Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

EM PHẢI ĐẾN HARVARD HỌC KINH TẾ (hay CÔ BÉ HARVARD Lưu Diệc Đình) 🔒

93 trả lời, 55.780 lượt xem — Trang 2 / 4
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-15 09:37:17venus4t.vns_hnu>
Venus xin chào bạn Me Khoai!
Venus rất cám ơn bạn đã đánh máy cùng mình cuốn sách này. Thú thực dạo này, venus có chút thời gian rảnh song lại hơi lười nên chưa kịp đánh máy và post tiếp các phần của cuốn sách. Hẳn là bạn yêu thích cuốn sách này lắm! Vậy venus có 1 đề nghị nhé, được không?
- Bạn đánh máy giúp mình từ chương 5 đến chương 8 của cuốn sách.
- Mình sẽ đánh máy chương 9 đến chương 11 và phần phụ lục.
Nếu bạn giúp được mình thì tốt quá vì nếu để mình túc tắc đánh máy thì sẽ mất khá lâu nữa mới hoàn thành. Mình chỉ đánh máy cuốn sách khi có chút thời gian rảnh relax nhưng không biết làm gì nên tiến độ sẽ chậm như sên vậy.
Có gì, venus xin bạn hồi âm lại cho venus biết sớm nhé! Thay mặt các cô chú, anh chị và các bạn điều hành diễn đàn vnthuquan, venus xin chân thành cảm ơn bạn!
Venus4t.vns_hnu
7
8
blog
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-25 12:20:38me khoai>
NHỮNG CÂU CHUYỆN MỚI CỦA BA
ĐÃ GÓP PHẦN NHÀO NẶN NÊN TÂM HỒN CON GÁI


Trương Hân Vũ có biện pháp tốt về mặt nâng cao kỹ năng học tập cho con, nhưng anh luôn nhấn mạnh, kỹ năng thuộc phạm trù "pháp luật" cũng tức là khôn khéo và thủ thuật. Trong mối quan hệ giữa "đức" và "tài", phải luôn giữ vững nguyên tắc "chân thành là gốc, khôn khéo là ngọn". Vì vậy, điều mà anh băn khoăn suy nghĩ nhiều nhất là làm thế nào để xây dựng tâm hồn Đình Nhi.

Ba là người đã nhiều năm nghiên cứu về tâm lý tuổi nhi đồng, ba hiểu rất rõ kể chuyện là một thủ thuật quan trọng để dẫn dắt tâm hồn trẻ thơ. Khi vừa mới nhập vào gia đình chúng tôi, ba còn chưa biết khả năng tiếp thu của Đình Nhi ra sao, ba định tìm những câu chuyện có trên giá sách của ĐÌnh Nhi. Ở đây có rất nhiều tác phẩm nổi tiếng về đồng thoại và những cuốn truyện dân gian trong và ngoài nước. Nhưng hễ ba cứ cầm bất kỳ cuốn nào lên, ĐÌnh Nhi lại ra sức lắc đầu như một con lúc lắc: "Truyện này con nghe kể rồi, truyện kia con cũng nghe rồi, con còn biết kể lại nữa cơ. Con muốn nghe những câu chuyện mới!"

Thế thì ba biết cách rồi. Suy nghĩ một lát, rồi ba kể cho Đình Nhi nghe chuyện "Yến tử đi sứ nước Sở", một câu chuyện lịch sử mà Đình Nhi chưa được nghe bao giờ. Con người thấp bé, cực kỳ thông minh và khôi hài của nước Tề ấy, với một tấm lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, ông đã đập tan mọi âm mưu thâm độc muốn gây khó khăn và làm nhục nước Tề của cả bọn vua tôi nước Sở, bảo vệ sự tôn nghiêm của Tổ quốc, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh đi sứ của mình.

Đây là câu chuyện đầu tiên ba kể cho ĐÌnh Nhi nghe. Đến những đoạn gay cấn, ĐÌnh Nhi cứ tròn xoe đôi mắt, thấp thỏm lo sợ cho vị sứ giả có dáng người thấp bé của nước Tề, một mình giữa bầy lang sói. Và Đình Nhi đã cười như nắc nẻ khi ba kể đến những đoạn khôi hài. Những khái niệm mới như: tình yêu Tổ quốc, lòng tin vào sức mạnh trí tuệ của loài người, sự tôn nghiêm của nhân cách, tinh thần bất chấp mọi gian nguy để hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng... cũng là những phẩm chất mà ba luôn mong muốn ĐÌnh Nhi có được, tất cả những cái đó như những hạt mưa lặng lẽ tưới mát tâm hồn non nớt của Đình Nhi.

Vốn có tầm nhìn xa, ba chủ trương: những món ăn tinh thần mà chúng tôi cung cấp cho Đình Nhi phải là những món ăn được lấy từ kho tàng văn hoá vô cùng phong phú của Trung Quốc và phương Tây, hơn nữa biết kết hợp hài hoà những tinh hoa của hai nền văn hoá ấy, nhào nặn nên một thế giới nội tâm hoàn mỹ nhất cho ĐÌnh Nhi.

Theo cách suy nghĩ đó, ba đã chọn lựa từ trong những bộ sách của mình, tìm ra những món ăn tinh thần bổ ích cho Đình Nhi. Đồng thời ba cũng tự đặt ra cho mình những nguyên tắc như sau:
1. những câu chuyện kể phải là những chuyện về người thật việc thật lấy từ các tác phẩm nổi tiếng cổ kim đông tây, mà ảnh hưởng của nó làm cho con cái suốt đời không quên.
2. Dù chuyện là bi hay hài, nhân vật chính là chính nghĩa hay phi nghĩa, nhưng hướng đi của câu chuyện phải là hướng đi lên, quyết không để cho con có thái độ tiêu cực sau khi đọc những câu chuyện đó.

Theo dự tính đó, ba thực sự bắt tay vào việc, trong đầu ba hiện lên cả một danh mục dài các câu chuyện dự định kể.

Ba chọn truyện, tưởng chừng như rất dễ dàng, nhưng kỳ thực đều đã phải trải qua một sự sàng lọc rất kỹ càng. Như khi kể câu chuyện thứ nhất cho Đình Nhi nghe, trong đầu óc ba lúc ấy hiện lên rất nhiều câu chuyện nói về những con người thông minh trác tuyệt xưa nay ở Trung Quốc, nhưng ba lại chọn câu chuyện "Yến Tử đi sứ nước Tề", bởi vì ba không muốn sau này ĐÌnh Nhi sẽ trở thành một con người hẹp hòi ích kỷ, vụn vặt mà thiếu đi một lý tưởng cao cả, một ý chí quật cường. Ba nói: trong cuộc sống thực tế, loại người hẹp hòi ích kỷ ấy sẽ không làm nên trò trống gì, còn thua cả những thằng ngốc, nhưng biết chân chất làm ăn.

Suốt sáu năm ròng rã ba kể cho ĐÌnh Nhi nghe biết bao nhiêu chuyện. Trước khi Đình Nhi học sơ trung phải vào ở hẳn trong trưòng , thì nghe ba kể chuyện là một nội dung không thể thiếu trong cuộc sống của Đình Nhi.

Khi kể chuyện ba thường không câu nệ cứ phải kể đều đều từ đầu đến cuối mà nắm chắc trọng điểm, hoặc những tình tiết có ý nghĩa nhất đối với Đình Nhi. Ở những đoạn này, ba đã dùng phương pháp "đặc tả" để khắc sâu ấn tượng cho Đình Nhi.

Khi kể chuyện danh tướng chống Nhật Thích Kế Quang, ba nhấn mạnh vào đoạn kể về thời niên thiếu của ông... Một hôm cậu bé Kế Quang đi một đôi giày mới rất đẹp, cậu thích chí đi qua cửa nhà khách, không ngờ cha cậu trong thấy, gọi giật lại. Cha nghiêm mặt quở trách: "Mới tí tuổi đầu mà đã thích ăn diện như vậy, cha thật không bằng lòng. Tuổi nhỏ đã thế này, lớn lên có tí chức quyền tránh sao khỏi tham lam, tàn ác, ăn chơi đàng điếm". Nói rồi cha bắt tháo giầy ra, xé nát ngay trước mặt để răn thói xa hoa, chưng diện.

Đối với ba, kể chuyện cho ĐÌnh Nhi nghe là một công việc vô cùng thích thú. Đình Nhi không phải là một "chiếc đồng hồ vô thức trên nóc nhà nghị việnAnh quốc", cứ đánh thì mới kêu, mà là một "tờ giấy trắng trong", một chút ánh sáng li ti cũng chiếu lọt.

"Tiết mục kể chuyện trên giường ngủ" kéo dài gần sáu năm, cho đến khi Đình Nhi vào học trường ngoại ngữ, phải nội trú mới kết thúc. Nhưng những đạo lý mà ba đã dày công truyền thụ cho Đình Nhi qua những câu chuyện sinh động và hấp dẫn kia thì ngày càng ăn sâu bám rễ trong lòng ĐÌnh Nhi.


TẬP VIẾT CẢM TƯỞNG SAU KHI ĐỌC SÁCH,
PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ TÍNH

Mùa hè năm lớp 3, tôi yêu cầu ĐÌnh Nhi, mỗi bài nhật ký phải viết tới 500 từ. Một hôm, trời rất nóng, ngoài việc đọc sách và làm bài tập, Đình Nhi không muốn làm thêm một việc gì nữa. Chau buồn rầu hỏi tôi: "Mẹ ơi, nhật ký hôm nay viết cái gì nhỉ?" Tôi gợi ý: "Sao con không viết cảm tưởng của con về cuốn sách hôm nay con vừa đọc?" Đình Nhi lập tức vui ngay, bắt tôi dạy cho cách viết.

Tôi bảo cháu, trước tiên hãy viết về các nhân vật trong sách mà con có ấn tượng sâu sắc nhất, cứ viết như con đang kể chuyện cho bạn nghe. Tôi nói với Đình Nhi, con nên tham khảo phần "Lời mở đầu' và phần  "Vĩ thanh" trong mỗi cuốn sách, ở đó nói chung đều có lời giới thiệu bình luận về cuốn sách đó của các nhà phê bình. Con có thể hoàn toàn viết những suy nghĩ của con, cũng có thể mượn lời bình luận ở những phần trong sách. Phải chú ý xem các tác giả đã tóm tắt giới thiệu các nhân vật và các tình tiết trong sách một cách chuẩn xác, bằng ngôn ngữ chắt lọc như thế nào, nhưng dẫu sao tốt nhất là nên dùng lời của mình để viết.

Từ trước tới nay, trẻ em đọc sách thường chỉ chú ý đến cốt truyện, chẳng mấy khi để ý đến các phần "Lời nói đầu" và "Vĩ thanh" trong sách. ĐÌnh Nhi cũng vậy, nhưng để viết được cảm tưởng, Đình Nhi bắt đầu chú ý đọc các phần bình luận văn học cô đọng như trên. Để tìm được những nội dung cần thiết trong một bài bình luận hàng nghìn chữ ấy, Đình Nhi không chỉ đọc một lần mà có được, hơn nữa còn phải còn phải biết sàng lọc, lựa chọn. Điều này không chỉ trực tiếp giúp Đình Nhi hiểu sâu hơn về ý đồ sáng tác của tác giả, còn giúp cháu làm quen trước với kiểu văn nghị luận, và quan trọng hơn cả là nó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển tư duy lý tính của ĐÌnh Nhi. Trên thực tế, bài tự thuật của Đình Nhi viết khi dự thi vào Trường Đại học Harvard là một thể văn kết hợp giữa văn tự thuật và văn cảm tưởng.

So sánh giữa hai bài văn cảm tưởng mà ĐÌnh Nhi viết sớm nhất với hai bài văn cảm tưởng viết cuối thời tiểu học của ĐÌnh Nhi, có thể thấy rõ tư duy lý tính của Đình Nhi dần dần thành thục.

Ngày 6 tháng 7 năm 1990. Chủ nhật. Trời hửng nắng.
"Bóng ma trong mộng"
       Tôi vừa đọc cuốn truyện nổi tiếng "Bóng ma trong mộng". Đây là cuốn sách đồng thoại rất thú vị do nhà văn nổi tiếng Frank Bame sáng tác. Những nhân vật chủ yếu trong cuốn sách này là: Tayfoo, Jack Bí ngô, Tiều phu thép và người nôm rơm...
       Tayfoo sinh ra tại vùng Ause, nhưng lại sống tại đất nước Người tím ở phương Bắc. Ở đây tất cả mọi thứ đều màu tím. Tôi rất thích cậu bé Tayfoo này, vì bạn ấy thật tốt bụng và thật thà, căm ghét sự gian tà quỷ quái và sống bình đẳng với mọi người...
       Jack Bí ngô là một nhân vật có cái đầu được làm bằng quả bí ngô, trên đó có khắc đủ mắt, mũi, mồm. Cái đầu ấy được cắm trên một thanh gỗ dài làm thân mình và chân tay. Tayfoo cho nó hình thể, còn Lawmobie cho nó tâm hồn. Tôi thấy nhân vật
Jack Bí ngô rất hài hước, suốt ngày luôn lẩm bẩm những câu nói của ra đâu vào đâu. Hơn nữa các khớp tay chân hay bị hỏng và bàn tay thỉnh thoảng lại rụng rời, trông thật buồn cười.
      Còn Tiều Phu Thép là một nhân vật được tạo thành bởi các mảnh sắt nhỏ hàn gắn lại. Nó có mặt trái tim bằng một cục gỗ tròn sơn đỏ, trái tim, ấy là do một thầy phù thuỷ tặng. Tôi rất thích Tiều Phu Thép, vị hoàng đế của vương quốc Người Vàng này, bởi vì trong suốt cả câu chuyện, Tiều Phu Thép luôn tỏ ra hiền lành đôn hậu, ưa làm việc thiện và dũng cảm đấu tranh với kẻ ác.
      Ngưòi nộm rơm là một hình nộm bên ngoài làm bằng vải, bên trong được nhét đầy rơm, cái đầu của nó được nhét đầy mùn cưa và đinh sắt, thầy phù thủy cho nó cái đầu này. Tôi rất khâm phục Người Nộm Rơm, bởi vì trong lúc nguy hiểm, cái đầu của Người Nộm Rơm đã nghĩ ra được khá nhiều biện pháp để giải quyết.
      Đây là những nhân vật để lại cho tôi nhiều ấn tượng nhất trong cuốn sách này. Ở đây còn có những nhân vật khác nữa như Con Nắc Nẻ, Ngựa Cưa Gỗ... Nhưng vì bài nhật ký này đã hơn 500 từ rồi, tôi không viết nữa.

Ngày 9 tháng 7 năm 1990. thứ hai. Trời mưa to.
Nếu tôi cũng có được một viên thuốc ước...
      Thuốc ước là một loại thuốc vô cùng kỳ diệu trong cuốn truyện "Bóng ma trong mộng". Đã có viên thuốc ấy, chỉ cần uống xong rồi bắt đầu kẹp đôi từ 1 đến 17, sau đó nói lên ước nguyện của mình, thì lập tức ước nguyện ấy trở thành hiện thực. Thế nhưng đếm kẹp đôi đến số 17 cũng không phải là chuyện dễ dàng. Bởi vì 17 là số lẻ, không đếm được đến số 17, thì cũng không thực hiện được ước muốn của mình, làm thế nào đây? Tôi đã nghĩ ra được một cách, tôi bắt đầu đếm từ một nửa của con số 1, rồi lần lượt 1,3,5,7,9,11,13,15,17. Bạn thấy, thật là dễ phải không?
      Tôi nghĩ, nếu tôi có được một viên thuốc ước đó, thì ước muốn đầu tiên của tôi là có được 100 viên như thế. Như vậy tôi có thể có được 100 ước muốn được thực hiện. Và nếu có rồi, tôi sẽ uống tiếp viên thứ hai, đếm đến 17 rồi nói: "Tôi muốn có một bộ quần áo và một đôi giày như của cô gái da đen mặc trong vũ hội". Và ước muốn thứ ba của tôi là: "Tôi muốn trở thành người giàu tri thức nhất thế giới". Ước muốn thứ tư sẽ là: "Ước cho cả nhà tôi mãi mãi trẻ trung, mãi mãi không chết".
     Tôi thường hỏi ba mẹ tôi có những ước muốn gì? Ba nói: "Ba muốn sau này sẽ trở thành người có ích". Mẹ nói: "Mẹ muốn con người ta không cần ăn mà vẫn sống được" Sau đó ba lại thay đổi ý kiến, bây giờ ba ước: "Ước cho tất cả những người tốt trên đời đều trở thành những người tài giỏi nhất" Mẹ cũng thay đổi ý kiến, mẹ ước: "Ước cho trên đời này, không có kẻ cắp, không có người xấu bụng". Còn tôi cũng ước thêm: thứ nhất là tất cả sách trên giá của tôi đều biến thành sách mới. Thứ hai là: có rất nhiều tiền, muốn mua cái gì cũng được.
      Cuốn sách này mua cách đây đã 3 năm, lúc đó tôi mới học lớp 1, chỉ biết được dăm ba chữ, vì vậy lần đầu tiên tôi biết chuyện này là do mẹ tôi đọc cho nghe.


0
Ngày 1 tháng 8 năm 1991
Cảm nghĩ sau khi đọc quyển “80 năm thời cận đại”
Nghe nói, trong những năm cuối cùng của triều đại Mãn Thanh, trên một tờ báo của Singapor có vẽ một bức tranh biếm hoạ: bên ngoài một ngôi nhà tranh cũ nát, lơ thơ mấy cây cằn cỗi, xiêu vẹo, ngoài trời mưa rất to, trong nhà nước dội tứ tung. Bên dưới bức tranh có ghi hai chữ “Trung Quốc”. Lúc bấy giờ tôi chẳng hiểu gì, Trung Quốc tại sao lại như vậy? Cho đến tận sau khi tôi đọc cuốn “80 năm thời cận đại”, tôi mới hiểu ra rằng, Trung Quốc trong suốt 80 năm thời cận đại là thưòi kỳ thối nát nhất của xã hội phong kiến. Nó cũng giống như ngôi nhà tranh dột nát kia.


Thời đó, trình độ văn hoá, tư tưởng của người Trung Hoa vô cùng lạc hậu. Bọn thống trị phong kiến vẫn tôn Mạnh Tử và Khổng Tử là những bậc thánh nhân. Những người có chữ nghĩa trong thiên hạ vẫn khư khư ôm những quyển sách cũ nát của Khổng Tử và Mạnh Tử - những vĩ nhân đã sống cách đây hơn 2000 năm, và tư tưởng của họ vẫn dừng lại ở thời kỳ hơn 1000 năm về trước, có chăng chỉ có một chút phát triển không đáng kể. Lúc bấy giờ, người Trung Quốc cũng chẳng hiểu biết gì về thế giới. Họ vẽ bản đồ Trung Quốc theo sự tưởng tượng chủ quan của mình. Họ cho rằng các nước trên thế giới như Anh, Nga… cũng chỉ nhỏ bé như nước Cao Ly (Triều Tiên) mà thôi. Trên tấm bản đồ, Trung Quốc được vẽ ở chính giữa, vẽ rất to, bốn xung quanh là những hòn đảo nhỏ li ti. Đó là những nước Anh, Nga… Có một câu chuyện rất nực cười: Vào những năm niên hiệu Đạo Quang, có một lái buôn người Bồ Đào Nha đến Trung Quốc, khi đi qua hải quan, để nói rõ rằng mình đến đây từ đất nước Bồ Đào Nha, người đó bèn lấy ra một tấm bản đồ thế giới được vẽ theo tiêu chuẩn quốc tế, đưa cho viên quan trấn ải xem. Thế nhưng viên quan này xem không hiểu, bèn dẫn người lái buôn đến phủ. Người Bồ Đào Nha đã cố nhẫn nại chỉ vào tấm bản đồ thuyết minh tỉ mỉ cho các quan trong phủ nghe, nhưng các quan trong phủ vừa trông vào tấm bản đồ đã nổ giận đùng đùng, lớn tiếng quát tháo: “Đây là cái khỉ gì vậy, hãy xem bản đồ của nhà Đại Thanh chúng ta đây!” Nói rồi, họ bèn lấy ra tấm bản đồ Đại Thanh tôi vừa kể. Người Bồ Đào Nha kia trông thấy, thật là dở khóc dở cười!


Vì tư tưởng văn hoá của Trung Quốc quá lạc hậu, cho nên khoa học kỹ thuật cũng chẳng sao tiến bộ được. Trong khi các nước đã có đầy những tàu hoả, tàu thuỷ, súng máy, pháo to… thì Trung Quốc vẫn đang dừng ở thời kỳ sử dụng giáo, mác, xe ngựa và thuyền gỗ…


Do khoa học kỹ thuật lạc hậu, nên nền quốc phòng của Trung Quốc cũng lạc hậu theo. Quân đội Mãn Thanh chỉ có thể đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, nếu phải đánh nhau với quân đội nước ngoài thì thật là bi thảm. Một thân vương của triều đình Tăng Cách Lâm Tẩm, trong những năm niên hiệu Đạo Quang, đã có lần đem theo hơn 3.000 kỵ binh thiện chiến nhất của triều đình đi giao chiến với quân Anh. Kết quả bị súng to pháo lớn của đối phương đánh cho tan tác tơi bời. Chỉ còn có 7 người, 7 ngựa theo Tăng Cách Lâm Tẩm chạy tháo thân về tới kinh thành.


Tất cả những cái đó đều nói lên rằng, Trung Quốc lạc hậu so với các nước khác. Tình trạng lạc hậu đó là do chế độ chuyên chế của xã hội phong kiến Trung Quốc. Đặc trưng của chế độ chuyên chế là ai nắm được hoàng quyền thì cả đất nước sẽ là tài sản riêng của mình, người ấy muốn sao phải vậy.
 
CHỈ SỢ LÀM ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG,
ĐI TÌM CƠ HỘI CẠNH TRANH CAO


Được sự chỉ bảo của cha mẹ, Đình Nhi tiến bộ rất nhanh, cuối học kỳ I lớp 4 này chắc chắn sẽ đứng đầu lớp. Chính lúc ấy, cái “lớp 4 vô kỷ luật” của cháu lại ngày càng quậy phá hơn. Vào đầu năm học, nhà trường đã điều một cô giáo dạy văn rất có năng lực về làm chủ nhiệm lớp 4 này. Đến đầu học kỳ II, nhà trường lại bố trí cô thêm chức trưởng phòng hành chính. Các phụ huynh học sinh đều cho như vậy là nhà trường đã bỏ lửng lớp này.


Chúng tôi rất hiểu, do trình độ chung đều thấp, sự “đứng đầu lớp” của Đình Nhi có lẽ chỉ tương đương với các cháu đứng thứ 20 của các trường trọng điểm. Muốn kích thích Đình Nhi có được tiến bộ lớn hơn nữa, cần phải đặt Đình Nhi trong một môi trường có sự cạnh tranh ở trình độ cao hơn. Thế là chúng tôi bắt đầu phải nghĩ đến việc bỏ tiền ra chạy chuyển trường cho cháu. Dù cho là không gặp được thầy giỏi hơn, nhưng ít nhất cũng phải chọn cho cháu một trường gần nhà, mỗi ngày sẽ tiết kiệm được hai giờ đi lại, dành cho cháu tự rèn luyện. Như vậy, cũng đã có lợi cho cháu khá nhiều.


Rất may, vào một ngày cuối tuần, Ương Ương lại đến nhà tôi chơi. Tôi hỏi thăm cháu tình hình học tập, cháu vui vẻ và tự hào nói với tôi: cô giáo chủ nhiệm, Liệu Lệ Quỳnh, là một chủ nhiệm rất giỏi. Lớp cháu được công nhận là “Tập thể ưu tú”, lớp cháu có hai bạn vừa chuyển trường đi… Ương Ương rất thích nhân cơ hội này Lưu Diệc Đình chuyển đến học cùng lớp với cháu.


Trương Hân Vũ vẫn có thói quen “gặp cơ hội tốt không bao giờ bỏ lỡ”. Thế là anh bảo tôi phải lập tức đến nhà Ương Ương để tìm hiểu thêm. Cha mẹ Ương Ương ca ngợi cô chủ nhiệm hết lời. Trương Hân Vũ sau khi nghe tôi kể lại, lập tức quyết định: phải tìm ngay và gặp cô giáo Liệu. Được sự giúp đỡ rất tận tình của cha mẹ cháu Ương Ương, của cô chủ nhiệm Liệu Lệ Quỳnh và cô giáo Lưu Huệ Anh, Trường tiểu học Sở Thương Nghiệp chỉ thu của chúng tôi chút ít tiền lệ phí chuyển trường có tính chất tượng trưng. Và thế là ngay tuần sau Đình Nhi đã được theo học lớp cô giáo Liệu.


Việc chuyển trường lần này có ý nghĩa quan trọng về mặt tâm lý của Đình Nhi, kết quả kiểm tra lần đầu ở lớp mới, Đình Nhi được xếp thứ 17 trong cả lớp. Kết quả đó đã minh chứng cho lời nói của ba mẹ trước đây là đúng: học giỏi số 1 ở “lớp vô kỷ luật” cũng chỉ là “ếch ngồi đáy giếng”.


Hiểu được điều đó, Đình Nhi sẽ biết được tự cao tự mãn là một thói xấu đáng chê. Sau này, đã nhiều lần, Đình Nhi giành được những thành tích mà những người bình thường sẽ thấy rất kiêu hãnh, nhưng cháu không hề bị tính tự kiêu ấy làm cho mờ mắt. Bởi cháu đã quá quen thuộc với quan niệm: “Coi tất cả những thành tích mình giành được mới chỉ là con số 0”. Chỉ có vậy, mới tự thúc đẩy phải cố gắng vươn lên trong những cuộc cạnh tranh ở mức độ cao hơn. Trường tiểu học Sở Thương nghiệp là trung tâm đào tạo học sinh xuất sắc để tham dự các cuộc thi toán Olympic. Đây là kho báu tri thức mà trước khi chuyển trường, Đình Nhi chưa hề biết đến. Sau khi chuyển trường chúng tôi động viên cháu hãy mau chóng nộp đơn xin nhà trường cho vào học lớp đào tạo đặc biệt này. Các thầy cô giáo đều ngạc nhiên: “Hiếm có học sinh ham học như thế này”. Được cô giáo Liệu giới thiệu, thầy Ngô Xuân Dung chủ nhiệm lớp chuyên toán đặc cách tiếp nhận Đình Nhi, vì lớp này đã đào tạo học sinh giỏi ngay từ lớp 2.


Học tập có cường độ có sức hấp dẫn lớn đối với Đình Nhi, việc hướng dẫn cho Đình Nhi về môn vật lý, ba cũng phải vận dụng đến những khả năng sở trường của mình. Chỉ ít lâu sau (cũng giống như Hoa La Canh năm xưa đã đoạt giải “cúp vàng” môn toán thời tiểu học), Đình Nhi lao vào cuộc tranh tài, và kết quả thật bất ngờ: cháu đã đoạt “giải nhất cuộc thi chuyên toán lớp 4”. Lúc bấy giờ tôi còn đang ở bệnh viện Hồ Bắc, chăm sóc mẹ tôi vừa bị mổ khối u trực tràng. Được tin cháu đoạt giải cao, mẹ tôi vui mừng nói: “Đây quả là một liều thuốc đặc hiệu đối với mẹ!”


Có thể nói, chuyển trường và được vào lớp chuyên là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của Đình Nhi. Mặc dù lúc bấy giờ vẫn chưa thể tiên đoán được mọi sự việc sau này, nhưng theo bản năng tôi đã dự cảm được sự phát triển trí lực của Đình Nhi sẽ có bước đột phá quan trọng.


Giải nhất của cuộc thi chuyên toán đã kích thích mạnh mẽ hứng thú học toán của Đình Nhi. Từ đó về sau, ngoài thời gian tất yếu để học văn học ra, Đình Nhi đã dồn phần lớn thời gian cho môn toán với tất cả sự say mê hứng thú. Chúng tôi luôn coi trọng sự cố gắng về mặt này của Đình Nhi. Mặc dù ở trường Đại học, khoa học tự nhiên và khoa học xã hội là những chuyên khoa tách biệt, nhưng ba vẫn luôn nhấn mạnh rằng: những học sinh nào giỏi cả về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, mới có tiền đồ rộng mở. Huống chi khi thi vào bậc sơ trung, bắt buộc Đình Nhi phải thật giỏi về môn toán, có vậy mới mở được cánh cửa để bước vào các trường trung học trọng điểm.


Việc học tập tại các trường chuyên lớp chọn thực sự là một điển hình cạnh tranh ở trình độ cao, nhất là cuộc đào thải nghiệt ngã cuối lớp 5. Phạm vi cạnh tranh đã vượt ra khỏi cấp nhà trường, nó là cuộc đua tranh giữa các học sinh xuất sắc trong toàn khu vực. Đình Nhi tuy chỉ là một học sinh “giữa đường nhập cuộc” so với các bạn bè trong lớp chuyên, học chậm mất 2 năm 6 tháng, nhưng về môn toán, trong các cuộc thi toán toàn quốc tổ chức vào học kỳ II năm lớp 6, Đình Nhi đã đoạt giải nhì toàn thành phố Thành Đô và đoạt giải ba toàn tỉnh Tứ Xuyên. Một lần nữa lại chứng minh cho câu nói “khổ luyện, tất sẽ thành tài”.


Công sức của Đình Nhi với môn toán trường chuyên, đã được đền đáp. Từ đó, cháu học tiến bộ rất nhanh, thắng hầu hết các đối thủ trong kỳ thi vào sơ trung, đi thẳng vào trường trung học trọng điểm, ngay trong khi học trung học điểm số các môn học đều được xếp loại ưu.


Hiện nay, tại Đại học Harvard, tuy môn Anh văn vẫn chưa bằng các bạn người Mỹ, nhưng kết quả học tập các môn khoa học xã hội và khoa học tự nhiên vẫn vững vàng đứng ở loại giỏi.
 
HỌC TẬP ÔNG BA KIM - CHỮA VĂN TỈ MỈ VÀ THẬN TRỌNG


Cũng giống như toán học, văn học cũng cần có một sự tích tụ lâu dài, nhưng cũng có những kỹ năng có thể đạt được thông qua việc luyện tập chuyên biệt. Để nâng cao hiệu quả, ba yêu cầu Đình Nhi phải triệt để sử dụng biện pháp làm văn miệng. Như vậy, với thời gian làm một bài văn viết, cháu có thể làm được gần chục bài văn miệng. Những bài luyện tập: viết đề cương, tìm chủ đề, miêu tả chi tiết, miêu tả toàn cảnh… Đình Nhi chủ yếu dùng phương thức làm văn miệng, trong suốt cả 3 năm bậc sơ trung.


Trước khi Đình Nhi chuyển trường, tôi đã cho cháu ghi tên tham dự các cuộc “thi tập làm văn cấp tiểu học, cúp Ba Kim”. Tôi dẫn cháu đi thăm “Viện bảo tàng Ba Kim” để cháu tham quan và tìm đề tài để viết. Tuy sau này do chuyển trường cháu đã không ghi tên đăng ký lại nữa, đã mất tư cách dự thi, nhưng những gì tôi chuẩn bị cho cháu trước đây, vẫn có tác dụng bất ngờ: những nét bút chữa văn tỉ mỉ và thận trọng trên những trang bản thảo của Ba Kim đã khiến Đình Nhi xua tan được ý nghĩ: rất ghét rà soát và chữa lại những bài văn đã làm. Một trong những bài văn chuẩn bị gửi đi dự thi của Đình Nhi là bài “Bức thư gửi ông Ba Kim” viết về quá trình chuyển biến tư tưởng của mình.


Ông Ba Kim vô cùng kính yêu!
Thưa ông!
Cháu tên là Lưu Diệc Đình, học lớp 4B trường tiểu học… thành phố Thành Đô. Qua bức thư ông gửi cho các bạn nhỏ ở quê, cháu được biết ông đang ốm nặng, không biết ông đã đỡ chưa? Là một đồng hương bé bỏng, một độc giả nhỏ tuổi của ông, cháu mong ông khoẻ mạnh để sớm trở về nhìn quê hương ngày một đổi mới!
Hôm nay, viết gửi ông lá thư này, cháu muốn nói với ông một điều “bí mật”.
Cháu có một khuyết điểm là rất ghét chữa các bài tập làm văn. Thế mà mẹ cháu lại cứ bắt cháu phải soát lại nhiều lần và sửa chữa, thật chán chết đi được! Có một lần nháp văn, cháu dứt khoát không chịu viết cách dòng, để mẹ cháu hết chỗ mà bắt sửa. Đương nhiên, cuối cùng cháu không thể không viết lại bài văn đó theo yêu cầu của mẹ. Nhưng trong lòng vẫn ấm ức, cháu nghĩ thầm: bản nháp đó chữa hay không chữa cũng chẳng làm sao! Nhưng cháu đã thực sự nhận ra cái sai của mình từ sau khi cháu được tận mắt nhìn thấy các trang bản thảo của ông ở Tuệ Viên.
Hôm đó, tại ngôi nhà Tử Vi Đường cổ kính trong vườn Tuệ Viên, cháu đã nhìn thấy tập bản thảo của ông viết bài “Thay lời kết” trong tập ký sự “Tuỳ tưởng lục” của ông, bày trong tủ kính. Trên những trang bản thảo ấy có rất nhiều chỗ ông đã tự sửa lại câu văn, điều đó làm cho cháu ngạc nhiên, nghĩ bụng: “Sao một nhà văn lớn như ông viết văn cũng cần phải sửa à?” Cháu tò mò lật giở  xem ông đã chữa văn như thế nào. Cháu thấy có chỗ ban đầu ông viết là: “Tôi tự nói với mình…” sau đó sửa lại là: “Tôi phải tự an ủi mình…” Lại một chỗ khác ông đã viết: “Tôi viết rồi lại dừng, cuối cùng…” được sửa lại là: “Tôi viết rồi lại dừng, dừng rồi lại viết, và cuối cùng…” Những câu văn đã sửa rồi, rõ ràng chuẩn xác hơn, sinh động hơn những câu cũ. Cháu đếm thử, trong số trang bản thảo chỉ có 15 dòng, mà ông sửa tới 10 chỗ. Con số này đã làm cháu suy nghĩ rất nhiều. Khi ấy qua những tấm ảnh giới thiệu về cuộc đời ông, cháu đã được biết, ông đã là một nhà văn nổi tiếng có một thành tựu văn chương đồ sộ. Ông đã mấy lần được nhận giải thưởng văn học quốc tế, thế mà đối với văn của mình ông vẫn còn luôn cẩn trọng tỉ mỉ như vậy, còn cháu mới chỉ là một học sinh lớp 4, đang trong thời kỳ cần phải khắc khổ luyện rèn, thế mà cháu viết tập làm văn đã lười tự sửa. Như vậy thì sao có thể thành tài được? Nghĩ đến đây, cháu tự thấy xấu hổ ông ạ.
Từ bấy đến nay, cháu không còn thấy chán công việc sửa văn nữa, những bài tập làm văn của cháu có tiến bộ rõ ràng. Các thầy cô giáo vẫn thường xuyên động viên cháu, còn giới thiệu những bài hay của cháu, gửi đi xin đăng ở chuyên mục “Vườn ươm” trên tờ “Tin buổi tối của Thành Đô”. Nếu bài của cháu được đăng, cháu nhất định sẽ biếu ông tờ báo ấy.
Thưa ông Ba Kim! Ông cố gắng giữ gìn sức khoẻ, đợi tin vui mới của một đứa cháu nhỏ bé ở quê hương, ông nhé!
Kính chúc ông ăn Tết vui vẻ, khoẻ mạnh dài lâu!
Ngày 12 tháng giêng năm 1991
Cháu của ông
Lưu Diệc Đình


Có ý muốn sửa văn, Đình Nhi bỗng cảm thấy vốn từ ngữ của mình sao mà nghèo nàn quá vậy, nhất là khi miêu tả hành động và tâm lý nhân vật. Nhiều lúc cháu đã ra sức cầu xin để được “vay” của mẹ mấy từ cốt sửa câu văn của mình được vừa ý. Tôi bảo cháu: “Con đã tự cảm thấy kho từ vựng của con thật là thiếu thốn, thế sao con không chịu khó nhập hàng?” Đình Nhi vui vẻ nói: “Hay quá, mẹ bảo ngay cho con cách nhập hàng đi!”


Tôi tìm được cuốn “Kỹ xảo viết văn” mà ông ngoại mua tặng tôi từ lâu, bảo Đình Nhi hãy đọc phần bảng từ ngữ sắp xếp theo từng loại trong sách đó. Đọc đến bảng “Thán từ”, Đình Nhi đã phải kinh ngạc trước sự phong phú, tế nhị và truyền cảm tốt của loại từ này. Tôi bảo cháu: “Chỉ cần con thường xuyên cần cù tích luỹ thì chỉ mấy năm sau, vốn từ của con có khi còn nhiều hơn cả trong sách này đấy! Cái nào dùng trước, học trước, các bài tập làm văn ở trường tiểu học chủ yếu là kể chuyện và tả người, vậy thì trong đầu mình phải tích luỹ chuẩn bị trước các loại từ ngữ về mặt này. Có vậy, con sẽ không thấy bí từ khi viết văn”.


Trong kỳ nghỉ đông năm 1991, Đình Nhi đã lấy thời gian viết nhật ký của mấy ngày liền để tích luỹ từ ngữ miêu tả nhân vật. Trong mấy ngày đó, Đình Nhi đã chép được hơn mười trang các từ thuộc loại này.


Cô giáo Ngô cũng đã nói với Đình Nhi: “Bài tập làm văn của học sinh tiểu học chủ yếu để rèn luyện cách vận dụng từ ngữ, không sợ dùng chưa chuẩn xác, mà chỉ sợ vốn từ quá thiếu mà thôi. Từ dùng chưa chính xác thì học lên sơ trung còn phải luyện cho thật hoàn hảo, nếu trong bụng mình chẳng có lấy mấy từ, thử hỏi lấy gì mà luyện?”
 
RỜI KHỎI CỔNG TRƯỜNG,

ĐI NÔNG THÔN, LUYỆN TẬP QUAN SÁT
 
Kỳ thi cuối học kỳ I sau khi chuyển trường, trong bảng xếp hạng, Đình Nhi từ số 17 đã lên đến số 3. Được học lớp chuyên, về môn toán, Đình Nhi đã vươn lên vượt bậc, còn môn văn cũng có những tiến bộ rõ rệt, đó là nhờ sự dẫn dắt của cô giáo Liệu.


Chúng tôi cho rằng, chất lượng dạy học của trường tiểu học khu Thương nghiệp này, cùng với kết quả học năm lớp 4 của Đình Nhi, đã chứng tỏ việc học tập của Đình Nhi đang đi vào quỹ đạo. Trọng tâm của những bước bồi dưỡng tiếp theo là phải chuyển sang mở rộng tầm mắt và tăng cường tri thức xã hội cho Đình Nhi, để tạo cơ sở cho cháu có những bước phát triển tăng tốc sau này.


Trong dịp hè lớp 4 của Đình Nhi, báo chí có đăng tin “Ở ngoại ô Thành đô, gần đây đã hình thành một cánh đồng trồng hoa tươi để cung cấp cho thành phố. Chúng tôi quyết định nhân nghỉ hè cho Đình Nhi đi tham quan những làng trồng hoa giàu chất thi tình hoạ ý đó, để cháu được tận mắt nhìn thấy quang cảnh sinh hoạt của làng hoa ven đô, thu thập một chút tài liệu để làm văn”.
Buổi chiều đi thăm làng hoa đáng nhớ đó đã được ghi lại một cách sinh động và chân thực trong cuốn nhật ký của ĐÌnh Nhi.
 
Ngày 4 tháng 7 năm 1991
Cuộc du hành về làng hoa ven đô
Nghỉ hè tôi và ba mẹ cùng về làng hoa Tam Thánh để ngắm hoa. Tại đây chúng tôi đã gặp được những con người hiếu khách nhiệt tình, và cũng biết được nhiều điều mới lạ, kiến thức của tôi được mở rộng rất nhiều.
1.      Bác nông dân làng hoa
Chúng tôi xuống xe tại Cao Điếm Tử (một dãy phố thuộc làng Tam Thánh) nhìn ra bốn phía, chỉ thấy mấy quán nhỏ lèo tèo bày bán mấy thứ hoa quả lặt vặt như mận, lê và dưa hấu, trên vách liếp của một quán có dán một tờ quảng cáo: thu mua hoa bạch lan nhưng chẳng thấy có một bông hoa nào. Như “phát hiện ra một châu lục mới” tôi mừng rỡ kéo áo mẹ: “Mẹ ơi! Ở  kia bán hoa kìa!” Nói xong, tôi liền chạy vội về phía đó, ba mẹ cũng vội rảo bước đi theo. Ba hỏi cô hàng hoa: “Chị làm ơn cho hỏi ruộng hoa ở chỗ nào ạ?” Cô nói: “Cứ theo con đường này đi chừng năm trăm mét là đến”. Đi chừng non nửa tiếng, chúng tôi đã ra khỏi dãy phố đó, bốn xung quanh là những thửa ruộng rau quả đã xanh rờn, chỉ có điều không thấy hoa đâu. Chúng tôi bàn bạc với nhau xem nên tiếp tục đi hay quay trở về.
Vừa lúc ấy, một bác nông dân ăn mặc xuyềnh xoàng, tay xách làn rau vượt qua bên cạnh chúng tôi: “Chắc các bác đến xem hoa phải không?” Tôi vội trả lời: “Đúng đấy bác ạ! Nhưng làm sao không thấy có hoa?” Bác nói: “Các bác đến không đúng lúc rồi, phải sáng sớm cơ, sáng sớm hoa mới nhiều!” Mẹ lại hỏi: “Thế ruộng hoa ở chỗ nào ạ?” Bác nông dân trả lời: “Ở đây là đội trồng rau, không được trồng hoa, trồng hoa là bị phạt đấy!” Tôi vừa nghe đã thấy buồn cười: “Hừ, ở nhà quê thật lắm chuyện lạ lùng, trồng hoa mà cũng bị phạt”. Ba bảo tôi: “Như thế gọi là kinh tế kế hoạch, con thử nghĩ xem, nếu đất để trồng rau đem ra trồng hoa cả, thì người thành phố lấy rau đâu ra mà ăn?” Tôi hiểu ra, liền bật cười. Mẹ lại hỏi lại bác nông dân: “Thế sao báo chí vẫn nói rằng đây là làng hoa, mà hoa được bày bán ở Thành Đô, phần lớn từ đây chuyển đến cơ mà?” Bác nông dân nói: “Còn một đội nữa chuyên trồng lúa, hoa ở đây là do đội ấy trồng ra. Nhà tôi thuộc đội trồng hoa đấy”. Tôi vội hỏi: “Vậy chắc chắn, bác phải biết cánh đồng hoa ở chỗ nào chứ ạ?” Bác trả lời: “Dĩ nhiên tôi biết, cứ theo khúc đường này đi xuống, theo mấy cái người kia kìa, thì đến thôn Hạnh Phúc, đội trồng lúa ở trong thôn Hạnh Phúc đấy”. Tôi thấy thú vị: gọi đường là khúc, gọi người là cái, thật hay! Nhưng tôi không dám nói ra, chỉ cười nhoẻn với bác: “Cám ơn bác đã chỉ đường ạ!” Bác nông dân thích lắm liền nói: “Bác cho cháu mấy bông hoa này!” Nói rồi bác đặt làn xuống đất, chọn ra bốn bông hoàng lan sực nức hương thơm, đưa cho tôi và nói: “Kiếm một cái lá to mà đặt vào cho nó tươi”. Ba vội vàng chạy xuống ven đường ngắt được một tàu lá vừa to vừa xanh biếc đưa cho mẹ, mẹ cẩn thận gói mấy bông hoa đó lại rồi đưa cho tôi. Mẹ rất cảm động, thấy cái làn trong tay bác nông dân chất đầy cà chua , rất nặng, liền nói: “Bác để tôi xách giúp một tay!” Nói xong, liền đỡ lấy cái làn trong tay bác. Bác nông dân vui mừng nói: “Hai bác khách sáo quá!”
Sau khi chia tay với bác nông dân, mẹ nói với tôi: “Người nhà quê chất phác hơn những người thành phố. Con thấy không, bác nông dân vui vẻ cho chúng ta mấy bông hoa, thế mà chúng ta không nghĩ đến việc chủ động trước xách làn cho bác”. “Phải đấy!”, tôi và ba cùng nói.
Những con người và sự việc sau này chúng tôi đã gặp được cũng đã chứng thực cho điều đó.
 
Ngày 8 tháng 7, tiếp theo
2.      Tặng phẩm bất ngờ
Chúng tôi vội vã trở về nhà, dọc đường gặp mấy thửa ruộng trồng toàn cúc đại đoá, dù đang vội mấy, tôi không thể không đứng lại ngắm nhìn. Hoa cúc đại đoá thật là đẹp! Trên mỗi cánh hoa màu vàng sắc đỏ, cánh hoa mềm mại rực rỡ, lung linh. Quả là một vẻ đẹp mê người. Tôi lắc tay mẹ: “Mẹ ơi! Con xin mẹ, mẹ mua cho con một bông, to nhất, đỏ nhất kia kìa, chỉ một bông thôi”. Mẹ suy nghĩ một lát rồi nói: “Thực ra, mẹ không phải không muốn mua cho con, nhưng thông thường, những người bán hàng khi thấy trẻ con thích thì họ thường hay nâng giá đến mức vô lý, vì cha mẹ nào mà chẳng chiều con, đắt mấy cũng phải mua. Thế nhưng, con thích thì mẹ vẫn cứ mua cho con một bông”.
Tôi hỏi cô chủ đang hí húi vun trồng lên một luống đất mới: “Cô ơi! Cúc đại đoá bao nhiêu một bông ạ?” Cô ngẩng đầu nhìn tôi, rồi ôn tồn nói: “Cháu cứ hái lấy mấy bông đi!” Nói xong cô lại tiếp tục cắm cúi làm việc. Tôi và mẹ cứ ngây ra đứng trên bờ, chẳng hiểu thế nào, kỳ thực còn chưa tin ở tai mình. Cô ngẩng đầu lên, thấy chúng tôi không hề nhúc nhích, cô giục: “Cứ xuống hái đi cháu!” Bây giờ tôi mới chợt hiểu ra, mừng rỡ chạy xuống ruộng hoa, hái liền mấy bông tôi thích nhất.
Cô chủ vẫy tay bảo tôi: “Lại đằng này, cháu!” Nói rồi, cô liền sang luống bên cạnh, tôi tung tăng chạy theo. Cô hái cho tôi ba bông lớn, một bông vàng, hai bông đỏ. Tôi cầm hoa trên tay sung sướng như bắt được vàng. Những bông hoa này, cánh hoa dày xít chồng lên nhau, sắc hoa rực rỡ, mỗi cánh hoa mềm mại đều như cố vươn dài ra khoe sắc, trông thật đẹp. Thấy tôi thích quá, cô chủ lại nói: “Cho cháu tự chọn, hái lấy một bông cháu thích nhất”. Tôi mừng ra mặt, ngắm nghía hồi lâu, tôi chọn hái một bông vàng rực. Bông hoa này còn chưa nở hết, ở giữa bông vẫn còn màu đỏ thẫm, những cánh hoa đã bung ra thì màu vàng rực, sự hoà quyện giữa hai màu vàng, đỏ thật là đẹp mắt. Tôi đã vui vẻ nói rất nhiều lời cảm ơn cô chủ ruộng hoa tốt bụng đó.
Trên đường về, chúng tôi cứ tấm tắc khen hoài: Những con người ở đây tốt thật, đã cho hoa lại còn vui vẻ nhiệt tình. Giá như ở thành phố, những dịp như thế này, chắc họ phải “bóp” mình lè lưỡi. “Người nhà quê quả thực là thật thà chất phác!”
Sau này, những bông cúc đại đoá kia tàn rồi, nhưng mỗi khi nghĩ về người nhà quê, những đoá hoa trong lòng tôi thì cứ mãi mãi nở rực rỡ và toả hương thơm ngát!
 
SAY SƯA HỌC VÀ RÈN, NHƯNG KHÔNG ĐỂ MẤT TUỔI THƠ
 
Tích luỹ và chuẩn bị tri thức và kinh nghiệm cho một tương lai tốt đẹp của Đình Nhi, chúng tôi luôn kiên trì theo hai nguyên tắc: 1. Về thời gian: Thời gian ngắn nhất, hiệu suất cao nhất; 2. Về phương thức: ưu tiên đặc tính tuổi nhi đồng.


Hai nguyên tắc này làm Đình Nhi luôn biết kết hợp hết sức chặt chẽ giữa học và chơi. Ngay từ nhỏ, Đình Nhi đã hiếm khi chơi những trò chơi vô bổ; các trò chơi của cháu không nhằm để rèn luyện sức khoẻ thì cũng nhằm rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho học tập. Điều này cũng không hề trở ngại đến việc vui chơi thoả thích của Đình Nhi, trái lại càng làm cho tuổi thơ của Đình Nhi đầy ý nghĩa.


Hãy xem Đình Nhi đã vui chơi như thế nào, ta sẽ thấy, mặc dầu đã có sự tinh khôn già dặn hơn các bạn cùng trang lứa về trí lực, nhưng Đình Nhi vẫn là một đứa trẻ ngây thơ hồn hậu.


Ngày 15 tháng 7 (Khi 10 tuổi)
Vật yêu quý của tôi
Trong cuộc du hành về làng hoa Tam Thánh vừa qua, tôi đã bắt được một chú cánh cam to bằng đầu ngón tay cái người lớn trên cánh đồng trồng hoa. Đây là con cánh cam màu xanh đồng. Đầu xanh biếc và bóng loáng, lưng màu nâu thẫm, lấm tấm điểm những nốt hoa màu nâu nhạt. Cả tấm lưng hình bầu dục ấy óng ánh đồng thau mỗi khi có tia nắng mặt trời chiếu rọi. Tôi tra từ điển “Từ hải” được biết “cánh cam thuộc loài côn trùng cánh cứng, khác với ong mật là loài côn trùng cánh mềm”.
Khi về đến nhà, tôi liền lấy một sợi chỉ màu xanh nhạt buộc chặt ngang lưng cánh cam ở đoạn giữa chân thứ nhất và đôi chân thứ hai, để cho nó khỏi bay đi mất. Mỗi khi cánh cam bay, trước tiên nó mở rộng đôi cánh cứng, đôi cánh mềm bên trong tiếp tục vươn ra, giống như hai lưỡi kiếm được rút ra khỏi vỏ. Tôi nắm chặt đầu dây, cho cánh cam tự do bay lượn. Mẹ nhìn thấy, bật cười: “Cả ngày chỉ chơi với cánh cam, cứ làm như con cánh cam là một thứ “ngựa bay thần thoại” ấy!” Tôi thích chí: “Đúng, đúng, nó là “con ngựa bay”, là “con ngựa bay” mẹ ạ!”
Buổi sớm mỗi ngày, tôi đều “chăm ngựa” ở trên sân thượng. Tôi thả “ngựa” từ trên tầng ba xuống, nếu dây không đủ thì nối thêm cho “ngựa xuống ăn cỏ” ở vườn hoa dưới tầng một. Đến tối, tôi cho cánh cam vào ở trong bồn hoa thập tam thái bảo, đây là cung điện của cánh cam. Nó thích chí lắm, cứ bò đi bò lại, đói thì ăn cánh hoa, khát lại uống nhựa cây ở đó.
Có lần con cánh cam tự nhiên biến mất, tôi sợ quá, nghĩ rằng nó đã bay đi rồi, hoặc đã chết, vội vàng đi tìm khắp nơi. Cuối cùng tôi đã tìm thấy nó trên đệm xa-lông, con cánh cam đang ung dung nhàn hạ dạo chơi ở đó. Tôi thở phào nhẹ nhõm. “Sao nó lại ở đây thế nhỉ?” Tôi nghĩ kỹ cái hốc khe tường, rồi quên không cất đi, khi bật đèn, cánh cam thấy ánh sáng liền bò ra. Đây là “con ngựa quý” của tôi, nó đã đem lại cho tôi nhiều điều thú vị!
 
Ngày 23 tháng 7
Cãi nhau
Trong đợt nghỉ hè này, có một ngày trong lòng tôi bỗng nổ ra một cuộc cãi vã kịch liệt, giữa một bên là “ông dục vọng” và bên kia là “ông lý trí”.
“Ông dục vọng” gây sự trước: “Cháu thật là bất hạnh, nghỉ hè rồi mà vẫn cứ vùi đầu làm bài văn, viết chữ, học bù lại những kiến thức từ lớp chuyên toán Olympic mấy năm về trước. Tội gì mà như thế, đi chơi có hơn không?”
“Ông lý trí” cãi lại: “Nếu cháu cứ đi chơi, vậy thì còn cái mục tiêu vào trường chuyên Olympic thì sao? Lẽ nào cháu lại không muốn trở thành một học sinh xuất sắc hay sao? Lẽ nào cháu không thích thi đạt 100 điểm hay sao? Thôi, ngồi xuống học đi”.
“Ông dục vọng” nói: “Này, đừng có dụ dỗ nó vào con đường thiên thẹo đó. Ngươi thấy không, những học sinh khác chỉ thi được 80 điểm, mà họ đã chơi đùa xả láng, thế mà cô chủ nhỏ của chúng ta, thi toán được những 99 điểm, có lý do gì mà lại không được chơi bời thoải mái. Nghỉ hè có nghĩa là “ngủ cho đã, chơi cho thỏa” kia mà!”
“Chà chà! Thật là… Cô chủ, cô đừng nghe lão ấy nói láo đấy!” “Ông lý trí” khuyên tôi.
“Ai nói láo! Ai nói láo! Ông nói láo thì có. Nghỉ hè, học sinh nào chẳng đi chơi, tại sao cô chủ nhỏ của chúng ta lại không được đi chơi?” – “Ông dục vọng nói”
“Ông lý trí” cũng chẳng chịu thua kém: “Học là chính, chơi là phụ. Cô chủ nhỏ, mấy năm nay cô đã học khá căng thẳng, học đến mức tưởng chừng như không có thời gian để thở, vậy mà cô vẫn chưa bị bài vở dìm cho đến chết. Cô cũng phải cố học nhiều hơn nữa. Sau này mới trở thành con người có ích cho đất nước”.
Đến đây “ông dục vọng” bí quá, không còn biết nói thế nào nữa, ông hét lên: “Không biết, đây không thèm biết, đây chỉ biết rằng phải ăn chơi, ăn chơi mới là sành điệu!”

Họ cứ thế tranh cãi nhau, cuối cùng cũng chẳng đi đến kết quả gì. Còn tôi, quả thực chưa biết nghe ai. Tôi viết cuộc tranh cãi ấy ra đây, mong các bạn xem xét: ai đúng ai sai?


Thực ra Đình Nhi đã có câu trả lời dứt khoát rồi. Có một số bạn bè đã chê cười Đình Nhi là sống mất tự do, không được thích chơi là chơi. Đình Nhi đã trả lời: “Bây giờ các bạn được tự do, suốt ngày lêu lổng chơi bời, tôi e rằng mai kia các bạn có muốn chơi cũng không được, còn tôi tuy bây giờ không được chơi thoải mái, nhưng sau này tôi lại thoải mái mà chơi”.
 
TRƯỚC HÃY LÀM “BẠN” CỦA CON,
SAU ĐÓ MỚI CÓ THỂ LÀM “THẦY” CỦA CON


 Năm 1991, khi Đình Nhi mới có 10 tuổi, kế hoạch bồi dưỡng Đình Nhi của chúng tôi đã gặp phải một sự quậy phá ghê gớm và bất ngờ: những tập truyện tranh Đô-rê-mon của Nhật Bản như một bầy sâu bệnh khổng lồ ào ạt tràn vào thị trường sách Trung Quốc. Hầu như tất cả các học sinh tiểu học Trung Quốc đều mê mẩn đến quên ăn quên ngủ trước những tập truyện tranh hoang đường ấy của Nhật. Những tập sách truyện cho thiếu nhi truyền thống của Trung Quốc bị nó đánh cho tơi tả. Đình Nhi cũng bị cuốn theo trào lưu ấy. Tình cảnh “văn hoá bị chìm đắm” ấy qua nhật ký của ĐÌnh Nhi chúng ta cũng có thể thấy được đôi phần.


Ngày 8 tháng 8
Cả lớp tôi đều say mê võ sỹ tí hon
Ở học kỳ II lớp 4 này, trên sạp hàng các quầy sách lớn nhỏ khắp trong thành phố, đâu đâu cũng nhan nhản bày bán các bộ truyện tranh Đô-rê-mon nhiều tập, một loại truyện khoa học viễn tưởng đầy tính huyền thoại của Nhật Bản. Nhiều nhất là bộ truyện “Những võ sĩ tí hon của nữ thần”. Chuyện kể rằng, bên cạnh nữ thần Atenô luôn có một đoàn thiếu niên dũng cảm bảo vệ bà, họ là những võ sĩ tý hon. Mỗi võ sĩ đều có một vì tinh tú của riêng mình và một bộ áo thần để bảo vệ những vì tinh tú đó. Võ sĩ nào cũng có những sở trường độc đáo về võ nghệ. Trong truyện có năm nhân vật chính, cả năm nhân vật đều có sở trường riêng. Tinh Thỉ có bài quyền “ngựa sao băng”, Nhất Huy có bài quyền “phượng hoàng bay huyền ảo”, Băng Hà có “cú đấm thôi sơn”, Tử Long có bài võ “rồng lên đỉnh núi”, còn Thuấn thì có “sợi dây xích vô địch”.
Xem xong bộ truyện tranh “Những võ sĩ tí hon của nữ thần” ấy, các bạn trai ở lớp tôi ai cũng thấy mê. Đi đâu họ cũng vung chân, múa tay hò hét “Thiên mã sao băng” đây! – “Hãy nếm thử cú đấm thôi sơn này!” – “Đây là phượng hoàng bay”… Họ tháo khăn đỏ trên cổ ra, bảo rằng đây là “sợi dây vô địch” của Thuấn, rồi hai tay quay tít thò lò, rồi lại nhảy băng về phía trước, bảo là “phượng hoàng bay lượn”, nắm chặt lấy tay đấm vòng một quả, thế bảo là “rồng lên đỉnh núi”…


Thật ra, không chỉ có các bạn trai mê Đô-rê-mon, mà ngay cả các bạn gái, vốn xưa nay rất ghét chuyện đấm đá, thế mà cũng bị hàng loạt tập truyện tranh Đô-rê-mon như “Ba chị em mắt mèo” hoặc “Con gái của dòng sông Nêla”… chiếm lĩnh cả tâm hồn. Đình Nhi cũng rất nhiệt tình giới thiệu với tôi mấy bộ truyện tranh Nhật Bản kiểu như vậy, hy vọng tôi cũng sẽ chia vui với cháu trong niềm say mê những cuốn truyện tranh Nhật Bản ấy.


Đây là lần đầu tiên Đình Nhi đã say mê những cuốn sách ngoài phạm vi giới thiệu của tôi, nếu tôi xử lý không tốt, chắc chắn giữa tôi và Đình Nhi sẽ xuất hiện một hố sâu ngăn cách đầu tiên, biết đâu từ đó sẽ làm gián đoạn luôn cả mọi sự giao lưu giữa hai mẹ con sau này. Đã thấy được tính nghiêm trọng của vấn đề, tôi quyết định dùng đối sách “làm bạn” với con trước, sau mới “làm thầy”. Chỉ có giữ được tiếng nói chung với con, thì mới có thể tìm cơ hội dẫn dắt con vào con đường đúng đắn. Thế là, cùng với sự say mê của con, tôi cũng tìm đọc kỹ khá nhiều bộ truyện tranh Nhật Bản.


Có thể nói rằng, những tập truyện tranh Nhật Bản này cả về hình thức lẫn nội dung đều có những cái hay và cái dở rất điển hình. (Hồi ấy còn chưa nhập vào hoặc in ấn trái phép các loại truyện tranh có tính chất khiêu dâm kích dục hoặc cổ vũ bạo lực của Nhật Bản). Điều làm tôi ngại nhất chính là truyện tranh Nhật Bản có một sức phá hoại cực lớn đối với thói quen đọc sách của trẻ con. Vì hình thức biểu hiện của nó là những bức tranh vẽ biến hoá vô cùng, và một thứ ngôn ngữ vừa giản đơn vừa công thức, hoàn toàn vứt bỏ ngôn ngữ kể chuyện mang tính kể chuyện chính xác và sinh động rất có lợi cho việc bồi dưỡng khả năng tư duy và khả năng biểu đạt của trẻ em. Xem các loại truyện này, trẻ em chỉ cần bám sát các từ tượng thanh ngắn như: “Ối!”, “Ái chà!” được thuyết minh ngay tại cửa miệng các nhân vật trong tranh để theo dõi tình tiết câu chuyện. Trong đầu óc các em, ngoài những tiếng kêu sặc mùi đấm đá như “Chém”, “Song phi”, “Tẩu mã”… hầu như chẳng giữ lại được một câu nói nào hoàn chỉnh. Tồi tệ hơn nữa là, những người xuất bản ra loại truyện tranh này lại chính là những “đại cao thủ” trong nghề buôn bán kinh doanh, họ chỉ bán với giá hai đồng một quyển, năm quyển một bộ, nội dung bộ trước có liên quan chặt chẽ với bộ sau, cứ như vậy họ đã vét sạch những đồng tiền lẻ trong túi trẻ con và cướp đi khoảng thời gian rất ít ỏi dành cho đọc truyện của lứa tuổi học trò. Nếu cứ kéo dài tình trạng như vậy, trình độ ngôn ngữ của dân tộc Trung Hoa sau này không nghèo nàn cằn cỗi đi mới là chuyện lạ.


Tôi tuy trong lòng rất lo, nhưng không ngăn cấm một cách thô bạo việc cháu thích xem truyện tranh Nhật Bản. Trái lại, còn tỏ ra rất thích thú, không hề có thành kiến cùng cháu bàn bạc về những nhân vật và tình tiết của những câu chuyện đó. Hơn nữa, tôi còn bảo cháu hãy lấy những câu chuyện đó làm đề tài cho nhật ký, nhân đó luyện tập cách miêu tả nhân vật và miêu tả cảnh tượng. Tôi coi việc này là một cách “tận dụng đồ bỏ đi” trước khi hoàn toàn vứt bỏ chúng.


Trong quá trình “phòng ngự tích cực” đó, tôi luôn tìm cơ hội để phản công. Sau mấy tháng, những món lợi nhuận kếch xù đã kích thích truyện tranh Nhật Bản ngày càng xuất hiện nhiều hơn, xuất bản bừa bãi hơn. Tôi chọn ra mấy cuốn có nhiều câu sai, chữ sai nhất chỉ ra cho Đình Nhi biết, đồng thời cũng liên hệ đến tình hình thực tế của Đình Nhi là gần đây viết nhật ký, những lỗi sai về câu chữ ngày càng nhiều. Đình Nhi thừa nhận và thán phục nói: “Mê đọc truyện tranh Nhật Bản, rõ ràng là làm cho trình độ ngữ văn ngày một sa sút, từ nay con không bao giờ đọc loại đó nữa”. Ngay hôm sau, mẹ con tôi nhặt nhạnh cả mấy chục quyển truyện tranh Nhật Bản đem bán cho bà hàng đồng nát. Sau này, cũng có đôi lần Đình Nhi mượn của bạn về xem, nhưng chỉ cần nhắc qua, là cháu không xem nữa, vì cháu thừa biết loại sách đó chẳng có tác dụng gì.


Ngay cả việc xem truyền hình và hát những bài hát đang được lưu hành cũng vậy, trước tiên tôi luôn phải là một “người bạn” rất biết đồng cảm với Đình Nhi, sau đó mới làm “quân sư” cho cháu được. Tôi luôn cố gắng để có một tiếng nói chung về sở thích và thị hiếu của cháu. Đối với trẻ con, quan tâm đến sở thích của chúng để nhận được sự đồng cảm hơn so với việc quan tâm đến lợi ích của chúng. Tôi và Đình Nhi cùng xem một bộ phim hoạt hình “Jeane Jackter”, vừa xem hai mẹ còn vừa bình luận với nhau, và rất tự nhiên cháu đã có một bài cảm nghĩ để viết vào nhật ký.


Cảm nghĩ sau khi xem phim “Jeane Jackter”… Sở dĩ Jeane Jackter như vậy là do Jeane đã xem quá nhiều các loại tiểu thuyết kiếm hiệp, xem lúc nào cũng đến mê mẩn cả người, rồi dẫn đến thần kinh thác loạn. Trước mắt Jeane lúc nào cũng là cả một thế giới huyền ảo, rồi theo sự tưởng tượng chủ quan của mình, Jeane đã chém giết lung tung bất kể là ai. Điều này dạy cho chúng ta biết rằng đối với mọi vấn đề đều phải thật khách quan, không bao giờ được làm việc theo sự tưởng tượng chủ quan của mình.


Ngày 13 tháng 8
Mimô đáng yêu
Mấy ngày nay trên ti-vi có chiếu bộ phim hoạt hình nhiều tập của Nhật Bản “Mimô”. Trong phim có một nhân vật là một cô bé Mimô, ở trong chiếc máy tính. Mimô ở trong nhà của hai anh em người Nhật tên là Đại Giới và Thanh Tử. Mẹ nói: “Bé Mimô thật là xấu xí!” Nhưng tôi lại không cho rằng như vậy. Tôi thấy Mimô rất đẹp, hơn thế nữa lại rất thông minh, cái gì cũng biết. Mimô đã giới thiệu cho hai anh em Đại Giới và Thanh Tử biết nguồn gốc và quá trình phát triển của máy bay, máy ảnh, xe lửa và cả nấm mốc nữa… Mimô còn dặn Đại Giới, Thanh Tử và cả tôi đang ngồi trước màn ảnh nhỏ nữa đi thám hiểm ở Nam cực và Bắc cực, đi du chơi trong thế giới của ánh sáng… Mimô chính là sự kết tinh của tri thức, là hiện thân của trí tuệ, hơn nữa Mimô tính tình thẳng thắn cương trực, có đủ những phẩm chất tốt đẹp của loài người.
Tôi rất muốn có một Mimô. Nếu có Mimô tôi sẽ có được rất nhiều tri thức, tôi sẽ hiểu biết nhiều hơn, rộng hơn đối với thế giới khoa học, tri thức muôn màu muôn vẻ. Nhưng Mimô đang ở Nhật Bản, vậy là ước muốn của tôi chỉ là ảo tưởng. Một hôm tôi nghe thấy trong phim nói: trong trái tim mỗi người đều có Mimô, vậy ước muốn của tôi vẫn còn hy vọng, nhưng tôi lại nghĩ: Mimô ở trong trái tim người, lẽ nào trong trái tim mỗi con người lại không có bé tí hon sống hay sao? Không thể như vậy được. Thế thì nó là cái gì? Tôi vắt óc suy nghĩ, đúng rồi! Mimô chính là sự khao khát hiểu biết ở mỗi con người. Đại Giới và Thanh Tử hễ có điều gì không hiểu lại đi hỏi Mimô. Điều đó chẳng giống như việc đi tìm tư liệu hay sao?
Và nó mách bảo tôi rằng, một con người nếu có sự khao khát hiểu biết, thì từng ngày từng giờ họ luôn được trang bị những tri thức mới, sẽ trở thành con người uyên bác.
 
NẮM CHẶT NƯỚC ĐÁ MƯỜI LĂM PHÚT,
RÈN LUYỆN SỨC CHỊU ĐỰNG
 
Ngay từ đầu, Trương Hân Vũ đã có dự định: muốn sau này Đình Nhi lớn lên sẽ có triển vọng tốt đẹp, thì bắt buộc phải có sức chịu đựng hơn người, như vậy mới có thể vượt qua được mọi thử thách, cả về áp lực tâm lý lẫn độ dẻo dai của cơ thể. Sự chịu đựng đó tuy rằng cần cho mai sau, nhưng phải được rèn luyện ngay từ bây giờ.


Khi Đình Nhi 10 tuổi, Trương Hân Vũ bắt đầu thực hiện kế hoạch này. Nhằm nâng cao khả năng chịu đựng của Đình Nhi, mùa hè năm lớp 4 anh đã cho Đình Nhi thực hiện bài “luyện sức chịu đựng” độc đáo: tay nắm chặt cục nước đá trong 1 phút. Dụng cụ luyện tập ấy của Đình Nhi là một cục nước đá được lấy từ trong tủ lạnh ra.


Có một sinh viên nói với tôi, cái tin Đình Nhi được vào trường Đại học Harvard và bài viết nói về cách luyện tập này được đăng trên báo, có nhiều sinh viên hiếu kỳ muốn thử sức theo cách tập của Đình Nhi. Nhưng không ai nắm được trọn 15 phút. Vậy tại sao một con người mẫn cảm như Đình Nhi lại có thể vượt qua được những thử thách mà người thường khó vượt qua được? Hãy nghe Đình Nhi kể lại.


Ngày 19 tháng 8 năm 1991 (Khi 10 tuổi)
Đánh cược với ba
Này! Tôi kể cho bạn nghe nhé, tối hôm qua tôi và ba tôi chơi trò đánh cược đấy, kết quả là, tôi thắng ba một quyển sách.
Đầu đuôi câu chuyện là thế này: Buổi tối, ba lấy từ trong tủ lạnh ra một cục nước đá. Cục nước đá này to hơn một viên pin đại đấy. Ba bảo tôi: “Đình Nhi! Con có thể cầm cục nước đá này trong vòng 15 phút được không? Nếu cầm được, ba sẽ mua cho con một quyển sách”. Tôi nói: “Sao lại không, con với ba đánh cược nhé! Nếu con cầm đủ mười lăm phút, ba phải mua sách cho con đấy”. Tất nhiên là ba đồng ý.
Ba cầm đồng hồ, rồi hô: “Chuẩn bị! Bắt đầu!” Tôi cầm cục nước đá lên nắm chặt. Phút đầy tiên, cảm thấy tạm được, đến phút thứ hai, tôi thấy đau buốt thấu xương, vội vàng cầm ngay lấy lọ thuốc, tập trung đọc những dòng chỉ dẫn ở trên lọ, cốt để chuyển sự chú ý của mình. Phút thứ ba, tôi thấy đau đớn như ngàn vạn mũi kim đâm nhói vào tim, tôi đọc to lời chỉ dẫn trên lọ thuốc để át nỗi đau. Phút thứ tư, tôi có cảm giác như người tôi đóng băng, tê dại, lúc bấy giờ tôi cắn chặt hai hàm răng, để cho nỗi đau chuyển lên khoang miệng và luôn thầm tự động viên: Cố gắng, cố gắng! Phút thứ năm, cả bàn tay tái xám nhợt nhạt, không còn cảm giác đau đớn nữa. Phút thứ sáu, chỉ thấy tê tê. Phút thứ bảy, bàn tay dường như tê dại hẳn. Phút thứ tám, không còn cảm giác gì nữa… Cho đến khi ba tôi nói: “Mười lăm phút rồi đấy!” Tôi buông nước đá, lúc này đã tan gần hết chỉ còn bằng một ngón chân cái. Tôi nhảy cẫng lên vui sướng: “Hoan hô! Hoan hô! Con thắng rồi!” Thế nhưng nhìn xuống bàn tay, tôi thấy một màu tím ngắt, sờ vào cái gì cũng cảm thấy bỏng rát. Ba vội mở vòi nước lạnh cho tôi rửa tay. Vừa ngâm tay trong nước tôi vừa nói với ba: “Ba ơi! Ba hôm nay không gặp may rồi!” Ba nói: “Ba chẳng có gì là không gặp may, trái lại, con có một nghị lực như vậy, chính là ba đang gặp may đấy”.
Đấy tôi đã thắng một quyển sách như vậy đó. Thật chẳng dễ dàng chút nào, phải không bạn?


Ngày 4-6 tháng 3 năm 1992 (Lúc 11 tuổi)
Đánh cược với mẹ
Trưa nay, tôi và mẹ cùng chơi trò thi đứng kiễng chân. Tôi nhớ lại hồi mới lên 3, mẹ dẫn tôi đi xem một bộ phim múa ba-lê Mỹ, phim “Bước ngoặt”. Từ đó, tôi rất mê múa ba-lê, nếu mẹ không cho, tôi không chịu đi ngủ. Mẹ nói: “Học múa ba-lê khổ lắm con ạ, con không học được đâu”. Nhưng tôi vẫn cứ đòi đi học bằng được. Mẹ bật cười bảo: “Nếu con vịn lan can, đứng kiễng chân theo tư thế “kim kê độc lập” đủ 15 phút, mẹ sẽ đồng ý cho con đi học múa ba-lê”. Tôi hăng hái làm đúng tư thế và bắt đầu đứng, ai ngờ mới đứng được năm phút, liền ngã khụyu. Hôm nay, đã bảy năm, nhớ lại chuyện cũ, cảm thấy thật là thú vị. Tôi nhắc lại chuyện ấy cho mẹ nghe, hai mẹ con cùng cười.
Cho đến hôm nay, tuy tôi không còn nghĩ đến chuyện múa ba-lê, nhưng vẫn chưa chịu thua. Thế là tôi nói với mẹ: “Con đánh cược lại với mẹ, lần này con xin đứng hẳn 30 phút!” – “Hay quá!” mẹ hào hứng nói: “Nếu con làm được, mẹ sẽ mua tặng con một món quà hợp với túi tiền của mẹ”. Nghe mẹ nói vậy, tôi mừng quá, liền vịn vào tủ sách, co chân đứng theo tư thế “kim kê độc lập” (gà đứng một chân). Mẹ vội nói: “Thôi thôi! Con không làm được đâu, trừ phi con là nghệ sĩ múa Lương Lệ Bình. Con cứ đứng kiễng cả hai chân lấy nửa tiếng đồng hồ là tốt lắm rồi!” Tôi liền bỏ nốt chân kia xuống, đứng kiễng: “Thế càng dễ!” Tuy nói vậy, nhưng trong lòng vẫn lo, vì trước nay chưa đứng thế này bao giờ. Thế là tôi đành phải nói nước đôi: “Mẹ, nhất định con sẽ thắng”. Mẹ trả lời: “Có được nghị lực cao, mới có sức chịu đựng dẻo dai của cơ thể”. Câu nói của mẹ không những không làm cho tôi dao động, mà trái lại càng củng cố lòng quyết tâm của tôi.
Mẹ vẫn cho rằng tôi không làm được, liền gọi cả ba đến chứng kiến, còn tôi hỏi ba: ai sẽ thắng. Ba cười: “Theo ba, lần này mẹ sẽ thắng”. Tôi cười thầm trong bụng: “Ba mẹ đừng quên, ba mẹ đã hai lần thua con về những việc như thế này rồi đấy. Lần thứ nhất, ba mẹ đã đánh cược với con, đứng một tư thế khó, trong vòng 30 phút, con đã thắng. Lần thứ hai, con với ba đánh cược nắm nước đá, kết quả, con cũng thắng. Lần nào mà con chẳng đoạt được giải thưởng của ba mẹ”. Nghe tôi nói vậy, mẹ bật cười: “Mẹ cảm thấy, túi tiền của mẹ đang bị uy hiếp đây”.
Mạnh mồm nói vậy, kỳ thực tôi cảm thấy hai bắp đùi tôi bắt đầu tê tê, liếc nhìn đồng hồ: “Ái chà! Mới được có 3 phút. Không sao, không sao!” Tôi thầm động viên. Tích tắc, tích tắc, ông già thời gian hình như cố ý trêu tức tôi, chậm chạp, lê từng bước. Năm phút trôi qua, bắp đùi tôi đã bắt đầu đau nhức. Tôi vội giở mánh khoé, lấy ở trong túi áo ra một quả bóng bay, phồng mồm thổi, thổi căng rồi lại xả hơi ra, cứ vậy, tôi cố tình chuyển trọng tâm chú ý của mình. Nhưng thật không may, trong khi thổi tôi vô ý để quả bóng bay xuống đất. Làm thế nào bây giờ! Tôi nhìn đồng hồ, hay lắm, đã được 15 phút rồi. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thế nhưng, chân trái đã bắt đầu bị chuột rút, và cũng chỉ lát sau chân phải cũng vậy, chuột rút tê cứng cả người, tôi không còn bóng bay để chuyển trọng tâm chú ý nữa, liền nghĩ ra một cách: nhẩm đọc kết quả bình phương của những con số thường dùng. Cách làm này thật hiệu nghiệm, tôi dường như đã quên được mọi sự đau đớn của cơ thể…
Kiên trì đến cùng tất thắng lợi, lần thứ ba tôi đã thắng!


Những câu chuyện trên đã chứng minh, ngày từ thời thơ ấu, Đình Nhi đã được bồi dưỡng kỹ năng về ý chí, và trong quá trình trưởng thành đã không ngừng củng cố. Nhờ có ý chí kiên cường ấy mà trong khi Đình Nhi vừa tích cực chuẩn bị thi vào đại học, đồng thời vừa học thi TOEFL và hoàn thành 12 lá đơn xin vào học tại 12 trường đại học của Mỹ. Một gánh nặng quá sức liên tục kéo dài trong mấy tháng trời như vậy, nếu không có ý chí kiên cường, nghị lực dẻo dai thì làm sao có thể chịu đựng nổi!
 
BẠN TỐT CÀNG NHIỀU,
KHẢ NĂNG GIAO TIẾP CÀNG THÀNH THẠO


Các nhà tâm lý học cho rằng, quan hệ của bạn bè vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tính cách của trẻ em, tình bạn tuổi ấu thơ có một tầm quan trọng tương đương với sự dạy dỗ và tình thương của cha mẹ.


Những ngôi nhà cao tầng theo kiểu căn hộ khép kín ở thành thị ngày nay, tuy có nhiều trở ngại trong việc giao lưu kết bạn của trẻ em, nhưng có cũng tạo điều kiện thuận lợi để cha mẹ dễ dàng chọn bạn cho con. Chúng tôi biết triệt để lợi dụng điều kiện thuận lợi đó, để cho Đình Nhi được tiếp xúc với khá nhiều bạn tốt đủ loại, ngay trong thời kỳ mẫn cảm nhất, khi khả năng giao tiếp của trẻ thơ bắt đầu phát triển. Qua đó, cháu có thể tích luỹ được những kinh nghiệmquý báu trong việc kết thân với các bạn cùng trang lứa, nhưng có những sở trường và sở thích khác nhau. Điều này rất quan trọng đối với việc tăng cường khả năng hoà hợp trong tính cách của ĐÌnh Nhi.


Các nhà tâm lý học đã chỉ rằng, thời kỳ từ 9 đến 12 tuổi là thời kỳ xây dựng tình bạn của trẻ con. Các cháu không chỉ còn chú ý đến những hành vi bên ngoài của bạn, mà đã chuyển sang quan tâm đến những tố chất nội tại, và đặc trưng tính cách của bạn. Nhiều nhà tâm lý học coi giai đoạn này là cơ sở cho tình bạn, tình yêu sau này. Họ cho rằng, trẻ em trong giai đoạn này nếu không tìm được bạn thân, thì đến tuổi thiếu niên hoặc khi đã trưởng thành, các cháu cũng rất khó tìm được cho mình một người bạn thân chân chính. Trong giai đoạn này, sự thân thiết trong tình cảm giữa chúng được hình thành và củng cố bởi những hành vi cụ thể như: cùng chia ngọt sẻ bùi, cùng khắc phục khó khăn và giải quyết những mắc mớ thường ngày… Tình bạn thân thiết đó suốt đời chúng sẽ không quên, và có nhiều trường hợp những đôi bạn đó còn thân thiết suốt cả cuộc đời.


Trong cả thời kỳ tiểu học, Đình Nhi chủ yếu chỉ có ba người bạn thân, một bạn thuộc loại thích vận động – đó là Ương Ương, bạn này thường hay rủ Đình Nhi đạp xe đi chơi phố, hoặc trượt băng, hoặc ra bãi biển xây những ngôi nhà lầu trên bãi cát. Một bạn thuộc loại yêu thích nghệ thuật – Vương Ngọc, bạn này thích cùng Đình Nhi vẽ tranh hoặc làm những đồ thủ công bé tí. Và một bạn nữa chỉ say mê học tập, sáng tạo – đó là Tề Tịnh. Bạn này thích bàn bạc với Đình Nhi đủ mọi chuyện về học hành và cách làm báo tường… Cứ gặp nhau là hai cháu lại say sưa với những hoạt động mang tính sáng tạo. Trong những trang nhật ký viết khi Đình Nhi 10 tuổi, cháu đã ghi lại được những phút giây sung sướng được cùng vui chơi với những người bạn thân ấy.


CHĂM LÀM THÀNH THÓI QUEN,

TÂM CÀNG SÁNG, CHÍ CÀNG BỀN


Ngay từ lúc mới ba tuổi, Đình Nhi tuỳ theo sức lực của mình đã làm những việc vặt trong nhà, nền nếp đó còn giữ mãi cho đến khi cháu học xong lớp 5. Đình Nhi rất quen thuộc với công việc làm một người giúp việc tí hon cho ba mẹ. Hằng ngày, cháu đều tự giác lau nhà, tưới hoa và đổ rác, tuyệt nhiên không nhiễm tính chây lười của những “cậu ấm” trong các gia đình chỉ có một con. Nếu khi cháu đi học về mà ba mẹ không có nhà, vừa đặt cặp sách xuống là cháu đã tự giác đi làm bài tập, làm xong bài tập lại chủ động xuống bếp giúp mẹ làm cơm.


Đình Nhi rất hiểu làm các công việc vặt trong nhà chính là một cách để cha mẹ bồi dưỡng cháu có được một thói quen tốt, mục đích chủ yếu là rèn luyện cháu có được đức tính cẩn thận, lòng kiên nhẫn và tinh thần trách nhiệm cao. Mỗi lần giúp mẹ làm một công việc gì đặc biệt, là cháu lại có thêm một đề tài để viết nhật ký. Đối với lao động chân tay, cháu luôn chủ động tự giác, hơn nữa còn coi lao động là một niềm vui.


Ngày 1 tháng 10 năm 1991 (Lúc 10 tuổi)
Vớt váng dưa
Nhà ông Đàm ở tầng trên nhà chúng tôi, cả nhà sắp đi Mỹ. Trước khi đi, ông lễ mễ bê hai vại dưa muối sang cho nhà tôi. Cả nhà chúng tôi đều thích ăn dưa muối, nhưng không có thời gian làm. Vì trước khi đi ra nước ngoài, cả nhà đều vô cùng bận rộn nên ông Đàm không có thời gian thay nước muối cho dưa, nên trên mỗi vại dưa đều nổi lên một lớp váng mỏng màu trắng. Lớp váng này là do những vi khuẩn trong không khí rơi vào vại dưa tạo nên. Người Tứ Xuyên gọi là “sinh hoa”.
Tối hôm qua, mẹ đọc sách, tìm được một cách trị loại váng này, theo sách thì phải lấy một sợi dây thép và một mảnh vải để làm thành cái vợt. Mẹ bảo tôi: “Đình Nhi, mẹ cho con một tư liệu để viết văn, con có đồng ý không? Con hãy lấy cái vợt này vớt hết váng mỏng trong vại dưa ra”. Tôi nhận lời, tung tăng chạy trước vào nhà bếp, giục mẹ: “Mẹ! Mẹ bê hộ con vại dưa này đặt trên mặt bàn kia”. Mẹ bê giúp tôi vại dưa đặt lên trên bàn, rồi mở nắp vại, mùi chua hấp dẫn làm tôi thấy chảy cả nước dãi.
Mẹ dạy tôi cách vớt váng dưa, rồi đứng cạnh nhìn tôi làm. Tôi cầm cái vợt, thò vào miệng vại rồi nhè nhẹ hớt những lớp váng mỏng màu trắng nổi lên trên mặt nước. Lớp váng mỏng vỡ tan, cả cái vợt bám đầy váng trắng. Tôi đem vợt ra vòi nước rửa sạch, rồi nhúng vào nồi nước sôi đang đặt trên bếp lò. Một lát sau, tôi quay lại hỏi mẹ: “Mẹ oi! Như thế đã được chưa?” Mẹ rất hài lòng: “Được rồi, làm như vậy là rất tốt!” Nói xong mẹ yên tâm đi ra ngoài.
Tôi quay lại tiếp tục vớt váng dưa. Thấy lớp váng bám cả trên thành vại, tôi lấy đèn pin ra soi, rồi cẩn thận lấy vợt quay mấy vòng quanh thành vại, cho đến khi thật sạch mới thôi. Gần thành vại vẫn đang còn một ít váng cố tình chạy trốn, tôi đưa vợt đến đâu là nó đã nhanh chân chạy trước, tôi quay vợt đón đầu, cuối cùng tôi cũng bắt được hết.
Tôi mời mẹ nghiệm thu, mẹ nói: “Sạch rồi! Như vậy, con lại học được một cách làm nữa nhé”.


Đình Nhi không chọn việc, bảo làm việc gì cũng vui vẻ làm ngay, dù việc đó cần sự khéo léo hay cần sức lực. Chỉ cần mẹ sắp xếp thời gian và hướng dẫn cách làm. Có những việc các bạn khác không khi nào chịu làm, như lau rửa từng viên gạch men lát trên thành tường nhà vệ sinh, nhưng giao cho Đình Nhi cháu vẫn vui vẻ làm ngay.


Ngày 26 tháng 8 năm 1992 (Lúc 11 tuổi)
Tôi yêu hoa lan
“Làm hoa, xin làm một nhành lan. Hương thơm man mác, dáng thanh nhàn…” Đây là câu thơ của Lý Bạch, nhà thơ lớn đời Đường. Câu thơ đã thể hiện lòng yêu quý hoa lan của nhà thơ. Trước lan can nhà tôi cũng có một chậu lan, tôi thích lắm.
Hoa lan cuả nhà tôi thuộc giống huệ lan, nở vào mùa hè. Có một hôm, tôi tưới hoa, bỗng thấy chậu lan nhú lên một chiếc nụ nhỏ, tôi mừng quá, hét toáng lên: “Mẹ ơi! Ba ơi!Hoa lan nhà ta có nụ rồi…” Từ đó, ngày nào tôi cũng phải đến thăm hoa đến mấy lần, xem nó lên cao hay chưa, đã nở thành hoa chưa. Ngày qua ngày, cái nụ lan nho nhỏ đó, nay đã vươn cao chừng hai gang tay, rồi mấy ngày sau đó, bỗng có mùi thơm thoang thoang trong nhà, tôi nghĩ bụng: “Lẽ nào…” Tôi vội chạy lại phía chậu lan. Ôi! “Hoa lan nở rồi, hoa lan nở rồi! Hay quá! Hoan hô!” – Tôi mừng quá cứ nhảy tưng tưng. Hoa lan phô những cánh mềm màu vàng nhạt ở chính giữa, trên mỗi cánh hoa có điểm những chấm hồng, trông chẳng khác gì một chiếc ngai vàng bằng hoa vậy. Chiếc chậu hoa có điểm chấm hồng ấy, thật giống như một tấm thảm màu bước tới ngai vàng. Mùi hoa lan nhè nhẹ mà ngây ngất, dễ làm say đắm lòng người.
Từ đó, tôi càng thấy yêu chậu lan, ngày nào cũng “tắm” cho hoa, mỗi lần “tắm” xong tôi đều đứng lại ngắm nghía hồi lâu. Những chiếc lá mềm mại hình thoi còn đọng lại những giọt nước long lanh như hạt ngọc, càng tôn thêm vẻ đẹp u uẩn mà thanh cao.  Có lần, tôi nhìn thấy trên một chiếc lá xanh non có mấy con sâu nhỏ, mẹ vội đi mua thuốc về “chữa bệnh” cho lan.
Hoa lan đem lại niềm vui cho cả nhà. Có lần mẹ giận tôi, hai mẹ con đều rất buồn, thế mà mùi hoa lan thoang thoảng trong nhà đã làm cho mẹ nguôi giận. Và tôi cũng nhận ra lỗi của mình, chạy đến xin lỗi mẹ.
Hoa lan làm cho gia đình tôi tràn đầy sinh khí. Tôi yêu quý hoa lan, mong hoa lan sẽ đem lại nhiều niềm vui cho gia đình khác.


 THỂ HIỆN SỰ XẤU HỔ VÀ ÁY NÁY: THƯƠNG YÊU BA MẸ


Làm trẻ con biết tự xấu hổ và băn khoăn áy náy về những sai lầm của mình là một biện pháp giáo dục vô cùng hữu hiệu. Nó có thể làm cho trẻ có khả năng tự sản sinh ra một loại “chất đề kháng” ngay từ lòng mình, để sau này có thể chống lại mọi hành vi sai lầm làm cho mình thấy xấu hổ.


Năm Đình Nhi lên 10  tuổi, cháu đã trưởng thành nhanh chóng về nhiều mặt. Nhưng dẫu sao vẫn chỉ là một đứa trẻ có nhiều lúc nghịch ngợm rất dại dột. Mỗi lần như vậy, chúng tôi đều rất chú ý đến cách thức và mức độ phê bình, mong sao sau này cháu có thể biến những áp lực từ bên ngoài ấy thành quy chuẩn hành vi ngay tại lòng mình. Chúng tôi cho rằng, khi nào Đình Nhi biết tự xấu hổ, tự băn khoăn áy náy trước những việc làm không đúng của mình, thì tâm lý của cháu mới chính thức bắt đầu chín chắn. Tôi còn nhớ rất rõ, năm tôi khoảng 17 tuổi, mỗi lần nghĩ đến thầy giáo họ Tạ, tôi đều cảm thấy mình còn phải cố gắng rất nhiều, phải làm tốt hơn nữa. Tôi luôn mong muốn Đình Nhi cũng có được những sự thể nghiệm về tâm lý như vậy. Sự mong muốn ấy của chúng tôi đã thành hiện thực vào một ngày hè năm Đình Nhi học lớp 4.


Ngày 20 tháng 8 năm 1991 (Lúc 10 tuổi)
Xấu hổ
Ăn cơm sáng xong, mẹ tôi ra chợ mua rau, trong nhà chỉ còn có một mình tôi. Thu dọn bát đũa xong, tôi vào phòng riêng chuẩn bị làm bài tập làm văn. Nhìn trước nhìn sau, đôi mẳt tôi bắt gặp một ngăn tủ luôn đóng kín bên dưới tủ sách. Tôi nghĩ: không biết trong chiếc ngăn tủ kia để những gì, hôm nay nhân lúc ba đi làm, mẹ đi chợ, mình thử mở ra xem, biết đâu chẳng kiếm được mấy quyển sách hay để đọc.
Càng nghĩ tôi càng tò mò và thích thú, thế là việc làm bài tập làm văn tôi đã quên bẵng đi từ lúc nào!
Tôi hì hục bê chiếc hộp các tông bên cạnh tủ sách ra xa, rồi lại đẩy chiếc hòm con đặt trước tủ sách sang bên cạnh. Sau đó, với sự tò mò đầy thích thú, tôi mở ngăn tủ đó, trong tủ tối om chẳng nhìn thấy cái gì. Thế là tôi thận trọng bê chiếc đèn bàn trên nóc tủ đặt xuống đất, cắm điện, đèn bật sáng. Tôi ngồi bệt xuống đất, cúi đầu nhìn vào bên trong. Ôi những chồng sách cao ngất, xếp chặt bên trong, tôi mừng quá! Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng khoá lạch cạch kêu, tôi giật bắn cả mình, nghĩ bụng: “Thôi chết rồi! Mẹ về. Ôi thật là đen đủi!” Tôi còn đang lúng túng, thì mẹ đã đứng sững ngay trước mặt. Thấy ngăn tủ dưới bị mở toang, còn tôi đang ngồi trước cửa tủ, mẹ tôi liền hiểu ra mọi việc. Mẹ nghiêm nét mặt nói với tôi: “Thì ra, người lớn không ở nhà, con học hành như thế phải không?” Nói rồi mẹ giận dữ đá mạnh mấy cú vào chiếc hộp giấy. Tôi biết, mẹ định đánh tôi, nhưng không nỡ, nên trút giận vào chiếc thùng vô tội kia. Mẹ lườm một cái, thở dài rồi quay đi.
Tôi cứ ngồi ngây trước tủ sách, xấu hổ và hối hận vô cùng: mình không nên lãng phí thời gian như vậy, ba mẹ đã tìm đủ mọi cách, dành cho mình từng phút từng giờ, thế mà mình lại lãng phí thời gian nhiều như vậy. Thật có lỗi với ba mẹ vô cùng. Càng nghĩ, tôi lại càng thấy xấu hổ và ân hận vô cùng. Thế là tôi đứng dậy cất đèn bàn, bê hộp giấy để lại chỗ cũ, rồi quay lại bàn học, bắt đầu bài tập làm văn.


Đình Nhi bắt đầu có hiểu biết, càng có hiểu biết, Đình Nhi càng yêu thương cha mẹ. Mùa hè năm sau, để chữa khỏi bệnh cho ba, Đình Nhi đã lặn lội đi khắp nơi để tìm thầy bốc thuốc bắc cho ba. Hình ảnh một cháu bé mới 11 tuổi, một mình đạp xe giữa trời nắng chang chang đi tìm thuốc chữa bệnh cho ba. Đó là một trong những kỷ niệm ấm áp nhất trong lòng ba mẹ.


Ngày 24 tháng 7 năm 1991 (lúc 11 tuổi)
Mua thuốc cho ba
Giữa kỳ nghỉ hè, trên mặt ba bỗng mọc lên hai cái nhọt thật to, đau nhức. Thấy vậy, tôi rất muốn có cách nào giúp ba giảm bớt sự đau đớn.
Một hôm, ba bảo tôi đến hiệu thuốc bắc bốc cho ba mấy thang thuốc chữa nhọt. Tôi vâng lời. Ba lấy bút kê đơn: “Địa hình hoa tía – 3 khắc; hoa cúc dại – 3 khắc… cắt 3 thang”. Tôi hỏi ba: “Ba khắc là thế nào hả ba?” Ba nói: “là 3 gam” – “Con hiểu rồi ba ạ”.
Tôi cầm đơn thuốc và địa chỉ mấy hiệu thuốc bắc ba viết cho tôi, nhảy lên xe đạp phóng đi.
Đầu tiên, đến hiệu thuốc Đồng Nhân Đường, tôi hỏi người bán hàng, có những loại thuốc như trong đơn không, được trả lời là không có. Tôi lại đạp xe đến hiệu thuốc khác gần bưu điện, họ cũng trả lời là không có.
Tôi hơi nản chí, song nghĩ đến sự đau đớn của ba, thấy hăng hái lên, lại đạp xe đến một hiệu thuốc ở gần ngã tư phố Đông Đại.
Tôi đưa đơn thuốc cho cô bán hàng hỏi: “Cô ơi! Ở đây có những loại thuốc như trong đơn này không ạ?” Cô bán hàng đọc đơn thuốc rồi trả lời ngay: “Có đấy” – “Cám ơn cô! Cô làm ơn cắt cho cháu ba thang ạ!”, tôi đang định lấy tiền trả cô, cô liền đẩy trả đơn thuốc, rồi nói: “Không phải trả tiền ở đây, sang quầy bên kia”. Tôi ấm ức trong bụng nghĩ: “Thái độ phục vụ ở đây sao kém thế”.
Trả tiền xong, tôi hỏi cô bán hàng, lấy thuốc ở đâu ạ, cô ta sẵng giọng: “Đợi đấy!” Tôi đề nghị: “Nhờ các cô chia làm 3 thang cho cháu được không ạ?” – “Cái gì? Không được”. Tôi định nói tiếp, nhưng nhìn thấy bộ mặt sẵng sàng cãi nhau của cô ta, tôi đành nén nhịn, đứng sang một bên. “Lấy thuốc, lấy thuốc này…” Chỉ lát sau có tiếng quát lên như vậy. Tôi vội chạy lại lấy thuốc. Khi quay ra tôi còn nghe thấy cô ấy chửi tục một câu. Tôi chẳng thèm chấp, chỉ nghĩ bụng: “Con người này thật là… đã không gói hàng theo yêu cầu của khách, lại còn chửi bậy, hừ!”
Nhưng thôi, cuối cùng tôi đã mua được thuốc cho ba. Đó là điều tôi sung sướng nhất.


Càng khôn lớn hiểu biết, Đình Nhi càng chú ý học hỏi ở ba mẹ từng lời ăn tiếng nói. Cháu đã biết chủ động tiếp thu những cái hay cái đẹp từ trong cách cư xử của ba mẹ để tự hoàn thiện mình.
 
VƯỢT QUA NHỮNG THỬ THÁCH LỚN LAO,
ĐÌNH NHI ĐƯỢC VÀO HỌC TRƯỜNG NGOẠI NGỮ


Theo thông lệ từ nhiều năm nay, trường tiểu học mà Đình Nhi đang theo học, mỗi năm đều có 10 chỉ tiêu được giới thiệu vào học trong các trường trung học trọng điểm, tiêu chuẩn xét duyệt là tổng số điểm thi tốt nghiệp cuối cấp. Năm nay 1993, năm Đình Nhi tốt nghiệp tiểu học, theo sự lần lượt phân công, trường tiểu hoch của Đình Nhi sẽ được giới thiệu học sinh vào học Trường trung học số 7 ở Thành Đô, một trường trọng điểm mà Đình Nhi vẫn hằng khao khát. Để có đủ tư cách được giới thiệu, Đình Nhi đã phải phấn đấu suốt sáu năm trời. Cả năm lớp 5 và năm lớp 6 cháu đều đứng thứ 3 trong cả lớp. Riêng năm lớp 6, cháu đã lập được một kỳ tích là: Tất cả các bài kiểm tra toán đều đạt được điểm tối đa: 100 điểm. Tất cả những dấu hiệu đó, chứng tỏ rằng, còn những thắng lợi to lớn đang ở phía trước.


Nhưng không ngờ, vào đúng dịp nghỉ đông năm lớp 6, bỗng có một tin đồn làm mọi người đều phải thất vọng sững sờ: chính sách tuyển chọn học sinh tiểu học vào bậc học sơ trung năm nay ở Thành Đô sẽ có một sự thay đổi quan trọng, phương thức giới thiệu những học sinh tiểu học xuất sắc vào học thẳng tại các trường trung học trọng điểm đã bị phế bỏ, thay vào đó là một phương thức mới do “máy tính sắp xếp”. Tất cả những học sinh đã tốt nghiệp tiểu học, bất kể kết quả thi tốt nghiệp tốt xấu thế nào, đều được ghi cho một mã số. Máy tính căn cứ vào nguyên tắc sắp xếp theo khu vực, sắp xếp học sinh vào các trường trung học gần nhà nhất.


Thật đáng buồn, ở gần nhà chúng tôi chỉ có mấy trường trung học mà suốt mấy năm gần đây không có học sinh nào đỗ đại học.
Chúng tôi nơm nớp lo âu, đợi chờ xem liệu có sự thay đổi nào nữa không, và hy vọng những lời đồn đại kia chỉ là đồn nhảm. Nhưng lời đồn đại “do máy tính bắt thăm” lại là sự thật. Đối với những học sinh xuất sắc đang hy vọng được giới thiệu vào những trường có chất lượng cao, quả là một đòn trời giáng.


Dù thế nào cũng đều do máy tình phân công, vậy thì mọi sự cố gắng nào còn có ích gì đâu! Vài bạn học sinh giỏi ở lớp Đình Nhi bỗng sinh ra chán nản. Thời gian hàng ngày, lẽ ra phải “dùi mài kinh sử”, họ lại lao đầu vào những việc không đâu như xem phim ảnh, xem băng video, họ xem suốt ngày đêm, lên đến lớp vẫn còn say sưa kể lại cho các bạn bè nghe nữa.
Đình Nhi là người hiểu biết hơn các bạn cùng lớp. Vì vậy, nỗi buồn của Đình Nhi cũng sâu nặng hơn. Đây là cú sốc lớn đầu tiên trong đời Đình Nhi, không giống như lần bị truất chức quyền lớp trưởng năm xưa, chỉ cần thay đổi trạng thái tâm lý là có thể giải quyết được vấn đề. Lần này, Đình Nhi buồn hơn nhiều, không còn nghe thấy những tiếng hát tiếng cười, ríu rít suốt ngày của Đình Nhi nữa.


Vợ chồng tôi cũng lo lắng nhưng biết rằng, trong lúc này, lòng tin của chúng tôi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cháu. Ba đã động viên ĐÌnh Nhi: “Học sinh tốt sẽ được học trong trường tốt, đó là quy luật”. Tôi cũng động viên cháu: “Con không nên vì chưa nhìn thấy cá mà bỏ dở việc đan lưới, nên nhớ rằng, thời cơ chỉ đến với những người có đầu óc sẵn sàng đón nhận”.



Chúng tôi ky vọng qua sự vấp váp lần này, ĐÌnh Nhi sẽ học được cách “làm thế nào để vượt qua được những giai đoạn khó khăn của cuộc đời”. Cho dù người khác khi gặp phải khó khăn có thể sẽ rời bỏ mục tiêu, nhưng ĐÌnh Nhi dù thế nào cũng phải kiên trì phấn đấu cho lý tưởng của mình.


Sau vài lần nói chuyện, Đình Nhi đã trấn tĩnh lại được, cố gắng lao đầu vào những công việc chưa nhìn thấy có tia hy vọng cụ thể nào, lại tiếp tục gặm nhấm các đề toán khó của trường chuyên toán Olympic theo kế hoạch, mà còn chăm chỉ hơn trước đây. Chúng tôi có lần bảo cháu: “Khi người khác không làm, mình làm, chẳng phải rất dễ thành công hay sao?”


Chúng tôi không chịu khoanh tay ngồi chờ, mà đã bắt tay hành động ngay, cũng chạy chọt, nhờ vả, nghe ngóng khắp nơi. Kết quả là đã phát hiện ra, ngoài biện pháp máy tính bắt thăm, cũng còn một cơ hội khác là bỏ tiền ra để “chọn trường”. Các trường trung học trọng điểm đặt giá quá cao từ một vạn rưỡi đến hai vạn rưỡi đồng, tuỳ từng trường cho mỗi học sinh xuất sắc ngoài khu vực. Nộp tiền cũng không được coi là đã xong, rồi còn phải qua kỳ thi tuyển khá ngặt nghèo, thế mà mỗi một trường trọng điểm chỉ có được hơn chục chỉ tiêu cho học sinh ngoài khu vực, những học sinh đã nộp tiền, đợi vào thi lại đông như kiến cỏ.


Vẫn còn hai trường nữa, nhưng tiếng tăm chưa thật nổi trội lắm thời bấy giờ. Đó là trường trung học số 48, lần đầu tiên chiêu sinh một lớp Anh văn và một trường nữa là Trường Chuyên ngữ Thành Đô mới được thành lập. Bốn năm nay, trường Chuyên ngữ Thành Đô là một trong 14 trường do Bộ Giáo dục thành lập trên phạm vi toàn quốc. Lúc bấy giờ, khoá học sinh đầu tiên mới vào học năm thứ nhất bậc cao trung, chưa được cọ xát trong cuộc “thử thách khắc nghiệt” – thi vào đại học, chưa có được tiếng tăm như các trường khác đã liên tục nhiều năm có học sinh đỗ đầu trong các kỳ thi vào đại học. Hơn nữa, trường này lại đòi hỏi, ngay từ năm đầu bậc sơ trung học sinh đã phải vào nội trú. Điều này quả thực không hấp dẫn lắm đối với chúng tôi. Tôi rất lo là: Đình Nhi xa nhà quá sớm, hơn nữa phải nội trú quanh năm như vậy, sẽ mất đi cơ hội được cha mẹ dạy dỗ thường xuyên và kịp thời.


Làm  thế nào bây giờ? Đầu tư cho giáo dục, từ trước tới nay chúng tôi chưa bao giờ tiếc công tiếc của. Còn việc thi tuyển, Đình Nhi chỉ cần chịu khó hơn chút nữa là có thể đủ sức cạnh tranh. Thế nhưng, thi vào trường nào sẽ có lợi nhiều nhất cho sự phát triển sau này của Đình Nhi? Tôi dường như rơi vào sự dày vò đau khổ như lần trước đây từ bỏ kế hoạch bồi dưỡng “thần đồng”.
Sau khi suy nghĩ đắn đo suốt nửa tháng trời, anh Trương Hân Vũ hình như đã có được một quyết định, anh nói: “Chỉ cần Trung Quốc vẫn tiếp tục cải cách mở cửa, thì ngoại ngữ chắc chắn sẽ ngày càng có vị trí quan trọng. Anh tin rằng chúng ta có đầy đủ khả năng dẫn dắt Đình Nhi, con nó sẽ dễ dàng trải qua sáu năm nội trú. Dù cuối cùng Đình Nhi có thể thi đỗ vào trường nào chăng nữa, nhưng bây giờ những trường nào ta cảm thấy được, cứ cho Đình Nhi ghi tên dự thi”.


Những lời nói của anh làm tôi thấy yên tâm hơn. Và khi đã quyết định rồi thì Đình Nhi càng thêm bận rộn. Vừa tốt nghiệp tiểu học xong, giờ lại căng người ra chuẩn bị cho một cuộc thử thách mới.


Năm đó, cuộc cạnh tranh để thi vào Trường Chuyên ngữ Thành Đô khốc liệt chưa từng thấy. Do “Hiệu ứng thúc ép” của biện pháp “máy tính sắp xếp” mới được ban ra, hàng loạt học sinh vừa tốt nghiệp tiểu học thuộc loại giỏi, đều ùa đến chen lấn trước cổng trường này. Các cháu rất sẵn sàng lao vào một cuộc đấu đá bằng chính thực lực của mình, để thoát khỏi số phận do máy tính định đoạt. Đến trước ngày thi, số học sinh ghi tên dự thi đã lên tới hơn 6.000 người.


Hơn 6.000 thí sinh mà chỉ lấy có 120, tỷ lệ vào chỉ có 1,8%. Đây sẽ là một cuộc chiến đấu nảy lửa, và cũng là cuộc chiến đấu gay go nhất từ trước đến nay của Đình Nhi.


Mặt khác, kết quả của cuộc chiến đấu này sẽ làm cho hơn một trăm học sinh xuất sắc nhất tập trung tại một chỗ, hình thành nên một tập thể có tố chất giáo dục cao. Đây là một “mỏ vàng trữ lượng cao” của tài nguyên giáo dục. Và đây cũng là một cơ hội hiếm có đối với Đình Nhi. Nếu Đình Nhi có may mắn được học cùng những tài năng kiệt xuất đó, trong sự ganh đua khích lệ lẫn nhau, sẽ tạo ra một “hiệu ứng cộng hưởng” cực tốt. Trường Trung học Chuyên ngữ Thành Đô bỗng nhiên cao giá.


Ý chí quyết tâm và tinh thần hăng hái của cả nhà đều được động viên. Chúng tôi đặt kế hoạch cho Đình Nhi: “Thi viết phải cố gắng vượt lên hàng đầu, thi nói phải chiếm giải nhất”. Vì ĐÌnh Nhi là một học sinh trường chuyên toán Olympic thuộc loại “giữa đường nhập cuộc”, cho nên trong các kỳ thi Olympic Đình Nhi chỉ đạt được giải ba trong toàn tỉnh Tứ Xuyên. Điểm thi viết chắc chắn không thể bằng các bạn được giải nhất, giải nhì. Chúng tôi nhận định rằng, chỗ mạnh của cháu là thi nói. Kết quả, với thành tích điểm thi nói hơn điểm thi viết là 10, Đình Nhi đủ tư cách vào thi nói.


Để đạt được điểm cao trong thi nói, chúng tôi hướng dẫn cho Đình Nhi phải chuẩn bị đầy đủ. Ba mua cho Đình Nhi những cuốn băng học tiếng Anh tốt nhất, cẩn thận sửa từng âm cho cháu. Trước khi thi hai ngày, mẹ còn hướng dẫn cho Đình Nhi tư thế trả lời: nét mặt phải ra sao, tư thế phải như thế nào để thể hiện lòng tin tự chủ trước mặt ban giám khảo. Đình Nhi đã răm rắp làm theo, không những thế còn biết chủ động ứng phó theo nguyên tắc mà chúng tôi đã rèn luyện cho cháu. Bước chuẩn bị khởi đầu là khá thuận lợi. Hôm Đình Nhi đi thi, ba cũng phải trực tiếp ra trận, đến tận trường thi để cổ vũ cho con gái. Hôm đó trời lại mưa, ba đã phải đứng đội mưa bên ngoài phòng thi suốt hơn hai tiếng đồng hồ. Đến hôm thi nói, thì trời lại nắng như đổ lửa, mẹ lại thay ba đi cổ vũ cho Đình Nhi. Đình Nhi thấy lạ, hỏi: “Tại sao trong các cuộc thi Olympic, ba mẹ đều để con đạp xe một mình, mà lần này cả ba và mẹ đều phải đi theo?” Ba nói: “Có những lúc cần thiết, cũng phải dùng dao giết trâu để mổ gà, cốt để đảm bảo không có những sai sót ngoài ý muốn”. Câu nói này đã để lại một ấn tượng sâu sắc cho Đình Nhi. Sau này qua nhiều lần được nhắc lại, nó đã trở thành một phong cách làm việc cẩn thận, chu đáo và thận trọng của cháu.


Trong nắng vàng rực rỡ của Tháng 8 mùa thu, Trường Chuyên ngữ niêm yết bảng danh sách điểm thi. Tôi vội vàng dẫn Đình Nhi đi xem kết quả. Thầy giáo phụ trách phát giấy báo nhập học, giương kính rà soát một hồi trên bảng danh sách thí sinh hồi lâu, rồi ngẩng đầu lên nói: “Lưu Diệc Đình đỗ rồi!” Đang trong trạng thái tâm lý căng thẳng, hồi hộp đợi chờ, nghe báo đỗ, cháu vội lại ôm chầm lấy tôi vừa cười vừa nhảy nhót, không nén được sự vui mừng hét toáng lên: “Mẹ ơi! Đỗ rồi, đỗ rồi!” Thầy giáo phụ trách phát giấy báo hình như cũng vui lây, một tay giơ cao tờ giấy báo, tươi cười với Đình Nhi: “Cháu biết không? Tờ giấy này của cháu đáng giá hai vạn rưỡi đồng bạc đấy!”


Mấy năm sau khi Đình Nhi nộp đơn xin vào trường đại học Mỹ, trong tờ “Giới thiệu sơ lược Trường Đại học Harvard” có một câu nói làm cho Đình Nhi nhớ ngay đến kỳ thi vào bậc sơ trung năm nào: “Đại học Harvard xin tặng bạn một câu châm ngôn: Khi thời cơ đến, xin bạn hãy sẵn sàng”.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 03:40:44me khoai>
CHƯƠNG VI
THỜI KỲ SƠ TRUNG: CỐ GẮNG GIỮ VỮNG TIẾN LÊN
  (Lưu Vệ Hoa tự thuật)

NỘI TRÚ TRONG TRƯỜNG SƠ TRUNG
MỘT VÀI MÂU THUẪN VỚI GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
 
Trường Chuyên ngữ Thành Đô là một trường nội trú khép kín. Nữ sinh năm thứ nhất bậc sơ trung được sắp xếp ở tầng lầu đẹp nhất, mỗi phòng có 8 học sinh. Trước khi khai giảng hai ngày, khi học sinh vào nhận phòng, nhà trường cho phép cha mẹ học sinh vào sắp xếp giường chiếu cho con em mình. Từ một việc nhỏ là sắp xếp giường chiếu này, chúng tôi đã nhận thấy giữa cách làm việc cuả nhà trường và sự giáo dục tại nhà của chúng tôi đã có cái gì đó thiếu sự hài hoà.

Trước khi vào nhà trường, chúng tôi đã dăn Đình Nhi: để bồi dưỡng cho con có một khả năng độc lập, ngay từ khi bước chân vào trường, mọi việc trong cuộc sống con phải tự làm lấy, kể cả việc sắp xếp giường chiếu, ba mẹ chỉ giúp đỡ con khi thật cần thiết. Ngay từ nhỏ Đình Nhi đã có thói quen “tự mình làm những công việc của mình”. Vào trường lần này Đình Nhi vẫn giữ thói quen ấy.

Sau khi chúng tôi cùng với Đình Nhi chuyển chăn chiếu, màn đệm vào phòng ở, đã thấy các bậc cha mẹ của những học sinh mới đến tất bật sửa sang giường chiếu cho con gái mình. Chúng tôi do dự một lát rồi quyết định cứ làm theo lời giao hẹn trước với Đình Nhi là để cháu tự làm lấy.

Ai ngờ, khi Đình Nhi vừa leo lên giường cầm khăn để lau những bụi bặm bám đầy các cọc màn, thì một bác phụ huynh ở giường bên cạnh vội kinh ngạc hét lên: “Này, nguy hiểm lắm, xuống đi cháu, để đấy bác lau cho!” Nói rồi bác ta vội chạy đến lau hộ. Tình trạng này thì chúng tôi không thể đứng yên được rồi. Tôi vừa rối rít cảm ơn bác hàng xóm tốt bụng, vừa bảo Đình Nhi xuống giường, đi lĩnh sách vở, còn mình làm tiếp công việc bác hàng xóm, lau giường tủ giúp Đình Nhi.

Tôi vừa dọn dẹp chỗ ở cho Đình Nhi vừa cảm thấy có cái gì đó bất ổn. Suốt 12 năm qua, chúng tôi luôn né tránh mọi sự quấy nhiễu và xung đột của một hệ thống giáo dục khác đối với Đình Nhi, còn bây giờ thì không thể tránh nổi. Lúc này, tuy tôi còn chưa hiểu những người bạn cùng phòng với Đình Nhi, nhưng chỉ qua việc dọn dẹp giường chiếu này, tôi đã nhìn thấy, những đòi hỏi của cha mẹ với các cháu nhẹ hơn nhiều so với những đòi hỏi của chúng tôi đối với Đình Nhi. Cũng qua việc chuyện trò với các bậc cha mẹ ấy, chúng tôi cũng cảm thấy, sự nghiêm khắc của họ chủ yếu thể hiện ở việc theo dõi thật sát kết quả học tập của con cái, còn mọi việc khác, họ làm thay con tất cả. So với họ, những yêu cầu và sự rèn luyện của chúng tôi đối với Đình Nhi từ nhỏ đến nay, có thể nói là “quá hà khắc”.

Khi còn đang học tiểu học, Đình Nhi đã nhiều lần hỏi chúng tôi: “Tại sao mọi bạn khác không làm như vậy, mà con thì phải làm?” Thế nhưng lần nào chúng tôi cũng giải thích cho cháu hiểu và tin phục, nên Đình Nhi luôn vui vẻ chấp nhận mọi yêu cầu có vẻ “đặc biệt” ấy. Bây giờ vào nội trú, ngày ngày Đình Nhi chung sống với các bạn, những hiện thực và nền nếp mới sẽ đem lại cho Đình Nhi nhiều điều khó hiểu, khi đó Đình Nhi sẽ không có được những giải đáp kịp thời. Những khúc mắc đó cứ tích tụ mãi, cộng thêm với tâm lý chống đối mà tuổi thanh xuân thường có, sắp đến với Đình Nhi, không biết rồi đây Đình Nhi còn có những thay đổi ra sao? Trong suốt cả sáu năm nội trú, mỗi tuần Đình Nhi chỉ được sống với cha mẹ có 24 giờ đồng hồ, trong đó có đến già nửa thời gian dành cho việc ăn ngủ, vậy mức độ ảnh hưởng của ba mẹ đối với Đình Nhi còn thấp đến mức nào?

Chẳng bao lâu, sự thay đổi của Đình Nhi đã chứng tỏ chúng tôi lo lắng quả thực là không thừa.

Ngay trong ngày chủ nhật đầu tiên Đình Nhi trở về nhà, tôi phát hiện thấy trong lúc cháu vừa ăn cơm vừa vui vẻ chuyện trò cùng ba mẹ, cháu đã tiện tay vứt luôn xương xẩu xuống nền nhà. Sau khi tôi nhắc nhở, Đình Nhi vội xin lỗi ngay, nhưng lại nhặt mảnh xương đó ném vào sọt giấy lộn. Rồi chỉ một lát sau, cháu lại ném xương xuống đất, tôi lại nhắc, cháu lại xin lỗi… Sau mấy lần nhắc nhỏ, Đình Nhi tỏ ra khó chịu:

-   Có làm sao đâu, mẹ! Ở trường chúng con vẫn làm thế! Đã có người dọn vệ sinh rồi mà!

-   Mọi người đều làm như vậy, không có nghĩa là làm như vậy là đúng!

-   Chuyện vặt ấy mà, có gì đâu mà mẹ phải nói nhiều thế?

-   Sự việc không lớn, nhưng đó là một thói quen không tốt, ít nhất là không biết tôn trọng thành quả lao động của người khác – Không nhịn được ba cũng phải cau mày nói lại.

-   Con mới ở nội trú có bảy ngày mà đã đánh mất một thói quen tốt mà ba mẹ đã dạy con từ khi mới tròn 3 tuổi. Lẽ nào lại không đáng nói hay sao?

-   Chẳng ai như ba mẹ cả, một tuần con mới được về nhà một lần, thế mà cứ mắng mỏ, bắt bẻ con mãi, hu hu…

Đình Nhi vừa khóc vừa bỏ chạy vào nhà vệ sinh, xả nước ào ào tắm gội, để mặc tôi và ba cháu ở ngoài lắc đầu chán ngán.

Tiếng khóc bỗng trở thành tiếng hát, Đình Nhi vừa tắm vừa hát, đây là biện pháp “thay đổi trạng thái tâm lý” Đình Nhi mới phát minh ra. Một lát sau, Đình Nhi hai tay xoa mái tóc ướt sũng, bước ra, khuôn mặt đỏ bừng, vẻ nũng nịu: “Biabia! Mia mia!” (đây là cách gọi thân yêu ba cháu và tôi của Đình Nhi) – “Con biết ba mẹ đều nói rất đúng, nhưng chẳng hiểu làm sao, con chỉ thích cãi ba mẹ…” – Nói rồi, hai tròng mắt đỏ hoe.

Đây là lúc mà tôi và ba dễ mềm lòng nhất. Chúng tôi kiên nhẫn nói với cháu: “Nỗi lòng của con, ba mẹ đều rất hiểu, con biết không, con đang sắp sửa bước vào tuổi thanh xuân, các nhà tâm lý gọi tuổi thanh xuân của một con người là thời kỳ “cai sữa về tâm lý”. Đó là một quá trình phát triển bình thường. Đáng chú ý là, tâm lý thích chống đối trong giai đoạn tuổi dậy thì này sẽ khiến con luôn chống đối ba mẹ một cách mù quáng. Ý kiến càng đúng đắn càng không muốn nghe lời. Mong con nhận thức ra được đặc điểm tâm lý của tuổi dậy thì này, để tránh phải đi những đoạn đường vòng trong giai đoạn học sơ trung…”
Đình Nhi đã nghe ra, khẽ gật đầu, âu yếm ôm ghì ba mẹ, rồi khe khẽ hát, bước vào phòng làm bài tập. Tôi và ba cháu thì trái lại, không thể thanh thản vô tư được như cháu. Chúng tôi đã dự cảm được rằng, tuổi dậy thì và việc ở nội trú, hai nhân tố này sẽ là một trở lực to lớn ngăn cản sự liên hệ và thông cảm giữa chúng tôi và Đình Nhi, ít nhất cũng trong suốt cả thời kỳ học trung học. Nếu giải quyết không tốt, những cuộc tranh cãi như vừa rồi sẽ là chuyện cơm bữa trong gia đình chúng tôi.

Quả nhiên như vậy, ngay ngày hôm sau, trong việc sắp xếp quần áo cho Đình Nhi vào trường, giữa tôi và cháu lại xảy ra một cuộc tranh cãi. Hôm đó, trời đang nóng nực, nhưng tôi cứ sắp sẵn cho Đình Nhi mấy bộ quần áo dài, đề phòng trời mưa lạnh, nhưng Đình Nhi không chịu mang theo. Ba phải đứng ra hoà giải, nhưng Đình Nhi vẫn một mực không nghe, cháu nói: “Cho dù trời có lạnh, con cũng không cần ba mẹ mang quần áo cho con!” Ba nói với tôi, bây giờ là lúc mình phải tuỳ việc nhượng bộ, phải “nắm chắc việc lớn, thả lỏng việc nhỏ”. Những việc nhỏ đó, dù vì nó mà bị vấp ngã, cũng để cho Đình Nhi có thêm bài học kinh nghiệm trong cuộc sống. Tôi miễn cưỡng gật đầu.

Ngày chủ nhật đầu tiên như vậy đó. Tôi thực sự thấy buồn. Nhưng thật không ngờ, Đình Nhi vẫn cứ thanh thản như không. Tối hôm đó, trên trang nhật ký viết ngay khi cháu trở lại trường có đoạn viết:

Trở về rồi! Trở về rồi! Ta đã trở về với nhà trường, với tập thể thân thương, với đại gia đình yêu quý của ta rồi! Hôm nay là ngày chủ nhật, ta, một nữ sinh nội trú, chỉ được ở nhà đúng 25 giờ 50 phút, lại phải ra đi. Ngồi nhớ lại, mới cảm thấy không khí gia đình thật ấm áp.

Chiều qua, vừa bước chân vào nhà, mẹ ôm chầm lấy ta, cảm động nói: “Ôi! Con gầy quá, mới có mấy ngày mà sao gầy quá vậy?” Kỳ thực, tôi thấy tôi chẳng gầy đi chút nào, chỉ vì mẹ thương tôi quá nên nghĩ vậy. Rồi mẹ hỏi tôi đủ thứ chuyện: ăn có được no không? Đêm ngủ có lạnh không? Có biết giặt quần áo không? Tập quân sự có vất vả không?... Mẹ cứ tíu tít hỏi hết chuyện này sang chuyện kia, làm tôi cuống cả lên, không biết trả lời như thế nào. Tôi cảm thấy có một luồng hơi ấm áp đang tràn ngập cõi lòng mình, một sự ấm áp đến ngất ngây bởi được mẹ yêu.

Bây giờ ngồi nghĩ lại, cũng vẫn chỉ là sự quan tâm rất bình thường, hằng ngày của mẹ, mà trước đây tôi cho là chuyện đương nhiên không hề để ý. Không hiểu vì sao, giờ đây tôi thấy đó quả là một niềm hạnh phúc.

Trước khi về trường mẹ cứ quanh quẩn bên tôi, tíu tít dặn dò hết chuyện này sang chuyện nọ, cả ba nữa, ba cũng khuyên nhủ đủ điều. Trước đây những chuyện như thế này tôi thường tỏ vẻ không vui, cho là ba mẹ hay lắm điều, vẽ chuyện, nhưng giờ đây thì lại khác, tôi đã nhận ra được một tình yêu thương thật là mãnh liệt của ba mẹ.


Thế nhưng, từ sau khi vào trường nội trú, Đình Nhi luôn không muốn “bày tỏ sự yêu thương trước mặt người thân”. Có lẽ, để chứng tỏ mình đã là “người lớn”. (Cũng may được sự uốn nắn kịp thời của chúng tôi, từ khi lên học bậc cao trung, Đình Nhi đã khôi phục lại được những thói quen tốt mà chúng tôi rèn luyện cho cháu từ hồi nhỏ). Cũng giống như các bạn cùng trang lứa, trước mặt ba mẹ, Đình Nhi luôn giấu đi tình cảm yêu thương lưu luyến với cha mẹ quá lộ liễu như thời trẻ con. Thế nhưng, sức mạnh của một thói quen thật là ghê gớm, cái thói quen luôn muốn trao đổi bàn bạc với cha mẹ đã được hình thành từ nhiều năm nay, đã khiến Đình Nhi, như một bản năng, rất muốn tìm một ai đó để trao đổi tâm tình. Thế là bằng cách viết nhật ký, cháu đã chọn cô chủ nhiệm lớp của cháu làm đối tượng để được tâm sự những điều thầm kín tự đáy lòng mình.
 
CÔ GIÁO GIÀU NHÂN CÁCH, CHĂM LO NHƯ CHA MẸ

Trường Chuyên ngữ Thành Đô có rất nhiều thầy cô tốt, Đình Nhi đã học được ở các thầy cô nhiều điều bổ ích. Cô giáo chủ nhiệm bậc sơ trung của ĐÌnh Nhi, Lý Tấn Vinh, là một trong những thầy cô giáo ưu tú của nhà trường.

Cô Lý dạy ngữ văn, giàu kinh nghiệm. Ở trên lớp, cô say sưa giảng bài, giọng nói êm dịu thiết tha, đôi mắt truyền cảm, khi cô giảng đến những đoạn văn xúc động, học sinh dưới lớp cũng khó lòng cầm được nước mắt. Những học sinh do cô đào tạo, nhiều người đã đạt giải cao trong các cuộc thi văn của thành phố hay trong toàn tỉnh Tứ Xuyên. Cô rất hiểu, học sinh trung học là những đứa trẻ đang tập làm người lớn, hay chống đối để tự khẳng định mình. Vì vậy, cô rất nguyên tắc, nhưng cũng hết lòng thương yêu học sinh. Điều này rất có giá trị đối với sự phát triển lành mạnh của Đình Nhi.

Là một giáo viên chủ nhiệm giàu kinh nghiệm, cô Lý hiểu rõ, phải bằng cách nào mới chiếm được trái tim học sinh.

Ngay tuần lễ đầu tiên sau ngày khai giảng, cô Lý đã yêu cầu học sinh mỗi ngày phải nộp cho cô một bài văn viết dưới dạng nhật ký để nắm bắt kịp thời sự thay đổi tư tưởng của học sinh. Qua đó, cô tìm cách giúp các em mau chónh thích nghi với cuộc sống học tập khá căng thẳng trong trường. Trước khi nộp bài nhật ký đầu tiên, cô yêu cầu học sinh hãy viết một đoạn “tự giới thiệu về mình”, nhằm giúp cô nắm được tư tưởng và tính cách của từng em.
Sự mở đầu thú vị đó làm Đình Nhi thấy hào hứng. Cháu rất mong cô Lý cũng sẽ là người bạn tốt của mình, giống như cô chủ nhiệm của cháu thời tiểu học. Trong bài “Tự giới thiệu”, Đình Nhi say sưa viết:

“Con họ Lưu, tên là Diệc Đình, năm nay 12 tuổi. Tính con rất cởi mở, rất thích kết bạn, luôn cho rằng được kết bạn là một niềm vui lớn nhất của đời người, cho nên con rất mong được kết bạn với nhiều người. Khuyết điểm lớn nhất của con là tính tình nóng nảy, nhưng đối với bạn bè con rất thực lòng. Con tin rằng, chúng con sẽ là những người bạn tốt của nhau, luôn động viên và giúp đỡ lẫn nhau”.

Tiếp theo đó, Đình Nhi viết về nỗi khó nhọc trong buổi tập quân sự đầu tiên ở nhà trường:

Hôm nay, đối với tôi là một ngày không bình thường, ngày đầu tiên tôi bước chân vào trường trung học, buổi bắt đầu cho cuộc sống nội trú trong nhà trường, cũng là ngày đầu tiên tôi tham gia huấn luyện quân sự. Những công việc ngày hôm nay gồm có: lễ khai giảng, tập quân sự và tổng vệ sinh, đối với tôi, ấn tượng sâu sắc nhất là tập quân sự.

Về việc tập quân sự, tôi đã được nghe nhiều rồi. Thế nhưng, hôm nay được chính thức tham gia, một cảm giác thật là lạ, mới mẻ… Khi tập động tác nhìn phải thẳng, cái cổ của tôi cứ cứng đờ, vừa nói vừa đau, rất khó cử động. Ôi, tôi thật không hiểu nổi, tại sao cứ phải làm tội nhau quá vậy, tôi cho rằng chỉ cần tư thế đúng là được rồi, việc gì cứ phải đứng nghiêm mãi thế?

Khi mọi người đang được nghỉ ngơi, còn mình cứ phải tập lại, cảm thấy rất khó chịu. Mồ hôi nhễ nhại, lưng mỏi gối đau, phơi mặt dưới trời nắng chang chang, còn người khác thì ngồi trong bóng mát nói cười rôm rả. Lúc này, chỉ mong thầy cho nghỉ sớm, chả còn ao ước gì hơn.

Giờ đây, nhiệm vụ duy nhất của mình là phải ngủ một giấc thật ngon, để lấy sức bước vào một ngày mới nữa.


Đối với câu hỏi “Tại sao phải làm khổ nhau vậy” của Đình Nhi, cô Lý không hề tỏ ra phật ý, mà còn ghi một lời khen ở bên lề trang nhật ký: “Trọng tâm nổi bật, có cá tính!” Với lời khen này, ngay ngày hôm sau, cô Lý đã chiếm được cảm tình của Đình Nhi:

Hôm nay là buổi học thứ hai, tôi ngủ dậy sớm, tập thể dục, mua cơm sáng ăn, rồi lại tập quân sự… Mọi công việc cũng gần như ngày hôm qua, cảm giác mới lạ không còn nữa. Lời phê bình của cô Lý trong bài nhật ký hôm qua cứ làm tôi nhớ mãi.

Tại sao mỗi lời phê bình bình thường như vậy lại in dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi? Chính vì nó đã cởi bỏ được những khúc mắc ở trong lòng tôi. Lời nhận xét về niềm vui và nỗi khổ của cô đã làm tôi bừng tỉnh. Tôi vẫn cho rằng, luyện tập quân sự là một việc khô khan mệt mỏi, chẳng có chút hứng thú nào. Thế nhưng cô giáo lại nói, nhìn bề ngoài, luyện tập quân sự vừa khổ vừa mệt, chẳng thú vị gì, thế nhưng chính công việc luyện tập quân sự này đã cho chúng ta nhiều điều tốt đẹp. Đúng vậy! Tôi vốn là một cô bé được nuông chiều, chỉ đứng nghiêm vài phút đã kêu khổ ầm lên, thế nhưng mới qua hai ngày luyện tập gian khổ, nay tôi có thể đứng nghiêm vài chục phút mà không thấy mỏi chân. Không chỉ với các động tác tập quân sự, mà còn nhiều mặt khác cũng đã có những tiến bộ rõ ràng. Ví dụ như trước đây có bị hơi sứt tay một tí là tôi đã “hạt châu rơi lã chã”, thế mà bây giờ dù có bị đứt tay với vết đứt to hơn tôi vẫn cố nén nhịn, tự băng bó lấy, không khóc tí nào. Đấy không phải là cái tốt của việc huấn luyện quân sự hay sao?Khi phát hiện mình đã cứng rắn trưởng thành, trong lòng tất nhiên rất sung sướng, sự sung sướng đó chẳng phải là một niềm vui hay sao? Cô giáo nói, niềm vui có nhiều loại, chơi đùa, nghỉ ngơi, xem ti-vi… cũng là niềm vui, làm nghề dạy học như cô, hằng ngày đổ biết bao mồ hôi tâm sức vì học sinh thân yêu, khi thấy học sinh mình tài giỏi nên người, đó cũng là một niềm vui, một sự kiêu hãnh.

Những lời nói của cô giáo làm tôi phải suy nghĩ rất nhiều, nhờ cô giáo mà tôi đã hiểu được, niềm vui trong sự vất vả, niềm vui đó mới thực sự là niềm vui chân chính!


Xuất phát từ quan niệm niềm vui trong gian khổ, sang ngày thứ ba, cô Lý cho cả lớp thảo luận vấn đề “Làm thế nào để xứng đáng là một học sinh chân chính Trường Chuyên ngữ?” Qua thảo luận, cả lớp đã đi đến một quan điểm chung là: “Lấy gian khổ làm niềm vui, lấy thăng tiến làm vinh dự”. Quan điểm chung cũng là một loại sức mạnh, nó có thể bắt buộc người ta tự đánh giá những suy nghĩ và hành vi của mình theo những tiêu chuẩn chung đó. Trong một trường có được một môi trường giáo dục tốt thì nền nếp nhà trường sẽ ổn định, học sinh rất khó sinh hư, các bậc phụ huynh sẽ luôn cảm thấy yên lòng.
Cô Lý là một con người đúng đắn và cực kỳ nghiêm khắc, cô vừa là một người mẹ hiền từ, cũng vừa là một người cha nghiêm nghị. Quan điểm giáo dục của cô rất phù hợp với quan điểm giáo dục của vợ chồng tôi.

Lấy chuyện ngày chủ nhật đầu tiên ĐÌnh Nhi trở lại nhà làm thí dụ. Hôm đó, tôi đã chuẩn bị cho Đình Nhi mấy bộ quần áo dài để đề phòng trời lạnh, Đình Nhi một mực không mang theo. Sang ngày thứ ba, quả nhiên trời lạnh. Bằng tình thương yêu học trò đúng mực, cô Lý đã biến chuyện không may đó trở thành một chuyện đầy ý nghĩa.

Sáng sớm hôm nay, trời bỗng nhiên trở lạnh, mưa cứ dầm dề, gió thổi ù ù không ngớt, cái lạnh làm tôi không sao ngủ tiếp được. Nhìn ra ngoài, bầu trời âm u xám xịt. Từ trong chăn ấm bò ra, tôi cảm thấy trời lạnh thấu xương, bàn tay tê cóng. Mở tủ quần áo, lục lọi lung tung mà chẳng tìm đâu ra một bộ quần áo đủ để chống chọi với cái lạnh. Chẳng còn cách nào khác, có bao nhiêu quần áo mùa hè, tôi đành phải mặc hết vào rồi lên lớp. Thế mà người vẫn cứ rung lên bần bật.

Sau tiết học thứ nhất, thấy tôi lạnh cô liền nói với tôi: “Con lạnh lắm phải không? Để cô gọi bảo Vương Giảo (con gái của cô) lấy cho con chiếc quần dài!” Câu nói đó làm cho tôi ấm hẳn lên. Lát sau, Vương Giảo mang quần áo đến cho tôi, bạn ấy còn nhiệt tình giúp tôi mặc thêm quần ấm. Tuy người tôi vẫn còn hơi lạnh, nhưng trong lòng thì ấm áp vô cùng. Đến trưa, mẹ của Cung Vệ Thanh, một người bạn cùng phòng với tôi, đã đem cho tôi và mấy bạn khác cùng phòng quần áo ấm. Những con người chưa quen biết nhiều lắm, sao họ lại tốt với tôi như vậy?

Bây giờ thì tôi đã hiểu ra ý nghĩa đích thực của câu nói: “Trên cõi đời này đâu cũng ấm áp!”

Những thầy cô giáo tốt như cô Lý của chúng tôi, trong trường Chuyên ngữ Thành Đô này còn nhiều lắm. Họ tạo thành một tập thể giáo viên vừa yêu nghề, yêu ngành, vừa tinh thông về chuyên môn nghiệp vụ. Họ là nền móng, họ là rường cột để Trường Chuyên ngữ dựa vào đó mà vươn lên. Mọi sự tiến bộ của Đình Nhi cũng nhờ đó mà có được.

Nhờ có sự tận tâm dạy dỗ và lòng yêu trẻ thiết tha của các thầy cô, cộng thêm sự cần cù, khiêm tốn, ham học của Đình Nhi, chúng tôi mới thực hiện được một kế hoạch mang tính chiến lược đối với Đình Nhi là “Phải giải quyết mọi vấn đề về học tập ngay tại trường”.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 03:48:33me khoai>
LỠ GÂY TAI HOẠ LỚN, MẮT BẠN SUÝT BỊ MÙ

Năm thứ nhất bậc sơ trung vào học được chừng nửa tháng, bỗng xảy ra một chuyện mà cho đến nay tôi vẫn thấy rùng mình… Trong lúc ra chơi giữa giờ, Đình Nhi đã đánh nhau với một bạn cùng lớp, cháu đã lỡ tay đánh bị thương mắt bạn. Tối hôm đó, khi đã ngồi vào bàn viết nhật ký mà Đình Nhi vẫn chưa hẳn hoàn hồn.

… Sự việc xảy ra ngày hôm nay, đối với tôi, quả là một bài học vô cùng đau đớn, một sự kiện mà tôi phải nhớ suốt đời.

Trong giờ ra chơi sau tiết thứ nhất, không hiểu vì sao, bạn T cứ nhảy quanh tôi, vừa nhảy vừa chửi rủa: “Lưu…Lưu…” Chửi một hồi rồi bạn ấy đứng lại nhìn tôi cười khiêu khích. Người tôi sôi lên vì tức, tôi giơ thẳng cánh cho bạn ấy một cái tát, nào ngờ tôi tát trượt. Tôi bị một đòn phản kích của bạn ấy, một cái tát rát tai. Tôi nghĩ bụng: “Mày vô cớ chửi tao, chưa đánh lại được mày, mà mày đã đánh tao!” Càng nghĩ càng tức, tôi bèn xông đến, giơ tay tát lần nữa, lần này bạn T.  nhanh chóng né đầu để tránh đòn, nhưng cú đòn trúng giữa mặt bạn ấy. Không thấy T. kêu la, chỉ thấy hai tay bạn ấy vội ôm mặt, còn bàn tay tôi thì rát bỏng. Biết T. đã bị một đòn đau, tim đập thình thịch, nhưng tôi vẫn cứ “tỉnh bơ”, tảng lờ như không có chuyện gì. Hơn thế tôi còn bình tĩnh quay lưng đi đến chỗ mấy bạn khác tán gẫu, nhưng đôi mắt vẫn luôn liếc nhìn về phía bạn T. Thấy có vụ đánh nhau, cô Lý bèn đi đến chỗ bạn T. hỏi rõ lý do. Rồi tôi bỗng thấy cô lớn tiếng gọi tôi. Trống ngực tôi càng đập mạnh dữ hơn, nhưng vẫn cố làm ra vẻ bình tĩnh đến chỗ cô. Vừa nhìn thấy bạn T., tôi lạnh người, đôi mắt T. đỏ ngầu, sưng vù, bên cạnh còn có hai chỗ tím bầm. Sau mấy lời quở trách tôi, cô vội đưa bạn T. đến trạm xá gần đó. Lòng tôi lo lắng rối bời…

Sau bữa cơm trưa, cô Lý gọi tôi vào phòng khuyên giải, rồi thông báo về vết thương của bạn T. Cô nói: “Tình hình xấu nhất, có thể cả hai mắt của bạn T. đều hỏng”. Nghe đến đây đầu óc tôi quay cuồng, trống ngực đập liên hồi, tôi run sợ. Trời ơi, lẽ nào chỉ một phút không giữ được bình tĩnh của tôi, mà bạn T. có thể bị mất đi hai mắt? Thật là tàn khốc!

Giờ đây bệnh tình bạn T. lành dữ thế nào còn chưa biết được, phải đợi cho chỗ xung huyết ở đáy mắt tan đi thì mới chẩn đoán đựơc. Trong khi chờ đợi này, xin mọi người hãy lắng nghe tiếng nói từ đáy lòng tôi: dù thế nào cũng không được tranh cãi nhau vì những chuyện vụn vặt hàng ngày, chỉ một phút giây nông nổi rất có thể gây nên hoạ lớn!

Ngoài việc rút kinh nghiệm ra, quả thực Đình Nhi không còn biết làm gì hơn nữa cho bạn. Chỉ có người lớn mới biết rằng, lúc này đâu phải là lúc ngồi mà rút kinh nghiệm.

Từ trạm xá trở về trường, cô Lý lập tức gọi điện thoại thông báo cho cha mẹ của cả hai học sinh.

Nghe được tin con gái mình đã đánh bạn chảy cả máu mắt, chúng tôi như bị sét đánh ngang tai: các bạn trong lớp của Đình Nhi đều là những đứa con độc nhất trong gia đình chỉ có một con, vạn nhất có xảy ra điều gì, người ta sẽ đau khổ suốt đời. Dù sao, sự việc cũng đã xảy ra rồi, việc đầu tiên của chúng tôi hiện là đến thăm hỏi và trả tiền viện phí, đến xin lỗi gia đình bạn T., sau đó phải bằng mọi cách để cứu đôi mắt cho cháu T.

Cha mẹ cháu T. lại là những con người rất am hiểu. Khi chúng tôi đến lựa lời xin lỗi, mẹ cháu T. cố nén dòng nước mắt, chỉ tự trách con mình là đã đầu têu “trêu chọc người khác”. Còn ông bố lại ôn tồn an ủi chúng tôi: “Không sao đâu, các bác ạ! Chỉ mấy ngày sau là khỏi ấy mà!”

Chúng tôi đề nghị, cho phép chúng tôi đưa cháu đến khám và chữa bệnh tại bệnh viện thuộc Trường Đại học Y hoa tây. Ông bố nói: “Bệnh viện ấy xa lắm, vả lại cũng chưa thật cần thiết, cứ để cháu chữa ở trạm xá gần đây cũng được”. Tôi và ba Đình Nhi thiết tha xin với gia đình cháu T. đi chữa ở một bệnh viện tốt nhất Thành Đô. Nếu cha mẹ cháu T. bận công tác, vợ chồng chúng tôi xin được đưa đi… Bàn bạc hồi lâu, rồi đi đến quyết định: hai bà mẹ sẽ đưa cháu T. đi bệnh viện.

Khám lần đầu, bác sĩ nhãn khoa nói, phải chờ chỗ tụ máu trong đáy mắt tan hết đã rồi mới đi khám lại và kết luận được. Bác sĩ còn nói : “Nếu chỉ đứt các mao mạch huyết quản mà không bị tổn thương võng mạc, chỉ cần nghỉ ngơi yên tĩnh khoảng 2 tuần lễ là có thể khỏi được và không để lại di chứng nào. Vì sức phục hồi của trẻ con rất tốt. Tất nhiên, phải uống thuốc kháng sinh đề phòng viêm nhiễm. Giai đoạn này đặc biệt cần ngăn ngừa cảm cúm và không được cử động mạnh, để tránh bị xuất huyết trong đáy mắt”.

Rất may là bé T. rất biết nghe lời thầy thuốc, không bị cảm cúm, lần khám lại sau 3 ngày nằm tĩnh dưỡng vẫn không phát hiện có tổn thương trong đáy mắt. Hai tuần sau, bác sĩ nhãn khoa tươi cười thông báo với chúng tôi: “Mắt của cháu T. đã hoàn toàn được hồi phục”. Đến lúc ấy, chúng tôi sung sướng như chính mắt Đình Nhi đã được sáng trở lại.

Trong thời gian bé T. còn nằm viện, cô Lý nhân dịp này đã mở một đợt tình thương yêu bạn bè trong cả lớp. Trước cả lớp cô nói: để bạn T. thấy được tình yêu thương của cả lớp, cô đề nghị mỗi học sinh hãy dành một phần quà để tặng bạn T., lớp phải cử một đoàn đại biểu đến nhà bạn T. để thăm hỏi và tặng quà. Đình Nhi là đại biểu đương nhiên trong nhóm năm bạn được cử đi thăm hỏi ấy. Khi Đình nhi nhìn thấy bạn T. phải nằm bất động trên giường với cuộn băng trắng quấn chặt hai mắt, Đình Nhi không nén nổi những dòng nước mắt hối hận.

Hôm bé T. khỏi bệnh trở lại trường, cô Lý lại nhân dịp này mở tiếp một đợt giáo dục nữa về an toàn lao động. Cô mời tôi lên báo cáo trước cả lớp. Tôi đã viết một bài báo cáo thật công phu, hy vọng qua dịp này mỗi học sinh đều nhớ đựơc: “Mỗi phút nông nổi, tai hoạ cả đời!”

Tôi bắt đầu từ câu chuyện “Đôi mắt bé T. được lành lặn trở lại chẳng qua là sự may mắn”, sau đó tôi chuyển sang kể cho mọi người nghe một câu chuyện bi thảm khác: chuyện “Một quả đấm đã làm thay đổi số phận hai mạng người”. Nhân vật tôi nói đến là một con người thực. Đó là con trai của một cán bộ cao cấp mà các bạn ở đây đều biết cả. Chàng thanh niên này giữa đường gặp một người say rượu, người này đã vô ý nhổ nước bọt vào mặt anh ta. Không nén được tức giận, anh ta đã cho người say rượu kia một quả đấm trời giáng, người say rượu ngã đập đầu xuống lề đường, chết ngay tại chỗ. Cậu con trai của vị cán bộ cao cấp kia bị đi tù về tội giết người…

Sau khi tôi kể xong, có mấy học sinh hăng hái giơ tay xin phát biểu cảm tưởng, trong đó có cả Đình Nhi và bé T.. Tuy những lý lẽ của các cháu chưa được sâu sắc nhưng đã khơi dậy được một sự đồng cảm mãnh liệt trong lòng các bạn cùng lứa tuổi. Cả người phát biểu và người nghe đều rơi nước mắt. Trong sự đồng cảm không nói được thành lời ấy, mỗi học sinh đều nhận thức được một điều vừa đơn giản nhưng cũng hết sức cao thượng là: sự sống thật quý báu nhưng cũng thật mỏng manh, chúng ta, mỗi con người phải biết quý sự sống của chính mình và đồng loại!

Đây là chỗ thành công của hội nghị chuyên đề này.
 
TRẢI QUA MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG VÒNG, XÂY DỰNG LẠI LÒNG TỰ TIN
 
Các bạn cùng khoá này với Đình Nhi đều là những học sinh xuất sắc, đã từng vượt qua  một cuọc sàng lọc cực kỳ khắc nghiệt của Trường trung học Chuyên ngữ Thành Đô với tỷ lệ đào thải tới 98%. Những “con chép” đã vượt qua được “vũ môn” này có ba loại: 1. Điểm thi nói và điểm thi viết đều khá cao; 2. Điểm thi viết rất cao; 3. Thi viết khá thấp, còn điểm thi nói lại rất cao. Đình Nhi thuộc loại thứ ba.

Dù ở loại nào, những học sinh đã thi đỗ vào được trường Chuyên ngữ này, trong những năm học tiểu học đều là những học sinh xuất sắc của lớp, có nhiều cháu là học sinh duy nhất của toàn trường đỗ vào chuyên ngữ. Ở nơi tập trung toàn học sinh xuất sắc như vậy, sự xuất sắc trong các trường tiểu học trước đây, đến giai đoạn này đã không còn là xuất sắc nữa. Do nhà trường sắp xếp thứ bậc theo điểm số thi viết, nên vị trí của Đình Nhi khi mới vào trường chỉ đứng vào loại dưới trung bình.

Chúng tôi đã từng phân tích cho Đình Nhi thấy: “Con vốn học trong trường tiểu học không phải là có chất lượng giáo dục cao của thành phố Thành Đô, thế mà con đã có thể chiến thắng nhiều đối thủ tiểu học vào loại hàng đầu trong các cuộc thi đấu toàn thành phố. Điều đó chứng tỏ con rất có tiềm lực. Bây giờ vào đây, con bắt đầu được tiếp nhận một chất lượng giáo dục cao như mọi bạn khác, lại bắt đầu một cuộc cạnh tranh mới trên cùng một vạch xuất phát, chỉ cần con tiếp tục duy trì “một sự cố gắng liên tục, hơn người”, chắc chắn con lại trở thành học sinh xuất sắc trong cuộc cạnh tranh mới ở mức độ cao này”.

Tại sao chúng tôi cố tình nhấn mạnh “lại trở thành học sinh xuất sắc” như vậy? Bởi vì, trước mắt cháu vẫn còn một cuộc đào thải nghiêm khắc nữa khi cháu học xong bậc sơ trung, thi vào bậc cao trung. Số học sinh cùng khoá với Đình Nhi, kể cả số học sinh được vào học theo kết quả thi cử, lẫn số học sinh được cha mẹ bỏ tiền cho theo học, cả thảy 200 em, chỉ có 80 học sinh được tiếp nhận vào học cao trung theo chỉ tiêu kế hoạch (có thể vào học theo các lớp cao trung thuộc Trường Chuyên ngữ). Chen chân được vào hàng ngũ 80 em may mắn đó, cũng có nghĩa là đã chắc chắn thi đỗ vào một trường đại học trọng điểm nào đó. Trên thực tế, những học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông cùng khoá này với Đình Nhi của Trường Chuyên ngữ, trăm phần trăm đều thi đỗ vào các trường đại học trọng điểm, ngoài ra, trong các “lớp thoả thuận” đảm bảo đỗ đại học được mở thêm nữa cũng có nhiều học sinh thi đỗ vào các trường đại học trọng điểm hoặc một vài chuyên khoa khác.

Ngoài ra, còn một nguyên nhân nữa: do số lượng học sinh trong một lớp học ở Trung Quốc thời đó quá đông, các thầy cô giáo không đủ điều kiện để quan tâm chăm sóc đồng đều tất cả các học sinh, đành phải dùng biện pháp “nắm chắc hai đầu, kéo theo khúc giữa”. Nếu muốn được các thầy cô giáo chú ý quan tâm chăm sóc, phải trở thành “đầu đàn”, có vậy mới được “người chăn” chăm sóc.

Ngay từ thời kỳ tiểu học, Đình Nhi đã hiểu được điều này, cộng với tâm lý thích nổi trội để được mọi người chú ý đến ở tuổi dậy thì, Đình Nhi còn khao khát hơn cả ba mẹ, càng khao khát được thầy cô giáo và các bạn để ý đến bằng thành tích xuất sắc trong học tập và rèn luyện của mình.

Những bạn học sinh có cùng suy nghĩ đó không phải chỉ có một mình Đình Nhi. Vì vậy sự cạnh tranh giữa học sinh cùng khoá còn quyết liệt hơn nhiều so với thời tiểu học. Những ngày đầu, Đình Nhi còn nhận thức khá trừu tượng về mặt này, và cũng chưa có một sự cảm nhận thật cụ thể. Vì vậy kế hoạch học tập cuả Đình Nhi vẫn nặng về ước muốn chứ chưa phải là biện pháp.

Về học tập không được lơ là, phải có kế hoạch cụ thể, phải định mức phấn đấu cho từng giai đoạn. Ngoài ra, phải làm tốt công tác chuẩn bị bài mới, ở trên lớp phải chú ý nghe giảng, điều gì không hiểu phải hỏi ngay. Trên lớp phải ghi chép đầy đủ, học xong phải ôn tập lại, cố gắng phải hiểu bài sâu, tránh đi đường vòng. Hết một giai đoạn phải tổng kết lại, tin chắc rằng thành tích học tập của mình sẽ ngày càng đi lên.

Trường Chuyên ngữ còn có một yêu cầu đặc biệt là, phải tự lực cánh sinh trong cuộc sống, phải làm tất cả những việc cần làm theo đúng kế hoạch, không được bớt xén, không được lề mề bê trễ. Vì vậy, mình phải quyết tâm sửa chữa khuyết điểm cuả mình: không được để ý những việc vặt trong cuộc sống và tính đãng trí hay quên. Vừa rồi đây, mình vẫn để quên tất chân tại phòng tắm.

Còn một điểm nữa cũng rất quan trọng là mọi người thường xuyên phải nhường nhin, giúp đỡ lẫn nhau, cùng sát vai đi tới.

Một kế hoạch học tập trống rỗng như vậy đương nhiên là chẳng có tác dụng gì. Chưa đầy một tháng sau, Đình Nhi đã phải rối rít lên bởi cuộc sống khá căng thẳng.

Ôi! Đau đầu quá! Thi cử liên miên làm cho mình đau đầu muốn chết đi được. Tối nay tự học, nghe nói thứ tư này lại thi Anh văn, đầu óc cứ bùng bùng như sắp nổ. Mình xem lại tờ kế hoạch ôn tập thi, tối nay có thể làm xong bài tập toán khoảng 20 phút, còn lại hơn một tiếng, mình sẽ cùng các bạn luyện nghe viết, ôn tập ngữ âm, và tập ghép từ cung gốc… Trưa mai… “Các em! Thi toán!” Câu nói của thầy Vương làm đảo lộn mọi kế hoạch của mình. Tôi dự định sau khi thi xong sẽ viết nhật ký, thời gian không còn nhiều. Nghe viết chẳng được mấy từ, lại phải trở về phòng ngủ rồi đây. Buổi tự học sớm mai, mình sẽ học ngữ văn, chỉ còn có trưa mai, mình sẽ ăn cơm thật nhanh, hy sinh cả giấc ngủ trưa để ôn tập. Chả kịp suy nghĩ nhiều hơn, tôi vùi đầu vào môn toán… A,B,C,D bỗng trở thành cộng trừ nhân chia. Nhưng tôi vẫn thấp thỏm lo âu… Thế là môn toán cũng qua đi. Tôi lại vùi đầu vào trang nhật ký.

Ôi! Chỉ tiếc rằng tôi không thể thắp đèn pin tự học Anh văn vào lúc đêm khuya. Thực lòng tôi vẫn chưa thích ứng được với nhịp sống căng thẳng này.


Một mặt không đủ thời gian để học tập, mặt khác Đình Nhi lại quá nhiệt tình trong việc giao du bè bạn, cứ gặp bạn mới lại huyên thuyên trò chuyện quên cả thời gian. Chính vì không biết sắp xếp hợp lý thời gian học và chơi, nên gần đây Đình Nhi kinh ngạc nhận ra rằng những kỳ vọng lớn lao về học tập của mình nay đã bắt đầu xa sút.

Chiều nay, thi địa lý, mục tiêu của tôi trong đợt thi cử này chỉ là “60 điểm muôn năm”. Bản thân tôi cũng không ngờ rằng ý chí của mình đã suy giảm đến vậy.

Về môn địa lý, trước khi thi tôi chả ôn tập được tí nào. Đây là lần đầu tôi rơi vào hoàn cảnh này. Trước đây, khi đi thi tôi chỉ thấy hơi căng thẳng, lần này lòng tôi trống rỗng. Ngày mai lại thi môn sinh vật, tôi phải trấn tĩnh lại tinh thần, đêm nay phải ôn thi thật tốt, để sẵn sàng vào thi. Quyết không để thảm cảnh “60 điểm muôn năm” tái diễn ở các môn sinh vật và lịch sử.

Nhật ký ơi, ta không còn thời gian để tiếp tục than thở, phải tạm biệt ngươi thôi, ta đi học sinh vật đây!

Những biểu hiện ấy của Đình Nhi cho thấy cháu đang trên đà trượt xuống dốc. Thế là chúng tôi chủ động liên hệ với cô giáo chủ nhiệm. Cô nói: “Lưu Diệc Đình chẳng có khuyết điểm gì lớn đâu. Chỉ mỗi tội hay la cà tán gẫu với bạn bè”.

Chúng tôi và cô chủ nhiệm đều có một nhận thức chung là: mong muốn được giao lưu với bè bạn, đó là đặc điểm của lứa tuổi dậy thì. Thế nhưng quỹ thời gian chỉ có vâỵ, mà Đình Nhi không phải đang học yếu chỉ vì muốn tăng cường khả năng giao tiếp với bạn bè.

Để kịp thời uốn nắn những sai sót đó của Đình Nhi, tôi và ba cháu đã phải “đi dạo” ở sân vận động nhà trường gần 2 giờ, chờ cho buổi tự học buổi tối của Đình Nhi kết thúc.

Buổi tối hôm đó, chúng tôi truyền đạt lời nhận xét của cô chủ nhiệm cho Đình Nhi nghe, hy vọng Đình Nhi sớm chấm dứt tình trạng la cà tán chuyện. Tôi nói với Đình Nhi: “Chơi với bạn bè cũng có hai kiểu, một là để tự hoàn thiện mình, bằng chứng là những cái hay cái đẹp của mình thu hút được những bạn bè tốt khác. Đó là kiểu kết bạn có tính xây dựng. Một kiểu khác là, kết bạn để chơi bời cho qua ngày tháng, không chỉ lãng phí thời gian của mình mà còn làm lãng phí thời gian của người khác. Đây là kiểu kết bạn mang tính chơi bời. Kiểu này cha mẹ và thầy cô giáo không tán thành”. Ba cũng nhắc nhở Đình Nhi: “Cái thiếu hiện nay của con là thiếu thời gian học tập chứ không phải thiếu khả năng giao tiếp bạn bè. Không nên lãng phí thời gian vàng ngọc của mình vào những việc không quan trọng đó”.

Có lẽ, Đình Nhi rất muốn làm cô giáo hài lòng, buổi nói chuyện này thật là suôn sẻ và rất có hiệu quả. Chỉ ít lâu sau, thành tích học tập của Đình Nhi đã bắt đầu có chiều hướng đi lên, lại trở về với thói quen “ăn vóc học hay”.

Buổi tối hôm nay, sau khi kết thúc buổi tự học tiếng Anh, tôi nghe được hai tin đồn nhảm làm tôi rất bực. Tin thứ nhất, nói rằng sở dĩ tôi được điểm thi 10+1,5 là vì tôi đã có sự “thông đồng” với bạn Cung Vĩ Tình, chứ thực lực của tôi thì không được như thế. Tin thứ hai: sở dĩ kết quả môn thi tiếng Anh của lớp A chúng tôi được tốt như vậy, vì lớp tôi cũng đã có sự “thông đồng” với Miss Trần (cô giáo Trần), mỗi lần đọc đến trọng âm, cô lại gật đầu một cái. Đối với những lời đồn nhảm, không chỉ mình tôi mà cả lớp A ai nghe thấy cũng đều tức giận. Bạn Tăng Quyên tức quá còn chửi tục một câu: “… cái thằng cha vô liêm sỉ đó!” Chửi tục là không được rồi, nhưng điều đó cũng nói lên rằng, cả lớp tôi ai cũng có lòng tự trọng, ai cũng muốn giữ thể diện cho lớp mình.
Cô giáo ơi! Trước một hiện tượng như vậy, nên có một thái độ biết nhìn lại mình “Có thì sửa ngay, không có thì lấy đó làm bài học để mà tránh đi”, hay là phớt lờ đi hả cô?


Không sợ chê cười (Ngày 15 tháng 10 năm 1993)

Hôm nay lại có mấy tiết “Góc tiếng Anh” tôi rất thích. Tôi thường đứng cạnh Miss Trần, nghe cô và mấy bạn nữ sinh năm thứ ba bậc sơ trung đối thoại. Tuy nghe không hiểu gì, nhưng qua sự biểu cảm bằng tay và nét mặt của Miss Trần, cộng với một chút ít từ vựng mà tôi mới học được, nhờ vậy tôi cũng có thể đoán ra ý nghĩa một vài câu. Vì thế tôi rất thích những tiết học ngoại khoá này. Tự cảm thấy mình đã khá hơn so với hồi bắt đầu vào học, hồi ấy tôi giống như một anh điếc xem phim. Qua những tiết học tôi càng khát khao được hiểu biết hơn nữa, niềm khát khao đó ngày càng cháy bỏng. Càng hiểu lơ mơ, càng muốn hiểu cho tường tận.

Có bạn chế giễu tôi: “Nghe đã chẳng hiểu, lại còn cố ra sức mà nghe”. Tôi đáp lại: “Chính vì nghe không hiểu mới càng phải cố mà nghe, phải luôn lắng tai nghe thế mới dần dần sẽ hiểu, nếu không chịu lắng tai nghe thì suốt đời cũng chẳng hiểu gì”.

Tôi cho rằng, đối với ngoại ngữ, phải nghe nhiều, luyện nhiều mới có thể giỏi được.


Quyết không chịu thua (Ngày 27 tháng 11 năm 1993)

Tối hôm nay, tôi được xem cuộc thi “Độc thoại theo bài khoá tiếng Anh” do 24 tuyển thủ của các lớp trên trình diễn. Trên sân khấu, có người trình diễn tự nhiên, có người còn lúng túng, cũng có người nhầm lẫn lung tung, giọng nói còn run, phát âm không chuẩn.

Trong số 24 anh chị đó, có một chị trình bày rất tốt. Một bạn đứng bên cạnh tôi phải thốt lên: “Quả thật mình chịu thua chị ấy”. Tôi lại nghĩ khác: tôi chỉ bái phục chị ấy thôi chứ tôi không chịu thua. Tôi nghĩ rằng, mọi người đều như nhau, ai cũng có một cái miệng, một cái lưỡi. Tôi cũng chẳng kém chị ấy cái gì, chỉ cần thực sự cố gắng, thì tôi không chỉ đuổi kịp chị ấy mà còn có thể vượt chị ấy cơ. Chỉ nên coi chị ấy là một tấm gương, chứ quyết không chịu thua.

Tục ngữ có câu “Hứng thú là người thầy tốt nhất”. Kích thích hứng thú học tập của học sinh, là một biện pháp rất có hiệu quả trong việc giảng dạy tiếng Anh của Trường Chuyên ngữ. Chúng tôi còn nhớ, một ngày cuối tuần trong học kỳ II năm thứ nhất sơ trung, Đình Nhi đã say sưa kể lại cho tôi nghe gần như toàn bộ tiết luyện khẩu ngữ ở trên lớp của cháu. Như chơi trò “hát tiếp sức” các bạn trong lớp mỗi người một câu đã xây dựng nên một câu chuyện khá dài và cũng khá lý thú bằng tiếng Anh. Những buổi dạy học như vậy thật là sinh động là lý thú, trình độ tiếng Anh của Đình Nhi và các bạn trong cả lớp đã được nâng cao lên rất nhanh.

Ở gần nhà cầu Cẩm Giang trong thành phố Thành Đô có một nơi rất nổi tiếng, được gọi là “góc tiếng Anh”. Đây cũng là địa điểm Đình Nhi thường hay lui tới. Vào dịp nghỉ hè hay nghỉ đông, cứ vào tối các ngày thứ ba và thứ sáu, ở đây chật ních các bạn học sinh đủ các cấp từ đại học, trung học đến tiểu học và cả những vị khách nước ngoài. Họ đến đây để luyện nói tiếng Anh. Đế sớm nhất là các cháu học sinh lớp dưới Trường Chuyên ngữ, và về muộn nhất là các cháu học lớp trên.Tuỳ theo trình độ, họ chia thành từng nhóm hội thoại với nhau về đủ các loại chuyện xã hội. Dù ở mức độ nào, khả năng nghe nói tốt nhất đều là những học sinh trường Chuyên ngữ. Ví dụ như ở năm thứ nhất bậc sơ trung, trong khi Đình Nhi có thể nói chuyện với một giáo sư người Mỹ câu được câu chăng hàng tiếng đồng hồ. Trong khi đó, một học sinh khác, cũng học năm thứ nhất bậc sơ trung ở một trường trọng điểm lại không thể nói được một câu nào, vì bạn ấy không thể hiểu được người đối thoại nói gì… (Phương pháp dạy tiếng Anh ở Trường Chuyên ngữ có hiệu quả như vậy, tại sao không mở rộng ra cho tất cả các trường trung học trong toàn quốc?)

Sự say mê hứng thú đã thúc đẩy Đình Nhi biết chủ động đi tìm và tham khảo các phương pháp học ngoại ngữ tốt để áp dụng cho mình. Sau khi Đình Nhi được vào học tại trường Đại học Harvard, đã có nhiều bạn học sinh khắp nơi trong cả nước gửi thư đến xin cho biết kinh nghiệm học ngoại ngữ. Trường Chuyên ngữ cũng đề nghị Đình Nhi viết bài phổ biến kinh nghiệm học tiếng Anh. Đình Nhi đã viết bài: “Mấy điều tâm đắc về việc học tiếng Anh”. (Bài này sẽ giới thiệu trong chương trình “Đình Nhi học cao trung”)
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 04:59:37me khoai>
COI TRỌNG TÌNH BẠN, HỌC CÁCH NHÚN NHƯỜNG
Cùng với sự phát triển trong tuổi dậy thì, nhiều học sinh trung học còn luôn đau khổ vì “cảm giác cô đơn” chẳng ai chịu hiểu mình, và luôn trông chờ có được một người nào đó biết hiểu mình. Có bạn trông chờ ở thầy cô giáo, có bạn trông chờ ở thế hệ cha anh, có bạn trông chờ ở bạn bè cùng trang lứa. Tâm lý con người nói chung là: cái có rồi thì cảm thấy bình thường, mà chỉ mơ ước những cái gì mình chưa có.

Cũng như mọi đứa con trong gia đình chỉ có một con, cái mà Đình Nhi cảm thấy thừa thãi nhất chính là sự quan tâm của cha mẹ, cái thiếu nhất lại là tình bạn. Ở lứa tuổi này, tình bạn như một chất “rượu nồng” luôn làm các cháu say mê. Vì nhiệm vụ học tập quá nặng nề, cô chủ nhiệm và chúng tôi đều nhất chí chủ trương không để Đình Nhi lãng phí quá nhiều thời gian vào việc giao du bè bạn, nhưng như vậy không có nghĩa là ngăn cản nhu cầu tâm lý rất bình thường đó cuả Đình Nhi. Để thoả mãn khát vọng giao du bè bạn, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn tạo điều kiện để Đình Nhi gặp gỡ các bạn thân cũ, dành cho các cháu cả thời gian và không gian thích hợp để tình bạn được phát triển hơn nữa về chiều sâu. Ngay từ nhỏ đã được giáo dục đức tính coi trọng tình bạn, trong những cuộc gặp gỡ ấy tình cảm của Đình Nhi đã được thể hiện thật trong sáng và cảm động.

Buổi sáng chủ nhật, người bạn thân Vương Ngọc của tôi đã đến chơi. Tình cảm của chúng tôi rất sâu sắc. Ngay từ lúc còn ở lớp mẫu giáo, hai chúng tôi đã không dời nhau nửa bước. Tính đến nay, ôi, đã được 9 năm rồi. Đã nửa tháng không gặp nhau, hôm nay gặp lại, vui mừng biết bao!

Bạn Vương Ngọc có lẽ cũng xúc động lắm, má cứ đỏ bừng. Chúng tôi tay nắm tay, mắt nhìn mắt, cùng mỉm cười. Tim tôi đập rộn ràng, có bao điều muốn nói mà sao không nói được nên lời. Vương Ngọc chắc cũng như tôi. Một lúc khá lâu, Vương Ngọc mới nói: “Chào bạn! Chào cậu!”, “Bạn có khoẻ không?” – “Tớ khoẻ, bạn có khỏe không?” – “Hì, hì!” Cả hai cùng cười, không khí nhẹ nhõm hẳn đi. Vương Ngọc kể về cuộc sống và việc học tập của mình, tôi cũng vậy. Cả hai đều cảm thấy thật là mới lạ và thích thú.

Thời gian trôi đi từng phút, từng phút, từng giờ… Đã đến lúc bạn Vương Ngọc phải về rồi. Tôi tiễn bạn ra tận đầu đường. Hai đứa cứ nắm chặt tay nhau không nỡ rời xa: “Thứ bảy tuần sau lại đến chơi nhé? Phải đến đấy!” – “Ừ, đến, đến chứ, nhất định tớ sẽ đến!” Lời hẹn ước ấy đã gắn chặt hai trái tim chúng tôi với nhau.

Để tránh sự phân tán tình cảm trong việc kết bạn, và cũng để tránh cho cháu chơi thân với những người bạn xấu, chúng tôi đã nói rõ quan điểm của mình với Đình Nhi: “Ba mẹ không tán thành việc con kết bạn qua thư từ với những người trong mục “Tìm bạn” trên báo chí, và cha mẹ cũng không phản đối việc trao đổi thư từ với những “người bạn cũ”, mà cha mẹ đã biết rõ”. Bởi vì chúng tôi rất hiểu tâm trạng sung sướng khó nói thành lời của con cái, khi chúng nhận được những lá thư của những người bạn thân mà chúng hằng mong nhớ.

Buổi trưa hôm nay, theo lệ thường tôi lại đến hòm thư học sinh để xem mình có thư không. Tôi lơ đãng lật giở chồng thư, đang định quay về, bỗng nhìn thấy trên phong bì màu vàng sẫm có dòng chữ: “Người nhận: Bạn Lưu Diệc Đình”. Tôi vội cầm thư, nhưng do xúc động, tay run run, mãi mới cầm được. Nhìn kỹ lại, quả nhiên là thư của tôi. Thật sung sướng và bất ngờ. Đây chính là lá thư của Tề Tịnh, bạn thân của tôi. Lá thư mà tôi hằng mong đợi.

Tôi vội bóc phong bì, suýt nữa xé rách cả thư. Tôi đọc kỹ từng dòng, lời lẽ trong thư giản dị và mộc mạc, chẳng có chút nào văn vẻ hoa mỹ, chỉ có tình cảm sâu nặng. Lòng tôi ấm áp, hai má nóng bừng.


Đến tối, lấy giấy bút ra, tôi định trút hết tình bạn đang nóng bỏng trong lòng lên tờ giấy trắng. Nhưng không hiểu sao, tôi không thể nào viết nổi lấy nửa dòng, bàn tay phải cứ run run nắm chặt lấy quản bút…

Chúng tôi cho rằng để vươn tới cái chân, thiện, mỹ, sự thể nghiệm sâu sắc về tình bạn là điều vô cùng quan trọng. Để giữ vững và phát triển các mối quan hệ bạn bè chân chính, Đình Nhi đã bắt đầu thay đổi những thói quen không có lợi cho sự phát triển đó.

Tôi là một người rất kỹ tính trong việc chọn bạn. Có thể nói rằng, từ bé đến giờ tất cả những người mà tôi cho rằng có thể làm bạn được đều đã trở thành bạn tốt của tôi. Nhưng bây giờ thì lại khác.

Người bạn ngồi cùng bàn với tôi là Phan Điền Điền, học rất giỏi, tính tình cởi mở, đúng đắn, có thể nói tài đức vẹn toàn, đương nhiên rất có thể chọn làm bạn thân được. Chúng tôi suốt ngày cười nói, gắn bó với nhau như bóng với hình, cũng có lúc cãi nhau một tý, nhưng rồi lại dàn hoà được ngay. Thế nhưng…

Chiều nay, để tranh lấy chiếc bánh bích quy trong tay tôi, Phàn Đìên Điền đã đánh tôi mấy cái. Lát sau, nhân lúc bạn Phàn không để ý, khi bạn định ngồi xuống chiếc ghế đẩu, tôi đã nhanh chân gạt chiếc ghế đó sang bên, Phàn Điền Điền liền ngã lăn ra đất, hai mắt đỏ hoe chực khóc. Tôi bỗng hoảng lên, vội kéo bạn ấy dậy, miệng lắp bắp: “Xin lỗi, xin lỗi! Đừng giận mình nhé!”
Phàn Điền Điền quay ngoắt người đi, tôi ra sức giải thích nhưng bạn ấy vẫn một mực không thèm nghe. Từ đó hai chúng tôi, tuy vẫn ngồi cùng một bàn, nhưng hầu như xa cách nhau, giữa chúng tôi như có một tấm kính mỏng ngăn cách. Tôi cảm thấy ngột ngạt vô cùng.

Xin hỏi các bạn, tôi phải làm gì bây giờ: “Chẳng lẽ lại xoá bỏ những ngày tháng đẹp đẽ kia sao?”

Cô giáo Lý đã phê bên cạnh bài nhật ký này một câu: “Tự con sẽ có được một sự lựa chọn đúng đắn!”

Đình Nhi đã không phụ lòng tin của cô giáo, cháu đã chủ động làm lành với Phan Điền Điền. Cuối cùng bằng sự chân thành cởi mở, Đình Nhi lại được Phàn Điền Điền tin yêu thân thiết. Quá trình thay đổi cách đối xử trong quan hệ bạn bè vừa rồi, đã làm cho Đình Nhi kiên nhẫn hơn, càng độ lượng hơn. Điều đáng quý là, sự “tự nghiêm khắc với mình ấy” không phải vì có sự thúc ép của cha mẹ, mà chính từ nội tâm cháu đã biết “cần độ lượng với người”.
KỲ NGHỈ ĐÔNG, BAY XUỐNG PHƯƠNG NAM
ĐẾN VÙNG ĐẶC KHU, THAM QUAN DU NGOẠN
Vào kỳ nghỉ đông năm thứ nhất của Đình Nhi, một người bạn của chúng tôi ở Quảng Châu tên là Lý Quốc Kiều, tha thiết mời gia đình tôi về nhà anh ăn tết. Hai vợ chồng chúng tôi bàn bạc có nên đi hay không. Ba nói: hiện thời phạm vi cuộc sống của ĐìnhNhi khá bó hẹp, nhân chuyến đi này có thể mở mang được sự hiểu biết cho con, có thể tích luỹ cho con một chút ít về vốn sống. Thế là Đình Nhi, một cháu gái 1 tuổi, với nhiệm vụ “tham quan và tích luỹ vốn sống” đã được đi du lịch 10 ngày ở cả ba đặc khu kinh tế nổi tiếng phương Nam: Quảng Châu, Thẩm Quyến và Chu Hải. Trong chuyến đi này, những trang nhật ký của cháu đã dày thêm với biết bao kỷ niệm đầy ý nghĩa.

Chú Lý là một thương gia rất thành công trong sự nghiệp, người thay chú tiếp đón chúng tôi tại Thẩm Quyến là chú Trần, cũng là một con người giàu có và thành đạt. Chuyến bay về phương Nam này quả là một chuyến “chơi sang”. Trước một nếp sống xa hoa mà nhiều người hằng mơ ước ấy, Đình Nhi đã tỏ ra rất thích thú, nhưng cũng đầy lý trí.

Trong những trang nhật ký của một cháu gái chưa đầy 13 tuổi lúc bấy giờ, có một cái nhìn bình tĩnh khácch quan, có phê phán. So với thời đã xuống nông thôn năm cháu lên 10 tuổi, có thể thấy Đình Nhi từ “một cô bé hay hỏi” đã trở thành “một cô bé có nhiều tư duy”. Qua cách suy nghĩ và nhận xét của Đình Nhi, cũng có thể thấy được trong tâm hồn của cháu hoà tan khá nhuần nhuyễn những quan niệm giá trị mà ba mẹ và nhà trường đã bồi dưỡng bấy lâu nay.

Lần đầu đi máy bay
10 giờ 30 phút sáng hôm đó, tôi cùng ba mẹ đến sân bay. Sau khi vội vã làm thủ tục, chúng tôi đi vào hành lang kiểm tra an toàn. Đến đây mẹ con tôi phải chia tay ba (vì ba có việc bận, không đi Quảng Châu được). Tôi đặt va-li vào băng dây chuyền của máy kiểm tra an toàn hành lý, lại vội vã chạy sang cửa kiểm tra an toàn hành khách để nhận hành lý. Bỗng nghe thấy những tiếng còi “tút, tút, tút” vang lên trong máy, nhân viên kiểm tra giữ tôi lại. Họ dùng máy dò kim loại dò đi dò lại khắp người tôi. Tôi lo quá, rõ ràng mình không hề có một thứ hung khí nào ở trong người, mà tại sao lại không đi qua được cửa kiểm tra an toàn.

Máy dò kim loại bỗng dừng lại ở chỗ túi quần tôi, tiếng “tút, tút, tút” vẫn đều đều không ngớt. Ôi, thì ra cái dây chìa khoá. Phát hiện ra, tôi như trút bỏ được gánh nặng trên vai, vội vã chạy đi nhận hành lý. Sau đó tôi kéo mẹ chạy vào phòng chờ. Chạy đến cửa rồi mới chợt nhớ ra là quên chưa chào tạm biệt ba. Tôi vội vàng quay đầu lại, nhìn kỹ mà chẳng thấy bóng dáng ba đâu. Có lẽ chờ lâu quá, ba đã thất vọng bỏ đi rồi. “Sorry, father!”. Tôi bất giác thở dài hối hận, rồi bước nhanh vào phòng đợi.

Do sương mù dày đặc, lần đầu tiên đi máy bay tôi đã được chứng kiến cảnh ùn tắc của 19 chuyến bay. Từ lúc 6 giờ sáng, sương mù máy bay không cất cánh được. Qua lớp sương mù vẫn nhìn thấy rất nhiều máy bay đang đậu trên đường băng. Trong phòng chờ chật ních những người. Đến tận 11 giờ 30 phút, loa phóng thanh mới bắt đầu thông báo cho hành khách lần lượt lên từng chuyến bay. Rất may, khi đến lượt chúng tôi, chuyến bay vẫn đúng giờ.

Chiếc máy bay mà chúng tôi bay là chiếc Boeing 75T. Tôi ngồi ở số ghế 21 hàng F, ở phiá trước cánh phải máy bay, lại sát ngay cửa sổ. Tôi thắt dây an toàn, hiếu kỳ nhìn ngược nhìn xuôi. Một lát sau, máy bay bắt đầu nổ máy, rồi lướt nhẹ trên đường băng. Bỗng nhiên, một sức mạnh vô hình nào đó ép mạnh tôi vào thành ghế sau lưng, thì ra máy bay đã rời khỏi đường băng bay vào không trung. Máy bay lắc lư xuyên qua những tầng mây bao phủ trên bầu trời lòng chảo. Lúc ấy tôi có cảm giác mình như một “Tề thiên đại thánh” đang đằng vân giá vũ bay vào chín tầng mây. Vượt qua lớp mây mù, máy bay đã lên đến độ cao 10 ki-lô-mét, đường bay bỗng êm hẳn. Phía dưới sâu thăm thẳm, cảnh vật thì biến hoá lạ kỳ, có lúc giống như biển, mênh mang phẳng lặng, có lúc giống như núi, trùng điệp nhấp nhô, cũng có lúc giống như trên Bắc cực, trắng toát một màu…Những cảnh đẹp hoành tráng kỳ ảo, thật không có bút nào tả xiết. Tôi say sưa ngắm nhìn những quang cảnh kỳ thú đó qua cửa sổ máy bay, cho đến khi ánh nắng mặt trời rọi chiếu làm chói mắt, tôi vội kéo tấm màn che cửa sổ máy bay, đang định nghỉ ngơi chốc lát…

“Hãy xem kìa, Phật quang!” Người ngồi phía trước tôi bỗng kêu lên vẻ mừng rỡ. Tôi vội kéo tấm màn che nắng, nhìn ra bên ngoài chỉ thấy ngay phần sau máy bay có một vầng hào quang bảy màu, hình như đang bám chặt lấy máy bay cùng bay trong không trung. Tôi vội quay sang bảo mẹ xem, mẹ nhìn một lát, vui vẻ nói: “Thôi con cứ xem đi!” Tôi ngồi ghì sát mắt vào cửa kính máy bay, nhìn vầng hào quang đó đang nhạt dần, cho đến lúc hoàn toàn mất hút. Tôi sung sướng thở một hơi nhẹ, xoay người ôm ghì lấy vai mẹ, nhìn vào mắt mẹ, cười nũng nịu, lòng tràn ngập tình yêu thương và sự cảm kích…

 Dạo chơi trong vườn động vật hoang dã

Hôm nay đến Thẩm Quyến, một người bạn của chú Lý mời mẹ con tôi cùng gia đình chú đi chơi vườn thú. Tôi nói nhỏ với mẹ: “Ở Thành Đô chả có vườn thú rồi hay sao? Con không muốn đi đâu, xem cái khác hay hơn”. Mẹ nói: “Biết làm sao hả con! Mẹ cũng không muốn đi, nhưng phải chiều lòng cô chú ấy chứ”.

Đến vườn thú, thấy trước cổng có ghi một dòng chữ lớn màu đỏ tươi: “Vườn động vật hoang dã”. Tôi nghĩ bụng: hoang dã cái cóc gì, nhốt chặt trong lồng sắt, cũng gọi là hoang dã? Hừ! Tôi chen vào, đám đông đang mua vé vào cửa, thấy trên tấm bảng ghi rõ ràng mấy chữ: “Mỗi vé giá: 70 nhân dân tệ”. Tôi giật mình: “Gì mà đắt thế, 70 đồng một vé!” Vội vàng đi hỏi mẹ. Mẹ nói: “Mức sống của nhân dân đặc khu cao hơn nhiều so với nội địa!”

Theo dòng người, chúng tôi đi vào vườn thú, theo hướng dẫn, chúng tôi đi xe hơi. Mẹ nói: “Ồ, mẹ hiểu ra rồi, đây là vườn thú động vật hoang dã, nhốt người chứ không nhốt thú đây mà!” Nghe mẹ nói, tôi lập tức liên tưởng đến vườn động vật hoang dã Kennedy nổi tiếng mà tôi đã đọc trong sách báo. Ai ngờ nước mình cũng có vườn động vật hoang. Kiểu ấy ta đây chỉ được xem qua màn ảnh nhỏ. Tôi bắt đầu thấy hứng thú.

Ô tô bắt đầu nổ máy, nhìn qua cửa sổ ô tô, tôi nhìn thấy những chú công xinh đẹp kéo chiếc đuôi dài sặc sỡ đang ung dung đi dạo trên những thảm cỏ xanh. Trên sườn núi những cô nai rừng óng ả đang rượt đuổi nhau đùa nghịch. Có những con chim rất to màu lông đỏ như lửa đang đứng một chân lim dim ngủ. Trời bỗng đổ mưa, mưa rắc hạt trên mặt hồ trong vắt, tạo thành những vòng tròn sóng nước, những chú thiên nga trắng thanh cao thong thả bơi trên mặt hồ. Tôi bất chợt nghĩ đến câu thơ của nhà thơ đời Đường, Lạc Tân Vương: “Lông trắng trên nước biếc, chân đỏ khua sóng xanh…” Vừa ngắm nghía, tôi vừa nghĩ đến những động vật trong vườn thú Thành Đô, nghĩ đến những đôi mắt luôn ngơ ngác như vô hồn của chúng. Tôi tuy chưa được nhìn thật rõ đôi mắt của những loài động vật ở đây, nhưng có thể tưởng tượng được, đôi mắt chúng sáng trong đầy sinh khí.

Chúng tôi đi vào khu thú dữ. Những con sư tử cao đang cố ý phô những “bộ áo giáp” vàng óng ánh, sải những bước chân hùng dũng trông thật là oai vệ. Ô tô đi vào khu nuôi hổ, vừa đến nơi đã gặp ngay một con hổ chắn đường, nó trừng mắt nhìn, rồi bỗng lao thẳng về phía xe chúng tôi, cả xe hoảng hồn. Biết không làm gì được, con hổ đó lẳng lặng lùi sang vệ đường, trừng mắt nhìn một lần nữa rồi bỏ đi.

Ra khỏi vườn thú dữ, mẹ bất giác thốt lên: “Người Thẩm Quyến quả là… đã không làm thì thôi, đã làm phải làm cho ra trò. Tư duy mới, đầu óc mới, đúng vậy!”
Về đến khu vườn có thể đi bộ được, trời bỗng đổ mưa to. Vì không đem theo áo mưa nên không đi xem tiếp được, đành phải tạm biệt khu vườn thú hoang dã này với một sự tiếc nuối khôn nguôi.

Đến Tiểu Mai Sa dạo chơi trên bãi biển

Mồng ba Tết, chú Trần và chú Lý lái xe dẫn chúng tôi đến Tiểu Mai Sa ngắm biển.

Tuy vẫn còn trong những ngày nghỉ Tết, nhưng suốt dọc đường đã có khá nhiều đội xây dựng đã bắt đầu đào núi. Những người lao động này có khác gì “Ngu công dời núi” ngày xưa. Chỉ có điều công cụ làm việc của những “Nhu công” hiện đại này, không còn là cuốc xẻng, thúng mủng nữa mà những chiếc máy khoan hiện đại. Họ kế thừa tinh thần và ý chí “Ngu công” cần cù khoét núi lấy về những xe đầy đá sỏi để xây nên những ngôi nhà cao tầng lộng lẫy.
Hãy nhìn xem, quả núi lớn thế kia mà đã bị vẹt đi một nửa.

Đi thêm một đoạn nữa, trước mắt hiện ra cả một công trường xây dựng. Chú Trần nói: “Đây là công trường xây dựng cầu cảng Diêm Điền. Chỉ ít lâu sau nơi đây sẽ trở thành hải cảng lớn nhất nước ta”. Những chiếc cần cẩu màu quýt chín, những chiếc máy đóng cọc bê tông màu xanh lục, những chiếc máy lăn đường màu vàng chanh… tất cả đều đang ầm ầm nổ máy. Những cô chú công nhân xây dựng mồ hôi nhễ nhại, tất bật cần cù.

Xe vừa đến bãi biển Tiểu Mai Sa, gió biển lồng lộng. Tôi vươn vai hít một hơi dài căng lồng ngực, khoan khoái thưởng thức làn gió trong lành và hương vị mặn mà của biển. Những hơi thở đều đều của thần gió đã làm cho cả mặt biển mênh mông, bóng loáng và trong xanh kia cuộn lên muôn ngàn lớp sóng, làm cho biển cả dưới lớp sương mù bàng bạc càng thêm lên những tảng đá nhấp nhô ven bờ. “Người Thẩm Quyến quả là rất biết ăn chơi!” Bất giác tôi thốt lên.

“Đi, chúng ta đi chơi trò đạp sóng!” Chú Trần nói với chúng tôi.

Tôi tháo giày, chân trần lội xuống vùng nước nông ven biển. Lúc thì sục chân xuống lớp cát mịn màng, mát rượi, lúc thì lò cò chạy nhảy lung tung, có lúc nhón chân chạy theo những làn sóng biển xô bờ. Chú Trần xắn quần lội ra xa chăm chú chụp ảnh. Một làn sóng lớn bỗng ập đến, váy tôi ướt sũng và hai ống quần chú Trần cũng vậy, cả hai chú cháu nhìn nhau cười ha hả. Một cô đi cùng đoàn chúng tôi, cứ chạy đi chạy lại trên bãi biển, để lại từng vết chân in trên cát, chỉ loáng sau, sóng biển lại xoá nhoà tất cả, cô lại tiếp tục làm lại, vừa chạy vừa cười cùng với tiếng sóng ì oạp vỗ bờ. Chú Trần đứng bên tôi, nói: “Đến mùa hè, người đến đây tắm biển mới đông, những nhà nghỉ và các thôn xóm quanh đây thường chật ních người. Người Thẩm Quyến có câu: Làm hết sức, chơi hết mình”.

Tôi nghĩ, chính vì người ta biết “làm hết sức” cho nên họ mới có đủ điều kiện để “chơi hết mình”.

Có loại sách giáo khoa nào giáo dục lòng yêu nước đối với trẻ con có hiệu quả hơn thực tiễn xây dựng và sáng tạo vô cùng phong phú và sinh động của nhân dân Trung Quốc. Chính nhờ sự quan sát tập trung, sâu sắc và tỉ mỉ như vậy, khiến cho khái niệm về Tổ quốc vốn rất trừu tượng đã ngày càng cụ thể và sinh động hơn trong trái tim Đình Nhi, làm chi tình yêu Tổ quốc của Đình Nhi ngày càng tha thiết.

Sau những ngày nghỉ Tết vui vẻ ấy, cô Lý đã đọc cho cả lớp nghe những trang nhật ký mà Đình Nhi đã ghi chép được trong chuyến đi xa vừa rồi. Bên cạnh những dòng nhật ký đó, cô Lý phê: “Rất có ý nghĩa, chuyến đi vừa rồi thật không vô ích!”
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 05:01:54me khoai>
KHÔNG LÀM MỘT CHIẾC “MÁY HÚT BỤI”
CHỈ NGUYỆN LÀM MỘT “CON ONG MẬT” CHUYÊN CẦN

Từ sau chuyến đi du ngoạn về phương Nam, tôi phát hiện thấy Đình Nhi có những thay đổi khá rõ rệt. Cháu không còn hay tíu tít chuyện trò với tôi như trước đây. Tự nhiên cháu trở nên thích lặng lẽ quan sát một mình, thích một mình trầm tư suy nghĩ. Thậm chí, có lúc đã bị tôi trách mắng nặng lời, cháu cũng chẳng buồn cãi lại, cứ lặng lẽ bỏ đi. Vả lại nếu những lúc như vậy chỉ cần cháu cãi lại một câu, chắc chắn giữa hai mẹ con sẽ trở thành to chuyện. Khi học năm thứ hai bậc sơ trung, cũng chính là lúc tâm lý chống đối của Đình Nhi bước vào giai đoạn cao trào nhất. Có những lúc cháu đã dám cãi lại cả tôi: “Ai quy định bắt buộc trẻ con cứ phải nghe lời người lớn?” Thấy được tính chất ngiêm trọng của vấn đề, tôi đã nhẹ nhàng khuyên bảo cháu, hai mẹ con cùng đọc lại cuốn “Kỷ cương nề nếp đối với học sinh trung học”.

Tự Đình Nhi cũng biết rằng “lứa học sinh trung học hiện nay luôn có tâm lý chống đối”. Những quan niệm, những chuẩn mực mà cha mẹ, các thầy cô giáo và cả xã hội khẳng định, lại luôn bị xem thường, chế giễu và bài xích trong giới học sinh trung học. Nguyên nhân thật giản đơn: lên trung học rồi, trưởng thành rồi, phải có tính độc lập chứ. Nhưng lại không biết nên thể hiện thế nào, thế là họ bèn thể hiện “cá tính” và “tính độc lập” của mình bằng cách xem thường tất cả mọi chuẩn mực bấy lâu nay xã hội đã thừa nhận. Rõ ràng, đây chỉ có thể là biểu hiện của tính ấu trĩ mà thôi. Nói vậy chứ sức mạnh của quy luật tự nhiên thật khó mà cưỡng lại được. ĐÌnh Nhi cũng vậy, trong lòng luôn biết rằng, cha mẹ nói như vậy là rất đúng, nhưng ngoài miệng, bất kể đúng sai, cứ phải cãi lại cái đã, và hơn thế nữa, đã từ lâu cháu không cho chúng tôi xem nhật ký.

Về việc giáo dục con trong lứa tuổi "chống đối" đó, chúng tôi sẽ giới thiệu trong chương sau. Nói chung, cách suy nghĩ của chúng tôi là phải quản cả hai mặt: một là luôn động viên Đình Nhi phải độc lập suy nghĩ, phải biết tự mình phân biệt được đâu là thiện là ác, tốt, xấu trong học tập và cuộc sống của mình. Mặt khác, cha mẹ phải chủ động điều chỉnh phương pháp giáo dục của mình, để Đình Nhi dễ dàng tiếp nhận những tư tưởng và biện pháp đúng đắn của chúng tôi. Chúng tôi tin rằng, những nền móng tư tưởng mà Đình Nhi đã định hình được từ những năm tiểu học không dễ gì bị đảo lộn, ý chí tiến thủ mãnh liệt của Đình Nhi sẽ thúc đẩy cháu tìm được những người thầy mẫu mực nhất. Còn việc sợ Đình Nhi bị ảnh hưởng bởi bạn bè, chúng tôi luôn nhắc nhở cháu: nguyện là một "con ong mật", chuyên cần, chứ không làm một "chiếc máy hút bụi" vô tri vô giác.

Mãi tận mấy năm sau, chúng tôi mới có dịp đọc lại những trang nhật ký của Đình Nhi trong những năm học bậc sơ trung. Những trang nhật ký ấy đã chứng tỏ rằng, cách làm cuả chúng tôi là rất có hiệu quả. Những sự tìm tòi và suy nghĩ của Đình Nhi luôn có được những kết luận như chúng tôi hằng mong muốn. Có được quá trình đó, cho nên những quan niệm tư tưởng đúng đắn của Đình Nhi không còn là sự sắp đặt của cha mẹ và thầy cô giáo nữa, mà nó chính là kết quả cuả một sự thể nghiệm chính bản thân Đình Nhi. Chúng tôi không có tham vọng giới thiệu tất cả, mà chỉ chọn ra đây mấy bài tiêu biểu mà Đình Nhi  đã viết khi cháu còn đang học năm thứ hai bậc sơ trung.

Dũng khí và sĩ diện
Dũng khí, theo từ điển giải thích là khí phách dũng cảm, dám làm dám chịu. Trong quan niệm của mọi người, dũng khí là sự can đảm hơn người, được thể hiện ra trong những giờ phút nguy kịch nhất.
Kỳ thực, trong cuộc sống, dũng khí ở chỗ nào cũng có.
Ví như, hôm nay trong giờ làm bài tập, yêu cầu ai làm xong trước tự giác đứng lên. Kết quả là, có nhiều bạn đã làm xong bài rồi, nhưng không ai dám đứng lên. Nguyên nhân chính là thiếu tự tin với đáp án của chính mình.
Tôi cũng là một trong những người đã làm bài xong rồi, nhưng không có dũng khí đứng lên. Sau khi làm xong bài, tôi nghĩ: "Có nên đứng dậy hay không". Nếu đáp án của mình sai, thì thật là xấu mặt! Tốt nhất, chả đứng lên làm gì. Sau này có người đã mạnh dạn đứng lên trả lời, tôi thấy rằng, đáp án của mình là đúng.
Bây giờ nghĩ lại, thấy mình lúc đó sao mà hèn nhát vậy, chỉ sợ mình sai, và nếu sai - thật là mất mặt. Tính sĩ diện cuối cùng đã chiến thắng cả dũng khí.
Cảm thấy xấu hổ, vì hôm nay tôi là một kẻ hèn nhát. Ngày mai, chắc tôi không thế nữa.

Chăm chỉ và lười biếng
Trước đây không biết ở quyển sách nào, tôi đã đọc được một câu khá ngộ nghĩnh: "Quét nhà - một công việc kết hợp cả lao động trí óc và chân tay, vừa phải đổ mồ hôi công sức trước mặt thầy cô giáo, lại phải vừa nghĩ cách để không ai vứt rác bừa bãi". Điều này hình như rất đúng với thực tế. Khi cả trường làm tổng vệ sinh trong phòng ở, thì lại khác, có những bạn luôn tìm cách trốn tránh.
Tôi nghĩ, chính vì bạn ấy chưa nhận thức được đúng đắn tầm quan trọng của lao động: nó không chỉ phục vụ cho học tập, mà còn là sự rèn luyện của chính mình, là sự bồi dưỡng một thói quen lao động. Nếu không tự nhận thức được điều đó, mà chỉ làm việc vì bị bắt buộc hoặc sựo hình phạt, đương nhiên không thể nào giải quyết được vấn đề.

Hùng biện và kỷ luật
Hôm nay ở trên lớp, tôi đề nghị các bạn chơi trò "toà án". Tôi phân công các bạn, người đóng nguyên cáo, người đóng vai bị cáo, người đóng luật sư buộc tội, người đóng luật sư bào chữa và cả một hội đồng bồi thẩm nữa. Chúng tôi muốn thông qua trò chơi này để rèn luyện tài hùng biện của mỗi người. Các bạn trong lớp ai cũng hoan nghênh. Cả lớp sôi nổi hẳn lên nhao nhao tranh luận, không tài nào giữ được trật tự như ban đầu. Chỉ riêng công việc "dẹp loạn" ấy dể đưa được mọi người vào nề nếp kỷ luật đã mất đến già nửa thời gian.
Qua đó tôi thấy rằng, vấn đề kỷ luật là vô cũng quan trọng. Nó chẳng khác gì một cái van an toàn, giữ cho việc học tập và công tác được tiến hành thuận lợi. Vấn đề mà mọi người hay bỏ qua, luôn cảm thấy gò bó và khó chịu ấy, thật ra rất quan trọng. Cũng như vậy, những con người tưởng chừng rất bình thường, rất giản dị, nhiều khi lại là những con người siêu phàm nhất.

Siêu phàm nhất
Khi làm bài thi bỏ sót những vấn đề cần làm, hiện tượng này không chỉ xảy ra một lần với tôi. Nhưng lại nghĩ rằng, đấy chỉ là sự thiếu thận trọng nhất thời, chỉ cần lần sau thận trọng hơn tí chút là có thể tránh được thôi mà. Kỳ thực, cái gọi là "nhất thời" ấy chính là ngọn nguồn của mọi sai lầm. Coi sai lầm là một sự ngẫu nhiên, sao không thấy rằng đó chính là một sự "ngẫu nhiên" tất yếu.
Không chỉ việc bỏ sót đề thi, mà còn nhiều sai sót khác tôi cũng quy tội cho nó chỉ là sự "ngẫu nhiên"... Nhưng khi làm bài, đầu óc dù căng thẳng đến đâu, có ai quên cả tên mình. Chính vì chưa luyện tập thành một thói quen thuần thục, chứ đâu phải là một sự ngẫu nhiên. Một phút thành công, mười năm khổ luyện. Mười năm khổ luyện tránh cho bạn rất nhiều sự "ngẫu nhiên".. Việc học tập của chúng ta cũng phải mất nhiều năm khổ luyện, đến khi cần gì phải lo chuyện ngẫu nhiên.
... Để loại bỏ mọi sự "ngẫu nhiên", phải thường xuyên luyện tập.

Tiền bạc và tình bạn
Chủ nhật tuần trước là ngày sinh nhật của một người bạn tôi từ thời tiểu học. Vì thời gian gấp gáp tôi không thể đến chúc mừng bạn được, chỉ gọi điện thoại đến chúc mừng. Bạn ấy khoe với tôi, năm nay được nhiều quà lắm, mà toàn loại đắt tiền, quà tặng thấp nhất cũng mười mấy đồng bạc, còn có những món quà đến hơn ba trăm đồng, loại một trăm đồng thì nhiều lắm... Nghe xong tôi bất giác nghĩ: để chúc mừng một người bạn sinh nhật mà phải tiêu tốn của cha mẹ mấy chục đồng bạc mua tặng phẩm chẳng phải là xa xỉ lắm sao! Có người vẫn cho rằng, tặng phẩm quý mới là thân thiết. Tôi lại phản đối kiểu dùng tiền bạc để xây dựng tình bạn. Vì rằng tình bạn phải được xây dựng trên cơ sở hiểu biết nhau, tin cậy nhau chứ không thể xây dựng trên cơ sở vật chất. Tôi cũng mong các bạn hãy chống lại kiểu "tình bạn vì tiền" này. Tình bạn phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, chứ không thể bằng tiền bạc.

Bơi lội với học tập
Ngày mai, khoá học sinh chúng tôi tổ chức đi bơi. Tôi vẫn nghĩ, chắc mọi người sẽ hăng hái lắm, thế mà chỉ có chưa đầy một nửa số người đăng ký. Nhiệt tình thể thao của lớp tôi ở mức độ thật đáng buồn!
Có nhiều bạn nói: thời tiết đẹp như thế này mà đi bơi, thì thật là phí. Tôi không tán thành ý kiến đó. Thể thao rất có lợi cho sức khoẻ, sức khoẻ tốt mới học tập tốt được. Đây là cách học tốt nhất, chứ không phải suốt ngày chỉ chúi đầu vào sách vở.

Cái đầu và cuộc đời
Hôm nay tôi đọc được một câu chuyện khá hay: nhà tâm lý học người Mỹ Barcon tổ chức một "bữa đại tiệc cho thanh niên". Ông yêu cầu mỗi người đến dự phải viết một bản tự giới thiệu về mình. Có một thanh niên vẻ mặt thất vọng mang đến nộp cho Barcon một bản tự giới thiệu, trong tờ giấy đó chỉ có ba cái dấu: "-!.". Người đó giải thích rằng: "Dấu gạch ngang (_) có nghĩa là anh ta đã có một thời tung hoành ngang dọc, còn dấu chấm than (!) ám chỉ: mọi việc đều thất bại; còn dấu chấm hết (.) tức là mọi việc đã kết thúc rồi". Xem xong Barcon cũng ghi lại ba cái dấu khác ngay dưới đó: ",...?". Ý đồ nhà tâm lý học muốn động viên người thanh niên đang có tư tưởng buồn chán tự ti đó: "Tuổi trẻ mới chỉ là một quãng đường ngắn trong cuộc đời - ông biểu thị bằng dấu phẩy (,); con đường phía trước đang còn dài, tiền đồ lại đang rộng mở, Barcon biểu thị bằng những dấu chấm lửng (...); lẽ nào bạn chưa nghe nói rằng: "Sự hối cải và biết phấn đấu vươn lên của những kẻ tầm thường thật đáng trân trọng", hay sao? - Đó là biểu thị của dấu chấm hỏi (?)".
Đúng vậy, trong cuộc đời của mỗi con người ai chả từng chịu thất bại, có nhiều người hễ cứ thất bại là lại thất vọng tự ti, những con người trong khó khăn, thất bại mà vẫn lạc quan tin tưởng ở tương lai của mình như ông Barcon đây không phải là nhiều. Muốn thành công, không thể thiếu được những niềm lạc quan như vậy.

Học sinh nam và học sinh nữ
Với chúng tôi, năm thứ ba bậc sơ trung chỉ còn trong gang tấc. Có nhiều người nói, các học sinh nữ trong năm học này dễ bị "suy sút tụt hậu". Tôi cho rằng câu nói này cũng có lý của nó. Ở lứa tuổi này, các bạn trai chỉ việc học và học, còn bọn con gái chúng tôi có nhiều điều phải lo nghĩ! Nhưng theo tôi cũng không phải hoàn toàn như vậy. Bởi vì, đã có biết bao tấm gương rất thành công trong đại nghiệp ở phái nữ chúng tôi, tiến sĩ, anh hùng đâu phải thiếu. Điều đó chẳng đủ để cho các bạn tăng thêm lòng tự tin hay sao? Tôi hoàn toàn không muốn tự trói mình bởi quan niệm mà đởi hay nói: "Con gái tóc dài nhưng đoản chí, để rồi nhụt chí nản lòng, chưa đánh đã ngã". Tôi muốn đem hết sức mình ra để phấn đấu tranh đua. Chưa biết kết cục như thế nào, nhưng tôi vẫn rất tin ở bản thân mình. Tục ngữ có câu: "Gái có công, chồng chẳng phụ" kia mà.
Tôi cũng mong muốn tất cả chị em phụ nữ chúng ta, hãy mạnh dạn vươn lên, để đến cuối đời không phải hối hận!

Quả báo với vận may
Hôm nay, tôi nhận được một bức thư rất kỳ lạ, cuối thư có ký tên: "Lão phật gia". Trong thư có nói tôi phải chép lại lá thư này 20 bản và trong vòng 96 tiếng đồng hồ phải gửi đi hết cho các người thân quen. Nếu làm như vậy, tôi sẽ gặp vận may, còn như nếu không tôi sẽ bị quả báo. Sau đó, người viết thư còn lấy ra hàng loạt ví dụ để chứng minh.
Những lá thư kiểu này, tôi đã được nghe nói đến vài lần. Lúc ấy, tôi đã từng tự tin mà nghĩ rằng: nếu mình nhận được một lá thư như vậy, mình sẽ coi như một tờ giấy bỏ đi, đem ra nháp toán. Nhưng giờ đây quả thực mình đã nhận được rồi, mới biết rằng nó thật ghê gớm. Tôi vốn không mê tín, nhưng cứ nghĩ đến câu "nội trong chín mươi ngày sẽ bị quả báo", lòng thấp thỏm không yên. "có thờ có thiêng, có kiêng có lành" là suy nghĩ của số đông người về những sự việc đại loại như thế này. Phải chăng mình cứ thử làm xem, đề phòng bất trắc... Nghĩ đi nghĩ lại, tôi quyết định : cứ chép ra 20 bức thư này, có làm sao.
Hãy khoan, đây chẳng phải mình đã đầu hàng tư tưởng mê tín dị đoan sao? Biến mình thành một kẻ nô lệ của nó ư? Đầu tôi bỗng vang lên câu nói đó. Tôi như chợt tỉnh, phải rồi, các loại thư tín kiểu này đã triệt để lợi dụng tâm lý lo xảy ra tai hoạ và nỗi ước ao đối với vận may của con người. Có thể đây cũng chính là nguyên nhân cho tư tưởng mê tín dị đoan tồn tại.
Cuối cùng, tôi dứt khoát xé bức thư ấy, không thể đặt hy vọng của mình vào những sự viễn vông như thế. Tất cả những cái già là vận may, là phúc phận đều phải từ sự phấn đấu của chính bản thân mình.



0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 05:06:19me khoai>
CHƯƠNG BẢY:
DIỄN VỞ “TRỜI XANH THĂM THẲM TRÊN ĐẦU” –
THAM GIA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

Nếu có bạn hỏi chúng tôi: “Vợ chồng anh chị đã khi nào “dập tắt” niềm say mê hứng thú chính đáng của Đình Nhi?” Xin trả lời ngay: Chưa khi nào, nhưng chúng tôi vẫn luôn ngăn Đình Nhi đi vào con đường xướng ca, nghệ thuật. Chúng tôi nghĩ rằng, cái nghề này, có được chút thành công nào phần lớn phải dựa vào người khác, phải dựa vào một sự ngẫu nhiên. Chúng tôi không muốn thấy con mình phải có một kết cục không được sáng sủa lắm như nhiều diễn viên cũng đã từng nổi tiếng một thời, đến khi nhan sắc đã tàn phai, phải đi làm các “nghề vặt” bằng nghệ thuật.

Chúng tôi luôn coi trọng mọi cơ hội đến với Đình Nhi. Chỉ cần có thể giúp Đình Nhi mở rộng tầm mắt, rèn luyện tài năng là chúng tôi tạo điều kiện cho Đình Nhi tham gia. Càng biết nhiều hiểu rộng, vốn sống và kinh nghiệm càng nhiều, khả năng chống lại những cám dỗ thấp hèn càng mạnh, càng đảm bảo cho cháu tránh được những sai lầm có hại cho lợi ích lâu dài của cháu. Vì vậy, khi nhận được điện thoại mời Đình Nhi tham gia diễn kịch truyền hình, chúng tôi đã không từ chối.

CÓ DUYÊN VỚI KỊCH NÓI

Chuyện Đình Nhi được chọn đóng vai cô con gái ngài thị trưởng trong bộ phim dài nhiều tập “Trời xanh thăm thẳm ở trên đầu” có thể nói là một “sự may mắn, ngẫu nhiên”.

Trước khi Đài truyền hình trung ương dựng vở “Trời xanh” này, ông Trần, trưởng Ban Văn nghệ Đài truyền hình Tứ Xuyên, trong một buổi dạ hội mừng Lễ Giáng sinh được tổ chức tại ngoại ô thành phố đã tình cờ gặp Đình Nhi và một giáo sư người Mỹ đang giảng dạy tại Trường Chuyên ngữ Thành Đô. Họ đã nói chuyện với nhau rất vui vẻ, còn chụp cả ảnh lưu niệm nữa. Ông Trần rất thích tấm ảnh này, thường mang theo bên người.

Vào khoảng hai năm sau, khi ở Thành Đô hương mai còn phảng phất, sắc hải đường rực rỡ khoe tươi, Đoàn làm phim Đài truyền hình Trung Ương do đạo diễn Chu Hoàn dẫn đầu từ Bắc Kinh về tới Thành Đô. Người phương bắc về đến đây, họ sợ nhất là “mùa đông ở Thành Đô ngoài trời trong nhà lạnh như nhau”. Vì vậy, ông Quách, chủ nhiệm phim, một con người khôn ngoan, khi đi tiền trạm, ông nhằm ngay khách sạn Sở điện lực Thành Đô. Ở đây từ phòng bình dân đến phòng cao cấp đều có lò sưởi hơi. Thế là cả tầng năm và tầng sáu khách sạn này đã được đoàn làm phim thuê bao trong ba tháng, trở thành Đại bản doanh của Đoàn trong suốt thời kỳ quay bộ phim “Trời xanh” tại Thành Đô.

Một hôm, đạo diễn Chu Hoàn nói với ông Trần, Trưởng ban Văn nghệ Đài Truyền hình Tứ Xuyên: “Đoàn làm phim đang muốn tìm một nhân vật đóng vai Tiểu Băng, con gái viên thị trưởng Hoàng Giang Bắc, ông xem ở Thành Đô này, trong số người quen biết có cháu gái nào đóng được vai này không?” Ông Trần liền nghĩ ngay đến Lưu Diệc Đình. Ông rút trong túi ra tấm ảnh chụo trong lễ Giáng Sinh: “Ông xem cháu bé này thế nào?” Đạo diễn cầm bức ảnh ngắm nghía một lát, nói: “Được đấy, hình dáng thích hợp”. Ông Trần nói với đạo diễn: “Lưu Diệc Đình  khi 5 tuổi đã đóng vai diễn viên quần chúng trong một bộ phim do Đài Truyền hình Tứ Xuyên dàn dựng, chỉ có điều Lưu Diệc Đình hiện nay còn kém 2 tuổi so với nhân vật Tiểu Băng mà đạo diễn yêu cầu, không biết có trở ngại không?” “Không sao, ông cứ đưa cháu lại đây”, đạo diễn trả lời.

CÓ NÊN NHẬN LỜI HAY KHÔNG?

Ông Trần lập tức gọi điện thoại thông báo cho chúng tôi. Lúc đầu, tôi nghĩ rằng, đây chỉ là một gánh hát nhỏ nào đấy muốn tìm một cháu bé thích được lên sân khấu, nên tôi khước từ. Vì chúng tôi không muốn cho Đình Nhi bước vào con đường nghệ thuật, càng không muốn Đình Nhi phải phơi mặt lên màn bạc với một vai diễn phản diện khiến mọi người chê, dù có là nhân vật chính cũng không. Ông Trần vội giải thích: Chu Hoàn là một đạo diễn có tiếng tăm của Đài truyền hình Trung ương, bộ phim kịch truyền hình “Hoàng đế cuối cùng” của ông vừa rồi được giải nhất liên hoan phim toàn quốc. Nhân vật Tiểu Băng, con gái viên thị trưởng mà ông mời Đình Nhi sắm vai là một nhân vật chính diện…

Vậy sao? Tôi hơi xiêu lòng, nhưng vẫn chưa trả lời ngay, tôi đề nghị cho xem kịch bản rồi mới quyết định.

Tôi và ba của Đình Nhi đã thức trắng đêm đọc một mạch hết các đoạn phân cảnh của 19 tập trong bộ phim truyền hình “Trời xanh”. Kịch bản đã miêu tả thành công cuộc sống đương đại phong phú và phức tạp, tác giả đã dám nhìn thẳng vào xã hội của chúng ta với dũng khí của một người cách mạng, vạch trần những hiện tượng xấu xa đang vẩn đục trong xã hội của chúng ta. Tóm lại, kịch bản đã đề cập đến những vấn đề nóng bỏng mà người dân trong cả nước đang quan tâm.

Chúng tôi cho rằng đây là một kịch bản rất hay, hiếm có, nó có ý nghĩa giáo dục khá sâu sắc về tinh thần cảnh giác chính trị. Chúng tôi tạm thời quyết định: nếu thời gian phải nghỉ học để đóng phim không quá một tháng, và lần diễn thử không có vấn đề gì, chúng tôi chấp nhận cho Đình Nhi đóng vai Tiểu Băng.

LẦN ĐẦU GẶP ĐẠO DIỄN CHU HOÀN

Nhận được điện thoại của Đình Nhi, cuối tuần đó sẽ từ trường trở về nhà. Vừa ăn cơm tối xong, cháu liền đến khách sạn Sở Điện lực tìm đạo diễn Chu Hoàn. Gặp được Đình Nhi, đạo diễn và chủ nhiệm phim đều rất mừng. Ông chủ nhiệm nói: “Mới 14 tuổi mà dáng người đã cao như thế này, rất hợp với vai con gái viên thị trưởng”. Đạo diễn Chu Hoàn cũng tỏ vẻ hài lòng: “Được đấy, dáng thanh tú, kiểu tóc đẹp, đúng là mẫu của một học sinh trung học”.

Tôi tò mò hỏi đạo diễn: “Tại sao các bác lại chọn Thành Đô để quay bộ phim nói về phương bắc “Trời xanh”này?” Ông giải thích: “Ở bộ phim này nhiều nhân vật nam, ít nhân vật nữ, những bộ phim nhiều nhân vật nam, các cảnh quay thường khô khan, ít hấp dẫn, nếu quay ỏ phương bắc thì phải chờ đến tháng 5, mới có được cảnh đẹp, còn ở đó bây giờ đang rất lạnh, cảnh vật cằn cỗi không đạt yêu cầu kỹ thuật”.

Đình Nhi cũng tò mò hỏi: “Ở miền nam này có rất nhiều thành phố đẹp, sao bác chỉ chọn Thành Đô?” Ông chủ nhiệm nói chen vào: “Đây không phải là bộ phim đặt hàng, nên kinh phí rất là hạn hẹp. Nếu quay ở các thành phố vùng duyên hải như Quảng Châu, Thượng Hải… riêng tiền ăn ở đã quá nặng rồi, còn đâu tiền để dựng phim nữa”.

Đạo diễn Chu Hoàn giới thiệu sơ qua về nhân vật Tiểu Băng mà Đình Nhi sắp đóng. Nghe xong Đình Nhi tỏ vẻ phấn khởi và tự tin: “Cháu tin rằng, cháu sẽ thể hiện được nhân vật Tiểu Băng”.

Mọi việc đều thuận lợi như vậy, chúng tôi không còn lý do gì để từ chối nữa.

CÁI ĐƯỢC VÀ CÁI MẤT

Trường của Đình Nhi rất ủng hộ việc này. Cô giáo Lý còn cổ vũ Đình Nhi: “Cố gắng mà luyện tập, cô sẽ bảo các bạn giảng lại bài cho con”. Ban biên tập tạp chí “Sân khấu và cuộc sống” cũng đồng ý để tôi không phải đến cơ quan làm việc trong thời gian này, để có thời gian theo Đình Nhi đi diễn xuất. Đồng thời cũng nhân đó tìm hiểu một chút về cuộc sống.

Sau khi các diễn viên các nơi khác về tập trung đầy đủ, ông Vương Huy, phó đạo diễn, người phụ trách triệu tập diễn viên, đã thông báo cho các diễn viên nhà ở Thành Đô ngày giờ tập trung để quay thử.

Một phòng họp lớn khách sạn được bố trí thêm đèn sáng rực và một máy quay phim. Đình Nhi và các diễn viên khác lần lượt xuất hiện trên màn hình theo dõi. Đạo diễn chăm chú nhìn vào màn hình, luôn miệng ra lệnh cho các đồng nghiệp quay phim và phụ trách ánh sáng “tiến gần”, “lùi xa”, “quay toàn cảnh”, “quay cận cảnh”…

Lúc bắt đầu, Đình Nhi còn chưa được tự nhiên lắm trước ánh sáng chói mắt và những ánh mắt nhìn chăm chú những người xung quanh. Nhưng khi thấy các diễn viên khác đều rất bình tĩnh, tự nhiên, Đình Nhi cũng đã mau chóng trấn tĩnh được. Tôi rất muốn biết tới đây Đình Nhi sẽ phải cộng tác với những ai, nên đã khéo léo nhờ Phó đạo diễn giới thiệu cho biết: Diễn viên đó là ai? Sẽ đóng vai gì? Qua lời giới thiệu, tôi phát hiện ngoài Cao Minh diễn vai bí thư Lâm và Liệu Kinh Sinh diễn vai Hạ Chí Viễn ra, còn có các nhân vật chính khác đều là diễn viên địa phương, rất ít khi xuất hiện trên Đài Truyền hình Trung Ương. Tôi nói nhỏ với ông Vương: “Bây giờ làm phim người ta rất thường biết lợi dụng tiếng tăm của các minh tinh màn bạc, sao các ông lại không nghĩ vây?” Ông Vương cũng nói nhỏ với tôi: “Chúng tôi cũng đã nghĩ đến vấn đề này. Nhưng theo ý của đạo diễn Chu Hoàn, phim “Trời xanh” này vốn đã có kịch bản rất hay. Vì vậy, ông muốn nhân dịp này giới thiệu với công chúng trong cả nước một số khuôn mặt mới, tạo cảm giác mới lạ cho người xem, đồng thời cũng tạo được tiếng tăm cho người diễn”. Tôi đồng ý với ý kiến của đạo diễn. Nhớ lại trước đây, khi đạo diễn Chu Hoàn chọn Trần Đạo Minh sắm vai trong bộ phim kịch truyền hình “Hoàng đế cuối cùng”, lúc bấy giờ Hoàng Đạo Minh còn chưa có tiếng tăm gì. Tôi lại hỏi: “Bắc Kinh là nơi nhân tài như nước, tại sao các bác lại chọn Lê Minh, một nghệ sĩ nhân dân tỉnh Thiểm Tây đóng vai Hoàng Giang Bắc?” Ông Vương nói: “Con người Lê Minh rất có góc cạnh, khán giả đã chán ngấy với cách diễn quen thuộc của một số minh tinh, chắc họ sẽ rất thích cách diễn mới lạ của Lê Minh”.

Đúng lúc ấy, Đình Nhi và Lê Minh vừa xong đoạn quay thử, cùng bước ra. Ông nói, ông rất hài lòng với đứa con gái “của mình”. – “Bà thấy không, đôi mắt của “cha con tôi” giống nhau đấy chứ?” Tôi thực sự mừng cho Đình Nhi đã gặp được dịp may hiếm có.

Trước lúc đóng phim, qua “ông bố thị trưởng” này, Đình Nhi đã thể nghiệm được những quan niệm về “được, mất” mà chúng tôi vẫn thường răn dạy cháu: Có được, tất có mất, quy luật bù trừ mà, cái gì đáng đợi thì phải đợi.

KHUÔN MẪU SỐNG ĐỘNG

Để làm nổi bật đặc trưng tính cách của ông thị trưởng Hoàng Giang Bắc trong phim “Trời xanh”, - ông Bắc vốn xuất thân từ tầng lớp bình dân, gắn bó với tầng lớp lao động, - Đoàn làm phim chọn một ngôi nhà trong khu dân cư ngoại ô thành phố. Ngôi nhà ông thị trưởng trong phim chính là nhà bà Tống Thục Phương, nhân viên đã nghỉ hưu của Trường Đại học Y Hoa Tây. Đình Nhi cứ thắc mắc, ở khu dân cư không lấy gì làm giàu có này, tại sao lại có một ngôi nhà rộng rãi thoáng mát và thanh nhã như thế nào. Tôi động viên Đình Nhi, nhân dịp quay phim, con thử dò tìm hiểu xem sao. Nghe nói Đình Nhi là học sinh trường Chuyên ngữ, bà Tống rất vui vẻ và đề nghị hai bà cháu nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh. Qua cuộc trao đổi thú vị đó, Đình Nhi phần nào giải đáp được điều thắc mắc trên của mình. Cháu đã viết vào nhật ký:

… Gia đình bà Tống, từ triều Minh đến nay đã 13 đời đều là những trí thức có tiếng tăm. Đến bà là đời thứ 14. Bà đã tốt nghiệp Trường Đại học Y Hoa Tây, biết bốn ngoại ngữ. Bà giành được những học vị cao trong các ngành tâm lý học và nghệ thuật cây cảnh. Trước ngày giải phóng, bà dạy tâm lý học trong trường Đại học Y Hoa Tây, sau giải phóng, bà chuyển sang làm nghề thiết kế vườn hoa cây cảnh trong nhà trường. Những hồ sen, bãi cỏ, rặng cây râm mát bên đường, những bồn hoa chạy dọc các lối đi, những vòi phun nước, hòn non bộ, và rất nhiều tượng đài…trong Trường Đại học Y Hoa Tây đều là những công trình rất tâm đắc của bà. Ngay vườn hoa trước cửa nhà bà, cũng do bà tự thiết kế rồi mượn tiền xây dựng ngay từ những ngày mới giải phóng.
Giờ đã 80 tuổi, bà vẫn nhanh nhẹn, giọng nói vẫn khoẻ. Chồng bà, ông Đỗ Thuận Đức là một tiến sỹ y khoa, là học vị cao nhất trong giới y học thời bấy giờ. Qua nghiên cứu, ông đã xác định được “Hồ đậu hoàng” là một bệnh di truyền, tại Quảng Châu, ông đã chữa khỏi cho nhiều người. Vì vậy, ông đã được Mao Chủ Tịch đích thân tiếp kiến, và được Thủ tướng Chu Ân Lai mở tiệc khoản đãi.

Con trai bà thừa kế sự nghiệp của cha, tiếp tục nghiên cứu đã tìm ra một loại thuốc đặc trị căn bệnh “Hồ đậu hoàng” này, tỉ lệ khỏi bệnh đạt đến 99%, một cống hiến quan trọng trong ngành y. Vì vậy, cũng như cha, anh đã được Chủ tịch Giang Trạch Dân tiếp kiến và Thủ tướng Lý Bằng mở tiệc khoản đãi.
Hiện nay, các cháu trai, cháu gái của bà phần lớn đều đang ở nước ngoài. Hai cháu ở Nhật, hai cháu ở Canada, hai cháu ở Mỹ, chỉ có một cháu đang ở Australia, họ đều là tiến sĩ khoa học.

Bà hiện nay rất hạnh phúc, tuy rằng tiền bạc không nhiều mà danh vọng cũng không. Tiền bạc, danh lợi chết là hết, chỉ có sản phẩm tinh thần là vĩnh cửu, tồn tại lâu dài. Con cháu bà hiện nay, chính là một loại sản phẩm tinh thần của gia đình bà. Bây giờ các cháu bà đã khôn lớn thành tài, quả thật bà là người hạnh phúc.

Đoàn làm phim vốn đã cảm kích trước việc làm cao thượng của bà là không lấy tiền thuê nhà khi Đoàn mượn cảnh để quay. Họ không ngờ bà chủ nhà ăn vận xuềnh xoàng này lại là một gia đình đại trí thức, nơi tập trung khá nhiều nhân tài của đất nước. Mọi người đều tấm tắc thán phục: “Thành Đô quả thật là một thành phố có truyền thống văn hoá lâu đời, trong một ngõ hẻm bình thường như thế này mà có một gia đình giàu truyền thống văn hoá như vậy!”

Từ đó hình ảnh của bà cụ Tống đức độ, uyên thâm và từng trải đã trở thành khuôn mẫu sống động để Đình Nhi mơ ước.

BÀI HỌC VỀ SỰ CHÂN THÀNH

Trong khi chờ đợi “phu nhân của ông Thị trưởng, bà Thượng Băng” về đến Thành Đô, Đoàn làm phim đã tranh thủ quay xong những cảnh không có bà xuất hiện. Sau khi nữ diễn viên Mục Ninh từ Bắc Kinh bay tới Thành Đô, Đình Nhi mỗi ngày hầu như đều phải làm việc vất vả với “mẹ” gần 10 tiếng đồng hồ. Rét tháng ba ở Thành Đô, mọi người đều phải khoác lên mình những chiếc áo dày. Thế mà các diễn viên vẫn phải mặc những chiếc áo mùa xuân để đóng phim, rét run cầm cập.

Đình Nhi đã có tôi chăm sóc, đạo diễn vừa hô “dừng lại” là tôi đã vội chạy đến khoác lên mình cháu chiếc áo bông dày. Đợi đến khi các chú quay phim chuyển xong máy sang vị trí mới, và người phụ trách ánh sáng đã điều chỉnh xong đèn, tôi lại vội vã cầm áo bông chạy về chỗ cũ. Bà Mục Ninh thấy vậy cứ khen hoài: “Trên đời này chả có ai tốt hơn mẹ thật!”

Mục Ninh đã tham gia đóng khá nhiều phim truyền hình. Bộ phim “Quy tiết thâm sứ” bà đã giành được giải thưởng diễn viên xuất sắc. Nhưng có ảnh hưởng lớn hơn cả là bộ phim “Võ Tắc Thiên” mà nghệ sĩ Lưu Hiểu Khánh đóng vai chính, trong bộ phim này bà đóng vai Hàn quốc phu nhân, chị gái Võ Tắc Thiên. Có một phóng viên quen biết đoán rằng, chắc bà phải kiêu hãnh lắm khi được đóng vai này, và cứ theo phỏng vấn đó viết ngay một bài báo. Đọc bài báo viết về mình quả thật bà đã khóc dở mếu dở, từ đó bà không trả lời phỏng vấn và cũng không cho ai viết về mình nữa. Lần này cảm động trước sự chăm sóc chân thành của tôi, bà nói: “Thực tế, tôi tham gia đóng vai trong bộ phim “Trời xanh” này như thế nào, các chị đều đã rõ, nếu có định viết gì, cứ viết đúng như sự thật là được rồi!”

Qua câu chuyện Đình Nhi đã thấy được, người phóng viên thiếu trách nhiệm đã gây tổn thương như thế nào đối với đối tượng mình đã viết. Đồng thời cũng thấy được sức mạnh cảm hoá của tấm lòng tận tuỵ chân thành. Tất cả điều này trên lớp học các thầy cô ít có điều kiện để đề cập.
Bộ phim “Trời xanh thăm thẳm ở trên đầu” được quay ròng rã hơn 4 tháng tại các thành phố như Thành Đô, Đô Giang… Đình Nhi lúc tham gia đóng phim, lúc nghỉ. Tổng cộng cả lại, cháu tham gia đóng phim được gần một tháng. Gần một tháng trời vất vả khiến Đình Nhi thấy được nỗi gian nan vất vả của nghề nghiệp. Cảm nhận này đã được ghi trong nhật ký của Đình Nhi:

Phim truyền hình xem thì thích, còn làm phim lại rất cực khổ. Chỉ một cảnh thôi mà phải quay đến 5,6 lần mới được, riêng chuyện bố trí ánh sáng cho một cảnh quay phải mất hơn chục phút, có khi hơn nửa tiếng. Quay được một cảnh đi ra khỏi nhà lúc sáng sớm, chỉ để chiếu trong 5 giây, thế mà phải quay tới bốn năm chục phút. Điều này đã khiến tôi liên hệ đến việc học tập của mình, cũng có những điểm rất giống nhau. Học hành vất vả suốt cả năm trời, đến kỳ thi cuối năm cũng chỉ có mấy tiếng đồng hồ. Học cả 6 năm trung học, thi đại học cũng chỉ trong một hai ngày.
Mọi sự thành công đều được bắt nguồn từ sự phấn đấu lâu dài và thường xuyên.

Trong kịch bản phân cảnh, những cảnh thể hiện tình cảm của Tiểu Băng, bà mẹ và chú Mãn Giang chiếm tỉ lệ khá lớn. Vì cả tác giả lẫn đạo diễn đều sợ rằng phim chống tiêu cực thường khô khan cứng nhắc, nếu không đưa những trường đoạn tình cảm mùi mẫn vào, bộ phim sẽ thiếu sức hấp dẫn, không ngờ sau khi quay xong xem lại, chính nội dung chống tiêu cực trong phim lại được các diễn viên thể hiện khá thành công, rất có khả năng thu hút được người xem. Những đoạn trường tình cảm được đưa vào, nhiều chỗ lại có tác dụng ngược, làm loãng chủ đề. Sau khi bàn bạc kỹ càng, đạo diễn quyết định, đành phải cắt bỏ một số đoạn tình cảm do Đình Nhi, “mẹ” và chú Mãn Giang diễn xuất, mặc dù những đoạn này diễn khá thành công.

Bộ phim “Trời xanh” từ 19 tập đã rút gọn lại còn 17 tập, có nhiều cảnh Đình Nhi đã phải đổ khá nhiều mồ hôi và công sức mới hoàn thành được, thế mà vẫn bị cắt bỏ, Sau khi sàng lọc kỹ càng, bộ phim được ra mắt công chúng, khán giả khắp nơi đều nhiệt tình hoan nghênh.

Đối với Đình Nhi, có bao nhiêu khán giả còn nhớ đến người đóng vai nhân vật Tiểu Băng, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng hơn cả là tinh thần làm việc không kể ngày đêm, không quản ngại gian khó, không tính thù lao của mọi thành viên trong đoàn làm phim, Đình Nhi sẽ không bao giờ quên được. Và cũng không bao giờ quên tinh thần hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau của nhiều ban ngành, nhiều cơ quan đã giúp đoàn làm phim hoàn thành bộ phim chống tiêu cực này, nhất là sự giúp đỡ chí tình của bà con địa phương nơi Đoàn đến dựng cảnh quay phim.

THÊM MỘT THU HOẠCH NỮA


Bộ phim “Trời xanh thăm thẳm ở trên đầu” được phát trên Đài truyền hình đã gây nên một làn sóng dư luận trong cả nước. Giới báo chí ở Thành Đô liền có những bài viết tuyên truyền về những vấn đề có liên quan đến bộ phim này. Đình Nhi cũng được mọi người chú ý đến như một “tiểu minh tinh” mới xuất hiện. Thời gian đó, đi đến đâu Đình Nhi cũng gặp phải những ánh mắt hiếu kỳ và hâm mộ, cả những lời thán phục. Thầy Uông Hưng Tú, phó hiệu trưởng Trường Chuyên ngữ còn công khai biểu dương: “Hãy như Đình Nhi, làm nghệ thuật nhưng không quên học hành!”

Đình Nhi chưa khi nào tỏ ra tự mãn, tự đắc về sự thành công này. Trong suy nghĩ của cháu, đóng phim “Trời xanh” chỉ là một dịp để mình được tham gia thực tế vào xã hội, để học hỏi xã hội được nhiều hơn. Và sau khi tạm biệt đoàn làm phim, tất cả đã trở thành quá khú. Về việc đóng phim, cháu cũng có những chủ kiến riêng. Cháu đã tâm sự với một người bạn thân: “Dù thế nào cũng không nên vào cái nghề này, lãng phí thời gian lắm. Quay được một cảnh để chiếu trong một vài phút, thời gian bố trí ánh sáng và máy quay cũng đã mất đi một hai tiếng đồng hồ. Mình không muốn lãng phí thời gian vàng ngọc của mình vào những việc như thế”.

Trong thời gian tham gia Đoàn làm phim, Đình Nhi cũng đã có lần nghe lỏm được người lớn nói với nhau về những chuyện mặt trái của xã hội. Cháu đã ghi vào nhật ký:

Hôm nay, nhân lúc rỗi rãi, các cô chú trong Đoàn làm phim đã nói chuyện với nhau về những hiện tượng đấu đá giành nhau của các “ngôi sao lớn”, “ngôi sao nhỏ”. Các cô chú kể rằng, để giành được một vai diễn chính trong một bộ phim nào đó, có những diễn viên đã không từ một thủ đoạn nào. Chủ đề câu chuyện còn được chuyển sang cả những gian lận lừa bịp ngoài thương trường, cả những chuyện a dua bợ đỡ, tham ô, phạm pháp trong một vài quan chức hiện thời. Nghe được những chuyện tiêu cực trong xã hội này, tôi càng quý mến môi trường trong lành dưới những mái trường thân yêu. Ở đó, ai cố gắng bền bỉ sẽ thành công, ai có ý chí vươn lên sẽ gặp được cơ hội. Ở đó mọi người đều bình đẳng ganh đua, không chịu những ảnh hưởng của các “nhân tố khác” ngoài xã hội không có sự cạnh tranh công bằng.

Tôi cảm thấy cuộc đời học sinh thật là đáng quý, tôi phải biết trân trọng từng giây phút của đoạn đời “gold age” (những năm tháng vàng son) này.

Ngoài việc học được khá nhiều tri thức xã hội trong quá trình đóng phim, điều thu hoạch lớn nhất của Đình Nhi là phát hiện ra tiềm lực học tập của mình vẫncòn rất mạnh. Đình Nhi đều tận dụng thời gian rảnh rỗi trong khi tham gia làm phim để tự học bài vở, sau khi trở lại trường, Đình Nhi vẫn đứng đầu lớp trong kỳ thi giữa học kỳ. Và điều đáng mừng hơn là, ngay trong thời gian đóng phim Đình Nhi vẫn tranh thủ tham dự “Cuộc thi kiến thức vật lý bậc sơ trung” toàn quốc, kết quả là cháu đã giành được giải nhì.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 09:49:30me khoai>
CHƯƠNG TÁM:
TẶNG PHẨM MỚI CỦA BA:
GIÁO DỤC GIA ĐÌNH TRONG “THỜI KỲ CHỐNG ĐỐI”
  (Tự thuật của Trương Hân Vũ)
 
PHÒNG BỊ PHẢI TỪ XA, VƯỢT QUA BÃI ĐÁ NGẦM

Làm thế nào để Đình Nhi có thể vượt qua được “thời kỳ chống đối” trong thời gian cháu đang học trung học này một cách thuận lợi? Ngay từ khi Đình Nhi còn đang học tiểu học, chúng tôi đã suy nghĩ đến vấn đề này.

Trong quá trình trưởng thành của một đứa trẻ, thời kỳ học trung học, từ trước tới nay luôn được coi là “thời kỳ nguy hiểm” nhất và cũng là thời kỳ mà các bậc cha mẹ luôn đau đầu nhất. Thời kỳ này tập trung vào giai đoạn sơ trung. Nhiều thầy cô giáo cho rằng, học trò giai đoạn này quả thực là những chú “nghé con mới vực”.

Trẻ con trong “thời kỳ chống đối” này thường có tâm lý muốn rời xa cha mẹ. Có lẽ, trong giai đoạn này cha mẹ thường hay kêu ca, bắt bẻ làm chúng luôn cảm thấy không hài lòng, rất muốn tìm thấy những người bạn cùng lứa tuổi để thổ lộ nỗi lòng. Sự bế tắc trong tâm hồn khiến các cháu luôn cảm thấy cô đơn. Hơn nữa những khó khăn trắc trở trong sự trưởng thành cũng khiến các cháu thường bị ức chế và tự ti. Cùng với sự phát triển về thể chất, các cháu còn giống như “kẻ bị đè nén” bắt đầu đấu tranh để “giành quyền độc lập”, đòi cha mẹ phải nới lỏng “vòng tay o ép”, trả lại “tay lái con thuyền đời” của mình. Thế nhưng trên thực tế, còn lâu chúng mới đủ sự khôn ngoan và chín chắn để tự mình xác định được phương hướng cuộc đời mình.

Các nhà tâm lý học và giáo dục học đều nhấn mạnh, các cháu trong thời kỳ học trung học, giống như đang đi qua một bãi đá ngầm cần những tay lái vững vàng đầy kinh nghiệm của cha mẹ. Nếu như để mặc cho con thuyền ấy tự do trôi nổi trong khu vực đá ngầm, rất dễ bị vấp ngã lật thuyền hoặc lạc hướng. Có không ít các cháu đã đi vào con đường lầm lỗi ngay trong giai đoạn tuổi hoa này. Đó là những con thuyền bất hạnh giữa bãi đá ngầm.

Cho dù không xảy ra vấn đề gì lớn lắm, những sự xung đột thường xuyên giữa cha mẹ và con cái, cũng ngày một gay gắt hơn. Những thần tượng về cha mẹ được hình thành ở các cháu ngay từ thời kỳ thơ ấu, đến bây giờ sẽ ngày một bị mờ nhạt đi qua những xung đột hàng ngày, thậm chí đã biến thành “bạo chúa”. Các cháu sẽ rất không hài lòng, thậm chí còn chống đối ra mặt với cách quản thúc của cha mẹ. Và các bậc cha mẹ cũng sẽ thấy rằng phương thức giáo dục bằng trách mắng, ra lệnh đối với các cháu quả thực không còn hiệu nghiệm nữa.

Chúng tôi đã quyết tâm hạn chế đến mức tối thiểu những nhân tố bật lợi trong thời kỳ chống đối này ở Đình Nhi. Vì vậy, chúng tôi đã áp dụng phương pháp “phòng ngừa từ xa” (một vài điểm của phương pháp này ở những chương trước đã có đề cập đến). Sau khi Đình Nhi vào học ở sơ trung, chúng tôi đã tự động điều chỉnh phương thức giáo dục, cố gắng duy trì mối liên hệ thường xuyên và ảnh hưởng của chúng tôi đối với Đình Nhi, nhằm đạt hiệu quả cao trong việc “giáo dục tư tưởng”, giúp cháu sớm hình thành một nhân sinh quan khoa học và cao thượng.

Sự điều chỉnh kịp thời này, đã giúp chúng tôi có được một vài việc thành công.

BẮT ĐẦU TỪ VIỆC THƯỜNG XUYÊN QUAN TÂM ĐẾN NGƯỜI KHÁC,
ĐỂ XÁC LẬP CHÍ HƯỚNG

Sự thành công của mỗi con người, đều có một quy luật chung “Chí hướng là thầy của mọi việc” (Chí vi sự chi soái) có nghĩa là: chí hướng là động lực quan trọng cho mọi sự thành công trong sự nghiệp.

Môi trường sinh sống của những đứa con độc nhất, nhìn chung đều có những nhân tố bất lợi dễ làm các cháu nảy sinh tư tưởng mình là trung tâm của cả gia đình, tư tưởng này rất không có lợi cho việc khổ luyện thành tài. Luôn được quan tâm săn sóc, nhưng chúng tôi luôn phòng ngừa Đình Nhi sẽ trở thành một con người ích kỷ, mong muốn cháu là một con người giàu lòng vị tha, hảo tâm rộng lượng, biết nhìn xa trông rộng. Bởi vì xưa nay những con người làm nên nghiệp lớn đều là những con người có chí hướng rõ ràng, có hoài bão lớn lao. Còn mọi thói xấu như tham lam ti tiện, ích kỷ hại người, tính toán chi li, hẹp hòi thiển cận… đều là kẻ thù của mọi sự thành công.

Cơ sở của việc xác lập chí hướng là gì? Phải bắt đầu từ đâu để xác lập chí hướng cho con? Việc này chúng tôi phải xác định thật sớm cho Đình Nhi, nếu để muộn sẽ hoàn toàn bị động.

Tôi từng thấy, và cũng phải thừa nhận rằng, dã tâm và lòng tham cũng là một động lực thúc đẩy để làm nên sự nghiệp. Thế nhưng động lực đó đã mang trong mình nó quá nhiều, quá nặng “cái tôi”. Vì vậy, nó cũng chỉ là “một chiếc vé xe chay đường gần”, hoặc một chất kích thích đô-ping trong thi đấu thể thao, nó giúp con người ta đến đích thật nhanh, nhưng tàn lụi cũng nhanh. Có nhiều người tiếng tăm lừng lẫy một thời, cũng chỉ vì nguyên nhân ấy mà sự nghiệp và danh tiếng phút chốc tan thành mây khói. Dù thế nào cũng không thể đi theo con đường này được.

Do đó, tôi cho rằng, xác định chí hướng cho Đình Nhi phải bắt đầu dạy cho cháu biết quan tâm đến người khác. Một đứa trẻ một khi đã thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác, nhất định là biết quan tâm đến những nỗi đau của những người không có liên quan gì đến mình, mới có thể dứt bỏ được “cái tôi” hẹp hòi trong suy nghĩ và hành động, mới có thể phóng tầm mắt ra khỏi vòng luẩn quẩn những lợi ích cá nhân, để nhìn ra cả thế giới xung quanh, xây dựng được vai trò và sứ mệnh của mình trong thế giới đó. Có như vậy mới có đủ dũng khí và nghị lực phi thường để làm nên sự nghiệp.

Ở lứa tuổi nhi đồng, người được Đình Nhi hâm mộ nhất là Andersen, vì ông đã để lại cho tất cả trẻ con trên thế giới biết bao chuyện đồng thoại lý thú và hấp dẫn. Đến tuổi thiếu niên thì Đình Nhi lại hâm mộ những nhà khoa học và bác Lôi Phong bởi vì các nhà khoa học đã làm cho nhân loại không ngừng tiến lên, không ngừng hiện đại hoá nền văn minh, còn bác Lôi Phong cả một đời chỉ biết chăm lo tận tuỵ vì người khác.

Sự chăm lo thời tiểu học và cả trước đó nữa đã đặt cơ sở tư tưởng rất tốt cho Đình Nhi. Nhưng để xác định được chí hướng thật rõ ràng, chỉ ở giai đoạn tiểu học không thể làm xong được, ngay cả giai đoạn sơ trung cũng vẫn chỉ là giai đoạn chuẩn bị mà thôi. Nhưng tôi vẫn hy vọng, giai đoạn sơ trung sẽ la giai đoạn khởi động để Đình Nhi suy nghĩ và xác lập được chí hướng của mình.

Cha mẹ luôn có ý thức suy nghĩ về điều đó, còn Đình Nhi cũng suy nghĩ về điều đó một cách vô thức. Nói theo cách nói của các nhà tâm lý học, trẻ con trong lứa tuổi dậy thì luôn thích tò mò tìm hiểu về những lĩnh vực mà chúng chưa được biết. Trong quá trình tìm tòi đó, tính năng động chủ quan của trẻ được phát triển rất nhanh, đồng thời các cháu luôn có hứng thú về một chuyên ngành nào đó. Trong bài nhật ký “Những suy nghĩ lạ lùng trong một buổi sớm mùa hạ” viết trong dịp nghỉ hè năm thứ nhất bậc sơ trung của Đình Nhi, đã phần nào thể hiện được tâm trạng đó:

Sáng sớm hôm nay, đang nằm trên giường, chả hiểu sao, tôi chợt nhớ đến câu chuyện có người bỏ thuốc mê vào trong hoa quả cho người khác ăn, đợi người đó mê đi thì hành hung. Chuyện này mới đựơc phát trên truyền hình. Thế mà tôi cứ nằm suy nghĩ miên man. Nghĩ rằng, thuốc mê mà để trong trái cây rất dễ bị phát hiện. Nếu hoa quả có thể gây mê cho con người, sẽ rất khó phát hiện ra. Tôi chợt nhớ, trong một lần thí nghiệm bài sinh vật, cô giáo đã pha mực đỏ vào lọ cắm hoa, rồi cắm một bông hoa hồng bạch. Ít lâu sau, các gân lá và cả các cánh hoa cũng đỏ hồng lên. Ồ! Vậy thì mình có thể dùng dung dịch thuốc mê tưới cho cây ăn quả, rễ cây sẽ hút lên để nuôi quả, hơi nước bay đi, thuốc mê sẽ đọng lại trong trái cây. Chắc chắn ai ăn phải trái cây đó sẽ bị gây mê. Các loại thuốc kháng sinh khác cũng có thể làm theo cách đó. Như vậy, sẽ có các loại trái cây trị bệnh, như táo chữa ho, cam chữa cảm… Lúc ấy, ai mà chẳng muốn ăn “thuốc”? Nhưng tại sao người ta không làm nhỉ? Ồ! Mình hiểu ra rồi. Nếu tưới cây bằng nước thuốc, nồng độ dung dịch thuốc tất sẽ cao hơn nồng độ trong tế bào thực vật, như vậy tế bào sẽ bị mất nước và khô héo. Những nhành hoa trong phòng thí nghiệm chẳng đã nhanh khô héo hay sao?
Tôi vươn vai ngồi dậy, bật cười vì những suy nghĩ vớ vẩn của mình. Nhưng nếu không học sinh vật thì làm gì có những suy nghĩ thú vị như thế!

Đoạn nhật ký “Những suy nghĩ buổi sớm” như một “giấc mộng giữa ban ngày” ấy của Đình Nhi đã chứng minh cho một nhận định chung của chúng tôi là: Đình Nhi không có năng khiếu khoa học tự nhiên. Bởi vì cháu chưa có biểu hiện hứng thú nghiên cứu một cách say sưa và kiên trì về khoa học tự nhiên. Thế nhưng, một bài nhật ký khác viết sau đó chừng hai mươi hôm, và nhiều sự việc khác sau đó đã làm chúng tôi một lần nữa khẳng định: về khoa học xã hội, Đình Nhi đã thể hiện một sự say mê mãnh liệt có chiều hướng phát triển lâu dài.

Khi đi đổ rác, tôi thường gặp một bà già nhặt rác, có lẽ là một bà già sống cô đơn, trông thật đáng thương! Nếu không cô đơn, thì già cả như thế tội gì phải làm một công việc vừa bẩn thỉu vừa nặng nhọc đến như vậy?
Một hôm trên đường tan học về nhà, tôi lại gặp bà lão ấy, đang khom lưng cào bới trong các thùng rác bẩn thỉu và hôi thối. Mái tóc bạc rối bời búi lại sau gáy, khuôn mặt vàng ệch đầy những nếp nhăn, tất cả như đều muốn nói lên sự vất vả và đau khổ của cuộc đời. Bà mặc một chiếc váy rách nát, chân đi giầy ba-ta bộ đội, ngón chân cái thò hẳn ra ngoài…

Không nén được xúc động, tôi đi đến bên bà, tò mò hỏi: “Bà ơi! Bà già thế rồi, còn làm những công việc này làm gì?” Bà chậm rãi, ngẩng đầu nhìn tôi, rồi lắc đầu thở dài: “Làm để mà sống cháu ạ!” – “Thế bà không có con à?” – “Có chứ! Bà được ba trai, một gái, tất cả đã thành gia thất cả rồi”. Thì ra bà không phải là bà già cô đơn, tôi nghĩ vậy, rồi hỏi tiếp: “Thế sao bà không ở nhà vui vầy với con cháu có hơn không?” – “Với con cháu à?” – Bà nhắc lại, rồi nở một nụ cười đau khổ: “Chúng nó đều đã có gia đình riêng cả rồi, có đứa nào thèm nghĩ đến mẹ đâu, cũng chả có đứa nào muốn nuôi bà già ốm yếu này. Chúng nó đều coi bà là đồ bỏ đi. Bà tuy già nhưng  vẫn còn sức khoẻ, vẫn cần phải ăn uống, không làm việc này, biết làm việc gì hơn”.

Nghe bà kể về những đứa con bất hiếu ấy của bà, tôi giận điên người. Tôi bảo bà: "Bà có thể làm đơn kiện họ, họ đối xử với bà như thế vậy là phạm pháp đấy!" - "Ôi dào!" Bà lại thở dài não ruột: "Đều là ruột thịt cả mà ai nỡ làm vậy. Mà có kiện cáo thì quan hệ mẹ con lại càng căng thẳng hơn, hơn nữa, chúng còn dám ngẩng đầu lên nhìn mặt ai nữa!" Tôi bất chợt thấy đau nhói trong tim. Tôi vội chạy về nhà, chọn lấy hai quả táo to nhất, chín nhất, lễ phép đặt vào tay bà: "Bà ơi! Cháu biếu bà hai quả táo này!" Tay bà run run đỡ hai quả táo, vô cùng xúc động, bà không nói được lời nào, lặng lẽ quay đi.

Trái tim tôi cứ đập liên hồi. Tôi nghĩ, trong xã hội chúng ta, một xã hội có truyền thống kính già yêu trẻ, hiếu thuận với mẹ cha, thế mà vẫn còn có những bà già như thế này, không được con cái quan tâm chăm sóc. Lầm lũi sống trong cô đơn cực khổ, thế mà lúc nào cũng nghĩ về con, hy sinh tất cả vì con. Tôi tự hỏi: "Mình có thể làm được điều gì cho những con người bất hạnh ấy?"

Những câu chuyện và tình cảm như vậy còn bắt gặp khá nhiều trong nhật ký của Đình Nhi viết trong thời kỳ học trung học. Ví như nỗi lòng thương cảm đối với những em bé bị thất học, trong bài "Mong cho ngày thứ 32 đến sớm", hoặc nhắc nhở mọi người hãy quan tâm đến nạn đói trên thế giới trong bài "Cảm nghĩ sau khi nghe truyện "Bữa tiệc của những người đói khát""... Mỗi lần đọc được những dòng nhật ký đó của Đình Nhi, chúng tôi đều tìm cách bàn luận thêm về cháu, chia sẻ với cháu về những niềm tâm sự đó, nhằm biểu dương cháu về tấm lòng biết quan tâm đến thế thái nhân tình. Chúng tôi cho rằng, quan tâm đến người khác, không chỉ là ban phát ân huệ cho người ta một cách đơn phương, mà ngược lại, những con người được Đình Nhi quan tâm ấy đã cho cháu một cơ hội để cháu tự vượt qua khỏi cái vòng ích kỷ cá nhân để đến với nhân quần. Chúng tôi phải cảm ơn họ rất nhiều.

Từ chỗ biết quan tâm đến những người xung quanh, Đình Nhi đã biết quan tâm cả đến những vấn đề của đất nước, của thế giới. Đây là cơ sở rất tốt để Đình Nhi xác lập chí hướng của mình trong giai đoạn lên học cao trung.

Khuyến khích Đình Nhi biết quan tâm đến người khác chúng tôi đồng thời luôn nhắc nhở cháu, phải luôn cảnh giác với những nhân tố không đảm bảo an toàn. Trong xã hội đầy những cạm bẫy đối với trẻ con (nhất là đối với các cháu gái), sự cảnh giác thường xuyên này là một điều kiện tối thiểu và bắt buộc để các cháu lớn lên, đứng vững được trong cuộc đời.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-07 09:56:09me khoai>
 YÊU ĐƯƠNG SỚM?
PHẢI BIẾT ĐỀ PHÒNG TRƯỚC LÚC MANH NHA

Trong học sinh trung học, hiện tượng yêu đương sớm khá phổ biến, khi tôi đang viết những dòng này, có một bà mẹ đang đau khổ gọi điện cho tôi kể về việc đứa con gái của bà mới 12 tuổi đã sa vào con đường yêu đương...

Đối với học sinh trung học, yêu đương sớm chính là "cái hộp Pandore" trong thần thoại Hy Lạp. Nếu ai mở nó ra, các tai hoạ khủng khiếp trong cái hộp đó sẽ ào ạt bay ra tác oai tác quái. Yêu đương sớm có tác hại ghê gớm đối với tương lai của tuổi trẻ. Điều bất hạnh là, dù một trường học có quản lý gắt gao đến mức nào đi nữa, hiện tượng yêu đương sớm trong lứa tuổi học sinh vẫn cứ xảy ra. Hơn nữa, trong các trường trung học hiện nay, hiện tượng yêu đương sớm còn nghiêm trọng hơn nhiều so với thời Đình Nhi mới vào học sơ trung. Vì vậy, việc giúp cho các cháu biết khoá chặt "cái hộp Pandore" ấy lại là một điều vô cùng cần thiết.

Sau khi Đình Nhi được vào học Trường Chuyên ngữ không lâu, nhà trường đã mở hội nghị phụ huynh học sinh năm thứ nhất. Trong hội nghị đó, cô Trần, một giáo viên chủ nhiệm giàu kinh nghiệm, đã nêu thẳng vấn đề để các bậc phụ huynh cũng suy nghĩ và đề phòng:

"... Các cô các bác có nghĩ rằng, trong suốt 6 năm học ở nhà trường từ năm thứ nhất bậc sơ trung từ năm thứ nhất bậc sơ trung, đến năm thứ ba bậc cao trung, tiếp xúc gần gũi với nhau, ai dám chắc là không có vấn đề tình cảm. Chuyện yêu đương sớm trước tuổi trong học sinh rất dễ xảy ra". Các vị phụ huynh tất thảy đều giật mình lo lắng.

Yêu đương sớm là một vấn đề lớn mà vợ chồng tôi luôn canh cánh trong lòng. Trong số học sinh mà tôi từng làm chủ nhiệm, có một bé gái với đôi mắt đen tròn sáng rực, rất thông minh,thế nhưng đến năm thứ hai bậc sơ trung, một hôm lần đầu tiên nhận được một mảnh giấy của một bạn trai đưa đến. Rồi từ đó về sau là những bức thư tình tới tấp qua lại, tiếp đến là những cuộc hẹn hò trong đếm tối. Thế là thành tích học tập của cháu như đi cầu trượt, cứ trượt hoài đến mức phải lưu ban. "Ngoài cuộc thì sáng, trong cuộc thì quáng", cháu đã bỏ ngoài tai mọi lời khuyên bảo chí tình.

Đề phòng chuyện này xay ra với Đình Nhi, vợ chồng tôi đã tốn khá nhiều thời gian để bàn bạc, cố tìm ra nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa.

Chúng tôi nhận định rằng, có ba nguyên nhân dẫn đến việc yêu đương quá sớm:

Trước tiên, tâm lý trẻ con được phát triển đến một mức độ nhất định, chúng sẽ nảy sinh một cảm xúc thích những người khác giới, và sau đó là vấn đề tình cảm sẽ nảy sinh. Hơn hai nghìn năm về trước, Kinh Thi đã nói: "Cỏ em mơn mởn đào tơ. Bao chàng trai trẻ thẫn thờ chạy theo". Trai gái yêu nhau đó là bản tính tự nhiên tất yếu của con người. Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ thái độ của cháu trước sự rung động của trái tim non trẻ như thế nào. Và cha mẹ chỉ cần có biện pháp đúng đắn, sẽ có ảnh hưởng tích cực đối với thái độ ứng xử của các cháu.

Thứ hai, phim ảnh, những tiểu thuyết tình yêu sướt mướt, và cả những bài hát nỉ non đầy rẫy khắp nơi đã có ảnh hưởng tiêu cực thúc đẩy các cháu bước vào con đường yêu đương quá sớm.

Thứ ba, ảnh hưởng tiêu cực ngay trong một số bè bạn cùng trang lứa, cũng có tác dụng không thể coi thường.

Khi chuyện các cháu yêu đương trong lứa tuổi học trò đã trở thành chuyện phổ biến, chuyện bình thường, khi những tấm gương vẫn được bạn bè hâm mộ như những học sinh xuất sắc, những "liền anh, liền chị" trong giới học sinh cũng lao vào những cuộc yêu đương trước tuổi, tất nhiên sự tác động và sức lôi cuốn của nó đối với tâm lý các cháu thật là đáng sợ. Những "tấm gương" đó có sức mạnh ghê gớm lắm. Chính trong lúc đó, nếu lại có một anh chàng không đến nỗi đáng ghét lắm xuất hiện, rồi những mảnh giấy hẹn hò thơm mùi nước hoa, lại những bức thư tình sướt mướt, trong đó có rất nhiều những câu thơ trích dẫn dễ làm xúc động những trái tim non trẻ, thêm vào đó là những ánh mắt đắm đuối, những nụ cười khêu gợi, và rất nhiều sự chăm sóc ân cần đúng lúc... Làm sao những trái tim non nớt kia không gục ngã, điều đó chẳng có gì là lạ.

Khi một đứa trẻ đã trót sa vào con đường yêu đương quá sớm, khuyên nhủ chúng dừng lại là một điều rất khó. Biện pháp hiệu quả là phải "phòng ngừa từ xa". Biết vậy, nên chúng tôi cũng đã quyết định "mở chiến dịch phòng ngừa từ xa cho Đình Nhi".

Biện pháp ngăn chặn thứ nhất là: phim ảnh và các loại tiểu thuyết tình yêu là những trò mua vui trong cuộc sống, chỉ có thể xem chúng là những trò tiêu khiển, chứ không thể coi đó là cuốn sách giáo khoa cho cuộc sống.

Là một biên tập viên một tạp chí văn nghệ, chúng tôi có điều kiện thuận lợi hơn mà nhiều người không có: hiểu quá trình "sản xuất ra một minh tinh màn bạc" hay một tác phẩm văn nghệ nào đó.

Chúng tôi đặt kế hoạch khuyên nhủ Đình Nhi và triết lý của chúng tôi như sau: phim ảnh, đĩa hát và những cuốn tiểu thuyết ái tình nhan nhản hiện nay đối với những người sản xuất ra chúng cũng chỉ là những thứ hàng hoá kinh doanh. Thế là, các ông chủ ra sức tô son trát phấn, tuyên truyền quảng cáo cho thứ sản phẩm đặc biệt của mình, sao cho có thật nhiều người hâm mộ say mê sản phẩm của họ. Túi tiền của những người hâm mộ chính là nguồn tài sản của các ông và chủ các công ty. Đã có rất nhiều chuyện nực cười và rất đáng thương tâm do hậu quả của những thứ hàng hoá kinh doanh trên mang lại. Ở Nhật Bản có quá nhiều người say mê phim chuyện phương tây, đã tổ chức hội những người không lấy chồng để được "nổi tiếng". Thậm chí, có những người muốn được nổi tiếng hơn đã liều mình tự sát... Mỗi khi xảy ra một sự kiện bất hạnh do học đòi theo "mốt" các minh tinh như vậy, các minh tinh chẳng hề mất một sợi lông chân, dự luận xã hội lại một lần sôi động và các ông bà chủ những công ty lại được dịp hốt bạc nhiều hơn.

Ngoài ra, ngay từ nhỏ Đình Nhi đã đọc được khá nhiều sách viết về những con người nổi tiếng, được "gặp gỡ" với đủ loại các "ngôi sao", điều đó đã giúp cho cháu nhận thức rõ hơn chân giá trị của các "ngôi sao" bằng lý trí.

Trên cơ sở hàng loạt những sự thực đó, Đình Nhi đã biết cách lựa chọn và có được một quan điểm rõ ràng: đối với các loại ca khúc đang lưu hành "chỉ được thích thôi chứ không được say mê", phải luôn tỉnh táo trước những ngụ ý ngầm trong các bài hát, không được quá say mê để cho nó dắt mũi lôi đi. Đối với các loại tiểu thuyết ái tình, Đình Nhi vẫn không hề ưa thích. Đình Nhi luôn chán ghét các cảnh phong hoa tuyết nguyệt, bướm lả lơi trong các tiểu thuyết không có mấy giá trị đó. Ngay từ nhỏ, ĐÌnh Nhi đã được chúng tôi phân tích khá kỹ về những loại tiểu thuyết đó rồi. Xem ra, môi trường giáo dục đã phát huy tác dụng âm thầm thẩm thấu của nó.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đã để cho Đình Nhi tự rút ra kết luận. Cháu đã dùng bút đỏ để viết vào mảnh giấy rồi dán ngay trước bàn học câu: "Phim ảnh và các loại tiểu thuyết tình yêu chỉ là trò mua vui, chỉ có thể xem chúng là trò tiêu khiển chứ không được coi là sách giáo khoa cho cuộc sống". Lời tổnh kết đó như một bức tưòng chắn không cho các nhân tố ngoại lai xâm nhập ảnh hưởnh đến tình cảm của Đình Nhi. Tất cả những sách báo, phim ảnh, băng đĩa có nội dung không lành mạnh đều bị đẩy ra khỏi cửa, tránh cho Đình Nhi những cám dỗ thấp hèn.

Biện pháp ngăn chặn thứ hai: Chúng tôi khẳng định với cháu rằng, trò chơi tình yêu đi vào thì dễ, rút ra thật khó.

Một ngày cuối tuần, Đình Nhi từ trường trở về nhà, vừa gặp ba mẹ cháu liền tíu tít kể về một chuyện khá thú vị ở trường:

"Ba mẹ biết không, ở lớp con hôm nay có một bạn nêu ra một sáng kiến: yêu đương sớm là rất có hại, cho nên, đương nhiên là không được yêu rồi. Nhưng cũng có thể chơi trò yêu đương, chỉ yêu giả vờ thôi. Như vậy vừa tránh được tác hại của tình yêu quá sớm, vừa có thể được hưởng chút thú vị của tình yêu. Ba mẹ thấy bạn ấy nói chuyện có buồn cười không?"

Chúng tôi đều không ai cười được, trái lại bắt đầu lo: đợi khá lâu không có chuyện yêu đương sớm, "con quỷ chín đầu" này đã bắt đầu xuất hiện rồi sao? Xem ra, cái trò nguỵ biện này cũng chẳng có gì hấp dẫn Đình Nhi cho lắm.

Ngay hôm đó, chúng tôi cùng ngồi lại bàn luận với Đình Nhi:
"... Cái lý luận về yêu giả vờ của bạn con, ba mẹ e rằng chính anh ta cũng chưa hiểu được rằng, trò chơi đó đi vào thì dễ mà rút ra thì thật là khó. Nếu đã chơi rồi, một khi một bên không tiếp tục chơi nữa, thì đối phương sẽ sinh lòng hối hận, nhẹ thì cãi vã liên miên, nặng thì tìm cách hại nhau, giết người trả thù. Báo chí thường đăng nhiều vụ án mạng như vậy. Ai dám bảo đảm rằng, trò chơi ấy của mình sẽ không kết thúc bằng nhiều sự việc bi thảm đến như vậy? Hoặc giả, bên này vẫn muốn chơi tiếp, mà bên kia lại muốn chấm dứt trò chơi, nỗi đau khổ do bị thất tình sẽ làm cho người ta thân tàn ma dại. Trên đường đi học chắc con đã gặp những cô gái phát điên, tóc rối bù mặt bẩn, hoa cắm đầy người, chỉ vì trót chơi trò yêu đương, rồi đối phương thi vào đại học, còn mình thì thi trượt, ở nhà. Thất tình mà điên, đáng thương hay đáng trách?"

Đình Nhi quả thực chưa lường hết được những hậu quả tai hại đó. Nghe xong cháu đã đi đến kết luận: trò chơi yêu đương không phải là trò đùa.

Biện pháp ngăn chặn thứ ba: Đừng vì sự đùa nghịch gán ghép của bạn bè mà tự mình biến đùa thành thật, cũng đừng để người khác vì hiểu lầm mà mơ mộng hão huyền.

Tuy vậy, nhưng vẫn còn có những hiện tượng đáng ngờ. Sự quan tâm của Đình Nhi đối với chuyện yêu đương hình như ngày một nhiều hơn. Mỗi lần từ trường trở về nhà, Đình Nhi thường kể nhiều hơn về những loại chuyện yêu đương.

Ít lâu sau, chúng tôi còn nghe được một câu chuyện có liên quan đến Đình Nhi. Cô giáo chủ nhiệm đã nói với chúng tôi, Đình Nhi có quan hệ khá gần gũi với một bạn trai ở trong lớp. Người bạn trai này cũng hơi nổi tiếng trong giới nữ sinh của nhà trường. Sự thân mật giữa Đình Nhi và người bạn trai ấy đã tạo ra những tiếng xì xào gán ghép ở trong lớp.

Chúng tôi lập tức nắm bắt ngay tình hình mà cô giáo vừa cung cấp. Chúng tôi nhận định, chắc chắn Đình Nhi chưa thực sự bước vào con đường yêu đương quá sớm. Có lẽ chỉ là sự mến nhau giữa học sinh nam và học sinh nữ mà thôi. Cảm thấy được gần gũi nói chuyện với nhau là thú vị và mới lạ. Ngoài ra sự nổi tiếng của người bạn trai trong giới nữ sinh đã làm cho ĐÌnh Nhi nổi tính tò mò.

Chúng tôi quyết định, nhân lúc hạt giống còn chưa nảy mầm phải lập tức dập tắt ngay. Giải quyết vấn đề ngay từ lúc mới manh nha bao giờ cũng dễ dàng hơn. Lần này thì mẹ đứng ra giải quyết, nói những chuyện thế này với con gái, mẹ nói tiện hơn. Thế là, ngay cuối tuần đó, mẹ và Đình Nhi có một cuộc nói chuyện khá dài.

Mẹ đã đi thẳng vào vấn đề, nhắc lại sự phản ảnh của cô giáo và các bạn với Đình Nhi. Đầu tiên mẹ khẳng định, nay sự việc của con cho đến thời điểm này coi như chưa có vấn đề gì. Thế nhưng, trong nam nữ thiếu niên, có nhiều người yêu nhau quá sớm chỉ vì bạn bè trêu đùa gán ghép lung tung, rồi chuyện đùa quá hoá thật. Cũng vì vậy, mà đã có nhiều học sinh học sơ trung vô tình sa vào chuyện yêu đương quá sớm. Con phải hiểu được điều đó. Bản thân mình không bao giờ được biến chuyện đùa thành chuyện thật. Ngoài ra, con cũng phải cố tránh đừng để người khác hiểu lầm, để người ta mơ tưởng hão huyền.

Trước đây, mẹ cũng đã nhiều lần khôn khéo răn đe, hơn nữa thái độ của mẹ rất khách quan cho nên ĐÌnh Nhi đã nghe lời. Cháu đồng ý với cách giải quyết của chúng tôi là dùng biện pháp dứt khoát và cứng rắn để giải quyết vấn đề. Ngay hôm sau đó, cháu bắt đầu xa lánh người bạn trai kia, không còn cảnh gần gũi cười đùa như trước nữa. Hơn nữa, trong khi giao tiếp với tất cả các bạn trai khác, cháu luôn giữ đúng mực, và luôn giữ một khoảnh cách nhất định.

Biện pháp ngăn chặn thứ tư: Yêu đương sớm tất sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu phấn đấu của cả đời người.

Ngay từ khi Đình Nhi mới vào tiểu học, chúng tôi đã cố ý bình phẩm những hiện tượng yêu đương trước tuổi được trình chiếu trên ti vi hoặc được đăng tải trên báo chí. Ngay trước mắt, cháu đã có một ấn tượng xấu về việc yêu đương quá sớm. Sau khi vào trung học, chúng tôi đã trực tiếp giảng giải cho cháu nghe về những hậu quả tai hại cho việc yêu đương quá sớm:

1. Yêu đương sớm tất sẽ ảnh hưỏng đến mục tiêu phấn đấu cả đời người. Trên thực tế, có nhiều học sinh trung học không làm chủ được những tình cảm ngây thơ ấu trĩ của mình, đã bỏ lỡ nhiều cơ hội đáng tiếc, đến khi thi trượt đại học, tình yêu ban đầu cũng tan vỡ, bấy giờ mới thấy được tác hại.

2. Yêu đương sớm chẳng khác gì mua trứng ấp trong túi vải, không thể dự đoán được rằng nó sẽ nở ra cái giống gì. Vì rằng học sinh trung học đang ở giai đoạn hoàn toàn chưa xác định được cuộc đời. Ở các cháu những đặc trưng tính cách, đạo đức, những khả năng sinh tồn trong xã hội, và nghề nghiệp trong tương lai hoàn toàn chưa xác định. Bạn cho rằng túi trứng này sẽ nở ra thiên nga, nhưng lại là trứng quạ, trứng rắn độc, trứng cá sấu, khi ấy sẽ thế nào?

3. Yêu đương sớm rất khó có được những kết cục mỹ mãn. Bởi vì, phàm những việc gì được bắt đầu bằng một sự say mê mù quáng, tất nhiên càng tỉnh, càng thấy nhiều những chỗ dở của nó, và thế là sinh ra chán ghét và ruồng rẫy. Hơn nữa yêu đương sớm tất sẽ làm trở ngại đến việc học hành của cả hai bên, trở ngại đến khả năng sinh tồn trong xã hội của cả hai bên. Cho dù sau này vẫn chung sống với nhau, nhưng vì học hành lỡ dở, nghề nghiệp bất ổn, cuộc sống khó khăn, khó tránh khỏi sự đay nghiến cắn rứt lẫn nhau, làm sao có được hạnh phúc vẹn toàn?

4. Yêu đương sớm còn tiềm ẩn một nguy cơ án mạng. Không tin sao? Ở vùng Đông Bắc vừa xảy ra một án mạng như thế đấy. Có một học sinh năm thứ ba bậc cao trung, học hành cũng bình thường thôi. Cùng trong lớp đó có một học sinh nữ học rất giỏi, xuất phát từ ý tốt đã chủ động đến giúp bạn trai học tập. Không ngờ, người bạn trai kia lại lầm tưởng là cô ta có ý yêu mình. Thế là ngày đêm yêu vụng nhớ thầm. Khi người bạn gái phát hiện ra điều đó và bắt đầu có ý định xa lánh người bạn trai. Nghĩ rằng, bạn gái đã có người yêu khác, bạn trai quyết chí báo thù kẻ đã giành mất người yêu trong tay mình. Thế là thảm kịch xảy ra ngay trong lớp học. Chàng trai "thất tình" vác dao đâm chết người bạn trai cùng lớp, mà chàng ta nghĩ là tình địch của mình rồi tiện tay đâm luôn người bạn gái đã giúp mình học tập, may mà chỉ bị thương phải đi nằm viện. Đáng thương thay, hai học sinh bị đâm thực ra lại chẳng có tình ý gì với nhau. Cái bệnh si tình thường hẹp hòi và cố chấp để rồi dẫn đến mù quáng và mất hết tính người. Đó là một quy luật đáng sợ.

Ngoài việc nói chuyện có chủ định vớ Đình Nhi, chúng tôi còn thường xuyên kể cho cháu nghe những chuyện liên quan đến việc đó, cốt nhằm khắc sâu ấn tượng cho cháu. Sự thực đã chứng minh rằng biện pháp "phòng ngừa từ xa" rất có hiệu quả. Trong suốt giai đoạn học trung học, Đình Nhi không hề sa vào vũng bùn yêu đương quá sớm, vì vậy tâm hồn và thể chất đều phát triển lành mạnh, mục tiêu phấn đấu không bị xung đột giữa cha mẹ và con cái đe doạ.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-08 11:02:21me khoai>
ĐÌNH NHI TỰ KỂ LÀM SAO HỌC GIỎI TIẾNG ANH

Lên cao trung, Đình Nhi học rất tự giác, không phải nhắc nhở câu nào. Cháu học rất chăm chỉ và rất coi trọng phương pháp học tập cho nên các môn học đều đạt thành tích tốt. Nhưng trong các bức thư độc giả gửi đến, mọi người đều đặc biệt thích thú kinh nghiệm học ngoại ngữ của Đình Nhi. Nhân đây, chúng tôi cũng giới thiệu với độc giả bài tổng kết "Những cảm nhận tâm đắc về học tiếng Anh" của Đình Nhi theo yêu cầu của thầy hiệu trưởng và cũng từ bài viết đó, chúng ta có thể thấy sự nỗ lực của Đình Nhi với các môn học khác.

Những cảm nhận tâm đắc về học tiếng Anh

[align=left]Tiếng Anh là một môn học được mọi người rất coi trọng. Trong thời kỳ trung học tạo dựng được một nền tảng tiếng Anh tốt là điều ước muốn chung của chúng tôi. Làm sao để học tốt tiếng Anh? Thầy giáo thường nói: "Dù chúng ta cặm cụi kéo xe, vẫn phải ngẩng đầu nhìn đường". Dưới đây, với sự giúp đỡ hết lòng của thầy giáo và các bạn, tôi đã tìm ra con đường, nên viết lại để mọi người cùng tham khảo.

1Tố chất tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả học tập

Cổ nhân nói: "Hai bên đánh nhau, người có dũng khí sẽ thắng"; câu nói này cốt nhấn mạnh yếu tố tâm lý tốt sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn đến hiệu quả. Điều này với cách nhìn của tâm lý học hiện đại dũng rất tương hợp. Bạn có thể phát hiện thấy, mặc dù mọi người đều học trong cùng một phòng học, chịu sự giáo huấn của cùng một thầy giáo, thậm chí trí tuệ cũng gần giống nhau, nhưng hiệu quả học tập lại rất khác nhau. Những người "rơi xuống yếu kém" chính là do tố chất tâm lý khác thường gây nên.

Làm thế nào để điều chỉnh trạng thái tâm lý của mình được?

Đầu tiên cần phải giữ vững thái độ ổn định và tích cực đối với ngoại ngữ trong một thời gian dài. Ở đây có thể phải quy tụ vào hai chữ “hằng tâm” (bền chí). Có điều đó sẽ như tằm ăn lá dâu, từng miếng, từng miếng một, bền bỉ cho đến khi đạt mục tiêu.

Sau là, còn phải có năng lực tự khép mình vào một kỷ luật nhất định. Đến thời điểm ôn tập mà không ôn tập, để quên quy luật đã vô tình nuốt đi một phần thành quả ghi nhớ của bạn. Hoạt động ngoại khoá bị thiếu, không thu xếp bù lại, lỗ hổng càng lớn thêm. Cho nên cần phải có năng lực tự khép mình vào quy luật, bắt buộc mình phải vận động theo nguyên tắc khoa học.

2. Nhìn, viết, đọc, nghe thuộc. Luyện tập đều sẽ đạt được hiệu quả cao

Nói chung, mọi người học tiếng Anh đều có những biện pháp của riêng mình, có người chỉ thích luôn miệng đọc to, có người chỉ thích vùi đầu xem bài, có người không viết thì không nhớ được, có người không nghe thì không học được gì. Những phương pháp đó tuy đều có một tác dụng nhất định nhưng khoa học ghi nhớ qua những thực nghiệm đã chứng minh rất chính xác: vận dụng tổng hợp mắt, tai, miệng, lưỡi mới có thể lưu giữ nhanh và sâu những ấn tượng không thể phai mờ trong vỏ não. Học ngoại ngữ đặc biệt phải vận dụng tổng hợp mọi loại cảm quan, nếu không sẽ làm cho môn học trở thành “ngoại ngữ tàn phế”, ví như “ngoại ngữ câm”, mắt nhìn mà miệng không nói được, hoặc “ngoại ngữ điếc”, mới nghe đã phát hoảng, hai tai ù đặc.

3. Từ đơn “sống” và từ đơn “chết”

Chúng ta thường nghe ai đó hùng hồn: chỉ cần đọc một hơi là đọc thuộc quyển từ điển mười mấy nghìn, thậm chí mấy vạn từ, cho rằng như thế có thể giải quyết một cách dễ dàng vấn đề số lượng từ đơn. Nhưng thật không may là những người làm như thế phần lớn đều thất bại. Đọc thuộc nhiều lần từ đơn vẫn chưa “cắm rễ” được vào não, nếu không quên ngay thì cũng sẽ trộn lẫn thành một mớ hổ lốn. Là vì cái mà họ học thuộc đều là những từ đơn “chết” đã thoát ly ra khỏi câu và bài khoá. Đại não khó có được một ấn tượng gì khi ghi nhớ theo kiểu này. Nhà tâm lý học nổi tiếng Ibeanhouse đã từng lấy bản thân mình làm thực nghiệm đối chiếu, kết quả ghi nhớ 18 âm tiết không có ý nghĩa phải mất 80 lần. Không những thế, chỉ cần học đơn độc từ “chết” sẽ rất khó nắm vững cách dùng linh hoạt của nó trong câu, do vậy dù có nhớ được một số từ “chết”, những từ ấy cũng chỉ thuộc vào lớp “nhân sĩ vô tích sự” mà thôi.

Làm thế nào để từ “chết” hồi sinh?

Biện pháp của tôi là học thuộc bài khoá. Bài khoá không chỉ hạn chế trong sách giáo khoa, có thể là bản thảo bài giảng, bình luận tin tức tản văn… Tóm lại, là những bài văn có thể đem những từ đơn lạnh lẽo biến thành những câu chuyện sinh động. Trong quá trình học thuộc những đoạn văn hoàn chỉnh, lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ không ngừng kích hoạt những từ đơn được ghi nhớ lại, cách dùng của nó cũng tự nhiên đi vào cốt tuỷ. Trên thực tế, những từ đi vào cốt tuỷ này sẽ hình thành “ngữ cảm”: rất quan trọng trong việc học ngoại ngữ.

4. Bố trí khoảng cách ôn tập hợp lý, có thể tiết kiệm được thời gian. Nâng cao hiệu suất.

Tiếng Anh, một môn học có lượng ghi nhớ rất lớn, ghi nhớ hữu hiệu là một vấn đề then chốt. Nhà khoa học nổi tiếng Mao Dĩ Thanh là một người ghi nhớ rất siêu việt. Người ta hỏi ông về bí quyết ghi nhớ, câu trả lời của ông là : “Lặp lại! Lặp lại! Lặp lại!”

Lặp lại được người ta xem là bà mẹ của sự học tập. Không lặp lại, tri thức nhớ được theo thời gian sẽ bị chi phối theo “hiệu suất quên”, không bao lâu sẽ chỉ còn lại “cơm thừa canh cặn” mà thôi. Các nhà tâm lý học phát hiện: thời gian giữa hai lần ôn tập, dù ít nhất cũng không được dưới 30 phút, nhưng phải ít hơn 16 tiếng đồng hồ. Là vì trong tình huống khi ta vừa nhớ chắc được một loạt từ đơn, nếu trong 30 phút đã bắt đầu ôn, không những không nâng cao được hiệu quả ghi nhớ, trái lại còn hình thành sự quấy nhiễu đối với quá trình sinh lý củng cố nội dung ghi nhớ vốn có của đại não, thật là lợi bất cập hại; còn nếu sau 16 tiếng đồng hồ mới ôn tập thì số từ bị bỏ quên tương đối nhiều, gây uổng phí công sức.

5. Coi tiếng Anh là một môn văn hoá để học tập

Giống như không hiểu văn hoá Trung Quốc, không lý giải được các câu “trung dugn chi đạo” (đạo trung dung), “mạc thủ thành quy” (khư khư giữ lấy lề thói cũ), không nắm thường thức văn hoá phương Tây rất khó giải thích thế nào là “This is my Waterloo!” (ám chỉ một lần thất bại cay đắng của ai đó); “lobbyist” (người vận động hành lang) là loại người nào (ở đây ám chỉ các nhân sĩ hoạt động bên ngoài nghị viện có tác động tới các chính sách của nghị viện), những người này trước đây là các chính khách hay luật sư.

Do đó, nếu muốn học sâu, rộng tiếng Anh cần phải xem tiếng Anh không chỉ là một ngôn ngữ mà phải nhận thức đây là một bộ môn văn hoá! Theo tôi nghĩ, trên quan điểm này mà xét, việc học tiếng Anh là một công việc có sức hấp dẫn kỳ lạ.

[/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-09 05:04:33me khoai>
LẤY “LUYỆN BINH” CUỐI CÙNG, QUYẾT LÀM “NHÀ SƯ KHỔ HẠNH”

Hè năm 1997, nhà trường bố trí cho học sinh lớp cao trung 1 và 2 tập quân sự trong 6 ngày, mong muốn qua cuộc huấn luyện gian khổ và cường độ cao này, rèn luyện các chàng trai, cô gái có tâm thế vững vàng để nghênh đón thời kỳ học tập và kỳ thi căng thẳng sắp tới. Ba Trương Hân Vũ, trước đây đã từng nói nhiều lần, có mất tiền cũng phải tìm một cơ hội cho Đình Nhi luyện tập quân sự, rèn giũa thêm cho nó. Vì thế, đây quả là một dịp hiếm có. Chúng tôi nghĩ rằng nhà trường sẽ chọn một nơi rất gian khổ để huấn luyện, không ngờ địa điểm đó lại ở núi Thanh Thành, một nơi danh lam thắng cảnh và là Viện Điều dưỡng đầy đủ tiện nghi của quân đội. Lúc đi, ĐÌnh Nhi và các bạn luôn hoài nghi, nơi điều dưỡng về nghỉ mát quá tốt này, có thể nào tôi luyện cho thân thể và ý chí con người được sao? Ngày thứ hai sau khi khai mạc, bọn trẻ mới biết chỗ lợi hại thực sự ở đây. Đình Nhi lúc bấy giờ đã sớm xác lập cho mình phải luôn giữ vững được niềm vui trong gian khổ. Vào học kỳ II năm thứ 3 sơ trung, Đình Nhi đã nói với ba cháu, muốn được thực hiện theo phương thức “nhà sư khổ hạnh” để hoàn thành ba năm rưỡi tới. Loại rèn luyện theo kiểu “trui rèn gân cốt” này có thể nói là một thứ kích thích tinh thần trước đợt “luyện binh” cuối cùng.

Với tâm trạng tích cực này, Đình Nhi nhanh chóng thích nghi với cuộc sống quân ngũ: khẩn trương và gian khổ. Dưới ngòi bút của Đình Nhi cuộc sống đó đã biến thành niềm vui vô bờ: từ trong 3 bài ghi chép thú vị về đợt huấn luyện quân sự mà Đình Nhi chọn ra dưới đây, có thể cho chúng ta thấy rõ Đình Nhi và các bạn của cháu có một sức sống mãnh liệt biết bao.
 
Dáng đứng chiến sĩ

Hôm nay là bài học thứ nhất của đợt huấn luyện quân sự: luyện đứng tư thế nghiêm của người chiến sĩ. Trên thao trường có từng dãy tùng xanh bao quanh, chúng tôi theo yêu cầu của đại đội trưởng kiêm giáo viên chỉnh đốn tư thế, các bạn đều trở nên hăng hái phấn chấn. Mấy bạn thường ngày được coi là “con ếch”, “lạc đà”, “tép con”… hôm nay cũng tỏ vẻ hiên ngang hùng dũng lắm. Đại đội trưởng nói: “Hôm nay, trước tiên hãy tập đứng một tiếng đồng hồ, xem nó làm đổ mấy người. Ai không đứng được thì báo cáo ngay!”

Mặt trời như thiêu đốt, chưa đến 5 phút đã có người báo cáo thua trận. Tôi mồ hôi đã ướt đẫm lưng, chân bắt đầu đau nhức. Thời gian tựa như con nhím nhỏ nhích đi nhích lại đôi chân, tôi không muốn bỏ đi. “Ối!” – có người nôn mửa. Dạ dày tôi cũng sôi lên. Tôi cắn răng, thầm nhắc đi nhắc lại lời nói của đại đội trưởng: “Đây là trận quyết đấu giữa ý chí con người, cũng là thời cơ tự rèn luyện của mỗi người. Để xem các bạn tự yêu cầu mình như thế nào?” Tôi vừa suy nghĩ vừa ráng chịu đựng, bỗng nhiên cảm thấy toàn thân lạnh toát, giữa ngày nóng nực mà lại lạnh rùng mình. Cố nhiên vài phút, hai mắt tối sầm, ngã vật về phía trước, tôi lo sợ, một tiếng “báo cáo” bật ra khỏi miệng.

Ngồi dưới bóng cây, uống vài ngụm nước, tôi mới thấy tỉnh lại. Nhìn những vòm lá cây xanh sẫm, tôi cảm thấy không thể bỏ được nơi này, cạnh tôi, một số bạn nghỉ đã lâu cũng không muốn về. Tiếp tục luyện tập hay không? Bất giác hơi do dự. Vừa cúi đầu, những vạt cỏ thưa thớt dưới gốc cây làm tôi chợt tỉnh ngộ: Lẽ nào tôi lại muốn như loài cỏ quá yếu đuối kia? Không! Tôi bật đứng dậy, mạnh mẽ hướng về đội ngũ đang nghiêm đứng kia bước tới.
Dưới ánh nắng chói chang, tôi lại cùng các bạn đứng thành những hàng cây tùng.

Báo động!
“Tu…tu, tu, tu, tu…”. Hiệu lệnh tập hợp khẩn cấp, phá tan bầu không khí yên tĩnh của đêm khuya. Theo tiếng bước chân vội vã, tôi đã đứng trong đội ngũ trên thao trường và đang muốn mượn đêm tối giụi nhẹ đôi mắt còn mơ ngủ của mình. Đại đội trưởng dằn giọng hạ mệnh lệnh: “Chạy hai cây số! Bắt đầu … chạy!”

Chúng tôi chạy trong màn đêm đen, hai bên đường như có bao nhiêu ma quỷ giơ nanh vuốt đuổi theo mình, tự nhiên cảm thấy sợ hãi không thể nào lý giải được, tôi vội chạy nhào lên phía trước.

-         Ôi ! Có ma! – Khang Quả Quả bỗng nhiên ghé tai tôi kêu lên.

-         A! – Tôi sợ run lên - Chỉ hù doạ người ta.

-         Có gì đáng sợ kia chứ? – Hùng Vũ vừa thở hổn hển vừa nói: - Tớ đã bị ma cắn ba miếng mà có chết đâu!

-         Tớ cũng bị ma cắn năm miếng đây, cũng giết chết cả năm con ma! - Hồ Bộ Thôn nói tiếp theo. Mấy đứa chúng tôi nói đùa cười vang, nỗi sợ hãi tan biến.

-         Này, cẩn thận kẻo biến thành ma đấy – Bao Ngọc Tiệp cười nói thêm - Tớ mà biến thành ma, trước hết sẽ ăn luôn đèn pin của cậu đấy… (Một anh cầm đèn pin chiếu lại. “Ô! Trung đội trưởng!”)… của trung đội trưởng đấy.

-         Làm gì thế? Tụt hậu rồi. – Trung đội trưởng vừa chạy vừa mắng chúng tôi. – Khang Quả Quả liền rất nghiêm túc trả lời:

-         Báo cáo trung đội trưởng, chúng tôi là bộ đội yểm trợ cho đội quân phía sau tiến lên. Chúng tôi vừa đánh nhau rất kịch liệt với mấy con ma, may mà trung đội trưởng đến kịp cứu được mấy mạng sống của chúng tôi… - nói liền một hơi dài khiến Khang Quả Quả không nhịn được nữa cười to lên

Trung đội trưởng nín cười, nghiêm nghị nói:

-         Không quấy phá nữa, chạy nhanh lên, yểm hộ phía sau đã có tôi.
 
Thi hát đuổi

Cả một ngày học đội ngũ làm chúng tôi mệt rã người, đang muốn dùng thời gian đêm nay thư giãn nhưng lại bị gọi lên hội trường tập hợp. “Lại làm gì nữa đây” Mọi người thì thầm ngồi theo tiểu đội, ai nấy đều uể oải, bóp vai đấm chân. Đến như Trương Kích hàng ngày rất sôi nổi cũng gục xuống lơ mơ ngủ. Đại đội trưởng nhìn mọi người một lượt rồi cười rất tự tin, nói to:

-         Các bạn, để sinh hoạt tinh thần của mọi người được phong phú thêm, đêm nay chúng ta tổ chức cuộc thi hát đuổi, đồng ý không?

-         Đồ..ồ..ồng ý! – Không khí buồn tẻ đột nhiên bị phá tan, vui hẳn lên.

-         Tôi tuyên bố, các bạn cao trung 1 là một tổ, cao trung 2 là một tổ. Cuộc thi bắt đầu!

Đại đội trưởng vừa dứt lời, lớp cao trung 1 chúng tôi giành hát trước bài “Đoàn kết là sức mạnh”. Lớp cao trung 2 cũng không kém, hát bài “Không có Đảng Cộng Sản, không có nước Trung Hoa mới”. Cao trung 2 ít người, thanh thế có vẻ đuối hơn. Đoàn Yến thấy thế mặt đỏ bừng, hất mạnh bím tóc, đứng ngay phía trước chỗ ngồi, chỉ huy các bạn hát bài đã đoạt giải thưởng của nhà trường “Đội quân nương tử đỏ”. Ngay lập tức, cao trung 2 sĩ khí dâng trào, hát theo nhịp tay của cô, lúc bổng, lúc trầm, vươn lên chiếm thế thượng phong. Tổ cao trung 1 của chúng tôi lẽ nào bị thua, tiếng hát “Bảo vệ Hoàng Hà” thể hiện mạnh mẽ ưu thế số đông như tiếng sóng vỗ, đè bẹp được tổ cao trung 2. Cao trung 2 liền xuất chiêu mới, Triệu Hy cầm nhịp hát bài “Trên Kim Sơn có Bắc Kinh” nhảy một điệu múa dân tộc Tạng tuyệt vời. Âu Bằng lại biểu diễn môn võ thuật trong tiếng ca hùng tráng của bài “Nam nhi phải tự cường”…

Tiếng hát dâng lên như lớp lớp sóng bạc , cuộc thi đã đạt đến cao trào. Trong ánh mắt mọi người đều lấp lánh niềm hưng phấn rạo rực, nỗi mệt nhọc trước đây đã không biết bay đi đâu hết.
0
THOÁT KHỎI U MÊ BỪNG TỈNH DƯỚI TRỜI SAO


Nhà tâm lý học cho biết, cùng với việc số người vào đại học ngày càng nhiều, thời kỳ thanh xuân của con người hiện đại cũng kéo dài thêm. Thời thanh xuân sẽ kết thúc khi người thanh niên trưởng thành bắt đầu gánh vác trách nhiệm với gia đình xã hội.
 
Trong giai đoạn học cao trung, Đình Nhi và các ban tưởng tượng về sự bộn bề của cuộc sống tương lai càng ngày càng nhiều. Các cháu thường kết hợp trong lúc luyện khẩu ngữ tiếng Anh, thảo luận về cách nhìn đối với các kiểu sống và mọi loại nghề nghiệp, những rõ tàng còn rất ít người có được lý tưởng và chí hướng rõ ràng với tương lai cũng như chưa nhận thức sâu sắc tinh thần trách nhiệm đối với xã hội. ĐÌnh Nhi cũng như vậy. Từ thời học sơ trung, chúng tôi đã chú trọng vấn đề “lập chí” cho Đình Nhi, bây giờ càng nói về chủ đề đó với Đình Nhi nhiều hơn: “Con đến bao giờ mới gọi được là người có chí lớn đây?”
 
Đình Nhi cũng luôn trăn trở trước vấn đề này. Nhưng cháu cũng cho rằng không nên trách cứ cháu, là vì chí lớn của nhiều bạn cũng tuổi là thi đỗ vào đạu học, mà thi đỗ vào đại học đối với Đình Nhi và các bạn là rất chắc, đó chưa hẳn là lý tưởng. Có thể nói bắt đầu từ việc đỗ vào Trường Chuyên ngữ cao trung đã coi như được vào trường đạu học trọng điểm. Hơn nữa “mộng đại học” của các cháu chỉ là thay đổi điều kiện sinh tồn của cá nhân. Đình Nhi cũng không cho đó là lý tưởng.
 
Đình Nhi chỉ hâm mộ những người sớm say mê văn học, mỹ thuật và âm nhạc, đối với họ, mỗi ngày thực hiện được niềm ham muốn của mình tức là mỗi ngày tiến dần đến lý tưởng.
 
Khát vọng của Đình Nhi chính là loại lý tưởng này, loại lý tưởng mà theo cháu cảm nhận “sự nỗ lực mỗi ngày đều có giá trị”. Gian khổ tìm tòi, cho đến một ngày, một chuỗi ngẫu nhiên gây xúc động sâu  sắc tâm hồn, cháu ý thức được sứ mệnh lịch sử  của chính mình - lớp người thời đại.
 
Bừng tỉnh
Vào khoảng thời gian trước và sau sinh nhật tuổi 16, tôi thường rơi vào tâm trạng khó hiểu. Nhìn bề ngoài, tôi vẫn cần mẫn, vui vẻ  như ngày thường, mỗi ngày đều làm bạn với những ký hiệu toán đại số, từ đơn tiếng Anh và giấy kẻ, còn làm thêm công tác cán bộ lớp và Hội học sinh, bận đến nỗi không còn thời gian giặt đôi tất. Tuy nhiên, trong lòng tôi vẫn cảm thấy một sự trống trải và mê muội. Tôi không thể hiểu được mình vì sao mà nỗ lực, do quán tính hay do áp lực của hoàn cảnh. Cuối cùng tôi đã nghĩ ra, vấn đề đó từ lâu đã bao bọc tôi, cho tới khi mùa hè đến.
 
Tuần đầu tiên sau khi từ trường về nhà, tôi và ba mẹ đi tham quan vùng sản xuất hoa quả của xã. Lúc trên xe, tôi đang hăng say nói về trường lớp, đột nhiên, một luồng khí hôi thối xộc vào, tôi vội vàng bịt miệng lại. Bên đường là một núi rác dơ bẩn, với hàng trăm người đang tranh giành nhặt các đồ bỏ đi trong núi rác hôi hám đó.
 
Trước mắt tôi là một em bé, em đứng một mình dưới chân núi rác đưa con mắt buồn bã nhìn tôi, đầu tóc rối bù có lẫn vụn giấy, tay ôm một con búp bê vải chỉ còn một cánh tay. Nhìn thấy đoàn xe bị núi rác chặn lại sắp nổ máy lên đường, bé liền nhoẻn miệng cười rất tươi và dùng cánh tay còn lại của con búp bê vẫy chào tôi. Tôi buồn vô hạn trước cảnh đau lòng đó.
 
Nửa năm sau, tôi lại cùng cha mẹ nhắc lại câu chuyện này. Tôi ấp úng hỏi: “Hpj cũng là những con người, cũng là những công dân Trung Quốc, vì sao họ lại bi thảm như thế?” Ba mẹ nói, vấn đề này rất phức tạp, nếu tôi muốn biết, nên tìm hiểu qua sách báo.
 
Tôi mua cuốn sách dày về ngấu nghiến đọc mất một tuần. Căn cứ vào  những con số thống kê và báo cáo phân tích nêu ra trong cuốn sách này, đáp án mà tôi rút ra được là: những “con sâu rác” này chỉ là một số nhỏ trong lực lượng lao đông dư thừa to lớn ở nông thôn. Họ không có vốn, cũng không có văn hoá và kỹ thuật. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế chưa phát triển, xã hội không có khả năng giúp họ. Trước khi Trung Quốc giàu có lên, họ chỉ có thể vật lộn trong đói nghèo và phạm tội mà thôi.
 
Kết luận bất đắc dĩ đó làm lòng tôi quặn đau. Tôi muốn Trung Quốc nhanh chóng giàu lên, cấp thiết hơn bao giờ hết. Bước ra ban công nhìn bầu trời đầy sao, trong muôn vàn ngôi sao ấy như có đôi mắt đầy mơ ước của em bé gái. Trong giờ khắc đó, tôi xúc động mãnh liệt: nguyện đem cuộc sống của mình hiến dâng cho sự nghiệp xây dựng nền kinh tế của đất nước. Tôi cần phải lấy tri thức văn hoá khoa học làm đòn bẩy, tạo nhiều cơ hội có việc làm cho nhân dân, sáng tạo thật nhiều của cải cho xã hội, cho trẻ em nghèo khổ đều được đi học, cho những người cần cứu trợ được cứu trợ.
 
Cảm nhận về sứ mệnh nặng nề đó ngày càng như khắc sâu vào tâm khảm tôi. Từ đấy trở đi, sự nỗ lực mỗi ngày của tôi đều có giá trị và ý nghĩa mới.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-13 04:10:48me khoai>
 CHƯƠNG MƯỜI:
ĐƯỢC MỜI THĂM HOA KỲ, THỂ HIỆN RÕ TÀI NĂNG
(Trích lời kể của Lưu Diệc Đình)
 
Lưu Diệc Đình vào học cao trung, WBSE (Hội giao lưu giữa các Trường trung học Washington và Bắc Kinh) đưa Thành Đô vào kế hoạch giao lưu giữa học sinh trung học của Trung Quốc và Mỹ, chỉ tiêu của Đoàn thăm Washington đầu tiên của Thành Đô chỉ có một người và do đích thân Chủ tịch WBSE, ngài Larry Simms đến Trường Chuyên ngữ Thành Đô lựa chọn trực tiếp.
 
Nhìn lại, lần đến thăm Hoa Kỳ này bắt đầu từ buổi phỏng vấn trực tiếp đều có nhiều ý nghĩa quan trọng, đó vừa là cơ hội Đình Nhi tỏ rõ năng lực, là dịp tốt để Đình Nh tiếp xúc với thế giới bên ngoài, vừa là cơ hội kiểm nghiệm thành quả bao năm bồi dưỡng tố chất cho Đình Nhi của chúng tôi. Hàng loạt biểu hiện xuất sắc của Đình Nhi trong đợt thăm Hoa Kỳ khiến chúng tôi vui mừng: Vàng thật không bao giờ sợ thử lửa, dù là lửa của Trung Quốc hay lửa của Hoa Kỳ.
 
Liên quan tới toàn bộ cuộc tham quan này hãy nghe Đình Nhi kể lại:
 
Mùa hè năm 1997, chúng tôi đang trong thời kỳ huấn luyện quân sự ở Thanh Thành, Hiệu trưởng Ân điện thoại từ Thành Đô đến, gọi tôi và 4 bạn khác trở về Thành Đô, nghỉ qua đêm để hôm sau tham gia cuộc phỏng vấn lựa chọn trực tiếp mời sang thăm Hoa Kỳ. Người Mỹ sắp phỏng vấn trực tiếp chúng tôi chính là Chủ tịch Hội giao lưu Trung học Washington - Bắc Kinh, ngài Larry Simms.
 
Tin bất ngờ làm tôi rất phấn chấn, có đôi chút căng thẳng. Ô tô phóng như bay trên đường Thành Quan. Tôi nhắm mắt, nhưng không ngủ được, làn gió ngột ngạt của tháng 7 thổi nhẹ vào mái tóc ngắn của tôi. Không biết người Mỹ trực tiếp phỏng vấn chúng tôi là ai, nhưng tôi nghĩ ông nhất định là một nhân vật quan trọng, rất thân thiết với người Trung Quốc.
 
Câu chuyện kỳ lạ có liên quan đến ông Larry, sau cuộc gặp gỡ trực tiếp này tôi mới dần dần biết được.
 
LÊN VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH, KẾT MUÔN TÌNH HỮU NGHỊ
 
Tháng 10 năm 1993, trời thu trong sáng, một nhóm 4 người Mỹ đến du lịch Trung Quốc, trèo lên thành Bát Đạt Lĩnh ở Bắc Kinh. Một vị người cao to, có bộ tóc mầu lanh, đôi mắt sắc và hiếu kỳ. Ông vừa rất khoẻ, đi trên đường thành cao vòng vèo uốn lượn mà vẫn vừa xem vừa nói cười vui vẻ. Ông ta chính là ngài Larry Simms.
 
Larry từ thời trẻ tốt nghiệp Học viện Luật Dartmouth thuộc trường Đại học Tennessee nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Dựa vào sự tài hoa và cần cù hơn người, ông trở thành nhân vật xuất sắc nhất trong giới pháp luật của Hoa Kỳ. Giữa năm 1974 – 1975, ông từng giúp việc cho một quan toà tại Toà án tối cao Mỹ. Năm 1976 – 1985, ông đảm nhiệm chức vụ trợ lý Tổng kiểm sát trưởng Bộ Tư pháp Mỹ. Sau năm 1985, Larry từ bỏ ngạch công chức, chuyên tâm vào công việc luật sư và gặt hái được thành công to lớn. Ông không những là một luật sư xuất sắc mà còn là Chủ tịch Ủy ban Luật pháp Quốc gia trong Hiệp hội Luật sư toàn Hoa Kỳ, đồng thời là một thành viên cao cấp, một ông chủ của Tổng hội Luật sư Gauseane thuộc Tổng hội Đại luật sư thứ 6 thế giới.
 
Do cơ hội ngẫu nhiên du lãm Vạn lý trường thành lần này, về sau ông thành lập một tổ chức Giao lưu học sinh có quan hệ mật thiết với rất nhiều học sinh Trung Quốc.
 
Trên Trường thành ngày đó, ông gặp một đoàn học sinh trung học đang theo thầy giáo dẫn lên Trường Thành. Đoàn học sinh này tiếng Anh khá giỏi nên khi thấy một nhóm bốn người nước ngoài đã không bỏ qua cơ hội tốt để rèn luyện khẩu ngữ. Các bạn đã mỉm cười, vẫy tay chủ động chào: “Hello! Hello!” Larry cười… Không ngờ đám trẻ nói tiếng Anh khá lưu loát này, là học sinh trường Chuyên ngữ phía tây Bắc Kinh. Trước mặt mấy người Mỹ, họ đối đáp rất trôi chảy, cuộc trao đổi kéo dài tới 40 phút. Larry rất ngạc nhiên về trình độ tiếng Anh của đám trẻ tốt như thế! Sức sống mạnh mẽ, sự thông minh hiếu học, tình thân hữu đối với người nước ngoài, lòng khát vọng muốn hiểu thế giới bên ngoài của các bạn đã làm rung động mãnh liệt Larry, lần đầu tiên đặt chân đến Trung Quốc.
 
Sau lần gặp gỡ tình cờ đó, đã gợi cho Larry một ý tưởng. Một Trung Quốc cải cách mở cửa đã thể hiện rõ sức sống làm cả thế giới phải chú ý: Trung Quốc đang tiến bước với số dân đông nhất thế giới, người Trung Quốc thông minh tài trí. Sang thế kỷ XXI sắp tới, quan hệ Trung - Mỹ sẽ là một trong những quan hệ chính trị quan trọng nhất hành tinh. Thế hệ này và thế hệ sau có thể giữ vững được hoà bình, ổn định chính là dựa vào mối quan hệ này.
 
Hãy để lớp trẻ hai nước tìm hiểu đất nước và nhân dân của nhau, cho họ cùng gặp gỡ, gìn giữ lâu dài quan hệ thân thiết. Đó là kết luận của Larry.
 
Trở về Mỹ, sau rất nhiều cố gắng, tháng 2 năm 1994, Larry đã thành lập Hội Giao lưu giữa các Trường trung học Washington - Bắc Kinh (viết tắt là WBSE), một tổ chức phi lợi nhuận và ông đảm nhiệm chức Chủ tịch tổ chức này.
 
Tôn chỉ của Hội là thúc đẩy sự giao lưu giữa thầy và trò trường Trung học giữa hai nước Hoa Kỳ và Trung Quốc, tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị. Lúc đó, Larry tâm niệm đó là cách tốt nhất để ông báo đáp xã hội.
 
WBSE vừa thành lập đã bắt đầu chuyển động với hiệu quả cao: chỉ trong vòng 2 năm ngắn ngủi, tháng 4 năm 1994, Đoàn thứ nhất gồm 6 học sinh và 4 thầy giáo của Trường Chuyên ngữ phía Tây thành phố Bắc Kinh đến Washington, thủ đô của Hoa Kỳ, tham quan trong hai tuần.
 
Lúc đầu, tham gia hoạt động giao lưu chỉ có một Trường Chuyên ngữ khu phía Tây Bắc Kinh, sau là trường Phúc Đán. Đến năm 1998, trước lúc tôi đi thăm Hoa Kỳ, phía Trung Quốc đã có hơn 30 học sinh và thầy giáo chia thành 4 đợt tiến hành tham quan. Học sinh và thầy giáo hai trường trung học nổi tiếng ở Washinhton là Trường Saint Louis và Trường Landtane cũng đã sang thăm lại Trung Quốc.
 
Trường Chuyên ngữ khu phía tây Bắc Kinh và Trường Chuyên ngữ Thành Đô là hai trường anh em đều thuộc hệ thống 14 trường do Ủy ban Giáo dục Quốc Gia thành lập. Lãnh đạo hai trường luôn có cơ hộigiao lưu học tập lẫn nhau, quan hệ tốt đẹp. Đầu năm 1996, trong một lần gặp gỡ bạn bè ở Bắc Kinh, Hiệu trưởng trường Chuyên ngữ phía Tây Bắc Kinh Triệu Thuận Phương nhiệt tình giới thiệu ông Larry làm quen với các thầy lãnh đạo Trường Chuyên ngữ Thành Đô. Ông Larry sơ bộ tìm hiểu tình hình trường chúng tôi. Trong một dịp tình cờ, ông Larry gặp Lã Tuyết Mai, học sinh của trường chúng tôi thi đậu vào Bắc Đại.
 
Lã Tuyết Mai là một trong những học sinh ưu tú của trường chúng tôi. Năm 1995 với thành tích xuất sắc đứng thứ năm môn văn học trong toàn tỉnh, Lã Tuyết Mai đã đỗ vào khoa Luật trường Bắc Đại. Bạn không chỉ giỏi về ngoại ngữ, có tài nói chuyện mà đối với rất nhiều vấn đề còn có cách nhìn rất độc đáo, nhận thức đúng bản chất sự việc, không bao giờ dễ dàng đồng ý với người khác. Tài trí và phẩm hạnh của Lã Tuyết Mai đã đem lại một ấn tượng rất sâu sắc cho ông Larry.
 
Thế là Larry nhận lời mời của Ban lãnh đạo Trường chúng tôi, vào tháng 9 năm 1996 bay đến Thành Đô. Ông đi vào từng phòng học, nghe các bài giảng tiếng Anh trong các lớp. Sau khi nghe trên lớp, ông mời thầy giáo tiếng Anh của các lớp và còn mời hai vị giáo viên ngoại ngữ người Mỹ, vợ chồng ông bà Antony và Helene đến từ Oklahoma cùng toạ đàm. Larry rất khen ngợi trình độ dạy tiếng Anh của trường. Tháng 10 năm 1996, hội nghị tổng kết công tác giảng dạy cuối năm học của các trường Chuyên ngữ trong toàn quốc họp tại Bắc Kinh, gặp dịp Larry cũng ở Bắc Kinh, Hiệu trưởng Ngô và Hiệu trưởng Ân của chúng tôi gặp ông Larry và chính thức đề xuất với hy vọng các chỉ tiêu của WBSE cũng phát triển đến trường tôi. Ông Larry, đã nắm rõ tình hình nhà trường, tỏ ra rất thích thú và đã chấp nhận trên nguyên tắc, đó là biểu hiện cách làm việc rất thận trọng và tế nhị của ông Larry. Khi chưa chọn được học sinh thích hợp, ông chưa vội vàng thoả thuận.
 

0
BA NÓI VỚI TÔI: “PHÀM SỰ DỰ TẮC LẬP”
(MỌI VIỆC CHUẨN BỊ TỐT SẼ THÀNH CÔNG)
 
Năm 1997, ông Larry quyết định mời Trường Chuyên ngữ Thành Đô tham gia kế hoạch WBSE, tuyển chọn ở trường tôi một học sinh để đầu năm 1998 đang học cao trung năm thứ hai, tham gia đoàn giao lưu, đến Hoa Kỳ. Nhà trường thông qua bình chọn tổng hợp của hai mặt đức, tài. Quyết định 5 ứng viên Đoàn đi tham quan Hoa Kỳ, trong đó có tôi, ông Larry phỏng vấn trực tiếp.
 
Chúng tôi chưa biết được có mấy chỉ tiêu đi Hoa Kỳ, nhưng căn cứ vào lần tuyển chọn trực tiếp này, cũng có thể đoán là không phải tất cả 5 người cùng đi. Rõ ràng, phỏng vấn trực tiếp có nghĩa là chấp nhận sự tranh đua. Tôi nghĩ, tâm trạng của mọi người vừa căng thẳng vừa đầy hưng phấn.
 
Họ đều là các bạn có thành tích nổi bật trong năm học. Tôi thường tìm thấy nhiều vấn đề đáng học tập ở mỗi bạn. Ví như, Vương Lan không những rất giỏi khẩu ngữ tiếng Anh, các môn học khác cũng học rất nhẹ nhàng, nên mỗi lần thi đều thoải mái vượt lên trên điểm mọi người khác; Phàn Điềm Điềm, ngồi cùng bàn với tôi thời sơ trung, một mình bạn độc chiếm đầu bảng 3 lần. Sức nhớ của bạn làm tôi hết sức nể phục, bạn lại có sở trường về thư pháp nữa; Lý Hải Bối bắt đầu từ sơ trung luôn dẫn đầu, xem rất nhiều sách văn học, “Phúc hữu thi thu khí tự hoạ” (trong đầu đầy thơ và sách cũng là nguyên khí Trung Hoa mà có); Lương Tinh ngoài môn tiếng Anh và các môn khác đều xuất sắc ra, bạn còn là một tay đàn dương cầm rất giỏi. Tiếng đàn dương cầm của bạn đã đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Lúc chưa tốt nghiệp tiểu học, tài năng chơi đàn của bạn đã tương đối cao - đạt đến cấp 10 dương cầm.
 
Trước mắt tôi, các bạn đều là những đối thủ mạnh, tôi cảm tưởng như trong một cuộc thi đấu kịch liệt, chỉ biết thắng cuộc thi chứ không biết nội dung thi đấu là những gì. Nhưng vốn không bao giờ dễ dàng chịu thua, tôi rất thích dốc toàn lực cho cuộc đua tranh công bằng đó, thua cũng cam lòng. Tôi quyết định, cố gắng đến mức cao nhất, cho dù không được chọn cũng không để cho “người nước ngoài” cho rằng học sinh của trường trình độ kém.
 
Về nhà, tôi kể lại cho cha mẹ nghe. Ba mẹ đều nói, đây là một dịp tốt và rất quan trọng, còn hỏi ngày mai tôi định nói những gì. Đối với vấn đề này, thực tôi chưa nghĩ tới, mấy ngày huấn luyện quân sự căng thẳng mệt mỏi, chỉ muốn ngủ. Tôi ngáp dài và nói: “Hiệu trưởng Ân nhắc các con cố gắng chuẩn bị tốt một chút”. Mẹ liền hỏi theo luôn: “Vậy con gái đã chuẩn bị được những gì?” “Có người nói nên xem thêm lịch sử Hoa Kỳ, có mấy núi cao, hồ lớn…”
 
“Cái gì?” mẹ bật phì cười. “Một người Mỹ từ xa xôi vạn dặm đến Thành Đô nói chuyện mà chỉ để nghe con nói cho họ về nước Mỹ có mấy núi, mấy hồ ư? Theo mẹ, do xuất phát từ sự tò mò, họ cũng rất muốn nghe cách nhìn của con về nước Mỹ”.
 
Tôi rửa mặt cho tinh thần phấn chấn, mời ba ngồi bên cạnh, hỏi ông có cao kiến gì. Tôi biết ba có nghiên cứu con người nhiều nước khác nhau, ba thường nêu ra những sáng kiến  khiến người ta phải khâm phục.
 
Quả nhiên, ba bắt đầu nói và đã lôi cuốn ngay sự chú ý của hai mẹ con tôi, giọng chắc chắn quen thuộc: “Ba nghĩ, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung Quốc và Hoa Kỳ so với tưởng tượng của người ta thì còn sâu xa hơn nhiều. Con còn nhớ, thời kỳ kháng Nhật, Hoa Kỳ từng là nước viện trợ lớn nhất cho Trung Quốc, không chỉ viện trợ vũ khí đạn dược, thuốc men, mà còn rất nhiều phi công Hoa Kỳ trực tiếp đến Trung Quốc tham chiến đánh Nhật. Lúc đó sân bay Tôn Tân của Thành Đô, có phi công Hoa Kỳ đóng quân. Để đánh bại uy phong của Nhật, máy bay Hoa Kỳ cất cánh từ Thành Đô, ném bom vào đất Nhật…” – “Đúng rồi!” Tôi chợt bừng tỉnh tiếp lời ba – “Sau khi bọn Nhật cắt đứt con đường Châu Miến là tuyến giao thông quốc tế của Trung Quốc, đội quân Phi Hổ của tướng Mỹ Chainnator đã đảm nhận nhiệm vụ từ Vân Nam bay thẳng đến Ấn Độ, mở tuyến giao thông mới nhận viện trợ quốc tế”.
 
Cứ như thế, tôi đã lợi dụng thời gian trước khi đi ngủ, thảo luận hết sức tỉ mỉ các chủ đề có thể đàm thoại được:
 
-         Hai nước Trung - Mỹ có nhiều sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ.
-         Nhân dân hai nước Trung - Mỹ trong quá khứ đã có tình hữu nghị, tương lai càng cần củng cố tình hữu nghị đó.
-         Người Mỹ tiến hành hiện đại hoá có nhiều kinh nghiệm phong phú, Trung Quốc hiện nay cũng đang cần những kinh nghiệm đó.
 
Lần này tôi đã lý giải được rõ ràng luồng tư duy của tôi, biết nên nói những điều gì với vị luật sư người Mỹ này.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-17 02:41:23me khoai>
PHỎNG VẤN TRỰC TIẾP: LẦN ĐẦU GẶP NGÀI LARRY
 
Hôm sau đến trường, tất cả đều yên tĩnh hơn nhiều so với tưởng tượng của tôi. Thậm chí không hề nhận thấy dù một chút không khí căng thẳng nào. Lần đầu tiên gặp ngài Larry, tôi chào ông rất lịch sự với cảm giác xa lạ: “Mr. Simms”. Tôi biết ông ta là một luật sư Hoa Kỳ nhưng trước tiên khi nghe giọng Anh - Mỹ của ông tôi càng thấy thích thú, ông đến từ thủ đô Washinton, người ở đó nói thứ giọng chuẩn của miền Đông Hoa Kỳ. Một vài thầy giáo cũng nói: “Vị luật sư Hoa Kỳ này, lúc giảng bài giống giọng nói của phát thanh viên đài VOA (Đài phát thanh Hoa Kỳ)”. Ở Trường Chuyên ngữ, đánh giá giọng nói tiếng Anh là một sở thích không khi nào lỗi thời, thầy giáo và học sinh đều như vậy cả.
 
Trừ những việc nói trên ra, sự tập trung chú ý của tôi đều đặt hết vào cuộc phỏng vấn sắp tới.
 
Ông Larry rất tinh tế trong việc dẫn dắt câu chuyện, có lẽ đó là đặc trưng của nghề luật sư, làm tôi cảm thấy rất nhẹ nhàng và thoải mái. Chúng tôi, lúc thì nói đến cuộc sống ở trường, tinh thần học tập, còn đệm những ca khúc thú vị vào các câu chuyện trong nhà trường, lúc thì nói đến “đội bay thứ 14 nổi tiếng của tướng Chinnator trong Thế chiến II và đường bay nguy hiểm từ Hymalaya đến Ấn Độ”. Nói hết câu chuyện này, tôi chợt nghĩ tới một vấn đề, “Hoa Kỳ là một quốc gia rất coi trọng luật pháp, Trung Quốc là nước đang hoàn thiện pháp chế, không biết trong thời kỳ hiện đại của Trung Quốc, mối giao lưu này có tác dụng như thế nào?” Larry ngừng một lát, hình như cảm thấy bất ngờ, nhưng có lẽ vì nói đến nghề nghiệp của mình, ông càng lộ rõ vẻ thích thú.
 
Sau này, đối với luật pháp Trung Quốc, ông thực sự có cách nhìn rất sắc sảo. Ông cho rằng, tập trung hoàn chỉnh hệ thống luật pháp là một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện hiện đại hoá Trung Quốc.
 
Gần 30 phút phỏng vấn trực tiếp qua đi rất nhanh. Tôi không cách nào phán đoán được cuối cùng đã để lại cho ông ấn tượng gì. Căn cứ vào thời gian nói chuyện dài ngắn, không làm người ta mấy lạc quan - thời gian nói chuyện của tôi khoảng nửa tiếng nhưng thời gian nói chuyện của hai bạn khác trái lại là 40 phút và gần một tiếng đồng hồ. Còn hai bạn nữa, một người nói nửa tiếng, người khác nói chỉ khoảng 20 phút.
 
Sau này, ông Larry nói, ấn tượng thứ nhất về tôi trong lần phỏng vấn trực tiếp là thấy rất đặc biệt và ngay lập tức gây được sự chú ý của ông. Nhưng ngay trong ngày phỏng vấn đó, bất kể là trong quá trình nói chuyện hay sau khi kết thúc, ông không hề để lộ ra ấn tượng đó.
 
Sau ngày phỏng vấn, chúng tôi vội vàng quay về Thanh Thành, suốt ngày luyện tập theo khẩu lệnh của chỉ huy, đến tối mọi người lại tụ tập nhau kể chuyện tiếu lâm. Khoảng thời gian đó rất vui vẻ, tôi quên đi rất nhanh cuộc gặp gỡ với người Mỹ.
 
TRỞ THÀNH NGƯỜI GẶP VẬN MAY
 
Hạ tuần tháng tám tôi lên năm thứ hai cao trung. Cuộc sống nội trú ở trường như đồng hồ đã lên hết giây cót, cứ đều đều chuyển động. Một ngày cuối tháng 11, Hiệu trưởng Ân gọi tôi lên Văn phòng. Ông trao cho tôi một lá thư chuyển bằng đường hàng không từ Mỹ gửi đến, trên phong bì mấy hàng chữ có màu đỏ đập vào mắt tôi:
 
Chủ tịch Simms, Hội giao lưu các trường Trung học Washington - Bắc Kinh…
 
Tôi vô cùng hồi hộp, tim đập thình thịch và đã đoán ra, đó là thư mời đi thăm Hoa Kỳ. Thật không dám tin, tôi đã thực sự trở thành lucky guy (người gặp may mắn)!
 
Sau buổi phỏng vấn trực tiếp, ngài Simms đã nói với tất cả chúng tôi: “Các bạn đều rất xuất sắc, lúc này tôi không thể quyết định được. Sau khi quyết định xong, tôi sẽ gửi ngay thư mời”.
 
Mấy tháng trôi qua, tôi đã bắt đầu quên đi thì thần may mắn đã bay đến đậu trên vai tôi. Không những thế, lúc đầu Larry vốn chỉ cho trường chúng tôi một chỉ tiêu thăm Hoa Kỳ, nay lại tăng thêm thành hai, Âu Bằng lớp cao trung 3 lọt vào chỉ tiêu này, trở thành một người may mắn nữa.
 
Sau khi thăm Hoa Kỳ về, tôi mới được biết quá trình chọn được tôi trong số 5 ứng viên. Thông qua những buổi phỏng vấn trực tiếp ngày ấy, cả 5 chúng tôi đều để lại một ấn tượng sâu sắc đối với Larry về trình độ tiếng Anh, ông cảm thấy bất ngờ ngoài dự kiến của mình. Trước đây, hoặc ít hoặc nhiều, ông đã coi tỉnh Tứ Xuyên chuyên sản xuất gấu mèo nổi tiếng là một nơi hoang vu, nghèo đói, khép kín và lạc hậu. Lần nói chuyện trực tiếp này, thành kiến đó của ông đã tiêu tan. Qua 5 người chúng tôi, ông không chỉ tìm hiểu thực lực đã có của học sinh trường chúng tôi, mà còn thấy rõ sự chân thành và công bằng của Ban lãnh đạo Trường Chuyên ngữ Thành Đô. Với tập quán làm việc thận trọng không bỏ qua một sự việc nhỏ nào, Larry căn cứ vào đối tượng buổi phỏng vấn xếp thứ tự 5 người chúng tôi từ trên xuống. Tôi được xếp thứ nhất, Lý Bối Hải xếp thứ hai. Đến thời điểm cần quyết định, Larry và Ban lãnh đạo ngồi lại cùng nhau thương lượng, cuối cùng người được chọn đi Hoa Kỳ là ai, ông hoàn toàn yên tâm nói: “Mỗi học sinh đều rất giỏi, ngoài dự kiến của tôi, mời các ông chọn một người”.
 
Mấy vị lãnh đạo từ chối. Nguyên nhân của việc này (đấy là do tôi suy đoán) là đối với học sinh tự tay các thầy cô bồi dưỡng, họ đều nắm rõ thực lực của mỗi người. Họ rất muốn mỗi học sinh đều có cơ hội đi tham quan, nay tự tay xoá tên 4 học sinh kia, các thầy cô không thể dằn lòng làm việc đó. Họ đề nghị ông Larry quyết định. Thế là Larry không thể từ chối, ông rút quyển ghi chép ra, chỉ vào tên tôi được xếp vị trí thứ nhất nói:
-         Như vậy để Yiting Liu (Lưu Diệc Đình) đi nhé?
 
Nói đến trường hợp của Âu Bằng cũng đầy kịch tính. Lúc Larry đến Thành Đô để thực hiện cuộc phỏng vấn, có mang theo cậu con trai đang học lớp cao trung. Khi Larry bận làm việc với chúng tôi, không có thời gian chăm sóc con, bèn nhờ lãnh đạo nhà trường bố trí một học sinh nam lớp cao trung 3 đi theo con trai ông tham quan thành phố Thành Đô. Âu Bằng thường ngày học rất xuất sắc liền được chọn làm người cùng đi với cậu ta.
 
Âu Bằng đi với con trai của Larry suốt 7 tiếng đồng hồ. Do anh nói tiếng Anh lưu loát, tri thức hiểu biết rộng, cử chỉ dịu dàng nên con trai ông Larry cảm thấy như tìm được bạn cố tri nơi đất khách. Cảm giác này cũng gián tiếp tác động đến ngài Larry. Rồi quyết định cuối cùng như chúng ta được biết: đã có sự thay đổi mang lại niềm vui đến cho mọi người.
0
 HÃY ĐỂ CHO ÔNG NGƯỜI MỸ TÌM HIỂU CÀNG NHIỀU VỀ TRUNG QUỐC
 
Trong thời gian đến thăm Hoa Kỳ, tôi rất ngạc nhiên là không ít người Mỹ thiếu hiểu biết về Trung Quốc. Ấn tượng của nhiều người Hoa Kỳ đối với Trung Quốc cố nhiên chỉ là những bộ phim của Trương Nghệ Mưu quay với bối cảnh Trung Quốc cũ. Cũng không trách được. Đối với họ, trong đầu chỉ chứa đầy những tin tức như thế thì cách nhìn cũng hình thành từ đấy. Có người Hoa Kỳ nhìn thấy bộ trang phục thường ngày tôi mặc trên người, tò mò hỏi: “Lúc ở Trung Quốc cũng mặc những bộ quần áo này à?” Có lẽ họ cho rằng ở Trung Quốc tôi mặc áo dài vạt trước ngắn với tay áo hình móng ngựa, thậm chí còn bó chân mới phù hợp với ấn tượng của họ.
 
Do vậy, tôi muốn những người dân Hoa Kỳ tôi có dịp tiếp xúc, tìm hiểu được càng nhiều về một Trung Quốc chân thực. Lúc ấy, những món quà mà mẹ tôi tìm chọn cho đã có chỗ sử dụng.
 
Món quà mà tôi tặng cho ông chủ nhà Taylor là một sản phẩm thủ công mỹ nghệ thêu truyền thống của Tứ Xuyên: bức “Mèo vờn bọ ngựa” thêu hai mặt. Cũng hay là vợ chồng ông rất thích mèo, lúc tôi vừa đem bức tranh lồng kính có hai mặt thêu, đặt lên giá, cả nhà ông Taylor đều tò mò xúm quanh, lật đi lật lại xem con mèo rất sống động với những sợi len nhiều màu sắc được thêu hai mặt như thế nào? Nhân dịp đó, tôi giới thiệu cho họ biết 4 địa phương thêu nổi tiếng của Trung Quốc, nơi hội tụ rất nhiều nghệ nhân thủ công điêu luyện: Bắc Kinh, Tô Châu, Thục (Tứ Xuyên) và Tương (Hồ Nam).
 
Món quà tặng nhà trường, nơi đón tiếp tôi, là bộ tranh màu minh hoạ một câu chuyện dân gian Trung Quốc tuyệt đẹp. Bộ tranh này ngoài kỹ thuật sử dụng thủ pháp Trung Quốc có phiên âm tiếng Hán, lớp Trung văn của nhà trường hiểu câu chuyện đó và từ nội dung câu chuyện, hiểu được lịch sử lâu đời và nền văn hoá Trung Quốc. Tôi dùng những bức tranh cắt mang theo tổ chức một buổi giới thiệu về phong tục dân gian Trung Quốc như làm vằn thắn, bánh trôi, hàm ý sâu sắc của chữ “phúc” viết ngược để học sinh Hoa Kỳ cảm nhận được tâm nguyện hướng về một cuộc sống tốt đẹp, những thuần phong, mỹ tục đầy tình cảm thú vị của nhân dân Trung Quốc.
 
Tôi còn mang một ít tặng phẩm nhỏ khác như khay bằng trúc đan, dùng lối vẽ “quốc hoạ” (lối vẽ bằng bút nho Trung Quốc) vẽ gấu hoặc tùng, hoạ lên trên mặt khay, quạt hoa khắc chìm bằng gỗ thơm có thể gắn vào bệ quạt để trang trí; hộp cỏ bện đựng đồ trang điểm nhỏ nhắn xinh xắn bên ngoài có dán những bức tranh bằng thân cây lúa mạch rất tinh xảo. Tôi đem chúng tặng các thầy cô giáo và các bạn ở trường học Hoa Kỳ. Có những gia đình tha thiết mời chúng tôi đến chơi nhà.
 
Loại tặng phẩm khiến tôi bỏ nhiều công sức và cũng tâm đắc nhất là một bàn tính bằng ngọc tặng ngài Larry. Tặng bàn tính ngọc là ý mẹ tôi. Mẹ nói: “Ngọc là tượng trưng cho phẩm chất tinh thần của người Trung Quốc, bàn tính là tiêu biểu tuyệt vời cho nền văn minh cổ xưa của người Trung Hoa, hơn nữa đối với sự phát triển của nền kinh tế cổ đại Trung Quốc, bàn tính cũng đã đóng góp không nhỏ. Nó đã dùng một phương thức hết sức đơn giản để giải quyết vấn đề số học rất phức tạp và là biểu hiện rõ ràng trí tuệ của người Trung Quốc. Con đã biết sử dụng bàn tính, đến lúc ấy con có thể thực hành để ông ấy xem đấy.”
 
Mẹ tôi đã tìm mấy ngày ở Thành Đô mà không tìm được bàn tính ngọc, lúc đó định thay thế bằng bàn gỗ nhưng e sơ sài quá. Mẹ lại chạy đi tìm một ngày nữa, kết quả tại một cửa hàng bán đồ lưu niệm du lịch, mua được bàn tính ngọc cỡ trung rất vừa ý. mẹ rất phấn khởi, viết hai câu đối trên hộp bàn tính để lúc tặng dịch cho ngài Larry nghe:
Cổ hữu toán bàn khởi Hoa Hạ
Kim hữu điện não huệ toàn cầu.
(Thời xưa, bàn tính có đầu tiên ở Hoa Hạ
Ngày nay, máy tính có mặt trên khắp toàn cầu)
(Hoa Hạ: Tên gọi nước Trung Hoa cổ)
 
Lúc tôi đem tặng ngài Larry bàn tính ngọc, vừa phiên dịch đôi câu đối vừa biểu diễn bàn tính khiến ông Larry tỏ vẻ vô cùng thích thú và kinh ngạc.
 
Ngoài việc dùng quà tặng để giới thiệu truyền thống văn hoá Trung Quốc, tôi còn chú trọng giới thiệu với người dân Hoa Kỳ tình hình Trung Quốc hiện nay và sự thay đổi của Trung Quốc sau cải cách mở cửa.
 
Lúc có người hỏi về quê hương, tôi liền lấy bưu thiếp mang theo từ Thành Đô và kể với họ, đây là thành phố nơi tôi ở. Dòng sông này có tên gọi là Phủ Nam, chúng tôi thường gọi là “dòng sông mẹ”. Dọc theo hai bờ sông là những vườn hoa rộng, các toà nhà đẹp, đã được tặng “Huy chương về công trình nhà ở của Liên Hiệp quốc”. Trong 20 năm lại đây, hầu như thành phố nào ở Trung Quốc cũng có những thay đổi lớn lao.
 
Cả nhà ông Taylor đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa đến Trung Quốc. Tôi nói với họ, một chính sách rất quan trọng hiện nay của Trung Quốc là hoan nghênh người nước ngoài đến đầu tư. Trung Quốc là một nước có tốc độ phát triển nhanh, có rất nhiều cơ hội kinh doanh. Giá nhân công ở Trung Quốc rất rẻ, thậm chí những nhân tài có trình độ cao, được đào tạo tốt, thù lao cũng thấp hơn ở Hoa Kỳ nhiều.
 
Tôi còn nói với ông về sự tiến bộ của nền pháp chế Trung Quốc, tình hình môi trường đầu tư, chính sách ưu đãi với kinh doanh của người nước ngoài. Tôi còn giới thiệu với ông sự thành công của những xí nghiệp phương Tây ở Trung Quốc. Có một lần tôi nói tới công ty P&G của Hoa Kỳ cũng là Công ty Bảo Khiết sản xuất dầu gội đầu làm tóc nhẹ và mềm nổi tiếng Trung Quốc, vừa hay người Tổng Giám đốc của Công ty đó là bạn của ông.
 
Ông Taylor tìm hiểu ngày càng nhiều tình hình Trung Quốc. Có lần ông hỏi tôi: “Cháu là một học sinh trung học, làm sao biết được nhiều tình hình như thế?” Tôi trả lời ông là, một mặt từ trong sách giáo khoa Trung Quốc tôi đã học được những kiến thức cơ bản, mặt khác xuất phát từ hiểu biết cá nhân, hàng ngày đều chú ý đến những tin tức như thế; có lúc còn mua sách báo liên quan để đọc nữa. Thời gian lâu dần, sự hiểu biết càng nhiều thêm… Ông Taylor nửa đùa nửa thật cười nói, học sinh trung học như cháu về sau ứng cử tổng thống được. Tôi nói với ông, ở Trung Quốc học sinh trung học giống như tôi rất nhiều. Họ quan tâm đến tiền đồ và vận mệnh quốc gia. Ví như bạn học của tôi cũng đều như vậy.
 
Lúc tôi sắp rời Hoa Kỳ, ông Taylor nói với tôi, sắp tới ông cũng dự định sang Trung Quốc đầu tư trên thị trường rộng lớn đầy cơ hội kinh doanh này. Vì vậy, ông rất mong con của ông học tốt môn Trung văn.
0
THẢO LUẬN VỤ ÁN
VỚI MỘT VỊ THẨM PHÁN CAO CẤP CỦA HOA KỲ
 
Theo ngài Larry, muốn làm cho học sinh trung học hiểu sâu sắc Hoa Kỳ, Toà án tối cao là một nơi không thể không đến. Đây không chỉ vì Toà án Tối cao là nơi ông làm việc, mà quan trọng hơn, hoàn thiện hệ thống luật pháp là một tiền đề hết sức quan trọng không thể thiếu của bất cứ một quốc gia nào muốn thực hiện hiện đại hoá.
 
Giống như nhiều tổ chức cơ cấu của nhà nước Hoa Kỳ như Nhà Trắng, Quốc hội, Toà án Tối cao đặt tại Washinhton cũng quy định một ngày để công chúng vào tham quan tự do. Trong ngày tham quan đó, các vị thẩm phán cao cấp tự mình xuất hiện tiếp đón những người tham quan bình thường, bao gồm cả thanh thiếu niên, học sinh đồng thời thông qua các loại sự việc cụ thể giảng giải cho họ hiểu Hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ.
 
Ngày hôm ấy, một trong số học sinh Trung Quốc chúng tôi và một vài người trong số các ông chủ người Mỹ, dưới sự hướng dẫn của ngài Larry, đi tham quan Toà án Tối cao, gặp ngài Antone Kennedy, một thẩm phán cao cấp. Ông đã nhiều lần thăm Trung Quốc, cho nên đối với ông, việc học sinh Trung Quốc thảo luận pháp luật Hoa Kỳ cũng rất lý thú. Hôm ấy, thẩm phán Kennedy đang giảng cho mọi người về một vụ án gây tranh luận trong xã hội: một việc khám xét có khả năng liên quan đến việc xâm phạm quyền của con người. Sự kiện này làm cho nội bộ Toà án Tối cao ý kiến không nhất trí. Quá trình tóm tắt sự việc đó như sau. Một chiếc ô tô đang chạy, vi phạm pháp luật, bị cảnh sát phát hiện. Cảnh sát lập tức truy đuổi, chặn chiếc xe đó lại và yêu cầu tất cả hành khách trên xe xuống hết để kiểm tra và có 3 người trong số họ tìm được trên người có vật cấm. Vị thẩm phán đề xuất với mọi người là: người cảnh sát này có được quyền như vậy không?
 
Trong không khí rất nghiêm trang đó, tôi dũng cảm đứng lên với giọng bình tĩnh nói: “Tôi cho rằng cách làm của người cảnh sát đó là sai”, tiếp theo, tôi bắt đầu trình bày rất mạch lạc quan điểm của mình: trong sự kiện này, người phạm luật không phải là tất cả các hành khách mà chỉ là người lái xe. Lái xe vi phạm luật thì phải trừng phạt theo pháp luật quy định, nhưng tất cả các hành khách không có sai phạm. Không có lý do nào để bắt tất cả phải cùng lái xe chịu chung hình phạt đó, dù chỉ là xuống xe để kiểm tra. Thẩm phán Kennedy đầu tiên rất ngạc nhiên, đến lúc nghe tôi trình bày, vẻ mặt giãn ra vui vẻ. Đợi tôi nói hết quan điểm của mình, vị thẩm phán không nén xúc động, giơ cả hai tay lên tán thưởng: “Great! (Rất giỏi!) Cách nhìn của tôi cũng giống như em. Chúng ta không thể vì người cảnh sát này khám được vật cấm mà có thể công nhận sự kiểm tra vi phạm pháp luật đó. Đây là điều khoản Hiến pháp của chúng ta để bảo vệ những công dân Hoa Kỳ không phải chịu bất cứ sự kiểm tra phi lý nào”.
 
Cuộc tham quan kết thúc, thẩm phán Kennedy vui vẻ chụp ảnh với chúng tôi và trên bức ảnh đó ông tự tay ký tên của mình rồi trao cho tôi làm kỷ niệm. Sau sự việc đó, ngài Larry lúc viết thư giới thiệu tôi du học tiếp mới nói với tôi: “Phát biểu của em làm cho tất cả những người dự họp đều ngạc nhiên, kể cả tôi, - một chuyên gia luật pháp và là một luật sư lâu năm trong nghề. Là vì xuất phát điểm của việc thảo luận vấn đề này là Tu chính án thứ 4 trong Hiến pháp Hoa Kỳ, đó là một điều khoản Hiến pháp để bảo vệ công dân Hoa Kỳ không phải chịu sự kiểm tra phi pháp, nhưng trong khi em chưa hiểu gì về Tu chính án, chỉ dựa vào năng lực tư duy lô gíc mà rút ra kết luận chính xác”.
 
Larry cho rằng quan điểm thảo luận mà tôi trình bày chí ít cũng bằng trình độ sinh viên năm thứ hai Trường Đại học luật chuyên khoa Hoa Kỳ. Hơn nữa Larry còn nói, tiếng Anh của tôi sử dụng chặt chẽ, tư duy sắc sảo, sự biểu đạt rõ ràng và lưu loát, bình tĩnh, dũng cảm, từng câu đều có điểm trúng huyệt chắc như đinh đóng cột đã để lại cho ông những ấn tượng sâu sắc.
0
ĐÁNH MỘT TRẬN THẮNG ĐẸP Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH HOA KỲ
 
Washington tháng 2, trời rét căm căm. Mấy học sinh Trung Quốc chúng tôi đã thấy quen thuộc hơn một ít đối với thành phố, phong tục, tập quán và con người ở đất nước này.
 
Gần tối, đêm 13 tháng 2, thầy phụ trách Đoàn – Dương Tiểu Hồng đột nhiên nhận được một cú điện thoại ngắn gọn: 9 giờ 20 phút sáng ngày mai, Đài Truyền hình Hoa Kỳ C-SPAN mời chúng tôi tham gia tiết mục phỏng vấn trực tiếp, hỏi chúng tôi có nhận lời mời đến dự hay không.
 
Đài truyền hình Hoa Kỳ C-SPAN rất hiện đại, phủ sóng khắp nước Mỹ. Các tiết mục của Đài từ lâu đã nổi tiếng vì có tính chính trị cực mạnh. Lời mời này, đối với chúng tôi, những người mới đến Hoa Kỳ 20 ngày, rõ ràng là một khó khăn. Thầy Dương Tiểu Hồng đến chưng cầu ý kiến, mọi người đều thấy đây là một thách thức, đương nhiên không muốn lùi bước.
 
Sáng sớm ngày 14 tháng 2, người dẫn chương trình còn chưa đến, 4 học sinh Trung Quốc chúng tôi đã ngồi rất nghiêm chỉnh ở phòng phỏng vấn trực tiếp. Người phụ trách hoá trang của Đài truyền hình nói với chúng tôi, buổi phỏng vấn truyền hình trực tiếp của Đài thường được bố trí vào “thời điểm vàng”, vì người Mỹ có thói quen, ngày chủ nhật buổi sáng ngủ muộn, khi vừa mở mắt dậy, liền bật ti0vi xem thời sự, nên C-SPAN bố trí tiết mục hay nhất vào thời điểm đó.
 
Bắt đầu làm việ, sau lời khai mạc ngắn gọn của người dẫn chương trình và lời chào hỏi hữu nghị, đường dây điện thoại nóng với khán giả được nối, điện thoại các nơi trên đất nước Hoa Kỳ gọi về làm cho đèn tín hiệu trong phòng truyền trực tiếp nhấp nháy liên tục, không khí hiện trường đột nhiên sôi động, căng thẳng.
 
Tuy trước đây, bản thân tôi chưa bao giờ trải qua tiết mục truyền hình trực tiếp của Hoa Kỳ, nhưng cũng đã được nghe nói tới. Trong các buổi như thế, dù là Tổng thống cũng bị những người dẫn chương trình và phóng viên đôi lúc làm cho lúng túng. Từ Nixon đến Bill Clinton đều gặp phải trường hợp này. Ta có thể thấy gai góc trong những câu hỏi đặt ra.
 
Người dẫn chương trình C-SPAN như một sinh viên trẻ, anh ta đối với chúng tôi thân thiện, còn về những người gọi đường dây nóng sẽ hỏi những vấn đề gì thì khó mà dự kiến được. Giống như mỗi lần bước vào phòng thi, tôi hít thở hai lần thật sâu, chuẩn bị nghênh đón thách thức đó.
 
Những câu hỏi của công chúng Mỹ không hề kiêng dè bất cứ thứ gì, quả nhiên là danh bất hư truyền. Mới bắt đầu đã có khán giả hỏi, suy nghĩ của chúng tôi đối với những sự việc rắc rối của bản thân nước Mỹ: “Các bạn đối với những chuyện tình lãng mạn của Tổng thống Clinton như thế nào?”
 
Một vị khán giả khác quan tâm đến tình hình vùng vịnh sau cuộc chiến hỏi: “Các bạn nhận thấy quan hệ sắp tới giữa Mỹ và Iraq như thế nào?” Chúng tôi thường trả lời hết sức thoải mái đối với các câu hỏi đó.
 
Một khán giả điện từ Tennessee tới, đầu tiên anh ta dùng giọng Trung Quốc không được thành thạo lắm mở đầu “Chào bạn!”, nhưng vấn đề anh ta nêu ra có đôi chút châm ngòi: “Năm năm trước tôi đã đến Trung Quốc và đã học được một môn võ thuật của Trung Quốc. Tôi rất quan tâm đến sự phát triển nhân quyền của Trung Quốc. Tôi muốn nhờ một bạn học sinh Trung Quốc có hiểu biết về môn võ thuật nói cho biết cách nhìn của bạn ấy về vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc?” Trong phòng truyền hình trực tiếp, mọi ánh mắt đều nhìn về phía Âu Bằng. Âu Bằng trả lời rất trầm tĩnh: “Mọi người đều biết, Trung Quốc là một nước dân số đông và có một lịch sử lâu đời. Từ khi cải cách mở cửa đến nay, nhân quyền của chúng tôi tiến những bước rất dài. Mỗi quốc gia đều có những đặc điểm khác nhau của riêng mình. Tình hình nhân quyền của chúng tôi cũng đang theo sự phát triển của nền kinh tế không ngừng được cải thiện. Tôi tin tưởng với sự nỗ lực không mệt mỏi, vấn đề nhân quyền của nước chúng tôi sẽ tiến tới hoàn thiện”.
 
Tất cả nhân viên Đài truyền hình có mặt trong phòng đều vỗ tay hoan nghênh câu trả lời đó của Âu Bằng. Họ không biết rằng gia đình nơi Âu Bằng được gửi trọ trong thời gian tham quan Hoa Kỳ, thường thường có những cuộc gặp gỡ với các chính khách. Trong những lần gặp gỡ đó, vấn đề Âu Bằng phải trả lời nhiều nhất là vấn đề nhân quyền Trung Quốc.
 
Lúc cuộc phỏng vấn kết thúc, người dẫn chương trình nêu một vấn đề chung cho chúng tôi, kế hoạch tương lại làm gì? Có nghĩ đến việc sang Hoa Kỳ học đại học hay không?
 
Các bạn tôi đều nói rằng, trong tương lai hy vọng được đưa sang Hoa Kỳ học đại học. Lúc người dẫn chương trình hỏi tôi, tôi bình tĩnh trả lời: “Tôi chưa chuẩn bị sang Hoa Kỳ học đại học. Là vì tôi cho rằng, một người cần phải học tốt nền văn hoá của nước mình trước tiên, sau đó mới đi học tập nền văn hoá của nước khác. Tôidự định sau này sẽ hoạt động kinh tế. Nhưng làm kinh tế quyết không phải muốn kiếm thật nhiều tiền cho mình mà là vì Tổ quốc tôi còn có rất nhiều người cần giúp đỡ. Ví như những vùng nghèo khổ, còn có rất nhiều trẻ em nghèo, không có tiền nên không thể đi học. Tôi hy vọng bản thân trong tương lai có năng lực giúp đỡ họ.”
 
Những lời nói trên đều là những lời chân thực, là vì, từ trước tới nay, tôi chưa hề nghĩ đến việc trực tiếp sang Hoa Kỳ học hệ chính quy, mà có ý định đến giai đoạn nghiên cứu sinh, thi vào danh sách du học sinh của nhà nước. Lúc ấy tôi cũng chưa hề biết được, nửa năm sau ngài Larry giới thiệu trực tiếp và đề nghị tôi được hưởng học bổng trả theo chỉ tiêu đại học Hoa Kỳ, có thể thực hiện sớm ý định sang Hoa Kỳ của mình trước 4 năm trong kế hoạch của cuộc đời.
 
Hôm phỏng vấn trên truyền hình, tôi cũng không biết con gái của ngài Taylor là Janes ngồi trước màn hình ti-vi, khi cô nghe câu trả lời của tôi, cô rất cảm động. Khi trở về nhà, cô Janes ôm chầm lấy tôi: “Thanh niên Trung Quốc thật phi thường! Vào độ tuổi như thế này, trẻ em của chúng tôi ở đây, chỉ biết ăn sô-cô-la và kem, các bạn, trái lại đã biết suy nghĩ đến những vấn đề của quốc gia, suy nghĩ đến trách nhiệm của mình với nhân loại…”
 
Người vui mừng nhất đối với thành công của buổi phỏng vấn này có lẽ là ngài Larry. Khi người dẫn chương trình Đài C-SPAN vừa nói lời “Chào tạm biệt!”, ông ngồi ngay bên ngoài phòng truyền hình trực tiếp đã đứng lên hô thật to: “Rất giỏi! Rất giỏi! Tôi tự hào về sự tuyển chọn của mình”.
 
Tôi nghĩ rằng ngài Larry không chỉ tự hào vì ông đã tuyển chọn học sinh trung học của Trung Quốc, nhưng càng tự hào hơn vì ông đã chọn đúng sự nghiệp của mình là củng cố tình thân thiện, hữu nghị giữa nhân dân hai nước Trung - Mỹ.
0
HỌC SINH MỸ “HỌC LÀM THEO KIỂU LÔI PHONG”
 
Theo sự bố trí của ngài Larry, ngày thứ hai sau khi đến Washington, tôi và Âu Bằng lần lượt đến thăm trường Saint Louis và Landtane. Hai trường Hoa Kỳ này đều là trường trung học hàng đầu của đặc khu thủ đô Washington. Thứ bậc của các trường đó ở Washington đại để sánh ngang với các trường trung học nổi tiếng thuộc Trường Bắc Đại ở Bắc Kinh - Trường Thanh Hoa và 4 trường trung học của Bắc Kinh. Dụng ý của ông Larry là làm cho chúng tôi quen thuộc khuôn viên của nhà trường để bắt đầu tìm hiểu Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ có thời gian gần một tháng học tập sinh hoạt giống như học sinh ở đất nước mình tham quan.
 
Trường Saint Louis nơi tôi học, để bồi dưỡng tình thương yêu và tinh thần trách nhiệm với xã hội, có một lịch trình giảng dạy bắt buộc mỗi học sinh phải hoàn thành kế hoạch chuyên môn do tự mình xây dựng. Tên gọi của loại kế hoạch chuyên môn này là “Kế hoạch phục vụ vùng”. Mục tiêu là bồi dưỡng học sinh thành công dân có đầy đủ trách nhiệm với vùng mình sống và toàn xã hội, đồng thời làm cho học sinh hiểu được đúng đắn những người đang chung sống chung với họ trên thế giới này, đặc biệt là những người có khó khăn đang cần được giúp đỡ, từ đó mà trưởng thành và có được nhiều tình thương yêu hơn nữa. Kế hoạch này tôi gọi là “Hoạt động học tập theo gương Lôi Phong” của học sinh Hoa Kỳ. Trường Saint Louis đã quy định những biện pháp hết sức chặt chẽ cho kế hoạch này, khi chấp hành cũng rất nghiêm túc.
 
Học sinh trung học của Trung Quốc cũng phải học tập Lôi Phong: giúp đỡ người già và người tàn tật, tuyên truyền bảo vệ môi trường. Nhưng tính tuỳ tiện còn tương đối phổ biến, thiếu những quy định cụ thể, ví như làm thế nào, làm cái gì, làm bao nhiêu thời gian. Làm xong ai đánh giá hiệu quả. Tất cả đều không có kế hoạch bố trí chặt chẽ, cũng không có một chương trình cố định.
 
Nhưng ở trường Saint Louis, thực hiện kế hoạch vùng là một tiêu chuẩn cần thiết, một thành tích của học sinh đưa ghi vào hồ sơ của họ, phương thức tổ chức chặt chẽ. Trong con mắt hiệu trưởng và thầy giáo, hoạt động phục vụ vùng cũng giống như các môn học tiếng Anh, Thể dục, Số học, Vật lý, Hoá học không có gì khác nhau. Một môn học quan trọng nếu học không tốt có thể ảnh hưởng đến việc học sinh đó được nhận vào một trường đại học nổi tiếng, còn nếu không hoàn thành đúng thời gian quy định nhiệm vụ phục vụ của mình thì cũng phải nếm “quả đắng”.
 
Trước khi tôi đến thăm Trường Saint Louis, kế hoạch phục vụ vùng của họ triển khai được 10 năm. Nội dung hoạt động là do tổ chức quyền lực cao nhất của nhà trường, Hội đồng Quản trị nhà trường và các nhân viên quản lý khác, cha mẹ học sinh, thầy giáo, học sinh cùng nhau quy định.
 
Học sinh từ lớp 9 đến lớp 11 mỗi năm yêu cầu thực hiện các hoạt động phục vụ vùng không ít hơn 20 giờ. Thời gian 3 năm cộng lại đối với nhiệm vụ này không ít hơn 60 giờ. Mỗi học sinh sau khi hoàn thành kế hoạch hoạt động phục vụ vùng phải viết một bản luận văn tổng kết những hoạt động tâm đắc nhất, lúc hoạt động phục vụ vùng đã được 40 giờ, học sinh cần phải viết một bài dài 3 trang có đóng dấu nhà trường hoặc trong cuộc họp tổng kết năm học lên trình bày từ 3 đến 5 phút.
 
Mỗi học sinh Trường Saint Louis, sau khi được vào lớp 9, việc đầu tiên phải làm là ký tên vào bản quy ước có đầy đủ các điều khoản với người phụ trách hoạt động vùng của mình. Trong quy ước đó, quy định tỉ mỉ và rõ ràng nội dung hoạt động và nghĩa vụ các học sinh phải gánh vác, số lượng công việc, thời gian hoàn thành, biện pháp kiểm tra.
 
Tôi phát hiện thấy người Mỹ có tài về xây dựng hợp đồng và ký kết các hiệp định. Đối với mỗi một sự việc mà họ cho là quan trọng, hầu như đều có một lực thúc đẩy từ hợp đồng, hơn nữa họ còn thiết kế các điều khoản hết sức chặt chẽ. Một bản ký kết phục vụ vùng nho nhỏ cũng biểu hiện rõ rệt đặc điểm ấy.
 
Nếu một học sinh nào trong 3 năm còn nợ, không hoàn thành được nhiệm vụ hoạt động vùng đã quy định thì 5 tháng trước khi tốt nghiệp lớp 12, bạn phải trả nợ. Nếu không, đừng mong gì tấm bằng tốt nghiệp cao trung.
 
Hậu quả này sẽ nghiêm trọng hơn, vì tại Hoa Kỳ, nếu không có bằng tốt nghiệp cao trung sẽ không có một trường đại học nào nhận bạn vào học hết.
 
Đương nhiên, không có một học sinh nào của Trường Saint Louis sau khi trong 6, 7 năm ném mười mấy vạn đô-la vào học phí lại dám mạo hiểm không có trong tay tấm bằng tốt nghiệp.
 
Học sinh Saint Louis đối với hoạt động phục vụ vùng từ trước tới nay thực hiện rất chu đáo, đầy đủ từng điều khoản nhỏ nhất. Nhưng tuyệt đại đa số học sinh không phải vì sợ các quy định, quy ước mà vì đối với bản thân họ, hoạt động này có niềm vui thích sâu sắc. Họ nói, con người phải sống có ý nghĩa. Nếu do sự nỗ lực của bạn mà làm cho cuộc sống của người khác tốt đẹp lên, chính việc đó là một cảm giác rất “độc” đấy.
0
THƯ VIỆN CÓ CÔNG NĂNG MẠNH
 
Ấn tượng của tôi, Thư viện trường trung học là một phòng nhỏ hẹp và chật chội, vài giá sách treo trên tường, một số tạp chí, mấy giá báo, một người quản lý sắp nghỉ hưu, vừa đan len, vừa uể oải tìm sách cho học sinh. Nhưng nếu bạn muốn mượn sách, có lẽ không mượn được gì cả.
 
Thư viện riêng của cô giáo Mathew đã thay đổi định kiến đó của tôi. Phải nói rằng, kho sách của thư viện Trường Saint Louis rất phong phú, rộng rãi và sáng sủa. Một phòng lớn khang trang, có rất nhiều chỗ ngồi cho học sinh đọc sách. Tất cả sách đều để ở trên giá, muốn xem loại nào đều tự chọn, nếu cần thiết sau khi đăng ký, có thể mang về nhà đọc mấy tuần. Ở đây không những có sách, mà còn có một số lượng sách điện tử, băng thu âm, đĩa quang, băng hình… Một người yêu tri thức vào đây như “chuột sa chĩnh gạo”.
 
Giáo viên phụ trách thư viện đồng thời cũng là người hướng dẫn học sinh làm nghiên cứu khoa học. Bạn nào cần tư liệu cho môn nào, chuẩn bị các Paper (luận văn) như thế nào, các thầy giáo có thể đề xuất những kiến nghị rất có ích cho bạn, nhanh chóng tìm cho bạn mọi tư liệu cần thiết.
 
Do công tác ở đây so với những vấn đề cần phải giải quyết của các thầy giáo ở bất kỳ môn học nào đều phức tạp hơn, cho nên các giáo viên công tác ở thư viện, đại bộ phận đều có tri thức phong phú của rất nhiều môn học.
 
Phương thức làm bài tập của học sinh trung học Hoa Kỳ không giống như học sinh Trung Quốc. Học sinh Trung Quốc thường là làm đề do giáo viên chỉ định, đề bài trong sách giáo khoa và thường có đáp án do giáo viên giữ. Phần lớn bài tập của học sinh Hoa Kỳ không có đáp án chuẩn, giáo viên chỉ ra một đề hoặc chỉ định hướng nghiên cứu chung, các việc còn lại do học sinh tự mình nỗ lực giải quyết. Học sinh phải độc lập tra cứu, sưu tập tài liệu, chọn vấn đề nghiên cứu cụ thể, sau đó rút ra kết luận của mình, giáo viên căn cứ vào đó cho điểm.
 
Có lúc kết luận của học sinh và giáo viên không giống nhau, nhưng chỉ cần trình bày có lý lẽ cũng được điểm cao. Không vì trái quan điểm với thầy mà vứt bỏ kết luận của học sinh. Do vậy, năng lực độc lập sưu tập tư liệu và độc lập nghiên cứu của học sinh Hoa Kỳ đều rất mạnh.
 
Phương thức rèn luyện này làm cho một số học sinh ưu tú của Hoa Kỳ có thể căn cứ vào phát hiện của mình, nắm vững điểm chủ yếu của vấn đề, tra tìm đến ngọn nguồn, luôn luôn đề xuất được những sáng kiến có giá trị. Sở dĩ tôi muốn nhấn mạnh học sinh ưu tú là vì Hoa Kỳ cũng như ở Trung Quốc, có không ít học sinh lười, ham thích chơi mà không ham học.
 
Có một câu chuyện thực về tinh thần độc lập nghiên cứu của một học sinh ưu tú Hoa Kỳ:
 
Năm 1999, Quốc hội Mỹ thông qua một nghị quyết đặc biệt, tuyên dương em học sinh nhỏ vì đã phát hiện một vụ án sai. Vụ án xảy ra trong Thế chiến II và em đã thúc đẩy vụ án được xử lại. Lúc làm bài tập lịch sử ở nhà, em tra cứu tư liệu và đã phát hiện ra vấn đề này. Trước thời điểm đó, tư liệu lịch sử một mực cho rằng trong thời kỳ Thế chiến có một tàu Mỹ bị đắm. Viên chỉ huy chiến hạm đó phải chịu trách nhiệm. Ông ra bị truy tố và bị kết tội. Nhưng em đọc tài liệu phát hiện ra một điểm nghi vấn và quyết tâm làm rõ sự thực, miệt mài thu thập nhiều sự kiện ngoài giờ học. Tự đi tìm nhiều nhân chứng, sau cùng thu thập đủ chứng cứ đáng tin cậy, chứng minh sự vô tội của viên chỉ huy nọ. Quốc hội Hoa Kỳ thông qua điều tra lại đã công nhận kết quả của em học sinh, làm cho viên chỉ huy hàm oan nửa thế kỷ dù đã qua đời được phục hồi danh dự.
 
Vụ án đó nói lên rằng, thông qua phương thức giáo dục, rõ ràng đã làm cho một số học sinh Mỹ chuẩn bị tốt cho năng lực nghiên cứu vấn đề và độc lập suy nghĩ.
 
Thư viện của nhà giáo Mathew trở thành một nơi được hoan nghênh nhất trường của Trường Saint Louis.
 
Nhưng nhà giáo Mathew không bằng lòng với hiện trạng này, ngoài viện tận dụng hết các tư liệu thư viện hiện có, bà còn xây dựng một mạng lưới thư viện rất đa dạng, đó là mạng Internet. Mạng Internet không phải là một phát minh của bà, tra tư liệu trên mạng từ lâu đã như cơm bữa hàng ngày trong gia đình của học sinh Mỹ. Nhưng thư viện trên mạng của trường Saint Louis còn nối với một số máy chủ hỗ trợ cung cấp một lượng lớn thông tin rất có ích đối với thầy giáo và học sinh.
 
Bạn muốn xem một cuốn sách mới bán rất chạy ư? Bấm nhẹ vào chuột trên máy tính có thể thấy ngay bảng xếp hạng mới nhất trong tuần này các loại sách bán chạy nhất ở Hoa Kỳ, ngoài ra còn có lời nhận xét của các nhà phê bình nổi tiếng về nội dung của cuốn sách. Nếu bạn muốn xem báo chí từ “New York thời báo” đến “Bưu điện Washington” chỉ cần bạn nói ra được tên báo thì bạn có thể chọn, không những có thể xem báo trong ngày, mà còn có thể xem bất kỳ số báo nào bạn nhớ đúng ngày xuất bản. Sau khi đọc hết, nếu muốn mang tài liệu đó về nhà tham khảo, nhấn nút in, lập tức máy in ngay tài liệu bạn đang cần.
 
Bạn muốn tìm hiểu về đại học ư? Những bảng xếp loại đại học, những tài liệu chi tiết về đại học, bảng danh sách các trường đại học từ tờ “Tin tức nước Mỹ về thế giới” đến mọi hình thức cấp học bổng, đều công khai.
 
Thư viện của giáo viên con có lúc thay thầy giáo giảng nhiều điều bổ ích. Người viết vất vả, tốn nhiều công sức. Mạng thư viện cung cấp cho học sinh hướng viết luận văn và còn có những “chuyên gia bật mí” để cung cấp thêm những bí quyết nữa.
0
TÔI HỌC NGHỀ GỐM Ở TRƯỜNG SAINT LOUIS
 
Đã đến giờ lên lớp môn học nghệ thuật. Trong các bài nghệ thuật thực tiễn khiến cho ta rối trí, phải chọn môn học nào?
 
Vẽ tranh sơn dầu và điêu khắc tôi chưa hiểu, chỉ có thể chọn một loại nghệ thuật đơn giản nhất, như nặn đất thử xem sao. Tôi nghĩ là làm bình đựng nước còn có thể được. Bài học “Nghệ thuật làm đồ gốm” ở Trường Saint Louis thật thú vị.
 
Một nắm đất dẻo, mềm đưa lên bàn gốm của tôi. Nó không chịu biến thành cái cốc, bình hoa hoặc chiếc bình đựng nước kiểu Ả Rập cổ nhỏ như trên các bức vẽ liên hoàn thời nhỏ mà tôi nhớ, trái lại miếng đất cứ như con rắn mềm oặt, uốn đi uốn lại, sau đó nằm liệt, cứng đơ như chết. Nếu không gắng sức thì không thể điều khiển được nó. Có lẽ mục đích của tôi chỉ là đùa chơi, tính tích cực cũng chưa được đụng đến.
 
Tôi lấy một nắm đất mềm, trước tiên dùng tay nặn thành một miếng to hơn bàn tay, lại lấy một nắm đất khác vê thành sợi đất, ép xuống cho mỏng, sau đó dính vào xung quanh mép miếng đất lúc đầu, giống như một cái chén, xù xì chẳng khác gì một đồ chơi thời nguyên thuỷ. Tác phẩm nghệ thuật gốm đầu tiên của tôi đã ra đời như thế đó. Quét một lớp men và cho vào lò nung. A! Nó đã khoác lên mình một sắc men màu xanh lam ánh vàng. Kỹ thuật kết dính của tôi không đạt, đáy cốc bị nhiệt độ cao trong lò làm cháy đen.
 
Lần thứ hai có kinh nghiệm hơn, tôi bỏ ham muốn làm “nghệ thuật lập thể”, chuyển sang làm “nghệ thuật phẳng”. Tôi nặn miếng đất, ở giữa làm như hai quả tim đặt chồng lên nhau, trên quả tim lớn viết chữ “Mum” (mẹ) và trên quả tim nhỏ viết chữ “Me” (con). Đây là quà tôi chuẩn bị mang về tặng ba mẹ.
 
Khi về nước, ba mẹ rất thích mấy tác phẩm nhỏ bằng gốm do tôi làm, đem bày trên bệ cửa sổ.
 
Tôi còn nhớ, hồi học năm thứ ba tiểu học, tôi đã được một cô giáo mỹ thuật rất giỏi dạy chúng tôi vẽ tranh quốc hoạ. Cô đã khéo dẫn dắt chúng tôi, chỉ trong thời gian một buổi học chúng tôi đã vẽ được con bò rừng Tây Tạng. Một nét mực đã có ngay mình con bò đầy lông, lại chấm một giọt mực vẽ tiếp được chiếc sừng cong.
 
Từ đó, tôi vô cùng say mê quốc hoạ. Về nhà tôi luôn biểu diễn cho cha mẹ xem: “Đây là sừng bò, có giống không mẹ? Đây là chân bò, đây là…” Ba mẹ vừa xem vừa gật đầu: “Tốt, tốt, rất giống đấy”.
 
Ba còn mời một sinh viên tốt nghiệp chuyên về quốc hoạ thuộc Viện Mỹ thuật Trùng Khánh đến xem tác phẩm của tôi. Dù hứng thú với hội hoạ đến đâu nhưng gánh nặng học tập ngày càng lớn. Bài tập ở nhà mỗi đêm thường phải làm đến 11 giờ. Tôi vẫn vững tin rằng, nếu có cơ hội được đi theo một thầy dạy vẽ giỏi, nhất định tôi không phải là học sinh chậm tiến.
 
Tuy nhiên, tôi cũng có cơ hội để trở thành hoạ sĩ nghiệp dư, lúc nhàn rỗi dùng bút vẽ thể hiện những cảm nhận của mình đối với cuộc sống.
0
MỘT LỊCH TRÌNH GIẢNG DẠY NGHỆ THUẬT
PHONG PHÚ ĐA DẠNG
 
Trường trung học Hoa Kỳ có môn học nghệ thuật mà trường trung học Trung Quốc không có. Môn học này rất có ích cho việc yêu cầu nâng cao tố chất của học sinh, bồi dưỡng năng lực sáng tạo. Môn nghệ thuật của Trường Saint Louis được chia thành hai loại: bắt buộc và tuỳ chọn. Lịch sử nghệ thuật là một môn học bắt buộc trong năm học. Học sinh không chỉ học trong sách vở, trên lớp học mà còn thường xuyên thưởng thức rất nhiều tác phẩm đặc sắc lưu trữ ở viện bảo tàng, được quan sát những tác phẩm quý giá của các nhà nghệ thuật nổi tiếng, mở rộng tầm nhìn của mình.
 
Ở giai đoạn này lấy tìm hiểu và thưởng thức làm chủ đạo. Rất nhiều học sinh trong thời gian này đã được kích thích mạnh mẽ hứng thú sâu sắc với nghệ thuật. Trong tương lai, họ không nhất định phải trở thành nhà nghệ thuật hoặc thưởng thức, mua bán các tác phẩm nghệ thuật và giữ niềm ham thích này liên tục cho đến suốt đời.
 
Trong con mắt người Mỹ, lịch sử phát triển nghệ thuật chủ yếu là phát triển sử của nghệ thuật phương tây. Nghệ thuật phương đông chỉ được xem như một môn phụ không quan trọng. Cách nhìn như vậy là quá chật hẹp, nhưng phương thức dạy lịch sử của Trường Landtane trái lại có thể chấp nhận được. Chương trình giảng dạy bắt đầu từ các bức hoạ trong hang động của người nguyên thuỷ, tiếp đến đi tìm nguồn gốc từng bước phát triển của nghệ thuật phương tây, các nhà nghệ thuật quan trọng và những tác phẩm tiêu biểu của họ. Không chỉ giảng dạy các tác phẩm mà còn cả sự biến đổi thời đại thúc đẩy trào lưu thẩm mỹ xã hội như thế nào.
 
Thầy giáo bắt đầu giảng từ thời tiền sử đến nền văn minh và nghệ thuật rực rỡ cổ Hy Lạp rồi đến dòng sông ngưng trệ dài đằng đẵng, bất chợt hiện lên những đợt sóng cuồn cuộn thời Trung cổ, các tác phẩm chói sáng thời kỳ Phục hưng… cho đến nghệ thuật muôn hình muôn vẻ thời đương đại. Hầu như mỗi bài học đều phối hợp với những bộ phim đèn chiếu. Bài học như thế làm cho học sinh không cảm thấy trống rỗng và đơn điệu. Đối với những học sinh muốn phát triển nghệ thuật, nhà trường còn chuẩn bị cho họ môn học tự chọn cao hơn nữa, mỗi tuần lên lớp 5 lần.
 
Trong nửa học kỳ, học sinh có thể được 15 học phần, làm cho họ có thể tham gia môn AP (Advaned placement) có độ khó rất cao và thông qua kỳ thi của môn học để lấy được học phần tương ứng. Điểm này đối với họ khi được vào đại học rất có lợi, không những dễ dàng được trường đại học nổi tiếng nhận vào học mà trong quá trình học tập có một số môn học được miễn thi lấy điểm học phần.
 
Thời kỳ chọn, tự bản thân học sinh chuẩn bị là chính. Mỗi người đều chọn cái mình cần, vui niềm vui của chính mình. Học sơn dầu khi tan lớp, cả người đều loang lổ mầu sơn, không hề gì. Học làm đồ gốm cả người đầy bùn đất, đứng trước lò nung, mồ hôi ra như tắm, vui không biết mệt. Nếu làm một thời gian thấy chán thì có thể đề xuất với thầy để đổi môn học. Các thầy giáo rất vui lòng không miễn cưỡng.
 
Hơn nữa, dù mỗi môn nghệ thuật thực tiễn đều chuyên nghiệp hoá như thế, những không môn học nào đưa ra một “chỉ tiêu cứng” bắt buộc học sinh phải đạt đến. Đây là một phương thức học tập không hề có một sức ép nào, chí tiến thủ và tiềm năng được khêu gợi, dẫn dắt mới là lực thúc đẩy lớn nhất.
 
Lịch trình giảng dạy môn kịch của Trường Landtane cũng đáng được quan tâm. Hoạt động biểu diễn trong trường học của họ không giống như chúng ta, tạm thời tập hợp học sinh, tập một tiểu phẩm hoặc một đoạn kịch coi là một loại văn nghệ nghiệp dư, khuấy động không khí của trường học sau đó trở về lớp với sách vở và bài tập. Trường Landtane luôn xem môn kịch là một môn học chính thức. Học sinh mỗi tuần chỉ lên lớp 3 lần. Hết một năm học sẽ giành được 1,5 học phần. Học sinh khi lên lớp có thể học được rất nhiều kỹ xảo biểu diễn có tính chuyên nghiệp cao. Nhà trường cho rằng thu hoạch lớn nhất của học sinh từ trong môn kịch là phương pháp học để biểu hiện mình. Những vấn đề này đối với sự phát triển bản thân trong tương lai, đối với việc nắm chắc vận hội để bước trên con đường thành đạt của cuộc đời, đó sẽ là một trợ lực hết sức to lớn. Nghe nói, ông Ronald Reagan sở dĩ trúng cử tổng thống Mỹ có liên quan rất nhiều đến kinh nghiệm tự biểu hiện mình, đã nhiều năm tích luỹ được trong cuộc sống của một diễn viên điện ảnh, trước mặt dân chúng, động tác chân tay đều rất nhịp nhàng, tạo được cảm tình của đông đảo cử tri nên đã giành được đủ số phiếu bầu.
 
Nghe vậy, e rằng mọi người lại chạy theo môn học kịch!?
0
MÔN MÁY TÍNH – ÔNG CHỦ NHỎ - “TIỂU HACKER”
 
Môn tin học của Trường Landtane cũng rất cần đề cập. Trên thực tế, nó phản ánh trình độ giảng dạy về môn này của rất nhiều trường trung học Hoa Kỳ.
 
Lớp tin học ở nước ta, tôi cảm thấy nội dung giảng dạy tuy nâng cao, nhưng ứng dụng vào thực tế, các tri thức được học đều không cập nhật. Tôi khá thành thạo máy tính, do được ba thường phụ đạo thêm.
 
Rất nhiều trường trung học, tiểu học trong nước do thiết kế phần cứng máy tính, điều kiện đầu tư của thầy rất hạn chế nên nội dung giảng dạy hạn chế trong một phạm vi rất hẹp, chỉ có thể dạy một số cơ bản như thiết kế lập trình TRUE BASIC, hệ thống thao tác DOS, hệ thống quản lý dữ liệu FOXBASE, xử lý văn bản WPS…
 
Xem lịch trình giảng dạy này có thể thấy việc giảng dạy môn tin học trong các trường trung học của chúng ta đều là một kiểu học tập “theo khuôn mẫu có sẵn”.
 
Học sinh trong nước, chỉ có lúc lên lớp học môn tin học mới có cơ hội thao tác máy, lịch trình giảng dạy môn này hàng tuần ít, thời gian học trên máy lại ít hơn, nên dù đã học đến đại học, đa số sinh viên thao tác máy tính chưa thuần thục, còn nói gì đến ứng dụng sâu và sáng tạo.
 
Đối với các Trường trung học Landtane và Saint Louis của Mỹ thì hoàn toàn ngược lại.
 
Trong phòng máy tính của trường, máy được bày ra với số lượng tương đối lớn, đều trong trạng thái mở sẵn, bất kỳ ai khi ngồi xuống đều lập tức có thể sử dụng. Dù đi rất sớm hoặc rất muộn, vẫn không thay đổi. Nhiều học sinh có máy tính xách tay của mình, giống như túi xách xinh xắn rất tiện lợi.
 
Mỗi học sinh Trường Saint Louis và Landtane đều có e-mail address (địa chỉ thư điện tử) riêng rất thuận tiện liên lạc với nhau, trao đổi tin tức với địa chỉ khác trên mạng dù ở bất cứ nơi nào. Ngày thứ ba đến Trường Saint Louis, tôi đã có một hòm thư điện tử riêng. Trên một máy tính dùng hệ thống Linux, tôi liền dùng địa chỉ này gửi về nước  cho ba mẹ bức thư ngắn và chỉ mấy giờ sau đã nhận được thư trả lời của ba mẹ. Đó là bức thư thứ nhất phát bằng e-mail trong đời tôi.
 
Các bạn học sinh Hoa Kỳ của tôi hàng ngày đều rất ít dùng bút, thậm chí có một vài học sinh không bao giờ mang theo bút. Máy tính là bút của họ, làm xong bài, sử dụng máy in, in ra là có thể nộp bài được. Học cao trung, bài tập ở nhà của học sinh Mỹ tăng lên rất nhiều, có khi gần thời gian đi ngủ mới làm xong bài. Các bài tập này đều phải hoàn thành trên máy tính, thường phải truy cập trên mạng Internet để tra cứu tư liệu. Trước khi tôi rời Hoa Kỳ, nhiều bạn học sinh Mỹ gửi bưu thiếp ghi lời chúc của họ, dạng chữ viết không được đẹp, nguyên nhân là cả năm họ thườngdùng máy tính để làm bài tập, cơ hội viết tay rất ít, so với thế hệ trước họ viết chữ không đẹp, nhưng thao tác máy tính lại rất thuần thục; rất nhiều bậc cha mẹ ở Hoa Kỳ đều lấy các con của mình làm thầy giáo dạy sử dụng máy tính.
 
Những người đang học ở nhà trường Hoa Kỳ dù là tiểu học, trung học, đại học, truy cập Internet đều miễn phí. Tôi nghĩ đây không phải là để khoe sự hùng hậu của Hoa Kỳ, mà chỉ là thực thi một biện pháp quan trọng có ý nghĩa sâu xa. Một thời đại lấy Internet làm môn học cho đông đảo mọi người học, tất nhiên sẽ chuẩn bị được cho họ nền học thức có độ sâu và độ dày, có nhãn quan nhạy bén và có tấm lòng rộng mở.
 
Nội dung của môn tin học so với kiến thức chúng tôi - học sinh Trung Quốc – đã học, sâu hơn nhiều. Trong nội dung giảng dạy của họ, ngoài tri thức phần cứng và hệ thống thao tác phần mềm thường thấy, còn bao gồm cả phần giảng dạy để nắm vững phần mềm Borland Turbo Pascal. Đây là một loại ngôn ngữ cao cấp, thiết kế lập trình rất rộng rãi hiện nay. Trường Landtane dùng thời gian học của hai học kỳ để dạy cho học sinh từ trong lý luận và ứng dụng thực tiễn nắm chắc loại ngôn ngữ này. Rất nhiều học sinh có được “chiếc gậy” này trong tay đã có thể tự mình viết ra chương trình tương đối phức tạp, phát huy mạnh mẽ “thiên phú” của bản thân về phương diện máy tính.
 
Việc này khiến tôi nghĩ đén một câu chuyện có thực.
 
Mấy năm trước, Công ty máy tính Apple tiếng tăm của Mỹ tổ chức một cuộc triển lãm với quy mô lớn ở Boston trên bờ biển phía đông. Trong lễ khai mạc, Tổng Giám đốc tự mình đảm nhận vai trò người chủ trì và trịnh trọng mời hai vị khách mời đặc biệt đến dự cuộc triển lãm. Hai người này, một vị là Phó Tổng Giám đốc thứ nhất của Công ty NESTCAPE lừng danh trên mạng Internet. Bất ngờ nhất là vị thứ hai. Đó là một học sinh tiểu học chỉ mới 12 tuổi, tên là Grey M. Miler, nghe nói năm ấy còn bé đến mức răng sữa chưa thay hết.
 
Nhưng cậu bé này trái lại là một thần đồng. Cậu dùng 20 phút tại hiện trường biểu diễn thuyết trình trực quan cho mọi người phần mềm giáo dục mà mình đã dùng máy tính Apple khai thác.
 
…Hạt giống gieo trên mặt đất, ánh mặt trời rực rỡ, tiếng gió thổi mang theo những hạt mưa mát mẻ. Hạt giống nảy mầm, lớn dần. Bầu trời đầy nắng, gió và mưa. Trong vườn cây, hoa nở, trái chín mọng… Thiên nhiên tràn trề sức sống.
 
Chỉ trong 20 phút thực hành ngắn ngủi với thao tác thành thục, hình ảnh đẹp đẽ tưởng tượng phong phú, những từ giải thích sinh động và đầy đủ của cậu đã làm cho hội trường vang dậy tiếng reo hò tán thưởng.
 
Kết quả của Lễ Khai mạc ngày hội lớn ấy, M. Miller trở thành ngôi sao rực rỡ, phó Tổng Giám đốc có mạng nối toàn cầu trở thành cái bóng của cậu. Trong tiếng vỗ tay rầm rộ, ông Tổng Giám đốc Công ty máy tính Apple mang một bộ máy tính “Apple” kiểu mới nhất tặng Miller.
 
Điều làm cho người ta bất ngờ hơn cả là bản thân Miller cũng là một ông chủ. Cậu đã thành lập một Công ty tiêu thụ phần mềm giáo dục và trò chơi giải trí tự mình khai thác, cậu còn thuê một vài bạn không lớn hơn mình nhiều làm giúp việc. Năm ấy, chú bé Bill Gates 15 tuổi đã mở một công ty, Miller có đuổi kịp Bill Gates trong tương lai hay không? Nếu nói Miller là kết quả to lớn của trí tuệ sớm phát triển, trình độ tổng hợp rất cao về giáo dục tin học của Hoa Kỳ đã thúc đẩy ứng dụng máy tính và mạng Internet cho giáo dục. Gần đây, có hai mục tiêu quy mô đồ sộ nhất, một là thực hiện mỗi học sinh có một bộ máy tính xách tay. Thực hiện mục tiêu này có thể làm cho rất nhiều học sinh Mỹ vĩnh biệt sách giáo khoa in bằng giấy và bài làm bằng bút mực, bước vào một thời đại rất phong phú đa dạng của phần mềm giáo dục và sách điện tử; hai là làm cho mỗi phòng học trong toàn quốc đều được nối mạng Internet để mỗi học sinh Hoa Kỳ có thể từ trong các mạng toàn cầu truy cập tri thức, khai thác sức mạnh trí tuệ. Thực hiện được hai mục tiêu đó nhất định sẽ phát huy tác dụng tương đối lớn với nền giáo dục Hoa Kỳ và đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển việc ứng dụng máy tính trên toàn nước Mỹ.
 
Kết quả so sánh với họ, thực sự làm cho người ta sinh ra một cảm giác khủng hoảng rất rõ rệt. Trên mảnh đất tươi tốt về giáo dục tin học ở đó, Hoa Kỳ không chỉ tạo ra một loạt những nghiệp chủ xuất sắc về tin học như Bill Gates mà còn có thể dự đoán nó sẽ là một động lực thúc đẩy phát triển ngày càng lớn nền khoa học kỹ thuật cao. Trong đó sẽ có rất nhiều những vấn đề đáng để cho chúng ta học tập.
 
Tại Hoa Kỳ gần đây xảy ra “hacker” (tin tặc) xâm nhập vào máy tính. Đó là lần một “hacker” trẻ xâm nhập vào phần mềm của Bill Gates. Hacker của Hoa Kỳ vốn là “anh hùng thời niên thiếu”. Tuổi nhỏ đã luôn làm nên những vụ án kinh thiên động địa, lúc thì phá hoại mạng chủ của Nhà Trắng, lúc thì giải mã hệ thống chỉ huy tuyệt mật của Lầu Năm góc (Toà nhà Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ). Nếu không dùng mưu kế lập ra một số vi-rút siêu cấp chưa hề được biết, tìm ra phần mềm “hacker” chuyên dùng để ăn cắp bí mật của người khác thì nó còn quậy phá làm cho thiên hạ không thể an toàn. Tuổi nhỏ, gây hoạ lớn đã trở thành “định luật số 1” của “hacker”. Hiện tượng này, pháp luật của Mỹ trừng phạt đặc biệt nhẹ đối với người vị thành niên phạm tội về tin học, đã không gây được tác dụng răn đe của luật pháp.
 
Không lâu trước đây, một “hacker” 18 tuổi ở Colorado, vô công rồi nghề, lấy việc truy cập vào mạng chủ Internet làm thú vui. Khi nó xâm nhập vào trang Web của một công ty tín dụng, bỗng nhiên phát hiện được tư liệu của nhà giàu số một thế giới Bill Gates. Tên “đại Hacker” tự xưng là Hoolathrew rất đắc ý. Sau khi lấy cắp được các tư liệu tín dụng của Bill Gates, nó liền đưa tư liệu đó vào một trang Web cá nhân theo địa chỉ trên mạng của một hộ dùng Internet thuộc Công ty Truyền thanh toàn quốc NBC. Trong tư liệu công khai đó, không những bao gồm các mã số tín dụng của Gates, còn bao gồm cả mật mã – chìa khoá tín dụng nữa. Bọn làm ăn bất hợp pháp nhất định hết sức vui mừng, sẵn sàng lợi dụng những tư liệu này để vớ một mẻ lớn túi tiền của Gates. “Đại hacker” Hoolathrew khoe bản lĩnh giải mã của mình trên mạng Internet, còn công khai tuyên bố: Anh ta đánh cắp được tư liệu tín dụng của ít nhất 5.000 khách hàng và trong vòng hai ngày tới sẽ đem tư liệu các tín dụng của 1.000 người khác đưa lên mạng công khai ai cũng có thể xem được.
 
Khi những tài liệu liên quan tới sự an nguy kinh tế của rất nhiều người Mỹ được công khai trên mạng, những người chân chính tới tấp gọi điện thoại tố cáo mọi việc làm của Công ty Truyền thanh toàn quốc NBC. Công ty này nghe tin rất sợ hãi, vội vàng đóng ngay mạng chủ.
 
Đây là sự kiện lúng túng thứ hai của Công ty W.J. gặp phải trong gần nửa năm nay. Nửa năm trước, công ty này cung cấp Hotmail (dịch vụ bưu điện điện tử cho các hộ dùng trên mạng) cũng từng bị “hacker” xâm nhập và đánh cắp được tư liệu cá nhân của hàng ngàn hộ sử dụng. Sau đó, Công ty này tuyên bố đã lắp đặt xong một mã rất an toàn trên mạng Internet để đối phó với sự phá hoại của “hacker”. Ai ngờ lần này “hacker” lại công nhiên thò bàn tay đen vào tận túi tiền của ông chủ lớn Công ty.
 
Hoạt động của “hacker” bị lên án. Nhưng đằng sau tội ác của một số “hacker”, chúng ta có thể thấy được khả năng ứng dụng máy tính thành thạo của thanh thiếu niên Mỹ, dễ dàng tung hoành trên mạng Internet. Tiềm lực rất dồi dào này với sự phát triển trong tương lai của Hoa Kỳ, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tích cực.
0
TRƯỜNG LANDTANE VỚI PHẦN THƯỞNG MUÔN MÀU
 
Tờ báo tường “Tin tức Landtane” của Trường Landtane, có một tin là Chủ tịch Hội học sinh Toms Shepperd được nhận phần thưởng thành tựu xuất sắc cấp Trường sau một năm hoạt động. Hiệu trưởng Shilstone đích thân quyết định.
 
Tôi cảm thấy rất thích thú với các loại phần thưởng do Trường Landtane lập ra. Tôi tìm đọc báo “Tin tức Landtane” do học sinh tự làm, thấy một chuỗi danh sách được thưởng:
-         Moutive và Hanter nhận được “Phần thưởng vinh dự thiều niên” của trường Đại học Harvard và Học viện Dartmouth. Đây là một phần thưởng rất có trọng lượng liên quan đến tố chất tổng hợp của học sinh.
-         Chaffman nhận được “Phần thưởng cho người phối hợp tốt”. Đây là một loại phần thưởng tuyên dương năng lực phối hợp, quan hệ giao tiếp. Trường Landtane cho rằng, làm cho mọi người cộng tác được hài hoà, nhất trí là có biểu hiện của tài năng lãnh đạo. Những trẻ con như thế, trong tương lai có thể làm nên đại sự.
-         Colis Lewell nhận được “Phần thưởng công dân”. Đây là loại phần thưởng tuyên dương trách nhiệm xã hội, không có liên quan gì với thành tích học tập.
-         Yanter Mabb nhận được “Phần thưởng hoạt động” .Đây là loại phần thưởng tuyên dương thành tích hoạt động ngoại khoá.
-         Chaffman và Vlaska, hai người nhận chung “Phần thưởng quy phạm đạo đức”. Đây là phần thưởng không liên quan đến thành tích học tập, chỉ có quan hệ về biểu hiện đạo đức. Dù bạn không có khả năng mà có thể làm một người tốt, cũng đáng được khích lệ.
 
Tôi còn nhận được một danh sách khen thưởng cấp Trường sau đây:
-         “Phần thưởng công dân”  của Câu lạc bộ Phụ huynh Trường Landtane, là phần thưởng khích lệ tinh thần trách nhiệm xã hội của học sinh.
-         “Phần thưởng William Hallison” là phần thưởng khích lệ tố chất tổng hợp của học sinh.
-         “Phần thưởng thành tựu học tập” của học sinh tốt nghiệp Haffer Letchford. Đây là phần thưởng khích lệ thành tích học tập của học sinh. Loại phần thưởng này ở Trường Landtane chỉ có số ít người nhận được.
-         “Phần thưởng Câu lạc bộ đọc sách Saint Louis”. Đây là phần thưởng chuyên dùng để khen các học sinh đọc được nhiều sách hay.
-         “Phần thưởng đọc sách Booklike của trường Đại học Harvard”. Đây là phần thưởng cao nhất của giới báo chí Hoa Kỳ. Trường Landtane đặt ra phần thưởng này nhằm cổ vũ học sinh đặt mua nhiều sách tốt.
-         “Phần thưởng hoạt động của học sinh trung học William Lemons”  để khích lệ học sinh phát triển tài năng thể dục.
-         “Phần thưởng tinh thần hoạt động của các học sinh lớp dưới William Mouseway”. Học sinh các lớp dưới không được chạy nhanh, nhảy không cao, có em cũng nhát gan. Để khích lệ các em, khi tập mạnh dạn hơn, chủ yếu là tham dự được đông đủ hơn nên đã đặt ra phần thưởng này.
 
…………..
 
Trên đây đều là phần thưởng cho năm thứ nhất của trường. Người được hưởng ước chiếm trên 6% tổng số học sinh toàn trường. Nếu tính số người được thưởng cả năm hoặc tất cả các lớp thì tỉ lệ số người được thưởng còn rất lớn.
 
Các loại thưởng của Trường Saint Louis và Trường Landtane lập ra khác nhiều so với các trường trung học và tiểu học nước ta (Trung Quốc), họ thực hiện đa nguyên hoá với muôn sắc màu phong phú trong khen thưởng đồng thời tỉ lệ được thưởng rất rộng. Những phần thưởng trực tiếp cho các thành tựu về học tập chiếm tỷ lệ rất ít. Nghe nói tuyệt đại đa số các trường trung học của Hoa Kỳ đều như vậy.
 
Thưởng như thế này hoặc như thế kia không quan trọng, chỉ cần phần thưởng có tác dụng thúc đẩy học sinh nỗ lực tiến lên, nhà trường đều tìm mọi biện pháp để thực hiện. Bất luận bạn có một chút khả năng nào đó và tự nguyện cố gắng hơn người khác một chút, đều có được cơ hội nhận thưởng. Vì vậy, học sinh Mỹ khi làm việc gì, họ cũng rất tự tin.
 
Nếu có thể được, các trường trung tiểu học của chúng ta thử phá bỏ các quy định hiện hành xem sao. Từ trường đến lớp đặt ra các loại thưởng. Tìm mọi cách để cho trẻ em dù bị coi là “bất trị” cũng có thể nhiều lần nhận phần thưởng đỏ thắm từ tay các thầy cô hoặc Hiệu trưởng trân trọng trao. Một lớp học ít nhất là trên nửa được hưởng niềm vui sướng, quang vinh của sự thành công. Trên con đường của các em, từ nay nhất định sẽ tự tin và vẻ vang hơn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-24 05:23:59me khoai>
SO SÁNH TỐ CHẤT
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ
 
Chuyến thăm Hoa Kỳ sắp kết thúc. Các thầy cô giáo và bạn học Hoa Kỳ ghi băng những lời tạm biệt đầy thân thiện, họ tặng nhiều món quà nhỏ và nhấn mạnh: “Đây là tự tay mình làm đấy”. Hầu như họ không nói vậy thì không biểu đạt được tình cảm lúc chia tay. Tôi càng cảm thấy sự đề cao tính độc đáo cá nhân của người Mỹ đã thấm vào xương tuỷ.
 
Những gì nghe và thấy trong một tháng qua, để lại cho tôi một ấn tượng sâu sắc nhất, không phải là sự giàu có của Hoa Kỳ. Về mặt này trước khi tới Hoa Kỳ, tôi đã nghe rất nhiều, sau khi đến đất nước này tôi cũng hàng ngày chứng kiến.
 
Trên đường bay trở lại quê hương, tôi miên man suy nghĩ, suy nghĩ đó cuối cùng chia ra thành hai vấn đề: những thành tựu vật chất đó do những con người như thế nào sáng tạo ra? Và những con người này đã được bồi dưỡng như thế nào?
 
Theo dòng suy nghĩ này, tôi so sánh tố chất học sinh trung học hai nước Trung Quốc và Hoa Kỳ. Dù có sự so sánh này phần nhiều chỉ là những ấn tượng trực tiếp được nhìn thấy, nhưng tôi vẫn muốn đem nó viết ra đây, mong có thể giúp thêm chút nào trong một nghiên cứu về vấn đề giáo dục tố chất hiện nay.
 
1. So sánh tố chất về thể chất: Học sinh Hoa Kỳ chiếm ưu thế tương đối lớn.
 
Thể dục là một môn học quan trọng trong nhà trường Hoa Kỳ. Mỗi ngày bắt đầu từ 2, 3 giờ chiều, học sinh các Trường Landtane và Saint Louis đều sử dụng thời gian trên sân vận động. Rèn luyện thể dục với nhiều bộ môn, thêm vào chế độ dinh dưỡng đầy đủ hợp lý làm cho học sinh lớn nhanh. Các em gái cũng rất say mê thể dục. Học sinh thể dục tốt, học tập cũng tốt mới được các bạn tôn sùng.
 
Thân thể cường tráng sẽ làm cho tinh thần dồi dào luôn có lợi cho việc bồi dưỡng tính cách kiên cường và ý chí tiến thủ. Lợi ích của sự rèn luyện thân thể thật nhiều. Trái lại, một em bé thân thể yếu đuối, uể oải, sức mạnh ý chí cũng dễ dàng bị tổn thất.
 
Trong nhà trường chúng ta (Trung Quốc), thân hình học sinh đều thon thả như cây giá, tuy dáng người tròn lẳn ngày càng nhiều, nhưng số học sinh có thể hình như vận động viên, cơ bắp nở nang, động tác linh hoạt, tỷ lệ thấp, tốc độ phát triển chậm.
 
Nếu mỗi gia đình Trung Quốc đều xem việc rèn luyện thể dục cho con em quan trọng như các môn Ngữ văn, Toán học, nếu việc coi trọng môn thể dục có thể trở thành một “chính sách cứng” trong mỗi nhà trường, chúng ta nhất định xây đắp được nền tảng vững chắc cho tương lai dân tộc Trung Hoa.
 
2. So sánh năng lực học tập: Đa số học sinh Hoa Kỳ vượt trội hơn học sinh Trung Quốc
 
Một mặt là các gia đình Hoa Kỳ đều rất coi trọng bồi dưỡng năng lực học tập cho con cái, mặt khác cơ hội học sinh Hoa Kỳ rèn luyện năng lực học tập cho con cái, mặt khác cơ hội học sinh Hoa Kỳ rèn luyện năng lực độc lập rất cao. Hầu như ngay từ khi sinh ra, học sinh Hoa Kỳ đã có thói quen tự tay mình làm. Rất ít thấy những trẻ em không chia sẻ công việc với gia đình, các em không lau xe thì cắt cỏ. Những học sinh cuối cấp tiểu học có thể nhận làm “người đưa báo nhỏ tuổi” cho các hộ xung quanh nhà mình. Tiền kiếm được không nhiều nhưng tuổi nhỏ mà đã học đối mặt với xã hội, độc lập xử lý các vấn đề của cuộc sống. Đến thời kỳ trung học, chuyện học sinh đi làm thuê trở thành phổ biến. Mỗi khi đến kỳ nghỉ hè, trạm bơm xăng dầu, tiệm ăn nhanh, cửa hàng siêu thị khắp nơi đều có học sinh trung học làm việc. Sau kỳ nghỉ, học sinh thường kiếm được khoảng 2,3 ngàn đô la. Đối với học sinh trung học là một khoản lớn. Đến tuổi đó, rất nhiều học sinh trung học đã tương đối già dặn và tự tin.
 
So sánh dưới đây cho ta thấy, hầu hết bố mẹ trong các gia đình Trung Quốc thường coi việc được điểm tốt là nhiệm vụ duy nhất hàng đầu của con cái, mọi công việc gia đình, bố mẹ bao biện làm thay hết. Như thế không phải giúp mà là tước bỏ cơ hội bồi dưỡng năng lực cho trẻ. Kết quả của việc làm này thấy rõ trong cuộc “đọ tài” giữa các thế hệ sau của Trung Quốc và Nhật Bản đã làm kinh động toàn quốc mấy năm trước đây – trong cuộc thi đua dã ngoại trên thảo nguyên Nội Mông, thế hệ sau của Trung Quốc do sự nuông chiều quá mức của bố mẹ nên đã thua người Nhật. Kiểu sống “áo đem tận tay, cơm bưng tận miệng”, đã tạo nên tư tưởng ỷ lại sống dựa vào người khác, là điểm yếu chí mạng của thời đại chúng ta ngày nay.
 
Các bậc cha me thường ngày “muốn con mình trở thành rồng” lẽ nào không thể từ lúc nhỏ dành cho các con nhiều cơ hội “bay một mình” sao?
 
3. Lượng tri thức cơ bản: Học sinh Trung Quốc vượt trội hơn học sinh Hoa Kỳ
 
Trong những trường hợp cụ thể mà tôi nhìn thấy được, lượng tri thức cơ bản của học sinh Trung Quốc, đặc biệt là về các môn Toán học, Vật lý và Hoá học, nhiều hơn lượng tri thức cơ bản mà học sinh Hoa Kỳ nắm được, nhưng trái lại phương pháp nắm tri thức của học sinh Trung Quốc không chủ động linh hoạt, không có tinh thần tìm tòi như học sinh Hoa Kỳ.
 
Trong thời gian thăm Hoa Kỳ, thầy giáo môn Toán học tổ chức một “Cuộc thi Toán học Hữu nghị quốc tế”. Có 10 đề thi, độ khó đều nằm trong giáo trình. Thời gian vừa hết, đã có kết quả rất nhanh như sau: vì lúc đó tôi đang học năm thứ hai cao trung, có những phần toi chưa được học nên làm đúng 6 đề, Âu Bằng là học sinh năm thứ ba cao trung làm được 8 đề, Nhiệm Khả Vân, học sinh năm thứ ba cao trung ở Thượng Hải làm đúng cả 10 đề, điểm cao nhất cuộc thi. Về học sinh Mỹ, mũi nhọn toán học giỏi nhất của Trường Landtane cũng chỉ làm được 4 đề, điểm số của các học sinh Mỹ khác đương nhiên càng thấp hơn.
 
Tôi đã tiếp xúc nhiều học sinh Trung Quốc đang du học tại Hoa Kỳ, họ đều cần cù, thành tích học tập ưu tú. Nhưng những học sinh xuất sắc không nhất định là học sinh có số điểm cao. Là vì xuất sắc không chỉ là do điểm số cao trong kỳ thi, chủ yếu là dựa vào sự sáng tạo và tinh thần tìm tòi, nghiên cứu của họ.
 
Điểm đáng chú ý là, hiện nay người Mỹ cũng đang nhìn nhận lại nền giáo dục của họ, nhận thấy trước đây xem nhẹ yêu cầu nắm vững tri thức cơ bản là một sai lầm. Sai lầm này tạo nên giáo dục cơ bản của Hoa Kỳ lạc hậu so với các quốc gia phát triển khác. Một vị tiến sĩ Nhật Bản mà ba mẹ tôi quen biết, nhất định không gửi con cái mình sang du học ở Hoa Kỳ, bà cho rằng, tại các bậc tiểu học ở Hoa Kỳ học sinh không nắm vững bằng học sinh ở Nhật Bản. Hoa Kỳ hiện nay cũng đang thực hiên cải cách giáo dục, nhằm lấp chỗ trống trước kia.
 
4.Về tinh thần đồng đội: Học sinh Trung Quốc không bằng học sinh Hoa Kỳ
 
Tôi thường nghe nói đến từ team spirit (tinh thần đồng đội) trên miệng các học sinh Hoa Kỳ, tức là muốn nói tới năng lực hoặc thái độ của một cá nhân cùng hiệp đồng với mọi người. Trong một trận đấu bóng rổ, nếu ai đó tự vỗ ngực, muốn một mình khoe tài với kỹ thuật bóng, làm cho đội mình phải chịu thua, anh ta liền bị mọi người trách cho là “không có tinh thần đồng đội”.
 
Thể dục và các môn hoạt động khác đều là lớp học để học sinh Hoa Kỳ bồi dưỡng team spirit. Dù là Trường Saint Louis hay Trường Landtane, các loại thi đấu thi đấu thể dục trận này tiếp trận khác, một năm bốn mùa hầu như không có tuần nào nghỉ. Nếu thêm vào việc huấn luyện thường ngày, thời gian học sinh Hoa Kỳ sống cùng đội là một con số rất khả quan. Ngoài ra, còn các “đội hoạt động ngoại khoá” với nghĩa rộng, như tiểu tổ kịch, đội nhạc, đội múa, nhóm đọc thơ… Đại thể, rất ít học sinh Hoa Kỳ không tham gia hoạt động nhóm, đội. Hoạt động này có một tác dụng to lớn đối với việc bồi dưỡng cho họ tập quán tốt đẹp hiệp đồng cộng tác với mọi người.
 
Mở rộng tinh thần đồng đội để xem xét, nếu đại đa số công dân của một quốc gia đều có thói quen cùng người khác hợp tác chặt chẽ, sẽ giảm bớt rất nhiều tổn thất nội bộ, tạo ra nhiều xí nghiệp và đoàn thể phát triển mạnh mẽ làm cho xã hội tràn sức sống.
 
Nói cụ thể hơn, học sinh trung, tiểu học của Trung Quốc do một thời gian dài chỉ quen một mình đối mặt với sách vở, thi cử, thiếu sự hợp tác lâu dài và chặt chẽ với các bạn học, dễ tạo sự mờ nhạt ý thức đồng đội, từ đó ảnh hưởng đến năng lực gắn bó với đồng sự trên cương vị công tác sau đó, dễ phát sinh mâu thuẫn trong tập thế không đáng có. Như vậy, trên bình diện xã hội, tạo ra được sức mạnh tổng hợp to lớn và mạnh mẽ thật không dễ dàng.
 
Trong học sinh trung học và tiểu học của chúng ta, thật có việc cần thiết phải đưa “năng lực hợp tác” xếp vào mục tiêu bồi dưỡng số một hay không, nhằm tạo cho nội hàm của “chủ nghĩa tập thể” thay đổi có tính xây dựng?
 
5.      Tính chủ động và tinh thần sáng tạo: Học sinh Hoa Kỳ nói chung mạnh hơn học sinh Trung Quốc.
 
Học sinh Trung Quốc khi làm việc gì, trước hết phải xem có quy định nào đó tuân theo hay không, nhưng học sinh Hoa Kỳ biểu hiện rất phóng khoáng. Họ quen suy nghĩ “chỉ cần không bị ốm, mọi việc đều có thể làm”. Khi chơi, chơi hết mình, làm việc gì muốn rất ít sự ràng buộc theo khuôn mẫu, dám nghĩ dám làm, dễ thành công.
 
6. Năng lực giao tiếp: Phần lớn học sinh Hoa Kỳ mạnh hơn học sinh Trung Quốc
 
Là vì cơ hội giao tiếp của học sinh Hoa Kỳ có rất nhiều. Đầu tiên là trong nhà trường các tổ chức nhóm, hội gồm nhiều loại và có nhiều hoạt động khác nhau. Nào là làm báo tường, tổ chức biểu diễn, thi đấu thể dục, rất nhiều thứ khiến người ta nhìn không xuể, đọc không hết. Ngoài ra, học sinh Hoa Kỳ rất thích cuối tuần tự mình tổ chức các dạng sinh hoạt tập thể như: gặp mặt bạn bè, mở tiệc sinh nhật… Những việc này làm cho học sinh Hoa Kỳ trong giao tiếp luôn luôn được nhẹ nhàng, thoải mái, thành thạo hơn học sinh Trung Quốc.
 
7. Khả năng tự làm:Học sinh Hoa Kỳ đa số giỏi hơn học sinh Trung Quốc
 
Trong nội và ngoại khoá đều có rất nhiều cơ hội học sinh tự mình làm lấy. Không chỉ có rất nhiều thực nghiệm và các hạng mục thao tác trong nội khoá có thể làm, thậm chí khi tới tham quan nhà bảo tàng, phòng triển lãm, rất nhiều sản phẩm triển lãm đều cho phép trẻ em sờ mó, đưa đẩy và có thể thực hiện các thao tác nữa. Người Mỹ khi ở nhà rất thích tự mình làm lấy tất cả mọi việc, thế là từ nhỏ bọn trẻ cũng đã tập được thói quen đó, nên có gì thiếu sót người lớn cũng không trách mắng trẻ em.
 
8.Thái độ khắc khổ học tập: Học sinh các trường nổi tiếng ở Trung Quốc và Hoa Kỳ đều như nhau
 
Trong các trường nổi tiếng Saint Louis và Landtane, thái độ học tập khắc khổ của học sinh Hoa Kỳ gần giống với học sinh các trường nổi tiếng ở Trung Quốc mà tôi được biết. Đa số học sinh sau giờ lên lớp tự học từ 3 đến 4 tiếng đồng hồ. Nhưng học sinh Hoa Kỳ thông thường chú trọng hưởng thụ với cuộc sống nhiều hơn học sinh Trung Quốc.
 
Nhìn từ ý kiến còn hạn chế của tôi, học sinh Trung Quốc về mặt tố chất hãy còn lạc hậu so với học sinh Hoa Kỳ. Tôi thành tâm hy vọng đây chỉ là hiện tượng tạm thời. Vấn đề này đã dẫn đến sự coi trọng cao độ trong các tầng lớp xã hội Trung Quốc nên tôi rất tin tưởng ngày giải quyết được vấn đề đó cũng không còn xa nữa.
 
Căn cứ vào quan sát của tôi, giáo dục tố chất của học sinh Hoa Kỳ, chủ yếu dựa vào mục tiêu hợp lý và một chế độ hữu hiệu, quy chế ỷ lại vào phần cứng không lớn, phần lớn phương pháp bồi dưỡng tố chất của họ, trong nhà trường chúng ta đều có thể làm được. Ví dụ, thực hành chế độ khen thưởng theo mục tiêu đa dạng hoá, ra sức đẩy mạnh hoạt động thể dục, thay đổi phương thức giảng dạy nhồi nhét bằng phương thức gợi mở và tìm tòi, tăng cường bồi dưỡng tinh thần hợp tác, bồi dưỡng ý thức công dân và tấm lòng công đức với xã hội…
 
Đồng thời các bậc cha mẹ muốn làm “người có chí” không nhất phải ngồi đợi nhà trường đem lại. Sự trải nghiệm của bản thân tôi đã chứng minh, rất nhiều tố chất tốt đẹp có thể thông qua sự giáo dục của gia đình để bồi dưỡng vun đắp cho bọn trẻ.
 
Học sinh Trung Quốc không hề ngu dốt hơn học sinh Âu Mỹ. Từ tiểu học đến đại học, trong rất nhiều trường trên đất Hoa Kỳ, học sinh Hoa duệ (người Mỹ gốc Hoa) vẫn xếp ở hàng đầu. Do coi trọng giáo dục, dòng dõi người Hoa ở Hoa Kỳ đã trở thành một tập thể lớn được tiếp nhận trình độ giáo dục bình quân cao nhất Hoa Kỳ, vượt qua người Do Thái, dù họ là những người cư trú ở Hoa Kỳ vào loại sớm nhất trước đây và còn hơn cả hậu duệ người Nhật. Tại vùng Quaker của Hoa Kỳ, do tập hợp được rất đông nhân viên khoa học và kỹ thuật cao người Hoa ở đó, tiếng Hán đã trở thành ngôn ngữ công tác của nhiều công ty Quaker.
 
Như vậy, chỉ cần có một hệ thống giáo dục hữu hiệu, có một cơ chế vận hành thật tốt, làm cho mục tiêu giáo dục tố chất đã quy định được thực hiện, trong học sinh trung tiểu học của chúng ta, nhất định sẽ bồi dưỡng được một số lượng lớn học sinh có tố chất cao.
0
Chương mười một
 
THÁCH THỨC ĐỜI NGƯỜI, ĐỘT PHÁ HARVARD
(Lời kể của Trương Hân Vũ)
 
Trung tuần tháng 2 năm 1998, Âu Bằng và Đình Nhi lên máy bay bay về nước. Lúc các cháu còn trên bầu trời Đại Tây Dương, thư báo về ngài Larry đã bay về Trường Chuyên ngữ Thành Đô nhanh hơn chuyến bay của học sinh nhà trường. Đình Nhi vừa về đến nhà, ngay đêm đó, phóng viên các báo đã đến phỏng vấn lấy tin. Ngày hôm sau báo “Thành Đô buổi chiều” ngay trang đầu đã chạy hàng tít lớn đỏ thắm: “Học sinh trung học Thành Dung (tên gọi khác cua Thành Đô) thăm Mỹ và mang vinh dự trở về”, các báo khác cũng đồng thời đua nhau đưa tin. Bất kể là giáo viên, học sinh của Trường hay là người dân bình thường đều cho rằng những biểu hiện xuất sắc của họ ở Hoa Kỳ đã mang lại vẻ vang cho thanh thiếu niên và cho quê hương.
 
Âu Bằng và Đình Nhi cũng rất tích cực phối hợp với các đơn vị hữu quan giải quyết tốt mọi việc, nhưng rất lo lắng. Lần thăm Hoa Kỳ này đã ngốn hết cả tháng trời! Các bạn cao trung ba và cao trung hai đã đi hết một đoạn đường dài trên con đường thi đại học. Họ cần phải cố gắng hết sức nhanh chóng đuổi kịp các bạn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-29 10:16:23me khoai>
LARRY HỎI: EM CÓ MUỐN NHẬN THÁCH THỨC
VỀ PHÍA MÌNH KHÔNG?
 
Tháng 6 năm 1998, Đình Nhi đang bận rộn với kỳ thi cao trung thì nhận được bức thư điện tử của ngài Larry, ông dùng lối nói ngắn gọn thường ngày đi thẳng vào sự việc: “Em Đình, báo cho em một tin tốt lành. Tôi được biết Trường Đại học Columbia và Học viện Wellesley đều có học bổng toàn phần dành cho học sinh Trung Quốc, đương nhiên họ chỉ nhận những học sinh Trung Quốc giỏi nhất. Không biết em có muốn nhận thách thức: trực tiếp xin sang Hoa Kỳ học hệ chính quy hay không?”
 
Rõ ràng, Đình Nhi có muốn sang Hoa Kỳ học hay không, ngài Larry còn chưa biết, là vì khi trả lời đường dây nóng của khán giả Đài truyền hình C-SPAN của Hoa Kỳ, chỉ một mình Đình Nhi là học sinh Trung Quốc trả lời là chưa dự định sang Hoa Kỳ học đại học. Trước khi Đình Nhi đi thăm Hoa Kỳ, cả nhà chúng tôi đã trao đổi về vấn đề học đại học của Đình Nhi. Chúng tôi đều nhất trí là, đến giai đoạn nghiên cứu sinh ra nước ngoài mới thích hợp. Câu trả lời của Đình Nhi ở Đài Truyền hình C-SPAN với ý tưởng đó. Vì thế, ngài Larry thấy cần phải thăm dò ý kiến của Đình Nhi trước.
 
Về bức thư của ngài Larry, Đình Nhi vẫn chưa nhắc lại ý kiến ban đầu, còn tò mò thêm: “Theo ông, tôi có mấy phần chắc chắn giành được học bổng toàn phần của một trường nổi tiếng Hoa Kỳ?”
 
Ngài Larry trả lời ngay sau đó: “Sự thành bại của một cuộc tranh đua không phụ thuộc vào bức thư giới thiệu của tôi mà ở chỗ em có rất nhiều ưu thế. Nhưng hai học sinh tôi giới thiệu trước đây, sau khi được nhận vào học đều rất xuất sắc. Do vậy, sự giới thiệu của tôi, về phương diện nhà trường có phần được tín nhiệm. Nhưng đó không phải là chắc chắn tuyệt đối. Loại tranh đua nào cũng có những yếu tố không xác định được rõ ràng”. Tiếp theo Larry phân tích cái lợi cái hại của Đình Nhi khi học đại học ở Trung Quốc và Hoa Kỳ. Ông nhận thức rất rõ ràng, Đình Nhi nếu trực tiếp xin học một trường chính quy ở Hoa Kỳ sẽ có lợi cho sự phát triển trong tương lai. Ngài Larry vốn là một luật sư lâu năm trong nghề, thói quen nghề nghiệp khiến ông không thể bắt buộc Đình Nhi phải chấp nhận những ý kiến đó mà chỉ hy vọng Đình Nhi suy nghĩ nghiêm túc đối với đề nghị của ông.
 
Lúc ấy, Đình Nhi mới 17 tuổi, quyết định thế nào cần phải được sự đồng ý của người bảo lãnh. Do đó, trên góc độ pháp luật, Larry không bỏ qua việc để Đình Nhi hỏi ý kiến ba mẹ.
 
Sau khi biết được nội dung bức thư của ngài Larry, cả ba người chúng tôi hết sức vui mừng. Chúng tôi cảm thấy, thái độ của Larry một lần nữa chứng thực tiềm lực phát triển của Đình Nhi. Tiếp theo, chúng tôi điềm tĩnh lại. Đi sang Hoa Kỳ học, xét cho cùng có quan hệ tới sự thành bại của cả một đời người, không so sánh lợi hại tỉ mỉ, không thể khinh suất quyết định. Huống hồ, nó liên quan tới rất nhiều vấn đề. Một khi đã quyết định xuất ngoại du học, tất cả cuộc sống hiện nay của Đình Nhi cần phải điều chỉnh sắp xếp lại. Việc này hết sức khó khăn giống như trường hợp một chiếc xe phóng như bay sẽ phải rẽ ngoặt gấp sang một hướng khác.
 
Lại còn những điều kiện để làm đơn xin học đại học ở Hoa Kỳ. Việc đầu tiên phải vượt qua, là thi TOEFL.
 
Ngoài yêu cầu thành tích ưu tú về các mặt khác ra, Larry cũng rất chú trọng đến thành tích thi TOEFL. Ông đề xuất vớu Đình Nhi thành tích phải đạt 640 điểm, vì muốn được học bổng của một trường đại học nổi tiếng, cần phải đạt đến số điểm như thế. Đó quả là một yêu cầu rất cao. Nếu thi TOEFL không tốt hoặc không đạt những yêu cầu khác của Trường Columbia và Học viện Wellesley thì phải làm như thế nào. Larry cũng không quên nói thêm về cách suy nghĩ của ông, nếu không được trường đại học hàng đầu thu nhận vào học thì cũng không coi là không đến học ở Hoa Kỳ.
 
Ngài Larry rất quý trọng nhân tài, tính vô tư đó cũng giống như Lôi Phong, tấm lòng tha thiết và kiên trì giúp đỡ hết lòng cũng không kém gì Bá Nhạc của Trung Quốc. Có điều, Larry cũng giống như rất nhiều người Mỹ khác, làm việc thường coi trọng hiệu suất và thành quả. Ông là người đã đến tuổi “tri thiên mệnh”, nên cần nắm vững thời gian để làm một số việc có giá trị cho đời. Nếu Đình Nhi không thể chứng minh được là “thiên lý mã”, Larry cũng đành lấy làm tiếc mà gạch tên Đình Nhi trong bản danh sách của mình.
 
Do vào dịp này trước đây, Đình Nhi và chúng tôi đều cho đi học nước ngoài là việc sau khi đã học đại học chính quy, thậm chí Đình Nhi ngoài việc bố trí học tiếng Anh ở trường, từ trước tới nay chưa chuẩn bị được gì cho thi TOEFL, bây giờ nước đến chân mới nhảy, rất dễ bị thất bại.
 
Gần bước tới thềm năm thứ ba cao trung, thời gian quý như vàng, vội vàng xông vào cuộc chiến với thi TOEFL, làm sao có thể thi đạt thành tích tốt?
 
Kiến nghị của Larry là một cơ hội và cũng là một thử thách không đạt tiêu chuẩn thì cũng không thể đạt được gì hết.
0
LỰA CHỌN KHÓ KHĂN:
CÓ SANG HOA KỲ HỌC ĐẠI HỌC HAY KHÔNG?
 
Vấn đề làm đơn xin học đại học ở Hoa Kỳ, Đình Nhi và chúng tôi đã có một thời gian do dự không quyết định được. Nguyên nhân chính là vì thời gian quá eo hẹp. Đình Nhi sắp vào lớp cao trung năm thứ ba. Học năm thứ ba cao trung ở Trường Chuyên ngữ Thành Đô, theo lối nói của những học sinh đã tốt nghiệp là thực hiện “lễ rửa tội cho một đời người”. Tất cả những học sinh tốt nghiệp cao trung trước đây do đã trải qua một năm vật lộn gian khổ làm cho họ có thể tự hào tuyên bố, từ nay không có một khó khăn nào của đời người mà họ không thể vượt qua. Sự học tập căng thẳng của cao trung ba vì thế được xem như là một chấm hoa đậm sắc của thời cao trung không thể nào quên.
 
Chế độ học tập và nghỉ ngơi của nhà trường rất chặt chẽ và liên tục, yêu cầu mỗi học sinh từ 6 giờ 30 phút sáng đều đến thao trường rèn luyện buổi sáng. Tiếp ngay sau đó, nhiệm vụ học tập khẩn trương mỗi ngày như cỗ xe lăn đường chạy mải miết. Ngoài ít phút nghỉ ngơi sau bữa cơm trưa và chiều ra, học sinh học một mạch đến 10 giờ 30 phút đêm.
 
Sau khi kết thúc buổi tối, học sinh còn tự giác làm “cuốc xe đêm”. Mười một năm gian khổ học tập, sắp đến trận chiến đấu cuối cùng, ai cũng đều giúp nhau cố lên hơn nữa, bạn xem thêm sách đến 12 giờ, tôi làm bài tập đến 1 giờ sáng rồi mới chịu đi nghỉ.
 
Cứ như thế, thiếu ngủ đã trở thành vấn đề phổ biến, Đình Nhi lúc học đến năm thứ ba cao trung, nếu cộng thêm cả thời gian ngủ gật lúc buổi trưa, bình quân mỗi ngày ngủ được 6 tiếng thì cũng là khá lắm rồi. Nếu Đình Nhi làm đơn xin học ở Hoa Kỳ, lập tức phải đồng thời tác chiến trên hai mặt trận. Nhiệm vụ của nhà trường, một chữ cũng không thể thiếu, như vậy có nghĩa là, mỗi ngày 6 giờ 15 dậy, 12 giờ đêm ngủ. Mặt khác cần phải điền thêm các biểu mẫu xin học đại học Hoa Kỳ, xếp đống lại cũng đến cả thước, và cũng không thể thiếu một chữ. Như thế đến mấy giờ mới được đi ngủ?
 
Ngài Larry chỉ giới thiệu Đình Nhi xin vào học ở trường đại học nổi tiếng nhưng những trường đại học nổi tiếng hiện nay cũng trong tình trạng cung không đủ cầu. Đối thủ cạnh tranh là những học sinh trung học ưu tú đã sẵn sàng từ lâu ở Hoa Kỳ. Trong thời gian thăm đất nước này, Đình Nhi đã tận mắt thấy học sinh Hoa Kỳ chuẩn bị tham gia kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông như thế nào. Do các trường trung học ở Hoa Kỳ khi học xong môn nào liền kiểm tra kết thúc môn học đó luôn, không giống như ở Trung Quốc tập trung bài trong 6 năm, đến giai đoạn cuối cùng mới thi tốt nghiệp. Từ lớp 11 (tương đương với năm thứ hai cao trung), học sinh trung học Hoa Kỳ đã rất thoải mái. Họ chỉ cần tham gia cuộc thi “tư chất học sinh” (SAT I) gồm hai môn tiếng Anh và Toán học là có đủ điều kiện thi vào đại học.
 
Cuộc đua tranh giữa Đình Nhi và học sinh Hoa Kỳ như cuộc chạy đua giữa một vận động viên vừa chạy vừa giơ quả tạ với một vận động viên gọn nhẹ chạy cự ly ngắn, mới nhìn đã thấy bất lợi chứ chưa nói đến thành công.
 
Cho nên thi đại học ở trong nước là không thể bỏ qua. Và như thế, không thể không đối mặt với cục diện “trước sau đều bị địch đánh”, đó là một điều tối kỵ của các nhà quân sự từ trước đến nay, làm đơn xin học đại học ở Hoa Kỳ hay không trở thành khó khăn lớn nhất trước mắt Đình Nhi. Nhưng bây giờ Đình Nhi đã già dặn hơn trước rất nhiều, cháu biết phương pháp để tìm ra quyết định đúng đắn nhất. Trong thời kỳ sơ trung, chúng tôi thường giảng giải nhiều lần cho Đình Nhi: Lúc đứng trước sự lựa chọn quan trọng, cần phải “tập trung suy nghĩ, tranh thủ ý kiến rộng rãi của mọi người”. Cháu luôn luôn ghi nhớ phương pháp này. Gặp việc quan trọng cháu thường hay tổ chức họp gia đình để cho mỗi người đều phát biểu ý kiến của mình. Đợi để khi mọi sự lợi hại đều được xem xét kỹ, cháu mới quyết định cuối cùng. Sử dụng biện pháp này, cháu không chỉ một lần tháo gỡ được sự việc tưởng chừng như bó tay, giải quyết một cách ngon lành mọi ý kiến được tham khảo.
 
Chúng tôi đã nhiều lần họp gia đình, tuy không nhanh chóng đạt được quyết định nhưng luồng suy nghĩ cũng dần rõ ràng hơn.
 
Do nguồn tài lực của gia đình chỉ có thể xin được học bổng toàn phần một trường đại học nổi tiếng, nếu nửa học bổng cũng khó thực hiện được việc đi học vì học phí còn lại đối với gia đình chúng tôi cũng không thể gánh nổi. Năm 1998, học phí ở Trường Harvard là 21.342 đô-la, cộng thêm tiền phòng ở, mua sách, bảo hiểm sức khoẻ, phụ phí hàng ngày, tất cả lên tới 31.250 đô-la. Số tiền này còn chưa tính đến khoản sinh hoạt phí 3 tháng hè. Các trường đại học khác đại khái cũng thế. Trường Đại học Columbia năm nay thu khoảng 33.296 đô-la, còn hơn cả Harvard, Trường Princeton thu 33.040 đô-la, Trường Cornell thấp hơn một ít cũng phải nộp 31.952 đô-la. Bất kỳ trường nào, hàng năm cũng đều thu 1/4 học phí làm cho đại bộ phận người Trung Quốc sống bằng lương khó thực hiện việc đi du học nước ngoài được.
 
Chúng tôi đều không muốn Đình Nhi đến Hoa Kỳ làm thuê, kiếm học phí, đối mặt với áp lực sinh tồn nặng nề, bị kẹp giữa hai tình trạng sức khoẻ suy yếu và học tập căng thẳng, làm sao còn đủ sức để nắm vững được tri thức nữa. Đặc biệt còn cần phải đảm bảo an toàn trước mọi tai hoạ ẩn tàng.
 
Huống chi Đình Nhi rất coi trọng việc học đại học trong nước, thi đậu một trường đại học tốt, học hết đại học chính quy cũng rất đáng giá. Phong cách dạy và học chắc chắn của các trường đại học trong nước cũng có thể tạo cho Đình Nhi một nền tảng vững vàng suốt đời. Để tránh tình trạng xôi hỏng bỏng không, thi đại học trong nước là không thể bỏ.
 
Qua nhiều lần thảo luận dần hình thành ý thống nhất là: trong điều kiện hiện có, một mặt cần phải có chừng mực khêu dậy tiềm năng của Đình Nhi, dùng một phút chia thành mấy phút để sử dụng, mặt khác ba mẹ phải cố làm thật tốt nhiệm vụ “hậu cần”.
 
Nếu thời gian không kịp thì làm thế nào? Có thể phải giảm nhẹ mục tiêu thi trong nước, bỏ yêu cầu vào học Trường Bắc Đại, lúc cần sẽ chuẩn bị thi vào trường đại học bình thường. Đó thực sự là một quyết định buồn với Đình Nhi, mỗi khi nghĩ đến phải bỏ cơ hội học Trường Bắc Đại, cháu buồn đến rơi nước mắt.
 
Mục đích của những giá phải trả đó, tức là đột phá vào trường đại học hạng nhất thế giới, một mục đích hầu như không thể với tới được. Cho dù thất bại, cũng là một đời không hề ân hận.
0
DĨNH - NGƯỜI CON GÁI TRUNG HOA Ở MỘT TRƯỜNG NỔI TIẾNG HOA KỲ
 
Cuối tháng 6, ngài Larry gửi đến một thư điện tử, báo cho Đình Nhi một tin mới: Dĩnh, một học sinh năm thứ hai Học viện Wellesley sẽ về Thành Đô thực tập hè. Larry hy vọng Dĩnh có thể giúp Đình Nhi về ngôn ngữ và các mặt khác. Không lâu sau, Đình Nhi nhận được điện thoại của một cô gái, phát âm tiếng phổ thông rất chuẩn. Đó chính là cô Dĩnh vừa từ Hoa Kỳ đến Thành Đô và rất muốn gặp Đình Nhi.
 
Chúng tôi nói với Đình Nhi mời Dĩnh đến nhà chơi, hy vọng cô gái xa bố mẹ này có thể cảm thấy ấm áp như ở nhà.
 
Mấy hôm sau, vào một buổi cuối tuần Dĩnh đến. Tuổi lớn hơn Đình Nhi một ít, người hơi cao, nét mặt thanh tú, gợi cho ta cảm giác đó là một cô gái dịu dàng trong sáng. Dĩnh từ lớp 5 tiểu học đã theo bố mẹ di cư sang Hoa Kỳ, sau đó nhập quốc tịch Hoa Kỳ. Dù lấy tiêu chuẩn Trung Quốc hay tiêu chuẩn Hoa Kỳ, Dĩnh cũng là một cô gái xuất chúng. Cô đến Hoa Kỳ lúc 11 tuổi, trong thời gian 9 năm ngắn ngủi, từ “tiếng Anh ABC” rất nhanh chóng bỏ xa tuyệt đại đa số trẻ em Hoa Kỳ, dù mỗi lần chiêu sinh chỉ lấy 500 học sinh. Nếu không nói tiếng Anh, chỉ nhìn bề ngoài không ai cho là Dĩnh lớn lên ở Hoa Kỳ. Cô ngồi, mỉm cười như cô bé ngoan hàng xóm sang chơi. Không ít người Trung Quốc sau khi đi ra nước ngoài vì lâu ngày không nói tiếng Trung Quốc, không chỉ giọng nói thay đổi mà khi nói thường xuất hiện hiện tượng hụt hơi, không phát âm được. Nhưng Dĩnh trái lại, nói tiếng phổ thông rất lưu loát, tự nhiên. Cô nói với chúng tôi là ở Hoa Kỳ thường xem báo chí Trung Quốc nên Trung văn còn nhớ rất tốt.
 
Có thể thấy được bố mẹ Dĩnh dù đã di cư sang Hoa Kỳ nhưng vẫn hoài niệm về quê hương, hơn nữa còn rất sáng suốt khi Dĩnh đã tiếp nhận nền văn hoá Hoa Kỳ, nhưng vẫn giữ được tình yêu với văn hoá Trung Hoa. Trên thực tế, những đứa trẻ đã quen thuộc đồng thời hai ngôn ngữ và văn hoá so với một số em người Hoa “còn Mỹ hơn cả người My”, càng có đất phát triển tốt hơn nhiều.
 
Theo thói quen nghề nghiệp, tôi rất hứng thú quan sát thấy Dĩnh có ánh mắt không giống với trẻ em gái bình thường của Trung Quốc.
 
Phần lớn trẻ em gái Trung Quốc lúc nói chuyện với người khác, đặc biệt với người mới quen, rất ít có thói quen nhìn thẳng không chớp mắt vào người đang tiếp chuyện, những Dĩnh khi nói chuyện thường chăm chú nhìn thẳng vào người đối thoại, không đảo ánh mắt. Đó là thói quen thường thấy ở người phương Tây, hơn nữa ánh mắt ấy vừa thẳng thắn lại vừa chân thành, gây cho người đối thoại hiểu được nhau.
 
Dĩnh và Đình Nhi mới gặp mà như đã quen biết từ lâu, nhanh chóng trở thành bạn. Cứ đến cuối tuần, Đình Nhi từ trường trở về nhà đều gọi điện thoại cho Dĩnh hẹn thời gian, mời đến nhà chơi. Có lúc Dĩnh cũng gọi điện thoại đến, hỏi rất thẳng thắn: “Tôi đến nhà bạn, có được không?”
0
«« « 1 2 3 4 » »»