Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Jeffrey Archer - A twist in the tale - Hết 🔒

118 trả lời, 16.530 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-05-30 14:23:13khachxa>
From A twist in the tale – Jeffrey Archer
Coronet Books Hodder and Stroughton, UK


NXB Văn học - Hà Nội 2003


Người dịch: Nguyễn Đình Chí, Linh Tâm
 
TRÊN THỰC ĐƠN



 
      Arthur Hapgood được giải ngũ ngày mồng 3 tháng mười một năm 1946. Sau một tháng, anh quay trở lại chỗ làm cũ ở xưởng nhà máy Triumph, ngoại ô thị trấn Coventry. Năm năm đóng quân ở Sherwood Foresters – bốn năm trong quãng thời gian đó ở vị trí là sĩ quan hậu cần tiểu đoàn được phái tới một trung đoàn thiết giáp – chỉ nhấn mạnh cái số mệnh có vẻ phù hợp của Arthur sau chiến tranh. Mặc dù anh đã nuôi hy vọng tìm được công việc có nhiều đãi ngộ hơn sau khi chiến tranh kết thúc. Tuy vậy, sau khi trở về nước Anh, người lính nhanh chóng khám phá ra là ở một “mảnh đất nuôi dưỡng biết bao bậc anh hùng”, công ăn việc làm kiếm được cũng không dễ dàng gì, và mặc dù không muốn quay trở lại với công việc mà anh đã làm được năm năm trước khi người ta tuyên bố chiến tranh – công việc lắp ráp bánh xe vào xe hơi – sau bốn tuần lễ nhận trợ cấp thất nghiệp, anh đã miễn cưỡng tìm gặp ông đốc công cũ của mình ở công ty Triumph.
“Việc làm đó là của anh đấy, nếu anh muốn làm, anh Arthur ạ,” ông đốc công đảm bảo.
“Thế còn tương lai?”
“Xe hơi đã không còn là đồ chơi của những người giàu có lập di hay chỉ là nhu cầu cần thiết của giới doanh nhân,” ông đốc công trả lời. “Trên thực tế,” ông ta tiếp, “ban giám đốc đang chuẩn bị cho kế hoạch sản xuất xe hơi đấy.”
“Thế thì họ sẽ cần nhiều nữa những cái bánh để mà lắp cho xe hơi,” Arthur nói chán nản.
“Đúng vây.”
Chỉ sau một tiếng đồng hồ, Arthur đã ky kết xong hợp đồng, và chỉ còn vài hôm nữa là anh sẽ trở lại với những công việc thường ngày ở dây chuyền cũ của mình. Anh thường nói với vợ mình rằng suy cho cùng cũng không cần đến một tấm bằng ngành cơ khí để bắt bốn cái bu lông vào một cái bánh xe một trăm lần trong một ca.
Arthur sớm chấp nhận thực tế là anh sẽ phải ổn định cuộc sống với cái tốt thứ nhì thôi. Tuy nhiên, cái tốt thứ nhì không phải là những cái mà anh ta lập kế hoạch cho thằng con trai của mình.
Cậu bé Mark đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ năm khi cha cậu chưa biết mặt mũi cậu ra sao. Thế nhưng từ khi Arthur trở về nhà, anh tiêu xài hoang phí mọi thứ mà anh có thể làm được cho cậu bé.
*
* *
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-20 15:30:51khachxa>
Arthur quyết tâm không để thằng Mark phải lao động trên cái sàn nhà xưởng của một nhà máy sản xuất xe hơi suốt cuộc đời nó. Anh liên tục làm thêm ngoài giờ để kiếm đủ tiền đảm bảo cho cậu bé có thể học thêm toán, các môn thông thường, và tiếng Anh. Anh cảm thấy được ban thưởng một cách hào phóng khi cậu bé thi đỗ vượt trên mười một điểm và giành được một vị trí tại trường Trung học Vua Henry VIII. Niềm tự hào đó không bị lung lay khi Mark tiếp tục thi đỗ năm chứng chỉ O, và hai năm sau thêm vào hai chứng chỉ A.
Arthur cố gắng không để lộ ra sự thất vọng của mình khi vào sinh nhật lần thứ mười tám của Mark, chàng trai thông báo với ông rằng cậu không muốn đi học đại học.
“Thế con định làm việc gì, hả chàng trai?” Arthur hỏi.
“Con đã điền vào bản mẫu xin việc để cùng làm với cha ở xưởng ngay khi nào con rời ghế nhà trường.”
“Nhưng tại sao con lại…”
“Tại sao lại không? Bạn bè của con sẽ rời khỏi trường cuối học kỳ này và họ đã được Triumph chấp nhận, chúng nó đều sốt ruột muốn được bắt đầu ngay cơ.”
“Chắc con quẫn trí rồi.”
«Thôi mà, cha. Lương lậu tốt, và cha biết rằng luôn có tiền bồi dưỡng làm việc ngoài giờ mà. Và con không ngại công việc vất vả nặng nhọc đâu.»
«Thế con nghĩ rằng cha dành suột bao năm qua để đảm bảo cho con có một sự giáo dục tốt nhất chỉ để con kết thúc giống như ta, lắp bánh xe vào xe hơi trong suốt quãng đời còn lại của con sao?» Arthur hét lớn.
“Đó không phải là toàn bộ công việc và cha biết thế mà, cha.”
« Mày bước qua xác tao rồi hãy đến đó. Tao không cần quan tâm bạn bè mày rốt cuộc sẽ làm cái gì.» Cha cậu bảo. «Ta chỉ lo lắng cho con. Con có thể là một luật sư, một nhân viên kế toán, một sĩ quan quân đội, thậm chí là một ông hiệu trưởng. Tại sao con lại muốn kết thúc tại một nhà máy sản xuất xe hơi?»
«Công việc đó được trả lương khá hơn là hiệu trưởng, đầu tiên là thế cái đã,» Mark nói. «Ông thầy dạy tiếng Pháp của con một lần bảo với con là thầy không được sung túc bằng cha.»
“Đó không phải là vấn đề, chàng trai ạ…”
“Vấn đề là, thưa cha, con không muốn dành trọn cuộc đời còn lại của mình làm một công việc mà con không thích, mà nó chỉ là để thỏa mãn một trong những trí tưởng tượng của cha.”
“Hừ, nhưng tao không định sẽ cho phép mày uổng phí phần còn lại của cuộc đời mày,” Arthur nói, bật dậy khỏi bàn ăn sáng. “Việc đầu tiên mà tao sắp làm khi đến chỗ làm buổi sáng nay là làm sao cho đơn xin việc của mày bị từ chối.”
“Như thế là không công bằng, thưa cha. Con có quyền để…”
Nhưng cha cậu đã rời khỏi phòng, và không hề thốt ra thêm một lời nào với cậu trước khi rời nhà đi đến nhà máy.
Hơn một tuần lễ trôi qua, hai cha con không hề nói với nhau nửa lời. Chính bà mẹ của Mark là người dàn xếp để hai cha con đi đến một thỏa hiệp. Mark có thể làm đơn xin bất cứ công việc nào ma cha cậu tán thành, và chừng nào cậu hoàn thành một năm làm công việc đó, nếu cậu vẫn còn mong muốn, cậu có thể lại viết đơn xin làm việc ở nhà máy. Về phần cha cậu lúc đó sẽ không đặt thêm bất cứ cản trở nào trên con đường của con trai.
Ông Arthur gật đầu. Mark cũng miễn cưỡng đồng ý giải pháp đó.
“Nhưng chỉ khi nào con hoàn thành trọn vẹn một năm,” Arthur nghiêm trang cảnh báo.
Trong những ngày cuối cùng ấy của kỳ nghỉ hè, Arthur đưa ra mấy gợi ý để Mark xem xét, nhưng chàng trai không hề tỏ ra nhiệt tình với bất cứ sự gợi ý nào. Bà mẹ của Mark trở nên rất lo lắng rằng con trai bà rốt cuộc sẽ không có nghề ngỗng gì cả. Cho đến một buổi, trong khi đang giúp đỡ bà thái lát khoai tây cho bữa ăn tối, Mark nói rằng cậu nghĩ quản lý khách sạn có vẻ là một đề nghị dễ chịu nhất mà cậu đã xem xét từ trước tới giờ.
“Ít nhất thì con cũng có một mái nhà ở trên đầu mình và luôn được cho ăn uống,” mẹ cậu nói.
“Con dám đặt cược là họ nấu nướng không bằng mẹ đâu, mẹ à,” Mark bảo khi cậu đặt những lát khoai tây thái mỏng lên trên món thịt hầm khoai tây với phomát Lancashire. “Tuy nhiên, chỉ một năm thôi mà mẹ.”
Trong tháng kế tiếp, Mark tham dự mấy cuộc phỏng vấn tại các khách sạn quanh vùng nhưng không thành công. Đến lúc này thì cha cậu biết rằng ở cùng đại đội cũ với mình có ông trung sĩ là người sếp bồi phòng tại khách sạn Savoy. Ngay lập tức Arthur bắt đầu gợi lại mối thân tình xưa.
“Nếu anh chàng mà tốt,” ông bạn chiến hữu già của Arthur bảo đảm với ông sau một vại bia, “Nó có thể làm lên đến sếp bồi phòng, thậm chí một giám đốc khách sạn.”
Ông Arthur có vẻ rất thỏa mãn. Mặc dù vậy, Mark vẫn cam đoan với bạn bè rằng cậu sẽ nhập cuộc với họ đúng ngày này năm sau.
Ngày mồng 01 tháng chín năm 1959, Arthur và Mark Hapgood cùng nhau du hành bằng xe buýt tới nhà ga Coventry. Ông Arthur bắt tay chàng trai và hứa với cậu, “Mẹ con và ta sẽ đảm bảo chắc chắn co một lễ mừng Giáng sinh đặc biệt năm nay khi họ cho phép con nghỉ kỳ phép đầu tiên. Và đừng lo lắng – chú “Trung Xỉ” sẽ chăm sóc con. Chú ấy sẽ dạy dỗ con một vài điều. Hãy chỉ nhớ giữ cho lỗ mũi mình sạch sẽ.”
Mark chẳng bảo sao và đáp lại bằng một nụ cười nhạt khi cậu lên tàu. “Con sẽ không bao giờ phải hối tiếc vì làm việc này đâu…” là những lời nói cuối Mark nghe thấy từ cha cậu khi con tàu kéo ra khỏi nhà ga.
*
**
1
Mark cảm thấy hối tiếc về việc này ngay từ khi cậu đặt chân vào khách sạn.
Ở vị trí một anh bồi phòng cấp dưới, cậu bắt đầu một ngày mới vào sáu giờ sáng và kết thúc vào sáu giờ tối. Cậu được hưởng chế độ nghỉ giải lao mười lăm phút giữa buổi sáng, một quãng bốn mươi lăm phút nghỉ ăn trưa và thêm một quãng nghỉ mười lăm phút tầm giữa buổi chiều. Tháng đầu tiên trôi qua, cậu đã không thể nhớ lại khi nào cậu được hưởng cả ba quãng nghỉ trong cùng một ngày, và cậu nhanh chóng biết rằng không ai để mà cậu có thể phản đối. Trách nhiệm của cậu bao gồm mang vác các va li, hòm xiểng của khách nghỉ trọ lên phòng của họ, rồi lại lôi chúng xuống trở lại ngay khi nào họ muốn đi khỏi. Với trung bình ba trăm khách nghỉ tại khách sạn mỗi đêm, công việc như không có hồi kết. Tiền lương thì chỉ bằng một nửa số tiền mà bạn bè cậu nhận được ở nhà và vì cậu phải giao nộp toàn bộ số tiền boa cho người sếp bồi phòng, nên cho dù Mark có làm ngoài giờ nhiều bao nhiêu, cậu cũng không bao giờ trông thấy một xu thu nhập thêm nào. Duy nhất một dịp cậu dám nêu việc này với người sếp bồi phòng, thì cậu được nghe những từ ngữ như sau, “Rồi sẽ đến thời của cậu, chàng trai ạ.”
Cậu không phiền lòng về bộ đồng phục không vừa, hay căn phòng của cậu cỡ mét tám nhân mét tám, và nằm đối diện với nhà ga Charing Cross, hay thậm chí là cậu không được chia một phần tiền boa; thế nhưng điều cậu thấy phiền lòng là cậu chẳng thể làm gì được để vừa lòng viên sếp bồi phòng – cho dù cậu có giữ lỗ mũi của mình sạch sẽ đến đâu chăng nữa.


0
Trung sĩ Crann, người xem khách sạn Savoy không khác gì hơn một sự tiếp nối cái trung đội ngày xưa của ông ta. Ông ta không có nhiều thời gian dành cho những người trẻ tuổi dưới quyền chỉ huy của ông ta, những người này thường chưa thực hiện nghĩa vụ quân sự.
“Nhưng mà tôi không đủ tư cách để thực hiện nghĩa vụ quân sự,” Mark khăng khăng bảo. “Không có một ai sinh sau năm 1939 bị gọi nhập ngũ.”
“Đừng lấy cớ, chàng trai ạ.”
“Đó không phài là một cái cớ, chu ‘Trung sỉ’. Đó là sự thật.”
“Và đừng gọi ta là ‘Trung sỉ’. Ta là ‘Trung sĩ Crann’ với anh, và đừng có quên đấy.”
“Rõ, thưa Trung sĩ Crann.”
Vào cuối mỗi ngày, Mark thường quay trở về cái hộp chật chội của mình với cái giường bé nhỏ, chiếc ghế nhỏ xinh, các ngăn kéo tí tẹo, đổ gục xuông, kiệt sức. Bức hình duy nhất trong phòng – bức Chàng kỵ sĩ đang cười – in trên cuốn lịch treo trên đầu giường của Mark. Ngày mồng một tháng chin năm 1960 được khoanh tròn đỏ để nhắc nhở cậu cái ngày cậu sẽ được phép hòa nhập cùng bè bạn của cậu tại nhà máy ở quê nhà. Cứ mỗi đêm trước khi thiếp đi, cậu lại xóa đi một ngày làm việc khó chịu, giống như một tù nhân tạo ra những vết cào xước trên một bức tường.
Vào dịp lễ Giáng sinh, Mark trở về nhà nghỉ bốn ngày, mẹ cậu nhận thấy được tình trạng của cậu, bà liền cố gắng thuyết phục cha cậu cho phép Mark sớm từ bỏ công việc, thế nhưng ông Arthur vẫn không lay chuyển, không thể làm mủi lòng ông được.
“Chúng tôi đã thống nhất một giao kèo. Đừng mong tôi để cho nó đi làm tại nhà máy nếu như nó không có đủ tinh thần chịu trách nhiệm trong cái giao kèo đó.”
Trong kỳ nghỉ phép, Mark đợi các bạn mình ở bên ngoài cổng nhà máy cho đến khi ca làm của họ kết thúc, lắng nghe các câu chuyện chúng bạn kể về những ngày nghỉ cuối tuần đi xem đá bóng, uống rượu, uống bia ở quán xá và nhảy nhót theo tiếng nhạc của nhóm Everly Brothers. Tất cả bạn bè đều thông cảm với cậu và trông ngóng cậu nhập hội với họ vào tháng chín. “Chỉ còn một vài tháng nữa thôi mà,” một người bạn trong bọn họ vui vẻ nhắc nhở cậu.
0
Nhanh quá đi mất, Mark lại có mặt trên chuyến quay lại London, nơi cậu tiếp tục miễn cưỡng mang vác những chiếc va li lên xuống những hành lang của khách sạn từ tháng này qua tháng khác.
Khi những cơn mưa Anh quốc đã lắng xuống, luồng chảy thông thường của những dòng du khách Mỹ bắt đầu đỏ vào. Mark thích những người Mỹ, họ đối xử với cậu bình đẳng và thường boa cho cậu cả một đống silinh trong khi những người khác chỉ có thể cho cậu sáu xu thôi. Thế nhưng bất kể số tiền Mark nhận được là bao nhiêu đi nữa, Trung sĩ Crann vẫn cứ đút túi hết với cái câu cửa miệng, “Rồi sẽ đến thời của cậu, chàng trai ạ.”
Một người Mỹ mà Mark đã sốt sắng chạy lên chạy xuống hàng ngày trong suốt đợt nghỉ nữa tháng của ông ta, cuối cùng đã tặng cho cậu một tờ bạc mười bảng khi ông ta rời khỏi cửa chính của khách sạn.
Mark nói, “Xin cảm ơn, thưa ngài,” và quay người lại đã thấy Trung sĩ Crann đang đứng chắn lối.
“Đưa nó ra đây,” Crann bảo ngay khi ông khách người Mỹ vừa đi khỏi.
“Tôi đang định làm thế khi tôi trông thấy ông,” Mark nói, tay đưa tờ bạc cho cấp trên của mình.
“Không định đút túi cái đúng ra là của tôi, phải không?”
“Không, tôi không định như thế,” Mark nói. “Mặc dù có Chúa biết tôi đã kiếm ra nó.”
“Rồi sẽ đến thời của cậu, chàng trai ạ,” Trung sĩ Crann nói, chẳng nghĩ ngợi gì nhiều.
“Không đến lượt tôi đâu khi người bần tiện như ông còn làm sếp,” Mark sắc sảo.
“Mày vừa nói cái gì thế?” ông sếp bồi phòng đổi giọng ngay.
“Ông nghe thấy rồi đấy, Trung sĩ.”
Cái bạt tai ngang làm Mark kinh ngạc.
“Này thằng ranh, mày vừa mất việc rồi đó. Không có ai, không có ai dám nói với tao bằng cái giọng xấc xược đó.” Trung sĩ Crann quay người và hộc tốc lao về hướng văn phòng của giám đốc.
Ông giám đốc khách sạn, Gerald Drummond, nghe xong câu chuyện do ông sếp bồi kể, liền yêu cầu Mark có mặt tại văn phòng ông ta ngay lập tức. “Anh biết là tôi không còn có một cơ hội nào ngoài việc sa thải anh”. Đó là những câu đầu tiên của ông ta khi cánh cửa được đóng lại.
Mark nhìn lên người đàn ông cao, mảnh trong chiếc áo choàng dài màu đen, cổ cồn và thắt cravat đen. “Tôi có được phép kể lại cho ngài điều đã thực sự xảy ra không, thưa ngài?” chàng trai hỏi.
Ông Drummond gật đầu, rồi lắng nghe mà không ngắt lời khi Mark thuật lại câu chuyện của cậu về vụ việc đã xảy ra buổi sáng hôm đó, và cũng tiết lộ cái giao kèo mà cậu đã thỏa thuận với cha câu. “Xin hãy cho tôi hoàn thành mười tuần lễ cuối cùng của tôi,” Mark kết thúc, “không thì cha tôi sẽ chỉ nói là tôi đã không giữ đúng nghĩa vụ của mình trong giao ước.”
“Trong lúc này, tôi không có một chỗ làm trống nào,” ông giám đốc phản đối. “Trừ khi anh vui lòng gọt khoai tây trong mười tuần lễ tớ.”
“Vâng bất cứ việc gì cũng được,” Mark nói.
“Vậy thì có mặt tại nhà bếp vào sáu giờ sáng mai. Tôi sẽ bảo người đầu bếp thứ ba đợi anh. Chỉ có điều nếu anh nghĩ ông sếp bồi phòng là người theo kỷ luật hà khắc thì cứ việc đợi đến khi anh gặp Jacques, ngài sếp bếp trưởng của chúng ta. Ông ta không bạt tai anh đâu, mà ông ta sẽ cắt đứt nó đấy.”
Mark chẳng cần. Cậu tin rằng chỉ còn mười tuần lễ thì cậu có thể đối mặt với bất cứ điều gì, và vào lúc năm giờ ba mươi sáng hôm sau, cậu thay bộ đồng phục màu xanh lam sẫm lấy chiếc áo trắng và chiếc quần ca rô trắng xanh rồi ra trình diện cho nhiệm vụ mới. Đầy ngạc nhiên, cậu thấy gian nhà bếp chiếm giữ gần như toàn bộ tầng trệt của khách sạn, và nó còn tấp nập hối hả hơn cả tiền sảnh.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-06 08:45:47khachxa>
Ông đầu bếp thứ ba đưa cậu vào một góc của gian bếp, bên cạnh một núi khoai tây, một bát nước lạnh và một con dao sắc lẹm. Mark gọt khoai suốt bữa sáng, bữa trưa rồi bữa tối, và trôi vào giấc ngủ đêm đó trên giường, không còn đủ năng lượng để gạch chéo, xóa đi ngày tháng hôm đó trên cuốn lịch của cậu.
Trong tuần lễ đầu, cậu thực sự chưa bao giờ trông thấy cái ông Jacques huyền thoại nọ. Với bảy mươi người đang làm việc trong gian bếp, Mark thấy tin rằng cậu có thể vượt qua toàn bộ quãng thời gian này ở đây mà không có bất cứ ai hay biết đến cậu.
Mỗi buổi sáng vào lúc sáu giờ cậu bắt đầu gọt, rồi chuyển số khoai tây cho một thanh niên có dáng vẻ băng nhóm tên gọi Terry, đến lượt anh ta, sẽ cắt khối xúc xắc, hay thái miếng theo chỉ dẫn của ông đầu bếp thứ ba cho bữa ăn của ngày hôm đó. Thứ hai chiên giòn, thứ ba nghiền nhừ, thứ tư chiên kiểu Pháp, thứ năm thái lát, thứ sáu áp chảo, thứ bảy bọc bột rán… Mark nhanh chóng lập ra một thời gian biểu và nó làm cho cậu vượt trước Tery rất nhiều, vì thế mà cậu tránh được mọi phiền phức.
Sau hơn một tuần quan sát Terry làm công việc của anh ta, Mark cảm thấy chắc chắn cậu có thể chỉ bảo anh ta, Mark cảm thấy chắc chắn cậu có thể chỉ bảo cho anh chàng tập việc trẻ tuổi này làm cách nào giảm nhẹ được khối lượng công việc một cách hoàn toàn đơn giản. Thế nhưng cậu quyết định giữ mồm giữ miệng: mở mồm ra có thể chỉ mang lại thêm những phiền toái cho cậu, và cậu chắc chắn ông giám đốc sẽ không cho cậu một cơ hội thứ hai.
Mark sớm phát hiện ra rằng Terry luôn bị rớt lại rất xa với món thịt bằm khoai tây hầm ngày thứ ba và món thịt hầm khoai tây với phó mát Lancashire ngày thứ năm. Thỉnh thoảng ông đầu bếp thứ ba thường tạt qua để phàn nàn và ông ta thường liếc xéo qua Mark để chắc chắn không phải là anh chàng này làm chậm dây chuyền lại. Mark chắc chắn rằng cậu luôn có một chậu khoai tây đã gọt còn dư nằm cạnh, do đó cậu thoát khỏi sự kiểm tra.
Đúng vào buổi sáng thứ năm đầu tiên của tháng tám (Thịt hầm khoai tây với phó mát Lancashire) thì Terry gọt phăng mất một đầu ngón tay chỏ của anh ta. Máu tràn lan lên khắp chỗ khoai tây đã cắt gọt và vương lên mặt bàn gỗ khi anh chàng bắt đầu la lên hốt hoảng.
“Đem nó ra khỏi đây!” Mark  nghe thấy ông sếp bếp trưởng rống lên, át tiếng ồn ào của gian bếp khi ông ta lao về phía họ.
“Còn anh”, ông ta nói, chỉ tay vào Mark, “thu dọn lộn xộn và bắt đầu thái số khoai tây còn lại đi. Tôi có tám trăm thực khách đói meo vẫn còn đang đòi được cho ăn đấy.”
“Tôi ư?” Marjrk nói đầy nghi hoặc. “Nhưng mà…”
“Đúng, anh đấy. Anh không thể làm tệ hơn cái thằng dốt nát tự gọi mình là đầu bếp học việc và cắt phứt ngón tay kia.” Ông đầu bếp giậm bước đi khỏi, để lại Mark miễn cưỡng bước qua chỗ bàn nơi Terry vẫn làm việc. Cậu thấy không nên tranh cãi, cuốn lịch vẫn còn đó để nhắc nhở cậu chỉ còn có hai mươi lăm ngày cuối cùng nữa thôi.
Mark bắt tay vào thực hiện một nhiệm vụ mà cậu đã từng thực hiện cho mẹ cậu nhiều lần rồi. Những miếng khoai được cắt gọt sạch sẽ, gọn ghẽ và được chuyển đi với một kỹ năng mà Terry sẽ không bao giờ học được. Đến cuối ngày, cho dù đã kiệt sức, Mark không cảm thấy quá mệt mỏi như cậu đã cảm thấy ngày trước.
0
Mười một giờ tối, ông sếp bếp trưởng ném cái mũ xuống và lao ra khỏi cánh cửa quay, một dấu hiệu cho mọi người khác biết rằng họ cũng có thể ra đi một khi tất cả trách nhiệm của họ đã được thực hiện xong. Một vài giấy sau cánh cửa lại bật mở và ông đầu bếp xông vào. Ông ta chằm chằm nhìn quyanh gian bếp, tất cả mọi người đều chờ đợi xem ông ta sắp sửa làm gì.  Sau khi đã tìm thấy cái điều ông ta đang tìm kiếm, ông ta tiến thẳng về phía Mark.
“Ôi, Chúa ơi,” Mark nghĩ bụng. “Ông ta sắp giết mình mất thôi!”
“Tên anh là gì?” ông đầu bếp hỏi.
“Mark Hapgood, thưa ngài,” cậu cố gắng lắp bắp.
“Anh thật phí uổng với khoai tây, Mark Hapgood,” ông đầu bếp bảo. “Anh hãy bắt đầu với rau tươi vào bữa sang. Có mặt lúc bảy giờ. Nếu cái thằng ngu độn với nửa ngón tay ấy bao giờ quay lại, cho nó gọt khoai tây.”
Ông bếp trưởng quay gót thậm chí còn trước khi mark có cơ hội trả lời. Cậu sợ hãi với ý nghĩ phải làm việc ba tuần lễ tại chính giữa nhà bếp, sẽ không có lần nào thoát ra ngoài tầm nhìn của ông sếp bếp trưởng, thế nhưng cậu đành phải chấp nhận vì không còn sự lựa chọn nào nữa.
Buổi sáng hôm sau, Mark tới nơi lúc sáu giờ vì sợ muộn và dành một tiếng đồng hồ xem xét những mớ rau quả tươi rói được dỡ xuống từ chợ Covent Garden. Người phụ trách cung cấp của khách sạn kiểm tra từng thùng rau thật cẩn thận, từ chối một vài thùng trước khi ký nhận vào tờ giấy biên nhận cho thấy khách sạn đã nhận được lượng rau quả trị giá trên ba ngàn bảng. Trung bình cho một ngày đấy, ông ta quả quyết với Mark.
Ông sếp bếp trưởng xuất hiện trước bảy giờ ba mươi phút, kiểm tra thực đơn và bảo Mark thái rau cải Brucxen, tỉa những quả đậu Pháp và cắt bỏ những lá ngoài thô ráp của những trái bắp cải.
“Nhưng tôi không biết làm thế nào,” Mark trả lời thành thật. Cậu có thể thấy những người học việc khác trong bếp từ từ dịch ra xa câu.
“Để ta dạy anh,” ông bếp trưởng gầm lên. “Nếu hy vọng trở thành người đầu bếp giỏi, có lẽ điều duy nhất là anh phải học. Ta có khả năng làm được công việc của tất cả mọi người trong bếp, thậm chí cả gọt khoại tây nữa.”
“Nhưng tôi đang hy vọng trở thành một…” Mark bắt đầu nói rồi sau đó nghĩ kỹ hơn. Ông bếp trưởng có vẻ như chưa nghe thấy Mark nói khi ông ta đứng vào bên cạnh anh chàng mới được tuyển mộ. Tất cả mọi người trong nhà bếp nhìn chằm chặp khi ông bếp trưởng bắt đầu chỉ bảo cho Mark những kỹ năng cơ bản của cắt, thái quân xúc xắc và lạng mỏng.
 
0
“Và nhớ lấy cái ngón tay của thằng ngốc kia,” ông bếp trưởng nói để kết thúc bài học, chuyển lại con dao sắc như lưỡi lam cho Mark. “Có thể rồi sẽ đến lượt anh đấy.”
Mark bắt đầu thận trọng thái quân xúc xắc những củ cà rốt, rồi rau cải Brucxen, loại bỏ những lớp lá ngoài rồ cắt mạnh ngang thân. Kế tiếp cậu chuyển sang tỉa và thái lát những cọng đỗ. Lại một lần nữa cậu thấy khá dễ dàng vượt lên trên những yêu cầu của ông bếp trưởng.
Cuối mỗi ngày, sau khi ông bếp trưởng đã đi khỏi, Mark ở lại mài sắc tất cả các con dao của cậu để chuẩn bị cho buổi sáng hôm sau và không rời khỏi khu vực làm việc của cậu chừng nào nó chưa sạch bóng không một tì vết.
Vào ngày thứ sáu, sau một cái gật đầu cộc lốc của ông bếp trưởng, Mark nhận thấy chắc cậu đang làm cái gì đó hơi đung đúng. Vào ngày thứ bảy kế tiếp cậu cảm thấy cậu đã làm chủ được những kỹ năng đơn giản của việc chuẩn bị rau quả và tự thấy bản thân mình trở nên hồi hộp, háo hức với những điều mà chính bản thân ông bếp trưởng theo đuổi. Mặc dù Jacques hiếm khi trò chuyện với bất cứ ai khi ông ta đi quanh quẩn mẫu đất của gian bếp ngoại trừ càu nhàu những lời tán thành hoặc phản đối – điều sau thông thường hơn điều trước – Mark nhanh chóng nắm bắt được các yêu cầu của ông ta. Sau một khoảng thời gian ngắn, cậu bắt đầu cảm nhận được cậu đang là một bộ phận của một đội hình – cho dù cậu quá biết bản thân mình chỉ là một anh chàng học việc mới được thu nạp.
Vào ngày nghỉ việc của ông bếp phó ở tuần lễ kế tiếp sau đó, Mark được phép trình bày những rau quả đã nấu trên những cái bát, đĩa và dành chút thời gian làm cho các món trông vừa hấp dẫn vừa ăn được. Ông đầu bếp không chỉ nhận thấy, mà còn đã thực sự thốt lên lời tán thưởng rộng rãi nhất của ông ta – “Tốt.”
0
Trong ba tuần lễ cuối cùng của cậu ở khách sạn Savoy, Mark thậm chí đã không nhìn lên tờ lịch treo trên đầu giường.
Một buổi sáng thứ năm, một thông điệp được chuyển xuống từ ông phó giám đốc. Mark sẽ phải trình diện tại văn phòng của ông ta ngay khi nào thích hợp. Mark đã hoàn toàn quên đi mất rằng hôm đó là ngày 31 tháng tám – ngày cuối cùng của cậu. Cậu cắt tư mười quả chanh, rồi hoàn tất việc chuẩn bị bốn mươi đĩa cá hồi hun khói được thái lát mỏng, hoàn thiện món ăn đầu tiên cho một bữa tiệc trưa phục vụ đám cưới. Cậu tự hào ngắm nhìn những thành quả của mình trước khi gấp tấm tạp dề lại và đi ra để nhận giấy tờ và món tiền thưởng cuối cùng.
“Thế anh nghĩ anh sắp đi đâu hả?” ông bếp trưởng hỏi, ngước mắt nhìn lên.
“Tôi xong xuôi rồi,” Mark nói. “Trở vể Coventry.”
“Thế thì gặp lại cậu vào thứ hai nhé. Cậu xứng đáng được hưởng những ngày nghỉ.”
“Không đâu, tôi sẽ đi về nhà mãi mãi,” Mark bảo.
Ông bếp trưởng dừng việc kiểm tra những miếng thịt bò hảo hạng dành cho món thứ hai của bữa tiệc cưới.
“Đi?” ông ta nhắc lại cứ như thể ông ta không hiểu cái từ đó.
“Đúng vây. Tôi đã kết thúc một năm của tôi và bây giờ tôi muốn trở về nhà để làm việc.”
“Tôi hy vọng cậu tìm được một khách sạn loại xịn nhất,” ông bếp trưởng nói thực sự quan tâm.
“Tôi sẽ không làm việc trong một khách sạn.”
“Có lẽ là một nhà hàng?”
“Không, tôi sắp sửa nhận việc làm tại Triumph.”
Ông bếp trưởng trông có vẻ bối rối trong chốc lát, không chắc có phải là do vốn tiếng Anh của mình có vấn đề, hay là chàng trai trẻ đang giễu cợt mình.
“Triumph – là cái gì thế?”
“Một nơi mà ở đó họ sản xuất xe hơi.”
“Cậu sẽ sản xuất xe hơi?”
“Không phải toàn bộ một chiếc xe, mà tôi sẽ lắp đặt những cái bánh xe.”
“Cậu cho xe hơi lăn bành?” ông đầu bếp nói đầy nghi hoặc.
“Không phải thế,” Mark cười to. “Cho bánh xe lên xe.”
Ông đầu bếp vẫn không chắc chắn.
“Vậy là cậu sẽ nấu ăn cho những công nhân xe hơi?”
“Không đâu. Như tôi đã giải thích đó, tôi sẽ lắp đặt những bánh xe lên những chiếc xe hơi.” Mark nói chậm rãi, phát âm từng từ một.
“Điều đó không thể được.”
“Ồ, có, được chứ,” Mark trả lời. “Và tôi đã chờ đợi cả một năm trời để chứng minh điều đó đấy.”
“Nếu tôi mời cậu công việc trợ lý bếp trưởng, cậu đổi ý chứ?” ông bếp trưởng hỏi khẽ.
“Tại sao ông làm thế?”
“Bởi vì cậu có tài năng trong những ngón tay. Với thời gian tôi nghĩ cậu sẽ trở thành đầu bếp, thậm chí có lẽ là đầu bếp cừ nữa cơ đấy.”
“Không đâu, xin cảm ơn. Tôi sắp phóng về Coventry để nhập hội với bạn bè của tôi.”
0
Ông đầu bếp trưởng nhún vai. “Tùy thôi,”… ông ta bảo, và không hề đưa mắt liếc nhìn thềm một lần, ông ta quay trở lại với những miếng thịt bò tươi ngon. Ông ta liếc nhìn những đĩa cá hồi hun khói. “Một tài năng phí hoài,” ông ta nói thêm sau khi cánh cửa xoay đóng lại phía sau lưng người được ông bảo trợ.
Mark khóa cửa, ném cuốn lịch vào thùng rác và quay lại khách sạn để giao nộp những bộ quần áo mặc trong bếp cho bộ phận quản lý. Động tác cuối cùng mà cậu thực hiện sẽ là trả lại chiếc chìa khóa phòng mình cho ông phó giám đốc khách sạn.
“Món tiền lương của anh, những tấm thẻ và khoản trừ thuế thu nhập của anh. À, và ông đầu bếp vừa gọi điện lên để bảo rằng ông ta sẽ vui lòng cấp cho anh một giấy chứng nhận tư cách làm việc,” ông phó giám đốc nói. “Không thể giả bộ là việc này xảy ra hàng ngày đâu đấy.”
“Không cần đến cái đó ở nơi tôi sắp đến đâu,” Mark nói. “Nhưng mà dù sao cũng xin cảm ơn.”
Cậu khởi hành ra ga với tốc độ mau lẹ, chiếc vali nhỏ trầy xước đung đưa theo nhịp bước chân, chỉ để thấy rằng mỗi bước chân lại thêm chậm chạp hơn. Khi cậu tới nhà ga Euston, cậu tiến tới Sân ga số 7, và bắt đầu bước tới bước lui, thỉnh thoảng lại ngó chăm chăm lên chiếc đồng hồ to vĩ đại phía bên trên quầy bán vé. Đầu tiên cậu dõi theo một đoàn tàu rồi một đoàn tàu khác lăn bánh rời khỏi sân ga hướng về Coventry. Cậu cảm thấy bóng tối dần bao phủ xuống nhà ga qua những bóng hình chiếu qua mái hiên kính xuống gian sảnh lớn mênh mông dành cho hành khách đợi tàu. Bỗng nhiên chàng trai quay người và rảo bước với tốc độ thậm chí còn gấp rút hơn trước. Nếu cậu khẩn trương, cậu vẫn kịp quay trở lại đúng giờ để giúp đõ ông đầu bếp chuẩn bị cho bữa tối đêm nay.
*
* *
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-08 07:38:24khachxa>
Mark được huấn luyện dưới sự chỉ bảo của Jacques le Renneu trong năm năm. Các món rau quả được nối tiếp bởi các món nước xốt, kế theo là gia cầm, thịt, bánh ngọt. Sau tám năm tại khách sạn Savoy, anh được bổ nhiệm làm đầu bếp thứ hai, và đã học được từ người thầy mẫu mực nhiều đến mức những khách hàng thường xuyên không thê biết chắc khi nào là ngày nghỉ của ông sếp bếp trưởng. Hai năm sau, Mark trở thành một đầu bếp bậc thầy, và đến năm 1971, Jacques được tạo cơ hội trở về Paris và nhận lãnh những nhà bếp của George Đệ Ngũ – một cơ sở đối với Paris có ý nghĩa như cửa hiệu Harrods với thành phố Luân Đôn – Jacques đồng ý, nhưng với điều kiện Mark đồng hành với ông ta.
“Chuyến đi ngược hướng với Coventry,” Jacques cảnh báo anh ta trước, “và trong mọi tình huống chắc chắn họ sẽ mời anh làm việc thay tôi tại khách sạn Savoy.”
“Tốt hơn tôi nên đi cùng với ông. Bằng không thì những kẻ ăn ếch nhái kia sẽ không bao giờ có được bữa ăn ra hồn đâu.”
“Những cái lũ ếch nhái đó,” Jacques nói, “sẽ luôn luôn biết khi nào là ngày tôi nghỉ việc đấy.”
“Đúng vây, và thậm chí họ còn đặt bàn đông đảo hơn nữa cơ đấy,” Mark trêu chọc, cười to.
Chẳng bao lâu, những người dân thành Paris tràn đến tiệm George Đệ Ngũ, không phải để nghỉ ngơi thư giãn cho cái đầu của họ mà là để tận hưởng tài nấu bếp của đội hình “hai bếp trưởng.”
Khi Jacques kỷ niệm sinh nhật thứ sáu mươi lăm, tòa khách sạn vĩ đại không cần phải tìm đâu xa để bổ nhiệm người kế vị ông ta.
“Người Anh đầu tiên làm bếp trưởng tại khách sạn George Đệ Ngũ,” Jacques nói, nâng ly rượu sâm panh tại bữa tiệc từ biệt của ông. “Ai mà tin được cơ chứ? Tât nhiên, anh sẽ phải đổi tên của anh thành Mark để tiếp tục giữ vững vị trí đó.”
“Cả hai điều trên đều sẽ không bao giờ xảy ra,” Mark bảo.
“Ồ, có chứ, bởi vì tôi đã gợi ý cho họ lựa chọn anh.”
“Thế thì tôi sẽ từ chối.”
“Sắp sửa lại cho xe hơi lăn bánh xe hả, phải không?” Jacques châm chọc.
“Không đâu, nhưng mà tôi đã tìm được một tiệm ăn nho nhỏ ở Left Bank. Chỉ với riêng số tiền tiết kiệm của tôi thì không đủ sức trả tiền thuê, thế nhưng với sự trợ giúp của ông…”
Nhà hàng Chez Jacques mở cửa trên phố Rue du Plaisir, Left Bank vào ngày mồng một tháng năm, 1982. Chẳng bao lâu sau các thực khách đã coi khách sạn George Đệ Ngũ là điều tất nhiên, bắt đầu chuyển đổi sự trung thành của họ.
Danh tiếng của Mark lan xa khi hai ông đầu bếp đi tiên phong “phong cách nấu ăn mới.” Không bao lâu, cách thức duy nhất để bất cứ ai có thể đặt được một bàn ăn tại tiệm ăn này trong thời gian không dưới ba tuần phải là một ngôi sao màn bạc hay một Bộ trưởng trong Chính phủ.
Vào ngày mà tổ chức Michelin trao tặng cho tiệm ăn Chez Jacques ngôi sao thứ ba thì Mark, với sự ban phước lành của ông Jacques, quyết định mở tiệm ăn thứ hai. Giới báo chí và các thực khách lúc này tranh cãi với nhau xem cơ sở nào xịn hơn. Sổ sách đăng ký thực khách cho thấy rõ ràng là công luận cảm thấy không hề có sự khác biệt.
Tháng mười 1986, khi Jacques mất vào tuổi bảy mươi mốt, các nhà phê bình tiệm ăn và nghệ thuật ẩm thực viết đầy tự tin rằng các tiêu chuẩn ẩm thực sẽ có xu hướng bị giảm sút. Một năm sau cũng chính những phóng viên nọ phải thừa nhận rằng một trong năm người đầu bếp vĩ đại của nước Pháp đã xuất thân từ một thị trấn ở miền trung du nước Anh mà họ không thể tuyên bố.
Sự ra đi của Jacques chỉ làm cho Mark mong mỏi thêm trở về quê hương của mình, và khi anh đọc được trong tờ Tin Điện Hàng Ngày về một tòa nhà mới sẽ được xây dựng ở khu Covent Garden, anh gọi điện thoại cho đại lý địa điểm xây dựng để hỏi thêm các chi tiết.
Nhà hàng thứ ba của Mark được mở cửa tại trung tâm thành phố Luân Đôn vào ngày 11 tháng hai, 1987.
*
**

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-08 07:39:15khachxa>
Năm tháng qua đi, Mark thường xuyên trở về Coventry đê thăm nom cha mẹ. Cha anh đã về hưu khá lâu rồi, thế nhưng Mark vẫn không thể thuyết phục được cả cha lẫn mẹ mình thực hiện chuyến đi tới Paris và nếm thử những nỗ lực nấu nướng của anh. Nhưng giờ đây anh đã khai trương tiệm ăn tại thủ đô nước Anh, anh hy vọng thuyết phục được cha mẹ mình.
“Chúng ta chẳng cần phải lên tận Luân Đôn,” mẹ ông bảo trong lúc bày biện bàn ăn. “Anh luôn nấu nướng cho chúng ta mỗi khi anh về nhà, và chúng ta đọc về những thành công của anh trên báo chí. Dù sao đi nữa, đôi chân của bố anh không còn vững vàng như ngày nào nữa đâu.”
“Anh gọi cái này là gì hả, con trai?” cha ông hỏi sau đó vài phút, khi món thịt cừu băm viên được bao quanh bằng những củ cà rốt non được dọn ra trước mặt ông cu.
“’Phong cách nấu ăn mới’ đấy ạ.”
“Và người ta trả nhiều tiền cho nó?”
Mark cười to và ngày hôm sau chuẩn bị món ăn khoái khẩu của bố mình, món thịt hầm khoai tây với pho mát Lancashire.
“Này con, đó thực là một bữa ăn ra trò đấy,” ông cụ Arthur nói sau lần tiếp thứ ba. “Và ta cho anh biết đôi điều miễn phí nhé, chàng trai. Anh nấu món này ngon gần bằng mẹ anh nấu đấy.”
Một năm sau tổ chức Michelin công bố tên các nhà hàng trên toàn thế giới được tặng thưởng ngôi sao thứ ba đáng thèm muốn của họ. Tờ Thời Báo cho độc giả biết trên trang nhất rằng tiệm Chez Jacques là nhà hàng Anh quốc đầu tiên được hưởng vinh dự trên.
Để kỷ niệm phần thưởng trên, rốt cuộc cha mẹ của Mark cũng đã đồng ý thực hiện chuyến đi lên Luân Đôn, cho dù phải mãi đến tận khi Mark đã gửi đi một bức điện tín nói rằng anh đang xem xét lại một công việc ở công ty British Leyland. Anh phái đi một chiếc xe hơi để đón cha mẹ và sắp đặt để họ nghỉ tại một khu phòng khách sạn Savoy. Buổi tối hôm đó, anh giữ chỗ sẵn chiếc bàn được ưa chuộng nhất tại tiệm ăn Chez Jacques dưới tên của họ.
Xúp rau quả đầu tiên, theo sau là món bít tết và bánh nướng nhân bầu dục với một đĩa bánh mì phết bơ, kết thúc là bánh pútđinh. Đó không phải là các món dành cho những thực khách ăn cơm tháng buổi tối hôm đó, mà chúng được dọn ra để phục vụ những thực khách đặc biệt ở bàn số 17.
Với tác động của thứ rượu vang xịn nhất, ông Arthur nhanh chóng trò chuyện vui vẻ với bất cứ ai muốn nghe ông nói và không cưỡng được nhắc nhở người đầu bếp rằng chính anh con trai của ông là ông chủ nhà hàng này.
“Đừng ngốc nghếch như thế, ông Arthur,” bà vợ ông bảo. “Anh ấy biết rồi mà.”
“Một cặp vợ chồng thật đẹp đôi, cha mẹ ngài ấy mà,” ông đầu bếp nói với ông chủ của mình sau khi ông ta phục vụ cà phê cho hai cụ và mang cho ông cụ Arthur một điếu xì gà.
“Cha ngài làm nghề gì trước  khi ông cụ về hưu? Chủ nhà băng, luật sư, hay thầy hiệu trưởng?”
“Ồ, không, chẳng có gì giống thế đâu,” Mark nói khẽ. “Ông ấy dành cả cuộc đời của mình lắp ráp những cái bánh xe vào xe hơi.”
“Nhưng tại sao ông cụ lại uổng phí thời gian làm công việc đó?” anh đầu bếp hỏi đầy nghi hoặc.
“Bởi vì ông cụ không may mắn có được một ông bố giống như ông bố của tôi,” Mark trả lời.
 
Hết 
0
IGNATIUS QUÉT SẠCH SẼ
 
Chẳng mấy ai quan tâm lắm khi Ignatius Agarbi được bổ nhiệm là Bộ trưởng Tài chính của Nigeria. Những người hay chế giễu thì cho rằng xét đến cùng thì ông ta là người thứ mười bảy năm giữ cương vị này trong quãng thời gian mười bảy năm qua.
Trong bài phát biểu đầu tiên về các chính sách lớn đọc trước Quốc hội, ông ta hứa sẽ chặn đứng nạn hối lộ và tham nhũng trong đời sống xã hội và cảnh báo với các nghị viên rằng không một người nào hiện đang nắm giữ trọng trách trong các cơ quan nhà nước có thể cảm thấy an toàn trừ khi anh ta sống một cuộc sống thanh liêm chính trực. Ông ta kết thúc bài phát biểu ra mắt bằng câu: “Tôi dự định quét sạch sẽ chuồng ngựa nặng mùi Nigeria.”
Bài phát biểu của vị Bộ trưởng gây ra một sung lực tới mức nó không hề được nhắc nhở đến trên tờ nhật báo Lagos. Có thể ông Tổng biên tập cho rằng bởi vì tờ báo đã đăng tải các bài phát biểu của mười sáu vị Bộ trưởng trước đây rất rầm rộ, độc giả sẽ cảm thấy họ đã được nghe tất tật từ trước kia rồi.
Tuy vậy, Ignatius không bị nản chí bởi sự bất tín nhiệm đối với mình, và bắt tay ngay vào trọng trách mới với một lòng hăng hái và quyết tâm mãnh liệt. Sau khi nhậm chức chỉ vài ngày, ông ta đã khiến một quan chức nhỏ của Bộ Thương mại phải ở tù vì làm giả chứng từ lien quan đến nhập khẩu ngũ cốc. Người kế tiếp cảm thấy cái chổi rễ cứng cáp, mới mẻ của Ignatius là một nhà tài phiệt hàng đầu người Liban, ông này đã bị trục xuất không cần xét xử vì đã vi phạm những quy định về kiểm soát hối đoái. Một tháng sau, xảy ra một sự kiện mà ngay cả bản than ông Ignatius cũng coi là một cú lật nhào vang dội: vụ bắt giam Tổng Giám đốc thanh tra cảnh sát vì tội nhận hối lộ. Thứ lộc mà trong quá khứ người dân đô thành Lagos nghỉ là bổng lộc luôn đi kèm với chức vụ này. Bốn tháng sau, khi ông Chánh thanh tra Cảnh sát bị kết án mười tám tháng tù giam, thì vị tân Bộ trưởng Tài chính sau cùng đã xuất hiện trên trang nhất của tờ nhật báo Lagos. Một hàng tít giữa trang nhất gọi ông là “Ignatius quét sạch sẽ”, ví ông như một chiếc chổi rễ khiến mọi người có tội lỗi thảy đều sợ hãi. Danh tiếng của Ignatius như là người trong sạch tiếp tục lớn mạnh trong khi các vụ bắt giữ cứ nối tiếp nhau không ngừng và đã xuất hiện dư luận vô căn cứ, lan truyền trong thủ đô, rằng ngay cả Tướng Otobi, vị Quốc trưởng, cũng đang bị điều tra bởi chính ông Bộ trưởng Tài chính của ngài.
Giờ đây, một mình Ignatius kiểm tra, duyết và phê chuẩn tất cả mọi hợp đồng có giá trị hơn một trăm triệu đô la. Và cho dù mọi quyết định của ông đưa ra đều được các kẻ thù của ông xét nét đến chân tơ kẽ tóc, vẫn không hề có một điều tiếng nhỏ nhất nào dính đến danh thơm của ông.

0
Những truyện này là do khachxa tự đánh máy, cho phép CtLy dời sang mục Đánh máy truyện nha

cảm ơn khachxa nhiều đã góp sức cho thư viện
0
Cám ơn Ct. Ly nhiều nhé.

Khách xa không biết nên đã post bài sai chỗ.

0
Khi Ignatius bắt đầu năm công tác thứ hai của mình trên cương vị Bộ trưởng Tài chính, thì thậm chí những kẻ hay hoài nghi cũng bắt đầu thừa nhận những thành tựu mà ông đạt được. Cũng vào khoảng thời gian này Tướng Otobi thấy đã có đủ lòng tin cậy để triệu tập Ignatius vào dự cuộc họp tư vấn bất thường.
Vị Quốc trưởng đón tiếp ông Bộ trưởng tại doanh trại Dodan, mời ông này ngồi xuống chiếc ghế bành êm ái trong thư phòng của ngài nhìn ra sân tập của lính.
“Anh Ignatius này, tôi vừa mới xem xong bản báo cáo ngân sách mới nhất và tôi rất lo ngại về kết luận của anh rằng Kho bạc Nhà nước vẫn đang bị thâm hụt nhiều triệu đô la mỗi năm, dưới dạng tiền đút lót, hối lộ do các công ty ngoại quốc trả cho những kẻ môi giới. Anh có ý kiến gì về số tiền này đang được rót vào túi của ai không? Đó là điều tôi muốn biết.”
Ignatius ngồi thẳng người lên, con mắt của ông ta không khi nào rời khỏi ngài Quốc trưởng.
“Tôi nghi ngờ số lớn phần trăm của khoản tiền này kết thúc tại những tài khoản cá nhân ở những ngân hàng Thụy Sỹ, nhưng hiện thời tôi chưa thể chứng minh được việc này.”
“Vậy thì tôi sẽ giao cho anh thêm bất cứ quyền lực nào mà anh yêu cầu để làm việc đó,” Tướng Otobi nói “Anh có thể dùng bất cứ phương tiện nào mà anh cho là cần thiết để vạch mặt những tên vô lại đó. Hãy khởi đầu bằng cách điều tra tất cả mọi thành viên Nội các của tôi trong quá khứ và hiện tại. Phải ráng sức làm, đừng sợ hãi hoặc nể nang gì, bất kể chức tước hay quan hệ gì cũng mặc.”
“Để có một sứ mạng như vậy và để có thể đạt được một thành công nào đó, tôi sẽ cần một thư ủy quyền đặc biệt được ký bởi ngài, thưa Tướng quân.”
“Nó sẽ nằm trên bàn giấy của anh vào sáu giờ tối nay,” – Ngài Quốc trưởng nói.
“Và chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền bất cứ khi nào tôi đi ra nước ngoài.”
“Sẽ có.”
“Xin cảm ơn ngài,” – Ignatius nói, đứng lên và cho rằng buổi yết kiến đã kết thúc.
0
“Có thể anh cần cái này nữa,” – Tướng quân nói khi họ bước ra cửa. Ngài Quốc trưởng đưa cho Ignatius một khẩu súng lúc tự động nhỏ – “Bởi vì đến lúc này, tôi ngờ rằng anh đã có kẻ thù nhiều như tôi.”
Ignatius lúng túng cầm lấy khẩu súng lục từ tay vị tướng, cho nó vào túi và lẩm nhẩm lời cảm ơn.
Không hề có thêm một câu trao đổi nào nữa giữa hai người, Ignatius bỏ lại nhà lãnh đạo của mình và được xe đưa trở về Bộ Tài chính.
Thống đốc ngân hàng Trung ương Nigeria không hề hay biết và không bị bất cứ quan chức cấp cao nào ngăn cản, Ignatius hăng say bắt tay thực hiện sứ mạng mới của mình. Ông ta một mình nghiên cứu vào ban đêm, và ngày đến không thảo luận kết quả với ai. Ba tháng sau, ông ta đã sẵn sàng bổ nhào xuống vồ mồi.
Ông Bộ trưởng chọn tháng tám để thực hiện một chuyến công du nước ngoài đột xuất bởi vì đây là khoảng thời gian mà hầu hết mọi người Nigeria đi nghỉ và do đó sự vắng mặt của ông sẽ không gây chú ý.
Ông nhờ thư ký thường trực của mình đặt chỗ cho ông ta, vợ và hai đứa con của họ trên chuyến bay tới Orlando, và dặn dò kỹ lưỡng rằng các vé máy bay phải được thanh toán vào tài khoản cá nhân của ông ta.
Ngay khi họ tới Florida, cả gia đình lấy phòng tại khách sạn Marriott tại địa phương. Lúc đó ông ta mới thông báo với bà vợ, không một lời giải thích, rằng ông ta sẽ ở New York một vài ngày vì công chuyện rồi sau đó sẽ quay trở lại với ba mẹ con cho tới  hết kỳ nghỉ.
Buổi sáng hôm sau, Ignatius bỏ lại gia dình mình với những điều kỳ bí của thế giới Disney trong khi ông lên chuyến bay tới New York. Ông đi một chuyến ngắn bằng taxi từ phi trường La Guardia tới phi trường Kennedy, sau khi thay đổi y phục và mua một chiếc vé du lịch khứ hồi bằng tiền mặt, Ignatius lên chuyến bay của hàng không Thụy Sỹ đi Geneva mà không bị dòm ngó.
Khi tới thủ đô của Thụy Sỹ, Ignatius lấy phòng tại một khách sạn kín đáo, lên giường nghỉ ngơi và ngủ ngon lành một mạch tám tiếng đồng hồ. Trong bữa điểm tâm sáng hôm sau, ông nghiền ngẫm danh sách các ngân hàng mà ông đã cẩn thận soạn ra sau khi hoàn thành những cuộc điều tra ở Nigeria, mỗi một cái tên đều được viết ra đầy táo bạo bằng chính bàn tay của ông. Ignatius quyết định bắt đầu tại ngân hàng Gerber et Cie, tòa nhà của nó ông quan sát thấy từ buồng ngủ khách sạn, nó chiếm giữ nửa đại lộ Avenue de Parchine. Ông kiểm tra số điện thoại với người giữ cửa khách sạn trước khi thực hiện cuộc gọi. Ông chủ tịch đồng ý gặp ông lúc mười hai giờ.
0
Chỉ mang theo một chiếc cặp nhỏ trầy xước, Ignatius đến ngân hàng trước giờ hẹn vài phút – một điều khác thường đối với một người Nigeria, người thanh niên trẻ nghĩ bụng, anh ta mặc một bộ đồ xám lịch thiệp, sơ mi trắng, cà vạt lụa xám và đang chờ đợi trong gian sảnh bằng đá cẩm thạch để đón chào ông. Anh ta cúi chào ông Bộ trưởng, tự giới thiệu mình là trợ lý riêng của ông chủ tịch, và giải thích rằng anh ta sẽ tháp tùng Ignatius tới văn phòng của ông chủ tịch. Anh nhân viên trẻ dẫn ông Bộ trưởng tới một chiếc thang máy đang chờ và không ai trong hai người thốt ra thêm một từ nào cho đến khi họ tới tầng lầu thứ mười một. Anh ta gõ cửa nhẹ nhàng và một giọng nói cất lên “Entrez,” (vào đi). Anh thanh niên lập tức chấp hành.
“Ông Bộ trưởng Tài chính Nigeria, thưa ngài.”
Ông chủ tịch đứng lên sau bàn giấy và bước lên trước để chào vị khách của mình. Ignatius nhận thấy cả ông ta cũng mặc một bộ complet xám, sơ mi trắng và cà vạt lụa xám.
“Chúc một buổi sáng tốt lành, thưa ngài Bộ trưởng,” – Ông chủ tịch nói – “Mời ngài ngồi?”
Ông ta dẫn Ignatius tới bên chiếc bàn thủy tinh thấp, vây quanh là những chiếc ghế đầy tiện nghi tại phía xa của căn phòng.
“Tôi đã gọi cà phê cho cả hai chúng ta nếu ngài đồng ý.”
Ignatius gật đầu, đặt chiếc cặp trầy xước xuống mặt sàn bên cạnh ghế ngồi của mình và nhìn ra ngoài khung cửa sổ kính rộng lớn. Ông đưa ra mấy nhận xét nhỏ về khung cảnh tuyệt đẹp của đài phun nước kỳ vĩ trong khi một cô gái dọn cà phê cho cả ba người.
Khi cô gái đã rời khỏi phòng, Ignatius bắt đầu công việc.
“Ngài Quốc trưởng của tôi đã yêu cầu tôi tới thăm ngân hàng của ngài với một đề khị khá khác thường,” – Ông ta mở đầu. Không một sự ngạc nhiên nào xuất hiện trên khuôn mặt ông chủ tịch hay anh trợ lý trẻ của ông ta – “Ngài ấy đã cho tôi vinh dự tìm hiểu xem những công dân Nigeria nào có các toài khoản số tại ngân hàng của ngài.”
Khi biết được thông tin này, chỉ có cặp môi của ông chủ tịch động đậy. “Tôi không thể tự do tiết lộ…”
“Cho phép tôi trình bày vụ việc của mình,” – Ông Bộ trưởng nói, nâng một bàn tay lên – “Đầu tiên, hãy cho tôi cam đoan với các vị rằng tôi tới đây với quyền lực tuyệt đối của chính phủ tôi.”
Không hề nói thêm một lời, Ignatius khéo léo rút ra một phong thư từ túi áo trong. Ông ta trao nó cho ông chủ tịch, ông này rút bức thư bên trong ra và chậm rãi đọc.
Khi đã xem xomg bức thư, ông chủ nhà băng hắng giọng – “Tài liệu này, tôi e rằng, thưa ngài, không có giá trị gì ở đất nước tôi’ – Ông ta nhét nó lại vào trong bì thư và đưa trả nó cho Ignatius – “Tôi, dĩ nhiên,” ông chủ tịch tiếp tục nói – “không một chút nghi ngờ rằng ngài có đầy đủ sự hậu thuẫn của ngài Quốc trưởng của ngài, trong cả hai tư cách một là Bộ trưởng và một là Đại sứ, nhưng điều đó không thay đổi dược nguyên tắc bảo mật của ngân hàng trong những vấn đề như thế này. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào chúng tôi cũng sẽ không tiết lộ tên của bất cứ người chủ tài khoản nào mà không được sự đồng ý của họ. Tôi lấy làm tiếc vì khả năng giúp đỡ hạn hẹp này, thế nhưng chúng đã, và sẽ mãi mãi là nguyên tắc của ngân hàng này.” – Ông chủ tịch đứng lên cho rằng cuộc gặp gỡ đã kết thúc; thế nhưng ông ta chưa dàn xếp xong với Ignatius quét sạch sẽ.


0
“Ngài Quốc trưởng của tôi,” – Ignatius nói, giọng đã dịu bớt – “Đã ủy quyền cho tôi tiếp cận ngân hàng của ngài để hoạt động như một trung gian môi giới cho mọi giao dịch làm ăn giữa đất nước tôi với Thụy Sỹ.”
“Chúng tôi rất sung sướng bởi sự tin cậy của ngài dành cho chúng tôi, ngài Bộ trưởng,” – Ông chủ tịch trả lời, vẫn còn đứng –“Tuy nhiên tôi chắc chắn rằng ngài sẽ hiểu rằng nó không thể thay đổi nguyên tắc của chúng tôi về vấn đề bảo mật cho khách hàng.”
Ignatius vẫn bình tĩnh, không suy suyển.
“Vậy thì tôi lấy làm tiếc thông báo với ông, ông Gerber, rằng Đại sứ của chúng tôi ở Geneva sẽ được lệnh đưa ra một thông cáo chính thức cho Bộ ngoại giao Thụy Sỹ về sự thiếu hợp tác mà ngân hàng của ông lien quan đến yêu cầu thông tin về các kiều dân của chúng tôi.” Ông ta đợi cho lời lẽ ngấm dần – “Tất nhiên các ông có thể tránh được rắc rối này bằng cách đơn giản là cho tôi biết những cái tên của những người đồng hương của tôi, những người có tài khoản tại ngân hàng Gerber et Cie và số tiền dính dáng. Tôi có thể đảm bảo với ngài chúng tôi sẽ không tiết lộ nguồn thông tin của chúng tôi.”
“Ngài cứ tự do, thoải mái đưa ra một thông cáo như vậy, thưa ngài, và tôi tin tưởng chắc chắn rằng ông Bộ trưởng của chúng tôi sẽ giải thích cho ông Đại sứ của ngài qua ngôn ngữ ngoại giao rất đỗi lịch thiệp rằng Bộ ngoại giao không có thẩm quyền theo pháp luật Thụy Sỹ, yêu cầu những tiết lộ như thế.”
“Nếu sự việc đúng như thế, tôi sẽ lệnh cho “Bộ thương mại của chúng tôi dừng lại tất cả các cuộc làm ăn, hợp tác trong tương lai tại Nigeria với bất cứ một kiều dân Thụy Sỹ nào cho tới khi những cái tên đó được tiết lộ.”
“Đó là quyền của ngài, ngài Bộ trưởng,” – Ông chủ tịch bình tĩnh trả lời.
“Và chúng tôi có lẽ cũng sẽ phải xem xét lại mọi hợp đồng mà những người đồng hương của ông hiện đang đàm phán tại Nigeria. Hơn nữa, tôi sẽ đích thân giám sát để không một điều khoản trừng phạt quốc tế song phương nào được áp dụng.”
”Ngài không thấy hành động như thế là vội vã quá sao?”
“Tôi xin đảm bảo với ông, ông Gerber, rằng tôi sẽ không mất ngủ một chút xíu nào vì một quyết định như thế đâu,” – Ignatius nói – “Thậm chí nếu những nỗ lực của tôi để khám phá ra những cái tên kia sẽ đặt đất nước ông quỳ gối xuống, tôi cũng sẽ không thương tiếc.”
“Biết làm sao được, thưa ngài Bộ trưởng,” – Ông chủ tịch trả lời – “Tuy nhiên, nó vẫn không thể làm thay đổi chính sách hay nguyên tắc bảo mật của ngân hàng này.”
“Nếu sự việc vẫn cứ giữ nguyên như vậy, thưa ngài, ngay hôm nay tôi sẽ ra lệnh cho Đại sứ của tôi đóng cửa sứ quán của chúng tôi tại Geneva và tôi sẽ tuyên bố Đại sứ của các vị ở Lagos persona non grata (là vô giá trị).”
Lần đầu tiên ông chủ tịch rướn đôi lông mày.
0
“Thêm nữa,” – Ignatius tiếp tục – “tôi sẽ tổ chức một cuộc họp báo ở London và nó sẽ làm cho giới báo chí trên khắp thế giới không còn nghi ngờ gì nữa về sự phiền lòng chán nản của ngài Quốc trưởng của chúng tôi về thái độ của ngân hàng này. Sau một công bố như thế, tôi tin chắc ngài sẽ thấy rằng nhiều khách hàng của ngài muốn đóng tài khoản của họ lại, trong khi những người khác đã xem ngân hàng của ngài như một nơi trú ẩn an toàn trong quá khứ có thể sẽ thấy cần thiết phải tìm kiếm một nơi khác.”
Ông Bộ trưởng chờ đợi, thế nhưng ông chủ tịch vẫn chẳng bảo sao.
“Thế là ngài không cho tôi một cơ hội nào,” Ignatius nói và đứng lên.
Ông chủ tịch duỗi thẳng cánh tay, cho rằng sau cùng thì ông Bộ trưởng cũng phải đi. Nhưng rồi thật kinh hãi khi Ignatius đưa một bàn tay vào túi áo jacket và rút ra một khẩu súng nhỏ. Hai ông chủ ngân hàng Thụy Sỹ sợ chết cứng người khi ngài Bộ trưởng Tài chính Nigeria bước lên phía trước và gí đầu ruồi kề thái dương ông chủ tịch.
“Tôi cần những cái tên đó, ông Gerber, và đến giờ chắc ông đã nhận ra không gì có thề ngăn cản được tôi. Nếu ông không cung cấp chúng ngay tắp lự tôi sẽ bắn phọt óc ông ra. Ông có hiểu không?”
Ông chủ tịch khẽ gật đầu, từng giọt từng giọt mồ hôi tứa ra trên trán ông ta. “Và kế tiếp sẽ là anh kia,” – Ignatius bảo, hất hàm về phía anh thanh niên đang đứng lặng ngắt và tê liệt cách đó mấy bước chân.
“Đưa cho tôi tên tuổi của tất cả những người Nigeria có tài khoản ở ngân hàng này,” – Ignatius nói khẽ khàng, nhìn hướng về anh thanh niên – “không thì tôi sẽ bắn phọt óc ông chủ tịch của anh tung tóe khắp tấm thảm xốp này. Ngay tức thì, anh nghe thấy không?” – Ông ta nói sắc lẹm.
Người thanh niên hướng cái nhìn về ông chủ tịch, giờ đây đang run lẩy bẩy như cầy sấy, nhưng ông ta vẫn nói rất rõ ràng, quả quyết: “Non, Pierre, jamais.” (Không, Pierre, không bao giờ).
“D’accord” (Đồng ý). Anh trợ lý trả lời thì thầm.
“Các người không thể nói là tôi đã không cho các người cơ hội.” – Ignatius kéo kim hỏa. Mồ hôi đang túa xuống khuôn mặt ông chủ tịch, và anh thanh niên phải hướng mắt nhìn đi chỗ khác, kinh hãi chờ đợi tiếng súng nổ.
“Tuyệt vời quá,” – Ignatius nói, khi ông ta bỏ khẩu súng xuống khỏi đầu ông chủ tịch và quay trở lại chỗ ngồi. Cả hai thầy trò ông chủ ngân hàng vẫn còn đang run rẩy và vẫn không thể thốt nên lời.
Ông Bộ trưởng nhấc chiếc cặp trầy xước lên từ bên chiếc ghế ông ta ngồi, đặt nó lên trên mặt bàn kính trước mặt. Ông ta ấn vào hai móc khóa và nắp cặp bật mở.
Hai thầy trò ông chủ nhà băng nhìn chòng chọc xuống những hàng giấy một trăm đô la đóng gói gọn ghẽ. Chiếc cặp chật cứng không thừa một ly. Ông chủ tịch nhẩm tính nhanh rằng có lẽ nó lên tới năm triệu đô la.
“Tôi băn khoăn rằng, thưa ngài,” – Ignatius nói – “không biết mở một tài khoản ở ngân hàng của ngài như thế nào đây?”
 
Hết
0
CHỈ LÀ BẠN TỐT
 
Tôi tỉnh giấc trước anh, thoáng chút rạo rực, nhưng biết rằng chẳng thể làm được gì.
Tôi chớp mắt cho quen dần với ánh sáng mờ mờ, nhấc đầu và nhìn dán vào tấm thân to đùng, trắng hếu và bất động bên cạnh mình. Giá như anh năng hoạt động như tôi thì chả đến nỗi bộp như chiếc lốp rỗng thế, tôi khó chịu nghĩ.
Roger cựa quậy, quay cả mặt sang phía tôi, nhưng tôi biết anh sẽ chưa tỉnh giấc cho tới khi chiếc đồng hồ báo thức bên kia giường cạnh anh chưa réo lên. Tôi phân vân không biết nên ngủ hay dậy kiếm chút gì ăn sáng trước khi anh thức giấc.
Cuối cùng tôi quyết định cứ nằm nguyên đó mà mơ màng, để chắc chắn không làm phiền tới anh. Khi anh dậy rồi, tôi cứ vờ như đang còn ngủ – bằng cách ấy, anh rốt cuộc sẽ phải đi chuẩn bị bữa sáng cho tôi. Tôi điểm lại những việc phải làm sau khi anh đến nhiệm sở. Miễn là tôi vui mừng chào đón khi anh đi làm về, anh dường như chả bận tâm xem tôi đã làm gì trong ngày.
Một âm thành nhè nhẹ vang lên từ phần giường của anh. Tiếng ngáy của Roger chẳng khi nào làm tôi phiền lòng cả. Lòng trìu mến của tôi đối với anh là vô hạn và tôi những mong anh tìm ra lời để thổ lộ cùng anh. Anh quả là người đàn ông đầu tiên tôi thực sự tôn trọng. Đăm đắm nhìn khuôn mặt chưa cạo kia, tôi nhớ đây không phải là diện mạo của anh khi anh bắt gặp tôi ở quán rượu đêm ấy.
Tôi gặp Roger lần đầu tại quán rượu Cat and Whistle (Con mèo và tiếng rít – ND), một quán rượu bình dân nằm ở góc đường Mafecking. Bạn hẳn cho đó là lãnh địa của chúng tôi. Anh thường có mặt quãng tám giờ tối, goi một pint ( 1 pint = 0,568 lít) bia nhẹ rồi mang tới một chiếc bàn con nằm ở góc quán, ngay sau chiếc bảng phi tiêu. Anh thường ngồi một mình, dõi nhìn từng cặp mũi phi tiêu bay vun vút về đích mà phần lớn chỉ trúng điểm 1 hoặc điểm 5 nếu chúng cắm được vào bảng đích. Anh không bao giờ tham dự vào trò chơi này, và từ chỗ mình ở sau quầy bar, tôi thường băn khoăn không biết có phải vì anh sợ bỏ mất một chỗ ngồi yêu thích hay chỉ vì anh không thích cái trò thể thao này.
Rồi với Roger, mọi cái bỗng thay đổi theo chiều hướng khá lên, không quan trọng việc bản thân anh nhìn nhận ra sao – khi một tối đầu xuân, một cô gái tóc vàng tên là Madeleine, khoác áo giả lông, đến ngồi vắt vẻo lên chiếc ghế cạnh anh mà hâm nhi một suất gin đúp. Tôi chưa từng thấy cô ả trong bar này nhưng mọi người ở đây rõ ràng biết rất kỹ về cô nàng. Những lời bàn tán rỗi việc khiến tôi chắc chắn cô ta sẽ ở đây không lâu. Họ kháo rằng cô nàng đang kiếm một gã tầm cỡ để có thể xa hẳn cái quán Cat and Whistle này.
Thực ra cuộc tình -  nếu có thể gọi những gì xẩy ra như vậy – kéo dài chỉ trong có hai mươi ngày. Tôi biết rõ vì tôi đếm từng ngày một. Rồi một đêm, mọi người nhao cả lên và cùng quay nhìn lúc cô ả bỏ chiếc ghế cũng đột ngột như khi đến. Cặp mắt rã rời của anh dõi theo chân cô nàng bước đến cái góc trống rỗng của quán bar nhưng anh chẳng hề tỏ vẻ ngạc nhiên trước sự ra đi nọ và cũng không có ý níu giữ.
0
Cô ta ra đi tức là đến lượt của tôi. Từ sau quầy bar tôi gần như vút ra một cách đường hoàng nhất, vài giây sau, tôi đã ngự trên chiếc ghế bên cạnh anh. Anh không nói một lời và dĩ nhiên cũng chẳng có ý mời tôi uống cùng, nhưng ánh nhìn phóng thẳng về tôi cho thấy tôi không phải là một kẻ thế chỗ không được anh ưng thuận. Tôi ngó quanh tìm kẻ có ý chiếm chỗ của tôi, nhưng những người vây quanh bảng phi tiêu chẳng ai để ý. Các điểm số khiến họ quan tâm hơn những gì vừa mới diễn ra. Tôi nhìn về quầy bar xem ông chủ có phát hiện ra sự vắng mặt của tôi không, nhưng ông ta còn đang nhâm nhi ly sâm panh rót từ một chiếc chai độc nhất do một anh chàng lạ hoắc mua mời, chiếc áo cổ đúp đúng mốt với chiếc cà vạt kẻ sọc của anh chàng mách tôi rằng cô ả sẽ chẳng bao giờ ngó lại Roger nữa. Trông cô ta mãn nguyện, ít ra là trong hai mươi ngày tiếp đó.
Tôi ngước nhìn Roger, cái tên tôi tình cờ biết được nhưng chẳng gọi đến bao giờ và cũng không tin là anh biết được tên của tôi. Tôi nhấp nháy mi với vể cường điệu, cảm thấy mình có ngớ ngẩn thật đấy, nhưng ít ra cũng đã gợi ra được một nụ cười dịu dàng. Anh vươn sang, chạm tay vào má tôi, bàn tay anh mềm mại đết bất ngờ. Chẳng ai trong chúng tôi có nhu cầu phải chuyện trò. Cả hai cùng cô đơn và không thấy cần thiết phải bày tỏ vì đâu. Chúng tôi ngồi im, thi thoảng anh nhấp chút bia, còn tôi, đôi khi lại ngọ nguậy cặp chân, trong khi cách chúng tôi vài feet, các mũi phi tiêu vẫn đeo đuổi một lộ trình không đổi.
Khi ông chủ quán xướng to: “Lượt cuối cùng,” Roger dốc nốt chỗ bia, còn những người chơi thì lo kết thúc ván chơi.
Chẳng ai nói gì khi chúng tôi rời quán rượu, tôi ngạc nhiên thấy Roger không có ý phản đối khi tôi theo anh về căn hộ nhỏ chung vách của anh. Tôi biết đích xác anh sống ở đâu bởi đã vài lân tôi trông thấy anh đứng chờ ô tô buýt ở phố Dobson trong hàng người bất đắc dĩ, dài dằng dặc, câm lặng mỗi sớm. Có lần tôi đứng ngay cạnh bức tường ở gần đấy để ngắm kỹ hơn nét mặt của anh. Khuôn mặt anh mờ nhạt, hầu như rất bình thường, nhưng anh lại có cặp mắt ấm áp nhất, nụ cười dịu dàng nhất trong những khuôn mặt đàn ông tôi từng gặp.
Điều tôi lo lắng nhất là anh dường như không biết đến sự tồn tại của tôi, bởi luôn ngự trị trong mắt anh hàng đêm, trong tâm tưởng anh hàng sớm là hình ảnh của Madeleine. Tôi ghen tị với cô ả đó xiết bao. Cô ta có mọi cái mà tôi muốn có – trừ chiếc áo khoác lông xịn, tài sản duy nhất mẹ tôi đã để lại cho tôi. Thực ra, tôi chẳng có quyền gì mà nói xấu Madeleine bởi quá khứ của cô ta ũng không thể tối tăm hơn tôi.
Hơn một năm qua, mọi cái đều ổn cả. Để chứng tỏ sự say đắm hết mình với Roger, tôi không bén mảng đến quán Cat and Whistle kể từ ngày đó. Anh dường như quên hẳn Madeleine bởi anh không một lần nhắc tới cô ta trước mặt tôi. Một chàng trai hi hữu, anh không một lần hỏi tới các mối quan hệ của tôi trong quá khứ dù anh đã có thể hỏi. Tôi cũng muốn anh biết sự thật về cuộc đời tôi trước khi chúng tôi gặp nhau, dù cho lúc này, tất cả những điều đó dường như chẳng có liên quan gì. Tôi là con út trong một gia đình bốn người, vì thế tôi luôn đi ở cuối hàng. Tôi không hề biết mặt bố mình, và một đêm trở về nhà, đã thấy mẹ mình chạy theo một gã đàn ông khác rồi. Tracy, một trong các chị gái của tôi, bảo tôi chớ có đợi mẹ quay về nữa. Hóa ra chị ấy đã nói đúng, bởi tôi không bao giờ gặp lại mẹ nữa kể từ ngày ấy. Thật kinh khủng khi phải thừa nhận, dù chỉ với bản thân, rằng mẹ mình là một kẻ lăng nhăng.
0
Giờ đây, khi đã trở thành kẻ mồ côi, tôi bắt đầu kiếp sống bụi đời và luôn cố tránh xa đồn cảnh sát. Thật không mấy dễ chịu khi chẳng phải lúc nào cũng kiếm được cho mình một chỗ ngả lưng. Tôi không nhớ nổi mình đã chấm dứt quan hệ với anh chàng Derek ra sao – nếu đó là tên thật của anh ta. Derek, với cái nhìn sâu thẳm gợi tình có thể đánh gục bất cứ một cô ả đa cảm nào, bảo với tôi rằng anh ta ở trên một tàu buôn chạy hơi nước suốt ba năm qua. Khi anh ta yêu tôi, tôi sẵn lòng tin mọi điều anh ta nói. Tôi bày tỏ với anh ta, tất cả những gì tôi cần là một tổ ấm, thường xuyên đây đủ thức ăn và một gia đình của riêng tôi. Anh ta khẳng định, một trong những ước mong của tôi đã thành hiện thực, bởi chỉ vài tuần sau khi anh ta rời bỏ tôi, tôi đã cho ra đời một cặp sinh đôi, hai bé gái. Derek chẳng có cơ hội nhìn mặt chúng; anh ta đã trở ra biển trước khi cả tôi kịp báo cho anh ta biết mình có mang. Anh ta chẳng cần hứa dâng cho tôi cả trái đất. Anh ta quá đẹp trai để thừa biết tôi sẽ chấp nhận là người của anh ta dù chỉ trong một đêm.
Tôi cố gắng nuôi nấng các con gái mình một cách đàng hoàng, nhưng đúng thời gian này, các nhà chức trách sờ đến tôi và tôi bị lạc mất cả hai đứa. Tôi những muốn biết giờ này chúng đang ở đâu? Có trời mới hay. Tôi chỉ còn biết hy vọng chúng rơi được vào một gia đình tử tế. Ít ra chúng cũng thừa hưởng được cái nhìn cuốn hút của Derek, điều sẽ giúp chúng trong suốt cuộc đời. Đó là một điều nữa mà Derek chẳng khi nào được biết. Sự cả tin của anh ta khiến tôi thấy mình có lỗi và giờ đây tôi hiểu mình sẽ không tìm được cách nào cho anh ta biết sự thật
Sau khi Derek trở ra biển, tôi sống một mình gần một năm trước khi tìm được việc làm bán thời gian ở quán Cat and Whistle. Ông chủ quán ngụ ý rất rõ, rằng sẽ không cung cấp cả đồ ăn thức uống cho tôi nếu tôi không thực hiện phần việc của mình theo đúng hợp đồng.
Roger thường đến một hoặc hai lần mỗi tuần trước khi anh gặp cô nàng Madeleine có chiếc áo khoác giả lông sờn cũ. Sau đó anh đến hằng đêm, cho đến ngày cô nàng rũ áo đứng lên bỏ anh mà đi.
Tôi biết anh tuyệt đối phù hợp với tôi ngay từ lần đầu tôi nghe anh gọi một pint bia nhẹ. Một pint bia nhẹ – tôi không thể nghĩ ra một cái gì để miêu tả Roger đúng hơn. Trong những ngày đầu ấy, các cô tiếp viên ở quán rượu thường công khai ve vãn anh nhưng anh không tỏ ra có chút quan tâm nào đến họ. Trước khi Madeleine đeo lấy anh, tôi thậm chí không dám chắc phụ nữ là thứ anh thích. Có lẽ rốt cuộc, chính cách nhìn lưỡng tính của tôi mới là thứ cuốn hút được anh.
Tôi nghĩ hóa ra mình lại là kẻ duy nhất trong quán rượu ấy kiếm tìm một cái gì bền chắc, dài lâu.
Vậy là Roger để tôi qua đêm cùng anh. Tôi nhớ anh đã phi vào nhà tắm trút bỏ quần áo trong lúc tôi ở lại phần giường tôi đoán là dành cho mình. Từ đêm đó, anh không một lần đòi tôi phải rời đi hoặc cho phép đẩy tôi ra. Đó là mối quan hệ dễ chịu. Tôi chưa từng thấy anh cao giọng hay mắng mỏ tôi một cách vô lý. Xin bỏ quá sự sáo mòn nhưng tôi chỉ trượt ngã có một lần.
Brr. Brr. Brr. Cái đồng hồ báo thức chết tiệt. Tôi những muốn chôn quách nó đi. Tiếng réo cứ vang lên không dứt cho đến khi Roger quyết định cựa quậy người. Tôi đã một phen cố đè lên nó hòng cắt đứt tiếng réo quỷ quái nọ nhưng chỉ khiến cái thiết bị rắc rối kia rơi xuống sàn nhà và đâm ra còn khios chịu hơn cả lúc đang réo. Chẳng dại nữa nhé, tôi kết luận. Cuối cùng một cánh tay dài ngoẵng thò ra dưới tấm vải đắp và một bàn tay đập xuống chiếc đồng hồ khiến tiếng réo đinh tai vụt tắt ngấm. Tôi rất thính ngủ – một cử động nhẹ nhất cũng làm tôi thức giấc. Giá anh cứ bảo tôi, tôi đã có thể đánh thức anh nhẹ nhõm hơn nhiều. Nói cho cùng, cung cách của tôi cũng chuẩn xác, đáng tin hệt như những tạo vật của con người làm ra chứ sao.
0
Còn chưa tỉnh hẳn, Roger siết nhẹ, trước khi vuốt ve lưng tôi, hứa chắc một nụ cười nở liền ngay đó. Rồi anh ngáp, vươn vai và tuyên bố như mọi buổi sáng, “Cần phải khẩn trương, không ta sẽ đi làm muộn mất.” Tôi cho rằng một số bà nhất định sẽ khó chịu vì cái trật tự không có gì mới mẻ vào mối buổi sáng ở nhà chúng tôi - nhưng không phải là quí bà đây. Đó là cả một phần cuộc đời khiến tôi thấy an lòng vững dạ với niềm tin, cuối cùng mình cũng đã tìm thấy một cái gì bõ với công sức bỏ ra.
Roger chuyên xỏ nhầm chân vào những chiếc dép đi trong nhà – ở tỷ lệ năm mươi trên năm mươi, trước khi lê vào phòng tắm. Mười lăm phút sau anh ló ra, như thường lệ, trông tươi tỉnh hơn chút ít so với lúc vào. Tôi đã học được cách chung sống với cái gọi là những tật nhỏ của anh, còn anh cũng học cách chấp nhận thói sạch sẽ đến điên rồ cùng với nhu cầu được cảm giác an lòng của tôi.
“Dậy mau, đồ lười,” anh cằn nhằn nhưng chỉ mỉm cười khi thấy tôi nằm trở lại, từ chối rời bỏ cái hõm ấm áp của thân thể anh lưu lại.
“Ta nghĩ cô nàng chờ ta dọn sẵn cho bữa sáng trước khi ta đi làm đây.” Anh nói thêm trước khi bước xuống bậc thang. Tôi chả buồn đáp lời. Tôi biết chỉ một thoáng sau anh sẽ mở cửa ra vào. Lấy báo buổi sáng thứ tư và pint sữa hàng ngày của chúng tôi. Đúng như lệ thường, anh sẽ đặt ấm nước, rồi đến chạn thức ăn, đổ ra một bát đồ săn sáng tôi ưa thích, thêm sữa vào và dành lại cho mình phần vừa đủ cho hai tách cà phê.
Tôi thấy trước mọi việc đến khi bữa sáng được chuẩn bị xong. Đầu tiên, tôi nghe thấy tiếng ấm nước sôi, vài giây sau sữa sẽ được rót ra, rồi cuối cùng là tiếng kéo ghế. Đó là tín hiệu cho tôi biết đã đến lúc mình cần ra với anh.
Tôi khoan thai duỗi chân, nhận thấy móng chân càn phải được sang sửa. Tôi quyết định không rửa ráy kỹ lưỡng trước khi anh rời nhà đi làm. Tôi nghe thấy tiếng ghế kéo trên mặt vài sơn lót nền bếp. Cảm thấy mãn nguyện, tôi nhảy tót một cách chuẩn xác khỏi chiếc giường rồi đi về phía cánh cửa mở. Giây lát sau tôi đã ở dưới nhà. Mồm đang đầy bỏng ngô, anh ngừng nhai khi trông thấy tôi.
“Thật hay rằng cô nàng đã xuống với ta,” anh nói và các nếp nhăn phủ đầy mặt anh.
Tôi rén bước về phía anh và ngước lên đợi chờ. Anh cúi xuống và đẩy cái bát về phía tôi. Tôi bắt đầu liếm sữa đầy mãn nguyện, đuôi ve vẩy hai bên.
Thật hoang đường khi bảo rằng loài chúng tôi chỉ quất đuôi khi cáu giận.
 
Hết
 
0
VỤ GIẾT NGƯỜI HOÀN HẢO
 
 
Nếu tôi không thay đổi quyết định vào tối hôm đó, tôi sẽ không bao giờ biết được sự thật.
Tôi không thể tin Carla đã ngủ với một thằng đàn ông khác, rằng tình yêu của cô ta là lừa dối, và rằng tôi có thể chỉ là thằng thứ hai, thậm chí là thứ ba trong danh sách người tình của cô ta.
Carla đã gọi điện đến văn phòng của tôi suốt hôm đó – điều tôi nhắc cô ta đừng làm, đến khi tôi cảnh báo cũng đừng gọi cho tôi về nhà riêng thì cô ta không có sự lựa chọn nào khác. Hôm đó, hóa ra tất cả chỉ là cô ta muốn cho tôi biết không thể tuân theo yêu cầu của tôi như một người Pháp lịch thiệp. Cô ta giải thích là phải đi thăm chị gái bị ốm tại Fulham.
Tôi đã rất thất vọng. Đó là một ngày đầy áp lực, và bây giờ, tôi đang bị yêu cầu phải bỏ đi điều khả dĩ giúp tôi chịu được.
“Anh nghĩ là em không hợp với người chị gái kia đấy,” Tôi nói chua chát.
Không có câu trả lời ngay. Cuối cùng, Carla nói, “Chúng ta sẽ làm điều đó vào thứ ba tới như thường lệ được không?”
“Anh không biết liệu có thuận tiện không,” Tôi nói. “Anh sẽ gọi cho em vào thứ hai khi anh biết kế hoạch của mình.” Và tôi cúp máy.
Buồn chán, tôi gọi điện cho vợ biết mình đang trên đường về nhà – thỉnh thoảng tôi làm vậy từ một hộp điện thoại bên ngoài căn hộ của Carla. Đó là mẹo tôi thường dùng để Elizabeth cảm thấy cô ấy biết tất cả những nơi tôi đến trong ngày.
Hầu hết các nhân viên văn phòng đã ra về, vậy nên tôi thu gom một ít tài liệu để có thể mang về làm ở nhà. Từ hơn sáu tháng trước khi công ty mới nhận chúng tôi vào làm, người quản lý đã không chỉ sa thải đồng nghiệp thứ hai của tôi ở phòng kế toán mà còn muốn tôi bao nốt công việc của anh ta. Tôi hầu như không có quyền than phiền bởi ông chủ nói rất rõ ràng là nếu không thích sự sắp xếp đó, tôi có thể tự do tìm kiếm một công việc mới ở bất cứ nơi nào. Tôi lẽ ra cũng làm như vậy đấy, nhưng tìm đâu cho ra những hãng sẵn lòng tuyển một người đàn ông trung tuổi năng lực cũng vừa phải mà thôi.
Lái xe ra khỏi bãi đỗ xe của công ty vào đúng tầm cao điểm buổi chiều, tôi bắt đầu thấy hối tiếc vì đã gay gắt như vậy với Carla. Suy cho cùng, Carla cũng thích thú gì với vai trò của mình. Cái cảm giác có lỗi cứ ám ảnh nên khi tới góc đường quảng trường Sloane, tôi chạy ra khỏi xe và băng ngang qua đường.
“Cho tôi mười hai bong hồng.” Tôi nói, lóng ngóng với chiếc ví của mình.
Một người đàn ông chắc chắn đã thu được lợi từ người tình khi chọn mười hai bong hồng đem tặng mà khỏi cần phải nói gì. Cách làm của tôi không phải là cách giải quyết tốt nhất nhưng ít ra thì Carla cũng biết là tôi đã cố gắng.
0
Tôi lái xe về hướng căn hộ của Carla, hy vọng cô ấy chưa rời nhà đi thăm chị gái. Và có lẽ chúng tôi còn đủ thời gian để làm một ly. Sau đó, tôi nhớ ra mình đã nói với vợ là đang trên đường trở về nhà. Một vài phút chậm trễ có thể giải thích là do tắc đường, nhưng lời xin lỗi đó sẽ khó có sức thuyết phục nếu ở lại uống rượu.
Khi tôi đến nhà Carla, như thường lệ lại gặp phải khó khăn khi tìm chỗ để xe cho đến khi thấy được một khoảng trống đủ chỗ cho chiếc Rover, đối diện với một quầy văn phòng phẩm. Tôi dừng lại và sẽ lùi xe vào khoảng trống đó nếu không nhìn thấy một người đàn ông đang đi ra từ lối cửa căn hộ của Carla. Tôi không hề có một thoáng suy nghĩ rằng Carla đi theo ngay sau anh ta. Cô ấy đứng ngay ở cửa, mặc một chiếc áo ở nhà lùng thùng, nghiêng người về phía trước trao cho người khách sắp khởi hành một  cái hôn mà khó có thể miêu tả như tình cảm anh em. Khi cô ta đóng cửa, tôi lái chiếc xe của mình đến góc đường và dừng cạnh một chiếc xe khác.
Tôi dõi theo người đàn ông qua chiếc gương chiếu hậu khi anh ta băng ngang qua đường, đi vào một cửa hiệu bán báo. Một lúc sau, anh ta lại xuất hiện với một tờ báo buổi chiều và một cái gì đó trông giống như một hộp thuốc lá. Anh ta rảo bước về phía chiếc xe ô tô của mình, một chiếc BMW màu xanh, dừng lại, giật một chiếc vé phạt đỗ xe từ tấm kính chắn gió và bật chửi. Chiếc xe BMW này đã ở đó bao lâu rồi nhỉ. Tôi bắt đầu phân vân liệu là hắn ta có ở cùng Carla khi cô ta gọi điện cho tôi nói tôi đừng đến.
Người đàn ông trèo lên chiếc xe BMW, nhanh chóng thắt dây an toàn và châm một điếu thuốc trước khi lái xe đi. Tôi coi tiền phạt đỗ xe của hắn như một khoản đền bù cho người đàn bà của tôi.
Tôi không cho đó là một sự trao đổi đẹp đẽ gì. Tôi kiểm tra ngang dọc đường phố – tôi luôn làm điều đó – trước khi bước xuống xe và đi về phía căn hộ. Trời thực sự tối và không có ai liếc nhìn tôi. Tôi ấn chiếc chuông mang dấu ‘Moorland’.
Carla mở cửa trước, với một nụ cười rộng mở nhưng nó nhanh chóng biến thành cái cau mày, rồi lại nhanh chóng trở lại nụ cười. Nụ cười thứ nhất chắc chắn là dành cho người đàn ông có chiếc BMW. Tôi thường tự hỏi tại sao cô ta lại không đưa cho tôi chìa khóa cửa trước. Tôi nhìn chằm chằm vào đôi mắt màu xanh đã làm say đắm tôi ngay lần đầu tiên cách đây nhiều tháng trước. Dù đang mỉn cười, đôi mắt cô ta giờ đây để lộ ra sự lạnh lùng mà tôi chưa từng thấy trước đó.
Cô ta đóng cửa và mời tôi vào tầng trệt của căn hộ. Tôi nhận thấy dưới lần áo mặc ở nhà, Carla mặc chiếc áo ngủ mà tôi tặng cô ta nhân dịp Noel. Từ lúc vào trong căn hộ, tôi nhận thấy mình bất giác đang săm soi khắp căn phòng mà tôi đã biết quá rõ. Trên mặt bàn kính ở chính giữa gian phòng, chiếc tách cà phê ‘Snoopy’ tôi vẫn thường dùng rỗng không. Bên cạnh nó là tách của Carla, cũng rỗng không, và mười hai bông hồng được cắm trong một chiếc lọ. Những nụ hoa vừa hé mở.
0
Tôi rất dễ nổi nóng và những bông hồng đẹp mắt khiến tôi không thể giấu được sự giận dữ.
“Người đàn ông nào mới đi ra đó?” Tôi hỏi.
“Một người môi giới bảo hiểm,” Carla trả lời, dọn đi những cái tách trên bàn.
“Vậy anh ta bảo hiểm cái gì?” Tôi hỏi. “Tình yêu của em hả?”
“Tại sao anh lại cho là anh ta là người tình của tôi?” Cô ta bắt đầu lớn tiếng.
“Cô thường uống cà phê với người môi giới bảo hiểm trong một cái áo ngủ hả? Cô nghĩ xem nào, chiếc áo ngủ của tôi.”
“Tôi sẽ uống cà phê với bất cứ ai tôi thích,” Cô ta nói, “và mặc bất cứ cái gì mà tôi thích, đặc biệt là khi anh đang trên đường về nhà với vợ anh.”
“Nhưng anh đã muốn đến với em…”
“Và sau đó trở về với vợ anh. Anh chẳng đã thường xuyên bảo rằng tôi nên tự lo cho cuộc sống của mình và đừng có trông cậy vào anh,” Cô ta thêm, thứ luận điệu cô ta thường viện dẫn khi có điều muốn che giấu.
“Em biết điều đó không dễ dàng mà.”
“Tôi biết nó dễ dàng để anh nhẩy vào giường của tôi bất cứ khi nào tiện cho anh. Tôi chỉ tốt cho điều đó thôi, phải không?”
“Điều đó không công bằng.”
“Không công bằng? Không phải anh đang kì vọng ở trên giường lúc sáu giờ để vẫn ở nhà lúc bẩy giờ đúng lúc bữa ăn tối với Elizabeth à?”
“Tôi đã không làm tình với vợ tôi hàng năm rồi!” Tôi la lớn.
“Chúng ta chỉ nghe thấy điều đó do anh nói mà thôi,” Cô ta phun ra khinh rẻ.
“Anh đã tuyệt đối chân thành với em.”
“Điều đó có nghĩa là tôi phải luôn luôn có ở bên anh, phải không?”
“Đừng có cư xử như một con điếm vậy.”
Đôi mắt của Carla quắc sáng khi cô ta lao vào và tát vào mặt tôi, dồn tất cả sức mạnh.
Tôi vẫn còn hơi choáng váng khi cô ta giơ cánh tay lên một lần nữa về phía tôi, nhưng khi nó lao tới, tôi nắm lấy và thậm chí còn đẩy cô ta lùi vào bệ lò sưởi. Cô ta nhanh chóng lấy lại thăng bằng và lại lao về phía tôi một lần nữa.
Trong lúc đang điên tiết không thể điều khiển nổi mình, đúng lúc cô ta lao về phía tôi, tôi nắm chặt tay và cho cô ta một quả đấm. Tôi tóm dưới cằm cô ta và đẩy mạnh cô ta về phía sau. Tôi thấy cô ta chống tay để khỏi ngã. Nhưng trước khi cô ta có thể lao về phía tôi để trả miếng, tôi quay người và bước ra khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa sau lưng.
Tôi chạy xuống dọc tiền sảnh, băng qua đường, nhẩy vào xe và nhanh chóng phóng đi. Tôi đã không thể ở với Carla hơn mười phút. Dù vậy, ngay khi chưa về đến nhà, tôi đã thấy hối hận và cảm thấy giống như một kẻ giết người khi tôi đám cô ta. Hai lần tôi đã suýt quay lại, nhưng tất cả những điều cô ta oán thán đều đúng cả. Tôi tự hỏi liệu mình có dám gọi điện cho cô ta từ nhà không, mặc dù Carla và tôi chỉ là nhân tình trong vài tháng, nhưng cô ta chắc chắn phải biết là tôi quan tâm đến cô ấy nhường nào.
Dù Elizabeth có ý định phàn nàn về việc tôi về muộn thì cũng đổi ý ngay khi tôi trao tặng cô ấy những bông hồng. Cô ấy cắm hoa vào lọ trong khi tôi tự rót cho mình một cốc lớn uýtsky. Tôi chờ cô ấy nói điều gì đó vì hiếm khi tôi uống rượu trước bữa tối, nhưng cô ấy dường như đang bận tâm với những bông hoa. Mặc dù tôi đã định gọi điện cho Carla và cố gắng đền bù lại, nhưng tôi lại quyết định không làm điều đó ở nhà. Dù sao thì nếu tôi đợi đến sáng mai, khi tôi trên đường đến sở làm, Carla có thể đã trấn tĩnh được đôi chút.
Tôi thức dậy sớm vào ngày hôm sau và nằm trên giường, suy tính xem tôi nên xin lỗi Carla bằng cách nào. Tôi quyết định mời cô ta ăn trưa tại một quán rượu nhỏ của Pháp mà cô rất thích, nằm giữa trục đường từ sở làm của tôi đến chỗ cô ấy. Carla luôn luôn đánh giá cao khi gặp tôi vào tầm trưa, quãng thời gian mà cô biết không thể dành cho việc làm tình. Sau khi tôi cạo râu và mặc quần áo, tôi cùng với Elizabeth ăn sáng, và tìm xem có gì đáng chú ý trên mặt báo không. Tôi lật tới mục tài chính, cô phiếu của các công ty lại đang giảm giá một lần nữa, người dự báo mục tài chính cho rằng đó chỉ là sự sụt giảm lợi nhuận tạm thời. Sau các mẩu tin tồi tệ này, chắc chắn hàng triệu bạc sẽ tuột khỏi túi tiền lương của chúng tôi. Tôi thừa biết khi những sự đánh giá bất thường đã được in trên báo, sẽ là phép màu nếu công ty không tuyên bố về một sự thiếu hụt.
0
Sau khi uống xong tách cà phê thứ  hai, tôi hôn vào má vợ và đi ra xe. Đó là lúc tôi quyết định viết vài dòng rồi thả vào thùng thư của Carla hơn là ngượng nghịu đối mặt qua một cuộc điện thoại.
“Hãy tha lỗi cho anh,” Tôi viết. “Nhà hàng Marcel Sole Véronique, thứ sáu, một giờ. Tình yêu của em, Casaneva.” Tôi hiếm khi viết cho Carla, và khi tôi làm vậy, tôi chỉ ký cái biệt danh mà cô ấy đã chọn cho tôi.
Tôi đi vòng một quãng ngắn để có thể ngang qua nhà cô ta nhưng đường đã bị tắc. Khi đến gần chỗ căn hộ, tôi mới rõ nguyên nhân tắc đường là do một tai nạn. Có vẻ khá nghiêm trọng, bởi xe cứu thương chắn hết cả con đường và làm dồn đống dòng xe cộ đang chạy tới. Một giám sát viên giao thông đang cố cứu gỡ tình thế nhưng chỉ làm cho ách tắc thêm mà thôi. Hiển nhiên không thể đỗ xe ở một nơi nào gần căn hộ của Carla, nên tôi định đành sẽ gọi điện cho Carla khi tôi tới sở làm. Tôi thực không thích viễn cảnh đó.
Một lúc sau, tôi cảm thấy nôn nao khi nhìn thấy xe cứu thương chỉ đỗ cách cửa trước ngôi nhà Carla vài mét. Tôi biết mình đang suy nghĩ điều phi lý nhưng tôi bắt đầu lo sợ điều xấu nhất. Tôi cố gắng thuyết phục mình đó chỉ là một tai nạn trên đường bình thường và không có liên quan gì đến Carla.
Sau đó, tôi nhận thấy có xe cảnh sát đỗ đằng sau xe cứu thương.
Khi tôi tiến tới ngang hàng với hai chiếc xe khác, tôi trông thấy cửa trước nhà Carla mở toang. Một người đàn ông trong chiếc áo blu trắng chạy hối hả ra ngoài và mở cửa sau xe cứu thương. Tôi dừng xe lại để quan sát kỹ hơn cái gì đang diễn ra, hy vọng người lái phía sau tôi không trở nên nôn nóng. Những người lái xe từ luồng khác giơ tay lên cám ơn tôi cho phép họ vượt qua. Tôi nghĩ mình có thể cho cả ta  hoặc tất cả vượt qua trước khi có ai đó bắt đầu than phiền. Người giám sát giao thông giúp đỡ tôi bằng cách thúc giục họ vượt qua.
Rồi một chiếc cáng xuất hiện ở cuối hành lang. hai nhân viên mặc đồng phục khiêng một  người được phủ kín mặt đi ra ngoài đường và đưa chiếc cáng vào đằng sau xe cứu thương. Tôi không thể nhìn thấy mặt người trên cáng vì nó bị phủ một tấm khăn, nhưng người thứ ba, chỉ có thể là nhân viên điều tra, đi tiếp ngay đằng sau chiếc cáng. Ông ta cầm một chiếc túi nhựa, tôi có thể nhìn thấy bên trong đựng chiếc áo màu đỏ mà tôi e rằng đó chính là chiếc áo ngủ tôi đã tặng Carla.
Tôi nôn cả bữa sáng ra chiếc ghế sau, rồi gục đầu lên vô lăng. Một lúc sau, người ra đóng cửa xe cứu thương, tiếng còi bắt đầu cất lên và người giám sát giao thông liền vẫy tôi tiến lên. Chiếc xe cứu thương nhanh chóng đi khỏi và người lái xe đằng sau tôi bắt đầu bóp còi. Rốt cuộc, chỉ có anh ta là người vô tội phải ngồi yên. Tôi lảo đảo tiến về phía trước và sau đó không thể nhớ được những gì đã xảy ra trên đường đến sở làm.
0
Khi tới được chỗ đỗ xe của văn phòng, tôi lau chùi một cách tương đối đống hỗn độn ở ghế sau và mở cửa sổ xe trước khi đi thang máy lên phòng rửa mặt ở tầng bẩy. Tôi xé nát tờ giấy mời Carla đi ăn trưa thành những mảnh nhỏ và vứt chúng vào bồn cầu, xả nước. Tôi lên phòng mình ở tầng mười hai sáu tám rưỡi một lúc và thấy ông giám đốc điều hành đang diễu đi diễu lại trước bàn của tôi, rõ ràng là đang đợi tôi. Tôi quên bẵng đi mất ngày hôm nay là thứ sau và ông ta luôn chờ những bản báo cáo tính toán đã xong xuôi để ông ta nghiên cứu.
Hóa ra thứ sáu này ông ta lại muốn có luôn những kế hoạch tài chính cho các tháng năm, sáu và tháng bẩy. Tôi hứa rằng chúng sẽ ở trên bàn của ông ta vào giữa ngày. Điều tôi cần bây giờ là một buổi sáng không phải suy nghĩ gì nhưng tôi đã không có được điều đó.
Hễ có tiếng chuông điện thoại reo, cánh cửa bật mở hoặc thậm chí có ai đó nói về tôi, tim tôi đều như thót lại. Tôi cứ cho đó chỉ có thể là cảnh sát. Đến trưa, tôi đã hoàn thành một số báo cáo cho giám đốc điều hành, nhưng tôi biết chắc ông ta sẽ thấy nó không đầy đủ và chính xác. Ngay sau khi gửi tập báo cáo cho thư ký của ông ta, tôi rời đi ăn trưa. Tôi không thể nuốt được, nhưng dù sao cũng tìm xem được tờ báo Standard vừa phát hành và tìm kiếm bất cứ thông tin gì về cái chết của Carla.
Tôi ngồi trong góc quầy căn tin nội bộ, nơi sẽ không bị nhìn thấy từ sau bar. Một cốc nước cà chua đặt bên cạnh và tôi bắt đầu chậm chạp giở từng trang của tờ báo.
Tin tức về cái chết của Carla không có ở trang thứ nhất, không có ở trang thứ hai, thứ ba và cả trang thứ tư. Và ở trang thứ năm, có một mẩu tin nhỏ: “Cô Carla Moorland, 31 tuổi, được phát hiện đã chết tại nhà của cô ở Pimlico sáng sớm ngày hôm nay.” Lúc đó ôi còn nhớ là đã nghĩ thậm chí họ còn viết sai tuổi của cô ấy. “Thanh tra Simmons, người chịu trách nhiệm điều tra vụ án này, cho biết công việc điều tra đã được triển khai và họ đang chờ đợi bản báo cáo pháp y nhưng cho tới lúc này, họ thấy không có lí do gì để nghi ngờ là đã có hành động bạo lực”.
Sau mẩu tin tức đó, tôi đã cố gắng ăn được một ít súp và bánh mỳ. Khi đọc mẩu tin đó lần thứ hai, tôi quay về bãi đỗ xe của công ty và ngòi lại ở trong xe. Tôi kéo cánh cửa cho không khí trong lành ùa vào trước khi bật radio, chương trình “World At One”. Cái chết của Carla chưa được đưa tin. Cái chết của một phụ tá 32 tuổi trong ngành công nghiệp đã không được đài BBC thông báo trong mục những cái chết do bị bắn, ma túy, aisd hay là một vụ cướp đồ kim hoàn.
0
Tôi quay trở lại văn phòng và thấy trên bàn mình một tờ giấy chứa một loạt những câu hỏi của ông giám đốc điều hành. Không nghi ngờ gì ông ta đã thấy lỗi của bản báo cáo. Tôi đã giải quyết gần như toàn bộ số câu hỏi và đưa lại bản trả lời cho thư ký của ông ta trước khi rời khỏi căn phòng tối đó. Hầu hết thời gian của buổi chiều, tôi cố gắng tự thuyết phục mình rằng bất cứ nguyên nhân gì gây nên cái chết của Carla chắc chắn là xẩy ra sau khi tôi rời khỏi chỗ cô ta và nó không thể liên quan đến việc tôi đã đánh cô ta. Nhưng cái áo ngủ màu đỏ cứ ám ảnh ý nghĩ của tôi. Nó có làm cảnh sát truy nguyên ra tôi không? Tôi đã mua nó tại Harrods – một khoản chi xa hoa, tôi cảm thấy nó không thể là cái độc nhất được và đó vẫn là một món quà đáng kể duy nhất tôi từng tặng Carla. Những bức thư ngắn tôi viết cho Carla – Carla đã hủy nó chưa? Cảnh sát có phát hiện ra ai là Casaneva không?
Tôi lái xe về thẳng nhà tối hôm đó, biết rằng mình sẽ không bao giờ còn có dịp đi qua con phố mà Carla đã ở nữa. Tôi lắng nghe đoạn cuối của chương trình buổi chiều trên cái radio trong xe, và ngay khi về tới nhà tôi bật ngay chương trình tin tức lúc 6 giờ. Tôi chuyển sang kênh 4 lúc bẩy giờ và trở lại đài BBC lúc 9 giờ. Tôi bật sang ITV lúc mười giờ và thậm chí đợi xem hết chương trình bản tin tối.
Cái chết của Carla, đối với Ban biên tập của chương trình, chắc chắn là không quan trọng bằng kết quả bóng đá lượt ba giữa Reading và Walsall. Elizabeth còn đang mải đọc cuốn sách cuối cùng mượn từ thư viện nên cũng chẳng để ý gì đến tình trạng nguy khốn có thể xảy ra đến với tôi.
Tôi đó, tôi ngủ chập chờn. Sáng hôm sau, ngay khi nghe thấy những tờ báo được vứt vào thùng thư, tôi chạy xuống tầng và kiểm tra những dòng tít.
“DUKAKIS ĐƯỢC GIỚI THIỆU TRANH CỬ” đập ngay vào mắt tôi ở trang đầu của tờ Thời báo.
Tôi băn khoăn, rõ ràng là không thích hợp nếu ông ta được làm bầu làm tổng thống. “Tổng thống Dukakis” làm tôi nghe không thấy hợp lý chút nào.
Tôi nhặt tờ Diễn đàn hàng ngày của vợ tôi và một đề mục chiếm toàn bộ đầu trang báo: “GIẾT CHẾT NGƯỜI TÌNH VÌ XÍCH MÍCH”.
Chân của tôi run lẩy bẩy, tôi khuỵu xuống. Chắc chắn trông tôi rất khác thường khi quỳ trên sàn nhà, cố gắng đọc mẩu tin này. Nhưng tôi không thể đọc được chữ nào trong đoạn tiếp sau vì không có kính. Tôi suýt ngã mấy lền khi trèo trở lại lên tầng với tờ báo và chộp lấy cặp kính trên bàn cạnh giường ngủ. Elizabeth vẫn ngủ ngon lành. Dù vậy, tôi vẫn chui vào phòng tắm và khóa cửa để có thể đọc đoạn tin một cách từ từ mà không sợ bị cắt ngang.
0
«« « 1 2 3 4 » »»