Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lâu Đài Huyền Bí - Alain Fournier - Hết 🔒

48 trả lời, 1.891 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.06.2013 11:24:47 bởi HanAn>
LÂU ĐÀI HUYỀN BÍ
Tác giả: ALAIN FOURNIER
Người dịch: NGUYỄN VĂN QUANG
Nhà Xuất Bản Thanh Niên Hà Nội (1989)

BÀI CA MÙA XUÂN

“Một năm bắt đầu bằng mùa Xuân. Một đời bắt đầu bằng tuổi trẻ”. Có lẽ vì vậy, mỗi người trong chúng ta luôn luôn có nhu cầu nhớ vê tuổi thanh xuân, coi như thời kỳ quan trọng nhất trong đời mình. Và trên thế giới, gần như đã xuất hiện cả một nền văn học cho thanh niên, ấy là chưa kể nền văn học cho thiếu nhi đồ sộ về thực chất cũng là dành cho tuổi trẻ. Những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn học ấy, có thể kê “Robinson Cruse”; “Alice ở xứ sở diệu kỳ”, “Ruồi trâu”; “Thép đã tôi thế đấy”… Và hiện giờ, trước mặt chúng ta là “Meaulnes cao kều” (nhà xuất bản Thanh Niên đổi tên sách là “Lâu Đài Huyền Bí”) của nhà văn Pháp: Alain Fournier.

Alain Fournier (1886-1914) là tên bút của Henri-Anbăng Phuôcniê. Sở dĩ Henri lấy tên mới như vậy là để cho công chúng khỏi lầm mình với nhà vô địch đua xe đạp cùng tên. Là con của một đôi vợ chồng nhà giáo, Alain Fournier sống suốt tuổi thơ ở nông thôn. Dấu ấn sâu xa của gia đình và quê hương in đậm mãi trong tâm hồn cậu bé, về sau lộ ra ngay từ những trang đầu của kiệt tác duy nhất của ông. Chăm học, yêu say đắm thiên nhiên, ông quyết định không thi vào đại học sư phạm, trường từ xưa tới nay vẫn là vinh dự lớn nhất cho bất kỳ thí sinh nào. Tuy vậy, chính trong khi chuẩn bị thi, ông gặp và kết thân với Jacques Rivière (1886-1925), sau cũng là nhà văn. Ông gả em gái cho Jacques Rivière, đồng thời hai chàng trai thường xuyên thư từ với nhau trong suốt 11 năm của một tình bạn sâu sắc: thư từ này sẽ được xuất bản thành bốn tập đồ sộ. Alain Fournier rất thích Giamơ, nhà thơ Pháp, và Mateclinh, nhà văn Bỉ, đặc biệt mê Juyn Laphpoocgiơ, nhà thơ Pháp gần cùng thời. Từ những năm chuẩn bị học đại học, ông đã làm thơ, viết truyện ngắn, nghiên cứu, sau tập hợp thành tập Huyền diệu, 1924.

Ngày 01 tháng 05 năm 1905, ông gặp một cô gái tên là Yvon de Kiêvracua. Ngày 11 tháng 6, ông được nói chuyện dài với cô trên cầu Anvalit. Chỉ thế thôi rồi cô biến mất. Nhưng thực tế cô đã trở thánh mối tình lớn lao của đời ông, biểu tượng của lý tưởng, ông viết nhiều thơ tặng cô và dùng cô làm nguyên mẫu cho Yvonne de Galais trong cuốn tiểu thuyết bất hủ của mình được nghiền ngẫm khởi thảo ngay sau cuộc gặp sét đánh ấy. Năm 1907, Alain Fournier thi trật đại hoc sư phạm, hỏng môn vấn đáp, đồng thời được tin Yvon de Kiêvracua đã lấy chồng mùa đông năm trước. Ông quyết định đi nghĩa vụ quân sự, đúng lúc tác phẩm đầu tiên, hai nghiên cứu Thân thể phụ nữ, được in . Năm 1909, được xuất ngũ với hàm sĩ quan, ông hiến hẳn mình cho nghề viết. Ông cộng tác với tờ Tạp chí Pháp mới, do Jacques Rivière làm chủ bút. Năm 1910, ông vào làm cho tờ Paris-Báo. Ông gặp Charles Péguy (1837-1914) nhà thơ Pháp có tầm cỡ. Péguy thốt lên: “Anh sẽ đi xa, Fournier ạ; và anh sẽ nhớ lại rằng chính tôi đã nói với anh như vậy”. Cũng năm đó, 1911, ông làm quen với Saint-John Perse (1887-1975), nhà thơ được coi là một trong những đỉnh cao nhất của thi ca Pháp hiện đại. Tháng 5-1912, Péguy giới thiệu ông với Claude Cadimia- Pierre, ông này thuê ông làm thư ký. Do đó ông cũng được giới thiệu với bà chủ, nữ nghệ sĩ Simons. Lúc này, ông gần như đã hoàn thành “Meaulnes cao kều”. Bà Simons đọc bản thảo và năm 1913, bắt đầu cho đăng lên tờ tạp chí Pháp mới, chỉ vài tháng sau cuộc gặp gỡ lần thứ hai của ông với Yvon de Kiêvracua – cuộc gặp gỡ cũng ngắn ngủi như cuộc gặp lần đầu và chỉ diễn ra sau tám năm ròng khổ đau và bền gan tìm kiếm cua ông; lúc này Yvon de Kiêvracua đã có hai đứa con. Không khí huyền ảo của cuốn tiểu thuyết, sự chân thật của các bức họa về nông thôn, việc miêu tả rất đạt tuổi thanh niên đầy lo âu đem lại vinh quan tức thời cho tác giả, thiếu chút nữa là được giải thưởng Concourt. Phấn khởi, Alain Fournier phác thảo một vở kịch ba màn “Nhà trong rừng”, và bắt đầu suy nghĩ suy nghĩ và viết, theo lời khuyên của bà Simons, một cuốn tiểu thuyết mới “Con bồ câu Blăngxê”. Cuốn này, mới có vài chương chưa hoàn chỉnh, không bao giờ ra mắt bạn đọc. Chiến tranh đã nổ ra. Ngày 2 tháng 8 năm 1914, Alain Fournier bị động viên. Và ngày 22 tháng 9, các báo loan tin rằng trung úy Alain Fournier đã mất tích trong khi chiến đấu ở môt khu rừng ở Epắcgiơ.

 

***

 

Trong văn học, được ghi nhận là “người của một cuốn sách” là một vinh hạnh lớn. Văn học Pháp chỉ có vài trường hợp, hay có lẽ chỉ có hai. Đó là Saclơ Bođơle với tập thơ “Những bông oa của cái xấu” và Alain Fournier với tiểu thuyết “Meaulnes cao kều”. Vừa ra đời, “Meaulnes cao kều” đã gần như được mọi người, độc giả và nhà phê bình, mọi khuynh hướng văn học, cổ điển và hiện đại, đạo đức và tôn giáo, đồng thanh thừa nhận là một tác phẩm lớn. Cho đến nay, nó vẫn được tái bản liên tiếp, được coi là một trong những cuốn tiểu thuyết Pháp hay nhất. Tạp chí văn học “Châu Âu”, một tạp chí tiến bộ có uy tín trong văn đan thế giới, đã dành hẳn một số cho nó và Alain Fournier. Nó được đánh giá cao ở Liên Xô và được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài. Nó cũng đã được nhiều nhà làm phim của Pháp và các nước khác đưa lên màn ảnh.

Cuốn tiểu thuyết như một bài thơ trữ tình dài, một bài ca thiết tha ngợi ca tuổi thơ và tuổi trẻ. Những nét đặc trưng nhất của lứa tuổi này đều được thể hiện thật chính xác. Lãng mạn, phiêu lưu, liều lĩnh nhưng mà chân thực, thủy chung, tự trọng. Non nớt, ngây thơ đấy, mà cũng vững vàng, chín chắn làm sao. Cái chín của chất người không gì làm hoen ố hay khuất phục được. Lầm lẫn, phải trả giá, nhưng biết vươn lên, biết ăn năn và sửa lỗi. Cuối cùng, qua bao vấp váp, có thể nói là hy sinh nữa, khát vọng cái đẹp – gồm tình bạn, tình yêu, hạnh phúc – đã chiến thắng, nói khác đi, chất người chỉ càng thêm hùng mạnh và nên thơ. Đây chẳng phải là một chân lý trên cõi thế này?... Các nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết đều là thanh niên mới lớn, người nào cũng cao quý, tuy không phải là không có nhược điểm, tinh bạn và tình yêu sao àm đẹp đẽ, mặn nồng. Nhân vật Meaulnes đầy cá tính, là một điển hình đạt đến độ cổ điển. Những hình ảnh, đặc biệt là thiên nhiên và làng quê, được khắc họa thật khúc chiết, đầy cảm xúc, gợi lên sự hật dễ lay động lòng người và chất thơ làm trào dâng những tư tưởng sâu xa và cao đẹp. Ấn tượng về sự thật của cuộc đời và tình người do tác phẩm gây nên không phải là không sâu sắc. các đẹp hơi buồn do toàn bộ tiểu thuyết gây nên – nhân vật, phong cảnh, cấu trúc, ngôn ngữ… đúng là hiện thân của tuổi xuân mà bản chất là đẹp.

Mặc dù đây đó còn những chỗ có phần quá “văn chương”, Meaulnes cao kều thực sự chinh phục đươc bạn đọc, và là cần thiết cho tất cả, nhất là các bạn trẻ sắp bước vào đời. Có lẽ vì vậy, nó được gần như hết thảy các cây bút hiện đại của văn học Pháp yêu quý và học tập. Nó rất cần được chuyển đến như một tặng phẩm có giá trị cho mọi bạn trẻ vừa từ giã tuổi thơ hay đang sống tuổi thanh niên. Nó cũng là một gợi ý tốt cho các nhà văn, nhất là các nhà văn đang tự đào tạo, sắp được công nhận hay sắp vào nghề. Mối liên hệ giữa tác giả và tác phẩm trong “Meaulnes cao kều” là một trường hợp điển hình cho làm thế nào để sáng tác thành công.

NGUYỄN VĂN QUANG

 
📎 LDHB Pic
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.06.2013 11:12:21 bởi HanAn>
PHẦN MỘT
CHƯƠNG THỨ NHẤT
NGƯỜI Ở TRỌ
  Anh đến nhà tôi một chủ nhật tháng 11, năm 189…
Tôi vẫn nói “nhà tôi” mặc dù căn nhà không còn là của gia đình tôi. Chúng tôi rời nơi đó chẳng bao lâu nữa đã 15 năm và chắc chắn không bao giờ trở lại.
Bây giò, gia đình tôi ngụ trong khu nhà giáo sư ở Xanhtơ-Agat. Cha tôi, mà tôi cũng gọi là ông Xơ-ren như các học sinh khác, vừa dạy lớp đại học để đào tạo giáo viên cấp một, vừa dạy trung học. Mẹ tôi dạy tiểu học.
Một ngôi nhà đỏ dài ở đầu thị trấn với nắm cửa ra vào lấp kin bên dưới những dây nho dại, một cái sân mênh mông với chỗ giặt quần áo và những khoảng dành cho trẻ em chơi, phía trước mở ra làng bởi một cổng lơn, phía bậc, dọc một hàng rào thấp lưới mắt cáo là con đường cái dẫn ra ga cách xa ba ki-lô-mét, phía nam và phía sau là những cánh đồng, vườn tược, đồng cỏ nhỏ nằm giữa các xóm thôn… ấy là đại khái chỗ ở của gia đình tôi, nơi đã trôi qua những ngày sôi nổi nhất và thân thiết nhất của đời tôi, nơi xuất phát các cuộc phiêu lưu của chúng tôi, và nơi chúng quay về sẽ vỡ tan như sóng biển húc vào một khối đá cô quạnh.
Cái bất chợt của những “cuộc chuyển trường”, một quyết định của ông giám thị hay thanh tra giáo dục đã xô đẩy chúng tôi đến đó. Khoảng cuối kỳ nghỉ hè, lâu lắm rồi, một chiếc xe bò theo kiểu nông thôn, vốn đi trước gia đình tôi, đã đổ mẹ tôi và tôi xuống trước hàng rào thấp lưới sắt mắt cáo hoen rỉ… Mẹ tôi, mà chúng tôi gọi là Mili, bà nội trợ điêu luyện nhất mà tôi được biết, liền đi vào những căn phòng phủ bụi vương đầy rơm rác, và ngay tức thì mẹ thất vọng, thừa nhận như các lần dọn nhà khác rằng đồ đạc đồ đạc của chúng tôi không bao giờ thọ nổi trong một ngôi nhà xây cất tồi như thế này… Mẹ ra phàn nàn với tôi. Vừa nói, mẹ vừa lấu mùi xoa khẽ lau bộ măt măng sữa của tôi sạm lại sau chuyến đi. Rồi mẹ quay vào đếm xem tất cả có bao nhiêu lỗ hổng phải bịt để ngôi nhà còn có thể ở được… Còn tôi, mũ rơm to đùg đính ruy-băng, tôi đứng đó, trên cái sàn xi măng xa lạ, chờ đợi, tò mò nhìn xung quanh giếng và dưới mái nhà kho.
Bây giờ í ra tôi cũng hình dung như vậy về lúc chúng tôi đến Xanh-tơ-Agát. Bởi vì vừa muốn tìm lại kỷ niệm xa xưa về cái đêm đợi chờ đầu tiên trên sàn xi măng, tôi vừa nhớ lại bao cuộc đợi chờ khác; tôi đã mường tượng lại lúc mình bám hai tay vào chấn song cổng, hồi hộp rình xem có ai xuống phố lớn không. Tôi thử hồi tưởng đêm đầu tiên phải ngủ trên gác xép ở giữa các gian kho trên tầng hai, kỷ niệm về bao đêm khác đã sống dậy; trong phòng nào chỉ mình tôi, một cái bóng lớn thân thiết và bồn chồn cứ đi dọc các bức tường và quẩn quanh trong phòng. Trong ký ức của tôi, tất cả quang cảnh thanh bình đó – ngôi trường, cánh đồng với ba cây hồ đào của lao Mactanh, khu vườn ngay từ bốn giờ hàng ngày đã có nhiều phụ nữ đến viếng thăm – mãi mãi sống động, hiền hòa bởi sự có mặt của con người đã khuấy động toàn bộ tuổi xuân của chúng tôi, và không để chúng tôi được yên ngay cả khi đã bỏ trốn.
Tuy vậy khi Meaulnes đến, chúng tôi đã ở xứ sở này được 10 năm.
Bây giờ tôi 15 tuổi. Đấy là một Chúa nhật lạnh lẽo của tháng 11, ngày thu đầu tiên khiến ta nghĩ đến mùa đông. Cả ngày Mili đợi chờ từ phía nhà ga một chiếc xe mang đến cho mẹ một chiếc mũ chống rét. Buổi sáng, mẹ nhỡ buổi lễ nhà thờ. Cho đến bài thuyết giáo, ngồi trong đội đồng ca với những đứa bé khác, tôi lo lắng nhìn mãi phía gác chuông, mong được thấy mẹ đội mũ mới đi vào.
Quá trưa, tôi phải đi lễ chiều môt mình.
- Mới lại – mẹ nói để an ủi tôi, tay phủi phủi quần áo cho tôi – ngay nếu như nó đến, chiếc mũ ấy mà, chắc chắn chủ nhật mẹ cũng phải sửa lại.
Chủ nhật mùa đông của gia đình tôi thường như thế này. Từ sáng, cha tôi đã đi khá xa ngồi trong thuyền câu cá chó ở một cái ao phủ sương. Mẹ tôi lại vá víu những quần áo xoàng xĩnh trong căn buồng tăm tối của mình cho đến đêm. Mẹ cấm cung như vậy là vì sợ bất đồ một bà bạn cũng nghèo khó và cũng kiêu hãnh như mình bắt gặp. Còn tôi, sau cuộc lễ chiều, tôi ngồi đọc sách trong phòng ăn rét mướt, chờ mẹ mở cửa xem mẹ có khỏe không.
Chủ nhật ấy, một sự nhốn nháo trước cửa nhà thờ đã giữ tôi lại bên ngoài sau buổi lễ chiều. Một lễ khai trương đội cứu hỏa tổ chức dưới vòm cổng lớn đã lôi kéo trẻ con bu đến. Trên quảng trường, có nhiều người lại vận quần áo cứu hỏa của họ, tụm năm tụm ba, rét cóng, dận đế giày không ngớt, họ lắng nghe ông đội trưởng Bu-Giác-dông thuyết lý rối tinh rối mù lên.
Buổi lễ đang ồn ào bỗng ngưng bặt, tựa như người kéo chuông buông vội tay vì biết là nhầm giờ. Bu-Giác-Dông và quân của ông kéo nhanh cái bơm cứu hỏa đi. Họ khuất hẳn ở chỗ ngoặt đầu tiên, có bốn thằng bé nín thở đi theo, những đế giày to tướng của chúng xéo lên những ngọn cỏ hai bên vệ đường phủ sương giá mà tôi không dám bước lên để theo chúng.
Bấy giờ trong thị trấn chỉ có hiệu cà phê Daniel là còn thấy có tiếng người, ấy là các khách uống trò chuyện và bàn cãi lúc bổng lúc trầm. Xoa xoa tay vào bức tường thấp của cái sân mênh mông ngăn cách nhà tôi với cả làng, tôi đi về bức tường rào lưới thép mắt cáo, không khỏi lo lo vì về muộn.
Cửa ra rào và trên hàng rào hé mở và tôi thấy ngay là vừa có chuyện gì khác thường.
Quả vậy, ở cửa phòng ăn – cửa gần nhất trong năm khuôn cửa lắp kính mở ra sân – một bà tóc đốm bạc khom người tìm cách nhòm qua màn cửa. Bà thấp bé, đội một cái mũ bằng nhung đen may theo lối cũ. Mặt bà gầy và thanh tú, nhưng hết sức lo lắng. Chẳng hiểu vì sao, vừa thấy bà, tôi đã sợ hãi đứng sững lại trước hàng rào.
- Cháu đâu? Lạy Chúa – bà thì thầm – Cháu vừa bên cạnh tôi thôi. Cháu đã đi quanh nhà một lượt. Dễ chừng cháu đã trốn…
Cứ sau một câu, bà lại khẽ gõ vào kính cửa ba cái mà ai không chú ý thì không nghe được.
Chẳng ai ra mở cửa cho người khách lạ. Không nghi ngờ gì nữa, nhận được cái mũ từ ga chuyển vào, không còn biêt trởi đất gì hết, mẹ Mili của tôi ngồi cấm cung trong căn phòng đó, trước cái giường, vất tứ tung ruy-băng cũ và lông chim đã là phẳng, đang tháo ra, may vào, hý hoáy sửa cái mũ chẳng có gì là ghê gớm… Thì đúng thế, khi tôi đi vào phòng ăn với bà khách theo sát gót, mẹ hiện ra, hai bàn tay hai bên đầu vẫn cầm nào chỉ khâu bằng đồng thau, nào ruy băng, nào lông chim, hai bên mũ xem ra đã cân lắm đâu… Mẹ mỉm cười với tôi bằng đôi mắt xanh lơ lộ vẻ mệt mỏi vì đã khâu trong ánh nhá nhem, miệng xuýt xoa:
- Con nhìn xem nào! Mẹ chờ khoe với con đấy!
Nhưng chợt thấy bà khách ngồi trong cái ghế bành rộng ở cuối phòng, mẹ chưng hửng, nín bặt. Mẹ vội cởi phắt mũ ra, vá sau đó, cứ kẹp ngửa nó, áp vào ngực như một “tổ chim” bằng cách tay phải.
Cái túi da và cái ô trên hai đầu gối, bà đội mũ bắt đầu phân bua, đầu khẽ đung đưa, lưỡi chắc chắc như các bà khách hay làm. Bà đã trấn tĩnh. Thậm chí vừa đả động đến con, bà đã lộ vẻ trịch thượng và bí ẩn, khiến chúng tôi đâm tò mò.
Hai mẹ con bà đã đi xe từ La Pheclê-đănggiông cách Xanhtơ-Agát mười bốn ki-lô-mét đến. Góa chồng, và rất giàu, theo như ngầm tự giới thiệu, bà đã mất một trong hai copn, thằng úy Angtoannơ, nó đã chết vì một chiều đi học về, hai anh em xuống tắm dưới một cái ao nước rất độc. Bà quyết định đưa thàng đầu, Oguyxtanh đến ở trọ nhà tôi để theo lớp cao học.
Chưa chi bà đã khoe rối rít về con. Tôi không còn nhận ra bà già tóc lốm đốm bạc khom người trước cửa một phút trước đây, với cái nhìn cầu khẩn và hoảng hốt của con gà mái có thể mất con con duy nhất đang ấp.
Điều mà bà hãnh diện kể về con trai mình thật đáng ngạc nhiên: cậu ta thích làm vui lòng mẹ; thỉnh thoảng cậu cứ quần coc đi dọc bờ sông hằng kilomet để tìm trứng cuốc và trứng vịt trời trong các bụi kim tước đem về cho mẹ… cậu ta cũng bỏ lờ đơm cá… Đêm hôm nọ, cậu ta đã phát hiện trong rừng một con gà lôi trúng bẫy…
Vốn không bao giờ dám về nhà nếu áo blu giông bẩn hay rách, dù chỉ một miếng nhỏ, giờ tôi kinh ngạc đưa mắt nhìn Mili.
Nhưng mẹ tôi không nghe nữa. Thậm chí mẹ còn ra hiệu bảo à khách im đi. Rồi thận trọng để cái “tổ chim” xuống bàn, mẹ lặng lẽ đứng lên như để bắt quả tang ai đó…
Thực thế, trên đầu chúng tôi, trong căn phòng hẻo lánh chất những mảnh pháo hoa cháy đen thui dịp Mười Bốn tháng Bảy vừa rồi, có một bàn chân lạ, tự tin, đi tới đi lui đến rung trần nhà, rồi đi qua mấy gian kho lẫm tối ở tầng hai, cuối cùng mất hút trong mấy phòng sát cạnh từ lâu không có người ở, giờ dùng để phơi cây đoạn, và rải cho táo chín.
- Lúc nãy, mẹ đã nghe tiếng chân này trong các phòng bên dưới – Mili thì thào – mẹ cứ tưởng là con về, Phăngxoa ạ…
Bà khách và tôi đều không đáp. Cả ba chúng tôi đứng lên, tim đập rộn, khi nghe có tiếng cửa kho ở đầu cầu thang dẫn xuống nhà bếp mở ra, rồi có người bước theo các bậc thang, đi qua nhà bếp và hiện ra trên lối vào phòng ăn mờ ảo.
- Con đấy ư, Ôguyxtanh? – bà khách hỏi.
Đấy là một chàng trai cao lêu đêu khoảng 17 tuổi. Trong bóng đêm đang buông, thoạt đầu tôi chỉ nhìn thấy cái mũ phớt nông dân có lót ở phía sau và cái áo blu đen có dây thắt ngang lưng mà các học sinh hay mặc. Tôi cũng nhận thấy anh đang mỉm cười.
Anh nhận ra tôi. Và chưa ai hỏi han anh gì được, anh đã bảo tôi:
- Cậu ra ân không?
Tôi do dự một chút. Rồi thấy Mili khôn giữ, tôi cầm lấy mũ cát-két và đi về phía anh. Chúng tôi qua cửa bếp, đi đến khoảng sân dành cho trẻ em chơi đã nhập nhoạng tối. Trong ánh ngày le lói sắp tắt, tôi vừa đi vừa nhìn bộ mặt xương xương với cái mũi thẳng và hàng lông tơ trên mép.
- Đây này – anh nói – tớ tìm thấy trong kho nhà cậu đấy. Chắc không bao giờ cậu để mắt đến kho phải không?
Anh cầm trong tay một bánh xe gỗ nhỏ đã sạm đen, một dây pháo hoa rách bươm quấn chung quanh, có lẽ đó là mặt trăng hay mặt trời trong đêm pháo hoa vừa rồi.
- Có hai tràng không bắn đi được. Nhưng chúng mình vẫn có thể đốt lên – anh nói giọng bình bĩnh, vẻ tin tưởng sự việc sẽ đúng như thế.
Anh ném mũ xuống đất và tôi thấy đầu anh trọc lóc như đầu nông dân. Anh cho tôi xem hai tràng pháo bị bỏ xé mà ngòi bằng giấy đã cháy cụt một phần, quả nào cũng sém đen. Anh chôn ổ trục bánh xe xuống cát, rồi rút từ túi ra một bao diêm trước con mắt ngạc nhiên của tôi, bởi vì chuyên nghịch lửa, chúng tôi đã dứt khoát bị cấm. Anh thận trọng cúi xuống, châm ngòi pháo. Rồi anh nắm lấy tay tôi, hấp tấp lôi tôi lùi lại.
Mấy giây sau, lúc cùng mẹ Môn bước ra ngưỡng cửa sau khi đã bàn bạc ấn định giá ở trọ, mẹ tôi thấy vụt lên từ dưới nhà chơi của trẻ con chúng tôi hai chùm sao đỏ chói và trắng xóa, kèm với tiếng xịt xịt. Trong chừng một giây, mẹ nhìn rõ tôi trong vùng sáng thần kỳ, tay bị chàng trai lêu đêu mới đến đang đứng lặng đi giữ chặt…
Lần này nữa, mẹ vẫn không dám nói gì.
Và buổi tối, bên bàn ăn gia đình trong bữa chiều, có một anh chàng cứ lặng lẽ ăn, đầu cúi thấp, chẳng hề quan tâm đến cái nhìn chăm chăm của ba chúng tôi.
 
0
CHƯƠNG II
SAU BỐN GIỜ
  Cho đến tận bấy giờ, tôi hầu như không lêu lổng trong phố với trẻ con thị trấn. Bênh lao khớp háng mà tôi phải mang cho đến tận năm 189… ấy đã làm tôi khốn khổ và sợ hãi. Bây giờ, tôi vẫn như còn thấy mình nhảy lò cò khổ sở trên một chân, chạy theo những học sinh nhanh nhẹn trên các lối nhỏ trong trường…
Vì thế, cha mẹ tôi gần như không cho tôi ra khỏi trường. Tôi vẫn nhớ rằng dù rất hãnh diện về con, nhiều lần mẹ Mili vẫn bợp tai, lôi tôi về nhà, vì bắt gặp tôi nhảy lò cò với lũ nhãi trong làng.
Đúng lúc tôi khỏi bệnh thì Môn đến, vậy là bắt đầu một cuộc đời mới.
Trước khi có anh, hễ cứ tan học vào lúc bốn giờ là đối với tôi lại bắt đầu một buổi tối cô đơn dài dằng dặc. Cha tôi chuyển lửa lò sưởi của lớp về lò sưởi trong phòng ăn nhà tôi. Dần dần những học sinh về muộn cũng rời khỏi ngôi trường lạnh lẽo bốc lên nhiều cuộn khói. Tuy thế, ở sân trường vẫn còn vài đám chơi nhảy ngựa. Rồi đêm xuống, hai học sinh trực nhật quét dọn xong, vào nhà kho lấy mũ và áo choàng, rồi cắp giỏ hối hả đi ra, để cổng trường mở toang…
Lúc ấy, nền trời còn le lói đủ sáng, tôi ngồi đọc sách trên một cái ghế đu gần cửa sổ mở ra vườn trong phòng lưu trữ đầy ruồi chết và các tấm áp phích phần phật trong gió; phòng này nằm cuối nhà ban giám hiệu.
Nếu trời tối hẳn, chó ở trại bên cạnh bắt đầu tru lên, và cửa kính nhà bếp nhỏ bé của gia đình tôi sáng ánh đèn, thì tôi về nhà. Mẹ tôi đã bắt đầu làm bữa ăn chiều. Tôi trèo lên bậc thang trên kho thóc, lặng lẽ ngồi xuống, gục đầu vào tay vịn cầu thang giá ngắt, chăm chú xem mẹ nhóm bếp trong căn phòng chật hẹp đã lung linh ánh sáng một ngọn nến.
Nhưng một người đã đến lôi tôi ra khỏi tất cả những thú vui ấy của tuổi thơ êm đềm. Người đó thổi tắt ngọn nến vốn chiếu cho tôi nhìn rõ khuôn mặt dịu hiền của mẹ cặm cụi chuẩn bị bữa tối. Người đó đã tắt phụt ngọn đèn mà quây quần xung quanh là tất cả chúng tôi – một gia đình hạnh phúc trong đêm, khi cha tôi đã cài các then gò cửa kính lại. Người đó chính là Ôguyxtanh Môn, mà chỉ ít lâu sau các học sinh khác gọi là Môn cao kều.
Ngay từ khi anh ở trọ nhà tôi, nghĩa là ngay những ngày đầu tiên của tháng 12, khu trường không còn vắng vẻ vào buổi chiều, sau bốn giờ nữa. bất chấp gió lạnh đập cửa ra vào ầm ầm cùng tiếng kêu gào của các học sinh trực nhật – thậm chí bị cánh này té nước từ các xô của chúng – hôm nào tan học cũng có chừng 20 học sinh, nông thôn có, thị trấn có, lưu lại trong lớp, chen chúc nhau quanh Môn. Và thế là tranh luận triền miên, cãi vã không ngớt. Dĩ nhiên tôi cũng xen vào góp chuyện, vừa sợ sợ vừa thích thích.
Môn chẳng nói gì. Nhưng chính vì anh mà lúc nào cũng có một trong những tay ba hoa nhất tiến ra giữa nhóm viện một thằng bạn cảnh hầu liến thoắng phụ họa để làm chứng, kể một chuyện bậy dài lê thê mà cả nhóm há hốc mồm lắng nghe, vừa nén cười đến đau cả ruột.
Ngồi trên một cái bàn học sinh, vừa đung đưa hai chân, Môn vừa nghĩ ngợi. Gặp đoạn chuyện hay, anh cũng cười, nhưng khẽ thôi, như thể anh dành những tiếng cười lớn khoái trá cho câu chuyện hay nhất của mình anh biết. Rồi khi đêm xuống, ánh sáng lọt qua cửa kính của lớp không còn soi rõ mặt nhóm học sinh được nữa, Môn đột ngột đứng lên, xuyên qua vòng trong vòng ngoài khép chặt.
- Về thôi – anh kêu kên.
Tất cả đi theo anh, chúng tôi còn nghe tiếng la thét của họ cho đến khi trời tối hắn, từ trên cao của thị trấn dội về…
Bây giờ, chính tôi đi theo họ. Cùng Môn, tôi đến cửa các chuồng bò vào giờ người ta vắt sữa. Chúng tôi đi vào các cửa hiệu, ở đó, giữa tiếng reo vui của những cỗ máy, người thợ dệt nói:
“Các sinh viên đấy!”
Thường thường, vào giờ ăn tối, chúng tôi tụ tập gần lớp Cao học, nhà bác Đexan, thợ đóng xe kiêm bít móng ngựa. Hiệu của bác là một quán trọ cũ, với những cửa ra vào cao rộng, có hai cánh luôn mở toang. Ở ngoài đường phố, chúng tôi đã nghe tiếng bễ lò rèn phì phò, và nhờ ánh than hắt lên nhìn thấy ở nơi tranh tối tranh sáng và ầm ầm này, khi thì mấy bác nhà quê dừng xe lại tán gẫu dăm ba câu chuyện, khi thì một cậu học trò như chúng tôi, dựa lưng vào một cửa, im lặng chăm chú nhìn.
Chính ở đấy, khoảng tám ngày trước Noen, mọi chuyện đã xảy ra.
 
0
CHƯƠNG III
TÔI HAY LUI TỚI MỘT HIỆU BÁN MÂY TRE ĐAN
  Trời mưa suốt ngày, đến tối mới tạnh. Cả ngày buồn nẫu ruột. Giờ nghỉ, chẳng ai ra khỏi lớp. Lát lát, chúng tôi lại nghe cha tôi, ông Xơren, kêu to:
- Các trò không được phá bĩnh.
Sau giờ ra chơi cuối cùng trong ngày, hay như chúng tôi nói, sau “mười lăm phút cuối cùng”, ông Xơren, sau một hồi đi dọc đi ngang với vẻ suy tính, đứng sững lại, gõ mạnh thước lên bàn để dẹp yên tiếng rì rầm hỗn độn cuối giờ học, thời gian mà học sinh chán ngấy rồi, và ông cất tiếng hỏi trong cái yên lặng đợi chờ.
- Ai ngày mai sẽ cùng với Phrăngxoa đi xe ra ga đón cụ ông cụ bà Sacpaăngchiê?
Ấy là ông bà tôi: ông tôi Sacpaăngchiê, làm nghề gác rừng, đã nghỉ hưu, với cái áo choàng len xám rộng thùng thình, cái mũ bonné lông thỏ mà ông gọi là mũ kepi… Lũ trẻ ranh rất biết ông. Sáng sáng, để lau rửa, ông múc một xô nước, rồi như kiểu các vị lính già, ông vớt nước lóc bóc, vỗ vỗ nhẹ vào bộ râu cằm. Một lũ trẻ chắp tay sau lưng quây lấy ngắm nghía ông một cách tò mò đầy kính trọng… Chúng cũng biết bà Sacpaăngchiê của tôi, bà lão nông dân thấp bé, với cái mũ đan tay, là vì mẹ Mili ít nhất cũng một lần đưa bà đến lớp các học sinh bé nhất.
Năm nào chúng tôi cũng ra ga đón ông bà vào chuyến tàu 4 giờ 2 phút, vài hôm trước noel. Để đến thăm chúng tôi, ông bà đã đi xuyên qua cả tình, vai vác nặng những balô đầy hạt dẻ và thực phẩm bọc trong mấy cái khăn mặt, quà mừng Thiên Chúa giáng sinh. Ngay cả khi hai người bước qua ngưỡng cửa, miệng mìm cười, vẻ mắc cỡ và hơi sửng sốt, chúng tôi đã đóng hết các cửa ra vào, và thế là bắt đầu một tuần mê li tưởng không bao giờ hết…
Để cùng tôi điều khiển chiếc xe chở ông bà về đây, cần có một người đứng đắn để không ném chúng tôi xuống hố, đồng thời phải bản lĩnh nữa, tại vì ông tôi hay chửi tục, còn bà tôi cũng khá lắm lời.
Đáp lại câu hỏi của ông Xơren, chừng 10 học sinh đồng thanh la lớn:
- Môn cao kều! Môn cao kều!
Ông Xơren làm như không nghe thấy.
Số học sinh đó lại hét:
-          Phrômăngxtanh!
Số khác:
-  Giaxnanh Đơlusơ!
Thằng bé nhất trong mấy đứa con nhà Roi, thường cỡi lợn cái phóng phăng phăng ra đồng, cũng thét chói tai.
- Em! Em!
Duytơrăngblay và Musơhop chỉ rụt rè giơ tay.
Tôi muốn Môn được chọn. Với anh, cuộc du lịch nhỏ trên chiếc xe do lừa kéo này sẽ trở nên quan trọng hơn. Anh cũng muốn được đi, nhưng giả đò lặng im không thèm để ý. Tất cả học sinh lớn đều ngồi trên bàn, nhưng anh quay lưng lại, chân giẫm lên ghế băng, đó là điều chúng tôi hay làm khi có gì khoái quá hoặc được nghỉ giải lao lâu. Vén áo lên vặn vào xanh-tuya, Cophanh ôm lấy cây cột sắt đỡ xà nhà và bắt đầu leo lên tỏ vẻ thích thú. Nhưng ông Xơren giội lên đầu tất cả gáo nước lạnh:
- Rồi! Musơhơp sẽ đi.
Ai nấy lặng lẽ trở về chỗ.
Lúc 4g, chỉ có tôi và Môn ở ngoài cái sân mênh mông lạnh giá vừa bị mưa xối thành rãng ngang rãnh dọc. Chẳng ai nói gì. Chúng tôi nhìn thị trấn sau mưa ướt loang loáng và đang được gió lốc thổi khô. Chưa lâu, đã thấy cậu bé Cophanh, mũ trên đầu, một miếng bánh trên tay, ra khỏi nhà mình, vừa xoa xoa tay trên tường vừa huýt sáo đi về phía nhà bác thợ bịt móng ngựa. Môn mở cổng trường, la gọi em, rồi nhoáng một cái, cả ba chúng tôi đã ở trong cửa hàng đỏ rực và ấm nóng, đúng lúc từng đợt gió rét thổi vào. Cophanh và tôi  ngồi bên lò rèn, chân thục vào đám phôi bào trắng. Môn thọc hai tay trong túi, lặng im dựa lưng vào cánh cửa ra vào. Ngoài phố thỉnh thoảng lại có một phụ nữ trong làng đi qua, đầu cúi thấp để tránh gió, họ từ nhà hàng thịt về qua đây. Chúng tôi hếch mũi lên để nhìn xem đó là ai.
Chẳng ai cất lời. Bác thợ đóng xe và anh phụ của bác, người thổi bể, kẻ đập sắt, ném lên tường những cái bóng lớn di động… Giờ tôi nhớ lại buổi tối hôm ấy như một trong những buổi tối vĩ đại nhất của tuổi thiếu niên của mình. Đối với tôi: tối hôm ấy vừa sung sướng vừa khắc khoả: tôi sợ anh bạn tôi tước mất của tôi niềm vui tội nghiệp được ra ga bằng xe, tuy nhiên, không dám thú nhận, tôi hy vọng ở anh một cuộc phiêu lưu khác thường sẽ đảo lộn hết thảy.
Thỉnh thoảng, công việc đều đặn và thanh bình trong cửa hàng ngừng lại giây lát. Bác thợ buông búa, nó nảy nảy mấy cái nặng nề và dứt khoát trên đe. Bác kẹp mẫu sắt vừa rèn lên, chăm chú quan sát nó. Rồi bác ngẩng đầu hỏi chúng tôi, cốt để xả hơi một chút.
- Thế nào, khoe chứ thanh niên?
Anh thợ phụ vẫn nắm cần bễ trên cao, một tay chống nạnh nhìn chúng tôi mỉm cười.
Rồi công việc đập đinh tai lại tiếp tục.
Trong một vài lần nghỉ như thế, qua khung cửa mở rộng, tôi nhìn thấy Mili đi trong gió lớn, quấn chặt trong một cái khăn san, tay mang mấy hộp nhỏ.
Bác thợ hỏi:
- Cụ Sacpaăngchiê sắp tới hả?
- Ngày mai ông bà cháu cùng đến ạ - tôi trả lời – Cháu sẽ ra ga đón chuyến tàu 4g2 phút.
- Chắc đi bằng xe của Phrômăngtanh?
Tôi đáp ngay:
- Không ạ. Bằng xe của lão Mactanh.
Bác thợ và anh phụ bật cười.
Anh phụ chậm rãi như để giảng giải:
- Dùng con ngựa cái của Phrômăngtanh, có thể ra đón hai cụ ở Viecdông. Tàu dừng ở đấy một tiếng. Đoạn đường là 15 kilomet. Sẽ về nhà ngay khi con lừa của Mactanh chưa thắng xong.
- Phải – bác thợ tiếp lời – ngựa ra ngựa, đi đứng ra trò.
- Tôi tin ông Phrômăngtanh cho mượng ngay thôi.
Câu chuyện dừng ở đó. Gian hàng lại đầy ánh lửa và tiếng ồn, ở đó ai cũng theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.
Nhưng đã đến giờ phải đi. Tôi đứng lên ra hiệu cho Môn, thoạt tiên anh không nhận ra. Vẫn dựa vào cửa, đầu cúi gằm, anh có vẻ đăm chiêu ghê gớm về điều vừa được nghe. Thấy anh chìm đắm trong ưu tư, đăm đăm nhìn hai người thợ đang thanh thản làm việc như qua một biển sương mù, tôi chợt nhớ đến một hình ảnh trong Robinson Cruse, trong đó chúng tôi nhìn thấy cậu thiếu niên người Anh, trước cuộc ra đi vĩ đại, đã từng luôn luôn lui tới nhà một người bán đồ mây tre đan…
Và từ bấy, tôi hay nhớ lại hình ảnh này.
 
0
CHƯƠNG IV
BỎ TRỐN
  Một giờ chiều hôm sau, phòng học lớp cao đẳng sáng bừng lên giữa cảnh sương giá xung quanh, như một con thuyền trên đại dương. Chúng tôi ngửa thấy không phải mùi nước mắm hay mùi dầu mỡ hôi trên một con tàu đánh cá, mà là mùi cá mòi nướng trên lò sưởi và mùi khen khét từ những người vừa đi về đã ngồi sưởi quá gần bếp lửa.
Năm học sắp hết, chúng tôi được phát vở làm bài thi. Rồi trong khi ông Xơren viết lên bảng đề toán, cả lớp lắng hẳn, chỉ thỉnh thoảng đây đó mới có tiếng thì thào nói chuyện, hay những tiêng kêu cố nén, hoặc những lời mách lẻo lấp lửng cốt làm cho bạn ngồi bên phải sợ:
- Thưa thầy, bạn… con…
Tay viết bảng, nhưng tâm trí ông Xơren để vào việc khác. Chốc chốc, ông quay nhìn cả bọn với vẻ vừa nghiêm khắc vừa dửng dưng. Trong một giây, tiếng mách lẻo ranh mãnh liền im bặt, để rồi lại nổi dần lên, lúc đầu còn dè dặt, về sau thì táo tợn.
Giữa cảnh ấy, chỉ tôi là ngồi im. Ngồi ở đầu một trong những cái bàn dành cho các học sinh nhỏ tuổi hơn, ở gần những cửa kính lớn, tôi chỉ cần nhổm lên một chút là nhìn được khu vườn, con suối bên dưới, và đồng bãi.
Lát lát, tôi lại nhón chân đứng dậy, và lo lắng nhìn về phía trang trại Ngôi Sao Đẹp. Ngay từ đầu giờ học chiều, tôi nhận thấy Môn không về lớp sau giờ nghỉ trưa. Bạn ngồi bên anh dĩ nhiên cũng nhận ra như vậy. Nhưng bạn ấy vừa ngẩng lên, tin về Môn đã loang khắp lớp, và như thường lệ, một học sinh không quên la lên:
- Thưa thầy, Môn đã…
Tôi hiểu rằng Môn đã đi. Nói đúng hơn, tôi ngỡ anh bỏ trốn. Ăn trưa vừa xong, anh đã nhảy qua bức tường thấp, chạy ra đồng, lội qua suối, chạy tiếp qua Vlây-Plăngsơ, đến tận Ngôi Sao Đẹp. Chắc anh đi mượn con ngựa cái để ra ga đón cụ Sacpăngchiê. Lúc này hẳn anh đang thắng ngựa.
Ngôi Sao Đẹp là một trang trại lớn ở sườn đồi bên kia suối, cứ mùa hè lại bị các hàng rào cây xanh và những cây du, cây sên trong sân che khuất. Nó nằm trên một đoạn đường ngắn, một phía nối với đường ra ga, phía kia với một thị trấn khác trong vùng. Bao quanh bởi những tường rào cao ngất tựa vào những trụ ốp đà mà chân giầm trong phân gia súc, đến tháng sáu, tòa lâu đài phong kiến hùng vĩ bị lấp dưới tán cây rậm rì, và ở trường khi đêm xuống, chúng tôi chỉ nghe vẳng lại tiếng xe ba gác cót két hay tiếng thét của thợ chăn bò sữa. Nhưng hôm nay qua kính cửa, tôi nhìn thấy giữa cây cối trụi lá bức tường xám cao ngất của cái sân, cổng vào lâu đài, và giữa các đoạn hàng rào là một phần con đường dẫn ra ga, chạy song song với dòng suối và bị sương giá phủ trắng xóa.
Chưa có gì động đậy trong quang cảnh mùa đông sáng sủa này. Chưa có gì đổi thay.
Ở đây, ông Xơren đã chép xong đề toán thứ hai. Thường ông cho ba đề. Nếu bỗng dưng hôm nay, ông chỉ cho hai… Ông sẽ trèo lên ngồi ngay vào ghế và phát hiện ra sự vắng mặt của Môn. Ông sẽ phái hai học sinh đi khắp thị trấn để tìm . Hai cậu ấy nhất định sẽ tìm ra anh trước khi anh thắng xong con ngựa…
Chưa xong đề toán thứ hai, ông Xơren bỏ thõng cánh tay đã mỏi… Rồi, thật hú vía cho tôi, ông xuống dòng, vừa viết tiếp vừa bảo.
- Bây giờ đến một bài chỉ là một trò chơi của trẻ.
… Hai gạch đen nổi lên trên bức tường sân của trại Ngôi Sao Đẹp, đó có lẽ là hai gọng xe, rồi biến mất. Tôi tin chắc rằng ở đó người ta đang chuẩn bị xe cho Môn lên đường. Đấy, con gựa cái đang đi ra để lộ đầu và ức giữa hai trụ của lối vào, rồi dừng lại, chắc chắn người ta đang buộc thêm vào sau xe một thùng xe nữa cho hai cụ già mà Môn đi đón về. Sau hết, cỗ xe ngựa lững thững ra khỏi sân, khuất một lát sau hàng rào, rồi cứ như thế chậm rãi tiến bước trên con đường trắng giá mà tôi nhìn thấy được giữa hai đoạn rào. Lúc ấy tôi nhận ra, trong cái hình đen đen điều khiển chiếc xe, với một cái tay tì uể oải vào thành xe, là người bạn Môn cao kều của tôi.
Một phút nữa thôi, rồi tất cả mất tăm sau hàng rào. Bây giờ, hai người vốn đứng ở cổng NgôI Sao Đẹp nhìn theo bắt đầu bàn tán mỗi lúc mỗi kịch liệt.
Một người bắc tay lên mồm làm loa gọi Môn quay lại, rồi chạy theo một đoạn… Nhưng chiếc xe đã ra đến đường lớn, và từ đường nhỏ người ta khó nhìn thấy. Môn thay đổi thái độ. Một chân bước lên trước, người đứng thẳng như những người xà ích la Mã xưa, hai bàn tay giật cương, anh cho ngựa phi hết tốc độ, và chỉ trong chớp mắt đã khuất hẳn bên kia dốc đường. Người vừa gọi loa lại vùng chạy theo. Người thứ hai thì chạy thục mạng qua đồng, có lẽ về phía chúng tôi.
Mấy phút sau, đúng lúc ông Xơren rời bảng, xoa xoa hai bàn tay giây phấn., và ba tiếng kêu đồng thanh cất lên từ phía cuối lớp:
- Thưa thầy, MôN Sếu đi rồi ạ.
Đúng lúc đó, người kia, bận áo blu xanh da trời, hiện ra trên cửa ra vào vừa bất thần bị mở tung, ông nhấc mũ giơ lên cao và hỏi:
- Thưa thầy, có phải thầy cử cậu ấy đến mượn xe chúng tôi ra ga Viecdông đón hai cụ thân sinh của thầy không ạ? Chúng tôi ngờ ngợ…
- Không hề! – ông Xơren đáp.
Tức thì cả lớp loạn lên một cách đáng sợ. Ngồi ngay cửa ra vào, lại thường được giao việc ném đá đuổi dê cái hay lợn vào sân gặm cây hoa arabêi, ba ông tướng kêu to vừa rồi liền vọt ra khỏi cửa. Tiếng guốc đế sắt của các cậu choang chan chát trên hành lang lát đá, rồi lạo xạo dồn dập ngoài sân cát, rồi ngoặt qua hàng rào thấp mở ra đường. Chúng tôi đổ ra các cửa sổ hướng ra vườn. Một số trèo lên bàn để nhìn cho rõ…
Nhưng muộn rồi. Môn Cao Kều đã bỏ trốn.
- Con cứ đi với Musơbơp ra ga – ông Xơren bảo tôi – Môn chưa biết đường đến Viecdông. Đến ngã ba là nó lạc. Nó không thể đến kịp ga vào ba giờ.
Mili hiện ra trên ngưỡng cửa lớp học, dướn cổ sang hỏi:
- Có gì vậy ông?
Ở phố ngoài thị trấn, người ta bắt đầu tụm năm tụm ba. Người nông dân từ trại Ngôi sao Đẹp vẫn bất động, bướng bỉnh, mũ trên tay, như một kẻ đang đòi công lý.
 
0
CHƯƠNG V
VỀ CHIẾC XE TRỞ LẠI
  Sau khi tôi đưa được ông bà từ ga về, khi ăn tối xong, ngồi trước cái lò sưởi cao ngất, ông bà bắt đầu kể tỉ mỉ mọi chuyện ở chỗ ông bà từ độ nghỉ hề đến nay, nhưng tôi liền nhận ra mình chẳng để tai đến chuyện đâu.
Hàng rào thấp ngoài sân thì át ngay cửa ra vào phòng ăn. Có ai mở, nó lại kêu ken két. Thường thường buổi tối, khi gia đình tôi quây quần chuyện vãn sau bữa ăn, tôi thầm đợi tiêng kêu này. Ngay sau nó là tiếng guốc lọc cọc bước hay chùi chùi lên thảm chùi chân trước ngưỡng cửa, có lúc lại là tiếng thì thào, tựa như khách bàn tính trước khi vào nhà. Sau đó là tiếng gõ cửa. và đấy là một bác hàng xóm, các cô giáo, hay một người đến góp chuyện vui với gia đình tôi.
Vậy nhưng tối hôm ấy, tôi chẳng có gì phải mong đợi như thế, bởi tất cả những người tôi yêu quý đều tụ họp ở nhà tôi. Nói thế thôi, tôi vẫn lắng nghe từng tiếng động trong đêm và mong mỏi có người tới gõ cửa.
Ông tôi ngồi kia. Già lắm rồi, râu tóc bù xù như một người chăn cừu lão luyện vùng Gaxcônhơ, hai bàn chân nặng nề đặt trước mặt, cái gậy chống giữa hai cẳng chân, ông cúi ngiêng một bên vai, gõ tẩu vào giầy. Bằng đôi mắt ướt nhèm nhân hậu, ông ngỏ ý tán đồng những câu chuyện của bà về chuyến đi, về đàn gà mái và các nhà hàng xóm của ông bà, về các bác nông dân chưa trả cho ông bà tiền thuê đất. Nhưng tôi quên bẵng ông bà rồi, tuy vẫn ngồi đấy.
Tôi tưởng tượng nghe thấy tiến xe lăn bánh bên ngoài và dừng lại trước cửa, rồi Môn nhảy ra khỏi chiếc xe có mui và đi vào như không có gì xảy ra… Hay có thể trước hết, anh đem xe trả cho trại Ngôi Sao Đẹp. Và tôi nghe tiếng chân anh bước bình tĩnh trên đường, tiếng hàng rào thấp lưới mắt cáo mở ra…
Nhưng chẳng có gì. Ông nhìn chằm chằm trước mặt, đôi mí mắt hấp háy lúc lúc lại bết vào nhau như ông đang buồn ngủ. bà lúng túng nhắc lại câu nói cuối cùng mà chẳng ai nghe.
- Các bác và hai con đang băn khoăn về cậu bé đó hả? – cuối cùng bà hỏi.
Quả thực ở ga, tôi có hỏi bà về Môn, nhưng vô hiệu. Ở Viecdông, bà không thấy ai giống anh. Có lẽ bạn tôi đến chậm hơn bà. Ý định của anh bị lỡ. Trên xe dọc đường về, tôi cứ loay hoay mãi với mối thất vọng, trong khi bà tôi trò chuyện với Musơbơp. Trên mặt đường trắng giá, lũ chim nhỏ cứ quay tròn quanh chân con lừa bước khập khễnh. Thỉnh thoảng, trong cái im lặng thăm thẳm của buổi chiều băng giá, vọng đến tiếng kêu xa thăm thẳm của một cô gái chăn cừu hay một cậu bé hú gọi bạn từ rừng này sang rừng thông khác. Mỗi lần như vậy, tiếng hú gọi dường như bất tận vang loang trên bao quả đồi trơ trụi lại làm tôi rùng mình, như thể đấy là tiếng Môn từ xa tha thiết rủ tôi đến với anh…
Tâm trí tôi còn đang đắm vào những chuyện đó thì đã đến giờ đi ngủ. Chưa chi ông đã vào căn phòng đỏ, buồng ngủ kiêm phòng khách, ẩm thấp và lạnh lẽo vì đóng cửa suốt từ mùa đôg năm ngoái. Để ông nghỉ ở đấy, cha mẹ tôi đã lột các tấm đăng-ten bọc các ghế bành, lật trải ngược các tấm thảm nên nhà, dồn các đồ dễ vỡ vào một góc. Ông đã đặt chiếc gậy chống trên một cái ghế dựa, để đôi giày cà cỏ dưới một ghế bành. Ông vừa tắt nến, chúng tôi đứng chúc nhau ngủ ngon và sắp ai về phòng nấy, thì tất cả nín thít vì nghe có tiếng xe bò.
Có lẽ có hai xe nối đuôi nhau lăn bánh chậm chạp. Chúng chạy chậm dần, rồi dừng lại dưới cửa sổ phòng ăn nhìn ra đường cái, nhưng đã bị đóng kín.
Cha tôi cầm đèn lên, và không chờ tiếng gõ, ông mở các cửa đã khóa bên trong, rồi đẩy hàng rào lưới mắt cáo thấp, ông ra mép bậc nhị cấp, giơ đèn lên trên đầu để nhìn rõ xem đó xe gì, của ai.
Đúng là hai cỗ xe dừng đó, ngựa xe sau buộc vào sau xe trước. Một người nhảy xuống đất, và ngập ngừng chưa muốn nói…
- Đây là trụ sở xã phải không ông? – ông ta vừa lại gần vừa hỏi – Ông chỉ giùm nhà Phrômăngtanh, tá điền của ấp Ngôi Sao Đẹp? Tôi đã bắt gặp con ngựa cái và xe ông ấy đi lang thang không người lái trên một con đường gần đường Xanhy-In-Đê-boa. Nhờ đèn lồng, tôi đọc được tên và địa chỉ ông ấy trên biển xe. Vì thuận đường, tôi đưa luôn ngựa và xe ông ấy về đây kẻo nhỡ có chuyện chẳng lành, nhưng vậy là tôi bị muộn quá rồi.
Chúng tôi sững cả ra. Cha tôi đi tới, soi nhìn cỗ xe ò có mui
- Chẳng thấy vết tích nào của người đi xe – người khách tiếp – Thậm chí một tấm vải phủ chân cũng không có. Con ngựa rất mệt. Nó hơi tập tễnh.
Tôi tiến đến sát hai chiếc xe và cùng với mọi người nhìn mãi chiếc xe mất tích đã trở về, như một vật trôi giạt ngoài khơi xa mà sóng biển đã đưa trở lại bờ, vật vô chủ đầu tiên mà có lẽ cũng là cuối cùng, trong cuộc phiêu lưu của Môn.
- Nếu nhà Phrômăngtanh quá xa, tôi để cỗ xe ở đây cho các vị - người khách nói – Tôi mất quá nhiều thời gian rồi, hẳn ở nhà tôi đang lo lắm.
Cha tôi chấp thuận. bằng cách này, chúng tôi có thể trả cho trại Ngôi Sao NĐẹp cỗ xe ngay trong đêm nay mà không cần thuật lại câu chuyện đã xảy ra. Sau đó, chúng tôi sẽ quyết định nên kể sự tình như thế nào với bà con lân cận và sẽ viết thư cho mẹ Môn ra sao nữa…
Người khách từ chối các rượu mời và ra roi cho ngựa đi liền.
Từ trong căn phòng dành cho ông đã lại sáng nến, trong khi chúng tôi lặng thinh trở vào và cha tôi đánh cỗ xe đến trại Ngôi Sao Đẹp. Ông hỏi tôi:
- Sao? Thằng bé về rồi hả?
Mấy bà đưa mắt cho nhau trong một giây.
- vâng ạ. Nó về với mẹ nó rồi. Ông đi ngủ đi. Yên chí!
- Thế có phải hay không. Tao cũng nghĩ thế đấy – ông trả lời.
Yên lòng, ông tắt nến và lên giường để ngủ.
Chúng tôi cũng giải thích với bà con thị trấn như với ông. Đối với mẹ kẻ bỏ trốn, chúng tôi quyết định chờ thêm nữa, rồi mới biên thư cho bà. Chúng tôi giữ gìn nỗi lo âu khắc khoải kéo dài ba ngày dằng dẵng. Tôi còn thấy cha tôi từ Ngôi Sao Đẹp trở về khoảng 11 giờ, bộ râu mép ướt sương, thì thầm với Mili bằng một giọng tức tối và uất ức…
 
0
CHƯƠNG VI
CÓ NGƯỜI GÕ Ô CỬA KÍNH VUÔNG
  Ngày thứ tư là một trong những ngày lạnh nhất mùa đông năm đó. Từ sáng sớm, các học sinh đến trước nhất chạy đuổi nhau quanh giếng cho ấm người lên. Chúng chờ trong trường đốt lò sưởi để nhào đến.
Nhiều học sinh chúng tôi thập thò sau cửa, rình chờ các bạn từ nông thôn đến. Bạn nao đến cũng mặt mày rạng rỡ vì đã xuyên qua những phong cảnh phủ sương giá, đã nhìn thấy những cái ao đóng băng, những khu rừng được phát quang luôn, ở đó bọn thú thấy người là lủi mất… Áo blu của các bạn thoang thoảng mùi cỏ khô và mùi chuồng bò, hai mùi này trở nên nồng nặc khi các bạn chen quanh lò sưởi cháy hồng rực. Sáng hôm ấy, một bạn mang theo trong giỏ một con sóc chết giá mà bạn ấy phát hiện trên đường đi. Tôi nhớ rằng bạn ấy đã cố móc móng của con vật dài ngoẵng đã cứng đơ để treo nó lên cái cột trong nhà chơi.
Rồi buổi học mùa đông nặng nề bắt đầiu…
Một tiếng gõ đột ngột vào ô kính cửa khiến chúng tôi ngẩng cả lên. Chúng tôi nhìn thấy Môn cao kều đứng sẵn ở cửa, giũ giũ giá bám trên áo trước khi đi vào, đầu ngẩng cao và dáng vẻ kiêu hãnh!
Hai học sinh ngồi gần cửa nhất vội vàng nhào ra mở cửa cho anh. Ba người se sẽ trao đổi với nhau gì đó mà chúng tôi không nghe được, rồi kẻ đi trốn quyết định bước vào.
Luồng khí lạnh ùa vào từ cái sân hoang vắng, những cọng rơm vương trân quần áo Môn, và nhất là vẻ mặt mệt mỏi, đói khát nhưng ngây ngất của anh, tất cả gợi lên trong chúng tôi một niềm thích thú và tò mò kỳ lạ.
Chỉ hai bước là ông Xơren bước xuống khỏi cái bục giảng nhỏ mà ở đó ông vừa đứng đọc chính tả cho chúng tôi. Môn đi về phía ông, vẻ khiêu khích. Tôi nhớ lại rằng vào giờ khắc đó, tôi thấy anh bạn cao lênh khênh của tôi đẹp vô cùng, bất chấp khuôn mặt võ vàng và đôi mắt đỏ ngầu vì những đêm ngoài trời chắc chắn không ngủ được.
Anh tiến đến tận cái ghế tựa và nói bằng giọng điềm nhiên của người chỉ dẫn gì đó cho người khác:
- Thưa thầy, em đã về.
- Tôi biết rồi – ông Xơren đáp, mắt xoi mói nhìn anh – Về chỗ đi.
Chàng trai quay về phía chúng tôi, lưng hơi còng, mỉm cười vẻ chế giễu, như các học sinh lớn vô kỷ luật thường làm lúc bị phạt. Một tay nắm lấy mép bàn, anh ghé ngồi xuống ghế băng của anh.
- Anh sẽ đọc một đoạn sách mà tôi chỉ cho – người thầy nói, còn chúng tôi nhất loạt quay nhìn Môn – trong khi các bạn viết nốt bài chính tả.
Buổi học lại tiếp tục. Thỉnh thoảng Môn quay nhìn tôi, rồi nhìn qua cửa sổ, từ đó chúng tôi có thể nhận thấy cái vườn trắng xốp như bông, im lìm, và những cánh đồng vắng ngắt hay đôi lúc có một con quạ đỗ xuống. Trong lớp bắt đầu ngột ngạt vì cái lò sưởi đỏ lừ. bạn tôi, hai tay ôm lấy đầu và chống cùi lên bàn để đọc. Hai lần tôi thấy anh díp mắt lại và tin rằng anh sắp ngủ thiếp đi.
- Thưa thầy, em muốn đi ngủ - cuối cùng anh nói, một cánh tay giơ lên nửa chừng – Đã ba đêm em không ngủ ạ.
- Đi đi! – ông Xơren nói, chủ yếu là vì muốn tránh một sự cố bất ngờ.
Tất cả chúng tôi ngẩng lên, bút vẫn trong tay chống trên bàn, lưu luyến nhìn anh ra đi với cái áo blu rách ở lưng và đôi giầy đầy đất cát.
Buổi sáng sao àm lâu thế! Gần đến trưa, tôi nghe tiếng động trên căn gác xép, đó là nhà du lịch chuẩn bị đi xuống với chúng tôi. Đến giữa trưa, tôi thấy anh ngồi trước lửa, gần ông bà tôi vẫn còn đang sửng sốt, trong lúc đồng hồ treo tường buông 12 tiếng, học sinh lớn bé tỏa ra cái sân phủ tuyết, rồi nối đuôi nhau như những cái bóng trước cửa phòng ăn.
Về bữa ăn này, tôi chỉ còn nhớ một sự nín thinh bất tận và một nỗi ngượng ngùng không che dấu được mảy may – tất cả đều lạnh giá: mặt bàn ăn phủ giấy dầu, nhưng không có khăn trải bàn, rượu lạnh ngắt trong mấy cái cốc, những mảnh gạch vuông đã nung đến nóng lên, trên đó chúng tôi đặt bàn chân mình lên… Chúng tôi quyết định không ỏi gì người đi trốn, để tránh đẩy anh đến cãi lộn, nổi loạn. Anh lợi dụng cuộc hòa hoãn đó để chẳng hé một lời.
Cuối cùng, ăn tráng miệng xong, cả hai chúng tôi được phốc ra sân. Sân trường, sau buổi trưa, nơi guốc học sinh đã hất gần hết tuyết, cái sân đen sì, trên đó băng tan từ mái nhà chơi rỏ giọt xuống… cái sân đầy ắp trò chơi và tiếng kêu đinh tai. Môn và tôi chạy dọc các ngôi nhà. Vừa thấy chúng tôi, hai ba bạn người thị trấn đã bỏ cuộc chơi, ba chân bốn cẳng phóng về phía chúng tôi, làm bùn bắn tứ tung từ dưới guốc. Các bạn thọc tay trong túi, khăn quàng cổ bay tung. Nhưng anh bạn cao kều của tôi nhảy bổ vào phòng học lớp lớn, tôi bám theo sau, và chúng tôi đóng sập cửa kính lại, đúng lúc mấy bạn kia chạy đến ra sức đẩy. Tiếng kính rung loảng xoảng, tiếng guốc giậm lách cách trên ngưỡng cửa. các bạn đẩy mạnh đến nỗi cái lanh-tô bằng thép cong đi. Môn xô trở lại, cái nhẫn trên tay vỡ tung suýt nữa bắn vào mặt, và khóa trái được cửa.
Cách xử sự ấy, chúng tôi coi là rất đáng bực mình. Mùa hè, những bạn bị chặn ngoài cửa thường chạy nhào ra vườn, và leo lên qua một cửa sổ trước khi tất cả cửa sổ kịp đóng hết. Bây giờ đang tháng 12, cửa giả đều đóng sạch. Các bạn còn ráng sức đẩy cửa một lát nữa, và chửi chúng tôi ầm ĩ. Rồi từng bạn, từng bạn bỏ đi, đầu cúi gục, tay quấn lại khăn quàng.
Trong phòng học thoáng mùi hạt dẻ và rượu pikêt, chỉ có hai người trực nhật đang chuyển dịch bàn ghế để quét nhà. Tôi đến bên lò sưởi để chờ buổi học chiều, trong lúc Môn lục lọi ngăn kéo bàn thầy giáo và các bàn học sinh. Ít phút thôi, anh đã tím thấy một tập bản đồ nhỏ, anh liền đứng tì hai cùi tay lên bục giảng, hai tay ôm đầu, say sưa nghiên cứu nó.
Tôi đã sẵn sàng lại gần anh, định ôm vai anh và chắc chắn cùng theo dõi trên bản đồ quãng đường phiêu lưu mà anh đã đi, đúng lúc đó cửa cái thông với phòng học lớp bé đột ngột bị đẩy mạnh, mở toang ra, và Giaxmanh Đơlusơ, theo sau là một bạn ở thị trấn và ba bạn ở nông thôn, hiện ra với một tiếng reo thắng lợi. Chắc hẳn một cửa sổ ở phòng học lớp bé đóng không chặt, các bạn đẩy ra được và nhảy qua đó mà vào.
Dù còn khá nhỏ, Đơlusơ đã là một trong những học sinh nhiều tuổi nhất của lớp cao học. Nó ghen tị với Môn ghê lắm, tuy vẫn tự coi là bạn của anh. Trước khi anh bạn cao kều của tôi đến, Đơlusơ là con gà trống của lớp (có nghĩa là được cả lớp yêu quý). Mặt nó xanh xao, khá đù đờ, tóc thì bôi nhẫy sáp. Là con của bà góa Đơlusơ chủ quán, nó đóng vai ông chủ trong nhà. Nó huênh hoang nhắc lại những lời nó ưng nói với đám đến chơi bi-a hay uống rượu véc-mứt.
Thấy nó vào, Môn ngẩng lên, cau mày và vừa lắc lư vừa kêu với mấy tay đi theo ùa tới lò sưởi.
- Ở đây chẳng được yên lấy một phút!
- Nếu không hài lòng, hãy cứ ở nơi nào cậu đã ở - Giaxmanh Đơlusơ không ngẩng đầu đáp, hẳn là biết có tụi bạn đi theo bênh mình.
Tôi hiểu Môn rơi vào tình trạng mệt mỏi đến cáu kỉnh không sao kìm nổi.
- mày – anh vừa nói vừa đứng lên, và khép sách lại, mặt hơi tái đi – Mày hãy ra khỏi đây!
Đơlusơ cự lại:
- Chà – nó thét lên – trốn thoát ba ngày, mày tưởng mày sắp là ông chủ hả?
Rồi lôi kéo mấy cậu kia vào cuộc cãi lộn:
- Không phải mày có quyền đuổi chúng tao ra khỏi đây! Mày rõ chưa!
Nhưng Môn đã đè lên nó. Thoạt tiên, hai người vật lộn. tay áo blu của cả hai kêu xoạt và bục chỉ. Trong ba bạn ở nông thôn, chỉ có Mactanh xen vào thôi:
- Buông nó ra! – nó nói, lỗ mũi phồng to, đầu lúc lắc như một con cừu đực.
Mactanh bị Môn hất tung ra giữa phòng, hai tay chới với, người lảo đảo. Rồi, một tay tóm cổ Đơlusơ, tay kia mở cửa, anh toan tống cổ nó ra ngoài. Giaxmanh bấu lấy bàn ghế, miết chân xuống nền nhà lát đá, khiến đế giày đóng cá kêu kin kít, trong khi Mactanh đã lấy lại thăng bằng, lừng lững tiến lại, đầu giơ ra trước, vẻ hung dữ. Môn buông Đơlusơ để dồn sức cho cái thằng ngu ngốc này, và có lẽ anh sắp rơi vào tình thế bất lợi. Vừa hay cửa lớp hé mở, ông Xơren hiện ra, đầu vận ngoái về phía nhà bếp nói nốt chuyện gì đó với ai đấy, trước khi đi vào…
Tức thì cuộc đấu ngừng lại. Các bạn khác xếp hàng quanh lò sưởi, đầu cúi gằm, tỏ vẻ không hề giây chuyện. Môn ngồi xuống chỗ của anh, hai ống tay áo bật chỉ và giãn hẳn ra chỗ gần vai. Giaxmanh thì toàn thân thâm tím. Nó còn hét trong mấy giây, trước khi vang lên tiếng thước gõ trên bảng báo hiệu buổi học bắt đầu.

- Bây giờ thì nó hết chống chế. Đầ láu cá! Nó tưởng chúng ta không biết nó vừa ở đâu ra phỏng!

- Đồ ngu! Chính tao cũng không biết tao vừa ở đâu – Môn độp lại, trong lúc cả lớp đã khá yên lặng.

Rồi nhún vai, hai tay ôm đầu, anh bắt đầu học bài của mình.

 
0
CHƯƠNG VII
CHIẾC GI-LÊ LỤA
    Như tôi đã nói, buồng ngủ của chúng tôi là một căn gác khá rộng. Vừa là gác vừa là buồng. Nó có những cửa sổ mở ra các phòng khác bên cạnh. Chúng tôi không hiểu sao nó lại được chiếu sáng bởi một cửa sổ nhỏ trổ trên mái. Cửa ra vào bị xệ xuống nền nhà tầng dưới, nên không đóng khít được hoàn toàn. Mỗi buổi tối leo lên, chúng tôi phải lấy tay che nến khỏi những luồng gió lùa trong ngôi nhà rộng. Dù cố gắng đến đâu, chúng tôi cũng đành từ bỏ ý định khép kín cửa ra vào. Và suốt đêm chúng tôi cảm thấy cái yên lặng của ba phòng chứa thóc xung quanh lan thấm đến tận buồng của chúng tôi.
Chính ở đấy mà chúng tôi gặp lại nhau, MôN sếu và tôi, vào buổi tối của ngay cái ngày đông ấy. Trong khi tôi chỉ phẩy tay một cái là cởi tong hết quần áo và chất đống trên một ghế tựa đầu giường, thì Môn lại làm việc đó với dáng điệu đủng đà đủng đỉnh. Trên chiếc giường sắt che ri-đô bằng vải crơton vẽ cành nho mà tôi đã leo lên, tôi ngắm các cử động của anh. Lúc thì anh ngồi xuống chiếc giường thấp không ri-đô của mình. Lúc thì nah đứng lên, vừa đi quanh quẩn vừa cởi nốt quần áo. Cây nến mà anh đặt trên một cái bàn mây nhỏ do người Bôhêmiêng sản xuất hắt lên tường cái bóng to lớn và không ngừng di động của anh.
Hoàn toàn ngược với tôi, anh gấp và sắp xếp các đồ học sinh của mình thật cẩn thận, tuy với vẻ lơ đễnh và đau khổ. Tôi thấy anh đặt thẳng băng trên một ghế tựa cái áo blu nhàu và bẩn kinh khủng, cởi ra một cái có thể gọi là áo choàng màu xanh lơ đậm mà anh mặc bên trong áo blu, rồi quay lưng về phía tôi cúi người trải xuống chân giường… Nhưng khi anh đứng thẳng lên và quay lại, tôi thấy đáng lẽ là cái gi-lê chán ngắt, khuy đồng, cùng màu với cái áo khoác, anh mặc một cái gi-lê lụa kỳ dị, cổ rất rộng, phía dưới cài một hàng khuy xà cừ nhỏ.
Ấy là một kiểu y phục kỳ cục một cách duyên dáng mà hẳn các chàng trai từng nhảy với bà chúng ta trong các cuộc khiêu vũ năm một nghìn tám trăm ba mươi từng mặc.
Lúc này tôi nhớ lại và hình dung ra chàng học sinh nông thôn cao ngất ngưởng đầu trần, bởi vì anh đã cẩn thận đặt chiếc mũ cát-két lên trên xếp đồ mặc, khuôn mặt trẻ măng, dũng cảm lắm, mà cũng đã cứng rắn vô cùng. Anh đi đi lại lại quanh phòng từ khi bắt đầu cởi bỏ khuy tấm gi-lê bí ẩn thuộc một bộ trang phục không phải của anh. Tôi cảm thấy thật kỳ lạ khi nhìn anh đứng đó, với hai cánh tay sơ-mi, cái quần áo quá ngắn, đôi giầy dính đầy bùn, một bàn tay đặt trên cái gi-lê của bậc công hầu.
Ngay lúc chạm vào nó, sực tỉnh khỏi giấc mơ, anh quay về phía tôi và nhìn tôi với đôi mắt đầy lo lắng. Tôi chợt hơi muốn bật cười. Anh nhoẻn cười cùng một lúc với tôi và mặt anh sáng lên.
-  Trời, cái gì vậy? – tôi bạo dạn hỏi khẽ - Anh lấy ở đâu thế?
Nhưng nụ cười của anh đã tắt. Anh đưa bàn tay nặng trịch lên xoa cái đầu trọc hai lần, và hoàn toàn bất ngờ, tuồn như không cưỡng nổi mình, anh lại mặc lên thân mình thanh tú cái gi-lê lụa nom như áo ngắn của thủy thủ mà anh cài khuy thật kỹ thật chắc, rồi mặc cả cái áo blu nhàu bẩn… Sau đó, anh nhìn trộm tôi, thoáng do dự… Cuối cùng, anh ngồi phịch xuống mép giường, giũ đôi giầy rơi lịch bịch. Rồi để nguyên quần áo như một người lính đang trong tình trạng báo động, anh ngả dài ra giường và tắt nến.
Khoảng nửa đêm, bỗng tôi thức dậy. Môn đang đứng giữa phòng, đầu đội cát-két, một áo khoác không tay trên lưng và anh đang tìm gì đó ở mắc áo. Căn phòng rất tối. Ngay cả ánh tuyết hắt rọi vào cũng không có. Một làn gió buồn bã và lạnh lẽo thổi trong khu vườn chết và trên nóc nhà.
Tôi hơi nhổm lên và khẽ kêu với anh.
- Môn, anh lại đi à?
Anh không đáp. Tôi cuống lên:
- Phải, em đi với anh. Anh phải đưa em theo!
Anh lại gần, ôm lấy hai cánh tay tôi, ấn tôi ngồi xuống mép giường và nói:
- Tớ không thể đưa cậu đi cùng, Phrăngxoa ạ. Nếu tớ thạo đường, cậu sẽ đi với tớ. Nhưng trước hết, tớ phải tìm đường trên bản đồ đã. Mà tớ chưa tìm được.
- Tức là anh không đi nữa chứ gì?
- Ừ, đi chỉ phí công… - anh ngao ngán đáp – Cậu ngủ tiếp đi. Tớ hứa không đi, nếu không có cậu!
Anh lại đi gang đi doc trong phòng. Tôi không dám hé răng gì nữa. Anh bước tới, dừng lại, rồi bước gấp hơn, như một người đang cố nhớ lại những chi tiết của một việc ì đó, rồi đối chiếu so sánh chúng với nhau, rồi cân nhắc và chợt tưởng đã tìm ra. Rồi một lần nữa, bỏ bẵng mạch suy nghĩ này và bắt đầu tìm kiếm mạch khác.
Đấy không phải là đêm duy nhất, mà do bị tiếng chân anh thức dậy, khoảng một giờ đêm tôi thấy anh đi tới đi lui như vậy trong phòng ngủ của chúng tôi và sang cả mấy gian dùng làm nhà kho – như các thủy thủ vùng Brolanho đã hồi hương nhưng vẫn không quên được thói quen đi tuần đêm trên tàu, và cứ đến giờ thuộc điều lệnh, dù ở ngay giữa làng quê hẻo lánh, vẫn thức dậy, mặc quần áo và canh gác đất đai trong đêm.
Hai hay ba lần, kéo dai trong tháng Giêng và nửa đầu tháng hai, tôi đã bị kéo ra khỏi giấc ngủ như thế. Môn cao kều kia, sừng sững, trang bị đầy đủ, áo khoác không tay trên lưng, sẵn sàng ra đi, và lần nào cũng vậy, cứ đến biên giới của xứ sở bí ẩn mà đã một phen anh lẩn trốn đến, là anh dừng lại, phân vân. Đến lúc nâng then cửa, lẻn ra ngoài qua cửa bếp mà anh mở dễ như bỡn và chẳng ai nghe thấy được, anh lại thoái lui… Sau đó, hàng giờ lê thê, anh sải bước trong mấy gian kho bỏ rơi, vẻ bồn chồn suy nghĩ rất lung.
Cuối cùng một đêm, chừng như 15 tháng Hai, chính anh dịu dàng ôm lấy vai lay tôi dậy.
Ngày hôm trước, Môn tỏ ra bị kích động hết sức. Suốt giờ ra chơi cuối cùng buổi chiều chẳng màng gì tới chơi đùa với các bạn cũ, anh ngồi lỳ trên một chiếc ghế băng, mải mê vẽ một bản đồ nhỏ bí hiểm, vừa lấy ngón tay trỏ làn đường, vừa tính toán rất lâu trên tập bản đồ vùng Sê. Các bạn chạy đi chạy lại không ngừng giữa sân trường và lớp học. Tiếng guốc chát chúa rộn rã. Các bạn đuổi nhau từ bàn này sang bàn khác, phoc một cái là nhảy qua các ghế băng và kệ kê bục giảng… Cac bạn biết rằng hễ Môn chăm chú làm gì thì lại gần anh chẳng hay ho gì đâu. Tuy nhiên, vì giờ giải lao kéo dài, hai ba bạn ở thị trấn, đùa thôi, rón rén đến đằng sau và nhìn qua vai anh… Một bạn còn cả gan xô hai bạn kia vào Môn… Anh thình lình gấp nhanh tập bản đồ, giấu tờ giấy đang vẽ, chộp lấy một trong ba cẫu, hai cậu kia chạy thoát…
… Đó là anh chàng Giđôda quàu quạu, vừa rện rỉ vừa tìm cách đá Môn, nhưng vẫn bị anh quẳng ra ngoài kèm theo tiếng hét giận dữ:
- Đồ hèn! Chả trách chẳng ai ưa mày! Và đứa nào cũng muốn gây sự với mày!
Và tiếp theo là một chuỗi tiếng chửi mà chúng tôi đế theo tuy không hiểu nghĩa.
Tôi la to nhất vì tôi đứng về phe Môn sếu. bây giờ giữa hai chúng tôi như có một giao kèo. Lời mà anh hứa đem tôi đi theo, chứ không nói với tôi như một người rằng “cậu đi sao nổi” đã vĩnh viễn gắn bó tôi với anh. Và tôi không ngừng tơ tưởng đến chuyến đi bí hiểm của anh. Tôi tin chắc hẳn anh đã gặp một cô gái. Chắc chắn cô đẹp hơn gấp bội mọi cô gái trong vùng, đẹp hơn cả Jane mà người ta thấy trong vườn nữ tu nhìn qua lỗ khóa, hơn Mađơlen, con gái bác làm bánh, tóc hoe vàng óng ả, da hồng như trứng gà bóc; và hơn cả Jenny, con gái mụ chủ ngôi thành cổ, đáng mê thật, nhưng bị điên và suốt đời cấm cung. Nhất định đêm đêm anh nghĩ đến một cô gái, khác gì một nhân vật tiểu thuyết. Tôi định bụng sẽ nói thẳng với anh điều đó ngay khi anh đánh thức tôi lần đầu…
Buổi chiều xảy ra cuộc chiến đấu kể trên, sau bốn giờ, cả hai chúng tôi đang bận chuyển dụng cụ - gồm cuốc chim và xẻng vừa dùng để đào hố từ vườn rào, thì nghe tiếng la ở trên đường. Đó là một đoàn thanh niên và trẻ nhỏ, đi đều theo hàng bốn, tiến lên như một đội quân được tổ chức hoàn hảo, do Doluso, Daniel, Giroda và một cậu nữa mà chúng tôi không biết dẫn đầu. Chúng đã thấy chúng tôi và ra sức hò la phản đối. Vậy là cả thị trấn chống lại chúng tôi và không hiểu họ dùng trò chiến tranh gì để loại bỏ chúng tôi đây.
Chẳng nói năng gì, Môn đưa cái mai và cái cuốc anh vừa vác trên vai vào kho.
Nhưng, nửa đêm, tôi cảm thấy tay anh nắm lấy cánh tay tôi. Tôi choàng tỉnh.
- Dậy – anh bảo – Ta đi thôi!
- Anh biết hết đường tới đích chưa?
- Tớ biết phần lớn rồi. Hiển nhiên ta phải tìm cho ra đoạn chót – anh đáp, răng nghiến chặt.
- Anh nghe nhé – tôi nhổm dậy nói – Anh hiểu không, ta chỉ có thể làm thế này. Dùng cái bản đồ anh có, hai chúng ta đi tìm quãng đường chưa biết ngay giữa bàn ngày cơ.
- Nhưng xa đây lắm?
- Thì đã sao? Ta đi xe vậy. Vào mùa hè này. Ngay khi ngày dài hơn hiện nay.
Anh im lặng hồi lâu, dễ chừng anh chấp nhận ý tôi.
- Vì anh em mình cùng đi tìm cô gái mà anh yêu, Môn à – cuối cùng tôi nói – Anh hãy cho em biết cô ấy là ai, hãy kể về cô ấy xem nào.
Anh ngồi xuống chân giường tôi. Trong ánh đêm, tôi nhìn thấy đầu anh cúi gục, hai tay khoanh trước ngực và đôi đầu gối của anh. Rồi anh hít thở rất mạnh, chả khác gì một người đau ngầm đã lâu và không nén được nữa, dốc bầu tâm sự…
 
0
CHƯƠNG VIII
CUỘC PHIÊU LƯU
  Đêm ấy, Môn Sếu không kể cho tôi nghe về tất cả những gì đã xảy đến với anh trên đường. Thậm chí khi anh quyết định tâm sự hết với tôi, trong suốt những tháng năm khổ đau mà tôi sẽ nói, chuyện ấy trong một thời gian dài vẫn là bí mật lớn nhất của tuổi thiếu niên của chúng tôi. Nhưng giờ đây khi mọi sự đã chấm dứt, khi tất thảy chỉ còn cát bụi.
… của bao đau khổ, của bao tốt đẹp.
Tôi có thể kể ra cuộc phiêu lưu kỳ lạ của anh.
  Vào lúc một rưỡi chiều, trên đường về Viecdông, giữa đất trời gía lạnh, Môn cho ngựa phi vun vút, vì biết mình không đến nơi trước giờ. Thoạt đầu, anh chỉ thích thú nghĩ đến sự kinh ngạc của tất cả chúng tôi, khi anh chở trên chiếc xe có mui về, lúc bốn giờ, có ông và cụ bà Sacpăngchiê. Lúc bấy giờ, nhất định anh không có ý đồ nào khác.
Dần dần thấm lạnh, anh phủ lên đôi chân cái chăn mà lúc nãy anh đã từ chối, nhưng gia nhân ở trại Ngôi Sao Đẹp đã cố nhét bằng được lên xe.
Hai giờ chiều, anh đi qua làng La Mót. Chưa bao giờ anh đi thế này trong một làng vào giờ lên lớp cả và cảm thấy thú vị khi được nhìn thấy làng này cũng vắng vẻ, cũng lặng lẽ như những nơi khác. Có gì sống động thì chỉ là xa xa trước mặt anh, thỉnh thoảng ột màn cửa vén lên, để lộ vẻ mặt hiếu kỳ đôn hậu của phụ nữ.
Ở cuối làng La mót, ngay sau ngôi trường, đường xẻ làm đôi, Môn đâm phân vân, rồi tin là mình nhớ đúng rằng phải rẽ trái mới đến được Viecdông. Chẳng có ai để hõi. Anh cho ngựa đi nước kiệu trên con đường từ đây trở đi hẹp hơn và lát đá rất tồi. Trong một lúc, anh đi dọc một rừng thông, cuối cùng gặp một người đánh xe chở hàng, anh bắc loa miệng hỏi ông là xem đây có đúng đường đến Viecdông? Kéo căng dây cương, con ngựa cái tiếp túc nước kiệu. Ông kia hẳn không hiểu người ta hỏi gì. Ông vừa la lên gì đó vừa phác một cử chỉ mập mờ. Hoàn toàn không chủ định, Môn để ngựa lao theo con đường đang đi.
Lại đồng đất mênh mông và băng giá, chẳng có gì vui mắt cũng chẳng có gì khác thường. Chỉ thỉnh thoảng một con chim khách thấy chiếc xe thì hốt hoảng cất bay lên xa hơn, rồi đậu xuống một cây du không ngọn. Người du lịch trẻ tuổi đã quấn tấm chăn rộng quanh vai như một áo choàng. Duỗi thẳng chân tay, tì tay lê một thành xe, anh ngủ gà ngủ gật một thôi dài…
Đến lúc, nhờ cái lạnh thấm qua chăn, Môn Sếu tỉnh ra và nhận thấy phong cảnh đã thay đổi. Không còn là những chân trời xa lắc, bầu trời cao thẫm nhìn hút mắt, mà là những bãi cỏ non xanh với những bờ rào cao. Bên phải cũng như bên trái, nước đang chảy dưới băng. Có vẻ ắp đến một dòng sông nhỏ. Giữa hai hàng rào cao chất ngất, con đường chỉ còn là một lối đi lún sâu.
Con ngựa đã ngừng phi một lát. Môn quất cho nó một roi, nhưng nó vẫn dằn điệu bước một. CHống tay đằng trước xe, và nhìn sang bên, cậu học sinh cao ngật ngưỡng nhận thấy con vật -tập tễnh một chân sau. Anh liền nhảy xuống, lo vô cùng.
- Chưa bao giờ chúng mình ra Viecdông đi tàu – anh sẽ sẽ nói.
Anh không dám tự thú nỗi lo lớn nhất, đó là có lẽ anh đã nhầm đường, và đường này không phải là đường đi Viecdông.
Anh xem xét rất lâu chân con vật và không thấy chỗ nào bị thương. Hết sức sợ hãi, con ngựa nâng ngay chân đó lên khi Môn muốn chạm vào, rồi nó cào cào trên đất bằng cái móng guốc nặng nề và vụng dại. Anh hiểu rằng chỉ đơn thuần là một hòn sỏi găm vào móng nó. Ra vẻ một cậu bé cai quản gia súc lão luyện, anh ngồi xổm xuống, cố nắm lấy móng phải của con vật bằng tay trái và đặt vào giữa hai đầu gối, nhưng cái xe lám vướng anh. Hai lần, con ngựa thoát ra và tiến lên mấy bước. Cái bậc xe đập vào đầu anh, bánh xe làm xoạc đầu gối. Anh vẫn nhất quyết và kìm được con vật sợ sệt. Nhưng viên sỏi lận sâu quá, Môn phải dùng con dao nhà quê của mình mới kều ra được.
Xong việc, ngẩng lên, đầu như mụ đi, mắt hoa lên, anh kinh hãi nhận thấy rằng đêm đang xuống.
Còn khác sao được, Môn tức khắc lộn về. Đấy là cách duy nhất để không lạc thêm. Nhưng anh nghĩ rằng hẳn bây giờ anh xa La Mót lăm rồi. Mới lại, có thê con ngựa đã đi đường tắt trong khi anh đang ngủ. Suy cho cùng, con đường ấy làm sao chẳng dẫn đến một làng nào đó…
Chúng ta hãy bổ sung vào tất cả những lý do đó rằng, trong khi leo lên bậc xe và con ngựa háu đi chưa chi đã kéo dây cương, chàng trai cao ngộc cảm thấy trỗi dậy mỗi lúc một dào dạt niềm khao khát điên cuồng phải hoàn thành một việc gì đó, đi đến một nơi nào đó, bất chấp mọi trở ngại.
Anh quât con ngựa một roi, nó né đi và bắt đầu phi nước đại. Trời tối hơn . Trên con đường bắt đầu bị nước xói mòn, bây giờ chỉ còn đủ lối đi cho một chiếc xe. Thỉnh thoảng, một cành khô bên hàng rào vướng vào bánh xe và gẫy ròn đánh cắc… Khi trời tối hẳn, Môn bỗng chạnh lòng nghĩ tới phòng ăn ở Xanhtơ-Agat, trong đó, hẳn giờ này tất cả chúng tôi đã quây quần bên nhau. Rồi anh tức giận. Rồi ngạo mạn và vui thấm thía vì trốn đi như thế này, dù chẳng muốn…
 
0
CHƯƠNG IX
TRẠM NGHỈ
  Đột nhiên, con ngựa chạy chậm lại, cứ như vì đường tối mà nó vấp chân. Môn thấy nó vươn cổ xuống và ngẩng lên hai lần. Rồi nó dừng hẳn, mõm cúi thấp, như hít hít gì đó. Xung quanh chân ngựa, nghe như có tiếng róc rách. Một dòng suối cắt ngang đường. Nếu là mùa hè, thì lội qua được. Còn dịp này, dòng nước chảy xiết đến nỗi băng không hình thành được, do vậy sẽ rất nguy hiểm nếu cứ đi dần lên.
Môn nhẹ nhàng thu cương, để lùi xe một đoạn, rồi hết sức bối rối, anh đứng lên trong xe. Chính lúc ấy, anh nhìn thấy ánh đèn qua lá cây. Đèn chỉ cách đường hai hoặc ba bãi cỏ thôi.
 Chàng học sinh xuống xe, vừa dắt con ngựa cái về phía sau, vừa nói để trấn tĩnh cho nó khỏi lắc đầu kinh sợ.
- nào, ngựa cưng, ta không tiến lên đâu! Chúng ta sẽ biết ngay đây là chỗ nào.
Rồi đẩy hàng rào chắn đã mở cửa một bãi cỏ hướng ra đường, anh đưa xe ngựa vào đấy. Hai bàn chân anh bước ngập trong cỏ mềm. Chiếc xe lắc lư nhưng không thành tiếng. Đầu anh chạm vào đầu ngựa, anh cảm thấy nó thở hổn hển và truyền sức ấm sang người anh… Anh dắt nó đến cuối bãi, và khoác tấm chăn lên lưng nó. Rồi rẽ cành cây ở hàng rào cuối bãi, anh lại nhìn thấy ánh đèn, đó là đèn trong một ngôi nhà biệt lập.
Mặc dù vậy, anh vẫn phải vượt qua ba đồng cỏ nhỏ, nhảy qua một con suối hiểm độc mà suýt nữa anh sa cả hai chân xuống… Cuối cùng, sau khi nhảy từ đỉnh một bờ dốc thoai thoải xuống đất, anh thấy mình đang trong sân một ngôi nhà nông thôn. Một con lợn ủn ỉn trong chuồng. Nghe tiếng chân người trên đất giá băng, một con chó cất tiếng sủa dữ dội.
Cánh cửa bản ở lói ra vào mở sẵn. Ánh lửa mà Môn nhận thấy là do một bó củi đốt trong lò sưởi. Chỉ có lửa lò thôi, không thấy đèn đóm gì nữa. Một phụ nữ phúc hậu, ở trong nhà, đứng lên và lại gần cửa, không biểu lộ cái gì khác ngoài sợ hãi. Đúng lúc ấy, đồng hồ quả lắc điểm 7g30.
- Xin lỗi bà, bà già đáng thương – chàng trai cao ngồng nói – chắc cháu đã giẫm phải hoa cúc ngoài vườn của bà.
Đang cầm một cái bát trên tay, bà sững lại đăm đăm nhìn anh
- Hẳn thế - bà nói – ngoài sân tối quá, biết đâu mà né.
Một lát im lặng. Môn vẫn đứng, kịp nhìn mấy bức tường nhà dán kín giấy báo có minh họa như trong một quán trọ, rồi cái bàn trên có đặt một chiếc mũ đàn ông.
- ông chủ có nhà không ạ? – anh ngồi xuống.
- Ông ấy sắp vào – người đàn bà đáp, tỏ vẻ đã tin – ông ấy đi kiếm củi.
- Không phải cháu muốn hỏi ông ấy – chàng trai vừa nói tiếp vừa dịch ghế lại gần lò sưởi – Cánh thợ săn chúng cháu có nhiều người, đang phải rình chờ mồi. Cháu đến xin bà nhường cho chút bánh.
Anh, vâng, chàng Môn Sếu ấy mà, biết rằng ở nông thôn, nhất là trong một ngôi nhà trơ trọi giữa đồng giữa bãi, phải nói năng hết sức thận trọng, khôn khéo nữa kia, và nhất là chớ có hớ hênh rằng mình không phải là người cùng xứ.
- Bánh ấy à? – bà hỏi – Có lẽ chẳng còn để cho các anh đâu. Bác hàng bánh vẫn đến vào thứ ba hàng tuần, hôm nay không đến.
Trong một lúc, tưởng mình đã ở gần một làng, giờ nghe thế, Môn đâm hoảng.
- Bác bán bánh quê đâu cơ ạ? – anh hỏi.
- Viơ Năngxay! – bà ta ngạc nhiên.
- Viơ Năngxay, nói thật đúng, xa đây bao nhiêu ạ? – Môn lo lắng hỏi nữa.
- Cứ theo con đuồng đất mà đi, tôi không biết bao nhiêu. Còn theo đường chim bay thì ba dặm rưỡi.
Bà bắt đầu kể lể rằng con gái bà đang làm thuê ở đó, rằng cứ chủ nhật đầu tháng, nó lại về thăm bà, rằng ông bà chủ nó…
Nhưng hoảng hốt quá, Môn cắt ngang:
- Viơ Năngxay có phải là làng gần đây nhất không ạ?
- Không. Làng Lê Lăngđơ cơ, cách 5km. Nhưng ở đó chẳng có người bán bánh, cũng chẳng có người bán hàng. Mỗi năm chỉ có một phiên chợ ở Xanh-Mactanh thôi.
Chưa bao giờ Môn nghe nói đến tên Lê Lăngđơ. Anh hiểu mình lạc quá xa rồ, nghĩ đâm buồn cười. Đang lúi húi rửa bát ở bồn rửa, người đàn bà quay lại, sửng sốt không kém, rồi nhìn thẳng vào mặt anh, nói từng tiếng một.
- Anh không phải người ở vùng này?
Lúc ấy, một người đàn ông có tuổi hiện ta trên ngưỡng cửa với một bó củi mà ông ném xuống nền lát gạch vuông. Người đàn bà nói rất to lên, như thể ông điếc, điều mà chàng thanh niên yêu cầu.
- Được thôi, có gì đâu – ông nói giản dị - Nhưng anh dịch vào gần nữa. Sưởi cho ấm đi.
Một lát sau, hai người ra gần giá gác củi. Ông già bẻ củi để cho vào lò đốt. Môn ăn bánh mỳ với sữa mà ông bà vừa cho. Nhà du lịch của chúng ta, sung sướng được ngủ trong ngôi nhà bình thường sau biết bao khắc khoải, và tưởng rằng cuộc phiêu lưu lạ lùng của mình đã kết thúc, chưa chi đã dự định sẽ rủ bạn về thăm những người dân nhân hậu này. Anh không biết rằng đây chỉ là lúc anh tạm nghỉ chân, rằng lát nữa đây thôi, anh lại tiếp tục phiêu bạt.
Anh vội nhờ ông già chỉ đường cho về La Mót. Nhưng dần dần hiểu ra sự thực, anh kể rằng cùng với xe của mình, anh rời khỏi các bạn săn và bây giờ hoàn toàn bị lạc.
Hai ông bà già nài mãi Môn mới chịu ngủ lại để mai sáng mới đi được. Trước khi ngủ, anh ra ngoài tìm ngựa đưa vào chuồng.
- Anh cẩn thận nhớ. Lối đi nhiều vũng lắm đấy – ông già dặn.
Môn không dám thú nhận rằng anh đã không theo lối ấy để vào đây. Anh toan nhờ ông lão đi cùng. Anh dùng dằng giây lát trên ngưỡng cửa, vì người suýt lảo đảo vì căng thẳng, nửa muốn nửa không. Rồi anh bước ra khoảng sân tối mịt.
 
0
CHƯƠNG X
CHUỒNG CỪU
  Để nhận phương hướng, anh leo lên dốc ta-luy mà anh vừa nhảy qua lúc nãy.
Chậm chạp và khó khăn, như lúc đến, anh loay hoay trong cỏ trong cỏ trong nước, qua các hàng cây liễu, cố tìm cho ra chiếc xe mà anh đã để lại ở cối bãi cỏ. Cỗ xe không còn đấy nữa… Đứng im, đầu bập bùng như có trống đánh, anh giỏng tai nghe cho được mọi tiếng động trong đêm, tưởng lúc nào cũng có thể nghe thấy ngay bên tiếng chuông treo nơi cổ con ngựa của mình. Hàng rào chắn bị hé mở và ngã hẳn ra, như đã có một bánh xe trườn qua. Hẳn con vật đã tự thoát qua theo lối này.
Ngược đường một đoạn, chân anh vướng vào tấm chăn chắc chắn đã tuột từ lưng con ngựa xuống. Anh kết luận rằng con vật đã đi theo hướng này và anh bắt đầu chạy.
Anh chạy, không có ý nghĩ nào khác ngoài ý chí sắt đá và điên cuồng đuổi kịp chiếc xe, máu bốc hết lên mặt, làm đà cho nỗi khao khát khủng khiếp giống như nỗi kinh hoàng… Chốc chốc, anh lại vấp phải các dấu bánh xe. Ở các chỗ ngoặt, vì trời tố mịt, anh nhào cả vào rào, và vì quá mệt không dừng kịp, anh ngã sấp xuống, nhưng phải liều chống tay xuống trước, thà rách tay chứ không để xước mặt. Thỉnh thoảng, anh dừng lại lắng nghe, rồi lại chạy. Có lúc, anh tưởng nghe tiếng xe lăn. Nhưng đấy chỉ là một chiếc xe bò lắc lư lê bước rất xa trên con đường khác về tay phải.
Đến lúc bên đầu gối va vào bậc xe lúc nãy đau quá, anh phải dừng chân, bắp chân rắn lại như thép. Lúc này, anh nghĩ nếu con ngựa cái không phi nước đại, ắt anh đuổi kịp lâu rồi. Anh cũng tự nhủ rằng một  cỗ xe không thể lạc kiểu này, hẳn có ai đã bắt gặp nó. Cuối cùng, anh quay trở lại, kiệt sức, bực mình gần như nhích từng bước một.
Anh tin rằng dần dà, mình sẽ về đến những nơi mình vừa rời khỏi, và chả mấy chốc, sẽ nhìn thấy ánh lửa trong ngôi nhà ấm áp mà mình tìm kiếm. Một lối đi hun hút mở ra giữa hai bờ rào.
“Đây là lối đi mà ông lão nói với mình” – Môn tự nhủ.
Anh đi vào lối đó, mừng vì không phải nhảy qua hàng rào hay bờ dốc ta-luy. Được một lát, lối mòn ngoặt sang trái, ánh lửa như chuyển sang bên phải. Lê đến một ngã ba đường, vì muốn mau về ngôi nhà thảm hại, Môn đi bừa vào một ngả rẽ tưởng sẽ đưa mình đến nơi mà không đắn đo gì. Nhưng chưa được mười bước, ánh lửa đã biến mất, có lẽ nó bị một hàng rào che lấp, mà cũng có thể chờ anh lâu đã mệt, chủ nhà đóng cửa đi ngủ. Không ngần ngại, chàng học sinh nhảy bừa xuống đồng, cứ nhắm ánh lửa vừa thấy mà tiến. Sau khi nhảy qua một hàng rào nữa, anh lại rơi vào một lối mòn mới.
Thế là đường về của Môn rối dần lên, và mói liên hệ giữa anh và những người anh vừa rời bỏ cũng dứt theo luôn.
Chán chường và thất vọng, gần như hoàn toàn rã rời, anh quyết chí theo lối mòn này tới cùng. Đi được chừng trăm bước, anh đến trước một bãi cỏ lớn màu xám xám trên đó anh có thể phân biệt được đó đây những bóng đen, đấy chắc chắn là những cây đỗ tùng và một ngôi nhà gạch tối mò trên một khu đất không bằng phẳng. Mon men đến gần. Đây chẳng qua chỉ là một loại vườn nhốt thú hay một chuồng cừu bỏ hoang. Cửa mở ra dễ dàng với một tiếng kêu “két” dài. Khi gió thổi bạt mây, trăng hiện ra và lọt vào nhà qua cac khe phèn ngăn. Trong nhà nồng nặc mùi mốc.
Không tìm kiếm gì thêm phía trước, Môn ngả lưng trên đám rơm ẩm, hai cùi tay chống đất, hai bàn tay đỡ lấy đầu. Tháo dây lưng ra, anh nằm co quắp trong chiếc áo blu của mình. Lúc này, anh nhớ tới tấm chăn phủ ngựa mà anh đã để lại trên đường. Anh cảm thấy khổ sở vô hạn, giận mình vô hạn, đến nỗi muốn khóc òa lên…
Anh cũng gắng nghĩ tới chuyện khác. Lạnh thấu xương, anh nhớ lại một giấc mơ – đúng hơn là một ảo ảnh, mà anh đã thấy từ hồi còn rất nhỏ và chưa từng nói với ai: một buổi sáng, đáng lẽ thức dậy trong buồng mình, trong đấy có treo áo khoác và quần đùi của bản thân, anh lại thấy mình đang trong một phòng dài thăm thẳm màu xanh lá cây, với giấy dán tường giống như những chiếc lá. Ánh sáng trong phòng này mượt mà và mềm dịu như một dòng mật ong chậm chảy, đến nỗi anh muốn nếm thử. Gần cửa sổ thứ nhất, một cô gái đang khâu, lưng quay ra ngoài, tuồng như đang đợi anh thức dậy… Anh không sao chuồi được xuống giường để bước đi trong căn phòng thần tiên. Anh lại ngủ thiếp đi… nhưng anh thề lần sau sẽ vùng dậy. Có thể sáng mai!....
 
0
CHƯƠNG XI
LÂU ĐÀI BÍ ẨN
  Tới rạng sáng, anh đã lại lên đường. Nhưng đầu gối bị sưng làm anh đau nhói. Mỗi khi quá đau, anh phải dừng chân ngồi nghỉ. Nơi anh đang đi là hoang vắng nhất vùng Xôlônhơ. Cả sáng, anh chỉ nhìn thấy một cô chăn cừu lừa cừu ở tít chân trời. Anh gào gọi cô vô ích, cố chạy đuổi theo. Cô biến mất, nào nghe được tiếng anh.
Tuy thế, anh vẫn bước theo hướng cô, nhưng lê chậm đến đau lòng… Không một mái tranh, không cả tiếng kêu của một con chim chắt mỏ trong lau sậy ven ao đầm. Trên cái hoang vu toàn vẹn đó, chói lọi vầng mặt trời tháng 12 sáng rõ và lạnh lẽo.
Có lẽ phải ba giờ chiều, anh mới nhận thấy một ngọn tháp nhỏ màu xám hình mũi tên vươn lên bên trên một rừng thông.
“Một trang viên cổ bị bỏ hoang – anh tự nhủ - một nhà nhỏ cheo leo bên sườn núi cô liêu…”
Không rảo bước, anh tiếp tục cuộc hành trình. Đến góc rừng, anh đến trước một lối đi có trồng cây hai bên, anh đi vào lối đó. Được vài bước, anh sững lại, kinh ngạc, lòng xúc động một cách khó tả. Rồi anh lại bước đi vẫn thất thểu như trước. Gió lạnh thổi khô nẻ môi, lúc lúc lại bạt mất hơi thở. Mặc dù thế, một sự mãn nguyện phi thường nâng đỡ anh, một sự thanh thản trọn vẹn và gần như ngây ngất, sự vững tin rằng mục đích của anh đã được đạt tới, và hiện giờ chỉ còn niềm hạnh phúc phải hy vọng mà thôi. Khác gì ngày xưa, hôm trước những ngày lễ lớn mùa hè, anh cảm thấy như ngất đi, khi đêm xuống, người ta trồng thông trong các phố thị trấn, và cửa sổ buồng anh bị cành thông bịt kín.
“Vui sao – anh tự nhủ - vì mình đi đến cái chuồng bồ câu cũ, nhưng đầy chim cú và gió lùa này…”
  Rồi, giận dữ với chính mình, anh dừng lại, tự hỏi có nên rảo gót đi tiếp đến làng sau hay không. Anh cúi đầu ngẫm nghĩ, được một lát thì chợt nhìn thấy lối đi trước anh được quét dọn sạch thành những ô tròn rộng đều đặn, như ở quê anh bà con hay làm để đón lễ hội. Hóa ra anh đang đứng trên một con đường tương tự với phố chính của La Phectô, buổi sáng lễ Thánh mẫu thăng thiên. Anh nhận thấy ở chỗ ngoặt của lối mòn một tốp người vui vẻ đi bụi tung lên, như vào tháng sáu, anh ngạc nhiên, chưa bao giờ ngạc nhiên đến thế.
“Có thể có một cuộc lễ ở nơi vắng vẻ này chăng? – anh tự nhủ”
Tiến lên chỗ ngoặt đầu tiên, anh nhe tiếng cười nói lao xao đang đến gần. Anh nhảy nấp vào khoảng tùng non rậm rạp bên cạnh, ngồi xổm, nín thở lắng nghe. Đó là tiếng trẻ con. Một tốp trẻ con đi qua ngay sát anh. Một em trong nhóm,. Có lẽ là một bé gái, nói bằng giọng khôn ngoan và chín chắn, đến nỗi dù không hiểu hết ý em, Môn cũng không nén được một nụ cười.
- Tớ chỉ lo một điều thôi – cô ta nói – đó là vấn đề ngựa. Chẳng bao giờ người ta cấm Đanien, chẳng hạn, leo lên một con pônây vàng cao lớn.
- Không đời nào tớ bị cấm đâu – tiếng nói một cậu bé trả lời ý chế giễu – Chẳng phải chúng ta không được phép cưỡi con nào cũng được ư?... Ngay cả con làm chúng ta đau, nếu ta thích…?
Tiếng lũ trẻ a dần. Ngay lúc đó, một nhóm khác lại đã đến.
- Nếu băng tan – tiếng một cô gái nhỏ - ngày mai ta đi tàu thủy.
- Nhưng người lớn có cho phép không? – một giọng khác.
- Các cậu chẳng biết là buổi lễ được tổ chức theo ý chúng mình sao?
- Thế nếu Phrăng cùng vợ sắp cưới về ngay tối nay thì sao?
- Thì anh ấy sẽ làm cái ma chúng ta muốn!...
“Nhất định là một đám cưới – Môn Sếu tự nhủ - Nhưng ở đây trẻ con định đoạt à?... Thật là một lãnh địa kỳ lạ!”
Anh muốn ra khỏi chỗ nấp và hỏi xem mình có thể tìm ăn và uống ở đâu. Anh đứng lên, thấy nhóm trẻ cuối cùng đã xa. Đó là ba cô bé áo dài thẳng băng đến đầu gối. Ba cô đội ba cái mũ có dải rất xinh. Cô nào cũng có một cái lông chim trắng thõng xuống cổ. Một cô quay hẳn mình sang bên, hơi khom người, lắng nghe cô đi bên cạnh oang oang giảng giải, ngón tay trỏ giơ lên trời.
“Mình sẽ quát chúng nó một mẻ” - Môn tự nhủ, mắt nhìn cái blu nông dân rách toạc và cái dây lưng nhỏ kỳ cục của mình – một học sinh trung học trường Xanhlơ-Agat.
Sợ nhỡ bọn tre quay lại bắt gặp mình trên lối đi có cây, anh tiếp tục đi qua rừng thông, nhắm cái “chuồng chim bồ câu” không băn khoăn nhiều đến điều anh sẽ yêu cầu ở đấy. Chẳng bao xa, anh đã bị một bức tường xanh rêu chặn lại bìa rừng. Phía bên kia, giữa bức tường và các nhà phụ của tòa lâu đài, là một cái sân hẹp dài chất đầy xe cộ, giống như sân một quán trọ vào ngày chợ phiên. Xe đủ loại đủ cỡ: xe lớn ghế băng; xe nhỏ bốn chỗ ngồi xinh xắn, càng ghếch lên trời; xe kiểu Bourbon đã lỗi thời với những lan can có đường viền; và ngay cả xe hòm cổ mà kính đã bị gỡ hết.
Vẫn nấp trong rừng thông vì sợ bị phát hiện, Môn quan sát bãi xe lộn xộn, đột nhiên nhìn thấy một cửa sổ hé mở ở khu nhà phụ, đúng ngay bên trên chỗ ngồi của một cỗ xe to cao có ghế băng, ở đầu kia sân. Có hai thanh sắt đóng cửa sổ này, như thường thấy ở các chỗ chuồng ngựa hay gia súc bao giờ cũng đóng kín đằng sau các tòa biệt thự. Nhưng thời gian đã phá mất dấu niêm phong.
“Mình sẽ vào đó – chàng học sinh cao ngộc tự nhủ - Mình sẽ ngủ trong cỏ khô và mờ sáng ngày mai là chuồn, chẳng khiến các tiểu thư xinh tươi phải hốt hoảng”.
Anh len qua tường, leo khá vất vả vì cái chân đau, rồi vượt từ xe này đến xe kia, từ chỗ ngồi trên một xe lớn đến nóc một xe hòm, cuối cùng anh đến ngang tầm một ô cửa sổ mà anh đẩy ra êm ru như một cửa ra vào.
Vậy ra đây không phải là kho cỏ khô, mà là một phòng rộng trần thấp, ý chừng là một phòng ngủ. Trong ánh nhờ nhờ buổi chiều đông, anh nhận thấy rằng cái bàn, cái lò sưởi, thậm chí các ghế bành đều chất đầy những hình lớn, những vật có giá trị và vu khí cổ. Ở cuối phòng, các tấm ri-đô đều buông, chắc để che một khuê phòng.
Môn đóng cửa lại, phần vì lạnh, phần vì sợ bị bên ngoài nhìn thấy. Anh tiến đến nâng tấm ri-đô ở cuối lên, và phát hiện ra một cái giường lớn thấp lè tè. Phủ đầy sách cổ bìa mạ vàng, đàn lure cổ đứt dây, chân đèn vứt lung tung. Anh gạt các thứ ấy vào một góc, rồi ngả lưng xuống nghỉ, và chợt nghĩ loáng thoáng đến cuộc phiêu lưu kỳ lạ mà mình đã dấn thân vào.
Cả tòa lâu đài chìm trong im lặng mênh mông. Đôi lúc mới nghe gió lộng cuối năm rên rỉ.
Nằm thẳng cẳng, Môn đi đến chỗ tự hỏi rằng, dù có những cuộc gặp gỡ ly kỳ như thế này, dù có tiếng lũ trẻ đi trên lối đi hai bên trồng cây, dù có xe pháo chất đầy trong sân, như anh tưởng lúc đầu, đây đơn thuần chỉ là ngôi nhà gạch cũ bỏ hoang torng mùa đông cô quạnh.
Nằm chưa nóng chỗ, anh cảm thấy hình như gió mang đến cho anh tiếng nhạc xa vời. Đấy như một kỷ niệm đầy đắm say và luyến tiếc. Anh nhớ lại cái thời mà mẹ anh, hãy còn trẻ, chiều chiều ngồi vào đàn piano trong phòng khách, và anh, chẳng nói năng gì, ngồi sau cửa ra vào hướng ra vườn, mải mê lắng nghe mẹ đàn cho đến đêm.
“Có lẽ ai chơi piano đâu đây?” – anh nghĩ.
Nhưng bỏ lửng câu hỏi, mệt nhoài, chả bao lâu, anh đã ngủ thiếp đi…
 
0
CHƯƠNG XII
BUỒNG CỦA OENLINHTÔNG
  Anh thức dậy thì rời đã tối, rét run, anh trằn trọc mãi trên giường, làm nhàu chiếc blu đen dưới lưng. Một làn ánh sáng nhạt màu lục lam tưới đẫm các tấm ri-đô che góc phòng anh đang nghỉ.
Anh ngồi lên, lách đầu vào giữa hai tấm ri-đô. Ai đó đã treo lên khuôn cửa hai cái đèn lồng xanh kiểu Vơnidơ. Mới nhìn đảo một lượt, Môn đã nghe ở đầu cầu thang có tiếng bước chân rất khẽ và tiếng thì thầm. anh lại lui vào chỗ ẩn, đôi giày đóng cá chạm loảng xoảng vào những đồ đồng đã bị gạt vào rìa tường. Hú vía, anh gần như nín thở. Tiếng chân lại gần và hai bóng người lướt vào phòng.
- Khẽ chứ – một người nói.
- Hề, thế mà nó kịp thức dậy rồi! – người kia đáp.
- Cậu trang trí phòng nó chưa?
- Đương nhiên là đã! Như các phòng khác vậy.
Gió đập cánh cửa sổ để ngỏ.
- Cậu  chẳng khép cửa sổ lại – tiếng nói thứ nhất – Gió thổi tắt một cái đèn rồi. Phải thắp lại thôi.
- Dào – tiếng đáp lại, lộ vẻ lười biếng và bỗng nhiên chán nản – Chiếu sáng phía này toàn đồng không mông quạnh phỏng ích gì? Ma nào nhìn thấy nào?
- Ma nào đấy ư? Ban đêm khách vẫn còn đến. Từ trên xe ngoài đường, thấy đèn họ sẽ yên tâm.
Môn lại nghe tiếng đánh diêm. Người vừa nói, và hẳn là phụ trách, lại nói tiếp với giọng chững chạc, như kiểu một người phu đào huyệt của Shakespeare – Cậu cho đèn lồng xanh vào buồng Oenlinhtông. Cho cả đèn đỏ nữa… Về chuyện này, cậu không thể thạo hơn tớ.
Im lặng.
- … Oenlinhtông là người Mỹ hả? và màu xanh là một màu Mỹ à? Là nhà hài kịch từng chu du đó đây, hẳn cậu phải biết.
- Cha cha – nhà “hài kịch” đáp lời – từng chu du? Ừm, tôi từng đi đó đây thật. Nhưng chẳng thấy gì hết. Ngồi trong một căn nhà lăn trên bánh xe có mà thấy…
Môn thận trọng nhìn qua khe các ri-đô.
Người chỉ huy là một tôn ông hộ pháp đầu trền lút trong một áo choang mênh mông. Y cầm một cây sào dài treo đầy đèn lồng đủ màu sắc sặc sỡ. Và đứng bắt chéo chân, y thản nhiên nhìn gã kia làm lụng.
Còn nhà hài kịch, thì thân tàn ma dại không tưởng tượng được. Cao lênh khênh, gầy giơ xương, run cầm cập, mắt lác, màu lục lam, râu mép rủ xuống cái mồm, gã trông như một thằng chết trôi vừa được vớt lên đang còn rỏ nước ròng ròng. Gã chỉ mặc sơ-mi trần, nên mấy cái răng còn lại cứ va lập cập. Lời nói và cử chỉ của gã đều để lộ sư khinh bỉ đối với chính mình.
Sau một lát tỏ vẻ suy nghĩ vừa đắng cay vừa hài hước, gã lại gần ông kia, dang hai tay ra và thổ lộ.
-  Anh có muốn tôi nói cho nghe không…? Tôi không hiểu nổi tại sao người ta lại muốn những kẻ nhìn phát tởm như chúng ta vào phục dịch trong một uộc lễ như thế này! Vậy đấy, tôi không hiểu nổi…
Đâu thèm để tâm đến nỗi niềm kia, ông hộ pháp vẫn đứng chéo chân, theo dõi công việc của gã, ngáp dài, lặng lẽ hít vào, rồi quay lại, vác sào lên vai, vừa bước đi vừa bảo:
- Đi thôi! Đến giờ bận trang phục cho bữa chiều rồi!
Gã tứ chiếng đi theo, nhưng khi qua khuê phòng:
- Ông đang ngủ ơi – gã nói với giọng đùa cợt vừa cung kính vừa khúm núm – Xin quý ông dậy thôi, và ăn vận thật sang vào, ngay cả nếu ông cũng ốm o như tôi. Rồi mời ông xuống tham gia hội trá hình, vì đấy là niềm thích thú tuyệt vời của các đức ông và các tiểu thư này!
Gã nói thêm, hết sức tôn kính, với giọng phỉnh phờ như dân buôn ngoài chợ.
-  Anh bạn Maloiô của chúng tôi, tùy viên nấu bếp, sẽ giới thiệu với ông nhân vật Aclơcanh, và người phục vụ ông sẽ giới thiệu nhân vật Pierô vĩ đại!
 
0
CHƯƠNG XIII
CUỘC LỄ LẠ KỲ
  Họ vừa đi khuất, chàng học sinh đã ra khỏi chỗ ẩn. hai bàn chân lạnh ngắt, các khớp tê dại. Nhưng dù sao anh cũng đã được nghỉ ngơi và đầu gối xem chừng đã hết đau.
“Xuống ăn tối – anh nghĩ – lẽ tất nhiên mình sẽ xuống. Mình sẽ là một khách được mời mà người ta quên tên, đơn giản thế thôi. Vả chăng, mình không phải là một kẻ vào trộm chỗ này. Không hề nghi ngờ gì nữa, Malioô và bạn ông ấy chờ mình”.
Ra khỏi khuê phòng tối mịt, anh nhìn khá rõ mọi thứ trong căn phòng ánh sáng đèn lồng xanh.
Gã tứ chiếng đã “trang hoàng” căn phòng. Nhiều áo măng-tô treo trên móc áo. Trên một cái bàn trang điểm nằng nặng với mắt đá đã rạn, gã đã để sẵn các thứ có thể biến một anh chàng phải ngủ đêm trong một chuồng cừu hoang phế thành một ông hoàng sang trọng. Trên lò sưởi, mấy ao diêm đặt bên một cây nến to. Những gã đã quên đánh bóng rầm nhà. Còn nền nhà thì cát lạo xạo dưới chân. Một lần nữa, anh có cảm giác đang trong một ngôi nhà từ lâu hoang vắng… Trong khi đi về phía lò sưởi, anh suýt đụng phải một chồng hòm các tông lớn và hộp nhỏ. Anh bèn với tay, thắp nến, rồi cúi xuống cạy các nắp hộp lên xem.
Đây là trang phục thanh niên lâu đời rồi, áo rafanhgết cổ lông cao, gi-lê cổ rộng thanh tú, vô số cra-vát trắng, gầy đánh xi từ đầu thế kỷ. Anh không dám chạm vào bất cứ vật gì, dù là bằng đầu ngón tay. Nhưng sau khi rung người và phủi sạch bụi bám, anh khoác ra ngoài cái áo blu học sinh của mình một trong những chiếc măng-tô dài nhất, rồi lật cổ áo bị gấp lên, thay đôi giầy đóng cá bằng đôi giày lửng khiêu vũ thanh thoát, và chuẩn bị đi xuống, đầu trần.
Không đụng ai cả, anh xuống tận chân cầu thang gỗ ở góc khoảng sân tối om om. Gió đêm lạnh ngắt thổi vào mặt anh và hất một vạt áo măng tô lên.
Anh tiến vài bước, và nhờ ánh mặt trời mờ nhạt, anh nhận ra ngay cảnh vật chung quanh. Anh đang đứng trong một cái sân nhỏ bao bọc bởi mấy căn nhà phụ. Ở đây, tất cả có vẻ cũ kỹ và hoang tàn. Các chân cầu thang đều trống hoác như những cái mồm mở rộng, vì cửa giả đã bị gỡ đi không hiểu tự bao giờ. Các ô kính vơ trên cửa sổ cũng không được thay thế, để trơ ra những hốc đen ngòm trên mặt tường đêm. Mặc dù vậy, mấy căn nhà vẫn đầy đủ vẻ bí ẩn của lễ hội. ánh đèn màu chập chờn trong các phòng thấp hẳn cũng được đốt đèn lồng phía cánh đồng. Đường đi lối lại được giẫy cỏ, quét sạch. Cuối cùng, chăm chú lắng tai, Môn tưởng như nghe thấy một bài ca, tiếng trẻ con và thiếu nữ, ở đằng kia, phía các ngôi nhà mờ ảo mà gió đang lay động cành cây trước những khoảnh sáng màu hồng, xanh lá cây hay cxanh lơ hắt ra từ cái cửa sổ.
Anh đang đứng đấy, trong cái măng-tô dài rộng, hơi lom khom, tai giỏng lên nghe, thì một chàng trai bé nhỏ trông rất kỳ lạ đi ra từ căn nhà bên cạnh mà anh tưởng bỏ không.
Chàng trai đội một cái mũ cao rất tròn, lấp loáng như làm bằng bạc, cái áo thì cổ cáo chạm tóc, gi-lê cổ rất rộng,, quần dài quá gót… rất trang nhã, chừng mười lăm tuổi, chàng bước trên đầu ngón chân, tưởng như mép quần làm bằng chất co giãn, tuy thế chàng đi nhanh lạ lùng. Khi đi qua, chàng chào Môn một cách máy móc, hết sức thân ái, nhưng không dừng chân và biến vào bóng tối, về phía ngôi nhà chính, sừng sững không rõ là lâu đài hay tu viện, mà ngọn tháp nhỏ đã chỉ đường cho chàng học sinh vào đầu buổi chiều.
Sau một lát đắn đo, người anh hùng của chúng ta đi theo nhân vật bé nhỏ hấp dẫn kia. Hai người xuyên qua một cái như vừa là sân, vừa là là vườn, len lỏi giữa những khối non bộ, đi vòng một ao nuôi cá che chắn bằng hàng rào gỗ, một cái giếng, và cuối cùng đến cửa ngôi nhà chính.
Một cửa ra vào bằng gỗ nặng trình trạch, phía trên tròn xoay và đóng đinh như cửa nhà mục sư, đã mở hé sẵn. Chàng trai trang nhã biến vào trong. Môn theo luôn, nhưng vừa vào hành lang, chẳng gặp ai, đã bị vây bởi những tiếng cười, tiếng hát, tiếng đuổi nhau.
Cuối hành lang dọc này là một hành lang chéo. Môn phân vân không biết nên đi đến đến cùng hay đẩy một cái cửa ra vào mãi từ đằng sau dội ra tiếng cười nói. Đúng lúc đó, anh thấy hai cô bé đuổi nhau ở cuối hành lang. Anh rón rén chạy đuổi theo hai cô, để nhìn cho rõ. Tiếng cửa mở ra, hai khuôn mặt tuổi 15 dưới hai cái mũ rộng có dải đỏ hồng lên vì khí mát ban đêm và cuộc ruột đuổi, và tất cả sắp biến đi trong một vầng sáng chợt lóe lên.
Trong một giây, hai cô nghịch ngợm quay tròn quanh mình. Hai cái váy nhẹ bổng tung bay phồng lên. Môn nhìn thấy dải đăng-ten trên hai chiếc quần rất dài và ngộ nghĩnh. Sau trò xoay chong chóng, rụp một cái, cả hai nhảy vào trong và đóng cửa lại.
Như bị lóa mắt, Môn lảo đảo giây lát giữa cái hành lang đen ngòm. Giờ thì anh sợ bị bắt quả tang. Dáng đi ngập ngừng và vụng về của anh nhất định khiến người ta cho anh là một thằng ăn trộm. Anh sắp quả quyết trở lại thì nghe tiếng chân và tiếng trẻ em ở cuối hành lang. Hai cậu bé vừa nói vừa đi đến gần.
- Sắp ăn chiều chưa? – Môn quả quyết hỏi.
- Đi với chúng em – cậu bé lớn trả lời – chúng em sẽ đưa anh đến đó.
Và với niềm tin và nhu cầu tình bạn mà trẻ em thường có hôm trước một cuộc lễ lớn, hai đứa bé nắm lấy mỗi đứa một bàn tay anh. Có lẽ các em là con nông dân. Bố mẹ đã vận cho các em trang phục đẹp nhất.Quần chẽn lửng ngang để lộ đôi tất len dày sụ và đôi giày guốc đế gỗ, áo nịt ngang hông may bằng nhung xanh, mũ cát-két cùng màu và áo cra-vát trắng.
- Mày biết chị ấy không? – một cậu bé hỏi bạn.
- Mẹ bảo chị ấy mặc áo dai đen – cậu bé nhỏ hơn, có mái đầu tròn, mắt ngây thơ đáp lại – cổ áo chị ấy phồng. nên nom như một con chim sẻ xinh xẻo.
- Các em nói ai vậy? – Môn Sếu hỏi.
- Vợ chưa cưới mà anh Phrăng đi tìm ấy ạ…
Chàng trai chưa kịp nói gì thì ba anh em đã đến trước cửa một căn phòng rộng rực rỡ ánh đèn. Bà ăn là những tấm ván, kê trên giá gỗ, phủ khăn trắng. Người đủ hạng đang ăn một cách trịnh trọng.
 
0
CHƯƠNG XIV
CUỘC LỄ LẠ KỲ (tiếp)
  Đấy là một bữa ăn, trong một căn phòng rộng lớn trần thấp, cũng như những bữa ăn mà người ta thết đãi những bà con từ rất xa đến vào hôm trước ở nông thôn.
Hai đứa bé đã buông tay chàng học sinh và chạy vụt vào một căn phòng bên cạnh, từ đó vang ra tiếng trẻ thơ và tiếng cùi dìa va vào đĩa. Can đảm và không xao xuyến, Môn bước qua một ghế dài, đến ngồi bên mấy bà lão nông dân. Tức thì anh bắt vào ăn hết sức ngon lành. Ăn được một thôi, anh mới ngẩng lên nhìn khách khứa và nghe trò chuyện.
Vả lại, khách ăn cũng nói ít thôi. Hình như họ ít quen biết nhau. Hẳn có người đến từ những xóm làng xa xôi hẻo lánh, có người đến từ những thành phố xa vời. Lác đác ở các bàn ăn, có những cụ già có râu mép, có những cụ mày râu cạo nhẵn nhụi chắc trước là thủy thủ. Bên cạnh các cụ là những cụ ông khác giống hệt: cũng những bộ mặt như da thuộc, cũng những đôi mắt còn tinh nhanh dưới đôi mày rậm rì, cũng những cra-vát bé quăn như dây gìay… Nhưng dễ dàng nhận thấy rằng các cụ già này chưa bao giờ đi xa, lênh đênh quá biên giới huyện. Nếu như hàng trăm nghìn lần các cụ từng lắc lư và lảo đảo dưới cơn mưa rào hay trong gió lộng thì đó là vì cuộc du lịch nhọc nhằn nhưng không nguy hiểm nhằm lật luống cày cho đến cuối ruộng, rồi quay ngược trở về… Môn nhận thấy khách nữ ít thôi. Chỉ có vài bà cụ mặt tròn nhăn nheo như táo khô với những cái mũ bonné là qua quýt.
Trong các khách ăn này, không có người nào mà Môn cảm thấy không tin cậy và dễ chịu khi ở gần. Về sau, anh giải thích ấn tượng ấy như sau: khi phạm một lỗi nặng nề không thể tha thứ, lòng đây cay đắng, đôi khi anh nghĩ rằng: “dù sao trên cõi đời này vẫn có những người tha thứ cho ta”. Anh tưởng tượng đến những bậc già cả, những người ông người bà đầy lượng bao dung, tất cả điều vững tin trước rằng mọi việc mà anh làm đều được làm tốt. Dĩ nhiên giữa những con người tốt đẹp ấy, những khách mời trong căn phòng rộng lớn này đã được lựa chọn. Số khách còn lại là thiếu niên và trẻ em.
Tuy nhiên ngay cạnh Môn, hai bà lão nông dân trao đổi:
- Cứ cho là mọi chuyện thông đồng bén giọt – bà lão nhiều tuổi hơn nói bằng một giọng kỳ cục và chói tai àm bà không sao giảm bớt được – trước ba giờ mai, cô dâu chú rể cũng chưa có mặt đâu.
- Thôi đi bà, bà đừng làm tôi sôi tiết lên – ba kia đáp hoàn toàn bình tĩnh.
Bà nhiều tuổi hơn vấn ngang trán chiếc khăn trùm đầu đan tay. Rồi nói như không:
-Này nhớ. Đi tàu hỏa mất một giờ rưỡi từ Buôcgiơ đến Viecdông, rồi đi xe bảy dặm từ Viecdông đến đây…
Cuộc trao đổi tiếp tục. Môn không bỏ sót một lời. Nhờ uộc cãi vã này, Môn dần dần hiểu lơ mơ câu chuyện: Phrăng đơ Gale, con trai trong lâu đài – sinh viên, thủy thủ, hay thực tập sinh hàng hải gì đó – đã đi Buôcgiơ tìm một cô gái và cưới làm vợ. Nhưng lạ lùng là, chàng trai này, hẳn còn rất trẻ và thích chơi ngông, điều khiển mọi việc theo ý riêng. Chàng ta muốn rằng ngôi nhà mà vợ chưa cưới đi vào phải giống một lâu đài trong ngày hội. Để ăn mừng cô dâu, đích thân chàng mời lũ trẻ và các cụ ông cụ bà quá hiền hậu này. Đấy là hai điểm mà cuộc bàn cãi đã xác định dứt khoát. Phần còn lại vẫn trong bí ẩn, hai cụ bà bàn đi bàn lại hoài về việc trở về của chú rể cô dâu. Cụ thì bảo sáng mai họ về đến đây. Cụ thì cam đoan phải đến chiều .
- Moanen ơi, bao giờ bà cũng điên như vậy. Rõ tội! – bà cụ trẻ hơn thốt lên.
- Còn bà, Aden đáng thương ạ, suốt đời ngang bướng. Bốn năm gặp lại, bà vẫn chứng nào tật nấy – cụ kia nhún vai, nhưng giọng vẫn như thường.
Hai cụ chẳng ai chịu ai, song vẻ mặt cứ hiền khô. Môn Sếu xen vào, mong biết thêm câu chuyện.
- Thưa, cô dâu đẹp như người ta đồn chứ ạ?
Hai cụ nhìn anh, sửng sốt. Đã có ai ngoài Phrăng nhìn thấy cô gái. Chính anh ấy, trên đường từ Tulông trở về, đã gặp cô một buổi tối trơ trọi giữa một trong những vườn hoa ở Buôcgiơ mà thiên hạ gọi là Các Đầm. Bố cô, một thợ dệt, đã đuổi cô khỏi nhà. Cô khá xinh và Phrăng quyết định ngay là sẽ lấy cô. Thật là một chuyện dị thường. Nhưng ông Gale, cha anh và chị gái Yvon nhất quyết không chấp thuận!...
Môn đang ngẫm nghĩ nêu tiếp câu hỏi, thì chợt hiện ra ở cửa một đôi thật đẹp: cô gái 16 tuổi áo cánh nhung, váy phồng to, chàng trai áo cổ cao, quần chun. Họ đi qua phòng, phác một bước nhảy đôi. Nhiều đôi khác theo họ. Rồi chạy ùa vào nhiều toán khách kêu chí chóe, đuổi theo là một anh hề cao lêu đêu, tay áo dài lụng thụng, mũ bonné đen, mặt tái nhợt lại hoác cái mồm móm ra cười. Anh xoạc cẳng chạy từng bước dài thật ngộ, đồng thời vung vẩy loạn xạ đôi tay áo nồng. Thấy vậy, các cô gái hơi sợ. Cánh thanh niên thì siết tay anh. Anh tỏ ý muốn mua vui cho đám trẻ con vừa la ó vừa bám theo sau. Trên đường, anh nhìn Môn bằng đôi mắt đùng đục. Chàng học sinh tin mình nhận ra chính là bạn của Maloiô, chính là gã giang hồ lúc nãy đã treo đèn lồng, giờ thì đã cạo trụi râu.
Bữa ăn đã xong. Mọi người đứng dậy.
Trong các phòng ăn, người ta tổ chức nhảy điệu vòng tròng và phrăngđon. Đau đó, nổi lên tiếng nhạc điệu nhảy mơnayê… Đầu khuất một nửa trong cổ áo măng-tô, Môn cảm thấy như mình là ai khác. Cũng bị niềm hân hoan chung lôi cuốn, anh bắt đầu đi theo anh hề qua các hành làng lâu đài, khác nào kịch câm từ hậu trường sân khấu lan ra khắp nơi. Cho đến hết đêm, anh hòa vào đám đông vui nhộn áo quần lố lăng như thế. Đôi khi,a nh mở một cửa, len vào một căn phòng mà người ta chỉ cho xem chiếc đèn lồng thần kỳ. Trẻ em gào lớn hoan hô. Đôi khi, trong một góc phòng khách mà người ta đang khiêu vũ, anh ắt chuyện với một công tử và được biết một cách quá vội vàng về trang phục sẽ mặc những ngày tiếp theo.
Dần dà, cảm thấy hơi đau khổ vì tất cả niềm hạnh phúc được hưởng, và lúc nào cũng sợ áo măng-tô hé mở để lộ chiếc áo blu học sinh trung học của mình, anh muốn tạm lánh vào một nơi nào đó tối nhất và yên tĩnh nhất của lâu đài. Ở đây, anh sẽ chỉ nghe bập bùng xa thẳm tiếng đàn piano.
Anh vào một căn phòng lặng lẽ, đấy là một phòng ăn chiếu sáng bởi một ngọn đèn treo. Ở đây vẫn là hội, nhưng hội cho các em thơ bé nhất.
Một số em ngồi trên những ghế nệm thấp nhỏ, giở xem an-bom để trên đầu gối. Số khác ngồi xổm trước một cái ghế tựa và trang trọng trải lên mặt ghế các tấm ảnh. ổ nữa ngồi gần lò sưởi, chẳng làm gì, chẳng nói gì, nhưng lắng nghe tiếng hội vọng về từ xa trong lâu đài.
Một cửa ra vào của phòng ăn này mở toang. Có thể nghe được tiếng đàn piano ở phòng sát bên. Môn nghểnh cổ một cách tò mò. Đấy là một kiểu phòng khách nhỏ kiêm phòng giao dịch công việc. Một phụ nữ hay một cô gái, vai khoác một áo măng-tô dài màu hạt dẻ, quay lưng lại, chơi thật tha thiết, các bản nhạc nhảy vòng tròn hay nhạc của các bài ca ngắn. Trên chiếc đi-văng ngay bên cạnh, sáu bảy bé gái và bé trai, ngồi ngay ngắn như trong tranh, ngoan ngoãn như thói quen của trẻ khi đã khuya, đang lắng nghe chăm chú. Chỉ thỉnh thoảng, một em mới chống tay lom khom nhổm dậy, chuồi xuống nền nhà, đi vào phòng ăn. Tức thì, một trong số các em đã xem xong ảnh thay vào…
Sau cuộc lễ trong đó cái gì cũng đầy hương vị, nhưng mê mẩn và điên rồ, trong đó bản thân anh cũng cuồng lên chạy theo anh hề, giờ đây Môn đắm vào niềm hạnh phúc êm đềm nhất trần gian.
Không một tiếng động, trong khi cô gái vẫn chơi đàn, anh quay lại ngồi trong phòng ăn, rồi mở một trong những quyển sách bìa đỏ to tướng để tản mác trên bàn, anh bắt đầu đọc một cách lơ đãng.
Gần như cùng một lúc, một em nhỏ đang ngồi dưới nền nhà bước đến gần anh, bíu lấy cánh tay, leo lên đầu gối để xem sách cùng. Một em khác cũng leo lên phía bên kia như vậy. Bây giờ, đây chính là một giấc mơ giống như giấc mơ của anh thưở trước. Anh có thể mường tượng rất lâu rằng anh đang ngồi trong ngôi nhà của chính anh, một tối đẹp trời, là chồng hẳn hoi, và con người dễ thương và xa lạ đang chơi piano kia, sát bên cạnh kia, chính là vợ anh…
 
0
CHƯƠNG XV
GẶP GỠ
  Sáng hôm sau, Môn là một trong những người sẵn sàng đầu tiên. Như người ta khuyên, anh mặc một bộ quần áo đen giản dị, theo một áo cũ, một áo dài thắt ngang lưng, ống tay phồng ở vai, một gi-lê chéo go, một quần loe, loe đến mức trùm kín đôi giày xinh xắn, và một cái mũ thành cao.
Khi anh xuống, sân còn vắng. Đi vài bước, anh bỗng cảm thấy bồi hồi như đang ngày xuân. Quả thật, đây là buổi sáng ấm áp nhất của ngày đông năm ấy. Trời nắng như vào đầu tháng tư. Gió tan và cỏ ướt long lanh như giát ngọc. Chim nhỏ hót líu ríu đó đây trên cành, và thỉnh thoảng gió ấm hiu hiu mơn man trên mặt chàng trai đang đi dạo.
Anh làm như các khách mời thức dậy trước chủ. Anh đi ra sân, từng phút từng giây mong, có ai đó kêu lên đằng sau, một cách thân ái và vui vẻ:
- Đây rồi, a, Ôguyxtanh?
Nhưng anh cứ dạo bước mãi, chỉ có một mình, qua sân vườn. Đằng kia, trong ngôi nhà chính, chưa co gì động tĩnh, ở cửa sổ cũng như ở ngọn tháp. Tuy thế, người ta đã mở hai cánh cửa cái ra vào bằng gỗ tròn xoay ở phía trên. Trong một cửa sổ trên cao, đã nhấp nháy những chùm tia nắng đầu tiên như trong mùa hè.
Lần đầu tiên, Môn ngước nhìn thấy giữa ban ngày phần bên trong của lâu đài. Vết tích của một bức tường phân cách khu vườn xơ xác với những khoảng sân vừa đổ cát và san phẳng chưa bao lâu. Cuối khu nhà phụ mà anh từng trú ngụ, là chuồng gia súc xây lộn xộn một cách tức cười. Vì vậy, ở đó có vô số ngóc ngách mọc đầy nho hoang và các loại cây dại nhỏ. Gần khắp xung quanh lâu đài là những rừng thông nhấp nhô như sóng che khuất nó trước cả một vùng bằng phẳng lân cận trừ phía đông, nơi có thể thoáng thấy những quả đồi xanh lam phủ đá hộc và cả cây thông.
Trong vườn, Môn đứng cúi một lát bên trên hàng rào gỗ lung lay quây lấy cái ao nuôi cá. Gần bờ vẫn còn một chút băng chưa tan, mỏng manh và gợn lăn tăn như bọt. Anh thấy mình trong nước, như nghiêng xuống bầu trời, trong bộ trang phục sinh viên lãng mạn. Và anh tưởng như nhìn thấy một thằng Môn khác, không phải cữu học sinh lỉnh mất trong một chiếc xe ngựa nông dân có mui, mà là một nhân vật tuấn tú và lãng mạn, trung tâm của một cuốn sách hay quý giá…
Anh đi vội về ngôi chính vì đã đói bụng. Ở gian lớn mà anh đã ăn tối qua, một chị nông dân đã thay bộ đồ ăn. Môn vừa ngồi xuống trước một trong những chiếc chén xếp thẳng hàng trên khăn bàn, chị liền rót cà phê cho anh và bảo:
- Thưa ông, ông là người thứ nhất.
Anh không muốn trả lời, vì sợ đột nhiên bị phát giác là người lạ. Anh chỉ hỏi mấy giờ thì chuyến tàu đi chơi sáng sớm như đã thông báo sẽ khởi hành.
- Không trước nửa giờ nữa, thưa ông. Chưa ai xuống ạ.
Anh tiếp tục lang thang xung quanh tòa lâu đài với những cánh không đều nhau như một nhà thờ để tìm nơi tàu cập bến. Khi vòng quanh cánh phía nam, anh chợt nhìn thấy lau mọc lít lấp, tạo thành như một bức tường sừng sững đến nơi vô tận. Từ phía ấy, nước các ao đầm dâng đến đây làm ướt các chân tường gạch. Trước nhiều cửa ra vào, có những ban công nhỏ bằng gỗ vươn ra bên trên sóng nước vỗ oàm oạp.
Chẳng có việc gì làm, chàng trai dạo tiếp hồi lâu trên bờ nước đầy cát như đường kẻ cho tàu thuyền cập vào. Anh tò mò quan sát những cửa ra vào cao rộng với những ô kính phủ bụi mở vào những căn phòng tiêu điều hay hoang phế, những bãi chất xe cút kít, dụng cụ hoen gỉ, lọ hoa vỡ. Đang mải mê như vậy, chợt anh nghe từ đầu kia các khu nhà vọng lại tiếng chân lạo xạo trên cát.
Ấy là hai phụ nữ, một còng lưng rất già, một trẻ măng tóc hoe, cao thon, với bộ trang phục duyên dáng, thoạt nhìn tỏ ra khác thường đối với Môn cao ngồng sau tất cả những trò giả trang đêm qua.
Hai người dừng lại một lát ngắm phong cảnh, trong lúc Môn tự nhủ với sự kinh ngạc về sau anh mới thấy là lố bịch:
“Đây chắc chắn là một cô gái mà thiên hạ cho là lập dị - có lẽ một nữ nghệ sĩ được triệu đến cho cuộc lễ”.
Hai phụ nữ đi qua sát Môn và anh đứng im nhìn cô gái. Về sau thường thường, khi thiếp đi sau bao cố gắng tuyệt vọng mong nhớ lại khuôn mặt xinh đẹp đã bị xóa mờ, anh mơ thấy từng đoàn cô gái giống như cô gái hôm nay. Cô thì giống ở cái mũ, cô giống ở dáng đi hơi cúi, cô khác giống ở cái nhìn trong sáng tuyệt vời, cô nữa giống ở thân hình thon thả, cô nữa cũng có đôi mắt xanh. Nhưng mãi mãi chẳng có cô nào là cô gái cao thon.
Môn kịp nhận thấy dưới bộ tóc dày vàng hoe một bộ mặt hơi ngắn, nhưng các đường nét được vẽ ra với sự tinh tế gần nhu đau khổ. Vì loáng cái cô đã lên phía trước, anh ngắm phục sức của cô và nhận thấy đó là cách phục sức khéo léo giản dị nhất…
Bối rối, anh tự hỏi có nên đi theo không, thì cô gái buộc lòng phải quay về phía anh và nói với bà lão:
- Chắc tàu đến ngay giờ chứ ạ?...
Và Môn đi theo liền. Bà lão, run rẩy, cứ như gẫy gập theo mỗi bước chân, cười nói thao thao bất tuyệt. Cô gái chỉ đáp lại nhỏ nhẹ, khi hai người đi xuống bến tàu, thậm chí cô còn có cái nhìn ngây thơ và trịnh trọng như muốn nói:
- Ông là ai? Ông làm gì nơi này? Tôi không quen ông. Thế nhưng, hình như tôi có biết.
Khách mời bây giờ đã tản mác dưới các gốc cây, chờ đợi. Ba chiếc du thuyền cặp mạn, sẵn sáng đón các du khách. Từng người một đi qua trước hai người phụ nữ tỏ ra là bà chủ lâu đài và cô con gái. Các chàng trai chào hai người vô cùng kính cẩn. các cô gái thì ngiêng mình. Ôi, buổi sáng tuyệt kỳ! Niềm vui thú kỳ diệu! Dù có mặt trời hiện rõ trên kia, trời đông vẫn lạnh. Các bà các cô quấn quanh cổ những chiếc khăn bằng lông chim như những con trăn vốn là mốt lúc bấy giờ.
Bà lão dừng lại trên bờ, bà không hiểu sao, Môn xuống, cùng một du thuyền với tiểu thư con bà. Anh tì cùi tay lên cây cầu, một tay giữ chiếc mũ chực bay đi theo gió lộng. Anh có thể thoải mái ngắm cô thiếu nữ ngồi trong mui. Cô cũng nhìn anh. Cô đáp lời các du khách, mỉm cười, rồi vừa hơi cắn môi vừa dịu dàng đặt đôi mắt xanh lên anh.
Hai bờ sông yên ả lạ thường. Con thuyền êm trôi trong tiếng máy và tiếng sóng đều đều nhỏ nhẹ. Tưởng như sắp cặp thuyền vào một khu vươn nông thôn nào đó. Thiếu nữ sẽ bước lên, giương chiếc ô trắng che mình và đi dạo. Cho đến chiều, sẽ nghe chim cu gáy hoài bốn bên như than thở… Nhưng đột nhiên, một cơn gió lạnh ào ạt thổi về, nhắc du khách của ngày hội kỳ lạ này rằng bây giờ đang là tháng 12.
Thuyền ghé vao trước một rừng thông. Trên bến, du ngoạn phải chen chúc nhau, chờ cho người lái thuyền mở khóa ba-ri-e… Sau đó, Môn đã vô cùng xúc động nhớ lại phút giây, trong đó, bên bờ ao, anh đã có ngay bên mình khuôn mặt từ đó biến đi của thiếu nữ. Anh đã được ngắm nhìn khuôn mặt trông nghiêng vô cùng trong trắng của cô, bằng cả hai mắt của mình, cho đến luc nước mắt sắp trào ra. Anh cũng nhớ nhìn thấy, như một bí mật ngọt ngào, rằng cô đã gởi lại một chút phấn trên má anh.
Trên bờ, mọi việc diễn ra như trong một giấc mơ. Trong khi trẻ con chạy vù đi với những tiếng kêu la hoan hỉ, du khách kết thành nhóm và tản ra trong rừng. Môn dấn vào một lối đi có cây ở hai bên, ở đó tiểu thư đang đi phía trước, cách anh mươi bước. Anh đến sát bên cô, chưa kịp nghĩ ngợi gì:
- bạn rất đẹp! – anh thốt ra giản dị.
Cô rảo bước, và không trả lời, đi sang hướng khác. Các du khách đi dạo trên các đường lớn, ai muốn đi đâu, làm gì là tùy. Chàng trai hết sức ân hận về cái mà anh gọi là sự ngu dốt, thô bỉ và dại dột của mình. Anh lang thang vô định, tin rằng không bao giờ còn gặp được người con gái kiều diễm. Vừa hay, anh thấy cô đang ngược về phía anh, dù muốn dù không cũng phải đi sát anh trên con đường hẹp.  Cô đưa hai bàn tay trần vuốt thẳng nếp gấp trên cái măng-tô dài. Cô có đôi giày đen hở chân rất rộng. Da ở mắt cá mịn màng đến nỗi như gợn lên theo từng bước đi và Môn sợ nó sắp rách đến nơi.
Lần này, chàng trai chào cô và nói rất khẽ:
- Bạn tha lỗi cho tôi chứ ạ?
- Tôi tha thứ cho anh – cô nói nghiêm khắc – Nhưng tôi phải đến với các em nhỏ vì chúng là chủ hội hôm nay. Vĩnh biệt!
Ôguyxtanh xin cô nán lại lát nữa. Anh nói ngượng nghịu, nhưng giọng đầy xúc động và bối rối, khiến cô chậm bước lại và lắng nghe.
- Thậm chí tôi chưa biết anh là ai – cuối cùng cô nói.
Tiếng nào cô thốt ra cũng đều đều như nhau, nhưng tiêng sau nghe vẫn dịu dàng hơn tiêng trước… Sau đó, cô lấy lại vẻ mặt bất động, làn môi hơi cắn, và đôi mắt xanh nhìn thẳng phía chân trời…
- Tôi cũng chưa biết tên bạn – Môn đáp.
Bây giờ hai người theo một con đường trụi cây và trông xa xa các du khách đang chen chúc quanh một ngôi nhà đơn độc giữa cánh đồng.
- Đấy là “nhà Phrăng” – cô gái nói – Tôi phải đi đây…
Cô do dự mỉm cười nhìn anh một lát, rồi thưa:
- tên tôi ấy à?... Tôi là cô Yvon de Gale…
Rồi cô rảo bước.
  ***
  Cho đến bây giờ “nhà Phrăng” không có người ở. Nhưng khi Môn đến, nó đầy người cho đến gian làm kho tầng trên. Vả chăng, anh không còn rảnh rổi để xem xét nơi mình vừa đến: khách đang hối hả dùng bữa ăn lạnh đem theo trên thuyền, rất không hợp mùa, nhưng chắc chắn là do lũ trẻ đã quyết định. Ăn xong, mọi người đi ra. Vừa thấy tiểu thư Gale trên ngưỡng cửa, Môn sáp lại ngay, và đáp lại điều mà cô cho mình biết lúc nãy.
- Cái tên mà tôi sắp nói với bạn đẹp hơn – anh nói.
- sao? Tên gì? – cô vẫn giữ giọng nghiêm trang.
Nhưng anh chợt kinh hãi vì vừa nói một câu ngu xuẩn nên im bặt.
- Tên tôi là Ôguyxtanh Môn – anh nói tiếp – tôi là sinh viên.
- Ồ, nah đang học? – cô hỏi.
Hai người trò chuyện lát nữa. Họ nói với nhau một cách thong thả, sung sướng, thân mật. Sau đó, thái độ của cô gái thay đổi. Bớt nghiêm khắc và kiêu sa, giờ đây cô cũng tỏ vẻ lo lắng hơn. Dường như cô hốt hoảng trước điều Môn sắp nói và chưa chi đã khiếp sợ. Đứng bên anh, cô run run không sao kìm được, khác nào một con én vừa bị đặt xuống đất đã run rẩy muốn cất cánh bay lên.
 -Để làm gì? Để làm gì cơ? – cô nhỏ nhẹ đáp lại những sự định mà Môn đề nghị.
Nhưng cuối cùng, khi anh dám xin phép một ngày kia trở lại lãnh địa đẹp đẽ này.
- Tôi sẽ chờ anh – cô đáp giản dị.
Họ đã đến chỗ nhìn thấy bến tàu. Cô chợt dừng chân và tư lự nói.
- Chúng ta là hai đứa trẻ. Chúng ta vừa làm một trò điên. Lần này không nên đi cùng thuyền. Vĩnh biệt, đừng theo tôi!
Môn chưng hửng, nhìn cô xa dần. Rồi anh bước tiếp. Và lúc ấy, từ phía xa, vào lúc sắp biến mất trong đám đông du khách, cô ngoái đầu lại, và lần đầu tiên, nhìn anh rất lâu. Phải chăng đây là ấu hiệu vĩnh biệt cuối cùng? Hay để cấm anh đuổi theo? Hay có thể cô muốn nói gì ới anh nữa?...
Khách vừa về đến lâu đài, người ta đã cho tiến hành ngay cuộc đua pônây trên một đồng cỏ, rộng và dốc, sau trang trại. Đây là phần cuối cùng của cuộc lễ. Theo dự kiến, cô dâu chú rể phải về kịp để tham gia và chính Phrăng sẽ điều khiển toàn bộ.
Đành bắt đầu không có anh. Các chàng trai vận trang phục thúc ngựa, các cô gái – trang phục cưỡi, kẻ dắt ra những chú pônây nhanh nhẹn quấn ruy-băng, người đưa tới những bác ngựa già ngoan ngoãn. Giữa tiếng la cười của trẻ thơ, tiếng cá cược và tiếng chuông gióng giả đổ hồi, người ta tưởng như dưới chân mình đang là một bãi đua thu nhỏ như trong truyện cổ, với lớp cỏ xanh rờn xén phẳng.
Môn nhận ra Đanien với mấy cô bé đội mũ lông chim mà anh đã nghe tiếng nói chuyện hôm qua trên lối đi trong rừng… Sau đấy, anh không nhìn thấy gì nữa, vì đau đáu tìm kiếm khắp nơi trong đám đông người xem chiếc mũ cắm hoa hồng duyên dáng và chiếc áo măng-tô màu hạt dẻ. Nhưng tiểu thư Gale không xuất hiện. Anh còn đang tìm cô, thì một hồi chuôn g dài và bao tiếng hò la mừng rỡ laon báo cuộc thi đã chấm dứt. Một cô gái nhỏ cưỡi một con ngựa trắng già đã thắng cuộc. Cô dương dương diễu qua trên lưng ngựa và chùm lông mũ phất phơ trong gió.
Rồi cả bãi lặn đi. Trò chơi đã hết mà Phrăng chưa về. Người ta phân vân một lát, rồi lúng túng bàn bạc với nhau. Cuối cùng, từng tốp một, khách quay lại các nhà, nín lặng và bồn chồn chờ cô dâu chú rể.
 
0
CHƯƠNG XV
GẶP GỠ
  Sáng hôm sau, Môn là một trong những người sẵn sàng đầu tiên. Như người ta khuyên, anh mặc một bộ quần áo đen giản dị, theo một áo cũ, một áo dài thắt ngang lưng, ống tay phồng ở vai, một gi-lê chéo go, một quần loe, loe đến mức trùm kín đôi giày xinh xắn, và một cái mũ thành cao.
Khi anh xuống, sân còn vắng. Đi vài bước, anh bỗng cảm thấy bồi hồi như đang ngày xuân. Quả thật, đây là buổi sáng ấm áp nhất của ngày đông năm ấy. Trời nắng như vào đầu tháng tư. Gió tan và cỏ ướt long lanh như giát ngọc. Chim nhỏ hót líu ríu đó đây trên cành, và thỉnh thoảng gió ấm hiu hiu mơn man trên mặt chàng trai đang đi dạo.
Anh làm như các khách mời thức dậy trước chủ. Anh đi ra sân, từng phút từng giây mong, có ai đó kêu lên đằng sau, một cách thân ái và vui vẻ:
- Đây rồi, a, Ôguyxtanh?
Nhưng anh cứ dạo bước mãi, chỉ có một mình, qua sân vườn. Đằng kia, trong ngôi nhà chính, chưa co gì động tĩnh, ở cửa sổ cũng như ở ngọn tháp. Tuy thế, người ta đã mở hai cánh cửa cái ra vào bằng gỗ tròn xoay ở phía trên. Trong một cửa sổ trên cao, đã nhấp nháy những chùm tia nắng đầu tiên như trong mùa hè.
Lần đầu tiên, Môn ngước nhìn thấy giữa ban ngày phần bên trong của lâu đài. Vết tích của một bức tường phân cách khu vườn xơ xác với những khoảng sân vừa đổ cát và san phẳng chưa bao lâu. Cuối khu nhà phụ mà anh từng trú ngụ, là chuồng gia súc xây lộn xộn một cách tức cười. Vì vậy, ở đó có vô số ngóc ngách mọc đầy nho hoang và các loại cây dại nhỏ. Gần khắp xung quanh lâu đài là những rừng thông nhấp nhô như sóng che khuất nó trước cả một vùng bằng phẳng lân cận trừ phía đông, nơi có thể thoáng thấy những quả đồi xanh lam phủ đá hộc và cả cây thông.
Trong vườn, Môn đứng cúi một lát bên trên hàng rào gỗ lung lay quây lấy cái ao nuôi cá. Gần bờ vẫn còn một chút băng chưa tan, mỏng manh và gợn lăn tăn như bọt. Anh thấy mình trong nước, như nghiêng xuống bầu trời, trong bộ trang phục sinh viên lãng mạn. Và anh tưởng như nhìn thấy một thằng Môn khác, không phải cữu học sinh lỉnh mất trong một chiếc xe ngựa nông dân có mui, mà là một nhân vật tuấn tú và lãng mạn, trung tâm của một cuốn sách hay quý giá…
Anh đi vội về ngôi chính vì đã đói bụng. Ở gian lớn mà anh đã ăn tối qua, một chị nông dân đã thay bộ đồ ăn. Môn vừa ngồi xuống trước một trong những chiếc chén xếp thẳng hàng trên khăn bàn, chị liền rót cà phê cho anh và bảo:
- Thưa ông, ông là người thứ nhất.
Anh không muốn trả lời, vì sợ đột nhiên bị phát giác là người lạ. Anh chỉ hỏi mấy giờ thì chuyến tàu đi chơi sáng sớm như đã thông báo sẽ khởi hành.
- Không trước nửa giờ nữa, thưa ông. Chưa ai xuống ạ.
Anh tiếp tục lang thang xung quanh tòa lâu đài với những cánh không đều nhau như một nhà thờ để tìm nơi tàu cập bến. Khi vòng quanh cánh phía nam, anh chợt nhìn thấy lau mọc lít lấp, tạo thành như một bức tường sừng sững đến nơi vô tận. Từ phía ấy, nước các ao đầm dâng đến đây làm ướt các chân tường gạch. Trước nhiều cửa ra vào, có những ban công nhỏ bằng gỗ vươn ra bên trên sóng nước vỗ oàm oạp.
Chẳng có việc gì làm, chàng trai dạo tiếp hồi lâu trên bờ nước đầy cát như đường kẻ cho tàu thuyền cập vào. Anh tò mò quan sát những cửa ra vào cao rộng với những ô kính phủ bụi mở vào những căn phòng tiêu điều hay hoang phế, những bãi chất xe cút kít, dụng cụ hoen gỉ, lọ hoa vỡ. Đang mải mê như vậy, chợt anh nghe từ đầu kia các khu nhà vọng lại tiếng chân lạo xạo trên cát.
Ấy là hai phụ nữ, một còng lưng rất già, một trẻ măng tóc hoe, cao thon, với bộ trang phục duyên dáng, thoạt nhìn tỏ ra khác thường đối với Môn cao ngồng sau tất cả những trò giả trang đêm qua.
Hai người dừng lại một lát ngắm phong cảnh, trong lúc Môn tự nhủ với sự kinh ngạc về sau anh mới thấy là lố bịch:
“Đây chắc chắn là một cô gái mà thiên hạ cho là lập dị - có lẽ một nữ nghệ sĩ được triệu đến cho cuộc lễ”.
Hai phụ nữ đi qua sát Môn và anh đứng im nhìn cô gái. Về sau thường thường, khi thiếp đi sau bao cố gắng tuyệt vọng mong nhớ lại khuôn mặt xinh đẹp đã bị xóa mờ, anh mơ thấy từng đoàn cô gái giống như cô gái hôm nay. Cô thì giống ở cái mũ, cô giống ở dáng đi hơi cúi, cô khác giống ở cái nhìn trong sáng tuyệt vời, cô nữa giống ở thân hình thon thả, cô nữa cũng có đôi mắt xanh. Nhưng mãi mãi chẳng có cô nào là cô gái cao thon.
Môn kịp nhận thấy dưới bộ tóc dày vàng hoe một bộ mặt hơi ngắn, nhưng các đường nét được vẽ ra với sự tinh tế gần nhu đau khổ. Vì loáng cái cô đã lên phía trước, anh ngắm phục sức của cô và nhận thấy đó là cách phục sức khéo léo giản dị nhất…
Bối rối, anh tự hỏi có nên đi theo không, thì cô gái buộc lòng phải quay về phía anh và nói với bà lão:
- Chắc tàu đến ngay giờ chứ ạ?...
Và Môn đi theo liền. Bà lão, run rẩy, cứ như gẫy gập theo mỗi bước chân, cười nói thao thao bất tuyệt. Cô gái chỉ đáp lại nhỏ nhẹ, khi hai người đi xuống bến tàu, thậm chí cô còn có cái nhìn ngây thơ và trịnh trọng như muốn nói:
- Ông là ai? Ông làm gì nơi này? Tôi không quen ông. Thế nhưng, hình như tôi có biết.
Khách mời bây giờ đã tản mác dưới các gốc cây, chờ đợi. Ba chiếc du thuyền cặp mạn, sẵn sáng đón các du khách. Từng người một đi qua trước hai người phụ nữ tỏ ra là bà chủ lâu đài và cô con gái. Các chàng trai chào hai người vô cùng kính cẩn. các cô gái thì ngiêng mình. Ôi, buổi sáng tuyệt kỳ! Niềm vui thú kỳ diệu! Dù có mặt trời hiện rõ trên kia, trời đông vẫn lạnh. Các bà các cô quấn quanh cổ những chiếc khăn bằng lông chim như những con trăn vốn là mốt lúc bấy giờ.
Bà lão dừng lại trên bờ, bà không hiểu sao, Môn xuống, cùng một du thuyền với tiểu thư con bà. Anh tì cùi tay lên cây cầu, một tay giữ chiếc mũ chực bay đi theo gió lộng. Anh có thể thoải mái ngắm cô thiếu nữ ngồi trong mui. Cô cũng nhìn anh. Cô đáp lời các du khách, mỉm cười, rồi vừa hơi cắn môi vừa dịu dàng đặt đôi mắt xanh lên anh.
Hai bờ sông yên ả lạ thường. Con thuyền êm trôi trong tiếng máy và tiếng sóng đều đều nhỏ nhẹ. Tưởng như sắp cặp thuyền vào một khu vươn nông thôn nào đó. Thiếu nữ sẽ bước lên, giương chiếc ô trắng che mình và đi dạo. Cho đến chiều, sẽ nghe chim cu gáy hoài bốn bên như than thở… Nhưng đột nhiên, một cơn gió lạnh ào ạt thổi về, nhắc du khách của ngày hội kỳ lạ này rằng bây giờ đang là tháng 12.
Thuyền ghé vao trước một rừng thông. Trên bến, du ngoạn phải chen chúc nhau, chờ cho người lái thuyền mở khóa ba-ri-e… Sau đó, Môn đã vô cùng xúc động nhớ lại phút giây, trong đó, bên bờ ao, anh đã có ngay bên mình khuôn mặt từ đó biến đi của thiếu nữ. Anh đã được ngắm nhìn khuôn mặt trông nghiêng vô cùng trong trắng của cô, bằng cả hai mắt của mình, cho đến luc nước mắt sắp trào ra. Anh cũng nhớ nhìn thấy, như một bí mật ngọt ngào, rằng cô đã gởi lại một chút phấn trên má anh.
Trên bờ, mọi việc diễn ra như trong một giấc mơ. Trong khi trẻ con chạy vù đi với những tiếng kêu la hoan hỉ, du khách kết thành nhóm và tản ra trong rừng. Môn dấn vào một lối đi có cây ở hai bên, ở đó tiểu thư đang đi phía trước, cách anh mươi bước. Anh đến sát bên cô, chưa kịp nghĩ ngợi gì:
- bạn rất đẹp! – anh thốt ra giản dị.
Cô rảo bước, và không trả lời, đi sang hướng khác. Các du khách đi dạo trên các đường lớn, ai muốn đi đâu, làm gì là tùy. Chàng trai hết sức ân hận về cái mà anh gọi là sự ngu dốt, thô bỉ và dại dột của mình. Anh lang thang vô định, tin rằng không bao giờ còn gặp được người con gái kiều diễm. Vừa hay, anh thấy cô đang ngược về phía anh, dù muốn dù không cũng phải đi sát anh trên con đường hẹp.  Cô đưa hai bàn tay trần vuốt thẳng nếp gấp trên cái măng-tô dài. Cô có đôi giày đen hở chân rất rộng. Da ở mắt cá mịn màng đến nỗi như gợn lên theo từng bước đi và Môn sợ nó sắp rách đến nơi.
Lần này, chàng trai chào cô và nói rất khẽ:
- Bạn tha lỗi cho tôi chứ ạ?
- Tôi tha thứ cho anh – cô nói nghiêm khắc – Nhưng tôi phải đến với các em nhỏ vì chúng là chủ hội hôm nay. Vĩnh biệt!
Ôguyxtanh xin cô nán lại lát nữa. Anh nói ngượng nghịu, nhưng giọng đầy xúc động và bối rối, khiến cô chậm bước lại và lắng nghe.
- Thậm chí tôi chưa biết anh là ai – cuối cùng cô nói.
Tiếng nào cô thốt ra cũng đều đều như nhau, nhưng tiêng sau nghe vẫn dịu dàng hơn tiêng trước… Sau đó, cô lấy lại vẻ mặt bất động, làn môi hơi cắn, và đôi mắt xanh nhìn thẳng phía chân trời…
- Tôi cũng chưa biết tên bạn – Môn đáp.
Bây giờ hai người theo một con đường trụi cây và trông xa xa các du khách đang chen chúc quanh một ngôi nhà đơn độc giữa cánh đồng.
- Đấy là “nhà Phrăng” – cô gái nói – Tôi phải đi đây…
Cô do dự mỉm cười nhìn anh một lát, rồi thưa:
- tên tôi ấy à?... Tôi là cô Yvon de Gale…
Rồi cô rảo bước.
  ***
  Cho đến bây giờ “nhà Phrăng” không có người ở. Nhưng khi Môn đến, nó đầy người cho đến gian làm kho tầng trên. Vả chăng, anh không còn rảnh rổi để xem xét nơi mình vừa đến: khách đang hối hả dùng bữa ăn lạnh đem theo trên thuyền, rất không hợp mùa, nhưng chắc chắn là do lũ trẻ đã quyết định. Ăn xong, mọi người đi ra. Vừa thấy tiểu thư Gale trên ngưỡng cửa, Môn sáp lại ngay, và đáp lại điều mà cô cho mình biết lúc nãy.
- Cái tên mà tôi sắp nói với bạn đẹp hơn – anh nói.
- sao? Tên gì? – cô vẫn giữ giọng nghiêm trang.
Nhưng anh chợt kinh hãi vì vừa nói một câu ngu xuẩn nên im bặt.
- Tên tôi là Ôguyxtanh Môn – anh nói tiếp – tôi là sinh viên.
- Ồ, nah đang học? – cô hỏi.
Hai người trò chuyện lát nữa. Họ nói với nhau một cách thong thả, sung sướng, thân mật. Sau đó, thái độ của cô gái thay đổi. Bớt nghiêm khắc và kiêu sa, giờ đây cô cũng tỏ vẻ lo lắng hơn. Dường như cô hốt hoảng trước điều Môn sắp nói và chưa chi đã khiếp sợ. Đứng bên anh, cô run run không sao kìm được, khác nào một con én vừa bị đặt xuống đất đã run rẩy muốn cất cánh bay lên.
 -Để làm gì? Để làm gì cơ? – cô nhỏ nhẹ đáp lại những sự định mà Môn đề nghị.
Nhưng cuối cùng, khi anh dám xin phép một ngày kia trở lại lãnh địa đẹp đẽ này.
- Tôi sẽ chờ anh – cô đáp giản dị.
Họ đã đến chỗ nhìn thấy bến tàu. Cô chợt dừng chân và tư lự nói.
- Chúng ta là hai đứa trẻ. Chúng ta vừa làm một trò điên. Lần này không nên đi cùng thuyền. Vĩnh biệt, đừng theo tôi!
Môn chưng hửng, nhìn cô xa dần. Rồi anh bước tiếp. Và lúc ấy, từ phía xa, vào lúc sắp biến mất trong đám đông du khách, cô ngoái đầu lại, và lần đầu tiên, nhìn anh rất lâu. Phải chăng đây là ấu hiệu vĩnh biệt cuối cùng? Hay để cấm anh đuổi theo? Hay có thể cô muốn nói gì ới anh nữa?...
Khách vừa về đến lâu đài, người ta đã cho tiến hành ngay cuộc đua pônây trên một đồng cỏ, rộng và dốc, sau trang trại. Đây là phần cuối cùng của cuộc lễ. Theo dự kiến, cô dâu chú rể phải về kịp để tham gia và chính Phrăng sẽ điều khiển toàn bộ.
Đành bắt đầu không có anh. Các chàng trai vận trang phục thúc ngựa, các cô gái – trang phục cưỡi, kẻ dắt ra những chú pônây nhanh nhẹn quấn ruy-băng, người đưa tới những bác ngựa già ngoan ngoãn. Giữa tiếng la cười của trẻ thơ, tiếng cá cược và tiếng chuông gióng giả đổ hồi, người ta tưởng như dưới chân mình đang là một bãi đua thu nhỏ như trong truyện cổ, với lớp cỏ xanh rờn xén phẳng.
Môn nhận ra Đanien với mấy cô bé đội mũ lông chim mà anh đã nghe tiếng nói chuyện hôm qua trên lối đi trong rừng… Sau đấy, anh không nhìn thấy gì nữa, vì đau đáu tìm kiếm khắp nơi trong đám đông người xem chiếc mũ cắm hoa hồng duyên dáng và chiếc áo măng-tô màu hạt dẻ. Nhưng tiểu thư Gale không xuất hiện. Anh còn đang tìm cô, thì một hồi chuôn g dài và bao tiếng hò la mừng rỡ laon báo cuộc thi đã chấm dứt. Một cô gái nhỏ cưỡi một con ngựa trắng già đã thắng cuộc. Cô dương dương diễu qua trên lưng ngựa và chùm lông mũ phất phơ trong gió.
Rồi cả bãi lặn đi. Trò chơi đã hết mà Phrăng chưa về. Người ta phân vân một lát, rồi lúng túng bàn bạc với nhau. Cuối cùng, từng tốp một, khách quay lại các nhà, nín lặng và bồn chồn chờ cô dâu chú rể.
 
0
CHƯƠNG XVI
PHRĂNG ĐƠ GALE
  Cuộc đua kết thúc quá sớm. Mới bốn giờ 30 và trời còn sáng, khi Môn trở lại phòng mình, tâm trí xôn xao bao sự kiện của cái ngày phi thường anh vừa mới trải qua. Anh ngồi xuống trước bàn, nhàn nhã., chờ bữa ăn chiều và cuộc hội chắc chắn còn tiếp diễn.
Trời lại nổi gió to như đêm qua. Gió gầm gào như nước lũ hay rú rít ào ào như thác đổ. Mảnh che lò sưởi lát lát lại kêu lạch cạch.
Lần đầu tiên, Môn cảm thấy nỗi đau lo mơ hồ như siết lấy tim con người ta mỗi khi nhữn tháng ngày quá đẹp sắp chấm dứt. Anh định đốt lửa, nhưng nâng mãi không xong mảnh che lò sưởi đã gỉ. Anh bèn sắp đặt lại căn phòng. Anh treo các trang phục sang trọng của mình lên mắc áo, xếp dọc chân tường các ghế tựa để ngổn ngang, như thể anh chuẩn bị để lưu lại lâu dài nơi đây vậy.
Tuy nhiên, nghĩ rằng lúc nào cũng phải ẵn sáng ra đi, anh vắt cẩn thận lên lưng một ghế dựa cái blu, như một áo du lịch, và các quần áo học sinh khác của mình. Dưới gầm ghế, anh đặt đôi giầy đóng cá vẫn còn đầy đất.
Rồi anh lại về ngồi chỗ cũ, yên tâm hơn, chăm chú nhìn quanh gian phòng vừa thu dọn gọn ghẽ.
Thỉnh thoảng, một cơn mưa rạch loằng ngoằng  trên tấm cửa kính hướng ra cái sân để xe và rung thông. Lòng dịu đi từ khi sắp xếp lại gian phòng, chàng trai cao ngồng cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc. Anh ngồi đó, bí hiểm, xa lạ, giữ thế giới xa lạ này, trong căn phòng tự chọn. Điều anh thu được vượt xa mọi hy vọng của anh. Giờ đây, chỉ cần nhớ lại khuôn mặt cô thiếu nữ quay về phía anh trong gió lộng là lòng anh đã náo nức rộn ràng…
Phải mơ màng, đêm xuống lúc nào anh cũng không biết và quên thắp nến. Một ngọn gió đập vào cửa ra vào căn phòng đằng sau cửa sổ cũng mở ra sân xe và thông với buồng anh. Môn quay lại đóng cái cửa sổ ấy thì nhận thấy ở phòng bên kia có ánh sáng, như của một cây nến cắm trên bàn. Anh thò đầu qua khe ửa. Người nào đã vào đó, chắc chắn là chui qua cửa sổ, và đang lặng thinh đi đi lại lại. Nếu anh không nhầm thì đó là một chàng trai còn măng sữa. Đầu trần, một áo choàng du lịch trên vai, chang bước không ngừng, như không yên được bởi một nỗi khổ đau không chịu nổi. Gió từ ô cửa sổ mở toang thổi lật phật tà áo du lịch và mỗi khi chàng đi lại gần ngọn nến, Môn lại thấy lóe sáng hàng khuy vàng trên cái áo rơđanhgôt xinh xắn của chàng.
Chàng huýt sáo một điều gì đó qua kẽ răng, có lẽ là một bài ca hàng hải, giống những bài mà thủy thủ và gái điếm hay hát trong các quán rượu hải cảng để giải sầu…
Đang đi lại bồn chồn, chàng dừng lại, cúi xuống bàn, lục trong một cái hộp và lôi ra nhiều tờ giấy… Môn nhìn thấy, từ phía bên trong và trong ánh nến, một khuôn mặt bầu bầu không ria mép, dưới một bộ tóc rậm chải đường ngôi hẳn hoi. Chàng đã thôi huýt sáo. Mặt nhạt hẳn đi, đôi môi hé mở, chàng như người sắp đứt hơi, tựa vừa bị đâm trúng tim một cú khủng khiếp.
Môn băn khăn không biết nên kín đáo rút lui hay tiến sang nhẹ nhàng nắm lấy vai chàng như bè bạn và cùng tâm sự. Chàng ngẩng lên và nhìn thấy Môn. Chàng nhìn anh chăm chăm giây lát, rồi, không có vẻ ngạc nhiên, lại bên và nói giọng quả quyết:
- Thưa ông, tôi không biết ông. Nhưng thấy ông, tôi hài lòng. Vì ông ở đây, tôi sẽ bộc bạch với ông… vậy đó!...
Chàng lộ vẻ hoàn toàn lúng túng. Khi như “vậy đó!”, chàng nắm lấy ve áo jacket của Môn, như cố để anh chú ý lắng nghe. Rồi chàng quay đầu ra cửa sổ, như suy nghĩ về điều sắp nói, mắt nháy nháy, và Môn hiểu rằng chàng tấm tức muốn khóc vô cùng…
Chàng nén ngay được trò tủi thân trẻ con đó, rồi vẫn nhìn thẳng ra cửa sổ, nói bằng một giọng tỉnh khô:
- Vậy là hết, cuộc lễ hết rồi. Ông có thể xuống nói với họ như vậy. Vợ chưa cuối của tôi sẽ không đến. Do thận trọng, do sợ hãi, do thiếu niềm tin… Vả chăng, thưa ông, tôi sẽ giải thích để ông hay…
Nhưng chàng không nói tiếp được. Mặt chàng nhăn nhúm cả lại. Chàng chẳng giải thích gì cả, mở và đóng các ngăn kéo đầy sách và áo quần.
- Tôi sửa soạn để lên đuồng lần nữa – chàng nói – mong đừng ai quấy rầy gì tôi.
Chàng đặt lên bàn nhiều thứ, một hộp đựng đồ toilet, một khẩu súng lục…
Quá bối rối, Môn đi ra, không dám nói cũng không dám bắt tay chàng.
Dưới kia, hình như tất cả các khách khứa đều linh cảm thấy điều gì. Hầu như mọi cô gái đều thay áo khác. Trong nhà chính, bữa ăn tối đã bắt đầu, nhưng cập rập và loạn xị như lúc ta vội đi đâu.
Anh lên xuống mãi từ phòng ăn rộng lớn này đến các phòng trên cao và các chuồng gia súc phía sau. Những khách ăn xong xúm lại chao từ biệt nhau.
- Chuyện gì vậy? – Môn hỏi một chàng trai nông thôn ăn vội ăn vàng, mũ phớt trên đầu, khăn mặt giắt trên gi-lê.
- Đi về - chàng trai đáp – vừa quyết định thôi. Lúc năm giờ, chúng tôi tụ họp lại, nhưng rơ ra toàn khách. Chúng ta đã đợi đến giây phút cuối cùng. Chú rể cô dâu không đến được nữa. Có người bảo: “Hay chúng mình cáo từ thôi…” Thế là ai cũng tất tưởi ra về.
Môn không đáp lại. Anh nữa, cũng đến lúc phải đi rồi. Chẳng phải anh đã đi đến tận cùng cuộc phiêu lưu của mình sao?... Chẳng phải lần này nah đã giành được toàn bộ những gì mà anh mơ ước? Giá như anh có chút thời gian để thảnh thơi hồi tưởng lại cuộc chuyện trò tuyệt diệu buổi sáng. Giờ phút này, vấn đề là phải ra đi. Rồi chả bao lâu, anh sẽ quay lại – đường hoang, chứ không gian lận.
- Ông muốn đi cùng chúng tôi – chàng trai nông dân cùng tuổi tiếp lời – thì hãy tề chỉnh trang phục nhanh lên. Loáng cái là chúng tôi thắng ngựa xong.
Chàng ta bỏ đi tức tưởi, để lại đấy bữa ăn mới đụng dao nĩa, và quên báo cho các khách khác điều anh đã biết. Vườn hoa, vườn cây, cái sân chim và buổi tối tối mịt. Đêm ấy không còn đèn lồng treo ngoài cửa sổ. Nhưng dù sao, vì bữa ăn này giống như bữa ăn cuối cùng của tiệc cưới, những người ít nhiệt tình hơn trong cách khách mời kia, có lẽ đã uống, bắt đầu cất tiếng hát. Khi chàng trai xa dần, Môn nghe vẳng lại những bài ca quán trọ mà họ hát, trong lúc anh vào cái vườn hoa lưu trữ biết bao ân huệ và kỳ ảo từ hai hôm nay. Vậy mà bây giờ bắt đầu bị hỗn loạn và tàn phá. Anh phi qua ao cá mà ngay sáng nay anh đã soi gương. Cứ như tất cả đã thay đổi..
Với bài hát này, họ đồng thanh hát đi hát lại, vẳng lại từng đoạn ngắn:
Giang hồ ơi, em từ đâu tới?
Mũ bonné của em hư hại
Tóc tai em thật chẳng làm sao…
và bài này nữa:
Giày anh màu đỏ
Vĩnh biệt em ơi
Giày anh màu đỏ
Xa nhau mãi rồi!...
Anh đi đến chân cầu thang lên căn phòng trơ trọi của mình, thì có người từ trên xuống, đụng vào anh trong bóng tối và nói:
- Vĩnh biệt ông!
Rồi quấn chặt trong chiếc áo khoác du lịch, như thể là rét lắm, và biến mất. Đó là Phrăng đờ Gale.
Ngọn nến Phrăng để lại trong phòng vẫn sáng. Không có gì thay đổi. Chỉ có những dòng chữ sau đây, viết trên một tờ giấy viết thư, đặt ở chỗ dễ nhìn:
Vợ chưa cưới của tôi đã biến đi, khiến tôi nghĩ rằng nàng không muốn làm vợ tôi. Vả chăng, nàng chỉ là một thợ may, chứ không phải là một bà hoàng. Tôi không biết nên xử sự ra sao. Tôi bỏ đi đây. Tôi không thiết sống nữa. Xin chị Yvon thứ lỗi, nếu tôi không chào từ biệt. Nhưng chị chẳng làm gì được cho tôi đâu…
Cây nến đã cháy hết, ngọn lửa rung rinh, bùng lên một lần nữa rồi tắt. Môn vào phòng mình, đóng cửa lại. Mặc dù trời tối, anh vẫn nhìn ra từng đồ vật mà anh sắp xếp giữa ban ngày ban mặt, trong dạt dào hạnh phúc, cách đây mấy giờ. Từng thứ một, vẫn trung thành, anh gặp lại toàn bộ trang phục cũ khốn khổ của anh, từ đôi giày lính cho đến cái xăng-tuya khóa đồng thô kệch. Anh hối hả thay quần áo, nhưng khi để quần áo mượn lên ghế thì lại lơ đãng, nhầm gi-lê.
Tiếng ồn ào nổi lên trên cái sân để xe dưới cửa sổ. Tiếng kêu, tiếng gọi, tiếng kéo, tiếng đẩy, ai cũng muốn đưa xe mình ra cho nhanh. Lát lát, lại một người leo lên ghế ngồi xe nhỏ hay mui bạt xe lớn và giơ đèn soi chung quanh. Ánh lửa đốt hắt lên cửa sổ: phút chốc, xiung quanh Môn, căn phòng giờ đây thân thiết mà mọi vật bên trong đều vô cùng gần gũi, như sống lại, phập phồng… Chính trong bối cảnh ấy mà Môn vừa cẩn thận khép cửa ra vào, vừa rời khỏi cái nơi bí ẩn mà chắc chắn không bao giờ anh còn gặp lại.
 
0
CHƯƠNG XVII
CUỘC LỄ LẠ KỲ (Hết)
  Một dãy xe dài chưa chi đã từ từ lăn bánh trong đêm về phía hàng rào lưới mắt cáo của rừng. Đi trước là một người đàn ông đội tấm da dê, một tay cầm đèn lồng, còn một tay cầm cương con ngựa kéo cỗ xe đầu tiên.
Môn lật đật tìm người cho đi nhờ. Anh cuống cả lên, cần đi cho mau. Trong thâm tâm, anh sợ bỗng nhiên trơ ra một mình trong lâu đài và sự gian dối của mình sẽ bị phát hiện.
Khi anh đến trước ngôi nhà chính, cánh lái xe đang xem xét sức chở của xe đã cân bằng chưa. Họ yêu cầu mọi du khách ra khỏi chỗ ngồi, để lùi lại hay dịch các thùng xe lên. Các cô gái khăn quàng kín mít đứng dậy một cách ngượng nghịu, chăn phủ chân tuột xuống cả bàn chân. Một số cô nghiêng đầu về phía các đống lửa, lộ vẻ lo lắng.
Giữa các lái xe này, Môn nhận ra chàng trai nông dân lúc nãy đã ngỏ ý cho anh cùng đi.
- Tôi lên được chứ? – anh kêu lên với chàng ta.
- Chú mình về đâu ta? – một lái xe khác mà anh không quen, hỏi.
- Về Xanhlơ-Agat ạ.
- Thế thì hỏi Maritanh.
Vậy là chàng học sinh cao lênh khênh phải đi tìm giữa bao khách nán lại ông đánh xe Maritanh chưa quen biết. Người ta chỉ ông ấy cho anh trong những tay đang vừa uống rượu và hát hò trong nhà bếp.
- Một tay bốc trời đấy – người ta bảo anh – Hắn còn uống đến ba giờ sáng cơ.
Môn chợt nghĩ rằng, hẳn đâu đây, có một cô gái đăm chiêu đau khổ đang thổn thức lắng nghe và sẽ nghe đến tận nửa đêm các bài ca quán trọ của những con sâu rượu này. Cô ta ở phòng nào? Cửa sổ phòng cô ở đâu giữa bao căn nhà bí hiểm nơi đây? Nhưng chẳng gì có thể là cớ giữ chàng học sinh ở lại. Phải đi thôi. Về đến Xanhlơ-Agat là mọi chuyện sẽ rõ ràng. Anh không còn là một học sinh trốn học. Một lần nữa, anh lại có thể nghĩ đến cô tiểu thư con bà chủ chốn này.
Từng chiếc xe lần lượt chuyển bánh. Bánh xe nghiến kèn kẹt trên lối đi lớn trồng cây hai bên. Trong ánh đêm, người ta thấy chúng rẽ ngoặt và biến mất, những chiếc xe chở nặng những phụ nữ mắc cỡ e lệ, nhữn đứa trẻ đã ngủ quấn trong khăn quàng đàn bà. Hãy còn một xe có mui to lớn. Rồi một xe có ghế băng, trên đó các bà các cô ngồi ép vào nhau, đi qua, để Môn gần như tiu nghỉu trên ngưỡng cổng. Chút nữa thôi là cỗ xe cuối cùng, một cỗ xe hòm cổ do một người nông dân mặc áo blu điều khiển, đi qua nốt.
- Quý ngài có thể lên – ông ta đáp lại lời phân trần của Môn – Chúng tôi đi qua lối ấy.
Môn loay hoay mở một cách khó nhọc cánh cửa của cỗ xe già nua mà kính thì rung bần bật và bản lề thì cứ rít lên. Trên cái ghế băng ngắn ở một góc xe, hai đứa bé, môt trai một gái, đang ngủ. Chúng chợt tỉnh vì tiếng động và hơi lạnh, vươn vai, nhìn lơ mơ, rồi run run, lại nhào về chỗ cũ và ngủ tiếp.
Chưa chi cỗ xe già đã lên đường. Khẽ khàng hơn, Môn đóng cửa lại và ngồi vào một chỗ, rồi háo hức nhòm qua mặt kính, gắng phân biệt những nơi mà anh sắp rời xa và con đường mà anh đã đến. Dù trời tối bịt bùng, anh cũng hiểu rằng chiếc xe đang qua sân và vườn, qua chân cầu thang dẫn lên phòng anh, vượt hàng rào thép lưới mắt cáo, ra khỏi lâu đài và đi vào rừng. Chạy ngược lại kính xe, đấy la lờ mờ những cây thông già cỗi.
“Phrăng đơ Gale, có thể chúng ta sẽ gặp lại” – Môn tự nhủ, tim đập bồi hồi.
Đột nhiên, trên con đường hẹp, chiếc xe né ra để khỏi đụng phải một vật cản. Theo hình dáng to lớn mà Môn thấy nhờ nhờ, thì đó là một căn nhà lăn trên bánh xe, để ngay giữa đường từ gần hôm mở hội và trong suốt mấy ngày qua.
Vượt qua nhà xe, ngựa lại phi nước kiệu. Bắt đầu thấm mệt vì nhìn mãi qua kính, anh vẫn bướng bỉnh xuyên mắt qua màn đêm nhưng chỉ uống công. Đúng lúc đó, từ âu trong rừng lóe lên một ánh chớp và một tiếng nổ. Mấy con ngựa lao sang nước đại. Thoạt đầu, Môn không hiểu người đánh xe áo blu gắng ghìm cương hay ra roi cho cúng. Anh muốn mở cửa. Nắm cửa nằm bên ngoài, anh ra sức hạ tấm kính rồi lay nó mãi mà không được… Hai đứa trẻ giật mình tỉnh dậy, hớt hải ôm chặt lấy nhau, không nói được một câu. Trong khi lay và dán mặt vào tấm kính, Môn nhìn thấy, nhờ một chỗ ngoẹo đường, một hình người trăng trắng đang chạy. Đó là anh hề cao ngất nghểu của cuộc lễ, chàng tứ chiếng mặc quần áo giả trang. Vẻ hốt hoảng và dữ tợn, anh ta bế siết vào ngực một thân người… Rồi tất cả nhòa đi.
Trong chiếc xe lao với nước đại cực lớn xuyên đêm, hai đứa nhỏ đã ngủ. Chẳng còn ai để mà chia sẻ những sự kiện bí ẩn của ahi ngày này. Sau hồi lâu khắc khoải với tất cả những điều đã thấy và đã nghe, mệt lử và thấm buồn, chàng trai cũng chìm vào giấc ngủ như một em thơ buồn bã.
Lúc chiếc xe dừng lại và Môn bị ai gõ cửa kính đánh thức, trời vẫn chưa rạng. Người đánh xe vất vả lắm mới mở được cửa, và trong khi gió đêm giá rét làm cho Môn lạnh thấu xương, ôn gta kêu lên:
- Phải xuống đây thôi, trời sáng rồi. Chung tôi sẽ đi tắt. Xanhtơ-Agat gần quý ngài lắm.
Môn vâng lời tuy chưa tỉnh ngủ. Người gập làm đôi, anh máy móc đưa tay sờ soạng chỗ tối nhất trong xe  để tìm chiếc cát két vốn bị chân hai đứa trẻ đang ngủ đè lên. Rồi anh lom khom bước xuống.
- Xin chào – người xà ích vừa nói vừa trèo lên ghế - Quý ngài chỉ phải đi bộ hơn 6km thôi. Kìa, cột mốc ở vệ đường kia.
Chưa tỉnh hẳn, Môn lom khom chập chững bước đến cột mốc, rồi ngồi xuống đấy, tay khoanh trước ngực, đầu cúi gục, như thể ngủ lại.
- Hề, chớ! – người đánh xe kêu lên – Đừng ngủ chỗ ấy. Trời lạnh khiếp thế này. Đứng lên nào, đi đi…
Chân nam đá chân chiêu như người say rượu, hai tay thọc túi, cổ rụt lại, chàng trai cao lêu đêu lần từng bước trên con đường về Xanhtơ-Agat. Trong khi đó, dấu vết cuối cùng của cuộc lễ huyền diệu, cỗ xe hòm cổ lỗ, rời con đường cát sỏi, đi vào đồng cỏ, vừa lặng lẽ lắc lư, vừa lăn bánh trong cỏ về xa. Chỉ còn thấy mũ người đánh xe nhảy nhót bên trên các hàng rào…
 
0
PHẦN HAI
CHƯƠNG THỨ NHẤT
TRÒ CHƠI QUỈ QUÁI
  Gió to và trời lạnh, mưa và tuyết, khả năng không thể tiến hành những cuộc tìm kiếm lâu dài, tất cả ngăn chúng tôi. Môn và tôi, đá độn đến xứ sở đã mất, trước khi chấm dứt mùa đông. Chúng tôi không thể bắt tay vào một việc gì nghiêm chỉnh, trong suốt những ngày tháng giêng ngắn ngủi này, trong suốt những ngày thứ năm thoắt cái lại nổi gió đùng đùng, và luôn luôn kết thúc khoảng năm giờ bởi một trận mưa lạnh băng buồn nẫu ruột.
Chẳng có gì gợi cho chúng tôi cuộc phiêu lưu của Môn, nếu không phải là việc từ buổi chiều anh về, chúng tôi không còn bạn nữa. Trong những giờ ra chơi, vẫn các trò chơi xưa được tổ chức, nhưng không bao giờ Giacxmanh bắt chuyện với Môn. Buổi chiều tan học, khi trường lớp đã được quét dọn, sân trường vắng tanh như ngay thời tôi còn cô đơn, và tôi trông thấy anh bạn cao lộc ngộc của mình lang thang từ vườn ra kho, từ sân vào phòng ăn, và ngược lại.
Sáng thứ năm nào cũng vậy, mỗi chúng tôi vào phòng học ngồi bên bàn thầy giáo, Môn và tôi đọc Ruxxô và Pôn-lui Cuariê mà chúng tôi lục được trong các tủ hốc tường, giữa những quyển sách về phương pháp học tiếng Anh và các vở ghi nhạc được chép hết sức thanh nhã. Buổi chiều một cuộc viếng thăm nào đó tạo cơ hội cho chúng tôi trốn khỏi trường. Rồi cũng phải trở lại… Đôi khi, chúng tôi nhe mấy tốp học sinh lớn như tình cờ dừng lại ở cổng trường cao rộng, vừa đụng vào cổng vừa chơi những trò quân sự không hiểu nổi, rồi bỏ đi…
Cuộc sống buồn tẻ ấy kéo dài cho đến tận cuối tháng hai. Tôi đang bắt đầu tin rằng Môn đã quên hết, thì một cuộc phiêu lưu còn ly kỳ hơn đến mở mắt cho tôi rằng tôi đã nhầm to, rằng một biến động dữ dội đang hình thành dưới bề mặt u buồn của cuộc sống mùa đông này.
Chính vào một tối thứ năm khoảng cuối tháng, tin tức đầu tiên của Lâu đài huyền bí, làn sóng đầu tiên của cuộc phiêu lưu mà cả hai chúng tôi không nhắc lại đã len đến tận chúng tôi. Gia đình tôi đang thức chuyện phiếm. Ông bà đi rồi, chỉ còn lại với chúng tôi có Mili và cha tôi, cả hai đều không ngờ rằng cuộc giận nhau ngấm ngầm đã chia lớp chúng tôi thành hai phe.
Lúc tan giờ, vừa mở cửa ném bã vụn thức ăn ra ngoài, Mili đã kêu lên: “Ôi!” bằng một giọng kinh ngạc đến nỗi chúng tôi xúm lại xem. Trên ngưỡng cửa có một lớp tuyết… Vì trời tối quá, tôi tiến mấy bước ra sân để xem lớp tuyết có dày không. Tôi cảm thấy những bông tuyết nhẹ bỗng chạm vào mặt và tan ngay tức khắc. Cha gọi giật tôi vào và Mili xuýt xoa vì lạnh bèn đóng ngay cửa lại.
Chín giờ, chúng tôi chuẩn bị leo lên phòng ngủ. Mẹ vừa cầm đèn lên thì chúng tôi nghe rõ mồn một hai tiếng gõ cực mạnh vào cánh cổng ở đầu kia sân. Mẹ đặt đèn xuống bàn, chúng tôi đứng sững, gióng tai nghe.
Đừng có tính đến chuyện ra ngoài. Có khi chưa đi quá nửa sân, đèn đã phụt tắt và bóng đã rơi vỡ. Chúng tôi lặng đi giây lát, rồi cha bắt đầu nói: “Chắc  chắn là…” thì vừa hay, ngay dưới cửa sổ phòng ăn mở ra đường đi đến ga như tôi đã nói, rúc lên một tiếng còi dài lảnh lót vang đến tận phố nhà thờ. Tức thì, ngay sau cửa sổ vang lên những tiếng kêu chói tai có phần nhỏ đi vì bị kích chặn lại, do những người chắc đang bám vào các nắm đấm cửa leo lên một điểm tựa bên ngoài phát ra.
- Đưa nó đến đây! Đưa nó đến đây!
Từ đầu nhà kia, những tiếng y hệt đáp lại. Những kẻ trả lời đó, chắc đi qua đồng của lão Mactanh. Họ nhất định phải trèo lên bức tường thấp phân cách sân chúng tôi với đồng.
Rồi gần như chỗ nào cũng có khoảng mươi giọng cố tình lạc đi cùng với tiếng thét lên không ngớt: “Đem lại đây! Đem lại đây!” – trên nóc hầm rượu nho mà họ đã trèo lên, nhờ một chồng bó củi dựa vào bức tường bên ngoài, trên bức tường thấp nối kho với cổng, nóc tường tròn cho phép lên ngựa thật thuận tiện, bức tường chăng lưới thép mắc các dọc đường ra ga có thể leo lên dễ dàng… Sau hết, ở khu vườn phía sau, một nhóm chậm trễ - vẫn chơi điệu Xarabăng ấy kép đến la lớn:
- Nhào vô!
Chúng tôi nghe tiếng thét của họ vang vang trong các phòng học rỗng mà họ đã mở cửa sổ.
Môn và tôi thông thuộc đường ngang ngõ tắt trong khu trường mênh mông, đến nỗi giờ đây chúng tôi thấy rõ như trên bản đồ tất cả những điểm mà họ đang tấn công.
Thực tình, chúng tôi chỉ sợ hãi lúc đầu thôi. Tiếng còi rúc khiến cả bốn chúng tôi nghĩ đến một cuộc tiến công của bọn rình trộm ban đêm và bọn giang hồ. Đúng vậy, từ nửa tháng nay, trên quảng trường sau nhà thờ, vẫn thấy một tay ăn trộm cao ngất nghểu và một gã tứ chiếng đầu đeo băng ngang băng dọc. Ở các hiệu đóng xe và bịt móng ngựa, cũng xuất hiện những công nhân không phải người trong vùng.
  Nhưng vừa nghe tiếng hô của bọn tấn công, chúng tôi tin ngay rằng chúng tôi phải đương đầu với người – và có lẽ là thanh niên – của thị trấn. Thậm chí có cả trẻ con – chúng tôi nhận ra tiếng thét cao vút và non nớt của bọn chúng – trong nhóm đột kích nơi ở của chúng tôi, như đột kích một tàu chiến vậy.
- Chà, rõ là… - cha tôi thốt lên.
Mili hỏi khẽ:
- Nhưng thế là sao?
Đúng lúc đó, những tiếng thét ở cổng, ở bức tường trên đường ra ga, rồi ở cửa sổ ngưng bặt. Hai tiếng còi rúc lên sau cửa sổ. Tiếng la của toán trên nóc hầm rượu nho, cũng như của toán tiến công ở vườn nhỏ dần rồi lịm hẳn. Chúng tôi nghe dọc tường phòng ăn cả bọn hộc tốc rút lui, chạy im ru trên tuyết.
Hẳn có ai phá rối chúng. Vào giờ đâu đâu cũng ngủ cả rồi này, chúng tưởng có thể yên ổn “công phá” ngôi nhà đơn độc, ở lối vào thị trấn của chúng tôi. Nhưng mưu đồ của chúng đã bị ngăn chặn.
Chúng tôi vừa kịp trấn tĩnh – vì cuộc tấn công hết sức bất ngờ, cứ như một cuộc công dồn mau lẹ - và sửa soạn đi ra, thì nghe tiếng ai đó rất quen gọi ngoài hàng rào mắt cáo thấp:
- Ông Xơren! Ông Xơren!
Đó là bác hàng thịt Paxkiê to béo nhưng lùn tịt. bác gọi, chúi guốc vào ngưỡng cửa, giũ giũ cái áo blu ngắn cũng cỡn lấm chấm tuyết, rồi bước vào. Bác lộ vẻ vừa kinh hoàng vừa láu lỉnh của một người vừa nắm được toàn bộ bí mật của mọi việc bí ẩn.
- Lúc ấy, tôi đang ở ngoài sân nhà tôi, vốn hướng ra quảng trường Bốn Đường. Tôi toan đi đóng chuồng nhốt dê con. Đột nhiên, như từ dưới tuyết mọc lên, ông có biết tôi thấy gì không? Hai thằng như hai cái ào! Chúng ra bộ đi tuần hay rình mò gì đấy! Chúng đang hướng về cây thập tự. Tôi tiến đến, mới được vài bước, thì hấp, chúng ba chân bốn cẳng chạy về phía nhà ông. Chà chà, không chần chừ một phút, tô vớ lấy đèn phalo và thét bảo: “Tao sẽ mách ông Xơren ngay!”…
Hóa ra bác lại kể từ đầu:
- Bấy giờ tôi đang ở ngoài sân sau nhà…
Đến đây, cha tôi mời bác một cốc nước và hỏi bác những chi tiết mà bác không cung cấp được.
Trên đường đến đây bác không thấy gì cả. Cá “đội quân” mà hai tên “lính tuần” bị bác phát hiện đánh thức cũng biến ngay tức khắc. Còn những kẻ “đưa thư” này có thể là ai thì…
- Có lẽ là bọn lang thang, bọn Bôhêmiêng… - bác nói trước – Một tháng nay chúng chui rúc ở quảng trường, chờ dịp giở trò. Đâu phải chúng không biết tổ chức trò xấu…
Vậy là bác chẳng giúp chúng tôi biết gì hơn. Chúng tôi vẫn đứng nguyên, hết sức trù trừ, còn bác thì nhấp từng chút một cốc nước được mời và nhắc lại câu chuyện. vẫn chăm chú lắng nghe cho đến lúc này, Môn bèn nhấc chiếc đèn của bác từ dưới đất lên và nói quả quyết.
- Phải ra xem sao!
Anh mở cửa và chúng tôi theo sau, ông Xơren, bác Paxkiê và tôi.
Đã trấn tĩnh lại vì những kẻ đột kích đã rút chạy và bản tính rất ít hiếu kỳ, như một người thích ngăn nắp và hay câu nệ, Mili nói to:
- Cứ đi đi, nếu các ông muốn. Nhưng hãy khóa cửa và cầm chìa khóa theo. Tôi đi ngủ đây. Còn đèn, tôi sẽ để nguyên trên bàn.
 
0
CHƯƠNG II
CHÚNG TÔI RƠI VÀO MỘT Ổ PHỤC KÍCH
  Chúng tôi đi trên tuyết giữa bốn bên hoàn toàn vắng lặng. Môn đi trước, giơ cao cái đèn lồng có lưới sắt bao bọc, hắt xuống đường một vùng sáng hình rẻ quạt… CHúng tôi vừa bước khỏi cổng trường đồ sộ, thì từ sau cái cầu thang thăng bằng cua thị trấn dựa vào tường nhà chơi của chúng tôi nhảy vọt ra cùng một lúc hai tên, đầu trùm kín mít, nhanh như hai con đa đa con bị động bất ngờ. Hoặc để chế nhạo, hoặc khoái chí vì trò chơi quái quỉ của mình, hoặc thần kinh bị kích động, hoặc sợ bị tóm, chúng vừa chạy vừa nói hai ba câu gì đó, rồi cất tiếng cười sằng sặc.
Môn buông chiếc đèn xuống tuyết, bảo tôi:
- Theo tớ, Phrăngxoa! 
Bỏ mặc hai ông già, không đương nổi một tốc độ lớn như vậy, chúng tôi lao đuổi theo hai bóng đen, lúc đầu chúng đi theo đướng Viây-Plăngsơ chạy vòng quanh cuối thị trấn một hồi, rồi sau đó cương quyết ngược lên về hướng nhà thờ. Chúng chạy bình thường thôi, không qúa nhanh, chúng tôi đuổi gần kịp không vất vả lắm. Chúng chạy xéo phố nhà thờ hoàn oàn yên ắng, rồi chạy ra sau nghĩa địa vào một khu toàn những phố nhỏ và ngõ cụt nhằng nhịt.
Đây là một khu của các nhà báo, thợ dệt và thợ khâu mà người ta gọi là những Góc Nhỏ. Khu này chúng tôi không thạo vì chưa bao giờ đến vào ban đêm. Ban  ngày nó vắng lắm: nhà báo đi xa hết, thợ dệt cấm cung trong nhà. Trong cái đêm hoang vắng này, nó càng trống trải và câm lặng hơn các khu khác của thị trấn. Cho nên chẳng thể có chuyện may là ai đó thình lình xuất hiện và giúp mình.
Tôi chỉ biết một con đường. Đó là con đường chạy giữa những ngôi nhà bé nhỏ như hom các-tông bạ đâu đặt đấy, rồi dẫn đến nhà một bà thợ khâu được đặt biệt hiệu là “Con Câm”. Trước tiên xuôi xuống một cái dốc rắn đanh, lát đá vài đoạn, sau đó ngoặt hai ba chỗ, giữa những chuồng gia súc rỗng hay các mảnh rào chật hẹp của các nhà thợ dệt, người ta đến một cái ngõ cụt rộng rãi bị chặn bởi một cái sân trại từ lâu bỏ hoang. Ở nhà Cô Câm, trong khi Cô vừa liếng thoắng đan với những ngón tay nhoay nhoáy tít mù, vừa thủ thỉ trò chuyện với mẹ tôi không lúc nào ngơi, chỉ thỉnh thoảng mới bị những tiếng kêu bênh tật ngắt quãng, tôi có thể đưa mắt qua cửa sổ nhìn những bức tường cao của nhà cô, ngôi nhà cuối cùng của thị trấn về hướng này, nhìn hàng rào chắn bao giờ cũng đóng cửa cái sân khô nẻ, chẳng rơm cỏ, chẳng có người, ngựa đi qua bao giờ…
Hai tên lạ mặt lủi theo chính con đường này. Đến chỗ ngoặt, chúng tôi lại sợ mất hút chúng. Nhưng lạ thay, bao giờ chúng tôi cũn đến chỗ ngoặt sang phố sau, khi chúng chưa chạy hết phố ấy. Tôi nói “lạ”, bởi vì các dãy phố này ngắn ngủi, nếu chúng không chạy chậm lại, khi đã khuất khỏi tầm nhìn của chúng tôi, thì không thể có chuyện đó được.
Cuối cùng, không đắn đo, chúng chạy vào ngõ cụt nhà Cô Câm. Tôi hét lên với Môn:
- Ngõ cụt! Ta tóm được chúng rồi!
Nói cho đúng, chính chúng đã tóm gọn chúng tôi. Chúng đã dẫn chúng tôi đến chỗ chúng muốn. Chạy đến bức tường, chúng cố tình quay về phía chúng tôi, môt tên rúc lên một hồi còi giống hai hồi chúng tôi đã nghe thấy trong tối hôm ấy.
Ngay tức khắc, khoảng một chục đứa xông ra từ cái nhà bỏ hoang, nơi dường như chúng đóng chốt chỗ chúng tôi. Đầu đứa nào cũng trùm kín, mặt gần như khuất hẳn sau khăn quàng cổ.
Dù đây là ai, chúng tôi nhận ra ngay, chúng tôi cũng nhất quyết không thưa gì với ông Xơren, người mà công việc của chúng tôi không có gì liên quan đến. Có Đơlusơ, Đơnix, Girôđa và các bạn khác. Chúng tôi nhận ra các bạn trong cuộc vật lộn nhờ kiểu chơi quen thuộc và tiếng la hò đứt quãng mọi khi. Nhưng có một điểm đán glo ngại, và xem chừng khiến Môn kinh hãi: đó là trong các bạn, có một tay chúng tôi không biết, và hình như là kẻ cầm đầu…
Tay này không đụng đến Môn, mà chỉ nhìn quân lính của mình tả xung hữu đột, hè nhau lao vào chàng trai cao ngộc thở đứt hơi, mặc dù nhiều ohen ngã lăn trong tuyết, các bạn rách toạt từ chân đến đầu. Hai bạn được phân công “đả” tôi, gắng còng tôi đứng im rất vất vả, vì tôi chống cự như một con quỷ. Tôi ngã ngồi, đầu gối gập, cả người dồn lên hai gót chân. Các bạn giật cánh khuỷu hai tay tôi, và tôi ngồi xem vừa háo hức vừa e sợ.
Bị bốn thằng cùn lớp móc bám lấy áo blu, Môn xoay mình thật mạnh khiến cả bốn văng ra trên tuyết… Đứng thẳng trên hai chân, nhân vật không quen theo dõi cuộc đấu một cách hứng thú, nhưng bình thản, luôn mồm nhắc đi nhắc lại bằng một giọng dứt khoát.
- Dũng cảm lên… Làm lại… Gâu-on, Mai-boi… (tiếng Anh)
Hiển nhiên, hắn ta chỉ huy… Hắn từ đâu tới? Ở đâu và bằng cách nào hắn lôi kéo được các bạn tôi vào trận đấu? Đấy là một bí mật đối với chúng tôi. Cũng như quân của mình, mặt hắn lấp kìn gần hết trong khăn quàng cổ. Nhưng khi Môn thoát khỏi bốn địch thủ, tiến về phía hắn với vẻ hăm dọa, thì động tác mà hắn làm để nhìn cho rõ và đương đầu với tình thế đã để lộ một dải vải trắng quấn quanh đầu như băng vết thương.
Chính lúc đó, tôi hét bảo Môn:
- Cảnh giác phía sau! Có một thằng!...
Anh chưa kịp quay lại, thì từ hàng rào chắn sau lưng, một con quỷ cao lêu đêu hiện ra, tung thật chuẩn cái khăn quàng quấn lấy cổ bạn tôi, giật anh ngã ngửa. Nhanh như cắt, bốn tên địch vừa bị Môn cho cắm mũi xuống tuyết liền bâu lại trói nghiến hai chân anh bằng một sợ dây và hai tay anh bằng cái khăn quàng, khiến anh hết cựa quậy, còn nhân vật đầu đeo băng thọc tay vào lục trong túi anh… Tên địch xuất hiện cuối cùng, người có khăn quàng làm dây thòng lọng, thắp lên một ngọn nến nhỏ mà y phải lấy tay che cho khỏi tắt. Mỗi khi tìm được một tờ giấy mới, tay chỉ huy lại đến gần ngọn nến leo lét xem kỹ. Cuối cùng, hắn gập tờ bản đồ mà Môn đã vẽ và ghi chú kín cả sau chuyến phiêu lưu trở về, rồi thốt lên mừng rỡ.
- Phen này chúng ta thắng rồi! Bản đồ đây! Chúng ta sẽ xem  xem tôn ông này có đến đúng cái nơi mà tớ tưởng tôn ông đã đến không…
Tên đồng bọn tắt nến. Các tên khác nhặt cát-két hay xanh-tuya lên. Rồi cả bọn âm thầm chuồn đi như khi đến, để mặc tôi tự do cuống cuồng cởi trói cho bạn mình.
- Chúng chưa đi xa đâu, tấm bản đồ… - Môn vừa đứng lên vừa nói.
Chúng tôi đi không nhanh, vì Môn hơi tập tễnh. Đến đường nhà thờ, chúng tôi gặp lại ông Xơren và bác Paxkiê.
- Các vậu không thấy gì à? – hai người hỏi – Chúng tôi cũng vậy.
Nhờ trời tối mịt, cả hai chẳng nhận ra tí gì. Bác hàng thịt cáo lui, còn ông Xơren vào đi ngủ ngay.
Nhưng trong ánh sáng cây đèn mà Mili để lại trên bàn trong buồng mình, hai chúng tôi còn thức mãi, vừa vá víu qua loa cái áo blu bật chỉ vừa to nhỏ với nhau về chuyện vừa xảy đến với chúng tôi, chẳng khác nào hai bạn chiến đấu trong một đêm thất trận.
 
0
CHƯƠNG III
CHÀNG BÔHÊMIÊNG Ở TRƯỜNG
  Hôm sau thức dậy người đau như dần. tám giờ rưỡi, khi ông Xơren ra hiệu vào lớp, hai chúng tôi hổn hển chạy đến đứng vào hàng. Vì đến chậm, chúng tôi cứ vào hàng bừa đu. Còn bình thường, Môn đứng ở đầu cái hàng học sinh dài dằng dặc xêp khít nhau, với đủ sách vở, bút mực, để ông Xơren kiểm tra.
Tôi ngạc nhiên trước sự sốt sắng lặng lẽ của các bạn giãn ra cho chúng tôi chen vào giữa. Trong khi để chậm việc vào lớp ít giây, ông Xơren kiểm tra Môn Sếu, tôi tò mò nhìn phải nhìn trái để nhận mặt những kẻ thù của chúng tôi đêm qua.
Tên đầu tiên tôi nhìn thấy chính là chàng trai mà tôi không ngừng nghĩ tới, cũng là tên cuối cùng tôi không thể hy vọng gặp lại nơi đây. Chàng đứng ở vị trí quen thuộc của Môn, học sinh đầu hàng, một chân trên bậc đá, một bên vai và một góc cái cặp cháng mang trên lưng tì vào khung cửa. Bộ mặt thanh thú rất nhợt nhạt như có ánh đỏ hoe thì hơi cúi và quay về phía chúng tôi với vẻ vừa tò mò vừa hài hước vừa khinh bỉ. Đầu và cả một bên mặt chàng buộc băng trắng. Tôi nhận ra tên đầu lĩnh, chàng Bôhêmiêng tối qua đã cướp giật của chúng tôi.
Nhưng chưa chi chúng tôi đã phải vào lớp va ai về chỗ nấy. Người học sinh mới ngồi cạnh cột, bên trái cái ghế băng dài mà Môn ngồi ngay đầu bên phải.
Girôđa, Đơluxơ, và ba học sinh khác ngồi nép vào nhau để nhường chỗ cho chàng, như thể mọi chuyện đã được thỏa thuận trước.
Thường vào mùa đông, những học sinh tình cờ như vậy hay đến nhập hội với chúng tôi, đó có thể là những thủy thủ mà thuyền bị băng tuyết giữ lại trong kênh, hoặc các thợ học việc, các nhà du lịch phải bó chân một chỗ vì tuyết. Họ theo học hai ngày, một tháng, hạn hữu có người dài hơn… Suốt giờ đầu tiên họ bị lục vấn đủ mọi chuyện, nhưng rồi họ cũng nhanh chóng bị quên lãng và chìm đi trong đám đông học sinh bình thường.
Nhưng chàng trai này không thể bị quên ngay. Giờ đây tôi vẫn nhớ con người độc đáo và cả cái kho báu dị thường mà chàng mang trong cái cặp khoác trên lưng. Trước hết là các cây bút sắt “nhìn đến phát thèm” mà chàng rút ra để viết chính tả. Nheo mắt nhìn vào một cái ống kính, các bạn thấy hiện lên rung rinh và đồ sộ đại giáo đường Luôcđơ hay một công trình xa lạ nào đó. Chàng chọn ra một ống, tức thì các bạn chuyền tay nhau khắp lượt. sau đó là một hộp bút Trung Quốc chứa đầy com-pa và các thứ ngộ nghĩnh. Các thứ này liền di động, qua ghế băng bên trái, rồi cứ lặng lẽ và tinh quái lướt từ tay này sang tay khác dưới các quyển vở, để ông Xơren không nhìn thấy được.
Cũng chuyển động như thế có cả những quyển sách mới tinh mà tên của chúng, tôi đã được đọc một cách thèm khát ở bìa mấy quyển sách cũ hiếm hoi trong thư viện của chúng tôi. Thời hạn cho khướu, Núi đá chim hải âu, Bạn Bơnca của tôi… Bạn thì viết chính tả một tay, còn tay kia lần giở những quyển sách để trên đầu gối, chẳng hiểu do đâu mà có, do ăn cắp cũng nên. Bạn khác thì ném xoay tròn cây com-pa vào tủ hốc tường của mình. Bạn nữa, nhân lúc ông Xơren đi từ bàn ra cửa sổ và vẫn đọc chính tả, liền vội nhắm một mắt và ghé vào ống nhòm để ngắm Nhà thờ Đức bà Paris màu lục lam và như rỗng không. Còn chàng học sinh lạ, bút trên tay, một bên mắt ép vào cột, thì cứ nháy mắt, vẻ mãn nguyện với trò chơi vụng trộm đang diễn ra xung quanh.
Tuy nhiên, cả lớp đâm lo: các đồ vật được phát đi, cái nọ sau cái kia dần dần đều đến tay Môn sếu, nhưng anh vẫn giữ vẻ lo lắng, không nhìn thứ nào, mà cứ để hết ang bện cạnh. Chẳng bao lâu có hẳn một đống đủ màu sắc và cái nào ra cái ấy, như dưới chân người đàn bà tượng trưng cho khoa học trong các tác phẩm ngụ ngôn. Thật tai hại, ông Xơren sắp phát hiện ra cái đống kỳ dị này và hiểu rõ thủ đoạn của chúng tôi. Vả lại, hẳn ông đang suy xét để điều tra các sự việc đêm qua. Sự có mặt của cháng Bôhêmiêng sắp giúp ông dễ dàng đi tới đích.
Đúng vậy, chỉ một lát sau, ông Xơren sửng sốt dừng chân trước Môn cao kều.
- Của ai tất cả những cái này? – ông vừa hỏi vừa chỉ “cái này” bằng gáy quyển sách gập trên ngón tay trỏ của ông.
- Thưa thầy, em không biết – Môn cáu kỉnh trả lời, đầu không ngẩng lên.
Chàng học sinh lạ mặt chen vào:
- Của tôi.
 Rồi chàng tiếp luôn bằng một cử chỉ vương giả đại lượng và lịch sự mà ông giáo không biết nên đáp lại thế nào:
- Nhưng thưa ông, tôi xin để lại hầu ông, nếu ông muốn ngắm.
Bấy giờ, trong vài giây, không một tiếng động, như để không phá hỏng tình thế vừa xuất hiện, cả lớp tò mò lên đến xung quanh ông thầy đang nghiêng mái đầu vừa hói vừa quăn xuống kho báu và chàng học sinh xanh xao đang giảng giải cho ông nghe với vẻ ung dung đắc thắng. Tuy vậy, hoàn toàn cô độc và lặng thinh trên ghế của mình. Môn đã giở vở nháp ra và cau mày nghiền ngẫm một bài toán khó.
Giờ ra chơi “mười lăm phút” đến giữa lúc chúng tôi đang mải mê theo dõi như vậy. Bà chính tả chưa viết xong, lớp mất trật tự. Nói cho đúng, giờ ra chơi kéo dài suốt từ sáng đến giờ.
Cho nên, đến mười giờ rưỡi, khi học sinh tràn ra khắp cái sân ảm đạm và ngầu bùn, chúng tôi nhận thấy ngay rằng bây giờ ông chủ mới sẽ cầm trịch các trò chơi.
Trong tất cả các trò vui mới mà chàng đưa vào trường chúng tôi ngay từ sáng hôm đó, tôi chỉ còn nhớ cái trò từng khiến chúng tôi đổ máu. Đó là trò đấu ngựa, mà ngựa là các học sinh lớn và người cưỡi là các học sinh bé ngự trên vai.
Chia thành hai nhóm xuất phát từ hai đầu sân, các con tuấn mã xông vào nhau, tìm cách quật ngã đối thủ bằng các cú húc trời giáng. Các kỵ sĩ dùng khăn quàng cổ làm thòng lọng, hai cánh tay làm lao, gắng quật đối phương ngã ngựa. Có những kỵ sĩ tránh đòn, mất thăng bằng, ngã nhào trên sân bẩn, chúi mũi xuống dưới ngựa. Có những kỵ sĩ gần như bị hất tung, song nhờ “ngựa” tóm được hai chân, lại trèo được lên vai và tiếp tục chiến đấu ngoan cường. Ngồi trên vai bạn Đơlagiơ cao to, chân tay dài quá cỡ, tóc đỏ hoe, tai vểnh như tai thỏ, chàng kỵ sĩ mảnh mai đầu đeo băng khích lệ hai phe và vừa điều khiển thật ranh mãnh con ngựa của mình, vừa cười như nắc nẻ.
Đứng ở cửa lớp, thoạt đầu Môn nhìn những trò chơi mới với đôi mắt đầy ác cảm. Tôi đứng ngay bên anh, lưỡng lự vô cùng.
- hắn là một thằng láu cá – anh nói qua kẽ răng, tay thọc túi – Từ sáng đã mò đến, đó là cách duy nhất để khỏi bị nghi ngờ. Và ông Xơren đã mắc mưu!
Anh đứng đó hồi lâu, mặc cho gió quần cái đầu trọc, điên khùng nguyền rủa các thằng hề kia ắp giết hết bọn con trai mà mới chưa lâu anh còn thống lĩnh. Dù bản tính hiền lành, tôi cũng không thể không ủng hộ anh.
Với sự vắng mặt của thầy giáo, cuộc huyết chiến diễn ra khắp nơi trên sân: kết cục các học sinh bé nhất bao giờ cũng đè lên nhau, bởi vì các bạn chạy trốn và ngã nhào trước khi bị đối phương quật trúng. Chả bao lâu chỉ còn đứng được ỡ giữa sân, một nhón hăm hở nhất, nhóm này quay tít mù đến bất cứ nơi nào xuất hiện ánh băng trắng của đầu thủ lĩnh mới.
Lúc này, Môn không cưỡng được nữa. Anh cúi đầu, chống hai tay lên đùi, gọi tôi.
- Nào, Phrăngxoa, lên ngựa đi!
Sững ra vì quyết định bất ngờ ấy, tôi vẫn không mảy may đắn đo, trèo lên vai anh, và loáng một cái, chúng tôi đã ở giữa cuộc đánh giáp lá cà, trong khi phần lớn chiến sĩ cuống cuồng chạy đi và thét inh ỏi.
- Môn đấy! Môn Sếu vào cuộc rồi!
Ở giữa những chiến binh còn lại, anh vừa quay tròn vừa bảo tôi:
- Dang tay ra, chộp lấy chúng nó như tớ làm đêm qua ấy.
Choáng váng bởi cuộc chơi, tin chắc vào thắng lợi, tôi cố chộp lấy các bạn mà tôi gặp trong vòng quay. Các bạn giãy giụa gỡ ra, lào đảo giây lát trên vai “ngựa” rồi ngã vật xuống bùn. Lát sau, chỉ còn đứng vững có anh chàng mới đến trên vai Đơlagiơ. Nhưng Đơlagiơ đâu có muốn đấu với Môn, nên cúi gập rồi dướn mạnh người lên, hất kỵ sĩ xuống.
Một bàn tay đặt trên vai Đơlagiơ, như thể một thủ lĩnh nắm hàm thiếc ngựa, chàng trai đeo băng đầu đứng thẳng trên đất đăm đăm nhìn Môn, vẻ vô cùng cảm phục pha chút phấn khích.
- May mắn xiết bao! – chàng thốt lên.
Vừa hay, chuông vào lớp kêu giòn, các bạn đang quây lấy chúng tôi háo hức chờ xem sự thể ra sao vội tản ra. Còn Môn, ấm ức vì chưa thể cho kẻ địch của mình đo ván, liền vừa quay đi vừa nói giận dữ.
- Hẹn gặp lại!
Cho đến tận trưa, lớp học tiếp diễn như sắp đến kỳ nghỉ hè, và bị chen vào những “lớp” phụ mà chàng học sinh kiêm diễn viên hài kịch là trung tâm.
Chàng kể rằng do phải “hạ trại” vì trời lạnh quá, cũng không dám tính chuyện tổ chức diễn đêm, vì sẽ chẳng ai đến xem, họ quyết định chàng đến học với chúng tôi ban ngày để giải trí, còn bạn chàng trông nom con dê cái thông thái và lũ chim bắt từ các đảo. Rồi chàng kể các cuộc du lịch của họ ở các vùng lân cận, có lần mưa rào đổ như trút xuống mui xe bằng tôn, họ phải xuống bắt bánh. Các học sinh ngồi cuối phòng len lên gần để nghe cho rõ. Các bạn ít mơ mộng thì tranh thủ thời cơ quây lại sưởi ấm bên lò sưởi. Nhưng không thoát khỏi tò mò, họ ngoái lại và dịch đến gần nhóm “lớp phụ” gióng tai nghe, tay vẫn níu báu lấy nắm lò sưởi để giữ chỗ.
-  Thế các em sống bằng gì? – ông Xơren hỏi.
Hóa ra ông lắng nghe tất cả câu chuyện với sự hiếu kỳ hơi trẻ con và không hợp lắm với một ông thầy. Rồi ông còn hỏi nhiều câu khác.
Chàng trai lưỡng lự một lát, tuồng như chưa bao giờ chàng băn khoăn về điều này.
- Bằng tất cả những thứ chúng em kiếm được trong mùa thu – chàng đáp – em nghĩ vậy, Ganasơ lo chuyện ăn uống.
Không ai hỏi chàng xem Ganasơ là ai. Nhưng tôi thì nhớ đến con quỷ cao ngất ngưởng, đêm qua đã tấn công Môn từ phía sau một cách thâm độc và quật ngã anh.
 
0
CHƯƠNG IV
VẤN ĐỀ LÂU ĐÀI BÍ ẨN LÀ Ở ĐÂU?
  Buổi chiều, vẫn những thú vị ấy, và suốt buổi học, vẫn mất trật tự và trò chơi dân gian như vậy. Chàng Bôhêmiêng, mang đến những vật quý khác, vỏ hến, vỏ sò, đồ chơi, tập bài hát, và cả một con khỉ bé tẹo luôn tay cào sột soạt bên trong cái túi da của chàng… Gần như ông Xơren phải ngừng lời luôn luôn để xem chàng trai láu lỉnh vừa lôi cái gì ra khỏi cặp… Chuông đồng hồ điểm 4g, và Môn là học sinh duy nhất làm xong các bài toán.
Mọi người đi ra không vội vã. Hình như không còn cái ranh giới khắc nghiệt giữa giờ học trong lớp và giờ giải lao vốn làm cho đời học sinh đơn giản và đều đặn như sự kế tiếp giữa ngày và đêm. Thậm chí lúc bốn giờ kém mười, chúng tôi đã quên báo cho ông Xơren biết hai học sinh mà chúng tôi chỉ định ở lại quét dọn phòng học. Lâu nay không đời nào chúng tôi quên đâu, và đó là một cách báo sắp hết giờ để mau mau được nghỉ hẳn.
Oái oăm thay, hôm đó lại đến phiên Môn cao kều trực nhật. Từ sáng sớm trong khi nói chuyện với chàng Bôhêmiêng, tôi đã cho chàng biết rằng theo luật lệ, học sinh mới bao giờ cũng là người được phân công trực thừ hai ngay hôm anh ta đến lớp.
Lấy được chiếc bánh quá trưa của mình rồi, Môn trở lại lớp ngay. Còn chàng Bôhêmiêng, thì mất tăm mãi đến khi trời sắp tối mới chạy đến.
- Cậu ở lại lớp nhé – bạn bảo tôi – Khi nào tớ tóm hắn, cậu lấy lại tấm bản đồ mà hắn đã cướp của ta.
 Cho nên, tôi ngồi vào một cái bàn nhỏ bên cửa sổ đọc sách trong ánh ngày chạng vạng, mắt không quên liếc nhìn hai người lặng thinh chuyển dịch bàn ghế. Môn thì trầm ngâm và dữ dằn, áo blu đen cài ba cúc phía au và thắt dây bụng, chàng kia, vẻ tế nhị, bị kích động, đầu buộc băng như một người bị thương. Chàng mặc một cái áo khoác tồi tàn, với nhiều chỗ bị xé rách mà tôi không để ý suốt ngày hôm nay. Tràn đầy sự hăng hái gần như hoang dã, chàng nâng và đẩy bàn cực kỳ nhanh nhẹn, môi thấp thoáng một nụ cười. Cứ như chàng đang diễn một trò chơi phi thường mà chúng tôi chưa biết kết thúc ra sao.
Chàng đi vào góc tối nhất, để dịch chiếc bàn cuối cùng.
Ở đây chỉ bằng một động tác tay, Môn có thê quật ngã địch thủ, mà người bên ngoài không thể thấy hay nghe được qua cửa sổ. Tôi không hiểu tại sao anh bỏ lỡ một cơ hội tương tự. Một khi quay lại gần cửa ra vào, chàng kia muốn thoát lúc nào cũng được, viện cớ công việc đã xong, thế là chúng tôi sẽ không gặp lại nữa. Tấm bản đồ cùng mọi lời chỉ dẫn mà Môn rắp tâm cướp lại để điều chỉnh, tổng hợp, sẽ mất vĩnh viễn.
Từng phút từng giây, tôi chờ ở bạn tôi một dấu hiệu, một cử động báo tin cuộc đấu bắt đầu, nhưng anh có nhúc nhắc gì đâu. Chỉ đôi khi, với vẻ chất vấn kỳ dị, anh nhìn chòng chọc vào dải băng của chàng Bôhêmiêng mà trong ánh nhập nhoạng, nom như bị một vết đen rất rộng.
Chiếc bàn cuối cùng đã xê dịch xong mà không có gì xảy ra.
Nhưng khi cùng đi lên đầu trên lớp, cả hai quét nốt ngưỡng cửa, thì Môn cúi đầu, không nhìn kẻ thù, nói nhỏ:
-  Băng của bạn nhuốm đỏ máu. Quần áo thì bị xé rách.
Chàng Bôhêmiêng nhìn anh giây lát, không phải ngạc nhiên vì điều anh nói, mà hết sức xúc động được nghe tiếng anh.
- Lúc nãy trên quảng trường – chàng đáp – chúng nó muốn cướp tấm bản đồ của bạn từ tay tôi. Biết tôi đến đây trực nhật, chúng hiểu tôi sẽ giảng hòa với bạn, và chúng nổi loạn chống lại tôi. Song tôi đã cứu được tấm bản đồ - chàng vừa kiêu hãnh nói thêm vừa giơ cho Môn tờ giấy quý giá vẫn gấp nguyên.
Môn từ từ quay về phía tôi:
- Thấy chưa? Bạn ấy vừa chống trả đến nỗi bị thương vì chúng mình. Thế mà mình đánh bẫy bạn ấy.
Rồi thôi dùng từ “bạn” mà các học sinh ở Xanhtơ-Agat nghe lạ tai:
- Cậu là một người bạn thực sự! – anh nói và giơ tay ra cho chàng Bôhêmiêng kiêm diễn viên hài kịch.
Chàng siết chặt bàn tay ấy, và lặng đi một hồi… Nhưng chàng đã hăm hở nói tiếp với vẻ hiếu kỳ:
- Thế cậu định bẫy tớ? Ngộ thật! Tớ đã đoán trước và tự nhủ: nhận lại tấm bản đồ, hai ông chủ tha hồ mà ngạc nhiên, vì sẽ nhận thấy nó đã được thêm thắt cho hoàn chỉnh.
- Hoàn chỉnh ư?
- Hãy khoan! Không hoàn toàn…
Giọng mất hồ hởi, chàng vừa thong thả vừa trịnh trọng nói tiếp, lại gần chúng tôi:
- Môn ạ, đã đến lúc tôi nói với bạn răng chính tôi cũng đã đến nơi bạn từng đến. Tôi đã tham dự cuộc lễ phi thường. Khi các bạn ở trong lớp kể cho tôi nghe về cuộc phiêu lưu ly kỳ của bạn, tôi rất hiểu rằng vấn đề ở đây là tòa lâu đài cổ đã mất. Để chắc chắn mình không hiểu sai, tôi đã cướp của bạn tấm bản đồ… Nhưng cũng như bạn, tôi mù tịt về tên tòa lâu đài. Tôi cung không biết lối quay về. tôi không biết hết con đường dẫn bạn từ đây đến đấy.
Phấn khởi và tò mò đến cực điểm, chúng tôi ôm chầm lấy chàng, lòng dạt dào tình thân. Môn háo hức hỏi chàng hết câu này đến câu khác. Hầu như cả hai chúng tôi đều tưởng chàng làm bộ không biết, chứ cứ nài thật lực, chàng sẽ nói ra thôi.
- Các bạn sẽ thấy, các bạn sẽ thấy – chàng trai trả lời với vẻ hơi buồn rầu và lúng túng – tôi đã thêm vào bản đồ vài điểm mà các bạn không có… Tôi chỉ làm được vậy thôi…
Rồi nhìn chúng tôi với ánh mắt hân hoan tràn trề cảm phục.
 -Ô! Tôi muốn nói trước với cac bạn – chàng thốt ra rầu rĩ và tự hào – rằng tôi không giống bọn trai khác đâu. Các đay ba tháng, tôi đã muốn tự bắn vào đầu, đó là điều lý giải cái băng này, như ở một người lính nghĩa vụ trên dông Xen, năm 1870…
- Và ẩu đả đêm nay, vết thương lại mở miệng… - Môn nói trìu mến.
Không để ý, chàng kia tiếp tụ với giọng hoa mỹ:
- Tôi muốn chết. Vì chết không thành, tôi chỉ còn muốn chơi đùa như một đứa trẻ, như môt tên Bôhêmiêng. Tôi đã bó hết. Tôi không còn mẹ cha, anh em, không còn tình yêu, nhà cửa… Hoàn toán vô sản, như các bạn chơi cùng hội.
- Các bạn cùng hội đã phản bội anh – tôi xen vào.
- Ừ - chàng hí hửng trả lời – Đó là lỗi của một thằng tên Đơlusơ thì phải. Nó đoán được tôi sắp về phe với các bạn. Nó đã làm mất tinh thần của đội quân rất có quy cũ của tôi. Các bạn đã chứng kiến cuộc đột kích đêm qua, thực hiện tuyệt vời, chỉ huy tuyệt vời. Từ đó đến nay, tôi chưa tổ chức được cái gì đạt như vậy!...
Mơ màng giây lát, chàng nói thêm để chúng tôi không còn chút mơ hồ nào về chàng.
- Nếu đêm nay, tôi đến với hai bạn, thì là bởi tôi nhận ra từ sáng, chỉ có thể vui với các bạn còn cánh kia… Nhất là Đơlusơ, tôi ớn tận cổ. Mới 17 tuổi mà đã lên mặt thì thật… Tôi chưa ngán gì hơn nó… Các bạn xem có nên tóm cổ nó không?
- Tất nhiên – Môn bảo – Nhưng bạn ở với chúng tôi lâu không?
- Chưa biết. Tôi muốn ở lâu lắm chứ. Tôi cô đơn vô cùng. Tôi chỉ có Ganasơ…
Đang sôi nổi là thế, bỗng nhiên chàng mất vui. Chàng lộ vẻ tuyệt vọng, mối chán chường chắc chắn trước đây đã có khi chang tự tử.
- hãy là bạn của tôi – chàng chợt nói – các bạn xem, tôi biết bí mật của các bạn, và tôi đã chống lại tất cả để bảo vệ nó. Tôi có thể đưa các bạn lần theo dấu vết mà các bạn đã mất.
Rồi chàng nói thêm gần như long trọng:
- Hãy là bạn tôi ngay cả khi tôi về bên cửa địa ngục như đã một lần… các bạn hãy thề sẽ đáp lại khi tôi gọi, khi tôi gọi như thế này… (và anh phát ra một tiếng kêu lạ: hu… u… ú… một tiếng hú). Nào, Môn thề trước đi.
Hai chúng tôi thề, bởi lẽ, dù là trẻ con, chúng tôi vẫn bị hấp dẫn bởi tất cả những cái trang trọng hơn và khắc nghiệt hơn chuyện thường trong cuộc sống.
- Để đền đáp – chàng nói – bây giờ tôi có thể thưa với các bạn thế này: tôi sẽ chỉ cho các bạn ngôi nhà ở Pari mà cô tiểu thư lâu đài thường đến dự lễ Phục siinh và lễ Thánh thần hạ giới vào tháng sáu, và đôi khi một phần mùa đông.
Đúng lúc đó, một tiếng kêu lạ cất lên nhiều lần trong đêm ở cổng trường. Chúng tôi đóan ấy là Ganasơ, không dám hay không biết đi qua sân như thế nào. Tiếng kêu lo âu và cấp bách của chàng ta lúc trầm lúc bổng:
- Hú…ù… ú… hu… ú… u… ú!
- Nói đi! Nhanh lên! – Môn hét lên với chàng Bô-hê-miêng vừa rùng mình vừa chỉnh quần áo để ra đi.
Chàng nói nhanh với chúng tôi một địa chỉ ở Pari mà chúng tôi thầm nhắc lại mãi. Rồi chàng lao vào màn đêm, đến gặp bạn ở hàng rào thấp lưới mắt cáo, bỏ mặc chúng tôi trong nỗi xốn xang khôn tả….
 
0
CHƯƠNG V
NGƯỜI ĐI GIÀY ĐẾ VẢI CÓI ĐAN
  Đêm ấy, khoảng ba giờ sáng, bà góa Đơlusơ, chủ quán ở trung tâm thị trấn, trỗi dậy nhóm lửa. Ông em chồng Đuyma, vốn ở nhà bà, có việc phải đi lúc bốn giờ, và bà già tốt bụng mà u sầu có bàn tay phải đã co quắp lại do một vết bỏng, hối hả chuẩn bị cà phê trong căn bếp tối mò. Trời lạnh. Bà đắp một cái khăn bịt đầu cũ lên trên cái áo chẽn, rồi một tay cầm cây nến đã thắp, tay kia – tay bị tật – nâng vạt tạp dề để che cho ngọn lửa, bà đi qua mảnh sân lủng củng những vỏ chai, hòm đựng xà phòng, đến mở cửa cái chòi chứa củi, cũng làm chỗ nhốt gà luôn, để lấy củi vụn… bà vừa đẩy cửa, thì một người hiện ra trong bóng đêm, vứt mạnh cái mũ cát-két đánh soạt để tắt ngọn lửa, khiến bà ngã bổ chửng, rồi hắn ba chân bốn cẳng chạy dài, khiến gà mái sống tao tác ầm lên và di động.
Người ấy đã mang đi trong một cái đẫy, như bà Đơlusơ lồm cồm bò dậy kịp nhìn thấy và biết rõ sau này, mười hai con gà mái ghẹ đẹp nhất.
Nghe chị dâu kêu, ông Đuyma chạy ra. Ông nhận thấy rằng để lẻn vào, thằng đểu đã dùng một chìa khóa giả mở cửa vào sân, và bỏ chạy cũng qua lối đó, không kịp khép cửa lại. Tức thì,, với tư thế của một người chẳng lạ gì với bọn ăn cắp và săn bắn trộm, ông thắp cái đèn gương đeo ở xe của mình, rồi tay đèn tay súng, ông gắng lấn theo vết chân thằng trộm, vết rất khó xác định – thằng này đi giày vải đế cói đan – nhưng vẫn còn in dấu suốt trên đường ra ga, sau đó mất hút trước một hàng rào chắn một bãi cỏ. Buộc phải dừng cuộc truy tìm ở đấy, ông ngẩng đầu, đứng lại… và nghe xa xa trên đường tiếng một cỗ xe phi nước đại chạy trốn…
Phần mình, Giaxmanh Đơlusơ, con trai bà góa, cũng trỗi dậy, rồi trùm vội lên vai tấm khăn bịt đầu, đi giày vải, ra kiểm tra ngòai thị trấn. tất cả ngủ yên, tất cả chìm trong bóng đêm căm bặt thường ngự trị ngay trước ánh bình minh hé rạng. Đến chỗ Bốn Đường, cũng như ông chú, hắn chỉ nghe rất xa trên đồi Đề Riết tiếng một cỗ xe phi như bay, chắc ngựa chân không bén đất. Vốn ma lanh và tự cao tự đại, hắn tự nhủ như sau này hắn nhắc lại cho chúng tôi nghe với cách phát âm hỏng chịu nổi âm “r” theo kiểu của các làng ở Môngluyxông:
- Bọn tớ đã chuồn ra ga. Nhưng thế không có nghĩa là mình không đem “nướng” bọn khác đang ở phía kia thị trấn.
Hắn quay gót, đi về phía nhà thờ, vẫn trong cái im lặng sâu thẳm của đêm.
Có ánh đèn trong cái nhà xe trên quảng trường. Nhất định có ai ốm. Hắn toan lại gần xem cơ sự ra sao, thì một bóng người lặng lẽ, giày đế vải cói đan, hiện ra ở đầu phố Góc Nhỏ, và chạy mải miết về chiếc xe, chẳng hề biết trời đất thế nào…
Quen dáng đi của Ganasơ, Giacxmanh đôt ngột tiến ra vùng ánh đèn và hỏi nhỏ:
- Sao, chuyện gì vậy?
Vẻ dữ tợn, tóc tai bù xù, mồm móm mém, người kia dừng chân, nhìn hắn với cái nhếch mép thảm hại do sợ hãi và hụt hơi, rồi hổn hển trả lời:
 - Ông bạn bị ốm… Tối qua cậu ấy đánh nhau và vết thương bị hoác ra… Tớ vừa đi tìm bà xơ.
Thực tế, trên đường về ngủ tiếp, Giacxmanh, vốn khá thâm hiểm, đã gặp ở trung tâm thị trấn một nhà nữ tu đang rảo bước.
Đến sáng, nhiều bà con ở Xanhtơ-Agat ra ngưỡng cửa, mắt ai cũng thâm quầng hay mộng lên vì một đêm mất ngủ. Nhà nào cũng la lên phẫn nộ, khắp thị trấn xao xác như có bão.
Ở nhà Girôđa, khoảng hai giờ áng, nghe tiếng một cỗ xe ngựa có mui dừng bánh, rồi chất lên xe những bao tải khá mềm. Trong nhà chỉ có hai phụ nữ, đều không dám động đậy. Sáng ra, mở cửa nuôi gà vịt, hai người mới hiểu các bao tải kia toàn là gà vịt và thỏ.
Trong giờ ra chơi thứ nhất, Mili nhìn thấy nhiều que diêm cháy dở trước cửa phòng giặt. chúng tôi kết luận rằng chúng không biết mấy về chỗ ở của chúng tôi nên không vào nổi…
Ở nhà Pero, Bugiăcđông và Giêmăng, thoạt tiên, ai cũng tưởng bị mất lợn, nhưng đến sáng thì thấy đàn lợn đang bới rau trong nhiều khu vườn. Chúng lợi dụng thời cơ và cửa mở để túa ra đi kiếm ăn đêm…
Hầu như chỗ nào cũng bị mất gia cầm. kẻ gian chỉ dừng ở đó thôi. Bà hàng bánh Pinhô suốt ngày ngoác mồn than thở rằng kẻ gian lấy mất của bà một cái bàn đập đồ giặt bằng gỗ và một livrơ thuốc nhuộm màu chàm, nhưng sự việc không bao giờ được xác minh, cũng không được lập biên bản.
Suốt buổi sáng, cả thị trấn cứ phát rồ, cuống cuồng và tào lao như vậy. Trong lớp, Giacxmanh thuật lại cuộc “tuần tra” của hắn hồi đêm:
- Cha, chúng xỏ lắm! – hắn nói – Giá gặp thằng trộm nào, chú tớ chẳng bảo: tao bắn nó chết tươi như một con thỏ rồi ấy ư!
Nhìn chúng tôi, hắn tiếp:
- May chú không đụng Ganasơ, chú dễ cho một phát lắm. Một giuộc cả thôi, chú bảo vậy. Bác Đêxenhơ cũng bảo vậy.
Tuy nhiên, chẳng ai nghĩ đến chuyện quấy rầy những người bạn mới cua chúng tôi. Mãi tối hôm sau, Giacxmanh mới lưu ý chú hắn rằng Ganasơ, như kẻ trộm nhà hắn, đi giáy vải đế cói đan. Hai chú cháu thỏa thuận là nên báo cho cảnh sát biết chuyện này. Hai người quyết định và hoàn toàn giữ kín, rằng hễ rỗi ra là phải lên thị trấn huyện mời trước ông cảnh sát trưởng.
Những ngày tiếp theo, bị đau do vết thương hơi há miệng, chàng Bôhêmiêng trẻ măng cũng không xuất hiện.
Tối tối, chúng tôi lảng vảng trên quảng trường, chỉ để nhìn ngọn đèn của chàng sau tấm mành cửa xe màu đỏ. Chúng tôi hết sức bồn chồn, nhưng chỉ đứng xa, không dám lại gần cái nhà-xe xoàng xĩnh, nó có vẻ như lối vào huyền bí và phòng đợi của xứ sở mà đường đi tới đó chúng tôi đã lạc mất.
 
0
CHƯƠNG VI
CUỘC CÃI LỘN TRONG HẬU TRƯỜNG
    Bao lo âu và hồi hộp đủ loại trong suốt những ngày qua đã không cho chú tôi để ý thấy rằng tháng ba đã đến và gió đã dịu đi. Nhưng ngày thứ ba sau cuộc phiêu lưu ấy, buổi sáng khi xuống sân, tôi đột nhiên hiểu rằng đang là mùa xuân. Một làn gió nhẹ dễ khiến ngất ngây như dòng nước ấm chảy loang bên trên bức tường, một trận mưa lặng lẽ trong đêm đã làm ướt lá các cây mẫu đơn. Đất trở mình trong khu vườn tỏa hương ngào ngạt, và tôi nghe trên cái cây cạnh cửa sổ tiếng một con chim đang học nhạc…
Giờ ra chơi đầu tiên, Môn bàn chuyện thử nga cuộc hành trình mà chàng học sinh Bôhêmiêng đã nói rõ. Rất khó khăn, mới thuyết phục được anh đợi tới khi gặp lại người bạn nọ của chúng tôi, khi thời tiết thực tốt, khi mận ở Xanhtơ-Agat đều nở hoa đã.
Tựa vào bức tường thấp dọc phố nhỏ, tay đút trong túi và đầu trần, chúng tôi trò chuyện với nhau. Gió khi thì khiến chúng tôi run run vì lạnh, khi thì mang đến những luồng hơi ấm thức tỉnh torng chúng tôi niềm hân hoan sâu thẳm những ngày xưa. Ôi, là anh em, bè bạn nhà du lịch, cả hai chúng tôi vững tin biết bao rằng hạnh phúc đang ở rất gần, rằng chỉ cần lên đường là đạt được.
Trong bữa ăn trưa lúc 12g20, chúng tôi nghe vọng lại tiếng trống đổ hồi ở quảng trường Bốn Đường. Chúng tôi nhảy phắt ra cửa hàng rào thấp lưới mắt cáo, khăn ăn trên tay… thì ra là Ganasơ laon báo 8g tối, “do trời đẹp” tổ chức một buỗi biểu diễn ra trò trên quảng đường nhà thờ. Hoàn toàn ngẫu nhiên, “để phòng mưa”, một cái trại sẽ được dựng. Tiếp theo là một chương trình dài dằng dặc, mà lời thông báo gió thổi bạt đi mất, nhưng chúng tôi vẫn nghe phỏng chừng những “kịch câm, hài, trò cưỡi ngựa…”, tất cả bị ngắt quãng bởi những hôi trống mới.
Trong bữa ăn chiều, để báo đến giờ diện, tiếng trống cái vang lên như sấm dưới cửa sổ nhà tôi, làm rung kính. Chỉ lúc sau, người các làng tốp năm tốp ba vừa cười nói ầm ĩ, vừa lũ lượt đổ về về quảng trường nhà thờ, thế mà chúng tôi vẫn phải ngồi ăn, lòng nóng như lửa đốt.
Cuối cùng khoảng 9g, chúng tôi nghe tiếng chùi chân và tiếng cười nén lại ở hàng rào thấp, đó la các cô giáo đến tìm chúng tôi. Trời tối mịt, chúng tôi kéo cả đoàn ra chỗ biểu diện. Từ xa, chúng tôi đã thấy bức tường nhà thờ sáng rực ánh đèn. Hai ngọn đèn dầu tỏa sáng trước cửa căn nhà bạt phập phồng theo gió…
Bên trong, các dãy ghế bậc thang được chỉnh đốn chỉnh tề như trong rạp xiếc. Ông Xơren, các cô giáo, Môn và tôi ngồi trên những ghế băng cuối rạp. Tôi nhìn chung quanh, khá chật chội, nhưng là rạp xiếc thực sự, với những khoảng tối lớn, trong đó ngồi trêc các dãy ghế cao dần là là bà hàng bánh Pinhô, bà hàng thực phẩm Phêcnăngđơ, các cô gái thị trấn, các thợ bịt móng ngựa, các mệnh phụ, lũ trẻ lau nhau, các bác nông dân và nhiều người khác nữa.
Chương trình đã diễn được quá nửa. Trên sân khấu, một con dê cái thông thái bé con đang đặt bốn chân thật khéo thật nhẹ lên bốn cái cốc, rồi lên hai, rồi chỉ một. Chính Ganasơ điều khiển nó bằng đôi que như gậy chỉ huy dàn nhạc, nhưng lo lắng nhìn về phía chúng tôi, mồm há to, mắt như chết.
Ngồi trên một cái ghế đẩu, cạnh hai cây đèn dầu khác ở chỗ sàn diễn thông với nhà xe, đấy là người chỉ huy đêm diễn, mà chúng tôi nhận ra trong cái áo nịt đen rất đẹp, trán vẫn còn băng.
Chúng tôi ngồi chưa ổn chỗ, thì nhảy tung vô ra sân khấu một con pônây yên cương đàng hoàng, mà chàng trai bị thương, mặt còn búng ra sữa, cho chạy nhiều vòng, và lần nào nó cũng đứng trước một trong hai chúng tôi khi phải chỉ người đáng yêu nhất và dũng cảm nhất trong rạp. Nhưng bao giờ cũng trước bà Pinhô, khi phải phát hiện người đàn bà hay lừa dối nhất, keo kiệt nhất, hoặc “đa tình nhất”… Xung quanh bà rộ lên tiếng cười, tiếng thét, tiếng vịt đực, cứa như một đàn ngỗng bị một con chósăn xua đuổi.
Trong khi đổi tiết mục, chàng chỉ huy đến trao đổi với ông Xơren, vốn không còn tự hào từng tiếp chuyện Tanma hay Lêôta nữa. Chúng tôi hau háu lắng nghe chuyện của chàng: về vết thương – đã kín miệng như cũ, về buổi diễn này – chuẩn bị suốt những ngày đông dài lê thê, về việc ra đi của họ - không trước cuối tháng, vì họ còn muốn hiến bà con ở đây nhiều chương trình mới lạ và đa dạng.
Đêm diễn sẽ kết thúc bởi một màn kịch câm.
Sắp hết giờ nghỉ, bạn chúng tôi cáo từ, và để về chỗ ở lối vào nhà xe, buộc phải đi qua một đám khán giả mà chúng tôi nhận ra ở giữa là Giacxmanh Đơlusơ. Các bà các cô dãn ra. Trang phục đen, dáng vẻ bi thương, dị thường và quả cảm, chàng đã cảm phục được tất cả đám phụ nữ này. Còn Giaxmanh, chợt lộ vẻ như vừa đi du lịch về, và đang thì thào gì đấy với bà Pinhô, hắn tưởng rằng sự chinh phục của hắn đã được bảo đảm bởi cái giây lưng tu sĩ, cổ cồn thấp, và đôi ống quần chùng rộng thùng thình… Hắn thọc ngón tay cái vào ve áo vét-tông, tư thế vừa hợm hĩnh vừa ngượng ngập. Khi chàng Bôhêmiêng đi qua, với một cử chỉ bất cẩn, hắn nói to với bà Pinhô một câu mà chúng tôi không nghe được; nhưng chắc chắn đó là một câu chửi, một lời khiêu khích nhằm vào bạn chúng tôi. Hẳn đấy là một lời hăm dọa nghiêm trọng và bất ngờ, bởi lẽ chàng trai không nén nổi, ngoái lại nhìn trừng trừng thằng kia, mà để khỏi mất bình tĩnh, hắn phải cười khẩy, hích khuỷu tay vào người ngồi bên hòng tìm sự đồng tình… Tất cả chỉ diễn ra trong vài giây. Chắc chắn tôi là người duy nhất trên hàng ghế của tôi nhìn thấy.
Chàng chỉ huy đêm diễn đi vào với bạn sau tấm ri-đô che lối ra vào sân khấu. Khán giả về chỗ, đình ninh phần thứ hai của chương trình sắp bắt đầu. Rạp lắng dần đi. Bây giờ, trong khi những tiếng rì rầm cuối cùng của người xem im hẳn, thì đằng sau tấm ri-đô nổi lên tiếng cãi nhau. Chúng tôi không nghe nổi nội dung câu chuyện, nhưng nhận ra hai giọng khác nhau, của chàng Bôhêmiêng, và của gã cao ngất nghểu – giọng thứ hai giải thích, thanh minh; giọng thứ nhất la mắng vừa tức giận vừa buồn phiền.
- Thật khốn khổ! – giọng này nói – sao không nói trước với tôi.
Sau đấy chúng tôi không phân biệt được nữa, dù cố lắng nghe. Rồi bỗng im bặt. Rồi lại nghe lời qua tiếng lại rất khẽ. Bọn trẻ trên các hàng ghế cao bắt đầu hét lên:
- Đưa đèn măng-xông ra! Bắt đầu thôi – và dậm chân loạn xạ.
 
0
CHƯƠNG VII
CHÀNG BÔHÊMIÊNG THÁO BỎ BĂNG
  Cuối cùng, từ tư thò qua hai cánh màn bộ mặt đầy nếp nhăn ngang dọc, giãn hết ra khi thì vui thích, khi thì vì thống khổ, và đầy vết bánh mỳ như đóng dấu niêm phong – của một thằng bé cao ngất ngưởng gồm ba phần ghép vào nhau khá vụng về, bụng co rúm như đang bị tháo dạ, chân bước trên đầu ngón như do quá thừa sợ hãi và thận trọng, hai bàn tay thì vướng víu trong hai ống tay áo quá dài quét lê thê trên sàn diễn.
Giờ đây, tôi không khôi phục lại được nữa chủ đề màn kịch câm. Tôi chỉ nhớ rằng, vừa ra sân khấu, cố đứng một cách vô ích và tuyệt vọng, chú hề đã ngã sóng xoài. Chú gượng đứng dậy nhưng uổng công. Định mệnh mạnh hơn chú: chú vẫn ngã. Chú loay hoay muốn ngồi lên cả bốn cái ghế tựa cùng một lúc. Thế là chú lại đổ nhào, kéo theo một cái bàn to kềnh vừa được đưa ra sàn diện. Chú lăn ra bên kia hàng rào chắn sân khấu, nằm lăn dưới chân khán giả, phải khích lệ mãi, rồi nắm lấy chân chú mà lôi, và sau nhiều cố gắng giả vờ, mới đặt chú đứng lên được. Nhưng chú lại ngã, lại được vực dậy. Mỗi lần ngã, chú thốt ra một tiếng kêu nhỏ, tiếng kêu nhỏ nhẹ không chịu nổi, nghe đau đớn và mãn nguyện như nhau. Đến phần cởi nút, trèo lên một chồng ghế tựa, chú trình diễn một cuộc ngã mênh mông và rất chậm chạp, kèm một tiếng cú kêu mừng thắng lợi cứ xói vào tai nghe thật là bi thương, tiếng kêu kéo dài suốt cuộc ngã, hòa vào tiếng khán giả nữ rú lên khiếp sợ.
Trong phần hai của tiết mục kịch câm, tôi lại thấy mà chẳng hiểu vì đâu, chính “chú hề hay ngã đáng thương”, chú lôi ra khỏi một tay áo một con búp bê nhỏ nói được, và với nó, chú trình bày cả một màn bi hài kịch. Kết cục, chú làm cho con búp bê nhả hết âm thanh trong bụng nó ra. Tiếp theo, với những tiếng tỉ tê đáng thương hại, chú nhồi cháo sữa vào miệng búp bê. Vào lúc hấp dẫn nhất, khi người xem ai cũng trề môi, dán mắt vào con búp bê vỡ tung, bê bết đầy cháo, chú đột ngột nắm tay nó, ném vút qua đầu khán giả, vào mặt Giacxmanh Đơlusơ,  nhưng nó chỉ dây bẩn tay thằng này thôi, rồi rơi bộp lên cái dạ dày của bà PinhoÔ, ngay bên dưới cằm. Bà hàng bánh gào lên, ngửa mạnh người ra sau, các bà cùng ngồi cũng làm vậy, cái ghế gãy rắc, thế là bà hàng bánh, Phecnăngđơ, bà góa Đơlusơ sầu não cùng khoảng 20 người khác ngã ngửa xuống nền, chân chới với trên không, trong lúc cả rạp cười la ầm lên và hoan hô nhiệt liệt. Còn chú hề, do mất đà, vừa ngã ấp mặt xuống sân khấu, đã đứng lên chào đáp lễ:
- Chúng tôi rất vinh sự được cảm ơn quý ông quý bà!
Chính lúc đó và giữa bốn bề ồn ã, Môn Sếu, yên lặng xem từ đầu tiết mục kịch câm và mỗi lúc một tỏ ra chăm chú hơn, đột ngột đứng dậy, khoác tay tôi, tuồng như không nén được nữa, và thốt ra:
- Cậu nhìn tay Bôhêmiêng kia! Nhìn xem! Nhìn xem! Tớ nhận ra rồi!
Chưa nhìn, tôi đã hiểu cả, cứ như từ lâu lắm rồi, một cách vô ý thức, ý nghĩ ấy đã ấp ủ torng tôi, chỉ chờ thời cơ để nổ ra thôi. Đứn gần một cái đèn dầu ở lối vào nhà xe, nhận vật không quen biết đã gở bỏ băng đầu và khoác lên người một áo choàng du lịch. Trong ánh đèn dầu vằn khói, cũng như mới đây torng ánh nến ở căn phòng tòa lâu đài, chúng tôi lại thấy một khuôn mặt không ria mép rất bầu bĩnh, rất khôi ngô. Xanh xao, môi hé mở, chàng thoăn thoắt lật giở một quyển album nhỏ màu đỏ, chắc là một tấm bản đồ bỏ túi. Trừ một vết sẹo ngang thái dương bị tóc trùm kín, đấy chính là vị hôn phu của lâu đài bí mật, y như Môn đã miêu tả tỉ mỉ cho tôi hay.
Hiển nhiên, chàng bỏ băng đi là để chúng tôi nhận ra. Nhưng vừa hành động vừa kêu lên như vậy xong, chàng đã đi vào nhà xe, sau khi trao cho chúng tôi một cái nhìn cảm thông và một nụ cười đượm buồn vốn quen thuộc nơi chàng.
- Còn người kia – Môn hào hứng nói luôn – sao tớ không nhận ra ngay nhì. Anh hề ở cuộc lễ đằng ấy chứ ai!
Anh bước theo các bậc ghế đi xuống để đến gặp chú hề. Nào còn đâu, Ganasơ đã cắt hết các mối liên hệ với sân khấu. Chú lần lượt tắt cả bốn cây đèn dầu. Đành phải theo đám đông đang nhích ra ngoài rất chậm và chen chúc giữa các hàng ghế song song trong bón tối, chúng tôi sốt ruột giậm chân hoài.
Vừa ra đến ngoài, Môn đã nhào đến cái nhà-xe, trèo lên gác, gõ cửa, nhưng cửa đóng im ỉm. Không nghi ngờ gì nữa, trong cỗ xe treo ri-đô, cũng như trong cỗ dành cho con dê cái thông minh, con ponây và bầy chim rừng, tất cả đều đã trở vào và bắt đầu ngủ.
 
0
CHƯƠNG VIII
CẢNH SÁT
  Chúng tôi phải về nhập bọn với nhóm các ông các bà đang đi về phía lớp cao học qua các phố tối tăm. Lần này chúng tôi hiểu tất cả. Cái bóng người trăng trắng cao lòng khòng chạy giữa các gốc cây, mà Môn thấy đêm cuối cùng của cuộc lễ, chính là Ganasơ. Chú đã đón lấy chàng rể tuyệt vọng và cùng trốn đi với chàng. Còn chàng thì đã chấp nhận cuộc sống hoang dã đầy dẫy những hiểm nguy, vui thú và phiêu lưu đó. Chàng thấy hình như mình bắt đầu sống lại tuổi ấu thơ
Cho đến nay, Phrăng đơ Gale đã giấu chúng tôi tên chàng. Chàng cũng giả vờ không biết đường đến lâu đài, chắc chắn chỉ vì sợ bị buột quay về với cha mẹ. Nhưng vì sao đêm ấy, chàng đã bằng lòng tự “hiện nguyên hình” trước chúng tôi, và để chúng tôi đoán ra tất cả sự thật?
Môn nảy ra bao ý định trong khi nhóm người xem dẫn điệu qua thị trấn. nah quyết định ngay sáng ngày mai, thứ năm, anh sẽ đi gặp Phrăng, và hai người sẽ đi về nơi ấy! Đi trên con đường ẩm ướt đó sẽ thật là tuyệt kỳ! Phrăng sẽ giải thích mọi chuyện. Chuyện nào sẽ vào chỗ chuyện ấy. Cuộc phiêu lưu kỳ diệu sẽ tiếp tục vào chỗ nó bị cắt ngang…
Còn tôi, tôi bước trong màn đêm mịt mù mà lòng rộn ràng khó tả. Tất cả hòa vào nhau khiến cho lòng tôi vui, từ sự chờ đợi ngày thứ năm, đến sự phát hiện rất lớn lao mà chúng tôi vừa được thấy, cho đến dịp may khổng lồ chúng tôi mới để tuột. Tôi nhớ lại rằng, đang lúc hồ hởi như thế, tôi lại gần cô con gái xấu nhất của ông chưởng khế, mà đôi lần toán người xem bắt tôi phải khoác tay, và tôi bồng bột trao tay cho cô.
Ôi, những kỷ niệm đau lòng! Những hy vọng hão huyền bị chà đạp!
Hôm sau, ngay từ tám giờ, khi chúng tôi ra đến quảng trường nhà thờ, với đôi giày đanh xi bóng nhoáng, khóa dây lưng lau đến soi gương được, và mũ cát-két mới tinh, Môn, cho đến lúc ấy, hễ nhìn tôi lại cố nén cười, liền kêu lên một tiếng và lao vào quảng trường trống không… Ở chỗ dựng rạp xiếc và để xe, chỉ còn mấy cái giẻ lau và một bình vỡ. Các chàng Bôhêmiêng đi rồi…
Một làn gió nhẹ mà chung tôi cảm thấy lạnh ngắt chờn vờn thổi. Tưởng chừng mỗi bước chân chúng tôi đều sắp vấp ngã trên mặt đất rắn đanh rải sỏi ở quảng trường. Cuồng lên, Môn nhào theo con đường Vrơ-Năngxay, rồi theo con đường Xanh-lu-đê-boa. Anh đưa bàn tay lên chắn ngang bên trên mắt, hy vọng các bạn của chúng tôi chỉ vừa đi thôi. Nhưng để làm gì? Mười vết bánh xe chồng chéo lên nhau trên quãng trường, rồi mất đi trên con đường rắn đanh. Đành đứng trơ ra.
Khi chúng tôi lộn về, qua làng quê đang bắt đầu đón buổi sáng thứ năm, thì bốn người cảnh sát cưỡi ngựa được Đơlusơ mật báo đêm qua phóng đến quảng trường, rồi tản vào các phố để chận hết lối ra… Nhưng muộn rồi! Ganasơ, gã ăn trộm gà, đã cùng bạn trốn thoát. Cảnh sát không tìm thấy chú, cũng như những kẻ tòng phạm đã chất lên mấy chiếc xe những con gà thiến mà chú đã bóp cổ. Kịp biết qua câu nói khinh suất của Giacxmanh, hẳng Phrăng vỡ lẽ câu chuyện bên chàng và chàng vẫn sống bằng nghề gì mỗi khi hai người cạn túi. Vô cùng xấu hổ và tức giận, chàng đã tức khắc dừng cuộc hành trình và quyết định bỏ đi trước khi cảnh sát đến. Nhưng, từ nay không còn sợ người ta bắt đem về cho cha, chàng đã muốn xuất hiện không băng bó trước chúng tôi, rồi mới lặn mất tăm.
Điểm duy nhất không bao giờ sáng tỏ: làm sao Ganasơ có thể vừa ăn trộm gà vịt, vừa mời được bà xơ đến thăm bệnh sốt cho bạn mình? Nhưng đấy chẳng phải toàn bộ tiểu sử của con người đáng thương sao? Một mặt là thằng trộm cắp và lêu lổng, mặt khác là một người thánh thiện.
 
0
CHƯƠNG IX
ĐI TÌM CON ĐƯỜNG ĐÃ MẤT
  Khi chúng tôi trở về, mặt trời đã xua tan màn sương mù mỏng tang buổi sáng,. Trên ngưỡng cửa các nhà, các bà nội trợ đang giũ thảm hay chuyện vãn. Trên các cánh đồng và trong các rừng cây ở các cửa ngõ thị trấn, bắt đầu buổi sáng xuân tươi đẹp nhất còn lại mãi torng lòng tôi.
Tất cả học sinh lớn của lớp đều phải có mặt khoảng tám giờ ngày thứ năm ấy. Họ phải chuẩn bị trong buổi sáng, một số thì thi tốt nghiệp cao học, số khác thì thi đại học sư phạm. Khi hai chúng tôi đến – Môn thì với tâm trạng luyến tiếc và bồn chồn, đứng ngồi khôn gyên; tôi thì hết sức nản lòng – chúng tôi thấy trường vắng tanh… Anh mặt trời tươi tắn lướt trên một ghế băng mọt phủ bụi và quả địa cầu đã tróc sơn.
Làm sao có thể ngồi đay trước một quyển sách để đắm chìm trong thất vọng, trong khi bên ngoài tất cả vẫy gọi chúng tôi: chim chóc đuổi nhau trên cành bên cửa sổ, các học sinh khác phòng ra bãi cõ và rừng cây, và nhất là nỗi khát khao cháy bỏng được thử càng sớm càng hay cuộc hành trình chưa hoàn chỉnh mà chàng bôhêmiêng đã kiểm tra – phương kế cuối cùng của chúng tôi, chiếc chìa khóa cuối cùng trong chùm chìa khóa, sau khi đã thử tất cả những chiếc khác? Điều này ở trên sức của chúng tôi! Môn đi loanh quanh, đến bên các cửa sổ nhìn ra vườn, rồi quay lại nhìn thị trấn, như thể anh đợi một người chắc chắn không đến.
- Em nghĩ rằng – sau cùng tôi nói – em cho rằng không xa như ta tưởng đâu.
- Trong bản đồ của tớ, Phrăng đã gạch hẳn một đoạn trên con đường lớn mà tớ dự định sẽ đi… Thế tức là, có thể thôi, trong khi tớ ngủ, con ngựa cái đã đi vòng rất xa một cách vô ích.
Tôi nửa đứng nửa ngồi trên góc một chiếc bàn lớn, một chân đặt trên đất, chân kia đu đưa, đầu cúi, vẻ rỗi rãi và chán nản.
- Thế nhưng – tôi nói – khi về trên chiếc xe hòm, anh đã chu du suốt đêm.
- Chúng tớ khởi hành vào nửa đêm – anh hăng hái trả lời – Họ cho tớ xuống lúc 4g sáng, cánh Xanhlơ-Agat khoảng 6km về phía tây, thế mà tớ lại ra đi theo đường từ ga về phía đông. Vì vậy, ít ra cũng phải tính đến 6km này trong khoảng cách giữa Xanhlơ-Agat và Xứ sở đã mất. Thực tế, tớ thấy hình như ra khỏi khu rừng Camin, tớ chưa xa nơi chúng ta tìm kiếm úa hai dặm.
- Đúng là hai dặm này còn thiếu trong bản đồ của anh.
- Quả vậy. Cửa rừng cách đây một dặm rưỡi. Nhưng đi bộ giỏi thì một buổi sáng là xong.
Vừa lúc đó, Musơbơp đến. Cậu này có xu hướng đáng bực mình, phải tỏ là một học sinh tốt, không phải bằng cách học hành tốt hơn các bạn, mà bằng cách làm sao để bổi bật lên trong những hoàn cảnh như hôm nay.
- Tao biết mà – cậu ta hí hứng nói – chỉ có hai thằng mầy đến thôi. Chúng nó đi rừng Comunô ráo cả. Cầm đầu: Giazmanh Đơlusơ, nó biết chỗ nào có tổ chim.
Rồi ra vẻ ta đây đạo đức, cậu bắt đầu thuật lại tất cả những gì mà các bạn kia đã nói để trêu tức nhà trường, ông Xơren và chúng tôi, khi quyết định đi chơi trong rừng.
- Nếu các cậu ấy ở trong rừng, thì thế nào lúc đi qua tớ cũng gặp – Môn nói – vì tớ cũng đi đây. Mười hai rưỡi tớ sẽ về.
Musơbơp ngây ra.
- Cậu không đi à? – Môn hỏi tôi, trong khi ngừng lại giây lát ở ngưỡng các cửa vừa hé mở, do đó mà ùa vào căn phòng màu xám cùng với một luồng không khí ấm áp ánh mặt trời, là đủ thứ tiếng reo hò, kêu gọi, chí chóe, tiếng gàu múc nước va vào gò giếng, tiếng một cây roi vút xa xa.
-  Không – tôi đáp – dù rất muốn đi, em vẫn không thể, vì còn ông Xơren. Nhanh lên anh nhé, em chờ. Sốt ruột chờ anh đấy.
Anh phác một cử chỉ mơ hồ, rồi bước đi, hết sức lanh lẹ, đầy vẻ hy vọng.
Khoảng 10g, ông Xơren đến. Ông đã cởi bỏ cái áo vét đen vải anpaga, mặc vào một áo khoác dân chài, với những túi rộng cài khuy, đầu đội mũ rơm, cổ chân quấn xà cạp ngắn, quét sơn, bó chặt lấy gấu quần. Tôi tin rằng ông chẳng lạ gì khi không thấy một ai. Ông không muốn nghe Musơbơp lặp lại ba lần câu mà cánh đi chơi rừng Comunô đã nói:
- Cần chúng tao thì ông ấy cứ đến đây!
Ông ra lệnh:
- Các em buộc chặt trang phục và đội mũ vào, đến lượt chúng ta đi lôi chúng ra khỏi tổ… Phrăngxoa, đi bộ đến đó được không?
Tôi khẳng định là “được” và chúng tôi lên đường.
Chúng tôi thỏa thuận để Musơbơp dẫn đường và gọi to để định hướng thay ông Xơren… Nghĩa là cì biết các khu cây lớn ở đó tập trung các học sinh đi bắt tổ chim, lát lát cậu ta sẽ gọi to:
- Ê. Ê, Girôđa! Đơlusơ! Chúng mày ở đâu?... Có tổ không?... Tìm thấy chưa?...
Khoái biết bao, tôi được giao việc đi dọc bìa rừng phía đông, để phòng các học sinh trốn học lỉnh ra theo phía này .
Vậy mà, trong tấm bản đồ đã được chàng Bôhêmiêng hiệu đính, và chúng tôi – Môn và tôi – đã nghiên cứu bao phen, hình như có một con đường thẳng băng, một con đường đất, xuất phát từ bìa rừng này để đi về hướn lâu đài. Giá sáng nay tôi tìm ra con đường ấy!... Tôi bắt đầu tin rằng trước buổi trưa, tôi đã có mặt trên con đường dẫn đến điền trang đã mất!...
Cuộc dạo chơi kỳ diệu!... Chúng tôi vừa đi qua Glaxi và đi vòng Cối Xay Gió, tôi đã rời hai bạn đường, ông Xơren trông như đang ra mặt trận – tôi tin ông mang trong túi một khẩu súng ngắn cũ, và thằng Musơbơp lừa thầy phản bạn.
Theo một lối tắt, chả bao lâu tôi đã đến bìa rừng – lần đầu tiên trong đời đi một mình qua đồng, như một đội quân tuần tiễu đã mất chỉ huy.
Tôi tưởng rằng ở nơi đây, tức là tôi đã ở bên niềm hạnh phúc huyền diệu mà Môn thoáng nhìn thấy ngày nào. Cả buổi sáng là dành cho tôi, để tôi thám hiểm bìa rừng, nơi tươi mát nhất và hẻo lánh nhất trong vùng, trong khi anh trai tôi cũng đi thám hiểm. Đây như thể lòng một dòng suối cũ. Tôi đi qua dưới những cành lá thấp la đà của những cây mà tôi không biết tên, nhưng chắc chắn thuộc họ cây trân. Tôi vừa nhảy qua một hàng rào cho nho leo ở cuối đường mòn và giờ đây đang trên con đường lớn phủ cỏ xanh biếc như cuồn cuộn chảy dưới lá cây; trên đó thỉnh thoảng xéo lên các bụi tầm ma, chà bẹp các bụi nữ lang.
Thỉnh thoảng, chân tôi giẫm nhẹ vài bước lên một dải cát mịn. Trong tĩnh mịch, tôi nghe một con chim – tổi tưởng là chim họa mi, nhưng chắc hẳn tôi nhầm, vì họa mi chỉ hót về đêm. - một con chim bướng bỉnh hót mãi một câu: tiếng thốt ra buổi sáng, lời thủ thỉ dưới bóng cây, lời mời ngọt ngào đi dạo giữa các cây trăn. Không cho nhìn thấy, ngang ngạnh, dường như nó cứ đi theo tôi dưới lá cây rừng.
Vậy là lần đầu tiên, chinh tôi cũng đang trên đường phiêu lãng. Tôi không đi tìm vỏ ốc mà nước để lại, dưới sự chỉ bảo của ông Xơren như xưa, cũng không tìm nữa giống lan củ mà ông thầy không biết, cũng không tìm nữa, ngay cả, như chúng tôi vẫn gặp luôn trên cánh đồng của lão Mactanh, cái mạch nước rất sâu đã cạn, có đậy một tấm lưới sắt, bị chôn vùi dưới bao tầng cỏ dại, mà mỗi lần muốn tìm lại tốn thêm thời gian… Tôi tìm cái gì kỳ diệu hơn kia. Đó là lối đi vốn là một vấn đề trong nhiều cuốn sách, con đường đầy trở ngại xưa, con đường mà vị hoàng tử mệt lử không tìm được lối vào. Lối đi kia được phát hiện vào giờ không ngờ nhất của buổi sáng, khi tôi đã quên từ lâu lắm rằng sắp mười một giờ, sắp trưa rồi…
Đột nhiên, trong khi giơ hai tay ngang mặt, ngập ngừng rẽ các cành cây giữa cây lá rậm rạp, tôi nhìn thấy nó như một đại lộ tối tăm dài thăm thẳm mà lối ra là một lỗ ánh sáng tròn bé téo teo.
Đang hy vọng và ngây ngất như thế, bất đồ tôi bước ra một khoảng trống như một kiểu rừn thưa, thực tế chỉ là một bãi cỏ đơn thuần. Không chủ tâm, tôi đã đến điểm mút của rừng Comunô mà tôi vẫn tưởng là xa lắm. Bên phải tôi, rì rầm như tổ ong dưới bóng râm giữa nhiều đống gỗ chất cao, là nhà bác gác rừng. Đôi tất chân phơi trên thành cửa sổ. Mấy năm xưa, khi đến cửa rừng, bao giờ chúng tôi cũng chỉ cái đốm sáng ở đầu con đường tối đen tăm thẳm này mà nói:
- Đây là nhà bác gác rừng, nhà bác Balađiê.
Nhưng chưa lần nào chúng tôi đi đến tận đó. Đôi lần, chúng tôi được nghe, nhưn về một cuộc thám hiểm phi thường.
- Hắn đã đến tận nhà bác gác rừng cơ đấy!
Tôi bắt đầu khốn khổ vì chân đã mỏi và vì cái nóng đến giờ tôi mới cảm thấy. Tôi sợ phải đi về một mình. Đúng lúc này, tôi nhe tiếng Musơbơp gọi to thay cho ông Xơren, rồi nhiều tiếng khác la gọi tôi…
Đấy là một nhóm sáu học sinh lớn, trong đó chỉ mình thằng lừa thầy phản bạn Musơbơp là có vẻ đắc chí. Mấy cậu đó chính là Girôđa, Obacgiê, Đơlagiô… Nhờ tiếng gọi thay của Musơbơp, ông Xơren tóm được một số đang vắt vẻo trên một cây anh đào dại lẻ loi trong khoảng rừng thưa, số khác đang bắt tổ chim gõ kiến. Thằng ngốc Girôđa mắt híp, ao bly\u cáu bẫn, đã giấu con chim con vào trong áo trước bụng. hai cậu trong cánh trốn hoc đã bỏ chạy khi biết ông Xơren đến gần, hiển nhiên đó là Đơlusơ và Côpanh lùn. Lúc đầu, hai tay này đã trên bằng cách đáp lại “Musơvasơ” (Musơbơp: ruồi bò đực, Musơvasơ: ruồi bò cái) mà tiếng vang dội đi dội lại mãi trong rừng. Musơbơp điên lên, nhưng tin thế nào cũng tóm được hai cậu kia nên ngốc nghếch trả lời:
- Liệu đấy. Có mà chạy đằng trời. Thầy Xơren đây…
Hai tay kia im bặt. Chúng đang lặng lẽ luồn qua rừng. Thuộc rừng như lòng bàn tay, chúng không cần gặp các bạn khác. Ông Xơren cũng không biết Môn ở đâu. Khi Musơbơp gọi, ông không nghe trả lời. Đành phải từ bỏ ý định đi tìm anh.
Quá trưa chúng tôi mới về đến đường và Xanhtơ-Agat, đầu cúi, chân nặng như chì, vẻ phờ phạc, người lấm lem bụi đất. ra đến cửa rừng, chúng tôi lau cạn bùn bám trên giày và thấy trời nắng khá gắt. Chưa chi đã hết buổi sáng xuân tươi mát và rực rỡ. Nhưng âm thanh của buổi chiều đã bắt đầu. Xuống khỏi Glaxi, chúng tôi dừng chân một lát, trò chuyện với các công nhân nông nghiệp đã tiếp tục làm việc sau bữa ăn trưa. Họ đứng tì vào ba-ri-e để tiếp chuyện, ông Xơren bảo họ.
 Thật là những tướng con cự phách! Các ông hãy nhìn Girôđa kìa! Hắn cho con chim vào trong áo sơmi. Lũ chim nhãi muốn thì cứ việc thôi. Sạch thật!...
Toán công nhân phì cười, tôi có cảm tưởng họ cũng cười cả thật bại của tôi. Vừa cười, họ vừa lắc đầu, nhưng không đổ hết lỗi cho các học sinh mà họ rất hiểu. Thậm chí, khi ông Xơren lại đi lên dẫn đầu hàng quân, họ còn cho chúng tôi hay.
- Có một cậu qua đây, cậu cao ngồng ấy, dĩ nhiên các vị thừa biết… Khi trờ về, hắn gặp xe nhà Giănggiơ hẳn được đi nhờ. Hắn xuống xe ngay, người đầy đất cát, áo quần rách bươm. Cha đây là chỗ rẽ vào trại Giănggiơ mà. Chúng tôi bào hắn, các vị đã đi qua đây và chưa về. Thế ên hắn lặng lẽ đi về Xanhtơ-Agat.
Thật vây, Môn đang ngồi trên một trụ cầu Glaxi chờ chúng tôi, vẻ mệt lử vô bờ. Trả lời các câu hỏi của ông Xơren, anh nói rằng chính anh cũng đi tìm cánh học sinh bỏ học đi chơi. Với câu hỏi rất khẽ của tôi, anh chán ngán lắc đầu và chỉ nói:
 -Không! Có gì giống thế đâu! Chẳng gì cả!
Ăn trưa xong, vào căn phòng học đóng cửa tối đen và trống rỗng giữa xung quanh trời đất huy hoàng, anh ngồi xuống một cái bàn lớn, gục đầu lên hai cánh tay khoanh mà ngủ mê mệt rất lâu, một giấc ngủ buồn chán. Đến chiều, sau khi ngẫm nghĩ kỹ càng, như vừa có một quyết định quan trọng, anh ghi cho mẹ một cánh thư. Đấy là tất cả những gì tôi còn nhớ được về đoạn kết thúc buồn bã của một ngày thất trận vĩ đại.
 
0
CHƯƠNG X
ĐỒ GIẶT
  Chúng tôi tưởng mùa xuân đã đến, nhưng thật la quá sớm và hão huyền.
Chiều thứ hai, chúng tôi muốn làm bài tập ngay sau 4g như đang giữa mùa hè. Để hìn rõ hơn, chúng tôi đưa hai cái bàn ra sân. Nhưng trời tối sập ngay xuống. Một giọt mưa rơi vào một quyển vở. Chúng tôi rức tốc quay vào. Trong căn phòng mênh mông tối sẫm, chúng tôi lặng lẽ đưa mắt qua các cửa sổ rộng nhìn mây bay vun vút trên bầu trời xám.
Cũng đang ngắm mây như chúng tôi, một tay nắm lấy nắm đấm cửa sổ, Môn không nén được đã thốt lên, dường như đang tiếc ngơ tiếc ngẩn:
- A, mây bay khác thế kia, lúc tớ đang rong ruổi trong chiếc xe của trại Ngôi Sao Đẹp trên đường!
- Đường nào? – Giaxmanh Đơlusơ hỏi.
Môn không đáp.
- Em – tôi lên tiếng để lái sang câu chuyện khác – em thích chu du như thế trên xe không mui, đầu che một cái ô thật lớn.
- Và dọc đường cứ chúi mũi đọc sách như ở trong nhà – một bạn tiếp lời.
- Có mưa đâu, tớ cũng không muốn đọc – Môn đáp, tớ chỉ thích ngắm cảnh thôi.
Girôđa hỏi:
- Cảnh nơi nào?
Môn lại lời đi. Còn Giacxmanh nói:
- Tao biết… Bao giờ cũng một cuộc phiêu lưu vĩ đại!...
Hắn nói bằng một giọng làm lành và long trọng, như thể hắn cũng có tham gia đôi phần vào bí mật của Môn. Nhưng vô ích, đừng hòng lấy lòng anh. Trời đã tối, ai cũng lật áo blu lên che đầu và lao đi dưới mưa rào giá lạnh.
Cho đến hứ năm sau, trời vẫn mưa sụt sùi. Thứ năm này còn buồn hơn thứ năm trước. Đồng bãi mọi nơi đều chìm trong một biển sương mù như băng, như trong những gày đông xấu trời nhất.
Bị cái nắng tươi vui hôm nọ đánh lừa, Mili đã cho giặt giũ quần áo chăn nệm. Song đừng có nghĩ đến việc đem phơi trên hàng rào goài vườn hay ngay cả trên dây trong nhà kho tầng hai, vì lạnh và ẩm thế này cơ mà.
Bàn với ông Xơren, mẹ bỗng nảy ra ý đem trải đồ giặt trong các lớp học, và đốt thật to các lò sươi trong những phòng ấy lên, vì hôm nay là thứ năm. Để tiết kiệm lửa trong nhà bếp và phòng ăn, mẹ nấu thức ăn trên lò sưởi, và suốt ngày, Môn và tôi ở trong phòng học lớn.
Mới đầu – tôi còn trẻ con biết bao! – tôi coi sự thay đổi đó như một ngày hội.
Hội gì mà tẻ!... Đồ giặt hút hết hơi nóng lò sưởi, phòng vẫn lạnh thấu xương. Ngoài sân, mưa bụi mùa đông buông dầm dề không dứt, ẩm ướt vô cùng. Vì vậy, chán ngán hết chỗ nói, ngay từ 9g sáng, tôi đã tìm gặp Môn. Chúng tôi gục đầu vào chấn song cánh cửa, lặng thinh ngắm một đám ma từ một làng xa, đến quảng trường Bốn Đường phía đầu thị trấn. Cỗ quan tài mà người ta chở đến trên một chiếc xe bò được hạ xuống, đặt lên một tấm đan ở chân cây thập tự lớn, nơi mà gần đây bac hàng thịt đã nhìn thấy mấy bạn của chàng Bôhêmiêng đi rình mò. Giờ chán gở đâu, viên chỉ huy trẻ tuổi đã chỉ đạo tài tình cuộc tập kích đếm ấy? Như một thông lệ, mục sư và các ca sĩ đến trước cỗ quan tài, và các bài hát buồn thảm vang lên đến tận chỗ chúng tôi. Chúng tôi biết đây sẽ là cảnh tượng duy nhất của ngày hôm nay, diễn ra trọn vẹn như nước trôi trong mương.
- Bây giờ - Môn bõng nói – tớ đi chuẩn bị hành lý, Phrăngxoa ạ, tớ viết thư cho mẹ tớ thứ năm tuần trước, để xin mẹ cho học nốt ở Paris. Hôm nay tớ lên đường.
Anh vẫn nhìn về phía thị trấn, hai bàn tay chống vào chấn song ở độ cao ngang đầu. Còn gì mà phải hỏi xom liệu mẹ anh, vốn chìu anh hết mực, lần này có chìu anh không. Cũng chẳng phải hỏi làm gì xem vì sao anh bỗng dưng lại muốn đi Pari!...
Nhưng chắc chắn trong anh có niềm lưu luyến và nỗi sợ hãi phải rời xa mảnh đất Xanhtơ-Agat thân yêu này, nơi anh đã lên đường phiêu lãng. Phần tôi, tôi rụng rời chân tay, đau xót và bàng hoàng, mà thoạt đầu tôi không cảm thấy.
- Lễ Phục sinh sắp đến rồi! – anh nói để tôi đỡ ngạc nhiên, và cất tiếng thở dài.
- Tìm thấy người phương xa là anh biên thư cho em chứ? – tôi hỏi.
- Tớ húa, đương nhiên. Cậu chẳng phải là bạn và em của tớ hay sao?
Rồi anh dịu dàn gôm lấy vai tôi.
Dần dần tôi hiểu rằng thế là hết, bởi vì anh muốn học tiếp và thi tốt nghiệp ở Paris, không bao giờ tôi còn có bên mình người bạn vĩ đại nữa…
Để gặp lại, chúng tôi chỉ còn hy vọng vào căn nhà ở Paris, nơi hẳn có vết tích của cuộc phiêu lưu thất bại… Nhưng để thấy Môn héo hon đi, thì hy vọng ấy há chẳng là cơ cực đối với tôi chăng?!
Cha mẹ tôi được báo tin. Ông Xơren rất ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay tất cả khi Môn trình bày. Mili vốn thích nhà cửa ngăn nắp dễ chịu, lấy làm buồn nhất, khi nghĩ rằng mẹ của Môn sẽ thấy nhà tôi mất sự ngăn nắp quen thuộc… Ôi, hòm đồ đạc của anh sẽ được sửa soạn ngay! Chúng tôi tìm dưới gầm cầu thang những đôi giày anh đi chủ nhật, trong tủ một ít quần áo, rồi sách vở và giấy tờ của anh… tất cả những gì mà một chàng trai 18 tuổi được sở hữu trên đời.
Đến trưa, bà Môn đi xe của mình tới. Bà ăn trưa ở quán cà phê Đaniel cùng Môn, và gần như không giải thích một lời, bà đưa anh đi, ngay khi ngựa đã được ăn cỏ và thắng vào xe. Chúng tôi đứng trên ngưỡng cửa chào từ biệt hai người. Và chiếc xe mất hút ở chỗ ngoặt trên quảng trường Bốn Đường.
Mili chùi chân trước cửa, rồi đi vào phòng ăn lạnh lẽo, sắp xếp lại những chỗ bị mất trật tự. Còn tôi, lần đầu tiên sau bao tháng dài, tôi chỉ còn một mình trước một đêm thứ năm dài lê thê – với cảm tưởng rằng tuổi niên thiếu của tôi vừa ra đi mãi mãi trên chiếc xe cũ kỹ kia.
 
0
CHƯƠNG XI
TÔI PHẢN BỘI…
  Làm gì?
Trời ửng lên đôi chút. Có lẽ mặt trời sắp môc.
Có tiếng cửa ra vào kẹt lên trên phòng học lớn. Rồi lại im lìm. Lát lát, cha tôi lại đi qua sân để lấy một xô than đá cho vào lò sưởi. Tôi nhìn thấy những ra trải giường trắng phơi trên các dây phơi và không còn muốn vào căn phòng học đã biên thành sân phơi hay phòng sấy trông thật đáng buồn cười, để đối diện với cuộc thi cuối năm, cuộc thi vào đại học sư phạm từ nay là lo toan duy nhất của tôi.
Lạ thay, xen vào nỗi buồn vẫn khiến tôi bàng hoàng đau nhói này là một cảm giác như được tự do. Môn ra đi – cả cuộc phiêu lưu chấm dứt và bị bỏ lỡ, ít ra tôi cũng thấy hình như mình được giải phóng khỏi nỗi lo âu kỳ dị và mối bận tâm khó hiểu không cho phép tôi hành động như mọi người. Môn ra đi, tôi không còn là người bạn phiêu lưu của anh, tôi cũng hết là em của cháng thợ săn chuyên lùng cá nẻo lối! Tôi lại trở thành người thiếu niên của thị trấn như các bạn khác! Chuyện này thì dễ rồi và tôi chỉ còn việc đi theo sở thích tự nhiên nhất của mình.
Cậu em út trong mấy anh em nhà Roi vừa đi trên đường phố lép nhép bùn, vừa xoay tròn một sợ dây đầu buộc ba hạt dẻ tây, rồi tung rút lên trời, ba hạt dẻ rơi vào sân trường cùng với sợi dây. Chẳng có việc gì làm, tôi bèn nhặt ba hạt dẻ và hai, ba lần từ trong tường ném trả lại cậu ta.
Bỗng nhiên tôi thấy nó bỏ trò chơi trẻ con ấy để chạy về phía một chiếc xe bò từ đường Viây-Phăngsơ đi tới. Nó nhờ người trên xe kéo lên bám phía sau, trong lúc xe vẫn lăn bánh. Tôi nhận ra đó là chiếc xe nhỏ của Giacxmanh Đơlusơ, nhưng lại do ngựa kéo. Giacxmanh điều khiển xe, Bugiacđông ục ịch thì đừng. Hai gã từ đồng cỏ trở về.
- Phrăngxoa, đi với chúng tao đi! – Giacxmanh la to. Chắn chắn chúng biết việc Môn đi rồi.
Quả thật, không báo cho cha mẹ biết, tôi leo lên chiếc xe lắc la lắc lư, và đứng dựa vào một cọc xe như hai người khác, Giacxmanh đưa chúng tôi về nhà mình…
Bây giờ chúng tôi ở sau cửa hàng, nhà người đàn bà tốt bụng vừa là chủ quán trọ vừa bán thực phẩm. Một chùm tia nắng trắng chiếu qua khung cửa sổ thấp, rồi lướt trên những hộp sắt trắng và các thùng ton-nô dấm. Thằng Bugiacđông ngồi trên thành cửa sổ, quay về phía chúng tôi, với một tràng cười ùng ục của một người béo bệu, nó dùng thìa chén bích-quy. Hộp bánh mở sẵn và đã bị ăn dở, đặt trên một thùng ton-nô vừa tầm tay với. Cậu Roi con thốt lên những tiếng kêu khoái chí. Một kiểu tình bạn xấu đã nảy ra giữa mấy chúng tôi. Bây giờ Giacxmanh và Bugiacđông là bạn của tôi, tôi biết rõ như vậy. Đời tôi bỗng chốc thay đổi. Tôi cảm thấy hình như Môn bỏ đi đã lâu, lắm lắm rồi và cuộc phiêu lưu của anh chỉ là một câu chuyện rầu rĩ, nhưng kể hết rồi.
Cậu Roi con đã lôi từ dưới tấm ván lên một chai rượu uống dở, Đơlusơ mời chúng tôi uống, nhưng chỉ có một cái cốc, và cả bốn chúng tôi uống chung. Chúng mời tôi dùng trước, có vẻ chiếu cố tôi chưa quen với kiểu cách ăn nhậu này của nông dân và thợ săn… Tôi có phần ngượng ngập. Chợt ba thằng kia đả động đến Môn, tôi bỗng nảy ra ý muốn cho chún ghiểu rằng tôi biết chuyện của anh và sẽ kể lại, để che giấu sự ngượng ngập và lấy lại thăng bằng của mình. Chuyện này làm sao có thể làm hại anh, một khi bất cứ cái gì liên quan đến các cuộc phiêu lưu nơi này của anh đã chấm dứt?...
Phải chăng tôi kể chuyện về anh quá kém? Nó không tạo ra được tác động mà tôi chờ đợi.
Như những người dân quê phúc hậu, không gì khiến phải ngạc nhiên, và các bạn hiện thời của tôi không sửng sốt vì một câu chuyện còn con như vậy.
- Xì, một đám cưới chứ gì! – Bagiacđông nói.
Đơlusơ đã xem một đám ở Prévơrănggiơ, còn ly kỳ hơn.
Lâu đài ư? Thế nào chẳng tìm được những nơi trong vùng nghe nói đến nó.
Còn tiểu thư? Đi nghĩa vụ quân sự xong, Môn sẽ cưới chứ sao.
- Lẽ ra – một trong ba thằng tiếp lời – nó phải kể với chúng tao và cho chúng tao xem bức bản đồ. ấy thế mà nó lại tìm một thằng Bô-hê-miêng…
Mắc cỡ vì không đạt được ý định, tôi muốn tranh thủ thời cơ để kích thích tính tò mò của chúng: tôi quyết định bảo cho chúng biết chàng Bô-hê-miêng là ai, từ đâu tới, số phận thế nào… Bugiacđông và Đơlusơ chẳng mảy may muốn nghe:
- Chính thằng ấy gây ra tất cả. Nó làm cho Môn xa lánh bạn bè, chứ Môn chân thật có thừa. Chính nó đầu têu những cuộc tấn công và tập kích ngu ngốc đêm ấy , sau khi lôi kéo chúng tao vào như một đội quân học sinh…
- Mày biết đấy – Giacxmanh vừa khẽ lắc đầu vừa nhìn Bugiacđông nói – tao tố giác nó với cảnh sát là chí phải. Nó là một thằng đã làm hại thị trấn và có lẽ còn làm hại nữa…
Tôi gần như tán đông với chúng. Chắc rằng mọi việc sẽ khác hẳn, nếu chúng tôi không gán cho các sự kiện tính bí hiểm và bi kịch quá lớn. Ấy là vì ảnh hưởng của chàng Phrăng đã bị mất…
Tôi đang suy nghĩ lan man thì chợt nghe có tiếng động trong cửa hàng. Giacxmanh đơlusơ vội cất bình rượu vào sau một thùng ton-nô. Bugiacđông béo phì chuồi từ thành cửa sổ xuống, chân đạp phải một vỏ chai đầy bụi, cái chai lăn nên nó hai lần suýt ngã ngửa. Thằng Roi lỏi con đẩy lưng hai thằng lớn, cũng lùi ra ngoài cho nhanh, suýt sặc vì cười.
Chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao, tôi cũng chạy đi với chúng. Chúng tôi chạy qua sân, trèo thang lên một gian để chứa cỏ khô. Tôi nghe tiếng một bà già mắng chúng tôi là đồ vô dụng…
- Tao không ngờ mụ về sớm thế! – Giacxmanh thì thào.
Bấy giờ tôi mới hiểu chúng tôi vừa ăn vụng bánh và uống trộm rượu. Tôi thật thất vọng, cứ như một người chết đuối tưởng đang nói chuyện được với một con người, nhưng bất ngờ nhận ra đó là một con khỉ. Tôi chỉ muốn rời đi ngay, những chuyện vớ vẩn này đáng ngán vô cùng. Mới lại, trời tối rồi… Chúng đưa tôi ra cửa sau, đi qua hai mảnh vườn, vòng một cái ao. Tôi đã ra ngoài đường phố đầy bùn bẩn, ướt lấp lánh, phản chiếu ánh đèn hiệu cà phê đanien.
Tôi chẳng hãnh diện về chuyện vừa rồi. Thế là đã đến quảng trường Bốn Đường. Đến chỗ ngoặt, không sao cưỡng được, bỗng nhiên tôi thấy một khuôn mặt nghiêm khắc và thân thiết mỉm cười với mình, cái vẫy tay cuối cùng và cỗ xe biến mất…
Áo blu của tôi kêu sột soạt trong một làn gió lạnh. Cơn gió này sao giống đến thế cái gió trời tươi đẹp và bi thảm đến xót lòng mùa đông vừa qua. Chỉ vậy thôi, tôi đã thấy mọi chuyện bớt đơn giản và dễ dàng. Trong phòng học lớn mà cha mẹ tôi đang chờ tôi vể ăn tối, từng luồng gió lạnh đột ngột thốc vào, trong khi lò sưởi chẳng tỏa ấm được bao. Cha mẹ trách tôi cả chiều đi lêu lỏng, còn tôi thì rét run cầm cập. Để trở lại cuộc sống bình thường trước đây, tôi cũng không được hưởng niềm an ủi là ngồi vào bàn ăn ở chỗ quen thuộc của mình. Tối hôm ấy, mẹ tôi không bày bàn ăn. Chúng tôi để đĩa ăn trên đầu gối, muốn ngồi đâu trong căn phòng ảm đạm cũng được. Tôi lặng lẽ ăn bánh đa nướng đến cháy sém trên nắp lò sưởi đỏ rực. Đây hẳn là sự đền bù cho ngày thứ năm nghỉ ngay trong lớp học.
Sau đó, trơ trọi trong căn phòng xưa, tôi đi nằm sớm để gạt đi nỗi ân hận mà dù rất buồn, tôi vẫn cảm thấy. Nhưng, trong đêm khuay khoắt, hai lần tôi choàng tỉnh. Lần đầu, tôi tưởng như nghe thấy tiếng cọt kẹt của chiếc giường bên cạnh, trên đó Môn vốn hay đột ngột trở mình. Lần hai, tiếng chân anh lướt nhẹ trên các gian kho trong cùng tầng hai như người thợ săn đang rình con thú…
 
0
«« « 1 2 » »»