẫn đến thất bại trong lần bắc phạt thứ nhất, Gia Cát Lượng phán xử tội tử hình. Tưởng Uyển cho rằng nay thiên hạ chưa định, giết mất Mã Tắc có tài năng siêu việt, là điều đáng tiếc. Gia Cát Lượng lại cảm thán rằng: “Bốn biển đang chia lìa, mới bắt đầu xuất binh, nếu vứt bỏ pháp luật, lấy gì để thảo phạt được quân giặc? Ví như phải hy sinh cả Mã Tắc gần gũi, cũng là để duy trì thực hiện pháp luật một cách triệt để vậy”.
Đê xây dựng pháp luật ổn định, việc thưởng phạt càng cần phải được chế độ hoá, lấy thưởng để thúc đẩy công lao, phạt để cấm làm bậy, thưởng không thể không công bằng, phạt không thể không xem đều. Ban thưởng đúng mức, thì dũng sĩ dám liều chết, hình phạt đúng mức thì tà ác phải sợ. Thưởng không thể bừa bãi, phạt không thể bừa bãi, thưởng sai thì người có công oán thán, phạt sai thì binh lính ôm hận. Khi tướng lĩnh điều hành pháp luật, ắt phải xem lòng mình như cán cân, chẳng thể xem người nặng nhẹ. Ý nói chẳng thể có ý thiên vị.
Bởi có thể sử dụng nhân tài ở mức tốt nhất, trị quân cũng như trị quốc, phải thấy được lương tướng làm việc công, là do người ta lựa chọn mà không tự mình chọn. Cũng tức là nhân tài cần dựa vào sự tiến cử của mọi người, theo pháp luật công không thể chỉ dựa phán đoán của mình để tránh sự chủ quan, dẫn đến nhân tài chân chính bị mai một.
Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí có dẫn lập luận của Viên Chuẩn, khen ngợi Gia Cát Lượng thi hành pháp luật nghiêm minh mà người trong nước vui vẻ làm theo, dùng người đến hết sức mà kẻ dưới không oán, dùng binh xuất nhập chỉnh tề, hành quân không vội vàng, như đang ở trong nước, về phép dùng binh, khi dừng vững như núi, tiến thoái như ngọn gió, giữa ngày xuất binh thiên hạ chấn động, mà lòng người không rối. Khá thấy Gia Cát Lượng quản lý quân đội rất có tài. Tào Tháo dẫn binh tuy rất trọng quân kỷ, song Gia Cát Lượng so với ông ta lại hơn thế mà không sai sót. Viên Chuẩn cũng chỉ rõ, sau khi Gia Cát Lượng mất mấy chục năm, dân chúng nước Thục vẫn rất nhớ tiếc ông ta, giống như nhân dân đời Chu nhớ tiếc Chiến Công (quan phụ chính đời nhà Chu).
Bất luận vê chính trị hoặc quân sự, Gia Cát Lượng bố nhiệm hiền tài có nguyên tắc, khiến ông ta từ một văn quan trở thành người quản lý chuyên nghiệp ưu tú ở thời đại chiến loạn.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong binh pháp Ngô Tử, ở phần thứ 3 “Trị binh thiên” có đặc biệt nhấn mạnh nguyên nhăn răn bảo.
Ngô Khởi chỉ rõ, quản lý thuộc hạ ắt phải bắt đầu từ giáo dục huấn luyện.
Song một người không dạy được vạn người, bởi thế với tập thể đồng thời chịu giáo dục, không gì bằng lựa chọn cách khuếch tán lũy tiến theo cấp số nhân, để phát huy hiệu quả thiết thực.
Giáo dục huấn luyện quan trọng nhất là thuần thục động tác cơ bản, không đủ cơ sở sẽ không thể đáp ứng các loại biến hoá. Có dạy phương pháp biến hoá cũng không thiết thực dùng đến; chỉ có học thuộc lòng động tác cơ bản, mới có thể vận dụng nhuần nhuyễn, phát huy uy lực chiến đấu thực tế chân chính.
Không đủ năng lực tác chiến, thường sẽ bởi thế mà mất mạng; kỹ thuật ứng dụng không thuần phục, thường sẽ thất bại; bởi thế cách dùng binh, dạy bảo là đầu. Song đường lối dạy bảo, cần phải chân chính hữu hiệu, nhất định phải nắm được tính giai đoạn. Một người học chiến thuật, dạy cho 10 người khác; mười người học chiến thuật, dạy cho 100 người khác; 100 người học chiến thuật dạy cho 1000 người khác; 1000 người khác dạy cho vạn người khác; vạn người học chiến thuật dạy cho ba quân.
Như thế nào là động tác cơ bản của học chiến thuật? Ở nơi gần đợi kẻ địch từ xa lại; nghỉ ngơi đầy đủ đợi kẻ địch mỏi mệt; lấy quân ăn no để đợi quân địch đang đói; hình thái trận biến hoá phải vận dụng nhuần nhuyễn; trận hình tròn có thể mau chóng biến thành trận hình vuông, khiến kẻ địch mò không được đường nét; nhìn tựa hồ như dừng lại, song lại mau chóng tiến lên, tựa như là đang tiến lên mà lại hoàn toàn dừng lại.
Nhìn như đang tiến quân về trái, có thể đột nhiên lại chuyển về bên phải; quân đang hướng phía trước cũng có thể chuyển lại phía sau; đội hình phân tán có thể lập tức tập hợp; quân như đang tập kết lại đột nhiên phân tán đánh các mục tiêu. Các loại biến hoá phải vận dụng thuần thục, phải có chế độ và phương pháp nhất định, đấy là sứ mệnh rất quan trọng của người chỉ huy quân đội.
Việc tiến cử hiền tài phải có chế độ, việc huấn luyện càng cần phải có chế độ. Vị tướng không hiểu được xây dựng chế độ. Ví có năng lực bản thân rất lớn, cũng rất khó làm cho quân đội hoàn toàn phát huy được năng lực tác chiến.
 
 
 
Phụ chương 
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
KẾ SÁCH XÂY DỰNG LẠI CHẾ ĐỘ
 
Đánh ngoài ắt phải yên được bên trong. Nước Thục yếu đuối muốn hoàn thành được sứ mệnh lịch sử khôi phục nhà Hán, ắt phải mau chóng tăng cường thực lực của mình, duy trì sự phát triển chính trị lâu dài, để đợi thời cơ chín muồi. Đấy cũng là đại sách lược lúc đầu chưa có thể thắng, bởi đợi kẻ địch yếu đi mà thắng được của binh pháp Ngô Tử.
Song đi đôi với chấn chỉnh nội bộ trước mắt, lại phải sớm ổn định ngoại giao. Sau khi Lưu Bị mất là thời kỳ quan hệ ngoại giao của Thục Hán hỗn loạn không ổn định. Cuộc chiến sau cùng ở Kinh Châu vừa rồi, bên địch bên ta không phân biệt được, Lưu Bị đông chinh, lại làm cho quan hệ Tôn Lưu càng thêm quyết liệt. Tuy trước lúc Lưu Bị “ra đi”, cũng đã lo đến tình thế khách quan, có ý hoà hoãn quan hệ căng thẳng với Tôn Quyền, song bởi tâm lý không ai tin ai, nhiệm vụ nối lại hợp tác là rất khó khăn.
Thời kỳ mới nắm đại quyền, Gia Cát Lượng hết sức cố gắng đổi mới cách nhìn sâu rộng của Thục Hán. Thục Hán đã thành một trong ba quốc gia lớn, lập trường cơ bản nếu không rõ ràng, chính sách lớn nếu bất định, thì rất khó tập hợp lực lượng trong nước, mất mục tiêu chung. Cho nên công việc cấp bách là ổn định vị trí với lân bang, cũng tức là đại sách lược ngoại giao liên Ngô chế Tào.
May mà, Gia Cát Lượng có những sứ thần ngoại giao tài giỏi như Đặng Chi, Phí Vỹ, Trần Chấn, giữ lập trường bình đẳng, với thái độ khá thành khẩn, bình tĩnh, nối lại được quan hệ hợp tác Tôn - Lưu từng đứt đoạn hơn một năm.
Với lập trường được xác định ngay từ Long Trung Sách, Gia Cát Lượng đã rất cố gắng tập hợp lực lượng nội bộ, để kiên trì được quốc sách cơ bản này. Về phương diện này Gia Cát Lượng đã chú ý khuyến khích nông nghiệp mọi mặt, đóng cửa bồi dưỡng sức dân, cũng tức là thủ thế hoàn toàn, căn bản tăng cường được lực lượng của mình, làm công việc chuẩn bị rất chu đáo. Trước nguy cơ ổn định chế độ, rất cần phải nhẫn nại và chờ đợi. Binh pháp đã rằng cần phải bất động như núi cũng là thái độ cần thiết của người lãnh đạo.
Gia Cát Lượng dưới trùng trùng áp lực lại rất bình tĩnh, bắt đầu từ khôi phục nông nghiệp, ổn định dân sinh, phát triển thủy lợi, làm các nghề muối, nghề sắt, dệt gấm, tăng cường thực lực kinh tế, lấy quốc phú an dân, đủ lương, đủ lính làm suy nghĩ hàng đầu, biểu lộ rõ ông ta là người quản lý tài giỏi.
Để ổn định ban bệ, người điều hành nói chung thường đề cao phương thức đãi ngộ vật chất và hưởng thụ, để thu hút tâm lực thuộc hạ đối với mình.
Nếu dẫn dụ bằng vật chất, đích xác là có hữu hiệu trong thời gian rất ngắn, song dục vọng của người ta lại vô cùng. Ví như Á Đương, Hạ Oa sau khi ăn quả ngọt, lại thoát ly với sự thuần phát vốn có. No ấm nẩy sinh dâm dật, sinh hoạt vật chất là chốn chẳng thể thoả mãn, bổng lộc rất lớn cũng chẳng làm cho người ta vừa ý. Nhân viên công vụ sau khi đời sống được cải thiện, chẳng những không an tâm công tác, lại vận dụng sự tích lũy nhiều hơn theo đuổi “cuộc chơi vàng bạc”.
Đương nhiên dùng thanh bạch để yêu cầu những nhân viên công vụ, trong xã hội hiện đại tựa hồ là rất ngốc nghếch không thực tế. Song lại là điều kiện tất nhiên để khôi phục ổn định quốc gia. Thái độ của các nhân viên công vụ Thục Hán lúc ấy, đặc quyền hoành hành pháp trị không tỏ rõ, nhiều người rất hám tiền. Bởi thế Gia Cát Lượng không thể không dùng thuốc đắng để cải thiện không khí xã hội.
Song lại quan trọng là thái độ của người lãnh đạo, Gia Cát Lượng làm việc rất triệt để, chẳng những bởi lấy mình làm gương thực hiện sinh hoạt đơn giản tiết kiệm mà còn yêu cầu những cán bộ quan trọng cũng phải chịu sống thanh bạch, làm được như vậy thực là chẳng dễ dàng gì. Đối với mình và gia nhân tựa hồ như tàn nhẫn, lại yêu cầu thuộc hạ phải làm được, chỉ riêng thành công này, Gia Cát Lượng đáng được xem là nhà chính trị vĩ đại nhất trong lịch sử.
Cuốn tiểu thuyết “Đức Xuyên Gia Khang” của Sơn Cương Trang Bát miêu tả Gia Khang bản thân khi tiếp cận với thành công, trái lại sinh hoạt của mình rất tiết kiệm, thậm chí đến cái ăn cũng rất giản đơn. Ông ta yêu cầu người phục vụ của mình phải xem xét sự ăn uống của mình sao cho đạm bạc; công việc rất nhiều, hưởng thụ lại rất ít, như thế mới có tư cách trở thành người lãnh đạo cao cấp. Gia Khang đối với ban bệ của mình rất chặt chẽ, thu nhập của người phục vụ rất ít, bởi thế ông ta biết rõ phải có đãi ngộ tốt thì thuộc hạ mới công tác tốt, thực là điều ông ta rất khó làm. Sơn Cương cho rằng chính sách khắc nghiệt của Gia Khang, lại là động lực rất chủ yếu để Mạc Phủ ổn định được.
Chính sách điều hành nước Thục của Gia Cát Lượng, với triết học khổ hạnh của Gia Khang, có cùng sự vi diệu của nó, xây dựng chế độ không thể dựa vào mồm mép là có thể làm được; nếu tự mình không giữ phép tắc, lại yêu cầu người ta giữ phép tắc, tự mình tham công hiếu lợi lại yêu cầu người ta đứng yên; tự mình thích quyền lực lại yêu cầu người ta phải hy sinh cống hiến. Thái độ lãnh đạo như vậy, sự thành công không nói đã rõ.
Chế độ không chỉ là giấy trắng mực đen, lại không chỉ là thông qua hình thức luận bàn, mà phải được sự tuân thủ của người bị trị, tâm phục khẩu phục. Tôn Tử binh pháp đã chỉ rõ, đạo lý phải được nêu tỏ để dân với cấp trên cùng một ý một lòng. Thực hiện pháp luật hà khắc, chỉ dùng điều luật với đời loạn, sẽ làm cho quyền lực chung không được tôn trọng. Trọng điểm của chính trị là dẫn đường chứ không phải ra oai, ví như nhân vật đại biểu cho pháp gia là Thương Ưởng cũng là lấy nêu gương làm tin, để tranh thủ nhân dân chấp nhận quyền lực. Chỉ một mặt hò hét nạt nộ, tưởng rằng tạo được uy tín, chẳng qua là mộng tưởng leo cây tìm cá mà thôi.
 
0
QUYỂN HẠ
GIÓ THU THỔI QUA GÒ NGŨ TRƯỢNG
 
THIÊN THỨ SÁU
THÁNG NĂM VƯỢT LÔ GIANG
 
                       
                        
                        Xứ Vân Nam có dòng Lô
                        Mùa hoa tiêu khói trắng mờ mặt sông
                        Nước sông nóng bỏng lạ lùng
                        Ba người qua đấy phỏng chừng còn hai
                        Ngõ ngoài não nuột tiếng ai
                        Bồng con đứng đợi qua thời trẻ trung
                        Chinh Man dằng dặc dặm trường
                        Vạn người ra lính mà không thấy về.


                                    (Thơ viết cho ông già ở Tân Phong - Thơ Bạch Cư Dị)
 
 
Chương XIX
NGƯỜI NAM LÀM PHẢN
 
Đối với sự phản loạn ở Nam Trung, về nguyên tắc, sách lược mà Gia Cát Lượng chủ trương là “chiêu phủ mà không trừng phạt”.
Song sách lược này chứng tỏ cũng tùy thuộc vào tình hình chung ỏ Nam Trung, cần được xem xét một cách kỹ lưỡng.
 
1. Giáo huấn của lịch sử.
Vùng Di tộc tây nam còn gọi là vùng Nam Trung, thời Tam Quốc do Thục Hán cai quản. Các dân tộc thiểu số sống ở đây phần lớn gồm người Tẩu, Thanh Khương, Liêu, Bộc. Từ triều Hán đến giờ đã có bốn quận là Ích Châu, Vĩnh Xương, Tang Ca,Việt Huề. Đó là vùng Tứ Xuyên, Quý Châu và Vân Nam ngày nay, xưa kia gọi là đất Di Việt.
Thời Tần Thủy Hoàng từ Cức Đạo (nay là vùng Nghi Tân - Tứ Xuyên) đã mở rộng năm thước dẫn vào Nam Trung, để điều hành địa phương này, không lâu lại bố trí quan lại ở Nam Trung làm tượng trưng cho việc cai quản hành chính trực tiếp ở đấy. Song sau khi Vương triều Tần bị diệt vong, Nam Trung khôi phục độc lập, tạm thời cắt đứt liên hệ về kinh tế, văn hoá với Trung Nguyên.
Thời Hán Vũ đế uy quyền toả rộng, các hào tộc Nam Trung có ý thuận theo, Hán Vũ đế đặc biệt phái hai đại thần có tầm mắt quy hoạch lớn là nhà văn học Tư Mã Tương Như và nhà sử học Tư Mã Thiên đến đó xem xét.
Tư Mã Tương Như sau khi về triều, đề nghị Hán Vũ đế bố trí quận huyện ở đấy, để tăng cường điều hành ở Nam Trung. Tư Mã Thiên thì báo cáo cặn kẽ với Hán Vũ đế về sông núi sản vật và tập tục ở đấy, thiên “tây nam di truyện” viết trong “Sử ký” cho chúng ta khá nhiều hiểu biết về địa phương này.
Hán Vũ đế đặt ra quận Tang Ca ở Quý Châu, quận Việt Huề ở Tứ Xuyên, quận Ích Châu ở Vân Nam, triển khai kế hoạch điều hành ở đấy. Hơn nữa lại di dân tới đó, sửa sang đường sá, mang kỹ thuật sản xuất và văn hoá của dân tộc Hán đến đó, khiến Nam Trung dần dần phồn vinh.
Sự hỗn loạn cuối đời Tây Hán, khiến việc điều hành ở vùng này bị đứt đoạt. Đến đời Quang Vũ đế, Uy vũ tướng quan Lưu Thượng mấy lần thảo phạt Nam Trung mới sát nhập lại vào bản đồ nhà Hán. Hán Minh đế lại chú ý điều hành, các thủ lĩnh bộ lạc lại rối rít yêu cầu quy phục, mới đặt thêm quận Vĩnh Xương ở vùng Bảo Sơn ngày nay, hoàn thành việc quy hoạch hành chính 4 quận Nam Trung. Trước sự tranh giành quyền lợi của các ngoại thích, hoạn quan cuối đời Đông Hán, vùng Nam Trung trở thành miếng mồi của họ. Những kẻ quyền thế ấy thường phái công thần đến Nam Trung, ra sức vơ vét, cậy thế áp bức những dân tộc thiểu số ở đấy.
Sách “Hoa Dương quốc chí” có chép, quận Ích Châu vốn có “Cá, muối, ruộng đất, ao hồ giàu có, vàng bạc sản vật rất nhiều”, quận Vĩnh Xương cũng có mỏ vàng bạc. Bởi thế nếu có cơ hội làm quan ở đấy, không thể không giàu đến 10 đời. Họ còn thậm chí câu kết với kẻ quyền quý trong triều, dùng vàng bạc hối lộ, để có thể lâu dài tham ô và vơ vét của cải, ví như Thái thú Vĩnh Xương là Lưu Quân ở thời An đế đã đúc một con rắn bằng vàng hối lộ mà có được chức Hỗ bạt tướng quân, khiến triều đình cho rằng vùng Nam Trung là nơi sẵn báu vật, lại càng tăng cường vơ vét.
Năm Vĩnh An thứ 6, triều đình hạ chiếu chỉ đặt ra ở quận Việt Huề ba khu vườn nội uyển là Trường lợi, Cao vọng và Thủy xương, lại đặt ra ở quận Ích Châu vườn nội uyên “Vạn tuế”, làm khu vườn cấm để nhà vua nuôi các chim thú quý hiếm. Đến những người thống trị vào thời Đông Hán, đều muốn vơ vét bóc lột, trách chi các dân tộc thiểu số ở Nam Trung, đối với Trung Quốc hoàn toàn tuyệt vọng, bắt đầu những hành động phản kháng liên tiếp.
Song những người thống trị Đông Hán theo “chủ nghĩa Trung Hoa lớn”, trước những hành động phản kháng đòi quyền sinh tồn của những dân tộc thiêu số ở đấy, lại xem là những hành động không thể tha thứ, bởi thế lại càng trấn áp tàn khốc, mang danh nghĩa quân đội thiên triều để bắt Man Di đầu hàng. Chẳng ngờ lại dẫn đến những hành động chống đối mạnh mẽ.
Năm An đế thứ 5, Phong Ly ở Việt Huề chính thức làm phản.
Năm thứ 2, Di tộc ở Vĩnh Xương, Ích Châu rối rít hưởng ứng, quân làm phản tập hợp được 10 vạn người.
Họ đánh các nhiệm sở hành chính của nhà Hán, những quan lại chỉ biết tham ô, khinh rẻ trăm họ, đối với sự nổi dậy ấy, lại chỉ biết bó tay, không ít quan lại bị giết, công sở bị phá hủy.
Trương Kiều là Thứ sử Ích Châu, phụng mệnh thảo phạt Nam Trung. Ông ta phái Dương Tủng vốn làm việc ở Ích Châu, có tài cán dẫn quân đến đó.
Đối mặt với quân phản loạn thiếu tổ chức, Dương Tủng cho tập kích mau chóng, quả nhiên chỉ một trận đánh tan đại bản doanh quân phản loạn, sử sách chép ông ta chém hơn 3 vạn thủ cấp, bắt sống hơn 1.500 người, thu được nhiều của cải.
Để cổ vũ tinh thần binh lính, Dương Tung mang toàn bộ của cải thưởng cho binh sĩ, để tăng thêm sức tác chiến, triệt để bẻ gãy tàn dư của quân phản loạn. Dương Tùng tuy phát động cuộc trấn áp võ trang tàn khốc, song đến Nam Trung không lâu, ông ta phát hiện người dân phản loạn mới là người bị hại thực sự, bởi thế lập tức đổi dùng chính sách phủ dụ, lại ly gián quan hệ giữa các thủ lĩnh, khiến lực lượng của họ suy yếu đi, cứ thế thuyết phục dần dần, không lâu bức được Phong Ly phải đầu hàng. Cuộc biến loạn lớn đầu tiên ở Nam Trung, cuối cùng đã chấm dứt. Sau khi kết thúc hành động quân sự, Dương Tủng viết báo cáo lên triều đình kể tội 90 quan lại ở Nam Trung, lại cấp bổng lộc cho các quan lại nhỏ trung thành. Song những viên quan xấu vốn cấu kết mối lợi với các đại thần triều đình, thậm chí đến trụ cột triều đình và nhà vua cũng có phần. Bởi thế sớ kể tội của Dương Tủng về căn bản không tác dụng, những viên quan đáng tội chết đều được giảm tội. Trái lại, xét Dương Tủng giết người quá nhiều, quân đội của mình bị thương vong lớn, tuy có công cùng không ban thưởng gì cả. Sự thối nát của triều Hán đã đến bước không có cách gì chữa khỏi.
Song việc xử trí và kể tội của Dương Tủng, đã phát huy được tác dụng cảnh báo, những hành vi bóc lột dân thiểu số phải tạm thời lắng xuống. Lại kể đến thời Hoàn đế và Linh đế, tình hình triều chính ngày mỗi xấu đi, những hành vi chiếm đoạt trắng trợn xảy ra không cùng. Quả nhiên năm Hy Bình thứ 2 đời Linh đế, Di tộc ở Nam Trung lại làm phản, mau chóng đánh chiếm quận Ích Châu, đến cả Thái thú Ích Châu Ung Trắc cũng thua trận mà bị bắt.
Do thanh thế của quân làm phản rất lớn, triều đình phái Ngự sử trung thừa Chu Qui dẫn quân thảo phạt. Quân làm phản lần này ghi nhớ kinh nghiệm bị Dương Tủng tập kích, chú ý tổ chức tốt hơn, lại chủ động triển khai nghênh chiến. Quân triều đình của Chu Qui, địa hình không thuộc, mấy lần bị mai phục, cuối cùng dẫn đến toàn quân bị tiêu diệt.
Các văn vũ bá quan của Linh đế tất thảy đều lo sợ, có người đã nêu chủ trương “Các quận huyện Nam Trung, ở rất xa xôi, người Man Di phản loạn bất thường, quân viễn chinh vất vả dẫu được không bằng mất, chẳng bằng quên đi”.
Chỉ có Thái úy Lý Ngung xuất thân ở Ba Quận là có ý dùng binh, lại đưa ra sách lược trấn áp và phủ dụ Nam Trung. Hán Linh đế bèn phong Lý Ngung làm Thái thú quận Ích Châu, lại hạ lệnh cho Thứ sử Ích Châu là Bàng Đình phụ giúp, do binh lực không đủ, Bàng Đình bàn với Lý Ngung, tổ chức huấn luyện những người thiểu số trung thành ở Ba Quận thành một đội quân theo Lý Ngung xuống phía nam. Lý Ngung vận dụng sách lược vừa ân vừa uy, bỏ ra không ít sức lực, mới vỗ về được quân phản loạn, cứu được Ung Trắc. Song hai bên chỉ có thể xem là thủ hoà với nhau. Nam Trung nghiễm nhiên trở thành trạng thái nửa độc lập. Không lâu nổ ra khởi nghĩa Hoàng Cân, triều đình bị tiêu hao không ít lực lượng ở Nam Trung.
Năm Trung Bình thứ 5, Mã Tương và Triệu Chi người Ích Châu khởi nghĩa ở Miên Trúc, cũng tự xưng là quân Hoàng Cân. Họ chiêu tập Di tộc bị người Hán khinh rẻ, trong vòng một hai ngày đã có mấy nghìn người hưởng ứng, thanh thế rất lớn, không lâu Lý Thăng là Huyện lệnh Miên Trúc bị chết tại trận, quân phản loạn đánh phá khắp các huyện, đến như Thứ sử Ích Châu là Khước Kiệm cũng bị đánh bại, Khước Kiệm bởi thế mà bị chết tại trận. Tiếp đến Thục Quận, Kiện Vi cũng rơi vào chiến loạn, không đến 10 ngày, Ích Châu nói chung đã hình thành trạng thái độc lập, Mã Tương tự xưng là Thiên tứ có số quân phát triển đến mấy vạn người. Bởi thế triều đình mới phái Lưu Yên làm Ích Châu mục, giao cho quyền hành quân sự rất lớn, để chỉnh đốn Ích Châu. Đến khi cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân ở Ích Châu đã bình phục, vùng Nam Trung tựa hồ không chịu sự cai quản của Ích Châu. Trong thời kỳ Lưu Chương cai trị, đặc biệt phái Đổng Hoà là một viên quan thanh liêm, ra làm Thái thú quận Ích Châu, chủ động tiến hành việc chiêu phủ dân thiểu số ở Nam Trung. Sử sách có chép thành tích của ông được người Nam yêu mà tin, song thực ra chỉ là tạm thời, ảnh hưởng của Đổng Hoà vẫn rất hạn hẹp. Thủ lĩnh của người thiểu số sắp xếp lực lượng mạnh hơn, họ đối với quan lại nhà Hán và những cường hào bóc lột ở đấy, xung đột ngày mỗi lớn, có một số vùng nghiễm nhiên đã là trạng thái cát cứ độc lập.


2. Sách lược vỗ về Di Việt của Gia Cát Lượng.
Đối với thực tế lịch sử ở đấy Gia Cát Lượng đã biết khá cặn kẽ.
Bởi thế trong kế hoạch chiếm Ích Châu của Long Trung Sách đã nói đến phương châm: tây hoà với Khương Nhung, nam vỗ về Di Việt.
Về mặt hoà với người Nhung đã có kết quả lớn, chìa khoá chính là sự quy phục của Mã Siêu lãnh tụ quân Quan Trung. Mã Siêu đã có một thời gian dài theo người cha là Mã Đằng, Thứ sử Lương Châu đã điều hành ở vùng Tây Lương, bởi thế với các dân tộc Khương Nhung có quan hệ rất tốt. Sau khi Hán Trung bình định, Lưu Bị phong Mã Siêu làm Bình tây tướng quân, kiêm Lương Châu mục (về đanh nghĩa mà thôi), tiến hành việc hoà với người Nhung.
Về việc này, Mã Siêu làm khá thành công, cho đến sau khi ông ta mất, quan hệ giữa Khương Nhung với triều đình Thục Hán, cũng tốt hơn so với Tào Ngụy. Có một lần xung đột duy nhất, xảy ra vào năm Kiến Hưng thứ 10, người Khương ở vùng Vấn Sơn làm phản. Gia Cát Lượng lệnh cho tòng sự Mã Trung và tướng quân Trương Nghi đến vỗ yên. Tuy quân Thục Hán có ưu thế tuyệt đối, song Mã Trung và Trương Nghi vẫn trung thực chấp hành nguvên tắc hoà bình của Gia Cát Lượng, rất mau chóng, đã bình định được sự phản loạn của người Khương.
Về mặt hoà bình với người Nhung vẫn được xem là khá thành công, song về mặt phủ dụ Di Việt, lại phong ba bão táp không ngừng.
Thực ra, Lưu Bị lúc mới bắt đầu, đã rất xem trọng việc cai trị ở Nam Trung. Sau khi bình định Ích Châu, ông ta sớm đã bổ nhiệm Đặng Phương người Nam Quận làm Thái thú ở Chu Đề, sau này lại đề bạt làm An viễn tướng quân, Trù hàng đô đốc, đóng quân ở huyện Nam Xương, phụ trách mọi việc điều hành chung về quân sự hành chính ở Nam Trung.
Đặng Phương là người cương trực, làm quan liêm khiết, có tính quyết đoán, ông ta chủ động điều hoà tranh chấp giữa người Nam và người Hán, hơn nữa giữ phép công bằng, tuyệt không thiên vị, người Di khá tin phục.
Chẳng may khi Lưu Bị xưng đế được một năm, Đặng Phương ngã bệnh từ trần. Lại thêm Lưu Bị vội vàng phát động cuộc viễn chinh sang Đông Ngô, về căn bản không để tâm đến phía nam, khiến Gia Cát Lượng rất lo lắng, vẫn nhắc nhở Lưu Bị lựa chọn người thay thế Đặng Phương. Lưu Bị sau khi suy nghĩ kỹ, cũng thấy được sự yên ổn của Nam Trung là rất quan trọng, sau khi trao đổi với Gia Cát Lượng, lập tức cho vời Biệt giá tòng sự Lý Khôi.
Lý Khôi tên chữ là Đức Ngang, người Kiện Ninh, từng theo Đổng Hoà cai trị ở Nam Trung. Ông rất bất mãn trước sự u mê của Lưu Chương, bởi thế khi biết Lưu Bị ở Hà Minh khởi binh tấn công Lưu Chương, đã theo về với Lưu Bị ở Miên Trúc. Không lâu được phụng mệnh đến Hán Trung bắt mối với Mã Siêu, đã thuyết phục Mã Siêu từ phía tây bắc cùng giáp kích, tạo thành nhân tố bức Lưu Chương chưa đánh đã hàng, lập được công lớn. Trong những quan chức của Thục Hán, đáng được gọi là người có tài cán ngoại giao.
Lưu Bị cố ý hỏi Lý Khôi, ai là người kế tục Đặng Phương tốt nhất, Lý Khôi tự nhiên thấy được ý tứ của Lưu Bi, bèn dẫn câu chuyện ngày xưa Triệu Sung Quốc tự tiến cử với Hán Tuyên đế để chinh phạt rợ Khương, hăng hái tiếp nhiệm công việc Đặng Phương bỏ dở ở Nam Trung.
Lưu Bị tự nhiên rất vui mừng, lập tức phong Lý Khôi làm Trù hàng đô đốc, kiêm Thứ sử Giao Châu, Lý Khôi thấy tình hình Nam Trung ngày mỗi xấu đi, bèn dời phủ đô đốc từ huyện Nam Xương đến huyện Bình Di ổn định hơn, chuẩn bị đối phó với khả năng biến động xảy ra.
Quả nhiên sau khi Lưu Bị đông chinh không lâu, “Tẩu soái” Cao Định ở Việt Huề sớm đã dấy quân làm phản, mau chóng tấn công huyện Tân Đạo, Kiện Vi, Thái thú Lý Nghiêm tự mình dẫn quân trừng phạt Cao Định, song Cao Định không đánh, lại rút về ẩn náu ở quận Việt Huề.
Sau khi Lưu Bị mất, tình hình chính trị Thục Hán rất căng thẳng, tạm thời chẳng thể động binh ở Nam Trung, Cao Định lại lộng hành cử binh xâm chiếm, ông ta chẳng những đánh phá Đô Thành Việt Huề còn giết hại quân tướng Tiên Hoàng, lại chính thức xưng vương ở Việt Huề, hiệu triệu các cường hào Nam Trung cùng khởi nghĩa chống lại vương triều Thục Hán.
Không lâu cường hào ở quận Ích Châu, Ung Khải là hậu duệ của Hợp hương hầu Ung Sỉ, dấy binh ở huyện Kiến Ninh, giết hại Thái thú Chánh Ngang. Gia Cát Lượng phái Trương Duệ, kế nhiệm Thái thú quận Ích Châu, song sau đó không lâu, lại bị Ung Khải bắt, rồi đưa sang Đông Ngô, để biểu thị có ý vẫn thân thiện với Tôn Quyền, giáp kích lại Thục Hán.
Tôn Quyền lập tức có phản ứng, ông ta thông qua Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp, phong Ung Khải làm Thái thú quận Vĩnh Xương, lại để Lưu Xiển là con Lưu Chương lĩnh chức Thứ sử Ích Châu, đóng quân ở vùng biên giới Giao Châu và Ích Châu. Hiển nhiên Tôn Quyền sau khi giao hảo với Ung Khải, đã tích cực nhúng tay vào những việc phản loạn ở Nam Trung, khiến Gia Cát Lượng mới tiếp thu chức phụ quốc đại thần rất đau đầu.


3. Thất sách ở việc bình thường, dẫn đến biến loạn toàn diện.
Đối mặt với áp lực rất lớn, Gia Cát Lượng vẫn cho rằng không nên vội vàng ra tay, ông ta trước tiên phái Đặng Chi, nối lại quan hệ với Tôn Quyền, cắt đứt sự ngoại viện cho Ung Khải.
Đối với quân phản loạn Nam Trung, về nguyên tắc ông chủ trương sách lược chiêu phủ mà không trừng phạt, lại phái Cung Lộc làm Thái thú Việt Huề, nhiệm sở đóng ở huyện An Thượng, cách quận Việt Huề 800 dặm, chỉ đạo từ xa, nắm lấy những việc nội chính, có ý mưu toan khôi phục lại quyền cai trị ở Nam Trung.
Ngoài ra ông lại phái Thường Phòng giỏi ngoại giao giữ chức tuần hành, ngầm điều tra tình hình các quận Nam Trung.
Thường Phòng khi mới đến quận Tang Ca, thông qua quan hệ với các thủ lĩnh bộ lạc, được biết Thái thú Tang Ca là Chu Bao có ý hưởng ứng hành động phản loạn của Ung Khải, không khỏi kinh hãi, chưa bẩm báo với Gia Cát Lượng, đã hạ lệnh bắt quan chủ bạ ở quận, nghiêm khắc tra khảo, sau khi nhận định rõ ràng, cuối cùng công khai giết hại viên chủ bạ đó, lại chính thức nói rõ âm mưu phản loạn của Chu Bao.
Chu Bao nghe tin cả giận, lập tức dẫn quân giết Thường Phòng, song lại sợ Gia Cát Lượng xử tội gia quyến ở Thành Đô, đành vu cáo Thường Phòng mưu phản.
Gia Cát Lượng sau khi tiếp được báo cáo, rất hối hận đã phái Thường Phòng thiếu năng lực xử lý nhạy bén, lại biểu hiện vội vàng, không thận trọng xử lý vấn đề xảy ra, bức bách Chu Bao vốn cậy quyền ở đấy công khai tạo phản, lại có thể khiến phương nam rơi vào đại loạn; để vỗ yên tâm lý bất bình của quan lại ở quận Tang Ca, Gia Cát Lượng hạ lệnh xử chém gia quyến của Thường Phòng, lại lưu đầy 4 người anh em đến Việt Huề. Song Chu Bao sau khi tuyên bố toàn quân theo về với Ung Khải, lại công khai chống cự triều đình Thục Hán, khiến nước cò thí tốt của Gia Cát Lượng hiển nhiên chưa thu được hiệu quả gì.
Sự kiện này được ghi chép trong “Ngụy thị xuân thu”, bởi thế Bùi Tùng Chi khi chú giải, đã rất nghi ngờ. Ông ta cho rằng, dựa vào cá tính thận trọng mà Gia Cát Lượng sẽ chẳng đến nỗi tùy tiện thi hành án tử hình, “sao lại giết người vô tội để vui lòng kẻ gian? Thực hồ nghi vậy!”.
Thái độ của Thường Phòng thực ra không đúng, bởi thế bị xử phạt cũng có khả năng, phải nỗi về sự kiện quan trọng này, “Thục chí” phải có ghi chép mới đúng, sao lại hoàn toàn không thấy, trái lại trong Ngụy thị xuân thu quan hệ không lớn với sự kiện Nam Trung lại có ghi chép, rõ ràng khiến người ta nghi ngờ về tính trung thực, có thể nói Gia Cát Lượng xử phạt gia quyến Thường Phòng chỉ là trò chơi chính trị, như thế cũng không ổn. Song bất luận thế nào, sách lược này hiển nhiên là không thành công.
Từ những hành động quân sự sau này trong cuộc nam chinh mà xem, cuộc phản loạn Tang Ca ít nhiều là bị bức bách mà nổ ra, quân dân Tang Ca hiển nhiên chẳng có định kiên, bởi thế trước hành động nam chinh của Gia Cát Lượng, sự đề kháng của Tang Ca rất ít, cơ hồ khi quân Mã Trung vừa đến, các bộ lạc lớn nhỏ ở Tang Ca đều theo về với quân đội Thục Hán. Song vấn để Tang Ca gia nhập trận tuyến phản loạn, cho thấy công việc vỗ yên lúc đầu của Gia Cát Lượng đã thất bại hoàn toàn.


4. Đánh ngoài ắt trong phải ổn, Gia Cát Lượng quyết nam chinh
Sách lược chiêu phủ mà không trừng phạt, trước sự phản loạn toàn diện ở Nam Trung, đã đến lúc cần phải xem xét triệt để hơn.
Lúc mới bắt đầu, Gia Cát Lượng đã phái Đô hộ Lý Nghiêm thay mặt cho triều đình để đàm phán với Ung Khải, Lý Nghiêm đã viết nhiều bức thư nói rõ lợi hại để Ung Khải hiểu ra. Tuy sách lược tựa hồ vẫn thiếu một cách nghĩ có tính đột phá, song Lý Nghiêm là đại thần gần kề với Gia Cát Lượng đã xem trọng việc chiêu hồi Ung Khải. Ung Khải chẳng tiếp thu chút nào, ông ta viết thư trả lời rằng: “Trên bầu trời không có hai mặt trời, một đất nước chẳng thể có hai vua, nay thiên hạ chia ba theo thế chân vạc, khiến cho người xa nghi ngờ, chẳng biết theo về đâu”.
Vương triều nhà Hán đã mất, mọi người đều có thể xưng đế xưng vương, như vậy quyền độc lập chẳng phải là tội ác gì. Khá thấy Ung Khải chẳng phải muốn theo Đông Ngô, mục đích thực sự của ông ta là độc lập tự chủ, cát cứ xưng vương.
Song biểu hiện bề ngoài, Ung Khải vẫn tự nhận mình là Thái thú Vĩnh Xương được Tôn Quyền ủy nhiệm, thậm chí có ý đánh chiếm Ích Châu. Đến lúc Chu Bao giết Thường Phòng, dân quận Tang Ca hưởng ứng theo, Ung Khải lập tức liên hệ với Cao Định đang xưng vương ở Việt Huề cùng phối hợp ở phía đông và phía bắc để giáp kích quận Vĩnh Xương.
Công tào Lã Khởi và Phủ thừa Vương Kháng, cậy hiểm cố thủ, thề chết không đầu hàng. Ung Khải và Cao Định đành phát động đại quân bao vây quận Vĩnh Xương trùng trùng điệp điệp. Vĩnh Xương ở phía tây Ích Châu, trải qua sự phong toả chặt chẽ, hoàn toàn bị cắt đứt liên hệ với triều đình Thục Hán.
Song Lã Khởi và Vương Kháng vẫn chưa có đủ lực lượng động viên, đóng cửa để kháng cự lại quân làm phản. Lúc này Ung Khải lại đưa thư tấn công, có đến mấy tờ hịch liền, hy vọng Lã Khởi có thể theo về với quân phản loạn. Lã Khởi cũng không chịu lép, trái lại trong tờ hịch trả lòi, lại lấy lý mà biện bác, ra sức khuyên Ung Khải quay về hàng phục Thục Hán, tin rằng vẫn có thể được bổ nhiệm làm Thái thú Vĩnh Xương.
Lã Khởi lại tiến một bước nữa, thay mặt cho Gia Cát Lượng mà giảng giải: “Thừa tướng Gia Cát ở triều đình, có anh tài tột bậc, tuy mới nắm đại quyền mà đã thấy rõ năng lực, chịu ủy thác phụ tá của tiên đế, nỗ lực phục hưng quốc gia, đối với ai cũng vô tư, vì việc công quên nghỉ ngơi, một tể tướng đúng mực như vậy, mọi việc quốc gia liên quan, chẳng có gì không xem xét kỹ. Bởi thế nếu như tướng quân thay đổi ý định, thay đổi lập trường của mình ắt sẽ có được công lao như cổ nhân từng an bang, lập quốc; còn như một huyện nhỏ như huyện tôi đây, có gì mà phải xem xét là nơi đáng tranh chiến”.
Ung Khải tuy thanh thế rất lớn, lại chẳng thể suốt ngày được Nam Trung, Lã Khởi và Vương Kháng hăng hái chống đỡ, đáng được xem là công đầu. Sau này Gia Cát Lượng đã tự mình ban thưởng bọn Lã Khởi từ lúc lâm nguy chẳng sợ, trung thành giữ đất, tinh thần cao cả, lại có phong cách của kẻ quốc sĩ.
Từ đấy về sau lực lượng của Ung Khải ngày một suy yếu, Tam quốc chí có chép, Di tộc ở Ích Châu không ngả theo Ung Khải nữa. Ung Khải thấy quân lính tan rã dần, bèn phái người thân tín liên hệ với Đầu mục Mạnh Hoạch ở quận Ích Châu, hy vọng sẽ có được sự tham gia ít nhiều của dân tộc thiểu số.
Mạch Hoạch là người có hùng tài thao lược, rất được lòng dân. Ông ta đề nghị với Ung Khải công khai bầy tỏ với người Di rằng: “Triều đình Thục Hán yêu cầu mọi người phải nộp 300 con chó đen tuyền, ngọc mã não 3 đấu, chặt 3 nghìn cây gỗ dài 3 trượng, mọi người có kiếm được không?”
Đấy đều là những việc khó thực hiện. Gia Cát Lượng vẫn là người sáng suốt chẳng thể có yêu cầu như thế. Chó đen toàn thân đều đen, có thể nói rằng đã hiếm lại càng hiếm, mà gỗ chặt được cao không quá hai trượng, kiếm đâu được 3 nghìn cây gỗ 3 trượng, đối với người Di Tẩu mà nói, đấy là việc không thể làm được.
Bởi nhân dân ở vùng Nam Trung, vẫn bị quan lại triều đình hoành hành ngang ngược, tự nhiên tin rằng triều đình lại đến làm phiền họ, tác động của Mạch Hoạch thu được thành công lớn. Sử liệu chép: “Người Di tin là thực, đều đi theo Ung Khải. Thanh thế của phản quân lại được khôi phục, cuốn chiếu khắp cả vùng Nam Trung, chỉ có quận Vĩnh Xương là cô đảo trong vùng lửa khói.
Sau khi Lưu Bị từ trần, trải qua hai năm đóng cửa nuôi dân, quốc lực của Thục Hán đã dần dần khôi phục, vẫn đem toàn lực chuẩn bị cho kế hoạch bắc phạt, để hoàn thành sự nghiệp phục hưng nhà Hán mà Long Trung Sách đề ra. Song Gia Cát Lượng thấy rất rõ ràng, nếu không bình định được phản loạn ở Nam Trung, sẽ kéo theo sự bố trí quân lực của Thục Hán, hơn nữa việc cung ứng quân nhu sẽ thành ra vấn đề bức xúc. Bởi thế quyết định trước khi tiến hành bắc phạt, đánh ngoài ắt trước phải lo bên trong, nguy cơ Nam Trung cần phải dốc toàn lực để đối phó, chiến dịch khó khăn tháng 5 vượt Lô Giang nam chinh, bởi thế đã được triển khai.
 
*
*      *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong lịch sử Nhật Bản có một cuốn binh thư rất sớm, đấy là cuốn “Chiến đấu kinhdo Đại Giang Khuông Phòng viết ra.
Đại Giang Khuông Phòng là người quản lý sách quý của Thiên Hoàng, đối với binh pháp học, đặc biệt là Tôn Tử rất có hứng thú, song ông ta cũng cho rằng các nhà binh pháp học Nhật Bản đã quá mê tín sách lược học của Tôn Tử, mà ít chú ý binh pháp “đại sự sinh tử” về tâm lý nếu chưa dự liệu hết mức không khẳng định phải đổ máu, không chấp nhận nguy hiểm chết người, thì sẽ là “hoa quyền tú cước” mà thôi (sự bày vẽ). Bởi thế ông ta lấy nhãn quang thực dụng, nghiêm khắc phê bình mục tiêu chiến đấu không đánh mà thắng của Tôn Tử, tập hợp những kinh nghiệm quân sự từ thời Nhật Bản Thần Vũ đến lúc đó, hoàn thành cuốn “chiến đấu kinh” có sắc thái văn hoá bản thổ của Nhật Bản.
“Chiến đấu kinh” về tinh thần chủ yếu khác biệt với Tôn Tử binh pháp, ở đó ông ta cố ý nhấn mạnh ý niệm chớ đam mê sách lược, chớ dấu diếm vất vả. Ông ta chỉ ra rõ ràng “Đường lối dùng binh chỉ là ra sức chiến đấu, việc binh phải chính đáng, không nên nặng về kỳ binh”. Ông ta xem trọng vấn đề chính binh trong binh pháp Tôn Tử, dốc toàn lực đường đường chính chính mà quyết chiến, mà không tán thành xem trọng chiến thuật xảo trá. Chiến tranh ắt phải dựa vào lực lượng và chuẩn bị, chẳng thể chỉ đầu cơ kỹ xảo. Bởi thế “chiến đâu kinh” cố nhiên đã phê phán Tôn Tử, song cũng giải thích rõ nhất tinh thần chính binh của Tôn Tử.
Có câu nói nổi tiếng trong “chiến đâu kinhlà: “Nội thần bởi vàng bạc mà không làm việc, ngoại thần bởi do dự mà không nên công”. Một điều tối kỵ về quân sự là tham hối lộ và do dự.
Người tham hôi lộ ắt không làm việc, hai lòng hai ý, đối với sự việc thì thiếu quyết đoán, đấy là nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự do sự không được việc.
Bởi tâm lý theo chủ nghĩa Đại Hán nước lớn, chính sách biên cương của Trung Quốc, đặc biệt là khi xử lý vấn đề dân tộc thiểu số, thường rơi vào vết xe cũ. Khi bình thường thu nhận hối lộ hoặc hoành hành ngang ngược, vấp phải chiến loạn nổ ra, sẽ mất khả năng chấp hành công chính, do dự không quyết khiến tình hình xấu đi nghiêm trọng.
Để giải quyết khó khăn trước mắt, Đại Giang Khuông Phòng đưa ra một câu danh ngôn có tính gợi mở: “Rồng lên lưng trời ấy là thế vậy, cá vượt Vũ môn ấy là lực vậy”.
Rồng được xem là động vật vĩ đại nhất, song khi nó bay ở lưng trời, tựa hồ được dựa vào mây gió, ắt phải đợi cơ hội, nếu không rất dễ bị thất bại. Song cá chép thì không giống như vậy, là một sinh vật sống trong nước, cũng chẳng vĩ đại gì, song nó lại có thể ở giữa nơi nước cuốn, rướn mình nhảy qua Vũ môn, rõ ràng đã nỗ lực không ngừng. Nếu dựa vào sách lược sai lầm, đợi cơ hội cố nhiên là quan trọng, song nếu chẳng có quyết tâm thực tiên vượt bậc rất khó tạo ra được cơ hội có lợi. Về mặt này Đại Giang Khuôn Phòng tựa hồ thích sự cố gắng tột bậc của cá chép, mà không tán đồng với con rồng chỉ biết hư trương thanh thế mà thôi.
Chẳng có nỗ lực vượt bậc, lực lượng vĩ đại gì cũng rất khó thành công.
Trung Quốc 3000 năm lại đây, sách lược biên cương vẫn thất bại, thích bày ra gián cách, xem trọng hư danh, không có những cố gắng thực sự, đích xác là những nguyên nhân rất chủ yếu vậy.
Gia Cát Lượng tháng 5 vượt Lô Giang, viễn chinh vào Nam Trung với tinh thần lâm trận ở tuyến đầu để giải quyết vấn đề, đích xác đáng được chúng ta suy nghĩ và bắt chước.
 
0
Chương XX
CÔNG TÂM LÀM ĐẦU
 
Gia Cát Lượng cho rằng quân sự tuy thắng lợi, song nếu chính trị lại không thu được ưu thế, chỉ là thắng ở sức mà không thắng ở tâm.
Ông ta nghĩ đến đề nghị của Mã Tắc “Công tâm làm đầu” quyết định thắng thật sâu thật xa, để triệt để giải quyết căn bản vấn đề người Nam làm phản.


1. Vùng đất không cây, quê hương dịch bệnh.
Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 3, đột nhiên truyền đi tin tức Ngụy Văn đế cử đại quân đánh Đông Ngô. Đấy hiển nhiên là hiệu quả của chiến lược đông hoà Tôn Quyền của Gia Cát Lượng.
Hai nước Ngụy Ngô mắc vào việc quân sự rối ren, phía bắc và phía đông của Thục Hán áp lực quân sự tự nhiên giảm đi không ít. Gia Cát Lượng cho rằng đây là thời cơ tốt nhất để triệt để giải quyết vấn đề Nam Trung. Bởi thế ông ta bắt đầu sắp xếp quân đội, chuẩn bị tự mình dẫn quân nam chinh.
Trưởng sử Vương Liên liền can rằng: “Nam Man là vùng đất không cây cối, quê hương của dịch bệnh, không nên lấy thân phận tể tướng trong nước mà đến đó, chẳng may có sai sót gì, há chẳng phải là rất mạo hiểm ư!”
Vương Liên tên chữ là Văn Nghi người Nam Dương, khi Lưu Chương nắm quyền thì mới vào Thục, được bổ nhiệm làm chức quan ở Tử Đồng. Lưu Bị vào Thục, Vương Liên đóng cửa thành cố thủ, Lưu Bị thấy ông ta có trách nhiệm và khí tiết nên rất ưa thích. Sau khi bình định Thục Trung, vẫn được trọng dụng, việc điều hành ở quận có thành tích tốt. Vương Liên ngoài sở trường về hành chính, lại giỏi về việc tài chính, bởi thế được Gia Cát Lượng đề bạt, việc trông nom mỏ muối ở Tứ Xuyên đạt nhiều thành tựu. Suốt một đời tuy thay đổi không ít chức quan, song tựa hồ đều liên quan đến tài chính. Gia Cát Lượng trọng dụng ông ta làm bí thư cơ yếu ở Phủ thừa tướng, vẫn phụ trách kế hoạch tài chính.
Đề nghị của một người dưới trướng được tín nhiệm như vậy, tin rằng Gia Cát Lượng chẳng thể xem thường.
Huống chi trong lời can của Vương Liên, ắt có vấn đê quân lương và tài chính mà Gia Cát Lượng vẫn xem trọng.
Tam quốc chí có chép, Gia Cát Lượng đối với đề nghị của Vương Liên, đích xác đã khá thận trọng suy nghĩ, ông ta cũng đã cân nhắc là phái một viên đại tướng thay ông ta viễn chinh, song ông ta cho rằng ở chiến trường này chủ yếu nhất là chính trị, mà chẳng phải quân sự. Thục Hán có không ít mãnh tướng thiện chiến, song khí chất chính trị thì không đủ, nếu cần triệt để giải quyết vấn đề, chẳng phải tự mình xuất chinh không được. Song Vương Liên chẳng phải tùy tiện nói ra lời can gián của ông có lý do đầy đủ, lại rất khẩn thiết, bởi thế Gia Cát Lượng rất cảm động lại phải suy nghĩ kỹ. Sử sách có chép, do lời can của Vương Liên, đích xác khiến Gia Cát Lượng ngẫm nghĩ trong suốt một thời gian khá dài.
Đến tháng 3, Gia Cát Lượng mới quyết tâm từ biệt hậu chủ Lưu Thiện, tự mình chuẩn bị nam chinh.
Ông ta đầu tiên hạ lệnh cho Thái thú Ngụy Diên tăng cường phòng thủ phía bắc, để đối phó sự manh độnẹ của Tào Ngụy. Lại điều động Lý Nghiêm phụ trách phòng vệ phía đông, chú ý đến tiến triển xung đột giữa Ngụy - Ngô, thường xuyên nắm tình hình quân sự chặt chẽ. Trưởng sử Hướng Lăng giữ Thành Đô, điều động quân lương để chi viện cho tiền tuyến.
Quân đoàn nam chinh được sắp xếp như sau:
-    Tổng tư lệnh: Thừa tướng Gia Cát Lượng
-    Tham mưu trưởng: Trưởng sử Dương Nghi
-    Tư lệnh đạo quân phía đông: Môn hạ Mã Trung
-    Tư lệnh đạo quân tuyến giữa: Trù hàng đô đốc Lý Khôi
-    Tư lệnh đạo quân phía tây: Gia Cát Lượng tự kiêm
Kế hoạch tác chiến chủ yếu như sau:
Đạo quân Mã Trung theo đường mòn Tứ Xuyến đến thẳng Tang Ca, tiến đánh quân phản loạn Chu Bao, quân Lý Khôi tiến đánh quân Ích Châu, trực tiếp đánh vào đại bản doanh của Ưng Khải và Mạnh Hoạch. Lại phái Thái thú Kiện Vi trước đây là Vương Sĩ, nhận nhiệm vụ mới làm Thái thú Ích Châu, cùng hiệp trợ về quân sự với Lý Khôi, Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực, từ Thành Đô đến sát An Thượng, cùng hợp quân với Thái thú Việt Huề là Cung Lộc ở An Thượng, từ An Thượng theo đường thủy tiến vào Việt Huề. Cuối cùng ba đường binh mã cùng hợp ở Điền Trì thuộc quận Ích Châu.
Hành động quân sự lần này, tuy do Gia Cát Lượng tự mình cầm quân, song các tướng lĩnh và binh lực được huy động đều không lớn. Bởi thế kẻ địch chủ yếu vẫn là ở phía bắc và phía đông, tướng lĩnh có tài đảm đương một vùng ắt phải được bố trí ở đấy. Lại nữa công việc giữ gìn Thành đô cũng rất quan trọng, bởi thế những người thân tín quan trọng như Tưởng Uyển, Đổng Doãn, Phí Vỹ, đều cần phải ở lại Thành Đô đề phòng biến động. Cũng tức là nói qui mô cuộc chiến tranh lần này, từ lúc bắt đầu lập kế hoạch đã tựa hồ không ở mức độ lớn.
Đúng như lời can của Vương Liên, chỉ cần phái một viên đại tướng, thì có thể xử lý tốt việc chiến sự ở đấy, hà tất một tể tướng tôn quí của quốc gia phải mạo hiểm tới đó. Về mặt quân sự mà nói, luận điểm này hoàn toàn chính xác, Gia Cát Lượng tự mình trong lòng cũng đã thấu tỏ, đích xác cũng có chỗ e ngại “giết gà bằng dao mổ trâu”. Song tầm mắt của Gia Cát Lượng phóng đến độ cao chính trị, muốn giải quyết vấn đề Nam Trung không phải ở chỗ có đủ năng lực vũ trang để trấn áp, quân sự có thể sửa chữa được ngọn, muốn sửa được gốc phải dựa vào lực lượng chính trị.
Song vấn đề Nam Trung khá phức tạp, ví như băng đóng 3 thước chẳng phải rét một ngày, không triệt để giải quyết ắt thành mối lo vĩnh viễn sau này, về căn bản chẳng thế dốc toàn lực đối ngoại được.
Huống chi nếu chẳng có sự trợ giúp của vùng Nam Trung, Thục Hán cũng chẳng có thực lực để đối kháng lâu dài với Tào Ngụy và Đông Ngô, nói cách khác, sự thành bại về xử lý sự kiện Nam Trung phản loạn, có quan hệ lâu dài đến việc sửa sang Thục Hán.
Xử lý về chính trị dựa vào khí chất và quyền lực, nếu mọi việc đều phải thỉnh thị, sẽ rất khó cơ động đưa ra sách lược ứng biến, khí chất không đủ, thì chẳng thể thấu thị được vấn đề, hoặc thiếu tầm mắt qui hoạch lâu dài. Vấn đề Nam Trung ắt sẽ chẳng thể giải quyết một lần, chỉ là lãng phí thời gian mà thôi.
Khi ba chân đỉnh đã lập ra, cục diện ngoại bang thoắt đã vô cùng biến hoá, chẳng thế có nhiều thời gian và cơ hội tốt. Xử lý vấn đề Nam Trung chẳng những phải nhanh mà cần triệt để, ngoài Gia Cát Lượng tự mình đứng ở tuyến thứ nhất, chẳng ai có thể gánh vác được trách nhiệm ấy. Bởi lý do như vậy, Gia Cát Lượng không thể không tự mình xuất quân.


2. Công tâm là đầu, phá thành là phụ.
Ở thời khắc then chốt này, Trưởng sử Vương Liên đã từng ngăn cản Gia Cát Lượng nam chinh mới vừa từ trần, Gia Cát Lượng vừa mất đi một cánh tay, một người nói thẳng, rất đỗi thương tâm, bất đắc dĩ phải lấy lão thần Hướng Lãng quen biết từ thời ở Kinh Châu kế nhiệm. Sau khi trao đổi hết mọi việc, Gia Cát Lượng từ biệt Hậu chủ, dẫn quân xuất chinh phương nam.
Hậu chủ hạ chiếu thưởng cho Gia Cát Lượng một lưỡi tầm sét mạ vàng, một cỗ xe chỉ huy có lọng che, lại thêm 60 hổ bôn hộ vệ, đã tượng trưng cho sự chịu ơn Vua mà xuất chinh. Văn vũ bá quan, thảy đều đến đưa chân. Chủ nhiệm ban tham mưu quân sự ở phủ Thừa tướng là Mã Tắc, từng làm Thái thú Việt Huề, đối với tình hình Nam Trung có hiểu biết rất sâu sắc. Đặc biệt sau khi người anh cả là Mã Lương từ trần, Gia Cát Lượng đối với Mã Tắc càng thêm gắn bó, bởi thế quan hệ hai bên rất thân thiết.
Hôm đó, Mã Tắc có đi tiễn chân, Gia Cát Lượng bèn thân mật hỏi rằng: “Ấu Thường (chỉ Mã Tắc) mấy năm lại đây chúng ta thường trao đổi ý kiến, thấy những lời can gián đưa ra có ý nghĩa đối với hành động quân sự nam chinh lần này, ngươi có ý kiến gì cứ nói rõ ra”.
Mã Tắc nói: “Các dân tộc thiểu số phía nam, vẫn cậy đất trời ở nơi xa xôi, lại có được sự hiểm trở về địa hình nên có thế cố thủ, từ xưa đến nay thường vẫn không phục tùng sự cai quản của triều đình. Nếu như nay ta dùng đại quân trấn áp họ, thì quân đội vừa rút đi, khó giữ họ không tiếp tục phản loạn. Hành động viễn chinh lần này kể như thành công, song ngay sau khi thừa tướng cử binh bắc phạt, đối kháng với kẻ địch Tào Ngụy, thì những Nam tộc ở phía nam này, chỉ cần biết rõ binh lực chúng ta phân tán, chẳng có thực lực đối chọi với họ, lại sẽ mau chóng phản loạn, cứ như vậy, vấn đề này vĩnh viễn không giải quyết được.
Nếu như vội vàng tàn sát họ, để trừ hậu họa, chẳng phải là việc làm của người nhân đức phải có. Hơn nữa trong một thời gian ngắn cũng chẳng thể làm được, tin rằng đây nhất định chẳng phải là ý định của thừa tướng.
Theo thiển nghĩ của đệ tử, đạo lý của việc dùng binh, công tâm là đầu, phá thành là phụ, đánh về tâm lý là đầu, đánh phải dùng binh là phụ. Xin thừa tướng xét kỹ, mà sớm thu phục lòng người phương nam, để có được sự điều hành yên ổn dài lâu”.
Những lời nói này, thực hợp với ý nghĩ của Gia Cát Lượng, chẳng những thu nạp làm tinh thần chủ yếu của cuộc nam chinh lần này, hơn nữa đối với Mã Tắc giỏi bàn luận kế sách quân sự, lại càng thêm ưa thích hơn, trách chi trong lần bắc phạt sau này, đã đặc biệt đề bạt, giao phó cho trách nhiệm quan trọng hàng đầu.


3. Loạn quân tan rã dần dần, Ung Khải, Cao Định tử nạn
Đạo quân Mã Trung tấn công Tang Ca, theo đường Quí Châu nhằm hướng nam thảo phạt loạn quân Chu Bao. Cũng có thể sớm dự liệu từ sự kiện Thường Phòng, chính sách vỗ yên của Gia Cát Lượng đạt được kết quả, những bộ tộc vùng Tang Ca cơ hồ hoàn toàn quay về lại với triều đình, Chu Bao chưa đánh đã chạy. Mã Trung theo kế sách của Gia Cát Lượng, thi hành ân huệ với dân ở đấy, tiêp tục triển khai công việc vỗ yên.
Việc tấn công quận Ích Châu của Lý Khôi khá thuận lợi, Man tộc ở vùng Côn Minh, Vân Nam quay giáo, cũng mau chóng ổn định được tình hình ở đấy.
Chiến trường chủ yếu là đạo quân phía tây của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng từ Nghi Thực vượt qua Trường Giang, qua An Thượng từ phía tây tiến vào quận Việt Huề, dưới sự truy bức của đại quân, Di Vương, Cao Định đang bao vây Vĩnh Xương, phải lập tức rút quân, để củng cố bố phòng ở Mao Ngưu, Định Tạc, Ti Thủy.
Gia Cát Lượng tiến quân đến gần vùng Ti Thủy, hạ lệnh đóng quân ở nơi hiểm trở, tạm thời không phát động, chỉ tăng cường áp lực về tinh thần với Cao Định.
Cứ như chiến thuật của Gia Cát Lượng, vậy là hy vọng Cao Định sẽ sợ hãi, mà tập kết quân làm phản của mình ở đây, sẽ có thể tiến hành giao chiến trừng phạt gọn.
Cao Định quả nhiên trúng kế, ông ta chẳng những dốc toàn lực tập kết những bộ lạc của mình, lại còn phái người khẩn cấp đưa tin cho Ung Khải và Mạnh Hoạch để mau chóng mang quân đến chi viện.
Đương khi Ung Khải chuẩn bị xuất quân, lại nhận được tin tức Chu Bao bại trận, quân Thục đã chiếm được Tang Ca, hơn nữa phần lớn quận Ích Châu đã đầu hàng quân Lý Khôi.
Ung Khải cho rằng tình hình đã nghiêm trọng, bèn tạm thời khéo léo cự tuyệt yêu cầu của Cao Định, sau khi cùng với Mạnh Hoạch tăng cường phòng bị mọi mặt ở quận Ích Châu, sẽ lại chấn chỉnh quân ngũ theo đường Điền Đông đến chi viện cho Cao Định.
Song bởi Ung Khải chậm trễ không xuất binh, khiến Cao Định đối với ông ta rất nghi ngờ, hơn nữa những tù trưởng bộ lạc dưới trướng Cao Định đối với Ung Khải rất phẫn nộ, bởi thế đương khi Ung Khải mới đến đây, bỗng chốc lại bị thuộc hạ Cao Định giết đi.
Sau khi Ung Khải chết, những kẻ đi theo cũng lập tức huyên náo với Cao Định, rồi theo Mạnh Hoạch nhằm hướng nam chạy đến quận Ích Châu.
Nhìn thấy quân phản loạn đang bị tan rã, Gia Cát Lượng lập tức xuất binh, đánh chiếm thành lũy của Cao Định, do binh lực Man tộc suy yếu, lập tức đổ vỡ như núi sụt lở. Quân Thục thừa kế đánh phá đại bản doanh Cao Định, bắt được vợ con của Cao Định mang theo.
Gia Cát Lượng có ý dừng tấn công để phái người đến khuyên Cao Định đầu hàng. Chẳng ngờ Cao Định lại đùng đùng nổi giận, bèn tập kết hơn hai nghìn quân cảm tử, chủ động tập kích quân chủ lực của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng cả giận, phát động cuộc chiến tiêu diệt. Quân lính của Cao Định bị đánh bại, Cao Định bị chết ngay tại trận, quân Việt Huề đến đây đã hoàn toàn được thu phục. Tàn dư của Ung Khải theo Mạnh Hoạch chạy về quận Ích Châu cùng kết hợp với những bộ lạc ở phía nam có thù hận lâu đời với người Hán, chuẩn bị cuộc đối kháng cuối cùng với đội quân nam chinh của Gia Cát Lượng.


4. Tài trí giữa lúc khẩn cấp, Lý Khôi lập được kỳ công.
Đạo quân Lý Khôi ở tuyến giữa, vốn đã tiến vào quận Ích Châu, bao vây sào huyệt của Ung Khải và Mạnh Hoạch. Chẳng ngờ Mạnh Hoạch lại dẫn quân trở về quận Ích Châu, từ Điền Đông và Kiềm Tây, theo hai phía giáp kích với quân Lý Khôi.
Lúc này, Lý Khôi chẳng những ở vào thế yếu, địch đông ta ít, hơn nữa liên hệ với quân Gia Cát Lượng cũng bị cắt đứt, tình thế rất nguy cấp.
Lý Khôi trong lúc nguy ngập lại nảy sinh tài trí, bèn lợi dụng quan hệ ông ta cũng là người địa phương, giả vờ nói với quân làm phản rằng: “Quân Thục Hán lương thực đã cạn, sẽ sớm phải rút về phương bắc. Tôi bởi xa quê đã lâu, nghĩ rằng lá rụng về cội, cùng với mọi người bàn kế sách lớn. Để biểu hiện rõ thành ý của tôi, tôi xin nói những điều cơ mật đặc biệt với mọi ngươi!”.
Lý Khôi dùng kế hoãn binh có kết quả, Man tộc ở quận Ích Châu bởi thế mà nới lỏng áp lực bao vây.
Lý Khôi thấy kẻ địch lơ là, lập tức dẫn đội cảm tử đánh ra, đột kích quân chủ lực của kẻ địch, phá được vòng vây, đến thẳng Bàn Giang gần với Tang Ca, liên hệ được với đạo quân của Mã Trung, cùng phòng ngự với chủ lực Man tộc ở quận Ích Châu.
Một mặt Gia Cát Lượng bởi mất liên hệ với Lý Khôi, rất sợ quân tuyến giữa bị cô lập, cũng vào tháng 5 năm đó, huy động quân lính vượt qua Lô Thủy (Kim Sơn Giang), đuổi theo quân Mạnh Hoạch.
Biết được quân chủ lực của Gia Cát Lượng đã sang bờ nam Lô Thủy, Mạch Hoạch lập tức dẫn quân về phía nam khiến đạo quân Gia Cát Lượng thuận lợi ở vùng Điển Trì hợp quân với Mã Trung và Lý Khôi ở phía đông và tuyến giữa.
Lúc đầu nếu như Lý Khôi không giữ được phía bắc quận Ích Châu hoặc như bị tiêu diệt, sẽ khiến đạo quân nam chinh chẳng thể hợp quân, chẳng những không có thể tập kết lực lượng tác chiến đầy đủ, trái lại sẽ tăng thêm thanh thế của quân làm phản, tạo thành hậu quả khó lường. Cho nên “Tam quốc chí” có chép: “Bình định phương nam, công lao của Lý Khôi rất lớn, quân Mạnh Hoạch rút về phương nam, gặp phải sự phản kích của quân Lý Khôi, đành lại phải chạm trán với quân chủ lực của Gia Cát Lượng. Đại quân hai bên đối trận ở thượng du sông Bàn Giang, triển khai một trận quyết chiến, Mạch Hoạch tự nhiên chẳng phải là đối thủ của Gia Cát Lượng, trong một lần quyết chiến, quân thua mà bị bắt sống.
Với trận thắng này đã có thể nói chiến sự nam chinh đã hoàn toàn kết thúc, song Gia Cát Lượng lại không nghĩ như vậy. Ông ta cho rằng quân sự tuy thắng lợi, song chính trị lại chưa thu được ưu thế, thắng ở sức mạnh mà chưa thu phục được nhân tâm. Ông ta nghĩ đến đề nghị “Công tâm là đầu” của Mã Tắc, quyết định phải thắng thật sâu thật xa, để triệt để giải quyết vấn đề người nam làm phản.


5. “Uy danh của ông như trời, người nam không làm phản nữa”.
Để Mạnh Hoạch toàn tâm qui phục, Gia Cát Lượng quyết định phóng thích vô điều kiện.
Đầu tiên Gia Cát Lượng cho bày trận, dẫn Mạnh Hoạch đi tham quan, sau đó hỏi ông ta: “Ông thấy trận địa của quân ta như thế nào?”
Mạnh Hoạch đáp: “Trước đây không biết thực hư quân các ông ra sao, nên mới bị đánh bại. Hôm nay thấy được rồi, cũng chẳng qua như thế mà thôi, tin rằng tôi trở về chỉnh đốn binh mã, muốn đánh bại các ông cũng không khó”.
“Đã như vậy thì tha cho ông đi đấy!”.
Gia Cát Lượng cười nói như không có gì xảy ra, Mạnh Hoạch và các tướng lĩnh Thục Hán đều kinh hãi, tất cả đều không hiểu nổi.
Thực ra, cứ như quân lực của Gia Cát Lượng, muốn đánh bại Mạnh Hoạch thiếu tổ chức cũng chẳng khó gì, cái khó là ở chỗ phải thích ứng với hoàn cảnh địa lý. Vùng đất bên sông Lô Thủy, ở vào bắc vĩ tuyến 27°, gần với vùng núi nhiệt đới, lắm sơn lam chướng khí, người Hán nói chung rất dễ bị trúng độc ở đấy, lại thêm không quen thuộc hoàn cảnh thuỷ thổ, nếu giao tranh ở vùng đó là việc khá gian khổ và nguy hiểm.
Lại nữa trung tuần tháng 3 Gia Cát Lượng mới vượt sông Lô Thủy, khí trời đã gần mùa hè, chẳng những quân viễn chinh phần đông không hợp thủy thổ, mất sức tác chiến, hơn nữa lam sơn chướng khí độc hại, có ảnh hưởng không ít đến quân tình.
Khoảng năm Thiên Bản đời Đường, Đường Huyền Tông từng động binh ở đấy, kết quả là bị tổn thương quân sĩ nghiêm trọng bởi dịch bệnh. Nhà thơ Bạch Cư Dị đã viết bài thơ theo lối Nhạc phủ, đó là bài thơ phản chiến nổi tiếng “Tặng ông già gãy tay ở Tây Phong” như sau:
            Xứ Vân Nam có dòng Lô
            Mùa hoa tiêu khói trắng mờ mặt sông
            Nước sông nóng bỏng lạ bùng
            Ba người qua đấy phỏng chừng còn hai
            Ngõ ngoài não một tiếng ai
            Bồng con đứng đợi qua thời trẻ trung
            Chinh nam dằng dặc dặm trường
            Vạn người ra lính mà không thấy về.
Sự uy hiếp đối mặt với đạo quân nam chinh của Thục Hán, Gia Cát Lượng trong lòng đã biết khá kỹ, song tựa hồ ông nhằm mục tiêu cao hơn, đã chấp nhận trả giá đến như vậy.
Nghe nói trong thời gian rất ngắn, mấy lần bắt sống Mạnh Hoạch, lại theo lời giao hẹn mà tha cho ông ta. Đến lần cuối cùng, Gia Cát Lượng lại hạ lệnh cởi trói tha cho Mạnh Hoạch để ông ta được trở về trại cũ.
Song Mạnh Hoạch lại quỳ xuống dưới trướng, nói rằng: “Uy danh oủa ông như trời, người nam không làm phản nữa!”.
Lịch sử chính thức ghi chép rất nhiều về cuộc nam chinh lần này, song La Quán Trung tác giả “Tam quốc diễn nghĩa” lại căn cứ vào truyền thuyết dã sử ở đó, viết ra chương hồi hơn 4 vạn chữ, ghi chép tỉ mỉ những tình tiết Gia Cát Lượng 7 lần bắt sống Mạnh Hoạch, trong đó tính chân thực ra sao, trong chương sau, chúng tôi sẽ tự thuật và phân tích hoàn chỉnh.
Cứ theo chính sử ghi chép, Gia Cát Lượng sau khi khiến Mạnh Hoạch toàn tâm qui phục, mới tiến quân đến Điền Tây hợp quân với Mã Trung và Lý Khôi, cũng chính thức kết thúc chiến sự ở Nam Trung.
Tam quốc chí có chép: “Mùa thu thì bình định xong”, Hoa Dương quốc chí thì chép “Mùa thu đã bình định được bốn quận”, như vậy rõ ràng là vào mùa thu, cứ theo Biên niên sử “Tư trị thông giám” ghi chép thì vào tháng 7, khoảng trung tuần hoặc khoảng hạ tuần tháng ấy.
Gia Cát Lượng vào tháng năm vượt sông Lô Thủy, kể đến tháng 7 trước sau mới hơn hai tháng, ví như kể từ tháng 3 xuất binh, chẳng qua chỉ hơn 4 tháng ngắn ngủi mà thôi. Thế lực phản loạn kéo dài 2, 3 năm, bị triệt để bình định, chính xác phải quy công cho sách lược cơ bản “công tâm là đầu”.


6. Truyền thuyết bẩy lần bắt, bẩy lần tha trong dã sử.
Tuy đang làm công việc thảo phạt Nam Trung, theo lịch sử ghi chép, Gia Cát Lượng vẫn luôn lo lắng đến việc phòng thủ phương bắc, luôn nhắc nhở việc phòng thủ ở đấy. Bởi thế phải chăng thực đúng như Tam quốc diễn nghĩa mô tả, thâm nhập sâu vào cực nam của Nam Trung như thế, lại tiến hành tác chiến chính trị “7 lần bắt 7 lần tha”.
Rốt cục Gia Cát Lượng phải chăng có 7 lần bắt sống Mạnh Hoạch, cũng không dễ khảo chứng, song cứ theo ghi chép của Tam quốc diễn nghĩa, Gia Cát Lượng vào sâu phương nam như thế, thời gian tiêu hao như vậy xem ra tựa hồ rất không có khả năng. Song ở những vùng tây nam này, lại lưu truyền không ít câu chuyện và di tích về chiến sự giữa Gia Cát Lượng và Mạnh Hoạch. Vậy rốt cục việc này là như thế nào? Theo “Điển Vân kí lược” của Trương Nhược Tú, những địa điểm đưa ra về 7 lần bắt Mạnh hoạch, cơ hồ đều ở vùng Đại Lý và Bảo Sơn của Vân Nam. Lịch sử tuy có chép 7 lần bắt 7 lần tha, song lại chẳng thấy chép Gia Cát Lượng đã đến vùng Điền Tây. Vậy những câu chuyện và di tích ở đấy đã sản sinh ra như thế nào?
Có không ít nhà nghiên cứu cho rằng, vùng đất Vân Nam theo truyền thuyết Gia Cát Lượng đại chiến với Mạnh Hoạch phần lớn đều được nhắc đến từ đời Đường, hơn nữa sau này lại còn miêu tả tường tận hơn, tựa hồ có chỗ khoa trương phụ hoa. Rốt cục là để phù hợp với hình ảnh của ai?
Cứ theo tình hình đương thời mà xem, vùng Điền Tây là vùng cai quản của Lã Khởi. Lã Khởi vẫn trung thành và sùng bái Gia Cát Lượng, tin rằng, ông ta khi chấp hành chính sách ít nhiều đều mô phỏng hoặc giả truyền chỉ thị của Gia Cát Lượng, cũng có thể bởi như vậy, người sau đã lấy sự tích của Lã Khởi hợp vào hình ảnh Gia Cát Lượng.
Lại thêm người Hán ở Điền Tây càng ngày càng nhiều, họ lấy sự tích Gia Cát Lượng ở Điền Đông đổi sang Điền Tây. Lại do chính sử thiếu ghi chép, ảnh hưởng của Gia Cát Lượng đối với vùng Nam Trung rất lớn, các chuyện truyền kỳ và di tích dựa vào tâm lý này đã phát triển rất mạnh.
La Quán Trung ắt là đã dựa vào những câu chuyện truyền thuyết này để chỉnh lý kỹ thêm mà viết ra tiểu thuyết “Tam quốc diễn nghĩa”. Thực ra truyền thuyết bảy lần bắt Mạnh Hoạch chẳng những lưu truyền ở vùng tây nam, thậm chí ở những nước Đông Nam Á như Miến Điện, Thái Lan cũng có những chuyện truyền khẩu, mọi người đàm luận về những thành tích này của Gia Cát Lượng không thể không thích thú kính phục, thậm chí không gọi rõ tên, mà gọi là “Khổng Minh tiên sinh” để biểu thị sự tôn kính đặc biệt.
Gia Cát Lượng cố ý thả Mạnh Hoạch là chấp hành cụ thể sách lược “công tâm làm đầu”, điều đó chẳng có gì nghi ngờ, song hành vi ấy lặp lại nhiều đến bảy lần, hiển nhiên có chỗ khoa trương. “Thông giám thông lãm” có nói: Người ta thấy 7 lần bắt 7 lần tha xem là chuyện hay kim cổ, thực ra là thiếu nhận thức thông thường. Tuy nói là với các dân tộc thiểu số ở biên giới, phải làm cho họ toàn tâm qui phục, song luôn bắt luôn tha, như là trò đùa, một lần đã là nhiều, thực tế chẳng thể nhiều đến 7 lần. Ví như bắt cá mấy lần, cũng chẳng thể chủ quan, huống chi là việc tác chiến, lại là việc chẳng lành. Mở lồng cho chim bay, phá cũi thả hổ về rừng, tuyệt đối chẳng phải là việc hay, huống chi kẻ địch lớn ở phương bắc, luôn bắt luôn tha khiến chiến sự kéo dài không quyết, tin rằng một người cẩn thận như Gia Cát Lượng sẽ không bao giờ làm. Tuy cách nói như vậy không công bằng, song ở vùng Nam Trung khó nắm địa lợi, 7 lần bắt 7 lần tha đích xác không phù hợp với bản tính Gia Cát Lượng xưa nay vẫn cẩn thận.
Dẫu rằng có hay không có 7 lần, bắt rồi sau tha vẫn là sự thực lịch sử, Gia Cát Lượng đích xác trong mấy tháng ngắn ngủi, hoàn thành công việc bình định Nam Trung, lại chỉ trong gần hai tháng, lấy chính trị để cải thiện quan hệ với dân tộc thiểu số, đấy là sách lược phù hợp với quan điểm sau này, “Hán Di yên ổn”. Sau khi sắp xếp việc lớn ở Nam Trung, đến cuối năm, Gia Cát Lượng mới từ phía đông bắc Vân Nam dẫn quân trở về Thành Đô, hoàn thành chiến dịch lớn “công tâm làm đầu” chưa từng có trong lịch sử. Nhà thơ Hồ Tăng đời Đường trong bài thơ “Lô Thủy” đối với việc Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân nam chinh không ngại nguy hiểm đã nhiệt tình tán dương.
            Tháng 5 vào đất không cây
            Lô Giang trăng sáng khói đầy thực hư
            Đền ơn Tam cố thảo lư
            Há rằng tóm tướng có dư 7 lần.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong số những cuốn bình pháp nổi tiếng của Trung Quốc được công nhận có tinh thần hiện đại nhất đó là cuốn Úy Lạo Tử, do viên quan Úy Lạo viết dâng lên Tần Thủy Hoàng.
Trong binh pháp úy Lạo Tử có một chương ghi mười hai điều là áp đảo kẻ địch và mười hai điều bị kẻ địch lợi dụng, yêu cầu các tướng lĩnh cầm quân tác chiến phải đặc biệt chú ý. Mười hai điều áp đảo kẻ địch như sau:
1.    Cần phải lập uy, có mệnh lệnh và thái độ bình thường ở nơi không dễ biến đổi.
2.    Ân huệ phải nảy sinh hiệu quả, ắt phải tóm được thời cơ thích đáng.
3.    Đạo lý quyền biến là phải hiểu được sự biến hoá đáp ứng với tình thế.
4.    Thành bại chiến đấu thấy ở tinh thần hăng hái của binh sĩ.
5.    Khi công kích ắt phải dự liệu kẻ địch không ngờ đến
6.    Khi phòng ngự ắt phải làm cho kẻ địch khó mà mò ra được
7.    Chẳng có thất sách là bởi đánh giá, cân nhắc và cặn kẽ
8.    Không rơi vào chỗ khốn khó bởi có sự chuẩn bị đầy đủ
9.    Với tình huống nhỏ hẹp lại càng phải đặc biệt thận trọng.
10.    Phải có trí tuệ mưu lược đầy đủ khi xử sự việc lớn.
11.    Tránh có khiếm khuyết khi phải quyết đoán
12.    Phải đặc biệt yêu mến người khác, lấy khiêm nhường mà tiếp đãi người ta.
Lại có 12 khuyết điểm rất dễ bị kẻ địch lợi dụng:
1.    Thường phải hối hận bởi vội vàng hành động khi mình chưa nắm chắc.
2.    Việc tai họa thường bởi lạm sát kẻ vô tội mà sinh ra
3.    Người ta bất bình là do sự tư riêng không chính đáng của người lãnh đạo.
4.    Phát sinh việc chẳng lành là do người lãnh đạo không thích người khác khuyên răn lỗi lầm của mình.
5.    Phát sinh việc chẳng ngờ thường do tước đoạt tài sản của dân.
6.    Người lãnh đạo không rõ thị phi thường sẽ rơi vào cạm bẫy ly gián của kẻ địch.
7.    Thường sinh việc không thiết thực bởi ra mệnh lệnh không đâu.
8.    Không chịu lắng nghe thì người lãnh đạo chẳng gần được người hiền đức.
9.    Tai hoạ thường đến bởi sự hám lợi
10.    Tệ hại là do thân gần kẻ tiểu nhân
11.    Mất nước thường do không chú trọng việc phòng vệ
12.    Nguy hiểm sẽ phát sinh do mệnh lệnh không được quán triệt.
Mười hai điều quan trọng nói về việc thắng bại, đích xác thường xuất hiện trong quản lý thường ngày của chúng ta. Khi phát sinh sự kiện phản loạn Nam Trung, Gia Cát Lượng không kể khó khăn, chấp nhận nơi hiểm trở lam sơn chướng khí, nỗ lực quán triệt chiến lược bắt thả khiến các dân tộc thiểu số toàn tâm qui phục tựa hồ chưa từng tách rời mấy nguyên tắc lớn mà Úy Lạo Tử đưa ra.
Trong đó, đặc biệt phải chú ý, là có tài trí khi sửa sang việc lớn và khiêm nh ường để được lòng mọi người. Tầm mắt hạn hẹp, nóng nảy hữu lợi, với việc lớn không có biện pháp tài trí, chỉ có sự thông minh vụn vặt là chứng bệnh thường thấy ở nhiều người lãnh đạo.
Khi đắc ý dễ dương dương tự đắc, xem mình là con trời, lại phải làm sao thực khiêm nhường để thu phục tình cảm của mọi người, Gia Cát Lượng trong cuộc viễn chinh Nam Trung lần này, có được thành công triệt để, đích xác ở đây ông đã thực sự nắm được hai nguyên tắc ểê trên.
“Sống bởi lo hoạn nạn, chết bởi thường vui thú”. Mất bởi không lo giữ, là một người điều hành, việc đó một giây phút cũng chẳng thê lơ là được.
 
0
Chương XXI
CÂU ĐỐ 7 LẦN BẮT MẠNH HOẠCH
 
Sự kiện 7 lần bắt Mạnh Hoạch, chủ yếu phát sinh từ dã sử của vùng Nam Trung, lịch sử tuy có chép việc bắt rồi lại thả, song đích xác mấy lần thì không nói rõ. Hoa dương quốc chí tuy có chép rõ 7 lần bắt 7 lần thả, song thời gian và địa điểm hoàn toàn không ghi chép.


1. Bản đồ chỉ vẽ việc bình Man.
Sự kiện phản loạn ở Nam Trung về cơ bản đã biến đổi không khí hoà hoãn, bởi Thái thú ở quận Vĩnh Xương là Vương Kháng và Công tào Lã Khởi quyết chí cố thủ Vĩnh Xương khiến quân làm phản chẳng thể cuốn chiếu khắp vùng Nam Trung, cũng khiến hành động quân sự phản kích sau này của quân Thục Hán triển khai được thuận lợi.
Đặc biệt là Lã Khởi, trước tình hình quân Nam Man do Ung Khải chỉ huy chống lại triều đình, đã soạn ra bản đồ chỉ vẽ bình Man, trình lên Gia Cát Lượng để tham khảo. Trong đó địa hình vùng Nam Trung, khí tượng, phong tục tập quán, cùng binh khí và phương pháp tác chiến của Nam Man đều được phân tích và thuyết minh tường tận.
Gia Cát Lượng sau khi xem xong, rất cảm kích, lấy bản đồ chỉ vẽ bình Man để chỉ đạo diễn tập cho quân nam chinh. Cũng có thể là bản đồ rõ ràng đã biết mình biết người, Gia Cát Lượng mới có thể bảy lần bắt sống Mạnh Hoạch dễ dàng, đạt được sự chiến thắng toàn diện.
Song tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa căn cứ vào những dã sử địa phương, theo ghi chép ít nhiều của chính sử, lại thêm sức tưởng tượng phong phú của nhà viết tiểu thuyết, với hơn 4 vạn chữ, đã miêu tả hết sức lâm ly toàn bộ đầu đuôi về 7 lần bắt Mạnh Hoạch. Trong đó đại bộ phận đều là vùng Điền Tây do Lã Khởi và Vương Kháng cai quản, chính sử đều không ghi chép Gia Cát Lượng có dẫn quân đến đấy. Có những bất đồng rất lớn với chính sử, cũng có những sai biệt rất lớn trong việc sắp xếp quân nam chinh, đặc biệt là những nhân vật tác chiến chủ yếu.
Tháng 5 vượt sông Lô bình định Nam Trung, là sự kiện rất quan trọng trong đời sống của Gia Cát Lượng. Lại thêm tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa mà mọi người đều rất quen thuộc, tình tiết bên trong tuy rõ ràng không hợp lý, song trong dân gian Trung Quốc, lại vẫn được thừa nhận là một sự thực hiển nhiên. Bởi thế bút giả căn cứ theo dã sử, chỉnh lý lại có hệ thống những tình tiết Gia Cát Lượng nam chinh, có thể khiến chúng ta đối với cá tính và tài năng quân sự của Gia Cát Lượng, cùng với mức độ chân thực về sự nghiệp của Gia Cát Lượng đã nêu trong Tam quốc diễn nghĩa, có thể có được sự thấu hiểu và phán đoán chân thực.


2. Đội quân nam chinh trong tiểu thuyết với những ngôi sao sáng.
Tuy bởi lý do chính trị, Gia Cát Lượng không thể không dẫn quân nam chinh, song số quân không nhiều, quân chủ lực vẫn là Mã Trung và Lý Khôi chỉ phụ trách phía nam mà thôi. Để giữ thực lực đối phó với quân Tào ở phía bắc cùng Đông Ngô nửa như thù nửa như bạn, khiến quân chủ lực mà Gia Cát Lượng dẫn đi, binh lực cũng không quá lớn.
Song La Quán Trung chẳng nghĩ như thế, trong Tam quốc diễn nghĩa, đã thấy Gia Cát Lượng sắp xếp một “đội ngũ minh tinh” lớn chưa từng thấy.
Về lịch sử, bộ tham mưu chỉ huy động Dương Nghi mới được Gia Cát Lượng chú ý đến, song trong tiểu thuyết, lại bao gồm những người thân tín quan trọng của Gia Cát Lượng, bao gồm cả Tham quân Tưởng Uyển, Trưởng sử Phí Vỹ, Đổng Quyết và Phàn Kiến. Nếu quả thật như thế, người của phủ Thừa tướng đều phải nghỉ dài cả.
Sắp xếp quân sĩ vũ trang lại càng phức tạp, ví như Triệu Vân là tướng lĩnh hàng đầu trong đại quân, lúc này đang phụ trách phòng thủ phía đông, hổ tướng Ngụy Diên đứng đầu phái Thiên Tráng, lịch sử hiển nhiên ghi chép ông ta đang chăm chăm chú ý những manh động của Tào Ngụy ở phía bắc, song đều bị nhà tiểu thuyết sắp xếp vào quân chủ lực, trở thành hai vị đại tướng đáng nể.
Những tướng lĩnh xuất sắc thế hệ thứ 2 của Thục Hán như Vương Bình, Trương Dực, Trương Nghi đều được biên chế vào đội ngũ tác chiến, lại đưa con trai Quan Vũ là Quan Sách làm nhiệm vụ chỉ huy quân tiên phong. Những thủ lĩnh quân nam chinh trong thực tế lịch sử như Lý Khôi và Đặng Trung, lại thành ra phó tướng.
Để biểu thị tài trí của Gia Cát Lượng, chiến dịch đầu tiên ở Nam Trung, tạo ra suy thoái của Cao Định và Ung Khải, ở trên đã thuật lại; song ở tiểu thuyết lại nói đấy là do lá thư của Gia Cát Lượng lừa gạt Chu Bao, tác động vào Cao Định và Ung Khải, trong đó còn đặc hiệt cường điệu Cao Định và Ung Khải vốn thân thiết, song Gia Cát Lượng lại tác động để Cao Định và Chu Bao giết Ung Khải, so với ghi chép của chính sử hiển nhiên có sai lạc rất lớn.
Về lịch sử trong chiến dịch bảy lần bắt sống Mạnh Hoạch quân Thục có binh lực mạnh mẽ áp đảo, nói về quân sự, các dân tộc thiểu số phía nam dứt khoát chẳng phải là đối thủ, Gia Cát Lượng thực sự quan tâm là vấn đề chính trị chứ không phải là quân sự.
Nhà tiểu thuyết muốn có những tình tiết hấp dẫn, đã cho Mạnh Hoạch tìm đến ba người bạn quan trọng; cũng là các động chủ của ba động Nam Man, đó là Kim Hoàn Tam Kết, Đổng Trà Na và A Hội Nam. Đối mặt với những tướng Man có yêu thuật này, lại là các đại tướng Thục Hán Triệu Vân và Ngụy Diên. Nghe nói khi chưa bắt được Mạnh Hoạch, Triệu Vân và Nguỵ Diên đánh bại được liên quân động chủ ba động Nam Man. Lại thêm trận mai phuc của Trương Nghi, Trương Dực, Mã Trung, Vương Bình mà Kim Hoàn Tam Kết bị giết, Đổng Trà Na và A Hội Nam bị bắt sống.
Song Gia Cát Lượng công khai nói rõ, đầu sỏ tội lỗi là Mạnh Hoạch, hai người bị bắt chỉ là bị sai khiến mà thôi, hạ lệnh lập tức phóng thích, trận đánh này là thông điệp dự báo trước về những trang tiểu thuyết viết về bảy lần bắt Mạnh Hoạch sắp diễn ra.


3. Một lần bắt một lần thả:
Trận đánh ở Cẩm Bình Sơn.
Cứ theo dã sử ghi chép, Gia Cát Lượng phán đoán Mạnh Hoạch sau thất bại trận đầu nhất định sẽ nghĩ cách phản kích lại quân Thục Hán, bởi thế ông hạ lệnh cho Vương Bình ở mặt chính diện đón đánh quân Mạnh Hoạch.
Vương Bình cố ý một mình ra khiêu chiến, chủ tướng của quân Mạnh Hoạch là Mang Nha Trường ra ứng chiến, Vương Bình giả vờ không đánh mà chạy, Mang Nha Trường lập tức đụổi theo. Mạnh Hoạch cũng nhân cơ hội mà truy kích, song chỉ qua một ngọn núi, bỗng phía trái có một đội quân xông ra chặn đánh hậu quân của Mạnh Hoạch, đồng thời Trương Dực, Trương Nghi từ hai phía cũng đổ ra đánh, Mạnh Hoạch bị đại bại phải chạy về vùng Cẩn Bình Sơn nương náu.
Vương Bình dẫn quân đuổi theo, không để cho Mạnh Hoạch có đường sống. Mạnh Hoạch đành dẫn quân vào sâu trong Cẩm Bình Sơn, chẳng ngờ Triệu Vân sớm đã mai phục ở đấy, Mạnh Hoạch không địch nổi, bị bắt tại trận.
Tuy các tham mưu xung quanh đề nghị Gia Cát Lượng giết Mạnh Hoạch, để dẹp yên giặc loạn; song Gia Cát Lượng muốn để người Nam tâm phục, vẫn phóng thích vô điều kiện cho Mạnh Hoạch.
Ghi chép về trận đánh này khiến người ta rất khó hiểu quân Nam Man thông thuộc địa hình địa lợi vùng Cẩm Bình Sơn, làm sao lại trúng phải kế mai phục của quân Thục là người không thông thuộc ở đấy, người hơi có thường thức quân sự, đã có thể thấy sự hư cấu ở trong đó.


4. Hai lần bắt hai lần thả.
Trận đánh ở vùng Lô Thủy cứ theo chính sử ghi chép, Gia Cát Lượng sau tháng 5 vượt sông Lô Thủy mới trực tiếp giao chiến với Mạnh Hoạch.
Song trong truyền thuyết dã sử, trận đánh lần thứ hai bắt Mạnh Hoạch lại xảy ra lúc đang vượt sông Lô Thủy.
Mạnh Hoạch được phóng thích, lại tập kết thủ lĩnh các động, rút về phòng tuyến mới xây dựng ở phía nam Lô Thủy. Kế hoạch tác chiến của ông ta là nếu quân Thục miễn cưỡng vượt sông Lô Thủy, ắt khiến cuộc chiến trở thành trường kỳ đối kháng, quân lính viễn chinh sẽ bị mỏi mệt, lại thêm không hợp thủy thổ, sức chiến đấu sẽ mau chóng giảm sút, Mạnh Hoạch sẽ nhân cơ hội này phát động mãnh liệt tấn công, như vậy có thể đánh bại được quân Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng sớm đã dự liệu đến tâm lý tác chiến của Mạnh Hoạch, bởi thế hạ lệnh cho toàn quân rời khỏi vùng Lô Thủy đến vùng có cây cối mát mẻ để tránh nắng, đối với sự khiêu chiến tích cực của Mạnh Hoạch, bề ngoài không có phản ứng gì.
Song Gia Cát Lượng vẫn ngầm lệnh cho Lã Khởi điều tra tường tận địa hình xung quanh. Lã Khởi đến hạ du sông Lô Thủy, tìm được một nơi gọi là Lưu Sa Khẩu, nước chảy từ từ, đáy sông khá nông, hơn nữa vùng giáp sơn bên kia sông chính là con đường chủ yếu mà kẻ địch vận chuyển lương thực. (Mạnh Hoạch rất rõ địa hình như thế, làm sao lại không hiểu con đường tải lương trọng yếu mà chọn ở địa hình bất lợi đến vậy, hiển nhiên là hư cấu của nhà viết tiểu thuyết).
Lúc ấy, đạo quân của Mã Đại (em Mã Siêu) đang phụ trách việc chi viện hậu cần, vận chuyển lương thực cho tiền tuyến, Gia Cát Lượng bèn hạ lệnh cho đội quân tinh nhuệ này vượt sông tập kích quân Mạnh Hoạch (ở chiến trường các đạo quân có trách nhiệm rõ ràng, Gia Cát Lượng điều động đội quân cần vụ chưa được chuẩn bị về tâm lý thành đội quân tiên phong. Thực ra là điều tối kỵ của binh gia, đây cũng là sự tưởng tượng của nhà viết tiểu thuyết).
Dã sử có chép, quân Mã Đại nhân đêm tối vượt qua Lưu Sa Khẩu, nhằm hướng Giáp Sơn tập kích, khiến đường tải lương của Mạnh Hoạch bị cắt đứt.
Mạnh Hoạch hạ lệnh cho Mang Nha Trường phản công ở Giáp Sơn, lại bị Mã Đại đánh bại, Mang Nha Trường bị giết tại trận.
Mạnh Hoạch lại lệnh cho đội quân của Đổng Trà Na thuộc đạo quân thứ hai, tiến đánh quân Mã Đại, bởi quân chủ lực của Gia Cát Lượng đã thừa thắng vượt qua Lô Thủy, Đổng Trà Na từng được Gia Cát Lượng ra ân phóng thích, không có bụng đối kháng bèn tự mình thu quân rút chạy.
Mạnh Hoạch thấy Đổng Trà Na làm trái quân lệnh, muốn đem chém, may mà thủ lĩnh của ông ta xin cho đổi thành xử tội đánh 100 gậy, lại lệnh đóng cửa để sám hối. Đổng Trà Na sau khi chịu nhục, đối với Mạnh Hoạch lại càng bất mãn, đặc biệt là người ở tộc khác, cơ hồ đều chủ trương đầu hàng Gia Cát Lượng đế trả mối thù đã bị làm nhục. Đổng Trà Na bèn cầm đầu những người thân tín trong bộ lạc của mình và tập kích đại bản doanh của Mạnh Hoạch, lại bắt sống được Mạnh Hoạch.
Gia Cát Lượng tựa hồ sớm dự tính trong nội bộ Mạnh Hoạch sẽ có chuyện làm phản từ bên trong, cho nên vui vẻ tiếp đãi Đổng Trà Na đã bắt sống được Mạnh Hoạch đến đầu hàng.
Sau khi ban thưởng cùng vỗ về Đổng Trà Na, Gia Cát Lượng hỏi cảm tưởng của Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch nói bị người của mình làm hại bởi thế mà không chịu phục. Gia Cát Lượng lại hạ lệnh phóng thích vô điều kiện, cho ông ta theo lối cũ mà về.
Ở đoạn ghi chép này, chẳng những có nhiều sai lạc với lịch sử, mà còn có rất nhiều chuyện không hợp lý. Việc thâm nhập của Mã Đại trái với thường thức quân sự; Mạnh Hoạch xử trí đối với Đổng Trà Na, hiển nhiên giống như quân pháp nhà Hán, với qui tắc tổ chức kiểu bộ lạc của Nam Man hiển nhiên có sai lạc; Mạnh Hoạch sau khi đã xử tội Đổng Trà Na, lại lơ là phòng vệ như thế thực khiến người ta không hiểu nổi.


5. Ba lần bắt ba lần thả:
Kể về sự kiện Mạnh Ưu.
Mạnh Hoạch sau khi chạy về đại bản doanh, lập tức cho người bắt giết Đổng Trà Na và A Hội Nam (đây lại là chỗ không dự liệu của Gia Cát Lượng trong tiểu thuyết, tin rằng Gia Cát Lượng trong lịch sử chẳng thể phạm sai lầm như thế).
Sau khi đã giết thủ lĩnh phản nghịch. Mạnh Hoạch lại dẫn quân đánh Giáp Sơn, thì phát hiện ra Gia Cát Lượng sớm đã rút quân, ở đấy một người cũng chẳng có. Mạnh Hoạch đành trở về doanh trại, đúng lúc ấy người em trai là Mưu Ưu từ Ngân Khanh Sơn dẫn hai vạn quân đến tăng viện, hai anh em thâu đêm nghiên cứu cách đánh bại quân Gia Cát Lượng.
Hôm sau Mạnh Ưu dẫn hơn 100 quân Man, lấy lông chim trĩ và vẹt trắng cắm lên đầu, mặc áo sặc sỡ, tay chân đều đeo vòng vàng, vòng ngọc. Theo tập tục của quân Man, đấy là hình thức sứ giả hoà bình vứt bỏ vũ trang, bởi thế đến thẳng được trước đại bản doanh quân Thục mà chẳng bị ngăn cản.
Mạnh Ưu đứng trước cửa trại nói lớn: “Tôi là Mạnh Ưu, em trai Nam Man Vương Mạnh Hoạch, xin thay mặt huynh trưởng xin đầu hàng thừa tướng”.
Gia Cát Lượng tuy không tin vào ý tốt của Mạnh Ưu, song vẫn hỏi han ý tứ. Mạnh Ưu nói: “Bởi huynh trưởng được thừa tướng hai lần phóng thích, trong lòng rất cảm kích, chỉ phải nỗi bộ tộc phản đối, không dám tự ý đầu hàng, bởi thế lệnh cho tôi bày tỏ, tin rằng huynh trưởng Mạnh Hoạch sẽ có cách thuyết phục mọi người đến đây đầu hàng”.
Gia Cát Lượng cũng bày tỏ sự khuyến khích ngay ở đấy, còn đặt tiệc rượu khoản đãi Mạnh Ưu và thuộc hạ, đặc biệt còn đưa rượu quí mang từ Thành Đô đên để mời khách, quân Thục Hán và quân Man cùng thâu đêm với yến tiệc mừng công, suốt đêm ấy uống rượu làm vui.
Thực ra Mạnh Hoạch sớm đã bè trí một sè quân Man lớn ở gần đấy, mưu toan đợi sau khi quân Thục say sưa trong tiệc rượu, sẽ phát động hoả công. Song đợi đến lúc cả tiệc rượu yên lặng, Mạnh Hoạch dẫn quân đánh vào, lại phát hiện những người say rượu ỏ đấy chỉ là quân Man của Mạnh Ưu mà thôi, chẳng có lấy một binh sĩ Thục Hán nào, mới phát hiện lại bị trúng kế rồi.
Mạnh Hoạch dẫn Mạnh Ưu bị say rượu ra ngoài, rồi phóng hoả đốt doanh trại, song lại bị đại quân Thục Hán mai phục bao vây trùng điệp, Mạnh Hoạch dẫn quân thân tín phá vòng vây, chạy đến vùng Lô Thủy, thấy một đội thuyền Man tộc Nam Trung ở bên bờ sông, lập tức lên thuyền chuẩn bị chạy trốn.
Song vừa mới lên thuyền bỗng phát hiện đó vốn là quân của Mã Đại cải trang, Mạnh Hoạch trong lúc hốt hoảng mất cả sức đề kháng, cuối cùng lại bị bắt sống.
Gia Cát Lượng nói với Mạnh Hoạch: “Lần này lập kế gian phi chính là ông! Nay đã tâm phục rồi chứ!”.
Mạnh Hoạch nói: “Là do em tôi là Mạnh Ưu tham rượu mà nhỡ việc, nếu không kế sách của tôi nhất định sẽ thành công”.
Gia Cát Lượng nghe thế cả cười, lại hạ lệnh phóng thích Mạnh Hoạch lần thứ ba.


6. Bốn lần bắt bốn lần thả:
Trận đánh ở Tây Nhĩ Hà.
Gia Cát Lượng sau khi phóng thích Mạnh Hoạch, bèn dẫn đại quân vượt qua sông Lô Thủy, đến thẳng bên sông Tây Nhĩ Hà, cách hai bờ nam bắc đóng trại bày trận, lại có cầu phao liên hệ trận địa quân Thục ở hai bờ sông.
Nhân viên thám mã của Mạnh Hoạch, phát hiện trong doanh trại Thục Hán ở bờ nam tựa hồ chẳng có quân lính. Mạnh Hoạch bèn tiến hành tập kích vào doanh trại của Thục Hán ở bờ nam, song chẳng ngờ chỉ thấy trong trại dẫu một tên lính cũng không có, chỉ có mấy trăm cỗ xe chất đầy lương thực, đồ binh khí bị vứt lại ngổn ngang. Song từ bờ nam nhìn sang trận địa bờ bắc, vẫn thấy cắm đầy vô số quân kỳ Thục Hán, có thể thấy đao kiếm dưới ánh nắng sáng lấp lánh.
“Đây nhất định lại là mưu kế của Gia Cát Lượng rồi!” Mạnh Hoạch nói với nhân viên tham mưu rằng: “Vứt bỏ lương thực xe cộ như thế, hiển nhiên nội bộ Thục Hán đã phát sinh biến động, Gia Cát Lượng đã nhất định rút quân đi rồi, để phòng bị chúng ta truy đuổi, cố ý bố trí doanh trại chỉnh tề ở bờ bắc, ấy là nghi binh mà thôi!”.
Song Mạnh Hoạch vẫn sợ, không dám liều lĩnh tiến đánh doanh trại quân Thục ở bờ bắc.
Ba ngày sau, cờ xí của quân Thục ở bờ bắc thấy đã rối loạn, đao kiếm vẫn phô bày cũng chẳng thấy nữa. “Thấy chưa! Đã rút cả rồi! Đuổi mau, một người cũng chẳng để họ chạy thoát”.
Mạnh Hoạch quyết tâm vượt sông Tây Nhĩ Hà nhằm hướng bắc truy kích. Song đang đêm khí trời khá lạnh, gió cát rất lớn, quân Mạnh Hoạch vượt sang bờ bắc, đành phải tạm thời đến trú ở trong doanh trại cũ của quân Thục để tránh gió lạnh.
Lúc đêm khuya đột nhiên trận địa bốc lửa, lại thêm gió lớn, mau chóng thành ra biển lửa, quân lính Mạnh Hoạch lập tức hỗn loạn cả, chạy lủi tứ tung. Song phía ngoài trận địa đã hoàn toàn bị quân Thục bao vây, Mạnh Hoạch dẫn hơn 10 người thân tín, hoảng hốt tháo chạy.
Đến khi trời sáng, Mạnh Hoạch thấy ở rừng cây phía trước có một đội quân, nhìn kỹ một chút, cuối cùng thấy là quân của Gia Cát Lượng.
Lại thấy Gia Cát Lượng đang ngồi trên xe, cười lớn mà rằng: “Chẳng cần phải chạy nữa, làm sao còn chưa quyết chiến đã vội chạy đi rồi?”.
Mạnh Hoạch ngoái đầu lại, chủ động đánh vào đội quân của Gia Cát Lượng, chẳng ngờ còn chưa đến trước xe, đã nghe ầm một tiếng rơi xuống hố cát mà Gia Cát Lượng đã bố trí, bị quân của Ngụy Diên bắt sống.
Gia Cát Lượng hỏi Mạnh Hoạch rằng: “Lần này ông đã thành tâm qui phục mà đầu hàng chưa?”
Mạnh Hoạch lớn tiếng nói: “Dứt khoát không thể đầu hàng, tôi bị ông dùng trá thuật lừa dối, làm sao có thể đầu hàng được? Ông có thể cứ giết tôi đi! Nếu không giết tôi, tôi nhất định sẽ dẫn quân đến quyết chiến đường đường chính chính với ông, cũng chẳng bị ông lừa dối nữa”.
“Hay lắm! Hãy cứ như vậy!”
Gia Cát Lượng lần thứ tư lại phóng thích Mạnh Hoạch vô điều kiện.
Mạnh Hoạch như trong ghi chép của dã sử ở đây, không thấy được những kết cục trước đó giống như một đứa trẻ nghịch ngợm bị tóm gọn, lại giống như một trò đùa, chẳng giống chút nào với một nhân vật lãnh đạo tập đoàn Nam Man hùng mạnh về tiềm lực.
Mạnh Hoạch sau này được đề bạt thành đại quan trong triều đình Thục Hán, hơn nữa còn những biểu hiện phi thường kiệt xuất, phải không khiếm khuyết khí chất như thế mới đúng.


7. Năm lần bắt năm lần thả:
Trận đánh ở Ngốc Long.
Sau trận đánh ở Tây Nhĩ Hà, Mạnh Hoạch dẫn quân tàn dư rút về phía nam, Gia Cát Lượng cũng phải vào sâu phía nam vùng Nam Trung. Mạnh Hoạch lần này đến cầu cứu Đoá Tư Đại Vương là động chủ ở động Ngốc Long.
Trong bản đồ chỉ vẽ bình Man của Lã Khơi từng chia ở vùng Nam Trung, có nơi ở động, đấy là nơi thiên nhiên hiểm trở. Không những thế núi hiểm yếu, mà lam sơn chướng khí tràn khắp vùng núi non, ở trong vùng nham thạch thường phun ra lưu hoàng, người đương thời gọi là suối độc.
Quân tiên phong của Thục Hán do Vương Bình chỉ huy, nhằm hướng nam tấn công, bởi chịu tác động của chướng khí đã tổn thương rất nghiêm trọng. Lại thêm khí trời nóng nực, binh sĩ thấy suối nước đều tranh thủ múc uống, lại bởi nước suối có hàm chứa lưu hoàng rất lớn, nhiều người bị trúng độc, Vương Bình chẳng thể chỉ huy, đành cầu cứu Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh trọng thưởng nếu tìm ra được người hướng đạo, cuối cùng may mắn gặp được ẩn sĩ ở đây dẫn đường, chẳng những tìm được nước suối có thể uống được, lại tìm được con đường nhỏ tránh được luồng chướng khí, khiến quân Thục thuận lợi vượt qua vùng suối độc, tiến sâu vào vùng phía nam Tây Nhĩ Hà, tiếp cận với động Ngốc Long.
Dưới đây lại kể về Đoá Tư Đại Vương, ông ta cho rằng đường xá địa thế hiểm yếu, quân Thục dứt khoát không đến được, chẳng ngờ quân Thục đã dễ dàng tràn đến Ngốc Long từ bao giờ.
Quân Thục Hán thanh thế rất lớn, không ít thủ lĩnh bộ lạc không đánh mà hàng. Đoá Tư Đại Vương rất kinh hãi, đành phải cậy hiểm cố thủ, lại nhằm các thủ lĩnh xung quanh xin cứu viện.
Không lâu, Dương Phong là động chủ động Ngân Trị cai quản 21 động phía tây, dẫn năm người con của ông ta và ba vạn quân Man đến trợ chiến. Mạnh Hoạch và Đoá Tư Đại Vương rất vui mừng, hai bên lập tức bày ra kế hoạch tỉ mỉ đối phó lại quân Thục.
Người con trai của Dương Phong nói: “Binh sĩ của chúng tôi đều là dũng tướng địch nổi nghìn người, chỉ cần chúng tôi đối phó với quân Thục cũng đủ”.
Mạnh Hoạch và Đoá Tư Đại Vương lập tức bầy tiệc rượu chiêu đãi, Dương Phong chọn ở trong quân 10 người mỹ nữ ra múa hát chúc mừng, hai bên đều rất cao hứng; Đoá Tư Đại Vương cũng hạ lệnh tạm thời giải trừ quân thị vệ cảnh giới, để tất cả đều có thể cùng vui.
Giữa lúc mọi người đang say sưa chúc rượu, 10 cô gái đang nhảy múa bỗng rút dao nhọn, xông thẳng đến chỗ Đoá Tư Đại Vương và Mạnh Hoạch, cùng áp chế hai vị Man Vương. Năm người con của Dương Phong còn nhanh hơn, mau chóng chế ngự các tướng lĩnh quân Man đang dự tiệc.
Vốn là Dương Phong và mấy người con của ông, sớm đã tiếp thu sự chiêu hàng của Gia Cát Lượng, trong số 3 vạn quân mang đến, cũng có rất nhiều quân Thục Hán. Bởi thế điều kiện địa hình hiểm yếu của động Ngốc Long hoàn toàn chẳng thể phát huy, Mạnh Hoạch và Đoá Tư Đại Vương không kịp kháng cự, đều thành tù binh của quân Thục.
Gia Cát Lượng sau khi động viên và ban thưởng cho cha con Dương Phong, lại thẩm vấn Mạnh Hoạch. Mạnh Ưu và Đoá Tư Đại Vương ngay trước doanh trại.
“Lần này các ông đã tâm phục rồi chứ?”.
“Là do chúng tôi tự mình phản lẫn nhau, căn bản chẳng phải do lực lượng của các ông, chúng tôi sao có thể tâm phục khẩu phục được!”.
Thế rồi Gia Cát Lượng lần thứ năm lại phóng thích Mạnh Hoạch.


8. Sáu lần bắt sáu lần thả:
Trận đánh với Hoả Nữ Vương.
Mạnh Hoạch sau khi thua trận ở động Ngốc Long, quyết tâm bố phòng ở căn cứ địa Ngân Khanh, lại tập kết quân lực các bộ tộc vùng Nam Trung để quyết một trận sinh tử với Gia Cát Lượng.
Ngân Khanh Sơn bởi có mỏ bạc mà thành tên, là trung tâm chính trị kinh tế ở vùng Nam Trung, như hiện nay là vùng giữa Quí Châu và Quảng Tây, cũng là mục tiêu chủ yếu nam chinh lần này của Gia Cát Lượng; do người vợ của Mạnh Hoạch là Chúc Dung Thị và gia tộc trụ giữ.
Đương khi Gia Cát Lượng hạ lệnh nam chinh, bộ tộc Chúc Dung công khai tuyên bố sẽ huy động lực lượng của họ, triệt để đánh bại quân Thục Hán.
Bộ tộc Chúc Dung có sở trường về thuật phi đao, sức sát thương rất mạnh, sức tác chiến trong Man tộc rất hiệu quả. Tương truyền họ Chúc Dung là hậu duệ của thần lửa, có rất. nhiều bí thuật về đánh hoả công, họ lại thường mặc chiến bào sắc đỏ, hung hãn và dũng mãnh, khiến người các tộc khác mới nghe danh đã tái mặt rồi.
Mạnh Hoạch sau khi rút về Ngân Khanh Sơn, lập tức triệu lập bốn động chủ thân thuộc với họ Chúc Dung cùng bàn bạc kế hoạch tác chiến trước quân nam chinh Thục Hán. Chúc Dung Thị mạnh mẽ nói: “Muốn đánh bại được đại quán Thục Hán, biện pháp hữu hiệu là trực tiếp trừ khử Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng chết rồi, đạo quân nam chinh sẽ tan vỡ cả”.
“Dùng biện pháp gì giết Gia Cát Lượng nhỉ?”.
“Biện pháp tốt nhất là dẫn họ đến địa điểm quyết chiến, phải lợi dụng điều kiện địa lợi. Phía bắc Ngân Khanh Sơn ba mặt là sông, có một bình nguyên là nơi hiểm yếu ở giữa ba con sông lớn, đây là bình nguyên hình túi, nếu dẫn được quân Thục vào đấy, lại chẹn ở Tam Hà Khẩu. Gia Cát Lượng sẽ thành ra cua ở trong giỏ”.
Lúc này lại truyền đến tin động chủ động Bát Nạp ở phía tây nam là Mộc Lộc Đại Vương cũng dẫn quân đến giúp; “Thuần Thú Sư” - người dạy thú nổi danh - là biệt hiệu của ông ta, quân của ông ta rất đặc biệt, gồm có những động vật hung hãn như hổ, sư tử, voi, tác chiến ở bình địa, sức phá hoại rất đáng sợ.
Mạnh Hoạch được sự viện trợ này, rất đỗi tin tưởng quyết định một trận quyết chiến nảy lửa với Gia Cát Lượng.
Ông ta đến vùng Ngân Khanh Sơn, nơi tụ hội của ba con sông Lô Thủy, Cam Nam Thủy, Tây Thành Thủy để xây dựng thành lũy phòng ngự, và Đoá Tư Đại Vương phụ trách phòng thủ, Mộc Lộc Đại Vương thì đóng trại ở vùng bình nguyên gần đó, đợi thời cơ sẽ tập kích đại quân Thục Hán kéo đến đấy.
Đoá Tư Đại Vương cho mai phục ở trong thành nhiều tay cung nỏ, mỗi cây nỏ có thể cùng một lúc bắn ra 10 mũi tên, đầu mũi tên đểu có tẩm thuốc rất độc, chỉ cần sước da lập tức sẽ thấm vào lục phủ ngũ tạng, chẳng thể thoát chết được.
Nhận được tin tình báo ở tiền tuyến, Gia Cát Lượng phán đoán đây sẽ là một trận đánh ác liệt, bởi thế ông phái Triệu Vân và Ngụy Diên thủ vai chính ở trận này.
Song trước thế đánh bằng tên độc của Đoá Tư Đại Vương, quân Thục Hán trong trận đánh thứ nhất và thứ hai đều tổn thất nghiêm trọng, Triệu Vân đành tuyên bố tạm thời rút quân để xin ý kiến Gia Cát Lượng rồi mới định đoạt.
Gia Cát Lượng hạ lệnh xây dựng công sự phòng ngự, song Đoá Tư Đại Vương lại đánh bằng tên buộc lửa, quân Thục đành phải rút thêm 10 dặm nữa.
Gia Cát Lượng phải hạ lệnh tạm thời nghỉ đánh, sưu tập thêm tình hình địa điểm ở đấy, lại định ra sách lược tiến công mới cho trận này.
Trong thời gian nghỉ đánh, vùng Tam Hà Khẩu đột nhiên nổi gió lớn, trong 2, 3 ngày gió cát mù mịt, ngoài cự li mười thước không nhìn rõ đường. Gia Cát Lượng bỗng nghĩ ra một kế, ông lệnh cho 20 vạn quân Thục Hán, đều phải mặc những áo chứa đất trông giống như là những túi đất di động. Lợi dụng lúc chiều tối gió đang thổi mạnh để tiếp cận thành lũy phòng ngự ỏ Tam Giang.
Đoá Tư Đại Vương tuy đã hạ lệnh bắn tên độc, song gió cản mạnh, cung nỏ bắn không chuẩn, quân Thục Hán đánh đến dưới thành, xếp các túi đất thành đống cao, rất mau chóng tạo thành một quả núi nhỏ cao ngang mặt thành. Quân Thục mau chóng từ núi nhỏ nhảy qua tường vào trong thành.
Bởi binh lực rất chênh lệch, quân phòng ngự cua Đoá Tư Đại Vương nhanh chóng bị tiêu diệt, Đoá Tư Đại Vương cũng chết trong đám loạn quân. Mạnh Hoạch ở doanh trại Ngân Khanh Sơn, biết tin thua trận ở Tam Giang rất đỗi kinh hoàng, hạ lệnh cho Chúc Dung Thị và Mộc Lộc Đại Vương, tiến vào vùng Tam Giang chuẩn bị giao chiến.
Quân của Trương Nghi và Mã Trung vừa mới vào vùng bình nguyên, lập tức gặp phải tập kích của Chúc Dung phu nhân, tuy Mã Khởi trong bản đồ chỉ vẽ bình Man đã giải thích tường tận phương pháp tác chiến của Chúc Dung Thị, song lần đầu đối mặt với phi đao và hoả tiễn tấn công, Trương Nghi và Mã Trung bị đánh đại bại, Trương Nghi lại bị bắt tại trận.
Nghe tin quân Thục đại bại, Triệu Vân và Ngụy Diên đến tiếp ứng đều giật mình, hai vị lão tướng này đã trải trăm trận đánh, bèn cùng nhau nghiên cứu kế sách tác chiến đối phó với Chúc Dung phu nhân.
Hôm sau Triệu Vân đến trước trại khiêu chiến, đương khi Chúc Dung phu nhân phát động tấn công, Triệu Vân tức thì hạ lệnh triệt thóa, Chúc Dung phu nhân thừa thắng đuổi theo. Song Ngụy Diên lại từ một con đường khác xông ra khiêu chiến Chúc Dung Thị, hai bên mới giao chiến, Ngụy Diên lại rút chạy, Chúc Dung Thị đang cao hứng hăng hái truy đuổi. Theo thẳng đến chân núi, Nguỵ Diên đột nhiên quay lại nghênh chiến, Chúc Dung Thị lấy phi đao ném vào Ngụy Diên, song Ngụy Diên huơ đao gạt đi, Chúc Dung Thị mải đánh chẳng ngờ Triệu Vân đột nhiên từ mé bên tiến tới, quân Man lập tức bị rối loạn, Chúc Dung phu nhân rất hoảng loạn, cuối cùng bị Triệu Vân bắt được.
Mạnh Hoạch sau khi được tin Chúc Dung Thị thất bại tái mặt kinh hãi, lập tức lệnh cho Mộc Lộc Đại Vương huy động đại quân dã thú ra trận phản kích lại. Bởi Triệu Vân và Ngụy Diên chưa từng thấy một đạo quân như thế, không dám ứng chiến, phải vội vã rút về đại bản doanh chịu tội trước Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng lại phải đăm chiêu suy nghĩ, trải qua mấy ngày chuẩn bị cuối cùng ông ta cũng nghĩ được cách đối phó với đội quân dã thú.
Gia Cát Lượng lệnh cho tất cả quân lính đều mang theo một bó cỏ khô, đương khi đội quân dã thú của Mộc Lộc Đại Vương xông đến, quân Thục đốt các bó cỏ, lấy lửa khói để phản kích dã thú. Dã thú thấy lửa khói lập tức rơi vào hỗn loạn, Triệu Vân và Ngụy Diên thừa thế đuổi đánh, Mộc Lộc Đại Vương cũng chết trong đám loạn quân.
Gia Cát Lượng đang ở đại bản doanh, đột nhiên được tin báo, có thủ lĩnh Man tộc, áp giải anh em Mạnh Hoạch đến xin đầu hàng. Gia Cát Lượng hạ lệnh mở cửa chính doanh trại đón đội ngũ đầu hàng đang kéo đến.
Đương khi các thủ lĩnh bộ lạc ép giải anh em Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu bị trói chặt vào cửa trại, Quan Sách phụ trách phòng vệ lệnh cho đóng cửa trại, lại sai những thị vệ xung quanh đột kích bắt hết những người đến đầu hàng và anh em Mạnh Hoạch.
Gia Cát Lượng lệnh cho khám người, quả nhiên trong những người đầu hàng và anh em Mạnh Hoạch đều giàu sẵn dao ngắn, dự định giả vờ đầu hàng để vào đưực doanh trại sẽ trực tiếp nhảy vào giết Gia Cát Lượng, chẳng ngờ lại bị khám phá, toàn bộ trở thành tù binh.
Gia Cát Lượng hỏi rằng: “Lần này cuối cùng đã tâm phục rồi chứ!”
Mạnh Hoạch đáp: “Là do tôi tự mình chủ động đến để ông bắt được, chẳng phải là bản lĩnh của ông, đương nhiên vẫn chẳng thể phục tùng”.
Từ ghi chép này thấy rằng, Mạnh Hoạch đơn giản chỉ là một đại vương bù nhìn, đâu có giống như khí chất sau này của một đại quan triều đình Thục Hán.
Gia Cát Lượng lại phóng thích vô điều kiện cho Mạnh Hoạch.


9. Bảy lần bắt bảy lần thả:
Trận đánh ở khe Bàn Sà.
Mạnh Hoạch, Mạnh Ưu và Chúc Dung phu nhân dẫn tàn quân nhằm hướng nước Ô Qua ở phía đông nam Ngân Khanh Sơn mà rút lui, lại xin tù trưởng nước Ô Qua là Ngột Đột chi viện.
Ngột Đột Cốt lệnh cho đội quân nước Ô Qua, xây dựng công sự phòng ngự ở Hà Cốc gần Đào Hoa Thủy, làm trận địa đề kháng cuối cùng.
Cứ theo ghi chép trong bản đồ chỉ vẽ bình Man của Lã Khởi, “quân đội nước Ô Qua, mặc áo giáp bằng mây đan, áo giáp mây này được tẩm dầu, có trọng lượng rất nhẹ, song đao kiếm không đâm qua được, uy lực tác chiến rất đáng sợ”.
Gia Cát Lượng cho Ngụy Diên từ chính diện đánh vào doanh trại quân Man.
Đột Ngột Cốt lập tức triển khai phản kích, quân Thục đại bại, Ngụy Diên lệnh cho toàn quân rút chạy về Đào Hoa Thủy ở phía bắc, nơi đó gọi là khe Bàn Sà.
Ngột Đột Cốt dẫn quân giáp mây mãnh liệt đuổi theo phía sau, đương khi họ mới vào trong khe núi, cửa phía sau bỗng bị lấp kín bởi rất nhiều cây gỗ, đá hộc, phía trước khe núi lại có nhiều cành cây bốc cháy dữ dội, giáp mây tẩm dầu gặp lửa lập tức bốc cháy, cả vùng mau chóng thành ra một biển lửa, toàn bộ quân giáp mây không biết bao nhiêu mà kể của Ngột Đột Cốt đều bị thiêu chết trong khe Bàn Sà.
Mạnh Hoạch nghe nói Ngột Đột Cốt đuổi theo Ngụy Diên vào khe núi, trong lòng rất nghi ngại cũng lập tức mở cửa trại dẫn quân đến tiếp ứng, chẳng ngờ lại gặp phải chính quân Gia Cát Lượng. Bởi có Mã Đại và Quan Sách hộ vệ, quân Mạnh Hoạch hiển nhiên chẳng phải là đối thủ, Mạnh Hoạch lại phải rút về doanh trại gần Đào Hoa Thủy, chẳng ngờ doanh trại sớm bị quân của Vương Bình và Trương Dực chiềm mất, Mạnh Hoạch và Chúc Dung phu nhân rất kinh hãi, muốn phá vây mà ra lại bị Mã Đại xông đên bắt sống.
Gia Cát Lượng lại hạ lệnh phóng thích Mạnh Hoạch, Mạnh Hoạch cảm động quì xuống nói rằng: “Người Nam tâm phục rồi, từ nay về sau, dứt khoát không có bụng làm phản nữa!”.
Bảy lần bắt bảy lần thả, khi bắt Mạnh Hoạch phải tâm phục khẩu phục, đã là đầu mùa thu năm Kiên Hùng thứ 3.


10. Khiếm khuyết trong việc bảy lần bắt bảy lần thả.
Những tình tiết dã sử và tiểu thuyết ở trên, tuy khá tường tận, lại cũng rất không hợp lý. Mấy trận đánh lúc đầu tổn thất của hai bên rất ít. Gia Cát Lượng không thấy được là đủ, lại phát động năm lần bảy lượt giao chiến tạo thành thương vong nghiêm trọng về binh mã cả hai bên. Về mặt chính trị mà nói, tạo ra thù hận càng nhiều, lại càng bất lợi mới đúng. Mấy trận đánh sau này, từ góc độ gì mà xem cũng đều không cần thiết. Lại nữa Đóa Tư Đại Vương, Mộc Lộc Đại Vương, Chúc Dung phu nhân, Ngột Đột Cốt, những nhân vật này được tạo ra hiển nhiên được tiểu thuyết hoá, chẳng những có chỗ tô vẽ, tên người, tên đất, đều cực kỳ quái dị, về ghi chép cũng thiếu tính cẩn thận và tính hợp lý của sự thực lịch sử.
Bản đồ chỉ vẽ bình Man của Lã Khởi tuy có thấy lịch sử ghi chép, song nội dung thực tế cũng đã sai lệch với nhau. Trong tiểu thuyết có nói đến “bản đồ chỉ vẽ”, hiển nhiên có những chỗ khiên cưỡng.
Sự xuất hiện của nhân vật, lại mâu thuẫn với sự thực lịch sử, Triệu Vân, Nguỵ Diên nắm quân chủ lực của Thục Hán, phải bố trí ở phương bắc và phương đông để đối phó với Tào Ngụy và Đông Ngô hùng mạnh mới đúng, sắp xếp họ thành những vai chính trong chiến dịch bình Nam, hiển nhiên là hư cấu của nhà viết tiếu thuyết vậy.
Những anh hùng thực sự trong chiến dịch bình nam như Mã Trung, Lý Khôi và sau này là Trương Nghi lại thành ra vai phụ không nổi trội.
Đối chiếu ghi chép lịch sử và tình tiết tiểu thuyết, đoạn miêu tả bảy lần bắt bảy lần tha, đích xác là khó tin theo hoàn toàn.
 
*
*    *
 
Lời bình của Trần Văn
“Tam quốc diễn nghĩa” tuy già nửa là sự tô vẽ phi lịch sử, song La Quán Trung với ngọn bút tài hoa đã miêu tả như một nhà chính trị, quân sự, triết học và mưu lược học, đích xác đã khiến người ta phải cảm động, trách chi trong sự nghiên cứu của những nhà Tam quốc học, có không ít đối chiếu với “Tam quốc diễn nghĩa”.
Câu chuyện bảy lần bắt Mạnh Hoạch ở đây, đích xác có không ít cách nghĩ chủ quan của nhà tiểu thuyết, rất nhiều tinh tiết cũng là những sáng tác khiên cưỡng của dã sử. Song Gia Cát Lượng trong tiểu thuyết về kỹ xảo vận dụng thao lược tựa hồ đã nắm được không ít tinh tuý của binh pháp học.
Thiên “Công quyềntrong “Úy Lạo Tử” có viết:
“Đánh không tất thắng chẳng thể dễ nói là biết đánh, chẳng có quyết tâm ắt phá được địch, chẳng thể dễ nói là công kích; nếu thuộc hạ mất đi lòng tin với lãnh đạo thì thưởng phạt gì cũng đều không có tác dụng, mọi người đã qui tụ thì không dễ tan; đã dẫn quân đi sẽ chẳng về không vậy.
Phải đón đợi thời cơ, tiến đánh như cứu kẻ chết đuối, nếu thấy nơi quá hiểm trở thì không đánh: gặp khiêu chiến phải cẩn thận, nếu nóng nảy sẽ khó thu được thắnq lợi”.
Bảy lần bắt bảy lần tha tuy khó tránh khỏi có chỗ khoa trương tô vẽ, song sự chuẩn bị chu đáo về chiến thuật của Gia Cát Lượng, tất cả đều dự liệu trước so với Mạnh Hoạch, khiến ông ta đối mặt với thiên thời, địa lợi không thuận lợi, thậm chí khó khăn trùng trùng, vẫn có thể liên tục giành được thắng lợi, nguyên nhân chủ yếu chính là ở đấy; khi chỉ huy tác chiến, tối ky là do dự không quyết, sau khi hạ quyết tâm, phải dốc toàn lực thực hiện. Bởi thế khi truy tìm kẻ địch chẳng thể không xem như tìm kiếm trẻ lạc; khi đánh kẻ địch phải xem như vội vàng cứu người chết đuối vậy.
Đại quân ỷ lại vào địa hình hiểm yếu, thì ý chí chiến đấu không tập trung; quân đội không chặt đứt được sự khiêu chiến của kẻ địch, ắt sẽ thiếu đi niềm tin quyết thắng; nếu quân lính chỉ dựa vào dũng mãnh mà không hiểu mưu lược nhất định sẽ thất bại.
Điều cần nói rõ ở đây, Gia Cát Lượng sở dĩ có thể nắm chắc được bảy lần bắt bảy lần tha, cũủng như Mạnh Hoạch tuy có điều kiện địa lợi rất tốt vẫn liên tiếp thất bại, nguyên nhân chủ yếu chính là như thế.
 
0
Chương XXII
SÁCH LƯỢC BIÊN CƯƠNG HÁN DI YÊN ỔN
 
Gia Cát Lượng quyết định lựa chọn sách lược “Không lưu quân, không chuyển lương”, để dân tộc thiểu số Nam Trung tự mình quản ]ý mình; đã khiến vùng này trở thành khu tự trị “kỷ cương ổn định, Hán Di yên ổn”.


1. Sử dụng người có danh vọng
Sau khi bình định Nam Trung, Gia Cát Lượng kiên trì chính sách phủ dụ, lấy phương châm là sử dụng người có danh vọng, cũng tức là nói lợi dụng triệt để những nhân vật lãnh đạo có danh vọng ở đấy để làm những quan lại lãnh đạo hành chính, thậm chí lựa chọn những nhân vật quan trọng của Nam Trung làm quan chức của triều đình, ví như Mạnh Hoạch sau này làm quan đến Ngự sử, có cống hiến rất lớn đến sự ổn định chính trị của Thục Hán.
Sách lược này nghĩ đến cải cách triệt để tập tục mấy trăm năm người Hán áp bức dân tộc thiểu số, tự nhiên lập tức gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của những phần tử bảo thủ, họ cho rằng chẳng thể dựa vào những lãnh tụ thiểu số, chính sách nhân sự phóng nhiệm này sẽ nguy hại đến quyền thống trị của triều đình.
Song Gia Cát Lượng lại kiên quyết phản đối, ông ta không nghĩ ngợi xa xôi, trái lại lấy lập trường thực tế để phân tích lợi hại. Ông ta cho rằng, vùng Nam Trung nếu lấy người Hán để quản lý sau chiến tranh thì sẽ có ba điều bất lợi.
Thứ nhất: Nếu như lấy người Hán làm Trưởng quan hành chính, ắt sẽ phải có quân đội để bảo hộ Nam Trung rất lớn. Số quân đóng ở đây nhiều sẽ hao phí quân lương của quốc gia, đối với quốc sách cơ bản của Thục Hán là kháng cự với Tào Ngụy, thì khá là bất lợi.
Thứ hai: Chiến sự bình Nam lần này Di tộc ở phương Nam bị chết chóc rất nhiều. Tuy đã có hoà bình, song mối thù cha anh bị giết chẳng dễ quên dược. Nếu để người Hán ở lại vùng đó, ngày đêm thấy mặt, sẽ khá nguy hiểm.
Thứ ba: Dân tộc thiểu sô Nam Trung có văn hoá và những giá trị riêng của mình. Nếu người Hán thống trị, ví như cầm cân nẩy mực, cũng không có được tín nhiệm, lại làm tăng thêm sự hiểu nhầm giữa hai bên, tạo thành rất nhiều rắc rối sau này. Bởi thế ông ta quyết định lựa chọn chính sách, không lưu quân, không chuyển lương, để dân tộc thiểu số Nam Trung tự mình quản lý mình, khiến vùng này thành ra khu tự trị kỷ cương ổn định, Hán Di yên ổn.
Tuy nói rằng Gia Cát Lượng vẫn làm việc cẩn thận, song ông ta dứt khoát không giữ chính sách đặc quyền. Chỉ cần có lợi cho đại cục, sách lược hợp lý mà thông suốt, Gia Cát Lượng sẽ quyết tâm cải cách.
Song sử dụng người có danh vọng cũng không có ý hoàn toàn không quản lý gì, sẽ không dễ bình định được phản loạn, sự việc sẽ lại phát sinh. Để duy trì cục diện ổn định, Gia Cát Lượng lựa chọn không ít sách lược thi hành nhằm tăng cường sự khống chế của triều đình Thục Hán với khu Nam Trung.
Một là: Về chế độ quận huyện hành chính ở Nam Trung khuyếch đại và kiện toàn cục diện chính trị thống nhất. Đổi Ích Châu làm quận Kiến Ninh, lại tách một bộ phận quận Kiến Ninh và Tang Ca thành quận Hưng Cổ, lại tách một bộ phận của Kiến Ninh và quận Việt Huề thành quận Vân Nam. Quận Ích Châu vốn phản loạn nghiêm trọng bị co nhỏ lại, cũng tức là bốn quận vốn có đổi thành sáu quận là Việt Huề, Kiến Ninh, Vân Nam, Vĩnh Xương, Tang Ca, Hưng Cổ, lại còn quận Chu Đề không tham gia phản loạn, nguyên là quận của Trù hàng đô đốc cai quản, cộng vào là bảy quận.
Lý Khôi bởi có công trong cuộc nam chinh từ Trù hàng đô đốc được đề bạt An hán tướng quân, kiêm Thái thú Kiến Ninh, và rời nhiệm sở về huyện Vỵ ở trung tâm (thuộc Vân Nam).
Chê độ quận huyện tăng cường sự giám sát của triều đình đối với các quan chức hành chính, để tránh thói bất lương truyền thống dễ dẫn tới sự bất mãn của các dân tộc thiểu số. Sự thu hẹp của quận cũng có lợi để giải quyết được thế lực địa phương quá lớn, dễ tạo thành tệ đoan cát cứ.
Thái thú các quận cơ hồ đều là những quan chức thông thuộc ở đấy, có ảnh hưởng lớn, lại hiểu được chính sách của Gia Cát Lượng ở Nam Trung. Những Thái thú mới được bổ nhiệm ở các quận như Vương Kháng ở Vĩnh Xương, Cung Lộc ở Việt Huề vốn đều là những quan chức cao cấp ở Nam Trung, Lý Khôi ở Kiến Ninh, Lã Khởi ở Vân Nam đều là những thủ lĩnh dân tộc thiểu số trung thành với triều đình. Họ sau này trở thành cầu nối giữa triều đình với dân tộc thiêu số về quan hệ và hoà hợp.
Hai là có kế hoạch làm yếu đi những Trưởng tộc, Di soái, cùng thu thập được những nhân tài tuấn kiệt. Ông hạ lệnh buộc di cư về Thục bắc những kẻ cứng đầu ở Nam Trung cùng với hơn một vạn hộ người Thành Khương. Như thế những cuộc phản loạn lớn ở Nam Trung cũng không thể xuất hiện song những cuộc phản loạn nhỏ vẫn xuất hiện không thôi, nhất ở quận Việt Huề thực là nghiêm trọng. Không lâu đến như Thái thú mới được bổ nhiệm ở Việt Huề là Cung Lộc cũng bị chết tại trận, may mà Tướng quân Trương Nghi dẫn quân đến mới dẹp yên được. Sự việc lại càng nghiêm trọng, cuối cùng lại phát sinh ở quận Kiến Ninh nơi Trù hàng đô đốc Lý Khôi đóng nhiệm sở. Tam quốc chí có chép: “Lý Khôi tự mình đến thảo phạt, tận diệt dư đảng phản loạn, lại bắt di chuyển về Thành Đô những kẻ cứng đầu”. Khá thấy Lý Khôi lần này đã không dùng chính sách phủ dụ mà dùng biện pháp cứng rắn, chẳng những dùng vũ lực tàn sát bè đảng phản loạn mà còn tăng cường không chế, khiến cho những cường hào và Di soái có ảnh hưởng lớn ở đấy đều phải chuyển về Thành Đô, để họ vĩnh viễn tách khỏi không khí chính trị ở Nam Trung.


2. Làm suy yếu họ lớn, trợ giúp cho kẻ yếu.
Thực ra, Gia Cát Lượng vốn tư lự cẩn thận, dứt khoát không có thể lơ là với các thủ lĩnh cường hào dân tộc thiểu số ở đấy. Ông ta sau khi đã buộc di chuyển về Thục những người Thanh Khương ương ngạnh ở Nam Trung, đặc biệt với các bộ lạc nhỏ, đã phân cho các trưởng tộc làm người đứng đầu bộ lạc như Ung, Tiên, Lâu, Mạnh, Lược, Mao, Lý, lại đặt thêm chức Đô uý ở năm quận để cai quản, đưa họ vào quân đội địa phương của triều đình.
Quân địa phương này như quân nhân hậu bị hiện nay, thời bình thì sản xuất, thời chiến thì phục dịch trong quân đội, cũng tức là chính sách “không lưu binh” của Gia Cát Lượng ở Nam Trung, song vẫn có binh lính để dùng. Đương nhiên cũng có không ít bộ lạc cự tuyệt bị sát nhập vào họ lớn hoặc di cư về Thục Trung, Gia Cát Lượng lại lệnh cho những họ lớn dùng vàng lụa mua chuộc họ, người mua chuộc sắp xếp được nhiêu có thể đời đời được hưởng quan tước mãi mãi.
Sách lược này chẳng những làm giảm thực lực kinh tế của những họ lớn lại dùng sức mạnh của tiền tài để hàng phục những dân tộc thiểu số rất không dễ khống chế, sắp xếp họ thành những bộ lạc Hán Di, tăng cường đồng hoá họ, ở mức độ lớn đã cải thiện được quan hệ giữa chính quyền người Hán và những dân tộc thiểu số.
Năm Kiến Hưng thứ 11 một kì lão Nam Di là Lưu Trụ làm phản, Trù hàng đô đốc Trương Dực dẫn quân Hán Di dẹp vên. Thái thú Việt Huề là Trương Nghi, bởi số binh lực hiện có không đủ cố thủ, bèn lấy những quân nhân hậu bị ở đấy sắp xếp thành hai đội xích giáp, bắc quân, để tăng cường quân lực.
Lại như quận Vĩnh Xương thường có bọn thảo khấu, Thái thú Hoắc Dặc phải trưng dụng “thiên quân” tức là những quân hậu bị ở đấy để thảo phạt.
Khá thấy đội hậu bị mai phục này, đối với an ninh của vùng Nam Trung sau này đích xác phát huy không ít tác dụng.
Đồng thời để tăng cường nắm giữ Nam Trung, Gia Cát Lượng đã đề bạt rất nhiều những trưởng họ lớn có danh tiếng ở đấy làm quan chức cao cấp của triều đình Thục Hán. Ví như một kì lão ỏ quận Kiến Ninh là Thoán Tập, vốn là chú họ của Lý Khôi, sau này theo Gia Cát Lượng bắc phạt, làm quan đến chức Lĩnh quân, thủ lĩnh Man tộc ở quận Chu Đề là Mạnh Đàn, cũng từng tham gia bắc phạt, làm quan đến chức Phụ Hán tướng quân, Hổ bộ giám. Mạnh Hoạch là lãnh tụ quân phản loạn lại làm quan đến Ngự sử, nắm đại quyền giám sát. Sách lược này đã giúp đỡ rất lớn cho việc bồi dưỡng đóng góp của Man tộc ở Nam Trung.


3. Tôn trọng tập tục địa phương, lựa chọn quan chức hành chính:
Gia Cát Lượng đối với văn hoá của dân tộc thiểu số rất xem trọng. Ông vẫn chú ý việc tuyển người làm Trù hàng đô đốc, đầu tiên là Đô đốc Lý Khôi bản thân là người Nam Trung, khi Lý Khôi từ trần năm Kiến Hưng thứ 9, Gia Cát Lượng lấy Thái thú Thục Quận là Trương Dực vốn người ở Kiện Vi kế nhiệm. Bởi Trương Dực điều hành nghiêm minh, thường ngăn cấm những tập tục tôn giáo của dân tộc Nam Trung, nên đã dẫn đến sự phản loạn của Lưu Trụ, tình hình không yên ổn ảnh hưởng đến các quận khác.
Gia Cát Lượng lập tức khẩn cấp triệu hồi Trương Dực, lại lấy Mã Trung vốn hiểu biết tình hình ở đấy làm Trù hàng đô đốc. Mã Trung mau chóng dẹp yên được Lưu Trụ, khôi phục trị an ở Nam Trung.
Mã Trung tên chữ là Đức Tín, người Ba Tây. Sau khi Lưu Bị thất bại ỏ Hồ Đình, Hoàng Quyền theo về với Tào Ngụy, Lưu Bị rất đau xót. Thái thú Ba Tây là Diên Chi phái Mã Trung dẫn đội quân thân tín tăng cường cho Lưu Bị, Lưu Bị sau khi chuyện trò với Mã Trung, đã chuyển lo thành vui nói với mọi người rằng, mất Hoàng Quyền lại được Mã Trung khá thấy trên đời không thiếu những người tài giỏi. Từ đấy coi Mã Trung là người thân tín. Khi Gia Cát Lượng mở phủ Thừa tướng lấy Mã Trung làm môn hạ, lúc nam chinh, Mã Trung được bổ nhiệm làm lãnh tụ đoàn quân chủ yếu đã lập được công lớn, sau khi chiến sự kết thúc, Mã Trung được lệnh thay mặt Gia Cát Lượng ở Hán Trung làm công việc phủ dụ chiêu hồi rất có ân huệ.
Năm Kiến Hưng thứ 3 được triệu về làm Tham quân ở phủ Thừa tướng, từng là thành viên hạt nhân trong chính quyền Gia Cát Lượng, được lĩnh chức Trị trung tòng sự ở Ích Châu. Bời cộng sự lâu dài với Gia Cát Lượng, hai bên thấu hiểu lẫn nhau, nên thấy thái độ chính trị của Gia Cát Lượng.
Ông ta sau khi kế nhiệm Trù hàng đô đốc, xử sự quyết đoán, có ân lại có uy, phù hợp với tinh thần chính sách của Gia Cát Lượng, có thể nói đã phát huy hết mức. Tam quốc chí có chép, người Man Di sợ mà tuân theo. Sau khi Mã Trung từ trần, các họ ở Nam Trung khóc lóc thương xót, lại xây miếu thờ phụng ông, khá thấy công tích của ông rất rực rỡ.
Hoắc Dặc sau này kế nhiệm, cũng giữ chính pháp và giáo hoá, cân nhắc nặng nhẹ, giữ yên ổn được ở đấy. Thành công của việc điều hành Nam Trung, có thể nói việc lựa chọn nhân sự cẩn thận là nguyên nhân rất chủ yếu vậy.
Thái thú Việt Huề là Trương Nghi, cũng là một trưởng quan hành chính rất hiểu rõ chính sách vỗ yên của Gia Cát Lượng. Thái thú trước đó là Cung Lộc đã bị chết trong cuộc phản loạn của người Di, viên Thái thú kế nhiệm sau đó, căn bán không dám đến đóng ở đấy mà đặt bản doanh ở quận An Thượng cách đấy 800 dặm. Quận Việt Huề chỉ có tên, còn hoàn toàn đã rơi vào tay quân phản loạn. Nhận lệnh giữa lúc lâm nguy như thế, chỉnh đốn lại quân Việt Huề chính là Trương Nghi.
Trương Nghi tên chữ là Bá Kì, người Ba Quận, thời trẻ bởi dũng cảm và mưu lược mà nổi tiếng, được phong làm Nha môn tướng, đã cùng với Mã Trung thảo phạt người Khương làm phản ở Vấn Sơn, bởi có nhiều mưu lược mà lập được công lao lớn.
Trương Nghi sau khi chính thức được bổ nhiệm Thái thú Việt Huề, dẫn quân trực thuộc vào sâu bên trong Việt Huề, dùng ân huệ mà chiêu dụ, khiến không ít thủ lĩnh bộ lạc đều đến qui hàng. Trương Nghi chủ động co hẹp phạm vi tấn công, lấy kẻ địch của Kỳ soái Lý Cầu Thừa (người đã giết Thái thú Cung Lộc) làm Hữu quân, khiến Lý Cầu Thừa mau chóng rơi vào cô lập, chẳng bao lâu phải chịu tử hình.
Trương Nghi vẫn phản đối dùng vũ lực để giải quyết sự phản loạn của dân tộc thiểu số, ông ta cho rằng điểu hành ở Nam Trung đầu tiên phải xem trọng ân huệ, nhất định phái tôn trọng văn hoá và tôn giáo của họ, đứng ở cùng một trận tuyến thì mới thu được sự vui vẻ qui phục của người Di.
Nhiệm vụ này ông ta làm rất thành công, nghe nói đương khi ông ta tu bổ thành quách cũ ở quận Việt Huề, các trai gái người Di không thể không đem hết sức mà làm, khiến công trình trong thời gian rất ngắn đã hoàn thành. Ngoài sinh hoạt tinh thần, Trương Nghi cũng rất xem trọng sự giàu có về vật chất, ba huyện Đinh Tạc, Đài Đăng, Ti Thủy trong quận, đều có kế hoạch khai thác muối, sắt và sơn, lại thiết lập ra chức quan chuyên môn để quản lý, khiến các bộ lạc các người dân tộc thiểu số đều có thể tham dự, nhằm cải thiện sinh hoạt của họ.
Thành tích rất quan trọng là Trương Nghi đã thành công trong việc khai thông con đường cũ từ Cung Đô qua Mao Ngưu đến Thành Đô, lại tu bổ các cổ đình, dịch trạm làm nơi khách buôn trú ngụ, chẳng những đã tăng cường việc quản lý hành chính của triều đình với vùng Nam Trung, cũng làm cho kinh tế phát triển hẳn lên, Trương Nghi làm Thái thú ở Việt Huề 15 năm, đương khi ông hết thời hạn làm việc theo đường Mao Ngưu về Thành Đô, già trẻ trai gái người Di đứng bên đường tiễn chân, không thể không nhớ thương rơi lệ, chẳng dứt ra được, thậm chí có hơn 100 người đi theo Trương Nghi đến tận Thành Đô. Sau này Trương Nghi theo Khương Duy bắc phạt, hy sinh ở nơi sa trường. Người Di ở Việt Huề được tin, đau đớn than khóc, lại còn lập miếu thờ phụng ông.


4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, tăng cường quan hệ Hán - Di.
Gia Cát Lượng rất xem trọng phát triển nông nghiệp ở Nam Trung, ông nói: “Bạc ở Chu Đề, vàng ở Hán Gia, chẳng đủ để tự nuôi sống”. Chỉ có phát triển nông nghiệp, mới có thể giải quyết vấn đề cơm ăn áo mặc của nhân dân, cơm áo không thiếu thốn, thì chính trị mới nói được là ổn định.
Cuốn “Điền khảo” của Phùng Tô có chép, Gia Cát Lượng lệnh cho người Hán bảo cho người Di cách dùng trâu cày ruộng để thay sức người, khiến hiệu suất và thành quả của cày bừa rất lớn. Đến nay người Thái ỏ vùng Đức Hoành thuộc tỉnh Vân Nam vẫn có truyền thuyết Gia Cát Lượng cho trâu cày, cải thiện kỹ thuật cày bừa ỏ vùng ấy, phát triển nông nghiệp phải chú trọng nhất là thủy lợi. Gia Cát Lượng đã cho làm những công trình thủy lợi dẫn nước tưới ruộng, khiến diện tích trồng trọt có được kế hoạch khuếch đại. Hiện nay ở trong vùng Bảo Sơn tỉnh Vân Nam còn có ba con kênh tưới nước mang tên Gia Cát Lượng, theo truyền thuyết Gia Cát Lượng đã cho xây dựng từ khi đó.
Theo sử sách ghi chép Gia Cát Lượng rõ ràng chưa từng đến Bảo Sơn, bởi thế kênh Gia Cát ở đấy chính là sản phẩm của việc Gia Cát Lượng đã chú trọng chính sách nông nghiệp, cho xây dựng các công trình thủy lợi. Trải qua cố gắng và tuyên truyền các dân tộc thiểu số ở đây vốn sông dựa vào sinh hoạt săn bắn đã dần dần rời khỏi sơn thôn, đến vùng bình nguyên lập ra thôn ấp theo sản xuất nông nghiệp xã hội được ổn định cơ cấu dần dần, đời sống được cải thiện ở mức độ lớn.
Gia Cát Lượng cũng rất chú trọng đến thủ công nghiệp, thương nghiệp ở Nam Trung. Ông đặt ra chức quan muối, sắt, lấy vai trò nhà nước để quản lý sản xuất giếng muối và mỏ sắt, đặc sản vải hoa ở quận Vĩnh Xương đều thu về Thành Đô, những đặc sản như đồng, thiếc, vàng và vải thổ cẩm bắt đầu có kế hoạch phát triển, lại nữa sau khi Trương Nghi ra sức cải thiện hệ thống vận chuyển ở Nam Trung những người buôn bán ở Thục Trung và Nam Trung qua lại rất đông, đối với kinh tế Nam Trung có ảnh hưởng phát triển rất lớn.
Trong ngôi mộ gần tấm bia Mạnh Hiếu Cừ ở Vân Nam thấy có những đồng tiền loại 100 đồng của nước Thục, khá thấy quan hệ mật thiết về kinh tế giữa Thục Hán và Nam Trung.
Vùng Vân Nam cho đến nay, vẫn có không ít dân tộc thiểu số gọi Gia Cát Lượng một cách tôn kính là “Khổng Minh lão gia”. Truyền thuyết của người Ngõa nói: Gia Cát Lượng dạy tổ tiên của họ lợp nhà, đan rổ rá, đến cả kỹ thuật cấy lúa cũng được Gia Cát Lượng mang đến mà phổ cập.
Lưu Vũ Tích trong cuốn “Giai thoại lục”, khi ghi chép việc Gia Cát Lượng nam chinh, từng cho trồng cây mạn tinh ở quận Việt Huề để làm lương thực cho quân đội, người sau gọi là “rau Gia Cát” đương nhiên có những truyền thuyết khiên cưỡng, song không nghi ngờ gì, Gia Cát Lượng trong công việc ỏ Nam Trung lại có ảnh hưởng rất lớn.


5. Cải tổ kết câu xã hội, tiêu trừ gốc rễ rối ren
Giao thông không thuận tiện, địa thế hiểm trở, lại thêm tổ chức kiểu bộ lạc, đối với bên ngoài cơ hồ toàn do thủ lĩnh và trưởng lão khống chế, đấy là nguyên nhân rất chủ yếu để vùng Nam Trung xảy ra phản loạn không ngừng, các bộ lạc tự ý cát cứ xưng vương.
Sau khi bình định Nam Trung, Gia Cát Lượng dựa vào những nhân vật nòng cốt gọi là “chiến quân" của bộ lạc ấy, có kế hoạch sát nhập vào hệ hành chính quan lại, đấy chính là xây dựng cái gọi là “chế độ bộ khúc”.
“Bộ khúc” nguyên là một chế độ quân sự của vương triều nhà Hán, sau thời kỳ Đông Hán, lại trở thành đội quân bán công của giới hào tộc địa phương, khi bình thường thì cày cấy khi có chiến sự thì phục dịch trong quân đội.
Gia Cát Lượng đầu tiên lấy những người kiên dũng nhất của Nam Trung sắp xếp thành quân đội, được gọi là “phi quân”. Lại đưa hơn một vạn hộ gia nhân liên quan rời về Thục Trung, phân biệt đóng trại ở các nơi. Những đội quân được sắp xếp từ Di tộc vào, sau này trở thành một quân đoàn tinh nhuệ của Thục Hán.
Như trên đã nêu, những người yếu đuối còn lại, được phân chia kết hợp với các họ lớn như Tiên, Ưng, Lâu, Thoán, Mạnh, Lượng, Lý thành các “bộ khúc”, thời bình sản xuất, thời chiến làm lính. Lại động viên các họ này dùng tiền thu mua các chiến binh bộ lạc thiểu số, để tổ hợp vào cơ sở mình, quân lính hỗn hợp với người Hán được gọi là bộ khúc Hán Di.
Chế độ này đã thoả mãn mong muốn chính trị và lợi ích kinh tế của những họ lớn ở Nam Trung, khiến quan hệ giữa họ và triều đình Thục Hán duy trì khá tốt, thành ra trụ cột của việc ổn định Nam Trung. Nếu như lại có bộ lạc nảy sinh phán loạn, Trù hàng đô đốc và Thái thú các quận sẽ tổ chức lực lượng vũ trang của những họ lớn và bộ khúc Hán Di, để tiến hành công việc bình định phản loạn.
Trong một ngôi mộ cổ thời Đông Tấn ở Vân Nam, thấy có một bức họa trên vách. Hình vẽ thứ nhất có 13 chiến sĩ, đều ăn mặc kiểu người Hán, tay cầm dao sắc, nhóm chiến sĩ thứ hai, thứ ba đều búi tóc trên đầu, đấy là “kiểu tóc như bồ tát nhà trời” trên người khoác da thú, ăn mặc kiểu người Di gồm có 27 người, đó là hình thức tổ chức bộ khúc Hán Di. Tuy là bức vẽ thời Đông Tấn song tin rằng vẫn có liên quan với “Bộ khúc Hán Di” của Gia Cát Lượng.
Bộ khúc Hán Di chẳng những phù hợp với người Hán và người Di, cải thiện tình cảm giữa các dân tộc, đồng thời về tăng cường tổ chức với chế độ xã hội ở Nam Trung cũng có quan hệ trực tiếp.
Chính sách vỗ yên ở Nam Trung của Gia Cát Lượng, đích xác khiến quan hệ giữa người Di và người Hán được cải thiện rất nhiều. Ví như gần đây những chuyện về Gia Cát Lượng vẫn được lưu truyền rộng rãi ở đấy. Ngoài việc lợp nhà, đan rổ rá, trồng rau Khổng Minh và cấy lúa đã nêu ở trên, dân tộc Thái cũng có truyền thuyết kể rằng, đỉnh nóc của đại điện phật tự Thái tộc của họ là mô phỏng cái mũ của Gia Cát Lượng mà làm ra. Những người ở Nam Trung cũng thường gọi trống đồng là trống “Gia Cát”, thể hiện tổ tiên họ rất tôn kính và tưởng nhớ Gia Cát Lượng.
Nghe nói năm đầu Dân Quốc người ở bộ tộc Lật Túc đã từng lưu truyền như thế này: Người truyền giáo phương tây để tuyên truyền cho đạo Cơ Đốc, cố ý muốn mọi người quên đi sự sùng bái Gia Cát Lượng, thế rồi đưa ra một thần thoại như sau: “Thượng đế có hai người con, con cả là Khổng Minh, con thứ là Gia Tô, quá khứ con cả cai quản, hiện nay thời đại đã biến đổi, tất cả phải do Gia Tô tiếp quản”.
Câu chuyện lưu truyền này, cũng cho thấy địa vị của Gia Cát Lượng trong lòng các dân tộc thiểu số.
Song bình tâm suy nghĩ, thành quả thực sự trong chính sách Nam Trung của Gia Cát Lượng, lại vĩ đại không như ông ta đã nghĩ suy.
Có thể Gia Cát Lượng và một số quan lại quan trọng có ý tốt điều hành Hán Trung, mà những quan lại hành chính thực sự chấp hành ở đấy, lại không thể có thể tiêu hoá được quan niệm điều hành của Gia Cát Lượng. Đi kèm với sự phát triển kinh tế, triều đình Thục Hán cũng bóc lột các dân tộc thiểu số Nam Trung nhiều hơn.
“Nam Dương quốc chí” có chép, những đặc sản Nam Trung như vàng, bạc, sơn đỏ, trâu cày, ngựa chiến không ngừng được chuyển về Thục Trung để đáp ứng nhu cầu trong nước. Bởi thế những dân tộc thiểu số bị trực tiếp bóc lột không thể không đứng dậy phản kháng, sự kiện Cung Lộc làm Thái thú ở quận Việt Huề bị giết chính là bởi thế mà ra.
Thực ra, những quan lại Thục Hán đối với Di tộc ở Nam Trung, vẫn chưa có ấn tượng tốt. Đại học sĩ Tiến Chu từng công khai chỉ rõ:
Đất Di tộc phương nam xa xôi, bình thường đã không thuận theo, bởi nhiều lần phản loạn, Thừa tướng Gia Cát Lượng phải tự mình dẫn quân nam chinh, đem binh lực đến, may mắn thành công, thế rồi lại cho họ làm quan, lại cấp cho binh lính, gây ra oán thù chồng chất, thực là người gây ra tai họa vậy. Khá thấy các quan lại Thục Hán sau khi Gia Cát Lượng đã bình phục được Nam Trung, ra sức tiến hành chính sách vỗ yên, vẫn có sự xem thường và bất mãn rất lớn.
Chính bởi như thế sự ưu ái của Gia Cát Lượng đối với Di tộc phía nam, chẳng thể hoàn toàn phát huy hiệu quả, toàn tâm qui phục. Gia Cát Lượng trở về Thành Đô không lâu, người Nam lại làm phản giết cả quan tướng ở đấy. Lý Khôi phải thân chinh thảo phạt, dẫn dụ lợi hại mới khiến được sự bạo động tạm lắng xuống.
Quận Tam Ca, Hưng Cổ cũng có phản loạn. Trù hàng Đô đốc Mã Trung phải tự mình thảo phạt. Phản loạn ở quận Việt Huề lại càng nghiêm trọng. Tam quốc chí nói: “Gia Cát Lượng còn sống thì phương nam không dám lại làm phản” thực ra chỉ không có phản loạn lớn phát sinh mà thôi.
Song Gia Cát Lượng đích xác đã triệt để cải cách sách lược biên cương truyền thống người Hán uy hiếp người Di, thừa nhận quyền sống của Di tộc phương nam, tôn trọng văn hoá và tập tục của họ. Hàng nghìn năm lại đây, vẫn giành được sự tôn kính và tưởng niệm vĩnh viễn không ngừng của ngươi Di, Gia Cát Lượng đáng được xem là vĩ nhân nghìn năm chỉ có một vậy.
 
*
*    *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong binh pháp Ngô Tử chỉ ra rằng, chiến tranh là thủ đoạn chính trị, sự sáng suốt chính trị mới là phương pháp duy nhất tránh khỏi chiến tranh:
“Đạo là các căn bản của nguyên tắc, khởi điểm đều trở về với tự nhiên. Nghĩa là hành vi chính đáng, lấy nghĩa làm khí chất, mới có thể thành được đại sự. Lễ là tiết chế dục vụng, tiến thoái đều có phân tấc, mới không thoái quá hoặc bất cập mới có thể trừ hại được lợi. Nhân tức là nhân ái, chỉ có thực sự yêu người, mới có thể giữ được thành tựu và phồn vinh đã có. Nếu như làm việc không hợp với đạo nghĩa, tự lấy làm cao ngạo, hoạ hại sẽ giáng vào mình.
Cho nên bậc vua chúa sáng suốt, ắt phải lấy đạo khiến thiên hạ yên định, lấy nghĩa để quản lý nhân dân, dùng lễ để bó buộc hành vi của quan lại, dùng nhân để phủ dụ thiên hạ, có được 4 đức ấy quốc gia ắt sẽ hưng thịnh, nếu không ắt sẽ nguy hiểm suy vong”.
Gia Cát Lượng khi tiến hành viễn chinh Nam Trung, xem trọng chính trị hơn quân sự, cho nên binh lực động dụng tuy không nhiều, lại tự mình dẫn quân, đã lấy lực lượng chính trị để bình định phương nam, tránh xung đột quân sự liên miên không thôi. Sau khi Nam Trung bình định, cách tân và chấn chỉnh cùng lúc xã hội chính trị, mặt bằng kinh tế mới là mục đích lớn nhất của việc ngự giá thân chinh lần này.
Sách lượccông tâm là đầu” của Mã Tắc rất được Gia Cát Lượng, khen ngợi. Chiến tranh là hành vi chính trị, chiến tranh chỉ là thủ đoạn của chính trị, Gia Cát Lượng tựa hồ sớm đã hiểu thấu được tinh thần cơ bản mà cuốn “chiến tranh luận” ở trên đã nêu ra.
 
*
*     *
 
Phụ chương 
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
KẾ SÁCH TĂNG CƯỜNG NỘI BỘ
 
Mang quân ra ngoài trước phải yên được bên trong, cơ hồ là mỗi nhà chính trị và kinh doanh thường vẫn nhắc ở cửa miệng, song thực sự làm được, có thể nói chẳng phải dễ dàng chút nào.
Vấn đề nội bộ, xem ra không khẩn cấp như vậy, ở mức độ nghiêm trọng cũng thường thấy là bình thường, song xử lý thực sự lại rất khó khăn. Chinh phạt bên ngoài ít nhiều có thể tạo thành sự gắn bó lực lượng nội bộ, lại có thể đối diện với vấn đề, tiến tới giải quyết vấn đề. Xử lý vấn đề nội bộ thì rất khó khăn, trái lại lực đàn hồi rất lớn, thực tế không khẩn cấp lắm, song khi trực tiếp xử lý thường bởi ý kiến rất nhiều mà tạo thành chia rẽ, khi làm nói chung thường ngại động chân tay.
Sau khi chinh phạt bên ngoài kết thúc, nói là lực lượng có đủ, có thể dùng lực bên ngoài để thống trị, cũng giành được thêm lợi ích. Chẳng may lực lượng không đủ, lại có thể nói là “lấy đức báo oán”, thả trâu ăn cỏ, không rõ thế nào. Song bình định bên trong thì không như vậy, thành công có thể làm tăng thêm oán hận giữa hai bên, về sau lại thường thấy mặt, cân nhắc không khéo sẽ diễn ra vấn đề nghiêm trọng hơn.
Huống chi đã nói chinh phạt bên ngoài ắt phải yên bên trong, thông thường là trong ngoài đều có kẻ địch, khi xử lý nội bộ sẽ tạo ra phân hoá lực lượng, có thể khiến áp lực bên ngoài tăng mạnh, bên trong còn chưa yên định, khi kẻ địch đã đến chân thành thì tất cả đã chấm hết.
Song binh pháp Tôn Tử nhấn mạnh: “Trước thì không có thể thắng mà chờ đợi thì có thể thắng được kẻ địch. Đích xác chinh phạt bên ngoài tuy có thể tập trung nội bộ, song kẻ địch bên ngoài nếu có thực lực thường không thể trong thời gian ngắn mà giành được ưu thế tuyệt đối, cho nên thời gian mài mòn phải cần rất nhiều, nếu nội bộ không yên ổn, vấn đề không giải quyết, phát động chiến tranh đối ngoại, thường sẽ làm cho hao của mệt người. Thắng được bên ngoài, thu được nội bộ, kết quả tự nhiên là thông suốt toàn thể.
Bởi Tào Phi nam chinh đánh Đông Ngô, có ý cảnh cáo hơn là thực tế tác chiến, tuy nói là ngự giá thân chinh song chỉ tăng áp lực ở chiến tuyến phía đông, còn quận Tương Phàn ở phía tây chưa phối hợp gây áp lực, bởi thế Tôn Quyền chưa yêu cầu Gia Cát Lượng chi viện. Hai ngoại lực phương bắc và phương đông đang đối chọi nhau, áp lực bên ngoài chợt giảm đi, tự nhiên là thời cơ rất tốt để dẹp yên nội bộ.
Phản loạn ở Nam Trung xảy ra đã lâu, song Gia Cát Lượng không vội vã xử lý, một mặt là do ý kiến nội bộ trong triều đình chia rẽ, hợp lực không đủ, có thể Gia Cát Lượng bản thân cũng chưa tìm được một biện pháp tốt có thể giải quyết; được triệt để. Lại thêm áp lực bên ngoài rất lớn, thời cơ không thuận lợi, cho nên đành nhẫn nại chờ đợi.
Yên định nội bộ và chinh phạt bên ngoài không giống nhau, chinh phạt bên ngoài thường bởi nhiều yếu tố không thể khống chế, cho nên cần phải “mài thời gian”. Bình định nội bộ thì không như vậy, bởi sau này vẫn phải luôn luôn đối diện, cho nên, sự việc tốt nhất là triệt để giải quyết một lần, nếu không lực lượng nội bộ oan oan tương báo, ắt sẽ làm hỏng lợi ích chung. Anh em đánh nhau trong tường, thường so với va chạm bên ngoài lại càng kịch liệt hơn.
Lợi ích và lực lượng dùng đến đều phải quân bình cân nhắc, những ý kiến sai khác về xung đột có thể giúp lập ra được trình tự công việc để giải quyết vấn đề, là mục tiêu sau khi yên ổn nội bộ ắt phải đạt đến, cũng tức là chế độ bình thường hoá nói chung. Để tránh mức độ xung đột và khác biệt xảy ra, yên định nội bộ tốt nhất là dùng đàm phán mà không dùng vũ lực, để giải toả hữu hiệu thù hận giữa hai bên. Khi bất đắc dĩ mà phải dùng đến vũ lực, tốt nhất là giảm đến mức thấp nhất thương tổn của hai bên. Sách lược “công tâm làm đầu” của Mã Tắc, Gia Cát Lượng nhận thức rằng vấn đề ở Nam Trung chính trị nặng hơn quân sự, nguyên nhân chủ yếu cũng là ở đấy.
Đã là vấn đề chính trị, rất trọng yếu là thành ý và tính đàn hồi, hơn nữa là một bên có lực lượng rất lớn, càng phải rõ ràng bày tỏ ý định và tình cảm chủ động giải quyết vấn đề, nếu không rất khó thực sự giải quyết được vấn đề.
Khí hậu và địa thế Nam Trung rất hiểm trở lại thêm phải đợi thời Ngụy Ngô không quấy nhiễu, cho nên Gia Cát Lượng ắt phải nhằm mùa hạ, tiến vào vùng rừng rậm nhiệt đới lắm hồ đầm, điều kiện thực tế xấu, nguy hiểm rất lớn, cho nên quan lại Thục Hán phản đối với Gia Cát Lượng trong vai trò quốc gia quan trọng lại tự mình nam chinh, nếu từ lập trường thông thường nhìn như vậy là đúng, vấn đề Nam Trung nghiêm trọng như vậy, hơn nữa binh lính và đội quân huy động cũng không nhiều, từ góc độ đơn thuần quân sự hoặc bình loạn mà xem, phái một viên thượng tướng thống soái là đủ.
Nam Trung tuy thuộc vùng biên cương, song Gia Cát Lượng hiển nhiên rất có thành ý, xem là vấn đề nội bộ của vương triều Thục Hán, bởi thế ông ta cho rằng chính trị trọng hơn quân sự, để triệt để giải quyết, không thể không tự mình xuất chinh. Tuy binh mã động viên không nhiều, hơn nữa có rất nhiều quân đoàn vốn phải phụ trách một khu vực an toàn ở đấy, mà không là quân trực thuộc triều đình, song thống soái tối cao lại tự mình cầm quân ra trận, rõ ràng biểu thị thành ý giải quyết vấn đề trọng ở quân uy.
Đã là vấn đề chính trị, Gia Cát Lượng sau khi kết thúc chiến sự, càng cần xử lý tốt vấn đề chính trị, lấy công tâm làm đầu, khiến các thế lực thiểu số yếu đuối yên tâm, triệt để làm cho họ cảm thấy được thành ý của người thống trị, càng không thể lợi dụng quân uy, cho nên công việc sau này của Gia Cát Lượng, lại ủy thác cho những người đã làm phản lúc đầu. Tiếp nhận sự đầu hàng của họ, tự nhiên cần biểu hiện sự tin tưởng vào họ, khiến tất cả lại khôi phục ở nguyên trạng thái ban đầu chưa xảy ra chiến sự mới có thể lập ra được chế độ bình thường. Tuy vấn đề không có thể giải quyết một lần, song một bên có ưu thế nếu như không có thành ý và nhẫn nại hơn người, nghĩ đến xây dựng hoà hợp hai bên, như vậy sẽ hoàn toàn không giải quyết được.
Giải quyết vấn đề nội bộ rắc rối, phải điều động một lực lượng hơn hẳn trong giao tranh, thái độ của bên yếu và bên mạnh không giống nhau, ắt phải có thành ý, song nhất định phải kiên trì nguyên tắc “an toàn” của mình, binh pháp Tôn Tử đề cập lập trường của mình đổi với kẻ yếu là “không gì bằng né tránh”. Điều kiện để giải quyết vấn đề không chỉ ở kẻ mạnh, kiên trì lập trường sinh tồn của mình và nguyên tắc an toàn, mới có thể khiến bên có thế lực mạnh đưa ra được thành ý chân chính.
Gia Cát Lượng khi chiếm được sức mạnh tuyệt đối, lại làm như nhượng bộ triệt để, chính là một nước cờ cao tay khiến ông ta giải quyết vấn đề nội bộ ổn thoả, sự hoài niệm và tôn sùng của các dân tộc thiểu số hàng nghìn năm đối với ông, đích xác là có đạo lý của nó.
 
0
THIÊN THỨ BẢY
BẮC PHẠT TRUNG NGUYÊN
 
...Thần vốn mặc áo vải, mang thân cày ruộng ở Nam Dương, mong giữ toàn tính mệnh ở đời loạn, chẳng mong được nổi tiếng với chư hầu. Tiên đế không xem thần là tầm thường, đem lòng thương đến, ba lần tìm đến nơi lều cỏ, hỏi han thần về việc đương thời, bởi thế mà đem lòng cảm kích, đã hứa theo giúp tiên đế, dốc hết sức lực nhận việc giữa lúc quân thua tướng bại, chịu lệnh trong khi nguy nan, đến nay đã là 21 năm.
... Nay phương nam đã định, binh pháp đã đủ đang khi lòng quân phấn khởi, nên bắc phạt Trung Nguyên, xin đem hết sức lực hèn mọn, để diệt trừ kẻ gian ác, phục hưng lại nhà Hán sẽ trở về kinh đô cũ, như thế thì thần có thể báo đáp được tiên đế, mà cũng tỏ rõ trung thành với chức phận mà bệ hạ đã giao phó.
 
                                                            (Xuất Sư Biểu của Gia Cát Lượng)
 
 
 
Chương XXIII
XUẤT SƯ BIỂU
 
“Xuất Sư Biểu” như lời một người cha trước lúc đi xa ân cần dặn dò người con phải “thân với hiền thần, xa lánh tiểu nhân”, lời lẽ rất tha thiết, chân tình và cảm động, khiến người khác cũng phải cảm kích.


1. Tào Phi từ trần, Mạnh Đạt khởi nghĩa.
Mùa đông năm Kiến Hưng thứ 3, Gia Cát Lượng sau khi bình định Nam Trung, theo đường từ đông bắc Vân Nam, dẫn quân về triều. Những trọng thần phủ Thừa tướng như Tưởng Uyển và Phí Thi, cũng từ Thành Đô đên đón, cùng đi có cả Lý Hồng mới từ nước Ngụy theo về với Thục Hán. Gia Cát Lượng đã tiếp kiến họ ở huyện Hán Dương quận Chu Đề.
Trong Tam quốc chí ở phần chuyện Phí Thi có chép như sau:
Lý Hồng nói với Gia Cát Lượng: “Tôi trước khi đến đây, từng ở Tân Thành với Mạnh Đạt (tướng nước Thục cùng với Pháp Chính dẫn Lưu Bị vào Thục, sau sự kiện Lưu Phong đầu hàng Tào Ngụy được bổ nhiệm làm tướng giữ Tân Thành) ở đấy có gặp được Vương Xung, ông ta xích mích với Lý Nghiêm theo về với nước Ngụy; ông ta nói với Mạnh Đạt, năm nào Mạnh Đạt đầu hàng quân Ngụy, Thừa tướng Gia Cát Lượng rất giận dữ, muốn xử chém cả nhà Mạnh Đạt, may được tiên đế còn nhớ tình cũ tha thứ cho cả nhà Mạnh Đạt. Mạnh Đạt nghe rồi, lại không nghi ngờ gì, nói với Vương Xung rằng, Thừa tướng Gia Cát Lượng vẫn trọng đạo nghĩa, đối với người khác có thủy có chung, dứt khoát không làm ra như vậy. Sau này tướng quân Mạnh Đạt biết tôi đi về nam ngầm dặn dò, sắp tới muốn thừa tướng đặc biệt lưu ý cho...”.
Gia Cát Lượng nghe rồi, nói với Tưởng Uyển và Phí Thi: “Sau khi về Thành Đô, nên thông báo gấp tình hình cho Mạnh Đạt biết!”.
Phí Thi cũng nói: “Mạnh Đạt vốn ăn ở hai lòng, năm xưa đã theo giúp Lưu Chương mà không tận trung, sau này lại phản bội tiên đế, người này chẳng nên thân gần làm gì”.
Gia Cát Lượng lắc đầu, im lặng không nói, trong lòng đã có chủ trương.
Tháng 12 sau khi trở về Thành Đô, Gia Cát Lượng lập tức cho vời Thị lang Phí Vỹ.
Nam chinh kết thúc, công tác tiếp theo là kế thừa nhiệm vụ của Vương triều Thục Hán, mà Lưu Bị xây dựng, đánh bại Tào Ngụy phục hưng nhà Hán. Song bắc phạt chẳng phải là việc giản đơn, dùng sách lược gì, dùng thủ đoạn gì, đích xác là vấn đề đau đầu lâu dài, chẳng phải quyết định dễ dàng. Nhưng từ lập trường thực hiện, lại có những việc chẳng phải trước đây làm không được, tức là triệt để nghiên cứu thái độ và cách nghĩ của Tôn Quyền ở Đông Ngô.
Phí Vỹ từng có kinh nghiệm đi xứ Đông Ngô, có quan hệ ngoại giao không sai lầm, hơn nữa tuổi còn trẻ chẳng có dáng vẻ như quan lại thời đại Lưu Bị, có thể chính là người được lựa chọn giao thiệp đàm phán tốt nhất, nhạy cảm nhất.
Đúng như dự liệu của Gia Cát Lượng, Tôn Quyền đối với việc nam chinh của Gia Cát Lượng lần này về thái độ cũng khá mâu thuẫn, ông ta từng bố trí khá nhiều binh mã ở vùng giữa Giao Châu và Ích Châu, hơn nữa lại bổ nhiệm con trai Lưu Chương là Lưu Xiển làm Thứ sử Ích Châu, đóng đồn ở vùng ấy, biểu thị Tôn Quyền đối với vùng Nam Trung khá có dã tâm. Song về mặt này Gia Cát Lượng lại cao hơn một nước cờ, ông đối với bố cục của Tôn Quyền giả vờ như không để ý, mà sau khi Lưu Bị chết lại phái nhiều sứ giả, tích cực xây dựng lại quan hệ ngoại giao, khiến Tôn Quyền về căn bản chẳng thể công khai phái quân giúp đỡ bọn phản loạn Ung Khải. Lại thêm khi Gia Cát Lượng dẫn quân vào Nam Trung, lại rất khéo léo, đang khi Tào Phi thân chinh dẫn quân xuống Giang Nam, là thời gian uy hiếp Tôn Quyền và Thục Hán. Tôn Quyền rất biết mục đích của Tào Phi chỉ là dọa nạt mà thôi, chẳng có quyết tâm đánh lớn, song đối mặt với đạo quân Tào Ngụy, Tôn Quyền không dám chủ quan, đành giương mắt mà nhìn Gia Cát Lượng dẫn quân thảo phạt Nam Trung. Tuy Tôn Quyền đích xác không có lực lượng can thiệp, song Gia Cát Lượng cũng rất biết trong lòng Tôn Quyền có sự bất bình, ắt sẽ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao giữa hai nước sau này, sẽ là nguyên nhân quan trọng để Gia Cát Lượng không thể yên tâm bắc phạt Trung Nguyên.
Nhiệm vụ của Phí Vỹ chính là vỗ yên Tôn Quyền bởi Gia Cát Lượng dẹp loạn ở Nam Trung mà sinh ra tâm lý bất bình.
Hiển nhiên Gia Cát Lượng đã chủ động biểu thị sự tôn trọng, Tôn Quyền vẫn là nhà chính trị thực tế có khí chất, biết rõ tính quan trọng của liên minh giữa Thục Hán và Đông Ngô, chẳng những cho gọi Lưu Xiển đang ỏ biên giới trở về còn tặng cho Hậu chủ Lưu Thiện hai con voi đã thuần biểu thị ý muốn thân thiện.
Năm sau, là năm Kiến Hưng thứ 4 tức là năm Hoàng Sơ thứ 7, vào tháng 5 lại phát sinh một sự kiện có ảnh hưởng rất lớn đến thế bình quân vốn có, đó là đột nhiên Ngụy Văn đế Tào Phi từ trần.
Được Tào Tháo cố ý huấn luyện, Tào Phi được xem là văn võ toàn tài, hơn nữa lại là một lãnh tụ chính trị có hiểu biết rộng. Song đấy chỉ là bề ngoài, thực ra về bản tính Tào Phi so với Tào Tháo thì có tình cảm hơn. Ông ta say mê văn học, thấm nhuần tình cảm, bởi thế về quan hệ với người chẳng thể mở rộng như Tào Tháo. Ông ta yêu hoàng hậu Chân Thị, song cuộc tranh chấp hai phe không ngừng cuối cùng Chân Thị cũng bởi thế mà bị bức chết. Quan hệ với người em là Tào Thực, lại là vấn đề nan giải, tuy ông ta chiếm ưu thế, song về tinh thần, thì rất khổ não, cũng bởi thế mà ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ.
Để báo thù Tào Tháo năm nào bị đánh bại ở trận Xích Bích, Tào Phi thường lợi dụng mùa đông để diễn tập thủy quân, tháng 10 năm trước, ông ta tập hợp 10 vạn binh sĩ duyệt binh ở thành cũ Lâm Giang thuộc Quảng Lăng. Do mùa đông năm ấy đặc biệt lạnh giá, nước sông đóng băng, thuyền không qua được, cuộc duyệt binh cuối cùng đành phải từ bỏ, Tào Phi trong bụng rất không vui. Có thể bởi thế mà bị phong hàn, khiến cho sức khoẻ của ông ta vốn kém lại càng thêm xấu đi. Mùa xuân năm sau, Tào Phi trở về Hứa Xương vốn là bản doanh của Tào Ngụy, lại gặp phải chuyện cửa thành phía nam bị sập đổ. Tào Phi đang có bệnh thấy như thế, trong bụng càng nghĩ ngợi, bèn không vào thành, đến thẳng Lạc Dương, dưỡng bệnh ở Cửu Hoa Đà.
Đến tháng 5 bệnh tình thêm nghiêm trọng, lập tức cho vời Đại tướng quân Tào Chân, Đại tướng quân Trần Quần, Chinh đông đại tướng quân Tào Hưu, Phủ quân đại tướng quân Tư Mã Ý, dận dò các đại thần ấy phụ tá cho Thái tử Tào Tuấn. Năm ngày sau mất ở điện Gia Phúc, mới có 49 tuổi.
Tào Phi rất yêu thích văn học, thích sáng tác, Trần Thọ trong Tam quốc chí khen ông ta có thiên bẩm văn chương, hạ bút thành thơ, rộng nghe rộng hiểu, tài nghệ gồm đủ. Ví như ở ngôi Hoàng Đế cao sang, mỗi ngày bận rộn với bao việc chính sự vẫn viết được hàng trăm bài luận văn. Ngoài ra ông lệnh cho những người nho học quốc sĩ biên soạn lại kinh truyện, kể đến hơn 1000 thiên sách gọi là “Hoàng Lãm”.
Tào Tuấn là con cả của Tào Phi cũng là con của hoàng hậu Chân Thị đã bị phế truất, khi nhỏ rất được Tào Tháo yêu thích. Sau khi Tào Tháo chết, Tào Phi xung đột với Chân Thị ngày mỗi lớn, bởi thế không lập làm con kế nhiệm, hơn nữa sau khi Chân Thị bị bức chết, Tào Tuấn vốn là người con có hiếu với mẹ, đối với phụ thân rất không phục tùng, Tào Phi bèn có ý lấy con của người vợ khác là Kinh Triệu Vương làm người kế nhiệm.
Nhưng Hoàng hậu sau này là Quách thị lại rất thương yêu Tào Tuấn, lại bởi Hoàng hậu Quách thị không có con bèn lấy Tào Tuấn làm con nuôi. Tào Tuấn có dáng vẻ tuấn tú, thiên tư hiền lành, thờ Quách thị rất là hiếu thuận bởi thế mà được Quách thị che chở, lại nữa Tào Phi đang ỏ tuổi trung niên cũng không vội vã chỉ định người kế nhiệm.
Có lần, Tào Phi dẫn Tào Tuấn đi săn, thấy hai mẹ con con hươu, Tào Phi lập tức bắn chết hươu mẹ, lại bảo Tào Tuấn bắn chết hươu con, Tào Tuấn dứt khoát cự tuyệt. Tào Phi kinh ngạc hỏi có chuyện gì, Tào Tuấn đáp rằng: “Bệ hạ đã giết mẹ nó, thần không nhẫn tâm lại giết con”. Tào Phi lấy làm kỳ lạ bèn lệnh cho ngừng cuộc săn bắn, lại thấy Tào Tuấn hiền lành mà kiên nghị, quyết tâm lập làm người kế nhiệm.
Tào Phi bị bệnh nặng, trước các đại thần, lập Tào Tuấn làm Hoàng thái tử, dặn dò các đại thần phụ tá, đặt tên cho là Ngụy Minh đế.
Tào Phi từ trần, chính quyển Tào Ngụy ắt phải rơi vào sự hỗn loạn và khẩn trương trong một thời gian ngắn, đối với Gia Cát Lượng lại có thể nói là thòi cơ tốt nhất để phát động bắc phạt.
Song, Gia Cát Lượng không nhằm thực sự vào đấy, để có thể ra đòn đánh phá chính quyền Tào Ngụy, mục tiêu của ông thực ra chỉ là vùng Lương Châu ở phía tây bắc biên cương, nếu may mắn có thể từ đó đánh chiếm thêm được Trường An của vùng Quan Trung. Lương Châu vẫn là một mục tiêu xâm chiếm của chính quyền Thục Hán sau khi đoạt được Hán Trung. Năm xưa khi Tôn Quyền yêu cầu Lưu Bị trả Kinh Châu, Lưu Bị đã trả lời rằng nếu lấy được Lương Châu sẽ trả Kinh Châu. Khi Lưu Bị vào Thục, cố ý lôi kéo danh tướng ở Quan Trung là Mã Siêu cũng là hy vọng sau này khi chinh phạt Lương Châu có được sự trợ giúp. Nếu như thuận lợi đoạt được Lương Châu, từ tây bắc và tây nam cùng giáp kích, có thể chiếm được vùng Quan Trung, chỉ cần nắm được Trường An thì có thể uy hiếp trực tiếp kinh thành mới của Tào Ngụy ở Lạc Dương. Nếu như đồng thời đoạt được cả Trường An và Lạc Dương thì chính quyền Tào Ngụy phải cố thủ ở những căn cứ quân sự quan trọng mà Tào Tháo để lại là Hứa Đô và Nghiệp Thành, song Thục Hán vẫn có thể phản bại thành thắng nắm giữ then chốt Trung Nguyên, mục tiêu khôi phục nhà Hán cũng tiến thêm một bước.
Gia Cát Lượng cẩn thận và thực tế, tự nhiên không thể nằm mộng giữa ban ngày, mục tiêu bắc phạt của ông chỉ nhằm vùng Lương Châu mà chính quyền Tào Ngụy phòng thủ yếu mà thôi. Nếu như chiếm Lương Châu thuận lợi, thì đất Tân Thành mà Mạnh Đạt đang trấn giữ, cũng là đất không thể không tranh chiếm vậy.
Tuy sau khi Phí Vỹ đi sứ Đông Ngô, tình hình căng thẳng ở chiến tuyến đông đã lắng xuống, song việc phòng thủ vẫn không thể không tăng cường, để tránh những việc phát sinh chẳng ngờ. Thực ra, Gia Cát Lượng ngay từ đầu năm này, đã tâu với Hậu chủ, đề bạt đại thần Lý Nghiêm làm Tiền tướng quân, mang quân đến đóng đồn ở Giang Châu, để đề phòng Đông Ngô và trông nom quân sự hậu phương. Ngoài ra ông ta đặc biệt đưa đội quân của Trần Đáo về phòng thủ ở Bạch Đế thành, lại phong ông ta làm Vĩnh An đô đốc, phụ thuộc hệ phòng thủ của Lý Nghiêm, để giúp đỡ tăng cường phòng thủ phía đông. Sau khi chuẩn bị thoả đáng, Gia Cát Lượng lại nghĩ đến công lao của Mạnh Đạt. Tuy năm trước Phí Thi từng can gián, cho rằng không tin Mạnh Đạt được, song nếu như Mạnh Đạt có thể khởi nghĩa ở Tân Thành, quân Thục đích xác có thể dễ dàng đánh Quan Trung, thậm trí có cơ hội trực tiếp lấy được Lạc Dương, bởi thế Gia Cát Lượng vẫn có ý xem xét kỹ việc ấy.
Đầu tiên ông ta mời Lý Nghiêm là chỗ thân tình với Mạnh Đạt, trước hãy gửi thư để xem xét thái độ Mạnh Đạt. Lý Nghiêm trong thư nói rõ, bản thân cùng với Gia Cát Lượng được Lưu Bị ủy thác trọng trách, lo lắng đến trách nhiệm, hy vọng được Mạnh Đạt sẽ dốc sức giúp đỡ người bạn già. Nhưng Mạnh Đạt quan tâm nhất lại chẳng là Lý Nghiêm còn nhờ người bạn già hay không, mà là thái độ của Gia Cát Lượng đối với ông ta, phải chăng thực có thể tha thứ cho tội lỗi ông ta. Đang khi do dự không yên, Mạnh Đạt chẳng ngờ lại tiếp được lá thư của Gia Cát Lượng viết, trong thư nói:
“Cuối năm ngoái đang khi tôi từ Nam Trung mang quân trở về, may gặp được Lý Hồng ở Hán Dương được biết tình hình túc hạ hiện nay rất lấy làm cảm động. Với chí hướng năm nào của túc hạ, tin rằng chẳng phải là phường tham lam phú quý mà đi ngược con đường chính đáng!
Về việc năm xưa tôi với tiên đế biết là túc hạ bị Lưu Phong xem thường, bởi phẫn uất đành bỏ chức mà đi. Hành vi của Lưu Phong đã phản lại nghĩa lý quý trọng hiền sĩ của tiên đế! Hy vọng túc hạ chẳng nên bận tâm về việc cũ.
Nghe Lý Hồng nói, năm xưa Vương Xung cố ý nói xằng bậy, làm tổn hại đến tình nghĩa tôi với túc hạ, may mà được túc hạ thông cảm cho, không lấy thế làm nghi hoặc, khiến tôi cảm thấy rất được an ủi. Để bày tỏ tấm lòng mong túc hạ hiểu được tình cảm trong lòng tôi, tôi mượn bút thay lời, bày tỏ cảm tình thương nhớ không nguôi”.
Trong thư chẳng những không có ý trách cứ Mạnh Đạt lại còn biểu hiện sự độ lượng của người tri kỷ. Lá thư này tự nhiên thấy là Mạnh Đạt cảm kích bội phần, cũng bắt đầu có thư từ qua lại với Gia Cát Lượng; đặc biệt là sau khi Tào Phi từ trần. Mạnh Đạt càng quyết tâm mạnh mẽ phản Ngụy về với Thục.
Đương khi Mạnh Đạt theo về với nước Ngụy, có không ít đại thần nghi ngờ ông, song bởi Mạnh Đạt đọc nhiều hiểu rộng, rất hiểu biết văn học, nên được Tào Phi sùng ái, chẳng những bảo lưu hoàn toàn số biên chế hơn 4000 quân phụ thuộc, lại gộp ba huyện Phòng Lăng, Thượng Dong, Tây Thành làm quận Tân Thành, bổ nhiệm ông ta làm Thái thú ở đấy, trực tiếp ủy thác nhiệm vụ phòng thủ phía tây nam nước Ngụy.
Tuy các đại thần trong triều đình nước Ngụy đối với Mạnh Đạt thường không tín nhiệm, song Thượng thư Hoàn Giai và Chinh nam đại tướng quân Hạ Hầu Thượng, đối với Mạnh Đạt lại khá thân thiện, khiến nhiệm vụ của Mạnh Đạt có được sự giúp đỡ rất lớn.
Nay Tào Phi đã mất, các quan đại thần phụ tá, đặc biệt là Tư Mã Ý, đối với Mạnh Đạt thường không tín nhiệm. Lại thêm Hoàng Giai và Hạ Hầu Thượng đều đã mất cả, Mạnh Đạt riêng cảm thấy hình đơn chiếc bóng rất không an toàn.
Gia Cát Lượng lập tức tăng cường tiến hành đối thoại chính trị với Mạnh Đạt, Mạnh Đạt cũng mau chóng đáp ứng, hai bên ước định thời giờ thích hợp, sẽ khởi nghĩa ở Tân Thành để theo về với Thục Hán.
Mạnh Đạt ngầm phái người thân tín mang đến tặng Gia Cát Lượng một chiếc khăn nhiễu, một viên “ngọc quyết” để bày tỏ tấm lòng, Gia Cát Lượng muốn cẩn thận lại nhắc nhở Mạnh Đạt, phải tạm lặng yên, nhẫn nại đón đợi thời cơ, đặc biệt phải thật giữ bí mật, chẳng thể chủ quan.


2. Lý Nghiêm khuyên phong cửu tích, Gia Cát Lượng vẫn khiêm nhường.
Người lôi kéo quan hệ giữa Mạnh Đạt và Gia Cát Lượng, chính là phụ tá đại thần, Tiền tướng quân Lý Nghiêm.
Lý Nghiêm tên chữ là Chính Phương, người Nam Dương, thời trẻ làm thư lại ở quận, có tài cán, rất được Lưu Biểu tín nhiệm. Tào Tháo đánh chiếm Kinh Châu, Lý Nghiêm chạy về Thục Trung, theo về với Lưu Chương, Lưu Chương rất ưa thích ông ta, cho làm Thành Đô lệnh.
Khi Lưu Bị đánh chiếm Ích Châu, Lưu Chương cho Lý Nghiêm làm Hộ quân, ngăn chặn đội quân chủ lực của Lưu Bị ở Miên Trúc. Chẳng ngờ Lý Nghiêm cho rằng Lưu Chương đại thế đã mất, cuối cùng không đánh mà đem toàn quân theo về với Lưu Bị, khiến sự phòng thủ của Lưu Chương bị một đòn chí mạng, cuối cùng không thể không đầu hàng Lưu Bị. Từ đấy có thể thấy Lý Nghiêm tuy là người lão luyện, lại cũng là một phần tử đầu cơ tiêu biểu.
Nhưng Lưu Bị vẫn rất mến mộ tài cán của Lý Nghiêm, cho làm Tỳ tướng quân, không lâu lại bổ nhiệm làm Thái thú ở Kiện Vi, lại phong làm Hưng nghiệp tướng quân.
Lưu Bị trước lúc lâm chung, lại đặc biệt cử Lý Nghiêm làm thượng thư lệnh, cùng với Gia Cát Lượng phụ tá cho Hậu chủ, với chức Trung đô hộ, thống lĩnh việc quân sự trong ngoài. Gia Cát Lượng sau khi bình định Nam Trung, lại khẩn trương công việc bắc phạt, đề bạt Lý Nghiêm làm Tiền tướng quân, phụ trách phòng thủ phía đông. Bởi Lý Nghiêm khi làm quan ở Ích Châu, với Mạnh Đạt rất thân thiết, Gia Cát Lượng bèn phái ông ta tiếp xúc sơ bộ với Mạnh Đạt.
Do có công lôi kéo Mạnh Đạt, quan hệ giữa Lý Nghiêm và Gia Cát Lượng càng thêm thân thiết. Trong thư gửi cho Mạnh Đạt, Gia Cát Lượng khen Lý Nghiêm: “Xử lý công việc tự nhiên mau chóng như nước chảy, công việc khó khăn như thế nào rơi vào tay ông ta cũng dứt khoát chẳng thể trì trệ”. Từ đấy dễ thấy, Lý Nghiêm đích xác là một quan chức tài giỏi. Ông viết một lá thư đề nghị lên Gia Cát Lượng, hy vọng Gia Cát Lượng có thể tự xưng vương và phong lễ cửu tích.
Thể chế từ Xuân Thu đến giờ khi các đại thần ngoài hoàng tộc được phong vương, có thể được hưởng phong lễ cửu tích; lễ cửu tích là phần thưởng gồm chín thứ đặc biệt, đại biểu cho chức phận, có thể cùng với hoàng đế hưởng phần quyền quý cao sang; đó là ngựa xe, áo quần, lễ nhạc, cửa son, được đứng ở gần bệ rồng, có quân hổ bôn, cung nỏ đặc biệt, búa tầm sét, hưởng rượu ngon.
Năm xưa Tào Tháo xưng vương nhận lễ cửu tích xác lập vị trí của mình ở Nghiệp Thành và Hứa Đô không thua kém Hán Hiến đế ở triều đình.
Có thể Lý Nghiêm cho rằng, Gia Cát Lượng sắp xếp đội quân bắc phạt rất lớn, thực ra để có ưu thế thống trị tuyệt đối, một lực lượng nào ở Thục Hán cũng không đủ mạnh như thế, bởi thế khiến ông ta ngay lập tức có được địa vị lớn, để ổn định được chính quyền Thục Hán.
Cũng có nhà sử học cho rằng, Lý Nghiêm trong chính quyền Thục Hán, có thực lực gần như Gia Cát Lượng, bởi vậy ông ta thấy thế lực của Gia Cát Lượng không ngừng bành trướng, rất lấy làm nghi ngại đã có ý thử xem thái độ của Gia Cát Lượng cũng không biết chừng.
Song Gia Cát Lượng cũng không vội vã chút nào, viết thư trả lời cho Lý Nghiêm với tinh thần nghiêm chỉnh, nguyên văn như sau:
“Tôi với túc hạ biết nhau đã lâu, khá là không có gì không hiểu thấu, túc hạ nói đến chấn hưng đất nước, nhắc nhở về đạo quyền biến, có chỗ còn chưa phải. Tôi vốn là kẻ sĩ hèn mọn ở phương đông, bởi Tiên đế lầm dùng đã được hưởng chức cao, được nhiều ân sủng. Việc thảo phạt chưa thành công, biết rằng chưa báo đáp được gì, thực chẳng dễ so với những hiền thần đời Tề, Tấn. Nếu như đã diệt được Tào Ngụy, phục hưng nhà Hán, được chư vị tiến cử thì “thập tích” cũng xin nhận huống chi là “cửu tích”.
Gia Cát Lượng trong thư thản nhiên bày tỏ, ông và Lý Nghiêm là bạn cũ quen biết lâu ngày. Chẳng nhẽ Lý Nghiêm thực còn chưa hiểu nhau ư? Ông tin rằng đề nghị của Lý Nghiêm là có thiện ý, phải nỗi bởi nhằm tăng cường uy thế của đạo quân bắc phạt, mà chưa phải lúc phân định chính phụ, cho nên mới bày tỏ như vậy để cùng thông cảm.
Cứ như sự bày tỏ khiêm nhường của Gia Cát Lượng, ông ta chỉ là một kẻ sĩ hèn mọn của phương đông (Gia Cát Lượng là người Sơn Đông), bởi được Lưu Bị đề bạt đặc cách, đã ở ngôi quan tước cao nhất (Thừa tướng), bổng lộc hàng vạn quan tiền, song trước mắt còn chưa thảo phạt được quốc tặc (chỉ Tào Ngụy) cũng chưa có thể báo đáp được ân huệ trọng dụng của Lưu Bị, lại tự lấy làm công lao sánh cùng Tề Hoàng Công và Tấn Văn Công, lại muốn được hưởng lộc cửu tích, cách làm như vậy là đánh giá mình quá cao, là rất không hợp với chính đạo, cho nên ông dứt khoát không thể tiếp thu.
Trừ khi cuộc bắc phạt đã thành công thuận lợi, diệt trừ được Tào Ngụy, khiến cho Hoàng Đế được trở về cố hương, được như vậy thì cùng với mọi người thăng quan mới là đúng. Đến khi đó chẳng phải nói là “cửu tích”, đến như “thập tích” (chỉ tước lộc cao hơn) ông ta cũng xin tiếp thu cả mà không từ chối nữa.
Qua lá thư này có thể thấy Gia Cát Lượng thực không vẽ vời, ông ta biểu thị rõ ràng, chẳng phải không đáng được hưởng cửu tích, mà là bởi chưa lập được công lớn, chưa hoàn thành được trách nhiệm cần có, thực tại chưa có tư cách để tiếp thu tước lộc ấy.
Gia Cát Lượng bề ngoài là người cẩn thận, thực ra trong lòng rất có khí chất vậy.


3. So sánh quân lực giữa Ngụy và Thục
Năm Thục Hán Kiến Hưng thứ 5, vào tháng 3, Gia Cát Lượng lệnh cho Trung thư lệnh Trần Chấn, Trưởng sử Trương Duệ, Tham quân Tưởng Uyển cùng giữ Thành Đô, thay thế ông ta điều hành việc nước. Tướng quân Hướng Sủng làm tổng chỉ huy đội quân giữ Thành Đô, phụ trách nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho kinh thành.
Biên chế quân bắc phạt như sau:
-    Tổng tư lệnh: Gia Cát Lượng tự đảm nhiệm
-    Bộ tham mưu: Dương Nghi, Đổng Quyết, Thoán Tập, Đỗ Nghĩa, Phàn Kiến.
-    Tổng bộ tham mưu chủ lực: Mã Tắc, Lý Thịnh, Cao Tường, Ngô Ban, Hoàng Tập, Hồ Tế.
-    Tổng chỉ huy tiền quân: Trấn bắc tướng quân kiêm Lương Châu thứ sử Ngụy Diên
-    Đạo quân tiên phong: Trương Dực, Vương Bình
-    Tổng chỉ huy hậu quân: Phấn uy tướng quân Mã Trung.
-    Đạo quân phụ thuộc: Trương Nghi, Lưu Đàm
-    Tổng chỉ huy quân sự dự bị: Trấn đông tướng quân Triệu Vân.
-    Đạo quân phụ thuộc: Đặng Chi, Hướng Lãng.
-    Quân hậu cần: Mã Đại, Lưu Hoá.
Theo như biên chế trên, cơ hồ đã động dụng các tướng lĩnh Thục Hán hiện có, song theo ghi chép lịch sử, biên chế quân đoàn vào khoảng 5 vạn người. Hiển nhiên Gia Cát Lượng chưa dốc túi ra hết, ông ta tựa hồ không dự định một đòn tiêu diệt Tào Ngụy, lấy quan hàm của Ngụy Diên là Lương Châu thứ sử mà xem, mục tiêu thứ nhất của cuộc bắc phạt là kiềm toả Lương Châu mà thôi. Trừ quân chủ lực bản bộ, biên chế ở các quân đoàn khác thường là nhỏ, số lính ỏ mỗi đội quân vào khoảng 5000 người. Sự chỉ huy của Gia Cát Lượng vận dụng chế độ phân quyền rõ ràng, chỉ huy các đạo quân có năng lực tác chiến khá độc lập.
Nước Thục xây dựng không lâu, lại thêm Lưu Bị chưa ổn định chính quyền đã từ trần, bởi thế cuộc bắc phạt tuy quan trọng, sự duy trì ổn định nội bộ càng là vấn đề then chốt sinh tử, tuy Gia Cát Lượng đã mấy năm khổ tâm điều hành, chính quyền Thục Hán đã có thực lực tương đối, song thời gian Gia Cát Lượng không ở Thành Đô, phải chăng sẽ có phần tử đã dã tâm nhân đó làm loạn, vẫn chẳng thể chủ quan được. Đạo quân bắc phạt chưa thể tập kết đầy đủ quân lực; Gia Cát Lượng có nỗi khổ tâm bất đắc dĩ vậy.
Thòi đại Tam quốc thế lực Tào Ngụy ở phương bắc rất lớn, cai quản cả 9 châu (bao gồm Kí, Cổn, Thanh, Tinh, Từ, Dự, Ung, Lương và khu Tư Lệ) tổng số hộ vào khoảng 66 vạn hộ, số nhân khẩu khoảng 443 vạn người.
Đông Ngô cai quản ba châu là Dương, Kinh, Quảng, số hộ khoảng 52 vạn hộ, số nhân khẩu khoảng 230 vạn người.
Thục Hán chỉ có Ích Châu, số hộ khoảng 38 vạn hộ, số nhân khẩu khoảng 94 vạn người. Nếu dự tính mỗi hộ lấy một tráng đinh, thì tổng quân lực của Thục Hán không vượt quá 38 vạn người, lại phải phòng vệ chiến tuyến phía đông, kinh thành Nam Trung và giữ an toàn cho các nơi trong toàn quốc, quân lực có thể động dụng trong cuộc bắc phạt tự nhiên không nhiều. Sau này Ngụy Minh đế phái quân nghênh chiến với Gia Cát Lượng, đạo quân của Tào Chân, Trương Cáp lúc đầu đã có 20 vạn, mà đạo quân hậu bị do Tư Mã Ý sắp xếp, Tào Chân tự cầm đầu, lại có đến hơn 30 vạn người; tuy đội quân hậu bị chưa ném vào chiến trường. Song chỉ với đạo quân lúc đầu, đối mặt với quân bắc chinh của Gia Cát Lượng, cũng đã có ưu thế áp đảo.
Chẳng những số quân không đủ, trong đạo quân Thục Hán, các tướng lĩnh có kinh nghiệm tác chiến phong phú, thực ra cũng không nhiều. Quan Vũ để mất Kinh Châu, Lưu Bị bại trận ở Tỉ Qui, khiến quân đoàn ở tuyến thứ nhất năm xưa cơ hồ đã hoàn toàn bị tiêu diệt, chỉ có lão tướng quân Triệu Vân trải qua trăm trận may mà vẫn còn lại, tuổi đã cao, không thích hợp với chiến đấu gian khổ, bởi thế chỉ có thể sắp xếp vào quân hậu bị, phụ trách chỉ huy ở tuyến thứ hai. Các đại tướng Ngụy Diên, Mã Trung tuy có kinh nghiệm phong phú về bảo vệ lãnh thổ, chinh phạt phản loạn nội bộ, song trong chiến tranh viễn chinh có tính chất lớn, phải chăng có thể phát huy đầy đủ năng lực còn chưa thể biết trước.
Việc tác chiến rất cần có tài chính, trải qua việc điều hành có kế hoạch của Gia Cát Lượng, lực lượng kinh tế của Thục Hán so với ba nước, có phần nổi trội. Sau khi bình định Nam Trung, lại giành được không ít vàng, bạc, muối, sắt, trâu cày, ngựa chiến, sừng tê giác cống nạp, đối với trù bị của quân phí Thục Hán, đích xác có giúp đỡ rất lớn. Song chinh phạt Đông Ngô thất bại, lại thêm hành động quân sự nam chinh vừa rồi, ắt tiêu sài kinh phí không ít, đối với Thục Hán chỉ cai quản có một châu, phải liên tục chuẩn bị kinh phí nhiều như vậy, đích xác là rất không dễ dàng gì. Bất luận binh lực, tài chính hiển nhiên đều ở thế yếu, vì sao Gia Cát Lượng lại có hành động chủ động công kích nhỉ? Gia Cát Lượng vẫn là người thực tế, quyết tâm như vậy thực khiến người ta rất khó hiểu!
Có một số nhà sử học cho rằng Gia Cát Lượng theo đại nghĩa, không thể không làm như vậy, bởi thế càng dễ thấy lòng trung thành và sự vĩ đại của Gia Cát Lượng, “Hán tặc không thể tranh ngôi, vương nghiệp không thể đổi dời”. Không nghĩ đến mọi điều bởi chức phận khôi phục nhà Hán, hiển nhiên tinh thần của Gia Cát Lượng thật lớn lao.
Cách nói này, thực ra khá phù hợp với phái “Bát cổ”, đánh nhau và phải tiêu tốn rất nhiều nhân lực và tiền tài, biết rất rõ chưa có thể thắng được, biết không thể làm lại miễn cưỡng mà làm, về công việc cá nhân có thể được gọi là anh hùng, song thống lĩnh vài vạn binh mã trong tay, với thái độ như vậy là rất không có trách nhiệm, tin rằng Gia Cát Lượng vốn có trí tuệ và cẩn thận chẳng muốn làm vậy.
Cũng có một số nhà sử học cho rằng, hành động bắc phạt của Gia Cát Lượng là lấy công kích thay phòng ngự, thực ra chẳng cần thắng lợi, chỉ hy vọng quân dân nước Thục phải cánh giác, chẳng thể đam mê hưởng lạc, cách nói này hiển nhiên thiếu thưòng thức quân sự học.
Ngoài đội quân du kích, ắt phải không ngừng vận dụng chiến thuật chủ động tấn công quấy rối ở những điểm bất định, nói chung tấn công hữu hiệu, so ra có binh lực gấp từ 5 đến 10 lần so với phòng ngự, Tôn Tử binh pháp nói đến: “Có mười thì bao vây, có năm thì tấn công”. Nếu binh lực, tài lực kém hơn người khác, lại lấy tấn công thay cho phòng ngự, hơn nữa lại một mặt liên tục phát động viễn chinh đường dài, đấy không nghi ngờ gì là đào mồ tự chôn mình, tin rằng Gia Cát Lượng chẳng dại gì mà vận dụng chiến lược và chiến thuật như vậy.
Phán đoán về sự hợp lý và khả năng, thấy rằng bất luận là có nghĩ đến sự an toàn phòng ngự Thục Hán, hoặc là nghĩ tìm cơ hội đánh bại Tào Ngụy, khôi phục nhà Hán, Gia Cát Lượng ắt phải nhằm mục tiêu thứ nhất để chiếm lấy trong cuộc bắc phạt, đó là Lương Châu.
Sau khi Lưu Bị đông chinh thất bại, Kinh Châu đã dứt khoát không đoạt lại được, nếu chỉ có một châu, chính quyền Thục Hán vẫn thường như ở trước giông gió, bởi thế Gia Cát Lượng ắt phải mau chóng tìm một châu nữa để tăng sự cai quản, đủ thực sự duy trì cục diện ba chân đỉnh lớn.
Khả năng lớn nhất đánh chiếm được là vùng Lương Châu mà Tào Ngụy đang cai quản và vùng Quan Trung của khu Tư lệ mà trung tâm là Tràng An. Vùng này Tào Tháo cuối đời mới cai quản được, lại thêm có danh tướng Mã Siêu nổi tiếng ở Quan Trung và Lương Châu, bị Tào Tháo đánh đuổi mà theo về với Lưu Bị, rất được trọng dụng. Mã Siêu với các thủ lĩnh địa phương ở đấy vẫn có quan hệ, bởi thế quân dân địa phương có ấn tượng với Thục Hán khá tốt, lại nữa sự cai quản của chính quyền Tào Ngụy đối với vùng này vẫn là rất đau đầu. Như trên đã nói, nếu thuận lợi chiếm được Lương Châu và Quan Trung, rất có thể liên hợp với Đông Ngô từ các phía tây bắc, tây nam, đông nam mà giáp kích Tào Ngụy, lại nữa kinh thành Lạc Dương của Tào Ngụy sẽ bị uy hiếp trực tiếp đối với dân tâm sĩ khí của Tào Ngụy sẽ là một đòn đánh rất lớn. Như vậy chẳng những có thể cải biến được thế yếu của Thục Hán, hơn nữa đối với sự nghiệp khôi phục nhà Hán cũng có được sự giúp đỡ về thực chất.
Tin rằng Gia Cát Lượng nhìn nhận như vậy để phát động cuộc bắc phạt lần này.
Vì sao Gia Cát Lượng vói một binh lực ít hơn lại chủ động tấn công Lương Châu? Ông ta tin tưởng vào đâu? Đã vận dụng sách lược gì? Sự thành bại ra sao? Trong những chương sau, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể.


4. Có thể với “Xuất Sư Biểu”, quỷ thần cũng phải khóc than
Sau khi hoàn thành việc sắp xếp đội quân bắc chinh, Gia Cát Lượng trình lôn Hậu chủ Lưu Thiện bản “Xuất Sư Biểu” thiên cổ còn truyền tụng.
Thừa tướng Văn Thiên Tường cuối đời Nam Tống để lại di bút trong “Chính khí ca”, khi đánh giá cao Xuất Sư Biểu có nói, “Có thể với Xuất Sư Biểu, quỷ thần cũng phải khóc than”. Nho gia đời sau cũng thường nói: “Đọc Xuất Sư Biểu mà không khóc chẳng phải là người có lòng trung”. Xuất Sư Biểu đích xác đã thể hiện đầy đủ niềm trung thành sáng láng của Gia Cát Lượng với vương triều Thục Hán. Đặc biệt đọc nguyên văn ghi chép lại dưới đây, từ lời văn và khí chất ở đó chúng ta có thể thấy rõ nhân cách và khí chất của Gia Cát Lượng:
“Tiên đế sáng nghiệp chưa đến nửa đường đã từ trần, nay thiên hạ chia ba, Ích Châu suy yếu, sự nguy cấp tồn vong ở ngay trước mắt. Cho nên kẻ bày tôi chầu chực không thể lười nhác, một lòng trung thành quên cả thân mình, đã rằng đi theo Tiên đế, muốn báo đền với Bệ hạ. Rất mong Bệ hạ nên lắng nghe rộng rãi, để sáng đức tốt cho Tiên đế, phải rộng thúc đẩy chí khí, không nên khinh bạc, dẫn đến điều thất nghĩa sẽ lấp lối. Sự trung thực của kẻ can gián.
Ở trong cung phủ, đều là một thể, phải rõ sự thiện ác, không nên nhầm lẫn. Nếu như có điều sai phạm hoặc thiện tâm, nên giao cho sở ty luận rõ mà thưởng phạt để làm sáng đạo lý của Bệ hạ, không nên tư riêng để có chỗ pháp luật trong ngoài sai khác.
Các quan Thị Trung, Thị lang như Quách Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn đểu là hiền thần, có chí lớn và trung thành, là những người mà Tiên đế đã lựa chọn để lại cho Bệ hạ. Theo ngụ ý thì làm việc ở trong cung, việc không kể lớn nhỏ, đều phải bàn kỹ, sau mới thi hành, để có thể lấp được sự rò rỉ, có ích rộng rãi. Tướng quân Hướng Sủng, tính hạnh thuần thục, hiểu rõ việc quân, qua những việc ở ngày trước, Tiên đế khen là có năng lực, cũng là do quần chúng tiến cử vào trọng trách. Theo ngu ý phàm việc ở trong doanh trại ắt phải bàn bạc kỹ, mới có thể khiến quân đội hoà thuận có được ưu thế.
Thân hiền thần, xa lánh kẻ tiểu nhân, nhờ thế mà nhà Tiền Hán đã hưng thịnh vậy, thân với kẻ tiểu nhân, xa lánh hiền thần, bởi thế mà nhà Hậu Hán bị suy vong vậy. Tiên đế khi còn sống, mỗi lần cùng với thần đàm luận, không khỏi không than thở đau xót cùng Hoàn Linh.
Những Thị trung, Thượng thư, Trưởng sử, Tham quân đều là những kẻ bề tôi trung trinh đến chết, nguyện vì Bệ hạ mà bày tỏ tín nghĩa thì sự phục hưng nhà Hán, khá có thể thấy rõ.
Thần vốn áo vải, đem thân cày bừa ở Nam Dương, lo toan tính mệnh ở đời loạn, chẳng cần nổi tiếng với chư hầu. Tiên đế không xem thần là tầm thường, đem lòng chiếu cố, ba lần tìm đến nơi lều cỏ, bàn bạc với thần về việc đương thời, bởi thế mà rất cảm kích, nguyện theo phò Tiên đế. Đã nguyện đem hết lòng cố gắng, nhận việc giữa lúc quân thua tướng bại, phụng mệnh trong khi nguy nan, đến nay đã được 21 năm.
Tiên đế biết thần cẩn thận, nên trước lúc lâm chung có trao cho thần việc đại sự. Từ lúc phụng mệnh đến nay, ngày đêm lo lắng, sợ phụ lại sự ủy thác, làm tổn hại đến trông mong của Tiên đế, nên tháng 5 vượt sông Lô, vào sâu đất không cây. Nay phương nam đã định, binh pháp đã đủ, đương khi ba quân phấn khích, nghĩ rằng cần phải bắc định Trung Nguyên, dốc hết nỗ lực bản thân, diệt trừ gian thần, phục hưng nhà Hán, trở lại cố đô, như thế thần báo đáp được Tiên đế mà cũng tỏ được lòng trung với chức phận mà Bệ hạ đã giao. Còn như châm chước lợi hại, bày tỏ lời trung thành, thì đã có Quách Du Chi, Phí Vỹ đảm nhiệm vậy. Những mong Bệ hạ ủy thác để thần được bắc phạt, phục hưng nhà Hán thành công; nếu không thành công, thì thần xin chịu tội để báo cáo cùng vong linh Tiên đế. Nếu như việc không tiến triển thì cứ trách cứ lỗi của Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn; Bệ hạ nêu khiêm nhường, lắng nghe điều thiện, làm theo điều phải, thực hiện di chiếu của Tiên đế, thần không ngừng chịu ơn cảm kích, nay đương ở nơi xa xôi dâng biểu mà khóc chẳng thể nói hết lời”.
Qua “Xuất Sư Biểu”, chúng ta có thể thấy Gia Cát Lượng đối với việc bắc phạt có tin tưởng rất lớn, tuyệt đối chẳng phải là một việc khổ hạnh chẳng thể đừng. Trái lại, ông lo lắng chẳng phải ở tiền tuyến mà là ở quốc nội. Lưu Thiện đích xác là “A Đẩu vực chẳng nổi”, yếu đuối không có năng lực, đầu óc chẳng sáng suốt, thích thân gần với kẻ phục dịch bên mình, còn đối với những đại thần vẫn nói đạo lý, dám can ngăn thì vẫn “kính mà xa đấy”. Gia Cát Lượng khi ở triều đình, thì Lưu Thiện dẫu có thế nào cũng không quan trọng, song Gia Cát Lượng không ở triều đình, nếu như Lưu Thiện vẫn thân gần với kẻ tiểu nhân thì có thể sẽ ảnh hưởng đến sự thúc đẩy công việc triều chính. Ở đây, “Xuất Sư Biểu” giống như là một người cha đang ở xa dặn đi dặn lại và răn bảo đứa con phải thân hiền thần, xa tiểu nhân, lời lẽ khẩn thiết, chân tình lộ rõ, thực khiến người ta phải cảm động.
Để Lưu Thiện đang ở yên mà biết nghĩ đến nguy hiểm, Gia Cát Lượng nhắc nhở ông ta nay tuy thiên hạ chia ba nhưng Thục Hán chỉ có Ích Châu vẫn là bé nhất trong ba nước, lại thêm Lưu Bị kiến quốc không lâu đã từ trần, đích xác là sáng nghiệp chưa được nửa đường đã mất, Ích Châu suy yếu, đang là lúc then chốt của sự nguy cấp tồn vong.
Chỉ ra chỗ nguy cơ, đương nhiên cũng bày tỏ rõ chỗ cơ hội, văn võ bá quan của Thục Hán có tư chất và lòng trung thành đích xác cao hơn Tào Ngụy, cho nên điều quan trọng nhất là Lưu Thiện với cương vị người chủ chẳng thể có thái độ khinh bạc, khiến cho những kẻ bầy tôi trung nghĩa phát huy được tài năng. Tiếp đó Gia Cát Lượng lại nói cụ thể Lưu Thiện phải làm ông chủ như thế nào, nhân tài phụ tá và công việc thực tế thì đã do Gia Cát Lượng sắp đặt trước, về mặt hành chính có Quách Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn, về mặt quân sự đã có Hướng Sủng. “Ông chủ” Lưu Thiện chỉ cần bất luận là việc trong dinh trong phủ, đều chỉ cần bình thản khiêm nhường bàn bạc với họ là xong. Sợ Lưu Thiện tuổi trẻ nóng nảy, Gia Cát Lượng lại đặc biệt đưa ví dụ giải thích nguyên nhân chủ yếu khiến Tiền Hán, Hậu Hán hưng suy, cùng những việc Lưu Bị đã làm, nghiêm khắc cảnh cáo Lưu Thiện, chớ như Hoàn đế, Linh đế ngu muội, không được việc gì.
Phần thứ ba kể rõ nguyên nhân chủ yếu mà mình phải phát động bác phạt là để hoàn thành di nguyện của Lưu Bị. Chẳng phải là bởi dã tâm của mình, càng chẳng phải bởi nhân cơ hội mà khuếch trương quyền thế. Bởi thế cho nên mong muốn Lưu Thiện phải hết sức phối hợp thân hiền thần, xa tiểu nhân, làm tốt công việc trong nước, để tránh cho ông ta đang ở tiền tuyến vẫn phải lo lắng hậu phương. Cuối cùng, Gia Cát Lượng cụ thể làm rõ ranh giới công việc của mình và Lưu Thiện. Công việc bắc phạt ủy thác cho mình phụ trách, nếu như thất bại thì cứ trách phạt. Việc nội chính thì do Lưu Thiện và các phụ tá phụ trách, yêu cầu phải triệt để phân rõ vai diễn của từng người.
Đấy không những là những lời can gián chính thức của kẻ đi xa đối với đức vua, mà đấy cũng là những lời kiến nghị sáng tỏ về việc lãnh đạo điều hành. Chẳng phải là những lời trung nghĩa sáo rỗng kiểu “Bát cố”, mà từng câu đều là những sách lược cụ thể để thi hành. “Xuất Sư Biểu” sự thực dã cảm kích lòng người có thể chính là ở đấy.
Ngoài ra “Xuất Sư Biểu” cũng là một luận văn ưu tú rất có giá trị văn học. Tô Đông Pha là văn hào đời Bắc Tông được xếp là tám đại gia Đường Tống, cho rằng Gia Cát Lượng xứng đáng được kể là nhà văn học ưu tú; văn chương của ông khá rõ ràng mà lưu loát diễn đạt dược cách nghĩ của mình, chẳng có lời nào thừa. “Xuất Sư Biếu” lời văn giản dị, nội dung khá hoàn chỉnh, ý tứ thẳng thắn, tình cảm phong phú lại thành khẩn, thực là văn chương hay thiên cổ khó thấy. Tô Đông Pha lại chỉ ra, Gia Cát Lượng rất vĩ đại mà khiến người ta hết mực yêu mến, là bởi ông ta danh tiếng và thực tế đều nhất quán, chỉ có người tư lự tận trung, thành khẩn mới có thể viết ra những câu chữ sáng tỏ mà cảm động lòng người như thế. Sau khi trình lên bản “Xuất Sư Biểu”, Gia Cát Lượng lại lấy danh nghĩa của Hậu chủ Lưu Thiện, viết một tờ chiếu thư thảo phạt Tào Ngụy. Chiếu thư đề cập cùng với Tôn Quyền hợp mưu hỗ trợ làm thế ỷ giốc, lại còn đối với các tộc người ở Lương Châu như Chư Quốc, Nguyệt Chi, Khang Cư, Hồ Hầu, Chí Phú, Khang Thực cũng sẽ phái quân giúp đỡ, cho nên quân bắc phạt sẽ đạt đến hơn 20 vạn người. Như vậy so với 5 vạn quân hắc phạt thực tế có sai biệt rất lớn, chỉ là dùng để làm công cụ tuyên truyền chính trị mà thôi.
Sau đó Gia Cát Lương dẫn quân bắc phạt, đóng doanh trại ở Hán Trung, đại bản doanh thì đặt ở Dương Bình Quan vùng Miện Thủy.
 
*
*    *
 
Lời bình của Trần Văn
Binh pháp Tôn Tử có nói, then chốt của sự thắng bại khi thảo phạt, phải sáng tạo như thế nào để lấy cái thực của mình đánh vào chỗ yếu của đối phương, thu được ưu thế tuyệt đối.
Hình thế của chiến trường biến đổi trong nháy mắt, kẻ mạnh cũng có thể nếm đòn chí mạng của kẻ yếu, trong trận Quan Độ, Viên Thiệu với số quân gấp 10 lần bị Tào Tháo đánh bại, bởi thế mà ngã không dậy được. Tào Tháo trong trận đại chiến Xích Bích, quân đội của mình có ưu thế tuyệt đối, lại bị thất bại bởi liên quân yếu hơn của Chu Du và Lưu Bị. Cho nên chỉ cần nắm sách lược thực tế mà vận dụng, thì quân đội có bao nhiêu cũng không quyết định sự thắng bại. Vậy thì then chốt là ở chỗ nào? Nguyên tắc tác chiến cơ bản của Tôn Tử là biết người mà không để người biết, nói cách khác là tuỳ thời nắm quyền, chủ đạo, có thủ đoạn chuyển thế yếu thành thế mạnh; biến nhược điểrn của kẻ địch chuyển hoá thành lực lượng của mình.
Nói giản đơn, rốt cuộc phải nắm quyền chủ đạo như thế nào? Làm sao khiến kẻ địch mất đi sự tự do vận dụng sách lược, hoàn toàn bị động, khiến lực lượng của mình tăng lên rất lớn? Khoa học kinh doanh nói với chúng ta về tầm quan trọng nhãn mác bao bì cố định của sản phẩm, bởi thế không ít người cho rằng, biểu lộ rõ lập trường của mình, mới có thể tăng cường được đặc sắc của mình, giành được ưu thế về cạnh tranh.
Nếu như bởi bày tỏ rõ lập trường, đã tranh thủ đồng cảm giành được ưu thế cạnh tranh đấy tức là vận dụng lầm nguyên tắc biết người mà người không biết mình. Bởi thế chỉ thuyết minh cho thiên sách “hư thực” Tôn Tử từng nói đến sách lược “Biết người mà không rõ ta”, sách lược cạnh tranh ắt phải phối hợp hoàn cảnh mà tiến hoá hữu hiệu, hoàn cảnh thì mỗi giờ đều biến hoá, nhất là khi cạnh tranh kịch liệt. Bởi thế nếu như duy trì hữu hiệu tính đàn hồi về lập trường của mình, mới là then chốt thắng bại quan trọng nhất.
Người lộ mà ta không lộ chân tướng, trong thực tế kẻ địch cố định hình thái, lập trường cứng nhắc, mà hình thái của ta có thể không câu nệ như vậy có thể tùy thời cơ tìm được nhược điểm của đối phương điều chỉnh thành ra ưu thế lớn của ta tiến tới không ngừng công kích, thì có thể giành đưực thắng lợi tuyệt đối.
Binh pháp Tôn Tử chỉ ra phương pháp bố cục tạo hình, chỉ rõ rằng “Việc binh có hình giống như nước”, binh chẳng phải vô hình mà phải cũng giống như hình thái của nước vậy, khiến người ta không mò được đầu mối mới được. Khi lực lượng yếu phải tùy hoàn cảnh biến hoá mà cần yên, ở hình vuông thì nước có hình vuông, song ở hình ống thì nước có hình ống.
Nước chẳng có lực lượng, tùy hoàn cảnh mà biến hình, song một khi phát huy sức mạnh, trở thành Hồng Thủy cuộn xoáy, thì tường đồng vách sắt gì cũng không ngăn cản được. Nếu bất động thì thôi, đã chuyển động thì có thế lớn kinh người, đấy là sức mạnh quan trọng nhất của “việc binh giống như nước”.
Trong cuộc tuyển cử tổng thống Mỹ năm 1984 Đảng dân chủ đưa ra ứng cử viên, nghĩ đến một hình tượng tổng thống hoàn toàn không giống trước đó, không ngừng đưa ra hình thái ý thức về lý tưởng của mình để trưng cầu, quá nhấn mạnh lập trường của mình mà không chú ý đến tính đàn hồi của chính sách. Khi đưa ra ý kiến “Chẳng có sách lược mới là sách lược”, “Chẳng có chủ nghĩa mới là chủ nghĩa”, để trưng cầu, Đảng dân chủ ưu thế lớn trong cuộc bầu cử lại gặp phải thất bại lớn chưa từng có.
Gia Cát Lượng lập kế hoạch bắc phạt đã nắm chắc nguyên tắc này. Tuy đối phương có số quân và của cải chiếm ưu thế tuyệt đối, song chỉ cần có kế hoạch tập trung lực lượng, nhằm mục tiêu không lớn, cũng không thể không sáng tạo ra ưu thế lớn. Niềm tin của Gia Cát Lượng chính là ở đấy.
 
0
Chương XXVI
GẠT LỆ CHÉM MÃ TẮC
 
Mã Tắc bị giết, quân dân Thục Hán thương cảm một kẻ tài hoa, không thể không rơi lệ bi thương, đối với việc này không thể không dùng đại hình, tin rằng Gia Cát Lượng rất đỗi đau lòng.


1. Qui hoạch về chiến tuyến đông, tây
Năm Kiến Hưng thứ 5, vào tháng 3, Gia Cát Lượng dẫn quân bắc phạt vượt qua vùng Kiến Các tiến vào bồn địa Hán Trung, đến Dương Bình Quan giáp biên giới nước Ngụy, lập ra đại bản doanh, bày ra một tư thế sẽ từ Tần Lĩnh tấn công Tràng An.
Tần Lĩnh địa hình hiểm trở ắt phải dựa vào đường sàn đạo mới có thể tiến quân, muốn phát động đánh đột kích là chẳng thể được. Bởi thế Gia Cát Lượng phải dừng ở đấy, ở đại bản doanh một mặt phái người tu sửa lại đường sàn đạo tiến vào Tần Lĩnh, mặt khác thì để các đội quân tiến hành huấn luyện tác chiến trong núi, có ý đánh lừa sách lược phòng thủ của Tào Ngụy.
Nguỵ Minh đế Tào Tuấn nghe nói Gia Cát Lượng dẫn quân tiến vào Dương Bình Quan, bèn triệu tập hội nghị quân sự lớn, phán đoán Gia Cát Lượng sẽ dẫn quân qua Tà Cốc, tiến công Nam Trịnh, trực tiếp uy hiếp Tràng An.
Tán kỵ Tôn Tử nói: “Quan Trung địa thế hiểm yếu, dễ giữ mà khó đánh, nếu phái đại quân lên đây có thế gặp phải khó khăn dẫn quân bất lợi như Thái tổ (Tào Tháo) năm xưa, huống chi nay Đông Ngô và nước Thục đã liên hợp, nếu từ đông, tây chiến tuyến đánh lên phía bắc ắt sẽ tạo thành uy hiếp chúng ta, tuyệt đối không có thể xem thường...”.
Tôn Tử lại tiến một bước đề nghị với Tào Tuấn nên phái một viên đại tướng có năng lực tác chiến độc lập, cố thủ ở các nơi hiểm yếu, lấy sách lược “uy hiếp kẻ địch, trấn tĩnh biên cương”, không lâu nữa hai nước Ngô Thục sẽ mỏi mệt, đến lúc đó có thể thu được kết quả không đánh mà khuất phục được kẻ địch.
Đích xác, nếu như sách lược mà Gia Cát Lượng lựa chọn, đúng như phán đoán mà các đại thần Tào Ngụy đưa ra, như vậy thì theo đề nghị của Tôn Tử, chỉ cần Tào Ngụy phái một viên đại tướng, cậy hiểm mà giữ, nếu thế thì đối phương chẳng có biện pháp gì, trường kỳ mãi, ắt sẽ dẫn đến tướng mệt quân mỏi, sẽ dễ dàng bị Tào Ngụy đánh bại.
Song Gia Cát Lượng lại chẳng phải là một viên tướng dạng tầm thường, trong đầu óc tàng chứa những sách lược không dễ hiểu được. Chiến thuật chính mà ông ta lập ra, là Kỳ Sơn tiến vào Lũng Tây, nhằm chiếm lấy Lương Châu. Đối với Gia Cát Lượng mà nói, mục tiêu của bắc phạt lần thứ nhất thực ra là Lương Châu mà Tào Ngụy còn chưa tăng cường, việc phòng thủ cũng khá yếu. Chỉ cần trụ vững ở Lương Châu, lại phối hợp với quân lính ở Hán Trung, từ tây nam và tây bắc cùng giáp kích vào Quan Trung, cơ hội giành được thắng lợi sẽ rất lớn.
Song Gia Cát Lượng còn có một đội kỳ binh, tức là Mạnh Đạt đang giữ quận Tân Thành; dại bản doanh của Mạnh Đạt đặt ở thành Thượng Dong, phía bắc sông Hán Thủy. Nếu như ông ta khỏi nghĩa kịp thời, dẫn quân Gia Cát Lượng thẳng vào Tân Thành thì có thể một đòn chặt đứt được sự liên hệ giữa Lạc Dương và Tràng An. Khắp nửa phía tây khu Tư lệ có thể rơi vào tay Thục Hán, đến cả kinh thành Lạc Dương của Tào Ngụy cũng sẽ bị uy hiếp rất lớn, thậm chí phải dời đổi kinh thành, như vậy Thục Hán sẽ có thanh thế chính trị, giành được ưu thế tuyệt đối. Hơn nữa chỉ cần đánh chiếm được Tràng An, thì có thế chỉ một bước mà chiến được cả Lương Châu và Ung Châu, về chiến đấu đối mặt lâu dài, đối với Thục Hán là rất có lợi.
Bởi thế nước cờ Mạnh Đạt này rất quan trọng, tuyệt đối chẳng thể chủ quan. Gia Cát Lượng sau khi đến Hán Trung, dừng lại để luyện tập binh mã kéo dài đến nửa năm, chủ yếu là để đợi Mạnh Đạt, khiến ông ta nắm được cơ hội tốt, phản Ngụy mà về với Thục.


2. Mạnh Đạt kinh hoảng chẳng ngờ, lầm lẫn mất cơ hội lớn.
Chẳng qua Mạnh Đạt rốt cục là nho tướng chẳng có thực tài học, thiếu hiểu biết kỹ lưỡng.Tuy Gia Cát Lượng vẫn nhắc ông ta chớ khinh cử vọng động, nhất định phải nắm được cơ hội tốt nhất, mới phát động binh biến. Song Mạnh Đạt tựa hồ không nén được, vội vã nghĩ đến hoàn thành gấp nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm này. Bất chợt vào tháng 6 năm đó, Tào Tuấn theo đề nghị của Tôn Tử, phái Phiêu kỵ đại tướng quân Tư Mã Ý, Đô đốc hai châu Kinh, Dự đặt bộ tổng chỉ huy ở gần Uyển Thành. Uyển Thành cách Thượng Dong không xa, bởi thế Mạnh Đạt có phần lo lắng, không ngừng phái sứ giả báo cáo tình huống biến hoá với Gia Cát Lượng, một mặt cũng tăng cường điều động binh mã, chuẩn bị khởi nghĩa.
Cũng có thể do hành động vội vàng, cuối cùng dẫn đến sự nghi ngờ của Thái thú Ngụy Hưng là Thân Nghi ở gần đó. Thân Nghi và Mạnh Đạt vẫn bất hoà với nhau bởi thế có ý ngờ, ngầm dâng biểu mật báo ngờ rằng Mạnh Đạt có thông đồng với nước Thục. Tào Tuấn rất mến mộ phong độ nho tướng của Mạnh Đạt, lại không tin vào báo cáo của Thân Nghi, song bởi Tân Thành và Thượng Dong đều có đường cái thông với nước Thục, thực tế chẳng thể chủ quan, thế rồi ông lệnh cho Tư Mã Ý ngầm quan sát hành động của Mạnh Đạt.
Tư Mã Ý cố ý cho người đến thăm dò, nói phong phanh về những chuyện ấy, khiến Mạnh Đạt biết được Thân Nghi đã ngầm báo cáo về ông ta, để Mạnh Đạt kinh hãi. Nếu như chẳng có việc ấy, Mạnh Đạt nhất định sẽ công khai tự biện hộ; nếu như thực có việc ấy, Mạnh Đạt ắt sẽ hoảng sợ, mà lộ ra hành động sơ xuất. Mạnh Đạt được biết tin tức, quả nhiên rất hoảng sợ, Tư Mã Ý lại phái Tham quân Lương Kỳ, đưa một phong thư thăm hỏi do tự tay Tư Mã Ý viết, cố ý bày tỏ sự quan tâm đối với những tin loan truyền vừa rồi, lại khuyên Mạnh Đạt lên đường về triều đình, yết kiến Tào Tuấn, để bày tỏ rõ lòng mình.
Sau đó, Mạnh Đạt thiếu khí chất rất lấy làm hoang mang, ông ta nói chung không nghĩ đến sự ứng biến, chỉ nghĩ đến việc mau chóng phản biến về lại Thục. Ngay khi sứ giả của Tư Mã Ý vừa dời khỏi thành Thượng Dong, Mạnh Đạt lập tức phái người đưa thư đến Gia Cát Lượng, xin được phái quân tiếp ứng. Động tác này không thoát khỏi sự nhòm ngó của Tư Mã Ý, bởi thế ông ta phán đoán việc Mạnh Đạt tạo phản là có thực.
Mạnh Đạt cũng biết Tư Mã Ý ắt sẽ tăng cường giám sát ông ta, song ông ta thực tế không biết phải làm gì, cho nên chỉ biết mau chóng tiến hành khởi nghĩa. Trong thư gửi cho Gia Cát Lượng có nói: “Tư Mã Ý đóng quân ở Uyển Thành, cách Lạc Dương 800 dặm, cách Tân Thành 1200 dặm. Bởi Tư Mã Ý biết tôi khởi nghĩa, ắt sẽ báo cáo cho Tào Tuấn ở Lạc Dương, lại từ Tào Tuấn đưa ra mệnh lệnh chính thức, phái Tư Mã Y từ Uyển Thành dẫn quân đến đánh Tân Thành, nếu như vậy ít ra cũng phải mất một tháng trở lên. Đến lúc ấy, Mạnh Đạt sớm đã bố trí được phòng thủ ở Tân Thành. Ví như Tư Mã Ý dẫn đại quân đến, cũng chẳng phải lo lắng. Huống chi đối tượng phòng ngự của Tư Mã Ý, chủ yếu là Đông Ngô, lại thêm Tân Thành địa thế hiểm trở, vì thế chẳng thể trong thời gian ngắn mà đánh chiếm được ngay. Bởi thế, Tư Mã Ý để không ảnh hưởng đến công việc chính thức nhất định sẽ chỉ phái một viên tướng đến đó. Chỉ cần Tư Mã Ý không tự dẫn quân đến, thì quân Tào Ngụy tiễu phạt sẽ chẳng đông lắm”.
Thực ra, đấy chỉ là cách nghĩ chủ quan của Mạnh Đạt. Đối với một tướng lĩnh đảm đang, há sẽ ngại việc mà không có trách nhiệm như thế? Bởi thế khi Gia Cát Lượng nhận được phong thư này, không khỏi kinh hãi biến sắc, vội than rằng: “Rất chủ quan, rất thô thiển, Mạnh Đạt đã thuộc làu binh thư, há chẳng biết câu “tướng ngoài biên, mệnh lệnh có chỗ không theo”. Trong vùng cai quản của mình, có kẻ phản loạn, đâu có còn phải báo cáo với Hoàng đế mới có thể thảo phạt được, Mạnh Đạt sẽ thất bại bởi thủ đoạn của Tư Mã Ý.
Gia Cát Lượng biết rõ nước cờ của Mạnh Đạt đã thất bại, bởi thế không hy vọng nữa. Ông cần phải giữ gìn thực lực, để tiến hành sắp xếp việc ở chiến tuyến phía tây, cho nên chỉ phái một đội quân đặc biệt đi tiếp ứng, gọi là đế cứu giúp cho Mạnh Đạt mà thôi. Quả nhiên không ra ngoài dự liệu, không đến nửa tháng, lại nhận được tin khẩn cấp của Mạnh Đạt cho biết: “Xuất binh mới đến ngày thứ 8, chẳng ngờ Tư Mã Ý tự dẫn quân đến bao vây Thượng Dong trùng điệp, xin mau chóng mang quân cứu viện cho”. Thực ra, ví như Gia Cát Lượng có đến giúp, cũng chẳng thể được, nguyên do là quân lính được phái đến, bị ngăn cản ở đường Mộc Lan, nói chung chẳng thể tiến vào biên giới quận Tân Thành. Khi Mạnh Đạt khởi nghĩa, từng liên hệ với Tôn Quyền, hy vọng có được sự chi viện, Tôn Quyền cũng phái quân đến tiếp ứng, cũng bị cản lại ở phía tây thành An Kiều. Quân làm phản của Mạnh Đạt do tình hình chuẩn bị không chu đáo, hoàn toàn bị cô lập.
Mùa Xuân năm Kiến Hưng thứ 6, Tư Mã Ý hoàn thành việc bao vây Tân Thành, hạ lệnh tấn công. Mạnh Đạt thấy quân tiếp viện không đến, rất đỗi hoảng loạn, đội quân trước đây cùng đứng lên làm phản với ông và theo nhau ly khai. Bởi thế chỉ qua 16 ngày, quận Tân Thành đã mất, Mạnh Đạt bị chém chết, đạo quân 7000 người của Mạnh Đạt vốn thân Thục Hán, toàn bộ bị điều về phương bắc. Kế hoạch đột kích chiến tuyến phía đông của Gia Cát Lượng đến đây hoàn toàn thất bại.


3. Đánh dài và đánh ngắn.
Xem ra Gia Cát Lượng ở Hán Trung, người lo lắng nhất là tướng giữ Trường An Hạ Hầu Mậu của Tào Ngụy. Hạ Hầu Mậu là con của Chinh tây tướng quân Hạ Hầu Uyên, Tào Tháo mến mộ tài cán của Hạ Hầu Uyên, sau khi Hạ Hầu Uyên tử trận ở Thiên Đãng Sơn thuộc Hán Trung, Tào Tháo rất thương người con côi là Hạ Hậu Mậu, đặc biệt lại mang con gái là công chúa Thanh Hà gả cho anh ta. Hạ Hầu Mậu đầu óc sáng suốt, giỏi văn chương và biện luận, bởi thế rất được Tào Phi ưa thích, lại cùng trong họ tộc, nên sau khi Tào Phi lên ngôi, được phong làm An tây tướng quân, Đô đốc Quan Trung trấn thủ Tràng An, cũng được lộc quan chức của Hạ Hầu Uyên (ngôi vị của Hạ Hầu Uyên do người con cả của Hạ Hậu Hành kế thừa).
Sau khi Mạnh Đạt khởi nghĩa thất bại, kế hoạch của Gia Cát Lượng ở đấy đành phải hủy bỏ. Song tại hội nghị quân sự lần thứ nhất ở đại bản doanh, chủ tướng của đạo quân bắc phạt tuyến đầu là Nguỵ Diên lại đưa ra ý kiến bất đồng, ông ta cho rằng nếu như vận dụng sách lược chính xác, sẽ có thể trực tiếp đột kích Tràng An, chiếm lấy khu Tư Lệ, hà tất phải đi vòng qua Lương Châu.
Nguỵ Diên lớn tiếng bày tỏ: “Nghe nói, Hạ Hầu Mâu là con rể của Tào Tháo, tuổi còn trẻ mà không hiểu chiến lược. Chỉ cần cho tôi 5000 tinh binh, và 5000 quân chi viện, tôi sẽ từ Bao Trung xuất phát, theo Tần Lĩnh nhằm hướng đông tấn công, từ hang Tý Ngọ mà tiến lên phía bắc, không đến 10 ngày thì đến được Tràng An. Bởi đường ở đấy phần nhiều ở trong núi, cho nên Hạ Hầu Mậu chẳng thể biết được, đến khi ông ta phát hiện quân của tôi đã đến dưới thành ắt sẽ kinh hoàng vứt thành mà chạy. Chỉ cần chủ tướng chạy rồi, thành Tràng An phần lớn là văn quan, nói chung chẳng thể phòng thủ hữu hiệu được.
Lại rất quan trọng là thành Tràng An có lắm lương thực và vũ khí, nếu chúng ta chiếm được thì rất mau chóng tăng cường và phòng thủ. Kể như từ Lạc Dương có quân đến cứu viện, ít nhất phải 20 ngày, khi đó Thừa tướng cũng có đủ thời gian, dẫn quân qua Tà Cốc để hợp quân với tôi, như vậy Quan Trung hoàn toàn thuộc về chúng ta”.
Nguỵ Diên nói rất hùng hồn như vậy, tuy lý lẽ mạnh mẽ, thực ra trong đó có rất nhiều trắc trở. Quân Thục chưa thực sự giao chiến với Hạ Hầu Mậu, đã đánh giá thấp chủ tướng của đối phương như thế, cũng là rất mạo hiểm. Huống chi từ Tần Lĩnh đến phía bắc, ắt phải trải qua đường sàn đạo, dẫn một vạn quân hành quân qua con đường nguy hiểm, như vậy là rất mạo hiểm. Nếu chẳng thấy quân lính của mình hành quân sẽ dẫn đến sự chú ý của kẻ địch mà cứ cho rằng ở trong núi, kẻ địch không thể biết cách nghĩ như vậy cũng rất nông nổi. Năm xưa Hàn Tín công khai sửa đường sàn đạo, lại ngầm quân Trần Thương là vận dụng ngược lại sách lược này mà có thể thành công thuận lợi.
Rất phản đối kế hoạch của Ngụy Diên là tham mưu Dương Nghi, cá tính của ông ta rất tương phản với Ngụy Diên. Ngụy Diên ăn to nói lớn, làm việc hăng hái mà dũng mãnh, lại thiếu tư lự, Dương Nghi thì suy nghĩ tinh tế, rất có năng lực hành chính, cũng rất được Gia Cát Lượng tín nhiệm, song cũng muốn quyền lực rất lớn, thích sai khiến người khác. Các tướng thì một mặt tôn trọng Gia Cát Lượng, mặt khác cũng không phục năng lực của Dương Nghi, bởi thế phần đông vẫn có thể phối hợp được. Chỉ có Ngụy Diên vẫn mạo mạn và ngoan cố, giữa hai người thường có xung đột, khiến Gia Cát Lượng khá đau đầu.
Hôm đó, Dương Nghi phê phán kế hoạch của Ngụy Diên không hoàn chỉnh, khiến Ngụy Diên cơ hồ quá giận dữ tại chỗ. Gia Cát Lượng nghĩ đến năm nào Ngụy Diên được Lưu Bị phong làm Thái thú Hán Trung, đã nói những câu đại ngôn, biểu hiện được sự dũng mãnh, song bởi khéo dùng người nên đã không đả kích tinh thần hăng hái của ông ta. Thế rồi Gia Cát Lượng đưa mắt về phía Dương Nghi, có ý trách cứ, lại dùng lời an ủi Ngụy Diên, sau đó mới trực tiếp quyết định vẫn là lựa chọn kế hoạch nhằm phía tây đột kích vào Lương Châu. Kế hoạch của Gia Cát Lượng là không qua đường núi, mà lại từ Kỳ Sơn đánh vào Lũng Hữu, chiếm lấy vùng tinh hoa chủ yếu của Lương Châu, lại uy hiếp đến cả Tràng An. Bởi không để Tào Ngụy phán đoán ra mục tiêu thứ nhất của cuộc bắc phạt, hiển nhiên là Lương Châu cách đại bản doanh Hán Trung rất xa, Gia Cát Lượng chia quân làm hai đường, phái Trấn đông tướng quân Triệu Vân cẩn thận lại có kinh nghiệm tác chiến phong phú làm chủ soái quân dự bị, tạo ra nghi binh ở chiến tuyến phía đông, còn mình thì bố trí quân ở Kỳ Sơn đánh vào các vị trí quan trọng ở Lương Châu như Nam An, Thiên Thủy và An Định.
Các nhà sử học sau này, bởi suy diễn từ sa bàn, thấy đường Tý Ngọ rất gần với Tràng An, mà phán đoán chiến thuật của Nguỵ Diên là rất ưu tú, thậm chí mượn đó mà phê bình Gia Cát Lượng thiếu năng lực ứng biến, thực ra là rất không công bằng vậy.
Lấy thực lực Tào Ngụy và Thục Hán mà so sánh, ví như có thể đột kích Tràng An thành công song nếu thực sự chiếm được vùng Quan Trung là Lương Châu, thì chẳng có đủ lực lượng giữ Tràng An lâu dài. Nếu Tào Ngụy làm vườn không nhà trống, đóng chặt cửa thành đối kháng với quân bắc phạt của Thục Hán ở khu Tư Lệ, ắt sẽ khiến cục diện chiến tranh rơi vào thế đông cứng, quân viễn chinh khó khăn về bổ trợ, chiến tuyến kéo dài, chẳng may Tào Ngụy tập kích ở hậu phương ắt sẽ nguy cấp đến sự sinh tồn của đội quân viễn chinh này.
Năm xưa Quan Vũ liên tục đánh phá quân Tào, bao vây ở Tương Phàn, nhìn thấy thành công trước mắt, nhưng hậu phương lại bị Lã Mông đột kích ở bản doanh, tinh thần viễn chinh lập tức suy sụp, thành ra toàn quân tan tác, lấy việc trước mà xem, chẳng phải bình luận gì thêm.
Sách lược này của Ngụy Diên giống như đánh bóng gậy, tuy có thể lập tức giành được một số thắng lợi, thậm chí thắng lợi lớn song xác suất thương tổn rất cao, nghiêm chỉnh mà nói đối với một đội quân yếu, đánh lâu dài là chiến thuật không khôn ngoan. Kế hoạch của bộ tham mưu Gia Cát Lượng có thể nói là chiến thuật đánh ngắn cưỡng bức dần dần, lợi dụng sự không chú ý của đối phương, đánh vào địa phương lơ là nhất, không cầu công lớn, chỉ cầu tiến lên được. Sau khi chiến thắng một thành lũy, lại tiến tiếp một bước, một lũy lại một lũy, cũng có thể rất gian khổ, tiêu hao mất nhiều thời gian, song lại là rất thực tiễn, không quá mạo hiểm. Gia Cát Lượng là như thế, biết suy nghĩ để giành được thắng lợi sau cùng, đấy là phát huy cao nhất tinh thần binh pháp Tôn Tử. Chiến thuật đánh ngắn thận trọng và cục bộ với tinh thần ‘‘tốc chiến”, đối với một đội quân thế yếu mà nói, đích xác là thích hợp.


4. Tấn công Lương Châu phía bắc, thu phục Khương Duy tài danh
Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 6, quân viễn chinh của Gia Cát Lượng đóng đồn ở Hán Trung được gần một năm. Sau khi sự kiện Mạnh Đạt thất bại, lập tức xuất phát từ Dương Bình Quan. Song đại quân Gia Cát Lượng không tiến lên phía bắc lại hành quân nhằm hướng tây, di vòng theo đường phía nam Kỳ Sơn. Như trên đã nêu, Gia Cát Lượng không đơn thuần cho rằng đường vòng có thể lừa được bộ tham mưu Tào Ngụy, nhằm hướng Kỳ Sơn phát động công kích mau chóng, đối với việc này ông đã chuẩn bị tương đối hoàn chỉnh.
Đầu tiên ông ta tạo ra nghi binh, để bộ tham mưu Tào Ngụy cho rằng đích xác Gia Cát Lượng sẽ từ Tần Lĩnh ra đánh Quan Trung chiếm lấy Tràng An. Phụ trách ở đấy, đảm đương nhiệm vụ này là lão tướng Trấn đông tướng quân Triệu Vân cẩn thận, chu đáo, lúc đó đã gần 70 tuỗi, đầu óc vẫn sáng suốt, bình tĩnh mà có nghị lực. Gia Cát Lượng lại phái Dương vũ tướng quân Đặng Chi túc trí đa mưu, khéo léo ứng biến trợ giúp Triệu Vân, để ứng phó với quân chủ lực Tào Ngụy có thể tiến đánh.
Để đạt được mục đích hấp dẫn chú ý của kẻ địch, Triệu Vân lại dám dùng sách lược đóng trại phân tán, đem hơn một vạn quân sắp xếp thành mấy trăm tiểu tổ có thể tác chiến độc lập, phân cho họ cắm thật nhiều cờ xí, bố trí suốt một dải Cơ Cốc theo thế trận con cá, nhìn như chủ lực của Gia Cát Lượng vẫn ở đấy, lại làm ra tình thế như đang chuẩn bị theo đường Tà Cốc đánh vào phía tây nam Quan Trung. Triệu Vân ngồi trong đại bản doanh ngụy trang như Gia Cát Lượng vẫn ở đấy, bình tĩnh chuẩn bị nghênh chiến với đại quân Tào Ngụy. Gia Cát Lượng thì tự mình dẫn hơn 4 vạn quân chủ lực ngầm mau chóng đến phía tây. Đội quân thứ nhất do Ngụy Diên đứng đầu, quân chủ lực của Gia Cát Lượng khẩn trương theo sau, quân Mã Trung đi chặn hậu. Mỗi đội quân lại phân thành tiểu tổ, cấp tốc hành quân trong đêm, cùng hẹn sẽ tập kết ở quận Vũ Đô phía nam Kỳ Sơn, chỉnh đốn lại ở đấy, rồi sẽ nhằm hướng Kỳ Sơn phát động công kích.
Gia Cát Lượng cũng bỏ thói quen ngồi xe mọi khi, đổi mặc áo giáp đồng, cưỡi ngựa đi theo hàng quân. Bề ngoài thấy đấy là một đội quân đặc nhiệm nhỏ, để có thể lừa dối được tình báo của Tào Ngụy.
Chiến thuật này quả nhiên thành công đặc biệt, bộ tham mưu tác chiến của Tào Tuấn hoàn toàn bị đánh lừa, phụ quốc đại thần của Tào Ngụy là đại tướng quân Tào Chân tự mình dẫn 10 vạn đại quân, bày binh bố trận ở Nghi huyện, chuẩn bị quyết một trận thư hùng với quân bắc phạt của Thục Hán. Hiển nhiên quân chủ lực của Tào Ngụy ở Quan Trung đã bị Triệu Vân lôi kéo theo ý mình ở chiến tuyến phía đông này.
Quân chủ lực của Gia Cát Lượng trong vòng không đến 10 ngày đã hoàn thành tập kết ở quận Vũ Đô, bố trí trận tuyến tấn công mà thần không biết quỷ không hay. Các quận huyện Tào Ngụy ở phía bắc Kỳ Sơn vẫn cho rằng đấy chỉ là quân lính tinh nhuệ, để phối hợp hành động với chiến tuyến phía đông mà thôi, bởi thế chưa tập kết đủ lực lượng phòng ngự.
Đội quân bắc phạt của Gia Cát Lượng từ Vũ Đô vượt qua Kỳ Sơn, tấn công như gió giật mưa giông vào Lương Châu mà Tào Ngụy cai quản, quân Ngụy Diên còn thâm nhập sâu vào vùng Lương Châu đến tận quận An Định giáp Quan Trung thuộc khu Tư Lệ, hai vị trí quân sự quan trọng Nam An, Thiên Thủy của Lũng Tây dưới sự tấn công chủ lực của Gia Cát Lượng, đã liên tiếp phản Tào theo về với quân Thục, điều này có liên quan với thời kỳ Lưu Bị đã không ngừng hiệu triệu chính trị ở Lương Châu. Không lâu, quận An Định thất thủ, việc đánh chiếm quận Lũng Tây xem ra có hơi chậm, chiến thuật đột kích của Gia Cát Lượng đã giành được thành công khá lớn.
Song đối với Gia Cát Lượng mà nói, phấn khởi nhất lại không là chiến quả huy hoàng, mà là giành được một tướng tài ưu tú chưa từng thấy, đó là Khương Duy. Người ấy sau này trỏ thành viên tướng trẻ tuổi kế thừa việc quân của Gia Cát Lượng, việc gặp gỡ với Gia Cát Lượng lại là khá ngẫu nhiên, trong Tam quốc diễn nghĩa miêu tả Gia Cát Lượng vận dụng mưu kế kỳ lạ sao để khiến ông ta phải tâm phục khẩu phục, thực ra không có trong lịch sử. Chỉ là sự tô vẽ của nhà viết tiểu thuyết này.
Khương Duy tên chữ là Bá Ước, người Thiên Thủy nay là Cam Túc, lúc nhỏ bố đã mất, phải sống với người mẹ goá. Song Khương Duy chẳng hề thoái chí, ông ta nỗ lực nghiên cứu học thuật của Trịnh Huyền hy vọng sẽ may mắn ra làm quan. Bởi phụ thân Khương Duật, trước đây là quan chức của quận Thiên Thủy, đang khi người Khương và người Nhung đứng lên làm phản, Khương Duật tự dẫn quân đến chinh phạt, thua trận mà bị giết. Bởi thế Khương Duy trưởng thành, Thái thú ở đấy đặc biệt xin triều đình cho Khương Duy làm quan Trung lang, được tham dự việc quân ở Thiên Thủy không lâu lại được thăng quan ở quận, rồi lại được Thứ sử Lương Châu bổ nhiệm làm Tòng sự.
Đại quân Gia Cát Lượng từ Kỳ Sơn đánh vào quận Thiên Thủy, Thái thú Mã Tuân cho rằng quân Thục tập kết ở Kỳ Sơn, chỉ là đội dặc nhiệm mà thôi, về căn bản chưa có chuẩn bị thực sự, xem thường kẻ địch, chỉ dẫn Khương Duy cùng với Quận công Tào Lương Tự, Chủ bạ Ký Lương Kiều đến các huyện trong quận xem xét. Đến khi biết đích xác Gia Cát Lượng ở trong quân, mà đội quân đánh đến lại là quân lính chủ lực của Thục Hán thì Mã Tuân không khỏi kinh hãi biến sắc. Lại thêm các huyện phía nam vẫn hưởng ứng quân Thục, Mã Tuân cũng nghi ngại Khương Duy sẽ làm phản, và nhân đêm tối mà trốn khỏi đội ngũ, bèn dẫn quân vê Thượng Nhai (nay thuộc Cam Túc) lại hạ lệnh đóng chặt cửa thành, quân gì cũng không cho vào nữa.
Khương Duy chẳng chịu yên như thế, đành bỏ đội ngũ, một mình trở về quê cũ ở Ký huyện, song Ký huyện đã bị quân Thục đánh chiếm. Cứ theo cuốn “Ngụy lược” ghi chép, Khương Duy sau khi trở về Ký huyện, các phụ lão ở đấy rất mừng rỡ, cùng thôi thúc ông ta tiến hành đàm phán với Gia Cát Lượng. Khương Duy như chuột chạy cùng sào, đành thay mặt các phụ lão ở cố hương đến đầu hàng Gia Cát Lượng.
Xem ra với sự đầu hàng của Khương Duy chẳng phải Gia Cát Lượng có kế sách gì khiến ông ta phải tâm phục khẩu phục. Nguyên nhân chủ yếu nhất là bị Mã Tuân không tín nhiệm, bức bách đến nỗi không thể không như thế.
Song, đúng như Ngụy lược ghi chép, Gia Cát Lượng khi gặp Khương Duy nói chung là rất vui mừng. Khương Duy năm ấy 27 tuổi, cùng tuổi nếu so với thời Gia Cát Lượng ở Long Trung, về cá tính có nhiều chỗ tương tự. Ham học không biết mệt, thông hiểu binh pháp, chí khí rất lớn, đầu óc sáng suốt, sở trường nghị luận, lại có can đảm, có thế nói là người gánh vác được việc nặng lúc lâm nguy. Tất cả những điều ấy đều rất giống bản thân Gia Cát Lượng, trách chi người sau thường xem Khương Duy là người kế thừa Gia Cát Lượng.
Trong thư Gia Cát Lượng gửi cho Trưởng sử Trương Duệ và Tham quân Tưởng Uyển có nói: “Khương Bá Ước trung cần với công việc tư lự tinh tế... người ấy đáng gọi là kẻ sĩ tài danh của đất Lương Châu”. Ông lại cũng khẳng định: “Bá Ước mẫn cảm về quân sự, lại có can đảm, hiểu rõ binh pháp, người ấy gửi tâm nguyện vào nhà Hán, có tài hơn người...”. Gia Cát Lượng chưa lập tức trọng dụng Khương Duy, ngoài cá tính và thái độ ham học hỏi, Khương Duy mới 27 tuổi suy nghĩ còn chưa chín, chưa đủ kinh nghiệm, chỉ có thể xem là khối đá ngọc còn chưa mài dũa, vẫn cần được Gia Cát Lượng có kế hoạch bảo ban và huấn luyện thêm, mới có thể phát huy tài năng được.
Không vội đưa Khương Duy ra võ đài chính là Gia Cát Lượng đã có lòng yêu mến tài năng rất mực, song đồng thời, Gia Cát Lượng cũng đã dùng nhầm một người tài một cách nghiêm trọng, chẳng những để đối phương gây thành bi kịch vận mệnh, hơn nữa lại khiến cho kế hoạch bắc phạt lần thứ nhất gặp phải một đòn chí mạng bất ngờ.


5. Trương Cáp dẫn quân tây chinh, Mã Tắc để mất Nhai Đình.
Ba quận Lương Châu bị mất, tình hình Quan Trung chấn động rất lớn.
Tào Tuấn cuối cùng cũng phát hiện được quân Thục ở Cơ Cốc chỉ là nghi binh mà thôi, cảm thấy sâu sắc bản thân giữ trọng trách mà phán đoán quá sai lầm, bởi thế lập tức tự mình thân chinh, đến đóng ở Tràng An. Ông ta một mặt hạ lệnh cho Tào Chân dốc toàn lực đánh quân Triệu Vân ở Cơ Cốc, một mặt động viên 5 vạn quân dũng mãnh, giao cho Tả tướng quân Trương Cáp cầm đầu mau chóng ra tiền tuyến, ngăn cản sự tấn công của quân Thục. Để triệt để đánh bại quân Thục, Tào Tuấn lại hạ lệnh cho quan lại ở Lạc Dương động viên sắp xếp đội quân chi viện 30 vạn người, để chuẩn bị tiếp ứng cho tiền tuyến.
Trương Cáp tên chữ là Tuấn Nghệ, người Hà Gian. Khi Trương Giác khởi nghĩa Hoàng Cân, Trương Cáp hướng ứng lời chiêu mộ của triều đình đi đầu quân, luôn lập được công lớn và được thăng Vị quân tư mã, sau được sắp xếp làm thuộc hạ của Hàn Phức đang giữ chức Ký Châu mục. Khi Viên Thiệu thay Hàn Phức làm Ký Châu mục, Trương Cáp theo về với Viên Thiệu, trong cuộc đối kháng với Công Tôn Toản, có công rất lớn được thăng làm Trung lang tướng, tuổi còn trẻ mà đã trở thành tướng lĩnh đảm đương một vùng. Khi xảy ra trận đánh Quan Độ, Trương Cáp với người chỉ huy là Quách Đồ mâu thuẫn ý kiến, bị Quách Đồ gièm pha làm hại, bất đắc dĩ phai theo về với Tào Tháo. Tào Tháo rất ưa thích tài hoa của Trướng Cáp, vẫn gọi là Hàn Tín về với nhà Hán, phong cho làm Thiên tướng quân, Đô đình hầu.
Trong đại chiến ở Hán Trung, Hạ Hầu Uyên tử trận, quân Tào bị rơi vào nguy cơ nghiêm trọng, theo đề nghị của Quách Hoài, Trương Cáp chịu lệnh lúc lâm nguy thay thế chức thống soái, được ông ta sắp xếp bình tĩnh, cuối cùng đã ngăn cản hữu hiệu sự tấn công của Lưu Bị. Từ đấy có thể thấy Trương Cáp là một đại tướng rất có trí tuệ và kinh nghiệm. Trải qua rèn luyện nhiều năm, kinh nghiệm tác chiến của Trương Cáp càng phong phú, già dặn hơn. Để đối phó vói nguy cơ Lương Châu thất thủ, Trương Cáp với chức phận Tả tướng quân, phụng mệnh cầm quân, đối phó với đạo quân bắc phạt của Gia Cát Lượng.
Trương Cáp dẫn 5 vạn quân tinh nhuệ, xuất phát từ Lạc Dương, sau khi bái kiến Tào Tuấn ở Tràng An lập tức tây tiến. Ông ta đến ngay Nghi huyện, trao đổi với Tào Chân, sau khi hai bên trao đổi về sách lược tác chiến ở chiến tuyến, tức thì tiến vào bên trong Lương Châu. Kế hoạch tác chiến của Trương Cáp khá bạo gan, ông ta không để ý việc quân Thục đã đồng thời chiếm được ba quận An Định, Nam An, Thiên Thủv, vận dụng chiến thuật đột phá trung tâm từ Mi huyện đánh thẳng vào phía bắc Lũng Sơn, lại thông qua đường Lũng Sơn nối với Lạc Bàn Sơn, trực tiếp tiến vào phía bắc Lương Châu. Nói cách khác ông ta tiến vào trung tâm để trực tiếp cắt đứt sự liên hệ giữa Ngụy Diên đang ở An Định và quân chủ lực của Gia Cát Lượng ở Thiên Thủy.
Trương Cáp dám cả gan như thế, là bởi ông ta phán đoán, sự làm phản ở các quận Lương Châu là bởi sợ thanh thế tấn công của Gia Cát Lượng, Nguỵ Diên tuy đã chiếm được quận An Định, thực ra chưa được quân dân địa phương giúp đỡ. Chỉ cần quân Tào Ngụy đánh được vào Lương Châu, các huyện ở quận An Định sẽ mau chóng tạo phản, đến khi ấy quân Ngụy Diên sẽ bị cô lập. Nếu thu hồi được quận An Định thì có hy vọng thu phục được Thiên Thủy và Nam An.
Trương Cáp với chiến thuật này, đích xác vừa mạnh mẽ vừa chuẩn xác, khiến chốc lát đã đánh chiếm được rất nhiều địa phương, mà quân bắc chinh Thục Hán còn chưa ổn định nên rất đỗi kinh hoàng, hơn nữa quân Ngụy Diên ở quận An Định lại có nguy cơ bị chặn mất đường về. Gia Cát Lượng lập tức triệu tập hội nghị ở Thiên Thủy, bộ tham mưu đề nghị phái đại quân đến Nhai Đình là yết hầu của đông bắc Kỳ Sơn (nay là huyện Tần An) để nghênh chiến. Đạo quân Trương Cáp vượt núi mà đến bởi chiến trường này, sẽ là then chốt thắng bại của hai bên, nên cần phái một đại tướng giầu trí tuệ lại đảm đương một vùng để phụ trách việc quan trọng ở đấy. Đại đa số tướng lĩnh đều cho rằng tốt nhất là điều động trở về hổ tướng Ngụy Diên đang chỉ huy ở quận An Định, hoặc để Trương Nghi có kinh nghiệm tác chiến phong phú đảm nhiệm. Song Gia Cát Lượng cho rằng quân Thục đang giữ quận An Định, và rơi vào tình thế rất không yên ổn, nếu điều đại tướng về, có thể sẽ tan rã, huống chi Ngụy Diên phải đi vòng, cũng không về kịp. Trương Nghi lại quá cẩn thận, không đủ năng lực ứng biến, chẳng phải là đối thủ của Trương Cáp. Suy đi nghĩ lại, Gia Cát Lượng quyết định phái tham mưu trưởng Mã Tắc mà ông ta vẫn xem trọng.
Mã Tắc là em của Mã Lương, từ nhỏ đã thuộc binh thư, có năng lực tổ chức, lại hay nghị luận, là tham mưu quân sự bậc nhất, đáng tiếc vẫn bị sắp xếp ỏ bộ tham mưu, thiếu kinh nghiệm tác chiến thực tế ở chiến trường.
Sau khi Mã Lương mất, bởi Gia Cát Lượng vốn rất thân thiết với Mã Lương, lại càng thương Mã Tắc, thường dẫn theo ở bên mình, tùy thời bảo ban rèn luyện. Khi Lưu Bị ủy thác đại sự ở cung Vĩnh An, thấy Gia Cát Lượng quá xem trọng Mã Tắc, đã từng nhắc nhở với Gia Cát Lượng, Mã Tắc là người nói quá sự thực, tự xem mình có cao kiến, suy nghĩ thường không thiết thực, chẳng thể giao phó trọng trách được.
Có một thời gian, Gia Cát Lượng bố trí Mã Tắc ở bộ tham mưu để rèn luyện thêm, không dám giao trách nhiệm tác chiến thực tế. Đêm trước ngày Gia Cát Lượng nam chinh, Mã Tắc có nói đến “Công tâm làm đầu”. Gia Cát Lượng rất cao hứng, bèn lấy đó làm phương châm chủ đạo cho hành động nam chinh. Có thể từ việc ấy, khiến Gia Cát Lượng cho rằng Mã Tắc đã hoàn toàn chín chắn, bởi thế trong hành động bắc chinh lần này, không để ông ta làm ở bộ tham mưu, mà cho làm tướng lĩnh hàng đầu của đạo quân bản bộ Gia Cát Lượng. Năm đó Mã Tắc đã 39 tuổi, đang lúc sung sức, nếu không nhân cơ hội lập chiến công, sau này có thể không có cơ hội đảm đang một vùng. Bởi thế Gia Cát Lượng cố ý đặc biệt trọng dụng. Song chiến trường Nhai Đình thực tế rất quan trọng, đại bộ phận tướng lĩnh đều hoài nghi Mã Tắc có thể đảm nhiệm được, nên nhao nhao phản ứng. Riêng Gia Cát Lượng có ý khác với mọi người, cho rằng Trương Cáp kinh nghiệm già dặn lại có trí tuệ tác chiến phong phú, chiến thuật nói chung đã có, sẽ không vượt qua mặt được với ông ta, phải bổ nhiệm Mã Tắc chưa có nếp nghĩ truyền thống, phương pháp tác chiến phát huy sáng tạo, mới có thể đối phó được Trương Cáp, cơ hội thắng lợi sẽ lớn hơn. Để bổ sung cho Mã Tắc kinh nghiệm chiến trường không đủ, lại đặc biệt phái Tỳ tướng Vương Bình xuất thân từ quân ngũ, có kinh nghiệm phong phú làm phó tướng, ngoài số ít quân cận vệ được giữ lại, quân chủ lực của Gia Cát Lượng cơ hồ hoàn toàn giao phó cả cho Mã Tắc, tức khắc đến bày binh bố trận ở Nhai Đình đợi sẵn sàng giao chiến.
Trước lúc lên đường, Gia Cát Lượng còn đặc biệt dặn dò Mã Tắc, phải bầy trận ở bên sông, để ngăn cản thế tấn công của Trương Cáp, để lấy nhuệ khí, đợi Ngụy Diên từ quận An Định rút về, nam bắc cùng giáp công, sẽ triệt để đánh bại được quân Trương Cáp: Nếu như chiến dịch Nhai Đình giành được thắng lợi thì Lương Châu lại nắm chắc trong tay.
Nhưng Mã Tắc và Vương Bình đến Nhai Đình, sau khi xem xét địa hình, lại không đồng ý với phương thức bầy trận mà Gia Cát Lượng đã giao cho. Mã Tắc phát hiện ở vùng Vị Thủy, phía tây bắc của Kỳ Sơn, giữa Nhai Đình và Vị Thủy, là một vùng bồn địa. Gia Cát Lượng đã dặn men theo chân núi Kỳ Sơn đến bồn địa bên sông Vị Thủy mà bày trận, ngăn cản quân Trương Cáp vượt qua sông đến đó, chỉ cần kìm chân Trương Cáp, quân Ngụy Diên từ quận An Định sau đó sẽ giáp kích từ phía sau.
Mã Tắc lại cho rằng Trương Cáp vượt qua Lũng Sơn mà đến, nếu bầy trận ở bên sông, quân Trương Cáp từ trên tràn xuống, chẳng những có thể thấy rõ sự bố trí toàn thể của quân Mã Tắc, hơn nữa khí thế từ trên trận đánh xuống rất thuận lợi, tuy có Vị Thủy ngăn cản, song quân Trương Cáp có ưu thế rất lớn về số người, nếu bầy trận ở đấy là rất bất lợi. Nếu miễn cưỡng ngăn cản Trương Cáp vượt sông, vẫn cần phải đợi Nguỵ Diên tấn công từ phía sau, mới có thể đánh bại được Trương Cáp, đến khi chiến thắng nhất định lại bị Ngụy Diên đoạt mất công lao, như vậy đối với một quan chỉ huy chiến trường mà nói là rất mất thể diện. Bởi thế, ông ta quyết định phải dẫn dụ Trương Cáp vượt sông, đến khi dừng hẳn lại mới tiến hành quyết chiến. Nếu như muốn đạt được mục đích này ắt phải bầy trận ở trên núi Kỳ Sơn phía nam Nhai Đình, ở đấy chẳng những có thể nhìn từ trên cao xuống, thấy rõ ràng sự bố trí của quân Trương Cáp, khi quyết chiến, quân Thục sẽ từ trên cao mà tràn xuống, binh pháp Tôn Tử có nói thấy núi cao chớ vượt lên. Với đội quân Trương Cáp vừa mới đến, như vậy là rất bất lợi.
Vương Bình cẩn thận tự nhiên không tán thành cách nhìn nhận của Mã Tắc, ông ta lo lắng nhỡ chiến sự có kéo dài, không có thể lập tức tiến hành tác chiến, thì quân Thục bày trận ở trên núi Kỳ Sơn, sẽ rất khó khăn về nước uống, tập kết vài vạn quân ở đấy, nếu chẳng có nguồn nước thì rất nguy hiểm.
Nhưng Mã Tắc không tiếp thu lời khuyên can, ông ta cho rằng phái một số ít quân bố trí ở phía tây bắc Nhai Đình, thuộc vùng Thượng Nhai, sẽ duy trì được việc cung ứng nước uống. Vương Bình thấy chiến dịch Nhai Đình có quan hệ rất lớn, chẳng thể làm trái với lời dặn dò trước đó của Thừa tướng, Mã Tắc thì cho rằng “Tướng ở ngoài biên lệnh vua có chỗ không theo”, huống chi là quan chỉ huy ở chiến trường, đóng ở tuyến đầu, làm sao hoàn toàn tiếp thu được sự chỉ huy của tham mưu hậu phương, cho nên vẫn kiên trì với phương pháp của mình.
Các bộ tướng Hoàng Tập và Lý Thịnh của Mã Tắc cũng tán thành cách nhìn nhận của Mã Tắc, Vương Bình bất đắc dĩ đành dẫn hơn một nghìn quân bản bộ đến bầy trận ở bồn địa phía bắc Nhai Đình, để cùng với quân chủ lực của Mã Tắc đóng trên núi, làm thành thế ỷ giốc.
Quân chủ lực của Trương Cáp ngày đêm hành quân vượt qua phía bắc Lũng Sơn, từ phía đông bắc kéo đến Nhai Đình. Đến nửa đường Trương Cáp được biết quan chỉ huy ở Nhai Đình là Mã Tắc, một viên tướng phái Thiếu tráng mà Gia Cát Lượng vẫn xem trọng, bởi thế mà dễ sinh chủ quan, ông ta một mặt phái quân do thám xem xét động tĩnh của Ngụy Diên ở quận An Định, dự tính thời gian quân Ngụy Diên có thể kéo đến chiến trường này, một mặt xem xét kỹ lưỡng tình hình Mã Tắc bầy trận ở Nhai Đình, chuẩn bị vượt sông từ vùng nước nông qua Vị Thủy từ phía bắc Nhai Đình. Sau khi đã thu thập đủ tình hình cặn kẽ, Trương Cáp sớm hạ lệnh cho đại quân đóng trại ở phía bắc Vị Thủy, tự mình đến thẳng tiền tuyến quan sát động tĩnh của quân Mã Tắc.
Sau khi ông ta đối chiếu tỉ mỉ bản đồ vẽ ở đấy với tình hình thực tế, không khỏi cười lớn mà rằng: “Mã Tắc chỉ có danh tiếng suông, ắt bị ta bắt sống vậy”.
Trương Cáp sớm phái một bộ phận binh lực, ở cửa khẩu Lũng Sơn cậy hiểm mà phòng giữ để ngăn cản quân Ngụy Diên có thể giáp kích từ phía sau. Lại phái phó tướng dẫn quân đột kích trong đêm vượt sông đánh vào đội quân đặc biệt của Thục Hán giữ việc cung cấp nước ở phía đông bắc Nhai Đình. Chỉ cần đột kích thành công, sẽ lập tức lập thành lũy về đầu cầu phía Nam sông Vị Thủy, để yểm hộ cho quân Ngụy vượt sông tiến vào bồn địa Nhai Đình.
Đại đội binh mã của Trương Cáp được phân thành nhiều đợt, đợt thứ nhất lựa chọn vùng dễ vượt sông, phân thành mấy đội biệt động, sau khi vượt sông thành công lập tức xây dựng lũy đầu cầu ở phía nam, làm việc yểm hộ; đợt thứ nhất vượt sông được, thì tiếp đó các đợt 2, 3, 4 có thể với tư thế xuất binh cờ quạt chỉnh tề đường đường vượt sông, lấy thanh thế để uy hiếp quân Mã Tắc đóng ở chân núi.
Trương Cáp có kinh nghiệm phong phú, đang đêm đến chiến trường, phái đội đột kích vượt sông phát động đánh bất ngờ, quân Thục Hán phụ trách cung cấp nước trở tay không kịp, toàn bộ đều bị bắt. Quân Tào Ngụy vượt sông thành công, thâu đêm hoàn thành lũy đầu cầu ở phía nam sông Vị Thủy để yểm hộ việc vượt sông của đội quân tiên phong. Sau khi nhận được báo cáo đột kích thành công và hoàn thành công sự đầu cầu, Trương Cáp vào lúc trời chưa sáng hạ lệnh đội quân đợt một vượt sông, chỉ cần đến được bờ nam thì lập tức sắn tay xây dựng công sự phòng ngự, để hiệp trợ đội quân sau đó kéo đến, lúc đó nếu như gặp phải sự phản công của kẻ địch, thì phải dựa vào thành lũy đầu cầu mới được xây dựng mà chống đỡ, không được trì hoãn tiến độ cuộc tấn công.
Mã Tắc vào lúc trời mờ sáng được tin quân Tào Ngụy đột kích vào đội quân cung cấp nước, lập tức phái đội đặc nhiệm đến điều tra, không lâu lại tiếp tục được tin đại quân Tào Ngụy bắt đầu vượt sông, Mã Tắc hạ lệnh cho toàn doanh trại chuẩn bị chiến đấu, lại phái Hoàng Tập dẫn quân tiên phong, xuống núi chặn đánh quân đang vượt sông.
Quân lính tiên phong của Hoàng Tập, gặp phải quân Ngụy ở lũy đầu cầu ngoan cường chống đỡ, bởi công sự phòng ngự của quân Ngụy đã hoàn thành, quân sĩ của Hoàng Tập không thể đột phá hữu hiệu, lại nhìn thấy quân Tào vượt sông ngày càng nhiều hơn, rất đỗi kinh hoàng, cuối cùng hạ lệnh rút về doanh trại trên núi, đợi đến khi Mã Tắc đến tiền tuyến, quân Trương Cáp đợt thứ nhất đã vượt sông an toàn, xây dựng công sự dọc bờ nam. Mã Tắc hạ lệnh tấn công, song quân Tào Ngụy được yểm hộ bởi tên bắn như mưa, quân Thục về căn bản không tiếp cận được, đành phải rút về doanh trại. Lúc này Trương Cáp đã đến phía nam quận Vị Thủy, trong đại bản doanh được xây dựng vững vàng, chỉ huy đại quân đợt hai đợt ba vượt sông. Quân thục ở lưng chừng núi nhìn xuống, chỉ thấy quân Tào Ngụy đầy cả cánh đồng, dần dần tiến vào vị trí tác chiến. Nguồn nước đã bị cắt đứt, quân Tào dưới núi binh lực lại có gấp mấy lần, tướng lĩnh và binh lính Thục Hán không thể không tái mặt, tinh thần dần dần suy sụp.
Không đến một ngày, 5 vạn đại quân của Trương Cáp đã hoàn tất việc vượt sông, đóng ở bình nguyên Nhai Đình, bao vây quân Mã Tắc trùng điệp.
Trái lại, quân Mã Tắc ở trên núi một ngày chẳng có nước uống, cũng không nấu cơm được, chỉ dựa vào lương khô miễn cưỡng làm no lòng, sớm đã vô cùng hoang mang. Lại thêm trông xuống thấy đầy núi đầy đồng là quân Tào với trận địa nghiêm chỉnh, quân Thục đâu còn tinh thần tác chiến. Mã Tắc tuy tự cầm quân đánh xuống dưới núi, song rất nhanh chóng bị đánh bại. Trương Cáp lại hạ lệnh không được lên núi, những gỗ đá mà Mã Tắc dự liệu để tác chiến cũng không phát huy được công hiệu sát thương, thế đông cứng đối với quân Thục là rất bất lợi.
Trước lúc trời tối đã có không ít quân Thục phản lại quân lệnh, xuống núi đầu hàng quân Ngụy, nhìn thấy tinh thần binh sĩ đã hoàn toàn tan rã, Lý Thịnh đề nghị vứt bỏ doanh trại phá vây mà ra, Mã Tắc ngần ngừ không quyết.
Đến đêm, Trương Cáp hạ lệnh đốt lửa ven núi, sức lửa tuy không lớn song lửa sáng lại làm tăng thêm tâm lý tan rã của quân Thục, Mã Tắc dẫn quân trong trại xuống núi tháo vòng vây. Số quân Thục còn lại từ trên núi liều mạng mà đánh xuống, quân Tào Ngụy không thể ngăn nổi, Trương Cáp không muốn tạo ra thương tổn không cần thiết, bèn hạ lệnh để mặc cho Mã Tắc kéo quân đi, chỉ lo bố trí sửa sang phòng tuyến, cùng tiếp tục chiêu hàng số quân Thục còn ở trên núi. Đại quân Thục Hán như rắn không đầu, đành toàn bộ đầu hàng quân địch, Trương Cáp giành được thắng lợi hoàn toàn ở Nhai Đình, bắt sống gần một vạn quân Thục, ngoài ra thu được chiến lợi phẩm không biết bao nhiêu mà kể. Vương Bình ở góc tây bắc, thấy Trương Cáp vượt sông tấn công, biết là địa thế đã mất. Ông hạ lệnh cho hơn 1000 quân, phân thành nhiều tổ, cố gắng bố trí ở nơi khó thấy, nếu như có quân Ngụy tấn công, thì nổi chiêng trống ầm ĩ để làm nghi binh. Quả nhiên không lâu sau đó, thấy Mã Tắc dẫn tàn quân đến đó trú chân, phía sau lại có không biết bao nhiêu mà kể quân Ngụy đuổi theo. Vương Bình hạ lệnh yểm hộ cho Mã Tắc rút quân, tự mình đốc chiến ở tiền tuyến, khua chiêng trống vang trời để làm nghi binh. Do trời tối, ngờ có điều chẳng lành, Trương Cáp sợ có mai phục, không dám mạo hiểm quá mức, bèn khua chiêng lui quân, khiến Thục Hán chỉ tổn thất rất ít quân lính.
Quân chi viện của Ngụy Diên, khi đến Lục Bàn Sơn, được biết tin tức Nhai Đình thất thủ. Nguỵ Diên với kinh nghiệm phong phú biết rằng Nhai Đình vừa mới mất, đường tiếp vận cho quân bắc chinh bị cắt đứt, Gia Cát Lượng sẽ rút quân. Đại quân của mình đóng giữ ở quận An Định phía bắc, rất có thể bị cô lập, thành ra bi kịch toàn quân tan rã, bởi thế không mau chóng hành động không được. Ông ta vội vã phái sứ giả thông báo cho đội quân đang giữ quận An Định lập tức vòng ngay qua Lục Bàn Sơn nhằm hướng Lũng Tây rút quân, còn tự mình dẫn quân chi viện từ Lục Bàn Sơn đến tiếp ứng, cùng hội quân Gia Cát Lượng.


6. Hỗn loạn phải dùng đại hình, gạt lệ mà chém Mã Tắc.
Quả nhiên Gia Cát Lượng ở doanh trại Kỳ Sơn, được báo cáo Nhai Đình thất thủ, bởi lo lắng đến sự an toàn của toàn quân, lập tức hạ lệnh rút quân.
Ông ta sớm rút quân đến Tây Thành, bố trí lại phòng ngự, chuẩn bị tiếp ứng quân sĩ bắc chinh đang lục tục rút về. Mã Tắc cùng một số tàn quân đầu tiên, chạy về doanh trại, xin chịu tội trước Gia Cát Lượng, sau đó quân Vương Bình cũng an toàn rút về, song cũng tổn thất đến 2 phần 3. Tiền quân của Ngụy Diên trải qua muôn nghìn gian khổ gắng chạy về được cũng tan tác quá nửa. Gia Cát Lượng hạ lệnh cho đạo quân Mã Trung vẫn còn nguyên vẹn đi chặn hậu, bố trí phòng ngự ở Nam Kỳ Sơn để ngăn cản quân Tào Ngụy đuổi đánh. Để tránh tiết lộ tình hình quân lực Thục Hán, Gia Cát Lượng cưỡng chế hơn 1000 hộ dân ở Tây Thành dời đến Hán Trung, cuộc bắc chinh lần thứ nhất đến đây có thể nói là đã thất bại.
Tam quốc diễn nghĩa miêu tả khi Gia Cát Lượng rút về Tây Thành, do vội vã chuẩn bị không kịp, bị quân Tư Mã Ý đuổi đánh. Bất đắc dĩ Gia Cát Lượng đành mạo hiểm, lấy “không thành kế” (thành lũy rỗng) để lừa Tư Mã Ý nên giữ được tính mạng. Trong màn kịch nổi tiếng kể về chuyện này, nhà tiểu thuyết đã miêu tả những câu chuyện “Mất Nhai Đình”, “Không thành kế” và “Chém Mã Tắc”. Song theo ghi chép lịch sử, tình tiết không thành kế là hoàn toàn không thể phát sinh được.
Trước hết, Gia Cát Lượng có cẩn thận, chẳng thể với việc rút quân lại hoàn toàn không có chuẩn bị. Huống chi đại bản doanh của ông ta ỏ đông nam Kỳ Sơn, cách Nhai Đình có một đoạn đường, ví như Nhai Đình đột nhiên thất thủ, Gia Cát Lượng cũng chẳng thể thất thế đến như vậy. Lại nữa hành động bắc chinh lần này, từ đầu đến cuối Gia Cát Lượng chưa từng giao đấu trực tiếp với Tư Mã Ý. Từ sau khi thu lại Tân Thành chém được Mạnh Đạt, Tư Mã Ý vẫn phụ trách phòng thủ chiến tuyến phía đông, nói chung chưa từng đến chiến tuyến phía tây. Trấn thủ ở Tràng An là Ngụy Minh đế Tào Tuấn, chỉ huy chiến dịch Nhai Đình là Lão tướng Trương Cáp, thậm chí sau này thu phục được Lương Châu cũng là do Đại tư mã Tào Chân chỉ huy và Trương Cáp cùng Quách Hoài thực hiện; Tư Mã Ý làm sao lại xuất hiện như thế? Đây hiển nhiên là chuyện mà nhà tiểu thuyết tự mình nghĩ ra mà thôi.
Được biết quân chủ lực của Gia Cát Lượng ở Kỳ Sơn, Tào Chân đang phòng thủ ở Mi huyện đã lập tức phát động tấn công vào quân Triệu Vân ở Cơ Cốc, song do địa thế hiểm yếu của Cơ Cốc, Tào Chân có binh lực gấp mấy chục lần, trong một thời gian cũng không có cách gì bắt được Triệu Vân quy phục.
Tin thất bại Nhai Đình truyền đi, Triệu Vân phán đoán Gia Cát Lượng ắt sẽ rút quân, Tào Chân cũng ắt sẽ thừa thế phát động tấn công, bèn hạ lệnh trước hãy bố trí ở các nơi hiểm yếu hư trương thanh thế của quân Thục, lập tức mau chóng tập kết; lựa chọn mấy cửa khẩu quan trọng để phòng thủ Tào Chân sẽ đánh lớn. Quả nhiên không lâu quân Tào Chân đã phát động cuộc tấn công toàn diện như sấm sét, Triệu Vân dự liệu chẳng giữ được, bèn hạ lệnh cho Đặng Chi tập kết xe cộ và binh lính, theo trật tự mà sớm rút lui. Ông tự mình dẫn một số ít đội quân chủ lực chặn hậu, thiêu hủy đường sàn đạo, để quân Tào Chân chẳng thể vượt qua Cơ Cốc, nhằm bảo vệ sự an toàn của Bao Thành và Hán Trung. Trong việc rút lui của cuộc bắc chinh lần này chỉ có quân Triệu Vân rút lui an toàn, binh lính, trang bị và xe cộ tổn thất không đáng kể.
Sau khi trở về Hán Trung, kiểm thảo trách nhiệm vể sự chiến bại, tổng chỉ huy Gia Cát Lượng không thể không có lỗi, ông ta dâng lên hậu chủ nói rõ:
“Bởi hạ thần tài năng yếu kém, lại trộm ở vị trí cao trong quân chính, nay tự mình dẫn ba quân bắc phạt, chẳng thể nêu rõ phép tắc sáng suốt, gặp phải nguy nan lại phán đoán sai lầm, dẫn đến trận đánh ở Nhai Đình, Mã Tắc làm trái quân lệnh dẫn đến tổn thất thê thảm, ở phía Cơ Cốc cũng chẳng thể phòng thủ hữu hiệu, như thế đều là lỗi lầm của hạ thần, dùng người không đến nơi đến chốn. Hạ thần có tội không hiểu biết người, lại rõ ràng không có năng lực lãnh đạo. Đại nghĩa xưng bá đồ vương, lầm lỗi thất bại trách nhiệm đều ở thống soái, bởi hạ thần gánh vác lỗi lầm như thế, xin được tự nhận giảm quan chức ba bậc để xử phạt trách nhiệm cầm quân thất bại vừa rồi”.
Hậu chủ Lưu Thiện chiểu theo yêu cầu của Gia Cát Lượng, giảm chức của Gia Cát Lượng xuống làm Hữu tướng quân, song vẫn làm việc ở phủ Thừa tướng, vẫn nắm đại quyền quân chính. Triệu Vân tuy là quân dự bị, lại là chủ soái một vùng, tự nhiên cũng phải gánh phần trách nhiệm chiến bại, bởi thế từ Trấn đông tướng quân giáng xuống làm Trấn quân tướng quân, Nguỵ Diên bản thân là người bị hại, theo lẽ tự nhiên không chịu trách nhiệm. Mã Trung phụ trách chặn hậu, cho nên bởi không có lỗi lầm mà không bị xử phạt.
Thực ra, trong việc rút quân làm này, biểu hiện phải kể tốt nhất là Triệu Vân, đối diện với quân lính chủ lực của Tào Chân, lão tướng quân tự mình đi chặn hậu, khiến tổn thất trong quân chỉ ở mức rất ít, thực tại là hành vi không có lỗi. Gia Cát Lượng nghe Đặng Chi nói, hiểu rõ hành động chỉ huy rút quân của Triệu Vân thực là trí tuệ, trách nhiệm và dũng khí, cho nên rất lấy làm cảm động. Ông ta mang những thứ quyên góp được mà Triệu Vân mang về thưởng cho các tướng sĩ, song lại bị Triệu Vân trịnh trọng cự tuyệt, ông ta nói: “Việc quân đã bất lợi, sao có thể tiếp thu phần thưởng được?”. Ông ta xin đưa số phần thưởng này nhập toàn bộ vào kho của bản doanh, để làm phần thưởng vào đầu mùa đông giá rét.
Kể từ khi còn tuổi trẻ, Triệu Vân vẫn là một tướng lĩnh dũng cảm, trách nhiệm, và lo lắng đến đại cục toàn thể, cũng luôn nghĩ đến quốc gia, nhân dân và thuộc hạ, phẩm cách cao thượng của ông, sự tận trung với chức vụ, vẫn được Gia Cát Lượng luôn quí trọng.
Trách nhiệm rất nặng nề tự nhiên là Mã Tắc, Lý Thịnh, Hoàng Tập với Vương Bình. Song Vương Bình đã từng khuyên can Mã Tắc, hơn nữa trong việc rút quân sau cùng đã chủ động lấy một số ít quân lực để yểm hộ cho đạo quân chính đang chiến bại, công lớn hơn tội. Chẳng những không bị xử phạt, mà còn được phong làm Tham quan, thống lĩnh năm đội, kiêm Chưởng quản, lại đề bạt làm Thảo khấu tướng quân, Phong Đình Hầu, là viên tướng duy nhất được trọng thưởng trong chiến dịch này.
Vương Bình là viên tướng nổi danh thời kỳ cuối Thục Hán, chính là từ trong thất bại lớn lần này, lấy biểu hiện khác thường mà nổi trội lên vậy.
Vương Bình tên chữ là Tử Quân, người Ba Tây, ông ta trước theo quân Tào ở Lạc Dương, do tình hình biến đổi, sau theo về với Lưu Bị ở Hán Trung, được phong làm Nha môn tướng và Tỳ tướng quân. Ông ta xuất thân từ quân ngũ, không biết đến sách vở, lại không biết quá mười chữ, song đầu óc sáng suốt, có năng lực tổ chức, kế hoạch tác chiến chỉ nói mồm mà thành nhưng rất rõ ràng. So với Mã Tắc hay nói quá sự thực, thích bàn luận mưu kế, chính là sự đối chọi sinh động.
Lý Thịnh là tham quân chủ yếu ở chiến dịch Nhai Đình, bị xử tội tử hình, Hoàng Tập bị phế bỏ làm dân thường. Trách nhiệm đáng phạt tội nhất chính là Mã Tắc, chỉ huy chiến trường.
Tam quốc chí có chép: “phải xử tội chết để tạ lỗi cùng mọi người”. Quân sĩ bị tổn thất nghiêm trọng. Mã Tắc tự nhiên là không giết không được. Song “Mã Lương truyện” có chép: “Gia Cát Lượng phán xử Mã Tắc bị hạ ngục cầm cố, không lâu chết ở trong ngục, Gia Cát Lượng thấy thế cũng cảm thương rơi lệ”. Ở đây không nói rõ Mã Tắc bị chém chết, song hạ ngục không lâu mà chết, có thể là có thực, hơn nữa Gia Cát Lượng lại còn thương xót.
“Tư trị thông giám” căn cứ vào những cách nói trên, lại thêm “Tương Dương ký” có nói Mã Tắc sau khi chết thì Gia Cát Lượng có đến viếng, cho nên đã viết rằng: “Gia Cát Lượng đem Mã Tắc tống ngục rồi sau giết đi tự mình đến viếng, lại còn than khóc, hơn nữa lại còn vỗ về nuôi dưỡng con côi của Mã Tắc, cho hưởng ân huệ như khi Mã Tắc còn sống”.
Cứ theo sử liệu mà xét, Mã Tắc đã bị chém chết, bởi thế Tham quân Tưởng Uyển đứng hàng đầu phủ Tể tướng từng xin cho Mã Tắc rằng: “Thời xưa, sở Thành Vương bởi trách cứ sự chiến bại, đã giết cả đại tướng của mình, kẻ địch của nước Sở là Tấn Văn Công nghe tin, rất đỗi cao hứng, xem ra tâm lý của Tấn Văn Công như vậy là có thể hiểu được, khi thiên hạ chưa ổn định, sát hại một viên tướng có trí tuệ và mưu lược, há chẳng phải là điều rất đáng tiếc ư?”.
Gia Cát Lượng đáp rằng: “Tôn Vũ có thể chế định được thiên hạ là do biết dùng pháp luật nghiêm minh vậy, nay bốn biển chia lìa chính là lúc, dựa vào chiến tranh để giải quyết vấn đề, nếu pháp luật trong quân không được thi hành, thì làm sao thảo phạt giặc dã hữu hiệu?”.
Từ đấy có thể thấy Mã Tắc bị xử phạt để làm nghiêm quân pháp.
Mã Tắc ở trong ngục, từng dâng thư lên Gia Cát Lượng bầy tỏ: “Minh Công xem Mã Tắc tôi như con, Mã Tắc cũng xem Minh Công như cha, hy vọng Minh Công phát huy tinh thần vua Thuấn giết Cổn mà đề bạt Đại Vũ, để quan hệ bình sinh giữa chúng ta, chẳng phải vì việc này mà đứt đoạn, tôi tuy có chết xuống hoàng tuyền cũng không oán hận vậy”.
Mã Tắc biết tội mình rất nặng, chẳng thể thoát chết chỉ hy vọng Gia Cát Lượng chẳng nên giận đến cả gia tộc, mà vẫn có thể trọng dụng người nhà họ Mã.
Bùi Tùng Chi khí chú giải Tam quốc chí có dẫn ghi chép trong “Tương Dương ký”. Mã Tắc bị giết, quân dân Thục Hán cảm thương cho một tài hoa, không thể không bi thương rơi lệ. Đối với việc này không thể không dùng đại hình, tin rằng Gia Cát Lượng đã rất đỗi thương tâm vậy.
Đúng như La Quán Trung tác giả cuốn Tam quốc diễn nghĩa đã miêu tả, Gia Cát Lượng thương khóc Mã Tắc, một mặt cố nhiên là nhớ đến tài hoa của Mã Tắc và quan hệ tình cảm giữa hai người, song một mặt cũng là hành vi tự trách nghiêm khắc. Lưu Bị trước lúc lâm chung, còn đặc biệt căn dặn, Mã Tắc nói quá sự thực chẳng thể ủy thác cho việc lớn, Gia Cát Lượng lại đặc biệt đề bạt Mã Tắc, một lúc thiếu suy nghĩ sâu xa mà dẫn đến gây nhầm lẫn lớn, đích xác làm thương tổn mong mỏi của Tiên đế, bởi thế mà hối hận không thôi.
Tiểu thuyết và sân khấu sau này đưa tình tiết gạt lệ chém Mã Tắc, đã miêu tả Gia Cát Lượng ở đây với quá trình vật lộn tâm lý tự trách mình.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Binh pháp Tôn Tử trong thiên “Quân bình” giải thích rõ “trước thì không thể thắng, bởi đợi địch mà có thể thắnglấy đó làm phép tắc cơ bản tác chiến.
Phàm là tướng lĩnh giỏi tác chiến, trước nên cần an toàn, làm tốt việc chuẩn bị mọi mặt, khiến kẻ địch chẳng thể lợi dụng được khe hở.
Về cơ hội thắng lợi khá nên xem xét kỹ mà không thể khiên cưỡng cần thắng. Khi hai quân đối đầu, thắng lợi thường chẳng phải tự mình cầu được, mà là phải chờ đợi, khi kẻ địch vừa phát sinh sai lầm thì phải nắm ngay lấy mới chế định được cơ hội tốt nhất.
Trong hành động bắc phạt lần thứ nhất, kế hoạch của Gia Cát Lượng, đích xác là khá cẩn thận mà chu đáo. Bầy trận ở Dương Bình Quan, đồng thời lại lo kế hoạch ở chiến tuyến phía tây, đã làm được rất khéo léo, nếu như thuận lợi đoạt được cả Tân Thành hoặc như chỉ mong cầu lần này chiếm được Lương Châu, tiền đồ của quân Thục Hán ắt sẽ sáng hơn.
Đáng tiếc ở cửa ải quan trọng lại phạm một sai lầm, tuy chẳng phải nói là trách nhiệm của Gia Cát Lượng, song nắm không đủ thực lực và chưa gặp thời vận là nguyên nhân chủ yếu. Nhân vật Mạnh Đạt và Mã Tắc đều có nhiều dị nghị, cũng là nói tính ổn định của họ rõ ràng không đủ. Gia Cát Lượng lại chọn họ là nhân vật chính, tự nhiên sẽ gặp phải phiền phức lớn.
Thời Minh Trị Thiên Hoàng lựa chọn viên Tư lệnh giỏi nhất cho đội thuyền liên hợp của Nhật Bản, không chọn Nãi Mộc Hy Điểm đang nổi tiếng lúc đó mà lại chọn Đông Hương An Đại Lang thiếu kinh nghiêm tác chiến, chủ yếu bởi thời vận của Đông Hương rất tốt, con đường công danh đang thuận chiều mà vận mệnh của Nãi Mộc nhiều ngang trái, thường rơi vào khổ chiến, về thực tế không nên ủy thác việc quan trọng.
Quả nhiên trong chiến tranh Nga - Nhật khi đại chiến trên biển có tính quyết định, thực tế thời vận của Đông Hương rất tốt. Trước tình hình cơ hồ là đáy biển mò kim, ông ta lại thuận lợi tìm ra được đội thuyền viễn chinh của nước Nga, lại còn phát động đột kích thành công, lấy đông người mà khiến cho đội thuyền của người Nqa bị hoàn toàn tan rã, quyết định then chốt sự thắng bại của chiến tranh Nhật - Nga.
“Thiên Quân hìnhcũng nói rõ “sự hiểu biết để đoạt thắng lợi không vượt được số đông, thực chẳng phải khéo vậy”. Tức là nói nếu chỉ có thể lấy phương thức người khác đều nghĩ được để đoạt được thắng lợi, dứt khoát chẳng phải là phương thức tác chiến sáng suốt. Phương pháp quá giản đơn, nếu mình nghĩ được, kẻ địch đương nhiên cũng nghĩ được, tướng lĩnh thiết kế kế hoạch như vậy, tuyệt đối chẳng có thể được gọi là tướng tài.
Không ít nhà sử học, thường cho rằng Ngụy Diên từ đường Tý Ngọ mà đánh thẳng đến Trường An là chiến thuật tích cực, dũng mãnh hơn, mà phê bình Gia Cát Lượng quá cẩn thận dẫn đến chỗ không hiểu được lẽ ứng biến ở chiến trường, thực ra như vậy là rất không công bằng. Trận tuyến Tào Ngụy dứt khoát chẳng phải là yếu kém, những quan chỉ huy như Tào Chân, Tư Mã Ý, Trương Cáp, Quách Hoài đều rất đỗi ưu tú, nếu Ngụy Diên thực sự phát động chiến thuật đó, cơ hội giành được thắng lợi là rất ít, sách lược như vậy về căn bản không được gọi là sáng suốt.
Trái lại, Gia Cát Lượng giương đông kích tây, lấy Lương Châu làm mục tiêu chiến thuật cuộc bắc phạt thứ nhất, là điều mà mọi người nói chung nghĩ không đến vậy.
 
0
Chương XXV
NGẦM QUA TRẤN THƯƠNG
 
Tào Chân xem xét kỹ địa hình, phán đoán Gia Cát Lượng đã không có lợi thế ở Kỳ Sơn, cuộc bắc chinh lần sau nhất định sẽ chọn Trần Thương làm mục tiêu tấn công.
Bởi thế đặc biệt bố trí danh tướng Hác Chiên chí dũng song toàn, trung thành với chức phận, phụ trách việc cố thủ ở thành Trần Thương.


1. Kiểm thảo sai lầm, lại cùng xuất phát.
Năm Kiến Hưng thứ 5 khi bắc phạt lần thứ nhất, năm đó sinh con trai cả của ông là Gia Cát Chiêm, Gia Cát Lượng kết hôn rất sớm, gần về già mới có con, thực cũng là điều đáng tiếc. Sự kiện này cũng cho thấy thời gian đó sức khoẻ của Gia Cát Lượng vẫn khá tốt.
Mùa xuân năm sau, chiến dịch Nhai Đình thất bại, kết thúc hành động quân sự bắc phạt lần thứ nhất. Năm đó Trưởng sử Trương Duệ thuộc phái Trưởng lão từ trần, Tham quân Tưởng Uyển thuộc phái Thiếu tráng lại thân tín với Gia Cát Lượng được bổ nhiệm thay thế lại được phong làm Phủ quân tướng quân. Nói cách khác Gia Cát Lượng dần dần đã nắm chắc được xu hướng ở triều chính.
Tưởng Uyển quả nhiên có thể thực thi mọi kế sách của Gia Cát Lượng, xử lý việc triều chính lấy yên dân làm gốc, khiêm nhường giản dị, bài trừ lãng phí nhằm đủ quân đủ lương. Gia Cát Lượng mỗi lần cùng với những người thân tín xung quanh nói về Tưởng Uyển, không khỏi khen rằng: “Tưởng Uyển có chí lớn lại trung thành, cùng với ta dựng được vương nghiệp vậy”.
Không ít người cho rằng chủ yếu thất bại Nhai Đình là tội lỗi của Mã Tắc, song Cơ Cốc đối trận với quân Lũng Tây một dạo đã hàng phục, hiển nhiên là quân Thục đã có đủ lực lượng để đối đầu với Tào Ngụy; Bởi thế đề nghị, nên tổ chức nhiều binh lực, để lại đánh chiếm Lương Châu.
Gia Cát Lượng lại không tán thành.
Quân ta khi ở Kỳ Sơn và Cơ Cốc, thanh thế và thực lực một mảy may cũng không kém Tào Ngụy, song ở cửa ải quan trọng lại bị đại bại, vấn đề không ở tướng sĩ tác chiến, mà là ta làm thống soái lại dùng người không xứng đáng, chỉ huy nhầm lẫn mới đến như vậy! Bởi thế người phải kiểm thảo chính là ta. Từ nay về sau, ta quyết định tinh giảm binh lực, thưởng phạt nghiêm minh, triệt để cải thiện nhược điểm của quyết sách, đổi mới sách lược đưa ra, nếu không quân có nhiều cũng chẳng dùng được. Từ nay về sau, phàm là người trung với quốc gia, càng phải gắng gỏi phát hiện nhược điểm của ta, chẳng nên khách khí để đưa ra đề nghị, mọi người đồng tâm hiệp lực, kẻ địch sẽ rất mau chóng bị tiêu diệt, thắng lợi không lâu nữa sẽ thuộc về chúng ta.
Những lời nói này là “khuyên tướng sĩ cần chỉ bảo cho khuyết điểm của mình” nổi tiếng, chính là chứng cớ hiển nhiên Gia Cát Lượng đã khiêm nhường với mọi người, tiếp thu rộng rãi ý kiến quần chúng.
Từ đó có thể thấy cuộc bắc phạt lần thứ nhất thất bại, vẫn chưa lay chuyển được quyết tâm khôi phục nhà Hán của Gia Cát Lượng, trái lại vẫn tiếp tục được chuẩn bị. Đối với Gia Cát Lượng mà nói, điều rất quan trọng là sách lược lần sau. Từ thực tế tiến công Lương Châu là chẳng thể được, tiếp đến ắt phải nghĩ ra một con đường mà kẻ địch chẳng thể dự liệu đến, điều này đối với Gia Cát Lượng chính là khó khăn rất lớn.
Thế rồi ông ta một mặt động viên người có công, vỗ về gia quyến những tướng sĩ tử trận, một mặt tại luyện binh sĩ, chỉnh đốn quân ngũ, để chuẩn bị lại xuất phát lần nữa.


2. Đông chiến tuyến xảy ra đại chiến, Lục Tốn tìm cách phá Tào Chân.
Gia Cát Lượng sau khi rút về Hán Trung không lâu, giữa Tào Ngụy và Đông Ngô, lại phát sinh một sự cố rất lớn.
Vào tháng 5 năm Kiến Hưng thứ 6, Ngô Vương Tôn Quyền để giải trừ sự uy hiếp lớn ở chiến tuyến phía đông, quyết tâm đột kích vào đội quân vũ trang của Thái thú Tào Hưu ở Dương Châu.
Tào Hưu tên chữ là Văn Liệt, là cháu của Tào Tháo lúc hơn 10 tuổi, tập hợp mấy chục hương dũng, đến Tiều huyện hưởng ứng việc Tào Tháo cử binh đánh Đổng Trác, Tào Tháo thấy thế rất vui mừng thường nói: “Đấy là ngựa thiên lý của nhà ta vậy”. Xem như con, lại từng để ông ta chỉ huy đội cận vệ của Tào Tháo gọi là “Hổ báo kỵ”, có biểu hiện rất xuất sắc, trong chiến dịch Hán Trung, Tào Hưu lại có lần lập kỷ lục đánh bại được danh tướng Thục Hán là Trương Phi, nên rất nổi danh. Tào Phi sau khi xưng đế, bổ nhiệm làm lĩnh tướng quân, lại phong làm Đông Dương Đình Hầu. Sau khi Hạ Hầu Đôn mất, Tào Hưu được làm Trấn nam tướng quân trở thành quan lớn cao nhất về hành chính phòng vệ kinh thành. Tôn Quyền sai tướng lĩnh mang quân đến đóng ở Lịch Dương, dự tính uy hiếp sự phòng thủ của Tào Ngụy ở đông chiến tuyến, Tào Hưu tự mình dẫn quân đánh phá, không lâu trong trận Đông Phổ, đã phá được đại quân của Lã Phạm là danh tướng Đông Ngô, được phong làm Dương Châu mục, phụ trách phòng thủ ở chiến tuyến thứ nhất ở chiến trường phía đông.
Tào Tuấn lên ngôi, Tào Hưu lại đánh bại được đạo quân của đại tướng Đông Ngô là Thẩm Đức đóng đồn ở Vu Hoàn (tỉnh An Huy) các tướng Đông Ngô như Hàm Tống, Địch Đan đều rối rít xin hàng. Tào Hưu bởi có quân công được thăng làm Đại tư mã, vẫn giữ chức Dương Châu mục.
Bởi Tào Hưu thanh thế mau chóng bành trướng, việc phòng thủ ở đông chiến tuyến của Đông Ngô gặp phải áp lực chưa từng có, phòng tuyến mà Lã Mông và Chu Thái xây dựng nên cơ hồ hoàn toàn tan rã, khiến Tôn Quyền lấy làm đau đầu không thôi.
Thuận theo khí thế Tào Hưu đang mạnh, Tôn Quyền ngầm chỉ thị cho Thái thú Bà Dương là Chu Phường giả vờ đầu hàng, dẫn dụ quân Tào Hưu đánh Ngô, sau đó sẽ chặn đánh, để thực hiện kế hoạch này, Tôn Quyền tự mình đến Hoàn quận trông nom việc quân, điều Lục Tốn đang làm Tổng tư lệnh chiên tuyến phía tây sang làm Đại đô đốc ở chiến tuyến phía đông chỉ huy hành động quân sự lần này, lại lấy Chu Hoàn, Toàn Tông làm Tả hữu đô đốc, mỗi người chỉ huy một đạo quân 3 vạn người tùy thời chuẩn bị tập kích Tào Hưu khi tiến vào Hoàn quận.
Bởi tất cả đều thuận lợi, mà Tào Hưu có chỗ cao ngạo, tự nhiên hoàn toàn tin rằng Chu Phường đầu hàng, ông ta lập tức dẫn 10 vạn bộ kỵ binh hỗn hợp, kéo xuống vùng Hoàn quận ở phía nam tiếp ứng cho Chu Phường, dự tính sẽ vượt sông, tập kích vào đại bản doanh của Đông Ngô là kinh thành Kiến Nghiệp.
Tào Tuấn nhận được báo cáo, sợ Tào Hưu vào sâu vùng địch, có chỗ sơ hở, đặc biệt phái Tư Mã Ý đang chỉ huy quân Kinh, Dự, tiến quân đến Giang Lăng để tiếp ứng, lại phái Giả Quì đánh vào trận địa Nhu Tu khẩu ở Đông Quan, ba đường cùng tiến, để giảm nhẹ áp lực cho Tào Hưu.
Tào Hưu sau khi đến Hoàn quận, không thấy Chu Phường tiếp ứng lại không ngừng bị Chu Hoàn và Toàn Tông đột kích biết ngay rằng đã trúng kế. Nhưng ông ta cho rằng mình có binh lực hơn hẳn, nếu bởi thế mà rút binh chẳng khác gì khiếp đảm, bèn quyết tâm cùng với quân Ngô tiến hành một trận quyết chiến.
Chu Hoàn đề nghị với Tôn Quyền, mai phục ở Giáp Thạch, Quải Xa, tập kích Tào Hưu, nếu thừa thắng sẽ đuổi dài lên phía bắc, đến lấy Thọ Xuân, trực tiếp uy hiếp Tào Ngụy ở Hứa Đô và Lạc Dương. Tôn Quyền trao đổi với Lục Tốn, Lục Tốn cho rằng rất mạo hiểm, Tôn Quyền khéo léo từ chối đề nghị của Chu Hoàn.
Cũng có nhà sử học cho rằng, Lục Tốn sợ Chu Hoàn lập được công lớn, cướp lấy ngôi đầu bảng, mới cố ý phản đối, nếu không kế hoạch của Chu Hoàn đã có thể thi hành được.
Song Lục Tốn vốn là người khí chất, không đến nỗi như thế, việc này cũng giống như Gia Cát Lượng và Ngụy Diên chọn đường bắc phạt: Một người muốn đánh thẳng vào doanh lũy, dần dần sẽ đánh lâu dài, còn một người thì gắng cầu an toàn, chủ trương đánh ngắn ở những nơi có thể.
Do bản doanh chính của Tào Ngụy như Lạc Dương, Hứa Đô, Nghiệp Thành, đều ở đông về chiến tuyến phía đông như Tào Hưu, Tư Mã Ý, Giả Quì, Mãn Sủng đều được chọn kỹ là tuấn kiệt đương thời, về mưu trí và thao lược, hơn hẳn các tướng ở chiến tuyến phía tây như Tào Chân, Trương Cáp, Quách Hoài, và Hác Chiêu, chiến thuật táo bạo của Chu Hoàn, thực ra là rất khó thi hành thông suốt, đối với Lục Tốn sự phản đối chính là ở đấy.
Thượng thư Tưởng Tế dâng thư lên Tào Tuấn nói: “Tào Hưu vào sâu vùng địch, đối đầu với tinh binh của Tôn Quyền, Lục Tốn bị đại quân của Chu Nhiệm đuổi theo phía sau, xem ra hình thế khá bất lợi, nên mau chóng có chuẩn bị”.
Tiền tướng quân Mãn sủng cũng dâng biểu nói rõ: ‘‘Tào Hưu tuy khéo dùng binh, song ông ta vẫn chuyên chiến thuật kỵ binh ở đồng nội, nay mang thân đên đất Hoàn lắm sông ngòi hồ đầm, dễ tiến mà khó rút, nếu càng vào sâu thì càng khó khăn hơn. Bởi thế phải phòng ngự hữu hiệu”.
Không lâu Tào Hưu và Lục Tốn giao chiến ở vùng Thạch Đình, Lục Tốn tự mình ở trung lộ chỉ huy giao chiến chính sự, lệnh cho Chu Hoàn, Toàn Tông từ hai cánh trái phải tập kích vào quân Tào Hưu. Đạo quân hỗn hợp bộ kỵ binh của Tào Hưu, thực tế không chuyên tác chiến ở sông hồ, bởi thế mà bị đánh đại bại, phải rút về vùng Giáp Thạch, số tử thương đến hơn một vạn người, vài vạn cỗ xe bò ngựa đều bị bắt, quân trang khí giới cơ hồ hoàn toàn bị mất cả.
Khi đạo quân của Giả Quì tiến đánh Nhu Tu Khẩu, phát hiện quân giữ không nhiều, lại cậy hiểm mà không ra đánh, bèn phán đoán Đông Ngô nhất định tập kết ở đất Hoàn, Tào Hưu nếu vào sâu như thế, ắt bị đánh bại. Bởi thế mau chóng đến chi viện, chưa đến nơi thì được tin Tào Hưu đã bị đánh bại ỏ Thạch Đình, trước mắt đang rút về Giáp Khẩu.
Các tướng lĩnh của Giả Quì cho rằng đại thế đã mất, nên mau chóng rút quân, để tránh bị tập kích. Song Giả Quì cứng cỏi nói rằng: “Tào Hưu binh bại ở vùng địch, đường rút có thể bị ngăn cản, rõ ràng tiến không thể thắng, rút chẳng thể hết khốn khổ. Quân Đông Ngô ắt toàn lực nghĩ đến tiêu diệt chúng ta, chẳng thể đến động tĩnh xung quanh. Lúc này, chúng ta càng phải mau chóng đến chi viện, nhân lúc xuất kỳ bất ý, chính là chiến thuật “đến trước đoạt lấy tâm tư”. Nếu như sợ việc, Tào tướng quân có thể sẽ bị toàn quân tan rã”.
Giả Quì lập tức đuổi đến Giáp Thạch, lại dùng nhiều cờ trống để làm nghi binh, quân Đông Ngô quả nhiên không dám tiến gấp, bại quân của Tào Hưu mới bởi thế mà thoát hiểm rút về phương bắc được.
Tào Hưu và Giả Quì vẫn không hoà thuận với nhau, hai người rất ít nói chuyện, song trong nguy cơ lớn lần này, Giả Quì lại kịp thời cứu được Tào Hưu cùng đạo quân của ông ta.
Tào Tuấn đối với việc đại bại nghiêm trọng lần này, còn chưa chỉ trích, song Tào Hưu tự mình lấy làm xấu hổ lỗi lầm, không lâu bị lên nhọt hậu bối, không chữa mà qua đời. Tào Tuấn lấy Mãn Sủng làm Lương Châu mục, trông coi đạo quân Tào Hưu.
Để bổ sung binh lực tan rã của đông chiến tuyên, sắp xếp lại đội quân Tào Hưu để lại, Tào Tuấn phải điều về không ít quân lính từ Quan Trung, bởi thế khiến tây chiến tuyến xuất hiện lỗ hổng phòng ngự lớn.
Sau khi tiếp được tin tình báo như thế, Gia Cát Lượng cho rằng cơ hội lại đến rồi.


3. Hậu “Xuất Sư Biểu” và câu đố thật giả.
Gia Cát Lượng vào tháng 8 phái nhiều nhân viên tình báo, tăng cường chú ý sự tranh giành giữa Tào Hưu và Lục Tốn. Không lâu Tào Hưu bại trận, phẫn uất mà chết, Gia Cát Lượng lại biết cơ hội đến, hạ lệnh tích cực chuẩn bị công việc bắc phạt. Quả nhiên lập tức truyền đến tin tức Mãn Sủng đã thay chân Tào Hưu, điều động số lớn binh lực từ Quan Trung đến bố trí tại đông chiến tuyến.
Tháng 11 Gia Cát Lượng điều động số lớn binh lực ở các nơi, nhằm bao vây trọng điểm quân sự Trần Thương (hiện nay thuộc huyện Bảo Kê - tỉnh Thiểm Tây). Nghe nói trước cuộc xuất binh lần này, Gia Cát Lượng lại một lần nữa dâng lên Hậu chủ bản Xuất Sư Biểu, người đời sau gọi là hậu Xuất Sư Biểu.
Nhưng bản hậu Xuất Sư Biểu này, không thấy ở chính sử Tam quốc chí. Bùi Tùng Chi có dẫn “Hán Tấn Xuân Thu” cho rằng, tờ biểu này đã thấy rất sớm trong “Mặc ký” của Trương Nghiêm, bởi thế mà rất nhiều người cho rằng bản Xuất Sư Biểu dứt khoát chẳng thể do Gia Cát Lượng viết, mà là người khác mượn danh viết ra. Song vấn đề là rốt cuộc ai là người làm việc này? Tư Mã Quang là tác giả cuốn “Tư trị thông giám” cho rằng, cách nói “cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi” trong tờ biểu sau này, rất tượng trưng cho tinh thần Gia Cát Lượng trung trinh chẳng đổi đến chết không rời, bởi thế mà đối chiếu toàn văn, ngay đến Hồ Tam Tỉnh chú giải “Tư trị thông giám”, khi khảo cứu cũng chưa từng hoài nghi, mà khẳng định là tác phẩm của Gia Cát Lượng. Song cách nhìn nhận như vậy, ít nhiều là sau đời Tống Nguyên, thiên kiến của những phần tử tri thức lấy trung thành làm chính.
Để so sánh cụ thể với tiền Xuất Sư Biểu về văn thể, nội dung, khẩu khí, nhằm làm rõ thật giả, xin đặc biệt ghi lại toàn văn như sau:
“Tiên đế nghĩ Hán tặc không thể tranh ngôi, vương nghiệp không thể rời đổi, nên uỷ thác cho thần thảo phạt giặc dã.
Bởi Tiên đế sáng suốt chiếu cố tài mọn của hạ thần vẫn biết rằng thần thảo phạt là lấy kém cỏi đối địch với kẻ mạnh mẽ; song rõ ràng nếu không thảo phạt vương nghiệp sẽ mất; chỉ ngồi mà đợi mất, chín rồi mới thảo phạt, là điều mà thần chẳng nghĩ đến vậy.
Khi thần nhận lệnh, ngủ không yên giấc, ăn không thấy ngon, chỉ nghĩ đến bắc chinh, nên trước phải xuống phương nam, tháng 5 vượt sông Lô, vào sâu xứ không cây, lo lắng từng ngày. Thần chẳng phải không tự tiếc, chỉ lo vương nghiệp không định yên ỏ Thục Đô, cho nên mạo hiểm trước khó khăn để phụng mệnh Tiên đế, mà chẳng kể đến những lời bàn vào bàn ra. Nay quân giặc đang mệt mỏi ở phía tây, lại lo phòng thủ phía đông, theo binh pháp phải chớp lấy cơ hội mà tranh thủ thời gian tiến gấp. Xin trình bày rõ sự việc như sau:
“Hoàng đế tổ tông sáng như nhật nguyệt, mưu thần uyên thâm, vượt qua chỗ hiểm mà sáng tạo, trước nguy mà sau yên. Nay Bệ hạ chưa được như Hán Cao tổ, mưu thần không được như Trương Lương, Trần Bình, mà muốn lấy kế lâu dài giành thắng lợi, ngồi định thiên hạ, thì thần chưa hiểu điều thứ một vậy.
Lưu Diên, Vương Lãng chiếm cứ các châu quận, kê sách bàn luận vỗ yên, dẫn đủ những lời thánh nhân, mọi người đều thấy khó mà ngần ngừ, năm nay không đánh, sang năm cũng không đánh, đế Tôn Quyền ngày mỗi lớn ở Giang Đông thì thần không hiểu nổi điều thứ hai.
Tào Tháo mưu trí hơn người dùng binh phảng phất như Tôn Ngô mà còn khốn ở Nam Dương, nguy ở Ô Sào... sau mới tạm ổn định, huống chi tài kém, mà muốn không qua nguy hiểm để định là điều mà thần không hiểu thứ ba.
Tào Tháo năm lần đánh Xương Bá không xong, bốn lần vượt Sào Hồ chẳng nổi, dùng Lý Phục mà Lý Phục lại mưu toan, uỷ nhiệm Hạ Hầu mà Hạ Hầu bại vong. Tiên đế là xứng được với Tào Tháo về tài năng mà còn có sơ xuất, huống chi như thần hèn kém sao có thể chắc thắng, đấy là điều mà thần không thể hiểu thứ tư.
Kể từ lúc thần đến Hán Trung chỉ trong vòng một năm, đã thấy mất Triệu Vân, Dương Quần, Mã Ngọc, Diêm Chi, Đinh Lập, Bạch Thọ, Lưu Cáp, Đặng Đồng, chỉ kể những người thuộc hạ đã mất đến hơn 70 người, còn nếu kể đến những người như Tám kỵ, Vỹ kỵ, Đột tướng, Tân tẩu... cũng mất hơn 1000 người, những người ấy đều là tình anh em bốn phương gộp lại trong vài chục năm, chẳng phải một châu mà có được, nếu như gộp mấy năm, thì tổn thất đến 2 phần 3, lấy gì để đối địch? Đấy là điều thần chưa hiểu thứ năm.
Nay dân cùng binh mệt mà sự chẳng thể nghĩ, chỉ nhọc nhằn với những sự tiêu phí, mà không kịp mưu toan bây giờ, muốn lấy đất một châu mà cầm giữ lâu dài trước kẻ địch, thì là điều mà thần chưa hiểu được thứ sáu.
Phàm việc khó làm là việc phải làm vậy, xưa kia Tiên đế thua ở đất Sở, đương lúc ấy Tào Tháo lại ra tay, tưởng rằng định được thiên hạ. Sau này Tiên đế đông từ liên minh với Ngô Việt, tây thì lấy Ba Thục, lại cử bắc chinh, Hạ Hầu bại trận đến như Tào Tháo cũng thất thủ mà nghiệp nhà Hán trưởng thành vậy. Sau này nữa, Đông Ngô phản bội, Quan Vũ thất thủ, Tỉ Qui vấp ngã, Tào Phi xưng đế. Phàm những việc như thế, khó có thể chẳng rõ. Thần cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi, nói đến sự thành bại rõ ràng, là điều mà thần không lúc nào không nghĩ đến”.
Phong cách của hậu Xuất Sư Biểu về văn thể và ngôn ngữ, đích xác có sai khác với tiền Xuất Sư Biểu, hai bản xem ra tựa hồ chẳng phải cùng một cây bút viết ra. Có thể có người cho rằng bởi vì Xuất Sư Biểu sau này là do Gia Cát Lượng nói miệng mà thư ký khác viết lại. Song về nội dung hậu Xuất Sư Biểu, cũng có chỗ khiến người ta nghi ngờ. Trước hết, Tam quốc chí của Trần Thọ và Chiêu Minh văn tuyển của Tiêu Thông đều có ghi lại bản hậu Xuất Sư Biểu. Hiển nhiên là tác phẩm của Gia Cát Lượng, họ chưa từng có ghi chép về hậu Xuất Sư Biểu, có thể về căn bản không biết có bản viết này, văn thể tiền Xuất Sư Biểu giản dị, nội dung tràn đầy tự tin, song lời lẽ hậu Xuất Sư Biểu cho thấy sự do dự, trong ngôn từ thấy đầy những không khí thất bại, một chút cũng không giống khẩu khí chính thức của một biểu văn dâng lên hoàng đế cần có. Trước sau chỉ có một năm, tâm trạng của Gia Cát Lượng chẳng thể có chuyển biến rất lớn như thế. Có thể có người cho rằng Nhai Đình thất thủ đối với Gia Cát Lượng là một đòn đánh rất lớn, song thấy rằng khi ông ta mới rút quân không lâu, có nói rằng khuyên tướng sĩ gắng bảo ban cho khuyết điểm của mình, vẫn đầy khí thế cuốn đất mà đi, vì sao không đến một năm đã ngã không dậy được? Huống chi sau một năm nghĩ ngợi lẽ ra càng hưng phấn ý khí mới đúng, chẳng thể căn bản lại trầm lắng xuống. Cân nhắc kỹ lưỡng, đích xác hậu Xuất Sư Biểu không giống với văn bút của Gia Cát Lượng vậy.
Lại khiến người ta hoài nghi là về nội dung cũng sai lạc không ít; nhất là chép sai thời gian Triệu Vân từ trần. Triệu Vân là lão tướng hàng đầu của Thục Hán, ông ta còn sống hay chết, Gia Cát Lượng phải rất rõ mới đúng. Theo sử liệu ghi chép, Triệu Vân mất vào năm Kiến Hưng thứ 7, mà hậu Xuất Sư Biểu hoàn thành vào năm Kiến Hưng thứ 6 lại đề cập đến việc Triệu Vân mất là rất không hợp lý. Thân làm Thừa tướng với một tướng lĩnh còn sống nói là đã chết, khá chẳng phải là chuyện rất đáng cười ư? Trái lại vào tháng 11, Lang Lăng Hầu Vương Lãng của Tào Ngụy từ trần trong hậu Xuất Sư Biểu lại đề cập ông ta đương sống, sự sai lầm nghiêm trọng về nội dung như vậy lẽ ra không nên có. Tác giả Liễu Xuân Phan ở Đại Lục, cứ theo khảo cứu mà phán đoán, cho rằng bản hậu Xuất Sư Biểu này là do người cháu của Gia Cát Lượng viết ra, đó là đại tướng quân Gia Cát Khác ở Đông Ngô, là con trai Gia Cát Cẩn. Gia Cát Khác cá tính mãnh liệt, nói quá sự thực, có tài hoa của cha và chú, lại không khoát đạt bằng cha và chú, mà lại ham công danh quyền lực. Ôngta sau khi nắm quân quyền ở nước Ngô, từng nhiều năm bắc chinh phạt Ngụy, vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các đại thần và tướng lĩnh Đông Ngô, bởi thế đã đặc biệt viết ra “Chinh Ngụy luận” để phản bác những tướng lĩnh không tán thành bắc phạt, thiên nghị luận này về văn thể và nội dung cực kỳ giống với hậu Xuất Sư Biểu, đích xác có khả năng Gia Cát Khác đã mượn danh người chú Gia Cát Lượng nổi tiếng đương thòi viết ra bản hậu Xuất Sư Biểu này, để cùng với bản “Chinh Ngụy luận”, tạo ra sự giúp đỡ hữu hiệu cho chủ trương bắc phạt của ông ta.
Gia Cát Khác cá tính mãnh liệt, thích làm những lời văn bi tráng, trong hậu Xuất Sư Biểu có nói đến việc chẳng thể làm mà vẫn làm, cúc cung tận tụy, đến chết mới thôi, đích xác là có khả năng cùng một ngòi bút viết ra. Lại thêm bản văn này, lần đầu thấy do Trương Nghiễm người Đông Ngô sưu tầm được, cách nói của Liễu Xuân Phan như vậy là có thể hợp lý. Nhìn chung đại bộ phận các nhà sử học tin rằng, hậu Xuất Sư Biểu chẳng phải tự tay Gia Cát Lượng viết mà là một sáng tác của người sau.


4. Hác Chiêu cố giừ thành, Trần Thương thực khó đánh.
Trần Thương là đất binh gia phải tranh giành từ cổ đến giờ. Năm xưa Hàn Tín đánh vào Quan Trung thành công, chính là đã “nói sửa sàn đạo, ngầm qua Trần Thương” chính là ở đây. Nằm trong vùng Tần Lĩnh, duy nhất có thể dẫn đại quân đi qua chỉ có một con đường cái này. Lại thêm địa hình che lấp rất hiểm trở, khi ngầm qua không dễ bị phát hiện: Một đặc điểm ở đấy là bề ngang của Trần Thương rất bé, không chứa được quá nhiều quân, ở ngoài thành đường núi gập ghềnh trắc trở, chẳng thể đóng trại, nên tuy trọng yếu như thế, quân giữ lại không thể nhiều, chỉ có thể khi tình huống khẩn cấp phái một đạo quân đến đó chi viện, về điểm này sự tiến công là có lợi. Song Trần Thương địa thế lại hiểm yếu, dễ giữ mà khó đánh, ví như có số ít quân lực, cũng có thể ngăn cản được số quân lính tấn công gấp mấy lần.
Trần Thương thuộc sự cai quản của quân khu Quan Trung, thuộc phạm vi của Đại tướng quân Tào Ngụy là Tào Chân chỉ huy.
Tào Chân tên chữ là Tử Đan, là tướng lĩnh rất ưu tú thế hệ thứ hai của họ Tào. Phụ thân của Tào Chân là Tào Thiện, từng theo Tào Tháo khởi nghĩa chống Đổng Trác, bị chết tại trận, bởi thế Tào Tháo đối với người con côi rất là thương yêu, xem như ruột thịt, Tào Chân được sự chỉ bảo ân cần của Tào Tháo mà trưởng thành dần.
Tào Chân sau khi trưởng thành, rất thích săn bắn, có một lần theo Tào Tháo đi săn, đang lúc gặp phải mãnh hổ xông tới, mọi người đều chạy tứ tán, chỉ có Tào Chân đứng lại, lấy cung tên bắn chuẩn xác, hổ già rống lên rồi ngã lăn, mọi người đều tán thưởng. Tào Tháo rất thích sự dũng mãnh ấy, bèn để ông ta thay Tào Thuần, với Tào Hưu cùng chỉ huy đội quân “hổ báo kỵ”.
Sau này Tào Chân luôn lập được công, khi Hạ Hầu Uyên tử trận ở Hán Trung, tinh thần quân Tào xuống rất thấp, Tào Tháo rất lo lắng. Tào Chân tình nguyện làm chinh phục hộ quân, cùng với Từ Hoảng luôn mấy lần đánh bại được quân Lưu Bị, ổn định tinh thần trận tuyến quân Tào. Tào Phi sau khi xưng đế, lại lấy Tào Chân làm Trấn tây tướng quân, trông nom việc quân ỏ hai châu Ung, Lương, lại phong là Ung Lương hầu. Năm Hoàng Sơ thứ 3, đề bạt làm Thượng quân đại tướng quân, giữ mọi việc quân trong ngoài, từng mấy lần đánh bại quân bắc chinh của Đông Ngô, lại được phong Trung quân đại tướng quân.
Tào Phi khi lâm chung, cho vời Tào Chân cùng Trần Quần, Tư Mã Ý giao cho phụ tá việc nước, lại lấy Tào Chân làm đại thần phụ tá lớn nhất.
Tào Chân không những dũng mãnh lại giầu nghị lực, khí chất lớn, lại thường thăm hỏi người khác. Mỗi lần chinh chiến đểu cùng với tướng sĩ chịu đựng gian khổ, khi phần thưởng chẳng đủ thường lấy tài sản của mình phụ thêm, bỏi thế rất được lòng quân sĩ. Vì vậy quân lính đều muốn cống hiến hết mình.
Khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ nhất, Tào Chân dốc đại quân bao vây chặn ở Cơ Cốc, với đại tướng hàng đầu Triệu Vân đối trận. Tào Chân kinh nghiệm tác chiến không bằng Triệu Vân, song Triệu Vân cũng chẳng chiếm được gì, sau cùng lại bị truy bức mà phải rút quân.
Ba quận Lũng Tây trước đó phản lại Tào Ngụy, Tào Tuấn phái Tào Chân đến đó vỗ yên, tướng sĩ Lương Châu thấy Tào Chân đến, không phản ứng gì mà lập tức quay lại, khá thấy tiếng tăm của Tào Chân trong quân phát huy được tác dụng rất lớn.
Tào Chân sau khi xem xét kỹ địa hình, phán đoán Gia Cát Lượng ra Kỳ Sơn là bất lợi, nếu lần sau lại bắc phạt, nhất định sẽ chọn Trần Thương làm mục tiêu tấn công, bởi thế đặc biệt sắp xếp danh tướng Hác Chiêu trí dũng song toàn, trung thành với chức phận, trông coi việc cố thủ thành Trần Thương. Gia Cát Lượng vẫn lấy Ngụy Diên làm tư lệnh tiền quân, dùng mấy vạn binh lính bao vây Trần Thương. Thành Trần Thương lợi dụng vách núi làm tường thành mà xây dựng nên, vũ khí đánh thành nói chung với hiệu lực đến như thế nào, Ngụy Diên mấy lần đánh vào thành không thắng phải rút.
Gia Cát Lượng lấy cứng không được đành phải dùng mềm. Bởi quân giữ Trần Thương chỉ có 2,3 nghìn người, mà quân lính đánh của Ngụy Diên có đến 2,3 vạn người. Quân viện binh của Tào Chân từ Tràng An đến, ít ra phải 20 ngày mới đến nơi được. Gia Cát Lượng bèn phái người bạn đồng hương của Hác Chiêu là Cận Tường đến khuyên hàng, Hác Chiêu lại đáp rằng: “Tôi chịu ơn nước và được Tào tướng quân trọng dụng chỉ có chết mà thôi”, dứt khoát cự tuyệt.
Gia Cát Lượng chẳng nài nép được, đành dùng xe thang mây, mưu toan quyết vượt thành mà lên. Thang mây là loại thang vượt thành rất dài, bên ngoài có bọc da trâu, da trâu này lại được tẩm dầu, kiên cố khác thường, đao tên đều không làm gì được.
Thang mây nói chung đặt trên xe xung phong nên được gọi là xe thang mây, xung phong là chiến xa lớn do ngựa kéo, trước xe có một cột sắt lớn, là công cụ phá cửa thành.
Đương khi Ngụy Diên lấy thang mây tấn công mạnh mẽ, Hác Chiêu cũng chẳng phải là cây đèn cạn dầu, ông ta sớm biết thang mây này gắn với xe trâu, đao tên không thấu, song lại tẩm dầu đốt, cho nên đặc biệt sợ lửa, thế rồi lệnh cho thuộc hạ từ trên tường thành bắn ra rất nhiêu tên lửa và lăn xuống những quả cầu lửa, xe thang mây phút chốc bị thiêu hủy rất nhiều. Hác Chiêu lại chuẩn bị đá buộc thừng từ trên thành quăng xuống, không lâu xe xung phong hoàn toàn bị phá cả.
Bởi thành Trần Thương rất cao, cung tên nói chung bắn không tới, Gia Cát Lượng bèn thiết kế những cái giàn cao trăm thước, để binh sĩ lên đó dùng tên bắn vào quân phòng vệ ở trong thành. Hác Chiêu lệnh cho binh sĩ náu sau ụ đỡ, chỉ cần quân Thục không đánh gần tường thành thảy đều không đối kháng, Gia Cát Lượng đã lãng phí vài vạn mũi tên lại chẳng làm gì được. Gia Cát Lượng lại lệnh cho vừa bắn tên, vừa lấy đất lấp ngòi, chuẩn bị dữ dội đánh phá tường thành, Hác Chiêu lại lệnh cho trong thành củng cố tường lũy vững chắc, khiến cho đại quân Thục Hán một chút biện pháp cũng không có. Gia Cát Lượng lại hạ lệnh từ ngoài thành đào đường hầm vào trong, Hác Chiêu cũng hạ lệnh đào hào ngang ở trong thành, ngăn cản địa đạo tiến vào bên trong, khiến cho công trình địa đạo động viên đến vài vạn binh lính, cũng chẳng phát huy được công hiệu phá thành chút nào.
Trận chiên tấn công và phòng thủ như vậy, liên tục kéo dài, bởi Hác Chiêu sớm đã tiếp thu lệnh của Tào Chân, vốn có sự chuẩn bị chu đáo. Bởi thế bất luận Gia Cát Lượng có trí tuệ đến đâu, Ngụy Diên có dũng khí đến thế nào đều chẳng mảy may làm gì được ông ta.
Trái lại, Gia Cát Lượng lần này từ hành dinh Hán Trung trực tiếp ra quân ải, tiến đánh Trần Thương, quân đội chưa sắp xếp lại và bổ sung, bởi thế lương thực chuẩn bị về căn bản là không đủ. Cứ theo đánh giá Gia Cát Lượng, binh lực phòng thủ Trần Thương không quá vài nghìn người, nếu như dùng chiến thuật đột kích thì cần dăm ba ngày là có thể phá được. Chỉ cần chiếm được Trần Thương, sau đó tăng cường phòng thủ phía bắc, rồi sẽ bổ sung lương thực cũng chẳng xem là muộn. Nếu không việc sắp xếp và bổ sung cho tiền tuyến gác lại khá lâu, ắt sẽ tiết lộ quân cơ, đến lúc đó sẽ khó phát huy được công hiệu đột kích bất ngờ.
Chẳng ngờ Tào Chân sớm đã chuẩn bị, lại thêm Hác Chiêu anh dũng vô cùng, vài vạn quân của Gia Cát Lượng phải tạm thời bó tay không có cách gì, lại bởi số quân quá đông, lương thực tiêu hao mỗi ngày rất lớn, mới có khoảng 20 ngày, lương thực khí giới bổ sung trước mắt đã thiếu thốn nghiêm trọng.
Lại thêm tin tình báo địch hậu cho thấy Tào Chân đã phái đạo quân Phí Diện, cùng đi với đạo quân của Trương Cáp do Tào Tuấn trực tiếp chỉ huy sẽ mau chóng đến Trần Thương. Xem xét kỹ tình hình lực lượng ta và địch, Gia Cát Lượng tạm thời rút quân về Thành Đô. Lúc này đội quân tiên phong của Phí Diện do Vương Song dẫn đầu đã đến ngoài thành Trần Thương, nghe nói Gia Cát Lượng rút quân, Vương Song cậy mình dũng mãnh cự tuyệt sự khuyên can nài nỉ của Hác Chiêu, cứ dẫn quân đuổi theo. Gia Cát Lượng sớm đã hạ lệnh cho Ngụy Diên chặn hậu, mai phục ở Tán Quan, Vương Song không xem xét kỹ dẫn toàn quân rơi vào vòng mai phục. Ngụy Diên hô một tiếng, bốn bên mai phục xông lên, chém chết Vương Song tại trận.
Vương Song là mãnh tướng người Hồ, thân dài 9 thước ta, sức địch vạn người, vẫn là đại tướng tiên phong của Tào Chân rất tin cậy, chẳng ngờ lại bị chết giữa lúc cơ hồ đã toàn thắng ở chiến trường này.
Chém chết Vương Song, đó là thu hoạch duy nhất đáng kể trong cuộc bắc phạt lần thứ hai của Gia Cát Lượng.
Song hành động bắc phạt lần này, quy mô không lớn, ngoài bộ tham mưu Gia Cát Lượng cũng đến tiền tuyến, thực sự động dụng đội quân mà Ngụy Diên vẫn chỉ huy, khắp quân đoàn chưa có sắp xếp lại, nghiêm chỉnh mà nói chỉ có thể kể là hành động tiếp tục lần bắc phạt thứ nhất. Bởi thế không ít nhà sử học không cho rằng đấy là hành động bắc phạt lần thứ hai.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Trong “Thiên chiến uycủa Úy Lạo Tử, có nói đến nguyên tắc cơ bản tác chiến cầu thắng, đặc biệt nhấn mạnh đến tính quan trọng của tinh thần binh sĩ.
“Người khéo dùng binh, chiếm đoạt được người ta mà không để bị chiếm đoạt, muốn đoạt được then chốt là ở tinh thần vậy. Nói cách khác, người khéo dùng binh, phải hiểu được tinh thần binh sĩ đánh địch, mà không bị kẻ địch mài mòn tinh thần binh sĩ của mình, về tinh thần binh sĩ của kẻ địch, phải khéo vận dụng 5 điều nhận thức sau:
1.    Thu thập tình báo, nghiên cứu phân tích kỹ lưỡng, để đưa ra chiến lược tốt nhất.
2.    Khi thống soái giao nhiệm vụ tác chiến phải cụ thể, chẳng thể sơ lược, khiến tâm chí toàn quân có thể tập trung vào một hành động mà thôi.
3.    Kế hoạch tấn công phải chu đáo, chuẩn bị phải hoàn chỉnh, chớ mang tâm lý cầu may.
4.    Thi hành phòng ngự, ắt phải nghĩ đến trước, chưa thể thắng mà đợi địch thì có thể thắng, đại bản doanh chẳng thể để kẻ địch lợi dụng sơ hở, như vậy kẻ địch mạnh thế nào cũng bó tay chẳng có sách gì.
5.    Vận dụng chiến thuật tại chỗ phải hoạt bát, thưởng phạt phân minh, lại phải triệt để thực hiện công bằng.
Phải đạt được 5 điều ấy, trước hết hiểu đầy đủ tình hình kẻ địch, căn cứ vào đấy mà lựa chọn hành động, việc đại sự, quân sự quốc gia, kế sách phải căn cứ vào sự thực khách quan để phân tích, chẳng có thể chủ quan phán đoán hoặc dự đoán sai lạc. Chuẩn bị đầy đủ binh sĩ ắt sẽ dũng cảm chiến đấu, tinh thần binh sĩ ắt sẽ nâng cao. Chuẩn bị nhầm lẫn, tinh thần binh sĩ ắt sẽ mai một, sẽ khó thoát khỏi vận mệnh thất bại.
Hành động bắc phạt lần thứ hai của Gia Cát Lượng tuy là lợi dụng lúc chiến bại của Tào Hưu, quân Tào sắp xếp hỗn loạn mà có hành động đột kích; song về tình báo, hiển nhiên thu thập không đầy đủ hoàn thiện, dẫn đến sai lầm sách lược tác chiến toàn thể một cách nghiêm trọng, chẳng những không thể giành được thắng lợi đột kích, hơn nữa sai lầm còn dẫn đến chỗ nguy hiểm cùng đường. Lại quan sát về phía Tào Ngụy, bởi Tào Chân sớm đã dự liệu lần sau sẽ có tấn công vào Trần Thương, bởi thế mà khiến Hác Chiêu giữ thành phải làm việc chuẩn bị chu đáo, khiến cho Gia Cát Lượng có binh lực gấp 10 lần, bị bức đến chỗ không gặt hái được gì mà phải rút lui.
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.10.2013 09:31:06 bởi hoi_ls>
Chương XXVI
TRÂU GỖ NGỰA MÁY
 
Trâu gỗ ngựa máy là nhằm đối với nước Thục không đủ sức ngựa, vùng núi Tần Lĩnh nhiều đường sàn đạo, vận chuyển lương thực rất không thuận tiện, do đó Gia Cát Lượng đã chỉ đạo thợ cả Phổ Nguyên thiết kế ra.


1. Lần thứ ba khởi binh, sách lược là bám rễ.
Liên tục hai lần không được gì mà phải rút quân, Gia Cát Lượng nung nấu quyết tâm, kiểm điểm toàn bộ những được mất về chiến lược và chiến thuật mà mình đã vận dụng vừa qua.
Hiển nhiên hai lần trước đều là chiến thuật đột kích, đánh thẳng vào vị trí quân sự quan trọng của địch. Lần thứ nhất tuy giành được thành công khá lớn, nhưng do thâm nhập quá vào đất địch, đường tiếp vận không ổn định, sau chiến bại ở Nhai Đình, bởi lo bị cắt mất tuyến sau, không thể không vội vã rút quân.
Lần thứ hai bởi về tình báo lúc đầu phán đoán đã có nhầm lẫn, mà chẳng thể phát huy hữu hiệu chiến thuật đánh tập kích.
Thất bại cả hai lần, đều do vội vã cầu thắng.
Sau khi triệt để kiểm điểm, Gia Cát Lượng quyết định thi hành phương pháp thực tiễn, trước tiên xây dựng lũy đầu cần tấn công, lại thu thập tin báo về trung tâm ở đó, rút ngắn chiến tuyến, khiến cho việc tiếp cận không đến nỗi khó khăn, sau khi thấu hiểu địch tình, sẽ có kế hoạch tiến thêm một bước, nói cách khác Gia Cát Lượng có ý lựa chọn sách lược trường kỳ tác chiến.
Hai lần trước đều bắt đầu từ phía quân địch có biến động lớn, một lần là Tào Phi mới mất, lần khác là Tào Hưu vừa thua, nhưng người kế thừa là Ngụy chủ Tào Tuấn lại có biểu hiện xuất sắc, về chính trị thì đối phương chẳng thể thừa cơ, hiện tại chỉ có thể dựa vào nỗ lực tích lũy lực lượng của mình dần dần.
Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 7, Gia Cát Lượng phát động cuộc bắc phạt lần thứ ba, lần này hoàn toàn chọn lựa sách lược sâu rễ bề gốc chỉ cần giành được thành công nhỏ cũng được.
Mục tiêu tiến công là Vũ Đô và Âm Bình phía nam Kỳ Sơn, hai địa phương này đều sát biên giới Ngụy - Thục, tuy là vị trí quân sự quan trọng, là địa phương của người thiểu số cách xa đầu não Lương Châu, ví như có bị đánh chiếm, đối với chính quyền Tào Ngụy mà nói chỉ là bệnh nhỏ ngoài da mà thôi, nên không đến nỗi có phản ứng rất lớn. Hành động bắc phạt lần này, nghiêm chỉnh mà nói, chỉ có thể kể là một trò... chơi nhỏ trong canh bạc lớn mà thôi.
Song để chấn hưng tinh thần binh sĩ quân Thục sau hai lần thất bại, Gia Cát Lượng vẫn quyết định dốc toàn lực thực hiện. Tác giả “Tam quốc diễn nghĩa” đã khoa trương chiến công lần này, miêu tả Gia Cát Lượng chẳng những tự mình vây hãm Trần Thương, nạt chết Hác Chiêu, mà còn địa chiến ở Âm Bình với Tư Mã Ý và Trương Cáp, thu được thắng lợi rất lớn.
Đây hiển nhiên là tình tiết hư cấu của nhà viết tiểu thuyết. Trần Thương cách Âm Bình, Vũ Đô vài trăm dặm đồng thời xử lý cục diện chiến trường ở hai bên. Huống chi, cứ theo sử liệu ghi chép, Gia Cát Lượng chưa đánh đến Trần Thương và chiến sự năm Kiến Hưng thứ 7, chẳng cần nói đến Tư Mã Ý đang ở tận phía đông, đến như Trương Cáp ở tây chiến tuyến, cũng chưa từng đến vùng đó. Gia Cát Lượng huy động đội quân bắc phạt rất ít. Ví như hổ tướng Ngụy Diên thường làm tiên phong, thời gian này cũng ở Hán Trung, sắp xếp và bổ sung đội quân của ông ta, cũng chưa lao vào cuộc chiến này.
Đạo quân bắc chinh được huy động lần này cũng giống như cuộc bắc phạt lần thứ hai, ước chừng chỉ có hơn hai vạn binh lính. Đợt thứ nhất, do tướng quân Trần Thức dẫn đầu (có sách gọi là Trần Thành) từ Vũ Hưng xuất phát, trực tiếp đánh quận Vũ Đô và Âm Bình.
Đợt thứ hai, Gia Cát Lượng tự mình dẫn hơn một vạn quân chủ lực, ngầm tiến về phía tây, chuẩn bị tiếp ứng cho Trần Thức. Hai quận Vũ Đô và Âm Bình (nay thuộc tỉnh Cam Túc), lúc đó đều thuộc Ung Châu cai quản, bởi thế Thái thú Ung Châu là Quách Hoài tự mình dẫn quân đến chuẩn bị tập kích đội tiên phong của Trần Thức.
Quách Hoài tên chữ là Bá Tế, người Thái Nguyên. Trong chiến dịch Hán Trung làm tham mưu trưởng đạo quân Hạ Hầu Uyên, trước trận đánh ở Thiên Đãng Sơn, Quách Hoài đang bị bệnh nặng nên không tham dự. Hạ Hầu Uyên tử trận, quân Tào rơi vào sự nguy cấp, Quách Hoài gượng bệnh đứng ra thuyết phục tướng lĩnh trong quân, cùng ủng hộ lập Trương Cáp tạm thời làm Tổng tư lệnh, ổn định tình thế quân Tào, cũng ngăn cản hữu hiệu cuộc tấn công của Lưu Bị. Bởi thế rất được Tào Tháo mến mộ, phong làm quan nội hầu, lại đề bạt làm Trấn tây trưởng sử.
Trong chiến dịch Nhai Đình, Quách Hoài đánh chiếm Liễu Thành, ngăn cản đường rút của Gia Cát Lượng, bức quân Thục không thể không khẩn cấp rút lui toàn thể, Quách Hoài nhờ công lao ấy mà được đề bạt làm Uyên Châu thứ sử.
Từ đó có thể thấy, Quách Hoài là viên tướng trí dũng song toàn cũng không dễ đối phó. Bởi thế bố trí đợt hai của Gia Cát Lượng là ẩn dấu thực lực đạo quân chủ lực; hành động ngấm ngầm, là đã có sự dụng tâm của ông ta. Quả nhiên Quách Hoài chưa phát hiện được quân sĩ chủ lực của Gia Cát Lượng, chỉ đem toàn lực đón đánh cuộc tấn công của quân Trần Thức, hai bên mấy lần giao tranh ở quận Vũ Đô. Đang lúc quân lính của Quách Hoài dần dần nắm được ưu thế, quân chủ lực của Gia Cát Lượng lại đột nhiên xuất hiện ở quận Kiến Uy phía tây bắc Vũ Đô có khả năng lại ra Kỳ Sơn đánh Tây huyện và Nhai Đình. Quách Hoài nghe tin cả kinh, chẳng có thời gian suy nghĩ kỹ lưỡng, bèn hạ lệnh vứt bỏ Vũ Đô, Âm Bình vội vã rút về Nhai Đình, bố trí lại phòng tuyến. Gia Cát Lượng với hành động đột kích lần này, không đánh mà nạt được đạo quân của Quách Hoài. Gia Cát Lượng để quân Trần Thức đóng ở đấy, sau khi vỗ về đầy đủ đối với các tộc Đê, Khương, lại thu quân rút về Hán Trung, tiến hành công việc huấn luyện quân đội. Từ đó Vũ Đô và Âm Bình chính thức sát nhập vào bản đồ của chính quyền Thục Hán, cùng sự cai quản chung.


2. Triệu Vân từ giã cõi đời, Gia Cát Lượng được phục chức.
Dựa vào sự thành công về chiến thuật này, Hậu chủ Lưu Thiện lập tức hạ chiếu, khôi phục chức Thừa tướng cho Gia Cát Lượng. Nội dung chiếu thư như sau:
“Chiến dịch Nhai Đình thất bại, thực ra lỗi ở Mã Tắc, tướng công lại tự nhận lỗi mà từ chức, tự xin giáng xuống làm Hữu tướng quân, bởi không muốn trái ý tướng công tự trách để biểu hiện rõ đại nghĩa của pháp luật, trẫm đã miễn cưỡng đồng ý.
Song năm trước, tướng công lại làm vinh dự quân Hán chúng ta, chém chết danh tướng nước Ngụy là Vương Song. Cuộc viễn chinh lần này, lại bức rút đại quân của Quách Hoài, hàng phục được các tộc Đê, Khương, thu phục hai quận Âm Bình, Vũ Đô, uy danh vang động, công trạng hiển hách; nay thiên hạ nhiễu nhương chưa định, kẻ tội lỗi đầu sỏ là Tào Ngụy còn chưa bị trừng trị, tướng công chịu trách nhiệm phục quốc, là cột trụ quan trọng nhất của triều đình ta, lại đã lâu ngày ở địa vị ủy khuất, thực tế chẳng phải là hiện tượng tốt biểu dương tinh thần quân ta trung thành yêu nước. Bởi thế hiện tại phải khôi phục chức Thừa tướng cho tướng công, xin chớ chối từ”.
Chiếu thư này việc tự nhiên đầu tiên là đã trưng cầu sự đồng ý của Gia Cát Lượng, bởi thế tiếp được chiếu thư không lâu, cũng là vào tháng 2 cùng năm, Gia Cát Lượng xây dựng phủ Thừa tướng ở Nam Sơn (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), cùng xây dựng doanh trại thành lũy ở Hán Thành và Lạc Thành (đều ở tỉnh Thiểm Tây), hoàn toàn làm xong sự chuẩn bị tác chiến lâu dài.
Không may cùng lúc ấy, lão tướng Triệu Vân đứng hàng đầu của Thục Hán, người bạn lâu dài dựng sự nghiệp cùng Gia Cát Lượng ngã bệnh từ trần. Đối với Gia Cát Lượng và Hậu chủ Lưu Thiện mà nói, đấy là tin xấu lớn khiến người người rất đau xót. Triệu Vân ở chiến trường vẫn dũng mãnh, có thể hưởng thọ đến 72 tuổi, cũng xem là quý hiếm.
Song trong số các đại thần nguyên lão của Lưu Bị, Triệu Vân rất ủng hộ Gia Cát Lượng, hơn nữa ông ta còn lo cho toàn đại cục, yêu mến thuộc hạ, chiêu cố nhân dân, sinh hoạt cần kiệm, lại không để lãng phí quân trang, là tấm gương cho các lão tướng.
Người bạn già cùng là đồng sự 23 năm với nhau, lại có khí chất cao quý đã từ trần, tự nhiên khiến Gia Cát Lượng rất lấy làm thương cảm.
Đối với Hậu chủ Lưu Thiện mà nói, Triệu Vân càng là đại ân nhân, trước sau hai lần một mình cứu chúa, lòng trung thành khiến người ta mãi tưởng nhớ. Ba mươi hai năm sau, Lưu Thiện khi truy tôn cho các tướng lĩnh nguyên lão thời đại Lưu Bị như Quan Vũ, Trương Phi, Mã Siêu, Bàng Thống, Hoàng Trung, cũng đặc biệt truy tôn cho Triệu Vân.
Theo đề nghị của Khương Duy, đánh giá sự nghiệp Triệu Vân như sau:
“Tướng quân xưa kia từ đầu đã theo Tiên đế, trải nhiều nhọc nhằn, sửa sang thiên hạ, tuân thủ phép tắc, công tích đáng ghi vào sách vở. Trận Đương Dương, nghĩa như vàng đá, tận trung với chúa, vua nhớ ban thưởng; chữ lễ đầy đặn, làm kẻ bầy tôi quên mình; dẫu biết phải chết, cũng không từ nan làm việc ra ơn, chẳng nghĩ đến mình. Nay đặt tên Thụy, ân huệ ấy rằng Thuận, làm việc thuận ngôi thứ ấy rằng Bình, trị loạn lạc ấy rằng bình, nên đặt tên Thụy là Thuận - Bình - hầu”.
Sắc phong Thụy nhấn mạnh Triệu Vân là người hiền tài vỗ về dân tình yêu mến trăm họ. Hiện nay trong đền thờ Vũ Hầu ở Thành Đô, đặc biệt thấy Triệu Vân được tạc tượng như một văn thần đầu tóc bạc trắng hiền từ, chất phác, nghĩ rằng đấy là biểu hiện cụ thể phong thái nho tướng mà ông ta vẫn có.


3. Tôn Quyền vội vàng xưng đế, điều chỉnh quan hệ Thục Ngô.
Mùa hạ cùng năm, tình hình chính trị phương đông phát sinh biến động rất lớn.
Sau khi đánh bại đại quân của Tào Hưu, quan hệ Đông Ngô và Tào Ngụy hoàn toàn xấu đi, Tôn Quyền chẳng chịu yên, cũng vội vã xưng làm Hoàng đế, ông ta đổi năm hiệu là Hoàng Long, truy tôn cho người cha là Tôn Kiên, làm Vũ liệt Hoàng đế, người anh cả Tôn Sách làm Trưởng Hoàn Vương, phong con trai Tôn Đăng làm Hoàng thái tử, lại lấy Gia Cát Khác là con Gia Cát Cẩn làm Tá phụ thái tử, Trương Hưu làm Hữu bật, lại lấy Kiến Nghiệp (nay là Nam Kinh) làm Kinh Đô, quốc hiệu vẫn gọi là Ngô, lịch sử gọi Tôn Quyền là Ngô Đại đế.
Tôn Quyền phái sứ giả đến Thành Đô yết kiến Lưu Thiện yêu cầu từ nay về sau hai nước lấy danh nghĩa hoàng đế bình đẳng mà quan hệ. Các văn vũ đại thần triều đình Thục Hán đều râm ran nghị luận, phần lớn cho rằng Tôn Quyền xưng đế, không nghi ngờ gì phủ nhận địa vị chính thống của chính quyền Thục Hán kế thừa vương triều nhà Hán, tuyệt đối chẳng thể thừa nhận, lại chủ trương lập tức cắt đứt quan hệ với Đông Ngô, có người thậm chí còn yêu cầu xuất chinh thảo phạt nữa.
Đại thần Tưởng Uyển, phái thực tiễn đương nhiên tô vẽ thêm kịch liệt, bởi như vậy chẳng những làm suy yếu lực lượng thảo phạt Tào Ngụy, mà còn hai đầu gặp địch, có thể nguy hiểm cho sự ổn định của vương triều Thục Hán.
Bởi thế cho rằng nên mời Gia Cát Lượng đang huấn luyện quân sự ở Hán Trung về triều để quyết đoán rõ ràng.
Tôn Quyền xưng đế, đối với Gia Cát Lượng vẫn “giữ quan điểm chính thống” với lập trường của phái “Thanh Lưu”, đấy là sự khiêu chiến nghiêm trọng, sau khi suy nghĩ kỹ, bèn phái sứ giả dâng thư lên Lưu Thiện nói rõ:
“Tôn Quyền sớm đã có dã tâm thoán nghịch, chúng ta vẫn chẳng kể đến, lại còn giúp đỡ họ mà tạo ra thế ỷ giốc. Nếu hiện nay chúng ta công khai cự tuyệt họ, đoạn tuyệt liên minh ắt sẽ dẫn đến sự nhìn nhận thù địch cũng sẽ bức chúng ta phải dẫn quân đánh Ngô, với họ liều mình một trận, chỉ có sau khi thôn tính được lãnh thổ Đông Ngô, mới có đủ lực lượng tiến binh bắc phạt Trung Nguyên vậy.
Song Tôn Quyển có thủ hạ hiền tài rất nhiều, văn võ đại thần đều hoà thuận với nhau, chẳng phải một sớm một tối có thể bình định được. Nếu cứ kéo dài nhì nhằng ở đấy ắt chỉ có lợi cho Tào Ngụy, đấy chẳng phải là thượng sách.
Hiến Văn đế lấy lời lẽ khiêm nhường mà đối phó với Hung Nô, Tiên đế cũng chủ trương hoà hiếu với Đông Ngô, đấy đều là đạo lý quyền biến, suy nghĩ xa xôi, xét đến đại kế sách quốc gia lâu dài mà chẳng phải sự phẫn nộ nhất thời của kẻ thất phu vậy.
Cũng có người cho rằng Tôn Quyền lấy ba chân đỉnh lớn làm mục tiêu sẽ không cùng với chúng ta nỗ lực bắc phạt Tào Ngụy, huống chi họ đã mãn nguyện, sẽ chẳng dự tính vượt sông đánh Tào Ngụy nữa. Cách nói như vậy, đều là lẫn lộn phải trái, vì sao vậy?
Tôn Quyền thực ra là có thừa tâm niệm mà không đủ sức lực, cho nên chỉ nghĩ hạn chế ở Trường Giang mà tự bảo vệ. Tôn Quyền chẳng có thể vượt quá Trường Giang cũng như Tào Ngụy chưa có thể vượt qua sông Hán Thủy, đều chẳng phải là có thừa lực lượng mà thấy lợi không tranh giành.
Nếu chúng ta dẫn đại quân bắc phạt, lại bảo với họ nếu thành công sẽ cùng chia lãnh thổ Tào Ngụy, cùng cai quản quân dân, tôi nghĩ Tôn Quyền dứt khoát sẽ chẳng ngồi yên. Còn ví như ông ta bất động, chỉ cần hai bên vẫn giữ thái độ hữu hảo, để khi chúng ta bắc phạt không phải lo nghĩ đến phía đông, khiến cho đại quân của Tào Ngụy đang ở Hoàng Hà không dám tập kết hoàn toàn về phía tây, như vậy đối với chúng ta đã là sự dễ chịu rất lớn. Bởi thế với Tôn Quyền mắc tội dám xưng đế, nghĩ rằng cũng không nên công khai tỏ thái độ ngay”.
Gia Cát Lượng chẳng những thừa nhận sự thực đã có này, lại chỉ lấy lợi ích thực tế quốc gia trước mắt để tập trung suy nghĩ, ông kiên trì mục tiêu chiến lược của mình là tập trung đánh vào kẻ địch hàng đầu là Tào Ngụy, đối với nước Ngô “chẳng phải là địch mà là đồng chí” chọn lấy nguyên tắc thông biến, mới là người có trí tuệ sáng suốt. Bởi thế phát biểu giải thích công khai để thuyết phục những đại thần triều đình Thục Hán đang có bất đồng đứng về phía mình.
Gia Cát Lượng lại phái Vệ uý Trần Chấn làm sứ giả đến Kiến Nghiệp chúc mừng Tôn Quyền xưng bá.
Hai bên cùng bàn bạc, ước định sẽ cuối cùng là chia đôi lãnh thổ Tào Ngụy, các châu phía tây sẽ thuộc Thục Hán, các châu phía đông sẽ thuộc nước Ngô, cùng biểu thị rõ: “Một lòng diệt giặc, cùng thảo phạt Tào Ngụy; nếu có kẻ làm hại Thục Hán sẽ đánh các nơi biên giới, không xâm phạm lẫn nhau”.
Nghiễm nhiên đó là bản hiệp ước hữu hảo an toàn thời cổ đại. Quan hệ Thục Hán và Đông Ngô, bởi thế mà duy trì, phát triển ổn định lâu dài.


4. Làm yếu thế lực quân Ngụy, ổn định cơ sở quốc phòng.
Gia Cát Lượng khi công khai đàm thoại sự kiện Tôn Quyền xưng đế có nhắc đến “Tôn Quyền không đủ sức vượt Trường Giang, cũng như Tào Ngụy không đủ sức vượt Hán Thủy” thì mùa xuân năm sau, lại gặp phải sự khiêu chiến mới.
Tháng 6 năm Kiến Hưng thứ 6, Tào Chân kế tục Tào Hưu làm đại tư mã, đề nghị với Tào Tuấn chủ động đánh Thục Hán, để giải quyết vấn đề phòng thủ phía tây.
Sự sắp xếp đạo quân nam chinh lần này rất lớn, đối với Thục Hán đích xác là sự khiêu chiến chưa từng có:
-    Tổng tư lệnh quân trung lộ: Tào Chân
Kế hoạch là từ Tà Cốc: vượt qua Cơ Cốc tiến vào Hán Trung, sau lại đổi từ Tràng An qua đường Tý Ngọ đánh thẳng vào Hán Trung.
-    Tư lệnh quân đông lộ: Tư Mã Ý
Ngược sông Hán Thủy mà lên, từ Tây Thành tiến vào đất Thục, hội quân với Tào Chân.
-    Tư lệnh quân tây lộ: Quách Hoài từ Kỳ Sơn tiến xuống phía nam, đánh các quận Vũ Đô và Kiến Uy.
Tào Chân nói với Tào Tuấn: Người Hán mấy lần vào đất giặc, đều từ Tà Cốc mà tiến đánh, cùng với mấy đạo chư tướng tiến công có thể thắng được. Tào Chân có ý dùng chiến thuật biển người dốc toàn lực tiến đánh Thục Hán, một lần có thể triệt để đánh bại, bởi thế phải động viên binh lực rất lớn. Số người ở đạo quân Tào Chân vượt quá 5 vạn, Tư Mã Ý cũng có 3, 4 vạn, quân Quách Hoài do các đạo quân nhỏ của các tướng lĩnh hợp thành số người cũng có 1, 2 vạn người.
Đây cũng là lần đầu tiên Tư Mã Ý tham dự chiến sự với Thục Hán, Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý sau này là những địch thủ lão luyện ở chiến trường phía bắc, lần đầu chính thức giao chiến ở đây.
Song Hán Trung và Ích Châu đều là vùng địa thế hiểm yếu nổi tiếng, Gia Cát Lượng về mặt phòng thủ, đã có chú ý và lợi thế, huống chi Gia Cát Lượng vẫn ở tiền tuyến Hán Trung, Thục Hán vẫn ở trạng thái chuẩn bị chiến đấu, cho nên quân địch kéo đến tuy nhiều, song áp lực tâm lý của Gia Cát Lượng lại không đáng kể.
Kế hoạch tác chiến của Gia Cát Lượng khá đơn giản, ấy là binh đến thì ngăn, nước đến thì dùng đất mà lấp. Binh lực của Thục Hán ít hơn lại không thiếu đại tướng độc lập tác chiến, lại thêm cậy hiểm mà giữ, đánh ngay ở đất mình, có ưu thế địa lợi và nhân hoà.
Ông ta tự mình dẫn quân lính chủ lực, đóng đồn ở Lạc Thành phía đông khu thành cũ, để ngăn cản Tào Chân từ đường Tý Ngọ tiến vào Hán Trung, lại ngăn cản Tư Mã Ý hợp quân với Tào Chân.
Đồng thời ông ta hạ lệnh cho Lý Nghiêm từ Giang Châu dẫn 2 vạn binh mã đến Hán Trung chi viện, lại phong con trai của Lý Nghiêm là Lý Phong làm Đô đốc Giang Châu, thay thế việc trấn thủ Giang Châu của cha mình, cẩn thận đề phòng động tĩnh của Đông Ngô. Giữ nghiêm trận địa đã hơn một tháng, lại chẳng thấy một con chuột hoặc một con kiến càng nào, rốt cuộc đại quân Tào Ngụy đi đâu nhỉ?
Gia Cát Lượng hằng ngày đều phái nhiều tình báo, thu thập tình hình quân địch, đều chưa phát hiện quân Tào vượt núi mà đến.
Tào Chân trong tháng 6 đã đến Tràng An, đầu tiên là đợi quân Trương Cáp kéo đến, ông ta lệnh cho Trương Cáp theo đường Tà Cốc tấn công, còn mình thì theo đường Tý Ngọ mà tiến nhất định sẽ hợp quân ở Nam Trịnh.
Đại quân Tào Chân vào tháng 3 bắt đầu xuất phát, mới tiến vào vùng núi Tý Ngọ thì gặp phải mưa rào kéo dài liên tục hơn 30 ngày, bị mắc ở trong khe núi đối mặt với sương mù dày đặc không thấy đường mà đi. Lại thêm đường sàn đạo mới xây dựng bị nước lớn cuốn trôi, làm rồi lại hỏng, hỏng rồi lại làm, rốt cục là công trình lãng phí hơn một tháng trời, mấy vạn đại quân của Tào Chân phấn đấu với mưa to, lại thành ra anh hùng không có đất dụng võ.
Quân Trương Cáp cũng không hơn Tào Chân bao nhiêu, đường Tà Cốc địa hình hiểm trở, trời mưa nói chung chuyển động không được, lại mất liên hệ với Tào Chân.
Trương Cáp già dặn kinh nghiệm phán đoán trời mưa khó giao đấu, vội vã rút về Mi huyện đóng trại đợi cơ hội hành động. Tư Mã Ý từ phía đông ngược Hán Thủy mà lên, gặp phải nước lũ mùa mưa nói chung không tiến lên được, đành phải đóng mãi ở Dự Châu đợi thời tiết tốt hơn.
Đại thần triều đình Tào Ngụy phản đối hành động quân sự lần này là Trần Quần. Với vai trò đại thần phụ tá, ông ta can rằng, “năm xưa Thái Tổ từ Dương Bình tấn công Trương Lỗ, là nhân đang được mùa, thu hoạch xong, nhưng chưa đánh được Trương Lỗ, chúng ta đã bị thiếu lương thực vận chuyển đến. Nay chưa thu hoạch mùa màng đã xuất binh, vấn đề lương thực lại càng nghiêm trọng, hơn nữa Tà Cốc hiểm trở rất khó tiến thoái, việc vận chuyển rất hao phí thời gian nhân lực, chẳng thể không suy nghĩ kỹ vậy”.
Thái uý Hoa Hâm cũng lo nghĩ chuyện mưa lớn, không nên phát động chiến tranh, nhọc dân lại thương tổn binh lính, dứt khoát chẳng phải là đạo trị quốc. Thiếu phủ Dương Phụ cũng dâng biểu thưa rằng: “Mang đại quân vào vùng sơn khê khó khăn, tiến không được, thoái không được, chẳng phải đạo dùng binh cẩn thận vậy”.
Tán kỵ thường thị Vương Túc cũng đề nghị, thời tiết sắp tới chẳng thể tạnh ráo, kẻ địch lấy nhàn đợi mỏi, đấy là chỗ lo của binh gia vậy.
Tào Tuấn sau khi suy nghĩ cân nhắc, hạ lệnh cho Tào Chân rút quân về Tràng An.
Sau khi Tào Chân rút quân, Trương Cáp và Tư Mã Ý cũng đều rút quân về doanh trại của mình. Trái lại quân Quách Hoài ở phía tây triển khai thuận lợi hơn ông ta chia làm hai đường đánh Vũ Đô và Âm Bình, khiến quân Thục Hán phòng bị ở đấy đều phải đưa tin khẩn cấp xin chi viện.
Gia Cát Lượng xác định Tào Chân đợi rút quân, bèn lập tức lệnh cho Ngụy Diên và Ngô Ý tiến quân vào Tây Khương, quấy nhiễu hậu phương vận chuyển lương thực của Quách Hoài. Quách Hoài bất đắc dĩ phải rút quân về nghênh chiến, hai bên giao chiến ở Dương Cốc (phía nam Lũng Tây). Nguỵ Diên đánh bại quân Quách Hoài, chứng minh thực lực quốc phòng của Thục Hán là đáng kể.
Ngụy Diên và Ngô Ý đánh bại được Quách Hoài song bởi đại quân tiến sâu vào Lũng Tây, việc phòng vệ và bổ sung gặp rất nhiều khó khăn, không dám ở lâu, lại phải rút về phía nam quận Vũ Đô. Quách Hoài tuy bị đánh bại vẫn mau chóng giữ được phòng tuyến Kỳ Sơn.
Gia Cát Lượng xét chiếu công dâng biểu đề bạt Ngụy Diên làm Tiền quân sự, Trấn tây đại tướng quân, lại phong làm Nam Trịnh hầu. Ngô Ý làm tả tướng quân, Cao Dương Hương hầu.


5. Trâu gỗ, ngựa máy ra đời, bổ trợ vận chuyển lương thực
Bởi Tào Chân thế đang hùng hổ, Gia Cát Lượng không dám chủ quan, phải bắt đầu bầy ra tư thế trường kỳ kháng chiến, bởi thế việc chuẩn bị lương thực khá quan trọng.
Với mùa mưa gần hai tháng, đại quân Gia Cát Lượng đều ở trong núi, việc vận chuyển trở thành vấn đề nghiêm trọng. Để khắc phục khó khăn ấy, Gia Cát Lượng lần đầu sử dụng một loại công cụ vận chuyển gọi là trâu gỗ.
Đường sàn đạo ở đây là đặc điểm riêng của vùng Tần Lĩnh, đi lại rất khó khăn, phương tiện vận chuyển mới được thiết kế, trong hành động bắc phạt lần thứ 4 được vận dụng rộng rãi. Đợt bắc phạt lần đầu tiên đối trận với Tư Mã Ý ở gò Ngũ Trượng, dựa vào mấy khuyết điểm của trâu gỗ, cải tiến thêm trở thành ngựa máy vận chuyển nhiều và nhanh hơn.
Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, tô vẽ tính thần kỳ của trâu gỗ và ngựa máy giống như là “Trâu cơ khí và ngựa cơ khí” ngoại hình đều giống trâu, ngựa. Đến như thời hiện đại cũng chẳng có kỹ thuật này, huống chi là thời đại Tam quốc khoa học còn chưa phát triển? Tam quốc chí cũng khen ông ta “giỏi hiểu biết công nghệ, có sở trường phát minh và sáng tạo các loại công cụ, cũng tức là rất có đầu óc khoa học”, đương nhiên kỹ thuật thời hiện đại Tam quốc chẳng thể so sánh với khoa học hiện đại bây giờ.
Trung Quốc từ xưa đã có không ít người có sở trường phát minh các công cụ khoa học. Mặc Tử và Công Tôn Bàn thời Chiến quốc, nhờ phát minh đánh thành và công cụ phòng thủ mà nổi tiếng, nghe nói còn làm được con diều gỗ có thể bay được. Trương Hành thời nhà Hán đã có phát minh về dự trắc thời tiết và động đất truyền lại cho đời sau.
Tương truyền người vợ của Gia Cát Lượng là Hoàng phu nhân cũng là một cao thủ về mặt này, hai người rất tâm đầu ý hợp, tin rằng khí cụ trong nhà riêng ắt có không ít thiết kế tinh vi.
Nỏ liên châu là một vũ khí có sức sát thương rất mạnh, nghe nói là Gia Cát Lượng đã cải tiến loại nỏ đương thời, lại gọi là nỏ Nguyên nhung. Nỏ này là một loại binh khí lợi dụng lực cơ giới để bắn tên; gồm các bộ phận cánh cung, tay nỏ và máy nỏ. Phần kim loại để bắn tên ra lắp sau tay nỏ được gọi là máy nỏ, một lần có thể bắn ra được nhiều mũi tên bịt sắt nên nỏ ấy được gọi là nỏ liên châu. Nỏ đã được sử dụng ở thòi Chiến quốc, thời nhà Hán phải đối kháng với đội kỵ binh Hung Nô có hành động hoả tốc, thế rồi phát minh ra nỏ liên châu. Quân Tào Ngụy bởi Tào Tháo có truyền thống chuyên dùng kỵ binh, nhờ đánh kỵ binh mau chóng mà thành nổi tiếng, có thể Gia Cát Lượng phải đối phó với đội kỵ binh xung kích Tào Ngụy, đã tăng cường sức sát thương của mình, mới phát minh ra loại nỏ liên châu này. Căn cứ vào ghi chép của Bùi Tùng Chi, nỏ liên châu của Gia Cát Lượng, lấy sắt làm tên, tên dài 8 tấc, mỗi nỏ cùng bắn ra 10 tên, còn gọi là nỏ Thôi Sơn, uy lực rất mạnh mẽ, đương thời được coi là thứ binh khí hàng đầu. Trong chiến dịch bắc phạt lần thứ tư danh tướng Trương Cáp của nước Ngụy đã phải chết do mưa tên của nỏ liên châu này.
Năm 1964, nhà khảo cổ học đại lục ở vùng công xã Thái Bình thuộc Ti huyện gần Thành Đô đã khai quật được máy nỏ bằng đồng được chế tạo vào ngày 30 tháng 2 năm Cảnh Diệu thứ tư thời hậu chủ Lưu Thiện, tức là sau 27 năm Gia Cát Lượng từ trần, thuộc loại nỏ liên châu mà Gia Cát Lượng đã cải tiến.
Máy nỏ này, nếu dùng tay để keo dây cung thì không được, khi bắn ra phải dùng chân đạp, sau khi kéo máy, lẫy nỏ sẽ hạ xuống, khi dây cung bật ra, mũi tên sẽ bắn đi, do có bộ phận lấy chuẩn, nên rất trúng đích.
Bát trận đồ bao quát nhiều vấn đề, phần sau xin dành hẳn một chương để đề cập, ở đây không nói đên..
Thực ra, đáng kể nhất vẫn là chuyện trâu gỗ, ngựa máy. Đối với nước Thục bấy giờ bò ngựa không đủ, núi Tần Lĩnh nhiều đường sàn đạo, vận chuyển lương thực chỉ đạo thợ cả Phổ Nguyên thiết kế ra. Sử liệu có chép: trâu gỗ là loại xe một trục bốn chân, ngựa máy là loại xe hai trục, trục gắn liền với bánh xe, chân là cột gỗ để đỡ. Cũng tức là nói, trâu gỗ và ngựa máy chẳng phải là trâu hoặc ngựa cơ khí mà là loại xe có một bánh hoặc bốn bánh, Trương Chú người đời Thanh khi biên soạn cuốn “Gia Cát vũ hầu cố sự” có chép: “Trong nước Thục có một loại xe nhỏ, một người đẩy có thể tải đồ nặng 8 thạch, phía trước hình như đầu trâu; lại có một loại xe lớn, có thể dùng bốn người vận chuyển, chở được vài chục thạch, đại khái đấy là trâu gỗ, ngựa máy mà Gia Cát Lượng đã phát minh”.
Song căn cứ vào sử liệu ghi chép, thời Gia Cát Lượng trâu gỗ chỉ có thể chở được số lương thực cho một người dùng một năm, còn ngựa máy thì chở được hơn nhiều . Từ đấy có thể thấy, những ghi chép trên là loại trâu gỗ, ngựa máy qua cải tiến đã chở được nhiều hơn.
Loại xe nhỏ một bánh chế bằng gỗ, thực ra trước đó ở đời Hán, đã được dân gian sử dụng gọi là “triển xa”. Trâu gỗ của Gia Cát Lượng là từ nhu cầu đặc thù của đường núi khúc khuỷu và tương đối bằng phẳng mà thiết kế ra để vận chuyển.
Trong một bức vẽ xe kéo thấy được ở ngôi mộ cổ đời Hán ở Dương Tử Sơn gần Thành Đô, ở góc bên phải có người đẩy xe một bánh, cho thấy loại xe này khá phổ biến.
Trâu gỗ mỗi lần có thể chở được số lương thực cho một người trong một năm, ước được hơn 100 cân, mỗi người mỗi ngày có thể chở 20 dặm đường tuy không quá vất vả, song tốc độ khá chậm chạp. Ngựa máy được thiết kế sau này, chẳng những chở nặng hơn rất nhiều, tin rằng cải tiến tốc độ là phần chủ yếu nhất, cho nên mới gọi là ngựa máy.
Trâu gỗ, ngựa máy có thể vận chuyển lương thực, bản thân nó không cần ăn uống gì, đối với cuộc viễn chinh trường kỳ đích xác đã giúp đỡ rất lớn.
 
*
*    *
 
Lời bình của Trần Văn
Úy Lạo có đề ra biện pháp cụ thể khích lệ tinh thần binh sĩ. Ông ta nói: “Biện pháp khích lệ tinh thần binh sĩ ắt nên làm cho đời sống nhân dân ổn định, đủ ăn đủ mặc. Đời sống của mọi người đã chẳng có vấn đề, thì các binh sĩ ở tiền tuyến mới có thể yên tâm chiến đấu được.
Cho nên, bậc vua hiền tài, khi chiến tranh phải nỗ lực nắm lấy ba việc quan trọng:
1. Đất đai là để nuôi dưỡng dần, ví như có chiến tranh, cũng không ảnh hưởng đến cầy cấy của nông dân, như vậy nhân dân mới không bị thiếu đói.
2.    Thành lũy là để bảo vệ đất đai nhân dân, thành lũy kiên cố mới có thể bảo vệ an toàn cho nhân dân.
3.    Chiến lược là để bảo vệ thành lũy, tùy lúc duy trì chiến lược, là đảm bảo tốt nhất không bị xâm lược.
Để tăng cường chiến lược, bảo vệ tài sản của nhân dân, lại phải làm tốt 5 công việc dưới đây.
1.    Phải có đầy đủ lương thực và vật tư tác chiến, nếu không binh sĩ nói chung chẳng thể vận động được.
2.    Chu cấp cho binh sĩ đầy đủ mới có thể tùy lúc duy trì được tinh thần binh sĩ cao độ.
3.    Phải luôn chú ý cất nhắc nhân tài, thiếu nhân tài lãnh đạo quân sĩ chẳng thể mạnh được.
4.    Vũ khí trang bị phải đầy đủ, nếu không sức tác chiến nhất định sẽ bị suy yếu.
5. Thưởng phạt nghiêm minh khiến thuộc hạ vui vẻ thành phục, mới có thể phát huy ý chí mọi người vững như thành lũy.
Chiến tranh bắt đầu xảy ra, thường kéo theo thời gian dài, tuy binh pháp Tôn Tử chủ trương đánh nhanh “việc binh cần vội vàng chang nên kéo dài”.
Song đã giao tranh nói chung “người ở sông hồ, thân chẳng do mình muốn đình cũng không đình lại được ngay.
Gia Cát Lượng lấy thế yếu đối lại kẻ địch mạnh, càng cần phải nhẫn nại mà đánh. Củng bởi vậy ắt phải đánh kéo dài, duy trì hữu hiệu tinh thần quân dân là công việc quan trọng nhất, để nhận rõ sự lao khổ của quan dân thời chiến, Gia Cát Lượng ở ngôi cao tể tướng tự mình đóng doanh trại ở tiền tuyến, cùng sinh hoạt lâu dài trong thời chiến. Úy Lạo Tử cho rằng “quân tính chịu gian lao, tướng phải đi đầu vậy. Trời nắng không che lọng, trời rét không mặc nhiều áo, nơi nguy hiểm ắt phải bước đến; đào giếng thì uống sau, cơm chín thì ăn sau, doanh trại làm xong thì ở sau, nhọc nhằn thì cùng chia sẻ!” Gia Cát Lượng có thể nói là đã hoàn toàn làm được, bởi thế “quân tuy ở lâu mà không mệt mỏi” vậy.
Quân lương vẫn là vấn đề Gia Cát Lượng rất đau đầu cũng rất quan tâm. Ích Châu tuy nói là xứ sở thần tiên, song từ khi Lưu Bị dựng nước đến giờ vẫn không ngừng có chinh chiến. Gia Cát Lượng từ lúc đầu điều hành nước Thục đã rất xem trọng phát triển kinh tế dân sinh khiến nước Thục trở thành một trong ba chân đỉnh lớn, là một quốc gia có kinh tế thịnh vượng, song Thục Hán lấy một Ích Châu để đối phó với Tào Ngụy có thực lực chín châu và Đông Ngô có thực lực ba châu, nếu đánh kéo dài thì vấn đề cung cấp lương thực là khá vất vả.
Phát minh trâu gỗ ngựa máy, tuy mục đích là bổ sung lương thực thông suốt triệt để, khiến vật tư được lo liệu chu đáo trong khâu vận chuyển, thực đã phát huy được tác dụng.
Sử liệu có chép Gia Cát Lượng tự mình xem xét sổ sách, chỉnh lý ghi chép về lương thực. Tuy bị phê bình là quá sát sao với công việc, song đích xác cũng là nỗi khổ tâm bất đắc dĩ của ông ta.
 
 
Phụ chương
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
 
Kế sách lấy yếu đánh mạnh.
Trước đại chiến thế giới lần thứ 2, quan tư lệnh đội thuyền liên hợp Nhật Bản là Sơn Bản, cực lực phản đối việc tham gia khối ba nước phe trục, đối kháng toàn diện với Anh, Mỹ, lý do chủ yếu không ở sức chiến đấu của Nhật Bản không đủ, mà là về phương diện vật tư và nhân lực, Nhật Bản kém hơn nước Mỹ, tiến hành chiến tranh như vậy là không thể không thua.
Binh pháp Tôn Tử cũng trực tiếp nói: “Phàm về phép dùng binh, phải có nghìn cỗ xe, phải có chục vạn áo giáp, lo lương thực ở nơi nghìn dặm, chi phí nội ngoại, chi dùng khách khứa, chi phí xe cộ cùng các phụ phí khác, mỗi ngày tiêu phí nghìn lạng vàng, sau mới nói cử quân 10 vạn vậy”.
Chiến tranh đích xác là việc tiêu phí rất nhiều tiền tài, trách chi danh tướng Napôlêông đã nói: “Chiến tranh đầu tiên cần tiền, nhu cầu thứ hai cũng là tiền, nhu cầu thứ ba vẫn là tiền”.
Đối với Gia Cát Lượng mà nói, bắc phạt Trung Nguyên tiến hành chiến tranh khôi phục nhà Hán, khiến ông ta cảm thấy đau đầu nhất là vật tư, lương thực và nguồn lính.
Cũng giống quan điểm của Sơn Bản, Gia Cát Lượng cũng không muốn triển khai tác chiến toàn diện với Tào Ngụy có thực lực rất lớn. Nếu để đối phương tập kết lực lượng, tiến hành đánh lớn, đối với Thục Hán thực lực nhỏ yếu là rất bất lợi. Bởi thế Gia Cát Lượng cự tuyệt sách lược đánh trực tiếp của Ngụy Diên, lựa chiến thuật ưu thế cục bộ, trước chiếm lấy Lương Châu mà Tào Ngụy phòng thủ khá yếu, sau sẽ tiến vào Quan Trung, dần dần xây dựng thực lực đầy đủ để đối kháng với Tào Ngụy, thực ra đó là sự sáng suốt. Tuy thực lực Thục Hán với Tào Ngụy kém hơn nhiều, song Thục Trung khá nhiều tướng tài, lại trải qua hơn 10 năm rèn luyện, Gia Cát Lượng có năng lực chỉ huy tác chiến, lại rất tự tin, bởi thế trong tác chiến ngắn ngày, Gia Cát Lượng chẳng phải lo lắng. Ông không giống như sự đánh giá sai lệch của nhiều nhà sử học, là nhân vật bi kịch chỉ nghĩ chắc rằng làm không được mà vẫn làm; đối với việc đánh bại Tào Ngụy, Gia Cát Lượng đích xác khá tin tưởng. Ông suy nghĩ kỹ lưỡng, khách quan mà thực tế, bơi thế ông dày công nghiên cứu phải đối kháng trường kỳ ra sao, lập kế sách tiến dần giành lấy ưu thế cho mình.
Với một tập đoàn quân rất lớn, khuyết điểm về sự gắn bó không đủ cũng rất lớn, hơn nữa Tào Tháo từ một thế yếu đi lên, chính quyền Tào Ngụy xây dựng cấp tốc, sự thống nhất nội bộ và lòng trung thành đích xác cũng là vấn đề rất lớn.
Sau đại chiến Xích Bích, Tào Tháo về thực lực chưa tổn thất nghiêm trọng vẫn hạ lệnh rút quân toàn bộ 500 dặm, chủ yếu là vấn đề điều chỉnh nội bộ, đặc biệt sau khi Tào Tháo, Tào Phi nối nhau từ trần, sự ổn định của chính quyền Tào Ngụy đích xác là mối lo tiềm ẩn vậy.
Niềm tin cua Gia Cát Lượng cũng ỏ đấy, sau khi Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, quân dân khu Tư Lệ không phục tùng, nếu có thể chiếm được Tràng An, thì kinh thành mới Lạc Dương của Tào Ngụy ắt sẽ rơi vào cảnh mưa gió nặng nề. Bởi thế Gia Cát Lượng rất có ý chiếm được Tràng An, phải nỗi con đường nối Thục Trung và Quan Trung lại gập ghềnh, nếu lộ rõ tư thế, Tào Ngụy chỉ cần lấy một viên thượng tướng nắm giữ nơi xung yếu, chiến thuật tài giỏi của Gia Cát Lượng cũng chẳng có hiệu quả gì. Cuộc bắc phạt lần thứ 2 nhằm tập kích cửa ải Trần Thương, bởi quan chỉ huy mặt trận Tào Chân, và tướng giữ ải Hác Chiêu sớm có chuẩn bị, Gia Cát Lượng tuy thân chinh chỉ huy tiền tuyến, vẫn không được gì mà phải rút quân về.
Sách lược đoạt lấy Lương Châu, tựa hồ chang phải nghĩ trong chốc lát, Long Trung Sách có nói đến Tây hoà Khương Nhung, lại trong thời gian Lưu Bị vào Thục, cố ý lôi kéo danh tướng Quan Trung là Mã Siêu, rõ ràng ý đồ của Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã muốn thu lấy Lương Châu.
Lương Châu đích xác cũng là một nhược điểm lớn của chính quyền Tào Ngụy, Thái thú Lương Châu là Mã Đằng, với Tào Tháo đã có bất hoà, quân Lương Châu có không ít người trước theo Đổng Trác, đối với Tào Tháo có thù hận khắc cốt, bởi vậy hình tượng của Tào Ngụy đối với quân dân Lương Châu mà nói gần như kẻ địch thâm căn cố đế.
Sau khi bình định Viên Thiệu ở phía bắc Tần Xuyên, Tào Tháo chưa đánh khu Tư Lệ và Lương Châu ở tây bắc, trái lại trực tiếp xuống phía nam cướp lấy Kinh Châu, chủ yếu là ông ta tự mình cũng biêt rõ ở vùng Quan Trung và Tây Lương, nên không được hoan nghênh.
Gia Cát Lượng là nhà qui hoạch sách lược nổi tiếng, Lương Châu ở biên giới Tào Ngụy, tuy Tào Tháo dùng vũ lực chiếm được, song Mã Siêu vẫn có quan hệ gắn bó rất lớn ở đấy, Mã Siêu tuy đã mất, người em là Mã Đại vẫn nắm được những lực lượng cũ, và được Gia Cát Lượng trọng dụng, hơn nữa anh em họ Mã lại có danh vọng với dân tộc Khương, Nhung, khiến vùng Lương Châu trở thành một mắt xích rất yếu với việc phòng thủ và cai trị của Tào Ngụy.
Nếu có thể đoạt được Lương Châu, Quan Trung ắt sẽ nắm được. Binh mã Lương Châu rất nhiều, lương thực Quan Trung phong phú, đều là nguồn của cải dự trữ cho tác chiến trường kỳ; nếu như lại chiếm được Tràng An, thanh thế như vậy là ưu thế rất lớn. Hán Cao tổ Lưu Bang năm xưa cùng với Hạng Vũ tranh thiên hạ, hai đại bản doanh đã đóng ở Thục Trung và Quan Trung.
Những vùng đất Nam Trung, Thục Trung, Lương Châu, Quan Trung nếu đều được sát nhập vào sự cai trị của Thục Hán, như vậy nguồn lính, tài nguyên và lương thực để đối kháng lâu dài với Tào Ngụy sẽ chẳng phải là vấn đề đau đầu. Qui hoạch chiến lược của Gia Cát Lượng thực ra là khá chính xác và hoàn thiện, đáng tiếc Mã Tắc trong chiến dịch Nhai Đình then chốt bị danh tướng Tào Ngụy là Trương Cáp đánh bại, khiến cho đại chiến lược của Gia Cát Lượng đoạt lấy Lương Châu sắp thành công mà bị thất bại. Nếu không Gia Cát Lượng ắt có cơ hội để lật lại thế yếu lâu nay vẫn là bất lợi trước kẻ địch hùng mạnh.
 
0
THIÊN THỨ TÁM
DẤN THÂN TẬN TỤY
 
            Tiên sinh ẩn náu Sơn Khê
            Ba lần lều cỏ đi về thành duyên
            Nam Dương cá nước thả nguyền
            Rồng lên đỉnh biếc khắp miền đều mưa
            Ngôi cao hậu chủ cậy nhờ
            Đã rằng trung nghĩa phụng thờ bấy lâu
            “Xuất Sư Biểu” kể trước sau
            Lệ ai ướt áo mà đau chín chiều.
                                                (Thơ Bạch Cư Dị)
 
 
 
Chương XXVII
ĐỐI TRẬN VỚI KẺ ĐỊCH THÂM CĂN CỐ ĐẾ
 
Giữa Tào Chân với Tư Mã Y tuy tranh đấu ngấm ngầm thường phát sinh xung đột, song hai người vẫn khá tôn trọng đối phương.
Bởi thế Tào Chân trước lúc lâm chung đã vì việc công, tiến cử Tư Mã Ý thay mình đối đầu với Gia Cát Lượng.


1. Cuộc bắc phạt thứ tư, đã dốc tận lực lượng
Tháng 3 năm Kiến Hưng thứ 9, sau gần hai năm nghỉ ngơi trận mạc, Gia Cát Lượng tập kết một số lớn binh mã ở Hán Trung, chuẩn bị cuộc bắc phạt lần thứ tư.
Cuộc bắc phạt thứ nhất, về kế hoạch rất hoàn chỉnh, nắm thời cơ cũng rất chắc, không may dùng nhầm Mã Tắc mới tạo ra thất bại thê thảm.
Cuộc bắc phạt thứ hai, chỉ có thể kể là hành động tiếp nối lần thứ nhất, bởi thống soái quân địch là Tào Chân sớm đã chuẩn bị, lại thêm danh tướng giữ Trần Thương là Hác Chiêu có biểu hiện xuất sắc, khiến Gia Cát Lượng không được gì mà phải rút về, tuy nói rằng không đến nỗi thất bại, song cũng không có mặt mũi vẻ vang gì.
Cuộc bắc phạt thứ ba, quy mô nhỏ, mục tiêu cũng không lớn, chỉ dùng để củng cố niềm tin của mình, lại tăng cường được thực lực ở cơ sở tây chiến tuyến.
Sau trận đánh của Ngụy vào Thục năm Kiến Hưng thứ 8, bị mưa lớn ngăn cản, Gia Cát Lượng cho rằng thời cơ đã chín. Nghe nói Tổng tư lệnh Ngụy là Tào Chân bị bệnh nặng, một mai lìa đời, kết cấu quân sự của Tào Ngụy bởi liên tục mất đi những người xuất sắc thế hệ thứ 2 của họ Tào như Tào Hưu và Tào Chân mà sinh ra cục diện biến động lớn, cũng làm giảm sức tác chiến của quân Ngụy, bởi thế Gia Cát Lượng nhân cơ hội triển khai hành động bắc phạt có quy mô lớn.
Lần này, ông vẫn lựa chọn tây chiến tuyến Kỳ Sơn, khá thấy về qui hoạch chiến lược, mục tiêu của Gia Cát Lượng không thay đổi, vẫn là Lương Châu ở phía tây xa xôi của Tào Ngụy.
Đầu tháng 3, Gia Cát Lượng hoàn thành việc sắp xếp.
Năm trước tư lệnh phòng vệ Giang Châu là Lý Bình (tức Lý Nghiêm) được điều đến Hán Trung, vẫn ở Hán Trung giúp đỡ công việc bận rộn, việc phòng vệ phía đông do con trai là Lý Phong tiếp nhiệm.
Gia Cát Lượng dâng biểu phong Lý Bình làm Trung đô hộ, đóng ở Hán Trung, đứng đầu việc điều phối, vận chuyển lương thực cho quân bắc phạt lần này.
Binh lực động viên lần này đến gần 10 vạn người, lương thực nhu yếu rất lớn, bởi thế việc vận chuyển đã sử dụng những trâu gỗ mới chế tạo. Lý Bình nắm việc bổ sung hậu cần, do áp lực rất lớn mà bận rộn. Biên chế đội quân bắc phạt thứ 4 như sau:
-    Tư lệnh quân bắc phạt: Gia Cát Lượng
-    Bộ tham mưu: Dương Nghi, Khương Duy, Đỗ Nghĩa.
-    Tư lệnh đạo quân thứ nhất: Nguỵ Diên
-    Tư lệnh đạo quân thứ hai: Cao Tường
-    Tư lệnh đạo quân thứ ba: Ngô Ban
-    Tư lệnh đạo quân thứ tư: Vương Bình.
-    Tổng chỉ huy hành chính hậu cần ở Hán Trung: Lý Bình.
Quân bắc chinh theo biên chế ấy, cuối tháng 3 xuất phát từ Hán Trung, dự định sẽ tập kết ở Vũ Đô, Âm Bình chuẩn bị nhằm hướng Kỳ Sơn phát động tổng công kích.


2. Tào Chân gần đất xa trời, Tư Mã Ý lại ra trận
Đang lúc khẩn cấp trước mắt như vậy, tư lệnh tây chiến tuyến Tào Ngụy là Đại tư mã Tào Chân lại đang lúc bệnh tình nguy hiểm.
Năm trước, Tào Chân thực hiện hành động quân sự đánh Thục Hán, động dụng số binh lực lớn chưa từng thấy, đến như đội quân Tư Mã Ý đang ở đông chiến tuyến cũng bị điều động. Chẳng may gặp phải mưa lớn suốt hơn 30 ngày, vùng núi Tần Lĩnh suốt ngày mờ hơi nước, quân Tào Ngụy không thuộc địa hình ở đấy rơi vào mê lộ, gần một tháng tiến thoái lưỡng nan, Tào Chân lại nóng vội, tự mình đội mưa gió chỉ huy cầm quân, bởi thế mà bị phong hàn nghiêm trọng. Sau khi về Tràng An, tâm tình vẫn ấm ức không yên, bệnh tình lại càng xấu đi, cho đến mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 9, thì căn bệnh đã không thể khỏi.
Ngụy chủ Tào Tuấn đến tận Tràng An thăm hỏi, Tào Chân biết đã sắp chết bèn tiến cử Tư Mã Ý kế nhiệm.
Bởi Tư Mã Ý và Tào Chân vẫn bất hoà, Tào Chân phải tự tay viết một phong thư khẩn thiết cho người đưa thư đến Tư Mã Ý, trong thư nói: “Chẳng phải Trọng Đạt (tức Tư Mã Ý) chẳng thể cứu được quốc gia”. Yêu cầu Tư Mã Ý làm thay công việc mà mình chưa hoàn thành: Tiêu diệt Thục Hán và Đông Ngô, thống nhất Trung Quốc.
Tư Mã Ý tên chữ là Trọng Đạt, người Hà Nội, hơn Gia Cát Lượng 2 tuổi ở cách Lạc Dương về phía đông bắc 70 cây số.
Gia đình Tư Mã Ý là hào tộc trong vùng, tổ phụ từng làm Thái thú quận Hà Nội. Ở trong nhà thì Tư Mã Ý là thứ hai trong số 8 anh em trai, bởi 8 người con trai này đều có biểu hiện xuất sắc nên trong vùng vẫn gọi là Bát Đạt.
Anh em nhà Tư Mã được giáo dục hoàn thiện, học vấn uyên bác, hơn nữa cũng rất hiểu Phật học. Người anh cả Tư Mã Lãng đã nổi tiếng rất sớm, Đổng Trác năm xưa có ý trọng dụng ông ta. Song Tư Mã Lãng xem Đổng Trác là loạn thần, cự tuyệt yêu cầu, lại dời bỏ gia đình theo Tào Tháo phất cờ nghĩa chống Đổng Trác.
Tư Mã Lãng cá tính hiền lành, khoát đạt, tinh thông công việc, được Tào Tháo cho làm Huyện lệnh ở Thành Cao.
Trong công việc có ân huệ, không dùng roi vọt mà dân không sai phạm, được Tào Tháo rất cảm mến, cho rằng là năng thần trị thế thiên cổ khó thấy. Đáng tiếc khi ông ta theo quân nam chinh Đông Ngô mắc phải dịch bệnh, đang lúc 47 tuổi sung sức mà chết ở trong quân.
Tào Tháo thương tiếc Tư Mã Lãng, tài hoa mất sớm, bởi thế đặc biệt lấy người em là Tư Mã Ý 29 tuổi, cho làm tùy tùng riêng, lại cố ý đề bạt.
Tư Mã Ý thời trẻ với người anh cả rất không giống nhau, song anh em đều chân thành, các bạn hữu thường phê bình Tư Mã Ý khoan hoà với bên ngoài mà xung khắc với bên trong, lại rất quyền biến; cũng tức là nói, ông ta tuy nhiệt tình có khí chất lại cảnh giác hay thay đổi, cũng có một chút xảo trá, rất giống với Tào Tháo khi còn trẻ. Trước đại chiến Quan Độ, Tào Tháo cần nhiều nhân tài, Tư Mã Ý tự nhiên cũng thuộc số đó. Song Tư Mã Ý hoài nghi Tào Tháo chẳng có đủ lực lượng hơn Viên Thiệu, bởi thế không muốn ra làm quan bèn giả vờ mắc bệnh trúng phong không ra làm việc, ngay đến anh cả Tư Mã Lãng cũng cho rằng ông ta bị bệnh thật. Phụ tá nội chính hàng đầu của Tào Tháo là Thôi Đàm, từng nói với Tư Mã Lãng: “Người em thứ hai của ông, trí tuệ và can đảm còn hơn cả ông. Sau này nhất định là tướng tài không sai”.
Song Tư Mã Ý không lâu vẫn là một viên quan về văn học, giúp Tào Phi nghiên cứu học vấn, hai người có quan hệ khá thân thiết, bởi Tào Phi kém Tư Mã Ý 8 tuổi nên đối đãi với ông ta như em đối với anh cả.
Trước đại chiến Hán Trung, Tư Mã Ý từ tuỳ tùng được thăng làm tham mưu quân sự, trong 12 năm ở gần Tào Tháo những năm cuối đời, học được không ít ở Tào Tháo về suy nghĩ ứng biến và đối nhân xử thế.
Trong cuốn Biên niên sử “Tư trị thông giám” Tư Mã Ý đã ra chiến trận với cương vị tham mưu quân sự, khi Tào Tháo chinh phạt đạo quân đạo giáo Hán Trung mà lãnh tụ là Trương Lỗ, sau khi chinh phục được Hán Trung, ông ta lại đề nghị Tào Tháo thừa thắng tấn công Ích Châu, Tào Tháo lại cưòi mà nói với ông ta: “Dục vọng của ngươi thực là vô cùng, sao đã được đất Lũng mà còn muốn cả đất Thục nữa!”.
Năm Kiến An thứ 24, Quan Vũ dùng thủy công đánh bại đại quân Vu Cấm, uy danh vang động Hoa Hạ, Tào Tháo có ý dời Hứa Đô để né tránh, Tư Mã Ý dốc toàn lực khuyên ngăn, lại đề nghị liên hợp với Đông Ngô tập kích phía sau Quan Vũ, chỉ một việc mà giải quyết được áp lực ở Tương Phàn.
Tào Phi lên ngôi hoàng đế, Tư Mã Ý lập tức trở thành nhân vật quan trọng của chính quyền Tào Ngụy, rất được Tào Phi tín nhiệm, khi Tào Phi bệnh tình nghiêm trọng đã lấy Tư Mã Ý cùng với Tào Chân, Tào Hưu và Trần Quần làm đại thần phụ tá để gửi con, còn đặc biệt căn dặn Tào Tuấn, có việc gì đều phải thương lượng với Tư Mã Ý.
Không lâu, Tôn Quyền không ngừng tăng cường quân lực ở Giang Lăng, khiến Phàn Thành và Tương Dương bị áp lực rất lớn. Tào Tuấn bổ nhiệm Tư Mã Ý làm Kiêu kỵ đại tướng quân, kiêm đốc quân hai châu Kinh, Dự, đến đóng quân ở Uyển Thành, để ngăn cản Đông Ngô khuyếch trương thế lực.
Chính ở vào giai đoạn này, Mạnh Đạt dự tính khởi nghĩa ở Tân Thành, hưởng ứng cuộc bắc phạt của Gia Cát Lượng, bị hành động hoả tốc của Tư Mã Ý dẹp yên.
Năm Kiến Hưng thứ 8, Tào Chân phát động hành động quân sự thảo phạt Thục Hán, từng giao ước với Tư Mã Ý từ Hán Thủy ngược lên, từ Tây Thành tiến đánh phía đông bồn địa Hán Trung, đấy cũng là lần thứ nhất, Tư Mã Ý giao chiến với Thục Hán. Lại bởi mưa to liên tục hơn một tháng, nước sông Hán Thủy cuộn chảy dữ dội, đội thuyền của Tư Mã Ý vẫn chẳng có đường lên, Tào Tuấn đã phải hạ lệnh rút quân.
Giữa Tào Chân và Tư Mã Ý, tuy ngấm ngầm tranh đấu, thường có xung đột nảy sinh, song hai bên vẫn khá tôn trọng đối phương. Bởi vậy Tào Chân trước lúc lâm chung, đã vì việc công tiến cử Tư Mã Ý thay mình đối đầu với Gia Cát Lượng. Lý do của ông ta là Tôn Quyền lực lượng tuy lớn, song trong điểm việc tự lập làm hoàng đế, về nguyên tắc là tự bảo tồn; Thục Hán tự nhận là người kế thừa chính công của vương triều Thục Hán, bởi thế mưu toan bắc phạt của Gia Cát Lượng rất lớn, không thể không đề phòng cẩn thận. Có thể Tào Chân sớm đã nhìn thấy, bởi thế hệ thứ 2 của họ Tào đến sớm tàn lụi, Tào Tuấn cố nhiên là người hiền tài, song tuổi còn trẻ, thực lực chính quyền họ Tào đã suy yếu, ắt nên dựa vào danh tiếng nhà Tư Mã là thế gia vọng tộc ở vùng Lạc Dương để duy trì sức nắm giữ của chính quyền họ Tào, nên đã hy vọng Tư Mã Ý phối hợp mật thiết với Tào Tuấn.


3. Chiến thuật Mã Ý thi hành, lấy tĩnh lặng để mà chế động.
Bình tĩnh mà nói, kinh nghiệm tác chiến của Tư Mã Y vẫn không bằng Gia Cát Lượng, nhược điểm này tự Tư Mã Ý cũng đã thấy rất rõ ràng.
Đã chịu lệnh giữa lúc lâm nguy, Tư Mã Ý không dám chậm trễ, lập tức từ Kinh Châu trở về kinh thành Lạc Dương bàn bạc với Tào Tuấn. Tào Tuấn đưa bức thư tiến cử của Tào Chân cho Tư Mã Ý, lại dặn rằng: “phía tây là việc quan trọng, chẳng phải ngươi thì chẳng ủy thác cho ai được”.
Ngay lúc đó, Tào Tuấn lệnh cho Tư Mã Ý lập tức đến Tràng An, đôn đốc Trương Cáp, Phí Diệu, Đới Lăng, Quách Hoài cùng đối phó với đội quân bắc chinh của Gia Cát Lượng.
Tháng sau Tào Chân bệnh nặng từ trần, từ đấy về sau, đại quân của Tư Mã Ý dần dần trở thành nòng cốt của quân đội Tào Ngụy. Trái lại đội chủ lực của Tào Chân, Tào Hưu lùi xuống địa vị phụ thuộc.
Tư Mã Ý sau khi đến Tràng An, lập tức sắp xếp đội quân đối phó với Gia Cát Lượng.
-    Tổng tư lệnh: Tư Mã Ý
-    Tham mưu: Tư Mã Sư, Tư Mã Chiêu
-    Tư lệnh tiền quân: Trương Cáp
-    Tư lệnh trung quân: Quách Hoài
-    Tư lệnh hậu quân : Tư Mã Ý tự kiêm nhiệm
-    Tướng lĩnh quân đoàn: Ngụy Bình, Giá Hủ (không phải là Giả Hủ thời Tào Tháo)
-    Phó tư lệnh: Đới Lăng
Đạo quân phòng ngự mà Tư Mã Ý sắp xếp, số người ước độ 20 vạn, sau khi xuất phát từ Tràng An, Ngụy chủ Tào Tuấn cũng sắp xếp đội quân hậu viện ở Lạc Dương nhằm khoảng 30 vạn người, để ứng phó lúc cần thiết, chi viện cho tiền tuyến mau chóng, xem ra, Tào Tuấn dự liệu dốc toàn lực đối phó.
Tư Mã Ý lệnh cho Phí Diệu và Đới Lăng dẫn 4000 tinh binh, phòng thủ vị trí quân sự quan trọng ở Lương Châu, một mặt có thể ngăn cản Gia Cát Lượng chiếm 3 quận ở Lũng Tây, một mặt khác cũng có thể bảo đảm cho quân phòng thủ ở tiền tuyến Kỳ Sơn và tuvến bổ sung cho Ung Châu.
Trương Cáp đề nghị với Tư Mã Ý, để ông ta dẫn tiền quân, từ vùng Mi huyện và Ung huyện, theo đường Bao Cốc xuống phía nam, tiến đánh trận địa bổ sung của Gia Cát Lượng ở Hán Trung, để bẻ gãy sức tác chiến của Gia Cát Lượng.
Song Tư Mã Ý lo lắng kinh nghiệm tác chiến của mình ở vùng này không bằng Gia Cát Lượng, Trương Cáp có thể bổ sung nhược điểm này của mình, bởi thế mà khéo léo cự tuyệt. Ông ta nói thẳng với Trương Cáp: “Trước mắt trong quân đoàn, có thể một mình đối chọi với Gia Cát Lượng, nhìn chung chỉ còn một tướng quân thôi, nếu như phân tán binh lực, sức chiến đấu của chúng ta có thể bất lợi. Huống chi, vùng núi Tần Lĩnh nhiều đường hiểm trở, nghĩ rằng Gia Cát Lượng đã lấy một số ít binh lực cậy hiểm mà giữ, có đánh cũng chẳng lập được công, tin rằng chủ lực của ông ta nhất định đang ở Kỳ Sơn, chúng ta nên tập trung binh lực để đối phó với ông ta mới là đúng!”.
Ở một phía khác, quân chủ lực của Gia Cát Lượng từ Vũ Đô trực tiếp đánh những cửa ải phòng thủ của Tào Ngụỵ ở chân núi Kỳ Sơn, ông ta dự liệu Tư Mã Ý sẽ từ phía nam Lũng Sơn, vượt qua sông Vị Thủy, qua Nhai Đình đi xuống Mộc Môn để cứu quân Tào Ngụy đang ở Kỳ Sơn.
Bởi thế ông ta để Vương Bình chỉ huy đội “phi quân” được sắp xếp từ dân thiểu số Nam Trung, tiếp tục bao vây Kỳ Sơn, tự mình dẫn Ngụy Diên, Cao Tường, Ngô Ban lên phía bắc nghênh chiến với quân chủ lực Tư Mã Ý.
Song khi đến gần Mộc Môn, Gia Cát Lượng lại đột nhiên thay đổi đường hành quân, ông ta cho rằng không muôn lấy cứng chọi cứng với Tư Mã Ý, mà chuyển sang phía tây trước đánh vị trí quan trọng ở Thượng Nhai do Phí Diệu trấn giữ.
Có thể Gia Cát Lượng sớm đã có dự định, bởi vì mục tiêu thứ nhất cuộc bắc phạt của ông ta là Lương Châu, chỉ là để lừa dối Tư Mã Ý mới cố ý bầy ra tư thế quyết chiến ở bên sông Vị Thủy, lại tránh thực đánh hư mà tấn công vào Thượng Nhai là phòng tuyến của Lương Châu rất quan trọng.
Tư Mã Ý vẫn cho rằng Thượng Nhai hiểm trở lại chẳng có bao nhiêu binh lực trấn giữ, Gia Cát Lượng sẽ chẳng lãng phí thời gian ở đấy mới đúng. Chẳng ngờ Gia Cát Lượng cuối cùng lại động dụng binh lực rất lớn bao vây thành lũy Thượng Nhai, Lúc ấy Tư Mã Ý mới hốt hoảng lập tức phái đội quân Quách Hoài hoả tốc đến chi viện cho Thượng Nhai, tự mình tiếp ứng phía sau. Phí Diệu sau khi được Quách Hoài chi viện, lại can đảm hẳn lên. Để bảo đảm sự an toàn của Thượng Nhai, ông ta bàn bạc với Quách Hoài, muốn nhân cơ hội đại quân Gia Cát Lượng mới đến, ngay trong đêm tập kích vào đại bản doanh quân tiên phong Ngụy Diên đóng ở ngoài thành. Song Ngụy Diên kinh nghiệm lão luyện, lại dũng mãnh thiện chiến, ông ta phán đoán quân Quách Hoài mới đến Ngụy quân ắt sẽ chủ động cần chiến. Do thế đã tăng cường phòng thủ. Đạo quân tập kích của Tào Ngụy lại rơi vào chiến đấu ác liệt, sau nửa ngày tơi bời khói lửa, Phí Diệu và Quách Hoài không dễ thoát ra được, may mà quân Đới Lăng phòng thủ đã tính toán cẩn thận, ông ta để lại một số người giữ quan ải, rồi dẫn quân sĩ ra tiếp ứng, mở được đường rút cho bại quân của Quách Hoài và Phí Diệu thuận lợi rút về quan ải.
Cũng trong thời gian này quân Cao Tường và Ngô Ban nhân cơ hội tiến đánh trận địa phòng thủ bên ngoài Thượng Nhai, khiến Phí Diệu chỉ còn biết rút về cố thủ trong quan ải, cánh đồng lúa bên ngoài Thượng Nhai bị đại quân Thục Hán gặt hết; đến khi đại quân Tư Mã Ý vượt qua sông Vị Thủy, phát hiện sự phòng thủ phía ngoài Thượng Nhai đã hoàn toàn rơi vào trong tay Gia Cát Lượng, nghĩ có đến Thượng Nhai cũng chưa chắc đã thắng được. Đang lúc tiến thoái lưỡng nan như thế, chỉ biết dùng sách lược lấy tĩnh chế động. Tư Mã Ý hạ lệnh đóng lại bên sông Vị Thủy, xây dựng doanh trại phòng thủ, cậy hiểm mà giữ, để tiêu hao lương thực quân viễn chinh của Gia Cát Lượng. Dẫu quân Thục Hán khiêu khích như thế nào, Tư Mã Ý thảy đều không để ý, khiến Gia Cát Lượng không triển khai được gì.
Dẫn một đội quân lớn gấp bội kẻ địch, lại được chuẩn bị rất đầy đủ, kiên nhẫn không tiến hành quyết chiến, Tư Mã Ý đích xác đáng được gọi là kẻ hào kiệt có thể xưng bá sau này.
+ Sách lược rút quân, dẫn dụ tốc chiến.
Đối mặt với chiến thuật kiên trì phòng thủ của Tư Mã Ý, Gia Cát Lượng quyết định tạm thời rút quân về Lỗ Thành cách Nhai Sơn 50 dặm về phía đông bắc, ở đấy có thể đồng thời giám sát động tĩnh của Tư Mã Ý và quân giữ Thượng Nhai. Nếu như Tư Mã Ý nhân cơ hội đến cứu Thượng Nhai, Gia Cát Lượng sẽ phối hợp với Ngụy Diên cùng giáp kích trong ngoài, có thể sẽ giao chiến lớn ở Nhai Đình để báo thù trận thất bại năm xưa của Mã Tắc.
Song Tư Mã Ý tựa hồ không trúng kế, ông ta tuy có di động quân đội, lại chẳng nhằm đánh về phía Thượng Nhai. Trái lại, nhằm phía sau đạo quân Gia Cát Lượng mà bám, ông cũng không nhân cơ hội để tập kích mà như nhìn ở đâu đâu, lại còn như giữ một khoảng cách an toàn đối với Gia Cât Lượng. Gia Cát Lượng cũng không hiểu được rốt cuộc Tư Mã Ý chơi chiến thuật gì, chỉ cần Gia Cát Lượng động quân, ông ta cũng chuyển động theo, Gia Cát Lượng vừa dừng lại, ông ta cũng dừng lại, lại còn lập tức cho xây dựng công sự phòng ngự, dựng doanh trại để đợi quân Thục tấn công, nếu Gia Cát Lượng có hạ lệnh tấn công thì ông ta đóng trại cố thủ không đáp ứng gì.
Song chỗ Gia Cát Lượng không hiếu, đối với các tướng lĩnh của Tư Mã Ý họ lại hiểu được, làm như vậy thực chẳng có mặt mũi gì!
Lão tướng Trương Cáp từng lập được chiến công ở đấy thực cũng chẳng hiểu Tư Mã Ý rốt cuộc sẽ làm gì, bèn thản nhiên đề nghị rằng: “Đại quân Thục Hán từ xa đến đánh chúng ta, chúng ta tránh mũi nhọn không muốn giao chiến với họ, chủ yếu là nghĩ đến tiêu hao lương thực và tinh thần binh sĩ của họ, chiến thuật ấy tôi cũng rất đồng ý. Quân giữ Kỳ Sơn của chúng ta, biết chúng ta dẫn đại quân đến, tin tưởng có thể yên tâm hoàn toàn, cố thủ giữ doanh trại của họ, bởi thế tôi đề nghị chia ra một đội kỳ binh, vòng sau lưng họ, một mặt có thể tăng cường lực lượng phòng thủ Kỳ Sơn, một mặt cũng gây áp lực với quân Thục, xem như cứ bám sau họ như vậy, lại không dám đến gần, như có vẻ sợ hãi, như vậy khiến cho mọi người mất hết cả hy vọng”.
Tư Mã Ý cho rằng thời cơ chưa chín, vẫn không đồng ý, quyết định vẫn bám theo Gia Cát Lượng, đến mỗi địa phương lại lập tức lập doanh trại, nhưng vẫn không muốn ra đánh.
Quan chỉ huy hậu cần là Giá Hủ và Ngụy Bình, thấy thế không chịu được, bèn cùng thảo luận rằng, ông Tư Mã sợ quân Thục như cọp dữ, thực tế là hạ nhục chúng ta, làm như vậy khiến chúng ta thành ra trò cưòi thiên hạ.
Những lời bàn tán này ít nhiều cũng lọt đên tai Tư Mã Ý, ông ta rất không vừa ý. Lại thêm trong quân không ngừng có biểu hiện bàn tán, quân Thục sợ nhất là Trương Cáp, còn Tư Mã Ý thì non gan, về căn bản chẳng đáng kể gì. Những lời lưu truyền này đích xác đã có phần chịu không nổi nữa.
Đến tháng 5, áp lực của các chư tướng muốn đánh rất lớn, Tư Mã Ý bất đắc dĩ, đành phải nghe theo đề nghị của Trương Cáp, để Trương Cáp dẫn đội kỵ binh đến phía nam Kỳ Sơn đánh nhau với quân Vương Bình, ông ta tự mình dẫn Ngụy Bình và Giá Hủ, đến trước mặt Gia Cát Lượng khiêu chiến. Đội quân hỗn hợp bộ kỵ binh của Trương Cáp ước chừng có 6000 người, tin tức do thám cho biết đội “phi quân” của Vương Bình không đến 3000 người. Bởi thế Trương Cáp ngầm vạch kế hoạch, cho rằng quân Vương Bình thấy quân Tào Ngụy đến sẽ lập tức rút lui, bao vây ở Kỳ Sơn tự nhiên sẽ hết. Đến lúc đó, ông ta sẽ hợp với quân giữ Kỳ Sơn, từ phía Nam giáp kích vào đại bản doanh của Gia Cát Lượng ở Mộc Môn. Giống như chiến dịch Nhai Đình, sẽ rất mau chóng bức được Gia Cát Lượng rút về Hán Trung.
Đội phi quân của Vương Bình tuy không nhiều, song ai nấy đều dũng mãnh thiện chiến, xem chết nhẹ như không. Vương Bình vừa nghe viện quân Trương Cáp kéo đến, chẳng những không chạy đi lại suốt ngày đốc chiến ở trước trận, tiếp tục bao vây Kỳ Sơn, củng cố công sự phòng ngự vững chắc ở đấy, quân Trương Cáp đánh mạnh song không tiến lên được, cũng không liên hệ được với quân Tào Ngụy đang bị bao vây.
Vương Bình năm trước từng làm tướng trong quân Quan Trung của Tào Tháo, vốn xuất thân từ quân ngũ, phong phú kinh nghiệm chiến đấu thực tế, biết rất rõ phương thức tác chiến của đạo quân Quan Trung là Trương Cáp, hai bên đối trận kéo dài mấy chục ngày, Trương Cáp chẳng có biện pháp gì, trái lại trong quân đội của mình đã có vấn đề cung cấp lương thực nẩy sinh khó khăn.
Quân chủ lực của Tư Mã Ý cũng chẳng có thuận lợi gì hơn. Sách lược trước đây của Tư Mã Ý là, trước tiên để Ngụy Bình và Giá Hủ dẫn hơn một vạn người mai phục ở vùng đất phía đông bắc Lộ Thành, sau đó ông ta dẫn quân chủ lực, đối đầu với quân Gia Cát Lượng, đương khi hai bên cùng ham đánh, Ngụy Bình sẽ vòng đường núi từ mặt bên đánh vào quân Thục. Bởi quân Ngụy có ưu thế tuyệt đối về số người, có thể sẽ bao vây được quân bắc phạt của Gia Cát Lượng ở Lỗ Thành, như vậy sẽ nắm chắc phần thắng.
Để đạt mục đích ấy, Tư Mã Y lệnh cho hai người con của mình là Tư Mã Chiêu, Tư Mã Sư, đánh nhử ở trước mặt, hấp dẫn quân Thục chú ý, để Ngụy Bình và Giá Hủ thuận lợi tấn công. Không may, Ngụy Bình và Giá Hủ tiến vào vùng núi vòng sau mặt bên, nghĩ bất ngờ tập kích quân Thục Hán, lại để Gia Cát Lượng biết được, mà có những hành động ngăn cản khéo léo.
Gia Cát Lượng lệnh cho Ngụy Diên đón đánh quân Ngụy Bình ở trong núi, hai bên mới giao chiến, Ngụy Diên đã phát động tấn công mãnh liệt. Quân Tào binh lực tuy nhiều, song bởi điều động trong núi không dễ, trái lại bị quân Ngụy Diên dần dần đánh bại. Trong trận đánh này quân Ngụy bị tổn thất hơn 3 nghìn người, hơn 5 nghìn bộ áo giáp, hơn 3 nghìn cung nỏ. Tư Mã Ý thấy quân Ngụy Bình tan vỡ, bèn vứt bỏ sự đối trận với Gia Cát Lượng rút về doanh trại cố thủ. Đạo quân Trương Cáp bao vây mé ngoài Kỳ Sơn, nghe nói Tư Mã Ý thua trận, hai bên lại hợp quân, giữ vững trận địa, mặc quân Thục khiêu chiến ra sao cũng không ra nữa. Theo dã sử ghi chép, Gia Cát Lượng không những mau chóng đánh tan quân Ngụy Bình, còn để Cao Tường, Ngô Ban dẫn dụ cha con Tư Mã Ý vào khe núi, sắp đặt hỏa công tiêu diệt, chẳng ngờ đúng lúc trời mưa to, thuốc nổ hoàn toàn bị ướt, cha con Tư Mã Ý mới may mắn thoát nạn.
Song nếu xét cá tính Tư Mã Ý luôn cẩn thận, tình huống này thực ra rất khó tin. Nhìn chung hai kẻ địch lão luyện đối trận ở đây là cao thủ tương phùng, từ đầu đến cuối như cùng đắn đo, hai bên vẫn không có dịp giao đấu trực diện ác liệt.


5. Đuổi theo quân rút chạy, Trương Cáp phải bỏ mình
Hai bên nhùng nhằng đến tháng 6, việc cung ứng lương thực của Gia Cát Lượng rơi vào khó khăn nghiêm trọng. Trâu gỗ mới thiết kế cố nhiên có công hiệu, rốt cuộc vẫn là tốc độ rất chậm, Gia Cát Lượng từ Vũ Đô đến Kỳ Sơn, từ Kỳ Sơn đến Lỗ Thành và Nhai Đình, chiến tuyến kéo dài, khiến cho Lý Bình phụ trách việc vận chuvển lương thực cảm thấy rất khó khăn.
Không lâu, tham quân Mã Trung và đốc quân Thành Phan khẩn cấp đến tiền tuyến Lỗ Thành, yêu cầu được gặp Gia Cát Lượng, thay mặt Lý Bình truyền đạt khẩu dụ của hậu chủ Lưu Thiện, biểu thị công tác hành chính hậu phương có vấn đề nghiêm trọng, lương thực và trang bị cung ứng có khó khăn, hy vọng Gia Cát Lượng sớm rút quân để cùng bàn bạc lại.
Gia Cát Lượng đang phiền não bởi lương thực cung ứng không đủ, nghe nói hậu phương có vấn đề, cũng thấy rằng miễn cưỡng không được, bèn khẩn cấp hạ lệnh rút quân.
Thấy Gia Cát Lượng đột nhiên rút quân về, Tư Mã Ý phán đoán quân Thục đã cạn lương, lòng quân ắt không ổn định, nếu như nhân cơ hội truy kích, có thể rửa được mối nhục Ngụy Bình bị đánh bại. Bởi thế ông hạ lệnh cho Trương Cáp dẫn đội tiền quân, sắp xếp thành một đội kỵ binh hoả tốc đuổi đánh.
Tam quốc diễn nghĩa có chép, nghe nói Gia Cát Lượng rút quân, Trương Cáp muốn chủ động đuổi đánh, Tư Mã Ý ra sức ngăn cản, song Trương Cáp kiên trì ý kiến của mình, dẫn đến bị mai phục phải bỏ mình. Ghi chép của lịch sử lại tương phản, Tư Mã Ý hạ lệnh đuổi đánh quân Thục đang rút lui, Trương Cáp lấy binh pháp Tôn Tử đã nói “quân chạy chớ đuổi” để phản đối, song Tư Mã Ý không chịu nghe, Trương Cáp đành phải gắng làm theo.
Cứ theo cá tính của Gia Cát Lượng, thì ở lúc nguy cấp trước mắt ông ta vẫn làm theo thứ tự. Sau chiến dịch Nhai Đình, ngoài việc quân Ngụy Diên ở xa có tổn thất lớn, quân sĩ còn lại nói chung đều rút lui an toàn, từ đấy có thể thấy Gia Cát Lượng khá hiểu rõ bại mà không loạn. Tư Mã Ý lần đầu giao đấu, đánh giá thấp năng lực của Gia Cát Lượng ở mặt này, muôn nhân cơ hội mà thu được một chút chiến lợi, lại tạo thành bi kịch của quân Tào Ngụy chưa từng có. Do Vương Bình ở Kỳ Sơn vẫn có ưu thế tuyệt đối, Gia Cát Lượng nói chung không phải lo lắng đường về bị cắt đứt, bởi thế ông ta xuống chỉ thị cho quân Cao Tường bao vây ở Nhai Đình rút quân trước. Quách Hoài và Phí Diệu tuy tạm được giải vây, song việc liên hệ với quân lính chủ lực bị gián đoạn lâu ngày, Quách Hoài cẩn thận không dám một mình hành động, để quân Thục ỏ Lỗ Thành bị áp lực không lớn mau chóng rút lui có trật tự. Song Gia Cát Lượng lo lắng Tư Mã Ý hoặc Quách Hoài, sau khi xác định quân Thục rút lui, sẽ nhân cơ hội đuổi đánh, bèn tự mình đi chặn hậu, sắp đặt ở trên núi Mộc Môn số lớn cung nỏ, phối hợp với những cỗ nỏ liên châu mới cải tiến, muốn thử uy lực sát thương. Cứ theo ý định của Gia Cát Lượng trước đó, chỉ là tạo uy phong tàn sát quân Ngụy đuổi theo, đánh vào tinh thần binh sĩ, để họ không dám đuổi nữa mà thôi, lại chẳng ngờ câu được một con cá lớn.
Trong chiến dịch tấn công và phòng thủ này, Trương Cáp ở đây khá có uy phong, lại có không ít ấm ức, tâm lý rất bất bình. Lại thêm lần đầu phối hợp với Tư Mã Ý, mọi việc đều bị hạn chế, một khối bực tức chưa có chỗ giải toả, lại bị cưỡng chế sai khiến đuổi đánh quân Thục đang rút lui, bởi thế cơ hồ mà xông thẳng phía trước, không lo đến tính mệnh, ví như đến tận khe núi cũng chưa phải đặc biệt cảnh giác, để đến nỗi bị tập kích bất ngờ của quân Gia Cát Lượng đi chặn hậu. Đối với vũ khí truyền thống nói chung, cứ theo kinh nghiệm tác chiến của Trương Cáp, sẽ chẳng có gì đáng lo ngại, song nỏ liên châu có uy lực rất lớn, một lần bắn ra hàng chục mũi tên, có ngăn cản cũng không được. Trong lần công kích đầu tiên, chân phải Trương Cáp bị trúng tên, ngã lăn xuống ngựa, khiến ông ta giận dữ hét to một tiếng, phẫn nộ xông lên trên núi mà chém giết, không được chốc lát đã chết trong trận mưa tên, danh tướng bậc nhất nước Ngụy khiến Gia Cát Lượng phải đau đầu đã phải bỏ mình bất ngờ như vậy. Đội quân kỵ binh mà Trương Cáp dẫn theo cũng cơ hồ hoàn toàn bị tiêu diệt.


6. Lý Bình giả truyền thánh chỉ.
Đương khi đại quân Gia Cát Lượng rút về Vũ Đô và Âm Bình, Lý Bình đang ở Hán Trung phụ trách việc vận chuyển lương thực đột nhiên tuyên bố: “Lương thực vẫn đầy đủ, việc cung cấp hoàn toàn không có khó khăn gì”. Sau đó cho người đến nói với Gia Cát Lượng: “Làm sao lại rút quân nhỉ”. Lúc này Gia Cát Lượng hồ nghi rằng, phải chăng Lý Bình phái Mã Trung truyền lệnh, hay hậu chủ thấy khó khăn về vận chuyển mà truyền lệnh rút quân? Vì sao Lý Bình không biết việc này nhỉ? Chẳng nhẽ là Mã Trung nói bừa hoặc bên trong còn có điều gì?
Lý Bình làm Thượng thư lệnh, là một đại thần được Lưu Bị gửi con. Nói cách khác, cứ theo ý tứ Lưu Bị lúc lâm chung, Lý Bình phụ trách việc ấy cũng chỉ kém có Gia Cát Lượng mà thôi.
Lưu Bị vì sao lại xem trọng Lý Bình như thế? Nhìn chung bởi Lý Bình ở trong tập đoàn quan lại đã lâu, có quan hệ gắn bó với quân sĩ cũ rất lớn, để ổn định chính quyền mới của Thục Hán, Lưu Bị đặc biệt yêu cầu Lý Bình tích cực giúp đỡ Gia Cát Lượng. Song sau khi Lưu Bị mất, Lý Bình do phải đối phó với khả năng tấn công từ phía Đông Ngô, vẫn đóng ở Giang Châu, nói chung chắng có thời gian trở về Thành Đô phát huy ảnh hưởng của ông ta. Trái lại, Gia Cát Lượng sau khi về Thành Đô, trong thời gian rất ngắn, bằng vào kỹ xảo chính trị giỏi giang độc lập tổ chức lại các lực lượng Thục Trung, khiến chính quyền Thục Hán vốn mất ổn định, sau khi Lưu Bị mất không lâu lại ổn định. Hơn nữa sau khi từ Nam Trung khải hoàn về triều, tiếng tăm của Gia Cát Lượng đạt đến đỉnh cao, rất mau chóng nắm được đại quyền trong chính phủ Thục Hán, tựa hồ một chút cũng không cần đến Lý Bình giúp đỡ ví như sau khi ông ta đến Hán Trung để bắc phạt, nền chính trị ở Thành Đô cũng đều do những nhân vật tinh anh thế hệ thứ hai do Gia Cát Lượng đề bạt như Quách Du Chi, Phí Vỹ, Tưởng Uyển phụ trách. Đặc biệt là sau khi Trương Duệ mất, Gia Cát Lượng tựa hồ để điều hành chính trị chủ yếu đều giao cho phái Thiếu Tráng đảm nhiệm, xem như lão thần Lý Bình không thực tế phụ trách việc gì.
Lại ví như công việc đóng giữ ở Giang Châu để phòng thủ Đông Ngô, cũng bởi Đông Ngô và Thục Hán có quan hệ hoà hoãn, cũng không quan trọng gì lắm. Gia Cát Lượng lệnh cho Lý Bình giao việc phòng thủ Giang Châu cho con trai là Lý Phong phụ trách, còn Lý Bình thì đến Hán Trung giúp đỡ Gia Cát Lượng việc cung ứng vận chuyển lương thảo phục vụ bắc phạt.
Đối với Gia Cát Lượng mà nói, đấy cũng là chí công vô tư và biểu hiện trí tuệ chính trị cao độ. Gia Cát Lượng có cá tính rất cẩn thận, song cũng rất tự tin, là người có năng lực, mà không lo nghĩ gì nhiều về những chuyện không đâu, nói tóm lại chỉ nghĩ đến toàn tâm toàn lực vì công việc.
Ông ta so với Lưu Bị lại hơn hẳn về hiểu biết chính trị ở Thục Trung và kết cấu xã hội, để tránh khả năng xảy ra tranh quyền sau khi Lưu Bị mất, ông ta quyết tâm mau chóng xây dựng một ban bệ kế tiếp. Để trong tâm của chính quyền Thục Hán được chuyển giao cho phái Thiếu Tráng thế hệ thứ hai, ông ta tự mình đảm đương công việc rất khó khăn, khai thác nghiệp vụ, đem những ngày sống còn lại cống hiến nam chinh bắc phạt vì tiền đồ của quốc gia.
Bởi thế ông hy vọng những đại thần nguyên lão cũng giống như ông, không nắm mãi quyền lực chính trị thực tế, chỉ cầu làm được việc chứ không cầu quan tước lớn.
Song với Lý Bình mà nói, sự tiết tháo và suy nghĩ cao siêu như vậy là chẳng thể hiểu được. Không dễ dàng gì được Lưu Bị cử làm đại thần phụ tá để gửi con, như vậy ông ta rất dễ phát huy quyền lực. Gia Cát Lượng không ở trong nước, theo lý mà nói, thì Lý Bình ở Thành Đô chỉ huy đại cục mới là đúng! Làm sao mà điều đến Hán Trung để quản lý việc bổ sung hậu cần không dễ ăn chút nào?
Tin rằng Lý Bình về tâm lý nhất định rất bất bình. Ông ta oho rằng Gia Cát Lượng tước mất quyền lực của mình, hơn nữa trong lòng cũng nghiêm khắc chỉ trích sự độc tài của Gia Cát Lượng.
Một lão thần có cùng cách nghĩ với Lý Bình là Liêu Lập. Liêu lập tự mình cho rằng có tài hoa, đủ để làm cánh tay của Gia Cát Lượng, bởi thế mà bất mãn với việc Gia Cát Lượng giao trực tiếp chính quyền cho phái Thiếu Tráng thê hệ thứ hai. Cá tính của Liêu Lập không giống với Lý Bình vẫn ôn hoà nhẫn nại, ông ta thường công khai bày tỏ tình cảm, nói xấu Quách Du Chi, Tưởng Uyển, thậm chí còn khiêu khích quan hệ giữa phái Nguyên Lão và phái Thiếu Tráng, bởi thế bị Gia Cát Lượng nghiêm trị, phế làm thường dân.
Lý Bình nhẫn nại đã nhiều ngày, thậm chí còn đổi chữ “Nghiêm” ra chữ “Bình” ít nhiều về tâm lý có tác dụng trị liệu cho mình. Song sự bất bình trong lòng chẳng tiêu tan, cho nên chỉ cần có cơ hội ông ta đều nghĩ đến phục thù và tiết lộ ra.
Việc vận chuyển lương thảo lần này, sau tháng 5, đã gặp phải những khó khăn giống như Tào Chân năm ngoái, mưa to liên tiếp mấy mươi ngày không ngừng, việc tải lương trở thành khó khăn, Gia Cát Lượng ở tiền tuyến lại không ngừng cấp bách thôi thúc, khiến Lý Bình về tình cảm không thể bình ổn được.
Ông ta đầu tiên phái Mã Trung giả truyền thánh chỉ, bảo rằng hậu phương rất khó khăn, lại phái thuộc hạ là Sầm Thuật thôi thúc Gia Cát Lượng lập tức rút quân. Song ông ta tựa hồ chẳng suy nghĩ kỹ sau khi Gia Cát Lượng trở về, việc giả truyền thánh chỉ, sẽ dẫn đến ra sao. Có thể ông cho rằng Gia Cát Lượng sẽ không rút quân ngay, nhất định phải phái sứ giả đến trao đổi, đến lúc ấy ông ta sẽ đề nghị với Gia Cát Lượng, phái Thiếu Tráng ở triều đình không đủ kinh nghiệm điều hành, mới tạo thành khó khăn hành chính ở hậu phương, không gì bằng để ông ta về Thành Đô, triệt để giải quyết vấn đề chính trị và kinh tế, như vậy sẽ thực sự có quyền lực của đại thần phụ tá. Gia Cát Lượng ở tiền tuyến xa mấy nghìn dặm, kể như Quách Du Chi có liên hệ với ông ta cũng chẳng có phương tiện mau chóng, chỉ cần xử lý được việc này ổn thoả Gia Cát Lượng sẽ khó phát hiện được chân tướng của sự việc.
Ông thực không nghĩ đến Gia Cát Lượng đối với những yêu cầu của chiến trường rất đỗi cẩn thận, bởi thế khi tiếp được tin lương thực khó khăn, đã lập tức tuyên bố rút quân.
Lý Bình thấy thế làm hoang mang, ông sợ Gia Cát Lượng sau khi về Hán Trung sẽ phát hiện chân tướng của mình, truy cứu trọng tội giả truyền thánh chỉ, làm sai lạc quân cơ, song ông ta cũng không biết bởi làm gì để biện hộ và giải thoát được tội lỗi. Có lần, ông ta thậm chí muốn mưu sát Mã Trung và Sầm Thuật, để đổ vấy trách nhiệm, song sự việc đến mức ấy, chưa chắc lừa dối được Gia Cát Lượng, khiến ông ta vẫn ngần ngừ không yên.
Hậu chủ Lưu Thiện ở Thành Đô nhận được tin Gia Cát Lượng đột nhiên rút quân. Do thời xưa thông tin chưa phát triển, phái Thiếu Tráng đang nắm quyền không hiểu được nguyên nhân của việc rút quân, có thể cho rằng quân Thục lại bại trận mà lo lắng không thôi. Bởi thế Lưu Thiện cho người đến chỗ Lý Bình đang giữ việc hậu cần hỏi han vì sao Gia Cát Lượng rút khỏi tiền tuyến.
Đối mặt với vấn đề này, Lý Bình không biết phải trả lời ra sao mới phải, đầu tiên ông dâng biểu lên hậu chủ Lưu Thiện nói bừa việc rút quân lần này là giả vờ, là kế dụ địch mà thôi!
Song từ thông tin trực tiếp giữa Gia Cát Lượng và Hậu chủ, Lưu Thiện mau chóng phát hiện đây tựa hồ chẳng phải giả vờ rút quân, bởi thế yêu cầu Lý Bình nói rõ. Lý Bình bấy giờ đã loạn cả thước tấc, vội vã dâng biểu lên Hậu chủ: Gia Cát Lượng có thể lúc lâm trận sợ địch, ngờ rằng đã vô cớ rút quân.
Trọng thần tâm phúc của Gia Cát Lượng ở Thành Đô, nhận được biểu tấu ấy, không khỏi kinh hãi, lập tức khẩn cấp mật báo cho Gia Cát Lượng ở tiền tuyến. Gia Cát Lượng chẳng để lộ tung tích gì mau chóng trở về Thành Đô. Ông ta đưa lá thư Lý Bình gửi cho mình để đối chiếu lại với tờ biểu mà Lý Bình gửi cho Hậu chủ, lại cho vời những người có liên quan như Mã Trung, Sầm Thuật để hiểu rõ sự thực. Do có nhân chứng, vật chứng đầy đủ, dã tâm và thái độ thiếu trách nhiệm của Lý Bình đã hoàn toàn lộ rõ. Gia Cát Lượng hạ lệnh tạm đình lại chức vụ của Lý Bình, cho ở nhà đóng cửa suy nghĩ.
Ví như chẳng có sự lừa dối của Lý Bình, Gia Cát Lượng bởi khó khăn lương thực mà phải rút quân, bởi thế tội danh Lý Bình làm sai lạc quân cơ thực ra cũng không nghiêm trọng. Song ông ta lấy dã tâm cá nhân, có thái độ lừa trên gạt dưới và trốn tránh trách nhiệm khiến Gia Cát Lượng rất bực tức, phải dâng lên Hậu chủ Lưu Thiện một tờ biểu kể tội như sau:
“Kể từ Tiên đế qua đời đến nay, Lý Bình vẫn lấy lợi ích cá nhân làm chính, mưu cầu hư danh, mà không lo đến việc nước. Đương khi hạ thần chuẩn bị việc bắc phạt có yêu cầu Lý Bình ở Hán Trung lo việc hậu cần, song Lý Bình thấy chức vụ ấy lợi ích không lớn, có yêu cầu được làm Thứ sử Ba Châu cai quản năm quận.
Năm ngoái, hạ thần muốn tây chinh ở Kỳ Sơn có cho vời Lý Bình đôn đốc việc hậu cần, Lý Bình lại nói Tư Mã Ý đã có lệnh chiêu phủ nên ảnh hưỏng đến sự ổn định ở biên giới phía đông, hạ thần biết Lý Bình có dã tâm, muốn lợi dụng việc ấy để đoạt lấy lợi ích cá nhân càng nhiều. Cho nên thần đặc biệt cho con trai của Lý Bình là Lý Phong nắm đạo quân Châu Giang, đãi ngộ đặc biệt như vậy là hy vọng Lý Bình sẽ hoà hợp với triều đình hơn nữa.
Khi Lý Bình đến Hán Trung hạ thần đã giao việc hậu cần cho ông ta toàn quyền xử lý, có nhiều kẻ dưới trách thần quá thiên lệch với Lý Bình, đối với ông ta quá tốt. Song hạ thần cho rằng việc đại sự chưa ổn định, nhà Hán đang nghiêng lệch, nếu quá chỉ trích chỗ ngắn, không bằng rộng khen chỗ dài, để tăng cường sự đoàn kết nhất trí, cùng nỗ lực vì đất nước.
Chẳng ngờ trong lòng Lý Bình chỉ nghĩ đến hư danh và lợi ích cá nhân, bởi thế điên đảo cả trắng đen, dối trên lừa dưới, tạo thành sự lầm lẫn quân sự nghiêm trọng. Đương nhiên lỗi lầm này, thần cũng không thể trốn tránh trách nhiệm, bởi đấy cũng là thiếu sót dùng người không cẩn thận của thần vậy”.
Bởi Lý Bình là đại thần được giao phó việc nước địa vị rất lớn, sự việc này phải phân xử thế nào cho phải? Các đại thần trong triều Thục Hán đều thảo phạt râm ran.
Gia Cát Lượng bầy tỏ rõ ràng cách nhìn nhận của ông đối với việc này: “Lòng trung thành của người ta, cũng giống như cá gắn liền với nước vậy. Cá nếu chẳng có nước nhất định sẽ chết, người ta nếu để mất lòng trung thành sẽ nảy ra điều xấu, đã là lương tướng phải giữ gìn sự trung thành của mình, mới có thể nêu danh muôn thủa được”.
Cuối tháng 8, Hậu chủ Lưu Thiện hạ chiếu chỉ xoá bỏ các chức vụ của Lý Bình, phế làm dân thường.
Đạo quân rất lớn mà Lý Bình cai quản không theo phái chính thống cũng bị giải tán sát nhập vào các đạo quân khác. Con trai Lý Bình là Lý Phong đang làm đốc quân Giang Châu cũng bị điều về Thành Đô, song Gia Cát Lượng vẫn cho làm Trung lang tướng, là quan tham mưu không trực tiếp cầm quân.
Lúc đó có nhiều người cho rằng gia tộc Lý Bình có thể đều bị phế truất, chẳng ngờ Gia Cát Lượng nghiêm khắc trừng trị Lý Bình, còn đối với gia tộc ông ta lại khoan dung đặc biệt, người con cả là Lý Phong ngoài việc được kế thừa tước vị vẫn có thể tham dự đại sự quân chính triều đình Thục Hán. Gia Cát Lượng còn đặc biệt viết một bức thư hỏi han yêu cầu Lý Phong lo lắng giữ gìn chức trách, cùng với Trưởng sử Tưởng Uyển gánh vác công việc, hết lòng vì việc quốc gia.
Lý Bình tuy bị đối xử nghiêm khắc, rốt cuộc ông ta cũng tự mình tỉnh ngộ, không oán giận gì với Gia Cát Lượng, khiến việc giải tán và phân chia đại quân của Lý Bình cũng hoàn toàn thuận lợi. Hơn nữa Lý Phong vẫn được trọng dụng rất đỗi cảm động. Sau này, Lý Bình đang ở quận Tử Đồng nghe tin Gia Cát Lượng bị bệnh từ trần, rất đỗi thương tâm, không lâu cũng đột nhiên phát bệnh nặng qua đời.
 
*
*      *
 
Lời bình của Trần Văn
Nghe nói thời Chiến quốc của Nhật Bản có một thần tượng quân sự là Vũ Điền Tín Huyền, rất thích sử dụng chiến thuậtchim gõ kiến”.
Chim gõ kiến khi tìm các con côn trùng nhỏ ở cây, thường dùng mỏ nhọn gõ vào vỏ cây, cố ý gây ra tiếng động dẫn dụ những con côn trùng nhỏ ở trong cây, đương khi côn trùng thò đầu ra để xem có việc gì xảy ra, chim gõ kiến bèn dùng mỏ tóm lấy côn trùng rất chuẩn xác.
Vủ Điền Tín Huyền cho rằng bất kể đối phương mạnh yếu ra sao, nếu không nắm rõ địch tình, ông ta nhất định phải chú ý cẩn thận, đầu tiên dùng một số ít binh lực thăm dò tình hình quân địch rồi mới tiến hành giao chiến thực sự.
Bởi có chuẩn bị chu đáo, vùng Giáp Châu mà Vũ Điền Tín Huyền cai quản, lúc đó lực lượng không lớn lắm, song cũng như Napôlêông luôn luôn khi phải quyết chiến đều tập kết được binh lực nhiều hơn đối phương để giành lấy thắng lợi an toàn nhất.
Tín Huyền với sự cẩn thận như thế là một đối thủ đáng sợ nhất với các võ tướng đương thời. Ngoài sự cẩn thận khi tác chiến, trong đám quần hùng thời Chiến quốc ở Nhật Bản, Tín Huyền là một người có biểu hiện giỏi giang nhất về điều hành hậu cần và kinh tế.
Giáp Châu tuy là vùng núi nghèo khổ song việc cung ứng lương thảo cho chiến tranh, Tín Huyền vẫn đạt được những thành công lớn nhất.
Lúc ấy ông ta biết rằng ở vùng Tam Hà có một lãnh chúa trẻ tuổi là Đức Xuyên Gia Khang, là người thận trọng và keo kiệt nổi tiếng, không khỏi than rằng “đấy mới là hậu sinh ưu tú đáng sợ nhất!”.
Vũ Điền Tín Huyền vào cuối đời, từng đánh bại được Đức Xuyên Gia Khang ở Tam Phương Nguyên, song lại không muốn tận diệt, bút giả cho rằng Tín Huyền vốn có lòng yêu mến tài năng mà có chút nương nhẹ chăng.
Trong cuộc giao chiến lần đầu giữa Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý, nhìn bề mặt không có gì rõ ràng, hai bên đều rất cẩn thận, không để đối phương lợi dụng khe hở. Ngoài chiến quả mà Ngụy Diên giành được khi tập kích Ngụy Bình, Giá Hủ, và sau này Trương Cáp bị tử trận ở Mộc Môn, có thể nói khắp cục diện trận chiến đều trầm lặng giống như sấm sét rất lớn mà mưa thì nhỏ; chỉ thấy quân đội điều động đến rồi điều động đi, hai bên động viên hơn 10 vạn người, hao phí không ít lương thực, song hai bên thực sự bị cuốn hút vào cuộc quyết chiến, đều chỉ khoảng một vạn người mà thôi.
Chẳng qua, từ bình diện sách lược mà xem, thỉ thấy khá có ý tứ, hai bên đều thăm dò đối phương, để hiểu rõ đối phương, đích xác đích đáng được gọi là kỳ phùng địch thủ.
Cuộc giao chiến lần này, bề ngoài Gia Cát Lượng chiếm thế thượng phong, hơn nữa Trương Cáp bị tử trận bất ngờ đối với Tào Ngụy là một đòn đánh rất nghiêm trọng. Song về thực chất mà nói, Tư Mã Ý cũng học được không ít, ông ta lần đầu tiên chỉ huy chiến cục ở Quan Trung và Lương Châu, đối thủ là danh tướng bậc nhất có kinh nghiệm phong phú, lại chẳng bị tổn thất nghiêm trọng. Gia Cát Lượng vẫn bởi vấn đề lương thực mà không thế rút quân. Tư Mã Y về thực tế cũng chưa cam chịu thất bại.
 
0
Chương XXVIII
GIÓ THU THỔI QUA GÒ NGŨ TRƯỢNG
 
Năm Kiến Hưng thứ 12, cuối tháng 8, Gia Cát Lượng hào kiệt bậc nhất của Thục Hán ngã bệnh mất ở gò Ngũ Trượng trong doanh trại tiền tuyến, lúc 54 tuổi, kể từ lều cỏ Long Trung bước ra đến giờ, ông đã trải qua 27 năm.


1. Năm lần bắc phạt, tận lực tấn công.
Bắc phạt lần thứ tư thất bại, chủ yếu là ở khó khăn cung ứng lương thực. Song Gia Cát Lượng sau khi liên tục đối trận với những danh tướng bậc nhất Tào Ngụy như Tào Chân, Trương Cáp và Tư Mã Ý, niềm tin càng tăng thêm, đặc biệt là sau khi tập kích giết chết Trương Cáp, Gia Cát Lượng càng nắm chắc hơn việc chiếm được Quan Trung, đánh bại Tào Ngụy.
Để cải thiện vấn để tải lương, ông đã cải tiến thêm một bước trâu gỗ ngựa máy. Năm Kiến Hưng thứ 11, Gia Cát Lượng lại tăng cường kế hoạch nguồn lương và nguồn lính. Ông ta cho khai khẩn với quy mô lớn ở Hoàng Sa (tỉnh Thiểm Tây), lại thao luyện việc vận tải bằng trâu gỗ ngựa máy ở Bạch Mã Sơn vùng Cảnh Cốc (tỉnh Tứ Xuyên). Tháng 11 đang mùa đông, lại cho xây dựng ở Tà Cốc kho lương lớn chưa từng thấy, để hoàn chỉnh chuẩn bị việc lại tiếp tục bắc phạt. Liền hai năm, đại bộ phận thời gian của Gia Cát Lượng vẫn ở Hán Trung để luyện binh giảng võ, khuyên quân cầy cấy, có lúc lại trở về Thành Đô thăm người nhà, hai người con gái của ông được sinh ra trong thời gian này là Gia Cát Hoài và Gia Cát Quả lúc ấy Gia Cát Lượng đã 52 tuổi, lại vẫn sinh được hai gái có thể thấy sức khoẻ của ông vẫn khá tốt.
Chẳng qua, Gia Cát Lượng vẫn qua lại giữa tiền tuyến và kinh thành như vậy, chẳng phải để đoàn tụ với gia đình, mà chủ yếu là quân chính của Thục Hán đã nảy sinh những rối ren nghiêm trọng.
Phái chiến sĩ do hổ tướng Ngụy Diên đứng đầu, với phái tham mưu do Xa kỵ tướng quân Lưu Đàm và Tùy quân tướng quân Dương Nghi lãnh đạo, do bất hoà ý kiến từ trước dần dần diễn biến thành tranh giành ý kiến, hai bên bài xích lẫn nhau, nảy sinh vấn đề vận hành trong quân đội khiến Gia Cát Lượng bởi thế đau đầu không thôi.
Ngụy Diên vẫn rất được lòng quân, lại thêm dũng mãnh thiện chiến, là tướng tài không thể thiếu ở tiền tuyến. Dương Nghi thì giỏi nghiệp vụ hành chính, đối với vấn đề vận tải lương thực rất khó khăn, thì đưa ra những biện pháp giải quyết hữu hiệu, rất được Gia Cát Lượng xem trọng. Hai người này đều là tay phải tay trái mà Gia Cát Lượng không thể thiếu. Để điều hoà ý riêng của hai bên, Gia Cát Lượng đành bắt Xa kỵ tướng quân Lưu Đàm, với lý do say rượu làm càn phải trở về Thành Đô, để giảm nhẹ áp lực tâm lý của Ngụy Diên vẫn đối địch với nhóm Dương Nghi.
Bởi thế, sự lo lắng và khối lượng công việc của Gia Cát Lượng tăng thêm không ít. Cũng lúc này ông ta nghe nói người bạn già từ hồi ở Long Trung là Ngự sử trung thừa Từ Thứ và Điểm nông hiệu uý Thạch Thao đều được Tào Ngụy cho nghỉ hưu, Gia Cát Lượng không khỏi cảm thán rằng: “Nhân tài nước Ngụy sao nhiều vậy, đến như những người ấy cũng có cơ hội nghỉ hưu ư!”.
Cũng vào thời kỳ này sự ăn uống và giấc ngủ của Gia Cát Lượng rõ ràng giảm sút, tư lự vô cớ càng thêm nghiêm trọng, mọi việc lớn nhỏ nếu không tự mình nhúng tay, lấy làm không yên tâm, tình trạng sức khoẻ đã bắt đầu suy thoái.


2. Tiến quân đến gò Ngũ Trượng.
Năm Kiến Hưng thứ 12, vào tháng 2, Gia Cát Lượng dẫn binh mã như lớp lang bắc phạt lần thứ tư, lại xuất chinh lần nữa.
Lần này chiến tuyến của ông có thay đổi rất lớn. Sách lược hai lần đi vòng phía tây đánh Lương Châu đều gặp thất bại. Lại nữa vấn đề vận chuyển lương thảo, do chiến tuyến kéo dài lại càng thêm nghiêm trọng. Ngoài ra, liên tục đối trận mấy lần, trận tuyến Tào Ngụy ở đấy đã tăng cường rất lớn lực lượng phòng vệ. Từ đường Tý Ngọ tấn công Tràng An, tuy là nhanh chóng nhất, song đường đi rất khó khăn, cũng có thể tạo ra khó khăn lớn về vận chuyển.
Bởi thế, ông lựa chọn đường Ba Tà, ra khỏi Tà Cốc, đánh vào phía tây nam Quan Trung là vị trí quan trọng Mi huyện. Năm trước, khi cho xây dựng ở Tà Cốc những kho lương lớn là đã quyết định chiến thuật này.
Chiến thuật này hiệu quả tuy rất trực tiếp song đàn hồi cũng rất lớn. Để phân tán lực lượng của Tào Ngụy, Gia Cát Lượng đã đặc biệt phái sứ giả đến nước Ngô, giao ước với Tôn Quyền cùng khởi binh, đã được Tôn Quyền gật đầu đồng ý.
Khoảng tháng 2, Gia Cát Lượng vẫn lấy Ngụy Diên làm tiên phong, ra Tà Cốc trực tiếp đánh Mi huyện, tự mình dẫn quân lính chủ lực khoảng 10 vạn người, theo sau tiến vào Ngũ Trượng, đóng doanh trại ở đấy.
Tào Tuấn lại lấy Tư Mã Ý làm tổng tư lệnh, theo bờ nam sông Vị Thủy bầy trận, công sự phòng ngự dựa lưng vào sông, chuẩn bị trường kỳ ngăn chặn sự tấn công của quân Thục. Gò Ngũ Trượng ngày nay thuộc huyện Kỳ Sơn tỉnh Thiểm Tây, là một vùng gò đồi thấp, chất đất phì nhiêu thích hợp trồng trọt lương thực, Gia Cát Lượng lựa chọn vùng đất này, hiển nhiên là bởi vấn đề cung ứng lương thực, ông ta dự liệu tác chiến trường kỳ, có sự chuẩn bị nên trước chưa thắng được mà đợi địch thì có thể thắng được. Khá thấy lúc bấy giờ, vấn đề sức khoẻ của Gia Cát Lượng là khá tốt.
Thực ra Tư Mã Ý rất sợ Gia Cát Lượng phát động quyết chiến. Lúc ấy bộ tham mưu đề nghị ông ta bố trí quân ở phía bắc Vị Thủy, song Tư Mã Ý cho rằng như thế sẽ dẫn quân Thục vượt qua đông Mi huyện, để bảo vệ Tràng An, thì không thể không tiến hành quyết chiến. Tuy quân Tào chiếm ưu thế tuyệt đối về số người, song sau khi Trương Cáp mất, trận tuyến Tào Ngụy thực tế thiếu một viên chỉ huy đối đầu với Ngụy Diên ở chiến trường, bởi thế nên tiến hành giao chiến lớn sẽ chẳng có lợi.
Ông ta phải hạ lệnh dời quân đến phía nam Vị Thủy xây dựng doanh trại phòng ngự, mục đích chủ yếu là để dốc toàn lực ngăn cản Gia Cát Lượng đánh sang phía đông hoặc phía bắc.
Do hai bên vẫn cẩn thận đối trận như lần trước, hai bên thi gan ở gần gò Ngũ Trượng, cục điện chiến trường tạm thời rơi vào thế đông cứng.
Cuối tháng 2, Gia Cát Lượng hạ lệnh cho đại quân tự mình chỉ huy, bầy trận phân tán ở gò Ngũ Trượng, theo bờ sông làm đồn điền ở vùng Khâu Lăng dưới núi Thái Bạch, chuẩn bị tự cung tự cấp lâu dài về lương thực.
Nhìn bề ngoài, Gia Cát Lượng như nhàn hạ không vội vã, thực ra suy nghĩ cháy bỏng của ông vẫn lộ rõ hàng ngày. Nghe nói ông tự mình kiêm nhiệm việc quản lý phẩm chất của tùy tùng, hằng ngày xem kỹ hiệu quả việc vận chuyển của trâu gỗ ngựa máy, lại tự mình cải tiến nỏ liên châu, xem xét việc xử tội từ 20 roi trở lên. Hiển nhiên Gia Cát Lượng lợi dụng công việc không tiêu phí đầu óc này để tiêu hao thời gian, giải toả áp lực tâm lý.
Tháng 3, Hoàng đế cuối cùng của nhà Hán cùng tuổi với Gia Cát Lượng là Hán Hiến đế, sau 12 năm bị bãi truất ngã bệnh mất ở Hứa Xương, lúc 54 tuổi, kết thúc cuộc đời chính trị nhiều gập ghềnh của ông ta.
Ngụy Minh đế Tào Tuấn lệnh cho Tư Mã Ý cố thủ trận địa, tránh mũi nhọn tấn công của địch, để đại quân Thục Hán tiến thoái lưỡng nan, chỉ cần họ rơi vào tình huống không đủ lương thực thì có thể dễ dàng đánh bại được.
Chiến lược kiên trì phòng thủ đã trở thành công thức trung tâm quyết sách của Tào Ngụy. Dẫu Gia Cát Lượng khiêu khích, dẫn dụ, giả vờ ra sao, Tư Mã Ý thảy đều không để ý, đối với sự tấn công của quân Thục, đều lấy mưu để đối phó, các binh sĩ một bước cũng không rời khỏi doanh trại, lại khiến lại cho Gia Cát Lượng thực sự bó tay không có kế sách gì.
Vào thời gian này ông ta viết một bức thư gửi cho anh cả Gia Cát Cẩn bày tỏ: Cháu Gia Cát Chiêm năm nay 8 tuổi, thông minh lại đáng yêu chỉ hơi ngại sớm chín chắn một chút, sợ sau này không có khí chất lớn.
Trong “Gia Cát Lượng tập”. Thấy ở hai thiên “Giới Tử Thư” có nói đến đạo cầu học, mà cũng nói đến phải tiết kiệm chè rượu khi tiếp khách. Nghĩ rằng đây là viết cho con nuôi Gia Cát Kiều (là con thứ của Gia Cát cẩn, được Gia Cát Lượng nhận làm con nuôi đã tử trận trong chiến dịch Nhai Đình), nếu không với người con trai mới 8 tuổi mà giáo huấn như thế thì có nghĩa gì?
Chẳng qua, sách lược đồn điền của Gia Cát Lượng làm được khá thành công bởi là ông ta điều hành quân sĩ nghiêm minh, những binh sĩ làm đồn điền với dân trong vùng rất hoà hợp.
Tam quốc chí có chép: “Trăm họ yên ổn, quân không tư riêng vậy”. Lại thêm có sự chuẩn bị từ trước, tạm thời việc cung ứng lương thực của quân Thục Hán tựa hồ chưa có vấn đề gì.
Tư Mã Ý cố thủ ở trong doanh trại, cũng nghĩ không ra biện pháp đối phó gì đành yêu cầu hậu phương chi viện nhiều hơn nữa để tiếp tục cố thủ lâu dài. Chiến tuyến phía tây không có giao tranh, song chiến tuyến phía đông lại bắt đầu náo nhiệt.


3. Tôn Quyền xuất chiêu không đâu.
Khoảng tháng 5, Tôn Quyền tự mình dẫn 10 vạn đại quân đánh vào vị trí quân sự Hợp Phì ở phía đông Tào Ngụy. Đồng thời, Gia Cát Cẩn và Lục Tốn cũng tiến quân vào Giang Hạ, kéo ra Miện Khẩu, chuẩn bị tiến đánh Tương Dương.
Ngoài ra Tôn Chiếu, Trương Thừa cũng đem một số binh mã bày trận ở Quảng Lăng, Hoài Âm suốt một dải dài.
Thục Ngô cùng bắc phạt, chính quyền Tào Ngụy gặp phải áp lực chưa từng có. Người thay thế Tư Mã Ý chỉ huy chiến tuyến phía đông của Tào Ngụy là lão tướng Mãn Sủng có kinh nghiệm tác chiến phong phú, văn võ toàn tài.
Mãn Sủng thời Tào Tháo đã được trọng dụng, lại có năng lực tác chiến độc lập chỉ huy mấy năm vừa rồi đại quân nước Ngụy phần lớn đến Quan Trung để đối phó với những cuộc bắc phạt liên tục của Gia Cát Lượng, đến nỗi quân lực Mãn Sủng có thế sử rất rộng, một thời gian cũng cảm thấy rất đỗi đau đầu.
Trải qua đánh giá cẩn thận Mãn Sủng quyết định chọn sách lược kiên trì phòng thủ, ông ta hạ lệnh tướng trấn thủ các nơi đóng cửa thành, tự mình dẫn đại quân chủ lực, chuẩn bị nghênh chiến với đội quân bắc chinh của Tôn Quyền, mặt khác thì xin Tào Tuấn chi viện thêm.
Xem xét kỹ chiến cục, Tào Tuấn quyết định ngự giá thân chinh đối kháng với Tôn Quyền.
Tháng 7, chiêu mộ đội cảm tử, Mãn Sủng đột kích đại bản doanh của Tôn Quyền; người cháu của Tôn Quyền là Tôn Thái bị tử trận, quân Ngô bị vấp ngã nghiêm trọng, lại thêm khí trời nóng bức, quân Ngô phần lớn nhiễm dịch bệnh, lại nghe nói Tào Tuấn tự mình dẫn 30 vạn đại quân, đã tiến sát mấy trăm dặm, Tôn Quyền vội lo lắng nếu giao chiến ác liệt thì quân đội của mình bất lợi phải khẩn cấp hạ lệnh rút quân.
Tôn Chiếu bố trí ở Hoài Âm, cũng bởi Tôn Quyền đã rút quân mất đi bình phong che chở, cũng rút về Trường Giang.
Lục Tốn đang ở chiến tuyến Kinh Châu nghe tin, lập tức phái tướng thân tín là Hàn Biểu đến gặp Tôn Quyền xin chỉ thị tác chiến, không may Hàn Biểu giữa đường bị quân thám báo của Tào Ngụy bắt sống.
Gia Cát Cẩn đang ở tiền tuyến nghe được tin này, rất đỗi hoang mang, lập tức phái người đến thông báo với Lục Tốn: “Đại quân của chúa thượng đã rút về Giang Nam quân giặc lại bắt được Hàn Biểu, khó khăn trước mắt của chúng ta rất nhiều, xem ra phải mau chóng rút quân vậy!”.
Lục Tốn thấy sứ giả đến cũng không nói năng hoặc trả lời gì, trái lại trước mặt sứ giả, còn bắt người đi trồng đậu, còn mình vẫn đánh cờ, bắn tên chẳng khẩn trương chút nào.
Sứ giả về báo lại với Gia Cát Cẩn, nghe nói vậy Gia Cát Cẩn không khỏi cảm thán rằng: “Bá Ngôn (tức Lục Tốn) vẫn có khí chất lớn, nhiều mưu lược, nghĩ rằng sớm đã có kế sách đối phó”, bèn tự mình đến thỉnh giáo Lục Tốn .
Lục Tốn bày tỏ: “Quân giặc biết Chúa thượng đã rút, lúc này chúng ta khá bất lợi, tiến lên thì chẳng thể được, rút lui thì có nguy cơ bị chặt đứt, nếu xử lý không thoả đáng, có thể sẽ bị tan vỡ hoàn toàn. Bởi thế trước mắt quan trọng nhất là phải bình tĩnh dùng kỳ binh để ứng biến, mới có thể thoát được khó khăn. Nếu như bây giờ vội vã rút quân, quân giặc biết rõ có thể đã hoang mang, ắt sẽ ngăn chặn, như vậy chúng ta nhất định thất bại”.
Hai người bàn bạc bỏ thế thủ chuyển thế công ngay lúc ấy.
Gia Cát Cẩn phụ trách chỉ huy thủy quân, bầy trận, vùng hiểm yếu sông Hán Thủy. Lục Tốn tự mình dẫn quân chủ lực tiến đánh thành Tương Dương phía bắc. Tướng giữ kinh bắc của Tào Ngụy vẫn sợ Lục Tốn , đem toàn quân mau chóng rút về giữ thành không dám ra đánh. Gia Cát Cẩn chỉ huy đội thuyền, xuôi theo hạ lưu sông Hán Thủy, Lục Tốn cũng dẫn quân lính rút theo đội thuyền. Do quân ngũ chỉnh tề như thế, quân Tào không dám đến gần, quân Lục Tốn sau khi thuận lợi hợp quân với Gia Cát Cẩn, mau chóng rút lui. Khi đến cửa Bạch Hà, Lục Tốn còn giả vờ lên bờ đi săn, lại ngầm phái bộ tướng tập kích vào Tân Thi ở phía bắc quận Giang Hạ, tiếp đến là An Long và Thạch Dương bắt giết hơn 1000 quân Tào Ngụy, khiến cho hành động quân sự lần này của quân Đông Ngô không đến nỗi hoàn toàn thất bại, làm phấn chấn tinh thần binh sĩ không ít.


4. Gia Cát Lượng trêu ngươi, Tư Mã Ý nhẫn nhục.
Sau khi đại quân Đông Ngô rút lui, không ít đại thần luôn khuyên Tào Tuấn nhân cơ hội ngự giá thân chinh, đến Tràng An để động viên Tư Mã Ý, có thể giải toả được sự uy hiếp của Gia Cát Lượng.
Tào Tuấn cười mà rằng: “Tôn Quyền đã rút chạy, tin rằng Gia Cát Lượng cũng đã kinh hãi, đại quân của Tư Mã Ý đủ đối phó với họ, nói chung chẳng cần ta phải lo lắng”.
Đấy chỉ là để động viên quân đội của mình, Tào Tuấn lo lắng vẫn là nếu mình rút quân, Tôn Quyền lại sẽ bắc chinh bởi thế không gì bằng cứ ở phía Đông Ngô để Tư Mã Ý một mình ngăn cản Gia Cát Lượng, ông ta tin rằng chỉ cần Tư Mã Ý giao chiến, Gia Cát Lượng sẽ chẳng có được biện pháp gì.
Đương nhiên, kế hoạch bắc phạt của Gia Cát Lượng, vẫn không ỷ lại vào sự giúp đỡ của Đông Ngô, Tôn Quyền rút quân, cũng không ảnh hưởng đến ông ta nhiều lắm.
Để Gia Cát Lượng đau đầu nhất vẫn là sách lược không đáp ứng của Tư Mã Ý. Từ tháng tư sang tháng năm ở gò Ngũ Trượng đã gần trăm ngày, Gia Cát Lượng không ngừng hạ chiếu thư tiến hành khiêu chiến, song Tư Mã Ý đều treo “miễn chiến bài”. Gia Cát Lượng bất đắc dĩ đành phải cho làm đồn điền với quy mô lớn, chuẩn bị thanh toán Tư Mã Ý đến cùng.
Tháng 7, Gia Cát Lượng vẫn chưa có được biện pháp gì, tự mình bày ra trò chơi trong lúc nhàn rỗi, ngồi lên một chiếc xe gỗ màu trắng, lại cho các tiểu đồng hộ vệ, mặc áo trắng, đội khăn quấn, tay cầm quạt lông trắng, chỉ huy ở trước trận, như là hoàn toàn không võ trang gì, nhìn vài chục vạn quân Tào như chẳng có, cố ý chọc tức các tướng sĩ Tào Ngụy. Đây cũng là hình tượng cố định trong kinh kịch và tiểu thuyết về Gia Cát Lượng. Bình thường Gia Cát Lượng không hoàn toàn chẳng mang võ bị như vậy, chỉ là bởi dẫn dụ Tư Mã Ý ra giao chiến, cố ý ăn mặc thường phục như thế mà thôi.
Tuy tướng sĩ Tào Ngụy rất có phản ứng, song sau khi Trương Cáp chết, Tư Mã Ý đã có thể hoàn toàn không chế động tĩnh của quân sĩ, bởi thế ông nghiêm cấm tất cả quân sĩ có bất cứ hành động gì.
Thời gian này, về tình hình sức khoẻ của Gia Cát Lượng, có thể đã phát sinh biến hoá nghiêm trọng, bởi thế ông mất đi sự bình tĩnh thường ngày trở nên vội vàng.
Tư Mã Ý mau chóng phát hiện được hiện tượng này trước trang phục bề ngoài và hành động trêu trọc của Gia Cát Lượng, ông ta không khỏi cảm thán rằng: “Gia Cát Lượng đích xác là danh sĩ vô địch ở đời vậy!”.
Xuất chiêu lần này không giải quyết được gì, Gia Cát Lượng nóng nảy hơn, ông vội cho người đưa một bộ trang phục nữ cho Tư Mã Ý, nhạo báng ông nhút nhát như là phụ nữ, chẳng có can đảm gì, Tư Mã Ý tuy có vẻ không tức giận gì, song đích xác đã không dễ ngăn cản được áp lực của bộ tướng muốn được giao chiến. Để vỗ yên tinh thần binh sĩ, Tư Mã Ý triệu tập hội nghị quân sự nói: “Hoàng thượng trước lúc về Lạc Dương, từng hạ chỉ yêu cầu chúng ta kiên trì cố thủ, nay mọi người đều cho rằng cần phải giao chiến, vậy chúng ta phải tức thì xin hoàng thượng phê chuẩn!”.
Thế rồi ông ta kể rõ tình hình Gia Cát Lượng khiêu khích hạ nhục, dâng tấu biểu lên Tào Tuấn, để biểu thị sự bực tức của các tướng sĩ, phải chăng có thể cho giao chiến, để hợp với lòng mong mỏi của mọi người.
Các tướng sĩ Tào Ngụy nóng vội cầu chiến tạm thời đành phải chờ đợi chỉ thị của Tào Tuấn.
Tào Tuấn tự hiểu rõ ý tứ của Tư Mã Ý, ông ta lập tức phái Vệ uý Tân Tỷ làm Tham mưu quân sự, mang lệnh đến tiền tuyến úy lạo tướng sĩ. Tin tức Tân Tỷ đến tiền tuyến chỉ về quyết sách giao chiến cũng bị thám mã của Thục Hán biết được.
Tham mưu Khương Duy nói với Gia Cát Lượng: “Tân Tỷ mang lệnh đến, xem ra Tư Mã Ý phải chăng sẽ không đánh vậy”.
Gia Cát Lượng cũng than thở rằng: “Đích xác như thế, Tư Mã Ý nói chung không muốn đánh, ông ta sở dĩ dâng biểu xin chỉ thị, chẳng qua là đối phó với thuộc hạ nóng nảy cầu chiến mà thôi, binh pháp có câu “Tướng ở ngoài biên, lệnh vua có chỗ không theo”. Nếu như ông ta có ý quyết một trận thư hùng với chúng ta, đâu cần phải đi nghìn dặm xin chỉ thị của hoàng đế nhỉ, chẳng phải là làm nhầm lẫn quân cơ ư?”
Gia Cát Lượng phái sứ giả đến thăm Tư Mã Ý, hỏi han cảm tưởng khi nhận được bộ trang phụ phụ nữ ra sao. Lúc này Tư Mã Ý đã hoàn toàn bình tĩnh lại, ông ta phán đoán sức khoẻ của Gia Cát Lượng đã có vấn đề, bởi thế chính thức thản nhiên tiếp kiến sứ giả Thục Hán đến để trêu tức. Ông ta né tránh không nói đến việc quân sự nhùng nhằng, mà chuyện trò bình thường với sứ giả khá thân thiết.
Tư Mã Ý nói: “Thừa tướng Gia Cát Lượng gần đây khá tốt, ông ta thực sự là người rất hiểu biết, và có chừng mực”. Do không khí nhàn đàm khá hoà hợp, sứ giả không ngờ gì đã để lộ ra tình hình sức khoẻ của Gia Cát Lượng:
“Phải đấy! Thừa tướng Gia Cát Lượng làm việc rất vất vả, dậy sớm thức khuya, việc xử án phạt 20 gậy trở lên đều tự mình xét hỏi cẩn thận, mà khẩu vị mỗi ngày mỗi kém, có khi suốt mấy ngày đều không ăn được cơm...”
Sau khi sứ giả ra về, Tư Mã Ý lập tức triệu tập hội nghị sự, thận trọng nói: “Thời gian đối trận sẽ không lâu nữa, Gia Cát Khổng Minh ăn ít làm nhiều, không thể chống đỡ được lâu dài”. Ông hạ lệnh cho các quan chỉ huy quân đội, kiên trì phòng thủ trận địa của mình, tuyệt đối không được giao chiến, để đợi đến khi Gia Cát Lượng không thể không rút quân, lúc đó sẽ truy kích gấp.


5. Rơi rụng sao lớn, Thừa tướng về trời
Từ mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 12, tình hình sức khoẻ của Gia Cát Lượng rõ ràng đã xấu đi. Mấy năm trước từ việc ông liên tục sinh được con gái mà xem sức khoẻ không thể kém đi, mà hai năm nay chẳng có giao tranh, Gia Cát Lượng lẽ ra cũng không đến nỗi phải cháy dạ suy nghĩ nhiều lắm.
Song đến cuối tháng 7, khi Gia Cát Lượng với quạt lông, khăn quấn xuất hiện ở tiền tuyến, tình hình sức khoẻ của ông đã xấu đi nhiều. Sách lược đưa y phục phụ nữ để nhạo báng đích xác là bởi suy nghĩ nóng nảy mà có cách làm thiếu thận trọng vậy.
Xem xét bệnh tình của Gia Cát Lượng, ông ta quá suy nghĩ, lo lắng mà thổ huyết, sự ăn uống sút kém, song không thấy ghi chép bị ho hắng, căn bệnh thực ra ở dạ dày. Gia Cát Lượng là người cao lớn vạm vỡ, cá tính lại bình tĩnh cẩn thận, vẫn chú trọng đến sức khoẻ, ví như có bệnh dạ dày cũng không mau chóng xấu đến như thế mới phải, bởi có thể ông ta mắc chứng ung thư dạ dày chăng?
Đầu tháng 7, ông viết một lá thư gửi cho Hậu chủ, bầy tỏ sức khoẻ của mình không tốt, hy vọng Hậu chủ Lưu Thiện lưu tâm đến việc nước hơn nữa, tâm lý cần có sự chuẩn bị, hiển nhiên Gia Cát Lượng đã phán đoán được bệnh tình nghiêm trọng của mình, có lo lắng đến mệnh sống. Gia Cát Lượng rất có đầu óc khoa học, lại có nghiên cứu về sinh lý học, lại nữa sức khoẻ vẫn khá tốt, nếu như có bệnh dạ dày nói chung, lẽ ra không đến nỗi khiến ông phải lo lắng như thế, mà sức khoẻ cũng không đến nỗi xấu đi mau chóng như vậy. Hiển nhiên Gia Cát Lượng và các thầy thuốc quân sự của ông, đối với bệnh tình của ông ta đã hoàn toàn bó tay không có cách gì chữa nổi.
Đầu tháng 8, ông ta viết một bức thư mật dâng lên Hậu chủ Lưu Thiện bày tỏ: “Hạ thần nếu như xảy việc chẳng may, việc sau này có thể giao cho Tưởng Uyển”. Ông ta nói Tưởng Uyển có năng lực ổn định được Thục Hán, phục hưng nhà Hán, tiếp tục được công việc của mình, cũng hy vọng Lưu Thiện sớm có xếp đặt để tránh tạo thành sự hỗn loạn chính trị tạm thời, Lưu Thiện tiếp được bức mật thư này tự nhiên rất kinh hãi.
Ông ta lập tức phái Thượng thư Lý Phúc, ngày đêm phóng đến tiền tuyến gò Ngũ Trượng thăm hỏi bệnh tình của Gia Cát Lượng ra sao.
Gia Cát Lượng lúc này đã hoàn toàn không ngồi dậy được, ông ta nằm trên giường bệnh trao đổi hồi lâu nhũng điều cơ mật với Lý Phúc, lại dặn dò Lý Phúc, tự mình chịu sự ủy thác của Tiên đế, trước mắt sự nghiệp bắc phạt chưa thành công, là bởi thiên mệnh không thể không chia lìa, hy vọng đại thần triều đình vẫn một lòng như cũ, tận tâm phụ tá vương nghiệp, kế tục hoàn thành sự nghiệp mà rốt cục mình chưa hoàn thành được. Lại yêu cầu Lý Phúc chuyền đến Hậu chủ rằng, sau khi ông ta mất không cần đưa về Thành Đô chôn cất, cứ trực tiếp an táng ở núi Định Quân tại tiền tuyến là được, để tượng trưng chí hướng da ngựa bọc thây chết ở sa trường. Lý Phúc thảy đều ghi nhớ lời di chúc của Gia Cát Lượng, liền mau chóng trở về Thành Đô báo cáo lại với Hậu chủ.
Tiếp đó Gia Cát Lượng triệu tập hội nghị tham mưu trận địa, những người tham gia Trưởng sử Dương Nghi, Tư Mã Phí Vỹ và Hậu quân Khương Duy. Chẳng có các tướng lĩnh quân đoàn tham dự, hiển nhiên Gia Cát Lượng vẫn không muốn để đại quân Thục Hán đang bố trí ở gò Ngũ Trượng biết được mệnh sống của mình chỉ còn sớm tối. Từ hành động sau này của Dương Nghi, Phí Vỹ, Khương Duy mà xem, hội nghị lần này bàn đến việc rút quân sao cho thực thuận lợi.
Mấy ngày sau, Lý Phúc lại vội vã quay lại, ông ta khi chạy vào doanh trại thấy Gia Cát Lượng đã hôn mê không tỉnh lại được, không khỏi đau đớn khóc rằng: “Chỉ đến chậm có một bước mà ta làm hỏng đại sự quốc gia”.
Như là một kỳ tích ở đời, có thể Gia Cát Lượng vẫn còn chưa đi xa chợt nghe thấy tiếng khóc của Lý Phúc lại hồi quang phản chiếu mà chợt tỉnh lại. Ông ta nhìn thấy Lý Phúc, đã nói ngay rằng: “Ta biết việc ông cần hỏi, người có thể lập tức kế thừa công việc của ta là Công Đàm (chỉ Tưởng Uyển)”.
Lý Phúc: “Công Đàm sau khi trăm tuổi thì có ai kế thừa được?
Gia Cát Lượng: “Văn Vỹ có thể làm được (chỉ Phí Vỹ)”.
Lý Phúc: “Sau Phí Vỹ đến ai?”
Gia Cát Lượng mặc nhiên không đáp, mọi người đều chạy đến thì đã lạnh hẳn rồi.
Cuối tháng 8 năm Kiến Hưng thứ 12, Gia Cát Lượng người hào kiệt bậc nhất của Thục Hán đã ngã bệnh mà mất ở gò Ngũ Trượng trong doanh trại tiền tuyến lúc 54 tuổi; kể từ khi ông ta ra khỏi lều cỏ Long Trung đến giờ đã trải qua 27 năm; ở chức vụ Thừa tướng Thục Hán cũng đã được 14 năm.
Cuốn “Tấn Dương thu” của Tôn Thịnh đời Đông Tấn có chép: “Truyền thuyết kể rằng vào hôm Gia Cát Khổng Minh từ trần, ở trên khoảng trời phía bắc, có một ngôi sao đỏ rất lớn, từ phía đông bắc theo hướng tây nam chợt loé sáng rồi tắt đi...”.
Gia Cát Lượng đột ngột mất đi, trời đất cũng cảm thấy buồn rầu bởi chí hướng cuối cùng chưa hoàn thành vậy! Thánh thơ Đỗ Phủ đời Đường, sau này khi đến thăm đền thờ Gia Cát Khổng Minh đã viết bài thơ “Thừa tướng đất Thục” nổi tiếng nghìn năm.
            Miếu thờ Thừa tướng là đây
            Cẩm thành rừng bách phủ đầy trước sau
            Nắng xuân cỏ biếc một màu
            Tiếng oanh trong lá toả vào không gian
            Ba lần cầu kiến cao nhân
            Hai triều đã tỏ lão thần tận tâm
            Kỳ Sơn giữa trận từ trần
            Khách anh hùng để tần ngần lệ rơi.
Đền thờ Thừa tướng Gia Cát Lượng ở đâu nhỉ? Ở ngoài Thành Đô có Cẩm Quan Thành là nơi rừng bách rậm rạp, cỏ non xanh rờn mọc đầy những bệ thềm trước nhà, tràn đầy một sức sống mãnh liệt. Trong tán rợp của những cây bách thường toả ra những tiếng hót thánh thót của chim hoàng oanh.
Lại nghĩ đến năm xưa Tiên chủ Lưu Bị ba lần tìm đến thăm lều cỏ Long Trung, gắng hỏi han kế sách lớn thu lấy thiên hạ, cảm kích trước ân nghĩa, Gia Cát Lượng đã dấn thân tận tụy, suốt đời bầy tỏ lòng trung thành với hai triều đại họ Lưu, dốc hết tấm lòng của kẻ lão thần. Chinh phạt Tào Ngụy, sớm phục hưng nhà Hán, hành động quân sự đó tuy chưa hoàn thành, Gia Cát Lượng thân làm chủ tướng lại ngã bệnh mất ở giữa doanh trại, nghe đến sự tích như vậy, mãi khiến những khách anh hùng hậu thế phải cảm động mà rơi lệ vậy.


6. Gia Cát Lượng đã về trời, còn nạt được Tư Mã Ý sống.
Hồi thứ 104 trong Tam quốc diễn nghĩa “thấy tượng gỗ Ngụy đô đốc mất mật” có chép Gia Cát Lượng dặn làm một pho tượng gỗ trang sức giống như mình để nạt Tư Mã Ý đuổi theo, đến hồi sau lại chép việc dặn dò danh tướng Tây Lương là Mã Đại giết Ngụy Diên, rất thần bí sinh động lại có những phần không hợp với sự thực, tuy làm người ta vui thích thực ra có nhiều chỗ khuếch đại tô vẽ và hư cấu.
Lịch sử có chép: phụ trách chỉ huy rút quân là Dương Nghi, lúc đó đang giữ chức Trưởng sử ở trong bộ tham mưu. Sau khi đại quân Thục Hán rời khỏi gò Ngũ Trượng tiến vào đường Bao Tà, dân ở đây lập tức báo cáo lại với Tư Mã Ý. Tư Mã Ý tự mình dẫn một số quân đến xem xét, Khương Duy đề nghị Dương Nghi vẫy cờ gióng trống, đánh lại quân Tư Mã Ý đuổi theo, việc này sử có ghi chép rõ. Tư Mã Ý thấy thế, lập tức thu quân rút về doanh trại, không dám tiếp cận, Dương Nghi rút quân về Tà Cốc mới cho quân phát tang.
Dân ở đây bèn căn cứ vào chuyện ấy mà có câu ngạn ngữ “Gia Cát Lượng đã về trời, còn nạt được Tư Mã Ý sống”, nghe nói Tư Mã Ý biết được những lời ấy lại chẳng bực tức, chỉ tự mình trào phúng rằng: “Ta có thể dự liệu được việc sống, chẳng dự liệu việc chết ấy”.
Giai thoại này cho thấy đích xác Tư Mã Ý dẫn quân đuổi theo, mà quân Thục Hán rút lui cũng theo đề nghị của Khương Duy chỉnh đốn lại quân ngũ để phản kích, song Tư Mã Ý chưa giao chiến đã rút quân về.
Khương Duy vẫn có can đảm lại giầu mưu lược, song ông ta có dẫn quân phản kích, tuyệt đối không bắt nạt được Tư Mã Ý cho nên để thấy rằng, Tư Mã Ý vội vã rút quân đích xác là đã nhìn thấy Gia Cát Lượng vậy.
Tác giả Tam quốc diễn nghĩa, đối với chuyện này lại càng tô vẽ, nói rằng nhìn thấy tượng gỗ Gia Cát Lượng làm sẵn, Tư Mã Ý đã bay hồn lạc vía, như vậy hoàn toàn không có khả năng. Bởi Tư Mã Ý vốn bình tĩnh, không thể không phân biệt được người thật và tượng gỗ, mà Gia Cát Lượng vốn cẩn thận, cũng không đến nỗi bầy ra một trò diễn như thế, vậy Tư Mã Ý vì sao lại vội vã rút quân nhỉ?
Chúng tôi nghĩ rằng, thời kỳ cuối đối trận ở gò Ngũ Trượng, Gia Cát Lượng cố ý hoá trang với khăn vàng, quạt lông và xe gỗ màu trắng, xuất hiện ở trước mặt các tướng sĩ của Tư Mã Ý ở tiền tuyến, hiển nhiên ngoài việc chọc giận kẻ địch, còn có ý nghĩa khác, ở chiến trường có những đại tướng đã bày ra hoá trang đặc biệt, giống như người anh hùng Napôlêông của nước Pháp, chiến tướng bậc nhất Nhật Bản Vũ Điền Tín Huyền, thực tế làm như vậy có thể dẫn dụ được sự tấn công của kẻ địch, lại là hành động rất nguy hiểm, như vậy tại sao lại có sách lược như thế nhỉ?
Chúng ta đều biết Vũ Điền Tín Huyền dùng “người giả làm Vũ Điền”, Napôlêông cũng dùng “người đóng thay mình”. Kẻ địch thấy phục sức đặc thù như vậy, lại thêm người giả ăn mặc rất giống, khi xuất hiện ở chiến trường thì không dễ phân biệt được thật giả.
Từ đấy có thể thấy Gia Cát Lượng sau khi sức khoẻ xấu đi, cố ý thay đổi phục trang, có thể là có ý muốn tạo ra hình tượng như vậy.
Tư Mã Ý vẫn kiên trì sách lược phòng thủ, không muốn trực diện giao chiến với Gia Cát Lượng, nhìn thấy người giả ngồi trên xe gỗ với khăn quấn quạt lông, trong phút chốc chưa quan sát kỹ, có thể đã phán đoán nhầm tưởng là bị mắc phải mưu kế Gia Cát Lượng dẫn dụ đuổi theo, bởi thế mà đã vội vã rút quân về.
Ông ta tự hào rằng, có thể liệu được việc sống, chẳng có thế liệu được việc chết, lại chẳng phải là bị bắt nạt mà đến nỗi ấy, thực ra là đối với sự khéo léo sách lược dùng người giả của Gia Cát Lượng, đã cảm thán mà thốt ra lời vậy!
Tư Mã Ý sau này tự mình đến doanh trại bỏ trống của Thuc Hán ở gò Ngũ Trương, xem xét bố cục, không khỏi tán tụng rằng: “Gia Cát Lượng thực là người kỳ tài trong thiên hạ”. Doanh trại bố trí khiến Tư Mã Ý phải kính phục như thế, tin rằng chính là “bát trận đồ” nổi tiếng nghìn năm, chúng tôi sẽ giải thích rõ ở chương sau, ở đây không nói đến.
Một việc khác khiến người ta khó hiểu là chuyện túi cẩm nang đựng mưu kế giết Ngụy Diên. Lịch sử có chép, Ngụy Diên đích xác chết trong cuộc rút quân ở gò Ngũ Trượng, hơn nữa đúng là vị danh tướng Tây Lương Mã Đại giết chết.
Mã Đại là em trai Mã Siêu, kế thừa người anh thống lĩnh quân đoàn Tây Lương của Thục Hán, cũng là một võ tướng quan trọng của Gia Cát Lượng phụ thuộc vào đội hậu quân của Vương Bình.
Tam quốc diễn nghĩa đã có ý miêu tả sự đối lập giữa Gia Cát Lượng và Ngụy Diên, lại nói Ngụy Diên có tướng làm phản, đấy là bản tính trời sinh, cũng khiến cho viên đại tướng tiên phong dũng mãnh nhất cuối đời Thục Hán phải chịu nỗi oan khuất nghìn năm không biện bạch được. Lịch sử có chép, Ngụy Diên là người Nghĩa Dương, tên chữ là Văn Trường, kể từ Kinh Châu đã theo Lưu Bị, rồi vào Thục, nhiều lần lập được chiến công rất được Lưu Bị và Gia Cát Lượng trọng dụng, từng được đề bạt đặc biệt làm Thái thú ở Hán Trung.
Ngụy Diên khéo nuôi binh sĩ dũng hổ hơn người, là một tướng đặc biệt ưu tú, được công nhận là mãnh tướng hàng đầu thay thế Quan Vũ sau này, có năng lực tác chiến độc lập rất lớn, bởi thế trong một thời gian dài được bổ nhiệm làm thống soái quân tiên phong, song ông ta bản tính cao ngạo, người thường đều né tránh, không muốn tranh hơn thua với ông ta, tựa hồ chỉ có Gia Cát Lượng mới quản được mà thôi.
Trái lại trong bộ Tham mưu của Gia Cát Lượng lại có một quái kiệt là Dương Nghi, là một cao thủ về kinh tế và tải lương, đối với quân viễn chinh Thục Hán vẫn thiếu thốn lương thực, thực là ngọc báu trong quân, rất được Gia Cát Lượng xem trọng, trở thành tham mưu hàng đầu, một cánh tay không thể thiếu được.
Lịch sử chép rằng Dương Nghi bụng dạ nhỏ hẹp, cậy tài ngạo mạn, trong quân Thục chỉ có ông ta xem thường Ngụy Diên, cho rằng chẳng qua chỉ là thô lỗ mà thôi, dẫn đến hai người như nước với lửa, chỉ cần mới gặp nhau, ắt đã đỏ mặt tía tai, nghe nói có một hôm va chạm đến nỗi Ngụy Diên phải rút dao mà Dương Nghi cũng tức phát khóc.
Gia Cát Lượng thấy sự tranh chấp của hai người, tự nhiên rất bực tức, song không biết làm thế nào mới phải. Về việc dùng người, để họ phát huy tài năng triệt để, cũng không tiện can thiệp quá nhiều, lịch sử có chép Gia Cát Lượng thường hận hai người bất hòa với nhau, không nỡ bỏ đi một người nào.
Bởi Gia Cát Lượng bệnh tình mau chóng xấu đi, sự việc đột nhiên đành phải sắp xếp khẩn cấp rút quân. Cứ theo luân lý trong quân, Ngụy Diên tự cậy dũng mãnh có thể sẽ đối kháng trựe diện với Tư Mã Ý, lại thêm khi quân Thục rút quân, tinh thần binh sĩ đã mất, ắt sẽ tạo thành bất lợi nghiêm trọng, bởi thế không dám để Ngụy Diên thuộc phái Diều hâu được nắm đại quyền chỉ huy.
Luận về tài năng và kinh nghiệm mà nói, Khương Duy thực là người thích hợp, song ông ta vốn thuộc tướng lĩnh ở phía Tào Ngụy, nửa đường mới đến không dễ thu được tín nhiệm của các tướng lĩnh. Phí Vỹ lại quá trẻ, việc quân chưa đủ từng trải; Dương Nghi trong thời gian dài đã theo Gia Cát Lượng nam chinh bắc phạt, lại là người có tài, điều hành việc hành chính, công việc qui hoạch và xử lý rút quân, tự nhiên là rất thích hợp.
Chẳng qua khiến Gia Cát Lượng không yên tâm là sự tranh giành giữa Ngụy Diên và Dương Nghi. Để giảm đến mức thấp nhất những tai hại bất ngờ nảy sinh, Gia Cát Lượng không để Ngụy Diên tham dự vào kế hoạch rút quân, để tránh ảnh hưởng đến sự chỉ huy của Dương Nghi. Trong hội nghị bí mật trước lúc lâm chung Gia Cát Lượng yêu cầu Khương Duy, Phí Vỹ giúp đỡ Dương Nghi, đem toàn lực hiệp trợ cho việc rút quân, lại bảo với ba người rằng: “Nếu như Ngụy Diên không phục tùng lệnh rút quân, không cần đợi ông ta, các ông có thể chỉ huy những đoàn quân khác sớm rút đi”.
Khá thấy, Gia Cát Lượng đích xác đã dự đoán trước, sau khi ông ta mất, Ngụy Diên có thế náo động, song ông ta tin rằng Ngụy Diên sẽ không làm phản, tối đa chỉ là “thả trâu ăn lúa”, ông ta sẽ tự mình đối đầu với Tư Mã Ý mà thôi.
Bởi Gia Cát Lượng vẫn trọng dụng Ngụy Diên, tin rằng không có khả năng như trong tiểu thuyêt, cố ý tạo ra “cẩm nang diệu kế” để giết ông ta. Bi kịch của Ngụy Diên có thể nói là ngẫu nhiên mà tạo ra vậy.
Sau khi Gia Cát Lượng mất, Dương Nghi lập tức phái sứ giả thông báo cho các tướng lĩnh quân đoàn, cùng công bố chỉ thị của Gia Cát Lượng để lại. Các quân đoàn khác tự nhiên không có vấn đề gì lớn, song Ngụy Diên có thể sẽ phản ứng đặc biệt, bởi thế phái Phí Vỹ đến để điều tiết, muốn cho Ngụy Diên vẫn có mặt mũi, giảm bớt sự phản ứng của ông ta.
Quả nhiên vừa nghe đến phải rút quân khẩn cấp, Ngụy Diên đã không vui vẻ, lại nghe nói tổng chỉ huy rút quân là Dương Nghi, ông càng đùng đùng nổi giận.
“Thừa tướng tuy đã mất, vẫn còn có ta ỏ đây! Huống chi quân ta trước mắt đang có ưu thế, các ông là người của ban tham mưu, nói chung cứ chuẩn bị việc phát tang, để ta phụ trách chỉ huy đại quân, tiếp tục đối kháng với kẻ địch! Làm sao có thể bởi một người mất đi mà bỏ đại sự quốc gia nhỉ?”.
Ngụy Diên lập tức phái người thông báo với tướng lĩnh lãnh đạo các quân đoàn, song Vương Bình, Cao Tường, Ngô Ban, Mã Đại đều biểu thị Thừa tướng đã có lệnh rút quân không được làm khác, đến lúc này Ngụy Diên lại càng bực tức, ông ta hô lớn rằng: “Ngụy Diên ta sao có thể giống như người ta, sao có thể tiếp thu sự chỉ huy của lão Dương Nghi, để ông ta đi vào chặn hậu!”.
Ngụy Diên lúc này đã loạn cả phân tấc, hạ lệnh cho quân đoàn của mình, sớm rút về phía nam Tà Cốc, không muốn làm việc chặn hậu cho toàn quân. Bởi thế lấy tượng gỗ để đối kháng với Tư Mã Ý khi rút quân, là do Khương Duy phụ trách.
Các tướng lĩnh quân đoàn tiên phong, đối với hành vi đối địch không nghe chỉ huy của Ngụy Diên, nói chung đều bất bình, song bởi sự việc vội vàng, bèn rút theo về phía nam.
Nếu như Ngụy Diên trực tiếp rút về Hán Trung, có thể vẫn không xảy ra việc gì, trái lại ông ta mỗi lúc thêm bực tức, cuối cùng hạ lệnh cho quân đoàn bầy trận ở cửa Nam Cốc trên đường Tà Cốc, chuẩn bị đánh lại Dương Nghi đang rút quân. Dương Nghi sau khi biết được Tư Mã Ý đã thu quân về, bèn hạ lệnh cho toàn quân sớm tối lên đường hoả tốc rút về Hán Trung, khi đến trước cửa Nam Cốc, được thám mã đi trước báo cáo lại rằng, quân đoàn Ngụy Diên đang ngăn cản đường về.
Dương Nghi lập tức hạ lệnh cho Vương Bình đang chỉ huy hậu quân đến đánh Ngụy Diên. Vương Bình người chính trực, có danh vọng rất cao trong quân Thục. Ông ta chọn sách lược “tiên lễ hậu binh”, phân người ước hẹn với Ngụy Diên đối trận ở cửa Nam Cốc, đầu tiên chỉ tiến hành đàm phán.
Hôm đó Vương Bình trên người không mang vũ trang, mạo hiểm một mình đến trước trận nói chuyện; ông ta nói với Ngụy Diên và quân lính rằng: “Thừa tướng vừa mới mất, thi thể còn chưa lạnh, các ông cuối cùng không nghĩ đến ân nghĩa lại muốn tạo phản ư?”.
Các tướng lĩnh quân đoàn Ngụy Diên, vốn đã bất mãn với việc rút quân một mình của Ngụy Diên, nghe những lời binh vận có lý có tình của Vương Bình, tinh thần binh sĩ lập tức tan rã, đại đa số quân sĩ không đánh mà rút khỏi cửa Nam Cốc.
Vương Bình bởi thế mà dễ dàng đánh bại được số ít quân lính trực thuộc của Ngụy Diên.
Ngụy Diên sau khi đại bại dẫn vợ con và một số người thân tín chạy trốn vào vùng núi Hán Trung để lánh nạn, Dương Nghi hạ lệnh cho Mã Đại dẫn quân tìm bắt, không lâu đã bắt được Ngụy Diên cùng gia nhân, Dương Nghi hạ lệnh cùng đem đi xử trảm. Ngụy Diên một đời dũng mãnh can đảm bởi tranh chấp với Dương Nghi, dẫn đến không giữ được mình, thành ra bi kịch ở cuối đời, khiến cho người ta phải tiếc nuối. Chẳng qua, bi kịch này của Ngụy Diên, so với tô vẽ kiểu võ đài của Tam quốc diễn nghĩa là hoàn toàn khác hẳn. Sau khi Ngụy Diên bị đánh bại, đại quân Thục Hán an toàn rút về Hán Trung, hành động bắc phạt cuối cùng của Gia Cát Lượng, bởi ông ta mất ở trong quân mà kết thúc.
Hậu chủ Lưu Thiện kinh hãi lúc nghe tin Gia Cát Lượng đã mất, đau đớn khóc lóc không thôi, lại xuống chiếu cứ theo đề nghị của Trưởng sử Tưởng Uyển, trước phái sứ giả đến phủ Thừa tướng truy tặng ấn thụ Vũ Hương hầu, cùng dựa vào phẩm đức và công tích của Gia Cát Lượng lúc sống, đặt tên Thụy là Trung Vũ Hầu. Nhà vua xuống lệnh đại xá thiên hạ, làm theo di mệnh của Gia Cát Lượng an táng ông ta ở núi Định Quân thuộc Hán Trung.
Từ quy mô và táng vật ở phần mộ mà xem ra, nghi lễ an táng một Tể tướng đứng đầu các quan, thực là rất giản đơn vậy. Trong di mệnh của Gia Cát Lượng có nói, lấy núi làm mộ, nấm đất làm áo quan, thời tiết bốn mùa là quần áo, chẳng cần mang theo gì. Đích xác đấy là khí chất và phong cách của một danh tướng! Ông ta lúc còn sống từng dâng thư lên Hậu chủ Lưu Thiện công bố tình hình tài sản của mình:
“Thần phụng mệnh Tiên đế nương nhờ ở cửa quan, không tự lo liệu đến đời sống. Nay ở Thành Đô có 800 gốc dâu, 15 khoảnh ruộng, cái ăn mặc của con cái xem ra cũng đầy đủ. Đến như thần xuất chinh tại ngoại. Không có gì khác người, cái ăn mặc của mình đều dựa vào cửa quan, không lo cho riêng mình, là để lâu dài thước tấc. Nếu như ngày thần mất, chẳng để trong có thừa gấm vóc, ngoài có điền sản thừa thãi, ấy là để khỏi phụ lại Bệ hạ vẫn tin tưởng”.
Sau này Lưu Thiện cho xem xét, quả nhiên như lời nói ở trên.
 
*
*     *
 
Lời bình của Trần Văn
Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý trước sau đối trận như vậy, xem như mới bắt đầu vào cuộc, lại càng băng giá, từ chiến sự mà xem, một điểm nào cũng không rõ rệt, song từ mặt bằng chiến thuật mà nói, đấy là quyết sách của hai đại cao thủ về binh pháp nghìn năm khó thấy; trong thiên “mưu công” của binh pháp Tôn Tử nguyên tắc chỉ huy tối cao đề cập đã được triệt để phát huy ở đây.
Chiến tranh là thủ đoạn, thắng lợi chính là mục đích, bởi thế không cần đánh mà khuất phục người ta mới là nguyên tắc cao nhất của tác chiến, đấy tức là “mưu công”. Mưu công không ở sự xảo trá, mà là vận dụng sách lược, có thể không dẫn kẻ địch vào chiến đấu mà đánh bại được kẻ địch, đây tức là đạo lý trăm trận đánh trăm thắng, chưa là chỗ khéo của khéo vậy, không đánh mà khuất phục được người ta, mới là chỗ khéo của khéo vậy.
Kẻ khéo dùng binh, khiến kẻ địch phải khuất phục, không cần dùng vũ lực, tiêu diệt nước địch cũng không cần dựa vào chiến tranh, rất nên lấy “toàn thắng” để tranh thủ thiên hạ, không nhất thiết phải tổn thất binh lực, mà có thể giành được thắng lợi, mới là nguyên tắc chiến tranh cao nhất của kẻ làm đại tướng có mưu trí!
Nguyên tắc tác chiến tuy cầu “toàn thắng”, là khi có binh lực gấp 10, có thể dùng chiến thuật bao vây; khi có binh lực gấp 5; có thể chủ động tấn công; khi có binh lực gấp 2, cũng cần phải chia quân tấn công, để bức kẻ địch không thể không phân chia binh lực nhỏ ra.
Khi thế lực bằng với địch thì cần đề cao ý chí chiến đấu, dốc toàn lực thực hiện; còn khi ở thế yếu hơn thì nên lập tức rút lui; khi chẳng có cơ thắng lợi, dứt khoát không phát động chiến tranh.
Cho nên “biết người biết mình, trăm trận không gặp nguy hiểm”; không biết người mà biết mình, thì một thắng một thua (cũng là nói phải dựa vào thời cơ) không biết người cũng biết mình, mỗi trận đánh đều gặp nguy hiểm.
Binh pháp Tôn Tử dứt khoát là nguyên tắc chiến đấu cẩn thận, chuẩn bị không chu đáo, hoặc chưa có cơ hội thắng lợi, là không dễ chiến đấu.
Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý đều là những đại tướng xuất thân từ văn nhân, bởi thế họ rất tuân thủ nguyên tắc của binh pháp, dựa vào suy nghĩ chuẩn bị mà không dựa vào trực giác và ứng biến. Hai đối thủ như vậy, giao đấu với nhau tự nhiên là rất để tâm, từng bước đều thận trọng.
Gia Cát Lượng về quân sự học, chẳng có thiên bẩm, ông ta là người khổ học mà có. Ngoài đọc thuộc binh pháp, ông ta trải qua khảo nghiệm gian khổ của chiến trường, tích lũy kinh nghiệm những lần chiến bại mà trưởng thành. Từ chiến dịch Đương Dương đến trận Xích Bích, có thể nói là giai đoạn ông ta đã trưởng thành rất nhiều.
Chinh phạt Nam Trung là sự đảm đang, một mình lần thứ nhất chỉ huy tác chiến, công tâm là đầu đã là nguyên tắc chiến tranh cao nhất của ông ta. Chiến sự ở đấy, có thể nói là “thực nghiệm lâm sàng” về binh pháp Tôn Tử.
Cuộc bắc phạt thứ nhất là thành công về chiến lược, mà chiến thuật thì thất bại, Gia Cát Lượng từ trong học tập giành được nhiều kinh nghiệm quý báu. Lần thứ hai, ba đều lấy dao mổ trâu giết gà, cũng là kinh nghiệm thành công thu được ờ thực tế. Đúng như ở trên đã nói, Gia Cát Lượng về kinh nghiệm thực tế vượt xa Tư Mã Ý cẩn thận tác chiến, không muốn giao đấu trực diện với Gia Cát Lượng.
Hai vị đại tướng này đều dựa vào đầu óc không dựa vào thế lực, có tính chất rất giống nhau, thực đáng được gọi là kỳ phùng địch thủ đối trận lão luyện vậy.
Cuộc bắc phạt lần thứ tư thứ năm, từ bề mặt mà xem sấm to mà mưa nhỏ, song từ “binh pháp học mà xem, lại là cuộc giao chiến trí tuệ mẫu mực. Đấy là điều vì sao Trần Thọ phê bình Gia Cát Lượng không giỏi ứng biến ở chiến trường, cũng là nguyên nhân chủ yếu nhất mà Tư Mã Ý khen Gia Cát Lượng kỳ tài vậy.
 
0
Chương XXIX
NHỮNG NGƯỜI KẾ NHIỆM CỦA GIA CÁT LƯỢNG
 
Sau khi Gia Cát Lượng được ủy thác làm nhân vật chính của Thục Hán, đối với bất kỳ ai cũng đều dụng tâm bồi dưỡng nhân tài, hơn nữa những người kế nhiệm của ông, biểu hiện ở thòi kỳ Hậu Tam quốc cũng đáng được gọi là những người ưu tú.
Gia Cát Lượng mất vào năm Thành Long thứ 2 đời Ngụy Minh đế, cũng tức là năm Kiến Hưng thứ 12 nhà Thục Hán (năm 230 sau Công Nguyên) nhà Thục Hán mất vào năm Cảnh Nguyên thứ 4 đời Ngụy Nguyên đế, cũng tức là Viêm Hưng thứ 1 nhà Thục Hán (năm 263 sau Công Nguyên). Tức là sau khi Gia Cát Lượng mất nhà Thục Hán vẫn kéo dài 29 năm nữa mới mất nước, so với 27 năm Gia Cát Lượng dời khỏi Long Trung đến khi mất ở gò Ngũ Trượng, vẫn hơn ra hai năm, khá thấy nhà Thục Hán mất nước dứt khoát chẳng phải là trách nhiệm của Gia Cát Lượng vậy.
Độc giả thấy Gia Cát Lượng tận tụy hết mình, thường nghĩ đã xem nhẹ bồi dưỡng nhân tài, cho nên sau khi ông ta mất, người kế nhiệm thiếu thực lực, mới dẫn đến chỗ sớm bị diệt vong, bởi thế mà hoài nghi năng lực về chính trị và quân sự của Gia Cát Lượng. Thực ra như vậy là rất không công bằng.
Nước Thục vốn thực lực rất yếu, diện tích khá nhỏ, nhân tài tự nhiên cũng rất ít. Song sau khi Gia Cát Lượng được ủy thác làm nhân vật chính của Thục Hán, đối với ai đều có dụng tâm bồi dưỡng nhân tài, hơn nữa những người kế nhiệm của ông, biểu hiện ở những người ưu tú.
Bút giả viết riêng chương này, để độc giả đối với tình hình Gia Cát Lượng mất đi, đại cục của Thục Hán được những người kế nhiệm chèo chống ra sao, có thể hiểu được rõ hơn.


* Tưởng Uyển
Người thứ nhất cần giới thiệu là Tưởng Uyển kế thừa việc điều hành việc quốc gia mà Gia Cát Lượng đã di ngôn lại.
Tưởng Uyển tên chữ là Công Diễm, người Kinh Châu, thời trẻ nhờ tài học mà nổi tiếng ở quê hương. Sau này làm một chức quan nhỏ ở châu, theo Tiên chủ Lưu Bị vào Thục, được bổ nhiệm làm Huyện trưởng Quảng Đô, có một lần Lưu Bị đến thị sát ở Quảng Đô, lại phát hiện ra Tưởng Uyển làm việc luộm thuộm, lại thường uống rượu say, nên rất bực tức hạ lệnh bắt giữ tại chỗ, muốn luận tội xử trảm.
Khi ấy Gia Cát Lượng đang làm Quân sư tướng quân vội can rằng: ‘‘Tưởng Uyển là khí chất của xã tắc, chẳng phải người chỉ có tài trong vòng trăm dặm, chỉ nghĩ việc quan là lấy yên dân làm gốc mà không có biểu hiện sửa sang, hy vọng chúa công xem xét kỹ sự thực”.
Bởi kính trọng Gia Cát Lượng, Lưu Bị tuy không trị tội Tưởng Uyển, vẫn bãi miễn quan chức. Song chẳng bao lâu Lưu Bị lại phát hiện thành tích điều hành công việc ở huyện Quảng Đô cao hơn huyện khác, bèn lại bổ nhiệm Tưởng Uyển làm Huyện lệnh ở Thập Phương.
Lưu Bị sau khi làm Hán Trung Vương, đề bạt Tưởng Uyển làm Thượng thư lang, tham dự quyết sách của triều đình.
Năm Kiến Hưng thứ nhất, Gia Cát Lượng bắt đầu điều hành ở phủ Thừa tướng, bổ nhiệm Tưởng Uyển làm Đông Tào phụ trách việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, không lâu được thăng làm Tham mưu quân sự. Năm Kiến Hưng thứ 5, Gia Cát Lượng rời Thành Đô, trong một thời gian dài đóng ở Hán Trung, để Tưởng Uyển và lão thần Trương Duệ cùng giữ Thành Đô, thay Gia Cát Lượng xử lý công việc chính sự Thục Hán. Năm Kiến Hưng thứ 8 Trương Duệ mất, Tưởng Uyển được thăng làm Trưởng sử ở phủ Thừa tướng, lại được phong là Phủ quân tướng quân, một mình đảm nhiệm việc điều hành ở phủ Thừa tướng.
Thời gian này, Gia Cát Lượng nhiều năm động binh, song Tưởng Uyển đều có thể cung cấp đủ nhu cầu binh lương cho Gia Cát Lượng. Trách chi Gia Cát Lượng nói với mọi người thường khen rằng: “Công Diễm một lòng trung thành, cùng với ta gây dựng được vương nghiệp vậy”.
Khi bệnh nặng ở gò Ngũ Trượng, Gia Cát Lượng đã viết mật thư bầy tỏ với Hậu chủ: “Nếu như hạ thần chẳng may, việc sau này giao cho Tưởng Uyển”. Điều ấy cho thấy rõ Gia Cát Lượng đã coi Tưởng Uyển làm người kế nhiệm thứ nhất.
Sau khi Gia Cát Lượng mất, Hậu chủ Lưu Thiện bổ nhiệm Tưởng Uyển làm Thượng thư lệnh, Đô hộ, Thứ sử Ích Châu, Đại tướng quân, cơ hồ nắm cả đại quyền quân chính Thục Hán.
Thống soái Gia Cát Lượng mất đi, triều đình Thục Hán rơi vào trạng thái bất ổn định nghiêm trọng Tưởng Uyển đảm đương trách nhiệm cao nhất, vẫn bình tĩnh như xưa đã chẳng ra oai cũng không hiếu sắc, thực hiện tất cả mọi việc ngày nào cũng như ngày nào, dần dần giành được sự tín nhiệm của quần thần.
Sau hai năm, tình hình nội bộ đã mau chóng ổn định. Tưởng Uyển bèn chính thức kế tục ý chí của Gia Cát Lượng, ra đóng doanh trại ở Hán Trung, lấy quan hàm Đại tư mã chỉ huy việc quân ở tiền tuyến, trở thành người kế nhiệm công việc thực sự của Gia Cát Lượng. Công việc Thượng thư lệnh ở Thành Đô giao cho Phí Vỹ thay thế.
Tưởng Uyển cá tính ôn hoà, suy nghĩ bình tĩnh, bất kể tình hình gì đều điều hành rất tốt, là một người lãnh đạo mềm dẻo nhất.
Đông tào Dương Hí bản tính thuần phác, không thích biện luận, Tưởng Uyển có hỏi han ông ta cũng thường mặc nhiên không đáp. Bởi thế có người nói với Tưởng Uyển: “Ông trao đổi với Dương Hí, Dương Hí mặc nhiên không đáp, ngạo mạn đến như thế, chẳng phải quá phận mình ư?”.
Tưởng Uyển lại cười mà đáp rằng: “Lòng người không giống nhau, cũng như mặt mũi vậy, bề mặt thì tuân theo mà sau lưng lại có ý kiến khác mới là hành vi vô liêm sỉ nhất. Dương Hí nói chung cho rằng nếu tán thành ý kiến của tôi, có thể lại trái với ý kiến của ông ta, phản bác lại chỗ cách nhìn nhận của tôi, lại thế hiện rõ sự sai lầm của tôi, cho nên ông ta mới mặc nhiên không đáp, đấy chẳng phải là chỗ khả ái của Dương Hí ư?”
Đốc nông Dương Mẫn từng phê bình Tưởng Uyển sau lưng rằng: “Làm việc chẳng nắm chắc, một chút cũng không so được với Gia Cát Lượng”.
Có người nói việc ấy với Tưởng Uyển, xin xử lý Dương Mẫn tội bất kính. Tưởng Uyển lại thản nhiên nói: “Đích xác là ta không bằng tiền nhân, cho nên làm việc gì cũng không nắm chắc bằng”.
Sau này Dương Mẫn phạm tội hình sự phải tống ngục, mọi người đều cho rằng ông ta chắc chắn phải chết, song Tưởng Uyển trái lại đã miễn giảm tội nặng, chỉ xử hình phạt nhẹ. Nói về mặt cẩn thận, ôn hoà, khiêm nhường, nếu so với Gia Cát Lượng cũng như thế mà không bất cập.
Trong thời kỳ đóng doanh trại ở Hán Trung, ông mấy lần phái Khương Duy bắc phạt, song đều không thu được gì mà phải rút lui. Tưởng Uyển đánh giá kỹ lưỡng việc bắc phạt từ Gia Cát Lượng đến giờ, cho rằng sở dĩ chưa có tiến triển, chủ yếu ở đường xá hiểm trở, vận chuyển khó khăn, bởi thế cho rằng không gì bằng theo đường thủy sang phía đông, tiến hành thủy chiến, theo Hán Giang, Miện Thủy tập kích vào Ngụy Hưng và Thượng Dương. Song bởi bệnh cũ tái phát, chẳng thể dốc sức làm việc, bèn phái Khương Duy làm Thứ sử Lương Châu, phụ trách việc chiến sự ở vùng tây bắc, tự mình đến Phù Thành ở phía đông, đánh giá rõ ràng tính khả thi của việc đông chinh, chẳng may bệnh tình chuyển hoá nguy kịch mất ở Phù Thành.


* Phí Vỹ
Kế tục Tưởng Uyển là Phí Vỹ, người kế nhiệm thứ hai được Gia Cát Lượng chỉ định. Lúc này Gia Cát Lượng đã mất mười một năm (năm 245 sau Công Nguyên), mà hậu chủ Lưu Thiện và các đại thần Thục Hán vẫn làm theo di mệnh của Gia Cát Lượng, bổ nhiệm Phí Vỹ là người kế thừa Tưởng Uyển, do đấy có thể thấy quần thần Thục Hán kính trọng Gia Cát Lượng đến mức nào.
Phí Vỹ tên chữ là Văn Vỹ, người Giang Hạ, bố mẹ đều mất sớm, phải đên nương náu người chú là Bá Nhân, do Bá Nhân lúc đó rất thân với Ích Châu mục Lưu Chương, Phí Vỹ bèn lấy thân phận du học sinh vào Thục, đúng lúc Lưu Bị chiếm được Ích Châu, Phí Vỹ phải ở lại đấy. Phí Vỹ vốn có tài học, với Hứa Thục Long ở Sa Nam, Đổng Doãn ở Nam Quận đều là những người nổi tiếng bấy giờ.
Lưu Bị lập Lưu Thiện làm Thái tử, Phí Vỹ và Đổng Doãn càng làm xá nhân bên cạnh Thái tử. Lưu Thiện sau khi lên ngôi vua, bổ nhiệm Phí Vỹ làm Hoàng môn thị lang. Phí Vỹ quan sát nhạy bén, giỏi thuyết lý, là nhân tài ngoại giao kiệt xuất phi thường, bởi thế rất được Gia Cát Lượng trọng dụng. Khi đàm phán với Đông Ngô, thành tích mà ông ta có được, lại vượt cả Đặng Chi, đến nỗi Tôn Quyền cũng rất khâm phục, có nói trước mặt rằng: “Tiên sinh thực là người tài trong thiên hạ, sau này ắt trở thành cánh tay của Thục Hán, sợ từ nay về sau không thường đến với ta nữa”.
Rồi lấy bảo kiếm đang cầm trong tay tặng cho. Sau khi về nước, được thăng làm Thị trung. Năm Kiên Hưng thứ 8, theo Gia Cát Lượng bắc chinh được làm Trung hộ quân, sau được thăng làm Tư Mã.
Ngụy Diên và Dương Nghi không hợp nhau, đến như Gia Cát Lượng cũng phải bó tay không có cách gì, đều phải nhờ Phí Vỹ điều hoà để không ảnh hưởng đến đại sự quân cơ. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Phí Vỹ làm hậu quân, không lâu lại thay thế Tưởng Uyển làm Thượng thư lệnh. Khi Tưởng Uyển bị bệnh nặng, tiến cử Phí Vỹ làm đại tướng quân, thêm chức Lục Thượng thư, để chuẩn bị tiếp nhiệm đại quyền.
Phí Vỹ có trí nhớ rất tốt, thường nhìn qua là không quên, bởi thế hiệu suất công tác rất cao. Việc quân chính tuy nhiều, song Phí Vỹ lại giải quyết rất nhẹ nhàng, vẫn có lúc rỗi cùng tân khách uống rượu xem hát, không quá đam mê với việc quân. Có một lần việc công của Phí Vỹ có sai sót, Đổng Doãn thay làm Thượng thư lệnh, muốn học tác phong của Phí Vỹ, trong 10 ngày, cuối cùng công việc xếp đống như núi, Đổng Doãn không khỏi cảm thán rằng: “Năng lực của người ta sai lệch thực khác nhau, năng lực của Phí Vỹ thực bỏ xa ta, ta suốt ngày bận rộn với công việc, mà ông ta thì không mất nửa ngày nhàn nhã!”.
Phí Vỹ tính khiêm nhường chất phác, trong nhà không có nhiều tài sản, tay không lấn bấn bởi tiền bạc, con cái mặc áo vải, ăn cơm thường, xuất nhập tiêu dùng không theo nếp quan cao, chỉ như một viên quan nhỏ mà thôi.
Năm Diên Hy thứ 11, lại tiếp tục việc của Tưởng Uyển đóng trại ở tiền tuyến Hán Trung, song ông ta có thể từ xa khống chế được việc quân chính ở Thành Đô.
Năm Diên Hy thứ 15, chính thức mở phủ Thừa tướng, trở thành người đứng đầu các đại thần, chẳng ngờ đang lúc phát huy tài hoa tận lực báo quốc, rốt cuộc trong một lần yến tiệc đang say rượu, bị hàng tướng nước Ngụy là Quách Tuần ám sát mà chết.


* Đổng Doãn
Trong Xuất Sư Biểu Gia Cát Lượng có viết:
Thị trung Quách Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn là người tiên đế lựa chọn cho riêng bệ hạ... Đến nay châm chước lợi lại, tỏ hết lời trung, thì Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn đều dốc lòng vậy... Nếu như có những lòi lẽ không phù hợp với đức tốt, thì cứ trách phạt sự quá trớn của họ, để rõ lầm lỗi.
Đổng Doãn được Gia Cát Lượng xem là hiền thần, cũng là một đại thần quan trọng thời kỳ cuối Thục Hán, Đổng Doãn tên chữ là Hưu Chiêu, là con của đại lão Thục Trung là Đổng Hòa. Khi trẻ tuổi đã làm Xá nhân của Lưu Thiện, sau khi Lưu Thiện lên ngôi, được thăng làm Hoàng môn thị lang.
Khi Gia Cát Lượng bắc phạt, thấy hậu chủ còn quá trẻ, sự phán đoán không chín chắn, phải lấy Đổng Doãn là người công chính liêm minh, giúp hậu chủ dẹp trừ gian tà, cho làm thị trung, kiêm Hổ bôn trung lang tướng, chỉ huy cận vệ.
Quách Du Chi và Phí Vỹ tính cách ôn hoà, nên việc nói năng can gián cơ hồ đều do Đổng Doãn gánh vác, đến như hậu chủ Lưu Thiện cũng phải nể sợ ông ta.
Sau khi Tưởng Uyển đến đóng doanh trại ở Hán Trung, việc chính sự ở Thành Đô do Phí Vỹ đảm nhiệm. Đổng Doãn trở thành người trợ thủ tốt nhất của Phí Vỹ. Lưu Thiện vẫn sủng ái hoạn quan Hoàng Hạo, Hoàng Hạo thông minh, sắc sảo, thường vẫn bầy trò quá trớn, chỉ có Đổng Doãn mới trị được ông ta. Suốt thời gian Đổng Doãn còn sống, địa vị của Hoàng Hạo không vượt quá Hoàng môn thừa, chẳng phát huy được ảnh hưởng gì.
Đáng tiếc Tưởng Uyển mất được 3 tháng thì Đổng Doãn cũng mất, kỷ cương triều đình Thục Hán tan rã dần từ đấy.


* Dương Nghi
Gia Cát Lượng bị mất ở tiền tuyến, đối với đại quân Thục Hán đang đóng ở gò Ngũ Trượng mà nói, là nguy cơ chưa từng thấy. Chủ tướng mất đi, tinh thần binh sĩ toàn quân ắt sẽ xuống thấp, bởi chăng có thể an toàn trước sự giám sát của kẻ địch, thoát hiểm mà rút chính là mối lo lắng lớn nhất của Gia Cát Lượng trước khi mất.
Ngụy Diên khí phách trùm khắp 3 quận. Khương Duy trí dũng song toàn. Vương Bình kinh nghiệm lão luyện, Phí Vỹ điều hòa tài lẻ, song Gia Cát Lượng cho rằng họ đều không có thể nắm chắc đại cục. Kế hoạch rút quân cần một người có suy nghĩ và năng lực hành chính rất cẩn thận, Gia Cát Lượng trằn trọc suy nghĩ cuối cùng vẫn phải lựa chọn tham mưu Dương Nghi, một cao thủ hành chính có nhiều đị nghị, quan hệ với mọi người không mấy tốt đẹp.
Dương Nghi tên chữ là Uy Công, người Tương Dương, thời trẻ đã là một nhà chính luận có tiếng, có sở trường quân tích và tổ chức. Khoảng những năm Kiến An đi theo Quan Vũ, được bổ nhiệm làm Công tào, sau này phụng mệnh Quan Vũ vào Ích Châu yết kiến Lưu Bị thảo luận về tình hình ở Kinh Châu. Dương Nghi có kiến giải độc đáo, rất được Lưu Bị xem trọng, được bổ nhiệm làm Tả tướng quân. Khi Lưu Bị làm Hán Trung Vương, đề bạt Dương Nghi làm Thượng thư, được tham dự quyết sách ở triều chính.
Dương Nghi nảy sinh tính ngạo mạn, cãi cọ với Thượng thư lệnh Lưu Ba trong thời gian Lưu Bị đông chinh bị điều ra ngoài giữ chức Thái thú Hoằng Nông.
Năm Kiến Hưng thứ 3, Gia Cát Lượng mở phủ cai trị, tiếc tài cán hành chính của Dương Nghi, bèn điều về bộ tham mưu làm tham quân, theo Gia Cát Lượng nam chinh. Nam chinh là tác chiến chính trị, bởi thế công tác hành chính quan trọng hơn tác chiến, Dương Nghi trong nhiệm vụ lần này phát huy được tài cán rất lớn, cung ứng lương thực và tuyên truyền chính trị đều hoàn thành mỹ mãn, khiến Gia Cát Lượng rất tín nhiệm ông ta.
Sau năm Kiến Hưng thứ 5, trong hành động bắc chinh liên minh, Dương Nghi trở thành chỗ dựa chủ yếu nhất về hành chính trong quân Gia Cát Lượng.
Sau 3 năm bởi có công được thăng làm Trưởng sử, lại phong Tùy quân tướng quân, năm lần bắc phạt, nghiêm trọng nhất là vấn đề lương thực, song nhờ sự qui hoạch chu đáo của Dương Nghi, khó khăn được giải quyết mau chóng, cho nên việc phân phối lương thực và qui mô hành chính ở tiền tuyến cơ hồ đều do Dương Nghi phụ trách.
Trong tuyến đầu bắc phạt, hai người mà Gia Cát Lượng rất cần đến là Dương Nghi và Ngụy Diên, một văn một võ mà tài cán cơ hồ là ngọc báu của quân bắc phạt. Trái lại hai người này đều cậy tài ngạo mạn tranh chấp nhau rất ác liệt. Tam quốc chí có chép: “Gia Cát Lượng rất tiếc tài cán của Dương Nghi, cũng rất xem trọng sự dũng mãnh của Ngụy Diên, thường hận hai người bất bình với nhau, không nỡ bỏ một người”. Khi bệnh đã nặng, Gia Cát Lượng ở gò Ngũ Trượng sau khi dự liệu chuẩn xác các mặt lợi hại, vẫn phái Dương Nghi chỉ huy đôn đốc việc rút quân, quả nhiên Dương Nghi phát huy tài cán hơn người, lãnh đạo đại quân Thục Hán thoát nơi nguy hiểm mau chóng. Song cũng bởi thế mà nảy sinh việc Ngụy Diên không phục tùng mệnh lệnh, chịu bi kịch binh bại mà bị giết.
Gia Cát Lượng khi còn sống, đối với chứng bệnh hẹp hòi, bất hoà với mọi người Dương Nghi đã rất đau đầu. Ông ta biết rõ người này tham mưu sáng suốt, song tuyệt đối chẳng phải là người lãnh đạo ưu tú. Bởi thế ông ta có di chúc rằng người sẽ kế thừa là Tưởng Uyển có cá tính bao dung rộng rãi.
Sau khi đại quân thuận lợi rút về Thành Đô, Tưởng Uyển đang là Thượng thư lệnh kiêm Thứ sử Ích Châu tạm thay chức Thừa tướng mà Gia Cát Lượng để lại. Dương Nghi thì được phong làm quân sư, vẫn làm tham mưu trưởng, chẳng có chức quyền thống trị.
Thời đại Lưu Bị, Dương Nghi làm Thượng thư, Tưởng Uyển cũng làm Thượng thư lang, sau này cùng được bổ nhiệm làm Trưởng sử phủ Thừa tướng của Gia Cát Lượng, song nhiệm vụ của Dương Nghi thường quan trọng và gian khổ hơn Tưởng Uyển, trong thâm tâm tự cho rằng có quan chức cao hơn Tưởng Uyển. Khi ông ta biết Gia Cát Lượng có ý chọn người kế thừa là Tưởng Uyển, đã rất không vừa lòng, chẳng những công khai miệt thị Tưởng Uyển, lại bởi mình chưa có thực quyền, kịch liệt bày tỏ sự bất mãn với Gia Cát Lượng.
Sự phản ứng kịch liệt của Dương Nghi, lập tức gây thành sự bất ổn định trong chính quyền mới của Thục Hán, Tưởng Uyển không biết làm sao, bèn phái Phí Vỹ vẫn có quan hệ với Dương Nghi đến an ủi, chẳng ngờ Dương Nghi thấy Phí Vỹ đến, phản ứng càng mạnh thậm chí nói ra những lời ác khẩu hàm ý uy hiếp và oán trách rằng: “Đang lúc Thừa tướng mới mất, nếu như ta dẫn quân đầu hàng Tào Ngụy, thì đã lập được công lớn, chứ không chìm đắm như hiện giờ, thật là khiến người cuối cùng phải hối hận vậy”.
Phí Vỹ cả kinh, không dám giấu giếm, lập tức mật báo với triều đình. Tưởng Uyển nhớ tiếc công lao của Dương Nghi, vào năm Kiến Hưng thứ 13, đã miễn cho tội chết, song phế làm dân thường, lưu đầy đến quận Hán Gia.
Chẳng ngờ Dương Nghi lại cho rằng bị làm nhục quá mức, quyết tìm đường chết, ông ta càng thay đổi dữ dội, dâng thư công khai chê trách triều đình không công bằng, lời lẽ khá gay gắt mà không thuần phục. Tưởng Uyển bất đắc dĩ, lệnh cho quân lệnh bắt Dương Nghi, Dương Nghi ở trong ngục tự sát mà chết.


* Khương Duy
Tưởng Uyển và Phí Vỹ tuy có làm đại tướng quân, đại tư mã, song hai người này đều là văn quan xuất thân, lại không có kinh nghiệm tác chiến ở tuyến đầu như Gia Cát Lượng, cho nên nghiêm chỉnh mà nói, họ chỉ có danh nghĩa thống soái đại quân mà thôi. Bởi thế thực sự sau này thống lĩnh đại quân giao chiến với quân Tào Ngụy, là Khương Duy với Gia Cát Lượng có đạo thầy trò, cũng là người kế thừa binh pháp của Gia Cát Lượng rất xuất sắc.
Khương Duy tên chữ là Bá Ước, người Thiên Thủy tuổi nhỏ bố đã tử trận, ở với người mẹ goá. Khương Duy cá tính lạnh nhạt, đầu óc sáng suốt, công việc rất tinh thông, sử liệu cho chép, Khương Duy thấu đáo nho học của Trịnh Huyền, nhưng là người thích lập công danh, kết giao với nhiều hạng người, tuy là người áo vải, lại có ảnh hưởng lớn ở địa phương. Không lâu bởi người cha của Khương Duy có chiến công lại bị tử trận, nên được Thái thú ở đó cho làm quan Trung lang, tham dự việc quân sự trong quân. Khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ nhất, do Thái thú Thiên Thủy là Mã Tuân nghi nọ ngờ kia, bức Khương Duy không thể không theo về với Gia Cát Lượng. Sau khi đàm đạo với Gia Cát Lượng, Khương Duy rất cảm động, quyết nuôi chí lớn phục hưng nhà Hán mà cố gắng suốt đời.
Không lâu, Mã Tắc thua trận ở Nhai Đình, Gia Cát Lượng từ Lũng Tây khẩn cấp rút quân, Khương Duy đi theo trong quân, bởi thế mà phải xa rời người mẹ goá. Sau đó bà mẹ phái người đưa thư nhà yêu cầu Khương Duy phải trở về quê cũ, Khương Duy khảng khái than rằng: “Trăm khoảnh ruộng tốt, chửa bằng chọn lấy một vùng, nay ta đã lập chí phục hưng nhà Hán mà theo đuổi, đành đổi hiếu làm trung, chẳng thể tuân theo mẹ mà về quê”.
Gia Cát Lượng nghe thế rất đỗi cảm động bèn lệnh cho Khương Duy làm Thương tào ở bộ tham mưu lại phong làm Phụng nghĩa tướng quân Dương Đình hầu. Năm đó Khương Duy 27 tuổi.
Gia Cát Lượng rất cảm mến tài năng của Khương Duy, ông ta trong lá thư viết cho Trưởng sử Trương Duệ và Tham quân Tưởng Uyển có nói: “Khương Bá Ước năng nổ với công việc, suy nghĩ tinh tế... Người ấy thực là kẻ sĩ tài giỏi của Lương Châu”. Lại khen: “Khương Bá Ước mẫn tiệp với việc quân, lại có can đảm, lại giầu lý luận và kinh nghiệm quân sự. Người ấy đem lòng giúp nhà Hán, mà tài năng thực hơn người”. Không lâu triều đình thăng Khương Duy làm Chinh tây tướng quân.
Trong thời kỳ Gia Cát Lượng bắc phạt, Khương Duy có địa vị ở bộ tham mưu gần với Dương Nghi, bởi ông văn vũ song toàn, có nhiệm vụ quan trọng đảm đương chiến thuật. Trong việc rút quân sau khi Gia Cát Lượng mất, Khương Duy có nhiệm vụ chặn hậu ngăn cản Tư Mã Ý đuổi theo.
Sau khi về Thành Đô, Khương Duy được bổ nhiệm làm Phụ Hán tướng quân, Bình tương hầu, thực tế thống lĩnh toàn quân.
Năm Diên Hy thứ nhất, Đại tướng quân Tưởng Uyển đến đóng doanh trại ở Hán Trung, Khương Duy ở bên cạnh thực tế chỉ huy tác chiến quân sự, không lâu; Tưởng Uyển được thăng làm Đại tư mã, Khương Duy cũng được phong làm Tư mã, tham dự vào quyết sách quân chính, lại mấy lần ra chiến tuyến Kỳ Sơn, dẫn quân bắc phạt, năm Diên Hy thứ 6, Tưởng Uyển bổ nhiệm Khương Duy làm Trấn tây đại tướng quân, Thứ sử Lương Châu, nghiễm nhiên trở thành đầu lĩnh quân đoàn bắc phạt. Thời gian này, Tưởng Uyển và Khương Duy phối hợp rất tốt, cũng là thời gian Khương Duy thi thố tài năng của mình.
Sau khi Tưởng Uyển mất, Khương Duy được thăng làm Vệ tướng quân, với Đại tướng quân Phí Vỹ cùng làm Lục thượng thư. Khương Duy liên tục đánh bại người Di ở bình nguyên Vấn Sơn, đạo quân của Quách Hoài thuộc Tào Ngụy, nên thanh thế rất lớn. Song Phí Vỹ lại thấy nhiều năm chinh chiến, quốc lực của Thục Hán tổn thất lớn, phản đối động binh với quy mô lớn. Khương Duy tuy mấy lần lập kế hoạch mang đại quân bắc phạt ra Lương Châu, song Phí Vỹ chỉ phê chuẩn số quân dưới một vạn người mà thôi, khiến Khương Duy chẳng thể phát huy được thực lực mạnh mẽ.
Năm Diên Hy thứ 16, Phí Vỹ bị thích khách giết chết, phái Diều Hâu lập tức nắm được thực quyền. Liên tục ba năm Khương Duy ba lần động binh chống Tào Ngụy, tuy có thắng lợi nhỏ, song đều bởi vận chuyển lương thực khó khăn không thể không rút quân về.
Năm thứ 19, Khương Duy được thăng làm Đại tướng quân, cùng với Trấn tây đại tướng quân Hồ Tế hội quân ở Thượng Nhai cùng tiến hành bắc phạt. Chẳng may Hồ Tế đến chậm, khiến đại quân Khương Duy bị tướng Ngụy là Đặng Ngải đánh bại, thương vong rất lớn, đây là lần đầu tiên Khương Duy bị vấp ngã nghiêm trọng trong cuộc bắc phạt.
Năm sau, Khương Duy lại nhân cơ hội chinh đông, đại tướng quân Tào Ngụy là Gia Cát Đản làm phản, dẫn quân bắc phạt hưởng ứng từ phía Tần Xuyên. Đại tướng quân Tào Ngụy là Tư Mã Vọng và Đặng Ngải hợp sức đối kháng, Khương Duy không thắng nổi, sau nghe nói Gia Cát Đản thất bại, bèn dẫn quân về Thành Đô.
Năm Cảnh Diệu thứ nhất, hoạn quan Hoàng Hạo chuyên quyền, tình hình triều đình bại hoại, người người đều thống khổ lại thêm Khương Duy nhiều năm xuất chinh, vẫn không lập được công trạng gì. Hoàng Hạo tác động hậu chủ Lưu Thiện có ý lấy Hữu đại tướng quân Diêm Vũ Thay thế Khương Duy. Khương Duy trong một thời gian dài phải đóng trại ở Hán Trung, cố thủ ở Kiếm Các, đối phó với chủ lực quân nam chinh của Tào Ngụy do Đặng Ngải và Chung Hội chỉ huy.
Năm Cảnh Diệu thứ 6, Đặng Ngải từ Âm Bình vượt qua đường núi hiểm trở đột kích vào đất Thục, đánh bại đội quân của Gia Cát Chiêm là con của Gia Cát Lượng. Lưu Thiện phải đầu hàng trước Đặng Ngải, Thục Hán từ đó mất nước.
Đội quân Khương Duy cố thủ ở Kiếm Các chưa bị thương tổn gì, sau khi được tin, lập tức từ Quảng Hán, Kiết Đạo kéo xuống phía nam để rõ thực hư. Khi đến Phù Quan được chỉ thị toàn quân phải đầu hàng, tất cả quân sĩ đều huyên náo, ai nấy đều bực tức vung dao chém xuống đá không thôi.
Khương Duy bất đắc dĩ phải dẫn quân đầu hàng Chung Hội, Chung Hội lấy lễ hậu tiếp đãi, hỏi rằng: “Tướng quân sao đến chậm như vậy nhỉ?”
Khương Duy ứa nước mắt nói rằng: “Hôm nay đến đây cũng là đã quá sớm vậy'”.
Chung Hội nghe nói lấy làm kinh ngạc.
Khương Duy ngầm tác động Chung Hội quyết đấu với Đặng Ngải, để xây dựng lại nhà Hán đã mất, lại viết mật thư gửi cho Lưu Thiện nói rằng: “Xin Bệ hạ nhẫn nại chịu nhục ít ngày nữa, hạ thần có thể khiến xã tắc chuyển nguy thành yên, nhật nguyệt đang tối mà lại sáng vậy”.
Không lâu Đặng Ngải quả nhiên bị Chung Hội đánh bại, Khương Duy lại tác động Chung Hội lấy danh nghĩa Ích Châu mục, cố thủ ở Thục Trung phát động binh biến song các tướng lĩnh nam chinh của Tào Ngụy không ủng hộ, hai bên nổ ra giao tranh ở Thành Đô, cuối cùng Khương Duy và Chung Hội đều bị giết. Nghe nói Khương Duy bị loạn quân giết, đối phương giải phẫu thi thể ông ta, thấy khối mật lớn như cái đấu đều rất lấy làm kỳ lạ. Vợ con cùng gia nhân của Khương Duy thảy đều bị giết hại.
Tam quốc chí có chép: “Khương Duy ở chức đầu lĩnh toàn quân cao quý, nắm được đại quyền quân chính Thục Hán, song ông ta rất cần kiệm, “Nhà cửa sơ sài, tài sản không có nhiều... xe cộ, ăn uống đều giản dị, không xa hoa, chỉ tiêu dùng trong mức được cấp phát... Ông ta ham học không biết mệt, rất tiết kiệm, tự mình nêu gương cho mọi người vậy”.


* Vương Bình
Chiến dịch Nhai Đình, là sơ suất có thể nói là rất lớn của Gia Cát Lượng, ngoài việc tướng quân Mã Tắc bị xử tử để tạ tội, các tướng lĩnh liên quan bao gồm cả Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Ngụy Diên đều bị giáng chức, chỉ có một viên tướng ngoại lệ, lại bởi có chiến công đặc biệt mà được trọng dụng, đó là Vương Bình vốn xuất thân từ quân ngũ, không biết quá mười chữ Hán.
Vương Bình tên chữ là Tử Quân, người Ba Tây, từng cầm quân ở Lạc Dương, làm quan đến hiệu uý, khi Tào Tháo rút quân khỏi Hán Trung, Vương Bình nhân cơ hội đầu hàng Lưu Bị được làm nha môn tướng, Tỳ tướng quân.
Năm Kiến Hưng thứ 6, Vương Bình phụng mệnh phối hợp với Mã Tắc giữ vững Nhai Đình, phòng ngự Trương Cáp tấn công. Song Mã Tắc bỏ nguồn nước lên núi đóng trại, Vương Bình cố khuyên can không được, bèn tự mình dẫn một ít quân sĩ đến đóng giữ ở bên sông Vị Thủy chờ ứng biến.
Đại chiến Nhai Đình, quân Mã Tắc bị đại bại. Vương Bình dẫn hơn 1000 binh mã khua trống chặn đường tạo ra nghi binh, Trương Cáp không dám tiến nữa, khiến đại quân Thục Hán có thể an toàn rút về Hán Trung, Vương Bình bởi có công lao đặc biệt, trong khi các tướng bị giáng chức hàng loạt, lại được phong làm Tham quân, rồi được thăng làm Thảo khấu tướng quân, Phong đình hầu.
Năm Kiến Hưng thứ 9, Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ tư, lệnh cho Vương Bình dẫn quân bao vây Kỳ Sơn, Tư Mã Ý phái Trương Cáp dẫn đại quân đánh vào quân của Vương Bình, song Vương Bình dẫn đội “phi quân” gồm những người thiểu số phía nam, ai nấy đều xem chết như không, quyết chống trả, Trương Cáp đánh mãi không được, cuối cùng không được gì mà phải rút. Gia Cát Lượng lần đầu đối trận với Tư Mã Ý giành được ưu thế lớn, trong đó phải kể đến Vương Bình với một số quân rất ít chế ngự được đạo quân của mãnh tướng Trương Cáp, hiển nhiên là có công rất lớn.
Năm Kiến Hưng thứ 12, Gia Cát Lượng mất ở gò Ngũ Trượng, trong khi rút quân, Nguỵ Diên lại làm phản, Vương Bình phụng mệnh đánh bại được quân Ngụy Diên, bởi có công lao như thế Vương Bình được thăng làm Hậu điền quân, An Hán tướng quân, không lâu lại được làm Thái thú Hán Trung.
Năm Kiến Hưng thứ 15, được phong làm An Hán hầu thay Tướng quân Ngô Ý vẫn đóng giữ Hán Trung, trở thành tổng chỉ huy quân đoàn tiền tuyến ở Thục Hán. Khi Tưởng Uyển đến đóng doanh trại ở Hán Trung, lấy Vương Bình làm tiên phong bắc chinh. Năm Diên Hy thứ 6, khi Tưởng Uyển dẫn quân đến Phù Thành, phong Vương Bình làm Tiền giám quân, Trấn bắc đại tướng quân, trở thành tổng tư lệnh quân đoàn giữ Hán Trung.
Năm Diên Hy thứ 7, đại tướng quân Tào Ngụy là Tào Sảng, dẫn 10 vạn quân bộ kỵ binh hỗn hợp đánh Hán Trung. Các tướng lĩnh quân đoàn Thục Hán đều hoang mang, chỉ có Vương Bình vẫn trấn tĩnh như thường, chỉ huy vững vàng. Phí Vỹ cũng từ Thành Đô đến chi viện, Tào Sảng không được gì phải rút lui.
Đương thời Vương Bình ở phía bắc, Đặng Chi ở phía đông, Mã Trung ở phía nam, cùng đều là những cây cột sắt của chính quyền Thục Hán.
Vương Bình là viên tướng xuất thân từ quân ngũ, không biết viết, nhận biết không quá mười chữ, song nói năng mệnh lệnh, suy nghĩ đều sắc sảo đâu ra đấy. Ông thường lệnh cho tham mưu đọc cho ông ta nghe “Sử ký” và “Hán thư”, khi thảo luận với người khác, cũng thấu hiểu được ý nghĩa lớn. Vương Bình cá tính nghiêm nghị, không hay cưòi nói thường từ sáng đến tối, ngồi làm việc suốt ngày, rất nhẫn nại, mà không nông nổi như các tướng lĩnh xuất thân quân ngũ nói chung. Chỉ hơi đáng tiếc là tầm mắt không rộng, thiếu phong thái khoát đạt của một viên đại tướng, có thể bởi học thức không đầy đủ gây nên chăng.
Năm Diên Hy thứ 11, Vương Bình ngã bệnh chết trong doanh trại tiền phương.


* Mã Trung
Mã Trung là người kế tục thành quả của Gia Cát Lượng ở Nam Trung, ông ta là thống soái đóng trại ở phía nam rất có hiệu quả, trở thành một cây cột sắt về quốc phòng ở phía nam.
Mã Trung tên chữ là Đức Tín, người Ba Tây, khoảng những năm Kiến An được cử làm Hiếu liêm, rồi được bổ nhiệm làm Huyện trưởng Hán Xương. Sau khi Lưu Bị thất bại ở Hồ Đình, mất đi Tham mưu trưởng Hoàng Quyền vẫn được xem trọng, trong lòng rất ưu phiền. Thái thú Ba Tây là Diên Chi phái Mã Trung dẫn 5000 binh mã đến tăng viện, Lưu Bị ở cung Vĩnh An sau khi đàm đạo với Mã Trung, cao hứng nói rằng: “Tuy mất Hoàng Quyền lại được Hồ Đốc (chỉ Mã Trung), thế là đời vẫn không thiếu người hiền vậy”.
Năm Kiến Hưng thứ nhất. Gia Cát Lượng mở phủ cai trị, lấy Mã Trung làm môn hạ đốc. Năm thứ 3, kết thúc chiến sự nam chinh, lại phong Mã Trung làm Thái thú ở Tang Ca. Sau khi đại quân Gia Cát Lượng rút về bắc, đạo quân Mã Trung vẫn ở lại phủ dụ vỗ về, rất có ân huệ dân tộc thiểu số Nam Trung rất tâm phục khẩu phục.
Năm Kiến Hưng thứ 8, Mã Trung phụng mệnh về bắc được bổ nhiệm làm Tham quân ở phủ Thừa tướng, với Tưởng Uyển giữ Thành Đô.
Năm sau, Gia Cát Lượng ra Kỳ Sơn, đặc biệt bổ nhiệm Mã Trung làm chỉ huy quân đoàn, đây là lần đầu Mã Trung tham dự chiến sự bắc binh.
Năm thứ 11, một cường hào Nam Di là Lưu Trụ làm phản, Trù hàng đô đốc Trương Dực xử trí không thoả đáng, tình thế các quận phía nam lại càng rối loạn. Gia Cát Lượng lập tức phái Mã Trung thay thế Trương Dực, mau chóng ổn định được sự hỗn loạn ở Nam Trung. Triều đình phong Mã Trung là Phấn uy tướng quân, Bác dương đình hầu.
Mã Trung lấy sự điều hành khéo léo về chính trị thay thế cho hành động quân sự, khiến sự ổn định của Nam Trung có tiến bộ rất lớn, suốt thời gian Gia Cát Lượng còn sống Nam Trung cũng chẳng có sự phản loạn nào đáng kể.
Năm Diên Hy thứ 5, phụng mệnh về triều, cùng với Đại tướng Tưởng Uyển lo việc quân, được phong làm Trấn nam đại tướng quân.
Năm Diên Hy thứ 7, Đại tướng quân Phí Vỹ bắc chinh,
Mã Trung được cử làm Thượng thư, giữ Thành Đô. Sau khi Phí Vỹ về triều, Mã Trung lại về Nam Trung.
Năm thứ 12 bị bệnh mất ở trong doanh trại của mình.
Mã Trung là người khoan hoà mà độ lượng, thích cười nói, có bực tức cũng không hiện ra mặt, xử sự quyết đoán, ân uy đều có đủ. Dân thiểu số Nam Trung không thể không sợ mà vẫn cảm mến. Sau khi Mã Trung mất dân thiểu số ở nơi cũ theo tập tục tiến hành tế cúng, khóc lóc rất bi ai, lại còn lập miếu thờ phụng nữa.


* Đặng Chi
Sau khi Gia Cát Lượng nắm quyền, chính quyền Thục Hán và Đông Ngô trong một thời gian dài vẫn giữ được hoà bình ổn định, có thể nói rằng phía đông không có chiến sự. Chẳng qua công lao “vô vi nhi trị” này (chẳng làm gì mà sửa sang được), thuộc về Đặng Chi, Tổng tư lệnh quân phòng vệ chiến tuyến phía đông của Thục Hán.
Đặng Chi tên chữ là Bá Miêu, người Nghĩa Dương, là hậu duệ của vị khai quốc công thần đời Hán Vũ đế là đại tư đồ Đặng Vũ. Cuối những năm Kiến An vào Thục, nương nhờ Thái thú Ba Tây là Bàng Nghĩa. Khi Lưu Bị bình định Ích Châu, Đặng Chi đang làm một chức quan nhỏ ở huyện Bì, lấy làm kỳ lạ, bèn thăng làm Huyện lệnh ở đấy. Không lâu lại thăng làm Thái thú Quảng Hán, bởi làm việc thanh liêm, được điều về triều đình làm Thượng thư, tham dự chính sự quốc gia.
Sau khi Lưu Bị mất, sứ giả ngoại giao thứ nhất phụng mệnh đến Đông Ngô hoà giải là Đặng Chi, do sự chân thành và hiểu biết của ông ta, mau chóng giải trừ được nghi kỵ giữa Ngô và Thục, Tôn Quyền viết thư cho Gia Cát Lượng nói rằng: “Hoà hợp được hai nước, duy chỉ có Đặng Chi vậy”.
Khi bắc phạt lần thứ nhất, Đặng Chi lần đầu tiên có quân đoàn của mình, phụ thuộc quân chiến tuyến phía đông của Triệu Vân, cố thủ ở Cơ Cốc. Sau khi Triệu Vân mất, Đặng Chi tự nhiên trở thành lãnh tụ thứ nhất quân đoàn chủ yếu ở chiến tuyến phía đông.
Gia Cát Lượng nhiều lần bắc phạt, Đặng Chi là một lãnh tụ quân đoàn quan trọng thường được hỏi han ý kiến, từng được bổ nhiệm làm Giám quân, Dương vũ tướng quân. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Đặng Chi được thăng làm Tiền tướng quân, kiêm Thứ sử Cổn Châu. Sau đó thay Lý Phong trấn giữ Giang Châu, có quan hệ với Tôn Quyền khá thân mật.
Năm Diên Hy thứ 6, được thăng làm Xa kỵ tướng quân. Năm thứ 14 bị bệnh mất ỏ tiền tuyến phía đông. Đặng Chi làm tướng được hơn 20 năm, thưởng phạt phân minh, khéo vỗ về binh lính, sinh hoạt rất đỗi cần kiệm. Cái ăn cái mặc của mình chỉ dựa vào lương bổng, suốt đời không lo cho tư riêng, vợ con có lúc cũng không tránh khỏi cơ hàn, khi mất trong nhà tài sản không có gì nhiều.
Đặng Chi tính tình cương trực, không phô bày, rất ít chủ động qua lại với bạn bè, bởi thế ở nơi quan trường thường vẫn cô đơn, bằng hữu không nhiều. Song ông chẳng hề để ý, mình làm mình biết, tự mình tận lực với chức trách mà thôi. Trong số những quan chức Thục Hán, ông chỉ tâm đầu ý hợp với Khương Duy, cùng kính trọng lẫn nhau.


* Trương Nghi
Sau khi các chiến tướng đời thứ hai như Vương Bình, Mã Trung, Đặng Chi nối nhau từ trần, Đại tướng cùng với Khương Duy nắm chính quyền Thục Hán chiến đấu đến cùng chủ yếu là Trương Nghi và Trương Dực.
Trương Nghi tên chữ là Bá Kỳ, người Ba quận, thời trẻ làm Công tào ở huyện, khi giặc cướp đánh huyện, Huyện trưởng chạy trốn, Trương nghi dẫn một số quân ngoan cường chống chọi, khôi phục được tình hình, do đó mà nổi tiếng, được làm Tòng sự ở châu.
Khi Gia Cát Lượng nam chinh, Trương Nghi thuộc quân đoàn Mã Trung lập được nhiều chiến công. Sau khi Nam Trung bình định không lâu, người Tẩu Di ở quận Việt Huề mấy lần làm phản, giết Thái thú Tập Lộc, Tiêu Hoàng. Thái thú được bổ nhiệm sau đó không dám đến nhiệm sở nhận chức, chỉ ở mãi huyện An Định cách đó hàng trăm dặm khống chế từ xa mà thôi. Mã Trung bất đắc dĩ phái Trương Nghi làm Thái thú Việt Huề, dẫn quân đi trấn áp. Trương Nghi lấy ân huệ phủ dụ, Nam Di đều qui phục, xin hàng. Bởi có công lao mà được phong làm Quan nội hầu.
Trương Nghi giúp dân thiểu số phương nam cầy cấy chăn nuôi gia súc, làm nghề muối, khai thác sắt, cải thiện được sinh hoạt, đối với sự tiến bộ và mở mang của vùng Nam Trung có cống hiến rất nhiều. Hậu chủ Lưu Thiện phong cho làm Phủ nhung tướng quân.
Trương Nghi suy nghĩ chu đáo, rất có kiến thức, ông từng khuyên Đại tướng Phí Vỹ, chớ xem thường việc phòng vệ bên mình, Phí Vỹ không nghe, sau này quả nhiên bị mưu sát mà bỏ mạng.
Thái phó Gia Cát Khác (con Gia Cát Cẩn) dẫn quân Đông Ngô bắc phạt Tào Ngụy, thanh thế rất lớn, Trương Nghi khuyên ông ta nên cẩn thận, chớ có kiêu ngạo, Gia Cát Khác không nghe, không lâu gặp phải thảm hoạ của cả gia tộc.
Trương Nghi ở Nam Trung kéo dài 15 năm, khi được điều về Thành Đô, người Di đều không muôn rời, túm lấy khóc lóc, có hơn trăm người đi theo Trương Nghi về Thành Đô triều cống, triều đình phong làm Đãng khấu tướng quân. Năm Diên Hy thứ 17, đi theo Vệ tướng quân Khương Duy bắc chinh, bởi binh lực ít ỏi khi giao chiến với tướng Duy Chất, thì tiêu diệt số lớn quân Ngụy, song Trương Nghi cũng bị trọng thương, chết ở sa trường.
Người Di thuộc quận Việt Huề ở phương nam, nghe tin Trương Nghi chết không khỏi khóc lóc thống thiết, để ghi ơn đã lập miếu thờ phụng.


* Trương Dực
Trương Dực tên chữ là Bá Cung, người Kiện Vi, là hậu duệ một gia tộc nổi tiếng ở Ích Châu. Cuối những năm Kiến An được cử làm Hiếu liêm, rồi được cử làm Huyện trưởng Giang Dương. Không lâu đổi đến Phù Lăng, lại được thăng làm Thái thú các quận Tử Đồng, Quảng Hán.
Năm Kiến Hưng thứ 9, được bổ nhiệm làm Trù hàng Trung lang tướng. Trương Dực vốn tính nghiêm khắc có lúc cứng rắn quá, bởi thế không được dân thiểu số vừa lòng, khi Lưu Trụ làm phản, Trương Dực đã nghiêm khắc trừng phạt, do không được các trưởng lão địa phương ủng hộ việc làm phản loạn càng lan rộng. Gia Cát Lượng bất đắc dĩ đành điều Mã Trung đến thay. Khi Mã Trung chưa đến, tình huống ngày mỗi xấu đi, thuộc hạ Trương Dực khuyên ông ta bỏ công việc trực tiếp về Thành Đô. Song Trương Dực nghiêm sắc mặt nói: “Ta nay bị điều động, là bởi tự mình thiếu năng lực, làm sao lại oán hận triều đình? Nay người thay thế chưa đến càng phải tăng cường phòng thủ, cung ứng lương thực đầy đủ mới phải! Sao có thể bởi tình huống cá nhân mà làm hỏng đại sự quốc gia!”
Mã Trung sau này có thể dễ dàng đánh bại được Lưu Trụ, sự chuẩn bị đầy đủ của Trương Dực cũng là một nguyên nhân chủ yếu.
Khi Gia Cát Lượng bắc phạt lần thứ 4, lấy Trương Dực làm Tiền quân đô đốc, kiêm Thái thú ở Phù Phong. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Trương Dực được phong Tiền tướng quân, hưởng tước quan Nội hầu.
Năm Diên Hy thứ nhất, được làm Thượng thư, lại được phong Đô đình hầu, Chinh tây Đại tướng quân.
Trương Dực với Khương Duy về cách nhìn nhận việc quân có rất nhiều sai khác. Khương Duy chủ trương tấn công, thường vội vã dẫn đại quân vào sâu vùng địch, Trương Dực xem trọng chiến thuật chắc chắn, phản đối tiến quân khinh xuất thái quá. Hai bên thường tranh chấp, song Khương Duy vẫn rất xem trọng Trương Dực, thường luôn qua lại, Trương Dực cũng bất đắc dĩ mà theo. Năm Cảnh Diệu thứ 2, Trương Dực bởi có công lao được thăng Tả quân kỵ tướng quân, kiêm Thứ sử Ký Châu. Khi Thục Hán bị diệt vong, Trương Dực với Khương Duy đang giữ Kiếm Các, không lâu, tham dự vào âm mưu làm phản diệt Chung Hội, bị chết trong đám loạn quân.
 
0
Chương XXX
CUỘC QUYẾT CHIẾN CUỐI CÙNG CỦA THỤC HÁN
 
Chung Hội tự biết không được triều đình Tào Ngụy tín nhiệm, bèn bàn bạc với Khương Duy, muốn lợi dụng quân Thục và quân trực thuộc của mình làm phản, kiên trì cố thủ Thục Trung, chiếm đất xưng vương.
Khương Duy ra sức khuyên Chung Hội, nhân thời cơ giết chết các tướng phương bắc để tự bảo toàn. Lại phái người ám sát Chung Hội, để mưu toan khôi phục nhà Hán.


l. Hình thái ba nước thời kỳ sau Gia Cát Lượng
Sau khi Gia Cát Lượng mất, nhân dân Thục Trung nhớ ân đức, râm ran yêu cầu lập miếu thờ Gia Cát Lượng, song Lưu Thiện cho rằng Gia Cát Lượng không phải hoàng tộc, lập miếu thờ không hợp với phép tắc, không nghe theo. Song trăm họ vẫn nhớ ngày mất, tế cúng riêng cho Gia Cát Lượng ở bên đường, quan lại cũng không quản lý được, chỉ mắt nhắm mắt mở mà thôi. Thế rồi phong trào tế riêng ngày càng thịnh, lại vượt quá tế tự đối với Lưu Bị.
Bộ binh hiệu uý Tập Long dâng thư xin lập một ngôi miếu ở gần mộ Gia Cát Lượng tại Miện Dương để chặn phong trào tế riêng, tránh được ảnh hưởng phạm đến lễ phép quốc gia, Lưu Thiện đành phải nghe theo.
Lưu Thiện lệnh cho Tả tướng quân Ngô Ý thay Nguỵ Diên chỉ huy phòng vệ Hán Trung, lại lệnh cho Vương Bình mang quân bảo hộ giúp đỡ. Lại lấy Trưởng sử Tưởng Uyển làm Thượng thư lệnh, tổng quản việc quốc sự, kiêm Thứ sử Ích Châu.
Năm sau Dương Nghi bởi tội phỉ báng nên bị giam giữ, tự sát mà chết. Tưởng Uyển được thăng làm Đại tướng quân, Lục thượng thư, Phí Vỹ thay Tưởng Uyển làm Thượng thư lệnh, chính thức thành lập lại chính quyền Thục Hán sau thời kỳ Gia Cát Lượng.
Lúc đấy là năm Thanh Long thứ 3 đời Ngụy Minh đế, tức là năm 235 sau Công Nguyên.
Viễn chinh nhiều năm, lại thêm chủ tướng từ trần, tình hình trong nước không ổn định, Tưởng Uyển nghĩ muốn chinh phạt bên ngoài ắt phải sớm yên được bên trong, ngoài việc phái Khương Duy tăng cường phía bắc và phòng vệ tây bắc, vào giai đoạn này, Thục Hán không có hành động quy mô lớn nào về chinh phạt.
Cho đến ba năm sau, vào năm 238 sau Công Nguyên, Tưởng Uyển được thăng làm Đại Tư mã, lấy Khương Duy là Tư mã, đến đóng ở Hán Trung, tích cực trù bị khôi phục việc bắc phạt.
Năm sau Ngụy Minh đế Tào Tuấn từ trần, dặn lại lấy con nuôi là Tào Phương kế thừa đại quyền, và lệnh cho con Tào Chân là Tào Sảng cùng với Tư Mã Ý làm đại thần phụ tá.
Bởi Tào Phương mới 8 tuổi, Đông Ngô và Thục Hán đều cho rằng đây là cơ hội tốt, Đông Ngô phái chủ tướng đông chiến tướng Toàn Tông đánh Hoài Nam, còn Khương Duy của Thục Hán thì từ Kỳ Sơn quấy nhiễu biên giới, song không được gì mà đều phải rút quân.
Năm 241 sau Công Nguyên, năm thứ 3, Tưởng Uyển đóng ở Hán Trung, ông ta đánh giá kỹ lưỡng đến cuộc bắc phạt của Gia Cát Lượng từ năm Kiến Hưng thứ 6 về sau, đưa lên hậu chủ Lưu Thiện chiến thuật mới của mình.
Ông ta cho rằng Gia Cát Lượng phần lớn lấy Tần Lĩnh ở phía bắc và Kỳ Sơn ở tây bắc làm đường tiến công, đường xá hiểm trở, vận chuyển bổ sung rất khó khăn. Chẳng bằng làm nhiều chiến thuyền, từ sông Hán Thủy và Miện Thủy đánh sang phía đông, trực tiếp theo đường thủy tập kích các vùng Ngụy Hưng, Thượng Dong, nếu lại phối hợp hành động với chiến tuyến ở phía đông của Đông Ngô, ắt sẽ tạo ra áp lực rất lớn với Tào Ngụy. Tưởng Uyển có ý giao phó mọi hành động, bèn phái Khương Duy về Thành Đô báo cáo với Lưu Thiện cùng đánh giá tính khả thi của chiến lược này, gặp phải bệnh cũ tái phát, hành động khó khăn, Tưởng Uyển phải tạm thời cho dừng kế hoạch lại.
Khương Duy ở Thành Đô cùng với Phí Vỹ nghiên cứu tỉ mỉ, đều cho rằng theo đường thủy tiến sang phía đông, nếu rút lui không dễ, hoặc không thuận lợi một chút, quân viễn chinh dễ bị đánh bại. Được Lưu Thiện đồng ý, Thượng thư lệnh Phí Vỹ đi cùng với Khương Duy trở về Hán Trung, để cùng Tưởng Uyển xem xét lại toàn diện kế hoạch trên.
Lúc này tình hình sức khoẻ của Tưởng Uyển đã xấu đi, lại thêm khó khăn về phối hợp với Đông Ngô, cũng phải huỷ bỏ kế hoạch tiến sang phía đông bằng đường thủy, bèn lấy Khương Duy làm Thứ sử Lương Châu, đến đóng ở Phù Thành, tăng cường việc sửa sang chiến tuyến phía bắc.
Tháng 10 đã vào mùa đông, Tưởng Uyển đến Phù Thành để thị sát, bệnh tình càng xấu đi, bèn hạ lệnh cho Thái thú Hán Trung là Vương Bình làm Tiền giám quân, lại phong Trấn bắc Đại tướng quân thay ông ta đôn đốc các đạo quân tiền tuyến.
Người cháu của Gia Cát Lượng, con của Gia Cát Cẩn là Gia Cát Khác thống lĩnh quân đoàn chiến tuyến phía đông của Đông Ngô, bắt đầu tiến hành công việc bắc phạt Tào Ngụy.
Tư Mã Ý rất chú ý đến sự uy hiếp của Đông Ngô, tự dẫn đại quân đến quận Thư vùng Lư Giang, Tôn Quyền lệnh cho Gia Cát Khác rút về Sài Tang, đề phòng đại quân Tào Ngụy tiến về phía nam.
Bởi Tưởng Uyển bệnh nặng, Lưu Thiện lệnh cho Phí Vỹ làm Đại tướng quân, Lục thượng thư, tiếp quản đại quyền quân chinh Thục Hán.
Năm 244 sau Công Nguyên, Tôn Quyền lấy Đại tướng quân Lục Tốn làm tể tướng, vẫn giữ chức Kinh Châu mục, đôn đốc việc phòng vệ ở chiến tuyến phía tây.
Đại tướng quân Tào Ngụy là Tào Sảng, muốn lập uy danh với thiên hạ, đưa ra kế hoạch quân sự với qui mô lớn nam chinh thảo phạt Thục Hán, Thái phó Tư Mã Ý khuyên mãi không nghe, khoảng tháng 3, Tào Sảng đến Tràng An, hợp quân với đô đôc Hạ Hầu Huyền, dẫn 10 vạn binh mã, từ Lạc Côc tiến vào Hán Trung.
Lúc này, Tưởng Uyển và Khương Duy đều ở Phù Thành, quân giữ Hán Trung không đến 3 vạn người, các tướng lĩnh quân đoàn thảy đều kinh hãi, đã chủ trương đóng cửa thành để đợi viện quân đến từ Phù Thành đến.
Vương Bình một mình một ý, ông ta nói: “Hán Trung cách Phù Thành nghìn dặm đường xa, nếu như để đợi quân Tào Ngụy vào cửa ải, sẽ tạo ra uy hiếp rất lớn. Chẳng bằng chủ động, xuất kích, hậu quân Lưu Mẫn cậy hiểm cố thủ ở Hưng Thế Sơn, tôi tự mình bố phòng ở sau cửa ải, để biểu thị quyết tâm chiến đấu của chúng ta trước kẻ địch, tuy binh lực rất ít, song ta có địa lợi, trong thời gian ngắn khó đánh bại được chúng ta, như vậy, quân tiếp viện của Phù Thành mới đến kịp được”.
Triều đình Thục Hán ở Thành Đô, cũng được tin khẩn cấp từ tiển tuyến, Đại tướng quân Phí Vỹ tự mình dẫn quân đến chi viện.
Đại quân của Tào Sảng bị chặn ngoài cửa ải Hưng Thế Sơn, lại thêm khó khăn về vận chuyển bổ sung, quân nam chinh lại rơi vào nguy cơ.Tham mưu Dương Tuấn đề nghị lập tức rút quân, song các tướng lĩnh quân đoàn như Đặng Dương, Lý Thắng đều cương quyết phản đối. Dương Tuấn nói lớn: “Dương, Thắng làm hỏng việc quốc gia, khá chém đi!”. Tào Sảng ngần ngừ không quyết.
Tư Mã Ý vội gửi thư cho Hạ Hầu Huyền, phân tích tự mình đã từng tham dự chiến dịch Hán Trung cùng với Tào Tháo. Rất biết rõ thời cơ chưa chín, nếu từ Quan Trung tiến vào Hán Trung rất bất lợi, huống chi nay Thục Hán đã nắm được Hưng Thế Sơn hiểm trở, tùy lúc có thể chặt đứt đường về của quân ta, không mau chóng hạ quyết tâm là rất nguy hiểm.
Hạ Hầu Huyền cả kinh lập tức báo cáo với Tào Sảng, Tào Sảng mới lập tức rút quân, song Phí Vỹ đã đánh vào vùng Tam Lĩnh (Trầm Lĩnh, Nha Lĩnh, và Phân Thủy Lĩnh), chặn đứt đường rút của Tào Sảng, nhìn chung quân nam chinh bị tổn thất nghiêm trọng, tình hình Quan Trung bị ảnh hưởng rất lớn, địa vị của Tào Sảng cũng xuống thấp.
Tưởng Uyển bị bệnh nặng, nhường chức quyền cho đại tướng Phí Vỹ, Lưu Thiện lấy Phí Vỹ làm Thứ sử Ích Châu, cũng lấy Đổng Doãn làm Thượng thư lệnh để giúp đỡ.
Tháng 11 Tưởng Uyển từ trần, Phí Vỹ đến Hán Trung xem xét kỹ hệ thống phòng vệ.
Tháng 12, Đổng Doãn đang giữ Thành Đô ngã bệnh từ trần, trong lúc khẩn cấp Lưu Thiện đề bạt Thượng thư Lã Nghệ làm Thượng thư lệnh.
Đổng Doãn cá tính nghiêm nghị, hết lòng vì việc công, đến như Lưu Thiện cũng phải nể sợ. Lưu Thiện rất ái mộ hoạn quan Hoàng Hạo, song Đổng Doãn đang ở triều đình thì Hoàng Hạo không dám làm bừa, trong thời gian Đổng Doãn còn sống, Hoàng Hạo về quan chức không vượt qua chức Hoàng môn thừa.
Phí Vỹ cá tính ôn hoà, thiếu sự kiên quyết như Tưởng Uyển và Đổng Doãn, cứ theo yêu cầu của Lưu Thiện lấy Trần Chi thay Đổng Doãn làm Thị trung. Trần Chi bên ngoài có vẻ uy nghi, nhiều tài nghệ, có mưu trí nên Phí Vỹ ngộ nhận là Trần Chi có tài như Đổng Doãn. Song Trần Chi chỉ tốt mã mà thôi, ông ta với Hoàng Hạo đắp đổi trong ngoài, khiến Hoàng Hạo có cơ hội can thiệp vào triều chính, làm đến Trung thường thị.
Kể từ Gia Cát Lượng mất đến khi Tưởng Uyển mất là 11 năm (năm 234 đến năm 245) tình hình ba chân đỉnh Tam quốc không có biến động lớn, Thục Hán thực lực tuy yếu, song dựa vào địa lợi Tần Xuyên, lại thêm Gia Cát Lượng bồi dưỡng không ít nhân tài, về chính trị, quân sự, kinh tế đều có thực lực, nếu Tào Ngụy và Đông Ngô đều nhân cơ hội Gia Cát Lượng mất và muốn giành thắng lợi là không dễ dàng.
Tôn Quyền có danh tướng Lục Tốn phụ tá, thực lực lại càng mạnh. Người con của Gia Cát Cẩn là Gia Cát Thuộc sau khi nắm quyền ở đông chiến tuyến, tích cực sửa sang việc bắc phạt, khiến quan hệ hai bên mười mấy năm bình lặng trở nên đối đầu, ngày mỗi căng thẳng, Trái lại giữa Tương Dương - Giang Lăng do danh tướng Lục Tốn chỉ huy, lại chẳng hề có chiến sự gì.
Thực ra, biến đối lớn nhất là chính quyền Tào Ngụy có diện tích rất lớn, thực lực lại mạnh. Ngụy Minh đế Tào Tuấn mất lúc 35 tuổi, do không có con lấy con nuôi là Tào Phương kế thừa. Tuy có người con của Tào Chân là Tào Sảng phụ tá, song tính hợp pháp của việc Tào Phương kế thừa rất yếu, Tào Sảng lại quá trẻ thiếu kinh nghiệm, đại quyền quân chính dần dần rơi vào tay Tư Mã Ý cả.
Thế lực họ Tào bất mãn với sự khuếch đại lực lượng của họ Tư Mã, đấu tranh giữa hai bên càng thêm ác liệt, cũng ảnh hương đến sự thống nhất của Tào Ngụy không ít.


2. Chính quyền ba nước phát sinh biến hoá
Chính quyền Thục Hán sau năm 246 bắt đầu có cải biến lớn.
Phí Vỹ có tài năng học thức, tuy được lựa chọn đột xuất, song hiệu suất công tác còn vượt cả Gia Cát Lượng và Tưởng Uyển. Là người có cá tính ôn hoà, ông ta có nhiều nhân nhượng trước việc quá cương kỷ, sự nghiêm minh pháp trị và phong cách thanh liêm mà Gia Cát Lượng và Tưởng Uyển xây dựng và duy trì đã dần dần bị phá hoại, vấn đề trong chính quyền Thục Hán tàng thêm nhiều, sự thống nhất lực lượng yếu dần đi.
Ở triều đình Thục Hán, các đại phu lấy Đại ti nông Mạnh Quang làm chính, đương nhiên cùng thấy rằng đây là nguy cơ, họ đề nghị lấy Khương Duy làm Vệ tướng quân, cùng với Phí Vỹ làm Lục thượng thư, song đê cũ lắm lỗ hổng đã thấy phá ra, muốn khôi phục phong thái chính trị ngày xưa cũng không thể được.
Đại học giả hàng đầu của Thục Hán là Tiêu Chu ra sức khuyên hậu chủ Lưu Thiện thi hành tiết kiệm, bỏ không khí hội hè ca hát, lại bị Lưu Thiện cự tuyệt ngay ở triều đình.
Ở Đông Ngô, Lục Tốn bị bệnh từ trần, Bộ Chất kế nhiệm làm Thừa tướng, Uy bắc tướng quân Gia Cát Khác làm Đại tướng quân thay thế Lục Tốn trấn giữ Vũ Xương, phụ trách phòng vệ tây chiến tuyến của Đông Ngô. Gia Cát Khác nóng vội muốn bắc phạt, song Tôn Quyên tuổi cao có xu hướng bảo thủ, Đông Ngô ở giai đoạn này, chẳng có việc gì nổi trội.
Hai năm sau vào năm 248 sau Công Nguyên, sau khi Phí Vỹ kế tục Tưởng Uyển, lại ra đóng đồn ở Hán Trung, trù bị việc bắc phạt. Duy có một điểm khác trước là Phí Vỹ không giữ binh mã của phe mình ở Thành Đô. chỉ lấy phương thức chỉ huy đại cục từ xa mà khống chế. Phí Vỹ vắng mặt, không khí của triều đình Thục Hán lại càng xấu đi.
Đại tướng quân Tào Sảng của Tào Ngụy sau khi mất chủ quyền khống chế ngày càng kiêu sa vô độ, về y phục, ăn uống đều có chỗ vượt quyền, lại thêm tửu sắc quá mức, cuối cùng bị lão thần Tư Mã Ý cùng các con là Hộ quân Tư Mã Sư, Tấm kỵ thường thị Tư Mã Chiêu lập kế giết đi, thực lực của họ Tào trong chiến quyền mau chóng giảm sút.
Một phái quan trọng khác là họ Hạ Hầu cũng bị họ Tư Mã gạt bỏ nghiêm trọng, những người con của Hạ Hầu Uyên như Chinh tây tướng quân Hạ Hầu Huyền, Tả tướng quân Hạ Hầu Bá đều rơi vào nguy cơ lớn.
Bè phái Tư Mã Ý bao gồm cả Chinh tây tướng quân Quách Hoài, Thứ sử Ung Châu Trần Thái, dần dần giành địa vị chính. Hơn nữa các tướng lĩnh của phái Thiếu Tráng được Tư Mã Ý đặc biệt đề bạt, trong đó Thái thú Nam An là Đặng Ngải có biểu hiện đột xuất nhất, đã dần dần nắm được lực lượng chính ở Quan Trung.


3. Khương Duy bắc phạt
Năm 249 sau Công Nguyên tức là 15 năm sau khi Gia Cát Lượng từ trần, Vệ tướng quân Khương Duy xứng đáng là đệ tử của Gia Cát Lượng, sau 3 năm sửa sang ở Hán Trung, bắt đầu chuẩn bị tích cực việc bắc phạt.
Tuy phụ trách ngăn cản Khương Duy là Lão tướng Quách Hoài, song Đặng Ngải cũng mang quân Quan Trung tham gia vào chiến trường này, triển khai cuộc đối trận ác liệt kéo dài suốt mười mấy năm giữa Khương Duy và Đặng Ngải.
Mùa thu năm đó, Khương Duy dẫn quân tiến vào vùng Ung Châu, ở vùng Khúc Sơn trước đó đã cho dựng hai thành lũy, do Nha môn tướng Câu An và Lý Hân giữ. Bởi Khương Duy với Khương tộc ở Lương Châu có quan hệ tốt, nên các thủ lĩnh bộ lạc ở vùng Ung, Lương đều phản lại Ngụy mà giúp Thục, thanh thế rất lớn. Tư Mã Ý lệnh cho Trần Thái và Quách Hoài dẫn quân đến chi viện.
Trần Thái cho rằng Khúc Thành tuy cậy hiểm cố thủ, song cách đất Thục quá xa, lương thảo bổ sung khó khăn, mà quân Khương thì ô hợp, chẳng thể phối hợp chặt chẽ, nên cần trực tiếp bao vây, lại chia quân cắt đứt đường vận chuyển, như thế thì quân Thục ắt sẽ bị thất bại.
Quách Hoài cũng tán thành cách nhìn nhận ấy, phái Đặng Ngải đến bao vây Khúc Thành, Trần Thái đánh vào tuyến vận chuyển của hộ quân Từ Chất, chặt đứt hữu hiệu đường rút lui.
Câu An thấy quân Đặng Ngải đến, để tránh trở thành cô lập, bèn chủ động dẫn quân ra ngoài thành giao chiến, song Đặng Ngải lại dựa vào địa lợi phía ngoài thành mà xây dựng công sự phòng ngự, để cắt đứt thành với bên ngoài. Điều đó dẫn đến tình hình khó khăn cho quân Thục khi mùa đông đến, quân lương bổ sung không đủ sẽ tạo thành bất lợi mà lo lắng không thôi.
Khương Duy nhận được báo cáo, dẫn quân ra núi Ngưu Đầu, muốn chi viện cho Lý Hân và Câu An. Trần Thái bầy trận ở phía bắc sông Thảo Thủy, ngăn chặn đại quân Khương Duy.
Giông như chiến thuật của Đặng Ngải, Trần Thái cũng không muốn quyết chiến với Thục, ông ta nói với các tướng sĩ rằng: “Binh pháp quý nhất ở chỗ không đánh mà khuất phục được quân của người ta, Khương Duy tuy giầu mưu trí, song binh lực không nhiều, ắt chẳng thể tiến đánh, chẳng bằng chia quân trực tiếp chiếm lấy núi Ngưu Đầu, cắt đứt đường rút, đánh vào tinh thần binh sĩ, ắt sẽ bắt được Khương Duy”.
Bởi thế hạ lệnh đối mặt với quân Khương Duy, xây dựng trận địa phòng ngự, không giao chiến với quân Thục, lại yêu cầu Quách Hoài phái quân đánh núi Ngưu Đầu, cắt đứt đường rút của Khương Duy.
Khương Duy thấy đại thế bất lợi, hạ lệnh rút quân, Khúc Thành lập tức bị cô lập, Câu An, Lý Hân phải đầu hàng, các bộ lạc người Khương phụ giúp cũng bị bức rút về vùng núi. Đặng Ngải sau khi chiếm được Khúc Sơn bèn nói với Trần Thái, quân chủ lực của Khương Duy chưa hề bị bẻ gãy, ắt sẽ mau chóng quay trở lại, không gì bằng đóng đồn ở phía bắc Bạch Thủy, để ngăn chặn triệt để quân Thục tiến về phía bắc.
Ba ngày sau quả nhiên Khương Duy phái Liêu Hoá tấn công vào quân Đặng Ngải ở Bạch Thủy. Đặng Ngải tự mình đến quan sát tiền tuyến có nói: “Quân Liêu Hoá nhiều hơn quân ta, lại không vội vượt sông hoặc làm cầu, chắc là nghi binh vậy, Khương Duy ắt sẽ dẫn quân chủ lực đánh vào Thao Thành, để lại tập kích vào vùng Ung Châu”.
Thao Thành cách Bạch Thủy 60 dặm, Đặng Ngải hạ lệnh thâu đêm khẩn cấp hành quân, đến được Thao Thành sớm hơn Khương Duy, liền tăng cường việc phòng ngự. Quả nhiên Khương Duy dẫn quân chủ lực đánh vào Thao Thành, song không tiến triển được, đành phải rút về Hán Trung, kết thúc chiến dịch bắc phạt lần thứ nhất với quy mô lớn.
Năm sau, Quách Hoài được thăng làm Quân kỵ tướng quân, Đặng Ngải cũng trở thành quân chủ lực của chiến tuyến phía tây ngăn chặn Khương Duy.
Cuối năm đó, Khương Duy lại tiến ra Tây Bình, song Đặng Ngải đã tăng cường phòng thủ, không được gì mà phải rút lui.
Tháng 8 năm sau (năm 251 sau Công Nguyên), Tư Mã Ý qua đời, Vệ tướng quân Tư Mã Sư làm Phủ quân đại tướng quân, Lục thượng thư.
Tháng 12, Đại tướng quân Phí Vỹ trở vể Thành Đô, song không khí Thành Đô đã bại hoại, Phí Vỹ không đủ sức nắm giữ, đành trở về Hán Thọ đóng đồn, để bình tĩnh suy nghĩ cách đối phó.
Tháng sau, Thượng thư Lã Nghệ từ trần, Thị trung Trần Chi tiếp nhiệm, Hoạn quan Hoàng Hạo nhờ vậy mà thanh thế càng lớn.
Năm 252 sau Công Nguyên, Tư Mã Sư được thăng làm Đại tướng quân, so với người cha lại càng nghiêm chỉnh dốc toàn lực nắm lấy quân quyền Tào Ngụy.
Tháng 2, Đại đế Tôn Quyền từ trần, Thái tử Tôn Lương lên nối ngôi, lấy Gia Cát Khác làm Thái phó, Đằng Dận làm Vệ tướng quân, Lã Đại làm Đại tư mã cùng phụ tá việc nước.
Gia Cát Khác tự ý tự động, lại học theo người chú Gia Cát Lượng nổi tiếng đương thời, nóng nẩy phát động việc bắc phạt, tạo thành tình hình chính trị trong nước Ngô sôi động không yên.
Năm 253 sau Công Nguyên đại tướng quân Phí Vỹ và các chư tướng phòng vệ Hán Trung cùng dự tiệc ở Hán Thọ. Phí Vỹ cá tính ôn hoà, vẫn không kể phe phái này nọ, bởi thế mà xem thường việc phòng vệ. Đang lúc uống rượu say, bị hàng tướng của Tào Ngụy là Quách Tuần mưu sát mà chết.
Lúc đầu, Khương Duy tự cho rằng rất thân thuộc với dân tộc thiểu số Lương Châu, muốn nhờ giúp đỡ của bộ lạc Khương Hồ, tập kích Lũng Tây, mỗi lần mang đại quân ra Kỳ Sơn bắc phạt, chủ soái Phí Vỹ đều không tán thành.
Phí Vỹ nói: “Ta thực kém xa Thừa tướng Gia Cát Lượng. Thừa tướng Bắc Kinh còn không được như ý muốn, huống chi là ta? Chỉ bằng lo dân giàu nước mạnh, giữ yên xã tắc, đợi người sau làm giỏi hơn chúng ta mọi việc! Vội vã quyết thắng bại với kẻ địch, nếu nhỡ ra thất bại ắt sẽ dao động phần nền móng quốc gia, có hối cũng là muộn vậy”.
Thực ra Phí Vỹ nói vậy chỉ cốt cho qua chuyện, đại bản doanh Thành Đô triều chính bại hoại, việc chi viện hậu cần không thuận lợi, muốn phát động đại quân viễn chinh đâu có dễ dàng. Bởi thế Phí Vỹ thường đều cung cấp cho Khương Duy không quá một vạn quân. Khương Duy tuy oán hận song cũng không biết làm sao.
Phí Vỹ từ trần, quân đoàn Hán Trung như rắn không đầu, đều do Khương Duy thống lĩnh. Thiếu mất sự điều tiết của Phí Vỹ, Khương Duy lập tức tập kết mấy vạn binh lực, từ Vũ Đô kéo ra đánh Lũng Tây, chủ yếu là vị trí Địch Đạo.
Năm đó Gia Cát Khác từ đông chiến tuyến đến đóng ở Hoài Nam, tháng 5 cho quân vây Tân Thành, Tư Mã Sư lệnh cho Thái uý Tư Mã Phu dẫn 20 vạn quân đối phó với Gia Cát Khác, lại lệnh cho Quách Hoài, Trần Thái dẫn quân Quan Trưng dốc hết lực lượng, đến giải vây cho Địch Đạo.
Trần Thái vẫn lấy chiến thuật tường chắn đối phó với Khương Duy, quả nhiên như Phí Vỹ dự liệu, hậu cần quân Thục suy yếu dần, chẳng bao lâu Khương Duy hết lương phải rút quân về.
Đại quân Tào Ngụy ở đông chiến tuyến cũng dùng sách lược kiên trì phòng thủ, Gia Cát Khác đánh mạnh mấy tháng, không thấy hiệu quả, lại bởi lương thực thiếu thốn, dịch bệnh tràn lan, trong khi rút quân phải chịu tổn thất rất lớn, danh tiếng Gia Cát Khác xuống rất thấp, không lâu bị Tôn Tuấn mưu sát, gia tộc đều bị liên lụy, tan nát cả.
Về chính quyền Tào Ngụy sau khi Tư Mã Ý mất, họ Tào, họ Hạ Hầu cùng với họ Tư Mã đã đấu tranh với nhau ngày càng kịch liệt. Tư Mã Sư sau khi đánh bại được Khương Duy và Gia Cát Khác có ưu thế rất lớn.
Quân họ Tào có kế hoạch làm phản đoạt quyền song âm mưu bị bại lộ, chủ tướng Hạ Hầu Huyền, Trung thư lệnh Lý Phong đều bị bắt giữ, chu di tam tộc. Người con của Hạ Hầu Uyên là Hạ Hầu Bá dẫn quân trực thuộc đầu hàng Thục Hán, năm sau tức là 254 sau công nguyên. Tư Mã Sư phế truất Ngụy chủ Tào Phương, lấy Hương công Tào Mao làm Ngụy chủ, chính quyền họ Tào đến đây chỉ còn là bù nhìn mà thôi.


4. Khương Duy lại ra Kỳ Sơn.
Nhân cơ hội nội bộ quân Tào Ngụy rối loạn, Khương Duy lại chiếm đánh Địch Đạo, rồi đánh ra vùng Hà Gian, Lâm Thao. Tướng Ngụy là Từ Chất dẫn quân Quan Trung đến chi viện, hai bên giao chiến ở Hà Gian, quân Thục đại bại, Đãng Khấu tướng quân Trương Nghi bị tử trận, Khương Duy lại vứt bỏ Địch Đạo, rút về Vũ Đô ở phía nam.
Đại thống lĩnh quân Quan Trung là Quách Hoài tử trận, Thứ sử Ung Châu là Trần Thái kế nhiệm.
Trấn đông tướng quân của Tào Ngụy là Vô Khâu Kiệm, liên hợp với Thứ sử Dương Châu Văn Khâm nắm binh biến, muốn trả thù cho Hạ Hầu Huyền. Tư Mã Sư dẫn quân thảo phạt. Vô Khâu Kiệm bị bắt, chu di tam tộc. Văn Khâm dẫn quân đầu hàng Đông Ngô. Cũng tháng ấy Tư Mã Sư đột nhiên ngã bệnh từ trần, được Thị lang Chung Hội giúp đỡ, em Tư Mã Sư là Tư Mã Chiêu nắm được đại quyền chính, đảm nhiệm chức đại tướng quân, Lục thượng thư.
Tháng 7 đầu mùa thu, Khương Duy lại chuẩn bị xuất chính bắc phạt, Chinh tây tướng quân Trương Dực ra sức khuyên can hãy nghĩ đến nước nhỏ dân nghèo không nên chinh chiến mãi. Khương Duy không nghe, lại cùng với Quân kỵ tướng quân Hạ Hầu Bá mới đầu hàng và Trương Dực dẫn mấy vạn quân ra Kỳ Sơn. Tháng 8 đánh chiếm Phu Hãn, chuẩn bị lại đánh Địch Đạo.
Tướng quân Trần Thái tổng chỉ huy quân Quan trung tự mình dẫn đại quân ngăn chặn. Thứ sử Ung Châu là Vương Kinh giao chiến với Khương Duy ở Thao Tây; bị Khương Duy đánh cho đại bại, Trần Thái thấy tình thế bất lợi, rút về giữ thành Địch Đạo, mặt khác vội xin Lạc Dương chi viện.
Trương Dực thấy lương thảo bổ sung ngày mỗi khó khăn, ra sức đề nghị rút quân: “Hãy mau dừng lại, không nên tiến nữa, có thể sẽ hỏng mất việc lớn, lại vẽ rắn thêm chân”. Khương Duy không nghe vẫn dẫn đạo quân bao vây thành Địch Đạo.
Chiến bại ở Thao Tây, lại thêm lời hiệu triệu chính trị của Hạ Hầu Bá gửi cho quân Tào Ngụy khiến tình hình Lạc Dương lay động. Tư Mã Chiêu hạ lệnh cho Trưởng thủy Đặng Ngải làm An tây tướng quân, từ Tràng An, xuất phát đến giúp Trần Thái ngăn chặn Khương Duy, lại lệnh cho Thái uý Tư Mã Phu dẫn hai mươi vạn tinh binh đóng giữ Tràng An để làm hậu thuẫn. Kể từ mấy lần Khương Duy bắc phạt đến nay, lần này đạt thành tích cao nhất.
Sau thất bại của Vương Kinh, Trần Thái lập túc dẫn quân chủ lực chạy đến Lũng Tây này, các tướng lĩnh đều cho rằng Khương Duy thế càng lớn, nên tạm tránh đi, đợi quân tiếp viện của Đặng Ngải và Tư Mã Phu đến kịp sẽ lại đối đầu, song Trần Thái gạt đi. Ông ta cho rằng Khương Duy đơn độc thâm nhập, rất muốn đánh mau thắng mau, Vương Kinh lẽ ra nếu kiên trì cố thủ với tường cao hào sâu, lại cậy dũng mãnh tiến hành giao chiến, cuối cùng thất bại; Khương Duy thừa thắng tiến sang Ung Châu đánh chiếm kho lương Nhạc Dương, nếu như để ông ta giành được lương thực ở đấy, ắt sẽ liên hệ với bộ lạc Khương, Hồ, tiến hành chiến thuật trường kỳ, thì Lũng Tây, Nam An, Thiên Thủy, Quảng Ngụy cả bốn quận sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng, đối với quân ta là rất không thuận lợi; đạo lý của binh pháp là phải nắm được chỗ mong muốn và chỗ lo sợ của kẻ địch, nay nên tận lực ngăn cản họ sang phía đông, cắt đứt đường rút, ắt sẽ bức quân viễn chinh Khương Duy phải rút lui về.
Bởi thế tự mình dẫn binh mã, dốc hết lực lượng đến chi viện cho thành Địch Đạo đang bị bao vây. Khương Duy thấy Trần Thái dẫn quân đến, có ý muốn đánh ngay, song quân Tào Ngụy có ưu thế nhân hoà và địa lợi, Khương Duy không thuận lợi bằng, lại sợ Trần Thái chia quân cắt đứt đường rút, lại phối hợp với quân trong thành Địch Đạo ba mặt cùng giáp kích, như vậy quân Thục sẽ rất bất lợi; lại thêm được tin đại quân Tào Ngụy sẽ đến tăng viện, bèn hạ lệnh rút về Chung Đề ở giữa Lương Châu và Hán Trung.
Năm sau, tức là năm 256 sau Công Nguyên, vào mùa xuân, Khương Duy chính thức đảm nhiệm chức Đại tướng quân nắm đại quyền quân chính Thục Hán. Thực ra chính sự trong triều đình, cơ hồ đã hoàn toàn rơi vao tay Trần Chi và Hoàng Hạo, Khương Duy nói chung chẳng thể vượt qua, thậm chí vẫn đề hậu cần của quân viễn chinh ở tiền tuyến cũng không đủ sức giải quyết.
Các tướng Quan Trung tuy cho rằng Khương Duy lực lượng đã yếu, không có thể lại dẫn quân ra Kỳ Sơn. Chỉ có Đặng Ngải một mình một ý, ông ta phán đoán Khương Duy động binh nhiều năm song chưa gặp phải thất bại lớn, tuy lương thực bổ sung còn khó khăn, song binh lực khá đầy đủ, lại có bộ tộc Khương, Hồ giúp đỡ, trừ khi sự phòng vệ ở tuyến Ung, Lương có cải thiện về thực chất, nếu không ông ta nhất định sẽ lại mạo hiểm, để tiếp tục chiến lược đánh chiếm Lương Châu của Gia Cát Lượng.
Quả nhiên, đến mùa thu, Khương Duy dẫn quân lại ra Kỳ Sơn, song Đặng Ngải đã hoàn chỉnh được việc phòng vệ ở cửa ải Kỳ Sơn. Khương Duy dự tính không đủ sức đột phá, bèn quyết định từ Đông Đình tập kích quận Nam An, chẳng ngờ Đặng Ngải sớm đã tiến vào đường Vũ Thành Sơn xây dựng thành lũy, Khương Duy bị ngăn cản không khỏi cả giận, bèn nhân đêm tối vượt qua sông Vị Thủy sang phía đông, theo đường núi đến Thượng Nhai, Đặng Ngải dẫn chủ lực đuổi theo, hai bên giao chiến lớn ở Đoàn Cốc.
Do đội quân của tướng quân Hồ Tế lạc đường, chưa thể kịp thời đến được chiến trường, quân chủ lực của Khương Duy bị đánh bại, tử vong rất lớn, kể từ chiến dịch núi Ngưu Đầu đến nay, đây là thất bại lớn nhất của Khương Duy khiến lòng người Thục Trung rất dao động. Khương Duy học theo hành vi chiến lược của Gia Cát Lượng sau chiến dịch Nhai Đình, tự xin hạ chức, Lưu Thiện hạ lệnh giáng xuống làm Vệ tướng quân, song chỉ trên danh nghĩa mà thôi.
Trái lại, Đặng Ngải bởi có chiến công lớn được thăng làm Trấn tây tướng quân, đôn đốc việc quân sự ở Lũng Hữu.
Tư Mã Chiêu đảm nhiệm Đại đô đốc, lấy Tư Mã Phu làm Thái phó. Cao Nhu làm Thái úy, phe Tư Mã hoàn toàn nắm đại quyền quân chính Tào Ngụy, họ Tào ỏ triều đình xem ra không còn vai trò gì.
Ở Đông Ngô, Tôn Tuấn chết đột ngột, người em là Tôn Lâm kế tục nắm đại quyền, tháng 11 được thăng làm Đại tướng quân.
Ở chiến tuyến phía đông của Tào Ngụy, tổng chỉ huy là Đại tướng quân Gia Cát Đản, ông ta là bạn thân của Hạ Hầu Huyền. Sau khi Hạ Hầu Huyền chết, Gia Cát Đản rất không yên tâm, lại thêm người con của Giả Quì là Giả Sung, người con của Nhạc Tiến là Nhạc Lâm ra nhập trận tuyến họ Tư Mã, thường vẫn gây áp lực với Gia Cát Đản. Gia Cát Đản bất mãn với Giả Sung và Nhạc Lâm đã a dua, cuối cùng đã trách mắng Giả Sung tại chỗ, lại trừ diệt Nhạc Lâm, mang 10 vạn quân Hoài Nam và Hoài Bắc làm phản, lại đưa con trai là Gia Cát Tịnh sang Đông Ngô làm con tin, yêu cầu Đông Ngô cử binh tiếp viện.
Tư Mã Chiêu dẫn quân thảo phạt Gia Cát Đản. Đông Ngô phái các tướng Toàn Dịch, Toàn Đoan, Đường Tư, Vương Tộ phối hợp với hàng tướng Tào Ngụy là Văn Khâm đến giúp Gia Cát Đản.
Khương Duy được tin Tư Mã Chiêu lệnh cho quân Quan Trung chia ra cứu viện cho Hoài Nam, lập tức nhân cơ hội tiến quân ra Tần Xuyên. Ông ta dẫn mấy vạn đại quân qua Lạc Cốc đến Trầm Lĩnh, dự định đoạt lấy kho lương ở vùng Quan Đông, song Đặng Ngải phối hợp với Tư Mã Vọng lấy số ít binh lực cậy hiểm cố thủ. Khương Duy đóng quân ở Mang Thủy mấy lần khiêu chiến Tư Mã Vọng và Đặng Ngải đều làm ngơ, Khương Duy chẳng tìm được cách gì.
Tôn Lâm dẫn đại quân tiếp viện giúp đỡ cho Gia Cát Đản và Văn Khâm lại bị Tư Mã Chiêu đánh bại, quân Gia Cát Đản và Văn Khâm cuối cùng bị quân Tào Ngụy bao vây trùng điệp.
Do thiếu thốn lương thực, Gia Cát Đản và Văn Khâm mâu thuẫn với nhau, Văn Khâm bị giết, người con là Văn Ương dẫn quân đầu hàng Tư Mã Chiêu. Tư Mã Chiêu chẳng những xá tội cho tàn quân của Văn Khâm, còn cho Văn Ương và người em là Văn Hổ làm tướng quân. Tàn quân trong thành nghe tin cơ hồ đều đứng lên làm phản, Gia Cát Đản bị thuộc hạ giết chết.
Khương Duy nghe nói Tôn Lâm và Gia Cát Đản đều bị Tư Mã Chiêu đánh bại, lại sợ quân Tào Ngụy thừa thắng đến đánh Thục Hán, lập tức rút quân về Thành Đô, bố trí lại phòng ngự.
Tư Mã Chiêu lần này giành được toàn thắng là nhờ được Chung Hội vạch kế hoạch. Chung Hội bởi thế mà được trọng dụng. Người bấy giò xem như là đại quân sư Trương Lương đời Hán ngày xưa.
Tư Mã Chiêu lấy quân công mà tấn phong Tướng quốc, được hưởng lộc Cửu Tích, quyền quý có thế ví với Tào Tháo đời Hán Hiến đế.
Tôn Lâm phế bỏ Ngô chủ Tôn Lượng, đón Lang nha vương Tôn Hưu đưa lên làm Ngô Vương.
Tháng 12 Tôn Hưu được sự giúp đỡ của người con Trương Chiêu là Trương Bố, đánh giết được Tôn Lâm, nắm lại được đại quyền Đông Ngô.
Năm sau Thượng thư lệnh Trần Chi kết bè cánh với Hoàng Hạo làm suy bại không khí chính trị triều đình Thục Hán đã từ trần, được sự tiến cử tích cực của Khương Duy, Lưu Thiện lấy Đổng Quyết làm Thượng thư lệnh, người con của Gia Cát Lượng là Gia Cát Chiêm làm phụ tá, tăng cường cách tân và chỉnh đốn chính trị song cũng đã muộn, thành tích không được rõ ràng. Năm đó để chỉnh đốn nội bộ, Khương Duy tự mình ở lại trấn giữ Thành Đô, không động binh với bên ngoài.
Năm sau tức là năm 260 sau Công Nguyên, vào mùa hạ, tướng quốc Tào Ngụy là Tư Mã Chiêu tự phong là Tấn Công. Ngụy chủ Tào Mao có âm mưu bãi truất quyền hành của Tư Mã Chiêu, lại bị một viên tướng bên phe Tư Mã Chiêu ám sát, Tư Mã Chiêu hạ lệnh trừng phạt bè đảng Tào Mao, đón Hương công Tào Hoán làm Ngụy chủ, gọi là Nguyên đế.
Tháng 10 đầu mùa đông, Lưu Thiện lấy Đổng Quyết làm phụ quốc đại tướng quân, Gia Cát Chiêm làm Vệ tướng quân, cùng lĩnh chức Lục thượng thư, lại lấy Thị trung Phàn Kiến làm Thượng thư lệnh. Ba người tuy một lòng vì đại sự, song bè đảng của Trung thường thị Hoàng Hạo đã mạnh, có nhiều sĩ đại phu hùa theo. Đổng Quyết với Gia Cát Chiêm, Phàn Kiến tâm có dư mà lực không đủ, nên việc cách tân không đạt hiệu quả tốt đẹp.
Qua hai năm chuẩn bị, tháng 8 năm 262 sau Công Nguyên, đại tướng quân Khương Duy lại chuẩn bị bắc chinh lần nữa. Tướng quân Liêu Hoá cho rằng Thục Hán đã không còn thực lực, chỉ nên tăng cường bố phòng, không nên xuất chinh.
Khương Duy bởi xung đột với Hoàng Hạo ngày càng lớn không muốn ở lại Thành Đô, nên vẫn kiên quyết xuất quân. Đương nhiên Khương Duy biết rõ việc hậu cần của quân Thục Hán kém, sức tác chiến đã thoái hoá, bởi thế đã lựa chọn vùng Thao Dương phòng thủ yếu kém làm mục tiêu tấn công. Chẳng ngò Đặng Ngải lại dùng chiến thuật phòng thủ không sơ hở, Khương Duy bất đắc dĩ phải giao chiến với quân chủ lực của Đặng Ngải ở Hầu Hoà, tình hình lúc đầu không thuận lợi, Khương Duy phải rút quân về Đạp Trung.
Hữu tướng quân Dương Vũ với Hoàng Hạo có âm mưu muốn phế truất chức của Khương Duy. Khương Duy thì đề nghị giết Hoàng Hạo, hậu chủ Lưu Thiện vẫn mơ hồ một mực làm ngơ. Khương Duy sợ bị Hoàng Hạo hãm hại bèn lập đồn điền ở Đạp Trung không dám trở về Thành Đô.
Tư Mã Chiêu tiếp thu đề nghị của Chung Hội quyết định chủ động tấn công Thục Hán, lấy Chung Hội làm Chinh tây đại tướng quân. Đô đốc quân đoàn Quan Trung. Đặng Ngải tuy không tán thành, song triều đình đã hạ lệnh cũng đành phải nghe theo. Khương Duy được tin mật báo Tào Ngụy cử đại binh thâm nhập, lập tức đề nghị với Lưu Thiện cho Trương Dực giữ cửa ải Dương An, Liêu Hoá giữ đầu cầu Âm Bình, còn mình thì ở tiền tuyến Đạp Trung chống đỡ. Song kế hoạch phòng bị này vẫn bị Hoàng Hạo ngăn cản, Lưu Thiện và Đổng Quyết đều không được biết rõ.


5. Chung Hội đưa kế hoạch chung, Tư Mã Chiêu đánh Thục Hán.
Năm 263 sau Công Nguyên, kể từ lúc Gia Cát Lượng mất đến giờ là 29 năm 9 tháng, theo sự trù viện kế hoạch chung của Chung Hội, Tư Mã Chiêu hoàn thành việc sắp xếp ở Lạc Dương, bắt đầu phát lệnh triệu tập các quân đoàn, triển khai hành động tổng công kích vào Thục Hán.
Kế hoạch của Chung Hội như sau:
Quân đoàn tiên phong do Chinh tây tướng quân Đặng Ngải từ Địch Đạo đánh vào Cam Tùng và Đạp Trung, đấy là đại bản doanh đóng quân của Khương Duy, cũng là vùng mà Thục Hán có lực lượng phòng vệ rất lớn, cho nên tuyến này ắt sẽ là cuộc chiến cứng chọi cứng dữ dội.
Đạo quân phía tây thuộc cánh phải do Thứ sử Ung Châu là Gia Cát Tự dẫn hơn 3 vạn quân, từ Kỳ Sơn đánh vào đầu cầu Vũ Nhai, mục đích cắt đứt đường về của Khương Duy, để phối hợp với quân Đặng Ngải trước sau cùng giáp kích. Ví như lực lượng quân sự rất mạnh của Thục Hán ở đây trong tổng công kích đầu tiên bị tan vỡ thì có thể với tốc độ rất mau chóng bức được Thục Hán phải đầu hàng.
Chung Hội thì dẫn quân chủ lực tây chinh hơn 10 vạn người, chia ba đường từ Tà Cốc, Lạc Cốc, Tý Ngọ tấn công vào Hán Trung.
Tư Mã Chiêu tự mình trấn giữ Lạc Dương, chỉ phái Bình úy Vệ Hoàn giữ tiết chế, làm Trấn tây quân ty, để giám sát các hành động quân sự của Đặng Ngải và Chung Hội.
Đến lúc đó, Lưu Thiện mới biết được tính nghiêm trọng của vấn đề, không ngừng phái sứ giả đến hỏi han ý kiến của Khương Duy. Khương Duy trước tiên lệnh cho Liêu Hoá dẫn viện quân đến Đạp Trung để phòng vệ phía sau, ngăn chặn sự uy hiếp của Gia Cát Tự. Trương Dực và Đổng Quyết bố phòng ở cửa ải Dương An, làm hậu thuẫn cho các vị trí quan trọng ở biên giới. Lại hạ lệnh cho các trại quân đều phải kiên trì phòng thủ không được giao chiến, lại đem quân chủ lực tập trung về Hán Thành và Lạc Thành còn các nơi khác đều có 5000 quân tinh nhuệ thu giữ, để ngăn cản cuộc tấn công của Đại tướng quân Chung Hội.
Trương Dực, Đổng Quyết đem quân sĩ đóng giữ Âm Bình, biết đại quân của Gia Cát Tự đã từ Kiến Ung kéo xuống, lo lắng họ vượt qua Âm Bình sẽ đột nhập vào Thục Trung, bèn ở lại Âm Bình phòng thủ suốt hơn một tháng.
Tháng 9, Chung Hội phái tướng quân Lý Phụ dẫn hơn một vạn quân bao vây quân sĩ của Vương Hàn đang bảo vệ Lạc Thành của Thục Hán. Hộ quân Tuân Khải cũng lấy hơn một vạn quân tấn công vào Hán Thành do quân sĩ của Tưởng Bân bảo vệ, song Thục Hán đã có chuẩn bị chu đáo tạm thời chưa thể vượt qua được.
Khi Chung Hội dẫn đội quân từ Tây Lộ vượt qua cửa ải Dương An, đặc biệt phái sứ giả đến tế lễ tại ngôi mộ của Gia Cát Lượng.
Chung Hội phái hộ quân Hồ Diệp đánh vào cửa ải, song tướng trấn giữ ở đấy là Phó Thiện kiên trì cố thủ, không thể qua được. Đô đốc Vũ Hưng là Tưởng Thư bởi bất mãn với triều đình đã thay đổi chức vụ của ông ta, cố ý thúc giục Phó Thiêm ra giao chiến, lại ngầm đầu hàng Hồ Diệp, Phó Thiêm trúng kế, quay về thành không kịp, liều đánh mà chết. Sau khi cửa ải thất thủ, đại quân Chung Hội ruổi dài mà xuống, giành được Hán Trung với kho tàng tích chứa rất nhiều lương thực.
Đặng Ngải phái Thái thú Thiên Thủy là Vương Kỳ đánh vào doanh trại chính của Khương Duy, Khương Duy bất đắc dĩ phải rút quân về giao chiến ở cửa ải Cường Xuyên, song ý chí tác chiến của quân Thục không mạnh, Khương Duy sau khi giao chiến qua loa, bèn hạ lệnh lại rút quân.
Trong lúc rút quân, Khương Duy biết đại quân của Gia Cát Tự đã đánh vào đầu cầu quan trọng để chặn đường về bèn táo bạo đổi phòng thủ làm tấn công, từ đường Khổng Hàn tiến lên phía bắc, đánh vào sau lưng của quân Gia Cát Tự. Gia Cát Tự thất kinh, lập tức bỏ vị trí đầu cầu, rút về 30 dặm. Khương Duy biết Gia Cát Tự đã rút lại dẫn quân trở về qua vị trí đầu cầu an toàn tiến vào Âm Bình. Bởi Quan Khẩu đã mất, bèn rút về Bạch Thủy, tập hợp các đạo quân của Liêu Hoá, Đổng Quyết, Trương Dực đóng cả ở Kiếm Các đế ngăn cản đại quân của Chung Hội ruổi dài thâm nhập hơn nữa.


6. Thục Hán mất bởi A Đẩu.
Tháng 10, do chiến cục xấu đi, Lưu Thiện phái sứ giả sang Đông Ngô cầu cứu, Ngô vương Tôn Hưu phái Đại tướng quân Đinh Phục đem quân đánh vào Thọ Xuân, tướng quân Lưu Bình tập kết đại quân ở Nam Quận, chuẩn bị tiến công Tương Phàn, phân tán binh lực Tào Ngụy để giảm bớt áp lực cho Thục Hán. Ngoài ra lại phái tướng quân Định Phong, Tôn Dị từ Miện Trung tiến vào để cứu viện cho Thục Hán.
Đặng Ngải dẫn quân truy kích Khương Duy đến Âm Bình, tuyển lựa kỹ lưỡng một đội quân cảm tử, dự tính từ Giang Do đánh thẳng vào Thành Đô. Đang lúc Gia Cát Tự cũng đến Âm Bình, Đặng Ngải yêu cầu cùng phối hợp tấn công. Gia Cát Tự cho rằng như thế là rất mạo hiểm, không thể làm được, cự tuyệt không đi, dẫn quân trở về Bạch Thủy, Chung Hội nghe tin, viết thư trách cứ Gia Cát Tự nhu nhược, bãi cả binh quyền, sát nhập đội quân của ông ta vào đội quân chủ lực của Chung Hội.
Đại quân Chung Hội tấn công mạnh mẽ vào Kiếm Các, Khương Duy dựa vào địa thế hiểm trở mà cương quyết cố thủ, hai bên ở vào thế giằng co đông cứng. Quân Tào Ngụy ngày một thêm khó khăn về vận tải lương thực, thậm chí Chung Hội bởi thế mà có dự định rút quân.
Đặng Ngải đề nghị với Chung Hội: “Quân giặc tinh thần đã bị bẻ gãy, nên nhân cơ hội này mà bẻ gãy triệt để. Nếu như từ Âm Bình theo đường nhỏ Dương Đình, Hán Đức, tập kích Phù Thành, sẽ có thể vượt qua vùng Kiếm Các hiểm trở hơn trăm dặm, mà vào được Thành Đô phía trong; lúc đó quân giữ Kiếm Các không thể không rút về Thành Đô, Chung tướng quân có thể vừa thế mà tiến công. Nếu như Khương Duy không rút quân về, quân giữ Phù Thành ắt rất yếu, việc đoạt được Thành Đô cũng sẽ chẳng có gì khó”.
Chung Hội tán thành kế hoạch này, Đặng Ngải bèn dẫn ba vạn quân bản bộ đi trước, từ Âm Bình theo đường nhỏ mà tiến, bởi núi non rất hiểm trở nên chẳng khác vào xứ không có bóng người. Đặng Ngải dẫn quân vội vã vượt qua đoạn đường núi dài hơn 700 dặm, phá đá mở đường, làm cầu bắc sàn, lại thêm vấn đề lương thực, rất đỗi gian khổ, rất nhiều tướng lĩnh đều khuyên Đặng Ngải vứt bỏ kế hoạch này.
Đặng Ngải tự mình ở phía trước chỉ huy việc mở đường, khi gặp vách núi chẳng thể nhảy xuống từ độ cao chất ngất, Đặng Ngải dùng thảm lông quấn vào người, từ trên dốc núi lăn mình xuống. Các tướng sĩ cũng theo nhau bám vào những cây bên vách núi dần dần qua được vùng núi hiểm trở khó khắc phục này.
Không lâu quân tiên phong của Đặng Ngải đã đến được Giang Do, Tướng Thục Hán trấn giữ ở đấy là Mã Mạc phải xin đầu hàng. Bởi việc xảy ra bất ngờ, Lưu Thiện lệnh cho con cả Gia Cát Lượng là Gia Cát Chiêm dẫn quân đối phó.
Đội quân của Gia Cát Chiêm đến được Phù Thành, bởi chẳng thể phán đoán được quân địch tấn công theo đường tắt, bèn tạm thời dừng quân quan sát. Thượng thư Hoàng Sùng (con của Hoàng Quyền) ra sức khuyên Gia Cát Chiêm hãy mau chóng tiến vào vùng núi hiểm trở chiếm lấy các nơi địa lợi, chẳng để quân địch đánh vào được vùng bình địa. Gia Cát Chiêm không đủ kinh nghiệm, do dự không quyết. Hoàng Sùng nhiều lần đề nghị, thậm chí quỳ xuống van nài, Gia Cát Chiêm cuối cùng vẫn không nghe theo đề nghị của ông ta.
Quân Đặng Ngải tiến vào vùng bình địa, tinh thần binh sĩ rất phấn chấn, quân Thục chẳng thể địch nổi, Gia Cát Chiêm hạ lệnh rút về giữ Miên Trúc.
Đặng Ngải gửi thư khuyên Gia Cát Chiêm đầu hàng, Gia Cát Chiêm cả giận, sai chém sứ giả; Đặng Ngải sai con là Đặng Trung cùng Tư Mã Sư Toản, từ hai phía trái phải cùng giáp kích vào Miên Trúc, lại bị Gia Cát Chiêm đánh bại, Đặng Ngải đành tự mình dẫn quân tấn công. Quân Thục tuy dũng mãnh kháng cự, song ít không địch nổi nhiều, cuối cùng Gia Cát Chiêm, Hoàng Sùng đều bị chết tại trận. Con cả của Gia Cát Chiêm là Gia Cát Thượng, mới mười bảy tuổi phụng mệnh giữ thành, thấy quân Thục đại bại biết rằng đại thế đã mất, nói với những ngươi xung quanh rằng: “Cha con ta gánh vác đại sự, lại không có thể sớm chém được Hoàng Hạo, mới đến nỗi mắc tội vong quốc hại dân như thế này! Đâu còn có mặt mũi mà sống nữa”, rồi đơn thương độc mã xông thẳng vào quân địch, không lâu chết giữa đám loạn quân.
Miên Trúc thất thủ, lại thêm quân chủ lực bên cạnh là quân đoàn Gia Cát Chiêm bị tan vỡ, Lưu Thiện bởi muốn giảm nhẹ sự thương tổn của trăm họ đã nghe theo lời khuyên của Quang lộc đại phụ Tiến Chu, đầu hàng Đặng Ngải, lại phái sứ giả yêu cầu Khương Duy đang giữ Kiếm Các cũng phải đầu hàng Chung Hội.
Đặng Ngải chiếu theo lễ nghi phong Lưu Thiện làm Hán Vương, kiêm chức Kiêu kỵ tướng quân. Các cựu thần Thục Hán vẫn thuộc Hán Vương lãnh đạo, chỉ có một số ít có thực lực là do Đặng Ngải tự thống lĩnh.
Lại lấy Tư Mã Sư Toản làm Thứ sử Ích Châu với Thái thú Lũng Tây là Khiên Hoằng, cùng lo xử lý việc đầu hàng ở các quận huyện trong nước Thục.
Đặng Ngải giận Hoàng Hạo gian hiểm làm hỏng việc nước, cho bắt giam, có ý muốn xử đại hình, Hoàng Hạo phái người hối lộ kẻ thân tín của Đặng Ngải trong bộ tham mưu, lấy lý do sự việc chưa xác minh rõ chỉ tạm thời giam giữ đợi xét xử sau.
Khương Duy biết Gia Cát Chiêm đã thất bại, muốn rút quân về chi viện, dẫn quân từ Kiếm Các rút về vùng Ba Trung. Đại bản doanh của Chung Hội đến đóng ở Phù Thành, lại phái Hồ Liệt đuổi đánh Khương Duy. Khương Duy rút đến huyện Kiết, tiếp nhận được chiếu mệnh đầu hàng của Lưu Thiện, bèn hạ lệnh giải trừ vũ trang, cùng với Liêu Hoá, Trương Dực, Đổng Quyết đến đầu hàng Chung Hội, khi nghe công bố sắc lệnh đầu hàng, các tướng sĩ Thục Hán thảy đều vô cùng bực tức, theo nhau dùng đao kiếm chém xuống đá đến quằn cả lên mới thôi, để cho hả giận giữ.
Chung Hội hậu đãi bọn Khương Duy, lại trả lại ấn quyền, sát nhập vào quân đoàn. Thục Hán truyền được hai đời, được cả thẩy 43 năm thì mất, tính ra Gia Cát Lượng mất đã được 29 năm.


7. Trận quyết chiến cuối cùng của Thục Hán.
Đông Ngô nhận được tin Thục Hán mất nước hạ lệnh cho Đinh Phụng rút quân, lại tăng cường phòng thủ ở biên giới.
Bởi Đặng Ngải có công rất lớn, triều đình phong tặng Đặng Ngải làm Thái úy, tặng ấp trại hai vạn hộ dân, Chung Hội làm Tư đồ, tặng ấp trại một vạn hộ dân. Đặng Ngải từ đó trở nên rất kiêu căng, lấy quyền hành thống soái mà điều hành, với Thống soái quân viễn chinh cũ là Chung Hội nảy sinh mâu thuẫn nghiêm trọng.
Khương Duy biết Chung Hội trong lòng chất chứa oán hận, bèn tác động việc diệt trừ Đặng Ngải; Chung Hội bèn mật báo với Tư Mã Chiêu rằng, Đặng Ngải chiếm cứ đất Thục đế xưng vương, thúc đẩy quân sĩ tạo phản. Từ những tin tình báo tại chỗ cho thấy đích xác Đặng Ngải có ý đồ như thế, Tư Mã Chiêu hạ lệnh cho Chung Hội từ Kiếm Các tập kích vào Thành Đô bắt lấy Đặng Ngải.
Tư Mã Chiêu lại sợ hai viên tướng đầu ngành quan viễn chinh tranh giành mãnh liệt, dẫn đến tình hình xấu, lại hạ lệnh cho Giả Sung từ Tà Cốc xuất binh, tự mình với Ngụy chủ đều đóng ở Tràng An để ứng biến.
Đại quân Chung Hội đánh vào Thành Đô định bắt Đặng Ngải, song quân đoàn Đặng Ngải không phục, tình hình đối đầu giữa hai bên rất căng thẳng. Chung Hội lại nghe nói Giả Sung đã từ đường Tà Cốc đánh vào, Tư Mã Chiêu thân chinh đến Tràng An, biết rằng đã không được triều đình tín nhiệm nữa, bèn cùng với Khương Duy bàn bạc, muốn lợi dụng quân Thục và đại quân trực thuộc của mình để làm binh chiến, sẽ kiên trì giữ Thục Trung, chiếm đất xưng vương.
Khương Duy ra sức khuyên Chung Hội nhân cơ hội này giết hết các tướng phương bắc cùng đi để tự giữ mình, lại phái người ám sát Chung Hội để mong khôi phục nhà Hán. Ông ta tự mình viết một bức mật thư cho Lưu Thiện nói rằng: “Xin bệ hạ chịu nhục mấy ngày nữa, hạ thần muốn xã tắc đang nguy sẽ lại yên, nhật nguyệt đang tối mà lại sáng”.
Bởi Thành Đô tình thế xấu dần đi, đồn đại nhiều về chuyện sẽ có binh biến, Hồ Liệt là thống lĩnh đại quân trực thuộc của Chung Hội, biết được Khương Duy có âm mưu khôi phục nhà Hán, bèn phát động binh biến trước, đánh vào doanh trại Khương Duy. Quân Đặng Ngải cũng nhân lỗi loạn mà tiến đánh Chung Hội để trả thù, Thành Đô rơi vào cuộc chiến hỗn loạn. Cuối cùng Khương Duy, Trương Dực, Chung Hội đều bị chết trong đám loạn quân.
Viên thống lĩnh Tiền quân của Chung Hội dẫn quân dẹp loạn, khôi phục trị an ở Thành Đô, lại phái hộ quân Điền Tục đánh vào doanh trại của Đặng Ngải ở Miên Trúc, giết chết cha con Đặng Ngải ở đấy.
Tư Mã Chiêu ở Tràng An được biết cuộc nổi loạn ở Thành Đô đã được dẹp yên, bèn phái Giả Sung thu thập tàn cục, vỗ về trăm họ, còn tự mình với Ngụy chủ trở về Lạc Dương. Không lâu Lưu Thiện cũng đưa gia nhân đến Lạc Dương, cuộc quyết chiến sau cùng của Thục Hán đến đây hoàn toàn kết thúc. Đó là năm Hàn Hy thứ nhất đời Nguyên đế Tào Ngụy, tức là tháng 3 năm 264 sau Công Nguyên.
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.11.2013 02:49:26 bởi hoi_ls>
Chương XXXI
TỔNG LUẬN VỀ GlA CÁT KHỔNG MINH
 
Gia Cát Lượng khiêm nhường, cẩn thận, hiểu rõ và hết lòng với chức phận, có thể nói không quá mức thao lược, song về quản lý thực tiễn cơ hồ là người tài giỏi bậc nhất, về nhân cách con người, đảm đang và kỹ xảo, đích xác thực đáng ca ngợi, đáng được xem là nhân vật chính trị kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc.
Sau khi có tin Gia Cát Lượng mất ở gò Ngũ Trượng, Hiệu uý Liêu Lập từng bởi kiêu xa vô độ, bị Gia Cát Lượng đề nghị phế làm dân thường, đang bị đi đầy ở Vấn Sơn nghe được tin dữ rất đau đớn nói rằng “Thừa tướng Gia Cát mất đi, thế là ta chết già ở đây rồi!”.
Lý Bình là một Thượng thư lệnh, bởi tự bày vẽ tin tức làm hỏng việc quân cơ, nghe tin Gia Cát Lượng mất, lại thương tâm quá đỗi phát bệnh mà chết. Lý Bình sau khi bị lưu đầy, thường nói với bạn hữu, tin rằng có ngày Gia Cát Lượng nhất định sẽ tha thứ cho ông ta mà trọng dụng lại.
Đại lão Trương Duệ vẫn xem việc Gia Cát Lượng đưa vào quân sĩ cũ nắm đại quyền Ích Châu mà không nể phục. Song được bổ nhiệm làm Trưởng sử, sau khi sớm tối gần gũi với Gia Cát Lượng, không khỏi cảm thán rằng:
“Tướng công khi ban bố phần thưởng dẫu người ở xa mà có công cũng không bỏ quên, khi trừng phạt, chỉ cần có tội, dẫu người thân gần cũng không thoát khỏi; tước vị không cấp cho người không có công, hình phạt cũng không kể kẻ có quan tước cao, cho nên người hiền hoặc người ngu đều cảm động trước việc chí công vô tư của ông mà cố gắng làm việc, không kể đến lợi hại cá nhân”. Nếu không lấy thành bại mà luận anh hùng, Gia Cát Lượng với phong cách lỗi lạc mà kẻ đối địch cũng phải cảm động, đích xác đáng được gọi là một đại chính trị gia cổ kim khó thấy.
Tác giả Tam quốc chí là Trần Thọ, có bình luận rằng:
Gia Cát Lượng làm Tướng quốc, vỗ yên trăm họ, đề xướng quy phạm lễ nghi, quản lý quan chức, tôn sùng chế độ, khai sáng lòng thành, công bố đạo luật. Làm việc tận trung mà có ích cho xã hội, dẫu là người không hợp với mình cũng khen thưởng; vi phạm lệnh mà làm việc trễ nải dẫu là người thân cũng phải xử phạt. Thừa nhận lỗi lầm, cố gắng sửa lỗi hướng thiện, bào chữa mắc trọng tội, cũng xem xét tha thứ, bào chữa để lấp tội, thì dẫu là tội nhẹ cũng vẫn không bỏ qua. Một việc thiện nhỏ cũng được khen, một việc xấu nhỏ cũng bị chê trách. Công việc hành chính lấy tinh luyện làm gốc, xem trọng bản chất của sự việc, yêu cầu xác thực từng việc, đối với việc hư cấu ra thường công khai trách cứ cho nên khắp trong nước đều sợ uy mà chịu theo, hình pháp và mệnh lệnh tuy nghiêm mà không xảy ra oán hận, lấy sự công bằng mà làm cho rõ rệt. Đáng được gọi là người có tài cán hiểu được đạo điều hành, có thể sánh với Quản Trọng và Tiêu Hà ngày xưa.
Gia Cát Lượng tuy đối với binh pháp học và quân sự học có nghiên cứu khá sâu sắc, song tài cán ở chiến trường thực tế đích xác không phải là siêu việt, trong suốt cuộc đời chiến bại nhiều hơn chiến thắng, ngoài chiến dịch Tương Dương năm xưa cơ hồ lưu ly bại hoại, các tình huống khác đều nắm rất vững, những tổn thất sau chiến bại đều không lớn. Chẳng qua Gia Cát Lượng đích xác đã lập sách lược ứng dụng chiến thuật kéo dài, Trần Thọ phê bình ông không giỏi kỹ xảo ứng biến, là khá có cơ sở. Song với một nhân vật chính trị mà nói, Gia Cát Lượng khiêm nhường, cẩn thận hiểu rõ và hết lòng với chức phận, có thể nói không quá mức thao lược, song về quản lý thực tiễn cơ hồ là người tài giỏi bậc nhất, về nhân cách con người, đảm đang và kỹ xảo, đích xác thực đáng ca ngợi, đáng được xem là nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Trung Quốc.
Do sự tô vẽ của nhà viết tiểu thuyết, Gia Cát Lượng được xem như là một người có phong thái thần tiên, có tài “chiêm bốc tiên tri”, khiến người ta hiểu rằng ông ta không kể việc gì cũng đều ăn đứt người khác (bởi trí tuệ của người khác kém ông ta rất nhiều) bởi thế mà hiểu lầm rằng Gia Cát Lượng độc đoán, độc tài, không hiểu được vấn đề dùng người, bồi dưỡng nhân tài cho nên sau này mới phải dốc sức tận tụy cho đến chết mới thôi.
Thực ra Gia Cát Lượng không thể đạt được ý nguyện phục hưng nhà Hán, chẳng phải điều hành nước Thục không có hiệu quả, ngoài bản thân Thục thực lực rất yếu, còn phải kể đối thủ rất mạnh “Tào Tháo, Tào Phi, Tư Mã Ý, Tôn Quyền đều là những người lỗi lạc một thời”, cùng là thời vận bản thân không đến. Gia Cát Lượng trong lịch sử chẳng những như Trần Thọ từng nói, có nhân cách và thái độ chí công vô tư, khiến người người khâm phục, hơn nữa ông khiêm nhường với mọi người, dung nạp nhiều ý kiến, đối với việc bồi dưỡng nhân tài có thể nói là không biết mệt mỏi.
Trong “Xuất Sư Biểu”, Gia Cát Lượng đặc biệt nhấn mạnh: “Châm chước lợi hại, thúc đẩy sự trung thành, bồi lấp nhược điểm, để đem lại lợi ích rộng lớn”. Trong “Gia Cát Vũ hầu tập”, ở thiên “Nạp ngôn”, ông ta viết: “Thu nạp những lời chính đáng, nhiệt tình can gián, sẽ tụ họp được những mưu kế hay của mọi người”. Ông ta cũng chủ trương cần dung nạp nhiều ý kiến của thuộc hạ mới tránh được sơ xuất. Trong thiên “Thị thính” lại nói: “Đạo lý điều hành, phải lắng nghe nhiều, xem xét những ý kiến của nhiều người, những mưu kế của quần chúng làm rộng tầm mắt, những lời lẽ của họ giúp ta nghe được nhiều hơn, nên người ta thấy nhiều làm trí, nghe nhiều làm sáng”. Cũng nói “Bậc vua chúa không nghe lời can gián, thì trung thần không dám dâng mưu kế, mà kẻ gian thần sẽ lộng hành, bởi thế mà có hại cho đất nước”. Tuy thiên sách “Tiện nghi” có không ít nhà sử học cho rằng về văn thế không thể là văn pháp của Gia Cát Lượng; song làm Thừa tướng hằng ngày bận rộn hàng vạn công việc, thư ký thường viết thay phỏng theo ý tứ, điều đấy thường thấy trong các công văn, cho nên văn từ có thể không “thực”, song tinh thần vẫn là của Gia Cát Lượng.
Gia Cát Lượng không những chỉ nói, mà còn làm triệt để. Sau khi làm Tể tướng, ông đặc biệt thành lập cơ cấu “Tham thự” trong phủ Thừa tướng, nhằm mục đích tập hợp tư tưởng rộng rãi để dưng nạp ý kiến của nhiều người.
Truyện Đổng Hoà có chép: “Đổng Hoà với ta (tức Gia Cát Lượng) cùng làm việc 7 năm, có lúc phải quyết định một việc chưa được xem xét chu đáo, ông ta nhất định thể hiện cách nhìn không đồng ý của mình, bởi thế chúng tôi thường thảo luận lật đi lật lại, thậm chí có khi đến hơn 10 lần. Nếu như mọi người đều giống như Đổng Hoà ở chỗ nhận rõ sự thực, chẳng những giải quyết tốt việc công, cũng sẽ khiến ta khi phải quyết định không đến nỗi mắc nhầm lẫn lớn.
Ông ta cũng nhắc đến tình hình quan hệ bạn bè ngày xưa. Từ Thứ là một người có đầu óc sáng suốt, không vội vã; Thôi Châu Bình luôn nói đến điều được mất. Hồ Tế sau này luôn nói đến khuyên can. Những người bạn này đưa ra những lời can khiến Gia Cát Lượng cảm động suốt đời không quên. Ông ta cũng không khách khí nói rằng, bản thân mình bản tính thô bỉ, cho nên có lúc chẳng thể hoàn toàn thấu hiểu và vận dụng, song quan hệ của ông ta với Đổng Hoà, Từ Thứ, Thôi Châu Bình, Hồ Tế cả 4 người trước sau đều rất tốt. Bởi thế khích lệ được mọi người không ngần ngại nói thắng.
Rất khiến người ta cảm động là sau khi cuộc bắc phạt thứ nhất thất bại, Gia Cát Lượng ở tiền tuyến Hán Trung đã đưa ra trước quân đoàn bắc phạt bài viết khuyên tướng sĩ chỉ bảo ra khuyết điểm của mình, công khai bày tỏ các tướng sĩ nên đả kích những khuyết điểm của Gia Cát Lượng, mới kể là người có lòng trung thành với quốc gia vậy.
Ông từng nghe theo đề nghị của Dương Hồng khẩn cấp phái quân chi viện cho Lưu Bị khi bị Tào Tháo đánh mạnh ở Hán Trung, để ổn định cuộc chiến ở phía bắc; cũng trưng cầu sách lược của Đặng Chi đối với Tôn Quyền; lại làm theo sách lược “công tâm làm đầu” của Mã Tắc, lấy đó làm tinh thần chỉ đạo chủ yếu cho cuộc chinh phạt Nam Trung. Có thể những quyết định này đã sớm hình thành ở trong ông, song ông ta dứt khoát sẽ không thành công, nêu để ánh sáng của mình át đi sự ưu tú của thuộc hạ; mỗi người tài đều có thể vui vẻ phát huy trí tuệ của mình để tâm với công việc.
Trong số ba nước ở thế chân đỉnh, lực lượng của Thục Hán là nhỏ nhất, song nhân tài rất nhiều, cho nên mới có lực lượng tấn công Tào Ngụy. Những nhân tài ưu tú này, đích xác là bởi Gia Cát Lượng có thái độ không cậy công không cậy tài, bình tĩnh nghe lời can gián nên mới giành được.
Nhà cải cách lớn thời bắc Tống là Vương An Thạch trong “bài thơ Gia Cát Lượng” có viết “Một lòng giúp Thục phòng Ngô Ngụy, nếu chẳng chuyên tâm há được hiền”.
Một đại Nho đời Minh là Lý Nhụ bình luận rằng: “Gia Cát Khổng Minh làm thừa tướng mẫn tiệp quên mình, lại mong cầu được nghe những lời chỉ bảo, những tướng quốc từ Tần Hán về sau đều không bằng ông ta vậy”.
Tư tưởng chính trị của Gia Cát Lượng là sự hỗn hợp giữa phái Nho gia và Pháp trị. Ông ta xem trọng chế độ, khi định ra điều lệ quản lý, ắt nên dựa vào lập trường lý tính, thấy mỗi người đều có thể làm ác, nên pháp lệnh phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh; Trần Thọ khen ông ta về hình pháp và chính lệnh đều rất nghiêm minh. Song về chấp hành ông ta rất xem trọng việc lãnh đạo, người ở trên phải lấy mình làm gương mới có thể giáo hoá được nhân dân và binh lính.
Trong thiên “Trị quốc” ở cuốn “Tiện nghi” của ông có nói việc trị quốc giống như đối với sửa sang việc nhà, việc trong nhà ắt phải lo sửa gốc, gốc có vững thì ngọn mới thẳng vậy... Nói về việc gốc, cách thông thường thì quan trọng là ở qui củ vậy.
Ở đoạn văn này, rõ ràng biểu thị tính quan trọng của chế độ, quốc gia có chế độ của quốc gia, gia đình có chế độ của gia đình, là căn bản của việc điều hành...
Trong thiên “Quân thần” có viết rằng:
“Vua lấy phô bày làm Nhân, bề tôi lấy công việc làm Nghĩa, kẻ hai lòng chẳng thể thờ vua, kẻ nghi ngờ chánh sự chẳng thể trao quan chức, trên dưới giữ được Lễ thì dân dễ khiến trên dưới hoà thuận thì vua chúa và bề tôi đều vẻ vang; vua lấy lễ mà sai khiến bề tôi, bề tôi lấy trung thành thờ vua, vua lo ở công việc chính đáng, thần lo ở sự thờ phụng... quân thần trên dưới lấy lễ làm gốc, phụ tử trên dưới lấy Ân làm thân gần, phu phụ trên dưới lấy Hoà làm yên ấm...”.
Đoạn văn này cho thấy Gia Cát Lượng xem trọng giáo hoá tư cách. Giáo hoá tư cách trọng ở lời nói, người chỉ đạo không chỉ nói mà không làm, có làm gương tốt, thì mới có thể khiến chính lệnh được quán triệt, đấy chính là tinh thần Nho học, lấy mình làm gương.
Gia Cát Lượng nghiêm khắc yêu cầu tự mình giữ gìn bổn phận cẩn thận, chẳng mảy may cẩu thả. Khi xảy ra đại chiến Xích Bích, phụng mệnh Lưu Bị đến Đông Ngô, Tôn Quyền yêu mến tài năng, có yêu cầu Gia Cát Cẩn là anh của Gia Cát Lượng nghĩ cách giữ Gia Cát Lượng ở lại Đông Ngô.
Song Gia Cát Cẩn “biết em không ai bằng anh” nói rằng: “Gia Cát Lượng em trai hạ thần đã gửi thân ở người ta, về nghĩa lý chẳng thể hai lòng, nó không ở lại Đông Ngô cũng như thần chẳng thể theo về với nơi khác vậy”.
Sau này Gia Cát Cẩn đi sứ sang Thục Hán, Gia Cát Lượng cũng chỉ tiếp đãi ông ta, người anh cả đã nhiều năm không gặp, bằng nghi lễ sứ thần quốc gia, ngoài những lúc gặp gỡ để đàm đạo việc công, hai người không hề tiếp xúc riêng.
Anh em Gia Cát triệt để tuân thủ đúng những qui củ của kẻ bề tôi, là điều mà cổ kim trong ngoài khó thấy. Gửi thân ở đời chiến loạn, nếu không hiểu được sự cẩn thận như thế ắt sẽ bị người ta nghi kỵ, và ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ.
Cũng như vậy, Lưu Bị chẳng những khen Gia Cát Lượng đối với mình như nước với cá còn đem việc lớn của mình sau này hoàn toàn ủy thác cho Gia Cát Lượng, chẳng mảy may nghi ngờ, tin rằng đối với nhân cách của Gia Cát Lượng ắt đã xem xét khá sâu sắc.
Song Gia Cát Lượng tuy nắm đại quyền, lại rất đỗi hiểu rõ phải tự kiềm chế mình, sau khi nam chinh trở về danh vọng đạt đến chưa từng thấy; lại khiến riêng một người là phụ tá đại thần Lý Nghiêm rất đỗi nghi ngại. Ông ta viết thư đề nghị Gia Cát Lượng nhân thời cơ này thăng tước phong vương, nhận lễ cửu tích. Đối với việc này, Gia Cát Lượng thản nhiên bày tỏ:
“Tôi là một kẻ sĩ thấp hèn tài năng ở phía đông, phụ tá tiên đế, mà không được việc song lại được lầm ái mộ, ở vị trí là kẻ bầy tôi đứng đầu, bổng lộc được thừa hưởng cũng đã nhiều, nay thảo phạt giặc dã chưa hiệu quả, biết rằng ân tên chưa báo được, nếu tự mãn xem mình là lớn, thì không hợp với đạo nghĩa, mà tôi cũng chẳng thấy dễ chịu...”.
Bùi Tùng Chi khi chú giải Tam quốc chí cho rằng: Gia Cát Lượng đang có đại quyền, lại không thể để mất tiết chế, tuyệt không muốn vượt quá bề trên, thay thế hoàng đế làm việc, song ít có người hoài nghi ông có dã tâm thoái vị, làm được việc trên không nghi kỵ, dưới không gièm pha, trong tình hình nước Thục đang bày ra cảnh cá vượt Vũ môn, dễ lôi kéo những quan hệ của ông ta, thực là việc không giản đơn chút nào.
Đương nhiên cũng có người thấy ông nắm đại quyền một mình mà nghi ngại, kể như Liêu Lập, Lý Nghiêm, Trương Duệ, tuy có phần không phục Gia Cát Lượng song vẫn tin tưởng ở nhân cách của ông. Chỉ có một người là viên quan Lý Mạc, có nhiều biểu hiện ác cảm với Gia Cát Lượng, thường tự cho là có phân tích thông minh, rằng Gia Cát Lượng là một đại thần như thế, công cao hơn chủ, sẽ có một ngày nhất định nảy sinh xung đột với hoàng đế, đến lúc đó không thoái vị được sẽ thân bại danh liệt. Gia Cát Lượng nghe nói vậy, trái lại xem Lý Mạc như người giám sát đối với mình, tự mình cảnh giác, chẳng thể có biểu hiện vượt bổn phận của mình.
Sau khi Gia Cát Lượng mất, Lý Mạc vẫn không chịu yên, ông ta dâng sớ lên Hậu chủ bày tỏ: “Gia Cát Lượng cậy có quân mạnh ở bên mình, như hùm như sói, dã tâm bồng bột, lại nhiều năm trấn thủ ở biên cương, thần thường lo lắng sẽ phát sinh những chuyện chẳng ngờ. Nay Gia Cát Lượng chết đột ngột, chính quyền họ Lưu từ nay được bảo toàn, việc tây chinh cũng được nghỉ ngơi, già trẻ lớn bé cả nước nên ăn mừng mới đúng chứ!”.
Lưu Thiện và các đại thần Thục Hán đang đau đớn thương tiếc Gia Cát Lượng, thấy tờ sớ lời lẽ như thế, tự nhiên sinh ra rất giận giữ, cho rằng Lý Mạc có ác ý hủy hoại hiền thần tận trung với nước, lập tức bắt ông ta hạ ngục trị tội. Bởi lúc này chẳng còn người như Gia Cát Lượng bảo hộ kẻ đối địch với mình cầu xin cho, Lý Mạc không lâu bị xử tử hình.
Gia Cát Lượng là một ông quan thanh liêm, gạt bỏ những dục vọng, lấy mình làm gương để mưu cầu đổi thay không khí quan trường của quan lại đời Đông Hán phù hoa hưởng lạc, ông sinh hoạt rất cần kiệm, vẫn thường tự so sánh với Tôn Thúc Ngạo, tướng nước Sở thời Xuân Thu, từ sớ tấu gửi lên Lưu Thiện khi bắc phạt cho thấy, ông công bố tài sản riêng của mình, một trọng thần danh tướng bậc nhất như thế lại sống rất khắc khổ để giữ cho không khí xã hội được đoan chính.
Bởi phản đối phong tục ma chay linh đình đương thời, Gia Cát Lượng di chúc rằng cứ an táng cho mình ở núi Định Quân tại tiền tuyến, chẳng cần đưa về Thành Đô cử hành quốc táng, để tránh lãng phí phô trương. Ông cũng chỉ thị rõ, nghi thức tang lễ thật đơn giản, lấy núi làm mộ, có thể dùng quan tài loại thường cũng được, khi liệm chỉ cần dùng quần áo bình thường không nên vùi theo vật quý. Là một tể tướng chỉ ở dưới một người, trên cả vạn người có được tấm lòng như thế, ở giai đoạn những ngày giờ cuối cùng của cuộc sống, vẫn kiên trì nguyên tắc, thi hành tinh thần tiết kiệm, thực là điều khó thấy vậy.
Gia Cát Lượng tin rằng trị quốc ắt đầu tiên phải trị gia, cho nên đối với con cháu của mình đều yêu cầu đến nghiêm khắc; đến năm 46 tuổi ông mới có con, cho nên lúc đầu đem người con thứ của Gia Cát Cẩn là Gia Cát Kiều làm con nuôi để thừa kế. Khi Gia Cát Lượng bắc phạt, Gia Cát Kiều cũng đi theo ra tiền tuyến để được rèn luyện thêm, Gia Cát Lượng đặc biệt sắp xếp anh ta đảm nhiệm việc áp tải lương thực ở vùng núi, đội mưa gió khá gian khổ, chịu những nỗi nguy hiểm phải vượt qua núi non hiểm trở đường dài.
Trong thư viết cho Gia Cát Cẩn, Gia Cát Lượng đặc biệt đề cập đến việc này: “Cứ theo đạo lý thì cháu Kiều có thể ở lại Thành Đô, song hiện nay các con em thế hệ hai của các chư tướng đều ở tiền tuyến vận chuyển quân nhu, mọi người đều phải đồng cam cộng khổ mới đúng, cho nên tôi đặc biệt lệnh cho cháu dẫn 500 binh sĩ, cũng giống như các con em khác, đảm nhiệm việc vận chuyển lương thực”.
Rất không may, Gia Cát Kiều ở chiến dịch Nhai Đình, để bảo hộ lương thảo an toàn, trên đường rút quân, đã quyết chiến với địch mà chết.
Đến những năm cuối đời, đối với con trai Gia Cát Chiêm của mình, về dạy bảo cũng rất nghiêm khắc, trong thư gửi cho Gia Cát Cẩn có đề cập: “Cháu Chiêm hiện nay đã 8 tuổi, thông minh đáng yêu, song hiềm nỗi sớm chín chắn một chút, sợ sau này lớn lên nếu không được rèn luyện nhiều sẽ khó có được khí chất lớn”.
Ông hy vọng lấy yêu cầu và rèn luyện thật nhiều để huấn luyện cho con được trưởng thành.
Gia Cát Lượng có học thức rất rộng, lại có thói quen độc lập suy nghĩ, tuyệt không để tư tưởng của mình hạn chế ở một nhà nào, bơi thế ông nhấn mạnh đạo học cần phải thu được chỗ mạnh của mọi nhà. Không ít các nho gia đời sau, xem Gia Cát Lượng là sự hỗn tạp giữa Nho gia và pháp gia, cho rằng đường học vấn của ông không thuần thục, tạp loạn vô chương, thực ra đó chỉ là kiến giải nặng về một môn phái mà thôi.
Trong “Giới tử thư”, Gia Cát Lượng bầy tỏ rõ ràng cách nghĩ của mình về đạo học và sự tu dưỡng: “Phàm việc làm của người quân tử, lấy tĩnh để tu thân, lấy kiệm để nuôi đức, nếu chẳng đạm bạc thì chẳng sáng được chí, nếu chẳng tĩnh lặng thì không đến được xa, phàm đã học tập ắt phải tĩnh lặng mới thành được đạo học, nếu chẳng học thì chẳng có tài lớn, chẳng có chí thì cũng không học được”.
Ông nhấn mạnh tu tâm phải giảm đến mức tuyệt đối những dục vọng, học nhiều mới có tài lớn, xác lập ý chí lớn lao, không ngừng yêu cầu bản thân thì đạo học và sự tu dưỡng mới có được thành, công thực sự, đấy cũng là tinh thần cơ bản dốc lòng tận tụy của Gia Cát Lượng.
Tuy về vị trí quan chức và quyền lực thuận buồm xuôi gió, song về sự nghiệp có thể nói rằng, suốt đời gập ghềnh. Để thực hiện lý tưởng của phái Thanh Lưu có từ khi còn trẻ, ông chọn Lưu Bị làm minh chủ để mình suốt đời phụng sự, mới bước vào xã hội, đã gặp phải đại quân của Tào Tháo là một bậc quân sự kỳ tài bậc nhất gây sức ép, thực là được bổ nhiệm đang khi quân bại trận, phụng mệnh giữa lúc nguy nan. Song chẳng kể bắt bẻ như thế nào, vị quân sư trẻ tuổi này cự tuyệt lời mời của Tôn Quyền vẫn kiên trì đứng trong tập đoàn Lưu Bị.
Trong thời gian khó khăn nhất, người quản lý cao nhất về kế hoạch này, lại làm được kế hoạch “ba chân đỉnh lớn” xây dựng được một sự nghiệp thật hiển hách, hơn nữa dần dần thực hiện, chẳng những phản bại làm thắng, mà còn khiến tập đoàn Lưu Bị hoàn toàn thoát khỏi tình hình nguy vong, ở đây không thể không nói đến công lao của Gia Cát Lượng.
Song những đòn đánh và vấp ngã liên tiếp như “mất Kinh Châu”, “thua ở Hồ Đình”, “gửi con ở thành Bạch Đế’, Nam Trung phản loạn, khiến cho Thục Hán chính quyền mới thiết lập lại có nguy cơ chết yểu, bởi thế mà Gia Cát Lượng không thể không xốc lên, một vai gánh vác đại quyền để ngăn sóng cả.
Lưu Thiện tuổi còn rất trẻ lại không có kinh nghiệm, lại thêm Lưu Bị đã có di mệnh, Gia Cát Lượng rất có thê nắm lấy mà làm thay. Song ông ta lại có thể làm được người bầy tôi không hài lòng, toàn tâm phụ tá Lưu Thiện, trong số những Đại thần phụ tá thời Tam quốc, Gia Cát Lượng có quyền lực lớn nhất, gánh vác nặng nhất, mà khó khăn cũng nhiều nhất.
Để khắc phục khó khăn như vậy, mở ra cơ hội phát triển cho nước Thục, để báo đáp ân tri ngộ với Lưu Bị, Gia Cát Lượng ngày đêm trằn trọc suy nghĩ hết mình với công việc, ông không những đảm nhiệm quyết định và thúc đẩy các kế sách lớn về quân chính toàn quốc, lại tự mình đứng ra tu bổ thủy lợi, cầu cống, đường xá, nhà trạm, lại còn tổ chức việc nuôi tằm, dệt vải, nấu muối, đúc sắt, đúc tiền, lại tự mình thiết kế ra các công cụ tác chiến và vũ khí mới như trâu gỗ, ngựa máy, nỏ liên châu.
Mỗi công việc đều có tính khai sáng, không có tính tiền lệ, chẳng thể bảo để người khác làm thay, nên phải tự mình mò mẫm, phải nắm mọi việc lớn nhỏ khác, tự mình coi xét so sách, vất vả suốt ngày. Chủ bạ Dương Ngưng, lo lắng cho sức khỏe của ông, từng khuyên ông không nên quá vất vả, lấy câu chuyện Bính Cát, Trần Bình ngày xưa, lưu ý Thừa tướng chỉ nên phụ trách quyết sách là đủ.
Gia Cát Lượng tự nhiên thấy rất rõ ràng đạo lý ấy, song vấn đề là tất cả còn chưa đi vào qũy đạo, ông không những phải quyết sách, mà còn phải triệt để đôn đốc chấp hành. Huống chi không tự mình tham dự, quyết sách có thể không được thực hiện khẩn trương, cho nên đành phải thâu tóm dẫu có vất vả mọi tư liệu có được, để mong cầu đạt được sự quán triệt nhất tinh thần của chính sách.
Có thể tự mình đôn đốc những việc nhỏ sẽ ảnh hương đến quyết sách lớn, song Gia Cát Lượng dứt khoát chẳng phải là người không biết phân biệt sự nặng nhẹ và tính khẩn trương của công việc, ông hiểu rõ công việc rất mạch lạc, hiệu suất làm việc rất cao, chỉ phải nỗi đích xác là người ham mê với công việc, việc này hoàn thành là lập tức vội làm công việc khác, phải trị quốc, phải trị quân, phải học tập, phải tu tâm, phải viết sách, một ngày dẫu có 48 tiếng cũng là không đủ với ông.
Ông đã sớm thấy sự bao la của đời sống, mà hơn nữa lại là người lạc quan chủ nghĩa, biết rõ lý tưởng của mình, có thể suốt một đời cũng không thể đạt được. Song ông không phải là người theo bi quan luận, giữ mệnh tích cực làm việc không ngừng, có thể làm được bao nhiêu biết bấy nhiêu, tổng hợp để được có thành quả lớn. Đấy có thể mới là chỗ sâu xa của binh pháp, đối với thế giới và đời sống cá nhân, trải qua tĩnh lặng mà hiểu biết thấu triệt, xây dựng được cho mình triết học đời sống.
Cũng giống như Thần Phật, lấy sự quan tâm vô tận, để đối mặt với cuộc đời bao la và rắc rối, không mưu cầu sự trả giá, nỗ lực làm việc cho đến thời khắc cuối cùng của sinh mệnh, đấy chẳng phải là chỗ cao cả phổ độ chúng sinh của phật học như Địa Tạng Vương nói “Ta không xuống địa ngục thì còn ai xuống địa ngục” đó ư?
Tuy chúng ta chẳng thể từ những tác phẩm và hành vi của Gia Cát Lượng thấy được ông ta có tôn giáo tín ngưỡng gì, song ông ta đã lấy suy nghĩ lý tính trong bịnh pháp học, lấy thái độ tĩnh lặng nhất, tình cảm ôn hòa nhất để đối mặt vói đời sống hữu hạn và công việe vô hạn.
Có thể là sự nỗ lực của Gia Cát Lượng, khiến trong trăm họ ở Trung Quốc rộng lớn, ông trở thành nhân vật ở thời đại Tam quốc được tôn kính mà nhớ tiếc nhất, miếu thờ tế tự ông ta rất là phổ biến, những câu chuyện liên quan đến ông ta cũng lưu truyền rất rộng.
Bậc vua nổi tiếng một thời là Đường Thái Tông khi bình luận về Đào Khản có nói: “Cơ mưu thông sáng tựa Ngụy Vũ (Tào Tháo), trung thuận cần lao như Khổng Minh (Gia Cát Lượng). Bốn chữ “trung thuận cần lao” này, có thể nói là hình tượng rất rõ ràng về Gia Cát Lượng.
Ông vua nổi tiếng nhất đời Thanh là hoàng đế Khang Hy, lại trực tiếp bày tỏ rằng: “Gia Cát Lượng nói: Dốc lòng tận tụy đến chết mới thôi. Làm kẻ bầy tôi, duy chỉ có Gia Cát Lượng có thể được như vậy”. Đây là sự bình giá của một nhân vật cũng làm chính trị đối với ông. Đến như trăm họ dân chúng, sự thể hiện lại càng nhiệt tình, sau khi Gia Cát Lượng mất, toàn dân Thục Trung rất đỗi thương tiếc, trăm họ tế cúng trong ngõ, người Nhung, Di tế cúng ngoài đồng nội.
Tuy nhà cầm quyền nước Thục cho rằng không hợp phép tắc lễ nghi, cự tuyệt việc lập miếu thờ Gia Cát Lượng, song trăm họ ở Thục Trung, người Man Di ở Nam Trung, người Nhung ở phía tây, cơ hồ là toàn dân đều vận động, phong trào chưa từng có như thế, triều đình cũng không cấm được. Nghe nói tình hình này kéo dài suốt mấy chục năm không thôi.
Tôn Tiền đời Đưòng cho rằng: “Gia Cát Vũ Hầu đã mất 500 năm, nhân dân từ Lương Hán đến nay, vẫn ca tụng sự tích, lập miếu và tế tự ở nhiều nơi, ông đã để lại sự thương nhớ của mọi người mãi mãi khắc sâu như thế”.
Năm 263 sau Công Nguyên, đầu năm nhà Thục Hán bị diệt vong, bộ binh hiệu úy Tập Long, Trung thư lang Hướng Sủng dâng thư lên Hậu chủ Lưu Thiện, đề nghị lập miếu thờ Gia Cát Lượng, họ nói: “Từ đời Hán đến nay, có người có đức thiện nhỏ mà nhiều nơi đã tô vẽ đền miếu để kỷ niệm. Mà phẩm đức của Thừa tướng Gia Cát Lượng đáng gọi là tấm gương của bốn biển, công trạng là vô song ở đời, Thục Hán đến nay may còn tồn tại, công sức của Thừa tướng rất lớn. Trước mắt nếu triều đình không làm, trăm họ vẫn làm cúng tế riêng, đấy dứt khoát chẳng phải là phương pháp kỷ niệm tiêu hiền. Cho nên chúng thần đề nghị, nên lập tức xây dựng miếu thờ Vũ Hầu, khiến người thân có thể theo ngày mà tế cúng, trăm họ mong mỏi cũng có thể đến miếu ấy mà cúng mới là lễ nghi chính đáng vậy!”.
Lưu Thiện đã phê chuẩn bản sớ đó, lệnh cho ở vùng Miện Dương (Thiểm Tây), gần với mộ phần của Gia Cát Lượng, xây dựng miếu thờ, đấy cũng tức là miếu thờ Vũ Hầu sớm nhất.
Năm 304 sau Công Nguyên, Lý Hùng xây dựng được chính quyền nhà Hán ở Thành Đô, ở Thiếu Thành của Thành Đô có xây dựng “miếu Khổng Minh”.
Năm 347 sau Công Nguyên, Đông Tấn đại tướng quân Hoàn Ôn khi diệt được chính quyền nhà Hán ở đây đã thiêu hủy Thiếu Thành, song miếu Khổng Minh lại được cố ý bảo tồn mãi, cho thấy người đời sau rất kính trọng Gia Cát Lượng, đã vượt qua cả quan niệm riêng của mình.
Sau này ở phía nam Thành Đô trong hậu đường đều thờ Lưu Bị, có xây dựng một điện thờ Gia Cát Lượng. Đến đời Đường, danh tiếng của Gia Cát Lượng vượt quá Lưu Bị, đền thờ ấy được gọi là đền thờ Vũ Hầu, hơn nữa vẫn được lưu truyền đến nay, trở thành một nơi danh thắng cổ tích quan trọng ở Thành Đô.
Đền thờ Vũ Hầu này, các thi nhân nổi tiếng như Đỗ Phủ, Lý Thương Ẩn, Lục Du đã từng đến đó chiêm ngưỡng, lại còn viết không ít thơ ca tưởng nhớ Gia Cát Lượng. Bài thơ “Thừa tướng nước Thục” được lưu truyền rất rộng, nhất là câu “Kỳ Sơn giữa trận từ trần, khách anh hùng để tần ngần lệ rơi, đã là danh ngôn bất hủ lưu truyền hàng nghìn năm nay.
Ở đền thờ Vũ Hầu tại Thành Đô, còn có rất nhiều văn vật kỷ niệm Gia Cát Lượng trong đó có tấm bia Gia Cát Vũ Hầu rất có giá trị. Đấy là tấm bia mà nhà chính trị nổi tiếng đời Đường là Bùi Độ viết ra, nhà thư pháp nổi tiếng Liễu Công Sước (anh của Liễu Công Quyền) trực tiếp viết chữ. Tấm bia đó đã khen Gia Cát Lượng có tài khai quốc trị dân, sánh được với những danh thần trong lịch sử như Khương Thái Công, Y Doãn, Quản Trọng, Tiêu Hà. Cũng thừa nhận thành tựu quân sự của ông đã bắc phạt Trung Nguyên, khiến Tào Ngụy phải khiếp sợ. Đặc biệt cũng tán dương Gia Cát Lượng quyền uy nghiêng một nước lại có phẩm đức rất là tiết tháo dẫu công cao không lấn át chúa, biểu thị đầy đủ cách nhìn của một nhân vật chính trị đời sau, sự tôn kính và nhớ tiếc Gia Cát Lượng.
Trong những văn vật còn bảo tồn được, rất hấp dẫn sự chú ý của mọi người là ba mặt trống đồng của ‘‘trống Gia Cát”, trong đó có một chiếc đúc trước đời Đường, hai chiếc khác nhỏ hơn là sản phẩm của đời Minh, Thanh. Trống đồng đã có từ thời Xuân Thu, lưu hành trong dân tộc thiểu số vùng tây nam, lúc đầu dùng để đun nấu, về sau mới dần dần biến thành nhạc khí, được sử dụng khi cúng tế hội hè hoặc khi có chiến tranh, đời sau trống đồng được gọi là “Trống Gia Cát”, cơ sỏ chủ yếu dựa vào một truyền thuyết: khi Gia Cát Lượng viễn chinh Nam Trung, chế ra trống đồng này, ban ngày để thổi cơm, ban đêm nếu có tình huống dùng để gõ lên báo động. Truyền thuyết này vẫn được lưu truyền rộng ở vùng Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên có rất nhiều người cho rằng Trống Gia Cát do Gia Cát Lượng phát minh ra.
Cũng giống như chúng ta qui nhiều phát minh ngày xưa vào công lao của Hoàng đế trong truyền thuyết, những truyền thuyết về Gia Cát Lượng ở vùng tây nam đã thể hiện đầy đủ sự nhớ tiếc vô hạn của người vùng ấy đối với công lao của Gia Cát Lượng.
Trong đền thờ Vũ Hầu cũng có không ít các câu đối của các danh nhân đời sau để lại, như Triệu Phan đời Thanh có viết:
-    “Rất mực công tâm, binh pháp tinh thông không hiếu chiến.
-    Bao la nhân hậu, quốc gia điều độ những lo toan”.
Phùng Ngọc Tường sau đó cũng viết:
-    “Thành việc lớn bởi toàn tâm, một đời cẩn thận,.
-    Đón gió lành nơi thắng tích, vạn cổ thanh cao”.
Ở đây đã biểu hiện đầy đủ, con cháu đời sau trải qua mấy nghìn năm, đã đánh giá Gia Cát Lượng như thế nào.
Ngoài Thành Đô, đền thờ Vũ Hầu ở thành Bạch Đế cũng như các đền thờ ở Nam Dương và Tương Dương cũng đều rất nổi tiếng. Ở đền thờ Vũ Hầu tại thành Bạch Đế, nổi tiếng nhất vẫn là tác phẩm của thánh thơ Đỗ Phủ:
            Gia Cát danh thơm khắp hải hà,
            Tôn thần tượng ấy đủ cao xa.
            Ba chân đại đỉnh phân ranh giới,
            Một quạt kê mao đuổi giặc tà.
            Gây dựng bá vương tài Lã Vọng,
            Mở mang cơ nghiệp chí Tiêu Hà
            Những mong gánh vác phò vua Hán,
            Ngũ Trượng chưa yên mộng hải hà.
Anh hùng dân tộc đời Tống là Nhạc Chi sau khi chiêm ngưỡng đền thờ Vũ Hầu, đối với sự trung thành của Gia Cát Lượng đã muôn vàn cảm khái. Nghe nói ngay tối hôm đó Nhạc Phi cầm bút viết lại bài Xuất Sư Biểu, để lại trong đền bày tỏ chí hướng của mình và sự nhớ tiếc Gia Cát Lượng.
Đôi với nhân vật lịch sử, do sự bất đồng về lập trường, sự đánh giá của đời sau thường có cao có thấp, có tốt có xấu, có chính có tà, song mấy nghìn năm lại đây, sự đánh giá của người đời với Gia Cát Lượng lại đều là chính diện, có thể có sự cao thấp về trình độ, song lập trường nói chung đều tán dương tô vẽ, khâm phục và nhớ tiếc không nguôi.
 
 
 
Phụ chương
QUAN ĐIỂM THỰC DỤNG
SÁCH LƯỢC VỀ NGƯỜI KẾ NHIỆM
 
Sự tồn tại của một chính phủ hoặc một xí nghiệp, quan trọng nhất là kế hoạch sắp xếp những người kế nhiệm.
Thế tục vẫn cho rằng “giàu không quá ba đời”, đã chỉ rõ dưới chế độ kế thừa gia tộc, nhân tài không đủ, dẫn đến chính quyền hoặc xí nghiệp chẳng thể duy trì được sự phồn thịnh lâu dài.
Song một người lãnh đạo hợp pháp trung tâm, để mọi người đều thừa nhận, lại không phải là việc dễ dàng. Quá khứ đã có không ít chính quyền và đại xí nghiệp rốt cục vẫn lấy khuynh hướng truyền theo huyết thống, khiến cho nhân tài lãnh đạo tài giỏi thiếu hụt, hoàng đế tuy có đại quyền ở ngôi cao song lại không muốn nắm giữ quá nhiều công việc, phải phân chia trách nhiệm chính trị cho các đại thần, sự kế nhiệm các đại thần phải được chế độ hóa, khiến tính hợp pháp kế thừa của chính quyền được thừa nhận mà ổn định được, chế độ nội các của nước Anh, đã rất thành công về phương diện này.
Tổng thống nước Mỹ là Hoàng đế kiêm Tể tướng, ngôi cao quyền trọng, đơn độc một mình đảm nhiệm tính hợp pháp và trách nhiệm chính trị bởi thế chế độ hóa quyền kế thừa lại càng quan trọng, chế độ bầu cử tổng thống mà hiến pháp đề ra của nước Mỹ, hoàn thành được các nhiệm vụ, đã khiến hai trăm năm qua, nhân tài lãnh đạo trung tâm của nền chính trị nước Mỹ không đến nỗi thiếu hụt.
Thục Hán ở thời đại Tam quốc, tự nhiên chẳng thể có chế độ kế thừa ổn định như vậy, Hậu chủ Lưu Thiện được truyền ngôi theo huyết thống, có địa vị tôn sùng mà không quản lý được công việc, đại quyền chính trị đều do Tể tướng Gia Cát Lượng một mình đảm nhiệm. Khi Lưu Bị gửi con ở thành Bạch Đế, do tính hợp pháp ổn định của Thục Hán không đủ, Lưu Bị đành tuyển lựa Gia Cát Lượng thuộc ban bệ của mình cùng với đại lão Thục Trung Lý Nghiêm thân gần với trận tuyến của mình, cùng làm đại thần phụ tá; như vậy cố nhiên có thể khiến Lưu Bị cắt xén được cố kết gốc rễ duy trì được mức độ bình quân, song trong thời gian chiến tranh, vận dụng chế độ lãnh đạo hai ngựa kéo một cỗ xe đối với sự thông nhất của chính quyền Thục Hán là rất bất lợi.
Gia Cát Lượng rất khéo léo điều Lý Nghiêm ra khỏi trung tâm chính trị, lại lấy sự nhiệt thành nhất quán và thái độ chí công vô tư tranh thủ sự thừa nhận của các tầng lớp nhân sĩ ở Thục Trung, Hán Trung khiến quyền lực tập trung hữu hiệu ở phủ Thừa tướng, xây dựng chế độ trong cung, trong phủ cùng một tiêu chuẩn làm việc; tuy các đại lão Thục Trung như Liêu Lập, Trương Duệ có phản ứng, song Gia Cát Lượng lấy tác phong nghiêm minh thực tiến, ngoài sự tham dự của Liêu Lập vào công việc, cũng tranh thủ được sự giúp đỡ của Trương Duệ, giải quyết được vấn đề sau khi Lưu Bị mất đi sẽ có thể xảy ra nguy cơ kế thừa quyền lực.
Việc cắt xén cố kết gốc rễ ở đời thứ nhất muốn tuyệt đối tiêu trừ được tựa hồ là không có khả năng, song làm sao xây dựng hữu hiệu công thức ở đời thứ hai, là công việc quan trọng nhất phải thực hiện. Gia Cát Lượng về phương diện này đã có những biểu hiện rất kiệt xuất.
Phối hợp với kế hoạch bắc phạt, ông táo bạo vận dụng sách lược khống chế từ xa, đem chính quyền Thục Hán hoàn toàn giao cho những nhân vật tinh anh đời thứ hai như Quách Du Chi, Phí Vỹ, Đổng Doãn, Tưởng Uyển, tự mình dẫn quân đóng doanh trại lâu dài ở tiền tuyến Hán Trung, Lý Nghiêm giúp ông ta phụ trách việc lương thảo cho tiền tuyến, cùng với Liêu Lập, Trương Duệ có chức cao mà quyền không lớn. Quyền chỉ huy sau rèm hoàn toàn do mình khống chế, song việc chấp hành thực tiễn thì mau chóng thực tế giao cho những nhân vật tinh anh đời thứ hai, khiến việc cắt xén cố kết gốc rễ của chính quyền Thục Hán rất mau chóng giải quyết xong xuôi.
Song, việc lựa chọn người kế thừa lại vẫn là vấn đề đau đầu, sắp xếp tốt nhất ban bệ tập thể tiếp nhiệm, do ai phụ trách quyền chỉ huy kế thừa công việc của mình, lại là việc lựa chọn rất khó khăn. Ở trạng thái chiến tranh lâu dài, tư lệnh các quận đoàn quyền lực ắt sẽ bành trướng, vẫn trái với phương châm chính trị lãnh đạo quân sự của Gia Cát Lượng, đấy cũng là vấn đề mà Gia Cát Lượng lấy làm đau đầu.
Đặc biệt là với hổ tướng Ngụy Diên vẫn thống soái quân tiên phong có danh tiếng rất cao trong quân đội, lại là một viên tướng ngạo mạn, bốc lửa và cũng thiếu đầu óc chính trị nhìn chung những nhân vật chính trị tinh anh đời thứ hai được cố ý bồi dưỡng tựa hồ chẳng có một ai đủ sức chỉ huy được “Ngụy đại tướng”. May mà quan hệ của Ngụy Diên với các tướng lĩnh không tốt đẹp, Gia Cát Lượng đã cố tạo lập địa vị và danh vọng cho một số tướng lĩnh ngang bằng với Ngụy Diên, như Vương Bình cương trực dũng mãnh, Mã Trung tận tụy với trách nhiệm, Mã Đại là danh tướng Tây Lương, cùng với Khương Duy trí dũng song toàn được coi là học trò của mình, để chế ngự hữu hiệu sự bành trướng thế lực quá mức của Ngụy Diên.
Một nhân vật khác cũng khiến Gia Cát Lượng đau đầu là Dương Nghi tham mưu hàng đầu của ông ta, một cao thủ điều hành về hành chính khó thấy trong lịch sử, có nhiều cống hiến về kế sách lương thảo trong hành động quân sự bắc phạt, cũng là trợ thủ cho Gia Cát Lượng trong công việc thường ngày rất được nể trọng. Bởi thế không ít người cho rằng Dương Nghi sẽ là người kế thừa Gia Cát Lượng. Song Dương Nghi bản tính nghi ngờ, bổ nhiệm vai trò lãnh đạo rất cao, có thể do tinh thần trách nhiệm quá lớn, thuộc hạ và binh lính đều bị ông ta làm phiền muốn chết. Bởi thế ngay từ những lúc đầu, Gia Cát Lượng đã phải hạn chế Dương Nghi trong công việc tham mưu. Sau này Gia Cát Lượng chỉ định người lãnh đạo là Tưởng Uyển và Phí Vỹ, đều chẳng phải là cao thủ về hành chính hoặc quân sự. Tưởng Uyển bản tính khoan dung, cẩn thận mà suy nghĩ sâu sắc. Việc điều hành lấy không phiền nhiễu dân làm chính, chẳng có mưu toan lớn và dục vọng, phong thái chính trị như vậy gần với “vô vi nhi trị”, rất được Gia Cát Lượng tán thưởng. Ông ta cho rằng Tưởng Uyển với công việc thì thấy được việc lớn, làm được cả việc nhỏ, là lãnh tụ chính trị rất thích hợp với đời loạn. Phí Vỹ cá tính ôn hòa, có sở trường ngoại giao đàm phán, với người nào cũng có thể khéo léo ứng xử được. Gia Cát Lượng thấy rõ ông ta có năng lực điều hòa được giữa Ngụy Diên và Dương Nghi, nhưng Phí Vỹ về công việc chính trị, chưa nắm chắc bằng Tưởng Uyển, bởi thế thành người ưu tiên kế thừa thứ hai. Đến như Đổng Doãn là người xử sự nghiêm minh, công việc chính trực, song không giỏi ứng biến, trong kế hoạch của Gia Cát Lượng chỉ có thể làm nhiệm vụ “phó lãnh tụ” mà thôi.
Do Tưởng Uyển, Phí Vỹ, Đổng Doãn đều không có kinh nghiệm chỉ huy tác chiến thực tế, bởi thế không thể giống như mình đồng thời nắm cả đại quyền quân chính. Cho nên về phương diện quân sự ông cố ý bồi dưỡng các tướng lĩnh trung thành lại không có dã tâm như Vương Bình, Khương Duy, Mã Trung, Đặng Chi, để giúp đỡ hữu hiệu cho trung tâm lãnh đạo chính trị. Sau khi Vương Bình, Mã Trung, Đặng Chi nối nhau từ trần mới do Khương Duy thống lĩnh tất cả nhiệm vụ.
Qui hoạch của Gia Cát Lượng khá thành công, khiến cho Thục Hán sau khi ông ta mất vẫn có thể duy trì được sự ổn định. Chẳng may Tưởng Uyển mất quá sớm, Phí Vỹ lại đang lúc tài hoa bỏ mình, Vương Bình, Mã Trung, Đặng Chi đều mất sau Gia Cát Lượng không lâu, cuối cùng chỉ còn Khương Duy nắm đại cục, rốt cuộc bởi chẳng thể kiêm lo trong ngoài, lại thiếu nhân tài kế nhiệm, sự ổn định của chính quyền Thục Hán mau chóng suy thoái, cuối cùng dẫn đến chỗ mất nước Thục.
 
0
Thiên phụ họa
GIA CÁT KỲ TÀI
 
HÌNH TƯỢNG GIA CÁT LƯƠNG VỚI QUẠT LÔNG KHĂN NHlỄU
 
Do sự tô vẽ của tiểu thuyết và sân khấu hình tượng Gia Cát Lượng mà chúng ta rất quen thuộc chính là khuôn mẫu đầu quấn “khăn nhiễu Gia Cát”, tay phải cầm quạt lông, ngồi trên cỗ xe hai bánh không có vũ trang rất tiêu dao tự tại.
 
*
*    *
 
Như trên đã nói do sự tô vẽ của tiểu thuyết và sân khấu, chúng ta đã quen thuộc với hình tượng Gia Cát Lượng mà Chu Thượng Quan đời Thanh đã đưa ra trong cuốn “Vãn đường họa truyện”.
Cứ theo sự mô tả trong Tam quốc diễn nghĩa, bất luận ở trường hợp nào thậm chí đang ở tiền tuyến, Gia Cát Lượng tựa hồ vĩnh viễn là gắn liền với quạt lông khăn nhiễu, không mặc giáp trụ, đến ngay cỗ xe cũng chẳng có vũ trang bảo vệ. Gia Cát Lượng vẫn cẩn thận, nếu phục trang như thế trong đòi sống thực tế đương nhiên là chẳng thể được. Ví như phục trang như vậy cũng có ý nghĩa đặc thù của nó. Ở thời kỳ cuối đối trận tại gò Ngũ Trượng với Tư Mã Ý, Gia Cát Lượng biết mình bệnh đã nặng, để chọc giận Tư Mã Ý, hấp dẫn quân Tào Ngụy xuất trận, mặt khác để sau này rút binh sẽ đưa ra người giả để dọa địch, nên đã cố ý tạo ra hình tượng đó.
Cuốn “Bắc đường thư sao” do Ngu Thế Nam đời Đường, soạn, có dẫn sách “Bùi thị ngữ lâm” của Bùi Trị đời Tấn như sau: “Ngồi trên cỗ xe màu trắng, tay cầm quạt lông màu trắng” đã trở thành tiêu chí đặc thù của Gia Cát Lượng, cỗ xe được nói đến là cỗ xe gỗ sắc trắng, chẳng có thiết bị phòng ngự gì”.
Trong cuốn “Nghệ văn loại tụ” của Âu Dương Tuân đời Tống có miêu tả tường tận: “Gia Cát Vũ Hầu và Tư Mã Tương Vương khi đối trận ở bên sông Vị Thủy (gò Ngũ Trượng), Tư Mã Tương Vương mặc quân phục đến trước trận xem xét, song Gia Cát Vũ Hầu chẳng hề mang võ bị, cưỡi trên cỗ xe màu trắng, đầu đội khăn quân, tay cầm quạt lông, chỉ huy ở trước trận, Tư Mã Ý không khỏi quay đầu lại bảo với các tướng sĩ đứng bên: “Thực là danh sĩ vậy!”.
Từ đó có thể thấy phục trang này của Gia Cát Lượng đích xác là bởi mục đích đặc thù, hình tượng đặc thù này được tạo ra ở gò Ngũ Trượng mà thôi, dứt khoát không phải là trang phục vẫn thường dùng ở chiến trường.
Quạt lông là cái gì nhỉ? Đấy là một loại thường được gọi là quạt lông hươu. Trong cuốn “Thế thuyết tân ngữ” của Lưu Nghĩa Khánh có chép “Dữu Trĩ Cung làm Thứ sử Kinh Châu từng cầm ở tay một chiếc quạt lông dâng cho Tấn Vũ đế” mà trong thiên “Dung chỉ” thì nói quạt lông có chuôi ngọc gọi là loại “quạt lông chuôi ngọc”. Loại quạt này có chỗ giống như là phất trần mà Tăng Lữ Thiền Tông vẫn cầm, từ Hậu Hán đến Ngụy Tân Nam Bắc triều, các học giả phái Thanh Lưu rất thích cầm loại quạt này, biểu thị sự tiêu dao tự tại của mình.
Đương nhiên chuôi của loại quạt này không hoàn toàn làm bằng ngọc mà tùy theo thân phận người sử dụng khác nhau được làm bằng trúc, gỗ, sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi, từ cuối đời Hán đến đời Đường hình thái của quạt lông ít ra có bảy loại.
“Khăn quấn” cũng có đầu mối của nó, từ xưa đến nay các sĩ đại phu thường đội mũ miện, khăn đầu chỉ có dân thường mới dùng. Đến cuối đời Đông Hán, những nhân sĩ ẩn dật ở thảo dã bắt đầu sử dụng khăn đầu khá phổ biến. Trong cuốn Hậu Hán thư của Phạm Diệp đầu đời Thanh có chép. Phù Dung, Pháp Chân, Chu Đảng ở phái Danh Sĩ, thậm chí đại học giả Trịnh Huyền, cũng thường đội khăn đầu, thành trào lưu thời thượng khá rộng rãi bấy giờ. Do ở chiến trận thường vận khôi giáp, bởi thế lúc nghỉ ngơi, lập tức cởi bỏ mũ mạo vướng víu, các binh sĩ hoặc quan chức thấp có thể để đầu tóc không chỉnh đốn thả tóc xuống vai, song quan chức cao cấp cho rằng như thế không nghiêm túc, nên vẫn có thói quen đội khăn xếp. Loại khăn của Gia Cát Lượng với loại khăn này rất giống nhau.
Theo lý mà nói, phục trang như nói trên lẽ ra không nên xuất hiện ở tiền tuyến, chẳng những dễ gặp phải sự tập kích của tên bắn mà còn làm lơi lỏng tinh thần cảnh giác của binh sĩ, cho nên lúc Gia Cát Lượng ăn vận như vậy, hẳn có mục đích riêng vậy.
 
*
*    *
 
CÂU ĐỐ BÁT TRẬN ĐỒ CỦA GIA CÁT LƯỢNG
 
Trận đá Bát trận đồ đích xác có tồn tại, chỉ khác là dứt khoát chẳng phải thuật kỳ môn độn giáp đã miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa.
Những khối đá này được xếp thành Bát trận đồ, thực ra là vùng đất sa bàn diễn tập mà Gia Cát Lượng dùng để thao luyện binh sĩ mà thôi.
 
*
 
Trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, miêu tả những khả năng kỳ lạ của Gia Cát Lượng, trong đó tô vẽ khoa trương nhất là chuyện mượn gió đông và Bát trận đồ. Mượn gió đông nảy sinh trong đại chiến Xích Bích, đích xác là nhân tố quan trọng của thắng bại trong chiến tranh, vấn đề là Gia Cát Lượng thực có thể hô phong hoán vũ hay không, đáp án khoa học đương nhiên là chẳng thể được.
Đại chiến Xích Bích phát sinh vào năm Kiến An thứ 13, theo nông lịch là sáng sớm ngày 13 tháng 11, vùng Hoa Trung đang là mùa lạnh, phía tây bắc lạnh hơn phía nam, bởi thế ở vùng Xích Bích nhất định có gió tây bắc, làm sao có thể xuất hiện gió đông nam nhỉ?
Song cứ theo chính sử “Tư trị thông giám” ghi chép đích xác có gió đông nam đột nhiên lúc ấy xuất hiện, vậy khoa học phải giải thích thế nào đây?
Trong cuốn “Tào Tháo tranh bá”, đặc biệt có lấy 3 nhân tố địa hình, khí tượng, binh pháp, đối chiếu tình hình có thể, phân tích có hệ thống, độc giả nếu có hứng thú có thể tham khảo những ghi chép trong đó để phán đoán, ở đây không nhắc lại nữa.
Ghi chép về Bát trận đồ lại càng thần kỳ hơn. Hồi thứ 84 trong Tam quốc diễn nghĩa chép về Lục Tốn thiêu trại 700 dặm, Khổng Minh khéo bầy Bát trận đồ, có ghi chép như sau:
Lục Tốn đã giành được đại thắng, dẫn quân đang thắng đuổi đến phía tây. Cách Quì Quan không xa, Lục Tốn chợt nhìn thấy ở bãi sông phía trước, một trận địa sát khí đùng đùng bốc lên, giật cương ngựa quay lại bảo các chúng tướng rằng “trước mặt ắt có mai phục, ba quân không được tiến bừa”, lại cho lùi lại mười dặm, ở vùng đất trống bầy trận thế để phòng ngự quân địch. Lại sai thám mã đi xem xét, báo lại rằng không có quân đóng ở đấy, Lục Tốn không tin, xuống ngựa lên núi nhìn ra xa vẫn thấy sát khí bốc lên.
Lục Tốn lại cho người xem xét thực cẩn thận, thám mã lại quay về báo, trước mặt không có một người nào. Lục Tốn thấy mặt trời sắp lặn, sát khí càng nhiều, trong lòng do dự, lệnh cho người tâm phúc lại đến đó xem xét, báo về rằng bên sông chỉ có những đống đá bầy xếp lung tung, tuyệt không có bóng người, Lục Tốn rất đỗi nghi ngờ, lại cho tìm thổ dân để hỏi. Bỗng chốc có mấy người đi đến, Lục Tốn hỏi ai đã xếp những đống đá này, song trong những đống đá lung tung ấy lại có sát khí bốc lên? Thổ dân đáp: “Vùng này gọi là bến Ngư Phúc, khi Gia Cát Lượng vào Thục, dẫn quân đến đó lấy đá bầy trận thế ở trên bãi cát ven sông, từ đó khí đùn như mây từ trong bốc lên”.
Lục Tốn nghe rồi, lập tức dẫn mấy chục kỵ binh đến xem trận đá, dừng ngựa ở trên dốc núi, song thấy bốn mặt tám hướng đều có cửa vào. Lục Tốn nói rằng: “Đấy là thuật mê hoặc người, có lợi hại gì!” rồi dẫn mấy kỵ binh xuống núi, xông vào trận đá xem xét, bộ tướng nói: “Trời sắp tối, xin đô đốc sớm quay về”.
Lục Tốn muốn ra khỏi trận đá ấy, đột nhiên cuồng phong nổi lên ầm ầm. Trong phút chốc, cát bay đá chạy trùm lợp cả trời đất, lại thấy quái thạch cao chót vót, tua tủa như kiến, bãi cát dưới chân dựng thành lũy như núi, nghe trong tiếng sóng trên sông như có tiếng gươm khua trống nổi. Lục Tốn cả kinh nói: “Ta trúng phải mưu kế của Gia Cát Lượng rồi!”. Muốn vội vã trở về mà không tìm được lối ra. Đang lúc kinh hãi chợt thấy một lão trượng đứng ở trước ngựa cười mà rằng: “Tướng quân muốn ra khỏi trận này ư?”.
Lục Tốn nói: “Xin trưởng lão dẫn đường cho!”
Lão trượng chống gậy từ từ mà đi quanh co, ra được khỏi trận đá không gặp trở ngại gì, đưa chân đến tận dốc núi.
Lục Tốn nói: “Trưởng lão là ai?”
Lão trượng trả lời: “Lão phu là Hoàng Thừa Ngạn, bố vợ của Gia Cát Khổng Minh, khi xưa con rể lão vào Thục có bầy trận đá ở đấy gọi là Bát trận đồ, muốn vào được tám cửa, phải tuần tự theo phép độn giáp: Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai. Mỗi ngày mỗi giờ lại biến hóa không ngừng, có thể so với 10 vạn tinh binh. Lúc chia tay, Khổng Minh có dặn lão phụ rằng, sau này có đại tướng Đông Ngô lạc ở trong trận ấy chớ có dẫn họ ra. Lão phu đứng ở trên núi thấy ngài từ cửa Tử mà vào, ngờ rằng không biết trận ấy, ắt bị mê hoặc. Lão bình sinh thích làm việc thiện, chẳng nhẫn tâm để tướng quân bị chìm đắm như thế, nên đặc biệt theo cửa Sinh mà dẫn ra”.
Lục Tốn nói: “Cụ có học được trận pháp này không?”
Hoàng Thừa Ngạn nói: “Biến hóa vô cùng chẳng thể nào học được vậy!”.
Lục Tốn hoang mang xuống ngựa bái tạ cụ già rồi quay về. Sau này Đỗ Phủ có thơ rằng:
            Công trùm cả ba nước,
            Danh nên Bát trận đồ,
            Sông trôi đá chẳng chuyển,
            Hận chẳng nuốt xong Ngô.
Lục Tốn về trại than rằng: “Khổng Minh thực là con rồng nằm vậy, ta chẳng thể nào theo kịp được”.
Nhà viết tiểu thuyết miêu tả tình tiết này thực thần kỳ huyền diệu, lấp lánh vô cùng. Song lấy quan điểm lịch sử mà xem, có thể nói là hoang đường không kể xiết, chẳng thể như thế được.
Bài thơ của Đỗ Phủ, là căn cứ vào truyền thuyết ở đấy mà viết ra, chủ yếu nhớ đến sự trung nghĩa tiết tháo của Gia Cát Lượng “Kỳ Sơn giữa trận từ trần, khách anh hùng để tần ngần lệ rơi”, La Quán Trung lại khéo léo vận dụng, mà làm thành bằng chứng để hư cấu, Đỗ Phủ ở dưới đất nếu có biết ắt cảm khái muôn vàn, trăm miệng không nói hết được.
Song trong cuốn Tam quốc chí do Trần Thọ biên soạn nói Gia Cát Lượng có sở trường về kỹ xảo, nỏ liên châu lợi hại, trâu gỗ, ngựa máy đều do ông nghĩ ra, lại suy diễn binh pháp làm ra Bát trận đồ hàm chứa nhiều điều cốt yếu.
Nói cách khác, đích xác đã có Bát trận đồ chẳng phải là điều hư cấu, vấn đề là rốt cục Bát trận đồ là gì.
“Trận” là khi hai bên quân đội ngày xưa giao chiến có bầy ra hình thái bố trí quân đội theo một hàng lối nhất định. Trận có tác dụng giao chiến, cũng có khi dùng để đóng đồn trại. Trận ắt phải dựa theo sự biến hóa địch tình, địa hình, thời tiết để thiết kế, cũng là trận pháp thường nói đến trong binh thư, “đồ” là nói đến quy mô, trận đồ là hình thái bầy trận cơ bản có tính chất đặc thù, “Bát trận đồ” là một loại trận thế chú ý đến danh nghĩa, tổng hợp tám loại trận pháp mà thành.
Danh nho Trịnh Huyền đời Hán ghi chép trong sách Tôn Vũ, có thiết kế ra tám trận Binh pháp của Tôn Tẫn mới khai quật được, có các mục sách “Bát trận” “Thập trận”, lại viết: “Biết cơ mưu của Bát trận mới là một tướng vương giả”.
Cứ theo tư liệu ghi chép hiện có, bát trận của Tôn Tử trong truyền thuyết có phân biệt làm các trận Phương, Viên, Đỗ, Tẫn, Hành, Phù Chí, Luân, Nhạn Hành, tựa hồ là trận hình tám loại không giống nhau về hình thái, có một số có thể dùng khi tác chiến, có một số loại được dung khi đóng đồn hoặc phòng ngự.
Thời đại chiến quốc của Nhật Bản, võ tướng Vũ Điền Tín Huyền có dùng quân kỳ vẽ “gió rừng lửa núi”, đối với binh pháp Tôn Tử đã nghiên cứu sâu xa, trận thế mà ông ta sử dụng cũng có tám loại, phân biệt là “Ngư lâm, hạc dực, nhạn hành, loan nguyệt, phong thỉ, hách ách, trường sà, phương viên”.
Tựa hồ tám trận của Tôn Tử được cụ thể hóa, chính là từ Bát trận của Tôn Vũ chuyển hóa ra. Từ đó có thể thấy, Bát trận là tám phương pháp bố cục khi tiến công hoặc phòng ngự thường vẫn sử dụng.
Lý Hưng thời Tây Tấn khi chú giải Bát trận đồ của Gia Cát Lượng cũng chỉ rõ: “Suy diễn tám trận không giống hệt Tôn Ngô. Cũng tức là nói thiết kế Bát trận đồ của Gia Cát Lượng có không ít chỗ là do ông ta sáng tạo, mà không hạn chế ở Bát trận đồ của Tôn Vũ và Ngô Khởi xây dựng.
Gia Cát Lượng cũng tự nói rằng: “Bát trận đã thành, từ nay việc quân không lo thất bại nữa!” khá thấy Bát trận đồ đích xác là sáng tác mà Gia Cát Lượng lấy làm đắc ý, dựa theo đầu óc khoa học nhiều kỹ xảo, mà thiết kế ra cho phù hợp với đặc thù khi hành quân, tác chiến hoặc đóng doanh trại.
Mục đích của Bát trận đồ, chính là đề cao năng lực tiến công và phòng ngự, do thiết kế khá thực dụng, đối với đời sau có ảnh hưởng rất lớn. Tư Mã Chiêu sau khi diệt được Thục Hán có lệnh cho Trần Hiệp học tập ở Gia Cát Lượng phép bầy trận, dùng quân mai phục, cũng nói có thể dùng phép tắc của Vũ Hầu đế bảo ban cho ba quân. Tập Ưng thời Bắc Ngụy có dâng thư lên Ngụy Văn đế để bày tỏ: “Nên dùng phép Bát trận của Gia Cát Lượng để tấn công và phòng ngự”. Thời Đường Thái Tông, một nhà binh pháp trứ danh là Lý Tĩnh, lại căn cứ vào phép Bát trận của Gia Cát Lượng, sáng tạo ra Lục hoa trận pháp.
Vậy phải chăng thực có trận đá Bát trận đồ mà Lục Tốn đã gặp phải? Đấy là cái gì vậy?
Trận đá Bát trận đồ đích xác có tồn tại, chỉ khác là dứt khoát chẳng phải thuật kỳ môn độn giáp được miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa.
Những khối đá này được xếp thành Bát trận đồ, thực ra là vùng đất sa bàn diễn tập mà Gia Cát Lượng dùng để thao luyện binh sĩ mà thôi.
Cứ theo ghi chép, trận đá nổi tiếng nhất, là di tích Bát trận đồ ở trong cuốn “Thái bình hoàn vũ ký”, trận đá này ở thượng lưu Trường Giang thuộc huyện Phụng Tiết tỉnh Tứ Xuyên. “Chu vi có đến 480 trượng do các khối đá xếp lẫn mà thành, có khối cao 5 trượng, chu vi khoảng 3 sải tay bầy như bàn cờ... Mùa hè nước ngập cả, mùa đông nước rút mới có thể thấy được... Cứ theo nghiên cứu Bát trận đồ này được phân làm tám trận là Động Đương, Trung Hoàng, Long Đằng, Điểu Phi, Hổ Dực, Chiêt Xung, Liên Hành, Ác Cơ, ngoài trận đá ở đây, di tích trận đá Bát trận đồ, còn thấy ở hai địa phương khác, một nơi ở huyện Miễn tỉnh Thiểm Tây gần với phần mộ Gia Cát Lượng, một nơi thuộc huyện Tân Quận tỉnh Tứ Xuyên.
Đỗ Mục trong cuốn “Tôn Tử tập chú” có viết: Gia Cát Vũ Hầu lấy đá xếp ngang dọc theo tám cửa làm trận đồ, những điều kỳ lạ đều thấy ở đấy.
Cứ theo tư liệu cho thấy Bát trận đồ của Gia Cát Lượng, về biến hoá mà nói, lấy thiên, địa, phong, vân, phi long, tường điểu, hổ dực, sà bàn làm trận hình cơ bản, trong đó đại trận ôm tiểu trận, doanh trại lớn ôm doanh trại nhỏ, trong di tích ở Phụng tiết có thể phát hiện ở đó có 64 trận, là số sa bàn ở nơi đóng quân thao diễn trận pháp.
Trận đá ở Tân Quận có số trận pháp đứng đầu là 128 trận, đấy nói chung đều là những trận thế dùng trong tấn công hoặc dã chiến.
Theo truyền thuyết, quy mô lớn nhất là ở Thành Đô, là một trận pháp doanh trại có 256 trận, là phương thức bầy trận dùng trong đóng trại lâu ngày, khiến cho công năng vận động ở các doanh trại riêng đều hoàn toàn được phát huy, chẳng những động viên được lực lượng cơ động rất lớn mà khả năng phòng ngự cũng rất mạnh. Sử liệu có chép: “Gia Cát Lượng đên đóng quân, từ lũy trại, bếp, bờ rào, nhà xí, chướng ngại vật, đều có qui cách và vị trí nhất định, một chút cũng không vội vã”. Gia Cát Lượng bị bệnh mất ở gò Ngũ Trượng, Tư Mã Ý sau khi Thục Hán rút quân, xem xét kỹ lưỡng công sự và bố trí ở doanh trại, không khỏi cảm thán rằng: “Thực là thiên hạ kỳ tài vậy!”.
Có thể tin rằng đấy là một loại Bát trận đồ mà Gia Cát Lượng đã sáng tạo ra.
 
*
*     *
 
BINH PHÁP VÀ TÁC PHẨM CỦA GIA CÁT LƯỢNG
 
Trương Chú khi biên tập cuốn Gia Cát Vũ Hầu văn tập, trừ những sáng tác rõ ràng của người khác, cơ hồ bao quát cả những tác phẩm của Gia Cát Lượng mà sau này được nhắc đến theo truyền thuyết, ông ta lấy thái độ bao dung rộng lớn mà tận lực thu thập.
Gia Cát Lượng mất đã nhiều năm, vào năm Thái Thủy thứ 10 đời Tấn Vũ đế (năm 274 sau Công Nguyên), Trần Thọ lại biên tập cuốn “Gia Cát thị tập”, toàn bộ gồm 24 thiên, mục lục và lá thư dâng sách của Trần Thọ thấy ghi ở cuốn “Thục chí”.
Trần Thọ là cựu thần Thục Hán, cũng là tác giả “Tam quốc chí”, cách thời đại Gia Cát Lượng không xa, bởi thế cuốn “Gia Cát thị tập” do ông biên tập lại, tuy có nhiều người cho rằng không phải nguyên tác, song chí ít cũng đã được lưu lại những trước tác đích xác là của Gia Cát Lượng.
Trong cuốn “Tùy thư” và “Đường thư”, đều có ghi chép những tác phẩm của Gia Cát Lượng, như “Binh pháp”, “Luận tiền hán sự”, “Hán thư âm”... Trong đó một số đã thất lạc, song những cuốn còn lại cũng khó phán đoán là do Gia Cát Lượng viết. Trong những thư viện công hoặc riêng đời Tống, Nguyên những ghi chép có liên quan đến Gia Cát Lượng rất nhiều, song phần lớn do người đời sau mượn cớ viết ra.
Trong số đó nổi tiếng nhất là cuốn “Gia Cát Vũ Hầu văn tập” do Trương Chú đời Thanh biên soạn.
Mục lục cuốn “Gia Cát thị tập” của Trần Thọ có nhắc đến 24 thiên sách: Khai phủ tác mục, Quyền chế, Nam chinh, Bắc xuất, Kế toán, Huấn lệ, Tổng yêu 1, Tổng yêu 2, Tạp ngôn 1, Tạp ngôn 2, Quí hoà, Binh yến, Truyền vận, Thư gửi Tôn Quyền, Thư gửi Gia Cát Cẩn, Thư gửi Mạnh Đạt, Chuyện Lý Bình, Pháp kiểm 1, Pháp kiểm 2, Khoa lệnh 1, Khoa lệnh 2, Quân lệnh 1, Quân lệnh 2, Quân lệnh 3.
Cộng tất cả là 24 thiên sách, gồm 10 vạn 4 nghìn 1 trăm 12 chữ. Cứ theo khảo xét mà Trương Chú đưa ra, trong thư dâng sách của Trần Thọ, 24 thiên ghi ở tổng mục, trong đó có chiếu, biểu, sớ, nghị, thư, lời chỉ bảo, lời răn, sắc lệnh, luận văn ghi chép, văn bia, ấn triện, các loại này đều được ghi lại theo một thời điểm, mà không lấy văn thể để biên soạn, cho nên cuốn Gia Cát Vũ Hầu tập hiện còn, về phần xếp sắp đề mục có những bất đồng rất lớn.
Cuốn “Hoa Dương quốc chí” có chép: Ở thiên sách “Khai phủ tác mục”, nói nhiều đến việc dùng người, cho nên bao gồm “Thư gửi Tưởng Uyển”, “Thư gửi Đỗ Vỹ”, “Nói với Ngô Tế”...
Thiên “Quyền chế” bao gồm các bài “Chính nghị”, “Thư gửi Pháp Chính”, “Thư gửi Tích Xá”..., nói nhiều đến triết học quản lý chính trị của mình, có tính chất chính luận.
Thiên “Nam chinh” bao gồm “Chiến lệnh Nam chinh”, “Nói về Nam chinh”, “can gián”..., là những bài viết có liên quan đến cuộc chinh phạt Nam Trung.
Thiên “Bắc xuất” bao gồm “Chiếu thư phạt Ngụy”, “Xuất Sư Biểu”, “Kỳ Sơn Biểu”, “Nhận lỗi ở Nhai Đình”.
Thiên “Kế toán” bao gồm “Ở Thảo Lư” “Thư dâng lên Tiên đế”, “Biểu tấu”, “Thư gửi Bộ Chất”...
Thiên “Huấn lệ” gồm “Bát vụ”, “Thất giới”, “Lục dục”, “Giới tử”...
Thiên “Tổng yên” gồm “Thư gửi Lý Nghiêm”, “Thư gửi Trương Duệ”, “Nói về Khương Duy”...
Thiên “Tạp ngôn” gồm “Lương phụ Ngâm”, “Luận tiền hán sự”, “Luận chư tử”...
Thiên “Quí hoà”, gồm “Luận về Cam Thích”, “Khuyên tướng sĩ nhắc nhở cho mình”...
Thiên “Truyền vận” gồm “Trâu gỗ ngựa máy”...
Thiên “Binh yếu” nay chỉ còn có 10 điều lệnh.
“Thư gửi Tôn Quyền” chỉ có 2 thiên sách.
“Thư gửi Gia Cát Cẩn” chỉ còn có 9 thiên sách.
“Thư gửi Mạnh Đạt” hiện còn 2 thiên sách.
“Chuyện Lý Bình” gồm “Thư gửi Tưởng Uyển và Đổng Doãn về chuyện Lý Nghiêm”, “Đàn hặc Lý Bình”...
Thiên “Pháp kiểu” gồm “Truy tôn Cam phu nhân làm Chiêu liệt hoàng hậu”, “Phép làm bùa”, “Phép làm kiếm”... phần lớn bàn về phương diện phát minh chế tạo vũ khí.
Thiên “Khoa lệnh” nói về “Bộ binh”, nói về “Kỵ binh”...
Thiên “Quân lệnh” hiện còn 15 điều lệnh.
Ngoài ra còn có một số bài tản văn, đã được Trần Thọ đưa vào, nếu không ở 24 thiên trên thực khó xác nhận.
Từ những ghi chép trên có thể thấy cuốn “Tiện ghi” và “Tưởng Uyển” vẫn được coi là tác phẩm hoàn chỉnh về binh pháp của Gia Cát Lượng có những phần không phải do ông viết ra.
Trương Chú khi biên tập cuốn “Gia Cát Vũ Hầu văn tập”, ngoài những cuốn rõ ràng không phải do Gia Cát Lượng viết, cơ hồ bao quát những tác phẩm của Gia Cát Lượng là sau này được nhắc đến theo truyền thuyết, ông ta lấy thái độ bao dung rộng lớn mà tận lực thu thập, trong đó rất không được các nhà sử học xem là tác phẩm thực sự của Gia Cát Lượng, các cuốn “Hậu Xuất Sư Biểu”, “Tiện ghi” và “Tưởng Uyển”.
Văn tập này gồm 4 quyển, phần phụ lục có 2 quyển, phần ghi chép có 5 quyển.
Quyển thứ nhất ghi chép các chiếu thư và công hàm.
Quyển thứ hai gồm thư từ và các ghi chép, có không ít bất đồng với mục lục cuốn “Gia Cát thị tập” của Trần Thọ.
Quyển thứ ba là “Tiện ghi”, Trương Chú soạn từ 16 cuốn sách của Gia Cát Lượng được ghi chép trong “Tùy thư”, tuy có một phần nội dung tương tự với mục lục “Gia Cát thị tập”, song đại bộ phận không thấy ở đấy, bởi thế có nhà sử học phán đoán người sau mượn danh Gia Cát Lượng viết ra.
Nội dung cuốn “Tiện ghi’’ tuy được nhập vào phần binh pháp Gia Cát, thực ra phần lớn nói về chính trị, như thiên “Thủy kế” của binh pháp Tôn Tử và thiên Đồ quốc của binh pháp Ngô Tử. Có thể là Gia Cát Lượng nhiều năm trị quốc trị quân, những lời nói được ghi lại, rồi người sau chỉnh lý mà thành, song nhìn chung mà nói, tin rằng đích xác là bút pháp của người sau. Mười sáu cuốn sách đó là:
Trị quốc, Quân thần, Thị thính, Nạp ngôn, Sát nghi, Trị nhân, Cử thố, Khảo truất, Trị quân, Thưởng phạt, Hỷ nộ, Trị loạn, Giáo lệnh, Phán đoán, Tư lự, Âm sát.
“Tưởng Uyển” được ghi chép ở quyển bốn, thực ra xét về tính chân thực so với “Tiện ghi” thì không phù hợp, chẳng những nội dung phức tạp, kết cấu tản mạn, mà văn chương dại ý đều không thoát khỏi cách nhìn của Tôn Tử, Ngô Tử, Lục Thao, Tam Lược, Úy Lạo Tử, không giông với bút pháp của Gia Cát Lượng vốn giàu có sáng tạo.
Tuy trong “Tưởng Uyển” có không ít nội dung, cũng tương tự với mục lục “Gia Cát thị tập” của Trần Thọ, song tuyệt đại bộ phận là do những văn nhân đời sau thêm mắm muối chỉnh lý ra.
“Tưởng Uyển” và “Tiện ghi” có chỗ giống nhau là đều soạn từ “Tùy thư”, bàn luận về đạo làm tướng, người đời sau gọi là “Tân thư”, cuốn “Tứ khố đề yếu” ở đời Thanh có viết:
“Xem xét nội dung 50 thiên “Tưởng Uyển” phần lớn được rút từ sách Tôn Tử, mà thêm vào những lời thô kệch bất cập, hẳn do người nào đó viết ra”.
Năm mươi thiên “Tưởng Uyển” là:
Binh quyền, Trục ác, Nhân tính, Tướng vật, Tướng khí, Tướng tệ, Tướng chí, Tướng thiện, Tướng kiêu ngạo, Tướng cường, Dẫn quân, Chọn vật, Trí dụng, Bất trận, Tướng giới, Giới bị, Tập luyện, Quân đố, Phúc tâm, Cẩn hận, Cơ hình, Trọng hình, Thiện tướng, Thẩm nhân, Binh thế, Thắng bại, Giả quyền, Ai tử, Tam tân, Khinh chiến, Địa thế, Tình thế, Kích thế, Chỉnh quân, Lệ sĩ, Hậu ứng, Tiện lợi, Ứng cơ, Suy năng, Tự gắng, Chiến đạo, Hoà nhân, Xét tình, Tướng tình, Uy lệnh, Đông Di, Nam Man, Tây Nhung, Bắc Địch. Cuốn phụ lục 1 và 2 đều nói đến những người đương thời bao gồm những chiếu thư hoặc thư từ, bài tản văn, bình luận mà Lưu Bị, Pháp Chính, Lã Khởi gửi cho Gia Cát Lượng.
Phần ghi chép những câu chuyện cũ gồm 5 quyển bao gồm những thiên “Gia Cát”, “Di Lưu”, “Dung người”, “Chế tác”, “Di tích”, là những ghi chép lưu truyền ở các địa phương có tính dã sử cũng là những tư liệu nghiên cứu về Gia Cát Lượng rất quan trọng.
 
0
 
 
 
 
 
0
 
 
 
0
 
 
0
 
 
 
 
 
Hết
0
Xin chân thành cám ơn bạn.
Tác phẩm đã được đăng vào thư viện ở địa chỉ:
http://vnthuquan.net/truy...31n343tq83a3q3m3237nvn
 
Chúc bạn luôn vui vẻ.
 
Có gì đâu và có gì đâu chứ!
0
«« « 1 2 » »»