Diễn Đàn » Tác giả người Việt

NGUYỄN LỆ UYÊN

38 trả lời, 1.757 lượt xem — Trang 2 / 2
CHÌM SÂU XUỐNG ĐÁY


NGUYỄN LỆ UYÊN



- Anh là đồ đểu cáng, quân lưu manh, loại người tán tận lương tâm, phường sơn đông mãi võ đầu đường xó chợ! – Cô gào lên. Gào lên và nằm gục trên thành ghế. Hai vai rung bần bật như gốc cây bị cơn bão lớn xô lay nghiêng ngã. Đầu tóc cô rũ rợi như tóc con mụ điên. Lúc này không thể nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp của cô, đôi mắt tròn đen láy của cô và làn da mịn màng trên đôi má ửng hồng như mọi khi. Nó chìm mất dưới hai vai, dưới mái tóc xổ tung. Cô như đang chìm dần, chìm dần xuống đáy hồ màu nước đen.

Chồng cô đi tới đi lui trong phòng khách bày biện sang trọng. Hai tay hết đưa lên trời lại buông thõng xuống, đầy vẻ bất lực, cam chịu. Anh ta đang tìm câu trả lời, nhưng chưa có câu trả lời nào xuôi lọt, bèn ngồi đánh phịch xuống ghế sô pha, trước mặt vợ, rặn từng tiếng một:

-Em… nghe này... Anh làm… như vậy là vì ai? Vì… vì… tương lai của… chúng ta, con chúng ta…

-Tôi không cần thứ tương lai nhơ nhuốc đó. Anh đánh đồng tôi với con đĩ không hơn không kém – Cô không gào mà rống lên, ngẩng mặt nhìn thẳng vào mặt chồng với cặp mắt ngầu đỏ - Nếu tôi muốn làm đĩ thì tôi đã làm đĩ từ lâu chớ không phải đợi đến lượt anh đẩy vợ vào tay kẻ khác.

-Tại sao em… cứ làm to chuyện lên vậy? Có mất mát gì đâu nào? Xếp mời đi ăn. Một bữa tối hơn mức bình thường thế thôi. Xếp sẽ… - anh nói một cách trơn tru, nhưng nói chưa hết câu, cô vụt đứng lên, nhanh như con chim cắt, chụp ly uống trà ném choang vào mặt chồng. Chiếc ly sứ màu trắng bay với tốc độ của viên đạn bay ra khỏi nòng súng, sượt qua mép tai chồng, vỡ đánh choảng vào bức tường trước mặt, để lại một vết loang nham nhở. Mảnh vỡ nảy lên rổn rảng trên nền gạch hoa trước khi vung vãi tung toé trên sàn. Bên tai anh chồng có cảm giác như có hơi nóng đường bay của viên đạn khiến anh đứng vụt dậy theo bản năng của con người khi gặp nạn, cùng lúc với cánh tay phải đưa lên và chồm tới… rồi tự đánh rơi thân thể xuống lòng ghế, nghe tiếp tiếng thét như lưỡi gươm chạm mạnh vào tảng đá rắn.

-Anh cút đi! Cút khỏi căn nhà này cho khuất mắt tôi.

Cô nói và ném cái nhìn khinh bỉ về phía chồng, loạng choạng đứng lên, bước về phòng, đóng sập cửa lại.


Nhà hàng M.A sang trọng vào loại bậc nhất thành phố. Phòng ốc rộng rãi, thoáng mát. Tường dán bằng loại đá tổ ong đào xới đâu đó dưới lòng đất, khiến khách có cảm giác như đang ngồi trong hang động thời tiền sử. Trên tường treo vài bức tranh chép, mấy giò lan hồ điệp, vũ nữ; bàn ghế rặc theo kiểu Tàu thời vua chúa. Một lần ngồi vào những căn phòng sang trọng này, dễ chừng khách có cảm giác bị đánh lừa rằng ta cũng thuộc loại công hầu khanh tướng thời thạnh trị.

Xếp Tần thường tiếp khách ở nơi này. Nhưng không phải khách nào ông cũng đưa đến đây. Ông phân loại như dân rổi bờ phân loại cá từ các tàu thuyền đánh bắt từ biển đưa lên. Chỉ có khách xộp, loại cấp trên ông mới đưa đến. Đồng cấp thì nhà hàng khác, cỡ tầm tầm; cấp thấp là những nơi thượng vàng hạ cám đều có thể ngồi và huênh hoang chuyện trời đất về sự nghiệp cống hiến, có thể ăn tục nói phét; thậm chí, những lúc bia rượu bốc lên đầu, hoa mắt có thể đưa tay xoa mông những cô tiếp viên đáng tuổi con cháu.

Ông phân biệt và xếp loại một cách rạch ròi như vậy, biết cách chìu luồn, nắn bóp nên được cất nhắc làm xếp một cơ quan béo bở, hái ra tiền. Lắm kẻ mơ ước chỉ cần ghé đít ngồi vào chiếc ghế này để ký tên, đóng dấu chừng nửa năm rồi chuyển đi bất cứ nơi nào, họ cũng sẵn lòng. Nhưng cơ may đó không tới tay họ. Người tốt số là ông. Một nhân vật biết người, biết ta, thừa khả năng giao tiếp, đến nỗi những kẻ khó tính đến đâu cũng không thể “bực mình” với ông được. Chưa bao giờ thấy cấp trên cao hoạnh hoẹ ông. Có thanh tra mấy lần, tưởng vỡ tổ, nhưng ông là kỹ sư hàn xì nên bịt lỗ mọi rất nhanh. Tất cả đều đề huề, vui vẻ. Ông cũng vui. Nhưng cấp cao hơn lại vui gấp bội, bởi họ không bị mất một nguồn thu nhập đáng kể, hợp pháp.

Thông thường, khi ông há mồm nhét vào cục cơm nếp thì đám nhân viên được vét những mẫu cặn cháo dính trong thành tô. Ông ăn beefteck thì nhân viên cũng có được những mẫu vụn bánh mì vung vãi trên bàn ăn. Rượu tràn ly. Dô dô. Bia ngập phòng. Dô dô. Đám nhân viên luôn hò la cùng ông, múa may một cách đồng cảm với ông.

Nhưng với cái đám nhân viên kia, ông luôn ngó chừng. Ông cứng rắn và mềm mỏng. Ông vỗ về kiểu an dân và nắn bóp thiệt mạnh rồi lại xuê xoa, hề hề, khiến ai trong cơ quan cũng nghĩ ông luôn quan tâm, luôn thương yêu mình hơn những kẻ khác.

Luân cũng nằm trong số suy nghĩ ấy, và anh cúc cung phục dịch cho ông Tần trong công việc ở cơ quan và ở cả nhà riêng một cách kín đáo. Có lúc anh tìm mua những con vú nàng với giá cắt cổ mang đến nhà ông Tần, tự tay chế biến, bưng lên bàn:

-Anh chị dùng thử món này. Không những hiếm quí mà còn ngon hơn ốc hương, sò huyết. Ăn nhiều, bổ như canh yến huyết … - Anh liếc nhìn vợ ông Tần, tay xoa xoa vào nhau – Chị thứ lỗi, em…

Cái kiểu nói lấp lửng khiến ông Tần nghĩ anh nhân viên là người trung thành nhẩt trong số mấy chục người dưới tay. Còn bà Tần nghĩ anh là người dễ thương, biết kính trọng người lớn.
Những bữa ăn như vậy, anh ngồi gần như làm vì, ăn ít gọi là để nhường cho cái miệng luôn động đậy và bàn tay cầm nĩa luôn động đậy. Anh gắp bỏ những món ăn thơm phức vào chén vợ chồng thủ trưởng, giục:

-Anh chị dùng nhiều vào, bổ lắm, mát… - Miệng nói, hai tay xoa xoa vào nhau.

Bữa ăn chấm dứt, anh đứng lên mang hộp tăm tới đưa tận tay, lại rót nước đặt trước mặt hai người rồi thu dọn tất cả mâm chén, mang xuống bếp, tự tay rửa sạch.

Đúng là loại trí thức mẫn cán từ công chuyện cơ quan tới chuyện riêng tư, ông Tần ngẫm nghĩ. Tay này khá. Ngay cả hồi học Bách khoa nó cũng chứng tỏ tài năng rồi. Bà Tần cũng lơ mơ trong đầu: anh này được. Đồng tử hai người dãn ra, mép họ cũng dãn ra và đều có ý nghĩ chung: thời buổi này hiếm có con người nào được như vậy.

Ông bà Tần rất hài lòng.

Luân nghĩ bước đầu mình đã thành công khi dần chiếm được cảm tình của ông bà Tần. Quan trọng nhất là bà Tần. Luân hể hả chào ông bà và không quên kèm theo lời chúc ngủ ngon giấc.

Anh nắm bàn tay hâm hấp mồ hôi của xếp. Anh nghiêng người chào bà Tần theo cung cách của con nhà quí tộc và bước ra cổng.

Luân dắt xe ra một đoạn khá xa mới nổ máy. Xe lướt êm như chiếc thuyền trôi trên mặt sông không gợn sóng.

Một lúc khá lâu, sau khi cạy hết bợn nơi chân răng, bà Tần nghiêng người về phía chồng, nhận xét:

-Tay này được đấy. Nó có chức vụ gì chưa?

Ông Tần bưng ly nước uống một ngụm nhỏ, giữ một lúc trong miệng trước khi nuốt đánh ực, nói:

-Sao bà hay thọc chân tay vào chuyện cơ quan lắm vậy?

-Thì em cũng hỏi vậy. Lính của anh đến nhà đông nhưng không ai bằng thằng này. Nó làm công việc chắc khá?

-Chuyện đó bà khỏi cần hỏi.

-Em chỉ nhận xét thôi.

Ông cáu:

-Ừ, khá nhất trong đám.

-Vậy chắc nó cũng được phân công vào một chức vụ nho nhỏ nào đó? – Bà ỡm ờ.

-Tất nhiên. Trưởng phòng kế hoạch. Tôi cũng đang cân nhắc đề bạt nó lên phó để giúp tôi.


Những lỗ hổng đá ong trương phình lên như những hang động lung linh. Bức tranh chép “quán cà phê đêm” của Van Gogh ngập màn đêm và ánh sáng lờ mờ. Giò lan vũ nữ nháy múa tung tăn như nàng trinh nữ chập chờn trên thảm cỏ mượt mà. Gian phòng lộng lẫy, xoay vòng, giang đôi tay dìu cô bay lượn trên không trung. Tiếng nhạc từ các hang động văng vẳng, róc rách tiếng suối reo trong trẻo. Và tiếng hót chim hoạ mi. Và hương hoa ngào ngạt. Cô miên man và chìm ngợp trong âm thanh và sắc màu đó. Cô đã hoá thân thành nàng trinh nữ ở một xứ sở lung linh hàng vạn sắc màu, với những ly rượu vang trắng nhập từ Pháp. Cô không còn nhớ mình đã uống bao nhiêu, bởi ông Tần luôn rót, luôn mời và luôn miệng khen cô xinh đẹp khả ái… Có lúc cô có cảm giác như bàn tay nhớp nháp ai đó siết lấy tay mình, vuốt ve, mơn trớn. Cảm giác thoả mãn và đau nhói trộn lẫn vào nhau, du ra xa, kéo xích lại gần rồi đẩy tít cô lên cao và không còn biết rõ mình đang ở đâu, Luân ngồi chỗ nào trong đám nhân viên tín cẩn nhất của ông Tần. Mình đang đánh đu sự cợt nhã thấp kém hay sự lịch lãm của những tên điếm đàng? Còn Luân đang ở đâu, sao không thấy anh đưa lời đỡ vợ? Cô đưa tay ra, đụng phải khoảng không trống rỗng và lạnh ngắt, chới với rồi vụt bay lên cao, cao tít tận miền trắng đục không có thời gian và không gian tục tằn trần giới. Cô chìm vào giấc mộng thật dài không hình dạng, được bao bọc bằng lớp bọt khí trong suốt thủy tinh. Cô không còn nhìn thấy Luân, chồng cô; không thấy ông Tần cùng những người ngồi quanh chiếc bàn rộng lúc trước. Những bông hồng trên bàn ăn, muỗng, nỉa, dao và chiếc khăn bàn trắng tinh như lông con thiên nga đang bơi lội trong hồ nước trong xanh… Cô bỗng nhớ đến vũ khúc nổi tiếng của Chaikovski, những con thiên nga trắng muốt bơi lượn trên mặt hồ trong xanh. Xa hơn, vẳng lại khúc Danube Blue lướt trôi trên màng nước mỏng tang. Nhưng sau đó, chỉ một thoáng ngắn ngủi, tất cả đều biến thành lớp bọt khí lều bều, trôi bềnh bồng khắp cả bầu trời vô tận vô cùng. Cô thấy thân thể mình nhẹ tênh, những cảm giác rung rinh lềnh bềnh, có lúc như những khoái cảm nhói lên rồi rời rụng xuống đáy vực hoang vắng. Cứ thế mà cô bay lượn. Cứ thế mà cô chao cánh giữa lớp bọt khí nhẹ tênh không trọng lực.

Bầu trời thì bao la, mênh mông. Đôi cánh thì mỏng và có giới hạn. Cánh mỏi. Cô mỏi thiệt. Cô tỉnh hẳn. Mở mắt ra, thao láo ngó trần nhà có chùm đèn trên cao không sáng. Chỉ có ánh sáng màu xanh nhạt lờ mờ hắt ra từ một góc nào đó. Chùm đèn trên cao và màu sáng xanh kia không phải nơi nhà cô. Chiếc giường cô đang nằm cũng lạ hoắc. Chiếc gối lạ hoắc. Cả mùi nước hoa ngai ngái đĩ đĩ cũng từ xứ nào ám vào người cô. Cô tỉnh hẳn, như thể vừa từ cõi mộng du bước về, vội vàng đưa tay chụp lên ngực. Bộ ngực trần trụi hổn hển thở như tiếng thở thoi thóp của kẻ chết đuối vừa kịp vớt lên. Cô đưa vội bàn tay xuống xa dưới kia, chỗ bụng. Cúc áo lật tung. Cô xê dịch bàn tay. Cô hốt hoảng: cái gì thế này? Tự hỏi trong đầu và vùng ngồi dậy. Đầu óc nặng trình trịch như đeo đá tảng. Cô ngã sụp xuống, mắt mở thao láo, không dám tin vào những gì mình vừa ngó thấy, vừa nhận ra. Luân bỏ đi đâu? Ông Tần đi đâu? Những người ngồi lúc nãy giơ ly xưng tụng thủ trưởng với cơ man từ ngữ hoa mỹ nịnh nọt, giờ chạy trốn hóc xó nào? Sao bỏ mình cô nằm giữa nơi đĩ bợm xa lạ này?

Cô lấy hết sức ngồi dậy. Toàn thân ê ẩm. Cô nghe tiếng nước chảy trong phòng tắm. Lúc sau ông Tần bước ra. Cô há hốc miệng, trố mắt nhìn ông như nhìn một con quái vật, như một tên đao phủ có bộ mặt ông thầy tu. Ông vẫn ăn vận như lúc ngồi nơi bàn tiệc. Có khác là chiếc cà vạt trễ xuống, áo quần xộc xệch… Cô trân trối ngó ông với nỗi run sợ hoảng loạn.

Ông lên tiếng trước, khi vừa nhìn thấy cô ngồi chết trân trên giường.

-Cô không sao chứ? Cô làm tôi sợ hết hồn.

Cô oà khóc. Hai vai rung lật bật:

-Sao tôi ở đây? Tại sao ông đưa tôi tới đây, Luân đâu? Họ đâu cả rồi?

-Cô bình tĩnh. Lúc ở nhà hàng, Luân nói chạy đi đâu đó có chút việc quan trọng. Tôi chờ tới khi mọi người ra về nhưng Luân không đến, trong khi cô thì say quá sức. Tôi gọi điện. Điện thoại bận liên tục nên đành phải đưa cô về. Nhưng cửa thì khoá cứng. Tôi để cô nằm trên vỉa hè à? Đành phải đưa cô tới đây, chờ Luân. Nhưng cái thằng ôn dịch đó không rõ làm gì ở đâu gọi mãi không xong. Giờ thì cô tỉnh lại rồi. Tôi đưa cô về. Không có gì xảy ra cả!

Ông Tần nhơn nhơn bản mặt dày cộp lớp mỡ heo, nói một thôi một hồi dài. Cô la lên:

-Các người là một lũ đốn mạt, một bọn đê hèn!

-Cô đừng có quá lời. Trước lúc chồng cô đưa đi dự liên hoan, nó không nói gì với cô sao?

-Nói gì cái lũ đĩ bợm các người, rặc một lũ cặn bã dưới đáy xã hội!

-Vậy là lỗi của Luân. Liên hoan mừng chồng cô lên chức đó. Tôi đề bạt và trên ký quyết định bổ nhiệm sáng nay và chúng ta liên hoan mừng...

Cô gào lên:

-Ra thế. Rất sòng phẳng. Một cuộc buôn bán sòng phẳng – Cô nghẹn ngào, uất ức mà không mở ra lời nào tệ mạt hơn để ném vào mặt bọn người đê tiện và kẻ đứng gần cô nhất lúc này.
Giá như cô chết được. Chết ngay tức khắc có lẽ sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều. Cô bật dậy, loạng choạng chạy ra khỏi phòng như một con điếm mạt hạng. Cô lao đi trong đêm tối, giữa đường phố khuya khoắt. Cô cắm đầu chạy mà không biết mình chạy đi đâu. Những giọt nước mắt tủi nhục chạy theo cô. Gió thổi tung mái tóc rối bù cùng cô chạy như thể phía sau là lũ kẻ cướp tay vấy máu đang truy đuổi.
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÁM ĐÔNG


NGUYỄN LỆ UYÊN



Tôi quả quyết với cậu nó sẽ là vị anh hùng của phần đất này. Sống gần với nó lâu năm, tôi biết. Với mẫu người đó, tôi đoan chắc không một ai trong chúng ta có thể so sánh được. Nó như một ông tướng oai hùng thời Chiến Quốc. Một lời nói vút ra như đường gươm xé trong không.
Nào, chúng ta hãy nâng ly uống mừmg kẻ vắng mặt!
Nào, xin mời! Chúng tao trân trọng nâng ly chúc mừmg mày, thằng anh hùng!

Cả bọn ồn ào. Những chiếc cốc thủy tinh sóng sánh màu rượu hổ phách nâng cao ngang mày. Những cặp mắt nhắm tít. Những chiếc miệng há rộng như mõm con trâu nước, hở những hàm răng trắng hếu, những hàm răng vàng xỉn, chân răng đóng đầy cặn bợn. Quán thực ồn. Những tiếng ồn thô tục chối tai, nhưng không phải là tiếng ồn của đạn bom gào réo. Hoàn toàn yên tĩnh, an toàn.

Một đám khách ngồi trong góc khuất không lấy gì làm thích thú khi nhìn đám người trẻ tuổi đang huơ chân múa tay bên ngoài kia. Một người trong bọn móc bật lửa trong túi quần, xoay xoay mấy vòng trong lòng tay rồi bất ngờ ném mạnh lên bàn thành tiếng khô gọn đanh.
Mẹ kiếp, ăn với chả uống! Toa thấy thời đại này có chó đẻ không? Trâu ngựa nhảy lên làm người. Tụi trẻ con đeo râu làm người lớn. Chúng ra cái vẻ kẻ cả, anh chị bắt một điều phải thưa ông, hai điều phải bẩm ông. Luân lý. Đạo đức. Trật tự xã hội. Quyền bình đẳng và quyền loạn luân. Quyền nói phét và quyền nhét đầy túi. Bợ đõ và ca cẩm những điều không hề có trong văn hóa, lịch sử dân tộc. Một lũ ngu xuẩn, thương vay khóc mướn lập thuyết mạt vận để nhấn chìm đất nước vào vũng bùn. Thật buồn nôn. Bọn thổ tả đáng nguyền rủa... Hừ, uống đi các toa, uống để quên đi cái khốn nạn tận cùng khốn nạn của thời mạt vận!

Cũng vần những chiếc ly giơ lên. Cũng những chiếc miệng ngoác ra cùng với những chiếc lười thè dài liếm cho tận hết những giọt rượu đắng nồng.

Hày... – Một người chồm hẳn lên bàn – Toa quên mẹ nó cái áp phe của bọn mình rồi?

Đồ đĩ, sao lại quên được cơ chứ. Còn dư thời giờ, toa vội gì. Uống cái đã. Uống hết chỗ này rồi vào Chợ Lớn tìm gái. Moa nghe thằng K. mách có mấy em ca ve từ Hồng Kông vừa sang?

Coi chừng mông đít ghẻ ruồi của các em Hồng Kông!

Chỉ có mông đít không thôi thì tốt rồi.

Mẹ ơi, toa say quá rồi!

Hê... hê...ê... đừng có giỡn mặt chớ các toa. Say thế chó nào được mà say. Mình phải hành động để cho bọn trẻ biết mặt, phục lăn đám đại ca sồn sồn này mới được, không thể để bọn chúng coi thường. Nào, uống đi các toa. Cạn ly!

Sáu người đàn ông ồn ào nâng ly và cụng côm cốp và cười sặc sụa.

Ở bàn ngoài, đám thanh niên liếc nhìn vào, ném những cái nhìn, những nụ cười khẩy tỏ vẻ khinh bỉ. Một cái giọng nhừa nhựa, cố làm ra vẻ tỉnh táo, bắt đầu phều phào.

Tiên sư bố chúng nó. Các cậu có nhận thấy tụi già bây giờ bắt đầu trở chứng, hư đốn không nào? Chúng hắn là tụi đĩ bợm, lừa phỉnh vậy mà mở miệng ra nào là đạo đức, là tôn ti trật tự. Cả thế hệ mình bơ vơ, cơ cực cũng tại do bọn người khốn nạn đó đó.

Nhưng cậu nhắc đến để làm gì mới được cơ chứ? Kết án và chỉ trích bàng mồm thét đâm ra nhàm. Không lẽ đi thanh toán hết cả cái đám già cọm, sệu sạo ấy? Mà cậu có can đảm cầm dao giết ông già cậu không đã?

Nếu thấy câ...ầ ần... – Gã thanh niên có khuôn mặt phì nộn nói và gục mặt xuống bàn kêu đánh cộp.

Ê, cậu làm cái con khỉ gì vậy?

Kệ mẹ nó.

Còn cậu, cậu làm thực?

Thực cái gì?

Đồ khỉ. Thôi được, cậu chạy giùm mình cái giấy đó chưa?

Giấy nào?

Trời đất! Cậu nhớ mình đã ba lần đưa cậu đi nhà hàng rồi đó nhé

A, rồi. Xin lỗi, thằng cha khốn nạn đó đòi chẵn một tê.

Mẹ kiếp, mắc thế. Đào đâu ra bây giờ?

Môt triệu quẳng ra để đổi lấy mạng sống. Dĩ nhiên cậu thích được gần vợ con hơn là phải ra mặt trận?

Chúng mày cứ cãi nhau ỏm tỏi. Vất. Nào chúng ta hãy nâng ly uống mừng kẻ vắng mặt.
Một triệu chưa thấm tháp vào đâu so với thời vận mạt này. Hay là cậu cũng thích ra mặt trận đội bom như những người hùng? Ôi chào, yên vị trong cái thành phố bình yên này vẫn là mơ ước của hàng ngàn người.

Chưa chắc ai hơn ai đâu nhé – Gã phì nộn vung nắm tay chưa lên khỏi mặt bàn và bắt đầu nôn ọe. Chiếc bàn rung lên từng cơn với gã, cùng nôn thốc tháo với gã. Rượu thịt trộn lẫn thành màu bầm huyết heo lầy nhầy tanh.

Cậu nói giúp với lão để thư thư. Lúc này mình kẹt. Cậu biết mà.

Thì cố lên. Mình nhớ loáng thoáng câu “Dieu est un homme heureux auprès de sa femme”. Của ai nhỉ?

Xừ, ai mà nhớ nổi.

Vậy mà cũng xưng là trí thức.

Cứt. Uống đi tụi bay – Gã phì nộn cục cựa cùng với đống lầy nhầy trên bàn.
Đăng nhập để trả lời
0
CĂN PHÒNG


NGUYỄN LỆ UYÊN



Tấm vải trắng trên mặt nệm kéo thẳng. Người đàn bà mặc chiếc váy bằng voan trắng rất đĩ, rất gợi dục. Đôi mắt mụ khép hờ, làm như thể những sợi lông mi cong vuốt chống đỡ hai mí mắt vậy. Dáng nằm của con mụ đàn bà sắp sửa khỏa thân cùng căn phòng màu xanh nhạt, ngọn đèn ngủ lờ mờ khiến người đàn ông hơi chột dạ, hơi mất bình tĩnh. Hắn ta ngồi ké bên mép giường, tay mân mê những sợi tóc lòa xòa của con mụ đàn ba đĩ thõa. Trong thâm tâm, hắn tự thú nhận rằng hắn sẽ đến phát điên nếu con mụ này biến mất khỏi cuộc đời hắn. Hắn cũng thừa nhận trong đời chưa ai làm tình tuyệt vời như con mụ này. Đã đành mụ đẹp rực rỡ, đẹp kiêu kỳ, đẹp đến não lòng, nhưng khi đã ôm quấn lấy, hắn như nghe thênh thang một ngón đàn của người xưa vọng về theo từng những cái ve vuốt của mụ.

Hơi thở của người đàn bà thoảng qua mũi hắn, ngây ngây mùi cỏ dại và mùi của những cánh hoa tím muốt mọc trên sườn đồi, nơi hắn từng dẫn toán quân qua lại nhiều lần. Không kềm được lòng, một sự rung động theo bản năng, hắn cúi xuống hôn người đàn bà, như say như đắm, nhưng kỳ thực hắn cảm thấy toàn thân mình lạnh buốt nỗi cô đơn, lạnh buốt vật vờ và cay đắng.

Anh làm em ngộp thở – Người đàn bà xô hắn ra và nói với giọng điệu hổn hển của kẻ a tòng.

Không đâu. Anh yêu em.

Anh về được bao lâu?

Không rõ. Có thể ngay ngày mai. Có thể vĩnh viễn không bao giờ. Sẽ không còn ai có thể nhìn thấy anh nữa, kể cả em.

Sao thế nhỉ? Anh định trốn chạy à? Như vậy là anh sẽ mất một dịp tốt để gặp lại Hội.

Hội nào?

Ảnh về mang con theo ra Nha Trang cách đây hai ngày. Có thể nay mai anh ta sẽ trở lại.

Ừ nhỉ. Có vẻ như ba đứa chúng ta nặng nợ với nhau?

Và em là kẻ khó xử nhất. Em như một con điếm.

A ha... – Người đàn ông cười ngặt nghẽo – Em là con điếm của anh và của ai nữa? Đúng rồi của Hội nào đó. Và những Hội nào khác nữa?

Anh đừng đay nghiến em.

Em biết là anh yêu em, yêu con mà?

Em không biết nó là con anh hay con của Hội. Nhưng chắc chắn nó là con em. Đôi lúc em cảm thấy buồn hết sức. Đời em nó hẩm hiu quá sức tưởng tượng. Càng gắng sống, em càng cảm thấy như mình đã chết, chết một cách nhục nhã. Em chỉ mong một ngày nào đó cả ba người chúng ta sẽ cùng gặp lại nhau trong căn nhà sát biển. Anh còn nhớ nó chứ?

Vâng, anh nhớ.

Bây gờ chúng ta phải làm gì?

Anh không còn đủ tỉnh táo để biết phải làm gì. Ngoài kia bom đạn vẫn trút xuống ầm ầm. Còn ở đây tuy yên ả, nhưng bom đạn vẫn cứ ùng ục xé nát lòng anh. Không bao giờ anh là kẻ giết người em hiểu chưa?

Không ai cầu mong điều đó xảy ra.

Anh hiểu.

Hoặc là chúng ta tiếp tục tạo ra ảo tưởng để tiếp tục sống một cách nhầy nhụa, hoặc phải có thái độ chọn lựa.

Em bảo chúng ta phải chọn lựa kiểu gì nữa đây, một khi chúng ta bị xô vào vũng bùn, bị đưa vào cuộc chơi đầy trí trá? một trò chơi vô bổ, vô liêm sỉ.

Nghịch cảnh thì ở đâu và chỗ nào mà chả có: anh Biên mất tích, có thể là ảnh mang theo lời hô hào của đám sinh viên vào bưng, cũng có thể chiếc xe đò chở ảnh bị nổ tan xác đâu đó ở một đoạn đường vắng.

Tội nghiệp Biên. Em đừng nhắc đến nó nữa. Anh điên mất.

Anh bình tỉnh đã nào. Cây cầu mà anh có lần bước qua cùng làng quê em đã tan nát như người ta băm rơm. Mẹ em chết vắt vẻo trên ngọn cây. Bộ anh nghĩ em bình thản với chiến tranh sao?

Anh không nghĩ thế. Điều xác tín duy nhất anh không phải là kẻ giết người.

Người đàn bà bật khóc nức nở. Đôi vai trần nõn nuột rung lên.
Người đàn ông đi đi lại lại trong căn phòng hẹp.
Họ không nói gì với nhau.
Có vẻ như họ không muốn nói gì với nhau nữa.

Cả hai chỉ kịp nghe một tiếng nổ đanh khô, chát chúa và đường máu chảy dài trên mặt nệm trắng tinh biến thành vệt đen thẫm mà sau này các tay pháp y đến ghi ghi chép chép đầy trong hồ sơ dày cộp.

(Gửi Má, những ngày đã qua)
(Trích tạp chí Chính Văn, số 1 tháng 2/1972)

Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ĐÀN BÀ


NGUYỄN LỆ UYÊN



Nó đi từ đó tới nay những bốn năm. Mùng 5 tết, nó ôm xách lên tàu làm tôi rớt nướt mắt. Chiếc áo trắng năm cuối cùng ở đại học, đôi giày há mõm, chiếc quần ka ki sờn cũ, bạc phếch. Nó cố tạo vẻ mặt lạnh lùng, thật sắc để giấu mẹ nó. Nhưng làm sao nó có thể giấu được mẹ nó chị nhỉ? Tôi thai mang, sinh dưỡng ra nó. Tôi nuôi nấng nó từng giấc ngủ, từng củ lang củ sắn nên biết con mình hơn ai hết, biết từ khi mới hoài thai cho tới khi nó là thằng đàn ông. Hưừư... đã bốn năm rồi. Nó đi từ ngày đầu mùa xuân, có hoa nở rộ, có tiếng reo vui của đám trẻ con xúng xính quần áo mới tung tăng ngoài đường lộ. Nhưng màu trời thì xám u xám buồn – Người đàn bà chỉ nói được chừng đó. Nước mắt ràn rụa, uất nghẹn.

Chị nên giữ gìn sức khỏe.Tôi chắc sớm muộn gì nó cũng về, nhất định nó sẽ trở về với chị – Bà bạn già an ủi.

Nó về thiệt à? Có phải bước chân nó đang khua động ngoài kia không, ngoài chỗ có hàng mận nở bông trắng xóa mùa tháng tư mà nó vẫn thường hay ngồi? Nó về? Không đâu. Người ta đã bắt nó, đã ấn cây súng vào tay nó, bắt nó làm một con người khác, gớm giếc, tội lỗi. Người ta đã biến nó thành kẻ giết người. Xác nó đang vất trôi ở bờ bụi nào ấy mà. Đi bốn năm biền biệt. Không trở về, không một mẫu giấy con. Nó chết rồi. Chết thật rồi sao?

Chị đừng nghĩ bậy. Không đâu. Nó không bao giờ chết được. Nó sẽ về.

Người đàn bà chợt òa khóc. Tiếng khóc nghẹn ngào bị giữ lại trong cổ họng như có bàn tay vô hình bóp chẹt, ấn xuống rồi thả ra, một động tác duy nhất liên tục. Nước mắt lăn xuống má, xuống cằm, rớt tròn xuống đôi vú lép kẹp. Người đàn bà chợt bật dậy, bước loanh quanh như kẻ bị mộng du.

Tôi biết nó chứ. Nó là con tôi khi vừa mới hoài thai. Sinh ra, da nó vàng ệch như cha nó, ông nó. Cho đến khi lớn lên thì nó lại biến thành con của người khác, không còn là con tôi. Hoàn toàn xa lạ. Nó vuột ra khỏi căn nhà, khu vườn này rồi. Người ta đưa nó đi những đâu? Ở bờ bụi hóc hẻm nào? Sao lại ác độc biến nó thành kẻ sát nhân? Chị có an ủi cũng bằng thừa. Có lẽ tôi phải cúng để nó có cái mà ăn. Tôi làm mẹ. Tôi không thể bỏ nó thành con ma đói dẫu tôi thừa biết người ta đã nhét vào miệng nó nào thịt nào cá, nào sữa nào rượu ê hề chỉ để làm một việc tàn ác duy nhất: giết người!... Mẹ thương con như tấm lòng của trời của biển mà. Những hôm trái gió trở trời, tôi tìm củ sả đập dập quẹt lên trán nó. Những đêm trở lạnh, má thức dậy đi tìm tấm màn đắp thêm cho con. Nhưng chiếc giường thì trống trơn. Má cứ ngỡ là con đi chơi rông rải đâu đó với đám bạn bè. Má ngồi đợi tới sáng, tới trưa. Chiều xuống con vẫn biệt tăm, chỉ có bóng tối thù lu trườn vào nhà, lạnh ngắt như hơi đồng, da rắn. Rồi nắng lên. Nắng trải vàng trên sân cỏ. Nắng ngã trong kẽ lá, rụng xuống nền đất thô cứng như lòng má vỡ vụn, tan ra thành từng mảnh nhỏ... Bây giờ con tôi là ai?...Là ai?...
Đăng nhập để trả lời
0
BUỔI SÁNG CUỐI NĂM


NGUYỄN LỆ UYÊN



Thị trấn kéo dài từ những dãy đồi thấp, thoai thoải đổ dần ra phía bờ sông. Phố xá, cửa tiệm tập trung trên hai trục đường cắt chéo hình chữ thập. Chợ và bến xe ở cuối một rạp hát bỏ trống, chỉ còn lại mấy mảng tường bị ngã đổ từng đoạn, trơ vơ quanh đám cỏ mọc xanh um. Các tiệm ăn, quán giải khát xếp thành dãy dài phía bên này đường, đối diện các công sở là những căn nhà ngói cũ kỹ, ẩm thấp. Trên đầu thị trấn ngó xuống, những nóc nhà lô nhô nép bên những hàng cây cao dọc đường lù mù trong lớp sương đục và bầu trời đen đậm. Thị trấn lúc này giống như một bức ký họa của người họa sĩ phác thảo lúc anh ta đang chếch choáng hơi men, ẩn hiện không rõ ràng.

Những ngày giáp tết, thị trấn bổng ồn ào hơn. Thấp thoáng có chút màu sắc của bông hoa, màu sắc của áo quần trẻ con và hàng hóa chất đầy trong tiệm. Một vài căn nhà được làm mới bằng những mảng vôi quét màu sặc sỡ viền ở những đường hoa văn trước mặt tiền. Trời âm u liên miên, không thấy hé ra chút nắng khiến những phụ nữ, những người đàn ông có tuổi luôn thấy mập hơn, to và lụng thụng mỗi khi xuất hiện trên đường.

Căn nhà người thanh niên đang trú ngụ nằm ngay dưới chân vách núi đá, chỗ cao nhất trong thị trấn. Ở đây có thể nhìn bao quát khắp một vùng rộng lớn bao quanh. Mỗi sáng thức dậy, anh thường ra đứng trước khoảnh sân hẹp nhìn mặt trời từ dưới sông nhô lên rực rỡ. Anh nắng loá sáng con đường đất đỏ, ửng màu mây đỏ trên những mái ngói xuôi dọc hai bên đường; ở phía tây, tít đằng xa là nóc nhà thờ chỉ còn trông thấy tháp chuông nhấp nhô trong những đám ruộng mía xanh màu ngọc bích. Đó là con đường đất chính nối các buôn làng với thị trấn, với những chiếc gùi nhỏ xíu trên lưng những người miền núi, có thể trông thấy từ xa … Giờ đang cuối mùa mưa, nhưng bầu trời chưa lúc nào lộ nắng để anh phải khốn khổ lơ mơ, tơ tưởng một chút nắng để thấy những con đường đất đỏ, những mái nhà ẩm rêu rực rỡ những ngày trước kia bớt vẻ lạnh lẽo trong những ngày cuối năm. Cái lơ mơ đột ngột bị đẩy bay ra ngoài, khi bên tai anh nghe vang lên giọng nói rành rọt:

-Chú có bận gì không?

Người đàn ông mặc áo len màu chì nhô hẳn đầu qua khung cửa, hỏi bằng một giọng thân mật; theo sau ông là con chó rẫy có bộ lông xám màu đá núi. Ông ta là người hàng xóm, thỉnh thoảng tạt qua nói vài câu vu vơ về chuyện con cái, thời tiết, mưa nắng rồi đột ngột đứng dạy ra về, không mục đích rõ ràng.

-Không. Hình như không bận gì!

Hình như anh đang nói dối với người đàn ông đang ngồi trước mặt mình. Kỳ thực anh chẳng phải rờ đụng chân tay vào công việc nào trong lúc này, để gọi là bận. Nhưng con mắt và đầu óc anh thì bận thiệt. Vì khi người đàn ông bước chân qua cổng cũng là lúc trời hửng lên. Một chút nắng hiếm hoi kéo thành vệt dài, thình lình rớt xuống khoảnh vườn trước sân nhà làm ửng lên màu vàng rực rỡ. Cả khoảnh vườn như sáng hẳn, nổi lên những đường viền màu xanh khép nép, và bên trên, nhô lên cao lô xô là những búp vàng mượt của mấy luống vạn thọ. Hiếm khi có màu sắc tuyệt vời như thế giữa tháng Chạp âm u mưa, âm u những đụn mây đen áp sát đọt cây…

-Thằng Doãn gửi lời thăm chú.

-Dạ vâng, Doãn.

Màu nắng và những búp vạn thọ như đang thì thầm, rủ rê, giống hệt mấy đứa trẻ con nhà hàng xóm í ới hẹn hò xuống phố đứng dán mắt trước các cửa tiệm, nhìn chăm chăm những tấm áo mới đủ màu xanh đỏ…. Những đứa trẻ chạy lăng quăng có vẻ như có một liên hệ báo trước những ngày tết đang cận kề.

Bộ mặt ủ dột, lấm láp những ngày mưa sắp bắt đầu xoá nhoà dẫn sau những ngày dài làm tình làm tội những con đường đất lầy lội, những lùm cây úng vàng và cả mùi ẩm mốc bám đầy những bức tường vôi chung quanh nhà…

-Nó gửi về chai rượu quí, tôi…

-Vâng, chai rượu…

Chai rượu trong tay người đàn ông thình lình làm bầu trời đứng sựng. Nắng biến mất đột ngột. Chút nắng vàng hiếm hoi ấy biến mất, bay vụt ra khỏi tầm mắt, cũng đột ngột như khi nó thình lình rớt xuống trước sân nhà. Một tảng mây đen khổng lồ trôi qua chậm chạp, từ từ liếm sạch màu nắng vàng khiến anh có cảm giác như nó sắp sửa đè bẹp khoảnh vườn rực sáng khi nãy, đè bẹp anh và người đàn ông và Doãn và chai rượu. Anh thất vọng ngó người đàn ông, từ đỉnh đầu tới ngang bụng, phần dưới cơ thể ông ta bị chiếc bàn che khuất, như thể ông là thủ phạm bưng chút nắng quý hiếm của anh trút vào trong chai rượu, hay giấu trong bụng áo ấm lấp bên nửa bàn bên kia. Anh ngó sững vào chai màu trắng giả đá để tìm kiếm sự ấp áp hình như ông ta đang giữ trong đó. Người đàn ông nhóng lên, quơ chai rượu chực rót ra ly.

-Nó kêu Mao Đài Tửu. Nó đi Bắc Kinh về.

-Vâng Doãn đi Bắc Kinh…

Anh ngẩng mặt lên ngó chai rượu màu men sữa trắng đục. Nắng không thể bị nhốt vào trong ấy được. Vâng, có thể Doãn nào đó và cả Bắc Kinh của người đàn ông đang ngồi bên mép bàn bên kia đã mang đi chút nắng vừa mới nhìn thấy khi nãy. Anh nhìn vào chiếc chai giả đá và nghĩ không thể có giọt rượu nào để tìm kiếm chút nắng mong manh. Anh thẫn thờ đến đờ đẫn nỗi thất vọng, chán ngán. Những rạo rực ban đầu bị tắt ngấm bỡi chai rượu đang nằm gọn lỏn trong tay người đàn ông, ở phần cổ, lùn tịt.
Khoảnh vườn âm u, xám màu mây đen. Những búp vạn thọ lẻ loi, run rẩy trên những cành lá xanh, hết còn rực rỡ khiến lòng anh nguội lạnh chen lẫn nỗi hoang mang tột cùng.

-Ta chào nhau buổi sáng, chú hỉ?

Và không đợi anh trả lời, người đàn ông với tới phía trước, kéo hai chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt đặt trong chiếc kệ ngang với mặt bàn, về phía mình. Ông ta từ tốn rót ra ly, từ tốn đẩy một chiếc ly về phía anh rồi thong thả nâng ly lên.

-Một ngày bình yên chú hỉ?

-Dạ, một ngày bình yên – anh đáp.

-Nhưng mà điệu này kéo dài, mưa lập dập, nắng lập dập âm âm u u như kiểu trời chuẩn bị sập thì tết chẳng có bánh mà ăn. Thằng Doãn kêu tráng cho nó năm trăm để mang về trỏng, biếu xén, ăn tết. Thiệt mệt. Trời đất kiểu này biết sao được. Không có bánh tráng thì còn gì là tết? Bà vợ tôi nói không nắng thì xuống chợ mua. Nhưng mà chú ơi, bánh tráng hong lửa thì khác xa với bánh tráng phơi nắng…

-Dạ, nắng. Chỉ có nắng mới làm ấm lên mọi thứ. Tất cả mọi thứ đều trở nên đẹp – Anh nói vội vã, y như rằng trước mặt lúc này nắng ấm đang đổ xuống sân.

-Chú văn nghệ quá – người đàn ông kêu lên – Có nắng bánh tráng ngon hơn gấp bội phần!

-Dạ, đẹp và ngon cả hai đều như nhau. Hễ đẹp thì nhất định phải ngon, và ngon thì phải đẹp. Cái gì hiếm đều trở nên quí giá cả – Anh đột nhiên hứng khởi.

Chiếc ly thủy tinh màu hồng nhạt nằm ghé trên đôi môi thâm đen của người đàn ông, hình như cũng ngạc nghiên vì những ý nghĩ bất ngờ của người thanh niên cứ giữ nguyên vị trí như vậy một lúc lâu, trước khi ông ta dốc ngược miệng ly vào miệng. Có tiếng “khà” kêu lên lẻ loi giữa buổi sáng lạnh giống buổi hoàng hôn, giống hệt tiếng thở dài tràn ứ nỗi thất vọng, vì không thể tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu mà ông mong đợi. Chiếc ly dành phần anh vẫn nằm nguyên trên mặt bàn, đầy rượu. Người đàn ông đẩy chiếc ly trống của mình tới, chạm nhẹ vào thành ly kêu đánh cốp một tiếng nhỏ khẽ khàng.

-Chú lại văn nghệ nữa rồi. Ai kêu mấy chiếc kiềng sắt, bình vôi giờ này không hiếm? Nhưng mà chú coi, có quý gì đâu?

-Dạ, có lẽ phải, đâu có gì kêu là quý.

Người đàn ông há hốc nhìn người thanh niên rồi bất ngờ ngửa cổ ra cười khà khà, một giọng cười biểu lộ chút ngạc nhiên rất buồn cười về cách nói của anh, trong khi bàn tay phải ông ta vẫn giữ chặt chiếc cổ chai lùn tịt. Đến khi ông ngưng cười thì trên khoé mắt có chút nước ứa ra ngập ngừng. Ông ta bỏ chiếc ly xuống bàn, dùng ngón tay trỏ quẹt chỗ nước mắt chảy ra đó, như cố giấu sự buồn cười có thể chảy ào ra lần nữa, mãnh liệt hơn.

-Chú thiệt “thắc cười”. Mới hồi nãy biểu đẹp là ngon, ngon là đẹp là quý, giờ kêu… Chú thiệt văn nghệ.

Ong lại cười hích hích trong cổ họng, cố kềm giữ sự khám phá bất ngờ của mình đối với chàng trai trẻ đang ngồi trước mặt, rồi tự rót đầy ly nữa và ngửa cổ uống ực. Tới giờ, ông mới chịu buông tay ra khỏi cổ chai rượu, chiếc ly trống nằm trên mặt bàn, cạnh chiếc ly còn đầy rượu của anh, móc túi lôi ra gói thuốc lá và chiếc bật lửa. Ong rút một điếu cắm lên môi, nhưng không quẹt lửa mồi mà tiếp tục nói. Điếu thuốc bị kẹp chặt giữa hai môi thâm đen rung lên nhè nhẹ mỗi khi ông nói. Cả hai có vẻ khổ sở như nhau. Người đàn ông cầm chiếc bật lửa, nhưng vẫn không chịu quẹt cháy.

-Nói thiệt chú đừng giận, mấy chú văn nghệ như chú không làm sao mà hiểu nổi. May mà thằng Doãn nhà tôi chữ nghĩa ít, nhảy đi buôn bán chớ không thì…

Ông kịp nhận ra hình như mình sắp lỡ lời, có vẻ như mình sắp lỡ lời thiệt nên người đàn ông kịp dừng lại, chuyển sang chuyện rượu chè. Còn điếu thuốc vẫn nhảy tưng tưng trên đôi môi thâm đen.

-Không biết chú sao, chớ tôi thì chúa ghét mấy cha rượu chè be bét, uống chi mà tới say đớ lưỡi, say quắt cần câu mà cứ kêu lai rai giải sầu? Rượu chè cũng có năm ba đường hả chú? Tôi nghe nói tiên tửu, tục tửu, ngưu tửu chi chi. Thiệt mệt. Cứ như anh em ta, lâu lâu có rượu ngon, ngồi cà kê vài ly rồi mạnh chuyện ai nấy làm. Cù nhằng, cù nhùng mất cả thì giờ. Mà chú chưa vợ con chưa biết. Nhiều khi uống, lỡ say “nhỏng phao câu”, mò về tới nhà con vợ tôi kêu trời. Say nhưng cũng biết được mình quá là sai, nên phệu phạo bào chữa “nam vô tửu như kỳ vô phong”, rồi câu gì bữa chú đọc cho tôi nghe đó. Á, à, nhớ ra rồi “mùa này thiếu rượu anh hùng nhát gan”, khiến bã nổi sùng bỏ tôi một bữa để muỗi và tôi cùng nằm say bên nhau.

Người đàn ông toan với chai rượu rót thêm một ly nữa để tự thưởng cho những lời nói ý nhị của mình, song nghĩ sao ông rụt tay về, ngó chằm chằm vào mắt anh thanh niên xa xôi ngoài khung cửa, hỏi:

-Mà tôi cũng lấy làm lạ. Chừng ấy tuổi, sao chú không chịu lấy vợ? Cỡ tuổi này, nếu có con gái đầu lòng thì đã sui gia rồi đó nhá?

Anh bật cười mà không thể nhìn thấy đó là nụ cười tròn hay méo mó dị dạng, tìm cách nói cho người đàn ông yên lòng:

-Không phải là không muốn có một cô vợ bên cạnh. Chỉ tội một điều, họ nhìn thấy đời sống tôi nhếch nhác quá nên ai cũng ngại, quay lưng bước thẳng.

-Chú nói sao ấy chớ? Thời buổi gái thừa trai thiếu. Làm vợ chú như thể làm bà hoàng ấy chớ? Đã đành chú có đời sống văn nghệ, nhưng mà văn nghệ thì có sao đâu? Tôi thấy các cô chú ngày nay sống sao sao ấy, không như chúng tôi ngày trước! Rồi lại khi không chú bỏ cái thành phố đẹp đẽ ấy để về khép kín ở chốn khỉ ho cò gáy này, thì chắc là chú phải có tâm trạng?

-Dạ không, không có tâm trạng gì đâu. Chẳng qua tôi muốn yên ổn, muốn sống trong không khí tĩnh lặng để làm việc.

-Tôi đâu thấy chú làm việc gì? – Người đàn ông ngạc nhiên.

-Dạ

-Thôi, bữa nào thằng Doãn về, tôi biểu nó mời chú làm cố vấn cho nó. Hai anh em tha hồ bay nhảy.

-Cảm ơn chú. Chuyện đó tôi càng mù tịt, chẳng biết gì đâu!

Người đàn ông phẩy tay.

-Ui, dễ ợt đó mà. Như thằng Doãn đó, có học hành con khỉ mốc gì đâu mà nó vẫn làm được.

-Dạ.

Người đàn ông chấp chới trong mớ hiểu biết lẫn lộn với niềm tự hào hỗn độn về sự thành đạt của con, bèn chỏ tay qua phía anh, cười lớn.

-Chú mà giấu nổi tôi! Chú đừng có hòng mà giấu nổi tôi nhé.

Nói và ông cười to vừa đứng dậy. Tiếng cười khậc khậc quấn quít bên những bước chân chệnh choạng khi ông bước xuống từng bậc cấp với niềm vui như vừa khám phá được chuyện lớn, thật lớn.

Anh không tiễn ông như mọi khi, chỉ thấy ông rất hài lòng với những gì ông có được quanh mình, trong buổi sáng này như ông đã từng hài lòng về chuyện vợ con, những bữa rượu lẻ tẻ cùng những tiện nghi vừa đủ để mang ra khoe với mọi người chung quanh.

Con chó đi theo người đàn ông, nãy giờ lim dim nằm ngủ dưới gậm bàn chắc là đang mơ thấy ngậm khúc xương trong miệng, nên kéo dài niềm hạnh phúc bé bỏng của loài vật, quên mất những bước chân loạng choạng của ông chủ, vội nhổm dậy, ủng ẳng chạy theo sau. Đuôi có chùm lông dài ngoắt qua ngoắt lại phía sau chân ông, y như rằng chủ tớ là những người vừa thắng trận, đang trên đường ca khúc khải hoàn.

Người đàn ông bước đi, nhưng không lôi theo bầu trời nặng trình trịch cùng cơn mưa lâm thâm và ngọn gió bấc thổi se sắc trên đọt cau nhìn rất rõ. Ong cắm cúi bước, người đổ dài dưới con dốc như sắp ngã, con chó chạy lăng quăng bên chân, bỏ lại tất cả cho anh.

Trên bàn, một ly rượu còn đầy và một ly trống trơn không cân xứng. Anh bưng cả hai ly đặt lại chỗ cũ trên kệ. Lúc đầu anh định hắt ly rượu ra sân, nhưng nghĩ sao lại xé tờ giấy lịch, gấp làm tư và đậy lại, nom chiếc ly như cây trụ đỡ những tảng đá khổng lồ thành Babylone, thu nhỏ lại.

Bên ngoài bầu trời trở nên sáng trắng. Những đụn mây đen giờ xé vụn ra lam nham khiến trông thấy bầu trời cao hơn chút đỉnh, bớt vẻ âm u. Có tiếng chân loạt xoạt ngoài hiên thềm. Người đàn bà mặc bà ba đen, tóc búi củ hành, miệng nhai trầu nhóc nhách chà chân lạch bạch, giũ đất ở bậc cấp rồi bước hẳn vào trong.

-Uở, chú có nhà đây mà. Mạnh giỏi chú?

-Dạ, mạnh. Chào chị!

-Buổi sáng mà chịu khó ngồi nhà, không ngồi quán cà phê sao?

-Bác sĩ cấm cà phê.

Người đàn bà ngó nghiêng lên tấm lịch treo tường, cao hơn tầm mắt chị ta vừa nói:

-Cái tụi nhỏ xóm này không hiểu sao sáng nào cũng tụ tập ngoài quán. Ba đứa uống chung một ly cà phê, hút chung điếu thuốc đến chủ quán cũng phải phát buồn mà không biết nói sao!

Người đàn bà ngừng nói, miệng nhóp nhép nhai trầu chờ phản ứng của anh. Mỗi khi cử động, góc môi trên vêu lên như có cái mụt nhọt nấp trong ấy. Thấy người thanh niên không nói gì, người đàn bà tiếp lời:

-Hồi hôm cũng ở quán cà phê đó, tụi nó gây gỗ, sém đánh lộn. Thanh niên bây giờ mệt quá.

Anh không mấy hào hứng khi nghe những chuyện không đâu phát ra từ miệng người đàn bà đang ngó anh vừa nhai trầu. Chị dường như cũng đoán ra ý nghĩ của người ngồi trước mặt, nên ngập ngừng chuyển sang đề tài khác, “thời sự” hơn.

-Chú tính ăn tết ở đây hay về dưới đó?

-Dạ chưa biết sao!

-Trên hóc xó này có gì mà vui chớ? Dưới đó thành phố lớn, người đông, nhộn nhịp. Mà cũng phải thôi, chú thấy không?

Người đàn bà nói và tiếp tục nhai trầu. Anh không hiểu bà ta đưa ra câu hỏi để hỏi anh hay chỉ là những nhận xét vu vơ, chờ người khác tán đồng? Chị không phải là người thường hay ghé nhà anh hỏi han chuyện này, chuyện nọ. Là hàng xóm, cùng ngụ trong con phố nhỏ của thị trấn miền núi trước sau đều quen mặt nhau, họ hay dòm qua hàng rào cây xanh thưa thơt để thăm chừng đời sống của nhau một cách thận trọng. Trong trí nhớ, người đàn bà đang ngồi phía bên kia bàn, chỗ lúc nãy người đàn ông vừa ra về, là người hay ca cẩm về mọi sự khó khăn trong đời sống. Bà ta hay vu vơ về những khoản thiếu hụt của tất cả mọi người dân ở thị trấn miền núi nhỏ hẹp này, mà đáng ra phải khác hơn, phải giàu cẳinh ngững người khác dưới thành phố.

-Bữa nay hăm hai rồi. Hễ đưa ông Táo về trời là coi như tết đến nơi. Mà này, chú một mình thế thì sống làm sao nhẻ? Ai lo ăn uống, giặt giũ cho chú, rồi còn tết nhứt nữa ?

-Dạ, cũng bình thường thôi mà – Anh trả lời ngập ngừng.

Người đàn bà nheo mắt, chun mũi nhìn anh vẻ chế giễu:

-Bình thường là thế nào? Phải có bàn tay phụ nữ. Cái sự lấy vợ là rất cần thiết để bảo tồn nòi giống. Với lại ở cái xứ heo hút trong những ngày lạnh lẽo này chú không cảm thấy lạnh lẽo sao chớ? Để hôm nào tôi giới thiệu chú một cô, xinh đẹp, hiền hậu. Tết chú còn ở lại đây tôi sẽ dẫn đến thăm chơi.

Anh không biết phải lựa lời ra sao để từ chối lòng nhiệt tình của người đàn bà kia cho phải lẽ, đành nói nước đôi.

-Dạ, cảm ơn chị.

-Trời không chút nắng, lạnh thiệt. Hôm qua tôi ra chợ thấy hàng tết về nhiều quá, đẹp, rẻ ngặt cái không đủ tiền để mua sắm cho đã đời. Mấy đứa nhỏ cứ eo óc đòi mua cho bằng được những tấm áo ấm màu. Chúng đâu biết cảnh “cám tháng giêng, tiền tháng chạp”. Thiệt bực!
Anh muốn bật cười khi nghe người đàn bà buông ra lời than “thiệt bực” y như người đàn ông lúc nãy kêu “thiệt mệt” khi trời không chịu bật nắng để vợ chồng ông tự tay tráng bánh, phơi dưới ánh nắng mặt trời gửi cho thằng con. “Thiệt mệt” và “thiệt bực” của hai người có con cái gia đình đề huề coi như những lời “gầm gừ” êm ái của những người ngay thẳng phải làm bổn phận bảo bọc mọi người thân chung quanh mình, như một niềm vui chưa thật trọn vẹn.
Có lẽ do người đàn bà nói quá thật, nên anh cũng cao giọng.

-Đó, chị thấy chưa. Có gia đình, con cái nó “thiệt bực” như vậy đó?

Người đàn bà chỉ cười, không trả lời những vặn vẹo tình nghĩa của người thanh niên ngồi trước mặt, có vẻ mặt đang thực buồn. Chị đưa tay lấy cục thuốc nằm vêu trong môi trên chà qua chà lại giữa hai hàm răng ám đen, định nói gì đó nhưng cục thuốc và bã trầu trong miệng đã giữ chặt lại.
Anh ngồi nghiêng ngó ra khoảnh vườn hẹp trước sân.
Một lát sau, giọng người đàn bà ngập ngừng:

-Nói thiệt với chú, vợ chồng tui kêu bán con bò, nhưng tụi lái biết mình cần tiền sắm tết nên trả giá rẻ mạt. Tụi nhỏ thì léo nhéo đòi cả ngày. Chú cho tôi vay một ít, bán được con bò tui trả chú liền. Mình hàng xóm, sớm tối có nhau.

Câu cuối cùng, giọng bà ta chùng xuống, buồn thật buồn y như bầu trời vẫn một màu mây đen chực sà thấp. Bộ mặt bà ta dần dần trở nên căng thẳng và thảm não. Cục thuốc chà răng được nhìn thấy bằng vệt vêu trong môi trên như chịu đựng sự u uẩn vì đám thương lái bắt chẹt bà ta trước những đòi hỏi hợp lẽ của lũ con. Một chút gì đó trên toàn bộ con người đàn bà lúc này, khiến anh hơi chạnh lòng.

-Nói thiệt với chị, tôi cũng còn một ít, chị có thể cầm tạm. Tôi chắc thể nào tuần này cũng có khoản nhỏ của mấy tờ báo gửi ra. Chị yên tâm – Nói và anh lôi chiếc bóp nhàu nát móc hết khoản tiền trong ngăn, không rõ được bao nhiêu, đưa cho người đàn bà. Bà ta thôi nhai trầu, cầm lấy tiền nhét vào túi áo và cũng không đếm là được bao nhiêu. Giọng ấm lên:

-Cảm ơn chú. Tụi nó mừng lắm đây!

Người đàn bà nói vừa sững sờ nhìn chàng thanh niên với một chút ngỡ ngàng, một chút cảm thương với những băn khoăn được khoả lấp khi kịp cất mớ tiền vào túi áo bà ba đen.
Cuối cùng người đàn bà cũng đứng dậy chào anh, ra về với cái bóng đen nhỏ thó đổ dài xuống con dốc, với dáng hấp tấp của những niềm vui mới mẻ bà vừa cầm chắc trong tay.


Bầu trời bên ngoài vẫn xám đục. Gió cuối năm run rẩy lạnh, kéo thành vệt trên hàng cây co ro hai bên đường, chạy từ phía đồi cao xoãi ra bờ sông. Buổi sáng rung rinh nhè nhè trên luống vạn thọ sắp bật khóc vì bầu trời đùn đen cứ lê thê kéo dài. Người thanh niên xô ghế đứng lên, cắp phích vào ổ điện định bụng pha một ly trà thật nóng, thì bên ngoài tiếng còi xe toe toe vang lên. Người bưu tá gầy, cao dựng xe trước hàng rào chè tiêu, cầm xấp thư và mấy tờ báo bước vào nhà. Ông ta hỏi:

-Không định đi đâu sao?

-Trời lạnh thế này… – Anh trả lời.

-Ừ, trời cữ này mà có dưa hành củ kiệu và rượu ngon thì thật tuyệt.

Người thanh niên với tay qua kệ, nhấc ly rượu đưa cho người bưu tá.

-Rượu cha Doãn mang tới hồi nãy.

Ong bưu tá nhấp nhấp từng ngụm nhỏ, thong thả:

-Rượu này chắc là ai biếu chi đây. Không phải rượu thường, mùi lạ lắm, như mùi trái nhàu chín?

-Tôi cũng không rõ

-Cậu chưa uống.

-Chưa.

-Một ly thôi sao?

-Dạ, một ly. Ông cụ qua kêu tôi uống, nhưng mới sáng bảnh mắt!

-Ờ, cũng phải, nhưng giá có thêm vài ly nữa thì ấm bụng.

Ông ta có vẻ ngẩn ngơ như tiếc rẻ mùi rượu ngon quá ít, dòm vào chiếc ly không rồi đứng lên:

-Chừng nào cậu về?

-Chưa biết ngày.

-Thôi tôi đi.

Người bưu tá nổ máy, chạy đi xuống cuối con dốc rồi quành ra phía bờ sông. Cái dáng cao khều mất hút cuối dãy nhà ngói cũ kỹ, mái lợp âm dương.

Người thanh niên thong thả lật coi địa chỉ gửi đi của từng lá thư, theo thói quen rồi để sang bên. Cái mà anh mong đợi hiện ra, dưới bức thư của một toà báo. Nét chữ mỏng manh, gầy như bộ ngực quen thuộc của người gửi bức thư cho anh, như những ngón tay thon dài nắm chặt tay anh cùng ánh mắt xa xăm trên số nhà quen thuộc bên góc trái. Anh nghe thật gần bước chân nàng, hơi thở nàng và đôi mắt ngấn nước của nàng khi anh lầm lũi bước ngược trên con đường trước mặt nhà. Những dấu nhật ấn trên bao thư như tự nó có một hơi thở dồn dập của hai người ở một khoảng cách xa. Ngày gửi và ngày nhận chỉ cách nhau ba ngày. Ba ngày để vượt hơn sáu trăm cây số sẽ mang đến cho anh niềm vui ấm áp trong buổi sáng cuối năm này. Phích nước sôi kêu thành tiếng như lời thúc giục, khiến anh không thể để những cảm giác tha hồ bay nhảy tự do. Bao thư bóc ra. Sáu tờ giấy chi chít một kiểu chữ mỏng manh gầy ốm. Anh lôi chiếc ghế xích đu đặt ngang cửa ra vào hứng chút ánh sáng mờ đục bên ngoài, nằm ườn ra ghế và bắt đầu đọc:

Anh,
Sự chờ đợi quá lâu, xa như chỗ anh ở nối tới đây bằng sợi chỉ dài, rất dài. Nhiều bữa trời đang nắng, chợt đổ mưa ầm ầm, rồi đột ngột chấm dứt, làm như không hề có chuyện gì xảy ra làm em không thể không nghĩ đến anh, liên tưởng về những hành động kỳ quặc của anh. Nhiều khi em tự hỏi, cái thành phố này có điều gì khiến anh không vui? Hay anh không vui vì em? Hay anh muốn thử thách em như một chuyện đùa bỡn? Giờ, cứ mỗi ngày qua đi, em càng ít hiểu về anh hơn. Anh như người xa lạ vậy !

Hôm kia, trong bữa cơm tối, tía má em có hỏi sao lâu không thấy nó tới chơi? Nó tức là anh đó, là một thành viên đang được chấp nhận từ từ, chậm rãi một cách e dè, dò xét. Em chống đũa tìm câu nói dối hợp lý nhất, nhưng sao nó cứ như sợi dây thun bị kéo căng để cuối cùng em nói bừa: hình như ảnh nhận thêm những công việc gì đó, bận bịu lắm. Tía má em tiếp tục dùng bữa, không hỏi gì thêm. Riêng em “những công việc gì đó” của anh giống như sự trông đợi một cách thờ ơ. Ai cũng trông nhau mà chẳng dám “liều mạng”(chữ anh nói hôm hai về đứa mình ở đầu mỏm sông, chỗ vườn mận đó, nhớ ra chưa?). Liều mạng làm sao mà trên sáu trăm cây số hun hút là dài? Thư trước anh biểu tết ra ăn tết với anh. Một ý tưởng thật vĩ đại. Còn nếu như em nói: tết anh về ăn tết với em thì anh nghĩ sao? Em đâu phải là những nhân vật của nhà văn Hector Malot, là con bé “vô gia đình” để anh ra tay cứu vớt rồi biến thành nhân vật của anh?

Thư này đến tay anh chắc là còn kịp để về đón ông Táo. Trong dân gian, ông Táo là một người không có mặt mũi rõ ràng, nhưng lại đầy ắp trong tâm thức của mọi người. Ai cũng hiểu rằng, ông Táo là người duy nhất giữ lửa, hơi ấm cho mọi gia đình sum họp. Vậy thì tại sao anh không mang chút lửa ấy về, lửa trong người anh để sưởi ấm cho em? Hoá ra, anh chỉ muốn giữ lửa cho riêng mình anh thôi sao? Còn em? Câu hỏi này cứ dằn vặt em mãi, nó loay hoay trong đầu như thể con dế hồi nhỏ em bỏ trong chiếc hộp giấy. Nó bò tới bò lui, lăng quăng tìm lối ra mà nào có ra cho được? Rồi em lại chợt nhớ đêm giao thừa ở dưới quê, ngồi thức canh nồi bánh tét, lửa nhảy nhót đỏ đít nồi; còn bên trong thì nước cứ sôi ùng ục. Bà nội ngồi gần bên nói: ông Táo đang cỡi con ngựa mang về với chúng ta kịp đón giao thừa. Tiếng ùng ục đó là vó ngựa gõ trên lớp mây. Em không thấy, nhưng tin lời bà, nghĩ ông Táo đang cỡi ngựa trở về thật và em mong làm sao để được gặp mặt ông, coi dung nhan có giống với những bức tranh vẽ thằng em em sưu tầm đâu đó dán la liệt trên vách. Em sẽ nói những điều ao ước của mình để ông hoá phép. Chờ đợi đến mỏi mòn, để hai mí mắt sụp xuống lúc nào không hay, ông Táo trở về lúc nào không hay. Mãi mãi điều ao ước không thành sự thật. Như giờ này, em ước chi anh có bên em đã không thành sự thật vậy !?

Mà cũng thiệt lạ, anh thích thú, say mê nỗi gì ở miền đất heo hút đó? Lúc anh mới ra, anh kêu nhà anh ở dưới chân vách núi đá. Từ đó có thể nhìn xuống thị trấn nhỏ như bàn tay xoè, phía dưới bị con sông chặn ngang, có những ngôi nhà cổ xưa cũ kỹ, có những con đường đất đỏ ngắn hơn một hơi thở dài cùng với những người dân hiền lành, nhẫn nại… Và anh nói: mỗi sáng có thể nhìn mặt trời từ lòng sông nhô lên, đỏ ối như quả cầu lửa rực rỡ. Nếu vậy, chắc quả cầu lửa đó có bà tiên anh mơ tưởng, chứ không phải trên đầu mõm sông lúc hai đứa ngó những dề lục bình trôi dập dềnh những chỏm bông tím? Những bà tiên bé bỏng xinh đẹp kia đã níu giữ chân anh rồi?

Thư này em viết trong buổi sáng thực yên tĩnh. Có một chút gió heo heo rất lạ, không ngừng thôi thúc sự nhớ nhung bâng quơ, cái xao xuyến đón đợi, ngóng trông. Chỗ anh ở có loại gió này không? Em chắc là không. Vì nếu có thì anh đã lên tàu rồi. Em biết anh còn ngóng đợi bà tiên trong quả cầu lửa rực rỡ mỗi sáng, bước ra và nhẹ nhàng đến bên anh? Còn em thì đang ở rất xa anh để không thể chia sẻ niềm hoan lạc cùng anh. Tiếc thật.

Em muốn viết thêm nữa, thiệt dài; dài bằng với đoạn đường từ ô cửa nhỏ này tới ngôi nhà bên vách núi đá, từ chiếc bàn gỗ quen thuộc này đến quả cầu rực lửa của anh… Nhưng phỏng có ích chi? Anh đâu còn mùa xuân bên em. Anh chỉ còn những buổi sáng của riêng anh thôi.
Nói vậy, chớ em vẫn nhớ anh luôn, vẫn chờ anh.
Gửi anh nụ hôn gió xa xôi đến anh, biết anh có cảm được?
Em của anh, Nga.


Người thanh niên xếp lá thư, cho vào bì. Lúc này, anh không thấy khoảnh sân phía bên ngoài, không thấy thị trấn mờ đục phía dưới kia cùng chỏm tháp chuông nhà thờ nhấp nhô khuất trong những ruộng mía âm u… Anh nằm trên chiếc ghế quay vào gian thờ, chỉ thấy lờ mờ những chân đèn thau, lư bát cắm nhang và tấm nghi treo trên cao bị chuột cắn lủng vài chỗ. Những sợi chỉ lòng thòng không đủ dài để nối căn nhà dưới vách núi đến tận ô cửa trong xa kia để anh níu theo bay về phương nam ngay lập tức.
Đăng nhập để trả lời
0
CHIẾC LY VỠ

NGUYỄN LỆ UYÊN


“Tôi nức nở giữa trời mưa bão”
Trần Dần



Ngọn gió quất vào mặt Thạch như thể những đường gươm lia ngang, rạch sâu xuống mặt cát. Gió quay tít trên đỉnh cao. Gió xoáy tròn dưới chân dốc. Bụi cát trộn lẫn với lá cây khô, cuốn cao mù mịt làm Thạch chóng mặt. Anh có cảm giác như mình đang dò dẫm từng bước chân xiêu lả trong thung lũng tràn bão cát, xô đẩy, va đập, dằn xé. Trước mặt anh là những lùm cỏ cao quá đầu. Những sợi dây mây vắt chồng chéo, chằng chịt che khuất cả những lối mòn. Thạch chênh vênh, nghiêng ngã. Mảnh áo bắt đầu sượt rách tơi tả. Những sợi vải màu ô liu xoe xay trong gió cát, nom hắt hiu như ngọn cờ bại trận. Tóc rối nùi, khô cứng bụi đường.
Dưới chân đồi, cánh đồng đang bắt đầu khô cháy trong những đợt bão cát thổi dồn dập.

Những đường bờ ruộng chằng chéo trước mặt không đủ cao để cản ngăn những cơn gió cuồng bạo. Những cuống rạ, cây cỏ bị đè ép sát mặt đất. Thạch chênh vênh bên sườn dốc đá, đưa tay xoa xoa trên mu mắt, cố đẩy cơn buồn ngủ và sự mệt mỏi ra ngòai cơ thể. Đoạn đường vẫn xa tít mù. Rừng núi vẫn bít bùng, vẫn tiếp tục trói chặt những bước chân bắt đầu xiêu vẹo của anh. Những giọt nước cuối cùng trong chiếc bi đông đã dốc ngược từ lâu. Cổ họng khô khốc đắng. Bụng réo cồn cào bên những hốc đá, lùm bụi ngủ vùi trong những cơn đói lả bị dựng ngược dữ dội mỗi khi có cành cây, bụi cỏ chìa ngang níu quẹt hai ống quần tơi tả. Mỗi ngày qua, mỗi bước chân lê tiếp về phía trước là nỗi hoang mang tột cùng, sợ hãi tột cùng; là sự vắt kiệt sức lực. Thạch lê bằng cả đôi chân rồi tiếp sức bằng cả đôi bàn tay run rẩy để bò, để lết trên mông quần rách toạt mà không dám ngoái nhìn lại phía sau. Chỉ mới chạm khẽ những ý nghĩ đến sợi dây xích khóa chặt chân tay, nghĩ đến chiếc lô cốt ngoài vòng rào kẽm gai, cùng những tiếng rên rỉ đứt quãng và những tiếng súng từ phía ngoài rừng lia dội vào Thạch cảm thấy như nỗi oan nghiệt chưa chịu buông tha bọn anh. Vuột được ra khỏi căn hầm chết chóc đó, anh chạy như bay như biến trong bóng tối, chạy trên bãi mìn, chạy trên những hố chông, chạy xé đường gai với một niềm hy vọng thật mong manh để níu lấy sự sống khốn cùng.

Sự khốn cùng đó đã đưa anh ra khỏi khu vực chết như một phép màu của bà tiên nhân ái, để giờ đây anh đi và bò và lếch và chân tay tóe máu, buồn như cánh đồng hiu quạnh.
Đêm dày đặc. Đêm mịt mùng cạm bẫy. Đêm leng keng tiếng kiểng đổi canh. Đêm hắt hiu và đêm truy lùng não nuột vọng theo.
Giờ phút này, sau bao nhiêu ngày đêm trốn chạy không còn nhớ, anh bắt đầu ao ước, bắt đầu hy vọng. Niềm hạnh phúc lớn nhất đối với anh là nghe được tiếng chó sủa vu vơ đâu đó, là tiếng gà te tát trên róng chuồng gia súc. Hai tai anh có vẻ như dài ra để đón nghe những âm thanh quen thuộc đã bị nhấn lút trong khói đạn bom. Nhưng không có gì hết. Duy nhất bóng tối vây phủ trùng trùng quanh anh. Những giây phút tự do Thạch vừa giành lại được có vẻ mong manh như khói, như sương, không thật. Tự dưng nước mắt anh chảy xuống, mặn chát những tủi cực, cay đắng của cuộc đời. Anh đưa tay dụi mắt, song chỉ có những cảm giác tê tê như có lần anh bóp tan đầu thuốc cháy trước mặt viên sĩ quan huấn luyện. Người ta đã ném anh như ném một xác súc vật vào cô-nét. Trọng cấm bảy ngày là bảy ngày ngụ cư nơi thiên đường bình an, nhưng đổi lại là những nhục hình ngày bốn bận, là bò là lăn, cởi quần, mặc áo y hệt chiếc máy đang quay không biết mệt mỏi, giả bộ bình thản như thể ăn cơm, uống nước. Và cũng bình thản như cả một thế hệ của anh phải gánh chịu những tai ương giáng xuống trần gian.

Cơn bão cát dịu dần. Những vì sao cố xé màn đêm và tầng bụi mờ dọi xuống yếu ớt chút sinh lực tàn kiệt. Trước mặt vẫn là những lùm cây đen đậm đặc. Bốn phương tám hướng tối thẫm trong chiếc bình nhét chặt nút, kín bưng. Đâu là xóm làng? Đâu là tiếng khóc, những khuôn mặt trẻ thơ, già nua bên tao võng? Má ơi! Con đang tìm đường về với má đây. Nỗi mong chờ nhớ thương ngút mắt. Nỗi lo sợ phập phòng. Những ảo giác về một sợi khói nấu cơm chiều bên chái bếp tranh nghèo, những âm khúc nhạt nhòa héo, nhạt nhòa tàn của chiếc ống tiêu trên lưng trâu như chuyền cảm ứng tới anh thêm sức mạnh. Thạch cố nhấc bàn chân rã rệu thả trên bờ ruộng hẹp và nghe thấy như chính những bước thả ấy rơi vào lỗ trống không. Trong khi con đường không có lối thì như sợi dây cao su kéo dài đến vô tận, vô cùng. Mắt Thạch mờ đi. Anh lả ngất trong cơn sốt chói rực vàng, rực đỏ và đen trộn lẫn.



GIÓ BAY XA

NGUYỄN LỆ UYÊN



1*
Ban đầu tôi nghĩ khu nhà trọ như một trại binh, sau nhớ lại thì nó giống một trại chăn nuôi gia súc. Bốn mươi căn phòng, mỗi căn rộng chưa tới hai chục mét vuông đôi mặt vào nhau. Ở giữa là dãy hành lang dài hun hút. Khu nhà trọ táp nham này chứa đủ các thành phần từ thợ thuyền đến công chức, và chẳng mấy khi họ đứng lâu, ngó mặt nhau nói chuyện thân thiện. Mới tờ mờ sáng mọi người đã vội vội vàng vàng dắt xe máy, xe đạp hoặc hộc tốc chạy ra bến xe buýt. Chiều tối mịt họ mới lác đác kéo nhau về, kẻ trước người sau, với sự mệt mỏi bám lủng lẳng trên mí mắt, trên những đôi chân bước chậm. Chính xác hơn, khu nhà trọ này giống cái tổ ong thu nhỏ. Một tổ ong trong mùa gió rét, mưa bão!

Tôi thuê được căn phòng thứ hai bên dãy số lẻ gần sát đầu hẻm, nhưng cũng không thể quan sát được gì chung quanh do cấu trúc của khu phố và khu nhà trọ. Tôi cũng như mọi người, sáng bảnh mắt đã xách cặp phóng xe tới công ty; chiều tối về mở khoá nằm sải tay chân trên tấm nệm lật xuống nền xi măng, đầu óc như muốn bã ra; thân thể mỏi nhừ. Đó là chưa kể những đêm khuya về sáng bị đánh thức dậy bỡi những tiếng động khẽ hừng hực, tiếng ư ử rên bên căn phòng đầu liền vách. Cuộc sống “gạo chợ nước sông” cứ lênh đênh hết ngày này qua tháng nọ, kể ra cũng không đến nỗi nào. Nhưng những lúc buồn, chẳng có người hàng xóm nào thân thiết để giải bày, trò chuyện. Í ới qua điện thoại chẳng hứng thú gì.
Chủ nhật, ngày nghỉ nếu bạn bè không đến chở đi đâu đó thì tôi thường khoá cửa nằm nghe nhạc, tấu hài, cải lương, bài chòi, chèo… miễn sao quanh mình có tiếng động cho bớt vẻ quạnh hiu.

Nhưng sáng nay thì không như mọi ngày. Một sự bất tiện. Một sự quấy rối. Một sự bất ngờ. Lẫn lộn những cảm xúc bực bội và thích thú. Đó là tiếng gõ cửa. Những tiếng động nhẹ đã làm chao đảo, không, chính xác là làm đảo lộn trật tự vốn được giữ gìn cẩn thận theo thói quen sẵn có và lười biếng bấy lâu nay. Hơn ba tháng ở khu này, lần đầu tiên tôi đón nhận tiếng gõ cửa thong thả, không ngập ngừng, không vội vàng. Thoạt nghe hơi khó chịu nhưng hình như những tiếng lốc cốc phát ra từ sự đụng chạm giữa các ngón tay và cánh cửa gỗ đã đè ép sự bực dọc xuống ở mức độ thấp hơn nhiều lần. Tôi khoát thêm chiếc áo ngoài để che đậy sự hở hang khi chỉ một mình trong phòng, nhón gót hé cánh cửa.

Một chiếc đầu lướt qua kẻ hở. Một khuôn mặt dài ngoằng khi mới thoạt nhìn qua khe hẹp. Chiếc đầu lùi lại. Khe hở của cánh cửa mở rộng và khoảng tối biến mất. Chiếc đầu lên tiếng:

-Chào chị. Tôi tới trọ gần tuần nay. Nếu không phiền thì chị cho tôi mượn kim chỉ khâu lại hột nút bị sút. Định ra đầu hẻm mua, nhưng nghĩ các vị phụ nữ thế nào cũng chỉn chu hơn trong chuyện may vá…

Chiếc đầu nói thêm những gì nữa nhưng tôi không để ý. Sự nói dài của Chiếc đầu khiến cánh cửa dưới tay tôi cũng chỉ hé thêm vài phân một cách dè chừng. Chiếc đầu ngưng đột ngột và thở dài đánh sượt nghe thật rõ khiến tôi bối rối, bàn tay tự động hé rộng cánh cửa thêm vài phân:

-Có thể đấy – tôi trả lời – nhưng anh phải nói chỉ màu gì?

-Dạ màu xanh nhạt hay trắng cũng được.

Tôi kéo cánh cửa hẹp thêm một chút như thể phòng ngừa Chiếc đầu có thể bất ngờ chui tọt vào bên trong, trong khi tôi quay vào tìm kim chỉ. Mở chiếc va li tìm chiếc hộp chứa lỉnh kỉnh các thứ vặt vãnh nhưng cần thiết của phụ nữ, và lôi ra đúng loại chỉ khâu Chiếc đầu yêu cầu, tôi đưa cho hắn qua khe cửa hẹp:

-Anh có thể giữ lấy mà không cần trả lại.

Bàn tay chiếc đầu chạm vào bàn tay tôi. Và thay vì nói lời cảm ơn, Chiếc đầu lại xuýt xoa:

-Ôi bàn tay chị đẹp quá.

Tôi đóng sập cửa lại nghe thành tiếng. Lần đầu tiên có người khen bàn tay tôi đẹp. Tôi lật qua lật lại hai bàn tay; xoè mười ngón rồi cong lại nhìn ngắm. Trời đất có đẹp thiệt dưới con mắt hắn hay chỉ là sự nhầm lẫn, tâng nịnh lấy lòng? Tôi nằm ườn trên ghế, lật tiếp tạp chí Thời Trang Phụ Nữ để không nghĩ về bàn tay, lời khen nịnh và thái độ của Chiếc đầu bên kia cánh cửa đóng.

Những chiếc váy dài, váy ngắn, áo pulls, soutiens, slips …màu sắc sặc sỡ, đủ loại như một rừng cờ tổ quốc của nhiều chủng tộc đang quàng vai bá cổ diễu hành trên đường lớn.
Đây rồi, để mai chỉ cho nhỏ Thư ra Corp Mart mua chiếc váy này đi ăn cưới con Lan. Đẹp, hợp với cái dáng mỏng manh của nó. Còn mình thì mặc gì nhỉ. Ôi dào, hơi đâu. Già rồi. Gì cũng được. Lướt chưa đến trang cuối lại nghe tiếng lốc cốc. Tôi đoán đây là Chiếc đầu. Chưa kịp ngồi thẳng lưng, cánh cửa khép hờ đã bật ra. Lại một chiếc đầu thò vào, bím tóc buông thõng trước ngực:

-Em ở sát phòng chị đây mà. Em tên Mai. Chiếc bàn ủi của em bị sao đó không ăn điện. Chị làm ơn cho em mượn. Trời ơi, thiệt là phiền chị quá trời - Giọng nói miền Nam nhào nhão nghe dễ chịu đến lạ.

Tôi cúi xuống gậm bàn lôi chiếc bàn ủi đưa cho cô gái. Không thể đoán được tuổi tác, không đẹp, nhưng khuôn mặt phúc hậu. Cô ta vội vã rụt đầu và biến mất sau cánh cửa, quên cả kéo sát lại. Thôi kệ. Tôi nghĩ, bữa nay chủ nhật ta cũng nên “connect” với thế giới nhà trọ một chút, một chút thôi với hành lang dài hun hút này để gọi là cũng có tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa. Ta không ngắm được gì, không sờ soạn nắm được tay ai, ngồi hàn huyên to nhỏ với ai trong khu tổ ong thì để chút không khí chủ nhật luồng vào tận phòng tắm cũng chẳng mất mát gì, tôi tự nhủ như vậy, cầm bằng như không khí cũng được xếp loại sinh linh trên trái đất này.

Em ơi…nếu như đôi ta… Em ơi… nếu như đôi ta… câu vọng cổ cứ lặp đi lặp lại một cách sộn sựt trên mặt đĩa bị trầy xước phát eo éo qua hai chiếc loa nhỏ, đập vào tai khiến tôi tưởng tượng đến Chiếc đầu đang ngồi dạng chân xỏ chỉ qua lỗ kim bị trật hoài. Chuyện này rất có thể sẽ xảy ra. Chuyện kim chỉ không phải dành cho đám đàn ông con trai. Tệ thật, tinh thần cộng đồng của bầy ong nơi tổ này không được phát huy một cách triệt để. Giá như có một thủ lĩnh – tôi nghĩ vẩn vơ – mà lấy đâu ra thủ lĩnh kia chứ? Ai rỗi công đâu mà đứng ra gánh vác chuyện hàng tổng? Nhảm nhí. Thiệt nhảm nhí. Tôi đứng dậy, vói tay tắt chiếc loa vi tính. Những câu em ơi… sậm sựt tắt ngấm.

Bỗng dưng Chiếc đầu lọt hẳn vào bên trong, kéo theo cả tấm thân đồ sộ đo chật khung cửa. Chiếc đầu chìa gói kim chỉ về phía tôi:

-Trả lại chị. Cảm ơn rất nhiều. Ủa mà chủ nhật chị không đi đâu sao? Xin lỗi, tôi hơi tò mò thái quá.

-Không có chi.

Câu trả lời khiến Chiếc đầu chưng hửng. Hắn đưa tay lên gãi đầu theo thói quen của những gã con trai có thói tán tỉnh vu vơ, mắt nhìn quanh như thể che lấp sự hổ thẹn bắt đầu tăng lên. Chiếc đầu lúng túng thật sự, mắt dán chặt vào bức tranh khoả thân, buông câu nói không dành cho ai.

-Đẹp thật, tuyệt.

Tôi nói:

-Xin lỗi, tôi hơi nhức đầu – và đỏ mặt.

Chiếc đầu quay lui:

-Chào chị.

Bây giờ thì tôi mới kịp hoàn hồn, nhìn lại khoảng cách Chiếc đầu đứng bên trong khung cửa và bức tranh. Hắn nhìn thấy gì nhỉ? Tôi hoảng hốt bỏ tờ tạp chí xuống nền đất, chạy lại đúng chỗ lúc nãy Chiếc đầu đứng, và đứng đúng với tư thế của hắn, cũng ngoái đầu nhìn về phía bức tranh, ước lượng khoảng cách và độ sáng: cũng đến chục bước chân, độ sáng thì nhoè ở một nửa khung tranh. Như vậy Chiếc đầu chỉ có thể nhìn thấy một cách lờ mờ, không rõ ràng. Tôi tạm an lòng và thầm nhủ, sẽ không để bất kỳ gã đàn ông con trai nào ngắm bức tranh này lần thứ hai dù là trong tư thế đứng nhìn ngắm không rõ ràng như Chiếc đầu lúc nãy.
Thật ra bức tranh ấy không có gì là ghê gớm. Chỉ tội một điều: nó chính là chân dung tôi. Người vẽ nó không phải là gã hoạ sĩ cuồng tình mà chính là Lan, con bạn thân sắp đi lấy chồng nay mai của tôi, theo trí tưởng tượng của nó. Tôi không hiểu mấy về hội hoạ, nhưng khi nó chìa bức tranh ra, tôi không khỏi ngạc nhiên. Có điều gì đó khó diễn tả đang phát ra từ thân thể tôi bằng thứ màu nước trơn tuột. Nó lạnh lẽo một cách nồng nàn; héo buồn đến ngây dại trên một tấm thân hừng hực những đồi trũng nhấp nhô, xa vắng, mời gọi, xô đẩy… với thân thể loã lồ từ gót chân đến hai cánh tay giơ thẳng vượt khỏi đầu, chân chéo vào nhau chỉ thấy một miền cỏ mượt xanh hình tam giác nối liền từ háng lên phía dưới khoang bụng…
Chiếc đầu là kẻ lạ duy nhất nhìn thấy sự ẩn hiện thấp thoáng, hư ảo, nhạt nhoà những đường nét không thật rõ ràng.
Chiếc tổ ong bị xé toạt trong buổi sáng chủ nhật tình cờ này rồi.


2*
Chui khỏi tổ ong nhỏ, ra bên ngoài là tổ kiến khổng lồ. Tất cả mọi loại kiến chen chúc nhau trên đường, ngược xuôi; nối đuôi nhau, hối hả suốt cả ngày thâm đêm. Con kiến con trong đàn khổng lồ là tôi rêụ rã dẫn chiếc xe xẹp lốp lê lết đã bốn trăm mét nhưng chẳng tìm ra chỗ vá. Đôi chân giống chiếc chân giả vặn gai ốc; tay nhừ mỏi, thân thể nhớp nháp qua lớp mồ hôi rịn vấy áp vào quần áo đến nhột nhạt khó chịu. Đến đôi giày gót cao mới thật khốn nạn: nó nghiến sít, thắt chặt đôi chân như bàn tay thô ráp, nham nhở của gã cà bông bóp thít lại, nhoi nhói. Ôi trời, một con bé cắm đầu dắt xe giữa dòng người xuôi ngược như một kẻ lạ. Tôi chẳng biết phải làm thế nào nữa? Công ty thì sáng nay có cuộc họp sớm, nghe nói quan trọng. Đành phải gọi về thôi. Tôi cố đẩy chiếc xe đáng nguyền rủa lên vỉa hè. Phía sau lưng, tiếng nói hơi quen quen gọi giật.

-Nè chị, sao vậy? Bể lốp à? Khổ thật!

Chiếc đầu trờ tới, cho xe leo lên lề, sát gần chỗ tôi đang loay hoay tìm cách gạt chân chống choãi ra. Chiếc đầu nhanh hơn, đỡ lấy tay nắm, dựng chân rồi khum người quay vòng vòng bánh xe trước, một tay áp lên vành bánh xe đang quay. Tôi không hiểu hắn đang làm cái trò gì; cứ như là hắn đang tìm kiếm lỗ thủng trên chiếc lốp đen thui hay một vật gì cấu xé vào đâu đó khiến chiếc xe bị xẹp. Cuối cùng Chiếc đầu đứng lên, chìa trước mắt tôi chiếc đinh nhọn, kêu lên:

-Xong rồi!

-Là sao?

-Là chiếc ruột bị nát như người ta băm ruột vịt xiêm xào sả ớt - Chiếc đầu nói thản nhiên.

-Can cớ chi tới vịt xiêm?

Chiếc đầu như không nghe tôi nói gì, lên tiếng:

-Nếu như chị không ngại tôi là kẻ gian, cỗm mất chiếc xe đáng giá năm mươi triệu này thì chị có thể lấy chiếc cà tàng của tôi chạy tạm tới công sở, chiều về đổi lại. Còn nếu quá tám giờ tối mà không thấy tôi mò về, tức thị tôi đã bán chiếc xe này và đã đi xa thiệt xa? Lúc đó chị nên báo cho chính quyền sở tại để họ phát lệnh truy nã - Hắn nói một thôi dài - Chị mà tìm ra chỗ vá xe thì cũng mất đến nửa tiếng nữa. Thôi lấy xe tôi đi đi kẻo trễ giờ làm việc!

Chiếc đầu nói giọng kẻ cả, như ra lệnh. Tôi ngó bộ dạng hắn, nhìn ngược từ đầu xuống chân. Không có dấu hiệu nào chứng tỏ hắn là kẻ dối trá. Đến nước này thì tôi phải nghe theo, không còn cách nào khác. Đỡ lấy chùm chìa khoá trên tay hắn, tôi nói cảm ơn và bỏ mặc hắn với chiếc xe xẹp lốp giữa phố đông. Đầu óc trống trơn. Không nghĩ mình sẽ phản ứng ra sao nếu như hắn làm thật?. Không nghĩ mình tới công ty có còn bị trục trặc gì nữa không?

Chiếc xe cà tàng của hắn không giở chứng giữa đường. Nó ì ạch cõng tôi đến sở đúng giờ. Ngồi vào phòng họp. Mọi việc diễn ra chính xác và nhanh gọn. Kết thúc, mọi người kéo dịch ghế đứng dậy, ai lo việc nấy. Phòng họp trống trơn, còn lại những chai nước và ly cốc lỏng chỏng trên bàn. Hai giỏ hoa ở hai đầu bàn phòng họp không làm ấm hơn chút nào sự trống trải đang phơi dày trong căn phòng rộng. Tôi bước về phòng mình, ôm theo chồng báo cáo của các phòng ban dày cộp. Suốt ngày nay tôi phải đọc xong chồng giấy này để tổng hợp trình giám đốc. Trời đất, cứ như một quyển từ điển nhỏ. Con số và chữ nghĩa dày đặc. Mắt căng lên những trang giấy, hai tay ấn bàn phím liên tục đến nỗi không còn nhớ gì đến sự bắt đầu của buổi sáng. Cả thân thể và đầu óc cứ chạy đuổi theo những trang kín chữ nằm ngổn ngang trên chiếc bàn rộng.
Trưa ăn vội khúc bánh mì kẹp thịt và chai nước lọc.
Nhắm mắt ba mươi phút. Lại tiếp tục ngồi vào bàn phím cho đến khi chuông đổ.


3*
Tôi không nhớ mình đã đi chiếc xe nào, chỉ mang máng đó là chiếc xe màu xanh rêu đã tróc sơn. Nhưng trong nhà để xe có hàng chục chiếc màu rêu biết làm thế nào? Chính xác là tại vị trí này, nhưng cũng có hai ba chiếc giống nhau, chiếc nào là của Chiếc đầu? Lôi chùm chìa khoá ra tra vào các ổ khoá, xe nào cũng mở được? Vầy là thế nào? Chỉ còn nước đứng đợi cho mọi người lấy hết xe ra, chiếc còn lại là của mình đi khi sáng? Mình đâu có số điện thoại của hắn để có thể hỏi rõ. Đành lòng vậy. Đứng chờ. Khởi đầu và kết thúc một ngày đều xui xẻo như nhau. Nó không có hình dạng, nhưng sự bực bội, căng thẳng thì có thừa?

Lúc về tới tổ ong nhỏ, tôi dựng xe trước cửa và liếc nhìn các ô cửa khép mở không đều. Không thấy dấu hiệu nào là có bóng dáng Chiếc đầu trong khu tổ ong. Cứ tưởng tượng rằng Chiếc đầu biến mất thì sự thể sẽ như thế nào nhỉ? Trên TV thỉnh thoảng vẫn thấy mấy khuôn mặt non choẹt, rất dễ thương bị còng tay chỉ vì chiếc di động và vài trăm ngàn như những thứ cần thiết cho đời sống tạm bợ cần phải đổi lấy thật nhanh chóng? Thời buổi táp nham này đến không thể phân biệt Phật Chúa với những tên mạt hạng thì nói chi đến… Ôi hơi quá đà, đi xa rồi. Tôi thốt nho nhỏ trong miệng, cố đẩy những ý nghĩ u ám trong đầu ra ngoài. Lòng trống không như cái bụng đang đói.
Đúng lúc tôi đang cởi soutien, quần lót thì tiếng Chiếc đầu vang lên:

-Chào chị, xe chạy tốt chứ?

Tôi vọng ra từ trong buồng:

-Không có chi, tốt.

Lúc tôi thay áo quần xong thì Chiếc đầu mở rộng cửa, đẩy xe vào góc:

-Má tôi gửi vào mấy cân sò. Tôi muốn mời chị món quê nhà. Nhưng ngồi đây chắc không tiện mà sang bên tôi lại càng bất tiện hơn. Nếu chị đồng ý, tôi mời chị qua bên kia cầu Rạch Chiếc. Chị có thể nhìn ngọn dừa nước còn tôi thì nhìn mấy cây cau thẳng đuột để ai cũng thấy quê nhà sát bên mình.

Tôi bật cười về lối ví von và cách mời chào khá đặc biệt, nghĩ hắn là người có thể tin cậy được nhưng vẫn cứ trù trừ. Chiếc đầu cười cười vẻ chế nhạo:

-Tôi làm mất xe chị thì nguy to, nhưng làm mất chị thì có thể là điều may mắn.

-Anh có dám làm vậy không?

-Nếu chị cho phép?

-Không đời nào!

-Là nói vui, chứ tôi không bao giờ có ý nghĩ sàm sỡ đó.

-Vậy thì tôi đồng ý ngồi nhìn cau, nhìn dừa với anh nhưng phải về trước 8 giờ. Bỡi tôi có hẹn với người bạn.

-Cảm ơn.

-Tôi cảm ơn mới đúng chứ sao lại anh? Anh kêu đãi tôi món ngao sò gì kia mà?

-Đúng thế

(…)

Chiếc xe cà tàng của Chiếc đầu chở tôi ngồi sau, giữ một khoảng cách vừa phải. Tôi để ý qua mấy chỗ đèn đỏ, hắn chậm rãi dậm thắng. Té ra hắn cũng là con nhà tử tế, khá lịch sự trong đời sống khi hắn xách bọc sò đưa cho chủ quán, kéo ghế cho tôi, lau chén đũa, lật ly… Tôi ngồi quan sát, thấy hắn không đến nỗi nào, cũng có thể gần gũi, bạn bè được. Và ăn uống với Chiếc đầu chỉ là cái cớ để hắn dốc bầu tâm sự về hoàn cảnh gia đình, về những công việc hắn đang làm, những trắc trở, khó khăn thời mới ra trường. Tóm lại hắn là người có ý chí, cứng rắn nhưng không thiếu tình cảm.

Những cốc rượu vơi đi là thêm một thông tin, những vỏ sò mở banh ra trống trơn là thêm một chi tiết bất ngờ về cuộc đời hắn. Hoá ra Chiếc đầu là con nhà danh giá, bị sơ sẩy trên đường làm ăn khiến gia đình lâm vào ngõ cụt. Giờ thì chính Chiếc đầu là người gượng dậy và đang đến gần đích, theo như lời hắn giải bày.

-Chị biết không? - Chiếc đầu ngó ra phía đường – Gia đình tôi xuống dốc lúc tôi học năm thứ ba, vừa kèm trẻ vừa hoàn tất học trình vừa đau vừa giận cô bạn. Cô ta quay lui như lính nghe khẩu lệnh “đằng sau quay”. Vậy đấy, rồi mọi chuyện cũng ổn. Giờ tôi phải khôi phục lại công ty của ba mẹ tôi bằng bất kỳ giá nào.

-Chúc anh thành công – Tôi nâng cốc rượu vang trắng lên - những con sò của anh ngọt lắm. Cảm ơn – Nói và tôi liếc nhìn đồng hồ.

Lúc đi qua chiếc cầu gỗ nối liền quán với khu đất trống bên ngoài, Chiếc đầu bất ngờ cầm tay tôi;

-Cảm ơn chị đã dành cho tôi một buổi tối thật đẹp.

Tôi không rụt tay lại, với ý nghĩ là lúc này không nên để Chiếc đầu mất đi niềm hứng khởi. Bàn tay tôi nằm gọn trong tay hắn hình như cũng âm ấm đôi chút, nhưng khi ngồi sau yên xe tôi vẫn giữ một khoảng cách khá an toàn, thật an toàn cho đến khi về tới khu tổ ong./.


Đăng nhập để trả lời
0
HƯƠNG CAU

NGUYỄN LỆ UYÊN



Bất ngờ cô năm Đào cầm bàn tay khẳng khiu của ông Vạn nâng lên khỏi mặt bàn rồi đặt vội xuống. Cô xoay người ngó vào góc phòng hẹp như thể để che giấu sự xấu hổ. Ông Vạn cũng bất ngờ không kém, lúng túng rụt tay thiếu chút nữa làm đổ ly nước trà gần đó. Ông không ngó về góc phòng theo hướng cô năm, mà bối rối nhìn lên mái tóc có những sợi bạc lốm đốm của cô năm Đào. Mau thiệt. Ông thầm nghĩ, mới đó mà đã mấy chục năm. Mấy chục năm trôi qua như cái chớp mắt. Mấy chục năm thừa sức để biến một cô gái xinh xắn thành một bà già; một anh thanh niên thành ông lão đầu bạc hếu. Lòng ông chùng xuống. Chớ chi mà hồi đó…

Bất ngờ cô năm quay lại:

-Ông vào chơi lâu không?

-Vài bữa. Thăm hết đám bạn bè quen thân rồi về. Đi lần cuối, biết mai mốt chân tay còn cứng cáp không nữa.

Ông Vạn đưa ly nước lên miệng hớp một ngụm nhỏ, nhưng sao mà đắng ngắt. Đắng như cuộc trùng phùng bất ngờ, không hẹn trước; khô khốc như năm tháng đè chồng lên tuổi tác. Vừa đặt ly nước xuống mặt bàn thoảng hơi lạnh, ông hỏi:

-Chớ mấy đứa nhỏ không ai ở cùng sao?

Cô năm cười buồn:

-Thời buổi này ăn tiêu thì nhiều chớ ở thì mấy hột? Hai đứa nó lặn lội trên Sài Gòn. Một năm có mặt ở nhà vài bữa. Tụi nó còn đòi bán căn nhà này, đưa tui lên trển. Nhưng sao đi được anh? Còn mồ mả ông bà, tía chúng nó nữa.

-Khác chi tui. Tụi nó như chim sổ lồng, bay mất. Ngày tối chỉ có hai vợ chồng già ngó mặt nhau – và, hình như biết mình lỡ lời, vội chữa: có khi cả tháng tôi cũng lại côi cút…

Cô năm Đào hơi nhổm người lên, rót thêm nước vào ly còn đầy của ông Vạn, lúng túng:

-Ông ở chơi lâu không?

Nghe câu hỏi lặp, ông Vạn mới là người lúng túng thật sự. Dường như có cái gì đó mãi vướng víu, ngùng ngoằng như cuộn chỉ rối, không tìm thấy mối gỡ. Nó giống như cảm giác khi ông đứng trên bờ sông nhìn đoàn ghe kết hoa đưa cô năm qua bên kia vàm, giống như cái nhìn buồn kéo dài dưới đuôi mắt cô lúc chiếc ghe tách bờ. Chớ chi câu hỏi này còn có ông Khanh, chồng cô ngồi cạnh (ông đã bỏ cô ra đi từ khi đứa con thứ hai mới chập chững biết đi )

-Hay ông ở lại ăn tết với đám bạn già này một năm đi, như thời ông còn ở đây vậy?

Cô năm lại kéo xịch ông về với quá khứ xa lắc. Đó là năm ông mới ra trường, về cái hóc xó chằng chịt sông rạch. Năm đó ông ở lại, không hẳn vì cái tết mà trước là vì cô năm. Cô rực rỡ, vàng chói như cánh bông điên điển nổi bật lên giữa những gốc rạ chổng ngược trong làn nước đồng mênh mông. Cô đẹp thuần khiết, đẹp dân dã; vẻ đẹp chân quê mộc mạc không cần đến những son phấn lụa là khiến nhiều người ngẩng ngơ, trong đó có ông. Bên này căn phòng trọ nhìn sang hình như vẻ đẹp còn bốc lên thành hương thơm lựng giữa những tên thuốc lạ hoắc: nhục thung dung, tật lê, sanh địa…quyện với hương cau, hương bưởi… trong vườn nhà khiến ông như say như tỉnh. Còn người thanh niên là ông bây giờ thì chập chờn lú lấp, nhưng bà chủ nhà thì tinh ý ngó anh lúc ngồi vào bàn ăn: Con nhỏ đó được lắm. Công dung ngôn hạnh đủ cả. Mà cũng ngược đời, người ta đậu tú tài thì lo học tiếp, còn nó thì lại nằn nì ở nhà xin tía nó học thuốc. Nó kêu để cứu người. Học có giỏi đến đâu mà không cứu được người thì cũng bằng bỏ phí. Tui có hỏi sao cháu không học tây y, cậu biết nó trả lời sao không? Tây y thì nhanh nhưng không thấu triệt mọi lẽ chân kinh. Đông y thì chậm nhưng lại khai thông được những cái tắc cái bí trong huyết mạch con người… Tui chẳng hiểu ất giáp gì ráo.

Những cái tắt, cái bí mà bà chủ kể cũng chỉ dừng lại ở đoạn lần đó anh giả đò bệnh, chạy sang thăm mạch bốc thuốc. Anh đặt tay lên chiếc túi vải nhồi bông nhỏ. Những ngón tay thon mỏng ấn lên các huyệt mạch, ấm áp tưởng chừng như mọi đường huyết mạch của anh thanh niên ngưng chảy mà nhịp tim thì đập liên hồi. Chẳng có bệnh tật gì hết, cô thốt lên. Anh chưng hửng, mặt đỏ rần, lí nhí cảm ơn rồi quay lui.

Một người không bệnh tật gì, để rồi sau đó hai người thành bệnh khi anh lui cui bứng những gốc vạn thọ cho vào thùng kiểng trong góc sân nhà trọ. Cô gái bên phía hiệu thuốc bắc ngó sang thấy lạ, đến áp vào hàng rào dâm bụt hỏi: bộ tính mang vạn thọ về quê ăn tết sao? Anh đứng lên: không, tôi ở lại ăn tết với mấy cây vạn thọ này. Cô gái cười: anh nói nghe thiệt ngộ, rồi bỏ đi. Anh thấy như cả đến những lá, những cành chỗ bộ ngực cô áp vào cũng đang run rẩy…

-Cô năm còn nhớ mấy cây vạn thọ hồi đó không?

-Nhớ chớ sao không? Nếu không tui đã không bắt tía tụi nhỏ trồng vạn thọ đón tết mỗi năm.

Câu nói không hoa hoè, kiểu cách nhưng sao ông thấy lòng bồi hồi, tưởng như đó là câu nói hồi cô năm áp sát ngực vào mấy cành dâm bụt.

-Ở lại hay không tính sau – cô năm đưa tay lên như phân bua – giờ thì tui đi hái bông so đũa nấu nồi canh chua cá lóc, món ông thích ăn hồi xưa.

Nói và cô năm Đào đứng lên, không cần biết ông có đồng ý hay không. Lúc ông bước theo ra, đứng trên hiên thềm nhìn dáng cô năm đưa tay níu những cành so đũa non, nom cô không khác với hồi ông mới gặp lần đầu, vẫn dáng thon thả, từ tốn, ý tứ; vẫn đôi bàn tay mềm mại dịu dàng. Bất chợt ông thở dài, tiếng thở nghe lạ hoắc, như là của ai chứ không phải của chính ông.

Ông Vạn bước xuống hiên thềm, ra chỗ cô năm:

-Thôi được rồi, để tôi chạy qua bên nhà tư Khê, mời ảnh qua ăn cơm với mình, chắc được?

-Sao không – cô năm quay lui – giá mà tía tụi nhỏ còn sống, anh hai Đỉnh đừng bỏ đi thì chắc vui hơn.

Ông Vạn xửng lửng, chân muốn bước mà lòng thì trì níu lại. Những chiếc bông so đũa màu trắng ngà nằm gọn trong chiếc rổ nhỏ y như nụ cười lấp ló sau hàng rào cây xanh, như những ngón tay thon trắng đặt lên huyệt mạch ông mấy chục năm trước. Và tệ hơn, ông tưởng tượng chiếc rổ con đan bằng nan lồ ô chuốc mỏng giống như chiếc thuyền tròng trành trên mặt nước sông mênh mông đưa cô qua bờ bên kia. Ông ngó xuôi theo con thuyền, còn cô thì ngoái nhìn ngược. Chiếc máy đuôi tôm quạt xành xạch, phun chút khói đen ra sau tựa như lời phân trần, nhắn gửi.

Cô kiễng chân, vói tay lên cành cao níu nhánh so đũa có chòm bông lủng lẳng xách theo bên nách áo để lộ ra chút da thịt không thể giấu trong chiếc áo bà ba. Ông Vạn bước tới, đưa tay kéo cành lá xuống. Khuôn mặt ông thật gần với cô năm, thiếu chút nữa là hai người chạm vào nhau. Má cô năm đỏ lựng, hai tay thu chiếc rổ vào bụng:

-Qua bên anh tư Khê kẻo ảnh đi nhậu mất, không tìm ra.

xxx

Lúc cô năm bưng chiếc bếp gas cá nhân đặt lên bàn, tư Khê gạt phắt đi:

-Đâu được, ở miệt đồng ai lại đi xài bếp gas? Để tui đốt than gáo dừa lên. Nói và tư Khê chạy biến ra ngoài vườn. Cô năm vừa đặt tay lên hông bếp định bưng lui thì cũng vừa lúc bàn tay ông Vạn đặt chồng lên. Thoáng một chút bối rối rồi hai người cứ đứng chôn chân nhìn nhau. Nụ cười rớt trên đuôi mắt cô năm, yên lặng mãi cho tới khi tư Khê kệ nệ bưng lò than hồng đặt lên miếng gạch tàu trên bàn ăn . Vẫn một giọng ồn ào không đổi, tư Khê nhóng người nhìn vào chiếc tủ đựng chén tách.

-Tui nhớ hồi nẳm ông Khanh có món rượu rắn gì đó ngon lắm, chắc còn chôn dưới đất. Chị năm nhớ chỗ nào bưng lên đãi khách quý.

Cô năm Đào đứng lên vừa nói:

-Không có chôn, đặt trong góc nhà kìa. Mỗi năm ngày giỗ của ảnh chỉ rót ra cúng thôi. Mấy đứa nhỏ chẳng đứa nào đụng tới, nhà không có đàn ông, còn miết.

Tư Khê cười lạch khạch:


-Dưới suối vàng anh năm hả hê lắm đây.
Hũ sành rượu mang ra. Tư Khê chiết ra chai. Màu rượu vàng óng, thơm lừng lựng.

-Bữa nay vui, chị năm cũng uống với tụi này nghe. Mà cũng thiệt ngặt, tại sao ai cũng sanh con trai hết trơn vậy cà? Có nạc có mỡ biết đâu hai người lại sui gia, gần gũi nhau hơn?

Ông Vạn không nhìn tư Khê nói như than thầm:

-Giày dép còn có số mà anh, chớ không thì khu vườn này vàng rực màu bông vạn thọ rồi.

Tư Khê lắc đầu, hiểu lờ mờ một nửa, bỡi màu bông vạn thọ mãi tới giờ này chỉ có hai người thầm biết.

-Không sao – tư Khê lại nói – Ta nâng ly mừng cuộc tao phùng!

Ba ly rượu sóng sánh màu vàng mật ong nâng lên từ tốn và uống từ tốn. Nhưng thứ rượu đặc quánh lưu niên khiến tư Khê hứng chí mời tới, cho đến khi lưỡi bắt đầu đánh đụng chân răng cũng kịp khều khào:

-Thiệt, tức cái số hai ngư…ời… Phải chi mà chị năm chịu cảnh nắng gió núi non thì giơ…ờ na…ày…

Bữa tiệc nhỏ chấm dứt bằng cảnh ông bạn già dìu ông bạn già ra đặt lên chiếc võng gai mắc tòng teng giữa hai đầu cột ngoài hàng hiên. Cô năm Đào lấy chiếc mền mỏng vắt ngang người tư Khê. Ông ta bắt đầu ngáy như sấm động.

Chiều xuống thấp dần sau những rặng dừa lùi xa bên kia sông. Những tàu lá lúc càng đen đậm khiến ông đâm bối rối thật sự. Như có linh tính, cô năm Đào từ cầu ao quay lại, ngó vào mắt ông:

-Chắc ông sợ mang tiếng? Có anh tư làm chứng thì ảnh cũng đã say. Nhưng tụi mình đã lớn rồi, không ai đủ hơi sức để nghĩ này nọ đâu.

-Tôi ngại là ngại cho cô thôi, ở đời…

Ông nói chưa hết câu thì bất chợt nhìn thấy những bông cau trắng xoá rụng đầy vai cô năm khiến ông có cảm giác như hai người đang ở một nơi khác, cách đây mấy chục năm. Lòng ông rộn lên, nhưng cũng kịp ghìm lại. Ông cầm tay cô năm, giữ thật lâu “thôi tôi phải về, đã lỡ đánh mất rồi. Anh tư thức dậy nói tôi xin lỗi” . Cô năm Đào bóp chặt tay ông rồi thả lỏng ra “dạ, anh về mạnh khoẻ”.

Ông già bước lui, khập khễnh trên con đường đất dẫn ra phía dãy phố cuối chợ. Bước đi như bay như chao trong lớp hương cau thơm dịu, ngây ngất, phủ đầy bông vạn thọ nở bừng trong những ngày cuối năm./.
Đăng nhập để trả lời
0
TÀU KHUYA

NGUYỄN LỆ UYÊN



- Huỷ vé và quay lại đi. Đằng nào thì ngày mốt cũng về tới Sài Gòn. Ở lại cùng nhau giải quyết vụ này xong cái đã!

Tôi không trả lời, lững thững đi bộ dọc theo thân tàu, không rõ xuôi hay ngược. Khách lên tàu. Những người đưa tiễn. Còi rúc. Những bước chân vội vã. Hàng cột đèn co ro trong cơn mưa lất phất lạnh. Mưa ðan thành những sợi, giống như những sợi vải lòng thòng, xiên từng lọn qua lớp ánh sáng vàng vọt trên sân ga. Gió lạnh se bóp vành tai. Còi rúc tiếp. Tôi có thể bước lên tàu, chờ lăn bánh. Và chỉ trong ít phút nữa, tôi sẽ rời xa nơi ám bụi này. Nhưng không hiểu sao tôi không bước lên bậc cấp, thản nhiên quay trở lại cái tổ chim bốc mùi.

-Tàu chạy chưa, sao không trả lời?

-Chưa, tôi sẽ quay lại. Mà có chuyện gì thế? – Chỉ hỏi cho có lệ và tắt máy ngay. Tôi hiểu phần nào chuyện quay lại: Có thể bên K. lại đưa ra thêm điều kiện gây khó chúng tôi. Cũng có thể tiết trời se lạnh như thế này, H. cảm thấy cô độc. Tôi đá văng chiếc lon rỗng, lăn lốc cốc trên đường tàu. Chiếc lon chùi xuống chỗ nào đó, dưới thanh tà vẹt, và bỗng dưng tôi liên tưởng đến thân phận mình lúc này. Có cái gì đó, không hình dạng, nhưng xơ xác đến buốt lòng.

Tôi xách túi hành lý quay ngược ra khỏi ga. Những gánh hàng rong, xe ôm, taxi… những tấm ni lông di động bay lật phật, nhốn nháo trước cửa ga, cuốn theo dòng xe cộ ngược xuôi trên đường, làm tôi rơi vào trạng thái gần như chóng mặt. Cũng có thể do cảnh tượng trước mắt. Cũng có thể do cái “lệnh” trời ơi của người đàn bà đang ngồi đâu đó trong sảnh khách sạn, nhà hàng, quán cà phê đêm. Và cũng có thể bà ta khoả thân dưới tấm chăn bông dày chờ đợi từng bước chân của tôi?

Cùng bước theo những bước chệch choạc, rã rời là tiếng mời chào níu kéo. Những ấm chè xanh trên chiếc bàn mộc. Chiếc nõ điếu bằng tre nằm lệch nghiêng cạnh chân bàn chờ khách. Tiếng nõ sẽ rên sòng sọc. Bên kia, khói phủ mặt bàn. Những người đàn ông ngửa cổ thở khói. Khói và mưa cuộn quấn, phất phơ trong ánh đèn méo lệch. Khói và mưa ngập ngừng dưới những hàng hiên. Tôi nhìn những sợi mưa và lặng lẽ kéo túi hành lý lăn thành tiếng, rào rạo trên mặt đường nhựa. Đi một đoạn khá xa tôi mới gọi taxi. Lúc ngồi yên trong lòng ghế ấm áp, tôi có cảm giác như con tàu đang lăn trên thân thể mình, lăn hoài không dứt.

-Bác về đâu?

-Bờ hồ.

-Đất này lắm hồ, nhiều miếu… mà bác ra hồ nào?

-Hồ Tây, khách sạn K. bên Nhật Tân.

-Trễ tàu?

-Không.

-Quên gì sao?

-Không.

Lái xe liếc nhìn lên kính chiếu hậu, làm khuôn mặt anh ta nhảy múa, phình to, móp méo. Hình ảnh ấy khiến tôi thèm uống một ly rượu mạnh. Lái xe thôi nhìn vào kính, chăm chú vào đoạn đường phía trước mặt. Nhìn từ sau, chỉ thấy phần gáy được bao kín bởi chiếc khăn len mầu xám sậm. Lúc xe men ngang qua vườn Bách Thảo, trong lớp sáng tối nhập nhoạng, tôi lên tiếng đề nghị:

-Anh có thì giờ uống với tôi một ly rượu?

Lái xe ngước nhìn lên kính, lâu sau mới nói:

-Cảm ơn bác, tôi phải kiếm vài cuốc nữa mới đủ chi phí trong ngày. Bác thông cảm.

-Anh xem quán bar nào, trên Ngọc Khánh chẳng hạn, ghé vào uống một vài ly. Trời se lạnh thế này tôi nghĩ uống một ly rượu tối ngủ sẽ ngon giấc. Anh chớ bận tâm về khoảng thời gian chết.

Anh ta cười lục khục trong cổ họng, không thành tiếng:

-Biết thế. Thật lòng, tôi không thể. Tôi ở Nho Lâm ra, kiếm đồng tiền nuôi vợ con thật khó khăn. Nói thật tôi có quê mà như không – Nói và anh ta lại cười lục khục như có những hòn sạn chạm trong cổ.

-Là sao – Tôi hỏi.

-Nhà của chúng tôi nằm trong khu qui hoạch. Cái khu chung cư cao cấp gì đó đã nuốt chửng đất đai chúng tôi rồi, giờ thành những kẻ lang thang kiếm sống.

-Tốt nhất ta không nên làm thằng dân nghèo – Tôi nói với từ ghế sau.

Im lặng.

Bánh xe siết trên mặt đường Thanh Niên. Con đường giống như những chiếc phao nối liền, thả nổi bập bềnh giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Tôi ngoái cổ nhìn đê Yên Phụ. Ðường mòn Cổ Ngư chỉ còn trong tâm tưởng những người già. Tôi mường tượng những bước chân khốn khó của Loan trên mặt đê khi phải chia tay với Dũng. Gió thổi sướt qua vai. Nhất Linh cũng khổ sở như nhân vật của ông với mối tình không trọn vẹn. Rồi còn Mai của Lộc nữa. Khái Hưng đã bao nhiêu lần đứng trên đoạn đê này, bóp trán để tìm ra sự thật của nghệ thuật trong đoạn kết giữa họ? Hai ông cùng các nhân vật đã mất hút đâu đó, chỉ nghe tiếng gió thầm thì bị gãy khúc giữa những toà nhà cao ngút, chắn mất cả mặt đê, bờ hồ. Hồi đó, cả làng Nhật Tân, Nghi Tàm đỏ thắm sắc đào. Mối tình của họ cũng đỏ rực như vậy. Còn bây giờ? Làng hoa một thời đã nhàu nát cả rồi. Hai ông nhà văn từng làm đẹp cho tiếng Việt, giờ cũng thui thủi ở đâu đó, một góc xa xẫm tối? Tôi ngẩn ngơ, ngó sững bóng đêm đậm đặc cuối tầm.

Qua khỏi hồ Tây, người tài xế cho xe chạy chậm, nói với tôi:

-Ở chỗ này có quán rượu nổi tiếng, tạm lịch sự. Bác có thể ngồi đến sáng – Nói và cho xe đậu sát lề.

-Anh không vào với tôi?

-Cảm ơn. Tôi đã nói.

Tôi nhìn đồng hồ, trả tiền và đẩy bàn tay anh thu dần vào người:

-Anh giữ hộ tôi chỗ thừa, mua cái gì đó cho cháu, coi như món quà nhỏ, không nhiều nhặn gì, đừng bận tâm – Nói và tôi kéo xách, bước thật nhanh vào quán.

Tôi như con chim đêm trong quầng sáng lờ mờ. Quán vắng. Chỉ thấy hai người khách không rõ giới tính đang ngồi trong góc sâu, chỗ khuất sau một giàn dây leo lưng lửng chúc xuống.
Đứng ở quầy bar là cô gái có khuôn mặt căng phồng và ửng đỏ, không rõ do ánh đèn hắt xuống hay những mạch máu li ti trên đôi má bắt quàng với những chai rượu xếp trên giá? Cô đang chăm chú dũa móng tay. Lúc thấy tôi bước vào, cô nhét vội chiếc dũa vào túi xách, nở nụ cười như bao nụ cười của những người đứng sau quầy. Tôi gật đầu chào và ngồi lên chiếc đẩu nệm chân cao, có cảm giác chông chênh, giống con sếu đang lắc lư, cong cổ xuống vũng nước.

Tôi đưa ngón tay lên:

-Camus đen, loại XO.

Cô gái có đôi má ửng hồng quay về phía giá rượu, cô bước đi với chiếc mông tròn ngún ngoảy, trườn theo ánh đèn màu hồng nhạt từ trần rớt xuống, đúng nơi tôi vừa liếc nhìn. Cô gái tìm rượu trên giá, lâu sau mới quay lại quầy với ly rượu trong tay trái, chai Camus được cô choàng chiếc khăn trắng bên tay phải. Cô rót rượu điệu nghệ và đẩy ly rượu bằng đầu mấy ngón tay về phía khách cũng điệu nghệ không kém. Ly rượu miết sàn sạt trên mặt quầy như lời mời mọc ngọt ngào. Tôi nghiêng đầu cảm ơn và nâng ly rượu chúc cô gái có một giấc mơ đẹp tối nay và hỏi cô có muốn uống cùng tôi. Cô gái lắc đầu, nói cảm ơn. Khi tôi đưa ly rượu lên lưng chừng thì cũng vừa lúc cô tì ngực vào thành quầy, đưa tay hất ngược mái tóc ra sau. Bộ ngực căng phồng như muốn gặm nát mép quầy.

Tôi uống thong thả. Đầu óc trống rỗng. Những mảnh ghép bằng gốm nung trang trí trên tường, mù mờ, không rõ hình dạng. Cả giá đỡ những chai rượu, cả cô gái cũng mù mờ trong lớp ánh sáng đặc quánh như có thoa kem.

Cái mông tròn lại lướt trước mắt, uốn lượn như con rắn trườn trên mặt đất. Chuông đổ leng keng.

-Nghe rồi, trên đường về.

-Sao lâu vậy?

-Có chút việc nhỏ - Tôi lấp lửng, không nói rõ đang ngồi bar rượu.

Cô gái quay lại quầy, hết nhìn tôi lại nhìn vào chiếc túi xách có tay kéo dựng đứng lên sau lưng. Cô buột miệng:

-Ông làm tôi liên tưởng với những phim cao bồi bên Mỹ. Họ vào bar với khẩu súng và bao da, thắt lưng quăng lên quầy. Còn ông thì với chiếc va li kéo chổng chơ.

-Cô thích cảnh ấy.

-Không, chỉ liên tưởng sau khi xem phim.

-Cảm ơn phim cao bồi.

-Ông nói sao?

-Phim cao bồi cũng tệ như phim tàu bây giờ. Một đằng là súng đạn, một đằng là gươm dao. Toàn nhảm nhí.

Cô gái bật cười. Khi cô cười đôi má càng ửng lên, và bộ ngực cũng rung rung sau mép quầy.
Có vẻ như sẽ mở được cái khoá trong người tôi, cô gái nói:

-Chưa thấy ai vào bar rượu mà mang theo va li!

-Cô đang thấy rồi còn gì?

-Lần dầu. Lạ.

-Ví dụ như gây gỗ với vợ rồi bỏ đi lang thang.

-Có thể.

-Hoặc tình phụ?

-Ông biết rõ hơn ai mà.

-Vậy thì tò mò chuyện cái va li làm gì. Cô cứ coi nó như bạn tôi. Bạn trai hay gái cũng được. Nó đi với tôi. Nó không biết uống rượu. Nó canh chừng tôi…

-Hay thật, lần đầu tiên mới nghe có người nói đồ vật đi canh chừng con người.

-Đó là do xã hội đảo chiều theo phép duy vật biện chứng.

-Hình như có vẻ nguỵ biện, cho có nói.

-Nhưng mà, nó không nguỵ trá, nguỵ tín?

-Chịu, em không thể tranh cãi lại ông. Nhưng ông đi đâu với chiếc va li giờ này?

-Ra khách sạn K.

-Cũng gần. Cách đây ba trăm mét. Hèn gì.

-Cô sống trong Nam nhiều năm? Ngoài này không ai nói “hèn gì”.

Cô gái không trả lời.

Tôi uống nốt phần rượu còn lại trong ly, trả tiền rồi kéo chiếc xắch ra khỏi quầy bar. Mưa thôi rơi, nhưng gió thì vẫn lạnh. Gió hút theo tiếng nói từ xa của cô gái khi nãy “ông đi cẩn thận”.
Bánh nhựa lăn rào rạo sau gót chân. Tiếng nói cô gái mất hút. Khuôn mặt ửng hồng trôi tuột đi. Và bộ ngực găm vào mép quầy cứ bắt tôi phải tưởng tượng là nó đang gặm nát thớ gỗ, rơi ra từng mảnh, từng mảnh nhỏ li ti.

Dẫu sao cô gái đứng ở quầy bar cũng tử tế hơn H. Câu dặn với “ông đi cẩn thận” như câu nói của đứa em lúc nhìn thấy anh đi xa. Trong khi H. thì chỉ muốn cuộn chặt tôi trong tấm chăn dày…

Hai chiếc bóng hết ngã chúi ra sau lại chồm tới trước, trượt dài trên vỉa hè. Những cột đèn sáng loá trong đêm sâu. Tiếng còi rúc ùng ục và tiếng máy tàu dưới sông Hồng dội lên nghe rã rời, nỉ non. Ước gì lúc nãy tôi nhanh chân bước lên tàu về Nam để không nhìn thấy bóng mình đổ dài, để không nghe những âm thanh lềnh bềnh trong đêm lạnh. Muộn rồi. Tất cả đều trễ tràng. Chỉ còn mấy bước nữa thôi, tôi sẽ cuộn người trong tổ mối. H. sẽ quấn chặt lấy tôi.
Có lẽ nào tôi mãi là tội đồ của bà ta? Ý định rời bỏ công ty đã nhiều lần bị H. phát hiện. Và mỗi lần như vậy bà lại đưa ra một miếng mồi không thể cưỡng chống. Có lần tôi thẳng thừng:
“Không thể duy trì tình trạng này mãi được. Tôi thấy ông Th. yêu chị…”

“Cái lão ấy chỉ yêu tài sản của tôi thôi, làm gì có tình yêu thật?”

“Không thể sống mãi kiểu này, rồi sẽ ra sao?”

“Chẳng sao cả. Tôi không muốn bị trói buộc vào ba thứ vớ vẩn đó. Tôi thích tự do. Cũng như anh và tôi vậy. Chúng ta vì công việc, vì lợi nhuận chính đáng. Và mỗi khi đến với nhau đều tự nguyện. Cả hai ý thức về hành động của mình. Không ai ép buộc ai. Đó là sự tự do tuyệt đối. Tôi yêu lối sống tự do này. Tôi hiểu anh nghĩ gì và muốn gì? Chọn lựa đúng dắn là điều may mắn và hạnh phúc nhất trong một phần cuộc đời”.

“Tôi nghĩ, vì công việc…”

“Anh khỏi nói. Tôi hiểu cả… Bây giờ anh có đầy đủ những thứ cần thiết cho cuộc sống chồng vợ. Cô bạn anh, tên gì nhỉ? Đoan trang, đẹp, hiền…”.

“Tôi không có ý nhắc đến chuyện này”.

“Nó là một phần đời đấy, chớ coi thường. Trong công việc, tôi rất cần anh. Không có anh giúp, công ty này coi như chấm dứt từ lâu rồi. Anh giỏi về tài chánh kế toán hơn tôi. Anh ma mãnh về chuyện này. Anh đã giúp tôi chui lọt qua bao nhiêu lỗ kim. Tôi trả ơn anh, hay nói chính xác, tôi chia 1/10 lợi nhuận cho anh sau mỗi công trình trót lọt. Anh có những mưu mô rất đạo đức trong thương trường mà những người tiền nhiệm không hề có. Còn chuyện kia, anh cứ coi như một cuộc đi dạo tình cảm. Trinh tiết không phải là sự gìn giữ để chúng ta không thể hôn nhau, làm tình với nhau! Tôi biết mình lớn tuổi hơn nhiều. Nhưng lúc này tôi cần anh xoá đi nỗi cô đơn trong tôi. Nói thật, tôi thấy anh cũng yêu tôi, trước khi anh có cô bạn gái? Chẳng qua, trong người anh luôn có những thị phạm về ranh giới đạo đức và phi đạo đức về sự chông chênh. Tôi dám chắc rằng, nếu tôi chỉ hơn anh vài tuổi thì anh sẽ không từ chối những tình cảm tôi dành cho anh, phải không?”.

Đó là lần đầu tiên H. tuồn ra hết những gì ủ chứa trong lòng, sau khi công ty thắng thầu một thương vụ lớn, sau khi chúng tôi ngồi uống hết một chai Martell Noblige ở một nhà hàng hạng sang bên Thủ Thiêm. Lúc nói, H. nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt cuốn hút như hớp hồn, như thôi miên cùng với vẻ đẹp rực rỡ đã đốt cháy tôi thành những hạt tro vụn. Ý thức phản kháng trong tôi mềm nhũn, co rúm lại và H. mặc sức điều khiển.

Giờ này, chuyến tàu lỡ của tôi chắc cũng đến Ninh Bình hoặc vào địa phận Thanh Hoá. Một quãng đường quá xa để tôi có thể thay đổi ý định. Tôi biết mình là kẻ tự lỡ tàu. Tôi biết mình đang lầm lũi bước lên từng bậc cấp trong khách sạn K. lộng lẫy.

Tiếng gõ cửa ngập ngừng, sau đó có một thằng người như con thú cưng cuộn tròn trong chăn bông. Tôi bật cười ha hả như muốn hất tung cầu thang rơi vụn ra. Tôi cười đến khi đứng trước cửa phòng. Tiếng cười dội vào cánh cửa khép hờ, dội ngược về phía tôi, lạnh buốt./
Đăng nhập để trả lời
0
VỀ QUÊ

NGUYỄN LỆ UYÊN



Mặc cho vợ con ra sức ngăn cản, ông một mực không chịu sống thêm một ngày nào nữa ở góc phố ồn ào, khói bụi. Cả đời, ông đã bươn chải nuôi vợ, dạy con. Giờ chúng nó đã thành đạt, có thể tự bay nhảy như con chim đủ lông đủ cánh, không cần phải có ông bên cạnh bảo vệ, nhắc nhở… nữa. Ông đã nghĩ, đã nói thì làm cho bằng được, không ai ngăn nổi. Với lại, chuyện về quê chỉ có mình ông hiểu tại sao phải về quê. Ông giấu kín. Mãi mãi sau này, vợ con ông cũng không thể biết được mối liên hệ giữa ông và ngọn đồi thoai thoải úp mu rùa kia.
Trước ngày quay về “chốn cũ”, con cháu kéo về chật nhà, đứa đứng, đứa ngồi, đứa bấu vào thanh ghế làm như không có mảnh gỗ bào nhẵn bóng đó thì cả tấm thân chúng sẽ đổ sập xuống nền nhà vậy. Chúng hỉ mũi. Chúng sụt sịt. Chúng mếu máo như thể ông sắp bước về cõi ma quỷ.

Đứa gái lớn, bồng trên tay thằng cu tám tháng tuổi:

-Làm sao mà ba tự lo cơm nước?

Ông nghĩ bụng, phàm đàn bà con gái mở miệng là cơm là gạo. Ông ngó bộ mặt rì rị của nó, mỉm cười.

Thằng kế:

-Tuổi cao, sức yếu, tối lửa tắt đèn, lỡ có chuyện gì kêu ai. Chòm xóm thì cách nhau một dặm hú!

Bản chất thằng này, từ nhỏ đã thực dụng. Nó nói cũng chí phải. Nhưng ông tự biết sức lực của mình. Ông tự biết phải làm gì. Ông nghĩ, mày nên sống tử tế, có trước có sau với mọi người thì tốt hơn. Phải từ từ điều chỉnh lại cách sống.

Con út thì mếu máo:

-Ba là cái kho sống (ý nó muốn nói là quyển từ điển sống), có chuyện gì biết hỏi ai. Ai khuyên nhủ tụi con nên làm cái này, không nên cái kia. Tại sao thế này, thế nọ… Ba ở lại đi. Vắng ba, con như mất hẳn cái đầu, cái tay…

Nó là đứa út. Nó sinh ra đúng vào thời thổ tả, sau khi ông từ trại giam trở về, phải ăn độn khoai sắn, bo bo, không đào đâu ra đường sữa nên nó nhỏ xíu, đỏ hỏn như con mèo cạo sạch lông. Bà mụ đỡ đẻ la lên: “Trời đất, tám lạng là hết số!”. Con mẹ đỡ đẻ tay chân đen thui, móng tay đầy cáu ghét gào lên. Con bé cũng la ngằn ngặt, giọng thoi thóp như có ai chịt ngang cổ họng nó. Ông rớt nước mắt. Ông đào đất lật cỏ để nuôi nó, vừa phải trình diện hàng tuần với địa phương. Rồi nó cũng lớn nhanh, phổng phao như trái bí, trái bầu, da thịt hồng hào. Không ai kể lại cho nó nghe, nhưng hình như có một thứ tình cảm thiêng liêng như loại sóng trời và nó nhận ra. Đó là những lúc nó đau ốm, nằm liệt giường, hai vợ chồng thay nhau canh giữ suốt đêm. Có thể nó nghe tiếng những giọt nước mắt lăn ngập ngừng xuống má ông. Có thể nó thấy trái tim run rẩy của mẹ nó? Nó dành cho cha mẹ một thứ tình yêu đặc biệt, không tìm thấy ở hai đứa kia.

Bà vợ thì thẫn thờ. Ngồi im không mở miệng. Mấy chục năm theo ông về xứ xương rồng, bàn chải bụi cát nhiều hơn lúa gạo, bà đã nhẫn nhịn, chịu đựng. Nay chịu đựng thêm chút nữa, đâu có sao. Nghĩa vợ chồng vẫn cứ dày, không đỏ thắm nhưng không nhăn nheo, dúm dó!
Thằng chồng đứa lớn, về làm rể nhà này hơn ba năm, nhưng nó biết rõ tính khí của ông hơn ai hết, bởi nó có mối liên hệ rất bàng quan, nó nhìn nhận mọi sự theo cách của dân gian: tối mình, sáng người. Nó đứng ngoài nên nó thấy hết. Nó biết có can ngăn cũng bằng thừa. Tốt nhất im lặng để giữ mối dây cha vợ con rể cho tròn trịa.

xxx

Bữa ông rời phố, vợ con làm bữa tiệc nhỏ nhưng y như rằng ông đội lốt Kinh Kha sắp qua đất Tần! Ông bồng đứa cháu tám tháng tuổi, vừa uống rượu vừa giỡn nựng nó. Ông mở giọng ồm ồm hát ru. Nó nhoẻn miệng cười lại ông. Nụ cười thơm mùi sữa.

Bữa tiệc chấm dứt sớm. Ông hôn cháu rồi trả lại cho mẹ nó. Ông ôm đứa gái út, vỗ vỗ lên vai “Con yên tâm, ráng làm tốt công việc ở sở. Học thêm được cái gì thì nên học. Kiến thức không bao giờ thừa”. Ông quay sang hai đứa lớn, thằng rể và vợ: “Lúc nào cảm thấy thiếu khói bụi, thiếu cảnh ồn ào sẽ về ít ngày, chớ lo”. Nói và ông ra cổng, leo lên chiếc xe tải nhỏ đã chờ sẵn, không ngoái lại. Ông ghét cảnh khóc lóc, bịn rịn.

Lúc xe ra khỏi ngoại ô, hướng về phía núi, giữa cánh đồng lúa mênh mông, xanh ngắt, ông cảm thấy như mình vừa thoát ra khỏi trại tù, như bay theo Từ Thức bay lên cõi tiên. Gió lồng lộng. Không khí ngọt lịm trong hai buồng phổi. Bầu trời trong xanh. Những lũy tre hao hút vây chặt làng xóm nằm rải rác, chen vào những cánh đồng như nét sổ của mấy thằng cha sính chữ tàu!

Ông thực sự bứt ra khỏi cảnh áo cơm. Ngồi trên xe ông cứ tủm tỉm cười hoài đến nỗi thằng nhỏ lái xe không hiểu ông vui mừng vì chuyện gì?

Quê ông là một căn nhà sàn nằm phía đông ngọn đồi, hướng ra khúc sông lớn. Trước sân là một tảng đá dựng đứng, cao gần bằng nóc nhà trên lưng chừng đồi. Trước có cây đa cổ thụ, bộ rễ ôm kín tảng đá. Nhưng rồi nó biến mất trong một đêm mưa nào đó, chỉ còn những cành nhánh, bộ rễ rỉ máu trên thớ đá sần sùi và vệt bánh xe lõm sâu kéo dài ra mặt lộ. Cây đa và tảng đá là sự sống và cái chết đối với ông. Vì vậy không thể mặc lòng rời xa chúng.
Nay thì những bộ rễ rỉ máu đã đâm lên những cây non, xúm xít bao quanh như đàn chim Lạc trên mặt trống đồng. Cây đa của ông đã phục sinh.

Ngày đầu tiên “về quê”, ông ra bãi đá ven bờ sông tìm ba hòn đá có hình dạng như trái xoài muỗng, đưa lên góc bếp làm ông Táo. Ba cái đầu cong cong chụm vào nhau, trơn tru. Ông ôm củi khô, nhóm bếp, đặt ấm nước lên. Khói bay khắp gian nhà thơm lựng, cay cay. Hơn ba chục năm trôi qua, ông mới có cảm giác mới mẻ này. Không phải khói, mà là mùi hương của đất trời tụ lại. Không phải chỉ có đất trời, mà mấy chục anh em ngoài kia thở ra lớp khí trắng váng vất, vờn quanh ông. Những lọn khói bay lên, đùn lại, chờn vờn không muốn tản ra. Chúng bơi lội quanh ông, ve vuốt ông, hôn vào má ông. Ngọt ngào và cay sè.

Lửa đỏ đít ấm. Nước sủi tăm. Âm thanh reo lên như giọng reo ngoài xa kia, ngày nào, nó làm ông xao xuyến, bồi hồi.

Ông nhấc ấm, tráng bình chén, pha trà mang ra đặt lên chiếc bàn làm bằng những mảnh gỗ thừa ghép lại. Đây là thứ đồ vật có chân cẳng duy nhất trong gian nhà. Ông ngồi xếp bằng trên sàn, chuyên trà từ bình ra tách. Cả thảy ba tách, tính theo đơn vị chục, như ba mươi người lính dưới quyền, đã vĩnh biệt ông ở chỗ tảng đá dựng đứng. Những tách trà đặc sánh màu vàng mật. Khói nước bay trên mặt tách, chờn vờn như thể họ đang diễu qua mắt ông, đưa tay lên vành nón sắt chào ông. Họ tươi cười, rạng rỡ. Họ trẻ trung, gan lì. Người lính có bộ râu quai nón nói ”ông thầy, đụ má cho tụi nó một trận, chạy hoài tụi nó lờn mặt”. Không “cho một trận” cũng không xong, bởi đám dân chạy giặc, lẫn vào đoàn quân, đang hớt hải bên kia bờ. Phải rồi, đây là trận cuối cùng. Ba sáu người hiên ngang bám vào tảng đá, chống trả cả chục đợt tấn công. Bọn chúng từ trên đỉnh núi phía mặt lộ dội xuống cơ man đạn pháo, tưởng có thể nghiến nát tảng đá dựng. Bọn họ ào lên và ngã xuống. Hết đợt này đến đợt khác. Những cơn mưa đạn rải xuống như vãi cát, nhưng cái chốt cuối cùng trên đường tháo chạy không vỡ. Tiểu đoàn chỉ để lại ba mươi sáu người (số kia bảo vệ cho SĐ và đám dân) chống đỡ suốt một ngày, chỉ vì cố gắng để đoàn người bên kia sông có thể xuôi về thị xã an toàn. Họ chạy bộ. Họ gồng gánh. Họ bu kín quanh các xe GMC. Đám đông hỗn độn như con trăn bị thương tích, cố trườn ra hướng biển, trong khi bọn đang ở trên đỉnh núi kia cố ngăn họ lại để bắt cho được ông Chuẩn Tướng đang co giò chạy với lính. Ba trăm thước từ chân núi xuống tảng đá là bãi cát trắng phau, giờ nhuộm đỏ. Nắng quái buổi xế chiều hực lên chói gắt. Đó là lần cuối cùng ông nhìn thấy máu của đám người trên đỉnh tuôn ra như suối. Và ba mươi người lính của ông, sau đó cũng ngã xuống, dưới chân tảng đá. Chiều xuống thật nhanh. Bóng tối đậm đặc. Bọn ông còn đủ thời gian vuốt mắt, xếp ngay ngắn các chiến hữu xuống giao thông hào, lấp đất trước khi rút êm qua bên kia sông. Lúc bì bõm trong gòng nước, Hạ sĩ Th. Chửi thề: “Đù má, hẹn có ngày gặp lại tụi mày”. Người ướt sũng. Bụng đói. Sáu con người còn lại lầm lũi bước xuôi. Nước mắt ông chảy dài. Chưa bao giờ ông để lính chết nhiều và thua một cách tức tưởi như vậy. Đó cũng là những giọt nước mắt cuối cùng trong cuộc đời binh nghiệp.


Nắng loá sáng trên mặt sông. Những cánh buồm trắng ngược dòng, lướt nhẹ. Quả cầu lửa đằng đông nhô cao dần. Ông bưng ba tách trà bước xuống bậc thang gỗ, chậm rãi quanh tảng đá, rải xuống từng tách một.
Ông không hề dựng ngôi miếu, không hề thắp nhang. Nhưng mỗi bữa ăn sáng chiều, những bữa rượu, uống trà, ông đều thong thả nâng ly rượu, chén cơm ngang mày, mời họ. Ông nhớ những đứa em gan lỳ. Tụi nó chịu chơi, mỗi đứa hạ gục cũng hơn mươi mạng chẳng hề biết đánh đấm là gì, giống như lũ thiêu thân lao vào ngọn đèn. Những con thiêu thân cháy xèo xèo, rụng xuống, rụng hoài nhuộm đỏ cả mặt cát trắng phau. Ông không biết những đứa em ở nơi nào để đưa về quê. Xới lên thì ông không nỡ. Thôi thì đây chính là quê hương chung của những đứa em và của ông nữa. Xúm xít bên nhau. Gần cuối đời ông chăm sóc chúng nó trước khi bay theo chúng. Chúng nó đã đối đãi với ông bằng cả tấm lòng trong lửa đạn. Giờ thì ông đang yên ổn, sao có thể quay mặt làm ngơ với chúng. Sao xứng đáng là ông thầy?

xxx

-Chị ơi, quê nào nữa mà ảnh về?

-Quê nào! Đó là quả núi rộng cỡ hai ba mẫu tây. Ổng cất ngôi nhà có tám chân cột cao lêu khêu, y chang nhà người Thượng. Ổng đẽo một khúc cây to, gác lên sàn làm cầu thang. Mỗi lần muốn lên, chị phải bỏ dép bỏ guốc, lom khom bò lên như mèo trèo cây. Trong nhà mới ớn. Không có bàn ghế, giường tủ gì ráo. Trống trơn. Một góc nhà ổng làm bếp, củi chất thành đống. Nồi niêu đen thui. Chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ nấu nướng thuông luông. Không khác gì nhà đồng bào Thượng mà hồi nẳm lên thăm ổng trên Kontum chị từng thấy.

-Ảnh sinh hoạt làm sao?

-Sao nữa, mình ênh. Tự lo. Sống kiểu người tiền sử!

-Trời!

-Nói nào ngay, từ ngày ổng “về quê”, da dẻ hồng hào, trông phơi phới yêu đời hơn lúc ở dưới này. Có lẽ do không khí trong lành. Hồi đầu tụi nhỏ cũng bực, nhưng không dám nói. Khi chúng lên, tận mắt nhìn thấy “cơ ngơi”, chúng đâm thích, nói “đây là sự chọn lựa đúng đắn của ba”. Trước thì mươi bữa, nửa tháng chúng mới lên. Nay đúng vào mùa nắng nóng, tuần nào cũng lên ở với ổng ngày chủ nhật, bày ra ăn uống, tắm sông. Nghĩ lại cũng thấy vui vui.

-Chị không có ý định lên ở với ảnh?

-Không. Thấy cảnh quạnh vắng đó tôi không chịu nổi. Tụi nó đòi bắt điện, mang lên bếp gas, tủ lạnh, máy giặt… ổng gạt phắt, nói “hồi ba còn nhỏ xíu mấy bếp ga tủ lạnh, sao vẫn sống tới nay”. Sống cả đời bên nhau nhưng không bao giờ tôi đọc được ý nghĩ của ổng.

Tôi hỏi đường đi. Chị nói cứ con đường chính của thị xã chạy miết lên đường đi Tây Nguyên, chừng ba chục cây, dòm bên trái, chỗ khúc sông phình cong, chú thấy căn nhà chổng chơ trên ngọn đồi như mu rùa, là quê ổng đó.Tôi phóng xe đi. Buổi chiều hơi nóng từ mặt đất bay ra càng nóng dữ. Một chút gió hiu hiu từ biển thổi lên không đủ mát. Tôi cắm cổ chạy như thể buổi chiều sẽ tắt nhanh, bóng tối sẽ phủ trùm lên mọi vật chung quanh. Các loại xe tải chở sắn, mía cũng tranh nhau chạy, bụi tung mù mịt. Mặt đường tróc lở từng đoạn dài, nham nhở. Mương nước chạy cặp theo con lộ, mùa khô trơ đáy, lộ ra cơ man nào là rác. Rác đủ loại, cả xác súc vật bốc mùi.

xxx

Anh hơn tôi quá con giáp. Tôi biết anh rồi thành thân nhau bởi anh cả tôi cũng là lính cùng binh chủng. Anh tôi chết đúng ngày hai bên đặt bút ký hiệp định Paris. Về phép, anh kêu tôi đưa ra mộ. Anh quỳ trước mộ rất lâu, rồi đứng lên đưa tay lên vành mũ chào vĩnh biệt, không nói câu nào.

Ngày ra tù, anh xơ xác, gầy rộc, xanh xao khác với hình ảnh trước kia, một sĩ quan xuất thân từ Võ bị Đà Lạt. Anh bắt tay làm lại từ đầu, nhưng dẫu cho có làm gì, ngay cả khi bước chân ra đường, ngồi quán cà phê… anh luôn chỉnh tề, nói năng chuẩn mực…

Tôi dòm mặt số đồng hồ xe. Đã ba chục cây. Ngó ra phía sông, chẳng thấy ngọn đồi nào. Chạy một đoạn khá xa nữa. Đúng là có ngọn đồi cây cối phủ tràn, không thấy căn nhà, nhưng có bãi cát nối liền con lộ và ngọn đồi.
Tôi phóng xe xuống, thấy anh đứng ngẩn ngơ dưới chân tảng đá. Anh ngước nhìn, ngạc nhiên rồi chạy lại ôm chầm lấy tôi trong tư thế còn ngồi trên yên.

-Quí hoá quá. Mà sao chú biết tôi ở đây? – Nói và anh kéo tôi lên gác.

Khúc gỗ khất từng nấc đúng là khó leo lên. Nó chông chênh, gần như mất thăng bằng và có thể rơi xuống lớp sỏi bên dưới bất cứ lúc nào.

Căn gác rộng mênh mông, trống trải. Anh kêu tôi rửa mặt, chỉ khạp nước chỗ góc sàn rồi loay hoay bưng ra niêu cơm. Trên chiếc mâm gỗ có chai rượu, dĩa cá khô, rau cải trời, chén muối ớt và dĩa đậu chiên. Chỉ có vậy.

Anh nháy mắt:

-Thịnh soạn hơn gấp trăm lần so với những ngày ngồi tù.

Cả hai ngồi khoanh tròn ở hiên sàn. Khúc sông trước mặt mờ đục và tối dần. Anh đốt cây đèn bão và treo lên. Bóng tối lờ mờ, nhá nhem khó có thể nhìn rõ mọi vật trước mặt. Anh cười:

-Chút thôi, khắc quen. Không những thế mà chú còn cảm thấy thích thú nữa đấy!

Anh rót rượu ra ba chén đất nung màu gan gà, dùng những ngón tay kẹp lại, nâng lên. Anh thì thầm gì đó rồi đặt xuống, quay sang tôi:

-Nào, mời chú.

Tôi bưng chén đưa lên nói kính anh.

Hết chai rượu nhỏ, anh đứng dậy, lui cui trong bếp, khua rồn rột. Quay ra lại một chai rượu đầy.

Chúng tôi ngồi đến khi trăng lên. Trăng mười tám vàng ối, tách dần từ lớp màn sậm bờ bên kia, treo lơ lửng trên không. Mặt sông trở màu bạc trắng. Ánh trăng dọi sáng khắp gian nhà sàn. Không gian này, tôi có cảm giác như chìm đắm vào thế giới hội hoạ phương Tây thế kỷ XIX. Tôi say nức với màu trăng, sông nước và tiếng chim đêm, tiếng côn trùng, tắc kè và ve bên ngoài kia.

Tôi mạnh miệng:

-Sao tự dưng anh lên ở đây, một mình?

Anh nắm chặt ly rượu trong lòng bàn tay.

-Vợ con, chú nữa, ai cũng hỏi tôi câu này. Biết nói sao. Nó sẽ không họp lý với mọi người đâu.

-Nhưng ít nhất cũng phải có một lý do nào đó chứ?

-Hẳn nhiên.

Và rồi anh kể cho tôi nghe mọi chuyện.

Ngọn đồi này không phải là ngẫu nhiên. Nó cũng không phải để làm dáng, hay tệ hơn là một sự chọ lựa từ những bất toàn trong đời sống xã hội suy đồi, đã xuống cấp nghiêm trọng. Chuyện đó hãy để lịch sử phán xét. Chú thấy khung cảnh này, y như rằng tôi cố tình quay lại thời gian cách đây một thế kỷ? Không điện đài, không một vật dụng tiện nghi nào của thời điện tử, kể cả nhôm nhựa có mặt trong căn nhà này. Nó trống không đến lố bịch đối với nhiều người. Phải, tôi quay lại chỗ khởi đầu, sau khi tôi đã làm tất cả mọi chuyện cho cuộc đời, kể cả vợ con tôi. Tôi đã hoàn thành cái trách nhiệm cao cả, thiêng liêng đó. Nhưng còn một trách nhiệm khác, lớn hơn, cao cả hơn tôi chưa làm xong. Đó là những đứa em của tôi dưới chân tảng đá kia. Ba mươi mấy năm chúng nằm im ở đó, mang theo sự lạnh lẽo khắp người tôi. Tôi nghĩ hoài, đắp lên một ngôi mộ thì sẽ gặp rắc rối. Còn thân nhân chúng ở đâu làm sao tôi biết được? Chi bằng, gần cuối đời, tôi về đây ở với chúng, chăm sóc chúng. Nói chuyện với chúng. Tôi tin chúng nghe tôi nói,. Cũng như nhiều đêm chúng đến bên tôi, nói với tôi, bất kỳ lúc trời sáng trăng hay đêm mưa rả rích, gió phần phật buốt mặt: “Ông thầy, đụ mẹ ngon chưa. Ít nhất cũng bốn chục thằng ngã rạp bỡi trái mìn claymore em lượm của tụi bộ binh quăng lại. Hữu sự hữu dụng ông thầy!”. Rõ ràng đó là giọng thằng Hạ sĩ T. “Ông thầy, cho bắn yểm trợ để em băng qua chỗ lượn khúc sông. Em núp dưới đụn cát túm cho được một thằng lôi về, coi nó là đơn vị nào, bao nhiêu quân để còn biết mà chơi”. Đó là tiếng binh nhì M. cái thằng coi mạng sống như cỏ rác. “Coi kiểu đánh của nó, đúng là bọn thảo khấu táp nham, chẳng hiểu cứt gì về chiến thuật. Em mà cầm quân, mấy chục mạng của ông thầy, em hốt sạch. Úi trời… ông thầy, em…”. Đó là giọng của Thượng sĩ nhất S. từng lên nắm đại đội trưởng ở trận Hoài Nhơn. Anh rất hân hận là không làm sao đưa nó lên sĩ quan, bởi viết thư cho vợ, nó còn phải nhờ anh em viết hộ. Một chữ cắn không bể. Nhiều bữa, giữa đêm khuya, tôi nghe tiếng thì thào, nho nhỏ, phải gắng lắm mới nghe trọn câu: “Ông thầy, sim chín rồi. Đám cu xanh bay về ông thầy cho tụi em mỗi đứa một con. Nướng với muối ớt rừng, làm một xị đế, nghen ông thầy!”. Sáng ra, tôi lên chỗ trãng sim. Đúng là sim chín mọng, nhưng chim xanh đâu chẳng thấy. Mà có đi nữa, tôi biết bắt làm sao? Tôi thấp thỏm đứng ngồi không yên, y như có thằng em bị ngã trước mặt, giơ tay kêu cứu mà không làm sao bò ra lôi vào được. Bí quá, tôi chạy xuống xóm, nhờ người đi lùng mua đủ ba mốt con. Mắc đến cỡ nào cũng phải mua cho bằng được. Chú biết sao không? Cuối cùng cũng đủ số (dư mấy con tôi cho người đi mua hộ), ra tay nhổ lông, thui sạch sẽ, mổ ra xát muối ớt, lấy cành khô chất đống trước tảng đá kia đốt thành đống than đỏ rực, nướng, rồi bày ra: Ba mốt con chim nướng và ba xị rượu. Tôi ngồi đó, uống với chúng suốt đêm, đến say mèm, ngả đầu xuống khúc đuôi tảng đá ngủ. Khuya có người lay gọi: “Ông thầy ơi, cu xanh ngon, rượu ngon. Nhưng đây là cu xanh ông thầy đi mua ở đâu mà. Sao ông thầy tiếc với bọn em?”. Tôi giựt mình, mồ hôi rớt ra hột hột. Thức đến sáng vừa lâm râm xin lỗi chúng. Tôi đâu tiếc, chú? Nhưng mà chim ở đâu trên trãng sim trên mỏm đồi này? Ngoài mặt trận, một người lính ngã xuống, tôi thấy đau nhưng không đau bằng chuyện tôi không làm được với chúng lúc này. Sau đó thì đêm nào tôi cũng nghe tiếng cười như bắp nổ, tiếng vỗ tay, tiếng hô xung phong. Tôi phải ra chỗ chân tảng đá, ngồi xuống hứa với chúng, mùa sim chín, hễ có chim về là tôi bắt hết cho tụi nó…

-Có khi, chỉ là những ám ảnh bởi tình cảm sâu nặng của anh với đàn em?

-Có thể. Nhưng dẫu đó chỉ là ám ảnh hay sự thật, tôi vẫn thấy mình có tội. Rất đáng tội với chúng.

-Hỏi có khi lại không phải, nhưng em thắc mắc hoài, gần chục năm tù nhưng tại sao anh không chịu đi như những người khác?

-Đi đâu – Anh hỏi lại – Á, à… tôi hiểu. Chú nói qua bên kia chớ gì? Không đời nào. Hồi tôi đi tu nghiệp mấy tháng về tham mưu bên đó, có một hôm ngồi bên câu lạc bộ, một thằng sĩ quan Mỹ nói: “Tại sao đất nước mày mà lại bắt chúng tao đổ máu?”. Tôi dằn chai whisky: “Mày đi mà hỏi lão tổng thống và cái quốc hội nhà mày đấy. Mày không muốn, tao cũng không muốn, nhưng đám tài phiệt của chúng mày muốn thế. Tụi nó muốn đổi máu chúng mày để lấy tiền, hiểu chưa, đồ ngu!”. Cũng vì chuyện này, nên dù có bị đày đoạ thế nào tôi nhất định không làm dân lưu vong, để khỏi phải nhìn thấy sự khinh bỉ của chúng đối với mình.
Hồi Mậu Thân, chúng biết mười mươi rằng các thành phố sẽ bị tấn công trong đêm giao thừa, nhưng chúng bịt kín thông tin, bỏ mặc, chẳng thèm điếm xỉa gì. Rồi vụ Hoàng Sa, hạm đội 7 cách đó mấy chục hải lý, không những không tiếp ứng mà còn ngăn các chiến hạm của mình trên đường ra chiếm lại đảo. Chú coi, ai bán đứng miền Nam này? Tụi khốn nạn đó còn tung tin biển Đông không hề có mỏ dầu, rồi một ông tiến sĩ địa chất của mình vuốt đuôi “biển Đông có dầu mỏ, tôi sẽ đốt mảnh bằng tiến sĩ”. Cả một lũ vô liêm. Chính chúng đã giết anh em mình. Nhớ đến những chuyện này, tôi đau khổ vô cùng…

Anh ngửa cổ trút cả ly rượu vào miệng, nhìn sững ra ra khoảng trắng mênh mông trước mặt. Tôi nhìn thấy khuôn mặt anh nhăn dúm lại như thể nó được đẽo từ khối đá granite, nham nhở. Chưa bao giờ tôi trông thấy khuôn mặt đau đớn tột cùng đến vậy và cả hành động bưng ly rượu, ngửa cổ trút vào như một tay bợm nhậu, anh cũng chưa từng làm thế. Tôi thấy cả người anh co rúm lại như muốn vỡ tan, chảy ra thành chất lỏng sền sệt, đen xẫm loang dần trên mặt sàn gỗ.

Trăng gác lên mái nhà sàn. Anh đứng dậy:

-Chú buồn ngủ thì ngủ trước đi.

Nói và anh lững thững xuống thang. Tôi thấy anh đi vòng qua tảng đá đứng lại hồi lâu rồi bước lên phía đồi. Bóng anh mất hút trong ánh trăng sáng vằng vặc, bị nuốt chửng giữa tiếng côn trùng nhọn sắc như chiếc móc câu muốn kéo ánh trăng xuống sát mặt đồi và xé rách nó ra.

(Sésan, tháng 4/2012)
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»