Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Lâu Đài Huyền Bí - Alain Fournier - Hết 🔒

48 trả lời, 1.892 lượt xem — Trang 2 / 2
CHƯƠNG XII
BA BỨC THƯ CỦA MÔN
  Cả đời, tôi chỉ nhận được của Môn ba cánh thư. Hiện chúng vẫn còn trong một ngăn tủ com-mốt nhà tôi. Mỗi lần đọc lại, tôi vẫn man mác buồn như mới gần đây thôi.
Thư thứ nhât đến với tôi một ngày sau khi anh lên đường.
Phrăngxoa thân yêu của tớ,
Hôm nay, ngay khi đến Paris, tớ đã đến trước ngôi nhà được chỉ. Tớ chẳng hề thấy gì. Có ai ở đấy đâu. Sẽ chẳng bao giờ có ai ở đó.
Ngôi nhà mà Phrăng nói chỉ là một khách san nhỏ hai tầng. Buồng của tiểu thư Gale chắc hẳn là ở tầng hai. Các cửa sổ tầng ấy bị che khuất hơn tầng dưới. Nhưn đi trên vỉa hè, có thể nhìn thấy khá rõ. Các màn cửa đều khép kín, và có điên mới hy vọng rằng một ngày nào đó, bộ mặt của Yvon de Gale có thể hiện ra giữa các màn cửa đã kéo sang bên ấy.
Nhà nằm trên môt đại lộ… Mưa rơi lộp bộp trên những cây lớn đã ngắt xanh. Có thể nghe rõ tiếng chuông leng keng của những đoàn tàu điện xuôi ngược không ngừng.
Suốt gần hai giờ, tớ quanh quẩn dưới các cửa sổ. Thấy có một hàng rượu, tớ dừng lại vào uống để khỏi bị ngờ là một thằng cướp sắp định giở trò gì. Rồi lại tiếp tuc cuộc rình chờ không hy vọng.
Đêm đã đến. Gần khắp các nơi, các cửa sổ đều sáng ánh đèn, nhưng cả căn nhà này vẫn tối như bưng. Chắc chắn là không có ai. Vậy mà lễ Phục sinh sắp đến.
Lúc tới sắp bỏ đi, một cô gái, hay một người đàn bà trẻ - tớ không biết – đến ngồi xuống một trong những cái ghế băng ướt nước mưa. Cô mặc trang phục đen với cái cổ hồng trắng nhỏ. Khi tớ đi, cô vẫn còn ngồi đó, bất động, bất chấp cái lạnh của đêm, chờ ai hay cái gì nào ai biết được. Cậu biết Paris đầy những thằng điên như tớ.
Ôguyxtanh
Thời gian trôi qua, tôi đã hoài công đợi chờ một lời của Môn và thứ hai là ngày Lệ Phục sinh và suốt những ngay sau đó – hết sức êm đềm sau lễ Phục sinh vĩ đại, những ngày này dường như chỉ gợi ra ý nghĩ là hè sắp đến. Tháng sáu đem về các cuộc thi và cái nóng khủng khiếp với hơi nước đọng ngột ngạt khắp nơi trong vùng mà không có một ngọn gió nào đến phá. Ban đêm trời cũng chẳng dịu đi, nên vẫn phải chịu đựng cực hình đó. Chính trong tháng sáu không chịu nổi ấy, tôi nhận được cánh thư thứ hai của Môn.
Tháng Sáu, 189…
Bạn thân yêu của tớ,
Lần này, chẳng còn hy vọng gì nữa. Tới biết vậy từ đêm qua. Nỗi khổ mà tớ gần như chưa cảm thấy ngay dâng lên từ lúc đó.
Đêm nào tố cũng đến ngồi trên cái ghế băng kia, rình chờ, suy nghĩ, hy vọng, bất chấp tất thảy.
Đêm qua, sau bữa tối, trời tối đen và ngột ngạt. Người ta trò chuyện đó đây trên vỉa hè, dưới các tàn cây. Bên trên những vòm lá đen lốm đốm ngời xanh dưới ánh điện, tầng hai, tầng ba các ngôi nhà đều sáng đèn. Chỗ này chỗ kia, thấy có một cửa sổ đã được mùa hè mở rộng… Tớ nhìn thấy cây đèn sáng rực rỡ trên bàn, gần như chà nát cái tối đen nóng bỏng của tháng sáu xung quanh. Tớ có thể nhìn tối tận cuối phòng… Ôi, giá như cái cửa sổ đen ngòm của phòng Yvon de Gale cũng sáng lên như thế, tớ đâm lao lên cầu thang, gõ cửa, đi vào, tớ tin như vậy…
Cô gái mà tớ kể với cậu vẫn ngồi kia, chờ đợi như tớ. Tớ nghĩ cô ta phải biết ngôi nhà, nên hỏi.
- Tôi biết – cô ta đáp – rắng trước đây, một thiếu nữ vẫn cùng cha đến nghỉ ở nhà này. Tôi lại được tin rằng em trai cô đã trốn khỏi lâu đài cha mẹ, mà chắc chắn người ta cũng chẳng bao giờ có thể tìm thấy, còn thiếu nữ thì đã lấy chồng. Vì vậy, nhà này quanh năm đóng cửa.
Tớ bỏ đi. Được mươi bước, tớ vấp và suýt ngã. Đến khuya – đây là đêm cuối cùng – Khi trong các sân, phụ nữ và trẻ em im tiếng, để yên cho tớ ngủ, tớ bắt đầu nghe thấy ngoài phố tiếng mấy chiếc xe ngựa thuê lăn bánh. Chúng cứ đi qua và xa dần. Nhưng khi một chiếc qua hẳn, dù không chủ tâm, tớ vẫn chờ tiếp theo; theo chuông cổ rồi tiến chân ngựa gõ rền trên nền đường trải nhựa… Có môt ý này cứ lặp lại hoài: đây là một thành phố hoang vắng, đây là tình yêu đã mất của ngươi, đêm vô tận, mùa hè, cơn sốt…
Phrăngxoa, bạn của tớ, tớ đang đau khổ đến cùng quẫn.
Ôguyxtanh
Dù sao thì những bức thư này cũng thật ít tâm sự. Môn không cho tôi biết cả việc vì sao anh im hơi lặng tiếng lâu đến thế lẫn việc giờ đây anh dự định làm gì. Tôi có cảm tưởng anh cắt đứt với tôi, bởi vì cuộc phiêu lưu của anh đã chấm dứt, khác gì anh cắt đứt với quá khứ của anh. Thực tế, tôi đã uổng công ghi thư cho anh, anh không trả lời tôi nữa. Chỉ một lời chúc mừng khi tôi đỗ bằng Sơ lược yếu học tháng chín, tôi được biết qua một bạn học rằng anh đã về nghỉ hè ở nhà với mẹ tại La Phectê-đ’Ănggiông. Năm ấy, được bác Phlôrăngtanh, ở Viơ Năngxay mời, chúng tôi phải đến nghỉ hè ở nhà bác. Do đó anh đã trở lại Paris mà tôi không gặp.
Lúc khai giảng năm học mới, đúng vào cuối tháng 11, trong khi hăng hái một cách buồn bã bắt tay vào chuẩn bị thi bằng Cao học, với hy vọng được phong là giáo viên năm sau, không phải qua trường sư phạm ở Buốcgiơ, tôi nhận được cánh thư thứ ba trong ba cánh thư mà tôi nhận được của Môn:
Tớ vẫn đi qua dưới cái cửa sổ ấy – anh viết – Chẳng còn hy vọng gì, tớ vẫn chờ đợi, chỉ vì điên rồ thôi. Cuối những ngày chủ nhật mùa thu lạnh lẽo này, khi trời sắp tối, tớ không sao dứt khoát trở về đóng chặt cửa phòng mình, mà không quay lại nơi ấy, trên cái phố lạnh băng đó được.
Tớ như mụ điên ở Xanhtơ-Agat, lát lát lại ra ngưỡng cửa che tay lên mắt, nhìn về phía nhà ga xem thằng con trai đã mất của mình có về hay không.
Ngồi run rẩy một cách khốn khổ trên ghế băng, tớ thích thú tưởng tượng rằng có ai đó dịu dàng khoác lấy tay tớ… Tớ sẽ quay lại. Nàng! “Em đến chậm một chút” – nàng nói giản dị. vậy là hết khổ đau, chẳng còn loạn trí. Hai đứa tớ đi vào nhà của mình. Lông trên mụ và trên cổ áo của nàng giá ngắt, tấm mạng thưa che mặt ướt đẫm. Nàng mang theo vào hương vị sương mù bên ngoài. Khi nàng lại gần lửa, tớ thấy mái tóc hoe vàng lốm đốm phủ sương giá, bộ mặt nhìn nghiêng nom thật dịu hiền của nàng nghiêng trên ngọn lửa…
Ôi, kính cửa trắng ngời lên vì tấm ri-đô phía sau. Tiểu thư của “Lâu đà đã mất” vừa mở nó ra, bây giờ đây, tớ còn biết nói gì nữa với nàng?...
Cuộc phiêu lưu của chúng tôi sẽ chấm dứt. Mùa đông năm nay thê lương như trong mồ. Có lẽ chỉ khi chúng ta từ giã cõi đời, thần chết mới trao cho chúng ta chìa khóa, phần tiếp theo và kết cục của cuộc phiêu lưu thất bại.
Phrăngxoa, tớ yêu cầu cậu có nhớ đến tớ thì sau này hẵng nhớ. Bây giờ thì ngược lại, quên tớ đi thì hơn. Quên đi tất cả thì hơn…
A.M
Và đây là một mùa đông mới, cũng tang thương như mùa đông trước đã khởi sắc lên nhờ một cuộc sống bí ẩn: quảng trường nhà thờ không còn các chàng Bô-hê-miêng, sân trường vắng tanh ngay sau bốn giờ chiều, … căn phòng của lớp chúng tôi chỉ còn mình tôi ngồi học không hứng thú… Đến tháng giêng, lần đầu tiên trong mùa đông, tuyết rơi, vĩnh viễn chôn vùi thiên truyện phiêu lưu huyễn hoặc năm qua của chúng tôi, phá rối mọi con đường, xóa đi những dấu vết cuối cùng. Như Môn đã viết thư yêu cầu, tôi gắn quên đi tất cả.
 
0
PHẦN THỨ BA
CHƯƠNG THỨ NHẤT
CUỘC ĐI TẮM
  Hút thuốc, vẩy nước đường lên đầu cho tóc quăn, ôm hôn các nữ sinh bổ túc trên đường, kêu to “Cướp lấy cái mũ vải!” từ sau hàng rào để trêu cô nữ tu đi qua, đó là niềm vui của tất cả các ông mãnh mặt trơ trán bóng trong vùng. Vả chăng, ở tuổi hai mươi, các ông tướng như vậy rất có thể tu tỉnh lại và đôi khi khá nhạy bén với cái tốt. Sẽ nghiêm trọng nếu ông mãnh có bộ mặt già héo, nếu hắn ta kể những chuyện nửa kín nửa hở về phụ nữ trong xứ, nếu hắn thao thao bao nhiêu chuyện bậy bạ về Ginbectơ Pôkơlanh để mua vui cho đồng bọn. Tuy nhiên, cũng chưa hết hy vọng.
Ấy là trường hợp của Giacxmanh Đơlusơ. Không hiểu tại sao, dù chắc chắn không hề muốn thi cử, hắn vẫn theo học lớp cao đẳng mà mọi ngươi đều muốn bỏ hắn. Trong thời gian đó, hắn học với chú Đuyma của hắn lam nghề thạch cao. Chẳng bao lâu chỉ còn thằng Giacxmanh này, cùng Bugiacđông và một cậu khác rất hiền tên là Đơnix, còn viên trợ lý, là những học sinh lớn mà tôi lui tới luôn luôn, bởi lẽ họ thuộc “thời của Môn”.
Mới lại, Đơlusơ cũng thành thật muốn là bạn cua tôi. Nói cho cùng, từng là kẻ thù của Môn, hắn muốn trở thành chính Môn trước con mắt toan trường, ít ra hắn có lẽ cũng tiếc đã không là tùy tùng của anh. Không thô thiển như Bugiacđông, hắn đã cảm thấy tất cả những gì là phi thường mà Môn đem vào cuộc sống chúng tôi, tôi nghĩ thế. Tôi hay nghe hắn nhai đi nhai lại.
“Chuyện ấy thì MôN sếu thừa hiểu…”, hay là “A, Môn Sếu nói thế này…”
Ngoài việc ra dáng đàn ông hơn chúng tôi, Giacxmanh còn có một kho cửa quý dùng vui chơi, khiến hắn hơn hẳn chúng tôi: một con chó đực đa chủng, lông xù màu trắng, biết đáp lại khi bị gọi giễu là Bêcali, biết câu tha về những hòn đá người ta ném ra xa, dù không có khả năng biểu diễn trò thể thao nào khác, một xe đạp cũ mua rẻ mà thỉnh thoảng sau buổi học, Giacxmanh cho chúng tôi cưỡi, còn đối với các cô gái thì hắn rất thích cho tập; sau cùng và trên hết là một con lừa trắng bị mù có thể buộc vào mọi loại xe.
Đấy là lừa của chú Đuyma. Mùa hè, chú cho Giacxmanh mượn khi chúng tôi tắm ở sông Sê. Dịp ấy, mẹ hắn cho một chai nước chanh mà chúng tôi để dưới ghế ngồi giữa đám quần đùi khô cứng. Và chúng tôi đi ra, tám hay mười học sinh lớn của lớp, có ông Xơren đi cùng, kẻ đi bộ, người leo lên chiếc xe lừa kéo, mà chúng tôi để lại ở trong trại Giăng Phông, khi con đường đến sông Sê đã bị nước xói mòn quá nhiều.
Tôi nhớ lại một cách cặn kẽ một trong những chuyến đi thường lệ như vậy. Trong chuyến đi đó, con lừa của Giacxmanh chở đến Sê quần đùi, hành lý của chúng tôi, nước chanh và ông Xơren, còn chúng tôi đi bộ phía sau. Bây giờ đang tháng tám.
Chúng tôi vừa thi xong. Được giải thoát khỏi nổi lo ấy, chúng tôi cảm thấy hình như tất cả mùa hè, tất cả hạnh phúc trên đời này là của chúng tôi, và vào những giây phút đầu tiên củ buổi chiều thứ năm tươi đẹp, chúng tôi vừa đi vừa hát, chẳng hiểu vì sao cũng chẳng biết trời đất gì nữa.
Lượt đi, có một cái bóng ngã xuống bức tranh ngây thơ ấy. Chúng tôi nhìn thấy Ginbêctơ Pôkơlanh đi đằng trước. Thân hình nở nang, váy lửng ngang bắp chân, giày cao gót, cô có cái vẻ dịu hiền và sợ sệt của một cô bé con vừa thành thiếu nữ. Cô rời đường cái, vào một đường vòng, chắc chắn là đi mua sữa. Cậu bé Côphanh liền bảo Giacxmanh cho xe đuổi theo:
- Chẳng phải lần đầu tao ôm hôn nó đâu – Giacxmanh trả lời.
Rồi hắn bắt đầu tuôn ra vô khối chuyện tục tĩu về cô và các bạn cô. Trong khi đó, nổi máu anh hùng rơm, chúng tôi rẽ vào con đường cô gái đang đi, để mặc ông Xơren tiếp tục cuộc hành trình trên chiếc xe lừa. Nhưng chả mấy nỗi, các anh hùng rơi dần khỏi bọn. Ngay Đôlusơ cũng tỏ ra ít quan tâm đến việc tấn công cô gái đi phía trước. Hắn giữ cự ly cách cô khoảng 50 mét. Có vài tiếng lục tục như gà mái, vài tiếng huýt sáo nịnh đầm. Rồi chúng tôi bỏ cuộc quay lại, có phần ngượng ngập trên đường trời nắng chang chang, nhưng vẫn phải chạy. Chẳng còn ai hát nữa.
Trong các rừng liễu héo ven bờ sông Sê, chúng tôi cởi áo ra, rồi lại mặc vào. Liễu có thể ngăn được mắt người, chứ không ngăn được nắng. Chân giẫm trên cát và bùn khô, chúng tôi chỉ nghĩ đến chai nước chanh của bà góa Đơlusơ đang ngâm mát trong mạch nước Grăng Phông đào ngay bên bờ sông. Dưới đáy mạch nước, bao giờ cũng có những đám cỏ màu xanh lam, và hai hoặc ba con vật tựa như con mọt ẩm. Nhưng nước trong lắm, đến nỗi người đi câu không ngần ngại quỳ xuống, hai tay chống hai bên bờ và uống.
Ôi, ngày hôm ấy cũng như mọi lần… Khi đã ăn mặc chỉnh tể, ngồi chắp bằng thành vòng tròn, cùng thưởng thức nước chanh tươi mát rót vào hai cốc vại, sau lúc đã mời ông Xơren dùng phần dành cho ông, hầu như mỗi chúng tôi chỉ được nhấp một chút bọt, đâm ngứa cổ và càng khát. Bấy giờ, chúng tôi lần lượt ra mạch nước mà thoạt đầu coi thường, rồi cúi mặ xuống gần mặt nước. Nhưng đã bạn náo quen với cách uống này của dân quê đâu. Cũng như tôi, nhiều bạn đã không khát. Bạn thì vì không thích nước đầy. Bạn thì không nuốt nổi vì sợ nuốt phải con mọt ẩm. Bạn vì thấy nước trong tưởng nó cạn nên vục cả mặt vào, đến nỗi sặc nước, mũi cay xè. Bạn thì vì tất cả những lý do đó cộng lại… Chả sao! Trên bãi bờ cằn cỗi của sông Sê, chúng tôi cảm thấy hình như nơi này cất giữ tất cả cái mát mẻ của đất. Thậm chí ngay bây giờ, chỉ cần nghe đến tiếng “mạch nước” vang lên ở bất cứ đâu, tôi vẫn nhớ mãi đến mạch nước ngày xưa ấy.
Cũng như lượt đi, trời nhập nhoạng, chún tôi mới ra về, lòng hoàn toàn vô tư lự. Dẫn lên đường cái, con đường Grăng-phông là một dòng suối về mùa đông, một lạch khô về mùa hè, nhan nhản những bó và rễ cây to, cứ thoai thoải đi lên giữa hai rặng cổ thụ như hai hàng rào.
Một bộ phận nhóm chúng tôi do nghịch ngợm đi vào con đường ấy. Còn chúng tôi cùng ông Xơren, Gaicxmanh, và nhiều bạn khác đi theo con đường cát êm chạy dọc cánh đồng bên cạnh, sonh song với con đường kia. Chúng tôi nghe các bạn ấy cười nói rất gần, bên dưới chúng tôi, nhưng không thấy người. Trong khi đó, Đơlusơ ba hoa những chuyện “nam nhi” của hắn… Trên đỉnh những ngọn cây của hàng rào cao sừng sững, rả rích tiếng những con côn trùng mà chúng tôi nhìn thấy rung động quanh những tấm đăng-ten-la còn in ro trên nền trời mờ ảo. Thỉnh thoảng, một con bất ngờ bứt ra, bổ nhào xuống, kêu vù vù và nghe rõ mồn một. Đẹp sao buổi chiều hè thanh bình!... Trở về sau một cuộc chơi đồng thảm hại, không hy vọng, nhưng cũng không lo lắng. Lại chính Giacxmanh, dù không cố ý, khuấy động cái vô tư ấy của chúng tôi.
Vào lúc chúng tôi lên đến đỉnh đồi, ở chỗ có hai tảng đá cổ khổng lồ có lẽ là dấu tích của một tòa lâu đài đồ sộ, hắn bỗng huyên thuyên về những lâu đài mà hắn đã thăm, đặc biệt là một lâu đài khá hoang tàn ở ngoại vi Viơ Năngxay: lâu đài Xabloanic. Với giọng khoa trương hợm hĩnh chỗ này và nhún nhường kiểu cách chỗ kia, hắn đã nhìn thấy một cái miếu đổ nát của tòa lâu đài cổ ấy một tấm bia mộ khắc dòng chữ:
Đây yên nghỉ chàng hiệp sĩ Gôloa
Một lòng với em, Chúa trời và Hoàng đế
- Dà! Dà! – Ông Xơren khẽ nhún vai thốt lên, vẻ hơi ngượng với kiểu cách nói chuyện, nhưng vẫn muốn để chúng tôi bô bô như những người đàn ông thực thụ.
Giaxcmanh tiếp tục mô tả lâu đài, như thể hắn từng sống ở đấy.
Nhiều lần trên đường từ Viơ Năngxay trở về, chú Đuyma và hắn cứ băn khoăn đầy hiếu kỳ trước một ngọn tháp xám nhỏ thấp thoáng bên trên các ngọn thông. Ở đấy, nơi rừng sâu, hẳn có nhiều tòa ngang dãy dọc mà chú cháu hắn có thể đến thăm khi chủ vắng nhà. Một hôm, một người gác lâu đài mà chú cháu hắn mời lên xe đã đưa hai người về tòa lâu đài chưa quen biết. Nhưng từ đó, người ta đã cho triệt hạ hết. Chỉ còn trang trại và một nhà nhỏ ngồi chơi hóng mát. Luôn luôn chỉ có hai nhân khẩu ở đó thôi: một sĩ quan về hưu già gần như phá sản hoàn toàn và con gái ông.
Hắn kể… hắn kể hoài… Tôi chăm chú lắng nghe, và linh cảm thấy rằng đó chính là chuyện mà tôi đã biết rõ. Bỗng như có phép mầu, những chuyện phi thường chẳng xảy ra thế này là gì. Giacxmanh quay sang, chạm vào tay tôi, vẻ xúc động bởi một ý nghĩ chưa từng có.
- Này, tao bảo nhé, thằng Môn Sếu ấy mà, mày cón nhớ nó không, nhất định thằng Môn Sếu đã đến đó…
- Đúng vậy - hắn tiếp lời, vì tôi vẫn lặng thinh – tao nhớ rằng ông gác có nói đến con trai của ông chủ lâu đài, một gã lập dị, đầu toàn những ý nghĩ khác đời…
Tôi không nghe hắn nữa, ngay từ đầu đã đinh ninh rằng hắn đoán đúng, rằng trước mặt tôi, xa Môn, xa mọi hy vọng, vừa mở ra rành rành và thật dễ đi, như một lối mòn quen thuộc, còn đương đến lâu đài không tên.
 
0
CHƯƠNG II
Ở NHÀ PHLORĂNGTANH
  Càng cảm thấy lối thoát của cuộc phiêu lưu trong đại tùy thuộc vào mình, tôi càng thấy mình là một em bé đau khổ vừa mơ mộng vừa ngốc nghếch, tôi càng cương quyết, như hay cha mẹ tôi nói, càng “quyết tâm”.
Từ đêm ấy, tôi rất tin vậy, đầu gối tôi khỏi hẳn, không khiến tôi đau đớn gì nữa.
Sinh sống ở Viơ Năngxay, nơi có lâu đài Xablonie, có toàn bộ đại gia đình ông Xơren, đặc biệt là nhà bác Phlorăngtanh, một nhà buôn, mà thỉnh thoảng chúng tôi đến nghỉ cuối tháng chín. Được giải phóng khỏi thi cử, tôi không muốn chờ đợi nữa, và được cha mẹ cho tôi tới thăm bác ngay. Nhưng tôi quyết định không báo gì cho Môn, chừng nào còn chưa chắc chắn sẽ mang đến cho anh tin mừng. Thực vậy, ích gì việc lôi anh ra khỏi thất vọng, để rồi có thể đẩy anh sâu hơn nữa vào chính nỗi thất vọng đó?
Một thời gian dài, Viơ Năngxay là mảnh đất tôi thích nhất trên đời, xứ sở của thời gian cuối các cuộc nghỉ hè của chúng tôi, nơi chúng tôi mới đến, khi có xe để thuê mà đi. Ngày xưa, có chuyện bất hòa giữa gia đình tôi với nghành họ sốn gở đó, chắc chắn do vậy mà mỗi lần leo lên xe, Mili lại cầu nguyện rất lâu. Riêng tôi, tôi rất băn khoăn về những việc ỉ eo ấy!... Nhưng vừa đến nơi, tôi liền như mê đi và nhảy nhót giữa các bác các chú, các anh chị em họ gái và trai, trong một cuộc sống bận rộn với bao trò vui ngộ nghĩnh và thú vị khiến tôi ngây ngất…
Chúng tôi xuống xe ở nhà bác trai Phlorăngtanh, và bác gái Giuyli. Hai bác có một con trai cùng tuổi tôi, anh Phiêcmanh, và tám con gái, mà hai người lớn tuổi nhất, chị Mari Lui và Sáclốt, có lẽ 17 và 15 tuổi. Hai bác mở một cửa hàng rất lớn ở môt trong những lối vào làng Xôlônhơ, ngay trước nhà thờ - một cửa hàng tổng hợp, ở đó, tất cả các chủ lâu đài cổ kiêm thợ săn của cái vùn ghẻo lánh cách nhà ga ba mươi kilomet mua được mọi thứ hàng cần thiết dùng ngay hay dự trữ. Với những quầy hàng lương thực khô cùng gia vị và vải vóc, cửa hàng hướng ra đường bởi nhiều cửa sổ, và hướng ra quảng trường nhà thờ mênh mông bởi cái cửa ra vào lắp kính. Nhưng, nền nhà vẫn là đất nện, đó là chuyện bình thường ở nên nghèo khổ này, vậy mà chúng tôi vẫn lấy làm lạ.
Phía sau là sáu phòng, mỗi phòng chất đầy một loại hàng: phòng chứa mũ, phòng chứa đồ làm vườn, phòng chứa đèn… còn gì nữa nhỉ? Thời còn là một đứa trẻ và đi qua cái mê cung hàng hóa này, tôi có cảm giác không bao giờ chán mắt với tất cả những vật kỳ diệu ấy. và cũng chính thời đó, tôi thấy rằng chỉ nghỉ ở đó mới là nghỉ hè thật sự.
Gia đình bác sống trong một căn bếp rộng rãi mà lối vào thông với cửa hàng – căn bếp mà năm nào khoảng cuối tháng chín cũng bừng bừng những ngọn lửa lớn trên lò sưởi, mà cánh thợ săn được phép và thợ săn trộm vốn bán con thịt săn được cho bác Phlorăngtanh thường đến từ mờ sáng để uống rượu, trong khi các con gái nhỏ của bác đã dậy, vừa chạy nhảy vừa hò reo, vừa vẩy lên tóc nhau chất nước “thơm lắm này”. Trên tường treo những bức ảnh cũ, những nhóm thầy trò xưa đã ố vàng, trong đó có cha tôi – khá lâu chúng tôi mới nhận ra, vì cha mặc đồng phục giáo sinh đứng giữa các bạn của cha ở trường sư phạm…
Đó là nơi chúng tôi thường chơi qua buổi sáng, chúng tôi cũng chơi buổi sáng ở mảnh sân, nơi bác Phlorăngtanh trồng thược dược và nuôi gà Nhật; nơi những người nhà bác ngồi lên các hòm rỗng vốn đựng xà phòng để rang cà phê, nơi chúng tôi dỡ những kiện hàng đựng đầy các thứ khác nhau mà chúng tôi không biết tên, được đóng gói cẩn thận.
Suốt ngày, cửa hàng đầy khách, ấy là nông dân hay phu đánh xe ở các lâu đài lân cận. Trước cửa ra vào lắp kính, dừng lại và biến dần vào sương mù tháng chín là những cỗ xe ngựa từ các vùng quê xa. Từ trong bếp, chúng tôi lắng nghe các bác nông dân trò chuyện, tò mò không bỏ sót chuyện nào.
Chị Mari Lui, con cả nhưng thuộc loại thấp bé nhất nhà, phải cuộn cho xong vải da thành súc, rồi xếp ngăn nắp trong cửa hàng. Chị khuyến khích chúng tôi vào chơi để giải khuây nỗi đơn điệu của chị. Thế là anh Phiêcmanh, các chị họ và tôi ùa vào cửa hiệu mênh mông, quay các cối xay cà phê, nhoài lên nhoài xuống các quầy hàng, và vì nền đất nện như mời chúng tôi nhảy, thỉnh thoảng anh Phiêcmanh lại lên nhà kho đựng thóc lấy xuống mấy cái kèn tơromban cũ đầy gỉ đồng.
Giờ đây, tôi vẫn đỏ mặt khi nhớ lại rằng mấy năm trước, tiểu thư Gale đã có thể đến vào giờ này và bắt gặp chúng tôi với những trò con trẻ kia… Một buổi chiều tháng tám như bây giờ, trước khi trời tối một lát, tôi đang mải trò chuyện với Mari Lui và Phiêmanh, thì được trông thấy cô lần đầu tiên.
Ngay từ tối hôm đến Viơ Năngxay, tôi đã hỏi anh Phiêcmanh về lâu đài Xabloniê.
- làm gì òn là Lâu đài – anh đáp – Người ta đã bán tất tật, và kẻ mua được, cánh thợ săn, đã triệt hạ các ngôi nhà cũ để mở rộng đất săn. Sân chính bây giờ chỉ còn là một cái trường mọc đầy thanh thảo và kim tước. các chủ cũ chỉ giữ lại trang trại và một ngôi nhà hai tầng. Cậu sẽ có dịp gặp tiểu thư Gale ở đây. Tiểu thư đích thân đến mua đồ ăn thức uống, khi cưỡi ngựa, khi ngồi xe, nhưng lần nào cũng một con ngựa, con Bêlide lụ khụ… Người với ngựa đi với nhau nom ngộ vô cùng!
Tôi hồi hộp đến không biết nên hỏi tiếp thế nào để có thể rõ thêm.
- Dù sao, họ cũng giàu chứ anh?
- Ừ. Ông Gale tổ chức hội hè để giải trí cho cậu con, một công tử khác người, có những ý nghĩ kỳ quặc. Làm được gì cho cậu ta vui, ông làm tất. Ông cho mời dân Paris, trai Pari và trai các nơi khác đến… Gia đình Xablonnie phá sản đến nơi, vợ ông sắp lìa đời, ông vẫn tìm cách mua vui cho con, chiều theo mọi thói ngông của công tử. Mùa đông vừa rồi, không, mùa đông trước nữa kia, ông cho tổ chức một hội giả trang linh đình. Một nửa khách được mời là dân Paris, nửa còn lại là dân nông thôn. Ông sai mua hay thuê vô số quần áo sang trọng, đồ chơi, ngựa, tàu thuyền. Vẫn chỉ để mua vui cho Phrăng de Gale. Gia đình bảo công tử sắp lấy vợ, và hôm ấy là lễ đính hôn. Nhưng chàng còn quá trẻ. Đùng một cái, mọi việc lỡ dở, chàng bỏ trốn, từ đấy chẳng ai gặp lại… Bà chủ qua đời, tiểu thư Gale bỗng trơ trọi với người cha, ông đại úy hải quân già.
- Tiểu thư chưa lập gia đình ư? – sau cùng tôi hỏi.
- Chứa, tớ chưa nghe nói gì về chuyện ấy. Cậu sẽ cầu hôn chứ?
Ngớ ra, tôi cố gắng thú nhận thật vắn tắt và thận trọng rằng Ôguyxtanh Môn, người bạn thân nhất của tôi, có thể là một người cầu hôn.
- Chà – anh Phiêcmanh thốt lên, miệng mỉm cười – Nếu cậu ấy không quan tâm đến của cải, thì đây là một đám tuyệt vời… Tớ có phải thưa với ông Gale không? Đôi lần ông vẫn đến tận đây mua đạn súng săn. Lần nào tớ cũng mời ông nếm rượu mạnh nhà trữ lại từ tháng ba.
Tôi liều xin anh đừng hé răng gì hết, hẵng chờ đã. Tôi cũng không gì vội mà báo tin cho Môn. Bao may mắn đến dồn dập khiến tôi hơi lo. Nỗi lo này buộc tôi không lộ cho Môn biết gì hết, ít nhất là cho đến khi tôi gặp tiểu thư Gale.
Tôi không phải chờ lâu. Hôm sau, đêm xuống trước bữa ăn chiều một chút. Cùng buông là một màn sương mù mát mẻ, đây là sương tháng chín, chứ không hẳn là sương tháng tám. Đoán cửa hàng sắp vắng khách một lát, anh Phiêcmanh và tôi đến chỗ Mari-Lui và Sáclôt. Tôi đã tâm sự với hai chị về điều bí mật khiến tôi đến Viơ Năngxay sớm hơn dự định. Đứng chống hai cùi tay trên quầy hàng hai ngồi chống hai bàn tay trên hế gỗ bôi dầu, chúng tôi kể cho nhau nghe những điều mình biết về tiểu thư bí ẩn – mà hiểu biết của ai cũng hạn chế lắm – vừa hay, tiếng bánh xe lăn khiến chúng tôi quay nhìn.
- Tiểu thư đây rồi – mọi người thì thào với tôi.
Vài giây sau, cặp người ngựa kỳ lạ dừng lại trước cửa quầy hàng lắp kính. Một cỗ xe ngựa trang trại cũ kỹ với những tấm thanh xe tròn trị, giá hành lý đúc mà chúng tôi chưa từng thấy trong vùng. Một con ngưa trắng già vừa đi vừa cúi đầu như lúc nào cũng gặm cỏ trên đường. Và trên ghế ngồi, tôi nói điều này với cái đơn giản của lòng tôi, nhưng rất hiểu điều mình nói, là cô gái có lẽ đẹp nhất trên đời từ trước tới nay.
Chưa bao giờ tôi thấy một cô gái duyên dáng và nghiêm nghị đến thế. Trang phục của nàng tôn tấm thân mảnh mai đến như cỏ lá. Một áo măng-tô dài màu hạt dẻ mà nàng cới ra lúc đi vào, khoác hờ trên vai. Đây là cô thiếu nữ nghiêm trang nhất, người đàn bà mỏng manh nhất. Một bộ tóc hoe dày phủ nặng trên trán và khuôn lấy bộ mặt thanh tú như vẽ. Mùa hè đã điểm đôi chấm tàn nhang lên làn da mơn mởn. Ở cái sắc đẹp ngời ngời này, tôi chỉ thấy một chút tì vết thôi. Đó là khi buồn bã, thất vọng, hay chỉ đăm chiêu thôi, khuôn mặt tươi sáng ấy thoán ghằn những nốt đỏ, như mặt một số người ốm nặng mà chính người ấy cũng không biết. Lúc ấy, sự ngưỡng vọng của kẻ nhìn nàng nhường chỗ cho một tình thương càng đau xót hơn, vì nó trỗi dậy bất ngờ.
Ít nhất thì đấy cũng là những cái tôi phát hiện ra, trong khi nàng đĩnh đạc xuống xa và cuối cùng, Mari-Lui giới thiệu tôi với nàng thật tự nhiên thoải mái và gợi cho tôi bắt chuyện với nàng.
Người nhà đẩy cho nàng một cái ghế tựa đáng véc-ni, nàng ngồi xuống, lưng dựa quầy hàng, còn chúng tôi vẫn đứng. Nàng tỏ ra thông thuộc và yêu thích cửa hàng. Vừa được báo tin, bác Gluyli của tôi đã đến ngay. Bác khôn khéo tiếp chuyện nàng, hai tay chắp trên bụng, cái đầu nửa dân quê nửa dân buôn chụp mũ bonne trắng khẽ lúc lắc. Thành ra giờ phút tôi được nói chuyện với nàng tôi hơi run khi nghĩ đến giây phút đó – cứ chậm lại…
Câu chuyện thật là bình thường.
- Vậy là – tiểu thư Gale lên tiếng – anh sắp sửa thành thầy giáo?
Bác gái tôi thắp cây đèn đế sứ trên đầu chúng tôi lên, ánh đèn rọi yếu ớt trong cửa hàng. Tôi nhìn thấy khuôn mặt dịu hiền như mặt trẻ con của cô gái, đôi mắt ngây thơ xanh lạ lùng, tôi cũng ngạc nhiên không kém về giọng nói của nàng: đoang trang, và khúc chiết. Khi nàng ngừng nói, đôi mắt nàng đăm đăm nhìn đi chỗ khác, bất động, và nàng hơi cắn môi.
- Tôi cũng sẽ đi dạy học – nàng bảo – nếu cha tôi muốn. Tôi sẽ dạy các em bé nhất, lớp một, như cụ bà của anh…
Rồi nàng mỉm cười, để lộ rằng các bác, các anh chị tôi đã nói về tôi với nàng.
- Ấy là, vì – nàng nói tiếp – bao giờ bà con nơi thôn dã cũng lịch sự, dịu dàng với tôi và sẵn sàng giúp đỡ. Tôi yêu họ vô cùng. Nhưng thử hỏi làm sao tôi có thể yêu họ?... Trong khi họ kêu ca và keo kiệt với cô giáo? Họ không ngớt than vãn nào bút con họ bị mất, nào giấy vở quá đắt, nào có nhưng đứa trẻ chẳng học được gì?... Không sao, tôi sẽ trao đổi với họ, và thế nào họ cũng sẽ thích tôi. Như thế sẽ khó hơn nhiều…
Không mỉm cười, nàng lấy lại dáng ngồi tư lự và trẻ thơ, cái nhìn xanh lơ bất động.
Cả ba chúng tôi đều lúng túng bởi nàng nói thật dễ dàng và thoải mái về những điều tế nhị, những nỗi niềm thầm kín cao khiết chỉ để bộc bạch trong sách àm thôi. Một lát yên lặng. Một cuộc trao đổi dần dần chớm nở…
Nhưng, tiếc thương và thù hận điều gì đó bí ẩn trong đời mình, tiểu thư nói tiếp:
- Rồi tôi sẽ dạy cho các chàng trai biết khôn ngoan, cái khôn ngoan mà tôi nắm được. Tôi sẽ không để còn trong họ cái thèm khát đi lang thang khắp chốn trên đời, như chắc chắn ông se làm, thưa ông Xơren, khi ông là phụ giáo. Tôi sẽ chỉ cho họ cách tìm thấy hạnh phúc ngay bên họ, niềm hạnh phúc có vẻ xa vời…
Chị Mari-Lui và Phiêcmanh cùng kinh ngạc như tôi. Chúng tôi lặng đi. Hiểu chúng tôi ngượng nghịu, nàng ngừng lời, cắn môi, cúi đầu, rồi mỉm cười như thể chế giễu chúng tôi.
- Cho nên – nàng nói – có lẽ, có một chàng điên cao lộc ngộc đang đi tìm tôi nơi chân trời góc bể, trong khi tôi ngồi ngay đây, trong cửa hiệu của bác Phlorăngtanh dưới ngọn đèn này, ngựa chờ ngoài cửa. Nhìn thấy tôi, hẳn chàng không muốn tin?
Thấy nàng mỉm cười, tôi bạo lên, biết đã đến lúc nói. Tôi cười cười:
- Chàng trai cao ngồng điên rồ đó, nếu tôi quen thì sao?
Nàng nhìn tôi xởi lởi.
Vừa lúc đó, chuông cửa reo, hai bà hầu bước vào.
- Các cháu đi sang phòng ăn nhé. Ở đấy tĩnh mà – bác gái tôi vừa đẩy cửa phòng ăn vừa bảo chúng tôi.
Tiểu thư Gale từ chối vào và muốn đi ngay, bác bảo:
- Ông Gale hiện ở đây, đang nói chuyện với bác Phlorăngtanh bên lò sưởi.
Bao giờ trong gian bếp rộng cũng có một bó củi thông cháy lép bép, ngay cả trong tháng tám. Ở đấy cũng có một chiếc đèn sứ cháy sáng. Và một ông già mặt hiền khô, tóc bạc, hốc hác, cạo nhẵn, gần như chỉ im lìm như một người bị đè nặng dưới tuổi tác và kỷ niệm, đang ngồi bên ác Phlorăngtanh, trước hai cốc rượu bã.
Bác Phlorăngtanh chào tôi.
- Chào cháu, Phrăngxoa! – bác kêu to như thói quen nói lớn ở chợ , vì bác là nhà buôn. Bác làm như tôi cách bác hẳn một dòng sông hay một cánh đồng – Bác vừa nảy ra ý chiều thứ năm tuần sau tổ chức một buổi vui bên bờ sông Sê. Sẽ có đánh cá, săn bắn, tắm, nhảy… Mời tiểu thư đến nhé, xin tiểu thư đến nhé, xin tiểu thư cứ đi ngựa. Tôi đã bàn với cụ Gale rồi. Mọi việc tôi đã cùng cụ trao đổi kỹ… Còn Phrăngxoa – bác nói thêm, tuồng như chỉ nghĩ đến chuyện này – cháu có thể rủ bạn cháu tới, cậu Môn… Đúng tên cậu ta là Môn không?
 Tiểu thư Gale đứng dậy, mặt đột nhiên tái mét. Mãi lúc này, tôi mới nhớ rằng ở trong bờ ao lâu đài kỳ lạ, trước đây Môn đã xưng tên với nàng…
Khi nàng giơ tay cho tôi bắt để chào tạm biệt, giữa chúng tôi đã có, dứt khoát hơn bao lời nếu nói ra, một sự ăn ý ngầm mà chỉ có cái chết mới có thể phá vỡ, và một tình bạn còn cảm động, hơn một tình yêu lớn.
… Bốn giờ sáng hôm sau, anh Phiêcmanh gõ cửa căn phòng nhỏ mà tôi nghĩ trong sân gà sao, trời vẫn còn tối. Loay hoay mãi tôi mới tìm thấy quần áo mình trên cái bàn lủng củng những chân đèn bằng đồng, và những tượng thánh mới tinh, tất cả được chọn ra trong cửa hàng nhà anh để trang hoàng phòng này trước khi tôi đến. Tôi nghe anh Phiêcmanh bơm cái xe đạp dánh cho tôi ngoài sân, bác gái thì thổi lửa trong bếp. Khi tôi đi ra, trời mới bửng. Chỉ một ngày, tôi phải đi khá nhiều. Trước hết, tôi sẽ về ăn trưa ở Xanhtơ-Agat để giải thích vì sao tôi sẽ vắng mặt lâu. Sau đó, trước khi trời tối, tôi phải đến nhà Ôguyxtanh Môn, bạn tôi ở La Phectê-đănglông.
 
0
CHƯƠNG III
MỘT SỰ HIỆN HÌNH
  Chưa bao giờ tôi đi xa bằng xe đạp. Đây là lần đầu tiên. Dù tôi đau đầu gối, từ lâu, Giaxmanh đã bí mật tập cho tôi đi xe đạp. Nên từ lâu xe đạp đã là một đồ chơi thú vị đối với một thanh niên trạc tuổi tôi, thì hôm nay, ngay từ ki-lô-mét thứ tư, nó còn là hơn thù đối với một chàng trai tội nghiệp như tôi vốn trước đây chuyên đời cuốc bộ!... Từ trên sườn đèo lao xuống thung lũng giữa cảnh trí thiên nhiên; từ xa đã nhìn thấy các ngã đường tác ra và nở hoa thấy như mình đang bay trên trời; chỉ trong chớp mắt, đã xuyên qua một làng và bỏ nó phía sau một cách đắc thắng… Cho đến giờ, chỉ trong mơ, tôi mới trải qua một cuộc đi nhẹ bỗng và diệu kỳ thế này, đạp ngược dốc, tôi vẫn không giảm phần hăng hái. Bởi lẽ, cần phải nói ra, đây chính là đường đến nhà Môn, con đường mà tôi như uống mãi vào lòng.
“Cách lối vào làng một đoạn”, Môn từng bảo tôi khi tả làng anh cho tôi nghe, “có một bánh xe lớn có guồng quay trong gió…”. Anh không biết nó dùng làm gì, cũng có thể nah vờ không biết để kích thích thêm tính tò mò của tôi.
Mãi xế chiều cái ngày cuối thu ấy, tôi mới thấy chiếc bánh xe lớn quay trong gió trên một cánh đồng cỏ mênh mông, hẳn để guồng nước cho một vùng đất cây rẽ bên cạnh. Đằng sau những cây bạch dương trên đồng cỏ, đã thấy hiện ra ngoại vi cửa làng. Càng đi sâu vào con đường ngoặt vòng quanh con suối, phong cảnh càng mỹ lệ và mở ra thăm thẳm… đến cầu, tôi nhìn thấy phố chính.
Thấp thoáng sau những lùm lau sậy của thảo nguyên, lũ bò sữa đang gặm cỏ, tôi đã nghe rõ tiếng chuông cổ của chúng. Tôi xuống xe, tí hai tay lên ghi-đông, ngắm làng quê mà tôi sắp đem vào một tin trọng đại. các ngôi nhà, mà muốn vào phải qua một cây cầu gỗ nhỏ, đều sắp hàng trên bờ một con mương chạy dọc phố, nom như một dây thuyền cuốn buồm buông neo trong cái tĩnh mịch của chiều tà. Đây là giờ nhà nào cũng nổi lửa.
Lúc này, tôi mất hết can đảm, vì bỗng nhiên thấy vừa sợ vừa tiếc là mình đến khuấy động cái thanh bình tuyệt đỉnh nơi đây. Cùng lúc, như để tô đậm thêm cái nhu nhược bất thình lình, tôi nhớ ra rằng bà dì Moanen vẫn ở đây, trên một quảng trường hẹp của Laphectê Ănglông.
Bà là một trong những bà dì của tôi. Các con bà đều chết cả rồi, mỗi người con út còn sống, đó là cậu Ecnet mà tôi có biết, sắp thành thầy giáo trường làng. Ông chú Moanen, viên lục sự già, không rời cậu nửa bước. Bà dì của tôi trơ trọi trong căn nhà kỳ cục của bà, trong đó thảm lát nền là vô số mảnh mẫu hàng khâu lại, trên các bàn toàn là gà sống, gà mái và mèo bằng giấy, nhưng tường được dán phủ bởi các bằng cấp cũ, các ảnh chân dung những người đã khuất, các trái tim đeo ảnh kết bằng tóc người chết.
Với biết bao tang tóc và tiếc thương, bà tỏ ra vừa lập dị vừa phúc hậu. Khi nhận ra quảng trường hẹp nơi có nhà bà, tôi gọi to tên bà qua cửa ra vào hé mở, và nghe bà thốt lên một tiếng kêu nhỏ nhưng chói tai từ cuối ba căn phòng nối nhau.
- Ôi, Lạy Chúa!
Bà đổ cà phê vào lửa – vào giờ này, làm sao bà pha được cà phê nhỉ? – và bà hiện ra… Lưng như gập làm đôi, bà đội một cái mũ không ra mũ, không ra khăn trùm, không ra mảnh mũ mưa ngay trên chỏm đầu, bên trên cái trán dô rất rộng vừa như phụ nữ Mông Cổ, vừa như dân Hốttăng-tốt. Bà cười lặng lẽ, để lộ những chiếc răng còn lại rất xinh.
Nhưng trong lúc tôi ôm hôn bà, bà hối hả và vụng về nắm lấy một bàn tay tôi đang ở sau lưng. Với một sự bí ẩn hoàn toàn vô ích bởi vì chỉ có hai bà cháu thôi, bà lẹ bỏ vào tay tôi một đồng tiền nhỏ mà tôi không dám nhìn, chắc đấy lá một phrăng… Rồi vì tôi làm bộ xin giải thích cho, hay cảm ơn, bà bắt ngờ bợp tai tôi và kêu lên:
- Cút đi! Tao biết tỏng đi rồi!
Bà suốt đời nghèo nàn, suốt đời vay mượn, suốt đời hào phóng.
- Cả đời bà ngốc nghếch và khốn khổ - bà nói không chút đắng cay, nhưng giọng cao vút đến đáng sợ.
Tưởng rằng tiền tài cũng khiến tôi bận lòng như mình, bà dì tốt bụng chẳng lo tôi xoáy mất, và bà đã cất trong bàn tay chút tằn tiện mỏng manh trong ngày của bà. Sau đó, bà tiếp tôi với một thái độ như vậy.
Bữa ăn chiều cũng kỳ dị - vừa buồn vừa lạ lùng – như sự chào đón. Vẫn là một cây nến vừa tầm tay, khi thì bà cầm đi mất, bỏ tôi trong bóng tối, khi thì bà đặt lên chiếc bàn nhỏ để trên bàn nào bát đĩa, nào bình lọ, tất cả đều sứt mẻ hay vỡ đôi.
- Cái bình kia – bà nói – bọn Phổ đã đánh vỡ quai năm bảy mươi, vì chúng không đem đi được.
Lúc ấy, khi nhìn chiếc bình lớn với lịch sử bi thảm, tôi chỉ nhớ lại rằng ngày xưa chúng tôi từng ăn chiều và ngủ ở đây. Dạo ấy, cha tôi đem tôi đến Yonnơ, chữa đầu gối trong nhà một chuyên gia về bệnh này. Chúng tôi phải đáp một chuyến tàu nhanh và dài dằng dặc qua đây trước khi trời sáng… Tôi nhớ lại bữa ăn chiều buồn bã thuở ấy cùng tất cả câu chuyện của ông lục sự già.
Tôi cũng nhớ lại nỗi khiếp sợ của mình…! Ăn tối xong, ngồi trước lò sưởi, bà dì kéo riêng cha tôi né về phía bà; kể cho cha nghe một câu chuyện ma… “Chao ôi, cháu Lui yêu quý ạ, dì thế gì cháu biết không… Một mụ đàn bà thấp bé, xám xịt…” Bà lục từ trong đầu ra toàn những chuyện nhảm nhí kinh khủng như vậy.
Và đêm nay, sau bữa ăn tối, do mệt nhoài sau chặng dài đạp xe, tôi vừa đi vào nằm trong căn buồng rỗng không, với chiếc sơ-mi ngủ kẻ ca-rô của ông chú Moanen, bà đã đến ngồi ở đầu giường và bắt đầu bằng cái giọng kim đầy bí ẩn.
- Phrăngxoa tội nghiệp của bà, bà phải kể cho cháu nghe câu chuyện mà bà chưa kể với ai…
Tôi nghĩ: “Rõ khéo, mình lại bị quấy rối suốt đêm, như mười năm trước…”
Tôi lắng nghe. Bà lắc đầu, nhìn thẳng trước mặt, như thể bà kể cho chính mình.
 “… Bà cùng ông Moanen đi dự một buổi lễ hội về. Đó là đám cưới đầu tiên mà hai ông bà cùng đến từ khi Ecnet tội nghiệp của bà mất. Ở đám cưới, bà gặp bà em Aden đã bố năm chưa giáp mặt. Một ông bạn già của ông Moanen rất giàu đã mời bà ấy đến ăn cưới con trai ông ta ở lâu đài Xablonnie. Ông Moanen và bà đã thuê một xe ngựa. Tiền thuê đắt lắm. Ông bà ra về lúc khoảng bảy giờ sáng, giữa mùa đông cực rét. Mặt trời đang mọc. Trên đường vắng tanh vắng ngắt. Cháu có biết bất đồ bà trông thấy gì trên đường không? Một người đàn ông nhỏ bé, một chàng trai nhỏ bé đẹp ngời ngời, đứng im trên đường, nhìn chiếc xe của ông bà đi tới. Đến gần ông bà nhận rõ một bộ mặt xinh xắn, không hiểu sao lại trắng và xinh đến phát sợ!
“Bà nắm lấy tay ông Moanen, run như chiếc lá. Bà tưởng đấy là Chúa lòng lành, liền bảo ông:
“- Ông ơi nhìn kìa, đó là Chúa hiện hình!
“Ông cáu kỉnh thì thào đáp lại:
“- Tôi cũng thấy. bà lắm lời lắm. Im đi không…
“Ông chưa biết đối phó ra ao, thì con ngựa dừng bước… Đến bên, đó là một khuôn mặt xanh xao, trán lấm tấm mồ hôi, một cái mũ nồi bẩn và một cái quần dài lượt thượt. Ông bà nghe thấy một tiếng nói nhỏ nhẹ:
“- Cháu không phải con trai. Cháu là con gái. Cháu bỏ trốn, đến đây thì không đi được nữa. Ông bà có vui lòng cho cháu đi nhờ xe không ạ?
“Ông bà cho cô ấy lên liền. Vừa lên ghế, cô ấy đã ngất đi. Cháu có đoán được ai đấy không? Chính là vợ chưa cưới của con trai chủ lâu đài Xablonie, Phrăng de Gale, mà ông bà vừa được mời đến dự lễ cưới”.
- Nhưng còn cưới xin gì nữa ạ - tôi xen vào lời bà – tại vì cô dâu đã bỏ cuộc.
- Ừ, ừm – à ngượng nghịu nhìn tôi, nói tiếp – không còn hôn lễ nữa. Chỉ tại con điên ấy tự nhét vào đầu bao nhiêu chuyện điên rồ mà sau đó nó giải thích cho ông bà hiểu. Nó là con gái một người thợ dệt nghèo. Nó đinh ninh, rằng bấy nhiêu hạnh phúc đối với nó là không thể có, rằng so với nó, thằng kia quá trẻ, rằng tất cả những viễn cảnh tươi đẹp mà thằng này vẽ ra cho nó đều là ảo tưởng, cho nên khi Phrăng đến tìm, Valăngtin đâm ra sợ. Thằng này đi dạo cùng nó và cô chị trong vườn của bà Tổng giám mục ở Buôcgiơ bất chấp trời rét và gió lộng. Do tế nhị, hiển nhiên rồi, và cũng do yêu cô em, thằng ấy tỏ ra rất chú ý lắng nghe cô chị. Bây giờ con bé điên của bà chẳng hiểu đang tưởng tượng cái gì, nó bảo nó về nhà lấy cái khăn bịt đầu. Để chắc chắn không bị đuổi theo, nó cải trang thành con trai, và rảo bước trên đường đi Paris.
“Chồng chưa cưới của nó nhận một bức thư trong đó nó viết rằng nó đến đoàn tụ với chàng trai àm nó yêu. Nào có phải như vậy…
“- Thà hy sinh tình yêu, còn sung sướng hơn thành vợ anh ấy – nó nói với bà như thế.
“Ừ, cháu ngốc của bà ơi, trong thời gian chờ đợi kết quả tìm kiếm, thằng Gale không mảy may có ý nghĩ cưới cô chị. Nó tự bắn một phát súng lục vào đầu. Trong rừng vẫn còn vết máu, nhưng từ bấy có tìm thấy xác nó đâu”.
- Thế ông bà đã đối xử như thế nào với cô gái đau khổ đó ạ? – tôi hỏi.
- Trước hết, ông bà cho nó uống vài ngụm rượu. Sau đó, cho nó ăn. Và nó ngủ thiếp đi khi ôn bà về đến nhà. Nó ở nhà ông bà gần suốt mùa đông. Hôm nào cũng như hôm nào, trời sáng là nó dậy, cắt và khâu áo dài, khăn, mũ và lau nhà, chăm chỉ lắm. Chính nó làm các thảm trải nến và “treo tường” mà cháu thấy đấy. Từ khi nó ở đây, chim én cũng đến làm tổ ngoài kia. Nhưng tối đến, công việc xong xuôi, bao giờ nó cũng tìm được cớ để đi ra sân, vườn hay hiên nhà, ngay cả khi ngoài trời băng đông đến nứt đá. Bà bắt gặp nó đứng đấy khóc như gió như mưa.
“- Sao vậy, còn gì chưa ổn nữa cháu?
“- Thưa bà Moanen, không… có… gì… đâu…ạ!
“Nói rồi, nó đi vào.
“Hàng xóm bảo bà:
“- Bác Moanen ạ, bác tìm được một đứa con ở đến kháu.
“Dù ông bà khuyên nhủ và van vỉ hết điều, nó vẫn muốn đi tiếp đến Paris, vào tháng ba. Bà cho nó mấy cái áo dài để nó cắt may lại. Ông Moanen mua vé và cho thêm ít tiền.
“Nó không quên ông bà. Nó làm thợ may bên cạnh Nhà thờ Đức Bà ở Paris. Nó còn viết thư hỏi xem ông bà có được tin gì về gia đình Xablonnie không. Để nó khỏi bận tâm, bà đã báo cho nó biết rằng lâu đài đã bị bán, bị hạ, cậu con trai đã biệt tích, cô con gái đã lấy chồng. Từ đó, Valăngtin của bà viết thưa dần đi…”
Đấy không phải một chuyện ma, mà bà dì Moanen kể với giọng kim vốn rất thích hợp với những chuyện ma quái. Tuy nhiên, tôi đâm vô cùng lúng túng và buồn phiền. Ấy là do chúng tôi đã thề cới chàng Bô-hê-miêng Phrăng de Gale rằng chúng tôi sẽ phụng sự chàng như anh em, và bây giờ, thời cơ đã đến…
Liệu đấy có phải là lúc làm hỏng niềm vui mà tôi sắp đem đến cho Môn sáng mai, khi nói với anh điều mà tôi vừa biết chưa? Ném anh vào một việc ngàn lần không thể được phỏng có ích gì? Thực tình, chúng tôi đã có địa chỉ cô gái, nhưng biết tìm đâu chàng Bô-hê-miêng luôn luôn lang thang trên mặt đất này?... hãy mặc bọn điên đi với bọn điên, tôi nghĩ. Đơlusơ và Bugiacđông đã không nhầm. Bao khốn khổ chàng Phrăng lãng mạn đã gây ra cho chúng tôi! Tôi quyết định không hé răng chừng nào Môn chưa cưới tiểu thư Gale!
Quyết định thế rồi, tôi vẫn có cảm giác nặng nề về một điềm xấu – cảm giác vô lý mà tôi mau chóng gạt đi.
Ngọn nến cháy gần hết. Một con ruồi bay vo ve. Nhưng bà dì Moanen, đầu cúi thấp dưới cái khăn trùng nhung mà bà chỉ rời ra khi ngủ, hai cùi tay chống trên hai đầu gối, bắt đầu kể lại câu chuyện… Đôi lần, bà đột ngột ngẩng đầu nhìn tôi, ý chừng để xem cảm tưởng của tôi ra sao hay tôi có mất ngủ không. Cuối cùng, tôi láu cá hạ đầu gối xuống, nhắm nghiền mắt lại, giả vờ thiu thiu ngủ.
- Kìa, thằng ông mãnh ngủ rồi!... – bà thốt lên bằng giọng kém chói và có phần thất vọng.
Tôi thương bà, bèn cự nự:
- Cháu không đâu, bà ạ. Cháu cam đoan…
- Cháu có ngủ - bà đáp – Mới lại, bà hiểu chuyện này chẳng thú vị gì mấy đối với cháu, bà có nói đến những người cháu đã quen biết đâu…
Lần này, buồn ngủ thật sự, tôi không trả lời.
 
0
CHƯƠNG IV
TIN VĨ ĐẠI
  Sáng hôm sau, khi tôi đến phố chính, tươi đẹp lạ lùng trong một cuộc nghỉ hè: bốn bề tuyệt vời yên tĩnh, và khắp thị trấn rộn lên bao âm thanh vô cùng thanh bình, vô cùng thận thuộc, đến nỗi tôi lấy lại được tất cả cái vững dạ đầy vui thú của một người mang đến tin lành…
Ôguyxtanh Môn và mẹ sống trong ngôi trường cũ. Khi cha mất sau thời gian dài nghỉ hưu, và gai tài được thừa hưởn đã lớn lên, Môn ngỏ ý xin mẹ mua lại ngôi trường trong đó ông thầy giáo già đã giảng dạy suốt hai mươi năm, và chính anh cũng đã học đọc. Mà chẳng phải vì bề ngoài của nó dễ coi. Đó là một ngôi nhà đồ sộ, vuông như một thị sảnh, chính nó trước đây cũng là thị sảnh. Các cửa sổ tầng trệt hướng ra phố cao đến nỗi chẳng ai nhìn qua được. Cái sân sau, chẳng một bóng cây, lại có một nhà cho học sinh chơi ngăn mất tầm mắt nhìn ra cánh đồng, là một mảnh sân trường khô nhất và vắng lặng nhất mà tôi được thất.
Trong cái hành lang rắc rối mà bốn cửa ra vào mở ra, tôi gặp mẹ Môn mang từ vườn về một thùng to đồ giặt, mà bà phải đem phơi ngay trong giờ đầu trên cửa buổi sáng nghỉ hè này. Mái tóc điểm bạc của bà hơi rối, có những món xõa xuống mặt. Dưới cái mũ cũ, bộ mặt đều đặn hơi phị và lộ vẻ mệt mỏi như vừa qua một đêm thức trắng. Bà buồn bã cúi đầu với vẻ nghĩ ngợi.
Nhưng chợt thấy tôi, bà nhận ra và nở một nụ cười:
- Cháu đến rõ đúng lúc, bác vừa giặt xong và đang đem phơi quần áo, để Môn lên đường đây. Suốt đêm qua, bác thức để tính toán các khoản nó sẽ phải chi tiêu, và sửa soạn hành lý cho nó. Năm giờ thì tàu chạy, nhưng chúng ta vẫn kịp…
Thấy bà hết sức tự tin, tôi nghĩ chắc bà đã quyết định như vậy. Thế nhưng, nhất định là không biết Môn sẽ đi đâu.
- Lên đi cháu. Em nó đang viết trong “thị sảnh” ấy.
Tôi hộc tốc leo cầu thang, mở cửa ra vào bên phải mà bên trên còn treo cái biển “thị sảnh”, và thấy mình đã ở trong một phòng mênh mông có bốn cửa sổ, hai mở ra thị trấn, hai mở ra đồng, trên tường còn treo chân dung đã ố vàng của các Chủ tịch Grêvy và Cácnô. Trên một cái bệ dài suốt dọc tường vách, vẫn còn một cái bàn phủ thảm xanh lá cây và mấy cái ghế tựa của hội đồng thị trấn. Giữa phòng, ngồi trên một cái ghế bành cũ, ghế của chính ông thị trưởng, Môn đang viết, chấm mực trong một cái bình bằng sứ hình trái tim đã lỗi thời. Cái nơi như được tạo ra cho một người hưởng lợi tức đồng niên chính là chốn ẩn dật Môn thường lui vào trong những ngày hè dài dằng dặc khi không lang thang bên ngoài…
Nhận thấy tôi, anh ngẩng đầu, nhưng không vồn vã như tôi tưởng.
- Phrăngxoa! – anh chỉ nói thế vẻ kinh ngạc.
Đấy vẫn là chàng trai cao lêu đêu với khuôn mặt xương xương và cái đầu trọc lóc. Một hàng ria không tỉa tót đã lún phún trên môi. Vẫn cái nhìn chân thành… nhưng dường như bầu nhiệt huyết mấy năm qua đã bị bọc bởi một lớp sương mù mà thỉnh thoảng cái sôi sục xưa mới xóa tan đi…
Gặp tôi, anh tỏ ra rất xúc động. Tôi nhảy phốc lên bệ bục giảng. Nhưng lạ sao, anh thậm chí quên cả chìa tay ra cho tôi. Anh quay về phía tôi, hai tay sau lưng, chống lên bàn, người ngửa ra sau, vẻ vô cùng lúng túng. Chưa chi trong khi đăm đăm nhìn tôi mà không thấy, anh đã như bị thu hút hết vào cái điều mà anh sắp thổ lộ. Như ngày xưa và như bất cứ lúc nào, lần chần mãi mới lên tiếng, khác nào những người độc thân, người đi săn hay người phiêu lưu, anh đã có một quyết định mà không băn khoăn đến lời lẽ cần phải có để giải thích nó. Mãi giờ đây, có tôi trước mặt, anh mới nghiền nghẫm một cách khó nhọc về những lời cần nói.
Tuy nhiên, tôi vui vẻ kể với anh tôi đã đến đây ra sao, tôi ngủ đêm qua nơi nào, tôi ngạc nhiên đến mức nào khi nghe thấy mẹ anh chuẩn bị cho anh đi…
- Mẹ tớ nói với cậu rồi à? – anh hỏi.
- Vâng. Em nghĩ, chẳng phải một chuyến đi dài chứ?
- Không. Một chuyến rất dài.
Bối rối một lát, cảm thấy chỉ tí nữa, bằng một lời thôi, mình sẽ phá tan cái quyết định mà mình không hiểu này, tôi không dám nói gì nữa, cũng không hiểu nên bắt đầu phận sự của mình từ đâu.
Cuối cùng, chính anh lên tiếng, như muốn biện bạch.
- Phrăngxoa, cậu biết cuộc phiêu lưu kỳ lạ của tớ ở Xanhtơ-Agat đối với tớ là như thế nào. Đó là lẽ sống, là niềm hy vọng của tớ. Hy vọng nà mà tan vỡ, tớ còn sống làm gì nữa?... Làm sao có thể sống rập khuôn với hết thảy mọi người! Cho nên, tớ thử gắng sống ở đó. Ở Paris, một khi tớ hiểu rằng đã hết, rằng chẳng đáng bỏ công tìm kiếm lâu đài đã mất… Nhưng một người đã đặt chân lên thiên đường làm sao có thể bằng lòng với cuộc sống thường tình nơi trần gian? Điều người khác cho là hạnh phúc, tớ chỉ thấy nực cười. Và một ngày nào đó, thành thật và cương quyết hành động như mọi người, tớ chỉ chuốc lấy ân hận vĩnh viễn mà thôi…
Ngồi trên một ghế tựa trên bục giảng, đầu cúi thấp, lắng tai nge mà mắt không nhìn anh, tôi chỉ mải miết với những lý lẽ mù mờ này:
- Cuối cùng – tôi nói – anh Môn, anh hãy nói rõ hơn xem. Sao phải có chuyến đi dài này? Phải chăng anh có lỗi lầm nào cần sửa chữa? Hay một lời hứa phải giữ đúng?
- Đúng vậy – anh đáp – Cậu còn nhớ tớ hứa với Phrăng de Gale gì không?
- Trời ơi – tôi kêu lên, cảm thấy dịu lòng – Chỉ vì thế thôi ư?
- Vì thế đấy. Cũng có thể vì một lỗi lầm phải sửa chữa. Cả hai, vì cả hai cùng một lúc…
Tiếp đó là một khoảng im lặng, trong đó, tôi quyết định bắt đầu nói ra và chuẩn bị từng lời.
- Chỉ có một lý do mà tớ tin thôi – anh nói tiếp – Dĩ nhiên, tớ từng muốn gặp lại tiểu thư Gale, duy nhất gặp cô thôi… Nhưng bây giờ tớ tin tưởng rằng, khi đa phát hiện ra lâu đài không tên, tớ đã vương tới một tầm cao của sự trong sáng và sự hoàn thiện mà sau này không bao giờ còn đạt tới được. Chỉ cái chết, như tớ đã viết cho cậu, may ra tớ tìm thấy cái đẹp của thời gian ấy…
Vừ xíc lại gần tôi, anh vừa đổi giọng và nói một cách sôi nổi khác thường.
- Nhưng Phrăngxoa ơi! Mưu đồ mới này, cuộc viễn du này, và lỗi lầm mà tớ đã phạm và cần phải sữa chữa này, nói gọn lại, đó chỉ là sự tiếp tục của cuộc phiêu lưu ngày xưa.
Lại im lặng, gắng sức một cách đau đớn anh nhớ lại lỷ niệm cũ. Tôi đã bỏ lỡ thời cơ lúc nãy. Lần này, tôi không thể bỏ mất, nhất định như vậy. Thế là tôi cất lời quá hấp tấp, bởi lẽ về sau tôi xót xa luyến tiếc đã không chờ nghe những điều thú nhận của anh.
Tôi thốt ra cái câu vừa chuẩn bị một lát trước đây, nhưng bây giờ không tiện nói nữa. Tôi nói, không một cử chỉ, đầu hơi ngẩng lên:
- Vậy nếu em đên báo cho anh biết rằng không phải mọi hy vọng đã mất?...
Anh trừng mắt nhìn tôi, rồi đột nhiên lảng nhìn chỗ khác, mặt đỏ tía tai, mạch máu thái dương đập dồn.
- Cậu muốn bảo sao? – cuối cùng anh hỏi, giọng nghẹn ngào.
Tôi liền kể một mạch tất cả những gì tôi biết, tồi làm, và mọi việc quay ngược lại cứ như Yvon de Gale phái tôi đến với anh.
Anh tái nhợt đi một cách đáng sợ.
Trong suốt câu chuyện mà anh im lặng lắng nghe, cổ hơi rụt, với thái độ của một người bị bắt quả tang không biết tự vệ, ẩn nấp hay chạy trốn thế nào, anh chỉ ngắt lời tôi một lần, tôi nhớ rõ như vậy. Nhân tiện, tôi kể với anh rằng gia đình Xablonie đã tiêu vong, rằng lâu đài ngày xưa không còn nữa.
- Ồ, cậu biết đấy… (cứ như anh vẫn đang chờ dịp thanh minh cho cách xử sự, cũng như nỗi thất vọng mà anh rơi vào)… cậu biết đấy: thế là chẳng còn gì nữa…
Để kết thúc câu chuyện, vả lại, sau cùng tin rằng bao điều dễ dàng sắp tới sẽ làm tiêu tan hết nổi khổ tâm của anh, tôi kể cho anh nghe một phần cuộc vui mà bác Phlôrăngtanh sẽ tổ chức, tiu thư Gale sẽ đi ngựa đến, rằng chính anh cũng được mời… Nhưng anh tỏ ra hết sức bối rối và vẫn chẳng đáp được gì.
- Phải hủy ngay kế hoạch chuyến đi của anh – tôi nôn nóng nói – chung ta cùng đi báo cho mẹ anh biết thôi.
Và chúng tôi cùng đi xuống:
- Cuộc vui đó hả? – anh hỏi, vẻ phân vân – Qua thật tớ phải dự?...
- Chứ sao – tôi đáp.
Anh lộ vẻ miễn cưỡng, cũng như người bị ai nắm vai đẩy xuống dưới nhà, anh báo cho mẹ anh hay rằng tôi sẽ ăn trưa và ăn chiều với mẹ con anh, đêm nay sẽ ngủ lại, rằng ngày mai, anh sẽ thuê một cái xe đạp và cùng tôi đi đến Viơ Năngxây.
- Phải lắm – bà gật đầu thốt lên, làm như Môn vừa xác nhận những dự đoán của bà.
Tôi ngồi trong phòng ăn be bé, dưới những tấm lịch có vẻ tranh, những con dao găm có trang hoàng những hình phụ nữ Xuđăng mà một người anh của bố Môn, cựu lính thủy đánh bộ, đã đem về từ những cuộc viễn du.
Môn bỏ tôi một lát trước bữa ăn, và torng phòng bên, nơi mẹ anh đã chuẩn bị hành lý cho anh, tôi nghe anh bảo mẹ, giọng hạ đi một chút, đừng dỡ bỏ đồ trong òm du lịch của nah ra – bởi vì chuyến đi của anh có thể chỉ hoãn lãi một thời gian.
 
0
CHƯƠNG V
CUỘC VUI
  Trên đường về Viơ Năngxây, tôi theo Môn khá vất vả. Anh phóng nhanh như một người đua xe đạp. Lên dốc, anh cũng không xuống xe. Thay vào cái do dự khó hiểu hôm qua của anh là một sự bồng bột, một sự nôn nóng, một sự thèm khát làm sao đến nơi nhanh nhất, chẳng cần biết là tôi hơi hoảng. Ở nhà bác tôi, anh vẫn như ngồi trên đống lửa, anh tỏ ra không thể quan tâm đến bất cứ cái gì, cho đến lúc tất cả chúng tôi đã an tọa trong xe, khoảng 10g sáng hôm sau, và sẵn sáng đi đến bờ sông.
Đã cuối tháng tám, mùa hè sắp tan. Những vỏ hạt dẻ rỗng úa vàng đã bắt đầu rải rác trên những con đường trắng xóa. Đường đi không xa, ấp nhà Olđê, gần Sêla nơi chúng tôi đến, ở bên kia ấp Xablonic không đến hai km. Đi càng xa, chúng tôi càng hay gặp các khách trẩy hội bằng xe, thậm chí các chàng trai đi ngựa, mà bác Phlôrăngtanh đã táo bạo mời nhân danh cụ Gale… Cũng như ngày xưa, người ta cố gắng hòa hợp kẻ giàu người nghèo, lãnh chứa và nông dân. Chính do vậy mà chúng tôi thấy Giacxmanh Đơlusơ đi xe đạp đến, hắn vừa làm quen với bác tôi nhờ ông gác rừng Baladiê.
- Kia kìa – Môn nói khi thấy hắn – đấy là kẻ nắm được chìa khóa của mọi chuyện, trong khi hai chúng ta tìm kiếm đến
Mỗi khi nhìn hắn, Môn lại càng bực tức với hắn. Nhưng ngược lại, tưởng có quyền được chúng tôi biết ơn, hắn bám lấy xe chúng tôi cho đến cùng. Chúng tôi thấy rõ hắn đã tốn công một cách vô ích, và đáng thương, để chải chuốt cho ra người, và hai vạt áo jacket sờn của hắn cứ đập lật phật vào cái chân pháo trên cái xe đạp hắn cưỡi.
Mặc dù hắn tỏ ra đáng yêu, bộ mặt nom già sớm của hắn vẫn mất cảm tình. Riêng tôi, có lẽ hắn gợi ra một sự thương hại mơ hồ. Nhưng có ai àm tôi sẽ không thương trong suốt ngày hôm ấy?
Nhớ lại cuộc vui ấy, không bao giờ tôi không thấy luyến tiếc một cách khó hiểu, cứ như bị hết hơi. Tôi đã tưởng tượng trước cho ngày ấy biết bao niềm vui. Mọi việc lớn nhỏ xem ra đã được bàn tính hết sức chu đáo để chúng tôi được sung sướng. Vậy mà chúng tôi được vui có đáng là bao!...
Bờ sông Sê đẹp vô cùng! Ở phía chúng tôi dừng chân, ngọn đồi thoai thoải, măt đồi phủ những đồng cỏ nhỏ xanh ngắt – đấy la những khu trồng liễu phân cách bởi những hàng rào – như những mảnh vườn nho nhỏ. Phía bên kia bờ sông là những quả đồi đá xám dốc đứng. Đến những quả xa nhất, chúng tôi phát hiện ra giữa các ngọn thông những lâu đài lãng mạn nho nhỏ cỡ thấp. Xa xa, thỉnh thoảng chúng tôi nghe tiếng sủa của đàn chó ở lâu đài Prêvơrăngiơ.
Chúng tôi đến bờ sông nhờ một mạng lưới đường mòn rôi rắm, khi thì lởm chởm sỏi trắng, khi thì đầy cát - ở những lối đi đến bờ sông, các mạch nước tự nhiên đã biến thành suối. Dọc đường, các cành phúc bồn tử hoang quật vào tay áo chúng tôi. Lúc thì chúng tôi chìm vào bóng râm mát mẻ dưới đáy các thung sâu, lúc thì ngược lại, khi các “bờ rào cây” bị đứt quãng, chúng tôi phơi mình ra trong ánh sáng rực rỡ của cả thung lũng. Xa xa ở bờ bên kia, khi chúng tôi gần đến nơi, một người đàn ông leo bám vào các tảng đá, chậm rãi chăng lưới bắt cá. Trời đẹp lắm, lạy Chúa tôi!
Chúng tôi dừng lại, sửa soạn vui chơi trên một bãi cỏ trong một khoảnh đất thụt vào hình thành từ một rừng phong được phát luôn. Đấy là một bãi cỏ rộng, lớn, xén phẳng, trên đó hinh như có những chỗ để vui chơi bất tận.
Xa được tháo ra, ngựa dắt vào ấp Obriê. Chúng tôi bắt đầu tháo các đồ ăn uống mang theo, và dựng trên bãi cỏ những cái bàn gấp nhỏ mà bác tôi đã mang tới.
Lúc này, cần có những bạn tự nguyện ra đầu đường lớn bện cạnh để xem còn có ai tới nữa không và chỉ cho họ chỗ ở của chúng tôi. Tôi xung phong ngay. Môn cũng theo tôi, chúng tôi ra đóng chốt ở chỗ gặp nhau của các lối mòn và con đường cái từ Xablonie đến.
Trong lúc chờ đợi, chúng tôi đi loanh quanh, nói chuyện về quá khứ, cố giải trí cho vui. Vì Viơ Năngxây, còn một xe nữa đi đến, khách trên xe là những nông dân lạ mặt và một cô gái cao lớn đeo đây ruy-băng. Rồi hết hẳn. Ồ không, còn ba em nhỏ trên một chiếc xe do lừa kéo, những em bé ở mảnh vườn con Xablonie.
- Cảnh này hình như là cảnh ngày xưa – Môn nói – Chính chúng nó, tớ tin lắm, ngày ấy, đã nắm tay dẫn tớ đến bữa tiệc chiều, vào đêm đầu tiên cuộc lễ…
Nhưng, vừa đến đây, con lừa không muốn bước nữa, lũ trẻ xuống xe để thúc, kéo, đánh nó. Thất vọng, Môn cho rằng mình nhầm.
Tôi hỏi xem các em có gặp cụ Gale và tiểu thư con cụ đang đi đến đây không. Một em đáp là nó không để ý. Em khác: “Tôi nghĩ rằng cò, thưa ông. Chúng tôi chưa xa lắm”. Cuối cùng, lũ trẻ xuôi xuống bãi cỏ, một em cầm lấy dây cương kéo con lừa nhỏ, hai em đẩy xe. Chúng tôi tiếp tục chờ. Môn nhìn đăm đăm chỗ đườn ngoặt vào Xablonie, đau khổ ngóng trông cô gái mà anh từng dày công tìm kiếm. Một sự bực bội kỳ lạ và gần như hài hước, mà anh dồn vào Giacxmanh Đơlusơ, bùng dậy trong anh. Từ trên mặt cái ta-luy thấp mà chúng tôi leo lên để nhìn cho xa, chún tôi thấy một tốp khách đang đi ở bãi cỏ bên dưới; trong tốp đó, Đơlusơ cố làm ra vẻ vui mừng.
- Nhìn kìa, thắng ngốc đó ba hoa khiếp chưa – anh bảo tôi.
Tôi đáp:
- Thây kệ, anh ạ. Hắn chỉ làm những gì hắn có thể làm thôi. Rõ tội cho hắn.
Môn không buông vũ khí. Đằng kia, một ả thỏ cái hay một chú sóc vừa phóc ra khỏi một khoảng rừng rậm. Để giữ bình tĩnh, Giaxmanh vờ đuổi theo con vật.
- Chà, nó còn chạy kìa!... – Môn thốt lên, như thể hành động này của Giacxmanh là hành động dũng cảm nhất từ trước tới giờ mà anh chưa được thấy.
Lần này, tôi không nhịn được cười. Môn cũng vậy, nhưng anh ngừng ngay.
Mười lăm phút sau.
- Nếu nàng không tới?... – anh hỏi.
Tôi trả lời.
- Nhưng tiểu thư đã hứa. Bình tĩnh, anh!
Anh lại chờ mong. Sau rốt, không kham thêm được sự đợi chờ không chịu nổi, anh bảo:
- Nghe đây, tớ xuống kia với các bạn. Tớ không biết hiện giờ cái gì chống lại tớ. Nhưng cứ ở đây, tớ cảm thấy nàn sẽ vĩnh viễn không đến, không thể có chuyện lát nữa, ở cuối con đường này, nàng sẽ xuất hiện.
Rồi anh bỏ tôi lại một mình và xuôi xuống bãi cỏ. Để giết thời gian, tôi đạp loanh quanh trên con đường nhỏ. Ngay ở khúc ngoặt đầu tiên, tôi đã thấy Yvon de Gale, như một nữ kỵ sĩ, cưỡi trên lưng con ngựa trắng già, nom hết sức lanh lợi, tuồng như nàng phải ghìm ngựa, không thì cả người cả ngựa sẽ phi nước đại. Phía đầu con ngựa, cụ Gale bước lặng lẽ vô cùng mệt nhọc. Dọc đường, chắc chắn hai cha con đã thay nhau cưỡi ngựa.
Thấy tôi có một mình, tiểu thư mỉm cười, tất tưởi xuống ngựa, giao cương cho cha, đi về phía tôi cũng đang hối hả chạy đến đón.
- Tôi thật sung sướng – nàng nói – thấy anh đi một mình. Bởi tôi không muốn cho ai, ngoài anh, thấy con ngựa già Bêlidê, tôi cũng không muốn buộc nó bên những con ngựa khác. Trước hết, nó quá xấu, quá già. Sau nữa, tôi luôn sợ nó bị một con khác đá bị thương. Thế mà, tôi chỉ cưỡi có nó; khi nó chết, tôi sẽ thôi dùng ngựa.
Ở tiểu thư Gale cũng như ở Môn, tôi cảm thấy dưới cái vẻ linh lợi xinh đẹp, dưới cái duyên dáng chừng như hết sức đường hoàng là sự bồn chồn đến khắc khoải. Nàng nói nhanh hơn thường lệ. Dù hai má lúm đồng tiền của nàng ửng đỏ, nhưng quanh mắt và trên trán vẫn lộ ra những mảng tái nhợ tố cáo tất cả sự hồi hộp của nàng.
Chúng tôi thỏa thuận buộc con Bêlidê vào một cái cây trong một khu rừng nhỏ gần bãi cỏ. Vẫn lầm lì như mọi khi, ông già Gale lôi cái dây tròng cổ trong cái bị đựng lủng củng toàn đồ gang và tròng vào con vật, hình như hơi thấp. Tôi hứa sẽ gởi từ trại nhà đến cho cụ cỏ khô, lúa mạch, rơm…
Như ngày tiểu thư Gale đi đến bãi cỏ xưa, tôi tưởng tượng như thế, nàng đi xuôi xuống bờ hồ, ấy chính là lúc đầu tiên Môn thấy nàng.
Đua tay cho cha khoác, lấy bàn tay trái gạt vạt áo măng-tô dài rộng quấn lấy mình, tiểu thư tiến về phía các khách mời, vẻ vừa trẻ con vừa trang trọng. Tôi đi sau nàng. Những khách đang chơi hay tản mác ở xa đều đứng lên và tập trung lại chào đón nàng. Bỗng lặng cả đi, người nào cũng chăm chăm nhìn nàng đi tới.
Môn lẫn vào nhóm các chàng trai, và không có gì ngoài thân hình lêu đêu giúp người ta nhận ra anh, vả chăng, cũng có những chàng cao không kém gì anh. Anh không làm gì để thu hút chú ý của người khác, không một cử chỉ, không một bước vượt lên trên. Tôi thấy anh đứn gim trong bộ đồ xám và cũng như các chàng kia, đắm đuối nhìn cô tiểu thư vô cùng xinh đẹp đang đến gần. Cuối cùng, bằng một động tác ngượng ngùng và không cố ý, anh đưa một bàn tay lên cái đầu thó trọc, kiểu nông dân như để giấu nó đi, giữa những mái đầu bè bạn tóc dài chải chuốt cẩn thận.
Rồi cả nhóm quây lấy tiểu thư Gale. Người ta giới thiệu với tiểu thư những cô gái và chàng trai mà nàng chưa biết… Sắp đến lượt bạn tôi được giới thiệu, tôi cũng hồi hộp chẳng khác gì anh. Và tôi cũng đã sắp sẵn lời giới thiệu anh với nàng.
Nhưng tôi chưa kịp nói gì, tiểu thư đã tiến về phía anh một cách quả quyết và nghiêm trang đáng kinh ngạc:
- Tôi đã nhận ra Ôguyxtanh Môn – nàng nói.
Và nàng giơ tay ra cho anh.
 
0
CHƯƠNG VI
CUỘC VUI (Hết)
  Các khách khứa vừa tiến lại gần chào Yvon de Gale và hai người trẻ tuổi bị ngăn cách nhau. Một ngẫu nhiên đau khổ muốn rằng họ không hề được cùng ăn trưa bên một bàn ăn nhỏ. Song hình như Môn đã lấy lại được dũng khí và niềm tin. Vì đứng trơ trọi giữa Đơlusơ và cụ Gale, nhiều lần tôi thấy bạn tôi từ xa đưa tay làm hiệu thân thiết với mình.
Mãi khoảng cuối tối vui, khi các trò chơi, tắm, các cuộc trò chuyện, dạo chơi bằng thuyền ở cái đầm bên cạnh gần như được tổ chức khắp nơi, Môn mới lại được đối diện với cô gái. Trên những chiếc ghế tựa vốn được dùng ngồi ngoài vườn mà chúng tôi mang theo, Môn và tôi đang nói chuyện với Đơlusơ, thì tiểu thư Gale nhát quyết rời một nhóm thanh niên mà nàng tỏ ra ngán ngẩm và lại gấn chúng tôi. Nàng hỏi, giờ tôi vẫn nhớ, tại sao chúng tôi không lướt ca-nô trên hồ như các bạn khác.
- Chúng tôi đã bơi mấy vòng lúc chiều – tôi đáp – nhưng tẻ nhạt ghê và chúng tôi mau mệt.
- Thế sao các anh không ra sông? – nàng hỏi.
- Nước chảy quá mạnh, khéo bị cuốn mất.
- Phải có ca-nô chạy dầu hay tàu hơi nước như lần trước cơ – Môn nói.
- Chúng tôi không còn nữa – nàng gần như thầm thì – chúng tôi bán cả rồi.
Tất cả nín thinh ngượng ngập.
Giacxmanh tranh thủ báo rằng hắn đến với cụ Gale.
- Tôi biết muốn gặp cụ thì tìm ở đâu – hắn nói.
Cái kỳ lạ của tình cờ! Hai con người hoàn toàn khác nhau này đã vừa lòng nhau, và suốt từ sáng gần như không rời nhau. Lúc chập tối, cụ Gale lôi riêng tôi ra, báo cho hay rằng tôi có một người bạn đầy tư cách, hết sức tế nhị, và biết kính trọng người già. Thậm chí có lẽ cụ thố lộ với hắn bí mật sự tồn tại của con Bêlidê và nơi nó ẩn náu.
Chính tôi cũng muốn tách ra, nhưng cảm thấy chàng trai và cô gái đều quá lúng túng; quá hồi hộp trước mặt nhau, nên thề là không nên làm thế…
Bao ý tứ của Giacxmanh, bao thận trọng của tôi hầu như chẳng được việc gì. Môn và tiều thư Gale nói chuyện với nhau. Nhưng bất di bất dịch, với một sự ương ngược mà chắc chắn anh không nhận thức được, Môn luôn luôn quay về những kỳ ảo ngày xưa. Và lần nào cũng vậy, cô gái bị dày vò phải nhắc lại với anh rắng tất cả đã mât rồi: lâu đài cổ hết sức kỳ lạ và phức tạp đã bị triệt hạ, cái đầm lớn đã khô và bị lấp đầy, và tản mác hết rồi nhưng đứa trẻ ăn mặc xinh tươi rạng rỡ…
- Ôi! – Môn chỉ thất vọng kêu lên, làm như nỗi mất mát ấy đều là cớ để anh chống lại cô gái hay tôi.
Chúng tôi đi bên nhau. Tôi cố gắng nhưng hoài công trong việc xua tan nỗi buồn đang xâm chiếm cả ba người. Một lần nữa, Môn lại nhượng bộ ý nghĩ cố định của anh bằng một câu hỏi đột ngột. Anh muốn được biết về tất cả những gì anh được thấy ngày ấy: các cô gái nhỏ, người lái chiếc xe ngựa hòm cũ, những con ngựa pônây tham gia cuộc đua…
- Lũ pônây cũng bị bán rồi ư? Ở lâu đài không còn ngựa nữa sao?...
Tiểu thư đáp rằng không còn nữa. Nàng không đả động đến con Bêlidê.
Bây giờ anh gợi lại các đồ vật trong phòng nàng: các chân đèn, tấm gương lớn, chiếc đàn lure bị gẫy… Anh dò hỏi về mọi chuyện hết sức nhiệt tình, như thể anh muốn tự thuyết phục rằng chẳng có gì trong cuộc phiêu lưu đẹp đẽ của anh còn tồn tại, rằng cô gái không mang tới cho anh chút gì khả dĩ chứng tỏ rằng nàng và anh đang tỉnh chứ không mơ, khác nào người thợ lặn chỉ mang được dưới đáy nước lên mấy cọng rêu và vài hòn sỏi.
Tiểu thư Gale và tôi, chúng tôi không kìm được một nụ cười buồn bã, nàng quyết định giải thích cho anh hiểu:
- Anh sẽ không thấy lại tòa lâu đài kỳ diệu mà ba tôi và tôi đã sắp xếp cho em Phrăng đáng thương.
“Suốt đời, chúng tôi chỉ chuyên một việc là thực hiện tất thảy những gì em đòi hỏi. Em là một người kỳ cục vô cùng, mà cũng xiết bao hấp dẫn! Nhưng tất cả đã biến mất cùng em vào buổi tối hôn lễ của em bị hủy!
“Thế là chưa chi ba tôi đã phá sản, nào tôi và mẹ có hay biết đâu. Phrăng đã mang công mắc nợ với bạn bè. Biết em mất tích, họ liền đòi ba mẹ tôi. Gia đình tôi nghèo đi. Mẹ tôi chết, chỉ trong mấy ngày, chúng tôi mất hết bạn hữu.
“Ước gì Phrăng trở về, nếu em chưa chết! Ước gì em gặp được bầu bạn và vợ chưa cưới của em! Ước gì cuộc hôn lễ dở dang sẽ được tiếp tục và có thể tất cả lại tươi đẹp như xưa! Nhưng dĩ vãng có quay về chăng?
- Làm sao biết được? – Môn trả lời, và tư lự.
Anh không hỏi gì nữa.
Trên lớp cỏ thấp và đã hơi ngả vàng, ba chúng tôi êm bước: Môn có ngay bên tay trái anh cô gái mà anh tưởng muôn đời biến mất. Mỗi khi anh thốt ra một câu hỏi hóc hiểm và nặng nề như kể trên, nàng lại từ từ quay sang anh để đáp, bộ mặt kiều diễm lộ vẻ lo âu, và một lần, vừa nói, nàng vừa dịu dàng đặt một bàn tay lên cánh tay anh, cử chỉ đầy tin cậy và yếu đuối. Vì sao ở đây Môn cao kều lại như một người xa lạ, một kẻ không tìm thấy điều đang tìm kiếm, không quan tâm tới điều gì cả. hạnh phúc này, ba năm trước, có lẽ anh không chịu nổi, nếu không kinh hoảng hay phát điên. Vậy thì do đâu mà có sự trống rỗng, sự xa lánh, sự bất lực trước hạnh phúc đang ngự trị trong anh lúc này?
Chúng tôi đến gần khu rừng mà lúc sáng cụ Gale đã buộc con ngựa Bêlidê. Ánh chiều tà kéo dài bóng chúng tôi trên cỏ. Từ đầu đằng kia bãi cỏ, chúng tôi nghe vọng đến tiếng các cô gái nhỏ và những người đang vui chơi, vì xa nên chỉ còn là tiếng rì rầm đầy sung sướng, như tiếng một đàn ong. Chúng tôi đang lặng đi trong cái tĩnh mịch đáng yêu, thì nghe tiếng hát phía bên kia rừng, hướng trang trại Obiê bên bờ nước. Đấy là tiếng hát trẻ trung và sâu thẳm của một người đưa súc vật đi uống nước, nhạc của bài ca nhịp nhàng như khiêu vũ, nhưng người hát cứ ngân dài từng nốt một cách uể oải như một bản balat buồn thưở xa xưa:
Giầy anh màu đỏ…
Xa nhau mãi rồi…
Giầy anh màu đỏ…
Vĩnh biệt em ơi!...
Môn ngẩng đầu lắng nghe. Đó chẳng là gì khác ngoài một trong những bài ca mà những người nông dân chùng chình chưa về hát ở Lâu đài không tên, trong đêm cuối cùng của cuộc lễ khi tất cả sụp đổ rồi… Chỉ là một kỷ niệm – tang thương nhất – về những ngày tươi đẹp không bao giờ trở lại.
- Tiểu thư có nghe thấy không? – Môn thì thào – Ơi – tôi sẽ đến xem ai đấy.
Và anh rảo bước ngay vào cánh rừng nhỏ. Gần như tức khắc, tiếng hát im bặt; trong giây lát, chúng tôi còn nghe tiếng người kia huýt sáo miệng đuổi hô, rồi không còn gì nữa.
Tôi nhìn cô gái. Đăm chiêu và xúc động, nàng trân trân nhìn khoảng rừng thưa mà Môn vừa biến vào. Bao lần về sau, nàng vẫn nhìn với vẻ tư lự như thế, nẻo đường mà Môn sếu sẽ vĩnh viễn ra đi!
Tiểu thư quay sang tôi:
- Anh ấy không hạnh phúc – giọng nàng chứa chan đâu khổ.
Rồi nàng thêm:
- Có lẽ tôi không làm được gì để giúp anh ấy?...
Tôi ngập ngừng chưa trả lời, ví sợ Môn thoắt cái đã về đến trại và hiện đang quay lại qua rừng, chớp được cuộc trao đổi của chúng tôi. Tuy thế, tôi đang toan động viên, bảo nàng đừng sợ là nàng bạc đãi anh, rằng nhất định có chuyện gì thầm kín khiến anh thất vọng, răng không đời nào anh thổ lộ chuyện ấy với nàng cũng như với bất kỳ ai – thì đột nhiên, từ phía bên kia rừng vọng đến một tiếng kêu; sau đó chúng tôi nghe thấy tiếng giẫm đạp như tiếng chân ngựa, và tiếng vật lộn hổn hển… Tôi hiểu ngay có chuyện với Bêlidê rồi, và chạy về phía tiếng ồn. Tiểu thư theo tôi cách một quãng xa. Từ cuối bãi cỏ, hẳn người ta nhận thấy hành độn của chúng tôi, bởi vì lúc bắt đầu vào khoảnh rừng thưa, tôi nghe tiếng nhiều người vừa kêu vừa ào tới.
Vì dây tròng buộc vào thân cây quá thấp, con Bêlidê vướng một chân trước vào dây này. Nó không động đật được, cho đến lúc cụ Gale và Đơlusơ đi dạo qua nhìn thấy. Cuồng lên vì món lúa mạch người ta đem cho, nó điên khùng giãy dụa để thoát ra và chàng trai gắng gỡ cho nói; nhưng cả hai đếu quá vụng về, nên nó càng bị vướng hơn, và hai người có cơ bị xơi những cú đá. Chính lúc ấy, trên đường từ Ôhiê trở về, Môn bắt gặp. Ngứa mắt trước sự vụng về của hai con người, Môn ẩy mạnh, làm họ suýt ngã bắn vào bụi. thận trọng, nhưng chỉ trong nháy mắt, anh đã gỡ được con Bêlidê ra. Muộn quá rồi vì tai hại đã xảy ra, con ngựa bị trẹo chân, có chỗ nào đó bị gẫy, bởi vì nó cứ đứng ủ rũ, một cách tội nghiệp, cái yên xô về một bên lưng, một chân trước gập dưới bụng và run bần bật. Môn khom người sờ nắn nó, chẳng nói năng gì.
Khi anh ngẩng đầu lên, gần như mọi người đã tề tựu đông đủ, nhưng anh chẳng nhìn thấy ai. Anh đang giận dữ, mặt đỏ tía lên:
- Đời thuở nào lại cột ngựa thế này! – anh rít lên – Định để yên trên lưng nó suốt ngày sao? Và ai, ai dám đóng yên con ngựa già đến thế, cùng lắm chỉ kéo nỗi một chiếc xe không cà khổ thôi.
Đơlusơ muốn phân trần – tất cả trách nhiệm đổ lền đầu hắn.
- Im đi! Tại mày thì có! Tao đã thấy mày đã lôi dây tròng để gỡ chân ngựa.
Rồi anh lại khom người  và bắt đầu xoa bóp khuỷu gối cho con vật.
Vốn vẫn lặng thinh, cụ Gale cố thoát khỏi tình trạng khó xử của mình. Cụ lắp bắp:
- Cá sĩ quan thủy quân có thói quen… Con ngựa của tôi…
- Trời, nó là của bác? – Môn đã bớt giận, nhưng mặt vẫn đỏ gay; anh vừa hỏi vừa quay đầu về phía ông già.
Tôi tưởng anh sắp đổi giọng và xin lỗi. Anh đứng thở một lát. Và tôi thấy anh lội vẻ thích thú một cách cay độc và tuyệt vọng, niềm thích thú phá tan mãi mãi mọi chuyện, khi thốt ra một cách xấc xược:
- Nhưng cháu không khen bác đâu!
Ai đó gợi ý:
- Có lẽ phải có nước lạnh… Nhúng nó xuống chỗ lội qua sông…
Môn không đáp lời, mà nói:
- Trong khi nó còn đi được, phải dắt ngay con ngựa già này – không được chậm trễ, về chuồng và đừng có đưa nó ra nữa.
Tức thì, nhiều chàng trai xung phong xin đi. Nhưng tiểu thư Gale chỉ nồng nhiệt cảm ơn họ. Mặt đỏ bưng, tưởng sắp ta thành nước mắt, nàng chào từ giã mọi người, thậm chí cả Môn đang bối rối cũng không dám ngước nhìn nàng. Nàng cầm lấy cương ngựa, như ta trao tay cho người khác, đi đến gần nó hơn, chứ không phải để dắt nó đi… Giờ cuối hè, gió thổi ẩm xiết bao trên con đường về Xablonie, đến nỗi người ta tưởng đang là tháng năm, và lá cây trên các hàng rào run rẩy trong gió nam hây hẩy… Chúng tôi ngắm nàng rời đi, cánh tay thòi một nửa ra ngoài áo măng-tô, bàn tay bé bỏng nắm chặt dây cương to tường bằng đồng. Cha nàng nhọc nhằn bước đi bên cạnh…
Cuộc vui kết thúc thật là buồn! Dần dần, khách khứa thu dọn hòm xiểng và chăn nệm của mình, gập ghế lại, tháo bàn ra; từng chiếc xe chở đầy người và hành lý lần lượt chuyển bánh với những chiếc mũ giơ cao và những chiếc mù xoa vẫy vẫy. Sẽ là những người về sau rốt, chúng tôi nấn ná trên bãi vui với bác Phlorăngtanh cũng đang lặng lẽ nung nấu niềm luyến tiếc và nỗi thất vọng ê chề như chúng tôi.
Lòng xốn xang giận dỗi, chúng tôi cũng lên đường trong cỗ xe chở đầy nỗi phân vân do con ngựa hồng đẹp đẽ kéo. Bánh xe rít lên trong cát ở chỗ đường ngoặt. Môn và tôi, ngồi ở hàng ghế sau, và chả bao lâu, chúng tôi thấy biến đi trên con đường cái hẹp, lối có nẻo tắt mà con Bêlidê già nua và hai vị chủ của nó đã đi vào.
Nhưng kìa, bạn tôi – người tôi biết khó khóc nhất trên đời – bỗng quay sang tôi, bộ mặt biến dạng đi vì một cơn xúc động làm nước mắt trào ra không sao kìm nổi.
- bác vui lòng dừng xe chứ ạ? – anh đặt một bàn tay lên vai bác Phlorăngtanh và đề nghị - Xin bác đừng bận tâm về cháu. Cháu sẽ đi bộ về.
Một tay nắm lấy cái chắn bùn của xe, anh nhảy xuống đất. Trước sự sững sờ của chúng tôi, anh bắt đầu chạy ngược trở lại, cho đến con đường nhỏ mà chúng tôi vừa vượt qua, đường về Xablonie. Anh phải đến lâu đài bằng lối đi trồng thông hai bên, mà anh từng đặt chân ngày ấy, lối mà ở đó, với tư cách là một gã lang thang ẩn mình trong các cành cây thấp, anh từng được nghe cuộc chuyện trò bí ẩn của lũ trẻ xinh đẹp xa lạ…
Và tối hôm ấy, với những tiếng nức nở, anh cầu hôn tiểu thư Gale…
 
0
CHƯƠNG VII
NGÀY CƯỚI
  Ấy là một thứ năm đầu tháng hai, một chiều thứ năm lạnh giá, đẹp trời, gió lồng lộng thổi. Đã ba giờ rưỡi, rồi bốn giờ… Trên các hàng rào sát các làng, các đồ giặt trải phơi từ giữa trưa đã khô trong gió lùa. Trong nhà, lửa trong phòng ăn chiếu lên một loạt đồ chơi trẻ em sáng bóng. Chơi đùa đã mệt, đứa bé ngồi bên mẹ nó đòi kể cho nghe ngày cưới của mẹ nó.
Những ai không muốn hạnh phúc chỉ việc leo lên gác thương và chờ cho đến tối, nghe bao đợt gió rền rĩ như những tiếng khóc than người chết đuối; chỉ việc đi ra ngoài đường, và gió sẽ quật cái khăn họ đang quàng nơi cổ vào miệng họ như một cái hôn bất ngờ cháy bỏng khiến họ òa khóc. Còn ai yêu hạnh phúc, thì đã có, bền một con đường ngầu bùn, căn nhà của gia đình Xablonnie mà anh bạn cao kều Môn của tôi đã đi vào cùng Yvon de Gale, người đã trở thành vợ anh từ trưa.
Thời gian đính hôn kéo dài năm tháng. Thời gian ấy thật êm đềm, cuộc thoáng gặp đầu tiên sóng gió bao nhiêu thì thời gian đính ước thanh bình bấy nhiêu. Môn đến Xablonnie luôn luôn, khi bằng xe ngựa, khi bằng xe đạp. Mỗi tuần trên hai lần, ngồi khâu hay đọc sách bên khung cửa sổ rộng nhìn ra đầm và rừng thông, tiểu thư Gale đột ngột trông thấy lướt nhanh qua tấm ri-đô cái bóng cao lêu đêu của anh, bởi vì bao giờ anh cũng đến bằng cái lối ngoặt anh từng đi ngày trước. Nhưng đó chỉ là lời bóng gió – ngầm thôi – mà anh gợi nhớ về quá khứ. Dường như hạnh phúc đã ru ngủ được nỗi giày vò kỳ lạ trong anh.
Nhiều sự kiện nhỏ đáng được ghi lại trong năm tháng ấy. Tôi đã được bổ nhiệm làm giáo viên ở Xanh Bơnoađê Săng. Xanh Bơnoađê Săng không phải một làng. Đấy chỉ là tập hợp nhiều trang trại rải rác trên đồng, trường học thì hoàn toàn biệt lập trên một gò đất lớn bên đường. Tôi sống khá trơ trọi. Nhưng đi bộ qua đồng thì chỉ cần bốn mươi lăm phút là đến được Xablonie.
Đơlusơ hiện ở nhà chú hắn, một ông chủ thầu nghề nề ở Viơ Năngxây. Chẳng bao lâu nữa, hắn sẽ là ông chủ. Hắn thường đến thăm tôi. Do tiểu thư Gale van vỉ, giờ đây Môn tỏ ra rất đáng yêu với hắn.
Điều đó giải thích vì sao hắn và tôi còn đang lang thang vào bốn giờ chiều, khi khách dự cưới đã về cả.
Lễ cưới tiến hành thật lặng lẽ vào giữa trưa trong ngôi nhà thờ nhỏ cũ kỹ của gia đình Xablonnie mà người ta không phá đi. Nhà thờ nằm trên sườn quả đồi tiếp theo và bị rừng thông che khuất một nửa.
Sau một bữa trưa ăn vội, mẹ của Môn, ông Xơren và bà Mili, bác Phlorăngtanh và những khách khác đã leo lên xe. Chỉ còn lại Giacxmanh và tôi.
Chúng tôi tha thẩn ở bìa các cánh rừng sau nhà Xablonnie, trên bờ vùng đất hoang mênh mông, vị trí xứa của tòa lâu đài nay đã bị phá đổ. Không muốn thú nhận, mà cũng chả hiểu vì sao, cả hai chúng tôi đếu hết sức bồn chồn khắc khoải. Chúng tôi cố gắng gạt và quên đi bằng cách vừa đi vẩn vơ vừa chỉ cho nhau những hang thỏ cái, những vệt thỏi đực vừa vạch ra trên cát như những luống cày tí hon… một bẫy chim giăng sẵn… dấu vết của một tay săn trộm… nhưng chỉ vô ích… Dù đi hướng nào, sau cùng chúng tôi vẫn quay về bìa khu rừng thưa, từ đấy, có thể phát hiện ra căn nhà đóng chặt, lặng tờ…
Bên dưới cái cửa sổ lớn mở ra rừng thông, có một cái ban-công bằng gỗ bị cỏ dại nằm rạp trước gió mọc lấn cả lều. Một chút ánh sáng le lói như một ngọn lửa phản chiếu lung linh trên kính cửa sổ. Thỉnh thoảng, một bóng người lướt qua. Khắp xung quanh, trong vườn rau, trên các cánh đồng lân cận, trong ngôi nhà duy nhất còn lại trong khu nhà phụ là sự tĩnh mịch và cô liêu. Các tá điền đã đến lâu đài ăn mừng hạnh phúc của các vị chủ.
Chốc chốc, gió ẩm ướt mang nước mưa phả ướt mặt chúng tôi và đem đến chỗ chúng tôi tiếng đàn pi-a-nô chìm nghỉm trong im lặng. Đằng kia, trong ngôi nhà đóng cửa, có ai đó đang chơi đàn. Tôi dừng chân và lặng lẽ lắng nghe từ xa vọng tới, thoạt đầu đó như một tiếng người run rẩy, không dám ca lên niềm vui của mình… Đó như tiếng cười của một cô bé đã lạc mất hết đồ chơi trong phòng mình bày ra trước mặt cậu bạn. tôi cũng nghĩ đến niềm vui pha chút ngượng nghịu của một phụ nữ đã mặc chiếc áo dài đẹp đem khoe mọi người, mà không hiểu mình có khóc lên không… Bản nhạc mà tôi không biết nay cũng là một câu kinh, một lời thỉnh cầu được hưởng niềm hạnh phúc không quá tàn nhẫn, một lời chúc và như một sự quỳ gối trước hạnh phúc…
Tôi tự nhủ: “Rốt cuộc, họ được hạnh phúc rồi. Môn đang ở đấy, bên tiểu thư…”
Biết như thế, chắc chắn như thế, vậy là đã đủ cho một đứa trẻ trung hậu như tôi mãn nguyện.
Đúng lúc đấy, đang hoàn toàn chìm đắm trong suy tư, mặt ướt gió đồng và sương biển, tôi cảm thấy có người nắm lấy vai tôi.
- Nghe kìa! – Giacxmanh thì thào.
Tôi nhìn hắn. Hắn ra hiệu không được động đậy, và chính hắn, đầu nghiêng đi, lông mày nhíu lại, hắn gióng tai nghe ngóng….
 
0
CHƯƠNG VIII
TIẾNG GỌI CỦA PHRĂNG
  “Hú… ù… ú”
Lần này, tôi nghe thấy. Đấy là một tín hiệu, một tiếng hú gồm hai âm, cao và trầm, mà ngày xưa tôi từng nghe… A, tôi nhớ lại rồi: đó là tiếng hú của cháng Bô-hê-miêng cao lớn khi chàng ta gọi anh bạn trẻ tuổi của chàng ở hàng rào song sắt của trường. Ấy là tiếng hú mà Phrăng đã khiến chúng tôi thề rằng hễ nghe thấy là chúng tôi sẽ đến ngay, dù là đi đâu và bất cứ lúc nào. Nhưng chàng yêu cầu gì, ở đây, hôm nay?
- Tiếng hú từ rừng thông bên trái – tôi khẽ bảo – Nhất định là một người săn trộm.
Giacxmanh lắc đầu:
- Cậu thừa hiểu là không phải.
Rồi hạ giọng hơn, hắn tiếp:
- Họ luẩn quẩn ở đây, cả hai, ngay từ sáng.
“Tớ đã bắt gặp Ganasơ lúc 11 giờ, y đang rình trong một cánh đồng sát nhà thờ nhỏ. Thấy tớ, y chuồn ngay. Họ từ xa đến, có lẽ bằng xe đạp, người lấm tấm đầy bùn cho đến giữa lưng…
- Nhưng họ tìm gì?
- Tớ chịu. Nhưng nhất định phải tống cổ họ đi, không được để họ lởn vởn quanh đây. Nếu không, những trò điên rồ cuồng dại lại bắt đầu.
Tôi cũng nghĩ thế, nhưng không nói ra.
Tôi bảo:
- Hay nhất là tìm gặp xem họ muốn gì và nói cho ta nghe ra lẽ phải…
Lặng lẽ, chậm rãi, chúng tôi cúi rạp người, tiến qua khu rừng thưa, cho đến tận cánh rừng thông bạt ngàn, từ đáy vẫn vọng đến, sau những quãng dừng đều đặn, tiếng hú kéo dài, tự nó chẳng buồn hơn các chuyện khác, nhưng cả hai chúng tôi đều cảm thấy là điềm gở.
Ở phần nầy của rừng thông, nơi nhìn đâu giữa các cách thông cách nhau đều đặn cũng thấy hun hút, thật khó chộp được một người, và cũng khó tiến lên mà không bị phát hiện. Chúng tôi không liều mạng thế. Tôi “chốt” ở một góc rừng. Giacxmanh đến chốt ở góc đối diện, làm sao có thể từ bên ngoài kiểm soát được hai cạnh của tam giác, và không để các chàng Bô-hê-miêng chạy mất mà mình không kịp kêu để họ nghe ra. Cả hai yên vị rồi, tôi bắt đầu đóng vai lính trinh sát yêu hòa bình và cất tiếng gọi:
- Phrăng!...
- … Phrăng! Đừng sợ gì hết. Tôi, Phrăngxoa đây. Tôi muốn nói với anh!...
Môt phút im lặn, tôi toan kêu nữa thì từ giữa rừng thông mà tôi không nhìn thấy thật rõ vọng đền tiếng đáp:
- Ở đâu cứ nguyên đấy. Anh ấy sắp đến gặp.
Dần dà, giữa những cây thông sừng sững cao vút hình như càng xa càng sít vào nhau, tôi phân biệt bóng chàng trai đang lại gần. Chàng ăn mặc lôi thôi và bê bết bùn. Mấy cái cạp (cạp quần để đi xe đạp) vẫn nẹp lấy hai ống quần, một cái mũ cát-két cũ có dải thắt thít lấy cái đầu tóc tai bờm xờm; rồi tôi thấy mặt chàng hốc hác…
Dễ chàng đã khóc.
Chàng lại gần tôi, và quả quyết:
- Anh muốn gì? – chàng hỏi xấc láo.
- Còn anh, Phrăng, anh làm gì ở đây? Sao anh đến quấy nhiễu những con người hạnh phúc? Anh yêu cầu những gì? Hãy nói ra!
Bị hỏi thẳng như vậy, chàng hơi đỏ mặt, chỉ ấp úng được một câu:
- Tôi đau khổ, vâng, tôi đau khổ.
Rồi, gục đầu vào cánh tay, dựa vào một thân cây, chàng bắt đầu nức nở một cách cay đắng. Chúng tôi đã đi vài bước trong rừng thông. Nơi này tĩnh mịch lạ kỳ. Ngay cả tiếng gió vi vu mà các ngọn thông cao ngoài bìa rừng giữ được cũng không có. Giữa các thân cây thông cách quãng nhau đều đặn cứ vang lên, rồi lại tắt đi tiếng nức nở nghẹn ngào của chàng trai. Tôi chờ chàng dịu đi, rồi nắm lấy vai chàng:
- Phrăng, anh đi với tôi. Tôi dẫn anh đến với họ. Họ sẽ đón mừng anh như đón một đứa bé mất tích đã tìm lại được và mọi chuyện sẽ ổn.
Nhưng chàng không muốn nghe gì hết. Vừa nghẹn ngào một cách đau khổ, chàng vừa nói bằng một giọng bướng bỉnh và giận dữ:
- Thế là Môn không đoái hoài đến tôi nữa sao? Tại sao khi tôi gọi, anh ấy không đáp lại? Vì sao anh ấy không giữ lời hứa?
- Kìa Phrăng – tọi đáp – thời thơ mộng với những trò trẻ con qua rồi. Không nên đem những cái ngớn ngẩn làm vẩn đục hạnh phúc của những người mà anh yêu quý. Của chị anh và Ôguyxtang Môn.
- Nhưng chỉ có anh ấy mới cứu được tôi, anh rõ rồi đấy. Chỉ có anh ấy mới có khả năng tìm thấy dấu vết tôi đang tìm. Mới đó mà đã ba năm, Ganasơ và tôi lang thang khắp nước Pháp ma không kết quả. Tôi chỉ còn tin vào bạn. Vậy mà anh ấy không đáp lời tôi nữa. Anh ấy đã tìm lại được hạnh phúc của mình. Vì sao, bây giờ, anh ấy không ghĩ đến tôi? Anh ấy phải lên đường. Chị Yvon sẽ để anh ấy đi… Chưa bao giờ chị ấy từ chối tôi điều gì.
Chàng phô ra trước tôi bộ mặt lấm lem bụi đất, trên đó nước mắt chảy ngoằn ngoèo như những luống cày li ti bẩn thỉu, đó là bộ mặt phờ phạc của một thằng nhãi già câng. Đôi mắt chàng đầy quầng đỏ, cằm tua tủa râu vì lâu chưa cạo hay cạo qua quýt, tóc tai quá dài chớm xuống cái cổ nhờn ghét. Hai tay thọc túi, chàng rét run cầm cập. Trong bộ quần áo tả tơi, chàng không còn là đứa trẻ ngạo nghễ như vua chúa mấy năm xưa. Hết sức chân thật – điều này thì chắc chắn – chàng còn trẻ con hơn bao giờ hết; thích làm oai ngông nghênh, nhưng ỉu xìu ngay tức khắc. thật khó chịu đựng cái tính khí trẻ con này ở một chàng trai phảng phất nét già trước tuổi… Vừa mới đó, chàng tràn đầy bao sức xuân kiêu hãnh mà trò ngông nào trên đời cũng “xong”. Giờ đây, mới đầu người ta không khỏi ái ngại cho thất bại của chàng trên đường đời. sau đó, không thể chê trách chàng về cái vai một nhân vật lãng mạn trẻ tuổi mà tôi thấy chang khư khư cố giữ. Cuối cùng, tôi không sao không nghĩ rằng chàng Phrăng đẹp trai của chúng tôi, người có một mối tình cao đẹp, đã phải bắt đầu trộm cắp để sống, y hệt bạn đồng hành Ganasơ của chàngf. Bao kiêu ngạo đã dẫn đến chỗ đó!
- Nếu tôi hứa với anh – tôi lên tiếng sau khi suy nghĩ kỹ - rằng vài hôm nữa, Môn sẽ “ra trận” vì anh, chỉ vì anh thì sao?
- Anh ấy sẽ chiến thắng, phải không nào? Anh tin thế chứ? – răng chàng va lập cập.
- Tôi cũng nghĩ thế. Anh ấy có thể làm được mọi việc.
- Tôi làm sao để biết? Ai sẽ báo cho tôi?
- Đúng vào giờ này sang năm, anh về đây: anh sẽ gặp cô gái mà anh yêu.
Nói như vậy, tôi nghĩ mình sẽ không làm phiền đôi vợ chồng mới cưới, ngược lại, sẽ dò hỏi bà dì Moanen và chính tôi sẽ khẩn trương tìm ra cô gái.
Chàn lại lộ vẻ thất vọng khi buộc phải nói:
- vâng, chúng ta sẽ cùng đi!
Anh đam đăm ngắm, dĩ nhiên với trái tim nhói đau, cánh rưng bao quanh àm anh sắp phải xa một lần nữa.
- ba ngày nữa, chúng tôi sẽ đi trên những nẻo đường nước Đức – anh nói – Chúng tôi để xe lại cách đây khá xa. Từ ba mươi tiếng đồng hồ rồi, chúng tôi đi bộ không nghỉ. Chúng tôi muốn về kịp trước lễ cưới để đưa Môn đi, cùng tìm người yêu của tôi, như anh ấy từng đi tìm lâu đài Xablonnie…
Rồi, lại nổi cơn con nít:
- Hãy gọi thằng Đơlusơ đến đây – chàng vừa bỏ đi vừa bảo – tôi mà gặp nó thì sẽ kinh khủng đấy.
Cái bóng xám của chàng mất dần trong rừng thông.
Tôi gọi Giacamanh và chúng tôi tiếp tục cuộc canh gác của mình. Nhưng gần như ngay lúc đó, ở đằng kia, chúng tôi nhìn thấy Môn đóng cửa ra vào nhà anh lại, và chúng tôi sững người trước dáng đi rất lạ của anh.
 
0
CHƯƠNG IX
NHỮNG NGƯỜI HẠNH PHÚC
  Về sau, qua những chi tiết cụ thể, tôi được biết mọi chuyện xảy ra ở đấy…
Ngay đầu buổi chiều, Môn và vợ anh, mà giờ đây tôi vẫn gọi là tiểu thư Gale, được hoàn toán riêng biệt với nhau trong phòng khách nhà Xablonnie. Khách khứa về hết rồi, cụ Gale đã mở cửa ra vào làm cho trong một giây gió lộng thốc vào và rền rĩ; rồi cụ sang Viơ Năngxây ; đến giờ ăn chiều cụ mới về, khóa tất cả các cửa ra vào và ra lệnh cho nhà tá điền. Bây giờ, không tiếng động nào bên ngoài lọt được vào chỗ hai người trẻ tuổi. Chỉ một cành hồng không lá từ phía đầm chạm vào cửa kính. Như hai du khách trên con tàu trôi giạt phiêu diêu, họ là hai người tình ẩn khuất với hạnh phúc của mình giữa bốn bề gió đông thổi lộng.
- Khéo lửa tắt mất – tiểu thư Gale kêu và toan lấy một cây củi trong hòm củi.
Nhưng Môn nhanh hơn và tự tay đặt củi vào lò.
Rồi anh nắm lấy bàn tay nàng chưa kịp rụt về, và hai người đứng sững đó trước mặt nhau, lặng đi như có một tin trọng đại chưa thể thốt ra.
Giò ào ào như một dòng sông tràn bờ. Thỉnh thoảng một giọt nước vach chéo trên cửa kính như mưa phả vào cửa sổ tàu hỏa.
Đến đây, cô gái chuồi ra. Cô mở cửa hành lang và biến mất với một nụ cười bí hiểm. Môn hóa trơ trọi giây lát tron ánh sáng mờ ảo… Tiếng tích tắc của một đồng hồ quả lắc nhỏ gợi nhớ phòng ăn ở Xanhtơ-Agat… Anh tự nhủ: “Đây chính là ngôi nhà ta hằng tìm kiếm, cái hành lang ngày xưa tràn đầy tiếng thí thào và tiếng đi lại kỳ ảo…”
Đúng lúc ấy, hẳn anh nghe thấy – tiểu thư Gale về sau bảo cũng nghe thấy – tiếng hú đầu tiên của Phrăng gần nhà họ.
Lúc này, người vợ trẻ đem khoe với anh những kỷ vật tuyệt vời của nàng: đồ chơi thưở bé, ảnh chụp lúc còn thơ; nàng trong trang phục nữ chủ quán, nàng và Phrăng trên đầu gối mẹ, trông nàng xinh quá… rồi những chiếc còn lại trong bao áo dài trang nhã thời xưa của nàng. “Còn đây là cái em mặc, anh nhìn này, vào khoảng thời gian anh sắp biết em, đúng lúc anh đi học ở Xanhtơ-Agat, em tin thế”.
… Môn còn tâm trí đâu mà nhìn mà nghe nữa.
Tuy nhiên trong một phút, anh có vẻ sực nhớ tới niềm hạnh phúc phi thường, không tưởng tượng nổi nữa của mình.
- Bây giờ em ở đấy –giọng anh khản đặc, tuồng như kỷ niệm xưa làm anh choáng váng – em đi sát bên bàn, và đặt tay lên bàn trong giây lát…
Và đây nữa.
- Khi còn trẻ, mẹ anh cũng khom người nhẹ nhõm như thế để nói với anh… và khi mẹ ngồi vào pi-a-nô thì…
Tiểu thư Gale liền đề nghị được chơi đàn khi trời còn chưa tối. Nhưng góc này phòng khách đã tối rồi, họ phải thắp đèn nến lên. Chao đèn màu hồng, cho nên mặt nàng càng đỏ lựng, nhất là ở hai lúm đồng tiền, đó là dấu hiệu của một nỗi lo âu lớn.
Ở bìa rừng, chúng tôi bắt đầu nghe thấy tiếng bài ca run rẩy mà gió đưa đến, và chỉ một lát sau đã bị cắt ngang bởi tiếng hú của hai chàng điên sắp đến gần chúng tôi trong rừng thông.
Môn đứng nghe cô gái đàn hồi lâu, nhưng vẫn đăm đăm nhìn qua cửa sổ. Bao lần anh quay nhìn khuôn mặt dịu hiền chứa chan, vẻ yếu đuối và đau khổ. Rồi anh đến gần Yvon, và hết sức dịu dàng, anh đặt đôi bàn tay lên vai nàng… nàng cảm thấy ở gần cổ cái vuốt ve trìu mến mà đáng lẽ nàng phải biết đáp lại.
-  Tối rồi – sau rốt anh bảo – Anh đi đóng cửa, nhưng em cứ chơi tiếp đi…
Cái gì trào lên lúc ấy trong con tim bí ẩn và thích cô độc của anh? Tôi luôn tự hỏi như thế và chỉ biết được khi đã quá muộn. Nỗi ân hận chưa từng hay biết? Niềm tiếc thương không lý giải nổi? Sự sợ hãi thấy sắp tươi nở ngay đây, giữa hai bàn tay mình, niềm hạnh phúc kỳ diệu mà anh xiết chặt biết bao? Và từ đó, mưu toan khủng khiếp quật ngay xuống đất một cách vô phương cứu chữa cái kỳ quan mà anh đã chinh phục được?
Anh lù lừ đi ra, lặng lẽ, sau khi chăm chú nhìn vợ một lần nữa. Từ ven rừng, chúng tôi thấy anh lưỡng lự, đóng một cửa lại, rồi vừa đóng tiếp cái nữa vừa mơ hồ nhìn về phía chúng tôi, rồi đột nhiên chạy thục mạng về hướng này. Anh đến bên trong khi chúng tôi chưa kịp lánh đi nữa. Anh nhận ra chúng tôi, khi sắp bước qua một hàng rào thấp vừa dựng lên bao quanh một bãi cỏ. Anh lùi lại một quãng. Cho đến nay, tôi vẫn nhớ điệu bộ dữ tợn, và vẻ mặt như một con thú bị dồn đuổi của anh… Anh vờ tiến lên để qua rào chỗ bên dòng suối.
Tôi gọi anh:
- Môn!... Ôguyxtanh!...
Nhưng anh chẳng thèm quay đầu. Tôi liền hiểu rằng chỉ có một điều, điều đó, may ra mới giữ chân anh được:
- Phrăng ở kia! – tôi hét – Dừng lại!
Sau cùng, anh dừng bước. Thở hổn hển và chẳng để tôi kịp suy nghĩ:
- Cậu ấy ở đây! – anh nói – Cậu ấy đòi gì?
- Anh ấy đau khổ lắm – tôi đáp – Anh ấy đến nhờ anh tìm cái mà anh ấy đã mất.
- Trời ơi! – anh cúi đầu than – Tớ đoán chẳng sai. Tớ đã cố bóp chuyện đi mà không được… Nhưng cậu ấy đâu? Nói nhanh lên nào!
Tôi bảo Phrăng vừa bỏ đi và chắn chắn hiện giờ chưa thể gặp lại. Nghe thế, anh lộ vẻ vô cùng thất vọng và chán chường. Anh bỗng dùng dằng, đi hai ba bước, rồi đứng phắt. Anh đang hoang mang và đau khổ đến tột độ. Tôi kể cho anh nghe điều mà tôi đã nhân danh anh hứa với chàng trai. Tôi cũng nói lại rằng chúng tôi sẽ gặp lại chàng ở đúng chỗ này sau một năm nữa.\
Vốn điềm đạm, lúc này Môn bỗng nóng nảy quá chừng:
- Trời, sao lại làm thế! Mà phải, đúng là tớ có thể cứu cậu ta. Phải cứu ngay! Tớ phải gặp được để xin lỗi cậu ta, phải sữa chữa mọi lỗi lầm… Nếu không tớ không còn mặt mũi nào về đằng ấy nữa…
Và anh ngoái nhìn về phía nhà Xablonnie.
- Chỉ vì một lời hứa trẻ con vớ vẩn – tôi lên tiếng – anh đang phá đám hạnh phúc của mình đấy.
- Chao ôi, chỉ là lời hứa ấy thôi – anh than.
Tôi hiểu còn những cái khác ràng buộc hai chàng trai, nhưng không đoán được đó là gì.
- Dù sao, có chạy theo cũng không kịp nữa rồi. Bây giờ Phrăng đã đang trên đường sang Đức.
Anh sắp trả lời thì một bộ mặt hớt hải, tóc tai rối tung hiện ra giữa chúng tôi. Đó là tiểu thư gale. Có lẽ nàng đã chạy, vì mặt đầm đìa mồ hôi. Chắc nàng đã ngã và bị xây xát, vì trán bị toạc da bên trên mắt phải và trên tóc có máu đã đông lại.
Ở các khu phố nghèo của Paris, tôi thường bất ngờ chứng kiến cảnh loạn đã của một gia đình tưởng chừng hạnh phúc, lương thiện và nổ ra bất chợt vào bất cứ lúc nào, giờ ngồi vào bàn ăn, chủ nhật trước khi cả nhà đi chơi, thời gian chúc mừng cuộc vui của cậu con cưng… Lúc nóng lên, người ta quên ráo, phá hết. Trong cơn thịnh nộ, cả chồng lẫn vợ chỉ là hai con quỷ đáng thương hại, con cái sẽ khóc ré lên, nhào vào ơm riết và hôn họ như điên như dại, van xin họ đừng đánh chửu nhau nữa.
Khi nàng đến bên Môn, tiểu thư gale khiến tôi nhớ đến những đứa trẻ cuống cuồng kia. Tôi tưởng rằng tất cả bạn bè của nàng, cả làng và toán thế giới đã chăm chú theo dõi nàng, nhưng nàng vẫn chạy, vẫn ngã như thế, tóc tai rũ rượi, mồm khóc mếu, người vấy bẩn.
Nhưng khi hiểu rằng Môn vẫn còn đây, rằng ít ra thì cũng lần này, anh không bỏ rơi nàng, tiểu thư luồn cánh tay vào dưới tay anh, rồi vừa khóc vừa bật cười như một em bé. Cả hai đều chẳng nói năn gì. Nhưng, nàng vừa rút mùi xoa ra, Môn liền dịu dàng cầm lấy, vừa cẩn thận vừa chăm chút, anh lau vết máu trên tóc nàng.
- Giờ thì về thôi – anh bảo.
Tôi để cho hai người với nhau trong gió chiều đông mê hồn, thổi lộng quất rát mặt, anh cầm tay dắt nàng mỗi khi đường khó đi, tiểu thư thì mỉm cười và hối hả bước, đi về căn phòng vừa bị bỏ rơi chốc lát.
 
0
CHƯƠNG X
“NHÀ CỦA PHRĂNG “
  Không yên tâm, vẫn vị giày vò bởi một nỗi lo âu đến khắc khoải mà kết cục đáng phấn khởi của sự việc đêm qua không đủ sức xua tan, tôi phải tự giam trong trường suốt ngày hôm sau. Ngay sau giờ “nghiên cứu” tiếp theo lớp buổi chiều, chẳng bao lâu, tôi lên đường đến Xablonnie. Trời tối thì tôi đi vào lối trồng thông hai bên dẫn đến ngôi nhà. Cửa giả đều đóng cả. Tôi sợ bị coi là bất nhã, nếu xuất đầu lộ diện muộn thế này sau ngày cưới. Tôi loanh quanh rất lâu ở ven vườn và trên những mảnh đất lân cận, luôn luôn hy vọng thấy có người ra khỏi ngôi nhà đóng chặt… Nhưng tôi thất vọng. Trong nhà tá điền bên cạnh cũng chẳng có gì động tĩnh. Tôi đành ra về, bị ám ảnh bởi những tưởng tượng ảm đạm nhất.
Ngày hôm sau, thứ bảy, vẫn bồn chồn như vậy. Chiều, tôi hối hả cầm lấy cái áo mưa không tay, cái gậy đi đường, một miếng bánh mỳ để ăn đường, và tôi đến , khi đêm đã xuống, thấy mọi nơi ở Xtablonnie đều cửa đóng then cài như hôm qua… Ở tầng hai có chút ánh sáng, nhưng khắp nơi không một tiếng ồn, không một vận động… Tuy nhiên, từ sân nhà tá điền, lần này tôi thấy cửa nhà ấy mở, và lửa cháy ở gian bếp rộng; và tôi nghe những tiếng nói và tiếng chân bước quen thuộc vào giờ ăn tối. Dù chưa báo cho tôi biết gì, điều ấy cũng khiến tôi an tâm. Tôi không thể hỏi hay nói gì với những người này. Rồi tôi quay lại để ý nhìn phía nhà Môn, mong thấy cửa nhà anh mở ra và cái bóng cao lêu đêu của anh xuất hiện. Chỉ uống công!
Mãi chiều chủ nhật, tôi mới nhất quyết gõ cửa nhà Xablonnie. Trong khi leo những quả đồi trọc nho nhỏ, tôi nghe xa xa tiếng chuông vãn kinh chiều đông. Tôi cảm thấy cô đơn và đau khổ. Một linh cảm u buồn xâm chiếm lòng tôi, nhưng tôi không rõ nó là gì. Và tôi chỉ phàn nàn ngạc nhiên khi, sau tiếng chuông gọi cửa của tôi, mình cụ Gale xuất hiện và se sẽ bảo tôi: Yvon de Gale đang sốt nặng, đang nằm liệt giường; Môn đã đi xa từ sáng thứ sáu, chưa biết bao giờ mới về…
Quá lúng túng và buồn phiền, cụ già quên mời tôi vào nhà, tôi bèn cáo biệt. Cửa khép lại rồi, tôi đứng một lúc trên bậc tam cấp, lòng se lại, bối rối lạ thường, đưa mắt nhìn trân trân, mà không hiểu vì sao, một cành hoàng đậu khô gió đu đưa buồn rầu trong nắng.
Cuối cùng, nỗi ân hận thầm kín mà Môn mang trong lòng đã lên đến tột đỉnh như vậy đấy. Cuối cùng, người bạn lớn của tôi phải né tránh niềm hạnh phúc mà anh tìm kiếm xiết bao bền bỉ…
Thứ năm và chủ nhật nào, tôi cũng đến hỏi thăm tình hình Yvon de Gale, cho đến một chiều, khỏi bệnh và đang dưỡng sức, tiểu thư nhờ mời tôi vào chơi.
Tôi thấy nàng ngồi bên lửa, trong căn phòng khách mà cái cửa sổ rộng và thấp mở ra đồng và rừng thông. Nàng không hề xanh xao như tôi tưởng, mà ngược lại, cứ phừng phừng với những đám đỏ lựng dưới hai mắt, vẻ vô cùng kích động. Dù còn rất yếu, nàng vẫn trang phục như để đi ra ngoài. Nàng nói ít, nhưng câu nào cũng hết sức sôi nổi, tuồng như nàng tự thuyết phục hạnh phúc chưa tắt đâu… Tôi không nhớ những điều chúng tôi trao đổi với nhau. Tôi chỉ nhớ rằng tôi đã đánh bạo hỏi khi nào Môn trở về.
- Tôi không biết bao giờ anh ấy về đâu – tiểu thư đáp sôi nổi.
Mắt nàng có vẻ van xin, và tôi tự kìm mình, không hỏi gì thêm.
Tôi thường đến thăm nàng. Tôi thường trò chuyện với nàng bên lò sưởi trong căn phòng khách thấp mà hễ đêm đến, thường tối nhanh hơn các phòng khác. Không bao giờ nàng đả động đến bản thân và nỗi đau âm ỉ của nàng. Nhưng nàng luôn sốt sắng gợi tôi kể tỉ mỉ cho nàng nghe về cuộc đời học trò của chúng tôi ở Xanhtơ-Agat .
Chuyện về những phiền toái của cánh học sinh lớn chúng tôi, nàng nghe dịu dàng, trang trọng, với niềm thích thú gần như của tình mẫu tử. Nàng không tỏ ra mảy may sửng sốt, ngay cả trước những trò trẻ con táo tợn và nguy hiểm nhất cua chúng tôi. Sự trìu mến đầy chăm chút mà tiểu thư thừa hưởng của cha không hề bị những cuộc phiêu lưu đáng phàn nàn của em trai làm cho suy giảm. Niềm tiếc nuối duy nhất mà quá khứ gợi lên cho nàng, đó la nàng đã không phải người bạn tâm tình đủ tin cậy cho em, bởi vì, vào thời điểm thất bại ê chề, cậu em không dám thổ lộ gì với nàng như với bất kỳ ai, tự cho là mất hết không sao cứu vãn. Hễ nhớ lại, tôi hiểu rằng đấy là một bổn phận nặng nề mà cô gái đã đảm đương – bổn phận nguy hiểm, trợ giúp một cái đầu ảo tưởng đến điên loạn như em trai nàng; bổn phận gần như quá sức, khi cậu phải liên kết với trái tim phiêu lưu là anh bạn Môn cao kều của tôi.
Một lần nàng cho tôi bằng chứng xúc động nhất và có thể nói gần như bí ẩn của niềm tin mà nàng lưu giữ trong những mơ mộng tuổi thơ của em nàng, của sự chăm lo ít ra cũng bảo tồn cho cậu những gì còn sót lại của của những mộng mơ mà cậu sống cho đến tuổi 20 kia.
Đấy là một chiều tháng tư ảm đạm như cuối thu. Gần một tháng rồi, chúng tôi sống trong một mùa xuân đến sớm thật dịu ngọt; người thiếu phụ trẻ đã lấy lại những cuộc dạo chơi với cụ Gale. Nhưng hôm ấy, cụ già thấy mệt, còn tôi thì rỗi, nàng bảo tôi cùng đi mặc dù thời tiết đe dọa. Rời Xablonnie được hơn nửa dặm, chúng tôi đag đi dọc cái đầm thì giông, mưa và mưa đá ập đến. Vào tránh cơn mưa dưới mái nhà kho, bị gió quất lạnh buốt, chúng tôi đứng bên nhau, tư lự, trước quang cảnh tối sẫm lại. Trong cái áo dài nhẹ nhõm nhưng nghiêm trang, nàng tái nhợt cả người và lộ vẻ vô cùng khổ sở.
- Phải về thôi – nàng nói – Ta đi lâu quá rồi. Liệu có gì xảy ra không?
Nhưng khi cuối cùng chúng tôi có thể rời chỗ trú, trước sự ngạc nhiên của tôi, đáng lẽ về Xablonnie, tiểu thư đi tiếp và yêu cầu tôi đi cùng. Đi khá lâu, chúng tôi đến trước một ngôi nhà mà tôi không biết, chơ vơ ven con đường lún chắc dẫn đến Prêvơrănggiơ. Ấy là một ngôi nhà nhỏ thường thường bậc trung, ốp đá đen, không có gì khác biệt với phong cách ở địa phương ngoài cái hẻo lánh và đơn độc của nó.
Thấy Yvon de Gale, ta dễ tưởng ngôi nhà này là của chúng tôi và bị chúng tôi bỏ rơi suốt một cuộc du lịch dài. Nàng cúi xuống mở cửa một hàng rào lưới thấp mắt cáo và, vẻ lo lắng, hối hả xem xét chốn cô liêu. Một cái sân lớn đầy cỏ dại, mà chắc chắn trẻ con đã đến chơi trong những buổi tối dài dằng dặc và chậm chạp cuối đông, bị gió mưa tàn phá. Một cái vòng dầm mình trong một vũng nước. Trong mấy mảnh vườn nhỏ mà lũ trẻ đã gieo giống đậu và các loài hoa, mưa lớn chỉ còn để lại những vệt sỏi trắng. Cuối cùng, chúng tôi phát hiện ra một đàn gà con bị mưa rào đập chết, tấp vào một khung cửa gỉ. Gần như cả đàn đã chết dưới đôi cánh cứng đơ và bộ lông xác xơ của gà mẹ.
Trước cảnh thương tâm ấy, thiếu phụ kêu lên một tiếng nghẹn ngào. Nàn gkhom người, và không để ý gì đến bùn, nước, chọn ra những chú gà còn sống, bắt đặt vào vạt áo măng tô của mình. Rồi chúng tôi vào căn nhà mà nàng có chìa khóa. Bốn cửa ra vào mở ra một hành lang hẹp có gió lùa vào làm phát ra những tiếng kêu rú rít. Yvon de Gale mở cửa đầu tiên bên phải và đưa tôi vào một căn phòng tối, trong đó, một lát sau, tôi nhận rõ một tấm gương to và một cái giường nhỏ phủ một tấm mền lụa đỏ theo kiêu nông thôn. Còn tiểu thư, sau khi tìm kiếm trong phòng còn lại, nàng trở ra, mang theo lũ gà ốm dở trong một cái giỏ lót lông tơ, rồi cẩn thận luồn xuống dưới tấm mền. Trong chút ánh ngày mệt mỏi, chút đầu tiên và cuối cùng, làm cho bộ mặt chúng tôi nhợt nhạt hơn và bóng đêm đáng buồn tăm tối hơn, chúng tôi đứng đó, giá lạnh và đau khổ, trong căn nhà kỳ lạ.
Thỉnh thoảng, nàng lại chăm chú nhìn đàn gà ốm, nhấc ra một con mới chết để những con còn lại khỏi chết lây. Mỗi lần như vậy, chúng tôi có cảm giác như có một cơn gió to thổi qua các cửa kính bị vỡ ở trên gác, hay một nỗi khổ đau bí hiểm của những đứa trẻ không quen biết đang lặng lẽ thở than.
- Đây là – cuối cùng người bạn đường bảo tôi – nhà của Phrăng khi em còn nhỏ. Em từng muốn một ngôi nhà chỉ của riêng em, xa mọi người, ở đó hễ thích là em có thể đến sống và chơi đùa. Trò ngông đó, ba tôi thấy sao mà kỳ lạ, buồn cười đến nỗi Người không từ chối. Khi nào thích, thứ năm, chủ nhật, Phraăng lại ra ở nhà ấy như một người lớn. Trẻ em các trại lân cận đến chơi với em, giúp em nấu nướng, làm vườn. Một tro chơi rất tuyệt! Đêm đến, em không sợ ngủ một mình. Còn chúng tôi, chúng tôi khâm phục em đến nỗi chẳng lo lắng gì.
- Đã lâu rồi, và bây giờ cũng vậy – tiểu thư thở dài nói tiếp – căn nhà bỏ không. Vì đã già nua, lại quá đau khổ, ba tôi chưa hề động tĩnh hay tìm kiếm gì để gọi em về. Mới lại ba có thể làm gì kia chứ?
“Tôi sang đây luôn luôn. Các thiếu niên ở các trang trại xung quanh vẫn đến chơi trong sân như trước. Tôi thích thú nghĩ rằng đây chính là những bạn cũ của Phrăng. Mong rằng chính em vẫn còn là một đứa trẻ, và chả bao lâu nữa, em sẽ trở về với người vợ chưa cưới mà em tự chọn.
“Lũ trẻ ấy rất biết tôi. Tôi chơi với chúng. Ổ gà con này là của chúng tôi…
Nỗi đau lớn mà nàng chưa hề hé răng, sự luyến tiếc đã mất đứa em vô cùng điên rồ, hấp dẫn và đáng khâm phục, phải nhờ cơn mưa rào và cuộc tan băng này mới được nàng thổ lộ với tôi. Tôi lặng im chăm chú nghe, thì thầm nức nở…
Cửa ra vào nhà đóng lại hết, cửa hàng rào đóng xong, lũ gà con trả về cái ổ bằng cành cây ở sau nhà, tiểu thư buồn bã luồn tay vào dưới cánh tay tôi và tôi đưa nàng đi về.
Bao tuần, bao tháng trôi qua! Trời đã qua! Hạnh phúc đã mất! Về người từng là nàng tiên, công chúa và tình yêu bí hiểm của tất cả tuổi vị thành niền của chúng tôi, chính tôi được chọn để khoác tay và nói những gì cần nói để làm dịu nỗi đau khổ của nàng, trong khi bạn tôi đã bôn tẩu. Về thời gian ấy, về những cuộc chuyện trò, sau khi tôi lên lớp ở quả đồi nhỏ Xanh Bơnơđê Săng, về những cuộc dạo chơi mà điều duy nhất cần phải nói ra lại là điều duy nhất chúng tôi quyết định nín lặng, giờ đây tôi biết nói gì? Tôi không giữ được kỷ niệm nào khác ngoài kỷ niệm sẽ phai mờ một nửa, về bộ mặt gầy rộc đi, về đôi măt khi nhìn tôi thì từ từ hạ mí, như thể chỉ còn thấy một thế giới bên trong.
Tôi là người bạn trung thành của tiểu thư – đôi bạn của cuộc đợi chờ mà chúng tôi không thốt ra lời – suốt một mùa xuân và mùa hè không bao giờ có nữa. Nhiều lần cứ chiều đến là chúng tôi quay lại nhà Phrăng. Nàng mở tung các cánh cửa cho nhà thông thoáng, để không có gì bị mốc khi cặp vợ chồng trẻ trở về. nàng chăm sóc đàn gia cầm đã gần trở nên hoang dại vẫn cư trú trong sân nuôi. Thứ năm và chủ nhật, chúng tôi khích lệ lũ trẻ láng giếng chơi nhởi, và trong cảnh cô tịch nơi đây, tiếng cười đùa và la hét của các em kiến cho ngôi nhà bị bỏ rơi càng hoang vu trống trải.
 
0
CHƯƠNG XI
CUỘC CHUYỆN TRÒ DƯỚI MƯA
  Tháng tám, nghỉ hè, khiến tôi phải xa Xablonnie và người thiếu phụ trẻ. Tôi phải về nghỉ hai tháng ơ Xanhtơ-Agat. Tôi gặp lại cái sân khô cứng thênh thang, căn nhà dành cho trẻ em chơi, lớp học trống trải… tất cả gợi nhớ Môn cao kều và như thì thầm mãi với tôi về anh. Tất cả chứa chan kỷ niệm tuổi thành niên đã chấm dứt của chúng tôi. Trong những ngày nghỉ hè dài lê thê và óng vàng này, tôi cấm cung như xưa trước ngày Môn đến, trong phòng lưu trữ và các phòng học vắng vẻ. Tôi đọc, tôi viết, tôi hồi tưởng… Cha tôi đi câu xa. Mẹ tôi ngồi khâu hay chơi pi-a-nô trong phòng khách như thưở ấy… Và trong phòng lặng tờ, với những vòng giấy xanh lá cây bị xé rách, những tờ giấy bọc bìa những quyển sách quý lăn lóc lung tung, những tấm bảng đã xếp lại một chỗ, tất cả nói rằng năm học đã kết thúc, các phần thưởng đã được trao, tất cả đang chờ dịp mùa thu, chờ đợi ngày tựu trường vào tháng mười và những cố gắng mới – cũng thế, tôi tự nhủ rằng tuổi trẻ của chúng tôi đã chấm dứt, hạnh phúc của chúng tôi đã lỡ mất rồi, chính tôi cũng đang chờ đợi lúc mình trở lại Xablonnie và Môn trở về với chúng tôi, dù có thể không bao giờ nah quay về nữa.
Tuy vậy, vẫn có một tin mừng tôi báo cho mẹ, lúc bà dứt khoát hỏi tôi về cô dâu mới. Tôi sợ những câu hỏi của mẹ, sợ cái cách vừa như vô tình vừa như láu cá, mẹ đột nhiên làm chúng tôi lúng túng, tuồng như bà sờ được ý nghĩ thầm kín nhất của chúng tôi. Tôi lờ hết, bằng cách thông báo rằng cô vợ trẻ của Môn, bạn tôi, sẽ làm mẹ vào tháng mười.
Riêng tôi, tôi vẫn nhớ ngày Yvon de Gale cho tôi biết cái tin trọng đại ấy. Cả hai chúng tôi bỗng im bặt, tôi hơi lúng túng, cái lúng túng của một chàng trai chưa vợ. và để che giấu lúng túng – tôi hỏi ngay, mãi rất lâu sau mới nghĩ đến toàn bộ tấn kịch vẫn ám ảnh tôi đến tận giớ.
- Hẳn tiểu thư rất hạnh phúc?
Nhưng không ẩn ý hay luyến tiếc, không oán trách hay ân hận, nàng đã đáp lại với một nụ cười sung sướng tuyệt đẹp trên môi:
- Vâng, hạnh phúc vô ngàn.
Suốt tuần cuối của kỳ nghỉ, tuần đẹp nhất và thường gây xúc động nhất, tuần mưa to triền miên, tuần mọi người bắt đầu đốt lửa sưởi, và tôi hay đi trong rừng thông ẩm ướt đen ngòm của Viơ Năngxây, tôi chuẩn bị hành trang để về thẳng Xanh Bơnoađê  Săng, Phiêcmanh, Dì Juyli và các chị họ ở Viơ Năngxây  liến thoắng hỏi han quá nhiều, đến nỗi tôi không buồn đáp. Lần này, tôi từ chối cuộc sống mê hồn trong tám ngày của một người thợ săn thôn dã và trở lại trường bốn hôm trước ngày khai giảng.
Trước khi trời tối, tôi đã đi vào mảnh sân phủ lá vàng lốm đốm như một bức thảm. Người đánh xe đi rồi, trong căn phòng chỉ còn tôi với tâm trạng buồn rầu tháo các bọc đồ ăn dự trữ mà mẹ chuẩn bị cho ra, rồi đậy đệm kỹ lại. Sau khi ăn quàng quấy, có ngon gì đâu, một bữa ăn nhẹ, vừa sốt ruột, vừa đau đớn, tôi khoác cái áo mưa không tay lên mình rồi nóng nảy, tuy nghĩ là đi chơi, đến thẳng ngoại vi Xablonnie.
Tôi không muốn vừa chân ướt chân ráo tới trường đã xuất hiện ở Xablonnie như một vị khách không mời mà đến. Tuy thế, bạo hơn hồi tháng 2, sau khi đảo một vòng quanh lâu đài thì chỉ có cửa sổ phòng thiếu phụ sáng đèn, tôi nhót qua rào vườn ở phía sua nhà và ngồi xuồng một ghế dài dựa vào rào trong bóng đêm đang buông, lòng thực sự hân hoan được có mặt ở đây, sát bên cái cám dỗ tôi và làm cho tôi lo lắng nhất trên đời.
Đêm xuống, mưa bắt đầu rơi. Tối cúi đầu ngắm đôi giày ướt dần và lấp loáng nước, nhưng tâm trí để tận đâu đâu. Bóng tối dần dần bao phủ lấy tôi, khí mát thấm dần vào người, nhưng không khuấy động mơ mộng của tôi. Buồn bã và dịu dàng, tôi mơ thấy những con đường ngầu bùn ở Xanhtơ-Agat cũng vào chính tháng chín này. Tôi mường tượng lại quảng trương đầy sương mù, cậu con trai hàng thịt vừa huýt sáo vừa đi tới cái máy bơm, hiệu cà phê sáng trưng, chiếc xe chở đầy hàng nhìn rất thích với mái che là một loạt ô xòe rộng – chiếc xe đến nhà bác Phlorăngtanh ngay trước khi kết thúc kỳ nghỉ hè… Và tôi buồn rầu tự nhủ: “Tất thảy niềm vui sướng ấy cũng là vô nghĩa, bởi vì Môn, bạn tôi, cũng như người vợ trẻ của anh đã không thể tham dự…”
Đang nghĩ thế, tôi chợt ngẩng lên và thấy nàng cách tôi chỉ hai bước thôi. Chân giày của nàng bước nhẹ trong cát, tôi nghe lầm là tiếng nước nhỏ giọt trên hàng rào. Đầu và vai nàng trùm một tấm khăn len rộng màu đen. Mưa nhỏ làm bết từng món tóc trên trán nàng. Chắc chắn là từ phòng mình, nàng đã nhìn thấy tôi qua khung cửa sổ hướng ra vườn. Và nàng đến với tôi. Khác nào trước kia mẹ tôi vẫn lo lắng và đi tìm tôi để bảo: “Phải về thôi con!”, nàng cũng băn khoăn nói: “Anh đến cảm lạnh mất!”, song đã quen với kiểu dạo chơi ban đêm dưới mưa, nàng chỉ nhỏ nhẹ bảo tôi thế, rồi trò chuyện mãi với tôi…
Yvon de Gale giơ cho tôi một bàn tay nóng hổi, và không mời tôi vào nhà, tiểu thư ngồi xuống cái ghế dài mốc meo như gỉ đồng, phía ít ướt hơn, trong khi tôi vẫn đứng, tựa đầu gối vào ghế, nghiêng người xuống nàng để nghe cho rõ.
Đầu tiên, nàng thân mật mắng tôi đã rút ngắn thời gian nghỉ hè. Tôi đáp:
- Rõ ràng tôi phải quay về đây càng sớm càng hay để tiểu thư có bạn.
- Thực tình tôi vẫn cô đơn – nàng thở dài nói khẽ - Ôguyxtanh chưa về.
Coi tiếng thở dài này như một nỗi tiếc thương, một lời oán hận nén lại, tôi bắt đầu chậm rãi nói:
- Bao điên rồ trong cái đầu vô cùng cao quý đó! Có lẽ cái thú phiêu lưu mạnh hơn tất cả!...
Nhưng thiếu phụ trẻ ngắt lời tôi. Và ở chỗ ấy, đêm ấy, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng, nàng nói với tôi về Môn.
- Anh đừng nói vậy, Xơren ạ - nàng ngọt ngào bảo tôi – Chỉ chúng ta, chỉ tôi là có lỗi. hãy nghĩ xem chúng ta đã làm gì…
“Chúng ta đã nó với anh ấy: đây là hạnh phúc, đây là cái anh kiếm tìm suốt tuổi thanh xuân, đây là cô gái ở tận cùng mọi mơ ước của anh!
“Kẻ mà chúng ta nắm vai đẩy đi như thế làm sao không phân vân, rồi sợ hãi, rồi kinh hoảng, và đành nhượng bộ ý định bỏ trốn.
Tôi nói nhỏ:
- Yvon! Tiểu thư biết rõ rằng chính tiểu thư là niềm hạnh phúc ấy, là cô gái ấy.
Nàng thở dài:
- Ôi, làm sao tôi dám có ý nghĩ kiêu ngạo như thế, dù chỉ là thoáng qua? Chính ý nghĩ đó gây ra mọi chuyện?
“Tôi từng thưa với anh: “Có lẽ tôi không làm được gì cho anh ấy”. Nhưng thâm tâm lại nghĩ: “Vì anh ấy đã ra công tìm tôi, và vì tôi yêu anh ấy, tôi phải mang lại cho anh ấy niềm hạnh phúc mong chờ”. Nhưng nhìn anh ấy ngay bên với tất cả sự cuồng nhiệt âu lo, và hối hận bí ẩn, tôi hiểu rằng tôi cũng chỉ là một người đàn bà tội nghiệp như những người đàn bà khác…
“Tôi không xứng với tiểu thư”, anh ấy nhắc lại khi trời rạng sáng và đêm tân hôn sắp tàn hẳn.
“Tôi gắng an ủi và trấn an anh ấy. Nhưng đau khổ của anh ấy thì chẳng gì có thể khiến khuây nguôi được. Tôi bèn bảo: “Nếu anh nhất thiết phải ra đi, nếu tôi đã đến với anh đúng lúc chăng gì có thể khiến anh hạnh phúc, nếu anh cần bỏ tôi lại một thời gian, rồi sau tâm hồn dịu đi, anh quay về bên tôi, thì chính tôi yêu cầu anh lên đường… “
Trời tối, tôi vẫn thấy nàng ngước mắt nhìn tôi. Đấy như một lời thú tội nàng thổ lộ với tôi, và nàng đau đớn chồ đợi xem tôi lên án hay tán thành nàng. Song, tôi có thể nói gì đây? Dĩ nhiên, trong đáy lòng, tôi lại thấy anh chàng Môn cao lênh khênh của thưở nào, một anh chàng vụng về và hoang sơ, bao giờ cũng tự yêu cầu được trừng phạt còn hơn xin lỗi hay đòi hỏi một sự cho phép mà chắc chắn người ta chấp thuận. Không nghi ngờ gì nữa, hẳn Yvon de Gale đã cưỡng ép anh, và ôm lấy đầu anh mà bảo: “Trước đây anh làm gì cũng chẳng sao; tôi yêu anh, chẳng phải đàn ông người nào cũng phạm tội là gì?” Hiển nhiên,nàng đạ lầm to, khi đo đức hy sinh và lòng đại lượng, nàng đã bắt anh trở lại con đường phiêu lưu… Nhưng làm sao tôi có thể phản đối lòng yêu thương nhường nấy, lòng đôn hậu nhường nấy được!
Lặng đi hồi lâu, xúc động tận đáy lòng, chúng tôi nghe rõ những giọt mưa lạnh lẽo nhỏ tí tách trong hàng rào và dưới các cành cây…
- Vậy là sáng ra, anh ấy lên đường – nàng nói tiếp – Từ nay, không gì có thể chia rẽ chúng tôi. Anh ấy ôm hôn tôi, giản dị vậy thôi, như một người chồng để lại người vợ trẻ trước chuyến viễn du…
Tiểu thư đứng dậy. Tôi nắm lấy bàn tay nóng rực, rồi cánh tay nàng, và chúng tôi ngược lên trong bóng đêm tối mịt.
- Thế, anh ấy chưa hề viết thư cho tiểu thư? – tôi hỏi.
- Chưa hề - nàng đáp.
Tức thì, cũng nghĩ ngay đến cuộc đời phiêu bạt của anh lúc này trên các nẻo đường nước Pháp hay nước Đức, chúng tôi bắt đầu nói đến nah như chưa từng nói. Những tình tiết đã quên, những ấn tượng xa xưa sống dậy trong tâm trí, trong khi chúng tôi nhẩn nha đi về, hầu như sau mỗi bước đều dừng lại hồi lâu để trao đổi cho nhau tường tận hơn các kỷ niệm… rất lâu, cho đến tận những ba-ri-e vào vườn, trong bón gđêm, tôi nghe được tiếng thì thầm quý báu của người thiếu phụ trẻ; phần tôi, lại phấn khởi như xưa, không hề biết chán, tôi nói mãi với nàng một cách vô cùng thân thiết về con người đã bỏ rơi chúng tôi…
 
0
CHƯƠNG XII
GÁNH NẶNG
  Thứ hai tuần sau đã phải lên lớp. Khoảng năm giờ chiều thứ bảy, một phụ nữ ở lâu đài ùa vào sân trường. bà đến báo cho tôi biết rằng ở Xablonnie đã có một bé gái ra đời. Thiếu phụ đẻ rất khó. Chín giờ tối, cụ Gale phải nhờ đến bà đỡ ở Prêvơrănggiơ. Nửa đêm, gia nhân lại phải thắng ngựa đi tìm bác sĩ ở Viecdông. Bác sĩ phải dùng đến các dụng cụ bằng sắt. Cô bé bị thương ở đầu, la thét rất nhiều, nhưng xem ra còn đầy sức sống. Yvon de Gale hiện rất suy sụp, nhưng nàng đã chịu đau và chống chỏi phi thường.
Bỏ công việc đấy, khoác vội cái áo khoác khác, dù sao cũng hài lòng về những tin vừa nhận, tôi chạy theo bà đầy tớ đến tận Xablonnie. Sợ rằng một trong hai sinh mạng bị thương chưa thiếp đi được, tôi thận trọng leo lên cái cầu thang gỗ hẹp dẫn lên tầng hai. Tại đấy, mặt nàng mệt mỏi, nhưng hớn hở, cụ Gale mời tôi vào căn buồng đang đặt tạm chiếc nôi buông màn chung quanh.
Tôi chưa bao giờ bước vào môt ngôi nhà vừa có một em bí sinh ra, ngay cả ban ngày. Đối với tôi, chuyện ấy sao àm kỳ lạ bí hiểm và tốt đẹp! Âu là một buổi tối tuyệt đẹp – một buổi tối mùa he thực thụ - đến nỗi cũ Gale không ngại mở cái cửa sổ hướng ra sân. Đứng gần tôi và chống cùi tay lên khung cửa sổ, vẻ mệt nhọc và sung sướng, cụ kể lại câu chuyện hồi đêm; và vừa chăm chú lắng nghe, tôi vừa mơ hồ cảm thấy có người là đang có mặt cùng với chúng tôi trong phòng…
Từ dưới tấm màn, bỗng nổi lên tiếng thét, nhỏ thôi nhưng chối tai và dồn dập mãi… Cụ Gale nói thầm với tôi.
- Cháu đau vì vết thương ở đầu đấy!
Như cái máy, tôi hiểu cụ đã làm thế từ sáng và quen tay, cụ Gale bắt đầu đu đưa cái nôi nho nhỏ.
- Cháu lại cười rồi – cụ bảo – và mút tay nữa cơ. Nhưng anh chưa thấy cháu nhỉ?
Cụ vén hé màn lên và tôi nhìn thấy một cái mặt bé xíu, đỏ hỏn và phì ra, một cái sọ dài và biến dạng vì các dụng cụ của ông bác sĩ.
- Chẳng sao đâu – cụ Gale nói – Ông bác sĩ bảo rằng nó khắc tự khỏi, đâu sẽ vào đấy… Anh giơ một ngón tay cho cháu xme nào, chau sẽ nắm chặt ngay…
Tôi như phát hiện ra một thế giới mình chưa hề biết. Lòng tôi rộn ràng một niềm vui kỳ diệu và mới mẻ…
Cụ Gale thận trọng mở cái cửa vào phòng người mẹ. Nàng không ngủ.
- Anh có thể vào – cụ nói.
Nàng nằm dài thườn thượt, bộ mặt phừng phừng như đang lên cơn sốt giữa bộ tóc hoe vang buông xõa hai bên. Vẻ mệt lử, nàng mỉm cười giơ hai tay ra cho tôi. Tôi chúc mừng nàng. Bằng một giọng hơi khàn, với vẻ thô bạn không quen – cái thô bạo của một người từ chiến trận trở về.
- Cám ơn anh. Nhưng người ta đã làm cho cháu bị thương – nàng mỉm cười đáp.
Tôi phải cáo lui ngay cho nàng khỏi mệt.
Chiều hôm sau, chủ nhật, tôi hối hả, gần như hí hửng, đi đến Xablonnie. Ở cửa đính một biển nhỏ, khiến tôi đã giơ tay lên nhưng không gõ:
Xin đừng gọi cửa.
Tôi không đoán nổi có chuyện gì. Tôi gõ khá mạnh. Tôi nghe bên trong có tiếng chân rón rén chạy ra. Một người tôi không quen, và đấy là ông bác sĩ ở Viecdông, mở cửa:
- Chuyện gì thế, thưa ông? – tôi hấp tấp hỏi.
- Suỵt! Suỵt! – ông thì thầm thật khẽ, vẻ bực bội – Đứa bé đêm nay sắp chết. Mẹ cháu yếu lắm rồi.
Quá sửng sốt, tôi nhón chân theo ông lên tần ghai. Cháu bé đang thiếp đi trong nôi trông nhợt nhạt và trắng bệch, như một em nhỏ đã chết. Bác sĩ đang nghĩ cách cứu cháu. Còn người mẹ, ông không khẳng định điều gì… Ông giải thích từng thôi dài với tôi như với người bạn duy nhất của gia đình. Ông nói về bệnh tụ máu trong phổi, bệnh sung huyết. Ông không chắc, và do dự…
Cụ gale đi vào, lơ láo, run rẩy, mới hai ngày mà già sọm đi đến phát sợ.
Cụ dẫn tôi vào phòng mà như không biết đang làm gì. Rồi cụ thì thào với tôi:
- Phải làm sao cho nó không hoảng. Bác sĩ đã lệnh phải thuyết phục nó rằng cháu bé vẫn bình an.
Mặt đỏ bừng như đẫm máu, Yvon de Gale vẫn nằm thượt trên giường, đầu ngữa ra như hôm qua. Hai má và trán đỏ bầm, đôi mắt thỉnh thoảng lại trợn trừng như một người tắt thở, nàng chống lại cái chết một cách dũng cảm và dịu dàng không bút nào tả xiết.
Nàng không nói được, nhưng giơ cho tôi một bàn tay nóng bỏng như lửa, với biết bao tình thân khiến tôi suýt òa ra nức nở.
- Đó, đó… - cụ Gale nói rất to, vui vẻ một cách đáng rợn, như kiểu người điên – Anh xem, mặt em đâu đến nỗi, ốm thế đã ăn thua gì!...
Tôi không biết đáp ra sao, nhưng vẫn nắm lấy bàn tay nóng bỏng đến đáng sợ của người mẹ trẻ đang hấp hối.
Nàng muốn ráng sức nói gì đấy với tôi, muốn yêu cầu tôi điều gì đó, nàng đưa mắt về phía tôi rồi về phía cửa sổ, như thể ra hiệu cho tôi ra ngoài tìm người nào đó… Nhưng bỗng một cơn tức thở kéo đến; một thoáng cầu cứu tôi một cách thảm thiết. Đôi mắt lơ xinh đẹp của nàng trợn trừng lên; hai má và trán nàng sạm đi; nàng khẽ giẫy dụa, tìm cách nén cho đến cùng nỗi tuyệt vọng và hoảng hốt của mình. Người ta nhào đến – bác sĩ và mấy phụ nữ - với một túi oxy, khăn mặt và chai lọ; trong khiu đó, cúi xuống bên nàng, cụ Gale thét lên – thét lên như chưa chi nàng đã xa cụ - bằng một giọng khàn đặc run rẩy.
- Đừng sợ, Yvon. Chẳng là gì đâu. Con không phải sợ.
Rồi cơn nghẹt thở dịu đi. Nàng đã thở được chút đỉnh, nhưng cổ vẫn khò khè, mặt trắng dã, đầu ngửa ra, đem hết sức nhưng vô hiệu ít nhất là trong phút này để tìm cách nhìn và nói với tôi, để thoát ra khỏi cái vực xoáy mà nàng đã rơi vào.
Có ở lại cũng chẳng ích gì, tôi đành phải bỏ đi. Dĩ nhiên, tôi có thể nấn ná một lúc nữa… Nghĩ thế, tôi thấy tiếc vô cùng. Song tiếc gì? Tôi vẫn còn hy vọng. Tôi tự thuyết phục rằng kết cục chưa gần đến thế đâu.
Trong lúc đi ra bìa rừng thông ở sau nhà, vấn vương tới cái nhìn của người thiếu phụ trẻ quay về phía cửa sổ, tôi dò xét kỹ càng với sự chú ý của một người tuần tiễu hay của một kẻ săn người chiều sâu hun hút của cánh rừng này, nơi ngày xưa Môn đã vuột qua để đến đây, nơi mùa đông vừa rồi anh đã luồn qua để chạy trốn. Ôi, không gì động đậy! Không một bóng tối đáng ngờ, không một cành cây rung rinh! Nhưng dưới kia, về phía lối đi từ Prêvơrănggiơ, tôi nghe thoáng qua một tiếng chuông; một lát sau đã thấy xuất hiện ở chỗ đường ngoặt một đứa trẻ mũ giáo sĩ màu đỏ, áo blu học sinh đi theo một linh mục… Và tôi vừa nuốt nước mắt vừa rời xa.
Hôm sau là ngày tựu trường. Bảy giờ, trong sân trường đã có hai ba đứa trẻ. Tôi dùng dằng mãi vẫn không muốn xuống hay xuất đầu lộ diện. Cuối cùng, khi tôi hiện ra, mở khóa cái phòng học đóng kín đã hai tháng nay đến mốc meo cả, điều tôi sợ nhất trên đời đã đến: tôi thấy em học sinh cao lớn nhất tách khỏi nhóm bạn đang chơi dưới mái nhà chơi và lại gần tôi. Em thưa rằng:
- Thiếu phụ trẻ ở Xablonnie đã qua đời chập tối hôm qua.
Tôi choáng váng và như mụ đi trong đau xót. Giờ phút này, tôi tưởng chừng không sao còn đủ can đảm lên lớp dạy học. Nguyên đi qua cái sân khô cứng torng trường, tôi đã đủ gẫy gập đầu gối rồi. Nàng chết rồi, tôi thấy sao mà nặng nề và cay đắng. Thế gian bỗng trống vắng, kỳ nghỉ hè thế là xong. Hết luôn những cuộc phóng xe không kết quả; chẳng còn lễ hội bí ẩn… Chỉ còn nỗi đau khổ ngày xưa.
Tôi báo với học sinh rằng sáng nay lớp nghỉ học. các em đi về thành từng nhóm nhỏ, báo tiếp cho các em khác trên đồng quê. Còn tôi, tôi đội cái mỹ đen, khoác cái áo dài đàn ông viền vạc mà tôi có, rồi thất thểu đi đến Xablonnie…
… Giờ này tôi đang đứng trước ngôi nhà mà cách đây ba năm chúng tôi đã ra công tìm kiếm. Chính trong nhà này mà Yvon de Gale , vợ của Ôguyxtanh Môn đã ra đi tối qua. Một khác lạ dễ tưởng nó là một nhà thờ nhỏ, bởi vì từ giây phút ấy, nó lặng hẳn đi giữa nơi cô quạnh này.
Đó là cái mà buổi sáng tựu trường đẹp đẽ này, vầng mặt trời mùa thu giải quyết đang lướt dưới các cành cây này để lại cho chúng tôi. Làm sao tôi có thể cưỡng lại nỗi đau đang nhói mãi lên trong tim, làm sao tôi kìm nổi nước mắt đang dân trào?! Chúng tôi đã tìm thấy cô gái đẹp. Chúng tôi đã chinh phục được nàng. Nàng là vợ bạn tôi. Tôi yêu nàng bằng một tình bạn sâu thẳm và bí mật không bao giờ nói ra. Tôi ngắm nàng và mãn nguyện như một em nhỏ. Một ngày nào đấy, có thể tôi cưới một cô gái khác, và chính cô ấy là người đầu tiên tôi sẽ thổ lộ nỗi niềm trọng đại của mình…
Người ta để tấm biển nhỏ ở góc cửa, gần cái chuông. Quan tài đã được đem xuống tiền sảnh bên dưới. Trong căn phòng tầng 2, chỉ có thức ăn của đứa bé chào đón tôi… Nàng đây. Hết sốt, chẳng còn vật lộn, hết đỏ mặt, chẳng còn chờ đợi… Chỉ có lặng ngắt và, ấp bông xung quanh, một bộ mặt trắng bệch không cảm xúc đờ ra, một vầng trán chết lộ ra dưới mái tóc râm cứng.
Ngồi xổm trong một góc, quay lưng về chúng tôi, không giầy mà chỉ đi tắt, cụ Gale đang ngang nhạnh lục lọi lung tung trong mấy cái ngăn kéo rút ra từ một cái tủ. Lát lát, với một đợt nức nở rung cả vai, cụ lôi ra một tấm ảnh đã ố vàng của con gái.
Lễ an táng sẽ cử hành vào buổi trưa. Bác sĩ sợ xác chết rữa nhanh, hiện tượng đôi khi xảy ra với những người chết vì bệnh tắc huyết. Vì vậy măt và toàn thân nàng ủ bông tẩm phênôn.
Ăn vận xong cho nàng, người ta mặc vào cho người chết cái áo dài đáng trầm trồ may bằng nhung xanh thẫm điểm xuyến những đốm bạc nhỏ như những ngôi sao, nhưn phải ép bẹp và thu gọn đôi ống tay hình đùi cừu giờ đã hết mốt – lúc muốn đưa quan tài lên, người ta mới nhận ra rằng nó không quay được trong hành lang quá hẹp. Muốn đưa nó lên và hạ xuống, phải ròng dây ngoài cửa sổ vậy… Nhưng, vẫn gập người trên đám đồ cũ trong đó chẳng hiểu tìm thấy những kỷ niệm nào, cụ Gale bỗng xen vào một cách quyết liệt đến phát khiếp, giọng nghẹn ngào, lời nhát gừng vì chen tiếng nấc:
- Ai lại là… quái quỷ… như vậy? Tôi sẽ… bế… cháu… xuống!
Và hẳn cụ sẽ làm y lời, bất chấp tuổi già sức yếu, có thể ngã gục giữa đường hay lăn xuống chân cầu thang cùng con.
Lúc này, tôi tiến lên và làm cái việc duy nhất có thể làm: với sự giúp sức của bác sĩ và một phụ nữ, một tay đỡ lưng người chết, tay kia đỡ chân, tôi nâng nàng lên ngang ngực và ôm chặt lấy nàng. Như ngồi vào cánh tay phải tôi, đôi vai dựa vào cánh tay trái, đầu nàng rũ xuống dưới cằm tôi, nàng đè nặng lên tim tôi một cách khủng khiếp. Tôi từ từ lần xuống từng bậc trên chiếc cầu thang dài dốc đứng, trong khi bên dưới, mọi việc đã xong, mọi người đang đợi.
Mới vài bước, tay tôi đã mỏi nhừ. Với sức đè ấy trên tim, mỗi lúc tôi một khó thở. Níu lấy cái xác chết bất động đang đè nặng, tôi cúi hôn mái đầu của người đàn bà tôi bế trên tay, tôi thở hào hể, và làn tóc xiết bao ao ước của nàng lùa vào miệng tôi – làn tóc chết có mùi vị của đất, cái vị đất và vị tử thần này, sức nặng đè trĩu bên tim này, đó là tất cả những gì còn lại cho tôi từ cuộc phiêu lưu vĩ đại, từ nàng nữa, Yvon de Gale, thiếu nữ được kiếm tìm với bao công sức – được yêu vô chừng vô hạn…
 
0
CHƯƠNG XIII
QUYỂN VỞ GHI BÀI TẬP HÀNG THÁNG
  Trong ngôi nhà tràn đầy kỷ niệm u buồn, nơi suốt ngày những người phụ nữ ru nựng cháu nhỏ còn bé teo teo đang ốm, chả bao lâu cụ Gale cũng ốm liệt giường. Ngay từ những đợt rét đậm đầu tiên của mùa đông, cụ lặng lẽ tắt dần và tôi không sao nén được những giọt lệ nhỏ xuống đầu giườn của ông già thú vị dễ thương mà tư tưởng khoáng đạt với óc lãng mạn rất khắng khít với ý thích bay bổng của người con đã là nguyên nhân toàn bộ cuộc phiêu lưu của chúng tôi. Cụ qua đời, rất đúng lúc rồi, trong sự im lặng gần như tuyệt đối, trong khi cụ hoàn toàn không hiểu những gì đã xảy ra. Như thế đã từ rất lâu, không còn bạn bè và người thân ở vùng này của nước Pháp, cụ di chúc lập tôi là người thưa tự toàn phần cho đến khi Môn trở về, nếu một mai anh về thật, và lúc đó, tôi phải giao tất thảy cho anh… Kể từ đấy, tôi đến sinh sốn gở Xablonnie. Tôi chỉ đến Xanh Bơnoa để giảng dạy, mờ sáng đã ra đi, trưa đến thì dùng bữa ăn làm sẵn ở lâu đài va đem hấp nóng trên lò sưởi, buổi tối lên lớp là về ngay. Do đó tôi có thể giữ bên mình đứa bé mà phụ nữ trong trại chăm sóc. Nhất là nhờ thế, tôi có thể tăng dịp may được gặp Môn, vi như nah trở về Xablonnie.
Vả lại, tôi không thất vọng, mà tin rồi sẽ phát hiện ra trong các đồ gỗ, các ngăn kéo trong nhà một mẩu giấy nào đó, một dấu hiệu nào đó cho tôi biết cách dùng thời gian của anh trong suốt mấy năm anh im hơi lặng tiềng vừa rồi – và có thể từ đấy nắm được lý do khiến anh bỏ trốn, hay ít ra cũng tìm thấy dấu vết của anh… Tôi đã phí công lục tìm không biết bao nhiêu tủ đứng và tủ hốc tường, các phòng chất đồ cũ mở ra vô số hộp các-tông đủ kiểu đủ cỡ, cái thì đầy những bó thư cũ hay ảnh đã ố vàng của gia đình Gale, cái thì đầy hoa giả, ngòi bút lông, tua ngủ hay chim chóc đã lỗi thời. Từ những hộp ấy bay lên một mùi nhạt thếch, một hương thơm đã tàn, chúng đột nhiên gợi lại cho tôi trong suốt một ngày biết bao kỷ niệm và tiếc thương, khiến tôi tạm ngừng tìm kiếm.
Một ngày ngỉ, toi trông thấy trên phòng áp nóc một cái hòm cũ, thấp và dài, phủ đầy lông lợn bị gặm nham nhở, và tôi nhận ra đó là cái hòm học sinh của Môn. Tôi trách mình đã không bắt đầu tìm kiếm từ đây. Tổ mở cái khóa đã gỉ chẳng khó khăn gì. Đầy đến miệng hòm là sách, vở thời Xanhtơ-Agat. Số học, văn học, cở toán… bao nhiêu thứ. Vì xúc động hơn là vì tò mò, tôi bắt đầu lần giở tất cả, đọc lại những bài chính tả mà đến nay tôi vẫn thuộc lòng, đã bao lần chúng tôi chép lại. “Đường thủy” của Ruxxô, “Một cuộc phiêu lưu ở Calabrơp “của P.L. Cueriê, “Thư Joocjơ Xăng gửi con trai”…
Cũng có một quyên “Vở bài tập hàng tháng”. Tôi lấy làm lạ, vì những vở loại này đều để lại lớp, không bao giờ học sinh mang ra khỏi trường. Đấy là một quyển vở màu xanh mà mép đã úa vàng. Tên học sinh, Ôguyxtanh Môn, viết ngoài bìa thàng một vòng tròn khá đẹp.Tôi mở vở ra. Nhìn thời gian chép bài tập: tháng tư, 189…, tôi nhận thấy rằng Môn bắt đầu ghi chỉ ít ngày trước khi rời Xanhtơ-Agat. Những trang đầu được giữ gìn hết sức trang nghiêm và cẩn thận như quy tăc khi dùng vở tập làm văn. Nhưng chỉ có không quá ba trang đã viết, phần còn lại trắng nguyên, vậy là tôi hiểu vì sao Môn đem vở về.
Quỳ trên đất, vừa suy nghĩ đến những nội quy và thói quen trẻ thơ từng chiếm chỗ lớn biết chừng nào trong tuổi thanh niên của chúng tôi, tôi vừa lần giở những trang của quyển vở ghi dở. Chính do vậy mà tôi phát hiện ra chữ viết trên các trang khác. Sau bốn trang để trắng, người ta lại bắt đầu ghi.
Đó vẫn là chữ của Môn, nhưng viết tháu, gần như khôn đoc được. Từng đoạn dày mỏng khác nhau, phân cách bởi những dòng để trắng. thỉnh thoảng lại thấy một câu chưa viết xong. Có khi chỉ một con số thời gian. Ngay từ dòng đầu, tôi đã đoán có thể tìm thấy trong quyển vở này những chỉ dẫn về cuộc sống đã qua của Môn ở Paris, những chỉ dẫn về con đường mới mà tôi từng tìm kiếm, tôi bèn xuống phòng ăn để đọc thật đã giữa aban ngày ban mặt tài liệu kỳ lạ này. Đây là một ngày mùa đông sáng sủa và náo động. Lúc thì ánh nắng chói chang vẽ những hình thập tự vuông vừa lên những tấm màn cửa sổ trắng xóa, lúc một cơn gió bất chợt nổi lên, ném vào mặt kính cửa một thoáng mưa rào lạnh ngắt. Chính bên lửa, trước ô cửa sổ ấy, tôi đã đọc những dòng giúp tôi hiểu rõ bao chuyện và sau đây tôi xin chép lại nguyên xi…
 
0
CHƯƠNG XIV
BÍ MẬT
  Một lần nữa tôi đi qua dưới cửa sổ. Kính cửa vẫn đầy bụi và trắng ra bởi hai tấm ri-đô ở phía sau. Yvon de Gale mà mở ra, tôi sẽ chẳng có gì để nói với nàng, bởi nàng đã lấy chồng… Làm gì bây giờ? Sống ra ao đây?
Thứ bảy, 13 tháng hai. Tôi đã gặp trên bờ sông cô gái đã chỉ dẫn cho tôi hồi tháng sáu, và hiện cũng chờ đợi như tôi trước ngôi nhà đóng chặt… Tôi đã nói chuyện với cô. Khi cô bước, tôi nhìn từ phía bên những nhược điểm nho nhỏ của khuôn mặt: một nếp nhăn lờ mờ ở khóe miệng, má hơi hóp, phấn thoa hơi nhiều ở hai cánh mũi. Cô đột ngột quay lại, nhìn thẳng vào mắt tôi, có lẽ bởi nhìn thẳng cô đẹp hơn nhìn nghiêng, có nói gọn lỏn:
- Anh khiến tôi vui lắm. Anh gợi tôi nhớ lại một chàng trai trước đây tán tỉnh tôi ở Buôcgiơ. Thậm chí chàng đã hứa hôn với tôi…
Tuy nhiên, khi đêm tối hẳn, trên hè phố vắng vẻ và ẩm ướt lấp loáng ánh đèn hơi, cô đột ngột sáp đến bên tôi, đòi tôi đưa chị em cô đi xem hát tối nay. Lần đầu tiên, tôi nhận ra rằng cô mang đồ tang, với một cái mũ bà già quá cũ kỹ so với khuôn mặt trẻ măng của cô, một cái ô cán quá dài, trông như một cây gậy. Vì quá sát cô, khi nâng tay lên, tôi để móng tay cào phải cái băng tang trên ngực. Tôi tỏ ý khó có thể chấp nhận yêu cầu của cô. Cô giận, toan bỏ đi ngay. Bây giờ, chính tôi giữ cô lại và van lạy. Vừa hay, một công nhân đi qua trong bóng tối, buông nhỏ một câu đùa:
- Chớ nghe em ạ, nó hại em đấy!
Hai chúng tôi sững ra.
Ở nhà hát – Hai cô gái, bạn tôi tên là Valăngtin Bôlôngđô và chị cô, đã đếnvới những tấm khăn quàng xoàng xĩnh.
Valăngtin ngồi trước tôi. Chốc chốc, cô lại quay xuống, vẻ lo lắng, như tự hỏi tôi muốn gì ở cô. Phần tôi, ở bên cô, tôi cảm thấy gần như hạnh phúc. Lần nào tôi cũng đáp lại cô bằng nụ cười.
Các bà các cô ở khắp xung quanh để hở cổ quá rộng. Chúng tôi lấy đó pha trò với nhau. Thoạt đầu, cô tủm tỉm cười, sau đó cô bảo:
- Tôi không nên cười. Chính tôi cũng để hở cổ nhiều quá.
Cô choàng kín vai bằng tấm khăn quàng. Thực tế, dưới tấm đăng ten hình vuông, người ta nhìn thấy, qua cửa chỉ hấp tấp của cô, rằng cô đã đẩy cái cổ sơ-mi giản dị rất đứng trễ xuống.
Ở cô, tôi thấy có nét gì ngây thơ và tội nghiệp. Trong mắt cô bé, có vẻ gì đau đớn va liều lĩnh lôi cuốn tôi. Bên cố, người duy nhất trên đời có thể nói cho tôi biết về những người ở lâu đài, tôi không ngớt nghĩ đến cuộc phiêu lưu kỳ lạ của tôi thưở ấy. Tôi muốn hỏi cô một lần nữa về cái khách sạn nhỏ trên đại lộ. Nhưng đến lượt mình, cô đưa ra những câu hỏi đến bực mình mà tôi không biết đáp ra sao. Tôi cảm thấy rằng từ nay cả hai chúng tôi đều câm lặng trước việc này. Tuy nhiên, tôi cũng biết rằng tôi sẽ gặp lại cô. Ích gì? Và tại sao nhỉ?... Bây giờ, tôi bắt buộc phải lần theo dấu vết bất cứ ai, bất cứ cái gì mang trong mình chút mùi khó chịu xa xôi nhất, mông lung nhất về cuộc phiêu lưu lở dở của tôi…
Nửa đêm, một mình trên phố vắng, tôi tự hỏi rằng câu chuyện mới mẻ và kỳ cục này muốn đòi gì ở tôi? Tôi đi dọc theo những căn nhà giống như những hôp các-tông sắp lên nhau, trong đó có cả một lớp người đang ngủ. Và tôi chợt nhớ đến một quyết định của mình tháng trước: tôi nhất quyết đến đó vào đêm khuya, khoảng một giờ sáng, đi quanh khách sạn, mở cửa vườn, và nghe một chỉ dẫn nào đấy cho phép tôi tìm thấy lâu đài đã mất, để gặp lại nàng, chỉ gặp lại nàng thôi… Nhưng tôi mệt nhoài. Tôi đói. Tôi đã vội vàng thay trang phục trước khi đến nhà hát; và tôi đã không ăn chiều… Tuy nhiên, xao động và lo âu, tôi ngồi mãi bên mép giường trước khi đi ngủ, lòng bâng khuâng hối hận. Vì sao?
Tôi còn ghi điều này: hai cô, không muốn tôi đưa về nhà, cũng không muốn cho tôi biết nơi ở. Nhưng tôi đi theo cho đến khi không theo được nữa mới thôi. Tôi biết hai cô ngụ ở một phố nhỏ rẽ vào vùng lân cận Nhà thờ Đức bà. Nhưng nhà số mấy? Tôi đoán hai cô là thợ may hay bán trang phục phụ nữ.
Giấu chị, Valăngtin hẹn gặp lại tôi trước nhà hát chúng tôi vừa xem vào bốn giờ chiều thứ năm.
- Nếu thứ năm tôi khôngđến được – cô nói – thì anh hãy đến, cũng bốn giờ chiều, thứ sáu, rồi thứ bảy, cứ thế mọi ngày.
Thứ năm, 18 tháng 2, Tôi đến điểm hẹn trong gió lộng kèm theo mưa. Tôi nhủ thầm mãi: sắp mưa rồi…
Tôi đi trong ánh mờ mờ qua các phố, tim đập nặng nề. Một giọt mưa rơi xuống. Tôi sợ trời sắp đổ mưa: mưa rào sẽ cản cô đến cùng tôi. Nhưng gió lại nổi lớn và vẫn chưa mưa. Trên kia, trên bầu trời xám buổi chiều – lúc xám xịt, lúc chói bừng – đám mây lớn đã tan ra trong gió. Và tôi vẫn nép mình đợi chờ khốn khổ ở đây.
Trước nhà hát, sau 15 phút so với giờ hẹn, tôi chắc cô không đến. Từ chỗ mình trên bờ sông, tôi quan sát dòng người qua lại tấp nập trên cây cầu mà cô tất phải qua. Tôi nhìn bám lấy tất cả phụ nữ trẻ mặc tang đang đi tới, và gần như cảm ơn những người – đi gần tôi và đi qua tôi lâu nhất – hao hao giống cô và khiến tôi hy vọng.
Một giờ chờ đợi. Tôi chán nản. Chập tối, một nhân viên an ninh lôi về đồn bên cạnh một gã du côn trong lúc gã uất ức chửi rủa không tiếc lời. Nhân viên kia tái mét, lặng ngắt và giận sôi lên… Vừa đến hành lang, ông bắt đầu đập vào, rồi đóng cánh cửa đằng sau họ để tha hồ đánh gã vô lại đáng thương… Tôi chợt có ý nghĩ khủng khiếp rằng tôi đã từ chối thiên đường để về đây giẫm đạp lên cửa địa ngục.
Chán chường, tôi rời chân và đến cái phố hẹp và thấp, ở khoảng giữa sông Xen và nhà thờ Đức Bà, ở đấy tôi biết qua vị trí nhà hai cô. Một mình, tôi cứ lui lui tới tới. Thỉnh thoảng một cô hầu hay một bà nội trợ ra khỏi nhà, bất chấp mưa nhỏ, để đi mua bán lặt vặt trước khi trời tối… Trong màn mưa trắng sáng đang kìm bóng đêm như muốn buông, tôi trở lại quảng trường mà chúng tôi hẹn chờ nhau. Người dông hơn lúc nảy – một đám đen sì…
Phỏng đoán – thất vọng – mệt mỏi. Tôi lại bám lấy ý nghĩ: ngày mai, giờ này, chỗ này, tôi sẽ lại đến đợi cô. Và tôi mang ngày mai mau đến. Tôi buồn bã tưởng tượng buổi tối hôm nay, rồi buổi sáng mai mà tôi phải qua trong nhàn rỗi. Nhưng phải chăng chưa chi ngày hôm nay đã gần như hết rồi? về nhà ngồi bên lửa, tôi nghe bao tiếng rao các báo buổi tối. Không nghi ngờ gì nữa, từ căn nhà chìm biến nơi nào đó trong thành phố, gần Nhà thờ Đức bà, cô cũng nghe rao như thế.
Cô… tôi muốn nói: Valăngtin.
Cái buổi tối mà tôi muốn lẩn tránh này đè nặng lên tâm hồn tôi một cách kỳ cục. Trong khi thời gian càng trôi đi, ngày hôm nay nhát nữa là hết, và chưa chi tôi đã muốn nó hết hẳn, thì có những người gởi gắm vào nó tất cả hy vọng, tình yêu và sức lực cuối cùng của mình. Có những người đang hấp hối, số khác chờ đến lượt và muốn rằng lượt đó dứt khoát không phải ngày mai. Có những người mà ngày mài lộ ra như một nỗi ân hận. số khác thì mỏi mệt và đêm nay không sao đủ dài để họ được nghỉ ngơi đúng yêu cầu. Còn tôi, kẻ đã mất ngày hôm nay, tôi có quyền gì để gọi “ngày mai”.
Tối thứ sau – tôi đã định viết tiếp: “Tôi không gặp lại cô”. Và thế là xong mọi chuyện.
Nhưng bốn giờ chiều nay, khi tôi đến trước nhà hát: cô đây rồi. Mảnh mai và trịnh trọng, mặc đồ đen, nhưng mặt đánh phấn, cổ áo phồng khiến cô có vẻ như một vai hề phạm tội. Vẻ vừa láu cá vừa đau khổ.
Ấy là để báo tôi rằng cô muốn rời bỏ tôi ngay lập tức và sẽ mãi mãi không trở lại.
Tuy nhiên, trong bóng đêm đang buông , chúng tôi vẫn bên nhau, lững thững bước đi trên cát sỏi vườn Tuylơri. Cô kể chuyện mình nhưng quá kín đáo, nên tôi không hiểu mấy. Cô nói: “người tình của tôi” khi đá động đến người cô đã đính hôn nhưng không lấy. Tôi nghĩ rằng cô cố tình nói vậy để xúc phạm tôi và để tôi không còn muốn gắn bó với cô nữa.
Có những lời của cô mà tôi chép lại, chẳng hứng thú gì:
- Chờ tin tôi – cô bảo – Mãi mãi tôi chỉ làm những trò rồ dại.
- Tôi lêu lổng khắp nơi, mà chỉ một mình.
- Tôi đã làm cho chồng chưa cưới của tôi thất vọng. Tôi bỏ anh ấy vì anh ấy tôn sùng tôi quá đáng; anh ấy kỳ ảo hôn tôi, chứ không nhìn tôi đúg như thực tế. Vậy mà tôi đầy nhược điểm. Có lẽ chúng tôi sẽ vô cùng bất hạnh.
Trong từng phút giây, tôi bắt gặp cô cố tỏ ra xấu xa khác hẳn thực tế. Tôi nghĩ cô muốn chứng minh với chính mình rằng ngày ấy cô làm cái trò dại dột mà cô kể với tôi là đúng, rằng cô chẳng việc gì phải tiếc, rằng cô không xứng đáng với hạnh phúc đến với cô bấy giờ.
Một lần khác:
- Điều khiến tôi bằng lòng ở anh – cô vừa nhìn tôi hồi lâu và nói – điều khiến tôi bằng lòng ở anh, tôi không biết vì sao, đó là những kỷ niệm của tôi…
Lần khác:
- Tôi vẫn yêu anh ấy – cô nói – còn hơn anh tưởng cơ.
Rồi bất ngờ, hối hả, thô lỗ, buồn rầu:
- Nhưng rút lại, anh muốn gì? Anh cũng yêu tôi ư? Anh cũng muốn lấy tôi sao?...
Tôi ấp úng, Tôi không rõ tôi đáp thế nào. Có lẽ tôi đã nói: “Vâng”.
Nhật ký dừng lại ở đây, và bắt đầu bản nháp những bức thư khó đọc, dị hình và bị gạch bỏ lung tung. Cuộc đính hôn bấp bênh!... Do Môn van vỉ, cô gái đã bỏ nghề. Anh lo sắm sửa và chuẩn bị để tổ chức lễ cưới. Nhưng vẫn không ngừng khát khao tìm kiếm thêm nữa, không ngừng khát khao lần theo dấu vết của mối tình đã mất, anh đã biến đi nhiều lần, hiển nhiên là vậy, và, trong những bức thư này, với một sự lúng túng bi kịch, anh tìm cách tự biện bạch trước Valăngtin.
 
0
CHƯƠNG XV
BÍ MẬT (tiếp)
  Rồi nhật ký tiếp tục. Anh ghi lại những kỷ niệm về một đợt hai người ở nông thôn, nơi nào thì tôi không rõ. Nhưng lạ là từ giờ phút này, có lẽ do hổ thẹn âm thầm, anh viết không ra hàng không ra lối, ngắt đoạn luôn luôn, chữ vừa tháu vừa nghuệch ngoạc, đến nỗi tôi phải đọc kỹ và viết lại cho dễ hiểu.
14 tháng sáu – Sáng sớm khi anh thức dậy trong buồng quán trọ, nắng đã soi tỏ những hình vẻ đỏ chói trên bức ri-đô đen. Ở phòng bên dưới, các công nhân nông nghiệp vừa uống cà phê sáng vừa nói oang oang; qua những câu từ tốn mà gay gắt, họ bộc lộ phẫn uất đối với một ông chủ của mình. Dĩ nhiên, trong giấc ngủ, từ lâu Môn đã nghe thấy tiếng ồn ào điềm tĩnh ấy. Bởi vì lúc đầu anh chẳng để tâm đến làm gì. Tấm ri-đô lốm đốm những chùm hoa quả đỏ bừng torng nắng, tiếng chuyện trò buổi sớm vọng lên tận căn buồng yên tĩnh, tất cả hòa lẩn trong ấn tượng duy nhất của một lần thức dậy ở nông thôn, vào đầu đợt nghỉ thú vị.
Anh trỗi dậy, nhẹ nhàng gõ cái cửa ra vào bên cạnh, nhưng không được trả lời; và anh thận trọng hé cánh cửa ra. Anh liền nhận thấy Valăngtin và hiểu từ đâu mình được hạnh phúc thanh thản thế này. Cô đang ngủ, hoàn toàn bất động và thanh bình, đến không nghe tiếng thở, đúng như một con chim ngủ. Anh ngắm hoài bộ mặt như trẻ thơ đang nhắm nghiền đôi mắt, bộ mặt xiết bao thanh thản, đến nỗi không ai nỡ đánh thức và khuấy động.
Để chứng tỏ mình không ngủ nữa, cô không có cử động nào khác ngoài việc mở mắt và ngắm nhìn.
Cô mặc quần áo vừa xong, Môn đã vào ngồi xuống bên.
- Chúng ta dậy muộn rồi – cô bảo.
Rồi tức thì, cô như một bà tề gia nội trợ thực thụ.
Cô sắp xếp lại hai phòng, chải những quần áo Môn mặc hôm qua; khi đến cái quần, cô bỗng đượm buồn: phần dưới hai ống quần đều bám đầy bùn. Cô phân vân, rồi tước khi chải, cẩn thận lấy mũi dao cạo bùn đi.
- Khi đuổi bắt nhau trong bùn đất – Môn nói – thanh thiếu niên ở Xanhtơ-Agat đề bê bết gấu quần như vậy.
- Con em, chính mẹ em dạy cho làm thế - Valăngtin phụ họa.
Đấy hẳn là người bạn đời mà Môn – chàng nông dân kiêm thợ săn – từng mơ ước cuộc phiêu lưu bí ẩn của anh.
15 tháng 6 – Trong bữa ăn chiều ở trang trại mà nhờ bạn bè giới thiệu hai người là vợ chồng, Môn và Valăngtin được mời dự - cả hai đều thấy rất phiền về chuyện nay – cô cứ e ấp như một nàng dâu mới.
Ở mỗi đầu bàn phủ vải trắng, đều có những cây đèn nến hai chân thắp sáng, đúng như ở một đám cưới nông thôn êm ả. Dưới ánh nến yếu ớt, các khuôn mặt hễ cúi xuống là chìm ngay vào bóng tối.
Bên phải Patơrix (con trai chủ trại), có Valăngtin, rồi đến Môn rất ít lời từ đầu chí cuối, dù gần như lúc nào khách khứa cũng bắt chuyện với anh. Ở làng quê heo hút này, từ khi quyết định để cho thiên hạ coi Valăngtin là vợ mình, để tránh những tiếng xì xầm, anh lại rầu rĩ bởi nỗi tiếc thương và niềm ân ận cũ. Và trong khi Patơric điều khiển bữa tiệc theo kiểu một quý tộc nông thôn, Môn nghĩ:
- Đêm nay lẽ ra phải chính mình chủ trì tiệc cưới của mình trong một phòng thấp như phòng này, một phòng đẹp mà mình biết rõ.
Bên anh, Valăngtin e lệ từ chối tất cả các thứ mà người ta mời cô. Cứ như là một cô gái thôn quê vậy. Mỗi khi đươc mời ăn hay uống, cô lại nhìn Môn và như muốn trốn vào sau lưng anh. Từ lâu Patơrix nài nỉ cô uống, nhưng không được; cuối cùng, Môn nghiêng người về phía cô bảo khẽ:
- Uống đi, Valăngtin thân yêu!...
Cô ngoan ngoãn uống liền, Patơrix mỉm cười khen Môn có cô vợ biết vâng lời.
Nhưng Môn và Valăngtin, cả hai đều lặng im, nghĩ ngợi. Dần dần, họ thấy mệt. Những bàn chân họ vừa dầm bùn trong cuộc dạo chơi lạnh giá đi trên nền gạch vuông được lau chùi cẩn thận trong bếp. sau đó, thỉnh thoảng, chàng trai buộc phải nói:
- Vợ tôi, Valăngtin, vợ tôi đây…
Mỗi lần khàn khàn thốt ra tên đó trước những người nông dân xa lạ rong căn phòng ảm đạm này, anh lại có cảm giác phạm lồi.
17 tháng 6 – Chiều hôm ấy bắt đầu khá dở.
Patơrix cùng vợ đi dạo với hai người. Dần dần, trên sường quả đồi trọc, hai cặp tách nhau ra. Môn và Valăngtin đến ngồi trong một khoảng rừng thưa giữa những cây đỗ tùng.
Gió cuốn đến những giọt mưa và trời đầy mây thấp tịt. Buổi tối có vị cay đắng, hình như thế, vị u sầu mà ngay tình yêu cũng không xua tan nổi.
Họ ngồi đấy bao lâu trong chỗ ẩn dưới các cành cây, và rất ít trò chuyện. Rồi mây tan, trời quang đãng. Họ tin rằng bây giờ mọi chuyện sẽ tốt đẹp.
Họ bắt đầu nói đến tình yêu, Valăngtin nói hoài, nói mãi…
- Đây là cái nhà chồng chưa cưới của em hứa với em, như trò trẻ: chúng ta có ngay một ngôi nhà, như một túp lều tranh nơi đồng quê heo hút. Nó đã hoàn toàn sẵn sàng. Anh ấy bảo. Chúng mình sẽ đến đó như vừa đi dụ lịch xa trở về, đúng vào đêm cưới, vào giờ gần tối như lúc này. Và dọc các nẻo đường, từ các sân nhà, ẩn trong các lùm cây, lũ trẻ không quen hò reo chúc mừng chúng ta: “Cô âu muôn năm!”… Thật là điên, phải không anh?
Sửng sốt, lo âu, Môn lắng nghe. Anh có cảm tưởng đây là tiếng vọng của một tâm tình anh đã nghe thấy. Trong giọng điệu của cô gái khi cô kể lại câu chuyện, cung có một nỗi luyến tiếc mơ hồ.
Nhưng cô sợ làm phật lòng anh. Cô quay về phía anh, vừa sôi nổi vừa dịu dàng:
- Em muốn cho anh tất cả những gì em có, đối với em, đó là cái quý hơn mọi thứ… Anh hãy nhận và thiêu hủy nó đi .
Đến đây, vừa chăm chú nhìn anh với vẻ khắc khoải, cô vừa lôi từ túi ra một hộp thư, thư của chồng chưa cưới, và giơ choa nh.
Ôi, tức thì nah nhận ra nét chữ thanh nhã. Ao anh không nghĩ ra sớm hơn! Đó là chữ của Phrăng, chàng Bô-hê-miêng mà anh đã được đọc thưở ấy trên tấm thiếp tuyệt vọng bỏ lại trên phòng của lâu đài…
Giờ đây hai người bước trên môt lối đi hẹp hai bên mọc đấy bạch cúc hay những đồng cỏ khô mà ánh nắng năm giờ chiều xen vào. Dù vô cùng sững sờ, Môn vẫn chưa hiểu tất cả những chuyện khiến anh ngạc nhiên có nghĩa là gì. Anh đọc thư bởi vì cô yêu cầu. Những câu trẻ con, đa cảm, xúc động… Đây là câu trong bức thư cuối cùng:
… Ôi, cô đã đánh mất trái tim nhỏ của mình, hởi Valăngtin thân yêu không thể tha thứ được. cái gì sẽ đến với chúng ta? Vả chăng, tôi không mê tín mà…
Môn vẫn đọc, mắt như lóa đi vì luyến tiếc và giận dữ, mặt bất động nhưng tái nhợt, da mặt dưới ánh mắt giật giật liên hồi. Thấy anh như vậy, Valăngtin soi mói nhìn xem vì sao lại giận dữ và lạnh lùng như thế.
- Đây là một vật quý anh ấy cho em và yêu cầu em thề giữ mãi trọn đời – cô hấp tấp nói – Trong đó toàn là những ý nghĩ điên rồ của anh ấy.
Nhưng cô chỉ khiến cho Môn điên tiết hơn.
- Điên rồ! – anh vừa bỏ thư vào túi áo mình vừa thốt lên – Sao cứ nhắc lại từ ấy? Sao không bào giờ tin cậu ta? Tôi biết cậu ấy. Đó là chàng trai tuyệt vời nhất trên đời.
- Anh biết anh ấy ư? – cô hỏi vô cùng xúc động – Anh biết Phrăng de Gale?
- Cậu ấy là người bạn tốt nhất của tôi, bạn cùng phiêu lưu, vậy mà tôi lại chiếm vợ chưa cưới của cậu ấy!
“Chao ôi, cô, cô đã chơi xỏ cả hai chúng tôi, bởi cô không tin ai hết – anh lồng lên nói tiếp – Cô là nguyên nhân của tất cả. Chính cô đã mất hết, mất hết!
Cô muốn trao đổi lại, muốn nắm lấy tay anh, nhưng anh đẩy cô ra một cách thô bạo.
- Cô đi đi! Để tôi một mình thôi!
- vâng, đã thế này… - cô vừa thều thào, vừa lắp bắp, mặt đỏ bừng – em sẽ đi. Em sẽ về nhà ở Buôcgiơ với chị em. Và nếu anh không đến tìm, anh biết đấy, đúng không, bố em rất nghèo, chẳng nuôi nổi ea đâu. Cho nên, em sẽ lại lên paris, lại lang thang bát phố như trước đây, chắc chắn em sẽ trở nên một cô gái hư hỏng, bởi lẽ em có còn việc làm đâu…
Cô bỏ đi tìm hành lý để đáp tàu hỏa về quê, trong khi không thèm nhìn cô, Môn tiếp tục đi vơ đi vẩn.
Nhật ký lại dừng.
Tiếp theo lại là những bức thư viết nháp, thư của một người không dứt khoát lầm lạc. Về đến Phectê d’Angilông, Môn gửi thư cho Valăngtin, bề ngoài là để khẳng định quyết tâm của anh không bao giờ gặp lại cô và để biện bạch với cô bằng những lý do xác đáng, nhưng thực tình có lẽ là để co trả lời. Trong một bức thư như thế, anh hỏi cô điều mà trong cơn bối rối, anh đã quên hỏi cô: Cô có biết lâu đài mà anh tìm kiếm bấy lâu nay ở đâu không? Trong một bức thư khác, anh vui vì cô làm lành với Phrăng de Gale. Chính anh sẽ đi tìm Phrăng về cho cô… Tất cả các bức thư mà tôi thấy bản nháp đều không được gửi đi. Nhưng nah đã phải viết hai hay ba lần, mà chẳng bao giờ được trả lời. Đối với anh, đó là một giai đoạn tự vật lộn đau đớn và khủng khiếp, trong sự cô đơn hoàn toàn. Hy vọng gặp lại Yvon de Gale đã tắt hẳn; theo thời gian, quyết tâm sắt đá của anh yếu dần đi. Căn cứ những trang tiếp theo – những trang nhật ký cuối cùng của anh – tôi mường tượng một sáng đẹp trời đầu kỳ nghỉ hè, anh đã phải thuê một cái xe đạp để đến Buôcgiơ thăm nhà thờ.
Mờ sáng, anh đã lên đường, đạp theo lối đi đẹp đẽ thẳng tắp giữa các rừng cây, vừa đạp vừa nghĩ ra vô số cớ để xuất hiện đường hoàng chứ không phải đau hờn hay cầu khẩn trước cô gái mà anh đã đuổi đi.
Bốn trang chót, mà tôi có thể viết lại, sẽ kể về chuyến đi và lỗi lầm cuối cùng này.
 
0
CHƯƠNG XVI
BÍ MẬT (hết)
  25 tháng 8 – Tìm mãi Môn mới phát hiện ra nhà Valăngtin Blôngdơ ơ bên kia Buôcgiơ, tận cùng các làng mới. Một phụ nữ - mẹ Valăngtin – đứng ở ngưỡng cửa có vẻ như đang chờ anh. Mặt bà nhăn nheo, nặng nề, nhưng còn đẹp, đó là bộ mặt phúc hậu của một người nội trợ. Bà tò mò nhìn anh đi đến, và khi anh hỏi:
- Nhà hai chị em Blôngdơ ở đây phải không ạ?
Bà nhỏ nhẽ đáp bằng một giọng tử tế rằng hai cô đã quay lại Paris từ 13 tháng 8.
- Các em không cho tôi nói địa chỉ mới của chúng –bà tiếp lời – nhưng cứ gởi thư đến địa chỉ cũ, chúng sẽ nhận được.
Trong khi dắt xe qua mảnh vườn nhỏ, anh nghĩ:
“Cô ấy đi rồi. tất cả đã kết thúc như mình muốn. Chính mình đẩy cô đến chỗ ấy. Chắc chắn cô sẽ trở nên một cô gái hư hỏng, cô đã bảo vậy. Chính mình ném cô ấy xuống bùn. Chính mình làm hại và làm hư vợ chưa cưới của Phrăng”.
Rồi anh cứ thì thầm như điên như dại:
- Càng tốt! Càng tốt! – tuy biết rõ thực ra mình muốn nói: “Càng tệ! Càng tệ!”
Và trước ánh mắt của bà già, anh vấp luôn cả hai chân và ngã khuỵu xuống.
Anh chẳng còn nhớ đến chuyện ăn trưa, và dừng chân trong một hiệu cà phê, ở đây anh viết cho Valăngtin một bức thư dài chỉ để thét lên, chỉ để tự giải thoát khỏi tiếng thét tuyệt vọng đang làm anh tức thở. Thư anh nhắc đi nhắc lại hoài: “Cô đã có thể! Cô đã có thể! Cô đã có thể cam chịu như vậy ư? Cô đã có thể sa ngã như vậy ư?”
Các sĩ quan đang uốn gần anh. Một người đang oang oang kể một chuyện chim chuột bằng những câu nhát gừng mà người cùng uống chăm chú nghe: “Tớ đã bảo cô ả… Hẳn em rất biết anh… Đêm nào anh chẳng hẹn với chồng em!”… các sĩ quan cười ầm lên, rồi quay nhổ xuống dưới các ghế dài. Người lấm bụi, mặt xanh xao, Môn nhìn họ như một gã ăn mày. Anh tưởng như thấy họ đang bế Valăngtin trên đầu gối.
Anh cưỡi xe, lang thang mãi xung quanh nhà thờ, mồm lẩm bẩm một cách khó hiểu: “Tóm lại, mình đến đây chính là vì nhà thờ này”. Trên quảng trường vắng vẻ, ở cuối tất cả các dãy phố, đều có thể nhìn thấy ngôi nhà thờ sừng sững và dửng dưng. Các phố này đều hẹp và bẩn như mọi phố nhỏ bao quanh các nhà thờ ở nông thôn. Đây đó có biểu hiện của một ngôi nhà mờ ám, một cái đèn lồng ánh đỏ… Môn cảm thấy đau khổ một cách tuyệt vọng trong khu dân cư bẩn thỉu, dâm đãng, trốn tránh này, như thưở xa xưa, dưới các cửa cuốn của nhà thờ. Chợt trỗi dạy trong anh nỗi sợ hãi kiểu nông dân, sự ghê tởm đối với ngôi nhà kiểu thành phố này, trong đó mọi cái xấu đều được chạm khắc ở những chỗ kín đáo, bản thân nó thì được xây nên những nơi xấu xa, và cũng không chữa nỗi những nỗi đau tình trong sáng nhất.
Hai cô gái ôm lưng nhau đi qua, nhìn anh trơ trẽn. Hoặc giỡn chơi, hoặc chán chường, để trả thù cho tình yêu của mình hay để nhấn chìm nó đi, Môn chầm chậm đạp xe theo; và một trong hai cô gái, một cô khốn khổ với một vài món tóc hoe lơ thơ búi thành một cái búi tó nhỏ sau đầu, hẹn gặp anh lúc sáu giờ ở vườn hoa Tổng giám mục, cái vườn mà Phrăng, trong một bức thư của chàng, đã hẹn gặp Valăngtin đáng thương.
Anh không xưng tên, hiểu rằng giờ này đáng lẽ anh phải xa nơi này từ lâu rồi. Và từ trong khuôn cửa sổ thấp trong cái dốc phố xuôi thoai thoải, cô gái ra hiệu mãi với anh, những tín hiệu mơ hồ.
Anh hối hả ra đi.
Trước khi đi, anh không cưỡng nổi cái ý muốn buồn bã đi qua lần cuối trước nhà Valăngtin. Anh dồn hết tâm trí ra để nhìn và có thể dự trữ thật nhiều buồn đau. Đây là một trong những căn nhà cuối cùng của khu ven ngoại, đường phố ở đây đã là đường dẫn khách ra khỏi địa phương… Trước mặt, một khỏang đất trống nom như một quảng trường nhỏ. Chẳng còn thấy đâu bóng người sua cửa sổ hay trong sân. Chẳng có một cô gái bẩn thỉu mặt bự phấn dắt hai thằng nhỏ rách rưới đi qua dọc một bức tường.
Đấy là nơi Valăng tin đã qua tuổi thơ, nơi cô bắt đầu nhìn đời bằng đôi mắt khôn ngoan và tin cậy. Cô đã may vá, lao động đằng sau những cửa sổ này. Và Phrăng đã đến nhìn cô, mỉm cười với cô trong cái phố ngoại ô này. Nhưng bây giờ chẳng còn gì, chẳng có gì hết… Buổi chiều u buồn vẫn còn đằng đẵng. Môn chỉ biết rằng ở đâu đó, cũng chiều này, Valăngtin đang trầm ngâm nhìn thấy trôi qua trong ký ức cái quảng trường ủ dột mà mãi mãi cô không trở lại nữa.
Chuyến trở về dài dằng dặc mà anh phải thực hiện hẳn là sự chống trả cuối cùng đối với nỗi đau khổ của anh, sự giải khuây cưỡng bức cuối cùng trước khi anh hoàn toàn chìm ngập vào trong nỗi đau ấy.
Anh ra đi. Trong thung lũng gần đường, giữa cây cối bên bờ nước những ngôi nhà kỳ diệu phô ra những đầu hồi nhọn hoắt gần lưới mắt cáo xanh lá cây. Không còn nghi ngờ gì nữa, đằng ấy, trên các bãi cỏ, những cô gái biết chiều bạn tình đang nói chuyện tình yêu. Có lẽ họ là những cô gái có tâm hồn, những tâm hồn tươi đẹp.
Nhưng đối với Môn lúc này, chỉ tồn tại một tình yêu duy nhất, một tình yêu không thỏa mãn mà người ta vừa xúc phạm một cách độc ác, và cô gái duy nhất mà anh phải che chở, bảo vệ lại chính là cô mà anh vừa quẳng đi mất tăm.
Vài dòng nhật ký ghi vội còn cho tôi biết rằng anh đã nảy ra dự định là dù thế nào cũng phải tìm cho ra Valăngtin trước khi quá muộn. Chữ số chỉ ngày tháng ở góc trang nhật ký khiến tôi tin rằng đó chính là cuộc đi dài mà mẹ anh đã chuẩn bị các thứ anh cần mang theo, thì vừa hay tôi đến La Phêctê d’Ăngilông làm lỡ hết. Một sáng đẹp trời tháng tám, Môn đang ghi lại các kỷ niệm và các dự kiến của mình, thì tôi đẩy cửa, đem đến cho anh cái tin vĩ đại mà anh không đợi. Anh đã bị cuộc phiêu lưu cũ xâm chiếm và cầm tù mà không dám phản ứng gì mà cũng không dám tự thú. Từ đấy rong anh bắt đầu dấy lên nỗi ân hận, tiếc thương và đau khổ, lúc lịm đi, lúc hừng hực, cho đến ngày cuối mà tiếng kêu từ rừng thông của chàng Bô-hê-miêng đã nhắc lại cho anh nhớ một cách bi thảm lời thề thanh niên đầu tiên của mình.
Cũng trong quyển vở bài tập hàng tháng này, vào lúc bình minh, anh còn hấp tấp ghi vài lời cho Yvon de Gale, người đã là vợ anh từ hôm qua, những lời ghi trước lúc rời bỏ nàng, tuy được phép của nàng, nhưng là sự rời bỏ vĩnh viễn.
“Tôi đi. Tôi phải lần cho ra ấu vết của hai chàng Bô-hê-miêng hôm qua đến rừng thông và hiện đã đi về hướng tây bằng xe đạp. Tôi chỉ về bên Yvon nếu dẫn theo và đưa về sinh sống trong “nhà của Phrăng” Phrăng de gale và Valăngtin Blôngđơ đã nên vợ nên chồng”.
“Những trang viết mà tôi đã bắt đầu viết như một cuốn nhật ký bí mật và đã trở thành lời tự thú của tôi đây, sẽ là tài sản của bạn Phrăngxoa Xơren, nếu tôi không trở lại”.
Hẳn anh đã phải nhét vội quyển vở này xuống dưới những quyển khác, khóa cái hòm học sinh cũ nhỏ của mình lại, và biến đi.
 
0
ĐOẠN KẾT
Thời gian mãi qua. Tôi mất hy vọng gặp lại bạn tôi, và những tháng ngày buồn bã trôi đi trong ngôi trường thôn quê, còn trong ngôi nhà hoang vắng là những ngày tháng sầu thảm. Phrăng không đến điểm hẹn mà tôi đã báo, vả chăng đã lâu rồi bà dì Moanen của tôi không nhớ Valăngtin ở đâu nữa.
Chẳng bao lâu niềm vui duy nhất ở Xablonnie là cháu bé mà người ta đã ó thể cứu được. Chuối tháng chín, thậm chí cháu lộ cho biết trước cháu sẽ là một cô bé rắn rỏi và xinh đẹp. Cháu sắp được một tuổi rồi. bám lấy nan các ghế tựa, cháu một mình vừa đẩy ghế, vừa bước đi không sợ sẽ bị ngã, gây nên tiếng ầm ĩ vang vọng âm âm rất lâu trong ngôi nhà bị bỏ rơi. Khi tôi bế cháu trong tay, chẳng bao giờ cháu kêu đau, đến nỗi lần nào tôi cũng phải thơm cháu một cái. Vừa như hoang dại, vừa thật dễ thương, cháu quẫy chân quẫy tay, cười rúc rích hay ré lên, xòe cả bàn tay bé bóng đẩy mặt tôi ra. Dường như cháu sắp xua tan bằng tất cả sự nhí nhảnh và toàn bộ vẻ hoang sơ của mình nỗi đau buồn đè nặng ngôi nhà từ khi cháu sinh ra. Thỉnh thoảng tôi tự nhủ: “Hiển nhiên, dù có vẻ hoảng sợ, phần nào cháu cũng sẽ là con ta”. Song, một lần nữa, Thượng đế lại địn đoạt một cách khác.
Một sáng chủ nhật cuối tháng chín, tôi dạy khá sớm, trước cả bà già nông dân giữ con mọn. Tôi sẽ đi câu cá ở Sê với hai người ở Xanh-Bơnoa  và Giacxmanh Đơlusơ. Dân làng chung quanh cũng rất hay thông đồng với tôi đánh trộm những mẻ cá lớn, mò tay xuống bắt hay ban đêm quăng lưới, tuy ngay việc này cũng bị cấm… Những ngày nghỉ trong suốt mùa hè, chúng tôi ra đi từ rạng sáng, và mãi trưa mới về. Đó là cần câu cơm của gần như tất cả những người nông dân rủ tôi đi. Đối với tôi, đó là cách giết thời gian duy nhất, là nhữn cuộc phiêu lưu duy nhất gợi lại những cuộc “bôn tẩu” ngày xưa. Kết quả là tôi đâm thích những cuộc viễn du ấy, những cuộc bắt trộm cá rất dài dọc sông hay rừng lau sậy ven đầm.
Năm rưỡi sáng hôm ấy, tôi đứng trước nhà, dưới một mái nhà kho nhỏ dựa vào bức tường phân cách khu vườn kiểu Anh của nhà Xablonnie với vườn rau của bên chúng tôi. Tôi đang loay hoay gỡ lưới mà thứ năm vừa rồi tôi chất bừa thành một đống.
Trời chưa sáng hẳn. Một buổi sáng tháng Chín huy hoàng đang dựng. Nhưng gian kho nơi tôi tất bật gỡ lưới, còn tối mờ mờ.
Tôi đang lặng lẽ chăm chú làm thì nghe cửa vườn mở ra và tiếng chân lao xao trên sỏi.
“Chà, chà, các vị đến sớm quá hè, tôi tự nhủ. Thế mà tôi chưa sẵn sáng đi ngay được”…
Nhưng người đi vào sân kia không phải người quen. Tôi chỉ nhận ra trong ánh nhập nhoạng một chàng trai cao lêu đêu, râu ria vù xù, ăn vận như một người thợ săn hay một tay ăn trộm. Đáng lẽ phải đến chỗ mà các bạn cùng hội cùng thuyền vẫn đến tìm tôi vào lúc này, người kia đi thẳng đến cửa ra vào.
“Hừm, tôi nghĩ, chắc đây là một người bạn mà họ rủ cùng đi, nhưng chưa kịp nói với mình, và họ phải đi “tiền trạm”.
Người khách kéo then cửa rất lẹ, không một tiếng động. Nhưng tôi khép cửa lại ngay, và theo luôn. Người khách mở cửa bếp cũng nhẹ nháng như vậy. Rồi ngập ngừng giây lát, người ấy quay về phía tôi, bộ mặt bồn chồn và khó tả trong ánh bình minh đang lên. Mãi lúc này tôi mới nhận ra Môn cao kều.
Một lúc sâu, tôi đứng đực ra đó, bàng hoàng, tuyệt vọng, đột nhiên đau nhói vì tất cả nỗi đau đã nguôi đi chợt thức dậy trước việc anh trở về. Anh biến ra sau nhà, vòng quanh một lượt, rồi trở lại, dáng băn khoăn.
Lúc này, tôi mới tiến đến, chẳng nói chẳng rằng ôm hôn anh mà khóc nức lên. Anh hiểu ngay tức khắc:
- Tiểu thư mất rồi, phải không? – anh nghẹn ngào.
Rồi anh đứng đờ ra, bất động và khủng khiếp. Tôi khoác lấy tay anh và dịu dàng mời anh vào nhà. Trời đã sáng hẳn. Như để cho nỗi đau trọn vẹn, tôi dìu anh leo cầu thang lên căn phòng mà nàng đã chết. Vừa vào, anh đã quỳ xuống bên giường và gục đầu mãi vào hai cánh tay.
Sau cùng, anh đứng lên, mắt lơ láo, người lảo đảo, chẳng hiểu mình đang ở nơi nào. Vẫn nắm tay anh dìu đi, tôi mở cánh cửa thông sang buồng cháu bé. Cháu đã thức dậy một mình – trong khi vú nuôi ở dưới – và, sau phút ngẫm nghĩ, cháu ngồi lên trong nôi. Chúng tôi nhìn thấy cháu ngạc nhiên quay về phía chúng tôi.
- Con anh đấy – tôi bảo.
Anh giật mình và đăm đăm nhìn tôi.
Rồi anh bế lấy cháu và nâng cháu lên. Thoạt đầu, anh không nhìn rõ cháu vì anh khóc. Để kìm bớt xúc động và nước mắt, anh vừa siết chặt đứa con ngồi bên tay phải, vừa cùi đầu quay bảo tôi:
- Hai bạn kia, tớ đã dẫn về. Cậu hãy đến thăm ngay ở nhà họ.
Đúng thế, và đầu buổi sáng, khi vừa đăm chiêu vừa gần như sung sướng đi đến nhà của Phrăng, mà trước đây, Yvon de Gale đã chỉ cho thấy thật cô tịch, từ xa tôi đã nhìn thấy một cô chủ gia đình mặc áo cổ phồng đang quét bậc cửa, một cô gái mà nhiều chàng trai chăn bò đi lễ nhà thờ qua cứ hau háu nhìn vừa tò mò vừa thích thú.
Tuy nhiên, bắt đầu chán vì bị siết chặt, và vì Môn vẫn cứ cúi đầu sang bên để kìm giấu nước mắt và vẫn không chịu nhìn cháu, cháu bèn giơ bàn tay nhỏ xinh tát mạnh vào cái mồm râu ria ướt đầm nước mắt của anh.
Lần này, người bố giơ cháu lên thật cao, tung bổng cháu và như cất tiếng cười. Cháu bé vỗ tay khoái chí.
Tôi khẽ lùi lại để nhìn thật rõ hai cha con. Hơi thất vọng mà thỏa lòng, tôi hiểu rằng rốt cuộc, cháu bé đã tìm thấy người bạn đường mà cháu đã mơ hồ mong đơii. Niếm vui sướng duy nhất mà Môn cao kều để lại cho tôi, tôi hiểu rằng đó là anh đã trở về đón cháu từ tay tôi. Và chưa chi tôi đã tưởng tượng rằng ngay đêm nay, lấy áo măng-tô quấn ấp cho gọn, anh lại cùng con lao vào những cuộc phiêu lưu mới.
  HẾT
 
0
Lâu Đài Huyền Bí - Alain Fournier
 
Đã mang vào thư viện,
 
Cảm ơn HanAn đã góp sức cho thư viện
 
Thân




0
«« « 1 2 » »»