Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thám tử Hercule Poirot - Agatha Christie (Finished) 🔒

91 trả lời, 18.173 lượt xem — Trang 3 / 4
Đúng lúc ấy có tiếng gõ cửa, một sĩ quan trẻ tuổi bước vào tay cầm một chiếc phong bì nặng có gắn xi đưa cho Huân tước Estair.
- Tôi sang Pháp ngay bây giờ, thưa ngài. Tôi mang cái này tới theo lệnh ngài.
Ông Huân tước vội vàng xé phong bì và kêu lên một tiếng ngạc nhiên. Người sĩ quan rút lui.
- Đây là những tin tức mới! Người ta vừa giải mã bức điện. Người ta đã tìm thấy chiếc xe hơi thứ hai và Daniels, viên thư ký. Anh ta đã bị đánh thuốc mê, trói chặt, bị đánh đau trong một trang trại bỏ hoang gần vùng C… Anh ta không nhớ được gì cả. Anh ta chỉ mơ hồ biết được là anh bị bịt chặt miêng và mũi và anh đã cố gắng chống cự lại. Cảnh sát công nhận anh là người trung thành.
- Đó là tất cả những gì người ta tìm thấy ư?
- Vâng.
- Không thấy xác của Thủ tướng ư? Như vậy thì còn hy vọng. Nhưng thật lạ lùng. Tại sao sáng hôm nay họ muốn giết ngài mà bây giờ thì họ để ngài sống?
Dodge lắc đầu:
- Có một điều chắc chắn là bằng mọi giá chúng ngăn cản Thủ tướng không tới dự hội nghị được.
- Vì là vấn đề nhân loại, ngài sẽ dự cuộc họp đó. Chỉ cần là không quá chậm. Thưa các ông, xin các ông kể từ đầu câu chuyện. Tôi cũng muốn biết về những phát súng săn ấy.
- Đêm hôm trước Thủ tướng cùng một trong những người thư ký của ngài là đại úy Daniels…
- Người sẽ đi theo ngài sang Pháp ư?
- Phải. Như tôi đã nói, hai người tới Windsor dự một hội nghị. Sáng sớm hôm nay họ trở về và trong chuyến đi ấy ngài đã bị ám sát hụt.
- Xin đợi cho một chút. Đại úy Daniels là ai? Ngài có hồ sơ về anh ta không?
Huân tước Estair cười:
- Tôi nghĩ thế nào ông cũng hỏi câu đó. Chúng tôi không hiểu nhiều về anh ấy. Anh không sinh trưởng trong một gia đình danh tiếng. Anh phục vụ trong quân dội Anh, là một người thư ký xuất sắc. Tôi cho rằng anh biết bảy ngoại ngữ. Vì lý do đó nên Thủ tướng chọn anh để cùng đi sang Pháp.
- Anh ta có bà con hiện ở nước Anh không?
- Có hai bà cô, một bà là Everard sống ở Hampstead và một bà cũng tên là Daniels sống ở gần Ascot.
- Ascot ư? Có phải Ascot cũng ở gần Windsor không?
- Tôi không rõ. Nhưng điều này cũng chẳng có gì là quant rọng.
- Như vậy các ông không nghi ngờ gì đại úy Daniels phải không?
Một đám mây mờ cay đắng lướt qua cặp mắt Huân tước khi ông trả lời:
- Không, thưa ông Poirot, trong thời này, tôi rất phân vân khi nói một người nào đó được đặt khỏi vòng nghi vấn.
- Rất tốt. Thưa Huân tước, tôi hiểu là ngài Thủ tướng được cảnh sát bảo vệ một cách cẩn trọng, đúng không?
Huân tước Estair cúi đầu.
- Đúng! Ôtô của Thủ tướng chạy trước một ôtô khác chở những thám tử ăn vận thường phục chạy theo sau. Mac Adam không biết chuyện bảo vệ ấy. Cá nhân ông rất can đảm và thường phản đối những viêc như vậy. Nhưng tất nhiên không ai biết được việc cảnh sát đã làm. Và cuối cùng thì xe chở Thủ tướng được một người lái xe tên là O’Murphy cầm lái.
- O’Murphy ư? Một người Ái Nhĩ Lan ư?
- Phải. Anh ta đúng là người Ái Nhĩ Lan.
- Ở vùng nào của Ái Nhĩ Lan?
- County Clare, tôi cho là như vậy.
- Nào! Xin ngài nói tiếp.
- Ngài Thủ tướng đi Londres. Ngài ngồi trong xe che kín, người thư ký ngồi ở phía sau. Nhưng vì một lý do nào đó, chiếc xe bỏ đường quốc lộ.
- Khi tới một khúc quành trên đường – Poirot ngắt lời.
- Đúng, nhưng sao ông biết?
- Ồ! Hiển nhiên là phải như thế! xin ngài nói tiếp.
- Tôi nói, vì một lý do nào đó ôtô của Thủ tướng bỏ đường lớn. Cảnh sát không biết nên cứ tiếp tục cho xe chạy theo đường cũ. Chạy được một đoạn trên con đường vắng vẻ ôtô của Thủ tướng bị một đám người bịt mặt bắt dừng lại. Người lái xe…
- Anh chàng O’Murphy can đảm – Poirot mơ màng lẩm bẩm.
- Người lái xe nhấn phanh sau một thoáng sợ hãi. Thủ tướng thò đầu ra ngoài xe. Lập tực một viên đạn rít lên, rồi một viên nữa. Viên thứ nhất sượt qua má ngài, viên thứ hai may mắn chệch mục tiêu. Người lái xe thấy rõ sự nguy hiểm, cho xe phóng thẳng và làm tan rã những kẻ tấn công.
- Chúng ta có thể nói Thủ tướng đã thoát nạn – Tôi run rẩy nói.
- Ngài Mac Adam yêu cầu mọi người đừng quan tâm đến vết thương. Ngài tuyên bố đây chỉ là một vết xước nhẹ. Ngài chỉ dừng lại ở một trạm cấp cứu để băng vết thương và tất nhiên không để lộ danh tính của mình. Ngài đi thẳng tới ga Charing Cross, nơi có một chuyến tàu riêng chở ngài đi Douvres. Sau lời thuật lại vắn tắt của Daniels với cảnh sát đang lo ngại, ngài xuống một chiếc mẫu hạm ở Douvres để sang Pháp. Tại Boulogne, như ông đã biết, một chiếc ôtô mang cờ Anh và tất cả những huy hiệu chính thức đang đợi ngài.
- Đó là tất cả những cái ông cần nói với tôi phải không?
- Vâng.
- Thưa Huân tước, ngài có quên một chi tiết nào không?
- À! Phải có một chuyện lạ lùng.
- Thế ư?
- Sau khi đưa Thủ tướng tới Charing Cross thì chiếc xe hơi của ngài biến mất. Cảnh sát rất muốn thẩm vấn O’Murphy và mở một cuộc điều tra. Cuối cùng thì họ tìm thấy chiếc xe ở cổng một khách sạn đang nghi vấn ở Soho, nơi những nhân viên bí mật Đức thường gặp nhau.
- Còn anh tài xế thì sao?
- Còn đang tìm kiếm người lái xe. Cả anh ta cũng biến mất.
- Như vậy – Poirot mơ màng nói – Có hai người mất tích: ngài Thủ tướng ở Pháp và người lái xe ở Londres.
0
Anh đưa cái nhìn dò hỏi Huân tước Estair và ông này phác ra một cử chỉ bất lực.
- Tất cả những gì tôi nói với ông, ông Poirot, là hôm qua nếu ai nói với tôi rằng O’Murphy là kẻ phản bội, tôi sẽ cười vào mặt họ.
- Hôm nay thì sao?
- Hôm nay, tôi chỉ biết suy nghĩ thôi.
Poirot lắc đầu. Anh lại giở đồng hồ ra xem.
- Thưa các ngài, tôi nghĩ rằng các ngài sẽ cho tôi toàn quyền trong quá trình điều tra vụ này chứ? Tôi cần đi đâu bằng phương tiện gì thì do tôi quyết định chứ?
- Đúng như vậy. Một tiếng đồng hồ sẽ có một chuyến xe lửa riêng đi Douvres cùng một số nhân viên của Scotland Yard. Ông sẽ có một sĩ quan cảnh sát quân đội và một nhân viên khác phục vụ ông đi theo. Ông vừa ý chứ?
- Đồng ý. Xin hỏi các ngài một câu trước khi các ngài ra về. Ai gợi ý các ngài tới đây tìm tôi? Tôi ở Londres một cách bí mật và xa lạ với mọi người.
- Chúng tôi đến nhờ ông theo gợi ý cấp tốc và ý muốn của một nhân vật cấp rất cao của nước ông.
- Thế nào, ông bạn cảnh sát trưởng cũ của tôi ư?
Huân tước Estair lắc đầu.
- Người cao hơn ông cảnh sát trưởng nhiều. Người mà lời nói của mình trở thành pháp luật của nước Bỉ. Người mà nước Anh đã liên kết bằng lời thề thiêng liêng nhất.
Poirot giơ tay chào với kiểu sân khấu.
- Thưa các ngài, như vậy, tôi xin cúi đầu nhận nhiệm vụ. Các ngài có thể tin tưởng ở tôi, Hercule Poirot, tôi phục vụ các ngài một cách trung thành. Chỉ cầu trời cho chúng ta còn thời gian… Nhưng phải nói là sự việc còn tối mò. Tôi chưa thấy gì cả.
- Này, Poirot – Tôi sốt ruột hỏi anh khi cánh cửa khép lại sau lưng những vị khách đến thăm – Anh nghĩ thế nào về việc này?
Bạn tôi bằng những cử chỉ nhanh nhẹn đang sửa soạn chiếc vali nhỏ từng theo anh đi khắp nơi. Anh lắc đầu:
- Tôi còn suy nghĩ, ý kiến của tôi đang rất lộn xộn.
- Tại sao người ta lại bắt cóc Thủ tướng trong khi chỉ cần một viên đạn vào đầu, như anh đã nói, cũng có kết quả như vậy?
- Tôi giữ ý kiến của mình. Hình như đối với chúng việc bắt cóc là hay hơn cả.
- Nhưng tại sao?
- Vì muốn gây ra một sự kinh hoàng, đó là cách làm tốt nhất. Nếu Thủ tướng chết thì đó là một tai họa lớn, chúng phải đối mặt với tình thế. Còn như lúc này, mọi người đang bị tê liệt. Ngài có xuất hiện nữa hay không? Ngài đang sống hay đã chết? Mọi người không hiểu ra sao cả và đến khi biết rõ, người ta không biết phải đối phó ra sao. Và như tôi nói với anh, sự mơ hồ gây ra sự kinh hoàng, đó là cái mà người Đức đang tìm kiếm. Rồi những kẻ khủng bố giấu Thủ tướng đi, họ sẽ có lợi thế để ra điều kiện cho cả hai phe. Chính phủ Đức không phải là kẻ trả nợ sòng phẳng. Đây là thời cơ để họ giấu giếm những khoản tiền lớn! Cuối cùng, nếu không bảo đảm mạng sống của Thủ tướng, chúng sẽ bị treo cổ. Ô! Rõ ràng việc bắt cóc này là nghề nghiệp của chúng.
- Nhưng tại sao lúc đầu chúng lại muốn hạ sát ngài?
Poirot phác ra một cử chỉ bồn chồn.
- Đây đúng là điều tôi chưa hiểu rõ. Thật là vô lý, không thể giải thích nổi. Chúng bố trí chu đáo cho việc bắt cóc và bây giờ thì vụ này giống như một vở nhạc kịch điện ảnh. Không thể tưởng tượng dược là có một bọn người vũ trang chỉ ở cách Londres hai mươi kilometers!
- Có thể đây là hai vụ khác nhau, không có quan hệ gì với nhau không? – Tôi gợi ý.
- Sự trùng hợp là hiếm! Và còn một câu hỏi khác nữa: ai là kẻ phản trắc? Chắc chắn là có một tên trong vụ thứ nhất, trường hợp nào cũng vậy. Đó là Daniels hay O’Murphy? Chỉ là một trong hai người ấy. Hoặc tại sao chiếc xe hơi bị bỏ lại bên quốc lộ? Chúng ta không thể giả thiết là ngài Thủ tướng tham gia vào việc ám sát chính mình, phải không? Nhưng O’Murphy tự ý cho xe di vào con đường nhỏ hay anh ta làm việc này theo lệnh của Daniels?
- Chắc chắn O’Murphy là kẻ phản bội.
- Phải, vì nếu Daniels ra lệnh thì Thủ tướng phải nghe thấy và ngài sẽ hỏi lý do. Nhưng trong chuyện này có rất nhiều cái “tại sao” và chúng mâu thuẫn với nhau. Nếu O’Murphy là người thật thà thì tại sao anh ta lại bỏ đường cái lớn? Nếu anh ta là thủ phạm thì tại sao anh ta lại phóng nhanh xe sau phát đạn thứ hai để cứu Thủ tướng? Còn nữa, nếu anh ta là người thật thà thì tại sao khi rời Charing Cross anh ta tới địa điểm hẹn hò của các gián điệp Đức?
- Tất cả những cái đó đều rối rắm – Tôi nó.
- Chúng ta hãy xem xét sự việc một cách có phương pháp. Chúng ta có những dữ kiện gì để liệt họ vào loại người tốt hay xấu. Trước hết hãy xét O’Murphy. Xấu: Việc cho xe rời khỏi quốc lộ là đáng nghi ngờ; là người Ái Nhĩ Lan sống ở County Clare; biến mất một cách rất có ý nghĩa… Tốt: việc cho xe phóng nhanh để cứu Thủ tướng, là nhân viên của Scotland Yard, và nếu ta xét về nhiệm vụ được giao thì anh là một nhà thám tử đáng tin cậy. Bây giờ đến Daniels. Chúng ta chưa có dữ kiện nào kết luận anh này là xấu, trừ việc chúng ta không biết gì về gốc gác gia đình anh ta và việc anh biết nói nhiều thứ tiếng so với một người Anh (xin lỗi, anh bạn, sự hiểu biết ngoại ngữ của anh thật đáng thương). Bây giờ chúng ta lại biết anh ta đã bị trói gô, nhét giẻ vào miệng và bị đánh thuốc mê, nhưng không có gì có thể chứng minh là anh ta không có chuyện gì trong vụ này cả.
- Anh ta có thể tự trói mình để tránh mọi sự nghi ngờ thì sao?
- Cảnh sát Pháp không thể lầm lẫn trong một việc kiểu này được – Poirot lắc đầu – Hơn nữa, một khi mục đích đã đạt được và Thủ tướng được giữ tại một nơi an toàn, thì anh ta chẳng có lý do gì phải giấu mặt. Có thể là đồng bọn đã trói và đánh thuốc mê anh ta: nhưng tôi vẫn chưa hiểu rõ là chúng làm thế là nhằm mục đích gì. Anh ta không còn có ích cho chúng như trước nữa; cho tới lúc việc bắt cóc Thủ tướng được sáng tỏ, chắc chắn là anh ta bị canh giữ nghiêm ngặt.
- Có thể là anh ta muốn cảnh sát chạy theo một mục tiêu sai lầm?
- Vậy thì tại sao anh ta không làm cách khác? Anh ta chỉ cần nói là thấy một vị gì đó trong mũi và miệng, đó là tất cả những gì anh nhớ được, tôi không thấy đâu là cái đích giả, và cái đó có đầy đủ cái vẻ của sự thật rồi.
- Này, tôi nhìn đồng hồ treo tường, tôi thấy chúng ta phải ra ga thôi. Có thể ở Pháp anh sẽ thấy thêm được nhiều dấu vết.
- Có thể là như vậy, anh bạn, nhưng tôi thì tôi nghi ngờ cái đó. Tôi không thể tưởng tượng được là họ không tìm thấy Thủ tướng trong một vùng chật hẹp, khó khăn như vùng này. Nếu cảnh sát và quân đội của hai nước không tìm thấy ông thì liệu tôi có thể làm gì hơn nữa.
Tới ga Charing Cross chúng tôi gặp ông Dodge đang đứng đợi.
- Đây là thám tử Barnes ở Scotland Yard và tham mưu trưởng Norman. Họ sẽ dưới quyền chỉ huy của ông. Chúc ông gặp nhiều may mắn. Đây là một công việc khó khăn; nhưng tôi không mất hy vọng. Bây giờ xin phép ông, tôi phải đi.
Và ông ra đi rất nhanh.

*
0
Chúng tôi nói chuyện với Norman. Đứng giữa nhóm người trên sân ga, tôi nhận ra một người nhỏ bé, đầu nhọn đang nói chuyện với người cao lớn tóc vàng. Đó là người bạn của Poirot, cảnh sát trưởng Japp, một trong số sĩ quan xuất sắc của Scotland Yard. Anh bước tới và vui vẻ chào chúng tôi.
- Tôi nghe nói anh cũng tham gia vụ này. Một công việc thú vị đang diễn ra. Chúng đã lẩn trốn với con mồi của mình. Nhưng tôi không tin rằng chúng có thể ẩn nấp được lâu. Những nhân viên của chúng tôi sẽ đi ngang, dọc nước Pháp và những người Pháp cũng làm như vậy. Tôi không thể không nghĩ đây chỉ là vấn đề được tính bằng giờ mà thôi.
- Phải, nếu Thủ tướng còn sống – Một thám tử sa sầm nét mặt nói.
Japp lo lắng:
- Chắc chắn là thế, nhưng hiện giờ thì tôi tin là ngài vẫn mạnh khỏe.
Poirot gật đầu:
- Đúng, đúng. Thủ tướng còn sống, nhưng liệu chúng ta có nhanh chóng tìm thấy ngài không? Cũng như anh, tôi thấy họ không thể giấu ngài lâu được.
Xe lửa kéo còi và chúng tôi vào ngồi trong toa đặc biệt. Con tàu khẽ rùng mình, bằng một cú giật nhẹ rời khỏi ga.
Thật là một chuyến đi kỳ lạ. Những nhân viên của Scotland Yard ngồi tụ lại thành từng nhóm. Họ giở bản đồ miền bắc nước Pháp tay chỉ theo những con đường, những địa giới làng xã. Mỗi người đều có lý thuyết riêng của mình. Poirot không nói gì ngồi yên, mắt nhìn thẳng. Dáng điệu của anh làm tôi nhớ đến kiểu ngồi của một đứa trẻ đang tìm cách giải một bài toán khó.
Tôi nói chuyện gì với Norman và thấy những ý kiến của ông ta rất là cơ bản.
Tới cảng Douvres, Poirot có những cửa chỉ khá ngộ nghĩnh. Con người bé nhỏ ấy bám chặt vào cánh tay tôi khi lên tàu. Gió giận dữ thổi mạnh.
- Trời ơi! – Anh lẩm bẩm – Thật là kinh khủng.
- Can đảm lên. Poirot – Tôi nói – Anh sẽ tìm thấy Thủ tướng, tôi tin chắc là như vậy.
- A! Anh bạn, anh không biết nguyên nhân sự sợ hãi của tôi. Biển gầm gào làm tôi cảm động. Say sóng, anh nên nhớ cái đó. Một sự đau đớn ghê gớm.
- A! – Tôi bối rối nói.
Khi tàu bắt đầu chuyển động, Poirot rên rỉ nhắm mắt lại.
- Ông Norman có một tấm bản đồ miền Bắc nước Pháp, anh có muốn nghiên cứu không?
Poirot lắc đầu:
- Không, không để tôi yên, anh bạn. Anh có biết không, muốn suy nghĩ thì óc và dạ dày phải cân bằng. Bác sĩ Laverguier có một phương pháp chống say sóng rất hay: anh từ từ hít vào rồi thở ra như thế này, đầu quay sang trái, sau đó quay sang phải theo nhịp đếm từ một đến sáu cho mỗi động tác như vậy.
Tôi không chơi môn thể thao đó và lên boong tàu.
Khi tàu cặp cảng Boulogne, tôi thấy Poirot tươi cười và mạnh khỏe. Anh nói thầm vào tai tôi rằng phương pháp Laverguier rất hữu hiệu.
Japp đang chỉ tay theo những con đường trên bản đồ.
- Vô ích! Ôtô đi từ Boulogne. Tới đây nó rẽ, theo tôi, tới đây thì họ chuyển Thủ tướng sang một xe khác, anh hiểu không?
- Này, còn tôi – Một thám tử khác nói – Tôi sẽ lục soát các bến cảng. Tôi đánh cuộc với anh là họ đã đưa ông ấy lên một con tàu rồi.
- Người ta đã nghĩ đến điều này. Đã có lệnh đóng cửa tất cả các bến cảng.
Mặt trời bắt đầu mọc khi chúng tôi lên bộ. Norman nắm lấy cánh tay Poirot.
- Trên bờ có một ôtô quân sự đang đợi ông, thưa ông.
- Rất cám ơn, thưa ông; nhưng lúc này thì tôi không muốn rời Boulogne.
- Thế nào?
- Chúng ta vào một khách sạn trên bến cảng.
Anh tới đó, yêu cầu một căn phòng riêng. Cả ba chúng tôi đi theo anh mà không hiểu ra sao cả. Anh nháy mắt nhìn chúng tôi.
- Như thế này thì không phải là một thám tử giỏi phải không? Tôi nắm được ý nghĩ của các ông: thám tử là phải đầy nghị lực, xông xáo bên phải, bên trái, nằm sấp trên đường tìm trong cát bụi dấu vết của bánh xe hơi với một chiếc kính lúp. Anh ta phải nhặt từng mẩu đầu thuốc lá, từng mẩu diêm đã cháy, đúng không?
Cặp mắt của anh tỏ vẻ thách đố chúng tôi.
- Nhưng tôi, Hercule Poirot, tôi bảo các ông, tất cả những cái đó chẳng có ý nghĩa gì cả. Lời giải bài toán nằm ở trong này này.
Anh sờ tay lên trán.
- Các ông biết không, đáng lẽ tôi không nên rời khỏi Londres. Chỉ cần tôi ngồi yên lặng trước bàn giấy của mình. Cái cần thiết là làm cho các tế bào màu xám của não hoạt động. Chúng làm việc một cách yên lặng và bí mật cho đến khi bất chợt tôi đòi một tấm bản đồ, chỉ tay vào một điểm trên đó và nói: “Thủ tưởng đang ở đây”. Và ngài ở đấy thật với phương pháp đúng và sự suy nghĩ hợp lý người ta có thể làm mọi việc! Việc tràn vào một cách cuồng nhiệt trên đất Pháp là một sai lầm: đó là trò ú tim ngờ nghệch. Nhưng lúc này, tuy rằng đã mất một ít thời gian, tôi sẽ làm việc với phương pháp đúng đắn. Xin các bạn yên lặng.
0
Và trong năm tiếng đồng hồ liền, con người bé nhỏ ấy ngồi yên lặng, không cựa quậy. Cặp mắt anh lim dim như mắt mèo càng ngày càng xanh trong và lóng lánh. Người nhân viên của Scotland Yard có vẻ tức giận và ra vẻ cấp trên. Ông tham mưu trưởng không thể giữ được vẻ kiên nhẫn. Còn tôi tôi thấy thời gian thất vọng quá dài.
Cuối cùng, mệt mỏi vì không làm gì, tôi đứng lên đi ra cửa sổ. Sự việc gần như là một chuyện lừa dối. Tôi thấy hổ thẹn cho bạn tôi. Nếu cảm thấy thất bại thì tôi muốn làm theo một cách ít kỳ cục hơn thế này. Từ cửa sổ tôi nhìn thấy con tàu đêm hôm trước đang đợi chúng tôi trên bến, nhả lên trời những cột khói xám. Đột nhiên, tiếng của Poirot làm tôi giật mình:
- Các bạn, chúng ta trở về thôi.
Tôi quay lại. Bạn tôi đã thay đổi hoàn toàn. Mắt anh sáng quắc, ngực căng phồng.
- Tôi chỉ là một thằng ngốc, các bạn ạ! Nhưng bây giờ tôi đã thấy rõ rồi.
Tham mưu trưởng vội vàng đi ra cửa.
- Tôi đi gọi một chiếc xe.
- Không cần, tôi không dùng đến nó. Vì trời đã nổi gió.
- Ông muốn nói là ông sẽ đi bộ ư, thưa ông?
- Không, ông bạn trẻ, tôi không phải là thánh Pierre. Tôi muốn vượt biển bằng tàu thủy.
- Vượt biển ư?
- Phải. Để làm việc theo phương pháp đúng, phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Vì điểm bắt đầu của vụ này là ở Anh quốc. Do đó tại sao chúng ta phải quay về đấy.
Chúng tôi xuống sân ga Charing Cross vào lúc ba giờ chiều. Poirot lảng tránh những lời chê trách của chúng tôi. Anh không ngừng nhắc lại đây mới chỉ mất ít thời gian, rằng phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu, rằng chỉ cần phương pháp và sự hợp lý.
Trên đường đi, anh ghé tai nói nhỏ với Norman và ông này đã gửi rất nhiều bức điện tín khi ghé qua Douvres.
Nhờ vào giấy tờ của Norman, chúng tôi có thể đi khắp nơi trong thời gian ngắn. Tới Londres, một chiếc ôtô của cảnh sát đã đợi chúng tôi cùng với một số nhân viên đồng phục và thường phục. Một người trong số họ đưa cho Poirot một tờ giấy đánh máy. Tôi đưa mắt dò hỏi thì bạn tôi trả lời:
- Đây là danh sách các trạm cấp cứu ở phần đất phía Tây của Londres. Tôi đã đánh điện hỏi Douvres.
Chúng tôi đi qua những phố phường của Londres sau đó đi qua Bath Road. Hammersmith. Chiswick và Brentfort. Tôi bắt đầu hiểu ra là chúng tôi muốn đi tới đâu. Sau khi đi qua Windsor chúng tôi sang đường đi Ascot. Tim tôi đập rộn ràng. Ascot! Nơi một trong hai bà cô của Daniels sinh sống. Đó là kẻ chúng tôi cần tìm chứ không phải O’Murphy.
Chúng tôi dừng lại trước cổng một biệt thự đẹp. Poirot nhảy ra khỏi xe và tới bấm chuông cổng. Tôi thấy anh chau mày trên khuôn mặt rạng rỡ ấy. Chắc hẳn anh không hài lòng điều gì. Người ta ra mở cổng, anh đi vào nhà. Một vài phút sau anh quay ra, lên ô-tô.
Đã bốn giờ ba mươi phút chiều. Anh đi lùng thủ phạm thì liệu có lợi ích gì không? Ít nhất thì cũng phải biết rõ nơi bọn chúng giam giữ Thủ tướng là nơi nào ở bên Pháp chứ? Cuộc hành trình ở Londres của chúng tôi thường bị ngắt quãng. Khi chúng tôi bỏ đường quốc lộ, đi tới một căn nhà nhỏ, thì chúng tôi biết rõ ngay đây là một trạm cứu thương. Poirot chỉ dừng lại đây một vài phút, nhưng tôi thấy rõ sự thận trọng của anh ở mỗi nơi dừng chân. Anh nói nhỏ gì đó với Norman và ông này trả lời:
- Đúng, rẽ trái, ông sẽ thấy, người ta đợi ông trên cầu.
Chúng tôi đi lên một con đường dốc và trong ánh sáng nhập nhoạng tôi thấy một chiếc ôtô đậu ven đường. Hai người mặc thường phục đứng bên xe. Poirot xuống xe và nói chuyện với họ. Sau đó xe chúng tôi tiếp tục đi lên hướng Bắc, có chiếc ôtô nói trên đi theo. Chúng tôi đến một ngoại ô của Londres. Cuối cùng chúng tôi dừng lại trước một ngôi nhà lớn, cách xa đường cái, giữa một cái sân rộng. Norman và tôi ở lại trên xe. Poirot và một nhà thám tử đi xuống bấm chuông. Một bà hầu phòng ăn vận sạch sẽ ra mở cửa. Người thám tử nói:
- Tôi là sĩ quan cảnh sát, tôi được lệnh lục soát ngôi nhà này.
Người hầu phòng khẽ kêu lên một tiếng và một người đàn bà cao lớn, đẹp, tuổi trung niên xuất hiện phía sau người phục vụ.
- Đóng cửa lại. Edith, có thể đây là bọn kẻ cướp.
Nhưng Poirot đã nhanh chóng lấy chân chặn cửa và thổi còi. Các thám tử chạy ùa vào trong nhà và đóng cửa lại.
Norman và tôi phải ngồi tới năm phút để chửi rủa sự ăn không ngồi rồi của mình. Cuối cùng cửa bật mở và các thám tử hiện ra mang theo ba tù binh: một người đàn bà và hai đàn ông. Người đàn bà và một người đàn ông được đưa vào chiếc ôtô thứ hai. Người đàn ông còn lại được Poirot đưa lên xe của chúng tôi.
- Tôi cần ngồi với những người kia, anh bạn. Nhưng các ông hãy canh giữ cẩn thận người này. Các ông không biết đây là ai ư? Đây. Cho phép tôi giới thiệu ông O’Murphy.
O’Murphy! Tôi há hốc miệng nhìn người này. Xe chuyển bánh. Hắn không bị còng tay, nhưng tôi tin chắc là hắn không thể trốn thoát được. Hắn nhìn thẳng về phía trước như để tránh bị chóng mặt. Nếu hắn định chuồn thì đã có Norman và tôi chặn hắn lại.
Tôi càng ngạc nhiên hơn khi thấy xe tiếp tục chạy lên phía Bắc. Chúng tôi không trở lại Londres ư? Tôi không hiểu gì cả. Dần dần tôi hiểu là chúng tôi đang đến gần phi trường Hendon. Tôi lập tức hiểu rõ ý định của Poirot. Anh muốn đáp máy bay sang Pháp.
Đó là một việc làm can đảm nhưng không thực tế. Một bức điện tín sẽ nhanh chóng và kịp thời hon. Anh cần dành vinh quang giải thoát Thủ tướng cho những người khác chứ.
Khi xe dừng lại, tham mưu trưởng Norman ra khỏi ôtô và một người mặc thường phục ngồi thế chỗ ông. Norman trao đổi một vài câu với Poirot rồi đi đâu không rõ.
Tôi cũng rời ôtô và tới nắm lấy cánh tay Poirot.
- Xin có lời khen, anh bạn! Chúng đã nói với anh nơi chúng giam Thủ tướng ư? Nhưng, hãy nghe tôi, hãy điện ngay sang Pháp. Nếu anh tự tới đó thì quá chậm đấy.
Poirot ngạc nhiên nhìn tôi chừng một phút.
- Thật là khốn khổ, anh bạn, có những thử thách người ta không thể gửi bằng con đường điện tín được.naCùng lúc ấy, tham mưu trưởng Norman quay lại, có một sĩ quan trẻ vận đồng phục phi công đi theo.
- Đây là đại úy Lyall, người sẽ đưa ông sang Pháp. Anh ấy có thể đi ngay lập tức.
- Xin ông mặc ấm vào, thưa ông – Người phi công trẻ nói – Tôi có thể cho ông mượn một chiếc áo khoác nếu ông muốn.
Poirot xem đồng hồ, anh lẩm bẩm:
- Phải, đã đến lúc, còn kịp.
Anh ngẩng đầu sau đó lịch sự nghiêng mình trước người sĩ quan trẻ.
- Xin cảm ơn anh, nhưng không phải tôi mà là ngài đây đi.
Vừa nói anh vừa tránh sang một bên: một bóng người từ chỗ tối của chiếc xe thứ hai đi ra. Khi ánh sáng hắt vào mặt người tù binh ấy tôi giật mình: đó là ngài Thủ tướng!

*
0
- Vì tình yêu của Thượng đế, anh hãy kể lại cho chúng tôi nghe xem nào. Tôi sốt ruột kêu lên khi Poirot, Norman và tôi đã ngồi trên xe chạy về Londres. Tại sao chúng lại mang Thủ tướng về nước Anh.
- Chúng không cần làm như thế – Poirot khô khan trả lời – Thủ tướng chưa rời khỏi Anh quốc. Ngài bị bắt cóc trên đường giữa Windsor và Londres.
- Sao?
- Tôi sẽ giải thích tất cả cho anh. Thủ tướng ngồi trên xe và người thư ký ngồi đằng sau, đột nhiên một chiếc khăn tẩm thuốc mê áp vào mặt ngài.
- Kẻ nào làm như vậy?
- Người biết nhiều ngoại ngữ, đại úy Daniels. Lập tức ngài bị ngất xỉu.
Daniels cầm lấy ống nói ra lệnh cho O’Murphy rẽ phải. Người lái xe chấp hành mà không nghi ngờ gì cả. Sau khi chạy trên đường nhỏ vài chục mét, xe gặp một chiếc xe lịch sự bị hỏng đỗ trên đường. Tài xế xe này ra hiệu cho O’Murphy dừng xe. O’Murphy cho xe chạy chậm lại. Người lạ mặt tới gần, O’Murphy thò đầu ra khỏi xe, và chắc chắn cũng bằng thuốc mê, việc làm ngạt nạn nhân lại diễn ra một lần nữa. Trong một vài giây hai người bị ngất được đưa sang chiếc xe kia và hai người khác ngồi vào thay thế.
- Có thể như vậy được không?
- Được chứ! Anh không thấy trên sân khấu người ta đóng giả những nhân vật danh tiếng đấy ư? Không có gì đơn giản hơn là giới thiệu ngài Thủ tướng trước mọi người. Thủ tướng nước Anh lại càng dễ đóng giả cũng như đóng giả một ông Smith nào đó. Còn O’Murphy giả thì không ai chú ý. Đến lúc Thủ tướng rời khỏi xe thì hắn có thời gian tẩu thoát. Hắn đến thẳng khách sạn ở Charing Cross để gặp bạn bè. Hắn tới nơi với bộ mặt của O’Murphy và ra về với bộ mặt khác. Và màn kịch đã được trình bày: O’Murphy mất tích để lại đằng sau những dấu vết khó lần ra.
- Nhưng kẻ đóng giả Thủ tướng thì được mọi người nhìn thấy chứ?
- Đúng, nhưng không có ai là người thân cả. Và Daniels thì chắc chắn là hắn đứng xa đám đông. Hơn thế nữa, đầu Thủ tướng quấn băng, người ta có thể chấp nhận những cử chỉ khác thường của ông. Ngài Mac Adam có cổ họng khỏe, ngài hay hắng giọng trước khi đọc một bài diễn văn quan trọng. Việc đánh tráo dễ dàng cho tới khi Thủ tướng giả tới nước Pháp. Tới đây rồi thì hắn rất khó hành động cũng như việc làm cho Thủ tướng biến mất. Cảnh sát nước ông vội vàng vượt biển Manche mà không ai nghĩ đến việc bị tấn công lần thứ nhất. Để chứng tỏ việc bắt cóc xảy ra tại Pháp, Daniels cũng tự để đánh thuốc mê trói lại một cách tài tình.
- Thế còn tên đóng giả tài xế thì sao?
- Hắn bỏ đồ hóa trang. Hắn và tên lái xe có thể bị bắt như là những kẻ bị tình nghi nhưng không ai nghĩ đến vai trò thực sự của chúng trong vở kịch này và người ta không thể thả chúng khi thiếu những chứng cứ hiển nhiên.
- Còn ngài Thủ tướng thì ở đâu?
- Thủ tướng và O’Murphy được đưa tới nhà mụ Everard ở Hampstead. Mụ là người được gọi là cô của Daniels, nhưng thực ra mụ là Bertha Ebenthal. Cảnh sát đã từng có việc với mụ ta. Đây là vật quí mà tôi nộp cho cảnh sát, chưa nói đến Daniels! A! Đây thật là một kế hoạch tài tình, nhưng chúng không tính đến tài năng của Hercule Poirot!
- Tôi nghĩ rằng người ta có thể bỏ qua cái thói kiêu ngạo của anh trong lúc này.
- Anh đã nghi ngờ sự việc này vào lúc nào?
- Khi tôi làm việc với phương pháp đúng đắn, đó là sự suy nghĩ! Tôi không khoanh riêng việc ám sát hụt. Tôi thấy ngay cái kết quả mong muốn rõ ràng nhất: đưa ngài Thủ tướng sang Pháp với chiếc băng cứu thương trên đầu. Và tôi bắt đầu hiểu ra. Nhưng sau khi đi kiểm tra các trạm cứu thương từ Windsor đến Londres thì tôi biết là không ai tới trạm nào băng bó như vậy cả: tôi càng tin chắc hơn. Sau đó mọi việc còn lại chỉ là những trò trẻ con đối với bộ óc như bộ óc tôi mà thôi.
*

Sáng sớm hôm sau Poirot đưa cho tôi xem một bức điện tín vừa nhận được. Bức điện không ký tên người gửi, không ghi nơi phát mà chỉ có hai chữ: “Kịp thời”.
Một vài giờ đồng hồ sau, các tờ báo buổi chiều đăng tin về Hội nghị của các nước Đồng minh. Báo chí cũng nhấn mạnh đến bài diễn văn quan trọng của Thủ tướng Mac Adam, những lời phát biểu hùng hồn gây được những tình cảm sâu nặng mà người ta không thể nào quên được.
0
VỤ GIẾT NGƯỜI TRONG KHÁCH SẠN


Trong số các bạn bè của Poirot và tôi có bác sĩ Hawker, một người hàng xóm, có uy tín trong giới y tế. Ông bác sĩ thân thiết đó có thói quen ngồi nói chuyện với chúng tôi sau bữa ăn tối.
Một tối đầu tháng sáu, ông tới chỗ chúng tôi khoảng tám giờ rưỡi và câu chuyện phiếm sa vào việc bàn luận tới các vụ đầu độc bằng thạch tín.
Chúng tôi nói chuyện với nhau và vào khoảng mười lăm phút thì cánh cửa phòng khách chợt bật mở, một người đàn bà hốt hoảng chạy vào giữa phòng.
- Ôi! Ông bác sĩ, người ta gọi ông…
Chúng tôi nhận ra đây là bà Rider, người hầu phòng của bác sĩ Hawker. Ông bác sĩ sống độc thân trong một căn hộ cách nhà chúng tôi độ vài chục mét. Bình thường thì bà Rider là người bình tĩnh và kín đáo nhưng lúc này tỏ ra hoàn toàn bối rối.
- Trời ơi! Bà Rider, có chuyện gì vậy?
- Điện thoại… Bác sĩ. Tôi nghe thấy tiếng người nói: “Cứu tôi với!”, tôi hỏi lại: “Ai đấy?”. Người ta cố trả lời tôi nhưng chỉ là những tiếng thở hổn hển. Tôi chỉ nghe lờ mờ… Foscatini… khách sạn Regent’s Court… mà thôi.
Ông bác sĩ không thể giữ nổi vẻ ngạc nhiên:
- Bá tước Foscatini có một căn hộ ở khách sạn Regent’s Court. Tôi cần tới đó ngay. Có việc gì xảy ra với ông ấy vậy?
- Đây là một trong những bệnh nhân của ông ư? – Poirot hỏi.
- Tôi chỉ chữa cho ông ấy thời gian ngắn gần đây về những bệnh tật nhẹ thôi. Đây là một người Ý, nhưng ông ấy nói tiếng Anh rất thạo. Tôi phải tạm biệt các ông thôi. Ông Poirot, nếu có thể…
Ông ta ngập ngừng.
- Tôi đã đoán ra điều ông muốn nói – Poirot cười đáp – Tôi rất vui lòng đi theo ông. Hastings, xuống gọi một chiếc taxi đi.
Một vài giây sau, xe chúng tôi chạy về mạn khách sạn Regent’s Court. Ở đây có những khối nhà vừa xây dựng xong, có những căn hộ rất tiện lợi.
Không có ai ở dưới nhà khi chúng tôi tới cả. Ông bác sĩ gọi thang máy và sốt ruột bảo người phục vụ:
- Căn hộ số mười một. Bá tước Foscantini. Ở đây vừa xảy ra một tai nạn, tôi cho là như vậy.
Người phục vụ nhìn chằm chằm vào ông, ngạc nhiên.
- Tin đầu tiên! Graves, người hầu phòng của bá tước Foscatini, vừa mới đi khỏi đây khoảng nửa tiếng đồng hồ, anh ta không nói gì cả.
- Bá tước ở trong phòng một mình ư?
- Không, có hai ông khách cùng ăn bữa tối với ông.
- Họ là những người như thế nào? – Tôi hỏi.
- Tôi không trông thấy họ, thưa ông, nhưng tôi cho rằng họ là những người nước ngoài.
Thang máy đưa chúng tôi lên lầu hai, ngay trước phòng số mười một. Ông bác sĩ bấm chuông. Không có tiếng trả lời, không một tiếng động. Ông bấm chuông nhiều lần mà không đạt kết quả.
- Có chuyện nghiêm trọng rồi đây – Ông lẩm bẩm
Sau đó ông quay sang người phục vụ:
- Anh có chìa khóa cửa này không?
- Có một chiếc ở bàn giấy người gác cổng.
- Anh xuống lấy đi. Và tôi cho rằng anh nên gọi điện báo ngay cho cảnh sát.
Một thoáng sau người phục vụ quay trở lại có ông Giám đốc khách sạn đi theo.
- Thưa các ông, các ông cho biết đã có việc gì xảy ra?
- Chắc chắn là có chuyện – Ông bác sĩ trả lời – Tôi nhận được một cú điện thoại của bá tước Foscatini nói rằng ông bị tấn công và yêu cầu tôi đến giúp đỡ.
Ông Giám đốc mở cửa phòng và chúng tôi bước vào. Trước hết là phòng xép. Bên phải phòng xép có một cánh cửa để ngỏ.
- Phòng ăn – Ông giám đốc bảo chúng tôi.
Bác sĩ đi trước. Chúng tôi đi theo ông từng bước. Bước vào phòng tôi không thể nén được một tiếng kêu thảng thốt. Trên bàn có những bát đĩa sau bữa ăn, ba chiếc ghế để xa bàn như là những khách ăn vừa đứng lên.
Trong góc phòng, bên cạnh lò sưởi, một người đang ngồi trước bàn giấy.
Tay phải của người ấy đặt trên máy điện thoại, nhưng một cú đánh phía sau đầu đã làm người ấy gục lên bàn. Bên cạnh người chết là một pho tượng nhỏ bằng đá, có dính máu bị ném lăn lóc.
Một phút sau, người thầy thuốc hiểu rằng không có cách cứu chữa nào nữa.
- Cái chết xảy ra rất nhanh – Ông nói – Tôi tự hỏi làm thế nào mà ông ấy gọi dây nói được. Chúng ta không sờ mó vào vật gì khi cảnh sát chưa tới.
Chúng tôi bắt đầu quan sát căn hộ nhưng không thấy bóng một người nào. Khi chúng tôi quay lại phòng ăn. Poirot chăm chú xem xét kỹ bàn ăn. Một lọ hoa hồng trang điểm chiếc bàn. Hãy còn lại một ít hoa quả, nhưng ba đĩa đồ tráng miệng thì hết nhẵn: ba chiếc tách thì hai chiếc còn cặn cà phê pha rất đậm, một chiếc còn cặn cà phê sữa. Ba người đã uống rượu Marc vì vò rượu hãy còn đến một nửa. Một người hút xì gà, hai người khác thì hút thuốc lá.
Tôi xem xét các đồ vật, nhưng phải thừa nhận là chúng chẳng làm sáng tỏ cho tôi điều gì. Tôi lấy làm lạ khi thấy Poirot chăm chú nhìn các thứ trên bàn ăn. Tôi hỏi anh điều này.
- Anh bạn – Poirot nói – Anh không hiểu gì cả. Tôi tìm những thứ mà anh không nhận ra.
- Sao!
- Một sơ ý, một sơ ý dù nhỏ, do kẻ giết người để lại.
Anh đi đi, lại lại nhìn ngó các nơi, nhưng có vẻ không thấy cái mình đang tìm kiếm.
- Thưa ông – Anh nói với người Giám đốc – Xin ông cho biết cách phục vụ bữa ăn ở đây?
- Bữa ăn được chuyển đến các phòng bằng một loại thang máy riêng – Ông ta giải thích – Máy chạy từ nhà bếp lên tầng lầu cao nhất. Ông đặt món ăn bằng điện thoại và người ta chuyển lần lượt từng món lên theo thang máy. Bát đĩa sau bữa ăn cũng được chuyển xuống bếp theo cách đó. Như vậy ông không gặp khó khăn gì và ông có thể ăn các bữa trong khách sạn.
Poirot xác nhận
- Vậy bát đĩa của bữa tối bây giờ còn ở trong bếp không? Tôi có thể xuống xem được không?
- Ồ! Được chứ, Robert, người phục vụ sẽ đưa ông đi.
0
Chúng tôi cùng xuống bếp và hỏi chuyện người nhận đơn đặt hàng của căn hộ số mười một.
- Đơn đặt cho ba người ăn – Người đầu bếp nói – Canh, thịt bò thăn, cá thờn bơn, cơm rang.
- Vào lúc mấy giờ?
- Khoảng tám giờ – Người ấy nói – Tôi sợ rằng bát đĩa đã được rửa rồi. Ông muốn tìm dấu vân tay ư, tôi cho là như thế?
- Không đúng hoàn toàn – Poirot nói – Tôi muốn biết ông hầu tước và khách mời ăn khỏe ra sao thôi.
- Vâng, nhưng không thể nói chính xác số thức ăn họ đã dùng được. Bát đĩa đều dùng rồi, đĩa ăn đều hết sạch trừ món cơm rang thì còn lại rất nhiều.
- A! A! – Poirot kêu lên bằng giọng thỏa mãn.
Trong khi chúng tôi lên lầu hai, Poirot nói nhỏ vào tai tôi:
- Chúng ta đang làm việc với người rất cẩn thận.
- Anh nói về ông bá tước hay là kẻ giết người?
- Chắc chắn ông bá tước là con người chu đáo rồi. Sau khi gọi cấp cứu, ông ta đã gác máy điện thoại lên.
Tôi ngạc nhiên nhìn Poirot.
- Anh giả định ông ta bị đầu độc ư? – Tôi thì thầm – Cú đánh vào đầu chỉ là ngụy trang ư?
Poirot chỉ cười mà không trả lời.

*

Ông thanh tra cảnh sát và hai nhân viên tới nơi khi chúng tôi trở lại căn hộ. Poirot phải cầu cứu đến bạn anh là thanh tra Japp ở Scotland Yard để xin phép được vào trong nhà.
May mắn là chừng năm phút sau đó một người hớt hải chạy vào căn phòng.
Đó là Graves, người hầu phòng của bá tước Foscatini. Anh ta nói sáng hôm qua có hai ông khách đã tới thăm chủ anh ta. Đó là những người Ý. Người tuổi cao trong hai người, khoảng bốn mươi, tên là Ascanio, người trẻ hơn, khoảng hai mươi đến hai mươi nhăm.
Bá tước Foscatini đợi khách và khi họ tới ông sai Graves đi làm một số việc bên ngoài. Tới đây, người hầu phòng cảm thấy phân vân. Cuối cùng anh ta thú nhận là cuộc gặp gỡ này có điều gì đó đáng ngờ nên anh không vâng lệnh ông chủ mà đứng lại ghé tai qua cánh cửa.
Ba người nói rất nhỏ nhưng anh có thể đoán ra đây là câu chuyện về tiền nong và đe dọa lẫn nhau. Cuộc tranh cãi hình như rất căng thẳng. Cuối cùng bá tước cất cao giọng và Graves nghe rất rõ:
- Thưa các ngài, tôi không có thời gian để tranh luận lâu hơn nữa. Nếu các ngài vui lòng tới dùng bữa với tôi vào chiều mai thì chúng ta sẽ tiếp tục nói chuyện.
Sợ bị chủ bắt gặp, Graves không nghe trộm lâu hơn nữa.
Chiều nay, hai người ấy tới lúc khoảng tám giờ… Trong bữa ăn câu chuyện diễn ra bình thường, không có ý nghĩa gì. Khi Graves mang cà phê tới thì chủ anh nói là anh có thể đi ra ngoài.
- Đây có phải là thói quen mỗi khi có khách tới thăm của ông chủ anh không? – Ông thanh tra cảnh sát hỏi.
- Không, thưa ông. Tôi nghĩ do chủ tôi muốn nói những việc quan trọng với các ông khách ấy.
Anh ta đi ra lúc tám giờ ba mươi, gặp một người bạn, anh ta cùng bạn đi nghe hòa nhạc. Đó là hết lời khai của Graves.
Không một ai trông thấy hai vị khách ra về, nhưng người ta có thể thấy thời điểm của việc giết người là tám giờ bốn mươi bảy phút. Chiếc đồng hồ trên bàn bị tay Foscatini làm đổ đã dừng lại vào giờ ấy. Đây cũng phù hợp với thời điểm mà bà Rider nhận được cú điện thoại.
Sau khi khám nghiệm, bác sĩ pháp y cho đưa xác người chết lên giường.
- Tốt – Ông thanh tra cánh sát nhét sổ tay vào túi nói – Vụ này có vẻ đã rõ ràng, cái khó khăn là tóm được Ascanio. Tôi nghĩ rằng địa chỉ của hắn có trong sổ tay của bá tước.
Như xét đoán của Poirot, Foscatini là người cẩn thận. Trên sổ tay của ông ta chúng tôi đọc được một hàng chữ viết nắn nót: “Ngài Paolo Ascanio, khách sạn Grovenor”.
Viên thanh tra chạy đến bên máy điện thoại và quay lại với chúng tôi sau đó một lát.
- Chúng ta làm việc rất kịp thời, quý ông ấy sắp rời xứ sở này. Thưa các ông, mọi việc ở đây đã xong. Đây là sự kiện đáng buồn nhưng đã rõ ràng.
*

0
Khi xuống nhà, bác sĩ Hawker có vẻ bị kích thích mạnh.
- Đây là đoạn đầu của cuốn tiểu thuyết - Ông ta nói – Không biết người ta có đọc không?
Poirot không nói gì. Anh mơ màng sau đó đã nói cả buổi chiều.
- Ông nghĩ gì, ông thày các thám tử? – Hawker hỏi và vỗ vào lưng anh – Chắc rằng ông chưa thấy được điều gì?
- Ông nghĩ như vậy ư?
- Thế thì điều gì?
- Này! Ví dụ như cái cửa sổ.
- Cửa sổ? Cửa sổ vẫn khép kín – Người thày thuốc nói.
- Ông có nhận xét gì khi nhìn cửa sổ?
Ông bác sĩ bối rối.
Poirot giải thích:
- Tôi muốn nói về tấm vải che cửa sổ. Rèm chưa được kéo để che cửa sổ. Cũng khá kỳ lạ… Rồi còn cà phê nữa, cà phê pha rất đặc.
- Thì đã sao?
- Rất đặc – Poirot nhắc lại – Còn nữa, ông có nhớ là họ ăn rất ít cơm không?
- Phải, nhưng tôi không biết anh muốn đưa chuyện này đến đâu – Tôi thú nhận.
- Anh không nghi ngờ gì người hầu phòng ư? Hắn có thể cùng đồng bọn cho thuốc độc vào cà phê. Tôi giả thiết rằng người ta sẽ xem lại những chứng cứ vô can của hắn chứ?
- Chắc chắn là thế, anh bạn, nhưng tôi lại chú ý đến chứng cứ vô can của Ascanio.
- Anh nghĩ ông ta không có bằng chứng không phạm tội sao?
- Đó là cái tôi đang suy nghĩ, nhưng chúng ta sẽ nhanh chóng biết rõ thôi.

*

Ascanio bị bắt và bị truy tố về tội giết bá tước Foscatini. Sau khi bị bắt ông ta khẳng định ông chưa bao giờ tới Regent’s Court, cả buổi tối hôm xảy ra án mạng và cả sáng hôm trước. Người trẻ tuổi nói là đi theo ông đã hoàn toàn biết mất. Ascanio tới nước Anh hai ngày trước khi xảy ra vụ án và một mình trọ ở khách sạn Grosvenor. Mọi cố gắng tìm tung tích người trẻ tuổi đều không kết quả.
Tới ngày Ascanio bị đem ra xét xử thì ông đại sứ Ý tới tuyên bố với cảnh sát là Ascanio tới làm việc ở tòa đại sứ trong buổi tối xảy ra bi kịch, từ lúc tám giờ tới chín giờ. Người bị bắt được trả lại tự do. Tất nhiên nhiều người cho rằng đây là một vụ án chính trị đã bị bưng bít đi.
Poirot rất quan tâm tới vụ này. Do đó tôi không ngạc nhiên lắm khi anh nói với tôi một buổi sáng sau đó rằng anh chờ một vị khách và người đó chính là Ascanio…
- Ông ta muốn gặp riêng anh ư? – Tôi hỏi.
- Cả hai, Hastings. Chính tôi muốn nói chuyện với ông ấy.
- Về vấn đề gì?
- Về vụ án mạng ở Regent’s Court.
- Anh sẽ chứng minh ông ta là thủ phạm ư?
- Một người không thể bị xử hai lần, Hastings. Anh hãy tỏ ra có thiện ý một chút. A! Đã có tiếng chuông gọi cửa của ông bạn ấy.
Vài phút sau Ascanio bước vào phòng. Đây là một người nhỏ nhắn và gày gò. Ông ta nhìn cả hai chúng tôi bằng con mắt nghi ngờ.
- Tôi hỏi ông Poirot?
Bạn tôi tiếp đón ông ta một cách đáng mến.
- Thưa ông, mời ông ngồi. Ông đã nhận được lá thư của tôi phải không? Tôi quyết định đi tới cùng vụ án này. Chúng ta bắt đầu: ông và bạn ông đã tới thăm bá tước Foscatini sáng hôm thứ ba phải không?
Người này có một cử chỉ tức giận.
- Chưa bao giờ. Tôi đã thề trước tòa rồi.
- Tôi biết điều đó, nhưng tôi cho rằng ông đã nói dối.
- Ông dọa nạt tôi ư?
- Tốt hơn cả là ông nên thành thật với tôi. Tôi không hỏi lý do ông đến nước Anh. Tôi biết là ông tới chỉ là để gặp bá tước Foscatini mà thôi.
- Hắn không phải là bá tước – Người Ý càu nhàu.
- Tôi đã lưu ý rằng tên của lão ta không có trong tự điển Gotha.
- Tôi thấy là ông đã biết rõ tất cả, tôi chỉ còn cách là nói thật với ông. Phải, tôi đã đến gặp Foscatini sáng thứ ba, nhưng không tới vào cái tối hắn bị giết. Tôi không còn lý do gì để gặp hắn nữa. Tôi xin giải thích: Foscatini là một kẻ tống tiền. Một số giấy tờ của một người có cấp bậc rất cao của nước Ý nằm trong tay hắn. Hắn đòi một số tiền lớn để chuộc lại những giấy tờ ấy vào sáng
- thứ ba. Một viên thư ký trẻ tuổi ở Sứ quán đi theo tôi. Foscatini tỏ ra rất nhã nhặn mà tôi không thể tưởng tượng nổi. Nhưng số tiền chuộc hắn đòi cũng khá lớn.
- Xin lỗi, ông đã trả khoản tiền trên như thế nào?
- Bằng giấy bạc loại nhỏ của Ngân hàng Ý. Tiền và các giấy tờ đã được trao đổi tận tay. Chúng tôi không gặp hắn từ sau đó nữa.
- Tại sao ông không nói chuyện này khi người ta bắt giữ ông?
- Tôi ở trong một hoàn cảnh khá tế nhị, tôi không thể thú nhận là đã biết hắn ta được.
- Như vậy thì ông giải thích như thế nào những việc xảy ra vào cái tối có vụ giết người ấy?
- Tất cả những điều tôi phỏng đoán là có kẻ nào đó đội lốt tôi. Tôi biết là người ta không tìm thấy tiền trong căn hộ ấy.
0
Poirot nhìn ông ta và gật đầu.
- Tôi tin ông, ông Ascanio. Câu chuyện của ông phù hợp với những điều tôi suy nghĩ, nhưng tôi muốn nghe ông cho chắc chắn hơn. Xin tạm biệt ông.
Sau khi tiễn khách, Poirot trở lại, ngồi xuống ghế, mỉm cười:
- Này, đại úy Hastings, anh thấy chuyện này như thế nào?
- Tôi cho rằng Ascanio nói có lý, một kẻ nào đã đội lốt ông ta.
- Không, không, anh chưa suy nghĩ kỹ. Anh hãy nhớ lại những điều tôi nói khi ở căn hộ người chết ra về. Tôi nói tấm rèm cửa chưa được kéo ra. Chúng ta đang ở vào tháng sáu. Vào tám giờ tối trời còn sáng. Mặt trời lặn vào nửa tiếng đồng hồ sau đó. Cái đó có nói gì với anh không? Còn cà phê nữa, tôi nói là cà phê quá đậm. Răng của Foscatini lại rất trắng. Cà phê thường bám vào răng. Chúng ta kết luận rằng Foscatini không uống cà phê. Lúc ấy cặn cà phê còn trong ba chiếc tách. Tại sao một người nào đó muốn làm cho mọi người tin rằng Foscatini đã uống cà phê trong khi lão ta không uống gì cả?
Tôi rối trí, lắc đầu.
- Nào, tôi sẽ giúp anh. Có gì làm cho người ta tin rằng Ascanio là người đi theo tới căn hộ của Foscatini vào cái tối lão bị giết? Chẳng một ai nhìn thấy họ đi vào cũng như từ căn hộ đi ra. Chúng ta chỉ có những chứng cứ mơ hồ…
- Anh muốn nói sao?
- Tôi muốn nói, dao, nĩa đều dùng rồi, bát đĩa đều đã hết thức ăn. A! Thật là ranh mãnh. Graves là một tên kẻ cắp nhưng là một người biết đề phòng. Hắn đã nghe trộm được câu chuyện sáng hôm trước và biết rằng Ascanio khó tự bào chữa. Chiều hôm sau hắn nói với chủ là có điện thoại gọi ông, Foscatini ngồi xuống cầm lấy ống nói, trong lúc ấy thì Graves đánh lão bằng pho tượng nhỏ bằng đá. Sau đó hắn gọi dây nói đặt bữa ăn cho ba người. Khi thức ăn được chuyển lên, hắn làm bẩn các thìa nĩa. Nhưng phải ăn hết thức ăn. Là một kẻ phàm ăn, hắn đã nghĩ đến chuyện này. Nhưng đến món cơm rang thì hắn đã quá no rồi. Hắn hút một điếu xì gà và hai điếu thuốc lá. Anh thấy, thế là xong. Sau khi vặn kim đồng hồ đúng tám giờ bốn mươi bảy phút, hắn làm ngừng chạy và lật đổ đồng hồ. Hắn chỉ quên kéo tấm rèm che cửa sổ. Nếu Foscatini thực sự mời khách dùng bữa thì rèm cửa đã được kéo lên tối trời rồi. Sau đó Graves đi ra, nói với người phục vụ thang máy là chủ hắn đang tiếp khách. Hắn chạy vội đến một trạm điện thoại giả tiếng kêu cứu của chủ để gọi bác sĩ vào lúc tám giờ bốn mươi bảy phút. Mọi người tin hắn mà không tự hỏi thực ra có ai gọi điện thoại từ căn hộ số mười một trong khách sạn vào cái giờ ấy không!
Tất nhiên anh bạn tôi đã chứng minh, bao giờ cũng vậy, rằng Poirot là có lý.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-09-09 11:38:29khachxa>
MỘT VỤ TRẢ THÙ


Hercule Poirot nhìn người phụ nữ tới thăm một cách chăm chú. Mặt hơi xanh xao, cô ta có chiếc cằm bướng bỉnh, mắt màu xám, tóc đen, đôi chỗ có màu xanh nước biển.
Anh nhận thấy bộ quần áo bằng tuýt cắt rất khéo nhưng đã hơi cũ, chiếc túi xách đã biến dạng và sự kiêu ngạo không tự giác vẫn lộ ra cho dù cô gái đang rất bồn chồn.
“Phải, Poirot nghĩ, đây là một gia đình danh tiếng nhưng nghèo! Chắc hẳn đã có một chuyện gì khác thường đã xảy ra với họ nên cô ta phải tới đây”.
- Tôi… Tôi không hiểu là ông có sẵn sàng giúp tôi không, thưa ông – Diana Maberly nói bằng giọng hơi run run - Hoàn cảnh thật là… đặc biệt.
- Cô kể cho tôi nghe xem nào.
- Tôi đến gặp ông vì tôi không biết phải giải quyết ra sao nữa! Tôi cũng đã tự hỏi là liệu có cách nào không!
- Và cô muốn tôi là người quyết định ư?
Cô gái đỏ mặt.
- Người mà tôi đã hơn một năm nay là vợ chưa cưới vừa đột nhiên hủy bỏ hôn ước – Cô nói rất nhanh.
Cô ta nhìn nhà thám tử với vẻ thách đố.
- Hẳn ông đã thấy tôi đang mất thăng bằng, đúng không?
Hercule Poirot chậm chạp lắc đầu.
- Ngược lại, thưa cô. Cô là người rất thông minh, tôi không nghi ngờ gì cả. Nghề nghiệp của tôi không phải là hòa giải những chuyện cãi vã của những người đang yêu nhau, tôi tin là như vậy. Việc từ hôn này thật khác thường. Đúng như vậy không?
Cô gái gật đầu.
- Anh Hugh đã cho rằng mình mắc chứng điên – Cô ta nói một cách rõ ràng, cụ thể – Và anh ấy cho rằng người điên thì không có quyền kết hôn.
Hercule Poirot nhướn lông mày.
- Và cô cũng nghĩ như vậy ư?
- Tôi không biết… nhưng thế nào là điên? Ai cũng điên đôi chút chứ?
- Vâng, người ta nói như vậy – Poirot nói mà không thỏa hiệp.
- Người ta có thể nhốt ông lại khi ông cho vỏ trứng vào nồi nước sôi… hoặc một con ngựa, hoặc…
- Và người chồng chưa cưới của cô đã đến giai đoạn ấy chưa?
- Anh Hugh hoàn toàn mạnh khỏe như tôi biết. Chắc chắn là vẫn thăng bằng…
- Vậy tại sao anh ta lại cho rằng mình điên?... Trong gia đình có ai mắc chứng tâm thần không?
Diana buộc phải thừa nhận:
- Người ông nội anh ấy, tôi biết như vậy và có thể là một bà cô nữa tinh thần không minh mẫn lắm. Nhưng mỗi gia đình thường có một người khác thường như vậy! Quá thông minh hoặc kém thông minh, hoặc…
Cặp mắt cô gái như đang cầu cứu.
- Tôi thấy làm tiếc, thưa cô – Poirot nói bằng giọng chân thành.
Cô ta vụt đứng lên.
- Nhưng tôi không muốn ông lấy làm tiếc! Tôi muốn ông làm một việc gì đó.
- Việc gì?
- Tôi không biết… nhưng ở đây có một cái gì không thể hiểu nổi.
- Thưa cô, xin cô cho biết về người chồng chưa cưới của cô, được không?
0
Diana nói nhanh:
- Anh ấy là Hugh Chandler. Hai mươi bốn tuổi. Cha anh là đô đốc hải quân Charles Chandler. Họ sống trong trang viên Lyde Manor của dòng họ Chandler từ thời Elisabeth. Hugh là con một. Theo truyền thống của gia đình, Hugh làm việc trong ngành hàng hải. Cha anh không muốn anh làm một nghề nào khác và… chính ông lại là người buộc con trai phải xuất ngũ!
- Từ bao giờ?
- Đã gần một năm
- Hugh Chandler có thích làm thủy thủ không?
- Rất thích.
- Có bê bối gì xảy ra không?
- Đối với Hugh ư? Không. Anh ấy tiến bộ nhanh trong nghề nghiệp. Anh ấy… chỉ không hiểu bố mình thôi.
- Lý do của ông đô đốc hải quân Chandler nêu ra là gì?
- Không có lý do nào cả. Đúng thế… Ông ta nói người con trai phải quản lý mọi việc trong nhà… nhưng đây không phải là lý do. Cả ông George Frobisher cũng thấy như vậy.
- George Frobisher là ai?
- Đại tá George Frobisher. Một người bạn từ thời thơ ấu của đô đốc hải quân Chandler, và là người cha đỡ đầu của Hugh. Ông đại tá thường ngày vẫn qua lại Lyde Manor.
- Ông Frobisher nghĩ thế nào về việc ông bạn mình buộc con trai phải xuất ngũ?
- Ông ấy cũng rất ngạc nhiên. Ông ấy cũng không hiểu. Nói cho đúng ra không ai hiểu cả.
- Hugh Chandler cũng vậy ư?
Diana không trả lời ngay. Poirot hỏi thêm:
- Chắc hẳn lúc ấy anh ta cũng không hiểu tại sao, anh ta cũng ngạc nhiên. Nhưng bây giờ thì sao?
- Cách đây một tuần… anh ấy nói cha mình có lý…đây là việc duy nhất phải làm…
- Cô có hỏi tại sao không?
- Tôi có hỏi. Nhưng anh ấy không muốn trả lời.
Hercule Poirot suy nghĩ một lát.
- Những tháng gần đây trong làng có chuyện gì xảy ra không? Có chuyện gì làm mọi người ngạc nhiên, sau đó nói truyền tai nhau không?
- Tôi không hiểu ông định nói gì! – Cô gái hỏi vặn lại.
- Tốt hơn cả là cô nên trả lời – Poirot nói một cách nhẹ nhàng nhưng rất quả quyết.
- Không có chuyện gì cả… không như ông nghĩ đâu!
- Tại sao?
- Ông thật là quá quắt! Ở nông thôn thì ngày nào chẳng có chuyện… những chuyện trả thù… hoặc những chuyện ngu ngốc.
- Có những chuyện gì?
- Người ta đã làm náo động lên vì mấy con cừu – Cô gái buộc lòng phải nói – Chúng bị cắt cổ. Ô! Thật là kinh sợ! Nhất là ở cùng một trang trại; chủ trại là một người rất bướng bỉnh. Cảnh sát cho rằng đây là kết quả của một vụ thù oán.
- Người ta có bắt được thủ phạm không?
- Không… Nhưng nếu ông nghĩ… - Cô ta nói với vẻ bực dọc.
Poirot giơ một cánh tay.
- Cô không hiểu tôi đang nghĩ gì đâu. Cô nói xem, người chồng chưa cưới của cô có đi khám bác sĩ không?
- Không.
- Đơn giản thế ư?
- Anh ấy không muốn… Anh ấy không ưa các bác sĩ.
- Còn ông bố?
- Với người cha thì đây chỉ là những ông lang vườn.
- Ông đô đốc hải quân Chandler thì sao? Ông ta vẫn mạnh khỏe và hạnh phúc chứ?
- Ông ấy đã già đi rất nhanh…
- Từ năm ngoái ư?
- Vâng. Bây giờ ông ấy chỉ còn là cái bóng của mình ngày xưa thôi.
- Lúc đầu ông ta tán thành chuyện cầu hôn, đúng không?
- Vâng. Trang trại của cha mẹ tôi ở ngay bên trang trại của ông ấy. Có từ ba đời nay. Ông ấy rất vui mừng khi thấy chúng tôi gắn bó với nhau, Hugh và tôi.
- Còn bây giờ thì sao? Ý kiến của ông ta đối với vụ từ hôn này ra sao?
- Tôi đã gặp ông Chandler vào hôm qua – Cô gái nói với giọng run run – Mặt ông ấy tái nhợt. Hai tay ông nắm lấy tay tôi. “Thật là nghiệt ngã đối với cháu, cháu gái, ông ấy nói với tôi, nhưng Hugh có lý… nó đã làm việc duy nhất phải làm”.
- Và hôm nay cô đến gặp tôi ư?
- Vâng. Ông có thể giúp tôi được gì không?
- Tôi không biết. Nhưng trước hết tôi phải tới tận nơi để nắm tình hình đã.
*
0
Diana đã gọi điện thoại mời ba vị khách tới nhà mình để dùng trà. Mọi người đang ngồi ở tiền sảnh.
Hugh Chandler đã gây một ấn tượng mạnh với Hercule Poirot. Cao lớn, cân đối, ngực và vai nở nang và một mái tóc dày. Anh ta rắn rỏi và thở mạnh.
Ông đô đốc, tóc bạc trắng, có phần già trước tuổi, lưng còng như đang mang một gánh nặng, mắt thâm quầng và có vẻ ủ ê. Bạn ông, ông đại tá George Frobisher thì ngược lại. Nhỏ nhắn, gầy khô, tóc hung, hai bên thái dương đã có những sợi bạc, ông luôn luôn hoạt động như một con cáo. Ông này có thói quen hay chau đôi lông mày trên cặp mắt sắc sảo, đầu cúi thấp để nhìn rõ mặt người đang tiếp chuyện.
- Người mẫu, đúng không? – Ông đô đốc nói khi nhận ra Poirot đang chăm chú nhìn chàng trai.
Hercule Poirot khẽ gật đầu. Anh ngồi ngay bên ông đại tá. Ba người kia ngồi đầu bàn đối diện đang chuyện trò có phần nào gượng gạo.
- Phải, anh ta rất đẹp trai – Người thám tử trả lời – Một con bò mộng… một con bò mộng thực sự.
- Anh chàng đúng khuôn mẫu, phải không?
Ông Frobisher cất tiếng hỏi anh rồi nói tiếp:
- Tôi biết ông là ai rồi.
- Nhưng đây không phải là điều bí mật! – Poirot giơ tay trả lời như muốn nói mình không đi một cách bí mật đâu.
- Cô gái đã cho ông biết về vụ này chưa?
- Vụ nào?
- Về vấn đề của anh Hugh… phải, tôi thấy hình như ông đã biết tất cả. Nhưng tôi tự hỏi tại sao cô ta lại đến tìm ông… tôi không nghĩ đây lại là lĩnh vực công việc của ông… hãy nghe tôi, đây là công việc của ngành y tế.
- Tôi quan tâm đến tất cả mọi việc… ông sẽ còn ngạc nhiên nữa.
- Tôi không biết Diana mong đợi gì ở ông.
- Cô Maberly là người có tính chiến đấu cao.
- A! Là như vậy, đúng thế – Ông đại tá xác nhận một cách nồng nhiệt - Đây là một cô gái can đảm. Cô ta không bao giờ chịu bỏ cuộc. Nhưng, lúc này có những cái không thể chiến đấu được…
Ông ta có vẻ mệt mỏi và già đi.
Poirot hạ thấp giọng.
- Tôi có thể biết trong gia đình đã có người nào đã mắc… chứng điên không?
- Phải, lúc này, lúc khác – Ông Frobisher nói nhỏ – Cách đây hai, ba thế hệ. Người cuối cùng là ông nội của Hugh.
Poirot nhìn sang đầu bàn bên kia. Diana đang cười nói với Hugh. Người ngoài thì cho là không một ai trong hai người đang có những buồn phiền.
- Điên như thế nào? – Poirot hỏi khẽ.
- Ông già ngày càng trở nên bạo ngược. Ba mươi năm trước ông cụ vẫn bình thường. Sau đó có những hành động lạ lùng. Những người xung quanh bắt đầu xầm xì. Cuối cùng thì… ông cụ điên rồ quá mức, ông cụ khốn khổ. Điên rồ tới mức giết người! Người nhà phải giam ông cụ lại.
Ông ta ngừng lời một thoáng.
- … Ông cụ sống rất lâu, tôi cho là như vậy… Hugh rất sợ ông nội, đúng thế. Do đó tại sao ông cụ không đi gặp thày thuốc. Ông cụ tự giam mình trong nhiều năm. Tôi không chê trách gì ông cụ, nếu là tôi, tôi cũng sẽ làm như vậy.
- Thế còn ông đô đốc, ông ta nghĩ sao?
- Ông ấy hoàn toàn suy sụp.
- Ông ta có yêu thương con trai mình không?
- Ông ấy chỉ sống vì con trai. Ông hãy hiểu cho, vợ ông đã bị chết đuối khi Hugh mới mười tuổi. Từ đấy ông đô đốc hết lòng vì con.
- Ông ta có yêu vợ không?
- Ông ấy yêu vợ tha thiết. Mọi người đều tôn thờ bà ta. Đó là một trong những người phụ nữ làm say lòng người mà tôi đã biết. Ông có muốn xem tranh vẽ bà ta không?
- Vâng, tôi rất hài lòng.
0
Frobisher đẩy chiếc ghế.
- Ông Charles Chandler, tôi sẽ cho ông Poirot xem một vài đồ vật – Ông đại tá nói to – Đây là một người am hiểu.
Ông đô đốc giơ tay, trong một cử chỉ mơ hồ. Poirot đi theo Frobisher. Một lát sau, bộ mặt vui vẻ Diana không còn nữa và cô tỏ ra bồn chồn. Hugh cũng vậy, anh ta bối rối trước con người nhỏ bé có bộ ria đen kia.
Trong nhà tối om. Một lát sau Poirot mới nhìn thấy mọi đồ vật. Anh thấy trong nhà có nhiều thứ rất đẹp.
Ông đại tá Frobisher đưa anh tới chỗ treo các bức họa. Chân dung những người trong gia đình Chandler đã qua đời hoặc mất tích đều được trưng bày tất cả trên tường bằng thạch cao. Nam giới với những bộ mặt vui vẻ hoặc nghiêm nghị, trong những bộ triều phục hoặc sĩ quan hải quân. Phụ nữ vận đồ xa-tanh và đeo những chuỗi ngọc.
Ông Frobisher dừng lại trước một bức họa ở một góc tường.
- Đây là tác phẩm của nhà danh họa Open – Ông nói bằng giọng cộc cằn.
Nhà nghệ sĩ thể hiện một phụ nữ cao lớn, tay dắt một con chó săn, bà ta có mớ tóc màu nâu đỏ và vẻ người tràn đầy sức sống.
- Con trai bà ta thì không vẽ ở đây, đúng không? – Ông Frobisher nhận xét.
- Về một ý nghĩa nào đó thì đúng.
- Thật vậy, anh ta không thừa hưởng được sự tế nhị và tính nữ giới của mẹ. Đấy là một phiên bản nam giới… nhưng điều cơ bản…
Ông ta ngừng lời.
- Khi tôi nghĩ đến việc anh ta nhận ở dòng họ Chandler một cái gì thuộc về quá khứ… - Ông ta nói tiếp sau đó một vài giây.
Hercule Poirot rời mắt khỏi bức vẽ để nhìn người cùng đi. George Frobisher vẫn nhìn chằm chằm vào chân dung người phụ nữ.
Hai người đàn ông đều buông tiếng thở dài.
- Ông biết rõ bà ta chứ? – Nhà thám tử hỏi bằng giọng nhẹ nhàng.
- Chúng tôi cùng lớn lên ở đây. Khi tôi sang Ấn Độ thì bà ấy mới có mười sáu tuổi… Khi tôi trở về… bà ấy đã lấy ông Charles Chandler.
- Ông cũng biết rõ ông ấy chứ, cả ông ấy nữa?
- Charles là một trong những người bạn thời thơ ấu của tôi… người bạn tốt… ông ấy bao giờ cũng vậy.
- Ông vẫn thường gặp họ sau khi họ kết hôn chứ?
- Mỗi kỳ nghỉ phép tôi đều tới đây. Charles và Caroline vẫn giành sẵn cho tôi một phòng riêng.
Ông Frobisher ưỡn ngực và hếch cằm với vẻ như sẵn sàng làm mọi việc.
- Do đó tại sao tôi thường có mặt ở đây… phòng khi người ta cần đến tôi.
- Và ông nghĩ thế nào về việc này? – Poirot hỏi.
Ông Frobisher nhăn mặt.
- Thật thà mà nói, tôi không hiểu ông có thể làm gì được trong vụ này – Ông ta nhấn mạnh – Tôi không hiểu tại sao Diana lại kéo ông tới đây.
- Ông biết việc Hugh Chandler hủy bỏ hôn ước với Diana Maberly chứ?
- Đúng, tôi biết.
- Ông có biết rõ lý do không?
- Tôi không quan tâm tới việc đó – Ông Frobisher nói bằng giọng bực mình – Bọn trẻ hành động theo ý thích của chúng. Tôi không quan tâm.
- Hugh Chandler nói với Diana rằng mình không có quyền lấy cô vì anh ta đã mất trí.
Trán của ông Frobisher lấm tấm mồ hôi.
- Tại sao lại nói những chuyện tệ hại ấy? Và ông cho rằng tôi có thể giải quyết được ư? Hugh biết mình phải làm gì, anh chàng khốn khổ ấy. Đây không phải là lỗi của anh ta… di truyền… Anh ta đã làm việc phải làm.
- Nếu tôi có thể tin chắc…
- Ông có thể tin ở tôi.
- Nhưng ông không nói gì cả.
- Tôi không muốn nói.
- Tại sao ông đô đốc hải quân Chandler lại bắt con trai ra khỏi hải quân?
- Vì ông ta thấy không thể làm khác được.
- Tại sao?... Cái đó có liên quan gì đến những con cừu bị chọc tiết không? – Poirot nhẹ nhàng hỏi.
- Ông cũng biết cả chuyện này nữa ư? – Người cùng đi bực mình hỏi lại.
- Diana đã kể lại với tôi.
- Đang lẽ cô ấy phải yên lặng!
- Theo cô ta thì đây là việc không có gì là quan trọng.
- Cô ấy đã biết những gì?... Ô! Vì cần phải như vậy! – Ông Frobisher nói với vẻ miễn cưỡng – Một đêm ông Charles Chandler nghe thấy tiếng động. Ông ấy cho rằng có một kẻ nào đó đã đột nhập vào trong nhà. Ông thấy có ánh đèn trong phòng của con trai. Hugh đang ngủ rất say, quần áo dính đầy máu… trong chậu rửa mặt cũng có máu… Người cha không thể đánh thức con được. Sáng hôm sau ông nghe thấy người ta nói có những con cừu bị cắt cổ. Ông ấy đã hỏi Hugh. Anh ấy không nhớ gì cả… cũng không hề ra khỏi phòng… nhưng giày của anh dính đầy bùn. Anh ấy không thể giải thích được, anh ấy không biết gì cả! Ông Chandler tới hỏi ý kiến tôi… nhưng rồi liên tiếp ba đêm sau hiện tượng trên lại diễn ra…
- Rồi sau đó thì sao? – Poirot hỏi.
- Tôi sẽ không trả lời một câu hỏi nào nữa! Hơn ai hết, Hugh biết rõ việc phải làm.
Hercule Poirot thấy không cần thiết phải cãi lại điều ông ta cho rằng chỉ có mình ông mới biết cách giải quyết việc này ra sao.

*
0
Họ gặp ông đô đốc hải quân Chandler ở tiền sảnh đang định vào trong nhà.
- Ô! Hai ông ở đây rồi – Ông ta nói nhỏ và mơ hồ – Ông Poirot, tôi muốn nói chuyện với ông. Mời ông vào văn phòng của tôi.
Frobisher tránh sang một bên và Poirot đi theo ông đô đốc với cảm giác đi theo một người mạnh khỏe hoạt bát để báo cáo công việc.
Chandler chỉ một chiếc ghế và Poirot ngồi xuống.
Poirot thấy những ý kiến của Frobisher là đúng. Chandler như đang trong cơn thất vọng sâu sắc…
Ông đô đốc thở dài.
- Tôi thấy làm tiếc khi Diana dính líu vào những việc này… Cô gái khốn khổ, Tôi biết cô ấy rất buồn phiền. Nhưng… tóm lại, xin ông hiểu cho, ông Poirot, trong bi kịch riêng của gia đình, chúng tôi không muốn nói chuyện này với người ngoài.
- Tôi biết rất rõ tình cảm của ông.
- Diana, cô bé khốn khổ… không thể tưởng tượng được, cả tôi cũng vậy, ngay từ đầu. Chắc chắn là tôi vẫn không hiểu được nếu tôi không biết…
- Biết gì?
- Rằng cái tì tật đó đã có sẵn trong dòng máu của gia đình.
- Lúc đầu ông tán thành cuộc hôn nhân này chứ?
Ông đô đốc đỏ mặt.
- Ông muốn nói rằng tôi có thể phản đối được ư? Nhưng lúc đó, tôi không nghĩ đến. Hugh rất giống mẹ… không ai nghĩ đến những người trong gia đình Chandler cả. Cho đến lúc này con trai tôi không có vẻ gì là khác thường cả.
- Ông không đưa anh ta đi khám bệnh ư?
- Không – Ông đô đốc càu nhàu – tôi không bao giờ làm như vậy! Con trai tôi được an toàn khi ở đây, cùng với tôi. Người ta không thể giam nó trong bốn bức tường như con dã thú được…
- Anh ta được an toàn. Nhưng những người khác thì sao?
- Ông muốn nói gì?
Poirot không trả lời nhưng nhìn thẳng vào mắt ông đô đốc.
- … Đúng là méo mó nghề nghiệp! Ông muốn tìm một kẻ phạm tội ư? Con trai tôi không phải là kẻ mà ông tìm, ông Poirot.
- Chưa hết đâu.
- “Chưa hết đâu” là thế nào?
- Chuyện về những con cừu thì sao?
- Ai đã nói với ông chuyện này?
- Diana Maberly. Và cả bạn ông, ông đại tá Frobisher nữa.
- Đáng lẽ George phải ngậm miệng mới phải.
- Đây là người bạn cũ của ông, đúng không?
- Người bạn tốt nhất của tôi – Ông đô đốc nói bằng giọng cục cằn.
- Ông ta cũng là bạn của vợ ông nữa chứ?
Chandler mỉm cười.
- Phải. George đã rất say mê Caroline, tôi tin là như vậy. Khi cô ta còn rất trẻ. Tôi cho rằng vì lý ấy mà suốt đời ông ấy không bao giờ lấy vợ. Tôi rất sung sướng khi là người thắng cuộc… Nhưng tôi đã thắng để rồi mất cô ta.
Ông thở dài, đôi vai sụp xuống.
- Ông đại tá Frobisher có ở bên hai người khi vợ ông bị chết đuối không?
- Có. Ông ấy đã đi cùng chúng tôi đến Cornouaille. Nhưng sau đó tôi cùng vợ tôi đi dạo và việc đó đã xảy ra. Tôi cũng không hiểu tại sao con thuyền lại đi ra biển… rất nhanh. Tôi đã giữ lấy vợ tôi theo sức khỏe của tôi…
Tiếng nói của ông vỡ ra.
- Hai ngày sau đó, xác của vợ tôi dạt vào bờ. Ơn trời hôm ấy chúng tôi không mang theo thằng Hugh. Lúc ấy tôi chưa nghĩ gì… Nhưng sau đó tôi cho rằng cái đó có khi lại là hay cho nó… Tất cả đã kết thúc… Chúng tôi là những người cuối cùng của dòng họ Chandler, thưa ông Poirot. Khi Hugh cầu hôn, tôi hy vọng… cuối cùng… thật vô ích khi nói thêm nữa. Ơn trời may mà chúng nó chưa lấy nhau. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói.
*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-09-19 14:40:59khachxa>
[font="Times New Roman"]Hercule Poirot đang ở vườn hồng cùng Hugh Chandler. Diana Maberly vừa bỏ đi làm một việc gì đó.
Chàng trai quay bộ mặt đau khổ lại với người cùng đi dạo.
- Ông Poirot, cần làm cho cha tôi hiểu Diana là người không chịu khuất phục hoàn cảnh. Cô ấy sẽ không chịu xuôi tay… Cô ấy vẫn tin rằng tôi không bị mất trí.
- Còn anh thì anh tin rằng… xin lỗi… mình đã bị điên ư?
Chàng trai rùng mình.
- Tôi chưa hoàn toàn tin mình bị như vậy… nhưng sự việc vẫn cứ xảy ra. Diana không biết những việc đó. Cô ấy chỉ gặp tôi khi tôi hoàn toàn tỉnh táo.
- Việc gì đã xảy ra khi anh không hoàn toàn tỉnh táo?
- Trước hết, tôi nằm mơ. Và mỗi khi nằm mơ như vậy thì tôi trở thành điên. Hôm qua chẳng hạn, tôi không còn là con người nữa. Thoạt tiên tôi hóa thành một con bò mộng… một con bò mộng đang giận dữ, miệng đầy máu và bụi. Rồi tôi lại hóa thành con chó, một con chó dại rất lớn… khi thấy tôi trẻ con bỏ chạy và người lớn thì nã đạn vào tôi… một người nào đó đã cho tôi một bát nước, nhưng tôi không thể nào uống được… cũng không thể nào nuốt được… Ôi, Thượng đế!...
Hai tay Hugh Chandler ôm lấy đầu gối. Mặt cúi xuống, mắt lim dim như đang nhìn một cái gì đó đang tiến lại bên mình.
- Không chỉ có vậy. Tôi đã nhìn thấy nhiều con ma ghê sợ khi tôi đã tỉnh ngủ hắn. Nhiều khi tôi đã cùng bay với những con ma ấy!
- Ô! Ô! – Hercule Poirot kêu lên.
- Ô! Nhưng đây là sự thật hoàn toàn. Cái đó ở trong máu tôi. Đây là sự di truyền trong gia đình. Tôi không thể thoát ra được. Ơn trời, may mà tôi nhận ra kịp thời trước khi cưới Diana. Ông hãy hình dung xem, nếu có con thì chúng tôi sẽ ra sao?
Anh ta đặt bàn tay lên cánh tay của Poirot.
- Ông cần cho cô ấy biết chuyện này. Cô ấy cần quên tôi đi. Cô ấy sẽ đi tìm một người khác. Có anh Steve Graham đang rất mê cô ấy, đây là một chàng trai tốt. Cô ấy sẽ sung sướng khi sống bên anh ta… một cách trung thực. Đúng là Graham không giàu, cha mẹ cô ta cũng vậy, nhưng không có tôi họ sẽ giải quyết tốt công việc…
- Tại sao khi không có anh thì họ sẽ giải quyết tốt công việc? – Nhà thám tử hỏi.
Hugh Chandler cười hiền hậu:
- Mẹ tôi rất giàu. Tôi được thừa kế của bà. Tôi tặng lại cho Diana tất cả.
- A!... Nhưng anh sẽ sống cho đến khi rất già, anh Chandler.
Chàng trai lắc đầu.
- Không, không phải như vậy – Anh nói một cách bất chợt (và cũng bất chợt rùng mình) – Trời ! Ông nhìn xem, ngay bên cạnh ông, một bộ xương người… đang vẫy gọi tôi.
Hugh nhìn ra giữa nắng, đồng tử giãn ra. Sau đó anh ta gục xuống.
- Ông không nhìn thấy gì ư? – Anh ta hỏi Poirot với giọng như trẻ con.
Poirot chậm chạp lắc đầu.
- Đây nữa… đối với tôi cũng thế thôi. Chính là máu làm tôi sợ. Máu trong phòng ngủ, trên quần áo của tôi… Nhà tôi có một con vẹt. Một buổi sáng người ta thấy con vẹt trong phòng tôi, cổ bị cắt đứt… còn tôi thì đang ngủ, một lưỡi dao cạo dính máu trên tay.
Anh ta quay sang Poirot.
- Cuối cùng, trong làng cừu và chó bị giết chết. Cha tôi khóa chặt cửa phòng tôi mỗi buổi tối… nhưng thỉnh thoảng cửa lại bị mở ra vào sáng hôm sau. Tôi có một chiếc chìa khóa riêng, nhưng tôi không nhớ là đã để nó ở đâu. Tôi không làm những việc này, cái gì đó đã chiếm hữu tinh thần của tôi, biến tôi thành một con thú khát máu và không thể uống nước được…
Anh ta úp mặt vào hai bàn tay.
- Tôi biết anh không đi khám thày thuốc – Poirot nói sau đó một vài phút.
- Thế ư? Về thể chất, tôi hoàn toàn mạnh khỏe như một con bò. Tôi có thể sống nhiều năm… nhiều năm trong sự giam hãm! Không, tôi sẽ không chịu thế đâu. Có những cách giải quyết khác. Một tai nạn… trong khi lau súng chằng hạn. Diana sẽ hiểu ra… Tôi muốn kết thúc cuộc đời theo cách của tôi.
Hugh nhìn nhà thám tử bằng cặp mắt thách đố, nhưng người này không chú ý mà chỉ hỏi anh ta một câu đơn giản:
- Hàng ngày anh ăn gì và uống gì?
Hugh Chandler ngả người về phía sau và cười lớn.
- Có những giấc mơ là do ăn uống không tiêu ư? Ông muốn nói như vậy sao?
- Hàng ngày anh ăn gì và uống gì? – Poirot vẫn nhẹ nhàng hỏi.
- Cũng như mọi người khác!
- Không dùng thuốc chứ? Thuốc viên? Thuốc bột?
- Trời! Không. Ông cho rằng những thứ ấy có thể chữa khỏi bệnh cho tôi ư?
- Trong nhà này có ai bị rối loạn thị giác không?
Hugh Chandler hốt hoảng nhìn Poirot.
- Cha tôi thường bị như vậy. Ông bị rối loạn thị giác.
- A!
Poirot suy nghĩ một lúc:
- Ông đại tá Frobisher đã sống ở bên Ấn Độ trong một thời gian dài, đúng không?
- Đúng. Ông ấy ở trong một đơn vị quân đội đóng ở Ấn Độ. Ông ấy rất am hiểu nước này… ông thường nói về xử sở này… những phong tục, tập quán ở đây… tất cả…
- A! – Poirot dằn giọng nhắc lại.
- Anh cạo mặt bị sứt cằm đấy ư? – Poirot lưu ý Hugh.
Hugh đưa tay lên mặt.
- Vâng, vết sứt quá sâu. Cha tôi tới trong lúc tôi đang cạo mặt. Lúc ấy tôi đãng trí. Tôi đã làm xước cằm và cổ. Cái đó làm khó khăn cho việc cạo mặt sau này.
- Anh cần bôi kem làm dịu da.
- Tôi đã dùng kem mà bác George đưa cho – Bỗng nhiên Hugh cười lớn – Chúng ta đang nói như những nhân viên trong cửa hàng dược phẩm: thuốc an thần, kem làm dịu da, rối loạn thị lực… Tất cả những cái đó là gì? Ông muốn câu chuyện đi tới đâu đây, ông Poirot?
- Tôi đang cố gắng làm tất cả những gì để giúp được cô Diana Maberly – Poirot bình tĩnh trả lời.
Nét mặt của chàng trait hay đổi và trở nên nghiêm trọng hơn. Anh ta đặt tay vào cánh tay của Poirot.
- Phải, ông hãy làm việc ấy. Nói với Diana là hãy quên đi… không còn hy vọng gì nữa. Kể lại cho cô ấy nghe những chuyện mà tôi đã nói với ông… Nói với cô ấy là hãy tránh xa tôi ra! Đây là việc duy nhất mà ông có thể giúp tôi lúc này. Ra đi và quên hết~

*
0
- Cô có can đảm không, thưa cô. Rất can đảm. Đây là cái mà cô đang cần.
- Ôi, đúng ư? – Diana kêu lên – Anh ấy điên thật ư?
- Tôi không phải là thày thuốc tâm thần, thưa cô. Tôi không có quyền nói “người này điên, người kia không điên”.
- Ông đô đốc hải quân Chandler cho rằng anh ấy điên, ông đại tá George Frobisher cũng cho là như vây. Hugh, cả anh ấy nữa, cũng cho rằng mình điên.
- Còn cô thì sao?
- Tôi ư? Tôi nói anh ấy không phải như vậy! Do đó tại sao…
- Do đó tại sao cô đến tìm tôi, đúng không?
- Phải. Tôi còn cách nào khác được?
- Đây đúng là câu hỏi mà tôi muốn đặt ra cho cô, thưa cô.
- Tôi không hiểu.
- Stephen Graham là ai?
Cô gái có vẻ ngạc nhiên.
- Stephen Graham ư? Đúng… đây là một chàng trai – Cô gái nói và nắm lấy cánh tay anh – Ông đang nghĩ gì? Ông đang ở đây mà chẳng nói gì với tôi cả. Ông làm tôi sợ. Tại sao?
- Có thể – Poirot trả lời – vì bản thân tôi cũng đang rất sợ.
Đôi mắt cô gái mở to.
- Sợ cái gì? – Cô lẩm bẩm.
Hercule Poirot thở dài:
- Bắt một kẻ giết người thì dễ hơn nhiều việc phòng ngừa một kẻ giết người – Anh nói.
Diana kêu lên:
- Ôi! Không nên dùng câu đó.
- Cần phải như vậy – Poirot trả lời.
Rồi anh thay đổi cách nói, có vẻ ra lệnh nhiều hơn.
- Thưa cô, đêm nay chúng ta, cô và tôi, cần nghỉ lại ở Lyde Manor. Rất cần thiết. Cô có thể giải quyết được việc này không?
- Được… chắc chắn là được. Nhưng tại sao?
- Vì không nên để mất thời gian. Cô nói là mình can đảm, cô hãy chứng minh cái đó. Cô hãy làm như tôi nói và không nên hỏi gì cả.
Cô ta gật đầu và ra về mà không nói gì thêm.
Một vài phút sau anh cũng theo cô gái đi vào trong nhà. Trong phòng đọc sách, cô gái đang nói gì đó với ba người đàn ông. Anh lên lầu một. Không có ai trên cầu thang.
Không khó khăn gì lắm để tìm phòng của Hugh Chandler. Trên một ngăn giá bằng kính trong phòng vệ sinh có rất nhiều chai lọ.
Hercule Poirot bắt đầu công việc. Một lát sau anh xuống tiền sảnh và gặp cô gái, má đỏ và mắt sáng lên từ phòng đọc sách bước ra.
- Xong rồi! – Diana nói.
Đến lượt ông đô đốc đi ra và mời nhà thám tử vào phòng đọc sách và chính ông ta khép cửa lại rồi nói:
- Thưa ông Poirot, tôi không thích chuyện này.
- Chuyện gì vậy, thưa đô đốc?
- Diana đã nài nỉ tôi cho hai người nghỉ qua đêm ở đây. không phải là tôi không hiếu khách nhưng… thật thà mà nói, ông Poirot, tôi không thích như vậy. Tôi không hiểu. Để làm gì kia chứ?
- Cứ nói là tôi muốn làm một cuộc thí nghiệm.
- Thí nghiệm gì?
- Xin lỗi ông, đây là việc của tôi…
- Nhưng, thưa ông, tôi không mời ông tới đây…
Poirot ngắt lời ông ta:
- Xin ông hãy tin tôi, ông đô đốc, tôi hiểu ý ông. Tôi tới đây vì sự bướng bỉnh của một cô gái. Ông nói thế này, ông Frobisher nói thế kia còn Hugh thì nói rất khác. Bây giờ tự tôi phải biết rõ sự thật.
- Nhưng sự thật nào kia chứ? Tôi đã nói rồi, ở đây chẳng có gì phải xem xét cả! Hàng đêm tôi nhốt con trai tôi trong phòng, đó là tất cả!
- Nhưng sáng nay cửa phòng của anh ta không khóa, anh ta nói với tôi như vậy.
- Sao?
- Tự ông có thể lên đó xem.
Ông Chandler cau mày.
- Tôi cho rằng ông George đã mở… Ông nghĩ thế nào?
- Ông để chìa khóa ở đâu? Cắm trong ổ khóa ư?
- Không. Trên một cái dầm chìa ra ở bên cạnh. Ngoài tôi thì ông George hoặc Withers, người hầu phòng, cũng có thể lấy chìa để mở khóa. Chúng tôi đã bảo Withers rằng Hugh bị mộng du… Đây là một đày tớ trung thành. Nó đã ở đây nhiều năm rồi.
- Ngoài ra có chìa khóa nào khác nữa không?
- Theo tôi biết thì không.
- Người ta có thể làm một chìa khóa khác.
- Nhưng đó là ai?
- Con trai ông cho rằng mình đã giấu nó ở đâu nhưng không nhớ ra.
Ông đại tá Frobisher chợt đi vào và lên tiếng:
- Tôi không thích như vậy, Charles… Cô gái…
- Đúng như tôi đã nghĩ – Ông đô đốc nói ngay – Cô ta không nên cùng ông tới đây. Ông thì tùy, nhưng…
- Tại sao ông không muốn cô Maberly có mặt ở đây đêm nay?
- Có thể gặp rủi ro – Ông Frobisher nói bằng giọng trầm. Trong trường hợp ấy…
- Hugh rất yêu Diana – Poirot lưu ý hai người.
- Chính vì lý do ấy – Ông Chandler kêu lên – Mẹ kiếp, ông bạn, phải công nhận đây là vấn đề người điên. Hugh cũng thấy như vậy. Diana không nên tới đây.
- Nếu vậy – Poirot đáp – thì cô ấy tự quyết định.
Anh đi ra. Đứng bên chiếc xe nơi Diana đang đợi anh. Cô gọi nhà thám tử.
- Nào chúng ta hãy đi mua sắm những thứ cần cho đêm nay. Chúng ta sẽ về kịp dùng bữa chiều.
Trên đường, Poirot kể lại cho cô gái nghe câu chuyện giữa ba người vừa rồi.
Diana bật cười.
- Họ cho rằng Hugh sẽ đem lại chuyện không hay cho tôi ư?
Thay vì trả lời, Poirot hỏi cô có thể cho anh ghé vào cửa hàng dược phẩm trong làng không. Anh đã quên mang bàn chải răng.
Trên xe cô gái đợi anh đi mua sắm. Cô thấy anh đã mất rất nhiều thời gian để mua bàn chải răng…

*
0
Hercule Poirot không nằm trên chiếc giường rộng mà ngồi trên ghế bành để đợi… Anh không có việc gì khác nữa.
Khi trời bắt đầu hửng sáng thì sự việc xảy ra.
Nghe thấy tiếng chân người ngoài hành lang, Poirot gạt chốt và mở cửa phòng. Ông đô đốc sững sờ, ông đại tá bối rối, cả hai đều run rẩy ở trước cửa.
- Ông có thể đi theo chúng tôi không, ông Poirot? – Ông Chandler nói.
Trước cửa phòng của Diana Maberly, một người đàn ông đang ngồi gục mặt xuống. Ánh sáng chiếu vào mớ tóc bù xù của anh ta.
Hugh Chandler đang thở hổn hển. Tay phải của anh ta đang cầm một con dao bằng thép, lưỡi cong. Lưỡi dao có những vết đỏ.
- Trời! – Poirot kêu lên.
- Cô gái vẫn bình yên – Frobisher nói với giọng khô khốc – Anh ta chưa động đến cô gái.
Rồi ông gọi to:
- Diana! Chúng tôi đây! Mở cửa ra!
Poirot nghe thấy tiếng lẩm bẩm của ông đô đốc:
- Con trai, con trai khốn khổ của ta.
Có tiếng tháo chốt cửa và Diana hiện ra, mặt tái xanh.
- Có chuyện gì xảy ra? – Cô ta lắp bắp hỏi – Có người nào đó… đã muốn vào phòng tôi… Có tiếng cào trên cửa… Ô! Thật là kinh khủng… Có thể nghĩ đây là một con vật…
- Ơn trời, cô đã gài chặt cửa! – Ông Frobisher nói bằng giọng khô khan.
- Ông Poirot đã dặn tôi phải làm như vậy.
- Nhấc anh ta lên và mang vào trong nhà – Poirot nói.
Hai người dìu chàng trai đang mê man.
Diana cố nén một tiếng kêu.
- Hugh ư? Đúng là anh Hugh chứ? Tay anh ấy đang cầm cái gì kia?
Tay chàng trai mềm nhún và có vết đỏ.
- Máu ư?
Poirot nhìn hai người đàn ông bằng cặp mắt cật vấn.
- Ơn trời, đây không phải là máu người – Ông đô đốc nói – Một con mèo. Tôi đã thấy nó nằm chết dưới tiền sảnh. Cuống họng bị cắt đứt… Có lẽ sau đó Hugh đã chạy lên trên này…
- Trên này ư? – Diana hốt hoảng hỏi lại – Vào phòng tôi ư?
Hugh Chandler bắt đầu cựa quậy trên chiếc ghế mà người ta đã đặt anh vào đấy. Anh đứng lên, mắt chớp chớp.
- Xin chào mọi người. Tại sao tôi lại ở đây? – Anh ta hỏi bằng một giọng như ngái ngủ – Đã có chuyện gì xảy ra?
Anh ngừng nói khi nhìn thấy con dao trên tay.
- Tôi đã làm gì?
Anh ta lần lượt nhìn từng người.
- Tôi đã xâm phạm đến Diana ư?
Cha anh lắc đầu.
- Cho tôi biết đã có việc gì xảy ra? Tôi có quyền biết cái đó!
Người ta nói với vẻ ngập ngừng.
Mặt trời lên. Hercule Poirot vén tấm rèm. Ánh sáng ban mai rực rỡ rọi vào căn phòng…
Nét mặt của Hugh Chandler biến đổi. Anh nói bằng giọng quả quyết:
- Tôi hiểu rồi.
Sau dó anh đứng lên mỉm cười rồi kéo dài giọng:
- Thời tiết tốt, đúng không? – Anh cố lấy giọng bình thường – Tôi cho rằng tôi nên đi dạo trong rừng một vòng và cố kiếm cho được một con thỏ.
Anh bước ra khỏi phòng dưới những cặp mắt ngạc nhiên của mọi người.
Ông đô đốc muốn chạy theo. Frobisher giữ ông bạn lại.
- Không, Charles, không. Đây là cách tốt nhất với cậu ta… Nếu không phải là đối với những người khác.
Diana nằm lăn xuống giường khóc nức nở.
- Ông có lý, George – Ông đô đốc thừa nhận bằng giọng ngập ngừng – Anh ta rất can đảm…
- Đây là một người đàn ông.
Bất chợt ông Chandler cất tiếng:
- Mẹ kiếp! Người ngoại quốc ấy đâu rồi?

*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-09-24 14:51:03khachxa>
Hugh Chandler lấy súng trên giá xuống và bắt đầu nạp đạn thì Poirot đặt tay lên vai anh. Nhà thám tử nhỏ bé chỉ nói một câu nhưng đầy uy lực:
- Không.
- Ông bỏ tay ra. Không nên dính líu vào việc này! Sẽ là một tai nạn! Tôi đã nói với ông rồi, đây là cách duy nhất để thoát ra…
- Không! – Hercule Poirot nhắc lại.
- Ông đã biết nếu Diana không gài chặt cửa thì tôi đã bóp chết cô ấy rồi… Diana!
- Anh sẽ không giết cô Maberly đâu.
- Tôi đã giết con mèo. Ông không thể nói khác được.
- Không, anh không giết con mèo cũng như con vẹt và cả những con cừu nữa.
Hugh ngạc nhiên nhìn anh.
- Trong hai chúng ta thì ai là người điên? Ông hay tôi?
- Không ai điên cả.
Cùng lúc ấy đô đốc Chandler và đại tá Frobisher bước vào phòng, theo sau có Diana.
- Ông này nói rằng tôi không điên… - Hugh nói với những người mới đến bằng giọng run rẩy.
- Tôi lấy làm sung sướng để báo tin rằng anh hoàn toàn tỉnh táo – Nhà thám tử khẳng định một lần nữa.
Hugh bật cười, cười như một thằng ngốc.
- Thật là kỳ cục! Hoàn toàn tỉnh táo mà lại đi giết những con vật mà tôi bắt gặp. Ông cho rằng tôi là người bình thường khi làm những việc ấy ư?
- Tôi xin nhắc lại, không phải anh là người giết các con vật ấy.
- Vậy thì ai?
- Mỗi khi người ta cho anh dùng một liều thuốc gây ngủ mạnh và người ta đặt vào tay anh một con dao hoặc một lưỡi dao cạo dính máu.
- Nhưng tại sao?
Poirot quay sang ông đại tá Frobisher.
- Thưa đại tá, ông đã sống nhiều năm ở Ấn Độ, đúng không? Ông có thấy những người dùng ma túy quá liều lượng cho phép đã phát điên lên như thế nào không?
Mắt của ông đại tá sáng lên:
- Tôi không tận mắt nhìn thấy nhưng có nghe nói đến chuyện này. Người ta dùng cà độc dược (datura).
- Đúng thế. nguyên tắc dùng cà độc dược gần giống với ancaloide atropine mà người ta thu được chất benladon. Việc bào chế benladon để có được suynfat atropine dùng vào việc chữa mắt là rất dễ dàng. Sau khi đi hỏi ý kiến các dược sĩ, người ta có thể làm ra chất độc này mà không gây ra sự nghi ngờ nào. Khi có được chất này người ta có thể để nó lẫn vào ví dụ như kem cạo râu chẳng hạn. Sau khi dùng, người ta thấy trên mặt có những vết đỏ. Và cứ như thế người dùng sẽ bị khô miệng, khó nuốt, hoang tưởng mà ông Chandler đã làm thí nghiệm.
Poirot quay về phía chàng trai.
- Để không còn chút nghi ngờ nào, tôi cho anh biết: trong kem cạo mặt của anh có chất suynfat atropine. Tôi đã mang nó đi phân tích.
Hugh tái mặt và run rẩy.
- Ai đã làm việc này? Tại sao?
- Tôi đã hình dung ra câu chuyện. Hình tam giác muôn thuở: hai người đàn ông và một phụ nữ. Đại tá Frobisher yêu mẹ anh nhưng bà ấy lại đi lấy đô đốc Chandler.
- George! George! – Ông đô đốc kêu lên – Tôi không tin.
- Ông muốn nói sự thù hận đã đổ vào đầu… người con trai ư? – Hugh hỏi với vẻ hoài nghi.
- Theo một nghĩa nào đó thì đúng.
- Đây là sự nói dối đến cực điểm! Tôi không tin, Charles.
Ông đô đốc đang bước giật lùi.
- Cà độc dược… Ấn Độ… Tôi hiểu… - Ông lẩm bẩm – Chúng tôi không khi nào nghĩ đến cà độc dược có thể gây ra sự điên rồ trong gia đình.
- Đúng thế – Hercule Poirot nói bằng giọng mạnh mẽ - Chứng điên rồ ở trong máu. Một người điên thèm khát việc trả thù… Khôn khéo che giấu những triệu chứng điên rồ trong nhiều năm.
Anh đột nhiên quay sang ông đại tá:
- Trời! Chắc hẳn ông đã nghi ngờ, sau đó là biết rõ Hugh chính là con trai của ông, đúng không? Tại sao không bao giờ ông nói chuyện này với anh ta?
Ông đô đốc Chandler lẩm bẩm một câu gì đó và nuốt nước bọt một cách khó khăn.
- Tôi không biết – Ông đại tá Frobisher nói – Tôi không tin chắc… Một hôm Caroline đến tìm tôi với vẻ bồn chồn và lo ngại… Cô ấy đang sợ một cái gì đó. Tôi không biết là chuyện gì. Cô ấy… Tôi… Chúng tôi đã mất trí. Sau đó tôi ra đi… Đây là việc duy nhất phải làm. Tôi… tôi đã tự hỏi… Nhưng Caroline không hề nói gì tới việc Hugh là con trai của tôi. Sau đó là những triệu chứng điên rồ. Tôi cho rằng vấn đề đã được giải quyết một cách rõ ràng.
- Ô! Phải! Ông không nhận ra Hugh cũng cau mày như ông, cũng hếch cằm lên như ông. Nhưng ông Charles Chandler đã để ý đến những cái đó, ông ta ấy. Đã nhiều năm… Và người vợ đã thú nhận với chồng. Bà ta vẫn yêu ông Frobisher. Charles Chandler nghĩ cách trả thù. Chỉ một mình ông ta mới biết tại sao bà Caroline lại chết đuối. Sau đó thì sự thù hận đổ vào đầu chàng trai. Anh ta mang họ của đô đốc, nhưng không phải là con trai của ông ta. Những câu chuyện về Ấn Độ của ông đã gợi ý cho ông ta làm cho Hugh phát điên một cách từ từ để rồi anh ta có thể tự sát vì thất vọng. Ông đô đốc Charles Chandler là người khát máu chứ không phải Hugh. Chính Charles Chandler là người cắt cổ những con cừu. Nhưng Hugh là người phải gánh chịu! Ông có biết tôi bắt đầu nghi ngờ từ lúc nào không? Đó là lúc Chandler phản đối việc đưa Hugh đi khám thầy thuốc. Đối với Hugh, người đã tin chắc rằng mình bị điên, thì đây là chuyện bình thường, nhưng người cha! Ông ta không tìm cách nào để chữa chạy cho con trai mình. Và trong trường hợp này, ông ta có thể gặp một rủi ro khác. Đó là thày thuốc sẽ kết luận anh ta hoàn toàn khỏe mạnh.
- Tôi hoàn toàn khỏe mạnh ư? – Hugh chậm chạp hỏi lại.
Sau đó anh ta đến gần Diana.
- Cháu không nên sợ hãi. Dòng họ của ta không ai mắc chứng điên cả.
- Hugh… - Diana lẩm bẩm.
Ông đô đốc Chandler nhặt lấy khẩu súng.
- Toàn là chuyện vớ vẩn! Tôi sẽ đi kiếm một con thỏ.
Hercule Poirot giữ ông Frobisher lại khi ông này muốn chạy theo ông Chandler.
- Đây là cách duy nhất…
Hugh và Diana ra khỏi phòng.
Hai người đàn ông ngồi lại, người Anh và người Bỉ nhìn người mang họ Chandler cuối cùng đi vào rừng và mất hút giữa bóng cây.
Trong rừng có tiếng súng nổ.
0
KẺ BUÔN BÁN MA TÚY

Chuông máy điện thoại reo vang.
- A lô! Ông đấy ư, Poirot?
Hercule Poirot nhận ra giọng nói của Stoddard, người bác sĩ trẻ tuổi. Anh rất quí Michael Stoddart. Nụ cười thân thiện tuy hơi rụt rè, thái độ vô tư khi nghiên cứu những vấn đề về tội phạm và nhất là lương tâm nghê nghiệp của anh ta.
- Tôi có làm phiền ông không? – Chàng trai ngập ngừng hỏi.
- Anh đang lo ngại về vấn đề gì?
- Đúng hế. Ông đã hỏi đúng chỗ – Michael Stoddart nói như được an ủi.
- Tôi có thể giúp anh được việc gì?
- Ông có phiền lòng khi tôi mời ông tới đây vào lúc này không… Nhưng… nhưng… tôi đang rất bối rối…
- Được rồi, tôi đến! Tại nhà anh ư?
- Không… Tôi đang ở số nhà 17, phố Conningley Mews. Ông sẽ tới chứ? Tôi rất cám ơn ông.

*

Lúc này đã một giờ sáng và hầu hết mọi người đang ngủ sâu. Phố xá tối om trừ một hai cửa sổ còn ánh đèn.
Lúc nhà thám tử đến số nhà 17 thì anh đã thấy Stoddart đang đứng đón ở bậc thềm.
- Ông rất đáng mến! – Người bác sĩ nói – Mời ông lên.
Một cầu thang chật hẹp như một chiếc thang dẫn lên lầu một rồi lầu hai. Đây là một căn phòng lớn, trang bị đồ gỗ, có đi-văng, thảm trải, chăn gối và rất nhiều chai rượu, cốc nằm rải rác và một số đã vỡ. Đầu mẩu thuốc lá nằm rải rác khắp nơi.
- Stoddart thân mến – Poirot nói – tôi cho rằng đây là một phòng tiếp khách..
- Phải – Người thày thuốc thừa nhận – Và là một phòng tiếp khách dữ dội.
- Anh có dự buổi tiếp ấy không?
- Không. Tôi tới đây chỉ vì nghề nghiệp của mình thôi.
- Đã có chuyện gì xảy ra?
- Đây là nhà của bà Patience Grace.
- Một cái tên rất thú vị.
- Tại nhà bà Grace này thì chẳng có gì là thú vị cả! Bà ta không xấu… Bà ta đã có hai hoặc ba đời chồng và bây giờ bà ta đang nghi ông chồng hiện tại là không trung thành. Họ bắt đầu bằng việc uống rượu và sau đó là dùng ma túy. Nói chính xác là dùng cô-ca-in. Lúc đầu cô-ca-in cho người ta cái cảm giác mình như là một vị anh hùng có thể làm những việc gây ấn tượng mạnh. Nhưng dùng nhiều quá thì con người sẽ trở thành dễ cáu giận và hung bạo. Bà Grace đã cãi nhau với chồng, ông Hawker. Kết quả: ông ta bỏ đi. Bà vợ ra cửa sổ nhìn theo và bắn ông ta bằng một khẩu súng lục mới tinh mà một người nào đó đã cho bà.
- Bà ấy có bắn trúng không? – Poirot hỏi.
- Không trúng người chồng! Viên đạn cách xa ông này một vài mét và trúng vào một người bới rác khốn khổ. Anh ta đã bị thương ở cánh tay. Cả hàng phố kéo đến và người ta đã khiêng anh ta lên đây. Vết thương chảy rất nhiều máu… Và người ta đã gọi tôi…
- Rồi sao nữa?
- Tôi đã băng bó cho anh ta. Vết thương không nặng. Người ta đã an ủi anh. Anh ta đã nhận được mười hoặc hai mươi li-vrơ và anh ta đã im lặng. Điều đó dường như là sự may mắn cho anh ta, con người khốn khổ.
- Còn anh.
- Tôi đã làm công việc của mình. Bà Grace bị khủng hoảng tinh thần. Tôi tiêm một mũi thuốc an thần và đặt bà lên giường. Tôi cũng phải chữa chạy cho một cô gái nữa. Cô ta mê man, không biết gì nữa. Những người khác thì bỏ chạy hết.
- Anh có thời gian để nghĩ đến tình huống này không?
- Đây không phải là sự say sưa nói chung… Mà là ma túy, một loại bệnh khác hẳn.
- Anh có cho rằng mình đã chẩn bệnh đúng không?
- Tuyệt đối đúng. Không thể sai lầm. Chắc chắn đây là cô-ca-in. Tôi đã thấy thứ này trong một chiếc hộp… Nhưng chất độc này ở đâu tới?
- Cảnh sát có chú ý đến cuộc tiếp khách này không? – Poirot hỏi.
- Có… - Người bác sĩ trẻ trả lời nhưng không mấy vui vẻ.
Poirot chăm chú nhìn người bạn.
- Vậy thì anh lo ngại cái gì?
- Có những người vô tội dính líu vào chuyện này. Cái đó sẽ có ảnh hưởng rất ghê gớm đối với họ.
- Anh có lo ngại cho bà Grace không?
- Trời, không! Bà ta đã tái phạm!
- Thế còn cô gái thì sao? – Poirot nhẹ nhàng gợi ý.
- Theo một nghĩa nào đó thì đúng, cả cô ấy nữa, một tiết mục kỳ cục. Cô ta muốn mình là người số một. Nhưng cô ta còn rất trẻ, có phần nào cuồng nhiệt… như là một con ngựa tuột cương. Cô ta ở trong nhóm người này vì cô ta hình dung là mình sẽ được nổi tiếng.
Poirot mỉm cười:
- Anh đã gặp cô ấy rồi chứ?
Michael Stoddart gật đầu. Có thể nói anh ta đã trở thành một đứa trẻ.
- Tôi đã gặp cô ta ở Metonshire trong một buổi khiêu vũ của những người thợ săn. Cha cô ta là một vị tướng trong đội quân đã từng ở Ấn Độ. Ông tướng có bốn cô con gái, tất cả đều kỳ cục như vậy. Xung quanh họ toàn là những người điên rồ. Trong vùng, những kẻ giàu có thường tìm đến những cuộc vui “quái gở” nhất.
Hercule Poirot suy nghĩ và nhìn người đối thoại.
- Bây giờ thì tôi hiểu tại sao anh lại gọi tôi. Anh muốn giúp tôi giúp anh giải quyết vụ này ư?
- Ông có nhận không? Bổn phận của tôi không phải là như vậy, nhưng tôi muốn Sheila Grant tránh được mọi lời chê trách công khai.
- Cái đó có thể thu xếp được. Tôi có thể gặp cô ấy được không?
- Xin ông đi theo tôi.
Khi hai người rời khỏi phòng khách thì có tiếng kêu ở phòng bên cạnh.
- Bác sĩ! Hãy thương lấy tôi. Bác sĩ, tôi phát điên lên rồi!
Poirot đi theo người thày thuốc vào một phòng ngủ bừa bộn không thể tả nổi. Một phụ nữ tóc vàng do thuốc nhuộm, cặp mắt có lúc lờ đờ, có lúc tinh nhanh đang quằn quại trên chiếc giường chăn gối lộn xộn.
- Ông hãy nhìn những con vật đang bò lúc nhúc kia! Tôi thề là đúng như vậy. Tôi điên rồi. Trời ơi. Hãy tiêm cho tôi một mũi. Bất cứ thuốc gì!
Để mặc người bác sĩ chăm sóc con bệnh, Poirot đi vào một phòng khác xa hơn.
Một phụ nữ khác nằm trong một căn phòng nhỏ trang bị một cách sơ sài.
Đi rón rén, Hercule Poirot đến bên giường và nhìn người đang nằm trên đó. Tóc đen, mặt dài và xanh nhợt và rất trẻ… phải, rất trẻ.
Chiếc chăn màu trắng kéo lên tận mặt và cô gái mở to cặp mắt sợ hãi. Cô ta ngồi lên, hất mớ tóc nặng nề ra phía sau. Có thể nói đây là một cô ngựa non hoảng hốt, sợ hãi khi thấy người lạ.
- Ông là ai?
Giọng nói trẻ con trái ngược với vẻ gay gắt của câu hỏi.
- Cô đừng sợ, thưa cô.
- Bác sĩ Stoddart đâu?
Cùng lúc ấy người thày thuốc trẻ tuổi bước vào trong phòng.
- A! Ông đây rồi! – Cô gái kêu lên như được an ủi – Người này là ai?
Đó là một trong những người bạn của tôi, cô Sheila. Lúc này thì cô ra sao?
- Hãy còn đau đớn lắm… Tại sao tôi lại dùng cái thứ bẩn thỉu ấy?
- Nếu là cô thì tôi không bao giờ mắc lại nữa! – Stoddart nói giọng nghiêm nghị.
- Tôi… tôi… sẽ không dùng nữa.
- Ai đã đưa nó cho cô? – Poirot hỏi.
Cặp mắt mở to, đôi môi run run:
- Ngay tại đây… Mọi người đều dùng thử, tất cả. Thoạt tiên thì rất kỳ diệu.
- Nhưng ai mang nó tới đây? – Poirot căn vặn.
Cô ta lắc đầu:
- Tôi không biết… Có thể là Tony. Tony Hawker. Tôi không biết ai khác.
- Đây có phải là lần đầu cô dùng cô-ca-in không, thưa cô? – Poirot nhẹ nhàng hỏi.
Cô gái gật đầu xác nhận.
- Nhưng đây cũng là lần cuối cùng! – Stoddart nhấn mạnh.
- Vâng… Chắc chắn là như vậy… Nhưng thật là kỳ diệu.
- Nghe rõ đây, Sheila – Người thày thuốc trẻ nói bằng giọng cương quyết – Tôi là bác sĩ và tôi biết điều mình nói. Tôi đã thấy nhiều người nghiện ma túy và thề với cô, họ chẳng đẹp đẽ chút nào. Ma túy tàn phá tất cả. Không bao giờ được đụng đến nó! Hãy tin tôi, việc này chẳng có gì là kỳ cục cả. Cha cô sẽ ra sao khi biết chuyện này?
- Cha tôi ư? – Sheila nhắc lại bằng một giọng the thé – Cha tôi ư? – Rồi cô ta lại cười – Ô! Tôi như trông thấy ông ấy ở đây! Tốt nhất là cha tôi không biết gì cả. Ông ấy sẽ bị một cơn cấp phát mới.
- Và rất chính đáng.
Ở phòng bên có tiếng kêu.
- Bác sĩ… bác sĩ… - Tiếng bà Grace rên rỉ.
Stoddart đi ra miệng làu bàu.
- Đúng ra thì ông là ai? – Sheila hỏi Poirot – Ông không dự buổi tiếp đón tối hôm qua chứ?
- Không. Tôi là bạn của bác sỹ Stoddart.
- Ông cũng là thày thuốc ư? Nhưng trông ông không giống như vậy.
- Tôi là Hercule Poirot – Thám tử trả lời, như người ta nói màn một của vở kịch
Có ngay hiệu quả mong muốn. Poirot cảm thấy buồn vì thế hệ trẻ không biết anh là ai.
Nhưng dù sao Sheila Grant cũng đã nghe nói về anh. Ngạc nhiên và chán ngán cô ta không rời mắt khỏi anh…

*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-01 15:28:18khachxa>
Người ta nói mọi người đều có một bà cô ở Torquay.
Người ta cũng nói ai cũng có một người anh em họ ở Mertonshire. Cách Londres quá xa, ở đây người ta làm nghề săn bắn và đánh cá. Chỉ một vài làng có đường bộ, đường sắt. Những người lao động không chịu tới đây. Kết quả: người ta không thể tới đây để lập nghiệp được.
Hercule Poirot không phải là người Anh, không có bà con họ hàng ở đây, nhưng anh có quan hệ tốt với những người ở đây và được họ mời tới. Chủ nhà của anh là một bà già hiếu khách hay nói chuyện về những người hàng xóm xung quanh.
- Nhà Grant ư? Phải, phải! Có bốn đứa con. Bốn con gái. Tôi không nghi ngờ gì khi ông tướng giữ được chúng. Một người đàn ông có bốn đứa con gái thì có thể làm gì hơn!
Bà Carmichael giơ hai tay lên trời.
- Phải, làm gì hơn? – Poirot xác nhận.
- Tuy nhiên, ở trung đoàn, theo ông ta nói với tôi, ông ấy duy trì một kỷ luật sắt. Nhưng những đứa con gái lại mạnh hơn ông. A! Thời tôi còn trẻ thì không có chuyện này. Ông đại tá Sandys rất nghiêm khắc với các con gái của mình…
Bà kể về những chuyện trong quá khứ:
“Không phải các cô gái nhà Grant không thể dạy bảo được – bà già nói tiếp – Đơn giản là chúng có cái đầu nóng nảy… và chúng không muốn sống ở đây. A! Mảnh đất này đã thay đổi rồi. Những người xa lại tới sinh sống ở đây. Bây giờ chỉ có một thứ đáng kể, đó là tiền. Và những câu chuyện người ta kể lại! Là ai? Anthony Hawker ư? Phải tôi biết anh ta. Một người trẻ tuổi khó gần. Nhưng anh ta nằm lăn trên đống vàng. Anh ta thiết tiệc… tiệc rất đặc biết khiến người ta khó tin. Nhưng con người lại rất ác khẩu. Ông biết đấy, để tỏ ra thông thạo, người ta cam đoan là trong bữa tiệc mọi người đều đã uống rượu và dùng ma túy. Người ta nói bà Larkin, một người bạn của Anthony Hawker, lại nhắm vào những cô gái nhà Grant. Tôi không ưa bà này. Nghe nói đây là bọn ve vãn đàn ông. Tuy nhiên họ rất xinh đẹp.
Chút nữa thì Poirot đã cắt ngang câu chuyện.
- Anh muốn hỏi thêm về bà Larkin ư? Anh bạn, thời nay liệu người ta có thể nói ai là ai không? Bà ta cưỡi ngựa, hình như thế, và lấy làm thích thú. Người chồng ở ngoài thành phố. Ông ta chết chứ không phải ly hôn. Bà ta ở vùng này một thời gian. Bà ta làm quen với nhà Grant. Tôi cho rằng…
Bà già bất chợt ngừng nói. Miệng mở to, mắt trợn chừng. Bà ta cúi xuống và chém mạnh vào bàn tay Poirot. Bà không thấy anh suýt xoa kêu đau.
- Tôi hiểu! – Bà già kêu lên – Tôi hiểu tại sao anh lại tới đây. Anh là một kẻ đạo đức giả. Hãy nói hết với tôi!
- Nhưng nói gì chứ?
Bà Carmichael giơ tay, Poirot tránh sang một bên.
- Hercule Poirot, tôi thấy bộ ria của anh run rẩy. Không nên câm như hến mãi. Chắc hẳn là đã có một tội ác nên anh mới tới đây… Và anh đã không xấu hổ khi làm cho tôi phải nói chuyện! Xem nào, có phải là một vụ giết người không? Gần đây, ai chết? Chỉ có bà Louisa Gilmore, nhưng bà ấy đã chín mươi nhăm tuổi và mắc bệnh phù thũng. Ông Leo Staverton chết vì bị ngã ngựa… Không… Có lẽ không phải là một vụ giết người. Thật đáng tiếc. Tôi nhớ đến một vụ trộm cướp gần đây… Beryl Larkin ư? Bà ta đã đầu độc ông chồng ư? Vẻ đờ đẫn có thể là do hối hận.
- Thưa bà, thưa bà – Poirot kêu lên – Bà đã đi quá xa.
- Đừng nói những lời ngu ngốc ấy. Anh đã có một mục tiêu, Hercule Poirot.
- Bà có biết chuyện thần thoại không, thưa bà?
- Cái đó thì có liên quan gì ở đây?
- Với nghĩa là tôi làm theo Hercule nổi tiếng của tôi. Một trong những công việc của Hercule là thuần hóa đàn ngựa hoang dã của Diomède(1) .
- Anh không nói mình tới đây để chăn dắt ngựa với tuổi tác và đôi giày bóng lộn thế kia. Có thể là chưa bao giờ anh đứng bên một con ngựa nữa kia.
- Thưa bà, những con ngựa chỉ là tượng trưng thôi. Chúng đều hung dữ và ăn thịt người.
- Thói quen mới nhơ bẩn làm sao. Tôi vẫn nghĩ rằng những người Hy Lạp và La Mã cổ đại đều là những người khó coi. Tượng của họ đều không có quần áo… Tôi nói đến đâu rồi nhỉ? A, phải rồi! Anh muốn nói có phải là bà Larkin đã giết chồng không?... Anthony Hawker có phải là “kẻ giết người trong hòm” không? Đúng thế chứ?
Bà già nhìn anh với cặp mắt đầy hy vọng. Nhưng Poirot vẫn yên lặng.
- Hercule Poirot, nếu anh ở đây mà không nói với tôi điều gì, nhìn tôi như một con cú vọ thì tôi sẽ ném một cái gì đó vào đầu anh.
- Xin bà hãy kiên tâm – Thám tử khuyên giải.

*


(1) Trong thần thoại Hy Lạp, Hercule là con của thần Zeus và Alemene trở nên anh hùng nhờ vào sức mạnh và lòng can đảm, đã gây được nhiều kỳ tích huyền thoại; Diomède là một trong những anh hùng của Hy Lạp đã tham gia cuộc đánh chiếm thành Troie - ND
0
Ashley Lodge, nhà của ông tướng Grant, không lớn lắm. Xây dựng trên sườn đồi, khu nhà có những chuồng ngựa rất đẹp còn vườn thì bỏ hoang.
Một nhân viên của hãng địa ốc đã đánh giá ngôi nhà có trang bị nội thất tốt. Những bức tượng Phật bằng gỗ ngồi trong hốc tường; đồ đồng chất trên mặt những chiếc bàn thấp; trên giá có một đàn voi và trên tường treo những bức họa của người bản xứ.
Một chân bị băng bó đang gác trên chiếc ghế đẩu, tướng Grant ngồi trên chiếc ghế bành có lò-xo đặt giữa khung cảnh Anh – Ấn ấy.
- Bệnh gút – Ông giải thích – Không nên mắc chứng bệnh này… ông Poirot. Bệnh tật làm tính nết con người thay đổi! Đây là lỗi của ông thân sinh ra tôi! Ông cụ suốt đời uống rượu Pooc-tô… Ông nội tôi cũng thế… tôi là người chịu hậu quả. Ông muốn dùng gì? Xin ông hãy bấm chuông.
Một người hầu, tên là Abdul, đầu quấn khăn bước vào. Ông tướng ra lệnh cho anh ta mang uých-ky và sô-đa lên. Lệnh của ông được chấp hành…
- Than ôi! Tôi không thể nâng cốc cùng ông được! Ông bác sĩ nói đây là thuốc độc đối với tôi. Tôi tự hỏi ông ta đã biết những gì! Hẳn ông ta rất hài lòng khi thấy tôi chỉ được ăn canh cá mà thôi!
Trong lúc bực mình, ông tướng đã cựa mình khá mạnh khiến chiếc chân băng bó lại đau nhức. Ông ta xin lỗi Poirot về những lời nguyền rủa của mình.
- Khi bệnh kịch phát tôi thường tỏ ra cáu kỉnh, thế là các con gái tôi bỏ đi. Tôi không thể chiều ý chúng được. Tôi nghe nói ông đã biết một trong những đứa con gái của tôi, đúng không?
- Đúng và tôi rất hài lòng. Ông có nhiều con gái chứ?
- Bốn – Ông tướng trả lời không mấy vui vẻ – Không một đứa con trai nào. Bốn con gái!
- Các cô đều xinh đẹp, người ta bảo tôi như vậy.
- Không xấu… không xấu. Nhưng tôi không biết chúng nó đang ở đâu. Chúng đi mọi nơi. Tôi không thể nhốt chúng lại được.
- Các cô ấy đều quen biết dân trong vùng này, tôi nghe nói như vậy.
- Ô! Có rất nhiều con quạ khoang già nua không ưa chúng nó. Có một “bà góa đáng mến” thường đến gặp tôi và gù gù như con mèo: “Ôi! Tướng quân, ông có một cuộc sống rất thú vị!”
Ông tướng nháy mắt, tay đưa lên mũi.
- Rất rõ ràng. Tôi không nghĩ làng này tồi hơn so với các làng khác. Tuy hơi ồn ào đối với tôi. Tôi chỉ thích nông thôn khi còn là nông thôn… Không có xe máy, không có máy thu thanh!
Poirot dần dà đưa câu chuyện đến Anthony Hawker.
- Hawker ư? Hawker… Tôi không biết… A! Có đấy… Một anh chàng có đôi mắt rất gần nhau. Không nên tin những người đang nói chuyện mà không nhìn thẳng vào mắt mình.
- Đây là một người bạn của cô Sheila, đúng không?
- Của Sheila ư? Tôi không biết. Các con gái tôi không nói gì cả.
Ông cau mày nhìn nhà thám tử với vẻ thăm dò.
- Nói xem, ông Poirot, tại sao ông lại đến thăm tôi.
- Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ nói với ông thế này: cô Sheila và có thể các cô khác nữa có những người bạn không đáng tin cậy.
- Tôi thấy sợ. Tôi cũng được nghe điều đó lúc này, lúc khác.
Ông ta nhìn Poirot với vẻ đau đớn:
- Nhưng tôi không thể làm được gì! Ông nói xem, tôi phải giải quyết việc này như thế nào?
Poirot ngẩng đầu bối rối và trả lời bẳng một câu hỏi khác:
- Ông có nhận thấy một trong các cô ấy gần đây thường mơ mộng, bồn chồn, ủ ê… không?
- Nhưng, mẹ kiếp, ông thân mến, ông nói như một thầy thuốc ấy. Không, tôi không thấy gì cả.
- Thật là sung sướng – Poirot nói một cách nghiêm trang.
- Nhưng chúng đã đi tới đâu?
- Tới chỗ nghiện ma túy.
- Cái gì?
Một tiếng rú chứ không phải tiếng kêu vì ngạc nhiên.
- Người ta muốn làm cho cô Sheila nghiện ma túy. Rất dễ mắc nghiện khi dùng cô-ca-in. Một hoặc hai tuần lễ là đủ. Khi nghiện rồi thì người ta có thể làm bất cứ việc gì để có được ma túy. Ông cũng biết buôn bán chất độc này có thể kiếm được rất nhiều lãi.
Nhà thám tử yên lặng trong lúc những lời xúc phạm tuôn ra hàng tràng trên miệng ông già. Cuối cùng ông ta nói mình sẽ giành lại đứa con khi tên đểu giả ấy rơi vào tay ông. Hercule Poirot lên tiếng:
- Khi chúng tôi tóm được gã, tôi sẽ rất hài lòng điệu gã đến trước mặt ông.
Anh đứng lên nhưng vướng phải một chiếc bàn thấp, để tránh ngã quỵ tay anh đã bám vào vai ông tướng.
- Ôi! Xin lỗi ông! – anh bối rối nói – Nhưng liệu tôi có thể yêu cầu ông, xin ông đừng nói gì với các cô gái không?
- Sao? Tôi sẽ bắt chúng phải nói lên sự thật!
- Và ông chỉ thu được điều ngược lại thôi. Họ sẽ nói dối ông.
- Nhưng, mẹ kiếp, thưa ông…
- Ông phải yên lặng, tôi cam đoan là phải như vậy. Đây là vấn đề sống chết. Ông hãy tin tôi.
- A! Được… tôi sẽ làm như ông nói.

*
0
Phòng khách của bà Larkin đã đông người.
Bà chủ nhà đang pha rượu cốc-tai trước một chiếc bàn nhỏ có vách ngăn. Đây là một phụ nữ to béo. Tóc màu nâu. Đồng tử mắt màu đen đang giãn ra. Bà ta đi đi lại lại với vẻ ngập ngừng. Chỉ cần chú ý thì biết bà ta hơn mười năm so với số ba mươi tuổi mà bà ta tuyên bố.
Hercule Poirot đi theo một bà bạn của bà Carmichael để tới đây. bất chợt anh thấy một cốc cốc- tai trên tay và tay kia nằm trong tay của cô gái ngồi bên cửa sổ.
Cô gái tóc vàng và nhỏ nhắn. Da cô trắng hồng, Poirot thấy trong mắt cô đầy sinh khí.
- Xin chúc cho sức khỏe của cô, thưa cô – Anh nói.
Cô gái gật đầu, nhấp một ngụm rượu rồi đột nhiên hỏi:
- Ông biết chị tôi, đúng không?
- Chị cô ư? A! Cô là một trong các cô gái của ông Grant?
- Tôi là Pam Grant.
- Chị cô hiện giờ ở đâu?
- Đang đi săn. Chị ấy sắp về đây.
- Tôi gặp chị cô ở Londres.
- Tôi biết.
- Cô ta đã kể chuyện với cô ư?
Pam Grant gật đầu.
- Tony Hawker có mặt ở đấy không?
Poirot chưa kịp trả lời thì cánh cửa phòng khách bật mở. Hawker và Sheila bước vào. Họ mặc quần áo thợ săn và má của Sheila có vết bùn.
- Xin chào mọi người. Chúng tôi đến để uống một cốc rượu đây. Chiếc vò rượu của Tony đã cạn khô rồi.
Beryl Larkins bước lại.
- A! Anh đây rồi, Tony. Đã xảy ra chuyện gì?
Bà ta kéo Tony tới ngồi trên một chiếc tràng kỷ gần lò sưởi. Poirot thấy anh ta đưa mắt nhìn Sheila trước khi đi theo bà chủ nhà.
Sheila đã nhìn thấy Poirot. Ngập ngừng một giây rồi cô ta tới bên cửa sổ.
- Hôm qua chính ông đã đến nhà tôi, đúng không?
- Cha cô đã nói như vậy ư?
Cô gái lắc đầu.
- Người hầu Abdul đã mô tả vị khách tới thăm. Tôi… tôi tự hỏi…
- Chị đã gặp cha chưa? – Pam hỏi.
- A… Có… Chúng tôi có người bạn chung.
- Tôi không tin – Pam cãi lại.
- Tại sao cô lại không tin? Tại sao cha và tôi lại không thể có một người bạn chung?
Cô gái đỏ mặt.
- Đừng có kỳ cục như vậy. Tôi muốn nói… không phải vỉ thế mà chj đi gặp cha.
Cô ta quay về phía Sheila.
- Tại sao chị không nói gì, Sheila?
Sheila giật mình.
- Cái đó chẳng liên quan gì đến Tony Hawker cả.
- Tại sao?
Sheila đỏ mặt và đi về phía những người khác.
- Tôi không thích Tony Hawker – Pam nói với giọng giận dữ – Có một cái gì độc ác trong con người anh ta, cả bà Larkins cũng vậy. Ông nhìn xem…
Poirot nhìn theo.
Đầu của Hawker gục lên vai bà chủ nhà. Anh ta muốn tán tỉnh bà, nhưng người phụ nữ lên tiếng:
- … Nhưng tôi không thể chờ đợi được. Tôi muốn có ngay lúc này!
- Đàn bà – Poirot mỉm cười nói – thường không muốn chờ đợi.
Nhưng Pam Gran không trả lời. Đầu cúi thấp, tay vân vê nếp váy.
- Ông Poirot, Tony đã cho Sheila cái gì khiến chị ấy thay đổi nhanh đến như vậy?
Anh nhìn thẳng vào mắt cô gái:
- Đã bao giờ cô dùng cô-ca-in chưa, thưa cô?
- Ô! Không! Chưa bao giờ. Cô-ca-in ư? Rất nguy hiểm.
Tay cầm một cốc rượu, Sheila tới bên hai người.
- Cái gì nguy hiểm? – Cô ta hỏi.
- Chúng tôi đang nói về hậu quả của việc dùng ma túy – Poirot trả lời – Cái chết chậm về thể xác và tinh thần, phá hoại tất cả những cái tốt đẹp của nhân loại.
Sheila Grant kêu lên một tiếng. Một phần rượu trong cốc đổ cả ra ngoài.
- … Bác sĩ Stoddart đã giải thích cho cô… Tất cả những cái đó đều dẫn đến cái chết, trong khi đang sống. Người ta thu lợi trong sự suy sụp và đau đớn của người khác; đây là con quỷ hút máu người.
Nói xong Poirot bỏ đi để mặc hai cô gái đứng lại.
Sau lưng mình, Poirot nghe thấy tiếng của Pam thúc giục “Sheila” rồi tiếp đó một tiếng thì thào “chiếc vò rượu”.
Poirot tới chào bà Larkin.
Ở tiền sảnh, Poirot thấy trên mặt bàn có một chiếc mũ đi săn, một roi ngựa và một vò rượu có đánh dấu bằng hai chữ A.H.
“Chiếc vò rượu của Tony đã cạn khô rồi”.
Poirot cầm lấy chiếc vò và lắc nhẹ. Không có tiếng động của nước. Anh mở nắp vò.
Chiếc vò đựng đầy chất bột trắng…

*
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-10-06 15:41:38khachxa>
Ở tầng trệt nhà bà Carmichael, Hercule Poirot đang ngồi bên cô gái. Anh nói bằng giọng nhiệt thành:
- Cô còn trẻ, thưa cô. Tôi tin rằng cô chưa biết rõ việc mình làm, cô và các chị em cô. Các cô được nuôi dưỡng bằng thịt của đồng loại như những con ngựa của Diomède.
Sheila rùng mình.
- Thật kinh tởm khi nói như vậy – Cô ta nức nở và nói – Tuy nhiên, điều đó rất đúng! Tôi không biết cho đến tối hôm ấy, ở Londres, ông Stoddart đã nói. Ông ấy rất nghiêm khắc và rất… chân thành. Tôi thấy ghê rợn về việc tôi đã làm… Trước đó, đối với tôi, thì như người ta uống rượu trước giờ đóng cửa tiệm…
- Còn bây giờ thì sao? – Poirot hỏi.
- Tôi sẽ làm mọi việc mà ông muốn. Tôi… tôi sẽ nói lại với những người khác. Tôi cho rằng ông Stoddart không thèm nói chuyện với tôi nữa…
- Ngược lại. Cả hai chúng tôi đều muốn giúp đỡ cô khi chúng tôi tìm được một điểm xuất phát. Nhưng có một việc rất cần thiết. Không có tội nào là không được miễn giảm hình phạt. Chỉ có cô và chị em cô mới có thể làm được việc này. Chỉ có những người làm chứng mới có thể nêu lên sự phạm tội.
- Ông muốn nói… cha tôi ư?
- Không phải là cha cô, thưa cô. Tôi đã chẳng nói với cô rằng Hercule Poirot là người biết mọi chuyện đấy ư? Có thể nhận diện cô bằng một tấm ảnh. Cô là Sheila Kelly, chứ không phải là Sheila Grant. Trước đây vài năm cô được gửi đến trại cải tạo vì tội trộm cắp. Khi ra trại, một người đàn ông đã đưa cô đến gặp ông Grant và cô trở thành “con gái ông tướng”. Nhiều tiền, nhiều thú vui. Chỉ có một việc phải làm là đưa chất “bột trắng” cho các bạn bè cô và nói rằng một người nào đó ngoài các cô đã cho cô. Các chị em cô cũng hành động như vậy. Thưa cô, người ấy phải được bắt giữ và xét xử. Sau đó…
- Sau đó thì sao?
- Thượng đế sẽ dắt dẫn các cô…

*

Michael Stoddart ngạc nhiên nhìn Poirot.
- Ông tướng Grant ư?
- Đúng, bạn thân mến. Mọi sự dàn cảnh đều là trò trẻ con. Tượng Phật, đồ đồng, người đầy tớ Ấn Độ! Bệnh gút! Mốt cũ rồi. Cụ già sinh ra người cha của các cô gái mười tám, đôi mươi bị bệnh này chứ không phải bản thân ông ta.
“Vì muốn kiểm tra nên khi ra về tôi giả vờ vấp ngã vào chân ông ta. Ông già hoảng hốt vì điều tôi khám phá ra mà ông ta không lường trước được.
“Suy nghĩ của tôi là đúng… tướng quân đội đóng ở Ấn Độ… đau ốm… tính tình khó chịu, cuối cùng là mọi đặc điểm thường thấy ở nhân vật này… nhưng ở vào một nơi giá cả đắt đỏ đối với một sĩ quan nghỉ hưu. Những người giàu có ở kế bên, rừng để đi săn. Ai lại đi nghi ngờ bốn cô con gái đầy sức sống. Đã có nhiều người nhập cuộc, có thể nói đây là những nạn nhân”.
- Ý kiến nào khiến ông đến gặp kẻ đại bất lương ấy? Có phải ông muốn thức tỉnh ông ta không?
- Phải. Tôi muốn biết đã có chuyện gì xảy ra. Tôi không phải chờ đợi lâu. Những cô gái thi hành mệnh lệnh của ông ta. Anthony Hawker là một trong những nạn nhân của ông tướng được dùng như một vật tế thần. Đáng lẽ Sheila phải nói với tôi về cái vò rượu để ngoài tiền sảnh. Nhưng đã không quả quyết. Một cô khác đã làm cho cô ta nhớ lại thân phận mình bằng một tiếng “Sheila” như một mệnh lệnh.
Michael Stoddart đứng lên đi đi, lại lại trong phòng.
- Tôi vẫn để mắt đến cô gái ấy – Anh ta nói – Tôi muốn biết những lý do phạm tội của những người trẻ tuổi. Khi người ta nghiên cứu cuộc đời của gia đình của các cô gái ấy, người ta bao giờ cũng phát hiện ra rằng…
Poirot ngắt lời người thày thuốc trẻ:
- Bạn thân mến, tôi rất khâm phục môn học mà anh đang theo đuổi. Tôi không nghi ngờ gì đến một ngày nào đó anh sẽ có những bằng chứng của lý thuyết của anh liên quan đến Sheila Kelly.
- Và cả những người khác nữa.
- Có thể. Nhưng mà người mà tôi tin chắc đó là Sheila… Anh thuần hóa cô ta không chút nghi ngờ! Thực ra cô ta đã nắm được anh rồi…
Michael Stoddart đỏ mặt.
- Ông Poirot, xin đừng nói những điều vô lý ấy…

0
CHIẾC CỐC BẰNG VÀNG

Hercule Poirot chỉ cần nhìn cái trán rộng, cái miệng mím chặt, cái cằm bướng bỉnh và đôi mắt sắc sảo ấy cũng đủ hiểu tại sao Emery Power trở thành một nhà tài chính mạnh mẽ như vậy.
Những ngón tay dài và thanh tú cũng nói rõ tại sao nhà tài chính nổi tiếng hai bên bờ Đại Tây Dương và là nhà sưu tầm hiểu biết về những tác phẩm nghệ thuật. Từ nghệ thuật ông cũng yêu quý môn lịch sử. Một vật không chỉ cần đẹp mà còn phải nói lên những phong tục tập quán của một vùng đất nữa.
Tiếng nói của ông êm dịu, không phô trương, nhưng cũng đủ làm cho người nghe phải chú ý.
- Bây giờ ông không nên nhận nhiều việc khác nữa – Ông ta nói – Nếu ông nhận việc này, tôi cho là như vậy.
- Nó có quan trọng không?
- Đối với tôi thì nó đặc biệt quan trọng.
Poirot cúi thấp đầu xuống nhìn Emery Power nhưng anh không nói gì cả.
- Đây là việc tìm lại một công trình nghệ thuật. Nói chính xác hơn đây là chiếc cốc bằng vàng có chạm trổ ở thời kỳ Phục hưng. Người ta nói đây là của đức Giáo hoàng Alexandre VI, Rodrigue Boriga. Ngài thường mang ra để khách quí dùng. Người được mời chết.
- Một phong tục đáng chú y.
- Chiếc cốc ấy có một lịch sử náo động. Nó đã bị đánh cắp nhiều lần. Người ta đã giết nhau để có được nó. Nó đã để lại một vết máu dài đằng sau nó.
- Vì giá trị nội tại của nó hay vì những lý do khác?
- Đúng thế, nó có giá trị rất lớn. Nó được chế tạo bằng một phương pháp tuyệt diệu; đây là công trình của Benveuto Cellini. Nó được chạm hình một cái cây có một con rắn quấn xung quanh; thân con rắn có những viên đá quí còn quả trên cành cây thì bằng ngọc màu lục bảo.
Poirot có vẻ thích thú.
- Những quả táo – Ông lẩm bẩm.
- Đá quí rất đẹp, nhưng giá trị thực tế của chiếc cốc là ở lịch sử của nó. Hầu tước San Veratrino đã bán đấu giá nó vào năm 1929. Những nhà sưu tầm đã tranh cãi nhau, nhưng tôi đã mua được nó với giá ba mươi ngàn livre vào thời kỳ đó.
- Một số tiền lớn!
- Khi tôi đã thích thì tôi biết trả giá, ông Poirot.
- Có thể là ông đã biết câu ngạn ngữ Tây Ban Nha: “Hãy nhận cái mà anh muốn… và trả tiền. Thượng đế nói!”.
- Nhà tài chính cau mày và cặp mắt của ông ta đanh lại một lúc.
- Ông cũng thích nghiên cứu triết học ư? – Ông ta hỏi bằng giọng lạnh lùng.
- Tôi đã đến tuổi biết suy nghĩ.
- Tôi không nghi ngờ gì. Nhưng không phải do suy nghĩ mà có thể lấy lại được chếc cốc. Tôi cho rằng hành động là tốt hơn cả.
- Thật là sai lầm! Đã có nhiều người phạm phải. Nhưng xin lỗi ông. Chúng ta đã thay đổi chủ đề của câu chuyện. Ông đã nói mình mua được chiếc cốc ấy từ tay hầu tước San Veratrino, đúng không?
- Phải, nhưng điều tôi chưa nói với ông là nó đã bị đánh cắp trược khi đến tay tôi.
- Chuyện xảy ra như thế nào?
- Người ta tới ăn cướp lâu đài của ông hầu tước vào ban đêm, ngoài chiếc cốc còn có nhiều đồ vật có giá trị khác bị mất.
- Người ta đã giải quyết như thế nào?
Power nhún vai.
- Cảnh sát đã điều tra vụ này, đúng thế. Người ta đã bắt và xét xử hai tên kẻ cướp: Dublay, người Pháp và Ricovetti, người Ý và thu được tang vật.
- Trừ chiếc cốc của Borgia ư?
- Trừ chiếc cốc. Như cảnh sát cho biết, ngoài hai tên ăn trộm bắt được còn có kẻ tòng phạm thứ ba tên là Patrick Casey người Ái Nhĩ Lan. Dublay, tên cầm đầu, chuẩn bị kế hoạch, Ricovetti lái xe và tiêu thụ còn Casey là tên vào trong nhà để lấy đồ đạc.
- Của ăn cắp được sẽ chia đều cho ba đứa ư?
- Có thể là như vậy. Nhưng dù sao những thứ lấy lại được đều kém giá trị. Vật quí hiếm thường được mang ra nước ngoài.
- Casey không bị bắt và xét xử sao?
- Không phải như ông đang nghĩ. Hắn đã có tuổi. Các cơ bắp đã giãn ra rồi. Mười lăm ngày sau đó hắn ngã từ lầu năm xuống đất và chết ngay tức khắc.
- Ở đâu
- Ở Paris. Trong một mưu toan ăn trộm nhà ông chủ ngân hàng Duvauglier.
- Và từ đó người ta không được tin gì về chiếc cốc nữa ư?
- Đúng thế.
- Cũng không thấy ai rao bán ư?
- Cũng không. Tôi gần như tin chắc là như vậy. Ngoài cảnh sát còn ba thám tử tư tiến hành điều tra vụ này.
- Và ông có lấy lại được tiền không?
- Đồ vật bị mất ngay trong nhà ông ta, ông hầu tước muốn trả lại tiền cho tôi.
- Nhưng ông không nhận ư?
- Không.
- Tại sao?
- Vì tôi muốn như vậy.
- Ông muốn nói rằng khi tìm được chiếc cốc thì nó thuộc quyền sở hữu của ông ư?
- Đúng thế.
- Nhưng sau hành động này là cái gì?
0
Power cười:
- Ông hiểu rõ tôi đấy, tôi thấy rõ. Rất đơn giàn. Tôi đã biết rõ ai là người đang giữ chiếc cốc ấy.
- Ông làm tôi thích thú. Vậy người đó là ai?
- Đó là ông Reuben Rosenthal. Không chỉ là một nhà sưu tầm như tôi, nhưng vào thời kỳ ấy, ông ta là một kẻ thù cá nhân của tôi. Chúng tôi cạnh tranh nhau trong nhiều vụ việc… và tôi thường là người thắng cuộc. Việc tranh chấp của chúng tôi đã lên đến đỉnh cao với chiếc cốc ấy. Trong hai chúng tôi người nào cũng muốn có nó. Chúng tôi nâng giá trong cuộc mua đấu giá ấy.
- Và ông lại là người thắng cuộc chứ?
- Không hẳn như vậy. Tôi thận trọng nhường cho một người thứ hai làm việc này. Không ai chịu nhường trước cả, nhưng để cho người thứ ba giành thắng lợi và tìm cách tiếp cận người ấy, lại là một chuyện khác.
- Một thất vọng nhỏ.
- Đúng thế.
- Nhưng nếu ông Reuben biết chuyện thì sao?
Ông Power có một nụ cười rạng rỡ.
- Theo ông – Poirot hỏi tiếp – có phải ông Reuben không chịu nhận là thua nên đã đi thuê bọn ăn trộm không?
Emery Power giơ một bàn tay lên với vẻ không đồng ý.
- Ô, không! Tại sao lại đi vào cụ thể như vậy? Một thời gian sau ông Reuben đã có được chiếc cốc ấy từ một nguồn không xác định.
- Cảnh sát không công bố một tấm ảnh nào của chiếc cốc ấy ư?
- Chiếc cốc không cần trưng bày ra trước mắt của mọi người.
- Ông có tin rằng ông Reuben đang muốn xem ai là chủ sở hữu vật đó không?
- Đúng. Nếu tôi nhận tiền đền bù của ông hầu tước thì ông Reuben sẽ đi thương lượng với ông này để có được chiếc cốc. Nhưng, là chủ sở hữu của nó tôi sẽ tìm cách thu hồi lại báu vật của mình.
- Có nghĩa là ông đang thu xếp để ăn cắp lại nó từ ông Reuben ư?
- Không phải là ăn cắp, ông Poirot. Tôi chỉ giành lại cái đó thôi.
- Nhưng ông đã không đạt được điều đó ư?
- Vì một lý do đặc biệt, ông Reuben không có chiếc cốc đó trong tay.
- Tại sao ông biết.
- Có một sự hợp nhất trong tổ chức kinh doanh dầu lửa. Bây giờ lợi ích của tôi và của ông Reuben là như nhau. Chúng tôi không còn là kẻ thù mà trở thành đồng minh của nhau. Ông ta đã cam đoan với tôi là chưa bao giờ ông có chiếc cốc ấy trong tay.
- Và ông tin ông ấy.
- Phải.
- Như vậy gần mười năm qua ông chạy theo một cái đích sai lầm, đúng không?
- Không thể bằng cách nào khác – Nhà tài chính thú nhận với một giọng cay đắng.
- Và bây giờ, tất cả đều làm lại từ đầu. Tôi là thám tử, tôi có bổn phận đưa ông tới một cái đích chính xác, đúng không? Người ta đã dẫm chân tại chỗ từ khi…
- Nếu công việc là dễ dàng thì tôi đã không mời ông tham gia – Power nói với vẻ thiếu nhã nhặn – Đúng là nếu ông thấy không thể…
Ông ta đang tìm một danh từ nhẹ nhàng hơn. Poirot đứng lên nói một cách khô khan:
- Danh từ không thể là không có đối với tôi, thưa ông. Tôi chỉ tự hỏi công việc có thú vị đến mức làm tôi hăng hái lên không.
- Việc này có lợi ích của nó: ông cho tôi biết số tiền thù lao.
- Chúng ta sẽ nói đến nó khi công trình nghệ thuật ấy được tìm ra, được không?
- Tùy ý ông. Tôi không chấp nhận sự thất bại.
- Trong trường hợp ấy… tôi hiểu.

*
0
Thanh tra cảnh sát Wagstaffe tỏ rõ sự quan tâm của mình.
- Chiếc cốc Veratrino ư? Phải, tôi nhớ rất rõ. Tôi biết nói tiếng Ý nên người ta cử tôi tới để hợp tác với cảnh sát ở đây. Và chúng tôi không thể nào tìm ra đồ vật ấy.
- Theo ông thì tại sao? Người ta đã bán nó đi rồi ư?
- Tôi nghi ngờ… tuy vẫn có thể là như vậy. theo tôi thì rất đơn giản. Người ta đã giấu nó ở đâu đó… và một người duy nhất biết ở đâu thì lại chết rồi.
- Ông muốn nói đến Casey ư?
- Phải. Có thể là hắn thường qua lại Ý. Hắn đã giấu chiếc cốc ở đây và từ ngày ấy đến nay không ai động đến.
- Casey có nhà riêng không?
- Có… ở Liverpool – Viên thanh tra cười – chiếc cốc không nằm dưới sàn nhà đâu. Chúng tôi tìm rồi.
- Gia đình hắn ra sao?
- Người vợ bị ho lao… Tuy chồng như vậy nhưng bà ta vẫn là người mộ đạo, không muốn rời bỏ hắn. Bà ta đã qua đời cách đây một vài năm. Người con gái rất giống mẹ… Cô ta đã đi tu. Người con trai sang Mỹ để lập nghiệp.
- Có thể người con gái biết nơi cất giấu, đúng không?
- Tôi không tin. Chiếc cốc cũng sẽ được đem đi bán.
- Hay là người ta đã nấu chảy nó rồi?
- Rất có thể. Nhưng tôi cũng không tin. Chiếc cốc có giá trị sưu tầm. Mà muốn có được nó thì người ta có thể làm bằng mọi cách.
- Thế còn hai tên kẻ cắp kia?
- Ricovetti và Dublay sắp được tha.
- Dublay là người Pháp chứ?
- Đúng. Hắn là đầu não của bọn trộm cắp.
- Bọn này còn những ai nữa.
- Một cô gái tên là Kate. Làm nghề hầu phòng để làm nội ứng. Cô ta đã đi Úc sau khi băng nhóm tan rã.
- Còn ai nữa?
- Còn Yougonian, hắn có một cửa hàng nhỏ ở Paris. Người ta không tìm được lý do gì để bắt nên vẫn canh chừng hắn.
Poirot thở dài nhìn sổ ghi chép: Mỹ, Úc, Ý, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ…
- Có lẽ ta phải đi vòng quanh thế giới - Anh lẩm bẩm.
- Ông nói gì?
- Tôi nói một vòng thế giới mà tôi sẽ phải đi.

*

Poirot có thói quen thảo luận công việc với Georges, người hầu phòng thân tín.
- Georges, nếu anh phải đến năm nơi trên thế giời thì anh sẽ làm như thế nào?
- Đường hàng không là nhanh nhất, thưa ông chủ. Nhưng dễ bị đau tim.
- Hỏi ý kiến của ai là tốt nhất?
- Thưa ông, ông hãy hỏi công ty Du lịch.
Hercule Poirot tự nhủ:
- Với thân chủ của mình, Emery Power, cái quan trọng nhất là hành động. Nhưng không để mất sức lực, tiền của vào những việc vô ích. Không thể làm khác mọi người được… nhất là khi không cần để ý đến tiền bạc.
Poirot đứng lên, tới bàn giấy, rút một tập hồ sơ, lấy một tấm phiếu ghi hai chữ “Thám tử”.
- Georges, tôi đọc, anh ghi cho tôi… Hankerton, New York; Laden và Bosher, Sydney; Giovanni Mezzi, Rome; Nahum, Constantinople; Rogers và Franconnaed, Paris…
Anh đợi cho Georges viết xong.
- Được rồi, anh tìm cho tôi giờ tàu đi Liverpool.
- Vâng, ông chủ đi Liverpool ngay bây giờ ư?
- Phải. Có thể tôi còn đến nhiều nơi khác nữa. Nhưng sẽ tính sau.

*
0
Ba tháng sau, đứng trên bờ biển lởm chởm đã, Hercule Poirot nhìn ra đại dương. Chim mòng biển từ trên cao lao vút xuống mặt nước. Không khí ẩm ướt, Poirot có cái cảm giác của những người lần đầu đặt chân lên Inishgowlen như đến tận cùng của trái đất. Chưa bao giờ anh hình dung ra một phong cảnh quyến rũ lại ở một nơi xa xôi hẻo lánh đến như vậy. Ở phía tây nước Ái Nhĩ Lan này, xưa kia những người lính La Mã đã xây dựng những công sự kiên cố và những con đường lát đá.
Hercule Poirot nhìn xuống đôi giày của mình và thở dài. Ở đây người ta phải quên đi những thói quen trong cuộc sống thường ngày.
Phía xa là những hòn đào giàu có của đất nước tươi trẻ này…
Một tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Tiếng chuông mà anh quen thuộc từ thời thơ ấu.
Anh lại tiếp tục cất bước. Mười phút sau anh đứng trước một bức tường cao có cửa bằng sắt. Hercule Poirot đến gần và giật giây chuông.
Một bộ mặt hiện ra trong một ô vuông nhỏ trên cánh cửa. Người ta hỏi anh muốn gì. Giọng nói của một phụ nữ.
- Đây có phải là tu viện Sainte-Marie không?
- Nhưng ông muốn gì? – Tiếng nói gay gắt của người phụ nữ cao lớn cất lên.
Hercule Poirot không muốn trả lời câu hỏi thiếu nhã nhặn ấy.
- Tôi muốn gặp Mẹ bề trên – Anh nói với bà ta.
Có tiếng kéo then cửa. Cửa mở và người ta đưa anh đến một phòng đợi nhỏ.
Rồi nhà tu hành xuất hiện với chuỗi hạt trên cổ.
Hercule Poirot là người Công giáo và không khí ở đây không xa lạ với anh.
- Xin Mẹ tha lỗi nếu con làm Mẹ bận rộn. Nhưng trong các xơ ở đây có xơ nào tên là Kate Casey không?
Mẹ bề trên nghiêng đầu.
- Đúng thế, Tên thánh của xơ ấy là Marie-Ursule.
- Xơ Marie-Ursule có thể giúp đỡ con. Xơ có nhiều thông tin rất quan trọng đối với con.
Mẹ bề trên lắc đầu, nét mặt vô cảm.
- Xơ Marie-Ursule không thể giúp con được gì đâu.
- Nhưng con tin rằng…
- Xơ Marie-Ursule đã qua đời cách đây hai tháng.

*

Trong phòng khiêu vũ của khách sạn Jimmy Donovan ngồi trên chiếc ghế quay lưng vào tường. Khách sạn này không mấy thuận tiện. Lò xo giường nhiều chiếc bị gãy. Không có nước nóng. Thức ăn làm anh đầy bụng, khó tiêu.
Có năm người ngồi trong phòng và họ đang nói chuyện chính trị. Hercule Poirot mới quen biết họ nên có phần nào lo ngại.
Anh quay sang người ngồi gần đấy. Khác với mọi người, anh ta có vẻ như một người thị thành sa sút.
- Hãy tin tôi, thưa ông – Anh ta nói với vẻ nghiêm chỉnh – con Pegeen’s Pride không mang lại may mắn… Ông đánh bao nhiêu? Ông có biết tôi là ai không? Atlas… Tôi thắng cuộc suốt mùa… Tôi đã đặt vào con Larry’s Girl bao nhiêu? Hai mươi nhăm trên một… Cứ đi theo tôi, ông không bao giờ thua cuộc.
Hercule Poirot nhìn anh ta với vẻ kính phục.
- Trời – Anh ta nói – đây là điềm xấu! – Và giọng anh ta run lên.

*

Sau đó một vài tiếng đồng hồ, mặt trăng hiện lên sau một đám mây để rồi biến mất. Poirot và người bạn mới của mình đã đi được một vài kilometers. Nhà thám tử đi khập khiễng. Có lẽ đôi giày da của anh không thích hợp với những chuyến đi nông thôn.
- Nói xem – Người đi cùng lên tiếng – Ông tin chắc rằng ông tu viện trưởng sẽ nói gì? Tôi không có tội lỗi gì để phải hối hận trong lương tâm cả, ông biết đấy.
- Ông chỉ làm cái việc của Xê-da lại trả cho Xê-da thôi – Poirot trả lời một cách chắc chắn.
Họ đã đi tới chân tường của tu viện. Atlas rên rỉ, anh ta cảm thấy mình “trống rỗng”.
Nhà thám tử nói một cách cương quyết:
- Bình tĩnh! Đây anh chỉ đối mặt với mọi người mà với Hercule Poirot.

*

Atlas cẩn thận gấp những tờ giấy bạc năm livres.
- Có thể là ngày mai tôi không còn nhớ bằng cách nào mà tôi thắng cuộc. Tôi rất sợ ông O’Reilly…
- Hãy quên đi tất cả, anh bạn. Ngày mai, thế giới này là của chúng ta.
- Đúng là Working Lad. Nó là một con ngựa! Rồi Sheila Boyne nữa, nó sẽ bảy chống lại một… Ông không nói gì về Thượng đế của thời xưa chứ… Hercule? Có một Hercule sẽ đua vào ngày mai.
- Anh bạn, hãy đặt cuộc vào Hercule. Hãy tin tôi, không thể thua được.
Hôm sau, con Hercule của ông Roslyn thắng con Boynen Stakes sáu mươi trên một.

*

0
Chào Khach xa

Đây là tập truyện ngắn phải không Khach xa

vì thấy truyện này sao mà dài quá, đã sang trang 6 mà chưa hết

0
Chào Ct. Ly,

Đúng đây là tập truyện ngắn của Agatha Christie.

Cũng sắp hết rồi, còn một truyện nữa thôi. Tôi sẽ cố đưa hết lên trong tuần này.

Mến.

Khachxa
0
Với một vẻ thận trọng, Poirot mở cái gói ra. Trước hết là tờ giấy màu xám, sau đó là một lớp bông và cuối cùng là tờ giấy lụa.
Sau đó anh đặt lên bàn của Emery Power một chiếc cốc lấp lánh đá quý.
Nhà tài chính nín thở.
- Xin có lời khen, ông Poirot, cuối cùng ông ta nói. Nhà thám tử nhẹ nhàng cúi đầu.
Emery Power giơ tay sờ lên miệng cốc.
- Đây là của tôi ư? – Ông ta hỏi với giọng trầm.
- Vâng, đây là của ông.
Poirot thở dài, đứng lên, tay vịn vào lưng ghế.
- Ông tìm thấy nó ở đâu? – Ông ta hỏi một cách vô tư.
- Trên một bàn thờ.
Power giật mình.
- Phải, con gái của Casey là người mộ đạo, khi người cha qua đời, cô ta thực hiện những lời dặn lại của cha. Cô ta dốt nát nhưng tin vào Chúa. Chiếc cốc được giấu ngay trong nhà của Casey tại Liverpool. Cô ta mang nó vào một nhà tu với ý nghĩ, tôi giả thiết, là chuộc lỗi cho cha. Tôi không nghĩ rằng những người tu hành không biết gì về giá trị của các đồ vật. Trước mắt họ, đây chỉ là một cốc rượu lễ và người ta phải dùng đúng chức năng của nó.
- Một câu chuyện kỳ lạ. Ai đã gợi ý cho ông tới đó?
Poirot nhún vai.
- Tôi dùng phương pháp loại trừ. Tôi đã ngạc nhiên khi thấy không có một vụ mua bán nào đối với chiếc cốc. Cái đó cho phép tôi nghĩ, hẳn là nó ở nơi đúng theo công dụng vật chất của nó. Và tôi nhớ là con gái của Patrick Casey là người mộ đạo. Tôi đã nói và tôi xin nhắc lại: mộ đạo.
- Thật đáng khen. Xin ông đưa tôi một bản kê tiền thù lao và tôi sẽ viết cho ông một tờ séc.
- Tôi không lấy tiền thù lao.
- Thế nào? – Power ngạc nhiên hỏi lại.
- Kkhi còn bé chắc hẳn ông đã đọc truyện cổ tích trong đó ông vua thường hô: “Hãy cho ta biết nhà ngươi yêu cầu cái gì?”…
- Ông muốn yêu cầu cái gì?
- Có đấy. Nhưng không phải là tiền. Tôi chỉ có một yêu cầu nhỏ.
- Là cái gì? Có phải là một khoản trợ cấp không?
- Đấy cũng là một hình thức tiền. Không đơn giản hơn kia.
- Thế nào?
Hercule Poirot đặt tay lên chiếc cốc.
- Trả lại nó về tu viện.
Có một giây yên lặng.
- Ông điên đấy ư? – Emery Power hỏi.
Hercule Poirot lắc đầu.
- Không. Không điên chút nào. Xin ông nhìn đây.
Anh cầm chiếc cốc lên. Bằng móng tay anh đưa vào miệng con rắn quấn xung quanh thân cây và ấn xuống. Một cánh cửa sập rất nhỏ mở ra.
- Ông nhìn đây! Chính bằng cái cửa này làm người ta cho thuốc độc vào đồ uống. Ông đã nói chiếc cốc có một lịch sử ma quái. Nó đã để sau nó bạo lực và đau khổ. Làm thế nào biết được rồi đây ai là người bị hại?
- Mê tín, dị đoan!
- Có thể! Nhưng tại sao ông lại muốn giữ nó? Không phải vì cái đẹp, cũng không phải vì giá trị. Ông đã có hàng trăm, có thể là hàng ngàn vật quí, hiếm. Ông muốn có được uy tín. Ông không chịu thua cuộc. Ông đã thắng cuộc. Chiếc cốc đã nằm gọn trong tay ông. Nhưng tại sao lại không đưa ra một hành động đẹp? Trả lại nó về nơi nó đã ở bình yên trong gần mười năm qua, trong sự trong sáng. Ngày xưa nó là của nhà thờ, bây giờ trả nó về nhà thờ. Ông để tôi vẽ sơ đồ nơi tôi tìm thấy nó… Khu vườn Hòa bình trông ra biển về hướng về một Thiên đường xa xăm của sự tốt đẹp và vĩnh cửu của tuổi trẻ.
Anh đang mô tả vùng Irishgowlan theo cách của mình. Emery Power đưa một tay lên che mắt. Ông yên lặng.
- Tôi sinh ra bên bờ biển của nước Ái Nhĩ Lan – cuối cùng ông Power nói – Tôi sang Mỹ từ khi tôi còn là đứa trẻ.
Nhà tài chính đứng lên, mặt sáng lên một lần nữa.
- Ông là một con người lạ lùng, thưa ông Poirot. Ông hãy làm như ông muốn. Mang chiếc cốc này trả lại cho tu viện, thay tôi tặng lại cho tu viện. Một tặng phẩm rất đắt giá, ba mươi nghìn livres… đổi lại, liệu tôi được cái gì nhỉ?
- Tu viện sẽ cầu nguyện cho ông trong các buổi lễ – Poirot nói một cách nghiêm trang.
Một nụ cười tham lam trên mặt của Power.
- Dù sao đây cũng là một nơi đầu tư tốt! Đây là việc tốt nhất mà tôi chưa từng làm…

*

Trong một hành lang nhỏ của tu viện, Poirot kể lại câu chuyện và đưa chiếc cốc rượu lễ cho Mẹ bề trên.
- Nói lại là chúng tôi cảm ơn ông ấy và chúng tôi sẽ cầu nguyện cho ông ấy.
- Ông ấy rất cần cầu nguyện.
- Có phải đây là một con người khốn khổ không?
- Rất khốn khổ vì ông ấy không biết thế nào là hạnh phúc. Rất khốn khổ vì ông ấy không biết mình là ai nữa.
- A! Thế thì đây là một người rất giàu.
Poirot không trả lời… anh không còn gì để nói cả.
0
«« « 1 2 3 4 » »»