Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện ngắn Jeffrey Archer - A twist in the tale - Hết 🔒

118 trả lời, 16.531 lượt xem — Trang 2 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-20 07:42:46khachxa>
“Cảnh sát đang điều tra vụ án về cái chết của cô thư ký xinh đẹp, Carla Moorland, 32 tuổi, được tìm thấy đã chết tại nhà riêng sáng sớm ngày hôm qua. Thanh tra Simmon của Scotland Yard, người chịu trách nhiệm điều tra, ban đầu cho rằng cái chết của Carla Moorland là do nguyên nhân đột tử, nhưng phim chụp X-quang cho thấy một xương quai hàm bị vỡ, có thể là hậu quả của một vụ đánh lộn.
Cuộc điều tra sẽ được tiến hành vào thứ tư, ngày 19 tháng này.

Người giúp việc của cổ Moorland, Maria Lucia, 48 tuổi, - theo phỏng vấn giêng của báo Diễn đàn- cho biết bà chủ của mình đã ở với bạn trai khi cô rời khỏi căn hộ vào lúc 5 giờ chiếu hoom đó. Một nhân chứng khác, bà Rita Johnson, người sống sát cạnh căn hộ, nói rằng bà ta nhìn thấy một người đàn ông rời khỏi căn hộ của cô Moorland vào tầm khoảng 6 giờ, trước khi đi vào quầy báo đối diện căn hộ rồi sau đó lái xe đi. Bà Johnson nói thêm không chắc đã nhận ra chiếc xe nhưng có thể đó là một chiếc Rover…”

“Ôi, Chúa ơi!” Tôi kêu to đến độ lo rằng nó có thể sẽ đánh thức Elizabeth. Tôi cạo râu và tắm qua loa, cố gắng suy nghĩ xem mình sẽ phải làm gì. Tôi mặc xong quần áo và sẵn sàng rời khỏi nhà đi làm trước cả khi vợi tôi tỉnh giấc. Tôi hôn vào má Elizabeth nhưng cô ấy chỉ trở mình, tôi ghi nguệch ngọa vài chữ và đểnó lên giường bên cạnh cô ấy, giải thích rằng tôi phải đi sớm đến văn phòng vì có một báo cáo quan trọng cần hoàn thành sáng hôm đó.
Trên đường tới nơi làm việc tôi nhẩm lại chính xác những điều tôi sẽ nói. Tôi nhẩm đi nhẩm lại. Tôi đến tầng mười hai trước tám giờ một chút và mở rộng cửa sổ để có thể nhận ra bất cứ sự xâm nhập nào khác dù nhỏ nhất. Tôi tin chắc rằng mình sẽ không bị làm phiền trong mười lăm, thậm chí hai mươi phút trước khi có ai đó đến được chỗ làm việc.
Một lần nữa, tôi nhẩm lại chính xác những gì tôi cần nói. Tôi tìm thấy số điện thoại đó trong cuốn danh bạ điện thoại và viết vội nó vào một tờ giấy trước mặt trước khi viết hoa năm đề mục, đó là những việc tôi thường làm trước mỗi buổi gặp quan trọng.
BẾN XE BUÝT
ÁO KHOÁC
SỐ 19
BMW
VÉ
Sau đó tôi quay số.
Tôi tháo đồng hồ và để nó xuống trước mặt mình. Tôi đã đọc được ở đâu đó rằng nơi của cuộc gọi đến có thể được truy ra trong khoảng 3 phút.
Một giọng phụ nữ cất lên, “Scotland Yard đây.”
“Xin cho gặp thanh tra Simmons,” tôi chỉ nói vậy.
“Tôi có thể hỏi ai ở đầu dây không?”
“Không, tôi không muốn nói tên mình.”
“Vâng, dĩ nhiên, thưa ông,” cô ta nói, hiển nhiên là cô thường nhận những cuộc gọi như vây.
1
Một tiếng chuông khác reo lên. Miệng của tôi chợt khô lại khi một giọng đàn ông cất lên “Simmons đây”, đây là lần đầu tiên tôi nghe viên thanh tra đó nói. Tôi ngạc nhiên nhận thấy ông ta có cái tên đặc Anh mà lại phát âm đặc thổ ngữ vùng Glawey.
“Tôi có thể giúp gì?” ông ta hỏi.
“Không, nhưng tôi nghĩ tôi có thể giúp ông,” tôi nói với thanh âm trầm, diễn đạt sao cho khác với giọng nói của tôi lúc bình thường.
“Ông có thể giúp gì tôi, thưa ông?”
“Ông có phải là viên thanh tra chịu trách nhiệm điều tra trong vụ án của cô gái hình như có tên là Carla?”
“Vâng, là tôi. Nhưng ông có thể giúp gì vậy?” ông ta nhắc lại.
Một phút trôi qua.
“Tôi nhìn thấy một người đàn ông rời khỏi căn hộ của cô ta tối hôm đó.”
“Lúc đó ông đang ở đâu?”
“Tại chỗ đỗ xe buýt cùng bên này đường.”
“Ông có thể miêu tả cho tôi người đàn ông đó được không?” Giọng nói của Simmons bất chợt hạ xuống như tôi.
“Cao. Tôi cho là khỏng 5,11 đến 6 futs. Khổ người đậm. Mặc một chiếc áo khoác sang trọng theo kiểu một doanh nhân – ông cũng biết, đó là một chiếc áo đen, cổ nhung mềm.”
“Làm sao ông có thể chắc chắn như thế về chiếc áo khoác?” Viên thanh tra hỏi.
“Đứng ở bến chờ xe rất lạnh nên tôi ước mình được mặc chiếc áo ấy.”
“Ông có nhớ kỹ về những gì đã xảy ra sau khi anh ta rời khỏi căn hộ không?”
“Chỉ là anh ta đi vào quầy báo đối diện căn hộ trước khi vào xe và phóng đi.”
“Vâng, chúng tôi đã biết rõ về điều đó,” Viên thanh tra nói. “Tôi cho là ông không nhớ đó là chiếc xe hiệu gì?”
Bây giờ, hai phút đã trôi qua và tôi bắt đầu nhìn chiếc đồng hồ cẩn thận.
“Tôi nghĩ đó là một chiếc BMW,” Tôi nói.
“Ông có nhớ nó màu gì không?”
“Không, trời quá tối.” Tôi tạm dừng. “Nhưng tôi nhìn thấy anh ta xé chiếc vé phạt đỗ xe khỏi kính chắn gió, như vậy sẽ không khó khăn để ông tìm ra dấu vết của anh ta.”
“Và những điều đó diễn ra lúc nào?”
“Quãng tầm sáu giờ mười lăm đến sáu giờ ba mươi, thưa ông thanh tra.” Tôi nói.
“Và anh có thể nói cho tôi…?”
Hai phút năm mươi tám giây. Tôi dập ống nghe xuống. Toàn thân toát mồ hôi.
0
“Rất vui được gặp anh ở văn phòng vào sáng thứ bẩy,” Ông giám đốc điều hành nói dứt khoát khi ông ta đi qua phòng tôi. “Ngay khi anh kết thúc bất cứ việc gì anh đang làm, tôi muốn nói vài điều với anh.”
Tôi rời khỏi bàn làm việc và theo ông ta đi dọc hành lang vào văn phòng của ông. Ông ta xem xét kỹ lưỡng những tính toán kế hoạch tài chính của tôi trong một giờ sau đó, nhưng dù có cố gắng thế nào, tôi cũng không thể tập trung được. Không lâu sau, ông ta dừng lại cố gắng che dấu sự khó chịu của mình.
“Anh có điều gì đó phải không?” ông ta hỏi khi gấp tập tài liệu lại. “Anh dường như đang lo lắng.”
“Không,” Tôi chối, “chỉ vì tôi làm việc ngoài giờ quá nhiều gần đây thôi,” và tôi đứng lên rời khỏi đó.
Khi quay trở lại pòng mình, tôi đốt mảnh giấy đã viết năm cái đề mục rồi ra về. Trong số ra đầu của báo buổi chiều, câu chuyện “Xích mích với người tình” đã chuyển xuống trang thứ bẩy. Họ không có gì thêm để thông báo.
Thời gian còn lại của ngày thứ bẩy đó dường như vô tận, nhưng tờ Diễn đàn chủ nhật của vợ tôi cuối cùng đã làm giảm bớt sự lo lắng của tôi.
Theo như thông tin mới nhận được trong vụ án Carla Moorland, vì xích mích đã giết chết người tình, một người đàn ông đang giúp đỡ cảnh sát trong cuộc điều tra.” Tôi đã đọc những tin tức cũ rích đó thường xuyên trong những ngày qua, giờ đây nó chợt có ý nghĩa thực sự.
Tôi sục tìm những tờ báo chủ nhật khác, nghe mọi thông cáo và xem mọi mục tin tức trên ti vi. Khi vợ tôi bắ đầu thấy tò mò về việc đó, tôi giải thích rằng có tin đồn nói là công ty bị ai đó tiếp quản, điều đó có nghĩa là tôi có thể bị mất việc.
Váo sáng ngày thứ hai, tờ Diễn đàng hàng ngày đã có tên của người đàn ông trong vụ án “Giết chết người tình vì xích mích.” Đó là PaulMenzies, 51 tuổi, một nhân viên môi giới bảo hiểm ở Sulton. Vợ anh ta đang nằm điều trị ở bệnh viện tại Epsom trong khi anh ba bị bắt giam tại nhà tù Brixton. Tôi bắt đầu phân vân liệu gã Menzies đó có nói với Carla về vợ gã và biệt danh của gã là gì. Tôi rót cho mình một tách cà phê đen đặc và đi đến văn phòng.
Cuối buổi sáng hôm đó Menzies xuất hiện trước quan tòa tại tòa án Horseferry Road, tuyên bố chịu trách nhiệm về cái chết của Carla. Cánh sát đã thành công trong việc phản đối việc bảo lãnh, tờ Standard tái khẳng định cho tôi điều đó.
*
* *
0
Tôi được biết rằng vụ án giết người đó để được đưa ra xét xử ở tòa án thì cần đến sáu tháng. Paul Menzies đã trải qua từng ấy tháng tạm giam ở nhà tù Brixton. Cũng từng ấy thời gian tôi sống trong sợ hãi với mọi tiếng chuông điện thoại, mọi tiếng gõ cửa, mọi vị khách không mời. Những điều đó tạo ra các cơn ác mộng cho tôi. Những người không có tội lỗi không hình dung được hàng ngày có biết bao sự cố xảy ra. Tôi vẫn làm việc hết mức tôi có thể, và thường băn khoăn liệu Menzies có biết mối quan hệ của tôi với Carla, anh ta có biết tên tôi không, thậm chí có biết đến sự tồn tại của tôi không.
Chắc là phải hai tháng trước khi phiên tòa xét xử bắt đầu, công ty của tôi tổ chức cuộc họp toàn thể thường niên. Cuộc họp sẽ xem xét các khoản thu chi, nhiệm vụ của tôi là làm các báo cáo để mọi người biết là chúng tôi đã sử dụng lợi nhuận như thể nào. Chúng tôi chắc chắn không thể trả cổ tức cho các cổ đông trong năm đó.
Tôi rời khỏi cuộc họp như trút được gánh nặng, gần như tỏ ra phấn khởi. Sáu tháng đã trôi qua từ sau cái chết của Carla và không có bất cứ sự việc bất ngờ gì xẩy ra trong suốt thời gian đó để có ai có thể nghi ngờ tôi biết Carla, huống chi là nguyên nhân thực gây ra cái chết của cô ta. Tôi vẫn cảm thấy có tội trong cái chết của Carla, thậm chí còn rất nhớ cô ta. Nhưng sau sáu tháng, giờ đây cả ngày tôi không còn sợ hãi gì nữa. Thật là kỳ lạ, tôi không thấy có tội đối với cảnh ngộ khốn khổ của Menzies. Rốt cuộc, anh ta chỉ là công cụ giúp tôi tránh khỏi nhà tù. Vì vây, khi tai họa đến nó gây hậu quả gấp đôi.
Đó là vào ngày 26, tháng Tám – Tôi sẽ không bao giờ quên được cái ngày đó – khi tôi nhận được một bức thư, nó giúp tôi nhận thấy sự cần thiết phải theo dõi tiến trình xét xử vụ án. Mặc dù cố gắng tìm ra lý do tại sao tôi không nên làm điều đó, nhưng tôi biết mình sẽ không có khả năng cưỡng lại.
Đó cũng là một sáng thứ sáu – Tôi cho là những điều không hay luôn xảy ra vào ngày thứ sáu. Tôi được gọi vào gặp giám đốc điều hành và tôi cứ nghĩ rằng đó là một cuộc gặp theo lệ thường cho đến khi được thông báo là công ty không còn cần tôi nữa.
“Thực ra, trong vài tháng qua, anh làm việc ngày một tồi tệ,” Tôi bị nhận xét như vậy.
Tôi thấy không thể phản đối được ông ta.
“Và anh đã không để cho tôi sự lựa chọn nào khác ngoài việc thay thế anh.”
Một cách nói lịch sự của “Anh đã bị sa thải”.
“Bàn làm việc của anh phải được dọn sạch trước năm giờ chiều nay,” giám đốc điều hành tiếp tục, “Anh sẽ được nhận một tấm séc 17,500 bảng từ phòng kế toán.”
Tôi nhướn lông mày.
“Sáu tháng đền bù theo quy định của hợp đồng khi chúng tôi tiếp nhận công ty,” ông ta giải thích.
Ông giám đốc điều hành đưa thẳng cánh tay ra nhưng nó không phải là để chúc tôi may mắn mà là hỏi tôi chiếc chìa khóa chiếc Rover.
0
Tôi nhớ ý nghĩ đầu tiên, khi ông ta thông báo với tôi quyết định đó, là ít nhất thì tôi sẽ có thể tham dự phiên tòa xét xử cả ngày mà không có bất cứ phiền nhiễu gì.
Elizabeth đón nhận tin tôi bị sa thải một cách buồn rầu và chỉ hỏi tôi có kế hoạch gì để tìm kiếm một công việc mới chưa. Trong suốt tháng tiếp theo, tôi đã dự định tìm kiếm một vị trí nào đó tại một công ty khác nhưng tôi nhận ra là mình không thể có hy vọng yên tâm làm bất cứ việc gì cho đến khi vụ án qua đi.
Vào buổi sáng ngày xử án, tất cả các tờ báo đều có những mảng nền đầy màu sắc. Tờ Diễn đàn hàng ngày thậm chí còn đăng trên trang nhất một bức ảnh rất đẹp của Carla trong bộ đồ tắm trên bãi biển tại Marbella. Tôi tự hỏi không biết chị gái của Carla tại Fulham sẽ đau khổ đến mức nào khi xem bài báo này. Bên cạnh đó là bức ảnh và tiểu sử sơ lược của Paul Menzies, nó khiến anh tra trông như thực sự có tội.
Tôi là một trong những người đầu tiên được chỉ cho biết phòng xử án Manzies. Một cảnh sát mặc đồng phục hướng dẫn chi tiết cho tôi cùng một số người khác đến phòng xử án số bốn.
Khi tới phòng xử án, tôi đi vào và để an tâm, tôi ngồi xuống cuối hàng. Tôi nhìn xung quanh với ý nghĩ rằng ai cũng đang nhìn mình, nhưng thật nhẹ cả người vì chẳng có ai để ý đến tôi hết.
Tôi có một góc nhìn tốt bị cáo khi anh ta đứng ở vành móng ngựa. Menzies, trông gầy rộc, chứng tỏ gần đây anh ta sút cân mạnh. Năm mươi mốt tuổi – một tờ báo đã viết như vậy – nhưng trông anh ta như thể gần sáu mươi. Tôi bắt đầu băn khoăn trông mình bao nhiêu tuổi sau từng ấy tháng.
Menzies mặc bộ complet màu xanh thẫm lịch sự nhưng nó như mắc lỏng lẻo trên người anh ta, một chiếc áo sơ mi sạch sẽ và một cái cà vát mà tôi nghĩ là của quân đội. Mái tóc mỏng màu xám hất thẳng về phía sau, hàng ria mép con kiến khiến anh ta như là một quân nhân, mà không giống một tên giết người hay vướng vào chuyện nhân tình. Nhưng bất cứ ai nhìn lướt qua tôi cũng có những suy nghĩ như vậy. Tôi nhìn quanh tìm bà Menzies trong biển mặt những người nhưng không ai trong tòa án có nét giống với những bài báo miêu tả về bà ta.
Tất cả chúng tôi đứng lên khi quan tòa Buchanan tiến vào; “Phiên tòa bắt đầu” viên thư ký nói to.
0
Quan tòa nghiêng về phía trước nói với Menzies rằng anh ta có thể ngồi xuống rồi sau đó quay về phía bục ngồi của bồi thẩm đoàn.
Ông ta giải thích rằng mặc dù có những sức ép là sự quan tâm và nhận định của báo chí về vụ án, nhưng quan điểm của bồi thẩm đoàn là những gì đã xảy ra đều không đáng quan tâm và họ độc lập trong việc quyết định bị cáo có phạm tội gieetsngwowif hay không. Ông ta cũng nói rằng bồi thẩm đoàn không được dựa vào những bài báo viết về vụ án hay nghe theo bất cứ ý kiến của người nào, đặc biệt là những người không hiện diện tại tòa án hôm nay. Những người đó – ông ta nói – luôn là những người đầu tiên thay đổi ý kiến của họ khi có phán quyết của tòa án. Ông ta cũng nhắc nhở bồi thẩm đoàn về việc tập trung vào các bằng chứng quan trọng như thế nào bởi vì cuộc sống của một con người đang bị đe dọa. Tôi thấy mình gật đầu đồng tình.
Tôi nhìn lướt qua xung quanh tòa án hy vọng không có ai ở đó nhận ra mình. Đôi mắt của Menzies vẫn nhìn chằm chằm vào quan tòa đang quay mặt về bồi thẩm đoàn.
Ngay khi viên công tố Humphrey Mountcliff đứng lên, tôi đã rất biết ơn vì người ông ta chống lại là Menzies chứ không phải tôi. Đó là một người đàn ông với một chiều cao nổi bật, trán cao, mái tóc màu xám bạc, ông ta làm chủ tòa án không chỉ bằng vóc dáng bệ vệ mà giọng nói của ông cũng chẳng kém uy quyền.
Suốt thời gian còn lại của buổi sáng, ông ta đọc bản cáo trạng trước những cử tọa im phăng phắc. Đôi mắt của ông ta hiếm khi rời khỏi bục ngồi của bồi thẩm đoàn trừ lúc nhìn chăm chú những ghi chép của mình.
Ông ta dựng lại những sự kiện đã xẩy ra trong buổi tối tháng tư đó theo hình dung của ông ta.
Quá trình mở đầu đó mất hai tiếng rưỡi, ngắn hơn là tôi tưởng. Sau đó, quan tòa đề nghị nghỉ trưa và yêu cầu tất cả chúng tôi quay lại chỗ vào lúc hai giờ mười.
Sau khi kết thúc buổi ăn trưa, ngài Humphrey cho gọi nhân chứng đầu tiên, thanh tra điều tra Simmons. Tôi không thể nhìn thẳng viên cảnh sát đó khi ông ta đứng ở bục nhân chứng. Mỗi câu trả lời của ông ta như để trả lời cho riêng tôi. Tôi không hiểu liệu ông ta có nghi ngờ có một người đàn ông khác không. Simmons tường thuật với sự chuyên nghiệp khi ông ta miêu tả chi tiết họ đã phát hiện ra người chết như thế nào rồi sau đó lần theo dấu vết Menzies thông qua hai nhân chứng và chiếc vé phạt đỗ xe. Cũng có lúc ngài Humphrey khiến một số người ngồi dự phiên tòa có cảm tưởng như ông Simmons đã bắt nhầm người.
Luật sư bào chữa của Menzies đặt ra những câu hỏi cho viên thanh tra điều tra cũng không có sự trái ngược lắm với ngài Humphrey. Robert Scott, thành viên trong hội đồng cố vấn của Nữ hoàng – một người đàn ông lùn, đậm người với cặp lông mày rậm rạp ông ta nói chậm và đều đều. Tôi thì vui khi quan sát thấy một thành viên của bồi thẩm đoàn đang cố gắng kìm chế cơn buồn ngủ.
Trong hai mươi phút tiếp theo, Scott yêu cầu viên thanh tra cẩn thận đối với những chứng cớ đã đưa ra nhưng điều đó không làm cho Simmons rút lại những lời khai quan trọng. Khi viên thanh tra bước ra khỏi bục nhân chứng, lúc này tôi đã đủ tự tin để nhìn thẳng vào măt của ông ta.
0
Nhân chứng tiếp theo là một nhà nghiên cứu bệnh học của Bộ Nội vụ, bác sĩ Anthony Mallins. Sau khi trả lời những câu hỏi mở đầu để chưng minh uy tín nghề nghiệp của mình, ông ta bắt đầu trả lời những câu hỏi của ngài quan tòa Humphrey. Những câu trả lời này làm cho toàn thể mọi người ngạc nhiên, ông bác sĩ cho biết là cô Moorland đã có một cuộc làm tình ngắn ngủi trước khi cô ta chết.
“Tại sao ông lại có thể chắc chắn như vậy về điều đó, bác sĩ Mallins?”
“Bởi vì tôi tìm thấy vết của nhóm máu B trên cao bắp đùi của người chết, trong khi đó cô Moorland thì lại thuộc nhóm máu O. Và cũng có những dấu vết của tinh dịch trên chiếc áo ngủ mà cô ấy đã mặc vào lúc cô ấy bị chết.”
“Đó là những nhóm máu phổ biến phải không?” ngài Humphrey hỏi.
“Nhóm máu O thì phổ biến,” Bác sĩ thừa nhận. “Tuy nhiên, nhóm máu B thì khá là hiếm.”
“Và ông nói gì về nghuyên nhân cái chết của nạn nhâ?” Ngài Humphrey hỏi.
“Một cú đập hoặc nhiều cú đập vào đầu, nguyên nhân gây nên gẫy xương quai hàm, và những vết nứt ở sau xương sọ có thể là do bị đánh bằng một dụng cụ cùn.”
Tôi muốn đứng bật dậy và nói, “Tôi có thể nói với ngài về cái đó!” khi ngài Humphrey nói, “Cảm ơn ông, bác sĩ Mallins. Không có câu hỏi nào thêm nữa. Xin đợi ở đó.”
Ông Scott xử sự với vị bác sĩ tôn trọng hơn nhiều so với viên thanh tra Simmons, mặc dù Mallins đã trở thành nhân chứng bảo vệ cho bị cáo.
“Có thể cú đập vào đằng sau cô Moorland là do bị ngã không?” Ông ta hỏi.
Vị bác sĩ ngần ngừ. “Có thể,” ông ta đồng ý. “Nhưng điều đó không thể giải thích cho xương quai hàm bị gẫy.”
Ông Scott lờ đi câu nói đó và hỏi dồn dập.
“Có bao nhiêu phần trăm số người tại Anh mang nhóm máu B?”
“Khoảng năm, sáu phần trăm,” vị bác sĩ trả lời.
“Hai triệu rưỡi người,” Scott nói và đợi cho con số này ngấm dần trước khi ông ta thay đổi chiến thuật.
Nhưng dù rất cố gắng ông ta cũng không thể làm ông bác sĩ thay đổi thời gian xảy ra cái chết hay thực tế một cuộc làm tình chắc chắn đã xảy ra trong khoảng thời gian một tiếng khi khách hàng của ông ta ở với Carla.
Khi luật sư Scott ngồi xuống, quan tòa hỏi Humphrey xem ông ta có muốn thẩm tra không.
0
“Vâng, thưa Quý tòa. Thưa bác sĩ Mallins, ông nói với tòa rằng cô Moorland bị chết do xương quai hàm bị gãy và xương sọ phía sau bị rạn nứt. Có thể vết nứt là do bị ngã vào một vật cùn sau khi xương hàm đã bị vỡ không?”
“Tôi phản đối, thưa Quý tòa,” Scott bật dậy, cao giọng một cách bất thường. “Đây là một câu hỏi mớm cung.”
Quan tòa Buchanan nghiêng về phía trước và nhìn chăm chú vị bác sĩ. “Tôi đồng ý, ông Scott, nhưng tôi muốn biết liệu bác sĩ Mallins có tìm thấy nhóm máu O, nhóm máu của cô Moorland, trên những vật khác trong căn pòng không?”
“Có, thưa Quý toà,” vị bác sĩ trả lời. “Vết máu có ở rìa mặt kính của chiếc bàn ở  giữa phòng…”
“Cám ơn, bác sĩ Mallins, không còn câu hỏi gì nữa.” Ngài Humphrey nói.
Nhân chứng tiếp theo của ngài Humphrey là bà Rita Johson, người đã xác nhận là nhìn thấy tất cả.
“Bà Johnson, vào tối ngày mùng bẩy tháng tư, có phải bà trông thấy một người đàn ông rời khỏi căn hộ của cô Moorland?” Humphrey hỏi.
“Vâng.”
“Lúc đó vào khoảng mấy giờ?”
“Sáu giờ hơn vài phút.”
“Xin bà hãy kể cho tòa nghe chuyện gì đã xảy ra tiếp theo.”
“Anh ta băng ngang qua đường, lấy tấm vé phạt ô tô, ngồi vào trong xe rồi phóng đi.”
“Bà có nhìn thấy người đàn ông đó ở tòa ngày hôm nay không?”
“Có”, bà ta khẳng định, chỉ vào Menzies, anh ta lắc mạnh phản đối sự khẳng định trên.
“Không có câu hỏi nào thêm nữa.”
Luật sư Scott lại từ từ đứng lên.
“Bà có nhận định gì về chiếc xe mà người đàn ông đó đi?”
“Tôi không chắc chắn lắm,” bà Johnson nói, “nhưng tôi nghĩ nó là một chiếc BMW.”
“Không phải là Rover như lần đầu bà nói với cảnh sát sáng hôm sau a?”
Nhân chứng không trả lời.
“Và có thực sự là bà nhìn thấy người đàn ông đang bị thẩm vấn giật chiếc vé phạt từ kính chắn gió không?” Scott hỏi.
“Tôi nghĩ là như vậy, thưa ông, nhưng sự việc xẩy ra quá nhanh.”
“Tôi chắc là vậy,” Scott nói, “Trên thực tế, tôi thừa nhận với bà là sự việc xẩy ra quá nhanh đến nỗi bà nhìn nhầm người và cả chiếc xe.”
“Không, thưa ông,” bà ta trả lời, nhưng không có sức thuyết phục giống như những câu trả lời của bà ta trước đó.
Công tố Humphrey không thẩm vấn bà Johnson nữa. Tôi nhận thấy ông ta muốn những bằng chứng của bà ta được bồi thẩm đoàn quên đi càng nhanh càng tốt. Vì vậy, khi bà ta rời khỏi bục nhân chứng, bà ta cũng để lại cho tất cả mọi người ở tòa án một sự nghi ngờ đáng kể.
0
Người giúp việc hàng ngày của Carla, Maria Lucia, có lý lẽ thuyết phục hơn. Bà ta nói rõ chắc chắn đã nhìn thấy Menzies trong phòng khách của căn hooj vào buổi chiều hôm đó khi bà ta đến vào lúc năm giờ kém. Ty nhiên, bà ta cũng thừa nhận là chưa bao giờ nhìn thấy anh ta trước đó.
“Có đúng vậy không?” Humphrey hỏi, “bởi vì bà chỉ thường hay làm việc vào buổi sáng mà?”
“Vâng,” bà ta trả lời. “Cô Moorland có thói quen mang công việc về nhà vào chiề thứ ba vì nó tiện cho tôi đến để nhận tiển công.”
“Vậy cô Moorland đã mặc gì vào buổi chiều hôm đó?”
“Cô ấy mặc áo choàng buổi sáng màu xanh.” Người giúp việc trả lời.
“Đó là bộ cô ấy thường mặc vào chiều thứ ba phải không?”
“Không, thưa ông, nhưng tôi dám khẳng định rằng cô ấy sẽ đi tắm trước khi đi ra ngoài vào buổi tối hôm đó.”
“Nhưng khi bà rời khỏi căn hộ có phải cô ấy vẫn ở cùng ông Menzies không?”
“Vâng, thưa ông.”
“Bà còn nhớ cô ấy mặc gì nữa ngày hôm đó không?”
“Vâng, thưa ông. Bên trong áo khoác cô ấy mặc một chiếc áo lót màu đỏ.”
Chiếc áo lót của tôi đã được đưa ra đúng lúc này và Maria Lucia xác nhận ngay nó. Lúc này, tôi nhìn thẳng vào nhân chứng nhưng bà ta có vẻ như không nhận ra. Tạ ơn tất cả các thánh thần là không khi nào tôi đến với Carla vào buổi sáng.
“Xin bà đợi ở kia,” Humphrey nói với bà Lucia.
Luật sư Scott đứng lên.
“Bà Lucia, bà đã nói trước tòa rằng mục đích đến nhà cô Carla là để nhận lương. Bà đã ở lại đó trong bao lâu?”
“Tôi đã dọn dẹp một chút trong bếp và là một chiếc áo choàng, có lẽ là hai mươi phút.”
“Bà nhìn thấy cô Moorland trong suốt thời gian đó không?”
“Vâng, tôi đã đi vào phòng khách và hỏi xem cô ấy có muốn dùng thêm cà phê không nhưng cô ấy bảo không.”
“Ông Menzies ở với cô ấy khi đó phải không?”
“Vâng, ông ta ở đó.”
“Có lúc nào bà nghe thấy họ có tranh cãi hoặc thậm chí to tiếng với nhau không?”
“Không, thưa ông.”
“Khi nhìn thấy họ ngồi cùng nhau, bà có thấy cô Mooland biểu hiện gì lo lắng hoặc cần sự giúp đỡ không?”
“Không, thưa ông.”
“Khi nhìn thấy họ ngồi cùng nhau, bà có thấy cô Moorland biểu hiện gì lo lắng cần sự giúp đỡ không.”
“Không, thưa ông.”
“Điều gì xẩy ra sau đó?”
“Cô Moorland vào trong bếp cùng tôi trong vài phút sau đó, đưa cho tôi iền lương và tôi rời khỏi đó.”
“Khi có một mình bà ở trong bếp với cô Moorland, cô ấy có biểu hiện sợ sệt người khách của mình không?”
“Không, thưa ông.”
“Không có câu hỏi gì thêm, thưa Quý tòa.”
Viên công tố Humphrey không hỏi thêm bà Maria Lucia nữa và nói với quan tòa rằng ông ta đã hoàn thành việc khởi tố bị can. Quan tòa Buchanan gật đầu, nói rằng ông cảm thấy một ngày như thế là đủ. Nhưng tôi thấy ngần đó bằng chứng không đủ để kết tội Menzies.
Tối đó, khi tôi trở về nhà, Elizabeth không hề hỏi tôi đã ở đâu ngày hôm đó. Tôi cũng không tự nói bất cứ điều gì. Cả buổi tối, tôi giả bộ xem lại kỹ lưỡng những lá đơn xin việc.
*
**
0
Buổi sáng hôm sau, tôi ăn sáng muộn và đọc vài tờ báo. Sau đó, trở lại vị trí cũ của tôi ở phòng xử án ố 4, chỉ một lúc trước khi quan tòa bước vào.
Quan tòa Buchanan ngồi xuống, chỉnh lại bộ tóc giả trước khi bảo Scott bắt đầu quá trình biện hộ. Luật sư Scott chậm chạp đứng lên – Một người đàn ông được trả tiền theo giờm tôi nghĩ bụng một cách cay nghiệt.
Ông ta khởi đầu với lời hứa trước tòa rằng bài diễn văn mở đầu của ông sẽ ngắn và rồi ông ta cứ thế đứng suốt hai tiếng rưỡi sau.
Ông bắt đầu quá trình biện hộ bằng cách nhắc lại chi tiết những phần trong quá khứ của Menzies mà ông ch là có liên quan của vụ án. Ông ta khẳng định với tất cả là nếu phân tích kỹ thì sẽ thấy một lý lịch của một con người trong sạch. Paul Menzies là một người chồng hạnh phúc, anh ta sống tại Sutton cungv với vợ và ba con: Polly, hai mươi mốt tuổi, Michael, mười chín tuổi và Sally, mười sáu tuổi. Hai trong số chúng hiện đang học đại học và đưa bé nhất cũng sắp hoàn thành phổ thông trung học. Bác sĩ đã khuyên bà Menzies đừng đến phiên tòa xét xử với tình trạng sức khỏe của bà gần đây. Tôi nhận thấy hai người phụ nữ trong bồi thẩm đoàn mỉm cười thông cảm.
Ông Menzies, luật sư Scott tiếp tục, đã làm việc tại một hãng môi giới bảo hiểm ở thành phố London trong sáu năm qua, và mặc dầu không được thăng chức, ông vẫn là một nhân viên rất được kính trọng. Ông cũng là một nhân vật chủ chốt ở địa phương của ông, đã từng phục vụ trong quân đội địa phương và ban lãnh đạo của câu lạc bộ nhiếp ảnh địa phương. Ông ta cũng từng một lần có chân trong hội đồng nhân dân của Sutton. Thật khó có thể n ói ông là một tên giết người.
Luật sư Scott tiếp tục với những sự kiện trong ngày xảy ra vụ giết người và khẳng định Menzies đã hẹn gặp Carla vào chiều ngày hôm đó, thật ra với mục đích duy nhất là dùng khả năng chuyên môn của mình giúp đỡ cô Carla trong kế hoạch bảo hiểm cá nhân. Không thể có lý do nào khác để viếng thăm cô Moorland trong suốt một giờ đồng hồ mà đáng lẽ ra là phải ở công sở. Ông ta cũng không hề làm tình với cô ấy và chắc chắn là ông ta không giết cô ấy.
Bị đơn đã rời khỏi nhà khách hàng của ông vào lúc sáu giờ hơn. Ông ta biết Carla có ý định thay quần áo trước khi đi ra ngoài ăn tối với chị gái của cô ấy ở Fullham. Ông ta đã sắp xếp một cuộc gặp khác với Carla vào thứ tư tuần sau tại văn phòng của ông để hoàn thành nốt những điều khoản hợp đồng. Tôi, Scott tiếp tục, sau đó đã nhận được cuốn nhật ký của Menzies, nó sẽ khẳng định sự thật của những sự kiện tôi đã nói ở trên.
Những lời buộc tội, tố cáo – ông ta lập luận- dựa trên những bằng chứng chi tiết, đầy đủ. Ông ta tin tưởng rằng khi tòa án có kết luận, bồi thẩm đoàn sẽ không phải bàn luận gì ngoài việc phóng thích khách hàng của ông ta trở về với gia đình thân yêu. “Mọi người chắc chắn sẽ kết thúc cơn ác mộng này,” Scott kết luận. “Chúng ta đã cư xử rất không đúng với một người đàn ông vô tội.”
Đến đây, quan tòa đề nghị nghỉ trưa. Trong suốt bữa trưa đó, tôi không thể tập trung vào bữa ăn vì phải lắng nghe mọi người xung quanh nói gì. Phần đông họ đều có ý kiến cho rằng dường như Menzies vô tội.
0
Khoảng hai giờ mười, ngay khi chúng tôi quay trở lại, luật sư Scott cho gọi nhân chứng đầu tiên của ông ta: đó chính là bị cáo.
Paul Menzies rời khỏi vành móng ngựa và từ ừ tiến về phía bục nhân chứng. Tay phải cầm một quyển kinh Tân Ước, ông ta ngập ngừng nói những lời tuyên thệ sẽ nói sự thật.
Tất cả mọi con mắt tập trung vào ông ta trong khi luật sư Scott bắt đầu hướng dẫn cẩn thận khách hàng của mình né tránh những chứng cớ bất lợi.
Menzies trình bày trở nên tự tin hơn trong suốt buổi chiều hôm đó. Vào lúc bốn giờ ba mươi, quan tòa nói, “như vậy là đủ cho ngày hôm nay,” Tôi thấy là Menzies sẽ thoát tội, bởi đó là kết luận của hầu hết mọi người.
Tối đó, tôi ngủ không yên giấc, lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xẩy ra vào ngày thứ ba. Menzies có được tha không và liệ sau đó họ có tìm ra tôi không.
Luật sư Scott mở đầu buổi sáng thứ ba cũng nhẹ nhàng như ngày thứ hai, nhưng ông ta nhắc lại rất nhiều những câu hỏi từ những ngày trước mà rõ ràng là ông ta chỉ muốn khách hàng của mình giữ vững những lời khai trong quá trình tiếp diễn phiên tòa. Trước khi kết thúc, ông ta hỏi Menzies lần thứ ba, “Có bao giờ anh làm tình với cô Moorland không?”
“Không, thưa ông. Đó là ngày đầu tiên tôi gặp cô ấy,” Menzies khẳng định.
“Thế có phải anh giết cô Moorland không?”
“Chắc chắn là không, thưa ông,” Menzies trả lời, ông ta cao giọng và đầy tự tin.
Scott trở về chỗ ngồi, nét mặt thoáng vẻ hài long.
Ít ai đang sống cuộc sống bình thường lại nghĩ đến chuyện bị ngài Humphrey Mountchift thẩm vấn. Tôi khó có thể đòi hỏi một luật sư tốt hơn vậy.
“Nếu tôi có thể, thưa ông Menzies,” Humphrey bắt đầu, “Tôi muốn hỏi luật sư của ông dường như ông ta còn rất nhiều bằng chứng chứng minh cho sự vô tội của ông.”
Đôi môi mỏng của Menzies mím lại thành một đường thẳng.
“Chúng ta đi thẳng vào vấn đề nhé, trong hật ký cua ông có viết rằng ông đã hẹn gặp cô Moorland, người phụ nữ bị giết” – những từ đó được viên công tố lặp đi lặp lại trong suốt quá trình thẩm vấn của ông ta – “vào ngày thứ tư sau khi cô ta đã bị chết.”
“Vâng, thưa ông,” Menzies nói.
“Cuộc hẹn gặp đó – theo tôi – được sắp xếp trong cuộc gặp mặt ngày thứ ba đó tại căn hộ của cô Moorland.”
“Vâng, thưa ông,” Menzies trả lời, rõ ràng đang kiếm chế để không nói thêm điều gì để có thể bổ sung thêm vào quá trình xử án.
“Vậy khi nào ông ghi lại cuộc hẹn đó trong nhật ký của mình?” Humphrey hỏi tiếp.
“Vào sáng ngày thứ sáu.”
“Sau khi cô Moorland đã bị giết chết?”
“Vâng, nhưng tôi không biết điều đó.”
“Ông có hay mang theo cuốn nhật ký bên mình không, ông Menzies?”
“Có, đó chỉ là một cuốn sổ bỏ túi nhỏ, không phải là cuốn nhật ký lớn ở bàn.”
“Ông có đem theo nó hôm nay không?”
“Có.”
“Có thể cho phép tôi xem nó không?”
0
Menzies miễn cưỡng lấy một cuốn số màu xanh nhỏ từ túi áo khoác và trao nó cho viên thư ký tòa án, ông ta tiếp lấy đưa cho viên công tố. Humphrey bát đầu đọc lướt qua từng trang.
"Tôi thấy rằng ở đây không có ghi cuộc hẹn gặp của ông với cô Moorland vào buổi chiều hôm cô ấy bị giết?”
“Không, thưa ông,” Memzies nói. “Những cuộc hẹn gặp công việc tôi chỉ ghi vào cuốn nhật ký ở trên bàn, những cuộc hẹn gặp riêng tôi giới hạn trong cuốn nhật ký bỏ túi của mình.”
“Tôi hiểu,” Humphrey nói. Ông ta dừng lại và ngước lên. “Nhưng điều đó thật khác thường, ông Menzies, ông đã nói là đã sắp xếp một cuộc hẹn gặp để bàn bạc thêm về những điều khoản hợp đồng và sau đó hy vọng nó được ghi nhận. Ông ghi luôn điều đó vào nhật ký, chẳng lẽ lúc nào ông cũng mang nó theo người?”
“Tôi có lẽ đã viết nó ra một tờ giấy lúc đó, nhưng tôi đã nói đó là một cuốn nhật ký cá nhân mà.”
“Vậy sao?” Humphrey nói và lật lại vài trang trước đó. “Ai là David Paterson?” ông hỏi.
Trông Menzies như là đang cố gắng nhớ lại cái tên đó.
“Ông David Paterson, 112 đường City, mười một giờ ba mươi, mùng chín tháng giêng năm nay,” Humphrey đọc to trước tòa. Menzies trông có vẻ lo lắng. “Chúng tôi có thể đòi ông Paterson hầu tòa nếu như ông không thể nhớ lại được ông ta,” Humphrey nói giúp.
“Ông ta là khách hàng của công ty tôi.” Menzies nói, trầm giọng.
“Một khách hàng của công ty ông,” Humphrey nhắc lại chậm chạp. “Tôi không hiểu liệu có bao nhiêu người như thế tôi có thể thấy nếu tôi có thời gian xem hết quyển nhật ký của ông?” Đầu Menzies cúi xuống khi Humphrey đưa quyển nhật ký lại cho viên thư ký tòa án.
“Bây giờ tôi muốn quay lại với một số câu hỏi quan trọng hơn…”
“Hãy để sau buổi trưa, ông Humphrey,” vị quan tòa xen vào. “Đã gần đến giờ nghỉ trưa và tôi cho là chúng ta sẽ nghỉ luôn bây giờ.”
“Vâng, thưa Quý tòa.” Viên công tố trả lời nhã nhặn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-24 11:06:37khachxa>
Tôi rời khỏi tòa án trong một tâm trạng lạc quan hơn, mặc dù tôi không thể đợi để khám phá ra điều có thể quan trọng hơn trong cuốn nhật ký. Công tố Humphrey đã nhấn mạnh vào một số dòng. Và dù cho nó khong chứng minh được Menzies là kẻ giết người, nhưng nó cho thấy ông ta đang muốn che giấu điều gì đó. Tôi lo lắng liệu trong buổi nghỉ trưa luật sư Scott có thể khuyên Menzies thừa nhận mối quan hệ với Carla, và điều đó làm cho phần còn lại của câu chuyện sẽ trở nên đáng tin hơn. Như để giảm bớt lo lắng, suốt bữa ăn tôi cho rằng theo luật pháp của Anh thì Menzies sẽ không thể thảo luận với luật sư biện hộ khi ông ta vẫn còn ở trên bục nhân chứng. Tôi nhận thấy khi chúng tôi trở lại tòa án thì nụ cười của Scott đã biến mất.
Công tố Humphrey đứng lên để tiếp tục cuộc thẩm vấn.
“Ông đã nói sau khi đã tuyên thệ, ông Menzies, rằng ông là một người chồng hạnh phúc.”
“Vâng, thưa ông,” bị đơn trả lời vẻ xúc đông.
“Cuộc hôn nhân đầu của ông hạnh phúc chứ, ông Menzies?” Humphrey hỏi bất chợt. Mặt của bị đơn biến sắc. Tôi nhanh chóng liếc nhìn về phía luật sư Scott, ông ta có vẻ không biết thông tin này.
“Hãy suy nghĩ trước khi trả lời,” Humphrey nói.
Tất cả mọi con mắt đều dòn về  người đàn ông trong bục nhân chứng.
“Không,” Menzies nói và nhanh chóng thêm vào, “Nhưng lúc đó tôi còn trẻ. Việc đó đã xảy ra  nhiều năm về trước và tất cả là một sai lầm lớn.”
“Tất cả là một sai lầm to lớn u?” Humphrey nhắc lại, ông ta nhìn thẳng vào bồi thẩm đoàn. “Và cuộc hôn nhân đó kết thúc như thế nào?”
“Ly dị,”Menzies nói khá đơn giản.
“Và nguyên nhân gì đã dẫn tới việc ly dị?”
“Sự độc ác,” Menzies nói, “Nhưng…”
“Nhưng… Vậy ông có muốn tôi nói cho bồi thẩm đoàn biết những điều mà người vợ đầu của ông đã khai trước tòa khi ly dị không?”
Menzies đứng đó lắc đầu. Ông ta biết rằng nói “Không” sẽ gây nguy hiểm cho mình nhưng nói “Có” tức là sẽ treo cổ chính mình.
“Thôi được, ông dường như không thể nói cho chúng tôi biết, vậy thì tôi xin phép ông nói ra điều đó. Thưa Quý tòa, theo những lời khai của bà vợ đầu tiên của ông Menzies đấy, trước thẩm phán Rodger tại tòa Swindon Couty vào ngày mùng chín tháng sau  năm 1961.” Viên công tố hắng giọng. ‘“Anh ta đã thường xuyên đánh đập tôi, và càng ngày điều đó càng trở nên tồi tệ tới mức tôi phải bỏ trốn khỏi nhà vì sợ một ngày nào đó anh ta sẽ giết tôi.”’ Humphrey nhấn mạnh những từ cuối cùng.
“Bà ta thổi phồng lên đó,” Menzies hét lớn từ bục nhân chứng.
“Thật là không may cho cô Carla tội nghiệp không thể có mặt cùng với chúng ta ngày hôm nay để cho chúng tôi biết rằng liệu sự việc giữa ông và cô ấy cũng là một sự thổi phồng.”
“Tôi phản đối, thưa Quý tòa,” Scott nói. “Ông Humphrey đang quấy rầy nhân chứng.”
“Tôi đồng ý,” Quan tòa nói. “Hãy cẩn thận hơn trong nói năng, ông Humphrey.”
“Tôi xin lỗi, thưa Quý tào,” Hunphrey nói, nghe có vẻ như chẳng chú ý đến điều đó. Ông ta đóng tập tài liệu mà ông ta vừa đề cập đén và đặt lại nó lên chiếc bàn trước mặt trước khi lấy một tập mới. Ông ta mở nó ra từ từ, tin là chắc chắn tất cả mọi người trong phiên tòa theo dõi từng hành động của mình, ông ta lấy ra một tờ giấy.
“Ông có bao nhiêu nhân tình trước khi cưới người vợ thứ hai?”
“Tôi phản đối, thưa Quý tòa. Những điều đó không liên quan?”
“Thưa Quý tòa, có quan hệ đấy, tôi xin trân trọng nói rằng điều đó có liên quan. Tôi muốn chỉ ra rằng đó không phải là mối quan hệ công việc mà ông Menzies đang có với cô Moorland mà là một mối quan hệ cá nhân ở mức độ cao.”
“Chấp nhận đặt câu hỏi đó cho bị đơn,” Quan tòa quyết định.
Menzies không nói gì khi Humphrey cố ý chỉa tờ giấy ra trước mặt ông ta và chăm chú nhìn tờ giấy.
“Hãy suy nghĩ ký vì tôi muốn có con số chính xác,” viên công tố nói, nhìn qua phía trên của cặp kính.
Những tiếng tích tắc trôi qua và tất cả chúng tôi chờ đợi.
“Hừm – ba người, tôi nghĩ thế,” cuối cùng Menzies nói như thể vừa mới nhớ được. Các phóng viên vội vàng ghi chép.
“Ba thôi ư,” Humphrey nói, liếc nhìn qua tờ giấy nghi ngờ.
“Ờ, có lẽ là bốn.”
“Và người thứ tư chính là cô Carla Moorland phải không?” Humphrey hỏi. “Bởi vì ông đã làm tình với cô ấy tối hôm đó, phải không?”
“Không, tôi không làm như vậy,” Menzies nói, nhưng lần này rất ít người trong phòng xử án tin vào lời của ông ta.
“Thôi được” Humphrey tiếp tục, khi ông ta đặt tờ giấy lên bàn trước mặt. “nhưng trước khi quay lại mối quan hệ của ông với cô Moorland, hãy để chúng tôi khám phá sự thật về bốn mối quan hệ trước đó.”
Tôi liếc nhìn qua tờ giấy mà Humphrey đang đọc. Từ chỗ tôi ngồi, có thể nhìn thấy không có gì được viết trên đó. Một tờ giấy trắng nằm trước mặt ông ta.
Tôi thấy khó có thể kiềm chế được một nụ cười nhạo. Bí mật về sự ngoại tình của Menzies là lợi ích bất ngờ cho tôi và cho cả báo chí – Và tôi tự hỏi không hiểu Carla sẽ phản ứng ra sao nếu như cô ta biết điều đó.
0
Thời gian còn lại của ngày hôm đó, công tố Humphrey trình bày chi tiết những mối quan hệ trước đó của Menzies với bốn cô nhân tình. Phiên tòa xôn xao còn các nhà báo thì tiếp tục ghi chép, họ đã có một ngày tha hồ khai thác. Khi phiên tòa tạm nghỉ thì cặp mắt của luật sư Scott nhắm lại.
Tôi trở về nhà tối hôm đó, cảm thấy tự hài lòng với bản thân, giống như một người vừa hoàn thành tốt một ngày làm việc.
Khi bước vào phòng xử án sáng hôm sau, tôi nhận thấy mọi người bắt đầu công nhận thật sự, không còn nghi ngờ gì về tội lỗi của Menzies. Tôi cũng nói với mọi người như vậy và gật đầu niềm nở chào mọi người khi tôi ngồi xuống chỗ ngồi quen thuộc của mình ở cuối hàng.
Công tố Humphrey dành trọn buổi sáng hôm đó để nói về những tội lỗi khác của Menzies. Chúng tôi biết được rằng ông ta đã phục vụ trong quân đội địa phương chỉ có năm tháng và phải rời khỏi đó do có bất hòa với viên sĩ quan chỉ huy. Ở đó, ông ta được yêu cầu nên dành bao nhiêu thời gian cho việc tập luyện vào cuối tuần và ông ta đã đòi phải trả bao nhiêu chi phi phí cho những giờ tập đó. Chúng tôi cũng biết rằng ông ta đã tham gia hội đồng nhân dân địa phương chỉ vì tức giận do đã bị từ chối không được cấp phép xây dựng đám đất tiếp giáp nhà của ông ta hơn là mong muốn phục vụ các đồng bào của mình. Công bằng mà nói, ông Humphrey có thể khiến Thánh Gabriel trở nên giống như một tên du côn bóng đá; nhưng con chủ bài của ông còn ở phía trước.
0
“Ông Menzies, bây giờ tôi muốn quay lại với lời khai của ông về những sự việc đã xảy ra tối hôm mà cô Moorland đã bị giết được không?”
“Vâng,” Menzies nói với một tiếng thở dài mệt mỏi.
“Khi ông gặp khách hàng của mình để thảo luận về những điều khoản của hợp đồng, ông thường tư vấn cho họ trong thời gian bao lâu?”
“Thường thì là nửa tiếng, một tiếng là tối đa,” Menzies nói.
“Vậy ông đã tư vấn cho cô Moorland trong bao lâu?”
“Mất một tiếng.”
“Và khi ông rời khỏi đó, nếu tôi nhớ chính xác, thì vào khoảng sáu giờ hơn.”
“Vâng, đúng vậy.”
”Vậy ông hẹn gặp cô ấy vào lúc mấy giờ?”
“Năm giờ, nó được ghi rõ trên nhật ký làm việc của tôi,” Menzies nói.
“Ông Menzies, nếu ông đến nơi vào lúc năm giờ, giữ đúng hẹn với cô Moorland và rời khỏi đó lúc sáu giờ hơn, vậy làm thế nào mà ông lại bị phạt đỗ xe?”
“Tôi có bị chậm vài phút. Tôi đánh liều.”
“ông đánh liều,” Ngài Humphrey nhắc lại. “Ông rõ là một người hay đánh liều, ông Menzies ạ. Tôi không hiểu ông có thể xem lại được cái phiếu phạt xe không?”
Viên thư ký chuyển tấm vé phạt cho Menzies.
“Ông sẽ đọc to trước tòa thời gian mà cảnh sát giao thông đã ghi vé phạt khi vi phạm xẩy ra chứ.”
Một lần nữa, Menzies không trả lời một lúc lâu.
“Bốn giờ mười sáu đến bốn giờ ba mươi phút,” cuối cùng ông ta trả lời.
“Tôi chưa nghe rõ,” Quan tòa bật nói.
“Ông có thể nhắc lại những lời vừa rồi cho quan tòa nghe được chứ?” Viên công tố yêu cầu.
Menzies nhắc lại những con số có thể gây nguy hiểm cho ông ta.
“Vậy bây giờ chúng tôi có thể nói rằng thực tế là ông đã ở cùng với cô Moorland trước lúc bốn giờ mười sáu phút chứ không phải là năm giờ như trong nhật ký của ông ghi sau đó. Đó là một lời nói dối khác, phải không?”
“Không phải,” Menzies nói. “Tôi chắc là đã đến sớm hơn một chút.”
“Dường như sớm hơn ít nhất một tiếng. Và tôi cho là ông đã đến sớm hơn một tiếng bởi vì mối quan hệ của ông với cô Carla Moorland không đơn thuần chỉ là công việc phải không?”
“Đó không phải là sự thật.”
“Và dự định của ông là cô ấy sẽ trở thành nhân tình của mình phải không?”
Menzies ngập ngừng một lúc đủ để cho viên công tố Humphrey tự trả lời câu hỏi đó.” Bởi vì phần thảo luận hợp đồng đã kết thúc trong nửa giờ như thường lệ phải không, ông Menzies?” Ông ta chở đợi nhưng vẫn không có câu trả lời nào.
“Ông thuộc nhóm máu gì, ông Menzies?”
“Tôi không biết.”
Viên công tố tiếp tục.
“Ông đã bao giờ nghe về xét nghiệm DNA chưa?”
“Chưa,” Menzies trả lời lúng túng.
“DNA là một phương pháp chứng minh những gen di truyền chỉ là duy nhất đối với mỗi cá nhân. Mẫu máu hay tinh dịch có thể được xác định. Tinh dịch, thưa ông Menzies, cũng duy nhất như vân tay. Với mẫu tinh dịch thu được, chúng tôi sẽ ngay lập tức biết được liệu ông có cưỡng hiếp cô Moorland không.”
“Tôi không cưỡng hiếp cô ta,” Menzies phẫn nộ.
“Dù sao thì ông cũng đã làm tình với cô ấy phải không?” Giọng của viên công tố trầm hẳn xuống.
Menzies vẫn im lặng.
“Tôi sẽ gọi cho bác sĩ Bộ nội vụ và yêu cầu họ tiến hành kiểm tra DNA của ông được không?”
Menzies vẫn không trả lời.
“Và sẽ kiểm tra nhóm máu của ông.” Humphrey tạm dừng lại. “Tôi xin hỏi ông một lần nữa, ông Menzies. Ông đã làm tình với người phụ nữ bị giết vào chiều ngày thứ ba đó, đúng không?”
“Vâng, thưa ông,” Menzies nói khẽ.
“Vâng, thưa ông,” Humphrey nhắc lại đến nỗi mà toàn bộ tòa án có thể nghe thấy điều đó.
“Nhưng đó không phải là một vụ cưỡng hiếp,” Menzies nói lớn tiếp theo lời viên công tố.
“Phải như vậy không, ông Menzies?”
“Tôi thề là tôi không giết cô ấy.”
Chắc chắn tôi là người duy nhất trong tòa án biết rằng Menzies đã nói sự thật. Viên công tố Humphrey chỉ nói, “Không có câu hỏi gì thêm nữa, thưa Quý tòa.”
0
Luật sư Scott đã cố gắng phục hồi lại sự tin tưởng cho khách hàng của ông ta trong suốt quá trình thẩm vấn tiếp theo. Nhưng trên thực tế, Menzies đã bị vạch trần sự lừa dối của ông ta về mối quan hệ với Carla, vì vậy đã làm cho tất cả những điều nói trước đó đều bị nghi ngờ.
Nếu như Menzies nói sự thật rằng Carla là tình nhân của ông ta, câu chuyện của ông ta sẽ có thể được chấp nhận không nghi ngờ. Tôi tự hỏi tại sao ông ta phải lừa dối như vậy, phải chăng là để bảo vệ vợ mình? Dù với bất cứ động cơ gì, nó cũng sẽ làm xuất hiện nhân tố buộc tội ông ta mặc dù ông ta không thừa nhận.
Tối đó trở về nhà, tôi ăn một bữa ăn nhiều nhất trong suốt những hôm đó.
Sáng ngày hôm sau, luật sư Scott cho gọi thêm hai nhân chứng nữa. Người đầu tiên là mục sư giáo xứ Sutton, ông ta đã xác nhận vị trí trụ cột của Menzies trong cộng đồng. Mục sư trông khá là phúc hậu, thanh cao, toàn bộ sự hiểu biết của ông về Menzies chỉ dựa trên những dịp lễ cầu nguyện sáng chủ nhật mà Menzies tham dự gần đây.
Nhân chứng thứ hai là cấp trên của Menzies ở công ty, cả hai người cùng làm việc trong thành phố. Ông ta có ấn tượng sâu sắc hơn với Menzies nhưng cũng không thể khẳng định là cô Moorland đã từng là khách hàng của công ty.
Luật sư Scott không có câu hỏi gì thêm đối với nhân chứng, ông nói với quan tòa Buchanan rằng ông đã hoàn thành công việc biện hộ. Vị quan tòa gật đầu và quay lại nói với viên công tô Humphrey là không cần ông ta bắt đầu bài diễn thuyết kết thúc cho đến sáng ngày hôm sau.
Viên thư ký ra hiệu cho mọi người đứng dậy.
Một buổi tối dài dằng dặc, và một đêm còn dài hơn mà tôi và Menzies phải chịu.
Cũng như các ngày xét xử trước đó, tôi biết chắc rằng mình sẽ có mặt ngay khi ngày xét xử mới bắt đầu, tại chỗ cũ vào buổi sáng trước khi quan tòa bước vào.
Công tố Humphrey kết thúc bài nói một cách xuất sắc. Tất cả những sự dối trá nhỏ nhặt đều bị vạch trần đến nỗi mọi người đều bắt đầu thừa nhận rằng chỉ có một phần rất nhỏ trong lời khai của Menzies có thể tin được.
“Chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc chắn,” Humphrey nói. “Nguyên nhân tại sao người phụ nữ đáng thương Carla Moorland bị giết. Không chống cự nổi những hành động của Menzies? Một cuộc cãi vã kết thúc bởi một cú đấm là nguyên nhân làm cho cô ngã và chết? Nhưng dù sao, thưa bồi thẩm đoàn, có những điều chúng ta có thể chắc chắn.
“Chúng ta có thể chắc chắn rằng Menzies đã ở với người phụ nữ bị giết ngày hôm đó trước bốn giờ mười sáu phút bởi vì bằng chứng của nó là chiếc vé phạt đỗ xe.
“Chúng ta cũng có thể chắc chắn ông ta đã rời khỏi đó lúc sáu giờ hơn bởi vì có nhân chứng nhìn thấy ông ta lái xe đi khỏi đó, và ông ta cũng không từ chối điều này..
“Và chúng ta có thể khẳng định ông ta đã cố tình viết sai trong nhật ký để làm mọi người tin rừng ông ta có một cuộc hẹn gặp với người phụ nữ bị giết vào lúc năm giờ, đúng hơn là cuộc hẹn gặp riêng tư trước đó.
“Và bây giờ chúng ta cũng có thể chắc chắn ông ta nói dối là không làm tình với cô Moorland trong thời gian ngắn trước đó khi cô ấy bị chết, mặc dù chúng ta không biết chắc chắn là nó diễn ra trước hay sau khi xương hàm cô ấy đã gẫy.” Đôi mắt của viên công tố dừng lại bồi thẩm đoàn trước khi tiếp tục.
“Cuối cùng, chúng ta có thể xác minh, dựa vào những bằng chứng khả nghi, từ báo cáo của bác sĩ về thời gian xảy ra cái chết và dù sao thì Menzies cũng là người cuối cùng nhìn thấy Carla Moorland lúc còn sống.
“Vì vậy, không có ai nữa giết Carla Moorland, không thể quen những bằng chứng của thanh tra Simmons, và nếu chấp nhận n ó, mọi người có thể không nghi ngờ gì về việc chỉ có Menzies phải chịu trách nhiệm trong cái chết của cô Moorland. Và chắc chắn mọi người có thể tìm thấy nhiều bằng chứng kết tội mà ông ta đã cố tình che giấu, như sự tồn tại của người vợ đầu, bà ta đã phải ly dị vì sự đánh đập của ông ta, và bốn cô nhân tình đã bỏ ông ta mf chúng ta không hiểu là vì sao hoặc như thế nào. Ông ta chỉ là một người không chiều vợ hôi sao?” Humphrey thêm.
“Vì lợi ích của tất cả những người phụ nữ trẻ đang sống trên đất nước này, các bạn phải thực hiện nhiệm vụ của mình, dù nhiệm vụ ấy có khó khăn, để xem xét Menzies có tội hay không.”
Khi công tố Humphrey ngồi xuống, tôi đã muốn vỗ tay tán thưởng ông ta.
0
Quan tòa cho chúng tôi nghỉ. Tất cả những giọng nói quanh tôi đều đang kết tội Menzies. Tôi nghe, toại nguyện mà không thêm bất cứ ý kiến gì. Tôi biết nếu như bồi thẩm đoàn kết tội Menzies, vụ án sẽ khép lại và sẽ không ai để ý đến lời nói của tôi. Tôi đã ngồi tại chỗ của mình trước khi quan tòa vào lúc hai giờ kém mười. Ông ta cho gọi luật sư Scott.
Những lời chỉ bảo của luật sư với Menzies làm khách hàng của ông ta vững tâm hơn, ông ta chỉ ra rằng hầu hết tất cả những bằng chứng mà Humphrey đưa ra chỉ là những chi tiết suy diễn và rằng có thể có ai đó đến với Carla sau khi Menzies đã đi khỏi. Cặp lông mày sâu róm dường như là sức sống của đôi mắt Scott, khi ông ta nhấn mạnh rằng trách nhiệm của bên khởi tố là buộc tội thông qua những bằng chứng đáng nghi còn trách nhiệm ông là bác bỏ những lời buộc tội đó. Và rằng, theo quan điểm của ông, người bạn học của ông – công tố viên Humphrey đã thất bại trong vụ kiện này.
Trong suốt bài diễn thuyết của mình, Scott tránh đề cập đến cuốn nhật ký, chiếc vé phạt đỗ xe, những cô nhân tình đã qua, sự làm tình hay bất cứ câu nói nào đề cập đến vai trò của Menzies trong cộng đồng. Nếu có người nào đến muộn mà chỉ nghe được phần kết của bài diễn thuyết có lẽ đã nghĩ rằng hai quý ông đang nói trong hai phiên xử khác nhau.
Sự diễn đạt của luật sư Scott trở nên mạnh mẽ khi ông ta quay mặt lại bồ thẩm đoàn để nói phần kết. “Mười hai người các ngài,” ông nói, “đang nắm giữ số phận khách hàng của tôi. Vì vậy, các ngài phải chắc chắn, tôi nhắc lại, phải chắc chắn xem xét những bằng chứng để có thể khép Menzies vào tội giết người.
“Đây không phải là một phiên tòa về cách sống của ông Menzies, vị trí của ông ta trong cộng đồng hoặc thậm chí là thói quen sinh hoạt tình dục của ông ta. Nếu như ngoại tình là một tội ác thì tôi sẽ cảm thấy tự tin để nói rằng sẽ không phải chỉ có ông Menzies trên vành móng ngựa kia, trong phòng xử án ngày hôm nay.” Ông ta tạm dừng, đảo mắt qua bồi thẩm đoàn.
“Với lý do này, tôi biết rằng các ngài sẽ quyết định giải thoát cho khách hàng của tôi khỏi sự dày vò về thể xác và tinh thần mà ông ta đã phải chịu trong suốt bẩy tháng qua. Ông ta chắc chắn là một người vô tội và sẽ rất lấy làm cảm kích với quyết định của các ngài.”
Luật sư Scott ngồi xuống và tôi cảm thấy ông đã đem tới cho khách hàng của mình le lói một tia hi vọng.
Quan tòa nói với mọi người rằng ông ta sẽ kết luận vào sáng ngày hôm sau.
Cuối tuần đó dường như vô tận đối với tôi. Vào ngày thứ hai, tôi tự thuyết phục bản thân là bồi thẩm đoàn sẽ thấy đủ bằng chứng để kết tội Menzies.
Ngay khi phiên tòa bắt đầu dưới sự điều khiển của mình, quan tòa giải thích một lần nữa cho bồi thẩm đoàn rằng họ sẽ độc lập trong việc ra quyết định cuối cùng. Công việc của ông ta không phải là cho họ biết mình cảm thấy thế nào và khuyên họ quyết định phải dựa trên pháp luật.
Ông ta trở lại với tất cả những bằng chứng, tạo dựng lại các sự kiện, nhưng ông ta không bao giờ ám chỉ đến quan điểm của ông. Khi kết thúc những lời tổng kết đã quá trưa, ông ta để cho bồi thẩm đoàn tự xem xét những quyết định của họ.
Tôi chở đợi lời phán quyết với sự lo lắng chắc chắn gần bằng Menzies. Trong lúc đó, tôi lắng nghe những ý kiến khác nhau trong căn phòng nhỏ, từng giây trôi qua, cuối cùng, khoảng bốn tiếng sau, một biên bản đã được đưa cho quan tòa.
Ông ta ngay lập tức yêu cầu bồi thẩm đoàn trở lại chỗ ngồi trong khi đám đông đã trở lại phòng xử án – trông như buổi họp dự thảo ngân sách của hạ viện. Viên thư ký tòa án nghiêm trang đưa tờ biên bản cho quan tòa Buchanan. Ông ta mở nó ra đọc, đó là quyết định mà chỉ có mười hai người trong bồi thẩm đoàn biết.
Ông ta trao nó lại cho viên thư ký để đọc cho cả phiên tòa nghe.
Quan tòa Buchanan có vẻ không bằng lòng, ông hỏi nếu như cho thêm thời gian thì liệu phán quyết của bồi thẩm đoàn có đạt được sự nhất trí không. Thế nhưng ông cũng hiểu rằng nếu không thể chứng minh được ông cũng đành miễn cưỡng phải đồng ý với sự phán xét của đa số.
Bồi thẩm đoàn biến mất ở tầng dưới một lần nữa để tiếp tục bàn bạc thêm, và không trở lại chỗ ngồi trong ba giờ tiếp theo. Tôi có cảm giác vô cùng căng thẳng khi những người xung quanh bàn luận ầm ĩ. Viên thư ký tòa yêu cầu lập lại trật tự, quan tòa chờ cho đến khi mọi người ổn định rồ mới bảo viên thư ký tòa án tiếp tục.
Khi viên thư ký tòa đứng lên, tôi có thể nghe thấy hơi thở của người ngồi ngay cạnh tôi.
“Có ai đại diện có thể đứng lên được không?”
Tôi đứng lên.
“Mọi người đã biết lời phán quyết cuối cùng mà ít nhất mười người trong bồi thẩm đoàn đã đồng ý chưa?”
“Chúng tôi đã hiểu, thưa ông.”
“Vậy ông có cho rằng bị cáo Paul Menzies phạm tội hay không?”
“Phạm tội,” tôi trả lời.
 
Hết
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-29 07:38:15khachxa>
CHIẾU HẾT
 
Khi cô ta bước vào phòng, tất cả mọi con mắt đều hướng về phía cô.
Khi chiêm ngưỡng một cô gái, một số đàn ông bắt đầu từ khuôn mặt và dịch dần xuống phía dưới. Tôi bắt đầu từ gót chân và đi lên.
Cô gái đi giày nhung cao gót, mặc một bộ váy áo đen bó sát, dừng lại khá cao trên đầu gối, để lộ đôi chân thon dài cực kỳ hoàn hảo. Khi đôi mắt tôi tiếp tục cuộc hành trình hướng lên trên, chúng dừng lại để ghi nhận chiếc eo thon thả và thân hình mảnh mai như một vận động viên của cô. Thế nhưng chính khuôn mặt trái xoan lại có sức thu hút mạnh mẽ nhất, cặp môi hơi bĩu ra hờn dỗi, và đôi mắt trong xanh lớn nhất mà tôi từng thấy, được một vòng cung những sợi lông mày rậm, ngắn đen nhánh che phủ, và nó thực sự đang chiếu rọi ánh sáng huy hoàng, rực rỡ. Sự xuất hiện của cô còn đặc biệt hơn trong khung cảnh mà cô đã lựa chọn. Các mái đầu quay tới quay lui tại một buổi tiếp tân ngoại giao, hay tại một bữa tiệc rượu cốc tai, thậm chí tại một buổi khiêu vũ gây quỹ từ thiện thì là thường, thế nhưng tại một giải thi đấu cờ vua thì…
Tôi dõi theo từng cử chỉ của cô nàng, với vẻ bề trên không cho rằng cô ta có thể là một tay chơi. Nhưng như để chứng tỏ tôi sai, cô ta chầm chậm bước tới bàn của tay thư ký câu lạc bộ và ghi tên tham dự cuộc chơi. Cô được đưa cho một con số để biết đối thủ của mình tại ván mở đầu. Bất cứ người nào chưa biết được đối thủ của họ đều chờ đợi không biết liệu cô ta có ngồi đối diện với mình phía bên kia bàn cờ hay không.
Tay kỳ thủ kiểm tra con số mà người ta đưa cho cô và đi về phía một người đàn ông đứng tuổi đang ngồi ở góc xa căn phòng, một ông cựu chủ nhiệm câu lạc bộ.
Với tư cách là chủ nhiệm mới của câu lạc bộ, tôi có trách nhiệm thúc đẩy những ván đấu vòng tròn. Chúng tôi thường gặp nhau vào ngày thứ sau cuối cùng của tháng tại một gian phòng lớn kiều câu lạc bộ trên tầng lầu của tiệm Mason’s Arms, phố High. Ông chủ tiệm lo liệu ba mươi bàn và sửa soạn sẵn sàng đồ ăn thức uống cho chúng tôi. Ba hoặc bốn câu lạc bộ khác trong quận gửi đến nửa tá những kỳ thủ để chơi một vài ván nhanh, nhằm tạo cơ hội để gặp mặt các đấu thủ mà chúng tôi không hay gặp. Luật chơi khá đơn giản – một phút đồng hồ là quãng thời gian tối đa dành cho một nước đi, vì thế một ván đấu hiếm khi kéo dài hơn một tiếng đồn hồ, và nếu sau ba mươi nước đi mà không có quân tốt nào bị ăn thì ván đấu đó tự đông tuyên bố là hòa. Một thời gian nghỉ ngắn để uống giữa các ván đấu do người thua trả tiền, như vậy sẽ bảo đảm mọi người đều có cơ hội thách đấu hai đối thủ trong một buổi tối.
Một người đàn ông gày gò, đeo cặp kính bán nguyệt và bận một bộ com lê xanh đậm, đi về phía bàn tôi. Chúng tôi mỉm cười và bắt tay. Tôi đoán ông ta là một luật sư, nhưng tôi nhầm, hóa ra ông ta làm kế toán cho một nhà cung cấp văn phòng phẩm ở Woking.
Tôi thấy khó tập trung vào lối mở đầu thành thục theo trường phái Mátxcơva của đối thủ, bởi vì mắt tôi cứ rời khỏi bàn cờ và lang thang ra chỗ cô gái mặc áo váy đen. Một lần ánh mắt chúng tôi gặp nhau, cô ta để lại cho tôi một nụ cười bí hiểm, nhưng mặc dù tôi cố gắng, tôi không tài nào gợi lại được phản ứng như vậy lần thứ hai. Cho dù bị phân tâm, tôi vẫn xoay xở đánh bại tay kế toán, tay này có vẻ không biết vài cách để thoát khỏi cuộc tấn công bảy quân tốt.
0
Vào thời gian nghỉ giữa giờ, ba thành viên khác của câu lạc bộ đã mời cô gái uống một ly rượu, thậm chí còn trước cả lúc tôi tới được bên quầy rượu. Tôi biết là không thể hy vọng đấu trận thứ hai cảu mình với cô gái, bởi vì tôi được trông đợi đấu với một trong những chủ nhiệm câu lạc bộ khác ghé thăm. Và sau cùng cô ta đấu với tay kế toán.
Tôi chiến thắng đối thủ mới của mình sau hơn bốn mươi phút một chugs. Với tư cách một ông chủ nhà sốt sắng, bắt đầu quan tâm lưu ý đến những trận đấu khác đang diễn ra, tôi vạch ra một con đường ngoằn ngoèo mà chắc chắn sẽ dừng lại tại bàn của cô gái. Tôi có thể thấy tay kế toán đang ép cô và chỉ trong chốc lát từ lúc tôi tới, cô ta đã thua mất cả quân hậu lẫn ván đấu đó.
Tôi tự giới thiệu mình và thấy rằng chỉ bắt tay với cô thôi cũng đã có một cảm giác nhục dục. Len lỏi qua những bàn thờ, chúng tôi cùng dạo bước đến bên quầy rượu. Cô ta nói tên cô là Amanda Curzon. Tôi gọi cho Amanda ly rượu vang đỏ mà cô yêu cầu và một cốc bia cho mình. Tôi mở đầu bằng cách tỏ ra ái ngại cho cô về ván thua.
“Thế trận đấu giữa anh với ông ta thế nào?” cô hỏi.
“Tôi đã thắng anh ta,” tôi bảo. “Nhưng mà cũng rất xít xao. Ván đầu tiên của cô với ông chủ nhiệm cũ của chúng tôi kết thúc thế nào?”
“Chiếu hết,” Amanda nói. “Nhưng mà tôi cho là ông ta chỉ muốn tỏ ra lịch thiệp.”
“Lần trước tôi đấu với ông ấy cũng kết thúc ở nước chiếu hết,” tôi bảo cô.
Cô mỉm cười. “Có lẽ chúng ta phải đấu với nhau một ván lúc nào đó nhỉ?”
“Tôi sẽ mong đợi dịp đó,” tôi bảo, khi cô uống cạn ly rượu.
“Thôi, tôi phải về đây,” cô bỗng nhiên tuyên bố. “Tôi phải bắt chuyến tàu cuối cùng về Hounslow.”
“Cho phép tôi lái xe đưa em về,” tôi nói rất ga-lăng “Đó là điều tối thiểu mà ông chủ nhiệm câu lạc bộ chủ nhà cần phải làm.”
“Nhưng mà chắc là ngược đường của anh hàng cây số mất?”
“Hoàn toàn không,” tôi nói dối, vì Hounslow quá tầm căn hộ của tôi chừng hai mươi phút chạy xe. Tôi nốc cạn những giọt bia cuối cùng và giúp Amanda mặc áo khoác. Trước khi đi khỏi, tôi cảm ơn ông chủ tiệm về sự tổ chức chu đáo buổi tối hôm đó.
Rồi chúng tôi rảo bước vào khu đậu xe. Tôi mở cánh của dành cho khác chiếc xe Scirocco của tôi để Amanda bước lên xe.
“Một sự cải thiện nho nhỏ của giao thông thành Luân Đôn,” cô nói khi tôi trườn người vào phía trước tay lái. Tôi mỉm cười và tiến lên theo con đường về hướng Bắc. Cái bộ váy áo màu đen mà tôi đã miêu tả lúc nãy, thậm chí còn co lên cao hơn nữa trên đôi chân khi một cô gái ngồi thoải mái trong một chiếc xe Scirocco. Việc này có vẻ không làm cô bối rối.
“Vẫn còn sớm lắm,” tôi đánh liều sau một vài lời bình luận bâng quơ về buổi tối ở câu lạc bộ. “Em ghé qua tôi uống chút gì nhé?”
“Nếu một ly nhanh thì được,” cô trả lời, mắt nhìn đồng hồ. “Em còn một ngày đầy bận rộn phía trước.”
“Tất nhiên rồi,” tôi bảo, cứ tán gẫu, hy vọng cô ta không nhận thấy con đường vòng mà khó có thể miêu tả là đường tới Hounslow.
“Em làm việc trong thành phố hả?” Tôi hỏi.
“Vâng. Em làm tiếp tân cho một công ty đại lý bất động sản ở quảng trường Berkeley.”
0
“Tôi ngạc nhiên thấy em không phải là một người mẫu.”
“Em đã từng là người mẫu,” cô trả lời mà không giải thích gì thêm. Cô nàng dường như hoàn toàn mù tịt về con đường mà tôi đang đi bởi vì nàng đang thao thao về kế aa kỳ nghỉ của nàng ở Ibiza. Khi đến nơi ở của mình, tôi đỗ xe, dẫn Amanda đi qua cổng trước và đi lên căn hộ. Trong tiền sảnh tôi giúp nàng cởi áo choàng rồi dẫn qua tiền sảnh vào phòng khách”
“Em muốn uống gì nhỉ?”.
“Em chỉ uống vang, nếu anh có một chai đã mở sẵn,” nàng trả lời khi chậm rãi bước quanh phòng, ghi nhận sự gọn ghẽ, ngăn nắp một cách bất thường. Chắc mẹ tôi đã ghé qua lúc sáng nay, tôi nghĩ với thái độ biết ơn.
“Chỉ là một căn hộ độc thân thôi mà,” tôi bảo, nhấn mạnh từ “độc thân” trước khi đi vào trong gian bếp. Rõ nhẹ cả người, tôi tìm thấy một chai rượu vang chưa mở trong chạn. Tôi đến chỗ Amanda, cầm theo chai vang và hai chiếc ly, nàng đang nghiên cứu bàn cờ của tôi và đang sờ nắn những quân cờ ngà tinh tế đã được sắp xêp cho một ván đấu mà tôi đang chơi qua đường bưu điện.
“Thật là một bộ cờ đẹp mỹ mãn,” cô nàng thốt lên khi tôi đưa cho một ly rượu vang. “Anh tìm được nó ở đâu vậy?”
“Bên Mexico, tôi bảo, không nói rằng tôi đã đoạt được nó tại một giải đấu trong kỳ nghỉ ở bên đó. “Tôi chỉ thấy tiếc là chúng ta đã không có cơ hội chơi với nhau một ván.”
Nàng kiểm tra đồng hồ. “Giờ ta hãy chơi một ván nhanh nào,” nàng bảo, ngồi xuống phía sau những quân cờ trắng nhỏ xinh.
Tôi nhanh nhẹn ngồi xuống đối diện nàng. Nàng mỉm cười, nhặt lên một quân tượng trắng, một quân tượng đen và giấu chúng đằng sau lưng. Váy áo của nàng thậm chí còn chật căng hơn nữa làm nổi bật lên hình khối của cặp vú. Thế rồi nàng đặt cả hai bàn tay nắm chặt trước mặt tôi. Tôi chạm vào bàn tay phải và nàng lật bàn tay lên, mở ra để lộ một quân tượng trắng.
“Vui chơi có thưởng được không nhỉ?” tôi vui vẻ hỏi. Nàng kiểm tra bên trong xắc tay.
“Em chỉ có trong người vài bảng thôi,” nàng bảo.
“Anh sẽ vui lòng chơi với mức đặt cược thấp hơn.”
“Anh đã nghĩ đến cái gì chưa?” Nàng hỏi.
“Em có gì nào?”
“Thế anh muốn gì?”
“Mười bảng nếu em thắng.”
“Và nếu em thua?”
“Em cởi bỏ một đồ gì đó ra.”
Ngay khi nói ra mấy lời đó là tôi đã thấy hối hận rồi, và chờ đợi nàng tát cho một cái vào mặt rồi bỏ đi, thế nhưng nàng chỉ đơn giản bảo, “Cũng không hại gì lắm nếu chúng ta chỉ chơi có một ván.”
Tôi gật đầu tán đồng và nhìn xuống bàn cờ.
Nàng không phải là một tay chơi tồi mà là loại mà một tay nhà nghề gọi là sạch nước cản, cho dù thế khai cuộc kiểu Roux của nàng có hơi chính thống một chút. Tôi cố tình kéo dài ván cờ thành hai mươi phút, hi sinh đi mấy quân mà không tỏ ra quá lộ liếu. Khi tôi nói “Chiếu hết”, nàng đá văng ra cả hai chiếc giày và cười to.
0
“Em uống một ly nữa nhá?” Tôi hỏi, không cảm thấy quá hy vọng. “Xét cho cùng, cũng chưa đến mười một giờ cơ mà.”
“Thôi được. Chỉ một ly nhỏ thôi và sau đó em phải về nhà.”
Tôi vào trong bếp, trở lại sau một thoáng với cái chai trong tay, và lại rót đầy ly của nàng.
“Em chỉ muốn nửa ly thôi mà,” nàng bảo, khẽ nhăn mặt.
“Anh nhờ gặp may mới thắng được ván đó,” tôi bảo, phớt lờ lời nhận xét của nàng, “Sau khi để quân tượng của em ăn mất quân mã. Cực kỳ suýt soát.”
“Có lẽ thế,” nàng trả lời.
“Chơi ván nữa nhá?” Tôi đánh bạo hỏi.
Nàng do dự.
“Được ăn đôi thua mất trắng?”
“Ý anh là sao?”
“Hai mươi bảng hoặc là cởi bỏ thêm một thứ nữa?”
“Cả hai ta đều sẽ không mất gì nhiều đêm nay, phải không nào?”
Nàng kéo ghế trong khi tôi xoay ngược bàn cờ, và cả hai chúng tôi bắt đầu xếp lại các quân cờ vào đúng vị trí.
Ván đấu thứ hai lâu hơn một chút bởi vì tôi sớm mắc một sai lầm ngớ ngẩn, bị hở sườn phía bên quân hầu, và phải mất mấy nước mới hồi phục lại được. Tuy vây, tôi vẫn xoay xở kết thúc ván đấu trong vòng chưa đến ba mươi phút và thậm chí còn lựa được lúc để lại rót đầy ly rượu của Amanda khi nàng không chú ý nhìn.
Nàng mỉm cười với tôi trong khi đôi tay vén cao chiếc váy lên đủ để cho phép tôi nhìn thấy phần trên cùng của đôi tất. Nàng tháo móc cài dây đeo và chậm rãi tụt đôi tất ra, rồi thả chúng rơi xuống bên phía mặt bàn của tôi.
“Em tí nữa đã thắng anh rồi đấy,” nàng bảo.
“Suýt soát,” tôi trả lời. “Có muốn thêm một cơ hội để gỡ hòa không? Hãy cho là năm mươi bảng lần này đi,” tôi gợi ý, cố gắng làm cho lời đề nghị nghe có vẻ hào hiệp.
“Giá trị đặt cọc đã cao cho cả hai ta rồi đấy,” nàng trả lời khi nàng sắp xếp lại các qân cờ. Tôi bắt đầu tự hỏi khong biết điều gì đang xảy ra trong đầu nàng. Cho dù là điều gì đi chăng nữa, cô nàng sớm hy sinh cả hai cây xe một cách ngu ngốc và cuộc chơi kết thúc chỉ sau vài phút.
Lại một lần nữa nàng vén cao váy lên, nhưng mà lần này thì vượt quá cả cặp eo của nàng. Đôi mắt tôi gắn chặt vào cặp đùi nàng trong khi nàng cởi cái khóa treo màu đen và cầm nó giơ cao trên đầu tôi, rồi thả ra, cho nhập bọn với đám tất da chân của nàng đang nằm bên phía mặt bàn của tôi.
“Khi em đã để mất quân xe thứ hai,” nàng bảo, “thì em không còn cơ hội nào để thắng nữa.”
“Anh đồng ý. Do đó, phải cho em thêm một cơ hội nữa cũng là công bằng thôi,” tôi nói, nhanh tay sắp đặt lại bàn cờ. “Em có thể thắng một trăm bảng lần này.”
Nàng mỉm cười. “Thực sự em phải về nhà mất rồi,” nàng bảo trong khi tiến quân tốt hậu lên trước hai ô. Nàng lại mỉm cười nụ cười bí hiểm khi tôi đáp trả bằng quân tốt tượng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-29 10:42:27khachxa>
Đó là ván cờ hay nhất mà nàng chơi trong suốt buổi tối, và thế khai cuộc thí quân giành lợi thế theo trường phái Vácxava mà nàng sử dụng đã giữ tôi lại bên bàn cờ mất hơn ba mươi phút. Thực tế, trời ạ, tôi chút nữa đã thua sớm bởi vì tôi thấy khó có thể tập trung một cách thích đáng vào chiến lược phòng thủ của nàng. Một đôi lần Amanda cười, khúc khích đầy khoái trá khi nàng nghĩ rằng đã nắm được thế thượng phong, thế nhưng sự việc cho thấy rõ ràng là nàng chưa xem Karpov chơi phòng thủ kiểu Xixin, và đã thắng từ một vị trí dường như bất khả kháng.
“Chiếu hết,” cuối cùng, tôi tuyên bố.
“Trời ạ,” nàng nói, và đứng lên quay lưng lại tôi. “Anh sẽ giúp phải giúp em một tay.”
Run rẩy, tôi tì người và chầm chậm kéo chiếc khóa zíp xuống cho đến khi nó đến ngang với chỗ nhỏ nhất của tấm lưng nàng. Lại một lần nữa tôi muốn sờ vào làn da mịn màng mát rượi. Nàng quay lại giáp mặt tôi duyên dáng nhún vai và chiếc váy áo rơi xuống nền nhà, cứ như thể một pho tượng đang được hé mở. Nàng nghiêng người ra trước và lấy tay vuốt nhẹ vào gò má tôi, mà nó có tác dụng như một cú sốc điện. Tôi dốc cạn chút rượu vang còn lại trong chai vào ly của nàng, và bỏ vào trong gian bếp, lấy cớ là cần phải rót đầy ly rượu của bản thân mình. Khi tôi quay trở lại, nàng không hề dịch chuyển. Một chiếc nịt vú màu đen mỏng, nhẹ như sa và một chiếc quần xi líp giờ đây là thứ áo quần duy nhất mà tôi vẫn còn mong muốn cởi bỏ.
“Anh không nghĩ là em sẽ muốn chơi thêm một ván nữa?” Tôi hỏi, cố gắng để nghe không quá tuyệt vọng.
“Đã đến giờ anh đưa em về nhà rồi,” nàng nói, miệng cười khúc khích.
Tôi đưa cho nàng một ly rượu vang nữa. “Chỉ một ván nữa thôi mà,” tôi nài nỉ. “Nhưng mà lần này phải vì cả hai thứ đồ đó.”
Nàng cười to. “Chắc chắn là không rồi,” nàng bảo.”Em không thể nào để thua.”
“Đây sẽ là ván đấu cuối cùng,” tôi đồng ý. “Nhưng mà hai trăm bảng lần này, và chúng ta chơi vì cả hai thứ đồ.” Tôi chờ đợi, khấp khởi hy vọng độ lớn của số tiền cược sẽ cám dỗ nàng. “Vận may chắc chắn phải ở bên em lần này rồi. Bởi vì em đã suýt thắng ba bận rồi còn gì.”
Nàng nhấp ly rượu cứ như thể đang suy tính lời đề nghị. “Thôi được,” nàng bảo. “Một cú liệng cuối cùng.”
Không ai trong chúng tôi nói lên cảm tưởng về điều gì chắc chắn sẽ xảy ra nếu nàng thua cuộc.
Tôi không thể nào đừng run rẩy khi xếp lại các quân cờ. Tôi gạn lọc đầu óc cho thật tỉnh táo, hy vọng nàng không nhận thấy rằng tôi chỉ uống một ly rượu vang suốt cả buổi tối. Tôi quyết tâm kết thúc nhanh ván đấu này.
Tôi tiến quân tốt hậu của tôi lên một ô. Nàng trả đũa, đẩy quân tốt vua lên trước hai ô. Tôi biết đích xác nước đi tiếp theo của mình cần phải như thế nào và bởi vì thế trò chơi chỉ kéo dài có mười một phút.
Tôi chưa từng bao giờ bị thua thảm hại đến như thế. Amanda thuộc về một đẳng cấp hoàn toàn khác với tôi. Nàng đoán định trước mỗi nước đi của tôi và có những thế thí quân giành lợi thế mà tôi chưa từng đối mặt hay thậm chí học về chúng trước kia.
Đến lượt nàng nói “Chiếu hết”, và nàng bật ra vẫn với nụ cười bí ẩn trước đây, “Anh đã nói vận may ở phía bên em lần này mà.”
Tôi cúi đầu không thể tin. Khi tôi ngước mắt nhìn lên, nàng đã mặc xong chiếc váy áo màu đen đẹp đẽ lên người, đang nhét đôi tất da chân và dây đeo vào trong cái xắc tay của nàng. Lát sau nàng đi giày vào.
Tôi lấy ra tập séc, điền vào cái tên “Amanda Curzon” và thêm vào con số “200 bảng”, ngày tháng hôm đó và chữ ký của tôi. Trong lúc tôi làm những việc này, nàng xếp lại những quân cờ ngà nhỏ bé vào đúng những ô vuông vị trí ban đầu của chúng khi nàng lần đầu tiên bước vào phòng.
Nàng cúi người và thơm nhè nhẹ lên má tôi. “Cảm ơn anh,” nàng bảo khi bỏ tấm séc vào trong sắc tay. “Ta sẽ phải thi đấu lại vào lúc nào đó.”
Tôi vẫn còn đang ngó trân trân không tin tưởng vào bàn cờ đã được xếp đặt lại thì đã nghe thấy cánh cửa trước đóng lại phía sau lưng nàng.
“Đợi một chút,” Tôi bảo, lao nhanh ra cửa. “Em sẽ về nhà bằng cách nào?”
Tôi còn kịp trông thấy nàng đang chạy xuống các bậc thang về phía cánh cửa đang mở của một chiếc xe hơi BMW. Nàng lên xe, cho phép tôi thêm một cái nhìn nữa vào đôi chân thon dài. Nàng mỉm cười khi cánh cửa xe hơi đóng lại sau lưng.
Anh kế toán rảo bước vòng sang bên ghế tài xế, lên xe, rồ chân ga và lái xe đưa nhà vô địch về nhà.


Hết

0
ĐẠI TÁ ỄNH ƯƠNG
 
Ở Anh Quốc có một tòa giáo đường không bao giờ thấy cần phải mở một cuộc vận động lạc quyên trên qui mô toàn quốc.
*
* *
Khi ông Đại tá thức giấc, ông thấy mình bị trói vào một chiếc cọc nơi cuộc phúc kích đã xảy ra. Ông có cảm giác tê dại ở một chân. Điều cuối cùng ông có thể nhớ lại là chiếc lưỡi lê cắm phập vào bắp đùi mình.Tất tật những điều ông biết giờ đây là những con kiến bò lên ống chân trong một cuộc hành quân vô tận tiến về vết thương.
Thà cứ bị bất tỉnh lại tốt hơn, ông nghĩ.
Rồi có ai đó gỡ những nút buộc và ông ngã đập đầu xuống bùn. Sẽ còn tốt  hơn nữa nếu được chết đi, ông kết luận. Ông Đại tá bằng cách nào đó đã quỳ được bằng đầu gối và bò tới cái cọc bên cạnh ông. Bị trói vào đó là một anh hạ sĩ chắc đã chết được mấy tiếng đồng hồ. Kiến đang bò vào miệng anh ta. Ông Đại tá xé một miếng vài từ chiếc áo của anh lính, giặt nó trong một vũng nước lớn gần đó và lau rửa vết thương ở chân mình một cách tốt nhất có thể, rồi băng chặt nó lại.
Đó là ngày mười bẩy tháng hai năm 1943, cái ngày sẽ khắc sâu trong tâm trí ông Đại ta suốt quãng đời còn lại.
Cùng buổi sáng ngày hôm đó người Nhật nhận được lệnh: sẽ di chuyển những tù binh quân Đồng minh mới bị bắt vào lúc rạng đông. Rất nhiều người sẽ chết trong cuộc đi bộ này và số  người bị chết trước khi cuộc di chuyển bắt đầu lại còn nhiều hơn. Đại tá Richard Moore quyết định không để mình bị tính vào trong số người đo.
Hai mươi chín ngày sau, một trăm mười bảy trong quân số ban đầu bảy trăm ba mươi hai quân Đồng minh đến được Tonchan. Bất cứ người đàn ông nào trước đó chưa trải qua Roma thì không thể sẵn sàng với một trải nghiệm là Tonchan. Trại tù nhân chiến tranh nằm ở phía bắc, cách thủ đô của Singapore khoảng ba trăm dặm và được canh gác cẩn mật, nó giấu mình trong khu rừng rậm xích đạo sâu thẳm nhất, tù nhân không thể có cơ hội trốn thoát. Bất cứ ai tính chuyện đào tẩu đều không thể hy vọng sống sót trong rừng rậm quá một vài ngày, còn những người bị phát hiện thì số phận ngắn ngủi hơn rất nhiều.
Khi ông Đại tá tới nơi, Thiếu tá Sakata, sĩ quan chỉ huy trại tù, thông báo rằng ông là sĩ quan cao cấp và do đó sẽ chịu trách nhiệm về sức khỏe của toàn bộ số tù binh Đồng minh.
Đại tá Moore nhìn xuống viên sĩ quan Nhật. Sakata chắc phải thấp hơn ông đến ba mươi phân, nhưng sau cuộc hành quân hai mươi tám ngày, viên sĩ quan Anh không nặng cân hơn tên Thiếu tá là mấy.
Hành động đầu tiên của Morore sau khi rời văn phòng của viên sĩ quan chỉ huy là tập hợp tất cả các sĩ quan quân Đồng minh lại. Ông nhận thấy có một bộ phận khá lớn lẫn lộn cả người Anh, Australia, New Zealand và Mỹ, thế nhưng có rất ít người khỏe mạnh. Họ đang chết dần mỗi ngày vì bệnh sốt rét, bệnh kết lỵ và đói. Ông bỗng nhiên hiểu ý nghĩa câu thành ngữ “chết như ruồi” là thế nào.
0
Từ các sĩ quan dưới quyền mình, ông Đại tá còn biết được, trong quãng thời gian hai năm trước, tù binh đã được lệnh xây dựng những căn lều bằng tre cho các sĩ quan Nhật trước khi họ được phép xây dựng một bệnh viện dành cho chính những người của họ và chỉ mới gần đây thôi, những túp lều cho chính bản thân họ. Nhiều tù nhân đã chết trong vòng hai năm qua, không phải vì đau ốm mà vì sự tàn bạo thường nhật của một số lính Nhật. Thiếu tá Sakata được biết tới vì đôi cánh tay gày gò của mình, giống như là “đôi đũa”. Tuy vậy, ông ta không phải là một kẻ hung ác. Nhưng người chỉ huy thứ hai của ông ta, Trung úy Takasaki (biệt danh người Nhà Đám), và Trung sĩ Ayut (biệt danh Con Lợn) thì khác hẳn, những người của ông cảnh báo với ông bằng mọi giá hãy tránh xa họ.
Ông Đại chỉ mất có vài ngày để khám phá ra tại sao lại như thế.
Ông quyết định nhiệm vụ đầu tiên của mình là cố gắng nâng cao tinh thần đã bị suy sụp của các tù binh Đồng minh. Vì không có cha tuyên úy nào trong số những sĩ quan bị bắt, ông phải khởi đầu mỗi ngày bằng cách thực hiện một buổi lễ cầu nguyện ngắn. Khi buổi lễ kết thúc những người đàn ông sẽ bắt tay vào làm việc tại đường xe lửa chạy song song với trại tù. Một ngày gian khổ bao gồm việc đặt đường ray cho quân Nhật ra trận được sớm hơn, để đến lượt mình, chúng có thể giết và bắt được thêm nhiều lính quân Đồng minh. Bất cứ tù nhân nào bị nghi ngờ làm đình trệ công việc này đều bị xem là có tội phá hoại và bị giết chết không cần xét xử. Và Trung úy Takasaki coi việc nghỉ năm phút không theo quy định là phá hoại.
Vào bữa ăn trưa, các tù nhân được phép nghỉ hai mươi phút để chia sẻ một bát cơm - thường là lẫn với giòi – và, nếu họ may mắn, thì có được một cốc nước. Dù những người đàn ông quay trở về trại mỗi đêm  đã kiệt sức, ông Đại tá vẫn lo lắng tổ chức cho các đội phải làm vệ sinh sạch sẽ cho các túp lều và nhà xí của họ.
Chỉ sau có vài tháng, ông Đại tá đã có thể tổ chức một trận đá bóng giữa đội Anh và đội Mỹ, và tiếp sau thành công đó, ông thậm chí còn lập nên một liên đoàn trại tù. Nhưng ông còn vui sướng hơn khi có những anh chàng đến tham dự những bài học Karate do hạ sĩ Hawke hướng dẫn. Đó là một người Australia cao lớn, có đai đen, tính tình chu đáo, cẩn thận và anh ta cũng chơi được cả kèn harmonica. Cái vật dụng nhỏ bé đó vấn sống sót sau cuộc hành quân xuyên qua những khu rừng rậm, nhưng mỗi người đều cho rằng nó sẽ sớm bị phát hiện và bị tịch thu.
Mỗi ngày Moore lại hồi sinh quyết tâm của ông không cho người Nhật một giây phút nào tin rằng quân Đồng minh sẽ bị đánh bại – bất chấp thực tế là trong khi ở Tonchan, ông đã sụt mất mười kilo nữa, và mất đi ít nhất một người dưới quyền chỉ huy của ông mỗi ngày.
Những việc làm của ông Đại tá làm viên chỉ huy trại tù ngạc nhiên, bởi vì theo truyền thống của người Nhật, bất cứ người lính nào để mình bị bắt sống, đều phải bị đối xử như một kẻ đào ngũ, nhưng điều này lại không phải là cản trở quan trọng đối với công việc của ông Đại tá.
“Ông giống như là con Ễnh ương Anh quốc,” Thiếu tá Sakata nói vào một buổi tối khi theo dõi ông Đại tá đẽo thanh xà ngang cột gôn môn cricket từ cây tre. Đó là một trong rất ít dịp mà ông Đại tá nở nụ cười.
0
Những vấn đề thực sự của ông tiếp tục dội xuống từ Trung úy Takasaki và những tên tay sai, những người coi tù nhân quân Đồng minh chỉ là những kẻ phản bội. Takasaki luôn luôn đối xử thận trọng với cá nhân ông Đại tá, nhưng không hề kiềm chế như vậy với các tù nhân khác, và kết quả là những bữa ăn của lính tù Đồng minh thường kết thúc bằng việc khẩu phần đạm bạc của họ bị tịch thu, ăn một báng súng vào bụng, hoặc thậm chí bị trói vào một gốc cây nhiều ngày liền.
Bất cứ khi nào ông Đại tá chính thức đưa ra lời phàn nàn với chỉ huy trại, Thiếu tá Sakata đều lắng nghe một cách cảm thông và thậm chí còn cố gắng gạt bỏ những người phạm tội chính. Giây phút hạnh phúc nhất của Moore tại Tonchan là chứng kiến Anh Nhà Đám và Con Lợn lên tàu đi mặt trận. Không ai cố gắng phá hỏng cuộc ra đi đó. Viên chỉ huy thay thế Trung sĩ Akida và Hạ sĩ Sushi vào chỗ họ. Các tù nhân thân mật gọi họ là “Thịt Lợn Xào Chua Ngọt”. Tuy nhiên, Bộ chỉ huy tối cao Nhật gửi tới một Nhân vật số Hai mới, Trung úy Osawa, người này nhanh chóng được biết đến như là “Con Quỷ” bởi vì hắn hành xử rất tàn bạo và so với hắn Anh Nhà Đám và Con Lợn chỉ như là những tay tổ chức các ngày lễ thánh cho nhà thờ.
Ngày tháng qua đi, sự tôn trọng nhau giữa ông Đại tá và viên chỉ huy Nhật cứ lớn dần. Sakata thậm chí còn thú thật với người tù Anh quốc rằng ông ta đã yêu cầu được ra mặt trận để thực sự được tham chiến. “Và nếu,” ông Thiếu tá nói thêm, “Bộ chỉ huy tối cao thỏa mãn yêu cầu của tôi, sẽ chỉ có hai Sĩ quan không chuyên nghiệp mà tôi mong muốn đi cùng với tôi.”
Đại tá Moore biết viên Thiếu tá nghĩ đến Thịt Lợn Xào Chua Ngọt, và ông thấy sợ cho những người lính của mình, nếu ba người Nhật duy nhất mà ông có thể làm việc, sẽ ra mặt trận và để Trung úy Osawa chỉ huy trại tù.
*
* *
 
0
Đại tá Moore đoán chắc có một điều cực kỳ hệ trọng đã xảy ra khiến Thiếu tá Sakata phải đích thân đến căn lều của ông, bởi vì ông ta chưa làm vậy bao giờ. ông Đại tá đặt bát cơm của mình xuống bàn và bảo ba viên sĩ quan quân Đồng minh, những người đang chia sẻ bữa ăn sáng cùng ông, ra chờ bên ngoài.
Viên Thiếu tá đứng nghhiêm và giơ tay chào.
Ông Đại tá đứng thẳng người lên hết tầm một mét tám mươi, đáp lại và nhìn chăm chăm xuống đôi mắt của Sakata.
“Chiến tranh đã kết thúc,” viên sĩ quan Nhật nói. Trong một thoáng, Moore lo sợ điều tệ hại nhất. “Nước Nhật đã đầu hàng vô điều kiện. Ngài, thưa ngài,” Sakata nói khẽ khàng, “giờ đây nắm quyền chỉ huy trại tù.”
Ông Đại tá lập tức ra lệnh bắt giữ tất cả các sĩ quan Nhật trong khu vực của viên chỉ huy trại. Trong khi các mẹnh lệnh của ông đang được thực hiện, bản thân ông trực tiếp đi truy tìm Con Quỷ. Moore đi ngang qua sân tập của lính và hướng về phía khu vực của sĩ quan, xác định căn lều của tên sĩ quan chỉ huy số Hai. Ông bước lên các bậc thang vafmowr tung cánh cửa phòng Osawa. Một cảnh tượng đập vào mắt vị chỉ huy mới khiến ông sẽ không bao giờ quên. Đại tá đã đọc về nghi lễ hara-kiri nhưng thực sự không biết những động tác cuối cùng là gì. Trung úy Osawa chắc đã tự chém mình một trăm nhát trước khi chết. Máu me, mui hôi thối tanh tưởi và cảnh tượng của thân hình bị băm vằm sau đó làm cho một binh sĩ Nepal phát ốm. Chỉ có cái đầu còn lại ở đó để khẳng định những cái còn lại đã từng thuộc về một con người.
Đại tá ra lệnh chôn cất Osawa bên ngoài cánh cổng của trại tù.


*
* *


Sự đầu hàng của Nhật Bản được đánh dấu bằng việc ký kết trên boong tàu chiến Mỹ US Missouri trong vịnh Tokyo. Tất cả mọi người trong trại tù binh chiến tranh lắng nghe buổi tường thuật lễ ký kết từ chiếc đài phát thanh duy nhất cảu trại tù. Đại tá Moore lúc này yêu cầu một cuộc tổng diễu hành trên sân trại tù. Lần đầu tiên sau hai năm rưỡi ông mặc lại bộ quân phục, nó làm ông trông giống như một diễn viên kịch câm lưu động đã tình cờ hiện diện trong một bữa tiệc sang trọng. Đại tá, đại diện cho quân Đồng minh, nhận lá cờ đầu hàng của Nhật Bản từ tay Thiếu tá Sakata, rồi buộc những kẻ thua trận phải kéo những lá cờ Mỹ và cờ Anh trong tiếng nhạc của cả hai bài hát quốc ca được Trung sĩ Hawke lần lượt chơi bằng chiếc kèn harmonica.
Sau đó Đại tá tổ chức một buổi lễ Tạ ơn ngắn với sự có mặt của tất cả những người lính quân Đồng minh và Nhật Bản.


*
* *


0
Khi quyền chỉ huy đã được trao, tuần nọ nối tiếp tuần kia vô nghĩa, Đại tá Moore chờ đợi lệnh trên cho phép ông trở về nhà. Nhiều người trong số lính dưới quyền ông đã nhận được lệnh khỏi hành chuyến đi mười ngàn dặm trở về nước Anh qua Bangkok và Calcuta, thế nhưng không hề có mệnh lệnh nào như vậy cho Đại tá và ông cứ thế đợi chờ nhận giấy tờ hồi hương trong vô vọng.
Thế rồi, tháng giêng năm 1946, một sĩ quan trẻ của Binh đoàn Cận vệ đến trại tù với lệnh gặp ông Đại tá. Anh ta được đưa đến văn phòng của chỉ huy và giơ tay chào trước khi bắt tay. Richard Moore nhìn chằm chặp anh đại úy trẻ, người mà xét theo nước da khỏe mạnh, rõ ràng là đã đến vùng Viễn Đông khá lâu sau khi người Nhật đầu hàng. Anh Đại úy đưa cho ông Đại tá một bức thư.
“Rốt cuộc thì cũng được về nhà,” người lớn tuổi hơn thốt lên hớn hở, nhưng sau khi xé bì thư, ông được biết là sẽ phải mấts nhiều năm  nữa ông mới hy vọng được đổi những mảnh ruộng nho nhỏ của Tonchan lấy những cánh đồng xanh ở quân Lincohnshire.
Bức thư yêu cầu ông Đại tá đi Tokyo và đại diện cho Anh quốc trong Tòa án chiến tranh sắp tới, diễn ra ở thủ đô nước Nhật. Đại úy Ross từ Binh đoàn Coldstream Guards sẽ tiếp nhận quyền chỉ huy của ông ở  Tonchan.


*
* *


Tòa án này bao gồm mười hai sĩ quan dưới sự chủ tọa của Tướng Matthew Tomkins. Đại tá Moore sẽ là người đại diện duy nhất của nước Anh và sẽ báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng, “ngay khi nào anh thấy phù hợp”. Những chi tiết cụ thể sẽ được cung cấp cho ông khi nào ông tới Tokyo. Bức thư kết thúc: “Nếu vì bất cứ lý do nào anh cần đến sự giúp đỡ của tôi trong những suy tính, cân nhắc của mình, đừng ngại tiếp xúc trực tiếp với tôi.” Tiếp đến là chữ ký của Clement Attlee.
Các sĩ quan quân đội không có thói quen bất tuân mệnh lệnh của Thủ tướng, thế nên ông Đại tá đành cam chịu ở lại Nhật Bản một thời gian nữa.
Phải mất mấy tháng để thành lập tòa án và trong quãng thời gian này, Đại tá Moore tiếp tục giám sát các binh sĩ Anh trở về quê hương bản quán. Công việc giấy tờ vô tận và một vài người dưới quyền chỉ huy của ông yếu đuối bạc nhược đến mức ông thấy cần thiết phải bồi dưỡng cho họ về tinh thần cũng như thể chất trước khi có thể đưa họ lên tàu trở về quê hương. Một số người đã chết từ rất lâu trước khi tuyên bố đầu hàng được phê chuẩn.
Trong thời gian chờ đợi này, Đại tá Moorr sử dụng Thiếu tá Sakata và hai sĩ quan không chuyên nghiệp, những người mà ông đã đặt rất nhiều tin tưởng, Trung sĩ Akida và Hạ sĩ Sushi, là sĩ quan liên lạc của ông. Quyền chỉ huy bỗng nhiên thay đổi không làm ảnh hưởng đến mối quan hệ của hai viên sĩ quan cao cấp, cho dù Sakata thú nhận với Đại tá rằng ông ta mong muốn mình đã bị giết chết trong cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc để không còn phải chứng kiến sự nhục nhã của đất nước mình. Đại tá thấy những người Nhật vẫn giữ được tính kỷ luật cao trong khi chờ biết về số phận của mình, và hầu hết trong số họ cho rằng cái chết là hậu quả tự nhiên của việc thất trận.


*
* *


0
Tòa án chiến tranh họp phiên toàn thể tại Tokyo vào ngày mười chín tháng tư năm 1946. Tướng Tomkins tiếp quản tầng năm của Tòa án Đế chế trong khu Ginza của thành phố Tokyo. Đó là một trong số rất ít những tòa nhà còn lại nguyên vẹn, thoát khỏi sự phá hoại sau cuộc chiến. Tomkins là một người mập lùn, nóng tính, được các quân nhân dưới quyền miêu tả như một “Anh cạo giấy từ Lầu Năm Góc”, tới Tokyo chỉ một tuần trước khi ông ta bắt đầu cuộc bàn bạc kỹ lưỡng đầu tiên. Những tiếng lách cách, lách cách dồn dập là những âm thanh duy nhất mà vị Tướng này được nghe – những sĩ quan dưới quyền ông ta thừa nhận với Đại tá Moore – vọng đến từ chiếc máy chữ trong văn phòng của người thư ký của ông ta. Tuy nhiên, khi động đến những người bị đem ra xét xử thì viên Tướng lại không nghi ngờ gì về tội ác nằm ở đâu và người có tội phải bị trừng phạt ra làm sao.
“Cứ treo cổ từng thằng con hoang da vàng, ti hi mắt lươn cho tôi,” Là một trong những câu nói cửa miệng của Tomkins.
Ngồi quanh chiếc bàn trong gian phòng xử án cổ kính, hội đồng xét xử gồm mười hai người, đưa ra những thảo luận kỹ lưỡng. Điều đã rõ ràng từ phiên họp đầu tiên là ông Tướng không có ý định xem xét “những tình tiết giảm nhẹ hình phạt”, “lý lịch trong quá khứ” hay là “những nền tảng nhân đạo”. Khi Đại tá lắng nghe những quan điểm của Tomkins, ông bắt đầu lo sợ cho cuộc sống của bất cứ người vô tội nào, thành viên của các lực lượng vũ trang, được đem ra đặt trước mặt viên Tướng.
Đại tá nhanh chóng nhận ra bốn người Mỹ trong tòa án, những người giống như ông, không phải lúc nào cũng nhất trí với những phán xử ào ào của viên Tướng. Hai người là luật sư và hai người kia, thời gian gần đây đã từng nhận những nhiệm vụ chiến đấu trực tiếp. Năm người bắt đầu làm việc chung với nhau để kháng nghị lại những quyết định mang tính thành kiến nhất của viên Tướng. Trong mấy tuần lễ sau, họ đã có thể thuyết phục được một hai người khác quanh bàn cùng làm giảm hình phát treo cổ thành tù chung thân cho mấy người Nhật, những người này đã bị kết án với tội ác mà họ có lẽ đã không phạm phải.
Khi mỗi vụ án như thế được đem ra thảo luận, viên Tướng Tomkins cho năm người thấy rõ sự khinh rẻ của ông ta đối với quan điểm của họ. “Đéo mẹ mấy gã thông cảm với bọn Nhật lùn,” Ông ta thường bảo, và không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng. Khi viên Tướng vẫn còn nắm quyền chỉ huy nhóm xét xử mười hai người, thì những thành công của Đại tá là rất ít.
0
Đến khi quyết định số phận của những người chỉ huy trại Tù binh Chiến tranh ở Tonchan, viên Tướng yêu cầu treo cổ tập thể tất cả các sĩ quan Nhật có liên quan, thậm chí không cần đến một sự giả bộ xét xử công bằng. Ông ta không hề tỏ ra ngạc nhiên khi năm thành viên xét xử, như thường lệ đưa ra tiếng nói phản kháng của họ. Đại tá Moore phát biểu rất mạnh mẽ về việc bản thân đã là tù nhân ở Tonchan và xin bào chữa cho Thiếu tá Sakata, Trung sĩ Akida và Hạ sĩ Sushi. Ông cố gẳng giải thích tại sao việc treo cổ họ, về bản chất của chính hành động đó, thì cũng man rợ như bất cứ sự tàn bạo nào mà người Nhật đã thực hiện. Ông kiên quyết đòi bản án của họ nên được giảm hình phạt xuống thành tù chung thân. Viên Tướng ngáp ngắn ngáp dài trong lúc ông Đại tá nói. Và khi kết thúc, ông không hề nỗ lực chứng minh mình đúng, mà chỉ đơn giản kêu gọi hãy bỏ phiếu. Với sự kinh ngạc của viên Tướng, kết quả là sáu đều; một luật sư người Mỹ, trước đó đã theo phía viên Tướng, giơ tay lên nhập với năm người của Đại tá. Không chần chừ, viên Tướng đưa ra lá phiếu quyết định của mình, ủng hộ giá treo cổ. Tomkins liếc xéo Moore qua bàn và nói, “Tôi nghĩ, đã tới giờ ăn trưa, thưa quý vị. Tôi không biết các vị thế nào, chứ còn tôi thì sắp chết đói rồi đây. Và không ai có thể nói rằng lần này chúng ta đã không cho mấy gã con hoang da vàng bé xíu một phiên tòa công bằng nhé.”
Đại tá Moore đứng lên, không đưa ra ý kiến gì, rời khỏi văn phòng.
Ông chạy xuống cầu thang Tòa án và lệnh cho anh lái xe chở ông đến Đại bản doanh Quân đội Anh tại trung tâm thành phố càng nhanh càng tốt. Đoạn đường thì gần nhưng họ đi mất khá thời gian bởi vì các vụ đánh lộn, các nhóm người luôn xúm xít, tụ tập trên các đường phố ngày cũng như đêm. Khi Đại tá tới được văn phòng cuarm ình, ông nhờ người thư ký đăng ký một cuộc gọi về nước Anh. Trong lúc cô thư ký đang thực hiện mệnh lệnh của ông, More đến bên chiếc tủ xanh lá cây và lật tìm qua mấy tập hồ sơ, cho đến khi ông lấy được tập hồ sơ đề “Cá nhân”. Ông mở nó ra và nhặt ra một bức thư. Ông muốn chắc chắn rằng ông đã nhớ chính xác cái câu nói đó…
“Nếu vì bất kỳ một lý do nào mà anh cần sự giúp đỡ của tôi trong những việc suy xét, cân nhắc, đừng ngại liên lạc trực tiếp với tôi.”
“Ông ấy đang đi đến bên điện thoại, thưa ngài,” cô thư ký lo lắng nói. Đại tá bước tới bên điện thoại và chờ đợi. Ông tự thấy mình đứng nghiêm chào khi nghe thấy giọng nói nhẹ nhàng, rất học thức, “Có phải ông đấy không, Đại tá” Richard Mooore mất chưa tới mười phút để giải thích vấn đề ông đang gặp phải và nhận được quyền lực mà ông cần.
Ngay khi kết thúc cuộc nói chuyện, ông quay trở lại hành dinh tòa án. Ông bước thẳng vào phòng họp ngay lúc Tướng Tomkins đang sửa soạn ngồi xuống ghế để bắt đầu tiến trình làm việc buổi chiều.
0
Đại tá là người đầu tiên đứng lên khi viên Tướng tuyên bố phiên tòa bắt đầu làm việc. “Tôi tự hỏi liệu tôi có được phép mở đầu bằng một lời phát biểu?” Ông đề nghị.
“Cứ tự nhiên,” Tomkins nói. “Nhưng mà ngắn gọn thôi. Chúng ta còn vô số những gã Nhật để mà làm việc đấy.”
Đại tá Moore nhìn quanh bàn vào mười một người kia.
“Thưa các vị,” ông bắt đầu. “Tôi xin từ chức với tư cách là người đại diện của Anh Quốc trong ủy ban này.”
Tướng Tomkins không kiềm chế một nụ cười.
“Tôi làm việc này,” Đại tá tiếp tục nói, “một cách miễn cưỡng, nhưng đã được sự ủng hộ của Thủ tướng của chúng tôi, tôi vừa nói chuyện với ông ấy cách đây mấy phút.” Đến đoạn thông tin này thì nụ cười của Tomkins được thay thế bằng cái nhăn mặt. “Tôi sẽ trở về nước Anh để tường trình một bản báo cáo đầy đủ cho ông Attlee và Nội các Anh Quốc về cung cách làm việc mà tòa án này được điều khiển.”
“Này, nghe này, cậu trai,” viên Tướng bắt đầu. “Anh không thể…”
“Tôi có thể, thưa ngài, và tôi sẽ làm vậy. Không giống như ngài, tôi không muốn để cho máu của những người lính vô tội dính trên hai bàn tay tôi trong suốt quãng đời còn lại của mình.”
“Này, nghe này, cậu trai,” viên Tướng lặp lại. “Chúng ta, ít nhất, hãy nói cho thấu tỏ việc này đã, trước khi cậu có thể làm điều gì mà cậu sẽ hối hận.”
Không có nghỉ giải lao trong thời gian còn lại của ngày hôm đó, và vào chiều tối, hình phạt cho Tiếu tá Sakata, Trung sĩ Akida và hạ sĩ Sushi đã giảm nhẹ thành chung thân.
Sau một tháng, viên Tướng Tomkins được triều hồi về Lầu Năm Góc, thay thế là một lính thủy đánh bộ người Mỹ nổi danh, ông ta đã được khen thưởng trong cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Nhất.
Trong những tuần lễ sau cuộc bổ nhiệm mới, án tử hình đối với hai trăm hai mươi chín tù nhân chiến tranh Nhật Bản đều được thuyên giảm.
Đại tá Moore trở về Lincolnshire vào ngày nười một tháng mười một, năm 1948, biết đủ sự thật của chiến tranh và những thói đạo đức giả của hòa bình.


*
* *


0
«« « 1 2 3 4 » »»