Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

EM PHẢI ĐẾN HARVARD HỌC KINH TẾ (hay CÔ BÉ HARVARD Lưu Diệc Đình) 🔒

93 trả lời, 55.779 lượt xem — Trang 1 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-08-01 13:19:55Ct.Ly>
Sis Ly à!
Cách đây khoảng một năm, một bạn đọc của vnthuquan khi tìm về cuốn sách best seller ở Trung Hoa năm 2001 nhưng diễn đàn chúng ta chưa đánh máy và đưa vào thư viện cuối sách này. Venus thiết nghĩ, cuốn sách này đặc biệt hữu dụng đối với các bậc cha mẹ và các nhà hoạt động trên lĩnh vực giáo dục, đặc biệt thế hệ trẻ Việt Nam rồi sau này sẽ trở thành những bậc cha mẹ có thể tham khảo để nuôi dạy con em mình được tốt hơn. Hiện nay, Venus đã có chút thời gian để có thể nghỉ ngơi thư giãn, venus dành một chút thời gian đó đánh máy lại cuốn sách này phục vụ bạn đọc của diễn đàn. Dưới đây, mỗi một chương sẽ được post trên một paper line để sis Ly có thể dễ dàng đưa vào thư viện. Nếu sis Ly thấy bản đánh máy này của venus đã có ở đâu đó thì xin gửi tin nhắn cho em để em dừng việc post cuốn sách này nghen sis Ly
------------------------
P/s: Sis Ly à, Paper này em dự định viết lời vài lời nhận xét về cuốn EM PHẢI ĐẾN HARVARD HỌC KINH TẾ nhưng để sau khi post nội dung xong thì em sẽ viết nghen sis!
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-25 07:26:25Mục Đồng>
LƯU VỆ HOA – TRƯƠNG HÁN VŨ


EM PHẢI ĐẾN HARVARD HỌC KINH TẾ
 
Những người dịch: Nguyễn Phan Quế                  
Luyện Xuân Thiều
Luyện Xuân Thu
Dịch từ nguyên bản tiếng Hoa
“CÔ BÉ HARVARD Lưu Diệc Đình”
Do Tác gia Xuất bản xã ấn hành 2001
 
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HOÁ THÔNG TIN – HÀ NỘI 2004


7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-25 07:47:28Mục Đồng>
LỜI GIỚI THIỆU

Một giọt mực có thể làm
vạn người suy nghĩ
Một cuốn sách hay có thể thay đổi
số phận biết bao người!
Lord Byron (1878 – 1824)

LÀM MỘT VIỆC “KHÓ HƠN LÊN TRỜI”

Ngày 12 tháng 04 năm 1999, với hàng chữ lớn, tờ “Thương báo Thành Đô” đăng bài “Em phải đến Harvard học kinh tế” làm xôn xao dư luận toàn Trung Quốc, đồng thời qua các phương tiện thông tin đại chúng và mạng Internet, bài báo đã làm nức lòng các bậc cha mẹ đang chăm lo con cái học hành. Tác giả bài viết: Lôi Bình thông báo: Bốn trường Đại học Mỹ nổi tiếng đồng thời sẵn sàng tiếp nhận cô bé Thành Đô, 18 tuổi, Lưu Diệc Đình và đài thọ hoàn toàn tiền học, tiền mua sách vở, tiền ăn ở và tiền sinh hoạt phí mỗi năm khoảng trên 30 nghìn USD. Bốn trường Đại học đó là: Đại học Harvard danh tiếng, Đại học Columbia, Học viện Wellesley, Học viện Mount Holyoke. Ngay học sinh Hoa Kỳ chen chân vào được cũng là một kỳ công, đòi hỏi phải có thực lực, phải được chuẩn bị từ xa hết sức chu đáo. Còn như vào được Trường Đại học Harvard đã được các chuyên gia soạn sách “Hướng dẫn du học” gọi là một việc “khó hơn lên trời”.
Trong thư của Trường Đại học Harvard gửi Lưu Diệc Đình có đoạn viết: “Năm nay có tất cả trên 18 nghìn thí sinh ghi tên, vậy mà nhà trường chỉ có thể tiếp nhận 1.650 sinh viên. Với số lượng thí sinh tài giỏi và đầy tiềm lực như vậy mà chỉ cho phép chọn một số lượng sinh viên tương đối ít, thành thử Ban Chiêu sinh Harvard phải cân nhắc hết sức thận trọng, cốt sao lựa chọn được những em thực sự thông minh, tích cực hoạt động và có nhiều tiềm lực. Ban Chiêu sinh tin rằng, với khả năng nổi trội và năng lực tổng hợp xuất chúng của mình, chắc chắn trong thời gian học ở Đại học Harvard và sau khi tốt nghiệp, em sẽ có những cống hiến quan trọng”.
Ngày 01 tháng 08 năm 1999, Lưu Diệc Đình đã hoàn tất mọi thủ tục lên máy bay sang Hoa Kỳ, bắt đầu một chặng đường phấn đấu mới.

CUỐN SÁCH “CÔNG ĐỨC VÔ LƯỢNG”

Ngay sau khi bài báo “Em phải đến Harvard học kinh tế” được công bố, bà Lưu Vệ Hoa và ông Trương Hân Vũ, ba mẹ của em Lưu Diệc Đình nhận được hàng nghìn các cú điện thoại và hàng vạn bức thư hỏi về cách thức nuôi dạy Lưu Diệc Đình, đồng thời đề nghị cho biết tại sao Trường Đại học Harvard lại coi trọng “khả năng nổi trội và năng lực tổng hợp” đến như vậy. Thậm chí có một Công ty lớn ở Thẩm Quyến còn “fax” cho họ đề nghị sau khi tốt nghiệp, Lưu Diệc Đình sẽ đến Công ty đó làm việc…
Không thể trả lời hết các câu hỏi và những bức thư, bà Lưu Vệ Hoa đã cùng chồng là Trương Hân Vũ viết cuốn sách “Em nhất định sẽ học ở Harvard” mà bạn đang có trong tay, kể tỉ mỉ về quá trình nuôi dạy con của mình, do Tác gia Xuất bản xã ấn hành năm 2001, số lượng in tới 1 triệu 60 nghìn bản, chỉ trong vòng 1 năm tái bản với 32 lần.
Bà Lưu cho biết: “Năm 1980, lúc đang mang thai bé Đình, tôi được người bạn là Hiệu trưởng Khâu tặng một cuốn sách của tác giả Kimura Kyuichi “Giáo dục từ sớm với thiên tài”. Cuốn sách trông giản dị, không có vẻ gì hoa mỹ, thậm chí không thấy cả tên người dịch. Có được cuốn sách ấy tôi mừng như bắt được vàng. Hằng ngày mỗi khi đi làm về tôi đều đọc kỹ và nghiền ngẫm những điều viết trong đó tới khuya. Cuốn sách Kimura Kyuichi viết vào năm 1916, trong đó giới thiệu tư tưởng giáo dục cùng những kinh nghiệm nuôi dạy cụ thể thần đồng Carl Witer. Cuốn sách như đã mở mắt cho tôi. Tôi hiểu ra rằng, với chính sách “mỗi gia đình chỉ đẻ một con”, muốn con thành tài ắt phải dạy con bắt đầu ngay từ khi “0 tuổi”, nghĩa là từ lúc chưa có tuổi. Tôi bàn bạc, trao đổi thống nhất với chồng tôi. Chúng tôi quyết định dạy con ngay từ lúc đứa bé vừa cất tiếng chào đời. Và chúng tôi đã làm đúng như thế.
Có thể nói, đối với chúng tôi, đó là cuốn sách “công sức vô lượng”. Và, cho mãi tới giờ, tôi vẫn chưa biết vị hảo tâm nào đã dịch cuốn “Giáo dục từ sớm với thiên tài” từ tiếng Nhật ra tiếng Hán. Tôi chỉ tâm niệm một điều: Mãi mãi hàm ơn người khởi xướng tư tưởng giáo dục từ sớm và những nhà hoạt động thực tiễn đã mở ra con đường thành công đối với các bậc cha mẹ khát khao nuôi dạy con thành tài. Tôi cũng thật không ngờ, chính nhờ sự truyền bá tư tưởng giáo dục được nêu trong cuốn sách còn lại duy nhất một bản, trưng bày tại phòng các kỷ vật quý hiếm của Thư viện Trường Đại học Harvard cuối cùng lại dẫn đứa con chúng tôi, Lưu Diệc Đình, đến với Harvard.

TẠI SAO BẮT ĐẦU TỪ MỐC “SỐ 0”

Người ta đã chứng minh được rằng, nếu trong thời kỳ nhất định, ta cho ong thợ ăn một loại thức ăn nhất định, thì con ong đó sẽ biến thành ong chúa. Nhưng nếu bỏ qua giai đoạn cần thiết đó thì cho dù có nuôi con ong kia bao nhiêu lâu và cũng bằng đúng loại thức ăn ấy chăng nữa nó cũng không sao trở thành ong chúa được. Chó rừng ngay từ lúc nhỏ đã có khả năng bới đất giấu thức ăn còn thừa, nhưng đúng vào thời gian ấy, nếu ta nhốt chó rừng vào căn phòng nền tráng ximăng thì chỉ một thời gian sau đó, chó rừng mất đi khả năng bới đất giấu thức ăn.
Với đứa trẻ, sự việc xảy ra cũng hệt như vậy.
Người ta cứ tưởng là bắt đầu dạy con càng muộn càng tốt, vì nó sẽ được chuẩn bị chu đáo hơn.
Nhưng không phải thế! Có những giai đoạn hết sức quan trọng và đặc biệt nhạy cảm đối với mỗi hình thức nuôi dạy, như thế bị bỏ qua sẽ không bao giờ bù đắp lại được.
Nếu như đứa trẻ lên ba mới bập bẹ biết nói thì tưởng như chuyện đó chẳng có gì “nguy hiểm” cả. Rồi sau này bé sẽ nói sõi thôi. Song người ta thấy rằng việc học nói của em sẽ lâu hơn, khó khăn hơn và cái chính là nó không có tác dụng phát triển trí thông minh như khi biết nói đúng độ tuổi.
Carl Witer bố đã linh cảm đợc điều đó và về sau Kimura Kyuichi, Lưu Vệ Hoa tiếp bước phát huy. Thì ra trong thế giới trẻ em phổ biến “Quy tắc tiềm năng giảm dần”. Điểm này về sau đã được khoa sinh tâm lý học chứng thực. Ví dụ, một em bé sinh ra có 100 phần tiềm năng, nếu như bắt đầu ngay từ 0 tuổi, ta nuôi dạy hết sức chu đáo, thì sau này em sẽ trở thành người có 100 phần năng lực. Nếu như đến 5 tuổi mới bắt đầu dạy dỗ thì cho dù có dạy dỗ xuất sắc đến đâu cũng chỉ đạt khoảng 80 phần năng lực. Nhưng nếu lại để đến 10 tuổi mới bắt đầu dạy dỗ thì lúc này chỉ đạt khoảng 60 phần năng lực. Do vậy, vào đúng thời kỳ phát triển, nếu như tiềm năng của trẻ không được khêu gợi, nuôi dạy bồi dưỡng thì dần dần cạn kiệt, mai một. Và đây chính là lý do phải bắt đầu dạy trẻ từ mốc “số 0”.
Có điều ở đầu thế kỷ XIX, người ta không hiểu được điều đó. Người ta cho Carl Witer con sở dĩ thành thiên tài là do “tư chất” chứ không phải do “giáo dục”…
Rõ ràng, là đối với mỗi loại tiềm năng, chúng ta không được để mất thời cơ, phải ra sức tạo cơ hội cho chúng phát triển, chắc chắn rồi cũng như Carl Winter bố, như Kimura Kyuichi, Lưu Vệ Hoa… Chúng ta sẽ nuôi dạy con thành những nhân tài trí việt siêu quần!
Cuốn “Em nhất định sẽ học ở Harvard” cung cấp cho chúng ta một ví dụ sinh động về con đường giáo dục các “thần đồng”. Cuốn sách đã tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc giáo dục của Carl Winter “Đối với sự trưởng thành của con trẻ, vấn đề tối quan trọng là ở giáo dục, chứ không phải ở tư chất. Trẻ em cuối cùng trở thành thiên tài hay người thường, không phải di tư chất thông minh nhiều hay ít quyết định, mà điểm mấu chốt là ở việc giáo dục trẻ từ lúc mới sinh cho tới 5 – 6 tuổi”.
Các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ hãy kịp thời nắm lấy giai đoạn phát triển tối quan trọng này, đừng để nó trôi đi không hình không bóng!
Hãy ra sức làm cho trẻ trở thành chính nó ngay từ mốc “số 0”!
Thế Trường.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-25 17:26:31Mục Đồng>

LỜI MỞ ĐẦU

BỐN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỔI TIẾNG CỦA MỸ ĐỒNG THỜI TUYỂN CHỌN LƯU DIỆC ĐÌNH
(Tự thuật của Lưu Vệ Hoa - Mẹ của Lưu Diệc Đình)

BẢN TIN ĐẶC BIỆT GÂY CHẤN ĐỘNG TOÀN QUỐC

Ngày 12 tháng 04 năm 1999, “Thành Đô thương báo” đã đưa ra hàng tít đặc biệt trên đầu trang nhất: “Em phải đến Harvard học kinh tế”. Phóng viên báo Lôi Bình cho biết: Có 4 trường đại học của Mỹ (trong đó có Đại học Harvard nổi tiếng) cùng một lúc gửi giấy báo trúng tuyển cho Lưu Diệc Đình – cô gái 18 tuổi ở Thành Đô, trong đó có giấy cấp học bổng và sinh hoạt phí lên tới 30 ngàn đô la Mỹ mỗi năm.
Bốn trường đại học của Mỹ đó là: Đại học Harvard, Đại học Columbia, Học viện Wellesley và Học viện Mount Holyoke.
Học viện Wellesley là một học viện nổi tiếng đã từng đào tạo các nhân vật mà không ít người không biết tới như Hillary - cựu phu nhân Tổng thống Mỹ, Albright - cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Tống Mỹ Linh, nhà văn Trung Quốc Băng Tâm … Còn trường Đại học Columbia và Học viện Mount Holyoke cũng đều là những trường đại học hàng đầu thế giới, chế độ tuyển sinh hàng năm rất khắt khe, ngay cả những học sinh Mỹ cũng khó trúng tuyển, còn việc thi đậu vào đại học Harvard đứng đầu thế giới thì lại càng được các học sinh coi là chuyện “khó hơn lên trời”.
Thế mà Lưu Diệc Đình - người còn đang bận rộn căng thẳng cho đợt thi cử, phút chốc được các trường đại học nổi tiếng trên đồng thời gửi giấy báo trúng tuyển và còn giành được học bổng toàn phần! Học bổng toàn phần ám chỉ toàn bộ các chi phí gồm: tiền học phí, tiền sách vở và các chi phí ăn ở. Những khoản tiền này đều được nhà trường đài thọ.
Thông báo trên được tung lên mạng Internet lập tức lan truyền ra toàn quốc, gây nên một chấn động lớn.
- Tân Hoa xã phát thông báo trên toàn cầu.
- Hơn chục phóng viên đua nhau đến phỏng vấn Lưu Diệc Đình và Trường Ngoại ngữ Thành Đô, nơi cô đang ở.
- Báo chí địa phương đua nhau đăng các tin tức liên quan.
- Rất nhiều các thầy, cô giáo các trường trung học, tiểu học giới thiệu về kỳ tích Lưu Diệc Đình cho các học sinh trên lớp.
Những ông bố bà mẹ mong muốn con cái mình thành đạt thì lại càng xúc động, khát vọng giáo dục con cái mình trở thành một Lưu Diệc Đình thứ hai.
 
BỐN BỨC THƯ NHANH ĐƯỢC CHUYỂN TỪ NƯỚC MỸ

Đối với Đình Nhi (Đình Nhi, Đình Đình – tên gọi thân mật của Lưu Diệc Đình), tháng 04 năm 1999 là một thời khắc không bao giờ quên. Trải qua gần bốn tháng trời miệt mài học tập và dốc toàn sức thi vào các trường đại học Mỹ, giờ đã đến thời điểm thông báo kết quả.
Thời gian ra thông báo ở các trường đại học Mỹ rất khác nhau, đối với những học sinh nhập học vào mùa thu thì thời gian gửi giấy báo khoảng từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Đình Nhi chủ yếu làm hồ sơ thi vào các trường đại học và học viên nổi tiếng ở miền Đông nước Mỹ.
Để thống nhất tuyển sinh, tám trường đại học vùng miền Đông nước Mỹ, đã thoả thuận về thông báo trúng tuyển nhất định vào ngày 1 tháng 4. Vì hàng năm đều có những thí sinh đặc biệt ưu tú cùng được nhiều trường tuyển chọn, để tạo lập sự công bằng, các trường đại học có một thoả thuận nghiêm ngặt: đó là để cho các thí sinh cùng một lúc nhận được giấy báo trúng tuyển của các trường.
Những trường đại học này đang là mục tiêu và khát vọng của nhiều người.
Sau khi tiếp xúc với người đại diện của Đại học Harvard, Đình Nhi đã đồng ý đến trung tâm ôn thi để luyện tập. Chúng tôi cứ đếm từng tháng, chỉ mong giải đáp được ba câu hỏi hóc búa:
Đình Đình liệu có trúng tuyển không?
Trúng tuyển vào những trường nào?
Có trúng tuyển vào Đại học Harvard không?

Cửa ải cuối cùng quyết định thí sinh trúng tuyển vào trường đại học này là cuộc bỏ phiếu tập thể của Hội đồng tuyển sinh. Thời gian bỏ phiếu tuyển sinh của Đại học Harvard vào trung tuần tháng 3 hàng năm. Theo quy định, một phút trước khi ban hành thông báo, không ai được biết kết quả.
Thế nhưng Trương Hán Vũ, cha dượng của Đình Nhi, lại có cách khác để suy đoán kết quả - từ khi Đình Nhi sáu tuổi, anh ấy đã trực tiếp giáo dục Đình Nhi, chỉ bảo dẫn dắt trong quá trình trưởng thành của cháu. Dựa vào phương pháp giáo dục gia đình đã áp dụng nhiều năm nay ở trong nước, anh ấy hiểu rất rõ hiểu quả thực tế của nó, vì vậy anh ấy khẳng định rằng Đình Nhi chắc chắn sẽ trúng tuyển vào các trường đại học này. Khi tuyển sinh, các trường đại học này chẳng đã mong muốn có được những học sinh ưu tú hay sao? Anh ấy kiên tâm tin vào sự giáo dục tố chất gia đình mà hơn chục năm qua nhà nước đang theo đuổi. Nền giáo dục ấy đủ để Đình Nhi đạt được tuyêu chuẩn trúng tuyển của đại đa số các trường đại học nổi tiếng trên thế giới.
Có điều, liệu có trúng tuyển vào Đại học Harvard hay không thì anh ấy không chắc chắn lắm. Harvard chính là ngọn tháp cao nhất trong các Kim Tự Tháp.
Với câu hỏi thứ nhất, anh đã dự đoán đúng. Chiều ngày 29 tháng 3, chúng tôi nhận được thư nhanh của Học viện Mount Holyoke, bên trong có giấy báo trúng tuyển và giấy chứng nhận đủ tư cách nhập học gửi cho Đình Nhi, do Phó Chủ nhiệm Văn phòng sự vụ Quốc tế của học viện này ké. Nội dung như sau:
“Em Diệc Đình thân mến!
Em đã được Học viện Mount Holyoke tuyển chọn và trở thành sinh viên mới của trường, nhập học vào tháng 2. Chúc mừng em! Năm học này, tổng số người dự thi vào Học viện là tương đối lớn trong lịch sử Học viện. Có hơn 2430 nữ sinh cạnh tranh nhau để được nằm trong danh sách 500 học sinh trúng tuyển. Bản thân sự thật của việc em trúng tuyển đã chứng minh em là một nữ sinh có tố chất cá nhân rất tốt và có năng lực học tập cao. Tôi cùng với ngài Kerirtow Zeivis, Chủ nhiệm văn phòng và ngài Geon Picad Phó chủ nhiệm văn phòng sự vụ Quốc tế xin chúc mừng em…”.

Đình Nhi đã có một trường đại học “bảo lãnh”. Học viện Mount Holyoke là một trường nữ sinh nổi tiếng vùng miền Đông nước Mỹ. Nhiều năm lại đây nó luôn là một trong những trường nữ sinh hàng đầu của 8 trường đại học miền Đông nước Mỹ.
Buổi tối, khi Đình Nhi trở về nhà, chúng tôi báo tin này cho cháu. Đình Nhi nhảy lên vui mừng, nhưg lại chợt lặng đi. Còn “câu hỏi” quan trọng hơn vẫn chưa có lời giải đáp.
Ngày hôm sau, chúng tôi lại nhận được thư nhanh của Học viện Wellesley, cũng có giấy thông báo trúng tuyển và giấy chứng nhận tư cách học tập gửi cho Đình Nhi:
“Em Diệc Đình thân mến!
Chúc mừng em! Hội đồng tuyển sinh của Học viện Wellesley đã bỏ phiếu tuyển chọn em trở thành học sinh khoá 1999 – 2003 của Học viện. Em là người luôn luôn được ca ngợi, bởi vì với thành tựu trên nhiều mặt của mình, em đã tạo ra sự khác biệt lớn nhất so với những người dự thi trong lịch sử của Học viện Wellesley. Từ sự nghiệp học tập và thành tích cá nhân em, Học viện Wellesley đã coi em là một tiền lệ trong những đối tượng cạnh tranh đua tài hoa và có nhiều năng lực.
Tôi hy vọng vào mùa thu năm nay em có thể gia nhập vào cộng đồng của Học viện Wellesley.
Chủ nhiệm tuyển sinh
Jannit Riwen Lapuly”
Wellesley là một trường nữ sinh hàng đầu của Mỹ, được đến trường này học tập Đình Nhi cuũn đã mãn nguyện lắm rồi. Thế nhưng, Đình Nhi vẫn chưa thông báo tin vui này cho trường biết. Cháu còn muốn đợi, bởi vì mong muốn của cháu là Đại học Harvard. Trong những ngày đó bên tai cháu còn văng vẳng lời của một cựu sinh viên Harvard nói với cháu rằng: “Tôi rất tin tưởng em có thể cống hiến cho Harvard và cho Trung Quốc, tôi hy vọng em sẽ trúng tuyển vào Đại học Harvard”. Vì thế, mặc dù đã có giấy báo trúng tuyển của hai trường khác, nhưng cháu vẫn kiên trì đợi hồi âm từ Harvard. Thế rồi, ngày 5 tháng 4 đã đến. Theo quy định của Đại học Harvard, vào ngày đó trường sẽ mở đường dây điện thoại, hỏi theo yêu cầu, để cho những thí sinh nóng lòng muốn biết tin nhanh kết về kết quả thi, nhưng họ lại yêu cầu được trả lời bằng thẻ tín dụng được chỉ định. Do chúng tôi không có thẻ tín dụng như yêu cầu nên ngài Lasue Timooen - người phụ trách tổ chức giao lưu học sinh Trung - Mỹ đã chủ động đề nghị giúp đỡ chúng tôi. Là một trong những người giới thiệu Đình Nhi, ông cũng rất muốn biết được kết quả ngay.
10 giờ tối, tức là 9 giờ sáng ở miền Đông nước Mỹ, chuông điện thoại nhà tôi vang lên, đó chính là ngài Lasue gọi đến. Sau khi nối thông điện thoại với chúng tôi, ông chuyển tiếp kết nối với điện thoại hỏi đáp của Đại học Harvard. Khi đường dây đã thông, Đình Nhi trực tiếp hỏi vị trực ban của Văn phòng tuyển sinh Harvard, bởi vì Đại học Harvard chỉ trả lời yêu cầu của chính thí sinh.
“Xin hãy nói rõ họ tên và ngày tháng năm sinh”. Một giọng Anh đặc sệt khẩu âm Mỹ vang lên.
Đình Nhi đáp ứng mọi chi tiết yêu cầu. Tiếp theo mà mấy phút bồn chồn không yên, trong ống điện thoại còn nghe rõ tiếng chạy rè rè của máy tính.
“Congratulution!” (Chúc mừng bạn!). Bạn đã trúng tuyển vào Đại học Harvard!”. Người trực ban nhiệt tình trả lời.
Ngay lập tức, toàn bộ gia đình chúng tôi vui mừng hò reo. Chúng tôi đã đợi giờ phút này từ rất lâu, nó là kết quả của con đường giáo dục tố chất mà chúng tôi đã chọn lựa cho Đình Nhi từ hơn chục năm trước và luôn mong đợi được chứng minh, một phần thưởng cao nhất cho tâm huyết của cha mẹ! Đó cũng là phần thưởng xứng đáng cho quá trình hơn chục năm phấn đấu của Đình Nhi! Đầu dây điện thoại phía bên kia ngài Lasue cũng rất xúc động. Ông nhiệt thành chúc mừng cho Đình Nhi, sau đó còn đòi Đình Nhi đưa ống nghe cho cha mẹ. Ông muốn bày tỏ lời chúc mừng cho chúng tôi.
Ngày 7 tháng 4, chúng tôi đồng thời nhận được thư nhanh của Đại học Harvard và Đại học Columbia gửi tới.
 
VÌ SAO ĐẠI HỌC HARVARD LẠI TUYỂN CHỌN DIỆC ĐÌNH?
 
Khi mở hai bức thư nhanh ra, nỗi xúc động của chúng tôi lại chuyển sang sự hiếu kỳ. Cả gia đình chúng tôi xem đi xem lại giấy báo trúng tuyển với niềm vui khôn xiết.
“Em Lưu thân mến!
Tôi rất vui mừng được thông báo cho em, Hội đồng tuyển sinh và cấp xét học bổng của Đại học Harvard đã bỏ phiếu tán thành đưa tên em vào danh sách học sinh khoá học 1999 – 2003. Xin hãy nhận lấy lời chúc mừng của tôi đối với thành viên kiệt xuất của em.
Năm nay, có hơn 18.000 thí sinh đăng ký thi để tranh giành 1650 chỉ tiêu tuyển sinh của trường chúng tôi. Trước số lượng chủ tiêu tuyển chọn tương đối ít mà lượng thí sinh đăng ký thì vào thì nhiều, Hội đồng tuyển sinh Harvard đã phải chọn lựa hết sức kỹ lưỡng để tuyển chọn những người có năng lực cá nhân, sự nghiệp học tập và hoạt động ngoại khoá phi phàm. Hội đồng tin tưởng rằng, với tố chất ưu tú và năng lực tổng hợp xuất chúng của mìnhm em sẽ có những cống hiến quan trọng trong thời gian theo học ở Harvard và sau khi tốt nghiệp ra trường.
Tôi rất hy vọng em sẽ đến Cambridge (đây là địa bàn dừng chân của Đại học Harvard) gia nhập vào đội ngũ chúng tôi!
Chủ tịch
Hội đồng tuyển sinh và cấp xét học bổng
William R. Fitzsimans"
Hình như thấy như vậy vẫn chưa diễn đạt hết tình cảm của mình, vị chủ tịch này còn viết thêm một dòng dưới chữ ký của mình: “Một lần nữa, hy vọng em sẽ gia nhập vào đội ngũ của chúng tôi!”.
Trong thư nhanh của Đại học Harvard còn có một bức thư chúc mừng của nữ sĩ Maro. Vị đại diện tuyển sinh này có lẽ là người sớm vui mừng trước việc Đình Nhi đăng ký vào Harvard. Người sắp xếp cho Đình Nhi nói chuyện với Harvard chính là bà. Đình Nhi được Hội đồng tuyển sinh bỏ phiếu thông qua, khiến bà hết sức vui mừng. Nữ sĩ Maro viết trong thư:
“Diệc Đình thân mến!
Tôi viết thư này bày tỏ chúc mừng đối với việc trúng tuyển của em và những thành tích mà em đã đạt được! Với tư cách là người đại diện tuyển sinh của em, tôi cảm thấy hết sức vui mừng.
Tôi rất kỳ vọng vào em sẽ quyết định đăng ký nhập học vào tháng 9 năm nay. Tôi xin gửi lời cầu chúc chân thành nhất cho mọi thành công trong tương lai của em”.

Trường Đại học Columbia từng được chúng tôi coi trọng nhất, suất tiền học bổng của họ còn cao hơn cả Đại học Harvard, ngay cả kỳ nghỉ cũng không phải làm thêm để lo cho việc ăn học của mình. Giấy báo trúng tuyển của Học viện Columbia thuộc Đại học Columbia viết:
“Em Diệc Đình thân mến!
Xin chúc mừng em! Tôi cùng với ngài Oersden Quigeli và toàn thể thành viên của Hội đồng tuyển sinh vui mừng được thông báo cho em biết rằng, em đã trúng tuyển vào Học viện Columbia, là thành viên của khoá học 1999 – 2003, với trí lực thiên phú và tài năng cá nhân, em sẽ trở thành một bộ phận giàu sức sống trong làng học thuật. Chúng tôi tin tưởng mọi năng lực của em sẽ được phát huy, bồi đắp ở Đại học Columbia.
Do em đã trúng tuyển trong cuộc canh tranh quyết liệt nhất trong lịch sử của Đại học Columbia, em và gia đình em có đầy đủ lý do để tự hào. Năm nay, Học viện Columbia nhận được 13.000 đơn dự thi vào trường với chỉ tiêu tuyển sinh là 955.
Chủ nhiệm tuyển sinh hệ chính quy
Erico. J. Veda”.
Trong bức thư nhanh của Đại học Columbia còn có thông báo trợ cấp học bổng hệ chính quy. Trường sẽ đài thọ toàn bộ tiền học phí, chi phí ăn ở, chi phí sách vở và các phí dụng cần thiết khác trong 4 năm học dưới hình thức học bổng. Tiền trợ cấp của năm đầu tiên khoảng 35.400 đô la.
Có thể nói, từ bỏ bất cứ một trường đại học nào cũng đều khiến chúng tôi vô cùng luyến tiếc. Thế nhưng, còn có trường đại học nào có sức hấp dẫn hơn Đại học Harvard đứng đầu thế giới.
 
LƯU DIỆC ĐÌNH ĐƯỢC GIÁO DỤC NHƯ THẾ NÀO?

Đúng lúc Lưu Diệc Đình còn đang bận trưng cầu ý kiến khắp nơi nên lựa chọn trường đại học nào, mọi người lại bàn luận việc Đại học Harvard coi trọng “Tố chất ưu tú và năng lực tổng hợp” là ám chỉ điều gì? “Tố chất ưu tú và năng lực tổng hợp” của Lưu Diệc Đình được bồi dưỡng như thế nào?
“Thành Đô thương báo” đã mở bốn đường dây điện thoại nóng với Lưu Diệc Đình - đến buổi chiều đã nhận được gần một ngàn cú điện thoại, các ông bố bà mẹ khát vọng con cái mình thành đạt, mong muốn có được “bí quyết” dạy con thành tài từ Lưu Diệc Đình và gia đình chúng tôi.
Thư tín của các độc giả từ khắp đất nước ùn ùn gửi đến.
Có một bà mẹ trẻ hỏi: “Làm sao để giáo dục ngay từ đầu đối với đứa con năm tháng tuổi?".
Có học sinh lớn tuổi thỉnh giáo Đình Nhi làm thế nào để học tốt tiếng Anh.
Có ông bố của một học sinh nhỏ tuổi quan tâm “Làm thế nào để bổ sung những khiếm khuyết của một đứa trẻ?”.
Còn có một giáo viên quân sự đàm đạo với Đình Nhi về kinh tế, văn hoá và nhân sinh.
Một em bé chân thật hỏi: “Vì sao trong con mắt của bố mẹ, chị Diệc Đình chỉ là một con người bình thường?”.
Còn có rất nhiều học sinh trung học muốn trở nên nổi tiếng, muốn được đi du học đã coi Diệc Đình là tấm gương để mình học tập. Họ càng muốn biết kinh nghiệm “tận dụng thời gian như thế nào?”, “Làm thế nào để đi du học?”
Ngay cả một số thanh niên đang bi quan thất vọng cũng coi Lưu Diệc Đình là “động lực để phấn đấu vươn lên”, “ngọn đèn trong đêm tối”…
Một công ty lớn ở Thẩm Quyến thậm chí còn gửi Fax mời Diệc Đình sau khi tốt nghiệp về làm việc cho công ty của họ.
Đối với những bức thư đó, Diệc Đình và chúng tôi đều rất muốn trả lời, nhưng do thời gian gấp gáp nên không thể trả lời từng thư một. Chúng tôi chỉ có thể viết một lá thư chung đồng thời trả lợi mọi thức của bạn đọc, bày tỏ lời cảm ơn và xin lỗi chân thành của chúng tôi tới tất cả những người gửi thư.
Thời gian đó, Diệc Đình thực sự rất bận rộn.
Ngoài việc đón tiếp những cuộc viếng thăm liên tiếp, Đình Nhi còn phải lo các loại thủ tục, tranh thủ thời gian học thêm Anh ngữ, đi khách sạn tập sự làm nhân viên phục vụ theo yêu cầu của cha mẹ, học tập cách phục vụ người khác, bởi vì trong thời gian học cao trung, bố mẹ phải thường xuyên phục vụ cháu; ngoài ra, còn phải đọc rất nhiều sách đại học ở Trung Quốc theo kế hoạch, tận dụng mọi khả năng có thể bổ sung tinh hoa văn hoá dân tộc … Đối với những việc khác, Đình Nhi đành phải cáo lỗi, tạ từ những cuộc phỏng vấn của báo chí, truyền hình. Cháu đã nộp tiền đi học lái xe, nhưng do bận rộn quá nên cũng đành gác lại. Đã nhiều tháng ròng, Đình Nhi chỉ được ngủ 4 -5 tiếng mỗi đêm, nay cháu cũng cần phải được ngủ bù.
Ngày 1 tháng 8 năm 1999, cuối cùng Lưu Diệc Đình đã hoàn thành mọi thủ tục, đáp máy bay đi Mỹ, bắt đầu một lịch trình phấn đấu mới trong cuộc đời mình. Trước khi chia tay, cháu ôm chặt lấy bố mẹ: “Con đi rồi, bố mẹ hễ có thời gian là phải viết thư cho con. Bố mẹ cũng khẩn trương viết lại quá trình nuôi dưỡng con, để giúp cho những ông bố bà mẹ và những đứa con khát vọng có được bí quyết thành đạt”.
Đó cũng chính là tâm nguyện của chúng tôi.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-26 19:42:40Mục Đồng>
CHƯƠNG 1

VẬN MAY ĐẾN TRƯỚC KHI SINH
(Tự thuật của Lưu Vệ Hoa)

THỜI GIAN MANG THAI, MẸ CỦA LƯU DIỆC ĐÌNH ĐÃ CÓ ĐƯỢC MỘT CUỐN SÁCH HAY

Là người mẹ sinh dưỡng con, tôi hiểu hơn ai hết rằng, Lưu Diệc Đình có được ngày hôm nay chính là quá trình của luật nhân quả. Nhưng để tất cả những nhân tố này được phát huy tác dụng, chính là do cháu được sinh ra trong thời đại tốt đẹp chưa từng có.

Chính trong “phong trào giải phóng tư tưởng” của công cuộc “cải cách mở cửa”, bố mẹ cháu mới được tiếp xúc với những lý luận và phương pháp giáo dục từ sớm của Âu Mỹ và Nhật Bản và có cơ sở vững chắc để giáo dục Diệc Đình từ sơ sinh đến các thời kỳ phát triển sau này.

Những ai từng trải qua thời kỳ đó hẳn đều biết, trong thời kỳ đầu cải cách mở cửa, nổi lên nhiều tư tưởng và học thuyết mới. Những phần tử trí thức tiến bộ đều rất hăng hái tìm tòi và giới thiệu những tư tưởng mới, phương pháp mới để có thể thúc đấy cuộc cuộc hiện đại hoá đất nước. Trong các trước tác lý luận của nước ngoài, Nhà xuất bản Nhân dân Hà Bắc đã xuất bản cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”. Cuốn sách mỏng manh và ngay cả tên người dịch cũng không có này đã gây hứng thú vô cùng cho hiệu trưởng Khâu, bạn của tôi trong lớp học giáo dục từ sớm của tổ chức Thành Đô năm 1980. Chị ấy hứng thú mua luôn vài cuốn rồi đem tặng cho đám bạn bè đàn em đang muốn sinh con, tôi may mắn cũng có được một cuốn.

Khi đó, chính sách chỉ sinh một con vừa mới bắt đầu thực hiện, tôi và cha Đình Nhi đã trải qua một kế hoạch cẩn thận mang thai cháu. Khi có được cuốn sách này, tôi vừa đang thực hiện kiểm tra thai định kỳ ở bệnh viện. Trước khi kết thúc kiểm tra, bác sĩ Hồng, khoa Sản phụ xoa lên bụng tôi một lớp kem và đặt chiếc ống nghe lên, mở máy, tiếng “tung, tung, tung …” nhanh đều vang lên, giống như tiếng còi tàu hoả chạy từ xa. Bác sĩ Hồng cười nói:
- Đó chính là nhịp tim đập của cháu bé con bạn đấy, mạnh mẽ lắm!

Lần đầu tiên nghe được nhịp đập của Lưu Diệc Đình. Và cũng là lần đầu tiên nghe được lời tán thưởng của người khác đối với con mình. Tôi vừa vui mừng lại vừa đắc ý. Mừng vì thời kỳ thai nghén nghiêm trọng suốt ba tháng chưa ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành thai nhi. Mặc dù cứ và bốn giờ chiều và chín giờ tối hàng ngày tôi đều bị nôn oẹ kịch liệt, nhưng hai bữa cơm buổi trưa và buổi tối tôi đều cố hết sức ăn, có thể ăn được bao nhiêu là cố gắng bấy nhiêu. Bữa sáng duy nhất không bị nôn ói tôi đều duy trì mỗi ngày hai quả trứng gà, đến hơn 10 giờ còn tăng thêm cốc sữa đậu nành … Nói tóm lại, bản thân khi khó chịu cũng phải đáp ứng nhu cầu của thai nhi. Tôi nghĩ, đó là cách nghĩ của tất cả những bà mẹ chỉ sinh một con. Hiện thực chỉ được sinh một con đã khiến lời kêu gọi nuôi dạy con tốt của Chính phủ biến thành nguyện vọng tự phát của cả thế hệ chúng tôi.

Trước khi có được cuốn sách “thiên tài và sự giáo dục từ sớm”, tôi đã được xem qua mấy cuốn sách khoa học nuôi dưỡng trẻ nhỏ, chuẩn bị đầy đủ về ý thức làm thế nào cho trẻ khoẻ mạnh. Nhưng làm sao nuôi dưỡng trẻ trở thành người thông minh tài giỏi? Ngoài việc di truyền, tôi chưa tìm ra biện pháp nào khác.

Từ góc độ di truyền, hai bên cha mẹ của Diệc Đình, ông nội Đình Nhi là một cán bộ lão thành có tinh lực dồi dào, đầu óc minh mẫn, trí nhớ rất tốt, ông ngoại Đình Nhi là một “phái hữu” già tài hoa, ý chí kiên cờng. Theo lời ông ngoại, tên ban đầu của ông là Đàm Tế Dân, trong tộc phả có ghi: “Tổ tiên họ Đàm là Thái sử Tư Mã Đàm đời Hán. Sau này do Tư Mã Thiên bị cung hình, bị coi là nỗi đại nhục của gia tộc, để tránh hoạ nhục cho gia tộc nên đã đổi thành họ Đàm.

Sự ghi chép của tộc phả tự nhiên khiến mọi người tự hào, nhưng là một truyền thuyết khó có thể kiểm chứng, như Kporrob đã viết trong cuốn “Con ngỗng của La Mã”: “Cứ coi tổ tiên bạn thật sự là tướng quân, nhưng bạn vẫn chỉ là con ngỗng La Mã”.

Trên thực tế, sự di truyền tốt chỉ là tiềm chất với ý nghĩa sinh học, muốn thành công về mặt ý nghĩa xã hội học, bất cứ ai cũng đều phải nỗ lực sau khi sinh nở.

Trong tâm trạng đó, tôi đã có cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm” do hiệu trưởng Khâu tặng, tôi vô cùng vui mừng và phấn khởi.
 

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-27 16:04:18Mục Đồng>

MỞ RỘNG TẦM NHÌN, TẠO RA “THIÊN TÀI” KHÔNG CHỈ LÀ GIẤC MỘNG
 
Có được cuốn sách ấy, tôi vui mừng như vớ được vàng, hằng ngày mỗi khi rời trụ sở tạp chí, tôi đều đọc nghiền ngẫm cho tới tận đêm khuya. Thành tựu huy hoàng của những người đi trước trong thực hiện giáo dục từ sớm làm tôi mở rộng tầm nhìn. Tư tưởng giáo dục và biện pháp nuôi dưỡng con cái cụ thể của họ lại càng hấp dẫn tôi.

Cuốn sách trước tiên giới thiệu quá trình nuôi dưỡng “thần đồng” Carl Witer. Khi chưa có con, ông đã đề ra biện pháp giáo dục con cái ngay từ khi mới lọt lòng. Theo lời ông, “việc giáo dục đối với con trẻ phải bắt đầu đồng thời với ánh bình minh trí lực của nó”. Ông tin tưởng rằng, với những đứa trẻ bình thường, chỉ cần giáo dục đúng sẽ có thể trở thành người phi thường.

Con của mục sư Witer sinh vào tháng 7 năm 1800, Witer con sinh ra có vẻ ngốc nghếch hơn những đứa trẻ bình thường, xóm giềng đều cho đứa bé mắc chứng đần đồn. Mẹ của Witer con cũng nói: “Việc nuôi dạy đứa con như vẫy sẽ chẳng có ích lợi gì, chỉ thêm tốn tiền của sức lực”. Mục sư Witer tuy cảm thấy buồn, nhưng vẫn không từ bỏ chủ trương của mình. Để con 17 – 18 tuổi vào đại học không bị kém cỏi so với những đứa trẻ khác, ông quyết định vẫn tiến hành thử nghiệm giáo dục thời kỳ đầu như kế hoạch. Không ai có thể ngờ được rằng, kết quả thể nghiệm lại gây kinh ngạc đến như vậy.

Witer 8 – 9 tuổi đã có thể sử dụng sáu ngôn ngữ: Đức, Pháp, Italia, Anh, Latin và Hy Lạp, thông hiểu động vật học, thực vật học, vật lý và hoá học, đặc biệt cậu bé rất giỏi toán học. Năm Witer lên 9 tuổi cậu thi đỗ vào Đại học Leipzig; chưa đầy 14 tuổi, do hoàn thành luận văn toán học nên được trao học vị tiến sĩ triết học, khi 16 tuổi chàng trai trẻ lại giành được học vị tiến sĩ Pháp học của Đại học Berlin; ở 23 tuổi, Witer trở thành nhà Pháp học ưu tú và nghiên cứu về Dante. Witer suốt cuộc đời dạy học, tạ thế ở tuổi 83, trải qua một cuộc đời hạnh phúc, vui sướng và nổi tiếng.

Witer đã đem sự giáo dục Witer trước tuổi 14 viết lại thành cuốn sách “Giáo dục Carl Witer”. Cuốn sách này khi đó chưa được mọi người coi trọng, chỉ còn rất ít bán được lưu hành cho đến ngày nay. Điều thú vị là, trong thư viện Đại học Harvard còn lưu giữ một bản. Nghe nói đó là cuốn sách hiếm duy nhất của nước Mỹ. Thư viện này coi đó là vật quý, và nó được lưu giữ trong phòng lưu trữ vật đặc biệt quý hiếm. Phàm là những ông bố bà mẹ may mắn được đọc cuốn sách này và làm theo phương pháp trong cuốn sách thì đều nuôi dưỡng thành công con cái trở thành cực kỳ ưu tú giống như con của Witer cha.

Đầu thế kỷ này, một giáo sư thần học Mỹ đã đọc cuốn sách này và áp dụng phương pháp của Witer cha để giáo dục cho con cái mình, nuôi dưỡng con trai Bill 13 tuổi và con gái Lina 15 tuổi của mình trở thành sinh viên nhỏ tuổi của Đại học Harvard. Ngoài ra còn có Sedce trở thành sinh viên Đại học Harvard khi 13 tuổi của Werner, tiến sĩ Harvard khi 18 tuổi đều được giáo dục theo phương pháp này. Cha của họ đều đọc cuốn “Giáo dục Carl Witer” và cũng đem quá trình giáo dục thời kỳ đầu đối với con mình viết thành sách.

Kimura Kyuichi - học giả Nhật Bản đầu thế kỷ 20, đã chú ý tới thành tựu và trước tác của họ. Để dân tộc Nhật Bản có nhiều nhân tài, năm 1916, Kimura Kyuichi đã viết cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”, giới thiệu lý luận và phương pháp giáo dục của Witer cha và những người đi theo ông. Học thuyết giáo dục thời kỳ đầu mà cuốn sách này viện dẫn đã tạo nên ảnh hưởng sâu sắc đến tư chất dân tộc Nhật Bản.

Đến nay tôi vẫn chưa biết vị hảo tâm nào đã dịch cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm” ra tiếng Hán. Chỉ biết rằng cần phải cảm tạ người sáng lập và những người đã thực hiện biện pháp giáo dục từ sớm này, mở ra con đường thành công cho những ông bố bà mẹ mong muốn nuôi dưỡng con mình thành tài. Rất nhiều ông bố bà mẹ nuôi dưỡng con theo phương pháp trong sách, tạo ra vô số những thanh niên ưu tú. Tư chất ưu tú của Lưu Diệc Đình khiến nhiều trường học nổi tiếng trên thế giới coi trọng, cũng chính là được giáo dục trên cơ sở cuốn sách này.
Khi đó, tôi cũng không ngờ được rằng, chính tư tưởng giáo dục được truyền bá trong cuốn sách cất giữ ở thư viện Harvard cuối cùng đã đưa Lưu Diệc Đình đến với chính Harvard.
 

NGHIỀN NGẪM PHƯƠNG PHÁP, LẬP CHÍ PHÁT TRIỂN TIỀM NĂNG CỦA CON CÁI
 
Đọc hết cuốn “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”, trong tôi đã nẩy sinh một tâm nguyện mãnh liệt - chỉ cần sinh ra một đứa trẻ trí lực bình thường, nhất định sẽ nuôi dưỡng nó thành ngời có năng lực phi phàm! Vì thế tôi nghiền ngẫm phương pháp nuôi dạy con của Witer cha, nghiền ngẫm tư tưởng giáo dục của ông.

Witer cha cho rằng, khả năng bẩm sinh của những đứa trẻ là khác nhau, có đứa mạnh hơn, có đứa kém hơn. Nhưng sự khác biệt đó là có giới hạn. Giả dụ thiên tài bẩm sinh là 100 phần năng lực thì sự bẩm sinh đần độn từ khi nhỏ chỉ khoảng dưới 10 phần, còn khả năng bẩm sinh của trẻ bình thường khoảng 50 phần. Nếu như tất cả những đứa trẻ đều được giáo dục như nhau, vận mệnh của chúng phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh nhiều hay ít. Thế nhưng tất cả những đứa trẻ đều được áp dụng sự giáo dục không có hiệu quả, cho nên chúng đã không thể phát huy được ngay cả một nửa khả năng bẩm sinh của chúng. Ví dụ khả năng bẩm sinh là 80 phần thì chỉ có thể phát huy được 40 phần, khả năng bẩm sinh là 60 phần thì chỉ có thể phát huy được 30 phần. Nếu cha mẹ giáo dục một cách có hiệu quả có thể phát huy khả năng bẩm sinh lên 8 – 9 phần, giả sử khả năng bẩm sinh của đứa trẻ là 50 phần, có thể nuôi dưỡng giáo dục nó vượt qua đứa trẻ có khả năng phẩm sinh 80 phần. Đương nhiên, nếu như đứa trẻ có khả năng bẩm sinh cũng được áp dụng biện pháp giáo dục tương tự, thì đứa trẻ kia sẽ không thể nào vượt qua được nó. Có điều, những đứa trẻ mới sinh ra đã có khả năng bẩm sinh cao siêu là không nhiều. Khả năng bẩm sinh của đại đa số trẻ em ở khoảng 50 phần - đối với những người có chí thực hiện giáo dục từ sớm thì điều đó cũng là đủ lắm rồi.

Witer cha ý thức được rằng, muốn phát huy khả năng bẩm sinh của đứa con lên 8 – 9 phần, thì phải bắt đầu giáo dục từ sớm. Điều này đã được ngành tâm lý học sinh vật đời sau chứng minh. Vì tiềm năng của đứa trẻ có quy luật giảm dần. Ví dụ nói một đứa trẻ sinh ra đã có tiềm năng 100 phần năng lực, nếu như tiến hành giáo dục một cách lý tưởng đối với nó từ khi lọt lòng, nó sẽ có thể trở thành người có năng lực. Nếu như bắt đầu giáo dục từ 5 tuổi, giả sử có tiến hành giáo dục một cách xuất sắc thì cũng chỉ có được 80 phần năng lực. Nếu như đến 10 tuổi mới bắt đầu giáo dục, thì năng lực chỉ đạt khảng 60 phần.

Căn cứ vào nghiên cứu của các nhà khoa học hiện đại cho thấy, nguyên nhân của quy luật “giảm dần tiềm năng trẻ em” là do: tiềm năng của mỗi động vật đều có thời kỳ phát triển của mình, hơn nữa thời kỳ phát triển này là cố định, bất biến. Bất luận là dạng tiềm năng nào, nếu không cho nó phát triển ở thời kỳ đó thì sẽ không bao giờ có thể phát triển được nữa. Ví dụ, thời kỳ phát triển “năng lực theo mẹ” của gà con là trong khoảng 4 ngày sau khi nở, nếu như trong 4 ngày đầu đó không cho gà con ở bên cạnh mẹ, thì nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ đi theo mẹ nữa. Thời kỳ phát triển “năng lực nhận biết âm thanh của mẹ” đối với gà con là trong khoảng thời gian 8 ngày sau khi sinh. nếu trong khoảng thời gian đó không cho gà con nghe âm thanh gà mẹ thì năng lực đó sẽ vĩnh viễn mất đi. Thời kỳ phát đạt “năng lực giấu thức ăn thừa xuống đất” của chó con cũng có thời hạn nhất định, nếu trong khoảng thời gian đó đem cho con đặt trong một gian phòng không thể giấu thức ăn xuống dưới đất, thì nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được năng lực này. Năng lực của con người chúng ta cũng vậy, tiềm năng trẻ em đáng quý nếu như không có cơ hội phát triển trong thời kỳ đó cũng sẽ bị thui chột. Nói ngược lại, nguyên nhân của việc đào tạo giáo dục thiên tài từ sớm chính là ở chỗ đó.

Con người của thời kỳ đầu thế kỷ 19 lại không hiểu được điều đó, ngoài mấy người thân cận, mọi người đều nói Carl Witer là “thiên tài” bẩm sinh chứ không phải là kết quả của sự giáo dục. Tư tưởng giáo dục của Witer cha cũng không được phổ biến ở nước Đức. Tôi nghĩ, thuyết pháp “bẩm sinh quan trọng hơn giáo dục”có lợi hơn người lớn - vừa có thể tự an ủi mình lại vừa có thể trốn tránh trách nhiệm. Nhưng nếu như Witer cha cũng nghĩ như thế, ông sẽ không thể nuôi dưỡng được đứa con ưu tú như vậy.

Việc đọc sách và suy ngẫm thời kỳ mang thai đã khiến tôi nhận thức sâu sắc rằng: ngoài việc nuôi dưỡng một cách khoa học trong cuộc sống, điều quan trọng nhất trong nuôi dưỡng trẻ là phải tránh hiện tượng “mai một dần tiềm năng của trẻ”, đối với mỗi dạng tiềm năng của trẻ đều phải kịp thời tạo cơ hội phát triển cho nó. Điều quan trọng hơn là, bố mẹ phải có tinh thầnh trách nhiệm cao, kiên trì thực hiện không mệt mỏi. May mà tôi và cha của Diệc Đình đều cùng chung một quan điểm, anh ấy cũng muốn dùng phương pháp của Witer cha để nuôi dưỡng con gái mình trở thành người có trí lực siêu phàm.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-27 16:08:07Mục Đồng>
CHƯƠNG HAI
 
GIÁO DỤC TỪ SỚM BẮT ĐẦU TỪ 0 TUỔI
(Tự thuật của Lưu Vệ Hoa)
 
NGAY TỪ KHI MỚI RA ĐỜI, ĐÌNH NHI ĐÃ GẶP BIẾT BAO HOẠN NẠN
 
Hoàn thành xong khâu chuẩn bị tư tưởng, tôi coi mọi cảm giác khó chịu của thời kỳ mang thai như là âm thanh bước đi của đứa con tiến lại phía mình, giống như Witer từng hy vọng, bình tĩnh và hân hoan chờ đón sự ra đời của đứa con. Tôi còn chuẩn bị để khi đứa con được nửa tháng tuổi sẽ bắt đầu giáo dục từ sớm.

Mùa xuân năm 1981, vì mải dọn dẹp căn phòng mới được đơn vị phân cho, tôi mệt quá và chuyển dạ trước 10 ngày. Trải qua 31 giờ đau đớn dữ dội, đứa con đã từ lâu kỳ vọng cuối cùng cũng chào đời. Y tá đỡ đẻ báo cho tôi biết: “Con gái! Nặng ba cân nửa lạng”.

Tôi cố quên hết mệt mỏi mở mắt tìm hình bóng con gái. Vì cháu không khóc được nên các hộ lý đã nắm hai chân cháu kéo lên và vỗ vào mông cháu không ngừng. Cháu mở to đôi mắt đen long lanh nhìn thẳng vào tôi. Khuôn mặt trái xoan, cằm lại còn có ngấn! Da phẳng, hầu như không có chỗ nhăn nheo như một số trẻ sơ sinh khác, trông giống như quả táo tây đỏ trong suốt.

Mặc dù không tin vào thần linh, rằng đây là công lao bồi bổ thời kỳ mang thai của tôi - đứa bé được tích tụ lại bằng trứng gà và hoa quả, tôi vẫn không thể kìm lòng mình liên hồi cảm ơn Thượng đế, cảm ơn Trời Phật đã ban tặng cho tôi một đứa con phát triển bình thường, hơn nữa lại được hấp thụ những ưu điểm của bố mẹ. Tôi chờ đợi được áp dụng phương pháp Witer cha, nuôi con gái mình thành một người có nhân cách kiện toàn, tố chất ưu tú, có khả năng xây dựng cuộc sống lý tưởng.
Thế nhưng, sự tình không thuận lợi như tôi tưởng.

Do nước ối nhiều, thai động mạnh, lúc Đình Nhi ra đời vì nhau thai quấn cổ nên suýt chết ngạt. Các hộ lý vội vàng cấp cứu, tiêm thuốc, thở ô – xy, một hồi lâu mới khóc được thành tiếng, bảo toàn được tính mạng.

Trong lúc vội vàng, cuống nhau của Đình Nhi cắt không được tốt, để một đoạn đường dài, lại không băng cẩn thận nên cuống rốn bình thường 7 ngày là rụng thì nay phải 12 ngày. Sau đó lại bị thấm máu, kéo dài đến 20 ngày mới khô. Trong 20 ngày đó, mỗi lần thay băng rốn cho Đình Nhi chẳng khác nào đánh vật. Đứa con gái đáng thương, vừa đói vừa đau, khóc đến lả cả người.

Cuống rốn đã khô, có thể tắm được, thì cháu lại bị tiêu chảy. Một ngày mười mấy lần, thuốc nào cũng dùng mà vẫn chẳng hề chuyển biến, không tìm ra nguyên nhân. Đầy tháng không lâu đã phải vào bệnh viện, để truyền dịch, đầu tóc của cháu phải cạo nhẵn, nhưng bệnh vẫn không dứt. Bú sữa cũng tháo dạ, uống cũng đi ngoài, hồng cầu liên tục hạ thấp, cháu gầy như con khỉ con.

Cô của cháu nói: “Đình Nhi gặp nhiều hoạn nạn như vậy, nên đổi tên thành Nạn Nạn đi!”.

Người quen của bà nội thậm chí còn nói: “Đình Đình bệnh đến vậy, chẳng bằng coi như bỏ, sinh thêm một đứa khác”.

Bà nội trả lời: “Đứa con là cốt nhục của cha mẹ, có thể vứt bỏ được ư?”.

Buổi tối nghe được chuyện đó, tôi khóc rấm rứt và ghi vào nhật ký nuôi con: “Con ơi! Cho dù con không thể trở thành người nổi tiếng, mẹ và cha vẫn mãi yêu con, bảo vệ chăm sóc con…”.

Khi đó, tôi đã khóc không biết bao nhiêu lần vì Đình Nhi! Tôi vừa lo lắng bởi cuống rốn sẽ ảnh hưởng đến tính cách của Đình Nhi, lại lo lắng trong ba tháng đầu nuôi dưỡng không tốt vì bệnh ỉa chảy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển đại não của cháu. Tôi rất muốn để con gái lại được nằm trong bụng mẹ, tất cả đều được làm lại từ đầu, để tránh cái bệnh không tên ngày càng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khoẻ của con.
Cho đến khi cha của Đình Nhi nghe người giới thiệu tìm đến bác sĩ Đông y Vương Tĩnh An (biệt hiệu Vương Nhi Đồng), chúng tôi mới biết, tội phạm của bệnh ỉa chảy liên tục đó chính là do nguồn “sữa béo” vừa đậm đặc vừa lắm chất mỡ của tôi gây ra.

Thực ra khi vào viện, phòng hoá nghiệm đã cho kết quả sữa của tôi “có nhiều chất béo”, nhưng bác sĩ chỉ bảo tôi “vắt sữa ra khử chất béo rồi tiếp tục cho cháu uống”. Vương Nhi Đồng kinh nghiệm đầy mình, vừa nghe bệnh tình đã lập tắc bắt tôi ngừng cho cháu bú sữa mẹ, chuyển sang ăn nước cháo trong một tuần và cắt một thang thuốc bắc trợ giúp kiện tì lợi tiểu. Ngay ngày hôm đó, Đình Nhi đã ngừng tiêu chảy, qua 56 ngày đêm khổ ải, cuối cùng cũng vượt qua được cơn bĩ cực.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-02-28 14:53:47Mục Đồng>

KÍCH THÍCH PHÁT TRIỂN ĐẠI NÃO, TIẾN HÀNH HUẤN LUYỆN TỪ NGŨ QUAN


Mặc dù sinh ra Đình Nhi đã gặp nhiều hoạn nạn, nhưng tôi vẫn không từ bỏ kế hoạch giáo dục sớm đối với cháu. Thế nhưng vấn đề đặt ra là phải bắt tay vào việc gì mới hiệu quả nhất, nhanh nhất?

Căn cứ vào phương pháp giáo dục con gái của phu nhân Strar – Nhà giáo dục Mỹ, giới thiệu trong cuốn “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”, tôi quyết định bắt đầu huấn luyện ngũ quan (tai, mắt, miệng, mũi, da), kích thích phát triển đại não. Bởi vì, thính giác, thị giác, vị giác, khứu giác, xúc giác là nền tảng sinh lý cảm nhận thế giới bên ngoài, kích thích đầy đủ vào cơ quan cảm giác của đứa trẻ sẽ khiến cơ năng các bộ phận đại não tích cực hoạt động, hình thành nên phản xạ có điều kiện tích cực, điều tiết các công năng của đại não. Nếu như các vùng công năng của đại não đứa trẻ đều được phát huy hiệu năng lớn nhất, đứa trẻ trở thành người thông minh lanh lợi.

Nửa tháng đầu, sau khi sinh Đình Nhi, ngoài việc duy trì đều đặn mỗi ngày ngủ 22 tiếng, tôi còn kiên trì định giờ cho cháu ăn uống khiến giờ sinh học của cháu hình thành quy luật ngay từ đầu. Cho đến khi cháu có thể ăn được cơm, giữa hai bữa tôi vẫn chỉ cho cháu uống nước chứ không cho ăn bất cứ thứ gì, tránh cho dạ dày của cháu không được nghỉ, huyết dịch làm việc nhiều ở bộ phận dạ dày khiến không tập trung lên được đại não. Nhà phát minh Mỹ Edison từng nói, dạ dày làm việc quá nhiều khiến chức năng của đại não bị giảm thiểu. Witer cha cũng cho rằng, nếu chỉ dùng tinh lực của đứa trẻ vào việc tiêu hoá thì đại não sẽ không được phát triển hoàn hảo. Vì thế, ông nghiêm cấm Witer con tuỳ tiện ăn điểm tâm, ăn vặt, nếu có muốn tăng cường dinh dưỡng cho đứa trẻ, thì cũng quy định thời gian ăn thêm cố định. Tôi cũng thực hiện như vậy đối với Đình Nhi.

Khi cuống rốn của Đình Nhi đã khỏi, hằng ngày tôi đều tắm rửa, xoa bóp chân tay và tập thể dục cho cháu, như vậy vừa có thể phát triển xúc giác, lại vừa thúc đẩy tuần hoàn máu và độ nhạy cảm da của cháu. Mỗi lần tập thể dục xong, tôi đều cho Đình Nhi nắm lấy ngón tay tôi luyện tập ngồi dậy, do trẻ sơ sinh tạo ra “phản xạ nắm” tự nhiên, cháu đã dùng lực kéo toàn thân lên như là co xà đơn. Đợi đến khi hai tháng, phản xạ đã hết, cánh tay của cháu đã luyện được một lực tương đối, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huấn luyện cháu tập bò về sau.

Dạng huấn luyện tiềm năng này rất có tác dụng đối với việc tăng cường khả năng tự bảo vệ của Đình Nhi. Từ nhỏ đến lớn, mặt và đầu của Đình Nhi đều không bị tổn thương lần nào. Mỗi khi bị va đập, ngã, tay của cháu đều có lực đỡ phần trên, nhiều lắm cũng chỉ bị sây sát chút da ở cánh tay. Khi cháu được 1 năm 8 tháng tuổi, đã một lần tự cứu mình. Lần đó cháu bò lên chiếc thang cao 2 mét, đột nhiên một chân tuột xuống, tôi đứng phía đối diện với chiếc thang nên không kịp chạy lại, tôi hét lên tuyệt vọng: “Trời ơi!”. Ai ngờ cháu chỉ dùng một tay nắm chặt lấy bậc thang và con cúi đầu cười hi hi với tôi.

Khi huấn luyện ngũ quan, việc đầu tiên tôi làm là huấn luyện khả năng nghe. Bởi vì thính lực của trẻ phát triển sớm hơn thị lực, trẻ nhỏ học ngữ âm, tích luỹ từ vựng, chủ yếu là dựa vào thính giác. Mỗi khi Đình Nhi tỉnh dậy, trước khi cho cháu ăn tôi đều lấy súc sắc nhiều màu lắc trước mặt cháu, kích thích thính giác và thị giác của cháu. Tôi còn từ từ di chuyển súc sắc sang phải sang trái, thu hút sự chú ý của cháu.

Về vị giác, ngoài việc kích thích các đường vị giác của cháu, để tránh tình trạng “ăn bao nhiêu đường cũng không cảm thấy ngọt, ăn bao nhiêu muối cũng không cảm thấy mặn”, mà ăn nhiều đường và nhiều muối đều không tốt cho cơ thể, tôi luôn luôn kiên trì nguyên tắc “thanh đạm”, vừa có thể đảm bảo sự mẫn cảm cảm giác của cháu, lại tránh tạo ra thói quen xấu ăn nhiều đường, muối.

Khi Đình Nhi đầy tháng, nằm trên giường có thể cất đầu dậy, tôi bèn dùng tay đẩy vào bàn chân cháu, luyện tập cho cháu bò. Tiến sĩ Grand Dawmon, viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển tiềm năng trí lực con người của Mỹ nói: “Nếu như chỉ dùng ba từ để nói rõ làm thế nào để phát triển tài năng trí lực của con bạn, thì đó chính là – cho cháu bò”. Vì sao bò lại quan trọng như vậy? Bởi vì, nằm sấp là tư thế hoạt động thích hợp nhất cho trẻ nhỏ, khi đứa trẻ bò, cơ bắp phần cổ của nó sẽ phát triển nhanh, đầu ngẩng được cao, có thể tự do nhìn mọi vật xung quanh, tăng nhiều cơ hội cho các kích thích khác, điều đó sẽ thúc đẩy phát triển đại não, khiễn đứa trẻ thông minh.

Thành quả của việc huấn luyện bắt đầu từ giai đoạn mới sinh là dễ thấy. Chưa đầy 20 ngày, Đình Nhi đã có thể “nhìn quá tầm nhìn theo vạch chuẩn”, sớm hơn 20 ngày so với sự xác định “kiểm tra trí năng trẻ nhỏ của Denver” của quốc tế. Khi 4 tháng tuổi, Đình Nhi đã có thể tự lật người, hai chân vồng lên muốn bò, sớm hơn 2 tháng so với bình thường … Trước khi đầy 6 tuổi, tôi luôn dùng “Bảng kiểm tra trí năng trẻ nhỏ Denver” để kiểm tra tình hình phát triển của Đình Nhi, trong tổng số 105 hạng mục kiểm tra từ 1 – 6 tuổi, Đình Nhi có gần 100 hạng mục phát triển vượt mức bình thường.

Một điều đáng khích lệ là, việc huấn luyện đối với cơ quan cảm giác đã khiến Đình Nhi có được sự nhạy cảm và phản ứng tích cực. Khi được 5 tháng tuổi, tôi bế cháu trước gương và bảo cháu “thơm một cái”, cháu liền há miệnh cúi sát vào ảnh cháu trong gương. Khi tôi cho cháu ngồi trên đùi và nắm tay cháu dạy múa, thời gian cháu tập trung chú ý đến mấy phút (những đứa trẻ cùng lứa tuổi chỉ cần đạt yêu cầu vài giây tập trung mà thôi); lần đầu tiên được tôi bế lên bàn ăn người lớn, một đứa trẻ bình thường lớn hơn cháu vài tháng sẽ không có phản ứng gì trên bàn ăn, nhưng đối với Đình Nhi lại xuất hiện ý thức tham dự mãnh liệt – cháu nhanh nhẹn nhìn theo đôi đũa tôi chọc xuống đĩa rau, khi tôi gắp rau lên, cháu vội vàng há mồm đợi nhưng không ngờ rau lại đi vào miệng tôi, vậy là cháu nhảy lên gào rồi đòi nhào xuống để tự mình làm lấy ăn … Những hành động như vậy đã dự báo một đặc trưng của tính cách tích cực chủ động đang dần hình thành trong cơ thể Đình Nhi.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-04 15:16:53Mục Đồng>

15 NGÀY TUỔI BẮT ĐẦU NHẬP TÂM TỪ VỰNG
 
Căn cứ vào kinh nghiệm của người đi trước, muốn phát triển trí lực nhất định phải dạy ngôn ngữ cho trẻ từ rất sớm. Bởi vì ngôn ngữ là công cụ tiếp nhận tri thức của con người, không có loại công cụ này, đứa trẻ sẽ không có được bất kỳ tri thức nào.

Nếu như đứa trẻ không nắm được ngôn ngữ từ rất sớm thì sự giáo dục khác đều không thể tiến hành được. Vì thế trong những ngày cháu bị đau rốn và ỉa chảy tôi vẫn không quên phải sớm bắt đầu huấn luyện ngôn ngữ.

Thế nhưng, phải bắt đầu huấn luyện vào thời điểm nào mới mang lại hiệu quả? Người giúp tôi trả lời câu hỏi này chính là Ifura - người sáng lập và là Giám đốc danh dự của Công ty điện tử SONY, nhà giáo dục học Nhật Bản đương thời.

Ifura cũng là độc giả trung thành của cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”; ông đã lui về nghỉ sau những thành công trên thương trường, ông nhiệt tình lao vào nghiên cứu vấn đề giáo dục từ sớm. Sau khi phân tích các quá trình giáo dục ngay từ khi vô sinh và thiên tài, ông đã viết một cuốn sách rất có giá trị: “Giáo dục trẻ bắt đầu từ 0 tuổi”. Tuy cuốn sách này cùng với cuốn “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm” mà tôi có được đều bị mất trong quá trình những người bạn tôi mượn xem, nhưng quan điểm và phương pháp cơ bản trong cuốn sách đã đóng vai trò quyết định trong quá trình giáo dục Lưu Diệc Đình; tôi không bao giờ có thể quên được những nội dung cơ bản của nó.

Ngài Ifura cho rằng, đứa trẻ từ khi sinh ra đã tiếp thubị động các loại thông tin, nếu như người lớn có thể lựa chọn truyền tới đứa trẻ những thông tin có ích, sẽ kích thích hiệu quả sự phát triển thần kinh của đại não, điều đó có một ý nghĩa hết sức quan trọng không thể đánh giá hết được đối với việc phát triển tiềm năng trí lực của trẻ. Ifura chủ trương, thời gian truyền đạt thông tin có ích cho trẻ có thể bắt đầu từ ngày 15 tuổi. Thế là, khi Đình Nhi được 15 ngày tuổi, tôi bắt đầu truyền đạt từ vựng cho con gái như ý tưởng của Ifura.

Buổi sớm hôm đó, nhân lúc Đình Nhi tỉnh giấc, tôi lấy ngón trỏ nhẹ nhàng đặt vào lòng bàn tay nhỏ bé của cháu, giống như những đứa trẻ mới sinh được 15 ngày, theo bản năng cháu nắm chặt lấy ngón tay trỏ của tôi. Khi đó, tôi liền dùng lời nói ấm áp nhắc đi nhắc lại từ “ngón tay, ngón tay”.

Những lúc cháu thức, lúc đó tôi nói chuyện với cháu, lúc thì nhẹ nhàng hát cho cháu nghe; những câu hát nhiều nhất vẫn là: “Mẹ yêu con mèo con của mẹ, mèo con kêu như thế nào…”. Khi ánh mắt đang phân tán của cháu dừng lại ở quả bóng bay treo trên giường, tôi cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Bóng bay đỏ …” hoặc “Bóng bay vàng …”. Kể cả khi đang làm việc gì tôi cũng luôn dùng ngữ điệu thân thiết để nói chuyện với cháu, nói chuyện cho cháu hiểu tôi đang làm gì.

Tôi bắt đầu từ những đồ vật trong cuộc sống hằng ngày mà Đình Nhi được tiếp xúc, dạy đi dạy lại tên gọi của các vật đó cho cháu. Khi cháu lớn hơn một chút, tôi liền vừa bế vừa dạy cho cháu nhận biết các đồ dùng trong gia đình; các bộ phận trên cơ thể, các bộ phận của quần áo; các nơi trong phòng; cây cỏ, chim thú ở ngoài sân … Tất cả những vật thật có thể dẫn đến sự chú ý của trẻ nhỏ, cơ bản là nhìn thấy gì nói nấy, hơn nữa còn dạy cho cháu biết cả động từ hành hình dung từ.

Khi nới bắt đầu, ngoài việc chăm chú nhìn và tỏ ra hứng thú, Đình Nhi không biểu hiện ra là có nhớ những từ vựng này hay không. Nhưng tôi vẫn kiên trì nhẫn nại làm như vậy. Tôi hiểu rất rõ rằng, giáo dục ngôn ngữ bắt đầu từ 15 ngày tuổi không nhằm mục đích để bé bắt đầu nói sớm, mà là nhằm truyền đạt những thông tin cho đứa trẻ, cho trẻ sớm bắt đầu tích luỹ từ vựng. Bởi tư duy của con người lấy ngôn ngữ làm vật truyền dẫn, mà vật liệu cơ bản nhất của ngôn ngữ chính là từ vựng. Khi đứa trẻ nắm được từ vựng đạt đến độ nhất định, thì bất luận nó có phát âm được hay không, năng lực nhận thức và năng lực lý giải của nó sẽ đều xuất hiện nhanh chóng. Đợi đến khi hệ thống phát âm của trẻ thành thục, những từ vựng và ngữ cú mà nó đã hiểu, sẽ nhanh chóng bật ra, năng lực biểu đạt của nó vượt xa những đứa trẻ mà đến khi đó mới bắt đầu học tập từ vựng. Những gì mà Lưu Diệc Đình trả qua cũng đều giống như vậy.

Khi Đình Nhi tròn 6 tháng tuổi, tôi và cha của cháu có mua về cho cháu một con hươu (đồ chơi) chạy bằng dây cót. Hai tuần sau tôi đang ạy cháu như bình thường, chỉ vào con hươu nhẹ nhàng nói: “Con hươu, con hươu, con hươu”. Một lát sau, tôi thử kiểm tra cháu: “Con hươu đâu?”. Đình Nhi lập tức quay đầu lại, ánh mắt chiếu thẳng vào con hươu. Tôi kinh ngạc, vui mừng nói với cha cháu: “Nhìn này, nó đã biết nhận ra con hươu rồi đấy!”. Cha cháu lập tức thử lại một lần nữa, Đình Nhi lại một lần nữa dùng ánh mắt để trả lời. Vui mừng quá khiến tôi ôm chặt lấy con hôn lấy hôn để.

Để kiểm tra năng lực lý giải của cháu có thật phát triển nhanh hay không, tôi dùng biện pháp tương tự thử thêm đối với một vài đồ vật, biểu hiện của Đình Nhi đều xuất sắc như vậy. Chúng tôi bỏ công sức nỗ lực trong 6 tháng, cuối cùng chúng tôi đã nhận được “ánh bình minh của trí tuệ” đầu tiên.
 
BÀ NGOẠI ĐẾN GIÚP SỨC, “NGƯỜI TRƯỚC HUẤN LUYỆN, NGƯỜI SAU TIẾP BƯỚC”

Trước khi Đình Nhi đầy 5 tháng tuổi, cháu luôn sống ở nhà bà nội, khi sửa xong gian bếp nhà mình tôi mới chuyển cháu về. Khi đó, Thành Đô vẫn dùng loại than tổ ong chứa hàm lượng lưu huỳnh cao, do cửa thông gió duy nhất của gian bếp chính là gian phòng ở, khi đóng chặt cửa sẽ thấy mùi lưu huỳnh xộc thẳng vào mũi. Đình Nhi sống ở đây được nửa tháng, thường xuyên bị ho khóc dữ dội. Để đảm bảo sức khoẻ của cháu, tôi đành chuyển Đình Nhi đến trường của cha cháu đang dạy.

Trường cách Thành Đô 2 giờ chạy ô tô. Ở đó không khí thoáng đãng trong lành, nhưng tôi chỉ có thể đến đó vào ngày nghỉ hoặc xin nghỉ phép. Trước khi đi, tôi đã lập “thời gian biểu sắp xếp sinh hoạt của Đình Nhi” và “thời gian biểu ăn uống” đưa cho bà của Đình Nhi, thỉnh cầu bà giúp tôi tiếp tục tiến hành giáo dục thời kỳ đầu, và hướng dẫn cho bảo mẫu chăm sóc cho cuộc sống của Đình Nhi.

Bà ngoại của Đình Nhi trước khi nghỉ hưu là lãnh đạo nhà trẻ của một nhà máy lớn, một người giàu lòng yêu thương. Để giúp tôi nuôi dưỡng Đình Nhi, bà đã từ Hồ Bắc chuyển đến Thành Đô. Trước khi bà ngoại tiếp xúc với Đình Nhi, tôi mời bà xem cuốn sách “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm” để thống nhất tư tưởng giáo dục. Điều may mắn là, bà ngoại cũng rất khâm phục phương pháp dạy con của Witer cha, đã nhiệt tình tham gia giáo dục sớm đối với Đình Nhi. Từ lúc Đình Nhi 1 năm 8 tháng tuổi đến trước khi đến sống ở nhà bà ngoại, tôi cũng đã mời cậu Vệ Trung và mợ Đan Lệ xem cuốn “Thiên tài và sự giáo dục từ sớm”, sau đó mới đưa Đình Nhi đến gửi. Họ đều nhiệt tình và nhẫn nại tham gia phát triển tiềm năng trí lực cho Đình Nhi.

Sau khi Đình Nhi trúng tuyển vào Đại học Harvard, có phóng viên khi đến phỏng vấn chúng tôi đã nói: “Các bạn quả là người trước huấn luyện, người sau tiếp bước”.

Trên thực tế, sự đồng thuận trong việc giáo dục Đình Nhi chính là một kinh nghiệm quan trọng trong nuôi dưỡng Đình Nhi của tôi. Ghi nhớ lời của ngài Ifura: “Trẻ em từ 0 -3 tuổi, phương thức tiếp nhận thông tin từ bên ngoài thuộc thời kỳ khuôn mẫu”. Nói một cách khác, trẻ em không giống như người lớn, sau khi phân tích lý giải mới tiếp nhận mà nói chung là ghi nhớ tất cả lại. Việc trong trọng nhất của thời kỳ này là phải lựa chọn những thông tin tốt nhất cho trẻ nhằm kích thích sự phát triển thần kinh đại não, đồng thời hết sức tránh đưa những thông tin xấu vào trong đại não của trẻ. Tôi cho rằng, thông tin xấu nhiều nhất, lớn nhất chính là những tư tưởng giáo dục còn gây tranh cãi giữa mọi người. Những cái khác chưa cần bàn tới, chỉ tính riêng việc trao đổi thời gian để loại bỏ những ảnh hưởng xấu do cách làm sai lầm mang lại đã là tồi tệ, mệt mỏi lắm rồi.

“Người trước huấn luyện, người sau tiếp bước” khiến kế hoạch nuôi dưỡng Đình Nhi của tôi đều không gặp bất cứ trở ngại nào trong gia đình. Như trong lĩnh vực dạy từ vựng cho Đình Nhi, cả gia đình tôi đều nói những lời quy phạm giống như Witer cha đã từng làm, về cơ bản không dùng những “từ hình tượng” mà người lớn thường dùng đối với trẻ em, ví dụ như “quang quác” (thịt gà), “gâu gâu” (con chó), “ừng ực” (uống nước). Bởi vì, ông bà ngoại, cậu mợ của cháu đều hiểu rằng: đối với trẻ nhỏ, thời gian ghi  nhớ “chó”“gâu gâu” đều giống nhau; từ “chó” sớm muộn rồi cũng phải học, còn từ “gâu gâu” chỉ một thời gian ngắn sau là vứt bỏ. Dạy “từ hình tượng” cũng chẳng khác gì việc lãng phí thời gian và tinh lực của trẻ. Có người cảm thấy nói chuyện bằng “từ hình tượng” với trẻ em rất thú vị, nhưng thật ra đó chính là một sự lãng phí lớn, thời gian nói “từ hình tượng” đối với trẻ mà để dành dạy cho những từ vựng chính xác có hơn không.

Yếu tố tích cực trong việc dạy “từ hình tượng” cho trẻ là rõ ràng. Chỉ dạy những ngôn ngữ quy phạm sẽ tránh cho đứa trẻ phải tích tụ những phế vật trong đầu, sẽ thúc đẩy hiệu quả cho sự phát triển năng lực lý giải của trẻ. Khi Đình Nhi 9 tháng tuổi có về nhà bà nội ăn Tết, tôi thử phát ra một chỉ thị cho Đình Nhi: “Đem túi kẹo này cho bà nội!”, nhưng không chỉ bà nội ở đâu. Đó là một thử nghiệm mà đáng lẽ phải áp dụng với đứa trẻ 3 tuổi. Đình Nhi bỗng nhiên cầm lấy gói kẹo, quay người lại trong xe tập đi, lẫm chẫm đẩy xe đến trưcớ bà nội, nâng túi kẹo lên và kêu “A!...” gọi bà nội nhận lấy. Cháu nghe hiểu và vượt qua cuộc thử nghiệm trí lực cho đối tượng gấp nhiều lần tuổi.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-07 17:36:34Mục Đồng>
GIEO HẠT GIỐNG SAY MÊ ĐI DẠO SAU BỮA ĂN

Ifuka coi không khí gia đình cũng là một mặt trong giáo dục. Về mặt này, Đình Nhi chủ yếu được lợi từ bà ngoại.

Bà ngoại là một người nhiệt tình, lương thiện, thành tâm, bà thường xuyên đưa Đình Nhi đi dạo sau bữa ăn, cùng nói chuyện vui đùa với những đứa trẻ lớn tuổi. Bà ngoại đều rất hoà nhã thân thiết với con dâu, bảo mẫu và những người hàng xóm ở trường. Tình cảm tốt đẹp đã ghi dấu vào trong mạng thần kinh của Đình Nhi. Từ nhỏ đến lớn, Đình Nhi đều vui vẻ hoà nhã khi giao lưu với người khác.

Đầu năm 1982, ông ngoại Đình Nhi được minh oan sau 30 năm, từ nông trường cải tạo Sha Dương trở về dạy học ở Đại học Ngạc Tây. Bà ngoại phải rời xa Đình Nhi để trở về Hồ Bắc đoàn tụ với ông ngoại, Đình Nhi lại trở về nhà bà nội.

Khi đó tôi đi làm suốt ngày, phải tạm trú ở nhà tập thể cơ quan, chỉ có thể trở về nhà bà nội cùng chơi với Đình Nhi 2 tiếng bữa tối. Đến 8h 30 phút, Đình Nhi đi ngủ theo giờ quy định, trong 1 -2 tiếng đó, miệng tôi hầu như không lúc nào được nghỉ, không nói chuyện với cháu thì lại hát cho cháu nghe, cho đến khi cháu ngủ say.

Những bài tôi hát cho Đình Nhi nghe đều là những làn điệu ru con nổi tiếng trong và ngoài nước như: “ngủ đi, ngủ đi con, Bopbi thân thiết của mẹ…” của Mozart, hay “Gió ngừng thổi, cây lặng im …” của Trung Quốc, hy vọng trong điều kiện có hạn có thể truyền đạt một số nét chấm phá về âm nhạc cho Đình Nhi.

Ifuka nói: “Cái gọi là giáo dục, không phải là đi học, biết chữ, mà phải bồi dưỡng nhân cách kiện toàn, kích thích niềm hăng say mọi mặt, khiến cho đứa trẻ sẽ có thể thực hiện đầy đủ năng lực tự thân”.

Đối với tôi, mỗi phút được ở bên Đình Nhi thật quý báu, đều tận dụng vào việc kích thích tiềm năng, niềm hăng say (để quan sát hiệu quả giáo dục sớm, tôi kiên trì ghi chép cuốn “Nhật ký nuôi con” ghi lại quá trình cụ thể phát triển trí năng của Đình Nhi).
Hầu như từ 6 – 8 giờ tối mỗi ngày tôi đều được ở bên Đình Nhi, cho đến con ăn hoa quả, còn mình thì ăn cơm, sau đó đưa con đi dạo. Từ nhà đến sân bóng đá, trên đường đi tôi nhìn thấy gì là giảng cái đó, khiến Đình Nhi chú ý có ý thức: cây cao cao, chim bay lượn, cột điện thô kệch, đèn đường, nhà lầu, các loại hoa cỏ, các loại xe cộ, các loại người … Nay Đình Nhi đi ra ngoài đều nhìn cái nọ, cái kia, miệng nói không nghỉ, Tôi cố ý tạo ra một thế giới đồng hoá cho Đình Nhi, đối với cây cối hoa cỏ đều biểu thị yêu mến thân thiết như đối với con người. Nhìn thấy đôi bàn tay nhỏ nhắn của Đình Nhi nhẹ nhàng vỗ vào những cánh hoa xuân bên đường, lại còn cúi gập người dùng trán để thơm chúng; mỗi khi nhìn thấy hoa cỏ, chim muông, Đình Nhi đều hoa chân múa tay mừng reo vui vẻ, tôi lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc, Tôi thực sự cảm ơn hiệu trưởng Khâu - người đã giới thiệu cho tôi phương pháp giáo dục sớm, cảm tạ người đã sáng tạo ra lý thuyết này, tôi còn muốn cảm ơn ông bà ngoại đã cho chúng tôi được sống trong một môi trường tự nhiên tốt như vậy, cảm ơn thiên nhiên, cảm ơn cuộc sống.

Khi bế Đình Nhi chơi trong công viên, tôi không những có thái độ gần gũi đối với cây cối, hoa cỏ, gỗ đá như đối với con người, mà còn bày tỏ sự kính trọng, thân ái đối với những người gặp trên đường. Cụ thể, khi gặp bất kể người có thân phận thế nào, tôi đều dạy Đình Nhi phải “kính chào”, “hoan nghênh”, “tạm biệt”. Nếu như có ai vui vẻ dừng lại đùa vui, khen ngợi, tôi còn dạy Đình Nhi “thăm hỏi sức khoẻ” - bắt tay, “cảm ơn” – khoanh tay cúi chào …

Kết của của sự dạy bảo này là: Đình Nhi từ nhỏ đến lớn đều không bao giờ nhút nhát sợ sệt, ở những chỗ đông người hoặc trong những trường hợp quan trọng, Đình Nhi lại càng phát huy tốt.

Đối với trẻ em chỉ cần bạn dạy bảo, trẻ bất cứ lúc nào cũng đều muốn học, đặc biệt là khi người lớn đưa trẻ đi chơi. Nhưng tiếc rằng mọi người đều chưa nhận thức đầy đủ việc này nên đã lãng phí những thời cơ tốt để phát triển tiềm năng của trẻ nhỏ.

… Mẹ của Phi Phi bên hàng xóm cũng là một người tin theo sự giáo dục từ sớm, chỉ có điều sự “tin theo” ở đây là chưa đầy đủ. Hôm qua chị ấy bế Phi Phi (lớn hơn Đình Nhi nửa tuổi) đứng trước cây cọ, nhưng chị ấy lại không nói chút gì cho con biết. Tôi đành nói với chị ấy: “Chị nên giảng cho Phi Phi đây là cây cọ, có phải hay hơn không!”. Chị ấy cười và giảng hai lần cho cháu bé. Phi Phu bỗng nhiên hưng phấn lên, muốn đến sờ mó vào lá cây cọ. Mẹ bé liền chạy đuổi theo nói: “Không được! Không được! Trên mặt lá cây rất bẩn, có nhiều gai đấy!”. Tôi bỗng nhiên ý thức được rằng, công tử bột chính là do được giáo dục như vậy. Hơn nữa, Phi Phi vừa mới được thả lỏng, một chút hưng phấn không dễ gì tạo nên, nhưng đã nhanh chóng bị dập tắt.

… Khi đứa trẻ học và chơi, thì không nên nghĩ đến chuyện bẩt hay không, chỉ cần tay của trẻ không đưa vào miệng, bụi bẩn không bám vào những chỗ kín là được. Tay bẩn có thể rửa sạch, nhưng niềm tin hứng thú một khi đã bị mất đi sẽ khó lòng lấy lại được.

… Trước khi Đình Nhi được 2 tuổi, tôi cho cháu hoá nghiệm phân định kỳ, không phát hiện triệu chứng giun sán. Có thể thấy, chỉ cần tắm rửa sạch sẽ, tay bị bẩn khi học tập và chơi đùa thì cũng không hề gì.

Điều có ý nghĩa nhất là, phải tranh thủ từng phút từng giây truyền đạt thông tin cho trẻ, kích thích sự hưng phấn cao độ của đứa trẻ với môi trường xung quanh, cho trẻ học tập và phát triển đầy đủ những năng lực liên quan trong thời kỳ tuổi thơ.


HỌC CÀNG NHIỀU, KHẢ NĂNG GHI NHỚ PHÁT TRIỂN CÀNG NHANH
 
Nhà khoa học Nga Tsêcenov đã từng nói: Cội nguồn của mọi trí tuệ đều nằm ở sự ghi nhớ. Căn cứ nguyên lý “dùng mới phế cũ”, giáo dục từ sớm có thể khiến nâng cao thời gian biểu phát triển khả năng ghi nhớ. Đặc biệt là thời kỳ bú sữa, mỗi ngày tái truyền đạt những từ vựng tương đồng, không ngừng kích thích kho từ vựng trong đại não đứa trẻ có thể thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng khả năng ghi nhớ của đứa trẻ.

“Nhận thức sống” là năng lực ghi nhớ xuất hiện đầu tiên ở trẻ sơ sinh. Đình Nhi được hơn 3 tháng tuổi đã bắt đầu nhận thức sống, sớm hơn 6 tháng tuổi so với những đứa trẻ bình thường; có 50% trẻ sơ sinh xuất hiện “ghi nhớ lý giải” ở 10 tháng tuổi, tức là xuất hiện mối quan hệ giữa từ vựng và vật thể, Đình Nhi mới 6 tháng rưỡi đã xuất hiện khả năng này; “năng lực nhận thức vật phẩm đồng loại”, vì bao hàm cả năng lực khái quát (có thể nhận thức những điểm tương đồng của vật phẩm), nên nói chung trẻ sơ sinh từ 1 – 3 tuổi mới dần dần hình thành, với Đình Nhi khi 8 tháng tuổi đã xuất hiện khả năng này. Khi đó, do bị viêm amidan nên Đình Nhi phải vào viện, tỉnh lại khi hết sốt, Đình Nhi đã chỉ vào ngọn đèn điện và cười, dùng ánh mắt biểu thị với tôi: “Đó là đèn điện”. Có thể thấy, trong trò chơi tìm đèn điện mà cháu thường chơi đùa ở nhà đã khiến cháu ghi nhớ; quả cầu bằng thuỷ tinh có thể tắt mở, biết phát sáng chính là “đèn điện”!

Sau khi Đình Nhi ghi nhớ từ “con hươu” đầu tiên, chu kỳ thời gian ghi nhớ từ vựng nói chung đều phải cần mấy ngày. Khi cháu được 1 năm 1 tháng rưỡi, sự phát triển về khả năng ghi nhớ đã cực kỳ nhanh.
Thời gian đó, cơ thể Đình Nhi cũng phát triển nhanh, can – xi và sắt đều không đáp ứng đủ nhu cầu. Hơn 1 tuổi rưỡi mới có hai chiếc răng, thóp mụ bao kín rất chậm, hồng cầu cũng bị hạ xuống. Thiếu can – xi không những ảnh hưởng đến sự phát triển xương cốt của trẻ nhỏ, mà còn khiến bé ngủ không ngon, ảnh hưởng đến sự phát triển đại não. Thiếu sắt thường khiến trẻ nhỏ đau đầu, bần thần, trở ngại trực tiếp đến hoạt động tư duy của trẻ, khiến khả năng ghi nhớ bị giảm thấp. Để cung cấp cơ sở vật chất đầy đủ cho sự phát triển trí lực của Đình Nhi, ngoài việc định kỳ kiểm tra tình hình phát triển của hồng cầu và xương cốt cho cháu, tôi còn bổ sung những khoáng chất cho Đình Nhi từ nguồn thức ăn và nước uống. Khi đó, mỗi ngày tôi còn được ở bên Đình Nhi 2 tiếng sau bữa tối, cho nên việc giáo dục thời kỳ đầu hằng ngày đều được bắt đầu từ đi tiêm thuốc. Sự tiến bộ về trí lực của Đình Nhi phần lớn là được thể hiện trong quá trình đi tiêm này.

… Ngày hôm qua tôi bế Đình Nhi đến bệnh viện để tiêm bổ sung can – xi, trên đường đi tôi phát hiện Đình Nhi chú ý đến một bãi cát bên đường, bèn lập tức thông báo cho cháu: “Đây là bãi cát, là bãi cát”. Sau đó tôi hỏi lại cháu: “Bãi cát đâu?”. Đình Nhi không hề do dự giơ tay chỉ. Khi trở về, trên đường tôi lại luyện tập một lượt.

Ngày hôm sau, tôi bế cháu tiễn cha lên xe về trường. Trên đường về, từ xa Đình Nhi đã chỉ vào bãi cát và hét tướng lên. Tôi có phần chưa tin, sao cháu lại nhớ nhanh như vậy? Thế là tôi hỏi Đình Nhi: “Đó là bãi cát à?”. Thế là Đình Nhi khoa chân múa tay ra sức cúi mình xuống bên bãi cát, đại khái, cháu cũng tưởng tượng thân thiết như những thứ khác.

Khả năng phân biệt của Đình Nhi tiến bộ rất nhiều, cháu không những gọi tên đúng với mỗi loài cây căn cứ vào vị trí sở tại của cây, mà còn bắt đầu chỉ ra một cách chuẩn xác những cây mà cháu nhớ nhưng ở môi trường khác. Như cây cọ, cây chuối, cây cam … Vậy mà tôi đã không dự liệu trước được khi tôi viết thư cho bạn tôi chỉ cách đó hai ngày. Những bước tiến bộ nhở, nhưng đã chưứn tỏ năng lực tiềm ẩn của trẻ sơ sinh là rất sớm.

Năng lực nhận biết được nhắc đến ở đây có một ý nghĩa quan trọng trong việc phát rtiển khả năng ghi nhớ. Điều đó có nghĩa, về mặt phương thức ghi nhớ. Đình Nhi không những chỉ dựa vào sự “ghi nhớ bắt chước” đặc hữu ở những trẻ dưới 3 tuổi, mà còn có khả năng “ghi nhớ phân giải”; điều này chỉ có ở những đứa trẻ trên 3 tuổi mới làm được. Bởi vì, giả sử cùng một loại cây, nhưng mỗi cây đều dài ngắn khác nhau, nên càng cần phải có năng lực “khái quát trừu tượng đặc trưng vật thể” so với việc phân biệt ngọn đèn sáng có ngoại hình tương đồng. Từ đó có thể thấy, giáo dục ngôn ngữ sớm sẽ thúc đẩy phát triển đại não.

Cách vài hôm sau khi ghi nhật ký ở phần trên, dưới sự kiên trì của cha, Đình Nhi lại một lần nữa rời khỏi nhà bà nội, trở về khu tập thể đầy mùi khói than. Không lâu sau, tôi đến Tây An phỏng vấn hoạt động trao giải thưởng gồm giải điện ảnh “Trăm hoa” lần thứ ba và giải “Kim Kê” lần thứ hai, sau đó lại trở về Hồ Bắc thăm mẹ và người cha đã 24 năm không gặp mặt. Tôi phải xa Đình Nhi mất nửa tháng. Khi gặp lại, vừa may đó là một cơ hội để thể nghiệm khả năng ghi nhớ của cháu.

… Khi Đình Nhi vừa nhìn thấy tôi còn tỏ ra không cần tôi, phải đến hơn 1 tiếng sau, khi cô bảo mẫu cho cháu ăn, Đình Nhi bèn dùng ngón tay chỉ vào tôi nói: “Mẹ”. Biểu thị là cháu đã nghĩ ra tôi là ai. Tôi nghĩ, cháu cũng sẽ liên đới nghĩ đến cảm giác vui vẻ thân thiết khi ở bên tôi, nếu không cháu làm sao có ánh mắt vui mừng và cười với mẹ được.
Sau khi từ Hồ bắc trở về, tôi còn phát hiện Đình Nhi còn có hành vi buồn cười.

… Mỗi khi nhìn thấy quần áo của ai treo ở ngoài hoặc vắt trên hế xa – lông là bắt người đó phải đi thu về, hoặc đem quần áo ấy đưa cho chủ nhân của nó.

Điều đó cho thấy, hằng ngày truyền đạt cho Đình Nhi “Đây là cái gì, của ai?”, đã khiến cháu phát triển năng lực ghi nhớ phân loại, đại não của Đình Nhi vì thế mà nâng cao được hiệu xuất xử lý thông tin.

7
8
blog
0
Chào Mục Đồng
 
Cảm ơn Mục Đồng nhiều nhé
 
Xin lỗi sis đi vắng 10 ngày nay, hôm nay mới thấy bài viết của em, đừng phiền nhe
 
Chúc vui
0
Hi Mục đồng.
Không biết quấn này Mục đồng gõ đến đâu rồi? Đợt này Quỉ cũng khá rảnh rỗi, Quỉ có thể tham gia gõ quấn này với Mục đồng được không vậy? Nếu Mục đồng Ok thì cứ gửi các phần cho mình theo địa chỉ: hieunch@gmail.com.



tuusacqui
0
to sis Ct.Ly@:
Không sao cả sis ạ! Giờ venus có chút free time nên mỗi ngày lại gõ vài chữ.... cho có việc thôi! Venus thấy cuốn sách này hay, giá trị đối với nhiều người kể cả bậc làm cha làm mẹ cho đến các bạn thanh thiếu niên... có thể học, tham khảo được nhiều điều bổ ích để có được một cuộc sống gia đình hạnh phúc hơn nên gắng vậy!

to tuusacqui@:
Venus có cuốn sách này nhưng lại ko biết scand nên chịu rùi. Cuốn sách có tổng số 501 trang. Nếu túc tắc mỗi ngày venus dành 30 - 40 phút typing chắc kết thúc cũng muộn. Dẫu sao cũng cám ơn bạn nhìu lém đó! Chúc bạn vui vẻ và hạnh phúc nha!
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-08 17:54:55Mục Đồng>
NGỦ ĐỦ, NGỦ TỐT, HUẤN LUYỆN TƯ DUY SẼ NHANH CHÓNG
 
Từ Hồ Bắc trở về tôi luôn rất bận nên ghi lại nhật ký nuôi dạy con của tôi đã để lọt nhiều sự kiện cần ghi chép. Cho đến ngày 10 tháng 8, tôi thấy trí lực Đình Nhi đã có bước tiến bộ mới nên đêm khuya lại cầm bút viết:

--- Hôm nay tôi phải ghi nhớ bước tiến bộ mới của Đình Nhi. Tôi cho rằng, từ trong đó có thể nhìn thấy cháu đã bắt đầu có hoạt động tư duy ở cấp độ cao - tưởng tượng.

Chiều tối, tôi đứng bên vườn hoa ru cho Đình Nhi ngủ. Đình Nhi không muốn ngủ, tôi bèn nói: “Ồng trời rất thích con, muốn nhìn xem con nhắm mắt như thế nào”. Đình Nhi nhìn lên trời xanh, lại dùng tay để che mắt. Tôi thấy cháu nhìn trời qua kẽ ngón tay, cảm thấy thú vị, bèn thuận mồm tạo nên một bài hát về ông trời và cô mây, Đình Nhi nghe rất chuyên tâm. Bỗng nhiên, cháu giơ tay chỉ lên trời xanh nói: “Ông trời”. Sau đó lại lấy tay che mắt. Tôi thấy cháu không có ý muốn chủ, bèn thử cháu hỏi cháu: “Con muôốnnghe mẹ kể chuyện về ông trời không?”. Đình Nhi bèn bỏ tay ra, mở tròn đôi mắt chờ đợi. Tôi bèn kể chuyện rằng ông trời và cô mây đều mong muốn Đình Nhi mau ngủ để đi vào trong mộng rồi nói chuyện với Đình Nhi trong mộng. Đình Nhi hết nhìn tôi lại nhìn trời xanh, dần dần đi vào giấc ngủ. Tôi nghĩ, đêm nay cháu chắc chắn sẽ mơ cùng ông trời và cô mây đi chơi. Chỉ có điều tôi không thể đoán được trời và mây sẽ có hình tượng như thế nào trong giấc mộng của cháu.

Theo giới thiệu của “Tâm lý học đồ giải”, ngủ và nằm mơ có liên quan mật thiết đến sự thành thục của đại não, sự phát sinh cơ năng tâm lý và sự biến hoá của phát triển. Sở dĩ tôi dự đoán giấc mộng của Đình Nhi là bởi vì ngay từ trước 8 tháng tuổi cháu đã thường mơ ngủ khóc cười. Nếu như cháu ngủ chưa đủ đã bị đánh thức, cháu sẽ biểu hiện mệt mỏi không yên, không muốn học đồ vật. Vì thế, tôi đặc biệt coi trọng cho Đình Nhi ngủ đủ, ngủ tốt, mỗi ngày kiên trì ngủ mấy lần theo yêu cầu của độ tuổi. Điều đó cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của đại não.

Khi Đình Nhi 12 – 16 tháng tuổi, ban ngày cứ cách 4 tiếng lại ngủ 2 tiếng. Buổi chiều vào 6 giờ khi tôi về nhà thì cũng đúng vào lúc cháu thức giấc, uống nước hoa quả rôồ vừa chơi vừa học, tinh thầnh đặc biệt tốt. Khi Đình Nhi đầy 16 tuổi, tôi sắp xếp lại thời gian ngủ nghỉ của Đình Nhi, 8 giờ tối đi ngủ, 6 giờ sáng dậy, buổi trưa – 12 giờ ngủ một giấc, 2 giờ ngủ này chủ yếu do tôi dỗ cháu ngủ, từ 6- 8 giờ tối trước khi cháu ngủ là thời gian tôi đưa cho cháu đi chơi.

Nói một cách chính xác, nội dung nhật ký ghi ở trên chỉ là một lần huấn luyện phát triển sức tưởng tượng. Tôi nghĩ, mọi hoạt động mang tính sáng tạo đều không tránh khỏi tưởng tượng, sao không dùng thủ pháp nhân cách hoá để phát triển sức tưởng tượng của Đình Nhi? Dạng huấn luyện này được bắt đầu vào lúc cháu 1 năm 2 tháng tuổi.

… Hôm nay, Đình Nhi ăn cơm không được ngon miệng, uể oải, tôi đành dùng lời nói và hành động “chim khách đều phải ăn cỏ” để dỗ cháu ăn. Cháu bèn đem cho chim khách ăn, còn đòi cho ong mật, khỉ, gà con, vịt con ăn, cháu làm mọi thứ như thật, độc thoại đã bắt đầu từ đó.

Cùng với sự phát triển năng lực tư duy, tốc độ học tập của Đình Nhi ngày càng nhanh, lượng từ vựng tích trữ được ngày càng nhiều, năng lực liên tưởng cũng nhanh chóng phát triển (khi đó Đình Nhi được 1 năm 5 tháng tuổi, đang phải tiêm thuốc nâng cao hồng cầu).

… Năng lực liên tưởng của Đình Nhi lại có một bước tiến bộ mới. Cứ đến chập tối, tôi cho cháu cùng đi chơi, cháu bèn chần chừ không muốn đi. Tôi nói: “Đi tiêm”. Cháu lập tức oà khóc. Tôi đến bên dỗ dành, định dùng các động tác “trồng cây chuối”, “eo người đẹp” để làm thay đổi sự chú ý của cháu. Thế nhưng khi cháu nhìn thấy tuyến đường đi của hai mẹ con, lập tức gào cầu cứu bảo mẫu đến giúp.

Điều có ý nghĩa là: đang trong tình trạng bị bao trùm bởi nỗi lo sợ phải tiêm, cháu vẫn không quên cùng tôi học nói. Tôi chỉ vào những đồ vật bên đường dạy cháu nói, hầu như chỉ cần nhắc lại một lần là cháu đã nhớ. Khi tôi bế cháu đang còn khóc hu hu sau khi tiêm, cháu lập tức nói ra nhưữn đồ vật cháu vừa mới nhận thấy: hoa hồng, than củi, ngói …

Bốn ngày sau, năng lực tư duy của Đình Nhi lại thể hiện thêm một bước nhảy vọt mới – cháu không những dự cảm được toàn bộ quá trình tiêm, mà còn sắp xếp trước sự phản ứng qua từng bước.

Chiều tối, tôi lại bế Đình Nhi đi tiêm, điều kỳ lạ là, Đình Nhi không hề tỏ ra sợ hãi. Đến phòng khám gặp y tác tiêm, cháu còn gọi “cô y tác” rồi chỉ vào cửa phòng tiêm thuốc, tôi làm theo ý nghĩ của Đình Nhi bước theo cô y tá vào cửa, Đình Nhi lại chỉ vào chiếc ghế trong phòng bảo tôi ngồi xuống. Tôi bỗng bị cảm động bởi sự dũng cảm và trấn tĩnh mà Đình Nhi biểu hiện ra. Tôi vừa biểu dương Đình Nhi, vừa đặt Đình Nhi lên đùi tôi, cháu không hề phản kháng, bình tĩnh để tôi kéo chiếc váy của cháu ra, khi cháu hướng về phía y tá biểu thị “tiêm vào đây này”, cháu liền ôm lấy tôi và khóc. Đó là cái khóc dự cảm sự đau đớn đang đến gần, nhưng cháu vẫn không hề có ý muốn phản kháng. Khi mũi tiêm được đưa vào, Đình Nhi đau quá chịu không nổi khóc to và giãy giụa. Tôi một mặt giữ chặt lấy đùi cháu, một mặt liên tục an ủi cháu: “Dũng cảm lên con, sẽ tiêm xong ngay thôi mà”. Mũi kim tiêm vừa rút ra, tôi liền ôm lấy cháu, nhắc cháu nói với cô y tác: “Cảm ơn!”. Đình Nhi nói trong tiếng khóc, cô y tác vui mừng, liền đem một bơm kim tiêm hỏng đưa cho cháu, Đình Nhi lập tức vui vẻ trở lại.

Để thưởng cho cháu, tôi dẫn Đình Nhi lên đường Xuân Hy chơi, Đình Nhi vui vẻ chạy ra chạy vào tiệm đồ trẻ em, tỏ ra rất vui vẻ.
Vì sao tôi lại coi trọng sự việc này? Vì đó là khả năng ghi nhớ cả quá trình và tình tiết của sự việc, nói chung chỉ ở trẻ 3 tuổi mới hình thành, thế mà Đình Nhi không những làm được khi chưa đầy 1 tuổi, hơn nữa còn biểu hiện ra năng lực tư duy trừu tượng, khiến tôi không thể không vui mừng.

BỒI DƯỠNG TẾ BÀO NGHỆ THUẬT, PHÁT TRIỂN TIỀM NĂNG SÁNG TẠO

Bà Stenar, nhà giáo dục Mỹ đầu thế kỷ này đã nói: “Cuộc sống mà không có nghệ thuật thì khác gì một hoang mạc. Tôi cho rằng để cho con cái có được một cuộc sống hạnh phúc, giàu tình cảm, cha mẹ phải có nghĩa vụ tu dưỡng văn học và nghệ thuật cho chúng”. Tôi rất tán đồng quan điểm này, không chỉ vì tôi hiểu rằng thưởng thức nghệ thuật sẽ tạo thêm niềm hứng khởi cho cuộc sống, mà còn bởi vì nghệ thuật là một dạng hoạt động mang tính sáng tạo, trong quá trình bồi dưỡng tế bào nghệ thuật, có thể phát triển hiệu quả tiềm năng sáng tạo của trẻ nhỏ.

Bà Stenar cho rằng: “Tiếng hát ru êm dịu của người mẹ là cực kỳ quan trọng”. Ngay từ tháng đầu, tôi đã nhẹ nhàng hát cho Đình Nhi nghe, vừa hát vừa lắc lư hoặc vỗ nhẹ vào cháu theo tiết tấu bài hát. Hơn chục năm sau, các chuêyn gia đã đánh giá cách làm này trong cuốn “Cách mạng học tập”: “Bỏ ra thời gian 15 phút để lắc lư, vuốt ve hoặc vỗ về trẻ sơ sinh, mỗi ngày chỉ cần làm 4 lần, thì có thể giúp trẻ năng lực điều hoà vận động, từ đó tạo ra cơ hội học tập”.

Qua sự nỗ lực của tôi, Đình Nhi 5 tháng tuổi đã ngày càng rõ ràng biểu hiện thích thú đối với âm nhạc và khiêu vũ.

Bú sữa và uống sữa cháu đều phải nghe hát mới hứng thú, bất kể lúc bướng bỉnh đến đâu, cứ nghe thấy tiếng hát là trở nên ngoan ngoãn. Khi người lớn hát, cháu liền chăm chú lắng nghe, lại còn ậm ừ như muốn học theo. Nếu tôi có khiêu vũ trước mặt cháu, chắc lại càng vui mừng hơn.

Khi cháu tron 10 tháng, mầm mống nghệ thuật của cháu hầu như đã hình thành.

Khi tôi bế cháu ngâm nga hát một vài câu, cháu bỗng nhiên cũng tự ngâm nga hát và múa, tuy chỉ là vung vẩy đôi tay nhỏ, nhưng đó chính là cháu đang “khiêu vũ”, chứ không thể là hành động nào khác. Khi tôi bế cháu đứng trước gương thay quần áo, cháu càng hưng phấn và hoa chân múa tay mạnh mẽ.

Dạng “khiêu vũ” này tuy chỉ là hành vi bắt chước, hơn nữa bắt chước cũng là một dạng năng lực phát triển đặc biệt, cần được sự cổ vũ kịp thời của người lớn để tăng thêm hứng thú và lòng tự tin cho trẻ.
Khi Đình Nhi vừa tròn một tuổi, năng lực bắt chước đã phát triển tương đối tốt.

… Khoảng một tuần trước, tôi phát hiện Đình Nhi biết tự chơi trò bắt chước. Cháu cầm một cốc đánh răng nhỏ giả làm như đang đánh răng vậy, một lúc sau lại giả làm ăn, uống, lại còn vỗ vào miệng kêu “a … a…” có vẻ rất hứng thú, say sưa, bế đi cũng không chịu. Đó chính là một dạng bắt chước tự phát.

Còn có một lần, tôi phát hiện Đình Nhi rất hưng phấn giậm chân. Đó chính là “khiêu vũ”, tôi bèn cổ vũ hết lần này đến lần khác. Tôi cho rằng đó chính là giáo dục niềm say mê và lòng tự tin đối với con trẻ.
Niềm hưng phấn sáng tạo khiêu vũ hình thành từ thời kỳ sơ sinh khiến cháu đã vô số lần thể nghiệm được sự vui mừng của thành công trong cuộc sống ở trường học sau này. Mặc dù những điệu nhảy ít được rèn luệyn nên không thật quy phạm (vì tôi không muốn Đình Nhi lớn lên theo nghề biểu diễn nghệ thuật nên tôi rất ít huấn huyện cháu về mặt này), nhưng cháu vẫn có thể đắm chìm trong thưởng thức nghệ thuật, tận tình hưởng thhụ âm nhạc và cái đẹp của nghệ thuật khiêu vũ, đó thật là một hạnh phúc lớn trong đời người.

So với khoa học, đặc đỉem lớn nhất của nghệ thuật là tính trữ tình và tính phi lợi ích. Khi tôi dạy từ vựng cho Đình Nhi, tôi không những dạy những thứ hữu dụng rõ ràng, mà còn dạy cháu những thứ hầu như không tác dụng.

… Hôm nay, lần đầu tiên tôi dạy Đình Nhi ngửi hoa. Đó là mùi thơm dịu mát của hoa bạch lan. Đây là mùi thơm mà tôi thích nhất, ngửi được mấy lần, Đình Nhi đã lý giải được hàm nghĩa của từ “ngửi” (chứ không phải là tác động ngoại hình) và khái niệm của từ “hương thơm”.

… Mấy ngày nay, tôi dạy cháu nhận biết bóng hình dưới nước hồ thả cá và bóng hình dưới ánh nắng, chắu rất thích thú chú ý bóng hình bàn tay của mình, bàn tay nhỏ nhắn lật đi lật lại chơi đùa. Cháu đã có thể chỉ ra hoa hồng trong một bó hoa. Còn nữa, bất luận là mặt trăng có hình dạng như thế nào, nằm ở vị trí nào, cháu đều chủ động nhắc nhở người khác chú ý “trên trời có ông trăng”.

Ưu điểm của dạng huấn luyện này là, có thể giúp Đình Nhi mở rộng tầm nhìn, mở rộng phạm vi liên tưởng, hình thành càng nhiều các điểm hưng phấn tình cảm. Bởi vì nói cho cùng, nghệ thuật là để kích thích tình cảm tư tưởng của con người.

Để kích thích hệ thống tình cảm trong đại não Đình Nhi phát triển đầy đủ, tôi cho cháu học các từ hình thành kích thích tình cảm. Khi cháu được 1 năm 3 tháng, tôi dạy cháu một động tác “trữ tình”.

… Tôi bảo Đình Nhi giơ hai cánh tay ra và hét lên một cách thán phục “A!” hy vọng bắt đầu từ đó sẽ dạy cháu học biết biểu hiện sự vui mừng. Cháu học được rất nhanh, động tác làm thật sự có hồn.

Do hạn chế bởi năng lực phát âm, Đình Nhi chưa thể dùng ngôn ngữ để biểu đạt tình cảm, tôi bèn tự phát dùng động từ “hôn gió” để biểu đạt tình cảm thích thú của mình.

Đình Nhi đã có thể chủ động hôn gió đối với những sự vật mà yêu thích, khi cháu nhìn thấy đèn đường sáng loáng trên đường mới sửa, bàn tay nhỏ nhắn từng nhịp đặt vào môi cháu, thật là đáng yêu.

Tôi cho rằng, phát triển năng lực biểu đạt phải bồi dưỡng dục vọng biểu đạt bàn tay. Trước khi hình thành năng lực biểu đạt ngôn ngữ, dục vọng biểu đạt của Đình Nhi đã rất mạnh mẽ, hơn nữa còn biểu đạt rất có tình.

… Vẻ đáng yêu nhất của Đình Nhi bây giờ chính là dáng vẻ khi cháu ngửi hoa. Mỗi khi cháu vừa kêu lên: “Ư! Ư!” vừa đưa bông hoa vào trước mũi ngửi, bạn sẽ chẳng còn cách gì để trách mắng cháu đã hái hoa. Hơn nữa, cháu hít ngửi một lúc, liền cong môi cười và bày tỏ cảm xúc: “Ái chà!” rất thần tình, như đang đắm mình trong hương hoa. Con gái 1 năm 4 tháng tuổi yêu quý của tôi ơi!


HỌC CÁCH “KIÊN TRÌ HƠN NỮA”, MÀI LUYỆN KHẢ NĂNG Ý CHÍ

Khi Đình Nhi còn chưa ra đời, tôi quyết định nuôi dạy cháu thành một người thành đạt. Mặc dù tôi không biết tới đây cháu sẽ giành được thành công ở lĩnh vực nào, nhưng tôi biết rất rõ rằng, con đường đi đến thành công chỉ có một. Đó là: nhận thức đúng mục tiêu, kiên trì không mệt mỏi. Tôi rất thích câu nói của chỉ đạo viên Quách trong vở kịch “Sa gia hồng”: “Thắng lợi sẽ đến từ sự nỗ lực kiên trì nhiều hơn nữa!”. Tôi hy vọng khi Đình Nhi gặp khó khăn sau này, sẽ có đủ ý chí kiên cường khiến cháu “kiên trì hơn nữa”, “kiên trì thêm một chút…” cho đến khi giành thắng lợi. Vì thế, khi cháu còn đang bò trên giường, tôi đã bắt đầu huấn luyện cho cháu tính bề bỉ.

Tôi cho rằng, sự bền bỉ của năng lực chú ý là tiền đề của hành vi bền bỉ. Việc huấn luyện của tôi bắt đầu từ bồi dưỡng tính bề bỉ của năng lực. Công cụ của tôi là một con gà trống bằng nhựa màu đỏ biết gáy, trước tiên dùng tiếng gà gáy để ở phía trước, đằng sau, bên phải, bên trái để gây chú ý của cháu, sau đó đặt con gà nơi mà cháu rướn người lên một chút là tới, hấp dẫn cháu tới nắm lấy. Khi cháu nắm không được và chuẩn bị từ bỏ, tôi bèn dùng tay đẩy cháu lên một chút và cổ vũ: “Cố lên! Cố lên!”. Đình Nhi ra sức đạp chân một chút, con gà trống đã trong tầm tay. Tôi lại dùng hình thức hoan hô và hôn để chúc mừng thắng lợi của cháu, để cháu thể nghiệm niềm vui của sự “phấn đấu – thành công”.
Khi Đình Nhi biết bò, tôi bèn gia tăng độ khó của huấn luyện khi mục tiêu mà cháu nhanh chóng đạt được, đem đồ chơi hấp dẫn cháu đặt ở chỗ xa hơn, sau đó cổ vũ cháu tiếp tục bò đến lấy. Làm như vậy vừa bồi dưỡng sức hấp dẫn lại vừa luyện được khả năng bò, thật là nhất cử lưỡng thiện.

… Để giáo dục tinh thần kiên cường cho con gái, tôi luôn cổ vũ, lôi kéo cháu tiếp tục làm khi cháu từ bỏ mục tiêu mà mình chưa đạt được. Ví dụ như động tác tìm bóng, kiếm đồ vật, v..v… Có khi cháu muốn lấy thứ gì đó nhưng không làm được, bèn dùng âm thanh và động tác cầu cứu tôi trợ giúp, tôi chỉ giúp cháu giải quyết những khó khăn mà cháu không khắc phục được, sau đó vẫn để cháu tự tiến hành đến cùng. Nếu như Đình Nhi có bị vấp ngã đau ở chỗ nào, tôi cũng không an ủi cháu, mà yêu cầu cháu “dũng cảm”, “không sợ”, nhanh chóng chuyển dịch sự chú ý của cháu, thu hút cháu quan sát sự vật mới, nhằm làm quên đi cơn đau. Tôi tin chắc rằng, cứ kiên trì như vậy, nghị lực và lòng dũng cảm của Đình Nhi sẽ mạnh mẽ hơn tôi.

Khi Đình Nhi đầy 1 tuổi, những nỗ lực của tôi đã nhìn thấy được thành quả:

1 năm 1 tháng tuổi …

… Trước bữa cơm tối, Đình Nhi vui vẻ cầm một bình phun bằng nhựa chơi hồi lâu, do vẫn còn hứng thú chơi nên khi tôi nói với cháu vào ăn cơm, cháu khóc thút thít không nghe, tôi đành phải cho cháu mang theo bình phun đi vào phòng ăn.

Khi Đình Nhi khóc vì chiếc bình vướng cửa chặn lại, mấy người lớn ngồi cạnh bàn đã phê bình cháu: “Đình Nhi hay khóc nhè lăm!”. Kỳ thực khóc cũng là một ngôn ngữ của trẻ em. Đình Nhi vội vàng khóc là để cầu cứu người lớn, chẳng phải là biểu đạt ý chí của cháu ư? So với những đứa trẻ không làm được là vứt bỏ, chẳng phải là sự khác biệt về mức độ bền bỉ của sức chú ý hay sao? Khóc là dạng biểu hiện của sự tiến bộ về trí lực của trẻ, chỉ có thể khiến ta cảm thấy vui mừng. Ở tình huống này không thể dùng ăn, uống, ôm ấp, dỗ dành để chuyển dịch sự chú ý của đứa trẻ mà chỉ cần giúp đỡ trẻ một chút, cổ vũ cháu tiếp tục thực hiện.

4 ngày sau…

… Hôm qua tôi dẫn Đình Nhi vào sân nhà Phi Phi bên hàng xóm chơi, sự chú ý của Đình Nhi luôn tập trung vào con vịt. Đây là lần đầu tiên cháu nhìn thấy một con vịt lớn còn sống, biết kêu “cạc, cạc”. Để cổ vũ và đáp ứng lòng hiếu kỳ của Đình Nhi, tôi đã bất chấp cả mùi hôi thối của chuồng vịt để đến gần bên. Tôi nghĩ, tính chủ động của Đình Nhi được biểu hiện trong sự quan sát này là rất khó có được. Giống như khi cháu cúi sát người xuống mặt đường khi bị đi bộ để tìm kiếm, chỉ có thể trợ giúp cháu hoàn thành chứ không thể sợ bẩn mà tránh né.

1 năm 4 tháng tuổi …

Sức mạnh ý chí mà tôi giáo dục trước đây đã được thể hiện rõ trong con người Đình Nhi, khi cháu đòi làm một việc gì đặc biệt thích thú, bạn muốn can thiệp cháu thì chỉ có thể dẫn đến sự phản kháng mà cháu hầu như không thể khuất phục, ngoại trừ bạn có thể dùng một sự việc khác càng kỳ lạ mới mẻ để thu hút sự chú ý của cháu. Biện pháp này cũng nhiều lần không có tác dụng, đành phải đáp ứng yêu cầu mà nhìn từ góc độ của cháu là rất nên làm.

Nửa tháng sau, Đình Nhi đã dùng sức mạnh ý chí của riêng mình vào chỗ không được phép dùng. Nghe cô Lý bảo mẫu nói, Đình Nhi chạy đến nhà Tiểu Viên bên cạnh xin đường, Tiểu Viên nghe theo lời dặn của tôi không cho ĐÌnh Nhi, cháu bèn khóc lóc trở về đòi cô bảo mẫu đến giúp cháu, không đạt được mục đích quyết không về. Tinh thần kiên trì đó cố nhiên đáng mừng, nhưng cảnh tỉnh tôi phải nhanh chóng dạy cho Đình Nhi nắm được khái niệm của “phạm vi”, cho cháu từ nhỏ đã biết rằng, có những việc cso thể làm, nhưng cso những việc không được phép làm.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-10 17:48:50Mục Đồng>
QUY ĐỊNH PHẠM VI “ĐƯỢC PHÉP, KHÔNG ĐƯỢC PHÉP” ĐẶT NỀN MÓNG CHO GIÁO DỤC NĂNG LỰC TỰ KIỀM CHẾ


Có người giữ được mình, nhưng có những người lại không tự giữ được mình. Người giữ được mình không những trở thành “kẻ cặn bã” mà còn có thể trở thành “thiên tài”. Người không giữ được mình thì không những không trở thành “thiên tài”, mà còn có thể trở thành “kẻ cặn bã”. Tôi luôn hy vọng Đình Nhi phát triển theo hướng người thiên tài nên đương nhiên muốn giáo dục cháu thành một người giữ được bản thân.

Cái gọi là “giữ được mình” tức là có năng lực tự kiềm chế để đẩy mạnh những việc cần phải làm và ngăn cản những việc không nên làm. Khi Đình Nhi đã có năng lực hành động độc lập nhất định, nhưng lại chưa được trang bị những quan niệm phải trái, tôi phải dạy cháu học tập “giữ mình” như thế nào đây?

Năm 1977, trước khi quen biết cha Đình Nhi, tôi đã đọc được một câu chuyện giáo dục trẻ em của Liên Xô qua một cuốn sách xuất bản trước thời kỳ “Cách mạng văn hoá”.
Khi Ivan hơn một tuổi, bé đặc biệt thích xé sách vở của bố mình, bố liền đưa cho Ivan một số báo chí cũ bỏ để bé xé và nói với bé rằng: “Đây là những báo chí bỏ đi, có thể xé được, những sách vở kia không thể xé được”. Từ đó khiến bé xây dựng khái niệm của từ “phạm vi”.
Tôi rất thích câu chuyện này, muốn thực hiện nó từ lâu rồi. Khi Đình Nhi bắt đầu xé sách, tôi liền dùng phương pháp của cha Ivan, vạch ra cho Đình Nhi phạm vi, xây dựng quan niệm “có thể không được” và yêu cầu trẻ nhỏ tôn trọng quy định là rất cần quan trọng đối với sự trưởng thành của đứa con: Trong quá trình kiềm chế không làm một số việc, rèn luyện được một tố chất khác để hướng tới thành công: khả năng tự kiềm chế.

Một khi đã quy định phạm vi thì phải trước sau như một yêu cầu đứa con tuân thủ. Như lời của Shoda Michiko, hoàng hậu Nhật Bản nói khi giáo dục con: “Một lần cũng không thể là ngoại lệ”, làm ngược lại là phải chịu hình phạt. Trẻ em để tránh bị trừng phạt, sẽ học được việc ràng buộc mình không làm những việc mà người lớn không cho phép làm.

Có người nói, đứa trẻ nhỏ mà đã yêu cầu nghiêm khắc như vậy liệu có quá đáng không? Cách hiểu của tôi không như vậy. Nói chung, giáo dục nghiệm khắc sẽ rất gian khổ đối với đứa trẻ, thế nhưng ngay từ đầu đã giáo dục nghiệm khắc thì sẽ không như vậy. Giống như trong xây dựng thành phố, nếu như chính quyền thành phố Quảng Châu lấy lý do đường phố của Quảng Châu không chỉnh tề để tiến hành tái xây dựng thành phố, vậy thì nhất định sẽ mang lại nỗi thống khổ lớn cho người dân. Thế nhưng thành phố Chu Hải lại không làm giống như vậy, do từ khi mới bắt đầu xây dựng đã tu sửa đường phố, nhà cửa theo quy hoạch của chính quyền thành phố, kết quả thành phố tề chỉnh như ô bàn cờ, lại không tạo ra bất cứ nỗi thống khổ nào cho người dân. Giáo dục đối với trẻ em cũng như vậy, việc gì không cho phép thì ngay từ đầu đã không cho phép, điều đó sẽ không tạo ra sự đau khổ cho đứa trẻ. Giống như một nhà thơ đã nói: “Chúng ta sẽ không cảm thấy thiếu thốn đối với những thứ mà chúng ta vốn chưa thể có được”. Lúc thì đồng ý, lúc lại không đồng ý, như vậy sẽ đem lại sự đau khổ cho đứa trẻ.

Witer cha giáo dục con biết phân biệt phải trái phân minh, trước sau như một. Từ khi Witer được một tuổi đã nghiêm khắc yêu cầu con, việc gì không được là không được. Ông chưa bao giờ nghĩ rằng “khi còn nhỏ có thể thả lỏng một chút, đợi khi lớn sẽ nghiêm khắc hơn”. Thế nhưng, đó lại là cách làm phổ biến của các ông bố bà mẹ trên thế giới, “luật cấm” của họ cũng thay đổi thất thường, khi thì bảo là được, lúc lại nói là không được. Điều đó nghiễm nhiên tạo nên tâm lý đầu cơ trong đứa trẻ, chứ không phải là năng lực tự kiềm chế. Cần phải nói rõ thêm rằng, cha mẹ không có chủ định rõ ràng hoặc ý kiến không thống nhất đều là sự tối kỵ lớn nhất trong giáo dục trẻ nhỏ.

Đương nhiên, khi trẻ em vừa bắt đầu xuất hiện hành vi phá hoại, người lớn cần phải phân biệt rõ sự phá hoại vô ý và sự phá hoại cố ý. Phá hoại vô ý là do cơ thể phát triển chưa đày đủ hoặc động tác chưa được khéo léo gây nên, không phải do đại khái qua loa hoặc cố ý phá hoại. Có một số dạng cố ý phá hoại thuộc hành vi mang tính thăm dò của đứa trẻ, như đạp vỡ trứng, bới ngăn kéo; còn có một số dạng thuộc hành vi mang tính thử thách như đẩy đổ đống gỗ, xé tờ giấy; có hành vi mang tính tham dự và bắt chước như nhổ những cây hoa đẹp hoặc rau cỏ rồi lại đem trồng xuống …. Cần phải phân biệt các hành vi để đối xử, không thể cấm đoán một cách vô lý. Điều đặc biệt quan trọng là khi bạn phát lời cảnh cáo “không thể như vậy”, nhất định phải nói cho trẻ “có thể làm như thế nào”.
Đối với đứa trẻ 1 năm 5 tháng tuổi mà chỉ dạy nói thôi thì chưa đủ. Phải chế ngự những quậy phá của Đình Nhi, như ném đồ vật xuống đất. Bạn càng ngăn cản, đứa trẻ càng hứng thú, khi đó điều cần làm là chuyển hướng. Bạn cần nói: “Đình Nhi hãy đem chiếc khăn tay trên giường đặt lên chăn (hoặc xa – lông)” hoặc “Đình Nhi hãy nhặt quyển sách dưới đất đặt trả vào giá sách đi!” … Cháu lập tức sẽ ngừng việc quậy phá, vui vẻ đi thực hiện mệnh lệnh.
Một hôm, tôi đang thái bí đao, Đình Nhi đòi cầm dao thái. Tôi nói với cháu: “Đình Nhi, giúp mẹ mang chỗ vỏ bí này vứt vào xọt rác đi!”. Đình Nhi lập tức giúp tôi làm. Từng miếng từng miếng vỏ được vứt vào xọt rác. Như vậy vừa quản lý được cháu, lại vừa giáo dục cháu phẩm chất yêu lao động, biết cách giúp đỡ người khác.
Tiến hành động bộ quy định phạm vi “được, không được” là kịp thời xây dựng nên chế độ thưởng phạt, giúp Đình Nhi nhận rõ quan niệm “đúng, sai”.
… Mỗi khi Đình Nhi làm sai một việc gì tôi liên bắt cháu tự đánh vào mông. Cháu liền giơ cách tay ra đằng sau ra sức vỗ, miệng còn hét lên “Đánh! Đánh!”, đánh một lúc, liền gọi mẹ: “Mẹ! Mẹ!” để cho mẹ đánh. Lúc đầu tôi tưởng rằng Đình Nhi chỉ coi đó là một trò vui, sau này mới phát hiện Đình Nhi hiểu rằng đó là hành vi trừng phạt. Bạn xem, mỗi lầ cháu nhận thức mình làm sai việc gì, như làm bẩn tay chẳng hạn, là tự mình xin đánh, hoặc giơ tay ra trước mặt bạn chịu phạt.
Có điều, đó không phải là hình phạt đau đớn. Tôi không hy vọng đứa trẻ vì sợ đau đớn thể xác mà không làm việc xấu. Đó không chỉ vì đánh trẻ con không phải là cách giáo dục hay, mà còn khiến đứa trẻ dùng thủ đoạn tương tự để đối xử với người khác. Khi tôi ngăn cấm đứa trẻ làm một việc gì, tôi chỉ nói: “Nếu con làm thế này thế kia, mẹ sẽ không vui”. Lấy đó để giáo dục sự coi trọng của cháu đối với tình cảm người khác.
Một người biết coi trọng tình cảm của người khác thì không cần phải giáo dục nhiều cũng có thể chế ngự bản thân, trên thực tế, trước khi Đình Nhi nhiểu một cách chân chính rằng phải “tranh thủ thời gian, khắc khổ học tập”, động lực học tập lớn nhất của cháu chính là “để cha mẹ và thầy cô giáo vui”.


TRANG BỊ THÔNG TIN TỪ TRƯỚC, ĐỊNH NGÀY KHAI HOA KẾT QUẢ

Khi Đình Nhi đầy 1 tuổi rưỡi, trí lực đã phát triển nhanh chóng, đồng thời thể năng và sự khéo léo cùng tiếp tục phát triển:
… Bây giờ Đình Nhi chạy rất nhanh, rất ít bị vấp ngã, cháu có thể tuỳ ý trèo qua trèo lại giữa ghế xa – lông và giường, cháu còn nhẹ thàng trèo lên bàn ăn hoặc bàn làm việc, khiến mọi người vừa tức vừa buồn cười.

… Về mặt vận động, cháu đã có thể trèo lên bồn hoa cao 60cm trước cửa. Nhìn thấy đứa trẻ trèo lên cao tôi không bế nó xuống, mà dạy cháu cách xuống như thế nào, giảng cho cháu biết “trước tiên hãy ngồi xuống, sau đó thò chân xuống”. Chỉ cần cháu học được phương pháp xuống, thì ngay cả khi không có người lớn ở đó, sự nguy hiểm do leo cao cũng được giảm bớt rất nhiều.
Một điều kinh ngạc là, một số bé trai đã dạy Đình Nhi động tác nằm sấp chống tay, mấy hôm trước Đình Nhi nằm xuống đường chống tay 5 -6 lần, khiến tôi hết sức ngạc nhiên.
Cánh tay, cẳng chân của Đình Nhi đều rất có nghị lực, cháu có thể đứng bằng một chân hồi lâu (bé gái nói chung phải 2 – 3 tuổi mới có được). Cháu còn có thể ôm quả dưa nặng bảy cân chín (tương đương 3,85 kg); trong các động tác nhẹ nhàng cháu dùng thìa ăn cơm, uống nước rất gọn gàng, chỉ cần không cố ý ngỗ ngược, ngoài ra cháu có thể ăn rất sạch sẽ.
Tôi không nhớ đã đọc được một thuyết pháp trong cuốn sách nào đó có nói rằng hệ thống vận động của trẻ phát triển nhanh thì hệ thống phát âm sẽ thành thục tương đối chậm, ngược lại kết quả cũng giống như vậy. Đình Nhi vừa may thuộc vào diện hệ thống vận động phát triển nhanh. Mặc dù so với mức độ trung bình, hệ thống phát âm của cháu cũng phát triển sớm hơn, nhưng chậm hơn nhiều so với trí lực và sự khéo léo.
Khi 1 năm 4 tháng, Đình Nhi đã có thể nói rõ ràng “gà trống”. Nhưng còn một số âm nói không rõ, chỉ có thể gọi một cách hầm hừ. Từ “trời hoặc tối” còn có thể nói dối, có một số âm rất phát, dạy là thuộc liền. Nhưng một số từ khó phát âm như “quần áo” cháu đều phát âm không tốt, nói “cô giáo” thành “cô … áo”. Tôi dạy cháu một câu tiếng Anh: “How do you do?” (Chào ngài!), cháu nhớ rất nhanh, nhưng có điều lại nói thành “How do do!”.
Tôi không vì hệ thống phát âm của Đình Nhi chưa sớm thành thục mà làm chậm trễ tiến độ dạy ngữ âm cho cháu. Bởi vì năng lực ngôn ngữ do hai năng lực lý giải và biểu đạt tạo thành. Sự phát triển của năng lực biểu đạt cố nhiên chịu hạn chế bởi sự thành thục sớm muộn của hệ thống phát âm, sự phát triển của năng lực lý giải lại chỉ chịu hạn chế bởi nhận thức nhiều ít đối với sự vật. Trong những ngày tháng kỳ vọng năng lực nói của Đình Nhi xuất hiện sự nhảy vọt, tôi đặc biệt cảnh tỉnh mình chớ có quên rằng phải tiếp tục truyền đạt thông tin có ích cho Đình Nhi.
… Khi Đình Nhi được 1 năm 5 tháng, tôi mua về hai bộ sách “Xem tranh nhận chữ cho cháu”. Ngay ngày hôm sau cháu đã nói được từ “cải bẹ”. Nhưng cháu không chịu ngồi yên cùng tôi học mà chỉ thích tự mình lật đi lật lại, mồm huyên thuyên đọc từ mập mờ không rõ. Phải chăng cháu còn quá nhỏ? Nghĩ đến chuyện từ tháng này bắt đầu giảng cho cháu, tôi lại hiểu ra một điều: trong quá trình nhận biết chữ cần phải nhẫn nại gấp nhiều lầnquá trình tích luỹ thông tin tương tự.
Tuần này, Đình Nhi học nói “máy thu thanh, máy giặt”, phát âm tuy còn chưa rõ, nhưng ý tứ của các chữ thì đã rõ ràng. Tôi dạy cháu từ “bật lửa ga”, cháu có thể nói rõ ràng hai chữ “bật lửa”, những từ vựng đó đều được dạy sau khi nhận biết vật chất. Đến sau này khi cháu xem tranh, đã có thể dồn tinh lực vào nhận mặt chữ. Tôi phát hiện, nếu âm chữ kéo hơi dài, Đình Nhi học nói sẽ không liền mạch, khi nói nhanh lên một chút, cháu sẽ ý thức được rằng đó là một từ gồm ba chữ. Dạy tiếng Anh “Chào buổi sáng!” hay “Chúc ngủ ngon!” … cũng như vậy. Do cháu nỗ lực nói, lúc đầu còn chưa rõ, nhưng sau đó rất nhanh chóng nói được rõ ràng.
… Ngày 26, sang nhà Anh Anh bên hàng xóm chơi, tôi cầm bảng viết chữ dạy cháu số 1, 2 cháu đã phát âm được chữ “một”, “hai” tuy chưa nói rõ, nhưng cháu đã nhận biết được, có thể cầm lên chữ số “một” và chữ  số “hai” một cách chuẩn xác theo mệnh lệnh của tôi. Điều đó kiến tôi rất vui mừng. Bắt đầu từ bây giờ, không những phải dạy cháu hình thành khái niệm số, mà còn phải học nhận biết chữ số. Mỗi khi có điều kiện là tôi không bỏ lỡ cơ hội truyền đạt khái niệm về số cho Đình Nhi, như khi lên cầu thang, vỗ tay, những nỗ lực đó không hề uổng phí.

… Gần nửa tháng nay, Đình Nhi tiến bộ rất nhanh, đã có thể nói được rất nhiều từ vựng mà cháu đã hiểu, hơn nữa còn biểu hiện khát vọng nói mãnh liệt, bạn nói cấu: “Đây là than tổ ong của chú”. Cháu sẽ nói câu này theo phương thức của mình, thao thao bất tuyệt, rất thú vị.
Phàm là những sự vật Đình Nhi còn chưa nhận biết được, tôi đều yêu cầu cô bảo mẫu khồng dùng cách nói: “Đây là … Kia là…”, chỉ những sự vật Đình Nhi đã nhận biết thông thuộc, tôi mới dạy cháu dùng đại từ nhân xưng.
… Hôm đó, tôi đang dạy cháu đại từ nhân xưng “bạn, tôi, cô ấy”. Hằng ngày chúng tôi đều đối thoại như sau: “Bạn là ai?” – “Đình Đình”; “Tôi là ai? – “Mẹ”; “Cô bảo mẫu ấy là ai?” – “Cô ấy”. “Cô ấy, cô bảo mẫu”. Bài học này đều được thực hiện sau khi gặp mặt, ôm hôn.
Ngày 24 tháng 9, bước nhảy vọt mà tôi mong đợi cuối cùng đã xuất hiện. Ngoại việc nói mang tính bắt chước dạng “x x, bế con”, Đình Nhi tự nhiên bột phát nói được một câu chuyện ngắn “Mẹ mua kẹo”. Tôi mừng vui quá đỗi, liền dẫn cháu đi mua cho cháu mấy viên kẹo.

Đương nhiên, sự tiến bộ càng nổi bật hơn còn biểu hiện ở năng lực lý giải của Đình Nhi.
… Cháu đã có thể nghe hiểu những lời tương đối phức tạp, như bảo cháu “trước tiên làm gì”, cháu có thể thực hiện chuẩn xác một mệnh lệnh bao gồm năm động tác.

… Cháu có thể chuyên tâm nghe tôi giảng giải những câu chuyện ngẵn trong quyển truyện tranh, hơn nữa còn có thể có một số phản ứng. Bạn xem, cháu tự mình ôm lấy quyển truyện tranh, chỉ vào “con ếch”, “con mèo” trong tranh để tự đọc tự nói, nhìn rất chăm chú.

… Tiểu Viên bên hàng xóm rất tốt đối với cháu, cháu bèn đổi cách xưng hô từ “Cô Viên” thành “Mẹ Viên”, đối với “Mẹ Diệp” cũng vậy. Bạn bảo cháu “yêu”, cháu sẽ giơ bàn tay nhỏ nhắn lên xoa hai bên má bạn, miệng nói “Yêu này, yêu này!”, sau đó lại từ mình “yêu” mình.

… Đình Nhi có tấm lòng đồng cảm rất mạnh. Một hôm nhìn thấy một bé trai ngã xuống rãnh nước, khóc lên. Cháu ra sức kêu to “Anh ơi!”, đến khi nhìn thấy bé trai trở về nhà mới yên tâm. Ngoài việc giải thích tình huống xảy ra trước mắt cho cháu, tôi cũng muốn đến chỗ rẽ thì bế cháu lên. Nhưng cháu nhất định đòi tôi quay lại tìm “anh” …
Hôm Đình Nhi tròn một năm rưỡi, tôi thử dạy cháu đọc thuộc lòng bài thơ Đường. Mới bắt đầu, tôi dạy cháu từng đoạn hai chữ, qua mấy ngày sau, Đình Nhi đã có thể cùng tôi đọc lưu loát “Triều từ/ bạch đế/ thái vân/ gian …”. Tuy rằng cháu chưa hiểu hàm nghĩa của ý thơ, nhưng ngâm thơ cũng giống như hát vậy, có thể khiến cháu cảm nhận được sự kỳ diệu của vần luật thơ ca. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, mọi thông tin truyền đạt sớm đều sẽ như những hạt giống gieo xuống trong mùa xuân, sẽ nảy mầm kết trái trong các giai đoạn tiếp theo của cuộc đời.
Hết chương 2.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-24 09:36:40Mục Đồng>
CHƯƠNG 3
TRONG NHỮNG NGÀY CHA MẸ LY HÔN
(Tự thuật của Lưu Vệ Hoa)

GỬI NHỜ BÊN BÀ NGOẠI, ĐÌNH NHI NGÀY ĐÊM NHỚ MẸ

Khi Đình Nhi được 1 năm 8 tháng, kế hoạch nuôi con của tôi đã gặp hai trở ngại lớn: một là tôi và cha Đình Nhi quyết định ly hôn, một khi thủ tục xong, tiền lương của tôi và phí nuôi dưỡng Đình Nhi chỉ đủ để duy trì mức dinh dưỡng cho Đình Nhi, không thể thuê bảo mẫu được; hai là công tác bình xét chức danh của hệ biên tập đã bắt đầu thí điểm. Tôi nhìn lên văn kiện mượn được của đơn vị thí điểm thấy: đối tượng biên tập viên trẻ mới có tác phẩm chứ chưa có văn bằng như tôi phải trải qua một quá trình học đại học tương đương đại học văn khoa mới được tham gia bình xét các chức danh. Hơn nữa tôi chỉ có thể lợi dụng những thời gian rỗi để học tại chức.

Làm thế nào đây? Phải hy sinh tiền đồ của mình để tiếp tục giáo dục Đình Nhi? Hay là hy sinh tương lai của Đình Nhi để hoàn thành việc tự học của mình? Đang trong lúc khó khăn thì mẹ và đứa em trai Vệ Trung của tôi đã ra tay cứu giúp. Bà ngoại và cậu yêu cầu tôi đưa Đình Nhi đến nhà bà ngoại ở Hồ Bắc để họ thay tôi chăm sóc Đình Nhi và thực hiện phương pháp giáo dục từ sớm theo yêu cầu của tôi.

Từ ngày 23 tháng 11 năm 1982 đến mùa xuân năm 1983, Đình Nhi sống bên bà ngoại và cậu. Khi đó, điện thoại còn thuộc loại đồ xa xỉ, cũng giống như những người bình thường, tôi chỉ có thể dùng phương thức viết thư để trao đổi thông tin. Trong lá thư đầu tiên sau khi trở về Thành Đô, tôi thỉnh cầu mẹ: “Mẹ có thể ghi chép lại một cách đơn giản tình hình phát triển của Đình Nhi không? Như: khi nào thì đo độ cao, cân nặng và là bao nhiêu? Khi nào thì bắt đầu nói những từ ngữ mới? Khi nào bắt đầu làm những động tác mới, v.v… Hoặc khi nào mỗi lần viết thư mẹ viết thêm vài câu, con giữ lại cũng được”.

Mẹ tôi không những ghi thư như tôi yêu cầu, mà còn kể tỉ mỉ việc em trai tôi đưa Đình Nhi đến tham quan vườn bách thú như thế nào. Đọc lại những lá thư quý báu của 17 năm trước, niềm yêu thương và lo lắng ngày nào như hiện lên trước mắt, tình cảm thân thiết đó khiến tôi xúc động đến mấy ngày mà vẫn chưa bình tĩnh lại được …

Từ khi Đình Nhi sinh ra, bình quân hai tháng phải chuyển nhà một lần, môi trường sống thay đổi liên tục đã mang lại cảm giác không an toàn cho cháu, chỉ còn sự ôm ấp của người lớn mà cháu thân thuộc mới có thể khiến cháu cảm thấy yên tâm. Bảy ngày sau khi rời Thành Đô, khi tôi dẫn Đình Nhi đi mua rau ở chợ gần nhà bà ngoại, Đình Nhi đột nhiên nói với người nông dân bán rau: “Cô bảo mẫu của cháu bỏ đi rồi!”. Đôi mắt sâu thẳm và ngữ điệu thổ lộ khiến tôi giật mình, mãi mãi không thể nào quên. Cháu không hiểu được là mình đã rời xa cô bảo mẫu Lý mà cho rằng cô Lý sớm hôm bên nhau nay đã từ bỏ cháu. Trong môi trường mới lạ, mẹ là mối dây liên hệ duy nhất với cuộc sống trước đây của cháu, mấy hôm sau, mẹ cũng đột nhiên biến mất trong một đêm tối mùa thu, sự mất mát là quá lớn.

Từ lá thư đầu tiên mà bà ngoại gửi cho tôi có thể thấy, khả năng ghi nhớ phát triển sớm của Đình Nhi đã khiến cháu cảm nhận được nỗi đau khổ của sự phân ly nhiều hơn sơ với những đứa trẻ đồng lứa.
… Đình Nhi luôn nhớ đến con và cô bảo mẫu của cháu. Khi ngủ trưa bèn đồi tìm phòng của con, mẹ nói phòng trước mặt là phòng của mẹ cháu, cháu lại khóc không ngủ ở chỗ đó nữa. Từ xa nhìn thấy một phụ nữ trẻ hơn nói đó là mẹ đi làm về, khi ăn cháu liền nói: “Mời mẹ xơi cơm, mời bà ăn cơm, mời cậu ăn, mời cả nhà ta ăn cơm…”. Có lúc cháu gọi mẹ là “mẹ bảo mẫu”, có lúc gọi “mẹ, mẹ”, lúc gọi là “bà ngoại”, có thể cháu thường nghĩ đến những người này nên gọi mẹ đến để an ủi mình.
Để sửa chữa cách xưng hô của Đình Nhi, bà ngoại đã nhiều lần nhắc cháu: “Bà là bà ngoại của cháu. Mẹ cháu đã trở về Thành Đô đi làm rồi”. Để thoả mãn khát vọng thường xuyên được gọi mẹ, Đình Nhi đã nghĩ ra một cách để hợp lý hoá sự xưng hô sai của mình:
… Tối qua có thể trong mộng cháu nhìn thấy con, buổi sáng tỉnh dậy bèn đến bên mẹ đòi gặp con mãi. Mẹ hỏi, có phải trong mơ cháu gặp mẹ không, cháu nói đúng. Khoảng 10 giờ tối hôm nay, cháu nói với mẹ: “Cháu làm Lưu Vệ Hoa, bà là mẹ”. Bởi vì trước đó mẹ có nói: “Bà là mẹ của Lưu Vệ Hoa, bà ngoại của Đình Đình”. Có thể thấy, suy nghĩ của cháu rất linh hoạt, nay cháu gọi mẹ là “mẹ mẹ”, mẹ liền đáp ứng, hết sức để cháu không nhớ đến các con …
Đây là lần giải quyết độc lập vấn đề phức tạp đầu tiên kể từ khi Đình Nhi ra đời. Đó là ngày 1 tháng 2 năm 1983, sau khi chúng tôi xa cách 2 tháng. Một năm sau, trước khi tôi đón cháu về Thành Đô, nỗi nhớ mẹ sâu sắc đã giống như một động cơ công suất lớn đã thúc đẩy nhanh sự phát triển năng lực tư duy trừu tượng của cháu. Trong thư ngày 10 tháng 5, bà ngoại đã viết:
… Đình Nhi vẫn gọi mẹ là mẹ như trước, mẹ nói gọi là bà ngoại, bà nội đều được nhưng không được gọi là mẹ. Đình Nhi nói: “Mẹ cháu ở Thành Đô, gọi mẹ thân thiết hơn!”. Khả năng ghi nhớ của cháu rất tốt, cháu vẫn thường xuyên nhắc đến cô bảo mẫu.
Khi bà ngoại viết thư cho tôi, nếu Đình Nhi còn thức bà liền bế cháu vừa viết vừa đọc, bởi vì cháu vừa muốn nghe lại vừa muốn nhìn. Khi tôi gửi thư, tôi cũng dành riêng một đoạn viết cho cháu hoặc viết vào một bưu thiếp đẹp để bà ngoại đọc cho Đình Nhi nghe.

Dạng thông tin truyền đạt bằng thư tín này đã để lại ấn tượng đặc biệt sâu sắc cho Đình Nhi. Ví dụ như trong lá thư đầu tiên gửi cho mẹ, tôi thỉnh cầu mẹ chú ý chăm sóc Đình Nhi, tôi có nhắc đến việc phải thường xuyên cho cháu ăn đậu phụ. Đình Nhi tuy không thích ăn đậu phụ của vùng Hồ Bắc, nhưg vẫn ăn một miếng, miệng nhắc: “Con nghe theo lời mẹ”.


LY HÔN KHÔNG LÀM THAY ĐỔI TÌNH CẢM BAN ĐẦU, KẾ HOẠCH NUÔI CON VẪN TIẾN HÀNH BÌNH THƯỜNG

Sau nửa năm làm thủ tục ly hôn, khi Đình Nhi vừa tròn 2 tuổi, tôi và cha của Đình Nhi chính thức huỷ bỏ quan hệ hôn nhân. Tiền đề đưa ra quyết định này là: tôi tin rằng tôi có khả năng đảm bảo hạnh phúc cho con gái; tuy một người cáng đang nuôi con thì điều kiện sống sẽ giảm sút, nhưng chỉ cần kế hoạch giáo dục thời kỳ đầu vẫn được thực hiện, Đình Nhi vẫn được nuôi dưỡng thành người khoẻ mạnh, tố chất ưu tú, có khả năng tạo ra cuộc sống hạnh phúc.

Trước khi Đình Nhi chuyển đến ở với bà ngoại, về cơ bản cháu vẫn ở vào trạng thái học tập bị động, sinh ra không lâu đã bị lôi kéo chạy trên con đường khia sáng, sau khi xa cách tôi, cháu tạm thời không còn người truyền đạt lượng lớn thông tin, nhưng thói quen học tập thì đã hình thành, giống một chiếc ô – tô không có phanh, vẫn tiến về phía trước theo quán tính.

Trong môi trường mới, cuộc sống của Đình Nhi không những có nhiều nỗi nhớ mới, mà còn nhiều nội dung mới mẻ. Nhà bà ngoại cách nhà trẻ không xa, trước khi nghỉ hưu bà ngoại đã xây dựng nhà trẻ thành một đơn vị tiên tiến, mọi người ở đấy rất tốt. Đình Nhi rất được các cô giáo hoan nghênh. Từ lúc cháu 1 năm 8 tháng, cháu đã hoà nhập vui vẻ cùng các cháu bé 3-7 tuổi khác, học tập tất cả những gì cháu thích.

Trong tháng đầu tiên khi tôi trở về Thành Đô, bà ngoại đã viết liền 3 lá thư miêu tả tình hình của Đình Nhi:
… Cháu rất thông minh, đầu óc phản ứng nhanh. Hai bà cháu đến nhà trẻ chơi, người khác làm động tác gì, cháu bèn học theo. Cháu học các cô giáo đánh trống, hát “ngồi xếp hàng, ăn hoa quả”, nhìn người khác chạy, hét “Chuẩn bị Chạy!”, về đến nhà lại đòi mẹ chạy cùng nó, lại hét to: “Chuẩn bị … Chạy!”.
… Buổi chiều một hôm chơi cùng lớp mẫu giáo bé, Đình Nhi nhìn thấy một bé trai do tranh nhau mà khóc, cháu bèn chủ động đến gần lau nước mắt cho bạn, dỗ anh dừng khóc. Ở nhà trẻ, cháu nghe được câu hát: “Chào mừng Đảng Cộng sản”, hai ngày sau cháu liên tục nói “Đảng Cộng sản”.
… Cháu học tiếng ếch kêu, học động tác của mèo con, chim bay, và cả động tác đánh đàn. Cháu đánh đàn và đòi mẹ vỗ tay, lại bắt mẹ đánh đàn để cháu vỗ tay. Đình Nhi vừa đánh đàn vừa hát bản nhạc “Một, một, ba, ba, năm, …” hoặc là ca khúc học được ở nhà trẻ, hát xong còn nói: “Hát rất hay! Hát rất hay!”.
Những biểu hiện của Đình Nhi khiến tôi rất vui, một tháng trước cháu còn học cái nọ cái kia dưới sự chỉ huy của tôi, xa cách mới được một tháng, cháu đã bắt đầu chỉ huy bà đóng kịch, tuy rằng đó chỉ là bắt chước hoạt động dạy học ở nhà trẻ, nhưng sự bắt chước có ý thức đó chính là thể hiện khả năng tổ chức lãnh đạo của Đình Nhi. Tôi thực sự kinh ngạc: giáo dục sớm thực sự có uy lực rất lớn đối với phát triển tiềm năng của trẻ sơ sinh.

Đình Nhi có thể chủ động học, cố nhiên tôi rất vui mừng, nhưng cũng có điểm không yên tâm. Thư của bà ngoại miêu tả hành vi của Đình Nhi rất nhiều, có cả những miêu tả ảnh hưởng của người lớn hoặc sự vật bên ngoài đối với cháu, nhưng không nói đến kế hoạch của người lớn, sự dẫn dắt có mục đích đối với cháu. Thế là trong bức thư thứ hai tôi đã nhắc nhở mẹ:
…Hiện nay ngoài ăn uống, chơi, ngủ, điều quan trọng nhất là phải bồi dưỡng năng lực và thói quen quan sát sự vật đối với Đình Nhi, vì khả năng quan sát là tiền đề quan trọng đầu tiên để phát triển trí lực. Đối với Đình Nhi mà mói, chính là phải cho cháu biết tên gọi những sự vật mà cháu nhìn thấy.
Chỗ mẹ có rất nhiều sự vật mới mà chỗ con không có như: nhà máy, đường sắt, thị trường tự do, hồ ao, ống hơi nước v.v… Phải dạy cháu nhận thức từng sự vật, gọi tên của chúng, ghi nhớ một số đặc điểm. Thí dụ: nhà máy có một ngôi là lớn, có rất nhiều đường ống, đường ống quanh co gấp khúc, để lộ ra hơi nước cuồn cuộn, hơi nước vừa ẩm vừa nóng, đó là do nước được đun nóng tạo thành nền v.v… Những cái đó, Đình Nhi không nhất định có thể nói được toàn bộ, nhưng người lớn thường xuyên giảng giải, tự cháu sẽ nhớ được. Đợi đến khi năng lực phát âm của cháu tăng cường thêm một bước, tự cháu có thể tổ chức lại những danh từ, lượng từ, hình dung từ mà cháu nhớ được, nói thành một đoạn. Điều đó là một quá trình rèn luyện rất lớn đối với năng lực ngôn ngữ, tích luỹ tri thức, năng lực tư duy và năng lực tổng hợp của cháu, tạo cơ sở vững chắc cho năng lực phân tích và năng lực viết của cháu về sau. Đó là dạy quan sát toàn bộ đối với sự vật.
Còn một dạng quan sát là phân biệt sự khác nhau giữa sự vật cùng loại, như khi nhìn con ếch bèn giảng sự khác nhau giữa ếch đực và ếch cái. Nhìn thấy cấy cối là giảng giải sự khác nhau về hình thái cây (thẳng, cong, khô, nhiều cành …), hình dạng chất lượng quả (mềm, cứng …) sự khác nhau về màu sắc, cách dùng. Những tâm lý người lớn này chỉ cần có điều kiện là thực hiện, nhìn thấy gì giảng nấy, và cũng không cần phải có kế hoạch gì. Nhưng muốn có hiệu quả tốt thì cần phải thường xuyên lặp lại nội dung trong một khoảng thời gian. Như nhận biết màu sắc, đợi cháu ghi nhớ màu đỏ, và màu xanh lục mới dạy cháu biết màu vàng và màu xanh lam, khi dạy màu sắc mới, có thể bất chợt cho cháu nhận biết màu sắc đã học qua để củng cố kiến thức.

Khi giáo dục Đình Nhi, có thể liên kết màu sắc và hình dạng để dạy như quả bóng đỏ, cửa màu vàng, thời màu xanh lam, mây màu trắng, cũng có thể quy loại sắc màu và hình dạng của sự vật để giảng như củ cà rốt màu đỏ, cây chuối cảnh cũng có màu đỏ, quần áo cũng màu đỏ; hoặc củ cải đỏ tròn, củ cải trắng tròn dài, bánh bích qui tròn mảnh v.v…

… Con biết rằng, giáo dục Đình Nhi là phải rất kiên tâm nhẫn nại, hơn nữa lại càng không thể mưu cầu thành công nhanh chóng, thế nhưng cả hai mẹ con mình đều tin tưởng rằng việc giáo dục sớm tất sẽ đem lại kết quả tốt và điều tâm niệm tạo nên môi trường sinh trưởng (vật chất và tinh thần) tốt nhất có thể cho Đình Nhi. Nếu như Đình Nhi có thể trở thành người tài năng hữu dụng, thì đó cũng là sự cống hiến của chúng ta đối với nhân dân, với Tổ Quốc. Do khoảng cách quá xa, trong thư có thể con nhắc lại cùng một sự việc (do không nhớ đã viết hay chưa), cũng có thể mâu thuẫn giữa phần trước và phần sau, xin mẹ hãy rộng lượng tha thứ. Hai mẹ con mình cùng khám phá những kinh nghiệm giáo dục sớm để có thể tạo ra càng nhiều những đứa trẻ có ích cho xã hội.
Nhận được thư, mẹ tôi lập tức tăng cường phần “giáo dục chủ động”, mặc dù việc chăm sóc ăn uống ngủ nghỉ hàng ngày cho Đình Nhi đã rất mệt, lại thêm bệnh đau dây thần kinh của người già thường xuyên xảy ra.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-04-15 21:12:21Mục Đồng>
“CÁI ĐUÔI NHỎ” CỦA BÀ NGOẠI, NHÌN THẤY GÌ HỌC NẤY


Trong những ngày xa mẹ, Đình Nhi suốt ngày quấn lấy bà ngoại, giống như một cái đuôi của bà. Từng lời nói, việc làm của bà ngoại đều trở thành đối tượng bắt chước của Đình Nhi. Sự bắt chước này được thể hiện ngay trong lá thư đầu tiên của bà ngoại.
… Hai bà cháu đến nhà người khác chơi, khi trở về chủ nhà ra tiễn, mẹ nói: “Không cần đưa tiễn, mọi người còn đang bận kia mà”. Sau đó vào dịp khác, chủ nhà vừa đưa tiễn cháu đã nói: “Không cần tiễn, mọi người còn đang bận mà”. Cháu còn nói: “Đến nhà trẻ trượt cầu thang, ngồi ghế quay, ngồi thuyền đung đưa đi, bà!”. Một bé trai ở nhà bên cạnh đến chơi nhà chúng ta, mẹ nói cháu ra chơi với em, cháu lập tức nói: “Chớ đánh nhau!”.
Những lời nói này của Đình Nhi đều là nghe được từ bà ngoại. Chỉ có điều khi đó bà ngoại còn chưa biết Đình Nhi mới 1 năm 8 tháng mà đã nghe hiểu, nhớ lâu, còn dùng rất đúng tình huống.

Những tình tiết được miêu tả trong thư của bà ngoại có thể thấy, trong một tháng đầu xa cách mẹ, cơ quan phát âm của Đình Nhi đã phát triển thuần thục, không những có thể nói liền mạch nhiều câu hát mà năng lực biểu đạt tiềm ẩn cũng nhanh chóng được biểu hiện. Tuy rằng cháu mới được 1 năm 9 tháng tuổi nhưng cháu có thể sử dụng thoả đáng những từ vựng có ý nghĩa tu từ mà chỉ những đứa trẻ 4 tuổi mới bắt đầu sử dụng, như “lập tức, hiện tại, nhanh một chút, …” v.v… Cháu bắt đầu vận dụng từ vựng một cách hợp lý, vận dụng hoàn chỉnh hợp lý để biểu đạt những yêu cầu của cháu giống như một người lớn.

Khi tôi mới rời xa, bà ngoại cho rằng Đình Nhi còn quá nhỏ nên không chuẩn bị dạy cháu đọc thơ cổ. Nửa tháng sau, khi bà ngoại dùng lời ca ru cháu ngủ, Đình Nhi bỗng nhiên nói một câu: “Bây giờ cháu dạy bà hát bài Con ong nhỏ.”. Sự chuẩn xác trong cách dùng từ, sự hoàn chỉnh của câu chữ mà cháu dùng khiến bà bắt đầu lựa chọn những câu thơ cổ để dạy Đình Nhi. Đầu tiên bà ngoại giảng hàm nghĩa của mỗi câu thơ, sau đó dạy cho Đình Nhi đọc thuộc lòng.

Nhà bà ngoại không có người giúp việc, mọi việc trong gia đình đều phải tự tay bà làm. Bắt chước bà ngoại làm một số việc nhỏ cũng là một trong những nội dung “học chủ động” của Đình Nhi. Những sự bắt chước này đều rất có giá trị trong việc học tập thường thức cuộc sống và tích luỹ kinh nghiệm xử lý công việc cho trẻ nhỏ. Trong thư bà ngoại viết:
… Ngày mai Đình Nhi vừa tròn 1 năm 10 tháng tuổi. Hôm qua ở trong nhà bếp, mẹ xào rau, cháu cũng lấy đồ để xào, đòi bỏ mỡ, muối, xì dầu vào, cháu lại còn đòi nếm thử rau. Cháu biết rằng mây mù ở trên trời, mẹ xay sữa đậu nành cháu còn đến giúp bón đậu vào cối. Rửa mặt, rửa tay, bôi dầu gội … nói chung cháu đều đòi tự mình làm được.
… Có lúc Đình Nhi cầm một cốc nước đến chiếc bồn tưới hoa, vừa làm vừa nói: “Tôi có việc, tôi bận”. Có lúc tự mình cầm giẻ lau lau sạch sẽ các ghế ngồi, vừa làm vừa nói: “Tôi đang làm vệ sinh”.
Trong giai đoạn học tập lấy bắt chước làm chính, năng lực sáng tạo của Đình Nhi cũng bắt đầu manh nha. Khi cháu học được những khúc hát mà bà ngoại hát ru ngủ bèn bắt đầu yêu cầu bà ngoại đổi lời hát.
… Ngủ vẫn đòi hát “Con ong nhỏ”. Có lúc cháu đòi hát “Con ong lớn”, mẹ liền hát “Con ong lớn bay vù vù, bay đằng tây, bay đằng đông, yêu học tập, yêu lao động”. Có lúc mẹ hát: “Nhà ta có em bé béo”, cháu lại đòi mẹ hát “Anh béo”, cháu rất vui.
Bà kêu: “Đình Nhi rất thông minh, phương pháp giáo dục của mẹ có lúc theo không kịp”. Khi Đình Nhi không muốn đọc những câu thơ cổ đã thuộc lòng và nhàm chán, bà ngoại cũng không còn cách nào. Tôi vội vàng mua hơn chục cuốn sách báo trẻ em, gửi về cho bà trước ngày Tết Nhi đồng 1 – 6 để làm tài liệu dạy cho Đình Nhi. Trong thư gửi cho bà ngoại, tôi viết:
… Hy vọng mẹ và cậu Vệ Trung bớt chút thời gian giảng cho Đình Nhi nghe. Sách phải cho cháu xem từng cuốn từng cuốn một, chứ đừng cho cháu nghịch và cũng tránh để cháu xé rách. Nếu như giữ gìn tốt, có thể để lại cho con của Vệ Trung xem. Có điều đó không phải là chủ yếu, điều chủ yếu là phải bồi dưỡng niềm tin hứng thú và cảm tình của cháu đối với sách, luyện thành thói quen yêu sách. Ngoài ra, mỗi lần không nên xem quá lâu để tránh cho trẻ chóng chán.
Để huấn luyện các cơ tay, chuẩn bị cho cầm bút sớm, tôi còn đặc biệt dặn dò:
… Đình Nhi bắt đầu học mặc quần áo phải không? Cần phải dạy cho cháu cài cúc như thế nào, có thể dạy cho cháu dùng đất sét nặn quả táo, củ cải, quả chuối … Còn có thể nặn một số dụng cụ làm việc, động vật …
Đình Nhi nghe được thư này, mỗi lần mặc quần áo đều nói: “Mẹ dạy con mặc quần áo?”. Mỗi lần xem sách bèn nói: “Mẹ bảo con phải xem từng cuốn sách một.”. Đình Nhi còn thường xuyên nói: “Mẹ thích nhất con, gửi sách cho con xem”. Cháu sợ bà ngoại báo những khuyết điểm của cháu cho tôi, bèn nói: “Báo cho mẹ, mẹ sẽ không gửi sách cho cháu và cũng không yêu cháu nữa”.

Sau Tết Nhi đồng 1 - 6, ông ngoại của Đình Nhi từ Đại học Ngạc Tây về Vũ Hán dự “Hội nghị đại biểu tiên tiến”, sau đó có ghé qua nhà, lần đầu tiên gặp cháu ngoại, những biểu hiện của Đình Nhi khiến ông vừa kinh ngạc lẫn mừng vui. Ông viết thư nói:
… Đình Nhi tuy chỉ là đứa trẻ trên hai tuổi, nhưng cháu rất thông minh. Chưa đọc thư cho ông nghe, đọc rất diễn cảm. Cháu biết nói rất nhiều lời của người lớn, phân biệt được cả “thói quen tốt” và “thói quen xấu” … Bố đưa cháu lên phố mua đồ, mua bốn chai bia, dùng túi ny-lon để đựng. Cháu nói: “Túi nhỏ thế rất nguy hiểm”. Cháu rất thích ăn cháo, ăn xong lại đòi rửa bát cho bà, rửa từng cái từng cái rất sạch. Có lúc, cháu cầm một cuốn sách, ngồi nghiêm túc trên ghế, miệng lẩm bẩm. Bố hỏi cháu: “Đình Nhi, cháu ngâm nga cái gì đấy?”. Cháu nói: “Cháu yêu mẹ, mẹ yêu cháu…”. Có lúc bố nói: “Đình Nhi, lại đây thơm ông một cái”. Cháu liền đầu tròn môi, hướng về phía bố, hôn bố chùn chụt một cái, xong cười ha, ha, ha … Về nhà mới ba ngày mà vui gấp nghìn lần, 99% là do sự hồn nhiên của trẻ nhỏ mang lại.
Thú vị nhất là hôm ra đi, cháu muốn rửa chân giúp ông. Cháu mang một cái cốc nước đến: “Ông ơi! Rửa chân!”, bố đưa chân ra, cháu liền giúp bố cởi tất, sau đó dùng một tay đỡ chân, motọ tay dội nước vào, sau đó kỳ cọ bàn chân, ngón chân đến gót chân. Rửa xong còn dùng khăn lau khô, sau đó mang giày lại cho ông đi. Quá trình làm của cháu hết 10 phút, đến khi sạch sẽ mới thôi. Không ngờ một đứa trẻ mới hơn 2 tuổi mà đã làm được như vậy, khiến bà ngoại cũng phải cười khen.


CẢ NHÀ ĐỒNG TÂM NUÔI DẠY “BÉ BÉO”


Thời kỳ năm 1983, ly hôn còn là một việc động trời và được coi là trái với tập tục, những người thân của tôi đều cho rằng Đình Nhi quá bất hạnh, nên càng thương cháu. Tết đến, bác dâu về nhà chồng ăn Tết đã mua cho Đình Nhi mấy bộ quần áo mới. Đan Lệ, vợ chưa cưới của cậu Vệ Trung, cũng vội đan cho Đình Nhi chiếc áo len.

Thời kỳ đó, thịt, trứng, rau quả đều khó khăn không phải mua là có ngay được. May mà cậu Vệ Trung có mấy người quen là lái xe, nên thường giúp mua sắm, đảm bảo tiêu chuẩn dinh dưỡng theo định lượng cho Đình Nhi: mỗi ngày nửa cân (0,25 lít) sữa, một quả trứng hoặc là hai bìa đậu phụ, một lạng (0,05 kg) thịt nạc hoặc cá, sau giấc ngủ trưa còn có hoa quả. Cách ăn cũng theo yêu cầu của tôi: mỗi bữa trước tiên cho cháu ăn hết lòng trắng trứng, sau đó cho cháu ăn cơm và rau, giữa hai bữa vẫn định kỳ uống nước, không cho cháu ăn linh tinh. Phương pháp này khiến Đình Nhi phát triển rất chắc mà không bị béo phì. Cậu viết trong thư nói:
…Cháu rất thích ăn nội tạng động vật như dạ dày, gan, bầu dục. Cháu nói là cháu là “bé bị thịt”. Cháu đặc biệt thích ăn cá. Ở đây có rất nhiều loại thức ăn để thay đổi món, hiện nay có lươn ếch .v.v… Chúng em thường chế biến thay đổi để cháu không bị chán.
Đình Nhi vừa tròn 2 tuổi đã có tính tự giác cao, rửa mặt cũng đòi tự mình làm, mọi sự việc bất kể có làm được hay không nhưng đều đòi tự làm. Để giáo dục tính độc lập của cháu, bà ngoại cũng ra sức thoả mãn nhu cầu của Đình Nhi. Nhưng Đình Nhi vẫn còn là đứa trẻ chưa hiểu nhiều sự việc, trước ngày sinh nhật không lâu còn làm một chuyện ngốc nghếch: Cháu nhìn thấy trong ti vi cảnh vận động viên nhảy cầu từ trên cao xuống, liền đem chiếc ô tô đồ chơi mà cậu mua cho ném từ trên tầng ba xuống, nói rằng: “Để cho ô tô bơi!”. Có khi vì sợ Đình Nhi bị bỏng lửa, bỏng nước nóng, bà ngoại đành phải để cho cháu khóc vài tiếng.

Trong mắt của bà ngoại “khuyết điểm” phải nhắc đến nhất đó là Đình Nhi thường có những hành vi tấn công như đánh, mắng những người lạ (đều là người quen của bà ngoại và cậu) đến hỏi han, xoa đầu cháu. Tôi đoán đó là nỗi sợ tái diễn cảnh tượng đau khổ “xuất hiện người lạ à mất đi người thân à mất đi cảm giác an toàn” từ đó mà áp dụng “biện pháp tự vệ”. Để sửa đổi thói quen này cho Đình Nhi, ngoài việc dạy cho cháu nhận biết những sự vật mới, bà ngoại còn trọng điểm tiến hành giáo dục đạo đức, lễ phép cho Đình Nhi, không cho phép cháu đánh, mắng chửi người khác, gặp người khác phải chào hỏi như: chào ông, chào bà, chào chú. Không lâu bà ngoại đã giành được những kết quả khả quan.
… Những khi nhà không có khách, mẹ thường giảng cho cháu hiểu đạo lý, dạy cho cháu phải biết yêu mến, nhiệt tình đối với người khác, cháu đã biết tiếp thu. Như gần đây có ông Tề (nhạc phụ tương lai của cậu Vệ Trung) đến, cháu rất nhiệt tình chào ông, lại còn lấy thuốc cho ông, sau đó đem gói thuốc bỏ vào trong túi ông. Cháu biết mời ông uống trà, chủ động đặt cái ghế con trước tủ đựng đồ ăn sau đó tự trèo lên ghế lấy lạc và dưa đến đặt bên cạnh ông, mời ông ăn.
Cậu Vệ Trung còn tả tỉ mỉ những tiến triển mới về mặt năng lực biểu đạt và năng lực quan sát khi Đình Nhi được 2 năm 2 tháng.
… Ngày 29 tháng 5, em đưa Đình Nhi đến công viên Trung Sơn chơi nửa ngày. Khi mua vé vào cổng, Đình Nhi nói: “Cậu vào mua vé, cháu ở ngoài đợi cậu”. Khi vào trong công viên cháu nhìn thấy người khác bơi thuyền bèn nói: “Đợi cô Đan Lệ đến, chúng ta cùng bơi thuyền, nếu chỉ có hai cậu cháu thì không bơi. Có cô Đan Lệ đến vui hơn nhiều”. Những lời đó đều do tự Đình Nhi nói ra. Hôm đó em không muốn cho cháu đi bơi thuyền, một là thời gian gấp gáp, hai là vì chỉ có mình em, không có người trông nom cháu ngộ nhỡ gặp nguy hiểm, nên chuyện bơi thuyền phải dẹp sang một bên. Sau đó hai cậu cháu đến khu động vật. Hôm ấy thời tiết tốt nên mọi chim sẻ đều hót líu lo. Đình Nhi vui vẻ nói: “Ở nhà ta cũng có con chim đang hót (chỉ trong sách)”. Khi nhìn thấy báo biển, mọi người đều nói có hai con, nhưng Đình Nhi chỉ nói có một con thôi, nói đã bơi ngược lại. Thực tế, đích thực chỉ có một con báo biển, nó lúc bơi thẳng, lúc bơi ngược lại …
Khi Đình Nhi được 2 năm 3 tháng, để nâng cao cảm hứng đọc thuộc thơ của cháu, bà ngoại đã chọn một số bài thơ cổ có vẽ những cảnh rất đẹp, minh hoạ. Có cả bài thơ đếm số rất hay: “Một hai đi ba dặm, khói bếp bốn năm nhà, đình dài bảy tám chiếc, tám chín mười nhành hoa”. Bà ngoại viết thư nói:
… Đình Nhi thích đọc nhất câu thơ “Sàng tiền minh nguyệt quang (Ánh trăng sáng trước giường)” của Lý Bạch. Có lúc đọc đến câu: “Đê đầu tư cố hương (Cúi đầu nhớ cố hương)”, Đình Nhi bèn hỏi: “Quê hương của cháu ở Thành Đô, quê hương của bà ở đâu?”.
Ngoài ra, bà ngoại còn thông báo cho tôi biết “động hướng mới” của Đình Nhi: học chữ và chắc chước chị ở nhà đối diện vẽ.
… Cháu vừa vẽ vừa nói: “Em vẽ một quả cầu và vẽ một chiếc thuyền”. Sau đó cháu vừa vẽ lại vừa nói: “Đây là tượng trưng cho nước”. Mỗi lần vẽ cháu đều nói: “Vẽ xong gửi cho mẹ, mẹ sẽ rất vui mừng”.
Cùng với sự chuyển dịch của thời gian, tình cảm của Đình Nhi đối với bà ngoại, đối với cậu ruột ngày càng sâu sắc. Bà ngoại và cậu vẫn sống như trước đây, có một vai trò thúc đẩy sự phát triển trí lực của Đình Nhi. Có thời gian cậu ruột rất bận công tác và tự học, ngoài ra, còn phải lo chuẩn bị hôn nhân, thời gian ở cạnh Đình Nhi rất có hạn, Đình Nhi đã đem tâm nguyện của mình tạo thành một bài ca trẻ em:
“Bà ngoại thân yêu,
Cậu ruột thân yêu,
Luôn bên Đình Đình;
Đình Đình luôn bên
Bà ngoại và cậu mình”.
Cậu viết trong thư:
… Bây giờ cháu có thể nghe được tiếng bước chân của em và báo cho bà: “Cậu đã về rồi”. Hôm nay em đi mua gạo, bỗng nhiên trời mưa to, Đình Đình nói với bà: “Ngớt mưa cháu sẽ đem ô cho cậu”. … Buổi tối bà ngoại tắm rửa cho cháu, cháu chủ động nói: “Bà ngoại, có lẽ cháu phải trở về Thành Đô, cháu ở đây khiến bà vất vả quá!”.
Không ngờ rằng, ở Hồ Bắc, Đình Nhi còn học được lòng thương người. Giả sử những thứ khác đều không học được, thì tôi cũng nghĩ rằng chuyến đi này thật không uổng phí.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-10 19:20:59Mục Đồng>
MẸ CON HỘI NGỘ “NGHIỆM THU” RẤT MÃN NGUYỆN


Thời gian trôi nhanh, Đình Nhi đã sống ở nhà bà được hơn một năm. Cháu bắt đầu tỏ ra chán ghét những tri thức vốn đã thuộc làu làu trong lòng. Bà biết được rằng sự giáo dục của mình không thể theo kịp sự phát triển trí lực của Đình Nhi, hy vọng tôi sẽ trực tiếp giáo dục ở bước tiếp theo. Vì Đình Nhi và cũng vì để cho bà vất vả đã lâu nay có thể đến trường của ông để đoàn tụ, tôi quyết định lợi dụng kỳ nghỉ thăm nhà trong dịp tết năm 1984 đưa Đình Nhi trở về Thành Đô.
Để tránh thời gian cao điểm chạy tàu, tôi quyết định đi vào hôm tất niên. Buổi tối hôm trước trên tàu còn đông như nêm cối,, vậy mà giờ lặng ngắt không một bóng người. Trong toa chỉ có tôi ngồi. Tuy có thể nằm xuống chỗ ngồi của ba người nhưng lại lạnh đến nỗi không thể chợp mắt. Qua một đêm, cuối cùng vào ngày mồng 1 Tết, tôi đã nhìn thấy đứa con gái mong mỏi bấy lâu được gặp mặt.

Nỗi niềm vui mừng của cảnh đoàn tụ kể sao cho hết, tình hình về Đình Nhi cũng khiến tôi hết sức hài lòng.

Tính cách của cháu phát triển rất lý tưởng, nhiệt tình, chủ động, ý thức tham dự rất mạnh. Ngày Tết, những người đến chúc Tết bà ngoại rất nhiều. Mỗi khi có khách, Đình Nhi lại ra giúp tiếp đãi khách, lại còn chủ động biểu diễn tiết mục, khách vỗ tay tán thưởng khiến Đình Nhi càng phấn khởi, cháu thường kéo tay khách khi ra về: “Các bà đừng đi, cháu còn chưa biểu diễn hết cơ mà …”. Bà ngoại vội vàng nói giúp khách rằng, mọi người còn phải đi chúc tết những nơi khác. Nếu muốn để Đình Nhi biểu diễn hết thì phải mất một tiếng đồng hồ, vì ngoài biểu diễn ca múa, đọc thơ, cháu còn thích tự biên tự diễn, những bài ca múa do cháu hứng khởi sáng tác phải đến khi bản thân thấy mệt cháu mới kết thúc.

Khả năng lý giải và khả năng tự kiềm chế của Đình Nhi vẫn phát triển tốt, phàm là những việc không cho phép cháu làm, chỉ cần giảng giải kỹ đạo lý cho cháu, cháu sẽ nỗ lực tự kiềm chế không làm. Thí dụ: cậu Vệ Trung nhờ bạn cùng học mua ở Thẩm Quyến về một chiếc raido cassete âm thanh nổi, cậu thường ghi những lời bài hát, lời đọc thơ, lời nói của Đình Nhi vào trong băng, sau đó mở ra cho cháu nghe, để cổ vũ cháu học tập. Đình Nhi rất muốn chơi đùa với chiếc radio cassete, nhưng cậu Vệ Trung không cho Đình Nhi động đến đài, nói để đến khi lớn lên sẽ dạy cháu cách dùng, cháu bèn nhẫn nại không động đến.

Có lúc, bạn cùng học của cậu cho Đình Nhi nghịch cassete, Đình Nhi liền nói: “Đợi đến khi cháu đi học, cậu sẽ dạy cháu, cậu yêu cầu cháu bây giờ không được động đến”. Quan niệm phải trái của cháu rất rõ, có lần cháu làm việc trái, bèn chủ động thỉnh cầu trừng phạt: “Bà đánh cháu đi!”. Nếu như có đạt thật một hai roi cháu cũng không khóc. Năng lực tư duy trừu tượng của Đình Nhi phát triển rất nhanh, đã có thể suy diễn lô-gíc theo chuẩn mực. Trong hơn 10 ngày đợi tôi đến đón, Đình Nhi nói: “Cháu muốn có mẹ!”. Cậu ruột đùa nói: “Cậu muốn coóchị, cháu đòi được chị cậu đến, cháu sẽ có mẹ!”. Đình Nhi suy nghĩ một lát liền nói: “Cậu yêu cầu mẹ cháu tới, cậu sẽ có chị!”. Nhiệt tình học tập của Đình Nhi rất cao, bà ngoại dạy cháu học câu thơ: “Gà cất gáy, trời hửng sáng, mọi người thức dậy mở cửa…”. Trên đường từ phía nam đến phía bắc nhà máy, cháu nhìn thấy một con gà trống liền đọc lại câu thơ trên. Nửa năm trước khi tôi trở về thăm nhà, cháu đã nhận biết hơn 20 cuốn sách tranh thiếu nhi, lần này cháu còn có thể vừa lật sách vừa giảng cho tôi những nội dung cháu đã đọc thuộc như “Bướm đến nhà hoa” và “Câu chuyện bốn mùa …”. Cháu còn rất thích trò chơi chữ, một loại là từ phản nghĩa, một loại là từ đồng âm.
Đối với từ phản nghĩa, cháu bắt đầu biết từ khi 2 năm 3 tháng tuổi. Bắt đầu cũng rất ngẫu nhiên. Hôm đó, bà ngoại và Đình Nhi đứng trên sân thượng nhà bốn tầng, bà ngoại tự nhiên nói một câu: “Đứng thật cao, nhìn thật xa”. Khi trở về phòng bếp, Đình Nhi tự nhiên nói: “Đứng thật cao, nhìn thật xa”, bà ngoại nghe vậy rất mừng bèn giảng giải cho Đình Nhi: “Bà nói đứng thật cao, cháu phải đối lại là nhìn thật xa” và luyện vài lần cho Đình Nhi. Bữa cơm trưa ngày hôm sau, cậu Vệ Trung nói: “Đứng thật cao”, Đình Nhi bèn mở to mồm đối lại: “Nhìn thật xa”; cậu nói: “Nhìn thật xa, Đình Nhi đối lại: “Đứng thật cao”. Khi tôi biết được sự việc này từ trong thư, tôi lập tức thỉnh cầu mẹ bắt đầu cho Đình Nhi học từ phản nghĩa. Khi tôi về thăm nhà vào dịp hè, tôi lại dạy cho Đình Nhi một số từ phản nghĩa, có lẽ những trò chơi này đã không ngừng thức tỉnh cháu chú ý phân biệt sự vật, chơi mấy tháng mà vẫn không thấy chán.

Đối với những từ đồng âm thì là do trước Tết cháu học được từ một bài hát như sau:

Hoa đo đỏ, cỏ xanh xanh
Hát bài ca, cười yên ngựa
Ngựa gì? – Ngựa to
Gì to? – Núi to
Núi gì? – Núi cao
Gì cao? – Tháp cao
Tháp gì? - Bảo tháp
Gì bảo? - Quốc bảo
Gì quốc? – Trung Quốc

Tôi cảm thấy hình thức hỏi đáơ của bài này rất thú vị. Chỉ cần đổi câu sau thành: Gì quốc? Trung Quốc. Gì trung? Miền trung, hoặc Lòng trung, Gia trung … sẽ có thể biến thành một phương pháp huấn luyện từ vựng lớn vô hạn. Vậy là, trước tiên tôi dạy Đình Nhi chơi trò đếm số, người thua hỏi, người thắng trả lời, khi không trả lời được sẽ mất tư cách trả lời, biến thành người hỏi. Để Đình Nhi học được nhiều từ mới trong trò chơi, tôi thường “mượn” một từ cho cháu khi cháu không trả lời được. Mỗi lần tôi trả lời hoặc mượn cho cháu từ mới, tôi liền nhân cơ hội đó giảng giải một lượt cho cháu hiểu, sau đó lại chơi tiếp. Đình Nhi rất thích thú trò chơi đối từ này, và cho mãi đến khi cháu vào tiểu học, cháu vẫn thường lợi dụng lúc chúng tôi cùng đi trên đường để đòi cùng tôi chơi trò “đối từ”. Trò chơi đó đã nhanh chóng củng cố và phát triển từ vựng của Đình Nhi.


3 TUỔI KIỂM TRA TRÍ LỰC ĐÃ NHẢY MỘT BƯỚC ĐI VẠN DẶM

Phương pháp giáo dục này còn mang lại thành công ngoài dự đoán: tại căn nhà mới của Vệ Trung và Đan Lệ, tôi phát hiện một cuốn sách “Bách khoa toàn thư nhật dụng gia đình”. Trong sách có một phần “Bảng trắc lượng trí lực nhi đồng nhóm tuổi 3 – 7”. Bảng trắc lượng này do Belner, nhà tâm lý học người Pháp và Simon, nhà tâm lý học người Mỹ cùng biên soạn. Với sự hiếu kỳ cao độ, tôi đã dùng nó để kiểm tra trí tuệ của Đình Nhi, muốn kiểm nghiệm xem những nỗ lực gần 3 năm qua của mình đã đạt được kết quả như thế nào.

Dạng trắc lượng này chính alf sự so sánh giữa tuổi trí lực nhi đồng và tuổi thực tế để phán đoán mức độ trí lực, công thức của nó là tuổi tâm lý + tuổi thực tế = thương số trí lực. Nói cách khác, nếu một đứa trẻ vượt qua được trắc nghiệm mà bình quân những đứa trẻ 3 tuổi mới có thể vượt qua thì tuổi trí lực (tức là tuổi tâm lý) của trẻ là 3 tuổi, vượt qua trắc nghiệm mà những đứa trẻ 4 tuổi mới có thể vượt qua thì tuổi trí lực của đứa trẻ là 4 tuổi. Cứ như vậy tịnh tiến dần lên. Trong trắc nghiệm, nếu vượt tuổi thực tế thì mỗi một đề trắc ngiệm được tăng thêm 2 tháng tuổi trí tuệ, ngược lại cũng như vậy. Nếu như tuổi trí lực là 8 tuổi, tuổi thực tế mới chỉ có 6 tuổi, thương số trí lực là 8: 6 x 100 = 133, nếu như tuổi trí lực là 8 tuổi thực tế là 12, thương số trí lực là 8: 12 x 100 = 67.

Lần đầu tôi trắc lượng trí lực cho Đình Nhi là vào trung tuần tháng 2 năm 1984, Đình Nhi kém 1 tháng thì đây 3 tuổi, tuổi trí lực đo được là 5 tuổi 4 tháng, thương số trí lực là 183. Cháu đều vượt qua toàn bộ những đề trắc lượng về năng lực ngôn ngữ ở nhóm 3 – 7 tuổi; cháu cũng vượt qua tuyệt đại bộ phận đề của nhóm 3 – 7 tuổi về mặt thường thức (như giữa gỗ và kính có gì khác nhau); cháu chỉ không làm được một đề (Đổi số có 3 chữ số); trong số bảy đề ở bộ đề trắc nghiệm ở nhóm 7 tuổi, cháu cũng không thể vượt qua một số đề của nhóm 4 – 6 tuổi (như vẽ hình học, buộc dây thừng).

Kết quả này đã đủ làm phấn chấn lòng người. Theo thống kê điều tra của các nhà tâm lý học, ở độ tuổi lên 3, một đứa trẻ có độ tuổi tâm lý “sớm 2 năm” là tuyệt đỉnh thông minh, trong 5 vạn người mới có một.

(Cần phải nói thêm là đến 13 tuổi sự “sớm 2 năm” sẽ không có gì đặc biệt nữa. Bởi vì con người ở khoảng 6 – 12 tuổi sự tăng trưởng trí lực có quan hệ trực tuyến với tuổi đời, sau 12 tuổi sẽ rất khó căn cứ vào sự tăng trưởng của tuổi đời để phán đoán trình độ trí lực của người. Vì thế, thương số trí lực của người 12 tuổi đến trưởng thành phải dựa vào góc độ thống kê học để tính toán, tức là coi điểm bình quân đạt được qua trắc nghiệm của người cùng lứa tuổi là 100, lấy dãy phân số thuộc điểm giành được của người đó để đoán định vị trí điểm trí lực của anh ta trong số người cùng lứa tuổi).

Để kiểm nghiệm tình hình phát triển trí lực của Đình Nhi theo tiêu chuâẩ Trung Quốc, tôi đã nhờ mẹ mình mượn cuốn “Đại cương giáo dục nhà trẻ” do Uỷ ban giáo dục quốc gia phát hành. Đối chiếu kết quả cho thấy, Đình Nhi đã nắm được toàn bộ nội dung giảng dạy của lớp mẫu giáo nhỏ và mẫu giáo lớn. Nói một cách khác, nhìn từ góc độ nắm vững tri thức, cháu đã có thể trực tiếp học tiểu học.

Thế nhưng, tình hình Trung Quốc khi đó không thể cho phép tôi thực hiện được kế hoạch của mình: do ngân sách giáo dục có hạn, nhà nước quy định 7 tuổi mới được vào tiểu học. Tôi thì vừa không có tiền để nuôi gia sư dạy cháu học tiểu học, lại vừa không thể vứt bỏ công việc của mình để dạy cháu. Đó là điểm mà tôi không thể sánh kịp những người đi trước trong thực hiện giáo dục từ sớm ở Âu Mỹ và Nhật Bản.

Có điều, tôi đã sớm có sự chuẩn bị tư tưởng cho việc này. Đó là hiện thực mà tuyệt đại đa số những gia đình ở Trung Quốc phải đối mặt. Tôi nghĩ, trong điều kiện như vậy nếu mình có thể mò mẫm ra một con đường giáo dục cho trẻ có trí lực sớm, thì chẳng phải càng có ý nghĩa hơn hay sao? Khi đó, kế hoạch của tôi là phải tìm cho Đình Nhi một nhà trẻ thật tốt tại Thành Đô, sau giờ làm việc phải dốc sức dạy con tất cả những điều cần dạy, mà trọng điểm là tập đọc tiếng Hán và học tiếng Anh.

Vì việc học đọc tiếng Hán, có thể nói đây là một sai lầm rất đáng tiếc của tôi trong việc giáo dục Đình Nhi từ 0 đến 3 tuổi. Khi đó, tôi chỉ nghĩ được rằng “học chữ” trong giai đoạn trẻ con đang tập ghi nhớ bằng hình mẫu chưa có tác dụng gì, không thể dùng để đọc sách, mà không nghĩ rằng có thể lợi dụng phương thức ghi nhớ theo hình mẫu để trực tiếp học các từ ngữ tiếng Hán, cũng giống như học tiếng Anh bắt đầu từ việc học từ đơn âm tiết. Mặc dầu vậy ngay từ khi Đình Nhi mới được 2 năm 4 tháng tuổi, đã tự phát nhận biết được tên của mười mấy quyển truyện tranh nhi đồng. Tôi và mẹ đã chưa biết kịp thời phát huy tác dụng khả năng học tập này.

Bảy năm sau, một tổ chức chuyên nghiên cứu về giáo dục từ sớm cho trẻ nhỏ của Trung Quốc đã xuất bản một cuốn sách cho lưu hành nội bộ có tên “Phương pháp bồi dưỡng cho các cháu có tư chất thông minh”, trong đó có nói đến phương pháp làm thể nào để dạy cho trẻ em dưới 1 tuổi học chữ. Đại ý là lợi dụng những nguyên lý của phương pháp nhớ theo hình mẫu để trẻ con nhận biết mặt chữ trên các tấm bìa cứng giống như việc nhận biết hình vẽ các đồ vật vậy. Cứ thế luyện tập mãi mãi, trẻ con hai ba tuổi có thể tự mình đọc sách được.

Ngoài ra, những việc cần làm khác chúng tôi đều đã hoàn thành tốt đẹp, hơn nữa những công việc mà chúng tôi đã làm là những công việc vô cùng quan trọng. Đó là “kích thích và phát triển toàn diện các khả năng tiềm ẩn của trẻ nhỏ” chứ không phải chỉ là học tập tri thức từ sớm. Hiện nay, có không ít các bậc cha mẹ và một vài tổ chức nghiên cứu về việc giáo dục trẻ trước tuổi đi học. Họ đã làm một cách đơn giản là lấy việc dạy chữ sớm cho trẻ để thay thế cho việc giáo dục từ sớm toàn diện. Họ nghĩ rằng, giáo dục từ sớm chính là dạy trẻ con biết chữ từ rất sớm. Đây là một sự hiểu lầm về việc giáo dục từ sớm. Nếu đặt trọng tâm của việc giáo dục từ sớm ở chỗ dạy chữ từ sớm, mà bỏ qua việc phát huy các tiềm năng trí tuệ, như thế thì những đứa trẻ trước tuổi đi học ấy cũng chỉ là những đứa trẻ được học sớm dăm bảy chữ mà thôi. Những tri thức đó tuy rằng có lợi, nhưng hiệu quả của nó thật kém xa so với việc phát triển trí lực toàn diện.

Thực ra, trí lực và tri thức không phải là một. Tri thức là sự nhận thức các sự vật và các qui luật phát triển của nó, cùng với sự tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn của loài người, là sự cấu thành của các loại khả năng như: khả năng chú ý, khả năng quan sát, khả năng tưởng tượng, khả năng tư duy … Chả thế, đã có người nói rằng: “Phát triển trí lực là hòn ngọc vô giá, còn truyền thụ tri thức chỉ là một vật quý giá mà thôi”. Khi đã hiểu được điều đó, thì sự kiên trì nhẫn nại giáo dục con cái của các bậc cha mẹ sẽ tăng lên gấp bội, họ không nôn nóng thực dụng nữa, mà đã biết sàng lọc chắt chiu để nhào nặn nên những tố chất quý báu và tâm hồn trong sáng cho con cái mình.

Chính vì cả nhà tôi đã biết tình nguyện dồn hết tất cả thời gian và tâm huyết cho sự tiến bộ từng bước của Đình Nhi, mới có thể làm cho cháu trong hoàn cảnh cha mẹ ly dị nhau mà vẫn hoàn thành tốt đẹp công việc phát triển trí lực và giáo dục tình cảm từ 0 đến 3 tuổi.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-14 17:46:30Mục Đồng>
CHƯƠNG 4
3 – 6 TUỔI: PHÁT TRIỂN TRÍ LỰC TOÀN DIỆN
(Lời tự thuật của Lưu Vệ Hoa)
--------------------------

CÓ NÊN NÓI VỚI ĐÌNH NHI VỀ VIỆC BỐ MẸ ĐÃ LY HÔN?

Ăn tối xong, ông bà ngoại lên đường đi Hồ Bắc, tôi và Đình Nhi cũng ngược dòng Trùng Khánh trở về Thành Đô.

Suốt dọc đường tôi luôn băn khoăn suy nghĩ: Có nên nói với Đình Nhi về chuyện bố mẹ đã ly hôn hay không?

Với khả năng quan sát của Đình Nhi, tôi không thể hy vọng rằng, nó sẽ có đủ khả năng để quan sát sự khác biệt giữa gia đình mình với gia đình của các bạn nhỏ khác.

Suy nghĩ kỹ tôi cho là chỉ có thể theo nguyên tắc: làm thế nào để có lợi nhất cho sự phát triển tâm lý lành mạnh của Đình Nhi.

Theo kinh nghiệm bản thân tôi thấy rằng, biết chuyện ly hôn của cha mẹ, tuổi càng nhỏ thì càng ít bị tác động tâm lý hơn. Năm tôi mới 4 tuổi, tôi đã biết chuyện ly hôn của cha mẹ tôi vì lúc lấy cha tôi bị kết tội “phần tử phái hữu phản cách mạng”. Trong tâm lý ngày thơ của tôi, ly hôn là một việc lạ mà cũng rất bình thường. Nó lạ và bình thường như mặt trời mọc vào buổi sáng và mặt trăng mọc về ban đêm. Anh trai tôi lớn hơn tôi 2 tuổi, và em trai bé hơn tôi 3 tuổi tiếp nhận việc ly hôn của cha mẹ cũng hồn nhiên như vậy. Thời “cách mạng văn hoá”, một số bạn bè tiểu học của tôi thường chửi tôi là con của “một tên phản cách mạng”, và của “một người mẹ bỏ chồng” lúc đó tôi chỉ thấy chúng nói đúng sự thật, không cảm thấy sự đau xót.

Nếu lúc ấy đã 15 tuổi mà nghe người ta chửi mình, thì chắc rằng tôi sẽ hiểu được sự thật về cha mẹ mình ly hôn, và sẽ đau khổ lắm. Tốt nhất cứ để cho Đình Nhi cũng giống như mẹ nó ngày xưa, biết sự thật chuyện ly hôn của cha mẹ khi tuổi nó còn chưa hiểu được “ly hôn là cái gì”, chắc rằng nó sẽ thấy bình thường như việc mặt trời và mặt trăng mọc ở phương Đông và lặn ở phương Tây.

Vậy nên nói với cháu thế nào đây?

Theo kinh nghiệm bản thân, đối với trẻ thơ, thái độ của người lớn trước một sự việc không vui bao giờ cũng có tác động mạnh hơn đối với tâm lý trẻ con so với thực chất việc đó. Vì chuyện ly hôn của mẹ mà tôi đã tuyệt vọng đến mức mấy lần định tự tử, nhưng trước mặt chúng tôi mẹ luôn tỏ ra bình tĩnh. Theo trí nhớ của tôi, mẹ chưa bao giờ tỏ ra đau khổ và oán hận vì chuyện ly hôn. Chúng tôi cũng chưa từng thấy những cảnh tượng khủng khiếp: cha mẹ cãi, đánh nhau. Trước đó cha tôi đã bị đi tù, mẹ tôi và bà bảo mẫu – bà Diêu, không hề giải thích gì về chuyện đó. Cứ như vậy, mẹ tôi đã bình tĩnh và mơ hồ tiếp nhận việc “ly hôn”, mà dường như không hề cảm thấy cuộc sống của mình có gì thay đổi (khi đó ba anh em chúng tôi đang ở nhờ nhà bà bảo mẫu họ Diêu). Giờ đây nhớ lại, tôi vô cùng biết ơn mẹ: bà đã cô nén không để bóng đen của việc ly hôn bao trùm lên tâm hồn thơ dại của chúng tôi. Đã vậy, tôi cũng sẽ bình tĩnh và mơ hồ thông báo chuyện ly hôn này cho con gái tôi Đình Nhi, như mẹ tôi đã làm trước đây.

Quyết định như vậy, khi con thuyền vừa rời khỏi đất Tam Hiệp, tôi đã nói chuyện ly hôn của ba mẹ cho Đình Nhi với thái độ vô cùng bình tĩnh. Đúng như tôi dự đoán, Đình Nhi tỏ vẻ không quan tâm lắm về những sự việc ngoài tầm hiểu biết của mình. Sau khi nghe tôi nói: “Mẹ sẽ mãi mãi ở với Đình Nhi”. Con gái tôi không hỏi gì thêm. Đối với Đình Nhi, chỉ cần ngày ngày được sống bên người thân yêu, được nghe mẹ kể chuyện và dạy bảo, là đã thoả mãn lắm rồi.

Đối với tôi, để Đình Nhi biết được chuyện ly hôn của cha mẹ mà không làm tổn thương đến tâm lý và tình cảm của nó, đó mới chỉ là “bước khởi đầu trên con đường vạn dặm”. Cả một cuộc thử thách khắc nghiệt đang chờ đợi tôi ở phía trước: từ hôm nay tôi sẽ phải đơn độc nuôi dạy con gái, phải làm như thế nào để dạy dỗ Đình Nhi trở thành một nhân tài cho đất nước trong hoàn cảnh hiện nay.

Có lẽ những nhà tiên phong trong sự nghiệp giáo dục từ sớm xưa nay chưa ai gặp phải cảnh ngộ như tôi. Họ đều có đợc một gia đình giầu có và đầy đủ, vợ chồng hoà thuận, họ đều coi không khí gia đình tốt đẹp là điều kiện tất yếu để giáo dục con cái nên người.

Nhưng tôi lại nghĩ, cha mẹ song toàn chưa chắc đã là một điều kiện tất yếu tạo ra “không khí gia đình tốt đẹp”, có khi lại là một yếu tố bất lợi, nhất là khi người lớn thường cãi nhau, hay có sự không thống nhất trong việc dạy dỗ con cái. Gia đình đơn chiếc cũng có cái hay riêng của nó – không có mâu thuẫn trong phương pháp dạy con. Chỉ cần biết phòng ngừa những ảnh hưởng bất lợi của một gia đình không toàn vẹn đối với sự trưởng thành của con cái, chỉ cần kiên trì thực hiện những lý luận, nguyên tắc trong giáo dục từ sớm đối với con. Tôi hoàn toàn có thể dạy dỗ Đình Nhi trở thành một con người có đầy đủ những tố chất ưu tú, có nhân cách kiện toàn và có năng lực tạo ra một cuộc sống hạnh phúc.
Cụ thể là, điều bất lợi lớn nhất của một gia đình không toàn vẹn là dẫn đến sự khiếm khuyết, thiếu hụt trong tâm lý con cái. Nếu người lớn do quá nuông chiều hoặc trong lòng luôn tức giận, mà đối xử với con cái mình trong một trạng thái tâm lý không bình thường (hoặc là vì bố mẹ ly hôn mà nuông chiều, nhượng bộ con cái đủ điều, hoặc là luôn chửi rủa đánh đập, hoặc thả lỏng cho tự do vì cho rằng con cái chỉ là một gánh nặng đối với mình … Nếu vậy, thì có thể sẽ tạo ra những khiếm khuyết không thể nào bù đặp nổi trong tâm lý con cái. Để tránh được những bi kịch như vậy, tâm lý của người bố hoặc mẹ trong gia đình đơn chiếc phải thật kiện toàn và lành mạnh, phải cố gắng hết sức để con cái mình thấy được gia đình đơn chiếc nhà mình cũng chẳng khác gì với những gia đình cha mẹ song toàn, mình cũng bình thường như mọi đứa trẻ khác.

Nếu Đình Nhi lại là một đứa con trai, gia đình thiếu vắng một người cha làm tấm gương để bồi dưỡng phẩm chất của một người đàn ông thì sự việc sẽ khó khăn hơn nhiều. Đình Nhi lại là một cháu gái. Tôi tin rằng mình có đủ khả năng làm một tấm gương cho con. Tôi dự định ban ngày khi đi làm, sẽ đưa con đến nhà trẻ. Thời gian còn lại từ lúc từ nhà trẻ trở về đến khi cháu đi ngủ, tôi sẽ tận dụng để phát triển trí tuệ và bồi dưỡng tính cách cho con. Sau khi con đã đi ngủ rồi, tôi sẽ tranh thủ thời gian tự học theo chương trình đại dọc do Đài truyền hình hướng dẫn. Việc tự học này không chỉ do nhu cầu trong công tác biên tập của tôi, mà còn do nhu cầu của việc giáo dục Đình Nhi. Tôi cần phải không ngừng bồi dưỡng tri thức thì mới có thể tiếp tục dẫn dắt con gái, cùng con gái trưởng thành.

7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-03 15:40:24Mục Đồng>
GHI ÂM CÁC CÂU CHUYỆN ĐỂ LÀM PHẦN THƯỞNG CHO CON - MỘT VIỆC LÀM CÓ NHIỀU TÁC DỤNG

Về đến khu tập thể của Liên hiệp hội văn nghệ tỉnh đã vào cuối tháng 2 năm 1984. Sau khi dọn dẹp qua loa nhà cửa tôi vội dẫn con đi tìm một người bạn đồng nghiệp hỏi về việc tôi nhờ ông tìm giúp nhà trẻ con Đình Nhi.

Ông đã liên hệ một nhà trẻ kiểu mẫu thuộc Sở giáo dục tỉnh. Đó là Nhà trẻ số 3 ở Thành Đô, chủ nhiệm và bí thư đều là người quen của ông. Các bà ấy đều nói rằng, việc cho Đình Nhi vào học trong Nhà trẻ số 3 này không có vấn đề gì. Chỉ có điều đang là đầu năm dương lịch chưa đưa vào được, phải chờ đến tháng 9, khi bắt đầu nhập học thì mới thu nhận.

Như vậy lại gặp khó khăn rồi! 70 đồng tiền lương tháng của tôi cộng thêm 20 đồng phụ cấp nuôi Đình Nhi hằng tháng của cha cháu, chỉ đủ mua lương thực và sách vở cho hai mẹ con, muốn may thêm một chiếc áo mới cũng không có tiền, lấy đâu ra tiền để thuê bảo mẫu, tôi không thể nghỉ không lương cả nửa năm trời để ở nhà trông nom Đình Nhi, chỉ còn cách đem theo con đến nơi công tác. Cũng may chính lúc đó, lãnh đạo cơ quan sắp xếp cho tôi được nghỉ công tác hai tháng để tham dự một lớp “chỉnh Đảng”. Thế là Đình Nhi hằng ngày đều dự một lớp học “chỉnh Đảng”.

Tổng biên tập lúc đó là thầy Lý Luỹ - một người lãnh đạo rất tốt, sống có tình người. Để tiện việc cho tôi chăm sóc giấc ngủ trưa của Đình Nhi, cuộc họp các buổi chiều, thầy bố trí tại phòng khách nhà tôi. Như vậy Đình Nhi có thể ngủ một mạch đến 3 giờ chiều. Sau khi ngủ dậy vẫn có thể tuỳ ý uống nước hoặc ăn hoa quả. Ngoài ra, Đình Nhi còn có thể mở tai nghe để nghe các câu chuyện đã ghi âm. (Thời đó, ở phòng làm việc người ta không bố trí ổ cắm điện).

Cuộc sống của Đình Nhi lúc đó thật là khó khăn, nhưng chưa bao giờ cháu dám quấy rầy tôi trong những giờ họp. Có lẽ, vì tôi rất quan tâm không để Đình Nhi cảm thấy “bị trống trải trong cuộc sống tinh thần”. Tôi luôn tạo cho Đình Nhi thấy có những việc cần làm, không tự do lêu lổng, hoặc quấy rối làm nũng mẹ trong các cuộc họp, hoặc lang thang nghịch ngợm ở ngoài sân. Buổi sáng hằng ngày khi đến hội họp tại phòng làm việc, tôi đã đem theo rất nhiều truyện tranh và các đồ dùng để vẽ. Lúc thì bảo Đình Nhi đọc sách, lúc thì bảo cháu tập vẽ, cũng có lúc cho Đình Nhi ra vườn hoa nhỏ ngoài sân, hoặc ngắm nhìn bầy kiến gió. Các bạn đồng nghiệp trong Hội Văn nghệ thấy vậy ai cũng khen cháu “biết vâng lời và ngoan ngoãn”!.

Sự ngoan ngoãn của Đình Nhi còn có phần quan trọng bởi “chính sách khen thưởng” cho cháu. Cứ mỗi lần cháu làm một việc tốt đều được thưởng. Thời gian “chỉnh Đảng” tôi đã ra điều kiện cho Đình Nhi: “Nếu con biết chơi ngoan trong những lúc mẹ đang họp, tối về mẹ sẽ đọc sách, ghi âm lại các câu chuyện cho con nghe”. Để có “phần thưởng nghe kể chuyện”, Đình Nhi đã bắt đầu biết tự giác kiềm chế mình.

Khi màn đêm buông xuống, là giờ phút hạnh phúc nhất của Đình Nhi. Đêm nào cũng vậy, tôi đều ôm cháu vào lòng, đọc cho nó nghe một vài quyển truyện tranh liên hoàn, vừa đọc, vừa ghi âm: những cuốn băng kể chuyện mà Đình Nhi thường nghe đều do tôi kể và ghi lại. Trong khi ghi âm, mỗi lần gặp một từ mới mà Đình Nhi chưa biết, tôi đều dừng lại giảng giải cho cháu hiểu, mỗi lần kể xong một câu chuyện tôi đều hướng dẫn cháu kể lại vắn tắt câu chuyện đó. Chiều hôm sau, cho Đình Nhi vừa nghe băng vừa lật sách xem tranh.

Làm như vẫy sẽ có năm cái lợi. Một là để cho Đình Nhi trước khi đọc chữ đã có thể hiểu được các câu chuyện bằng tranh. Hai là tiết kiệm được thời gian của người lớn, chỉ cần một lần, Đình Nhi sẽ được nhiều lần nghe kể chuyện. Ba là để bồi dưỡng ngữ cảm cho Đình Nhi, trong quá trình nghe đi nghe lại nhiều lần, Đình Nhi sẽ hiểu được chỗ nào cần lên cao hoặc hạ giọng, nhằm nhanh chóng nâng cao khả năng đọc sách của con. Bốn là làm tăng vốn từ cho trẻ, những từ ngữ, những mẫu câu đã được nghe nhiều lần tự nhiên đọng lạ trong trí nhớ của trẻ, rất lợi cho việc biểu đạt ý nghĩ của trẻ một cách chuẩn xác và mẫu mực. Năm là để bồi dưỡng những tình cảm và đạo đức cao thượng cho trẻ, những câu chuyện tôi chọn để ghi âm phần lớn đều là những câu chuyện nổi tiếng trong nước và nước ngoài, những tình cảm và tư tưởng cao đẹp của nhân loại sẽ ngấm dần, ngấm sau, tạo nên một tâm hồn cao đẹp và phong phú cho trẻ.

Ngoài năm mục đích trên, bằng cách nghe kể chuyện qua băng, tôi còn muốn cho Đình Nhi nhanh chóng học được tiếng phổ thông chuẩn mực. Ở với bà ngoại, Đình Nhi sớm đã học được kiểu ngữ âm rất lạ: nửa là giọng Hà Nam, một nửa là giọng Hồ bắc và cộng thêm một chút tiếng phổ thông không được chuẩn xác lắm. Rời Hồ Bắc, tôi lập tức chỉnh lại ngữ âm cho Đình Nhi, và bắt cháu phải nói với tôi bằng tiếng phổ thông. Tôi cho rằng, sớm dạy tiếng phổ thông cho những đứa trẻ sống ở những vùng quen dạy tiếng phổ thông cho những đứa trẻ sống ở những vùng quen dùng tiếng địa phương là rất quan trọng. Bởi  vì, được nghe tiếng phổ thông quá muộn, trẻ con sẽ cho rằng “Đó không phải thứ tiếng của mình”, nên trẻ không muốn nói, mà có nói thì cũng khó mà lưu loát được. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến việc đọc sách thời kỳ đầu của trẻ, mà còn làm chậm quá trình biến ngôn ngữ sách vở thành ngôn ngữ tư duy, rất không có lợi cho việc phát triển trí tuệ cho trẻ.

Tôi chọn cách tự mình ghi âm các câu chuyện cho con nghe, không chỉ vì thời đó chưa có bán các loại băng từ ghi lời kể chuyện, càng quan trọng hơn là, xét về mặt tâm lý học, giọng nói của mẹ bao giờ cũng thân thiết, cũng thu hút sự chú ý của trẻ con hơn là giọng nói trong băng từ xa lạ. Một chuyên gia về tâm lý học nhi đồng người Mỹ, ông Rawans Saple cho rằng, kể chuyện là phương thức tốt nhất để phát triển tư duy cho trẻ con. Bởi vì nghe đọc truyện, trẻ con thươờn không biết chán, có sự tham gia của bạn nữa thì sức lôi cuốn không gì so sánh nổi. Để cho nhưữn câu chuyện tôi kể ngày càng có sức hấp dẫn hơn đối với Đình Nhi, tôi đã cố gắng kể thật diễn cảm. Cứ đến đoạn đối thoại của các nhân vật tôi cố gắng bắt chước gần như thật bằng các giọng trầm bổng, khàn đục hay thanh thoát. Về tốc độ, tôi cố gắng không nhanh cũng không chậm, nhanh quá, trẻ con sẽ phản ứng không kịp, chúng nghe không hiểu và thế không còn hứng thú, chậm quá, các khái niệm từ ngữ sẽ rời rạc không chỉ làm trở ngại cho việc hiểu nội dung câu chuyện, mà còn ảnh hưởng đến tốc độ tư duy của trẻ.

Thời gian đó, tôi đã ghi lại cho con hàng loạt những câu chuyện rất hay, có truyện tranh liên hoàn, có cả những chuyện không có tranh. Có những câu chuyện được chia thành nhiều tập như: “Những câu chuyện đồng thoại về thế giới muôn màu”, “Cuộc chu du trong thế giới côn trùng”, “Ngàn lẻ một đêm”, “Những chuyện lạ lùng về chú ngốc”, “Chiếc hòm đá của con công” … Có những truyện chỉ in trong một quyển như: “Thần bút Mã Lương”, “Chú mèo đeo chuông”, “Hồ thiên nga”, “Người con gái của biển cả” và “Chuyện lạ kỳ về một ông vua nhỏ” … Những cuốn sách và những câu chuyện ấy giống như một kho báu vô cùng quý giá đối với tuổi thơ, ở đó chứa đầy các của cải tinh thần không bao giờ cạn kiệt. Trước khi Đình Nhi biết đọc biết viết, cháu đã được nghe đi nghe lại những câu chuyện bổ ích ấy, và từ đó đã hập thụ biết bao nguồn dinh dưỡng tinh thần.

Các nhà giáo dục nhi đồng thường nói, nghe nhiều, đọc nhiều những câu chuyện mà nội dung hấp dẫn và phong phúc, ngôn ngữ chuẩn mực và trong sáng sẽ nhanh chóng nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ con. Đó chính là những thu hoạch đầu tiên sau khi Đình Nhi nghe kể chuyện. Thường thường những câu chuyện vừa được ghi âm tối hôm trướcm sáng hôm sau, những từ ngữ và những cách nói trong câu chuyện ấy đã được Đình Nhi vận dụng. Tôi còn nhớ, sau khi nghe kể chuyện “Người con gái của biển cả”, ngày hôm sau lúc bước lên thang gác, Đình Nhi nói: “Con sẽ bước nhẹ nhàng như bong bóng nước”. Ngày kẻ niệm sinh nhật Đình Nhi tròn 3 tuổi, cháu đã biết gộp nhiều câu chuyện kể thành một câu chuyện dài tới hơn 800 chữ, mà giọng kể rất diễn cảm.


NHỮNG NGÀY CHỦ NHẬT VUI VẺ

Tuy ban ngày vẫn luôn ngoan ngoãn, tối về vẫn được nghe mẹ kể chuyện, thế nhưng ngày nào cũng phải theo mẹ đến cơ quan hội họp, đối với một cháu bé mới vừa 3 tuổi, cuộc sống thật là buồn chán. Sau 6 ngày hội họp triền miên, sáng sớm ngày chủ nhật, vừa mở mắt dậy, Đình Nhi đã nũng nịu nói với mẹ: “Mẹ ơi, hôm nay con không đi “chỉnh Đảng” nữa đâu! Mẹ nhé!” – “Ừ!” – tôi nói, “Mấy hôm vừa rồi đi họp với mẹ, con đã rất ngoan, hôm nay mẹ sẽ thưởng cho con, mẹ cho con đi chơi ở ngoại ô thành phố”. Đình Nhi mừng lắm, cháu vùng dậy đi rửa mặt, đánh răng. Ăn điểm tâm xong, Đình Nhi rất bật cùng tôi chuẩn bị đồ đạc đi chơi xa, đồ ăn thức uống và cả mấy quyển truyện tranh, rồi Đình Nhi ngoan ngoãn để tôi bế đặc cháu vào chiếc “chuyên xa” cháu vẫn thường ngồi - một chiếc ghế mây chuyên dùng để lai trẻ con đặt ở phía sau xe đạp, đề phòng Đình Nhi ngồi ở sau xe ngủ gật rồi ngã, tôi đã dùng phương pháp thủ công cắt ngắn chân cái ghế mây, chằng thật chặt lên cái đèo hàng ở phía sau xe, sau khi đặt con ngồi vào đó rồi, tôi lại dùng dây vải quấn chặt con vào ghế.

Đình Nhi biết rằng, mẹ làm như vậy là vì sự an toàn của nó. Để cho Đình Nhi ngay từ nhỏ đã có được một quan niệm về sự an toàn, tôi thường giảng giải cho nó nghe những việc làm của mình để đảm bảo an toàn. Ví dụ như: khi sang đường tại sao lại phải nhìn bên trái trước, rồi nhìn bên phải sau, và phải đi trong vạch sang đươờn? Qua ngã tư tại sao phải nhớ câu: “Đèn đỏ dừng xe, đèn xanh đi được, đèn vàng chờ một lát”. Đến cửa hàng ăn bình dân tại sao lại phải tự đi lấy bát đũa? Trẻ con tại sao lại không được dẫn đươờn cho người không quen biết? … Tôi cho rằng trẻ con sống ở thành phố, giáo dục an toàn phải được đặt lên hàng dầu. Chỉ có đảm bảo cho trẻ con thật an toàn, khoẻ mạnh thì mới có thể nói đến chuyện giáo dục những cái khác được.

Giáo dục an toàn cho trẻ con, bạn đừng hy vọng chỉ một lần là được, bạn phải làm đi làm lại nhiều lần trong những tình huống cần thiết. Trên đường ra ngoại ô, chúng tôi phải đi qua một ngã tư lớn nhất của thành phố. Năm 1984, Sở Công an Thành Đô, cứ hằng tháng lại dán tại đây một bản thông báo về số lượng người tử thương do tai nạn giao thông. Khi đi qua bản thông báo chứ lớn ấy tôi cố tình dừng lại đọc kỹ bản thông báo cho Đình Nhi nghe, tôi còn nói với cháu: “Những người mẹ có con bị chết vì tai nạn sẽ đau khổ biết chừng nào, và những con người tàn tật kia sẽ sống ra sao?”. Cuối cùng tôi và Đình Nhi cùng cầu mong: những bi kịch đó đừng bao giờ đến với chúng tôi và những người thân của chúng tôi. (Sau này khi có dịp qua ngã tư đó, Đình Nhi lại nhắc tôi hãy chú ý đọc bản thông báo kia, tôi lại nhắc lại cảm xúc và những lời cầu nguyện để khắc sâu ấn tượng cho con. Cách làm này tạo cho con tôi có một khoảng thời gian tốt là luôn tự giác ý thức đến sự an toàn, “bất kể làm việc gì, an toàn vẫn là số một”, đó là nhận thức chung của cả hai mẹ con chúng tôi).

Khi đi qua ngã tư đó rồi, Đình Nhi lại hỏi: “Ở Thành Đô sao lại có nhiều tai nạn xe cộ vậy mẹ? Có nhiều người không sợ tai nạn hay sao?”. Tôi nói với Đình Nhi, tai nạn xe cộ ai mà chẳng sợ, cũng giôốn như ai cũng sợ bệnh ung thư, thế nhưng rất nhiều người luôn có tâm lý cầu may, luôn tự lừa mình và để lừa người mà cho rằng “vận xấu đó sẽ không rơi vào mình”. Thế là ai cũng thích được khoẻ mạnh và an toàn, mà vẫn có người không mau đã trở thành vật hy sinh cho tai nạn giao thông, phạm tội và bệnh tật.

Trong những lời nói trên có một số từ Đình Nhi không hiểu như “tâm lý cầu may, tự lừa mình để lừa người, phạm tội, vật hy sinh” … Cũng giống như khi đọc truyện cho con nghe, tôi vẫn dừng lại giải thích cho con, không bỏ qua, không né tránh. Chắc bạn sẽ nói rằng: “Cháu còn bé như vậy, mà những từ ngữ khó thế, có giải thích cháu cũng không hiểu, không nhớ được, vậy thì giải thích có tác dụng gì?”. Thực ra, Đình Nhi có nhớ được hay không, điều đó không quan trọng, điều cốt yếu là bạn đã biết hành động để giải quyết những vẫn đề khúc mắc. Bản thân việc giải thích từ mới của bạn chính là một bài học dạy cho con bạn về thái độ và phương pháp làm việc. Nếu người lớn trong khi truyền thụ tri thức cho trẻ, gặp những cái khó hoặc những cái còn chưa hiểu rõ lắm mà lại né tránh, bỏ qua thì ở con bạn sẽ hình thành một thói quen xấu là “không chịu đào sâu suy nghĩ”, sau này trong học tập chắc chắn sẽ có những lỗ hổng kiến thức là chuyện bình thường.

Để cho Đình Nhi có được một thói quen tốt là không hiểu phải hỏi ngay, tôi không chỉ luyện cho Đình Nhi hễ gặp một từ mới nào, phải làm cho rõ, mà mỗi khi gặp thứ gì lạ, hoặc một sự việc gì chưa rõ ràng phải lập tức làm cho cháu hiểu. Làm như vậy sẽ tạo cho cháu một thói quen “những điều nhìn thấy phải hiểu rõ”. Nếu gặp một sự việc gì mà tôi chưa rõ lắm tôi sẽ nói với Đình Nhi: “Để mẹ hỏi lại xem, hoặc là để mẹ tra lại trong sách vở”. Những khi đó, Đình Nhi thường nói với tôi: “Con sẽ nhớ để nhắc mẹ đấy”.

Đưa Đình Nhi ra đến ngoại ô, tôi liền đi gửi xe đạp, chuyển sang xe buýt. Chúng tôi có thể đi đến tận các vùng ngoại ô xa mà không bị mệt. Khi trở về Đình Nhi co mệt thì cũng không phải đi bộ, có thể ngủ gật trên chiếc “chuyên xa”, phía sau xe đạp của tôi.

Xư buýt chạy chừng mười lăm phút đến một vùng nông thôn ngoại thành, những thửa mạ non xanh, những luống cải ra hoa vàng rực, cả một bầu không khí trong lành thơm mát đang chờ đợi chúng tôi. Xuống xe, chúng tôi rẽ xuống một con đường nhỏ cạnh dòng sông. Tôi để Đình Nhi tự do chạy nhảy dọc triền đê. Nhìn thấy những bông hoa dại giữa bãi cỏ xanh, Đình Nhi sung sướng chạy lại, hái lấy hái để. Chả mấy chốc cháu đã ôm về một bó hoa lớn đủ màu sắc.

Tôi bắt đầu bài học bằng câu hỏi: “Con có biết các loại hoa này gọi là gì không?”. Có những loài hoa Đình Nhi đã thấy trong sách vở liền nhận ra ngay, có những loài hoa chưa gặp lần nào cháu liền nhờ tôi chỉ bảo. Tôi gọi tên từng loại hoa, sau đó chỉ ra sự khác biệt về màu sắc và hình dáng của các loại hoa đó. Khi nói về hình dáng của hoa, tôi giảng luôn cho Đình Nhi biết cấu tạo mỗi bông hoa, đâu là đài hoa, cánh hoa, đâu là nhuỵ đực, nhuỵ cái. Đình Nhi đã hiểu được, và nói lại cho tôi nghe. Khi cho Đình Nhi biết về loài hoa tử vân anh, tiện thể tôi nói về “phân chuồng” và “phân hoá học”. Chỉ cho Đình Nhi thấy những người nông dân đang bón phân ở trên đồng. Đình Nhi thấy những ngươiò nông dân đang bón phân ở trên đồng. Đình Nhi bỗng bịt mũi kêu la: “Thối quá!”. Tôi giảng luôn cho Đình Nhi câu ngạn ngữ: “Không có mùi phân bắc, sao có bát cơm thơm”.

Đối với Đình Nhi, ngày chủ nhật đó thực là thích thú, cháu đã học được bao nhiều điều mới lạ. Thời kỳ còn trong nhà trẻ, động lực học tập của trẻ con không phải là những lý tưởng cao cả, những ý chí kiên cường, những niềm say mê cao thượng hoặc một mục đích nào khác. Muốn phát triển trí tuệ cho trẻ, phải dựa vào tính hiếu kỳ và tâm lý thích vui vui của con trẻ. Sau đó, chủ nhật nào tôi cũng dẫn Đình Nhi đi chơi. Và trong những cuộc đùa vui thích thú đó, tôi đã dạy cho Đình Nhi nhiều điều mới lạ. Nhiều gia đình cũng thường xuyên dẫn con đến công viên chơi, nhưng ít người quan tâm đến việc hướng dẫn con hiểu biết thiên nhiên và yêu quý thiên nhiên. Ngoài việc chạy nhảy vui chơi, hít thở không khí trong lành, con cái họ chẳng có được mấy điều thu hoạch. Chơi suốt một ngày, trở về nhà chỉ nói được motọ câu: “Hôm nay em cùng bạn X chơi ở công viên”. Đáng tiếc biết bao!
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-05 17:01:24Mục Đồng>
LỰA CHỌN NHÀ TRẺ TỐT, TỪ BIỆT TRƯỜNG NỘI TRÚ

Hằng ngày phải mang theo Đình Nhi đến cơ quan làm việc, thật vô cùng bận rộn. Sáng sớm, khi tiếng chuông đồng hồ báo thức vang lên, là bắt đầu một cuộc chiến mới, cho đến tận lúc Đình Nhi lên giường ngủ mới tạm coi là kết thúc. Lúc đó tôi mới có thời gian dồn tâm sức vào tập giáo trình đại học. Tiểu Viên, cô bạn hàng xóm, thấy cảnh ngộ của tôi quá vất vả, chị chủ động nhờ cô giáo của nhà trẻ nội trú, nể tình riêng cho Đình Nhi vào lớp học của cô buổi ban ngày. Tôi đang mừng vì từ nay ban ngày hoàn toàn được giải phóng, thì bất ngờ, khoảng gần trưa ngày thứ ba, Đình Nhi gào khóc nằng nặc đòi về nhà. Cô giáo sợ lãnh đạo nhà trẻ phát hiện ra, vội vã bảo Tiểu Viên mang cháu về. Thích đến nỗi đã có lần sơ ý làm “mất lòng” một người hàng xóm. Lần ấy Đình Nhi còn đang ở nhà bà ngoại, cháu đã ngây thơ nói với ông hàng xóm rằng: “Ông Đình ơi! Cháu không thích ông đâu, cháu chỉ thích cô giáo ở nhà trẻ thôi!”.

Nhờ Tiểu Viên xin lỗi cô giáo giúp tôi, và nhắc nhở Đình Nhi kàm như thế là không được. Cháu thẳng thắn nói: “Ở nhà trẻ, cô giáo không dạy hát, không dạy múa, không kể chuyện gì, ngay cả đồ chơi cô cũng không cho chơi, con không đi nhà trẻ ấy đâu!”. Tiểu Viên nói: “Lớp tuổi nhỏ là phải như thế chứ!”. Cô khuyên tôi nên nhờ Hội Văn nghệ liên hệ cho Đình Nhi được chính thức vào nhà trẻ đó. Phòng Tổ chức của Hội Văn nghệ tỉnh cũng đồng ý cho tôi một chỉ tiêu được cho con vào nhà trẻ nội trú, họ đang chờ tôi trả lời.

Thái độ bất bình thường của Đình Nhi làm tôi nhận ra cái nhà trẻ đó chỉ là loại nhà trẻ kiểu cũ, “đơn thuần là bảo mẫu và giữ trẻ”. Trẻ con ở đó chẳng được học cái gì. Nó không giống như nhà trẻ số 3 mà một đồng nghiệp của tôi đã giới thiệu. Ở đó họ thực hiện một chế độ giáo dục đổi mới, các loại đồ chơi nhằm phát triển trí lực của trẻ con được bày sẵn trên bàn, cháu nào thích chơi thứ gì, tự do lựa chọn, chỉ có điều chơi xong phải trả lại nguyên chỗ cũ.

Tôi cũng đã một vài lần đưa Đình Nhi đến Nhà trẻ số 3 đó tham quan, cháu rất thích. Song muốn vào được nhà trẻ kiểu mẫu đó, còn phải chờ đợi thêm mấy tháng nữa. Chọn được nhà trẻ ưng ý rồi, dù có chờ đến ba năm nữa vẫn cứ chờ.


Tôi nghĩ rằng, đừng nói đến loại nhà trẻ không coi trọng phát triển trí lực cho trẻ con, ngay cả các nhà trẻ rất coi trọng điều đó, thì tất cả các loại nhà trẻ nội trú không bao giờ tôi gửi con vào. Bởi vì, trẻ con dưới 6 tuổi rất cần sự giáo dục riêng lẻ của gia đình. Ở chúng, sự chú ý rất hay bị phân tán, tình cảm không ổn định, ý chí rất mỏng manh, không thích hợp với việc lấy giáo dục tập thể làm chính. Chúng không thể tách rời sự gần gũi âu yếm của cha mẹ, chúng rất cần tình cảm gia đình; sự bắt chước lời nói, sự phát triển hành động, sự hình thành tính cách của trẻ … không thể tách rời sự giáo dục riêng lẻ của cha mẹ. Nếu hằng ngày không có được sự giáo dục riêng lẻ của gia đình, thì đã làm mất đi môi trường và động lực chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển cả tâm, sinh lý cho trẻ con. Để cho Đình Nhi hằng ngày đều được thưởng thức “món ăn tinh thần” của gia đình, tôi không gửi Đình Nhi vào Nhà trẻ nội trú.

Như vậy, Đình Nhi chỉ còn cách ngày ngày theo mẹ đi “chỉnh Đảng” mà thôi.

Ít lâu sau tôi đọc được hai mẩu tin quan trọng trên báo chí. Một là, Nhà hát kịch Thượng Hải có chiêu sinh một lớp chuyên tu về lý luận hý kịch, tháng 5 này sẽ tổ chức thi, thời gian học 2 năm, chủ nhiệm lớp là ông Dư Thu Vũ. Tin thứ hai: có một phụ nữ chờ việc ở Thành Đô, thành lập một nhà trẻ tư nhân, điều kiện ở đó tuy còn thô sơ, cô giáo lại chỉ có một mình là bà chủ đó, thế nhưng lại gần 10 đứa trẻ ở đó lại đang vui đùa rất vui vẻ, học phí lại không đắt lắm. Và điều quan trọng hơn là ngay ngày mai có thể cho con nhập học. Thế là tôi liền nộp học phí cho Đình Nhi. Về đến cơ quan tôi vội vã tìm gặp Tổng biên tập Lý Luỹ, hy vọng lãnh đạo sẽ cho phép tôi nghỉ công tác, có thời gian ôn luyện văn hoá để thi vào lớp đại học chuyên tu do thầy Dư Thu Vũ làm chủ nhiệm.

Tổng biên tập Lý Luỹ là một người luôn coi trọng việc bồi dưỡng thế hệ trẻ, ông không chỉ đồng ý cho Ban biên tập chi khoản chi phí cho tôi đi học, mà còn làm công văn báo cáo với Đảng uỷ cơ quan phê chuẩn kế hoạch học tập của tôi. Tôi đã không phụ công lao của đồng nghiệp, trong cuộc đua tranh kịch liệt giữa các cán bộ chuyên ngành trong toàn quốc, tôi đã vượt qua được tất cả các cuộc thi văn hoá, thì chuyên ngành và thi năng khiếu. Tôi tự cảm thấy cũng không đến nỗi nào. Ngoài ra, tôi còn làm việc với Nhà hát kịch Thượng Hải và Xưởng phim Thượng Hải, chuẩn bị một số đề tài cho Ban biên tập chúng tôi. Xong xuôi công việc tôi mới trở về Thành Đô chờ kết quả.

Trong thời gian lên Thượng Hải dự thi, tôi gửi Đình Nhi tại nhà trẻ tư nhân mà tôi vừa kể. Để Đình Nhi được quan tâm chăm sóc tốt hơn trong 20 ngày tôi xa nhà lên Thượng Hải, tôi đã nộp lệ phí luôn cả tháng. Vợ chồng bà chủ động viên tôi cứ yên tâm đi công tác. Khi tôi trở về đến đón Đình Nhi, thấy cháu gầy rộc đi, không còn nhận ra cháu nữa. Chiếc khăn mặt mới tinh giờ bẩn thỉu như giẻ lau nhà. Những điều tồi tệ ấy tôi cũng đã lường trước, nhưng khi Đình Nhi cúi nhặt những hột cơm vãi ở dưới nền nhà cho vào miệng, và nhất là khi tắm cho cháu, thây gân cốt lộ ra. Tôi thương cháu như đứt từng khúc ruột.

Đến nay tôi vẫn chưa hiểu nổi trong 20 ngày xa mẹ, cháu bị đày đoạ như thế nào, tôi cũng không muốn trực tiếp hỏi cái người đã xử tệ với cháu. Tôi không bao giờ bước chân đến cái gọi là trẻ kinh khủng đó một lần nữa. Trong cuốn “Nhật ký dạy con”, ngay sau ngày từ Hồ Bắc trở về, tôi đã viết:
Sau 20 ngày xa cách, trí nhớ của Đình Nhi đã suy giảm quá nhiều, hầu như con không còn nhớ gì về bà ngoại và các cậu của nó, những bài thơ Đường trước đây con thường đọc thuộc lòng nay đều không nhớ nữa, những thói quen tốt đẹp mà tôi đã dày công rèn dũa tạo nên nay đều mất hết, như thói quen giữ vệ sinh, thói quen khi ăn uống. Về tính cách cũng có nhiều thay đổi, không còn ngây thơ hoạt bát như trước đây; tính hồ nghi, bụng dạ hẹp hòi ngày càng thể hiện rõ hơn. Giờ đây con hay chấp nhặt, hay cáu bẳn, hay gào khóc, khát khao được âu yếm nuông chiều. Khuôi mặt gầy tọp đi, những vết muỗi cắn đỏ hằn từng mảng. Tôi đã mất nhiều công sức để uốn nắn lại tính tình và thói quen của con, cốt sao cho tâm hồn và cả thể xác của con được lành mạnh như trước đây. Tôi đã phải thuê cả một cô giúp việc chăm sóc con. Một tháng sau, Đình Nhi trở lại bình thường. Lúc bấy giờ tôi rất lo, những gì đã xảy ra trong 20 ngày qua sẽ để lại những ảnh hưởng không tốt đối với cháu sau này, tôi luôn để tâm theo dõi, Giờ đây (2 tháng đã trôi qua), tôi thấy hầu như hậu quả không có gì ghê gớm lắm.
Thời gian đó, cha mẹ tôi mỗi tháng đã cố dành dụm lấy 10 đồng giúp đỡ tôi một nửa tiên công thuê người trông nom cháu. Khoản trợ cấp đó kéo dài cho đến lúc Đình Nhi chính thức được nhận vào Nhà trẻ số 3.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-26 17:50:07Mục Đồng>
BỎ LỠ THỜI CƠ ĐƯỢC THEO HỌC THẦY DƯ THU VŨ, TÔI HỐI TIẾC VÔ CÙNG

Tháng 7 năm 1984, tôi được nhận vào học lớp chuyên tu về lý luận của Nhà hát kịch Thượng Hải với điểm thi cao nhất, hơn nữa lại là một nữ sinh duy nhất trong số hơn 40 người được may mắn nhận vào. Tay cầm tờ giấy gọi nhập học tôi vừa mừng vừa lo: mừng vì tôi đã thi vào một lớp đại học nổi tiếng với chuyên ngành mình yêu thích, tôi sẽ được theo học một nhà giáo mà tôi hằng ngưỡng mộ - thầy Dư Thu Vũ. Khi đó thầy Dư Thu Vũ cũng chưa có tiếng tăm nổi trội, nhưng tôi yêu quý thầy là vì qua những tác phẩm chuyên luận về hý kịch, thầy đã có cách nhìn độc đáo, một tư duy mới mẻ. Trái lại tôi rất lo, nếu tôi đi học ở Thượng Hải, thì Đình Nhi sẽ ra sao?

Trong thời gian học thi ở Thượng Hải, tôi đã cố ý đi dò hỏi những nhà trẻ ở gần nơi tôi theo học. Với điều kiện như Đình Nhi, cháu sẽ không thể được nhận vào bất kỳ một nhà trẻ nào ở Thượng Hải. Tôi cũng thăm dò về lệ phí khi gửi một cháu nhỏ, một nhà trẻ loại xoàng nhất, cả tiền ăn lẫn tiền công trông trẻ, một tháng ít nhất cũng phải nộp 60 đồng nhân dân tệ. Có nghĩa là, sau khi nộp tiền cho cháu xong, thì toàn bộ thu nhập của tôi trong một tháng cũng chỉ còn lại 10 đồng. Mặc dù toàn bộ tiền học phí đơn vị đã bao cho, song với 10 đồng bạc lo chi phí cho cả tháng, tôi làm sao sống nổi.

Trong lúc đang khó khăn bộn bề như vậy, mẹ tôi đã chìa bàn tay cứu giúp, mẹ bảo tôi cứ để Đìn Nhi lại theo mẹ về Hồ Bắc. Thế nhưng lần này tôi không thể tiếp nhận lòng tốt đó của mẹ được. Bởi vì em dâu sắp sinh cháu nhỏ, nếu trong lúc này tôi lại đẩy Đình Nhi cho mẹ, mẹ tôi cùng một lúc phải chăm sóc cả hai cháu nhỏ! Tôi không thể ích kỷ như vậy được.

Nếu cứ gửi con ở lại Thành Đô, để mình được rảnh rang đi Thượng Hải theo học. Đó cũng là một việc làm ích kỷ. Trong 20 ngày tôi học thi ở Thượng Hải vừa qua, Đình Nhi đã khổ sở như thế nào trong cái nhà trẻ tư nhân đó, khó khăn lắm mới giải quyết được hậu quả tồi tệ đó. Tôi thật không dám đi theo vết xe đổ đó.

Thế thì đành bỏ phí một cơ hội hiếm hoi là được lên Thượng Hải theo học hay sao? Tôi chưa cam tâm chấp nhận, đánh liều tìm đến cha đẻ của Đình Nhi, hy vọng sẽ cho cháu ở tạm với cha đẻ 2 năm. Nhưng anh ấy có nhưữn khó khăn riêng, Đình Nhi không thể ở đó được. Thật hết cách. Tôi đành phải viết thư cho thầy Dư Thu Vũ, nói rõ hoàn cảnh của mình, xin ý kiến thầy, cho phép tôi được tự học ở Thành Đô, đến kỳ thi tôi xin đến tham dự đầy đủ. Thật không ngờ thầy Dư đã thuyết phục được Ban lãnh đạo nhà hát chấp nhận lời đề nghị đó của tôi. Thế nhưng, càng nghĩ tôi càng thấy không ổn, học một lớp lý luận chuyên ngành như vậy theo phương thức hàm thụ thật là khó, chi bằng cứ ở lại Thành Đô tự học đại hcọ theo chương trình Đài truyền hình hướng dẫn, như vậy vẫn giữ lại một cơ hội sau này được nghỉ công tác theo học một lớp chuyên tu của một trường nào khác hơn không.

Như vậy, tôi đã bỏ mất một dịp may hiếm có được theo theo học thầy Dư. Chừng nửa năm sau, thầy Dư có dịp đi qua Thành Đô, rất muốn gặp tôi, thầy đã nhờ một nhà viết kịch nữ nhắn cho tôi biết, thế nhưng không hiểu vì sao bà ấy lại quên. Hai năm sau, thầy Dư Thu Vũ lại viết thư cho tôi, khuyên tôi nên thi nghiên cứu sinh do thầy hướng dẫn. Tôi tự biết rằng, tôi sẽ không thể nào vượt được môn thi Anh văn. Vì vậy, tôi đã viết thư “xin tạ lỗi” thầy. Cũng thật lạ, cái tình cảnh hữu duyên vô phận giữa tôi và thầy Dư ấy, lại được lặp lại trong câu chuyện giữa cha tôi và thầy Dư. Sau đó vài năm, tôi vô cùng kinh ngạc gặp lại bóng dáng của cha tôi trong vài lời “Tái bút” viết sau quyển “Bắc đường chìm nổi của một nền văn hoá” của thầy Dư. Hồi đó, tiếng tăm của thầy đã vang trong cả nước, bạn bè trong nước và thế giới đều đánh giá cao tác phẩm của thầy. Trong lời “Tái bút” của cuốn sách nổi tiếng ấy, thầy đã viết: “Trong tất cả những lời bình luận vừa qua, tôi thấy, nghiêm túc hơn và có kiến giải độc đáo hơn chính là bài viết của năm nhà giáo thuộc khoa Trung văn Trường Đại học Hồ Bắc, bài viết này đã được đăng trong mục Bàn về cuốn “Bước đường chìm nổi của một nền văn hoá” thuộc tờ Học Báo của nhà trường. Tôi rất ngạc nhiên trước những suy nghĩ sâu sắc và độc đáo của Trường Đại học Hồ Bắc về lịch sử văn hoá Trung Hoa và nghệ thuật văn xuôi đương đại”. Thầy Dư Thu Vũ đương nhiên không thể biết được rằng, trong những nhà bình luận đó có cha tôi và cái chuyên mục bàn về cuốn sách của thầy trong tờ Học Báo của nhà trường lại chính do cha tôi đề xướng. Tuy rằng, mục đích chính của cha tôi lúc đó chỉ là kích thích hứng thú của học sinh đối với bộ môn Tập làm văn mà cha tôi đang giảng dạy. Thế nhưng, đọc tác phẩm “Bước đường chìm nổi của một nền văn hoá”, cha tôi thầy mình như “sông sâu núi thẳm gặp tri ân”. Thầy Dư Thu Vũ còn viết: “Sau này, tôi liền tìm đến tận Vũ Hán để nghiên cứu, được biết rằng, Trường Đại học đó ẩn mình trong một vùng xa xăm hẻo lánh của tỉnh này. Tôi hỏi có thể đi máy bay đến đó được không? Họ trả lời: “Đi máy bay cũng phải mất khá nhiều thời giờ mới tới được, mà lại chỉ có thể đi được bằng trực thăng, hơn nữa lại không đáp xuống được vì ở đó mây mù dày dặc mà núi non lại vô cùng hiểm trở. Tôi chưa biết rằng câu trả lời ấy có chính xác hay không (chắc là không, nhưng tôi lại thầm nghĩ rằng, trên dải dất Trung Quốc mênh mông này, những nới còn ẩn chứa những “tàng long ngoạ hổ” chắc là không ít".

Khi tôi đọc được đoạn “Tái bút” trên, thì cha tôi đã không còn ở cõi đời này. Cảnh ngộ biết tiếng nhau mà không có cơ hội gặp nhau của cha tôi trước đây, thật không ngờ lại được lặp lại ngay trong cuộc đời con gái của ông. Có lẽ đó là định mệnh!

Bỏ lỡ mất cơ hội được theo học thầy Dư Thu Vũ, có thể nói rằng đây là sự hy sinh lớn nhất của tôi vì Đình Nhi, và đây cũng là điều cả đời tôi luôn hối hận. Suốt mười mấy năm nay lòng tôi cảm thấy buồn man mác, đôi lúc tôi than thân trách phận. Cũng may là việc nuôi dạy Đình Nhi rất có kết quả, sự hy sinh của tôi đã được đền bù thoả đáng.

“Tình thương máu mủ” chỉ là một tình thương bản năng và mù quáng, chỉ nhằm thoả mãn nhu cầu tâm lý của người thân, đối với con cái chủ yếu chỉ nhằm sự đòi hỏi, và ước muốn về cuộc sống vật chất của nó. Đó là một thứ tình thương “một chiều”, “nước mắt chảy xuôi” mà thôi. Nhà văn M. Gorki nổi tiếng, người Nga, phê phán loại tình thương này: “Đó là thứ tình thương mà bất cứ con gà mái nuôi con nào cũng có”. Các nhà giáo dục học thì cho rằng, thứ “tình thương máu mủ” bản năng phải được nâng lên thành “tình thương vì giáo dục”; (tức là phải có ước muốn, mục tiêu và lòng tin dạy con nên người. Thương yêu con với một thái độ, một nguyên tắc và phương pháp đúng, cùng với việc làm thoả mãn những nhu cầu cần thiết về cuộc sống vật chất cho con, phải đặc biệt coi trọng việc làm phong phú cuộc sống tinh thần, và kích thích niềm say mê của con trẻ, phải xây dựng được một mối quan hệ yêu thương “hai chiều”, dân chủ và luôn quan tâm lẫn nhau …).

Thấy được những thay đổi đáng buồn khi Đình Nhi thiếu thốn “tình thương máu mủ”, tôi mới nhận thức sâu sắc rằng, trong quá trình con cái trưởng thành, “tình thương vì giáo dục” tuy rất quan trọng, song “tình thương máu mủ” không thể nào thiếu được. (Đó là thứ tình thương có tinh thần hy sinh cao thượng, không phải chỉ có ở những con người có quan hệ máu mủ với nhau. Nếu một đứa trẻ con ngay cả “tình thương của một con gà mái nuôi con” cũng không có được thì làm sao nó có thể hưởng thụ được thứ “tình thương vì giáo dục” càng cao cả hơn kia?).

Vậy thì, chúng ta hãy biết nén nhin để hy sinh khi cần phải hy sinh!
 



MUA SÁCH CHỌN NHỮNG QUYỂN NỔI TIẾNG. BỒI DƯỠNG ÓC THẨM MỸ CHO CON

Biết tôi đã trúng tuyển vào Nhà hát kịch Thượng Hải, nhưng lại quyết định không đi, bạn bè ai cũng ngạc nhiên. May mà Tổng biên tập Lý Luỹ, hiểu nỗi khổ tâm của tôi, ông ủng hộ quyết định của tôi. Vì như vậy cùng một lúc, tôi vừa công tác, vừa tự học mà vẫn gần gũi chăm sóc Đình Nhi. Thế là, cuộc sống của tôi vẫn tiến triển đều đều, vẫn con đường cũ.

Được cô bảo mẫu giúp chăm sóc Đình Nhi, tôi có nhiều thời gian hơn cho cuộc sống cuối học kỳ của chương trình tự học. Thế nhưng hàng ngày, khoảng thời gian từ sau bữa tối đến trước khi Đình Nhi đi ngủ, tôi vẫn không quên chương trình giáo dục sớm đối với cháu. Nhân lúc dẫn con đi dạo sau bữa tối, dọc đường thấy được điều gì, tôi liền nói với Đình Nhi về cái đó, mục đích là mở rộng tầm hiểu biết và bồi dưỡng khả năng quan sát cho con.

Tối thứ bảy hàng tuần, hai mẹ con và cô bảo mẫu đều đi chợ đêm trên đường Xuân Hy. Mấy năm nay đang là buổi giao thời giữa các tập tranh truyện liên hoàn truyền thống và các tập truyện tranh màu hiện đại. Chợ đêm tối thứ bảy, thường có những cuộc bán đại hạ giá các tập truyện tranh liên hoàn truyền thống, chỉ cần bỏ ra khoảng 2 hào bạc là đã có thể mua được một quyển sách rất hay. Tôi và Đình Nhi đều rất thích đãi cát tìm vàng trong những quầy sách hạ giá đó. Và hầu như mỗi lần đều có thể mua được vài ba quyển truyện tranh liên hoàn hay mà giá lại rất rẻ. Thời đó trên thị trường mới xuất hiện một loại kem “Đầu búp bê” với giá 3 hào một que, Đình Nhi rất thích ăn loại kem này, nhưng tôi chỉ cho thưởng thức vài lần. Có một lần, như mọi khi đi chợ đêm, tôi định thử xem Đình Nhi thích sách vở đến mức nào, tôi cho con 3 hào và nói: “Con thích mua kem hay mua sách, tuỳ ý”. Đình Nhi không hề do dự: “Con sẽ mua sách”. Tôi hỏi: “Tại sao?”. Đình Nhi nói: “Kem ăn xong là hết, nhưng sách thì có thể xem được mãi mãi”. Các suy nghĩ của con làm tôi thấy mừng lắm, thế là tôi mua sách cho con, và thưởng thêm một que kem nữa.

Khi mua sách, cũng như khi ghi âm các câu chuyện cho con, tôi đều giữ một nguyên tắc là, cố gắng chọn những truyện có tiếng tăm. Tôi tin rằng, qua thời gian sàng lọc, những truyện nổi tiếng đều có sức hấp dẫn nghệ thuật, cso ý nghĩa sâu xa đối với sự phát triển trí tuệ và năng khiếu thẩm mỹ của trẻ em. Ngoài những tập truyện nhi đồng nổi tiếng mà trẻ em rất thích, những bộ tranh liên hoàn được cải biên theo những tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng, cũng là những bộ sách có sức hấp dẫn lâu dài. Trong cuốn “Nhật ký dạy con” có lần tôi đã viết:
Thời gian lên Thượng Hải dự thi, tôi có mua về motọ bộ tranh liên hoàn “Hồng lâu mộng”, Đình Nhi thích đến không ngờ. Suốt ngày cứ quẩn quanh bên tôi và cô bảo mẫu Tiểu Lý đòi kể “Hồng lâu mộng”. Chỉ ít lâu sau cháu đã nhớ được hầu hết các nhân vật và tình tiết trong các tích truyện như: “Cuộc gặp gỡ đầu giữa Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc”, “Hý Phượng lộng quyền”, “Đại Ngọc chôn hoa”… Có lần tôi dẫn Đình Nhi đi xem băng video vở kịch “Hồng lâu mộng”, vì chất lượng băng quá tồi, khi xem đến đoạn “Kim Ngọc lương duyên” thì chuyển sang xem một màn trình diễn vũ balê của Nga, Đình Nhi bỗng khóc oà lên, cứ nằng nặc đòi xem “Hồng lâu mộng”. Tôi dỗ thế nào cũng không nín, cuối cùng đành để Tiểu Lý dẫn cháu về trước.
Tôi cũng rất thích “Hồng lâu mộng”, khi mang thai Đình Nhi, tôi đã đọc lại “Hồng lâu mộng” lần thứ hai. Phải chăng cháu đã được di truyền từ đấy? Bà ngoại cũng thích “Hồng lâu mộng”, bà đã từng dẫn cháu đi xem bở Việt kịch “Hồng lâu mộng” chiếu trên tivi. Chưa đầy 3 tuổi mà Đình Nhi đã bập bẹ kể: “Giả Bảo Ngọc có một cô em gái họ Lâm. Sau đó Giả Bảo Ngọc lấy Tiết Bảo Thoa, cô Lâm buồn rồi chết”. Đây là câu chuyện bà ngoại dạy cháu. Hơn thế nữa, lúc ấy Đình Nhi đã biết yêu Lâm Đại Ngọc và ghét Tiết Bảo Thoa. Khả năng tiếp nhận và hiểu biết của cháu thật hơn hẳn những đứa trẻ cùng trang lứa.

Cuối tháng 7, Đình Nhi bị sốt cao 40 độ C, phải nằm viện. Trong thời gian nằm viện, khi cắt cơn sốt Đình Nhi lại giết thời giờ bằng cách nghe kể hoặc xem lại bộ tranh liên hoàn “Hồng lâu mộng”. Sự say mê của Đình Nhi khiến mọi người trong viện đều phải ngạc nhiên. Tôi đã phải cất bộ sách ấy đi, để sau này lớn lên cháu còn có cái mà xem lại. Tháng 9 năm ấy, có lần tôi dẫn cháu đi xem bộ phim “Hồng lâu mộng”, kết quả thật bất ngờ, cháu nhớ truyện tốt gấp nhềi lần so với nghe kể truyện tranh liên hoàn.

Còn nhỏ tuổi như vậy đã cho tiếp xúc với “Hồng lâu mộng” có tốt không? Tôi cho rằng khôngc so gì là không tốt cả. “Hồng lâu mộng” là tác phẩm văn học cổ điển ưu tú nhất của dân tộc Trung Hoa, ảnh hươởn của nó không chỉ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật mà còn thấm sâu cả trong cuộc sống xã hội và truyền thống lịch sử. Đó là một bộ phận của nền văn minh Trung Hoa. Sớm tiếp xúc với nó, lại có một chút hiểu biết về thơ ca cổ điển (lúc bấy giờ Đình Nhi đã có thể đọc thuộc lòng hơn chục bài thơ cổ), có thể sớm làm cho trẻ con cảm thụ được cái hay, cái đẹp của văn học cổ điển, nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hình thành năng khiếu thẩm mỹ của trẻ em. Cái đẹp của văn chương cổ điển, cái đẹp của nghệ thuật dân gian, cái đẹp của thế giới tự nhiên, cộng với cái đẹp về chuẩn mực đạo đức, về quan niệm giá trị và về nhân sinh quan mà tôi đã dày công dạy cháu bằng cả lời nói và việc làm của chính bản thân mình. Tất cả những thứ đó đã tạo ra cho Đình Nhi một thế giới nội tâm vô cùng phong phú và bồi dưỡng cho Đình Nhi một khả năng hiểu biết khá chuẩn xác. Nếu biết kiên trì dạy dỗ, nếu biết rèn luyện cháy một cách nghiêm khắc và khoa học, thì chắc chắn rằng một ngày không xa sẽ có được một kết quả không ngờ. Nếu các cháu không được tiếp nhận một giáo dục từ sớm các cháu sẽ không bao giờ có được kết quả đó. Đình Nhi đang thực hiện điều mơ ước của mình.
Tương lai xa vời còn chưa biết thế nào. Trước mắt, có điều này đã củng cố vững chắc lòng tin của tôi đối với cháu. Lần ấy tôi dẫn Đình Nhi đến rạp xem một vở kịch nhi đồng. Tại đây sự phản ứng của Đình Nhi, một đứa trẻ mới 3 năm 3 tháng tuổi, đã chứng tỏ cháu có một khiếu thẩm mỹ hơn người.

Ngày mồng 2 tháng 7, xem vở kịch “Nguyệt Cầm và chú hổ con”, Đình Nhi rất cảm động. Sự phản ứng của Đình Nhi không chỉ rất mạnh mẽ, mà còn chính xác và đúng đắn nữa. Đối với các nhân vật, Đình Nhi không chỉ có thái độ yêu ghét rõ ràng, mà còn tỏ ra khá hiểu tâm lý và hoàn cảnh của nhân vật. Đơn cử một ví dụ, La Ca, nhân vật chính của câu chuyện, sau khi không may sa vào hầm bẫy của tên phú ông đã khẩn thiết giục bạn mình, một chú hổ con, còn đang ngơ ngác đứng trên miệng hố, hãy mau chóng rời xa chốn nguy hiểm này. Không nỡ bỏ bạn trong cơn hoạn nạn, chú hổ con không chịu chạy đi. Lúc đó dưới chỗ khán giả, các trẻ nhỏ cũng sốt sắng giục hổ chạy đi, co cháu còn đứng dậy hét lên” “Hổ ơi! Chạy đi, chạy mau đi!”. Đình Nhi quay sang tôi nói nhỏ: “Mẹ ơi! Chú hổ con không nên chạy đi, mẹ nhỉ?”. Tôi hỏi tại sao. Đình Nhi nói: “La Ca vẫn còn đang ở dưới hố kia, hổ con phải canh giữ cho bạn mình chứ, chạy đi làm sao được”. Tôi rất vui mừng là cháu đã hiểu được ý nghĩa sâu sắc của tình tiết này trong vở kịch: tình bạn còn quý hơn cả sinh mệnh của mình. Điều này nhiều khán giả nhỏ, ở đó phần lớn là các cháu học sinh tiểu học, đều chưa hiểu được ý nghĩa của tình tiết trên.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-27 17:24:37Mục Đồng>
SỰ LỰA CHỌN ĐẦY ĐAU KHỔ, NHƯNG CHÍNH XÁC: KHÔNG LÀM “THẦN ĐỒNG”


Mới 3 tuổi mà Đình Nhi đã tỏ ra có nhiều ham muốn: muốn học tiếng Anh, muốn tập đọc, lại còn muốn cả học toán, học hội hoạ, đánh đàn cũng rất ham. Tôi chỉ có thể đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của cháu, vì không có thời gian, không có tiền và không đủ khả năng. Ví dụ như về tiếng Anh, lúc này cháu đã có thể nói được từ mới tiếng Anh khá thuần thục, tự cháu còn đặt ra một số câu rất ngộ nghĩnh và buồn cười, cũng giống như những bài thơ “thất ngôn cổ phong”, cháu tự làm ra trước đây mà đọc lên không ai hiểu nổi. Chỉ tiếc là, lúc đó không kiếm đâu ra những băng ghi bài học tiếng Anh, khả năng của tôi cũng không thể đủ dạy cháu. Môn đó đành phải gác lại. Theo nguyên tắc “tiềm năng đệ giảm”, Đình Nhi đã mất đi cơ hội trở thành thần đồng.

Tôi hiểu rất rõ, mỗi phút của trẻ thơ đều vô cùng quý báu, thế nhưng tôi vừa bận công tác lại vừa bận học tập, trước kỳ thi tốt nghiệp chương trình tự học đại học cuối năm 1985, tôi quả thật không còn thời gian và cả tiền bạc nữa để thực hiện kế hoạch bồi dưỡng Đình Nhi thành “thần đồng”, do tôi tự vạch ra.

Làm thế nào đây? Chẳng lẽ tôi lại phải hy sinh một lần nữa cho Đình Nhi, ngay cả tự học đại học cũng phải bỏ hay sao? Theo dòng suy nghĩ ấy: Nếu tôio từ bỏ công việc tự học đại học theo Đài truyền hình, tôi có thể bắt tay vào dạy cho Đình Nhi chương trình tiểu học. Tôi dự tính chỉ mất khoảng 3 năm Đình Nhi sẽ học xong chương trình này. Cứ cho là mất 6 năm nữa Đình Nhi học xong chương trình trung học, thế thì chỉ khoảng 12 tuổi, Đình Nhi sẽ thi vào đại học được rồi. “Thời gian biểu” này hấp dẫn biết bao! Còn tôi, nếu bỏ dở việc tự học đại học có thể tôi bị mất đi công tác biên tập, một công việc mà tôi luôn yêu thích. Và như vậy, nguồn sống của mẹ con tôi sẽ mất đi chỗ dựa vững chắc. Trước khi thi đỗ đại học, có thể tôi vẫn phải gác lại kế hoạch bồi dưỡng Đình Nhi thành “thần đồng” vì lý do kinh tế. Hơn nữa, nếu ĐÌnh Nhi theo học hết chương trình từ tiểu học đến hết trung học tại nhà, tôi làm gì có đủ thời gian để dạy cháu, và nhất là các môn toán, lý, hoá bậc cao trung tôi hoàn toàn không có khả năng, cũng không đủ tiền để mời gia sư cho cháu.

Làm thế nào đây? Tôi đau khổ tự hỏi mình: Lẽ nào lại phải bỏ dở kế hoạch bồi dưỡng “thần đồng” tại đây? Để thuyết phục mình, tôi quyết định tạm gác vấn đề kinh tế sang một bên, hãy suy nghĩ về những ảnh hươởn mặt trái đối với Đình Nhi khi thực thi kế hoạch “thần đồng”.

Trước hết, nếu theo học tại nhà, Đình Nhi sẽ bị đánh mất đi một cơ hội vô cùng quý báu, đó là được sôốn những năm tháng tuổi thơ với những người bạn cùng trang lứa với mình. Như vậy sẽ hạn chế rất nhiều đến sự phát triển khả năng giao tiếp của cháu. Nếu những tri thức của tôi thực sự có ảnh hưởng đến sự phát triển của Đình Nhi, thì cháu rất khó có khả năng trở thành một nhân tài về khoa học tự nhiên. Nếu là một nhân tài về khoa học xã hôi, thì khả năng giao tiếp, khả năng hoà đồng với cuộc sống xã hội phải là một nhân tố vô cùng quan trọng, mà nhưữn khả năng đó chỉ có thể hình thành trong cuộc sống tập thể. Vì vậy, phương án tự học tại nhà thực tế sẽ trở ngại rất lớn đến sự phát triển sau này của Đình Nhi.

Hơn nữa, những việc làm của mẹ bao giờ cũng là một tấm gương có ảnh hươởn nhất đối với con gái, nếu tôi dứt khoát bỏ dở kế hoạch tự học, thì làm sao có thể giáo dục được con có được phẩm chất đạp bằng mọi khó khăn, quyết đạt được mục đích của mình?

Còn điều này nữa, nghĩ cùng buồn cười nhưng nó là sự thực, xưa nay những người con gái có tài thường rất khó kiếm được chồng. Nếu Đình Nhi sau này may mắn trở thành “nữ thần đồng”, liệu cháu có thể lấy được ai?

Qua mấy ngày đêm suy nghĩ dằn vặt, tôi nhận ra rằng: có lẽ từ bỏ ý nghĩ trờ thành “thần đồng” là sáng suốt hơn cả. Thứ nhất là cứ tuần tự như tiến theo học từ mẫu giáo đến đại học cùng với các bạn cùng tuổi, như vậy về mặt tuổi trẻ sẽ không mâu thuẫn gì với chế độ giáo dục hiện hành. Thứ hai là sau khi từ bỏ sách lược “đơn thương độc mã” trong việc học hành, vẫn có thể tập trung sức lực vào những phần trọng điểm trên cơ sở phát triển toàn diện, như vậy càng có lợi cho sự phát triển trí lực và hình thành nhân cách cho Đình Nhi, chuẩn bị đầy đủ cơ sở để Đình Nhi tiếp tục phát triển trong tương lai. Thứ ba là, việc tự học đại học đối với tôi có tác dụng bổ sung và điều chỉnh kiến thức, để xứng đáng hơn với tư cách cô giáo tại nhà đối với Đình Nhi. Ngoài ra về mặt kinh tế, đây là kế hoạch duy nhất có thể thực hiện được. Xét cho cùng, tự học đại học có quan hệ rất lớn đến việc giành lấy một chức danh chuyên nghiệp trong làng biên tập, để cải thiện điều kiện sống của gia đình, tôi buộc phải đầu tư một thời gian tối thiểu để hoàn thành việc tự học.

Nghĩ ra được những điều như vậy, những dằn vặt làm tôi mất ăn mất nghủ những ngày qua, dường như tiêu tan hết. Sau này, qua báo chí, tôi đọc được mấy bài viết về những con đường quanh co của các bậc “thần đồng”, tôi cảm thấy mình là may mắn khi lựa chọn con đường này.

Cuối năm 1999, trên tờ “Báo thanh nhiên đặc khu”, có bài về “vị thần đồng”, tuổi trạc Đình Nhi, năm 14 tuổi đã được Trường Đại học Nam Khai nhận miễn thi vào học lớp chuyên toán của trường tại cơ sở Hắc Long Giang, ba năm sau nhà trường “quyết định đuổi học”. Không phải cháu đó không đủ thông minh, mà là từ năm thứ nhất đến năm thứ ba không chịu học hành, thường trốn học đi chơi trò điện tử, hoặc say sưa đọc tiểu thuyết kiếm hiệp, đến nỗi các bộ môn chính mà nhiều lần thi vẫn không đủ điểm. Những thành công xuất sắc trước đây đã tạo nên ở cháu một tính cách cực kỳ kiêu ngạo, không bao giờ chịu nghe lời khuyên bảo của người khác. Mãi đến khi anh trai đến đón về quê, cuối năm 1998, cháu mới chợt nhận ra rằng, 18 tuổi mà không được đi học, thì chỉ còn cách đi cày ruộng. Lúc đó cậu bé mới hiểu được mối quan hệ giữa học và cuộc sống, cậu lại quyết tâm lao đầu vào học tập, nửa năm sau lại thi đỗ vào Trường Nam Khai.

Ngoài ra, có một lớp cơ sở thuộc khoa Toán trường Đại học Sư phạm Hoa Đông ở Thượng Hải, năm 1987 đã tiếp nhận một sinh viên mới 12 tuổi. Kỳ thi cuối học kỳ của ngay năm học đầu tiên đã có mấy môn không đủ điểm, nhà trường đã nghĩ đến cách khuyên cháu nên thôi học (chưa biết kết quả ra sao!). Có một lớp khác một học kỳ đã phải đuổi đến 3 học sinh, một cháu vì tội yêu đương quá sớm không chịu học hành, còn hai cháu kia cũng lại vì quá say mê chơi trò điện tử và đọc truyện kiếm hiệp.

Các chuyên gia của ngành giáo dục cho rằng, các cháu thiếu niên vốn có một trí lực siêu phàm ấy, sở dĩ không theo được tiến trình đại học, không phải vì các cháu kém thông minh. Các cháu tuổi còn quá nhỏ, tố chất tâm lý, khả năng phân biệt đúng sai, khả năng tự kiềm chế, thậm chí cả khả năng biết khắc phục khó khăn để vươn lên sau mỗi lần thất bại … đều chưa chín chắn, đạt tới trình độ mà một sinh viên đại học cần có. Ngoài ra, các sinh viên tuổi còn niên thiếu, thông thường chỉ giỏi về các môn toán, lý, hoá, còn các môn văn, sử, triết thì lại rất mỏng manh. Nhìn chung, các bộ môn về khoa học tự nhiên dễ “mau chóng đạt được thành công”, còn các bộ môn về khoa học xã hội, thì thường phải dựa vào vốn sống và sự chín chắn về tâm lý. Mà phiền một nỗi, nếu văn mà không giỏi, thì khi phân tích, suy luận trong một bài toán, lý, chắc sẽ gặp khó khăn. Một giáo viên chủ nhiệm của một lớp sinh viên ở Thượng Hải – ông Trần đã nhận định: chính cơ cấu kiến thức của những sinh viên non trẻ đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp theo của họ.

Đối chiếu lại, thực trạng hiện nay của Đình Nhi đã chứng tỏ sự lựa chọn trước đây của tôi là hoàn toàn chính xác, dù rằng cháu đang học ở một trường nổi tiếng nhất thế giới: Trường Đại học Harvard. Cháu vẫn không có khả năng giành được những thành tích mà mọi người đều kinh ngạc. Khi tôi đang viết mấy dòng hồi ký này, cũng là lúc Đình Nhi vừa hoàn thành kỳ thi giữa học kỳ của năm học đầu tiên tại Trường Đại học Harvard. Điểm số của cháu là 3 điểm A, một điểm B, trong đó có những môn, điểm số của cháu cao hơn cả những người được xếp loại A.

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, tôi không phản đối việc bồi dưỡng “thần đồng” và việc tiếp nhận những sinh viên tuổi còn niên thiếu. Trái lại, tôi nghĩ rằng nên có kế hoạch và bồi dươỡn nhiều hơn nữa những tài năng như vậy. Chỉ có điều trong hoàn cảnh “không bắt đợc cả cò lẫn trai”, như tôi. Tôi đã lựa chọn con đường ưu tiên giáo dục tố chất. Đình Nhi của tôi tuy không trở thành “thần đồng” ngay từ thời niên thiếu để mọi người ngưỡng mộ, nhưng cháu vẫn đang trở thành một con người phát triển toàn diện, có đầy đủ tiềm năng để phát triển tiếp theo.


TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN TRÍ LỰC – ĐÃ CHƠI PHẢI CHƠI RA TRÒ


Đối với tôi từ bỏ kế hoạch bồi dưỡng “thần đồng”, chỉ là việc từ bỏ việc học chương trình tiểu học trước tuổi, chứ không từ bỏ việc giáo dục từ sớm tại nhà cho Đình Nhi. Trái lại tôi sẽ dồn hết thời gian và công sức, tiếp tục bồi dưỡng Đình Nhi phát triển toàn diện.

Thời gian đứa trẻ từ 3 đến 6 tuổi, quan trọng nhất vẫn là phải ưu tiên phát triển trí lực. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, cấu tạo đại não con người, đến 6 tuổi đã cơ bản hoàn thành. Mặc dù các nhà khoa học Mỹ và Canada qua nghiên cứu gần đây đã phát hiện những thay đổi to lớn trong một số bộ phận then chốt trong đại não con người, còn tiếp tục phát triển cho đến tuổi thanh niên, nhưng đó chỉ là sự thay đổi được gọi là giải phẫu học “điều chỉnh”. Các nhà khoa học sự phát triển của đại não để tiến hành giáo dục. Có vậy, mới có thể đẩy nhanh sự phát rtiển cả về trí lực, rõ ràng là thời gian đứa trẻ từ 0 đến 6 tuổi. Đó là thời gian đại não phát triển nhanh nhất.

Tiếp tục phát triển trí lực, có nghĩa là tiếp tục bồi dưỡng khả năng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ cho Đình Nhi, bao gồm khả năng quan sát, trí nhớ, khối lượng từ vựng, sức hiểu biết và khả năng giải quyết vấn đề, đồng thời cũng bồi dưỡng khả năng tư duy trừu tượng, khả năng nắm bắt vấn đề … Những khả năng đó được coi là sẽ không thay đổi sau khi đứa trẻ tròn 6 tuổi, hơn nữa nó luôn liên quan mật thiết đến kết quả thi cử của các kỳ thi lên lớp sau này. Có thể nói rẳng, mỗi một giờ phút hai mẹ con tôi được sống gần nhau, đều là những giờ phút luyện rèn để phát triển trí lực cho cháu.

Khoảng tháng 7 tháng 8 năm 1984, trí lực của Đình Nhio đã có bước nhảy vọt. Khi đó công việc bề bộn, tôi vẫn dành ra thời gian ghi lại sự kiện đáng nhớ ấy:
Đình Nhi đã biết độc lập tuỳ hứng làm thơ. Đó là một buổi chiều của một ngày trung tuần tháng 8, tôi và cô bảo mẫu dẫn Đình Nhi đến nhà ăn của toà soạn “Tứ Xuyên nhật báo” ăn tối. Dọc đường, theo yêu cầu của tôi, Đình Nhi đã xuất khẩu một bài thơ về chiếc mầm cây nhỏ:

Nhánh mầm non, nhánh mầm cây ơi!
Hãy cho ta một chút gió trời
Lau hộ ta mồ hôi đọng trên vầng trán.
Ôi hạnh phúc biết bao!
Ta yêu mầm non biết nhường nào!

Đình Nhi đã đọc một hơi bài thơ đó, âm điệu vô cùng diễn cảm. Tôi coi trọng sự kiện này, không phải vì bài thơ đó đã thật hay, mà vì nó chứng tỏ rằng Đình Nhi đã có một bước độct phá mới trong tư duy sáng tạo và khả năng biểu đạt. Tối hôm sau, chúng tôi lại đến vườn hoa trên đại lộ Nhân Dân để ngắm nhìn vòi phun nước màu vừa được sửa sang lại. Tại đây, Đình Nhi cũng xuất khẩu một bài thơ tả cảnh. Tôi luôn cố ý dìu dắt cháu thực hiện những việc làm như vậy, dù đi chơi ở bất kỳ đâu, thì các cuộc du chơi ấy luôn trở thành những dịp để Đình Nhi hứng thú rèn luyện óc quan sát và khả năng biểu đạt.

Bước nhảy vọt về trí lực ấy của Đình Nhi còn biểu hiện ở khả năng quan sát. Trước đây cháu chỉ chú ý đến ở đâu có cái gì, mà phần lớn là những cái cháu đã biết. Giờ đây, cháu đã biết phân biệt được những sự khác nhau trong số những sự vật cùng loại, như phía trước Tổng phủ, dãy đèn đường ở phía Đông ít hơn đèn đường ở phía Tây mấy chiếc. Tự cháu quan sát và đã nói với tôi điều đó.

Mấy ngày trước, tôi dẫn Đình Nhhi đi xem hai bộ phim Mỹ “Cuộc chiến tranh giữa các vì sao” và “Bước ngoặt”. Xem bộ phim trước cháu được biết rằng, trên các vì sao xa xôi kia cũng có đủ loại người, cháu đã hỏi tôi khá nhiều câu, như “Tại sao tiếng thở của Water (một nhân vật của phim) lại không giống tiếng thở của chúng ta?”, “Những mật thám kia làm thế nào có thể ẩn nấp trong bụng Ador (cũng tên nhân vật trong phim)?”, “Những người đi đánh nhau tại sao phải đeo mặt nạ màu trắng?”.

Trên đường cùng mẹ đến cơ quan, cháu thường chỉ cho tôi những vật mà cháu chưa quen biết, đòi tôi phải cho cháu biết tên. Tôi nói cho cháu nghe tên từng thứ một, sau đó hỏi lại cháu: “Lá của cây hoa lăng tiêu giống cái gì nhỉ?”. Cháu nói: “Giống cái kim”. Tôi bảo cháu: “Giống lông chim chứ”. Nhưng khi quan sát kỹ thì thấy những chiếc lá thoạt nhìn giống lông chim kia, quả thực lại rất giống hàng ngàn chiếc kim thêu cắm dày đặc. Sự so sánh của cháu rất chính xác. Qua đó, tôi chợt nhận ra rằng, cùng một sự việc, song dưới con mắt trẻ thơ, hình ảnh của nó đã khác nhiều so với cách nhìn của người lớn.

Khi tôi đang ghi nhật ký, Đình Nhi hỏi tôi: “Mẹ đang xem sách yêu quái gì đấy?”. Tôi nói: “Mẹ đang giúp con ghi nhật ký, sau này nó sẽ trở thành câu chuyện về con”. Đình Nhi vui sướng nói: “Ôi, tốt quá, con xin cám ơn mẹ!”. Một lát sau cháu lấy những tấm thẻ kẹp sách ra chơi trò “đánh bài”, bỗng nhiên cháu nói: “Mẹ ơi, con muốn mẹ sống tròn một trăm tuổi, không được chết sớm hơn tuổi này đấy!”. Có lúc cháu cũng biết nói đùa: “A, hôm nay là ngày sinh nhật con mẹ nhỉ?” … Thật đáng yêu.
Tháng 9 năm 1984, Đình Nhi được tiếp nhận vào Nhà trẻ kiểu mẫu số 3. Với ý muốn là mong cháu hãy cố gắng, và cũng mừng vì ừ nay không phải nhờ bảo mẫu nữa, tôi đã mua tặng cháu một thứ đồ chơi mới.

Đó là một bàn cờ nhẩy. Tôi nghĩ rằng, cách đánh “nhảy cóc” của loại cờ này rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng tư duy của trẻ nhỏ. Vì rằng, cách suy nghĩ để nhảy một nước cờ có tính trực quan hơn các loại cờ khác, nó giúp cho trẻ nhỏ hiểu biết và suy nghĩ về mối quan hệ lôgíc giữa “điều kiện” và “kết quả”, nó cũng rất tiện lợi cho việc giúp trẻ con phát triển khả năng tập trung chú ý và suy nghĩ về một vấn đề. Đầu tiên, tôi dạy cho Đình Nhi hiểu thế nào là “nhảy cóc”, sau đó dạy cho cháu biết thế nào để lợi dùng được quân cờ của mình và cả quân cờ của đối phương để làm những chiếc “cầu”, thực hiện những bước nhảy liên tiếp. Đình Nhi hiểu khá nhanh. Nhưng để giành được thắng lợi, cần phải tổ chức được những bước “nhảy dài”. Tôi và Đình Nhi tập đánh, cứ mỗi lần Đình Nhi có những bước “nhảy dài”,  cháu sung sướng lắm, coi đó là một thành công lớn. Dẫu rằng, cuối cùng cháu vẫn bị thua, nhưng càng chơi cháu càng thấy tự tin, càng chơi càng hứng thú. Cách chơi đầy tính thử thách của loại cờ này luôn hấp dẫn Đình Nhi. Hơn nữa, tôi coi việc ngồi đánh cờ với con là một phần thưởng cho cháu, mỗi lần cháu có những biểu hiện tốt. Cho tới tận lúc cháu tốt nghiệp tiểu học, được ngồi đánh cờ với mẹ vẫn là một điều vô cùng sung sướng đối với cháu.

Đồ chơi của Đình Nhi không nhiều, mỗi lần mua đồ chơi, tôi đều suy nghĩ, đồ chơi này có giúp ích được gì trong việc phát triển tâm trí của Đình Nhi. Từ 0 đến 1 tuổi, tôi chọn những đồ chơi nhận biết hình dạng, 1- 2 tuổi, tôi chọn những đồ chơi đòi hỏi trí tưởng tượng của trẻ, sau 3 tuổi, chọn các đồ chơi đòi hỏi trí lực nhiều hơn như cờ nhảy, cờ năm quân, mô hình kiến trúc, đàn điện tử … Ngoài ra, còn mua cả các công cụ nhỏ để sử dụng trong các trò trơi như kính phóng đại, đá nam châm, địa bàn, nhiệt kế, đồng hồ trò chơi, thước cuộn … Trong khi chơi luôn chú ý kích thích tính hiếu kỳ và lòng ham muốn tìm tòi của trẻ.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-29 17:36:07Mục Đồng>
TẠO DỰNG CƠ HỘI TỐT CHO TÍNH CÁCH - CỐ GẮNG TẠO TIỀN ĐỀ CAO TÌNH THƯƠNG

Năm 1985, cuốn “Tình cảm trí lực” của nhà văn Mỹ Daniel Corman ra đời, từ đó đến nay, khái niệm “Tình thương EQ” đã thực sự ăn sâu vào lòng người, những người có hiểu biết một chút về giáo dục biết rằng “Tình thương EQ” mới là mấu chốt để quyết định ự thành công trong cuộc đời của mỗi con người. Tại sao “Tình thương EQ” lại quan trọng đến như vậy?

Khái niệm “Tình thương EQ” bao gồm những phẩm chất sau: tình cảm đạo đức trong sáng, tính cách lạc quan hài hước, dũng khí dám đối mặt trước khó khăn và biết cách khắc phục, biết tự an ủi, tính nhẫn nại kiên trì, có tấm lòng lương thiện vị tha, biết sống hoà mình với mọi người, có khả năng kiềm chế tình cảm miìn và kích thích tình cảm của người khác … Tóm lại, đó chính là tình cảm của con người và kỹ năng giao tiếp xã hội là tấy cả mọi nội dung ngoài nhân tố trí lực. “Tình thương EQ” cao có thể khiến đứa trẻ trí lực bình thường cuối cùng cũng tạo ra được một cuộc sống huy huy hoàng, “Tình thương EQ” thấp có thể biến một đứa trẻ có trí lực siêu phàm thành một con người tầm thường vô vị.

Một điều thú vị nữa là, khái niệm “Tình thương EQ” mãi đến năm 1990 mới được hai nhà tâm lý học của Trường Đại học Harvard và một trường đại học khác của Mỹ lần đầu tiên nêu ra. Năm 1997, tôi được đọc cuốn “Cánh cửa của EQ”: làm thế nào để bồi dưỡng đứa trẻ có “tình thương cao độ”. Tôi nhận ra rằng, những đòi hỏi và rèn luyện đối với Đình Nhi bấy lâu nay của chúng tôi, đều nhằm bồi dưỡng cho cháu có được cái gọi là “tình thương cao độ” ấy. Chỉ có điều khi đó chưa có cái danh từ kiểu Tây “Tình thương cao độ” này. Để Đình Nhi có được những khả năng và phẩm chất như tôi hằng mong đợi, tôi luôn suy nghĩa làm thế nào từ những sự việc nhỏ nhặt của đời thường có thể kiên trì bồi dưỡng phẩm chất và tính cách cho Đình Nhi.

Tôi tin rằng, cơ sở của tính cách được hình thành ngay trong những ngày thơ ấu. Tói quen sinh hoạt ngay từ những năm tháng đầu đời, thái độ của cha mẹ, không khí gia đình … tất cả sẽ biến thành đặc trưng tính cách của đứa trẻ sau này. Thời gian bắt đầu hình thành một thói quen là khoảng thời gian vô cùng quan trọng. Bởi vậy, bắt đầu một sự việc nào đó, tôi thường bắt Đình Nhi làm theo đúng yêu cầu. Những việc không đáng làm, kiên quyết không được làm, dù có khóc lóc van nài cũng không nhượng bộ.

Có những bậc cha mẹ cứ thấy con khóc là mêm lòng, sau này đứa trẻ không vừa lòng cái gì lại lấy khóc để được chiều theo như ý. Cứ khoc slà cha mẹ phải chiều, khóc là một điều kiện bắt người lớn phải làm theo ý nó. Đón Đình Nhi từ nhà bà ngoại về tôi đã nói trước: Bất kỳ lúc nào con không được lấy việc khóc nhè để vòi vĩnh, mẹ không ưa khóc nhè. Đã đôi lần Đình Nhi cũng khóc nhưng không được chiều theo ý muốn. Cháu hiểu rằng: khóc nhè chả có ích lợi gì, chỉ có làm theo yêu cầu mới là biện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề.

Để phòng ngừa ở Đình Nhi hình thành những tính xấu như: không yêu quý đồ đạc, ham hưởng thụ vật chất, lãng phí tiền của, ích kỷ không quan tâm đến người khác … tôi không bao giờ nhẹ dạ chiều theo mọi đòi hỏi về vật chất của Đình Nhi, cố tạo cho cháu một thói quen ghét kẻ lười biếng và ăn bám. Hơn nữa, để bồi dưỡng cho cháu có được phẩm chất biết đồng cam cộng khổ, tôi không bao giờ cho cháu được một mình ăn cả bất kỳ một món thức ăn ngon miệng nào. Lúc bấy giờ, tiền lương không đủ để mua hoa quả ăn tráng miệng, nhưng tôi vẫn cố chắt bóp để mỗi ngày mẹ còn đều được chia nhau một thứ hoa quả nào đó. Phải phân chia, để cho cháu thấy rằng “chia ngọt sẻ bùi” là một việc rất bình thường, còn ăn tham, ăn cả là một việc không bình thường, là một thói xấu.

Để rèn luyện đức tính tự kiềm chế của Đình Nhi, trên đường từ cơ quan về nhà, tôi thường dẫn cháu vào chợ. Khi đến cổng chợ, tôi thường nói với cháu: “Nếu con không vòi mẹ mua quà, thì mẹ cho con vào chợ chơi, còn nếu con cứ vòi vĩnh mẹ mua quà, hai mẹ con mình không vào chợ nữa. Mẹ cho con chọn!”. Lần nào Đình Nhi cũng nói: “Mẹ ơi! Con không vòi mẹ mua quà đâu!”. Tôi dẫn con vào chợ xem các sạp hàng, dạy cho cháy biết tên các loại hàng hoá mới.

Mẹ con tôi thường dừng lại khá lâu trước quầy hàng đồ chơi trẻ con và quầy hàng thực phẩm. Cứ mỗi lần Đình Nhi đến, chú bán hàng ở quầy đồ chơi lại cho Đình Nhi dùng thử một vài loại đồ chơi mới. Đây là thời khắc vui thích nhất của Đình Nhi trong mỗi lần đi chơi chợ. Khó xử nhất là khi đứng trước quầy thực phẩm. Dạo đó hầu như ngày nào cũng có các mặt hàng thực phẩm mới được đóng gói rất đẹp mắt bày ở trên quầy, chẳng cứ Đinh Nhi, ngay tôi cũng rất muốn mua về thưởng thức. Nhưng Đình Nhi luôn biết kiềm chế, chưa bao giờ cháu đòi tôi mua thứ này thứ nọ. Cả một quá trình kìm nén sự thèm muốn lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng tự kiềm chế của Đình Nhi. Từ nhỏ đến nay, Đình Nhi thường vượt qua được mọi cám dỗ thấp hèn, luôn biết làm theo lý tính. Có thể nói, chính nhờ khả năng tự kiềm chế ấy, Đình Nhi đã giảm được khá nhiều lần phải đi những con đường vòng quanh co.

Trang nhật ký ngày 21 tháng 12 năm 1984, tôi đã ghi lại đôi điều về việc bồi dưỡng tính cách cho Đình Nhi:

Thời gian này tập trung bồi dưỡng cho Đình Nhi mấy khả năng như sau:
1. Phản ứng nhanh chóng. Đòi hỏi Đình Nhi phải có những phản ứng nhanh chóng đối với lời sai bảo của người lớn, không được để người lớn phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần, kể cả những công việc cụ thể như: rửa chân tay, thu dọn đồ chơi, giúp mẹ làm việc vặt …Và cả những công việc cần sửa sai như: chơi những trò không nên chơi, thiếu lễ độ với những người mà cháu không ưa thích. Những việc làm ấy cốt để cho Đình Nhi có được một tác phong nhanh nhẹn, một phản ứng kịp thời.

2. Nắm chắc phương pháp. Trong cuộc sống thường ngày khi gặp khó khăn, người lớn chủ yếu chỉ dạy cho Đình Nhi phương pháp giải quyết vấn đề, chứ không làm thay, như mặc quần áo, gài cúc áo, vắt khăn mặt, lấy đồ vật, mở khoá bảo hiểm, tắt loa đài … Luôn nhấn mạnh cho cháu về tầm quan trọng của phương pháp. Như vậy rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng độc lập giải quyết vấn đề của Đình Nhi.

3. Khả năng song ngữ. Yêu cầu ĐÌnh Nhi khi tiếp chuyện, đối với những người nói tiếng Tứ Xuyên, phải nói bằng tiếng Tứ Xuyên; đối với những người nói tiếng phổ thông, phải nói bằng tiếng phổ thông. Cháu thường hay quên yêu cầu thứ hai này, nên tôi nói với cháu: “Con nghĩ xem cách nào để khỏi quên”. Cháu nói: “Mẹ hãy dùng chữ “hử” để nhắc con”. Biện pháp này rất hiệu nghiệm. Vì chính cháu nghĩ ra cách đó. Cùng một lúc nắm vững ngữ âm và từ vựng của hai thứ tiếng địa phương. điều này rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng mẫn cảm đối với ngôn ngữ, rất có lợi cho việc học ngoại ngữ sau này.

4. Khả năng phân biệt đúng sai. Bồi dươỡn khả năng này tôi thường dùng biênh pháp kể chuyện, phân tích, bình phẩm về một con người, một sự việc để hướng dẫn cháu nhận ra đúng sai. Cũng có lúc dùng cả hai biện pháp thưởng phạt. Phần thưởng chủ yếu là được mẹ khen hoặc mẹ âu yến ôm vào lòng, còn phạt thường mà mẹ lặng im không nói, hoặc nhốt vào nhà vệ sinh (biện pháp này ít dùng). Cũng có lúc cho mấy roi vào mông, sau này bạn bè phê phán quá, tôi không dùng cách này nữa. Bạn bè tôi nói đúng. Đánh đòn và quát mắng trẻ vô cớ không phải là biện pháp giáo dục hay. Khi xử phạt nên nói rõ lý do. Tính tôi rất nóng, cho nên thường hay quát mắng Đình Nhi. Gần đây tôi đã sửa chữa khá nhiều. Để cho mẹ không phải quát mắng, Đình Nhi cố gắng ngoan hơn, so với trước kia cháu đã tự giác nhiều hơn.
Ông Phùng Đức Toàn, một chuyên gia giáo dục sớm cho rằng: Một tính tốt phải có bốn cơ sở sau: một là vui vẻ, hoạt bát; hai là bình tĩnh, chuyên tâm; ba là dũng cảm tự tin; bốn là yêu lao động, luôn quan tâm đến mọi người. Những tính các phẩm chất ấy đều là những nội dung quan trọng của “tình thương EQ”. Đó cũng là những tố chất mà tôi đã dạy dỗ cháu thông qua những việc làm cụ thể, và luôn được củng cố trong cuộc sống hàng ngày.


HỌC CÁCH THƯƠNG YÊU MẸ, HUẤN LUYỆN BIẾT CẦN SUY NGHĨ VÌ MỌI NGƯỜI

Thông cảm và quan tâm đến người khác đó là một nội dung quan trọng của tình cảm và trí lực. Nó liên quan đến việc đứa trẻ ấy trong tương lai liệu có được mọi người yêu quý hay không. Đối với những gia đình chỉ có một con, thì điều này càng quan trọng. Trung Quốc ngày nay là một xã hội mà mỗi cặp vợ chồng chỉ có một con. Một đứa trẻ là tương lai của cả ba gia đình, là niềm hy vọng của cả ba gia đình, là chỗ dựa tinh thần của sáu thành viên lớn tuổi. Nếu giáo dục được một đứa trẻ có phẩm chất tốt, niềm hạnh phúc đó được nhân lên gấp bội. Nhưng nếu trong gia đình có một đứa con bất hiếu, nỗi đau khổ về tinh thần kể sao cho hết.

Trong số những người tôi quen biết, có những gia đình con cái thật là hiếu thảo, có gia đình có những đứa con phá phách ngang tàng. Những gia đình nghiêm khắc với con cái, thì các cháu thường rất hiếu kính cha mẹ. Những gia đình quá nuông chiều con cái, thì con cái thờpng hay phá phách ngang tàng. Cái công thức “Ăn mật trả đường” trong quan hệ bạn bè dường như không có hiệu quả trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Có những bậc cha mẹ thả lỏng buông xuôi, hy vọng rằng lớn lên nó sẽ hiểu, phần lớn đều gặp phải thảm cảnh “con mình rứt ruột đẻ ra mà giờ đây sao mà như lang sói”.

Những chuyên gia về “Tình thương EQ” sau khi nghiên cứu đã đưa ra kết luận: Lương thiện và thương yêu là bản tính có sẵn trong gen di truyền của đứa trẻ. Nhưng không có được sự dạy dỗ chu đáo, thì phẩm chất tốt đẹp sẽ bị mất đi, nếu bạn hy vọng rằng đứa trẻ sau khi lớn lên tự nhiên chúng sẽ có lòng thông cảm, tình yêu thương và tinh thần trách nhiệm, thì tốt nhất bạn hãy gửi gắm ngay niềm hy vọng ấy cho chúng từ bây giờ. Quan trọng hơn nữa là, chỉ thuyết giáo bằng lời không thì chưa đủ, phải để cho trẻ luyện tập thường xuyên. Đại não của con người được chia thành hai phần: tư duy và tình cảm; kỹ năng “Tình thương EQ” trong xã hội chỉ có thông qua những việc làm cụ thể, mới có thể được phát kiến thành công trong bộ phận tình cảm của đại não. Những lý lẽ này nhiều năm trước đaâ tôi chưa hiểu rõ, chỉ đơn giản nghĩ rằng phải mau chóng áp dụng một số biện pháp để đề phòng Đình Nhi biến thành con người vị kỷ, chỉ biết mình chứ không biết đến ai nữa. Đối với một đứa trẻ mới có 3 năm 10 tháng tuổi như Đình Nhi, biện pháp tốt nhất là phải bắt đầu từ tình thương yêu mẹ, rồi mới rèn luyện thành thói quen biết suy nghĩ vì người khác. Điều đáng mừng là những rèn giũa đó đã tạo cho Đình Nhi một trái tim biết đồng cảm. Cháu tỏ ra vô cùng mâẫncảm trước những tư tởng và tình cảm của người khác, thầy giáo và các bạn đều cảm nhận được những tình cảm chân thành biết chia sẻ buồn vui với người khác ở Đình Nhi. Cũng từ đó mọi người rất yêu quý cháu. Không những vậy, những rèn giũa đó còn làm cho cuộc sống của chúng tôi thời đó có nhiều điều thú vị.
Ngày mùng 2 tháng Giêng năm 1985, tôi yêu cầu Đình Nhi cứ mỗi lần mẹ giận, phải biết làm cho mẹ vui lòng. Mỗi lần Đình Nhi làm sai một việc gì khiến tôi phải cáu giận, cháu lại dựa vào người tôi thỏ thẻ: “Mẹ! Con biết sai rồi, mẹ đừng giận con nữa nhé, con đọc một bài thơ cho mẹ nghe nhé”. Nói rồi cháu liền bập bẹ đọc: “Sớm từ Bạch đế giữa tầng mây …”. Bài thơ chưa đọc hết tôi đã bật cười. Đình Nhi còn hát để làm tôi nguôi giận. Hai ngày đầu cháu thường hay hát bài “Tổ quốc chúng ta đẹp tựa vườn hoa …” Sau đó cháu lại thích hát:

“Lắc la lắc lư,
Chiếc nôi nho nhỏ,
Bé bỏng của ta,
Đang thiu thiu ngủ …”

Và bây giờ cháu lại thích hát bài “Chiếc mũ rơm”. Tôi cũng chưa biết rằng làm như vậy là có lợi hay có hại đối với cháu, nhưng đối với tôi quả thật là hữu hiệu. Trước đây, mỗi lần cáu giận thật khó mà kìm lại được, còn bây giờ chỉ cần vài giây là tôi đã vui lại ngay, khi tôi vui trở lại thì cháu cũng rất vui. Điều đó thật có lợi cho tôi và không khí gia đình. Tôi nghĩ, có lẽ đó là việc đòi hỏi Đình Nhi phải có trách nhiệm đối với người khác. Ít nhất cháu cũng phải có trách nhiệm đối với tình cảm của tôi, để mẹ thư thái vui vẻ, sẽ sống được lâu hơn. Những ngày được sống hạnh phúc bên mẹ của Đình Nhi cũng sẽ lâu dài hơn.

Có lần tôi bị khản giọng nói không rõ lời, nên không hát, không kể chuyện cho cháu nghe được. Đình Nhi đã chủ động nói với tôi: “Vậy thì để con kể chuyện cho mẹ nghe”. Cháu muốn kể một chuyện gì đó thật buồn cười. Thế là cháu bắt đầu bịa ra những câu chuyện ngớ ngẩn và kỳ quái như: “Ngày xửa ngày xưa, có một cái cây mọc trên mặt đất, cây cứ lớn mãi, lớn mãi, thồi trở thành một cái cây rất to. Tán lá xoè ra, mỗi chiếc lá là một chiếc đèn pin. Mẹ thấy có lạ không chứ?”. Cháu bịa ra nhiều thứ chuyện, phần lớn na ná giống nhau. Đây là một dự báo tốt đẹp, cần chú ý gợi mở trí tưởng tượng và tính hài hước của cháu. Điều đó vô cùng có lợi cho sự nghiệp của cháu sau này.

Hôm ấy con gái tôi lấy sẵn thuốc đánh răng và bàn chải đợi tôi đi đánh giăng, cháu vẫn ngồi trên giường hát kinh kịch. Cháu nói: “Đoạn kịch này phải dùng tất chân mới hát được”. Bởi vì ở đầu giường đang vất đôi tất chân màu đỏ của cháu, vật duy nhất có thể dùng làm “đạo cụ”.
Những lần huấn luyện như thế làm cho tình cảm hai mẹ con chúng tôi càng khăng khít. Có lần hai mẹ con đang đi trên đường, Đình Nhi bảo tôi hãy vứt bỏ găng tay đi, cháu nói là: “Cách một lần găng tay con không truyền được tình cảm sang mẹ được”. Một đứa trẻ mới 3 tuổi đã có những biểu hiện tình cảm cảm động như thế, vậy thì còn phải lo gì sau này lớn lên sẽ không có tình cảm với mọi người.

Có điều, cũng có lúc tôi đã quá nóng vội trong việc dạy dỗ con phải biết quan tâm đến mọi người, như trong dịp về thăm bà ngoại Tết năm 1985.
Ở nhà bà ngoại lúc bấy giờ có cháu nhỏ còn ít tuổi hơn cả Đình Nhi. Tôi chưa lường được trước, khi cháu nhỏ còn đang ngủ, Đình Nhi vô ý nói to, đóng cửa mạnh, hoặc chạy nhảy ở trong nhà làm em thức giấc, tôi không kìm được quát mắng Đình Nhi. Và sau đó tôi phải gánh đủ hậu quả của việc làm thiếu suy nghĩ đó. Trước hết Đình Nhi đã nhanh chóng học được các loại từ ngữ không đẹp mà tôi dùng để nói với cháu như là: “vô ý thíc”, nào là “dám cãi lại mẹ à!” … Và nhất là động một tí là cháu cũng gắt lại tôi; thứ hai là, khi biện pháp giáo dục bằng cáu gắt không mang lại hiệu quả, thì tính tình tôi càng trở nên cáu bẳn, tâm trạng tôi luôn thấy buồn phiền.

Khi nhận ra điều đó, cũng là lúc mẹ con tôi sắp trở về nhà. Tôi thấy dù thế nào cũng phải kiên trì giảng giải không để xảy ra tình trạng căng thẳng trong quan hệ mẹ con như vừa qua. Tôi giao hẹn với cháu, haio mẹ con từ nay không được cáu gắt nữa, người này nổi nóng thì người kia phải lập tức nhắc nhở, không khí gia đình lại trở lại như trước đây.
Sự việc này nhắc nhở tôi: Việc làm có tác dụng giáo dục hiệu quả hơn rất nhiều lời nói, thô bạo áp chế không bao giờ có thể dạy con trở thành một con người dịu dàn nhã nhặn.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-07-29 17:45:00Mục Đồng>
KHOẢNG THỜI GIAN TỐT NHẤT DÀNH CHO VIỆC CHUYÊN TÂM HỌC CHỮ

Đầu óc ít bị phân tán nhất của Đình Nhi là vào lúc trước khi đi ngủ buổi tối, chỉ cần bảo cháu ngồi lên giường làm một việc gì đó là cháu vui vẻ làm ngay, nhiều lúc say sưa quên cả thời gian. Tôi đã lợi dụng khoảng thời gian đó để dạy Đình Nhi học chữ.
Hơn 20 ngày trước đây, tôi đã bắt đầu huấn luyện cho Đình Nhi khả năng đọc các chữ số. (Đây là một trắc nghiệm, trí lực của những đứa trẻ trước 7 tuổi. Trước 3 tuổi, tôi chưa bao giờ cho Đình Nhi làm loại bài tập này). Ba ngày liền (trước lúc cháu đi ngủ mấy phút), tôi cho cháu phân tích một con số có hai chữ số, số nào đứng trước, số nào đứng sau, sau đó làm ngược lại. Sau khi luyện tập với các chữ số hàng chục như vậy, đến ngày thức năm tôi bắt cháu không qua phân tích, trả lời ngay. Kết quả thật là đáng mừng. Khoảng 10 ngày sau đó, tối hôm qua cháu chợt nghĩ ra một trò trơi. Cháu đố tôi đếm ngược số hàng trăm. Tôi làm mẫu, rồi hướng dẫn cháu, kết quả cháu cũng bắt đầu làm được.
Tôi cho rằng cách làm như vậy, có thể khiến các cháu nhỏ nhanh chóng chuyển từ cách “nhớ theo hình mẫu” sang “cách nhớ có phân tích” rất có lợi cho việc chuyển sang học chữ bằng cách nhớ các bộ thủ và các nét tiếp theo. Tôi luôn mong Đình Nhi sớm học được chữ Hán, để chóng bước vào giai đoạn tự đọc được sách báo. Tôi dành nhiều thời gian cho việc học tập này của cháu.
Từ ngày Đình Nhi tròn 4 tuổi, tôi chính thức bắt đầu dạy Đình Nhi học chữ. Tôi đọc cho cháu nghe một câu chuyện, dạy cháu nhận biết vài ba chữ ít nét nhất trong câu chuyện đó, hết quả rất tốt. Bây giờ Đình Nhi nhận mặt chữ đã vượt qua giai đoạn “nhớ theo hình mẫu” chuyển sang giai đoạn nhớ chữ theo sự nhận viết các nét và cấu tạo chữ.

Việc nhận biết nét chữ này được bắt đầu từ mùa đông năm ngoái … Khi cháu bắt đầu tập viết, các chữ cứ rời rạc, nghiêng ngả lung tung. Bây giờ cháu đã biết viết thành hàng lối, nhưng nét chữ vẫn chưa chuẩn xác. Mấy hôm trước đây tôi bắt đầu mô phỏng viết chữ “củ cải”, cháu đã viết lộn chữ thành “cải củ”, chứng tỏ rằng cháu vẫn chưa xác định được quan niệm về xuôi ngược của từng chữ. Đó là đặc trưng của “cách nhớ theo hình mẫu”. Tôi cho rằng việc tập viết chữ của đứa trẻ mới lên 4 tuổi là hoàn toàn thứ yếu. Đó chỉ là một động tác hỗ trợ cho việc nhận biết mặt chữ. Thế là tôi liền nghĩ ra cách: cho cháu tập xếp chữ trên bảng nhựa, đầu tiên tôi dùng những que tăm dài ngắn khác nhau, cho cháu nhìn chữ mẫu rồi tập xếp lại. Biênh pháp này rất có kết quả. Rồi tôi sẽ dùng bìa cứng cắt thành các nét chữ dài ngắn khác nhau để cháu tự xếp chữ, rồi dạy cháu phân biệt các loại chữ …

… Trong quá trình dạy Đình Nhi nhận mặt chữ tôi có dựa vào sách tranh truyện, rồi phân tích cấu tạo của từng chữ, dạy cháu đánh vần và cuối cùng là tập viết, liên tưởng sự giống nhau của từng chữ với hình mẫu sống trong đời thường …


NÓI NĂNG ĐẾM SỐ PHẢI NHANH NHẸN – RÈN LUYỆN TỐC ĐỘ TƯ DUY

Các nhà khoa học Pháp và Mỹ sau hàng loạt cuộc nghiên cứu, kết quả trắc nghiệm trí thông minh con người đã phát hiện: “Nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của con người chính là tốc độ hoạt động tâm lý. Chúng ta hãy thử xem một vấn đề đơn giản như: hãy đếm hàng số 3, 6, 9, 12, … Với loại bài tập này không ai cảm thấy khó khăn, và cũng không có ai đếm nhầm. Nhưng trong một vài giây có người đếm được mấy chục số, nhưng cũng có người chỉ đếm được dăm ba con số. Sự khác biệt về tốc độ ấy càng được thể hiện rõ hơn ở những vấn đề phức tạp, có nghĩa là những người trả lời nhanh ở những vấn đề đơn giản, thì cũng trả lời nhanh được ở những vẫn đề phức tạp. Trái lại cũng như vậy. Sự hơn kém nhau về tốc độ của hoạt động tâm lý rất phổ biến ấy chính là cơ sở cơ bản và cố hữu quyết định sự hơn kém nhau về trí lực”.

Sau khi đọc được đoạn đó trong cuốn “Tự trắc nghiệm trí lực”, tôi đã đưa vào chương trình bồi dưỡng Đình Nhi phần huấn luyện tốc độ tư duy. Cách làm cụ thể, ngoài việc “nói một lượt phải hiểu ngay” như đã nêu trên, còn lại chủ yếu là thông qua việc tính toán thật nhanh để giúp Đình Nhi tăng nhanh tốc độ phản ứng trước một tin mới. Dựa trên sách vở hay trong thực tế, hễ có cơ hội tính toán một cách giản đơn là tôi bắt Đình Nhi phải tập đếm hoặc tập tính toán. Khi tập đếm, yêu cầu cháu phải làm với tốc độ thật nhanh, không được “ậm ừ” chậm chạp.

Đồng thời coi việc tập đếm ở mọi lúc mọi nơi. Tôi thường để Đình Nhi tập so sánh các vật thể có sự khác nhau rõ rệt, để nhận biết hình thể từng loại, đồng thời tập đếm luôn. Khi dạy Đình Nhi các phép tính cộng trừ, tôi không chú trọng ở tốc độ nhanh mà chú trọng ở kết quả chính xác. Vì chỉ nhanh trên cơ sở chính xác thì sự tính toán đó mới có ý nghĩa. Trên thực tế, khi Đình Nhi đã làm quen được sự phản ứng nhanh nhạy thì tự cháu lại thấy khó chịu với thái độ làm việc lề mề, chậm chạp. Đến lúc này tôi lại phải luôn nhắc cháu: làm việc gì cũng không  được vội vã hấp tấp, không được vội đưa ra những kết quả khi chưa được thẩm định lại.

Khi được chia một phần thức ăn gì ngon, chính là một dịp hay để tôi dạy cháu tập tính toán. Có lần, trong ngày sinh nhật của Đình Nhi, tôi hỏi cháu: “Trong hộp hiện chỉ còn 7 quả vải, nên chia thế nào đây?”. Đình Nhi đã dùng ngay máy tình trò chơi loay hoay tính toán một hồi rồi đưa ra kết quả: “Mẹ ăn 4 quả, con ăn 3 quả”. Cháu còn bắt chước câu chuyện “Khổng Dung chia lê”, đưa ra 2 đáp án cùng chính xác. Cuối cùng tôi ăn 3 quả, còn lại 1 quả tôi chia đôi, rồi lại chia đôi nữa, cho Đình Nhi tập tính toán chia phần. Sau đó, hai mẹ con tôi cùng ăn quả vải đó. Lẽ ra tôi phải thưởng cho cháu cả quả vải đó, song nghĩ rằng, muốn nhân cơ hội này dạy cho cháu biết “miếng ngon sẻ nửa”, nên cũng đành phải ăn phần của mình.

Ngoài việc học chữ và học toán, tôi cũng thường xuyên dạy cháu tập vẽ và kể chuyện theo tranh. Cũng cần phải nói thêm rằng, tất cả những việc làm đó đều nhằm giúp Đình Nhi nắm được kỹ năng. (Tôi cho rằng rèn luyện kỹ năng cho rtẻ phải ở giai đoạn tiểu học, còn đối với đứa trẻ từ 3 đến 6 tuổi, đây là thời gian quý báu nhất để mở mang trí lực và kích thích sự ham muốn, hiểu biết).
Sự tiến bộ trong học vẽ của Đình Nhi biểu hiện ở hai mặt như sau: một là, rất chăm chú, rất hiếu học, đã có phần say mê; hai là, đối tượng vẽ nhiều hơn, từ ông mặt trời, hoa lá đến bé trai bé gái, rồi tiến đến vẽ chim, vẽ bướm, vẽ chuồn chuồn, châu chấu, nhà cửa, dòng sông, cây cầu, con thỏ, con cá và vẽ những đám mây … Tới đây, tôi sẽ xin cho cháu vào lớp “nghệ thuật mầm non” để cháu học hội hoạ, chắc rằng sẽ tiến bộ nhanh hơn.

Khi xem tranh kể chuyện, Đình Nhi thường hay kể miên man. Tôi thường yêu cầu cháu, trước hết phải kể tên các sự vật có trên bức vẽ đó, sau đó dạy cháu nên tổ chức các tư liệu đó như thế nào để thành câu chuyện. Nếu có động vật thì nên kể động vật trước rồi thông qua con mắt của động vật đó để kể tiếp các cảnh vật xung quanh, to trước, nhỏ sau, cận cảnh viễn cảnh… Vừa mới đây, tôi cho Đình Nhi nhìn một bức tranh truyện và chỉ nhắc cháu một chút về nguyên tắc trước sau, cháu đã làm khá tốt. Sau này nếu có thời gian tôi sẽ ghi chép kỹ hơn về việc này, sẽ giúp cho cháu chú ý hơn đến các mối quan hệ nội tại trong một ý tưởng, đồng htời cũng làm tăng ý muốn được biểu đạt và khả năng biểu đạt của Đình Nhi.
Để Đình Nhi thấy được tính thực dụng của việc học tập, tôi cho cháu viết ba lá thư ngắn chỉ mười mấy chữ gửi cho bà ngoại, đồng thời cháu còn gửi biếu bà hai bức tranh do cháu tự vẽ, trong thư cháu còn đề nghị: “Mỗi lần gửi thư về bà, bà viết riêng cho cháu mấy chữ”. Thế là mỗi lần tôi nhận được thư bà, trong thư đều có một mảnh giấy nhỏ viết riêng cho Đình Nhi.

Có điều đáng tiếc là: việc học Anh văn của cháu vẫn chưa làm được. Vì tôi không mua được tài liệu có băng kèm theo, mà tiếng Anh lại là thứ tôi mù tịt. Khi còn ở dưới quê Hồ Bắc, mỗi buổi tối Đình Nhi đều ngồi trước ti-vi xem tiết mục dạy tiếng Anh “Hãy học cùng tôi” chừng hơn nửa tiếng. Cứ như vậy xem liên tục từ lúc cháu mới được 1 tuổi 8 tháng tuổi cho đến lúc cháu 2 tuổi 11 tháng.

Việc coi truyền hình trong hơn một năm đó đã thực sự có hiệu quả khi Đình Nhi học ngoại ngữ ở trường tiểu học. Cháu đã nói với tôi: “Chẳng hiểu sao con luôn cảm thấy tiếng Anh như tiếng nói của chính mình, nó cũng chẳng khác gì tiếng mẹ đẻ”. Những ấn tượng ăn sâu trong đầu óc ngay từ những ngày thơ ấu của cháu, nay đã có tác dụng.

Trước khi Đình Nhi vào học tiểu học, tôi chưa có đủ tiền mua một chiếc tivi, nên ngoài thời gian trên, cháu không còn được tiếp tục xem chương trình “Hãy học với tôi” nữa. Giờ đây nghĩ lại, tôi lại thấy mừng. Nếu khi đó trong nhà lại có một chiếc tivi, thì tôi cũng sẽ lại như mọi người khác, coi tivi như bà bảo mẫu, để con cái cứ ngồi lỳ trước tivi bị động xem đủ mọi chương trình hàng mấy tiếng đồng hồ liền, còn mình thì rảnh tay đi làm việc khác. Đã vậy thì làm gì có nhiều thời gian và công sức để mở mang trí lực và bồi dưỡng tình cảm cho Đình Nhi, và nếu vậy Đình Nhi làm gì có được như ngày hôm nay.

Các nhà khoa học Âu Mỹ qua nghiên cứu cho thấy rằng, khi xem truyền hình, sóng điện trong đại não con người cũng giống như sóng điện khi người ta đang ngủ. Đối với một đứa trẻ dưới 6 tuổi, cứ duy trì trạng thái đó, rõ ràng đã bỏ lỡ một thời kỳ tốt đẹp nhất để phát triển đại não tuổi ấu thơ. Qua sự theo dõi của tôi, những đứa trẻ được cha mẹ coi tivi là một bà bảo mẫu, khi lớn lên sẽ hình thành một thói quan xấu là lười động não. Vì rằng, xem tivi là motọ hoạt động hoàn toàn bị động, không buộc phải có sự phản ứng tức thời. Trừ phi có người lớn ngồi kèm theo, vừa xem, vừa hỏi, vừa giảng giải, coi các tiết mục trên tivi là một thứ giáo trình, thì mới có tác dụng mở mang tri thức cho trẻ. Tuy vậy, đối với những đứa trẻ dưới hai tuổi, không gì bằng lấy ngay các sự vật cụ thể là đối tượng nhận thức.

Trong quá trình trưởng thành của Đình Nhi, tôi luôn lợi dụng các tiết mục phim kịch phát trên truyền hình để làm giáo trình cho Đình Nhi nhận biết tính phức tạp của cuộc sống xã hội. Về mặt đẩy nhanh khả năng tư duy, truyền hình chỉ được dùng để huấn luyện khả năng tư duy và khả năng miêu tả các hoạt động xã hội, khi ấy Đình Nhi đã học lớp 4 tiểu học, đã có đủ khả năng để tiếp thu sự rèn luyện tư duy nhanh ở mức độ khó hơn.
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-09-02 20:56:53Mục Đồng>
TUỔI NHỎ MÀ CHĂM LÀM: ĐẠO ĐỨC, TRÍ KHÔN ĐỀU CÓ LỢI

Khái niệm “chăm làm” ở đây là chăm làm các công việc như: 1. Các công việc vặt trong gia đình; 2. Những việc nhỏ ngoài xã hội.

Khi bắt đầu 3 tuổi, Đình Nhi đã học làm các công việc vặt trong gia đình. Mỗi lần ăn cơm xong, cháu đã biết thu dọn vỏ trái cây, hoặc vỏ hạt dưa vương vãi trên mặt bàn hoặc trên nền nhà. Khi lên phố mua hàng, những công việc đơn giản như hỏi đường đi, hỏi giá cả, gọi cô bán hàng, nói rõ yêu cầu của mình … tôi đều giao cho cháu tập làm. Có khi vì bận công việc quá không có thời gian xếp hàng mua đồ vật, tôi bảo cháu hãy nói rõ lý do với cô bán hàng và những người đang xếp hàng trước mình, xin được ưu tiên mua trước. Mỗi lần như vậy mọi người đều vui vẻ nhường chỗ. Trước khi làm những việc như vậy, tôi thường răn dạy cháu để cháu khỏi lợi dụng tình thương của mọi người: “Nếu vì lười biếng hoặc học cách lừa dối tìm cách chen ngang khi xếp hàng, thì đó là một việc làm ích kỷ, đáng ghét. Nếu có lý do xác đáng không thể xếp hàng được, thì nên thẳng thắn đàng hoàng xin được giúp đỡ, chỉ cần nói rõ lý do là mọi người sẵn sàng ưu tiên cho, vì người Trung Quốc luôn có thói quen tốt là kính già yêu trẻ. Nhưng nếu không có lý do chính đáng, thì nhất thiết không được lừa dối mọi người”. Đình Nhi rất hiểu sự khác nhau giữa việc “chen ngang” với việc “xin được ưu tiên”. Sau mỗi lần được mọi người chiếu cố, cháu không bao giờ quên lễ phép xin cám ơn lòng tốt của mọi người.

Tôi để cho Đình Nhi làm nhiều việc nhỏ ngay từ khi còn bé, không phải vì cần cháu chia sẻ gánh nặng gia đình. Mà lý do duy nhất chỉ là: đối với sự phát triển trí lực và bồi dưỡng tính cách cho trẻ thì chăm chỉ làm việc có một tác dụng cực kỳ tốt mà các biện pháp huấn luyện khác không thể nào thay thế được.

Ông Watland, một học giả Đại học Harvard Mỹ, đã bỏ ra 40 năm để nghiên cứu, theo dõi 156 cháu thiếu nhi ở Boston và đi đến kết luận: So với những đứa trẻ lười biếng không chịu lao động, thì những đứa trẻ ngay từ nhỏ đã biết yêu lao động, biết làm việc, khi lớn lên sẽ có mối quan hệ với mọi người nhiều gấp hai lần, thu nhập nhiều gấp năm lần và cuộc sống luôn thoải mái và đầy đủ. Vì rằng lao động đã giúp cho các cháu có được nhiều khả năng tốt, và các cháu luôn cảm thấy mình bao giờ cũng có ích cho xã hội.

Đó là từ góc độ xã hội học. Còn từ góc độ sinh lý học, sự trưởng thành của con người gắn liền với lao động và sáng tạo. Vì lao động và sáng tạo cần phải dùng đến tay chân, hàng loạt các dây thần kinh tập trung trên đầu các ngón tay thường xuyên liên lạc với đại não, đẩy nhanh sự phát triển và hoàn thiện hệ thần kinh đại não. Ngoài ra, lao động và sáng tạo luôn gắn liền với óc tư duy và trí tưởng tượng, tất nhiên sẽ thúc đẩy sự phát triển về trí lực cho nên từ xưa tới nay đều nhận thấy “tâm hồn” và sự “khéo tay” luôn gắn kết và thúc đẩy lẫn nhau.

Đình Nhi rất yêu lao động. Ngày 12 tháng 5 năm 1985, tôi mua về 3 cân khoai tây, cháu đã tự đem khoai đi rửa, chỉ cần hướng dẫn cháu ít thôi. Ngày 13, cháu biết cắt bí ngô thành những miếng nhỏ, còn giúp tôi bóc tỏi, cạo gừng để tôi xào thịt. Đương nhiên, cháu chỉ dùng dao ăn cho khỏi đứt tay.

Bây giờ cháu quét nhà đã sạch hơn trước nhiều, gấp quần áo cũng gọn gàng hơn. Dọn dẹp đồ chơi, nhà cửa cũng đã gọn gàng ngăn nắp hơn.
Cháu đã tự tắm rửa, trừ phần lưng tôi kỳ cọ giúp cháu. Nước tắm nếu quá nóng cháu đã tự pha chế lấy. Không bao giờ cháu khạc nhổ bừa bãi và vứt vỏ hoa quả ra nền nhà.

Kỳ nghỉ hè vừa qua tôi cho cháu về ở nhà người chị họ khoảng một tháng. Sau khi trở về, sau bữa ăn cháu đã biết tự rửa bát đũa. Cho cháu tập làm những công việc đơn giản như thế, cốt để rèn luyện nghị lực và đức tính kiên trì cho cháu.
Ông Phùng Đức Toàn, một chuyên gia về giáo dục từ sớm nói: Một đứa trẻ khi đã biết nhóm lò than, tất nhiên nó đã nắm được các bước tiến hành để cho lò than cháy đỏ, và nó cũng sẽ biết vận dụng điều đó cho các trường hợp khác. Những đứa trẻ không quen lao động sẽ không có được các kỹ năng đó. Ngay từ nhỏ đã biết lao động và sáng tạo, những phẩm chất yêu lao động, yêu khoa học cũng được hình thành từ những việc làm cụ thể đó, đồng thời cũng hình thành thói quen lao động, sự ham thích sáng tạo và khắc phục khó khăn. Những đứa trẻ không lao động, không biết làm một việc gì cả, tất nhiên không có được những phẩm chất tốt đẹp đó.

Giáo dục một đứa trẻ vốn quen ỷ lại và lười biếng, trở thành một con người siêng năng chăm chỉ thật là khó. Điều này đòi hỏi phải kiên trì và có biện pháp, kể cả khen thưởng và trừng phạt. Có vậy mới có được hiệu quả, mà cũng chưa dám chắc nó đã thực lòng yêu lao động hay chưa. Thế nhưng giáo dục thói quen yêu lao động ngay từ khi đứa trẻ mới biết chơi trò bắt chước người lớn, không phải là một việc làm khó khăn gì. Những tri thức về tâm lý học đã mách bảo ta rằng, một đứa trẻ mới chập chững biết đi, đã có nhu cầu muốn giúp mẹ làm việc, hai tuổi biết giúp mẹ lấy một số đồ vật, ba tuổi đã có ước muốn làm mọi việc như người lớn, từ 4 đến 5 tuổi đã biết tự mình thu dọn đồ chơi, quần áo và tự rửa bát đũa của mình. Điều đó cho biết rằng, lười biếng không phải là bản tính của trẻ con. Xét về bản tính, đứa trẻ nào cũng thích làm việc, chỉ đáng trách các bậc cha mẹ quá nuông chiều con, việc gì cũng làm thay nên mới khiến con cái hình thành một thói quen xấu là ỷ lại và lười biếng.

Đối với những gia đình chỉ có một con, ngay từ khi con cái còn nhỏ tuổi mà không giáo dục chúng có thói quen lao động, một năng lực làm việc, thì sau này hậu quả thật vô cùng lớn.

Các chuyên gia về tâm lý xã hội qua điều tra nghiên cứu đã thấy: Những sự bất hoà giữa cha mẹ và con cái, phần lớn bắt nguồn từ việc con cái quá ỷ lại vào cha mẹ, làm cha mẹ luôn cảm thấy bất lực tòng tâm, không đủ sức chiều theo con cái, còn con cái thì lại luôn oán trách cha mẹ bất tài, vì không thoả mãn được những yêu cầu của chúng. Những đứa trẻ ngay từ ngỏ đã quen thói bất cứ việc gì cũng ỷ lại vào cha mẹ, sau này khả năng tự lập, tự quyết rất kém, gặp bất cứ việc gì cũng chỉ biết trông chờ vào cha mẹ. Khoảng cách giữa sự đòi hỏi của con cái và khả năng của cha mẹ ngày càng lớn, những sự không vừa ý và những lời oán trách ngày càng nhiều, mâu thuẫn và xô xát xảy ra từ đó. Những đứa trẻ ấy rất ít khi nghĩ rằng mình đã làm được gì cho cha mẹ, chúng coi việc cha mẹ phải tằn tiện, vất vả để thoả mãn những đòi hỏi của chúng là điều đương nhiên. Một khi cha mẹ già yếu hoặc gặp khó khăn không còn đủ sức kiếm ra tiền nữa, những đứa trẻ này thường không hề biết xót thương hoặc quan tâm đến bố mẹ.

Ở thành phố, các bậc cha mẹ chỉ có một đứa con duy nhất thường ít khi bắt con mình phải chu cấp tiền nong phụng dưỡng, nhưng thường được đáp lại bằng những việc rất thương tâm, ngay cả việc quan tâm chăm sóc tối thiểu nhất cũng thường không có. Trẻ con ở nông thôn ngay từ nhỏ đã tận mắt nhìn thấy sự làm ăn vất vả của cha mẹ, bản thân chúng cũng phải trực tiếp giúp cha mẹ phần nào việc đồng áng, nên chúng hiểu và thông cảm với những nỗi nhọc nhằn của cha mẹ, so với trẻ con ở thành phố phần lớn chúng biết thương yêu cha mẹ hơn. Trẻ con ở thành phố thường không thấu hiểu được những khó khăn gian khổ của cha mẹ khi làm việc tại công xưởng hoặc cơ quan, cho nên càng phải thông qua những công việc trong gia đình cho chúng thấy được sự vất vả trong lao động, dẫu rằng trong nhà vẫn có người giúp việc, nhưng những công việc như giặt quần áo, tự dọn dẹp phòng riêng nên bắt chúng phải làm lấy, đề phòng tạo thành thói quen lười biếng theo kiểu “cậu ấm cô chiêu”.

Thực ra, làm các việc vặt trong nhà cũng là một dịp tốt để mở rộng tầm hiểu biết của con cái. Khi tôi cho Đình Nhi tự giặt đôi tất của mình, tôi đã giảng giải cho cháu hiểu về nguyên lý làm sạch vết bẩn của xà phòng; khi Đình Nhi giúp tôi làm món ăn, tôi đã nói cho cháu nghe về sự hoà tan trong nước của đường và muối, cả mùi vị và nồng độ cần thiết của nó, với những câu mở đầu thường là: “Con có biết tại sao … như vậy không?”.


DẠY CHO TRẺ HAI TẦNG CHUẨN MỰC, RÈN LUYỆN THÓI QUEN RỘNG LƯỢNG VỚI MỌI NGƯỜI

Tôi thường yêu cầu rất nghiêm khắc, rất tỷ mỷ đối với Đình Nhi, chưa một lần lơi lỏng bỏ qua. Đình Nhi cũng thường tỏ ra rất nghiêm khắc với người khác. Tôi đòi hỏi Đình Nhi làm bất cứ việc gì hoặc sửa chữa sai lầm phải “nói một lần là nghe ngay” và cháu cũng đòi hỏi ở tôi như vậy. Đương nhiên là tôi chấp hành. Nhưng mọi người khác thì thường không thực hiện nguyên tắc đó của mẹ con tôi. Trước khi Đình Nhi hiểu được đạo lý “nghiêm khắc với mình, rộng lượng với mọi người”, cháu đã không chỉ một lần rơi vào tình trạng mâu thuẫn tâm ký do khái niệm “hai tầng tiêu chuẩn”. Cháu đã nhiều lần khóc mếu hỏi: “Mẹ ơi, tại sao người lớn hơn con, con cũng phải nhường nhiẹn, mà người bé hơn con, con cũng phải nhường nhịn?” hay “Tại sao bạn ấy như vậy thì được?” …

Lần đầu tiên tôi phát hiện ra điều đó chính là dịp trên đường về quê thăm bà ngoại vào đầu năm 1985.

Ngày 9 tháng 2, tôi phải bế Đình Nhi nhảy qua cửa sổ vào trong toa tàu hoả, chen chúc nhau suốt một ngày một đêm, vừa nóng, vừa ngột ngạt lại vừa hôi hám, nhưng khổ nhất là khát. Đình Nhi cứ nhìn chằm chặp vào những túi ni – lông nước của khách trên tàu, bực tức làu bàu: “Hừ, chỉ biết mình, không biết người”. Tôi vừa thương cháu vừa buồn cười, cố gắng khuyên nhủ cháu. Cũng may, từ cái nhìn thèm khát của Đình Nhi, một hành khcáh thấy thương hại đã cho cháu một túi ni – lông nước uống. Lời răn dạy “Hãy vì mọi người” của tôi đối với Đình Nhi đã được một thực tế trả lời.

Đình Nhi đối với các bạn trong nhà trẻ cũng có những yêu cầu nghiêm khắc như tôi thường yêu cầu cháu. Có lần, Đình Nhi đến phát khóc lên chỉ vì có hai bạn nhỏ không đáp lại lời chào hỏi rất nhã nhặn của cháu. Có những bạn nhỏ mắc sai lầm, nhưng không chịu  sửa ngay như nguyên tắc “nói một lần là phải nghe ngay” mà Đình Nhi vẫn thực hiện, Đình Nhi đã khăng khăng bắt bạn đó phải nhận lỗi và sửa chữa ngay, nhưng gặp phải những bạn quen được nuông chiều, thế là lại sinh ra to tiếng. Tôi đã nhiều lần dạy con “đối với mình phải thật nghiêm khắc, đối với người khác phải khoan dung”, nhưng trong thực tế, Đình Nhi không thể khoan dung được.

Trong “Nhật ký dạy con”, có lần tôi đã viết: “Phải chăng vì thiếu nhận thức cảm tính vê sự khoan dung, chưa từng thể nghiệm qua cho nên mới xảy ra tình trạng như trên? Có lẽ, sau này mình phải tìm hiểu nhiều biện pháp để Đình Nhi thể nghiệm điều đó, học cách khoan dung, những cũng phải tránh quan niệm coi nhường nhịn là khoan dung với người khác”.

Sau này tôi mới ý thức được rằng, lúc đó kỳ thực tôi “đã nghiêm khắc quá nhiều, chưa hề nhường nhịn”. Chỉ tiếc rằng chính tôi chưa nhận ra điều đó. Mãi đến khi có một lần tôi đã để mất bình tĩnh trước Đình Nhi, từ đó tôi bắt đầu suy nghĩ và có những điều chỉnh hữu hiệu đối với việc này.

Đây là một việc mà cho đến nay tôi vẫn còn thấy hối hận và xấu hổ, sự việc xảy ra vào ngày 19 tháng 6 năm 1985, khi tôi chuẩn bị kỳ thi cuối học kỳ.

Tối hôm nay, cuối cùng Đình Nhi cũng học được cách gấp thuyền giấy. Tôi chỉ cần nhắc cháu chút ít thôi, như các đường gấp phải thật thằng, khi lộn thuyền phải giữ chặt các nếp gấp … Nhìn chiếc thuyền mà Đình Nhi tự gấp lấy, tôi tự thấy hối hận, xin lỗi cháu: “Vì chuyện gấp thuyền mà vừa rồi mẹ nóng quá đã gắt con, tha lỗi cho mẹ nhé!”. Đình Nhi trả lời: “Không sao đâu mẹ ạ, mẹ biết không, người lớn thấy trẻ con mắt phải sai lầm không thể tha thứ được, muốn cho mấy roi để nhớ, khi ấy thì hãy gắt”. Sau đó, cháu đã mang dép lê lại cho tôi, và mặc dù tôi đã can ngăn, cháu vẫn tự giác nhặt những chiếc dép bị tôi ném ra xa, xếp gọn lại, quả thật tôi rất hối hận.

Vừa rồi vì việc Đình Nhi lúng túng khi học gấp thuyền giấy, tôi quát mắng om sòm, thậm chí còn vò nát chiếc thuyền cháu đang gấp dở quăng xuống nền nhà. Đình Nhi sợ quá khóc oà lên. Tôi thấy mình hơi quá, sai Đình Nhi tiếp tục gấp thuyền. Đình Nhi lại chăm chú gấp thuyền, thỉnh thoảng lại quay sang hỏi tôi cách làm, tôi bảo cháu. Nhưng Đình Nhi vẫn cứ vụng về, lúng túng tôi bực quá bỏ ra sô – pha nằm.

Nghĩ đến công việc trong 40 ngày phải hoàn thành ba môn học mà tối nào cũng phải bận rộn với Đình Nhi như thế này, lấy thời gian đâu để học bài, tôi buồn bực quá, quăng dép lung tung. Đình Nhi đề nghị tôi phải nhặt lại dép, tôi đã nhặt lại, nhưng rồi bực quá lại quăng đi.

Từ trước tới nay, Đình Nhi chưa từng thấy tôi nóng giận như thế bao giờ, cháu sợ quá và khóc oà rồi chạy đến khuyên tôi: “Mẹ ơi! Xin mẹ đừng giận nữa”. Tôi nén giận nói: “Mẹ có giận con đâu!”. Đình Nhi không khóc nữa, trở về tiếp tục gấp thuyền. Thấy Đình Nhi thực sự say mê với công việc như vậy, tôi thấy vừa yêu, vừa thương con, bất giác tự trách mình: “Mấy tháng trước đây không biết tranh thủ thời gian, sang nay vẫn chúi đầu đọc tiểu thuyết, bây giờ lại trút giận lên đầu con, thật chẳng ra làm sao cả. Nếu trước đây cứ chịu khó học hành đều đặn, thì đâu đến nỗi bây giờ thấy tiếc cả thời gian dạy con gấp thuyền”.

Nghĩ đến đây, cơn giận dữ đã nguôi nguôi. Nghĩ lại, hình như trước đây đến tận khi mình đi học tiểu học, mới biết gấp thuyền, lúc ấy đã 7, 8 tuổi rồi. Mà nay Đình Nhi mới 4 tuổi đã biết làm gì đâu. Có chăng chỉ biết nhặt những hạt lê dưới đất mà thôi. Thế mà mình nỡ đối xử với Đình Nhi như vậy, thật là vô lý.

Đang mải suy nghĩ, Đình Nhi lại đến cầu cứu tôi. Lần này, tôi vui vẻ hướng dẫn cháu cách lộn thuyền. Đình Nhi lại lấy thêm một tờ giấy, định gấp một chiếc thuyền khác. Tôi đồng ý và bảo cháu: “Nếu con tự gấp được chiếc thuyền này, mẹ sẽ giúp con ghi nhận thành tích đó vào nhật ký”.

Sắp tới 16 tuổi, tôi mới bắt đầu luyện tập thói quen “nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người”. Nay Đình Nhi mới 4 tuổi, đã đòi hỏi Đình Nhi có được một thói quen như vậy, liệu có quá đáng lắm không? Người cha của Carl Witer chính vì để tránh tình trạng có những yêu cầu không nhất quán đối với hai đứa con, ông đã cho Witer con chơi bời với những đứa trẻ cùng trang lứa trước tuổi thanh niên để tránh gây ra sự lầm lẫn về quan niệm phải trái của con. Việc làm của người cha ấy là đúng đắn. Nhưng tôi không có điều kiện như vậy, tôi chỉ biết cố tìm mọi cách để giảm bớt mức độ lầm lẫn trong nhận thức của con, và cũng để đề phòng Đình Nhi có thói quen khắt khe với mọi người. Muốn làm được như vậy, có lẽ trước tiên tôi phải thay đổi thái độ quá khắt khe với con. Tôi và Đình Nhi sẽ cùng nhau sửa chữa sai lầm.

Hai mẹ con đang cùng nghĩ cách sửa sai, thì một buổi tối, Đình Nhi đề nghị đại khái như sau: trong thời gian mẹ thi cử, con tình nguyện sang bên nhà dì Tú Thụ (bà chị họ của tôi rất thích cháu về ở cùng). Từ đó, thái độ của tôi đối với cháu đã có phần dịu đi nhiều, khi cháu đang say sưa làm một việc gì đó, tôi không bắt cháu dừng lại để làm một việc theo yêu cầu của tôi, mà thường nói với con: “Thôi được, mẹ cho con thêm 5 phút nữa, nhưng con phải đúng hẹn đấy, hết 5 phút con phải đi làm việc kia ngay …”. Đình Nhi thường rất đúng hẹn.

Những ngày này, Đình Nhi học vẽ và tiến bộ rất nhanh, hầu như ngày nào cũng có một bức tranh cho tôi xem. Có một hôm, bạn Hoàng Duy Di đã cướo mất một bức tranh mà Đình Nhi định đưa tôi xem, cháu tức quá khóc mãi không thôi. Tôi lấy câu danh ngôn “Người đáng yêu phải là con người biết trung hậu với người khác” để khuyên nhủ cháu. Đình Nhi có ấn tượng rất sâu sắc đối với đức tính trung hậu trong câu chuyện “Người thợ kim hoàn Sasand”, cháu luôn mong được như thế, vì vậy cháu đã cố không khóc nữa.

Nhưng cháu vẫn còn ấm ức mãi là tại sao đối với mình và đối với người khác lại phải dùng hai loại chuẩn mực khác nhau? Tôi đã cố gắng nghĩ ra một ký do đơn giản và dễ hiểu để thuyết phục cháu: “Bời vì con được giáo dục tốt hơn, hiểu được nhiều đạo lý hơn, con nên làm gương cho các bạn ấy chứ. Hơn nữa, con đâu có có phải là mẹ của bạn ấy, nếu bạn có sai sót gì thì đã có mẹ bạn ấy dạy bảo mà”. Từ đó về sau, mỗi lần như vậy, tôi chỉ cần hỏi lại cháu một câu: “Con có phải là mẹ bạn ấy đâu?”. Đình Nhi liền từ bỏ những yêu cầu quá nghiêm khắc đối với bạn bè.
7
8
blog
0
Venus xin lỗi chị Cti.Ly và bạn đọc của diễn đàn vnthuquan. Hơn 1 tháng trước, venus có chút việc bận rộn nên tạm dừng đánh máy cuốn sách này. Nay venus có chút thời gian rảnh, venus xin được tiếp tục đánh máy và post những phần còn lại của cuốn sách này cho diễn đàn. Vài lời nhắn nhủ, Venus mong nhận được sự cảm thông và ủng hộ của mọi người!

7
8
blog
0
COI TRỌNG CUỘC SỐNG TẬP THỂ, BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG XÃ HỘI
Tác giả cuốn “Cánh cửa tình thương EQ” nói: “Trong số tất cả các kỹ năng về “tình thương EQ” của một đứa trẻ, khả năng biết chung sống với mọi người có quan hệ vô cùng quan trọng đến sự thành công và chất lượng cuọc sống sau này. Muốn có sự hoà đồng như “cá gặp nước” trong cuộc sống xã hội, đứa trẻ phải học cách  hiểu biết và làm quen với môi trường xã hội, đồng thời phải có những phản ứng thích hợp với từng hoàn cảnh. Đứa trẻ phải biết làm thế nào để cân bằng và điều tiết giữa nhu cầu và mong muốn của mình với nhu cầu và mong muốn của người khác. Người Trung Quốc luôn thực hiện quan niệm chuẩn mực hai tầng: “Nghiêm khắc với mình, rộng lượng với người khác”, thực tế cũng là nhằm điều tiết mối quan hệ giữa mình với mọi người trong xã hội.
Tôi cho rằng, để biết cách chung sống hoà hợp với mọi người, Đình Nhi cần phải học nhiều hơn nữa cái mà ngày nay người ta gọi là “Kỹ năng tình thương EQ” mà nơi học tập tốt nhất chính là vườn trẻ và nhà trường. Cần phải có cuộc sống và trò chơi tập thể mới có thể bồi dưỡng được những đức tính và khả năng như: tình thân ái, sự hợp tác, tính hào phóng và cởi mở, ý thức giữ gìn kỷ luật và sự lễ độ và công bằng, lòng tự tôn và tinh thần tập thể, ý thức ganh đua và tinh thần trách nhiệm, khả năng tổ chức và ý thức phục tùng, khả nằng lãnh đạo và tinh thần biết hy sinh vì người khác… Chính đó là những phẩm chất bắt buộc những người có giáo dục phải có đủ. Tách rời cuộc sống tập thể thật khó mà bồi dưỡng những phẩm chất đó. Những điều kể trên làm cho tôi thấy mừng vì mình đã không bồi dưỡng Đình Nhi thành một “thần đồng” kiểu “anh hùng nhất khoảnh”, “đơn thương độc mã”.
Kỹ năng xã hội cũng giống như các kỹ năng tình thương EQ khác đều có thể học được. Biện pháp thì rất nhiều như: sự gương mẫu của cha mẹ, sự giáo dục có mục đích của cha mẹ, đảm bảo sự tương xứng giữa tuổi tác và sự phát triển tinh thần của trẻ… Tất cả đều có thể đạt được mục đích là làm cho trẻ em học được kỹ năng xã hội.
Như tôi đã đoán trước, ở nhà trẻ, Đình Nhi chưa học được điều gì mới lạ, nhưng được sự hướng dẫn của tôi, Đình Nhi đã học được khá nhiều các kỹ năng tình cảm và xã hội vô cùng quan trọng.
Có lần Đình Nhi nói: “Con và Đường Dĩnh tranh nhau làm mẹ búp bê, chẳng ai chịu nhường ai, và cuối cùng cả hai đều khóc”. Nhân việc đó tôi mách cháu: “Tranh nhau không được rồi cùng khóc, đó là việc làm bất tài, ngốc nghếch, là người thông minh thì phải biết chủ động sắp xếp để các bạn thay nhau làm mẹ búp bê”. Tối hôm đó, tại câu lạc bộ thành phố, ĐÌnh Nhi đã chơi vô cùng vui vẻ với một bạn giá khác chừng 6 tuổi. Tôi chỉ nhắc cháu một câu: “Buổi sáng mẹ đã dặn phải biết sắp xếp trò chơi cho tốt”.
Khi ra về tôi hỏi cháu: “Chơi có vui không?”. Đình Nhi vui vẻ trả lời: “Vui lắm mẹ ạ. Trước tiên con làm cô bán rau, để chị ấy làm mẹ, sau đó con lại làm mẹ, để chị ấy làm cô bán rau”. (Một sự manh nha về khả năng tổ chức của Đình Nhi).
… Về thái độ lễ phép, Đình Nhi đã có nhiều tiến bộ: “xin lỗi”, “cảm ơn” đã thành một thói quen bản năng. Chau đang tập thói quen hỏi thăm sức khoẻ. Để làm được điều này, tôi thường chủ động hỏi thăm sức khoẻ, công việc của mọi người cốt để cháu học theo mẹ. Việc làm cụ thể của mẹ có tác dụng giáo dục tốt hơn nhiều so với những điều dạy bảo. Ngoài ra ở mọi lúc, mọi nơi tôi đều luôn nhắc nhở cháu phải cư xử lễ độ. Chỉ cần nhắc nhở chút ít là Đình Nhi đã chủ động làm ngay. Việc này rất có lợi cho việc rèn luyện đức tính kiềm chế của trẻ thơ.
Mối quan hệ của Đình Nhi với các bạn trong nhà trẻ rất tốt. Vì vậy, cháu rất yêu nhà trẻ. Hôm nay đến lớp muộn, cô giáo dẫn các bạn đi làm vệ sinh cá nhân, trong lớp học không còn một ai, Đình Nhi nói: “Mẹ cứ để con một mình tại đây,con sẽ không nghịch sách vở, giấy bút trên bàn đâu”. Thế là tôi để lại cháu ở đó , vội vã đi làm. Diều này cũng không phải dễ dàng gì, vì khi cháu hơn một tuổi, tôi đã để cháu ở lại nhà trẻ đi công tác, ấn tượng “tự nhiên mất mẹ” đáng sợ kia cho đến nay chau vẫn chưa quên. Sau này rèn luyện mãi cháu mới dám ở lại một mình.
Theo sự dăn dò của tôi, Đình Nhi đã biết tự uống thuốc cảm theo chỉ định ngay tại nhà trẻ.
Để Đình Nhi cảm nhận được niềm vinh dự trước tập thể, khi vườn trẻ mở hội thi hoa , tôi dẫn cháu cất công đi thật xa, chọn mãi mới mua được một chậu hoa bạch đàn ông đủ cả hai màu đỏ và vàng, để cháu tham dự hội thi hoa.
Các chuyên gia về “tình thương EQ” cho rằng, những việc làm như thế cũng có những tác động rất tốt, đôi lúc phải giúp trẻ làm được công việc gì đó, để trẻ thấy được niềm vui sướng của sự thành công, sức mạnh của niềm vui sướng đó sẽ thúc đẩy trẻ hăng hái làm ra nhiều “sự thành công” mới khác.
Ngoài việc học tập và vui chơi với các bạn trong nhà trẻ, cuộc vui chơi với các bạn hàng xóm cũng là một việc rất quan trọng, các cháu lớn nhỏ vui chơi với nhau có tác dụng bù lấp được sự thiếu hụt về tình cảm của những đứa trẻ mà gia đình chỉ có con một, nhưng cũng phải cho trẻ biết chọn bạn mà chơi.
Khi mới hơn 3 tuổi, Đình Nhi làm hỏng chiếc kẹp tóc của bé Đặng Linh, con gái cô Viên. Tôi bảo cháu: “Con phải lấy số tiền định mua bóng bay của con để mua đền bạn Đặng Linh chiếc kẹp tóc đó”. Lúc đó Đình Nhi mới học được câu nói “đau khổ trong lòng” trong bộ phim dài nhiều tập “Em bé nô tỳ” của Brazil chiếu trên truyền hình, cháu vận dụng nói: “Con cứ nén nhịn “nỗi đau khổ trong lòng”, cố chờ đến khi mẹ có lương tháng sau để mua vậy”.
Làm như thế để cốt dạy ĐÌnh Nhi biết gánh chịu hậu quả do sai lầm của mình. Cũng phải nói thêm rằng: Đình Nhi rất có ý thức chịu đựng. Trên người cháu, nếu có một chỗ dâu hoặc ngứa ngáy, tôi đều yêu cầu cháu phải cố mà chịu đựng, không được kêu khóc, không được giãy giụa lung tung. Không chỉ vì “kiên nhẫn” là một yếu tố cấu thành rất quan trọng của ý chí mà còn vì mọi người chẳng thích thú gì một đứa trẻ cứ hơi đau một tý là vội khóc nhè, quấy rầy người khác. Đình Nhi cho rằng chịu đựng đau khổ là điều đương nhiên. Cháu đã làm như vậy và yêu cầu tôi cũng phải làm như cháu.
Cùng vui chơi với những đứa trẻ được giáo dục bằng những quan niệm và phương pháp khác nhau, khó tránh khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh. Bình thường, tôi luôn cố  gắng tránh cho Đình Nhi tiếp xúc với những đứa trẻ thiếu giáo dục, tôi không thể để cho ĐÌnh Nhi, một đứa trẻ chưa đủ trí khôn và nghị lực làm chủ bản thân mình, tiêm nhiễm phải những thói xấu từ những đứa trẻ như vậy. Và khi không còn cách nào tránh được, thì tôi đã kịp thời giảng giải để cháu hiểu và từ những tật xấu của bạn, Đình Nhi phải rút ra bài học kinhnghiệm cho mình.
Khoảng 10 ngày trước đây, một người bạn của tôi cho Đình Nhi một dây hoa bằng lụa mầu, ĐÌnh Nhi cùng ban X chơi chung nhưng chưa đầy 2 phút sau, ĐÌnh Nhi bỗng khóc oà lên. Tôi vội chạy ra xem sao, chau X vội liến thoắng: “Bạn ĐÌnh Nhi xé hoa, cô ạ. Cháu giằng lấy không cho bạn ấy xé, thế là bạn ấy khóc”. Tôi quay lại hỏ Đình Nhi: “Có thế không con?” ĐÌnh Nhi vẫn nức nở khóc, chỉ nói được hai tiếng: “mẹ ơi”, rồi không nói thêm được gì nữa.
Tôi vừa phê bình Đình Nhi không nên xé hoa, không nên khóc, vừa dắt cháu trở về nhà. Trên đường về, ĐÌnh Nhi vừa khóc vừa nói: “Không phải con xé hoa đâu, bạn X giằng lấy hoa củ con định xé đấy. Bạn X nói dối, con ghét bạn ấy lắm!” Nói xong, cháu lại oà khóc to hơn.
Tôi chợt nhớ đến câu nói của ông Chu Khắc Cần: “Hãy xem xem khi đứa trẻ lần đầu bị lừa dối, nó có phản ứng thế nào”. Tôi đã hiểu đây là lần đầu tiên ĐÌnh Nhi bị lừa dối. Tôi rất hiểu nỗi lòng của cháu, nhưng không thể cũng hùa theo ĐÌnh Nhi nguyễn rủa bạn X được. Tôi lựa lời khuyên bảo: “chỉ đáng ghét cái khuyết điểm của bạn X thôi, chứ không ghét bạn ấy. Vả lại khóc có giải quyết được gì đâu, chỉ tổ làm hỏng việc mà thôi. Nếu khi ấy côn bình tĩnh, tự nhắc nhở mình là không được khóc, rồi kể lại sự thật cho mẹ nghe, thì mẹ sẽ phê bình khuyết điểm của bạn X, để bạn ấy biết lỗi mà sửa đi. Nhưng khóc thì mọi việc đều hỏng cả, mọi người chỉ nghe bạn X thanh minh và cho rằng chính con là người định xé hoa. Vì thế, bị lừa dối có đau xót không? Con đã thấy rồi đấy, từ nay về sau, dù thế nào con cũng không được nói dói nghe chưa?” Từ đó về sau quả thực ĐÌnh Nhi không bao giờ nói dối. (Trước đây đã có lúc Đình Nhi làm sai một việc gì đó, nhưng không dám thừa nhận, nhữnglúc như vậy tôi thường nghiêm khắc trách mắng cháu, có  lúc tức quá còn cho mấy roi vào mông. Không dám thừa nhận lỗi lầm, sự việc tuy nhỏ nhưng tính chất thì thật là nghiêm trọng không thể tha thứ. Ngây từ khi còn nhỏ đã phải dạy cho con đức tính thật thà, cho nó biết lừa gạt, dối trá là cực kỳ đáng ghét, đáng xấu hổ, để tạo cho con cái một thói quen tốt là dám làm dám chịu. Đay là vấn đề có liên quan mật thiết đến nhân cách của con người và tinh thần trách nhiệm). Xem ra giáo dục phản diện, kích thích trực tiếp cũng có ý nghĩa đặc biệt của nó.
BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG MỤC TIÊU NHỎ, BỒI DƯỠNG Ý CHÍ VƯƠN LÊN CỦA CON TRẺ
Để trẻ có được sự giáo dục từ sớm làm thế nào để cùng vui chơi chung sống với các bạn bình thường cùng trang lứa, sẽ có một vấn đề xảy ra là, chương trình dạy học trong vườn trẻ và nhà trường là chương trình phổ thông phù hợp với các cháu bình thường, các cháu được giáo dục từ sớm có tư chất tót hơn thường bị mất hứng thú đối với chương trình dạy học ấy vì nó thiếu tính thử thách, cho nên thường không tập trung nghe thầy cô giảng bài. Các chuyên gia giáo dục từ sớm của Nhật Bản đã gọi tình trạng này là “thỏ chạy thi với rùa”, và cho rằng sự chênh lệch quá xa về tốc độ đã khiến thỏ ngủ ở dọc đường và cuối cùng đã đến đích sau rùa.
Khi Đình Nhi nghe kể chuyện, tập vẽ, tập viết chữ hoặc tự mình chơi ở nhà thì rất tạp trung chú ý, rất kiên trì, thế nhưng khi đi học nhà trẻ thì lại thiếu tập trung. Tôi nghĩ rằng, để tránh tình trạng như thỏ trong truyện ngụ ngôn trên, cần phải loại trừ ngay tâm lý lười biếng kia đi. Ngay từ khi còn học trong nhà trẻ, tạo cho trẻ một thói quen tập trung lằng nghe lời người khác. Ở đây lại còn có vấn đề khả năng nữa, khả năng biết nghe và biết nghĩ. Khi trẻ con đã dư sức học, phải dạy cho chúng những mục tiêu nhỏ với độ khó cao hơn, nhưng có thể dễ dàng đạt được, từ đó bồi dưỡng ý chí vươn lên của trẻ. Những mục tiêu đó phần lớn pahỉ có liên quan đến việc nâng cao “tình thương EQ” của trẻ.
Mục tiêu thứ nhất mà tôi nêu ra cho Đình Nhi chính là pahỉ giành được danh hiệu “Ngôi sao đỏ” trong nhà trẻ.
Ngày 5 tháng 10, phát hiện trên bảng “Những ngôi sao đỏ” trong lớp Đình Nhi đang theo học, không có tên cháu. Tôi khuyên Đình Nhi nên đi hỏi cô Vương chủ nhiệm lớp: “Thưa cô, con còn có những khuyết điểm gì cần phải sửa ngay ạ?” Cô Vương nói: “Khi nghe giảng bài, Đình Nhi đã chưa chủ động trả lời câu hỏi của cô giáo Trần (câu hỏi là: Bàn tay bé con của con đã biết làm được việc gì?). Vì vậy, con chưa được Ngôi sao đỏ”. Cô Vương con nói thêm: “Khi nghe giảng bài, khi ăn cơm và khi chơi các trò chơi lắp ghép, Đình Nhi thường không chú ý, hay quy ngang, quay ngửa nói chuyện riêng.” Khi tôi  và cô giáo Vương đang nói chuyện, ĐÌnh Nhi đã vội cắt ngang xin giải thích, rồi oà lên khóc ra chiều oan ức lắm.
Sau khi về tới nhà, tôi bình tĩnh ngoìi xuống nói chuyện với Đình Nhi. Toi bảo ĐìnhNhi hãy nhớ lại buổi học hôm đó, và nhắc lại câu hỏi trên cho cháu trả lời. Đình Nhi cãi lại: ““Không phải bàn tay biết làm việc gì?” mà là: “Con biết làm những việc gì?” mới đúng chứ!” Tôi giải thích cho cháu và cháu đã nghe ra, hơn nữa cháu còn nói: “Hôm ấy con không nghe rõ câu hỏi của cô giáo”.
Tôi bảo Đình Nhi: “Khi cô giáo giảng bài, học trò phải thật chú ý lắng nghe và nhìn thẳng vào mắt cô giáo, như vậy mới thật là chú ý”. Ngay lúc ấy ĐÌnh Nhi lại chăm chú nhìn vào tờ giấy đang chơi ở trên tay, tôi lập tức phê bình, và yêu cầu cháu phải thực hiện ngay từ bây giờ. Khi ĐÌnh Nhi ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi khen cháu làm như vậy là đúng, đây là một thói quen tốt của những người biết lễ độ, có giáo dục, mong cháu hãy cố gắng duy trì như thế. Tôi còn đang giảng giải, ĐÌnh Nhi đã cắt ngang lời tôi: “Con xin lỗi mẹ, con lại vừa nhìn xuống bàn tay con”. Tôi thừa dịp nói luôn: “Biết tự giác không làm những việc mà mình đang thích, đó là việc khó. Một con người có nghị lực, không thể hiện ở chỗ biết tự kiềm chế không làm những việc tuy mình rất thích, nhưng không đáng làm. Ví như, hiện thời mẹ đang nói chuyện với con, nhưng con lại thích nhìn ngang nhìn ngửa, động tay động chân, những việc ấy trong lúc này là không nên làm, nếu con biết tự kiềm chế, chăm chú nghe lời mẹ, như nậy là có nghị lực”. Từ đó, ĐÌnh Nhi rất chăm chú nghe tôi nói, sau đó tôi còn yêu cầu cháu trả lời lại một số câu hỏi trên lớp và cả việc kể chuyện theo tranh, cả tahỷ tới gần 40phút, nhưng cháu vẫn rất chuyên tâm.
…Sau buổi nói chuyện hôm ấy, hôm sau khi lên lớp cô giáo nêu câu hỏi: “Hôm lễ Quốc khánh, em đã nhìn thấy những gì?” Đình Nhi đã trả lời khá lưu loát bằng tiếng phổ thông, được cô giáo phát cho phần thưởng.
Buổi học hôm nay cô nêu ra câu hỏi: “Hãy kể về buổi chơi đi công viên Nhân Dân vào một ngày thu”. Thật không may, hôm nay cô giáo lại không gắn “Sao đỏ”, mà chỉ thưởng cho Đình Nhi “Một ngọn núi” được cắt ra từ một tấm bìa cứng.
(Ngày hôm sau, cô giáo thưởng bù, Đình Nhi đã được gắn 1 “Ngôi sao đỏ”).
Ngày 24 tháng10. Hôm nay học nhận biết chữ số từ 1 đến 9, Đình Nhi làm rất trôi chảy, mà cả lớp chỉ có ĐÌnh Nhi làm được, cô giáo gắn thêm cho ĐÌnh Nhi một “Ngôi sao đỏ” nữa. Tôi và Đình Nhi đều mừng ra mặt, hai mẹ con trò chuyện khá lâu. Tại phần mục lục của cuốn sách học chữ, ĐÌnh Nhi đã biết nhận mặt các chứ số hàng trăm, nhận mặt các chữ số hàng đơn vị đã không còn là vấn đề nữa rồi. Điều đáng mừng là, cũng như nhiều các bạn khác, Đình Nhi đã giành được 2 “Ngôi sao đỏ”, chỉ kém bạn Chiêm Bồi có một bông (bạn này được thêm một bông trong trò chơi ghép hình thử trí lực). Cô giáo nói, ai được nhiều sao, người đó đựơc đi du lịch đến Bắc Kinh (được dán ảnh mình và thành phố Bắc Kinh trên bản đồ treo tường). Lần này, Đình Nhi chắc sẽ được đi du lịch. Mẹ con tôi bàn nhau làm thế nào để mỗi buổi đi học đều được “Sao đỏ”.
Mục tiêu thứ hai tôi nêu ra cho Đình Nhi là sửa chữa khuyết điểm quay ngang, quay ngửa khi ăn cơm.
Tuần lễ này, tôi luôn nghĩ cách sửa chữa khuyết điểm hay nói cười, hay quay ngang quay ngửa khi ăn cơm, việc này đã nói rất nhiều lần nhưng chưa có kết quả. Tối nay tôi quyết định, bắt đầu từ ngày mai, nếu không sửa chữa khuyết điểm đó thì sẽ bị giam vào nhà vệ sinh 10 phút, mỗi lần tái phạm sẽ bị giam thêm 10 phút nữa, cứ thế đến khi nào sửa được mới thôi. Đình Nhi còn tự nêu biện pháp: Khi ăn cơm mắt phải nhìn vào mâm bát, không được quay ngang quay ngửa, khi muốn trò chuyện phải tự thầm nhắc: “Không được nói, không được nói”, ăn phải cẩn thận, không được để rơi vãi (hạt cơm nào vãi ra bàn thì phải nhặt vào bát để ăn). Ba điểm đó, về cơ bản Đình Nhi đã thực hiện được. Hôm nay, lần đầu tiên đến phiên ĐÌnh Nhi trực nhật, cháu đã làm mọi công việc rất cẩn thận, rất vui vẻ, ăn cơm đã nhanh hơn.
Mục tiêu thứ ba là:
Cố gắng để vào lớp học múa cua nhà trẻ. Lớp học múa cũ của nhà trẻ bị các cô giáo chê là quá yếu, vì vậy quyết định mở một lớp múa mới mà không thu học phí. Đình Nhi đã mạnh dạn tiến cử, và đã được thu nhận. Thái độ tích cực chủ động đó được mẹ rất khen. Lớp mới này sẽ chuẩn bị nhiều tiết mục biểu diễn mới trong dịp Tết. Lớp sẽ chọn 10 cháu trong số 17 cháu đi biểu diễn, tôi động viên Đình Nhi: phải chăm chỉ học hành, cần cù luyện tập để được vào đội tuyển. Tôi muốn cháu ngay từ nhỏ đã có được ý chí “quyết chiến quyết thắng trong các cuộc ganh đua”. Tôi cũng bỏ nhiều công sức giúp cháu rèn luyện ý chí này.
Mục tiêu thứ tư là:
Phải mau chóng ngủ rưa được ngay. Về việc này, tôi dạy cháu cách tập đếm các ngón chân trước khi chợp mắt. Cách này lợi dụng nguyên lý của khí công, tập trung ý chí vào đầu ngón chân, có tác dụng rất tốt để đưa người ta vào giấc ngủ. Luyện tập thường xuyên rất có lợi cho sức khoẻ. Không biết Đình Nhi có kiên trì tập luyện được không? (Biện pháp này còn đang thực hiện).
Đối với người khác mục tiêu nhỏ này có lẽ còn có ý nghĩa gì, nhưng đối với Đình Nhi lại chính là bài học “Muốn đi ngàn dăm, phải bắt đầu bằng những bước đi”, chính những mục tiêu nhỏ, không ngừng đổi mới đó đã khiến Đình Nhi luôn luôn có những điểm mốc để phấn đấu, duy trì ý chí vươn lên.
Hôm qua, Đình Nhi hỏi tôi,tại sao co nhiều người hay kiêu ngạo thế? Tôi đã giảithích cho cháu biết nguyên nhân và sự đáng chê cười của tính kiêu ngạo bằng cách lấy các dụng cụ đo lường to nhỏ khác nhau để làm ví dụ, như thùng nhỏ, thùng lớn, con sông và biển cả. Đình Nhi cũng bắt chước lấy cốc lớn, cốc bé làm ví dụ, cháu đã hiểu ra.
Hôm nay, Đình Nhi kể bạn Lưu Bội ở lớp con thấy cô giáo gọi bạn khác trả lời câu hỏi trước, chứ không gọi bạn ấy, Lưu Bội có vẻ không vui, “vậy bạn ấy chỉ biết mình không biết người mẹ nhỉ?” Tôi nói với Đình Nhi: “Như vậy là ghen tức!” Tôi hỏi: “Con có hay ghen tức với ngưồi khác  không?” Đình Nhi: “Con chẳng bao giờ, mẹ đã chẳng nói rằng, không nên ghen tức với người khác, người khác được trả lời trước, mình nên vui mới phải”. Thừa díp đó tôi nói luôn: “Người khác tiến bộ, mình mới có bạn bè tốt mà chơi chứ. Con phải biết rộng lượng với khuyết điểm của người chậm tiến, nhưng rất khó coi họ là những người bạn tốt. Có nhiều người tiến bộ, cả nước mới tiến bộ được chứ”.
 
BIẾT GIÀNH LẤY NHƯNG CŨNG PHẢI BIẾT VỨT BỎ
Trẻ con phải được phát triển toàn diện, phải có nhiều hứng thú say mê. Sở dĩ giáo dục từ sớm đặc biệt nhấn mạnh việc bồi dưỡng đa phương tiện cho trẻ, bởi vì trẻ nhỏ ngay từ đầu hầu như không có những hứng thú trọng tâm, hoặc hứng thú trọng tâm rất không thành thục, không ổn định, tâm sinh lý của chúng còn đang không ngừng phát triển và thay đổi. Việc bồi dưỡng có định hướng quá sớm của các bậc cha mẹ thường không có lợi  cho sự phát triển toàn diện và phát triển đầy đủ của trẻ.
Tôi luôn động viên ĐÌnh Nhi tham gia các hoạt động nghệ thuật, như học tập và thưởng thức âm nhạc, ca múa, hội hoạ và tạo hình… Học tập nghệ thuật vừa là trí lực, vừa là mỹ dục, có ý nghĩa quan trọng trong đại não của trẻ, tăng cường sức tưởng tượng và khả năng sáng tạo của trẻ. Phát triển những hứng thú đó rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng cảm thụ, khả năng thưởng thức và thể hiện cái đẹp, đồng thời cũng hình thành những phẩm chất có tính cáh làm giàu tính sáng tạo.
Tôi thường tranh thủ những giờ nghỉ sau khi rèn luyện sự tư duy trừu tượng khá mệt mỏi của ĐÌnh Nhi để hai mẹ con cùng múa hát. Tôi gọi đó là “cách nghỉ ngơi tích cực theo kiểu Carl Marx”. Đình Nhi đã học được nhiều điều chính từ những hoạt động có tính chất vui vẻ ấy.
Gần một tháng nay, tôi bắt đầu cho Đình Nhi luyện thanh nhạc. Âm chẩn của ĐÌnh Nhi đã có nhiều tiến bộ, nhưng khi hát các bài có sự dao động khá cao về độ trầm bổng, thì âm lượng của ĐÌnh Nhi thường chưa ổn định. Có điều lạ là khi cháu hát bài “Còn nhớ có một ngày” thì lại hát rất chuẩn, kể cả trong lúc mơ ngủ.
Đình Nhi rất thích nghe bài hát trong phim “Chị Giang”, cũng rất thích nghe “Bài ca mặt trăng” và các khúc dân ca Thiểm Bắc. Cháu đã học thuộc đoạn tấu bài “Đừng chia tay nhau bằng tiếng khóc”. Ngoài ra cháu còn thích nghe kinh dịch, những lúc hứng lên cũng hát nghêu ngao vài câu, nghe cũng hơi giống.
Đình Nhi cũng rất thích học luyến láy âm thanh, tuy chưa thành thạo, nhưng cũng hát được vài câu thao kiểu nhạc disco.
Khi đứa trẻ say sưa một công việc song không thích hợp lắm với tố chất bẩm sinh của nó, tôi nghĩ rằng cha mẹ phải có trách nhiệm giúp con mình thoát ra khỏi “con đường mê muội” đó. Bởi vì, bồi dưỡng nhiều mặt không phải là một sự giáo dục đòi hỏi mặt nào cũng có hoặc mặt nào cũng phải bỏ công sức như nhau, mà đây là một sự giáo dục đòi hỏi phải căn cứ vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, nhất là phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý, hứng thú, sở thích và triển vọng của từng đứa trẻ. Bản tính của trẻ thơ là rất tự tin, mặc dù trước một khó khăn không thể nào vượt qua được, hoặc vấp phải nhiều lần thất bại, lòng tự tin đó không hề giảm sút. Có những việc mà người lớn, những con người rất giàu kinh nghiệm biết chắc rằng cứ kiên trì là được, cuối cùng nhất định sẽ thành công. Tuy đây chỉ là quá trình phát triển tâm lý có tính chất dự liệu. (nói chung phải đợi đến khi đứa trẻ bước vào lớp 5 thì mới có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa năng lực và nỗ lực). Nhưng tôi không muốn để cho Đình Nhi phải tốn công, tốn sức quá nhiều trên con đường mà không chắc chắn sẽ thành công, một khi gặp phát triển tình hình như vậy, tôi lập tức nắm lấy cơ hội để dạy cho Đình Nhi biết cần phải “thực tế suy nghĩ vấn đề”.
Ví như, ngay từ nhỏ, Đình Nhi đã rất thích học múa, cháu có khả năng tiếp thu rất nhanh các điệu múa, khi mới 4 tuổi cháu đã vô cùng yêu thích vũ ba-lê… Khi ấy, tôi dẫn cháu đi xem bộ phim “Bước ngoặt” của Mỹ, với ảnh hưởng nghệ thuật của bộ phim múa nhà nghề ấy, Đình Nhi luôn mơ ước sẽ trở thành một diễn viên múa ba-lê. Nhưng xét theo góc độ gen di truyền, dáng vóc của cháu chắc chắn sẽ không thích hợp để làm một diẽn viên múa ba-lê. Để không làm thương tổn đến sự hứng thú và lòng ham muốn đối với bộ môn múa của Đình Nhi, tôi lựa lời khuyên bảo, giúp cháu từ bỏ ý định múa ba-lê.
… Trước khi đi ngủ, Đình Nhi liền học múa. Trước tiên cháu làm mấy động tác đá chân… Điệu bộ cũng khá giống. Chỉ có điều cặp chân của cháu vừa hơi cong lại vừa lên gân, trông rất buồn cười. Tôi giúp cháu sửa lại động tác đó. Tiếp theo, cháu làm động tác “quét đất”. Hôm trước tôi đã cười động tác “quét đất” cong đầu gối của cháu, tối nay cháu làm động tác “quét đất” thẳng đầu gối. Sau đó, cháu luyện động tác ‘ngồi đất ép đùi’ và các động tác “uốn lưng”. Đình Nhi muốn luyện động tác “quay tròn”… Tôi bảo cháu: “Động tác này khó lắm, mẹ không tự quay được, mẹ chỉ biết cách quay thôi”. Cháu đòi làm mẫu rồi cháu tự lưyện lấy.
Đình Nhi quay luôn mấy vòng, nhưng vẫn chưa làm được. Thừa dịp tôi bảo cháu, trước tiên phải luyện động tác “đứng trên đầu ngón chân đã”. Đình Nhi bèn vịn vào lan can giường tập đứng, ưỡn thẳng bụng ra, tôi giúp cháu sửa động tác tay, cháu nói: “Mẹ mua cho con đôi giày múa ba-lê đi!” Tôi nói: “Trừ phi con đứng liên tục như vậy trong nửa giờ, còn nếu không thì không thể đi giày múa được đâu”. “Con đứng được nửa tiếng đấy”, ĐÌnh Nhi trả lời. Tôi bật cười: “Được rồi, con hãy nhìn đồng hồ đi, bây giờ kim dài chỉ số 6, khi nào nó chỉ sang số 12, là nửa tiếng đấy. Con hãy thử đi”. “con làm được mẹ phải mua ngay giày cho con đấy!” 5 phút trôi qua, Đình Nhi vần tràn đầy niềm tn, giữa chừng cúi xuống gãi chân 1 lần. Tôi dạy cháu tập thót bụng, tập lỏng cổ, cháu đều cố gắng làm theo. Tôi sợ cháu ngày mai đau đùi không đi học được, khuyên cháu đừng tập, chẳng có ai đứng được nửa tiếng đồng hồ đâu. Cháu không nghe, vẫn cố thót bụng. Rồi chừng hai phút sau cháu khuỵu chân chịu thua. Tôi đỡ cháu ngồi xuống, xoa bóp hai bắp chân cho cháu. Cháu nói: “Chủ yếu là đau đầu ngón chân quá mẹ ạ!”
Nhân cơ hội này, tôi lại khuyên nhủ cháu: múa ba-lê là không được ăn đườg, ăn thịt, ăn sô-cô-la và nhiều thứ thức ăn ngon khác. Thế là cháu từ bỏ ý định làm một diễn viên múa ba-lê.
Trẻ con cần phải biết “cần từ bỏ những gì đáng từ bỏ”, các bậc cha mẹ cũng phải biết như vậy. Khi dạy cho con học đánh đàn, nếu biết rằng đánh đàn sẽ làm các ngón tay mềm dẻo và nhạy cảm, rất có lợi cho việc phát triển trí lực, thì bạn hãy chỉ vui mừng vì con bạn chăm chỉ tập đánh đàn, bạn quyết không được tức giận hoặc thất vọng khi thấy con mình gảy sai đi một vài nốt nhạc. Niềm vui của bạn sẽ có tác dụng tích cực đối với trẻ, con bạn sẽ càng chăm chỉ luyện tập hơn. Dẫu rằng đánh chưa hay, nhưng hứng thú của trẻ đối với âm nhạc rõ ràng đã tăng cao, chưa nói đến việc đẩy nhanh sự phát triển đại não của con bạn.
Mục đích của việc giáo dục mỹ thuật ngay từ sớm chủ yếu cũng không phải đánh giá xem đứa trẻ đó vẽ đã giống chưa, mà hãy xem đứa trẻ đó đã thực sự biết yêu cái đẹp chưa, đã biết phát huy trí tưởng tượng và tác phẩm đẹp chưa. Các bậc cha mẹ không nên quá nôn nóng và sốt ruột khi thấy con mình vẽ còn chưa giống. Nếu cha mẹ luôn thốt ra những lời mắng nhiếc mang tính tiêu cực như: đò lười biếng, đồ ngu dốt, không chịu khắc khổ… thì con bạn sẽ rất buồn và rất sợ; lấy đau ra hứng thú hay không hứng thú nữa. Về việc này, tôi cũng đã có một bài học đáng nhớ.
… Tối hôm nay, Đình Nhi chíu đầu vào học vẽ, cháu luyện cách vẽ vòng tròn, rồi vẽ người. Cháu nói, cháu phải luyện 3 tháng liền để vẽ được vòng tròn. Cô Viên nói: vẽ được vòng tròn rồi, cô sẽ dạy cháu vẽ nhiều cái mới khác. Ngoài ra, cô còn cho xem hình mẫu để luyện khả năng quan sát, bao gồm cả khả năng tìm ra đặc điểm, tìm ra mấu chốt… Những lời đó thật là có lý, đã gợi mở cho tôi được nhiều điều. Từ đó tôi không cáu giận hoạc sốt ruột khi Đình Nhi vẽ còn chưa giống.
Hứng thú với hội hoạ của Đình Nhi đã có được một môi trường phát triển lành mạnh. Cháu đã tỏ ra có nhiều triển vọng trong lớp hội hoạ của nhà trẻ.
 
LÀM BẠN VỚI ÔNG NGOẠI, SUNG SƯỚNG VÀ THÍCH THÚ
Mùa xuân năm 1986, chương trình tự học đại học của tôi bước vào giai đoạn quyết định. Tôi vừa chuẩn bị cho kỳ thi cuối học kỳ 2 năm thứ 3 lại vừa chuẩn bị những câu hỏi phản biện của luận văn tốt nghiệp. Rất may, bà thông gia với gia đình tôi đến đón cháu ngoại về nuôi, mẹ tôi được rảnh tay một chút, bà liền đến Thành Đô thăm mẹ con tôi. Bà quyết định đón Đình Nhi về sống với ông bà tại trường Đại học Hồ Bắc, bà trông nom cho khoảng nửa năm, để tôi được chuyên tâm chuẩn bị luận văn tốt nghiệp.
Lần này, đến lượt Đình Nhi phải hy sinh cho tôi. Bởi vì lớp hội hoạ ở nhà trẻ mời được một cô giáo dạy vẽ rất giỏi. Cô họ Viên, là cô giáo dạy mỹ thuạt tại Cung Văn hoá thanh niên khu Đông Thành. Cô rất có kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng nhân tài mỹ thuật. Được sự chỉ bảo của cô, Đình Nhi tiến bộ rất nhanh, cháu là một trong những học sinh xuất sắc trong lớp hội hoạ. Sau nửa năm không học, Đình Nhi đã không theo kịp các bạn trong lớp hội hoạ nữa rồi. Trong khi đó có một bạn khác tên là Vương Ngọc trước đây trình dộ cũng tương đương với Đình Nhi, được theo học liên tục và vẫn đứng đầu lớp. Dưới sự dẫn dắt cảu cô giáo Viên, Vương Ngọc đã chính thức bước vào con đường học mỹ thuật chuyên nghiệp.
Nếu khi ấy có một lớp nào phù hợp với trình độ của Đình Nhi, tôi nhất định sẽ cho Đình Nhi theo học tiếp. Chỉ tiếc rằng, nhà trẻ và các trường tiểu học cũng như trung hởc Trung Quốc thời bấy giờ chưa có chế độ tự chọn chương trình học tập theo năng lực của mỗi người. Tôi cũng không có thời gian để dẫn ĐÌnh Nhi theo học các lớp hội hoạ ngoài nhà trẻ. Vì bắt đầu từ năm thứ hai, tôi học đại học theo phương thức học tại chức. Sau khi hoàn thành bản thảo và đáp án trả lời của luận văn tốt nghiệp, tôi còn phải bỏ ra 2 tháng để bổ kháo cho những môn mà chương trình năm thứ nhất tôi còn nợ, như vậy mới được coi là đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tự học đại học. Vì vậy tôi đành phải bó tay khi nhìn thấy khoảng cách giữa Vương Ngọc và Đình Nhi về khả năng hội hoạ ngày một xa dần. Thực ra, cho đến tận bây giờ Đình Nhi vẫn chưa có thời gian để thoả mãn được sự say mê hội hoạ của mình, một nièm say mê luôn canh cánh trong lòng.
Có điều, sự đời khi mất mát cái này thì được cái kia. Trong thời gian sống ở Đại hcọ Hồ Bắc với ông bà ngoại, Đình Nhi đã khôn lớn hẳn lên.
Trường Đại học Hồ Bắc đặt tại Ân Thi, một thành phố nhỏ miền núi, non xanh nước biếc, bốn xung quanh là tầng tầng lớp lớp núi non, sát chân thành là những đồi phi lao xanh ngút mắt, những đồi thông già vi vút quanh năm. Cứ sau mỗi bữa cơm chiều, ông ngoại lại dẫn ĐÌnh Nhi đi tản bộ dưới những tán cây xanh mát đó. Cũng giống như tôi, khi ở Thành Đô, cứ nhìn thấy cái gì thì ông ngoại lại ôn tồn giảng giải cho Đình Nhi cái ấy.
Những ngày đầu, Đình Nhi có phần e sợ ông, nhưng chỉ ít lâu sau, cháu đã quấn quýt bên ông như hình với bóng. Ông ngoại rất yêu quý cháu, suốt ngày hai ông cháu nói cười không ngớt. Trong thư bà ngoại gửi về kể rằng:
Chiều nay, sau khi cơm nước xong, hai ông cháu lên đồi nhặt quả thông, nhặt được khá nhiều. Vừa tung tăng tìm nhặt, Đình Nhi vừa ứng khẩu đọc bài thơ:
Quả thông già, hỡi quả thông già
Mi đừng chạy trốn ông cháu ta
Tóm được mi, đem về ta nướng
Mùi hương thơm sực nức cả nhà
Vị ngọt bùi san sẻ làm ba…
Ông ngoại là một học giả đa tài đa nghệ, ông không chỉ dạy cho ĐÌnh Nhi biết sáng tác ca dao, hò vè, đặt câu đố, đọc thơ cổ…, ông còn dạy Đình Nhi tiếng Anh và hội hoạ. Phía sau trường Đại học Hồ Bắc chừng mấy dặm, có mấy ngọn thác từ lưng chừng núi đổ xuống, khơi nguồn của dòng nước bắt đầu từ Long Động. Thời kháng chiến chống Nhật, có một vị nguyên lão của Quốc dân đảng tên là Trần Thành, xây dựng một ngôi biệt thự khá sang trọng gần Long Động, cái động nước kỳ ảo đó vì thế mà nổi tiếng khắp thành Ân Thi. Một hôm, vào ngày chủ nhật ông ngoại đã dẫn Đình Nhi đến chơi Long Động, hai ông cháu còn đem theo cả giấy bút vẽ, vừa leo núi vừa dừng lại ngắm cảnh và ký hoạ. Một ngày chủ nhật vui vẻ đầy ý nghĩa.
Từ hôm đấy đối với ĐÌnh Nhi, được cùng ông ngoại leo núi ngắm cảnh quả là một niềm sung sướng khó tả. Ngày tết nhi đồng 1-6, ông ngoại dẫn Đình Nhi đi leo núi Ngũ Phong ở phía đông thành phố. Đình Nhi cùng đi với một chị hàng xóm 11 tuổi đã leo tới tận tháp Liên Châu trên đỉnh núi. Từ đó nhìn ra bốn phía, các ngọn núi nhấp nhô khác đều thấp lè tè, quang cảnh ngoạn mục. Khi trở về nhà, Đình Nhi vui sướng lắm, cứ tung tăng chạy nhảy khắp nhà, còn nói rằng: “Tháp Liên Châu chưa lấy gì làm cao, cháu chưa thấy mệt bà ạ! Trái lại, ông ngoại thì mệt quá, chẳng nói năng được gì”.
Tôi cho rằng thường xuyên được leo cao nhìn xa, cháu sẽ hiểu sâu sắc hơn ý nghĩa câu thành ngữ “ếch ngồi đáy giếng”, từ đó có ý chí vươn lên mạnh mẽ hơn. Ở Thành Đô làm sao có những dịp được leo cao như vậy, dù có đứng trên những nóc nhà chọc trời thì tầm mắt cũng không thể nhìn xa được như trên đỉnh núi. Hơn nữa lại đi lên bằng thang máy thì làm sao có được niềm vui sướng của sự thành công như đã từng dốc sức leo lên đỉnh núi.
Ông ngoại đã trồng được mấy chậu hoa trên sân thượng, một hôm ông phát hiện thấy bươm bướm đẻ trứng trên cây hoa, ông vội gọi Đình Nhi đến xem. Từ hôm đó, ông cháu ngày nào cũng đến quan sát sự trưởng thành của ổ trứng đó. Cũng như tôi hồi nhỏ nuôi tằm, ĐÌnh Nhi ngạc nhiên và thích thú quá trình phát triển và trưởng thành của ổ trứng bươm bướm: từ ổ trứng nở ra những con sâu róm bé tí tẹo, sâu róm lớn lên biến thành con ngài rồi hoá thành bươm bướm. Từ ổ trứng bươm bướm đó, ông ngoại đã giảng giải cho ĐÌnh Nhi hiểu biết khá nhiều kiến thức về sinh vật học. Sau khi Đình Nhi vào trung học, bộ môn sinh vật cháu học rất nhẹ nhàng, cộng với những hiểu biết về động thực vật mà cháu đã để tâm quan sát ngay từ thời thơ ấu, do đó đã khiến ĐÌnh Nhi nắm bắt rất nhanh những tri thức về bộ môn này.
ĐÌnh Nhi cũng rất hay bắt chước ngoại. Trong thư bà viết:
Bây giờ buổi sớm hàng ngày, mẹ lên phố mua thức ăn, đều viết một mảnh giấy nhỏ để lại cho Đình Nhi, khi ngủ dậy cháu không khóc nhè nữa, biết tự mặc quần áo; buổi chiều , khi mẹ còn đang ngủ, cháu đi nhà trẻ cũng viết lại cho bà một mảnh giấy. Hai chữ “nhà trẻ”, cháu viết thành “nà trẻ”.
ĐÌnh Nhi còn nhỏ, ông bà ngoại phải quan tâm dạy dỗ thường xuyên.
…Đình Nhi lấy kéo cắt thủng một miếng vải rèm cửa mới, mẹ phạt ĐÌnh Nhi , nhốt trong nhà vệ sinh 10 phút.
… Hôm nào ngoan mẹ đều thưởng cho Đình Nhi một con bươm bướm đỏ bằng giấy đem dán trên tờ lịch treo tường, bắt đầu từ ngày mồng 6 tháng 5 này, cháu hứa sẽ giành được 28 con bươm bướm đó. Khi ăn cơm cháu vẫn còn hay nghịch, cha mẹ bầu cháu làm “mâm trưởng”. Từ đó cháu đã biết gương mẫu và ăn ngoan hơn.
…Ông bà ngoại chưa bao giờ phải đánh mắng ĐÌnh Nhi, khi ĐÌnh Nhi có lỗi, ông ngoại chỉ tỏ thái độ rất nghiêm khắc. Ông nói: khi cháu ngoan thì phải có thưởng rõ ràng, còn khi có lỗi, chỉ cần cháu biết nhận lỗ là được, không nên trách mắng om xòm. Ông ngoại rất khen những đức tính của Đình Nhi.
… Hôm qua ĐÌnh Nhi đã biết tự giác đến phòng phát thư báo của nhà trường, nhận thư và báo về cho ông. Ông nói: “ĐÌnh Nhi cứ ở đây với ông, ông không muốn cho cháu về Thành Đô nữa đâu…”
 
SÁU TUỔI LÊN TRUYỀN HÌNH, DIỄN VỞ “ĐÀO HOA KHÚC”
Nùa thu năm 1986, tôi đã kết thúc chương trình tự học đại học, chuyên ngành văn học với luận văn xuất sắc. Tôi đến đón Đình Nhi trở lại Thành Đô. Chứng nửa năm sau, rất ngẫu nhiên cháu gặp một cơ hội cũng là một thử thách khá lớn trong đời: được đóng vai bé Tiểu Anh trong vở kịch truyền hình “Đào hoa khúc” do bọ y tế phối hợp với Hội văn nghệ Tỉnh Tứ Xuyên hợp tác làm.
Khi đó Đình Nhi sắp tròn 6 tuổi, một hôm vừa ngủ dậy, bị chảy máu cam khong đi nhà trẻ được, tôi đành phải đem theo cháu đến cơ quan. Ông đạo diễn Trần Phúc Kiềm gặp Đình Nhi tại phòng làm việc của tôi. Ông hỏi ĐÌnh Nhi: “Cháu tên gì?” Đình Nhi ngước đôi mắt đen láy và hai má đỏ hồng nhìn ông nói: “Cháu là Lưu Nhất Đình (mãi đến năm lên lớp 4, tôi mới đổi tên cháu là Lưu Diệc Đình), bác cứ gọi cháu là ĐÌnh Đình thôi”. Thấy Đình Nhi là một cháu bé ngây thơ lanh lợi, có vẻ thông minh và mạnh dạn, dáng vẻ như cô học sinh lớp 1, đạo diễn đề nghị để Đình Nhi đóng vai Tiểu Anh, con gái của Đào Hoa trong vở kịch truyền hình ông đang dàn dựng. Rồi ông kể sơ qua câu chuyện trong vở kịch “Đào Hoa Khúc” ấy:
“Sau khi cha của Tiểu Anh qua đời, bà nội từ trại phong trở về nàh, dân làng lớn bé ái cũng sợ bị lậy bệnh phong của bà, họ kỳ thị và xa lánh gia đình Tiểu Anh như xa lánh một thứ ôn dịch kinh khủng lắm. Mẹ của Tiểu Anh, cô Đào Hoa không thể không chăm sóc mẹ chồng hàng ngày, người yêu mới của cô cũng xa lánh cô. Sau này nhờ có Tiểu Anh mà tình yêu chân thành giữa mẹ Tiểu Anh và bác lái xe cảu Tiểu Anh “người bạn lớn” (do diễn viên Trương Quốc Lập đóng) đã nảy nở…”
Hai mẹ con tôi đều thấy nhân vật Tiểu Anh rất đáng yêu, liền nhận lời mời của đạo diễn. Mấy ngày sau, tôi lần lượt đến cơ quan, rồi đến nhà trẻ làm đơn xin cho mẹ con tôi nghỉ phép nửa tháng. Tôi dẫn Đình Nhi theo đoàn làm phim đến tận Hồ Long Tuyền, đang mùa hoa đào nở rộ.
Trong quá trình quay phim suốt nửa tháng trời, ĐÌnh Nhi đã chứng tỏ một khả năng hiểu biết đáng ngạc nhiên, và diễn thành công nhân vật Tiểu Anh. Những ngày đầu, đạo diễn định dùng phương pháp làm mẫu để ĐìnhNhi bắt chước, nhưng ĐÌnh Nhi không quen kiểu bắt chước mù quáng nên rấtkhó “nhập vai”.  Tôi đề nghị với đạo diễn cứ thử dùng biện pháp “giảng giải” như đối với diễn viên người lớn, để Đình Nhi diễn theo sự hiểu biết của mình. Kết quả đúng như dự đoán, cháu hiểu rất nhanh và “nhập vai” rất tốt. Có thể nói rằng, mỗi một cảnh có nhân vật Tiểu Anh, ĐÌnh Nhi đều diễn theo cảm hứng sau khi được đạo diễn giảng giải cặn kẽ.
Đối với các diễn vien nhi đồng, khó khăn nhất là những “cảnh khóc”. Trong cả hai tập phim truyền hình “Đào Hoa Khúc” này, vai Tiểu Anh có đến 4 cảnh “gào khóc thảm thiết”. Để quay đợc thành công 4 cảnh đó, cũng đã có nhiều chuyện thú vị. Tôi đã ghi lại được một vài chuyện trong chương “Bốn lần khóc của Tiểu Anh” trong hồi ký “Thú vị thay, cô bé diễn viên”.
Quay cảnh bé cười thì dễ, còn quay cảnh bé khóc thì thật là khó, thế mà theo kịch bản, Tiểu Anh phải khóc đến 4 lần. ĐÌnh Đình được mẹ dẫn đến quay phim, làm cho ĐÌnh ĐÌnh phải khóc, đó là nhiệm vụ của mẹ.
Lần thứ nhất phải khóc là cảnh sau khi bà nội của Tiểu Anh từ trại phong trở về, các bà mẹ của bạn học với Tiểu Anh cấm các con chơi với Tiểu Anh. Tiểu Anh còn bị các bạn đẩy ngã trên đường, cháu sợ quá khóc thét lên. Để quay được cận cảnh đặc tả Tiểu Anh khóc, Đình Đình đã phải khổ sở biết bao. Tôi cho rằng cứ đánh ĐÌnh Đình thật mạnh mấy roi thì cháu sẽ phải khóc ngay. Không ngờ cháu vừa được quay xong cảnh “khiêng kiệu hoa”, tôi đánh cháu đến bảy tám roi rất đau, cháu vẫn cứ ười xin tha, đến lúc đau quá không chịu được mới khóc oà lên. Để quay lại được cảnh ấm ức nhịn mãi rồi mới khóc oà lên được, đạo diễn cố ý quát to: “Câm mồm ngay không được khóc!” Đình Nhi vội vã ngậm miệng lại, khong bật ra tiếng khóc. Đạo diễn lại quát: “Khóc đi, Khóc to vào!”, cháu liền khóc oà lên nức nở. Quay xong cảnh đặc tả đó, đạo diễn vội chạy ùa đến ôm lấy Đình Nhi ra sức an ủi: “Nín đi, nín đi cháu! Quay xong rồi, ĐÌnh Nhi ngoan quá, nào bây giờ cháu cười lên nào, cháu sẽ là một diễn vien giỏi nhất đấy!” Câu nói đó thật là hiệu nghiệm, Đình Nhi quả nhiên bật cười.
Khóc lần thứ hai và thứ ba thì quả thật là một màn kịch. Tiểu Anh bị các bạn học xa lánh, chèn ép, định không học nữa, mẹ Đào Hoa giận quá, định đánh Tiểu Anh, Tiểu Anh bật khóc. Để tiện cho việc quay phim, trước hết phải quay cảnh khóc sau khi bị đánh, sau đó mới quay cảnh đánh và cảnh hai mẹ con ôm nhau khóc. Làm như vậy đỡ bắt ĐÌnh Nhi phải khóc hai lần. Lần này thì tôi không thể đang tâm đánh Đình Nhi nữa, nghĩ rằng Đình Nhi sợ nhất là phải xa mẹ, tôi bảo La Tú Xuân, một nữ diễn viên, đến trường quay nói: “Mẹ của Đình Đình đã về rồi, cơ quan của cô ấy vừa điện đến, yêu cầu cô ấy phải một mình về ngay”. Đình Nhi không biết thật giả thế nào, nước mắt cứ trào ra. Từ chỗ nấp xa, tôi thấy con gái khóc thật là thảm thiết, trong lòng bỗng thấy thương con: còn phải khóc những hai lần nữa cơ, làm thế nào bây giờ?
Thật không ngờ, lần thứ ba kại quá dễ dàng. Mẹ Đào Hoa đánh không đau lắm, thế mà Đình Nhi khóc rất là thảm thương. Đạo diễn vừa hô: “Dừng lại!” mẹ Đào Hoa không kịp lau nước mắt vội vã chạy đến ôm lấy Đình Nhi, vừa vỗ về vừa hỏi: “Có đau không con?” Đình Nhi vừa cười vừa nũng nịu: “Không đau mẹ Đào Hoa ạ, không đau đâu mà!” Quay xong cảnh nay, tôi hỏi cháu: “Mới đánh nhẹ như thế mà con đã khóc rồi à?” Đình Nhi đắc ý trả lời: “Lúc đầu là con khóc giả vờ đấy, thế rồi con nghĩ bụng: phải khóc đi chứ, khóc thật đi, thế là con khóc thật”. Đạo diễn nghe cháu nói vậy kinh ngạc nói: “Ôi! Cháu bé thé này mà đã biết rằng “con người thứ hai” của mình để diễn kịch rồi đấy!”
Làm cho diễn viên nhi đồng khóc, việc ấy cũng chưa thật khó lắm, khó nhất là: dù khóc thế nào đi chăng nữa, các cháu cũng không đựoc quên rằng mình đang diễn kịch. Cảnh khóc lần cuối cùng, có lúc ĐÌnh Nhi làm chúng tôi khó xử. Vừa quay xong cảnh các bạn học xông đến quăng cặp sách của Tiểu Anh đi, con đẩy Tiểu Anh ngã xuống vũng bùn, Đình Nhi liền nằng nặc thay ngay quần áo sạch. Tôi không làm theo, còn cố ý chỉ vào những vết bẩn bám đầy trên quần áo Đình Nhi doạ: “Eo ôi! trứng giun, trứng sán đang bám đầy quần con kìa!”. Đình Nhi vừa tức vừa sợ khóc oà lên. Máy quay vội chớp cảnh ấy. Đạo diễn nói với Đình Nhi: “Nói đi, nói đi: sách của tôi…” ĐÌnh Nhi chẳng thèm để ý, càng khóc to hơn: “Đánh mẹ đi cơ, con ghét mẹ lắm…” Tôi vội chạy đến bảo: “Nghe lời mẹ nào, nhân lúc trứng giun chưa nở thành giun con, con phải nhanh chòng diễn kịch đi chứ!” Lúc bấy giờ Đình Nhi mới vừa khoác vừa nói: “Sách của tôi đâu? Cặp sách của tôi đâu?...”
Rất may là vở kịch “Đào Hoa Khúc” được chiếu trên hệ thống 2 Đài truyền hình trung ương, ông bà ngoại cũng vừa mới mua được chiếc ti vi màu. Khi ấy ông bà nhìn thấy Đình Nhi, đứa cháu này đêm mong nhớ, trên màn hình, ông bà mừng đến rơi nước mắt. Mẹ con tôi cũng dúng số tiền thù lao đóng phim của ĐÌnh Nhi, được 200 đồng, góp vào khoản tiền mua ti vi. Chiếc ti vi màu 18 inch đã cũ mang nặng bao nhiêu kỷ niệm ấy, cho đến nay tôi vẫn còn.
 
CUỐN BĂNG GHI CUỘC TRÒ CHUYỆN GIỮA MẸ CON TÔI ĐƯƠC CHỌN ĐĂNG VÀO CHUYÊN MỤC “MỘT NGÀY TRÊN ĐẤT NƯỚC TRUNG HOA MỚI”
Niềm vui của việc đóng phim chưa hết, cùng lúc các báo chí đăng trên mục nhắn tin: Thông báo đề nghị viết bài cho chuyên mục “Một ngày trên đất nước Trung Hoa mới”. Mẩu tin này đã thu hút sự chú ý của tôi.
Khi còn đang học hệ chuyên tu chương trình “Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc”, tôi đã biết: nửa thế kỷ về trước một nhóm các nhà văn hoá tiến bộ do Mao Thuẫn đứng đầu đã cho ra đời một tập sách báo văn học khá dày dặn với tiêu đề là: “Một ngày ở Trung Quốc” với sự tham gia của nhiều cây bút nổ tiếng và chưa có tiếng. Tập sách đã khắc hoạ nên một “Bức tranh sinh động” về hiện tượng Trung Quốc trong ngày 21 tháng 5 năm 1936. Tập sách đã lập nên một chiến công bất hủ: làm thức tỉnh ý thức cứu nước của người Trung Hoa. Thật khôngngờ, 50 năm sau, chính ngày hôm nay, ngày 21 tháng 5 năm  1987 này, lại có một nhóm người tâm huyết muốn cùng trong một thời gian, cùng một phương thức, khắc hoạ một “bức tranh” hiện thực về đất nước Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa. Với mục đích vừa để lại một ấn tượng trực quan sinh động cho các bạn đọc trong và ngoài nước đang khát khao tìm hiểu về hiện thực Trung Quốc ngày nay, đồng thời cũng là một sự so sánh giữa Trung Quốc ngày nay và Trung quốc 50 năm về trước, Ban biên tập chuyên mục “Một ngày trên đất nước Trung Hoa mới” kêu gọi bạn đọc gần xa hãy viết bài nói về hiện thực xã hộ, hay cảm xúc của bản thân trong ngày hôm nay, ngày 21 tháng 5 năm  1987. Những bài được tuyển chọn sẽ được tập hợp lại xuất bản thành sách do Nhà xuất bản Hoa Hạ chịu trách nhiệm.
Mẩu tin thông báo đó được khắp nơi nhiệt liệt hưởng ứng. Chỉ trong vòng một tháng, Ban Biên tập đã nhận được hơn 13.000 bài gửi đến. Có rất nhiều các nhân sĩ trong và ngoài nước nô nức tham gia hoạt động này như các vị: Tống Hy Liêm, Phí Hiếu Thông, Hạ Diễn, Dương Mạt, Niếp Vệ Bình, Thẩm Tuý, Diệp Vĩnh Liệt, Trịnh Nãi San… Cũng như mọi người công dân yêu nước khác, tôi cho rằng “mình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ tham gia hoạt động viết bài giúp cho việc tìm hiểu một cắt đoạn trong tiến trình của lịch sử dân tộc Trung Hoa này, để lại cho hậu thế dấu ấn của một ngày trong xã hội Trung Hoa ngày nay”. Hơn nữa, tôi hy vọng có những lớp người kế thừa như Đình Nhi, cũng đúng ngày 21 tháng 5 của  50 năm về sau lại phát động một phong trào viết bài cho chuyên mục “Một ngày trên đắtnớc Trung Hoa thế kỷ mới”, nối tiếp truyền thống tốt đẹp của dân tộc: “mỗi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Trước ngày 21 tháng 5, tôi đã kể cho ĐÌnh Nhi nghe tất cả ngọn ngành sự việc, rồi bảo cháu: Mẹ dự định viết lại “bản tin gia đình” về việc đang rèn trí lực cho con hiện nay để tham dự cuộc thi. Đình Nhithích thú lắm. Hôm đó vừa ra khỏi nhà trẻ, trên đường về nhà, mẹ con tôi làm lại cuộc hỏi đáp đó từ đầu, đồng thời thu vào máy ghi âm. Tôi căn cứ vào cuộn băng đó, có sửa chút ít để viết lại thành bài viết sau đây tham dự cuộc thi.
Bản tin trong nhà trẻ
            (Mẹ hỏi, Lưu Nhất Đình trả lời)
Mẹ: Đình Nhi, con có thể tự giới thiệu về mình được không?
ĐÌnh Nhi: Được ạ. Con tên là Lưu Nhất Đình (Diệc ĐÌnh là tên sau này cha dượng đổi cho), là một bạn nhỏ, học lớp mẫu giáo lớn, thuộc nhà trẻ số 3, thành phố Thành Đô. Năm năy con 6 tuổi, con sinh vào tháng 3. Sau khi con tròn 6 tuổi, mỗi lần từ nhà trẻ trở về nhà, mẹ đều yêu cầu con phải “báo tin” trong ngày. Cứ bắt đầu ngồi vào “chuyên xa” của con, (chiếc ghế mây buộc đằng sau xe đạp của mẹ) là con bắt đầu kể cho mẹ nghe đủ mọi chuyện đã xảy ra trong nhà trẻ của con. Mẹ vừa đạp xe, vừa bình phẩm về “bản tin trong ngày” ấy của con. Có hôm mẹ khen “bản tin” hay, có hôm mẹ chỉ nói “tin bình thường”, cũng có hôm mẹ chê là “không phải bản tin”, thật buồn cười!
Mẹ:Hôm nay khác mọi hôm con ạ! Mẹ con mình phải ghi lại “bản tin” hôm nay để gửi đến nhà xuất bản Hoa hạ In thành sách, con có còn nhớ là sách gì không?
ĐÌnh Nhi: “Một ngày trên đất nước Trung Hoa mới”, trong sách in những sự việc chân thực xảy ra trong ngày 21 tháng 5, có đúng không mẹ?
Mẹ: Đúng, con ạ! Quyển sách này cứ sau 50 năm mới lại xuất bản quyển thứ hai. Lần này bài của mẹ con ta co được xuất bản hay không, chủ yếu là xem hôm nay con có tin gì mới không.
ĐÌnh Nhi: Đừng lo, mẹ ạ! Hôm nay con có nhiều tin mới lắm.
Mẹ: Những tin gì hả con?
ĐÌnh Nhi: Cuộc thi thể dục trong nhà trẻ hôm thứ ba vừa rồi đã có kết quả, lớp con được giải nhất. Tin này được chứ, mẹ nhỉ?
Mẹ: Khá lắm, thế là các con đã giành được hai lần giải nhất rồi đấy nhỉ?
ĐÌnh Nhi: Giải nhất lần này khác giải nhất lần trước mẹ ạ. Lần trước thi “nhảy cầu” là do nhà trẻ tự tổ chức. Chúng con được giải nhất cũng chỉ mang vinh dự lại cho mình lớp con mà thôi. Lần này thi thể dục là do khu Đông Thành tổ chức, chúng con đại diện cho Nhà trẻ số 3 đi tham dự, giải nhất của chúng con đã đem lại vinh dự cho cả Nhà trẻ. Mẹ biết không, lúc vào thi, cả lớp con không có bạn nào làm sai động tác, hàng ngũ rất nghiêm chỉnh. Tiếc quá, hôm đó không có mẹ đi xem.
Mẹ: Thật đáng tiếc, có điều mẹ muốn con kể lại tỉ mỉ cho mẹ nghe.
ĐÌnh Nhi: Tại sao hả mẹ?
Mẹ:Có nhiều cái lợi lắm đấy. Con thử nghĩ xem, muốn thông báo được tin tức cho mẹ, trước tiên con phải biết quan sát, đúng không? Nếu luyện tập nhiều lần, con sẽ có được một thói quen: biết nhìn, biết nghĩ và biết trình bày. Cứ vậy, con sẽ tiến bộ rất nhanh.
ĐÌnh Nhi: Đúng thế, mẹ ạ! Bay giờ, ở trên lớp thầy giáo thường khen con dùng từ chính xác, phản ứng nhanh đấy.
Mẹ: Phải chăm luyện tập mới có được như vậy đúng không con?
ĐÌnh Nhi: Đúng, mẹ ạ! Hôm nay chúng con học được một bài hát mới, hay lắm mẹ ạ. Con hát thử mẹ nghe nhé? Thôi chết, câu đầu tiên con quên mất rồi.
Mẹ: Vậy con hát từ câu thứ hai vậy.
ĐÌnh Nhi: Con hát nhé!

Giống như chiếc cầu nối hai nơi.
Ta đi trên đó, mừng hớn hở.
Đón bạn ta về từ khắp nơi
Chào bạn, chào bạn, xin chào bạn!
Nhật Bản, quê hương của mặt trời.
Hoan nghênh các bạn đến nhà tôi.
Mừng ngày mồng một tháng sáu này.
Bạn nhỏ khắp nơi trên thế giới,
Về đây chung một mái nhà vui
Mẹ: Ừ, hay lắm! Câu đầu tiên có phải là câu thơ nói về cầu vồng không?
ĐÌnh Nhi: Đúng đấy, mẹ ạ! Con nhớ ra rồi, “Một chiếc càu vồng vắt ngang trời. Giống như chiếc cầu nối hai nơi…”
Mẹ: Thôi, kết thúc chuyện này đi con! Con phải luyện tập giới thiệu chương trình cơ mà. Thứ bảy là ngày 23, là ngày mở đầu hội diễn chương trình văn nghệ thiếu niên nhi đồng khu Đông Thành. Ngày mai mẹ con mình phải xem bộ phim “Ghập ghềnh” (Phim truyền hình nhiều tập của Mexico) nên không luyện được rồi, chỉ còn tối nay thôi.
ĐÌnh Nhi: Thôi vạy, mẹ cho con nói nốt tin cuối cùng, con chỉ xin mẹ một phút thôi, mẹ cứ nhìn đồng hồ đi. Bắt đầu nhé! Trưa nay khi ăn cơm ở nhà trẻ, con thấy ở lợi mình có hai vật cưng cứng, chèn vào răng rất đau.
Mẹ: Để mẹ xem nào… ái chà, con sắp thay răng rồi đấy. Răng sữa chưa rụng, răng khôn đã mọc rồi. Thông thường, trẻ em phải 7 tuổi mới thay răng, con mới 6 tuổi mà sao thay thế nhỉ?
ĐÌnh Nhi: Lớp con có nhiều bạn đang thay răng lắm mẹ ạ, bạn Mông Tiêu, bạn La Khải, bạn Dương Lệ Na, bạn Hoàng Kỳ… các bạn ấy đều 6 tuổi mà. Bác sĩ Tăng nói: Trẻ con trong các gia đình chỉ có một con được nuôi nấng tốt nên phát triển sớm.
Mẹ: Ồ, thật thế à! Này, đến nhà rồi đấy, mời “tiểu thư” xuống xe cho.
 
Một năm sau trong bài viết “Quá trình biên tập cuốn Một ngày trên đất nước Trung Hoa đổi mới”, tôi đọc được một thông tin: “Trong số 13.000 bài viết gửi đến Ban biên tập, các tác giả gồm đủ mọi lứa tuổi, từ các cháu nhi đồng 6-7 tuổi, đến các bậc cao niên thọ gần trăm tuổi…” “Nhi đồng” 6-7 tuổi ấy chính là Đình Nhi. Bài viết cảu chúng tôi đã lần lượt phải trải qua bốn lần sàng lọc. Vì các địa phương như Bắc Kinh, Giang Tô, Tứ Xuyên, Liêu Ninh là những nơi gửi bài về nhiều nhất, bởi vậy công tác tuyển chọn càng phải khắt khe hơn. Thế mà bài viết của chúng tôi cuối cùng cũng đã vượt qua được, để in được thành sách cùng với 480 bài khác, vinh dự được trở thành một mảnh gương nhỏ phản ánh trung thực xã hội Trung Quốc thời hiện đại.
Được đánh một dấu chấm hết, kết thúc tuổi mẫu giáo của Đình Nhi bằng một “chiến công” như vậy, quả thực tôi thấy rất hài lòng.
 
 
 
 
 
 
 
 
0
CHƯƠNG NĂM
Thời kỳ tiểu học: Xây dựng tâm hồn và phát triển kỹ năng

       Để bồi dưỡng con gái trở thành một con người tài năng, ngay từ đầu tôi đã ngầm hạ quyết tâm, phải bằng tất cả khả năng của mình cố gắng để ĐÌnh Nhi được tiếp cận một nền giáo dục tốt đẹp nhất. Thế nhưng, một người mẹ độc thân, không chức quyền, không tiền bạc như tôi, để cho con mình có được một nền giáo dục tốt đẹp nhất đâu phải là chuyện dễ.

Khi Đình Nhi tròn 6 tuổi, rất may, Sở Giáo dục thành phố Thành Đô đã sửa đổi lại quy định 7 tuổi mới được vào tiểu học nay thành 6 tuổi đã được nhận vào tiểu học. Điều đó đã giúp tôi trút bỏ được mỗi lo canh cánh bấy lâu nay là trong suốt cả một năm trời, Đình Nhi sẽ làm gì trong lứa tuổi từ 6 đến 7. Thế nhưng lại có những nguồn tin khác khiến tôi không thể yên tậm

Với hệ thống giáo dục thời bấy giờ, cha mẹ học sinh muốn xác định được chất lượng giáo dục của một nhà trường nào đó chỉ có thể căn cứ vào số lượng học sinh cử tuyển được vào học trong trường đó nhiều hay ít; mà số lượng này lại do cấp trên hạn đinh. Những trường tiểu học trọng điểm của thành phố có số lượng học sinh cử tuyển đông lại không gần nhà tôi, xét theo hộ khẩu thì Đình Nhi không thể vào những trường đó. Trừ phi tôi có thể giúp xưởng trường của những trường trọng điểm đó liên hệ được mối hàng có thể đem lại cho họ một vạn đồng tiền hỗ trợ giáo dục, thì ĐÌnh Nhi mới có thể được nhận vào các trường tiểu học có chất lượng giáo dục loại A đó. Thế nhưng đối với tôi, một nghìn đồng còn chẳng đào đâu ra được, nói gì đến một vạn. Nếu hoàn toàn chỉ xét theo hộ khẩu, Đình Nhi sẽ phải học một trong hai trường có chất lượng giáo dục kém nhất của Thành Đô. Hai trường tiểu học này, hàng năm chỉ có một hai học sinh được nhận vào học trong các trường trung học trọng điểm. Số còn lại phải theo học ở hai trường trung học có chất lượng kém nhất Thành Đô, mà những trường trung học này đã nhiều năm nay chưa có một học sinh nào thi đỗ đại học.

Một tiền đồ như vậy khiến ngưồi ta vô cùng lo lắng. Trong buổi liên hoan mừng cho khoá tốt nghiệp Nhà trẻ số 3, các thầy cô giáo đã yêu cầu tôi đại diện cho các bậc cha mẹ học sinh lên phát biểu. Khi ấy tôi đã nói rất hùng hồn rằng: "Được giáo dục tại Nhà trẻ số 3, một nhà trẻ có chất lượng giáo dục loại A này, đó là một điều vô cùng may mắn cho các cháu. Đáng tiếc là, đại đa số các cháu, kể cả cháu Đình Nhi nhà tôi, đều không thể tiếp tục qua tuổi niên thiếu ở một trường tiểu học có chất lượng giáo dục loại A..."

Để giành lấy một suất tại các trường tiểu học có chất lượng giáo dục tốt cho con mình, khi đó các bậc phụ huynh của các cháu vừa tốt nghiệp Nhà trẻ số 3 này đều phải trổ hết tài năng. Một người bạn tốt của Đình Nhi tên là Ương Ương (cái tên này sẽ xuất hiện nhiều lần trong nhật ký của Đình Nhi), gia đình ở sát Hội kiên hiệp văn nghệ tỉnh, cơ quan của cha bạn ấy đứng ra giới thiệu cho tất cả các bạn nhỏ đủ tuổi đi học tiểu học năm ấy được vào học tại Trường tiểu học Sở Thương nghiệp, một trường trọng điểm của khu Đông Thành. Trường tiểu học này tuy không bằng các trường tiểu học khác của thành phố, nhưng mỗi năm cũng có mười suất vào học tại các trường trung học trọng điểm. Những học sinh tốt nghiệp khác, cũng có cơ hội để vào học tại các trường trung học có chất lượng giáo dục loại B hoặc C. Lại một người bạn tốt khác của Đình Nhi, tên là Vương Ngọc (cái tên này cũng sẽ còn xuất hiện nhiều lần trong nhật ký của Đình Nhi), cha mẹ đều là công nhân, chỉ còn biết đi theo số phận. (Lúc ấy, cha mẹ Vương Ngọc quá thương con gái mình, đã cố gắng tìm ra được một giải pháp riêng. Đó là vẫn kiên trì cho con gái theo học lớp hội hoạ của cô Viên, lấy kết quả xuất sắc về mỹ thuật để bù đắp lại sự thiếu hụt trầm trọng về văn hoá trong trường tiểu học. Cuối cùng khiến con gái đi theo con đường mỹ thuât. Hôm vừa qua, ngày 26 tháng 4 năm 2000, có tin nói rằng: Trường trung học bán công thuộc học viện Mỹ thuật Tứ Xuyên đã đề cử Vương Ngọc vào học tại Học viện Mỹ thuật Tứ Xuyên. Vương Ngọc là một hình mẫu , từ trong khó khăn tìm ra lối thoát cho mình).

Tôi không muốn chịu theo số mệnh, nhưng cũng không có quyền cao chức trọng để có thể viết lá thư tay gửi đến các trường trọng điểm trong thành phố, đơn vị tôi cũng không có đủ tài và quyền lực để tiến cử các cháu đến tuổi vào học tại các trường trọng điểm của tiểu khu. Chính trong lúc cùng đường bí lối ấy, một đồng nghiệp của tôi, cùng với vợ anh đã ra tay cứu giúp. Hai vợ chồng anh ấy đã chủ động liên hệ cho hai cháu trong Ban biên tập chúng tôi được vào học tại một trường tiểu học mới được nâng cấp thành trường trọng điểm. Trường này so với trường tiểu học Sở Thương nghiệp xa hơn nhiều. Từ nhà tôi phải đi qua hai bến xe buýt, xuống xe còn phải đi một đoạn khá xa nữa mới đến... Nhưng, ưu điểm của trường này là, đất đai rộng rãi, không khí yên tĩnh hơn nhiều so với trường tiểu học Sở Thương nghiệp. Quan trọng hơn là, hàng năm vẫn có 10 suất vào họctại các trường trung học trọng điểm. Số lượng học sinh ở đây đông hơn rất nhiều so với trường tiểu học Sở thương nghiệp, mức độ cạnh tranh đương nhiên là sẽ gay gắt hơn. Thế nhưng, dẫu sao có cơ hội tốt hơn rất nhiều so với không có cơ hôi.


0
CHƯA VÀO TIỂU HỌC
ĐÃ CÓ MỤC TIÊU LỚN ĐANG CHỜ

Mặc dù, luôn coi trọng việc giáo dục đối với Đình Nhi, nhưng từ trước tới nay tôi chưa nghĩ cụ thể rằng, sau này ĐÌnh Nhi sẽ làm nghề gì. Tôi chỉ biết, mỗi khi kể cho Đình Nhi nghe các câu chuyện về các nhân vật kiệt xuất đông tây kim cổ, tôi đều có ý kkhen ngợi họ với thái độ vô cùng khâm phục: "Họ là những người có cống hiến cho xã hội loài người". Đồng thời tôi cũng khuyến khích Đình Nhi : lớn lên con cũng phải có những cống hiến cho xã hội loài người. Với sự truyền thụ và truyền cảm của tôi, ngày từ rất nhỏ, ĐÌnh Nhi đã biết mơ ước: "Lớn lên con cũng sẽ trở thành một người có cống hiến cho xã hội loài người".

Suốt thời gian đi liên hệ cho Đình Nhi vào học, tôi đều cố gắng mang Đình Nhi đi theo, chủ yếu là để cho cháu biết rằng, để thực hiện được ước mơ "lớn lên sẽ cống hiến cho xã hội loài người" thì trước tiên phải được tiếp nhận một sự giáo dục thật tốt. Thấy người lớn cũng phải lao tâm khổ tứ,chạy ngược chạy xuôi, vất vả đủ đường chỉ vì việc học của mình, Đình Nhi tuy còn rất nhỏ nhưng cũng đã cảm thấy, để được vào học tại một trường có sự giáo dục tốt, thật là quan trọng biết bao, và cũng thật gian khó biết bao.

Về tình cảm, Đình Nhi rất muốn vẫn được tiếp tục học cùng bạn Vương Ngọc. Tôi đã phải giải thích để cháu hiểu: trường mà bạn Vương Ngọc rồi đây sẽ học, mỗi năm chỉ có một, hai suất được vào học tại các trường trung học trọng điểm thôi. Các chỉ tiêu ấy rất dễ bị các bạn "học sinh ba tốt của tiểu khu" được cộng điểm chiếm mất. Đình Nhi nói: "Con sẽ phấn đấu để được là học sinh ba tốt". Tôi nói với cháu: "Con có quyết tâm như vậy là tốt lắm, nhưng tiêu chuẩn "ba tốt" cũng thật khó mà xác định, chúng ta chỉ có thể cạnh tranh công bằng về học tập mà thôi. Chúng ta không sợ cạnh tranh, mà chỉ sợ không có cơ hội để cạnh tranh. Mẹ chỉ cần làm sao khi tốt nghiệp con có tổng điểm đứng hàng thứ 3 trong toàn trường, thế thì trong chỉ tiêu 10 người kia thế nào cũng có tên con. Vì rằng, một nhà trường nhiều nhất cũng chỉ được công nhận hai, ba "học sinh ba tốt". Nhưng lại sợ rằng con đứng hàng thứ 8, thứ 9, một vài bạn được ưu tiên cộng điểm lập tức sẽ đẩy con ra ngoài. Nếu con không vào được các trường trung học trọng điểm, thì con làm sao có thể tiếp nhận được một sự giáo dục tốt nhất. Muốn có những cống hiến cho xã hội loài người, như ông Andersen (một nhân vật mà Đình Nhi luôn sũng bái), thì càng khó khăn biết bao".

Trong suốt cả quá trình trưởng thành của ĐÌnh Nhi sau này, những lời nói trên đã để lại cho cháu một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Bởi vì, cái lý tưởng nhân sinh xa vời và phù phiếm của cháu, lần đầu tiên đã được giải thích thành một mục tiêu mang tính giai đoạn cụ thể là "Phải cố gắng để được xếp thứ 3 trong toàn điểm". Mục tiêu có tính chất giai đoạn đó luôn là động lực nội tại thúc đẩy Đình Nhi cố gắng học tập.

0
«« « 1 2 3 4 » »»