Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thám tử Hercule Poirot - Agatha Christie (Finished) 🔒

91 trả lời, 18.175 lượt xem — Trang 2 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-08 15:37:49khachxa>
Upper Renfrew Lane là một phố không mấy sạch sẽ nhưng đáng tôn trọng. Một bà già to béo, mắt hấp háy ở số nhà mười bảy nghe tiếng chuông của Poirot ra mở cửa.
- Xin bà cho tôi gặp cô Valetta.
- Đã đi khỏi đây lâu rồi.
Poirot bước vào trước khi cánh cửa định đóng sập lại.
- Xin bà vui lòng cho tôi địa chỉ của cô ấy.
- Cô ta không để địa chỉ lại.
- Cô ấy rời khỏi đây hồi nào?
- Mùa hè vừa rồi.
- Bà có thể cho biết chính xác hơn không?
Cùng lúc ấy trên tay của nhà thám tử hiện ra hai đồng tiền kim loại va chạm nhau bật lên những tiếng dễ chịu.
Người đàn bà mắt hấp háy thay đổi thái độ một cách kỳ diệu.
- Không phải là tôi không muốn giúp đỡ ông đâu, thưa ông – Bà ta trìu mến nói – Ông hãy đợi cho một chút để tôi nhớ lại. Tháng tám, không, trước đó, tháng bảy. Phải, đúng là tháng bảy, tuần lễ đầu. Cô ta bất chợt ra đi. Trở về nước Ý, tôi cho là như thế.
- A! Cô ấy là người Ý ư?
- Vâng, thưa ông.
- Và trước đó cô ấy là người hầu phòng của một bà vũ nữ ư?
- Đúng thế. Bà Semoulina hoặc cái tên gì đó giống như vậy. Bà ta nhảy ba-lê ở Thespis. Đó là một trong các ngôi sao.
- Bà có biết tại sao cô Valetta lại thôi việc không?
Bà già ngần ngừ trước khi trả lời.
- Không, tôi không biết.
- Người ta đã cho cô ấy thôi việc phải không?
- Tôi cho rằng người ta đã làm cho nhà cửa có nền nếp hơn! Nhưng ông không lo. Cô Valetta không mất gì cả. Cô ta không phải loại người mặc cho ai đối xử với mình thế nào. Cô ta có tính cách riêng! Tôi không chỉ nói như vậy… một phụ nữ Ý thực sự… đôi mắt đen của cô nảy lửa nhìn ông như muốn thọc dao găm vào bụng ông ấy. Tôi không dám làm trái ý cô ta trong khi tức giận.
- Bà chắc chắn là mình không biết địa chỉ hiện nay của cô ấy chứ?
Lại hai đồng tiền nữa gợi cho người ta nghe thấy những tiếng xủng xoẻng của chúng.
Câu trả lời có giọng thật thà:
- Ô! Tôi rất muốn biết. Tôi không sung sướng mấy khi thấy ông phải bắt buộc. Nhưng cô ấy đã ra đi như vậy, rất đột ngột, thế đấy!
- Vâng, thế đấy – Poirot suy nghĩ, nhắc lại.

*

Ambrose Vandel thôi không mô tả một cách thích thú việc ông bài trí cho một buổi vũ ba-lê sắp tới để trả lời câu hỏi đặt ra mà không cần phải nài nỉ nhiều.
- Sanderfield? Goeorge Sanderfield ư? Một lão già bẩn thỉu, lão lăn trên đống vàng nhưng đó là một tên dâm đãng. Đó là một đồng tiền giả! Quan hệ với một cô vũ nữ ư! Có có, thưa ông… Lão có quen biết với Katrina, Katrina Samoushenka. Chắc ông đã nhìn thấy cô ấy rồi chứ? Ôi! Thưa ông, một “Con Thiên Nga ở Tuoleta”, chắc chắn là ông đã xem vở biểu diễn đó! Tôi bài trí cho vở đó đấy. Và một vở khác, đó là “Con hươu trong rừng rậm”. Tôi không nhớ rõ là của Debussy hay là của Mannine. Cô ấy nhảy với Michael Novgin. Cả anh ta nữa, cũng rất là kỳ diệu phải không ông?
- Cô ta là bạn thân của George Sanderfield chứ?
- Phải. Cô ấy có thói quen đi nghỉ cuối tuần ở nông thôn. Ở đấy có những buổi đón tiếp tình cảm, đúng chứ?
- Ông thân mến, liệu ông có thể giới thiệu tôi với cô Samoushenka không?
- Nhưng cô ấy không ở đây nữa! Cô ấy bất chợt đi Paris hoặc ở nơi nào đó. Người ta nói rằng cô là một gián điệp Nga. Tôi thì tôi không tin! Nhưng nhiều người cứ hay nói những chuyện bịa đặt như vậy. Katrina thì bao giờ cũng thừa nhận mình là người Bạch Nga, cha cô là một hoàng tử hay quận công gì đó. Như thế lại càng tốt. Tôi nói với ông rằng nếu theo đúng như tinh thần của Bethsabée thì ông phải có phong cách của những người Xê-mích. Để giải thích, tôi…
Và ông ta tiếp tục bài diễn thuyết của mình một cách đầy hứng thú.

*

Cuộc gặp gỡ với ngài George Sanderfield của Hercule Poirot được tiến hành theo kiểu cầu may.
“Đồng tiền giả” như lời mô tả của Ambrose Vandel hình như đang khó ở. Ngài George là người béo và thấp. Tóc đen và cứng. Gáy có một ụ mỡ.
- Vâng, thưa ông Poirot, liệu tôi có thể giúp ông được việc gì đây? – Ông ta hỏi – Chúng ta… chúng ta hình như chưa gặp nhau lần nào. Tôi có nhầm không nhỉ?
- Chưa, chưa gặp.
- Thế thì có việc gì vậy? Tôi tò mò muốn biết, xin thú nhận là như thế…
- Ồ! Rất đơn giản… tôi muốn có một tin tức nhỏ.
- A! Ông muốn biết một nguồn vốn ư? – Chủ đầu tư nói bằng giọng khó chịu – Tôi không biết là ông thích công việc kinh doanh.
- Đây không phải là vấn đề kinh doanh mà là chuyện về một người đàn bà.
- A! Một phụ nữ – Ngài George thở phào, ngả lưng vào thành ghế.
- Ông có biết cô Katrina Samoushenka đúng không?
Sanderfield cười.
- Vâng, có biết. Một con người thú vị. Nhưng đáng tiếc là cô ấy đã rời khỏi Londres rồi.
- Tại sao cô ta lại bỏ đi?
- Ông thân mến, cái đó thì tôi không biết. Hình như có điều qua tiếng lại với nhà hát nơi cô làm việc. Cô ấy thường bị kích động, ông hiểu không. Một phụ nữ Nga chính cống. Rât tiếc là tôi không thể giúp gì cho ông. Tôi không biết cô ấy hiện ở đâu. Tôi không còn quan hệ gì với cô ấy.
Nói xong ông ta đứng lên. Theo ông cuộc gặp này đã kéo khá dài rồi.
- Tôi không tìm cô Samoushenka – Poirot vẫn ngồi yên nói.
- Nhưng vì sao…?
- Không, đây là vấn đề người hầu phòng của cô ta.
- Cô hầu phòng của cô ấy ư – Sanderfield ngạc nhiên hỏi lại.
- Chắc ông còn nhớ cô hầu phòng ấy?
Sanderfield một lần nữa tỏ ra rất ngạc nhiên.
- Trời ơi! Chuyện gì vậy? – Ông ta trả lời mà không mấy tin tưởng – Chắc chắn là như thế, tôi biết cô ấy có một… một cô hầu không tốt, hình như thế. Vô ý và chuyên lục lọi mọi nơi. Ở địa vị ông, tôi sẽ không tin vào một lời nào của cô ta. Cô ta là loại người đẻ ra là nói dối rồi.
- Nhưng ông còn nhớ cô hầu ấy chứ? – Poirot hỏi.
- Chỉ nhớ mang máng thôi – Sanderfield nói chữa lại – Cũng không nhớ cả tên cô ta nữa. Xem nào… Marie, một cái gì giống như thế… Không, đáng tiếc, tôi không nhớ ra.
- Nhà hát Thespis đã cho tôi biết tên cô hầu ấy là Marie Hellin… và địa chỉ nữa. Nhưng tôi hỏi về cô hầu làm việc với cô Samoushenka trước Marie Hellin tên là Nita Valetta kia.
- Tôi cũng không nhớ cả cô này nữa. Người tôi nhớ hơn cả là cô Marie ấy. Một cô gái ngăm đen, mắt gian giảo.
- Cô hầu tôi hỏi là cô đã ở nhà ông tại Grasslawn tháng sáu vừa rồi kia.
- Thôi, tất cả những gì tôi có thể nói là tôi không nhớ gì cả. Tôi cho rằng vào thời kỳ ông nói thì cô Katrina không có người hầu nào cả. Ông nhầm rồi.
Hercule Poirot lắc đầu. Anh không nhầm mà anh tin chắc.

*
0

Marie Hellin nhìn trộm Hercule Poirot rồi đưa cặp mắt ti hí nhưng thông minh về phía khác.
- Thưa ông, tôi nhớ rất rõ. Cô ta bằng giọng vô tư nói – Bà samoushenka cho tôi nghỉ việc vào cuối tháng sáu. Cô hầu phòng sau đó cũng chỉ làm việc trong thời gian rất ngắn.
- Cô có biết tại sao cô gái đó phải bỏ đi không?
- Không, có thể là cô ấy ốm. Bà chủ không nói gì cả.
- Bà chủ cô là người dễ chịu chứ?
Cô gái nhún vai.
- Tính nết bà ấy rất kỳ cục. Lúc cười, lúc khóc. Đôi khi quá thất vọng thì bà ấy không nói gì, không ăn uống gì. Có lúc thì vui sướng quá đáng. Các vũ nữ đều như vậy cả. Đây là vấn đề điều độ.
- Còn ngài George thì thế nào?
Cô gái hoạt bát hẳn lên và cặp mắt của cô đầy ác cảm.
- A! Ngài George ư? Hẳn là ông đã nói chuyện với ông ta chứ? Chỉ được vài lời xin lỗi thôi phải không! A! Về ông này thì tôi có thể nói được! Đây, khi…
- Không, không, vô ích – Poirot ngắt lời.
Cô ta nhìn anh với đôi mắt trợn tròn, miếng há hốc đầy giận dữ và thất vọng.

*

- Tôi tự nhủ là ông biết mọi chuyện, ông Alexis Pavlovitch ạ – Hercule Poirot thì thào với giọng nịnh khéo.
Anh nghĩ đến công việc thứ ba mà Hercule đã làm với sự chuyển dịch chỗ ở nhiều lần mà anh không thể tưởng tượng nổi. Sự biệt tăm của cô hầu phòng là vấn đề khó khăn nhất. mọi điểm theo dõi đều đứt quãng không thể tiếp nói được.
Điểm cuối cùng, tối nay, ở Paris, là khách sạn Au Samovar, một khách sạn mà chủ nhân là bá tước Alexis Pavlovitch thường khoe khoang là biết tường tận cuộc đời của các nghệ sĩ.
Thoạt tiên ông ta gật đầu thỏa mãn:
- Vâng, ông thân mến, đúng thế, tôi biết. A! Cô Samoushenka bé nhỏ ấy, cô vũ nữ tài ba ấy, người mà ông muốn biết, là cô ấy đã đi đâu ư? Thật là kỳ diệu! – Ông ta hạ thấp những ngón tay xuống – Đúng là một sự lãng quên! Đã xa rồi cái thời cô ấy là vũ nữ ba-lê… rồi bất chợt cô ra đi… đến nơi tận cùng của trái đất… và lập tức… A! Phải! Ngay lập tức người ta quên cô.
- Cô ta hiện ở đâu?
- Ở Vagray-les-Alpes bên Thụy Sĩ. Nơi nghỉ ngơi của những người bị ho làm cơ thể suy kiệt. Có thể là cô ấy sắp chết. Ôi, đúng như thế! Cô là định mệnh của tự nhiên. Chắc chắn là cô ấy sắp chết.
- Liệu ông có nhớ một cô trong số người hầu phòng của bà vũ nữ này không? Một cô tên là Nita Valetta ấy?
- Valetta? Valetta? Tôi nhớ là có thấy một cô hầu phòng bên cạnh Katrina trên sân ga. Một cô gái ở vùng Pisa nước Ý, có phải không. Phải, bây giờ thì tôi nhớ rõ, cô ấy là người Ý, từ vùng Pise.
- Nếu như vậy thì tôi phải tới Pise – Hercule Poirot càu nhàu.

*

Trong nghĩa trang Campo Santo ở Pise, Hercule Poirot đang ngắm nhìn một ngôi mộ.
Thế là cuộc điều tra của anh đã kết thúc… tại đây bên cạnh một nấm đất, dưới đó một sinh vật xinh tươi, từng làm rung động trái tim và trí tưởng tượng của một chàng thợ máy bình thường người Anh, đang nghỉ ngơi.
Đây có phải là một kết luận tốt nhất cho mối tình vừa lạ lùng vừa bất chợt này không. Bây giờ thì cô gái sống mãi trong ký ức của chàng trai, người chỉ được sống bên cô trong ít giờ ngắn ngủi trong một đêm hè. Cái đó tránh được mọi sự khác biệt về quốc tịch, và khoảng cách khi tỉnh mộng.
Hercule Poirot cúi đầu buồn bã. Anh nhớ lại câu chuyện giữa anh với gia đình Valetta. Người mẹ dáng vẻ nông dân, người cha ngập trong đau thương, người em da ngăm đen, môi khô cứng.
- Cái đó diễn ra nhanh quá, thưa ngài, nhanh quá. Đã nhiều năm cháu nó đau đớn… bác sĩ không cho chúng tôi lựa chọn… ông ấy nói phải mổ ngay ruột thừa. Ông ấy đưa nó đi bệnh viện và nó chết trước khi tỉnh lại.
Bà mẹ nức nở.
- Bianca rất thông minh – Bà thì thào – Thật là khủng khiếp khi nó chết trẻ như thế…
- Cô ta chết trẻ – Poirot nhắc lại một mình.
Đó là lời anh phải mang về cho chàng trai, người đã nhờ anh giúp đỡ với một sự tin cậy như vậy.
Cô ta sinh ra không phải để cho anh, anh bạn. Cô đã chết trẻ.
Cuộc điều tra của anh đã xong. Ngọn tháp Penchée cắt dọc bầu trời, những bông hoa đầu xuân nhô lên những nụ xanh nhạt hứa hẹn một cuộc sống tươi vui sắp tới.
Có phải là gió xuân đã làm cho anh có một tinh thần chống lại cái bản kết luận cuối cùng này không? Hay là do một cái gì đó? Một bóng ma của kỷ niệm… một tiếng… một lời nói? Tất cả những cái đó không thể kết thúc một cách rõ ràng với một sự chính xác cao chăng?
Nhà thám tử thở dài. Anh không thể để lại một nghi vấn nào. Và như thế anh còn phải tiếp tục cuộc hành trình để tới Vagray-les-Alpes.
Phải, anh nghĩ, đây chính là nơi tận cùng của trái đất. Lớp tuyết dày, những ngôi nhà nhỏ ở rải rác; trong mỗi nhà có một con người bất động đang đấu tranh lại cái chết tới một cách may rủi.

*

0
Khi nhìn thấy Katrina Samoushenka, má lõm, mặt đỏ bừng trong cơn sốt, đôi tay gày gò đặt trên tấm chăn đắp, lập tức anh nhớ lại. Không nhớ tên cô nhưng anh đã nhìn cô nhảy. Anh phát khùng, ngây ngất vì cái nghệ thuật cao thượng ấy đã bị lãng quên.
Anh đã thấy Michael Novgin, người thợ săn quay cuồng trong khu rừng huyền ảo sinh ra từ tưởng tượng của Ambrose Vandel. Anh đã thấy con hươu cái xinh đẹp mãi mãi thèm muốn, mãi mãi bị săn đuổi… Một sinh vật hiền lành, xinh tươi, có những chiếc sừng nhỏ trên đầu và chân cứng như đồng đang phóng nhanh. Và sau phát đạn, ngã xuống lần cuối, vết thương… và Michael hoảng hốt, xác con hươu cái trên tay.
Katrina Samoushenka nhìn nhà thám tử với vẻ ngạc nhiên:
- Tôi chưa từng gặp ông, có phải không? Ông muốn gì ở tôi?
Hercule Poirot cúi đầu.
- Thưa bà, trước hết tôi muốn cảm ơn bà về buổi chiều đẹp như thế này…
Cô cười lơ đãng.
- … Nhưng tôi tới đây vì công việc. Tôi đã đi tìm một trong số những người hầu gái của bà… Cô ta tên là Nita.
- Nita ư?
Cô nhìn anh, mắt mở to.
- … Bà biết những gì về Nita?
- Tôi sẽ nói cho ông biết sau.
Và rồi anh kể lại câu chuyện xe hơi của anh bị hỏng dọc đường, anh mô tả Ted Williamson, tình yêu và nỗi âu lo của anh ta. Cô gái chăm chú nghe.
- Thật là cảm động – Cô ta nói sau khi anh ngừng lời.
- Vâng, rất cảm động. Đúng như vậy – Hercule Poirot xác nhận – như là câu chuyện về Arcadie phải không? Thưa bà, bà có thể nói, về cô gái này?
Katrina Samoushenka thở dài.
- Tôi đã có một cô hầu phòng… tên là Juanita. Cô ấy rất xinh, vâng… vui vẻ, có trái tim nồng hậu. Cái gì đã xảy ra với những người mà Thượng đế hằng che chở. Cô ấy đã chết trẻ.
Poirot đã nghe nói về chuyện này và bây giờ anh gạn hỏi.
- Cô ta đã chết ư?
- Vâng.
Hercule Poirot yên lặng trong một phút đồng hồ. Sau đó anh hỏi tiếp:
- Có một điều mà tôi không rõ lắm. Tôi đã hỏi ngài George Sanderfield về cô hầu phòng của bà nhưng ông tỏ vẻ lạ lùng. Tại sao?
Có một sự phật ý lướt trên mặt của người vũ nữ.
- Ông ấy tưởng ông hỏi về Marie… cô gái tôi thuê sau khi Juanita thôi việc. Marie thường tìm mọi cách vòi tiền về một việc gì đó liên quan tới ông ấy, hình như thế. Đó là một cô gái xấu xí… vô ý tứ, đọc trộm thư và lục lọi các ngăn kéo.
- A! Cái đó đã giải thích tất cả – Anh lẩm bẩm – Họ của Juanita là Valetta và cô ta đã chết trong khi mổ ruột thừa ở Pise. Đúng như vậy chứ?
Anh nhận ra một sự ngập ngừng trước khi gật đầu của người vũ nữ.
- Vâng, đúng.
- Nhưng tại sao? – Poirot hỏi tiếp – Cha mẹ của cô ta lại gọi cô là Bianca chứ không gọi là Juanita?
- Bianca hay Juanita… thì có gì là quan trọng? Chắc chắn cô ta nhận thấy gọi là Juanita thì lãng mạn hơn tên thật của mình.
- Đó là cách giải thích của bà. Còn tôi, tôi có cách giải thích khác kia.
- Cách giải thích ấy như thế nào?
Poirot cúi thấp đầu về phía trước.
- Cô gái mà Ted Williamson gặp gỡ có bộ tóc vàng mà anh ta mô tả nó giống như đôi cánh vàng.
Anh đưa tay ra vuốt ve mớ tóc vàng của Katrina…
- … Cánh vàng hay sừng vàng? Thiên thần hay quỉ dữ? Đó là tùy theo mỗi người. Ít ra đây không phải là sừng vàng của con hươu cái bị thương chứ?
- Con hươu cái bị thương… - Katrina thất vọng lẩm bẩm.
- Sự mô tả của Ted Williamson làm tôi suy nghĩ nhiều… nó thể hiện một kỷ niệm không rõ ràng, không thể nắm bắt được… Và cái kỳ niệm ấy, đó là cô đã chạy trốn vào rừng với những chiếc chân nảy lửa. Liệu tôi có nên nói rõ suy nghĩ của mình không, thưa cô? Trong tuần lễ cô không có người hầu. Bianca Valetta đã trở về Ý, cô chưa mượn được người thay thế, cô phải tự thu xếp trong khi ở Grasslawn. Thời kỳ ấy cô đã thấy có những triệu chứng của bệnh tật và cô phải ở trong nhà khi những người khác đi du ngoạn. Có tiếng chuông gọi cửa và cô ra mở… Liệu tôi có phải nói rằng cô đã trông thấy ai không? Cô đã thấy xuất hiện một chàng trai đơn giản như một đứa trẻ và đẹp như một thiên thần! Với anh, cô đã tạo ra một cái tên, không phải là Juanita mà là Nita, và… trong nhiều giờ liền cô đã cùng chàng trai đi dạo ở Arcadie…
Một sự yên lặng kéo dài. Sau đó Katrina trả lời rất khẽ và mơ hồ:
- Ít nhất thì có một điều mà tôi đã nói thật với ông. Tôi đã nói cái kết luận thực sự của câu chuyện. Đó là Nita chết trẻ.
- A! Không – Hercule Poirot thay đổi vẻ mặt rất nhanh. Anh đấm tay xuống bàn – Cái đó tuyệt đối vô ích! Cô không cần phải chết! Có có thể chiến đấu để sống lâu như những người khác.
Cô ta lắc đầu không mấy tin tưởng:
- Cuộc sống còn có ý nghĩa gì với tôi?
- Không phải cuộc sống sân khấu, rõ ràng là như vậy. Nhưng cô hãy nghĩ tới một cuộc sống khác. Thật thà nói cho tôi biết, cô gái, ông thân sinh ra cô có đúng là một hoàng tử hoặc một đại quận công hoặc một đại tướng không?
Bất chợt cô ta cười.
- Cha tôi làm nghề lái xe tải ở Léningrad.
- Thật là tốt! Thế thì tại sao cô không thể trở thành vợ của một người thợ máy trong một xưởng sửa chữa ô tô nông thôn kia chứ? Sẽ có một đàn con đẹp như thiên thần và có thể chúng cũng sẽ nhảy giỏi như cô đã từng nhảy nữa kia chứ?
Katrina nín thở.
- Nhưng đó là một ý nghĩa khó mà tin được.
- Không có một trở ngại nào cả – Hercule Poirot tự khẳng định – Tôi tin chắc nó sẽ trở thành hiện thực.

0

MỘT VỤ TỐNG TIỀN


Harold Waring đã chú ý tới hai người phụ nữ khi họ từ con đường dưới hồ đi lên. Trời đẹp, bầu trời xanh ngắt, mặt trời nhấp nháy. Harold đang ngồi ở tầng trệt của khách sạn, hút tẩu và nghĩ đến cuộc sống tốt đẹp.
Hoạt động chính trị tạo cho người ta cái vẻ mãn nguyện. Một thứ trưởng ở tuổi ba mươi thì thật là tuyệt. Anh có thể tự hài lòng về mình. Ngài thủ tướng chẳng thường nói: Anh chàng Waring còn tiến xa! Cuộc sống hiện ra dưới những màu sắc rực rỡ.
Harold đã quyết định đi nghỉ ở Herzoslovaquie để tránh những con đường lớn, để tránh xa tất cả, tất cả. Khách sạn nằm bên hồ Stampka, tuy nhỏ nhưng rất đầy đủ tiện nghi. Khách trọ phần đông là những người nước ngoài. Người Anh ở đây chỉ có bà Rice một phụ nữ cao tuổi, và cô Clayton, con gái bà. Harold thấy mến cả hai. Cô Elsie Clayton rất xinh đẹp là loại người ăn mặc không theo thời trang. Cô ít trang điểm, nếu không muốn nói là không trang điểm, tính dè dặt gần như là nhút nhát. Bà Rice là loại người mà người ta gọi là có tính cách. To cao, giọng nói ồm ồm bà thường quen ra những quyết định, nhưng trí óc bà vẫn sáng suốt. Có thể nói bà chỉ sống vì con.
Harold dã có những giờ dễ chịu bên bà mẹ và cô gái nhưng họ không tìm cách giữ rịt lấy anh. Những người đi nghỉ trong khách sạn thường tổ chức từng nhóm đi du ngoạn. Họ chỉ ở đây một hoặc hai đêm rồi đi nơi khác, Harold đã chú ý đến điều này cho đến khi…
Hai người phụ nữ từ đường dưới hồ đi lên một cách chậm chạp. Đúng lúc Harold chú ý tới họ thì có một dám mây đen che khuất mặt trời. Chàng trai giật mình. Hai người đàn bà này có bộ dạng khác thường. Mũi dài và khoằm như mỏ chim, mắt nhìn chòng chọc. Họ giống nhau một cách kỳ lạ. Mỗi người đều khoác một chiếc áo choàng, hai vạt tung bay như đôi cánh lớn.
Hai bà này đi thẳng vào tầng trệt của khách sạn. Họ không còn trẻ, đã khoảng ngoại tứ tuần. Vẻ giống nhau có thể coi đây là hai chị em ruột. Khi đi qua chàng trai, họ nhìn anh rất lâu và chăm chú.
Harold cảm thấy khó chịu quay mặt đi nơi khác thì nhìn thấy một bàn tay có những ngón dài như vuốt của con thú…
Những người đàn bà ghê tởm làm sao! Đúng là những con ác điểu…
Khi nhìn thấy bà Rice đi đến thì những ý nghĩ đen tối của anh bị xua tan. Anh chạy lại và đẩy cho bà một chiếc ghế. Bà cảm ơn anh, ngồi xuống và theo thói quen bà đan lia lịa.
- Bà có nhìn thấy hai bà vừa tới khách sạn không? – Harold hỏi.
- Mặc áo khoác phải không? Có, tôi đã gặp họ.
- Họ thật khác thường, có đúng không?
- Thế nào? Đúng, có thể là như vậy. Tôi cho rằng họ mới tới đây. Họ rất giống nhau… Có thể là chị em sinh đôi.
- Có thể là tôi hay tưởng tượng – Chàng trai nói – Nhưng tôi thấy họ thật là kỳ quái.
- Thế ư? Tôi phải nhìn họ gần hơn mới được… Người gác cổng sẽ cho chúng ta biết họ là ai. Hình như họ không phải là người Anh.
- Ồ! Không phải
Bà Rice nhìn đồng hồ đeo tay.
- Đã tới giờ dùng trà rồi. Ông Waring, liệu ông có thể bấm chuông giúp được không?
Anh đi bấm chuông và trở về ghế ngồi.
- Chiều nay con gái bà có đi chơi đâu không? – Anh hỏi.
- Elsie ư? Một vòng quanh hồ sau đó là rừng thông. Thật tuyệt.
Người hầu bàn đưa trà tới.
- Elsie vừa nhận được thư của chồng – Bà Rice nói tiếp khi người phục vụ đã đi xa – Chắc chắn là nó không xuống đâu.
- Chồng cô ấy ư? – Harold ngạc nhiên nhắc lại – Tôi tưởng cô ấy góa chồng.
Bà Rice ném cho anh một cái nhìn bất chợt.
- Ồ! Không – Bà nói giọng khô khan – Nó không góa chồng. Thật là bất hạnh! – Giọng bà trở nên khoa trương.
Harold không che giấu nổi vẻ tò mò.
- … Phải, thưa ông Waring, việc say sưa chịu trách nhiệm về mọi sự đau khổ.
- Anh ấy uống rượu ư?
- Đúng. Hắn ghen một cách bệnh hoạn và vũ phu không thể tưởng tượng nổi – Bà thở dài nói – A! Thế gian mới tàn nhẫn làm sao thưa ông Waring. Tôi quí mến Elsie, đó là đứa con độc nhất của tôi… và khi thấy nó khổ sở thì tim tôi tan nát.
- Cô ấy hiền lành – Harold thật thà nói.
- Quá hiền nữa là khác, chắc chắn như thế.
- Thế nào?
- Một người phụ nữ sung sướng thì có lòng kiêu hãnh. Sự hiền lành của Elsie xuất phát từ sự thất bại, tôi cho là như thế. Cuộc đời đã vùi dập nó.
- Tại sao… tại sao cô ấy lại lấy anh ta?
- Philip Clayton là một chàng trai đầy quyến rũ. Hắn đã và sẽ còn hấp dẫn mọi người. Hắn có một gia tài lớn và không một ai cho chúng tôi biết tính nết thực sự của hắn. Tôi ở góa từ lâu. Hai người đàn bà độc thân sống bên nhau thì đó là những quan tòa tồi…
- Vâng, đúng như thế – Harold suy nghĩ nói.
Anh thương hại tình cảnh của Elsie Clayton vào tuổi chưa đến hai mươi nhăm. Anh nhớ lại cái nhìn trong sáng, cặp mắt xanh, vành môi cong. Và anh chợt nhận ra tình cảm của mình đối với cô gái ấy đã vượt quá một tình bạn đơn giản.
Và cô ấy đang sống với một con ác thú…

0
Sau bữa ăn, Harold tới gặp bà mẹ và cô con gái. Elsie Clayton mặc một chiếc áo màu nhạt. Hẳn là cô ta đã khóc, mắt đỏ hoe.
- Tôi đã biết hai mụ nữ yêu tinh mình chim của ông là ai rồi - Bà Rice nói với giọng vui vẻ – Những người Ba Lan, trong một gia đình quí phái, người gác cổng đã nói với tôi như thế.
Harold nhìn về phía hai phụ nữ Ba Lan.
- Hai bà kia ư – Elsie vô tư hỏi – Hai bà tóc nhuộm kia ư? Họ như một cái gì để gây tai họa… tôi không hiểu tại sao.
- Đúng như điều tôi đã nói! – Harold nói với vẻ chiến thắng.
Bà Rice cười.
- Hai người thật là kỳ cục – Elsie thật thà xác nhận – Nhìn họ con liên tưởng tới những con chim kền kền.
- Chúng thường móc mắt những xác chết để ăn! – Harold nói thêm.
- Ôi! Không – Người đàn bà trẻ sợ hãi kêu lên.
- Tha lỗi cho tôi.
- Mong sao họ không gặp chúng ta trên đường đi dạo – Bà Rice nói.
- Chúng ta chẳng có bí mật tội lỗi gì cả – Elsie tuyên bố.
- Nhưng ông Waring có cái đó thì sao – Người mẹ nháy mắt nói.
- Không khi nào, cuộc đời tôi như cuốn sách để mở.
“Những người không chịu đi theo con đường ngay thẳng thì thật là điên rồ”. Anh chợt nghĩ. Một lương tâm trong sáng, đó là cái mà người ta cần trong cuộc sống. “Những cái đó giúp người ta đối mặt với thế gian, xua đuổi những kẻ muốn anh đi chệch đường”.
Anh cảm thấy mình rất mạnh, tuyệt đối mạnh, để làm chủ số phận của mình. Cũng như mọi người Anh, Harold Waring rất kém về ngoại ngữ. Tiếng Pháp của anh mới ở trình độ bập bẹ và phát âm theo kiểu tiếng Anh. Anh không biết một tiếng Đức nào, cả tiếng Ý cũng vậy.
Nhưng cho đến bây giờ anh không cảm thấy phiền phức. Trong hầu hết các khách sạn ở lục địa, bao giờ cũng có ai đó biết nói tiếng Anh.
Cái vùng hẻo lánh mà tiếng nói hầu hết là của người Slave, chỉ có người gác cổng biết nói tiếng Đức, anh phải cầu cứu đến một người phiên dịch. Bà Rice biết nhiều thứ tiếng nhưng giọng bà vẫn pha lẫn giọng Slave. Harold quyết định mình phải học tiếng Đức. Trời đẹp và sau khi học được vài chữ, anh thấy đã đến giờ đi dạo trước bữa ăn. Anh đi theo con đường xuống hồ, rồi đi vào rừng thông. Sau khi đi khoảng chừng năm phút, tai anh bắt gặp một tiếng động. Không thể nhầm lẫn được: cách chỗ anh đứng một vài mét một phụ nữ đang khóc nức nở.
Harold dừng lại một lúc sau đó anh đi về phía có tiếng khóc. Elsie Clayton đang ngồi trên một thân cây, tay ôm mặt, thổn thức.
- Bà Clayton – Harold dịu dàng gọi – Elsie đó phải không?
Cô ta giật nẩy mình, ngẩng mặt lên nhìn anh. Anh ngồi xuống bên cô.
- … Tôi có thể làm được gì? – Anh nồng nhiệt hỏi.
Cô ta lắc đầu.
- Không… Không… Ông rất tốt. Nhưng ông không thể giúp gì được tôi đâu!
- Có phải vì… chồng bà không? – Anh khó chịu hỏi lại.
Cô gật đầu. Sau đó cô lau mặt, lấy ra một hộp phấn, đấu tranh để lấy lại sự can đảm.
- Tôi không muốn mẹ tôi lo lắng- Cô run rẩy nói – Mẹ tôi sẽ rất hoảng hốt khi thấy tôi đau khổ. Thế là tôi tới đây để khóc. Thậy là ngốc nghếch, tôi biết điều đó… Nhưng… nhiều khi cuộc đời hình như không thể chịu đựng nổi.
- Tôi lấy làm tiếc – Harold nói.
Cô nhìn anh với cái nhìn biết ơn. Sau đó nói rất nhanh:
- Tất cả do lỗi của tôi. Tôi đã kết hôn với Philip với tất cả tấm lòng. Nếu xảy ra chuyện gì, thì người đáng trách độc nhất là tôi.
- Bà thật can đảm khi nói rõ sự tình theo cách đó.
Cô ta lắc đầu:
- Ồ! Không, tôi không can đảm. Tôi cũng không mạnh dạn nữa, tôi hèn nhát. Sống với Philip thật là đáng lo ngại. Anh ta làm tôi run lên khi lên cơn điên dại, tôi chết khiếp.
- Nhưng phải rời bỏ hắn ta! Harold kêu lên.
- Tôi không dám. Anh ta… anh ta không ly hôn tôi đâu.
- Thật là nực cười. Tại sao bà không ly hôn hắn.
- Tôi không có một lý do gì – Cô ta đứng lên – Không, tôi phải theo số phận của mình. Ông biết đấy, tôi luôn luôn sống bên mẹ tôi. Philip sẽ thấy không có trở ngại gì. Nhưng khi chúng ta đi từ con đường này ra…
Cô đỏ mặt ngập ngừng một chút khi nói tiếp:
- Anh ta rất ghen! Chỉ cần tôi vô ý nói đến tên một người đàn ông nào đó thì sẽ có những cảnh tượng kinh khủng đối với tôi.
Sự bực bội của Harold tăng lên. Anh đã nhiều lần nghe những chuyện ghen tuông của người chồng đối với vợ. Anh cho rằng như vậy là đúng, người chồng thường là có lý. Nhưng Elsie Clayton không phải là người đàn bà lẳng lơ. Chưa bao giờ cô đưa mắt tống tình anh.
Elsie tránh xa anh với vẻ run rẩy. Cô ngước mắt nhìn lên trời.
- Mặt trời sắp lặn. Trời rét. Tốt nhất là chúng ta trở về khách sạn. Sắp đến giờ ăn rồi.
Họ đứng lên và đi về khách sạn. Đi khoảng một phút đồng hồ họ thấy một bóng người đi phía trước. Họ nhận ra chiếc áo khoác. Đó là một trong hai người phụ nữ Ba Lan.
Họ vượt qua và Harold cúi đầu chào. Bà ta không trả lời nhưng nhìn họ chằm chằm làm chàng trai đỏ mặt. Người đàn bà ấy có nhìn thấy họ ngồi trên thân cây lúc nãy không? Chắc chắn bà ta nghĩ rằng…
Dù thế nào đi nữa bà ta cũng nghĩ rằng… Một nỗi bực dọc mơ hồ nổi lên.
Trời ơi! Có những phụ nữ suy nghĩ khá tầm bậy!
Mặt trời đã lặn… hai người đều cảm thấy lạnh… có phải đây là lúc ấy bà ta đang rình mò họ không?
Bất chợt Harold cảm thấy khó chịu.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-19 15:48:47khachxa>
Harold trở về phòng mình lúc khoảng mười giờ. Người phu trạm đã tới và anh nhận được rất nhiều thư từ. Có một số thư đòi hỏi anh phải trả lời ngay.
Mặc quần áo ngủ, anh bắt tay làm việc. Anh đã viết được ba lá thư và bắt đầu viết lá thư thứ tư. Đúng lúc ấy cửa phòng anh bật mở như bị gió thổi mạnh và Elsie chạy vội vào phòng.
Harold vội vàng đứng lên. Elsie đóng cửa và đứng sững bên cạnh chiếc tủ thấp. Mặt tái nhợt như người chết, cô thở đứt quãng. Cô như đang khiếp đảm.
- Chồng tôi! – Cô lắp bắp – Anh ta đến bất chợt. Tôi cho rằng anh ta muốn giết tôi… Anh ta điên rồi… Xin che chở cho tôi. Đừng để anh ta tìm được tôi.
Cô bước một vài bước. Cô run rẩy đến mức đi loạng choạng sắp ngã. Harold phải đưa tay ra đỡ lấy cô. Cùng lúc ấy cửa bật mở và một người đàn ông đứng sững ở ngay đấy. Người tầm thước anh ta lông mày rậm, tóc nâu chải bóng. Tay anh ta vung vẩy một chiếc mỏ-lết lớn.
- Thế là bà già người Ba Lan nói có lý! - Anh ta nói giọng điên dại, the thé – Mày vui thú với con người này!
- Không! Philip, không phải – Elsie kêu lên – Không đúng đâu. Anh nhầm rồi!
Người đàn ông tiến lên, đe dọa và Harold đứng trước che cho người đàn bà trẻ.
- Tao nhầm mà tao lại tìm thấy mày trong phòng của nó! Đồ đĩ! Tao phải giết mày!
Anh ta tìm cách đẩy Harold và túm lấy Elsie đang kêu khóc.
Harold tìm cứu cho người đàn bà. Nhưng Philip chỉ có một ý định, tóm được cô. Sợ hãi, Elsie chạy ra cửa đang để ngỏ và người chồng của cô lập tức đuổi theo. Không để chậm một giây, Harold cũng lao theo họ.
Elsie chạy vội vào phòng của mình ở phía đầu hành lang. Harold nghe thấy tiếng chìa khóa đang khóa phía trong cửa. Nhưng đã quá muộn, Philip Clayton đã có thời gian đẩy cửa và bước vào trong phòng. Elsie kêu lên một tiếng kinh hoàng. Harold chạy tới…
Người đàn bà đứng trước cửa sổ, tay túm chặt lấy tấm màn che đang kêu van. Philip Clayton chạy đến phía cô, giơ cao chiếc mỏ-lết lớn. Elsie kêu lên một tiếng khiếp đảm, tay cầm lấy chiếc chặn giấy nặng trên bàn ném vào đầu người chồng.
Clayton ngã xuống như một chiếc bao nặng. Harold đứng chết lặng bên cạnh cửa. Người vợ trẻ quì xuống bên cạnh chồng bất động.
Người ta nghe thấy tiếng khóa mở trong hành lang.Elsie đứng phắt lên chạy đến bên Harold.
- Tôi xin ông – Cô nói với giọng run rẩy – Ông trở về phòng mình ngay đi… Người ta sẽ tới dây… và sẽ thấy ông ở đây.
Vừa rồi, Clayton chưa đánh vợ. Nhưng có thể là người ta đã nghe thấy tiếng kêu của Elsie. Nếu người ta trông thấy Harold ở đấy thì sẽ có những chuyện phiền phức và khinh bỉ. Đối với anh cũng như đối với cô, tốt hơn là không nên để xảy ra một vụ tai tiếng.
Khi anh vừa trở về phòng mình xong thì anh nghe thấy tiếng một cánh cửa ở một phòng nào đó kẹt mở.
Anh không ngủ và chờ. Sớm hoặc muộn thì Elsie cũng sẽ tới. Anh biết cái đó. Anh đợi hơn một tiếng đồng hồ. Rồi có tiếng gõ nhẹ cửa.
Không phải là Elsie mà là mẹ cô với dáng vẻ làm anh kinh ngạc. Bà ta đột nhiên già thêm mười tuổi. Mớ tóc màu xám rối bù và mắt thâm quầng.
Anh vội vàng đưa ra một chiếc ghế. Bà ngồi xuống thở dốc.
- Thưa bà, hình như bà quá xúc động. Tôi mời bà uống gì đây?
Bà ta lắc đầu:
- Không. Đừng bận rộn về tôi. Tôi khỏe. Đó chỉ là một cú sốc, thưa ông Waring, đã có một chuyện ghê gớm xảy ra.
- Clayton bị thương có nặng không?
- Anh ta chết rồi.
Gian phòng hình như quay cuồng. Harold không thể nói lên thành tiếng sau nhiều giây đồng hồ.
- Chết ư? – Anh hỏi lại bằng một giọng mơ hồ.
- Cạnh cái chặn giấy đập trúng vào thái dương – Bà Rice nói một cách đơn điệu, mệt mỏi - Sau đó anh ta ngã, đầu đập vào lò sưởi. Tôi không hiểu do đâu mà anh ta chết, do cái chặn giấy hoặc do lò sưởi… nhưng anh ta đã chết… cái đó thì chẳng nghi ngờ gì nữa.
Một tai họa, tai họa… Harold không thể nghĩ đến chuyện gì khác nữa.
- Đó là một tai nạn. Tôi đã trông thấy hắn ta! – Anh ta nói một cách hăng hái.
- Đúng như vậy! - Bà Rice khô khan trả lời – Tôi biết cái đó. Nhưng… nhưng… mọi người có chịu tin như thế không? Tôi… thật ra tôi rất sợ. Chúng ta không phải đang ở Anh quốc.
- Tôi có thể chứng nhận hành động của Elsie – Chàng trai thong thả nói.
- Phải… Và nó có thể chứng nhận hành động của ông, thế đấy!
Harold với bản chất thông minh và thận trọng, hiểu rõ điều bà ta nói và thế yếu của anh và Elsie.
Anh đã có nhiều thời gian ngồi bên Elsie. Mặt khác, một trong hai người đàn bà Ba Lan đã trông thấy họ trong rừng thông, một trong những điều kiện có thể bị nghi vấn. Hai người phụ nữ ấy có vẻ như không biết tiếng Anh, nhưng cũng có thể họ biết một vài từ như “ghen”, “chồng” chẳng hạn. Trong mọi trường hợp sự giận dữ, ghen tuông của Clayton đã làm anh nhớ lại những điều mà người ta đã nói với anh. Và anh, Harold, lại đang ở trong phòng của Elsie khi chồng cô ta chết. Chẳng ai có thể chứng minh là anh đã không giết chết Philip Clayton bằng chiếc chặn giấy cả… Là người chồng, hắn không thể không ngạc nhiên khi trông thấy vợ đang trong đôi tay của anh. Chỉ có Elsie là nói ngược lại. Nhưng liệu người ta có tin cô không?
Bất chợt anh lạnh người vì sợ hãi.
0
Không, không chỉ trong chốc lát mà người ta có thể ghép họ vào tội chết được chỉ vì một cái chết mà họ không gây ra, cả với Elsie và anh nữa. Người ta chỉ có thể gán cho họ cái tội giết người không cố ý mà thôi. Nhưng liệu có cái tội danh đó trong cái xứ sở xa xôi này không nhỉ? Nhưng dù chỉ để chứng minh sự vô tội của họ thì điều đó cũng cần phải có một cuộc điều tra… Báo chí sẽ đăng tin… Một nhà chính trị trẻ tuổi có tương lai… Một người chồng ghen tuông, một người đàn bà xinh đẹp… Nghề nghiệp của anh không thể đứng vững trước một vụ bê bối như thế.
- Liệu người ta có thể giấu xác chết đi không nhỉ? – Đột nhiên anh hỏi – Chuyện giết người sẽ không có nữa.
Và anh đỏ mặt trước con mắt phản đối của bà Rice.
- Ông Harold thân mến, chúng ta không sống trong một cuốn truyện trinh thám! Thật là điên rồ khi muốn làm như vậy.
- Phải, đúng thế, anh thừa nhận. Nhưng làm gì đây? Trời ơi, làm gì đây?
Bà Rice lắc đầu, chau mày suy nghĩ một cách tuyệt vọng.
- Phải làm một cái gì chứ? – Harold nài nỉ – Bất cứ một cái gì để tránh khỏi tai họa ấy.
- Elsie, con gái nhỏ bé của tôi – Bà Rice rên rỉ – Tôi có thể vì nó mà làm bất cứ việc gì. Nó sẽ chết mất… Cả ông nữa, cả sự nghiệp của ông, tất cả…
- Không nên nghĩ đến tôi – Harold nói.
- Như thế là không công bằng… Tôi, tôi biết giữa hai người không có chuyện gì… Nhưng những người khác…
- Ôi! Thật là bất hạnh. Chúng ta lại không đang ở Anh quốc!
- Nhưng… - Bà Rice ngẩng đầu – Đúng, chúng ta không đang ở Anh quốc. Tôi tự hỏi liệu có thể…
- Sao? – Harold nói.
- Ông có bao nhiêu tiền ở đây? – Bà Rice hỏi sỗ sàng.
- Không nhiều lắm. Nhưng tôi có thể đánh điện tín về nhà để họ gửi thêm cho tôi.
- Chúng ta cần nhiều tiền đấy – Bà già nói một cách cay đắng – Nhưng tôi thấy cái đó đáng giá với những khó khăn mà chúng ta phải gỡ ra.
Harold thấy có một tia sáng hy vọng.
- Bà có ý kiến gì.
- Chúng ta không thể tự mình che giấu cái chết đó, nhưng chúng ta có thể hủy bỏ vụ này một cách công khai.
- Bà tin là như vậy ư? – Harold hỏi một cách đầy hy vọng nhưng cũng có đôi chút nghi ngờ.
- Vâng! Người quản lý khách sạn sẽ ở phía chúng ta. Lão ta không có lợi ích gì để tiết lộ vụ này. Tôi biết cái đó qua kinh nghiệm, người ta có thể mua tất cả những gì mình muốn ở vùng Ban-căng… Còn cảnh sát thì lại càng hư hỏng hơn những nhân viên hành chính… May mắn thay, tôi có cảm giác rằng không một ai trong khách sạn chú ý đến những việc đã xảy ra.
- Ai ở căn phòng kế bên phòng của cô Elsie?
- Hai bà người Ba Lan. Họ không nghe thấy gì cả nên họ không chạy ra hành lang. Philip tới lúc khi khuya. Không ai trông thấy hắn, trừ tên gác cổng. Chúng ta có thể có được một giấy chứng nhận về một cái chết bình thường không? Còn những kẻ khác thì chỉ cần cho đủ nhờn miệng là được… và phải tìm người mà chúng ta cần… chắc chắn đó là viên cảnh sát trưởng.
- Cái đó như một vở hài kịch – Harold cười gượng gạo – Cuối cùng thì chúng ta có thể làm thử xem.
Bà Rice tỏ rõ tính năng động của mình. Bà bắt đầu bằng việc gặp người quản lý khách sạn. Harold ngồi trong phòng mình. Anh đã thỏa thuận với bà ta là anh đứng ngoài cuộc. Người ta chỉ nói về sự cãi cọ vợ chồng. Vẻ xinh đẹp, trẻ trung của Elsie làm cho cô được mọi người yêu mến.
Sáng hôm sau rất nhiều nhân viên cảnh sát tới khách sạn. Người ta dẫn họ vào phòng bà Rice. Đến trưa thì họ ra về. Harold đã đánh điện về nhà yêu cầu gửi tiền cho anh nhưng anh không tham dự gì vào những công việc đang xảy ra. Việc này cũng chẳng ích gì vì không một nhân viên cảnh sát nào biết nói tiếng Anh
Buổi chiều, bà Rice vào phòng của anh. Sắc mặt xanh xám có vẻ mỏi mệt. Nhưng người ta có cảm giác yên tâm khi nhìn nét mặt của bà.
- Cái đó xong rồi! – Bà nói một cách đơn giản.
- Trời phù hộ! Bà thật là kỳ diệu! Thật là không thể tưởng tượng được!
- Nhưng từ sự dễ dàng ấy, người ta có thể tin rằng không có gì là không bình thường. Họ đã giơ tay ra nhận tiền. Thật là… ghê tởm!
- Chưa phải là lúc phê phán tệ ăn hối lộ của các cơ quan chính quyền – Harold khô khan nói – Hết bao nhiêu?
Bà đọc một bảng kê những con số cùng với danh sách người.
- Ông đồn trưởng cảnh sát.
- Ông thanh tra cảnh sát.
- Những nhân viên cảnh sát.
- Ông bác sĩ.
- Ông quản lý khách sạn.
- Người gác cổng.
Harold chỉ có thể có một lời bình luận.
- Người gác cổng thì chẳng quan trọng gì – Anh nói.
- Theo cách nói công khai, cái chết không xảy ra ở khách sạn. Philip bị đau tim đột ngột trên xe lửa. Hắn rơi xuống đường… ông biết đấy, họ luôn luôn để ngỏ cửa. Công việc mà cảnh sát sắp đặt thì thật là phi thường!
- Thật là sung sướng khi cảnh sát nước ta không giống như vậy.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-20 16:53:13khachxa>
Bữa ăn kết thúc, chàng trai tới gặp bà Rice và con gái bà để dùng cà-phê. Anh quyết định không thay đổi những thói quen thường ngày.
Anh chưa gặp lại Elsie từ cái đêm ấy. Cô rất xanh và run rẩy sau cơn choáng váng. Nhưng cô đã có sự cố gắng đáng khen để lấy lại tư cách cư xử như trước kia.
Họ đang trao đổi ý kiến về quốc tịch của một ông khách mới tới trọ. Harold đoán rằng ông ta là người Pháp vì có bộ ria mép giống anh. Elsie cho rằng ông ta là người Đức, và bà Rice, người Tây Ban Nha.
Một người họ ở tầng trệt, trừ hai bà người Ba Lan. Cũng như mọi lần, Harold không khỏi rùng mình khi nhìn thấy họ.
Một người hầu bàn tới nói nhỏ với bà Rice. Bà ta đứng lên đi theo người này ra cửa gặp một nhân viên cảnh sát.
Elsie hoảng hốt kêu lên:
- Ông…. Ông có tin rằng có chuyện gì đó xảy ra không?
- Không, không – Harold mạnh dạn trả lời. Nhưng tim anh thắt lại.
- Mẹ cô thật là kỳ diệu – Anh nói thêm.
- Phải. Mẹ tôi không chấp nhận thất bại… thật đáng sợ.
- Không nghĩ đến nó nữa. Mọi việc đã xong.
- Tôi không thể không nghĩ là… là tôi đã giết hắn.
- Bỏ cái ý nghĩ ấy đi! Đây là một tai nạn. Cô biết rõ cái đó… Hơn thế, nó là quá khứ. Chúng ta hãy cố gắng quên nó đi.
Bà Rice quay lại.
- Tôi sợ quá - Bà ta vui vẻ nói – Một thủ tục giấy tờ. Tất cả tốt đẹp. Hình như chúng ta có thể làm một việc gì đó, như vậy mới xứng đáng với sự mệt nhọc.
Họ gọi rượu.
- Vì tương lai – Bà Rice nhấc cốc nói.
Harold cười với Elsie.
- Vì hạnh phúc của cô!
Cô cười với anh.
- Vì hạnh phúc của ông – Cô trả lời, giọng chiến thắng. Tôi tin chắc ông sẽ trở thành người có tiếng tăm lớn.
Sau khi sợ hãi, họ trở nên vui vẻ, gần như là thoải mái. Bóng đen đã bị xóa sạch. Tất cả trở nên tốt đẹp…

Bên kia tầng trệt, hai người đàn bà mũi khoằm đứng lên, cẩn thận xếp chiếc áo đan dở lại rồi đi tới quầy rượu.
Họ gật đầu ra hiệu cho bà Rice mời bà tới ngồi bên họ. Một trong hai bà bắt đầu nói, bà kia nhìn chằm chằm vào Harold và Elsie. Một nụ cười thoáng hiện trên môi bà ta… một nụ cười ác ý…
Bà Rice chăm chú nghe, thỉnh thoảng nói một đôi câu. Harold không hiểu họ nói gì với nhau nhưng thấy sự vui vẻ đã biến mất trên mặt của bà Elsie.
Hai bà người Ba Lan đứng lên, sau khi nghiêng mình, họ đi vào khách sạn.
- Có vấn đề gì vậy? – Harold bồn chồn hỏi bà Rice.
- Hai người đàn bà ấy muốn tống tiền chúng ta. Họ đã nghe thấy mọi chuyện cái đêm hôm ấy. Việc chúng ta muốn bịt kín câu chuyện trở nên trăm lần tồi tệ hơn… - Bà Rice trả lời với giọng thất vọng…
Harold Waring đứng bên hồ. Anh bồn chồn đi đi, lại lại hơn một tiếng đồng hồ vì sự thất vọng đã xâm chiếm lấy mình. Anh đến đúng chỗ lần đầu tiên anh gặp hai người đàn bà quái ác đang nắm cuộc sống của Elsie và của anh bằng những móng nhọn của họ.
- Quỉ tha ma bắt hai con yêu tinh ấy đi! – Anh quát to.
Một tiếng ho nhẹ làm anh quay lại và anh thấy mình đang đứng trước mặt một người đàn ông râu mép rậm rạp. Chắc chắn ông ta đã nghe thấy tiếng kêu của anh và anh thấy khó chịu không biết nói gì ngoài việc chào một ngày tốt lành.
- Nhưng hình như cái đó cần cho ông! – Người ấy trả lời bằng tiếng Anh rất rành mạch.
- Có nghĩa là… là…
- Ông đang có sự lo lắng, thưa ông. Tôi có thể giúp ông được việc gì không?
- Ồ! Không! Cảm ơn ông nhiều! Tôi… tôi đi xả hơi!
- Nhưng tôi có cảm giác rằng tôi có thể giúp ông được. Tôi không nhầm lẫn, có đúng không, khi nhìn thấy vẻ lo lắng của ông với hai người đàn bà ngồi ở tầng trệt khách sạn trưa nay?
Harold nhìn ông ta với vẻ ngạc nhiên:
- Ông biết một chuyện gì đó về họ ư? Nhưng trước hêt, ông là ai?
- Tôi là Herucle Poirot – Người đàn ông thấp người trả lời như ông là một vị trong hoàng tộc. Chúng ta hãy đi dạo dưới rặng cây và ông hãy kể cho tôi nghe câu chuyện đã xảy ra.
Harold không hiểu tại sao mình lại kể mọi chuyện với người mà anh chỉ mới biết một vài phút trước đây. Có lẽ vì thần kinh anh quá căng thẳng…
0
Poirot chăm chú nghe, gật đầu, đôi lúc lắc đầu vẻ nghiêm trang:
- Những con chim trên hồ Stymphale, những con quái vật mỏ thép ăn thịt người… phải chúng đã gây ra những việc này – Anh mơ màng nói khi Harold kể xong câu chuyện.
Chàng trai nhìn anh với vẻ lạ lùng.
- Ông nói gì?
- Tôi suy nghĩ, thế thôi. Tôi có cách nhìn sự kiện riêng của mình. Còn ông thật là khó khăn.
- Ông nói về người nào vậy?
- Việc tống tiền như vậy chỉ là một trò cười. Những con yêu tinh ấy sẽ còn bắt ông nộp tiền, nộp tiền mãi mãi. Chuyện gì xảy ra nếu ông từ chối?
- Sẽ mất hết – Harold chua chát trả lời – Sự nghiệp của tôi sẽ sụp đổ và một phụ nữ khốn khổ trước nay không làm hại ai sẽ sống trong cảnh địa ngục. Thượng đế cũng không hiểu ra sao nữa!
- Phải, cần làm một cái gì đó.
- Cái gì?
Hercule Poirot lim dim mắt và một lần nữa Harold nghi ngờ sự thăng bằng của thần kinh người này khi nghe thấy anh ta lẩm bẩm:
- Đã đến lúc phải dùng đến những chiếc thanh la bằng đồng.
- Ông điên à?
- Không. Tôi chỉ cố gắng làm theo Hercule thời xưa. Ông hãy cố chờ một vài tiếng đồng hồ nữa, ông bạn. Ngày mai, chắc chắn là như thế, tôi sẽ giải thoát ông khỏi những tên đao phủ ấy.
Harold Waring đi xuống tầng trệt vào sáng hôm sau để tìm Hercule Poirot đang ngồi một mình ở đó. Tự nhiên mặt anh nóng bừng. Anh tiến lại gần người ấy.
- Thế nào? – Anh lo ngại hỏi.
- Tốt rồi.
- Ông muốn nói gì?
- Tất cả được giải quyết bằng cách thích hợp.
- Nhưng cái gì đã xảy ra?
- Tôi đã dùng những chiếc thanh là bằng đồng… Phải, nếu ông thích nghe như vậy, tôi đã gõ lên… Tóm lại, tôi đã đánh điện tín. Những con chim trên hồ Stymphale của ông đã ở một nơi mà chúng không thể gây tội ác được nữa. Thưa ông.
- Cảnh sát đã tìm họ? Người ta đã bắt chúng?
- Đúng như vậy.
Harold thở phào.
- Thật là kỳ diệu? Tôi chưa bao giờ tưởng tượng được… - Anh đứng lên – Tôi phải đi báo tin cho bà Rice và Elsie mới được!
- Họ biết rồi.
- A! Hay quá! – Anh ngồi xuống – Ông hãy cho tôi biết làm thế nào… Bất chợt anh ngừng nói.
Hai người đàn bà mũi như mỏ chim từ con đường dưới hồ đi lên. - … Nhưng ông vừa mới nói với tôi là cảnh sát đã bắt họ rồi?
Hercule Poirot theo dõi cái nhìn của chàng trai.
- Ô! Những bà kia ư? Nhưng họ hoàn toàn vô tội. Những bà người Ba Lan dòng dõi quí phái. Có thể là diện mạo của họ hơi khó coi, thế thôi.
- Nhưng tôi không hiểu!
- Không, đúng như vậy. Cảnh sát bắt những người đàn bà khác kia… Mụ Rice xảo quyệt và con bé Elsie khóc sướt mướt kia. Chúng là những con chim săn mồi nổi tiếng. Chúng sống bằng nghề tống tiền, ông bạn thân mến.
Harold có cảm giác đất dưới chân anh sụt lở.
- Nhưng – Anh nói bằng giọng yếu ớt – Nhưng… người đàn ông… người bị giết thì sao?
- Không một ai bị giết cả. Không có người đàn ông nào cả.
- Tôi đã nhìn thấy người ấy.
- Nhưng không. Mụ Rice với giọng ồm ồm đóng vai nam giới rất giỏi. Mụ đã đóng vai người chồng, đội bộ tóc giả màu nâu vào và hóa trang cẩn thận.
Poirot cúi xuống để vỗ nhẹ đầu gối của người ngồi bên cạnh.
- … Không được nhẹ dạ, cả tin, ông bạn. Người ta không dễ mua chuộc cảnh sát trong bất cứ quốc gia nào, nhất là trong những vụ giết người! Vì biết cả tiếng Anh và tiếng Pháp nên mụ Rice đã điều hành mọi việc. Cảnh sát đã vào phòng của mụ. Đúng. Nhưng vì chuyện gì thì ông lại không biết. Có thể mụ ta bịa ra chuyện đánh mất một chiếc bàn chải răng hoặc một món đồ nữ trang nào đó. Nhưng ông đã nhìn thấy. Đó là cái chính. Ông đã yêu cầu người nhà gửi tiền đến cho ông và ông đưa tiền cho mụ Rice giải quyết mọi việc! Thế đấy! Những con chim săn mồi ấy không bao giờ thấy no nê. Chúng đã thấy ông ghét hai bà người Ba Lan khốn khổ. Hai bà có cuộc nói chuyện bình thường với mụ Rice nhưng chúng không bỏ lỡ cơ hội để tiếp tục cuộc chơi… Ông còn phải bỏ ra nhiều tiền hơn nữa.
Harold phải cố gắng lắm mới hỏi thêm được một câu:
- Còn Elsie… Elsie?
Hercule Poirot tránh không nhìn mặt anh.
- Con bé đóng vai trò của mình rất khéo. Nó thường đóng vai như thế luôn. Đó là một nữ diễn viên giỏi. Nó làm ra vẻ trong trắng… vô tội. Nó biết thức tỉnh những tinh thần hiệp sĩ… Cái đó bao giờ cũng thành công với những người Anh chúng ta.
- Tôi sẽ trở lại làm việc và học tất cả những ngoại ngữ của châu Âu. Đây là lần cuối cùng tôi bị lừa dối theo cách đó!
0
[size=5]BỨC HỌA CỦA RUBENS


“Vụ này dẫn tới vụ kia”, đó là lời Poirot thường nói đến mà không cho biết rõ nguồn gốc của ý kiến này.
Anh chỉ nói thêm là cái đó có những chứng cứ được minh xác, nhất là trong vụ bức họa của Rubens bị đánh cắp.
Vụ này không làm anh thích thú. Một phần, bức họa chỉ có vinh dự đối với anh về phương diện hội họa. Phần khác trường hợp nó bị đánh cắp thì chằng có gì là khác thường cả. Anh đảm nhiệm việc điều tra vụ này chỉ để làm hài lòng ông Alexander Simpson, người đối với anh như người bạn thân, và vì những lý do cá nhân liên quan đến một số kỷ niệm thần thoại khác nữa.
Sau khi mất trộm, Alexander đã mời Poirot tới và thốt ra những lời lẽ giận dữ. Bức họa của Rubens mới được phát hiện ra trong thời gian gần đây. Đó là một tác phẩm ít được biết đến nhưng đã được công nhận khi trưng bày trong phòng triển lãm của Simpson. Người ta đã ăn trộm nó giữa ban ngày, ban mặt. Đó là thời kỳ mà những người thất nghiệp có thói quen nằm ăn vạ ở vỉa hè hoặc tràn vào nhà hàng Ritz. Một vài người trong số họ đã vào phòng triển lãm Simpson, dạo khắp nơi với băng khẩu hiệu “Nghệ thuật là một loại xa xỉ vô ích! Hãy nuôi sống những người đang đói”. Khi người ta đã gọi cảnh sát tới, đám người lạ lùng ấy mới chịu giải tán. Lúc đó mọi người mới nhận ra bức họa của Rubens bị lấy cắp, bức họa bị cắt khỏi khung cửa của nó.
- Nó chỉ là bức tranh cỡ nhỏ – Simpson giải thích – Ai cũng có thể cuộn tròn lại mang nó dưới nách trong khi mọi người đang để mắt vào bọn người u mê vì thiếu việc làm.
Những người u mê ấy đã phải trả giá, người ta mãi sau này mới biết, khi mở lại phòng triển lãm. Nhưng không ai hiểu rõ lý do thực sự của vụ này.
Poirot đã suy nghĩ, nhưng cho rằng cảnh sát có nhiều điều kiện giải quyết việc này hơn mình…
- Nghe tôi, anh Poirot – Simpson năn nỉ – Tôi biết rõ ai là người ăn cắp bức tranh ấy và hiện giờ nó ở đâu.
Người chủ phòng triển lãm tin rằng có một băng cướp quốc tế làm việc này cho một tên triệu phú nào đó không biết hổ thẹn muốn chiếm lấy những tác phẩm nghệ thuật… với giá rẻ mạt. Bức họa của Rubens sẽ được chuyển một cách gian lận sang nước Pháp và giao cho nhà triệu phú ấy. Cảnh sát Anh và Pháp đã được báo tin nhưng Simpson không tin tưởng một chút nào về kết quả công việc của họ.
- … Và một khi tên triệu phú khốn kiếp đã nhận được hàng thì công việc sẽ rất khó khăn. Đối với những kẻ giàu có phải được đối đãi một cách kính trọng. Hoàn cảnh sẽ rất tế nhị. Anh chính là người mà chúng tôi cần đến.
Để kết thúc câu chuyện, Hercule Poirot tuy không thích thú chút nào nhưng vẫn phải nhận việc này và anh phải sang nước Pháp càng nhanh càng tốt. Việc điều tra này không làm anh vui thích nhưng chính nó lại dẫn tới một vụ khác rất thú vị đối với anh: vụ một nữ sinh mất tích.

Chính cảnh sát trưởng Japp là người đầu tiên nói với anh chuyện này. Anh ta tới tận nhà nên việc coi sóc người hầu phòng đóng gói va li của nhà thám tử bị đứt quãng.
- A – Japp nói – Anh đi Pháp đấy ư? Nhưng hình như thế giới ta đã báo đầy đủ tin tức cho Scotland Yard rồi kia mà.
Japp chép miệng.
- Chúng tôi có nhiều thám tử! Simpson đã nhờ cậy anh điều tra vụ mất bức họa của Rubens. Ông ta không tin tưởng ở chúng tôi! Cuối cùng thì chẳng có gì là quan trọng. Vì anh đi Paris. Tôi nghĩ rằng anh có thể làm một công đôi việc. Thanh tra Hearn đang ở đấy, anh ta cộng tác với cảnh sát Pháp. Nhưng anh biết rõ Hearn… Một chàng trai tốt nhưng thiếu… óc tưởng tượng. Tôi muốn biết ý kiến anh…
- Về chuyện gì?
- Một cô gái mất tích. Báo chí buổi chiều đã nói rồi. Tất cả cho rằng cô ta bị bắt cóc. Cô ta là Winnie King. Đó là con gái của một ông thày tu ở Cranchester.
Winnie từ Crachester đi Paris để sống tại một trường đại học của bà Pope, một trường học lớn cho trẻ em người Mỹ và người Anh. Ở Londres một nhân viên của hãng Elder Sister Limited phụ trách việc dẫn em ra ga Victoria và giao cho bà Burshaw, người đại diện của bà Pope. Tại đây cùng với mười tám cô gái khác, cô xuống tàu thủy. Mười chín em đã qua biển Manche, qua hải quan ở Calais, lên xe lửa đi Paris và đã dùng bữa trong một toa xe-phòng ăn. Nhưng khi tới ngoại ô Paris, bà Burshaw đếm lại đàn cừu của mình thì chỉ còn mười tám!
- A! A! – Poirot nói – Xe lửa có dừng lại ở chỗ nào không?
- Ở Amiens; nhưng tất cả các nữ sinh ở trong toa xe-phòng ăn đều cam đoan là Winnie cùng dùng bữa với họ lúc ấy. Họ cho rằng cô ta biến mất trong lúc họ về chỗ ngồi trong xe. Họ không chú ý vì đơn giản họ tưởng là cô gái đã sang ngồi ở toa khác.
- Người ta nhìn thấy cô ta lần cuối cùng vào lúc nào?
- Khoảng mười phút sau khi xe chuyển bánh từ Amiens – Japp húng hắng ho một cách khó chịu – Người ta đã thấy cô gái vào phòng vệ sinh.
- Cái đó rất bình thường – Poirot bình luận – Còn gì nữa?
- Phải. Người ta đã tìm thấy chiếc mũ của em bên cạnh đường sắt… cách Amiens khoảng hai mươi kilometer.
- Nhưng không thấy xác chết?
- Không.
- Ý kiến riêng của anh thế nào?
- Thật là khó nói! Không có dấu vết bị giết… Cô ta không thể rơi từ xe lửa xuống được.
- Sau khi rời Amiens xe lửa có dừng lại chỗ nào không?
- Không. Xe chỉ chạy chậm lại vì có biển báo hiệu. Nhưng tôi cho rằng tốc độ xe chạy lúc ấy vẫn còn lớn, nếu ai nhảy xuống thì chắc chắn đã bị thương ngay. Anh nghĩ rằng cô gái đã sợ hãi và tìm cách chạy trốn ư? Cô cảm thấy khó chịu vì đây là lần đầu tiên cô ta xa nhà ư? Có thể là như vậy. Nhưng dù sao cô gái cũng đã mười lăm tuổi rưỡi rồi! Và trong suốt chuyến đi cô vẫn vui vẻ, nói chuyện như một con chim sáo kia mà.
- Người ta đã lục tìm trên xe lửa rồi chứ?
- Rồi, trước khi tàu vào ga phía Bắc Paris. Cô gái không có mặt ở trên tàu nữa. Đó là điều chắc chắn – Người cảnh sát trưởng thở dài – Cô bé biến mất, thật là lạ lùng. Kỳ cục!
- Cô gái ấy thuộc loại nào?
- Cũng bình thường thôi, đó là tất cả những gì tôi biết.
- Tôi cho rằng… Cô ta là người như thế nào?
- Tôi có tấm ảnh nhỏ của cô. Ô! Cô ta không nhan sắc lắm.
Anh đưa tấm ảnh cho Poirot. Nhà thám tử yên lặng ngắm nhìn. Tấm ảnh được chụp một cách tự nhiên. Người ta thấy một cô gái lều nghều đang ăn một quả táo. Đôi môi mở tô để lộ hàm răng hơi thô. Cô bé có hai tết tóc hai bên và đeo kính.
- Thường thôi, phải không? – Japp hỏi – Vào tuổi này các cô gái đều như vậy cả. Nhưng sau đó các cô sẽ là hoa hậu. Tôi tự hỏi các cô ấy đã biến đổi như thế nào, thật là mầu nhiệm.
Poirot cười:
- Không có gì là mầu nhiệm đối với một người đàn bà cả – Anh nói – Còn gia đình cô gái thì như thế nào? Họ có cho biết thêm điều gì không?
Japp lắc đầu.
- Không tin tức gì thêm. Người mẹ đang ốm. Ông bố thì hoảng hốt. Ông ta chửi rủa cô bé đã đòi đi Paris… Con gái ông đã chờ đợi chuyến đi này từ lâu. Cô ta muốn học hội họa và âm nhạc. Học trò của bà Pope đều ham thích nghệ thuật. Nhà trường có danh tiếng từ lâu, con cái những gia đình giàu có thường theo học ở đây. người ta không nhận bất kỳ ai vào học vì chi phí quá lớn.
Poirot thở dài.
- Tôi biết loại trường đó. Còn bà Burshaw tới nước Anh nhận học sinh thì sao?
- Bà ta không được tận tâm lắm xét về phương diện suy nghĩ. Bà đã rụng rời với ý nghĩ là bà Pope trút mọi trách nhiệm cho mình.
- Trong việc này không có một chàng trai nào chứ?
Japp ra một cử chỉ hùng biện chỉ vào tấm ảnh.
- Liệu trong đầu cô bé có chàng trai nào không?
- Chắc chắn là không, nhưng cái đó cũng có thể có trong một trái tim lãng mạn. Vào cái tuổi mười lăm thì đó không phải là quá sớm.
- Nhưng, nếu một trái tim lãng mạn có thể làm con người biến mất khỏi một con tàu đang chạy thì tôi phải tìm đọc trong các tiểu thuyết ái tình.
Nói xong người cảnh sát nhìn Poirot một cách tràn đầy hy vọng.
- … Anh đã có ý kiến gì chưa?
Poirot chậm chạp lắc đầu.
- Có thể ngẫu nhiên người ta tìm được đôi giày của cô bé trên đường sắt chăng? – Nhà thám tử hỏi.
- Giày ư? Không, tại sao?
- Đơn giản chỉ là một ý kiến thôi…
Hercule Poirot đang sửa soạn rời khỏi nhà để lên xe tắc-xi thì chuông điện thoại reo lên.
- Ai vậy?
Đó là Japp.
- Rất may gặp được anh! Mọi việc đã xong, anh bạn. Tôi vừa mới nhận được tin của Scotland Yard. Cô gái đã được tìm thấy. Bên đường, cách Amiens khoảng hai mươi kilometer. Cô bé rất hoảng sợ. Người ta chưa kịp gây chuyện gì cho cô. Theo thầy thuốc, người ta đã tiêm thuốc ngủ cho cô… Dù sao cô ta cũng đã thoát nạn và mạnh khỏe.
- Thế là anh không cần đến tôi nữa chứ – Poirot chậm chạp hỏi.
- Vâng, không! Rất tiếc là đã làm anh bận rộn!
Japp cười và bỏ máy.
Nhưng Hercule Poirot không cười. Nét mặt vẫn nghiêm nghị anh buông máy.
*
[/sizea
0
Thanh tra Hearn nhìn Poirot với vẻ ngạc nhiên:
- Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng ông quan tâm đến việc này như thế, thưa ông.
- Cảnh sát trưởng Japp đã nói với ông việc này rồi, đúng không? Tôi có thể xem lại vụ này chứ?
- Vâng. Ông ấy nói rằng tôi tới đây để giải quyết một vụ khác nhưng ông cũng sẽ giúp thêm vào việc giải đáp câu đố này. Nhưng tôi không đợi vì công việc xong rồi. Tôi tưởng rằng đang điều tra vụ kia.
- Việc kia có thể tạm gác lại. Còn cái việc làm tôi quan tâm thì câu đó vẫn chưa được giải quyết, đúng không?
- Có nghĩa là cô bé đã được tìm thấy. Cô ta không bị thương. Đó là cái chính.
- Nhưng như vậy chưa đủ để giải đáp bài toán. Cô bé trở về như thế nào? Cô ta nói gì? Cô ta đã được một bác sĩ khám sức khỏe chưa? Bác sĩ nói sao?
- Người ta đã tiêm thuốc mê cho cô. Cô gái hãy còn bị ngây ngất. Cô bé không nhớ gì từ sau lúc ở Cranchester ra đi nữa. Chắc chắn cô hơi bị rối loạn thần kinh. Có vết bầm máu ở sọ não. Theo bác sĩ, cái đó giải thích sự mất trí nhớ.
- Cái đó thường xảy ra… nhưng do ai? – Poirot lưu ý.
- Ông không nghĩ rằng cô gái đóng kịch đấy chứ, thưa ông?
- Còn ông nghĩ sao?
- Không. Tôi nghĩ trái lại. Đó là một cô bé ngoan… hãy còn là trẻ con so với tuổi cô.
- Một cô gái thật thà – Poirot nói – Nhưng làm thế nào mà cô bé rời khỏi xe lửa được? Tôi biết ai là người chịu trách nhiệm và tại sao?
- Nếu như vậy thì tôi cho rằng đã có một mưu đồ bắt cóc cô gái. Người ta muốn giữ cô ta để đòi một khoản tiền chuộc.
- Nhưng họ đã không làm như thế!
- Họ sợ vì tin tức đã được loan báo… và họ đã trả cô ta lại ở dọc đường.
- Số tiền chuộc sẽ là bao nhiêu đối với một ông thày tu ở Cranchester – Poirot hoài nghi hỏi lại – Các chức sắc ở Nhà thờ Anh quốc không phải là những triệu phú.
- Theo tôi đó là một việc làm bị thất bại nửa chừng, thưa ông.
- A! Đây là ý kiến của ông ư?
- Vậy ý kiến của ông thì thế nào, thưa ông?
- Tôi muốn biết cô ta biến khỏi xe lửa như thế nào? Có những hành khách nào trong toa xe, toa mà bà Pope đã dành riêng ấy?
Hearn gật đầu tán thành và lấy ra một cuốn sổ tay.
- Có bà Jordan và bà Butters, hai bà già độc thân ở Thụy Sĩ về; không có gì để nói về hai bà này (họ là những người mà ai cũng biết là tử tế ở Hampshire, nơi cư trú của họ); hai thương nhân đáng kính trọng. Một chàng trai tên là James Eliott và vợ. Vợ rất xinh. Người chồng thì nghèo. Cảnh sát đã từng nghi ngờ anh ta dính líu vào những việc mua bán gian lận. Nhưng chưa bao giờ anh ta bắt cóc trẻ con. Dù sao người ta cũng đã khám xét hành lý của anh chàng và không thấy gì đáng nghi ngờ cả. Cuối cùng có một bà người Mỹ, bà Van Suyder, tới Paris. Người ta không biết gì về bà này cả. Nhưng bà ta tỏ ra đứng đắn. Đó là tất cả.
- Từ sau khi rời Amiens thì đoàn tàu không dừng lại ở đâu nữa, đó tuyệt đối là chắc chắn chứ?
- Tuyệt đối. Tàu có chạy chậm lại một lần nhưng người ta không thể nhảy xuống mà không chết hoặc bị thương được.
- Đúng là điều làm cho câu chuyện trở nên lý thú. Một nữ sinh biến mất như một phép lạ đúng ngay ở đoạn sau ga Amiens. Và cô ấy lại hiện ra như một phép lạ đúng sau ga Amiens. Giữa hai thời điểm ấy cô ta ở đâu?
- Cái đó hình như là điên rồ khi được trình bày như vậy – Người thanh tra lắc đầu nói. - A! Người ta có nhắc đến việc ông hỏi về đôi giày. Cô nữ sinh ấy có đi đôi giày khi người ta tìm thấy cô nhưng một nhân viên đường sắt cũng tìm thấy một đôi giày khác bên đường ray. Người ấy đã mang về nhà mình vì giày còn tốt. Đôi giày đi đường, màu đen, đóng chắc chắn.
- A! – Poirot nói một cách thỏa mãn trong khi Hearn nhìn anh với vẻ lạ lùng.
- Tôi không hiểu, thưa ông. Nhưng chiếc giày ấy có một ý nghĩa nào đó ư?
- Chúng xác nhận một lý thuyết – Poirot trả lời…

*

0
Như mọi học đường khác về loại này, trường của bà Pope được xây dựng ở Neuilly. Hercule Poirot đang dừng lại trước đường, ngắm nhìn mái nhà được xây dựng một cách trang trọng thì đột nhiên bị một đám đông cô gái nhỏ từ cửa lớn chạy ra và vây quanh.
Anh đếm được hai mươi nhăm nữ sinh, tất cả ăn vận đồng phục, áo dài màu xanh nước biển, mũ loại xấu. Từ mười bốn đến mười tám tuổi, các nữ sinh còn vụng về, da trắng hoặc ngăm đen béo mập hoặc gày gò. Một người đàn bà tóc xám đi theo. Chắc đó là bà Burshaw.
Poirot phải đợi một phút trước khi có chuông vào lớp và anh yêu cầu gặp bà Pope.
Bà Lavina Pope khác hẳn người đồng sự của mình, bà Burshaw. Bà có nhân cách gợi lên sự kính trọng. Bà đội mũ mốt mới và ăn mặc nghiêm trang nhưng rất đẹp. Tóm lại bà là người duyên dáng.
Văn phòng tiếp Poirot của bà nói lên bà là người có học vấn cao. Đồ gỗ đẹp, lọ hoa, các bản sao những tác phẩm hội họa nổi tiếng và một vài bức họa thuốc nước rất nổi. Có những tấm ảnh được đóng khung có ghi chú của những học sinh đã thành công trên đường đời.
Bà Pope đón Poirot với vẻ thận trọng của một người hay nhầm lẫn.
- Ông Hercule Poirot đấy ư? Tôi đã nghe thấy tên ông, thưa ông. Chắc hẳn ông đến vì vụ của em Winnes King phải không? Một vụ rắc rối đáng buồn.
Nhưng bà Pope lại không buồn chút nào. Bà đánh giá việc xảy ra theo giá trị của bà và cố diễn đạt một cách đơn giản nhất.
- … Cái đó từ trước tới nay chưa hề xảy ra. Và nó sẽ không xảy ra nữa!
- Cô gái ấy là một nữ sinh mới, phải không?
- Đúng vậy.
- Bà đã có cuộc gặp sơ bộ với Winnie… và với cha mẹ cô ta chứ?
- Không! Không phải là gần đây. hai năm trước đây tôi đi nghỉ một làng bên Cranchester… Ở nhà một đức giám mục… - Bà Pope nhấn mạnh - Xin ông nhớ cho: Đức Giám mục. Tôi đã làm quen với ông thày tu và bà King (bà ta rất vụng về). Tôi đã thấy em Winnie. Một em gái ngoan ngoãn, có năng khiếu nghệ thuật. Tôi đã nói với bà King là tôi sẽ rất sung sướng nếu được đón em về trường tôi… để tiếp tục việc học tâp bình thường. Chúng tôi tập hợp các em theo từng môn nghệ thuật, thưa ông Poirot. Các em được dẫn đến nhà hát lớn, đến nhà hát kịch Pháp, đến viện bảo tàng Louvres để các em học tại đấy. Những thày giáo giỏi về âm nhạc, về ca vũ, về hội họa tới đây để giảng dạy cho các em.
- Bà Pope chợt nhớ ra rằng Poirot không phải là một phụ huynh học sinh.
- Tôi có thể làm gì giúp ông đây, thưa ông?
- Tôi rất sung sướng nếu biết rõ hoàn cảnh hiện tại của Winnie.
- Bà King đã tới Amiens và mang em về nhà. Đó là cách giải quyết khôn ngoan sau khi đứa trẻ khốn khổ bị cú sốc như vậy… Chúng tôi không nhận những học sinh đau ốm. Chúng tôi tập hợp các em lại không phải là để chăm sóc người ốm.
- Theo bà thì đã có chuyện gì xảy ra – Poirot hỏi không quanh co.
- Tôi không có ý kiến gì. Câu chuyện mà người ta kể lại cho tôi nghe thì hình như không thể tưởng tượng nổi.
- Có thể là bà đã có cuộc gặp với cảnh sát?
Bà Pope hơi rùng mình. Giọng nói của bà lạnh lùng hơn.
- Một ông Lafarge ở đồn cảnh sát đã tới gặp tôi với hy vọng là tôi có thể rọi thêm một chút ánh sáng vào chuyện này không. Đúng là tôi không thể làm gì được. Ông ta đòi kiểm tra chiếc rương của Winnie. Tôi nói với ông ta rằng chiếc rương đã được một nhân viên cảnh sát khác kiểm tra rồi. Nói nhỏ với ông, cảnh sát họ làm ăn thiếu phương pháp. Ít lâu sau, người ta gọi điện thoại cho tôi, cảnh cáo tôi là không để họ xem xet mọi đồ đạc của Winnie. Tôi đã tỏ ra rất đúng đắn. Không nên để họ bắt nạt.
- Bà là người có cá tính và tôi ngỏ lời khen ngợi bà, thưa bà. Chiếc rương của Winnie đã được mở ra để kiểm tra chứ, tôi giả định như vậy?
Bà Pope phần nào mất đi vẻ tự tin.
- Vấn đề thủ tục cổ hủ. Tuyệt đối không cần thiết như vậy. Người ta mở tất cả những chiếc rương của học sinh và đồ dùng của các em được sắp xếp theo một trật tự nhấ định. Tất nhiên sau đó người ta xếp lại đúng như khi những chiếc rương chưa được mở ra.
- Đúng ư? – Poirot đứng lên nhắc lại, lưng tựa vào tường. Này, có phải đây là bức tranh vẽ cây cầu Cranchester nổi tiếng và ngôi nhà thờ ở phía sau không đấy?
- Ông có lý, Winnie ngẫu nhiên đã vẽ cái đó để làm tôi ngạc nhiên. Bức tranh dó xếp trong rương của em. Việc làm đó thật cảm động.
- A – Poirot nói – Bà nghĩ như thế nào… về phương diện hội họa?

0
Poirot đã nhìn thấy nhiều phiên bản vẽ cây cầu Cranchester bằng sơn dầu, bằng thuốc nước, bằng than, bằng bút chỉ. Có những bức họa đẹp, những tác phẩm nổi tiếng, những bức họa bình thường, những bức vẽ xấu xí, vẽ bôi bác như thế này thì anh chưa thấy bao giờ.
Bà Pope nở một nụ cười độ lượng:
- Không nên làm nản chí một đứa trẻ, ông thân mến. Winnie sẽ học và vẽ tốt hơn.
- Cô ta sẽ vẽ tranh thuốc nước có đúng không?
- Đúng như vậy. Tôi cũng không rõ em này có thích vẽ tranh sơn dầu không.
- Thưa bà, xin phép bà…
Nhấc bức tranh khỏi chỗ treo, Poirot mang ra trước cửa sổ ngắm nghĩa kỹ càng.
- Thưa bà, tôi yêu cầu bà cho tôi bức tranh này.
- Đó là… thưa ông.
- Bà không muốn nói rằng nó cần được treo ở đây chứ… Nó quả xấu xí.
- Ô! Cái đó chẳng có chút giá trị nghệ thuật nào, tôi thừa nhận như thế. Nhưng đó là kết quả lao động của một học sinh và…
- Tôi cam đoan, thưa bà, bức tranh này không có chỗ đứng trên tường của bà.
- Nhưng, tại sao, thưa ông?
- Tôi sẽ chứng minh để bà rõ, nhưng trước hết xin bà hãy nghe câu chuyện một con vịt xấu xí trở thành con thiên nga thế nào.
Nhà thám tử miệng nói, tay lấy trong túi ra một chiếc lọ nhỏ, một miếng bọt biển và vài miếng giẻ lau rồi bắt đầu làm việc. Một mùi dầu thông tỏa khắp gian phòng.
- Có lẽ bà ít đi nhà hát dự các buổi diễn.
- Không, đúng vậy, nó rất nhạt nhẽo…
- Vâng, chắc chắn là như thế, nhưng nhiều khi nó có ý nghĩa giáo dục lớn. Tôi đã thấy một nhà nghệ sĩ tạp kỹ đã làm thay đổi sự vật một cách thần kỳ. Một bức họa vẽ một quán rượu tuyệt hảo, đầy thơ mộng. Mười phút sau biến thành một cô bé gày gò mặc đồng phục nữ sinh, mười phút sau nữa trở thành một phụ nữ Bohemien lang thang nói những chuyện bói toán…
- Rất có thể, nhưng tôi không hiểu…
- Nhưng tôi xin chỉ cho bà thấy chuyện lý thú đã xảy ra trên xe lửa. Winnie, cô học trò với hai bím tóc mỏng mảnh, mắt đeo kính, bộ hàm giả chỉnh răng làm miệng méo đi, ăn mặc xoàng xĩnh. Mười lăm phút sau cô đã biến thành một cô gái xinh đẹp như lời của thanh tra cảnh sát Dream. Tay chân mềm mại, giày cao gót… chiếc áo măng-tô đắt tiền khoác ngoài bộ đồng phục, một chiếc khăn nhung che đến mang tai và một phần bộ mặt, da trắng, môi son! Đó là bộ mặt của ai thì chỉ có Thượng đế mới biết được. Nhưng bà thì bà có thể xác nhận một cô học sinh vụng về đã biến thành một thiếu nữ kiều diễm như thế nào.
Suýt nữa thì bà Pope kêu lên.
- Ông muốn nói rằng Winnie King đã hóa trang…
- Không. Không phải tự cô bé. Người ta đã bắt cóc cô gái trong thời gian cô đang ở giữa Cranchester và Londres và một người nào đó đã thế chân cô. Bà Burshaw chưa bao giờ nhìn thấy Winnie King. Làm thế nào mà bà ấy biết được cô nữ sinh có hai bím tóc mỏng manh, đeo chiếc hàm chỉnh răng mà bà tiếp nhận lại không phải là cô gái mà bà đón tiếp? Cho đến đây mọi việc đã tốt đẹp, nhưng sự gian trá không phải chỉ có thế. Bà biết rõ cô Winnie thật. Cô Winnie giả biến mất để hiện lại nguyên hình là người vợ của James Eliott. Bím tóc, tất chân, bộ hàm giả là những vật nhỏ. Còn đôi giày và chiếc mũ thì được ném qua cửa sổ toa xe. Một lúc sau Winnie thật đã qua biển Manche và được một chiếc xe hơi chở đi và bỏ lại trên đường giữa Amiens và Paris. Nếu người ta đã tiêm thuốc mê cho cô bé thì cô không còn nhớ những việc đã xảy ra đối với cô nữa.
- Nhưng tại sao? – Bà Pope mất hẳn vẻ đĩnh đạc, hỏi lại – Lý do của việc lừa lọc ấy là gì?
- Vì chiếc rương của Winnie. Người ta muốn chuyển từ nước Anh sang nước Pháp một vật mà mọi cơ quan hải quan đang tìm kiếm… Một vật bị đánh cắp. Có nơi nào chắc chắn hơn một chiếc rương của học sinh? Thưa bà, trường bà có tiếng tăm tốt. Ở ga phía Bắc hành lý của học trò được đưa đến một lúc! Và sau đó, sau khi có vụ bắt cóc, có gì hợp lý hơn là xem xét chiếc rương của đương sự một cách công khai của một nhân viên cảnh sát. Nhưng may thay thủ tục của nhà trường quy định rằng chiếc rương đó được mở ra với sự có mặt của Winnie… Nhưng không phải là cái mà cô ta mang đi từ Cranchester… Bà cho tôi bức họa này chứ, thưa bà? Bà đã thừa nhận rằng nó không thích hợp với trường của bà, đúng không?
Và Poirot đưa bức họa cho bà Pope.
Bức họa “Cây cầu Cranchester” đã biến mất như trò ảo thuật, một cảnh rất cổ điển màu nhạt thay vào đó “Chiếc thắt lưng của Hippolyte”, Hippolyte đang đưa cho dũng sĩ Hercule chiếc thắt lưng của mình do nhà danh họa Rubens sáng tác.
- Một tác phẩm nghệ thuật lớn… Ở văn phòng của bà thì rất đẹp.
Bà Pope hơi đỏ mặt.
Hippolyte một tay tháo thắt lưng, bộ áo quần duy nhất… Dũng sĩ Hercule khoác tấm da cừu trên lưng.
- Thật là đẹp – Bà Pope nói sau khi bình tĩnh lại – Bây giờ… như ông đã nói… cần phải chú ý đến nỗi khổ tâm của các bậc làm cha mẹ. Một số người trong bọn họ tỏ ra có những thiên hướng suy nghĩ nông cạn…
Vừa bước ra khỏi cửa trường Hercule Poirot bị một đám đông nữ sinh đủ các tầm thước các màu da tấn công. Chớp mắt anh đã bị vòng vây khép kín và siết chặt.
- Trời ơi! – Anh tự nhủ – Có phải đây là trận chiến đấu của nữ giới không?
Hai mươi nhăm giọng the thé nhắc lại cùng một câu:
- Thưa ông Poirot, xin ông vui lòng ký tên vào cuốn sổ chữ ký của em!
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-29 16:28:16khachxa>
BÍ MẬT CỦA NGÔI NHÀ NGHỈ MÁT Ở NÔNG THÔN


- Anh Hastings thân mến, tôi biết rằng lần này tôi không chết – Poirot thì thào.
- Sự nhận xét lạc quan của người mắc bệnh cúm có một tác dụng tốt. Tôi là người đầu tiên mắc bệnh này và Poirot cũng không thể tránh khỏi. Bây giờ thì anh phải ngồi trên giường, tựa lưng trên một đống gối, đầu quấn một chiếc khăn len to, uống từ từ một chén thuốc mà tôi đã pha cho theo chỉ dẫn của bác sĩ.
- Nhưng, bạn tôi nói tiếp, đúng là tôi sẽ khỏi, tôi, Hercule Poirot vĩ đại, nỗi kinh hoàng của những kẻ bất lương!
- Anh là người trọng nhân phẩm, Poirot, và may mắn cho anh là lúc này anh chẳng có một công việc thú vị nào cả.
- Đúng như vậy… Tôi chỉ còn việc tiếc cho những vụ tôi đã từ chối mà thôi.
Cùng lúc ấy thì chủ nhà trọ của chúng tôi bước vào.
- Ở dưới nhà có một ông rất muốn gặp ông Poirot hoặc đại úy Hastings. Ông ta có vẻ là người lịch sự. Đây là danh thiếp.
Bà chủ nhà đưa cho tôi mảnh giấy và tôi đọc: Ông Roger Havering.
Poirot đưa mắt về phía giá sách: tôi lập tức hiểu ngay và đưa cho anh cuốn từ điển Gotha. Anh giở rất nhanh.
- Con trai thứ hai của nam tước Windsor. Kết hôn năm 1913 với Zoé con gái thứ tư của William Crabb.
- Hừ! – Tôi nói – Tôi biết rõ bà ấy thường diễn ở nhà hát Frivolity dưới cái tên Zoé Carisbrook. Tôi cũng nhớ là bà đã lấy một chàng trai ở xã hội thượng lưu từ trước chiến tranh kia mà.
- Hastings, anh hãy đi gặp ông khách xem ông ấy muốn gì. Anh xin lỗi ông ấy giúp tôi.
Roger Havaring khoảng bốn chục tuổi, to cao và tỏ ra rất lịch thiệp. Nhưng lúc này thì vẻ mặt căng thẳng. Mắt nhớn nhác. Tôi hiểu ông đang bị một sự xáo động mạnh mẽ.
- Ông đại úy Hastings phải không? Ông là người cộng tác với ông Poirot? Tôi rất cần ông Poirot cùng tôi về Derbyshire lúc này.
- Rất đáng tiếc, thưa ông, không thể được rồi – Tôi nói – Poirot đang nằm trên giường, ông ấy bị cúm nặng.
- Trời ơi! – Ông ta mất can đảm kêu lên. - Đây chính là cú đánh ghê gớm đối với tôi. Tôi rất tin tưởng ở ông ta!
- Đây là một công việc rất nghiêm trọng chứ?
- Ô! Vâng! Ông cậu tôi, người bạn tốt nhất trên đời của tôi, đã bị giết chết đêm hôm qua.
- Ở Londres ư?
- Không, ở Derbyshire. Tôi đang ở Londres thì nhận được một bức điện tín của vợ tôi vào sáng hôm nay, do đó tôi đến ngay đấy để gặp ông Poirot yêu cầu ông ấy điều tra vụ này.
- Xin chờ cho một lát – Tôi nói trong khi óc lóe lên một ý nghĩ.
Tôi lên gác, nhảy bốn bậc một và nói ngắn gọn với Poirot về việc này. Anh không đợi tôi nói hết lời.
- Tôi hiểu, tôi hiểu… Anh muốn tới đấy một mình, phải không? Ừ, tại sao lại không nhỉ. Tôi cho rằng bây giờ anh đã hiểu phương pháp của tôi rồi. Tôi chỉ yêu cầu anh hàng ngày viết báo cáo cho tôi và thực hiện những bức điện tín của tôi gửi cho anh.
Tôi đồng ý với anh và ra đi.
Một tiếng đồng hồ sau, tôi rời khỏi Londres và ngồi trước mặt ông Havering trong toa hạng nhất của hãng xe lửa Middland Railway.
- Thưa ông đại úy Hastings, để bắt đầu, tôi xin nói về Hunter’s Lodge, nơi xảy ra án mạng. Đó chỉ là một nhà nghỉ mát ở nông thôn dùng cho việc săn bắn gần đầm lầy Derbyshire. Nhà của chúng tôi thì ở Newmarket kia và chúng tôi cũng thuê một nơi nghỉ khác ở thành phố nữa. Hunter’s Lodge được một bà quản gia trông nom và phục vụ chúng tôi trong những kỳ nghỉ cuối tuần. Trong mùa săn bắn chúng tôi mang theo những người phục vụ tới đây. Cậu tôi, ông Harrington Pace (chắc chắn ông có biết gia đình nhà Pace ở New York có một cô con gái) đã chung sống với chúng tôi trong ba năm. Ông không hài lòng về cha tôi và cả về anh cả của tôi nữa, nhưng ông đối xử rất tốt đối với gia đình tôi. Chúng tôi nghèo còn cậu tôi rất giàu. Ông thường giúp đỡ chúng tôi. Hơn nữa, những người giúp việc của chúng tôi rất dễ chịu nên chúng tôi sống thuận hòa với nhau.
“Hai ngày trước đây, cậu tôi cảm thấy mệt mỏi qua những hoạt động nơi thành thị đã yêu cầu chúng tôi để ông nghỉ ở Hunter’s Lodge. Vợ tôi đánh điện cho bà Middleton, bà quản gia, và chúng tôi tới đó ngay. Hôm qua tôi có việc phải trở về Londres, nhưng vợ tôi và cậu tôi thì ở lại. Sáng nay tôi nhận được bức điện này”.
Ông đưa cho tôi mảnh giấy.
“Về ngay, cậu Harrington đã bị giết tôi hôm qua, mang theo một nhà thám tử giỏi về, nhưng phải về ngay. Zoé”.
- Và ông không biết thêm một chi tiết nào nữa ư?
- Không.
Vào lúc ba giờ chiều thì chúng tôi tới một ga nhỏ, ga Elmer’s Lodge, còn cách nhà ga năm kilometres nữa. Tới nơi, thấy ngôi nhà màu xám nằm trơ trọi giữa cánh đồng, tôi không khỏi rùng mình.
- Ở đây mới buồn làm sao! – Tôi lẩm bẩm.
- Tôi sắp không ở đây nữa – Havering trả lời – Không bao giờ tôi sống trong ngôi nhà này nữa.
Ông ta mở cổng, chúng tôi đi theo một con đường nhỏ vào nhà. Bất chợt một bóng người quen thuộc hiện ra và tới gặp chúng tôi.
- Japp! – Tôi kêu lên.
Viên thanh tra của Scotland Yard ra hiệu cho tôi trước khi hỏi chủ nhà:
- Ông là Havering, tôi giả định là như vây? Tôi được Londres cử đến để giải quyết vụ này và tôi muốn hỏi chuyện ông một lúc, xin ông vui lòng cho.
- Vợ tôi…
- Tôi đã gặp bà nhà cũng như bà quản gia, thưa ông. Tôi chỉ làm phiền ông một lúc sau đó tôi còn phải vào làng để tìm hiểu những gì liên quan đến chuyện này.
- Tôi không biết gì cả…
- Đúng thế – Japp nói tiếp – Nhưng tôi rất hài lòng được biết ý kiến của ông về một vài điểm nhỏ. Đại úy Hastings sẽ báo cho bà Havering là ông đã về. À quên, anh bạn của anh đâu rồi, đại úy?
- Anh ấy bị cúm.
- A! Thế ư? Tôi lấy làm tiếc. Anh ở đây mà không có Poirot đi theo thì cũng như một cỗ xe không có ngựa kéo, phải không?
Do sự phản ứng về trách nhiệm, tôi đi thẳng vào nhà. Tôi bấm chuông vì sau khi ra Japp đã đóng cửa lại rồi. Sau đó một lát, một phụ nữ khoảng năm mươi tuổi, ăn mặc đồ đen mở cửa cho tôi. Ông Havering sẽ tới đây, tôi giải thích. Ông ấy đang nói chuyện với ông thanh tra Japp. Tôi cùng ông chủ từ Londres về đây để giúp vào việc điều tra này. Bà có thể cho tôi biết đôi điều về những việc đã xảy ra vào tối hôm qua không?
- Xin mời ông vào nhà, thưa ông.
Bà ta khép cửa khi tôi vừa bước vào và đứng nói chuyện với tôi trong một hành lang tôi.
- Một người đàn ông đã đến đây vào tối hôm qua, sau bữa ăn. Ông ta nói với tôi rằng mình cần gặp ông Pace và tôi đã đưa ông vào bàn giấy của ông Havering ở đấy có những khẩu súng treo trên tường. Ông ta không muốn nói tên mình… - Lúc ấy tôi không để ý nhưng bây giờ tôi thấy thật là lạ lùng – Tôi báo cho ông Pace. Ông tỏ ra ngạc nhiên về cuộc gặp vào buổi tối như vậy, ông chỉ đơn giản nói với bà chủ: “Xin lỗi Zoé, tôi cần gặp người khách xem ông ta muốn gì”. Nói xong ông vào văn phòng, còn tôi thì xuống bếp.
Một vài phút sau nghe thấy tiếng cãi nhau, tôi đi ra hành lang. cùng lúc ấy bà chủ chạy ra. Cả hai chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ, sau đó là sự im lặng chết chóc. Chúng tôi chạy tới văn phòng, nhưng cửa đã bị khóa trái. Chúng tôi trèo qua cửa sổ hãy còn để ngỏ. Trong phòng ông Pace đang nằm trên một vũng máu.
- Còn người khách?
- Chắc chắn hắn trốn thoát qua cửa sổ trước khi chúng tôi tới nơi.
- Sau đó thì sao?
- Bà Havering bảo tôi đi gọi cảnh sát. Phải đi bộ năm kilometers. Cảnh sát cùng trở về với tôi và ông trưởng đồn nghỉ lại đây đêm qua. Ông thanh tra ở Londres tới đây sáng nay.
- Hình dáng người khách ấy như thế nào?
Người quản gia suy nghĩ một lát rồi nói:
- Hắn có bộ râu đen, thưa ông, khoảng từ bốn chục tới năm chục tuổi, mặc chiếc áo khoác ngoài màu sáng. Cái làm tôi chú ý là giọng nói của hắn có vẻ là người Mỹ.
- Rất tốt, cảm ơn. Tôi có thể gặp bà Havering được không?
- Bà ấy ở trên gác, thưa ông. Tôi lên báo cho bà ấy chứ?
- Bà giúp cho. Nói với bà ta rằng ông Havering đang nói chuyện với ông Japp trong vườn và người mà ông chủ mời từ Londres về rất vui mừng được nói chuyện với bà càng sớm càng tốt.
- Thưa ông, rõ.

*

0
Bà Havering không để khách phải đợi lâu. Tôi nghe tiếng chân bước nhẹ ở cầu thang và khi ngẩng đầu lên tôi thấy một người đàn bà trẻ tiến lại phía tôi. Bà ta mặc một chiếc áo len màu đỏ rực và đội chiếc mũ cùng màu làm cho khuôn mặt của bà trở nên rất sinh động. Tấn thảm kịch vừa xảy ra trước mắt bà ở nơi này cũng không làm giảm bớt sự lan tỏa của sức sống của bà.
- Ô! Tôi vẫn được nghe nói về ông và người đồng sự của ông là Poirot, bà ta nói. Tôi hài lòng về việc chồng tôi đạt yêu cầu nhanh chóng đến như thế. Bây giờ có phải ông muốn đặt ra cho tôi những câu hỏi không? Đó là cách tốt nhất để hiểu rõ những gì mà ông thấy cần thiết cho công việc nặng nề này, phải không?
- Đúng như vậy, thưa bà. Bà cho tôi biết người khách ấy tới đây vào lúc mấy giờ?
- Có lẽ là chín giờ. Chúng tôi ăn xong và đang hút thuốc, uống cà phê.
- Trước đó chồng bà đã đi Londres ư?
- Vâng, xe lửa khởi hành lúc sáu giờ mười lăm.
- Ông nhà đi xe hơi hay là đi bộ ra ga?
- Ô tô của chúng tôi để ở đây. Một chiếc xe hơi của hãng Elmer’s Dale tới đây để đưa ông ấy đi.
- Ông Pace trước đó vẫn tỏ ra bình thường chứ?
- Ồ! Rất bình thường về mọi phương diện.
- Thưa bà, bây giờ bà mô tả cho tôi người khách tới thăm được không?
- Đáng tiếc là không, tôi không trông thấy hắn ta. Bà Middleton đã đưa hắn vào văn phòng và trở ra báo cho cậu tôi.
- Và ông Pace đã nói như thế nào?
- Cậu tôi có vẻ bực mình nhưng ông cũng ra tiếp khách ngay. Sau đó khoảng năm phút tôi nghe thấy họ to tiếng với nhau. Tôi chạy ra hành lang, cùng lúc ấy bà Middleton từ trong bếp chạy ra. Đúng lúc đó chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Cửa phòng giấy đã bị khóa từ bên trong và chúng tôi phải vào qua cửa sổ. Tất nhiên việc đó cũng mất vài phút đồng hồ nên kẻ giết người đã trốn thoát... Ông cậu khốn khổ của chúng tôi – Bà ta khóc nấc lên – đã chết vì một viên đạn bắn vào đầu. Tôi cho bà Middleton đi báo cảnh sát. Tôi không sờ mó gì vào những hiện vật trong văn phòng từ lúc ấy.
- Bà đã làm đúng. Nhưng còn… vũ khí?
- Thưa ông đại úy, tôi có thể tưởng tượng được những gì đã xảy ra. Hai khẩu súng lục của chồng tôi treo trên tường thì lúc ấy chỉ còn một khẩu. Tôi đã nói với cảnh sát và họ đã giữ khẩu còn lại. Khi người ta lấy được đầu đạn ở người chết ra, tôi cho rằng chúng ta sẽ biết rõ vũ khí tên giết người đã sử dụng.
- Tôi có thể tới văn phòng bây giờ được không?
- Có thể được. Cảnh sát đã khám xét xong gian phòng đó. Nhưng tử thi đã được mang đi rồi.
Tôi đi theo bà ta. Cùng lúc ấy Havering bước vào và sau khi xin lỗi, người vợ chạy lại gặp chồng. Một mình tôi tiến hành việc xem xét căn phòng.
*

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-07-31 16:48:19khachxa>
[size=4]Tôi không tìm được dấu vết nào cả. Chỉ còn những vệt máu trên thảm. Tôi chăm chú xem xét tất cả và chụp hai kiểu ảnh căn phòng với chiếc máy ảnh nhỏ tôi đã mang theo. Tôi cũng xem xét trong vườn, phần đất trước cửa sổ, nhưng đất đã bị dẫm đạp. Vô ích, mà mất thì giờ quan sát.
Sau khi nắm chắc tình hình của Hunter’s Lodge tôi chỉ còn việc tới Elmer’s Dale để gặp Japp. Tôi tạm biệt vợ chồng Havering.
Tôi gặp Japp ở Matlocks Arms và anh đưa tôi tới xem xác chết. Harrington Pace người bé nhỏ, râu cạo nhẵn, đúng là người Mỹ. Đạn bắn vào phía sau đầu, và không nghi ngờ gì nữa ông đã bị bắn rất gần.
- Ông ta quay đi một lát – Japp tuyên bố – Người khách tới thăm lấy khẩu súng treo trên tường xuống và bắn ông. Khẩu súng còn lại mà bà Havering trao cho chúng tôi đã nạp đạn, như vậy tôi giả định khẩu súng kia cũng có đạn. Sự vô ý thức của con người thật là không thể tưởng tượng nổi! Treo hai khẩu súng ngắn nạp đạn sẵn trên tường!
- Anh nghĩ như thế nào về tất cả những việc này – Tôi hỏi Japp khi chúng tôi ra khỏi nhà xác.
- Đầu tiên chúng tôi phải canh chừng Havering. Phải, phải, anh nói thêm khi tôi tỏ ra ngạc nhiên. Trong quá khứ Harvering đã tiến hành một hoặc hai vụ lừa đảo nhỏ. Khi còn là thiếu niên ở Oxford hắn đã lừa lấy tấm séc ký sẵn của bố. Hiện nay thì hắn đang chồng chất nợ nần. Đó là những khoản nợ mà hắn không dám nói với ông cậu. Phải… tôi phải chú ý tới hắn, do đó tôi phải gặp vợ hắn trước. Nhưng lời khai của họ rất khớp nhau: tôi đã ra ga và đúng là hắn có lên tàu chuyến sáu giờ mười lăm hôm qua. Chuyến tàu đó tới Londres vào lúc mười giờ ba mươi. Hắn từ đấy đi thẳng tới câu lạc bộ, điều này cũng đã được xác nhận. Rõ ràng là hắn không thể giết cậu hắn tại đây vào lúc chín giờ dưới dạng một người đàn ông có bộ râu đen được.
- Tôi cũng có ý hỏi anh là anh nghĩ gì về bộ râu đen ấy?
Japp cau mày:
- Tôi cho rằng râu đã mọc rất nhanh trong khoảng thời gian đi từ Elmer’s Dale tới Hunter’s Lodge cách nhau năm kilometers. Mọi người Mỹ mà tôi gặp đều cạo nhẵn râu. Phải tìm kẻ giết người trong số những người cùng làm ăn với ông Pace. Tôi đã thẩm vấn bà quản gia sau đó là bà chủ nhà và lời khai của họ không hề mâu thuẫn nhau. Tôi tiếc rằng Havering lại không nhìn thấy người khách tới thăm.
Tôi viết một báo cáo chi tiết cho Poirot. Trước khi gửi thư đi tôi viết thêm vào đây một vài tin tức phụ.
Người ta đã lấy được đầu đạn từ xác chết ra và nó được xác định hoàn toàn giống với những viên đạn trong khẩu súng mà cảnh sát đã lấy đi từ phòng giấy của Hunter’s Lodge. Hơn nữa sự đi lại của Havering đêm hôm trước đã được kiểm tra và được xác nhận là ông ta tới Londres bằng chuyến tàu đã nói. Cuối cùng, một sự khám phá quan trọng vừa được tiến hành: một người đàn ông ở Londres cư trú tại Ealing đã thấy một gói giấy trên đường sắt vào sáng hôm ấy, khi mở ra ông ta thấy một khẩu súng lục và ông vội vàng đem nộp cho cảnh sát địa phương. Một vài giờ sau, khẩu súng đó được biết là khẩu súng chúng tôi đang tìm kiếm, nó rất giống với khẩu súng mà bà Havering đã giao cho chúng tôi. Có một viên đạn đã được bắn đi.
Sáng hôm sau, trong khi dùng bữa điểm tâm, tôi nhận được một bức điện của Poirot:
“Người có bộ râu đen không phải là Havering. Chỉ có anh hoặc Japp mới có ý nghĩ ấy thôi. Đánh điện cho tôi về người quản gia. Hôm qua bà ta ăn mặc như thế nào, cả bà Havering cũng vậy. Không cần chụp ảnh gian phòng. Tất cả đã được sắp đặt một cách không mỹ thuật lắm”.
Lúc ấy đối với tôi Poirot có vẻ nực cười! Tôi cho rằng anh đang ghen tị với tôi. Tôi thấy việc đòi hỏi mô tả cách ăn mặc của hai người đàn bà này của anh có vẻ kỳ cục, nhưng tôi vẫn vâng lời anh.
Vào lúc mười một giờ có điện trả lời của Poirot:
“Hãy khuyên Japp bắt ngay mụ quản gia trước khi quá muộn”.
Hoang mang, tôi đến đưa bức điện cho Japp.
- Nếu Poirot nói như vậy thì anh ấy có lý do nào đó. Tôi đã gặp người đàn bà này, tôi không rõ là tôi cần bắt bà ta chưa, nhưng tôi sẽ cho người canh chừng bà ta. Chúng ta đến Hunter’s Lodge ngay thôi.
Nhưng đã quá muộn thật! Mụ Middleton, người đàn bà bình dị và đáng kính đã biến mất để lại chiếc rương bên trong đựng một vài thứ lặt vặt và người ta không biết tung tích mụ ra sao nữa.
Bà Havering nói những điều hiểu biết của mình về người quản gia:
- Tôi đã thuê mụ ta cách đây ba tuần lễ khi bà quản gia cũ là bà Emry thôi việc. Mụ được cơ quan giới thiệu việc làm của bà Selbourne cử đến. Những người phục vụ trong gia đình tôi đều do hãng này giới thiệu. Middleton tỏ ra dễ bảo và thành thạo công việc của mình. Tôi đồng ý thuê mụ ta ngay và báo cho cơ quan giới thiệu người biết. Tôi cho rằng mụ ta không có điều gì đáng nghi ngờ, mụ rất hiện lành và ít nói.
Ở đây có một điều bí mật. Rõ ràng là mụ không thể tự mình gây án vì khi có tiếng súng nổ thì bà Havering đang đứng bên cạnh mụ. Nhưng nếu mụ không dính líu vào vụ này thì tại sao đột nhiên mụ lại bỏ đi?
Tôi đánh điện về những tin tức cuối cùng này cho Poirot và gợi ý tiến hành cuộc điều tra ở Selbourne.
Câu trả lời của anh đến ngay tức khắc.
“Điều tra ở hãng giới thiệu việc làm là vô ích, ở đây người ta chưa bao giờ nghe nói đến tên mụ này. Hãy tìm chiếc xe đưa mụ ấy đến Hunter’s Lodge vào ngày mụ đến nhận việc”.
Tuy có phần ngạc nhiên nhưng tôi vẫn tiến hành điều tra việc này. Ở Elmer’s Dale rất ít phương tiện vận tải. Hãng cho thuê xe ở đây chỉ có hai chiếc nhãn hiệu Ford nhưng không một chiếc nào chở khách vào ngày ấy. Bà Havering giải thích là mình đã chuyển cho Middleton một số tiền lớn đủ đến Derbyshyre và từ đây thuê xe để tới Hunter’s Lodge.
Còn về người đàn ông có bộ râu đen thì không ai trông thấy hắn ở ga Elmer’s Dale tuy rằng ở nhà ga cũng có ôtô cho thuê. Người ta cho rằng hắn tới đây bằng một chiếc xe hơi khác và trốn đi cũng bằng chiếc xe ấy. Và cũng chính chiếc xe này đã chở mụ quản gia trong ngày mụ tới đây nhận việc.
Tôi phải thú nhận rằng việc trả lời của cơ quan giới thiệu việc làm chứng tỏ Poirot có lý. Người ta không biết ai là Middleton. Người phụ trách cơ quan này nói là mình đã nhận được nhiều thư xin người của bà Havering đáng kính nên đã giới thiệu nhiều người tới. Nhưng khi trả tiền thì bà quên không nói rõ là ai là người được bà nhận vào làm việc.


*
0
Có phần nào ngã lòng nên tôi đã trở về Londres. Tôi thấy Poirot vẫn ngồi trên ghế bành.
- Hasting, bạn thân mến! Tôi rất sung sướng khi được gặp lại anh! Anh vui chứ? Anh đã cùng Japp chạy khắp nơi chứ? Anh đã điều tra thỏa thích phải không?
- Poirot – Tôi nói – Vụ này rất bí mật không bao giờ sáng tỏ được.
- Đó không phải là cái làm tôi băn khoăn. Tôi đã biết ai giết ông Harrington Pace.
- Anh đã biết hắn ư? Nhưng bằng cách nào?
- Rất đơn giản, do những bức thư của anh. Chúng ta hãy sắp xếp các sự kiện, anh đồng ý không? Thứ nhất, ông Harrington Pace có một gia tài lớn chắc chắn sau này sẽ thuộc về người cháu mình; thứ hai, người ta biết rằng người cháu ấy không được trong sáng lắm…
- Nhưng người ta đã biết chắc chắn rằng Roger Havering đang ở Londres trong đêm xảy ra tội ác.
- Phải! Vì Havering đã rời khỏi Elmer’s Dale lúc sáu giờ mười lăm và vì những lời khai của ông bác sĩ rằng ông Pace không chết trước khi người cháu ra đi, nên chúng ta kết luận rằng Roger Havering không giết người cậu của mình. Nhưng còn mụ Havering nữa thì sao, Hastings?
- Không thể như vậy được, mụ quản gia ở bên cạnh bà chủ khi có tiếng súng nổ.
- Ô! Phải! Mụ quản gia, nhưng mụ ta đã biến mất rồi.
- Nhưng người ta sẽ tìm thấy mụ.
- Tôi không nghĩ như vậy, có một cái gì lạ lùng khiến tôi phải chú ý đến người đàn bà này ngay tức khắc, Hastings.
- Mụ ta cũng có một vai trò nào đó trong vụ này – Tôi giả thiết.
- Vai trò nào?
- Đó là đưa người đàn ông có bộ râu đen vào phòng giấy, tôi trả lời.
- Ồ! Không! Không phải như vậy. Vai trò của mụ ta là tạo một chứng cứ ngoại phạm cho bà chủ nhà khi súng nổ. Và không ai có thể tìm ra mụ ta vì mụ ta không tồn tại.


*

- Anh muốn nói gì, Poirot?
- Rất đơn giản, trước khi kết hôn, Zoé Havering là một diễn viên. Anh và Japp chỉ nhìn thấy người quản gia trong một hành lang tối, nói bằng giọng yếu ớt. Sau nữa, anh và Japp, và bất cứ người cảnh sát nào cũng chưa bao giờ thấy Middleton đứng bên cạnh bà chủ của mình. Nhưng, anh Hastings thân mến, đó là một trò trẻ con của người đàn bà to gan ấy. Bằng vào lý do báo tin cho bà chủ, mụ ta lên gác rồi mụ ra mặc một chiệc áo len màu đỏ chói, đội một chiếc mũ gắn sẵn những chiếc khuyên tai. Làn phấn làm cho mụ già đi biến mất, một chút phấn trắng, một chút son môi và thế là bà Zoé Havering rực rỡ đi xuống nhà, lấy lại giọng nói trong trẻo và đóng một vai trò khác… Vai trò của chính mụ ta lần này, người ta không nghĩ tới mụ quản gia nữa. Nghĩ làm gì, mụ cũng có một chứng cứ ngoại phạm rồi!
- Nhưng còn khẩu súng mà người ta tìm thấy ở Ealing? Không thể do mụ Havering ném ở đấy!
- Không! Đó là do Roger Havering. Hắn đã phạm vào một sai lầm khiến tôi chú ý tới hắn. Một người thấy một khẩu súng ngay tại chỗ mình muốn gây tội ác thì khi dùng xong sẽ không bao giờ phải mang tới Londres mà sẽ ném ở bất cứ nơi nào. Rõ ràng là những kẻ gây án muốn làm cho cảnh sát không chú ý tới Hunter’s Lodge mà chú ý tới ngoài vùng Derbyshire. Nhưng không phải với khẩu súng tìm thấy ở Ealing mà người ta giết ông Pace. Roger Havering đã bắn một viên đạn ở khẩu súng này làm chúng ta lạc hướng, mang nó tới Londres, đi thẳng tới câu lạc bộ để có được một chứng cứ ngoại phạm, sau đó đi tới Ealing bằng xe lửa ở ngoại ô. Tới đây hắn đặt khẩu súng có gói ghém cẩn thận tại nơi người ta đã tìm thấy rồi trở về thành phố. Người vợ xinh đẹp của hắn đã bình tĩnh giết ông cậu sau bữa ăn. Anh có nhớ rằng viên đạn đã bắn vào gáy nạn nhân không? Sau đó mụ lắp thêm đạn vào súng, đặt súng vào chỗ cũ và tiếp tục đóng nốt vở hài kịch!
- Thật là không thể tưởng tượng nổi – Tôi như bị thôi miên lẩm bẩm – Nhưng bây giờ thì…
- Bây giờ thì đó là sự thật. Bạn thân mến, đúng như vậy! Còn việc có đưa cặp vợ chồng ấy ra trước công lý hay không thì đó là một chuyện khác! Tôi đã viết thư nói tất cả cho Japp, nói rõ anh ta phải làm mọi việc cần thiết. Nhưng tôi rất lo ngại. Hastings, có thể chúng ta không làm được gì, những kẻ phạm tội vẫn sống ngoài số phận mà lẽ ra chúng phải chịu, ngoài ý muốn của Thượng đế, nếu anh muốn nói như thế…
Poirot có lý, cần phải điều tra, sưu tập nhiều chứng cứ thì mới có thể bắt giam vợ chồng nhà Havering…
Gia sản to lớn của ông Pace được chuyển sang tay hai kẻ sát nhân. Nhưng nó không mang lại hạnh phúc cho chúng. Một thời gian sau, đọc báo, tôi được biết Roger và Zoé Havering là hai trong số nạn nhân chết trong một chuyến bay từ Paris đi Londres.
“Công lý” được thỏa mãn.

0
VIỆC TÌM KIẾM BẢN DI CHÚC CỦA ÔNG MARSH


Vấn đề đặt ra của cô Violet Marsh làm thay đổi công việc thường ngày của chúng tôi. Thám tử Poirot đã nhận lời tiếp cô ta vào mười một giờ ngày hôm nay sau khi nhận được lá thư xin gặp của cô.
Cô rất đẹp, ăn mặc giản dị nhưng rất hợp thời trang, vẻ thẳng thắn và quả quyết và tới rất đúng giờ. Cô tỏ ra mình là người muốn thành công trong cuộc sống. Về cá nhân, tôi không phải là người tôn sùng cái mà người ta gọi là “phụ nữ mới”, và mặc dù vẻ bề ngoài dễ chịu của cô, tôi không muốn gây thiện cảm với cô ngay từ lúc đầu.
- Công việc của tôi có một tính chất đặc biệt, thưa ông Poirot – Cô bắt đầu trình bày – Để ông hiểu thấu đáo, tôi phải kể từ đầu.
- Tôi xin nghe, thưa cô.
- Tôi mồ côi. Cha tôi có người em trai là một chủ trại ở Devonshire. Trại kinh doanh kém, chú tôi di cư sang Úc, sau một thời gian khai phá đất đai, ông trở nên giàu có. Ngược lại, cha tôi bị cuộc sống nông thôn hấp dẫn vẫn ở lại quê nhà. Cha tôi đi học trường dòng và trở thành thầy tu. Ông lấy một cô gái một thợ thủ công, nghèo, địa vị xã hội thấp hơn gia đình ông. Cha tôi mất lúc tôi lên sáu tuổi và mẹ tôi cũng qua đời tám năm sau đó. Tôi chỉ còn lại ông chú Andrew từ Úc trở về. Ông mua trang viên Crabtree. Ông rất tốt với tôi, coi tôi như con gái ông.
Mặc dù mang tên trang viên, nhưng Crabtree chỉ là một ngôi nhà cũ của một chủ trại. Chú tôi thích sống ở nông thôn và ham nghiên cứu về nông nghiệp hiện đại. Ông có những thành kiến về việc giáo dục con gái. Học vấn của ông ít ỏi, nhưng ông có nhiều thiện ý về những cái người ta gọi là “hiểu biết sách vở”. Theo ý ông thì con gái phải học tập để trở thành bà chủ gia đình giỏi dang và đừng mất nhiều thời gian vào sách vở. Ông đề nghị được huấn luyện tôi theo nguyên tắc ấy. Thất vọng, tôi từ chối thẳng thắn vì tôi thích nghiên cứu và tôi không ưa chút nào công việc nội trợ. Chúng tôi thường thảo luận về vấn đề này. Cả hai đều bướng bỉnh tuy có quan hệ ruột thịt với nhau. May mắn là tôi có học bổng nên tôi có thể đi theo con đường lựa chọn. Thời điểm quyết định là lúc tôi định ghi tên vào Trường Trung học Cambridge. Tôi còn một ít tiền mẹ tôi để lại cho tôi. Tôi đã có một cuộc trao đổi dài và thẳng thắn với chú tôi. Tôi là người họ hàng duy nhất của ông mà ông có ý định di tặng lại tài sản sau khi ông qua đời. Như tôi đã nói với ông, chú tôi rất giàu. Nếu tôi cứ khăng khăng giữ lấy những ý định của mình thì tôi có thể không nhận được gì ở ông. Tôi lễ phép nhưng cũng rất kiên quyết là tôi là người độc nhất quyết định cuộc sống của mình. Cái đó không ngăn cản đến tình thân thiết ruột thịt của tôi với ông. Chúng tôi tạm biệt nhau sau khi chú tôi nói thêm: “Cháu thỏa mãn với bộ óc bé nhỏ của cháu, con gái. Ta không phải là người trí thức, nhưng ta sẵn sàng chia sẻ sự hiểu biết của ta cho cháu khi cháu muốn. Chúng ta sẽ thấy, ai là người có lý”.
Chuyện đó xảy ra cách đây đã chín năm. Tôi vẫn về thăm ông vào cuối tuần và quan hệ của chúng tôi vẫn tốt đẹp như xưa. Nhưng quan điểm của mỗi người thì vẫn không thay đổi. Ông không nói gì về những thành đạt của tôi, việc tôi được vào trường đại học, việc tôi vượt qua các kỳ thi. Ba năm cuối thì sức khỏe của chú tôi sút kém. Ông qua đời một tháng trước đây.
Bây giờ tôi nói về mục đích của việc tôi tới gặp ông. Chú tôi đã để lại một bản di chúc rất khác thường, theo đó thỉ trang viên Crabtree và tất cả những gì bên trong nó thuộc quyền sử dụng của tôi trong năm đầu sau khi ông mất, đó là “năm mà trí khôn của người cháu gái được chứng tỏ là vượt qua sự khôn khéo của tôi”. Ông viết như vậy. Nếu trí khôn của tôi không hơn thì mọi của cải của ông sẽ thuộc về cơ quan từ thiện.
- Đó là một quyết định nghiêm khắc, thưa cô, vì cô là người trong gia đình duy nhất của ông ấy.
- Tôi không nhìn sự kiện dưới góc độ ấy. Chú Andrew đã báo trước và tôi phải sử dụng cái đầu của tôi. Không thể bắt buộc tôi phải theo quan điểm của ông, ông có quyền dùng gia tài theo ý muốn.
- Bản di chúc có đóng dấu công chứng không?
- Không, nó được chú tôi viết tay và vợ chồng ông quản gia đã ký với tư cách là những người làm chứng.
- Có thể chống lại bản di chúc ấy không?
- Tôi không muốn có những hành động như vậy.
- Cô muốn coi đây là một sự thách đố của ông chú cô phải không?
- Đúng như vậy!
- Những câu chữ viết ra cho phép ta có lời giải thích ấy – Poirot suy nghĩ trả lời – Tôi nghĩ rằng trong trang viên kiểu cũ có nhiều phòng thì người chú của cô có thể giấu ở đâu đó một số tiền lớn hoặc một bản di chúc thứ hai mà ông đã cho cô một năm để bộ óc thông minh của cô tìm ra.
- Đó là điều tôi tin chắc, thưa ông Poirot, tôi sẽ trả ông số tiền mà ông muốn vì chắc óc suy đoán của ông hơn hẳn tôi trong việc tìm kiếm này.
- Ôi! Cô thật đáng mến. Chất xám của tôi xin phục vụ cô. Cô chưa tự mình tiến hành việc tìm kiếm ư?
- Bước đầu chưa kết quả gì, nhưng tôi tôn trọng trí thông minh không thể chối cãi được của chú tôi để nghĩ rằng công việc sẽ không thuận lợi.
- Cô có mang theo đây bản di chúc không?
Cô Marsh đưa cho anh mảnh giấy, anh lắc đầu đưa mắt nhìn.
- Viết cách đây ba năm, ngày 25 tháng Ba, vào lúc mười một giờ, chi tiết rất thú vị làm mốc so sánh cho việc tìm kiếm. Chắc chắn là chúng ta phải tìm cho ra một bản di chúc nữa viết nửa tiếng đồng hồ sau bản này, nó là bản duy nhất có giá trị. Thưa cô, đây là một việc hấp dẫn đòi hỏi trí thông minh mà cô yêu cầu tôi. Tôi vui lòng giúp cô. Kể cả trường hợp ông chú cô là một đối thủ ghê gớm, chất xám của ông cũng không giống như Hercule Poirot được!
Đúng là sự kiêu ngạo của Poirot đã trở nên khó chịu.
- May mà lúc này tôi không bận việc gì, Hastings và tôi sẽ đến trang viên Crabtree ngay tối hôm nay. Hai vợ chồng người phục vụ ông chú cô hãy còn ở đây chứ, tôi cho là như vậy?
- Vâng, còn tên của họ là Barker.

*
0
Sáng hôm sau chúng tôi bắt đầu cuộc tìm kiếm thực sự. Chúng tôi tới trang viên vào lúc khuya và được Barker đón tiếp vì họ đã được bức điện tín báo trước. Ông chồng gầy gò, gân guốc đỏ đắn, người vợ cục mịch, ít nói. Cả hai sinh trưởng ở Devonshire.
Mệt mỏi sau chuyến đi xe lửa cùng với tám kilometers rưỡi ngồi ôtô từ nhà ga tới đây, chúng tôi đi nghỉ ngay sau khi dùng món gà quay, món khoai tây cùng món kem Devonshire. Chúng tôi vừa ăn sáng xong và đến ngồi trong gian phòng trần trát thạch cao, nơi dùng làm phòng giấy đồng thời là phòng tiếp khách của ông Marsh. Một chiếc bàn giấy kiểu Mỹ có rất nhiều tập hồ sơ dán nhãn cẩn thận đặt sát tường và một chiếc ghế bành bọc da là nơi trú ẩn thích thú của chủ nhà. Một chiếc đi-văng nặng nề trải vải hoa ở bên tường đối diện, những chiếc ghế êm đặt trước cửa sổ trải vải hoa cùng màu.
- Này, anh bạn – Poirot châm một điếu thuốc lá nhỏ rồi nói – Chúng ta cần vạch một kế hoạch tác chiến. Tôi đã sơ bộ nhìn toàn cảnh ngôi nhà, nhưng tôi có cảm giác đối tượng tìm kiếm của chúng ta là ở căn phòng này. Chúng ta cần xem xét những tập hồ sơ một cách tỉ mỉ. Tất nhiên tôi không chờ đợi bản di chúc nằm trong đó nhưng có thể có mảnh giấy nào đó chỉ rõ một cách vô tư nơi cất giấu. Nhưng trước hết chúng ta cần một số chỉ dẫn. Yêu cầu anh bấm chuông gọi người phục vụ nhà này.
Tôi làm theo. Trong khi chờ đợi, Poirot bước dọc, bước ngang trong gian phòng, nhìn xung quanh bằng cặp mắt dò xét.
- Một người làm việc có phương pháp, ông Marsh này. Nhìn những chồng giấy má được sắp xếp cẩn thận, mỗi ngăn kéo đều có chìa khóa và tấm bảng nhỏ bằng ngà cũng như những tấm kính tường thật là đáng kính phục. Hãy nhìn những chiếc lọ trong tủ kính. Cái đó làm người ta hài lòng. Ở đây không có gì làm người ta tức mắt…
Bất chợt anh nhìn thấy một chiếc chìa khóa cắm vào một ngăn kéo, có một chiếc phong bì cũ buộc theo. Poirot cau mày lấy chiếc chìa khóa ra khỏi ổ. Trên phong bì có hàng chữ khó đọc: “Chìa khóa của ngăn kéo Mỹ”. Chữ viết khác hẳn với chữ trên các chìa khóa khác.
- Một nốt nhạc lạc điệu – Poirot nhấn mạnh – Tôi có thể khẳng định là chúng ta không còn lúng túng trong sáng kiến của ông Marsh nữa. Nhưng có những ai ở trong nhà này? Chỉ có cô Marsh… Và cả cô ta nữa, nếu tôi không lầm lẫn, cô cũng là người có trật tự và làm việc có phương pháp.
Barker bước vào phòng.
- Ông có thể tìm bà Barker để trả lời những câu hỏi của chúng tôi không? Người đàn ông đi ra và một lát sau quay lại có vợ đi sau. Bà vợ vẻ mặt băn khoăn đang lau tay vào chiếc khăn đeo trước bụng.
Với một vài lời ngắn gọn Poirot giải thích mục tiêu của nhiệm vụ của mình. Vợ chồng nhà Barker đồng ý ngay lập tức.
- Chúng tôi không muốn cô Violet mất những gì cô đáng được hưởng – Người vợ nói – Thật là không công bằng khi tất cả những thứ ở đây đi vào các bệnh viện.
Poirot bắt đầu cuộc thẩm vấn. Phải ông bà Barker nhớ rất rõ là họ đã ký tên vào bản di chúc. Trước đó ông Marsh cũng đã vào trong làng để làm hai bản di chúc khác.
- Hai ư? – Poirot hỏi ngay.
- Vâng, thưa ngài, do cẩn thận thôi, tôi cho là như thế, trong trường hợp phải bỏ bản thứ nhất đi… Và thực tế đúng như vậy. Chúng tôi đã cùng ký một bản…
- Lúc ấy là mấy giờ?
Người đàn ông gãi đầu nhưng người đàn bà thì nhanh nhẹn hơn:
- Tôi nhớ rất rõ. Lúc ấy tôi vừa đặt xoong sữa lên bếp, vào mười một giờ. Jim, anh không nhớ ư? Sửa đã trào ra ngoài khi chúng ta quay lại bếp!
- Sau đó thì sao?
- Chừng một giờ sau, ông chủ gọi chúng tôi lên. “Tôi có sự nhầm lẫn – Ông nói với chúng tôi – Tôi đã xé tờ giấy lúc nãy đi rồi. Tôi đề nghị ông bà vui lòng ký cho tôi một tờ khác”. Và chúng tôi lại ký. Sau đó ông chủ tặng chúng tôi mỗi người một số tiền kha khá. “ tôi không để lại gì trong bản di chúc cho ông bà cả – Ông nói – Nhưng hàng năm ông bà sẽ nhận được một số tiền đủ bảo đảm cho cuộc sống của hai người, sau khi tôi mất”. Và ông đã giữ đúng lời hứa của mình.
Poirot suy nghĩ một lúc:
- Sau khi ký bản di chúc thứ hai thì ông Marsh làm gì? Ông bà có nhớ không?
- Ông chủ vào làng để thanh toán tiền cho những người cung cấp nhu yếu phẩm.
Cái đó hình như có nhiều hứa hẹn. Poirot thử đi con đường khác. Anh chỉ vào chiếc chìa khóa ngăn kéo:
- Kia có phải là chữ viết của ông chủ không?
Có thể là tôi nhầm nhưng tôi có cảm giác rằng Barker ngần ngừ một lúc trước khi trả lời.
- Đúng, thưa ngài.
Hắn nói dối, tôi nghĩ, nhưng vì sao?
- Ông chủ đã mua trang viên này chứ? Ba năm trước khi ông ấy qua đời có ai là khách lạ tới đây không?
- Không, thưa ngài.
- Không có người nào ư?
- Chỉ có cô Violet.
- Ngoài cô ấy thì không có ai vào căn phòng này ư?
- Không, thưa ngài.
- Jim, anh quên là còn những người thợ nữa ư? Người vợ nhắc ông.
- Thợ ư? – Poirot vội hỏi – Thợ nào?
Bà giúp việc giải thích rằng khoảng hai năm rưỡi trước đây có những người thợ được gọi đến để sửa chữa vặt trong gian phòng. Bà không hiểu là sửa chữa những gì, nhưng theo bà đây là những việc làm vô ích do tính hay thay đổi của ông chủ. Một nửa thời gian thợ làm việc trong phòng, họ làm gì bà không rõ vì ông chủ cấm mọi người không được bước chân vào đây khi thợ đang làm việc.
Tiếc rằng vợ chồng bà không hỏi tên hãng cử thợ tới nhưng chúng tôi biết hãng này ở Plymouth.
- Chúng ta đã có bước tiến – Poirot tuyên bố và xoa tay trong khi vợ chồng nhà Barker đi khỏi phòng – Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Marsh đã gọi thợ ở Plymouth tới làm chỗ giấu sau khi có bản di chúc thứ hai. Thay vì lục tìm trong đống giấy má này chúng ta đi Plymouth.
Sau nhiều lần tìm kiếm không kết quả chúng tôi đã gặp xí nghiệp ấy. Hãng này nhiều năm vẫn dùng kíp thợ cũ và chúng tôi dễ dàng tìm được hai bác công nhân đã làm việc theo lệnh của ông Marsh. Ngoài những việc không quan trọng, họ đã nhấc một viên gạch trong lò sưởi cũ của căn phòng, đào một hố nhỏ dưới viên gạch ấy, sau đó lắp viên gạch lại như cũ sao cho không để lại dấu vết gì khác trước. Nhấc viên gạch đó lên cho tay vào phía trong sẽ thấy cái hố ấy. Một công việc rất tinh vi nên ông chủ đòi hỏi kỹ thuật cao.
Chúng tôi trở lại Crabtree một cách vội vã, vào văn phòng, đóng chặt cửa lại có thể yên tĩnh tìm kiếm. Không có dấu vết khác thường nào trên nền lò sưởi và khi chúng tôi tìm được viên gạch ấy nhấc nó lên thì cái hố nhỏ hiện ra. Poirot đưa tay vào trong hố nhưng lập tức mặt anh lộ vẻ thất vọng… Anh chỉ lấy ra được một mẩu giấy than đã bị đốt cháy!
- Trời – Anh giận dữ kêu lên – Một kẻ nào đó đã đến trước chúng ta rồi!
Chúng tôi xem kỹ mảnh than giấy, chắc chắn là chúng tôi không tìm hiểu được gì thêm. Chỉ còn một mẩu có chữ ký của ông Marsh là còn đọc được.
Poirot ngồi xổm. Nếu cả hai chúng tôi không bj lạc hướng thì tôi thấy cảnh này là đáng tức cười rồi.
- Tôi không hiểu ai là người đã đốt mảnh giấy này? Và với lý do gì?
- Vợ chồng nhà Barker chăng? – Tôi gợi ý.
- Tại sao? Cả hai bản di chúc đều không nói gì đến họ, và họ sẽ không được làm việc với cô Violet nữa nếu những tài sản này thuộc về các nhà thương kia. Việc hủy bản di chúc này có lợi cho ai? Chắc chắn là có lợi cho các bệnh viện… Nhưng chúng ta không thể nghi ngờ các cơ quan công cộng được.
- Có thể ông già đã thay đổi ý kiến và tự mình hủy tờ giấy đi thì sao?
Poirot đứng lên phủi bụi trên đầu gối với sự cẩn thận thường ngày của anh.
- Có thể – Anh thừa nhận. Đây là một nhận xét đúng đắn nhất của anh – Hastings. Này, không còn gì giữ chúng ta ở đây nữa. Chúng ta đã làm mọi việc cần làm đối với con người. Chúng ta đã vượt được trí thông minh của ông Harsh, nhưng, đáng tiếc là cháu gái ông không được gì hơn.
Khi tới ga, chúng tôi kịp lên chuyến tàu đi Londres. Poirot cau có, còn tôi thì quá mệt mỏi tôi ngồi vào góc xe. Đột nhiên, đúng lúc tàu chuyển bánh, Poirot kêu thét lên:
- Nhanh lên, Hastings! Thức dậy mà xuống tàu! Nhảy xuống – Tôi bảo anh!
Trước khi hiểu là đã có chuyện gì xảy ra chúng tôi đã ở trên sân ga, đầu trần, không hành lý, trong khi đó con tàu đi sâu vào đêm tối. Tôi bực mình nhưng Poirot thì không thèm chú ý đến.
- Thật là ngu – Anh kêu lên – Ba lần ngu! Tôi sẽ không bao giờ khoe khoang về bộ óc thông minh của mình nữa!
- Như vậy thì tốt thôi – Tôi càu nhàu – Nhưng có chuyện gì vậy?
- Bản thanh toán với những người cung cấp nhu yếu phẩm… Tôi đã không chú ý tới chúng. Phải, nhưng ở đâu? ở đâu? Không quan trọng, tôi không nhầm được, chúng ta phải quay lại thôi.
Nói thì dễ còn làm thì khó. May mắn là chúng tôi kịp chuyến tàu Exerter, ở đấy Poirot thuê một chiếc xe hơi. Chúng tôi đến Crabtree khi trời vừa hửng sáng. Ông bà Barker ngỡ ngàng khi chúng tôi bắt buộc họ thức giấc. Không chú ý tới họ, Poirot đi ngay vào văn phòng.
- Không phải ba lần ngu mà ba mươi lần ngu, anh bạn – Poirot nói – Bây giờ thì trông đây!
Đi thẳng tới chiếc ngăn kéo, anh rút chìa khóa ra, cởi dây chiếc phong bì ra. Tôi theo dõi hành động của anh bằng cặp mắt ngạc nhiên. Làm thế nào mà anh tìm được bản di chúc dài dòng như thế trong một chiếc phong bì nhỏ như vậy?
Rất cẩn thận, Poirot mở chiếc phong bì ra. Anh đốt nến và hơ tờ giấy lên phía trên ngọn lửa. Một thoáng sau những giòng chữ hiện ra.
- Nhìn đây, anh bạn! – Poirot đắc thắng kêu to.
Tôi nhìn vào mảnh giấy. Một vài dòng chữ đọc rất rõ nói vắn tắt Andrew Marsh di tặng lại mọi của cải của mình cho người cháu gái là Violet Marsh. Thời điểm viết: ngày hai mơi nhăm, tháng ba, lúc mười giờ ba mươi. Những người làm chứng là Albert Pike, chủ cửa hiệu bánh kẹo và vợ.
- Bản viết như thế này có giá trị không? – Tôi hỏi.
- Theo tôi hiểu thì pháp luật không quy định người ta phải viết di chúc bằng thứ mực nào, ý định của người để lại chúc thư là rõ ràng và người thừa kế là người họ hàng duy nhất là được rồi. Nhưng ông ta thông minh biết bao!... Ông ấy viết hai bản di chúc rồi yêu cầu người giúp việc ký làm hai lần, sau đó ông vào làng với một bản di chúc khác viết bên trong một chiếc phong bì cũ và một chiếc bút máy chứa một thứ mực pha chế lấy. Dưới một lý do nào đó, ông thuyết phục vợ chồng ông hàng bánh kẹo ký tên dưới chữ ký của mình, buộc phong bì vào chiếc chìa khóa, sau đó ông cười thầm. Nếu cô cháu gái tìm ra được mưu kế của ông thì cô ta có lý do để tiếp tục học hành và xứng đáng hưởng gia tài của ông để lại.
- Nhưng cô ta không thể đoán ra, đúng như vậy – Tôi chậm chạp nói – Thật là không đúng vì ông già là người thắng cuộc.
- Nhưng, không, Hastings. Anh lạc hướng rồi. Cô Marsh thể hiện trí khôn của mình và do được sự giáo dục sâu sắc đối với phụ nữ nên cô ta đã nhanh chóng đến nhờ tôi giúp đỡ trong việc này. Giao công việc cho người thành thạo, cô đã chứng minh cái quyền được hưởng thừa kế của mình.
Tôi tự hỏi… là có đúng ông già Andrew Marsh đã nghĩ đến điều đó không?
0
TẤN THẢM KỊCH Ở TRANG VIÊN MARDSON


Tôi có việc phải rời thành phố ít ngày, khi trở về tôi thấy Poirot đang khóa chiếc vali nhỏ của anh.
- Thật là đúng lúc, Hastings, tôi đã sợ rằng anh không kịp về để đi cùng tôi.
- Người ta đã nhờ anh điều tra giúp một vụ gì chăng?
- Đúng và tôi đã nhận lời vì vụ này tôi thấy có nhiều điều thích thú. Chi nhánh Miền Tây của Công ty bảo hiểm đã yêu cầu tôi điều tra về cái chết của ông Maltravers nào đó, xảy ra tại nhà của ông ấy cách đây mấy ngày, vì một khoản bào hiểm nhân thọ rất lớn, khoảng năm mươi ngàn bảng Anh.
- Đúng thế ư? – Tôi ngạc nhiên kêu lên.
- Rất đúng, nhưng có một điều khoản qui định loại trừ đây là một vụ tự tử. Trong trường hợp người tham gia bảo hiểm tự sát thì tiền bồi thường sẽ bị cắt bỏ trong vòng một năm. Ông Maltravers đã được bác sĩ của công ty khám nghiệm. Tuy rằng đã đứng tuổi nhưng ông ta còn rất mạnh khỏe. Thứ tư mới rồi, tức là ngày hôm kia, người ta thấy xác ông ở gần trang viên Mardson, trong một khu rừng và nguyên nhân của cái chết là bị xuất huyết trong cơ thể. Việc này tự nó không có gì là lạ lùng, nhưng những lời thì thào về tình trạng nợ nần ghê gớm của ông ta làm cho Chi nhánh Miền Tây của Công ty phải nghi ngờ. Cái đó làm thay đổi rất nhiều sự việc. Hơn thế nữa, ông ta có một người vợ rất trẻ và xinh đẹp. Cái đó làm cho người ta cho rằng ông ta đã nhặt nhạnh mọi của cải để đóng bảo hiểm nhân mạng, vợ ông sẽ có số của cải này sau khi ông chết. Một chuyện như vậy cũng không phải là đặc biệt. Dù thế nào đi nữa thì ông Alfred Wrigh, giám đốc Chi nhánh Miền Tây, cũng đã nhờ tôi tìm ra sự thật của vụ này. Tôi có ít hy vọng thành công, anh bạn ạ. Nếu ông ta chết vì tim đột ngột ngừng đập thì tôi rất lạc quan. Đây là một sự phán đoán thường vượt quá khả năng của một bác sĩ địa phương không biết rõ nguyên nhân tử vong của người bệnh của mình. Nhưng nếu chết do xuất huyết thì không thể nào nhầm lẫn được. Bây giờ những việc chúng ta có thể làm là tìm kiếm những thông tin có ích. Năm phút để xếp vali và chúng ta sẽ đi taxi ra ga.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau chúng tôi đã xuống một ga nhỏ. Một nhân viên nhà ga cho chúng tôi biết trang viên Mardson ở cách đây chừng một cây số. Poirot quyết định đi bộ và chúng tôi bước những bước dài trên đường cái lớn.
- Kế hoạch tác chiến của anh như thế nào?
- Trước hết chúng ta tới gặp ông bác sĩ địa phương. Tôi biết có một vị bác sĩ ở đây: ông Ralph Bernard. A! Nhà ông ta đây rồi. Một biệt thự đẹp, ở gần phố. Một tấm biển bằng đồng ghi tên bác sĩ.
Chúng tôi di theo lối đi rộng vào và bấm chuông cửa. Lúc này là giờ khám bệnh, nhưng may mắn cho chúng tôi, không có một bệnh nhân nào đợi ông. Bác sĩ Bernard là một người đứng tuổi, vai rộng, lưng hơi gù, khi nói chuyện thường hay pha trò.
Poirot tự giới thiệu và nêu rõ lý do của cuộc gặp gỡ và nói thêm Công ty bảo hiểm rất cần tiến hành điều tra cẩn thận trong những trường hợp như thế này.
- Chắc chắn là như vậy, chắc chắn là như vậy – Ông bác sĩ trả lời bằng giọng mơ hồ – Tôi hình dung là một người giàu có, Maltravers sẽ có một khoản tiền bảo hiểm rất lớn phải không?
- Ông bác sĩ, ông cho rằng ông ta là một người giàu có ư?
Nhà khoa học ngạc nhiên:
- Không phải thế ư? Ông ấy có hai chiếc xe hơi, ông nên hiểu điều đó, và trang viên Mardson còn nhiều của cải quí mà ông ấy đã mua với giá hời nữa, tôi cho là như vậy.
- Tôi nghe nói là ông ta đã bị thiệt hại tiền của nhiều – Poirot cãi lại và chăm chú quan sát ông này.
Người thầy thuốc buồn bã cúi đầu:
- Thế ư? Này! Đó là sự gặp may đối với vợ ông ấy khi được khoản tiền bảo hiểm ấy. Một người trẻ, đẹp, hiền dịu, đã quá xúc động trước tai họa ghê gớm đó. Những chấn động thần kinh con người khốn khổ… Tôi đã cố gắng làm dịu nỗi đau của bà ấy, nhưng tất nhiên phải chờ đợi vì đây là cú sốc rất mạnh.
- Trước đây ông đã chữa bệnh cho ông Maltravers phải không?
- Ông thân mến! Tôi chưa bao giờ chữa bệnh cho ông ấy cả.
- Thế nào?
- Tôi cho rằng ông Maltravers là một người công giáo theo khoa học… hoặc một cái gì tương tự như vậy.
- Nhưng ông đã khám nghiệm tử thi chứ?
- Đúng thế, một người làm vườn đến tìm tôi.
- Và cái chết của ông ta có gì đáng nghi ngờ không?
- Không có gì. Có một chút máu trên môi còn tất cả máu đều xuất bên trong cơ thể.
- Ông cũng đã tới nơi ông ta ngã xuống chứ?
- Phải, xác chết chưa bị ai động đến. Người ta tìm thấy nó ở bìa rừng. Đúng là ông Maltravers đang đi bắn quạ vì một khẩu súng bắn chim đang nằm bên ông. Sự xuất huyết xảy ra đột ngột, chắc chắn là do loét dạ dày.
- Không có vấn đề ông ta bị sát hại phải không? Ông thân mến! Xin ông thứ lỗi – Poirot nói – Nhưng nếu tôi không quên thì khi có những vụ như vậy người bác sĩ có ngay một kết luận: tim ngừng đập… Ông ta phải thay đổi ý kiến khi cảnh sát lưu ý rằng người chết bị một viên đạn xuyên qua đầu.
- Ông sẽ không tìm ra một dấu vết đạn nào qua xác ông Maltravers cả – Người thày thuốc cắt ngang lời khách một cách khô khan – Bây giờ, ông thân mến, nếu không còn gì để hỏi nữa… Chúng tôi giữ ông ta lại và nói:
- Cảm ơn ông và chúc ông một ngày tốt lành vì đã trả lời một cách đáng mến những câu hỏi của chúng tôi. Nhưng ông không thấy tốt nhất là mổ tử thi ư?
- Đúng là không cần thiết – Mặt của ông bác sĩ đột nhiên tái đi – Nguyên nhân cái chết không có gì đáng nghi ngờ, và trong nghề nghiệp, chúng tôi thấy không cần thiết làm đau khổ gia đình người chết một cách vô cớ.
Tới đây thì chúng tôi quay gót và ông ta đóng sập cửa lại.
0
- Hastings, anh nghĩ như thế nào về bác sĩ Bernard? – Poirot hỏi khi chúng tôi đang trên đường tới trang viên Mardson.
- Một thằng cha mất dạy!
- Đúng. Những nhận xét về con người của anh bao giờ cũng sâu sắc, anh bạn.
Tôi khó chịu nhìn trộm anh nhưng anh vẫn tỏ ra nghiêm chỉnh, một ánh mắt tinh quái xuất hiện và anh nói thêm: “trừ trường hợp đánh giá một người phụ nữ trẻ, đẹp”.
Đến lúc này thì tôi nhìn anh một cách lạnh lùng.
Một bà người hầu đứng tuổi mở cửa khi chúng tôi tới trang viên.
Poirot đưa danh thiếp và một lá thư của Công ty Bảo hiểm cho bà ta. Bà dẫn chúng tôi vào phòng khách rồi đi báo cho chủ nhà. Mươi phút sau, cánh cửa bật mở và một bóng người nhỏ nhắn vận đồ tang hiện ra.
- Ông Poirot? – Bà ta nói giọng đứt quãng.
- Thưa bà – Poirot đứng lên và nhanh nhẹn đến trước mặt chủ nhà – Tôi lấy làm tiếc đã làm bà bận rộn trong lúc như thế này. Nhưng làm thế nào được. Công việc thì không thể có tình thương.
Bà Maltravers để anh đưa bà tới một chiếc ghế. Mi mắt bà đỏ vì khóc nhiều, nhưng mặt bà vẫn đẫy đà lộ ra một vẻ đẹp khác thường. Bà trạc hai mươi bảy hoặc hai mươi tám tuổi, tóc vàng, mắt to và xanh, đôi môi rất quyến rũ.
- Đây là vấn đề bảo hiểm của chồng tôi phải không? Nhưng liệu tôi có nên chú ý tới, bây giờ… sớm như vậy ư?
- Can đảm, bà thân mến, hãy can đảm lên. Bà biết đấy, chồng bà đã đóng bảo hiểm nhân thọ, nó sẽ mang lại cho bà một khoản tiền lớn và trong trường hợp như thế này, Công ty phải tiến hành xem xét một số chi tiết. Bà có thể tin chắc là tôi sẽ tiến hành cuộc điều tra với ít phiền phức nếu có thể. Bà có thể kể vắn tắt những sự kiện đáng buồn xảy ra vào hôm thứ tư vừa rồi không?
- Tôi đang pha trà thì bà hầu phòng chạy tới. Một trong số những người làm vườn cũng chạy về. Bác ta đã thấy…
Bà như bị hết hơi. Poirot nắm tay bà với vẻ thương hại.
- Tôi hiểu. Thôi dừng lại ở đây… Trước đó bà có gặp ông nhà không?
- Sau bữa ăn trưa tôi vào trong làng để mua mấy con tem thư. Tôi biết là chồng tôi đi vào rừng.
- Để bắn quạ ư?
- Vâng! Ông nhà tôi có thói quen mang súng đi theo và tôi dã nghe thấy một hoặc hai tiếng súng nổ từ xa.
- Khẩu súng đó hiện ở đâu?
- Trong nhà kho, tôi nghĩ như vậy.
Bà đi ra ngoài lấy khẩu súng mang vào cho Poirot. Anh xem xét súng với vẻ tò mò.
- Tôi thấy chúng thiếu hai viên đạn – Anh lưu ý – Thưa bà, bây giờ liệu tôi có thể tới…
Anh tế nhị ngừng lời.
- Người phục vụ sẽ dẫn ông đi, bà lẩm nhẩm và quay mặt sang hướng khác.
Bà hầu phòng đưa Poirot lên gác. Tôi ngồi lại với người quả phụ xinh đẹp và đau khổ. Thật là khó, không biết là nên nói chuyện hay nên im lặng. Tôi đang hỏi một vài câu chung chung và bà trả lời một cách hờ hững thì Poirot trở về.
- Tôi xin cảm ơn về lòng tốt của bà, thưa bà. Tôi nghĩ rằng người ta không làm bà phiền muộn thêm nữa. Nhưng bà có biết hoàn cảnh tài chính của chồng bà không?
Bà ta lắc đầu:
- Tuyệt đối là không. Tôi không biết gì về vấn đề này cả.
- Vậy liệu bà có thể cho chúng tôi biết lý do nào đẩy ông nhà phải mua bảo hiểm không?
- Chúng tôi mới kết hôn hơn một năm nay. Nhưng tôi có thể nói với ông về cái quyết định bất chợt ấy. Chồng tôi tin chắc là mình không thể sống lâu. Ông ấy biết rõ cái chết sẽ tới. Tôi biết ông nhà tôi có chứng xuất huyết và chỉ trong một giây đồng hồ sẽ đi đến kết quả bi thảm… Ông giấu giếm một cách vô ích sự lo ngại của mình: Than ôi, chồng tôi không hề nhầm lẫn.
Mắt đẫm lệ, bà chào chúng tôi một cách trân trọng.
0
Sau đó, khi chúng tôi đang trên đường đi, Poirot có một cử chỉ thật lạ lùng.
- Này, như vậy đấy! Chúng ta trở về Londres thôi, anh bạn. Hình như không có một con chuột nào ở trong nhà và lúc này…
- Lúc này, thì sao?
- Có một mâu thuẫn nhỏ không hơn. Anh có chú ý không? Không ư? Nhưng cuộc đời thì đầy rẫy mâu thuẫn. Chắc chắn rằng Maltravers không tự sát… Không có một loại thuốc độc nào gây ra xuất huyết mà không có máu trong miệng. Không, không, tôi không thể chấp nhận hiện tượng này, phải thành thật mà nói như vậy… Nhưng ai kia?
Một người đàn ông trẻ tuổi đi về phía chúng tôi với những sải bước dài. Anh ta đi qua chúng tôi mà không thèm chào hỏi. Tôi thấy anh ta không phải là xấu trai, với nước da rám nắng chứng tỏ anh đã sống một thời gian dài ở vùng nhiệt đới.
Một người làm vườn quét lá cây đang đứng nghỉ. Poirot chạy lại phía bác ta.
- Xin bác cho tôi biết người quí phái kia là ai vậy? Bác có biết ông ta không?
- Tôi không nhớ tên ông ta, thưa ông, mặc dù tôi đã nghe nói đến. Ông ta đã nghỉ lại đây tối hôm thứ ba vừa rồi.
Chúng tôi vội vàng đuổi theo con người ấy đang đi trên đường. Một bóng người mặc bộ đồ đen xuất hiện đầu hàng hiên ngôi nhà. Con mồi của chúng tôi và chúng tôi, những người theo sát gót hắn, đều đã chứng kiến cuộc gặp gỡ.
Khi trông thấy người trẻ tuổi bà Maltravers tái mặt và gần như lảo đảo nữa.
- Anh đấy ư? – Bà thì thào – Tôi tưởng rằng anh đang ở ngoài biển… Trên đường đi Đông Phi?
- Một bức thư bất chợt của người giúp đỡ về pháp luật đến tay tôi vào phút cuối. Ông bác của tôi chết đột ngột và để lại gia tài cho tôi. Vì có cơ hội, nên tốt nhất là tôi bỏ chuyến đi. Sau đó, đọc báo được biết cái tin xấu ấy, tôi trở lại đây xem liệu tôi có ích gì cho chị không. Có lẽ chị cần một người nào dó giúp đỡ chị trong một thời gian chăng?
Lúc đó họ đã nhận ra sự có mặt của chúng tôi. Poirot tiến lên xin lỗi vì anh đã để quên chiếc can trong phòng xép. Tôi thấy bà Maltravers buộc lòng phải giới thiệu với chúng tôi một cách khó chịu.
- Ông Poirot, đại úy Black.
Sau một vài câu chuyện Poirot được biết viên đại úy đang trọ ở quán Ancher.
Không tìm thấy chiếc can nói dối là để quên, Poirot tỏ lời xin lỗi và chúng tôi rút lui.
Chúng tôi nhanh chóng vào trong làng và Poirot đến thẳng quán Ancher.
- Chúng ta ở đây cho đến khi người bạn đại úy của chúng ta trở về, anh giải thích. Chắc anh đã chú ý nhiều lần tôi nói việc chúng ta quay lại Londres bằng chuyến tàu đầu tiên chứ? Anh nghĩ rằng tôi định về thật sao? Không! Anh có chú ý nét mặt của bà Maltravers khi gặp anh chàng Black ấy không? Bà ta rất ngạc nhiên, còn anh chàng… thế nào, anh ta tỏ ra rất tận tụy. Anh có nhận xét như vậy không? Anh ta nghỉ tại đấy vào đêm hôm thứ ba… Sáng hôm sau ông Maltravers chết. Hastings, chúng ta phải xem xét hành động và thái độ của viên đại úy này.
Nửa tiếng đồng hồ sau chúng tôi thấy con người đáng nghi ngờ ấy bước vào quán trọ. Poirot bước ra và đi theo anh ta. Sau đó chúng tôi cùng vào phòng trọ mà chúng tôi đã thuê trước.
Poirot giải thích với đại úy Black về nhiệm vụ của chúng tôi và nói tiếp:
- Bây giờ ông đã hiểu rõ là chúng tôi cần biết rõ tình trạng tâm lý của ông Maltravers trước khi chết ra sao. Tôi tránh đặt ra những câu hỏi làm đau buồn người vợ góa của ông ta nên phải nhờ tới ông. Đúng là ông đã có một thời gian ở đây trước khi câu chuyện xảy ra với ông ta. Liệu ông có thể cung cấp những chi tiết quí báu cho chúng tôi không?
- Tôi sẽ làm những gì có thể để giúp đỡ ông, nhưng tôi thấy không có gì khác thường trong thái độ của Maltravers. Ông ấy là một người bạn thân thiết của gia đình tôi, nhưng đúng là tôi và ông ta không hiểu biết nhau nhiều.
- Ông đã tới nhà ấy… vào lúc nào?
- Buổi chiều thứ ba và ra đi vào sáng sớm thứ tư vì tàu của chúng tôi đậu ở Tilbury sẽ nhổ neo vào buổi trưa hôm đó. Nhưng những tin tức nhận được ngay trước khi khởi hành đã khiến tôi phải thay đổi kế hoạch. Tôi lo ngại về những điều các ông đã nghe được trong câu chuyện giữa tôi và bà Maltravers.
- Ông định đi Đông Phi phải không?
- Vâng. Tôi đã ở đây từ sau chiến tranh. Thật là một xứ sở kỳ diệu.
- Đúng thế. trong bữa ăn với gia đình Maltravers người ta đã nói những chuyện gì?
- Ờ, tôi cũng không nhớ nữa! Những câu chuyện bình thường. Ông Maltravers đã hỏi tin tức về cha mẹ tôi, rồi chúng tôi nói về tổ chức lại nước Đức. Sau đó Maltravers đã đặt ra cho tôi những câu hỏi về Đông Phi và tôi đã kể cho ông nghe một hai câu chuyện. Đó hầu như là tất cả, tôi tin như vậy.
- Cảm ơn.
0
Poirot nghĩ ngợi một lúc sau đó anh nhẹ nhàng tuyên bố:
- Nếu ông cho phép, tôi sẽ làm một thí nghiệm nhỏ. Ông đã nhắc lại những gì ông đã nghĩ tới, nhưng bây giờ tôi muốn hỏi tiềm thức của ông.
- Đây là khoa học phân tích tâm lý ư? – Black kêu lên một cách hốt hoảng.
- Ồ không! Ông yên tâm! Tôi sẽ giải thích ông rõ. Tôi đặt ra cho ông một từ, ông trả lời bằng một từ khác, và cứ như thế. ông có thể trả lời bằng bất cứ từ nào, từ đầu tiên xuất hiện trong óc của ông. Thỏa thuận chứ?
- Đồng ý – Chàng trai trả lời với vẻ chưa thật dễ chịu.
- Hastings, yêu cầu anh ghi chép cho.
Poirot lấy trong túi ra một chiếc đồng hồ quả quít mặt lồi đặt trên bàn.
- Chúng ta bắt đầu: Ngày – Sau một thoáng ngần ngừ Jack nói – Đêm.
Và cứ như thế Poirot tiến hành cuộc thí nghiệm và những câu trả lời đối với tôi chúng có vẻ tự phát.
- Tên.
- Nơi.
- Bernard.
- Shaw.
- Thứ ba.
- Bữa ăn chiều.
- Chuyến đi.
- Tàu thủy.
- Quốc gia.
- Ouganda.
- Câu chuyện.
- Những con sư tử.
- Khẩu súng săn nhỏ.
- Trang trại.
- Phát đạn.
- Tự tử.
- Con voi.
- Chống cự.
- Tiền.
- Công chứng viên.
- Cảm ơn đại úy Black. Ông cho chúng ta chuẩn bị công việc khoảng nửa tiếng đồng hồ được không?
- Được chứ.
Viên đại úy trẻ nhìn anh với vẻ tò mò, sau đó lau trán đứng lên.
- Bây giờ – Poirot ra đóng cửa phòng và cười nói – Hastings, anh đã hiểu cả rồi phải không?
- Tuyệt đối là không.
- Bản danh sách những câu hỏi và trả lời ấy…
0
Tôi nhìn vào bản kê, tuy cố gắng xem xét nhưng cũng phải lắc đầu.
- Tôi sẽ giúp anh. Bắt đầu, Black đã trả lời tôi trong thời gian bình thường, không ngập ngừng, nên chúng ta có thể kết luận là anh ta không giấu giếm gì cả: hỏi “ngày”, trả lời “đêm”, “tên” trả lời “nơi” đều là những danh từ chung chung. Tôi bắt đầu thăm dò bằng cách hỏi “Bernard”, ám chỉ ông bác sĩ địa phương, nếu anh ta đã gặp. Rõ ràng là anh ta chưa gặp người này. Tiếp đó anh ta đã trả lời “bữa ăn chiều” khi hỏi “thứ ba”; nhưng với những từ “chuyến đi” và “quốc gia” anh đã trả lời “tàu thủy” và “Ouganda”, chỉ rõ chuyến đi ra nước ngoài quan trọng đối với anh, chứ không phải là chuyến đi tới thăm nhà Maltravers. “Câu chuyện” làm cho anh ta nhớ tới một chuyện liên quan tới “những con sư tử” mà chắc chắn anh đã kể vào cái tối thứ ba ấy. Khi tôi nói “khẩu súng săn nhỏ”, anh ta nói “trang trại” một cách bất chợt. Khi tôi nêu “phát đạn”, anh trả lời ngay “tự tử”. Tập hợp lại thì ta thấy rõ hơn. Anh ta đã biết có một người tự tự bằng một khẩu súng săn nhỏ, trong một trang trại nào đó. Không nên quên rằng tư tưởng của anh còn in rõ về những câu chuyện mà anh đã kể vào buổi tối thứ ba ấy. Và anh sẽ thấy, tôi không đi xa sự thật, nếu tôi không gọi anh chàng Black ấy tới, kể cho chúng ta nghe những câu chuyện anh đã nói với Maltravers tối hôm ấy.
Khi được Poirot nói, Black không chút nào ngần ngừ:
- Phải, bây giờ tôi đã nhớ ra, tôi đã kể cho họ nghe câu chuyện đáng buồn ấy. Một người đã tự tự tại nơi tôi đã đến một trang trại. Anh ta dùng một khẩu súng săn nhỏ. Đầu đạn xuyên từ vòm miệng lên óc. Các bác sĩ không tìm thấy gì cả… Họ không thấy một dấu vết nào nếu không có một chút máu chảy trên môi. Nhưng có…
- Có quan hệ gì giữa câu chuyện ấy với cái chết của Maltravers không? Tôi cho rằng ông biết việc có một khẩu súng y như thế bên cạnh xác chết.
- Ông muốn nói rằng do vô ý thức tôi đã gợi ý cho ông ấy… Nhưng thật là kinh tởm!
- Ông không nên thất vọng… Cái đó có thể xảy ra bằng cách này hay cách khác. Thôi! Tôi cần gọi điện thoại về Londres đây.
Poirot đã gọi điện thoại rất lâu. Buổi chiều anh cũng đi và chỉ về quán trọ sau bảy giờ tối và nói anh không thể chờ đợi việc nắm những tin tức ở người đàn bà góa lâu hơn nữa. Hiện nay bà ta không còn nguồn tiền nong nào để sinh sống, lại có tin chồng tự tử để bảo đảm cuộc sống của bà thì đây thật là một gánh nặng khó chịu đựng nổi đối với bất cứ người vợ nào. Tôi nuôi một hy vọng thầm kín là anh chàng Black có khả năng an ủi bà ta cùng với thời gian làm giảm nhẹ sự đau đớn của bà. Dù sao đi nữa anh ta cũng rất có cảm tình với bà.
Cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi với người đàn bà góa trẻ thật là nặng nề. Bà không tin tưởng chút nào vào việc làm của Poirot, sau đó bà ta phải chấp nhận và gục xuống khóc sướt mướt. Một cuộc khám nghiệm tử thi xác nhận nghi ngờ của chúng tôi là đúng. Maltravers bị đạn bắn xuyên qua óc. Poirot lấy làm tiếc cho người vợ góa xinh đẹp nhưng dù sao anh cũng là người đại diện cho Công ty Bảo hiểm nên không thể nào làm khác được.
Khi chúng tôi sắp ra về Poirot quay về phía bà Maltravers và nói một cách đáng mến:
- Thưa bà, hơn ai hết, bà cần biết là không có cái chết nào cả.
Bà ta bối rối, mắt mở to.
- Ông muốn nói gì?
- Có bao giờ bà đánh đồng thiếp không? Bà là con đồng, bà nên biết như vậy.
- Người ta cũng đã nói với tôi về cái đó. Nhưng ông không tin vào đồng thiếp chứ?
- Thưa bà, tôi đã từng chứng kiến những điều kỳ lạ. Bà có biết trong làng người ta nói trang viên này có ma không?
Bà ta cúi đầu, cùng lúc ấy bà hầu vào báo là bữa ăn đã dọn.
- Các ông cùng đi dùng bữa với tôi chứ?
Chúng tôi cảm ơn nhận lời và tôi cảm thấy sự có mặt của chúng tôi có thể làm bà không vui vẻ chút nào.
Khi chúng tôi vừa ăn xong món canh thì có một tiếng kêu thét lên bên cửa, tiếp theo đó là tiếng bát đĩa đổ vỡ. Chúng tôi giật mình.
Bà hầu bước vào, tay ôm ngực:
- Một người… đứng chắn lối đi!
Poirot chạy ra khỏi phòng, sau đó quay vào.
- Chẳng có ai cả!
- Ông có tin chắc không, thưa ông? – Bà hầu run sợ hỏi lại. – Ôi! Tôi sợ hết hồn!
- Tại sao?
- Tôi thấy… tôi thấy ông chủ… Người ấy rất giống.
Tôi thấy bà Maltravers cũng run lên vì sợ hãi và suy nghĩ của tôi trở lại với điều mê tín cũ là hồn người tự tử thì không bao giờ siêu thoát được. Có lẽ bà chủ nhà cũng nghĩ như vậy nên một lát sau bà ta nắm chặt lấy cánh tay của Poirot và kêu lên:
- Ông có nghe thấy gì không? Ba tiếng gõ trên cửa kính? Đó là cách gõ cửa của chồng tôi khi đi xem xét xung quanh nhà.
- Đó là dây leo, tôi nói. Dây leo đập vào cửa kính đó thôi!
0
Nhưng một sự hốt hoảng đã lan tràn ở mọi người. Bà chủ là người hoảng nhất và khi dùng bữa xong bà Maltravers đã phải yêu cầu chúng tôi ngồi nán lại một lúc nữa. Bà sợ phải ở lại một mình. Chúng tôi ngồi trong một phòng khách nhỏ. Gió rít xung quanh nhà một cách khác thường. Đã hai lần cánh cửa đột nhiên bật mở, và mỗi khi như thế thì người đàn bà trẻ lại kinh hoàng ôm chặt lấy tôi.
- A! Cánh cửa này bị ma ám rồi – Poirot tức giận kêu lên. Anh đi ra cửa và khóa lại.
- Tôi đã khóa cửa rồi!
- Đừng làm gì cả – Bà Maltravers thì thào – Xem nó có thể mở được nữa không…
Khi bà vừa nói xong. Cái việc không thể xảy ra đã xảy ra. Cánh cửa đã bị khóa chặt lại từ từ mở ra.
Tôi ngồi ở chỗ không nhìn thấy bên ngoài cửa, nhưng Poirot và bà chủ nhà thì thấy rõ. Bà ta kêu thét lên và quay sang người bên cạnh.
- Ông có nhìn thấy ông ta không… Kia! Trên lối đi ấy?
Bạn tôi tò mò nhìn ra sau đó anh lắc đầu. Bà ta nài nỉ:
- Tôi đã nhìn thấy ông ta! Chồng tôi… ông cũng phải trông thấy chứ?
- Thưa bà, tôi không nhìn thấy gì cả. Bà không được khỏe… Thần kinh của bà…
- Tôi vẫn bình thường. Tôi… ôi! Trời ơi!
Ánh sáng nhấp nháy, rồi đèn tắt phụt. Trong đêm tối ba tiếng gõ trên cửa kính lại nổi lên. Tôi nghe thấy tiếng rên rỉ của bà Maltravers.
Sau đó… Tôi nhìn thấy…
Xác đàn ông mà tôi đã quan sát nằm trên giường ở gác dưới bây giờ đã đứng lên. Một ánh sáng lờ mờ, ma quái hắt vào con người ấy. Môi dính đầy máu, bàn tay phải của hắn chỉ ra đằng trước. Đột nhiên ánh sáng rời khỏi người ấy chuyển sang chiếu lên đầu Poirot, rồi đầu tôi, cuối cùng dừng lại trên đầu người đàn bà trẻ mà bộ mặt lộ vẻ sợ hãi đến cực điểm. Tôi cũng nhìn thấy ở hắn một đặc điểm khác khiến tôi phải kêu lên:
- Trời! Poirot! Nhìn tay hắn! Tay phải ấy! Đầy máu!
Bà Maltravers nhìn vào tay mình, giật mình và ngã lăn ra đất.
- Máu – Mụ ta rú lên một cách điên dại – Đúng, máu? Tôi đã giết ông ấy! Chính tôi! Ông ấy đã tin vào tôi… tôi đã sờ vào cò súng và tôi đã bóp cò. Cứu tôi với… Cứu tôi! Ông ấy đã trở về!
Tiếng nói của mụ chết lặng trong tiếng rên rỉ.
- Đèn – Poirot nói to.
Như là ảo thuật, đèn sáng.
- Như thế đấy, anh nói tiếp. Các bạn đã thấy rõ cả, Hastings và bạn Everett! A! Trước hết tôi phải giới thiệu ông Everett, một nhân vật nổi tiếng trên sân khấu. Tôi đã gọi dây nói cho ông trưa nay. Có thấy sự hóa trang tuyệt diệu của ông ấy không? Ông rất giống người đã chết. Với một chiếc đèn bấm và một chút chất lân tinh cần thiết, ông đã tạo được trạng thái tinh thần mong muốn… Còn bây giờ thì chúng ta không nên bị lỡ tàu. Thanh tra cảnh sát Japp đang đứng ở ngoài cửa sổ. Một đêm không tốt lành… Nhưng ông ấy đã giải buồn bằng cách gõ vào cửa kính.
Khi chúng tôi đang bước vội trên đường trong đêm tối, mưa gió, Poirot nói tiếp câu chuyện:
- Anh thấy đấy, có một vài mâu thuẫn nhỏ. Ông bác sĩ nói người chết là tín đồ của đạo Cơ đốc, nhưng ai cho ông ta cái nhận thức đó nếu không phải là mụ Maltravers? Sau này, với chúng ta, mụ lại nói, khi còn sống, chồng mụ thường lo lắng về sức khỏe không tốt. Một chi tiết khác, tại sao mụ lại bối rối trước sự xuất hiện bất chợt của chàng trai trẻ Black ấy? Và cuối cùng tập quán buộc người đàn bà phải để tang và khóc chồng, nhưng tôi thấy mắt mụ không đỏ chút nào! Hastings, anh không chú ý chứ? Không à? Tôi đã nhiều lần nói là ông không nhìn thấy gì cả mà.
Tôi không cãi lại và Poirot nói tiếp:
- Có hai khả năng. Câu chuyện của Black đã gợi ý cho ông chồng một cách tự sát thần tình hoặc đã gợi ý cho mụ vợ (cùng ngồi nghe kể chuyện) một cách giết người thuận tiện? Tôi theo giả thiết thứ hai và buộc mụ vợ phải nói ra. Maltravers có thể bóp cò súng bằng chân… Đó là điều tôi ít nghĩ đến… Chúng ta không thấy ai nói khi chết Maltravers chỉ đi một chiếc ủng. Một chi tiết ít người chú ý đến nhưng tôi đã lưu ý. Cuối cùng thì tôi ngả về việc chúng ta đang đứng trước một vụ giết người, nhưng chưa có chứng cớ gì dể xác minh lý thuyết của tôi. Do đó có vở hài kịch ngắn và anh đã thấy tôi đạo diễn tối nay.
Tôi thú nhận:
- Cho đến lúc này tôi vẫn chưa rõ tội ác đã diễn ra như thế nào?
- Phải nói từ đầu. Chúng ta có một người vợ trẻ xinh đẹp hay tính toán. Mụ ta biết rõ tình cảnh sa sút về tài chính của chồng. Mệt mỏi vì phải sống bên một ông chồng già (vì mụ lấy ông chỉ vì tiền) nên mụ đã thúc đẩy chồng dồn mọi tài sản để đóng vào quĩ bảo hiểm nhân thọ. Công việc hoàn thành mụ tìm cách kết thúc cuộc sống ông chồng. Một may mắn đến với mụ: Câu chuyện khác thường người sĩ quan trẻ tuổi kể lại: Trưa hôm sau, khi viên đại úy đang lênh đênh trên biển cả (như mụ nghĩ) thì mụ cùng chồng dạo chơi trên thảm cỏ xanh. Tôi hình dung ra câu chuyện của họ: Câu chuyện của Black đã kể cho chúng ta nghe thật là lạ lùng, mụ nhận xét. Một người lại có thể tự tử theo cách ấy ư? Anh làm thử xem có được không nào? Lão chồng khốn khổ, ngu đần làm thử. Lão cho họng súng vào miệng. Mụ vợ cúi xuống và đặt tay vào cò súng rồi ngẩng mặt lên tươi cười nhìn chồng: Bây giờ, thưa ông, mụ kết luận một cách bịp bợm, giả thiết là em bóp cò thì sao nhỉ? Và thế đấy… Và thế đấy! Hastings… Mụ ta đã bóp cò súng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-08-14 17:10:16khachxa>
VỤ MẤT CẮP MỘT TRIỆU DOLLARS BẰNG TRÁI PHIẾU


- Số lượng những vụ đánh cắp trái phiếu hồi này xảy ra nhiều quá – Tôi nói và đẩy tờ báo ra – Poirot, chúng ta hãy bỏ việc nghiên cứu để khám phá những vụ loại này. Anh đã đọc những tin tức cuối cùng chưa? Những tờ trái phiếu “Liberty” giá trị tới một triệu dollars mà Ngân hàng Londres – Ecosse gửi tới Nữu Ước đã bị mất một cách không ngờ trên tàu Olympia.
- Nếu không bị say sóng và không bị ám ảnh bởi cái cách đi lại của tàu Laverguier khi vượt Đại Tây Dương thì tôi sẽ rất vui lòng lên một trong những con tàu lớn – Poirot nói với vẻ mơ màng.
- Anh yên tâm – Tôi nhiệt thành trả lời – Một vài con tàu đã có đầy đủ tiện nghi và những bể bơi, phòng khách, khách sạn… Nhưng… cũng rất đúng là người ta rất khó quen thuộc với biển cả.
- Còn tôi, bao giờ tôi cũng biết sẽ ra sao khi đi trên biển – Poirot nói giọng buồn rầu – Tất cả những thứ anh vừa kể, với tôi thì chúng chẳng có nghĩa lý gì cả. Nhưng, anh bạn, nếu có lúc nào đó có những nhân tài đi vi hành trên những con tàu anh vừa kể thì rất có thể họ gặp được nhà quán quân trong thế giới tội phạm.
Tôi cười:
- Đó là lý do của những lợi ích trong những chuyến đi biển của anh ư? Anh muốn đọ kiếm với kẻ đã chiếm đoạt những trái phiếu Liberty ư?
Bà phục vụ của chúng tôi bước vào làm câu chuyện ngừng lại.
- Có một cô gái muốn gặp ông, thưa ông Poirot. Đây là danh thiếp của cô ấy.
Tấm thiếp ghi: Cô Esmée Farquhar. Sau khi cúi xuống nhặt một vụn bánh mì dưới bàn và cho nó vào giỏ giấy bỏ đi, Poirot ra hiệu cho người hầu mời khách vào.
Một phút sau, một trong số những cô gái kiều diễm mà tôi đã được nhìn qua bước vào. Khoảng hai mươi nhăm tuổi, mắt to, màu xanh và vóc người thật hoàn hảo, cô ta ăn vận rất sang trọng và có những cử chỉ thật dễ chịu.
- Thưa cô, mời cô ngồi. Xin giới thiệu với cô đây là đại úy Hastings, người đã giúp tôi trong những việc nhỏ.
- Thưa ông Poirot, tôi sợ rằng đây là một việc lớn mà tôi mang tới ông – Cô gái trả lời và nghiêng đầu về phía tôi trước khi ngồi xuống ghế. Chắc chắn rằng ông đã đọc báo. Tôi nói về vụ đánh cắp những trái phiếu Liberty trên tàu Olympia.
Poirot tỏ vẻ ngạc nhiên khi cô đi ngay vào câu chuyện:
- Chắc hẳn ông muốn hỏi tôi có quan hệ gì với ngân hàng Londres – Ecosse? Theo một nghĩa nào đó thì không nhưng với một nghĩa khác thì lại có. Thưa ông Poirot, tôi là vợ chưa cưới của Philippe Ridgeway.
- A! Còn ông Philippe Ridgeway…
- … Là người chịu trách nhiệm canh giữ những trái phiếu ấy, lúc chúng bị đánh cắp. Tất nhiên, anh ấy không có một lỗi nào để có thể bị truy tố và dù sao chăng nữa anh ấy cũng không liên quan gì đến vụ mất trộm này. Tuy nhiên vụ này đã làm anh mất bình tĩnh và tôi biết là ông bác của anh đã biết anh là người áp tải số trái phiếu. Đây là một cú đánh ghê gớm vào nghề nghiệp của Philippe.
- Người bác của anh ta là ai?
- Là ông Vavasour, tổng giám đốc Ngân hàng Londres – Ecosse.
- Cô Farquhar, cô hãy kể cho chúng tôi nghe câu chuyện đã xảy ra như thế nào.
- Vâng. Như các ông đã biết, Ngân hàng muốn mở rộng công cuộc kinh doanh sang châu Mỹ nên đã quyết định gửi một triệu dollars bằng trái phiếu Liberty tới đó. Ông Vavasour đã chọn người áp tải số hàng này là người cháu của mình. Anh là người đáng tin cậy qua nhiều năm làm việc ở đây và là người biết rõ những công việc về quan hệ giữa Ngân hàng với Nữu Ước. Tàu Olympia nhổ neo ở Liverpool ngày 23 và những trái phiếu được ông Vavasour và ông Shaw là hai đồng tổng giám đốc của Ngân hàng giao tận tay Philippe ngay sáng hôm ấy. Trái phiếu được đếm, đóng gói và buộc chặt trước mặt anh và Philippe đã khóa chiếc két sắt.
- Chiếc két được khóa bằng một chiếc khóa thông thường ư?
- Không ông Shaw đã bắt buộc phải dùng khóa của hãng Hubb. Như tôi đã nói chính tay Philippe Ridgeway đã đặt gói hàng vào trong két và hàng đã bị mất vài tiếng đồng hồ trước khi tới cảng Nữu Ước. Một vụ lục soát gắt gao trên tàu đã không mang lại kết quả gì. Những tờ trái phiếu hình như đã biến thành hơi bay vào không khí.
Poirot nhăn mặt.
- Nhưng chúng không mất, vì như tôi biết, chúng đã được bán từng ít một nửa tiếng đồng hồ sau khi tàu cập bến. Thế đấy. Tôi thì tôi không nghi ngờ gì anh Ridgeway. Tôi gợi ý là mời các ông tới dùng bữa ở cửa hàng Cheshire Cheese! Philippe đợi tôi ở đấy, nhưng anh chưa biết là tôi đã nhân danh anh để mời các ông.
Chúng tôi nhận lời mời và thuê một chuyến tắc xi để tới chỗ hẹn. Philippe Ridgeway đã có mặt ở đấy và ngạc nhiên thấy vợ chưa cưới của mình đi tới cùng hai người lạ mặt. Cao, hơi gầy, vẻ lịch sự, Ridgeway có những sợi tóc đốm bạc ở hai thái dương tuy anh chưa đến ba mươi tuổi.
Cô Farquhar đi tới và đặt tay lên vai anh.
- Tha lỗi vì em đã làm mà không hỏi ý kiến anh, Philippe. Xin phép giới thiệu đây là ông Poirot mà chắc chắn rằng anh đã biết tiếng và đại úy Hastings, bạn ông.
Ridgeway chào chúng tôi mà không che giấu vẻ ngỡ ngàng.
- Chắc chắn là như vậy, tôi đã nghe nói về ông, ông Poirot. Nhưng tôi không nghĩ đến việc Esmée đã tới hỏi ông nhân danh… câu chuyện của chúng tôi.
- Em sợ rằng anh không để em làm như vậy, anh Philipp – Cô Farquhar dịu dàng giải thích.
Anh ta cười:
- Tôi hy vọng ông Poirot có thể làm sáng tỏ câu đố lạ lùng này vì tôi thành thật thú nhận là tôi đã gần phát điên lên vì lo lắng.
Đúng là vẻ mặt đang nhăn nhó nói lên những lo ngại đã day dứt anh.
- Được – Poirot – Chúng ta hãy ngồi vào bàn, vừa ăn vừa nói chuyện xem chúng ta có thể làm được những gì. Tôi muốn anh Ridgeway tự kể lại chuyện này.
0
Trong khi chúng tôi thưởng thức món thịt bò rán và món bầu dục xào của nhà hàng thì Philippe Ridgeway nói về những hoàn cảnh xung quanh vụ những trái phiếu bị mất cắp. Câu chuyện của anh cũng giống như chuyện kể của cô Farquhar. Khi anh nói xong, Poirot đặt câu hỏi đầu tiên:
- Ridgeway, ai là người đầu tiên thấy gói trái phiếu đã bị mất?
Người được hỏi trả lời bằng giọng cay đắng:
- Điều đó làm tôi lo lắng… ông Poirot. Tôi không thể đề phòng được. Chiếc két đã bị kéo ra một phần khỏi gầm giường tôi nằm. Tôi đã đặt chiếc két vào đấy và ổ khóa có những dấu vết bị phá.
- Nhưng tôi nghe nói ổ khóa đã được mở bằng chìa kia mà?
- Đúng thế. Đầu tiên là chúng định phá khóa nhưng không kết quả. Sau đó chúng phải dùng cách khác.
- Thật là lạ lùng – Poirot lẩm bẩm, mắt ánh lên một tia sáng mà tôi rất quen thuộc. Rất lạ lùng – Bọn kẻ trộm đã để mất một thời gian đáng kể để phá ổ khóa và cuối cùng… đồ chết giẫm! Chúng biết là chúng có chìa khóa trong túi lúc ấy… vì chìa khóa của hãng Hubb chỉ có độc một chiếc thôi.
- Chính vì vậy mà chúng không thể có một chiếc chìa nữa được. Chìa khóa luôn ở trong người tôi ngày cũng như đêm.
- Anh tin chắc như thế chứ?
- Chắc chắn. Hơn thế nữa, nếu chúng có chiếc chìa khóa tôi luôn giữ, hoặc chiếc thứ hai, thì tại sao chúng lại để mất thời gian quí báu để phá ổ khóa khi biết rõ là không thể nào phá nổi?
- Đúng đây là câu hỏi chúng ta cần đặt ra. Nếu chúng ta không tìm ra lời giải thì chúng ta mãi mãi quanh quẩn bên cạnh sự việc lạ lùng và ngược đời này. Tôi yêu cầu anh trả lời câu hỏi cuối cùng này: Anh có tuyệt đối tin chắc là không lúc nào anh để chiếc két không khóa không?
Philippe Ridgeway trợn mắt nhìn Poirot và sau đó anh đã có một cử chỉ xin lỗi.
- Chuyện đó cũng có thể xảy ra, tôi bảo đảm với anh như vậy. Được, những trái phiếu đó đã bị mất cắp. Bọn ăn cắp sẽ làm gì? Làm thế nào mà chúng có thể mang số hàng đó lên bờ được?
- Làm thế nào ư? Tôi không hiểu. Cơ quan hải quan đã được báo tin và họ đã khám xét kỹ từng hành khách khi tới Nữu Ước.
- Và những trái phiếu được đóng gói thành một khối lượng lớn chứ, tôi hình dung như vậy?
- Đúng. Chúng không thể giấu cái gói ấy trên tàu được… Và dù sao thì cũng không thể có chuyện này, vì chúng xuất hiện trên thị trường nửa tiếng đồng hồ sau khi tàu Olympia cập bến, sau khi tôi đánh điện tín thông báo con số của những tờ tín phiếu đó. Một nhà buôn còn khẳng định là ông ta đã mua tín phiếu ấy khi tàu chưa tới bến nữa. Chắc chắn rằng người ta không thể gửi tín phiếu trên đường điện tín được.
- Đúng là không được, nhưng có thể có một chiếc thuyền con nào bám theo tàu của anh anh không?
- Chỉ có thuyền của các nhà chức trách sau khi lệnh báo động được loan ra và người ta đã tìm kiếm ở mọi nơi… Tự tôi, tôi cũng kiểm soát các con thuyền ấy xem có ai đưa bọc hàng từ tàu xuống thuyền không. Trời ! ông Poirot. Việc này làm tôi phát điên lên! Người ta đã bắt đầu thì thào rằng chính tôi là tác giả của vụ cướp này.
- Nhưng người ta cùng lục soát cả anh, cả anh nữa, khi rời tàu chứ?
- Vâng.
Chàng trai nhìn Poirot với vẻ ngỡ ngàng.
- Tôi thấy anh không hiểu ý tôi – Poirot mỉm cười một cách bí ẩn – Bây giờ tôi muốn có những ý kiến của Ngân hàng.
Ridgeway lấy ra một tấm danh thiếp và viết lên đó ít chữ.
- Ông đưa cho người bác tôi cái này và sẽ được tiếp chuyện ngay.
Poirot cảm ơn và chào Farquhar và chúng tôi cùng đi tới phố Treadneedie, nơi có trụ sở chính của ngân hàng Londres – Ecosse. Theo tờ danh thiếp của Ridgeway chúng tôi được dẫn qua một lối hành lang phức tạp có những bàn giấy nơi các nhân viên bận rộn nhận và trả tiền. Hai ông đồng Tổng giám đốc tiếp chúng tôi trong một phòng giấy nhỏ trên lầu một. Hai ông già nghiêm trang đã làm việc nhiều năm trong ngành Ngân hàng. Ông Vavasour có bộ râu trắng bạc. Ông Shaw mặt mày nhẵn nhụi.
- Theo tôi hiểu thì ông là nhân viên đi tìm những của cải bị mất trộm, đúng không? – ông Vavasour hỏi – Đồng ý, đồng ý. Chúng tôi đã được Scotland Yard giúp đỡ. Thanh tra Mac Neil đảm trách việc này. Một cảnh sát rất khôn khéo, tôi cho là như vậy.
- Tôi tin chắc là như thế – Poirot lễ phép trả lời – Nhân danh người cháu của ông, xin ông cho phép được hỏi một vài điều được không? Có đúng là chiếc két sắt đó các ông đã đặt mua ở hãng Hubb phải không?
- Tự tôi đi mua nó – Ông Shaw nói ngay – Tôi không giao việc này cho ai cả. Còn về chìa khóa thì ngoài chiếc anh Ridgeway cầm, còn hai chiếc tôi và ông đồng sự của tôi mỗi người giữ một chiếc.
- Có đúng là không một người làm công nào đã tới gần chiếc két không? – Ông Shaw đưa mắt sang nhìn người cộng tác với mình và ông này trả lời.
- Tôi có thể khẳng định với ông là những tờ trái phiếu vẫn nằm trong két cho đến ngày hai mươi ba. Bạn tôi đã bị ốm trước đó mười lăm ngày… Cho tới ngày Philipp lên đường ông mới bình phục.
- Bệnh sưng phổi không phải là một trò đùa với một người ở tuổi tôi, ông Shaw tiếp lời. Nhưng tôi lo ngại là ông bạn tôi khổ tâm không do làm việc quá sức khi tôi vắng mặt mà do cái sự cố không lường trước được này.
Poirot đặt ra một vài câu hỏi phụ. Tôi cho rằng anh đang thăm dò về tình cảm giữa người bác và người cháu. Những câu trả lời của ông Vavasour đều ngắn gọn và chính xác. Cháu ông là một nhân viên đáng tin cậy, theo ông thì anh không hề nợ nần, không hề túng bấn. Từ trước tới nay người ta vẫn giao cho anh những công việc tương tự.
Cuối cùng thì chúng tôi xin phép tạm biệt hai ông.
0
- Tôi rất thất vọng – Poirot nhận xét trong khi chúng tôi ra ngoài phố.
- Anh không còn hy vọng điều tra vụ này nữa ư? Đó là những ông già thô lỗ.
- Không phải thái độ thô lỗ của họ mà tôi thất vọng. Tôi không chờ gặp một ông chủ Ngân hàng, một nhà tài phiệt với cặp mắt sắc xảo như trong tiểu thuyết của các anh. Tôi thất vọng vì chính bản thân việc này… nó quá dễ dàng!
- Dễ dàng ư?
- Phải, anh không thấy sự việc đơn giản gần như chuyện trẻ con a?
- Anh đã biết ai là kẻ ăn cắp những trái phiếu ấy rồi chứ?
- Tôi biết.
- Nhưng… Chúng ta phải… Tại sao…
- Anh đừng có quá bối rối và xúc động, Hastings. Lúc này thì chúng ta không thể làm gì được.
- Tại sao? Còn chờ gì nữa?
- Con tàu Olympia. Nó sẽ từ Nữu Ước trở về vào thứ ba tới.
- Nếu anh đã biết kẻ ăn cắp trái phiếu thì tại sao còn trùng trình như vậy? Hắn có thể trốn thoát.
- Trốn tới một hòn đảo phía Nam để khỏi bị trao trả lại ư? Không, anh bạn, hắn sẽ thấy cuộc sống ở đấy không dễ chịu chút nào. Còn về lý do khiến tôi phải chờ đợi… Này, đối với trí thông minh của Hercule Poirot thì câu chuyện đã quá rõ ràng, nhưng đối với những người không được Thượng đế phú cho tài trí ấy như Mac Neil chẳng hạn, hắn sẽ theo đuổi đến cùng việc điều tra cho đến khi các bằng chứng tìm được phù hợp với sự việc. Cần phải khoan dung cho những người ít tài năng hơn mình.
- Trời ơi! Anh Poirot? Anh có biết là tôi có thể sẵn sàng bỏ ra một số tiền lớn để được một lần xem anh giở trò ngu ngốc. Anh hợm mình quá mức!
- Đừng bực bội, Hastings. Đúng ra, tôi nhận thấy có lúc anh ghét bỏ tôi! Than ôi, tôi đau đớn vì chính sự vĩ đại của mình!
Con người thấp lùn ấy cúi người thở dài một cách khôi hài khiến tôi không thể nhịn cười được.
Ngày thứ ba đến, chúng tôi ngồi trên toa tàu hạng nhất đi Liverpool. Poirot khăng khăng không làm cho tôi sáng tỏ điều gì… Anh tỏ ra ngạc nhiên khi thấy tôi không nắm được những tình huống. Tôi không muốn thảo luận với anh và cố giấu sự tò mò của tôi sau một bức tường đã tính toán trước. Tới bến cảng, đứng trước con tàu xuyên Đại Tây Dương, Poirot tỏ ra rất tinh nhanh. Anh liên tiếp hỏi chuyện bốn người phục vụ trên tàu về một người bạn đã ở trên tàu này để tới Nữu Ước vào ngày hai mươi ba:
- Một ông sang trọng, đứng tuổi, mang kính che một con mắt hỏng, ít khi rời khỏi chỗ nằm trên tàu.
Việc mô tả của anh phù hợp với một hành khách tên là Vantnor trên cabin C24, bên cạnh cabin của Philippe Ridgeway. Tôi rất thích thú tuy không hiểu tại sao Poirot lại biết được sự có mặt của ông Vavasour ấy trên con tàu này.
- Xin cho biết – Tôi ngắt lời – Ông khách lịch sự ấy có phải là người đầu tiên rời khỏi tàu khi tàu cập cảng Nữu Ước không?
- Thưa ông, không, trái lại ông ấy là một trong những người cuối cùng rời khỏi tàu.
Tôi rút lui, bối rối nhìn Poirot đang nhăn mặt cười với tôi. Anh cảm ơn người phục vụ, nhét vào tay người ấy một tờ giấy bạc và chúng tôi ra về.
- Tất cả những cái đó rất hay – Tôi cáu kỉnh nhận xét – Anh có thể càu nhàu bao nhiêu thì tùy anh, nhưng câu trả lời cuối cùng ấy đã phá hỏng toàn bộ lý thuyết quý báu của anh, đúng không?
- Bao giờ cũng vậy, anh chẳng nhìn thấy gì cả. Câu trả lời cuối cùng ấy, ngược lại đã khẳng định lý thuyết của tôi là đúng.
Tôi giơ tay lên trời như là một dấu hiệu thất vọng.
- Thôi cho qua.

*


Trên chuyến xe lửa trả chúng tôi về Londres, Poirot tập trung chú ý đến viết một bức thư rồi cho thư vào phong bì.
- Thư này gửi cho thanh tra Mac Neil! Chúng ta sẽ chuyển nó khi đi qua Scotland Yard, sau đó chúng ta đi thẳng tới khách sạn Cheshire Cheese. Tôi đã mời cô Faquhar cùng ăn với chúng ta.
- Còn Ridgeway thì sao?
- Thế nào? – Poirot hỏi với cái nhìn tinh quái.
- Đúng là như thế… Anh không nghĩ tới… Anh không thể…
- Sự không tập trung tư tưởng của anh đã trở thành một thói quen. Tôi nghĩ đến Ridgeway là kẻ đánh cắp, chuyện này cũng có thể xảy ra, thì việc này sẽ rất tế nhị… Một việc làm tốt đẹp.
- Nhưng cũng rất “tế nhị” đối với cô Farquhar nữa chứ?
- Anh có lý. Như vậy tất cả cho cái tốt nhất. Bây giờ, Hastings ta trở lại câu chuyện. Tôi cảm thấy anh rất sốt ruột. Gói hàng đóng gói đã được lôi ra khỏi két sắt và “bốc hơi”, theo cách nói của cô Farquhar. Chúng ta hãy bỏ qua lý thuyết về sự bốc hơi mà khoa học thời nay đã lên án để xét xem thực tế nó đã như thế nào. Mọi người không thừa nhận đây là một vụ gian lận…
- Nhưng chúng ta biết rằng…
- Anh thì có thể chứ không phải tôi, Hastings. Tôi cho rằng vì là cái trước kia đã không thể thì ngày nay vẫn không thể xảy ra. Có thể có hai cách có thể tính đến: hoặc là người ta giấu nó trên tàu (như thế tôi thấy là rất khó khăn), hoặc là người ta ném nó xuống biển.
- Với một chiếc phao, anh muốn nói như vậy chứ?
- Không có phao.
Tôi hoảng hốt nhìn anh.
- Nhưng nếu những trái phiếu ấy ở trên tàu thì chúng không thể được mang bán ở Nữu Ước được!
- Tôi khâm phục trí xét đoán logic của anh, Hastings. Những trái phiếu đã được bán ở Nữu Ước thì chúng ta phải bỏ khả năng ấy đi. Anh đồng ý như thế chứ?
- Từ lúc đầu chúng ta đã thỏa thuận như vậy rồi.
- Chưa bao giờ! Nếu gói hàng được ném xuống biển và những trái phiếu được bán ở Nữu Ước thì gói hàng ấy không phải là trái phiếu. Có lý do gì mà chúng ta tin chắc là các tờ trái phiếu được đóng gói trong đó? Anh nên nhớ: Ridgeway chưa mở két sắt một lần nào kể từ lúc người ta giao cho anh chiếc két ấy từ Londres.
- Đúng, nhưng có thể là…
- Xin để tôi nói tiếp, lần cuối cùng mà người ta nhìn thấy những tờ trái phiếu ấy là vào sáng ngày hai mươi ba, tại Ngân hàng Londres – Ecosse. Sau đó chúng xuất hiện ở Nữu Ước một tiếng đồng hồ sau đó tàu Olympia cập bến, và theo ý kiến của một người thì chúng xuất hiện ngay cả lúc tàu chưa cập bến. Giả định là trái phiếu chưa bao giờ có mặt ở trên tàu Olympia thì liệu chúng có thể tới Nữu Ước bằng cách nào nữa không? Có, tàu Gigantic rồi vượt qua Đại Tây Dương. Được gửi trên tàu Gigantic, trái phiếu tới Nữu Ước một ngày sớm hơn! Từ đấy, mọi cái sẽ rõ ràng và vụ việc bắt đầu tự giải thích. Gói hàng chỉ là một gói hàng giả và sự thay thế ấy cần được tiến hành nhanh chóng ở văn phòng Ngân hàng tại Londres. Một trong ba người ấy dễ dàng tạo ra một gói hàng giống như gói hàng thật. Rất tốt. Nhưng trái phiếu thật được gửi cho một kẻ tòng phạm ở Nữu Ước với lệnh ra là bán chúng khi tàu Olympia cập bến, nhưng phải có một người nữa đi trên tàu Olympia để tạo ra vụ mất trộm đó.
- Vì sao?
- Vì chỉ cần Ridgeway mở chiếc két đó, phát hiện ra đây là những trái phiếu giả, thì những nghi ngờ sẽ nảy ra ở cơ quan Ngân hàng tại Londres. Không, con người trên tàu, trong cabin, bên cạnh cabin của Ridgeway, đã làm công việc của mình. Người ấy định phá ổ khóa để lôi kéo sự chú ý đến một tên kẻ trộm đáng ngờ, sau đó mở chiếc két bằng chiếc chìa khóa thứ hai, ném gói hàng xuống biển và đợi đến phút cuối cùng để rời khỏi tàu. Tất nhiên hắn đeo kính để che con mắt bị hỏng vì hắn không muốn gặp Ridgeway. Hắn xuống Nữu Ước để trở về ngay bằng chuyến tàu đầu tiên gặp được.
- Nhưng hắn là ai?
- Cái người giữ một trong ba chiếc chìa khóa, người đi mua ổ khóa và người chưa bao giờ bị sưng phổi tại nhà hắn ở nông thôn… cuối cùng đó là lão già “thô lỗ”, ông Shaw! Nhiều khi kẻ phạm tội lại là những người giữ những chức vụ quan trọng, anh bạn ạ! À! Chúng ta tới nơi rồi… Thưa cô, tôi đã thành công. Xin phép cô!
Và hớn hở, anh đặt một nụ hôn nhẹ lên má của cô gái đang quá đỗi ngạc nhiên.

0
VỤ NGÀI THỦ TƯỚNG NƯỚC ANH BỊ BẮT CÓC


Ngày nay chiến tranh và những vấn đề của nó đã lùi sâu vào dĩ vãng, tôi cho rằng mình có thể nói về vai trò của Poirot, bạn tôi, trong thời kỳ khủng hoảng ấy của nước nhà. Sự bí mật được giữ rất kín, báo chí không biết một chút tin tức nào. Nhưng bây giờ thì chẳng còn một lý do gì buộc phải im lặng nữa. Tôi thấy nước Anh còn một món nợ với bạn tôi, người đã đẩy lùi một tai họa ghê gớm bằng trí thông minh tuyệt vời của mình.
Một buổi tối, sau bữa ăn, bạn tôi và tôi đang nói chuyện trong căn hộ của anh. Tôi không nhớ chính xác ngày, tháng, chỉ có thể nói lúc ấy là lúc hòa bình bằng thương lượng, đang được tuyên bố cho mọi kẻ thù của nước Anh. Sau khi đã bình phục, tôi làm việc trong một văn phòng tuyển quân. Tôi có thói quen tới nhà anh vào các buổi tối trao đổi những việc làm thú vị mà anh kể lại.
Chúng tôi bắt đầu nói về những tin tức chấn động trong ngày, đó là tin về vụ ám sát hụt ngài David Mac Adam, Thủ tướng Anh quốc. Chắc chắn là bài đăng trên các báo đã được kiểm duyệt kỹ. Báo chí không nói rõ vì sao Ngài thoát nạn khi một đầu đạn đã sượt qua má.
Tôi lấy làm xấu hổ vì cảnh sát của chúng ta đã vô ý để xảy ra vụ này, nhưng tôi hoàn toàn biết rõ những nhân viên bí mật Đức ở nước Anh sẵn sàng loại trừ Ngài Thủ tướng. Mac, người chiến đấu, đó là danh hiệu mà đảng đã đặt cho ông, người đã kiên trì đấu tranh cho hòa bình, mục tiêu quan trọng của mình.
Hơn thế nữa, Thủ tướng Anh quốc là đại diện cho nước Anh làm cho ông ra khỏi vị trí lãnh đạo sẽ giáng xuống nước Anh một đòn ghê gớm.
Poirot đang chăm chú làm sạch bộ quần áo màu xám bằng một miếng cao su xốp. Không ai ăn vận chau chuốt như Poirot. Anh ưa trật tự và sạch sẽ. Tôi ngửi thấy mùi dầu băngdin, chắc chắn là anh ít chú ý đến việc tôi đang nghĩ.
- Tôi sẽ nói chuyện với anh sau đây một phút, anh bạn. Tôi sắp xong việc rồi đây. Không còn vết dầu mỡ nữa. Đấy!
Anh vuốt nhẹ bộ quần áo. Tôi mỉm cười và châm một điếu thuốc.
- Có chuyện gì thú vị không? – Tôi hỏi anh.
- Tôi đang giúp một người đàn bà tìm lại chồng. Một việc làm khó khăn, đòi hỏi sự tế nhị vì nếu tìm ra ông ta thì chưa hẳn ông ấy đã thích thú. Cái đó đã thấy trước. Về phần tôi, tôi hoàn toàn hiểu rõ, ông ấy đã nói rõ ràng trước khi biến mất.
Tôi cười.
- Cuối cùng thì vết bẩn không còn nữa. Tôi theo sự điều khiển của anh.
- Tôi hỏi là anh nghĩ gì về vụ mưu sát ông Mac Adam?
- Chuyện trẻ con – Poirot nói ngay – Không thể làm hại ông ấy được. Có phải bây giờ người ta thường dùng súng săn không? Như thế thì dễ dàng hơn ngày xưa.
- Nhưng đạn súng săn đã gần như trúng mục tiêu – Tôi nhắc lại.
Poirot lắc đầu vẻ sốt ruột. Anh định trả lời thì cánh cửa hé mở để lộ cái đầu của bà chủ nhà. Bà ta báo tin rằng ở dưới nhà có hai người muốn gặp anh:
- Họ không muốn xưng tên, thưa ông, nhưng họ nói đây là việc rất quan trọng.
- Bà mời các ông ấy lên – Poirot nói tay cẩn thận gấp chiếc quần màu xám lại.
Một vài phút sau hai ông khách được dẫn tới. Tôi nhìn ra hai nhân vật quan trọng: Huân tước Estair, Chủ tịch Hạ nghị viện và người cùng đi là ông Bernard Dodge, người giữ vai trò chủ chốt trong Bộ Chiến tranh, và theo tôi biết, đây là người bạn thân của Thủ tướng.
- Ông Poirot? – Huân tước Estair hỏi.
Bạn tôi cúi đầu. Con người vĩ đại ngập ngừng nhìn tôi.
- Tôi đến vì một công việc bí mật.
- Ngài có thể nói chuyện trước mặt đại úy Hastings. – Bạn tôi nói và ra hiệu cho tôi ở lại – Tuy không phải là một nhà thám tử thực thụ, nhưng tôi xin chịu trách nhiệm về anh ấy.
Huân tước Estair còn đang phân vân nhưng ông Dodge can thiệp ngay:
- Ồ! Thôi đừng nói về thủ tục nữa! Chắc chắn rằng toàn nước Anh sẽ nhanh chóng biết vụ này thôi. Nhanh lên, tất cả chỉ là vấn đề thời gian.
- Thưa các ngài, mời các ngài ngồi – Poirot nhũn nhặn nói – Ngài có thể ngồi vào chiếc ghế bành lớn kia, thưa Huân tước.
0
Huân tước Estair giật mình:
- Ông biết tôi ư?
Poirot cười:
- Đúng như thế. Tôi đọc báo và thấy ảnh ngài. Tại sao tôi lại không nhận ra ngài được?
- Ông Poirot, chúng tôi tới để hỏi ý kiến ông về một vấn đề khẩn cấp và quan trọng sống còn. Nhưng tôi phải yêu cầu ông tuyệt đối giữ bí mật chuyện này.
- Các ông có lời hứa của Hercule Poirot. Tôi không nói gì thêm nữa, bạn tôi nói với vẻ khoa trương.
- Đây là chuyện về ngài Thủ tướng. Chúng tôi rất bối rối.
- Tình hình rất căng thẳng – Ông Dodge nói thêm.
- Vết thương có nghiêm trọng không? – Tôi hỏi.
- Vết thương nào?
- Vết đạn bắn vào Thủ tướng.
- Ồ! Đó là chuyện cũ rồi – Ông Dodge nói với vẻ coi thường…
- Như ông bạn tôi đã nói – Huân tước Estair tiếp lời – Đây không phải chuyện ấy. May mắn là đạn trượt. Tôi muốn nói đến việc khác nữa.
- Việc khác ư?
- Phải, không cùng tính chất như vậy. Ông Poirot, Thủ tướng đã mất tích.
- Thế nào?
- Ngài đã bị bắt cóc!
- Không thể như thế được – Tôi ngạc nhiên kêu lên.
Poirot trừng mắt nhìn tôi khiến tôi phải im lặng.
- Việc không thể xảy ra đã xảy ra, thật là bất hạnh, nó lại đúng là như vậy – Huân tước nói tiếp.
Poirot nhìn ông Dodge:
- Thưa ông, ông vừa nói đây là vấn đề thời gian là như thế nào?
Hai ông khách nhìn nhau, tiếp đó Huân tước Estair bắt đầu nói:
- Ông Poirot, chắc hẳn ông đã nghe nói đến Hội nghị các nước Đồng minh?
Bạn tôi gật đầu.
- Vì những lý do hiển nhiên người ta không cho biết trước ngày, giờ và địa điểm cuộc họp. Không đăng trên báo, tất nhiên ngày họp được thông tin qua con đường ngoại giao. Hội nghị sẽ tiến hành chiều thứ năm, tức là ngày mai, ở Versailles. Bây giờ thì ông có thể thấy rõ tính chất nghiêm trọng của tình hình. Không giấu ông, sự có mặt của Thủ tướng trong hội nghị này là một sự cần thiết sống còn. Sự tuyên truyền cho hòa bình hiện đang nằm trong tay của những nhân viên mật vụ Đức ở nước Anh này đang hoạt động rất mạnh. Theo nhận định chung thì nội dung chính cuộc họp sẽ do thái độ của chính Thủ tướng quyết định. Sự vắng mặt của ông sẽ mang lại những hậu quả nghiêm trọng… Và không một ai có thể thay thế ông được. Ông là người duy nhất đại diện cho Anh quốc.
Nét mặt của Poirot trở nên nghiêm trang.
- Như vậy ngài cho rằng việc bắt cóc Thủ tướng là nhằm trước hết ngăn chặn việc có mặt của ông ấy trong hội nghị ư?
- Tôi tuyệt đối tin là như vậy. Nên Thủ tướng đã lên đường sang nước Pháp.
- Cuộc họp sẽ khai mạc vào lúc nào?
- Chín giờ tối mai.
Poirot lấy trong túi ra chiếc đồng hồ quả quít lớn.
- Bây giờ là chín giờ kém mười lăm.
- Còn hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa – Ông Dodge lo lắng nói.
- Và một phần tư giờ nữa – Poirot nói thêm. Không nên quên mười lăm phút, chúng có thể có ích cho chúng ta… Bây giờ, nói về những chi tiết của vụ này: việc bắt cóc ấy diễn ra ở Anh hay ở Pháp?
- Ở Pháp, Mac Adam đã qua đó sáng hôm nay. Ngài sẽ nghỉ tại nhà ông Tổng chỉ huy quân đội và đi Paris vào sáng mai. Ông đã qua biển Manche trên một chiếc tàu khu trục. Tới Boulogne ông sẽ đợi một sĩ quan tùy tùng của ông Tổng chỉ huy và chiếc xe hơi của chỉ huy sở.
- Rồi sao nữa?
- Sau đó, ông đã đến Boulogne nhưng không thấy tới Paris.
- Thế nào?
- Thưa ông Poirot, vì đây không phải là ôtô của chỉ huy sở và người sĩ quan tùy tùng là người giả danh. Chiếc xe tới đón ông được tìm thấy đang nằm trên con đường nhỏ, viên chỉ huy và người lái xe bị trói chặt và nhét giẻ vào miệng.
- Còn chiếc xe giả?
- Nó chạy mất.
Poirot có một cử chỉ sốt ruột.
- Thật là không thể tưởng tượng được! Chắc chắn là nó không thể trốn thoát.
- Chúng tôi cũng nghĩ như vậy. Chỉ cần tìm kiếm cẩn thận. Đây là trên đất bị quân đội chiếm đóng. Chúng tôi tin là chiếc xe ấy rồi cũng bị tìm ra. Cảnh sát Pháp, những người của chúng tôi ở Scotland Yard và những nhân viên quân sự được trang bị đến tận răng. Thật là không thể tưởng tượng nổi, như ông nói, đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy gì cả.
0
«« « 1 2 3 4 » »»