Diễn Đàn » Tác giả người Việt

NGUYỄN LỆ UYÊN

38 trả lời, 1.756 lượt xem — Trang 1 / 2
NGUYỄN LỆ UYÊN





Sanh quán : Tuy Hoà, Phú Yên.
Tốt nghiệp ÐHSP Cần Thơ.
Khóa 6/70 SQTB Thủ Ðức.
Hiện sống và viết tại Tuy Hoà
Trước 1975, viết trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn: Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Thời Tập, Nhà Văn, Chính Văn, Ý Thức, Tuổi Ngọc..

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:

Trò Chơi Dân Gian (biên khảo)
Mưa trên sông ĐăkBla (tập truyện)
Mùa hè sang trọng (tập truyện)
Sông Chảy Về Núi (tập truyện)
Trò chơi dân gian (biên khảo)
Truyền thuyết và huyền thoại (biên khảo)
Bài chòi (biên khảo)
Trang sách và những giấc mơ bay (những bài viết về các tác giả miền Nam trước 75 - nxb Thư Quán Bản Thảo Hoa Kỳ 2010)
Chân Dung Tự Vẽ (tập truyện - nxb Thư Quán Bản Thảo hoa Kỳ 2010)


MỘT SỐ TÁC PHẨM


GIẤC MƠ
LÊN NON HÁI TRÁI
ĐỒNG LÀNG
BUỔI SÁNG MÁT MẺ
NHỚ
VỀ TUY HOÀ
NƠI KHÔNG CHỈ CÓ KHÓI NÚI
CON DAO VÀ LÁT BÁNH MÌ
NGƯỜI ĐÀN BÀ BAY TRÊN MÂY
VỀ LÀNG
VÒNG TRẮNG BAY
CƯỚI VỢ ĂN TẾT
NGÀY THÌ TỐI ĐÊM THÌ SÁNG
NHÂN DÂN ƠI, XIN CHÀO
CHÂN DUNG TỰ VẼ
MIỀN KHÔNG DẤU CHÂN NGƯỜI
MÙA TẾT
BÓNG NẮNG
MƯA TRÊN SÔNG ĐAKBLA
GIOS CUỐI CHÂN MÂY
NGƯỜI ĐÀN BÀ CHẾT TRÔI
NGÀY CHƯA YÊN
HƯƠNG CAU
KHÓI VÀ MẢNH TRĂNG KHUYẾT
ĐĨ XƯỢC
BUỔI SÁNG TRONG LÀNG
CÒN CỌNG RAU DỀN
CHÌM SÂU XUỐNG ĐÁY
ĐÁM ĐÔNG
CĂN PHÒNG
NGƯỜI ĐÀN BÀ
BUỔI SÁNG CUỐI NĂM
CHIẾC LY VỠ
GIÓ BAY XA
HƯƠNG CAU
TÀU KHUYA
VỀ QUÊ

Đăng nhập để trả lời
0
GIẤC MƠ



NGUYỄN LỆ UYÊN



Ba bức thư điện tử cách nhau ba ngày, cùng một nội dung là những lời thăm hỏi vu vơ không khiến ông phải bận tâm. Nhưng đến thư thứ tư cách thư trước khoảng một tuần thì nội dung giống chiếc đuôi con thằn lằn ngoay ngoáy trên vách tường rình mồi. Cái đuôi ấy lúc cong lên lúc lắc qua lắc lại, vừa xa mà cũng vừa như tóm được con mồi trong chiếc lưỡi dài: “Chào ông, ông có nghĩ rằng thời gian sẽ đẩy con người tới chốn âm u để quên đi tất cả. Trí nhớ sẽ không còn nhạy bén như hồi trẻ. Đi đứng khó khăn. Một vài thứ bệnh xuất hiện… Hẳn nhiên người ta sẽ phải loay hoay với những thứ đó, bận rộn suốt ngày với nó để không còn thời gian mà nhớ…?”.

Ông phì cười. Có lẽ cô nàng nào đó đã nhầm ông với một người nào khác. Rõ ràng cái địa chỉ này ông chưa hề quen, chưa một lần tiếp xúc qua bàn phím, nói chi đến chuyện nhớ quên? Nhưng mười ngày sau, trong inbox lại xuất hiện cái địa chỉ xa lạ kia. Cố nén bực bội nhưng cũng vừa tò mò, ông mở ra: “In life, there are moments when you miss someone so much that you feel like you could only fulfill your dreams by holding that person tight in your arms. Ngộ chưa? Nhớ đến ai, tương tư ai đến nỗi phải ôm chặt người ta trong giấc mơ? Một mối tình tan vỡ chăng? Hay là hoài nhớ lại những ngày xuân xanh? Ông muốn gõ vài chữ trả lời rằng, xin lỗi cô (bà) đã nhầm địa chỉ, nhưng ông không đụng vào ô reply, nghĩ bụng một cô bé theo kiểu nhân vật trong các feuilletons trước kia thì cứ để mặc cho cô chìm đắm trong những giấc mơ đẹp, không mất gì! Ông bỏ qua, mở các thư khác và trả lời, và không còn nhớ gì đến những giấc mơ của cô hay bà nào đó. Những giấc mơ bay mờ dần, tan dần trước màn hình kín đặc những con chữ màu đen.

Ông lại chúi mũi vào công việc. Bàn phím lại lóc cóc vang lên những âm thanh quen thuộc. Viết được nửa trang thứ ba có chuông điện thoại reo. Lại ngưng công việc, lại phải nhấc ống nghe áp lên lỗ tai:
-Tôi là Bằng, xin nghe.
-Thưa ông tôi muốn nói chuyện với ông một chút, có phiền lắm không ạ?
-Vâng, chị cứ nói, tôi nghe.
-Tôi là Mai, Ngọc Mai, ông còn nhớ không ạ?
-Mai thì rất nhiều, nhưng Ngọc Mai thì cũng có vài người thân sơ. Chị có thể nói rõ hơn chút được không? – Ông lúng túng với trí nhớ bắt đầu lãng đãng của mình.
Đầu dây bên kia ngập ngừng một lát rồi nhỏ nhẹ vang lên. Chất giọng mềm mượt tựa thảm cỏ tỉa tót cẩn thận trước sân vườn nhà ông.
-Đáng lẽ ra không nên làm ông bận rộn vì một việc không đâu, nhưng hôm qua, trong bữa họp mặt đồng hương, có người nhắc đến tên thầy làm em nhớ những ngày còn ở trường Lê Ngọc Hân.

Ông giật mình. Trong số các nữ giáo sư cùng trường thời xưa, hình như chỉ có Thanh Mai và Lê Thị Mai một dạy pháp văn, một dạy triết. Ngoài ra không còn Mai nào khác. Ông cố lục tung mọi ngõ ngách trong đầu. Một loạt các đồng nghiệp cũ hiện ra, nhưng cái tên Ngọc Mai thì chịu. Chẳng lẽ ông bắt đầu bước vào vũng còm cõi đến vậy sao. Hay cô ta dạy ở trường tư thục nào đó cùng thành phố. Mà tư thục thì có đến năm sáu trường, ông có quen ai đâu.
Ông nói với giọng không mấy tin tưởng:
-Tôi dạy ở Lê Ngọc Hân chỉ có hai năm, sau đó chuyển đi trường khác. Không rõ cô có dạy cùng thời gian với tôi ở đó không?
-Không thầy ơi. Em là học trò thầy lớp 11B3, phòng học ở cuối dãy hành lang lầu 1, xế hành lang có cây bằng lăng vượt cao hơn balcon. Giờ ra chơi tụi em hay vói tay níu hái những búp hoa tím, có lần bị thầy bắt gặp và nhắc nhở một câu nhớ đời: “Hoa thì đẹp đấy. Nhưng các em thì còn đẹp hơn gấp ngàn lần. Từ balcon tới mặt đất có đến 4 mét. Phía dưới không êm ái như tấm nệm trong phòng ngủ có máy điều hoà đâu”. Thầy chỉ nói có vậy rồi bỏ đi không thèm ngoái nhìn lại coi coi lũ học trò có thôi đi trò nghịch ngợm nguy hiểm kia không hay vẫn tiếp tục vói tay ra tận những cành xa. Hôm qua chị bạn nhắc lại, chị Lan làm thơ hay nhất lớp đấy, chắc thầy nhớ?
-Vâng, tôi nhớ cô Lan, tôi nhớ những năm Lan và các bạn say mê làm tờ đặc san cuối năm cho trường.
-Dạ, giờ chị Lan không thành nhà thơ mà là một doanh nhân tầm cỡ trong cộng đồng ở nơi đất khách quê người này.
-Tôi cầu mong tất cả mọi người đều thành đạt. Niềm hạnh phúc riêng tư của mỗi người là nắm giữ được những mơ ước có thật trong tay.
-Thầy có khoẻ không và hiện đang làm gì?
-Cảm ơn, có lúc khoẻ lúc không bởi tuổi già cứ rập rình ngoài khung cửa, giống như khạp nước bị nứt. Bữa nay nước rỉ ra một chút, mai một chút cho tới khi cạn đáy coi như chấm dứt mọi món nợ trần gian.
-Thầy luôn có lối ví von gây sự chú ý. Tụi em nhớ thầy chính vì điểm này. Thầy luôn có sự khác biệt đối với những thầy khác, khó nói, khó tả chính xác. Xin lỗi thầy, giờ em có hẹn, em sẽ gặp lại thầy. Chúc thầy…

Ông gác máy, ngã người ra thành ghế, nhắm mắt làm một cuộc thanh lọc và tái hiện lần hồi, bắt đầu từ buổi sáng cầm sự vụ lệnh đến trình diện với bà hiệu trưởng. Giờ phút đầu tiên cầm viên phấn và đám nữ sinh xì xào bên dưới… Một khối trắng bềnh bồng trôi trong phòng học, không phải là những con thiên nga giang đôi cánh trên trời cao mà là những chùm bông gòn kết dính, rối nùi bay lả tả trong không gian hẹp đến khó chịu. Sự khó chịu kia có lần ông buộc miệng với bà hiệu trưởng: “Tôi không thể nào hiểu nổi ai đó ở bộ Giáo dục lại đưa ra ý tưởng lập một trường trung học toàn nữ. Sự mất thăng bằng về giới tính trong nhà trường dễ dẫn đến những hậu quả tai hại về học tập, sinh hoạt về vấn đề tâm sinh lý…”. Câu tổng kết kinh nghiệm mới mẻ kia được phát đi từ miệng anh thầy giáo non choẹt mặt mũi, non choẹt tuổi nghề, được đón nhận bằng những ánh mắt trái ngược nhau và đều có ngầm ý cho rằng ông đang nói trên vị trí của anh đồ gàn của nhiều thế kỷ trước còn sót lại. Nhưng với ông, lúc đó hoàn toàn chính xác đến từng ly mét. Một thầy giáo mới ra trường, tuổi tác so với học trò chỉ cách nhau năm ba tuổi, có thể gọi là cùng thế hệ đã dẫn tới nhiều hệ luỵ rất trẻ con.

Chất trẻ con đầu tiên ông đụng mặt là những câu tấn công tình cảm vu vơ trên bảng, đánh lừa người khác bằng cách viết tay trái. Thỉnh thoảng lại nhìn thấy một cánh hoa dại bứt vội đâu đó trên đường tới trường đặt trên bàn kèm theo mảnh giấy “gửi đến thầy với trái tim tan nát”, một tờ giấy pelure màu hồng sực nức nước hoa và những vệt nước nhoè trên mặt giấy mà ông đoán chắc là những giọt nước từ chiếc vòi ngoài sân cỏ. Nhưng khủng khiếp hơn cả là khi ông giảng về phong trào thơ mới ở Việt Nam. Hàng chục cánh tay giơ lên, nhao nhao tranh luận, đặt những câu hỏi phản biện như đùa như thật:
-Thưa thầy, tại sao yêu là chết trong lòng một ít? Vô lý, không yêu nhau thì thôi chớ chết chi cho uổng? Sao ông Phan Khôi tự dưng đặt tên bài thơ là tình già, tình già khác tình trẻ chỗ nào, thầy? Lại còn liếc nhau con mắt còn có đuôi, bộ như đuôi chim đuôi gà hay kiểu tóc đuôi ngựa tụi con gái thời nay? Ông Nguyễn Bính so sánh khập khiễng: Nắng mưa là bệnh của trời/tương tư là bệnh của tôi yêu nàng. Dạ, cứ cho là bệnh đi, nhưng so sánh với mưa nắng thì nhà thơ dở ẹt... Dạ, thưa... có bao giờ thầy tương tư, thầy chê...ết... chưa ạ? Tiếng cười ồ đồng loạt nổi lên. Tôi lúng túng thật sự. Lúc đó tôi không còn là ông thầy nghiêm trang nữa, mà quay lại đúng vị trí anh thanh niên vừa tròn 23 tuổi mụ, đang bị bao vây bởi một bầy thiên nga lông trắng, nhao nhao bên dưới. Rất khó khăn tôi mới lập lại được trật tự. Và, cũng chừng ấy khó khăn, tôi bình tĩnh giải thích, cắt nghĩa rành rẽ về cấu trúc ngôn ngữ thơ ca, về tứ trong một bài thơ... đến khi chấm dứt giờ học, thay vì những tiếng cười ồ trước đây là những tiếng vỗ tay bôm bốp, kèm theo: “Ôi, thật tuyệt vời, thầy đáng yêu quá... Chúng em yêu thầy...”.
Chuông đổ, tôi thu gom tài liệu trên bàn, vụt ra cửa như một chiến binh bị địch truy đuổi phía sau. Những tiếng la í ới, tiếng đập bàn như thể những phát đạn bắn với theo.

Bầy thiên nga lông trắng ngày xưa với giấc mơ lỏng lẻo từ trời cao rớt xuống, cách một đại dương mênh mông, nếu dừng lại ở đấy thôi cũng đủ làm ông nhồn nhột, huống chi ba ngày sau cuộc nói chuyện bất ngờ trên điện thoại, lại có một bức thư khác ở một địa chỉ e-mail khác, viết rằng: Thầy có biết thầy là người vô tình không? Con Mai yêu thầy đến phát cuồng. Nó yêu thầy ngay từ ngày đầu thầy nhận lớp. Đã chồng con đề huề, nhưng mỗi khi nhắc trường xưa bạn cũ nó lại khóc ròng nói nhớ thầy. Nếu hồi đó mà thầy biết sự tình, giờ này chắc tròn trịa. Thầy có tưởng tượng ra nó chưa? Con Mai đẹp nhất trường, kiêu kỳ nhất, đa cảm nhất... và yêu thầy nhất... Ông tắt cả hộp thư, shut down máy. Đầu óc váng vất, mệt muốn đứt hơi với mớ chữ vừa đọc.

Ông xô ghế, rót cốc nước lọc, uống từng hớp nhỏ. Thần kinh dịu xuống đôi chút. Lúc sau ông thừ người ngồi nhìn chiếc laptop mỏng dính im lìm trên bàn: lẻ loi, cô độc bởi ông không đụng đến nó; im lìm như người có lỗi bị xua đuổi. Trong đầu bổng dưng lóe lên một ý nghĩ không mấy bình thường: nếu như ông biết sự thể kia, nếu như ông chấp nhận mối tình của cô bé học trò, nếu như hai người lấy nhau... thì giờ này ra sao nhỉ?

Những chữ “nếu” kéo dài và dính cục lại, bồng bềnh như cánh những con chim thiên ngay lông trắng muốt trên trời cao vẫy những giấc mơ đẹp bay theo. Ông nhắm mắt lại và ngỡ như mình đang bay đuổi theo những cánh thiên nga trắng muốt kia.

Tháng 5/2010

Đăng nhập để trả lời
0
LÊN NON HÁI TRÁI


NGUYỄN LỆ UYÊN


Nước trên cao chảy xuống ì ầm

Vượn bồng con lên non hái trái

(ca dao)




...ngày... tháng... năm...

Gửi anh,
Tính từ ngày xách va li lên tàu, đến nay đúng hai tháng. Khoảng thời gian không dài không ngắn, giữa núi rừng trùng điệp này, đủ để tôi mang trái tim ra nghĩ về cách hành xử của mình và không thể không giải bày với anh bằng những suy nghĩ dài lê thê, với lòng mong mỏi anh và những người thân yêu sẽ dần hiểu tôi.
Ngay từ lúc chọn nghề, cả ba mẹ, anh chị đều cho tôi là một con điên. Bốn năm dùi mài, thích thú với khoa sư phạm, bất ngờ gặp và quen anh, tôi cứ nghĩ anh là người đồng cảm với tôi, nhưng khi thấy ánh mắt lúc tiễn lên tàu, tôi chợt thấy anh lại ném về phía tôi một cái nhìn đầy nỗi niềm và tuyệt vọng, cùng với sự bịn rịn của người thân trên sân ga. Tôi không ưa cảnh tượng đó, mong cho còi tàu mau rúc lên và lăn bánh thật nhanh để tránh những cảm giác lẫn lộn có thể sẽ khiến tôi bỏ cuộc giữa chừng bỡi những sự vây bủa định kiến khó hiểu.

Tàu lăn bánh. Đó là tín hiệu khởi đầu cho “sự lập thân” của mình và là lúc tôi bĩnh tĩnh tự lật ngửa mình ra, moi hết tim gan coi nó méo mó, trầy trật ở chỗ nào? Trước hết là cảm giác xốn xang, nao nao khi phải rời xa nơi tôi sinh ra và lớn lên. Một chút đau nhớn nhác giống như con chó con bị bắt cho người lạ, đột ngột rời xa núm vú quen thuộc trên bụng mẹ, rời xa hơi hớm bầy đàn, rên ủng ẳng thảm thiết! Tôi cũng vậy, có điều tôi không rên lên, nhưng nhất định có chút buồn, nỗi buồn cay xè của kẻ lần đầu xa nhà, xa mọi thứ thân quen. Phút chạnh lòng, tôi giật mình thoáng nghĩ, mình có vẻ như là con điên thật sự, thứ dở hơi thực sự như tất cả mọi người, kể cả anh gán cho. Nếu không, sao tôi lại chọn nghề này, trong khi bạn bè cùng lứa, đứa thì vào y, đứa kiến trúc, kinh tế... những ngành hái ra tiền, lại được hưởng thụ mọi tiện nghi trong thành phố? Còn tôi? Tôi đã liên tục thổi tắt ngọn lửa hy vọng của mọi người, từ cách chọn nghề đến kiểu chọn nơi đến? Rồi tôi lại phản biện những định kiến sắp đặt kia: Tiền bạc, tiện nghi là cái gì? Nó giải quyết được gì? Tôi phân thân ra, vừa tra hỏi vừa loay hoay tìm kiếm cách lý giải. Cùng một lúc, tôi vừa là quan tòa, vừa là bị can đến nỗi đầu óc căng cứng mệt nhoài, theo bánh sắt lăn rập rình trên đường ray, rập rình cơn gà gật gãy khúc, như lúc vô tình nhìn chiếc bánh tráng nướng có cục mắm ruốc đỏ hỏn trên tay người đàn bà ngồi bên cạnh, cứ vơi dần đi...

Tôi là kẻ đã lên tàu và đang lao tới, không dừng lại được. Tôi xa dần và nhỏ dần trong mắt mọi người.
Xuống sân ga, chẳng ai đón. Tủi thân. Lầm lũi ra bến xe chen chúc trong chiếc xe đò chật cứng, ì ạch non nửa ngày mới tới nơi. Lại tủi thân. Niềm tủi phận cứ thế, cao thêm một chút, dày thêm một ít. Rồi lại tự nhủ: “Thôi, sự đã rồi. Đã lên tàu còn phân vân nỗi gì!”.



...ngày... tháng... năm...

Viết tiếp...
Nơi tôi đến, anh không thể nào tưởng tượng nổi. “Thật kinh khủng!”. Đó là cảm giác đầu tiên khi tôi nhìn thấy ngôi làng bé tẹo bị vây phủ giữa đồi núi chập chùng. Tôi đã từng nhìn thấy núi rừng dọc đường lên Đà Lạt. Nhưng núi rừng ở đó thì dễ thương, thơ mộng, còn chỗ này thì quạnh quẽ, đìu hiu: Những con đường đất đỏ dọc ngang, vài quán tạp hóa, những con bò thản nhiên nằm giữa đường. Nhà sàn chen lẫn với nhà mái tôn tường gạch làm tôi ngẩn ngơ: Không gian văn hóa Tây nguyên bị tróc vảy sao? Nhưng tôi lại thích những bụi sắn, giàn bầu và lũ heo kéo lê chiếc bụng sát đất nom như nùi giẻ lau nhà... chen lẫn với cảnh tượng đó là những người đàn bà cong người trên những chiếc gùi nhô lên vài que củi, mụt măng, trái bắp... Tất cả đều lắc lư theo bóng những người đàn ông rựa vác vai, miệng ngậm ống vố thở khói phì phèo, nhẩn nha đi phía trước, khiến tôi liên tưởng đến ống khói con tàu đưa tôi đến tận chốn này; trong khi đám trẻ con thì mình trần, mốc cời, tóc hoe vàng nom rất lạ mắt.
Khi thấy tôi, lũ trẻ nhìn ngơ ngác, còn cha mẹ chúng thì mở tròn mắt, tò mò vì sự xuất hiện đột ngột của một cô gái lạ giữa chốn “thâm sơn cùng cốc” này. Tôi hỏi thăm người thanh niên đường tới trường. Anh ta reo lên và nói câu gì đó bằng tiếng dân tộc tôi không hiểu. Sau đó lại khum tay lên miệng hú một tiếng dài làm tôi hết hồn, như thể mình sắp bị đưa lên giàn hỏa vậy. Lát sau, mọi người lục tục kéo ra đường, tiến về phía dãy nhà sàn dài. Người thanh niên đưa tôi nhập vào đám đông. Tới lúc đó, tôi mới kịp quan sát: Anh ta cao lớn, vạm vỡ, da màu đồng thau, mái tóc bềnh bồng như nghệ sĩ trong dàn nhạc Jazz. Tôi lí nhí nói mấy tiếng cảm ơn và đưa tay ra để anh ta dắt, trèo lên nhà sàn nối với khúc cây khất từng nấc, không mấy dễ dàng. Lát sau ba thầy cô giáo xuất hiện. Một vài người còn mang theo nải chuối, thu đủ và vài loại trái rừng màu đỏ chót. Ché rượu có mặt ngay giữa sàn cùng lúc với bếp lửa nổi lên. Cuộc tiếp đón mộc mạc, chân thành làm tôi cảm động thực sự. Họ xoăn xít hỏi han, giải thích, an ủi... khiến tôi đỡ quạnh lòng đôi chút. Ông trưởng buôn, rồi tới lượt ông xã trưởng kéo cần rượu đưa về phía tôi bằng ánh mắt sáng rỡ. Có lẽ, một chút rượu ấy khiến tôi đủ tỉnh táo để xách va li theo các đồng nghiệp về trường.

Đi bộ non cây số, cô giáo tên Hài chỉ tay về phía dãy nhà sau ngọn đồi kín lá: “Trường đấy. Thầy cô ở ngay tại trường, trong một phòng học. Rồi em sẽ thấy...”. Chị Hài bỏ lửng câu nói. Tôi giật mình khi nghe nói thầy cô ở cùng phòng và lầm lũi bước theo mọi người một cách nặng nề, cuốn theo cảnh “thầy cô ở chung phòng” cứ trương phình dần trong đầu!
Anh có thể tưởng tượng nổi không? Đến trường, suýt nữa tôi bật thành tiếng. Gọi là trường học, nhưng giống như một trại chăn nuôi bị bỏ hoang. Một dãy nhà lợp tôn, mái ễnh cong; tường thì sứt sẹo đầy những vết tróc lở khiến tôi liên tưởng ngay đến những ngôi trường khang trang ở thành phố, đến những công sở cao ngất ngưởng, lộng lẫy. Tâm trạng nặng nề ấy khiến chị Hài tưởng tôi mệt vì đường xa, xô liếp cửa phòng tập thể nhỏ nhẹ: “Em nằm nghỉ chút rồi ăn cơm”.

Tôi đặt chiếc va li xuống nền đất nện láng tưng và bắt đầu quan sát: Nửa bên này dành cho các cô, rộng hơn và được chắn kín bằng tấm cót mò o nẹp dày. Bên kia là phòng ông Thắng, phụ trách trường, có cửa đi riêng. Tấm cót vẫn nguyên vẹn, không hề thấy lỗ thủng, chứng tỏ mọi người đều sống nghiêm túc khiến tôi có thêm chút an tâm. Chiếc bàn học trò duy nhất giữa phòng nữ, hai bên là hai băng ghế gỗ vừa là chỗ soạn bài, tiếp khách, vừa làm nơi ăn uống. Phía trong là tấm vải hoa giăng ngang, có lẽ là chỗ ngủ. Giá sách vở được đặt trên những mảnh gỗ ghép gắn vào tường, phía đối diện 4 ly thủy tinh đứng ôm phích nước màu xanh da trời. Mọi thứ đều lỏng chỏng, lẻ loi, xa lạ khiến tim tôi đập loạn xạ, như thể đang ở trại lao cải! Anh biết không, lúc chị Hài trở lên nhìn thấy vẻ mặt dàu dàu liền ôm choàng vai an ủi: “Rồi em sẽ quen, sẽ vui. Hồi mới lên chị cũng vậy, suýt ngã nhào xuống đất! Vào thay áo quần, rửa mặt, chị dọn cơm đây”. Tôi thẫn thờ vẹt tấm màn chắn ngang căn phòng: Chiếc giường gỗ và chiếc chiếu hoa, bên trên là chiếc gối ôm và tấm mền cùng màu vàng nhạt... Tôi chưng hửng và nghĩ mình sẽ không chịu đựng nổi nếu nằm quá ba đêm, bởi thói quen nằm nệm từ thuở bé. Tôi lúng túng thật sự, loay hoay với những ý nghĩ lộn xộn cùng cảm giác lạnh lẽo bắt đầu sưng tấy lên. Tôi thừ người ra, nước mắt chảy dài...

Hồi còn ở nhà, những đêm trời trở lạnh tôi thường chui qua giường chị Nga tìm chút hơi ấm từ người chị choàng lên. Còn nơi này, đêm đầu tiên mới kinh khủng làm sao! Phần xa nhà, phần khí núi lạnh tôi không tài nào ngủ được. Mắt mở thao láo nhìn bóng đêm, tai dỏng lên nghe ngóng mọi tiếng động chung quanh: Tiếng côn trùng rả rích như giàn bát âm đám tang; tiếng chim đêm vang lên đột ngột xé toạt màn đêm; tiếng lộc cộc đâu đó quanh nhà như kẻ trộm tìm cách cạy cửa. Tôi điếng người, cong riết rồi quơ tay ôm chị Ngân như đứa bé chui rúc vào lòng mẹ vì sợ hãi. Lúc ấy, nếu anh một mình ở đây, tôi chắc anh cũng có cảm giác giống tôi: Sợ hãi! Tôi cố gắng chống chọi, tới sáng thì mệt bơ phờ. Tôi phân vân: Mình sai lầm thật sao?


...ngày... tháng... năm...

Anh này,
Công việc của anh thế nào rồi, hy vọng anh sẽ thành ông chủ nhỏ. Lúc đó không chắc anh sẽ nhận ra tôi, cô giáo lạc loài đâu đó giữa chốn đèo heo hút gió này? Nhận thư anh, tôi cứ ngỡ anh sẽ kể chuyện phố phường, cái mà tôi đang thiếu lúc này. Chẳng dè, anh toàn an ủi và trách móc nhẹ nhàng khiến tôi không biết nên buồn hay vui? Nhưng tôi đã nói với anh rồi, tôi là kẻ đã lên tàu, đang dấn thân vào mục tiêu tôi chọn lựa, tuy không to tát, ghê gớm gì nhưng cũng là sự chọn lựa đúng đắn của riêng tôi với lũ trẻ vùng núi non cách trở. Ở một góc nhìn nào đó, có khi lại là một sứ mệnh cao cả, nên những an ủi của anh cũng đồng nghĩa với sự “báng bổ” đấy (sic), đừng căng cứng nữa.

Anh có thể tưởng tượng nổi không? Trường không có giếng nước, phải ra suối mang về. Tôi hào hứng tham gia như thể một trò chơi mới mẻ: Ông Thắng thì đèo hai xô nước sau yên xe. Còn tụi này thì học cách gùi của phụ nữ miền núi. Xô nước lắc lư càng đè nặng hai vai. Ba cô gái bước chậm trong rừng chiều. Cảnh tượng thật lộng lẫy huy hoàng nhuốn màu lãng mạn trong chút nắng quái lơ lửng trên đầu. Những giọt nước rơi trên đường đi, thấm nhanh vào lớp bụi bũn khiến tôi nghĩ đến những chiếc lông ngỗng thời huyền sử. Nhưng những chiếc lông ngỗng kia có chàng Trọng Thủy nặng tình phi ngựa đuổi theo, còn những giọt nước lẻ loi, cô đơn mau chóng tan biến dưới lớp đất, chỉ còn những vệt đỏ bầm xoăn lại. Dấu nước nhanh chóng tan đi, anh hiểu không?

Nước mang về chỉ dùng cho nấu nướng. Tắm giặt phải ra suối cách đó gần cây số. Chuyện tắm của tụi tôi luôn là nỗi khổ tâm: Cứ để nguyên áo quần nhảy tùm xuống suối, ngâm mình và kỳ cọ. Khi áng chừng đã sạch “bụi trần” thì cả bọn chui vào lùm cây thay đồ. Một người thay thì hai người đứng canh. Lạ chưa? Rất kỳ cục. Chị Hài nháy mắt, nói phải làm vậy, vì đám thanh niên ở đây lém lắm. Năm trước, có lần chị và Ngân đang thay quần áo, cả người cứ cảm thấy nhồn nhột như bị vuốt ve, quay lui thì có ba anh chàng đang núp trong bụi rậm nhìn sang. Chị Hài ré lên như bị rắn cắn, chạy một mạch tới nhà ông trưởng buôn. Ông Thắng làm dữ với địa phương... Nghe giọng kể đều đều của chị Hài làm tôi bắt nổi da gà và luôn bị ám ảnh mỗi khi cởi trút bộ quần áo ướt ra khỏi thân thể giữa lùm cây không lấy gì làm an toàn. Nhiều lúc đụng phải cành lá kêu lạt sạt, cứ ngỡ đó là bàn tay thô nhám, càn rỡ của đàn ông chạm vào, giật nẩy người!


... ngày... tháng... năm...

Anh,
Thư rồi anh viết “giận gì mà không thèm viết một chữ”. Bụng dạ đâu mà giận? Chẳng là chủ nhật trước học sinh “rủ” các cô lên rẫy ăn bắp nướng. Nghe nói bắp nướng, mắt chị Hài, chị Ngân sáng lên, kích động sự tò mò nơi tôi. Với lại định bụng, khi nào viết thật dài như kiểu mấy ông nhà văn viết truyện rồi sẽ gửi, không muộn, vừa thử lòng anh đang lú lấp đâu đó những hào nhoáng phố phường, cùng lúc coi lại đầu óc mình thật sự định chuẩn chưa!
Học trò nơi tôi dạy thật dễ thương. Chúng hiền lành, ngơ ngác như loài chim thú trong rừng, nhưng khổ nỗi chúng tới trường lưa thưa, hiếm khi đông đủ. Lúc đầu tôi thấy giận ghê gớm về sự lười nhác, nhưng hỏi kỹ mới hay: Học hành là chuyện phụ. Đi rẫy, tuốt lúa, bẻ bắp, hái đậu... mới là chính. Nói thế nào phụ huynh cũng không nghe. Xem chừng thay đổi thói quen này không mấy dễ. Bốn thầy cô hết chia nhau đến từng nhà giải thích, lại bám ông xã trưởng, buôn trưởng kêu cứu. Có lần ổng càu nhàu: “Chuyện đó tui đâu biết. Mà luật pháp đâu cấm học sinh nghỉ học lên rẫy phụ cha mẹ?”. Anh coi, ăn nói kiểu đó có kỳ cục không? Thôi thì cũng phải ráng đợi hết mùa vụ bằng cách: Thầy cô cũng xúm vào bẻ bắp, khiêng lúa... với học trò. Mệt đứt hơi nhưng kèm theo là cảm giác lâng lâng khó tả như cảm giác cả đám được ngồi trên chiếc đu quay, quay tít. Xong mùa, các em hí hửng tới trường, tay lủng lẳng chùm bắp tươi, bịch ni lông đậu đỏ, con gà rừng... gọi là quà thầy cô, trước khi ngồi ngay ngắn trên bàn học. Lại phải mất hơn tuần để làm quen với cái chúng thiếu. Rồi đâu cũng vào đó, nghĩa là có nhiều đứa tiếp thu khá nhanh...

Tháng trước tụi này bàn với ông Thắng, rồi kêu gọi cả trường dựng một căn nhà nho nhỏ cho các em ở xa, vì mùa mưa sắp tới rồi, để chúng lội bộ năm, mười cây số qua sông qua suối thật tội nghiệp (mấy năm trước đã có em bị nước cuốn mất đó). Cả buôn hưởng ứng. Thầy cô cũng rìu rựa với các em vào rừng, đốn cây, cắt tranh rồi ì ạch tha về như đàn kiến tha chiếc lá to. Suốt bốn ngày chủ nhật vào rừng, tôi để ý một điều là chúng chặt cây, đẽo gọt thật giỏi, thật nhanh. Một thân cây tròn cỡ thân người, loáng một cái đã vuông vức, láng coóng. Tôi mới suy nghĩ, để làm được chuyện này, với số tuổi còn nhỏ, tất nhiên do thói quen gắn với rừng, nhưng hơn hết là đầu óc biết tính toán, suy nghĩ nữa chứ. Tôi áp dụng ngay vụ đẽo cây để hướng dẫn các em cách giải một bài toán, làm một bài văn cùng các môn học khác, không theo những quy định bắt buộc: Bắt các em tự đặt câu hỏi và tự tìm câu trả lời, như kiểu ngồi lột từng mao bắp cho tới khi ló hột ra vậy. Lúc đầu, chúng thấy bối rối, bẽn lẽn. Sau quen dần. Khó khăn qua đi. Qua đi và thành công. Tôi mừng còn hơn bắt được hũ vàng, bởi các em hứng thú hơn trong việc học, chúng tự khám phá ra những điều thầy nêu lên, có khi cả thầy và trò cùng tham gia một cách đồng đẳng, như thể cùng học chung với nhau. May mà ba tháng nay không có bóng dáng Phòng, Sở nào về thanh tra. Chứ họ mà thấy kiểu dạy này chắc đuổi tôi ra khỏi trường ba mươi giây! Riêng tôi, tôi rất hài lòng vì mình đã thành công, làm cho chúng ham thích học tập hơn, ít vắng mặt hơn.

Mãi dông dài “thành tích” suýt nữa quên chuyện này. Thiệt ngộ. Khá bất ngờ. Số là khi quan sát các em khiêng cây, tôi mới để ý thấy những vòng kiềng đen quanh cổ chúng, nổi đậm đặc bên trên lớp mồ hôi nhễ nhại. Anh biết cái vòng gì không? Vòng kiềng đất! Khi ra tới bờ suối, tôi hỏi thằng Y Blin: “Em có thường tắm không?”. Nó hớn hở: “Dạ có, cô. Ngày nào em cũng tắm”. Tôi hiểu ra kiểu tắm của chúng là nhảy tòm xuống nước, ngoi như rái cá rồi leo lên. Chúng nhúng nước đó mà. Tôi để bụng và chủ nhật rồi lẳng lặng đèo chị Ngân ra chợ kêu ông thợ cắt tóc, mua mấy cục xà bông thơm và dầu gội, quay về lùa hết đám học sinh lớp tôi ra bờ suối, cắt gọn theo kiểu húi cua, con gái thì cắt “bom bê”. Tới đoạn lấy ráy tai, ông thợ cắt tóc kêu trời: “Tụi bay nhét bùn vào lỗ tai chi dữ vậy?”. Chúng ngó mặt nhau cười lỏn lẻn. Anh có thể tưởng tượng nổi không? Hăm bảy đứa, đủ cả năm tư cục bùn bằng đầu đũa. Ông thợ cắt tóc sắp ngay ngắn trên miếng lá ngái to rồi nói: “Tụi bay đem về cất làm kỷ niệm!”. Hèn chi mỗi khi tôi gọi Y Lin thì ngay lập tức thằng Y Blin đứng dậy, gọi Y Đoa thì Y Doãn trả lời, mới mở miệng: H’Ngung thì H’Nhung đứng lên làm rối tung cả lớp. Thiệt kinh khủng! Hễ cắt xong đứa nào là tôi và chị Ngân lôi đi gội đầu, lấy bọt đá ngay dưới suối chà xát từ cổ tới gót chân ngay. Lớp cáu ghét đó nếu không bị nước cuốn trôi, có thể gieo một rò cải nhỏ đó.
Cái vụ lùa đi cắt tóc, tắm gội lan sang các lớp khác thiệt nhanh và không phải đợi thầy cô nữa, chúng tự động vệ sinh. Tuần sau sạch sẽ hẳn. Vui không?


...ngày... tháng... năm...

Mấy tuần nay không đụng tới cây bút, tờ giấy chẳng phải không nhớ nhà, mà bởi hai tay mỏi nhừ. Tôi cũng phải khiêng vác với mọi người để dựng cho xong căn nhà. Chính xác hơn là nhờ thanh niên địa phương: Họ nhiệt tình đục đẽo, dựng cột, tra ngàm... chẳng mấy chốc sườn nhà cũng “sừng sững” phía sau trường. Họ lại đánh tranh, chẻ lạt rồi lợp, rồi trét vách. Tất cả đều một tay bọn họ với ông Thắng. Mấy cô chỉ hậu cần. Thoạt nghĩ cũng hơi giựt mình: Nếu không có mấy anh trai làng phụ giúp thì không biết đến bao giờ mới được nhìn thấy “ngôi nhà nhỏ lộng lẫy” giữa khu rừng trống hoác này. Ngôi nhà nằm dưới tán cây da đá, có nhiều rễ phụ thọc xuống đất, tha hồ chúng nô đùa. Nó chỉ cách trường chừng vài chục bước chân. Tôi nói nhỏ với ông Thắng: “Hay tụi em ra nhà mới còn các em ở với thầy?”. Ông Thắng suỵt: “Tầm bậy, các cô ở ngoài đó thú dữ vào bắt đi mất!”. Nghe nói “thú dữ” tôi xanh mặt, còn chị Hài thì bĩu môi: “Thằng chả sợ mất hơi tụi mình đó mà”. Tôi chợt hiểu, cười toe toét: “Thì chị ưng ổng đi. Ổng yêu chị quá mà?”. Chị Hài quay mặt: “Chuyện!”. Vì không thấy được mặt khi chị buông ra chữ “chuyện” cụt lủn, nên bí mật giữa hai người vẫn cứ treo lơ lửng ở đâu đó.
Anh hãy nghe đây. Chuyện này rất nghiêm túc: Khi nền nhà đã khô, vách đã cứng, mười bốn em hớn hở về nhà mới. Tất nhiên là có bữa tiệc nhỏ, cây nhà lá vườn. Và để tỏ lòng biết ơn địa phương, ông Thắng đi mời. Họ kéo đến đầy nhà, còn mang theo ché rượu, con gà, miếng khô. Đông, vui cứ như ngày hội. Nhưng sự thể chỉ khép lại tại chỗ này thì tròn trịa biết nhường nào. Đằng này, đêm cạn, tiệc tan, lúc mọi người lục tục ra về, đến đầu hồi trường, xế giếng nước, bổng lù lù một bóng người cao lớn. Hắn lên tiếng: “Cô đừng sợ. Tôi là Y Blách. Xin gửi cô chiếc vòng”. Nói và hắn dúi vào tay tôi chiếc vòng rồi chạy biến vào bóng trăng trải rộng trước mặt. Tôi tưởng tượng như đó là bức tượng đồng đen đang di chuyển.

Đêm dài, kéo theo những cảm giác dập dềnh trộn lẫn: bồn chồn, lo lắng, sợ hãi, thích thú, buồn tủi... Tất cả giống y chang những thứ trong lẩu thập cẩm đun mạnh lửa, nhào lộn như xiếc. Đêm dài vô cùng tận. Mắt lại mở trao tráo, hết xoay qua rồi lăn lại khiến chị Ngân hỏi nhỏ: “Gì vậy?”. Tôi giả bộ ú ớ như người mớ ngủ, nằm im. Nằm im và cố moi trí nhớ về anh chàng hồi tối, Y Blách, và lần tháo từng gút. Hắn vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn, nước da đồng thau, mái tóc bồng bềnh, nhất là đôi mắt khi nhìn ai như hút hết người ấy vào hai con ngươi. Nhớ rồi, tôi đã gặp anh ta lúc mới đặt chân lên đất này. Anh ta đã nắm tay tôi dắt lên cầu thang? Có lúc tôi cũng nghĩ bậy: Mang đặt hắn vào trong công viên, giữ làm của riêng, thì hẳn sẽ là một bức tượng tuyệt hảo để nhìn ngắm không biết chán! Còn trong công việc, mỗi khi vung chiếc rìu lên, cả người hắn cuộn lên những bắp thịt như vận động viên thể hình, như phình to ra. Những lúc đó tôi cứ sợ hắn sẽ nổ tung mất. Nhưng không phải vậy, chỉ có những thân gỗ là bị thu nhỏ dần theo ý muốn thôi...

Sáng thức dậy như người bị ốm, mặt mũi bơ phờ. Chiếc vòng tối qua tôi lén giấu vào đáy va li, không biết tạo từ chất gì, nặng. Và cũng không dám hé lộ ra. Chị Hài và Ngân mà biết được, chắc tôi chết mất! Anh cũng biết rồi. Ở xứ này, một khi người nam tặng vòng cho người nữ, sẽ đồng nghĩa với sự bày tỏ tình cảm và xa hơn chút là lời cầu hôn. Anh coi, có chết tôi không? Mà nếu trời đất xui khiến, tôi ưng hắn thì anh nghĩ sao?


...ngày... tháng... năm...

Mấy ngày nay trời mưa tầm tã. Nước chảy ầm ầm từ các con suối dồn về nhánh sông nhỏ phía dưới chân đồi, chảy cuồn cuộn, ngầu đỏ nom dễ sợ như màu máu. Những ruộng bắp, mía ở thung lũng phía trước ngập lút trong biển nước mênh mông. Nước cuồn cuộn. Học sinh nghỉ học gần hết, trừ mười bốn em ở trong căn nhà tập thể. Chị Ngân kêu năm nay mưa sớm, nên củi đun nấu không chuẩn bị sẵn. Vậy mà tụi nhỏ có sáng kiến, chờ ngớt mưa, chạy ra bìa rừng lôi củi ướt về rồi tháo bớt vạt mò o trên giường nằm, vừa nấu cơm, vừa hong khô. Nhờ có đống củi ướt vừa khô hong tiếp cho lớp khác nên tụi này không còn phải ngồi nhìn nồi cơm sống. Anh thấy chúng nó có thông minh không?

Tối lạnh thấu xương. Ban ngày thì không thấy mặt trời đâu cả, như thể đất trời dính liền lại một cục. Ước gì ngay bây giờ mưa tạnh, mặt trời ló lên để tôi có thể đứng trên đồi cao này ngóng về phương Nam, nơi có cha mẹ, anh chị và cả anh nữa. Khối tròn đỏ ối đó sẽ từ từ nhô lên mỗi sáng như quả cầu rực lửa nhớ mong, có lần làm tim tôi thắt lại nỗi nhớ về chốn cũ, bạn bè. Giờ thì nó chìm khuất sau lớp mây dày u ám. Gần Tết rồi.

Anh này, có kiểu mưa chi mưa lạ mưa lùng vậy? Mưa suốt ngày đêm. Mưa như cầm chĩnh mà trút! Nước ở nhánh sông dâng cao, tràn qua đường, gầm réo như muôn vạn thủy binh đi đánh Sơn Tinh ngày xưa. Mọi ngả đường ra trung tâm xã đều bị cắt đứt. Khu trường học giờ như một ốc đảo, thiệt dễ sợ! Gạo trong khạp bắt đầu khua sồn sột rồi. Cả mười tám con người quay sang chế độ cháo, ngày hai cữ. Để có thêm hương vị thì trộn thêm mì tôm vào cháo. Thầy trò sì sụp húp vừa khen ngon hơn bát cháo hành Thị Nở, vừa nghe mưa đập ầm ầm trên mái. Vui đáo để.

Nước chảy xiết, lém sân. Ông Thắng đội mưa, gom hết các em vào, chong đèn thức suốt đêm để canh nước. Chị Hài ôm chị Ngân khóc rấm rức, nói: “Mưa kiểu này chết mất!”. Chị Ngân nạt: “Nói bậy”. Đám học trò ngồi chóc ngóc, thì thào trên những chiếc bàn học kê khít... Không ai ngủ được. Ông Thắng kêu: “Mọi người cố gắng nhắm mắt để giữ sức. Có gì tôi gọi...”. Mặc cho ông Thắng bồn chồn, mưa vẫn tuôn, nước vẫn tiếp tục gầm siết. Tôi thiếp đi, để sáng ra ngồi ghi vội mấy chữ này, nghe mưa đổ mù trời đất vừa tả lại cơn mưa núi cho anh biết với...
...Nước lên nhanh quá. Hết đường ra trung tâm xã rồi...


Hai ngày sau cơn lũ kinh hoàng, toán cứu hộ mới tới được buôn H’Leo. Có anh chàng thanh niên bản địa xung phong hướng dẫn đoàn. Bùn đất ngập tới thắt lưng. Những thùng hàng như muốn nhấn lút họ xuống tầng sâu của sình như cháo hồ nhuyễn. Phải khó khăn lắm mới chuyển hết số hàng lên đỉnh gò cao của buôn. Ba bên bốn bề là cảnh tượng tan hoang. Họ dựng lều rồi vội vã chia nhau đi tìm kiếm.... Suốt buổi lội trong bùn sình nhưng không tìm thấy được dấu vết nào của sự sống. Người thanh niên, có vẻ như trưởng toán, buồn bã buột miệng: “Chẳng lẽ cả làng bị xóa trắng rồi sao?”.

Chiều thấp dần. Họ quay lại nơi dựng lều. Trên đường đi, thu nhặt được vài mẫu quần áo, chăn mùng quện chặt vào bùn, vướng trên những cành cây nghiêng ngã theo chiều nước cuốn. Qua bãi sình, chỗ có mấy bụi gai móc ó đưa cả bộ rễ lên trời, họ phát hiện chiếc va li vùi sâu giữa lùm rậm. Mọi người xắn xở dùng rựa, câu móc phát sạch, lôi chiếc va li ra, tiếp tục mò trong lớp bùn dày với hy vọng có thể tìm thấy người bị vùi lấp. Nhưng không có gì cả. Toàn bùn nhão nhoét. Bùn sình bám lên tận cổ, mặt mũi họ...

...Dưới ánh sáng leo lét của chiếc đèn bão, toán cứu hộ hồi hộp nhìn chăm chú theo bàn tay run rẩy của người trưởng toán. Chiếc va li được mở ra: một mớ quần áo lót và chai lọ của phụ nữ, một chiếc vòng bằng đồng và cuốn sổ nhật ký. Người thanh niên địa phương mặt tái đi khi nhìn thấy các đồ vật được bao bọc bỡi lớp bùn nhão. Anh lặng lẽ cầm chiếc vòng đồng đưa ra xa rồi xích lại gần tầm mắt. Một người khác dùng nước đóng chai rửa sạch quyển sổ rồi trao cho người trưởng toán. Anh cẩn thận gỡ từng trang và bắt đầu đọc cho mọi người cùng nghe. Ban đầu giọng còn vang, càng về sau càng run rẩy, nhỏ dần, như nghẹn lại. Nước mắt anh chảy dài xuống má, xuống cổ. Những tiếng sụt sịt nổi lên. Ngọn đèn bão chao lắc không đủ sáng soi rõ mặt mọi người. Đêm buông xuống thật sâu.

Tháng 5/2010

Đăng nhập để trả lời
0
ĐỒNG LÀNG


NGUYỄN LỆ UYÊN



Truông tre buổi xế trưa gió hiu nhẹ như chiếc quạt to phẩy mát cho các bà ngồi túm lại hóng mát, làm những chuyện vặt. Nhưng hơn hết là cái cớ để dòm ngó vào đời tư kẻ khác như một trò giải trí không mất tiền. Đám phụ nữ đó trên dưới bốn mươi đâu chừng bảy tám người. Trước, họ là những nông dân rặt. Nay thì cái “mác” nông dân của họ đã thực sự lùi sâu vào quá khứ. Họ đã được tách bỏ bao nỗi nhọc nhằn ra khỏi cuộc đời. Những thửa ruộng sình không còn chỗ gieo sạ cây lúa, không nơi đào ao nuôi tôm cá mà là những nhà máy sừng sững cao ngất, đè tất cả quá khứ khốn khổ bên dưới những ống tròn xịt khói nhuộm đen cả xóm làng. Những cột khói ấy đang từ từ giải phóng họ. Và những con người ấy đang trở thành những kẻ nhàn hạ ngay chính trên mẩu ruộng nhỏ giờ nhô cao hơn nền đình làng.
Món tiền được đền bù là khúc rẽ cuộc đời của làng Nam Thổ, nằm kẹp giữa khúc sông rộng và quốc lộ chạy xuôi theo hướng bắc-nam.



Có lúc Chẻo đứng soi mặt mình trước tấm gương to bằng cuốn vở học trò, móc trên cột gỗ góc nhà và bổng khám phá ra rằng da mặt mình giờ mịn màng, trắng trẻo hơn. Những sợi lông tơ phơn phớt nhuốm đôi gò má ửng hồng, khác với mấy tháng trước, khi hai chân cô còn thọc sâu dưới đồng ruộng sình, chìa mặt hứng những ngọn gió nam khô khốc, táp cháy da; những sợi roi mưa theo gió mùa đông bắc cứa quất buốt mặt mũi, tay chân. Bất giác cô đưa mu bàn tay cọ lên má. Một cảm giác nhột nhạt, gây gây rung lên. Bàn tay tự rơi xuống cổ. Chiếc cổ dài và trắng. Nhưng chiếc cổ ấy có vẻ như không chịu đựng nổi những cái cọ vuốt nhẹ của đôi tay làm cho khuôn mặt cô lúc nghiêng bên này, nghiêng bên kia trước tấm gương soi. Cuối cùng bàn tay của chính cô thả xuống ngực. Bộ ngực phập phồng qua lần vải dày sắp nhảy ra ngoài với đôi tay. Chẻo đỏ mặt, buông tay quay đi chỗ khác. Chẻo không còn thấy khuôn mặt mình nhảy múa trong gương soi. Sự tách đôi đột ngột che khuất cái nhìn nhưng có sức hút khuấy trộn để cô trộm nghĩ về nhan sắc mình: Nó cũng dễ coi. Nó không đến nỗi nào.
Nó chính là cái cớ để bà Tư Bèo, thốt lên kinh ngạc trong lần về quê ăn tết, bất ngờ nhìn thấy cô đang thơ thẩn ngoài ngõ: “Trời, con Chẻo đó hử? Đẹp chi mà đẹp não đẹp nùng. Con mẹ mày hồi xưa đẹp nhất làng. Mẹ mày mất, giờ thì mày đẹp nhất làng chớ còn ai vào tranh. Mày cứ ở mãi xó này lại phí cuộc đời”. Những lời khen ngọt lim líp kèm theo những ngón tay trái chuối trôi trên bàn tay Chẻo, trôi vào cõi lòng Chẻo với cảm giác rất lạ: ấm áp và lạnh lẽo trộn lẫn. Cô cúi đầu không trả lời. Mà cô cũng chẳng biết phải trả lời sao cho phải khi nhìn thấy cái nguýt dài và nhọn như lưỡi mát dưới đuôi mắt bà Tư. Cô giật nhẹ tay khỏi lớp mỡ màng của người đàn bà tròn như đòn bánh tét, bước lui ngượng nghịu, tai nghe với mấy lời vói theo: “Con nói chiều cô qua thăm anh Năm nghen”.

Bà Tư mất hút đâu đó trong kiệt nhỏ. Chẻo thở phào như vừa tránh con rắn dưới gan bàn chân trần, trở vào nhà cầm chiếc rổ tre ra vườn ngắt những cọng bồ ngót, rau dền, bình bát, đầu óc lởn vởn những hình ảnh của sự gặp gỡ xanh lè ngoài ngõ với bà Tư lúc nãy.
Con mụ - cả làng đều gọi bà Tư Bèo là con mụ - bỏ làng mấy năm sau mới quay về. Bà rực rỡ, loá sáng giữa giữa đám dân làng xốc xếch, vàng xuyến đầy tay, dây chuyền kéo trễ xuống tới bộ ngực chảy xệ, đồ sộ. Con mụ che chiếc dù đỏ, môi son đỏ hoét, mắt mang kính đen, vắt chéo chân từng bước từ kiệt tre vào nhà. Con mụ nói giọng chớt chả, cười rung đôi má, rung chiếc bụng đầy mỡ khiến những đứa con gái như Chẻo vừa sợ hãi vừa thèm thuồng.
Dân làng kêu: Không biết con mụ làm cái giống gì mà chỉ ba năm sau người dát đầy vàng? Người độc miệng nói: Mả cha con mụ phát đấy!

Sự “phát” của nhân vật kỳ lạ, hành tung không bình thường này, bữa nay đột ngột xuất hiện và được bà Hai Cốm vêu mỏ lên với đám chị em, chắc như đinh đóng cột:

- Bộ dạng ấy không làm đĩ thì cũng dắt mối, tú bà.

Người đàn bà ngồi trước rổ hột điều, hai tay thoăn thoắt lột lớp vỏ lụa, bày bộ ngực nhão, phơi lòng thòng ra bên ngoài để thằng con nhỏ trườn lên, miệng mút chùn chụt núm vú nhăn nheo, một tay giữ chặt núm còn lại như sợ có đứa nào lấy mất, hất cằm lên, cãi:

- Già khụ. Bốn năm mươi còn đĩ điếm cái giống gì, đâu như thời còn Tây còn Mỹ?

Một bà khác tay đập chành chạch những con bồ hóng bay vo ve trên mắt, cười hềnh hệch:

- Nghe nói nay Tây ba lô qua mình nhiều.

Bà Hai Cốm:

- Ừa, có thể lắm.

Chẻo đặt chiếc rổ tre lên đùi, lặt lại những cọng rau xanh, khép nép nghe những lời bình phẩm, không tham gia.

Câu chuyện bất ngờ chuyển qua hướng khác. Chị đàn bà có chiếc vú mướp bỏ trần ra ngoài xoắn những hột đào trong chiếc cão bung vành, thành nhiều vòng:

- Đời này sướng thiệt đấy. Thằng cha Tám Cận goá vợ nhận cục tiền đền sào ruộng đâu bảy triệu, liền xuống phố tậu ngay chiếc xe máy Tàu chạy mù trời.

- Mấy bà không biết gì sao? – Bà Ba Vịt lộn kêu lên - Thằng chả đêm nào cũng mò xuống con mẹ Bỉnh bánh tráng làng dưới. Có bữa ghé lại chỗ tôi mua cả chục.

- Vịt lộn để nhử hả? - Tiếng the thé của ai đó như tiếng bà Năm Dây Sên cất lên bỡn cợt, bới móc.

Chị vú mướp trề môi:

- Nhử gì nữa mà nhử. Để tẩm bổ mấy bà ơi! Thằng chả bảy mươi, con mẽ sáu mươi. Hồi xuân. Sung lắm.

- Mày thử rồi sao biết sung? – Bà Vịt lộn thêm.

Câu nói vừa rơi vãi ra quanh chỗ bọn họ ngồi, bay lả tả, lập tức những tiếng cười ngặt nghẽo tràn ra kèm theo những tiếng “quỷ, quỷ” đầy lỗ tai. Và phụ hoạ vào những tràng ngặt nghẽo quỷ kia là những âm thanh phát ra từ những chiếc loa thùng quanh xóm, xoắn theo gió bay về. Những âm thanh lạc quạc, ngọng nghịu,.những ca từ kéo dài, thu ngắn từ những chiếc miệng móm người già, chưa tròn chữ của trẻ con phát ra ong ỏng, vương víu lên tận đọt tre cao.

- Nhà bà Năm Sình mới tậu dàn raoke hôm qua. Chính mắt tôi thấy. Xịn lắm!

- Chỉ là chức trưởng ban con con, sao bằng của ông bí thư huyện?

- Chời ơi! của cống nạp, bòn rút mà đi so bì?

- Nghe thằng chả mèo mỡ với con Châu bỏ chồng, đi lại với nhiều cán bộ. Lão mua chiếc Pa Xỳ mới cứng tặng con đĩ đó đó?

- Hèn chi cứ thấy thằng chả chiều chiều đảo qua truông Dâu rồi mất hút…

- Toàn lũ điếm thúi, thúi từ con đĩ tới thằng quan – Giọng nói của ai đó văng ra cùng với bãi đờm nhổ toẹt ra bên hông.

Đúng lúc này thì bà Tư Bèo đột ngột xuất hiện trước những cặp mắt ngỡ ngàng, soi mói. Đám đàn bà quê như muốn lột trần con người đàn bà kỳ lạ kia ra. Mọi con mắt đều đổ dồn về phía bà Tư đang vắt chéo chân từng bước ngắn về phía đám người ngồi lê. Chuyện riêng tư của các cán bộ được bọn họ lập tức xếp gọn trong cổ họng.

Bà Tư Bèo cất giọng chả chớt:

- Chào mấy chị. Mạnh giỏi há? Mà làng mình nay giàu quá héng? Nhà nào cũng xe máy, cũng karaoke. Chẳng bù hồi tui còn ở làng, nghèo mốc đít.

- Giàu chi – bà Hai Cốm vẩu mỏ lên – có chút tiền đền bù mới ra thế. Giỏi ca hát ba tháng là đói dảnh bánh.

- Đói đâu chưa thấy, nhưng giờ nghe ca hát vang trời là thấy vui rồi – Bà Tư Bèo nói vừa nhún nhẩy, ư ử: Sáu mươi năm cuộc đời…Hai mươi năm đầu vui sướng không bao lâu, hai mươi năm sau ừ ư ư ừ ừ…

- Phước đức nhà chị đi làm ăn xa giàu có, chớ ở làng như bọn này có ngày xách bị đi ăn xin.

- Sao vậy? – Bà Tư Bèo ngạc nhiên.

- Sao nữa? Ruộng đất sạch sẽ. Trên thu hết của dân rồi đưa cho thằng giàu mở nhà máy này, xưởng chế tạo kia. Mà chế tạo con khỉ mốc. Chúng nó sang tay nhau ăn chênh lệch. Làm dân thời chó nào cũng khổ như trâu bò. Máy móc ai người ta dùng đám khu đen này? Quét rác đổ thùng đâu phải dùng đến trăm người?

- Vậy sao? – Bà Tư Bèo thốt lên bằng cái giọng vô cảm, rồi nhìn xoắn vào chỗ con Chẻo đang ngồi thu lu, núp sau lưng bà vú mướp - Chẻo à, con dẫn cô vào chào anh Năm đi con.

Không đợi Chẻo trả lời, bà xấn lại, xốc cổ tay cô lôi dựng dậy, kéo đi. Rổ rau trên tay Chẻo chao đi mấy vòng, suýt rơi xuống đất.

- Chào mấy chị nghen.

Ông Năm Thọt trước kia là anh thợ cày giỏi nhất làng. Đêm ra nọc rơm rút rơm cho đôi bò, bị du kích địa phương bắt lên núi, ấn cho cây súng và biến thành anh Việt cộng một cách dễ dàng, trơn tru. Năm Thọt có tên cúng cơm là Tầm, Võ Văn Tầm. Sau trận càn năm 72, ông bị trúng mấy phát đạn vào chân, không chạy được, bị bắt làm tù binh, bị giam ngoài Côn Đảo đâu hai năm rồi trả về địa phương với chân trái lệch đến mươi phân nên dân làng lấy tướng đi đặt chết tên cho ông. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì ông còn may mắn hơn nhiều người khác (nói về số phận). Nhưng đời không phải vậy, không suôn sẻ. Mấy tay ở xã ngắm nghía tướng mạo ông sao đó, bèn đề nghị lên quận bắt ông làm ấp phó. Cái chức ấy chẳng mùi mẽ, quyền lực, cũng không cơm cháo gì trong cái xóm nhỏ chỉ còn lèo tèo vài người già. Thanh niên lớp lên núi, lớp xuống biển rồi gặp nhau ở chỗ nào đó phang vào nhau ầm ầm, cứ như hồi còn để chỏm chia phe đáng giặc giả. Có điều đám giặc giả ngày nào giờ thành thiệt rồi: Một bên cầm súng Nga xô, Tàu; một bên cầm sũng Mỹ nhắm vào nhau mà bắn. Bắn đến lòi ruột, phọt óc, tan nát thịt xương mới thôi, cho dù trước đó chúng đã từng chia nhau trái ổi, cắn chung cục kẹo nổ, rủ nhau đi hái trộm me...

Năm Thọt trong số đó. Ông từ chối thế nào cũng không xong, bèn tự nhủ: Ấp phó trong cái làng chỉ còn hàng tre và mấy con chó ốm chạy rông thì tội nợ gì. Cứ từ từ ít tháng rồi tìm cách! Là nghĩ bụng thế thôi, chứ cách gì thì nghĩ mãi mà không tìm ra. Còn chân cao chân thấp chạy lên núi lần nữa, sao leo gộp được? Với lại... Đúng, cứ lì dưới này coi bộ sướng.
Đám đông những người như Năm Thọt chỉ có thể nhìn thấy đường gần mà không thể tính nổi đường xa; chân chỉ có thể chạm mặt đất chứ hai tay không thành cánh mà bay lên trời cao, nên chỉ hai tháng sau là các đồng chí cũ tràn về làm chủ. Ông bị liệt vào hàng ngũ địch. Làm tay sai cho địch. Lại vác tay nải, lương khô đi cải tạo. Đủ hạn lại trở về như bao người khác, mặt cắm xuống đồng sình, chổng đít lên trời như kêu oan!

Giờ chỉ còn hai cha con trong căn nhà gạch ba gian. Tuy cũ kỹ, rêu mốc nhưng không đến nỗi nào. Không làm cán bộ thì nông dân, mất mát chi, ông nhiều lần tự nhủ như vậy. Khổ tâm là cốt nông dân bị lột trụi như người ta nhổ lông con chim cu hơ lên lửa: lớp da đỏ hỏn phút chốc đen thui, mỡ chảy xèo xèo. Và như bao dân làng khác, bọn ông chỉ có dúm chữ, chẳng nghề ngỗng, biết chuyển đổi làm thứ gì? Ngay cả chuyện ông viết đơn xin chân bảo vệ một nhà máy trong khu công nghiệp, người ta liếc ngang nhìn dọc tấm lý lịch, rồi lịch sự: “Dạ có người rồi, thưa bác!”. Chỗ nào cũng một giọng ấy khiến ông ngán ngẩm quay về, lật tung lớp đất cằn trong mảnh vườn nhỏ, trồng các thứ rau kiếm đồng chợ.

Bữa gặp Chín Phước – cựu chủ tịch mặt trận xã, người rất hiểu hoàn cảnh ông – đang thả bò trên gò Dinh, ngoắt ông lại:

- Hết biết rồi anh Năm ơi! Cái làng này rồi đến loạn mất. Nhà nào cũng hò hát. Nhà nào cũng xúm nhau mua xe. Nhà mua sau phải mua xe đắt hơn nhà mua trước. Còn bọn thanh niên rượu chè thâu đêm suốt sáng. Ầm ầm như đám giặc, chẳng chịu làm ăn!

Năm Thọt cười khẩy:

- Đám ve sầu đó hát bã họng, bụng tóp teo sẽ chạy đi kiếm ăn, lo gì?

- Không thể được. Không thể nào ăn không ngồi rồi mãi được Anh tính coi: mươi triệu bạc đó có thấm tháp vào đâu. Ăn nhậu ca hát đã đời rồi lăn ra chết chắc?

Năm Thọt khoát tay:

- Thôi, hết đường rồi anh Chín. Tôi cũng khuyên giải nhưng họ bỏ ngoài tai, kêu tôi là đồ khùng. Thân già bọn mình… - Ông bỏ lửng câu nói.

Năm Thọt bật cười khùng khục khi nhớ lại mấy lời qua lại bữa đó với Chín Phước. Thằng cha, đúng chứng nào tật đó. Chuyện làng xóm chả coi như chuyện nhà, bứt rứt không yên. Trước khi đi dự họp tướng mạo hùng hùng hổ hổ; tan buổi mặt mũi ỉu xìu, bước đi không muốn nổi. Bộ mặt Chín Phước lộ rõ vẻ thất vọng não nề.


- Năm ơi, anh Năm!

Tiếng gọi thẽ thọt làm ông giật nẩy người, rút vội tay ra khỏi háng khi cơn ngứa chưa thiệt đã. Ông bỏ chân xuống khỏi chiếc đẩu nhựa quơ chân tìm đôi dép cùn, vịn tay lên mặt bàn nhóng cổ ra hỏi:

- Ai kêu tôi đó?

- Em đây. Em Bèo đây anh Năm!

- Trời đất, cô đi những đâu mà nay mới mò về làng? Về hồi nào?

Vẫn những bước chân vắt chéo, bà Tư bỏ tay mình ra khỏi tay Chẻo, cởi chiếc kính đen ra khỏi sống mũi, dòm Năm Thọt gần đụng mặt.

- Mới. Khoẻ chớ anh Năm?

- Khoẻ. Còn cô? Chà, thay đổi dữ he. Nhìn bộ dạng này đã biết đổi đời rồi, giàu hung rồi? – Ông nói vừa nhìn bóng con Chẻo mang rổ rau ra giếng nước.

- Đổi cái con khỉ. Giỡn hoài. Mần như trâu như bò ấy chớ!

- Cô mần cái giống gì mà cực nhọc dữ vậy?

- Huầy, có nói anh cũng không hiểu đâu. Về lần này trước thăm anh, sau bàn với anh cho con Chẻo đi với em vào trỏng. Em hướng dẫn nó làm ăn. Nhan sắc như nó biết đâu lại quơ được thằng chồng giàu?

- Dòm thân hình cô chắc cũng đang quơ được thằng chồng giàu có? Mà làm thứ gì: may vá, bán xôi, hủ tíu, bò kho, vé số…? Từ ngày làng này hết ruộng, lũ trẻ con cũng bỏ học vô trong đó bán vé số, đông có đến trăm!

- Đâu cực nhọc vậy anh. Số là em có quán cà phê: sáng bán tới 9 giờ nghỉ, tối đến 10 giờ đóng cửa.

- Cô kêu nó làm những gì?

- Dạ, ngồi quày tính tiền cho khách.

- Chỉ vậy thôi?

- Vậy thôi.

- Coi bộ dễ ăn quá héng?

- Chẳng dễ gì đâu anh. Hay là anh bán quách căn nhà vào với em?

- Giỡn hoài.

- Thiệt đó.

Năm Thọt ngẩng người, nghĩ bụng: “Con mẹ này định quơ luôn mình chắc. Hồi xưa nó bám theo mình như đỉa bám chân trâu khiến bà vợ cứ ghen lồng lộn lên. Vợ mất nó lại ám như như ma quỉ ám, nay thấy đơn chiếc định giở trò gì nữa đây?”.

Háng ông lại nổi ngứa. Lúc đầu chỉ mới lăn tăn. Ông nín thở để kéo cơn ngứa xuống, nhưng càng nín hơi, nó lại càng bùng lên thật dữ dội. Ngứa hung rồi. Ông chỉ muốn thọc ngay tay vào cào xoáy cho đã cơn, ngặt nỗi con Tư ngồi cạnh ông luôn chồm về phía mình mỗi khi nói. Cơn ngứa chạy lên mặt đỏ rần, tê cứng trên các đầu ngón tay, cắn nhéo trên vành tai… Chỗ nào trên thân thể ông cũng nhột nhạt khó chịu. Tư Bèo ngó chăm chăm Năm Thọt. Cô thấy khuôn mặt ông có vẻ khang khác, các mạch máu dãn đỏ vẽ vòng y như những anh thanh niên tuổi mới lớn. Không kềm được lòng, cô trườn bộ ngực đồ sộ lên mặt bàn, cầm tay Năm Thọt:

- Anh chẳng mất gì đâu. Tình muộn là đẹp nhất! – Nói và cô nhoẻn nụ cười duyên. Nụ cười đỏ lòm son môi và lửa tình.

Năm Thọt trân người gần như cong quíu lại, mắt hoa lên Ông không còn chịu nổi cái cảm giác nhột nhạt kia nữa, không thấy nghe gì nữa, thọc tay vào háng gãi rồn rộn, gãi thật mạnh như những lúc ông ngồi một mình dạng chân gãi ngứa. Những móng tay cào chạy tới đâu cơn ngứa điên cuồng kia bị đẩy lùi tới đó. Ông híp mắt mê mẩn. Giây lát thần kinh như dịu lại để kịp nhìn thấy bộ mặt hốt hoảng nhìn sững ông.

- Chuyện gì vậy anh Năm?

Rõ ràng trước mặt ông là Tư Bèo, người đàn bà son phấn đã biến mất trong cơn ngứa khắc khoải vừa qua, giờ trồi lên. với cặp mắt đờ đẫn, ngây dại. Ông nghe rất rõ từng hơi thở dồn dập của cô ta, hơi thở của người phụ nữ bám đuổi theo ông trên cánh đồng làng mấy mươi năm trước, giờ lại có dịp rượt ông chạy hụt hơi trên chiếc đẩu nhựa.

- Không. Cô Tư, đừng làm thế!

Nói và ông giật mạnh tay, thiếu chút nữa là mặt hai người dính chặt vào nhau.
Ông đứng lên, thở hắt ra. Tư Bèo cũng đứng lên thở sượt như quả bóng xì.
Đồng làng hun hút phía sau. Truông tre chổng ngược thành những con đường khói bụi, ồn ào; vò nước móc lủng lẳng chiếc gáo dừa quay tròn cạn đáy bắt đầu lột lớp vỏ xơ cứng biến thành những ly bia, bọt tràn nhớp nháp. Đó là những lớp bọt phun xùi xùi từ chiếc miệng những con cua đồng trước cửa hang, lớp bọt của những con lươn trơn chùi dưới mà sâu.



Quán toàn những mùi lạ từ những con người lạ hoắc mang vào. Đó là mùi khói thuốc thiu, bay vất vưởng, mùi bia vãi tung trên nền nhà toè ra ung úng khó chịu. Nó không như mùi phân bò, mùi bùn non, mùi khói đốt đồng và rơm khô lẫn trong mùi cua đồng, cá nướng mà cô từng cất tiếng cười trong vắt… Chẻo bắt đầu lạc vào thế giới khác bằng những thứ mùi lạ ấy, quấn chặt lấy cô. Chẻo ngập lún trong mớ nhớp nháp mỗi lúc như dày, cao thêm làm cho đêm dài và sâu hơn. Đêm sáng trắng và dập dềnh hỗn độn. Đêm vỡ loảng xoảng những mảnh nhỏ găm vào đầu óc, cứa xoáy ruột gan. Đêm nào Chẻo cũng mơ thấy cánh đồng sình, những bước chân vắt chéo và bộ mặt đầy mỡ của bà Tư Bèo. Cánh đồng làng thì tít mù xa, còn bà Tư thì thật gần, sát bên cô, luôn thầm thì, nhỏ to ngọt xớt: “Bắt đầu cuộc đời là những khó chịu nhưng riết rồi quen con ạ!”. “Nhưng hồi ở nhà cô kêu chỉ ở quày thu tiền?”. “Con nhỏ mới lạ, ngồi với người ta có mất mát cái gì đâu nè? lại được boa. Khoảng tiền ấy còn gấp chục lần lương cô phát cho cháu ấy chớ?”. Chẻo hốt hoảng khi thấy bà Tư nhất mực bắt phải lột bộ bà ba để tròng vào chiếc robe màu đen: “Da con trắng, mặc màu đen sang trọng lắm” bằng cái giọng thẽ thọt ru ngủ. Trong bóng tối nhờ nhờ, cô như cái bóng ma. Đôi vai trần, cánh tay trần lạnh ngắt. Từ chân lên đến háng là khối da thịt phơi ra trần truồng. Cô cảm thấy như cả thân thể mình bị lột sạch sẽ những mảnh vải che. Chẻo thu người lại, nhưng càng cố, cơ thể cô càng trương phình lên. Những chỗ kín cần che giấu của phụ nữ bị lật tung, toang hoác. Nước mắt cô chảy ra. Những giọt nước mắt phút chốc thành những con rắn trườn khắp người lạnh ngắt. Bọn con gái tứ xứ và cả cô nữa, tất thảy mười bảy người. Mười bảy con rắn ngơ ngác dưới chiếc đũa điều khiển, rất lạnh lùng của bà Tư.

Cả trong giấc mơ lẫn ban ngày mắt mở thao láo Chẻo luôn nhìn thấy cánh đồng sình của cha con cô, của người dân làng Nam Thổ bị đè bẹp bên dưới những khối bê tông đồ sộ của những nhà máy im lìm ngủ bên dãy núi phía tây.

Đồng làng hun hút xa.

Đăng nhập để trả lời
0
BUỔI SÁNG MÁT MẺ


NGUYỄN LỆ UYÊN




Tôi không còn nhớ là đã bao nhiêu năm rồi mới gặp lại Hà. Hai lăm, ba mươi năm hay nhiều hơn nữa? Và cũng không tin rằng, người đón mình ở sân ga không phải ai khác, mà chính là người bạn nhỏ trong những năm còn ngồi trên giảng đường. Đó là một cô bé mảnh mai, có đôi mắt bồ câu đen tròn, miệng luôn cười với người đối diện, tóc rẽ ngôi. Hà như con chim chiền chiện bé nhỏ gọi nắng, tung tăng gót chân hồng trên bãi cát vàng mịn, tóc bung chảy ngược về phía sau, níu theo gió, theo mây giữa màu xanh ngút ngàn xanh của của cây lá, sông nước. Vậy nhưng năm tháng và sự đời đã làm đảo lộn tất cả. Ví như ao hồ đang cạn đáy, bãi cỏ non tươi bị ngọn lửa thiêu đốt rụi tàn. Một con người luôn mang niềm hạnh phúc đến cho kẻ khác. Vậy mà Hà không còn dấu vết của cô bé Hà ngày xưa! Hà khác trước nhiều, chín hơn, già dặn hơn và từng trải hơn. Tất cả đều hiện rất rõ trên nét kéo dài ở đuôi lông mày vẽ màu đen nhạt thật khéo, một chút son trên môi, lớp phấn hồng mỏng trên má và màu sơn mận chín hồng đào trên những móng tay cắt dũa tỉ mẩn. Tất cả làm cho tôi gần như hụt hơi khi phải nhìn ngắm những gì mình không trông đợi. Thời gian và khoảng cách bấy lâu nay không làm tôi xa, mất cô bạn bé nhỏ. Trong tâm trí, Hà luôn trong veo như giọt nước long lanh nơi đuôi lá mỗi sáng sớm. Vậy mà giờ đây tôi cảm thấy như Hà đứng rất xa, tận cuối đường chân trời, như một cái bóng chập chờn trôi nổi trên lớp bọt sóng, xa gần, dữ dội.

Lúc ngồi trên taxi, Hà nói:

- Tôi cứ tưởng là mình phải viết tên lên tấm bìa carton “… đón Thành”.

- Nếu đúng văn phạm thì phải là “Măng cụt đón Thành”. Hàng ngàn khách đi tàu, rất có thể là có vài chục người tên Thành thì sao?

- Nhưng mà cuối cùng không có Thành nào khác nhận ẩu, phải không?

- Giá mà thời gian lùi lại, sẽ có nhiều người mạo nhận, tôi chắc vậy.

- Còn nay? – Hà hỏi:

- Những tên Thành ấy đã già nua, mệt mỏi nhiều rồi.

- Chúng ta đều già thật rồi sao?

Hai người im lặng có vẻ như tự mình tìm câu trả lời. Nhưng không có câu trả lời nào cả.
Thành phố buổi sáng sớm êm đềm, sạch sẽ sau cơn mưa đêm; xe cộ thưa thớt. Đèn đường lướt thướt dốc ngược phía sau, kéo những vệt vàng như dải lụa thả trôi trên sông. Phố, cửa đóng im ỉm. Những hàng cây hai bên đường như còn đang ngái ngủ. Tôi nói trổng, không cho ai cả:

- Còn đang sớm quá.

Hà đề nghị:

- Hay mình tìm một quán cà phê cóc nào đó ngồi chờ sáng, kiểu hồi xưa anh em mình thường ra quán dì Tư bên dốc cầu Cái Khế?

- Ý kiến hay.

Hai ly cà phê đen thẫm đặt trước mặt, bốc khói là đà, kéo lùi cơn buồn ngủ và mỏi mệt một đêm trên tàu. Những năm trước kia, thời còn trẻ, bọn anh thường có những phút bốc đồng, hẹn hò nhau ngồi quán cóc thật sớm, có khi còn sớm hơn cả người bán hàng. Sau đó mới đến lượt những chú bé bán báo trờ tới, với những lời rao giật gân: “Báo mới đây! Chính Luận, Trắng Đen, Độc Lập, Tây Đô… đăng tin ông Kỳ đảo chánh lật đổ ông Thiệu…”.Những đồng tiền lẻ lôi ra. Những tờ báo sột soạt trên tay. Tiếng rao báo mất hút cuối đường, chỉ còn vương vất mùi thơm mực in trong bóng sáng mờ đục. Và không có đảo chánh nào cả, chỉ thấy toàn những tin Việt kiều và đồng bào ở khu biên giới bị “cáp duồn” liên tục mà không có biện pháp nào chống đỡ. Một đất nước thật lạ kỳ: phân năm xẻ bảy, hổ lốn còn hơn đống bùi nhùi.Thanh niên như bọn anh chỉ còn biết ngó nhau mà không hiểu sẽ trông chờ điều gì sẽ xảy ra. Và những quán cà phê cóc gần như là chỗ để họ tụ tập, để giải tỏa những bức bối chất chồng, cao mãi, đầy mãi trong lòng mỗi người.

- Anh vào chơi lâu không? – Hà hỏi đột ngột.

- Một hai ngày gì đó rồi xuống Mỹ Tho. Tôi sẽ dành cả buổi sáng cho Hà.

- Còn sau đó?

- Là bạn bè.

- Không công bằng chút nào. Bỡi tôi cũng là chỗ bạn bè, lại có thời gian học chung trường, tuy không chung lớp, lớp sau xa nhưng cũng có thể gọi là đồng môn. Uống cà phê xong anh về chỗ tôi, tắm rửa. Sau đó thì lên chương trình rong chơi như hồi còn trẻ. Mình thử tìm lại cảm giác ngày xưa xem sao? Báo trước với anh rằng: lúc này tôi rất thong dong, không bị ràng buộc gì hết về thời gian.

Tôi thong thả nhấp ngụm cà phê, thong thả đặt xuống mặt bàn và thong thả nhìn vào đôi mắt Hà:

- Tôi nghĩ là không tiện chút nào. Tôi sẽ lấy khách sạn nào đó gần đây, vất bỏ đồ đạc xong ta đi ăn sáng. Tính tôi cẩu thả bừa bãi, áo quần, đồ đạc vất lung tung.

- Tôi một mình. Cả căn gác rộng mênh mông anh vất gì tùy thích.

Tôi chưng hửng, định bụng hỏi tại sao nhưng kịp giữ lại. Như vậy gọi là khiếm nhã, là hơi thiếu lịch sự đối với phụ nữ.

Hà gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn gỗ xù xì.

- Tôi biết anh đang nghĩ gì rồi. Không việc gì phải giấu diếm. Tôi và Hiệu chia tay hơn hai chục năm nay rồi.

- Sao lại thế nhỉ? –Tôi nói, nhưng tiếng không thể bật ra khỏi cổ họng.

Hà huơ tay vào lớp không khí trước mặt:

- Anh không cần thắc mắc, hỏi tại sao. Anh chỉ biết là tôi và Hiệu đã chia tay nhau. Đứa con trai duy nhất phía nội dành nuôi. Chưa hết đâu. Bảy năm sau gặp người thứ hai sống với nhau năm năm và cũng kịp có với nhau một đứa con nữa trước khi chia tay. Anh lại nghĩ thầm “tại sao?” phải không? Tới bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao như vậy. Lỗi do tôi hay do những người đàn ông ấy. Giá như tôi là đàn ông thì tôi có thể hiểu và cảm thông phần nào với những điều oái oăm đã xảy ra. Đàng này, tôi vẫn là người nữ, là chiếc xương sườn của họ, nên đành phải thế thôi. Có thể anh không muốn và không cần nghe những chuyện trái khoáy này, nhưng anh là bạn thân, loại đặc biệt, có nhiều kỷ niệm với nhau, nên tôi không thể không bắt anh phải nghe, như thể anh là cái phao để tôi trút hết nỗi niềm. Anh Thành này, anh không được ngắt lời tôi. Anh phải nghe tôi nói hết từ đầu. Anh có thừa nhận là anh đã yêu tôi, yêu từ khi tôi còn năm Đệ Nhị ở Đoàn Thị Điểm? Nhưng anh không nói ra, hay chỉ bóng gió xa gần. Anh chìu chuộng, săn sóc tôi còn hơn người mẹ. Từ một cô học trò nhút nhát, anh đã lôi tôi lên sân khấu ca nhạc, đọc thơ trên giảng đường “Những Tối Thứ Bảy” một sinh hoạt văn nghệ của sinh viên các anh hồi đó. Nhưng cũng chỉ chừng đó, không tiến không lùi. Thật tình thì tôi ngưỡng vọng anh. Anh sừng sững to lớn như cây cổ thụ với những bài báo hừng hực lửa, với những truyện ngắn đọc đến nao lòng, xót dạ. Anh là chỗ bù lấp những thiếu sót mà tôi không hề có. Trời xuôi đất khiến thế nào mà khi tôi bước chân vào năm thứ nhất, anh lại ra trường, coi như sự nuông chìu, vỗ về cũng trôi theo những dề lục bình trên giòng Bassac. Và Hiệu đã nhảy vào thế chỗ anh. Anh ta khác anh, thực dụng hơn, đoán biết được những điều tôi cần và không cần. Tình cảm của anh ta cứ như một gã ăn mày xồng xộc chống gậy bước vào nhà mà không thèm biết chủ có đồng ý không. Tôi ngã bổ trước cây gậy của anh ta, trong khi anh ở xa lắc, thỉnh thoảng mới quay về trường cũ, thỉnh thoảng mới đọc được những lá thư dài ngắn, đứt đoạn của anh bằng những giòng chữ luôn quan tâm đến thời cuộc hơn là tình yêu anh cố gắng nén ém lại trong lòng. Dĩ nhiên, cuối cùng thì vỡ diễn tồi tệ ấy phải hạ màn một cách mệt mỏi, ảm đạm, não nề. Một kết cuộc nhão nhóet rất có hậu, phải như vậy thôi. Tôi và Hiệu lấy nhau anh biết, đánh điện tín chúc mừng, mà sao những dòng chữ cứ như những bông cỏ may đâm miết vào thịt da nhột nhạt, nhói đau. Còn chuyện tôi và Hiệu bỏ nhau anh không cần quan tâm, cũng như sau này tôi lại bỏ Khánh. Chuyện này tôi đâu báo cho anh để chia sẻ niềm vui được tự do của tôi?

Tôi nhăn mũi:

- Chuyện buồn, tôi xin chia sẻ với Hà. Vả lại lâu rồi, nhắc lại đâu có thay đổi gì – Nói và lúng túng đẩy gọng kính, chỗ giáp với sống mũi theo thói quen.

Hà chồm tới, gần như chạm vào mặt tôi:

- Anh bảo sao? Đã đành thời gian đã quá xa. Nhưng giờ đây chúng ta đang ngồi gần nhau thì nó trở nên gần, như mới hôm qua đây thôi.

- Nhưng nó đâu giúp được gì, chẳng giải quyết được vấn đề!

- Tôi không cần biết và đòi hỏi có giải quyết được gì không. Nhưng tôi cần một điều là anh phải biết tất cả những chuyện cũ đó, những chuyện mà đáng ra không nên xảy ra, chuyện mà đáng ra anh phải biết rõ, để, nói sao cho đúng nhỉ? Vâng, để anh hiểu rằng anh đã lầm khi là bạn của tôi, nuông chìu tôi, khỏa lấp cái tính xấu vô cùng xấu của tôi.

- Trái lại – Tôi thở dài, cay đắng.

- Không, anh không được quyền an ủi tôi như ngày xưa tôi còn là đứa bé con của anh.

- Oan cho tôi. Lúc nào tôi cũng coi Hà như người lớn, để chia sẻ, để cảm thông. Tôi chưa bao giờ coi Hà như một đứa bé.

- Thoạt đầu ai cũng bảo thế. Càng về lâu, mọi sự đối xử đều thay đổi cả, quay ngoắt đến đúng một trăm tám mươi độ, không sai một ly. Đàn ông các anh đều như thế cả.

- Có thể, nhưng tôi không ở trong cái đám ấy.

Hà chùng giọng xuống, thất vọng:

- Có thể. Anh biết không, sau cái ngày u ám đầu tiên trong đời, tôi mới chợt nhớ có một người bạn ở ngoài ấy, là anh. Tôi hỏi thăm đám sinh viên cùng quê với anh, nhưng chẳng đứa nào biết cả, cho đến khi trường liên kết mở tại chức chuyên tu, hỏi mấy ông sinh viên già, mới hay anh cũng đang chọc trời khuấy nước ở cái xứ bé tí tẹo bằng ngón tay, đến độ các nạn nhân phải nghĩ cách bứng anh đi. Tôi có một bà “gián điệp” để cung cấp thông tin về anh. Thật tình lúc đó tôi muốn cầu cứu anh, nhưng kịp nghĩ lại, thế nào anh cũng sẽ lên mặt anh cả, sẽ khuyên nhủ, sẽ an ủi. Tôi không muốn điều đó xảy ra, nên thôi. Có khi cam chịu một mình lại tốt hơn. Mà không chừng gặp lại anh trong thời điểm đó biết đâu tôi lại quay sang an ủi anh?

- Tôi không biết phải nói thế nào cho phải. Dẫu sao đó cũng là tai nạn ngoài sự trông chờ của mọi người. Cả hai chúng ta có thể là những nạn nhân, nếu như Hà và tôi cứ luôn giành cái lý về phần mình.

Hà thở dài:

- Tôi biết thế nào anh cũng sẽ nói như vậy mà. Thôi chuyện đời tôi coi như đã đặt một dấu chấm sang hàng. Còn anh bây giờ thế nào?

- Vẫn phây phây, chưa chết.

Hà cười khẩy:

- Hay thật. Định mệnh chúng ta lại trùng hợp nhau. Chưa chết có nghĩa là còn ngáp ngáp như tôi bây giờ – Nói và Hà cười ngất – Thôi sáng rồi, anh quyết định đi.

- Không thay đổi.

- Vậy chúng ta đi- Nói và Hà đứng dậy.

Lúc ngồi ăn phở ở Pasteur, Hà chỉ ngồi chống đũa nhìn tôi, nói: “Gặp anh tôi mừng quá hóa no”. Thỉnh thoảng lại ngắt từng đoạn ngò gai cho thêm vào tô, giục “anh ăn nhiều vào”. Rồi nhắc: “Ngày xưa anh thích món bánh cống ở bến Ninh Kiều. Hay là chiều nay mình về dưới đó. Lâu lắm rồi tôi không biết mặt mũi xứ sở mình ra sao nữa. Về đó đầu tiên là ra bến Ninh Kiều và ăn bánh cống. Anh chẳng từng nói bánh Ninh Kiều ngon hơn những chỗ khác chẳng phải vì nó ngon mà đơn giản là mùi bùn non từ sông đưa lên thấm đẫm vào trong từng thớ bánh đó sao?”. Rồi như chợt nhớ ra, Hà đặt tay lên tay tôi:

- Anh bảo dành cho tôi ngày hôm nay. Vậy thì tôi sẽ có toàn quyền quyết định. Anh không được chen vào bất cứ chuyện gì tôi thích.

- Vâng, tôi sẽ chìu. Nhưng chìu theo cái đúng.

- Trong trường hợp này không có nhưng.

Và cái quyền đầu tiên của Hà là lôi tôi vào câu lạc bộ Đinh Tiên Hoàng mãi tận trên lầu năm. Hà đề nghị không sử dụng thang máy để kiểm tra lại đôi chân. Lên đến nơi Hà có vẻ mệt, nhưng coi bộ hớn hở, trong khi tôi lại chưng hửng lần thứ hai, khi biết rằng đây không phải là quán cà phê cao cấp, một bar rượu mà là vũ trường dành cho những quý ông, quý bà “trung niên sồn sồn”. Sàn nhảy không rộng, mà người thì đông. Tôi bị cuốn theo Hà như một thỏi kim loại rỉ sét bên cục nam châm cực mạnh. Hà quay cuồng với các điệu nhảy như bão táp mưa sa, dầm dề lửa cháy rực: Tango, Chachacha… đến cả Rap, Rock nữa. Bước chân tôi liêu xiêu như cọng rơm sũng nước sau mùa mưa, như những sợi bún thiu bốc mùi. Hà cố tình lôi theo tôi như bà chị cả lôi đứa em chạy ríu quíu qua chiếc cầu khỉ trên con kênh hẹp, đến nỗi chiếc dép tụt quai rơi tõm xuống nước. Đứa bé níu chặt tay chị, miệng không nói ra lời. Khói bốc ra từ hai lỗ tai, la đà trên chỏm tóc. Tôi lử đừ . Hà nép sát và ôm tôi thật chặt, thầm thì:

- Cái hào hoa, rực lửa năm xưa của anh đâu rồi?

- Nó nói với tôi rằng đã bước qua tuổi hườm hườm để kịp thò tay đặt vào bóng đêm.

- Nghe thê thảm quá chừng chừng.

- Đúng vậy.

- Em nghĩ anh không phải thế. Anh đang giả bộ hay đang cố chứng minh rằng anh là người lớn, biết độ dừng. Còn em luôn là đứa bé con trong suy nghĩ anh. Anh làm vậy liệu có ích gì kia chứ?

- Trước em, anh không chứng minh một điều gì cả. Anh vẫn như hồi nào, không khác.

Hà ôm tôi chặt hơn:

- Có. Trước anh vẫn giấu lòng mình và nay vẫn giấu, kín bưng như chiếc tủ lạnh.

- Em đã mở toang hết còn gì.

- Nhưng là cái cánh. Còn phần bên trong chỉ có thể lấy chạm búa mới đục ra nổi.

- Em không phải nhọc công, chỉ cần lấy ngón tay khều nhẹ thôi.

- Anh sợ đau?

- Quá nhiều, nên có thêm chút đỉnh chẳng sao.

Gần trưa, người đông đúc hơn. Không khí cô đặc lại, âm thanh vê tròn đùng đùng nhớp nháp. Hà nói gọn lỏn:

- Thôi về.

Chiếc thang máy khật khưởng trôi xuống đất như người say rượu. Hai tay tôi nắm chặt thành vịn bằng inox trơn chùi. Hà cười:

- Anh đóng kịch thiệt khéo. Em vái trời điện cắt ngay bây giờ để chiếc thang treo lơ lửng trên không, coi anh thế nào?

- Có cả em cùng treo mà.

Thang chạm đất. Cửa mở toang. Tôi bước ra, nói đùa:

- Cửa tự động mở, nó không đợi em nữa rồi.

Hà bước thẳng tới chỗ gửi xe, không trả lời, cũng không ngoái nhìn phía sau. Tôi tự hỏi: Không biết Hà đang nghĩ gì, bày sắp những gì cho bữa tiệc muộn màng này? Có thể Hà vẫn còn giận tôi trong những ngày mà nàng gọi là “anh cố nén ém trong lòng”. Nếu vậy, đúng là tôi có lỗi, bỡi tôi rất sợ một khi vói tay đụng vào mảnh trăng mỏng manh kia sẽ làm vỡ nát màu vàng như dải lụa tinh khiết, sẽ làm lạt phai đi hương thơm diệu kỳ váng vất đâu đó trên giòng Bassac, trong vườn sầu riêng, măng cụt bên Lộ Tẻ, Cái Răng. Và những đêm cuối tuần ở giảng đường lớn, những buổi rong chơi với chữ nghĩa, âm thanh trong phòng thu âm thoang thoảng hương ngọc lan.

- Anh nghĩ gì vậy? – Hà hỏi phía sau lưng tôi.

- Không gì cả – Tôi đáp.

- Anh lên xe đi. Mình không ăn tiệm. Để em đi mua cái gì đó về phòng, như mình đang ngồi trong bàn ăn ở nhà. Đã lâu lắm rồi em không có thứ không khí đáng yêu này. Em thèm nhớ nó như không thể bỏ thói quen rờ đụng từng múi măng cụt trên đầu lưỡi. Cái không khí gia đình mất từ lâu rồi. Anh đừng ngăn cản em.

- Dĩ nhiên anh không ngăn cản nổi điều em muốn.

Hà biến mất. Tôi mở cửa nằm đổ xuống giường và kéo tấm drap mỏng đắp ngang bụng, nhắm mắt. Chiếc giường trôi dập dềnh. Tiếng máy điều hòa già nua thở rột rạt, lè xè quái gở, bắt tôi trôi thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, gãy khúc. Tôi mơ thấy Hà trợt chân trên chiếc cầu khỉ trơn bóng như thoa mỡ, rơi tòm xuống rồi bay la đà như con thiên nga trên mặt hồ rộng mênh mông. Đôi cánh trắng soải rộng và mất hút giữa tầng không. Tôi chới với, chập choạng bước theo, ngẩn ngơ nhìn những lọn mây xốp nõn cuồn cuộn phía trên, sau đó chìm nghỉm dưới quầng nước đục lềnh. Tôi cố hết sức dãy dụa, cố hết sức nhoài đạp mà không gượng lên được. Càng cố, lớp rong rêu càng thít chặt đến ngộp thở dưới làn nước lạnh băng.

- Ôi kìa, anh đang mơ gì vậy? – Tiếng nói lạ hoắc, xa tít mù mù.

Tôi cố mở miệng để nói câu gì đó, nhưng đôi môi bị kẹp cứng, thật chặt.

Cuối cùng thì tôi cũng mở mắt được. Và trước mặt là cô bé Hà trở lại nhỏ bé, thơ ngây đến không tưởng. Hà lấy khăn ướt chờm lên trán tôi, nhỏ nhẹ:

- Anh mơ một giấc mơ đẹp, phải không?

- Giấc mơ đẹp đến nao lòng.

Có vẻ như Hà không để ý, hoặc không nghe kiểu chữ nghĩa hụt hẫng của tôi, vỗ nhẹ bên má:

- Anh nằm nghỉ một lát, em sửa soạn bữa trưa – Nói và Hà quay đi.

Tiếng bước chân xa dần. Tiếng giấy gói sột soạt, ly cốc chạm xuống mặt bàn lanh canh tựa hồ tiếng reo của trẻ thơ. Bổng dưng lòng tôi trổi dậy niềm háo hức của thằng bé lên năm, lên mười, tưởng không bao giờ gặp lại. Niềm hạnh phúc nhỏ nhoi và mong manh, tôi thầm kêu lên. Có phải Hà đang vực tôi dậy để quay lại những năm tháng xa xưa, đẹp tựa tiếng bập bẹ của đứa trẻ mới bắt đầu tập nói? Những ngày xa lắc ấy có khúc nhớ khúc quên, có đoạn đục đoạn trong bay bổng, và hóa thành những bông hoa tuyệt đẹp. Lòng tôi cồn nức, muốn đặt ngay nụ hôn biết ơn lên mái tóc Hà, cô bé luôn đứng bên ngoài và choáng hết ô cửa đời tôi. Với tôi, Hà không bao giờ có tuổi tác, vẫn là cô bé con mỏng manh, hiền thục và hầu như không hề xảy ra những điều Hà kể với tôi ban sáng, không hề trải qua những cơn sóng gió dữ dội của cuộc đời chông chênh, gập gềnh. Tôi bật dậy, ngó Hà bày biện thức ăn lên bàn. Không, không còn rớt lại một chút gì của niềm cay đắng và tuyệt vọng; không cả sự hằn học, giận dữ, mà chỉ thấy bóng dáng của một bà nội trợ đảm đang, dịu dàng, luôn chăm sóc luôn có mặt bên gia đình sum vầy. Tôi tự hỏi: Vậy thì cớ gì Hà lại đánh rơi niềm hạnh phúc đó, đáng ra nàng phải được đền đáp, tận hưởng một cách trọn vẹn, với, không phải một, mà hai người đàn ông cách nhau không xa? Tôi không biết gì nhiều về Hiệu, nhưng không thể nào anh ta mang nghề nghiệp luật sư của mình để đối đãi một cách vu vơ với vợ, đến độ Hà không thể chịu đựng nổi? Người thứ hai thì tôi hoàn toàn mù tịt về lai lịch. Và nếu là tôi chứ không phải Hiệu hay người đàn ông thứ hai bước qua cuộc đời nàng lúc đó, thì cơ sự sẽ ra sao bây giờ?

- Anh đừng nhìn em và suy nghĩ vẩn vơ như thế – Hà đột ngột lên tiếng.

- Anh chỉ nhìn ngắm hạnh phúc tròn trĩnh trước mặt.

- Không khác hơn đâu. Em chỉ làm bổn phận của đứa em gái với anh trai. Anh luôn miệng bảo thế, mà lòng anh thì không vậy. Anh ngồi vào bàn đi. Bữa ăn mừng ngày anh em mình lại gặp nhau.

Chai rượu vang đỏ. Bánh mì kẹp thịt. Khoai tây chiên. Xúc xích. Dĩa măng cụt, một loại trái cây muôn thuở nàng ưa thích. Và một búp hồng đỏ thắm cắm trong chiếc ly khách sạn. Tất cả đều bày biện rất khéo trên chiếc bàn nhỏ trong phòng.

Hà rót rượu, nâng ly:

- Mừng ngày hội ngộ – Nàng nói với giọng điệu trong veo, đôi mắt lúng liếng, môi chúm tròn như nụ tầm xuân.

Tôi đưa ly lên, khẽ nghiêng đầu:

- Chúc em muôn năm là cô bé.

- Còn thiếu: cô bé của anh.

- Vâng, cô bé của anh.

Tiếng cười vang lên, đầy ắp căn phòng nhỏ.

Hà luôn rót rượu vào ly và ép tôi ăn, trong khi Hà chỉ nhấm nháp gọi là. Hà đang dành quyền được làm người chăm sóc theo đúng nghĩa? Không, còn hơn thế nữa, bỡi từng lời nói, cử chỉ và ánh mắt nàng đã nói lên điều ấy, một sự biểu lộ tình cảm hoàn toàn có thật mà không cần che đậy, giấu giếm. Giá như cái tủ mica đứng bất động trong góc tường kia, chiếc máy điều hòa trên cao, rồi cả bàn ghế vật dụng trong phòng đều có thể cất tiếng được, thì chúng sẽ không ngần ngại la to lên rằng: Không công bằng chút nào. Tại sao các người cứ phải hành động một cách vòng vèo như đánh đu, làm xiếc vậy? Tại sao lại cứ phải dối lòng để ôm lấy ảo ảnh mà sống, trong khi các người hoàn toàn có thể làm khác được. Hoàn toàn có thể thực hiện những ước muốn của mình kia mà?

Nhưng cũng bỡi chúng chỉ là những đồ vật vô tri, nên cuối cùng không có một lời nào thốt lên, dù nhỏ như tiếng con dế ri rích dưới chân bếp.
Có vẻ như Hà đọc được những ý nghĩ của tôi, nàng hơi nhếch môi:

- Lại bắt đầu thắc mắc, tự tra vấn mình nữa rồi. Không phải bận tâm suy nghĩ gì cả. Anh phải uống với em thật say, một lần…

- Một lần? – Tôi ngạc nhiên.

- Không – Hà lắc đầu và chạm ly.

Bữa ăn trôi qua thật tuyệt vời, như thể chưa bao giờ chúng tôi được thưởng thức, như thể đó là bữa ăn ở nơi khác, không phải chốn trần gian. Hà chăm chút cho tôi từ trong ánh mắt, trong tận cùng đáy lòng sâu thăm thẳm. Tôi muốn nhảy bổ đến bên Hà, ôm chặt vào lòng và thầm thì câu nói muôn đời của giống người cuồng si, ngu dại, nhưng có cái gì đó, vây túm, ngăn giữ tôi lại. Tôi không thể thấy được bộ dạng mình trong những giây phút đó, nhưng Hà biết, thấy hết đến nỗi nàng co rúm người lại và bật khóc tức tưởi như đứa con nít. Tôi nhìn sững khuôn mặt nàng đang từ từ chuyển động từ trạng thái này sang trạng thái khác, đau đớn đến tột cùng, nát tan đến tột cùng, như thể tôi là người thứ ba đẩy nàng tới vực sâu. Tôi kịp định thần lại.

- Xin lỗi em. Anh đúng là thằng đàn ông ngu nhất trần đời.

- Anh đừng giải thích bất cứ điều gì nữa cả. Em mệt mỏi quá nhiều rồi.

- Vâng. Kẻ đáng nguyền rủa là anh chứ không ai khác.

Hà đứng vụt dậy, nhìn tôi với cặp mắt ngây dại. Tôi nhắm mắt chờ đợi một cái tát nẩy lửa. Nhưng không Hà lao tới như con chim sắt, níu theo tôi ngã vắt ngang lên thành ghế salon. Căn phòng rung lên, lẩy bẩy như người bị trượt kịp gượng dậy. Thân thể nàng cũng rung lên. Những giọt nước mắt chảy tràn lên mặt tôi, bỏng rát và, mát mẻ.

Tôi kêu thầm: Cỏ May!

Đăng nhập để trả lời
0
NHỚ


NGUYỄN LỆ UYÊN


Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê

(SƠN NAM)



Chiều nào ông Năm cũng chọt gậy ra ngồi nơi quán nước nghèo sát bờ sông. Quán nghèo thiệt: mái lợp lá, giàn rường cột chống đỡ bằng những cây bần, cây so đũa phệu phạo. Trên nền đất gập ghềnh là những chiếc bàn gỗ cũ kỹ, có vẻ như khép nép, ngượng nghịu trước những chiếc đẩu nhựa bao quanh. Trên cao, chỗ đặt những ly tách, chai nước ngọt, trái chanh, hũ đường… được bện bằng những cây sóng lá, gá đỡ lỏng chỏng như chực rụng xuống lúc nào không báo trước.

Có cả chục ngôi quán như thế trên khúc sông nhỏ gần nhà, nhưng ông thích nó hơn cả. Không có nhạc xập xình, nằm thoi loi ra khúc ễnh cong nên có thể ngó xuôi ngược dọc hai bờ, phủ kín màu xanh lá dừa nước, che khuất những căn nhà tầng nghễnh nghệu. Những người khách lui tới quán hầu hết là dân lao động trong khu phố. Họ từ tốn, không ồn ào, nhớn nhác. Món nước giải khát được nhiều người ưa thích là trà đá. Ông Năm cũng vậy, ông tới đây lúc nào cũng kêu ly trà đá và ngồi đó ngó mong ra khúc sông quạnh, xuôi về hướng Bắc trước khi đổ vào con sông lớn Sài Gòn. Ông thẫn thờ bên ly nước, xa xăm, mắt dán chặt vào chót ngọn lá dừa nước chúc trong dòng chảy, rung nhè nhẹ đều đặn. Hình như ông có tâm sự, một nỗi nhớ lung linh, lòe sáng gợn lăn tăn trên lưng con sóng nhỏ. Là người ta đoán vậy, chứ thật ra chỉ có ông mới hiểu rõ ngọn ngành tự đáy lòng mình.

Mùa gió chướng nổi lên lâu rồi, nhưng hiu hiu. Bữa nay thì rộ hung. Cái loại gió giao mùa bắt người ta nao nao hoài nhớ. Nhớ nhà, nhớ quê, nhớ mối tình đầu chẳng hạn. Ai cũng có mối tình đầu và luôn đẹp. Ông cũng vậy, cũng có mối tình đầu, nhưng thỉnh thoảng mới bay qua, chỉ đủ gợn rung dây đàn chùng rồi thôi. Ở cái tuổi tám mươi chuyện tình ái thời trai trẻ như vết sượt trên da, không còn mặn mòi, chẳng bâng khuâng nhung nhớ chi nữa. Duy nhất ông có một nỗi nhớ khôn nguôi: nhớ quê, nhất là khi ngọn gió chướng khi hiu hiu, lúc mãnh liệt như bàn tay vô hình bóp thắt tim ông từng cơn. Mươi ngày trước ông nhận ra ngay thứ gió dờn dợn nỗi cồn cào này trên bàn ăn, bắt ông phải buông đũa. Đứa cháu nội hỏi sao vậy ông? Nước mắt ông dân dấn như con nít. Thằng con trai hiểu cớ sự nói ba già rồi, làm sao ngồi xe đến gần sáu trăm cây số, ba cũng không thể đi máy bay được. Giọng nói chăm sóc của nó sao giống lưỡi dao bén cắt rột những bó cải xanh mướt làm vậy? Nước mắt chảy thành giọt, ông vội vã bỏ lên gác, nhìn tấm ảnh thờ của vợ mỉm cười sau khung kính như thầm nhắc: già thiệt rồi, không đi nổi đâu!

Thiệt cơ khổ, ông than thầm, đến một chút xíu nhớ cũng không được nhớ trước mặt con cháu vốn sinh ra ở vùng quê nghèo, mà phải trốn ra đây, ra ngồi nơi góc quán nghèo để hoài nhớ về quê hương nghèo của mình cho có đôi có bạn sao? Mà nghèo sao được chớ? Giàu hung. Ông ứa nước mắt. Giàu nắng, giàu gió, giàu bão, giàu lũ lụt quanh năm. Mùa nào thức ấy. Suốt cả thời trai trẻ cho tới khi “bị bắt cóc” vào đây, ông đã sống với nó, lặn lội cùng nó, hít thở với nó, chạy nhảy cùng với những thứ trời ban tặng cho xứ sở ông. Vậy mà giờ này phải đành đoạn chia tay với ngần ấy thứ chỉ vì con vì cháu…

Giờ thì ông chỉ có mỗi một ước ao duy nhất, được về lại chốn quê, nhìn ngắm lần cuối cùng cho đã cơn khát nhớ, rồi buông tay, nằm xuống ở đâu cũng được. Một nắm xương tàn nơi đất khách quê người đâu còn ý nghĩa gì đối với thân người đã nằm sâu dưới lòng mộ địa? Nằm nơi chôn nhau cắt rốn hay xứ lạ quê người vẫn là những tầng đất kín bưng? Nhưng tim ông vẫn còn đập, mắt ông vẫn còn nhìn thấy rõ ràng mọi vật trước mặt, thì ông nhất định phải hít, phải nếm, rờ đụng những thứ ông đã từng đắm mình gần cả cuộc đời. Đầu tiên là soi cát ở làng ông. Soi cát vàng óng như màu mật ong. Mùa gió Nam non hất tung những bông mướp vàng lay bay chấp chới, đến Nam cồ, cát cuộn gió bốc tận trời cao. Cát bay mịt mờ suốt dãi sông trong vắt. Ngọn gió hung bạo thổi tốc mái tranh, lật chổng những ổ chim dồng dộc đu đưa trên đọt tre cao, khiến chúng thích thú há miệng hót dài đưa cơn gió xuống tận cửa biển, mất hút. Những ổ chim bọn trẻ thời ông khèo xuống làm hia đóng vai Triệu Tử Long, Trương Phi… chơi trò nhà chòi, đẹp tựa bức tranh mực tàu…

Nhưng mà làm sao với được một gang tay nỗi nhớ, khi đứa con nói ba không thể ngồi xe, đi máy bay? Cơ khổ. Rõ ràng tuổi già làm ông bị cụt đường. Mối dây liên lạc duy nhất là những trang báo viết vài dòng ngắn ngủn, toàn là chuyện sập bờ kè, ông này lập quỹ ma, công ty nọ phá sản… Chẳng lẽ quê ông chỉ có những chuyện đó đáng lên mặt nhựt trình? Ông hậm hực đau khổ mà không biết bày tỏ cùng ai. Nỗi khổ tâm đeo bám y hệt con đỉa bám vào chân ông khi vác cuốc xuống ruộng mùa tháng mười nước nổi trắng đồng.

Trước mặt ông, đọt lá dừa vẫn chúc xuống dòng nước trôi lặng lờ một cách cần mẫn miệt mài, có lúc ve vẩy như cái ve vẩy tay của người thôn nữ quảy đôi thúng gạo trên vai. Ngoài quê không có loại dừa nước, nhưng có những thứ khác ven sông: cây cám, hàng tre hát ru kẽo kẹt với gió nồm nam mát rười rượi, không cần tốn kém những máy quạt, điều hòa… Trưa, ra bờ sông nằm gối đầu lên đụn cát nhỏ đánh một giấc dài theo tiếng sõng khua mái chèo lụp bụp, cái tiếng nghe như tiếng gõ tang trống lúc Điêu Thuyền ngước cao chiếc cổ trắng, ca khúc huê tình, lúng liếng mắt làm Lữ Bố bủn rủn chân tay đánh rơi đại đao xuống đất.
Chiếc sõng neo róc rách nước bên lườn mất hút dặm đường dài, để mỗi khi buồn, ông xuống bếp phụ đám cháu lặt những cọng rau xanh dờn như một cái cớ làm vơi nỗi nhớ. Nhưng chẳng vơi được mà lại vun đầy, cũng chỉ tại mấy cọng mồng tơi, rau dền nấu nồi canh tập tàng. Thiếu. Đâu chỉ có vậy? Còn bồ ngót, bình bát, bông mướp lúp búp và những con tép giã lập dập. Lửa đỏ đít nồi, nhồi những con tép lá rau nhào lộn trong lớp khói nghi ngút cứ y như bầy cò trắng tít cao trong bầu trời chiều xanh thăm thẳm. Những thứ tầm thường ấy mà sao đến giờ này ông mới kịp thấy nó cao sang quá đỗi. Mà cũng phải, chính những thứ ấy đã theo chân cha ông thời mở cõi, đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ lớn khôn, đã hóa con cái ông và bao người khác vịn được tay vào những ước mơ muôn đời của kiếp người.

Cũng may, mấy tháng trước ông bốn Thơ vào Saint Paul gắp mày lúa ghim vô võng mạc. Ông mừng như đào khoai nhằm hũ vàng, vội vã kêu xe ôm tới thăm. Băng kín bên mắt phải, chiếc miệng móm mém, bốn Thơ mở to con mắt trái ra cười với ông. Cười đến chảy nước mắt. Vì bất ngờ, vì cảm động... Bốn Thơ bật dậy, hai người ôm nhau khóc. Đôi bạn già gần đất xa trời cứ ôm riết khiến cả phòng ngơ ngác. Đôi bạn cùng ê a Tam Tự Kinh, cùng chận trâu, cùng lén vào ruộng mía xiết những lóng dài ngọt lừ… Bữa nay gặp nhau nơi xứ người bảo sao không chảy nước mắt được?

Ông Năm chạy ra quầy điện thoại công cộng gọi về nhà, nói ở lại với bốn Thơ. Thằng con trai trả lời rột rẹt trong máy: ô kê, được ba! Chút xíu con vô. Nó vô thiệt, ôm theo gói to những sữa, những bánh, nước yến... ấn vào tay bốn Thơ, nói chú cũng như ba con mà. Lần này ông thấy nó ngoái nhìn lại cái cũ kỹ trong tình bạn già nua của ông với cả tấm lòng thành khiến ông vui. Lần đầu tiên ông hể hả với thằng con ra mặt.

Đêm ông ở lại, nằm ghé bên bốn Thơ ngửi cái mùi chua chua của phèn đất, nồng nồng của rơm rạ thấy tâm thần phấn chấn lạ thường, thấy như tuồng hai người đang nằm trên chõng tre trước chái hiên kể chuyện đi dân công Tây Nguyên. Bao nhiêu năm ông mới được ngửi lại cái mùi đặc trưng ấy của quê nhà nên coi bộ rất hả hê, ở riệt với bạn trong bệnh viện, suốt ngày lẫn đêm nghe bốn Thơ kể chuyện ngoài đó. Hai ông già thi nhau nói, chen nhau kể chuyện xưa chuyện nay về mảnh đất quê mùa, chơn chất, lắm tai ương, địch họa. Mọi người cứ như cây xương rồng, bàn chải trên dãi cát cháy, cứ tồng ngồng lớn lên, bất chấp nắng lửa, mưa dầu… để trỗ hoa. Hết lớp này tới lớp khác cứ tiếp tục vịn tay vào cái khốn khó mà lớn lên, mà thành người…

Khu cồn mả Cây Keo đó, đâu còn nữa, anh. Những lùm bàn chải với mai rừng hóa kiếp thành nhà cao nhà thấp rồi. Khu trại lính sát mép biển cũng vậy, nhà cửa, phố xá kéo dài ra tận ngoài quốc lộ. Đường lớn, đường nhỏ, nhà máy… cứ như trong phim ảnh. Tụi nhỏ bây giờ giỏi hơn lớp già tụi mình. Anh mà về không chừng đi lạc…”. Bốn Thơ miên man kể, ông say sưa nghe như say sưa nghe bà nội ông thuở nhỏ kể chuyện cổ tích thần tiên. Giọng bốn Thơ phều phào như chiếc xe đạp thồ gạo cũ kỹ, cọc cạch chở ông ngồi phía sau đi dạo hết phố này qua khu khác. Ông ngơ ngác ngó những bảng hiệu to đùng, ông vịn tay trên thành xi măng cầu Bà Chét, gát chân lên ghế đá công viên coi mấy đứa trẻ thả diều, bãi biển đầy người tắm. Hai người rướn sức đạp lên cầu Đà Rằng để hoài nhớ câu vọng cổ của người gác cầu dùng tay gõ nhịp lên lan can sắt: “Cúc Hoa ôi, nếu chúng ta còn xa cách nhau vì kẻ tuyền đài người dương thế thì mãi mãi anh còn là kẻ bị đầy ải đơn côi trong ngục thất… tâm hồn…” Giọng phều phào ấy hứng khởi chở ông đi cùng khắp… cho tới lúc thiếp đi trong giấc ngủ nhẹ tênh, cho tới khi bốn Thơ nắm tay ông, nước mắt trào bên khóe, bước lên xe. Ông Năm như từ trời cao mây trắng rớt cái đùng xuống đáy vực. Giấc mơ ông là lớp khói xịt sau đít xe, là cái vẫy tay của bốn Thơ không lòi ra khỏi khung cửa kính kín bưng. Ông đứng ngó trân trân bóng chiếc xe hút nhỏ sau khúc quanh, trên đường phố đông nghìn nghịt. Còn lại quanh ông là vũng nắng trắng lóa. Bốn Thơ mang theo mẹ con bà hai Mun, ông năm Cảnh, sáu Đờn Cò cùng đám bạn răng rụng, đôi tai nghễnh ngãng, mắt kèm nhèm… bay vụt ra khỏi thành phố. Đám bạn ấy và cả bốn Thơ khác chi những cánh chim trốn tuyết, bay trở về phương Bắc?

- Mua vé Tây Ninh, ông. Hôm qua nẫu trúng nhiều lắm – thằng bé đen đúa ốm tong teo chìa xấp vé số trước mặt, khiến ông giật nẩy người thiếu chút nữa là rơi tõm xuống sông. Giấc mơ chềnh chồng gãy gập, nát ngứu thành bọt sóng. Ông ngơ ngác ngó thằng bé xa lạ mà như đang nắm một thứ gì đó thiệt gần gũi, quí báu lỡ bỏ quên lâu ngày trong hóc bếp ám bồ hóng, đang thay thế chiếc bóng bốn Thơ xa hun hút. Ông ngó trân trân vào mặt thằng nhỏ, nuốt nghẹn vừa chỉ tay vào chiếc ghế trước mặt:

- Me chay, cháu gốc… Cơ khổ, sao cháu lặn lội tận trong này?

- Dạ, nhà đông anh em, nghèo nghỉ hè cháu tranh thủ vào đây, phụ tiền sách vở cho mấy đứa em.

- Chớ nhà cháu ở chỗ nào?

- Xóm Lẫm.

- Nhiều xóm Lẫm lắm, làm sao ông nhớ hết?

- Xóm Lẫm, Tây Phú…

- Ờ há… Tây Phú – Nói và ông nhắm mắt mơ màng, bỏ mặc thằng bé lóng ngóng, loay hoay trên ghế với tập vé số dày cộp. Chất giọng đặc sền sệt ruộng đồng và biển sâu khiến ông hồi hộp, run run như lần đầu tiên nắm tay cô ba Thẩm, không thốt lên được lời nào. Chẳng biết cô còn hay mất. Cũng nhờ thằng nhỏ này mà ông mới nhớ lại cái cầm tay đó, chớ lâu rồi ông đã quên?

Ông hỏi thăm gia sự, hỏi thăm xóm làng… Ông hỏi nhiều, dồn dập đến nỗi thằng nhỏ hụt hơi trả lời, chỗ nhớ, chỗ không, biết và không biết chồng chéo lên nhau, đan dệt tựa tấm lụa đào thơm tơ thơm tằm. Thằng nhỏ như thiên sứ kết nối sợi dây đàn lỡ đứt của bốn Thơ, mang đến cho ông nụ hoa dú dẻ thơm nức trong đáy mắt. Ông hả hê nuốt từng lời sền sệt từ chiếc miệng tròn phát ra những âm lệch nghiêng.

Ông Năm chồm người cắt ngang:

- Hè, chớ cháu biết bến phà cũ chỗ cây da ở Đông Phước không?

Thằng nhỏ nhìn xấp vé số, miệng méo xệch:

- Dạ chỗ cầu Chùa.

- Không phải, ở cầu Chùa ngó chéo lên cỡ bốn năm trăm thước. Chạy u một hơi là tới liền đó mà.

- Dạ – thằng nhỏ trả lời vừa ngó ra con đường bắt đầu đông nghịt xe cộ.

- Còn nữa, ở Tây Phú chắc nghe tiếng giáo Hai ở đồng Bầu Sấu, ông giáo hồi đánh Tây đó mà, nghe nói ổng viết sách thuốc, trị bịnh, lập gia phả…

- Dạ, mà cháu đâu biết đồng Bầu Sấu, có nghe nói ông giáo Hai.

- Đúng. Bầu Sấu là Phú Ân. Ổng đó, nay ra sao cháu?

Thằng nhỏ gãi đầu, ấp úng không biết trả lời sao:

- Nghe nói mạnh khỏe – Nó đáp bừa, chớ thật bụng đâu biết ông giáo Hai là ai.

Ông xịch ghế lại gần, nắm tay thằng nhỏ, vuốt ve bàn tay gầy tong gầy teo của nó, miệng lẩm nhẩm “cơ khổ ở ngoãi chưa hết nghèo thiệt sao?”. Thằng nhỏ nghiêng đầu về phía ông nhưng nghe không rõ ràng.

- Dạ, nhà con nghèo thiệt mà. Nghèo nên mới theo anh em vô tận đây bán vé số. Nhưng khai trường là con về liền, còn đi học.

Ông già chồm tới định nói câu gì đó nhưng cuối cùng thì ông thả rơi vào tư thế cũ. Ngoài đường xe cộ mỗi lúc một đông thêm. Quán có thêm mấy người công nhân tan ca bước vô kêu ly xây chừng, trà đá… Thằng nhỏ lúng túng với tập vé số còn dày trong lòng tay gầy guộc. Nó ngoái nhìn những người mới đến. Mắt ông già chạm ngay vào cái ngoái nhìn đầy lo lắng rê theo chút hy vọng mỏng tang của thằng nhỏ đồng hương. Ông thả vội tay nó ra, lần vào túi áo, lôi những tờ giấy bạc cong queo ấn hết vào tay thằng nhỏ, nói phều phào:

- Ông còn chừng đó, chẳng biết bao nhiêu, con giữ lấy hay chọn những tấm vé con thích, biết đâu chừng gặp hên. Ông già rồi. Vé với số mà làm gì. Chừng nào sắp về, con ghé lại quán này nhắn ông, có chút quà cho cháu mang về quê – miệng nói, bụng nghĩ ngay đến món tiền cất trong chiếc tráp gỗ chưa tiêu đến. Chẳng nhiều nhặn gì, nhưng sẽ phụ thêm tấm áo, cuốn vở, cây bút chì cho tụi em nó. Tội. Biết đâu ông bà, thần hoàng bổn địa phù hộ cho chúng thành tiến sĩ, kỹ sư…

Ông đẩy tay cầm tiền của thằng bé về phía bụng nó, dặn:

- Cứ vài ba bữa cháu tạt qua đây, nói chuyện với ông chút xíu cho vui.

Thằng nhỏ cầm những đồng bạc cong queo, miệng há hốc ngạc nhiên, nói lí nhí: “cảm ơn” trước khi bước qua các bàn khác rồi hòa vào giòng người ngược xuôi như giòng nước xoay vòng. Ông Năm thẫn thờ đứng lên ngó theo bóng nó hút xa với nỗi vui khấp khởi, hy vọng thế nào nó cũng sẽ quay lại nói chuyện với mình.


Cơn mưa cuối mùa thiệt dữ dội. Mưa ầm ầm như cầm chĩnh mà trút. Mưa xán xuống mặt đường vẽ thành những vòng tròn nối nhau trôi xuống các hố ga. Nước chảy ào ào. Chẳng mấy chốc, con đường trước mặt như mương nước. Xe cộ chạy ngang qua tát nước lên tận hàng hiên. Gành bật cười, nghĩ thầm: mưa xứ này thiệt kỳ, ào ào như lũ. Đến mưa cũng hối hả huống chi con người. Tính cách của mưa, của nắng và của người ở đây sao giống nhau quá chừng chừng. Gành giật mình, mưa vầy làm sao qua chỗ ông già bữa hổm? Ngày kia về rồi. Sắp khai giảng. Thiệt tội ông già, chắc là nhớ quê hung, phải ghé thăm ông cụ và cảm ơn món tiền ông cho mình, chẳng nhiều nhõi chi nhưng hiếm có người tốt bụng như vậy. Nó lại nghĩ, sao ổng cho mình băm sáu ngàn không tiếc mà mình lại tiếc ướt áo? Nghĩ vậy và nó đội mưa chạy băng qua mấy con đường đón xe buýt qua bên kia rạch Ông.

Mưa dứt thình lình. Đường láng lẫy như vừa rửa bột giặt. Mặt trời buổi xế chiều ló ra thật dịu dàng. Xe dừng gần giao lộ, Gành xuống xe lóc cóc chạy bộ một đoạn ngắn mà trong dạ chưa sắp xếp xuôi lọt những câu định nói với ông già.


Quán vắng hoe. Bàn ghế trống trơn. Gành chưng hửng, lóng ngóng ngó ra đoạn sông ngắn nơi có lùm dừa nước đứng lấn ra. Gành nhìn miết tàu lá chúc trong dòng chảy, như thể cánh tay buông xuôi, mệt mỏi thả lửng xuống mặt nước. Những lớp lá ngã vàng rung nhẹ trong làn nước sẫm màu. Gành thấy nhớ ông già quá đỗi. Giờ mà có ông ngồi đây nghe nói chuyện hẳn mình cũng đỡ nhớ nhà đôi chút. Mới đó mà đã hơn hai tháng. Hai tháng còn nhớ nhà, bầy em, lũ bạn huống chi ông cụ xa quê đã lâu hung. Gành mon men lại gần chiếc bàn vuông kê sát vách lá, ăn thông ra mé hông dùng làm chái bếp. Người đàn bà luống tuổi đang lượm thóc trong rổ gạo ngẩng lên, hỏi:

- Cháu kêu gì?

- Dạ không. Cháu hỏi thăm ông cụ hay ra ngồi ở góc bàn đằng kia, cô có biết nhà chỗ nào không?

- Quen?

- Dạ không.

- Không rõ chỗ nào, nhưng thấy ổng chống gậy từ hướng ngã tư qua. Cả tuần nay không thấy lại. Già cả, nay đau mai bệnh ai mà biết được.

Gành chưng hửng, xớ rớ một lúc, nói cảm ơn rồi bước ra khỏi quán. Giữa phố xá đông nghẹt người như vầy biết hỏi ai để tìm ra chỗ ở của ông? Gành bước xiêu xiêu trong màu nắng thiệt lạ sau cơn mưa. Một thứ màu sắc khó diễn tả nên lời: vừa nhồn nhột sắt se vừa mang mang trải dài lớp nắng oi nồng trước đó thành một dãi hâng hẩng của lớp kem trên chiếc mâm đồng.

Gành ngơ ngác hỏi thăm từng căn phố, cố mô tả ông già để gợi nhớ cho từng chủ nhà, nhưng ai cũng lắc đầu. Sao không giống như ngoài mình hẻ, Gành tự hỏi, chốn này hình như mỗi người chỉ biết đến da thịt của riêng mình thôi sao? Mọi hy vọng của nó bắt đầu xẹp lép, trương lên âm điệu buồn mênh mang, như tiếng nhạc đám ma đang chậm rãi ngược chéo với hướng đường nó đang bước tới phía ngả tư . Khung ảnh người người quá cố bị che khuất bỡi đứa nhỏ mặc áo tang, trạc tuổi Gành, nên nó không thể nhìn thấy người chết là già hay trẻ. Đoàn xe tang quành sang con đường khác, nó chỉ còn thấy khúc đuôi của những người đưa tiễn, văng vẳng điệu nam ai buồn não nuột.

Đăng nhập để trả lời
0
VỀ TUY HOÀ


NGUYỄN LỆ UYÊN



“Ngày 12 tháng 5…

Anh,

Về tới nhà đã xâm xẩm tối. Tắm rửa xong, ngồi nói chuyện với cả nhà một lát thấy người mỏi mệt hung, bỏ vào phòng nằm. Tưởng có thể nhắm mắt ngủ ngay, nhưng dư âm của những ổ gà, bụi đường và chiếc xe đò cọc cạch rung lật bật trên đoạn đường dài đã chống hai mí mắt lên, không tài nào ngủ được. Thao thức và nghĩ ngợi đủ thứ chuyện, nghĩ lung tung như cách để gần anh, thấy như có anh còn ở bên cạnh, đến nỗi đứa em em ra ngả Năm mua tô cháo gà giờ đã nguội ngắt.

Ngoài phòng khách có tiếng cười lích nhích của mấy đứa em, rồi là tiếng lào thào: “Cái bà này mới lạ, làm như ngoài này không có bánh mì kẹp thịt hay sao mà phải vác từ trỏng về?”. Chúng nó đâu có biết những điều chúng vừa khám phá là do anh bày ra. Anh lo em đói giữa đường, lo xe hỏng đâu đó trên quãng đường vắng. Sự chỉn chu hình như đôi khi cũng hơi phiền phức, anh nhỉ? Duy chỉ có chai dầu Gió Xanh là hết vèo ở đoạn Rừng Lá. Còn hai chai nước thì khi xe đổ đèo Cả mới thanh toán một cách gọn ghẽ bằng cách thò đầu ra ngoài cửa rửa mặt cho tỉnh táo, cho sạch chút son phấn làm duyên. Không rõ nếu như có anh ngồi bên cạnh thì em có can đảm xoá đi cái duyên dáng tạm ấy không? Mà duyên gì được nữa kia chớ? Mấy trăm cây số va qua đập lại thiếu điều gãy cả xương sườn xương sống, mọi thứ trong bao tử cứ tưng tưng đòi nhảy ra ngoài đến phờ phạc thì đến Hằng Nga cũng biến thành Chung Vô Diệm anh ơi!

Đấy, đường ra xứ em nó nhiêu khê là vậy, thử hỏi anh có can đảm trèo tam tứ núi, lội thập lục sông như khi ngồi trong La Pagode anh thề thốt không? Các cụ thường bảo đám đàn ông con trai khi ngồi bên cạnh phụ nữ luôn đầu môi chót lưỡi. Em mong anh không lấy cái thuộc tính đàn ông bị đả kích kia mà đối xử với em. Dòm bộ dạng anh cũng cảm ra được là anh thuộc mẫu người thiệt thà, chắc bụng, chứ không như đám… Ui, em xin lỗi; chỉ là lỡ tay viết ra chớ không có ý định ví von này nọ. Em có thói quen khi viết sai thì cứ để nguyên vậy chớ ít khi dập xoá, đấy cũng là tính xấu không sửa chữa được, dễ gây hiểu lầm.

Bữa ra bến xe lấy vé, anh mua những hai chiếc. Em hỏi mua chi đến hai vé? Anh nói anh cùng đi để hộ tống em khỏi bị bắt cóc và thứ đến là “cho biết xứ em có đẹp bằng em không?”. Mô Phật! Mệnh đề thứ nhất có vẻ như anh bị ám ảnh bỡi những hoang tưởng của phim ảnh mấy ông đạo diễn dựng lên. Còn mệnh đề thứ hai thì thiếu cả hai điều kiện ắt và đủ. Ví như em để anh cùng đi thì sao nhỉ? Em sẽ ăn nói sao với ba mẹ và mấy đứa em em? Một thành viên lạ hoắc tự dưng xuất hiện bên cạnh con gái, chị mình? Họ sẽ nghĩ chắc em hư hỏng lắm khi khăn gói vào Sài Gòn ăn học? Thiệt kinh khủng nếu chuyện ấy xảy ra. May mà em kịp giải thích để ngăn anh lại. Và may là anh cũng chịu khó ngồi nghe lời giải thích vòng vèo không lấy gì làm vui vẻ với anh. Mà nếu như anh thiệt bụng, ngay thẳng thì sớm muộn gì anh không biết, chớ chi mà gấp gáp? Anh không nghe câu thành ngữ “dục tốc bất đạt” muôn thuở kia sao?

Mùa này, mỗi ngày đang bắt đầu nóng dần lên, nóng từ từ như một bếp lò mới nhen lửa lúc đầu cho tới khi than đỏ hực lên. Suốt dọc miền Trung chỗ nào cũng như vậy cả: nóng gắt và Nam cồ Nam mái. Mấy nơi khác em chưa tới nên chưa biết, còn Tuy Hoà tới mùa này gió Nam thiệt dữ dội, thấy cả gió cuộn lên trước mắt. Gió đùa giỡn với những chiếc lá rụng cuốn tròn chấp chới những cánh chim tập bay khắp các ngách phố lớn nhỏ, những mẫu giấy rác… ngoắt ngoải vờ vật tung lên, hạ xuống. Gió hốt cát xán rào rào vào những cánh cửa sắt khép hờ, bay lượn trên mâm cơm. Gió thổi thốc cuộn xoắn dọc hai triền cát sông Đà Rằng tung bụi mù mịt cả một đoạn sông dài. Mọi vật đều được thoa một lớp bụi phấn gây nhột nhạt như lấy bông cỏ may quẹt gang bàn chân, ngoáy vào lỗ mũi vậy. Mẹ em kể hồi nẳm gió Nam cồ còn bốc cả mái ngói vảy ném xuống sân nói chi đến mái rạ mái tranh ! Còn ba em thì nói cũng nhờ ngọn gió đó thổi ba bay tuốt vào cầu Bóng để gặp má. Cái thứ gió lạ lùng vừa lãng mạn, thơ mộng vừa gây khó chịu cho lắm người. Mà anh đâu hình dung Nam cồ Nam mái là gì phải không? Nam mái là hiu hiu như kiểu người con gái hờn dỗi. Còn Nam cồ thì ác liệt hơn gấp trăm lần, như thể trận lôi đình của người cha có đứa con hư hỏng vậy. Nói vậy chớ nó chỉ thổi tung chừng vài tiếng thôi, lúc nửa đêm một chặp rồi nửa buổi sáng về trưa một chặp. Còn lại đều lặng lờ yên ả như chưa từng xảy ra chuyện gì cả. Mà tự dưng sao lại đem cái gió tào lao kia nói với anh nhỉ? Đâu có gì nhè nhẹ như ngọn heo may đất Bắc hay ngọn gió chướng quê anh? Cái loại gió ác liệt này đôi khi làm tụi con gái bọn em đến là mắc cỡ mỗi khi tới lớp và tan trường: gió thổi lật tà áo dài phơi ra chút thịt trên thắt lưng, rồi thì cuộn thốc muốn lật tung chiếc quần mặc bên trong. Tay líu quíu chưa kịp khép vạt áo thì hàng trăm cặp mắt bọn con trai dán vào như muốn lột trần ra. Một cảm giác gai rợn cứ len nhẹ từ đầu xuống chân rồi lộn ngược trở lên cho tới khi giữ được vạt áo căng phồng một cách tạm bợ. Cái ngọn gió hung hăng, nóng nảy kiểu Trương Phi ấy cũng góp phần làm tàn phai nhan sắc nhiều phụ nữ: phấn son nhoè với bụi đường, quần áo như dày thêm vài ly mét một cách nhếch nhác, còn đầu tóc thì rối nùi như đụn rơm khô, như những vạt rơm gà bơi, vì vậy tụi em mỗi khi ra đường đều có cái lược để gỡ tóc. Đang đi cũng đưa lược lên chải, đứng cũng chải, ngồi cũng chải. Thiệt phiền phức. Vậy mà nhiều người mới tới Tuy Hoà, mới chạm tới ngọn gió lạ một chút thì có cảm giác như vừa khám phá ra điều mới lạ, thấy nó đẹp. Đẹp bỡi cách nó thổi dọc ngang phóng túng như một gã hành giả trên đường đi tìm sự chứng ngộ cho riêng mình, như một tên lang bạt kỳ hồ trên con đường thiên lý, giày vẹt gót, áo sờn vai; như có một ông nhà thơ kêu lên “Ơi cái gió Tuy Hoà… Cái gió chuyên cần và phóng túng”. Còn em, mỗi năm chỉ giáp mặt với nó một lần thôi mà đã thấy hãi. Em sợ kinh khủng. Mọi người cũng sợ nhưng không thể tránh mặt mà phải chung đụng với nó suốt cả tháng trời. May mà nó không kéo dài lâu để con gái Tuy Hoà vẫn tròn nụ cười, má hồng, mắt lúng liếng…

Không tài nào nhắm mắt được, nên ngồi viết lung tung. Viết để kéo cơn buồn ngủ xích lại gần và kéo anh xích gần hơn với khoảng cách cơ học dằng dặc.
Đầu óc phờ phạc và tay mỏi rồi. Em đi nằm đây.

Ngày 14 tháng 5…

Anh,

Tạm nghỉ một ngày để dưỡng tâm. Chính xác là để phục hồi cơ thể vốn dĩ không lấy gì làm mạnh mẽ như cánh đàn ông các anh, để chịu đựng mọi thứ gian khổ trên đời, dù đó là thứ gian khổ cấp tính.

Hôm qua và sáng nay anh làm những gì, đi những đâu hay là ngồi gõ trước máy chữ? Riêng em, sau một ngày được nghỉ ngơi thấy người khoẻ hẳn ra. Lũ bạn học cũ hay tin em về, lập tức tới rủ đi ăn cháo hàu kêu là “tẩm bổ cho con bé ốm yếu” rồi đi đi rảo phố. Anh biết không, mới vắng chừng một năm nhưng khi trở về thì thành phố đã khác trước nhiều, cứ như trái bầu trái bí lớn thêm mỗi sáng. Phố xá sầm uất, nhà cửa đủ mọi kiểu dáng : cao ngất, kênh kiệu của phương Tây; ẩn núp trong vườn cây lá um tùm, trầm mặc phương Đông… Đi qua chừng vài đường phố, em kêu nhỏ bạn “ê, cứ chạy vòng vòng kiểu này thì biết bao giờ mới hết, thôi thì chịu khó leo đốc lên núi Nhạn có thể nhìn khắp lượt mà không phải hít bụi đường”. Nó đồng ý và quay xe chạy lên đầu phố. Chiếc xe máy cà tàng chở hai đứa, không đầy tạ nhưng ì ạch, phì phèo như con ngựa già. Có lúc em phải nhảy xuống xe phụ đẩy một đoạn ngắn, muốn hụt hơi. Lên tới đỉnh mồ hôi dầm dề, ngồi bên phía bóng mát nền tháp há miệng mà thở, bẻ cành lá phe phẩy làm quạt. Biết vầy, hồi nãy cứ chạy lòng vòng coi bộ khoẻ hơn nhiều.

Nói thế chớ lên đứng trên độ cao 70 mét dòm xuống thành phố bên dưới thấy y như bức tranh đẹp, giống như hồi anh dẫn em vào Gallery ở dường Tự Do xem tranh Phố Phái hay Phái Phố gì đó. Thành phố của em đẹp đến mê hồn, rực rỡ trong nắng sáng trong vắt. Bên này là chân núi dựng đứng, bên kia thì xoãi ra gần đụng đường quốc lộ như cái với tay níu giữ người thân nán lại vài phút trước khi rời căn nhà, góc phố để đi xa. Con sông Chùa ngắn và nước ửng xanh màu ngọc bích, vắt ngang qua nửa ngực thành phố in hệt nét chì tô xanh quầng mắt, như tấm khăn của người thiếu nữ vắt qua vai thả rơi lưng lửng xuống ngực; xa hơn chút, về hướng Bắc, ngọn Chóp Chài vút lên như núm vú căng tròn tuổi dậy thì. Mùa này nó là chiếc vú phơi trần nhưng mùa mưa thì cứ như có chiếc khăn trắng thả trễ tràng phí dưới. Đằng Đông, biển trải dài mênh mông mượt màu cỏ non, còn phía Tây thì những gốc rạ màu đất kéo thành vạt rộng, làm nền cho những rặng cây xanh thấp thoáng xa xa. Phố xá thì màu đỏ mái lợp ngạo nghễ nhô cao hơn những mái nhà màu xám rêu. May mà đường phố có những táng cây xanh, níu giữ màu đỏ choàng vai màu xám mốc kia chứ tuyền một màu đơn điệu thì coi bộ chướng mắt. Em chẳng biết tí gì về màu sắc hội hoạ như anh, nhưng xem ra những nhận xét này không sai mấy. Còn nữa, trước mắt em là cây cầu dài thườn thượt nối hai bờ con sông Đà Rằng. Giữa hai con sông là cồn phù sa tạo thành làng hoa Ngọc Lãng bốn mùa rực rỡ sắc màu. Cái tên Ngọc Lãng đẹp và coi bộ lãng mạn thiệt anh hẻ? Còn cây cầu bắt qua sông Đà Rằng đó dài tới hăm mốt nhịp lận, mà có ai đó đã ứng tác ra “cầu dài hăm mốt nhịp, anh theo không kịp, đợi anh với em ơi!?”. Xạo, làm gì mà “anh” không theo kịp “em”? Thiệt là nhức đầu vì ở đâu cây cầu cũng sinh chuyện, nào đếm cầu mấy nhịp lòng dạ sầu thương bấy nhiêu, nào là qua cầu gió giựt bay mất áo. Cây cầu đâu có sinh sự như vậy? Chỉ tại con người thôi. Nhưng chuyện gió giựt tung áo thì em đã viết cho anh ở đoạn trước. Giờ đứng trên đỉnh núi, gió chỉ hiu hiu, phía dưới là giòng sông lặng lờ, coi bộ hiền lành kiểu như Sơn Tinh và Thuỷ Tinh trong thời gian hưu chiến vậy.

Nhưng mà, nói gì thì nói, dân Tuy Hoà em rất tự hào có cây cầu dài nhất miền Trung. Cầu đường bộ và đường sắt cặp song song nhau mà hôm trước em chỉ cho anh trên tờ lịch treo tường. Và anh buộc miệng “may, chỉ là hai cây cầu chớ chàng và nàng thì thiệt là tội nghiệp!”. Em cãi “trên thực tế đầy ra đấy chớ không có sao?”. Anh cười cười mà không nói gì. Anh biết không, chếch lên một đoạn ngắn lại một cây cầu dài mới bắc qua sông Đà Rằng đâu hồi năm ngoái, đứng lẻ loi dòm xuống hai cây cầu phía dưới như than thở cho số phận cô đơn của mình. Mấy năm trước cầu Đà Rằng dưới này là nơi hóng mát của người dân trong thành phố, hẹn hò của các cặp tình nhân khi mặt trời chìm khuất sau dãy núi phía tây. Mùa hè, gió từ sông đưa lên mát rượi. Những đêm giữa tháng bọn em hay tới đứng trên vai cầu nhìn mặt trăng nhô lên từ phía biển Đông như thể đó là viên hồng ngọc của nàng tiên cá nâng lên khỏi làn nước xanh thẳm. Ban đầu, trăng to bằng chiếc bàn tròn hai đứa mình hay ngồi uống cà phê những sáng chủ nhật ở đường Nguyễn Du, soi một quầng sáng loá vàng hực màu trái cam chín. Quầng sáng ấy kéo dài từ từ loang rộng những vạt vàng sóng nhấp nhô còn mặt trăng thì nhỏ lại, tròn như cái cão đựng kim chỉ của bà nội em, rồi nhỏ dần như trái banh như thể những mảnh vàng sáng chia sớt cho mặt nước? Những hình ảnh ấy cứ dội vào tâm trí em như những cuộn sóng đập vào bờ đá khiến cái ý nghĩ ngô nghê này cứ ám ảnh em hoài, tới tận bây giờ vẫn không đẩy ra khỏi đầu em được, không hiểu vì sao?

Anh biết không, nhiều người hay nhái từ “nẫu” địa phương em. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Cái lớn là một số khá đông bạn đồng lứa cũng thẳng thừng quay lưng lại với “nẫu”, xấu hổ mỗi khi có ai đụng chạm đến “nẫu”. Em chưa có dịp dùng từ này với anh, nhưng em luôn yêu nó vô cùng. Mỗi khi nhớ quê, em hay xuống Tân Bình ngồi nói chuyện với mấy người già gốc Phú Yên. Họ vì cuộc sống mà phải bỏ xứ vào đây, nhưng họ không bỏ giọng nói, bỏ những thói quen trong mọi sinh hoạt thường ngày. Tất cả như đã thấm đẫm vào trí óc họ từ những gốc rạ vùng lúa Tuy Hoà, từ những con thuyền đánh cá ở Lò Ba, Mỹ Á, Sông Cầu. Cứ như thể em đang hít thở không khí ở miền quê yên tĩnh, nơi em sinh ra và lớn lên. Có bữa ra chợ cầu ông Lãnh mua cá, gặp bà cụ đang trả giá. Khi nghe bà cụ kêu lên “me chay, mắc dữ be…e” làm em giật thót tim. Từ “be” thoạt nghe như tiếng than nhưng không phải là lời than thở mắc rẻ, mà còn hàm chứa sự ngạc nhiên, dò hỏi, một chút giễu cợt trong sự phân vân thường thấy ở các bà nội trợ phải lo toan hàng trăm thứ cho gia đình, chồng con… Gặp người đồng hương, em mừng quýnh. Một già một trẻ hỏi han, nhắc nhở đủ thứ chuyện bên ly nước mía đầu đường. Khi chia tay bà ấy còn dặn “bữa nào huỡn cháu ghé lại nhà bác chơi”. Chiếc xích lô chở bà cụ đi xa, nhưng quanh quẩn bên em vẫn cứ ong ong những từ “me chay, dẫy na…” như thể đang hít mùi thơm khói đốt đồng căng đầy lồng ngực với sự khám phá thiệt mới lạ hương khói xa xôi ấy …

Cứ để ý đi, khi nào anh ra bến xe bến tàu đón người thân, hễ thấy ai kè kè bên nách gói giấy tròn căng phồng, khổ bằng chiếc sàn thì chắc chắn đó là dân Phú yên trăm phần trăm. Họ mang quà cho người thân đấy! Có nhiều thứ khác quý hơn, nhưng đi đâu họ cũng mang chồng bánh tráng, dường như đó là niềm tự hào của mọi người bất luận giàu nghèo, khi được sở hữu cánh đồng lúa mênh mông và phì nhiêu của Tuy Hoà, đã nuôi dưỡng họ, nuôi dưỡng vùng cả một vùng rộng lớn chung quanh. Đó là biểu tượng của hột gạo trên một xứ sở từng trải nhiều khổ đau, vất vả mà dân quê em đã từng nếm trải, khổ đau và hạnh phúc trong chiến tranh và hoà bình. Mà năm rồi em không mang vào cho anh chồng bánh tráng là gì? Khi nướng phồng lên thì là tình là nghĩa, khi nhúng nước cuốn là dẻo thơm niềm hạnh phúc tròn đầy đó anh ơi. Mẹ em nói vậy.

Ngày 15 tháng 5…

Anh thân yêu,

Thư hôm qua em quên một chi tiết về dòng sông chảy ngang qua thành phố. Cùng một dòng chảy nhưng có tới hai tên gọi khác nhau. Đoạn từ đập Đồng Cam ngược lên thượng nguồn, đâu tận Phú Bổn, Cheo Reo gọi sông Ba, còn xuôi về phía hạ lưu thì là Đà Rằng. Dầu sông Ba hay Đà Rằng gì đi nữa thì con sông này chỉ có một dòng chảy và như cái bọc trăm trứng của mẹ Au Cơ và cha Lạc Long Quân trong huyền thuyết “đồng bào” của dân tộc. Mùa mưa, nước ơi là nước! Nước mênh mông như biển cả. Nước cuồn cuộn đổ ra biển, đỏ quạch phù sa. Nước gầm réo dưới chân cầu thiệt là hung hãn, cuốn trôi tất cả những gì chúng đi qua, tưởng chừng như chiếc cầu dài ngằn ngặt này cũng bị đẩy phăng ra biển trong phút chốc. Cũng may, sự hung hãn này chỉ diễn ra có vài bữa thôi và xem ra cũng có ích: nó mang lớp phù sa dày đặc bồi thêm lớp màu mỡ cho cánh đồng “thẳng cánh cò bay”.

Nhớ hồi năm 93, lúc đó em còn là đứa trẻ con. Mấy bữa trước mưa dầm đề như cầm chĩnh trút nước vậy. Đến đêm nước ở đâu bò vào khắp nới, vào các đường phố, bò lên thềm, nhảy tọt vào nhà, dâng lên cao đuổi bọn em chạy lên gác. Đứng ở cầu thang nhìn xuống thấy nước tới đầu gối rồi bò lên tới thắt lưng, rướn lên tới gần ngực ba. Điện bị cắt, đèn đóm tối thui. Có tiếng người la ơi ới, tiếng gõ xoong nồi gọi nhau như chạy giặc. Đồ đạc chuyển từ tầng dưới lên cái được cái không, ướt ngoi ngót. Sáng ra đứng trên balcon ngó ra đường, thôi thì nước là nước, chỉ có ghe sõng xuôi ngược khắp các ngã phố, còn xe lớn xe nhỏ mọi ngày như chìm mất đâu đó trong làn nước đục ngầu. Tụi trẻ con được dịp tắm lụt: chúng ở trần lội nước, chặt những đoạn chuối ngắn xiên cây làm bè chống ngang dọc khắp các nơi như thể chúng đang vào mùa hội đua bè, khiến em nghĩ thành phố bữa trước giờ là giòng sông mênh mông nước, nhà cửa phố phường mọc lên từ mặt hồ rộng. Đứa em trai em cũng nhập bọn, la hét cười đùa thoả thích, coi mọi hư hại do trận lụt băng qua chỉ là chuyện bình thường. Tới chiều xẩm nước mới rút từ từ, để lại những vạt bùn dẻo quánh trên vách, trên nền nhà, lòng đường ... Hôm sau một cái chợ mọc lên ở ngả Năm, ồn ào náo nhiệt như thể trận lụt vừa rồi chỉ là bữa tắm gội cho thành phố. Bọn em đi coi họp chợ rồi rủ nhau lên đầu phố đứng nhóng qua chiếc cầu dài coi chiếc cầu còn hay trôi mất ra biển. Nỗi lo sợ vu vơ không thành sự thật. Nó vẫn bình thản nối hai bờ nam bắc dù cho giòng nước cuồn cuộn kia chỉ cách mặt cầu đâu hơn hai gang tay! Vậy mà đến mùa khô, dòng nước lừ đừ như con trăn no mồi, lười biếng nép mình giữa hai bãi soi vàng rực bông mướp, bông bí, cỏ lông lan tận ra mép nước xa. Hồi mới bước chân vào trung học, tụi con trai lớp em thường hay rủ nhau ra soi hái trộm dưa. Chúng giả đò đi tắm. Bọn chúng tắm thiệt. Cả bọn vẫy vùng trong làn nước trong vắt, cạn tới ngang bụng nhưng kỳ thực là để quan sát những trái dưa hấu chôn lấp đâu đó dưới lớp cát sâu. Chỉ cần những cái liếc mắt như kiểu con chim bói cá là một đứa bò lên, kéo sợi dây, moi cát và bứt gọn trái dưa to bự chảng, trong khi tụi kia vẫn cứ té nước, la hét ỏm tỏi. Tụi con gái bọn em chỉ dám thọc chân xuống mép sóng lăn tăn giỡn với làn nước mát lạnh. Những trái dưa ăn trộm ngon hơn là đi ăn đám giỗ, ruột đỏ mọng, ngọt lừ. Uở mà sao tự dưng lại đi nhắc chuyện “xấu hổ” này với anh hẻ?

Để em kể chuyện này chắc chắn là anh chưa biết, chưa từng nếm bao giờ: Hồi sáng này mẹ con em đi chợ. Mẹ kêu lâu cả nhà chưa ăn sứa. Vậy là mẹ thực hiện ngay. Anh ở đồng bằng thì làm gì biết con sứa? Nó là sinh vật sống ở biển. Toàn thân mềm và trong suốt. Mẹ mua toàn sứa chân mang về chần nước sôi, trộn với rau thơm, chuối chát xanh, đậu phộng rang, da heo xắc nhỏ, thêm chanh ớt xúc vào chén ăn với bánh tráng nướng bóp nát. Nó ngon không thể chê vào đâu được. Thịt sứa mát lạnh, dòn dưới chân răng, thơm mùi rau húng đứng húng duỗi và đậu phộng. An tới no mà không thấy ớn, vì không có mỡ như cá tra cá ba sa trong quê anh. Khi nào anh là thành viên chính thức trong gia đình, hẳn mẹ em sẽ đãi anh món này trước tiên. Anh ăn một lần sẽ nhớ đời. Mà biết đâu sau khi ăn anh sẽ bỏ xứ mà ra làm con dân trên mảnh đất hai mùa đầy những mưa cùng nắng này?

Nói đến chuyện ăn uống thì Tuy Hoà của em có nhiều món lạ lắm. Tỉ như món cá thài bai nấu cháo đậu cút thì cả nước này và cả trên thế giới không đâu có cá thài bai. Nó nhỏ bằng cọng tăm. Người ta bán không phải cân ký, đếm con mà lật ngược cái chén lên, đong bằng khu chén để tính tiền. Giá trị là ở chỗ đó. Chỉ cần ba khu chén cá thài bai nấu cháo đậu cút là ngọt lừ, thơm, mát, bổ… Mẹ em nói cháo cá thài bai nấu đậu cút tàu dành cho người ốm mới dậy ăn sẽ mau phục hồi sức khoẻ. Loại cá này hiếm nên rất quý. Mỗi năm chỉ xuất hiện một lần khoảng nửa tháng trước và sau tết âm lịch. Đám cá mẹ xuống tận cửa biển đẻ trứng. Nở ra, tự kiếm ăn được thì chúng bơi ngược dòng sông lên thượng nguồn, nên người ta dùng những tấm đăng nhỏ, tạo dòng chảy sát mép bờ cát để lũ thài bài nương theo đó mà vượt lên, phía trên có chiếc đó dày chặn lại bắt kỳ hết. Con nhỏ Nghi giỏi môn sinh vật kêu thài bai là thài bai chớ không phải là cá bống con như tụi em nghĩ. Cãi với nó mấy bận không thắng đành thôi, miễn sao loại cá này đừng mất để thỉnh thoảng còn được ăn: kho tiêu, làm chả ram những năm được mùa cá.

Toàn nói chuyện ăn chắc làm anh mệt? Giờ chuyển sang đề tài khác: nói về thành phố của em, anh nhẻ?

Thành phố bây giờ đã khác nhiều. Chẳng trách hồi em mới lững chững tập đi, mẹ kể thành phố chỉ toàn gai bàn chải, xương rồng và cồn cát. Trường Nguyễn Huệ hồi ba mẹ em học nằm lọt thỏm giữa rừng gai bàn chải lởm chởm. Nay anh có ra đi tìm gai bàn chải trong thành phố làm thuốc cũng không còn. Những cây gai lởm chởm nhọn hoắc kia giờ đã là những ngôi nhà cao tầng, biệt thự, xưởng máy và vô số những thứ khác mang dáng dấp hiện đại hơn, gần gũi với thời đại tên lửa, internet hơn. Nó cũng hối hả, nhộn nhịp như một góc nhỏ Sài Gòn chẳng kém.

Em thì mong cho thành phố to hơn, giàu hơn, mọi người dân có đời sống sung túc hơn, nhưng đồng thời em muốn những hình ảnh, nếp cũ của Tuy Hoà xưa vẫn luôn được tồn tại trong góc khuất nào đó của đời sống tinh thần, như ba em hay kể chuyện hồi nhỏ ông và đám bạn hay rủ nhau lên núi Nhạn giành chuối giành chè với lũ khỉ núi và đánh nhau với chúng ngay trước am thờ thần gần cửa tháp, kể về những cuộc hẹn hò với mẹ em trên bãi soi sáng rực bông mướp vàng đầy ắp giọng hò khoan của những nông dân cắt cỏ bò bên mép nước sông Đà Rằng. Hồi đó chắc khổ hơn bây giờ, nhưng lãng mạn. Con người lãng mạn để thành phố cũng trở nên lãng mạn, thơ mộng hơn. Còn thế hệ của bọn mình, sự lãng mạn ấy đã được cách tân hoá bằng cách chui đầu vào các quán cà phê tối om, các sàn nhảy nêm cứng người cùng tiếng nhạc phát ra ầm ầm như động đất!

Sẽ có người cho rằng em có những ý nghĩ cổ hũ, ích kỷ. Mượt kệ. Em yêu cái cổ hũ, ích kỷ ấy lắm lắm.

Ước chi bữa đó em đừng trả lại một chiếc vé để anh thấy tận mắt thành phố quê mùa này, em khỏi cà kê…”


Bức thư chấm dứt đột ngột, dài hơn 10 trang, viết trên giấy prelure gập đôi, bằng màu mực xanh bút bi kẹp trong cuốn sách Phong Lưu Cũ Mới của cụ Vương Hồng Sển tôi mua lại trong tiệm sách cũ ở Bình Thạnh. Chỉ chừng ấy, không có chữ ký, không có tên người gửi, người nhận; chỉ xưng hô anh em, kể về thành phố Tuy Hoà bằng niềm thương nhớ, tự hào. Không rõ khi nhận thư, anh chàng đã lơ đễnh bỏ quên trong quyển sách cũ, hay cô nàng chưa kịp gửi tới tay người yêu? Tôi không quan tâm chuyện tại sao bức thư kia được kẹp trong cuốn sách, tại sao cuốn sách có bức thư đó lại ra nằm ngoài tiệm bán sách cũ. Và vợ tôi thì cứ khăng khăng đó là trang nhật ký của cô bé đang tuổi mộng mơ. Còn tôi thì nhất định đó là lá thư chứ nếu là nhật ký thì chẳng ai ngồi viết trên những tờ giấy mỏng dính? Trong thư không thấy bày tỏ lời yêu thương, nhưng quặn thắt nỗi nhớ nhung cũ mới chồng lên nhau.
Tôi vẫn giữ lá thư một cách cẩn thận và cầu mong cho hai người luôn bên nhau và tràn đầy hạnh phúc như những lời bày tỏ chân tình trong lá thư kia. Tôi cũng mong được hoàn trả lại nếu như các chủ nhân của nó là “em” và “anh” nhận biết được tung tích bức thư được cất trong chiếc hộp, khoá chặt trong tủ kính.


(tháng 3.2005)
Đăng nhập để trả lời
0
NƠI KHÔNG CHỈ CÓ KHÓI NÚI


NGUYỄN LỆ UYÊN




Hai đứa trẻ đứng thập thò ngoài cổng, bộ dạng rụt rè. Đứa con trai chân đất mặc quần cộc, áo ngắn tay màu đất, tiệp với đôi chân mốc cời. Đứa con gái mang dép nhựa, quần đen hụt lên trên mắt cá chân, tóc hoe rối nùi, trên tay xách bịch ni lông màu đen, không rõ đựng thứ gì. Trực ngồi trên chiếc đẩu gỗ mộc sần sùi, nửa muốn chạy ra mở cánh cổng ghép bằng những cây chà rang, nửa muốn ngồi miết để quan sát điệu bộ lóng ngóng của chúng. Cả hai có vẻ chịu đựng, chờ đợi sự lên tiếng của các cô giáo trong căn nhà tập thể.

Qua khung cửa bằng những vạt cây cắm sâu vào vách đất, thân thể hai đứa bé bị vạch từng đoạn gãy khúc, mờ mờ trong màn sương núi đặc lềnh, lung linh, hư ảo trước vạt núi màu xanh phía xa bắt đầu co lại, nhòe nhoẹt lớp khói trắng quấn thít, từ từ như người ta kéo tấm vải mỏng phủ trên đồi cỏ hoang. Khúc sông trước mặt cũng đục lềnh lớp khói trắng sà thấp sát mặt nước. Khói núi tuôn xuống xuôi theo gió cuối ngày lúc mỗi dày thêm, lạnh ngắt.
Hai đứa nhỏ chắc thấm lạnh, Trực nghĩ và đứng dậy quơ đôi dép dưới gậm bàn bước ra sân.Thấy Trực, đứa con trai dịch nép sau lưng chị. Cánh cổng kéo qua bên, ngã nhoài về phía sân. Trực nói:

-Các em vào nhà, kẻo lạnh.

Đứa con gái bối rối chuyền chiếc túi từ tay này sang tay kia, lí nhí:

-Má em… má em biểu mang cho cô… – nói và đặt chiếc túi đen xuống thảm cỏ và chạy ngược ra hướng bờ sông. Đứa con trai lúp xúp chạy theo sau, thỉnh thoảng ngoái lại ngó về phía Trực. Bóng của chúng lượn trên đồi cỏ rồi nhòa dần trong lớp sương trắng ở đoạn những ruộng bắp bạt ngàn. Trực chưa hề biết chúng, có lẽ là học sinh của lớp Thẩm hay Diệp, Trực đoán vậy.

Trực quay vào nhà, quành xuống sau chái bếp xách theo bọc cá hai đứa học trò nhỏ mang biếu, đổ ra chiếc rổ nhựa. Một vài con quẫy mình hay cố nhoi chiếc đầu nhỏ lên trên những con khác. Đó là những con cá lúi, cá mương vảy bạc lấp lánh, dài như phần đầu sơ chiếc đũa bếp, có lẽ người nhà của chúng quây lưới trong các tum hay đánh dẹp bên những con suối.
Trực ngồi trên chiếc đòn kê đổ rổ cá vào thau thì Thẩm và Diệp từ phía rẫy trồng sắn sau trường trở về, khiêng theo bó củi khô dựng bên đầu hồi. Thẩm hỏi gì thế? Trực nói cá của học trò mang biếu, không rõ học trò của cô nào. Thẩm thọc gáo dừa vào lu múc nước rửa tay vừa liếc nhìn thau cá lầm bẩm: cá lúi nướng dầm mắm ngò thì không còn gì bằng. Tiếc rằng bọn mình không phải là đàn ông con trai để có thể nhấm nháp chút rượu trong buổi chiều trắng khói núi như thế này. Diệp đứng cạnh đang kéo ống quần để lộ bắp chân tròn trắng, xì một tiếng dài, bảo: nhìn những con cá nằm trong dĩa mắm ớt tỏi mấy bà không cảm thương thân phận đàn bà con gái tụi mình sao. Trắng phau thế mà phơi chình ình trên dĩa đợi người ta thọc đũa vào ngoáy. Bà nào cũng chuẩn bị tới cột số “băm” hết trơn trọi rồi còn thú nỗi gì? Thẩm hứ đánh cốc “nói xàm” rồi quày quã bước vào nhà. Diệp đứng xớ rớ một lúc, không nghe Trực nói gì, khum người chui qua hàng rào thưa khóa cửa các phòng học. Trực rửa sạch sẽ những con cá cuối cùng cũng vừa lúc ý nghĩ tòe ra, đụng cột số “băm” Diệu nói. Chưa biết có xàm thiệt hay không, nhưng bốn năm rồi cứ bám riết nơi núi cao suối sâu này, đôi lúc cũng tủi lòng. Nhan sắc không biết phô bày với ai. Những người dân miền núi chân chất thiệt thà, luôn nghĩ ba cô giáo là những con người chỉ cách thần núi thần sông một sải tay, đám thanh niên thì luôn nhìn họ ở một khoảng cách xa, nên son phấn cũng trở nên ngượng ngịu trên đôi gò má xàm xạm lỗ chân lông. Hiếm hoi lắm mới nhìn thấy vài người đàn ông thồ hàng từ xuôi lên đổi các loại nông thổ sản cho đồng bào rồi ào trở về như thể chốn này là nơi ma thiêng nước độc không nên qua đêm… Sự xuất hiện đột ngột và ra đi cũng đột ngột đôi lúc gợi nhớ những mẫu tình vụn vặt thời học trò: nói vài câu vu vơ góc sân trường, khẽ chạm tay nhau những đêm diễn văn nghệ hay ngồi bên ly nước góc phố… dường như không đủ sức để hạt mẩy chút mầm xanh yêu đương. Thỉnh thoảng Trực bật cười một mình, nụ cười giống hệt nồi cá kho bốc mùi sả, ớt và thứ mùi nặng trịch lưu cửu. Đó là những con cá tràu, cá nhét cong khum lại như cố chịu đựng sức nóng từ đáy xoong vồng lên, đến khi, như không còn sức chịu đựng, chúng cứ ùng ục giống tiếng rên khẽ.

Ba cô giáo thường xuyên dùng món ăn này và mỗi khi ngửi mùi cá kho, Diệp nhăn mặt kêu giống y chang cái mùi con gái ẩm mốc. Thẩm lừ mắt, thì bà cuốn xéo về thành phố đi. Việc gì giam giữ thân gái trinh nơi hóc núi này. Diệp buông đũa cười ha hả, khéo xúi dại, có nước đi bán bia ôm. Mà nghề bia ôm nay chỉ toàn các em mười chín hai mươi, làm gì có chỗ cho thứ gái già này… Diệp kéo dài mấy chữ cuối câu và khóc òa, chén cơm và đôi đũa trên tay thiếu chút nữa là rơi xoảng xuống nền đất ẩm. Trực dùng đùa gõ lên thành xoong, các bà ăn nói cẩn thận, chớ quá bi lụy… rồi buông đũa quẹt nước mắt trước tiên. Mâm cơm chiều trở nên lạnh ngắt. Con mèo mướp ngồi chồm hổm liếc nhìn các bà chủ không hiểu cớ sự, kêu mấy tiếng meo meo rồi bỏ đi nơi khác. Thời gian cứ lếch thếch bay qua đầu ba cô giáo bằng những chuyện không đâu như vậy, thỉnh thoảng nó như chiếc kềm nhéo nhẹ vào da thịt, không trầy xước nhưng cũng gợn nhói lên chút đau tê.

Trực bưng rổ cá vào bếp, kẹp chúng nằm sắp hàng trên chiếc kẹp tre và mang vào bếp cời than hơ lửa. Trực định bụng chỉ cần nướng sương rồi hong khói theo cách mà Trực học được dưới chợ thị trấn, ai muốn ăn gì tự chế biến. Mùi cá nướng bắt đầu bay tỏa ra thơm phức khiến Trực nghĩ ngay đến chuyện những cọng ngò màu xanh cuộn quấn lợn cợn màu ớt đỏ quanh những con cá nướng và Thẩm và Diệp. Trực lên gian trên mang theo mùi cá nướng đậm đặc trong buổi hoàng hôn tràn khí núi lạnh. Căn phòng vắng hoe, không rõ hai đứa đi đằng nào vẫn chưa về?

Gian nhà tối dần, khói núi len vào tận bếp, lạnh. Trực quay xuống cời than, vần nồi cơm rồi đứng lên dựa vào phên cửa nhóng sang phía bờ sông. Vẫn chưa thấy bóng Thẩm và Diệp ở đoạn bến nước. Nhớ những hôm trời lạnh dữ, nửa khuya Diệp cong người rúc mũi vào ngực Trực, tiện tay mở cúc áo vân vê đầu vú, kích động cho nó căng cứng lên. Lúc đầu Trực cảm thấy nhột nhạt, giận, nhưng rồi những cảm giác mới lạ, khó tả làm Trực tê rúm cả người và mệt nhoài trong giấc ngủ chập chờn với những giấc mơ về sự đụng chạm thịt da căng phồng niềm phấn kích bóng nhẫy. Sáng dậy Trực nghiêm mặt: tối nay bà Diệp nên ngủ riêng. Diệp nhăn nhó: trời lạnh thế này tôi đến chết cóng mất. Thẩm lê chiếc chổi trên nền đất: cô Trực không nên gây mất đoàn kết. Sướng khổ có nhau, chuyền chút hơi ấm cho nhau đâu mất mát gì mà la nguây ngẩy, cứ như con Diệp hãm hiếp bà không bằng.Trực như không nghe thấy, vục mặt xuống thau nước pha nóng, dùng chiếc khăn ấp nước lên mặt như thể che lấp sự xấu hổ, lơ mơ nghe tiếng nói xa gần nửa bỡn cợt hờn dỗi, nửa trách móc. Lúc vắt chiếc khăn mặt lên sợi mây phơi căng ngang trước đầu hồi, Thẩm đi xuống dựng chiếc chổi ở chái phên, tiện tay nhéo nhẹ vào hông Trực. Bà mà giả bộ. Tôi nằm nghe bà rên ư ử như con mèo cái trong mùa động dục. Trực đỏ mặt bỏ ra giếng tìm chiếc gàu, không trả lời, không phân giải; chỉ thấy nóng bừng trên hai vành tai, tê cay nơi sống mũi.

Lúc cây đèn dầu đốt lên, hắt bóng mình chao lượn trên vách đất, Trực bắt đầu sốt ruột. Trời cứ tối dần. Dãy núi phía xa chỉ còn là khối đen thẫm trong màn đêm. Sự lo lắng pha chút sợ hãi khiến bóng đêm trở nên dữ dội hơn. Trực nghĩ ngay đến sự cố tưởng tượng ban chiều, mở một nụ cười như mếu. Nụ cười ngay chính Trực không nhìn thấy. Nụ cười cô đơn chúc đậu trên đôi môi lạnh. Lạnh như từ chỗ ở này từ ngôi trường này vào tới làng xa hụt bước chân trong bóng tối nhập nhòa để có thể lang thang nhìn những quầng đèn sáng hắt ra từ những căn nhà sàn, từ mùi chua ngai ngái bã hèm, mùi phân gia súc vung vãi trên nền đất, đầy ắp sự êm đềm, ấm cúng hơn căn nhà và ngôi trường đứng biệt lập trên dãy đồi hướng ra phía bờ sông.
Đang loay hoay với mớ ý nghĩ lộn xộn thì từ bến nước có tiếng hú gọi đò. Trực đứng bật lên, nhóng cổ nhìn về phía bến tối u u. Lại nghĩ, thôi kệ. Chừng nào chúng về thì về, hơi đâu rồi quay vào nhà, ngồi tì tay vào chiếc bàn gỗ mộc nhưng mắt vẫn nhóng qua ô cửa sổ lệch. Con mèo mướp nhảy tọt lên lòng Trực, dúi chiếc đầu cọ cọ vào bụng kêu meo meo có vẻ như vỗ về, an ủi cô chủ: thôi chị đừng buồn, sơm muộn gì hai chị ấy cũng về… Trực vuốt lên lưng nó. Lớp lông mềm mượt như tơ gây chút cảm giác ấm áp tẻ muộn.

Con mướp đang nằm im bổng dưng nhảy khỏi lòng Trực, phóng vút qua ô cửa cùng với những tiếng meo meo lướt nhẹ trong đêm và mất hút đâu đó. Lát sau nó lại cất tiếng nghe xa ở phía góc sân trường, trên lối mòn dẫn ra bờ sông, lúc mỗi rõ dần cùng với hai khối đen nhấp nhô di động. Trực vặn to ngọn đèn dầu, nhoài người ra khung cửa. Thẩm và Diệp đã về. Hú hồn, Trực kêu lên nho nhỏ và chạy ào ra như một đứa bé chờ mẹ đi chợ về quá lâu. Nếu như mắt lúc này nhòe ướt thì Trực là con bé con thực. Hai chiếc bóng đen rõ dần. Trực dịch cánh cổng và căng mắt thật to như thể thu hết hai người bạn đồng môn vào sâu trong đồng tử. Bóng hai người ngã chúi về phía con dốc ngược lên nhà. Trực nói vọng ra:

-Hai bà đi đâu dữ thế?

-Qua bên nhà Ama Bơk coi có tin tức, công văn gì từ Phòng gửi lên không?

Lúc cả ba bước hẳn vào nhà, Trực hỏi:

-Không có tin vui?

-Không – Thẩm đáp cụt lủn và với tay lên giá gỗ rót đầy cốc nước uống ực một hơi, trong khi Diệu nằm ngã lên giường, giang rộng chân tay như kẻ bị câu móc.

Trực hiểu tiếng “không” của Thẩm khi nhìn thấy cô nàng đang đung đưa kẽo kẹt chiếc võng gai mắc giữa hai cây cột. Tiếng “không” mỏi mệt rớt gọn xuống nền đất với dài theo sự chờ đợi, hy vọng mỏi mòn ngày về thành phố. Tờ giấy cam kết phục vụ miền núi ba năm càng lúc càng giống hình ảnh bà mẹ đi chợ dưới con mắt trẻ thơ, khiến mỗi khi chạm nhẹ vào nó cả ba cứ loay hoay vừa lo lắng sợ hãi vừa tìm cách tự an ủi, rồi ngó vào mặt nhìn nhau như mếu.
Tiếng đập bèm bẹp. Đập muỗi. Trực ngoái lại:

-Ăn chút gì chớ?

-Thôi tao mệt, mai ăn luôn thể.

Trực ái ngại leo lên giường buông mùng, khẽ khàng nằm xuống cạnh Diệu. Tiếng võng vẫn đu đưa kẽo kẹt, đều đều.

Cái lạnh từ những khối đá vô tri tận rừng núi sâu bắt đầu len tận vào vạt giường. Trực cong người lại ôm riết lấy Diệu, chờ hơi ấm từ người nó chuyền qua…

Cuối buổi học, Thẩm cho học sinh tập hợp trước cột cờ căn dặn: ngày mai có các thầy cô trên tỉnh về thăm chúng ta. Nhớ ăn mặc thiệt đẹp, nhất là nói các bạn còn đang nghỉ ngày mai phải đi đông đủ, sẽ có thưởng.
Thẩm nói dứt câu, có tiếng lao nhao “thưởng, thưởng” nổi lên dưới sân khiến cô giật mình với lối nói dối vốn dĩ cô rất ghét. Thẩm dáo dác nhìn chúng rồi tự trấn an “chẳng qua là bản năng tự nhiên của con người trong những hoàn cảnh thúc bách” và bật cười. Ờ có thưởng, nhưng chưa biết thưởng gì. Các em về nhắn lại với bạn, nhớ đi học thật đông đủ.

Thẩm cho giải tán. Đám học trò miền núi ùa chạy xuống chân đồi như đàn ong vỡ tổ. Những bàn chân đen đủi lướt trên đường đất, trên những vạt cỏ xanh rờn rồi tản dần qua các ngả đường, khuất lấp trong những cây rừng còn sót lại bên vệ đường, nhấp nhô bên các ruộng mía, đồi cỏ… Sân trường phút chốc vắng hoe, chỉ nghe thoang thoảng mùi khét nắng, mùi cây rừng bị đốt cháy, mùi lông bò bay vờn quanh chỗ các cô giáo đứng. Nét mặt Thẩm có chút tươi. Trực và Diệu cũng vậy khi mường tượng ngày mai ngôi trường ít còn ai nhớ đến này sẽ được Sở được Phòng về thăm. Chưa biết thăm gì, nói gì nhưng dường như có chút niềm vui len lén mơn man, vuốt ve đầu óc ba người đông đặc sương núi này.

Thẩm, Trực, Diệu lục đục cả đêm không ngủ với mớ tâm trạng mừng lo trộn lẫn. Cả ba ngóng chờ lãnh đạo về thăm trường ngày mai như thể chính phái đoàn này sẽ mang đến cho ba cô hơi hớm phố phường, văn minh đô thị, sự sôi nổi ồn ào của tuổi trẻ thành phố, sự rạo rực của con tim chưa định hình.

Sáng ra, ba cô giáo ngồi ba góc. Chính giữa bàn là đống son phấn ngổn ngang. Những món đồ trang điểm hình như cũng lây niềm vui vơi các cô chủ. Hiếm hoi lắm chúng mới được tập trung đầy đủ trên mặt bàn để nhìn mặt nhau, được những bàn tay thon mềm chạm khẽ vào vuốt ve, nâng niu, chuyền sang hơi ấm và niềm hạnh phúc nở xòe như nhnữg cánh hoa dại mọc tràn trên khoảng sân cỏ trước nhà.

Ngày thứ hai chúng lại được các chủ nhân kéo dựng dậy thật sớm, nhưng niềm vui tựa như vết cào xước trên bức cổ họa, có chút gì gần như sự chịu đựng quá sức trong vẻ mặt của ba người.
Ngày thứ ba, không còn là sự nâng niu, nhẹ nhàng, trân trọng. Chúng được lôi ra và vất lăn lóc trên bàn. Thê thảm hơn là không ai buồn động đến, chỉ nghe những tiếng thở sượt dài.
Thẩm là người đầu tiên ném chiếc lược đang cầm trên tay, văng đụng vào lọ nước hoa Chanel, đụng tiếp vào hộp kem Bioré, xoãi ngang gần sát với núm bông thoa phấn, gần thẳng góc với chiếc bút chì tô mắt.

-Tao không còn đủ sức để nói dối với học trò được nữa. Ngày nào cũng chầu chực. Ngày nào cũng ngóng dài cổ về phía bến nước như chờ ngọn lửa đêm giá rét…

Diệu ôn tồn:

-Bà đừng làm ồn lên. Có khi bị trục trặc gì đó biết đâu chừng!

-Trục trặc gì thì cũng phải báo.

-Ai báo cho bà?

-Bộ mày tưởng đây là khu chợ xổm sao? Một ngôi trường hẳn hoi, có tên trong danh sách, có giáo viên đứng lớp, có học sinh, phụ huynh…

Trực gom hết những món đồ trang điểm cho vào tủ, nói giọng cầu hòa.

-Đến giờ lên lớp. Thôi hẵng chờ một bữa nữa. Cứ theo triết lý dân gian “bất quá tam”… Trực nói và ôm tập giáo án bước qua trường trước tiên.

Câu nói của Thẩm và hình ảnh đám học trò cứ lởn vởn mãi trong đầu Trực suốt cả buổi, tựa hồ mũi kim nhọn hoang mang mỗi khi chúc đầu găm sợi chỉ vào tà áo sút. Mũi kim lúc một cồn cào, sôi réo hơn khi mà buổi chiều sắp tắt, những vị khách vẫn biệt dạng sau những dãy đồi, đám học sinh nhấp nhổm đưa mắt nhìn nhau, len lén nhìn về phía cô giáo lòng đang rối bời hết ngồi xuống ghế lại đứng lên bước ra cửa, quay lại… như thể đang tìm kiếm vật rơi quý báu.

Ngôi trường vắng lặng cùng với chút nắng chiều sót lại trên chỏm cây cao trước cổng. Cả ba mặt mũi héo xàu chẳng khác cọng hành vớt ra từ xoong nước sôi. Thẩm quăng xạch tập giáo án lên bàn:

-Thế này thì quá thể, không còn chịu nổi nữa.

Diệu chun mũi:

-Thôi bà ơi, từ tỉnh về tới đây ngót nghét bảy chục cây số. Bộ bà nghĩ những đôi chân mịn màng, những giày vớ bóng lộn có thể chịu đựng nổi như lũ mình sao?

-Còn tụi mình, những bốn năm ròng rã thì là cái gì, hả?

-Bà bớt giọng đay nghiến kiểu đó đi. Ai bắt lên? Cả ba đều làm đơn tình nguyện hẳn hoi mà? Thôi họ không về thì đỡ phải nhọc công đón tiếp, phân giải. Kẹt là không biết phải ăn nói sao với đám học trò và cha mẹ chúng để có thể hiểu ra vấn đề.

-Chẳng có vấn đề gì ráo trọi. Vấn đề là ngày mai tao sẽ xuống chỗ ông Hào hỏi cho ra lẽ.

-Ôi chào chuyện vặt – Trực kêu lên, vừa nghe tiếng mở cúc áo của Thẩm giật bừng bựt kiểu bắn bông vải của các bà mẹ thuở xa xưa. Câu nói của Trực như để khỏa lấp cơn bực bội vô hình đang ào ạt dâng lên như nước lũ vây quấn cả ba người, như cố lăn tảng đá lấp kín miệng núi lửa trong lòng Thẩm đang chực phun trào. Những hoang mang a tòng với cái lạnh buốt về đêm khiến Trực cứ lăn trở trên giường như người bị chứng đau khớp hành hạ.

Giấc ngủ chập chờn ngắc ngoải của Trực, sự mỏi mệt của Diệu khựng lại lúc về sáng, khi cả hai nhìn thấy mảnh giấy đặt dưới lọ hoa sành cắm đầy bông hoa dại hái quanh nhà tập thể. “Tao đi gặp ông Hào đây. Chiều về sớm”.

Diệu liếc nhìn tờ giấy, bĩu môi:

-Đồ khùng.

Nét chữ nguệch ngoạc, ngã chúi về phía trước dễ gây sự tưởng tượng về một Thẩm đang nhoài người trên những con dốc, bờ đá kéo lăn theo nỗi bực bội tìm ẩn lâu nay trong người nó. Cũng may Thẩm chỉ mới chúi người chứ chưa vấp ngã. Không hiểu lần này nó có té lăn xuống chân dốc không…

Lớp học như mọi ngày, vẫn thưa thớt không bao giờ đông đủ sĩ số.
Trực và Diệu thay nhau chạy qua chạy lại lớp của Thẩm.
Những đứa học trò nhanh nhẹn tháo vát trên nương rẫy giờ ngồi trong lớp giống như những con chim bị nhốt trong lồng, ngơ ngác nhìn hai cô giáo.



Trưởng thôn Ama Bơk là người đến trước tiên. Ông ngồi dạng chân trên chiếc ghế đẩu khuyết một mảng chỗ tựa lưng, phì phèo điếu thuốc sâu kèn to bằng ngón tay cái, bốc mùi khét lẹt. Một lúc sau ba bốn người nữa cùng đến ngồi trên chiếc băng dài, hết ngó lên kèo nhà lại cúi xuống phun nước bọt phèn phẹt trên nền đất. Gian nhà đầy khói thuốc và mùi đàn ông. Họ còn mang theo mùi núi rừng, nương rẫy và nắng và khói lạnh tràn kín gian nhà với những đôi mắt mở to thảng thốt. Diệu đầm đìa nước mắt vừa rót nước mời khách vừa lấy ống tay áo quẹt ngang. Trực lóng ngóng sau chái bếp um khói. Thẩm nằm vật trên giường ngăn đôi gian nhà bằng tấm phông màn vải hoa, tay giữ chặt chiếc túi xách căng phồng như sợ ai đó giật đi mất. Chừng mươi đứa học trò đứng thấp thỏm ở hiên trường, mắt ngó chăm chăm về phía khu tập thể. Lúc Trực quay lên vừa thấy ông trưởng thôn dụi tắt điếu thuốc nhét phần còn lại vào túi áo. Ama Bớk hắng giọng:

-Khổ. Thiệt khổ – và khạc nhổ xuống nền đất.

Trực và Diệu ngồi ở đầu chiếc bàn dài đối diện với trưởng thôn và những người đàn ông khác.

-Mấy cô mang cái chữ lên cho tụi nó. Giờ mấy cô mang về thì cái đầu của lũ nó sạch trơn.

Diệu huých nhẹ cùi chỏ vào hông Trực, dùng ngón tay cào cào lên mặt bàn gỗ. Trực nói giọng thật nhỏ:

-Dạ… tụi cháu…

-Từ ngày có mấy cô về dạy cái chữ, dân làng mừng lắm. Tụi nhỏ biết được cái chữ, biết tính giạ lúa thùng bắp. Biết viết cái chữ cho dân làng vay tiền… Tụi tôi biết được chuyện này chuyện nọ… Bây giờ mấy cô bỏ đi… thì hết ai dám về! Mấy cô mang tuốt cái chữ của tụi nhỏ đi theo…

Có tiếng hít mũi nho nhỏ, không rõ của Thẩm nằm ở trong hay của Diệu. Trực lại lí nhí:

-Dạ…

Tiếng người đàn ông ngồi đầu băng ghế cất lên:

-Mấy đứa nhỏ có cái chữ bằng hột lúa, hột bắp. Tụi nó mang được cái chữ ra bờ ruộng, lên rẫy lớn bằng trái bầu trái bí… Rồi cái chữ đẻ ra bắp lai, đẻ ra con heo tốt con bò tốt đều có mấy cô… Giờ mấy cô bỏ hết chữ vào túi mang đi…

Nghe những thanh âm đều đều, đứt khúc, ngập ngừng cuộn theo yết hầu lên xuống của người đàn ông đen gầy ngồi trước mặt, như thể ông đang mắc nghẹn khúc sắn luộc trong cổ họng khiến lòng Trực thắt lại, Diệu thì quay mặt đi chỗ khác và Thẩm bắt đầu sụt sùi nghe thật rõ trước khi vẹt tấm màn ngăn, bước ra với bộ dạng thảm não. Thẩm nhìn ông trưởng thôn, nhìn những người đàn ông màu da đồng hun, nước mắt ràn rụa:

-Tụi cháu không định… – Thẩm bỏ dở câu nói nửa chừng và nhìn qua ô cửa như gửi theo sự trách móc ở đuôi cặp mắt ướt tới một nơi chốn không thật rõ ràng.

Ông trưởng thôn đổi tư thế ngồi sau khi nghe câu nói lơ lửng của Thẩm và cho tay vào túi áo định lấy nửa điếu thuốc còn lại ra đốt. Nhưng ngón tay ông không chạm vào mẫu thuốc thừa mà dừng lại ngập ngừng bên mép túi, nhìn theo hướng nhìn của Thẩm và thở xì ra:

-Mùa bắp đang trổ cờ… trái bắp sẽ no tròn, không bị răng cưa vì các cô còn ở bên này bến nước với dân làng… – Giọng Ama Bơk có vẻ hoảng hốt thật sự.

Ông trưởng thôn còn nói nhiều nữa về rừng cây, về những đứa nhỏ, về con chữ nhưng dường như cả ba cô giáo không còn nghe thấy gì nữa. Trước mắt họ là những dãy núi xanh đậm nhô lên phía sau những ruộng bắp, những cánh đồng mía ngút ngàn kéo theo con sông nhỏ lượn quanh. Nhánh sông nhìn thấy từ bến nước sẽõ hòa vào dòng sông lớn, dòng Krông Pa trôi xuôi ra biển, mang theo mùi hương núi rừng, mang theo giấc mơ khắc khoải, sự chờ mong của tuổi thanh xuân tròn bóng và sự khát khao thỉnh thoảng uốn lượn dập dờn theo tiếng đàn đinh goong chưa thoát ra khỏi nhánh sông trước mặt ngôi trường. Tiếng đàn ấy chưa bao giờ dành riêng cho ba cô giáo trẻ. Nó là cõi lòng riêng mở về một hướng khác, hướng mà các cô đang mơ tới và chưa hề được chạm nhẹ một cách ấm áp.

Nhưng giờ đây, khi ngoảnh lại trong khoảng cách nhìn gần, thấy những đứa học trò chân đất, chân tay mốc cời, đứng túm tụm bên kia sân trường nhìn sang ngơ ngác khiến các cô chạnh lòng. Mấy cô mang hết cái chữ của tụi nhỏ đi theo… những âm giọng đều đều giống mũi chỉ khâu vết thương hoác miệng, đau rát.

Những người đàn ông nói thêm mấy câu an ủi, động viên rồi đứng dậy bước xuống bậc thềm đá, nhấp nhô xa dần cuối dốc. Những đứa học trò nấn ná một lúc sau cũng tản dần về các hướng mà không nghe tiếng cười la hét như mọi khi.

Thẩm đứng lặng người nơi mép bàn. Diệu thì xoay xoay bình trà nóng trong tay như thể đó là điểm tựa trống trải của mùa gió núi hiu nhẹ đang đến thật gần. Trực nhìn hai người bạn trong nỗi co ro lạnh ngắt, buột miệng:

-Chốn này là của những đứa trẻ ấy, tao không chịu nổi những ánh mắt thất thần như bầy gà con lạc mẹ.

Câu nói dường như ngân ngấn chút nước mắt, nhòe những bóng người đàn ông đen đúa, những đứa trẻ đen đúa có những bước đi ngã chúi dưới con dốc.
(tháng 4.2006)

Đăng nhập để trả lời
0
CON DAO VÀ LÁT BÁNH MÌ


NGUYỄN LỆ UYÊN



Mả mẹ mày… làm ăn như củ kít”. Cây thước thợ gõ xộc lên gờ tường mới xây. Lớp gạch phía trên ngã bổ xuống, vang thành tiếng động lộc cộc khô khốc. Cây thước quay ngang qua phía đầu Tỏ. Tiếng “cốc” nhỏ, rất nhỏ như tiếng con chim gõ kiến gõ vào cành cây khô. Tỏ xoa xoa chỗ đau, đưa chiếc bay lên và kịp hạ xuống. Chiếc bay hạ xuống để nghe tiếp câu chửi: “Đ. má… đầu mày chứa toàn bùn thúi và phân trâu”. Tỏ cúi xuống mảng tường vênh, đè chiếc bay lên phân gạch nhớp nháp vữa. Cây thước thợ di chuyển qua phía bờ tường bên kia, nơi toán thợ đang gác tấm lanto.

Tỏ nhìn cây thước thợ di chuyển, nhìn dáng đi lạch bạch của con vịt bầu, đầu chực ngã chúi về phía trước. Chỉ cần một tích tắc thì cái bay vung lên, nhưng Tỏ đã ghìm lại, nén cơn giận xuống bàn chân phải, đá tung lớp gạch vừa xây, ném chiếc bay lên không, bước thẳng.
Gió lùa qua hai tai, nắng tháng Sáu ập xuống như lửa từ bễ rèn phụt ra. Cả công trường xao bay, phậm phực trong hơi nóng. Những gờ gạch xây chao lên hập xuống như gió nâng kéo chiếc lá trên cành trôi trong lớp không khí loãng. Đồng nước phía trước sáng trắng đến loá mắt. Tỏ men theo con mương cụt thất thểu quay về xóm.
Bộ phảng ngựa kê ở đầu chái phủ lớp bụi mỏng. Tỏ không phủi, nằm ình xuống, đầu gối lên hai tay, mắt ngó đăm đăm vào giàn rui kèo cong vểnh, liên tưởng đến thân phận của thằng người vêu vẹo, lồi lõm là nó.

“Công trường bữa nay nghỉ sao?”. “Không”. “Đau bệnh gì à?”. “Không”. “Sao vậy?”. “Không làm nữa”. “Mẹ cứt, không làm thì lấy gì nhét vào miệng?”. “Ăn trộm…”.

Sáu Xường ném chiếc cuốc lăn lóc xuống nền đất, tru lên: “Thằng mất dạy. Ăn nói với cha mẹ cứ như ném cát vào mặt. Không đi làm thì lấy gì ăn?”. “Nói rồi. Không làm thợ xây nữa. Mai đi Sài Gòn tìm việc khác. Mỗi tháng gửi về năm trăm được chưa?”. “Đúng là đồ ăn trộm, quân bất nhơn!”. “Sao cha không ra công trường chửi vào mặt tụi ăn trộm đó. Mà không phải ăn trộm đâu. Cướp. Chúng nó lắm tiền nhiều thế, đi cướp của thằng dân mạt rệp đó”.

Sáu Xường không nhìn con, lạch bạch ra giếng kéo nước rửa đôi chân mốc cời, trong khi Tỏ vẫn nằm gối đầu trên hai bàn tay bắt chéo vào nhau, lơ mơ nghĩ về thân phận cong oằn của mình và ngủ thiếp trong cơn nóng hầm hập từ mái tôn dội xuống.

Cơn nóng kéo Tỏ chìm lút trong cơn mộng mị hãi hùng. Anh thấy mình cầm chiếc xà beng đào sâu phần bờ ruộng nhà, hất tung những dãy bê tông đè bên trên, đẩy ra xa thật xa khu công trường đang thi công, giành giật từng phân vuông đất, moi từng hốc nhỏ nối lại, cong người đẩy tới. Những lọn cỏ nát nhão trộn lẫn chút cát, vữa, gạch vụn như cái xác con gà bị bánh xe cán nhẹp trên mặt đường, lầy nhầy, sền sệt… Những dề đất kết lại rồi vỡ ra, trôi theo sức đẩy cật lực của thằng con trai tuổi hai mươi. Người mẹ từ hướng núi bay về, tóc rũ rượi, mặt đầy máu níu thằng con lại, giọng gào khản đặc: Mẹ van con! Xưa chúng giết mẹ dưới dốc đá. Giờ mẹ không muốn con chết theo mẹ. Tỏ vuột ra khỏi đôi tay người mẹ chỉ còn những đốt xương trắng hếu rung lên. Tỏ lao tới. Mảnh ruộng vuông vức khi xưa theo cơn giận dữ cuồng dại bị xô nghiêng, lệch thành nhiều hình thù kỳ dị khác nhau: khi thì như lưỡi mác, lúc bè ra mỏng dẹt như bánh tráng, lúc như ống thổi lửa… rồi rơi tòm xuống đáy sông. Bà mẹ ngã sấp xuống nền cát cháy đầm đìa máu me, hai tay chấp chới trong khoảng không liếp màu máu bầm. Tỏ hoảng hốt la lên. Mồ hôi chảy bè trên mặt ván ngựa. Anh mở mắt chỉ kịp thấy mái rui kèo cong vòng như chiếc võng gai sắp câu mình lên cao.

Mặt trời nhỏ lại bằng chiếc dĩa, dính chặt lên đỉnh núi phía tây rồi lăn từ từ xuống.Khối đỏ nhoè nhoẹt mất hút.

-Tui qua nhà bảy Lụa - Tỏ kéo dài giọng, bước ra khỏi bờ sân gạch.

-Đàng hoàng với con nhà người ta – Tiếng ông Xường đâu đó trong gian nhà tối vọng ra, nhỏ như tiếng thở dài – Năm tới tao qua nhà hai Trương bàn chuyện cưới hỏi. Lo làm ăn, dành dụm tiền là vừa.

-Xì... - Lời phản kháng hệt đầu máy hơi nước phun ra, cố gắng rướn tới, kéo hàng dãy toa nặng nhọc, ì ạch lăn về phía trước.

Tỏ bước thẳng. Bước đi nặng nề không dám ngoái nhìn căn nhà cũ kỹ ọp ẹp. Bao nhiêu dự tính bị chôn sâu dưới những tầng bê tông đè lên. Chỉ cần hai mùa lúa, Tỏ sẽ mua gạch xây lại căn nhà. Một mùa nữa sẽ dẫn bảy Lụa về hôm sớm cho cha. Vậy mà giờ này bước ra khỏi ngõ, chệnh choạng như kẻ trốn chạy.

Trời tối hù. Qua mấy truông tre dài hun hút, Tỏ xuôi ra phía gò Mãng Cù. Những bụi trâm bầu nối dài chạy dọc hai bên đường kéo bóng tối đậm hơn. Những hình thù kỳ dị nhấp nhô phía trước, theo từng bước đi cao thấp trên các mô đất lồi lõm trên mặt đường. Căn nhà bảy Lụa chìm sâu bên trong vườn dừa, hắt ra chút ánh sáng yếu ớt. Tỏ dụ dự một lúc rồi bước thẳng ra đường đất đỏ, phía sau là căn nhà chìm khuất sau vườn dừa, hàng trâm bầu, truông tre và căn nhà xiêu vẹo…Tỏ hiểu rằng, nếu không đi nhanh, chỉ một thoáng chao lòng anh sẽ chạy vào, sẽ chu môi giả tiếng chim cú và Lụa sẽ bước ra, ngã vào đôi tay chắc khoẻ. Lụa sẽ hoá thành sợi dây thừng cột chặt Tỏ lại. Và lại sẽ nắm chiếc bay lên, sẽ gồng mình đẩy từng xe cát gập ghềnh cả đời người…

Mặt lộ thênh thang gió, thênh thang những ruộng mạ thiệp đen bóng tối, nhấp nhô sau công trường. Chiếc túi vải trên lưng đung đưa theo nhịp bước chân chạm vào vùng thịt da, cơ hồ như có bàn tay Lụa đang xoa lên những chỗ đau ê ẩm sau một ngày đội nắng trên giàn xây.
Bàn tay Lụa xoa mãi trên lưng tới ngả tư quốc lộ, Tỏ chuyền túi vải xuống tay trái, ghé mông lên cột số. Trời tối đen. Xóm làng phía sau lưng là một khối đen đậm đặc. Những hàng tre, mái tranh, ruộng đồng, rặng trâm bầu và khu công nghiệp dính chặt vào nhau, không thể nhìn thấy rõ ràng đâu là mái đình, đâu là cầu ao nơi hai đứa thỉnh thoảng hẹn hò lúc đêm tối trời.

Phải đợi khá lâu mới thấy ánh đèn nhấp nháy từ xa. Chiếc xe khách trờ tới. Tỏ bật dậy chuyền túi vải qua tay phải giơ lên.

-Đi đâu? - Người phụ xe hỏi nhanh như viên bi bắn ra khỏi tay.

-Sài Gòn - Tỏ đáp.

-Trăm rưởi.

-Trăm hai.

-Chạy - Người phụ xe hô lên như người chỉ huy hô lính xung phong.

Tỏ đuổi theo vừa la “trăm rưởi, trăm rư…ởi…”. Tỏ chạy hụt hơi, vừa nhẩm tính trong đầu: tới bến vẫn còn chín chục, đủ để sống hai ngày ở đất Sài Gòn trước khi tìm ra công việc gì đó. Xe dừng. Tỏ lao lên như con chim cắt. Lúc ngồi yên trong lòng xe, nước mắt tự dưng trào ra, lăn xuống bên khoé môi mằn mặn. Anh cảm thấy tim mình bị bóp thắt. Anh tưởng tượng người cha già khọm sẽ hoảng hốt khi thức dậy không thấy mình ngủ trên bộ ván ngựa, con Lụa sẽ khóc nức nở khi biết nó chỉ còn lại một mình trong vườn dừa âm u. Mẹ anh chết cách đây bốn năm đồng nghĩa với việc chấm dứt sự học, bấu trên bờ ruộng giúp cha việc đồng áng. Bốn năm trống trải đủ để Lụa chen ngang vào đời thằng con trai bước qua tuổi dậy thì. Và Tỏ như chiếc áo tơi móc dính trên cột. Giờ thì chiếc áo tơi bay đi, từ từ bay đi chỉ còn trơ khấc chiếc móc tre ám bụi. Tỏ miên man tưởng tượng anh sẽ ngã quỵ trên đường, rồi lại gạt bỏ ý nghĩ đen tối để mơ ngày trở về làng trên chiếc xe bóng lộn, máy nổ rì rì…Lụa ra đón ở đầu con mương nước cắt xéo nửa làng và dân trong ấp sẽ nhìn nó…

-Tới bến rồi. Xuống đi cha nộ…ội - tiếng nội kéo dài ra như tiếng kẻng hợp tác xã thuở trước, mệt mỏi và dứt khoát.

Tỏ đeo túi vải lên vai, ngáp tiếng dài trước khi bước xuống. Bến nhộn nhịp. Những người chạy xe ôm ùa tới vây quanh hỏi Tỏ đi đâu. Anh lắc đầu bước chệnh choạng giữa đất Sài Gòn ồn ào, chen chúc và khói bụi. Bản thân anh cũng không biết đi đâu, đến đâu. Không ai là người quen ở xứ này. Hồi còn ở làng nghe nói có cô Thao con gái út thầy Sáu vì chuyện tình duyên nên bỏ nhà vào đây trên mười năm, và trước đó có mấy người vì dính líu đến chế độ bỏ trốn đâu đó trên Tây Ninh. Đất Sài Gòn rộng, người đông như kiến bò biết tìm đâu? Bước chân cứ xuôi theo con đường rộng, chật cứng người, xe; tay trái giữ chiếc túi vải, tay phải thọc sâu trong túi quần, ấn những tờ giấy bạc cong queo nằm xẹp sát đáy.

Tới ngả tư kịp lúc đèn đỏ, Tỏ trôi theo dòng người đi bộ qua bên kia đường và dừng lại trước chiếc xe đẩy bán bánh mì. Tỏ mua một ổ. Lúc lôi những tờ giấy bạc ra, nghe người bán bánh hô gọn trơn: “mười ngàn” khiến nó giật thót người. Anh hiểu rằng, đến giờ phút này trong túi chỉ còn tám chục. Tám chục để chống chọi với việc tìm kiếm việc làm mù mịt trước mắt trong những ngày sắp tới khiến miếng bánh trôi qua cổ họng vừa mặn vừa chua, khiến anh nhớ tới những miếng cơm cháy bên hông nồi, dĩa rau luộc và xoong cá kho, nhớ tói hình ảnh người cha ngồi nhai trệu trạo, luôn nấc cụt trong mỗi bữa cơm và những tiếng rên nho nhỏ đêm khuya trở trời. Tỏ đang là chỗ dựa duy nhất trong cuộc đời còn lại của ông, một ông già trên sáu mươi, goá vợ, con cái muộn mằn… Chót bánh mì cuối cùng trôi qua cổ làm nhói lên nỗi đau tê. Đúng mình là thằng mất dạy, bất nhơn, bất hiếu và kịp hiểu ra rằng, mỗi tháng không có năm trăm gửi về, cũng đồng nghĩa với chuyện đẩy cha mình men tới vực đói khát, đau bệnh. Cả thể xác và tinh thần ông đã suy sụp kể từ ngày toà tuyên án ba năm tù giam vì tội bắt tay với kẻ gian làm mất năm tấn lúa hợp tác xã. Kẻ gian ấy toà không thể “định dạng” còn ông thì cứng họng không mở miệng khai nổi. Ông đã nhiều lần nói: Thà mang tiếng và chịu nhục trong ba năm hơn là phải khai ra để tự mình bôi bẩn “lý tưởng” mà ông và cả thế hệ thanh niên nông dân đã đổi bằng máu, nước mắt, bằng sự sống và cái chết trong đường tơ kẽ tóc! Tỏ không thể hiểu cái lý tưởng trừu tượng kia là cái giống gì, vùng vằng: Tui không hiểu nổi, sao cha luôn chìa vai rước tai hoạ cho kẻ khác. Giờ lão ta ngồi chót vót ở huyện này, vậy mà có bao giờ lão ghé thăm cha, hỏi han lấy một tiếng? Mày còn nhỏ chưa hiểu lẽ đời. Có những việc biết thế nhưng không thể hé răng. Ba năm đâu là gì, đau bệnh ai chẳng có lúc? Tỏ ít chữ, nhưng nghĩ, chẳng lẽ tình đồng chí lại đánh đồng với chuyện đạo đức, trái phải. Đồng chí này thà dịp thót lên cổ, đạp lên đầu đồng chí bạn để leo lên cao. Đó mà gọi là hy sinh với phấn đấu sao? Năm tấn lúa cha Tỏ chưa hề biết một hột chắc lép trong đó nhưng lại biết nhiều hơn, về mùi tù. Đó là lần duy nhất Tỏ cồn cào ruột gan. Còn lần này lại dờn dợn bỡi nó đang tách khỏi sự chở che, thúc nhắc của cha mình.

-Ê, ông bạn, định đi đâu?

Tỏ ngước lên. Đó là một người đàn ông trung niên, nước da đồng hun, đội chiếc mũ rộng vành, miệng ngậm tẩu thuốc, phì phèo.

-Dạ, tới nhà bà con - Tỏ trả lời.

-Giỡn sao cha nội. Ngó bộ dạng ông bạn biết ngay là ở tỉnh mới lên – ông ta gỡ tẩu thuốc ra khỏi miệng, môi nhếch lên, lướt cặp mắt bên trong chiếc kính đen, từ đầu xuôi xuống chân rồi ngược trở lên như thể đánh giá một trái bí, củ khoai chứ không phải là thằng người đang đứng trước mặt ông ta – bà con đếch gì! Ông bạn đi tìm việc làm thì đây giúp cho. Công việc nhẹ nhàng. Giữ xe cho nhà hàng, tháng triệu rưỡi. Tháng đầu ông bạn đóng cho tôi ba trăm. Các tháng sau, mỗi tháng hai trăm cho tới khi nào ông bạn không thích làm nữa. Ok?

Tỏ nhìn chăm chăm vào mặt người đàn ông, ước lượng mức độ chân thật: Đôi môi thâm đen, hàng lông mày rậm, cặp mắt ẩn sau lớp kính màu tránh nắng. Tất cả chưa nói lên điều gì. Nhưng dẫu sao, tỏ nghĩ, ngồi trông xe là công việc nhàn hạ. Nghề ngỗng chẳng có lấy chút bợn, lại có công việc khi vừa mới chân ướt chân ráo đã là điều may mắn, không thể đòi hỏi hơn. Và hơn hết là có chút tiền gửi về cho cha hàng tháng trước khi đình đậu một công việc gì đó. Tỏ gật đầu. Người đàn ông gõ bã thuốc rớt xuống đường trước khi ngồi dạng chân nổ máy. Tỏ leo lên, cứng ngắt như chiếc bao tải phía sau tấm lưng to bè.

xxx


Quán nằm trong ngõ cụt, sát bờ sông, chung quanh là các loại cây táp nham từ rừng đưa về làm cảnh, cành lá um tùm. Phía sau, cứ mỗi hai ba gốc cây là những căn chòi lợp lá dừa nước. Những tấm rèm màu xanh da trời vây quanh, tiệp với màu lá cây và sông nước trước mặt. Đó là những gì Tỏ nhìn thấy từ bên ngoài, chưa một lần đặt chân vào bên trong. Tỏ không được phép đặt chân vào!

Công việc của Tỏ là đưa thẻ và đánh số xe cho khách, sắp xếp lại ngay ngắn thành những dãy dài, dắt xe ra cổng trả lại khách, cúi đầu nói câu “ chúc quí khách vui vẻ hay nói cảm ơn”. Các bữa ăn không giờ giấc, do người phụ bếp mang ra trên chiếc khay nhôm. Thức ăn ê hề, nhưng chắc chắn không phải nhà bếp nấu cho Tỏ mà là thức ăn thừa của khách. Điều này không làm anh cảm thấy khó chịu, đôi lúc còn thấy như niềm hạnh phúc đang cúi xuống cõng mình lên vai: Tỏ mập hơn, cao to hơn, da dẻ trở nên hồng hào mịn mượt hơn, khi đứng trước chiếc gương soi lớn, ngay sát cổng ra vào. Anh thấy mình khác hẳn trong bộ comple màu trắng viền nẹp đỏ và chiếc mũ lưỡi trai trên đầu…Những lúc vắng khách, Tỏ ngồi trên chiếc ghế nhựa ngó mong ra dòng sông. Dòng nước đục lềnh như không hề chảy. Hàng dừa nước bờ bên kia ken dày, che khuất những căn nhà lụp xụp, mái rũ xuống cam phận, không dám ngước nhìn bờ bên này. Buổi chiều, nước thuỷ triều lên, những tàu lá dừa chúc ngọn trong dòng nước đong đưa nhè nhẹ, khiến Tỏ có những cảm giác mơ hồ về sự nhớ nhung, thoắt hiện thoắt biến, không rõ nét: khuôn mặt Lụa lờ mờ bên dưới màu nước đục, và cha anh cong người gãy khúc ở đầu chót lá. Cả hai cứ rung lên nhè nhẹ, không với cánh tay ám đất về phía Tỏ.

Một chút khắc khoải nhớ nhung bỗng gãy gập theo tiếng máy xe đỗ xịch ngay trước ghế dựa, chỗ anh ngồi. Tỏ bật dậy như quán tính chiếc lo xo bất ngờ được thả bung. Anh mở cửa xe vừa cúi gập người chào. Những người phụ nữ ăn mặc diêm dúa bước ra, ngước mặt nhìn lên trời cao và bước thẳng vào bên trong. Tỏ đóng cửa xe, dịch người qua bên làm hiệu cho xe đậu chỗ đất trống cạnh bờ sông. Chiếc xe quay nửa vòng như làm xiếc, ghếch mũi giữa hai thân dừa thẳng đuột, thở xọc một cái thả một vùng khói trắng phía sau.

Tỏ quay đi kịp lúc nghe giọng nói sau lưng: “Anh bữa nay có vẻ thiếu lịch sự đấy nhé!”. “Xin lỗi”, Tỏ nói và quay lại. Đó là người phụ nữ mặc chiếc robe hoa cà. “Sao, chỉ có vậy thôi à?”. Tỏ luống cuống hệt như mình là đứa trẻ mắc lỗi. “Anh không phải đỏ mặt lên như thế, anh bạn trẻ và đẹp trai ạ”. Sau đó Tỏ có cảm giác như một bên vai của người phụ nữ chạm vào người mình. “Ngồi nói chuyện một chút, được chứ hả?”, bà ta lại cất giọng. “Không dám, mời bà ngồi”, Tỏ nói với giọng của người đang lên cơn sốt vừa kéo ghế rút chiếc khăn trong túi quần lau ghế (dù trước đó anh đã mài đũng quần lên đó rồi). Người phụ nữ đưa tay vịn thành ghế. Tỏ đứng dựa một bên cổng, chỉ cách một với tay. Đến lúc này anh mới hoàn hồn để kịp quan sát: Khuôn mặt thon dài, lưỡng quyền hơi nhô cao ửng đỏ. Hàng lông mày rậm được tỉa tót cẩn thận…Bà ta không đẹp lắm, nhưng đầy sức sống.

-Công việc ở đây có dễ chịu không?

-Dạ…

-Tôi có một đề nghị: Nhiều lần qua chỗ này, tôi thấy anh là người cẩn trọng, chu đáo. Tôi muốn chuyển anh về văn phòng.

-Thưa, đã hứa với anh Năm.

-Ôi dào, ngoài mấy cái nhà hàng, tôi còn văn phòng môi giới giao dịch địa ốc. Tôi muốn đưa anh về chỗ đó để thay người khác đã xin nghỉ việc. Sáng mai xe đến đón anh về làm công việc khác. Tôi đã quyết định rồi – Nói và bà ta nhoẻn miệng cười giống như bấc đèn dầu hôi được vặn cao ngọn, và bước tới, không hề ngoảnh lại.

Công việc mới của Tỏ vẫn là công việc như lúc ở nhà hàng, chỉ khác một điều là không có mũ lưỡi trai, bộ comple màu trắng nẹp đỏ hai bên ống, thay vào là bộ âu phục với chiếc cà-vạt luôn đổi màu mỗi ngày như một quý ông. Suốt ngày anh ngồi bên trong cửa kính đón khách. Hết việc lại chúi mũi vào tờ báo hay ngó mong ra đường nhìn vẻ bóng lộn và diêm dúa của Sài Gòn lướt qua như đèn kéo quân. Cho tận lúc này, hơn hai tháng rồi, Tỏ không hiểu mình là cái giống gì giữa khung cửa kính luôn đông nghịt người ra vào. Mà toàn những kẻ sang trọng. Có lúc Tỏ cảm thấy mình như đống giẻ rách quấn quanh hai cọc tre bắt chéo làm hình nhân cắm sâu giữa cánh đồng hiu quạnh. Chân gác cổng không thể vênh mặt lên để tự hào nhìn thiên hạ, nhưng lúc này, mỗi tháng Tỏ gửi về gần triệu đồng chứ không phải năm trăm như đã lỡ tuôn ra trong cơn giận dữ vô cớ trước kia. Mà cũng không rõ cha mình có nhận được hay không? Vì mọi chuyện đều do bà chủ ghi vào mảnh giấy, kêu thư ký mang đi. Có những lúc nhìn thấy vẻ lúng túng, thắc thỏm của Tỏ, bà chủ cười khẩy: “Bộ anh nghĩ tôi lừa anh sao?”. Câu nói như gáo nước sôi dội từ đỉnh đầu nóng rát xuống tận hạ bộ khiến khuôn mặt căng đỏ của anh càng đỏ gấc. Bà vịn cả hai tay nắn vai anh: “Anh làm sao thế? Thôi được, chiều nay tôi đãi anh…”

Quán nằm sát bờ sông Đồng Nai, bao quanh là vườn bưởi oằn trái. Hai người ngồi ở góc khuất. Ánh sáng vừa đủ để nhìn dòng nước trôi lặng lờ, đủ để Tỏ quan sát kỹ hơn về bà chủ có cái gì đó vừa nhân hậu vừa dữ dằn ở đôi mắt mà anh không thể diễn đạt bằng lời. Anh nhìn đăm đắm như một đứa trẻ cố moi trí nhớ về một câu nào đó trong bài học thuộc lòng đã bay mất. “Anh quan sát tôi hơi kỹ đấy, như mấy tay phó nháy chụp hình người mẫu vậy”. Bà chủ đột ngột lên tiếng. “Dạ, xin lỗi bà chủ”. “Anh dẹp mẹ cái bà chủ của anh đi. Tôi hơn tuổi anh. Gọi chị được rồi, mà nếu như tôi lấy chồng sớm thì có thể con tôi cũng gần xấp xỉ với anh. Nhưng rất tiếc...”. Ba chữ cuối rớt dài xuống dòng sông mênh mông những lọn sóng lăn tăn. “Tên tôi là Dung, Tưởng Dung chứ tên cha mẹ đặt là Lụa…”. Bà lại tiếp tục kể vừa với tay cầm chai Courvoisier rót vào chiếc cốc thuỷ tinh, uống cạn sạch, không hề nhận ra cái giật thót người của Tỏ. “Tôi cũng dân miền Trung như anh, cũng được học hành tử tế cho đến khi cha tôi bị bắt, bị truy tố về tội buôn lậu, trốn thuế. Những người liên quan phủi tay cái rột, bởi họ có thân có thế.Còn cha tôi thì không, chỉ một thân một mình. Vậy là tôi phải hoá thành nàng Kiều để chuộc cha ra khỏi vòng lao lý…” Lụa lại rót cốc đầy, lại uống, nói tiếp: “Mẹ đời! Anh biết sao không? Một đứa con gái đang tuổi hai mươi phải nằm ngửa chịu đến bốn thằng đàn ông cỡ cha chú mình cỡi lên. Chúng là những tên được ấn vào tay những quyển luật dày cộm để bảo vệ công lý. Chúng nhân danh công lý để buộc tội người này hay tha bổng người khác. Chúng như bà phù thủy, biến có thành không, biến không thành có! Chúng từng kết án chung thân cho tội phạm hiếp dâm. Vậy mà chúng đã lật ngửa tôi ra trong một nhà nghỉ nào đó, ở một xứ nào đó sau khi chuốc cho tôi đến say bí tỉ. Mùi bia rượu, mùi thuốc lá tanh lợm khiến đầu óc tôi tỉnh rụi, không khóc, không đau đớn, mở trừng mắt nhìn bọn chúng, những tên đĩ bợm còn sót lại trên thế gian này và tưởng tượng đến cán chày giã vào chiếc cối nhỏ kêu lọc cọc. Cái tiếng đanh gọn, khô khốc đến là buồn cười. Buồn cười và buồn nôn… Vậy đấy. Tôi đã trả nợ công lý bằng cách đấy. Cha tôi trắng án! Buồn cười chưa?”. Lụa lại rót đầy hai cốc, nâng lên: “Nào, mời anh. Uống để chia sẻ niềm hạnh phúc đắng cay với tôi chứ! Chỉ có anh là người đầu tiên và cuối cùng tôi kể chuyện đời mình”. Tỏ chạm cốc, nốc cạn, lòng cay xè. Lụa lôi chiếc khăn giấy trong ví ra nhưng cầm riết trong lòng tay, khuôn mặt đanh khô, mắt nhìn ra dòng sông như ước đoán khoảng cách. Và nhảy ùm xuống. Chuyện đó không xảy ra. Chỉ nghe tiếng rượu chảy lóc róc vào ly. Tiếng rượu chảy nghe như máu từ miệng Tưởng Dung phọt ra. Lại rót, lại uống. Những dĩa thức ăn đầy nguyên, không ai buồn động đũa. Mặt sông duềnh lên những lọn sóng nhỏ, hấp háy dưới quầng sáng từ quán hắt ra, những lọn sóng chới với, đuối hụt nhấp nhô như cái xác trương sình, trôi sông. Lụa ném chiếc khăn giấy lên bàn: “Cuộc đời quá là đơn giản. Mọi chuyện đơn giản đến trần trụi, chẳng có gì là ghê gớm. Vậy mà tại sao mấy lão triết gia hết đi tìm chân lý này đến chủ nghĩa nọ làm gì cho nhọc xác? Anh nghe tôi nói rồi đó. Bốn thằng cha nhân danh công lý trên tấm thân trần truồng của tôi đến nỗi nữ thần Dike và Aphrodite (1) xoắn tay lại, cười nức nở, hứa hẹn sẽ bay xuống trần gian hiệu đính chuyện thần thoại của mình. Lạ chưa?”.

Tỏ thấy, dưới ánh sáng nhập nhoạng, hình như có giọt nước mắt nhỏ, rất nhỏ ngập ngừng nơi khoé mắt Lụa, rồi bất ngờ thụt vô như kẻ chạy trốn. Trong khoảnh khắc ấy, Lụa không còn hình dạng của bà chủ sang trọng, hoá thành người đàn bà đau khổ nhất trong những người đàn bà đã lướt qua cuộc đời khốn khổ của một thằng con trai nông thôn. Tỏ có cảm giác chị đang rất gần gũi với anh, không phải ở cái tên trùng với tên người con gái anh yêu thương, mà ở chỗ chị đã chọn anh như một kẻ tin cậy để giải bày những ưu uất đời mình. Tỏ tưởng tượng cảnh nhục nhằn của chị bên dưới những khối thịt nhớp nháp khiến đầu óc anh ngật ngừ váng vất. Lần đầu tiên anh uống nhiều rượu, nghe chuyện như đang nhìn bầu trời sụp dần từng mảng. Anh lừ đừ nhìn Lụa. Lụa cũng lừ đừ nhìn anh. Hai người nhìn nhau hồi lâu. Bỗng Lụa cười phá lên, tiếng cười như mũi kim nhọn xoáy vào vùng da non khiến Tỏ có cảm giác như như ly chén trên bàn cũng nhảy tưng lên, rúng động. “ Từ đó tôi khám phá ra rằng, chính chỗ đó, chính chỗ vùng cấm đó mà các nhà đạo đức giảo hoạt luôn giả bộ che mắt, luôn là thứ vũ khí lợi hại làm cho các lãnh chúa, vương hầu khanh tướng… phải quỳ mọp. Tôi đã sử dụng nó để tạo nên cơ ngơi nhớp nhúa này, để nhìn chúng ghen tuông lồng lộn vít đầu nhau xuống bùn đen. Lũ người bẩn thỉu và đĩ bợm kia cứ thì thụt moi hết két quỹ này đến dự án nọ để cống nạp cho tôi trước khi chúng có thể (được phép) lần bàn tay dơ bẩn từ ngực xuống háng tôi, rồi lộn ngược trở lên. Anh cảm thấy quá bẩn thỉu phải không? Nhưng lũ chúng thấy như một ân sủng từ bàn tay chúa trao cho. Chúng là những quan chức mẫn cán và kiên định ở xứ này đấy. Chúng bỏ lại đằng sau bầy vợ con nhếch nhác để quỳ mọp dưới chân tôi, úp mặt lên háng tôi như những tín đồ xác tín về đức tin đang rầm rì cầu nguyện một cách trân tráo. Eo ơi, toàn lũ đĩ bợm, rặc một lũ đầu nhỏ mỏ to… Tôi có tất cả và không có gì hết. Thật tởm lợm!”. Lụa ngã người ra thành ghế dựa, nói như kẻ tội đồ thánh thiện bước nhẹ tênh trong cõi mộng du: “Cuối tháng tôi sẽ đưa anh về cái làng quê nơi cha mẹ tôi sinh ra tôi và công lý đã vùi dập đời tôi. Nghe nói giờ nó không thành làng quê, cũng không phải bộ mặt thị thành; ở đó có bầy người ngơ ngác bị lùa ra khỏi mảnh đất của mình… Thời chiến tranh hai bên đã quần thảo nhau nát nhão như nồi cám heo, nay thì sự nhếch nhác đó cũng không kém gì”. Tỏ buộc miệng: “Chị định làm gì?”. Lụa ngửa người cười lớn: “Đến giờ mới nghe anh mở miệng! Làm gì à? Những căn nhà lá xiêu vẹo tôi “đốt” hết, xây lại cho họ bằng gạch ngói, coi như tôi trả nợ xóm làng, vậy thôi, không có gì ghê gớm. Tôi không có ý định chuộc lại lỗi lầm lần nữa, bởi đơn giản tôi không mắc lỗi nào cả, kể cả vấn đề tiết trinh và đạo đức. Cái của phù du kia là do những thằng ngu mang đến cho tôi sau những đêm truy hoan không chút cảm giác, mùi mẽ gì. Tôi chỉ như chiếc gối nhồi bông cho chúng cỡi lên, vậy thôi. Trinh tiết đáng lẽ để dành hiến dâng cho người mình yêu nhất thì đã bị những kẻ nhân danh công lý cưỡng đoạt rồi, còn lại sau đó nó như một hang cua: hết người này thò tay vào bắt, lại đến lượt người khác. Anh có hình dung ra hình tượng người nhà quê bắt cua đồng không? Mà anh đã từng bắt cua đồng lần nào chưa? Lụa dừng lại, khuôn mặt đanh khô rồi bất ngờ dãn ra. Chị thở sượt: Tôi không sử dụng cho riêng mình, tôi chia sớt cái phù du ấy cho nhiều người. Ban đầu là hôi thối, nhơ nhuốc nhưng khi trôi qua chiếc “máy giặt” trong làm ăn nó trở thành thơm tho. Nhiều tay vênh mặt về chuyện này, còn tôi thì cúi gằm đau đớn để trả nợ xóm làng xơ xác của tôi. Vậy đó, có gì phải bận tâm, phải không?”.

Không khí nặng nề đến khó thở. Tỏ muốn nói một điều gì đó với chị ta, nhưng không đủ sức, không đủ chữ nghĩa và sự hiểu biết để gải bày. Anh cục cựa trên ghế như có những con kiến nhỏ bò vào đũng quần, lói nhói. Chai rượu đã cạn. Lụa kêu bồi bàn mang chai khác. Tỏ ngăn lại, kêu nho nhỏ trong cổ họng như người nghẹt mũi: “Thôi, đủ rồi chị”. “Anh sợ à”. “Không”. “Vậy thì sao lại ngăn cản niềm vui của tôi?”. “Không phải chuyện vui, nghe buồn muốn khóc”. “Anh bạn đẹp trai của tôi, anh uỷ mị thái quá đấy”. Im lặng hồi lâu. “Anh đã biết mùi đàn bà chưa hả?”. “Trời, chị!” Tỏ kêu lên run rẩy. “Việc gì anh phải kêu phải run lên như thế kia? Tối nay tôi sẽ cho anh biết mùi đàn bà là thế nào. Tôi thấy nhiều thằng nhóc cứ trố mắt nhìn xoáy vào những vùng cong trũng sau lằn vải các cô gái như muốn lột trần ra. Còn anh thì nhìn tôi một cách ơ hờ? Tôi đã kể cho anh nghe về cuộc đời tôi. Tôi là một con điếm, một con điếm trong sạch, tôi không phải là một trinh nữ hiến tế cho các đẳng thần nữa rồi. Vậy thì việc gì anh phải hoảng hốt?”. “Không, chị vừa là chị, là bà chủ đã vói tay cứu em. Cái đó người ta gọi là…”. “Ý anh nói là loạn luân chứ gì? Nhảm nhí”. “Tôi van chị”. Tỏ chắp hai tay lại trước ngực. “Anh nhảm nhí mà tôi cũng nhảm nhí nữa. Có lẽ mình nên dừng để đầu óc tỉnh táo, để cảnh sát không phát hiện một người say lái xe trên đường, phải không?”.


Lụa lái xe thật chậm, không mở miệng nói câu nào suốt dọc đường về. Tỏ liếc ngang thấy môi chị mím lại, mắt đăm đăm nhìn về phía trước như thể chị đang nhìn vào vòng ngắm của tấm bia chuẩn bị bóp cò. Vẻ căng thẳng ấy chuyền sang Tỏ khiến anh tỉnh hẳn. Trong hai người, Lụa và anh ai sẽ là lát bánh mì nằm gọn trong chiếc dĩa trên bàn ăn? Lúc ngồi ở quán chị ta nói vật hiến tế? Vật hiến tế là gì nhỉ, anh không thể nghĩ ra, không hiểu được; mơ hồ rằng đó là sự mất lửng giữa vinh quang và cay đắng, niền vui và nỗi thống khổ trộn lẫn vào nhau?
Anh cảm thấy lòng mình thật trống trải. Trống trải đến vô cùng vô tận.

(Trà Vinh, tháng 7.2008)


_____________

(1) Dike, Aphrodite: nữ thần công lý, nữ thần sắc đẹp và tình dục
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-12-07 11:02:48hai1957>
Người Đàn Bà Bay Trên Mây


NGUYỄN LỆ UYÊN




Thông tin về việc bà Sáu Linh bị ngã từ thềm nhà xuống sân lan nhanh như vệt dầu trên mặt nước. Đầu trên, xóm dưới ai cũng hay. Mọi người hớt hãi, ùn ùn kéo tới đông nghìn nghịt. Người sau vin vai người trước hỏi: Bị làm sao không? Nghe nói té cái đùng. Té từ hiên xuống sân. Té kiểu đó thì còn gì thân!... Tiếng ai đó trong bọn rên lên: Thiệt vô phúc.
Vòng trong vòng ngoài lèn cứng. Họ ngồi trên bờ sân, níu hàng rào bông bụt, đứng lố nhố ngoài truông nhóng vào, cố sao cho cặp mắt mình được chạm tới thân thể bà Sáu Linh, nhìn thật rõ ràng sự thể bà ngã bổ nhào. Nhưng chỉ chừng đó, không ai biết được gì thêm, bèn quay ra bàn tán:

-Thằng Quảng mới lạ. Làm lớn thế, lắm tiền nhiều của, quyền lực cùng mình không nuôi nổi mẹ mà lại đổ lên vai thằng què.

-Đâu mình thằng Quảng, cả con mụ vợ “trời đánh” của nó nữa?

-Con với cái!

-Tội thằng què.

Thằng què mà họ nói tới là đứa con trai út, bị dị tật bẩm sinh từ nhỏ. Hai ống chân không khác ống thổi lửa, khuỳnh ra tưởng chừng không đủ sức đỡ lấy tấm thân. Hai cánh tay bỏ thõng chưa đụng tới hông với những ngón cong vẹo và chiếc đầu khác người khiến nó được tiếp đón với một thứ tình cảm vừa thương hại vừa kinh hãi. Chiếc đầu càng lạ hơn: dài và lớn, gắn hai mắt như hai viên bi quá cỡ, mỗi khi nhìn ai thì hút lấy như thôi miên. Tia nhìn của thằng què sượt lên mắt người đối diện gây sự lạnh giá, dờn dợn trên những phần thịt da không thể che khuất cùng với cảm giác buồn buồn tiếp liền sau đó; số khác, ít hơn, không nghĩ vậy, mà thấy đó là tia nhìn hiền dịu như cặp mắt Phật!

Thân hình kỳ dị ấy không thể là anh trai cày như bao thanh niên khác trong làng. Còn đầu óc thì không mụ mị, nhưng không thể nghĩ được chuyện gì lớn hơn ngoài việc nấu cơm, tắm giặt, thắp nhang trên bàn thờ tổ tiên bất kỳ lúc nào nó thích. Rất nhiều lần Quảng bàn với với mẹ “gửi nó vào trung tâm xã hội để mẹ bớt cực”, nhưng bà Sáu nhất mực từ chối, nói: “Nó là núm ruột của tao, không thể dứt bỏ như liệng vật thừa ra bãi rác” Và bà đã nuôi nó cho tới khi mắt mờ, tai nghễnh ngãng, lưng còng xuống.

Giờ thì thằng què nuôi bà mẹ già chín mươi com cóp như ngày xưa bà nuôi nó, yêu thương nó. Nó đỡ mẹ ra thềm giếng thọc chiếc gáo sút cán vào khạp nước xối lên người, kỳ cọ; gội đầu mẹ bằng nước lá chanh, lá sả… lau chùi sạch sẽ; mùa lạnh nó biết vùi những cục than hồng trong chậu tro đặt dưới chõng tre, kéo tấm mền đắp ngang ngực… Bà đôi lúc cũng hứng chí giúp nó lặt mớ rau tập tàng, đẩy que củi vào bếp lửa, ngồi canh nồi cá kho… Hai người cứ thế vịn nhau qua ngày tháng. Và có lẽ cũng không ai buồn nhớ đến Quảng, ngay cả ngày giỗ cha.

-Không xong rồi – Ông Chín Cư từ trong nhà vẹt đám đông đi thẳng ra sân, vuốt mồ hôi trán thông báo - Bị nặng lắm, thầy Ba nói thế.

-Là sao?

-Tai biến chớ còn sao nữa!

-Sao không chở đi cấp cứu?

-Đợi mấy ông mấy bà nhắc. Kêu xe rồi chớ sao không.

Nói và Chín Cư bỏ đi thẳng trước sự ngơ ngác của mọi người vì sự thể đến với bà Sáu quá đột ngột. Họ chậc lưỡi, hít hà tỏ rõ lòng thương với bà Sáu và cảm thấy gần như bất lực trước sự không may của người hàng xóm tốt bụng. Những tiếng thầm thì cứ trôi đi cho đến lúc từ phía đầu xóm có tiếng nổ phèn phẹt như tiếng khạc nhổ của người ho lao.

Chiếc xe lam ba bánh xịt khói trờ tới. Mọi người nép sát bờ rào tránh chỗ. Tiếng khóc sụt sịt với dài theo sau bà Sáu được hai người đàn ông khiêng trên đôi chân không ra chạy. Thằng què bước lủn củn sau mẹ đang nằm ngang trên đôi tay vững chắc của người hàng xóm, mắt ráo hoảnh, vô hồn nhìn mọi người.
Người lái xe tháo hai băng ghế ném lên mui để lấy chỗ trải chiếc chiếu, đặt bà Sáu. Bà nằm thẳng đơ. Mắt nhắm nghiền, bọt mép sùi ra chùi chưa thật sạch.

Thầy Ba la lớn:

-Vào nhà lấy chiếc nệm trải lên, sao lại đặt bà cụ nằm trơ trọi trên sàn xe nhớp nháp thế này? Cả chiếc mền nữa.

Tiếng than não nuột cất lên:

-Khổ thân bà già. Ai đời có con làm lớn mà gần xuống lỗ không được hưởng lộc.

Giọng già, rất già, phều phào cất lên:

-Con cái gì ba cái đồ đó.

Xe lại nổ phèn phẹt. Khói xịt đen một góc truông kín cây dại và rác rưởi. Chiếc xe khọt khẹt rướn tới với nỗi nhọc nhằn đang rung lên trong lòng xe theo từng cái xóc nẩy.
Tiếng máy nổ sừng sựt nhỏ dần, xa hút đâu tận ngoài bìa xóm. Thằng què chắp hai cánh tay ngắn cũn cỡn trước ngực, giọng vô cảm:

-Không sao đâu. Má tui đang bay trên mây mà.

xxx


Sáu Linh ra đi trên chiếc xe lam rách nát và trở về cũng trên loại xe ấy, không khá hơn. Hồi bà nằm trên xe ra đi thế nào thì về vẫn vậy. Mắt nhắm nghiền, thoi thóp thở không nói ra tiếng. Miệng méo xệch một bên như có người lấy cây sắt móc quai hàm bà kéo ngược lên vậy. Năm On và bà Hai Cọt, hai người đi theo bà Sáu ra bệnh viện, kêu “bác sĩ lắc đầu chê”. Mọi người trong xóm lại ùn ùn kéo tới thăm đứng chật một góc sân. Họ lật tung đầu óc, cố moi trong hóc nhớ những kinh nghiệm, bài thuốc dân gian cốt để giúp bà Sáu trở lại như xưa. Khốn nỗi có cả chục, cả trăm bài thuốc như vậy, nên cuối cùng không biết phải nghe theo sự bày vẽ của ai.

Bà nằm bất động trên chiếc chõng tre, ỉa đái một chỗ. Thằng què vừa bưng bô nước tiểu ra chưa tới đầu hồi đã ngửi thấy mùi hinh hỉnh, tanh lợm, vội vã quay lại, lóng ngóng thế nào cả bô nước và nó cùng ngã sóng soài trên nền đất. Hai cánh tay quạt ngang chưa qua khỏi đầu, giống như đang quạt nước trong đáy ao cạn. Nó ngạc nhiên nhìn bô nước màu xám cùng với thứ chất lỏng sền sệt, vương vãi lăn lóc bên cạnh, nhìn mẹ nhưng không khóc, chỉ ngạc nhiên tự hỏi, cớ sao mình lại có thể ngã một cách dễ dàng như vậy?

Suốt ngày nó quanh quẩn bên mẹ. Ai bày gì nó cũng nghe theo. Những bọc cây lá hàng xóm mang đến chưa nấu xong gói này, tiếp liền bọc khác. Cứ thế chất đầy bàn như kho thuốc nam ở trạm xá hợp tác xã. Và, nếu như những món thuốc ấy có hiệu nghiệm theo như sự đoan chắc của những người có tấm lòng, thì chỉ bằng ngần ấy, nội hơi của nó xông lên cũng đủ làm bà Sáu tỉnh lại đôi chút. Đằng này, hơi thuốc, nước tiểu, phân rơi vãi bám sâu dưới nền đất ẩm thành thứ mùi như mùi cháo cóc để lâu ngày! Được cái hàng xóm không ai phàn nàn, bịt mũi quay đi. Trái lại họ thay phiên nhau (lúc rỗi rảnh) lau rửa, mớm cháo cho bà. Những đêm trời trong, trăng sáng họ kéo tới ngồi chật sân, bàn về bệnh tình, về hậu sự cho bà.

Thầy Ba là người am hiểu y học trong xóm, người đầu tiên đưa ra nhận định, chắc như xỏ dây mũi trâu:

-Thím Sáu không thể nào bình phục được đâu. Bị nhũn não. Chỉ là sống ngày sống bữa, như cây già cỗi vậy, không hút nước nổi nữa thì nghẻo. Không lâu nữa đâu.

Tiếng Chín Cư lạp quạp do đôi môi thâm đen đang kẹp cứng điếu thuốc vấn to bằng ngón tay cái:

-Thằng Quảng không hay biết gì sao? Không ai cho nó hay sao?

-Chắc có chớ sao không. Nhưng do bận việc tỉnh tà gì đó nên không về được.

-Ô hay, nó từ đất nẻ chun lên, từ trời rơi xuống chắc? Một mình thằng què, cái thân nó lo không xong huống hồ cõng bà mẹ già nằm ngay đơ cán cuốc!

Xem chừng câu chuyện bàn tán có chiều hướng xấu đi, thầy Ba lái sang phía khác:

-Bữa tôi đọc tài liệu nói về tác dụng của nấm linh chi. Nó có thể chữa được chứng tai biến. Tất nhiên là từ từ. Ngặt cái: nấm ở đâu, tiền ở đâu?

-Tui cũng có nghe. Nó chữa bách bịnh - Một người nào đó từ phía sau gióng tới.

-Nghe đâu mắc gấp mấy chục lần sâm Cao Ly.

Giọng bà Hai Bánh tráng the thé cất lên:

-Dưới Tân Đông có bà già bị như chị Sáu, trượt chân té xuống thềm giếng, tay chân miệng mồm cứng ngắt, vậy mà thuốc thang gì cũng không khỏi, chở tuốt vô Tây An có bà thầy xông nhang xoa bóp, sờ mó đâu hơn tuần là khỏi liền.

Chín Cư nhổ nước miếng đánh phẹt xuống sân, ngay chỗ ông ngồi, nói như quát:

-Bá láp! Thời buổi này mà còn sờ với mó. Khéo tin, nhảm nhí.

Bà Bánh tráng cố cãi, giọng càng nhọn như chiếc kim may ghim vào màng nhĩ:

-Thì rành rành ra đó. Tui bày đặt ăn cái giống gì? Có ông mới bá xàm bá láp.

Lời qua tiếng lại kéo trăng lên tới đỉnh đầu. Cái lạnh giữa đêm bổ xuống khiến không còn ai đủ sức để tranh thiệt hơn. Mọi người lại đứng lên, lục tục kẻ trước người sau quay về với tổ ấm của họ. Căn nhà và góc sân trở lại vắng lặng. Thằng què kê ngay chiếc giường bố cạnh chõng mẹ, thỉnh thoảng đập muỗi bem bép. Tiếng đập nghe thật yếu trong đêm sâu.

Bệnh tình bà Sáu Linh ngày càng xấu đi. Tấm thân của bà giờ như con cá lép phơi khô. Hai hốc mắt sâu hoắm, tóc rụng gần hết. Chân tay như que củi mục. Chòm xóm đã gắng đến mức cuối cùng, nhưng thuốc đổ không vào, cháo không trôi qua khỏi cổ họng làm mọi người nghĩ ngay đến khu đất cạnh bầu nước Cò Ma. Duy nhất có một người không tin bà Sáu sắp sửa ra đi là thằng què. Nó vẫn tin mẹ sẽ sống đời với nó, sẽ phụ nó lặt rau, chụm lửa… Ánh mắt nó vẫn dờn dợn lạnh và vô cảm; vẫn nghĩ rằng bà đang bay trên tầng mây xanh. Và một người khác là thằng Quảng vẫn không hề về thăm mẹ lấy một lần. Nó đang bận túi bụi công việc tỉnh tà như cách nói của chòm xóm.

Nhưng thằng Quảng trong ánh mắt, suy nghĩ của mọi người chưa phải là thằng vô ơn, bội nghĩa và bất hiếu. Thế nào Quảng cũng về làng, dẫu hơi muộn, còn kịp nhìn thấy mẹ thoi thóp thở.
Và Quảng về thật. Ông về thăm mẹ trên chiếc xe bóng lộn.

Từ đầu xóm, người ta có thể nhìn thấy chiếc xe chạy chậm trên đường đất gập ghềnh. Bụi bốc mù phía sau cùng đám trẻ con chạy bám theo. Tiếng máy nổ xè xè nghe còn nhỏ và êm hơn tiếng cối xay quay lúa trên con ngỗng gỗ rào rào, cọt kẹt. Nhốn nháo, ầm ĩ cả một góc làng mùa tháng Ba là lũ trẻ con, vì lần đầu tiên chúng mới được tận mắt nhìn thấy chiếc xe đen trùi trũi. Chúng căng mắt tìm phía bên trong, nhưng chỉ thấy khung kính màu đen, bốn bánh xe và đám bụi mù bốc lên cao. Chúng vừa chạy bám theo vừa reo hò, vui như đám rước hội. Xe tới cây da Xà, không thể chạy được nữa vì đường hẹp, hang hố lồi lõm, mặt đường băm nát bỡi những súc gỗ lậu kéo lia qua trong mùa bão lũ, găm xuống. Anh tài xế còn trẻ bước xuống, đi vòng ra sau lom khom người mở cửa bên trái, lại chạy vòng sau đít xe mở cửa bên phải. Hai người một nam một nữ, kẻ trước người sau lần lượt nhoài người ra khỏi khung cửa thấp hẹp. Họ đều là trung niên. Ăn mặc sang trọng, khác với đám dân làng chỉ có bộ bà ba và pyjama để dành ăn cưới, ăn giỗ. Người đàn ông mập nung núc. Người đàn bà mặc robe hoa màu xanh, mang kính đen, tay trái xách chiếc bóp đầm, môi và móng tay màu đỏ chói. Bà vịn vai chồng, gần như ngã cả nửa thân người lên tấm vai rộng, khó nhọc bước trên đôi giày cao gót. Họ đi thật chậm như đi dạo. Thỉnh thoảng bà vợ níu tay chồng dừng lại, thở: “Em nói rồi, anh về một mình cũng được mà. Vào được tới trỏng, có khi cẳng em bị trẹo chớ chẳng chơi”. Ông chồng suỳ suỳ: “Còn mấy bước nữa thôi”. Bà vợ ngó chồng như kiểu gái già đưa mắt ngó anh trai tơ: “Em mệt thấy mồ”.

Cuối cùng thì vợ chồng Quảng cũng lọt qua chiếc cổng tre xiêu vẹo, đứng lọt thỏm trong chiếc sân gạch cũ nát, đất trồi lên nhiều chỗ, cỏ dại mọc tràn. Cả hai đứng ngó quanh quất hồi lâu mới bước lên thềm. Hàng xóm nghe nói Quảng về, lại vội vã kéo nhau chạy đến, không phải để cầu cạnh, xum xoe mà thực bụng muốn nhìn tận mắt ông quan đầu tỉnh, vốn là con dân làng này ra thể nào. Quảng gật đầu chào mọi người theo cung cách lãnh đạo, không thân không sơ; chẳng mặn nồng vồn vã mà cũng không ra lạnh nhạt. Dân làng không hề để ý bỡi họ không còn đầu óc đủ tỉnh táo để nhận xét. Ông ta có chào bằng những cái gật đầu mà không hề mở miệng cũng đã quí lắm rồi. Vả lại, thực lòng, bụng dạ họ cũng mừng. Mừng vì Quảng về sẽ có cách gì đó tựa phép màu để giúp bà Sáu thoát cơn hiểm nghèo; chí ít, bà cũng mở được mắt, nhìn mọi người chung quanh với nụ cười hiền cố hữu. Dẫu sao sự có mặt Quảng vẫn còn hơn thằng què với ánh mắt dờn dợn vô cảm luôn quấn quanh mẹ.

Hai vợ chồng vừa bước lên thềm đất, thì ngay sau đó bà vợ như bị điện giật, người rung lên rồi quay ngoắt lại, bụm miệng, bịt mũi chạy như ma đuổi ra phía vườn cây xơ xác. Bà ta nôn oẹ liên hồi, giống mấy bà đang ốm nghén.

Quảng chạy theo, đỡ hai vai vợ:

-Em làm sao vậy? Có sao không để nói chú Chánh đưa em về.

Người vợ hất tay Quảng ra khỏi vai trước khi oẹ lần nữa, rõ dài:

-Em đã bảo rồi. Anh về một mình có làm sao đâu. Sao lại đèo bòng cả em. Em đến chết mất.

-Thôi mà, phận dâu con dẫu có khó chút vẫn phải có mặt, không khéo xóm làng chê trách. Với lại lọt tới tai người khác thì sống thế nào?

-Mặc xác, em không biết. Em không thể nào chịu nổi cái mùi hôi thúi như xác chết để rữa lâu ngày thế kia.

-Em nói gì vậy? Thôi nào, đi vào kẻo…- Vừa nói giọng dỗ dành vừa đỡ vợ nhưng nhất định bà ta không chịu bước lấy nửa bước.

Quảng đành quay vào nhà một mình. Cái mùi hôi đến lợm giọng khiến ông có cảm giác trạo trực khó chịu, nhưng cố dằn lại và ngồi xuống chiếc ghế gỗ thừ người ra nhìn về phía thân người nằm tù hụ trong tấm mền ngã màu vàng ố. Quảng không nghĩ rằng đó là mẹ mình, một người phụ nữ cứng cáp, đã từng một mình gánh gần tạ gạo thay chồng đi dân công; một mình đội mưa mang thuốc men ra khu cho anh em, luồn lách qua các đồn bót…Nỗi thương xót ào tới bất chợt như cơn trốt đẩy ông đứng bật dậy, chạy lại cầm tay mẹ. Bàn tay lạnh ngắt, chỉ có lớp da bao quanh khúc xương lỏng. Quảng lật chiếc mền ra, tấm thân dán sát xuống tấm nệm mỏng. Tất cả đều lạnh lẽo, bốc mùi. Quảng nắm vai thằng què:

-Mẹ nằm như thế này bao lâu rồi?

Thằng què mở nụ cười vô cảm và ánh mắt dờn dợn lắp bắp:

-Mẹ đang bay trên mây đấy.

Ông thở hắt ra. Hơi thở đó nửa giống như biểu lộ sự bất lực, lòng hiếu thảo nửa như xua đuổi cái mùi khó chịu xa khỏi người ông. Quảng ngó lên bàn thờ trống trơ; tấm ảnh cha hoen ố không nhận ra mặt mũi và bát hương đầy chân nhang đỏ màu máu, nguội lạnh.

Một tia chớp vụt loé sáng trong đầu Quảng khiến ông rụt tay khỏi lớp da bọc lạnh lẽo, quay ra chiếc bàn long chân ngoài hiên, nơi một số đông người đang đứng ngồi nhóng vào, dõi theo từng cử chỉ của Quảng. Ông khẽ khàng ngồi xuống, lấy giọng thật nhỏ nhẹ:

-Thưa cô bác, trước, vợ chồng tôi cảm ơn cô bác đã giúp đỡ, chăm sóc mẹ tôi. Tôi có lỗi là không về sớm hơn. Mong cô bác thứ lỗi. Công việc dày kín, không thể tách ra mà đi được. Nay mẹ cũng gần đất xa trời, nhưng còn nước còn tát; xin cô bác để vợ chồng tôi đưa mẹ về dưới, được ngày nào hay ngày ấy.

Những người hàng xóm thở phào, thầm nghĩ: “Có thế chớ. Dẫu gì cũng mẹ”. Mọi người lại xúm nhau bàn. Kẻ xuôi người ngược, nhưng thảy đều với cả tấm lòng dành hết cho bà Sáu. Họ không mong gì bà bình phục như xưa. Nhưng nếu có ra đi thì cũng ra đi một cách thanh thản, bên con cháu, bên dâu một cách ấm áp. Không ai nói ra miệng, nhưng người nào cũng thầm khen phải, xử sự như vậy là hợp lẽ trời, hợp đạo lý làm người. Thầy Ba và Chín Cư là hai người luôn sốt sắn bởi tình nghĩa và tấm lòng bà Sáu dành cho họ trong những lúc khó khăn. Một trong hai người nói:

-Chú nói chí phải. Dưới tỉnh dẫu sao cũng sẵn thuốc, sẵn thầy. Biết đâu phước đức tổ tông để lại, thím mau lành bịnh.

Giọng Quảng nhỏ nhẹ:

-Dạ, cảm ơn mấy chú.

Bỗng dưng Chín Cư như chợt nhớ ra điều gì, vỗ trán:

-Uở, hồi nãy thấy thím…

Quảng hơi bối rối, nhưng cũng trấn tỉnh lại ngay:

-Dạ, cô ấy bị cảm cúm mấy ngày nay. Hồi sáng tôi kêu ở nhà nhưng cô ấy không nghe, nhất định đòi về thăm mẹ.

Sắc mặt Chín Cư bổng trở lạnh, nói hờ hững:

-Ờ hén, hèn chi…

Thầy Ba nháy Chín Cư, Quảng không nhìn thấy, tiếp tục giọng thảm não:

-Năm trước kìa, cô ấy kêu để đưa cụ xuống chăm sóc, có mẹ có con; để trên này một mình thằng Sanh không kham nổi, nhưng nó không chịu, cả cụ cũng không bằng lòng. Nói thế nào cũng không nghe. Đành để vậy.

Chín Cư lơ đãng ngó lên mái rui ễnh cong như muốn rụng, miệng lại kêu “ờ hén” khiến thầy Ba dùng chân mang dép nhựa tái chế đạp mạnh lên mu bàn chân trần Chín Cư đau điếng. Ông thở đánh phào, đứng lên:

-Chú nói cũng phải. Làm con… - và bỏ đi thẳng. Thầy Ba xớ rớ một lát cũng về theo. Bóng những con người chòm xóm “tắt lửa tối đèn có nhau” lần lượt khuất sau truông rậm. Quảng như người tỉnh ngủ, đứng vụt dậy bươn ra vườn. Vợ ông vẫn ngồi gục mặt, hai tay bụm kín miệng mũi mà nếu có ai đó vô tình nhìn thấy thể nào cũng nghĩ vợ Quảng đang ngồi khóc vì thương mẹ chồng. Quảng bước tới, ngồi xuống cạnh vợ.

-Mình đưa bà cụ về dưới đó.

Vợ Quảng trừng mắt:

-Đưa xuống làm cái giống gì? Trước sau bà cụ cũng mất. Cứ để trên này có tiện hơn không, xuống dưới ai lo, bộ anh tưởng tôi là con hầu phỏng?

Quảng cúi thấp, nói nhỏ gì đó vào tai vợ. Mặt mũi bà ta dãn ra:

-Vậy mà em không nghĩ ra. Anh thì có khác – Nói và bà ta níu tay chồng đứng lên như thể trước đó chưa hề có điều gì ghê gớm xảy ra.

xxx


Thẩm là đứa cháu họ phía bà sáu. Nhà nghèo, đông con nên chỉ học đến lớp Năm phải nghỉ. Bà Sáu thương tình, đưa về nuôi, cho ăn học tiếp nhưng chưa qua hết lớp Chín, không học nổi nữa, ở nhà phụ bà chuyện vườn tược bếp núc. Nó là đứa thật thà, giỏi giang. Trong nhà, ngoài sân, dưới bếp…đâu đâu cũng đều gọn gàng, ngăn nắp. Một lần về thăm mẹ, vợ chồng Quảng thấy vậy, nằn nì bà Sáu cho nó về ở với mình. Bà nghĩ bụng, dẫu sao ở với Quảng, miếng ăn, giấc ngủ ngon hơn, quần áo lành lặn hơn, nên bằng lòng, dù trong bụng không muốn xa nó.
Vợ Quảng đúng là loại phụ nữ tinh đời. Đánh giá về con người, sự việc hiếm khi sai. Thẩm không có biệt lệ dưới con mắt người phụ nữ lõi đời này, nên trở thành nhân vật phụ tin cẩn của hai vợ chồng. Công việc của Thẩm chỉ lau dọn phòng ngủ hai ông bà và phòng khách, nhận thư, quà cáp, trả lời khách đột ngột tới thăm khi cả hai vắng nhà. Tất cả mọi chuyện khác đã có hai người phụ nữ khác, đều là bà con gần bên vợ. Cuối mỗi tháng hoặc hơn thế, Thẩm được giao chở những thùng mì tôm, thùng sữa cũ mèm mà nặng như vác bao lúa trên quê, đến tiệm Tân Cẩm Hưng rồi quay về, chỉ có vậy. Nhiều khi nó cũng thắc mắc tự hỏi “gì mà lắm mà nặng thế” nhưng chưa lần nào tự ý hé ra coi trong đó là những gì, bởi bà Quảng luôn miệng dặn: “Ở nhà này chỉ biết làm, chớ tọc mạch hỏi han hay làm bất kỳ điều gì mà không được phép”.

Chính vì cái tính thật thà ấy mà bà Sáu nằm bệnh viện hơn tháng nay, Thẩm không hề hay biết. Cho đến buổi sáng nọ, hai ông khách đi trên xe con sang trọng gọi chuông. Thẩm mở cửa. Ông khách khẽ chào, lịch sự:

-Xin lỗi, chúng tôi đến thăm bác gái.

-Thưa, bà đi vắng từ sáng sớm ạ!

Cả hai người khách đều ngạc nhiên, vẻ mặt nửa mừng rỡ, nửa thất vọng:

-Bác đã bình phục rồi à, xin chúc mừng!

-Sao ạ? Bà tôi có làm sao đâu ạ?

-Cô nói… - Người khách chưa hết ngạc nhiên, và như nhớ ra, vỗ trán – Là chúng tôi hỏi thăm mẹ của anh Quảng kìa.

-Là bà Sáu? Có làm sao đâu. Ở tận trên quê chớ có bao giờ xuống đây đâu.

Bây giờ thì sự ngạc nhiên không phải hai ông khách lạ mà đang chuyển dần qua Thẩm. Hai người khách ngơ ngác nhìn vào mặt nhau, người nọ muốn hỏi người kia, nhưng câu hỏi đột ngột biến mất khỏi đầu họ. Một trong hai người lấy từ túi áo ra mẫu giấy nhỏ màu xanh, chìa ra cho Thẩm:

-Cô làm ơn đưa cho anh chị Quảng. Chúng tôi sẽ gọi điện thoại sau – Nói và hai người chào Thẩm lần nữa trước khi đóng sập cửa xe.

Tấm danh thiếp in bằng tiếng nước ngoài. Tiếng Anh. Vì học dốt nên nó cũng chỉ đọc, hiểu được mỗi chữ the và chữ and cùng tên họ không dấu của người đưa thiếp. Chắc có sự nhầm lẫn. Nó tự nhủ vậy và thôi không buồn tra vấn nữa.

Sau “sự cố” hai người khách lạ Thẩm mới để ý đến vẻ mặt của ông bà Quảng. Ông thì hốc hác hơn xưa. Bà ngược lại, bộ mặt khó đăm đăm với lũ kẻ ăn người ở đã rụng mất đâu đó ngoài đường. Càng bất ngờ hơn khi Thẩm nghe lỏm câu chuyện của hai vợ chồng trên sân thượng, lúc Thẩm đứng bên trong những tấm lưới đen phun thuốc định kỳ cho những giò phong lan treo kín nửa góc sau.

-Sao em không thấy thằng Thành…?

-Em đi mà hỏi nó.

-Anh mới lạ. Chính lúc này mới biết được đứa nào tình nghĩa, trung thành. Cái hồi nó chạy chức giám đốc, sao em thấy hình như ngày nào nó cũng xum xoe bên anh? Còn nữa, con mụ Ngàn từ hóc núi đưa về giữ chức quản lý dự án ngon ơ cũng không thấy đâu?

-Anh mệt mỏi quá lắm rồi. Em mà cứ chắc lép, vỡ lở ra thì đẹp mặt lắm đấy! Em cũng biết cả rồi. Có thuốc thần mẹ cũng không khỏi. Người ta tới thăm hỏi đã là quí. Em còn bày vẽ, gợi ý linh tinh - Miệng nói vậy nhưng bụng nghĩ khác. Những Thành, những Ngàn kéo lướt qua đầu ông như đèn kéo quân, những hình nhân chạy vòng vòng, không tách khỏi nan tre.

-Em chỉ muốn giúp anh thôi. Đây là dịp để anh biết ra ai là ai.

Họ còn nói gì nữa nhưng thấp giọng, không nghe ra. Vả lại điều Thẩm muốn biết là bà Sáu. Bà ngã bệnh, nhưng ở đâu thì không thể lần ra. Còn những mẫu đối thoại qua lại giữa hai người, Thẩm nghĩ chắc là công việc cơ quan, không liên quan đến tình hình bà Sáu. Nó muốn bước ra khỏi mành lưới đen, hỏi rõ ràng cớ sự. Nhưng muộn mất rồi. Họ đã đứng lên, bước xuống cầu thang.

Lúc hai ông bà dùng xong bữa cơm chiều (hiếm khi họ ăn cơm nhà), đang ngồi uống nước ở phòng khách sáng choang, lộng lẫy, nó định hỏi chuyện bà Sáu thì có chuông điện thoại reo. Bà Quảng thong thả với lấy chiếc điện thoại đưa cho chồng. Quảng một tay xỉa răng bằng que tăm nhọn tay kia áp chiếc điện thoại một cách hờ hững vào mang tai. Những âm thanh lít nhít trong máy, đến bà vợ ngồi bên cũng không thể nghe ra điều gì. Kịp khi ông Quảng quăng bừa cây tăm lên mặt bàn, giọng hớt hãi:

-Sao? Anh bảo sao? Được… được rồi… Tôi đến ngay.

Bà vợ níu cánh tay chồng:

-Gì vậy anh.

-Hình như mẹ mất rồi…!

-Bà ấy làm sao mà chết được? Rõ khéo… Công chuyện chưa xong…

Chính miệng ông Quảng nói ra và lỗ tai Thẩm thì không thể nghe lầm. Phích nước đang cầm trên tay suýt rơi xuống sàn. Trần nhà như xoay vòng vòng, kéo theo bà Sáu bay quanh nóc. Bà chết thật rồi. Nước mắt nó ứa ra. Bao nhiêu ý định với bà, nó không thực hiện được và vĩnh viễn không thể thực hiện. Tấm lụa màu mỡ gà bà Quảng cho nó cất kỹ dưới đáy túi xách, ống ngoáy trầu bằng bạc, chai dầu gió xanh và củ sâm thừa ông Quảng vất trong giỏ rác nó lượm lên, phủi sạch, cất kỹ… tất cả sẽ được gói lại, sẽ được mang về biếu bà khi có dịp. Vậy mà… Thẩm có cảm giác như ngón tay mình đang bị dần nát nhũn cho đến khi đứt ra, máu không chảy nhưng đau nhức.

xxx


Đám tang bà Sáu Linh đông. Rất đông. Lễ viếng phải kéo dài hơn thời gian lão hoà thượng chùa Diên Pháp ghi trong mảnh giấy trắng gấp làm tư. Phòng khách biến thành phòng tang lễ. Ảnh bà Sáu phóng to trong khung viềng đen. Nhìn bà Sáu thấy lạ, trẻ hơn đến vài chục tuổi, không thể nhận ra, duy nhất có đôi mắt là hiền hậu nhìn khách viếng tang với tấm lòng rộng mở. Họ lâm râm trước bàn thờ. Bà từ bên trong khung kính nhìn ra. Khói nhang nghi ngút. Những vòng hoa viếng đặt kín gian phòng. Trên bàn thờ, chiếc khay xưa cẩn ốc xa cừ đặt bên giỏ trái cây, chất chồng những phong bì phúng điếu dày cộp. Sau những cái vái lạy trả lễ, bà Quảng, đứng xế bên hông chồng lại thò tay lên khay, đỡ lấy những chiếc phong bì và cho vào chiếc túi xách đặt ngay dưới chân mình. Thằng con trai từ nước ngoài về, mặc bộ vét đen, đầu bịt khăn tang luôn lúc lắc thân người. Bên cạnh là cô bạn gái trông bộ dạng không phải là con gái Việt. Thỉnh thoảng nó rút khăn tay lau mắt. Không hiểu nó thương bà nội hay vì khói nhang cay xè và khách viếng đông đảo trong không khí oi nồng mùa Hạ?
Lễ viếng kéo dài khá lâu khiến bà Quảng có vẻ mỏi người khi cứ phải đưa tay tới lui liên tục. Cuối cùng thì một người đàn ông tóc hoa râm đứng ra đọc điếu văn. Ông Quảng từ trong bàn thờ bước ra nói mấy lời cảm ơn trước khi ông thầy lễ nhảy nhót loi choi, miệng ê a làm lễ di quan.

Chiếc quan tài phủ kín hoa dịch ra từ từ. Nhưng đôi chân như chân rết đưa lên thả xuống đều đặn hai bên hông quan tài, nhịp nhàng bò ra tới chiếc xe tang đang chờ sẵn ngoài đường. Một rừng người và rừng vòng hoa sáng rực đoạn đường dài. Những chiếc xe con nối đuôi nhau như một cuộc diễu hành, thật chậm…

Những người hiếu kỳ đứng hai bên đường kiễng chân nhìn theo đoàn xe tang có một không hai trong thị xã nhỏ này. Lấp trong đám đông lố nhố kia, có người đàn ông mặc bộ bà bà trắng, chân đất, môi thâm sì ngậm chặt điếu thuốc vấn đã tắt ngúm tự lúc nào. Níu một bên hông vạt áo trắng là một thằng người dị kỳ. Đầu to và dài. Hai mắt tròn to hơn viên bi quá khổ, tay chân khuỳnh, ngắn cũn cỡn. Nó ngơ ngác nhìn theo đoàn xe khuất tít tận trên ngả Bảy, rung rung vạt áo người đàn ông có đôi môi thâm: “Coi kìa, má đang bay trên mây kìa”.


Tháng 5/2010

(Tuy Hoà, tháng 3.2008)

Đăng nhập để trả lời
0
VỀ LÀNG


NGUYỄN LỆ UYÊN


Derrière chaque l’homme, il y a un enfant

Angel. V



Ông Xang gắng sức đạp liền mấy chục cái chiếc xe mới chịu nổ. Nó bật rung lên, ho lạch cạch như người bị hen suyễn, còn ông thì gần đứt hơi. Chỉ cần thêm mấy cái đạp nữa có thể ông sẽ khuỵu xuống. Ông đã già. Chiếc xe cũng già. Nó già gấp mấy lần con chó nhà ông đã rụng lông xơ xác, vảy tróc lên từng mảng ghẻ lở màu phân trâu. Ông thở hắt ra rồi tự nhủ “dù gì cũng phải cố đưa ông bạn già về làng một chuyến sau nhiều năm xa cách, như một bổn phận không thể cưỡng chống”.

Nhưng ông bạn Việt kiều hình như không nhìn thấy cảnh này, đang ngó nghiêng nhìn trời ngắm đất. Mãi đến khi chiếc xe hắng giọng ho khùng khục liên hồi thì ông mới quay lại hỏi “được chưa” rồi thản nhiên dạng chân ngồi lên sau yên cười hềnh hệch: “Ôi con ngựa già của chúa Trịnh. Con ngựa mới thật đáng yêu!”. Tiếng máy nổ át tiếng nói, ông Xang không nghe gì, chỉ có mảng khói đen khét lẹt phụt ra sau như cố lấy sức dướn tới một cách khó nhọc. Ông bạn Việt kiều cười hể hả: “Mấy chục năm về làng được đi xe ông như lý trưởng ngày xưa cỡi ngựa, ông hỉ?”. Ông Xang nghe tiếng được tiếng mất: “Chịu khó ngồi, nửa tiếng nữa tới làng”.
Làng của hai ông là xóm nhỏ nằm bên tả ngạn khúc sông uốn hình vòng cung trước khi chảy xuôi ra biển, bên này là con đường chạy song song với kênh dẫn nước nối đồng bằng với các vùng núi phía tây. Trước, cái làng ấy nổi tiếng giàu có nhờ ruộng đất phì nhiêu; nổi tiếng đá gà và và xóc dĩa kéo dài từ tết cho đến giáp mùa lúa tháng Ba. Con gái trong làng đẹp bởi nước da trắng, mắt đen láy nhưng khổ nỗi mông to như đít trâu cày, hai bàn chân thì bè ra như chân vịt. Mông to và chân bè vì những gánh lúa đè nặng lên đôi vai trên những bờ ruộng khấp khểnh, trơn lầy. Các cô ít ai ra khỏi làng, chẳng mấy người được học hành tử tế, cao lắm cũng chỉ hết bậc tiểu học để làm con tính, viết thư tình rồi lấy chồng đẻ con. Cuộc đời cứ vậy lặng lẽ trôi qua, không ai bận tâm, thắc mắc này nọ.

Cả hai, ông Xang và ông Tĩa Việt kiều đều xa làng khá lâu. Sau chiến tranh, một người lên thành phố kiếm sống và sống cũng tạm ổn; người kia lên thuyền vượt trùng dương và mang quốc tịch khác. Hai cảnh đời khác nhau, nhưng vì tình thân từ tấm bé nên mỗi khi hai người gặp nhau, từ thời trai trẻ cho chí tuổi già, thường bên cạnh nhau như hình với bóng.
Lần này ông Tĩa về nước sau gần ba mươi năm không hề biết đến mùi nước mắm, cá kho năm bảy lửa và khói bếp nên thấy cái gì cũng lạ, ăn cái gì cũng ngon, hệt đứa con nít mới lớn. Tâm trạng ấy chỉ lấp ló trong đầu ông Xang như đốm đỏ đầu cây nhang nhìn thấy từ xa, rất xa. Ngược lại, ông Tĩa thì luôn háo hức, hồi hộp, chờ đợi... rồi nó bật rên nho nhỏ khi hai ông nằm chung trên chiếc giường chỉ có chiếc chiếu trên tấm vạt tre: “Mai mình về thăm làng, hẻ. Cũng sắp tết rồi”. Ông Xang gạt chân bạn đang gát ngang qua bụng: “Còn ai đâu!”. Ông Tĩa chồm lên, thì thào: “Còn chớ sao không. Lùm tre, đọt dừa, đồng làng, con mương... với cô Hai Khảnh”. Ông Xang thở dài: “Tôi cũng không nhớ nữa. Còn sống thì chắc cũng phệu phạo, răng rụng hết rồi”.

Chiếc đèn ngủ trên vách tỏa chút ánh sáng nhòa nhạt. Mọi vật đều lờ mờ. Tâm trí ông Xang cũng lờ mờ về hình ảnh cô Hai Khảnh. Ông không thể hình dung nổi cô Hai ra sao. Không nhớ nổi. Lâu quá rồi, xa quá rồi. Nhưng ông Tĩa chắc nhớ rõ. Không nhớ sao lại nhắc đến? Mà nhớ là phải. Hai người đã có tình ý từ hồi học septième classe. Hồi đó chắc cô cũng đã phát mã, gò ngực mây mẩy, nước da trắng như trứng gà bóc vỏ khiến anh học trò Tĩa ngây ngất? Khuôn mặt đó, cặp mắt đó hẳn ông Tĩa lưu giữ mạnh mẽ trong đầu hơn bất kỳ ai. Về nước nhớ làng. Về làng bỗng nhớ người yêu trong mộng đã mốc meo từ kiếp nào. Nhưng chút bụi mốc ấy bỗng sáng lóa, trơn tru, mới mẻ đến bất ngờ. Hai ông bạn già tuổi quá bảy mươi tự dưng thấy lòng cồn cào nỗi nhớ bâng quơ, mỗi người nhớ về một chốn, một kiểu khác nhau.
Giờ thì hai ông bạn già đang trên đường về làng với chiếc xe máy cũ kỹ, thỉnh thoảng ho khan của người bị bệnh hen suyễn mãn tính.

Xe ra khỏi thành phố non cây số, bất ngờ ông Tĩa bấm vào hông bạn.

-Dừng, dừng lại!

Ông Xang ngó lui làm chiếc xe lạng đi, suýt đâm bổ sang lề bên kia.

-Chi vậy, bộ mắc tiểu hả?

-Không, dừng lại. Mình nhớ...

Ông Xang đạp thắng. Chiếc xe khi đứng yên cũng khốn khó như khi nổ máy lao tới. Ông bạn già ngoái chân ra sau bước xuống, đứng chống nạnh ngó ra hướng bấc:

-Ngôi miếu chỗ này đâu rổi nhẻ? Rõ ràng hồi nằm miếu tọa vị trên khu đất này mà?

-Ngôi miếu thờ thành hoàng?

-Đúng. Xưa kêu miếu Cây Da.

-Phía trên kia, non cây số; nhưng nó biến mất rồi, biến từ khuya!

-Sao vậy? Bão sập, lũ nước cuốn trôi?

Ông Xang xa xăm.

-Bão lũ con khỉ gì. Hồi vô hợp tác xã, mấy ông cán bộ kêu “không có thần thánh gì sất, mê tín dị đoan. Phá đi để làm sân kho, phải duy vật, phải biến nó làm ra của cải chớ không để chình ình ra đó, choáng đất...”.

-Trời đất, không có người tiên phong mở đất lập làng thì làm gì có chốn này. Một thẻo đất nhỏ để phụng tự người có công mở đất mà kêu dị đoan với mê tín!

-Thôi đi. Công trạng coi như đã hoàn mãn. Giờ thì qua chương khác, phải làm ra của cải. Nghe nói hồi đó mấy lăng tẩm, đền miếu ngoài cố đô còn bị phá huống chi ngôi miếu nhỏ này. Lên xe ông bạn, trưa rồi – ông Xang nói như ra lệnh.

Chiếc xe khốn khổ rên lên rồi lấy hết sức bình sinh dướn tới, lẫm chẫm giống đứa trẻ mới tập đi. Nó loạng choạng không hẳn vì sức nặng của ông bạn ngồi sau mà đơn giản nó quá cũ kỹ, rệu rã chỉ năm thì mười họa mới lôi ra dùng; như bữa nay nó lấy hết hơi tàn lực kiệt để đưa hai người về làng, như một cách trả đền ơn nghĩa cho những tấm lòng thiết tha đến cố hương. Ông Xang có cảm giác mắc cỡ với bạn vì sự chậm chạp, ọc ạch. Nhưng ông Tĩa thì không thấy thế, sự chậm chạp kia giúp ông có đủ thời gian quan sát mọi vật chung quanh. Đó là dòng nước trong xanh từ đập chắn ngang khúc sông lớn đưa về. Nước len vào các chân ruộng đang thì con gái. Mùi thơm nhẹ của cây cỏ, đất bùn phảng phất trong gió hiu chút nắng buổi sáng. “Giá có chút khói đốt đồng” ông nghĩ thầm trong đầu. Thứ khói đó chỉ có ở các làng quê trong nước, lừng lựng thơm như một loại nước hoa khác biệt với thế giới cơ khí, nhôm nhựa! Chỗ ông ở thỉnh thoảng vẫn có khói, nhưng đó là những đám khói cuồn cuộn trong các vụ cháy rừng. Khói mù mịt, nồng nặc đến ngạt thở, co giò chạy thục mạng, lên xe phóng như tên bắn; loại khói của nỗi hoảng loạn khi chúng men tới sát mép rìa khu thị trấn. Dễ đến ba bốn lần ông hít phải thứ khói ấy với nỗi sợ hãi mình sẽ bị thiêu cháy tức khắc!

Phía trước, ông Xang bất ngờ đưa cánh tay khẳng khiu ra và bất ngờ ngoặc sang trái để rẽ vào đoạn đường trải sỏi đỏ hỏn. Ông Tĩa chồm tới:

-Đi đâu vậy, cua vào đây làm gì?

-Thì vào làng mà – Ông Xang trả lời.

-Làng? Làng mình nay giàu thế sao? Cả một dãy nhà lầu kia dân làng xây?
-Không. Khu công nghiệp tiểu thủ công nghiệp đó.

-Hồi xưa chỗ này là đồng lúa phì nhiêu, sao tự dưng đi làm khu công nghiệp?

-Không biết. Ở trên ấy. Họ nói công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn mà!

-Ôi trời! – Ông Tĩa kêu lên nức nở như chính mắt mình nhìn thấy ông bạn bị chôn lấp bên dưới lớp cát nền khu công nghiệp.

-Lạ thiệt – Ông Tĩa tiếp tục rên.

-Có gì mà kêu lạ. Rất bình thường. Ruộng đất của nhà nước, họ muốn làm gì thì làm, nông dân đâu có quyền kêu ca. Cả ngàn mẫu ruộng tươi tốt bỗng dưng lấp trọi, rồi đưa cho thằng giàu làm cái sân banh, đánh trái gì trăng trắng như trứng vịt đấy.

- Bố siệt!

-Gì? – Ông Xang ngoái lui hỏi.

Ông Tĩa không trả lời, cảm thấy ngưa ngứa bên mang tai.

Phải khó khăn lắm hai ông bạn già mới hỏi thăm được nhà bà Hai Khảnh.

Đó là căn nhà ngói cũ kỹ, xây theo kiểu chữ đinh nằm khuất sau mấy hàng cau, bưởi... Trên khoảng sân hẹp lèo tèo mấy chậu cây cảnh cành lá xác xơ, hình như chẳng mấy khi được chăm sóc. Xe dựng bìa sân. Con chó từ trong nhà nhảy xồ ra sủa từng tràng dài như muốn xua đuổi hai người khách lạ. Lát sau người đàn ông có chòm râu bạc quăn queo, ở trần từ sau bếp bước tới, tay còn nắm cây rựa cán dài:

-Hai ông hỏi ai?

-Dạ chúng tôi là bạn cũ của chị Hai. Chúng tôi học chung lớp từ hồi nhỏ. Mấy chục năm... – Ông Xang tiếp tục kể lể dông dài. Người đàn ông vừa nghe thỉnh thoảng lại lắc đầu nửa như tin như ngờ:

-Chết rồi. Chết năm ngoái. Bị tăng xông.

Ông Tĩa chưng hửng, quay mặt đi trong khi ông Xang còn kịp thốt ra một câu không biết để an ủi người chồng góa vợ hay an ủi ông bạn già luôn bao phủ quanh người một thứ mùi hăng hăng, chua chua của loại bánh mì kẹp thịt ở xứ lạnh:

-Tội nghiệp.

Chủ nhà dựng cây rựa vào tấm phên liếp:

-Mời hai ông vào trong này – Nói vừa chỉ tay vào nhà.

Đúng là loại nhà không có bóng dáng phụ nữ, ông Tĩa thầm nghĩ trong đầu, nhìn quanh. Mọi thứ đều lộn xộn, đặt ở những vị trí không mấy thích hợp: Cây chổi dựng ngay cửa đi, phích nước đặt dưới nền xi măng, bó rau đã héo nằm chỏng chơ gần bậu cửa... Tất cả như muốn kêu lên rằng “chúng tôi cô đơn”.

Bỏ mặc ông Xang hỏi han này nọ với chủ nhà, ông Tĩa đứng dậy vừa nói vừa bước tới bàn thờ nằm khuất trong góc tối “ Xin phép anh tôi thắp chị Hai cây nhang”, nói và đứng bật lên, bước tới.

Chị Hai đang ngồi trong khung kính, trước mặt ông Tĩa. Trên bàn có nải chuối chín rục lặng lẽ trên cỗ bồng, bát nhang cắm đầy chân màu son và hai cây đèn sáp hai bên cháy phân nửa còn đọng lại những dây sáp thòng thòng như những giọt nước mắt chưa khô. Ông Tĩa cảm thấy bùi ngùi khi nhìn lên bức chân dung người quá cố: Chị Hai mặc áo nhung đen quần trắng, chân vắt chéo trên chiếc đẩu có vai tựa, bên cạnh là chiếc bàn con có lọ hoa và bình trà cùng chén tách. Chị Hai xương xẩu, môi được tô đỏ, chân mày vẽ cong cố nở nụ cười với ai đó trước mặt nhưng không tươi. Duy nhất có đôi mắt vẫn còn giữ được vẻ sắc sảo ngày nào. Đôi mắt ấy đã nới với ông bao điều giờ bị đóng cứng trong khung kính với cái nhìn xa xăm, khiến ông nhớ lại những năm tháng cũ, có lần nhìn thấy cô Hai đứng bên góc rào với tay hái những lá mồng tơi, bồ ngót. Bàn tay trắng thon lướt trên những phiến lá màu lục diệp. Cô dướn lên, mông như phình ra đỡ bộ ngực căng tròn, làm điểm tựa cho đôi tay thoăn thoắt. Ông ngắm mãi, ngắm mãi...

Giờ này cô Khảnh không còn tồn tại trên thế gian này, nhưng trong tận cùng tiềm thức ông vẫn nhìn thấy rất rõ những ngón tay búp thon, chiếc mông tròn căng. Và rồi ông ao ước giá như ngay lúc này có nồi canh tập tàng mồng tơi, bồ ngót, sẽ không ngại ngùng vừa ăn vừa nhìn cô trong khung kính.

Ông Tĩa đứng thật lâu, lâm râm cầu khấn thật lâu khiến ông bạn già bên ngoài chột dạ, ái ngại. Nhưng với ông thì chẳng hề chi. Ông chưa làm gì lỗi đạo, chỉ muốn nói với người đang ngồi bên trong khung kính rằng ông về thăm với tất cả lòng thành. Tiếc là không được gặp nhau để nhắc lại những chuyện cũ, những chuyện rất vu vơ của thời trai trẻ: Nói với nhau bằng ánh mắt, giữ trong nhau bằng những nhịp tim đập thình thịch của thứ mặc cảm phạm tội bị câu thúc bỡi lễ giáo, gia phong . Chỉ có vậy. Một chút xíu thôi, nhưng nhớ đời.

Ông Tĩa quay ra. Ánh mắt hình như ẩn một chút lạ. Ông ngồi xuống đỡ tách trà nguội ngắt từ tay chủ nhà.

-Cảm ơn hai ông. Nhà tôi đơn chiếc. Lũ nhỏ đi làm ăn xa, ở mỗi đứa một nơi, năm thì mười họa mới về.

Chỉ với mấy câu ngắn ngủn đó cũng đủ vẽ nên bức tranh về gia cảnh của người đàn ông vừa mất vợ, cũng đủ để ông Tĩa và ông Xang chạnh lòng.

Họ tiếp tục câu chuyện, hạ thấp giọng, bùi ngùi an ủi, ngân ngấn cảm thông. Họ nói đủ chuyện cho tới lúc như không còn chuyện gì để nói nữa bèn đứng lên chào nhau. Ba người đàn ông cùng bước xuống thềm bằng những bước chân nặng nhẹ khác nhau.

Chiếc xe rên từng hồi dài như người hấp hối, cọc cạch dướn tới đưa hai ông già ra khỏi ngõ, luồn vào truông tre tối thui.

Đăng nhập để trả lời
0
VÒNG TRẮNG BAY


NGUYỄN LỆ UYÊN




Từ tấm bé, anh chưa bao giờ được ở trong căn phòng rộng rãi, tiện nghi như thế này. Chiếc giường đôi phủ tấm trải trắng tinh, phía dưới là chiếc mệm mút lò xo. Gối hoa đầu giường. Dưới đuôi tấm màn cuộn tròn như chiếc gối ôm. Anh để nguyên áo quần nằm lên. Nằm lên và nhún. Cảm giác êm ái như thể tấm thân anh là sinh vật bé nhỏ bám cánh diều chao lượn trên không. Nhún một hồi, anh nằm im, ngó qua phía hông vách tường. Chiếc tủ đứng bóng đến độ soi thấy cả bộ mặt đen sì của mình. Bộ bàn thấp có hai ghế đẩu hai bên với ấm chén, phích nước. Sát cạnh là chiếc ti vi đặt trên chiếc tủ con kèm theo máy điện thoại màu trắng. Ngó lên cao chút nữa, đụng trần là máy điều hoà nhỏ, thở êm như tiếng thở của vợ con anh trong giấc ngủ sâu. Anh nằm yên lắng nghe và nằm yên nhìn ngó. Anh mở miệng cười với riêng mình, nụ cười xếch ngược có những cọng râu lởm chởm bên trên móc lên.

Đúng là từ trên trời rơi xuống. Cái mảnh giấy hoa từ trời rơi xuống đụng phải anh: báo cáo điển hình nông lâm kết hợp. Anh chả biết cái con mẹ gì về nông lâm kết hợp khi ông Khang cầm tờ giấy xoay tròn thành nhiều vòng trước mắt anh với niềm phấn kích: “Sướng nhở, chú được vi vu ăn chơi rồi, sướng nhở”. “Giỡn hoài”. “Thiệt chớ sao lại đi giỡn với chú? Người ta ghi tên mời chú hẳn hoi đây này?”. Anh cầm tờ giấy ráp từng chữ, lầm nhẩm đánh vần rồi trả lại. “Không đi đâu cả, còn vườn cà phê chưa tưới”, anh vung vẩy cây cào cỏ trong tay. “Cà phê cục kii…ít”, ông Khang rít lên như con rắn lục ăn đêm. “Người ta mời thì cứ đi. Mất mát chi”, vợ anh bưng rổ rau đi ra phía khạp nước vừa nói. Giọng nói thật tròn, rớt theo sau.
Trước chuyến đi một tuần, mấy anh quay phim mò về. Chiếc xe 4 bánh đen trùi trũi như con trâu mộng nhà ông Tổng đỗ xịch trước cổng, đứng yên. Chiếc xe đứng tại chỗ bất động chứ không chồm lên lưng những con trâu khác, không rượt đuổi những con trâu khác suốt buổi. Bầy chó ùa ra sủa găng gắc và thụt lùi theo từng bước chân của bầy người bước tới. Mấy đứa con đứng khép bên cửa nhìn đám người vác những giá đỡ ba càng, giây nhợ, túi xách từ dốc ngược lên, sợ hãi.

Họ chào anh. Anh cũng gắng gượng nở nụ cười có những chiếc râu lởm chởm trên mép xách lên. Họ kêu chúng cháu là đoàn làm phim và hỏi anh đủ chuyện. Anh hụt hơi trả lời, lưỡi miệng líu quíu. Anh cảm thấy mình giống như thời khắc mấy chục năm trước, Ban quân quản gọi anh kê khai chuyện lính tráng, hỏi tại sao không vô bưng mà đi theo địch, mấy lần đốt nhà dân, bao nhiêu bận hãm hiếp, cướp bóc.... Anh vừa nói vừa thở phì phì như trâu kéo cày giữa đồng nắng buổi trưa. Họ lại kêu anh đưa lên cánh rừng, giả bộ rong cành nhánh những cây keo lá tràm, xoài mít thiếu chút nữa phập luôn bàn tay trái; cầm cuốc xới xới mấy gốc cà phê; lại kêu đứng cạnh đàn bò đàn dê, hốt nắm cám quăng xuống ao cá, lại quay về nhà đứng cạnh chuồng gà, bơm nước tắm heo trong khi vợ anh bưng thau thức ăn đổ vào máng. Những con heo béo nung núc vừa mới ăn xong giờ cứ đứng nghếch mõm ngó đám người ăn mặc sang trọng như muốn hỏi: Các ông định đưa tụi tôi vào lò mổ ngay lập tức sao. Trong khi đó đám trẻ con đứng lố nhố dưới chân dốc, nhóng cổ nhìn với lên, không dám xán lại gần.
Xong việc, vợ anh bưng lên mâm thu đủ chín. Mọi người vừa ăn vừa khen ngọt. Anh thanh niên như là cấp trên của bọn họ, người thấp lùn, mắt ti hí, trán ngắn, giọng nói đớt đát; ăn xong miếng thu đủ, đứng dậy ra vườn ngó trời nhìn đất chán, chậm rãi bước tới gốc mít, đưa tay mân mê quả mít đang bốc mùi thơm như thể một thứ của lạ. Những ngón tay nung núc vuốt ve, sờ nắn trái mít như đang xoắn vào đôi vú căng cứng của người thiếu phụ. Anh nhìn thấy và hiểu ra. Hiểu ra rồi xách rựa dựng sẵn ở góc phên chặt liền một lúc sáu trái đủ cho sáu người, khệ nệ bưng để bên hông xe. Anh cười hì hì, giọng cầu tài: “Chút quà lấy thảo, loại mít dừa lai nghệ thơm ngọt như đường phèn”. Họ bắt tay nói cảm ơn chú và thêm: “Trưa mốt nhớ mở máy ra coi chú nhé!”.

Chiếc xe nổ máy, lao xuống dốc thật nhanh chỉ kịp để lại vệt khói đen vất vưởng trên vạt cỏ bên đường. Tiễn bọn họ có tiếng gù gù của con cu cườm, tiếng lẹt chẹt bầy sáo nâu và tiếng chim chèo bẻo gióng từng tràng dài như tiếng phèng la. Tất cả những âm thanh ấy phát ra đâu đó trên những chỏm cây cao, không ai nhìn thấy

.
Họ đi rồi mà anh chẳng hiểu ra làm sao, cho tới bữa thấy mình vung vẩy trên máy, đứng khép nép bên sân nhà, căn nhà ba gian vách phên tre mái lá như chực ngã bổ nhào trước màn hình, run run giơ cao chiếc rựa, vung nắm cám, đưa vòi nước qua lại trên lưng đàn heo…Anh không hiểu mình đang nói gì, làm gì chỉ thấy hình ảnh mình bay chập chờn trên mặt kính rồi tắt phụt, chuyển qua những đoạn khác, của người khác. Anh ngẩn ngơ muốn kéo níu lại lần nữa, nhưng tắt mất rồi, qua mất rồi. Mấy đứa con anh xem hết đoạn phim kêu lên: “Cha thiệt ngộ”, rồi bỏ chạy xuống đồi, chắc chúng lội suối mò cá mương, bắt cua đá. Nhanh thật, anh thầm nghĩ. Mới cách bảy tám năm thôi, ngọn đồi này còn um tùm lùm bụi, dây leo chằng chịt mà giờ đã thành khoảnh, đã có tiếng chân người khua động. Tiếc là con Mực không còn để nó vẫy đuôi cùng bọn trẻ chạy xuống suối, sục sạo trong rừng cây.


Ông Khang quần ống thấp ống cao, dựng chiếc xe đạp không phanh, hai bàn đạp là hai que sắt nhọn hoắc, bên cây đỏ, trái mọc từng chùm từ sát mặt đất treo ngược lên giữa thân, hùng hục leo lên mấy bậc đá, mặt mũi đỏ gay, mồ hôi nhỏ thành giọt :
“Thấy không, tôi đã bảo rồi mà. Chú ăn nói được lắm. Lên hình đẹp lắm. Cả xứ này chỉ mỗi mình chú là được lên ti vi đấy thôi nhé! Ông chủ tịch, ông bí thư đừng hòng. Sướng nhở?

Anh ngó ông Khang, ông Khang ngó anh:

“Sao vậy?

Anh định nói “làm sao coi lại hình của mình chạy trên mặt kính ti vi”, nhưng anh kịp dừng lại khi thấy ông Khang chìa tờ giấy ra.

Cầm tờ giấy trong tay, không mở, anh xoay qua trở lại. Ông chủ tịch nông dân xã có tên Khang nhổ phẹt bãi nước bọt xuống nền đất:

“Cái con mẹ nhà chú. Là được đi chơi xứ người, đi báo cáo điển hình. Có ai được ưu tiên như nhà chú không, hở?

Anh gãi đầu:

“Nhưng tôi có biết báo gì đâu. Ông để người khác đi đi.

Ông chủ tịch Khang phồng má:

“Chú ngu thế!

Anh chìa tờ giấy ra:

“Kệ, ngu chịu ngu. Tôi chả biết viết sao, nói sao. Với lại cà phê đang kỳ tưới? Má cu Lít nói mùa này cà phê mà trúng sẽ cho ông mượn để sửa lại cái nhà.

Ông chủ tịch điên tiết:

“Cái củ kee…ẹc, đ. cần, rồi chìa cuộn giấy trước mặt anh: Này, người ta viết sẵn cho chú rồi. In chữ bự chảng như trứng vịt nhà chú ấy. Từ nay tới ngày đi, bữa nào cũng lôi ra đọc, đọc vài ba bận để khỏi bể dĩa khi đứng trước cử toạ…Cả tỉnh chỉ mình chú biết không? Phải mang tiếng thơm về cho tỉnh, cho huyện, cho xã và cả hóc xó này, hiểu chưa? Chú mà không đi thì đừng hòng ở lại cái hội này. Lính tráng cái con mẹ gì chú. Chưa chi đã rụt cổ như rùa!

Ôi quan trọng vậy sao? Anh run lên. Thà đi chặt cây, vác đá từ núi cao coi bộ còn dễ chịu hơn cái bửng cầm tờ giấy, đánh vần trước đám đông xa lạ. Xấu hổ chết. Học hành năm ba chữ, đủ để làm con tính cộng trừ tới số trăm, giờ kêu đứng trước đám đông đọc báo cáo. Chết mất. Chết mất thôi!

Lo lắng, bồn chồn chán rồi cũng nguội lạnh để giờ này anh nằm lăn trên tấm nệm trắng tinh, mát và ngột ngạt. Mùi thiu úng trong phòng khiến anh ngột ngạt. Bất giác bàn tay trái đụng phải chiếc giày còn dính dưới gót chân nứt nẻ. Anh cởi quai đưa lên tận mũi. Mùi thơm da thục xộc vào. Đôi giày mới nguyên. Đôi giày vợ anh hộc tốc cỡi xe ba chục cây số, xuống chợ thị trấn mua về khi nghe ông chủ tịch nông dân nói như ra lệnh “chú phải đi thôi”. Lần đầu tiên sau hơn ba mươi năm mới lại có dịp xỏ chân vào đôi giày, anh cảm thấy vướng víu, như bị hành khổ. Giờ thì đôi giày cùng anh ở trong căn phòng sang trọng. Người nằm trên giường êm, giày thì dưới sàn lát gạch hoa. Nó có cảm thấy thoải mái như anh vừa phát hiện thứ mùi lạ kia không? Cả hai thật nhỏ bé. Nhỏ bé đến vô cùng.

Đến hơn ba mươi năm sau, anh lại vướng phải của tội nợ này, như lần đầu tiên anh bị xỏ chân vào đôi giày da mà đám bạn lính kêu “bốt đờ sô”. Ba chục ký nào cơ số đạn, quân trang, quân dụng thêm chiếc mũ sắt đến năm ký và cây súng tám ký còn nhẹ hơn cây cày vác vai. Nhưng đôi giày thì không thế. Nó như đôi cùm, riết lấy đôi bàn chân anh trai cày suốt tháng này qua năm khác, đôi bàn chân đã từng để trần dẫm nát những tảng đất trên đồng ruộng, làm cho mặt đất rên siết, run rẩy. Gót chân nứt của anh đã ấn không biết bao nhiêu dề đất nát nhão như cháo đang sôi ùng ục trong nồi.

Cái thời ấy đã xa quá là xa, nhưng mỗi khi chợt nhớ anh không khỏi phì cười: “lính tráng cái nước mẹ gì nhà chú” như ông Khang vẫn hay văng ra mỗi khi không hài lòng về anh trong những chuyện vụn vặt. Nước mẹ gì. Thật là không nước mẹ gì. Hai năm lính là hai năm giặt giũ, nấu cơm, bưng nước cho hết người này đến người khác. Ai nói sao, bảo sao anh cũng nghe theo. Nghe theo và lẳng lặng thi hành nhiệm vụ. Thằng Sáu Trớt, binh nhất, dân Quảng Ngãi, hơn anh một cấp mỏng như tờ giấy vấn thuốc, còn hô: “Nghiêm! Binh nhì Ba Đọt chạy qua kia cầu mua ly cà phê đá cho qua coi. Anh đứng nghiêm chào, hô “tuân lệnh” và chạy vụt đi. Vậy đó, chỉ còn thiếu vo tròn cục giấy chùi đít cho binh Trớt là đủ. Anh phì cười, kêu lên: Nhảm nhí.

Nhảm nhí thật. Cuối cùng đời lính của anh là ra đứng gát cầu. Cây cầu dài chừng sáu chục thước, bắc qua con rạch ken dày lục bình. Mới nhìn, nó như bao chiếc cầu khác, không có gì đặc biệt. Nhưng cấp trên thì bảo: Cậu mà gà gật để tụi Việt cộng đội lục bình đặt mìn phá sập cầu thì cậu bị xử bắn ngay tấp lự. Mẹ cứt, sập một cầu chứ sập cả trăm cầu ông đây chẳng màng. Anh nói thầm cho riêng mình nghe và ôm súng bước tới, dựa vai cầu nhìn xuống: đến cá còn dính râu, vướng kỳ thì tía thằng Việt cộng nào dám mò về? Anh lấy mũi súng gõ leng keng trên thành cầu. Tiếng leng keng nghe vang, dòn như tiếng lục lạc đeo cổ bò. Ừ nổ thì cứ nổ, ông cóc cần. Nó mà nổ tung thì ông về cày đồng, về mà ôm cái mông nung núc tròn lẳng của vợ. Sướng đời. Cưới nhau hơn tuần là đi. Chưa mùi mẽ gì nhiều nhưng lúc nào anh cũng nhớ cái mông tròn. Nhiều đêm anh gối đầu lên ba lô mà cứ ngỡ như đang gối trên mông vợ, choàng tay xoa xoa đụng nhằm phải chiếc ca nhôm lạnh ngắt. Mở choàng mắt thấy mình đang nằm trong giao thông hào tối thui, dưới đũng quần hình như bầy cóc cọt vừa mới khạc nhổ bãi bọt nước lên đó… Trời ơi, sao lại cứ phái đánh nhau, bắn nhau làm gì cho nhọc sức? – Có lần tiếng kêu bật lên thành câu hỏi u ám trong đầu.

Một ngày anh đứng gát ba tiếng, có khi hơn. Đó là lúc lũ bạn lính đổi phiên nhưng cố tình ngồi nán lại, lê la quán nước bên kia cầu, kêu thêm xị rượu, cà phê có cớ tán tỉnh cô chủ quán. Mấy bận anh cũng ra ngồi đó. Ngồi và nhìn hàm răng trắng, miệng cười tươi như bông mắc cỡ quấn quít bên bờ ruộng… để nhớ vợ, nhớ cái mùi chua chua nồng nồng từ nách vợ xông lên rồi lại xách súng quay về trại. Anh cuống cuồng trong nỗi nhớ thoi thóp ngăn cách giữa cây cầu sắt và những con rạch đan chéo nhau, những cánh đồng ngút mắt. Ước chi mà bỏ được cây súng, dẫm chân lên cánh đồng, cầm chui cày, hả họng ví thá đôi trâu. Nhưng con sông và những con rạch thì đang chắn ngang trước mặt, còn quê nhà thì xa tít mù xa.

Khói trên mặt sông la đà. Đám lục bình dập dềnh đang thở khói. Một vùng khói trắng buổi tinh mơ. Đàn cò đang chao lượn thành hình vòng cung phía cánh đồng lung trước mặt. Những đọt dừa nước màu xanh sậm dính vào mảng da trời lờ mờ buổi sáng sớm, vẽ thành đường viền mỏng dẹt tít tắp. Anh xách súng đứng lên, chưa kịp đặt chân lên mố cầu, chưa kịp chúc mũi súng gõ leng keng trên thành sắt để tưởng tượng đó là tiếng lục lạc trên cổ bầy bò, thì chiếc cầu bùng lên, hả họng khạc ra cột nước cao như cục đờm từ cổ họng phọt ra, xô anh ngã sấp trên đường sỏi ướt sương đêm. Đũng quần ướt nhẹp và mùi thúi trộn lẫn với khói đạn đè vít cả người anh dán sát mặt đất. Chừng mở được mắt, chỉ thấy hai bờ mênh mông những dề lục bình ngã nghiêng, rũ rợi. Hàm răng trắng, nụ cười tươi tắt phụt bờ bên kia, đàn cò hốt hoảng bay lên la điếng, đường vòng cung gãy khúc, trời như sắp sập… Sau đó, cả mười một người trong tiểu đội gát cầu đụng lưng nhau trên nền đất lạnh, bốn bề là tường đá và hình như cả những vòng trong vòng ngoài kẽm gai quây tròn bên ngoài…

Đôi giày chết tiệt siết chặt đôi ống chân. Đếm ngày và đêm trong bóng tối, trong thứ mùi hôi thúi ám vào thịt da và nghĩ tới ngày bị mang ra khu đất trống. Đoành một phát, tim gan óc phổi khạc ra cục đờm trắng đỏ trộn lẫn. Đó cũng là kiểu đánh nhau? Anh rùng mình nghĩ tới ngày đó đến độ đầu óc đông cứng.

Những ngày bị giam giữ khiến anh như người mụ mị, nhưng hai bàn tay với mười ngón thô ráp của anh dân cày thuở trước bổng dưng biến thành thứ chân của loài rít rừng như có phép lạ. Chúng đụng tới đâu da thịt dãn ra, các khớp xương dãn ra. Cả tiểu đội tù chìa lưng, chìa chân cho những chân rít kia bò bám. Họ rên lên với những cơn khoái cảm co giật liên hồi… Đám chân rít kia đã cứu anh và lần nữa lại đẩy anh xuống vực sâu. Đầu tiên là người lính đưa cơm, đến trung đội trưởng đến các sĩ quan chỉ huy. Anh như Thái thượng lão quân từ trời rơi xuống. Mười ngón tay của Thái thượng đã làm cho các bà cong rút người lại, đổ ập lên người anh và lần nữa đẩy anh xuống vực đen ngòm. Lại bóng tối, lại đá nhám và hơi đồng sắt. Phép lạ của những chân rít kia không đủ sức để hơi sắt bớt lạnh, để bóng tối bay đi…

xxx

Tiếng gõ cửa. Giấc mơ hồi tưởng khép lại giống như nút chai bị nhét chặt. Anh xỏ giày, mở cửa. Lọ hoa lung lay trên đôi tay thon muốt. Miệng cười với về phía anh. Đôi mắt cũng nở nụ cười rớt nghiêng lên mặt anh. Cô ta bước khẽ khàng, đặt lọ hoa lên bàn, gật đầu chào. Nụ cười khép lại sau cánh cửa khép rất nhẹ. Anh ngẩn ngơ nhìn tấm rèm màu mỡ gà, ngẩn ngơ nhìn cánh cửa liền khít với gờ tường. Bóng người thiếu phụ thướt tha vừa mới đó đã biến mất như thuở nhỏ nghe kể chuyện liêu trai. Đúng là anh đang sống trong mơ. Vẫn nụ cười bên kia cầu. Vẫn cái dáng thon thả. Và hơn hết là cánh cửa khạc ra cục đờm trắng khi người thiếu phụ đã khuất phía sau, giống như mấy mươi năm trước chiếc cầu sắt đã khạc ra. Căn phòng kín bưng, chỉ có anh đang nằm trên giường và đôi giày dưới sàn.

Ông trưởng đoàn đẩy cửa bước vào trong khi anh vẫn nằm thõng chân xuống sàn nhà.

-Nhớ rừng và mông bò cái rồi hả

Câu hỏi giống chiếc cầu gãy. Khuôn mặt non choẹt ngó quanh. Bất giác những cọng râu kéo xệch nụ cười ngược lên khiến anh bật dậy.

-Ông đọc thuộc bản báo cáo chưa. Nhớ đừng có vấp váp, lộn tùng phèo nhá?- Nói và ông ta khép cửa.

Mẹ cha cái lão Khang, anh phì phì trong cổ họng không thành tiếng. Việc anh làm có nước mẹ gì đâu mà rùm beng lên thế này? Những dòng chữ nhảy múa trên tờ giấy trắng. Mở miệng đọc nó cứ sậm sựt như có chiếc lò xo móc hai môi lại với nhau. Anh quay ra oán trách ông chủ tịch nông dân xã, oán trách đám quay phim. Chớ chi không có lũ người đáng nguyền rủa kia thì giờ này anh đã gối đầu lên rễ cây trong bóng râm mát vườn rừng nhà, thở khói phì phèo, ngó những tia nắng xiên qua cành lá rung lợn cợn chói mắt, những tia nắng gãi lên người, vuốt ve lên má mũi anh. Rồi tối đến, chờ cho đứa con say giấc, anh lại đưa tay ra xoa xoa vào mông vợ, bồng vợ trên đôi tay khoẻ, bước nhẹ ra sạp tre dưới gốc cây đỏ… Ba Đọt thở dài, hất cuộn giấy nằm lăn bên hông như người bạn bỏ quên lâu ngày, anh lim lim mắt, lơ mơ với bức tường trắng toát trước mặt.

Từ ngày cây cầu bay lên. Mười ngón tay thành chân rít rừng thì cuộc đời anh cũng thay đổi. Hai năm làm binh nhì không mất đi chất cày đồng. Tám tháng cải tạo càng thôi thúc anh quay về với chuôi cày. Chuôi cày không rên lên như các bà phu nhân, nhưng mặt đất thì rên lên bỡi anh nhào xới liên tục, không kịp thở. Thẻo ruộng nhỏ vừa gặt xong lại thấy đậu lún phún. Hết đậu đến bắp, đến lúa quay mòng mòng. Đất mỏi mệt mà sức trai như anh thì không thể dừng. Thẻo đất nhỏ gục đầu lạy anh. Còn anh thì chắp tay vái mấy vái và vĩnh biệt những hòn đất trắng hếu, vĩnh biệt ông trưởng thôn tháng nào cũng gọi anh lên trình diện hỏi anh đã cộng tác với CIA sao không khai báo, đốt nhà dân bao nhiêu bận, hãm hiếp bao nhiêu phụ nữ, trẻ em… Lần đầu anh són đái cả quần. Những bận sau cũng bao nhiêu câu hỏi đó anh chợt hiểu ông ta chỉ kiếm cớ nhờ anh đốn bụi tre, cuốc rõng đất, kéo nước tưới vườn cây không mất tiền công. Anh vái và nhổ nước bọt, xách rựa đi qua hết ngọn núi này đến quả đồi khác. Con Mực lốc thốc chạy theo, lưỡi thè dài như cái nhún vai lắc đầu của người thân trước một thằng người điên. Chiếc rựa rên lên dưới mười ngón tay thằng điên. Ngọn đồi cũng rên lên. Anh lại nhào xới, lật tung từng tảng đất nâu. Mặt đất nâu rung rung như cái giật nẩy thịt da cô gái, sau này là vợ kế bị những chân rít chạm phải. Ba Đọt cuồng lên. Đất sôi ùng ục… Cánh rừng lúp xúp bị anh vạt trắng đến cả thú ăn đêm, cóc nhái sâu bọ cũng đâm oán. Sau đó quả đồi mênh mông phủ kín cơn cuồng bằng những cây đậu cây bắp nằm khép bên tán keo, xoài mít…Cơn khát đất và khát cây chẳng mấy chốc hóc xó mịt mù xa cũng có những cặp mắt ngó tới. Con Mực thôi thè chiếc lưỡi dài có đốm đen mà sủa vang động cả cánh rừng khiến đàn chim hoảng sợ bay lên, la quang quác. Những bàn chân vạch lá tìm lối đi. Lối đi bằng sợi chỉ nhỏ lâu thét thành lối mòn rộng. Đám nậu nguồn xuất hiện. Có già có trẻ. Có nam có nữ. Họ đổ xuống nền đất những gạo mắm muối. Họ cõng đi những trái mít trái xoài và đàn gà sinh sôi nhanh như đám mối bìa rừng. Lối mòn lớn dần khiến lòng anh trống hoang hoác, khiến anh nhớ không nguôi chiếc mông tròn ngún nguẩy và mùi chua nồng từ nách vợ đã vĩnh viễn bay lên trời cao. Đó là ngày mà tất cả mọi người đều hoảng loạn, kéo nhau chạy, bỏ cả nhà cửa ruộng vườn mà chạy. Những dây người đu bám trên xe. Đoàn người gồng gánh trèo đèo lội suối mà chạy. Phản xạ dây chuyền kéo vợ anh lao theo bầy người lúc nhúc đó. Mấy chục người bấu trên chiếc sõng nan vượt ra cửa biển. Vợ anh lao lên. Cửa biển như miệng con mãng xà há rộng mồm và nuốt chửng mọi người. Vợ anh trôi đâu đó trên chiếc lưỡi dài đỏ hoét màu máu, chìm lút trong bụng con mãng xà. Ngày ra trại, anh chèo chiếc sõng nhỏ căng mắt tìm kiếm dưới đáy sông, nhưng dân phường chài nói: Họ chìm nghỉm và bay đi rồi. Chắc vợ anh cũng đưa tay ra bấu vào chiếc cầu sắt để bay lên, anh nghĩ vậy và thôi không bơi sõng tìm kiếm nữa. Nhưng sau đó thì đụn lên thành nỗi hoài nhớ khắc khoải đêm ngày trong anh. Cơn cuồng khát đất, khát cây giờ thành thứ cuồng khát hơi hám phụ nữ. Nhưng trong đám người vạch lối thành lối mòn không có ai có chiếc mông tròn như vợ anh, không ai có hàm răng trắng và nụ cười tươi như cô hàng nước bên kia con rạch nhỏ! Con Mực bây giờ đã già lắm rồi, tiếng sủa không còn trong như tiếng lục lạc đeo cổ bò khua rổn rảng. Những âm thanh xa gần, lúc đầy vun cao thành ngọn, lúc lưng như khạp gạo nhô đáy vồng lên trống trơn khiến anh vừa hân hoan chờ đón vừa cảm thấy đau xé bóp thắt ruột gan. Bốn bề núi non với con sông nhỏ vắt qua, với tiếng côn trùng muôn thú về đêm, tiếng chim muông ban ngày như những chiếc chỉa ba nhọn hoắc xuyên qua ngực. Anh chới với. Ba Đọt đã quên mất cả họ chới với. Con chó già ngước mắt nhìn anh, nhìn lối mòn toang hoác kia lõm những vết lăn!
Đôi mắt đục mờ của con Mực không lâu sau đó khép lại. Vĩnh viễn khép lại. Ba Đọt hoá thành người cô độc giữa cánh rừng mênh mông. Còn vết lăn thì sâu thêm, rộng thêm ra như một thứ định mệnh được báo trước.


Đó là một buổi sáng tháng Mười. Đang ngồi trên ngạch cửa vót những sợi mây mảnh, anh bỗng nghe tiếng bước chân khẽ khàng đặt trên nền đất trước căn chòi lệch về một phía. Chiếc rựa trên tay anh rụng xuống. Nền đất ngay chỗ anh ngồi bổng rung oằn khiến tay chân anh cũng rung theo. Người phụ nữ đứng trước mặt anh, chiếc gùi đè nặng trên lưng khiến ngực cô ta nhô cao, nhọn hơn, mông vồng lên như sắp thành vò đất nung. Cô gái cúi xuống đặt chiếc gùi lên hiên thềm. Một chút da trắng trên ngực lộ ra. Đôi vú phập phồng. Anh như sắp nổ tung lên trời cao như ngày nào chiếc cầu sắt bay lên.

Cô gái mở nụ cười chào anh, hỏi mua những thứ anh có và bán lại những thứ anh cần. Những gói bột ngọt, can rượu, nước mắm… nhập nhoàng trước mắt lộ vùng ngực màu trắng, đôi vú nhô cao trong cái nhìn cuống cuồng của anh. Mặt trời tháng Mười chìm lấp trong đám mây dày mà sao anh cảm thấy như có những tia nắng xiên qua người, nắng lướt qua đỉnh đầu. Người anh nóng rực.

Cô gái lại nở nụ cười đúng thời khắc lùm mây đen tuôn tràn những giọt nước từ trời cao, ầm ầm như thác đổ. Mưa dầm dề. Mưa từ sáng tới trưa không tạnh. Nước trắng xoá trên lối mòn dẫn lên đồi. Nước gầm réo ở đoạn cong vắt qua trước mặt nhà. Mái tranh oằn cong đưa mặt hứng từng mảng nước dày đổ ập xuống. Nước bắn tung toé trên sân đất. Nước níu những cành cây cong sát gốc, chôn chân hai người trong căn lều trống hoác.

Mưa tiếp tục giam hai người bên bếp lửa. Nồi cơm sôi ùng ục. Cô lật vung, cầm đũa sơ. Anh thẫn thờ cời mớ than đỏ. Cô nhắc nồi cơm vần lên đống than. Anh lóng ngóng bưng xoong cá suối kho cả tuần đặt lên ba ông táo ám đen. Cô vói tay cho thêm củi. Tiếng nổ lách tách. Lửa đỏ đít nồi. Trái tim anh dường như cũng bắt đầu đỏ lên. Anh cảm thấy mùi da thịt đàn bà đang bay tới, từ từ, rất gần.

Mưa không dứt. Trời tối dần. Lại vào bếp. Trái tim anh sắp nổ ra, còn cô thì điềm nhiên đứng dựa phên cáo nhìn mưa, nhìn con sông nhỏ dưới chân đồi nước ngập mênh mông, thì thào:
“Không xong rồi.
“Không xong rồi – Anh thẫn thờ lặp lại, vô thức.
Nước đụn lên, cao vồng, lấp lửng chân dốc. Ngọn đèn chao qua lại mấy bận rồi tắt ngấm. Ba Đọt trở vô mò tìm hộp quẹt. Bàn tay mát rợi níu lại: Không cần. Tiếng nói thoát ra như hơi thở nhẹ khiến anh sững sờ, bối rối. Bàn tay anh ấp lên. Giờ đến lượt anh run bắn, chứ không phải thẻo ruộng nhỏ, quả đồi đã từng run bần bật dưới bàn tay anh. Căn chòi nhỏ rên từng cơn trong đêm mưa. Những vạt tre mò o cũng rên lên. Tiếng rên của đất trời, của căn chòi và vạt tre móc hai người lại với nhau thành vợ thành chồng. Thật bất ngờ và đơn giản.

xxx

Ba Đọt vừa mới đọc hết hai chữ “kính thưa”, lưỡi bắt đầu líu lại, mắt hoa lên, mồ hôi nhỏ giọt như khởi đầu của những hột mưa dông đầu hè. Anh nhắm mắt, lắc lắc đầu, định thần lại: mẹ cha, mình không ngán chiếc cầu bay lên, không ngán óc phọt ra, không ngán tiếng “đoành” chờ đợi suốt mấy tháng trời… sao lại sợ những dòng chữ cứ nhảy múa như lũ người điên nhảy choi choi trên sân khấu, miệng gào rống thế kia? Anh nhắm mắt, lắc đầu lần nữa, như thể cái lắc đầu của con cọp sau giấc ngủ và ném phạch cuộn giấy trên mặt bục gỗ, bụng bảo dạ “không xong rồi”. Chợt anh nhớ đến vợ, nhớ bộ ngực trắng, hai núm vú đỏ và nhỏ như quả cau chín; nhớ chiếc mông tròn. Ba Đọt e hèm:

-Kính thưa… tôi là Ba Đọt, Trần Đọt, quê quán… giờ ở xứ mà dân trong vùng kêu hóc Bà Tó...

Ba Đọt miên man kể lể tông tích, kể lể công việc làm từ tấm bé cho đến tận bây giờ, “…những rừng cây, đàn bò dê, gà vịt, ao cá… hàng năm kiếm khá bộn tiền. Được vậy là nhờ vợ tôi. Má thằng cu Lít có cái đầu, nghĩ ra nhiều chuyện lạ. Còn tôi có tay chân mạnh như ông Ầm (1), không chịu nghỉ yên. Nghỉ một chút lại thấy ngứa ngáy, cái đầu vợ sai cái tay, cái tay bắt cái chân chồng phải bước tới. Ngồi yên một chỗ không chịu thấu, giờ thành ra vậy. Với lại hồi đó mà ông trưởng thôn không hành khổ thì giờ này chưa chắc tôi ở cái hóc xó kia. Có tiền rồi, đỡ cực. Định bụng xây cái nhà, mua ti vi, kéo điện lên. Nhưng dòm lại thấy nhà hàng xóm túng thiếu kêu vợ cho bà con mượn, bày cho cách làm như tôi đã làm. Nhiều người làm được, nhưng cũng có lắm người thất bại, tôi kêu vợ đưa tiếp, vì có làm ra tiền mới trả được nợ cho mình chớ… Mọi người kêu vợ chồng tôi nhân từ. Tôi có biết mẹ gì nhân từ. Thấy họ khổ như hồi xưa tôi khổ thì giúp, chớ nhìn họ lội trong bùn sình coi sao đặng… Kính thưa, dạ tôi có sao nói vậy. Tôi không muốn đi, nhưng ông Khang cứ bắt tôi phải đi, không đi thì ổng doạ đuổi tôi ra khỏi hội nông dân… Thưa, tôi kể tới đây là hết. Ba Đọt xin chào…”

Tiếng vỗ tay rào rào không dứt, mỗi lúc một to, dài như đoạn đường từ nơi hội trường này về tới ngọn đồi đang ở. Anh thấy loáng thoáng những bó hoa bước lên, ấn vào tay anh. Anh choàng tay ôm hết những bó hoa trước ngực. Màu sắc sặc sỡ làm anh hoa mắt, bối rối. Lần thứ hai anh bối rối sau cái ngày mưa dầm xối xả. Ba Đọt bước xuống chỗ ngồi với những tràng vỗ tay với kéo anh về phía họ.

Suốt cả đêm, tai anh chỉ nghe tràn tiếng vỗ tay, mắt anh toàn thấy những cánh hoa rực rỡ. Những ly rượu chúc tụng nhau buổi chiều, khiến đầu óc anh quay cuồng, cả thân người như cánh hoa sao xoay tròn xuống thấp rồi lại bay ngược trở lên, chao lượn chập chờn quanh ngọn đồi cây có con sông nhỏ vắt ngang qua.

Nửa khuya, cổ họng khô rát, anh bật dậy kéo bình trà pha sẵn từ trưa hôm qua, kê vòi tu một hơi dài. Cơn khát hạ xuống, nhưng người thì nóng ran. Anh cởi áo quần vào phòng tắm, nước nóng phun xuống làm anh giật thót người, né qua một bên đứng nhìn vòi nước chảy rào rào. Anh lại lầm bầm trách cái lão Khang chết tiệc. Mấy trăm cọc tiêu và mẫu cà phê đang kỳ tưới. Chúng cũng đang nóng, khát khô cành lá. Ba Đọt không tài nào ngủ lại được. Anh thao thức và nhớ vườn đồi, nhớ đàn bò, nhớ con Bĩnh, con Quạp sắp đẻ nay mai, nhớ cả chiếc mông của vợ, trái cau chín đỏ, sạp tre mò o bên gốc cây đỏ và những ánh sao lấp loá trong tàn cây dòm xuống chỗ hai người… Anh miên man nhớ về chốn xa, như thể căn phòng này là nơi giam hãm anh suốt đời.

Dòng sông vắt qua như một vành cong trắng loá trong tâm trí. Cả cơn mưa và dòng sông đùn lên cao, thật cao.

( Huế, tháng 5.2008)


________________________________

(1) Ông Ầm: tên của một trong những lá của bộ bài chòi nam Trung bộ. Dân quê hay gọi ông Ầm để chỉ cho người đàn ông thô kệch, có sức mạnh nhưng đầu óc mụ mị, khô đặc.
Đăng nhập để trả lời
0
CƯỚI VỢ ĂN TẾT


NGUYỄN LỆ UYÊN



1.
Trước ngày giỗ cha, chị Đông giở máy, thong thả gọi cho từng người: các em phải về trước một ngày để phụ với má, không được đứa nào vắng mặt. Tám cuộc gọi được phân đều chừng ấy từ không hơn kém Có lẽ không phải do chị tiếc tiền khi phải nói nhiều mà, chỉ vì ngắn gọn thì quyền uy được khẳng định một cách rõ ràng hơn? Và dù là gái đã xuất giá nhưng là chị cả nên cái sự quyền huynh thế phụ được chị thâu tóm và phát huy đến mức tối đa trong gia đình có tới tám cô con gái nắm bím tóc nhau, kẻ trước người sau lần lượt ra đời để reo vui, bổ sung thêm quân số cho bà Trưng bà Triệu. Còn tôi là đứa con trai duy nhất được chắt mót như anh dân nghiện ngửa cổ, dốc đít chai cho rớt vào họng giọt cuối cùng của bữa rượu tàn. Tuổi tôi chỉ nhỉnh hơn đứa con gái đầu chị Đông có sáu bảy năm. Đó cũng là lý do để đôi lúc chị giả tảng không coi tôi là đứa em út ét mà đối đãi ở hàng con cháu!

Lệnh điều động của chị được mọi người răm rắp thực hiện giống như một cuộc dạo chơi tình cảm. Chị Ty về trước tiên trên chiếc Civic bóng loáng với những bánh trái chật cốp sau. Trong khi chồng kệ nệ bưng những túi nặng thì chị ngó nghiêng, miệng hát nghêu ngao bài Back to Sorento, như thể hai ông bà vừa lái xe từ vạn dặm về chốn quê nhà? Sau đó chừng nửa tiếng, chị Khảnh bước xuống taxi với chiếc bụng vượt quá mặt, lặc lè ôm bụng và ôm bó hoa ly to tướng khó nhọc bước vào sân. Chị Nam đi xe máy đèo theo chị Sâm lủng lẳng giỏ trái cây. Ba bà còn lại có lẽ đang ở trong cái spa nào đó để ủi mặt, duỗi tóc trước khi về sì sụp lễ cha, và câu nói cửa miệng của ba bà này sẽ là:cuối năm, công chuyện cơ quan ngập đầu. Câu nói sẽ bay xẹt qua lỗ tai các ông chồng mang bộ mặt thoả hiệp và đồng cảm với công chuyện bộn bề giả hiệu của vợ trước khi lọt vào lỗ tai má tôi. Chị Minh áp út, đẹp nhất nhà dắt tay ông anh rể vừa mới cưới nhau cách không lâu, như thể nếu chị không cầm tay anh dẫn đường thì rất có thể anh sẽ nhầm chị Minh với ai đó trong nhà, giả hoặc anh không biết lối nào vào nhà mà không lộn qua nhà hàng xóm? Cách thể hiện tình yêu của anh chị Minh, chính yếu là chị Minh, có hơi vẻ sên sến, cải lương một chút nhưng lại thích hợp với khung cảnh trời mây ở đất quê đồng nội nếu chỉ duy nhất có hai người trong khoảng không gian này.

Thường ngày căn nhà vắng teo, đã rộng càng thênh thang hơn khi chỉ có má và tôi; còn giờ này thì ồn ào, náo nhiệt cứ như đám đông người đang chen lấn nhau xem hát áng. Mỗi năm chỉ duy nhất có hai lần được làm ồn là dịp giỗ cha và ngày tết. Nhưng hai cái ồn cũng hơi khang khác tí đỉnh. Cái ồn trước có chút ngùi ngùi vì mùi nhang, mùi khói đốt vàng mã, thỉnh thoảng vài giọt nước mắt bị dồn nén trước kia nay được dịp rịn ra tựa như nước lỗ mọi rỉ ra từ bờ ruộng cao làm đậm thêm màu đỏ đôi đèn sáp nhểu giọt ngập ngừng trên bàn thờ. Còn cái ồn sau là tiếng cười của ba thế hệ cộng lại thành niềm vui cùng những hạnh phúc riêng tư khoe mẽ, theo thông lệ muôn thuở: đầu năm mới chỉ có vui cười. Có buồn cũng phải giấu kỹ dưới đít giường chờ ra giêng!

Lúc tôi bưng nia lá gói bánh ngang qua chỗ chị Đông ngồi xào nhưn trên bếp lò, chị liếc tôi buông thõng một câu kiểu anh chận vịt ném cây sào cắm sâu sau đít bầy vịt đang lội qua ranh giới hạn: “Mày thì liệu cái thần hồn”. Tôi giả bộ như không nghe chị nói gì, quay ngoắt lại định bụng kéo anh Minh ra quán đầu ngõ.

- Này không nghe thiệt hả?

- Chị bảo gì ạ?

- Giỏi, giống cha in đúc, chỉ khéo cái giả lơ. Nói cho mà biết, kỳ giỗ này tao mời chị tư Lam và cái con bé đó sang ăn giỗ cha. Nghiêm túc một chút đừng có trẻ con nữa.

- Chị mời ai thì ảnh hưởng gì tới em? Bộ chị tưởng em tiếc đôi đũa, cái chén sao?

Chị Đông gõ đôi đũa xào nhưn đang cầm trong tay lên vành chảo kêu rừng rực như người mắc cụt:

- Sao? Nói vậy mà nghe được à? Hăm tám hăm chín rồi, nhỏ nhít gì nữa. Có nghe nói tam thập nhi lập không? Đâu còn là đứa trẻ con? Cũng phải vợ con rồi lo làm ăn chớ bắt ai nuôi mãi.

-Thì em làm việc em nuôi em chứ ai nuôi em?

-Còn má?

-Má sao?

-Ai chăm sóc?

-Chớ ai vô. Tám bà cộng lại thì được mấy ngày trong ba trăm sáu lăm…

-Á, à dám trả treo, lại bày thói phân bì chứ gì? Em lôi đâu ra cái kiểu ấy về nhà này, hả?

-Thì rõ vậy chớ còn gì nữa.

-Không đôi co. Các chị và má đã quyết rồi.

-Quyết cái gì?

-Mời chị Tư và con bé đó qua chơi nhà, tiện dịp mấy chị mày coi mắt luôn - Chị Đông xuống giọng - Hiền, đẹp, nết na, tốt nghiệp khoa Văn loại khá. Hợp, chị nghĩ rất xứng đôi. Chỉ ngặt nỗi chị Tư hơi nhỏ hơn má tới hơn hai chục tuổi, nhưng không sao. Má nghe nói đã ưng rồi –

Tôi cười thầm sao chị không nói bằng tuổi chị có dễ hình dung không, nhưng sợ chị giận, bèn nói ngang:

-Thích thì chị lấy cái con nhỏ gì đó đi, can dự gì đến em? – Nói và tôi bỏ đi.

Chị Đông há hốc miệng nhìn theo như thể tôi đang hoá kiếp từ con người bình thường sang loài động vật khác một cách từ từ, thong thả nhẩn nha, thong thả hoá kiếp. Dưới mắt chị lúc này, có lẽ tôi là con tắc kè trên ngọn cây, đổi màu và lẩn nhanh đâu đó ngay trước mắt không thể nhìn thấy?

Anh Minh thấy bộ mặt nhăn nhó của tôi ngoài thềm giếng, bèn lên tiếng:

-Kỳ này em bị khủng bố nặng rồi.

Tôi không phản ứng, bỏ ngay ý định rủ anh ra ngồi quán.


2.
Má tôi đứng trước bàn thờ lâm râm khấn vái những gì đó thật lâu. Khói nhang quyện đặc gian thờ. Những chân nhang trong bát hương đỏ thẫm, hai cây nến đỏ thẫm, màu sáng cây đèn hột vịt phải nhờ đến ngọn néon mới nhìn rõ ảnh thờ cha tôi treo trên cao, phía dưới giá đỡ tượng Phật bà Quan Âm. Vẻ đẹp trai, phong lưu vẫn rung rinh đâu đó trên khuôn mặt chữ điền, đôi mày rậm, miệng như nở nụ cười từ bộ râu vểnh ngược, nom giống một quí ông ở thời kỳ Phục hưng. Khổ nỗi, hình ảnh bộ râu quí tộc bị chiếc khăn xếp và áo dài hoa văn chữ Thọ trên bức chân dung đã phá cách vẻ đẹp mã một cách khó coi, không hợp với khuôn mặt luôn nhìn thấy điều gì cũng dung dị, đẹp; đời cứ như bông hoa không bao giờ tàn vậy. Bức chân dung ấy còn mang cả đôi mắt sáng ngó thẳng về phía con, rể đứng sắp hàng kẻ trước người sau, như muốn nói: Cha rất hài lòng vì các con. Đôi mắt ấy cũng ngó về phía má tôi và nói thật to: Dù anh đang ngồi trong khung kính nhưng tim anh vẫn dành trọn cho em. Tôi nghĩ, rất có thể má có nhìn thấy và nghe được những điều này qua linh cảm, vì thỉnh thoảng má đưa tay lên mắt, thỉnh thoảng sụt sịt. Có thể là do khói nhang nghi ngút, có thể là má nhớ thực lòng. Không nhớ, không thương yêu nhau sao lại khóc, lại lắm con thế?

Tiếng nói nhỏ nhưng vang như tiếng chuông khiến ngọn nến đang cháy thẳng đứng bỗng lay nghiêng, chao qua trái qua phải chực rụng xuống bàn: Mẹ ơi, khói ngợp thở quá mẹ ơi! Tiếng chị Sâm quát khẽ: Im, ráng thêm chút nữa, đừng ồn. Lại một giọng nữa cất lên, giọng con gái: Đói quá mẹ ơi, cúng gì lâu thế?

Khối đám đông con cháu trước bàn thờ cha tôi từ tư thế nghiêm trang bổng rục rịch, chuyển động tại chỗ, chỉ thấy phần trên. Vậy chắc cũng đủ để cha tôi thấy được sự ấm cúng hạnh phúc của gia đình nếu ông còn có thể nhìn thấy từ bức ảnh lồng kính, treo trên cao?

(…) Lễ cúng trôi qua chậm chạp như khúc bi ca lỗi nhịp và kết thúc bằng những cái vái lạy, vàng mã đốt khói um đầy nhà, muối gạo ném vãi trắng sân. Khách khứa đã tới gần đủ. Các chú bác, những người thân trong gia tộc đâu hơn mươi người được chị Đông sắp ngồi ở chiếc bàn tròn lớn ngay đầu hồi tây, nơi trước kia cha tôi và các chú bác hay ngồi nhâm nhi ly rượu, tách trà nói chuyện đông tây. Anh Đông và anh Ty thay mặt gia đình ngồi tiếp. Gian phòng khách ở dưới bày một bàn khác có má tôi, cô Sáu, các anh chị và hai mẹ con bà bạn chị Đông.

Thừa lúc mọi người không chú ý, tôi vẫy Khôi, con chị Sâm ra chỗ để xe. Thích quá, nó hét to: dạ để con tìm chiếc mũ. Tiếng la của nó khiến mọi người chú ý. Và vì tôi là nhân vật đang được canh giữ cẩn mật, nên khi tiếng thằng bé vừa dứt, chị Đông đã đứng sát cạnh như bà nữ cảnh sát hình sự đang tác nghiệp: Mày làm cái trò gì vậy, thằng khỉ? Tôi nghe hai hàm răng chị riết lại thành tiếng: vào nhà ngay. Khôi chưng hửng, nhùng nhằng kéo quần tôi, còn chị Đông thì ép sát người níu dây thắt lưng đẩy tôi vào nhà như đẩy tên tử tù lên xe cây. Thôi đành lòng vậy, tôi thầm nhủ.

Chị ấn tôi ngồi xuống chiếc ghế trống, giữa chị Khảnh và chị Quế, đối diện với mẹ con bà Tư, cố ý để hai phía “đối tác” có thể nhìn rõ mặt mũi,cử chỉ của nhau. Chị Đông mào đầu bằng những câu nghi thức vòng vèo từ thời ông Bành Tổ, Khổng Tử rồi mới vào phần chính là trước ăn giỗ sau để quen biết, thân tình nhau hơn. Tôi xoay xoay cái chén trống trơn ước chi chị biến ngay thành đàn ông thì cái nhà này đỡ đi nhiều việc, ít nhất là không phức tạp hoá mọi chuyện.

Bình thường, những khi cả nhà họp mặt đông đủ thì đến cả chén đũa, ghế đẩu cũng rung rinh cười theo tiếng cười của tất cả mọi người, đến cả má cũng hào phóng tham gia. Còn bữa nay, phần bắt đầu theo nghi thức ngoại giao khiến không khí nặng nề; tiếu lâm như chị Quế, chị Sâm cũng ngồi cắm đũa giữ lễ.

Thấy chị Đông to nhỏ gì với bà Tư, tôi chợt nghĩ và đứng dậy cầm ly bia:

-Con mời má, mời chị Tư, mời cô và các anh chị…
Chị Đông giật thót người, thiếu chút nữa là đánh rơi đôi đũa xuống đất. Chị há hốc miệng nhìn tôi rồi ngó lên trần nhà. Tôi thấy mặt chị tái đi đến tội nghiệp. Chị Quế huých khuỷu tay vào hông tôi, nói nhỏ “điên”. Tôi đá vào chân chị có vẻ hơi mạnh, chị đau suýt bật thành tiếng la, trong khi những ly bia cứ lưng lửng trên tay một cách khó hiểu.

Thật lòng, tôi không có thành kiến gì với mẹ con bà bạn chị, nhưng do cung cách thái quá của người chị kiêm bảo mẫu khiến tôi trở thành thằng nhỏ thật sự. Giây phút đăng đắng trôi qua như những ngụm bia đang ngắt ngứ trôi lọt xuống bao tử.

Không khí vui vẻ được nối trở lại. Mọi người xúm vào vừa hỏi thăm mẹ con bà Tư vừa gắp thức ăn chăm chút cho hai người như cố xoá lấp phần lỗi không đáng có do tôi gây ra lúc nãy.
Giờ tôi mới để ý quan sát hai mẹ con bà bạn chị Đông. Bà ta trạc tuổi chị, lưỡng quyền hơi cao, đôi mày được chăm sóc quá kỹ khiến mỗi khi bà cười, các nếp nhăm dưới khoé mắt dính sát vào đuôi chân mày một cách khó coi. Có lúc tôi tưởng tượng phía đuôi mày là phần ngọn của chiếc cần trúc đang lòng thòng với dây nhợ lưỡi câu bên dưới. Tuy vậy bà có duyên nhờ chiếc miệng lúc nào cũng muốn cười với tất cả những ai đang đối diện với nó. Cô con gái chắc bằng tuổi hoặc hơn Hà My – con gái đầu anh chị Đông – chút đỉnh; nước da màu bông bầu, mũi cao, mắt sáng, khuôn mặt trái xoan, phúc hậu; nhưng hình như phía dưới khoé mắt có nốt ruồi nhỏ bị cố tình che lấp bỡi lớp phấn dày. Nếu quả thật đây là nốt ruồi thì cô ta bị liệt vào hàng ngũ của đám phụ nữ có số trích lệ khấp phu, theo như quyển sách tướng số phụ nữ mà tôi đã đọc ở đâu đó ? Loại phụ nữ này, ngày xưa ông bà rất kiêng kỵ, còn thời nay có thể sẽ khác đi. Nhưng đó sẽ là cái cớ để thoái thác, để nói với mọi người rằng: tôi là con độc đinh, thuộc loại quý hiếm của gia đình cần bảo vệ, không thể biến tôi thành vật hiến tế dưới bàn tay cô ta được. Tóm lại là không thể vợ con.

Thật lòng mà nói, tôi không ác cảm gì với cô ta và cũng không thấy có điều gì làm xốn xang cõi lòng, chỉ thấy cô lẻ loi, tội nghiệp, khép nép trong không khí không bình thường.
Thấy tôi chú ý quan sát hai nhân vật đặc biệt trong bàn ăn, hết chị Quế rồi chị Khảnh quay sang khuyến khích: Chị thấy đám này được đấy, chỉ cần tìm hiểu thêm tính tình… Chị cho 8/10. Tôi trả lời nếu 10/10 thì thành hoa hậu thế giới rồi. Chị Khảnh: chị thấy má có vẻ hài lòng. Thì đó là cặp mắt xanh hay mắt hồng của má, tôi trả lời. Chị Khảnh: bậy, chị cũng thấy con bé có vể hiền, em tìm hiểu từ từ. Mẹ đang mong có cháu nội đó, em biết không?

Cách nói của chị Khảnh se sẽ, ngùi ngùi giống anh thợ cày cầm chiếc dùi nướng đỏ trên lửa dùi từ từ vào ống tre tươi, kêu xèo xèo làm hoang mang cõi lòng. Tôi sờ chỗ bụng nhô cao của chị: ước chi chị là anh trai em nhỉ?
Cuối buổi tiệc, lúc người nhà dọn lên dĩa trái cây tráng miệng, tôi chồm người bóc múi bưới chìa về phía bà bạn chị Đông, nói trổng: xin mời; một múi khác về phía cô gái, người mà chị Đông muốn mang về làm em dâu, nói: mời chị. Các chị cười ồ. Tôi là kẻ đỏ mặt trước tiên chớ không phải cô gái và lúng túng làm đổ phần bia thừa trong ly vãi ra bàn, bỡi tiếng cười đồng loạt cất lên chỉa về hướng tôi giống như những mũi tên của các chiến binh thời Trung cổ xông trận vậy.
Tôi rút êm bằng cách giả bộ đỡ ly bia ngã mang xuống bếp, đi vòng ra sau vườn. Liếp vạn thọ non đang đâm nhánh chẳng mấy chốc sẽ nở xoè những bông vàng rực. Vậy mà tôi không làm được điều mà má và các chị mong đợi. Sao vậy?
Đăng nhập để trả lời
0

NGÀY THÌ TỐI ĐÊM THÌ SÁNG


NGUYỄN LỆ UYÊN




Tiếng còi xe toe toe ngoài ngõ. Âm thanh nửa như reo nửa ngập ngừng.

Ở cái xóm nhỏ này hiếm khi nghe tiếng còi xe, hiếm khi có chiếc xe nào trờ tới, can dự chi tới mình. Nghĩ vậy, ông tiếp tục cắt tỉa cây sanh bám ngang trên mặt đá hòn non bộ góc sân. Cây sanh ấy là chút kỷ niệm nhỏ lúc ông làm tổ trưởng tổ cộ bò cho hợp tác xã. Lúc đội của ông kéo lúa nhập lên tổng kho, trong khi chờ đợi giấy tờ, biên bản, ông tha thẩn ra phía sau hàng rào và nhìn thấy cây sanh nằm lăn lóc bên bãi rác. Cây sanh bám trên cục đá vôi, ngã soài theo thế bạt phong. Ông thấy tiếc, thấy đẹp và đưa nó lên thùng cộ mang về. Mang về và đặt trong bể nước có hòn giả sơn từ thời ông nội để lại. Một hòn đá chết và một thân cây sống đu bám nhau tiếp tục sống như thể ai đó mang một hòn núi nhỏ đặt vào bể nước!

Tiếng còi lại bin bin. Người đàn ông mở cửa bước xuống, người phụ nữ bước tiếp theo. Lúc ngoái nhìn qua bờ giậu thưa, ông thấy cả hai đều trong tư thế lom khom, như từ hang đá chui ra. Con Bo và con Bô thấy bóng người chạy vụt ra, bấu hai chân trước lên cổng gỗ sủa gắt. Người phụ nữ bấu tay vào người đàn ông, vẻ sợ hãi. Ông đứng dậy, trên tay vẫn còn cầm chiếc kéo cắt cành bước ra cổng. Ông trố mắt nhìn người đàn ông. Vừa lạ mà cũng hơi quen quen, không nhớ nổi là ai. Trí nhớ cạn dần theo tuổi già chồng cao. Ông mở cổng. Người đàn ông lao tới ôm chầm hai vai, bấu riết:

-Trời, anh Sáu, anh không nhớ em?

Ông xô người gọi mình là anh Sáu ra, nhìn sát mặt người lạ mấy giây, rồi tự mình ôm chầm lấy người đàn ông, chỉ kêu được mỗi một tiếng "chú!".

Lúc này người đàn bà mặc váy ngắn, tay xách bóp đầm cũng lao tới, kêu "anh Sáu!" rồi choàng tay ôm cả hai người đàn ông. Cả ba như khối đá vôi trong bể non bộ. Hai con chó thôi sủa, đứng nhìn ba người dính cục lại với nhau, miệng há ra, lưỡi thè dài, đung đưa. Ba người trong tư thế không rời nhau, bước thấp bước cao, bước qua lối đi nhỏ đầy gạch bể lởm chởm và cỏ dại, vào nhà. Hai con chó lủn củn chạy theo sau vẫy đuôi đón khách.

Khi cả ba đã yên vị quanh chiếc bàn mộc ngoài hàng ba, chủ nhà mới lên tiếng:

-Mấy chục năm vợ chồng chú biệt tăm biệt tích?

-Sau khi đón vợ con qua, em có biên cho anh tới năm lá thơ mà không thấy hồi báo. Em có hỏi mấy người đồng hương nhưng không ai biết anh, nghĩ chắc anh cũng bỏ xứ mà đi.

-Thơ gởi về đây thì chắc không đến tay rồi. Mà có đến, địa phương cũng không cho nhận.

-Kỳ lạ vậy?

-Họ sợ liên hệ với nước ngoài - nói và ông phẩy tay.

Người đàn bà bây giờ mới lên tiếng:

-Chị Sáu khỏe không? Mà đi chợ hay ra đồng, không thấy chị?

Chủ nhà nhìn sâu vào gian thờ, lặng lẽ rót ra hai ly nước nấu sôi để nguội, đẩy ra trước mặt hai người, giọng ngùi ngùi:

-Bà ấy mất bốn năm nay. Ung thư phổi. Bệnh viện ghi là "lao lực quá sức, suy dinh dưỡng, điều trị không đúng phác đồ".

Chủ nhà vừa dứt câu, hai người khách mặt xàu xuống như tàu chuối héo, rồi lần lượt kẻ trước người sau đứng lên, bước chậm vào gian thờ. Chủ nhà xô ghế đứng lên theo. Ông biết phải làm gì trong giây phút này, liền lấy hộp quẹt trong túi, vặn cao ngọnđèn, mấy cây nhang cũng lật bật run rẩy khi chủ nhà đưa lên đốm sáng trên chiếc tim đỏ quạch. Muội đèn và khói nhang cuộn lại, bay một vòng rồi hạ thấp theo bàn tay đen xạm, nhăn nheo những da và đường gân chồng chéo. Hai người khách đỡ lấy mấy cây nhang. Họ cúi đầu lâm râm. Người đàn bà mặc áo bà ba được thợ hình tô màu lại, từ khung kính nhìn ra, có vẻ như cảm ơn sự thành kính, trân trọng, mở một nụ cười vừa phải với họ, cũng có thể cố moi trí nhớ coi hai người kia là ai? Chủ nhà đứng một bên, lòng thấy chùng xuống.

Lát sau, những cây nhang được cắm vào lư hương. Đôi mắt người đàn bà trong khung kính như dán vào những đốm sáng đỏ trên đầu những cây nhang. Đôi mắt ấy hút những cuộn khói bay về phía khung kính. Cả ba nhìn sững hồi lâu trước khi trở ra bàn ngồi.

-Đúng là dâu biển - Khách kêu lên khe khẽ.

Dâu biển thiệt. Mới đó mà đã gần ba chục năm. Ba chục năm còn mất, có không như chuyện đùa kể trên đầu môi. Ông khách ngồi trước mặt bên kia bàn cùng người vợ chính là thằng Cán, nhỏ hơn ông tới nửa giáp. Sau khi mãn tù cải tạo về, nó và ông rủ nhau mò vào rừng đốn củi kéo về bán cho các lò gạch tư nhân, lò nấu rượu lậu. Làm ăn mới phất lên chút đỉnh định sửa căn nhà méo xệch, thì tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã, giống như người ta lùa bầy vịt vào mành quây. Ruộng đất, tư liệu sản xuất đều xung vào tập thể. Đôi bò của ông và thằng Cán cùng nhiều nông dân khác đều bị hóa giá với cái giá bọt bèo, đủ để mua chui nhủi vài chục cân thóc, rồi giao lại chủ cũ chăm sóc. Đôi bò đã có chủ mới. Mà chủ mới kia lại là một đống người ngồi chồng chéo trong ban chủ nhiệm cùng với tất thảy những xã viên, nôm na gọi là bò hợp tác xã. Có hàng trăm ông chủ dòm ngó vào, khen chê bình phẩm đủ điều, đến cả con bò hình như cũng cảm thấy nhồn nhột ở đuôi chứ chưa nói người chăn giữ. Nhiều lúc nhìn đôi bò của mình chỉ trong phút chốc biến thành của tập thể làm ông ứa nước mắt, lòng thắt lại.

Hết mùa cày bừa, cái tập thể kia chỉ định đi kéo gạch mộc, kéo củi cho lò gạch hợp tác, kéo lúa về kho... Quay tròn như chiếc chong chóng, tối tăm mặt mũi cũng chỉ đủ nuôi mấy cái miệng há ra như bầy chim đói mồi. Lúc thành lập các tổ đội sản xuất ông được đám giữ bò bầu làm chức đội trưởng, phân công điều hành ba sáu chiếc cộ. Ông giữ chức này không phải ba bốnđời hành nghề kéo cộ nhưng ông có chút chữ, vốn là anh giáo làng, hiền lành, biết tính toán, phân công cho anh em. Làm đội trưởng cũng phải làm việc như ai, chứ không phải ngồi trong căn nhà gạch chỉ chỏ, ra lệnh, nên chỉ thêm được vài chục ký lúa gọi là "phụ cấp chức vụ". Cũng chẳng sao. Công sức mình bỏ ra chứ không đi ăn cắp của ai. Và ông nhận lời. Đám xã viên cộ bò trongđội ông, coi lại toàn là những anh lon ton trong chế độ cũ: lính nghĩa quân, lính địa phương, nhân viên tùy phái trong công sở, mấy anh nhà giáo bị động viên, một số ít khác tự hủy hoại thân thể để trốn lính. Giờ này tất cả đều phải vịn đuôi bò mà sống. Biết thân biết phận, không ai ca thán.

Nhớ lại, sau ngày đi cải tạo về, vợ ông lục đáy rương còn 8 chỉ vàng y, bàn với ông:

"Nghe nói vàng sẽ bị nhà nước tịch thu hay đóng dấu gì đó. Có giữ lại phòng thân cũng không ổn, chi bằng đem đổi đôi bò về cày bừa, hái củi, kéo trấu cho người ta tráng bánh, có đồng ra đồng vô để nuôi con và cha mẹ già".

Ông nghe phải, liền xách tám chỉ vàng nhờ Cán đi tìm bò. Khoản này nó giỏi hơn ông nhiều. Nó biết coi răng lưỡi, coi đuôi, tướng mạo cày hay, hay trở chứng và nó chọn đôi này. Đôi bò tơ, to đẹp người ta đồng ý đổi lấy năm chỉ. Ông mừng, lùa đôi bò về. Thấy bò vợ ông cũng mừng, con ông cũng thế. Riêng cha ông đứng trong hiên nhìn ra lắc đầu, cái lắc đầu chán nãn, mệt mỏi và thất vọng.

Cán phụ ông dựng chuồng tạm, trồng nọc rơm. Hai anh em thân nhau thành đôi, chăn bò trên các nghĩa địa, soi cỏ ven sông những lúc không phải ra hợp tác. Nó lại chỉ dẫn ông cách cho ăn uống, tắm táp. Nhờ chút kinh nghiệm nhỏ, đôi bò cứ phình to lên như những con bò mộng trong đấu trường.

Ngày Cán lấy vợ không vui như trước. Đám cưới được tổ chức trong gian phòng nhà hạnh phúc ở thôn với cờ xí, khẩu hiệu treo kín tường. Hai họ và bạn bè ngồi hai bên dãy bàn dài với những ly nước trà cám, kẹo nổ, cốm vắt làm từ đường đen trộn với bột gạo, sắn... Phía trên cao là lá quốc kỳ, ảnh lãnh tụ nhìn xuống. Những cục kẹo như những viên sỏi ngọt, khách khứa cố cho vào miệng để chung vui, trong khi đoàn thanh niên đứng ra đọc lời chúc mừng cô dâu chú rể: "chung sống để góp tay vun xới cho hợp tác xã giàu mạnh, để mọi người dân đều trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa... tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội". Tiếng vỗ tay lốp bốp, rời rạc. Hai họ uể oải đứng lên. Cô dâu chú rể nắm tay nhau đứng lên. Vậy là họ chính thức thành vợ thành chồng, chẳng cần tổ tiên ông bà chứng giám gì ráo trọi, vì đã có người trên cao chứng rồi.

Ông Chấn, cha Cán không chịu cảnh nhục nhã đó. Ông nói nhỏ gì đó vào tai anh sui gia. Hai họ không về hướng về nhà mình mà qua truông tre tạt vào nhà ông. Hai trẻ đều mặc bộ bà bà đứng trước bàn thờ, vái lạy ông bà sau khi ông Chấn và ông sui gia thắp hương khấn niệm. Họ làm thật nhanh ròi quay ra nhà sau. Hai chiếc bàn tròn kê phía chái nhà, phía sau là hàng rào tre ken dày, nghĩ là không ai thấy. Hai con gà nấu cháo xé phay và mấy tô thịt heo chỉ thấy mỡ trắng hầm măng tươi chặt trong vườn nhà được bày ra. Tất cả chỉ có vậy. Hai họ ngồi vào bàn với vẻ mặt lấm lét như đang đi ăn vụng. Không nghe tiếng nói cười. Chỉ lặng lẽ như thể đang dự một đám tang.

Ông Chấn nước mắt giọt vắn giọt dài, mắt đỏ hoe nhìn anh sui gia sụt sùi:

"Cái thời bắt phải thế, chớ vợ chồng tôi đâu nỡ nhìn cảnh này. Cũng có một chút gọi là..." -

Nói và ông khóc. Mọi người bùi ngùi ngồi xuống như cảnh ăn cơm tù.

Tan tiệc, mạnh ai về nhà nấy. Riêng ông Chấn, sáng hôm sau có hai anh du kích vào nhà mời lên thôn. Ông thôn trưởng tuổi bằng thằng Cán, nhưng trông oai vệ như những anh vệ quốc quân thời đánh Pháp. Chiếc nón cối màu cứt ngựa đặt cạnh mép bàn, bên này là chiếc sắc cốt, chồng giấy tờ trước mặt. Bộ áo quần kaki và đôi dép râu không làm anh ta oai phong lên mà có vẻ khôi hài bởi vẻ mặt non nớt, trên mép có chút râu lún phún.

Ông trưởng thôn xuất thân là anh đánh xe ngựa, một bên chân bị tật bẩm sinh nên không phải vào lính. Anh ta xuôi ngược từ thị xã lên các vùng trung du chở nông thổ sản, cá mắm. Có lúc người ta nghi anh tiếp tế cho Việt cộng, bắt giam mấy ngày để hỏi cung nhưng không lần ra tang vật, lại phải thả ra. Bước ra khỏi trại tạm giam anh cười khẩy: "Mẹ cứt, tụi liếm gót giày đế quốc".

Người du kích chỉ ông ngồi xuống chiếc đẩu trước bàn trưởng thôn. Ông Chấn chưa kịp chảo hỏi thì được nhận ngay một tràng giáo huấn phủ đầu: "Ông khai đi. Ông tưởng cách mạng, nhân dân không biết việc làm của ông sao? Đấy là hành động chống đối lại chánh sách cách mạng. Thử hỏi ông, gà heo là của hợp tác xã, tức là của nhân dân. Ông lấy đâu ra những thứ đó để tiệc tùng nếu không phải là ăn cắp? Cách mạng đã dẹp bỏ những hũ tục cưới xin. Ăn uống tiệc tùng tức là ăn uống mồ hôi nước mắt của nhân dân, là bóc lột nhân dân, ăn cắp của nhân dân...". Hắn ta nói nhiều. Tai ông ù lên, mắt hoa. Nước mắt ông chảy dài. Phải chi ông là tên ăn cắp thứ thiệt, đằng này con gà nhà ông nuôi trong vườn lại biến thành con gà của nhân dân. Bà con chòm xóm góp tem phiếu để ông mua hai ký thịt lèo nhèo những mỡđãi họ gái thì gọi là bóc lột nhân dân. Cái mụt măng nấu lẫn với thịt heo kia, nếu nó biết nói hẳn sẽ kêu lên rằng nó là chút chít từ thời ông cụ kỵ tằng tổ gì đó trồng chớ có thấy nhân dân nào thọc tay vô đâu? Nhưng giờ ông trưởng thôn đã nói vậy thì phải cúiđầu nghe theo. Ông trưởng thôn là đại diện cho nhân dân, mà nhân dân là cách mạng, cách mạng không có tay chân hình hài nhưng là cái bóng to lớn bao trùm cả bầu trời này! Ông không nóiđược. Ông khóc.
Trưởng thôn ngó sát mặt ông: "Như vậy là ông đã nhận ra tội lỗi, biết ăn năn. Khóc tức là ăn năn hối cải về những lỗi lầm tự mình gây ra, tức thị trước đây chưa giác ngộ, tư tưởng chưa thông... Ông ngồi viết bản kiểm điểm đi".

Trong khi người cha ngồi ở trụ sở nhân dân thôn viết kiểmđiểm thì Cán đã đánh cộ bò ra sân kho chuẩn bị chở lúa về nhập kho. Ba sáu chiếc cộ sắp ngay hàng trên nền gạch sân kho giống như những cỗ xe tăng trong lễ duyệt binh. Chúng nghếch hai chiếc sừng cong hướng về phía kho trung tâm, mõm đưa qua đưa lại như đang ôn lại bài hát quân kỳ chút nữa đây sẽ cất lên.

Khi ba sáu chiếc cộ bò đã chất đầy những bao lúa căng phồng, tổ trưởng ký biên bản giao nhận và ra lệnh đoàn cộ lên đường, thành một hàng dài thẳng tắp, kéo về kho chính của hợp tác cách đó không xa lắm.

Tổ trưởng cũng là xã viên như ai, không phải kẻ "ngồi mát ăn bát vàng", vì vậy tổ trưởng cũng kê vai đỡ đủ hai mốt bao lúa nặng hàng tấn, ì ạch vác vào kho. Khốn nỗi, thân ông thì gầy còm, thấp nhỏ nên bao lúa trên vai không với tới những tấm ván chặn trước cửa kho. Mấy lần ông suýt ngã quỵ. Lại thằng Cán phát hiện trước tiên, nó kêu lên "anh Sáu! Để đó cho em". Tiếng la của nó như tiếng hô xung phong khi tiến chiếm mục tiêu ngoài mặt trận khiến ông sững lại, bao lúa nặng trên vai đang đưa tới bỗng bị dừng bất ngờ làm cho vai ông sụm xuống, té nhào. Anh em đỡ ông dậy. Cán kêu anh ngồi nghỉ, để tụi em. Cán hì hục lôi đủ hai mốt bao lúa lên tít đọt cao rồi xổ ra. Nó lại gom tất cả các bao rỗng bỏ vào thùng cộ, kéo anh Sáu đứng lên đánh bò về.

Cán không về thẳng nhà mà rẽ vào nhà anh Sáu, giúp mở bò dắt vào chuồng, rút rơm cho vào máng, lại ra giếng xách nước đổ vào thùng. Lúc nhìn thấy chị Sáu cầm những bao rỗng trên tay, nó hấp háy cười cười. Ông không hiểu chuyện gì. Đến khi vợ ông kêu lên:

"Sao lúa còn trong bao nhiều dữ vầy?".

Ông quay lại nhìn Cán, nó tỉnh bơ:

"Là em để lại. Thằng cha nào khi nhập kho cũng nắm lấy hai đáy bao và giữ lúa lại. Tội nợ gì anh. Của nhân dân mà".

"Các chú làm như vầy bao lâu rồi?".

"Chuyến nào cũng có".

"Là ăn cắp của xã viên?".

"Anh thông suốt đường lối chánh sách, nắm vững cái nhân dân khổng lồ rồi đó" - Nói và Cán nở nụ cười thật rộng - "Anh chưa biết đâu, cách đây bốn hôm, thay vì kéo thẳng về kho, thằng Tổng đánh bò chạy thật nhanh và trút cả cộ vào nhà ông phó chủ nhiệm đó. Còn trước nữa thì có trời biết đã có bao nhiêu cộ lúa vào nhà ông chủ nhiệm, kế hoạch, kiểm soát... Mỗi cộ như vậy cũng trên dưới hai tấn chứ ít sao anh, của nhân dân mà!".

Nghe giọng nói thong thả, đều đều của thằng em lối xóm, tự dưng đầu ông đau nhức như búa bổ. Kiểu này thà ông bán bò, bán cộ ra đồng cắm mặt xuống bùn sình coi bọ đỡ xấu hổ hơn. Ông nổi giận thiệt tình, giận dữ đập tay xuống bàn:

"Chú mang số lúa kia đi đi".

Cán hỏi lại:

"Mang đi đâu, anh?".

"Tôi không biết. Chú mang ra khỏi nhà tôi ngay".

Cán lẳng lặng đứng lên, ra sân gom hết số bao quăng lên cộ mình rồi đánh bò đi, không thèm nói tiếng phải trái với ông.

Ba ngày sau, ông lên ban quản trị hợp tác, nại cớ đau bệnh, giao cả bò lẫn cộ cho người khác, mặc dầu ông tiếc đứt ruột.

Suốt mấy ngày liền Cán không dám tới nhà anh Sáu. Tổ cộ bò cũng không thấy kế hoạch phân công vận chuyển. Cán nằm nhà giỡn với cô vợ trẻ trong thời kỳ đầu mất kinh. Cán xoa xoa bụng vợ qua lần vải áo: "Em đẻ cho anh một thằng nhân dân thiệt ngộ nghen". Cô vợ thốt lên "con nít". Hai người vít đầu nhau muốn hôn nhưng không dám, vì lúc đó đang đứng giữa vườn trống. Cán buông vợ ra, nói: "Để anh qua nhà anh Sáu coi sao, với lại tối nay kêu ảnh ra rừng dương kéo cành lá khô cho lò rượu ba Dinh kiếm ít đồng".

Cán thập thò ngoài cổng một lúc mới dám bước vào. Anh Sáu đang lui cui chẻ lạt ở đầu hiên nhìn thấy nó nhưng giả lơ. Cán xán tới, ngồi bệt xuống đất:

"Thôi mà anh Sáu, giận chi em".

Im lặng.

"Tụi ngồi trên ban quản trị đứa nào cũng nhân danh nhân dân. Thơm tho lắm, nhưng thằng cha nào cũng tham. Tụi em phát hiện cái cân bàn rồi mới dám làm. Tay thủ kho hễ xuất lứa thì mở nắp hộp cân bỏ vài cục sạn nhỏ trước khi cân; còn nhập vào thì hộp quả cân trống trơn. Số lúa thừa trong kho ai ăn? Lúa nhân dân mà. Chia nhau. Chia nhau hết. Khỏe ru. Bởi vậy thằng Tổng mới dám kéo lúa về thẳng nhà phó chủ nhiệm chớ. Mà phó chủ nhiệm ăn thì không lẽ chủ nhiệm ngồi nhìn. Của nhân dân, nhân dân ăn tuốt. Khỏi lo".

Anh Sáu gát cán rựa lên chiếc đòn kê:

"Chú chớ có nói những chuyện đó với tôi. Tôi không muốn nghe nữa"

"Thôi bỏ. Nhưng tối nay em có mánh. Là xuống rừng dương kéo vài cộ lá cành về cho mấy lò rượu lậu. Họ đặt hàng rồi. Anhđi với em?".

"Không, chú đi đi. Tôi giao cả bò lẫn cộ cho hợp tác rồi" - Anh sáu vùng vằng, trong khi Cán mặt tái đi, vì lần đầu tiên Cán nghe nói anh Sáu giao lại cả cộ lẫn bò. Cán không dám nhìn ra chuồng, không nói thêm lời nào nữa, lặng lẽ đứng dậy ra về, không chào.

xxx

Vợ Cán từ nãy giờ cứ nhìn sững vào mặt anh Sáu cố giấu lòng thương cảm xót xa với người ngồi đối diện, lúc này mới lên tiếng:

-Chị mất rồi anh sống thế nào? Còn mấy đứa nhỏ đâu không thấy?

Ông thở đánh sượt, giọng kể lể:

-Từ ngày vợ chồng chú biệt tích, tôi giao bò giao cộ cho hợp tác ra đồng như những xã viên khác. Làm cật lực cũng chỉ đủ nhét mấy cái bao tử khỏi sôi réo. Hai thằng con thấy cảnh khó khăn, túng bấn vừa cố học vừa phụ giúp cha mẹ, nhưng cũng chỉ như "gió vào nhà trống". Được cái chúng học giỏi. Thằng trước thi đậu vào đại học, giấy gửi về địa phương, bốn tháng sau mới tới tay, coi như trễ. Năm sau nó lại thi đậu lần nữa, cũng vừa đúng lúc có giấy gọi đi nghĩa vụ. Lại mất hai năm. Lại thi, lại đậu nhờ nó khôn ra, ghi địa chỉ ở nơi khác dưới thị xã. Cầm tờ giấy báo đỗ, nó mừng như người chết sống lại, mua vé xe đi ngay vào trường. Nhưng khốn nỗi, địa phương không chịu cắt khẩu về trường, nói là "thi lậu". Vợ tôi lại lục dưới đáy rương lấy ba chỉ vàng cuối cùng mang xuống xã đút lót, nài nỉ mới êm. Thằng sau may mắn hơn, không còn cảnh trù ếm như trước. Cả hai giờ làm trong Sài Gòn.

Cán cắt ngang:

-Anh sống một mình, xoay trở làm sao?

-Chừng này tuổi, có còn nhu cầu gì nữa đâu chú. Con cái thành đạt tôi mừng.

-Em nghĩ anh vào sống với các cháu là ổn nhất - Vợ Cán nói.

-Chúng có vợ con, có căn nhà nho nhỏ trong đó rồi, tôi không còn bận tâm, lo lắng gì nữa. Nhưng bỏ chốn này vào với chúng thì tôi không thể. Cô chú biết đấy, nhà cửa của cha mẹ là nhà cửa của con cái, nhưng nhà cửa con cái không phải là nhà của cha mẹ. Rồi tiền bạc của cha mẹ cũng là tiền bạc của con cái, và ngược lại thì không phải của cha mẹ. Cô chú có con cũng hiểu chuyện đó mà.

Ông im lặng hồi lâu mới ngập ngừng hỏi Cán:

-Chú nói tôi nghe, cái hồi vợ chồng chú kêu đi kéo rác dương đó là chú rủ tôi đi vượt biển?
Cán cười nhưng nụ cười không tròn:

-Suýt nữa chết mất xác. Bữa đó vợ chồng tôi đánh cộ ra khu Long Hà, nơi vắng nhất chỉ vì sợ kiểm lâm bắt được thì chết. Không ngờ khi tới nơi, sát mé biển hai vợ chồng đi cào rác. Cào được phần cộ thì gặp đống rác lớn như của ai để sẵn. Vợ tôi nói của người ta dừng đụng tới. Còn tôi thì nghĩ, của nhân dân, tội nợ gì và cào bừa. Cào hết lớp rác mặt thì đụng ngay những can dầu chất đống. Tôi giật mình, nhưng muộn rồi. Mấy thanh niên từ phía rừng dương dày bịt xuất hiện. Đêm tối nhờ nhờ không nhìn thấy mặt. Cả mười mấy người ập đến, áp vợ chồng tôi vào gốc dương, dùng khăn nhét vào miệng. Một toán khác đứng phía xa thầm thì gì đó. Cuối cùng thì nghe tiếng lộp bộp khua nước và tiếng sóng. Một toán giữ chặt chúng tôi, toán kia chuyển những thùng dầu đi. Tôi hiểu ra tất cả. Họ làm rất nhanh. Loáng một cái số can dầu hết sạch. Lúc này có tiếng hỏi: "Xử trí sao đây anh Hai?". Người kia trả lời: "Theo phương án ba". Nghe vậy tôi nghĩ chắc cả hai sẽ chết hoặc chí ít cũng bị cột chặt vào gốc dương trước khi có người phát hiện. Người được gọi là "anh Hai" tiến lại chỗ tôi, dùng tay nhét chặt hơn chiếc khăn vào miệng, ôn tồn: "Anh chị thông cảm. Sự thể như thế này thì không có sự lựa chọn nào cho anh chị cả. Anh chị cùng lên tàu với chúng tôi, mặc dù chúng tôi biết anh chị không muốn như thế. Còn thả anh chị ra lúc này rất có thể tụi tôi bị bắt ngay khi mới ra cách bờ vài hải lý. Lúc này không thể tin ai nổi. Anh chị thông cảm. Thôi sống chết đều có số cả. Lên tàu. Sống cùng sống. Chết cùng chết". Nói và ông ta hất đầu ra hiệu cho toán người đẩy vợ chồng tôi xuống bãi và lên tàu... Vậy là từ anh kéo cộ bò bỗng trở thành kẻ phản bội, chạy theo đế quốc... rồi thành Việt kiều yêu nước...

Nói xong Cán ngửa mặt cười ha hả, cười đến chảy nước mắt.

- Cô chú biết không, sự mất tích đột ngột của cô chú khiến cả xã, cả huyện như đang ngồi trên đống lửa vì mất thành tích an ninh chính trị địa phương. Đủ mọi thông tin và thông tin chắc chắn nhất là cô chú vượt biển khi công an tìm ra manh mối chiếc cộ bò gần đó cùng mùi dầu trên cát. Họ rần rần tới nhà chú tra hỏi ông bà cụ cùng bằng chứng cả đám người dưới phố đi đêm đó, nên ông bà bị đuổi ra khỏi nhà, tịch thu theo diện con cái bỏ trốn ra nước ngoài, giao lại cho tay phó thôn phụ trách an ninh. Hai ông bà uất quá sinh bệnh, chết cách nhau vài năm. Cả xóm tới lo hậu sự mà lấm la lấm lét như đi ăn trộm. Thật tội nghiệp.

Cán bật khóc, vợ Cán cũng khóc mùi mẫn:

- Vợ chồng em có tội với ông bà cha mẹ. Một lần ruộng đất của cải phải hiến cho nhân dân. Lần sau lại bị mất nhà cửa vào tay nhân dân. Mệnh số chi mà lạ lùng như vậy? Lần này vợ chồng em về xin trú tạm với anh mươi ngày để lo xây phần mộ cho ông bà cụ, coi như để trả nợ hiếu nghĩa cho cha mẹ. Anh giúp em lần này.

- Nghĩa tử là nghĩa tận. Thôi, cô chú đừng khóc nữa. Cứ tạm tin vào cái số đi. Nghe việc này, tôi chắc hai bác nở nụ cười tươi nơi chín suối. Đúng ngày thì tối thui mà đêm thì lại sáng trưng.
Đăng nhập để trả lời
0

NHÂN DÂN ƠI, XIN CHÀO


NGUYỄN LỆ UYÊN




1.
Bốn Lợt đang là nhân dân, đang là hột cát nhỏ, rất nhỏ trong hòn đá tảng, là tế bào tí xíu trong thân cây mấy ngàn năm tuổi. Ngày xưa ông lú lấp đâu đó giữa hàng đống nông dân. Bây giờ cái mác nông dân bị bóc ra, dán tem mới, tem nhân dân.
Và lúc này nhân dân bốn Lợt đang đứng trên bờ ruộng, bên này con mương nước, trên đôi chân run run, cảm thấy ngực mình xẹp xuống, hai lá phổi tan vỡ từng mảnh vụn, bay lên không trung, mắt đục xám, xương sườn, tay chân cũng tan ra từng mảnh. Cây gậy củ tre láng bóng chịu tất cả sức nặng bắt đầu tan ra đó, lún xuống, cong oằn như thể những cây lúa thì con gái đang dập gãy. Những thửa ruộng chìm sâu bên dưới quả núi cát khổng lồ ùn ùn bay tới. Cây lúa thì con gái bị hãm hiếp. Cánh đồng mơn mởn xanh cũng bị hãm hiếp. Máu từ háng, từ nách, từ rún đến cả miệng, mắt mũi ròng ròng chảy. Chảy lênh láng, vón cục thành đống cát cao nghệu. Đống cát cao kia dính máu đỏ bầm, chính là thằng hãm hiếp cây lúa, cánh đồng. Tiếng lẹp nhẹp nhấn xuống, đẩy mạnh, nhấn lút, đẩy mạnh sâu hơn nữa, phát ra âm thanh lóc chóc, lóc chóc... Tiếng lóc chóc dãy dụa quẫy đạp. Nước tứa ra. Màu nước máu đen từ háng, từ rún phụt ra, phụt thành vòi cao. Những mái tóc xanh, những thân hình non nớt chìm nghỉm trong cái màu nước đen, dưới sức đè của thằng khốn khiếp.

Bốn Lợt cười ha hả, cười khằng khặc như điên như dại khi nhớ lại ngày xưa người lớn ở làng này thường ví von cánh đồng làng An Phổ giống cái mông tròn của cô gái dậy thì. Mông đàn bà thì luôn hấp dẫn với đám người có cặp mắt hau háu cú vọ. Lại là mông cô gái hơ hớ tuổi xuân, nên làm nhiều anh lé mắt, lé mắt và nhểu nước miếng. Duy nhất chỉ có những anh bị thiến, những tay cù bơ cù bất mới không tơ tưởng, hay không dám tơ tưởng đến chuyện được choàng tay sờ soạn, giữ rịt làm của riêng. Dân trong làng và các xứ khác chết mê chết mệt bởi cái mông ấy. Nó xanh mướt màu xanh ngọc bích. Nó vàng ruộm màu vàng ròng dát trên các pho tượng nữ thần trong ngôi đền thiêng. Được nằm gối đầu lên mông, một lần thôi cũng đủ ngửi mùi hương lạ, mùi thơm của đất trời tụ lại ngan ngát mùi bồ kếp, lá chanh, bông bưởi trộn lẫn, một thứ hương thơm lạ lùng, hiếm thấy trên cõi đời này, làm say nức từ ông lão sắp xuống hố chí đến đứa trẻ mới tập đi. Người ta sống không thể thiếu nó, thèm thuồng vì nó. Người ta ghen tức vì nó, bởi dân làng này được sở hữu một cái mông tròn mênh mông rộng, cong mẩy, nằm vểnh giữa một bên là khúc sông Diễn, bên kia là cánh núi hình cung choàng tay ôm ấp, vuốt ve suốt đêm ngày, năm tháng.

Vậy mà giờ này cái mông ấy bị hãm hiếp đến nát tan, bị đứa hiếp dâm nuốt chửng vào bụng, bảo làm sao tim ông không vỡ vụn ra từng mảnh nhỏ, bay lên trời cao, bay vào cõi mù tăm vô tận?
Cây gậy củ tre cong thêm chút nữa. Ông sắp khuỵu xuống mất rồi, cũng sẽ tan theo cái mông bị nhấn lút lần hồi kia thôi.
Đám quái vật thời cơ khí, ào ào chạy qua mặt ông gào rống, giống như những tên cướp ngày, tung bụi mù mịt, ném vào mặt ông những cái tát bầm bập. Nó xịch tới xịch lui trên chiếc mông nát tan thành trăm ngàn mảnh vụn, rồi đè nghiến lên chiếc mông tròn của cô gái yêu làng An Phổ, chổng đít ỉa từng đống lớn rồi hối hả bỏ chạy. Tốp khác lại ập đến, lại chổng đít. Ông nhướng mắt nhìn mà thấy như chúng đang ỉa vào mặt ông, tới tấp ỉa vào mặt ông. Tội nghiệp cô gái yêu của làng. Khốn khổ thay cô gái yêu của làng bị hãm hiếp trước sự bất lực của nhân dân.

Bụi trùm kín đường về. Những con quái vật nối đuôi lao tới. Cuộc chiến không cân sức tiếp tục giữa một bên là cô gái yếu đuối bị đè ngửa nằm bất động và bên kia là những tên cướp có sức mạnh gấp mấy chục thần Hercules nối lại. Nước mắt ông chảy dài. Cây gậy trong tay ông cũng chảy nước mắt.
Vào đến đầu làng, bốn Lợt chạm mặt trưởng thôn Mạnh. Trưởng thôn có khuôn mặt méo một bên, luôn luôn đỏ như vừa từ trong hũ rượu bước ra. Trưởng thôn ngó ông già, đón lại:

- Lại ra đầu đường nữa chớ gì?

Ông già đưa cây gậy củ tre lên hươ hươ như thay câu chào mà cũng như sắp bổ xuống đầu trưởng thôn. Nhưng cây gậy củ tre không ngẩng được lâu. Nó từ từ rớt xuống, lưng lửng giữa thắt lưng rồi lại cắm đầu xuống đất. Ông ngó trưởng thôn bằng cặp mắt có đám bụi bám trên hàng lông mi màu trắng.

- Giỏi, chú lại theo dõi tôi.

- Ông mà cứ gào rống, tôi không tha.

- Thì sao? – Ông già nhướng cặp mắt có hàng lông mi nhuộm trắng bụi.

- Ông đi vận động nhân dân trong thôn chống lại chính sách của trên. Ông muốn tư hữu, ông muốn cả thôn cứ chổng đít lên trời, mặt cắm xuống bùn đen miết sao? Nông dân. Nông dân là cái củ kít gì. Một năm làm ra được bao nhiêu sản phẩm cho làng nước? Trên đã giải thích nhiều lần rồi. Chỉ có công nghiệp hóa nông thôn thì dân mới giàu, nước mới mạnh. Ông hiểu ra chưa? Chỉ có những cái đầu bã đậu mới không nhận ra điều này. Trên luôn luôn sáng suốt. Chỉ có những cái đầu bã đậu là ngu tối.

- Biết chớ sao không? Mang cả hàng trăm tỉ bạc của nhân dân lên núi, thuê xe ũi, xe xúc vẩy càng đâu mươi mẫu, liền giăng cờ gióng trống, quay phim chụp ảnh ca ngợi thành tích khai hoang ruộng nước cho đồng bào thiểu số. Thành tích lớn lắm. Nhân dân lại đứng mũi chịu sào cho cái thành tích ấy. Vậy chớ mấy chục mẫu thượng đẳng điền đây, phải mất mấy trăm năm mới thành khoảnh? Mồ hôi nước mắt và cả máu nữa. Đổ ra bao nhiêu mới có con đập dẫn nước tưới tiêu hoàn chỉnh, nay đem phá đi?

-Phá? Sao lại pha…á á… - Trưởng thôn trợn ngược mắt.

-Không phá sao tự dưng lấp ruộng lập khu công nghiệp?

-Ông đúng là đồ bã đậu – Trưởng thôn nhổ phẹt bãi nước miếng quày quã bỏ đi. Bỏ đi thẳng không thèm ngó lại. Ông già nói nhóng theo:

-Có chúng mày là đồ ngu, đồ bã đậu. Khu công nghiệp thì làm đâu chẳng được. Thiếu mẹ gì những khu đất khô cằn, lại đi lấy cây lúa, vánh đồng màu mỡ đỡ đít khu công nghiệp? Tiền đền bù mỏng dính chỉ ba ngày là sạch. Họ làm gì với dúm tiền lẻ, thứ của bố thí đó? Chuyển đổi cái con mẹ chúng bay! – Ông già cũng nhổ phẹt bãi nước miếng, nhưng bãi nước miếng không rơi xuống đất, nó dính toòng teng giữa hai môi thâm đen như cái câu móc níu dính lại. Cái móc câu ấy như muốn khuyên: ông đừng có há miệng ra nữa.

Về tới nhà ông thấm mệt. Mệt không phải vì đường xa, vì đôi chân già nua. Ông mệt bởi vừa sáng đã gặp thằng thổ tả chận họng. Cái mặt méo câng câng. Đầu tóc luôn bôi mỡ đến con ruồi vừa chạm lên cũng trượt té nhào. Và nhân dân nữa, cũng bị coi như lũ ruồi không bám được trên mái tóc bôi mỡ của thằng mặt méo. Chân chưa chạm đã trượt ngã, sức đâu mà cản ngăn. Nhân dân đâu dám cản, chỉ là tấm đệm lót, là những chiếc ghế đẩu để chủ nhân xê dịch, ngồi lên. Ngồi lên và còn đái són, địt tũn vào mặt ghế đẩu. Nhân dân được tung hê lên mây xanh và nhân dân lãnh đủ. Ông ấm ức nhưng ông chỉ là một hột nhỏ, rất nhỏ trong tảng đá khổng lồ kia thôi. Chịu phép!


2.
Ông già thọc gáo dừa vào khạp nước. Nước cạn đáy. Chiếc gáo khua rồn rột vào thành khạp. Âm thanh khô dòn, vê tròn lại như một ấm ức không bay ra khỏi người. Ông ném gáo vào khạp. Cán gáo quay tròn như cái chong chóng, quay một vòng mới chịu đứng yên. Ông trở ra thềm giếng đưa tay kéo cần vọt, thòng xuống giếng. Chiếc gàu thiếc lủng nhiều lỗ dưới đáy. Chiếc gàu kéo lên khỏi thành, nước tòe tròn như vòi sen. Kéo qua khỏi thành chỉ còn nửa gàu. Một tay vịn sào cần vọt, tay kia hứng những giọt nước rớt rửa mặt. Lại thòng gàu vục xuống giếng, kéo lên và xối chảy ồ trên hai mu bàn chân. Nước mát làm ông tỉnh táo. Cái thằng mặt méo ó đâm, chuyên rình trộm và tâu báo. Mà mọi người trong làng này làm gì đến nỗi nguy hại chớ. Cái khẩu hiệu “dân biết, dân bàn…” như tờ vàng mã dán trên cổng chuồng heo, chuồng bò mỗi dịp năm mới cúng ông chuồng bà chuồng chắc. Bàn cái củ đếch. Mới mở miệng ra nó kêu phá hoại thì còn bàn nỗi gì? Mà có bàn đến lưỡi nát nhão ra cũng vậy thôi. Ai nghe theo nhân dân? Chỉ có nhân dân là bị xỏ mũi như xỏ mũi bò dắt đâu chạy đó. Trì kéo lại thì rách lỗ mũi. Lỗ mũi mà rách thì máu mình chảy, thịt da mình đau, lưỡi mình nát…. Chạy theo. Cứ chạy theo. Nhắm mắt chạy theo? Chạy lên núi, nhảy xuống biển, nhảy vào lửa, chun vào gai… Ông cụ tổ nhà mày. Tao gào rống đấy, làm gì tao? Tao gào rống chớ không cầm cây đánh lại chúng mày thì làm gì tao? Ông trời cho con người cái miệng. Cái miệng không mở ra, không nói là câm. Miệng sẽ thúi như củ hành thúi. Nói vậy, gào vậy đến trời xanh còn động lòng. Chỉ có lũ mày là đá, là hòn đất, cứt đái không biêt đầu đuôi để suy xét thiệt hơn…

Ông nổi giận như thể có thằng mặt méo đang đứng trước mặt. Chừng miệng khô đắng, ông mới thấy mình vô lý. Đi nói với cây gậy củ tre thì ích gì. Nó đâu có gây ra chuyện, nó luôn đỡ bước đi rệu rụm của mình mà? Ông mệt và bước tới phiến đá nhẵn kê sát gốc mận ngồi thở dốc. Mả mẹ thằng mặt méo. Ông lầu bầu, giở gói thuốc ra, nghĩ sao lại nhét vào túi. Lại lôi ra rồi vo tròn, ném mạnh ra xa, như thể ném vào thằng mặt méo.

Chó sủa ngoài ngõ. Giỏi lắm, vào đây mặt méo. Ông cho một gậy u đầu như cái sừng trâu. Cặp mắt hom hem có những sợi lông bạc nhướng lên. A… lại thằng ba Thể. Gì nữa đây? Làng này ai không biết mày xung phong đăng lính. Đăng lính để xách súng về rượt thằng chú nhà mày lương lẹo mất ba sào ruộng ông bà chia cho. Rồi mày có bắn nổi chú mày không? Hay cuối cùng mày tự bắn vào chân để tìm cách giải ngũ? Mày tự móc thịt da mày ra, vậy mà có ai tha thứ mày không? Ra tòa án binh, ngồi tù. Ngồi tù chán thì ra lao công đào binh. May mà mày chưa chết. Súng đạn tha mày. Cách mạng không nhắm vào đầu mày bắn vỡ làm trăm mảnh, quốc gia cũng không nỡ hành hạ mày chết thảm. Vậy mày biết ơn. Mày đi vận động bà con giao lại thẻo ruộng để làm khu công nghiệp. Cái miệng dẻo quẹo của mày khiến bà con mềm lòng. Một người ký đơn thì hai người ký, rồi ba, rồi mười. Giỏi. Dân vận giỏi. Mày còn bày ra trò tao chống đối chánh sách để xã kêu, huyện kêu, tỉnh áp giải. Tao chỉ nói cái “dân bàn”. Không cho “bàn” thì tao rống, tao gào chớ có cầm cây gậy củ tre đánh vào đầu lũ chúng mày đâu?

Mẹ đời! bà bảy É đấy. Cả đời không chồng con, chỉ có hai đôi nừng với lùng tùng xèng kim chỉ, dầu mỡ, kẹo cốm chắt mót từng đồng để mua sào ruộng làm phần thực, để sau này giao cho đứa cháu nhận giỗ tự cho bà. Là cách phòng xa hương khói, để vong linh khỏi vướng vất lạnh lão nơi đầu truông cuối xóm; để bà không trở thành con ma đói. Đấy, cái sào ruộng bảy É mua kia ai không biết bà nhịn ăn? Một muỗng gạo ăn hai ngày. Mày nhớ coi. Cả làng này ai không nhớ cái cảnh con cá trê bà mua về, rộng vào thùng nước. Ngày đầu cầm dao cắt phần đuôi tí bẻo nấu canh, phần còn lại thả vô thùng. Nó quẫy mạnh như từ máy chém trở về. Máu loang ra nhuộm đỏ nước. Ngày sau nó bị bắt lên đoạn đầu đài, bị tùng xẻo chút xíu nữa, ngày sau thêm chút, mỗi ngày một chút thịt xương chỉ còn trơ khất cái đầu và hai cái ngạnh cùng mấy cọng râu thòi ngửa lên mặt nước… Chung số phận với con cá trê là trái thu đủ trước sân, mỗi ngày xẻo một miếng nhỏ. Phần còn lại đau quá nó khóc, khóc cho đến khi còn cái cuốn vẫn khóc. Nước mắt trắng đục rớt xuống. Nó khóc tới chiều vẫn còn chảy nước mắt. Trái thu đủ và con cá trê bằng cườm tay ăn cả tuần chưa hết. Ăn chưa hết một con cá bằng cườm tay con nít cả tuần, nên mua được sào ruộng. Sào ruộng ấy bà cướp giựt, lương lẹo của ai? Vậy mà sau hợp tác, góp của góp công làm ăn chung, sào ruộng tự dưng biến mất, chia cho mảnh khác bằng đít trâu ngoi. Nhưng rồi vũng trâu ngoi ấy cũng không yên, bị lật sấp cạp vào mông, rồi lật ngửa bắt dạng háng để hãm hiếp. Mấy trăm con cá trê và bao nhiêu những hột muối mặn chát bị lật ngửa ra, bị nhồi dập thành mây khói, bay thẳng.

Mày còn nhớ cây duối đứng ở đầu gò Tơ không? Hồi đánh Mỹ, nó đưa bụng ra hứng chịu không biết bao nhiêu là đạn của hai bên: đạn súng máy, súng cối, cà nông, đại liên, tiểu liên, mìn, lựu đạn… xối xả găm vào người nó. Thân hình nó bị băm vằm y như mảnh đất cày. Người ta lại đóng đinh lên người nó, móc khẩu hiệu, lá cờ. Hai bên thi nhau vẽ khẩu hiệu treo cờ. Treo lên, giật xuống, giật xuống rồi lại treo lên. Nay cờ màu vàng, mai cờ màu đỏ thay phiên nhau đứng trên mình nó. Nó giơ cao những tấm khẩu hiệu, giơ cao những lá cờ và ôm chặt những mảnh đạn của hai bên vào người, sâu trong người. Máu chảy ròng ròng. Không phải máu màu đỏ, chỉ là một chất lỏng sền sệt, nhờn nhợt đục. Nó cũng đau như con người. Nó chảy máu nhờn nhợt đục như cốt tủy từ trong người nó tuôn ra. Vậy mà nó đâu có chết. Nó sống nhăn răng. Hết chiến tranh, cành nhánh mọc ra tua tủa, che mát một khu đất lớn cho lũ trẻ chận bò ngồi đánh bi, xóc đũa, nhảy cờ chuông… Mùa tháng Tư trái chín đặc cành, vàng ruộm, tụi trẻ tranh nhau trèo lên suốt bỏ đầy mũ. Tụi trẻ con vui với những chùm trái chín vàng, hỉ hả với những cành sà thấp để chúng bấu tay vào, nhún chân bay lên không, sà xuống đất. Nó tươi tốt, vòm nhánh tủa ra như làn tóc mây, thân nó mây mẩy như đứa con gái một con… Cả làng này ai không nhìn thấy? Vậy mà từ khi vào hợp tác, ông kế hoạch lượm trái cà nông thúi treo lên làm kiểng lệnh. Nhân dân được điều hành bằng tiếng kiểng lệnh này. Sáng ra đồng: kiểng; trưa hết chuyện: kiểng; xế ra đồng: kiểng. Chiều tắt nắng lại kiểng; tối kiểng họp hành, kiểng mít ting, kiểng ăn chia công điểm… Kiểng, kiểng… người dân phản xạ theo tiếng kiểng Pavlov. Kiểng chi phối toàn bộ sinh hoạt của nhân dân trong ngày, chỉ còn thiếu tiếng kiểng để nhân dân đồng loạt leo lên giường ngủ, ôm đít vợ là thành một quyển kinh âm thanh cho một giáo phái mới nữa thôi!

Nhưng mà, lạ. Tại sao nhân dân chịu đựng được tiếng kiểng ấy hàng bao năm trời, không ai bị tâm thần, không ai chết vì tiếng kiểng buốt tai? Vậy mà cây duối chết đứng bởi tiếng kiểng ngân vang, rền. Nó chết từ giữa thân chết xuống, rồi lộn ngược lên đầu. Cành nhánh vẫn xanh đấy, nhưng thân thể chết rồi, chết từ từ, lên tới tóc tai. Cuối cùng, cành nhánh cũng khô oặt, thành một khối xám xịt? Lũ trẻ con buồn vì không còn chỗ trốn nắng, đánh bi. Riêng chỉ có cái kiểng là vẫn ngoác mõm rổn rảng mỗi sáng mỗi tối… đều đều, không ngưng.

Ba Thể xán tới, sà xuống ngay gốc mận. Bốn Lợt chỉ chỉ đầu gậy ra phía xa, ý nói ba Thể chịu khó ngồi nhích xa ra một chút. Ông không chịu nổi cái mùi hôi muôn thuở, từ miệng ba Thể mỗi khi há ra. Không phải mùi cóc chết, cũng không là mùi thiu úng của thịt cá ươn. Nó là cái mùi tổng hợp của tất cả những thứ xương xẩu, rác rưởi vất ra ngoài mưa nắng lâu ngày được ủ kín trong bụng nó phà ra. Hôi không chịu được!

Ba Thể nhích ra chút, đít kê lên hòn gạch, gãi đầu:

-Anh Bốn ơi, anh cứ làm vậy, không khéo sắp nhỏ liên lụy…

-Cái gì, chú nói sao? Tôi làm gì để sắp nhỏ liên lụy?

Đắn đo một lát, ba Thể mở miệng:

-Nhân dân có mất chút đất, nhưng thế vào là những nhà máy, xưởng sản xuất… thu hút công nhân hàng trăm. Lương tháng triệu rưỡi, hai ba triệu, cao gấp mấy trăm lần ôm thẻo ruộng nhỏ, không sướng hơn sao?

-Tôi có nói chi đâu. Tôi đồng ý. Nhân dân cũng bị đồng ý. Có điều là thiếu mẹ gì những khu đất cằn khô, gát nước… cả trăm mẫu không dùng lại đi lấy đất ruộng hai vụ, lại là đất thượng đẳng điền để làm khu công nghiệp là sao? Ngày trước một mẫu ruộng ở khu này, có giá tới hơn ngàn cây vàng, chú rõ quá mà. Cả khúc “Năm Eo” này có ruộng đất nào sánh bằng ruộng đất này? Con người thì được sinh ra liền liền chớ đất đai đâu sinh đẻ ra đất con đất cháu được?

-Cả làng giờ ai cũng ký đơn, chỉ còn anh.

-Tôi không ký. Tôi nhất quyết không ký. Chú đừng kỳ kèo vận động vận điếc gì ráo trọi – Nói và ông giơ đầu gậy có ý bảo ba Thể đi về.

Ba Thể không về. Ba Thể ngồi lại với ông, không nói chuyện đất đai nữa. Ba Thể lái sang chuyện khác, kể đông kể tây, nói tuồng nói tích. Ông quá rõ cái bản mặt nhơn nhơn của nó khi dông dài. Ông nhổm mông đít lên toan đứng dậy. Ba Thể lận đâu chai rượu trong lưng quần, lôi ra. Thấy chai rượu màu vàng vàng, mắt ông sáng lên. Ông có tật xấu, rất xấu là thấy rượu thì lòng không thể dằn xuống. Uống không nhiều, chừng vài ly. Nhưng hễ thấy rượu là mắt ông sáng lên, lòng mềm nhũn. Ông thu cây gậy về, ép sát vào thân mình, như thể nó là đứa vệ sĩ, tên nhắc tuồng, nhắc ông rằng chớ để lòng mềm như con bún thiu.

Ba Thể tự động vào nhà tìm ly. Tìm được hai ly hột mít liền quay ra, đặt giữa khoảng cách hai người, mở nút, rót rượu. Hai chiếc ly vun thành ngọn. Thơm. Thơm như hồi xưa ông đứng ngửi mùi thuốc Seventy Nine tuôn ra từ cái lỗ đen của ống vố có hình dạng giống bầu diều con gà ăn no của thằng Mỹ đen. Ba Thể nâng ly “mời anh”. Ông bưng ly nhấp một ngụm nhỏ. Thơm, đúng là rượu ngon. Ông kẹp chiếc ly giữa hai ngón tay, nheo mắt hỏi:

-Chú tìm đâu ra ngữ này? Chắc của quan thầy biếu cống?

-Thằng cháu đi Ba Lan về, tặng cho chai nhỏ. Nghĩ anh sành rượu nên mới sang anh. Uống rượu cũng như Bá Nha với Tử Kỳ vậy.

Thằng này định lái thuyền vô bến đây, ông nghĩ và cảnh giác, xuống tấn và tung ra ngọn cước:

-Cái vụ vào hợp tác làm ăn tập thể cứ coi như bước đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa từ hạ tầng đi. Hồi đó không ai không dám vô. Không vô thì bị liệt vào hàng ngũ phản động, bị bắt đi học tập cải tạo phải không? Tự nguyện vô hợp tác với cây dùi cui và chiếc còng kín hở sau đít thì đến Thiên Lôi cũng vãi cứt đái. Vô tuốt. Nhưng cái hạ tầng đó nó không “thượng” mà ngày cứ “hạ” mãi nên người ta mới nghĩ ra khoáng 10, khoán 100. Cái thời đói khát mù mờ chuông kiểng điếc tai, khiến nhân dân cũng mê lú để nhảy qua khoáng. Nhưng ruộng nhận khoáng không phải ruộng của chính mình nữa, mà ở đâu đó, của ai đó, gốc tích mờ mịt; nhưng nhân dân cũng được làm chủ, cứ coi như cuộc cải cách ruộng đất ở hạ tầng lần thứ ba. Hết địa chủ, hết phú nông, trung nông, bần cố nông hết sạch. Chỉ còn nhân dân. Nhân dân đứng lên làm chủ. Ai cũng như ai. Mừng. Mừng quá đi chớ? Người không tấc đất giờ có đất trong tay. Sướng. Sướng đến rụng rời chân tay. Đâu có kiểu con cá trê bằng cườm tay con nít cắt làm nhiều lần, từng khoanh nhỏ một đến cả tuần, còn lại cái đầu của nó ngóc lên mặt nước thoi thóp thở để ngó mảnh ruộng xa xa, để cháu chắt mình sẽ bơi lội tung tăng dưới làn nước thơm ngan ngát? Cứ cho lấy của người giàu chia cho người nghèo là hợp đạo lý. Quá hợp, phải không? Nhưng sắp tới đây cái thằng nhân dân cào bằng kia bị cho ra rìa, ruộng đất thu lại để đưa cho mấy thằng giàu nứt đổ đổ vách xây nhà xây xưởng, kinh doanh. Cái đám mafia này sẽ “thượng” lên, thượng tuốt lên trời cao, còn đám nhân-dân-nông-dân thì sẽ “hạ”, hạ mãi xuống bùn đen. Nhân dân sẽ mãi chổng đít để đội cái đám mafia này không biết chừng nào mới gãy cổ đây!

-Anh Bốn nói quá đi chớ trên vẫn nghĩ tới tiền đồ dân tộc: Anh coi, hồi mấy thằng Ngụy nó có làm được con đường nhựa, có kéo điện về tận nông thôn cho dân xài không? Nay nhà nào cũng có ti vi, máy hát… Đòi sao nữa?

Ly rượu vẫn kẹp giữa hai ngón tay, nhưng coi bộ nó run run, run lật bật. Hình như ly rượu trở chứng run chớ không phải bốn Lợt?

-Chú mới kỳ. Thời chiến tranh hai bên chỉ lo vít đầu nhau mà cắn xé, đá đạp, thoi vào sườn của nhau đến chảy máu… còn sức đâu mà lo tới chuyện điện đóm, đường sá…? Hết cắn xé, đánh nhau rồi mà không làm được ba chuyện cỏn con này, hóa ra chú ám chỉ bọn lục lâm thảo khấu? Chú phạm tội tày đình đó nghe. Phạm tội từ tư tưởng, từ suy nghĩ chệch choạc. Chú coi chừng.

Chỗ bàn chân bị lỗ đạn tự bắn của ba Thể bỗng dưng nổi đỏ hỏn như mào con gà cồ. Ba Thể gãi đầu giục:

-Coi kìa, uống đi anh… đổ hết bây giờ.

-Ờ, uống chớ. Rượu ngon. Thiệt ngon. Mà chú hay chuyện gì chưa?

-Gì anh?

-Cái thằng ba Tánh với năm Bầu đó.

-Mấy ảnh làm sao anh bốn?

-Chú có bà con? Bà con thì đây không tiết lộ.

-Dạ không. Bà con chi đâu. Kêu anh anh em em với lãnh đạo cho nó thân mật, có tính quần chúng nhân dân chút xíu đó mà. Xưa anh không nhớ hội nghị nào khi nhắc đến tổng bí thơ Lê Duẫn, ai cũng gọi anh Ba đó sao. Gọi như vậy cho thân mật, cho gần gũi với quần chúng nhân dân. Mình dân chủ mà. Một thời như vậy thành quen.

-Đám vô tích sự. Thấy người sang bắt quàng làm họ thì có.


-Hồi nãy anh nói…
-Ờ, nhớ rồi. Là như vầy. Người ta chỉ thằng cha bí thơ ba Tánh ngồi ghế chưa nóng đít đã có đàn em xúm tới xây cho nhà riêng bốn bốn từng dưới tỉnh, nhờ chỉ định cho lũ nhỏ trúng thầu mấy công trình lớn. Thằng cha có đồng ra đồng vào liền bỏ bà vợ già rụng răng đi ôm đít một em gà móng đỏ múp rụp, mua cho nhà riêng. Ầm ĩ cả lên, giấu ai? Còn cha năm Bầu chủ tịch, ăn theo đổi đất lấy công trình, lươn lẹo một lúc mấy lô đất rìa thành phố chia cho con. Sướng chưa? Nhân dân với quần chúng như tôi và chú đây thì được cái đếch gì, hử?

Thấy ngồi lâu với bốn Lợt không được chuyện gì, có khi bị vạ lây, bèn đứng lên nói “thôi em về”. Ba Thể bước đi hai bước bị bốn Lợt gọi giật:

-Hè, chú mang chai rượu về - Bốn Lợt giơ đầu gậy chỉ chai rượu màu vàng đang đứng lẻ loi trên nền. Cực chẳng đã, ba Thể quay lại, quay lại và khum xuống, khum xuống rồi cầm chai rượu nhét vào lưng quần, bước đi…


3.
Làng An Phổ giờ như đang có trận động đất kéo dài. Cả làng cuồng lên với những tiếng động như bị kẻ cướp cầm đinh nhọn chọt vô lỗ tai, kêu gào inh ỏi. Mới bảnh mắt, hai thằng cha gặp nhau đầu ngõ, nháy nhau. Thằng trẻ tuổi giơ bọc mồi lên cao ngang mày, đưa qua đưa lại như mấy tay tập chó săn mồi. Thằng già hơn chút xíu cười tít mắt. Một thằng đưa qua đưa lại, một thằng cười tít mắt. Cả hai quàng vai nhau bước đi, giữa đường gặp thằng chạy xe máy Tàu mới mua chiều qua, bèn chận lại. Bọc mồi giơ lên, đưa qua đưa lại. Thằng có chiếc xe tàu rú ga, bóp còi tin tin, khói phun sau đít xanh dờn. Ba thằng hể hả chất nhau lên xe, rú ga phành phạch, phóng thẳng.

Cuộc nhậu bắt đầu bằng tiếng rú ga. Những thằng trai làng lao vào hũ rượu. Chúng vừa được giải phóng, vừa được lột xác. Không ai gọi chúng là thằng nông dân nghèo kiết xác nữa. Tiền ấy từ trời cao rớt xuống, rớt trúng vào tay một lũ trước là bần cố nông. Làm bần cố nông tự dưng được ruộng, nay sắp làm công nhân thì được tiền. Có tiền trong tay rồi. Nhậu. Nhậu để mừng được lột xác. Nhậu để lột cái xác nông dân hôi hám mùi bùn, mùi cứt trâu, cứt bò bám dày trên tóc. Mai mốt đây thôi, không ai dám ngang nhiên gọi chúng là nông dân, chúng sắp thành công nhân rồi đến đít rồi. Phải gọi là anh, anh công nhân! Công nhân là giai cấp tiền phong, tiến lên hàng đầu, sản xuất hàng loạt sản phẩm cao cấp bán ra nước ngoài, thu về đống vàng, đống ngoại tệ. Giàu nước, giàu làng, anh công nhân cũng giàu, thơm tho chớ không hôi hám mùi bùn cứt. Dzô… dzô… Chúng khạc ra những tràng dài như đạn pháo bắn vào đồn địch. Đồn địch vỡ toang, xác địch như rạ. Dzô… dzô…

Từ sáng đến xế chiều những tràng đại bác bắn xối xả, bắn tiếp tiếp, liên tu bất tận lên những đồn bót đã bị vỡ cháy. Và, giờ đã đến lúc ca khúc khải hoàn. Những kẻ thắng trận nhừ tử bắt đầu mở máy, vặn volum hết mức, thọc dĩa nhựa vào ổ máy. Máy chạy xè xè êm như cơn gió nồm phất phơ buổi xế chiều. Chiếc karaoke mới mua êm như xe ô tô con mới xuất xưởng. Những hình người chạy nhảy trên màn hình. Nhạc xập xình xập xình, những chiếc micro đưa sát miệng. Chiếc micro giống ống thổi lửa kê miệng thổi vào bếp lò, củi bốc khói. Phooo…phooo...ooo… Cả rượu, cả miệng răng và lưỡi cùng cất lên, phooo… phooo… đồng ca: “ …Đêm mắc mùng ngủ với vợ, nghe nói rượu thì dậy mà đi. Vợ có nói năng chi, đây là cho một đạp…vợ là vợ mà ta là ta. Vợ cầm chén lên tay ta cầm chai đập lại trong cuộc chiến điêu tàn, mà vợ là vợ còn ta là ta. Vợ thì ví như cơm, em thì như tô phở, cơm mà khê thì đi ăn phở, vợ là vợ mà cơm là cơm…” .Những tràng đại bác bắn vọt từ những chiếc miệng há lớn. Âm thanh bập bùng. Rượu phừng phực bập bùng bay ra tiếng đại bác nổ đinh tai. Mái nhà rung rinh. Cây cối đứng ngoài rào nghiêng ngã theo tiếng đại bác dội lên. Cuối xóm, tràng đại liên của mấy bà sồn sồn không chịu kém mấy thằng thanh niên, xổ những tràng baằng bằaaàng… ra sân. Tiếng nổ chát chúa, tiếng đại liên tiểu liên gào lên: “Lỡ yêu rồi, làm sao quên được anh ơi”. Những cái miệng rượu phậm phực gào lên, trả lễ:“Thôi nín đi em, lệ đẫm vai rồi, buồn chi nữa em, mai mốt sang ngang, lòng anh nát tan, tình đã dở dang…” . Dở cái con mẹ lũ nhóc: “Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận, trùng trùng đoàn quân…”. Mẹ kiếp mặt trận vỡ rồi, thắng trận rồi, hành con khỉ gió. Lập tức tiếng bộc phá ình oàng ca vọng cổ eo éo ở đâu đó, nổi lên, tung bổng mái tranh: “Cúc Hoa ôi, cũng vì duyên số, kẻ bắc người nam… đôi nhạn lẻ bầy… nên đôi ta chẳng đặng sum ơ…ơ… vâ…y vầ…ầy…”. Đấy không phải đạn pháo, tiểu đại liên, bộc phá, cà nông mà là tiếng súng thắng trận. Người ta bắn pháo bông mừng thắng trận. Anh công nhân thắng thằng nông dân. Nhà máy chiến thắng ruộng đồng. Chết lũ chúng bay. Hết cái thời khói đốt đồng bay bay trong gió chiều. Hết cái mùi rơm rạ phảng phất. Sẽ chỉ còn lại mùi xăng dầu, mùi công nghiệp cất cao cuộn khói như vòi rồng. Vòi rồng chóc mõm hút nước biển Đông, há mõm phun ra khói. Khói phun ra sản phẩm cao cấp. Sản phẩm phun ra tiền bạc và tiền bạc đẩy mấy anh công nhân bay bổng lên tít trời cao, tận mây xanh. Rượu trộn lẫn với tiếng ca sậm sựt hóa thành những con rồng, bay lộn vòng vòng…


(…) Bữa hôm ba Thể gặp thằng mặt méo trưởng thôn lấy danh sách đám thanh niên đưa cho ban quản lý khu công nghiệp tuyển chọn công nhân, hắn nhăn nhó: “ Cái cột nghề ngiệp ghi sao đây? Có đứa nào có nghề ngỗng gì đâu, toàn cắt lúa, đánh cộ bò, thồ hàng... Có đứa nào biết gì về máy móc dây chuyền, ghi làm sao?”. Trưởng thôn đang bập bập điếu thuốc trên môi nói: “Thì ông ghi đại vào. Đứa nào cũng biết chuyền, biết công nghiệp tất, chết ai?”. Ba Thể: “Còn cái vụ hát hò, rượu chè ông tính sao chớ coi không đặng. Mấy ông bà già phản ánh: chịu hết thấu. Hát thâu đêm suốt sáng. Cả làng thi nhau hát, không ai ngủ nghê gì được. Đầu xóm đùng đùng, cuối xóm đùng đùng!”. “Văn nghệ. Đấy là văn nghệ! Không thể cấm nhân dân phát huy văn nghệ. Mặc, cứ để hát líp ba ga. Hát ớn, mỏi miệng tự chúng nghỉ. Không cấm được đâu. Luật không ghi cấm hát hò, cứ phát huy tính dân chủ, là nhân dân làm chủ…”. Trong khi đang nói, điếu thuốc vẫn dính cứng trên môi. Điếu thuốc nhảy tưng tưng trên môi khi phát âm, như thể điếu thuốc cũng đang múa may điệu hip hop, múa may đến ngất ngây, nước miếng thấm ra đầu giấy ướt kêu đánh xèo nghe thiệt nhỏ. Điếu thuốc tắt ngấm. Trưởng thôn bập bập mấy hơi tiếp, không nghe khói chạy vô phổi, liền nhổ phẹt xuống đất. Ba Thể nói: “Vậy thì cứ ghi thí xác?”. “Ừ, thí xác!”.


4.
Không ai làm tình làm tội hột cát nhỏ, tế bào nhỏ xíu kia. Sức của ông có gào rống, bất quá bay xa vài chục mét, bay lòng vòng trong làng, rồi mắc kẹt đâu đó giữa lùm bụi ken dày, tối thui, mất hút. Lúc đầu người ta cũng hơi bị bực mình, khó chịu. Khó chịu và tìm cách hạ ông, nhưng không hạ được, không thể làm tình làm tội ông được. Bốn Lợt vin vào cái "dân bàn" kia để bực tức bàn, lớn tiếng bàn. Nhưng không ai nghe ông bàn, coi như ông gào rống với đầu gối, bay vào thinh không. Người ta ngó lơ. Bí thơ bận bịu với con bồ nhí bia ôm. Chủ tịch loay hoay giấy tờ cho mấy lô đất giá ngàn vàng. Người ta lo giữ mấy lô đất riêng, lo ôm ấp bộ ngực căng phồng của cô bồ nhí, hơi đâu tranh cãi với ông già sắp gần đất xa trời?

Đất trời không chìu theo ông, theo nhân dân. Càng ngày ông càng gầy xọp đi. Gầy xọp có lẽ vì buồn, tiếc… mà cũng có thể con người ông chỉ đứng vững chừng ấy với năm tháng.
Lũ con ông xúm về săn sóc. Có đứa còn ấn vào tay ông quyển kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa. Ông đẩy ra, thều thào: “Một mình cha đọc thì phỏng ích gì. Không ích gì, nếu như cả bầy đầy tớ nhung nhúc kia không thèm liếc mắt tới Bát Nhã…”.

Mặc dù ông đã nằm một chỗ, miệng không thể gào như trước, nhưng hai tai ông lại vểnh lên như tai mèo. Ông nghe hết mọi chuyện từ đầu thôn tới cuối xóm. Ông nghe rành rọt từ những cái miệng của người khác. Những người tới lúc này mới nhận ra ông già có lý do để gào, để cầm cây gậy củ tre chỉ vào mặt thằng mặt méo một bên, hươ cây gậy xua đuổi thằng tự bắn vào thịt da mình. Nhưng giờ thì đã quá muộn. Bốn Lợt xẹp lép, nằm dán sát trên chiếc chõng tre. Ông như chiếc lá sắp rụng xuống đất, như bọt bèo sắp tan vào đại dương mênh mông. Hối thì đã quá muộn, nhưng thế nào người ta cũng không để ông cô độc. Người ta đến thăm ông, không có hộp trà nhân sâm, không có yến sào… chỉ vài nải chuối mật, chục trứng gà so, và kèm theo:

“Nhà thằng Bảnh sạch trơn. Mua xe máy Tàu chở vợ được ba bữa. Đi nhậu quắt cần câu, tự đâm đầu vào cột cây số nước. Xe cong như chiếc bánh tráng nướng, còn cái đầu nó thì toác ra. Mới hôm kia thôi, không chắc sống nổi. Khổ con vợ!”.

Ông già vểnh tai lên nghe tiếng chép miệng thương cảm của bà bạn già ngoài xóm Lẫm. Âm thanh tiếng chép chưa kịp bay tan đâu đó trên tấm vách tróc lở vôi vữa thì một giọng khác chen vào:

“Từ ngày hết ruộng, có đồng tiền đền bù sinh lung. Từ nhỏ chí lớn nhậu nhẹt, ca hát suốt ngày như lũ điên. Nhà này có dàn máy karaoke thì nhà khác dòm vô, ba chân bốn cẳng chạy xuống phố ôm về cái đắt hơn, xịn hơn. Suốt ngày đêm đùng đùng như động đất… Đứa vào nhà máy chỉ đếm trên đầu ngón tay. Còn lại thất nghiệp! Ruộng đâu nữa mà sống, đứa đi phụ hồ, đứa chặt mía thuê, đứa giữ em dưới phố… cũng long lỏng cái bụng, chưa chết đói!”.

Một giọng khác cất lên, như giọng đàn ông, còn trẻ:

“Con Nhạn con Tòng ròm sắp sửa làm đám cưới với thằng Nhơn con hai Phó, bỏ nhà đi, rủ theo chục đứa khác lên Sài Gòn bán bia ôm…”.

Ông già cục cựa trở mình. Trở mình mà không xoay qua được. Những âm thanh cứ lăn tăn trong đầu, những hình ảnh cứ lăn tăn trước mắt. Cái mông tròn của cô gái làng An Thổ vùng dậy khỏi thằng hãm hiếp, chạy tuốt lên Sài Gòn. Những cái mông tròn làng An Thổ lại dạng háng, lại tiếp tục bị hãm hiếp. Giọt máu đen từ xa, rất xa bay thẳng, găm vào mắt ông, chảy ra, vón lại thành cục ghèn to bằng đầu đũa…

(Vĩnh Long, tháng 7/20010)

Đăng nhập để trả lời
0
CHÂN DUNG TỰ VẼ


NGUYỄN LỆ UYÊN





Ba Xanh đấm tay xuống bàn đánh rầm, trợn mắt:

-Nói rồi, nhứt định tao không gả mày về nhà đó.

Cô Mai tựa bậu cửa, khóc thút thít, không có phản ứng nào rõ rệt. Ba Xanh liếc nhìn cô con gái, vờ đưa tay lên quai ấm như thể chuẩn bị rót nước ra chén, hoặc sắp lia chiếc ấm trà về phía cô con gái cứng đầu, lú lẫn trong thứ tình yêu không do ông lựa chọn.

-Mày có biết nhà đó thế nào không? Thằng cha nó, Tư Nghĩa ấy, vốn là tay đãng tử, giang hồ tứ chiến. Ỷ có vài ba chữ Tây trong đầu không coi ai ra cái giống gì. Thằng chả đi “du học” tận Sài Gòn, nhưng té ra là học nghề hớt tóc với lại nhảy đầm và làm tay sai cho địch. Về xứ mở cái mỹ viện gì đó lép nhép như đít vịt, chuyên rờ mông, rờ ngực mấy con me Mỹ và gái bán Bar, kỳ thực đấy là ổ gián điệp, cung cấp tin tức để triệt hạ các cơ sở của ta. Lại còn con mụ vợ của nó nữa, con mẹ thằng Hậu, cậy có chút nhan sắc, nhỏng nhảnh coi đám thanh niên làng lép nhẹp dưới đôi guốc sơn của con mẻ.

Nói một thôi dài, Ba Xanh có vẻ như khô cổ thực sự, lật bật nghiêng miệng vòi rót nước. Nước chảy lóc róc, âm thanh nghe như mấy cục sạn tự khua trong chiếc lon sắt. Ông ngửa cổ uống một hơi hết sạch, đặt chén xuống bàn. Khu chén chạm vào mặt gỗ nghe cộc một tiếng đanh khô. Ông ngó mặt con, nạt:

-Khóc gì mà khóc. Chấm dứt! Không yêu thương gì cái đồ bá xàm bá láp, cái giống mèo mả gà đồng đó. Nó cũng khuôn đúc như thằng cha và con gái mẹ nó thôi cộng với cái lý lịch đen thui! Làm ăn gì? Khổ. Khổ cả đời con ạ.

Cô Mai ôm mặt khóc hu hu chạy vụt ra sân, băng qua vườn cây, ra ngồi tuốt ngoài góc rào kín bưng những lùm bông bụt. Cô vò nát chéo áo, đưa lên miệng cắn như thể cái chéo áo kia là kẻ thù ngăn cách mối tình của cô với Hậu.

Chỉ còn một mình ông ngồi lại trên chiếc đẩu láng bóng mồ hôi, trên vách cao là hình lãnh tụ bị nước dột từ mái làm nhòe một góc, nghiêm nghị nhìn xuống. Không còn ai để trút cơn giận khiến ông ấm ức như người không hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó.

Ba Xanh nhớ lại thời trai trẻ, thời mà ông và Tư Nghĩa học cùng một lớp. Hết bậc tiểu học, thằng Nghĩa và con Mai thi đậu vào trường công, còn ông thì lủi thủi ra trường tư. Tư hay công thì chẳng tội nợ gì, cũng không có gì đáng nói. Điều khiến ông phát cuồng là ngày ngày, hai đứa đạp xe đạp sóng đôi tới trường, nói cười coi bộ tâm đắc. Thằng Nghĩa được tiếp cận làn da trắng bông bưởi, cặp mắt biếc và hai lúm đồng tiền, làm ông đau nhói lên những ghen tị lúc mỗi dày thêm như những đám mây mùa đông sà xuống thấp. Không chịu nổi, ông luôn tìm cớ gây sự với thằng Nghĩa. Có lần ông chặn xe nó ngay đầu con mương nước dẫn ra đường lớn; định tát mấy cái vào mặt cho hả giận, nhưng vô phúc nó biết chút võ, mới chỉ nhào vô, định xô Nghĩa té xuống đất rồi đè lên, thụi vào mặt mũi, bẻ cốp tay chân thì nó đã né sang bên, quét ngang bàn chân nhẹ nhàng đủ làm ông té lăn cù xuống mương nước. Vậy là Ba Xanh này thua, ông thừa nhận. Nhưng thực tế ông vẫn có thể thắng keo khác. Đó là mới vào năm học Đệ Ngũ, ông kêu học không nổi nữa, “cha mẹ cưới vợ con làm ăn!”. Hương Bổn trợn tròn mắt, ngạc nhiên: “Mới chừng ấy tuổi mà vợ con. Mày định lấy ai?”. Ba Xanh gãi đầu, ấp úng: “Con cũng 17, 18 rồi”. “Ai không biết mày 17, 18? Như nhà nẫu thì đã thi đít lôm, ra làm sở Lục lộ hay chí ít cũng ông giáo, làng xóm kêu thầy Ba, giáo Ba có sướng đời không? Mà mày định lấy ai?”. “Dạ, con Mai con bà Tư Bủng bán bánh bèo chỗ chòi mòng dưới gốc da đầu làng đó”. Hương Bổn giật nẩy lên như có ai dí sợi dây điện vào mông đít, thầm trách “Mụ nội nó, quả báo nhãn tiền rồi. Mình đi lại với con mẻ từ hồi chồng chết trên đường đi dân công. Giờ sui gia, coi sao được?”. Ông thở dài đánh sượt như cây gai găm vào lốp xe, hơi xì ra. Suy nghĩ một hồi, ông lên tiếng, giọng rít lên : “Không được!”. “Sao không được?” – Ba Xanh hỏi lại. “Tao nói không được là không được”. “Nhưng phải có nguyên do chớ cha?”. Ông trợn mắt: “Thằng hỗn, dám cãi cha mẹ. Mày muốn nghe chớ gì? Được. Con mụ Tư Bủng đó nhăng nhít đi lại với nhiều người, cả làng này ai không biết? Bản thân mụ như những chiếc bánh bèo, ai muốn nhai, muốn cắn, sờ mó chi cũng được ráo. Con gái mụ cũng giống cái nòi đó thôi, đồ trắc nết. Dẹp đi. Chớ nghĩ ngợi lung tung. Ráng học, kiếm cho được cái bằng đít lôm rồi tao lo cho”. Nói và ông phủi đít đứng dậy, ra đầu chái vác cuốc đi thẳng ra đồng, bên hông lủng lẳng bọc thuốc rê gói trong mo cau, có sợi dây gai nối hai đầu.

Ba Xanh coi như thua thêm một keo nữa, ngày ngày cút kít trên chiếc xe đạp lên tỉnh học với nỗi buồn chất chứa, đau nhức tựa mụt nhọt đang mưng mủ. Ba Xanh suy tính làm sao để giành bằng được con Mai từ tay thằng Nghĩa: Đi lính để vác súng về bắn nó? Không dễ. Mang vòng vàng ra òn ĩ bà Tư cho con Mai theo mình vô Sài Gòn làm ăn? Cũng không xong. Mà vàng thì cha mẹ ông chôn cất chỗ nào, nào ai biết? Những ý nghĩ ấy cứ lởn vởn đến nỗi đầu Ba Xanh muốn nổ tung ra, chẳng thiết tha tới lớp. Cứ sáng đi chiều về, tập vở cuốn tròn nhét túi sau không thêm chữ nào và chiếc xe đạp đã mòn thêm vài dem, sợi xích khô dầu rên cót két mà cha mẹ ông đâu có hay?

Không ai hay biết chuyện Ba Xanh bỏ học, cũng không ai hay biết ông biệt tích chốn nào, không chút tin tức.

xxx


Sau ngày 30.4, me Mỹ, gái bán bar tự động biến mất như cột khói bay vào thinh không. Dân thường cũng không đủ can đảm bước vô thẩm mỹ viện Ngọc Mai. Cuộc sống bị đảo lộn. Tất cả đều tung hê lên, lộn tùng phèo, giữ được cái mạng sống là phước ba đời, nói chi chuyện làm đẹp? Cái thẩm mỹ viện lừng danh một thời nay bỗng thành ngôi miếu hoang phụng thờ nhan sắc. Chủ nhân của nó bị ghép tội dùng cơ sở làm ăn này để cung cấp thông tin cho địch. Vậy là a lê hấp, nhà cửa bị tịch thu vì tội làm tay sai cho địch. Tư Nghĩa xách túi đi cải tạo, Cô Mai ngậm ngùi dắt con về nhà ngoại.

Về nông thôn, tưởng đâu có thể tạm rau cà với mẹ, yên ổn qua ngày. Khổ nỗi, cô có học, có chút nhan sắc, nên trên cho người xuống vận động cô tham gia vào hội phụ nữ xã. Anh cán bộ trẻ nhìn xoắn vào người cô như muốn lột truồng ra, vừa nói: “Đất nước ta đã sạch bóng quân thù. Nhiệm vụ của chúng ta là góp công sức vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí không thể đứng ngoài, phải xốc tới, phải nhào vô để làm cho nước ta giàu hơn thằng Mỹ, mạnh hơn thằng Mỹ...”. Cô nghe một bên tai, ừ hữ tưởng cho qua chuyện, không ngờ mấy ngày sau ông giao liên già, khật khưỡng bước vô sân. Con chó thấy kẻ lạ chồm lên sủa, gầm gừ xua đuổi. Ông giao liên sẵn chiếc loa cuốn bằng tấm tôn xáng vào đầu con chó. Nó quay tít một vòng vãi ra cứt đái trên khoảng sân gạch. Cái màu lem nhem, khẳm khẳm đó giống màu nước sơn lâu ngày bị anh họa sĩ không nẩy ra đề tài mới, tức mình nhúng cọ rẩy bừa xuống sàn nhà. “Mẹ cứt! Đón tiếp đồng chí đồng bào kiểu gì như kẻ thù!” Ông kẹp ống loa vào nách, thò tay vào túi áo lôi tờ giấy bèo nhèo ra kêu lớn: “Cô Mai ơi, cô Mai! Có giấy triệu tập”. Bà Tư lạch bạch từ nhà bếp ló ra: “Ai đó? Có chuyện chi vậy?”. “Chào đồng chí chị Tư, cô Mai có giấy trên gửi”. Nói và ông nhét tấm giấy vào tay bà Tư nheo mắt cười cười, quay lui, bước thẳng ra ngõ. Ống loa tôn kẹp nách quất qua lại theo nhịp bước của ông già đã ba đời làm chức mõ làng!

Tan buổi chợ, Mai quảy gánh về đã thấy mẹ ngồi trước hiên nhà, xoay ngang xoay dọc tờ giấy trong tay. Cô đặt đôi quang gánh xuống đất, chạy lại hỏi: “Giấy gì thế, mẹ?”. “Tao chẳng biết, Bảy Lợm vừa đưa lúc nãy”. Mai cầm tờ giấy trên tay mẹ, vuốt thẳng, lẩm nhẩn đọc rồi nhét vào túi áo bà ba. Bà Tư chồm tới: “Có chuyện chẳng lành?”. Mai lắc đầu: “Lành dữ chưa rõ, những chắc là mệt, phiền”. “Chuyện gì thì nói phức ra. Lại bắt đi cải tạo như chồng mày chứ gì?”. “Không”. “Chuyện gì?”. “Trên cử con vào Hội Phụ nữ lâm thời xã”. “Dà...àoo”, bà Tư thở hắt ra quày quã bỏ ra nhà sau.

Hai lệnh, rồi ba lệnh triệu tập nhưng Mai chùng chình, không muốn tham gia. Nội chuyện lo cho ba miệng ăn trong thời buổi khốn khó này còn chưa xong, chuyện phải tích góp chút đỉnh để thăm nuôi chồng định kỳ đến tối tăm mặt mũi, còn ham hố chi hội với hè. Nghĩ vậy và buồn, Mai nằm khoèo ở nhà, không nhón chân thay mẹ gánh cà, mướp ra chợ như những ngày trước...

Đêm xuống nhập nhoạng. Tiếng chó sủa ngoài ngõ. Ba bóng đen lù lù bước vô sân. Chó sủa rộ. Mai vặn cao bấc đèn, bưng đưa ngang mặt. “Chào đồng chí phụ nữ”, tiếng nói vang ngoài sân khàn đục, cố rướn lên như để chứng tỏ sức mạnh quyền uy một cách lạnh lẽo.

Cả ba bước lên thềm. Mai mời họ ngồi và vặn ngọn vừa đủ sáng để muội khói không tỏa ra mùi hôi nồng nặc. Lúc ngẩng mặt lên, Mai suýt kêu thành tiếng, không rõ cảm giác mừng vui hay sợ hãi. Người đàn ông ngồi trước mặt rõ ràng là Xanh. Ba Xanh, bạn học một thời. Anh ta biến mất hồi đầu năm học Đệ Ngũ nay bỗng lù lù ngồi trước mặt, ngay trong nhà mình, mặc bộ Tôn Trung Sơn màu cứt ngựa, nón cối kéo sụp, chiếc sắc cốt lòng thòng bên hông, ngang thắt lưng nổi cộm lên vật cứng mà cô đoán là cây súng ngắn. Anh ta đến nhà trong tư thế này, hẳn không thể là sự biểu lộ tình bạn, mà chính xác là một cán bộ cách mạng đến hỏi tội trì trễ của mình đây. Mai rót nước ra ly, mời họ và kéo ghế, khẽ khàng ngồi xuống, chờ đợi. Người đàn ông mà Mai nhận ra là Xanh ngó nghiêng khắp lượt, mới chịu hắng giọng: “Mạnh giỏi cô Mai, còn nhớ tôi không?”. “Dạ cũng thường. Lâu quá mới gặp lại anh, không ngờ... ”. “Nghe nói anh nhà đang cải tạo?”. “Dạ”. Ba Xanh ngó chăm chăm vào bộ ngực phập phồng của Mai dưới làn vải phin trắng, hạ thấp giọng: “Cải tạo là tốt. Có vậy thì mới thấy hết tội lỗi của mình. Được cách mạng giáo dục thì mau tiến bộ, rồi đứng về phía nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng chỉ chừng ấy thôi vẫn chưa đủ. Cả người thân cũng phải tích cực tham gia thì anh nhà mới mau trở về, trở về như một chiến sĩ cách mạng chân chính”. Mai dạ một tiếng nhỏ, không chắc lọt vào tai Ba Xanh. Nhưng có lọt hay không, không thành vấn đề. Vẫn giọng đều đều ấy, Ba Xanh nói như rù rì, rủ rỉ như chỉ có hai người với nhau: “Cô Mai à, tôi rất cảm thông hoàn cảnh của mẹ con cô. Tôi chỉ muốn giúp vợ chồng cô sớm đoàn tụ. Anh nhà có được về sớm hay không là tùy thuộc vào cô. Rồi lý lịch con cô nữa, tội nghiệp nó”. Mai nhỏ nhẹ: “Dạ, về sớm hay muộn là do ảnh có giác ngộ, học tập lao động tốt hay không chứ sao lại tôi?”. “Cô không biết đấy thôi, mọi sự vật đều có liên quan một cách hữu cơ, biện chứng. Cái này tác động vào cái kia, đẩy cái kia theo vòng trôn ốc tiến lên, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội!”. “Dạ, cái trôn ốc tiến lên, phận tôi đàn bà không hiểu thấu, nhưng chắc chắn được cách mạng giáo dục, thế nào anh Nghĩa cũng tiến lên cái chủ nghĩa gì đó như anh vừa nói thôi, tôi tin vậy”. “ Đúng là cô không hiểu nổi – rồi ông khục khặc trong cổ như đang có cục đờm to tướng bám cứng lấy thanh quản – nghĩa là cô phải hồ hởi, phấn khởi tham gia công tác đoàn thể để thay chồng lập công chuộc tội!”. “Tôi làm được gì trong những hội đoàn đó?” – Mai dè dặt. “Cô không phải lo lắng. Đảng sẽ mở các lớp tập huấn chính trị, cô theo học, nắm rõ mục đích, ý nghĩa, nâng cao lập trường quan điểm thì đá tảng cũng biến thành ruộng cày mà”. Ba Xanh nói chừng đó, háy mắt với hai du kích vai đeo súng rồi đứng dậy. Trước khi bước xuống bậc cấp, Ba Xanh còn với một câu: “Tất cả đều phụ thuộc vào một mình cô đó”. Mai lịch sự đứng dậy tiễn họ ra sân. Ba Xanh cố ý đi chậm. Khi hai du kích ra tới truông tối, Ba Xanh thấp giọng: “Chẳng gì tụi mình cũng một thời bên nhau lúc còn nhỏ. Có nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Tỉ dụ hồi đi cổ động hũ gạo nuôi quân, tụi mình mặc độc có mỗi chiếc quần, lẫm chẫm chạy theo đoàn. Tôi nhớ Mai đưa củ khoai lang lùi tro, vừa cho vào miệng nhai, vừa há miệng hô theo khiến sặc muốn chết”. Mai không nhớ chuyện củ khoai lang lùi, người bạn cũ vừa nhắc. Nhưng cô nhớ mùa đóng nước tu bổ nông giang, cả đám xách gàu đi tát cá, bùn đất lấm lem như trâu ngoi. Cô buột miệng: “Hồi đó cũng vui, nhiều chuyện buồn cười quá”. Ba Xanh phụ họa: “Vui, vui đậm. Giá mình còn giữ được mãi mãi... bên nhau. Thôi cô cố gắng lên”. Ba Xanh nói giọng phấn khích rồi bước nhanh theo hai người du kích.

xxx


Họp hành, hội nghị liên tịch, học tập nghị quyết... liên miên từ ngày này sang ngày khác khiến Mai không còn đủ thời gian giúp mẹ chăm sóc mảnh vườn. Những cây cà, dây bí xơ xác, vàng chân như người bị bệnh phù thũng. Đầu óc Mai căng cứng, mệt phờ phạc, nhưng cũng cố tranh thủ ra giếng kéo cần vọt xách từng gàu nước đổ vào các hốc cây như bón nước sâm cho người ốm. Xong việc, lua vội chén cơm nguội ngắt rồi lăn ra ngủ, không còn sức để mắt tới chuyện học hành của Hậu.

Bà Tư ái ngại nhìn dáng người hốc hác của con gái, thốt lên: “Hay con xin nghỉ quách cho khỏe, tội nợ gì. Không chó thì mèo, không mèo thì chó, mất ai”. Mai ngước nhìn mẹ, lòng xốn xang: “Đâu được mẹ. Như vậy tổ chức kêu là đầu hàng, là phá hoại, là chạy theo địch... khổ lắm mẹ ơi”. “Xì, làm như mày cầm súng bắn lại người ta không bằng”. “Chuyện đó cũng y như bắn vậy”. Bà Tư bĩu môi: “Tổ chức cái con mẹ gì lạ kỳ vậy, có tổ...”, bà kịp dừng lại.
Mai chán ngán, loay hoay tìm lối ra. Nhưng càng vùng vẫy thì càng bị thít chặt hơn. Tối nay lại có cuộc họp liên tịch gì nữa đây. Họp mãi, làm mãi nhưng nào có thấy “mỗi người dân trong bữa ăn có ly bia, có thịt... mỗi nhà có ti vi tủ lạnh” như từng học tập nghị quyết đâu? Chỉ thấy trong nồi cơm, càng ngày sắn mì chiếm hơn chín phần. Mấy hột gạo khép nép như những cánh hoa héo núp dưới tán lá rậm rịt! Hết khoai lang hầm tới bo bo cứng như nhai sỏi. Đã có một vài cán bộ rụt rè đề đạt ý kiến thắc mắc của dân thì được trên giải thích: “Làm cách mạng phải biết hy sinh. Đó là con đường ngắn nhất để tiến lên chủ nghĩa xã hội vững chắc”. Ngồi bên dưới, Mai cảm thấy chột dạ.


Mai tới sớm. Ngang qua hội trường trống trơn, cô quay lại vừa đụng mặt Ba Xanh. Ông cười hề hề đưa bàn tay thô nhám ra nắm lấy tay Mai lắc lắc và giữ lại thật lâu. Mai rùng mình. “Cách mạng nhìn người không lầm. Cô đúng là phần tử nhiệt tình, tiến bộ thấy rõ”. Mai chưa kịp định thần xem coi mình tiến bộ chỗ nào thì Ba Xanh hớn hở nói: “Vô đây, vô đây uống miếng nước cái đã”, và không đợi Mai có ưng hay không, lôi tuột cô vào phòng: “Ngồi xuống, cô ngồi xuống đây”, nói và ông tự kéo ghế ra như một người lịch lãm. “Anh nhà yên ổn cả chứ?”. Mai lúng túng: “Dạ, cảm ơn, cũng thường”. “Ảnh sẽ về thôi, không lâu nữa đâu” – Ba Xanh hạ thấp giọng. “Dạ”. Mai trả lời và cảm thấy có điều bất thường sắp xảy ra. Người cô nhột nhạt, cứng đờ. Im lặng một lúc khá lâu ba Xanh mới lên tiếng, lần này thì ngập ngừng, ấp úng: “Tôi... Cô có biết... Tôi thương cô chừng nào không? Vậy mà cô nỡ lòng...”. Ba Xanh nói nhiều, rất nhiều nhưng Mai không nghe được gì. Tai cô ù lên, mắt hoa. Trước mặt là một khoảng không trắng lốp rồi biến thành màng đen dập dềnh. Đầu óc ong ong quay cuồng. Cô nhắm mắt lại, hít thở thật sâu cũng vừa đúng lúc Ba Xanh đứng lên, ôm choàng lấy Mai. “Cô đừng hy vọng thằng Nghĩa trở về. Tội gián điệp của nó chỉ tù rục xương. Cô hãy lấy tôi. Tôi yêu cô như cuồng như dại từ khi còn đi học. Tôi bỏ đi cũng chỉ vì cô. Tôi đặt tên con là Mai chỉ vì tôi không thể nào quên cô. Em là cả cuộc đời của tôi. Xin em đừng phụ tôi”. Liền theo đó là những cọng râu đâm xuống má như cả một dề gai bàn chải ấn mạnh vào. Mai có cảm giác như ngực mình cũng đang nhàu nát tựa trái cam bị bóp dập nhểu nước. Cô vùng dậy với tất cả sức mạnh còn lại, phóng ra khỏi phòng, chỉ kịp nghe tiếng ghế đẩu ngã lăn, kêu khô khốc dưới sàn. Đầu tóc xổ tung, cúc áo bung ra trông như một con mụ điên.

Ra tới đầu hồi hội trường, Mai ngồi bệt xuống đất, gục đầu lên hai cánh tay vòng qua hai đầu gối. Nước mắt chảy ròng ròng như thể trinh tiết của cô bị xé toạt, máu dầm dề giữa hai đùi.
Một vài cán bộ đi về phía hội trường. Chiếc đèn bão treo lủng lẳng trên cây xà không đủ sáng để nhận rõ mặt người. Ngoài xa Bảy Lợm xách chiếc măng xông đung đưa qua lại, vừa rên ư ử câu bài chòi nghe như người nuốt củ khoai lang bị nghẹn. Mai chùi mắt, vấn lại tóc, cài khuy rồi đứng lên. Lúc Bảy Lợm trông thấy Mai từ xa, ông đổi sang giọng xuân nữ: “Ối em ơi, sao em nỡ phụ tình phụ nghĩa, sao em ham tiền ham bạc, đi lấy người ta mà bỏ anh rày... ày...ày...”. Bảy Lợm dừng lại trước mặt Mai: “Uở, đồng chí phụ nữ tích cực đi sớm quá hén?”. Mai không trả lời, bước vào ngồi sau băng ghế cuối cùng.

Cuộc họp toàn cán bộ, đoàn thể xã, có đại diện lãnh đạo huyện tỉnh về dự, mục đích là phổ biến chủ trương vận động nhân dân đóng góp tư liệu sản xuất, tình nguyện vào hợp tác xã. Buổi họp kéo dài tới khuya. Đầu óc Mai đông cứng, không nghe, nhớ được điều gì...

xxx


Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được phát động rầm rộ. Trước hết các trường học tập trung tất cả học sinh đi cổ động. Chiếc trống trường như bụng con voi được hai em nhỏ khiêng đi sau lá cờ đỏ, ráng sức nện tùng tùng. Hai hàng học sinh nối tiếp nhau rồng rắn, trên tay cầm lá cờ tự chế, gắn vào que tre bay lơ phơ vì mảnh giấy quá nhỏ và thiếu gió, giả hoặc cầm lâu quá, mỏi. Bụi tung mù mịt.

Ngồi trong nhà, bà Tư Bủng nhìn ra chỉ thấy màn bụi dày ôm choàng lấy các em học sinh lếch thếch tách ra từng đoạn, vì đường xa, nắng nóng và nước miếng dẻo quạnh trong cổ họng. Bà chỉ nghe những âm thanh lục sục, rệu rạo từ những chiếc miệng há to như miệng con chim con đói mồi: tiến lên... tiến lên... tiến lên... phấn khởi...phấn khởi... phấn khởi... vững chắc... vững chắc... vững chắc... Những âm thanh dập dềnh trôi nổi bị sức nóng và sự mỏi mệt chặn lại có lúc bà nghe như tiếng gào của bầy người hợp sức than khóc ai đó vừa chết một cách tức tưởi. Bà bỗng nhớ lại những năm Việt Minh nổi lên cướp chính quyền, lập tức các đoàn thể tổ chức đi cổ động chào mừng cách mạng thành công. Cờ xí rợp trời. Hoan hô đả đảo khản cả cổ. Vui. Vui như ngày tết, bởi thực dân, tay sai lăn quay ra rồi. Vui là phải, đèn đuốc sáng trưng, hò hét thâu đêm. Không ngờ những cây đuốc hừng hực khí thế kia lại mang đến tai họa cho cả làng: Máy bay địch phát hiện, ném xuống hàng loạt bom xăng. Đám người bỏ chạy nháo nhào. Nhiều phụ nữ ngã lăn quay kêu la thất thần. Bà Tư Bủng cũng ngã, nhưng cú ngã không bình thường. Bà ngã nhào xuống như nhiều người đã ngã. Bà vừa bò, nước đái, cứt tự động chui ra lầy nhầy, sền sệt trong đũng quần. Nhưng bà chỉ có cảm giác mát đít chứ không ngửi thấy mùi thúi thông thường. Nhớ lại, mắc cỡ lạ lùng, như thể bà đang vãi ra ngay lúc này.

Đoàn học sinh cổ động qua đi, để lại một màn bụi dày đặc, lửng lơ trên những tàu lá chuối trong vườn.


Sau đợt cổ động, Mai tham gia vào đoàn công tác, vận động bà con nông dân tình nguyện làm đơn vào hợp tác. Dựa vào tài liệutrên đưa xuống, Mai cố gắng giải thích. Nông dân nghe xong nhăn mặt càu nhàu, đốp chát lại cô cán bộ chỉ còn da bọc xương, mắt sâu hoắm. Nhiều câu hỏi họ đặt ra Mai không thể nào giải đáp nổi, mà nếu có trình lại trên, chắc trên cũng không tìm ra lời giải xuôi tai. Địa bàn cô phụ trách chỉ có 98 hộ dân, nhưng trầy trật mãi cũng mới được 13 hộ làm đơn tình nguyện, số còn lại hoặc ngó mặt nhau, hoặc chống đối ra mặt. Cô khổ tâm vô cùng. Đôi lúc Mai muốn bỏ trốn. Nhưng trốn đâu? Mẹ còn đó. Con còn đó. Anh Nghĩa còn đó. Thế nào họ sẽ không ghép tội? Nghĩ tới nghĩ lui không lối ra, Mai nhét tập tài liệu và đơn tình nguyện in sẵn, nhủ lòng: mặc kệ, tới đâu thì tới, rồi đạp xe lên Ban chỉ đạo.

Thoáng thấy Mai, Ba Xanh (nay kiêm nhiệm chức trưởng ban chỉ đạo) hớn hở chìa tay ra từ xa. Hai tay vẫn ôm khư khư cặp tài liệu, Mai nói ngay để ngăn chặn chuyện đẩy đưa của Xanh: "Báo cáo lãnh đạo, địa bàn tôi phụ trách không xong, dân thắc mắc này nọ, tôi không thể giải quyết nổi". "Cô nói thế là thế nào? Cô phải đả thông tư tưởng, quán triệt nghị quyết trên đưa ra chớ?". Mai rời một tay khỏi chiếc cặp da, vén lại cụm tóc lòa xòa trước mắt: "Tôi đã làm đúng các bước hội nghị đã đề ra, nhưng có lẽ, tôi không đủ sức làm việc này do năng lực kém, xin lãnh đạo bố trí người khác thay thế, chuyển tôi qua chỗ nào cũng được. Tôi sẽ hết lòng". Ba Xanh hơi sững người một chút, vì kế hoạch sắp tới của ông sắp vỡ. Ông định bụng hôm nào thuận tiện sẽ xuống địa bàn Mai để kiểm tra đột xuất, rồi sau đó... thừa cơ ứng biến, nhắc lại chuyện ngày xưa. Giờ thì vỡ thật, hết hy vọng.

Không thấy Ba Xanh nói gì, Mai nhỏ nhẹ: "Báo cáo lãnh đạo, ngày mai tới kỳ thăm nuôi, tôi muốn xin phép lãnh đạo cho tôi vắng mặt 4 ngày cả đi và về. Mấy tháng nay công tác lu bu, đã trễ mấy chuyến rồi. Không biết tình trạng ảnh ra sao, xin lãnh đạo rộng lượng với người bạn cũ". Nghe nhắc "bạn cũ", máu bốc lên mặt, ùn ùn như khói nhà cháy, nhưng ông kịp ghìm xuống, nghĩ bụng vẫn còn cơ hội: "Cô khéo lo, Ban quản giáo đã nghĩ đâu ra đó, có bỏ đói ai đâu?". "Dạ, đành vậy, nhưng trên núi rừng, có thể ảnh bị bệnh này nọ...". Ba Xanh cắt lời: "Cô nói sao, bộ chúng tôi ở trên rừng năm này qua tháng khác, trường kỳ kháng chiến đều lăn ra chết hết? Cách mạng vẫn giành thắng lợi đó thôi".

Biết không thể đôi co lại Xanh, Mai cúi chào vào nộp biên bản, báo cáo cho bộ phận tổng hợp. Ba Xanh nhìn theo vừa ngậm ngùi, vừa tức giận.


Sau chiến dịch vận động, Mai bị kiểm điểm phê bình gắt gao vì thiếu trách nhiệm, có tư tưởng lệch lạc, không nhiệt tình cách mạng... và ngồi nhà chờ lệnh mới. Mai đón nhận với vẻ mặt hớn hở. Hóa ra bị gán cho mấy cái tội kia trong công việc lại hóa hay, không mắc lòng bà con chòm xóm, khỏi phải lặn lội con cà con kê với dân trong khi họ muốn đuổi xéo mình đi ngay lập tức. Mai có tham gia hay không thì cái hợp tác hóa kia không thể không thành hình và đi vào hoạt động một cách trơn tru như cỗ máy vừa lắp ráp, nhặt chỗ này con ốc, chỗ kia cây láp, chỗ nọ cái bugi, pít tông... nối lại, châm dầu, giựt máy cho xịt khói và chạy...

Buổi ra quân đầu tiên, cờ xí đỏ trời. Trống thúc liên tu bất tận, inh ỏi từ làng trên xuống tận xóm dưới. Tổ cày thì tay cầm roi xua đàn bò tiến tới, vai vác những chiếc cày nặng trịch trên vai, hàng lối ngay ngắn, thẳng tiến ra cánh đồng cày mẫu. Tổ thủy nông, cuốc trên vai cũng hàng lối thẳng tắp tiến về phía các con mương tiêu. Tổ cụ lão ngồi quanh sân đình sửa lại bồ cào, tra cán cho những chiếc trang đất, đóng lại răng bừa... Khí thế hừng hực, sôi nổi bởi tổ nào cũng kèm theo anh hay chị cán bộ thông tin hết đọc các văn bản hợp tác hóa lại quay ra ca hát các bài quân hành qua ống loa cuốn lại bằng tôn. Hết hát lại sang đọc. Đọc như cuồng.

Sau ngày ra quân rầm rộ, tiếp đến là chuẩn bị xuống đồng. Lệnh truyền xuống: là các hộ chăn dắt trâu bò tập thể phải choăn uống đầy đủ để hoàn thành tiến độ cày bừa vượt mức kế hoạch, gieo sạ kịp thời vụ. Các tổ đều phải ra sức thi đua lập công. Nơi nào cũng một không khí rộn ràng.

Nhưng đúng một tuần trước khi xuống đồng, ban Chủ nhiệm hợp tác nhận hết hung tin này tới hung tin khác: Bò cày tự dưng chướng bụng lên ngã lăn quay. Hiện tượng gãy chân phổ biến hơn. Hơn hai trăm đôi trâu bò cày có đến một phần ba lâm vào tình trạng xấu. Ban chủ nhiệm và lãnh đạo xã họp ngày họp đêm, trong khi các hộ chăn dắt lo thanh toán những con bò què, sình bụng vì hết phương cứu chữa. Trong khi cán bộ họp bàn phương án đối phó, cả làng gát lại chuyện cày bừa hợp tác, hào hứng tham gia mổ xẻ, chia thịt. Khói bếp vươn cao, mùi thịt nướng, thịt xào... thơm lựng bay theo. Rượu đế tăng giá vùn vụt. Cả làng ăn uống vui say cả đêm lẫn ngày, cứ như ngày tết! Có rượu tất có hát hò. Đờn cò, đờn dây lôi ra đệm theo những câu hô bài chòi nhão giọng vì đầy men. Có anh cao hứng xắn tay áo diễn tuồng cổ, ca cải lương. Bảy Lợm vốn người ba lơn, ham vui, liệng ống loa ngoài góc rào xán lại đám đờn ca: "Để Bảy này diễn lại đoạn tuồng Mạnh Lệ Quân cho mấy người nghe". Bảy Lợm xăng tay áo, guộn lưng quần, xuống tấn, ra điệu bộ lúc thua trận, cất giọng ồ ồ: "Ôi đại bại nhất thời đại bại. Ta bại lần này... ợ...ờ...ờ.. bày tiếp trận sau...ơ...ơ...". Tiếng vỗ tay rào rào nổi lên, chỉ còn thiếu những chiếc thẻ ném ra và tiếng trống chầu nữa thì đã thành gánh hát bộ rong!

Tội nghiệp Bảy Lợm , học hành lèm nhèm vài ba chữ đủ đọc lá thư chứ đâu biết mình mắc tội. Mà tội gì mới được chứ? Rõ ràng câu ca tối hôm qua ông hát lên có sẵn trong tuồng tích chớ nào do ông tự bày ra. Vậy mà chú công an xã gầm ghè: "Nhất thời đại bại. Ai đại bại? Mà sao lại nhất thời? Kẻ nào bày cho ông đi tuyên truyền, phá hoại công cuộc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp?". Bảy Lợm cãi lại: "Ai bày biểu. Chú về hỏi lại ông già chú đó. Mấy năm trước ổng theo tui lên Quảng Hoà coi đám hát hiến. Kép nó hát rõ ràng vậy mà. Cha chú cũng thuộc nằm lòng, không tin chú về hỏi ổng coi. Tôi có đặt ra đâu?". "Không ai bày biểu thì ông cứ ngồi nhớ lại rồi viết kiểm điểm". Bảy Lợm gát ống loa lên bàn, lòng căm hận muốn nhổ toẹt bãi nước miếng vào mặt thằng nhóc chỉ đáng tuổi con cháu. "Đồ dóc phách", Bảy Lợm gầm lên trong cổ, nhưng cũng ngồi vào bàn, cặm cụi đúng một buổi sáng, nắn nót được nửa trang giấy mà không hiểu mình viết gì. Người nhận tờ kiểm điểm của ông hết xoay ngang lại xoay dọc, không tài nào đọc ra con chữ, chỉ vì chữ ông viết giống như giun dế bò, y như chữ Lào, chữ Miên. Chịu thua, thả ông về.

Ban chủ nhiệm cho ghép lại các đôi bò để điền vào những con đã chết hoặc bị giết thịt. Chúng vẫn thản nhiên đi ra đồng như mọi khi, nhưng khi mắc hai con vào quải (ách) thì con này húc con kia, quay đầu lại chọi nhau, khiến ba cây cày bị gãy chui, một xã viên cày bị thương. Đội cày lại báo cáo. Chủ nhiệm hộc tốc chân cao chân thấp chạy ra đồng, ra lệnh cửa hàng thương nghiệp cung cấp dây thừng, buộc chặt sừng mỗi con một bên vào tay quải, không cho động cựa. Giải pháp này xem ra hữu hiệu khi mới ấn lưỡi cày, cày chừng trăm mét. Nhưng lúc tới bờ, anh đội cày nghiêng người nhắc thá thì cả hai cứ thẳng tiến, bước đều đều lên phía trước, khiến lưỡi cày cắm chặt vào bờ đất, làm bắp cày rời khỏi mỏ. Đôi bò mang bắp cày thủng thỉnh bước tới như kéo một thanh gỗ nhỏ về làng, ông xã viên thì nắm phần chuôi cày vừa tách rời, đứng giữa ruộng la ơi ới, rồi cắm cổ chạy về không thèm đợi kẻng xổ báo hết giờ lao động.

Sinh hoạt của làng lúc này là tiếng kẻng. Đều đặn ngày bốn bận kẻng gióng lên báo hiệu giờ lao động hoặc nghỉ. Một ngày nông dân làm 8 tiếng, đúng theo luật quốc tế. Như vậy cũng đã tiến bộ một bước đáng kể. Nhưng cái cảnh kẻng báo giờ nghỉ trưa hay hết ngày nom như những hình nhân trong đoàn kịch câm: Người đang vung cuốc, nghe kẻng báo hết giờ cứ để nguyên tư thế đó rồi thu cuốc lên vai; người đang gánh đôi thùng tưới lãnh thuốc nam, nước chỉ mới tưới phân nửa thùng, nghe kẻng thìđổ nhào phần còn lại ra đất, đủng đỉnh quảy đôi thùng rỗng trên vai bước lên bờ. Cảnh tượng buồn cười ấy cứ lặp đi lặp lại mãi không tài nào chữa khỏi, như mắc chứng nan y.

xxx


Cô Mai do công tác phong trào kém, nên trên điều sang công việc khác. Công việc cô sắp đảm trách rất phù hợp với cô. Chẳng là cô đã từng mở cái mỹ viện gì đó trên tỉnh, chuyên cắt, uốn, ép, sấy, nhuộm... nên cô về làm cửa hàng trưởng Cửa hàng Hớt Tóc Nhân Dân là hợp lý. Rất hợp lý. Trên rất sáng suốt, ai ai cũng tán đồng.

Mai quản lý 8 ông thợ hớt tóc; già xấp xỉ 60, trẻ nhất cũng 23, vốn là chủ các tiệm hớt tóc trong làng. Các tư liệu sản xuất của họ như tông đơ, kéo, gương, lược, dao cạo, bàn ghế, thậm chí tấm vải choàng cũ mèm, hôi mốc đều tập trung vào Cửa Hàng Hớt Tóc Nhân Dân, đặt trong ngôi miếu thờ thành hoàng được nới rộng ra. Họ đến cửa hàng theo tiếng kẻng. Ra về cũng phải chờ kẻng. Lúc không có khách cũng phải ngồi tại cửa hàng không ai được phép bỏ đi. Mai phân chia đều khách đến cắt tóc cho mỗi thợ, rồi chấm công điểm, ghi vào quyển sổ chấm công, cuối tháng báo cáo lên ban chủ nhiệm. Ngồi trong mát, nhàn nhã nhưng ngày kiếm nửa cân thóc. Sướng chán. Chẳng bù với mấy anh thợ cày cắm mặt dưới nắng mưa suốt ngày này qua ngày nọ.

Rồi cũng giống như cảnh của các tổ đội khác, hễ nghe tiếng kẻng báo hết giờ lao động, tất cả các đồ nghề đều ném lên mặt bàn, mặc cho khách chỉ vừa mới cắt một bên mái, hay vừa cắt xong nhưng chưa kịp cạo mặt, ngoáy tai... Khách hàng la oai oái. Nhưng mặc. Đã hết giờ lao động. Luật nói vậy. Nội qui đã đề ra. Lắm khách từ cửa hàng ra về với một bên nửa đầu trắng ởn, nửa kia rậm rịt đen như nùi giẻ lau xe. Khách kêu trời, than oán cách làm ăn của Mai và đám nhân viên bất nhân. Họ đòi đập nát cái cửa hàng hớt tóc nhân dân kia. Họ chửi tạt vào mặt Mai và mấy người thợ là lũ ăn hại, bọn tay sai do địch cài lại, phá hoại...

Tiếng kêu thấu tai trên, lập tức Ba Xanh được cử xuống quan sát, nắm tình hình. Đây cũng là dịp tốt để Ba Xanh gần gũi cô Mai. Từ ngày vợ ông hy sinh, Ba Xanh luôn tơ tưởng có ngày được ôm ấp tấm thân ngà ngọc của Mai trong vòng tay. Nhưng khốn thay mơ ước cháy bỏng kia chưa chịu đến, khiến ông buồn nẫu ruột.
Lần này ông đến cửa hàng với tâm trạng buồn vui lẫn lộn, nhưng cũng cố đè xuống tận đáy, để có thể nắm bắt tình hình, kịp thời uốn nắn.
Ba Xanh lựa đúng vào thời khắc chỉ còn nửa tiếng là hết giờ lao động để vào cắt tóc, cốt xem rõ cách thức làm ăn của họ thể nào.
Mai không ngẩng lên, cũng không chào khách. Cô cặm cụi biên tờ phiếu rồi đưa cho ông già Phi Sơn đã có hơn 40 năm tuổi nghề. Ba Xanh nhăn mặt khi nhìn thấy ông già ốm nhách, mặt xanh mét không còn thần sắc lừ đừ đứng dậy. Nghi mắc bệnh lao kinh niên, Ba Xanh nghiêng đầu hỏi Mai: "Sao đồng chí không phân công các đồng chí trẻ lại để ông cụ già tội nghiệp này hớt?". Mai đáp tỉnh rụi: "Báo cáo lãnh đạo, ai cũng được phân chia đều công việc. Không ai nhiều, không ai ít, vì nếu làm vậy là bất công, là bóc lột sức lao động...". Ba Xanh phẩy tay, ép mình ngồi xuống chiếc ghế ọp ẹp. Ông Phi Sơn hấp háy cặp mắt lèm kèm, cầm tông đơ, chậm rãi đưa lên đưa xuống nửa bên trái mái tóc bắt đầu có sợi bạc của ông Xanh. Thỉnh thoảng răng tông đơ kẹp dính sợi tóc lúc thao tác, khiến Ba Xanh đau điếng. Một lần ông còn chịu được. Đến ba bốn bận như vậy, ông nổi cáu: "Hớt cái con mẹ gì như nắm tóc người ta giựt, như lột da đầu ra vậy? Đau thấy con mụ nội!" Ông già suýt soa xin lỗi vì tông đơ chưa đến kỳ tu sửa, tổ mài dũa chưa chịu nhận. "Khỏi, hớt nhanh lên". Ba Xanh vừa liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo trên tay vừa giục. Kim đồng hồ nhích dần, nhích dần. Nửa bên trái được cắt xong, cắt vội vã, còn những đường tóc đen nổi đậm, nhưng nhìn sơ, không đến nỗi tệ. Chỉ còn nửa bên phải. Mai nháy mắt với anh thợ trẻ. Điều này có nghĩa là phải tranh thủ, ưu tiên cho cán bộ. Anh thợ trẻ hiểu vậy và nhanh nhẹn cầm tông đơ phụ với ông già phần tóc bên phải. Hai chiếc tông đơ đua nhau lóc chóc, lóc chóc trên mái tóc Ba Xanh như hai con ngựa gõ móng xuống mặt đường phi nước kiệu. Ba Xanh tỏ vẻ ngạc nhiên về cách cắt tóc này. Trên đời này đâu có kiểu hai thợ xúm nhau trên một đầu tóc khách hàng? Nó chưa từng xảy ra với ông, với cả làng này? Hay Mai đúng là "nghệ sĩ hớt tóc" như lời quần chúng đồn đãi? Ba Xanh nghĩ thầm và ngồi yên chịu đựng những nhát bứt tóc từ chiếc tông đơ của ông già Phi Sơn. Ngựa chạy, hết đường chạy thì dừng lại. Hai chiếc tông đơ cũng dừng lại khi mảng tóc cuối cùng rớt xuống tấm vải choàng quanh người, để lộ chỗ đậm chỗ lợt trên mái tóc phía phải Ba Xanh. Kẻng xổ tràng dài. Ba Xanh nghiêng qua nghiêng lại đầu tóc trước chiếc gương lớn, đã tróc thủy vài chỗ. Ông ngạc nhiên khi thấy cả hai người thợ không chịu tiếp tục công việc còn lại trên đầu tóc mình, quay lui nói: "Nghỉ sao?". Ông Phi Sơn nhỏ nhẹ: "Dạ thưa, đã hết giờ lao động, xin mời đồng chí sáng mai tới sớm, tui sẽ cắt nốt phần còn lại". Ba Xanh giận dữ giật mạnh tấm vải choàng quanh người làm tóc văng tung tóe, văng tục: "Mẹ cứt, làm ăn gì lạ vậy? Phải cho xong đầu tóc người ta chứ?". "Dạ - giọng Phi Sơn khúm núm, nhưng dứt khoát, rành rọt - xin mời ông xem bảng nội qui treo trên vách kia". Ba Xanh không cần dòm cũng biết bảng nội qui đề ra cho các tổ đội sản xuất, cửa hàng... là do chính tay ông thảo. Vậy mà khi từ trên xanh về, ông dò la tin tức cô Mai, người làng nói "cổ là nghệ sĩ hớt tóc trứ danh trên tỉnh đến nỗi các quan bà, me Mẽo cũng chết mê chết mệt dưới bàn tay tài hoa của cổ". "Kít. Nghệ sĩ với tài hoa củ kít" ông buột miệng gầm lên trong cổ họng. Âm thanh bị nén lại nghe như tiếng rít của con rắn vồ trật con mồi. Không ai hiểu ông nói gì, rồi xẵng giọng trong lúc mọi người trong tư thế bồn chồn, chuẩn bị ra về: "Có ai dư cái mũ nào không?". Mai hỏi lại: "Thưa, để chi ạ?". Ba Xanh trổ quạu: "Chụp cái đầu lại chớ còn chi nữa, còn đứng đấy hỏi. Cô coi, vác cái đầu tóc này mà đi được à?".

Mọi người nhìn nhau, chẳng ai đội mũ. Mai nhanh nhẹn lấy chiếc nón lá treo trên móc đưa bằng hai tay: "Đội tạm cái này ạ".

Tự dưng khuôn mặt Ba Xanh dãn ra, dịu dần lại khi chạm vào chiếc nón có mùi người đàn bà trong tay. Vạt nắng nhảy nhót trước miếu thành hoàng bỗng sáng choang, hắt lên màu nắng quái, khiến Ba Xanh quay tít, ngất ngây đến tê dại.
Đăng nhập để trả lời
0
GIÓ CUỐI CHÂN MÂY


NGUYỄN LỆ UYÊN



1.
Ban đầu tôi nghĩ khu nhà trọ như một trại gia binh, sau nhớ lại thì nó giống một trại chăn nuôi gia súc. Bốn mươi căn phòng, mỗi căn rộng chưa tới hai chục mét vuông đôi mặt vào nhau. Ở giữa là dãy hành lang dài hun hút. Khu nhà trọ táp nham này chứa đủ các thành phần từ thợ thuyền đến công chức, và chẳng mấy khi họ đứng lâu, ngó mặt nhau nói chuyện thân thiện. Mới tờ mờ sáng mọi người đã vội vội vàng vàng dắt xe máy, xe đạp hoặc hộc tốc chạy ra bến xe buýt. Chiều tối mịt họ mới lác đác kéo nhau về, kẻ trước người sau, với sự mệt mỏi bám lủng lẳng trên mí mắt, trên những đôi chân bước chậm. Chính xác hơn, khu nhà trọ này giống cái tổ ong thu nhỏ. Một tổ ong trong mùa gió rét, mưa bão!

Nhưng sáng nay thì không như mọi ngày. Một sự bất tiện. Một sự quấy rối. Một sự bất ngờ. Lẫn lộn những cảm xúc bực bội và thích thú. Đó là tiếng gõ cửa. Những tiếng động nhẹ đã làm chao đảo, không, chính xác là làm đảo lộn trật tự vốn được giữ gìn cẩn thận theo thói quen sẵn có và lười biếng bấy lâu nay. Hơn ba tháng ở khu này, lần đầu tiên tôi đón nhận tiếng gõ cửa thong thả, không ngập ngừng, không vội vàng. Thoạt nghe hơi khó chịu nhưng hình như những tiếng lốc cốc phát ra từ sự đụng chạm giữa các ngón tay và cánh cửa gỗ đã đè ép sự bực dọc xuống ở mức độ thấp hơn nhiều lần. Tôi khoát thêm chiếc áo ngoài để che đậy sự hở hang khi chỉ một mình trong phòng, nhón gót hé cánh cửa.
Một chiếc đầu lướt qua kẻ hở. Một khuôn mặt dài ngoằng khi mới thoạt nhìn qua khe hẹp. Chiếc đầu lùi lại. Khe hở của cánh cửa mở rộng và khoảng tối biến mất. Chiếc đầu lên tiếng:

-Chào chị. Tôi tới trọ gần tuần nay. Nếu không phiền thì chị cho tôi mượn kim chỉ khâu lại hột nút bị sút. Định ra đầu hẻm mua, nhưng nghĩ các vị phụ nữ thế nào cũng chỉn chu hơn trong chuyện may vá…

Chiếc đầu nói thêm những gì nữa nhưng tôi không để ý. Sự nói dài của Chiếc đầu khiến cánh cửa dưới tay tôi cũng chỉ hé thêm vài phân một cách dè chừng. Chiếc đầu ngưng đột ngột và thở dài đánh sượt nghe thật rõ khiến tôi bối rối, bàn tay tự động hé rộng cánh cửa thêm vài phân:

-Có thể đấy – tôi trả lời – nhưng anh phải nói chỉ màu gì?

-Dạ màu xanh nhạt hay trắng cũng được.

Tôi kéo cánh cửa hẹp thêm một chút như thể phòng ngừa Chiếc đầu có thể bất ngờ chui tọt vào bên trong, trong khi tôi quay vào tìm kim chỉ. Mở chiếc va li tìm chiếc hộp chứa lỉnh kỉnh các thứ vặt vãnh nhưng cần thiết của phụ nữ, và lôi ra đúng loại chỉ khâu Chiếc đầu yêu cầu, tôi đưa cho hắn qua khe cửa hẹp:

-Anh có thể giữ lấy mà không cần trả lại.

Bàn tay Chiếc đầu chạm vào bàn tay tôi. Và thay vì nói lời cảm ơn, Chiếc đầu lại xuýt xoa:

-Ôi bàn tay chị đẹp quá.

Tôi đóng sập cửa lại nghe thành tiếng. Lần đầu tiên có người khen bàn tay tôi đẹp. Tôi lật qua lật lại hai bàn tay; xoè mười ngón rồi cong lại nhìn ngắm. Trời đất có đẹp thiệt dưới con mắt hắn hay chỉ là sự nhầm lẫn, tâng nịnh lấy lòng? Tôi nằm ườn trên ghế, lật tiếp tạp chí Thời Trang Phụ Nữ để không nghĩ về bàn tay, lời khen nịnh và thái độ của Chiếc đầu bên kia cánh cửa đóng.

Những chiếc váy dài, váy ngắn, áo pulls, soutiens, slips …màu sắc sặc sỡ, đủ loại như một rừng cờ tổ quốc của nhiều chủng tộc đang quàng vai bá cổ diễu hành trên đường lớn.
Lại một chiếc đầu thò vào, bím tóc buông thõng trước ngực:

-Em ở sát phòng chị đây mà. Em tên Mai. Chiếc bàn ủi của em bị sao đó không ăn điện. Chị làm ơn cho em mượn. Trời ơi, thiệt là phiền chị quá trời - Giọng nói miền Nam nhào nhão nghe dễ chịu đến lạ.

Tôi cúi xuống gậm bàn lôi chiếc bàn ủi đưa cho cô gái. Không thể đoán được tuổi tác, không đẹp, nhưng khuôn mặt phúc hậu. Cô ta vội vã rụt đầu và biến mất sau cánh cửa, quên cả kéo sát lại. Thôi kệ, ta không ngắm được gì, không sờ soạn nắm được tay ai, ngồi hàn huyên to nhỏ với ai trong khu tổ ong thì để chút không khí chủ nhật luồng vào tận phòng tắm cũng chẳng mất mát gì, tôi tự nhủ như vậy, cầm bằng như không khí cũng được xếp loại sinh linh trên trái đất này.

Em ơi…nếu như đôi ta… Em ơi… nếu như đôi ta… câu vọng cổ cứ lặp đi lặp lại một cách sộn sựt trên mặt đĩa bị trầy xước phát eo éo qua hai chiếc loa nhỏ, đập vào tai khiến tôi tưởng tượng đến Chiếc đầu đang ngồi dạng chân xỏ chỉ qua lỗ kim bị trật hoài. Chuyện này rất có thể sẽ xảy ra. Chuyện kim chỉ không phải dành cho đám đàn ông con trai. Tệ thật, tinh thần cộng đồng của bầy ong nơi tổ này không được phát huy một cách triệt để. Giá như có một thủ lĩnh – tôi nghĩ vẩn vơ – mà lấy đâu ra thủ lĩnh kia chứ? Ai rỗi công đâu mà đứng ra gánh vác chuyện hàng tổng? Nhảm nhí. Thiệt nhảm nhí. Tôi đứng dậy, vói tay tắt chiếc loa vi tính. Những câu em ơi… sậm sựt tắt ngấm.

Bỗng dưng Chiếc đầu lọt hẳn vào bên trong, kéo theo cả tấm thân đồ sộ đo chật khung cửa. Chiếc đầu chìa gói kim chỉ về phía tôi:

-Trả lại chị. Cảm ơn rất nhiều. Ủa mà chủ nhật chị không đi đâu sao? Xin lỗi, tôi hơi tò mò thái quá.

-Không có chi.

Câu trả lời khiến Chiếc đầu chưng hửng. Hắn đưa tay lên gãi đầu theo thói quen của những gã con trai có thói tán tỉnh vu vơ, mắt nhìn quanh như thể che lấp sự hổ thẹn bắt đầu tăng lên. Chiếc đầu lúng túng thật sự, mắt dán chặt vào bức tranh khoả thân, buông câu nói không dành cho ai.

-Đẹp thật, tuyệt.

Tôi nói:

-Xin lỗi, tôi hơi nhức đầu – và đỏ mặt.

Chiếc đầu quay lui:

-Chào chị.

Bây giờ thì tôi mới kịp hoàn hồn, nhìn lại khoảng cách Chiếc đầu đứng bên trong khung cửa và bức tranh. Hắn nhìn thấy gì nhỉ? Tôi hoảng hốt bỏ tờ tạp chí xuống nền đất, chạy lại đúng chỗ lúc nãy Chiếc đầu đứng, và đứng đúng với tư thế của hắn, cũng ngoái đầu nhìn về phía bức tranh, ước lượng khoảng cách và độ sáng: cũng đến chục bước chân, độ sáng thì nhoè ở một nửa khung tranh. Như vậy Chiếc đầu chỉ có thể nhìn thấy một cách lờ mờ, không rõ ràng. Tôi tạm an lòng và thầm nhủ, sẽ không để bất kỳ gã đàn ông con trai nào ngắm bức tranh này lần thứ hai dù là trong tư thế đứng nhìn ngắm không rõ ràng như Chiếc đầu lúc nãy.
Thật ra bức tranh ấy không có gì là ghê gớm. Chỉ tội một điều: nó chính là chân dung tôi. Người vẽ nó không phải là gã hoạ sĩ cuồng tình mà chính là Lan, con bạn thân sắp đi lấy chồng nay mai của tôi, theo trí tưởng tượng của nó. Tôi không hiểu mấy về hội hoạ, nhưng khi nó chìa bức tranh ra, tôi không khỏi ngạc nhiên. Có điều gì đó khó diễn tả đang phát ra từ thân thể tôi bằng thứ màu nước trơn tuột. Nó lạnh lẽo một cách nồng nàn; héo buồn đến ngây dại trên một tấm thân hừng hực những đồi trũng nhấp nhô, xa vắng, mời gọi, xô đẩy… với thân thể loã lồ từ gót chân đến hai cánh tay giơ thẳng vượt khỏi đầu, chân chéo vào nhau chỉ thấy một miền cỏ mượt xanh hình tam giác nối liền từ háng lên phía dưới khoang bụng…
Chiếc đầu là kẻ lạ duy nhất nhìn thấy sự ẩn hiện thấp thoáng, hư ảo, nhạt nhoà những đường nét không thật rõ ràng.
Chiếc tổ ong bị xé toạt trong buổi sáng chủ nhật tình cờ này rồi.


2.
Chui khỏi tổ ong nhỏ, ra bên ngoài là tổ kiến khổng lồ. Tất cả mọi loại kiến chen chúc nhau trên đường, ngược xuôi; nối đuôi nhau, hối hả suốt cả ngày thâm đêm. Con kiến con trong đàn khổng lồ là tôi rêụ rã dẫn chiếc xe xẹp lốp lê lết đã bốn trăm mét nhưng chẳng tìm ra chỗ vá. Đôi chân giống chiếc chân giả vặn gai ốc; tay nhừ mỏi, thân thể nhớp nháp qua lớp mồ hôi rịn vấy áp vào quần áo đến nhột nhạt khó chịu. Đến đôi giày gót cao mới thật khốn nạn: nó nghiến sít, thắt chặt đôi chân như bàn tay thô ráp, nham nhở của gã cà bông bóp thít lại, nhoi nhói. Ôi trời, một con bé cắm đầu dắt xe giữa dòng người xuôi ngược như một kẻ lạ. Tôi chẳng biết phải làm thế nào nữa? Công ty thì sáng nay có cuộc họp sớm, nghe nói quan trọng. Đành phải gọi về thôi. Tôi cố đẩy chiếc xe đáng nguyền rủa lên vỉa hè. Phía sau lưng, tiếng nói hơi quen quen gọi giật.

-Nè chị, sao vậy? Bể lốp à? Khổ thật!

Chiếc đầu trờ tới, cho xe leo lên lề, sát gần chỗ tôi đang loay hoay tìm cách gạt chân chống choãi ra. Chiếc đầu nhanh hơn, đỡ lấy tay nắm, dựng chân rồi khum người quay vòng vòng bánh xe trước, một tay áp lên vành bánh xe đang quay. Tôi không hiểu hắn đang làm cái trò gì; cứ như là hắn đang tìm kiếm lỗ thủng trên chiếc lốp đen thui hay một vật gì cấu xé vào đâu đó khiến chiếc xe bị xẹp. Cuối cùng Chiếc đầu đứng lên, chìa trước mắt tôi chiếc đinh nhọn, kêu lên:

-Xong rồi!

-Là sao?

-Là chiếc ruột bị nát như người ta băm ruột vịt xiêm xào sả ớt - Chiếc đầu nói thản nhiên.

-Can cớ chi tới vịt xiêm?

Chiếc đầu như không nghe tôi nói gì, lên tiếng:

-Nếu như chị không ngại tôi là kẻ gian, cỗm mất chiếc xe đáng giá năm mươi triệu này thì chị có thể lấy chiếc cà tàng của tôi chạy tạm tới công sở, chiều về đổi lại. Còn nếu quá tám giờ tối mà không thấy tôi mò về, tức thị tôi đã bán chiếc xe này và đã đi xa thiệt xa? Lúc đó chị nên báo cho chính quyền sở tại để họ phát lệnh truy nã - Hắn nói một thôi dài - Chị mà tìm ra chỗ vá xe thì cũng mất đến nửa tiếng nữa. Thôi lấy xe tôi đi đi kẻo trễ giờ làm việc!

Chiếc đầu nói giọng kẻ cả, như ra lệnh. Tôi ngó bộ dạng hắn, nhìn ngược từ đầu xuống chân. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ hắn là kẻ dối trá. Đến nước này thì tôi phải nghe theo, không còn cách nào khác. Đỡ lấy chùm chìa khoá trên tay hắn, tôi nói cảm ơn và bỏ mặc hắn với chiếc xe xẹp lốp giữa phố đông. Đầu óc trống trơn. Không nghĩ mình sẽ phản ứng ra sao nếu như hắn làm thật?. Không nghĩ mình tới công ty có còn bị trục trặc gì nữa không?

Chiếc xe cà tàng của hắn không giở chứng giữa đường. Nó ì ạch cõng tôi đến sở đúng giờ. Ngồi vào phòng họp. Mọi việc diễn ra chính xác và nhanh gọn.


3.
Tôi không nhớ mình đã đi chiếc xe nào, chỉ mang máng đó là chiếc xe màu xanh rêu đã tróc sơn. Nhưng trong nhà để xe có hàng chục chiếc màu rêu biết làm thế nào? Chính xác là tại vị trí này, nhưng cũng có hai ba chiếc giống nhau, chiếc nào là của Chiếc đầu? Lôi chùm chìa khoá ra tra vào các ổ khoá, xe nào cũng mở được? Vầy là thế nào? Chỉ còn nước đứng đợi cho mọi người lấy hết xe ra, chiếc còn lại là của mình đi khi sáng? Mình đâu có số điện thoại của hắn để có thể hỏi rõ. Đành lòng vậy. Đứng chờ. Khởi đầu và kết thúc một ngày đều xui xẻo như nhau. Nó không có hình dạng, nhưng sự bực bội, căng thẳng thì có thừa?

Lúc về tới tổ ong nhỏ, tôi dựng xe trước cửa và liếc nhìn các ô cửa khép mở không đều. Không thấy dấu hiệu nào là có bóng dáng Chiếc đầu trong khu tổ ong. Cứ tưởng tượng rằng Chiếc đầu biến mất thì sự thể sẽ như thế nào nhỉ? Trên TV thỉnh thoảng vẫn thấy mấy khuôn mặt non choẹt, rất dễ thương bị còng tay chỉ vì chiếc di động và vài trăm ngàn như những thứ cần thiết cho đời sống tạm bợ cần phải đổi lấy thật nhanh chóng? Thời buổi táp nham này đến không thể phân biệt Phật Chúa với những tên mạt hạng thì nói chi đến… Ôi hơi quá đà, đi xa rồi. Tôi thốt nho nhỏ trong miệng, cố đẩy những ý nghĩ u ám trong đầu ra ngoài. Lòng trống không như cái bụng đang đói.

Đúng lúc tôi đang cởi soutien, quần lót thì tiếng Chiếc đầu vang lên:

-Chào chị, xe chạy tốt chứ?

Tôi vọng ra từ trong buồng:

-Không có chi, tốt.

Lúc tôi thay áo quần xong thì Chiếc đầu mở rộng cửa, đẩy xe vào góc:

-Má tôi gửi vào mấy cân sò. Tôi muốn mời chị món quê nhà. Nhưng ngồi đây chắc không tiện mà sang bên tôi lại càng bất tiện hơn. Nếu chị đồng ý, tôi mời chị qua bên kia cầu Rạch Chiếc. Chị có thể nhìn ngọn dừa nước còn tôi thì nhìn mấy cây cau thẳng đuột để ai cũng thấy quê nhà sát bên mình.

Tôi bật cười về lối ví von và cách mời chào khá đặc biệt, nghĩ hắn là người có thể tin cậy được nhưng vẫn cứ trù trừ. Chiếc đầu cười cười vẻ chế nhạo:

-Tôi làm mất xe chị thì nguy to, nhưng làm mất chị thì có thể là điều may mắn.

-Anh có dám làm vậy không?

-Nếu chị cho phép?

-Không đời nào!

-Là nói vui, chứ tôi không bao giờ có ý nghĩ sàm sỡ đó.

-Vậy thì tôi đồng ý ngồi nhìn cau, nhìn dừa với anh nhưng phải về trước 8 giờ. Bỡi tôi có hẹn với người bạn.

-Cảm ơn.

-Tôi cảm ơn mới đúng chứ sao lại anh? Anh kêu đãi tôi món ngao sò gì kia mà?

-Đúng thế

(…)

Chiếc xe cà tàng của Chiếc đầu chở tôi ngồi sau, giữ một khoảng cách vừa phải. Tôi để ý qua mấy chỗ đèn đỏ, hắn chậm rãi dậm thắng. Té ra hắn cũng là con nhà tử tế, khá lịch sự trong đời sống khi hắn xách bọc sò đưa cho chủ quán, kéo ghế cho tôi, lau chén đũa, lật ly… Tôi ngồi quan sát, thấy hắn không đến nỗi nào, cũng có thể gần gũi, bạn bè được. Và ăn uống với Chiếc đầu chỉ là cái cớ để hắn dốc bầu tâm sự về hoàn cảnh gia đình, về những công việc hắn đang làm, những trắc trở, khó khăn thời mới ra trường. Tóm lại hắn là người có ý chí, cứng rắn nhưng không thiếu tình cảm.

Những cốc rượu vơi đi là thêm một thông tin, những vỏ sò mở banh ra trống trơn là thêm một chi tiết bất ngờ về cuộc đời hắn. Hoá ra Chiếc đầu là con nhà danh giá, bị sơ sẩy trên đường làm ăn khiến gia đình lâm vào ngõ cụt. Giờ thì chính Chiếc đầu là người gượng dậy và đang đến gần đích, theo như lời hắn giải bày.

-Chị biết không? - Chiếc đầu ngó ra phía đường – Gia đình tôi xuống dốc lúc tôi học năm thứ ba, vừa kèm trẻ vừa hoàn tất học trình vừa đau vừa giận cô bạn. Cô ta quay lui như lính nghe khẩu lệnh “đằng sau quay”. Vậy đấy, rồi mọi chuyện cũng ổn. Giờ tôi phải khôi phục lại công ty của ba mẹ tôi bằng bất kỳ giá nào.

-Chúc anh thành công – Tôi nâng cốc rượu vang trắng lên - những con sò của anh ngọt lắm. Cảm ơn – Nói và tôi liếc nhìn đồng hồ.

Lúc đi qua chiếc cầu gỗ nối liền quán với khu đất trống bên ngoài, Chiếc đầu bất ngờ cầm tay tôi :

-Cảm ơn chị đã dành cho tôi một buổi tối thật đẹp.

Tôi không rụt tay lại, với ý nghĩ là lúc này không nên để Chiếc đầu mất đi niềm hứng khởi. Bàn tay tôi nằm gọn trong tay hắn hình như cũng âm ấm đôi chút, nhưng khi ngồi sau yên xe tôi vẫn giữ một khoảng cách khá an toàn, thật an toàn cho đến khi về tới khu tổ ong.
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ĐÀN BÀ CHẾT TRÔI


NGUYỄN LỆ UYÊN


Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra

(Ca dao)



T rời đang nắng chang chang, bỗng dưng mưa đổ ầm ầm như thác, như lũ. Mưa làm xé mặt đất khô nứt nẻ, dội lên những tiếng sôi ùng ục như thể tiếng kêu từ một nới khác rất xa vọng về. Tiếng kêu ấy nấc nghẹn, tức tưởi lúc kéo dài, lúc ằng ặc đứt đoạn. Ngoài sân bong bóng nổi đầy. Những chiếc bong bóng to bằng chiếc dù che đầu cứ thế trôi ngược lên con dốc cao, phủ lấp đoạn đường đất đá gồ ghề. Rìu rác xoáy ngược vòng vòng giữa con nước đục đỏ màu bã trầu. Thỉnh thoảng một vài que củi mục xoay tròn như chiếc chong chóng rồi dựng đứng lắc lư và cuối cùng mất hút dưới làn nước sâu. Nước tiếp tục chảy ngược lên con dốc cao, nghiêng rót vào những lỗ kiến nằm sâu trong lòng đất. Hàng trăm ngàn con kiến nhoài lên, bám vào nhau và thả trôi theo dòng nước xô đẩy. Những chiếc râu nhỏ xíu ngo ngoe như mừng vui, vì rất lâu chúng mới được một bữa tắm nước no nê hay sao đó. Chúng không hề sợ hãi. Chúng không kêu la, không réo gọi như mặt đất khô nứt, rất thản nhiên coi như cái chết là niềm vui tột cùng của thứ loài vật sống thành bầy đoàn. Một vài con cá quẫy trong dòng nước chảy ngược. Chúng hả hê với con nước hơn là miếng mồi kiến quanh nó, sớm muộn gì cũng sẽ là mồi, không thể khác hơn trong lúc này.

Giữa cơn mưa ầm ĩ, dưới cái nắng chói chang trong ngày hạ chí, để qua được phía bên kia đường, người đàn bà bắt buộc phải vén quần lội xuống dòng nước. Hai trái chân thon nhỏ trắng ngần, nổi bật giữa làn nước đỏ. Chị dò dẫm từng bước nhẹ và ngắn như bước tập đi của lũ trẻ con, lòng nguội lạnh đến vô cùng, tan nát đến vô cùng. Chị không biết mình sẽ đi đến đâu, trôi về xứ nào. Và cứ thế chị bước trên con đường đất ngập đầy nước, bên tai nghe lao xao tiếng gió, tiếng mưa đổ, tiếng gọi í ới của ai đó và cả tiếng lòng tan hoang của chị nữa.
Như vậy là đúng 29 tháng chung sống với nhau, nàng mới hiểu thế nào là nắng là mưa, thế nào là bão là lũ; thế nào là sự phỉnh phờ lừa mị! 29 tháng được bao nhiêu ngày là niềm hạnh phúc gối chăn? Bao nhiêu ngày là thương yêu chồng vợ chất nặng nghĩa tình? Bao nhiêu ngày là cay đắng, tủi nhục và nước mắt? Cái hân hoan thơ thới của tuổi con gái mới lớn nàng ngỡ sẽ là thiên đường vĩnh cửu khi bước đi bên cạnh người chồng hoạt bát, thông minh, rắn rỏi. Anh ta là hiện thân của chàng hoàng tử sắm vai buổi đầu. Anh ta tán tỉnh, vuốt ve, chìu chuộng, lấy lòng bằng mọi cách để chiếm hữu được nàng, người thiếu nữ xinh đẹp nhất xứ này. Nàng mềm lòng ngã vào vòng tay gân guốc với niềm sung sướng chưa từng có. Nàng hãnh diện với bạn bè, với làng xóm; đem chia niềm hoan lạc ấy với những chiếc lồng đèn kết hoa sáng rực suốt đêm ngày, những lời chúc tụng suốt đêm ngày, ngao du với nhiều ngày trăng mật. Nếu nói cuộc đời đẹp nhất, hạnh phúc nhất thì không có thời khắc nào huy hoàng bằng buổi đầu.

Nhưng hỡi ơi, kể từ buổi sáng loà niềm vinh quang hoan lạc kia, khi dòng máu bớt chảy tràn, nhịp tim chậm lại, giữa đêm tối chỉ nghe có tiếng côn trùng gáy nỉ non như bài kệ các chú tiểu đọc hoài giữa niệm đường, mùi mồ hôi nồng nồng của chồng, sự mệt mỏi quá độ trên hai đôi mắt nhắm nghiền, ú ớ cơn mê dã dợi của thể xác, nàng mới chợt nhìn thấy bộ mặt của mình và của chồng. Nàng vùng dậy ngơ ngác trước bóng tối dày đặc và tanh tưởi mùi đàn ông bám quanh người, tự hỏi: tại sao ta lại ngồi đây, tại sao ta phải chung sống với người đàn ông hình như có điều gì đó không chân thực mà ta bắt đầu thấy le lói đâu đó nơi góc tủ, hộc bàn? Nước mắt nàng chảy dài, chảy suốt đêm thành con suối quặn đau.

Đó là ngày bắt đầu của sự đau khổ, hoài nghi, thất vọng. Đó là ngày bắt đầu của sự gầm gừ đe nẹt, ngày của chiếu trên hương hào lý trướng vung roi trước sân đình. Nàng nhận ra ngay khi bữa ăn sáng dọn ra không đúng vào lúc 6 giờ 30 phút, là đôi giày chưa kịp đánh xi, ly cà phê pha hơi bị loãng, cho đường nhiều quá hoặc ít quá cùng trăm thứ hằm bà lằng khác trên đời mà nàng chưa thể bắt nhịp một cách nhanh chóng để làm hài lòng anh hương hào, lý trưởng. Nàng đã kịp nhận ra một cách rõ ràng bộ mặt thật của anh ta: dối trá, lừa phỉnh mọi người kể cả vợ con; chèn bóp mọi người kể cả vợ con; tước đoạt mọi sinh thú sở hữu của nàng, đẩy nàng làm kẻ tôi mọi vĩnh viễn cho sự chỉ huy gia trưởng của chồng. Nàng thành ra kẻ bị khuất phục, không còn những suy nghĩ độc lập, không còn có ngôn ngữ của riêng mình. Cái mặt nạ gớm ghiếc của chồng mỗi ngày bị tróc ra một chút sơn để nàng thấy nguyên hình của con thú đội lốt trên người hắn ta.

Có một điều rất sơ đẳng, thậm chí là tầm thường vô bổ nhưng không ai chịu nói, sợ rằng đó là điều phạm tội, điều cấm kỵ, phạm giới… đó là sự phản bội trong cách nhìn, cách nghĩ và hành động của hầu hết các loại đàn ông; đó là sự xúc phạm của chính họ với tất cả vẻ thoả mãn, hả hê đối với vợ một khi đã nắm quyền chiếm hữu, biết mọi chân tơ kẽ tóc trên thân thể người nữ. Chồng nàng cũng thuộc nhóm bỉ ổi này khi hắn chấm dứt đột ngột mọi lịch lãm trước khi gặp nàng, cưới nàng, cùng nhân cách đàn ông đích thực bị đánh rơi, coi thân xác nàng như thứ đồ giải trí, dằn vọc, hành hạ.

Nàng ưu uất nhưng không kêu gào thành tiếng, ngậm kín một cục gai góc nghèn nghẹn trong lồng ngực, chèn giữa cổ họng đắng ngắt.

Ba đêm trước cơn mưa đổ sầm sập này, buổi tối hắn trở về nhà với mùi rượu thịt, mùi đĩ thoã trộn lại thành một thứ mùi lộn mửa. Hắn đổ vật lên nệm cùng với những gì từ trong bụng hắn trào ra. Nàng chết đứng giữa căn phòng tanh tưởi. Nàng như một tội đồ đang chịu nạn, đang hứng lấy những tai hoạ tiền kiếp. Không làm cách nào để vực được thân xác phì nộn kia dậy, không cách nào dọn dẹp những gì hắn nôn ra thốc tháo. Tất cả đã thấm rút vào mặt nệm mousse. Nàng đứng chôn chân bên thành cửa sổ mà như sắp bước lên giá treo cổ. Bầu trời bên ngaòi tối đen như chiếc mõm của con quái vật ngoác hàm răng nhọn chuẩn bị nuốt sống nàng. Nửa đêm hắn kêu khát nước. Nàng mở tủ mang chai nước nâng đầu hắn lên. Nhưng thay vì uống nước theo cơn khát, hắn kéo nàng ngã bổ lên người, dây dính những thứ lầy nhầy tanh lượm. Lấy hết sức bình sinh, nàng xô hắn ra và chạy vào phòng tắm đóng sập cửa lại như đóng cánh cửa ta bà tởm lợm. Nàng trút bỏ quần áo, vò lọn ném vào thùng rác, co ro trong vòi nước lạnh ngắt. Kỳ cọ đến bao nhiêu cũng không bay sạch hết mùi xú uế. Nàng dùng cả bàn chải, móng tay và cả lưỡi dao, cạo lên làn da đến bật máu, bày ra những mảng thịt đỏ hoét như bị cọp vồ. Nước mắt không thể chảy để vơi đi tủi cực. Thân thể nàng khô rốc. Đầu óc nàng khô rốc.

Một lúc lâu sau đó hắn gào lên:

-Cô bỏ đi đâu? Tại sao cô lại bỏ tôi?

Nàng không dám thò đầu ra. Nàng kinh hãi giữa đêm khuya trống trơn, lạnh ngắt.

-Cô đi với những thằng nào? Tại sao chừng ấy năm, cô không sinh cho tôi một đứa con? Cô là tên phản bội.

Nàng nghe tiếng vật vã trên giường và liền sau đó là tiếng ngáy kéo cưa, rin rít đến ghê người.

Mưa tuôn lộn ngược đất trời. Nàng dò dẫm bước qua bên kia bờ mà bước đi không đến. Đôi chân cứ lóng ngóng giữa dòng xoáy. Trời ơi, nếu như nàng sinh một đứa con thì điều gì sẽ xảy ra? Nó sẽ mang hình hài dáng vóc nàng với bộ mặt và đầu óc gớm ghiếc của hắn sao. Không. Không bao giờ ta sinh một đứa con như thế. Thà ta mang thân này làm đĩ với chính hắn, nhục nhã với chính hắn thì tội lỗi của ta với đất, với trời vẫn nhẹ như sợi lông hồng. Không bao giờ có một con quỷ nhỏ để lan ra nhiều con quỷ nhỏ, gây tai hoạ trong cõi nhân gian. Hắn cứ treo cổ ta lên, băm vằm ta ra muôn ngàn mảnh vụn vẫn hạnh phúc hơn là nhìn thấy một tai hoạ và nhiều tai hoạ kế theo vây ám những sinh linh vô tội.

Dưới con mắt của hắn và trong tận cùng ý nghĩ của hắn, nàng là một tên phản bội bỡi không thể đẻ ra một quái thai theo ý hắn. Có phải vì vậy mà hắn đã hành hạ nàng? Khinh miệt nàng? Vò bóp nàng như vò bóp con sâu cái kiến? Không thể. Phải đoạn tuyệt, chia tay, trốn chạy, bôn đào; chết dấm dúi ở nơi bụi bờ xó xỉnh nào đó, trôi đi một nơi thối tha nào đó còn hơn là ở trong căn phòng tanh lợm giọng này.

Nước mắt nàng bay vào cơn mưa trái mùa sầm sập.
Thân xác nàng cũng tan biến vào cơn mưa tối nhoà.
Mặt đất bắt đầu tan loãng từ phía dưới, phía tận cùng của sự sống thoi thóp.
Có phải đang bắt đầu một ngày tận thế khi nước mắt, mưa, thân thể nàng trộn rối thành đống bùi nhùi, bươm bươm xơ xác?

“… C’est le mystère de l’orage, celui du pauvre. Dans les pauvres maisons, on aime le silence. Mais les enfants crient, les femmes pleurent, les hommes crient, la musique est horrible…”(1).

Sự im lặng kinh khủng bao trùm gò đất cao hoang vắng. Không bóng người qua lại. Không tiếng chim hót, chỉ có bóng nắng rớt qua kẽ lá như lưỡi gươm rơi nghiêng trên mặt đất của tay kiếm khách nào đó bắt đầu mỏi mệt trên chốn giang hồ. Tịnh không một âm thanh quen thuộc, chỉ có tiếng rào rào đâu đó từ lòng đất dội lên. Người đàn bà khẽ liếc nhìn xuống mặt đất chỗ mình đang đứng. Không gì cả.

(1) Paul Eluard, Pauvre
Đăng nhập để trả lời
0
Những truyện của Tác giả: Nguyễn Lệ Uyên

Đã mang vào thư viện

Có nhiều truyện, viết vài câu tiếng Pháp, Ct.ly tự dịch, không biết Hai1957 xem có dịch sát nghĩa lắm khg?

Tous mes meilleurs voeux et une bonne année remplie de joies et santé.



📎 bonneannee2013




Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ct.Ly

Những truyện của Tác giả: Nguyễn Lệ Uyên

Đã mang vào thư viện

Có nhiều truyện, viết vài câu tiếng Pháp, Ct.ly tự dịch, không biết Hai1957 xem có dịch sát nghĩa lắm khg?

Tous mes meilleurs voeux et une bonne année remplie de joies et santé.






Hì hì, Ct.Ly dịch tiếng Pháp thì còn ngại gì nữa chứ... Cảm ơn nhiều nhé. Cầu chúc năm mới an khang mạnh khỏe. Cũng xin thay mặt ông anh Đoàn Việt Hùng (Nguyễn Lệ Uyên) chuyển lời cảm ơn đến Ct.Ly. Sắp tới sẽ đăng tiếp một số truyện của anh ấy nữa...
hai1957
Đăng nhập để trả lời
0
NGÀY CHƯA YÊN


NGUYỄN LỆ UYÊN




Thôi, nói hoài, mệt quá!

-Cái gì? Anh nói sao? Vậy không đúng chắc.

-Thì đúng. Nhưng khuya rồi, đừng làm kinh động giấc ngủ trẻ thơ. Chúng cần yên tĩnh. Em hãy tưởng tượng một giấc ngủ trong veo, nhẹ tênh…

-Là để cho anh yên tĩnh mà tơ tưởng, mà mộng mơ… Chính miệng anh nói ra đấy nhé!

-Khổ quá…

-Sao lại khổ? Hình ảnh hồi sáng đó, nó vướng vất trong đầu anh, xâm chiếm tâm trí anh, anh mộng mị, ngẩn ngơ… để thành hoa, thành mây bay.

-Thiệt bậy bạ. Mộng mị, ngẩn ngơ gì ba thứ tào lao đó. Mà thôi không nói nữa. Khuya rồi. Ngủ.

-Không ngủ. Không được ngủ.

Anh quay lại nhìn vợ trong bóng tối nhá nhem, với một chút ngạc nhiên. Hà đâu phải thế? Có thật đó có phải là cách nói của Hà với chồng con? Ở đâu mà vụt ra một kiểu nói lạ đời? Những ngọt ngào, nhẹ êm thường ngày biến đâu mất rồi để dần dà, rồi đột ngột biến thành trục ép nước cót két, chà miết, vắt đến cạn kiệt chút chất lỏng sền sệt ngọt, bày ra đống xơ, hoá thành áng mây đen với những sấm chớp đì đùng, xé toạt sự bình lặng vốn có trong ngôi nhà xinh xắn, đầy ắp những lời yêu thương, nựng nịu này từ lúc nào anh không hề hay biết trước.

Anh xoay mặt vào vách, co quắp một chân lên, một tay gối đầu, tay kia bấu vào mép giường như kẻ thủ thế. Đêm tối nhờ nhờ qua chiếc đèn hắt ra màu xanh bạt nhạt. Khoảng cách giữa anh và vợ là chiếc mền chưa giũ ra, tạo thành một cái gờ mỏng trong khoảng 5 tấc vuông mong manh; thông thường không phải là bức tường thành để ngăn chặn đối phương xông lên như những hào luỹ chống giặc thời phong kiến mà là vật che đắp, giữ cho hai người chút hơi ấm thương yêu chồng vợ. Trước nó đã từng, đã nhiều lần thường xuyên từng như vậy. Nhưng giờ này dường như đang bắt đầu có sự xộc xệch nho nhỏ rất không đâu vào đâu, xuất hiện… Anh nghĩ vậy.

Chút ánh sáng mờ đục không rõ mặt người, nhưng anh đoán chừng vợ mình đang giận, tức và hình như đang ghen. Có thể đang là cơn ghen vu vơ, một loại cố tật của hầu hết phụ nữ mà cánh đàn ông phải dè chừng. Nó không hề được báo trước như sự bất thường của thời tiết. Chí ít những cơn bão khủng khiếp cấp 12, 13 hay những cơn động đất cấp 9, cấp 10 đi nữa, thì trước đó có những dấu hiệu thật trõ ràng. Đằng này… không thể lường trước, không thể đoán sẵn. Những cái vu vơ không tưởng ấy không hình dạng, không khối lượng, màu sắc nhưng nó sẽ sôi lên ùng ục, cháy bùng lên thành ngọn bất kỳ lúc nào để nhấn chìm, thiêu đốt người trong cuộc chỉ còn lại nhúm tro bay bung trong cơn gió lốc. Tất cả những hiện tượng này, người đời gọi là ghen? Nếu vậy thì rõ ràng vợ anh đang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê này?!

Rồi anh nghe như chiếc nệm rung lật bật từng cơn nhỏ, rồi đến cái vạt giường, đến toàn thân chiếc giường. Tất cả là những rung chạm khẽ khàng như có bàn tay níu giữ, kềm ép lại để phát ra tiếng nấc nghẹn không thực sự rõ ràng, nhưng thừa sức làm tim anh co bóp đau nhói.
Anh dịch người sát hơn vào thành giường, gần với vách tường và nhớ lại buổi sáng với những người bạn nghề có chút ít cảm tình. Chỉ là một sự tình cờ: đó là một buổi sáng trong veo, mát mẻ, đẹp với cơn mưa rào đầu hôm phủi sạch lớp bụi mỏng trên cành lá, với những bông dại bất ngờ chồi lên khỏi mặt đất khô nẻ, rung rinh trước mắt. Và trước mắt là những con bướm màu sắc sặc sỡ đập cánh chào nhau và chào những bông hoa. Và những tiếng chim ríu rít trên cao. Tất cả khiến bọn họ không thể cầm lòng, không thể dửng dưng giam hãm trong những ngôi nhà hình hộp, những quán cà phê bay um khói thuốc lá. Họ bất ngờ kéo đến nhà anh. Ban đầu là một, rồi hai, rồi năm. Năm người với năm bộ mặt khác nhau, vóc dáng khác nhau và cung cách cũng khác nhau xa. Hai người đàn ông tự nhận mình là nhà thơ thì huyên thiên về chữ nghĩa, mượn chữ nghĩa người khác lắp đầy vào đầu óc mình để làm của riêng. Anh hoạ sĩ thì nối dài màu sắc thành những vệt đen đỏ bay ngang qua đầu mọi người bằng búi tóc dài luôn luôn lúc lắc qua lại trên hai vai mỏng để gây sự chú ý của những người chung quanh trước khi người khác kịp nhận ra mình là người cố tình làm dáng và gọi đó là nghệ thuật tân hình thức. Người đàn ông thứ tư là anh nhà báo tự do, luôn nở nụ cười bí hiểm mỗi khi nghe ba ông bạn to tiếng tranh cãi về cái đẹp. Người thứ năm là một cô gái đi cùng với người hoạ sĩ, có vẻ như người mẫu, là nguyên nhân không xác thực mang đến những giận hờn vu vơ cho người vợ xinh đẹp của anh. Cô người mẫu duyên dáng lịch thiệp, luôn nghiêng đầu và mỉm cười kiểu cách với tất cả mọi người. Cô ta rót trà, cô ta châm rượu, y như thể những người đàn ông đang lùi về quá khứ xa, được ngồi trên bàn đá uống rượu ngâm thơ có tiên nữ hầu hạ?

Họ thầm thì to nhỏ về cái đẹp vây quanh chiếc bàn trà kê dưới gốc vú sữa. Họ mang hết mọi hiểu biết bày lên mặt bàn gỗ, như thể đó là những vật sờ nắm được, cốt cho cô gái kia tiếp tục nở những nụ cười tươi với họ. Nhưng khốn nỗi, hình như cô không cười cho riêng ai, vẫn tiếp trà tiếp rượu đầy các cốc tách… Có ai đó buộc miệng than “trời nóng dữ”. Vậy là từ chuyện cái đẹp nhân thế chuyển hẳn sang chuyện khí hậu, thời tiết rồi băng qua chuyện buôn bán làm ăn. Giữa chừng, khi những ly rượu đủ sức làm cho đầu óc lâng lâng, họ nhảy sang chuyện ca hát, rồi bay qua thời trang áo tắm áo dài lúc nào chẳng hay. Chuyện nọ xọ chuyện kia bay bổng với những cánh bướm chập chờn, la đà với khí trời bỗng nhiên dịu lại đột ngột. Anh nghĩ, tất cả mọi chuyển động cơ học trên và trong thân thể họ dường như chỉ để nhằm vào cô gái ngồi trước mặt; một cuộc chạy đua lúp xúp về kiến thức và tình cảm không hơn kém, khiến anh nghĩ tới những con gà trống trong sân nuôi gà vịt, con chìa vôi trên cành tre cao ngút, con thiên đường… cố sức xoè hai cánh, vung vẩy lông đuôi màu sắc sặc sỡ trước con mái? Sự liên tưởng mơ hồ hình như gây cho anh niềm thích thú không thật rõ rệt và bật cười với mình.

Tán lá vú sữa xanh mướt màu xanh ngọc bích, phớt màu nâu sậm bên dưới như chiếc rổ thưa lọc ánh sáng ban mai đổ xuống lốm đốm trên mặt bàn gỗ thâm sì như thể tay phú gia cẩu thả đổ những viên kim cương, ngọc bích lên nền đất xám xỉn. Những đốm sáng nhảy nhót, lúc đậu trên miệng chén trà, lúc nhảy sang bàn tay ai đó đang vân vê chiếc quai nhỏ xíu, xoay xoay chiếc tách. Anh đắm đuối nhìn theo những viên kim cương nhảy nhót. Anh ngó sững chúng đậu trên mu bàn tay trắng nõn, thon mịn phớt chút lông măng hắt lên màu sáng của kẽ nắng rớt xuống. Năm búp măng động đậy, di chuyển chiếc tách khẽ khàng mà như không hề chạm đến chúng. Anh say sưa nhìn những đốm tròn sáng chuyển động, đùa giỡn với những búp măng kia, lúc lảng xa, lúc áp thật gần, khi thì ôm riết lấy bàn tay thon thả. Vợ anh ngồi đầu bàn thong thả xách phích nước sôi rót vào bình trà, góp chuyện dè dặt vừa ngó chừng phích nước đặt dưới nền đất vừa chú tâm quan sát những người đàn ông ngồi lổng chổng trên những chiếc đẩu nhựa thấp. Vợ anh không nhìn bọn họ như anh đang nhìn ngắm những vệt nắng nhảy nhót trên bàn mà là một mũi lửa nhỏ xíu xuyên thẳng tới đôi mắt anh trong khoảng cách hơn mét. Nó như tia hồng ngoại khiến anh cảm thấy hơi nhột nhột ở hai mép tai, ngứa ngáy ở sống mũi, nóng như viên than hồng áp sát vào bên má. Bất ngờ anh ngước nhìn lên. Hai tia mắt dịu dàng mà thật dữ dội xuyên thẳng vào mắt anh, đẩy lùi chúng ra khỏi năm búp măng thon trắng, đẩy ra khỏi chiếc tách trà và cắm phụp xuống mặt bàn thâm sì. Anh quay sang những người bạn . Nàng cũng ngước nhìn mọi người với cặp mắt dịu dàng một cách thật bất ngờ. Cô gái hồn nhiên cười nói, phô hai hàm răng trắng đều và chiếc miệng duyên dáng đến lạ kỳ. Cô ta không hề cảm thấy nhột nhột nơi tai, ngứa ngáy nơi má… bỡi tia lửa nhỏ xíu xoáy thẳng vào chỗ trống giống như một bức tường bê tông ngăn cách sự xáp gần đột ngột của một kẻ nào đó cố công tìm kiếm cái đẹp ngoài khả năng cho phép của sự bảo thủ mông muội một cách ngọt ngào. Cảnh tượng ban sáng cứ tiếp tục lướt thướt trôi qua đầu óc anh, tĩnh lặng và ồn ào.

Bỗng dưng anh bật cười thành tiếng. Vợ anh quay lại, cầm chiếc mền ném xuống phía đuôi giường, chồm lên lay vai anh như người đốn củi lay gộc tre trong bụi rậm.

-Anh cười gì? Tôi nói không phải sao? Đàn ông các anh đều một giuộc. Hễ thấy đàn bà con gái là y như con gà trống: xoè cánh, xum xoe, mỏ mổ vu vơ xuống bãi đất trống không mà túc túc gọi tình.

-Em không thể ví von con người với gia súc gia cầm.

-Đúng. Nó khác xa con người, Con người khác xa chúng. Nhưng về cung cách khi đối diện với người khác phái thì cùng một kiểu.

-Chỉ mới nhìn thì chưa thể gọi là phạm tội. Các bộ sách luật từ cổ chí kim, từ đông sang tây, chưa thấy có điều khoản nào ghi người đàn ông nhìn ngắm người đàn bà và ngược lại thì khép ngay vào tội được.

-Đã đành. Nhưng đạo đức, luân lý, tập quán, phong tục thì không thể được.

-Em nói như thể chính từ miệng Tần Thỷ Hoàng nói ra vậy. Phàm trời ban cho con mắt thì phải nhìn, tai phải nghe, mũi phải ngửi… và… và… đầu óc thì phải suy nghĩ. Giữa suy nghĩ và hành động là một khoảng cách khá xa, nhiêu khê. Không thể cấm mọi người suy nghĩ. Càng không thể bắt mọi người suy nghĩ một chiều. Ai cấm cản mọi người không được nhìn ngắm cái đẹp. Cái đẹp nó trong suốt, thuần khiết, tự nó đâu có “tính” này “tính” nọ?

-Vậy là anh đã công nhận hồi sáng này anh có nhìn cô ta, suy nghĩ về cô ta, cảm cô ta và… và… đẹp…

-Và cô ta ra khỏi cổng, lên xe, nhấn ga, chạy xe về nhà. Chấm hết?

-Không chấm hết được. Chưa chấm hết được. Trong đầu óc anh lúc này vẫn còn vương vất cái mà anh gọi là thuần khiết với những trong suốt gì đó.

-Anh có đọc ông Daisetz Teitaro Suzuki dẫn ra một công án rằng: có hai vị hoà thượng đi tụng kinh ở một hóc núi xa, chiều xâm xẩm trờ về tới con suối thì trời đổ mưa tầm tã, nước dâng cao, chảy xiết. Sát nơi bờ suối, có một thiếu phụ xinh đẹp ngồi khóc nỉ non. Thấy lạ, một vị bước tới hỏi: “Cớ sao đã chiều tối mà thí chủ còn ngồi đây mà khóc làm vậy?”. Thiếu phụ ngước mắt lên, khóc ồ ồ còn hơn mưa xối: “Bạch sư cụ, tôi đến chân núi kia để thắp nhang cho chồng tôi vừa chết. Khi quay về thì trời đổ mưa. Nước suối chảy xiết không thể lội qua được, mà con tôi thì ở nhà một mình…” – nói và thiếu phụ không thôi khóc. Vị hoà thượng nọ kêu “mô phật”, rồi ghé lưng bảo thiếu phụ bám vào để ông cõng qua. Tới bờ bên kia, ông đặt thiếu phụ xuống và bước thẳng về phía chùa không đợi thiếu phụ mở lời cảm ơn. Vị hoà thượng thứ hai bươn bả chạy tới: “Thầy tu hành đã lâu, sao lại đi cõng người đàn bà trên lưng?”. Vị hoà thượng thứ nhất không trả lời. Vị thứ hai cứ bám theo và nhùng nhằng những lời trách cứ. Đến chỗ quẹo, vị thứ nhất nói:”Mô phật, tôi có cõng người đàn bà nào trên lưng đâu mà thầy ngầy tôi?”…

-Nguỵ biện. Vả lại người ta tu hành chớ còn anh…

Tiếng vợ anh nhỏ dần, nhỏ dần… vương vít đâu đó trên táng lá cây vú sữa một mặt xanh sậm, một mặt màu nâu sẫm. Anh có cảm giác như mình đang bay theo tiếng nói rung rinh kia và nhảy nhót trên táng cây xanh cùng với những ta nắng chảy qua tầng lá tạo những vệt tròn di động lung linh.


Lại một ngày nữa không phải đến sở, không phải nghe tiếng máy nổ ầm ĩ, khói bụi bay mù mịt, tiếng than thở về đồng lương còm cõi, vật giá gia tăng vùn vụt. Anh ước sao trong tuần có nhiều ngày thứ bảy và chủ nhật như vậy để lơ mơ nhìn ra góc vườn yên tĩnh, nơi những cây cau kiểng xoã những tàu lá xanh vây vẩy với gió, mang quanh mình buồng trái chín màu đỏ; cây mãng cầu đứng xa xa giơ cánh tay như muốn kéo xích cây mít ngoài góc rào, cây vú sữa đứng gần thềm giếng bước lại gần lại chút nữa để tâm sự; rồi nụ tầm xuân tím xanh biêng biếc xoắn lấy hàng rào dâm bụt, chè tiêu không muốn rời nửa bước… Thật yên tĩnh. Hoàn toàn yên tĩnh.

Vợ anh dọn bữa sáng lên bàn. Cháo trắng và cá mành kho tương. Đứa con chống muỗng, bi bô:

-Con không ăn đâu.

Vợ anh trừng mắt:

-Ăn. Không được hỗn. Ăn trứng hai ngày rồi, phải thay đổi.

Thằng bé mếu máo chống muỗng vào chén cháo, uể oải xúc từng muỗng nhỏ một cách nặng nhọc. Vợ anh ngồi bên cạnh thằng bé, không nhìn nó mà xoắn mắt vào chiếc muỗng đang kẹp giữa những ngón tay thả lỏng của anh như thầm hỏi “còn anh, anh cũng ngán món cháo sáng này rồi chớ gì?”. Anh cứ xoay miết chiếc muỗng quanh miệng chén.

-Hồi còn nhỏ xíu, sáng nào bà nội cũng nấu một nồi cháo to cho cả nhà. Một năm có đến ba trăm ngày ăn cháo với muối hay cá kho mặn. Thỉnh thoảng bà nhắc “ăn cháo để nhớ những cơ cực, vất vả… Sau này các cháu có là gì đi nữa thì vẫn phải nhớ và giữ lấy chén cháo trắng mỗi buổi sáng để tự răn mình”.

-Tự răn mình là một đức tính tốt. Mỗi khi ngồi trước chén cháo anh vẫn tự răn như vậy. Sau này con lớn hơn chút nữa, hẳn nó cũng sẽ làm như em và anh thôi.

-Anh nên thôi cái tính bông phèng không đúng chỗ ấy đi.

Cuối cùng thì thằng bé cũng ăn xong bữa sáng và chạy ra vườn với con Bin. Vợ anh cho đường vào ly cà phê và đẩy tới tận chỗ anh ngồi, nói bâng quơ:

-Thiệt kinh khủng.

Anh cắm cúi ăn hết phần cháo trong chén và đặt chén muỗng vào chiếc thau nhựa để sẵn ở góc bàn. Mặt trời buổi sáng dính ở lưng lửng bụi tre có những cành cong chúc xuống. Nó không áp mòn những cành gai tua tủa mà hình như những cành gai ấy cào nát vòng tròn sáng kia, khiến con cu cườm thỉnh thoảng giật mình buông vài tiếng cúc cu cu rời rạc.

-Người ta vần thường nói câu văn câu thơ đáng giá ngàn vàng, nhưng sao em thấy bản thân họ thì ngược lại. Buổi trưa đó em thấy… - Vợ anh bỏ lửng câu nói.

-Anh thấy họ là những người dễ thương, không vì cuộc sống mà đánh mất sự trong sáng trong tâm hồn. Họ yêu cuộc sống này, yêu bản thân họ và những cái đáng yêu chung quanh họ.

-Nhưng hơi bất bình thường. Em xin lỗi có chút thô tục bám quanh con người họ.

-Em ám chỉ cái gì vậy?

-Không phải là ám chỉ mà là những cái có thật, hiển hiện ngay trên con người họ.Họ tự đánh mất họ trong buổi gặp gỡ sang trọng với những câu thơ bóng bẩy, những đoạn văn óng mượt như dòng suối mà họ đã phô diễn ra, bên cái đẹp mỹ miều của cô người mẫu.

-Anh không hiểu?

-Đó, anh bận nhìn ngắm đâu đó, đâu để ý những chi tiết chung quanh? Em thấy hình như những chi tiết quanh cuộc sống giúp ích cho sự sáng tạo mà.

-Chi tiết. Em nói đến chi tiết nào vậy?

-Em thấy họ vừa đọc thơ – Em không rành lắm về thơ – vừa nhai nhồm nhàm thức ăn trong miệng đến độ tưởng chừng thức ăn văng bắn theo những câu thơ bay bổng kia? Em kính trọng họ vì họ là bạn anh, nhưng khi nhìn thấy cảnh ấy, có chút gì gần như thất vọng. Chẳng lẽ nhà văn nhà thơ thì họ được quyền làm như vậy? Giữa đời sống thật và tác phẩm họ viết ra là hai chiều trái nghịch nhau? Họ viết để làm gì nhỉ? Em đọc một ít tác phẩm, thấy trong đó họ ca tụng cái đẹp, phê phán cái xấu, thì chẳng lẽ lấy nguyên mẫu bản thân mình để phơi bày lên trang giấy? Và cái đẹp ấy là để vợ con một mình ở nhà ngày chủ nhật để xum xoe bên một cô gái hớ hênh?

-Anh không rành lắm về ba cái vụ lý luận văn chương, văn nghệ; nhưng không ai bắt nhà tu không được ngồi trên xe máy, ô tô; cấm cản đứa trẻ lên mười nếm thử tách trà, cà phê. Những điều em vừa nói chưa hẳn là thói xấu. Anh nghĩ nó chỉ là thói tật. Thói tật thì chỉ mới là khởi đầu cho điều tốt cũng như điều xấu. Dừng lại và bước tới, đó là bản lĩnh của mỗi người.

-Vậy còn như chuyện này thì anh giải thích ra sao? Hôm thứ Năm rồi, con bạn cùng cơ quan em ngồi kể: “tao có ông chồng không biết phải khóc hay cười, suốt ngày la đà với bạn bè từ sáng tới tối mịt. Có bữa giận quá tao nhắn tin “chẳng lẽ anh coi bạn bè là lẽ sống hơn em và con sao”. Rồi có hôm tao nói “bữa nay đi công tác xa, tối mới về”, nhưng có đi đâu. Trưa về đã thấy đám bạn của ổng ngồi chật nhà. Như vậy rõ ràng ông nhà tao rất vui mỗi khi vợ vắng nhà?”.

-Anh cũng có mấy ông bạn vong niên thường hay nói “trong cuộc sống mà không có bạn bè thì coi như mất hết…”.

-Nhưng cũng có năm bảy đường bạn bè.

-Anh thấy hình như đã đến lúc phải đi chợ rồi đó. Để trưa nay anh nấu nồi canh rau tập tàng. Một tô canh có màu xanh đậm đặc bày ra giữa mâm để thấy ngày chủ nhật thật xanh, như bầu trời trong xanh trên cao kia.

Vợ anh hứ đánh cốc, đứng dậy bưng thau chén muỗng đi ra giếng nước. Bước đi vẫn thong thả lướt nhẹ như mọi ngày, mang theo thau chén, mang theo nỗi bực dọc vu vơ để gàu nước xối lên, rửa trôi nỗi phiền muộn, để mọi thứ trở nên sạch bong./.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2013-01-01 08:01:52hai1957>
HƯƠNG CAU


NGUYỄN LỆ UYÊN



Giờ thì là sao? Không sao cả. Vậy thì ông đang ở đâu? Trên tầng cao, rất cao; giống như một cái ổ chim trên chót núi cheo leo. Mình cũng đang ngồi trong ổ chim đó, trên cao tít mù mù, cách biệt với thế giới ùn ùn dưới kia… Ông già lẩm bẩm, đi tới đi lui trong gian phòng bày biện sang trọng vừa nhìn sững vào vách tường dựng đứng như một chiếc hộp diêm. Ông già tự hỏi rồi tự trả lời, rồi lại nhìn xuống sàn nhà, bất ngờ thấy lại gót chân nứt nẻ của mình, thấy những chiếc móng vêu u, sứt sẹo của mình… Và chợt nhớ quay quắt gian nhà mái âm dương năm gian, nền lót gạch tàu nham nhám ở tận đồng sâu. Nỗi nhớ cồn cào đến quặn thắt ruột gan, trào ra như chút khói trong bếp tro vùi vòng vèo quanh ông táo, không xa hơn để vón cục lại thành những ước ao bé nhỏ.

Vậy nhưng những ước mơ chưa thể thành sự thật ấy không đến với ông khoảng cuối đời. Một chút ánh trăng lúc nửa đêm về sáng đã không đến. Gió từ cánh đồng mênh mông không thổi mát. Tiếng cóc nhái côn trùng nín bặt. Xuồng ba lá không chạm mái dầm lộp bộp. Mấy chiếc xuồng đuôi tôm không khua nước ầm ĩ cả một khúc sông vắt ngang trước nhà. Nhà ông đó. Nhà ông là tít mù dặm mây. Nhà ông là lọn khói đồng vật vưởng xa xăm, mang theo mùi cá nướng trui xa xăm. Xa như chuyện cổ tích. Mà đâu phải vậy. Chỉ cần với một cánh tay là đến, nhưng khốn nỗi không ai cho ông đến. Không đến được thì thương nhớ âm u, khắc khoải. Nỗi nhớ nghi ngút như nồi cơm bốc hơi thơm một khoảng trời mơ tưởng. Ừa, cứ cho ông mơ…

Đã nhiều lần ông kêu thằng con trai: “Coi chừng tía trợt té gãy chưn à con”. Nó hiểu ngay ông muốn nói điều gì, lập tức đưa bộ mặt sầu thảm ra: “Tội tụi con mà tía. Về dưới đó ai chăm sóc tía? Chừng này tuổi rồi… Hồi nhỏ tía má nuôi tụi con, nay con cái phụng dưỡng cha mẹ già…”.
Trăm lần nó đều mở cái giọng thảm não ấy và trăm lần ông phải bỏ ra khỏi phòng, chống tay lên bao lơn ngó xuôi theo hướng con rạch nhỏ trước mặt, bị rạch nát bỡi những căn nhà ở hai bờ, mái gần như níu lấy nhau. Những vệt nước đen ngòm lấp loáng màu sáng bạc về đêm giống như vệt phấn son của cô đào thương về già, giống như bộ quần áo bà ba thỉnh thoảng ông mới dám mặc lúc con đi vắng, cho đỡ nhớ bùn sình, rặng tre cùng những lùm ô rô cóc kèn níu chùm rễ bần vọt lên khỏi mặt nước sông đỏ quạch. Dòng chảy của con rạch khác chi ngày tháng cuối đời của ông. Bởi nó là con rạch nên chẳng kêu la, chẳng hoài nhớ tháng ngày thênh thang hai bờ rộng, nước trong vắt nối dòng sông lớn ở đâu đó. Còn ông là đoạn cuối một dòng sông vắt cạn nước qua hai bờ, một nông dân thứ thiệt, chữ nghĩa ít, nhưng thấu hiểu nghĩa lý ở đời. Nghĩa lý ấy làm ông đau. Đám con chẳng tội tình chi khi phải làm vậy. Nhưng giá như chúng cứ để ông dưới quê, trong căn nhà mái ngói rêu phủ, nền gạch mòn lĩn dấu chân cha mẹ, vườn cây trái sum suê…hẳn ông sẽ hạnh phúc hơn nhiều.

Ông già quay trở vào. Căn phòng rộng, bày biện đủ mọi tiện nghi thành phố nhưng cũng chỉ mình ông thui thủi. Mỗi ngày chỉ gặp nhau trong bữa tối cỡ tiếng đồng hồ, nói chuyện tầm phào, rồi mạnh ai vào phòng nấy. Bảnh mắt, chúng đã vác xe đi tự lúc nào! Cách phụng dưỡng của đám con là để ông một mình trong căn phòng rộng, trên tầng năm và bà vợ bán thân bên trong khung kính, khiến ông như cái bóng lay lắc giữa bốn bức tường thẳng đứng với những rèm che, cửa kính… thiệt buồn!

Ông đứng bên ô cửa nhóng ra. Xa cuối con rạch kia là đâu, nó có chảy xuôi về quê ông, xẹt ngang trước ngõ nhà có chiếc cầu ván từ bờ đất bắt doi ra như chiếc mỏ vịt? Thuở nhỏ ông đã đứng trên cầu nhảy ùm xuống sông. Lớn lên ông đứng trên tấm ván lắc lẻo, đắm đuối ngó cô Bảy chèo xuồng ba lá chở giỏ đầy bông điên điển vàng mặt sông. Và cuối cùng những giỏ điển điển ấy cũng rắc đầy từ mặt sông lên ngõ nhà ông, để giờ này cô ngồi sau khung kính nở nụ cười vàng rực.

Mau thiệt – Ông buột miệng than. Tất cả đã lùi xa, thiệt xa. Mới đây mà căn nhà xưa giờ bị khuất lấp ở cuối đường chân trời. Muốn rờ đụng hàng cột tròn láng bóng ông cũng chỉ rờ được trong trí tưởng tượng, ông bay nhảy với tuổi ấu thơ, muốn giang đôi tay khẳng khiu níu kéo lá mái che cuối đời mình như nó đã che cho cả nhà ông mát trong mùa nắng, ấm mùa lạnh. Dàn trần tre trét đất bên trên như thể cả căn nhà mang bùn đất của ruộng đồng vào tận những chiếc chõng tre, thơm hăng hắc, nồng nàn. Rồi đến cả những tấm liễng, hoành phi, những nghi khậu ở gian thờ lung linh bóng hình tổ tiên trong lớp nhang khói bay vòng lên cao. Bao nhiêu đời kế tiếp nhau để có được gian nhà nơi “chôn nhau cắt rún” bỗng chốc xa vời vợi khiến ông muốn khóc. Giá mà khóc được như những giọt nước mắt trẻ thơ khi phải cầm nùi giẻ lau sạch bóng bộ cửa bằng pha bằng gỗ lim chạy dài suốt năm gian, chuẩn bị đón tết, trong khi lũ bạn nhỏ đang chọi đáo, u quạ ngoài ngõ! Bộ cửa ấy với ông như hai kẻ luôn đối đầu: Trước ngày giỗ có tiếng kêu “Út Đễn ơi, lau cửa đi con”; ngày giáp tết ‘Út Đễn ơi lau cửa đi con”. Nùi giẻ và bộ cửa đã theo ông suốt dọc đời người, đến nỗi nhắm mắt ông có thể đếm đúng những khe rãnh chạm trổ, mỏ chim phượng, mắt lân nằm khoảng nào, những con dơi láng đen, những chùm trái nho thòng thễnh chỗ nào; cả đến những vết sướt khi ông dùng mũi dao khư những mảng bụi bám trong khe... Vậy mà giờ này.

Bất giác ông ngó lên khung ảnh vợ có nụ cười vàng rực bông điên điển. Ngó và nhớ cái ngày hai ông bà đứng trước bàn thờ tổ tiên, nhớ cái vấp té đầu tiên của vợ nơi ngạch địa, nhớ tổ ấm ở chái sau... Ông khóc thiệt, khi bàn tay vô tình chạm nhẹ vào khóe mắt, một chút nước sền sệt như quá khứ xa xôi hiện về.

Ông nghĩ bụng: Tối nay lũ con đi làm về sẽ nói thiệt với chúng để ông về thăm quê một chuyến, như chuyến đi cuối cùng: Ông sẽ đứng trên ván cầu dõi tìm bông điên điển, ông cởi trần nằm dài xuống nền gạch tàu mát lạnh, gối đầu lên ngạch địa nhìn lên trần đất thơm hắc mùi bùn đất, rờ đụng vào những khe rãnh bộ cửa, thắp nén nhang nhìn tổ tiên bay về cùng ông; về ngôi nhà xưa dày mọp tiếng ve sau vườn. Ông ra cầu ao múc nước đầy dãy khạp đứng sắp hàng thẳng đuột rồi quay vào đu đưa trên chiếc võng gai nơi hàng hiên ngó hàng cau trước sân nhỏ. Mùa này cau đã trỗ buồng rồi. Hương cau thoang thoảng như mùi tóc cô Bảy đang ngồi đẩy những nhánh củi trâm bầu dưới đít ông táo. Hương cau xa xôi đó đưa ông đi, đi miết trong cơm mơ thiếp rắc hoa vàng.

-Tía ơi… tía…

Ông giựt mình, xoay quả nắm, hé cánh cửa dòm ra.

-Tía ơi… tía ở đâu vậy? Tía…

-Tao đây. Tía đây. Chi mà la um trời lên vậy?

-Tía thay quần áo nhanh lên. Xe chờ dưới đường kia kìa.

-Đi thiệt hả? Đi ngay bây giờ?

-Dạ, đi liền.

Ông quay vào trong, lòng khấp khởi mừng. Chí ít con cái cũng bắt đầu hiểu được tâm trạng người già, dẫu là có hơi muộn. Muộn vẫn còn hơn không. Tay chân ông run run, lóng ngóng… cài khuy áo, thắt dây rút. Cuối cùng thì mọi chuyện cũng xong. Ông bước ra lòng phấn chấn hệt đứa cháu nội mỗi khi nó cầm giấy khen về nhà.

Ra tới phòng khách, thằng con trợn ngược mắt, kinh ngạc đến vô cùng, như thể ông là một sinh vật nào khác, từ một hành tinh nào khác đứng trước mặt nó. Ông chưa hề, chưa bao giờ là cha nó.

-Chèng ơi, sao tía ăn mặc vầy?

-Chớ mày biểu tía mần sao?

-Đi nhà hàng tía ơi. Bữa nay con được bổ nhiệm trưởng phòng. Con chiêu đãi cả nhà. Con mời tía với vợ chồng chú Út nó…

-Chớ không phải bay đưa tía về dưới miệt vườn?

-Trời, tía! Miệt vườn thì có chi hấp dẫn mà tía nhắc hoài?

-Sao không? Nơi cha mẹ sanh ra tía đó. Nơi má bay sinh ra tụi bay đó, rồi má bay nhắm mắt xuôi tay trên mảnh vườn đó đấy, rồi mai mốt tới lượt tía. Bao nhiêu đời tổ tiên con cháu quần tụ trên mảnh đất đó đấy.

-Con xin tía. Tía vào thay lại áo quần đi. Cả nhà đợi tía, xếp và đồng sự con đợi tía ở New Pearl.

Không hiểu sao khi nghe thằng con nói tới đây, ông già nổi giận phừng phừng, xán lại gần đụng mặt nó, hét lên:

-Tía không cần. Cái tao cần không phải là những chỗ đó. Một ông già nhà quê nên tao biết mình ngồi chỗ nào thoải mái, dễ chịu hơn - Nghỉ một chút lấy hơi, ông tiếp – Đi đi, tía không đi đâu.

Ông già nói chừng đó, đóng sập cửa lại.

Ông thong thả dốt nén nhang cắm lên bàn thờ cô Bảy.

Ông lâm râm gì đó mà ngay cả ông cũng không rõ. Một hồi lâu sau, ông lục tủ thờ lôi ra nhạo rượu với chiếc ly. Ông rót từ tốn để nhìn rõ ngọn rượu vun cao thành hột cườm, lung linh như những cánh cò trắng trên đồng nước. Dưới kia là cánh đồng bông điển điển vàng rực. Mắt ông mờ đi thấy mình đang đong đưa trên cánh cò bay thẳng về phía đồng nước. Những cánh cò mang theo mùi hương cau thơm lựng đất trời.

(7/2009)
Đăng nhập để trả lời
0
KHÓI VÀ MẢNH TRĂNG KHUYẾT


NGUYỄN LỆ UYÊN


(Tặng bạn bè tôi, một thời tan tác, chia lìa).



Từ nơi nào ấy rất xa xôi, như tiếng vọng khẽ:

- Định, mày mạnh giỏi chứ? Bây giờ mày thế nào rồi? Lâu lắm tao không gặp, nhớ lắm!

- Xin lỗi, giọng nói nghe rất quen.

- Ha, ha… đã quên thằng bạn này rồi sao? Đầu óc mày bắt đầu còm cõi từ hồi nào vậy? Tao cứ ngỡ tụi mình vẫn tiếp tục làm thơ dưới khung cửa sổ phòng Thủy đó mà.

- Hả. Nói sao? Thủy ngày xưa. Ngô, mày ở đâu? Tao tưởng.

- Chết từ ba mươi năm nay rồi chứ gì? Người đời nghĩ rằng tao chết rồi, chết thật rồi. Nhưng mà, hỡi ơi, làm sao tao chết được. Tao vẫn gần tụi mày, vẫn biết Thủy bây giờ cơ cực, vẫn biết thỉnh thoảng mày mơ màng làm một cuộc viễn du, đến bên em bằng những giấc mơ tuyệt đẹp, đầy ắp hương hoa và rỗng không sương khói.

- Mày gặp Thủy?

- Tao gặp thường xuyên, không ngày nào, tháng nào, năm nào là tao không ở bên cạnh nàng.

- Mày với Thủy…

- Lại ngộ nhận. Tất cả đều trễ tràng. Tất cả là những sợi khói mong manh, níu theo mảnh trăng khuyết dằn xé nỗi khát khao.

- Tao không hiểu gì cả.

- Mày làm sao hiểu được khi mọi ràng buộc biển dâu bị trói chặt vào guồng lăn cuộc đời!

- Ngô, mày nói cứ như một tên thánh sống bất tài, nói cho hả hơi, hả giận về sự bất lực của mình. Mày đang ở đâu? Tao sẽ tới ngay để gặp mày, để coi bộ dạng xương xẩu hiu hắt, giờ có thay đổi chút nào không?

- Xa vạn dặm mà cũng gần trong cái chạm nhẹ một với tay.

- Mày lại giở giọng bỡn cợt như hồi xưa?

- Không đâu. Mày không thể tìm thấy tao, nhưng tao sẽ đến với mày, ngay bây giờ đây.

Những âm thanh u u … kéo dài trong tai nghe. Và như vậy có nghĩa là Ngô đã gát máy.
Rõ ràng là Ngô chứ không thể một kẻ nào khác. Chúng tôi thân với nhau từ khi học Tam Tự Kinh, đánh vật với những nét sổ, nét ngang, gà gật ê a như những chú tiểu bắt đầu học kinh Phật. Rồi chận bò, tắm sông… và lớn lên và mất hút nhau. Năm tháng trôi đi không một tin tức nhỏ về Ngô. Nó đi những đâu? Làm những gì? Không một ai hay biết. Những cuộc kiếm tìm vô vọng cuối cùng như chiếc tim đèn hết dầu. Vậy mà giờ này, Ngô lại trở về với tôi trong đêm khuya khoắt, ít ra là qua giọng nói từ đâu đó vẳng tới. Hoàn toàn bất ngờ. Hay tôi đang chìm lú trong cõi mê muội của hoài nhớ, mong chờ quay quắt bấy lâu nay?

Tôi ngồi chờ dưới ánh trăng hạ tuần nhợt nhạt, hắt những quầng sáng qua song cửa như thể những cụm khói từ một thế giới lạ hoắc, len lạnh hơi đồng. Bên ngoài khu vườn rộng, bóng đêm nhập nhoà vệt tối sáng mỏng tang, vật vờ trên những tàn lá đang im ngủ. Rồi bỗng nhiên những quầng sáng ấy loá trắng chói chang với chiếc bóng của Ngô lách qua cánh cửa khép hờ, bước về phía tôi. Cái bóng lêu khêu muôn thuở, bước không muốn chạm đất. Nó hào hển, sôi nổi siết chặt bàn tay tôi, ôm tôi như ôm một đứa bé con, biểu lộ một thứ tình cảm bị dồn ép lâu ngày.

- Mày vẫn vậy, không đầy đặn, nhưng chưa già đi chút nào. Lâu quá anh em mình không được thấy mặt nhau, cầm tay nhau.

Thanh quản Ngô như bị một vật gì đó dính ngang làm giọng nói khao khao, không như bình thường.Tôi nghĩ với tấm áo mặc phong phanh trên người, có thể cái lạnh làm anh bị đởm giọng. Cũng có thể anh ta vội vã chạy đến tôi với đôi chân trần của thằng bé ngày xưa đi chăn trâu, chơi trò cút bắt, u quạ trên những đụn mả đến nỗi anh mệt lả đi?

Ngô với tay rút điếu thuốc, rồi lại đặt ngay xuống bàn, không bật lửa. Anh đảo mắt nhìn gian phòng, lướt trên những bức tranh trên tường, phía trước mặt. Đó là những bức tranh thiếu nữ anh vẽ về Thủy qua trí nhớ cách đây trên ba mươi năm, thuở mà đám thanh niên nhai những củ khoai lang sùng của J.P Sartre, của F. Sagan và kêu lên những buồn nôn, ói ỉa... đầy dẫy cả ngoài cuộc đời lẫn trên trang chữ. Cái thời của sự buồn chán, mệt mỏi và làm dáng trí thức cần thiết hơn là sự ăn uống, làm việc, tỉnh táo. Giữa bối cảnh đặc quánh đờm dãi nhầy nhụa đó, Thủy xuất hiện tựa một cánh hoa rực rỡ trên mảnh đất khô khốc cát sỏi, ruồi nhặng.
Và rồi cả Ngô và tôi đều yêu Thủy đến điên cuồng, để cuối cùng hình ảnh Thủy đầy ắp trong những trang sách bằng những nét vẽ nguệch ngoạc của Ngô và một mớ chữ nghĩa kết nối thành những âm điệu dày cộp trong cuốn sổ tay của tôi. Từ bên này bức tường rào rêu ẩm, mái ngói oằn cong, tôi và Ngô dùng cọ, dùng bút cào miết lên giấy, vải cái nhan sắc dữ dội kia và tìm cách chuyển đến nàng, để sau đó nàng chuyển lại chúng tôi một cách hằn học, dè bỉu: những ngón tay thon thả, trắng muốt vò nát những thứ chúng tôi yêu quý, ném qua tường như người ta ném xác súc vật, kèm theo những dây cười miệt thị. Thủy nhìn chúng tôi như hai kẻ điên loạn, coi chúng tôi như lũ người sống trong thế giới của mộng mị và hoang tưởng, ban tặng cho mỗi đứa một lỗ đen ngòm khổ đau thời mới lớn. Lần duy nhất Thủy viết mấy câu, bọc viên đá dăm, ném sang vườn: “Các anh thôi ngay trò vớ vẩn dung tục này lại ngay. Nếu không tôi sẽ kêu ba tôi bắt các anh tống vào khám!”

Rồi sau đó, Thủy bước qua chiếc cầu hạnh phúc lắc lẻo với nỗi hân hoan tột cùng của loài báo cái biết mình đẹp nhất trần gian, danh giá nhất trần gian. Đám cưới tổ chức trên nhà hàng nổi dập dềnh sóng nước, dập dềnh hạnh phúc và dập dềnh cơn say lảo đảo của hai kẻ điên loạn chỉ biết đứng trên bờ nhìn những dề lục bình trôi như chính thân phận mình. Hôm đó Ngô say khước, quay trở về nhà bắt tôi căn mảnh vải bố lên giá vẽ. Bao nhiêu ống màu anh đều nặn hết xuống sàn và cầm cọ vẽ như điên như say trên khung vải trắng. Nước mắt chảy cơ hồ như con suối nhỏ. Tôi mơ màng trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê nhìn theo bàn tay gầy guộc cào miết lên giá vẽ… để sáng hôm sau và mãi mãi, tôi không bao giờ biết Ngô đi đâu, về đâu? Phản ứng đầu tiên trong buổi sáng tan tác đó là tôi đá văng khung vải vào góc phòng, bao nhiêu sách vở, chữ nghĩa tôi hất tung vào đó và khoá trái cửa, không bao giờ ghé mắt nhìn với thái độ hả hê của kẻ trí hèn hoan hỉ thực hiện xong chuyện trả thù vặt. Chuột gặm, gián nhấm tôi chẳng thèm biết tới; ẩm mốc, mối đùn tôi chẳng quan tâm… Cho mãi tới sau ngày lấy vợ, tôi mới phát hiện có một bức tranh tuyệt tác mà các tay chuyên sưu tầm tranh sau đó đã trả với một cái giá tôi không thể tưởng tượng nổi. Tôi nghĩ, hình như bọn buôn tranh đang báng bổ Ngô và bức tranh kia, nên đóng sập cửa, treo cao hơn để đón lấy chút nắng nhạt buổi chiều, ánh trăng khuya từ ô cửa sổ hắt vào, thay vì phải nghe những lời tán tụng nhảm nhí của phường bán buôn lừa lọc kia. Những lúc đau khổ, tuyệt vọng; những khi đói rách tơi tả, bị dòng đời nhấn lún xuống tận đáy bùn đen tôi ngồi chàng hảng trên chiếc ghế gỗ (chiếc ghế Ngô vẫn thường ngồi) để nhìn ngắm nó hả hê, đôi lúc như một tín đồ mộ đạo! Cả những lúc no nê hạnh phúc, tôi cũng dạng chân trên ghế bành ngắm nhìn bức tranh với nỗi ngậm ngùi vừa đánh tuột tay đứa bạn thân nhất trần đời. Trước mắt tôi, nó không còn là bức tranh mà là một khu rừng nào đó xa lắc, đầy huyễn hoặc với những con thú quấn quít bên nhau trong quầng sáng hắt hiu của mảnh trăng rớt cuối tháng. Đó là những con sói, con cáo, con beo, bầy nai và đàn cọp vằn… Chúng quần bên nhau giữa một vũ khúc tình. Chúng hung ác và hiền dịu, hạnh phúc và đau khổ, lo sợ và an nhiên. Cả cái xấu và cái tốt hình như đều bật ra trong những đường nét và sắc màu loạn cuồng trong cơn cuồng loạn Ngô phóng bút! Nhưng hơn hết, trong mỗi con thú đều ẩn hiện, thấp thoáng bóng dáng của Thủy, nhất là những đêm trăng khuyết đến tận cùng, nửa đêm giật mình nhìn lên vách, bầy thú biến mất, nhường chỗ cho bóng dáng thiếu nữ khi hân hoan, khi u sầu tha thẩn trong khu rừng già dày đặc khói sương đêm bị ánh trăng hắt vào loang loáng trắng, quái dị. Có khi người thiếu nữ tuyệt trần kia, mặt mày, chân tay, áo quần đầy máu đang dằn xé một đoá hoa cánh rơi lả tả trong lớp khói lung linh với tất cả vẻ đẹp hung ác cực kỳ. Và không ít đêm thao thức vì cái ban ngày đỏ hoét dằn vặt, tôi len lén vạch mùng bước nhẹ ra phòng khách, sững sờ nhìn những con thú mang khuôn mặt Thủy cào cấu nhau đến toé máu… Trong những lần tôi ngồi hàng giờ như vậy trước bầy thú và con người, vợ tôi từ phòng ngủ xô cửa chạy ra, hổn hển: “Tự dưng có những luồng hơi lạnh đến rởn tóc gáy, tròn miết da gà khắp cả người, lạ lắm. Em sợ quá”. Vợ tôi chỉ mới cảm, chưa thấy và chưa hiểu mọi sự, tôi vỗ về, an ủi nàng thôi không hỏi nữa.

Còn lại một mình trong đêm vắng, tôi dán mắt lên bức tranh, mong tìm thấy bóng Ngô lẩn khuất đâu đó giữa bầy thú hoang đang nhảy múa. Nhưng tuyệt nhiên chỉ có những móng vuốt giương ra, cào cấu nhau và gào thét man rợ. Ngô biến mất, giống như hòn đá rơi tòm xuống giòng nước xoáy.

Bức tranh vẫn cột dính trên tường. Những tay buôn tranh đã quá mệt mỏi với giá kinh khủng tôi lắc đầu từ chối, nên cũng không lui tới nữa.
Cái lỗ đen ấy đã kín miệng, nhưng thỉnh thoảng vẫn ung lên một chút mủ.

Còn giờ đây Ngô đang ngồi trước mặt tôi sau ngần ấy năm dài mất tăm. Tưởng là những đổi thay ghê gớm, nhưng Ngô vẫn như ngày chúng tôi chia tay. Có điều rất lạ là khuôn mặt anh bợt nhạt như sáp, đôi mắt hun hút sâu, vô cảm. Phía bên dưới dái tai, chỗ xương quai hàm, những vết đỏ loét chạy dài theo cổ và giấu hút đâu đó sau mảnh vải áo sọc đen.

- Định, mày đừng nhìn tao như thế – Ngô đột ngột lên tiếng và xoay ngưởi nhìn ra phía khung cửa phụ ăn thông ra vườn – Mày còn rượu không? Tao cảm thấy lành lạnh.

Tôi mở cánh tủ, lấy ly và chai Hine còn vơi nửa. Ngô uống liền một lúc ba ly.

- Rượu hạng tư – Ngô bật lên thành tiếng.

- Tao không rành ba cái thứ đó.

Ngô khoát tay:

- Không sao, dù hạng tư nhưng nó cũng đốt cơ thể tao ấm lên chút đỉnh. Mà này? Chính xác, tao với mày chia tay bao nhiêu năm, hả?

- Ngày mười sáu tháng năm.

- Không lâu lắm phải không? Mà sao tao lại phải trốn chạy kia chứ? Lúc đó tao đang làm assistance cho ông Vũ mà. Ông ta quí tao. Tao cũng kính trọng ông ấy. Riêng đám sinh viên, có vẻ như chúng bị kích động bỡi những luồng tư tưởng nửa ngô, nửa khoai chưa kịp tiêu hoá của ông Văn mang từ bên Tây về… lại được chế dầu thêm bỡi đám dao búa?

- Đó là chuyện cũ.

- Không cũ chút nào khi chúng nó đánh trống thổi kèn hô hào xông vào bắn giết nhau để bảo vệ cái ghế ngồi cho chúng nó. Đám dân chúng thì ngây thơ, bị nhồi nhét, đôi lúc quá sợ hãi để thành những con thiêu thân. Còn đám trí thức nửa vời thì chỉ vì ba dúm chữ nghĩa chó mửa thành kinh thành kệ và vì ảo tưởng về một xã hội công bằng, phồn vinh… mà bán đứng danh dự làm người, xô đẩy cả một dân tộc xuống đáy vực sâu, tắm trong xương cốt và hận thù!

Ngô lại rót rượu, dốc ngược đáy ly:

- Cuối cùng thì không thằng nào chịu trách nhiệm về những hành động xuẩn ngốc của mình gây ra, trút vấy lên đầu kẻ khác. Tao biết một thằng đi tu có nòi, thuộc kinh kệ như két. Nó bắt tín đồ đọc kinh như lũ bò nhai lại, rao giảng đạo đức, giáo lý để cuối cùng nó ngủ với gái trong phòng? Lừa mị đến thế thì còn hơn cả thứ giòi bọ đục khoét những xác chết sình thúi trong rừng sâu, bên vực hẳm!

Nước mắt Ngô chảy dài, càng lúc càng nhiều, đỏ dần lên như máu. Trước mắt tôi, Ngô trở thành hình nhân lúc xám ngoét, lúc trắng nhợt khi thì sũng màu máu từ hai hốc mắt tuôn ra, từ lỗ tai, lỗ mũi tuôn ra, cả miệng cũng bật trào màu máu đỏ, thấm xuống ngực. Khuôn mặt Ngô trở nên lạnh lùng và lạ lùng mà tôi chưa hề thấy.

- Mày có vẻ như mệt? Nằm xuống chiếc ghế xích đu này nghỉ chút đi?

- Bao nhiêu năm mới được về thăm lại mày, giờ kêu tao ngủ thì thà đừng tới?

- Tao xin lỗi.

Im lặng một lúc, tôi lên tiếng:

- Ngô này, bức tranh mày vẽ trong đêm…

- Tranh nào?

Tôi đưa ngón tay chỉ lên tường, phía trên đầu anh, nhưng Ngô không dòm theo.

- Nhớ rồi. Đó là bức tranh khói và mảnh trăng khuyết mà trước khi đi tao không kịp nói với mày.

Tự dưng khắp thân thể tôi bỗng nghe lạnh đến tột cùng, co rúm lại trong nỗi sợ hãi vừa sung sướng. Nhưng cảm giác ấy chỉ ào đến thật nhanh và rút đi cũng thật nhanh như sấm động. Tôi trở lại bình tĩnh:

- Rồi mày đi những đâu, đến đúng ba mươi năm sau mới quay về?

- Định mệnh.

- Là gì?

- Là sự ra đi và sự trở về.

- Lúc nào mày cũng có thể pha trò được. Ngô mày nói đi. Mày đi những đâu?

- Trước hết là tao bỏ ngang cái chức assistance bổ báng đó và lang thang từ ngôi chùa này đến quán thịt chó khác, từ nhà thờ này đến những nhà thổ nọ để làm một cuộc khám nghiệm về nhân cách con người. Và cuối cùng tao đã khám phá ra một chân lý lộn ngược. Té ra lũ cứt đái và bọn thổ tả kia còn mạt hạng hơn đám ma cô đĩ bợm. Chúng lợi dụng kinh kệ, sấm truyền, lợi dụng lòng tin của kẻ khác để buôn người, đổi chác, phỉnh phờ, lừa lọc. Một bọn lưu manh đội lốt người thượng hạng ngoại hạng. Trong khi đám đĩ bợm chỉ vì cái bao tử. Chúng cũng lưu manh vậy, nhưng ra giá sòng phẳng, không lừa mị phỉnh phờ ai. Thằng nào có nhu cầu xin mời… ai đau khổ, buồn rầu xin mời… kẻ nào sung sướng hoá điên, xin mời… nhưng nhớ là đừng giở trò chơi chịu…! Rất sòng phẳng.

- Nói nghe ớn lạnh?

- Tao ngụp lặn trong chốn thanh cao lẫn vũng bùn hôi tanh dơ dáy nhân thế. Tao gặp đủ loại mặt mũi, đầu óc bệnh hoạn của bọn người mà đến cả trời đất cũng phải bụm mặt xấu hổ. Tao lang thang cùng khắp ba cõi, đến những nơi mà con người chưa bao giờ đặt chân tới. Tao đi đến độ chân toé máu, cụt ngón; đến độ thân thể teo tóp như que củi khô khốc.

Bất chợt, tôi nhìn xuống sàn nhà. Đôi bàn chân Ngô lưng lửng đâu đó trong hai ống quần rách bươm, không chạm đất, đung đưa theo thói quen, như hồi nhỏ anh ngồi vắt vẻo trên cây ổi sẻ sau vườn nhà, thõng chân đưa qua lại trong không khí. Lớn lên, khi bắt đầu biết yêu mỗi khi đứng dưới khung cửa sổ phòng Thủy, Ngô vẫn có thói quen ngồi trên trụ gạch đua đưa hai chân vừa như biểu lộ niềm hạnh phúc, vừa như tỏ vẻ thất vọng, bỡi ô cửa chỉ hắt ra bên ngoài chút ánh sáng, tuyệt nhiên không có một nụ cười, cái vẫy tay nghịch ngợm.

Tôi hỏi Ngô:

- Lúc nãy mày nói gặp Thủy?

- Đúng. Tao gặp nàng lúc vừa sinh con đầu lòng. Hạnh phúc và giàu có. Đài cát và kiêu kỳ. Còn thằng chồng thì làm một quan chức khá lớn ở một Bộ nọ, sai khiến đàn em kiếm tiền mang về cho hắn. Sau này hắn vẫn tiếp tục làm lớn. Tại sao à? Có trời mới biết. Lần đó tao ngồi vẽ tranh trên vỉa hè độ nhật. Cũng toàn tranh thiếu nữ. Bữa nọ, trong đám đông dòm ngó tranh, có một quý ông khoát tay một quý bà, chỉ bức tranh tao đặt trên chiếc ghế đẩu long chân:
“Đẹp! Và có vẻ giống em đó chứ”
Một giọng chớt nhả:
“Em thấy cũng được”
“Không. Đẹp. Anh sẽ mua bức này tặng em nhân ngày sinh nhật sắp tới”
Tao quay lại. Té ra là vợ chồng Thủy. Tao lúng túng thật sự. Còn Thủy thì làm như lạ mặt, khẽ nghiêng chào kiểu cách. Lão chồng hỏi:
“Tôi mua bức tranh này, thưa ông?”.
“Xin lỗi, có người mua trước ông bà rồi”
“Anh vẽ bức khác. Tôi thích nó”
”Không thể thế được”
“Có thể đấy!” – Nói và hắn ta lôi vợ đi.

Tao đâu ngờ cớ sự sau đó còn tồi tệ hơn. Để chiếm hữu bức tranh, lão lệnh cho đám chân tay dọn sạch các vỉa hè. Mọi người chạy nháo nhào. Những bức tranh của tao, của bạn bè bên cạnh bị hốt lệng lên xe như người ta quăng những bọc rác hôi thối phải đổ vứt đi buổi sáng buổi chiều! Nhưng đây chỉ mới là đoạn khởi đầu của bi kịch. Sau đó mấy ngày, tao đang chán ngán với ly cà phê đắng ngắt, thì có một thằng mặt mũi tựa cô hồn, quăng trước mặt tao bì thư . Nhặt lên, thoang thoảng mùi nước hoa loại đắt tiền. Mở ra, mấy dòng chữ lịch sự một cách mất dạy: “… cuối cùng thì chúng tôi cũng tìm mua được bức tranh bán đấu giá tại Sở Vệ Sinh Đô Thành. Rất mong ông đến treo giúp bức tranh. Vợ chồng tôi… số nhà… đường”.

- Mày tới? – Tôi hỏi, lòng áy náy như chính mình là người trong cuộc.

- Tao tới. Tới để coi cái đám cướp giật, hợm hĩnh đó làm gì? Đúng là bức tranh bữa nọ lão ta đòi mua. Đón tao là bà quản gia và con nhỏ ở đang xách giỏ mở cổng chuẩn bị đi chợ. Tao chìa thư mời. Bà ta nói: “Ông nhà dặn hễ ông đến thì mời vào. Chúng tôi được báo trước rồi”. Tao bước vào, thấy Thủy ngồi dũa móng tay ở phòng khách, mặc bộ váy mỏng tang, loại vải khá đắc tiền. Bức tranh dựng gần đấy. Thủy thong thả chào tao, thong thả đứng dậy, thong thả rót nước và thong thả mời. Dáng điệu nàng bước giống hệt con báo cái trước con mồi đang nhắm mắt chờ bị xé xác, một kiểu cách lố bịch của các mụ mệnh phụ phu nhân còn sót lại trong thời buổi nhiễu nhương.

“Anh ngạc nhiên lắm phải không?”.
“Hơn thế nữa”.
“Thật tình thì tôi không thích nó. Chỉ vì nhà tôi vẽ vời”.
“Tôi nghĩ ông bà không nên xử sự như vậy”.
“Chúng tôi có làm điều gì khiến ông phiền lòng. Chúng tôi hỏi mua, ông không bán, chúng tôi về. Còn cái này, chúng tôi mua đấu giá từ….”.
“Từ một đám ăn cướp?”.
“Ông nói hơi quá. Có cần phải coi giấy tờ không nhỉ?”.
“Kẻ mạnh có thể biến xác chết thành người sống, thưa bà?”.
“Đó không phải là chuyện của chúng tôi. Chúng tôi mời anh đến không phải để tranh cãi về những chuyện không liên quan đến nghệ thuật”. Tao lộn gan, đứng bật dậy bước ra. Thủy vẫn ngồi bắt chéo chân, với bộ điệu hớ hênh, khiêu khích sự thèm khát dục vọng, nở nụ cười pha chút ngây thơ lẫn đĩ thoã: “Chẳng gì thì đã có lúc chúng ta như gặp nhau, quen nhau và trong anh, tôi luôn luôn có mặt?”.

Mày nghe nó nói không? Một giọng điệu chỉ có ở đám ma cô, tú bà lại thốt ra từ cửa miệng của con mụ đàn bà có nhan sắc rực rỡ, tuyệt vời kia mà tao và mày đã từng yêu đến không còn nhận ra bến bờ, ngày đêm? Đây là lần đầu tiên trong đời tao được “hân hạnh” đối mặt với nàng, nói với nhau không bằng lời êm ái, yêu đương! Tao tự nghĩ, phải chăng nàng là hiện thân của loài quỷ dữ bay vào trần gian để thoá mạ kẻ khác? Một thứ nhan sắc rờn rợn mê hồn, một vẻ đẹp ác độc chưa từng thấy trên những khuôn mặt nữ? Luôn luôn tồn tại hai dáng vẻ đối nghịch nhau? Tao vừa sợ hãi, khinh tởm vừa muốn gần gũi sờ đụng nàng như sờ đụng trên thân lầy nhầy con ấu trùng bướm đa sắc, vừa có cảm giác nôn oẹ mọi thứ trong cơ thể ra ngoài. Chỉ còn một bước chân nữa là tao ở bên ngoài khung cửa, thoát ra khỏi căn phòng ghê tởm mà vô cùng lôi cuốn đó. Tao muốn ngã khuỵu xuống nền gạch hoa, mắt mờ đi.

“Anh giúp tôi. Vì trong anh luôn có tôi, tôi biết thế. Vậy thì tại sao trong tôi không có một chút anh. Đây là điều anh mong mỏi bao nhiêu năm nay mà. Tại sao anh lại từ chối điều anh hằng ao ước đó nhỉ? Để được cái gì…?”
Tao nghe dường như có vòng tay chạm đâu đó lên người tao, nóng rực nỗi ham muốn của bầy thú trong mùa tình. Tao nghe tiếng thì thào bên tai như lời của con hồ ly tinh:
“Bây giờ tôi tặng anh điều anh ao ước bấy lâu. Hình như tất cả mọi thứ tình yêu đều kết thúc trên giường ngủ. Tôi tặng anh nỗi khao khát cào cháy cơ thể anh, tâm trí anh để sau đó anh vĩnh viễn bước ra khỏi khung cửa này, như một cách để tôi lột tôi ra khỏi người anh”.

Sau đó là nụ hôn dài đến cháy bỏng, là thân thể mềm nhũn oằn oại tựa hồ kẻ động kinh. Mọi thứ cảm giác của loài động vật có bộ não đều đổ ào ra cùng một lúc đến tận cùng trời cao hố thẳm rồi đột ngột đứng khựng lại như cỗ máy chết, trống rỗng đến tận cùng…


Càng về sau, giọng nói của Ngô càng thì thào tựa hơi thở, cố gắng lắm cũng không nghe được gì hơn. Hai môi Ngô mấp máy liên tục đến độ không còn đoán được Ngô nói điều gì. Anh giang hai tay và xoãi chân trên ghế. Im lặng hoàn toàn, lạnh ngắt.
Rất lâu sau Ngô mới mở mắt ra, vẫn trong tư thế cũ. Nhưng trên hai hốc mắt lại trào ra hai giọt nước mắt đỏ hoét. Tôi với lấy chiếc khăn vắt trên thành ghế, toan lau cho anh, nhưng Ngô đưa tay ngăn lại. Bàn tay Ngô chạm vào tôi như thể tôi đang chạm vào tảng băng đá. Ngô giật mình, ngồi lại ngay ngắn, giọng phều phào:

- Điều mày muốn biết tao đã kể hết cho mày nghe. Chỉ còn đoạn cuối là sau đó mấy ngày, tên cô hồn kia lại xuất hiện, chỉa súng vào hông, lôi ngược tao lên xe đóng sập cửa lại và đưa tới một nơi tao chưa hề đến. Một chiếc lều bạt dựng sâu phía trong con đường đất đỏ. Hắn đưa tao tới đó thì đã thấy thằng chồng Thủy ngồi bên chai rượu màu. Hắn đưa tay chỉ chiếc ghế đẩu đối diện, đẩy ly rượu về phía tao:
“Tôi nghĩ ông nên uống một ly”.
Tao nhìn hắn không hiểu hắn nói gì và làm gì?
“Ông khá lắm, ông hoạ sĩ ạ!” – Nói và hắn quăng tấm ảnh lên mặt bàn gỗ xù xì, giọng đanh lại:
“Ông nhìn thật kỹ đi” .
Trời đất! Sao lại có tấm hình quái quỉ này, tao tự hỏi trong đầu.
“Tôi biết ông yêu vợ tôi đến lú lẫn. Cũng tốt thôi. Nhưng điều tôi không muốn là hình ảnh vợ tôi không được phép tồn tại trong cái đầu óc thối tha kia, không được bày ở vỉa hè như một con bù nhìn bẹo chim thú. Ông có hiểu không? Tôi nghĩ ông nên uống một ly trong giờ phút hội ngộ kỳ quặc này”.
Tao tức điên người, đứng dậy đá văng chiếc bàn ra xa.
Và sau đó là một cõi thênh thang cho tao rong chơi, đi về. Có điều sau đó tao vừa khinh, vừa căm hận lại vừa yêu Thủy hơn bao giờ để chứng kiến gần như cuối cuộc đời nàng, sau ngày thằng chồng bỏ chạy xuống tàu. Thuỷ vẫn đẹp lộng lẫy, kiêu kỳ trong cái đống đổ nát của phố phường, gia đình, trong cái bi thương của nhan sắc và danh vọng… Thủy đã mang bán tất cả những gì có thể bán được để thay cho những hột bo bo cứng ngắt. Nàng cũng bắt đầu chạy chợ, lừa lọc, phỉnh phờ thiên hạ để kiếm từng xu, cho đến cái thân xác kia nàng cũng nhấn chìm xuống vũng đen nhầy nhụa… Tao xót xa, thương hại nàng, nhưng tao không thể làm gì hơn được.

Ngô bật khóc tức tưởi, nghẹn ngào. Cả thân thể co rúm lại, đau đớn tột cùng. Tôi ôm đầu nghĩ mông lung trăm chuyện nhân gian, cho tới khi Ngô nói: “thôi tao đi”, ngẩng lên chỉ thấy bức tranh trên tường lay động dữ dội. Những con thú chạy bổ vào tôi, dằn xé rách toạt da thịt máu me trước giọng cười the thé của bầy sói mang trăm mặt con mụ đàn bà kia.

Căn phòng hoàn toàn im vắng.

Và hình như... tôi cầm chai rượu lên...hình như nó vẫn còn nguyên như khi tôi lục tủ mang ra cho Ngô?
Đăng nhập để trả lời
0
ĐĨ XƯỢC


NGUYỄN LỆ UYÊN


Chước tửu dữ quân, quân tự khoan
Nhân tình phiên phúc tự ba lan
Bạch thủ tương tri do án kiếm
Chu môn tảo đạt tiếu đàn quan
(*)



Đám mặt chuột dùi cui kêu ông điên, nhưng ông nhất định không chịu nhận rằng mình điên. Chúng đưa chiếc mõm nhọn ra, cong đuôi ngoáy ngoáy, vểnh râu: Đồ điên. Ông trợn mắt: Tao tỉnh. Chỉ có lũ chuột chúng mày mới điên. Chúng giơ dùi cui, ông cong tay ra đỡ. Bốp. Cánh tay như muốn gãy lìa khỏi vai. Ông té đái, ngã đánh huỵch. Trời đất rung rinh, tối ùm. Ông có cảm như đang bay lượn vào cõi trống không, đen thui.

Chừng mở được mắt, ông thấy hai người mặc áo bờ lu trắng, tai mang ống nghe, xán tới:

-Nằm yên, nằm yên.

Người kia hờm sẵn sợi dây trong tay. Ông mở mắt thao láo ngạc nhiên ngó hai đứa trẻ bằng tuổi con út ông anh. Người đeo ống nghe giở áo ông lên đặt ống nghe trước ngực, sau lưng, lại đo huyết áp, vạch mắt và cuối cùng dùng que gỗ gõ gõ mấy cái liền lên đầu gối thiếu điều trái tràm ông bể ngứu.

-Há miệng ra – Một người ra lệnh.

Ông ngó nghiêng lắc đầu, phản ứng yếu ớt.

Một người hỏi:

-Sao bác sĩ?

-Thuốc cho bệnh nhân loại ba.

Người vừa hỏi ném sợi dây lên bàn quày quã xô cánh cửa bước ra. Lát sau trở vô, một tay cầm ly nước tay kia bụm những viên thuốc màu trắng trong lòng tay.

-Bác há miệng ra, tội nghiệp!

Ông há miệng. Những viên thuốc như những viên sỏi nhỏ ném vào trong, lọt tõm gần đốc họng. Ly nước đưa vô cụng chiếc răng cửa lung lay, đau nhói.

-Uống vào, uống nhiều vào. Nào nuốt! – Giọng anh ta giống như giọng vỗ về một đứa bé.

Xong chuyện, cả hai kéo ghế ngồi cạnh cửa sổ có chấn song sắt. Ông nhìn họ. Hai cái bóng cứ to dần lên, trương phềnh và lầy nhầy như một bãi đờm khổng lồ từ cổ họng con quái vật khạc ra.

Năm mười hai tuổi, ông theo đoàn văn công lên tàu. Ông lên tàu chỉ vì mê hát cải lương, mê khuôn mặt xinh xắn cô đào thương Kim Ba, má đỏ, môi son, mắt lúng liếng chớ không như mẹ ông, miệng nhai trầu bõm bẽm, tay luôn cầm chiếc roi mót. Giây phút ấy gười ta không buồn đuổi ông xuống. Còn ông có muốn quay lui cũng không được. Tàu nổ máy xình xịch tách bến…Biền biệt hơn hai mươi năm ông mò về với chiếc sắc cốt cá nhân, tay kia là bọc áo quần ka ki Nam Định, đôi dép nhựa Hải Phòng và mấy chục chén ăn xuất xưởng ở Hải Dương. Đó là những vật dụng ông sẽ làm quà cho gia đình sau hơn hai chục năm lưu lạc nơi xứ xa, không bà con thân thuộc, bạn bè… chỉ để làm mỗi một việc kéo màn cho gánh hát, sau đổi thành đoàn dân ca Nam bộ. Kéo màn và chạy đạn. Bom đạn ầm ầm. Bao nhiêu lần cái chết đến bên đít. Sống được để trở về xứ cũ đã là may.

Ông háo hức ôm bao nhiêu thứ nặng trịch lóc thóc leo lên tàu lửa, xuống tàu đi bộ, lại lên xe, xuống xe. Cảnh vật bên đường trơ trụi, đường sá lỗ chỗ hố bom nhưng cờ xí thì ngập đỏ đường. Qua cầu Hiền Lương, làng xóm tiêu điều xơ xác, đất bạc thếch. Gói quà trên tay trở nên nhẹ, có ý nghĩa hơn bao giờ. Trong tâm tưởng, ông không ngờ que hương tan nát đến thế, kẻ thù dã man đến thế! Nhưng qua Huế, qua Đà Nẵng, ông chưng hửng. Chưng hửng và thả những chiếc chén sứ, từng cái từng cái một xuống đường. Tiếng bể khô khốc lịm tắt sau đít xe và tiếng máy nổ như vỗ về nỗi hổ thẹn lấp ló đâu đó. Vào Qui Nhơn, Nha Trang ông len lén giấu những bộ áo quần dày cộp vào các bụi cây ven đường mỗi khi xe dừng lại giải lao. Ông làm cái công việc như kẻ cắp. Tới cầu Sài Gòn ông ngó nghiêng, ngó ngửa. Thêm những chưng hửng nữa, len lén ngó xuống bọc dép nhựa nhét trong chiếc bị cói. Nó trong suốt. Nó tốn quá nhiều thời gian của ông, thồi thụt với những con mẹ mậu dịch viên mới có được. Ông nhìn trước ngó sau, ném tõm xuống sông, cảm thấy nhẹ nhàng, thơ thới như lúc chạy theo cô đào Kim Ba.

Ngày ra đi, ông là thằng bé con lêu lổng, mê đờn ca, mê vọng cổ, cải lương. Ông bước xuống tàu nhẹ tênh như chiếc lá rơi nhẹ trên thảm cỏ, không thắc mắc, băn khoăn. Ngày trở về, ông cũng có những háo hức của mấy chục năm trước, nhưng lòng nặng trình trịch. Cứ mỗi lần ném những phần quà ông cắc củm dành dụm từ những tờ tem phiếu, mua mậu dịch, mua chợ trời như thể ông rứt thịt da mình ném xuống đường. Ông ngó nghiêng ngoài cửa xe và khóc.
Không phải mừng mà tủi!

Nhưng cái tủi lớn nhất, phải nói là nhục khi trong đầu ông cứ ngỡ cả nhà đói rách, bị chúng lột truồng ra như người tiền sử, thì giờ hiện ra trước mắt là những gì cứ như trong mơ. Đúng là trong mơ: vì chốn địa ngục trần gian sao lại quá tươi tắn, tươi tắn gấp ngàn lần thiên đàng hạ giới? Nó như nhát búa, lưỡi dao dành cho ông, những người như ông, bị lột từ da thịt cho tới đầu óc. Lại tủi, lại khóc ồ ồ như nước ròng rút xuống ồ ồ ngoài vàm cửa Đại!
Nước mắt chừng như rửa sạch phần nào bụi bặm trong đầu, ông lò dò tới cơ quan chìa tấm giấy về Nam. Người phụ trách hỏi cầm chừng, lạt lẽo. Ông đứng xớ rớ, ngó quanh cơ quan vốn là trung tâm xã hội của chế độ cũ, rộng mênh mông.

Ông đi lại năm lần bảy lượt. Cơ quan nói cứ để đó rồi tổ chức phân công. “Để” mãi đến nỗi tờ giấy lạc mất đâu đó và người ta lại nói ông quay ra đơn vị cũ xin lại phó bản. Mẹ cứt, có ăn đào tiên ông cũng chả dại quay đầu ra. Mà có quay ra, biết đoàn ở nơi đâu mà tìm? Mười mấy năm “rửa đít” cho chúng đủ lắm rồi. Để hỏi ông anh xin vài công đất cày cấy sinh nhai cũng sướng gấp trăm lần đi kéo phông màn, lo hậu kỳ đúng phận anh chạy cờ. Đủ lắm rồi. Nghĩ vậy, ông phủi đít quay lui.

Lúc mấy thằng nhỏ cho uống thuốc đâu chừng gần trưa. Vậy mà bây giờ trời rựng sáng. Ông đã đánh một giấc dài, nhưng đầu óc không tỉnh táo. Nó nặng trình trịch như đeo chì, lại nhức nữa. Mấy phòng bên cạnh có tiếng ca hát lảm nhảm, tiếng gõ ca nhôm, tiếng rú xa xa nghe như tiếng sói tru trên rừng Tây Bắc ngày nào, nghe ớn lạnh. Ông loay hoay trong gian phòng chật hẹp, bốc mùi ẩm mốc. Gian phòng này, ông là người duy nhất. Cửa đã khoá trái phía bên ngoài. Cửa sổ với những chấn song sắt to hơn cổ tay đứa trẻ, thu tầm nhìn trong khoảng hành lang ngắn. Phía đối diện cũng lại những chấn song sắt bằng cườm tay. Một người đàn ông râu tóc xồm xàm ngồi chàng hảng, xỏ chân qua chấn song, miệng lảm nhảm gì đó ông không tài nào nghe rõ. Người kia đứng sau dùng hai tay cào bới trên đầu bạn. Cào chán lại dùng những ngón tay làm lược chải chải, rồi lại cào làm tóc ông ngồi chàng hảng dựng đứng lên.

Lúc phát hiện có người bên kia phòng, ông chàng hảng toe miệng cười he he. Ông đứng phía sau dòm sang, rú lên:

-Cướp. Thằng kẻ cướp! Nó giựt mái tôn, nó lôi cái giường, kéo con vợ tôi ra bụi chuối. Bớ làng xóm… hãm… cướp…

Ông ngồi chàng hảng nghe tiếng la, miệng kêu khèn khẹc khèn khẹc, hai tay thọc ra ngoài huơ huơ. Đúng lúc đó, anh giám thị lùn tịt, nủng nỉnh bước tới, ngó nghiêng từ gian này qua gian kia rồi gục gật đầu như nhà hiền triết, bước thẳng.

Ông đứng quan sát một lúc, nghĩ bụng: họ điên thiệt rồi. Cái điệu bộ ấy điên là cái chắc. Ông quay lui, định trở lại ngồi xuống chiếc giường sắt, nhưng nghĩ sao, ông bước xấn tới cửa sổ, thọc tay trái ra ngoài, vẩy vẩy:

-Ê, ông bạn, quỡn qua chơi. Bên này có nước trà. Trà hái trên đỉnh Vu Sơn – Nói và ông vén quần đái tồ tồ xuống nền. Cái mùi khai khai, nồng nồng kia không rõ đã bay tới phía cửa sổ gian đối diện hay chưa, nhưng ông chàng hảng bụm mũi, miệng không ngớt khẹc khẹc. Ông đứng phía sau bất ngờ túm tóc bạn ấn mạnh đầu vào chấn song nghe đánh cốp như anh cầm chầu gõ dùi vào tang trống khiến ông kia kêu rú lên, não nuột như tiếng rú của con sói bị thương.

Bên ngoài nắng lên cao. Những người giám thị khiêng chiếc thùng to bước thủng thỉnh ngoài hành lang. Tới mỗi cửa phòng, một người lấy ca nhựa, giở nắp cửa to bằng bàn tay xoè đặt chiếc ca lên bậu cửa. Người kia múc cháo đổ vào. Nắp cửa đậy xuống. Tiếng bước chân lẹt xẹt tiếp tục nhỏ dần.

Ông đứng nhìn ca cháo loãng, lều bều mấy cọng hành trên mặt y như chút rác nổi trên mặt đìa. Hành trong ca, rác trên mặt đìa.
Ông quay lại giường, nằm xuống. Hai mắt nhắm nghiền. Có khi mình điên thật rồi.
Ông thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn, mộng mị trong ngày đầu tiên ở nhà thương điên.

Anh ông chỉ cho bốn công đất sát mép lộ dẫn vào thị xã, vốn là đất hương hoả, có sẵn ngôi nhà ngói vảy ba gian, thờ cúng ông bà lớp cao. Ông anh nói, thôi chú hãy vào tạm đó, hương khói ông bà. Cúng kính tụi này lo. Mấy công đất ấy, chú chí thú thì cũng có của dư của để, cưới con vợ về hú hí cho vui, lớn tuổi quá rồi. Phần đất còn lại đào đìa thả cá, cấy lúa. Ông hể hả với tấm lòng ông anh và bà chị dâu, suốt ngày vật lộn với chiếc len, không còn bận tâm với mẫu giấy vàng ố thất lạc đâu đó. Lần đầu tiên ông được sở hữu căn nhà, mảnh vườn, ruộng. Ông muốn ăn, ngủ lúc nào tuỳ thích, không phải nghe lệnh, không học tập, thảo luận nghị quyết nghị quét gì ráo. Chấm dứt cảnh sống tập thể với tiếng kiểng điều khiển mọi sinh hoạt. Mồ hôi có chảy ra nhiều hơn, mặn hơn nhưng mỗi khi chiều xuống, xong việc ông có thể ngồi trên tấm đệm lác nhâm nhi ly rượu đế, con khô, trái cóc… với mấy ông bạn hàng xóm, a lũ bạn thời cởi truồng. Ông có thể ngửa cổ hát “cô Tư ơi… sao nỡ bỏ qua đành đạn…ơ…ơ… một mình…” mà không bị kiểm điểm, chỉ mặt là đồ cặn bã tiểu tư sản. Cô Tư là cô nào không có hình hài trong đầu ông, nhưng mỗi lần đưa ly rượu lên miệng là ông nhớ đến cô Tư đến nỗi hàng bao nhiêu năm trời chỉ có cô Tư trong lời ca là ở cạnh ông, hôm sớm với ông. Ông thủ thỉ với cô Tư không thành tiếng. Sợ. Ông sợ bị phê bình.

Một bữa, ông bạn nhậu Ba cá kèo hỏi:

-Sao không chịu lấy vợ?

-Lấy gì ăn, ở đâu?

-Chớ bao nhiêu năm vẫn mình ên?

-Mình ên.

-Anh không biết nó nằm ngang, nằm dọc hay sao?

-Không. Mà có chớ sao không! Tiếng kiểng rổn rảng đinh tai nhức óc đó nó ngang dọc khắp người, rồi phê bình, kiểm điểm… dọc ngang nát cả đầu. Biểu lấy vợ? Biết đâu nó không lôi mình ra phê. Ăn ngủ một mình sướng thân.

-Nói vậy, chớ không vợ chồng sao lính đâu ùn ùn kéo vào đông nghìn nghịt?

-Thì là người ta vợ chồng.

-Đích thị ông chẳng biết dọc ngang là cái con mẹ gì.

-Mẹ cứt, đếch cần biết!

Ông không biết thật. Bao nhiêu năm ròng, ông thui thủi. Ăn đã có chiếc bàn dài, có người nấu sẵn, dọn lên. Ngủ đã có cái sập ghép bìa ván, tre nứa. Di chuyển, chạy… liên tục thì nhà cửa vợ con mà làm gì? Với lại... Ông còn đang suy nghĩ, hồi tưởng, thì mẫu khô sặc trong miệng ông bạn chưa kịp nhai, vụt bắn ra ngoài, như thể nó chạy trốn cái sự không thèm biết của người bạn ngồi trước mặt. Ba cá kèo ôm bụng cười sặc sụa, bò lăn bò càng trên đệm. Té ra cha này đi cách mạng là vậy.


…Mấy chục năm theo gánh hát, sự nôn nao rạo rực trong anh chàng mới lớn vụt tắt ngấm khi ông nhìn thấy cảnh đó trên đê, trong đám bắp, cả ở công viên, bờ hồ công khai như cả hai đang trên giường, trong căn phòng kín cửa. Không phải vì “thị dâm”, hay tò mò mà vì ông bị kiểm thảo, rồi bị đưa ra canh giữ đám bắp cải thiện của đoàn; hay lúc đi ngang qua chân đê, lúc nhớ nhà nửa đêm ra bờ hồ quanh quẩn như dòm thấy sông nước mênh mông nơi quê nhà. Ông không cố tình, mà nó tênh hênh ra như chỗ không người, tự nhiên như mùa chó động dục. Học hành không mấy chữ, nhưng nhìn thấy cảnh đó, đầu óc ông bèn có sự so sánh quái dị. So sánh xong thì ông ớn như bắt phải nhai thịt mỡ thừ ngày này sang năm khác. Ông nghe đầu lưỡi lạt phèo, nhớp nhếch thứ chất lỏng sền sệt khiến ông rùng mình. Rùng mình và sự rạo rực ngày nào tắt ngấm như hòn đá ném xuống sông, chìm sâu tận đáy.

Căn nhà, ông dọn dẹp sắp xếp lại ngăn nắp. Cái đìa sau nhà đào đã xong. Ông tính hỏi mượn bà chị dâu ít tiền mua cá giống về thả, nuôi vài con vịt xiêm, ít gà… với hơn ba công đất còn lại ráng cày cấy, coi như đời sống tạm ổn. Dự tính của ông là vậy , chỉ mới vẽ vời sơ qua, chưa thật có hình hài cụ thể, nhưng cũng khiến ông ấm lòng. Ông hể hả chắp tay sau đít, ngó nghiêng căn nhà ngói vảy còn sót lại, đâu từ thời cụ tổ nhà ông, cái đìa loang loáng nước nghĩ bụng, cũng nên có con vợ. Nếu hồi đó không ham vui nhảy xuống tàu theo gánh cải lương tập kết, giờ này chắc ông cũng vợ con đùm đề.

Có tiếng máy xe đỗ xịch trước mặt lộ. Người đàn ông quấn khăn rằng, đầu trùm mũ tai bèo bước xuống, chậm chạp bước vào cổng, gọi lớn:

-Tám Quỡn… Tám Quỡn có nhà không vậy?

Ông xán xở quay lui, không tin vào mắt mình. Năm Thắc đây. Sao ảnh còn sống? Hồi xuống tàu, chức vụ của ảnh là đội trưởng dân quân. Ra ngoài kia được gửi đi học cái gì đó những 5,6 năm. Tới chừng tình cờ gặp nhau ở Ba Vì, ảnh đã là chính trị viên tiểu đoàn. Hai thằng ôm nhau khóc như cha chết. Chẳng gì cũng người cùng xứ. Năm Thắc hơn ông những 6 tuổi luôn miệng gọi em xưng anh ngọt xớt. Hai thằng kéo nhau vô quán cóc, đánh tới mấy chai cuốc lủi lậu năm Thắc lận trong xắc cốt, với đậu phộng rang.

Chừng ngà ngà, Năm Thắc hỏi:

-Quỡn này, anh nói thiệt, em nên xin cơ quan chuyển công tác khác đi. Cứ đi kéo phông màn cho gánh hát thì chẳng ra con mẹ cứt gì ráo trọi. Coi cơ quan nào kha khá mà chạy đi.

-Em thì biết cơ quan nào, với lại học hành chữ nghĩa bao lăm hơi, ai thèm biên chế vào đơn vị? Nể mặt thì cũng đến bảo vệ, gác cổng, kéo chắn xe là cùng. Mệt rồi. Nhớ nhà quá rồi. Đù má thằng Mỹ. Không có tụi nó, anh em mình đâu đến nông nỗi này. Cái bọn cướp nước khốn nạn, dã man…

-Tức chi. Thắng tới đít rồi. Giải phóng gần sạch rồi – Năm Thắc lên giọng – Sao anh chú nói nghe phải chớ, là chuyển công tác đi – Năm Thắc bóp trán suy nghĩ một hồi – Hay vào quân đội? Vào đơn vị anh đây này, có cơ tiến thân. Với lại cũng sắp vào Nam. Tới chừng đó, anh em mình sẽ gặp lại cha mẹ, anh em. Tía má em chắc nhớ mày lắm đó nghen.

-Không –Tám Quỡn nói chắc nịch – Em sợ đánh nhau. Sợ máu.

-Coi, cái thằng nhát như thỏ đế. Thôi, tuỳ.

Đó là lần hai người gặp nhau kể từ lúc lên tàu, lênh đênh trên biển cả chục ngày…

Năm Thắc bên kia sông, tám Quỡn bên này, nhưng cả hai thường ngoi sông, hái dừa trộm, hái trái bần quẹt mắm tép rong đen thui như cứt chó mà thơm, ngon. Ký ức trong ông về người bạn xa xứ chỉ chừng đó. Nay hắn lại tới thăm mình, sao không ngạc nhiên, không mừng?
Mừng thì ôm nhau. Hai người ôm dính cục, vỗ vỗ lưng nhau như lãnh tụ trên mặt báo. Năm Thắc xô bạn ra, nhưng tay vẫn trong tay, hỏi:

-Thế nào? Công tác cơ quan nào?

Tám Quỡn ngó lên đọt dừa cao tít, chỉ:

-Đấy! – Là có ý nói ông về vườn, đang sống trên mảnh đất nhỏ này. Nhưng Năm Thắc không nghĩ vậy, lại nhớ tới kỷ niệm ngày xưa:

-Hồi đó ẩu thiệt. Giờ kêu trèo lên một thước cũng không trèo nổi! – Nói và ông mở miệng cười ha hả, như tự thưởng trí nhớ tốt của mình, vẫn giữ những kỷ niệm ấm áp với bạn xưa. Tám Quỡn lúc lắc cái đầu sói trơ sói trấc.

Bây giờ ông không bị đè ngửa ra, không bị ném những viên sỏi nhỏ vào họng. Người ta từ tốn hỏi:

-Thế nào, bác cảm thấy dễ chịu không?

Ông trả lời:

-Tôi đâu có điên. Thả tôi ra. Sao mọi người bắt tôi bỏ vô đây?

-Khả quan rồi đấy. Chịu khó điều trị sẽ khỏi thôi. Nào, bác uống thuốc đi nào.

Ngoài sân có bóng người đi qua đi lại, có người ngồi trên băng ghế xi măng. Họ vạch áo bắt rận, mở nút áo gãi rồn rột. Bên kia vòng lưới rào, những người phụ nữ tóc bờm xờm, phơi nắng vừa ca hát lảm nhảm. Có bà bứt cả nút áo để thõng vú như trái mướp khô teo tóp. Ông chỉ tay về phía đó, nói:

-Đấy! Đấy mới thiệt điên. Còn đây đâu có điên gì đâu. Thả tôi ra. Làm ơn thả tôi ra! Nào nào, uống trà Vũ Di Sơn rồi thả tôi ra – Nói và ông vén quần đái tồ tồ xuống sàn. Ngoài Bắc kêu nước chè, nhưng trong Nam mình gọi trà. Chè là chè đỗ chè khoai, bắt anh giã nếp canh hai chưa rồi. Ha ha… Cô Tư ơi… sao cô… Ngon lắm.

Nhân viên trại né sang bên, ngó ông chằm chằm như thể muốn ăn tươi nuốt sống ông già râu ria xồm xoàm, đầu sói trơ sói trấc. Ông gờm gờm, mắt long lên. Nhân viên trại chạy ra, đóng sập cửa lại. Tiếng khoá lách tách. Tiếng xích rổn rảng. Ông nghe như âm thanh trên gò Đống Đa. Cô Tư chết treo trên cành da chỉa ngang mặt hồ. Ông chới với bay lên. Chụp hụt, rớt đánh đụi xuống giường. Yên lặng.

Bên ngoài hoàn toàn yên lặng. Tiếng ca lảm nhảm của cô Tư không còn eo óc bên kia ô lưới rào. Cô Tư đầu tóc rũ rượi ngó ông.

Con lạy ông. Ông gào lên. Năm Thắc ơi là năm Thắc, ngài mau trả dùm lại căn nhà và khu vườn cho tôi. Của hồi môn hương hoả cô Tư chia cho tôi sao mấy ông kêu của nhà nước? Ui trời đồ đĩ xược. Ông gào to. Mái ngói, trần nhà rung rinh. Uí trời đồ kẻ cướp. Con mụ đĩ xược rộng họng to mồm. Tao mà điên? Tụi đĩ xược ăn cướp mới điên… Anh Năm, tôi chịu. Tôi chịu vào lính vói anh đi dánh Mỹ cướp nước. Đồ đĩ xược!

(*) Vương Duy, Chước tửu dữ Bùi Địch

Tạm dịch:
rót rượu mời ngài, ngài cứ thong thả uống. Tình người tráo trở như sóng nước. Bạn tương tri giao du với nhau từ thuở đầu xanh cho tới khi tóc bạc, vậy mà lúc gặp nhau vẫn còn để tay lên đốc kiếm đề phòng! Bạn thuở hàn vi đã sớm thành đạt thì cũng đừng nên tới thăm để bị chê cười.
Đăng nhập để trả lời
0
BUỔI SÁNG TRONG LÀNG


NGUYỄN LỆ UYÊN



Gà vừa cất tiếng gáy sang canh, Dự vội vã bật dậy nhóm bếp nấu ấm nước pha trà, loại trà nát như cám được phân phối theo tem phiếu trên cửa hàng mậu dịch hợp tác xã. Uống loại nước chan chát không mùi vị khiến anh có cảm giác như lúc ở trại Thập hái lá cây rừng sao vàng thay trà. Dẫu sao trà cám vẫn hơn nước đun sôi và nước đun sôi vẫn hơn loại lá rừng đắng chát. Với lại, thời buổi này không thể tìm đâu ra thứ trà ướp ngâu, ướp sen… mà có thì cũng không có tiền mua. Cái gì cũng có thể trở thành thói quen, anh thầm nghĩ và uống cạn bình trà trước khi đứng dậy ra tháo cổng chuồng.

Lúc lùa đôi bò ra ngõ, vợ Dự vừa kịp lóp ngóp ngồi dậy, hỏi nhóng theo:

-Sáng nay anh ăn ghé khoai lang hay mì?

Dự nhổ phẹt bãi nước bọt xuống nền đất, xoay cây cày sang vai phải, từ bìa sân gạch nói với:

-Phở Pasteur! – Dự nói như lệnh của ông đại đội trưởng ngày nào: “Hàng ngang, tiến!”. Phở Pasteur là tiếng lóng chỉ hai vợ chồng anh hiểu. Đó là những sợi bột sắn mì như con bún gạo, vợ anh tự chế biến, trộn chút muối hầm, đường đen, hành lá và ít mỡ heo mang hấp chín. Ăn thứ này đỡ ngán hơn nấu chay, trộn dúm gạo ghé. Những lúc bưng chén mì đưa lên mũi, mùi thơm xông lên sực nức khiến Dự nhớ những ngày về thủ đô dự lớp tu huấn, được thằng bạn bên cầu chữ Y dẫn ăn phở Pasteur. Lần đầu tiên Dự ăn món phở mà cứ ngỡ như mình là ông hoàng bà chúa. Nó ngon đến nỗi dưới đáy tô không còn sót lại chút gì, và nếu như không có thằng bạn, Dự sẽ vào một quán khác gần đấy kêu liền hai tô. Những ngày học sình lầy ở Dục Mỹ, đôi giày bị nhấn lút trong lớp bùn nhão, Dự cứ ngỡ như mình đang bơi trong tô phở Pasteur hôm nào!

-Nhà hết mỡ. Hay để tôi ghé khoai lang vậy?

-Gì cũng xong – Dự vọng lại từ cánh cổng gỗ.

Đôi bò theo thói quen, ra khỏi ngõ rẽ qua truông trái, chậm rãi bước thẳng ra đồng. Cây cày trên vai bị trở vai liên tục, vì hồi nào tới giờ anh có biết cày cuốc là gì. Học chưa hết năm đệ Tam tới tuổi quân dịch, đánh nhau suốt từ năm này sang tháng khác cho đến lúc bị gán cho tội cầm súng đế quốc chống lại nhân dân. Cái tội tày đình đó phải học tập cải tạo như bao nhiêu người khác cùng cảnh ngộ đến gần hai năm. Hai năm theo đúng nghĩa của người tù khổ sai để cuối cùng cầm mảnh giấy rơm vàng ố quay về trình diện địa phương. Như vậy kể cũng may mắn: Đạn bom chưa giết chết Dự. Bệnh tật, đói khát, sơn lam chướng khí… trên rừng núi không vật ngã được anh. Dự vẫn sống nhăn răng để trở về và chịu đựng tiếp những khổ nạn của thân phận thằng ngụy quân cầm súng bắn phá cách mạng, chống lại nhân dân…

Cây cày đè nghiến trên vai. Màn đêm lờ mờ. Cây cày bị xoay trở liên tục. Lúc ngang qua xóm Gòn, lũ chó chạy ra thọc mõm qua bờ rào sủa như muốn xé rách màn đêm. Cả một đàn chó trong xóm cùng gào lên như thể Dự là quân trộm cắp, là bóng ma đang lởn vởn trong làng. Ra tới chòi canh đầu xóm, người du kích quấn chiếc mền thu lu quanh cổ, đang bập bập điếu thuốc chỉ thấy đốm lửa đỏ như que nhang, quẹt đèn pin thành vệt dài một lượt, hỏi:

-Cày sớm anh Hai?

-Cày sớm về nghỉ cho khỏe.

-Ngồi hút điếu thuốc đã.

-Cảm ơn, để tranh thủ cày cho xong còn làm chuyện khác - nói và Dự thúc đôi bò bước nhanh.

Bóng đêm vẫn còn đậm đặc, tiệp với màu cây cối hai bên đường. Tiếng chó sủa thôi rát nhưng tiếng gà gáy thì bắt đầu rộ lên. Cũng tiếng gà ấy, nhưng ngày trước nghe giục giã, còn giờ thì nghe mỏi mòn, eo óc, giống tiếng kẻng lệnh treo giữa xóm, trên cây duối, điều khiển mọi hoạt động của đám người trong làng.

Đôi bò lầm lũi bước. Dự lầm lũi bám theo chúng. Đôi bò, nay trở thành vị cứu tinh của cả nhà. Dự áng chừng cũng gần bốn giờ sáng. Bốn giờ bắt đầu mắc bò vào quải, bắt đầu đánh rõng, cày đến khi mặt trời gát qua khỏi đọt tre cũng gần mười giờ. Mười giờ mở bò, mở trước lúc tiếng kẻng lệnh vang lên chói tai. Thời gian lúc này đối với Dự (và cả dân làng) không còn có thể nhìn vào chiếc kim nhỏ chạy vòng tròn trên mặt số nữa rồi. Tiếng gà gáy và mặt trời đã thay thế vị trí của nó, bởi những chiếc đồng hồ đã bị chiếc kẻng treo lủng lẳng trên cây duối choáng chỗ, được đem bán cho mấy ông cán bộ chi viện, tập kết thèm thuồng. Bán để mua thêm vài mươi cân lúa dự phòng. Có đồng hồ trong nhà mà cái bụng tóp teo phỏng ích gì, ai cũng nghĩ vậy.

Mắc được đôi bò vào quải, Dự đã nghe rõ mồm một tiếng lội bì bõm trong đám ruộng bên. Té ra cha con Hương Bổn còn ra đồng sớm hơn. Dự tằng hắng:

-Bữa nay nữa xong chưa đó?

Tiếng Hương Bổn từ xa:

-Chưa. Còn gần hai sào nữa.

-Tôi ráng bữa nay là gát cày.

- Mửng này đói vẫn hoàn đói, chưa chết là may - tiếng Hương Bổn lầu bầu không ăn nhập gì tới sự quan tâm cày nhanh chậm.

Dự nghe mà không trả lời, cầm chui cày, nhịp roi lên mông đôi bò. Cả ba dựa vào nhau bước tới. Bước tới để hít mùi bùn đất dậy lên gây gây trong buổi sáng tinh mơ. Tiếng chân bò thả bì bõm trong nước. Đôi chân anh cũng thả bì bõm trong màn nước ngậm bóng đêm lạnh ngắt. Thỉnh thoảng những bước chân bước hụt xuống lỗ đất hẹp thấp làm nước ruộng bắt vọt lên mặt, giống như cái tát của ngọn roi mưa. Nhưng cái lạnh ấy khiến anh cảm thấy có chút yên ổn rằng mình đang còn cử động, hơi thở vẫn còn thụt ra vào hai lỗ mũi, tim vẫn còn đập, dẫu biết rằng nó sẽ tắt nghẽn bất kỳ lúc nào.

Lưỡi cày găm vào đất, xới lên thành vồng tỏa ra thứ mùi thơm nồng đặc biệt. Đó là mùi bùn đất lưu cửu tổ tiên để lại cho con cháu bằng cả mồ hôi, nước mắt và máu và xương. Cái mùi ấy đã thấm sâu vào da thịt dân làng này. Họ biết vậy. Biết và hàm ơn nên ông bà lớp trước mới xây một ngôi đình khang trang để thờ người mở đất…

Đó là ngôi đình thờ thành hoàng. Ngôi đình rộng mênh mông từ bao đời, bỗng nhiên, chỉ trong một buổi sáng, nó biến thành nơi hội họp của hợp tác xã theo lệnh của ai đó ở trên. Họ nói thờ cúng là mê tín dị đoan. Với lại đất đai là của nhà nước, của nhân dân chớ không của riêng một kẻ nào, không có ông thành hoàng nào mở đất cả!

Lệnh rớt xuống như lưỡi dao bén chém ngang thân chuối. Cái lệnh ấy khiến đám thanh niên lóc chóc hò la xông vào, gỡ những tấm nghi khậu, liễng đôi ném xuống đất như thể chúng đang đánh nhau với kẻ thù. Đám khác chia nhau ôm cờ phướn, đèn thờ, trống, phèn la… vất vào gian lẫm phía sau chái. Vật tế tự, từ khí đồng thau, nằm vương vãi, lăn lóc như xác địch quân sau trận ác chiến. Máu không chảy thành vũng, nhưng những mạng nhện lòng thòng có vẻ như những mảnh tim gan phèo phổi của tổ tiên rớt ra từ những vật tế tự kia. Phút chốc ngôi đình trống hoác, như ngôi miếu hoang phế. Bức hoành phi với mấy chữ đại tự sơn son thếp vàng, mới đây còn uy nghiêm trên thanh xà gian giữa, giờ nằm chổng chơ trên nền đất lạnh. Chất nhiệt tình cách mạng đã nghiến nát tâm linh. Người chết và kẻ sống đã phân đôi, nhìn nhau qua những thứ vung vãi dưới nền như thể chết thêm lần nữa!

Dự đi ngang qua, tình cờ cong người nhìn vào và chợt thấy, rùng mình như hồi nhỏ từng chứng kiến cảnh tiêu thổ kháng chiến. Anh gạt những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán và những giọt nước mắt chực trào ra, quay lui về phía kiệt tre và đụng mặt ngay cô Lại đang nhởn nhơ bước tới, người bạn chận bò thuở thiếu thời.

Lại cười khẩy, rít lên:

- “Anh tiếc mấy thứ giẻ rách kia hả, cứ vào lấy mang về nhà. Tôi cho đấy!”

Dự liếc mắt nhìn cô, nghĩ thầm: Không ngờ con Lại của mười mấy năm về trước nay thay đổi thiệt nhanh chóng. Cô lạnh lùng, tàn nhẫn… vụt bay ra từ cái nhìn nhọn sắc và hàm răng khít rin, thù hận. Dự suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao cô lại làm như vậy? Một đứa con gái như bao cô gái khác trong làng, cần mẫn với ruộng vườn, bếp núc; cũng cười đùa hể hả với đám bạn mỗi khi có dịp đùm túm với nhau. Vậy nhưng sau cái đêm cô biến mất khỏi làng, “sau một thời gian dài không tung tích, nó đột ngột quay về trong đêm, tập hợp dân làng hô hào nổi lên diệt ác ôn đánh Mỹ cứu nước - Cha Dự chậm rãi cất giọng lào khào kể lại - Nó răng đe mọi người sẽ bị xử trị đích đáng nếu tiếp tay cho địch. Nói xong nó bắn một phát súng thị uy rồi biến mất trong đêm tối một cách đột ngột như lúc đến”. Giờ thì Lại quay về, lãnh đạo cả xã, cả làng phá sạch những thứ mà Lại gọi là tàn dư, là rác rưởi của đế quốc và tay sai để lại. Mấy ngôi miễu thờ cô hồn là nạn nhân đầu tiên; ngôi chùa nhỏ cuối làng cũng không thoát khỏi số phận hẩm hiu… Rồi nay tiếp đến ngôi đình này. Không biết cô còn nghĩ ra những gì khác nữa để tiếp tục đập phá cho hả lòng căm thù?

Những khi cô ra lệnh như vậy, Dự tự hỏi, có giây phút bất chợt nào đó, Lại nhớ về cái đêm trăng non sang tiết lập thu? Đêm mà cô háo hức xô ngã Dự lọt qua bờ rào chiêm chiêm, phóng theo đè lên người Dự. Mảng da thịt âm ấm của cô gái mười bảy phủ chụp lên khắp người thằng nhóc con là Dự đang bước vào tuổi dậy thì, khiến nó run rẩy với những khoái cảm sững sờ. Ánh trăng không đủ sáng, nhưng Dự nhớ như in màu trắng trên thân thể nó cùng món tóc đen trùm kín mặt Dự. Lại sờ soạn, bấu riết, hôn lên mặt mũi, lột truồng nó ra. Mọi thứ diễn ra thật nhanh, giống như lúc Dự bất ngờ bị xô ngã qua hàng rào chiêm chiêm. Dự không còn thấy màu sáng của trăng của da thịt đứa con gái, nhưng Lại đã thành thạo biến một thằng nhóc thành đàn ông khi mới mười ba! Đêm trăng non trong tiết lập thu vĩnh viễn để lại trên người Dự vết sẹo của nỗi hoang mang, sợ hãi cuộn tròn lại như những đợt sóng lớn nhỏ đập mãi vào bờ đá. Những ngày đi lính, gặp phụ nữ Dự sợ còn hơn đang lúc đánh trận. Đêm đầu tiên gần vợ, Dự cong người lại y như lúc ngã qua bờ rào. Nỗi sợ hãi chập chờn trôi nổi bềnh bồng như túm rác trôi trên con kênh đen quánh… Lại, dưới con mắt Dự là hiện thân của những tội lỗi rực rỡ chồng chất thành những vệt lân tinh trong khu rừng ẩm ướt mỗi lúc hành quân, trên chiếc giường tre có cô vợ bé nhỏ nằm bên cạnh và ngay cả khi thả chân xuống mặt ruộng trắng nước. Tiếng bước chân của chính Dự vang lên bì bọp, òn ọt khiến Dự luôn có những cái rùng mình bất ngờ…

Dự vãi mồ hôi giữa buổi tinh mơ lạnh ngắt.

Đôi bò thong thả kéo chiếc lưỡi sắt nhọn lật tung những dề đất phía dưới, còn Dự thì miên man suy nghĩ xa gần trên chuôi cày. Ba sinh linh bé nhỏ giữa đất trời cao rộng này bơi vòng vòng quanh đám ruộng hợp tác xã, giống con vịt bơi trong ao tù.


Cày đâu hơn hai rõng đất thì trời sáng rõ. Lát sau cu Lớn lơn tơn xách giỏ cơm đặt trên bờ ruộng gọi lớn: “Cha ăn cơm con về đi học!”. Dự ngoái lại nhìn thằng con ốm nhách, cao như cây sậy, trong lòng gợn lên nỗi cồn cào không hình dạng. Hồi nhỏ, anh có đâu như vầy. “Ừa, để đó”. Dự la lớn và hình như tiếng la đó rớt cái tõm xuống ruộng nước. Cu Lớn đã lên tới bờ mòn, cắm cúi bước thật nhanh về phía làng.
Dự cày giáp vòng, đến gần phía bờ đặt rổ cơm, anh dừng lại, rút náp cho lưỡi cày găm sâu xuống đất (giống như người ta thắng xe) hô “dọ, dọ…” để đôi bò dừng lại rồi gát roi lên bắp cày, thủng thỉnh bước lên bờ.

-Anh Năm ơi - Dự kêu lớn - nghỉ vào ăn cơm cái đã.

-Ăn đi. Tôi ăn cơm nguội ở nhà rồi.

-Thì nghỉ uống nước cái đã. Xong sớm tôi qua cày giúp anh mấy đường - Dự nói cho có nói chứ trong bụng biết tỏng Hương Bổn chưa có hột cơm nào trong bụng. Mấy tháng nay vợ bệnh, con đau số lúa dự trử cứ vơi dần, lấy đâu cơm sáng cho ông đi cày? Đến viên thuốc cũng không có, thay vào là những viên Xuyên Tâm Liên từ hiệu thuốc nhân dân đắng ngắt trị bá bệnh thì bệnh nào qua khỏi, sao có thể phục hồi sức lực!

Hương Bổn dừng bò, kẹp chiếc roi cày vào nách bước về chỗ Dự đang ngồi.

-Cái đời tôi – Hương Bổn khọt khọt trong cổ họng để đẩy cục đờm vướng víu đâu đó, khạc ra, nhổ phẹt xuống mặt nước ruộng - lúc nào cũng đen đủi, bắt thăm trúng đôi bò cày của con mẹ Chánh ốm nhách, giống như đồ ho lao, thúc mấy cũng không mập lên. Người ta cày cả sào thì nó lê lếch chưa được phân nửa. Mẹ đời, tôi muốn trả lại cho hợp tác quá trời, ngặt nỗi trả lại thì lấy gì mà sống đây. Đã bị phân vào tổ cày bừa rồi. Còn phần ruộng chú thấy đó, nó là cái ao thì đúng hơn, phải bơi để cấy…

Dự nghe giọng nói hùn hụt gần như đứt hơi, cảm thấy chạnh lòng:

-Anh Năm, kệ mẹ đời, anh ăn chút cơm rồi hẵng cày. Chòm xóm với nhau anh khách khí làm gì.

-Tôi đã nói, ăn rồi. Chú biết tánh tôi mà?

Nói dứt câu, Hương Bổn thở phì phì như chính ông kéo cây cày nặng trình trịch thay đôi bò và tiếp tục bơi trong đám ruộng ao của mình.

-Thôi anh, để hôm nào họp tổ, anh em xúm nhau đưa đơn xin đổi đôi khác cho anh.

-Đổi ai? Đâu có đôi nào “rề dẹt” mà đổi. Thiệt ngán. Tôi muốn giao lại, nhưng nhìn đàn con lít nhít thấy không nỡ. Mẹ đời. Cách với chả mạng. Trước tôi đâu đến nỗi khổ vầy. Bao nhiêu ruộng vườn ép vào hết hợp tác, thành của người khác, của nhân dân, mình trắng tay. Mẹ cứt, nhân dân là cặc đách gì không biết nữa!

-Thôi đi anh Năm ơi. Đại nạn là chung cho cả bầy người lúc nhúc, đâu riêng gì anh em mình? Hè, làm chén cơm cho nóng rồi xuống cày tiếp – Dự nói, liền tay xới chén cơm ghé sắn mì, nâng lên đưa cho ông bạn già.

Hương Bổn xua tay:

-Ăn rồi. Cơm nguội từ hôm qua cứng như sạn cũng cố mà nuốt. Chú mày ăn đi, tao uống miếng nước, không thấy đói. Nói và ông giở ấm chén rót ra uống đánh ực một hơi rồi lần vô túi áo rút gói thuốc rê ra vấn. Điếu thuốc to bằng ngón tay cái quấn bằng giấy vở học trò tách đôi ra như người ta lóc phần da và thịt con cá lóc. Hương Bổn kẹp điếu thuốc lấm lem mực viết. Điếu thuốc cứ rung rung giữa hai ngón tay như chính nó đang lên cơn sốt.

Dự chần chừ một lúc mới giở trật tấm lá chuối đậy trên rổ cơm vừa ái ngại nhìn người hàng xóm, cảm thấy như mình là kẻ có tội với cha con Hương Bổn. Dự biết là ông chưa có hột nào trong bụng, nhưng nài ép thêm chút nữa có nghĩa là làm nhục ông ta, bèn dùng tay nhón lấy chút cơm lẫn trong những miếng sắn mì, vón thành cục nhỏ chấm muối é cho vào miệng, nhai nhỏn nhẻm. Dự nhìn chén cơm trên lớp cỏ lấm bùn, phần dành cho Hương Bổn, chạnh lòng. Dự không còn lòng dạ nào ngồi ăn vừa nhìn Hương Bổn khốn khổ, râu tua tủa, ốm nhách. Mà, Dự cũng không hơn gì ông hàng xóm, có điều đỡ gánh nặng gia đình, chỉ phải nuôi đứa con duy nhất. Vợ Dự còn khỏe, vào tổ đan đát, mỗi ngày kiếm cũng vài trăm gam lúa. Cả hai chắt mót, tùng tiệm cũng đủ xoay xở. Chỉ tội Hương Bổn. Con đông quá, cả hai vợ chồng vật lộn với ruộng đồng cũng không đủ miếng ăn.

Dự đậy tấm lá chuối lại, hỏi xin điếu thuốc. Hương Bổn ngó sững Dự:

-Sao không ăn. Chú tội nghiệp tôi hả?

-Dạ không, anh Năm. Tự dưng hết muốn nuốt. Làm ăn kiểu này đến lụn bại mất. Anh nhớ mùa rồi, tụi thằng Cạnh thằng Sang giấu lúa hột kéo về nhà? Chúng nó là đội trưởng, đội phó đấy. Lại nghe nói tay chủ nhiệm và tay thủ kho tuồn mấy tấn ra chợ đen. Bị bể ổ, nhưng chúng tự biết dán miệng nhau thành ra êm xuôi. Chẳng ai làm gì chúng, cũng chẳng có thằng xã viên nào dám hó hé. Đấy, mẫu hình hợp tác xã nông nghiệp đấy!

-Ậy, mình mà xỏ miệng vô thì trước sau cũng bị gán phản động.

-Tôi vẫn ức vụ ngôi đình.

-Ức thì chú làm được gì?

-Đúng là không làm được gì. Nhưng cái mặt con Lại đấy, từ đất nẻ chui lên chắc?

-Tôi biết nó thù chú mà? Mấy lần chú giải thích nhưng nó đâu có nghe, phải không?

Nghe mấy tiếng “nó thù chú”, tự dưng người Dự nóng ran lên vì xấu hổ, ngỡ như trong đêm trăng non lờ mờ kia, Hương Bổn đứng ngay sau lưng và đã nhìn thấy, đã hiểu tất cả. Ngập ngừng lúc lâu, Dự mới lên tiếng:

-Giải thích gì anh ơi. Tôi chỉ nói là nếu cần hung thì dọn dẹp đồ thờ tự sang một góc để làm tạm hội trường, chớ có đập phá, tội. Kẻ hậu sinh cũng phải nhớ công lao người đi trước. Tôi nói chỉ có vậy mà cổ kêu tôi là kẻ phá hoại. Anh coi có oan tôi không?

Hương Bổn kéo một hơi thuốc thật dài, phà khói bay thành mảng trắng mờ mặt nước:

-Chuyện dâu biển, nay dời mai đổi, biết đâu mà lường, chú ơi.

Hai người chuyện vãn một lát rồi đứng lên, trở lại cầm chuôi cày.

Những dề đất lật qua một bên láng tưng như thoa một lớp mỡ. Những con sáo nâu, cò xám sà tới tranh nhau những con trùn nước, cắn mổ la chí chóe. Chúng đậu thật gần, chỉ cần hươ củ roi là đụng ngay, có một bữa “cải thiện” cho cả nhà; nhưng Dự không làm vậy. Nó cũng đang tìm miếng ăn như bọn anh mà. Chúng chẳng đụng chạm, cắn mổ, phá phách mình thì mắc mớ chi đập chúng? Không hẳn anh từ tâm, tu hành gì ráo, chỉ có điều, cái sự kiếm ăn của chúng sao giống như bọn người như anh và Hương Bổn lúc này, nên không nỡ xuống tay! Suy nghĩ miên man một lúc khiến anh mệt nhoài và không để ý gì đến lũ cò sáo, cắm cúi cầm chắc chuôi cày, cốt cho thật nhanh để ngày mai theo bọn thằng Xanh lên núi hái ít gánh củi về dự trử cho mùa mưa bão sắp tới. Cày bừa xong giao đất cho tổ gieo sạ coi như yên một bề, tìm thêm chuyện mà làm, đâu có thể nằm chờ mấy công điểm mọn?

Nắng lên cao, thu ngắn bóng người cày và đôi bò về một phía. Còn một rõng nhỏ nữa là xong, có thể qua bên Hương Bổn cày giúp ông ta vài đường, nhưng tiếng ví thá bên kia ruộng sao nghe cứ nhỏ dần, bước chân và đường cày như một dòng nước yếu bị cản lại không thành tiếng lõm bõm như lúc trước. Dự ngó qua. Đôi bò chệnh choạng dựa vào bắp cày bước thật chậm. Hình như cả Hương Bổn không phải bước chậm nữa mà đu bám lên chui cày trượt theo.

Dự La lên:

-Anh Năm mệt lên bờ ngồi nghỉ. Tôi cũng sắp xong. Để đó tôi qua cày giúp cho.

Tiếng Dự bay đâu đó trên không, không thấu tai Hương Bổn. Hình như ông ta đuối hung rồi. Dự “dọ” bò dừng lại, bước dài như chạy về phía đám ruộng Hương Bổn đang cày, nhưng chưa tới bờ đã thấy ông khụy xuống, tay vẫn nắm chặt chuôi cày làm cho nó nghiêng hẳn về một bên.

Dự hớt hải la lên:

-Anh Năm, anh Năm… làm sao vậy? Có bị sao không?

Lúc Dự tới nơi thì Hương Bổn ngồi khụy xuống ruộng nước, mặt tái xanh. Dự luồn hai tay qua nách đỡ ông đứng lên:

-Anh có sao không?

Hương Bổn không mở được miệng chỉ lắc lắc đầu, nhưng cái lắc rất yếu. Dự hiểu tất cả. Ông bị lũi đói. Từng ấy miếng cơm độn ít ỏi từ chiều qua thì còn sức đâu để cày với bừa? Dự khom người thấp xuống quàng tay Hương Bổn lên vai rồi du dần vào bờ, đặt nằm trên lớp cỏ lởm chởm. Dự lấy chiếc nón ngựa kê đầu, rót nước ra chén và vạch miệng đổ từng hớp nhỏ:

-Ít thôi nghe anh Năm, từ từ. Mà anh cũng thiệt lạ. Chòm xóm với nhau, ăn chút cơm ghé có gì là ghê gớm? Tôi biết bụng anh trống nhưng không dám nài ép sợ anh giận. Thôi, cứ nằm nghỉ cho khỏe rồi mở bò. Tôi cũng mở. Mai tôi ra quanh mấy đường xong ngay. Chớ lo, anh Năm.

Nhưng Dự nói cho chính tai mình nghe vì đôi mắt hương Bổn đã nhắm nghiền, bên khóe ứa ra chút nước sền sệt. Ông không còn nghe và thấy gì nữa. Dự hoảng hốt thọc tay vào ngực người bạn cày hàng xóm, lạnh ngắt. Dự bàng hoàng, khóc ồ lên như nỗi uất ức lúc bị đẩy qua bờ rào chiêm chiêm, đè nén lại thành cục u nhỏ đầy gai nhọn, bấy lâu nay có dịp vỡ bung ra.
Hai đôi bò vẫn đứng yên tại chỗ. Bóng nắng thu tròn, nhỏ lại quanh hai người.

Đồng nước trắng xoá, những người cày đồng thấp thoáng phía xa và lũ chim cò vẫn tranh nhau cắn mổ chí choé. Buổi sáng như đứng lại. Nó đứng lại bởi chưa có tiếng kẻng lệnh hợp tác xã. Nhìn từ xa, có vẻ như hai người đang to nhỏ chuyện miếng ăn.

(Tháng 9/2010)
Đăng nhập để trả lời
0
CÒN CỌNG RAU DỀN


NGUYỄN LỆ UYÊN



Tiếng chó sủa cọc cạch. Một bóng người cao lớn đứng ngoài cổng rào. Con Vện chồm lên, hai chân bấu vào chắn song sắt. Vạt nắng buổi sáng hắt bóng đổ ngược thân hình nó xuống lối đi trơ trụi. Tầm bỏ chiếc rựa và khúc tre vừa chẻ nhỏ ngó ra phía cổng. Ngó và đứng lên, lững thững bước ra ngõ. Tiếng con Vện không còn cọc cạch như trước, vang lên tràng dài như tiếng chó sủa trong những đêm tối trời, thời chiến tranh. Người đàn ông thấp thoáng bên kia hàng rào chè xanh nghiêng đầu chào, miệng mở nụ cười. Nụ cười giống mấy chiếc bông vạn thọ vàng rực hai bên lối đi. Tầm mở cổng. Người đàn ông thả chiếc xách xuống đất, choàng tay ôm chặt vai Tầm kêu “anh Hai, anh Hai”. Tầm chưa kịp nhìn thì khuôn mặt hai người đã nghếch về hai phía, kẹp giữa hai chiếc cổ, nhồn nhột những sợi râu dài ngắn. Cảm giác nhột nhạt tòe ra như những vòi xúc tu, nhưng trí nhớ vẫn cứ lấp lú, chưa thể nhận ra là ai. Mười gây… ba mươi giây sau, hai chiếc cổ rời ra, những cọng râu rời ra, bốn cặp mắt nhìn nhau. Bàn tay Tầm đến lúc này mới cử động theo bản năng, vỗ mạnh lên vai người đàn ông tới tấp, giống như lúc cầm dùi đục bổ liên tục lên sống rựa, chẻ những khúc tre.

-Mẹ cha ơi, bao nhiêu năm biệt tích, nay mới thấy mặt chú - Tầm dừng lại, xô người đàn ông ra xa một chút rồi kéo sát vào, ôm cứng. Những cọng râu lại đâm vào nhau, nhồn nhột nỗi nhớ xa gần. Phải đến phút sau Tầm mới buông tay, dắt người đàn ông theo mình vào nhà. Hai người bước chậm. Ngực Tầm đập thình thịch vì bất ngờ. Khóe mắt người đàn ông thì hơi ươn ướt. Cả hai bồi hồi, xúc động.

Người đàn ông Tầm gọi “chú”, chính là Đắc mồ côi cha mẹ, sống với ông từ Sẵn giữ đình làng. Chẳng bà con thân thích, nhưng Tầm coi như em ruột. Thưở nhỏ Đắc ham để lờ, cắm câu, ham ca cải lương và thỉnh thoảng hái trộm xoài nhà ba Thỉnh chia cho lũ gái làng. Sự học của Đắc cũng ì ạch như đẩy chiếc xe cóc đầy cát lên dốc… dẫu Tầm luôn kèm cặp, chỉ bảo. Lớn lên chút nữa, Đắc bỏ học chạy xe ngựa rồi đánh cộ bò kéo lúa cho hợp tác, chở củi cho lò gạch thủ công… rồi tự dưng biến mất hồi những năm 80, vượt biển đến xứ nào đó cả làng không hề hay biết. Nay thì Đắc trở về, bộ dạng có vẻ tử tế hơn. Tầm hỏi:

-Sao mãi tới giờ này chú mới về, chú đi những đâu?

-Dài dòng và cơ cực lắm anh Hai.

-Sao, chú nói sao. Sao lại cơ cực. Cơ cực mà người ta xúm nhau bỏ đi cả đống?

-Vậy mới gọi là dài dòng.

Tầm bước chậm, gần như đứng nguyên tại chỗ, nghiêng người ngó thẳng vào mặt người đàn ông:

-Khổ à?

-Dạ… khổ nhiều…

Giọng nói thốt ra ngập ngừng, mang theo màu trắng lạnh của tuyết rơi, của những dòng sông đóng băng, của bầy chim di trú kêu khàn khàn trên trời cao. Con Vện chạy lơn tơn bên cạnh, thỉnh thoảng rên lên ủng ẳng, quấn quanh chân hai người. Tầm ngó lại khuôn mặt đứa em nuôi. Không thấy dấu hiệu “khổ cực”. Khuôn mặt đầy đặn, mập hơn chút và nước da trắng hơn chút, khác với hồi còn ở nhà, ốm nhách, đen thui. Vậy sao nó lại kêu khổ?

Tầm đưa khách vào nhà. Hai người ngồi đối diện nhau ở chiếc bàn gỗ mộc nơi hàng hiên. Đúng lúc đó, vợ Tầm xách chiếc rổ không bước lên, thấy khách, kêu toáng:

-Hở, ai đây… Chu…ú Đa…ắ…ắc… Trời đất. Tôi nhận ra ngay mà. Vậy là chú vẫn sống, không bị cá nuốt! Phước đức. Coi kìa, chú mập và trắng ra, chẳng bù hồi còn ở nhà - Mụ kêu lên thản thốt, hai tay giơ lên cao, chiếc rổ tre cũng được giơ cao cùng vẫy chào người lạ.

Vợ Tầm vốn dĩ là con mụ đàn bà lắm lời. Đắc chưa kịp nói gì, mụ ta lên giọng ca cẩm cùng lúc chiếc rổ hạ xuống còn tay phải thì đưa lên ngang miệng:

-Chú về mấy bữa rồi? Chừng nào đi? Thím đâu không thấy? Chưa vợ con gì sao? Mà nè chú có uống nước trà quê được không? Trà ngon của bạn ổng ngoài Bắc gửi biếu. Chú có uống hay không thì nói, đừng kiểu như lão năm Hanh về mấy năm trước, nghĩ tình anh em làng xóm, tôi lui cui nấu nước, rửa ấm chén, pha trà mời. Nhưng chả tỉnh queo lôi trong túi quần chai nước lọc, ngửa cổ uống, giống mấy thằng GI (*) năm xửa năm xưa, đi ngoài phố vừa uống vừa ăn nhồm nhoàm. Gớm, thấy bắt nổi xung thiên. Tôi mà không nể tình làng xóm đã hất đổ mấy tách trà ra sân rồi. Xin lỗi chú nghen, đừng có như cha Hanh nghe. Dẫu gì cũng tình chị em, uống miếng nước lấy thảo. Nè, hay chú ở đây ăn Tết với vợ chồng tôi? Kệ, khổ chút, chõng tre, quạt mo nhưng tình nghĩa đấy chú. Lâu quá mới gặp lại. Tưởng cá nuốt mất xác rồi.

Tầm lừ vợ. Cái tật nói dai như đỉa đói vẫn không bỏ. May, Đắc là em kết nghĩa. Chính Đắc làm chim xanh để hai người thành vợ chồng. Vợ Tầm đẹp, tháo vát, chịu khó; chỉ tội cái lắm lời từ bụng mẹ, không sửa được. Với lại tội ấy chẳng gây chết người nên Tầm bỏ qua.

-Nè - Vợ Tầm lại tiếp tục - Chú phải ở lại với vợ chồng tôi, không đi đâu cả. Mà chú đi đâu bây giờ? Chú tư Sẵn giữ đình chết queo từ khuya. Ở với anh chị là phải phép.

-Cái bà này, thì cũng để chú nó nói gì với chứ. Giành giật nhau ăn uống chứ ai lại đi giành nói năng?

Vợ Tầm im, đặt chiếc rổ tre lên bậu cửa sổ rồi chạy xuống bếp. Tầm nghiêng đầu qua phía Đắc.

-Chú đừng để ý, xưa giờ vẫn vậy. Vả lại, đó là của nợ chú mang đến cho tôi.

-Em hiểu mà. Chị tốt bụng lắm.

-Sao, chú kể lại chuyện đi đứng nghe coi?

-Em đâu chủ ý đi. Mà tiền bạc đâu để đi. Chẳng qua bữa đó em đi thổi cuốc, nhử đa đa ngoài bãi dương. Đâu ngờ tới đúng điểm họ tập kết. Sợ lộ, họ lôi em lên thuyền đi luôn. Lênh đênh nửa tháng trời. Không có chiếc tàu buôn vớt lên thì chết chắc.

-Giữ được mạng sống là quí lắm rồi. Bên đó chú làm ăn ra sao?

-Làm ăn gì anh. Chữ nghĩa không có, nghề ngỗng cũng không. Đâu có ai thuê mình đánh cộ bò, chạy xe ngựa? Chẳng ai ỉa bậy ngoài đường để hốt, cũng không có chỗ để mình để lờ, cắm câu, trồng bụi ớt, giàn mướp…? Đói meo. Sống nhờ tiền trợ cấp, rồi đi cắt cỏ, dọn vườn. Đủ sống qua ngày.

-Cực hẻ?

-Quá ư là cực. Nhưng mà, cực khổ bao nhiêu mình cũng chịu được, còn cái nhớ nhà nhớ quê thì không chịu nổi. Nó nhức nhối như cói dòi trong xương, cắn rứt không chịu nổi. Ai đời tết nhứt mà không có lấy đòn bánh tét, thẩu tai heo củ kiệu. Đêm đón giao thừa, trời lạnh buốt xương, tuyết rơi trắng đường, in như khu đất trước nhà đang bịt khăn tang cho ai đó. Bọn cù bơ cù bất tụi em xúm lại uống rượu khan đến say. Không phải say rượu đâu anh, mà say cho cái màu trắng lạnh lẽo kia. Say vì thiếu quê hương, không ngửi được mùi nhang khói, chẳng đốt được tấm áo cho Táo Công, tổ tiên thì xa lắc… Say và khóc, đứa nào cũng khóc như khóc cha chết. Thảm. Còn tụi bản xứ, nó nhìn mình tựa kẻ cắp, đâu đủ chữ nghĩa để nói với nó, không thằng nào hiểu thằng nào; đường mạnh ai nấy đi!

Tầm im lặng ngồi nghe. Giọng nói trầm đục, đều đều của Đắc in chang dề lục bình trội lập lờ trên sông, vẫn giữ nguyên vẻ chơn chất thuở nào. Bất chợt Tầm thở đánh sượt khi liên tưởng đến năm Hanh. Nghe đâu hắn cũng dân “thầu khoán” (**) bên đó, nhưng về xứ, mặt vênh lên, coi làng xóm bà con như lũ người bán khai; nói một câu cố tình chêm vài tiếng tây u làm ra vẻ. Đúng là…

Vợ Tầm bước lên, hai tay bưng khay ấm chén, vừa đi vừa suýt soa:

-Trà ngon, khách quí - Nói và đặt khay chén xuống bàn, rót nước mời - Chú uống chén trà cho ấm bụng. Bao nhiêu năm… Mà vợ con gì chưa?

Đắc đỡ chén nước trên tay vợ Tầm:

-Cảm ơn chị…Vợ con gì! Lấy ai, mà ai lấy mình? Nuôi thân chưa đủ lấy đâu nuôi vợ nuôi con. Sống kiểu trơ trụi cũng tốt. Bí quá thì… - Biết lỡ lời, Đắc ngồi im, mặt đỏ lựng. Vợ Tầm tủm tỉm:

-Biết quá mà. Mười ông thì có đến mười một ông... Trả thù dân tộc? Coi chừng… - Vợ Tầm cũng đột ngột im bặt.

Tầm lên tiếng:

-Chuyện đàn ông. Để tôi với chú nó tâm sự. Bà ra chợ coi cái gì ngon ngon mua về đãi chú gọi là mừng ngày sum họp.

Lúc vợ Tầm bước ra khỏi cổng, Đắc đặt chén nước xuống bàn:

-Nói tuồng xấu hổ, nhiều bữa nằm nhà, nghĩ ngợi sao lại nhớ chén mắm cá linh, mùi mắm lóc thái. Nhớ đến chảy nước miếng. Có tiền cũng không kiếm đâu ra ở miệt đông-bắc này, toàn dân bản xứ. Người mình chỉ lèo tèo mười mấy tên tụi em, nhưng hiếm khi gặp nhau. Có gặp cũng chỉ đủ thì giờ gật được cái đầu, chào nhau rồi mạnh ai nấy chạy, hối hả như chạy giặc như đi ăn cướp vậy, thảm.

Tầm đưa chén nước trà lên miệng, nhấp chút xíu như rửa môi, lên giọng:

-Ở các nước công nghiệp, văn minh thì phải hối hả chạy, đâu lơn tơn, tà tà… như ở mình - Tầm làm ra vẻ hiểu biết.

-Thôi anh, nó nhìn người da màu mình không bằng nửa con mắt đâu, nó quay đi… Kể anh nghe chuyện này. Cách đây hai năm, trong ngày lễ lên trời xuống đất gì đó của tụi nó, bọn em làm overtime…

Tầm giơ tay lên:

-Đó, mới nói lão Hanh, giờ lại đến lượt chú. Thai thiếc cái con mụ đặc. Nói đại làm phụ trội, làm thêm giờ, tăng giờ. Tiếng nước mình cũng đủ để diễn đạt mà? -Tự dưng Tầm nổi nóng.

-Xin lỗi anh, là tụi em cũng phải cố nhét vào đầu mấy cái từ ôn dịch đó để giao tiếp, làm ăn. Chính ba cái tào lao đó mà tây chẳng ra tây, ta cũng không phải ta, thành thứ cứt mốc gì không biết nữa.

-Ờ, Ờ… Thôi chú quay lại chuyện hồi nãy đi.

-Bọn em làm thêm giờ, tiền công tăng gấp ba. Bọn họ có lễ thì tụi này cũng lễ. Thứ bảy xúm nhau tổ chức lễ Nhậu. Sáu thằng nốc 2 chai Gin to bằng bắp vế và hai con gà quay Texas. Mới bắt đầu hơi ngà ngà, thằng Qưỡn Sóc Trăng lôi đâu ra bài thơ, kêu của ông thi sĩ Xuyên Sơn nào đó, gào lên nửa giọng cải lương, nửa hát xẩm, hò Quảng… nghe mà ruột gan cứ thắt lại. Thảm.

-Nghe ghê. Chú làm như bài thơ có sức đốt cháy nhà, như đạn pháo bắn vào chỗ đám đông - Tầm nghi ngờ.

-Thiệt mà. Để em đọc lại anh nghe.

Vẫn cái giọng trầm đục như dề lục bình trôi, Đắc cất giọng đều đều:

- Anh có ở lại đây một trăm năm,
Ăn gà tây, uống coca, cũng không thành Mỹ trắng.
Anh có ở lại đây một ngàn năm,
Cắt cỏ dang nắng, cũng không thành Mỹ đen.
Tiếng Anh tiếng U nay chắc anh nói cũng đã quen,
Nhưng đến bao giờ mới phai mùi nước mắm.
Anh có muốn ở lại suốt đời ?
Để mỗi lần đi cày về anh tắm,
Chỉ tắm dưới vòi sen ?
Những người đồng hương anh vừa quen hôm qua,
Ngày mai có thể trở thành kẻ lạ.
Những người thường làm mặt lạ,
Lại có thể bá cổ hôn anh,
Nếu anh lên nhanh, nếu anh trúng số.
Ôi cái xứ sở xô bồ,
Lắm người qua hơn hai mươi năm
Vẫn còn bị hố.
Hàng xóm, láng giềng, nhà nhà lố nhố,
Nhưng chẳng ai thèm biết tên ai.
Xe của ai nấy đi,
Nhà của ai nấy đóng kín mít..
Tết tây tết ta, lễ tạ ơn tạ nghĩa,
Chẳng hề qua lại hỏi thăm nhau.
Thỉnh thoảng gặp nhau trên đường đi,
Cũng đặt bày làm người lịch sự,
Mấp máy nói hai nói ba, chào nhau,
Như chào cái cột cờ di động.
Đường phố, phi trường, núi rừng , ruộng đồng quá rộng,
Mà lòng con người đa phần tôi gặp,
Lại nhỏ bé đến li ti,
Nhỏ bé đến dị kỳ,
Nhỏ bé còn hơn những gì nhỏ nhất !
Thế mà từ quê nhà còn lắm người ao ước ra đi ,
Thế mà từ quê người vẫn chưa có mấy ai thích trở về ...vĩnh viễn !
Vì sao ? Vì sao ?


Đấy, tụi em đứa nào cũng thuộc lòng. Nhiều đứa say bí tỉ, nhớ cha mẹ nhớ nhà cứ lảm nhảm “vì sao? vì sao?”. Hễ cuối tuần gặp nhau, làm ly rượu thì lôi ra đọc y như người ta đọc kinh cầu nguyện. Nát lòng.

-Ờ, ờ… thảm thiệt - Tầm nói nhỏ - Hè, đã vậy chú ở quách lại cho xong. Vườn nhà còn rộng, vợ chồng tôi cho chú một khoảnh, chú cất một căn nhỏ, kiếm cô vợ…

-Năm mươi rồi, vợ con chi nữa?

-Thì cũng phải có đôi có cặp, hôm sớm tắt lửa tối đèn chứ? Cái cô Sương đó, hồi xưa tôi thấy chú cũng để ý, qua lại. Cổ góa chồng mười năm nay. Hai người ráp nhau chung sống.

-Sương nào anh?

-Sương con bốn Thơi đó.

Nghe nói “Sương con bốn Thơi” Đắc giật thót người, cắm mặt nhìn xuống mặt bàn gỗ mốc cời, gõ gõ ngón tay lên miệng chén nước, không thành tiếng. Mấy mươi năm về trước, nếu không có sự cố thì hai người cũng có thể thành vợ thành chồng, chưa chắc anh trôi lềnh bềnh như dề lục bình trên sông. Nay thì khó hơn nhiều, không như hồi xưa nữa rồi. Đắc ngồi im suy nghĩ mông lung, cố ráp lại những mảnh vỡ bữa đêm trăng non mấy mươi năm trước. Nhưng cái hình ảnh kia nó thẹo thĩnh mất rồi. Nó thẹo từ cái đêm đó: Đêm hai người hẹn hò ngoài ruộng mía hợp tác. Ma lực tình yêu kéo dính hai người trên gò đất đầy rác mía, miên man với những câu nói chắc chắn khi về đến nhà sẽ không ai còn nhớ nổi. Đắc chỉ còn nhớ mỗi một hình ảnh lúc hai người ngã trên đống rác mía, bản năng đực cái nổi dày cộm trong người anh và trực giác phụ nữ trong Sương cũng nổi lên. Một cái tát như chiếc chày vồ đập đất cục. Đắc xấu hổ đến vô cùng. Cái bản năng quỉ quái kia biến thành lớp bọt khí bay đi mất. Chỉ có Đắc biết, Sương biết… Bóng tối thì bịt kín câu chuyện cũ, nhưng trí nhớ thì vỡ sáng, như thể Đắc vừa phạm tội khi nãy, mới toanh!

Tầm không để ý những thay đổi trên khuôn mặt Đắc, vẫn hăng hái:

-Sống không nổi bên đó thì cứ về, tôi lo. Cô Sương một mình, con gái lấy chồng xa. Tốt, tốt đấy - Nói và Tầm đứng lên, lôi Đắc đứng lên. Cả hai cùng bước ra khu vườn rộng.

Tầm chỉ tay:

-Chỗ góc kia quay ra đường, chú chọn và xây cái tổ cho hai người.

Đắc ngó về phía “chỗ góc kia” theo ngón tay trỏ của Tầm, đầu óc cứ dập dềnh những hình ảnh cũ trên gò đất.

-Bằng lòng nhé? Vậy là vợ chồng tôi vui, chú cũng vui, đỡ kêu khổ.

Đắc nói không ăn nhập và đâu:

-Anh bỏ trống nhiều quá.

-Sao? Hả, à già cả rồi, chỉ hai vợ chồng già, sức đâu nữa!

Đắc nhìn quanh quất, bỗng kêu to:

-Trời, nhiều quá!

-Cái gì? Nhiều cái gì? - Tầm ngạc nhiên vì tiếng kêu của Đắc.

-Tuyệt. Em cũng chẳng biết đi đâu. Tết em ở với anh chị rồi tính. Vườn rau dền xanh um. Để em, anh Hai… nhổ rau dền ăn Tết. Tuyệt. Mấy chục năm mới nhìn thấy nó. Luộc, trộn với muối ớt xiêm… Hơn cả bơ, cả xúc xích, thịt băm… Hơ… Hơ… Ăn gà tây, uống coca, cũng không thành Mỹ trắng.

Đắc đứng ngây, lẩm bẩm như kẻ mộng du.


(*) GI: tiếng lóng chỉ lính Mỹ ở VN
(**)Thầu khoán: chỉ cho những người đi cắt cỏ, dọn vườn hay công viên…


(tháng 12/2010)
Đăng nhập để trả lời
0
MIỀN KHÔNG DẤU CHÂN NGƯỜI


NGUYỄN LỆ UYÊN


Le champ couvert de morts sur qui tombait la nuit.
Il lui sembla dans l'ombre entendre un faible bruit.

(Victor Hugo, Après la bataille)



Chuyến xe cuối ngày xuống khách ở ngả ba đường dẫn vào thị trấn. Lẫn trong đám người nhớn nhác là người đàn ông gày gò, vai lệch, hai hốc mắt trũng sâu, ngơ ngác đưa mắt đảo một vòng rồi khoát chiếc túi xách lên vai, lầm lũi bước trên con đường đất đỏ dưới cơn mưa lất phất.
Đứng trên đầu dốc, người đàn ông nhìn sững màn khói lạnh đùn lên thành dãi trắng đục lềnh quấn quanh chóp núi cao, những ngọn đồi lô nhô dưới xa kia và sự di động chậm chạp của những bóng người li ti bên những đường ranh đất đỏ giữa các vườn cà phê. Trong thị trấn, các hàng quán bắt đầu kéo hẹp cửa, sáng ánh đèn từ bên trong và mái hiên dội xuống, lẫn trong bóng chiều ngập sương.
Phía bên kia đường, người phụ nữ đi ngược chiều, mang chiếc gùi có mấy cọng bạc hà xanh mướt nhô lên. Cả thân hình chị chúc xuống như sắp ngã chúi về phía trước, trên con dốc nhoè đỏ giữa màu sáng lửng nhập nhoạng cuối ngày.
Người đàn ông dõi mắt nhìn một lúc, rồi tiếp tục bước dưới bụi mưa bay bay. Bóng tối xuống mỗi lúc một đậm hơn.
Người đàn ông bước ngập ngừng qua mấy dãy phố nhỏ rồi ngóng về phía ngọn núi trước mặt bắt đầu nhoè sẫm. Ông không nhớ mình đã bám xe đò lên miền đất này bao nhiêu lần để nhìn nó, rờ chạm vào nó như đang trở về với người thân, như tìm kiếm vật báu đã rớt lại chốn này. Ông đã bao lần háo hức bước ngược lên dốc núi dựng đứng, rồi thả rơi về chốn cũ với vẻ mặt đầy thất vọng đau khổ.

Lần này, ông cũng bắt đầu bằng nỗi háo hức mới nguyên khi cắm đũa vào tô mì đang bốc khói nghi ngút, trong ngôi quán dựng bằng những tấm cót mò o. Những sợi mì vàng quấn quanh đôi đũa không ấm lên bóng núi nhoè vào bóng đêm. Một chút khí lạnh trườn tới quanh tô mì tưởng có thể thò tay nắm lên được.
Đang lúc ăn, khách không nhận biết người chủ quán bước ra, đứng sau lưng. Ông ta cao to. Râu quai nón và râu mép xồm xoàm làm cho khuôn mặt càng thêm u tối. Chủ quán quan sát khách một lúc rồi bước tới, ngồi xuống phía đối diện, bộ dạng dò xét, vừa lôi từ túi áo gói thuốc, bật quẹt rít một hơi thật dài, phun khói mù mịt. Đợi khách ăn hết tô mì, ông hỏi: "Ông đi đâu giờ này còn ngồi đây?". "Lên đỉnh núi 635, ngọn núi Tử Thần". "635 là núi nào?". "Ngọn núi cao nhất ở trước mặt kìa". Người đàn ông bật cười ha hả, những cọng râu cũng bật rung theo: "Núi Chư Đ'rắk. Đó là Chư Đ'rắk. Mà ông lên đó làm gì?". "Tìm một người". Chủ quán ngạc nhiên vừa liếc nhìn vào chiếc tô trống trơn trên mặt bàn gỗ. Ông ta lắc đầu, rít mạnh hơi thuốc rồi quăng tàn vào vách. Mẫu thuốc thừa bị chạm mạnh lên vách ván văng ra những đốm đỏ li ti và tắt ngấm mau chóng. " Lên núi tìm người. Lạ thật. Có ai trên đó để tìm? Nhưng trời tối rồi, sao đi kịp? Ở xứ này không có quán trọ. Mà cũng thiệt lạ, ngọn núi kia cất giấu những thứ của quí gì nhỉ? Tôi nghe nói có một người đàn ông cứ thỉnh thoảng lại lên thị trấn nhỏ này rồi mò vào núi tìm kiếm cái gì đó. Chợt đến chợt đi như con sói mẹ đi tìm đứa con đã bị đánh cắp". Khách dừng đũa ngó vào mặt chủ quán định nói gì đó nhưng rồi lại tiếp tục cúi xuống tô mì chỉ còn chút nước lợn cợn dưới đáy. "Anh không biết đấy thôi - chủ quán đổi cách xưng hô- Ngày xưa, trên ngọn núi này là nỗi kinh hoàng của quân hai bên. Tất cả đều bị san bằng, không một ai sống sót, thành một nấm mồ tập thể. Kinh khủng. Chiến tranh thật kinh khủng". Nói và chủ quán thẫn thờ nhìn những vạt sáng tối nhảy nhót ngoài hiên, thò tay vào túi áo định rút điếu thuốc khác châm lửa, nhưng nghĩ sao rụt tay lại, nhìn vào mặt ông khách. "Anh có ai quen ở thị trấn này không?". "Không". Ngẫm nghĩ một hồi: "Nhà chỉ mỗi một chiếc giường. Hay tôi lấy tấm bạt anh nằm tạm trên nền vậy. Tôi vào rừng khuya mới về".
Trong khi nói, bộ râu trên mép và chòm râu dưới cằm luôn khua động, có vẻ như lời nhắc chừng người khách lạ, cho đến khi đôi môi khép lại thì hình như sự bình yên như mái hiên nhà được kéo dài thêm ra một chút cho khách.

Cái lạnh và mệt mỏi đường xa khiến người đàn ông cong rút trong tấm bạt quấn kín lại như con sâu kèn. Mưa gõ lào xào trên mái tôn. Tiếng gió chạm, tiếng chim đêm kêu thảng thốt ngoài cánh rừng, nghe thật gần; có cả những tiếng lộc cộc đều đều như có người cầm búa gỗ gõ lên thân cây mục. Những âm thanh và gió ngái lạnh kéo sụp hai mắt người khách lạ bằng tiếng thở nặng, gãy khúc.
Giấc ngủ chập chờn đu đưa qua lại trên mẫu xương cá nhọn vây quanh ngọn đồi. Những tiếng lộc cộc vỡ toác ra, rít lên the thé, vỡ toang tiếng nổ bên giao thông hào. Đất đá khạc ra màu đỏ của lửa rực và máu, còn bên trên, tít trên cao kia là chiếc chổi của mụ phù thuỷ xịt từng cột khói đen ngùn ngụt, lúc cao lúc thấp cùng với những tiếng nổ đến trời long đất lở.

Cả đại đội của anh chẳng khác gì bầy gà con bị ném vào vũng cỏ rối. Bên dưới kia, trong các khe lũng, dòng suối, đối phương trùng trùng lớp lớp ào lên như thể những đợt sóng thần dựng đứng và bổ ầm xuống. Hết đêm lại ngày. Từ ngày này qua ngày khác. Cái chảo lửa khổng lồ ấy hừng hực thiêu đốt cả trăm sinh mạng, đẩy ngược từ phía lưng núi gãy lên tới đỉnh bằng kèm theo những tiếng nổ xé nát núi rừng. Cả đại đội chỉ còn mươi người không lành lặn, co cụm về phía các hốc đá như những mộ huyệt định mệnh, không còn đủ sức chống đỡ đối phương băng lên. Trên cao kia là những chiếc chổi lem luốc và những con mụ phù thuỷ lem luốc dữ dằn không ngớt khạc nhổ những bãi nước bọt trắng xanh, tanh lợm xuống đỉnh đồi.
Cứ điểm 635 trở thành vũng bùn nhão nhoét. Thân thể anh bị hất tung ra khỏi hốc đá. Khẩu súng trên tay hình như biến thành con cá núi lặn tít xuống vực suối sâu. Sau đó, thân thể mọc ra đôi cánh, từ từ bay lên chóp trời mây trắng và tan loãng thành những hột nước mưa ngập ngừng rơi không đến mặt đất.
Anh nghe miệng mình khô khốc và đắng nghét. Toàn thân như thỏi sắt nung. Chung quanh yên tĩnh đến rợn người. Ngày hay đêm sau đôi mắt khép cứng? Hình như có ai đó bỡn cợt dùng cây lẹm khâu kín hai mí mắt bằng sợi thép gai? Và anh đang ở đâu?
Mắt không mở. Cả người cứ lạo rạo như những hạt sỏi nhỏ, dần súc trong chai. Đôi chân thành hai tảng đá. Hình như cả tay cũng hoá đá? Đầu cứ lụp bụp lói nhói những hột bắp bị ghè lăn trong đường rãnh cối xay đến nát ngứu.
Ngày và đêm không còn xù xì hình dạng. Mọi tiếng động trước đây đều im bặt. Im lặng đến có thể kéo nhổm cả cánh rừng bạt ngàn bay qua miền đất không có tên tuổi..
Lại lịm đi. Lại tỉnh dậy. Có tiếng rên yếu ớt đâu đây. Tiếng từ lồng ngực vỡ của mình thoát ra hay tiếng xương gãy khua chạm vào nhau? Mắt vẫn bị xâu kín. Tay chân không thể động cựa. Một sinh vật nhỏ bé áp vào thân thể anh âm ấm, thì thào "nưưư…ươ…". Tiếng kêu mỏng manh như sương như khói, đứt quãng như một mảng mây mỏng bị trận cuồng phong kéo lên dập xuống đến tả tơi.
Thời gian trôi qua không biết bao lâu, nhưng giờ thì anh nhận ra, quanh quất đâu đây là mùi khói đạn, mùi nhựa cây, đá bị thiêu cháy trộn lẫn với mùi máu khô nồng nặc. Đầu óc anh nhận biết được rằng cả ngọn núi này đã thành tro bụi. Mọi sinh vật đều bị nghiền nát. Tiếng thì thào lại nổi lên. Anh cố sức quay về phía phát ra giọng nói yếu ớt, cố hết sức mở hai mí mắt một cách khó khăn và đau đớn. Theo bản năng, anh lần bàn tay vào thắt lưng và nhận ra chiếc bình đông nước còn đeo dính bên hông. Đất đá phủ kín người. Phải khó khăn lắm mới cong được tay gạt lớp đất đá, lần vào thắt lưng, chỗ có chiếc bình đông nhướng mắt về phía vừa phát ra những âm thanh méo mó khi nãy. Nhưng anh không còn cảm giác gì nữa, rồi lả đi, chìm trong cơn sốt chói loà màu đỏ lẫn với màu vàng cam nhảy nhót, quay cuồng. Bất thần một trái bom (hay một tảng đá) dội thẳng vào người anh, nát ngứu… Anh cảm thấy mình nhẹ tênh như một chiếc lông con thiên nga tự trời cao chao lượn mãi mãi trong khoảng không bềnh bồng mây trắng, mênh mông...


"Hình như anh đang lên cơn sốt. Anh đang kêu khản giọng câu gì đó không thành tiếng. Người nóng quá. Anh bị sốt rồi", chủ quán nói với khách vừa lay lay một bên vai. Khách mở choàng mắt, chống tay ngồi dậy, lắp bắp: "Lại những giấc mơ hãi hùng". Cặp mắt không còn thần sắc ngó dáo dác ra bên ngoài, trong khi chủ quán chạy vội vào trong. Lát sau trở ra trên tay cầm chiếc khăn vải bọc những thỏi đá nhỏ. Chủ quán chà xát lên mặt lên cổ khách như thể một người thân lâu ngày, quá lâu ngày, trở về. Trời vẫn còn tối đen. Gió sột soạt luồn vào vách ván lạnh ngắt. Khách có vẻ dịu lại đôi chút. Chủ quán: "Để tôi pha cho anh ly cà phê".
Bây giờ thì người khách lạ đã tỉnh táo chút đỉnh. Anh ta ngồi dậy, cuộn tấm bạt, chăn gối đặt ngay ngắn lên ghế. Hai ly cà phê bốc khói trên mặt bàn gỗ ghép bằng những mẫu ván bìa. Chủ quán lại rút thuốc châm lửa như một thói quen không thể dừng. "Hồi nãy anh kêu hãi hùng…?". "Tôi luôn bị những giấc mơ kinh hoàng xuất hiện trong giấc ngủ từ hơn ba mươi năm nay. Nó lì lợm như một gã ăn xin truyền kiếp". "Giấc mơ? Có những giấc mơ đẹp và những giấc mơ làm con người chết khiếp. Mà sao anh toàn mơ thấy những điều kinh hãi…?". Khách rụt chân lại, đầu gối chạm lên mép bàn kêu thành tiếng. Suy nghĩ một lúc, khách lên tiếng: "Cái người đàn ông mà ông nghe nói đó là tôi. Chính là tôi". "Anh đi tìm gì?". "Ngọn núi Chư Đ'rắk đó là nơi tôi bị ném xuống như người ta ném một viên sỏi cách đây hơn ba mươi năm. Sau khi tốt nghiệp trường Luật, tôi bị động viên, rồi trực thăng thả chúng tôi lên đỉnh núi tử thần này. Đó là một ngọn núi chiến lược. Bên nào chiếm giữ được nó coi như khống chế toàn bộ cả vùng rừng núi bao la trải dọc mạn tây-bắc thành phố, và hơn hết nó là cái nút chai bịt kín, ngăn không cho đối phương tràn xuống đồng bằng ven biển. Nó là cái yết hầu. Được là có tất cả. Mất là mất tất cả. Hai bên quần nhau từ ngày này sang tháng khác. Thương vong là chuyện cơm bữa. Chúng tôi có phi pháo yểm trợ tối đa, còn đối phương thì có núi rừng điệp trùng, có những gộp đá che chắn cùng với sự liều lĩnh…Bất phân thắng bại bởi đồ tiếp tế (súng đạn, nước uống, lương thực…) từ trên cao thả xuống đỉnh núi chỉ đến được tay chúng tôi phân nửa. Phần còn lại là cánh quân lẫn trong màu lá rừng. Cả hai đều được tiếp tế đầy đủ nên tha hồ quần thảo nhau như thuở nhỏ chơi trò cút bắt. Tới một đêm mưa lắc cắc, cái lạnh của khí đá tràn về cũng là lúc họ dồn tất cả mọi hoả lực tấn công lên vành đai phòng thủ. Hình như họ từ dưới lòng đất chui lên, từ các cành cây hay trời cao bay xuống. Vành đai phòng thủ phía đông-nam bị vỡ, rồi tiếp tới mạn sườn phía bắc. Vậy là bao nhiêu bom đạn từ các chiến đấu cơ điên cuồng đổ xuống như vãi cát. Một ngày u ám, một ngày rung lên và bắt đầu cuộc giết chóc man rợ nhất: xoá sổ cảđại đội để xoá sổ luôn quân địch. Các đại đội trưởng, đại đội phó đều tử thương, trung đội đều tử thương. Tôi là chuẩn uý mới ra trường nắm quyền chỉ huy 14 người lính sống sót, mình mẩy đầy thương tích. Chúng tôi không đủ hơi sức chống đỡ hoả lực từ bên dưới bắn lên, từ trời cao dội xuống. Ngày tàn của kiếp người đã hiện rõ, thật rõ theo những chùm bom lấp loá trong ánh sáng hoả châu. Và không hiểu sao, tất cả 14 con người sắp về với cát bụi kia cùng một lúc hướng mũi súng lên trời cao bắn như điên như cuồng vào cõi trống không, như thể thoả mãn chút tủi nhục cay rát đang tòe ra. Bởi kẻ thù của chúng tôi lúc ấy, chính là những chiếc chổi nhớp nhúa trên cao kia chứ không phải quân đối phương đang tiến lên, cũng không phải chủ nghĩa, ý thức... này nọ. Sự sống và cái chết như một cành cây giữa giông bão. Mà bản năng con người luôn giành lấy sự sống trong tình cảnh khắc nghiệt trước mặt. Và rồi điều tệ hại nhất đã đến: hàng loạt bom tấn cuối cùng cũng dội cả lên đầu chúng tôi, lên tất cả những ai còn thở trên đỉnh núi. Những người lính của tôi, người ngã vật ra máu phun thành vòi, người bị nhấc bổng lên cao rồi rơi xuống như thể người ta cầm con cóc ném lên cao. Phần tôi chỉ kịp nghe một tiếng nổ long trời lở đất và một cột lửa bốc cao để thấy mình đang bay vào cõi chết tức tưởi, ô nhục nhất của tuổi trẻ".

Chủ quán nhìn người khách lòng trĩu nặng, ái ngại. Chiếc bật lửa và điếu thuốc cầm sẵn trên tay, nhưng lửa không đốt lên, khói không bay ra. "Ơn trời phật, anh đã thoát chết, như…ưưng…". Chủ quán ngập ngừng, bỏ lửng câu cuối. Khách nhìn chủ quán, hàm ơn sự cảm thông, chia sẻ. " Tôi không biết tại sao mình sống sót trong cái chảo lửa khổng lồ kia. Khi mở được mắt, cử động được chân tay việc đầu tiên là vẹt những lớp đất đá phủ kín người nằm bên cạnh. Không phải là người lính mà một cô gái. Túi cứu thương vắt ngang ngực cô ta có hình chữ thập đỏ ướt đẫm máu. Quần áo cô ta rách toạc, mặt mũi đen nhẻm như anh lính cứu hoả vừa từ đám cháy dữ dội phóng ra. Tôi rút chiếc bìnhđông, nhỏ từng giọt nước nhỏ vào miệng, dùng vạt áo rách lau mặt mũi…rồi tìm vết thương trên người: bàn chân bị dập gãy, bên hông sượt một vết sâu. Những vết thương trên người cô gái không rõ có phải do mảnh bom đạn hay là những vết cắt, dần của những mảnh đá vỡ xán vào. Máu me đầm đìa. Tôi nắn đến đâu cô ta cong người lại đau đớn tột cùng. Tôi mở túi cứu thương thấy có cả dao kéo và thuốc nhưng chẳng biết phải làm gì với chúng. Tôi dùng băng cá nhân từ chính chiếc túi xách trên người cô băng bó các vết thương, nhưng máu cứ chảy ra như những mạch nước trong các khe đá. Tôi chỉ làm được có vậy. Chung quanh không còn ai, không có gì để có thể cứu cô gái tỉnh lại và bớt đau đớn. Những người lính nằm vắt ngang trên những phiếnđã vỡ, thân thể bẹp nát như vừa lấy ra từ cối xay bột! Tôi bất lực,đầu óc mụ mị đông cứng trước cảnh tượng đó. Lâu sau cô ta ú ớ giống tiếng nứt vỏ của hạt cây nào đó từ lòng đất. Tôi nâng đầu cô lên, ghé vào tai nói bằng chút sinh khí yếu ớt: Cô can đảm lên. Sẽ có người đến cứu. Cô ta mở mắt nhìn tôi và kinh hãi đến tột độ qua ánh mắt tôi nhìn thấy, thì thào: "Còn chờ...ba…án" . Tôi siết thật chặt bàn tay nhỏ nhắn của cô gái cứu thương giọng phấn khích: "Chúng ta đều là những nạn nhân khốn khổ…". Không rõ cô có nghe được câu tôi nói không. Tôi chắc là không bỡi cô lịmđi, hơi thở thoi thóp. Trời bắt đầu mưa lắc cắc, gió lạnh lùa về mang theo bóng đêm ghê rợn. Với chút hơi sức còn sót lại, tôi mở chiếc áo chống đạn đắp lên người cô, kéo những cành cây gãy phủ lên che mưa, chắn gió. Nửa đêm gió lạnh dữ. Cô gái kêu khát. Tôi mở nắp bình đông với niềm hy vọng sẽ có người đến, dù bên này hay bên kia để cứu cô. Vì trong giờ phút ấy, tôi nghĩ bên nào tìm thấy chúng tôi, ranh giới thù hận sẽ không còn ai nghĩ tới. Hai sinh linh thoi thóp kia cần phải được sống bỡi họ còn tuổi trẻ, họ còn ngày mai.
Bả vai trái của tôi bắt đầu đau nhức ghê gớm. Tôi có cảm giác như chiếc áo trận nơi bả vai cứ phồng lên từng giây từng phút. Cô gái bắt đầu mê sảng, sốt hầm hập. Bằng hơi thở yếu, giọng đứt khúc cô nói: "...cái ví trong túi áo. Nhà tôi ở phố.... Tấm ảnh gia ….". Phải khó khăn lắm tôi mới nghe tiếng được tiếng mất. Tôi kề sát vào tai nói không sao cả, cô sẽ được cứu, cô sẽ được trở về với gia đình, chúng ta sẽ được cứu sống. Đồng đội của cô sẽ đến ngay. Một lúc sau giọng cô bất thần vụt sáng chói như chiếc bấc đèn giữa đêm gió lạnh cắt da: "Bên trường Y, tôi còn…" Tôi kề tai sát môi cô gái nhưng không nghe được gì nữa. Cô cong người lên, tay bấu chặt vào người tôi. Tôi vội vàng ôm người cô nhưng thân hình mỏng manh đầy máu me kia nguội dần, lạnh dần sau tiếng nấc nghẹn.
Đêm tối đen. Gió vi vút thổi qua ngọn đồi tan nát. Đất đá rơi xuống. Tôi không biết cả hai đang nằm ở đâu, trên đỉnh, lưng chừng núi hay đáy vực. Tôi ôm xác cô và khóc. Tôi khóc vì sự bất lực của mình. Tôi khóc vì sự tàn nhẫn của chiến tranh, phi lý của một kiếp người, lòng hờn oán…Tôi khóc cho tuổi trẻ chúng tôi và rồi lịm đi...

"Chiến tranh thì ở đâu và lúc nào cũng vậy…, chủ quán thở dài với giọng buồn bã, trước tôi cũng ở binh đoàn Hương Giang, cũng từng chứng kiến cảnh vật vã của thương binh miền Nam, của đồng đội chúng tôi sau những trận đánh. Tôi cũng nhìn tận mắt cái chết của họ trên tay, tôi đã nhìn thấy nụ cười của họ khi nhìn tôi trong giây phút cuối cùng. Nhưng khốn thay những nụ cười ấy không làm cho chiến tranh ngưng lại cho tới khi…". Khách ngạc nhiên nhìn chủ quán với cái nhìn đồng cảm. "Tôi định bụng khi tỉnh dậy sẽ dùng chút sức thừa còn sót, đào cho cô ta và các chiến hữu của tôi một mộ huyệt, sẽ xếp những viên đá bị bom dội nát kia thành một nấm mồ tuyệt đẹp cho họ, nếu có thể. Nhưng điều đó đã không đến, không bao giờ đến được; cũng như từ khi tôi nhìn thấy đồng đội tôi ngã xuống...đến lúc cô tắt thở... Tôi luôn cầu khấn cho cô qua được cơn đau đớn khủng khiếp, cô sẽ sống và trở về với gia đình, với những người thân yêu. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Lòng thành của tôi không thấu trời cao…". "Rồi phép màu nào anh được cứu sống?", chủ quán hỏi.

Khách xoay ly cà phê nguội ngắt trong lòng tay. "Đó là một bi kịch của đời tôi. Thay vì chết tôi đã sống. Thay vì sống để tự tay chôn cất cô gái xấu số kia thì tôi lại mất tất cả: Tỉnh dậy tôi thấy mình được nằm trên chiếc giường trắng tinh, người được băng bó như đang khoác tấm áo choàng lông trắng, sợi dây dài lòng thòng chuyền sự sống vào người tôi… Nước mắt tôi ứa ra. Lúc này tôi tỉnh táo hoàn toàn dù khắp người vẫn đau đớn. Những gì hiện ra đầu tiên trong đầu óc tôi lúc đó không phải là cha mẹ, anh chị… mà là cô gái máu me đầm đìa là những đồng đội không toàn thây. Những người bạn của tôi và cô gái không đáng phải nhận lãnh cái chết như thế. Và điều tệ hại nhất khi tôi xuất viện (trên một chiếc tàu ngoài khơi) tất cả quần áo, vật dụng cá nhân đã biến mất. Chiếc ví cô gửi gắm cũng biến mất. Trong đầu tôi chỉ còn mấy từ chợ gì đó và trường Y nhảy múa... Tôi gào lên như một đứa trẻ bị mất đồ chơi.
Chiến tranh thì có tội với tuổi trẻ. Còn tôi thì có tội với cô gái không nhìn rõ mặt, cũng không biết được tên tuổi, bởi tôi đã không thực hiện được lời gửi gắm cuối cùng".

Chủ quán tới lúc này mới đốt điếu thuốc nhưng cứ giữ mãi giữa hai ngón tay. Vòng khói trắng la đà cất lên rồi tan nhanh trước mặt hai người. Vòng khói như có như không kia khiến người khách chạnh lòng nhìn sững.
Khách đột ngột đứng lên, chìa bàn tay khẳng khiu về phía chủ quán: "Cảm ơn ông đã cho tôi ngủ nhờ một đêm. Giờ thì tôi phải lên ngọn núi kia".
Chủ quán bóp chặt tay khách, không nói câu nào, yên lặng nhìn người khách lạ khoát túi xách lên vai, bước ra khỏi quán vớiđôi vai lệch làm cho những chân nhang màu đỏ nhô trên miệng túi đeo, lủng lẳng trên vai cứ nhảy nhót theo từng bước chân khập khễnh của ông ta.

(Thủ Đức, 3/2010)

Đăng nhập để trả lời
0
MÙA TẾT


NGUYỄN LỆ UYÊN



Ông Hai Son đã già. Già lắm rồi. Ông một mực không chịu đi, nhưng con ông thì nói: Cha vẫn còn sức khỏe nên đi một chuyến cho biết xứ người. Xứ người và xứ ta thì có khác gì nhau? Ông phân vân. Ông từ chối. Viện mọi lý lẽ để từ chối chuyện trả hiếu của con cái. Cù cưa qua lại mãi trên dây nói, không xong. Ông chấp nhận thua cuộc vì không đủ lý lẽ với chúng, cuối cùng đành phải làm hộ chiếu, xin visa rồi leo lên máy bay. Hàng trăm người lần lượt leo lên. Áo xống đủ kiểu tây tàu, cà vạt, khăn choàng. Riêng ông độc nhất một bộ bà ba, dép nhựa. Mọi người ngó ông mỉm cười. Ông cũng nở nụ cười méo mó thu người ngồi suốt mười mấy tiếng. Xuống sân bay, con ông nhìn ông bằng ánh mắt khác, không như những người nhìn ông lúc lên máy bay. Cái nhìn khác lạ, hình như buồn, như không hài lòng...

Giờ thì ông ngồi đây một mình, ngồi chong ngóc nhìn tuyết rơi trắng xóa bên ngoài khung kính cửa sổ.
Hơn bốn năm rồi, ngày nào ông cũng ở nhà một mình, loay hoay với mớ kỷ niệm cũ kỹ nơi quê nhà, bởi xứ Xì-Tô này ông không có bạn, chung quanh toàn người lạ, nói thứ ngôn ngữ lạ. Mỗi lần giao tiếp chỉ thấy tội nghiệp cho đôi tay, thân hình và đôi khi cả chân nữa. Luôn vặn vẹo, luôn đưa lên đưa xuống, miệng há ra, môi vẩu lên, tay chỉ chọt, chân hươ hươ như người động kinh. Có khi người bản xứ cũng hiểu đôi chút, ông cũng hiểu đôi chút qua những cái gật đầu theo cảm tính, không mấy chắc chắn. Còn hai đứa cháu không khác chi bọn họ: oong, hót quaa... ai đơn...Chịu. Ông cháu mà y như người khác xứ.

Chuyện trò bằng chân tay khiến ông chán ngấy, dẹp nỗi buồn sang một bên, lò dò bước vào nhà. Nhà trống trơn, càng buồn hơn. Đứng lên ngồi xuống, rồi tựa cửa nhóng ra ngoài. Tuyết phủ dày. Thẫn thờ bước lại giá sách, lấy ra một cuốn, giở vài trang. Cũng chữ a, chữ e, chữ h... nhưng ông không tài nào đọc được hiểu được, lòng buồn xo. Xớ rớ một lúc, ông quay qua nói chuyện với bà vợ đang ngồi trong khung kính. Ông nói nhiều chuyện với bà, từ hồi chận trâu, tắm sông tới khi lớn lên, nhìn nhau, lấy nhau... bao chuyện tân toan, tấm mẳn ông thầm thì, lúc cao lúc thấp, nhưng thật ra chỉ mình ông nghe. Vợ ông cứ ngồi trong khung kính ngó ông và nở nụ cười muôn thuở.

Có bữa chịu không thấu, dằn lòng đợi đến chủ nhật, ông kêu vợ chồng thằng con ra ngồi trên ghế sopha, trước mặt mình:

-Cha nói thiệt. Quá đủ rồi, là chịu quá đủ rồi. Hai đứa con mua vé cho cha về.

Thằng con trai:

-Bên nhà không còn ai nữa. Ba cứ thui thủi một mình, tối lửa tắt đèn...

Con dâu thêm:

-Bên này có đủ mọi tiện nghi chăm sóc, kể cả sức khỏe, cha lo gì.

Ông cáu:

-Thằng Quảng kêu bên nhà mình cha thui thủi, nhưng còn bà con hàng xóm, còn nói được, còn nghe chuyện với nhau, chớ bên này cha thui thủi coi bộ nặng hơn, y như người câm ra dấu vậy.

-Thôi cha, mặc áo ấm vào rồi cả nhà ra ngoài pạac sưởi nắng, ăn trưa.

Ông cười rung lên, thiếu chút nữa là đứt hơi:

-Đó đó... bên này chạy đi tìm nắng, còn ở nhà nắng giàu vô kể. Nắng tràn xuống sân, chun tọt vô nhà... đâu có mắc công tìm kiếm?

Đó cũng là câu nói cuối cùng rớt đánh đụi xuống sàn nhà, giữa tiếng reo của hai đứa cháu: ya...yaa... gâu pạac... yayaaa...

Cái gâu pạac của cháu và hai con ông là bãi cỏ mút tầm mắt, là những đường đi uốn lượn, cây cối xanh um, bồn hoa, vòi nước, là những bà đầm nằm tênh hênh phơi nắng, trẻ con tung tăng chạy nhảy. Ngó quanh quất chẳng thấy ai da vàng mũi tẹt như mình, ngoại trừ cha con ông cháu đang ngồi dưới tán cây cổ thụ! Ông đưa mắt nhìn một vòng rồi nhìn lại chân tay mình, hình như còn bám nặng mùi bùn phèn ở đâu đó, thoang thoảng, bắt ông nhớ, nỗi nhớ mênh mông như đám mây trắng đang bay qua trên đầu.

Bữa nay chỉ mới giữa tuần, có nghĩa là còn ngồi đợi ba ngày nữa cha con ông cháu mới gặp mặt nhau đông đủ, có nghĩa là ông còn phải đứng nơi cửa sổ nhìn ra bên ngoài: những chiếc xe cố sức trườn trên lớp tuyết giống con trùn bị ném lên mặt đất, khó khăn, chậm chạp; hàng cây trước nhà trắng xóa in hệt những tảng bông gòn bám chặt, giống như hồi nhỏ nhà ông bắn bông vải bằng cây cung để kéo sợi, bám trắng người. Nhưng những mảng bông bám lên người chỉ cần đưa tay phủi nhẹ là sạch trơn. Còn màu trắng nơi quê người thì nhếch nhác, ẩm ướt toàn một màu trắng lạnh lẽo, tang tóc đến vô cùng.

Trời đất, xứ sở chi mà có mùa đông khắc nghiệt, lạnh buốt; xứ sở chi mà mọi thứ đều không giống quê nhà? Ông liếc lên tấm lịch móc trên tường. Lịch chỉ độc nhất có ngày tháng dương, không thấy một ô, một hàng ngày âm. Ông cố moi óc, sắp xếp: 1/20 có nghĩa là ngày 20 tháng Giêng lịch tây. Ông xòe hai tay ra đếm, cộng trừ. Vậy là nhằm ngày mùng 6 tháng Chạp ta. "Cha mẹ ơi!" ông kêu lên sắp tết rồi. Chỉ còn 17 ngày nữa sẽ đưa ông Táo. Đã năm cái tết qua đi ông không được đưa rước ông Táo, không được đốt vàng mã cho ông bà, ông Táo lên chầu Ngọc Hoàng cứ một bộ quần áo cũ kỹ từ những năm trước khi ông còn ở quê, nay thì rách rưới, tả tơi. Ở xứ Xì Tô này tìm đâu ra vàng mã, tìm đâu ra bộ quần áo, cả miếng cốm hộc đưa ông Táo về Trời? Năm ngoái, bí quá, nhớ quá ông loay hoay tìm giấy báo cũ ngồi cắt bộ quần áo cho ông Táo, tìm hộp bút màu của cháu tô vẽ lên. Những mảng màu xanh đỏ như bức tranh, không phải loại tranh làng Hồ mà của ông tự chế, lòe loẹt. Ông tự nhủ: miễn sao có bộ áo quần tươm tất cho Táo công là đủ. Nửa đêm, ông lén ra sau nhà để xe, bày chiếc bàn con đặt ba cây nến thay nhang đèn, một dĩa chocola thay cốm, một chút mứt chery thay riêm gừng... Đang lâm râm khấn vái, thằng con bất ngờ xuất hiện, la lên giận dữ: "Trời! Cha? Kiểu này thì cháy ga ra như chơi. Ở xứ người mà cha chẳng hiểu gì cả? Táo tiếc gì, chỉ vớ vẩn". Ông giật mình ngó sững bộ mặt hằm hằm của thằng con. Nó bị Tây hóa rồi, đâu còn là con mình nữa. Ông thoáng nghĩ trong đầu và lẳng lặng dẹp tất, lẳng lặng vào phòng. Buồn mà không biết lấy ai chia sẻ cùng.

Ông nghĩ: không đưa, không rước, không cúng bái bằng những lễ vật cụ thể thì cúng bái đưa rước bằng tâm linh, bằng trí tưởng tượng. Hoàn cảnh mà, ông bà nào nỡ quở trách? Hăm ba tới ông sẽ làm theo cách đó. Sắp tết rồi.
Phải, ở quê nhà đang là mùa tết. Cái mùa thiệt lạ lùng. Mùa luôn làm ông xao xuyến dẫu cho lúc hãy còn trẻ hay đã già. Bắt đầu là thứ gió chướng mang chút hơi lạnh ngọt ngào nhuộm đầy màu nắng vàng trải rộng như dãi lụa, bầu trời lúc trong vắt lúc lơ thơ vài đám mây trắng vắt ngang rồi bất ngờ âm u bất ngờ nắng, bất ngờ rớt chút mưa xuân; những hột mưa chỉ đủ làm xoăn tí bụi đường thành những ô tròn bằng mút đũa. Rồi trong vườn, sân nhà những bông vạn thọ bắt đầu nở lúp búp và chỉ sau mươi hôm thôi là xòe ra rực rỡ. Loại hoa này mới lạ, lâu tàn, đơm kín như mâm xôi. Hèn chi ông bà đặt tên vạn thọ cũng phải. Loại hoa ấy, cùng với đất trời làm sáng rực lên một góc vườn. Bướm nữa. Bướm vờn quanh những cánh hoa và đâu đó tiếng chim hót rộn ràng, xoắn xít như bóng nắng muốn trói chúng lại rồi thả tung lên trời cao.
Xâm xẩm thì tiếng chày giã cốm bắt đầu nện thình thịch, hương cốm mùa Giêng theo tiếng chày bay lên, lan tỏa khắp các truông tre, thơm lừng lựng. Tháng Chạp, bếp nhà nào cũng đỏ lửa. Khói củi, khói than nồng nàn. Chảo riêm gừng sôi lục sục. Những mảng đường trắng bao lớp mỏng miếng riêm như thể các cô gái thoa chút phấn làm duyên... Tất cả những thứ đó, qua trí nhớ còm cõi khiến ông nôn nao như thể mình là đứa trẻ nít chờ ngóng mẹ mua bộ áo quần mới, giày dép mới.

Bốn mùa tết qua đi lặng lẽ nơi xứ người. Ai cũng dửng dưng với nó. Người bản xứ, không cùng văn hóa, ngôn ngữ đã đành một lẽ. Đến cả những lưu dân nơi quê người cũng không có chút thời gian hưởng mùa tết! Ông bạn già tận tít Cali năm ngoái gọi xuống: "Người đồng hương thì nhiều, cũng tết nhứt, bánh trái, chúc tụng... nhưng sao tui thấy nó lạt phèo". Ông hỏi cớ sao lại lạt phèo? Ông bạn già đáp: Không có mùa tết. Không có không khí tết như quê nhà! Nói và ông thở đánh xì và gát máy y như rằng đó là lời trăn trối với người bạn chân tình.

Suốt cả tuần, Hai Son cứ loay hoay với mùa tết của ông. Ông nhớ miếng thịt kho tàu, nhớ món cải chua, củ kiệu tôm khô và xị rượu đế, những lùm vạn thọ, cúc và lũ trẻ nít xúng xính áo mới, bao lì xì màu đỏ tươi và cả câu hò mang mang tận xóm dưới... chúng quyện với mùi nhang khiến chỗ nào cũng thơm ngan ngát.

Giá như có đôi cánh, ông sẽ bay lên, bay ra khỏi xứ tuyết trắng xóa buồn thảm, bay về tận ngôi làng bé nhỏ của mình ngay lập tức để hưởng trọn vẹn mùa tết ngọt ngào.
Đăng nhập để trả lời
0
BÓNG NẮNG


NGUYỄN LỆ UYÊN



Sau khi mãn tang chồng tôi ngỏ lời cầu hôn lần thứ hai với chị. Thay vì từ chối hay ư hừ, hay một cái tát như trời giáng mười sáu năm về trước, thì lần này chị quay mặt đi, hai vai rung lên như thể một thân cây bị lay lắt, vật vã đến nao lòng. Tôi bước ra khỏi cổng, bỏ mặc thân cây run rẩy, cong oặt chỉ mang theo cái nhìn sững sờ của chị. Cái nhìn đẹp và sáng như lưỡi dao nhọn.

Chị biết là tôi yêu chị đến cuồng dại và chị cũng yêu tôi. Nhưng để lấy tôi thì chị không thể. “Em nhỏ tuổi hơn chị”. “Em không cần”. “Mai mốt chị sẽ già trước em, em sẽ chán chị”. “Không đời nào”. Chị sẽ sàng với bộ mặt u buồn khiến chị càng đẹp rực rỡ trong mắt tôi, cuốn tôi chìm xuống tận đáy sông.

Và tôi lang thang. Lang thang cùng trời cuối đất những tưởng quên được chị. Nhưng cái tát trên má tôi rõ ràng là nụ hôn cháy bỏng chị dành riêng cho tôi. Tôi cất giữ như một bảo vật. Thỉnh thoảng tôi lại giở ra trong những giấc mơ khắc khoải, cảm thấy nồng nàn, bỏng rát và ấm áp đến lạ kỳ.

Tôi bị bắt lính, chị theo tôi. Tôi ra chiến trường, chị sát bên cạnh. Vào trại lao cải, chị thấp thoáng ngoài vòng rào… Chị luôn theo tôi trong từng giấc mơ.

Mãn tù lao cải, tôi bổ nhào đến nhà chị giữa lúc hạnh phúc chị bị gãy đôi. Đợi hết tuần chay tôi mang bó huệ trắng cắm lên bàn thờ anh Lê, lâm râm cầu khấn, rằng tôi sẽ thay anh bảo vệ mẹ con chị Bông đến tận cuối đời. Tấm ảnh dính chặt sau khung kính nhìn thẳng vào mặt tôi với nụ cười độ lượng. Một cảm giác ấm áp len vào tận cùng thân thể. Chị nhỏ nhẹ: “Cảm ơn em. Giờ em tính chuyện làm ăn gia đình là vừa”. Tôi ngó chị: “Nếu không lấy được chị, em sẽ không lấy ai cả”. Chị thong thả đứng lên, thong thả rút thẻ nhang thắp lên bàn thờ anh Lê, rồi quì xuống gõ lốc cốc vào chiếc mõ bằng trái gạo già, nâu thẫm. Ước chi là điều lành. Tiếng mõ lốc cốc kéo dài xô tôi ra tận bãi vàng. Gió rít quanh đồi ướt mưa. Cái lạnh quấn như tấm mền dày bao lấy cơ thể mệt nhoài cả ngày dưới hầm sâu. Tôi hùng hục cùng với hàng trăm con người trên bãi đá, giơ cuốc bổ xuống lớp đất cứng hơn sắt. Cứ mỗi nhát cuốc, chừng như nhìn thấy từ đáy sâu kia cơ man là vàng lấp lánh. Dưới đáy sâu là hình bóng chị lung linh. Tôi rướn người lên, bổ xuống. Xách từng xô đổ lên. Tôi phải kiếm thật nhiều để chị không già, để chị long lanh như hạt sương mai, bổ nghiêng về phía tôi. Những buổi chiều xuống thấp, mây quấn thành cột quanh ngọn đồi và trong căn lều bạt, tôi thấy bóng chị như bay như lượn trên tầng mây trắng lốp. Đêm hâm hấp nóng, từ xốp mây trắng nõn chị vẹt ra đến bên tôi, ấp bàn tay lên má tôi như một nụ hôn nồng nàn của người trinh nữ khiến tôi bật khóc trong đêm lạnh buốt xương. Tôi biết chị yêu tôi nhưng lại không thể lấy tôi. Nếu không yêu, sao những năm bên lò gạch, chị đã lặn lội lên tận núi với giỏ quà toàn thuốc chống sốt rét, kêu lên “em ốm quá”? Cái khoảng cách lừng chừng ấy khiến tôi đào căn hầm rộng hơn, sâu hơn để cuối cùng tới mùa mưa nước trắng rừng đành phải quay về với tám phân vàng. Tám phân vàng trong bốn tháng nơi cùng cốc thâm sơn tôi mang về đặt lên bàn thờ anh Lê . Đứa con trai chị giờ đã lớn. Nhìn thấy tôi lâm râm trước bàn thờ, nó hỏi: “Cái hộp gì vậy chú?”. “Quà cúng ba cháu”. “Chú không chờ mẹ cháu về?”. “Mẹ cháu không chờ chú đâu, ngoan nhé”. Vầng mây trắng bay nghiêng đâu đó. Tôi ngơ ngác ngó quanh khu vườn rộng, bước bộ trên con đường gập gềnh như cuộc đời gập gềnh của tôi. Những bước chân giống cơn giận lẩy trẻ con và mặt đường thì chẳng khác nào chiếc rổ rách. Gió lào xào như tiếng thở dài.

Thân cây cong oằn ấy, giờ bật đứng như chưa hề có trận bão ập qua. Chị vén mớ tóc ra sau. Những ngón thon búp trắng muốt giữa suối tóc đen nhánh. Bước qua tuổi năm mươi, chị vẫn còn giữ những đường cong gợn thời con gái. Tôi trân trối nhìn ngọn tóc và những ngón tay, nhìn vào bộ ngực côi cút của chị và ánh mắt rười rượi..

Bất ngờ chị Bông đề nghị:

-Chị em mình lên chùa đi.

-Để chi? – Tôi hỏi.

-Cúng Phật.

-Cúng Phật? – Tôi hỏi lại.

Con đường trước nhà chị không còn gập gềnh, không như cái rổ rách trước kia. Hàng cây sao, bằng lăng tím che kín bóng. Tôi đèo chị trên chiếc xe máy khụt khịt như người bị sổ mũi, chạy chậm. Tôi nghe mùi da thịt chị miết vào khứu giác. Mạch máu chạy dồn dập như bầy ngựa đua. Qua ngả tư, thay vì quẹo trái tôi cho xe chạy thẳng ra hướng biển. Chị bấu vai tôi:

-Em quên đường rồi sao?

-Không.

-Sao lại ra biển?

-Ra biển để em nghe mùi nước mắt.

Chị bấu chặt hơn và tôi tưởng tượng cái bấu tay bắt đầu một nụ hôn, những nụ hôn dài.

-Đừng có lãng mạn, em có biết…

-Biết, em biết rất rõ. Đó là những giọt nước mắt tích tụ hàng ngàn triệu năm.

Tôi nghe tiếng thở sượt ấm sau gáy. Chị buông tay ra và bất ngờ tôi quành xe lại. Chính tôi cũng bất ngờ về hành động này. Có lẽ, tôi nghĩ cái mùi nước mắt ấy cũng không thể mặn thêm hay nhạt hơn tí chút. Phỏng có ích gì khi lòng đã cay xè?

Chùa Hảo Sơn giữa khu đồng trống. Cổng tam quan vòi vọi phía trên. Chị Bông thong thả bước lên từng bậc cấp, thong thả đến mong manh. Gió nam cồ siết quanh chị, lất phất trên chỏm cây bồ đề bành gốc, tua tủa rễ như một ông già ngàn năm tuổi ngó lửng cuộc đời trước mặt, mặc cho râu xoãi dài, bỡn cợt với tháng ngày lướt qua, đâm sâu xuống lòng đất.
Lên đến bậc cuối cùng, chị ngoái lại, ngoắc tôi bước lên. Chị vòi vọi cao, vòi vọi lộng lẫy. Gió nam cồ hất bay món tóc chị ra sau như thể sắp đu dính vào cội bồ đề.

-Em vào đi.

-Không chị vào lễ Phật một mình.

-Sao vậy?

Tiếng nói như rớt từ thinh không, xao vào đầu óc tôi.

-Phật chỉ có nụ cười từ bi và những lời răng dạy. Em không thể bước qua cửa thiền khi lòng không thanh thản. Chị vào lễ Phật và tiếp tục… - tôi bỏ lửng câu nói.

Chị Bông quay đi, bước hẳn vào bên trong.

Gió lất phất mang theo hơi nóng trên rặng Trường Sơn dồn về. Cái nóng làm tê cuống lòng người, làm khô dòn tấm áo phong phanh tôi mặc trên người. Chị khuất sâu vào bên trong. Tôi lần từng bước lên cổng tam quan, ngồi lên bậc đá cuối cùng. Phía dưới là cánh đồng xanh dờn, xa hơn là phố xá bẹt dính sát mặt đất. Những con người nhỏ bé xuôi ngược. Bầy người nhỏ bé ấy đang hối hả tìm cuộc sống cho riêng mình. Còn tôi? Tôi như chiếc rổ bung vành đang nhấn xuống nước đồng sâu vớt chút rong rêu. Vậy mà không thể tìm thấy cọng rong nhỏ nào. Những chiếc nan gãy mục vểnh lên hay chúc nghiêng, trống hoang hoác là ba mươi năm cố gắng vá lấp để thấy trống trơn, để thấy vô cùng chẳng với chụp được.

Gió lặng yên được một lúc rồi bỗng chúc xuống, hất tung những cọng rác khô trên bậc đá. Không gian đã sững lại bổng ồn ào. Gió ràn rạt miết lên tường thành nối cổng tam quan, cuốn cong những cành bồ đề rồi ngưng bặt, như chưa hề có gió thổi ngang qua.

Bóng nắng đổ nghiêng qua tàng lá rậm, che phủ bậc thềm đá chỗ tôi ngồi, nên khi chị Bông bước ra, đứng về phía chiều nắng nghiêng tôi không thấy bóng chị phủ lấp lên người tôi, nhưng tôi nghe hơi thở chị thật gần.

Chị vén áo ngồi xuống bên cạnh.

-Chị lễ Phật và xin xăm.

-Xin xăm – Tôi hỏi lại, lòng hoang mang tột cùng.

Chị bổng bật khóc. Hai vai rung lên. Tôi sửng sốt, nhích ra nhìn chị. Chị không còn là người đàn bà mạnh mẽ mỗi khi từ chối lời cầu hôn của tôi. Chị trở nên người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối. Tôi giữ đôi vai mỏng manh như hồi nhỏ tôi giữ, tay kia rút cây gai nhọn dưới gan bàn chân chị, nhưng cái đau của hai lần cách xa có vẻ như không giống nhau. Lần này, nỗi đau sâu kín, gặm mòn tâm trí chị hơn mà tôi không hiểu vì nguyên do gì.

Một lúc sau, tôi dè dặt lên tiếng:

-Chị làm sao vậy?

Cả người chị rung lên dữ dội hơn.

Cả hai im lặng cho đến khi nắng vắt chéo qua đầu.

-Chị không phản bội anh Lê, nhưng chị phản bội em.

-Em không hiểu chị định nói gì?

-Đúng chị là người không ra gì. Chị đã phản bội em. Chị là con người đốn mạt, nhưng chị không thể làm khác được – nói và chị lại ngã lên vai tôi nức nở.

Nắng quét những quả trứng mỏng tang trên tầng lá cao, rụng lả tả trước mặt hai người. Đợi chị bình tĩnh lại, tôi gỡ tay chị và ấp lại trong đôi tay mình. Lúc này tôi trở thành con người lớn hơn chị, bắt đầu dỗ dành chị giống hệt hồi nhỏ chị dỗ dành tôi bị lũ trẻ con hàng xóm ức hiếp.

-Em nghe chị nói. Chị cứ nói hết ra.

-Ngàn lần chị xin lỗi em.

-Sao phải xin lỗi? Nếu cần xoa dịu sự tổn thương do em gây ra thì em xin lỗi chị mới phải.

-Không. Em bình tỉnh nghe chị nói.

-Em nghe đây.

Chị sững người giây lát, rồi sụt sịt:

-Ông Thâu cầu hôn chị. Ông goá vợ cách đây tám năm.

-Và chị…

-Nhận lời.

Tôi cười lớn, cười đến tim bóp thắt, nước mắt ràn rụa và gió lăn lông lốc trên những ruộng mạ xanh dưới kia. Gió rượt đuổi như giỡn như ca hát, bảng lảng một điệp khúc yêu thương đến héo hắt tận đáy lòng.

-Vậy mà em tưởng chuyện gì ghê gớm lắm!

-E…eemm…

-Chị ngỡ em phản đối, ngỡ em sẽ buồn? Không trái lại.

Chị Bổng oà khóc khi nghe tôi nói hết câu và xô tôi ra.

-Thà em đay nghiến chị, nguyền rủa chị… có lẽ còn dễ chịu hơn cái gật đầu vô cảm kia. Em biết là chị không thể kéo xuống mười lăm tuổi để bằng em, không thể nhìn những cặp mắt xói miết chung quanh. Vâng, chị yêu em. Yêu em còn hơn ngàn lần em yêu chị. Nhưng để là vợ chồng thì không thể. Sau lần chị ôm em vào lòng dỗ dành vì đám trẻ con trong xóm ví em, chị đã linh cảm điều này sẽ có ngày xảy ra. Nhưng chị bất lực. Chị chỉ là người đàn bà bình thường như bao nhiêu người khác.

-Em đưa mẹ con chị vào Lộc Ninh, Bù Đốp… vượt biên qua Lào, qua Thái… Chúng ta sẽ sống hạnh phúc.

-Không. Em điên rồi.

-Chị nhận lời lấy ông Thâu thì không điên chắc. Em biết chị nhận lời lấy ông ta chỉ vì chỗ dựa, cái học vị tiến sĩ ấy sẽ… mà chị thì không hề yêu.

-Em còn nhớ hồi lên trại thăm, em nói “đời người như khúc sông, chỗ đến thì không chịu dừng mà rẽ ngoặc sang hướng khác”. Hồi đó em nói vậy là ý gì? Còn giờ này sao em lại không chấp nhận khúc sông rẽ ngoặc?

-Sông của chị giờ là con sông gãy, sông lấp bỡi những tảng đá muôn thuở đè lên một cách khủng khiếp. Chị không dám né những tảng đá đó, lúc nào cũng nhìn thấy chúng lù lù trước mặt.

-Nhưng có nhất thiết khi yêu nhau thì phải sống chung với nhau không?

-Hoang tưởng.

-Đúng. Hoang tưởng, chỉ vì chị cũng yêu em đến điên cuồng.

Chị Bông nói và đứng lên, bước thật chậm xuống từng bậc đá. Chị đi như không hề chạm chân lên mặt thềm. Chị đang bay về nơi khác, nơi có vầng trăng bị xé rách giữa trận nam cồ, tơi tả, méo mó đến dị hợm. Chị thả trôi về khúc sông xa, chị đầm mình trong vùng mắt bão, gió cuốn tung chị tơi tả trong tôi.

Tôi ngồi yên nhìn chị. Ngồi mà ngắm nhìn dáng mỏng khói sương từ từ tan biến vào khoảng trống đến vô cùng tận. Hạnh phúc cuối cùng của chị là niềm hoang tưởng hay sự hoang tưởng là niềm hạnh phúc? Tôi nào có nhận ra khi chị bất ngờ quay lên. Vẫn từng bước thong thả, từng gót chân thong thả và nhẹ nhàng đặt lên phiến đá mòn lĩn như chiếc lá rơi xuống, nằm đấy từ muôn đời kiếp.

Chị Bông đứng cách một với tay, không bước tiếp, ngước nhìn với cặp mắt lạ lùng tôi chưa hề chạm phải: hừng hực như ngọn lửa cháy rừng rồi chuyển sang giá lạnh như tảng băng trôi. Hình như không phải chị nhìn tôi mà dành riêng cho kẻ vô hình nào đó vảng vất đâu đây, môi mấp máy như muốn nói điều gì đó mà không thành lời. Chỉ cách một vói tay nhưng có vẻ như chúng tôi đang ở hai thế giới khác nhau, ở hai đầu cánh cung bị đứt dây. Môi chị lại mấp máy như mời như gọi, xoè chớm như nụ hoa hàm tiếu. Tôi hiểu tất cả, lao xuống. Chị ôm tôi, nước mắt ướt vai trong tiếng thì thào ngây dại “chị yêu em, tha lỗi cho chị”. Chị hôn tôi bằng nước mắt mặn chát, vị mặn của niềm hạnh phúc đắng cay nhưng sao tôi thấy không như dư vị của nụ hôn bằng cái tát ngày nào?

Bóng nắng rớt nghiêng. Chúng tôi như hai pho tượng trước cổng tam quan. Chỉ có cội bồ đề và những chòm rễ đâm xuống đất là gần chỗ tôi và chị Bông đứng, sắp té nghiêng dưới bóng nắng.

(tháng 9.2008)

Đăng nhập để trả lời
0
MƯA TRÊN SÔNG ĐAKBLA


NGUYỄN LỆ UYÊN




Trên đoạn đường dài hơn ba trăm cây số, nẩy xóc, ngân ngất ổ gà ổ vịt khiến không mấy ai còn hứng thú để chuyện trò như lúc đầu hăm hở ngồi trên băng ghế nệm. Cách đây vài tiếng, khi vừa mới bước lên xe, đám hành khách ồn ào chuyện nói, chuyện kể. Mấy người đi buôn nói về giá cả lên xuống bất thường và chắc mẩm rằng mình sẽ bán được nhiều hàng với giá lời cao. Người phụ nữ đi xa nhà lâu ngày nói về sự nhớ nhung hai đứa con nhỏ, tự chị nói ra rằng chúng học rất giỏi, rất ngoan ngoãn. Sau những lời khen ấy, hẳn chị sẽ tưởng tượng rằng mình sẽ được chúng reo mừng đón ngay trước cổng. Vậy mà lúc này người đàn bà buôn đồ khô bỏ rớt những lời lẽ ba hoa về những con cá phơi trên bãi cát, những đêm trắng chờ chồng cỡi lưng sóng bão; ông cán bộ thương nghiệp mập ú, cổ ngấn mỡ bốc phét về công việc điều hành buôn bán trong cơ quan của ông ta, đang như chiếc bị vải lăn qua, lăn lại trên ghế theo nhịp xe nghiêng võng, thỉnh thoảng lại ngã hẳn lên vai người phụ nữ ngồi kế bên, khiến chị ta phải khó nhọc lắm mới đẩy được ông trở lại vị trí cũ. Ở hàng ghế bên kia, ngang với ông cán bộ là cậu thanh niên mang kiếng đen, giống như những tay thám tử. May mà cậu ta không dòm ngó, xoi mói ai, chỉ bông lơn khoe mẽ về bản thân với cô gái ngồi cạnh cười ngặt nghẽo mỗi khi anh ta pha trò. Còn lại là những người có tuổi và hai đứa bé. Họ yên lặng ngó trời nhìn đất, cây cối, nhà cửa... chạy vụt về phía sau, đang suy nghĩ những gì không ai biết. Những người ngồi trong xe, bên cạnh nhau có cớ để giải bày chút tâm sự trên đoạn đường dài, có khi sẵn sàng thổ lộ tâm can với nhau.

Lúc xe lên đèo qua những đoạn vòng vèo, lắc lư, gấp khúc nghe có tiếng giấy sột soạt, mùi dầu gió bay dạt, trôi lều bều trong lớp không khí oi nồng buổi xế chiều. Có giọng đàn bà la lên: “Chạy từ từ, đừng có bẻ cua gắt quá, cơm cháo lộn lên tới cổ rồi nè”. Tiếng cười lục khục, lẻ loi chìm nghỉm đâu đó cùng mùi dầu gió lúc càng nồng nặc hơn. Lên tới đỉnh đèo, tài xế cho xe đậu dưới tán hàng keo lá tràm trồng dọc theo đường, chỗ gần vòi phun nước tự nhiên dẫn từ đỉnh xuống. Mọi người lục tục xuống xe. Ông cụ ngồi cùng băng ghế, sau khi làm công việc vệ sinh cá nhân, bước đến chỗ tôi đứng, hỏi:

-Mấy tiếng nữa xe mới tới Kontum?

-Giờ mới trên đèo An Khê, chạy kiểu này chắc xẩm tối mới tới nơi.

-Khổ dữ đa. Không biết có tới được Tân Cảnh không đây? – Ông cụ thở dài, xa xôi.

Tôi chưa kịp hỏi han điều gì, ông cụ tiếp lời:

-Tôi đi thăm mộ thằng con, chết hồi mùa hè đỏ lửa, năm 72. Tôi có mình nó. Bao nhiêu lần định bốc mộ đưa về Diên Khánh, nhưng vợ nó không chịu, nói “ảnh sống trên này với con, giờ chết đi ảnh cứ sống với con, ba đừng lo”. Con nhỏ đó gan ruột, mấy chục năm vẫn ở vậy nuôi con, mua được chục hecta cà phê, dựng vợ gả chồng cho hai đứa cháu. Mấy năm trước cà phê còn có giá đời tụi nó lên hương chút đỉnh, nay thì sống dở chết dở. Lần này tôi lên bàn với nó, bán nhà, vườn cà phê đưa lũ cháu về dưới này. Tôi đã lên cố rồi mà nào có ai bên cạnh. Đứa con gái và lũ cháu ngoại thỉnh thoảng tạt về thăm rồi biến mất. Chúng thoắt hiện thoắt biến như bầy chim ăn đêm. Còn đám cháu nội thì xa xuôi dặm trường, hiếm khi chúng về. Kiểu này mà kéo dài có khi máu mủ ruột thịt lại lẫn lộn với nhau. Tôi lên lần này là để bàn với chúng nó gom về một mối. Tôi chỉ còn sống nay chết mai thôi. Biết làm sao, chú? Già rồi, đâu ngủ nghê gì được. Đêm thức trắng, chỉ có bức ảnh của thằng con trên bàn thờ. Nó và tôi ngó nhau trong bóng tối, gần vậy mà không nói được lời nào!

Giọng ông cụ buồn buồn khiến tôi cũng buồn lây.

Mà thật ra, tâm trạng của tôi lúc này cũng không khác ông cụ mấy. Cũng một thứ cảnh ngộ khá bi hài. Tình yêu. Cuồng dại. Sự Chia ly. Nỗi nhớ thương khắc khoải đến dằn xé nỗi lòng, ngoi ngót những trông đợi kéo lướt thướt bên ngoài khung cửa, bay qua bầu trời chao động cõi lòng tan nát. Ông cụ nhớ con thương cháu, lo sợ sự gìn giữ huyết thống mai sau không trọn vẹn, còn tôi thì thương nhớ một cõi mênh mông rừng rú mộng mị. Cõi mộng mị ấy đã bị Siu B’Liêng mang tận lên rừng sâu núi cao, để giờ này tôi phải ngất ngư chạy theo một cái bóng vừa thật, vừa hư. Trong những cơn sốt màu vàng tả tơi trên giường, tôi nghe tiếng nàng hát trên giòng Sésan chỗ đoạn ngoặt tiếp giáp giữa sông Poko với sông Đakbla, tiếng hát mang mang theo giòng nước ngầu đỏ đất bazan, lúc ầm ầm cuốn tung nỗi hân hoan của tiếng thác đổ, lúc rì rào lăn tăn, ve vuốt qua từng phiến đá hai bờ. Nàng như con nai, con hoẵng trên đồng cỏ ngút ngàn, như cánh cò trắng muốt, lặng lẽ bên các tum nước. Nàng ẩn hiện như thứ ráng chiều chói rực chao trong cơn nắng quái rồi trườn mất vào bóng đêm, đằng sau chỉ còn lại một vệt lờ mờ bay lên từ đất, từ muôn loại cỏ cây quấn thành cột khói hư huyền, kết tụ rồi tan nhanh rồi quay lại vất vơ trên những cành lá, như có như không.

Mười sáu năm rồi tiếp nối niềm hân hoan mệt lả, nỗi buồn nhớ mệt lả.

Và mỗi lần chợt nhớ những giây phút sum vầy, hạnh phúc bên nhau, con tôi lại hỏi:

“Tại sao mẹ không yêu con, yêu ba mà bỏ về với núi rừng?”.

Câu hỏi ấy tôi không giải thích nổi với nó, cũng như Siu B’Liêng, nàng không sao giải nghĩa rành rọt cho con hiểu! Chúng tôi đành phải chấp nhận cứ mỗi sáu bảy tháng một lần làm cuộc hành hương về chốn tình yêu, hoặc với tiếng sóng lõa thể động ầm ầm trườn dọc theo bãi cát; hoặc trên cánh đồng cỏ xanh, mượt đến tận cùng mượt của những ngọn lông tơ. Chúng tôi vùi nỗi nhớ vào nhau như con thú hoang trong mùa trăng mật. Rừng núi thì níu kéo biển lên non và biển khơi mênh mông thì níu kéo rừng xuống thật gần, quấn cánh tay trần vào nhau không buông dứt. Nhưng sự cuồng say ấy rồi cũng tơi tả, tơi tả như cành lá bị cơn bão dữ quật nát búp non mởn, để mỗi người một bên cầu sông Đakbla nhìn nhau vẫy tay, rớt nước mắt.

Dòng sông Đakbla là một thứ định mệnh khắc nghiệt trói chặt cuộc đời chúng tôi lại với nhau, để sau đó, mỗi người một đầu mố cầu nhìn nhau lặng lẽ lúc chia tay.

Cái định mệnh tơi tả ấy là tôi đã vít cong cần rượu, cong đến tận cùng cơn say tuổi trẻ để sau đó theo chân đám con trai trong làng mang đàn gông đứng dưới chân cầu thang nhà nàng, nghêu ngao hát, như con thỏ con đang tập ăn cỏ non, con chìa vôi đang tập hót

thau ddơi dơi
ih bblac jiong tỏnia
em ơi anh quá biết
nước da em rạng ngời như gỗ cây knia
em mượt mà như cây cẩm hương
thân hình em đẹp quá
thấp thoáng bắp chân em
Như tia chớp tháng hai
Thấp thoáng cặp đùi em
như sét đánh tháng ba
để trần cặp vú em
cả làng ta bốc cháy
tỏlũk phun tỏsau
ja’bung sang...


Cái giọng hát ngật ngưỡng la đà câu say câu tỉnh của tôi khiến những tiếng cười không thể nén lại, chợt bật ra đâu đó trên sàn nhà cao, ba hay bốn gì đó không thể phân biệt được trong đêm tối nhập nhòa bên đống lửa sáng rực dưới hiên. Những tiếng cười trong veo của gió núi đại ngàn, của dòng suối sáng bạc dội đập vào cõi lòng hoang mang, ngơ ngẩn…

Tụi con trai tiếp tục đàn và nhảy múa. Còn tôi thì mồ hôi rớt thành hột dài bởi tiếng cười, kích động nỗi háo hức ham muốn chưa định hình, chưa có tên gọi.
Những mắt củi nổ lép bép, toé những hạt đỏ li ti trong trẻo, reo vui với đêm xuống sâu, với tiếng đàn thánh thót, ngân xa và cả tiếng cười rúc rích nửa xua đuổi, chế giễu, nửa mời gọi. Các cô gái vẫn núp đâu đó trên sàn. Đám con trai nhảy quanh ngọn lửa bập bùng, hát mãi không thôi, như cơn mưa đầu mùa làm bay động những con mối từ tổ bay ra và quấn quít trên không trung.

Bất chợt từ trên sàn nhà cao, tiếng hát lướt nhẹ như tơ như gió, phả vào mặt đám trai làng, phả vào tôi đến ngất ngây còn hơn men rượu cần đang loanh quanh trong cơ thể bắt đầu nóng dần lên:

ơi anh bạn xinh xinh
anh rình theo vết chúng em
vết chân con gái bên bờ suối
vết chân anh bị xóa đi trên cát
và anh cũng mất cả
dấu chân chúng em
...
chân chúng ta cùng gặp
theo một điệu
tay chúng ta cùng uốn
theo một nhịp
đôi má ta chạm vào nhau
và nhận ra nhau.


Tiếng hát bay lượn quanh đống lửa, trên đầu chúng tôi mang theo mùi hương của trăm ngàn loài hoa rừng trộn lẫn với mùi đất thơm lừng lựng. Tôi nhận ra nàng qua tiếng hát khói sương. Chính cô ta, người con gái của núi rừng đại ngàn sâu thẳm, chứ không thể là ai khác vừa cất tiếng hát như suối trong, thác reo đó. Thằng K’lưng Đrăck khều tay tôi:

-Mày bắt nó về làm vợ đi. Nó đẹp nhất trong số con gái đẹp trên cao nguyên này. Nó học chữ nhiều. Nó nói được tiếng tây, ăn cơm bằng muỗng, bằng nỉa chớ không bốc như bọn tao. Nó giống tụi bay.

Tôi gật đầu nghe K’lưng nói chứ không thấy mặt mũi “Nó” ra sao. K’lưng tiếp:

-Mày ưng, nó sẽ cưới mày ngàn con bò, trăm ché túc và nhiều thứ nữa.

-Tao không biết. Tao chỉ đi hát với tụi bay thôi. Mà sao “nó” không bắt đứa nào trong đám bọn bay làm chồng?

-Con mắt nó không chịu ngó tới ai. Bụng nó không ưng tụi tao. Mày chưa thấy nó đâu. Nó đẹp đến nỗi những con báo cái đẹp nhất xứ này cũng lồng lên mà ghen với nó. Nó nói chuyện được với mấy ông Tây về thăm làng. Nó rất thương người già và lũ con nít. Cái bụng nó rộng rãi mà...

Đống lửa tàn dần.
Đêm sâu hun hút những xao động vu vơ.
Tôi nhập vào đám trai làng quàng vai nhau, chân thấp chân cao trở về, kéo theo những cần rượu say, những câu hát say, lửa hồng và đêm rưng rưng trên mặt cỏ đẫm sương. Tôi kéo “nó” theo trên những cọng cỏ đẫm sương đêm, kéo theo những âm thanh như thật như hư, thênh thênh trong đêm khuya khoắt.

đôi má ta chạm vào nhau
và nhận ra nhau

Câu hát vời vợi mời gọi đó ám theo đầu óc tôi, rưng rưng bước chân tôi liêu xiêu như bay như lướt trên con đường đất đỏ say nhè, trên đồi cỏ sũng sương đêm bên kia bờ Đakbla.
Và trên con đường đất đỏ ấy, trên bãi cỏ hoang ngậm sương ấy, tôi đã nhận ra nàng trong cõi thênh thang tiếng hát ngọt ngào, ngây ngất như vừa được uống thêm chén rượu bồ đào.
Mãi về sau này, khi đã là vợ tôi, nàng mới hé lộ cái đêm đầu tiên và thần tiên “chạm vào nhau”.

“Nghe cái giọng anh hát buồn cười thật, y như mấy ông nước ngoài tập hát tiếng Việt. Em để bụng thương anh cũng chỉ vì bài hát bọn trai làng bày cho anh, cái giọng hát ngọng nghịu, đơ đớ nghe ngồ ngộ, như con chim non mới tập hót, con gà tập gáy vậy. Điều này giống như đám con nít hồi nhỏ tụi em cố chứng minh mình là người lớn”. Từ đó chỉ có nàng hát cho tôi nghe, rồi con gái tôi nghe bên tao võng. Nàng không bày tôi thêm bài nào nữa cả, nói “đủ rồi, để em giữ mãi giọng hát lần đầu anh tập hát”.

Biển động dữ dội, ầm ì suốt ngày đêm. Đài trực canh báo có bão gần. Mây đen vần vũ và mưa tối đường. Mưa và gió quần nhau như trẻ con chạy cút kiếm, lúc hất bên này, lúc tạt bên kia, xoáy tròn tròn trên mái. Hạ Cơ thỉnh thoảng lại giật mình khóc thét sau tiếng sấm động. Siu B’Liêng bước tới ôm con vào lòng ru ấp, mắt buồn vời vợi. Mưa bão và sấm chớp khiến nàng chạnh lòng nhớ những quả đồi thoai thoải, tiếng con mang tác, con công tố hộ, gà rừng te tát trên ngọn cây? Đầu óc tôi nghĩ vậy, nhưng thầm mong chuyện ấy không bao giờ là sự thật. Chúng tôi thật sự yêu nhau, người này không thể thiếu người kia. Hạnh phúc của chúng tôi tròn đầy. Nhưng thỉnh thoảng nàng lại xa xôi nhìn những đám mây trôi về hướng mặt trời lặn. Nhiều lần tôi gặng hỏi, nàng một mực không có gì. Bữa nay, điệu bộ ấy được lặp lại trong một thoáng xa xăm cuối đáy mắt, khiến tôi chạnh lòng.

-Hay em về trên đó vài tuần, với mẹ, với làng?

-Em mới đi ba tháng trước đây. Thôi, để mùa trăng cúng cơm mới em và anh và Hạ Cơ cùng về thăm làng luôn.

Buông câu nói, tôi nhìn sâu vào đôi mắt nàng, thấy long lanh một niềm vui vàng vọt như cánh hoa bồ xít vàng ngoài tường rào.
Biển đập ầm ầm. Sấm chớp xòe sáng mọi ngóc ngách trong nhà.
Nửa đêm Siu B’Liêng ngồi bật dậy, kéo cả tôi theo như một thứ phản xạ tự nhiên.

-Anh nói đúng, sấm chớp thế này khiến em nhớ rừng quá đỗi là nhớ.

-Anh cũng vậy. Anh nhớ chân cầu thang dưới hiên nhà em, nhớ những đốm lửa nổ tí tách, nhớ dòng sông đỏ quạch màu son, chảy ngược lên dãy Trường Sơn trước khi đổ ra biển Đông.

-Những năm em học ở Couvent des Oiseaux, thầy J. Dupont vẫn thường nói với tụi em, nói trong giờ ra chơi, rằng có sống chung, sinh hoạt chung với đồng bào cao nguyên mới hiểu thế nào là tình yêu đất, yêu rừng và rồi ông phát hiện vô số những định kiến mà người kinh dưới xuôi, người châu Âu đã và đang tiếp tục đối xử với đồng bào cao nguyên bằng sự so sánh không công bằng, thiên lệch.

-Ai nói với em những điều này?

-Thầy J. Dupont. Thầy chỉ phát hiện nói ra, chứ còn dân tộc tụi em thì đã nhìn thấy các vấn đề từ sự bày biện có sẵn trước mặt, từ đời này qua đời nọ mà các anh gọi là tập quán. Chẳng hạn, tự đáy lòng sâu thẳm, mà nền văn minh chữ nghĩa các anh gọi là Tâm Thức thì núi rừng đối với tụi em là ngôi nhà chung. Rừng là hơi thở, là mạch máu, là đường gân, thớ thịt không thể thiếu, không bao giờ chia cắt được. Sống thiếu rừng, thiếu sông suối chẳng khác nào cây lúa, cây bắp nhổ gốc phơi trần trên mặt đất khô khốc, như xua đuổi bầy thú ra khỏi cánh đồng cỏ, sông suối vậy.

-Điều này đã quá rõ ràng – tôi nói.

-Hẳn nhiên. Nhưng những điều không rõ ràng chính là cái nhìn lỗi phạm khi cho đồng bào thiểu số mê tín, văn hóa ăn và văn hóa ở bất cập. Họ sinh sống ở giữa lòng những cánh rừng đại ngàn thì họ phải cất nhà sàn, phải nấu ăn ngay trong nhà, lửa cháy suốt đêm ngày... để nòi giống còn tồn tại tới ngày nay. Những ông tây bà đầm và người miền xuôi dạng hai chân trên nền văn hóa của dân tộc này để ném một cái nhìn lệch chiều về một nền văn hóa của dân tộc khác là điều không thể chấp nhận. Văn minh và văn hóa là hai khái niệm, hai phạm trù khác biệt nhau. Văn hóa của người Mỹ là gì?

-Anh hiểu rồi. Anh hiểu đất, rừng và sông suối kể từ khi anh có em. Anh cũng đang bắt đầu thuộc về rừng như em. Thôi ngủ đi. Không biết bão có vào hay quay hướng đi xa?

Siu B’Liêng chảy nước mắt trên ngực tôi.

-Tại vì quá yêu anh nên em đã phản bội rừng, phản bội con sông, con suối.

-Em đã biết rồi mà, anh chưa bao giờ có định kiến với cao nguyên. Nếu vậy anh đã không lấy em từ lâu rồi. Cả em cũng vậy, phải không?

-Em không biết. Nhưng chắc chắn xứ sở em là rừng núi, sông suối thác gềnh, là bầy thú hoang, là những cánh đồng cỏ mênh mông, rờn xanh từ phía mặt trời mọc sang bên mặt trời lặn, từ đỉnh chân trời này giáp đỉnh cong trời đất kia.

-Thì em và anh không ở chỗ giáp đỉnh cong trời đất kia là gì?

-Không phải vậy. Ở đây chỉ có sự gào rú suốt ngày đêm. Biển gào rú. Phố xá gào rú. Tất cả đồng thanh cất lên một thứ âm thanh thật dễ sợ. Những lúc anh đi vắng, em cố lắng nghe tiếng thì thào như ru, như hát, những âm thanh mỏng như dòng nước vuốt ve hòn đá xanh rong rêu... nhưng chẳng bao giờ em nghe được. Anh còn nhớ không? Hãy nói lại cảm giác của mình khi lần đầu em đưa anh vào khu rừng P’lick Jar?

-Anh không chú ý gì cả giữa khu rừng trùng trùng cây to cây nhỏ, vì em đã choáng hết chỗ trong khu rừng đó. Trước mắt anh chỉ có em mà thôi. Duy nhất một mình em.

-Đó chỉ là tình yêu anh dành cho em. Còn P’Lick Jar là một thế giới mê hoặc níu giữ bước chân người, bởi nó là cánh rừng già đẹp nhất của em, đẹp từ tuổi ấu thơ cho mãi đến giờ. Chính nó chứ không ai khác đã che chở em và dân làng, nuôi dưỡng, phả hơi thở thơm ngọt mùi mật ong vào thớ thịt mọi người. Rồi những cây đại thụ hàng trăm năm tuổi xoay tròn tán lá trong gió và nắng trên một thảm cỏ mượt như nhung. Cả con người và chim thú đều gặp nhau trên mảnh đất ấy, rất bình yên; một nơi chốn mà có nằm mơ cả thế giới văn minh cũng không tìm được nơi thứ hai trên trái đất này.

-Ngay ngày mai, anh có thể đưa em về thăm núi rừng. Em biết là anh sẽ làm bất cứ điều gì để em vui, để anh không mất em, chúng ta vĩnh viễn bên nhau.

-Em cũng vậy. Em yêu anh như con nai yêu đồng cỏ của nó, như con chim yêu cành cây của chúng, như con cá lúi cá mương lượn lờ bên khe nước trong soi mặt. Em không thể thiếu anh, nhưng nếu phải xa cách rừng núi quá lâu ngày, thì nỗi nhớ nhung ấy sẽ dày vò đến làm em chết mất, chứ chưa nói chi đến sự trừng phạt của Yang.

-Khi yêu nhau, thánh thần không nỡ bắt tội.

-Nhưng rừng núi bắt tội em. Mà tại sao anh không dám bỏ biển lên rừng với em, như em đã từng làm cho anh? Nền văn minh cơ khí luôn có cái nhìn khắt khe với người khác, ngắm nghía văn hóa của dân tộc khác theo cái nhìn một chiều của mình?

-Chẳng lẽ huyền sử Âu Cơ và Lạc Long Quân lại rơi đúng vào trường hợp của chúng mình? Tổ tiên ta có những trăm người con để chia nhau đồng đều. Còn em và anh chỉ có mỗi một mình Hạ Cơ, chúng ta phải làm sao đây cho rừng núi không bỏ em, cho đồng bằng, biển khơi không quay lưng lại với chúng ta, hỡi Siu B’Liêng?

Nàng im lặng không nói gì, vùi đầu vào ngực tôi khóc như mưa bão đổ sầm sập ngoài kia. Tôi vuốt ve khuôn mặt nhòe nhoẹt nước mắt nàng. Thân thể nàng rung bần bật từng cơn dài như những cây bằng lăng cong oằn dưới gió bão. Một sự chịu đựng phi thường đến quá mức đối với nàng, một đứa con của rừng, dần dần lạc mất lối về, rơi tõm vào xứ sở mông muội hồ đồ hổ lốn những khói bụi phi nhân văn. Hạ Cơ, đứa con duy nhất của chúng tôi vẫn ngủ say trong chiếc nôi ấm, không hề hay biết cõi lòng tan hoang của cha và mẹ. Bao nhiêu lần, tôi muốn nhỏm dậy, bồng Hạ Cơ đặt giữa hai chúng tôi, để tấm thân nhỏ bé ấm áp ấy, tâm hồn trong trắng ấy sưởi chút hơi ấm tinh nguyên cho sự chia lìa sắp vỡ toang. B’Liêng càng lúc càng khóc dữ dội hơn bằng sự kềm nén âm thanh trong lồng ngực, âm thanh không bật thành tiếng mà chuyển động khắp cơ thể, rung lên từng hồi, chuyền hẳn qua ngực tôi những thỏi đá lạnh băng, lạnh não nề như thể mọi giác quan bị thỏi lạnh băng kia làm co quắp lại.
Tôi chỉ còn biết ôm chặt nàng, ve vuốt nàng thay những lời an ủi không thể thốt ra thành lời.
Lát sau, B’Liêng gỡ tay tôi, ngồi dựa lên thành giường.

-Anh tha lỗi cho em. Em không muốn làm vậy. Ngàn lần em không muốn vậy. Nhưng em không thể cưỡng chống lại tiếng thì thào của rừng núi, nơi chốn tụ hội hàng ngàn, hàng vạn thứ trên mặt đất này đã thấm đẫm trong thịt da em mà anh chỉ mới hiểu, mới len vào một cõi nhỏ trong em.

-Anh hiểu nỗi nhớ thương quay quắt của em. Giờ thì em hãy ngủ đi, hỡi con sóc bé nhỏ của anh.

xxx

Ông cụ muốn đi ngay Tân Cảnh, mà bến thì vắng hoe. Ông loay hoay với chiếc túi vải trên tay, vẻ mặt căng thẳng và đầy lo lắng. Ông nhìn sững vào mặt người tài xế như muốn cầu cứu một sự hóa phép nào đó để ông có thể có mặt ngay tại Tân Cảnh lúc này. Người tài xế còn trẻ có vẻ bối rối. Tôi thì càng lúng túng hơn. Mấy lần định mở miệng mời ông về nhà B’Liêng nghỉ qua đêm, mai đi sớm. Nhưng chiếc túi vải cứ sang vai liên tục, ý hẳn ông muốn đi ngay đêm nay.

Người tài xế rút thuốc mồi lửa, ngửa cổ rít một hơi thật dài, nói gì đó với ông già rồi cả hai lên xe, đóng sập cửa chạy hút về phía chợ. Tôi không nghĩ người tài xế có tấm lòng rộng mở đến thế để đưa ông già đi tiếp 70 cây số đường rừng, nhưng rất có thể anh ta tìm cách nào đó để gửi ông già đi nhanh nhất. Và vô tình, người tài xế lại nhiệt tình tham gia vào sự thương nhớ nao nao của ông cụ già cô độc. Tôi ngó sững chiếc xe khách mất hút ở cuối phố vắng hoe. Chiếc xe dường như cũng hăm hở rung lên, chờ đợi giây phút trùng phùng giữa cha con, ông cháu. Nhưng liệu sau đó, những người thân yêu nhất có thực hiện đúng theo sự khao khát mãnh liệt của ông? Hay rừng núi đã níu chân họ lại, để ông già lầm lũi quay về đoạn đường dài gần bốn trăm cây số, không biết lấy ai chia sớt nỗi buồn?

Ông già đã mất hút trong niềm hân hoan chen lẫn nỗi buồn.

Còn tôi? Và B’Liêng?

Đường phố Kontum heo hút những con đường nhỏ, dài, nhà cửa núp sâu dưới những tàn cây, vườn tược rộng thênh. Tôi giống như người lạ mặt, ngập ngừng trên phố, ngập ngừng bước về phía làng Đak Jar.

Tôi đã đến với em thật gần. Tôi như kẻ tội đồ bạc mệnh bước về phía giáo đường, nơi em đang đắm hồn trong chốn mênh mông của đất trời, cây cỏ, chim muông. Tôi đang đuổi theo bóng em chìm dần vào bóng hoàng hôn nhòa nhạt. Mặt trời của em giấu tia sáng đâu đó, nơi em gọi là đỉnh cong của trời đất kia.

Tôi đang bước về phía em, như con nai bước tới thảm cỏ, như đàn voi bước tới con suối. Tôi nhìn thấy đôi mắt lung liêng của em trên bậc cầu thang dõi theo tôi và Hạ Cơ. Tôi lao tới với tất cả nỗi nhớ nhung rực lửa, reo cùng tiếng đàn gông quấn quít bên hiên nhà và bay vút lên chóp cây. Còn tôi và em thì bay vút về phía mặt trời mọc.

Tôi đang đứng bên bờ Đakbla, dòng sông đã thít chặt đời tôi và em vào nhau, rồi bất ngờ xô ngã chúng ta dạt qua hai bờ.

Đakbla ơi! đến ngươi cũng bắt đầu bi lụy nhỏ những giọt nước mắt xuống đời ta, phủ một lớp bụi mỏng trùng trùng trước mặt? Ngươi hay Mưa bắt đầu đổ. Ban đầu chỉ là những hạt li ti như bụi phấn bay. Rồi càng lúc càng dày thành sợi. Làng Đak Jar nhòa trong nước mắt mưa và bóng hoàng hôn. Rừng đen thẫm ở phía xa và em như đội cơn mưa, hình như không phải bước về phía tôi, giang đôi tay thương nhớ ôm choàng lấy tôi mà bước qua bên kia, sâu vào cánh rừng, với một chút dịu dàng gió núi, một chút ngập ngừng của dòng nước chảy rẽ hai. Em bước về với rừng không ngoảnh lại.

Trong cơn mưa, đất thơm nồng, níu chặt bước chân tôi vội vã lao về phía em...
Và tôi chợt hiểu rằng, em là cô gái rừng, người con gái của rừng, đẹp nhất trần gian.

(Kontum,6/2003)

Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»