Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử

35 trả lời, 18.396 lượt xem — Trang 1 / 2


Hàn Mặc Tử (1912 - 1940)


Hoài Thanh - Hoài Chân


Chính tên là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22 Septembre 1912 ở Lệ Mỹ (Đông Hới), mất ngày 11 Novembre 1940. Trú ngụ ở Qui Nhơn từ nhỏ. Nhà nghèo, cha mất sớm. Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba. Làm sở Đạc Điền một độ, bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Nhơn. Kế đó mắc bịnh hủi, đưa vào nhà thương Quy Hòa rồi mất ở đó.

Làm thơ từ ngày mười sáu tuổi (lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử.

Đã đăng thơ: Phụ Nữ Tân Văn, Saigon, Trong Khuê Phòng, Đông Dương Tuần Báo,Ng Người Mới.

Đã xuất bản: Gái Quê (1936).

* * *


Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mạc Tử nhiều lắm. Có người bảo: 'Hàn Mạc Tử? thơ với thẩn gì! toàn là nói nhảm.' Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: 'Thơ gì mà rắc rối thế! mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!' Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mạc Tử trong khi việt đoạn này: 'Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! tôi điên đây! -- Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống.'

Nhưng tôi cũng đã nghe những người ca tụng Hàn Mạc Tử. Trong ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mạc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mạc Tử làm ra họ đều chép lại và thuộc hết. Mà thuộc hết thơ Hàn Mạc Tử đâu có phải chuyện dễ. Đã khúc mắt mà lại nhiều: tất cả đến sáu bảy tập. Họ thuộc hết và chọnn những lúc đêm khuya thang vắng, họ sẽ cao giọng, ngâm một mình. Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vì giáo chủ. Chế Lan Viên nói quả quyết: 'Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau, những cái tầm thường, mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mạc Tử.'

Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mạc Tử. Tôi đã theo Hàn Mạc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội. Và tôi đã mệt lả. Chính như lời Hàn Mạc Tử nói trong bài tựa Thơ Điên, vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh. Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị, tôi thử xếp đặt lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi.

Thơ Đường Luật: Theo Ông Quách Tấn, Phan Sào Nam hồi trước xem Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử có viết trên báo đại khái nói: 'Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều, song chưa gặp được bài nào hay đến thế... Ôi hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó.' Thơ Đường Luật Hàn Mạc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết, tôi không được xem mấy bài. Song trong những bài tôi được xem, tôi cũng đã gặp ít câu hay, chẳng hạn như:

Nằm gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi.

Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sử nẩy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.

Gái Quê: Nhiều bài có thể là của ai cũng được. Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị. Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi. Ông Phạm Văn Kỳ đề tựa tập thơ ấy là phải lắm: Gái Quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong tình dục.

Thơ Điên: Thơ Điên gồm có ba tập:

1) Hương Thơm

2) Mật Đắng

3) Máu Cuồng và Hồn Điên

Hương Thơm: Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng, ánh nắng, tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói. Một trời tình ái mới dựng lên đâu đây. Tuy có đôi vần đẹp, cảm giác chung nhạt tẻ thế nào.

Mật Đắng: Ta vẫn đi trong mờ mờ. Nhưng thỉnh thoảng một luồn sáng lạ chói cả mắt. Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ não. Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu. Thất vọng trong tình yêu, chuyện ấy trong thơ ta không thiếu gì, nhưng thường là một thứ buồn dầu có thấm thía vẫn dịu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mạc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế. Lời thơ như dính máu.

Máu Cuồng và Hồn Điên: Đến đây ta đã hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của ta. Xa lắm rồi. Ta thấy những gì chung quanh ta? Trăng, toàn trăng, một ánh trăng gắt gao, ghê tởm, linh động như một người hay đúng hơn một yêu tinh. Trăng ở đây cũng ghen, cũng giận, cũng cay nghiệt, cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình. Hàn Mạc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người... Ta rùng mình, ngơ ngác, ta đã lục lọi khắp trong đáy lòng ta, ta không thấy có tí gì giống cái cảnh trước mắt. Trời đất này thực của riêng Hàn Mạc Tử. Ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được. Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô độc. Đã cô độc ở kiếp này và e còn cô độc đến muôn kiếp. Hàn Mạc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người đã nguyền với Chúa sẽ không bao giờ cho xuất bản Thơ Điên. Một tác phẩm như thế, ta không có thể nói hay hay dở, nó đã ra ngoài vòng nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán. Ta chỉ biết trong văn thơ cổ kim không có gì kinh dị hơn. Ta chỉ biết ta đương đứng trước một người sượng sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì đã quá đau khổ trong tình yêu. Cuộc tình duyên ra đời với tập Hương Thơm, hấp hối với tập Mật Đắng, đến đây thì đã chết thiệt rồi, nhưng khí lạnh còn tỏa lên nghi ngút.

Một nhà chuyên môn nghiên cứu những trạng thái kỳ dị của tâm linh người ta xem tập Máu Cuồng và Hồn Điên có lẽ sẽ lượm được nhiều tài liệu hơn một nhà phê bình văn nghệ. Tuy thế, đây đó ta gặp những câu rất hay.

Như tả cảnh đồi núi một đêm trăng có câu:

“Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ
Đầy mình lốm đốm những hào quang”

Lên chơi trăng có câu:

“Ta bay lên! Ta bay lên!
Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm.
Ta ở côi cao nhìn trở xuống:
Lâng lâng mây khói quyện trăng đêm”.

Đọc những câu ấy có cái thú vị ở xứ lạ gặp người quen, vì đó là những cảm giác ta có thể có. Lại có khi những cảm giác ở ta rất thường mà trong trí Hàn Mạc Tử rất dễ sợ. Một đám mây in hình dưới dòng nước thành ra:

“Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng
Trôi thây về xa tận cõi vô biên”.

Cái ý muốn mượn lời thơ để tả tâm sự mình cũng trở nên điên cuồng và đau đớn dị thường:

“Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút;
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt,
Như mê man chết điếng cả làn da.

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết,
Trải niềm đau trên mảnh giấy monh manh;
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết,
Cả lòng ta trong nhớ chữ rung rinh”.

Tôi chỉ trích ra vào đoạn có thể thích được. Còn bao nhiêu đoạn nữa tuy ta không thích vì nó không có gì hợp với lòng ta, nhưng ta cũng biết rằng với Hàn Mạc Tử hẳn là những câu tuyệt diệu. Nó đã tả đúng tâm trạng của tác giả. Lời thơ có vẻ thành thực, thiết tha lắm.

Xuân Như Ý: Mùa xuân Hàn Mạc Tử nói đây có khi ở đâu hồi trời đất mới dựng lên, có khi ra đời một lần với Chúa Jésus, có khi hình như chỉ là mùa xuân đầu năm. Nhưng dầu sao cũng không phải là một mùa xuân ta vẫn quen biết. Đây là một mùa xuân trong tưởng tượng, một mùa xuân theo ý muốn của thi nhân, đầy dẫy những lời kinh cầu nguyện, những hương đức hạnh, hoa phẩm tiết, nhạc thiêng liêng, cùng ánh trăng, ánh thơ. Nhất là ánh thơ. Với Hàn Mạc Tử thơ có một sự quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng Đế mà cũng để ban ơn phước cho cả và thiên hạ. Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng -- sao lại há miệng? -- cho thơ trào ra, làm chín từng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao. Người sẽ thấy:

“Đường thơ bay sáng láng như sao sa
Trên lụa trắng mười hai hàng chữ ngọc
Thêu như thêu rồng phượng kết tinh hoa”.

Hình như trong các thi phẩm xưa nay có tính cách tôn giáo khôngcó có gì giống như vậy. Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền để thờ Chúa. Thiếu lòng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ không thể cùng quỳ lạy với thi nhân. Nhưng lòng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp vì cái vẻ huy hoàng, trang trọng, linh lung, huyền ảo của lâu đài kia? Có những câu thơ đẹp một cách lạ lùng, đọc lên như rưới vào hồn một nguồn sáng láng. Xuân Như Ý rõ ràng là tập thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử.

Với Hàn Mạc Tử Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ của các tín đồ đời Thượng cổ. Ta thấy phảng phất cái không khí Athalie. Cho nên mặc dầu thỉnh thoảng còn sót lại một hai dấu tích Phật Giáo, chắc những người đồng đạo chẳng vì thế mà làm khó dễ chi với di thảo của thi nhân.

Huống chi thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn ra thơ mới thiệt là những tình cảm đã thấm tận đáy hồn đoàn thể.

Thượng Thanh Khí: Một vài bài đặc sắc ghi lại những cảnh đã thấy trong chiêm bao, ở đâu giữa khoảng các vì tinh tú trên kia Đại khái không khác cảnh Xuân Như Ý mấy, chỉ thiếu tính cách tôn giáo, huyền bí nhưng không thiêng liêng.

Cẩm Châu Duyên: Một hai năm trước khi mất, sự tình cờ đưa đến trong đời Hàn Mạc Tử hình ảnh một giai nhân có cái tên khải ái: nàng Thương Thương. Nàng Thương Thương có lẽ chỉ yêu thơ Hàn Mạc Tử và Hàn Mạc Tử hình như cũng không biết gì hơn ngoài hai chữ Thương Thương. Nhưng như thế cũng đủ để thi nhân đưa nàng vào tháp thơ. Nàng sẽ luôn luôn đi về trong những giấc mơ của người. Có khi người mơ thấy mình là Tư Mã Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:

“Đã mê rồí! Tư Mã chàng ôi!
Người thiếp lao đao sượng cả người.
Ôi! ôi! hãm bớt cung cầm lại,
Lòng say đôi má cũng say thôi”.

Song những phút mơ khoái lạc ấy có được là bao. Tỉnh dậy, người thấy:

“Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả?
Trơ vơ buồn và không biết kêu ai!
Bức thư kia sao chẳng viết cho dài,
Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa”.


Ta tưởng nghe lời than của Huy Cận. Nhưng cuộc đời đau thương kia đã đến lúc tàn, và nguồn thơ kia cũng đã đến lúc cạn. Hàn Mạc Tử chốc chốc lại ra ngoài biên giới thơ, lạc vào thế giới đồng bóng.

Duyên Kỳ Ngộ và Quần Tiên Hội: Mối tình đối với nàng Thương Thương còn khiến Hàn Mạc Tử viết ra hai vở kịch bằng thơ này nữa. Quần Tiên Hội viết chưa xong và không có gì. Duyên Kỳ Ngộ hay hơn nhiều. Đây là một giấc mơ tình ái, ngắn ngủi nhưng xinh tươi, đặt vào một khung cảnh tuyệt diệu. Thi nhân dẫn ta đến một chốn nước non thanh sạch chưa từng in dấu chân người. Ở đó tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân đều biến thành những lời thơ tình tứ. Ở đó Hàn Mạc Tử sẽ gặp nàng Thương Thương mà người không mong được gặp ở kiếp này. Nàng sẽ nói với người những lời nồng nàn âu yếm khiến chim nước đều say sưa. Nhưng rồi người sẽ cùng tiếng tiêu cùng đi như vụt nhớ đến cái nghiệp nặng nề đương chờ người nơi trần thế. Và giữa lúc nàng gục đầu khóc, cảnh tiên lại rộn rã tiếng suối ca.

Trong thi phẩm Hàn Mạc Tử có lẽ tập thơ này là trong trẻo hơn cả. Còn từ Thơ Đường Luật với những câu:

“Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối;
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”.

cho đến Gái Quê, Thơ Điên, Xuân Như Ý và các tập khác, lời thơ thường vẩn đục.

* * *


Tôi đã nói hết cảm tưởng của tôi trong lúc đọc thơ Hàn Mạc Tử. Không có bao giờ tôi thấy cái việc phê bình thơ tàn ác như lúc này. Tôi nghĩ đến người đã sống trong một túp lều tranh phải lấy bì thư và giấy nhựt trình che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến người không sao nuốt được vì ăn khổ quá. Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng đã bắt người chịu bao nhiêu phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy. Sau cùng người bị vứt hẳn ra ngoài cuộc đời, bị giữ riêng một nơi, xa hết thảy mọi người thân thích. Tôi nghĩ đến bao nhiêu năm người bó tay nhìn cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã...

Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn.


Hoài Thanh - Hoài Chân


* Trích Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân.

Tài Liệu tham khảo

+ Thơ Hàn Mặc Tử hay Những Bài Tình Ca Bi Thiết của Huy Phong và Yến Anh.

+ Thi Nhân Việt Nam Hiện Đại - Quyển I của Trần Tuấn Kiệt.

+ Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân.
=========================
Đăng nhập để trả lời
0

Về Quy Nhơn thăm Hàn Mặc Tử


Nguyễn Nguyên Vũ


Cách đây 60 năm, một nhà thơ đã đến chữa bệnh tại trại phong Quy Hòa, mang theo hành trang là tập thơ Đau thương (1937). Trên giường bệnh, anh đã làm thêm 2 tập thơ nữa là Xuân như ý (1939) và Thượng thanh khí (1940). Những tập thơ này là một trong những đỉnh cao thi ca Việt Nam. Sau này Chế Lan Viên đã không tiếc lời "Tử là một đỉnh cao, lòa chói trong văn học thế kỷ, thậm chí các thế kỷ".

Hàn Mặc Tử, theo lời kể lại, thời ấy thường ngồi dưới mái nhà tranh ở Ghềnh Ráng (biển Quy Nhơn) qua tàn phượng vỹ, ngắm chiếc cầu nhỏ xinh xinh bắc qua suối Tiên.

Năm 1958, mộ Hàn Mặc Tử đã được cải táng trên một ngọn đồi nhìn xuống biển xanh và bên trái là cây cầu, suối Tiên… đúng như nhà thơ mơ ước.

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương, anh nằm chết như trăng.

Từ đó đến nay, hàng vạn người đã ghé Quy Nhơn thăm Hàn Mặc Tử.

* Quy Hòa - "thành phố" tượng

Thiên nhiên đã ưu đãi cho Bệnh viện phong và da liễu Quy Hòa một cảnh quan tuyệt vời. Núi xanh, biển xanh, cây xanh và bầu trời mùa hạ xanh ngắt.

Vâng, có thể gọi nơi này là một "thành phố mini" lắm chứ. Những con đường ngang dọc như bàn cờ được trải nhựa phẳng phiu chạy giữa rừng cây xanh. Những ngôi nhà nhỏ kiến trúc đặc trưng của trên 80 nước trên thế giới (mỗi nước xây tặng một nhà) trông thật xinh xắn. Những bức tượng điêu khắc được bố trí rải rác phù hợp với một không gian thoáng đãng. Bên bãi biển, dưới chân vườn phi lao là vườn tượng danh nhân y học Việt Nam và thế giới rất độc đáo. Điều hấp dẫn du khách của Quy Hòa còn là một bãi biển lý tưởng, sạch đẹp, chạy dài tít tắp để du khách có thể tha hồ vẫy vùng thỏa thuê trên sóng nước.

Nếu có thời gian, du khách hãy thuê thuyền sang các hòn đảo ngoài khơi Quy Hòa, cách 30 phút đi thuyền máy. Ở đây không có dân cư, chỉ có trời nước mênh mông với những gành đá, hang hốc kỳ bí. Thiên nhiên hùng vĩ sẽ hoàn toàn thuộc về du khách.

* Suối Tiên xanh

Rời Quy Hòa, lên đến đỉnh đèo trên đường Quy Nhơn - Sông Cầu, nhìn về phía Nam, du khách sẽ thấy thấp thoáng trong rừng cây xanh trên núi cao những mái ngói tứ giác đỏ tươi, nhô cao giống như một ngôi chùa cổ, gợi sự tò mò pha chút ngạc nhiên. Xe chạy lên con dốc chừng 200 mét rồi theo lối mòn rẽ vào rừng khoảng 200 mét nữa là đến khu du lịch Suối Tiên. Bên cạnh tiếng rì rào của cây rừng lộng gió là tiếng róc rách của những con suối nhỏ len qua từng khe đá, uốn quanh trên sườn núi, hòa cùng tiếng chim rừng hót líu lo. Suối Tiên là một trang trại du lịch sinh thái với nhiều loại cây ăn quả mùa nào thức ấy. Du khách có thể leo núi, ngắm cảnh dưới bóng mát cây rừng, trên tảng đá bên dòng suối xanh mà tận hưởng khúc nhạc thanh bình của thiên nhiên hiền hòa, thơ mộng. Khách cũng có thể ngồi trên "lầu vọng phố" nhìn về phía Quy Nhơn mờ ảo trong sương chiều hoặc sáng rực ánh điện đêm.

Ghi chú:

* Nơi an nghỉ của Hàn Mặc Tử

Xuôi hết con đèo Quy Hòa là đến đường Hàn Mặc Tử, rẽ về phía đông nam, lên dốc Mộng Cầm dài vài trăm mét là đến đồi Ghềnh Ráng - khu danh thắng đã được xếp hạng di tích quốc gia. Trên đỉnh đồi, dưới chân tượng Đức Mẹ là mộ Hàn Mặc Tử. Đã nửa thế kỷ, Hàn nằm đây nhìn về phía Quy Nhơn, bốn mùa trăng sao và sóng biển vỗ về anh - nhà thơ số một của Việt Nam cận đại. Đây là nơi hầu như không một du khách nào bỏ sót khi đến Quy Nhơn. Trong một tương lai gần, khu vực mộ Hàn Mặc Tử sẽ là trung tâm của công viên văn hóa nằm trong khu du lịch Ghềnh Ráng đang được xây dựng. Từ mộ Hàn Mặc Tử, đi thêm 300 mét trên đường đèo ven biển là đến bãi tắm Hoàng Hậu. Đây là nơi nghỉ mát của vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu với một bãi đá trứng nhiều sắc màu kỳ thú mà hòn đá nào cũng tròn nhẵn giống như trứng của những quái vật khổng lồ thời tiền sử.

Hiện nay, tam giác du lịch Quy Hòa - Suối Tiên - Ghềnh Ráng là nơi thu hút du khách nhiều nhất khi đến Quy Nhơn. Ba khu du lịch này nằm kề bên nhau, tạo thế liên hoàn, mỗi nơi đều có sắc thái riêng, cảnh quan đẹp và giao thông thuận lợi bởi nằm ngay trong nội thành Quy Nhơn. Bên cạnh đó, đường Quy Nhơn - Sông Cầu dài 33 km là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam, mở ra một vùng du lịch hoàn toàn mới chạy dài từ Quy Nhơn đến Sông Cầu (Phú Yên) qua những vịnh biển đẹp, những làng chài thơ mộng nằm dưới rừng dừa xanh với những địa danh lạ lẫm mà đầy hấp dẫn: bãi Dài, bãi Dại, bãi Xếp, bãi Bàng, bãi Rạng…

Khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng với biển núi trùng trùng, môi trường trong lành… sẽ là những yếu tố hấp dẫn du khách nhiều nhất khi có dịp đến với quần thể du lịch Quy Hòa - Suối Tiên - Ghềnh Ráng.
=================================


Đăng nhập để trả lời
0

Ảnh hưởng đạo Phật
trong thơ Hàn Mặc Tử


QUÁCH TẤN



Hàn Mặc Tử rất chú trọng về âm nhạc và mầu sắc. Đó chính vì tâm hồn Tử có nhiều trạng thái cá biệt, nhiều khi rất bí ẩn u huyền; để diễn tả, phải dùng màu sắc, hình ảnh và âm nhạc -nhất là âm nhạc, vì chỉ có âm nhạc mới diễn tả nổi những cái sâu xa, thầm kín, những cái tế nhị, u ẩn của một tâm hồn.

Nhiều khi Tử phải bỏ nghĩa thông thường của chữ, bỏ cả văn phạm của câu, để cho thanh âm tiết tấu phù hợp với những biến chuyển, những rung động, những xao xuyến của tâm hồn - một tâm hồn mênh mông và đối với chúng ta có phần xa lạ - mà văn tự chính xác nhiều khi không diễn tả được thấu đáo, không diễn đạt đúng ý muốn của người thơ.Cho nên xem thơ Hàn Mặc Tử, nhiều khi không nên chấp ở chữ mà hại lời, không nên chấp ở lời mà hại ý. Và muốn nhận thức tình ý trong thơ được đầy đủ, thì phải thưởng thức nhạc thơ trước nhất, vì trong thơ Tử, nhạc đi trước mà ý theo sau, và có khi ý không ở tronglời mà ở trong nhạc.

Trong tâm hồn Tử, không có những bức thành kiên cố ngăn cách tôn giáo của mình và tôn giáo của người, nhất là đối với Phật giáo. Vì không có những bức thành kiên cố ngăn cách giữa tôn giáo mình và tôn giáo người, nên Tử đã đi tìm nguồn cảm hứng trong Đạo Bồ Đề. Và mặc dù tự xưng mình là "Thi sĩ của đạo quân Thánh Giá", Tử vẫn không ngần ngại đem những từ ngữ, những hình ảnh của Phật giáo và dùng trong văn thơ mình, dùng cả vào trong những bài có tinh thần Thiên Chúa giáo nhiều nhất. Như bài Thánh Nữ Đồng Trinh là một.

Bài này Là những lời Tử dâng lên Đức Maria để ca ngợi "ơn phước cả", mà Thánh Nữ đã ban cho Tử trong "cơn lâm lụy". Trong bài có những chữ "Từ Bi", "ba ngàn thế giới", là chữ của nhà Phật, dùng một cách sướng khoái:

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giầu muôn hộc từ bi
Tôi ưa nhìn Bắc đẩu rạng bình minh
Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới

Hai chữ "Từ bi", còn thấy dùng trong nhiều bài khác:

Thơ tôi thường huyền diệu
Mọc lên đạo từ bi
(Cao Hứng)

Trời từ bi cảm động ứa sương mờ
Sai gió lại lay hồn trong kẽ lá
(Hãy Nhập Hồn Em)

Nhiều từ ngữ khác của Phật giáo, như "hằng hà sa số" "mười phương" cũng thường gặp trong thơ Tử :

Mây vẽ hằng hà sa số lệ
Là nguồn ly biệt giữa cô đơn
(Cuối Thu)

Đóng cửa mười phương lại
Dồn ánh sáng vào đây
(Điềm lạ)

Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn nghìn tinh lạc xuống mười phương
(Nguồn thơm)

Nhưng đó chỉ là những dấu tích bên ngoài. Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều bài chịu ảnh hưởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo:

Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất,
Và lùa theo không biết mấy là hương.
(Phan Thiết)

Trở lại trời tu luyện với muôn đêm,
Hớp tinh khí lâu năm thành chánh quả.
(Phan Thiết)

Ngoài những ngôn ngữ phổ thông của nhà Phật, như "thành chánh quả", "sông Hằng", Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng (Phan Thiết). Ngoài những hình ảnh đẹp đẽ của trời "Đao Lỵ", trời "Đâu Suất" - những cõi Phật xa xăm, đầy nhạc, đầy hương, đầy ánh trăng - chúng ta nhận thấy trong bài Phan Thiết, thuyết nghiệp báo và thuyết luân hồi được thi vị hóa một cách tài tình:con chim Phụng Hoàng vì Sân Si mà phải đoạn, và khi trở lại trời tu luyện thành chánh quả rồi, mà vì tập khí chưa tiêu trừ trọn vẹn, nên phải trở xuống trần gian, "nơi đã khóc đã yêu đương da diết" để mà "chôn hận nghìn thu" và "sầu muộn ngất ngư".

Trong bài Phan Thiết, chúng ta còn nhận thấy rằng Hàn Mặc Tử đã nhìn đời bằng con mắt giác ngộ: những hiện tượng trong cõi đời này đều là những tuồng ảo hóa:

Sao tan tành rơi xuống vũng chiêm bao,
Trăng tan tành rơi xuống một cù lao
Hoá đai điện đã rất nên tráng lệ
(Phan Thiết)

Và cõi đời này -mà Phan Thiết là tượng trưng - là nơi đau khổ, là nơi "chôn hận nghìn thu", là nơi "sầu muộn ngất ngư". Vì nhận biết cõi đời là giả tạo, là nơi khổ lụy, Tử đi tìm nơi giải thoát và đã tìm thấy Cực Lạc Quốc Độ của Phật A Di Đà.

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
(Ngoài vũ trụ)

Cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc
Rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác
Rất phương phi trên hết cả anh hoa
(Ra đời)

Vì muôn kinh dồn dập cõi thơm tho,
Thêm nghĩa lý sáng trưng như thất bảo
(Đêm xuân cầu nguyện)

những "ánh sáng vô cùng" "sáng láng cả mọi miền", những tiếng "nhạc thiêng liêng dồn trỗi khắp hư linh", những điệu nhạc "rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác" những "cây bằng gấm và lòng sông bằng ngọc", ở trong Tử là vang bóng của "vô lượng quang" của "thiên nhạc", của "hoa sen đủ màu sắc và đủ hào quang mọc trong ao Thất bảo" trên thế giới Cực Lạc mà Tử đã nhìn qua kinh A Di Đà.

Tinh thần Phật giáo còn ảnh hưởng trong nhiều văn thơ của Tử, nhưng nhiều khi hoặc quá tiềm tàng, hoặc bị hình ảnh thơ lấn đi, nên chúng ta không thấy nếu chúng ta không chú ý, không lưu tâm "Ôi trời hạo nhiên đây không phải là công trình châu báu của Người sao? Lòng vô lượng đây không phải do phép màu nhiệm của Đấng Vô Thỉ Vô Chung? (bài tựa Xuân Như Ý). Đó chẳng phải là chữ Tâm được thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng? Hàn Mặc Tử đã xác nhận tính chất vô thỉ vô chung của Tâm (lòng vô lượng), mà biểu hiện mầu nhiệm là Mùa xuân thơm tho, trong đẹp, tràn lan khắp không gian (trời muôn trời) chen lấn vô tận hồn tạo vật, và tồn tại cùng thời
gian (năm muôn năm). Nhưng vì là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, Tử đã quan niệm cái Tâm bất sanh bất diệt là Đấng Vô Thỉ Vô chung, và coi những hiện tượng do "lòng vô lượng" đã "đưa ra" kia là "công trình châu báu" của Đức Chúa Trời, nên Tử "cao rao danh Cha cả sáng". Như thế Hàn Mặc Tử có phải là một nhà thơ của đạo TC? Nghĩa là Tử phải có một tín đồ dùng thơ để phụng sự Tôn giáo mình? Thưa không phải. Tử tìm vào Đạo - Đạo Thiên Chúa cũng như Đạo Phật chỉ để tìm nguồn cảm hứng, để tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò. Lý tưởng chính của Tử là Thơ. Tôn giáo chỉ là những yếu tố phụ vào để làm cho thơ thêm giầu sang và trọng vọng. Do đó nhiều khi bị hứng thơ lôi cuốn, Tử đã thốt ra những lời có thể gọi là "phạm thượng" đối với những Dấng Thiêng Liêng Tử phụng thờ. Ví dụ đương qùy trước Thánh Nữ Maria để ca ngợi ơn cứu nạn, mà Tử dám nói:

Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ;
Dòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

Thật chẳng khác nào đứng nói cùng một người ngang hàng ngang lứa hoặc Nàng Thơ! Thậm chí trong khi cầu nguyện lúc đêm xuân, mà chàng vẫn để tứ thơ ngang tàng theo hứng:

Ta chắp tay lạy qùy hoan hảo,
Ngửa trông cao cầu nguyện trắng không gian,
Để vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng Đế
(Đêm xuân cầu nguyện).

Nghĩ đến những gì "giàu sang hơn Thượng Đế", Tử biết là một tội lỗi lớn, nên tiếp đó chàng van lơn thầm nguyện:

Tôi van lơn, thánh nguyện Chúa Giêsu
Ban ơn xuống cho mùa xuân hôn phối
Xin tha thứ những câu thơ tội lỗi

Lời xưng tội vẫn không thật nghiêm trang thành kính! Trong khi viết những lời tạ tội, Tử đã nghĩ đến thơ nhiều hơn nghĩ đến Chúa, mặc dù Tử luôn luôn thờ Chúa trên thơ.

Còn đối với Đạo Phật ? Hàn Mặc Tử đi vào Đạo Từ Bi không phải để tu, mà cũng không phải để tìm hiểu những gì cao siêu huyền diệụ Tử vào Đạo Từ Bi cũng như một lãng nhân vào vườn hoa nghìn huơng muôn sắc. Vào không phải với mục đích của nhà vạn vật học hay nhà làm vườn, mà vào với tấm lòng con nhà nghệ sĩ khoáng đạt phong lưu. Vào để thưởng thức những cái Đẹp khác thường vừa giàu sang vừa thanh thoát. Hoa có bao nhiêu hương giống, cũng không cần biết. Vườn hoa có tự bao giờ và rộng đến đâu, cũng không cần biết nốt. Mà chỉ biết rằng có nhiều hương lạ, nhiều sắc lạ, và chỉ biết trải lòng mênh mông. Rồi những gì đã thấm vào tâm khảm thỉnh thoảng trào ra ngọn bút những lúc Thơ về, khi thì đượm đà, khi thì phảng phất, khi thì hiển hiện, khi thì ẩn tàng và tràn ra một cách tự nhiên, khiến lắm lúc nhà thơ rưởng rằng đó là do mình sáng tạo ra chớ không ngờ rằng mình đã chịu ảnh hưởng,

Và tất cả những gì đã thâu nhập được trong tôn giáo, trong Phật giáo, cũng như trong Thiên Chúa Giáo - một khi đã vào thơ Tử thì không còn giữ nguyên chất, vì đã bị tâm hồn Tử biến thể, pha trộn theo quan niệm và sở thích của mình. Tử thường nói cùng bạn rằng: -Tôi lợi dụng văn chương và triết lý nhà Phật để làm thơ mà thôi. Tôi dung hòa cả hai thể văn và tôn giáo: Thiên Chúa và nhà Phật. Đó chính là muốn làm giầu cho nền văn chương chung.

Bởi vậy, khi đọc Hàn Mặc Tử, chúng ta nên mở tấm lòng cho rộng rãi, đừng chấp về mặt tư tưởng cũng như về mặt ngôn từ, thì mới dễ cảm động cùng con người thơ phức tạp, mới tận hưởng được tất cả những gì sâu kín ẩn khuất dưới những hàng mây ráng lung linh.



Nha Trang , mùa xuân Tân Sửu, 1961
===============================================

Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử
"sống mãi với trăng sao gấm vóc"


TRẦN XUÂN TOÀN



Không kể những tập thơ của Hàn in lúc sinh thời và những cuốn sách về đời thơ của ông do các nhà phê bình, nghiên cứu xuất bản trước đây, chỉ kể những tập sách về Hàn Mặc Tử xuất bản sau khi đánh giá lại các hiện tượng văn học nói chung, về Hàn Mặc Tử nói riêng, cũng thấy được tầm vóc cùng sự quan tâm của giới văn nghệ đến Hàn. Chúng ta đã có Tuyển tập Hàn Mặc Tử (Chế Lan Viên tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn học, 1987), Thơ Hàn Mặc Tử (Quách Tấn, Chế Lan Viên giới thiệu, Hà Giao, Quách Giao, Trần Thi Huyền Trang sưu tầm, tuyển chọn - Sở VHTT Nghĩa Bình xuất bản 1987, tái bản 1988), Hàn Mặc Tử - Hương thơm và Mật đắng (Trần Thị Huyền Trang sưu tầm, biên soạn, NXB Hội Nhà văn, 1991), Hàn Mặc Tử - anh tôi (Thiệu Nam Nguyễn Bá Tín - NXB Tin, Paris, 1990, do Đỗ Mạnh Trí giới thiệu, Phạm Đán Bình sưu tầm, chú thích), Hàn Mặc Tử - thơ và đời (Lữ Huy Nguyên sưu tầm, tuyển chọn - NXB Văn Học, 1993) và cuốn Thơ văn Hàn Mặc Tử - phê bình và tưởng niệm của GS Phan Cự Đệ biên soạn (NXB Giáo Dục, 1993) tuyển cả thơ văn của Hàn cùng rất nhiều bài viết có giá trị của gia đình, thân hữu, các nhà nghiên cứu về Hàn.

Song song với những tập sách, từ nhiều năm nay, thơ văn Hàn Mặc Tử còn được giảng dạy trong nhà trường phổ thông và đại học. Một số sinh viên và nghiên cứu sinh đã chọn Hàn Mặc Tử làm luận án nghiên cứu của mình. Điều đó cho thấy không phải đến bây giờ người ta mới thấy được chân giá trị của những vần thơ, trang văn của Hàn. Mấy mươi năm trước người ta đã nói gì về Hàn? Hàn Mặc Tử là hiện tượng độc đáo trong làng thơ Việt Nam, ắt hẳn phải có những nét đặc trưng và đặc biệt trong tư duy thơ, trong quan niệm thẩm mỹ, trong thế giới nghệ thuật và trong cá tính sáng tạo của thi sĩ.

Thơ Hàn Mặc Tử từ Lệ Thanh thi tập qua Gái quê rồi từ Gái quê qua Thơ Điên (Đau thương), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên… đã đi qua một chặng đường dài từ cổ điển qua lãng mạn rồi từ lãng mạn chuyển nhanh sang tượng trưng, siêu thực. Chỉ hơn 10 năm hoạt động trên thi đàn, Hàn đã góp phần vào hiện đại hóa thi ca Việt Nam. Chỉ riêng điều đó, Hàn đã tài lắm rồi. Trần Tái Phùng trên Người Mới số 7-12-1940 đã viết: "Nghệ thuật chàng tựa một con sông dài đi xuyên qua thế kỷ chúng ta và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau, đẹp đẽ đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người."

Điều ấy thể hiện trong quan niệm thơ của Hàn. Do quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật, nên vũ trụ thơ ca của Hàn là sự hòa hợp giữa bốn yếu tố "Trăng, Hoa, Nhạc, Hương":

Hiểu gì không ý nghĩa của trời thơ

Của hương hoa trong trăng lờn lợt bẩy

Của lời câm muôn vì sao áy náy

Hiểu gì không, em hỡi hiểu gì không?

(Trường tương tư)

Và trong tản văn Chơi giữa mùa trăng, Hàn đã viết: "Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh trăng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả tả".

Đọc những vần thơ của Hàn, ta thấy ông luôn hướng đến cõi vô cùng, vĩnh viễn, vĩnh hằng. Điều đó thật dễ hiểu với một con bệnh cô đơn giữa cuộc đời nầy. Hàn quan niệm về thơ: "Thơ là một tiếng kêu thương thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy, vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt". Còn Bùi Xuân Báo trong bài Thi ảnh khẩu cảm trong thơ Hàn Mặc Tử có lý khi lý giải: "Những gì tươi đẹp nhất trong vũ trụ, quý hóa nhất trong tâm linh, huyền bí nhất trong tôn giáo, Hàn Mặc Tử đều đồng hóa với thơ. Trăng vằng vặc, mùa xuân mát dịu và tươi sáng, lòng thương yêu của Chúa trời và Mẹ Đồng trinh đều là những biến thể của chất thơ man mác".

Như vậy, thơ là lẽ sống, là hơi thở của Hàn, nhất là lúc Hàn nhuốm bệnh và nằm viện, biết mình sắp lìa xa cõi đời nầy.

Nói Hàn vị nghệ thuật, nói thơ Hàn nhuốm màu tôn giáo, chất Đạo, có ngờ đâu cái phần chất Đời trong thơ Hàn "vừa riêng biệt tưởng không hình dung nổi lại vừa rất chung, rất thực, có thể sờ mó lên được" như Yến Lan phân tích. Chế Lan Viên cho rằng: "Bài Ave Maria viết cho Đức Mẹ trên trời, có thể viết hay như thế không, nếu không có bà mẹ ở dưới đất?". Những người thân thuộc của Hàn chính là Đức tối cao trong thơ Hàn. Hàn đã viết: "Chị Lễ ơi, chị là trăng mà em đây cũng là trăng nữa, tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi, tươi tốt, uy nghi như pho tượng Đức Bà Maria, là bực tinh truyền chí thánh" (Chơi giữa mùa trăng).

Có thế ta mới giải thích, mới yêu Hàn hơn như Phan Bội Châu đã yêu mến Hàn qua tấm lòng yêu nước qua ba bài thơ: Chùa hoang, Gái ở chùa, Thức khuya của Hàn.

Mà thôi, người ta đã nói về Hàn nhiều rồi. Hàn đã đến với Trăng, Hoa, Nhạc, Hương và với niềm tin của mình rồi.

Một chút gì còn lại ở Hàn mà hôm nay, những tấm lòng thơ ngưỡng mộ, về đây đốt nén hương tưởng nhớ đến Hàn. Ấy là ta nhớ đến con chim phượng hoàng đang sải cánh trên bầu trời thơ nước Việt của thế kỷ và nhiều thế kỷ.

Nhớ khi xưa ta là chim phượng hoàng
Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất

(Phan Thiết! Phan Thiết!)

Hàn ơi! Với vũ trụ thơ, Người vẫn là con chim Phượng Hoàng…

Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc

Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay

(Trường thọ)

===============================================

Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử, hồi ấy


Đỗ Lai Thúy. Con mắt thơ


Tôi gặp Hàn Mặc Tử trong một hoàn cảnh tình cờ. Hồi ấy trong sinh hoạt văn học cuộc bút chiến giữa nhóm Tự Lực văn đoàn và nhà văn Nguyễn Công Hoan. Lúc đó đã xuất bản tập truyện ngắn Kép Tư Bền. Cuộc bút chiến kết thúc phần thắng lợi nghiêng về Nguyễn Công Hoan. Đa số tán thành và ủng hộ tác giả Kép Tư Bền. Sau đó để đáp lòng hâm mộ của bạn đọc các địa phương miền Trung. Ông đến Quy Nhơn. Bạn đọc nô nức đến chào đón và xin chữ ký. Tất nhiên trong đó có Tử. Vì là tác giả, và từng đứng về phía bênh vực nên Tử sớm thành tri âm tri ngộ của Nguyễn Công Hoan. Không biết Tử dẫn ông đi đến những đâu, chỉ biết là sáng hôm ấy, hai người vào viếng Chùa Ông ở Bình Định. Chùa Ông lúc ấy còn có dải tường cao bao quanh cả mặt trước, ngăn cách điện tẩm, xa hẳn con đường số 1 chạy ngang. Cửa chính đóng kín, bên trong là cả một thế giới hoa cảnh mát tươi, đi vào phải thông qua cái cửa ngách. Tôi còn nhớ khi cả hai nhà văn vào sân trước, điểm trước tiên là Tử chạy đến trước cụm hoè hoa đang nở vàng chói, với tay bẻ một cành đưa cho Nguyễn Công Hoan, và họ cùng tiến lên bậc cấp của cánh cửa hông mở vào chính điện. Tôi ở nhà nghĩa tự và đang làm thơ. Ông cụ thân sinh tôi vốn là từ thừa ở đó, lên hướng dẫn hai người, sau cùng mời hai người vào xơi nước nơi nhà nghĩa tự. Tử thấy tôi cứ ngồi mặc nhiên viết, và hình như có liếc nhìn trang giấy, liền rất nhã nhặn lại ngồi bên:
- Xin quấy rầy đôi chút nhé, cậu em. À, mà cậu em đang làm thơ à?
Tôi bẽn lẽn, nhưng không mất vẻ tự hào:
- Vâng, tôi đang tập tành.
- Cậu có bài đăng báo chưa.
- Có một bài trong tập Bến My Lăng.
Bỗng nhiên Tử lộ vẻ hân hoan:
- Thế thì tôi biết: Cậu là Xuân Khai. Là Yến Lan .
Rồi Tử vỗ vai tôi, nói tiếp luôn:
- Tôi là Phong Trần, là Lệ Thanh.
- Thế là rất hân hạnh được biết. Tôi đọc anh đã lâu ở báo lời thắm xuất bản ở Lòng Sông và những bài thơ anh hướng họa cùng cụ Phan Sào Nam từ năm xửa năm xưa.
Tử quay sang giới thiệu tôi với Nguyễn Công Hoan. Thế là câu chuyện quay vào cuộc bút chiến vừa qua, vào tin tức văn học, tin tức sách báo ở Hà Nội, ở Sài Gòn. Khi từ biệt, Tử không quên dặn tôi khi nào đi Quy Nhơn thì ghé lại nhà chơi, và anh để lại mảnh giấy ghi địa chỉ.
Đó là một tạng người nhã nhặn lịch thiệp. Tôi không ngờ cái bộ ngoài của một người ăn vận sang trọng, chỉnh tề: com lê tussor . D.liguon Phú Phong, mũ Panama màu trắng lụa với cavát thắt ngang cổ áo như một ông “má chín”, lại là một nhà thơ viết ra Gái quê với cả một tấm “tình quê” buâng khuâng nồng đợm cũng bốc lên màu rạ vàng, sắc mạ xanh tươi.
Từ đó cứ mỗi bận có dịp đi Quy Nhơn thì tôi kết hợp đi thăm anh. Có khi kèm với Chế Lan Viên, có khi đi một mình, nhất là giai đoạn anh lâm bệnh. Anh thường tiếp chúng tôi ở số nhà 20 Khải Định. Tôi còn nhớ đây là một ngôi nhà xây để ở chứ không phải theo quy cách nhà có thể mở ra làm cửa hàng buôn bán. Nó dựng trên một khỏang đất chéo, nên hàng ba bước vào phònh chính không quay mặt ra đường. Có cổng và tường ngăn. Phòng khách bày biện ít đồ đạc. Cái tôi nhớ nhất là cái đồng hồ treo gõ kỳ cạch suốt năm tháng của nó, giữa cơn đau ốm, như người lễ sinh đứng đó không xướng lên lễ thức mà chỉ đếm thời gian, từng giọt, từng giọt, nhắc với Tử, bằng cách gây nên những xáo trộn tâm tư, có khi thầm thì báo hiệu cái cô đơn đang vây phủ xung quanh anh. Cái thứ hai là bộ ghế bành lùn , rộng và khoẻ bằng ruột mây đan. Mỗi lần chúng tôi đến, ở phòng trong ra, anh đến bắt tay từng người. Đó là lúc bệnh anh mới sơ phát, còn ở dạng nghi ngờ. Về sau thì anh chỉ chấp tay vào và khẻ khàng ngồi xuống chiếc ghế kê sát nách cửa vào phòng. Lòng ghế lót bằng một tấm vải cũ gấp lại.
Anh đọc thơ cho chúng tôi nghe, không giải thích, rồi anh ngâm. Nếu ai đã có lần nghe anh ngâm thơ thì mới cảm thấy hết cái cảm giác kỳ lạ lần đầu bắt gặp: nôn nao, nôn nao… và cộng với lời thơ gây nên một không khí mông lung. Chúng tôi như bị dồn vào thế giới nào có suối, có đồi, có bóng dáng những cuộc hành hương , và nhạc điệu cung văn, đồng bóng. Trông anh như cành liễu mùa đông đang bị cơn gió lạnh tuân về day trở. Giọng nói của anh thì ngọt và mát như dòng sông Nhật Lệ quê anh từ thuở ấu thơ; nó đã được tiếng khen là nuôi dài tất cả những mái tóc để tăng thêm vẻ yêu kiều của lớp người sông Lũy Thầy. Trường Dục nhưng trong giọng ngâm, anh đã biến thành những chuỗi dài đau khổ, cao thấp cheo nhau như từng tia lửa bung lên, như mảnh lụa tươi vàng bị xé vụn. Anh đã lấy xác thịt minh hoạ cho lời thơ. Có khi chúng tôi chảy nước mắt. Còn anh, anh đã thành một người say. Các lần ngâm thơ của anh đều diễn ra như thế vì những bài thơ ấy đều là những bài xót xa nhất. Đặc biệt là hôm anh ngân bài Thánh nữ đồng trinh Maria. Xáo trộn trong đau thương, còn có nỗi triều mến hân hoan kỳ lạ. Chúng tôi có cảm giác như anh bay lên đôi cánh sải rộng ra, khi vút lẫn vào mây, khi là sông bể. Có lúc tưởng như anh đang ngồi trên lưng con tuấn mã phi nhanh trở về sau một chiến công, thỉnh thoảng dừng lại ngước nhìn suối thẳm, khe sâu vừa mới vượt qua.
Số là, theo anh kể lại, bận ấy người bạn thân thiết nhất là Quách Tấn ở Nha Trang ra giới thiệu với gia đình, ông cậu của Tấn vốn là một võ sư lừng danh tên là Đoàn Phong. Ông này có mô thuốc gia truyền chữa lành nhiều người mắc bệnh phong hủi, và Tử đã được tiếp cận, được cho đơn. Thang đầu hiệu quả chưa rõ rệt đến thang thứ hai thì có biến chuyển bất ngờ. Tử ăn, ngủ thấy ngon, tâm tư thư thái, hết ngứa ngấy, tê buốt. Anh vui mừng quá, gọi mẹ, gọi chị, em, nói cười rối rít và anh bảo rằng: đó là do có Đức Mẹ Đồng Trinh, đã xui khiến anh được như vậy. Bận ấy anh tưởng anh được thoát nạn:

“Lạy Bà là đấng trinh tuyền thánh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơ lâm lụy vừa trãi qua dưới thế…”

Tôi không sắp xếp theo một cách có hệ thống theo khoa học những trật tự thời gian và địa điểm các cuộc lui tới thăm viếng giữa chúng tôi với Tử. Đó những cái dễ quên thường tình qua quảng cách quá dài của năm tháng, nhưng cái không thể quên không có cái gì khác làm cho quên được là cuộc thăm viếng sau cùng với Tử. Đó là cuộc vĩnh biệt ngàn thu, mặc dù anh còn sống một thời gian nữa.
Một ngày se se lạnh vào cuối tiết tháng chạp, tôi và Chế Lan Viên đến số nhà 20 Khải Định như thường lệ, bà cụ thân sinh anh ra đón ở bậc cấp hàng ba ngôi nhà. Cụ vừa mếu máo vừa bảo: Tử đã được dấu ở một nơi khác. Chính quyền thành phố ra lệnh bắt đưa Tử vào Qui Hòa. Xin lưu lại vài ba ngày cũng không được. bà cụ đã gọi một em bé, theo yêu cầu của chúng tôi, dẫn đường đến đó. Hồi ấy Quy Nhơn chưa mở rộng như bây giờ. Lớp người thuộc thành phần lao động, buôn thúng bán bưng và số ít công chức nghèo, nối tiếp nhau chen chúc vào trong khu dộng cát phía tây thành phố dựng lên nhà cửa sơ sài, tạo thành xóm dân cư đông đúc. Nhiều nhà không có nền, người đi lội trong cát. Những mái nhà xoan, tre xiêu vẹo được phủ lên những tấm mái bằng tranh rạ, thỉnh thoảng mới có nhà lợp tôn hoặc ngói vẩy. Lối đi vào theo thế đứng không trật tự của lều chải, thành ra chỗ phềnh, chỗ eo và quanh co hun hút. Tử ở trong nhà một lều tranh thuộc vào lọi tồi tệ nhứt, nhì ở đây. Tiếp chúng tôi anh ngồi ở bên trái cái bàn, nơi có lối thông ra phía sau, một ngăn ô nho nhỏ kê chiếc giường chõng. Bàn là một tấm ghép hai lá gỗ thùng đặt lên một chân bàn cũ, chân kía là khúc củi còn nguyên nhánh nhóc róc rơ. Hai chân kia dựa vào hai cây trẩy chống thẳng lên mái làm cột. Đây là nhà của một bác phu xe kéo tay (hay làm lao công bốc vác gì ở đó) hôm ấy chủ nhà đi vắng. Một nỗi quạnh hiu đè nặng lên lòng. Tử có vẻ mệt nhọc, tư lự, nói ít và mỗi câu nói có vẻ trăn trở của sự cố gắng bình thản. Chúng tôi biết là anh tránh cho chúng tôi những lo phiền cho sức khoẻ. Nhìn anh lại cứ nhớ mãi đến câu tho trong bài Lưu luyến:

“ Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười
Em cười anh cũng cười theo nữa
Để nhắn hồn em đã tới nơi…”

Những phút in lặng nhìn nhiều hơn trò chuyện. Cho đến giờ tan tầm, khu lao động trở nên ồn ào. Em Hành đã về nhà và xách cái cà mèn từ lúc nào chúng tôi không hay, vì lúc ấy tôi và Chế Lan Viên ngồi trên khúc tre cán ngang hai chân cột làm ngạch cửa, day lưng ra phía ngoài. Và Tử ra dầu có ý bảo là đã trưa và trời nắng gắt. Hai chúng tôi đứng dậy. Mỗi người đến cầm một bàn tay anh, không dám xiết chặt vì sợ anh đau thêm cả phần thể xác. Sau này lục ra trong đống di cảo, có bài thơ Những giọt lệ, không rõ anh viết trong cảm xúc nào, nhưng tất cả những điều anh viết trong ấy chẳng khác gì tình huống trong cuộc chia tay lần ấy với chúng tôi.
Giờ đây, tại nơi anh đã vặn thắt tâm hồn ra máu để viết nên những bài thơ rung động đến tận cùng sâu thẳm lòng người, tôi tưởng niệm anh, tưởng niệm một Hồn thơ. Sở dĩ tôi nhấn mạnh một chữ”hồn” vì thơ của Hàn Mặc Tử có cái thế mạnh nhất để tồn tại là cái hồn của anh.

Đỗ Lai Thúy. Con mắt thơ
H., 1997. VN/Đ: 37.190-91

============================
Đăng nhập để trả lời
0

Gặp "chú tiểu đồng" của Hàn Mặc Tử


Nguyễn Hoàn


Nhà thơ nào không nặng nỗi ám ảnh về lẽ sinh tử ở đời. Với Hàn Mặc Tử, nhà thơ tài danh bạc mệnh của văn học Việt Nam hiện đại, nỗi ám ảnh ấy đã thành một định mệnh khắc khoải:

Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm

Nhưng trong họa có phúc. Phúc cho Hàn Mặc Tử, cũng là phúc cho cả nền thơ văn Việt Nam hiện đại. Trong suốt bốn năm cuối đời, từ năm 1937 đến năm 1940, nhà thơ chống chọi tuyệt vọng với căn bệnh nan y, cho dẫu có nhiều bạn bè và tình “trong mộng” cũng không ai rửa nỗi “vết thương tâm” cho nhà thơ, nếu như không có một người thương được gọi là “chú tiểu đồng” của Hàn Mặc Tử! đó không ai khác hơn là Phạm Hành, người em con chú ruột của Hàn Mặc Tử.
Trong chuỗi ngày bệnh tật đau thương dữ dội của nhà thơ, ông Phạm Hành từng theo sát gót để lo chăm sóc, bới xách, cơm nước tận tình, chu đáo (Hàn Mặc Tử mang họ Nguyễn mà ông Hành mang họ Phạm, là do trong gia tộc từng có sự cải tên họ từ “Phạm” sang “Nguyễn”). Ông Phạm Hành sinh năm 1924, tại làng Thanh Tân, xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, năm nay đã 72 tuổi. Do một cơ duyên may rủi của số phận, ông trôi dạt đến vùng đất phía Nam cầu Mỹ Chánh, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị và hiện vẫn còn sống tại đây. Nằm khuất nẻo sau con đường nhỏ ngoằn ngoèo là một căn nhà nhỏ, mái tranh vách đất tuềnh toàng, vườn nhà trồng dăm bảy hàng chè, luống sắn lèo tèo, nghèo nàn. Gia sản, mà cũng chính là gia bảo trong nhà đáng giá chăng là kho ký ức giàu về Hàn Mặc Tử của ông Hành.
Lúc Hàn Mặc Tử ôm mộng làm báo không thành do trong mình đã nhóm bệnh phải giã từ Sài Gòn để trở về Quy Nhơn, cũng chính là lúc người cha của ông Hành do cám cảnh trước bệnh tình Hàn Mặc Tử đã bảo ông bỏ học để lo chăm sóc cho người anh bất hạnh. Chú bé Phạm Hành 12 tuổi đã vui vẻ nhận lời giúp đỡ anh Trí (tên thật của Hàn Mặc Tử). Ngày ngày chú lo thay áo quần cho anh Trí để đem gửi thợ giặt, lo cơm nước, đặc biệt là lo dán tem, dán thư cho nhà thơ rồi trực tiếp gửi vào các thùng thư đặt dọc phố Quy Nhơn. Hầu như ngày nào chú cũng gửi thơ, một ngày gửi 3,4 lá.
Để dừng lắng lâu hơn ký ức của ông Hành, tôi bèn kéo dòng hồi tưởng của ông chầm chậm lại : “Hồi ở Quy Nhơn, ông thấy bệnh tình nhà thơ thế nào? Và nhà thơ bị bệnh thì viết thơ bằng cách nào?”. Gương mặt gầy gò nhưng quắc thước của ông đượm vẻ bùi ngùi: “Hồi đó, anh Trí chỉ mới bị mấy cái nụ hơi đỏ đỏ nổi trên mặt, gọi là “đơn”, chứ chưa phải phung. Khi bệnh còn nhẹ , mỗi sáng, anh thường hay tập thể dục bằng những sợi dây cao su bọc vải, có hai vật cầm tay, ở hai đầu dây, dang tay kéo vào, kéo ra. Khi mạnh, anh kéo 6 dây một lúc, khi yếu chỉ kéo được 2- 3 dây. Suốt ngày, anh viết thơ luôn tay và ngâm thơ say sưa một mình. Anh có thói quen nằm ngửa, kê giấy vào tay mà viết chứ không nằm sấp. Chữ anh viết kéo dài ra thành dây, người khác coi khó đọc. Anh “kéo dây” như thế để viết cho mau”. Bất giác, lời kể ông Hành xui tôi nhớ Hàn Mặc Tử từng có câu thơ tự hoạ về lối viết nằm ngửa mặt- một lối viết định mệnh : “Của bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng”
Cách biệt nhà thơ đằng đẵng mấy chục năm rồi, ông Hành vẫn nhớ như in,như tạc vóc dáng nhà thơ không nhỏ, không to, đầu tóc xờm xờm như mũ bê rê, ngày ngày cứ ngồi trên ghế mây, ngó ra đường Khải Định trước nhà, xem phong cảnh. Tính hiền như con gái, ít nói. Nhưng mỗi lúc có bạn thơ họp mặt, xướng hoạ với nhau, Hàn Mặc Tử tranh cải sôi nổi hơn ai hết. Nhiều lúc bệnh tình cũng đã khiến nhà thơ ngại ngần, né tránh chuyện giao du. Ông Hành nhớ có lần một cô gái Hà Nội đi xe kéo đảo lui, đảo tới hai, ba vòng trước nhà Hàn Mặc Tử để xin gặp, nhưng Hàn Mặc Tử lánh trong phòng, từ chối. Nể cô này năn nỉ mãi, Hàn Mặc Tử mới thuận cho gặp, nhưng với điều kiện cô phải lấy khăn bịt mắt lại. May có bà mẹ Hàn Mặc Tử biết được chuyện thông cảm với nghịch cảnh của hai người đã cho phép cô gái được cởi khăn bịt mắt ra.
… Thế rồi căn nhà Quy Nhơn với con đường Khải Định thân quen cũng không đủ sức lưu giữ nỗi thân phận lênh đênh của nhà thơ. Vì nhiều lý do. Gia đình đã đem gửi nhà thơ vào một cái động nằm kề một đồn Tây, trên đường ra Gềnh Ráng. Động, gọi theo tiếng địa phương, không phải là hang động mà là một bãi cát lồi lõm ven biển. Động này chỉ toàn dân “kẻ biển” ở. Hai anh em kết nghĩa tử sinh đã “nương náu” qua ngày trong cái nhà tranh lụp xụp thuê được với giá 5 – 7 xu/tháng. Số phận những chủ nhân ngôi nhà cho thuê cũng đen bạc chẳng kém: họ là hai chị em gái không chồng, một chị có được mụn con trai tự “kiếm” lấy!
Về chuyện ăn uống, ông kể: “Anh Trí thường ăn loại cá liệt, vì loại cá này không độc. Cá liệt hồi đó con to bằng bàn tay chứ không nhỏ như cá liệt thời chừ. Lâu lâu anh mới được ăn thịt, vì bà già anh Trí cho rằng bệnh phung rất kị hơi thịt mỡ”.
Ở trong động chừng 5 tháng, hai anh em dắt díu nhau về nhà thương Quy Hoà, nơi tột cùng đau khổ nhân gian. Lúc về Quy Hoà, Hàn mặc Tử viết lách khó khăn hơn vì cứng tay, trên mặt nổi nhiều mụn đỏ sắp nứt. Ban đầu, Hàn Mặc Tử được nhà thương xếp cho “nằm tập thể”, sau đó do bị liệt mới được xếp nằm riêng một mình, một phòng. Nằm riêng được mấy ngày thì Hàn Mặc Tử trút hơi thở cuối cùng. Lúc nhà thương khâm liệm cho Hàn Mặc Tử xong xuôi, ông Hành đạp xe từ Quy Nhơn lên Quy Hòa mới biết, trong tay ông lúc đó còn cầm gói đồ ăn mang cho anh Trí! “Tôi như còn vẳng nghe câu nói anh Trí dặn tôi lúc vào Quy Hoà- Giọng ông Hành nghẹn lại- Anh dặn đi, dặn lại: Em đừng có nhổ nước miếng giữa nhà nghe chưa. Nếu em nhổ, anh sẽ bị phạt ăn cơm nhạt và nhổ cỏ đớ”.
Nhắc chuyện người thiên cổ , ký ức trĩu nặng làm cho ông Hành vốn đã già càng già đi. Tôi hiểu, thời gian giành cho “pho” ký ức sống về Hàn Mặc Tử hiếm hoi còn lại này đã tính từng ngày. May có bà Thông, vợ ông còn khoẻ đôi phần, bà lại học được nghề bốc thuốc bắc để lo thuốc thang cho người bệnh và lo cơm cháo cho gia đình. Thì ra, chuyện thuốc thang, thăm hỏi bệnh tình đã gắn bó với gia đình ông Hành như là một “nghiệp dĩ”. Thảo nào, ngay từ hồi trẻ, ông đã từng chấp vi khuẩn Hansen, trên đường đến với Hàn Mặc Tử, trên đường về cõi thơ.

Nguồn: Kiến thức Ngày nay
1996. số 230. Ngày 10 tháng 12
===============================
Đăng nhập để trả lời
0

Sức sống Hàn Mặc Tử


Nguyễn Thị Ngọ



Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm
.

Mấy câu thơ này không ứng vào đời Hàn Mặc Tử, bởi lẽ, sau khi qua đời, Hàn Mặc Tử đã trở thành đối tượng của thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật, tư liệu văn học kỳ này, xin giới thiệu cùng các bạn những điều có thể bạn chưa biết có liên quan đến Hàn Mặc Tử.

HÀN MẶC TỬ VÀ LÊ THƯƠNG

Với những ca khúc như Hòn Vọng Phu, Học sinh hành khúc, Thằng Cuội… nhạc sĩ Lê Thương đã trở nên bất tử trong âm nhạc Việt Nam hiện đại. Nhưng ít ai ngờ rằng, chính nhạc sĩ Lê Thương đã từng phổ thơ Hàn Mặc Tử . Đó là bài Kinh tụng sinh nhật (phổ từ bài thơ Ave Maria). Nhạc sĩ đã viết lời nói đầu như sau: “Cách đây chín năm, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã chết vì bệnh cùi trong một chòi lá quạnh quẽ tại Quy Hoà (Quy Nhơn). Bài Kính mừng bà Ave Maria) của thi sĩ là một lời than vãn tha thiết, gửi của báo Thế giới, xuất bản tại miền Nam năm 1949. Chúng tôi công bố ca khúc này để các bạn có thêm tư liệu về Hàn Mặc Tử.

HÀN MẶC TỬ TRONG NHẠC NHÀ THỜ

Ngay sau khi Hàn Mặc Tử qua đời, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nhận định: “Sự tín ngưỡng đã giúp sức cho hàn Mặc Tử rất nhiều. Có lẽ ông là người Việt Nam ca ngợi thánh nữ đồng trinh Maria và chúa jésus bằng thơ trước nhất. Ông ca tụng đạo Gia-tô một giọng rất chân thành, chẳng khác nào một thi sĩ Âu Tây. Lần này cũng là lần đầu thi ca Việt Nam thấy được một nguồn cảm hứng mới”. Nhận định này rất chính xác. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những nhạc sĩ trong Ca đoàn đã phổ thơ Hàn Mặc Tử. Tư liệu của chúng tôi đã có được hợp ca Ra đời của nhạc sĩ Hải Linh sáng tác năm 1972. Tập hợp ca này dày 16 trang, khổ 21x27cm, và đã được thu băng một giờ hợp ca số 1

HÀN MẶC TỬ TRONG TÂN NHẠC

“Đường lên dốc đá, nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa. Lầu Ông Hoàng đó thở nao chân Hàn mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng, tiếng chim kêu đau thương như nức nở dưới trời sương…” đó là lời trong ca khúc Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Tác giả sáng tác vào năm 1967 tại miền Nam, kể lại cuộc đời bất hạnh của thi sĩ tài hoa bạc mệnh. Đã có một thời ca khúc này trở nên quen thuộc trong lòng khán giả ái mộ Hàn Mặc Tử.

HÀN MẶC TỬ TRONG KỊCH

Một người bệnh Ở Quy Hoà từ năm 1959 đã viết vở kịch Hàn Mặc Tử người đó là Đinh Xuân Hoà, tác giả đã bố trí khá chính xác căn phòng mà Hàn Mặc Tử đã dưỡng bệnh, ví dụ ở màn tư: Căn phòng nhỏ, vách bằng đất, quét vôi vàng, vừa đủ cho hai người nằm nhưng sạch sẽ như phòng bệnh ở các nhà thương khác, cửa sổ ở cuối phòng ngay chính giữa, nhìn ra một khu vườn có trồng cây, cửa ra vào ở hai bên. Một giường sắt không nệm. trải chiếu kê ở bên phải. Trên giường có mền, gối. Ở đầu giường có một tủ nhỏ, thấp, trên mặt tủ để chai nước, mấy ve thuốc, hộp bông gòn v.v…” Xin trích lớp X là đoạn cuối cùng để các bạn thưởng thức.
Lớp X
(Xê lùi lại để cho Mai Đình nhận ra Hàn Mặc Tử đang thơ hổn hển)
Mai Đình: (gọi thất thanh)… Anh! (chiếc va ly từ tay Mai Đình rơi xuống đất khiến quần áo và đồ nữ trang đổ tung toé. Mai Đình chạy lại lắc tay Hàn Mặc Tử, gọi) Anh!…Anh !… Em đây… Mai Đình đây… Tỉnh lại, Anh!
Hàn Mặc Tử: (mở mắt, giọng phều phào)- Mai Đình đấy à! Giờ phút này em còn nhớ đến anh ư!
Mai Đình:- Em vẫn nhớ đến anh và sẽ nhớ đến anh mãi mãi… Em đã thu xếp để lên đây ở với anh . Chúng ta sẽ không bao giờ xa nhau nữa.
Hàn Mặc Tử: (Kiệt lực, giọng nói nhỏ dần)- Ồ! thế thì sung sướng cho anh quá ( thở hắt ra).
Mai Đình: (lo sợ) – Anh đừng bỏ em một mình tội nghiệp em!
(Hàn Mặc Tử ngả đầu, tắt thở).
Qui: (hốt hoảng) – Anh Trí chết rồi, anh Xê ơi!
Xê: (đau khổ) – Anh Trí! Anh Trí!
Mai Đình: ( gọi thất thanh) – Anh!… Anh!…(nước mắt giàn giụa, gục đầu vào Hàn Mặc Tử nức nở khóc)
(Màn từ từ hạ)

HÀN MẶC TỬ TRONG CẢI LƯƠNG

Soạn giả Viễn Châu và Thể Hà Vân đã soạn tuồng cải lương Chuyện tình hàn Mặc Tử. Tuồng này đã được thu audio và diễn nhiều lần trên sân khấu, truyền hình lẫn thu thanh. Ở tuồng này các tác giả đã khai thác hơi quá về cuộc tình của Hàn Mặc Tử. Xin mời các bạn đọc đoạn sơ lược của tác giả:
Sơ lược:
Ba năm về trước, Hàn Mặc Tử chưa nổi danh, còn mang tên Nguyễn Trọng Trí, làm thư ký tại Ty Công chánh Quy Nhơn, yêu Thu Cúc, con gái của ông chủ sự Phòng. Nhưng ông bà Tham (cha Thu Cúc) thấy Tử không có tương lai bèn từ chối lễ trầu cau khi Tử đem đến xin dạm hỏi và còn hẹn sau ba năm, khi Tử có sự nghiệp ông sẽ gả. Tử bị chạm tự ái, bỏ sở vào Sài Gòn làm báo và nổi danh với tên Hàn Mặc Tử.
Ba năm sau!!!

CHUYỆN TÌNH HÀN MẶC TỬ

Hàn Mặc Tử về Quy Nhơn để nhắc lại lời hẹn xưa thì Thu Cúc sắp có chồng, cùng hôm ấy Tử gặp Mộng Cầm tại nhà ông Tham. Mối tình chớm nở từ đó. Trong lúc Tử với Mộng Cầm sống tại Quy Nhơn, đêm nào cũng dìu nhau ra bãi biển làm thơ trao đổi tâm tình, thì tại nhà ông Phú (cậu của Tử) phải an ủi Mai Đình, cô gái láng riềng đã thầm thương trộm nhớ Tử hồi thơ ấu. Cũng tại đây thêm một người tình thứ ba nữa chen vào, người đó đau đớn thay lại là dì ruột của Mộng Cầm với cái tên Hồng Sương.
Tử ở giữa ngã ba đường tình cảm. Không thể giải quyết nổi sự tranh giành một trái tim, Tử đã âm thầm lấy vé xe lửa vào Sài Gòn ngay đêm đó. Để lại sự ngỡ ngàng cho những người tình ở lại.
Thế rồi định mệnh khắc khe, Tử mang chứng bệnh phong cùi, vào giờ phút cuối của cuộc đời đi vào tàn phế. Tử đã gặp đông đủ những khuôn mặt tình yêu. Nhưng người chấp nhận được sự đau đớn của Tử lại là Mai Đình, Người con gái đã bị thiệt thòi hồi Tử còn lành mạnh.
Tưởng đó cũng là sự đền bù xứng đáng vậy.
Thế nhưng phải thừa nhận rằng, trong tuồng này có nhiều câu vọng cổ rất hay. Xin mời các bạn tưởng thưởng sáu câu mùi mẫn:
M. Tử: Mộng Cầm ơi, nếu sợ tiếng từ ly thì hãy về đi cho anh gói tròn thân phận, trọn cuộc đời anh đã mang nhiều cay đắng, nên cũng chẳng muốn chở tình ai cho nặng gánh…
VỌNG CỔ
1… Phiêu bồng, Mộng Cầm ơi có phải đêm nay mười sáu trăng tròn- ai sẽ thay anh làm thơ ca tụng, nhắc nhở tình mình qua mấy mùa trăng, trăng không còn là trăng của tình duyên, mà treo chơi vơi trên bờ liễu rũ. Thắm lạnh vào hồn sương đêm nhỏ giọt trên mái tóc xanh cô gái tuổi xuân thì.
M.Cầm: (dặm) - Suối tóc tương tư theo đường trăng vàng úa, thành bờ cát dài đưa lối đến tình yêu. Đâu cả rồi những kỷ niệm đầu tiên, hãy cho em nghe lại một vần thu sầu muộn.
M.Tử: 4 … Lần sau chót anh đưa em ngược về dĩ vãng, để đừng đón tương lai vì chẳng đến bao giờ-(dặm luôn) – Thôi thì những bài thơ đã làm tặng riêng em đó, xin hãy coi như di vật cuối cùng anh để lại cho em.
M.Cầm: 3… Hàn Mặc Tử. Anh hết thương em rồi sao. Ai cấm được tình yêu qua vần thơ còn căng nhựa sống? Em còn đây, anh còn đó, trăng chưa sầu, liễu chưa rũ, tóc còn mềm như mạch suối yêu đương. Như thuở nào ngồi đợi trăng lên, trên bãi vắng anh ru em vào giấc mộng. Mộng chưa tàn mà sao anh bỏ trốn, để em một mình ngơ ngác nẻo trần gian, kéo gọi tên anh cho mờ đôi mắt lệ, trăng vẫn còn soi, em lại ngỡ trăng tàn…

“ĂN THEO” HÀN MẶC TỬ

Rõ ràng, tên tuổi Hàn Mặc Tử đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tạo nghệ thuật. Ngay sau khi Hàn Mặc Tử qua đời và đến nay đã có khá nhiều sách viết về cuộc đời bất hạnh nhưng tài hoa của ông hầu hết các bạn đều biết nên chúng tôi không đề cập đến nữa. Nhưng cũng xin cung cấp cho các bạn một tư liệu khá tiêu biểu cho chuyện “ăn theo” tên tuổi của ông. Đó là “Qũy bảo trợ mang tên Hàn Mặc Tử”. Gia đình Hàn Mặc Tử hay bạn bè Hàn Mặc Tử đứng ra tổ chức? Không ! Đây là một nhóm người nào đó đã tùy tiện mượn tên tuổi của ông, nhưng chưa được phép của bất cứ cơ quan Nhà nước nào .
Chúng tôi xin nêu lên để các bạn thấy được sức sống của tên tuổi Hàn Mặc Tử. May thay! Qũy bảo trợ trái phép này đã… đóng cửa rồi! Thiết nghĩ, nêu lên sự việc này cũng không thừa nhằm tránh những sự lợi dụng về sau đối với Hàn Mặc Tử và cũng nhân đây xin cung cấp các bạn mẫu quảng cáo về tập thơ Hàn Mặc Tử được in sau khi ông qua đời.


Nguồn:
Văn hoá Văn nghệ Công an
1996 . Số 12
===============================================
Đăng nhập để trả lời
0

Người viết tiếp Quần Tiên Hội của Hàn Mặc Tử


Tô Kiều Ngân


Như nhiều người đã biết, Hàn Mặc Tử qua đời để lại một tác phẩm dang dở, đó là kịch thơ Quần Tiên Hội mà ông mới viết được 41 câu. Cùng với 41 câu đó là một bản đề cương vở kịch mà nhà phê bình Trần Thanh Mai đã công bố trong cuốn sách của ông viết về cuộc đời và sự nghiệp của Hàn (1941). Theo đó thì Quần Tiên Hội chỉ mới xong hồi I, hồi II. Ba hồi nữa, năm mươi năm sau mới được thành hình mà lại do một tác giả khác. Tác giả đó là nhà thơ Đơn Phương, tên thật là Trần Hồng Phương, sinh năm 1945 tại Hóc Môn (Nam Bộ). Điều đặc biệt là Đơn Phương cũng mắc bệnh phong cùi như Hàn Mặc Tử, phải vào nằm hẳn trong trại cùi Bến Sắn từ năm 1960. Ở đây gặp ông Nguyễn Văn Xê là người bạn của Hàn Mặc Tử hồi hai người còn ở chung với nhau tại trại hủi Quy Hòa. Ở trại cùi BẾN SẮN, Đơn Phương kết thân với một số người đồng bệnh cũng ham thích thơ văn như ông và họ đã coi việc sábg tác thơ văn là nguồn an ủi nhiệm mầu đối với những người không may bị vi trùng Hansen tàn phá cơ thể. Đơn Phương có thơ đăng trên các báo tại Sài Gòn từ năm 1967; năm 1971, ông cho ra đời tập thơ Thương Quê, được nhà văn Sơn Nam và nhà thơ Kiên Giang ân cần giới thiệu.
Đã là thi nhân, lại mắc bệnh phong cùi thì việc say mê thơ Hàn Mặc Tử là điều dễ hiểu, nên từ năm 1972, Đơn Phương nẩy ra ý định viết tiếp vở kịch thơ mà Hàn Mặc Tử bỏ dở dang. Trong một chiếc chòi nhỏ lợp lá, trông ra bờ sông Thủ Thiêm, thuộc phạm vi trại an dưỡng Thanh Bình của những người bị bệnh cùi ở khu An Khánh, bàn tay cụt ngón của ông đã miệt mài làm việc. Trên cơ sở 41 câu thơ di cảo của Hàn Mặc Tử và bản đề cương còn lại, ông đã khai triển thành 195 câu, rồi 526 câu. Trải qua các bước sơ thảo, phát triển, cuối cùng Đơn Phương đã hoàn thành kịch bản vào năm 1988 với 700 câu, được phân thành 5 hồi, với 10 nhân vật là: Thi sĩ, Thương Thương, Hoa Khôi, Nguyệt Tiên, Thiềm Tiên, Lan Tiên, Tiên Tiên, Hồng Tiên, Đào Tiên, Cúc Tiên cùng một số lời chim tiếng vượn như: Chim Bạch Hạc, Anh Võ, Hoạ Mi, Vượn I, Vượn II và tiếng hợp xướng, đơn xướng của vạn loài, tinh tú, rừng tùng, không gian, tiếng tiêu, tiếng suối, lời trăng, lời sao, lời gió… Bản thảo của Đơn Phương được tác giả trao cho học giả Võ Long Tê là người chuyên nghiên cứu về Hàn Mặc Tử. Được ông Võ khuyến khích và giúp đỡ ý kiến về kịch thuật. Đơn Phương đã hoàn chỉnh tác phẩm và năm 1991 kịch thơ Quần Tiên Hội được nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh in ra.
Theo tôi, tuy là đồng bệnh và đồng nghiệp với Hàn Mặc Tử, Đơn Phương hẳn phải tạo cho mình một bản sắc thi ca riêng biệt; điều đó có thể nào ta sẽ tìm hiểu trong một dịp khác. Ở đây, vì là tiếp nối công trình của Hàn Mặc Tử, nên lời thơ và phong cách của Đơn Phương đã rất ăn ý, nhịp nhàng với không khí “Quần Tiên Hội” của người xướng xuất, điều đó tưởng cũng là một điểm son, không có tài dễ gì thể hiện:

“Được tin tiên nữ về trần
Đám Tiên Trai ấy khóc gần trắng đêm
Lệ rơi, chảy ướt cung thiềm
Rủ nhau bỏ động đi tìm tình yêu
…Tình yêu là trái gì ngon?
Mà sao tiên cả, tiên non cũng tìm
Không gian vắng lặng đường chim
Cung thương, dạ khúc biết tìm đâu ra!
… Mi ơi! Mi ơi! Mi ơi! Mi!
Gẫm mãi không ra sự diệu kỳ!
Coi sót gì không trong gió thẳm?
Xem thơ còn rớt dấu chân đi?”

Tập kịch thơ, có thể nói là công trình tim óccủa một nhà thơ tật nguyền, ra đời đã 5 năm, tiếc thay đã chìm mất, không gây một tiếng vang nào giữa cái chợ thơ hỗn độn, xô bồ hiện nay. Nó cũng giống nhiều tập thơ khác, in ra là để tặng bạn bè, may mắn lắm thì được một dòng giới thiệu trên một tờ báo nào đó, thậm chí thơ có in ra mà không ai biết đến! thơ đăng báo và thơ xuất bản thành tập càng lúc càng trở nên quá tải do đó, gây được một tiếng vang cũng không phải là một chuyện dễ. Đối với Quần Tiên Hội của Đơn Phương, chúng tôi nghĩ rằng: hãy khoan nói đến chuyện thơ hay hay dở, chỉ nghĩ đến một hình ảnh một người mắc bệnh nan y, ngồi trong cái chòi nhỏ trông ra bờ sông cô quạnh, cố gắng kẹp cây bút bằng những ngón tay cùi cụt để chép đi, chép lại những vần thơ, điều đó cũng để cho chúng ta thương cảm và trân trọng. Giá như được phép có một lời khuyên, xin khuyên Đơn Phương: Trên đầu sách, cứ mạnh dạn đề một tên Đơn Phương mà thôi, bên dưới chú thêm là viết tiếp kịch Quần Tiên Hội theo đề cương của Hàn Mặc Tử là được. Khỏi cần đề hai tên Hàn Mặc Tử - Đơn Phương như đã làm, sợ có người hiểu nhầm chăng?


Nguồn: Thanh niên Bán nguyệt san
1997, Ngày 15 tháng 7. số 81
==================================================
Đăng nhập để trả lời
0

Đôi nét về hai tượng chân dung của Hàn Mặc Tử


Phạm Xuân Tuyển


Đầu năm 1973, ông Phạm Minh Công – Giám đốc trường Nguyễn Bá Tòng – Gia Định (nay là trường Hoàng Hoa Thám - quận Bình Thạnh - TP Hồ Chí Minh) đã cho đắp đặt trong công viên của nhà trường một tượng bán thân chân dung nhà thơ Hàn Mặc Tử (HMT). Trải qua gần một phần tư thế kỷ, nay tượng HMT vẫn còn được lưu giữ, đặt trang trọng ở một công viên ở quận Bình Thạnh –TP. HCM.
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của chủ nhân tượng HMT, kẻ viết bài này “sung sướng” đọc được những dòng từ thủ bút. Cảm nghĩ của người đắp tượng thi sĩ Hàn Mặc Tử… Tượng HMT có di ảnh. Ông mất đi giữa tuổi thanh xuân, dù căn bệnh nan y cũng không làm mất đi những nét tinh anh như mắt sáng, trán rộng, hình dung tìêm ẩn một bộ óc nghệ thuật siêu việt… Dù có hai ba di ảnh để trước mặt nhưng tôi hằng nương theo tư tưởng tâm phục tài nghệ của ông và tôi quyết định “Đắp bộ” phải nhanh nhạy mà thật hơn hết… Thi sĩ, xin phù hộ cho những người hằng ngưỡng mộ ông…(ký tên) Thi, Họa sĩ Vĩ Nhuế Lê Đằng Giao”.

Ngày chủ nhật 17-8-1997, tôi vô cùng cảm động khi được tiếp kiến cả người thiết kế lẫn người thực hiện công viên và tượng HMT năm 1973. Trong hơn một giờ tìm hiểu, tôi được biết vị giám đốc trường Nguyễn Bá Tòng năm xưa cũng chính là chủ nhân công viên có tượng HMT hiện nay và cũng là người thường giúp đỡ những người đồng bệnh với HMT ở các trại phong gần xa trong nước. Và tôi cũng được biết thêm “tiểu sử nghề nghiệp” của người đắp tượng HMT: Cụ sinh năm 1920 tại Vĩ Nhuế- phủ Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định; tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định năm 1958 và tốt nghiệp cử nhân văn chương Đại học Sài Gòn 1973; làm giáo sư, giảng viên môn phỏng họa, trang trí, lý luận mỹ thuật từ năm 1962 đến năm 1978 của các trường quốc gia cao đẳng mỹ thuật, trang trí mỹ thuật Gia Định, 2 trường Nguyễn Bá Tòng I và II. Taberd, Pétrus Ký, Nguyễn Tường Tộ… và từng tham gia triển lãm chung các năm 1965 – 1966…
Ở Bình Định – Quê hương của Hàn Mặc Tử, những tháng cuối năm 1994, Hội Văn học nghệ thuật và ban giám dốc khu điều trị Phong Quy Hòa đã mời họa sĩ điêu khắc gia Âu Như Thụy của Hội nghệ sĩ tạo hình TP. Hồ Chí Minh làm tượng Nhà thơ Hàn Mặc Tử để đặt tại phòng lưu niệm (tức nơi phòng thi sĩ trút hơi thở cuối cùng) ở Quy Hoà nhân 54 năm ngày mất của ông.

Sau lễ khánh thành tượng Hàn Mặc Tử tại Quy Hoà 3 ngày. Họ sĩ Âu Như Thụy đã tử nại tại đèo cả ngày 14 tháng 11 năm 1994, hưởng dương 57 tuổi. Được biết nhà làm tượng xấu số cũng đã tốt nghiệp tại trường Mỹ thuật Gia Định và lúc mất là hội viên Hội nghệ sĩ tạo hình TP.HCM, tuy gia đình đang cư trú ở Đà Lạt.
Tôi tưởng ở đây cũng tiện ghi lại những câu trả lời rất đáng ghi nhớ của Âu Như thụy, khi được ông Trần Xuân Toàn, giảng viên khoa Ngữ văn trường Đai học sư phạm Quy Nhơn phỏng vấn: “Anh dựa vào đâu để tạc tượng Hàn?” – “ vào tấm hình duy nhất 4x6 mà bệnh viện cung cấp và những bức vẽ về Hàn, vào phác thảo của Tạ Ty, nhưng cái chính vẫn là cái hồn nghệ sĩ của tôi đã cộng cảm với hồn thơ đau thương của Hàn, tay cầm quyển vở và cây viết, đang ngồi đăm chiêu, sáng tạo một tượng cao 1,5 – 1,8m. Tôi mê Hàn từ nhỏ, đây là dịp tôi thể hiện tình yêu đó với Hàn, với cả bệnh viện ngày nào Hàn chữa bệnh và với Quy Nhơn này!” (Theo báo tuổi trẻ thứ ba ngày 15 tháng 11 năm 1994).

Xin kính thắp nén hương 57 năm ngày mất của Hàn Mặc Tử. Và một nén hương cho người đắp tượng Hàn thi sĩ là hoạ sĩ quá cố họ Âu nhân lễ đoạn tang 3 năm cùng lời chúc sống thượng thọ bát tuần cho cụ Vỹ Nhuế.

Nguồn:
Bình Định, 1997. Ngày 8 tháng 11
===============================
Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử và
những nhà thơ trường Quốc Học Quy Nhơn


Phạm Hổ


Nhân dịp kỷ niệm 84 năm ngày sinh của nhà thơ (22 - 9 – 1912 – 1996) và kỷ niệm 70 năm ngày ra đời Trường Quốc học Quy Nhơn (15-9-1926 – 1996) tôi xin có đôi điều muốn trao đổi với bạn đọc về Hàn Mặc Tử và những nhà thơ cùng học trường Quốc học Quy Nhơn trước kia với ông.
Theo tôi, thơ Hàn Mặc Tử gồm có ba mảng lớn.
-Mảng viết cho các thể thơ cũ (chủ yếu là thơ Đường) về đất nước, truyền thống, tình bạn… như Cửa sổ đêm khuya, Buồn thu, Cây đàn nguyệt, Gái ở chùa v.v…
- Mảng viết theo thể thơ mới về cuộc sống hàng ngày, những cô gái quê, những người lao động,.. như: Em lấy chồng, Mùa xuân chín, Tình quê, Bẽn lẽn, Đây thôn Vĩ Dạ v.v…
- Mảng viết về những nỗi đau khổ đến tột cùng của tác giả từ khi lâm bệnh hiểm nghèo và tình yêu bị dang dở như: Những giọt lệ, Rụng rời, Trường Tương tư, Hồn là ai? Biển hồn ta, Phan Thiết! Phan Thiết v.v…
Đọc lại nhiều bài trong ba mảng thơ lớn trên đây tôi bỗng cảm nhận thêm được vài điều mới lạ.
Trước đây, đọc bài Em lấy chồng, tôi cũng thấy nó hay hay:

Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ
Tôi sẽ đi tìm mõm đá trắng
Ngồi lên để thả cái hồn thơ

Nhưng lần này, khi tôi tự đặt ra câu hỏi: cái hồn thơ của anh hình dáng nó ra sao? Thả lên trời (như diều) hay thả xuống nước (như thuyền)? Tôi bỗng bắt gặp được tâm hồn của tác giả… Đây là một phản ứng về một tâm hồn. Thả vậy thôi chứ rồi anh lại kéo xuống, với lên…anh làm sao bỏ làm thơ được!
Cũng như trong câu thơ thiên tài này:

Áo em trắng quá nhìn không ra

Nếu chúng ta cùng hỏi vặn: nhìn không ra ai? Chúng ta sẽ có thể trả lời ngay là
Nhìn không ra em, nhưng ngắm kỹ hơn một chút nữa, chúng ta lại thấy nhìn ra cả anh nữa. Vì em đẹp quá làm anh sững sốt, bàng hoàng, và anh như không còn là anh trước đó. Câu thơ cũng giúp ta hiểu sâu hơn thế nào là cái đẹp. Cái đẹp thường không bao giờ lộ hết ra, mà luôn cất giữ trong mình một cái gì bí ẩn …
Hoặc như hai câu thơ kết thúc bài Mùa xuân chín:

Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Lần này đọc lại tôi mới chợt thấy: Chính nhờ sự để lửng lơ không rõ Chị ấy là ai, gánh thóc đi đâu ? làm gì? Mà dư âm của bài thơ cứ vang lên nhẹ nhàng rồi toả lan ra rất xa, rất xa…
Hình ảnh thơ thoát đọc lên nghe rất đẹp nhưng đọc lại thấy rất buồn, buồn một nỗi mênh mông như dòng sông trắng, như bầu trời nắng chang chang. Đọc đi đọc lại thấy muốn chảy nước mắt. Mà vẫn không hiểu hết vì sao…
Thơ hay thường dễ giúp người đọc hiểu được tác giả. Hàn Mặc Tử có một tâm hồn trong sáng, hồn nhiên đến lạ lùng. Không phải chỉ hồn nhiên lúc còn trẻ mà về cuối đời trong hoàn cảnh bệnh hoạn ngặt nghèo, tình duyên vỡ lỡ, anh vẫn thế Đây thôn Vĩ Dạ! được viết khoảng một năm trước ngày anh mất. Còn bài trăng vàng trăng ngọc là anh viết trong thời gian anh phải sống lần lũi trong căn lều rách nát ở giữa xóm Động, cái nóng vây quanh.
Hàn Mặc Tử hồn nhiên nhưng lại là người say mê sâu sắc. Anh có thể yêu một người chỉ thấy trong ảnh (Ngọc Sương) hoặc chưa bao giờ gặp mặt (Thương Thương) yêu đến mức viết không biết bao nhiêu là thơ với nàng…Song người mà Hàn Mặc Tử yêu nhất, say đắm nhất là Mộng Cầm. Mai Đình thì nhà thơ cũng quý cũng thương nhưng có lẽ chỉ đến vậy. Tôi có chú ý một chi tiết này: Sau khi tình yêu giữa hai người (Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm ) bị tan vỡ, Hàn Mặc Tử cũng có lúc nhắc đến Mộng Cầm nhưng dưới một cái tên khác. Mặc dù tên gì thì nó cũng mang âm hưởng hai tiếng Mộng Cầm nghĩa là một chữ dấu nặng và một chữ dấu huyền. Phượng Trì, Lệ Kiều v,v,.. Như thế có thể xem như con người của Mộng Cầm đã nhập vào hồn anh còn gì nữa!
Say mê trong tình yêu, say mê trong sáng tác, ban đầu hai yếu tố này đã cùng nhau hổ trợ cho anh trong cuộc sống. Nhưng từ khi anh gặp phải tai biến về cả hai phía thì cả hai yếu tố đó tưởng như có thể đối lập nhau. Thế mà Hàn Mặc Tử đã có đủ nghị lực để giải quyết tốt. Anh lấy cái đau khổ để làm chính cái chỗ dựa cho thơ anh Anh vẫn làm thơ và nhờ vậy mà chỉ trong 6 năm đã để lại một sự nghiệp lớn.
Là một con người, đau khổ quá, Hàn Mặc Tử cũng khóc, nhưng khóc mà không cho ai biết.
Khóc một chắc (một mình) có ai vô mà biết! hoặc khóc cho chính mình nghe:

Hãy mường tượng một người thơ đang sống
Trong im lìm, lẻ ló, trong dãy đông
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng

Trong suốt bao nhiêu năm đau khổ ê chề, anh không bao giờ có ý nghĩ tự tử. Anh Yến Lan đã quả quyết nói như vậy. Và câu thơ này đã chứng minh câu nói của Yến Lan là đúng:
Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi !

Bao giờ tôi chết đi thì rõ ràng là một cái chết bình thường như mọi người. Có người hỏi. Hàn Mặc Tử tìm đâu ra sức mạnh để vượt qua những nỗi đau?
Có thể câu thơ tiếp theo câu thơ trên, đã phần nào trả lời được chăng ?

Bao giờ tôi hết được yêu vì

Chắc là đúng như vậy! Chính sự yêu vì của tất cả những con người mà Hàn Mặc Tử đã gặp, đã sống đã có một sức an ủi, động viên lớn đối với anh.
Nhưng bên cạnh những con người, qua thơ Hàn Mặc Tử tôi còn thấy có một yếu tố nữa: Thiên nhiên; Vũ trụ, trăng sao, mây, gió… Với anh, con người và vũ trụ luôn sống bên nhau, vui buồn cùng chia sẻ! “Cho em buồn, Trời đất úa sương khuya” và không một nhà thơ nào trên thế giới viết nhiều về trăng, lạ lùng về trăng như anh.
Cuối cùng là Đạo của anh. Điều ấy không thể khác. Có điều là trong thơ Hàn Mặc Tử tôi thấy có đủ cả Đức Chúa trời và Phật, Thiên Đảng và Niết bản Đức Mẹ Maria và bà Tây Vương Mẫu các thiên thần và các nhân vật Liêu Trai v.v…
Có thể nói tâm hồn của Hàn Mặc Tử phóng khoáng đến mức lạ kỳ.
Trong ba mảng thơ lớn của Hàn Mặc Tử, hình như từ trước đến nay, hai mảng trên được nhiều người nhắc đến, thuộc hơn. Nhưng đọc kỹ lần này, tôi thấy mảng thơ thứ ba của nhà thơ cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng.
Qua nhiều bài thơ trong mảng đó, Hàn Mặc Tử là một trong những bài thơ nói về nỗi đau của con người sâu sắc nhất.
Trong những bài thơ ấy, nỗi đau về thể xác và nỗi đau về tình cảm (tâm hồn) đều được Hàn Mặc Tử miêu tả đến:

Thịt da tôi, sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên

Khá rõ ràng là qua các bài thơ đau, tôi thấy Hàn Mặc Tử đau khổ về tình cảm tâm hồn hơn là về thể xác. Điều đó thật dễ hiểu. Tôi còn chú ý là tên các bài thơ, trong các bài thơ rất nhiều chữ hồn, xuất hiện. Tôi có cảm giác như trong những cơn đau xé lòng, anh như thấy cái hồn của anh đã tách ra cho anh thấy được những nỗi đau của mình rõ hơn. Có lẽ vì thế mà trong Hồn ai là ? anh đã kết thúc bằng hai câu

Dẫu hồn đi ròng rã đêm nay
Hồn mệt lả còn tôi thì chết giấc

Chết giấc (phần thể xác) thì không còn cảm thấy gì nữa. Nhưng mệt lả (phần tâm hồn) thì vẫn tiếp tục cảm giác, tiếp tục đau.
Và giúp cho con người thấy được, hiểu được thế nào là nỗi đau, nhắc con người đừng có bao giờ gây nên nỗi đau khổ cho người khác nhất là về mặt tâm hồn, đó cũng là một thu hoạch mà tôi rất trân trọng trong lần đôc này, về thơ Hàn Mặc Tử, cuộc đời Hàn Mặc Tử…
Cuối cùng theo sự đánh giá của Chế Lan Viên và nhiều người khác. Hàn Mặc Tử là ngôi sao sáng nhất trong các ngôi sao của trường thơ Mới Bình Định. Nhóm Tú Linh; Long, Ly, Quy, Phượng đã tôn anh làm rồng (Long), anh Yến Lan là lân (Ly), anh Quách Tấn là rùa (Quy) và Chế Lan Viên là Phượng (Phụng), nhóm thơ này đã có những sinh hoạt đặc biệt: cùng rủ nhau ra ngủ biển, đọc thơ và trao đổi về thơ, đến thăm lều Hàn Mặc Tử ở xóm Động và bàn nhau về tên một tập thơ sắp ra của nhóm v.v…Cạnh đó còn có các nhà thơ khác như: Phạm Văn Ký, Xuân Diệu, Xuân Sanh (trước cách mạng) và Nguyễn Viết Lãm, Vương Linh, Giang Nam, Phạm Hổ (trong cách mạng kháng chiến). Cũng hay là Phạm Văn Ký đề tựa “Gái Quê” cho Hàn mặc Tử. Trong kháng chiến chống Mỹ lại đề tua cho “Quê Hương” của Giang Nam.
Truyền thống về thơ của trường Quốc học là như vậy đó. Bao giờ mới có những Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên của những thế kỷ sau ? Đó là nhiệm vụ và vinh dự của trường Quốc học Quy Nhơn ngày nay.


Nguồn: Văn nghệ
1996. Ngày 21 tháng 9 (số 38)
====================================
Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử thi sĩ đồng trinh
-

Tiểu thuyết tư liệu (trích)


Tác giả: Nguyễn Thụy Kha


XII
TINH HUYẾT


Có thể nào quên được
Câu thơ buồn vương cây ngô đồng

N.T.K

Bích Khê lội bộ từ núi Ấn về tới nhà thì nhận được thư Trí và bài tựa cho tập “Tinh huyết”. Chàng mừng quá, xé ngay thư xem. Và cứ thế, nước mắt ứa ra làm nhoè những con chữ thân thuộc của Trí.

Lần rồi ghé Quy Nhơn thăm Trí, Bích Khê thấy Trí sa suốt qúa. Mình đau khổ có kém gì Trí, nhưng hình như ở bên nhau, an ủi nhau cũng làm vơi được chút ít sự xót xa trong nhau. Ba bài thơ “Thi tứ”, “Anh ấy” và “Thời gian” của Bích Khê được Trí khen là tài và tình hoà hợp một cách song toàn, rung cảm người đọc đến da diết, tê mê. Bữa ấy, thương Trí, dù biết Trí đã từng yêu Mộng Cầm – là bậc cháu, Bích Khê vẫn tặng Trí tấm ảnh chàng chụp chung với chị Ngọc Sương. Ý ngầm của Bích Khê là muốn hình ảnh của chị Ngọc Sương sẽ gây mộng cho Trí nguôi ngoai bớt u sầu. Quả nhiên Trí đã làm thơ gửi cho Bích Khê.

Ta đề chữ ngọc trên tàu chuối
Sương ở cung Thiềm nhỏ chẳng thôi
Tình ta khuấy mãi không thành khối
Nư giận đòi phen cắm phải môi.

Bích Khê xem xong vui mừng nhưng giấu chị. Chàng đã thành công trong một kế “bá đạo” thuộc tình cảm. Chắc chắn Trí lại hồi hộp, lại mong chờ, lại mộng mị.Và vì thế mà có thể, quên bớt tật nguyền.
Khoái chí vì được Trí khen thơ Bích Khê đã tập hợp thành một tập gửi cho Trí, thì Trí gửi trả lại và chê qúa kém, nhiều lời phê bình rất nặng nề. Bích Khê giận run người, xé nát tập thơ và viết cho Trí một câu thề: “ Trong 6 tháng tới sẽ trở thành một thi sĩ phi thường. Bằng không sẽ không bao giờ làm thơ nữa”. Cú Huých của Trí thật công hiệu. Chỉ ba tháng sau Trí đã nhận được tập thơ “viết bằng máu huyết tinh túy và châu lệ và tất cả say sưa đắm đuối của một hồn thi sĩ”. Đấy! Trong thư Trí viết cho Bích Khê là Trí đã mừng ứa nước mắt, nằm ôm tập thơ suốt một buổi chiều sau khi đọc xong. Trí gọi tập “Tinh huyết” của Bích Khê là “Một bông lạ nở hương, một thứ hương qúy trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc! Một đoá hoa thần dị. Lòng Bích Khê như tê dại đi trước những con chữ của Trí : “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì thực sự sẽ thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu...” Trời ơi! Bích Khê chỉ muốn băng ngay khoảng cách xa giữa đất Thu Xà khô quạnh này tới túp lều tranh bên bờ biển của Trí để cùng được chia sẻ những gì Trí dành cho Bích Khê. Những con chữ của Trí như có thần linh đang xô chạy vào mắt Bích Khê.

“… Ở Sọ người cũng như ở Tranh loã thể, sự trần truồng dâm đảng đã nhường lại cho ý vị nên thơ, của hương, của nhạc, của trăng, của tuyết. Quả nhiên là một sự không khen thanh tao quá đến ngọt lịm cả người và cả thơ.

Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ
Ô tiên nương nàng lại ngự nơi này
Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây
Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm?
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm
Nàng là hương, hay nhan sắc lên hương
Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi

Trực giác của thi sĩ mạnh quá đến nỗi thấy nhan sắc lên hương, thấy cả song nghê thường đường nao nao gợn và so sánh hai hàng nước mắt trong trắng của nàng là hai chiếc đũa ngọc. Và thấy mái tóc y huyền xinh như một mùa thu mươn mướt, thi nhân bảo đấy là đêm đang ngủ mơ.

Nếu chẳng phải là một nghệ thuật siêu thần, thi nhân làm sao đưa đến một nguồn sống phong tình mà thanh khiết cho giai nhân? Để có cái ma lực huyền điệu cám dỗ được ngũ quan của người trần…

Sự say mê, tìm kiếm những nguồi hoan lạc vô biên, đã dần dần đẩy thi nhân vào bờ bến của huyền diệu. Ở đây, sự mường tượng của thi nhân lại dồi dào hơn nữa, người ta chỉ gặp toàn âm thanh đương ngã ngớn, với muôn thứ xạ hương bay lẳng lơ trong lòng ngực, trong khi đó hằng hà sa số là ánh hào quang va vào hồn hoa, chạm nhằm không khí lạ, không có sự say đắm nào ở phương xa, hay sự mong nhớ nào cách biệt mà không đến đây để xum vầy, gây nên cảnh tượng đoàn viên của một mùa thơ, mùa trăng bát ngát.

Ở địa hạt huyền diệu, ta thấy thi nhân chú trọng về âm thanh và màu sắc. Trong khi nói đến nhạc, thi nhân nghĩ ngay đến những cung cầm chơi vơi, âm điệu rung động cả không gian. Vì bởi mê man với sự “nhẹ nhàng, nhịp nhàng thơ đều trong sương”, thi nhân đã sáng tạo được rất nhiều bản ca thần tình, diễm ảo, và nhạc lúc bấy giờ cũng không là nhạc nữa. Nó đã bay ra hương, ra hoa, ra thơm, ra mát, ra ngọt, ra ngào, ra gì mê tơi, run rẫy hay âm thầm nức nở, lanh lãnh như giọng cười, mơn man như ân tình dò hỏi:

…Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung thương
Tôi không bao giờ tôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Buồn lưu cây đào xin hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông!

Đây là cả một trời yêu thương da diết, một trời tương tư, một trời âm hưởng, buồn nào, buồn nề:

Vàng rơi! vàng rơi! thu mênh mông!

Thi nhân kéo ta đi lướt thướt trong cõi u hoài, đằm thắm từ những bản đàn xôn xao hồi hộp như Tỳ Bà, Mộng Cầm Ca, Hoàng Hoa, sang qua thế giới hào qung, gây cho ta nghe một điệu nhạc hiền hoà và ngọt ngào vô cùng đến tê cả lưỡi và hàm răng:

Ô nắng vàng thơm rung rinh điệu ngọc
Những cánh hồng đơm, những cánh hồng đơm.
Nhẹ nhàng, nhịp nhàng thở đều trong sương
Màu trăng không gian như gờn gợn song
Từ ở phương mô nhạn mang thơ về
Đàn thơ cơ hồ lên cung ân điệu
Đây dây trinh bạch khóc mướt trong mơ
Dây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ
Ô cõi lầu mây ánh gì kim cương
Áo nàng thơ ngây nao nao nghê thường
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay nghề
Thơ ngà ngà say thơ ngà ngà say
Nàng ơi đừng động có nhạc trong dây
Nhạc gây hoa mộng, nhạc ngát trời mây
Nhạc lên cung hường, nhạc vô đào động
Ô nàng tiên nương hớp nhạc đầy hương
Đây là một lối sáng tạo, bỏ vần ở chữ thứ tư (vần giữa) ta đọc đến những câu:

… Nhẹ nhàng nhịp nhàng thở đều trong sương
… Đây hồn ngọc thạch xanh xao như tờ
… Thơ ngà ngà sday thơ ngà ngà say
… Ô nàng tiên nương - hớp nhạc đầy hương

Phải chăng ta nhận thấy sóng âm thanh xao gợn, nổi trôi, lên xuống như muôn hoa lá bị cơn gió lùa. Lời thơ rất thanh: ngào ngạt như tình ý say sưa, mát mẻ phổi ta, tim ta, hồn ta nở nang ra, háo hức một lương duyên kỳ ngộ.

Tác giả khéo dùng hơi và hạ vận ở chữ thứ tư làm cho câu thơ nửa như riêng tây, nửa như thuận hòa…

Chưa hết đâu, thi sĩ Bích Khê vốn là tay sành âm nhạc, đã nghe quen tai những bản nhạc tây như Valse, Menuet, Sérénahe, Marahe… đã từng lĩnh hội và thiệp liệp đến thể cách của văn thơ Thái tây, nên am hiểu một cách thông minh những lối sáng kiến từ điệu. Và đây là một đoạn thu phảng phất như âm điệu bài “Re versibilité” và “Harmonie du soir” của Baudelaire hay bài “Féerie” của Valéry:

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của gương hồ im lặng tợ bài thơ
Chân nhịp nhàng lắng nghe hương nằng nặng
Đây bài thơ không tiếng của đêm tơ
Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng
Của hồn thu đi lạc ở trăng mơ

Âm thanh là một nửa tinh thần, anh hoa của thế giới huyền điệu. Còn một nửa khác phải là màu sắc phương phi của khí thiêng hun đúc, rạng rỡ của một trời lưu ly, mã nảo, trân châu. Hình như, đã lâu lắm chàng thi nhấnc cái ý niệm bao quát, tân kỳ, đem mình ví với một thiên tượng luôn ấp ủ những khói mây huyền ảo.

Màu sắc như ta đã thấy trong các thi phẩm đông tây đều gồm có hai tính cách:

- Màu sắc cụ tượng
- Màu sắc trừu tượng

Màu sắc cụ tượng thì lộ nguyên hình bằng bản chất của nó, như gấm, như hoa, mà ta sờ được, nắm được với đôi tay, còn màu sắc trừu tượng là thứ gì nửa thực nửa hư, nghe, thấy, biết mà không làm chủ được nó. Ví dụ: Ánh sáng, hương thơm, nhạc vui, không gian, thanh khí…

Màu sắc cụ tượng rất dễ tìm, dễ kiếm, trái lại màu sắc trừu tượng rất khó sáng tạo, vì đây là cái đẹp của thơ, và phải có con mắt của thi nhân, của một kẻ siêu phàm, thoát tục mới nhận thấy cái đẹp thiêng liêng, phép tắc ấy, và mới thấu triệt hết tinh hoa của nó. Với màu sắc trừu tượng, thi nhân có cái công phu làm cho trở nên cụ tượng? Nghĩa là có thể nắm được một nạm hào quang, lùa không gian vào vạt áo, dồn kinh cầu nguyện về phương Nam, cho hai tiếng sáo đuổi nhau là là.

Bắt cái vô hình trở thành hữu hình, khiến cái chết trở nên sống, cho vật câm không còn là câm nữa.

Đây là nghệ thuật và trí tưởng tượng phi thường của thi nhân, nếu thi nhân là thiên tài.
Bích Khê đã tỏ cho chúng ta thấy chàng xứng đáng với hai chữ thiên tài ấy;

Ôi cặp mắt đa tình ngời sắc kiếm
Một bàn chân ve vuốt một bàn chân
Mát làm sao, mát rượi cả châu chân
Máu ứ lại, máu dồn lên giữa ngực
Ôi! thớ thịt có đàn lên cung bậc

Bên những chữ cụ tượng như cặp mắt, bàn chân, châu thân, ngực, thớ thịt rất tầm thường không gợi cho ta được một sự rung động tân kỳ nào cả mà thi sĩ đã khéo đưa chúng ta một nguồn cảm giác tinh thần khiến đôi mắt ngời sắc kiếm, bàn chân được ve vuốt, châu thân mát rợn lên và thớ thịt lại có đàn lên cung bực:
Và đây là những màu sắc, màu nhiệm mà trí người thường không tạo ra được:

Lầu ai gánh gì như lưu ly?
Nụ cười ai trắng như hoa lê?
Thủy tinh ai để lòng gương hồ
Không gian xà cừ hay san hô

Bích Khê lững thững đi. Chàng đã tới rặng dừa bên Cổ Lũy Cô Thôn lúc nào không hay. Trong tâm trí chàng còn đang rối bời những con chữ mà Trí đã trao cho tập “Tinh huyết” của chàng. Gió ùa lên Đồng mía xào xạt như lay gọi. Chiều ở phía cửa sông Trà thật buồn. Phía xa, núi Ấn như một con dấu khổng lồ đóng xuống sông Trà. Cũng phía xa bên này sông, núi Bút như đang viết lên trời mây những câu thơ rớm máu của một thời loạn ly gươm dáo.
Không hiểu sao, Bích Khê chợt nhớ Hà Nội, cái quán nước ở đầu ngõ Cẩm Chỉ và những bóng dáng sĩ Bắc Hà. Chắc Trí sẽ chẳng bao giờ biết đến Hà Nội được nữa. Trí có lẽ là một thi sĩ lớn khác nhiều thi sĩ đương thời là ở chỗ đó. Cũng lạ…

XIII

RA ĐỜI


… Một ngọn núi vô cùng
Mùa xuân đông chín lại

N.T.K

Tháng 6 năm 1939. Mùa hạ Quy Nhơn oi nồng. Mãi cuối chiều mới thấy gió mát từ biển trào vào. Bệnh tật làm Trí gầy hẳn. Chỉ có đôi con mắt còn linh hoạt như chưa đau yếu gì. Lá thư của Trọng Miên từ Sài Gòn gửi ra khiến Trí nghĩ ngợi mấy bữa nay. Thế nào nhà thơ? Đó là câu hỏi ngàn đời nay. Và chắc là còn hỏi mãi không thôi. Nhưng rõ ràng là mỗi người làm thơ đều có một quan niệm của mình. Trí lại nghĩ đến Bô-Đờ-le. Dù sao cái ảnh hưởng của “Mặt trời thi ca” này quả là không nhỏ. Nhưng thi ca Pháp không thể làm mất bản sắc Việt Nam. Những mô phỏng kiểu vẹt lập tức bị đào thải. Riêng Trí, Trí cảm thấy mình đã vươn tới một cái gì khác lạ hơn. Một cái gì lấp lánh đằng sau Thánh kinh, Trí quyết định viết thư trả lời Trọng Miên.

Quy Nhơn, Juin 1939
Miên thân mến

Miên có hỏi Trí về quan niệm thơ. Đối với Trí quan niệm rất khác thường không giống Baudelairemlàm. Theo Baudelaire thì va lấy Passion làm hứng vị cho thơ. Trước kia nếu Miên lật tập Thơ Diên của Trí ra, Miên sẽ thấy nhiều bài thấm thía những tình cảm rất nồng nàn và rất say sưa… Trí đã phát tiết hết tinh lực của hồn, của máu, bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc. Chỗ ấy, hơi đồng một quan niệm với Baudelaire. Trí nói hơi đồng thôi vì trong khi làm thơ, Trí đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội. Chứ đối với Baudelaire, va đã nói: “nghĩa là va đã hiểu lầm chữ Passion rối vậy.

Tình cảm – hay cảm hứng (en-thousiame) - với dục tình (passion) khác nhau nhiều. Tình cảm là sự thanh bạch hồn nhiên, không có một chút gì bơn nhơ, tội lỗi, còn dục tình là cả một sự ham muốn phi thường ngoài điều răn của Đức Chúa Trời. Tất cả trong thế gian này, hay có một cõi xuất thế gian nào nữa, những thứ gì đã trụ trong hai thế gian ấy (cõi hữu tình và cõi vô vị) đều là hình ảnh của thơ cả. Đức Chúa Trời đã tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ (elements de la poésie) nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hượng một cách say sưa, và nhân đấy, chime nhiệm lẽ màu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí Tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “thiên thần và loài người ta”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: loài Thi sĩ, loài này là những bong hoa rất quý và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người và trút vào linh hồn người ta, những nguồn khoái lạc đê mê rất thơm tho, rất tinh sạch (but de poésie). Bởi muốn cho loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ với thế gian này – nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời. Người bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình.

Không rên siết là thơ vô nghĩa lý Hay:
Ta hiểu chị trong áng gió nhiệm màu
Những hạt lệ của trích tiên đày đọa

Cho nên thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thỉ vô chung, với những hạnh phúc bất tuyệt, Thi Sĩ rơi xuống cõi đời, bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lung. Không có lấy một người hiểu mình. Thi sĩ đã ngất ngư trong khi nuốt hết khí vị thanh tao của mùa xuân ấm, của tất cả những lương thực ngon ngọt mỹ vị làm bằng hương báu, làm bằng nhạc thiêng, làm bằng rượu say, làm bằng châu lệ…(gene d un poènme). Song le - miệng luỡi của thi sĩ vẫn nóng ran, vẫn còn khát khao them thuồng những vật lạ muôn đời(génic créateur aimant toujours le nouveau) của thế gian nếm mãi, chưa bưa, chưa ớn, chưa hả hê chút nào. Thi sĩ vẫn tìm mãi vẫn còn kêu rên thảm thiết, để đi đến cõi ước muốn hoàn toàn. Trong đời thi sĩ, thi sĩ đã sống cô độc, những người con gái rất xinh đẹp cũng không làm cho thi sĩ vui đặng, vì thi nhân thấy ở người con trai cũng như ở người con gái, đều có một tâm thuật nhỏ nhoi tầm thường, không hợp với tính tình thanh cao của thi sĩ. Vì thế, thi sĩ cứ kêu rên thảm thiết là để tìm một người tri kỷ. Mà than ôi, không bao giờ thi sĩ tìm đặng. Người tri kỷ của thi sĩ phải là một bậc cao qúy, toàn tài, toàn năng, một đấng mà thi sĩ nhận thấy như là hết cả mọi sự. Đấng ấy là Đức Chúa Trời, kể lể hết niềm đau thương của Người, dâng cho Người những bài thơ sáng láng của anh hoa, thế mới là mãn nguyện. Vì Đức Chúa Trời đã tạo ra thơ ở thế gian…


Nguồn trích: Sông Hương.- 1992.- Tháng 9-10 (Số 5) (1352);
KHPL: BĐ.04(91)
===============================================




Đăng nhập để trả lời
0

Con người Hàn Mặc Tử qua thơ anh


Tác giả: Nguyễn Minh Vỹ


Một văn hào nổi tiếng trên thế giới đã có một lời đầy triết lý, “muốn viết, phải biết mùi đau khổ”.
Điều kiện ấy, mọi chúng ta đều biết, Hàn Mặc Tử có thừa.
Chúng ta đau xót nhớ lại điều đó, nét đặc trưng của con người anh, của tâm hồn anh, của văn thơ anh. Lịch sử văn học của cả thế giới – không phải chỉ riêng ở nước ta – không hề có một trường hợp như anh. Nhà thơ mến yêu của chúng ta đã trãi qua quá nhiều đau khổ - trước hết cũng phải nói đến nỗi khổ chung của dân tộc thuở ấy đang còn là “Vong quốc chi nô” mà anh là một con người có tâm hồn yêu nước ngay từ thuở còn là thiếu niên, mang trong mình cái “gien” chung của mọi con người Việt Nam, lại được sự bồi dưỡng ngay từ lúc mới bắt đầu biết suy nghĩ, nhờ nhà chí sĩ Phan Bội Châu mà anh có may mắn làm quen và có quan hệ thơ văn thuở Cụ là “Ông già Bến Ngự”.
Nhưng điều đáng chú ý lại còn là nỗi đau khổ của riêng anh: Thân anh đã mắc phải một trong “tứ chứng nan y”, mà lại là thứ “nan y” nhất. Ác nghiệt hơn nữa là bệnh của anh làm cho người bệnh không sống được trong cuộc sống bình thường. Là một thanh niên đang độ đắm say trong cuộc “sống xã hội” mà bị cách ly với xã hội; yêu quý gia đình vô vàn, nhất là mẹ, mà phải cách ly với gia đình, với mẹ; Tha thiết yêu đương mà phải cách ly với cả người, người yêu chung thủy suốt cả đời, dù anh bệnh tật… Đau xót hơn nữa là đang tuổi xuân xanh tràn đầy sức sống, mà phải sống trong cái cảnh không biết sống chết ngày nào, thậm chí giờ phút nào, trong thân hình “tàn rữa” vì bệnh tật. Chung cuộc, một con người tài hoa, son trẻ, đang “độ xuân thì” mà phải lìa cõi đời khi mới hai – mươi – tám - tuổi!
Nhưng trong cái đau khổ riêng ấy, vượt qua tất cả các mức đau khổ của con người, anh vẫn ra sức phấn đấu để sống, sống mảnh liệt – Càng cảm thấy mình chết đến nơi, lại càng ra sức sống, càng sống một cái sống nồng cháy, nóng bỏng hơn, với hồn thơ của mình, với thơ của mình! Có thể nói là anh sống gấp bội lên trong tâm hồn
Trên cái thể xác đang chết dần mòn của anh! Trong cái cảnh một con người biết mình sắp chết, sắp trút linh hồn, anh cố gắng bằng … thơ!

“Một mai kia ở bên khe nước ngọt
Với sao sương anh nằm chết như trăng”

Thơ đối với anh trong những khoảng khắc ấy đã trở thành một nhu cầu sống, một liều thuốc cứu tử, cho riêng anh, và có thể nói là cho cả loài người! Để loài người hiểu thấu nỗi khổ đau dằn vặt của con người như anh.
Trong tình cảnh ấy những bài thơ, ý thơ của Hàn Mặc Tử những bài thơ mà tự anh anh thích gọi là “thơ điên, thơ loạn”, thực ra không điên loạn chút nào- trái lại đó là những bài thơ, văn, thể hiện một sức sống phi thường, thể hiện một lòng ham sống vô biên, thể hiện một ước mơ rất chi là “con người”: ước mơ được sống khi ý thức được rằng mình sắp chết, đang chết. Hơn nữa vì ý thức được mình sắp chết cho nên phải “sống gấp”, sống bằng thơ…

Thơ ra chưa khỏi bút
Giọt mực đã rụng rồi
Lòng tôi chưa kịp nói
Giấy đà toát mô hôi!”

Hoặc:

Tôi muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man, chết điếng cả làn da”.

Xin nói thêm ngay rằngkhi anh nói “làn da chết điếng” đó không phải là tưởng tượng mà là thực trạng của làn da của con người bị bệnh phung đang bị căn bệnh nó dày vò “chết điếng” thật!

Cho nên anh thiết tha cầu khẩn:

“Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy rung rinh
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh”.
Là “con người” được cái diễm phúc là lành mạnh, sống bình thường như mọi người, có lẽ ta khó cầm được nước mắtkhi đôc lại những lời đau thương, quặn quại của hồn thơ của con người hàn Mặc Tử!
Cho nên để hiểu thấu thơ anh, ta cố làm sao hiểu thấu được lòng anh, hiểu thấu được con người anh trong cái đau thương vô hạn của anh. Không phải vì anh là “lãng mạn, là siêu thực” mà vì anh là một con ngườiđau thương vô hạn…

*


Ta hãy bắt đầu bằng con người bình thường của anh. Thì nó cũng như con người của mỗi người Việt nam, mỗi thanh niên Việt Nam thuở ấy: sinh ra, lớn lên trong cảnh đất nước bị đọa đầy, dân tộc còn bị thực dân, phong kiến áp bức bóc lột, nhân dân còn đau khổ, có chí khí, tìm đường đấu tranh tháo gỡ xích xiềng nô lệ, noi gương truyền thống cha ông.
Trong thơ Hàn Mặc Tử anh cũng đã nói lên tinh thần đó, bằng những lời tho ngắn gọn nhưng đủ để ta hiểu lòng anh:

“Thương em không dám nghĩ
Đúng lúc nước nhà nguy
Mối thù tràn như song
Lòng nào anh nỡ si”

Nhưng tôi không muốn nói nhiều về mặt này mà muốn nói về nét riêng của thơ anh trong thời kỳ thơ anh “bung ra” với bệnh tình anh chớm nở và phát triễn đến hủy hoại dần thể xác anh, cướp mất anh, chỉ trong vòng ba bốn năm trong lúc- cho phép tôi vẫn nhắc lại – anh đang thời sung sức cả về thể xác lẫn tinh thần.
Để lộ hết tâm tình của người viết bài này, tôi xin thật thà kể lại rằng khi biết tôi định viết về Hàn Mặc Tử một bạn già thân quen dặn chừng tôi: “Này vừa phải thôi nhé. Đừng có như ai khi chê thì nhận đến bùn đen mà lúc khen thì đưa tận mây trời!”. Lời “răn đe” đó làm tôi hơi cụt hứng. Ở đời phải bốc lên một chút mới lý thú chứ, nhất là khi đi vào thơ văn. Nhưng ở đây tôi không làm nhà “phê bình” thơ, vì việc đó quá khả năng và ngoài nghề nghiệp của tôi. Tôi chỉ xin kể lại cuộc sống của con người hàn Mặc Tử trong thời gian chúng tôi cùng cộng tác với nhau trong “Thái dương văn đoàn” ở Quy Nhơn. Nhà hai chúng tôi lúc ấy ở gần sát nhau: anh sống chung với gia đình ở 20 còn tôi thì “Ăn cơm tháng” ở nhà bà con ngay số 24 đường Khải Định cũ. Về sau anh buộc phải sống riêng, tôi cũng đổi nhà, nhưng cũng ở Quy Nhơn thôi và liên lạc thường với anh. Xin thêm một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng là một trong những người anh yêu và yêu anh - cả về con người và văn thơ – cũng là quen thân với gia đình tôi, cụ thể là với vợ chồng tôi: đó là Mai Đình.
Nhóm “Thái dương văn đoàn “ tập hợp một số cây bút ở Quy Nhơn, số lớn là trường Quốc học Qui Nhơn, tiếng Tây gọi là college, tập hợp người ở các tỉnh miền Nam Trung bộ và cả Nam Tây Nguyên. Xưng là Văn đoàn cho ra vẻ nhưng thực ra chúng tôi có cái mặc cảm của con người tỉnh lẻ, nhút nhát, rụt rè lắm. Có làm gì “nên nỗi” thì phải ở trung tâm lớn như hà Nội, Sài gòn, Huế, chứ còn ở tỉnh thì ăn thua gì? Nhưng chúng tôi đã tự giải quyết cho mình cái mặc cảm ấy. Ao ta thì ta tắm; biết đâu nước ao ta cũng gạn đục khơi trong được, nước ao nhỏ có khi dễ khơi trong hơn! Ì thế mà chúng tôi mạnh tay làm: Chế Lan Viên ra “Điêu tàn”, Hàn Mặc Tử “Gái Quê”, cả đám chúng tôi ra “Nắng xuân”: Xuân Khai (sau này là Yến Lan), Viết Lãm, Phú Sơn, Trọng Minh (là Vỹ tôi)… Thế là ngòi pháo đầu đã nổ! Làn điệu mới của Điêu Tàn, Gái Quê có tiếng vang khá xa và khá nhanh… Lòng tự tin của chúng tôi được nhen nhóm lên: thì ra tỉnh lẻ cũng đẻ ra “nhân tài” được.
Về Hàn Mặc Tử thực ra lúc ấy chúng tôi cũng chưa tìm hiểu gì về anh cho thật sâu sắc lắm. Nhưng anh lớn tuổi hơn cả trong nhóm chúng tôi, lại là nhà viết báo hẳn hòi trong một tờ báo lớn ở Sài Gòn! Tôi cũng không hề hỏi đến tên Thánh của anh, chỉ biết tên thật là Nguyễn Trọng Trí trong một gia đình mới, anh em trai gái lấy tên là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Hiếu nữa! Chúng tôi cũng không hề tranh luận với nhau về hữu thần và vô thần tuy tôi biết là gia đình “có đạo” và anh biết tôi là chính trị phạm mới ra tù, là cộng sản. Chúng tôi chỉ trao đổi ý kiến với nhau, thường là khá sôi nổi về vấn đề viết gì, làm gì để chống lại những thủ đoạn lừa mị của thực dân phong kiến lúc bấy giờ đang giả danh tự do, dân chủ để đẩy thanh niên nhất là ở các thành thị vào lối sống hưởng lạc, sa đọa, trong lúc chúng bị bắt buộc phải “thay gót sắt bằng góc cao su” vì do Mặt trận Bình dân ở Pháp thắng thế, phong trào trong nước ta dưới sự chỉ đạo của Đảng cũng đấu tranh thực hiện Mặt trận tổ quốc dân chủ, đẩy mạnh phong trào đòi dân chủ dân sinh(1)
Nhà báo Hàn Mặc Tử - nói thêm cho vui là ngày ấy trong nhóm chúng tôi mới chỉ có anh là “nhà” còn anh em khác chưa ra lều ra chõng gì cả - nộp cho chúng tôi một tiểu phẩm lấy tên là “Ông nghị gật”, bút danh là “ Trật Sên”, chế diễu trò hề bầu cử “ Trung kỳ nhân dân đại biểu viện” một cách khá sâu bén và ngộ nghĩnh, đúng lúc tại địc phương đang có phong trào vận động bầu người do ta đưa ra, chống lại người của chính quyền. Ai đã đọc bài ấy lúc bấy giờ và ngày nay nữa: nội dung, cũng như bút phápkhá sâu sắc! Chúng tôi cho vào tập Nắng xuân 1937 ngay.
Còn thơ? “Gái Quê” của anh cũng gây cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc về nội dung lành mạnh, thi tứ dồi dào và lời thơ… rất hay. Hẳn cho phép tôi trình bày cách đánh giá của riêng tôi về tập thơ đó trong cái trách nhiệm kiểu như “chính trị viên” của nhóm chúng tôi.
Hàn Mặc Tử của chúng ta là một dân thành thị - lại có sống và làm báo ở Sài Gòn nữa, nhưng sao hồn thơ anh lại hướng về nông thôn và thơ anh về người nông dân lao động nhẹ nhàng trong sáng gần như là một lời ca dân gian:

“Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng Trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”.

Thi sĩ đã mưu tả “cái” lao động nặng nhọc của cô nông dân trẻ trung sao mà thấy nhẹ nhàng, thánh thót như vậy? Và còn gì đẹp bằng những lời thơ như:

“Sóng cỏ xanh tươi gơn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!”

Nghe nói trong các trường học của chúng ta các cháu học sinh ít biết về thơ Hàn Mặc Tử và các thầy cô cũng cho rằng giảng thơ Hàn Mặc Tử khó lắm. Nhưng những ý thơ, lời thơ như trên, không ít trong các tác phẩm đầu tay của thi sĩ, theo tôi nghĩ dễ cảm, dễ thương lắm chứ! Có cần phân tích thêm chăng là “cuộc chơi” của các cô “gái quê” của Hàn Mặc Tử là cuộc chơi tươi trẻ, lành mạnh, nên thơ của những chàng thanh niên và nàng thanh nữ lao động, đầy tình yêu lao động, tình yêu con người, chứ không phải là những cuộc hoan lạc của đám người sa đoạ trụy lạc ở thành thị đang bị mắc vào cái bẫy mà thực dânphong kiến thuở ấy gài cho họ để làm cho họ quên đi cuộc đời thực, quên đi nhiệm vụ đấu tranh cho lý tưởng tuổi xuân trong thời điểm ấy của lịch sử đất nước ta, dân tộc ta!
Thêm nữa: anh thanh niên Nguyễn Trọng Trí yêu nông dân, yêu quê hương tươi đẹp, cuộc sống thựccủa người lao động như thế và đang tuổi thanh xuân ắt đã nhìn trời nhìn đất, con người với một niềm lạc quan trong sáng mà thi nhân Hàn Mặc Tử không tiếc lời ca ngợi. Anh mơ xuân, anh “mừng xuân ra đời”, anh muốn “Tứ thời xuân” - thực ra thì không thực tế, nhưng ta hãy tha thứ cho hồn thơ của người thơ có khác con người bình thường của chúng ta – và xin mời các bạn hãy thưởng thức một số câu thơ của anh về xuân:
(1) Tôi không nói dài về điểm này tuy đây là một điểm rất quan trọng vì có lần tôi đã phân tích khá sâu trong một bài về thơ Chế Lan Viên (Tạp chí văn học tháng 1- 1988).

… Bao nhiêu mơ ước trong trần ấy
Như chực xuân về để lộ ra
… “Xuân đây rồi, lan tràn như bóng nắng”
Anh muốn:
“Sống mãi với muôn xuân đầm ấm”
Anh trách:
“Mùa xuân đến mà không ai biết cả!”
Anh kết xuân với thơ anh:
“Mùa xuân em sẽ rất nhiều hoa bướm
Bởi thơ anh tô điểm đẹp trăm chiều”
Anh reo lên khi:
“Xuân vờn trong ánh sáng
Hãy hoan hô, lời cao như sấm
Vạn tuế bay ơi, nắng rợp trời”
Anh tin tưởng:
“Mây hờ không phủ đồi cao nữa
Vì cả trời xuân tắm nắng tươi!”

Còn ai yêu đời hơn anh, còn ai yêu xuân, mê xuân như anh? Vá lời ca của anh vừa thực, cừa đẹp vô ngần…

*


Nhưng bỗng nhiên sao anh lại nói đến xuân với những lời như:

“ Ngày xuân hờ hững
Lòng xuân não nề…”

Xin lỗi bạn đọc, tôi lỡ lời. Không phải bỗng nhiên mà có duyên cớ - Duyên cớ đó, không phải là cái duyên cớ thường gặp và vì thường gặp nên bình thường thôi như bị người yêu phụ tình, ruồng bỏ chẳng hạn - Ở đời chán gì cái thứ “trắc trở” trong nhân duyên mà bao nhiêu nhà văn, nhà thơcủa tứ xứ, của muôn thuở, xưa nay, đã trút bao nhiêu mực cho đề tài ấy rồi!
Duyên cớ ấy là do nhà thơ tràn đầy sức sống của chúng ta mắc bệnh hiểm nghèo, chạy chữa nhiều nơi, nhiều thầy, nhiều thuốc mà không chữa được và có khi vì chạy quá nhiều thấy, nhiều thuốc mà bệnh quá trầm trọng, phát triển nhanh hơn… Điều đau đớn nhất là anh phải cách ly với xã hội, với đời… Ban đầu tì gia đình giấu anh trong một góc xép trong nhà (20 đường Khải Định) sau phải đưa đi sống riêng trong một túp lều tranh ở một động cát, ngoài bãi biển, sau phải đưa vào bệnh viện (Quy Nhơn) (bệnh viện thường) cuối cùng phải đưa vào “nhà thương phung Qui Hoà” - Bệnh anh càng nặng, càng phát triển nhanh và cướp mất đời anh…
Những lời thơ, ý thơ của anh trong thời gian đau khổ đến cực kỳ này, ta cố gắng thông cảm cho anh bằng cách đi sâu hơn nữa để gắng tìm hiểu tâm hồn anh. Nào trên đời xưa nay đâu phải có một mình anh là người bị bệnh phong (còn gọi là phung hay hủi) tuy nghe tên bệnh đã thấy rờn rợn người rồi! Nhưng Hàn Mặc Tử của chúng ta (trong đời thường là Nguyễn Trọng Trí, tên Thánh là Phêrô Phanxicô) có suy tư như những người bệnh thường không? Anh là thi sĩ, là người thơ…Anh đang tuổi xuân đầy nhựa sống! Con người anh đang vươn lên. Cuộc sống xã hội của anh cũng thật là phong phú. Đừng như ai nói là anh nghèo. Kể cả chuyện nghèo đói – không thật đâu - của anh vào đây làm gì? Phải thấy anh thuộc hạng người ít nhất là trung lưu của thời đại bấy giờ. Con công chức, có học không đến nỗi tồi, có làm báo, thu nhập ít nhất vào loại bình thường, có gia đình ở một căn phố, trên một đường phố lớn ở một thành phố thuộc loại vừa thuở ấy. Nói đến túp lều tranh là túp lều anh phải ở riêng vì mang bệnh! Khi anh kêu đói, thơ anh có câu nổi tiếng- nay ghi lên bia mộ anh ở Gành Ráng (Quy Nhơn):

Trời hỡi! Nhà ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn?”

Ta cũng không nên hiểu chữ đói trong thơ anh một cách thô thiển bình thường để cho có “lập trường” – Hàn Mặc Tử đói là “ Đói trăng, đói gió…”. Nếu muốn tô đậm niềm đau khổ của anh , phải hiểu chiều sâu tâm hồn anh, chứ không nên hiểu đơn giản như có người hiểu…
Cái “đáng thương” nhất ở anh là “thấy” được bệnh mình phát triển, “thấy” được cái chết sắp đến, sẽ đến với mình, “thấy “ được anh sẽ “trút linh hồn” không thể nào cưỡng được.
Cái đáng thương và đáng quý nữa ở anh là trong khi “thấy” được mình sắp chết, “thấy” được xác thịt mình ngày đang tan rữa, ngày càng tan rữanhưng anh vẫn cố sống, có một sức sống phi thường, thậm chí anh đã diễn đạt suy tư của anh một cách “phi lý”: “Không xác thịt, chỉ có linh hồn đang sống”.
Nhưng Hàn Mặc Tử của chúng ta “sống” không có nghĩa là còn ăn, còn sống, còn ngủ, còn thở như một người sống theo lý tưởng của con người Hàn Mặc Tử, “người thơ” - Đọc thơ anh từ lúc bệnh tình càng tăng lên, giây phút lìa đời gần kề, dù lời thơ có lâm ly, có kinh dị, như thét, như gào, như rú lên… Ta càng thấy đó là sự phản ứng mảnh liệt của tâm hồn anh trước cái chết, để cố đẩy lùi cái chết của thể xác, bù lại cái sắp tiêu tan của thể xác bằng cái sống của tâm hồn. Thơ anh trong những phút giây sẵn sang đón chờ cái chết này có những lời nghe “kinh dị” thật đấy nhưng tự anh đã nói đúng cái đau khổ của tâm hồn anh, nói đúng cái đau khổ của thể xác anh, đau khổ cực kỳ, đau khổ hết mức.
Khi anh viết:
“Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rung rợn đến vô biên”

Tôi nghe như là lời “khai” bệnh của bệnh nhân với thầy thuốc - thịt da anh “sượng sần” thật, “tê điếng” thật, anh “rùng rợn đến vô biên” thật trước bệnh tình của mình bằng thơ?
Khi anh viết:
Tôi muốn vớt ai ra ngoài song điện
Để nhìn xem sắc mặt với làn da”

Ta hãy mường tượng đến “sắc mặt” và “làn da” của người mang bệnh như bệnh anh mới hiểu hết tâm hồn anh, nỗi đau khổ của anh khi “nhìn thấy” sắc mặt và làn da của mình ngày một khác đi, biến dị đi.
Hoặc khi:
“Anh đã thoát hồn anh ngoài xác chết
Để chập chờn trong ánh sáng mông lung”

Thì cái đau khổ nhất của anh là:
“Máu đã khô rồi, thơ cũng khô
Tình ta chết yểu từ bao giờ…”

Cho nên anh không chịu để cho “thơ khổ” và còn nhắn lời cho bạn thơ tâm đắc nhất của anh, thi sĩ Chế Lan Viên:

“Ta không muốn người thôi ca hát
Vì luôn đêm song hận réo cung Hằng”

Và anh cười:
“Lá đổ rào rào
Trăng vàng lao xao
Chuỗi cười ha hả
Trên cánh đồi cao”

Nghe tiếng cười ta càng thương anh vì thật ra anh cố phấn đấu với bản thân, có thể nói là tự dối mình vì thực ra ở một bài thơ khác anh phải thú nhận:

“Này đây nước mắt giọng cười theo nhau”
Vì làm sao cười nổi trong tình cảnh ấy?

Làm sao còn chơi được với trăng, tuy trước đây anh say sưa biết bao với xuân ấm, với ánh nắng mặt trời?
Trong thơ, ở đoạn cuối của đới anh, đầy trăng và trăng! Sau đây, nghiên cứu kỹ hơn nữa về thơ anh, có lẽ chúng ta nên đánh dấu thời gian của từng bài để thấy ở từng bài, vào thời điểm nào “hơi thở” của anh thế nào, nhịp đập của tim anh - tiếng nói của “lòng” anh có khi nó “thơ” hơn chăng- thế nào, cả sức đề kháng của não cân anh ra sao và ôi! lại phải kể đến thể xác của anh, tay, chân, mặt mày, da thịt của anh bị thần chết gắm nhặm, ăn dần, ăn mòn đến đâu? Và ở mỗi lúc càng đi đến gần cái chết “ thế nào” ngày càng rõ ấy thì lúc đó, lời thơ anh thế nào?

“Hãy mường tượng một người thơ đang sống
Trong im lìm, lẻ loi trong dãy động - Cũng hình như em hỡi động huyền không
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng
Ở trong phổi, trong tim trong hồn nữa”

Thì tôi nghĩ là anh viết khi đã “bị” câu thúc ở trong “nhà thương phung Qui Hoà” rồi hoặc cũng có thể là chưa vào Qui Hoà nhưng ở một túp lều trên động cát, dưới những hàng cây mà đêm đến trăng lung linh trên biển, biển lung linh dưới trăng, cành cây lấp lánh ánh trăng, “trăng bay lả tả ngủ trên cành vàng…”
Vì ác nghiệt thay cho nhà thơ đang bệnh nặng là cái cảnh Qui Hoà đẹp lắm! Và đã vào đây rồi, với tâm hồn anh, tri kỷ chỉ còn là trăng, anh chỉ còn tâm sự được với chị Hằng, anh say trăng, ngắm trăng trên biển, anh “rược trăng” trên ngọn đồi, anh ngủ với trăng, anh nhìn “người trăng ăn vận toàn trăng cả”, anh “chơi trên trăng”, anh thấy “trăng tự tử”… Ở đây tôi muốn nói ý riêng tôi mà tôi cho là không đúng nhưng tôi xinphép cứ nóilà trong tình hình đau khổ cả thể xác và tâm hồn như anh thỉ anh tự tử, ta có thể hiểu được – Nhưng trái lại, anh “nhảy ùm xuống giếng vớt trăng lên” - để trăng khỏi chết vì trăng tự tử!

“Tiếng gà gáy rụng trăng đầu hạ
Tôi hoảng hồn lên, giận sững sờ”

Có thể ai đó đã làm một luận văn riêng vời đề tài Hàn Mặc Tử viết về trăng! Luận văn ấy chắc sẽ dài, dài lắm và thử so với nhiều nhà thơ kim cổ, đông tây đã viết về trăng để xem ai thèm trăng, khát trăng, đói trăng, ai có cảm xúc để vịnh trăng như anh? Chắc không phải dễ, nếu không nói là khó ghi được hết ý anh và chính anh cũng không hiểu hết anh:

“Té ra ta vốn là thi sĩ
Khát khao trăng gió mà không hay

Còn một tình riêng của anh? Tôi sợ tham lam quá nên cũng chỉ nói qua một ý: anh thương, anh nhớ, anh giận, anh nhen, anh mơ màng mộng mị về người yêu cũng không phải như con người bình thường thất tình vì bị phụ tình mà anh ở trong một trạng thái tâm hồn khác thường vì tha thiết yêu, được yêu nhưng – ta đã nói rồi , vì bị bệnh nên phải sống cách ly; lại là một người thơ đa tình đa cảm, tình cảm dồi dào, tràn đầy đến nỗi bạn lừa mình, dối mình để an ủi về một người yêu “không có thật”, nhưng có cái tên đẹp làm sao! Thương Thương – Anh tuởng thật, đóng kịch với người yêu không có trên trần gian ấy, trong lúc con người yêu mình …Người bình thường đau khổ vì tình yêu không được đáp lại là khác là Hàn Mặc Tử trong hoàn cảnh riêng của mình nhất định phải khác hơn nhiều, phải điên, phải “loạn” vì những mối tình mà có khi anh gọi là “vô duyên” ấy.
Tóm lại, con người Hàn Mặc Tử khác mọi con người khác, nhà thơ Hàn Mặc Tử có tâm hồn, có hồn thơ khác… Anh là người gốc đạo Thiên Chúa giáo cho nên không lạ gì trong cái tính và cái cảnh của “nhà thương Quy Hoà” anh viết “Đêm xuân cầu nguyện”.

“Đế vừa dâng vừa hiệp bốn mùa xuân
Nở một lượt giàu sang hơn Thượng đế”
anh kêu lên “Thánh nữ đồng trinh Maria” Bằng:
“Giòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
và “cầu nguyện”:
Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn, trong mạch máu
Cho vỡ lở cả muôn ngàn tinh dấu
Cho đê mê âm nhạc, và thang lương”

Ta thông cảm với tâm hồn anh, với giấc mơ anh với lòng tin của anh, rất là con người: được sống, sống để làm thơ ngợi ca cuộc sống dù có đau thương lâm ly, dù có sắp trút linh hồn thậm chí khi anh tưởng tượng đã thoát khỏi thể xác, chỉ còn sống với linh hồn, để làm thơ…

*

Tôi đã viết khá dài về Hàn Mặc Tử nhưng vẫn thấy nói chưa đủ, nói chưa hết, chưa hiểu thấu tâm hồn anh, chưa nói được đúng mức sức sống của tâm hồn để thắng cái chết uy hiếp trong từng giây phút nhưng cuối cùng phép lạ vẫn không làm gì nổi để giành lấy, giữ lấy tâm hồn anh bị cơn đau về thể xác cướp đi đúng độ tuổi xuân xanh.
Trước đây ba năm. Năm 1988, nhân dịp đi Quy Nhơn có việc riêng, tôi đã đến viếng mộ anh ở Gành Ráng – Tôi thấy, lại một điều khiến tôi càng thương anh, tiếc anh đến thắt ruột – khu vực Quy Hoà (phía ngoài nhà thương phung) đang được xây dựng thành khu du lịch nhờ cảnh non nước hữu tình như tôi đã nói ở một đoạn trên. Tôi có hỏi anh em địa phương là địa thế một khu du lịch gần một khu bệnh viện đặc biệt như thế có làm cho du khách ngại ngùng không? Anh em cho biết là không can ngại gì vì khu bệnh viện và khu du lịch tuy cùng “địa danh” nhưng không phải ở gần nhau lắm. Anh em lại phân tích thêm rằng: vả chăng ngày nay “khoa học” đã cho biết bệnh phong không “lây” đâu và “khoa học” ngay ở Việt Nam cũng đang nghiên cứu đề phòng ngừa và chữa trị cái chứng “nan y” đó… Và anh em chỉ cho tôi xem một số bà con ở đây, ngay là bệnh nhân được chữa lành và còn sống tuy hình hài không còn được bình thường trở lại như cũ – Có người trở về quê cũ, nhưng không ít người đã xây dựng gia đình - giữa những người đồng bệnh với nhau – và xin đất làm nhà ở ngay tại chỗ, sinh sống bằng cách riêng mà địa phương có điều kiện, phổ biến là chặt củi trong rừng cây gần khu vực bệnh viện, chiều chiều gánh hay vác cho bà con ngoài phố đến mua.
Bất giác tôi tự hỏi: sao hàn Mặc Tử của chúng ta lại không được chữa lành như người khác nhỉ?… Để có thể sống thêm, không mong đến ngày nay mà 5, 3 năm nữa, chỉ ít vài ba năm nữa thôi tính theo thời gian lúc bấy giờ, cũng được, thì kho tàng văn học của ta được giàu thêm, với những tác phẩm khác nữa! Những tác phẩm khác nữa mang dấu ấn độc đáo của “người thơ” giàu sức sống như anh, thơ của một tâm hồn đau khổ luôn muốn vươn lên, bay cao, thoát ra khỏi một thể xác bị huỷ hoại từng giờ, từng phút, thơ càng nở rộ khi bệnh tình càng phát triển! Thơ anh phải chạy đua với thời gian, thách đố với bệnh tật, thách thức với Thần chết ở ngay trong con người anh, lăm le muốn cướp lấy hồn anh.
Để thương nhớ anh, tôi lại xin nhắc đến lời cũa một triết gia xưa nhưng vận dụng vào đời anh rất là phù hợp: “Cái chết không có ý nghĩa gì khi người ta, khi “con người” đã hoàn toàn sự nghiệp của đời mình”.
Dù căn bệnh ác nghiệt đã cướp đi cuộc đời quá ngắn ngủi của anh, anh đã đóng góp cho đời một sự nghiệp rất qúy giá, anh không những đã hoàn thành mà hoàn thành vượt mức sự nghiệp của đời anh.
Vì vậy, Hàn Mặc Tử anh ơi, anh vẫn “trường thọ” với thơ anh:

“Ta sống mãi với trăng sao gấm vóc
Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay!”.


Nguồn trích: Nha Trang.- 1992.- Tháng 1-2 (Số 10) (1353);
KHPL: BĐ.04(91)
=========================================
Đăng nhập để trả lời
0


Đối thoại trong đêm với Hàn Mặc Tử


Phạm Xuân Nguyên


- Thưa ông, cách đây mấy hôm là tròn đúng năm mươi năm ngày mất của ông tại trại phong Quy Hoà. Hôm ngũ thập chu niên ấy tôi có đọc lại tuyển tập thơ ông do “thi sĩ Chàm” bạn ông tuyển chọn và giới thiệu. Trong “lời giới thiệu” Chế Lan Viên viết: “Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ siêu thực. Tượng trưng càng không. Chủ yếu anh vẫn là nhà thơ lãng mạn (Nhưng siêu thực là gì: romantisme jusqú au bout: lãng mạn đến tận cùng). Anh cũng chưa bao giờ nói đến tôi điên tôi dại. Giờ bảo anh là nhà thơ duy nhất của Việt Nam dùng nhiều yếu tố siêu thực, có khi anh cự cho cũng nên. Siêu thực đây chỉ là yếu tố, chớ không phải là chủ nghĩa, là ngọn cờ đâu mà ngại nó! Tuy chữ ấy từ châu Âu của Breton mà đến nhưng từ xa xưa đã có yếu tố ấy ở Phương Đông”. Như vậy: Hàn Mặc Tử là nhà thơ có yếu tố siêu thực duy nhất ở Việt Nam, ý ông thế nào?

-Cái ông bạn họ Chế “quý dâng tràng chuỗi hột” cho tôi làm lễ trường thọ năm nào vẫn đầu óc thông minh thái quá đến thành rối rắm, phức tạp. Tuyển tập tôi ra năm 1987, thời đổi mới rồi, Chế muốn vĩnh cử hóa, bất diệt hoá vinh quang cho bạn mình sao cứ phải rào chắn vòng vo mãi quanh cái Surréalisme ấy thế. Siêu thực tôi có là có tự bản thân tôi, chứ hồi đó nào đâu tôi đã hiểu tường tận các học thuyết triết học của các triết gia Hútxét, Sôpenhaogiơ, Bécxông. Tôi chỉ biết trong tôi có gì, cảm gì thì nói ra cho biết, cho đạt đến độ say sưa, cuồng nhiệt nhất của khoái cảm tâm linh, vậy thôi.
- Thưa ông, đọc thơ ông ai cũng có cảm nhận đây là siêu thực, hay ít nhất là thơ có yếu tố siêu thực như họ Chế nói. Cảm giác đó ở tôi được củng cố bằng lý luận, xin lỗi, thói quen nghề nghiệp mà, qua tìm hiểu trường phái siêu thực của Pháp. Các nhà siêu thực muốn mô tả cái không thể nhìn thấy, muốn ghi lại trên giấy hoặc trên vải những phản ứng mù mờ của ý thức và tiềm thức, những liên tưởng nẩy ra bất ngờ và vô nguyên nhân trong đầu óc. Chủ nghĩa siêu thực chỉ cần ghi lại những cái nhìn lạ lùng đó, xâu chuỗi chúng vào nhau thế là đủ, dường như những lĩnh vực bí ẩn của cái huyền tưởng tồn tại tự nó phát triển hoàn toàn nội tại. Thế giới vũ trụ trăng sao của thơ ông chính đã được tạo ra trên cơ sở này. Và ông xác định rõ đó là “thơ mầu nhiệm”. Nghĩa là ông có ý thức tìm đến cái siêu thực.
- Có lẽ vừa là thế vừa không phải là thế. Trước hết tôi làm một thi sĩ. “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng. Điểm này tôi giống các thi sĩ khác. “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cã những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và có nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên”. Đây là cái khác người của tôi, có thể từ đó mà ra cái siêu thực cũng nên. Chế Lan Viên nói đúng, tôi vẫn là nhà thơ lãng mạn. Duy chỉ có do hoàn cảnh, do khí chất nhất là do tài năng, tôi cũng xin lỗi anh nói thế để cho thật công bằng và chính xác, nên thơ tôi có một vẻ riêng đặc biệt. “Người thơ phong vận như thơ ấy”, viết câu đó tôi muốn nói phải lấy thơ để xét đo người chứ không phải ngược lại.
- Thưa ông, câu thơ rất thích hợp để nói về tính chất siêu thực của thơ ông. Theo nghiên cứu, các nhà thơ siêu thực Pháp thừơng hay làm phép so sánh “ngược”, nhấn vào vế thứ hai chứ không phải vế thứ nhất, do đó phá vỡ trình tự liên tưởng thông thường. Thí dụ “Điếu xì gà đắng và ngon như cuộc sống” (Apoline) – Không phải nói điếu xì gà, mà nói về sự đắng cay - ngọt ngào của cuộc sống; hoặc: “những kẻ thị dân đáng thương hơn lòng căm thù của tôi, sự giận dữ của tôi” (P. Iunhíc) – đó là nói về cơn giận dữ tuyệt vọng, vô ích của nhà thơ. Trong thơ ông những so sánh ngược, liên tưởng ngược như thế không nhiều nhưng đáng chú ý.
- Tùy anh và các nhà nghiên cứu xét đoán, còn tôi viết là tôi mơ và tôi điên tôi nói như người dại…
- Thưa ông, đó chỉ là một mặt mà thôi. Có một mặt khác là ông rất có ý thức dùng trực giác thẩm mỹ để khám phá ra những bí mật của tự nhiên và ý thức, rất muốn tìm cách chuyển dịch những ranh giới của cái gọi là hiện thực. Một điều kỳ lạ và lý thú là có sự trùng hợp hoàn toàn giữa tư tưởng của André Breton và của ông, mặc dù ông mất trước 4 năm khi tuyên ngôn của chủ nghĩa siêu thực ra đời. Trong bản tuyên ngôn đó A. Breton nêu lên nhiệm vụ của nhà siêu thực là nghiên cứu “trạng thái đặc biệt của trí tuệ khi cuộc sống và cái chết, hiện thực và tưởng tượng, quá khứ và tương lai không bị xem như những cái tương phản” (Tài liệu đã dẫn, P. 1946, trang 76-77) Còn ông viết trong bài “Chiêm bao với sự thật” như sau: “có hay không, hư hay thực là những huyền hão chập chờn trước mắt. Nếu Đường Minh Hoàng phục sinh chắc cũng rỉ tai tôi mà nói cái chuyện lên chơi cung trăng với chuyện xuống âm ty gặp Dương Qúy Phi là có thực. Tôi cũng tin là có chứ sao! Và tôi sẽ ký thuyết minh một cách rất nhà Phật là sắc cũng như không, chết cũng như sống gần cũng như xa và hư cũng như thực…” nếu nói là những tư tưởng lớn Đông – Tây gặp nhau, ở đây là những tư tưởng tìm kiếm khai phá lối đi cho văn học nghệ thuật, thì vinh dự cũng xứng với ông trong làng thơ Việt Nam hiện đại.
- Xin lỗi, tôi không dám. Nhưng quả thực tôi coi làm thơ là sống thật. Trong mộng, trong mơ, trong chiêm bao, chứ không phải là thoát cõi trần lên cõi tiên. Tất cả là hóa làm một, vạn vật nhất thể hiểu theo nghĩa tôi hòa vào vũ trụ, thiên nhiên là là cái “tôi” thứ hai của tôi, là sự thể hiện bản ngã của tôi. Tôi lưu ý ông đến bài “Ave Maria”.
- Thưa ông, theo ý tôi bài đó dưới cái vỏ lời cầu nguyện của con chiên Nguyễn Trọng Trí thực ra là một bản tuyên ngôn thơ của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Một tuyên ngôn khá là siêu thực. Hai hàng lệ rưng rưng của ông khóc cảm tạ Đức Mẹ phò nguy cứu bệnh biến thành:
Giòng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ
Bút tôi reo như châu ngọc đền vua
Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị
Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí
Và trong tay nắm một nạm hào quang.

Một bức chân dung tự họa thật đẹp của ông. Ca ngợi đức mẹ thực ra là ông khẳng định tài năng của mình và chứng tỏ trong cái nước Trời thi ca thì chính ông là chúa tể. Tiếp đến ông cầu xin phước lành Đức Mẹ:

Cho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằm
Thơ trong trắng như một khối băng tâm
Luôn luôn reo trong hồn trong mạch máu
Cho vỡ lở cả muôn nghìn tinh đẩu
Cho đê mê âm nhạc và thanh lương
Chim hay tên ngọc, đá biết tuổi vàng.

Sức mạnh của thơ đến như vậy, hỏi còn ước gì hơn? Và ông đã làm được vậy. Hàn Mặc Tử là nhà thơ đã dám “Vãi tung thơ lên tận sông Hằng. Thơ phép tắc bổng kêu rên thống thiết”. Siêu thực là ở chổ làm cho thơ phải kêu lên như thế chứ ở đâu nữa. Mà vì thơ kêu thống thiết, tiếng kêu bi thảm và lạ lùng của một con người bất hạnh, nên dù không nhiều lắm người nghe hiểu, dù chịu bị bịt bung che chắn nhiều năm thơ đó vẫn sống như bông phượng nở trong màu huyết nhỏ xuống lòng những giọt châu.
- Cám ơn anh. Thật tình cho đến bây giờ, 50 năm sau ngày nằm xuống, đôi lúc tôi vẫn cảm thấy buồn tủi cho thân phận thi ca của mình. Những dòng thơ huyết thổ ra qua những cơn ho, cơn vò xé tâm can đó trộn lẫn với trăng, hoa, đất cát thành một khối chất của Tử tôi sao lại bị dập vùi, trầm luân đến thế. Phải chăng khối chất ấy là một cái gì quái dị, khó hiểu, khiến người đời kinh ngạc.
- Thưa ông, quả đúng vậy, nhưng xin nói ngay để ông yên lòng và vui lòng rằng đó lại là cái riêng, cái độc đáo duy nhất của ông. Thế giới thơ ông là thế giói của những cái quái lạ, cái kinh ngạc, ông tạo những hình ảnh gây ngạc nhiên sửng sốt, trong thi pháp siêu thực có thuật ngữ Image stupéfiante do Apôline đưa ra. Ông chắc biết dịch ra tiếng việt nghĩa là “hình ảnh” (hoặc hình tượng) có tính sững sờ, kinh ngạc. Đó là sự đặt cạnh nhau những yếu tố thuộc các bình diện khác nhau của hiện thực, sự đối chiếu cái không thể đối chiếu được - chủ nghĩa siêu thực đã hình thành dưới phương châm này và đây vẫn là một thuộc tính chính của nó. Trong thơ ông điều này thì đầy tràn, đó là đặc điểm thi pháp chủ đạo xuyên suốt của thơ Hàn Mặc Tử. Ngay cái việc kéo trăng và máu vào cùng một bình diện đã có lẽ là một hành động chưa từng có trong lịch sử thơ ca nói chung rồi. Đây là 4 câu tiêu biểu:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ tang thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

Theo nhà nghiên cứu Xô Viết T. Balasôva trong chuyên khảo “Thơ Pháp thế kỷ XX” (Nhà xuất bản “Khoa học”, M. 1982) thì hiệu quả của hình ảnh kinh ngạc và phản ứng đáp trả “bất ngờ” (thuật ngữ Surprise cũng của Apôline) không phải các nhà siêu thực là những người đầu tiên tìm kiếm. Trước họ Rembô, Lôtrêamông, Apôline đã từng đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng chỉ các nhà siêu thực mới đẩy hiệu ứng kinh ngạc đến mức gay gắt, mạnh mẽ. Ông có thể tự hào ở Việt Nam ông là ngừơi đi theo hướng này. Cố nhiên đạt được như vậy còn là do tài sử dụng ngôn ngữ của ông…
- Anh muốn nói đến sự kết hợp từ ngữ trong thơ.
- Thưa ông, đúng - sự kết hợp từ ngữ. “Có thể kết hợp mọi từ với nhau không loại trừ từ nào. Giá trị thơ ca của sự kết hợp như thế càng cao nếu nó càng võ đoán và thoạt nhìn ngỡ như không thể được” (A. Breton). Thí dụ trong thơ Pháp: “Con chuột chết nằm trong não bộ” (G. Rípmông – Đétxen), “ăn xong cái gì văng, con gấu khạc ra bộ ngực phụ nữ” (B. Pêrê), “Đồ ăn đóng đinh câu rút giống như mùa thu” (G.Acpơ). Còn đây thơ ông: “thơ như tình ái của ni cô” (huyền ảo), “nhiều hành tinh tan đi vì đã lỏng” (đôi ta), “Ngả nghiêng đồi cao bộc trăng ngủ” (Ngủ với trăng) v..v.. Thơ mới đã làm một cuộc cách tân táo bạo trong ngôn ngữ Việt Nam, ở đó có phần đóng góp không nhỏ của ông, đặc biệt trong phạm vi khả năng kết hợp từ. Và về mặt này tôi muốn nói thêm là ngay cả trong giới hạn một từ ông cũng có thể buột nối các bình diện khác nhau lại với nhau, dĩ nhiên là có dòng ngầm văn bản bên trong. Câu “đừng ngã tay mà hứng máu trời xa” (đừng cho lòng bay xa) đã nhập máu ngừơi với máu trời (những vì sao) đọc lên cảm biết thắm thía đau thương. Ví sao là máu trời quả là kinh dị và độc đáo.
Pôn Êluya viết: “Những tư tưởng và tình cảm trần trụi gây ấn tượng mạnh như ngừơi phụ nữ khỏa thân. Nghĩa là cần phải lột trần chúng ra”. Thơ Hàn Mặc Tử có tính chất siêu thực cả ở điểm này nữa ông không ngại nói trần trụi nhưng vì đó là chân thực nên có tính nghệ thuật và có sức thuyết phục, truyền cảm “trời hỡi làm sao cho khỏi đói, gió trăng có sẵn làm sao ăn” - tiếng kêu nhói lòng đau đớn. Rồi bao lần ông cắn thơ, cắn trăng, nhả ra trăng, nhả ra một nàng, mửa ra huyết…, những câu thơ không hoa mỹ để lại cảm giác nhức nhối tê tái lâu dài cho người đọc.
- Tôi với anh đã thức cùng nhau gần trọn một đêm trò chuyện, trao đổi về thơ tôi. Cái chính là tôi nghe anh nói, tôi nhập hồn về đây là để làm một chứng nhân im lặng trước sự phán xét của hậu thế. Còn những cái gì tôi sinh thành từ tâm trí tôi thì đã xuất hiện và vĩnh viễn còn lại ở thế gian như chúng vốn vậy. Ông bạn thi sĩ Chàm của tôi khi còn sống đã lo cho tôi: “thế thì đọc Tử thế nào? ở miền nam trứơc kia ngừơi ta đọc Tử hoặc thấp xuống với Freud với tình dục bản năng hoặc cao lên thượng thanh khí với chúa trời, hoặc tít tắp xa ra trong thời gian, trong con đường về cái chết với Haiđêgơ và nhiều nhà triết học khác”. Anh lại muốn kéo tôi về gần Bécxômh. Thôi tùy, chân lý chỉcó một những lẽ phải thì có nhiếu, cứ tranh cãi đi để từ nhiều trở về một. Bây giờ xin phép anh tôi đi đây, ngày sắp rạng rồi. Tôi đi “từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết…” (Chiêm bao với sự thực).
- Adieu, Hàn Mặc Tử! Câu cuối cùng ông vừa nói tôi xem như một quan niệm văn học, một cách thức làm thơ riêng của ông. Và có thể coi bài thơ sau đây, nhan đề rụng rồi – như lời di chúc một đời thơ ngắn ngủi mà trường tồn cho các duyên kiếp thi nhân đang tới.
Thơ chưa ra khỏi bút
Giọt mực đã rụng rồi
Lòng tôi chưa kịp nói
Giấy đã toát mồ hôi.

4h kém 15 phút sáng 17 –11- 1990

Nguồn trích: Nha Trang.- 1991.- Tháng 9-10 (Số 8) (1354);
KHPL: BĐ.04(91)
===============================================
Đăng nhập để trả lời
0

Nữ sĩ Mai Đình kể về mối tình với Hàn Mặc Tử


Đắc Trung


28 tuổi “ra đi” giữa lúc tài năng đang rộ nở, thi sĩ Hàn Mặc Tử không chỉ để lại “những vần thơ có cánh” mà còn để lại mối tình tuyệt vời với nữ sĩ Mai Đình. Đã có người viết về mối tình đầy thi cảm và đẫm nước mắt này, nhưng tài liệu có đôi phần chưa chính xác. Rất may trong một dịp từ thành phố Hồ Chí Minh, nữ sĩ Mai Đình ra du ngoạn Hà nội, tôi có hân hạnh được tiếp kiến bà tại căn phòng nhỏ bé của mình ở số 64 Bà Triệu. Trong cuộc tri ngộ qúy giá ấy, tôi đã được bà kể cho nghe về mối tình của bà thời xuân sắc với nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử…

Đã sắp qua tuổi 78, mà nữ sĩ Mai Đình vẫn giữ được những nét đẹp kiêu sa, qúy phái. Mái tóc dài bạc trắng chải rất mượt, búi rất gọn. Da hồng, mắt sáng, miệng tươi, khăn hoa, áo lụa hảo hạng. Giọng nhỏ nhẹ mà đầy âm hưởng.

- Tôi sinh ra trong một gia đình quan lại nhỏ, chính quán ở Nông Cống, Thanh Hoá, nhưng thân phụ tôi lại nhận chức tại Phan Thiết. Mười sáu tuổi tôi đã theo sống bên cha và được cha hết mực cưng chiều. Tôi mê đọc sách, đặc biệt Đường thi. Tâm hồn đẫm thơ văn. Một lần trên mục Văn chương tờ “Sài Gòn” tình cờ tôi đọc được bài “Thức khuya” của Hàn Mặc Tử. Chất thơ, hồn thơ, tâm trí lự của tác giả làm tôi say, tôi cảm. Không hiểu sao cái tên Hàn Mặc Tử cứ án ảnh tôi hoài và từ đó tôi cố ý tìm đọc hàng loạt những bài khác của thi nhân này. Bài nào tôi cũng cảm thấy hay, thấy xúc động và trong tôi bỗng thấy hình thành bóng dáng một thi sĩ Hàn Mặc Tử thật tuyệt vời. Cũng từ đấy dường như có sự kỳ diệu nào thôi thúc tôi quyết định gửi những bản thảo thơ của mình cho mục Văn chương của tờ “Sài Gòn” cùng những niềm huy vọng rất mơ hồ, rất khó giải thích, bởi tôi biết rằng trong Ban Biên tập của tờ báo đáng kính đó có Hàn Mặc Tử… Thế rồi tôi nhận được thư anh. Lời thư thật tao nhã cao sang. Anh nói rằng anh thật sự xao xuyến trước vẻ đẹp và sự tinh túy của những bài thơ tôi viết với một bút danh rất mới: Mai Đình và anh lần lượt cho đăng. Dường như tiền định, hai tâm hồn thơ gặp nhau cảm trọng, mến mộ nhau, chỉ qua thư từ trao đổi thôi chứ chưa hề gặp mặt, vậy mà đã rất ý hợp tâm đồng.
Năm 1937, trong chuyến đi từ Thanh Hoá vào Phan Thiết, ngồi trên ô tô, tôi nghe mấy người bạn đồng hành trò chuyện. Họ nói về Văn chương, đặc biệt nhắc nhiều tơi Hàn Mặc Tử. Qua câu chuyện của họ tôi được biết hiện tại Hàn Mặc Tử đang ở Quy Nhơn. Bỗng nhiên trong đầu tôi nẩy ra ý định ghé Quy Nhơn thăm anh. Nhưng mà… phần e ngại mình là thiếu nữ con nhà gia giáo lại tự tìm đến một người con trai. Mà người đó mình chưa hề gặp mặt. Biết anh ở chỗ nào trong cái thành phố rộng lớn đó? Chẳng lẽ làm quen rồi hỏi thăm mấy người trên xe ư? Đâu có được. Tôi chợt nhớ ra được ở Quy Nhơn có một người bạn thơ. Đó là anh Trần Thông. Vợ chồng anh rất mến tôi. Ghé qua thăm anh chị đó rồi tính… Vợ chồng anh Thông đón tiếp tôi niềm nở. Trong câu chuyện tôi làm như đã quen biết Hàn Mặc Tử lắm và hỏi anh chị đó rằng hình như Hàn Mặc Tử đang ở Quy Nhơn, tôi muốn tới thăm ảnh. Cả anh chị đều buồn bã . Chị nói rằng Hàn Mặc Tử đang bệnh nặng, không nên tới. Tôi hỏi anh bệnh gì, tại sao lại không nên, trong lúc anh hoạn nạn thế cần tới thăm mới đúng chứ. Lát sau chị nói cho tôi hay rằng Hàn Mặc Tử mắc bệnh cùi, hiện ở nhà riêng tại số 20 đường Khải Định, anh từ chối mọi người, không muốn tiếp xúc với ai. Tôi đắn đo. Nhưng chiều đó tôi vẫn một mình tìm đến nhà anh. Căn nhà nhỏ nằm khiêm tốn đến vắng lặng. Tiếp tôi là một thanh niên tên là Hiếu, em trai của Hàn Mặc Tử, biết ý định của tôi, Hiếu tỏ ra cảm thông, nhưng gương mặt đợm buồn. Hàn Mặc Tử nằm trong buồng kín, nghe Hiếu vào nói lại, anh bảo Hiếu ra cho tôi hay rằng, anh rất cảm động về việc tôi tới thăm, nhưng anh bệnh không ra tiếp được, mong tôi hiểu cho, hẹn dịp khác tri âm. Tôi ra về lòng ngùi ngùi thương cảm. Ngay chiều gần tối hôm đó, trước khi tôi lên tàu vào Nam thì anh Nguyễn Minh Vỹ tìm gặp. Anh Vỹ đưa tôi tập “Gái quê”, nói rằng Hàn Mặc Tử nhờ chuyển. Mở ngay ra coi và tôi rất xúc động về dòng chữ Hàn Mặc Tử đề tặng tôi. Lên tàu tôi liền đọc một mạch hết tập thơ của anh. Qua thơ anh, tôi càng cảm mến anh. Xúc động tôi viết ngay bài “Biết anh”.

Tàu đến Nha Trang tôi xuống, tìm đến thăm anh Quách Tấn, một nhà thơ có tiếng bấy giờ. Anh em lâu ngày gặp nhau mừng lắm. Tôi kể lại việc đến thăm Hàn Mặc Tử, tất nhiên khoe với anh tập thơ “Gái quê” Hàn Mặc Tử mới tặng tôi. Vốn là bạn thân với Hàn Mặc Tử, anh kể cho tôi nghe nhiều chuện về Hàn Mặc Tử. Chẳng hạn tên thật của Hàn Mặc Tử là Nguyễn Trọng Trí. Ngoài bút danh Hàn Mặc Tử anh còn những bút hiện khác như: Phong Trần, Lệ Thanh, Minh Duệ Thị. Về bút danh Hàn Mặc Tử nguyên trước là Hàn Mặc Tử có nghĩa bức rèm lạnh. Anh Quách Tấn có lần bảo: “Đã có rèm thì thêm bóng nguyệt vào. Hỏi còn cảnh nào nên thơ hơn”. Nhà thơ hiểu ra, gật đầu và thay chữ ả vào chữ a thành Hàn Mặc Tử, có nghĩa là Chàng Bút Mực. Nâng niêu tập “Gái Quê” trên tay. Anh Quách Tấn nói rằng Hàn Mặc Tử cũng tặng anh một tập nhưng một người bạn đang mượn. Anh muốn viết một bài về tập “Gái quê” của Tử mong tôi cho anh mượn vài ngày. Tôi bằng lòng đưa anh, nhưng bẳng quên trong đó có kẹp bản thảo bài thơ “Biết anh” tôi làm tặng tác giả “Gái quê”. Trong bài ấy có mấy đoạn:

Còn anh em đã gặp anh đâu
Chỉ cảm thấy thơ có những câu
Âu yếm say sưa đầy cả mộng
Xui lòng tơ tưởng lúc đêm thâu…

Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để em gần anh ngỏ ít lời

Chẳng hiểu nghỉ cách nào mà Quách Tấn chép liền bài thơ đó gửi ra Quy Nhơn cho Hàn Mặc Tử. Đọc “Biết anh” của tôi, Hàn Mặc Tử làm đáp lại ngay bằng bài “Lưu luyến” (nữ sĩ Mai Đình nheo nheo mắt, cười rất tươi. Tôi thấy bà trẻ lại như thời con gái). Tôi “chết” ở bài “ Lưu Luyến” này đây:

Chửa gặp nhau mà đã biệt ly
Hồn anh theo dõi bóng em đi
Hồn anh sẽ nhập trong hồn gió
Lưu luyến bên em chẳng nói gì
Thơ em cũng giống lòng em vậy
Nghĩa là thơm tho như ánh trăng
Mềm mại như lời tơ liễu rủ
Âm thầm trong ánh gió băn khoăn…

Vậy là “Biết anh” và “Lưu luyến” đã nói lên nỗi lòng của hai chúng tôi, từ đó chúng tôi thư từ cho nhau, gắn bó với nhau như cặp tình nhân trong mộng.

Sau đó tôi rời Phan Thiết vào Sài Gòn. Hàn Mặc Tử vẫn ở Quy Nhơn. Đầu năm 1939 tôi mới có dịp ra thăm anh. Lại tìm đến nhà anh ở 20 Khải Định. Nhưng lần này lòng tôi ngậm ngùi buồm tê tái. Anh không còn ở đây nữa. Bệnh cùi tàn phá cơ thể anh, vi trùng đã ăn lên đến mặt. Gia đình khánh kiệt để lo chạy chữa, nhưng bệnh tình anh không giảm. Chính quyền thành phố bắt đưa anh vào bệnh viện cùi Quy Hoà. Thân mẫu anh mếu máo nói cho tôi hay, khiến tôi không cầm nổi nước mắt. Thương anh gia đình giấu anh ở một nơi kín đáo dưỡng bệnh. Đó lá Gò Bồi. Gò Bồi nằm phía Tây thành phố Quy Nhơn, một khu cát rộng, trên đó là những túp lều cỏ sơ sài của những người nghèo khổ bần cùng đói rách. Muốn ra đấy phải lội bi bõm nước ngập lưng bắp chân, rồi đạp trên cát bỏng dưới nắng hè chói chang. Tôi xin phép bà cụ ra thăm Hàn Mặc Tử. Cụ bằng lòng và một chú bé dẫn tôi ra Gò Bồi. Đến trước túp lếu tranh xơ xác xiêu vẹo, chú bé bảo tôi dừng lại. Vén tấm màn che cửa, chú bé ra hiệu tôi chui vào. Một người đàn ông nhỏ bé, gầy yếu ngồi trên chiếc giường chõng, cạnh bàn viết. Bàn là một tấm gỗ thùng đặt trên một khung chân cũ. Người đàn ông ngước đôi mắt đen sáng long lanh nhìn tôi dò hỏi. Tôi đứng lặng đi. Hàn Mặc Tử đấy ư. Thật xa lạ với một thi sĩ mà tôi hằng tôn thờ trong mộng tưởng. Anh ốm yếu, tàn tạ, da mặt sần sùi, chỉ có đôi mắt làm tôi sững sốt: sáng như hai ngôi sao, đầm thắm, thông minh và có sức cám dỗ diệu kỳ. Từ đôi mắt ấy toát ra thứ ánh sáng huyền diệu, khiến tôi bỗng thấy thương, yêu anh vô cùng. Tôi nhìn xoái vào mắt anh, khẽ nói nhỏ chỉ đủ anh nghe: “em là Mai Đình đến thăm anh đây… Vâng, Mai Đình đây”. Anh chằm chằm nhìn tôi không nói và từ đôi mắt ấy bỗng rưng rưng lệ. Tôi buớc đến gần định ngồi xuống bên anh, nhưng Hàn Mặc Tử vội lắc đầu xua tay. Tôi hiểu vì trên đường ra đây chú bé có kể cho tôi hay rằng từ khi lâm chứng bệnh nan y này. Hàn Mặc Tử hết sức giữ gìn. Anh không bao giờ bắt tay ai, không để ai đến gần, khi giao tiếp, luôn giữ khoảng cách xa để bệnh tình của anh không lây sang người khác. Phút xúc động lặng xuống, chúng tôi bình tĩnh ngồi tâm sự với nhau. Càng trò chuyện càng tâm đồng ý hợp, chúng tôi nói về những người bạn mà cả hai chúng tôi đều quen, nói chuyện văn thơ, chuyện đạo, chuyện đời…

Từ ấy cứ mỗi lần thu xếp được công việc tôi lại từ Sài Gòn ra thăm anh, cố gắng được gần anh nhiều hơn. Vốn liếng tư trang chẳng đáng bao nhiêu, tôi cũng bán đi để có chút tiền đem ra chăm sóc anh. Chúng tôi ngồi suốt ngày say sưa đàm đạo, làm thơ xướng họa, quên cả nắng nóng như dội lửa, quên đói, quên khát. Lúc ấy Hàn Mặc Tử rất vui. Những bài thơ xướng hoạ, những bài thơ chúng tôi cùng làm, bài nào cũng dạt dào xúc cảm. Tôi chép vào một tập. Hàn Mặc Tử bảo tôi đặt tên. Tôi đặt là “Đôi hồn”. Hàn Mặc Tử gật đầu bằng lòng. Có thể nói chúng tôi yêu nhau say đắm. Đó là mối tình hoàn toàn trong sạch. Trọng nhau về đức, về tài, cảm phục nhau về thơ mà yêu chứ thậm chí cầm tay nhau cũng không. Lần đó ra thăm bệnh tình anh càng nặng hơn, sức khoẻ suy sụp. Nhìn anh tôi không cầm nổi nước mắt. Tôi bảo anh hay là anh cứ đi bệnh viện Quy Hoà tôi sẽ nghỉ việc theo anh ra đó chăm sóc anh, không muốn tôi phải khổ vì anh. Hôm sau, tôi chia tay anh về Sài Gòn. Và, đâu có ngờ rằng đó là lần gặp cuối cùng giữa hai chúng tôi.
Nữ sĩ Mai Đình lặng đi, lát sau tôi dè dặt hỏi:

- Thưa bác, vậy bản thảo tập “Đôi hồn” bác còn lưu giữ được không?
- Còn, tôi vẫn giữ, vẫn thuộc nữa
- Giá mà…

Hiểu ý tôi bà nói luôn:

- Đã có người đến mượn, đến xin, đòi mua với giá đắt nữa, nhưng tôi từ chối. Bởi với tôi đó là những kỷ niệm vô gía thiêng liêng với Hàn Mặc Tử, không muốn chia sẻ cùng ai.



Nguồn trích: Nhân dân hàng tháng.- 1997.- Số 6 (tháng 10) (1358);
KHPL: BĐ.04(91)
===================
Đăng nhập để trả lời
0

Mùa xuân chín - bài thơ tài hoa của Hàn Mặc Tử


Vương Thừa Việt


Hàn Mặc Tử là nhà thơ tài hoa. Ông để lại cho đời không nhiều thi phẩm nhưng tác phẩm nào của ông cũng đáng trân trọng, nâng niu như MÙA XUÂN CHÍN.

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang

Sóng cỏ xanh tuơi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…

Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Thầm thì với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây…

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuângsực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?

Ngay tên bài thơ đã cho thấy tác giả là nguời dụng công với câu, chữ. Câu chữ của ông luôn được chắt lọc tìm tòi.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lý. Bóng xuân sang.
Câu thơ thật gợi mở. Trên những mái nhà tranh vách đất của làng quê ngày xưa lấm tấm những nụ hoa thiên lý ùn nở vàng, xen giữa màu xanh tươi của lá. Lá và hoa thiên lý là niềm đặc sắc của hương vị quê hương (Thương chồng nấu cháo le le/ nấu canh hoa lý nấu chè hạt sen- ca dao). Của quý như vậy, xanh tươi mơn mởn như vậy nên mới được gió trêu, gió đùa, gió mơn man. Làm bất chợt mùa xuân ào tới.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời,
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…
Mùa xuân từ trong nha øđã lan ra xa đồi núi, từ cây cảnh sang tới người. Con người của mùa xuân thật trẻ trung, hồn nhiên, đầy sức sống. Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Hát rằng: Ngày mai trong đám xuân xanh ấy-Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi… Ở lại làng chơi với các cô thật vui, song ai đó được đi lấy chồng cũng vui không kém, thậm chí đây còn là sự phát triển của mùa xuân.
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây…
Những từ vắt vẻo, hổn hển được tác giả dùng thật tài tình. Vắt vẻo ở câu trên chỉ sự thơ ngây, hổn hển ở câu dưới nói lên sự hồi hộp, đợi chờ trong lồng ngực của những cô gái đang căng tròn sức sống. Làm cho ai đó đang ngồi dưới trúc (trong bối cảnh này mà chịu ngồi yên dưới trúc thì chắc không còn ở tuổi thanh xuân nữa) cũng phải rộn ràng:
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín?
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Thấy mùa xuân ở quê người lại nhớ tới cảnh làng mình, một cảnh làng mùa hạ có nắng chói chang và bao nhiêu người thân đang oằn lưng lao động giữa nắng. Đây là nét rất nhân bản của con nguời luôn nặng tình với quê hương xứ sở. Nhớ làng trước hết là nhớ những gì cần phải suy nghĩ, sẻ chia.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
Chị ấy là ai vậy? Rất có thể đây là người bạn gái ngày xưa của khách- đang là lao động chính ở quê nhà. Dọc bờ sông trắng nắng chang chang nên được xem là câu thơ thần tình nhất của Hàn Mặc Tử. Ta hay nói sông xanh, sông đỏ, đây nhà thơ nói sông trắng. Nắng đến trắng cả sông thì phải biết nắng gay gắt như thế nào. Các cặp vần trắng – nắng, chang – chang kết hợp với năm phụ âm ng đứng cuối mỗi từ làm cho câu thơ được kéo dài và ngân nga mãi.
Đúng là “Mùa xuân chín”, một mùa xuân đầy đặn, nên thơ.

Nguồn trích: Hạnh phúc gia đình.- 1999 Ngày 13 tháng 1 (2031);
KHPL: BĐ.04(91)
===============================================
Đăng nhập để trả lời
0

Một nét Huế trong thơ Hàn Mặc Tử


Phương Thuận


Nói đến Huế, ta lại nhớ về thôn Vĩ Dạ, địa danh đã khơi nguồn cho thơ Hàn Mặc Tử. “Đây thôn Vĩ Dạ” là bài thơ “thuần túy Huế, tinh khiết Huế” đã bộc lộ rất rõ cuộc sống con người, cảnh vật của một xứ Huế đẹp và thơ mộng
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Một thôn Vĩ Dạ với những cảnh sắc rất xinh đẹp, hấp dẫn, nên thơ, cái ảo và cái thực xen kẽ nhau trong từng hình tượng. Ở đây hiện ra những gì bình dị quen thuộc của quê hương, ánh nắng hồng sớm mai và sắc xanh của cây lá tạo một sự hài hòa rất độc đáo cho bức tranh cảnh. Hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” mang tác dụng biểu cảm sâu sắc, gợi nên những hình ảnh khác nhau về thôn Vĩ Dạ. Những ngôi nhà ở Vĩ Dạ thường được xây cất, bài trí hài hòa với vườn cây, trong một cấu trúc thẩm mỹ khéo léo giữa nhà và vườn. Có lẻ cảnh đẹp ấy đã tạo thành chất liệu cho ấn tượng về thôn Vĩ đẹp và nên thơ.
Nhưng Vĩ Dạ hiện lên không chỉ đẹp ở cảnh, mà còn ở con người: khuôn mặt chữ điền ấy đã là sự biểu thị cho những gì chân chất, phúc hậu của con người xừ Huế. Hàn Mặc Tử chắc đã phải hiểu xứ Huế đến mức nào và nặng tình với nơi ấy đến làm sao mới thể hiện được sự gắn bó hài hòa giữa cảnh và người đến như vậy, nhưng đồng thời cũng làm hiện lên được tính cách kín đáo, e ấp của người dân nơi đây. Thật thú vị khi trong thơ Hàn, hai ranh giới giữa thế giới ảo và thực đã bị xóa nhòa đi.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bấp lay
Câu thơ duy nhất gợi nhớ đến nhịp địêu cuộc sống Huế. Cái buồn nhè nhẹ, mêng mang mênh mang cứ thấm dần vào tận đáy lòng ai và cái nét “trầm tư chẳng nơi nào có được ấy” chính là cái cũng rất đặc trưng cho Huế. Thế rồi ta không còn nhận ra được đâu là thực và đâu là ảo nữa. Vừa mới nắng đấy, bây giờ ánh trăng đã tràn đầy:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Một dòng sông thực, một con đò thực, một bến đò thực đã chuyển hóa thành dòng sông thơ, con thuyền thơ và bến đò thơ.
Những câu thơ như vậy thật không thể phân tích, bình luận một cách thực thà vì e rằng làm tan mất con thuyền chở trăng trên sông trăng về với bến trăng. Hàn Mặc Tử đã gửi gắm tình yêu, nổi ngóng đợi trông chờ tình yêu vào con thuyền trăng trên bên sông trăng-một ý thơ độc đáo và tài hoa. Tình yêu ở đây nhẹ nhàng, kín đáo làm sao.
Cảnh chiều xứ Huế hiện lên trong những câu thơ cuối cùng với hình ảnh con người xứ Huế đã bị sương khói đẩy ra xa hơn, như mơ như thực, như mờ như hiện. Thiếu nữ với tà áo trắng trong phất phảng sương khói ấy trở thành cái gì đó xa vời, khó với tới, cái tình người có ở đây không mãnh liệt, nồng cháy bao nhiêu thì lại càng thi vị bấy nhiêu.
Đây thôn Vĩ Dạ là một trong số ít những bài thơ của Hàn Mặc Tử viết về Huế với tình cảm trong sáng và sâu nặng đến như vậy. Bài thơ thể hiện được những nét đẹp của người và cảnh xứ Huế vào những thời khắc khác nhau. Tình người và tình đời hòa quyện với thiên nhiên tạo nên một nét độc đáo đầy cảm xúc về con người thôn Vĩ Dạ của Huế mộng mơ và nên thơ

Đây thôn Vĩ Dạ
Hàn Mặc Tử
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bấp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Aùo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?


Nguồn trích: Quê Hương.- 1999.- Số 4 (2029);
KHPL: BĐ.04(91)
Đăng nhập để trả lời
0


Một chìa khóa để vào bài thơ "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử


Đây thôn Vĩ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Lịch sử văn học rất kỳ lạ. Có những nhà thơ khi nhớ tới là người ta nhớ ngay tới một bài thơ, một bài thơ đã làm nên gương mặt nhà thơ. Mà gương mặt ấy lại “sáng” vào bậc nhất trong số các gương mặt của các nhà thơ cùng thời. Đó là trường hợp Thôi Hiệu của Trung Quốc đã dịch sang ta và Hàn Mặc Tử của Việt Nam. Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, cái chất thơ cái đẹp, cái tình ta đã hiểu, vì thế nên chúng ta yêu, chúng ta say đã đành. Còn Đây Thôn Vĩ Dạ hình như chúng ta chưa hiểu hết vẻ đẹp còn như phong kín chưa ai tìm thấy chìa khóa để “mở được lối vào” ấy thế mà chúng ta vẫn yêu, vẫn say, phải chăng Hàn Mặc Tử đã hai lần thi sĩ, hai lần tài hoa? Phải chăng đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã linh cảm khi Hàn Mặc Tử vừa mất.
“Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ tan biến đi, và còn lại ở thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.
Sau một thời gian dài không đưa vào giảng cho các em học sinh, gần đây, chắc vì “cái chất say người” của bài thơ đã khiến cho nhà làm sách giáo khoa không cưỡng nổi, đã phải đem nó vào chương trình của các trường phổ thông mặc dù các nhà làm sách giáo khoa, hình như cũng chưa hiểu về bài thơ lắm: nội cái “khuôn mặt chữ điền” văn lớp 11 cho là “… một loại diện mạo đẹp của những người bản chất tốt phúc hậu… hiền lành thấp thoáng đi về trong các vườn cây, sau rặng trúc ở thôn Vĩ Dạ”. Còn tập làm văn lớp 12 in năm 1995, ông Lê Trí Viễn cho rằng: đó là khuôn mặt của chủ nhân “vườn ai”…
Lại còn câu đầu của bài thơ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” nhiều người trong đó có cả tôi vẫn hiểu như lời của ai trách ai “sao không về?” và có người còn lý giải đó là lời trách của chủ nhân “vườn ai” trách thi sĩ “sao không về chơi?”. Nếu đúng vậy! Thì liền sau đấy ai nhìn thấy “…nắng hàng cau nắng mới lên” và còn:
“vườn ai mướt quá xanh như ngọc”.
Chả nhẽ “nàng”, chủ nhân của “vườn ai” lại tự “quảng cáo” là vườn mình “xanh như ngọc’ ư? Không có lý chút nào. Rồi đoạn tiếp với cặp câu thơ:
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Quyến rũ đến thế! Nhưng thuyền ở đâu? Sông trăng ở đâu? Bí mật vẫn hoàn toàn bí mật. “Thôn Vĩ Dạ” đẹp nhưng không có lối vào…
Rồi tình cờ một buổi chiều buồn ngồi nhớ tới cái “Thuở xưa ấy” của đời mình, tự nhiên tôi lẩm bẩm: lâu rồi lâu lắm rồi anh không được gặp em. Mà cũng lâu lắm rồi sao anh không về thăm “nơi ấy” quê em! Thế là những kỷ niệm xưa cũ từ bến đò ngang sông Hồng, rồi bóng cây phượng đầu đình tán trùm mát rợp, rồi khuôn mặt thân thương của người con gái tôi quen thuở nào bỗng… vụt hiện trướcc mặt tôi như có thể đụng tới, chạm tới được…
Một sự liên tưởng đã khiến tôi reo lên “chìa khóa” để vào thế giới thơ, để vào “Thôn Vĩ Dạ” đây rồi. Hàn Mặc Tử có thể tự vấn, tự trách mình:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ (quê em) và “Thôn Vĩ Dạ” vụt hiện lên trong “mơ”, cảnh cũng hiện ra như có thể “đụng tới”, chạm tay tới như tôi vừa rồi lắm chứ! Trước mặt thi sĩ “… nắng hàng cau nắng mới lên”. Trong cái nắng mới ấy “vườn ai” đã thu hút hết tâm trí. Trong con mắt của thi sĩ lúc này “vườn ấy” đẹp nhất.
“Vườn ai?”. Vườn của nhà người ấy, vườn của… nhà nàng: “mướt quá xanh như ngọc” màu xanh trinh nguyên tới mức thiêng liêng, để người con trai chỉ dám thập thò ở ngoài mà nhìn, mà ngắm, mà chiêm ngưỡng thôi! Phút giây hồn thơ thăng hoa tới tột đỉnh thi sĩ như nhìn thấy chính “mình” đang thâp thò nhìn, ngắm “vườn ai” ngày ấy, qua bờ dậu. Thấy cả mấy cái “lá trúc” đang che ngang “khuôn mặt chữ điền” của mình. Ở ngoài ngắm, chiêm ngưỡng qua bờ dậu “vườn” nhà người ta, ắt sẽ bị mấy cái “lá trúc” cản đi tầm nhìn là đáng lắm chứ. Ôâi câu thơ: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” tài hoa đến vậy chính cái “lá trúc” làm nên cái duyên của câu thơ. Đến bây giờ tôi mới dám chắc rằng: “khuôn mặt chữ điền kia” là khuôn mặt của thi sĩ họ Hàn. Người thi sĩ có “khuôn mặt chữ điền” ấy mới có cái tài nhận ra: “vườn ai mướt quá, xanh như ngọc” xong lại thật thà quá, dát quá không dám vào. Đứng mãi… rồi cũng phải quay ra chứ chả nhẽ…! Khi xoay lưng bước qua một bước “vườn ai” đã ở phía sau, cái cảm giác chia ly tràn ngay đến:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Say đắm… ra về tay không… thất vọng… càng buồn:
Dòng nước buồn thiu hoa bấp lay
Về tay không, cảnh vật trước mặt như không hồn chỉ có cái “hoa bắp” vô tri kia vẫn cứ “lay” như nhịp đập “vô vọng” của trái tim thi sĩ lúc này vẫn đập, vẫn không quên.
Ai cũng biết lẽ đời, cái thủa yêu đương… say cảch chẳng qua vì say người. Nó tới “vườn nhà nàng” chẳng qua là nhằm nói tới “nàng”. Từ cái buổi chiêm ngưỡng “vườn” nói đúng hơn là chiêm ngưỡng “nàng” qua bờ dậu ra về. Trái tim thi sĩ như đã để lại nơi “vườn ai”, ra về với nỗi lòng “vô vọng”. Nhưng tình yêu đau có dễ gì chấp nhận ngay sự “vô vọng” sự thất bại, vì thế, khi kỷ niệm rực cháy, cảnh hiện ra “đủ cả” thậm chí còn đẹp hơn xưa, nhưng thiếu em. Phải chăng vì em chưa phải, em không phải là của anh? Một sự khát khao cháy bổng, khát khao cuốn cuồn tới mức muốn “chiếm đoạt”. Em chỉ là của anh, em phải là của anh! Trong tâm tưởng của thi sĩ vụt hiện lên ở cái khoảng không kia một “dòng sông trăng” một “con thuyền”, như một sự cứu cánh cho thi sĩ.
Chỉ có ánh trăng-dòng sông trăng mới có khả năng chảy đi bất cứ nơi nào tìm “nàng” (em) ở bất cứ nơi đâu và mang “nàng” về cho thi sĩ
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
“Sông trăng”-dòng sông mộng tưởng trong phút giây cháy bổng thi sĩ như sống với nó. Dòng sông, như có “thực”, và câu thơ đầy mộng ấy hay tới mức quyến rũ cả khi người ta chưa hiểu nó.
“Mơ” đến cao độ rồi cũng phải quay về cõi thực dù câu thơ tiêùp sau tuy “còn mơ”:
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Nhưng thi sĩ đã phần nào tỉnh ra để nhận thấy:
Áo em trắng quá nhìn không ra
Thông qua “vườn” nói em “… như ngọc” nay thông qua “áo trắng” (áo em trắng quá) để nói em cao sang thì biết anh có với tới được không? Nhất là nơi anh ở xa cách với em đến thế! Với em (vì xa cách) đến hình bóng của anh cũng mờ đi trong sương khói.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Thi sĩ nghĩ thế! Đoán thế rồi buông tiếng thở dài
Ai biết tình ai có đậm đà?
Yêu ngừơi ta. Nhưng không biết người ta có yêu mình không? Tình yêu đơn phương bao giờ chả dẫn tới buồn khổ, đó là lẻ thường ở đời. Nhưng với Hàn Mặc Tử: “Nổi buồn khổ” ấy đã được thổi qua hồn mà thành bài thơ tuyệt tác, và “Thôn Vĩ Dạ” nơi có “vườn ai” bổng thành một địa danh bất tử. Như là một thôn làng đẹp nhất trong các thôn làng Việt Nam.

Nguồn trích: Tác phẩm mới.- 1998.- Số 12 (2027);
KHPL: BĐ.04(91)
Đăng nhập để trả lời
0

Thơ, nhà thơ, nghề thơ trong quan niệm của Hàn Mặc Tử


Hàn Mặc Tử (1912-1940) là nhà thơ độc đáo đến kỳ lạ và kinh dị. Một nhà thơ như vậy hẳn phải có một quan niệm đặc biệt về thơ và những gì liên quan đến thơ.

1. Về thơ

- Hàn Mặc Tử đã có một quan niệm rất khác thường (1)Trước hết, sự khác thường thể hiện ở chỗ “không giống Baudelaire lắm”, có nghĩa là có giống nhưng không giống hoàn toàn, vẫn có chỗ khác Baudelaire. Vậy, khác và giống về điểm gì?
Nếu Baudelaire lấy passion (2) làm cảm hứng cho thơ thì Thơ duyên đã thấm thía những tình cảm rất nồng rất say sưa “ngất đi vì khoái lạc”, bởi nó là “tinh lực của hồn, của máu” được “phát tiết” ra. Trong lúc đó, như ông đã nói tình cảm (enthousiaasme) là sự tinh lọc hồn nhiên không một chút gì bợn nhớ, tội lỗi”, còn “dục tình là cả một ham muốn ngoài điều răng của Đức Chúa Trời”. Ta hiểu điều ông nói, dục thì nghiêng về những ham mê bản năng, tinh cảm nghiêng về những rung động tinh thần rất thanh sạch. Có điều, với Budelaire, dục tình ấy và với Hàn Mặc Tử tình cảm ấy có chung một cấp độ rất cao: tột cùng, đỉnh điểm.
Nếu Budelaire cho “thơ chỉ là thơ” “không thể dung hòa khoa học hay luân lý”, “không thể lấy chân lý làm chủ đích được”, thì với Hàn Mặc Tử, “sở dĩ thơ văn được phong phú dồi dào phát triển hết cả anh hoa huyền bí và vượt lên những tầng biên giới tân kỳ mới lạ cũng nhờ khoa họa điểm xuyết. Còn luân lý tiêu chuẩn cho văn thơ, không có nó thì thơ văn chẳng ra cái mùi mẫn gì cả. Nếu để thơ văn tồn tại một mình, thơ sẽ lạc lẽo vô duyên, không có phong vị gì”-“văn thơ không phải bởi không mà có”
Phải chăng Hàn Mặc Tử muốn nhấn mạnh văn thơ bởi có mà có. Nhờ cái có thứ nhất mà cái có thứ hai thơ mới tồn tại, cái có thứ nhất ấy theo ông là Đức Chúa Trời.
- Đức Chuá Trời làm chân lý, làm tiêu chuẩn cho văn thơ “Đức Chúa Trời là “cái thơ trên cái thơ khác”.
Rõ ràng, như ông nói ý kiến của Budelaire là “trái ngược với lẽ tự nhiên”, trái ngược với trật tự vật chất-tinh thần, khách thể-chủ thể. Với Hàn Mặc Tử, chúng ta thấy, quan niệm thơ của ông thuận tự nhiên hơn: Đức Chúa Trời vừa là điểm xuất phát-cội nguồn, vừa là đích đi tới-tiêu chuẩn của thơ.
Điều quan trọng là “Đức Chúa Trời” với Hàn Mặc Tử, suy cho cùng, không còn nguyên vẹn là một khái niệm, một hình ảnh tôn giáo nữa, mà nó phải chăng là tạo hóa, cõi thế gian đầy trăng, hoa, hương… đã gắn bó gần gũi, chở che và an ủi đời ông?
Từ cái giống và cái khác Budelaire được ông phát biểu như trên và từ thơ của ông nữa, chúng ta thấy cụ thể hơn về quan niệm thơ của Hàn Mặc Tử.
Hàn Mặc Tử cho thơ từ “cõi tâm linh” thoát ra ngoài, mãnh liệt cuồn say, thơ “từ nội tâm vọt ra mà bay lên”, là “tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ ao ước trở lại Trời, nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung với những hạnh phúc bất tuyệt”. Với ông thế giới tâm linh ấy “vô cùng, vô tận, vô ảnh, vô hình”, cho nên, vườn thơ ông “rộng rinh vô bờ bến”.
Xuân gấm đầu tiên giữa cõi đời
Mùi thơm ngây dại sóng con ngươi
Hay hoan hô lời cao như sấm:
-Vạn tuế, bay ơi! Nắng rợm trời!
(Xuân đầu tiên)
Hàn Mặc Tử cho thơ cần có nhạc và họa:
Ta sống mãi cùng trăng sao gấm vóc,
Trong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay
(Trường thọ)
Thật “sáng láng, phương phi như một mùa xuân như ý”.
Hàn Mặc Tử cho thơ cần lãng mạng và siêu thoát:
Thơ bay rồi thơ bay…
Mau gò giai âm lại
Sớt bớt nghĩa đang say
(Điềm lạ)
Hàn Mặc Tử từng khẳng định: “Trí người đã dâng cao, thơ người dâng cao hơn nữa, thì ra người đang say sưa, đi trong mơ ước, trong huyền diệu, trong sáng láng và vượt khỏi ra ngoài hư linh”. Chính bởi vậy, có nhà phê bình nhận xét: “hơn hết cả thi hào trên thế giới, Hàn Mặc Tử phóng thoát cái bản năng loài người để mà ăn nhập vào với vũ trụ, để biến thành một hiện tượng của vũ trụ” (Trần Thanh Mai).
Hàn Mặc Tử cho thơ là “thánh ca” chiêm ngưỡng Đấng chí tôn-cõi thế gian-cuộc sống:
Lòng vua chúa cũng như lòng lê thứ
Sẽ ngây ngất bởi chưng thơ đấy ứ
Nguồn thiên liêng yêu chuộng mẹ Sầu Bi
Phượng trì! Phượng trì! Phượng trì!
(Thánh nữ đồng trinh Maria)

2. Về nhà thơ

Hàn Mặc Tử từng có quan niệm thơ “rất khác thường”, nên tất yếu có quan niệm thi sĩ “không phải là người thường mà là “người thơ phong vận như thơ ấy” ngoài “thiên thần và loài người ta, Đức Chúa Trời cho ra đời một loài thứ ba nữa: loài thi sĩ-loài này là những bông hoa rất quý và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mệnh thiên liêng: phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người và trút vào linh hồn Người là những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho, rất ngoan sạch”, “phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời”.
Như vậy, nghệ sĩ đã được đặt tên được xưng danh thật sang trọng, thật khác thường: “loài thi sĩ”, “người thơ”, vị “khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo” để hưởng cái niềm vui hơn người đó là đã “ngất ngư trong khi nuốt hết khí vị thanh tao của mùa xuân ấm, của tất cả những lương thực thật ngon ngọt mỹ vị làm bằng hương báu, làm bằng nhạc thiên, làm bằng rượu say, làm bằng châu lệ của thế gian, nếm mãi chưa bưa - chưa ớn. Chưa hả hê chút nào”. Thế nhưng, ông đã nói rất đúng, có được cái niềm vui ấy, người thơ “phải trả bằng giá máu”, phải “rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ lạ lùng, không có lấy một người hiểu mình”. Thi sĩ đi tìm tri kỹ mãi mà vẫn kêu rên thảm thiết, bởi lẽ “không bao giờ tìm đặng”
Với Hàn Mặc Tử, “người” thơ là người sung sướng nhất bởi có năng lực, sự tinh nhạy, niềm si mê hơn người khác trong cản nhận những châu báu của thế gian do Đức Chúa Trời đem lại, cũng là ngừơi đau khổ nhất, bởi ham muốn tột bậc, ham muốn suốât đời tìm gặp người tri kỷ mà không bao giờ gặp hoàn toàn, không bao giờ được ôm trọn vẹn. Với Hàn Mặc Tử nếu thơ được làm bằng “hai mặt: lạc quan và bi quan thì “người thơ cũng vậy”, sung sướng tột cùng, đau khổ tột cùng, vượt lên trên thiên hạ, vượt ra ngoài hư linh. Cho nên, sung sướng và đau khổ là hai mặt của hạnh phúc được sáng tạo của nhà thơ.
Cũng chính vì vậy, với Hàn Mặc Tử, “người thơ” đã là xứ giả của trời và đất, là chất kết dính, là đường dây nối liền mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với thiên hạ.
Suy cho cùng, qua quan niệm về “người thơ đã nêu ở trên Hàn Mặc Tử cho ta rõ một mô hình thơ: Đức Chúa Trời-người thơ-người ta (cả và thiên hạ). Đức Chúa Trời , như đã nói ở trên, phải chăng là cuộc sống, và “người ta” chính là bạn đọc?
3. Về nghề thơ
“Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên” (Chế Lan Viên- Tựa Điêu tàn). Chúng ta hiểu với Hàn Mặc Tử điên đồng nghĩa với khác thường, phi thường mà trước tiên thuộc số mệnh, danh dự và thiên chức của người thơ, sau nữa, thuộc cơn đau sáng tạo.
Thơ là nghệ thuật thuộc phương thức trữ tình, chủ yếu bộc lộ thế giới nôi tâm của nhà thơ trước cuộc sống. Vì thế “thơ khởi phát tự lòng người” (Lê Quý Đôn) muốn làm thơ “hãy xúc động cho ngòi bút có thần” (Ngô Thì Nhậm). Như vậy, thơ là tiếng nói của tình cảm nhưng tình cảm phải đến độ cháy bỏng mới thành thơ. Hàn Mặc Tử tiếp tục khẳng định một cách “phi thường”, tiếp tục làm rõ độ cháy bỏng ấy của tình cảm khi nhà thơ cảm nhận và thể hiện của cuộc sống – khi làm thơ: ‘Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui buồn giận hờn đến gần đứt sự sống”, “Khi ngòi bút tôi đã thấm nhuần những ý nghĩ cao cường, truyền sang bởi điện tinh truyền của của trí tuệ, tôi phơi lên mảnh giấy thanh sạch này những tình cảm nóng ran, tràn trề và thơm lựng”, “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng… nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản bội lại tất cả những gì lòng mà tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật…Nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên… Tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”. Nghĩa là:
Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút,
Mỗi vần thơ đều dính não cân ta
Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt
Như mê man chết điếng cả làn da.
( Rướm máu)
Quả thật, Hàn Mặc Tử đã dựng lại được quá trình đã làm thơ, một quá trình khó khăn phức tạp, căng thẳng, tràn đầy những cảm xúc và suy tư trái ngược, xô đẩy níu kéo, dằn co nhau-một sự thống nhất đầy mâu thuẫn giữa tình cảm và lý trí, giữa “chiêm bao và cõi thực” của nhà thơ. Đó là một quá trình, như có người nói “lên đồng”, “nhập thần” và như Hàn Mặc Tử nói: “phát điên”, “khóc”, ‘gào”, “rú”… của nhà thơ. Quá trình này càng mãnh liệt sâu sắc thì trang viết càng giàu chầt thơ. Như vậy, Hàn Mặc Tử hiểu rõ cơn đau-làm thơ, cơn đẻ ra những trạng thái kỳ lạ, tạo nên những xung đột chưa từng có, sự phi thường từ cái bình thường nhất.
Đã có biết bao nghệ sĩ viết về cơn đau sáng tạo của mình. Nhưng có thể nói, chưa một ai đau nổi đau này một cách cực điểm, quằn quại tâm hồn, vật vã thân xác-cái đau mang “tầm vũ trụ” như Hàn Mặc Tử. Nhà thơ đã từng bọc bạch: “như có ma lực vô song xô tôi đến bờ huyền diệu… không cầu nguyện nữa mà lòng tôi rực lên cảm hứng… ngoại cảnh đã xâm lấn xác thịt và linh hồn tôi. Bao nhiêu là tinh anh của non sông đều xông vào tôi rút hết tình tiết của tôi. Tôi có thể bảo đấy là một lối thần giao cách cảm-mà ngoại cảm hay thâm tâm đồng xáo động, bởi dây khoái lạc vô ngần. Và, có thể say mê đến điên dại bắt chước Lý Bạch… vồ trăng trên mặt nước”.
Với Hàn Mặc Tử, làm thơ, ấy là lúc thần trí thi sĩ thăng hoa, bay tản đi chỉ còn lại linh hồn trong “cõi mộng”, nơi “cực lạc giới”, nơi “suất thế gian”, để từ nơi ấy “toàn thân thi sĩ rung động như một sợiï đường tơ”. “Sợi đường thơ” ấy xuất hiện trong chiêm bao-cõi ảo mà rất thực. Bởi lúc ấy, như Hàn Mặc Tử đã nói “có ai nhìn thấy hai hàng nước mắt rưng rưng của tôi không?”.
Thế là ta đã rõ “chiêm bao rã rời trong khi ánh sáng sự thực rọi tới. Bây giờ, ngoại cảnh và nội tâm điều hòa rung lên những nhịp tiêu thiều thanh bai…” “nhịp tiêu thiều thanh bai” là thơ đó. Thơ đi ra từ “chiêm bao và sự thực”, vai trò của chiêm bao-vô thức, nơi lý trí của con người không kiểm soát được, trong khi làm thơ, với Hàn Mặc Tử quan trọng biết nhường nào. Không có vô thức, thơ ông không ra đời được, và, nếu có xuất hiện thì không còn là thơ như thơ ông mà ta đang có. Chính vì có cõi chiêm bao, thơ ông mới trở nên kỳ ảo: đi ra từ tâm linh, có nhạc và hoa, có lãng mạng và siêu thoát, có âm vọng thánh kinh.
Tóm lại thơ, người thơ, nghề thơ trong quan niệm của Hàn Mặc Tử, ở phương diện nào cũng đều là sự tiếp tục quan niệm mỹ học của Đông-Tây, xưa-nay. Thế nhưng “sự khác thường” trong quan niệm về thơ “không giống người thường” trong quan niệm về thơ, “tức là điên” trong quan niệm về làm thơ của Hàn Mặc Tử đã ở một cấp độ riêng, rất Hàn Mặc Tử; cấp độ tột cùng, đỉnh điểm, cấp độ vô biên, tuyệt đích. Cấp độ này đi ra từ ba biển lớn đầy giông bão của đời ông: bệnh tật, tình duyên và “cách mạng mà ông không tự biết là cách mạng” (Chế Lan Viên)

Chú thích:

(1) Từ đây nếu không có chú thích rõ thì những đoạn trích là của Hàn Mặc Tử, được lấy từ các bài văn xuôi như Thơ, Quan niệm thơ, Chiêm bao và sự thực… và một số bài thơ.
(2) Dục tình
Tác giả: Phan Quỳnh Nga;
Nguồn trích: Văn nghệ quân đội.- 1999.- Tháng 3 (2026);
KHPL: BĐ.04(91)
Đăng nhập để trả lời
0

Những năm tháng đau đớn của Hàn Mặc Tử


Phan Cao Toại



Mãi đến năm 1941, y học mới phát hiện DDS, thuốc đặc hiệu điều trị bệnh phong. Tuy nhiên trong bệnh phong, dù không được điều trị hay điều trị muộn, người bệnh vẫn không chết vì bệnh này mà chỉ bị tàn phế tay chân hoặc ở mặt. Tiếc rằng Hàn Mặc Tử đã phạm sai lầm khi sử dụng các loại thuốc có nhiều độc chất. Ngày nay, không còn là tứ chứng nan y và hy vọng sẽ bị tiêu diệt vào năm 2000. Người viết bài này là một thầy thuốc đã nhiều năm làm việc với bệnh nhân phong, mang chút hiểu biết ít ỏi của mình trình bày cùng bạn đọc và cũng xin xem đây là nén nhang tưởng nhớ thi sĩ tài ba Hàn Mặc Tử.

Cho đến nay, sau năm mươi tám năm ngày mất của thi sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh Hàn Mặc Tử, nhiều người vẫn chưa hiểu tường tận về căn bệnh cũng như cái chết thương tâm của nhà thơ. Các tài liệu để lại nói về quãng đời của ông thật ít ỏi và cũng không nhất quán. Song, có một điều có thể khẳng định được, thời gian phải sống trong bệnh tật ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sáng tác của ông. Vậy Hàn Mặc Tử đã mắc bệnh gì, quá trình chữa trị ra sao và cuối cùng chết vì nguyên nhân gì. Căn cứ vào những tài liệu có được ở Bệnh viện phong Quy Hòa (Quy Nhơn), nơi nhà thơ trút hơi thở cuối cùng, qua tiếp xúc với ông Nguyễn Bá Trí em ruột nhà thơ, ông Nguyễn Văn Xê bạn bệnh và nữ sĩ Mai Đình, bạn thơ một thời của Hàn có thể đi đến kết luận: Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong nhưng lại chết vì suy kiệt.
Dựa trên cơ sở khoa học về bệnh phong, thời gian ủ bệnh của bệnh này vào khoảng sáu năm (có thể dài hơn). Hàn Mặc Tử bị nhiễm bệnh này vào khoảng 1929-1930. Trong gia đình Hàn từ trước cho đến thời gian Hàn bị bệnh không có ai mắc bệnh này, như vậy là Hàn đã bị lây từ một nguồn lây nào đó. Bệnh phong không di truyền, khó lây nhưng vẫn là bệnh truyền nhiễm . Vì thời gian ủ bệnh khá lâu nên khi xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của bệnh, phải hiểu rằng người bệnh đã bị nhiễm bệnh khá lâu trước đó. Trong thời gian ủ bệnh, dĩ nhiên có sự biến đổi đáng kể về tâm sinh lý. Sự biến đổi này ở Hàn Mặc Tử được ông Nguyễn Bá Tín mô tả: “Anh thay đổi cả tâm tính lẫn hình thể, sống nội tâm xa vắng…”, và vì có những chuyện buồn trong gia đình (anh ruột Hàn bị chết vì tai nạn, gia đình đang trong tình trạng túng quẫn), Hàn rơi vào tình trạng buồn bã, u sầu, luôn luôn bị ám ảnh bởi những nỗi đau nhân thế. “ Càng bị ám ảnh nặng nề hơn khi nghe tin thiếu nữ từng hòa đàm với tôi vì chuyện buồn của gia đình mà quyên sinh…” (Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử, anh tôi) Ông sống trong những ảo ảnh kỳ lạ, tràn đầy yêu thương và đau xót. Cảm giác bay bổng đó có thể hiểu như là một thể nhẹ của bệnh tâm thần và nhờ sống trong hoàn cảnh đó, Hàn Mặc Tử đã xuất thần cống hiến cho đời những áng thơ hay. Tình trạng tâm lý này còn diễn biến suốt quá trình bệnh lý của Hàn Mặc Tử.
Có người nói, sở dĩ Hàn mắc bệnh phong vì có lần ông đi chơi với Mộng Cầm ở Phan Thiết bị mắc mưa, phải trú vào một chòi tranh trong nghĩa địa gần một ngôi mả mới. Quan niệm này không đúng bởi lẽsự thối rửa của xác chết không phải là nguyên nhân gây bệnh phong.
Sau khi có những biểu hiện của bệnh phong, khoảng đầu năm 1935, gia đình Hàn rất lo lắng, liền mời một ông thầy đông y đến bốc thuốc. Ông này chẩn đoán Hàn bị bệnh phong và nói rằng trong máu có chất độc. Lúc bấy giờ, bệnh phong bị xếp vào tứ chứng nan y: phong, lao, cổ, lại. Bệnh phong ở đây gồm một khái niệm rất rộng và mơ hồ từ những biểu hiện nhẹ trên da như nổi mề đay, ngứa ngáy cho đến bệnh phong (Lèpre) do vi khuẩn Hanxen gây nên. Cho nên, ông thầy đó chỉ cho một liều mười thang bổ huyết khu phong, một liều thuốc không hề có tác dụng diệt khuẩn mà có tác dụng giải mẫn cảm nên bệnh tình của Hàn không thuyên giảm.
Mặc dù biểu hiện cuả bệnh phong khá rõ như hai tai, thùy châu bắt đầu song đỏ, nhưng Hàn vẫn cảm thấy bình thường. Thêm một điều nữa khiến nhà thơ không lo lắng gì về bệnh tật của mình, đó là việc ông Bửu Đông lấy máu ở tai xét nghiệm nhưng không có vi khuẩn Hanxen. Điều này cũng khá phù hợp với diễn biến của bệnh phong trong giai đoạn đầu. Có thể vào thời điểm đó, Hàn bị bệnh phong thể BT, thể có ít vi khuẩn. Muốn xác định thể này, ngoài xét nghiệm tìm vi khuẩn còn phải xét nghiệm tế bào học.
Giữa lúc bệnh tình bộc phát, Hàn cho xuất bản tập Gái quê và nhận lời làm chủ biên cho tờ Phụ nữ Tân văn ở Sài Gòn. Vì các triệu chứng quá rõ, Hàn phải lo điều trị cho khỏi trước khi vào nhận việc. Người thứ hai xem mạch kê đơn cho Hàn là một ông thầy thuốc người Hoa ở Gò bồi (Tuy Phước). Ông này cho Hàn uống thuốc tể, dặn kỹ càng về liều lượng và cách sử dụng.
Uống được chừng hai tuần, các triệu chứng bay đi gần hết, chỉ còn hai thùy châu phơn phớt hồng.Vì nôn nóng muốn vào Sài Gòn sớm, Hàn đã rút ngắn thời gian điều trị, uống gấp đôi liều. Hàn đâu biết, đó là thứ thuốc làm từ các loại nọc rắn nên có lần uống xong, Hàn lão đão, cong người, ngã vật xuống đất. Quan niệm lấy độc trị độc của các ông lang thời bấy giờ đã làm hư hỏng các phủ tạng của người dùng thuốc, đặc biệt là gan và thận, gây nên hiện tượng ngộ độc thuốc trường diễn, hậu quả cơ thể không có khả năng hấp thu, dẫn đến suy kiệt. Có thể nói, việc Hàn dùng quá liều thuốc có nọc độc của ông lang ở Gò bồi đã dẫn đến cái chết oan uổng của ông không lâu sau đó.
Trải qua hàng loạt những điều trị sai lầm của ông lang, khi Hàn được đưa vào Bệnh viện phong Quy Hòa, ông đã ở trong tình trạng suy kiệt. Hồ sơ của ông mang ký hiệu 1134, ngày vào viện 20/9/1940 với chẩn đoán: “Bệnh phong thể nhiều vi khuẩn”.
Ông Nguyễn Văn Xê kể lại: Hàn không thể đi lại một mình, mỗi lúc ra ăn cơm phải có người dìu đi và ở thời kỳ này, Hàn chỉ sáng tác duy nhất bài thơ Sự trong sạch của tâm hồn (La pureté de l’âme) dành tặng các xơ. Ông mất lặng lẽ vì suy kiệt lúc 11h ngày 11 tháng 11 năm 1940, hưởng dương 28 tuổi. Hồ sơ ghi là bệnh kiết lỵ, nhưng theo sự suy đoán của chúng tôi, đó là tình trạng suy kiệt quá nặng do cơ thể không còn khả năng hấp thu.
Điểm qua quá trình diễn biến bệnh tật của nhà thơ để tìm ra nguyên nhân làm ảnh hưởng đến quá trình sáng tác của ông, nhiều người nói thơ ông siêu thoát, thơ ông nghiêng về mô tả nỗi đau, mô tả trăng. Những điều Hàn thể hiện trong thơ phần nhiều đều do bệnh tật ảønh hưởng.
Bệnh phong là căn bệnh mà vi trùng có thể xâm nhập hệ thần kinh, đặc biệt là thần kinh ngoại biên như thần kinh của chân tay, thần kinh cổ. Mỗi khi có sự hiện diện của vi khuẩn trong dây thần kinh, các tế bào có thẩm quyền miễn dịch (tức là tế bào bảo vệ, chống vi khuẩn) sẽ đến bao vây. Hậu quả là đường dẫn truyền của dây thần kinh bị tắc nghẽn, dây thần kinh sưng to và nếu không được điều trị , phía dưới khúc nghẽn sẽ bị hư hại và đó là nguồn gốc của sự tàn phế. Ngày nay, để giải quyết những cơn phản ứng làm dây thần kinh sưng to, người ta dùng loại thuốc làm giảm khả năng hoạt động của các tế bào miễn dịch, chủ yếu dùng Corticoide. Nhưng thời đó, cả thuốc chống phong lẫn Corticoide đều chưa được phát minh, những người mắc bệnh phong phải chịu cả hai hậu quả do cơn phản ứng gây nên: đó là nỗi đau đớn đến cùng cực và sự tê liệt các dây thần kinh mà hậu quả sau cùng là mất cảm giác.
Cơn đau do viêm dây thần kinh là cơn đau rất sâu, nhức buốt ngày này qua tháng khác. Trong quá trình điều trị cho người bệnh trong những năm gần đây tại Bệnh viện phong Quy Hoà, mặc dầu đã cho bệnh nhân thuốc giảm miễn dịch, thuốc giảm đau nhưng phần lớn người bệnh trong cơn phản ứng đều không chịu đựng nổi. Họ phải vật lộn, cắn xé và có người đã tự tử. Với Hàn Mặc Tử, năm 1938, 1939 là những năm ông đau dữõ dội nhất. Chúng ta có thể thấy nhà thơ phản ánh nỗi đau ấy khá rõ trong thơ mình. Theo ông Nguyễn Bá Tín, trong thời kỳ này, ông sống nửa mơ nửa thật, có lúc mơ mơ không biết gì. Tuy nhiên, Hàn âm tầm chịu đựng nỗi đau để rồi có lúc ông quằn quại trong thơ qua các bài Cô Liêu, Những giọt lệ, Hồn là ai với những đoạn:
Hồn đã cắn, đã cào nhai ngáu nghiến
Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Ông sống trong hoản loạn, đau đớn như có một bóng ma luôn ám ảnh và cảm thấy cô đơn đến tột cùng. Nhiều bài thơ ông viết trong thời điểm ấy, khi đọc lên giúp ta hiểu rõ tâm trạng ông:
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu
Ngày nay, trước những đau đớn, người ta phải tìm đến thuốc giảm đau, thuốc an thần. Vào thời điểm đó, người ta phải tìm cho mình con đường riêng để thoát ra khỏi thực tại. Những lúc quá đau đớn, Hàn Mặc Tử đã thoát vào thơ, biến đổi cõi thực sang cõi mộng. Ông mơ mình đang sống trong cõi tiên và đã giúp ông sáng tác Quần-tiên-hội cùng mối tình huyền hoặc với Thương Thương. Và những khi từ mộng quay về thực, khoản nghĩ hiếm hoi giữa các cơn đau, ông sống thong dong bình tĩnh với những vần thơ nhẹ nhàng, tình tứ không mang dấu ấn bệnh hoạn.
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che nghiêng mặt chữ điền
Có một điều rất dễ nhận thấy trong thơ Hàn, đó là ông viết rất nhiều vế trăng.
Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Nàng cũng trăng mà ta cũng trăng
Hoặc:
Trăng nằm sóng sõai trên cành liễu
Đợi gió thu về để gió rơi
Hoặc:
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuông vàng dưới đáy khe
Nhiều người thấy tần số những câu thơ, bài thơ về trăng xuất hiện khá nhiều trong thơ Hàn, nên đã đặt câu hỏi, trăng có ảnh hưởng gì đến bệnh tình của Hàn. Quá trình sáng tác của Hàn gắn liền với quá trình chịu đựng đau đớn nên có thể hiểu ông viết những bài thơ, vần thơ có trăng vào những đêm trăng sáng. Đặc điểm của bệnh phong là chỉ thương tổn những dây thần kinh ngoại vi (tay, chân, cổ), những nơi không có quần áo che phủ, hay nói cách khác những nơi có nhiệt độ thấp hơn nơi khác trong cơ thể. Những đêm trăng sáng, không khí lạnh hơn, những đêm không trăng hay trăng bị mây chia khuất. Đó chỉ là hiện tượng bức xạ nhiệt bình thường vì những trảng cát ở Quy Nhơn ban ngày hấp thụ nhiệt rất nhanh, ban đêm mất nhiệt cũng rất nhanh, tạo nên sự chênh lệch về nhiệt độ. Bên cạnh đó, Quy Nhơn nằm trong một thung lũng, ngày đón gíó biển, đêm gió núi thường rất lạnh. Vì vậy, những đêm trăng sáng, Hàn Mặc Tử phải chịu nổi đau nhiều hơn và do đó, tần số những ý thơ về trăng xuất hiện cũng nhiều hơn.


Nguồn trích: Văn hóa - Văn nghệ công an.- 1999.- Số 3 (2025)
KHPL: BĐ.04(91)
============================
Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử anh là ai


Chế Lan Viên


Bây giờ Hàn Mặc Tử nằm trên một điểm cao Gành Ráng, đối diện với bể Đông, bể chói lòa như thơ Anh và giông bão tựa đời anh. Nằm với trăng sao như Anh từng mơ ước .
Với sao sương anh nằm chết như trăng.
Dưới kia là thành phố Quy Nhơn (những thành phố miền Trung thường có các nhà thơ ở trong và biển mé ngoài. Thành phố của mẹ già nuôi anh “cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế” của chi Lễ “Chi cũng trăng mà em cũng trăng” của em Hành đem cơm đem cơm cho anh suốt bốn năm trời Anh phong hủi và trước khi vào Quy Hòa, để qua đời trong đó, nghe đâu, Tử đã sụp lạy cảm ơn em, Quy Nhơn thành phố của bạn bè, của bóng dáng tên tuổi những người yêu, cũng là nơi Tử phải trốn chui trốn nhủi để khỏi bị bắt đưa vào trại cùi trong núi. Nhưng Quy Nhơn đối với Nghĩa Bình, đối với cả nước là nơi anh viết những trang thơ ngời chói, máu và nước mắt đời Anh đã khúc xạ đã biến hóa, đã hóa kiếp, thăng hoa. Kết tụ thành trăng sao:
Chỉ có trăng sao là bất diệt
Cái gì khác nữa thảy đi qua
Thôi cả cuộc đời bi thảm của Tử, dù bi thảm đến đâu cũng đã qua rồi. Cái còn lại là những bài thơ đã từ thời Anh đi thẳng vào “thời đại lớn”
(chữ của Bác - tin) rồi hôm nay từ “thời đại lớn” về với chúng ta.
Một mai kia ở bên kia nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm
Bậy nào, sao lại không? Hôm nay có hàng vạn rồi hàng vạn chục tấm lòng đến cùng Tử đấy.
Tôi không trở lại đời riêng của Tử, ai đã yêu Anh ngắn ngày ai đã yêu Anh dài hạn, và ai Anh chỉ yêu cái bóng, ai Anh yêu cái tên vì chưa thấy mặt bao giờ. Tôi nghĩ bây giờ sống dậy, gặp tất cả những người đẹp ấy, chắc có lẽ Anh đều biết ơn, người này cho Anh ơn nghĩa, người kia cho Anh vết thương, và chính vì vết thương mà con trai đáy bể làm ra viên ngọc.
Tôi cũng không vào cuộc đời (gọi là cách mạng đi) của Tử. Cách mạnh chứ sao! Chính Tử đã dùng hai chữ ấy ở Gái quê in năm 1936 tả “Một nhà cách mạng bị tống giam” viết thư cho vợ:
Thương em không dám nghĩ
Đương lúc nước nhà nguy

Sống chung cùng kẻ nghịch
Hổ thẹn đến ngàn cây
Cuộc đời cách mạng, mà Anh không tự biết là Cách mạng ấy còn dài hơn cả thời gian Rim-bô, Véclen, Bô-đơ-le (Rimbaud, Ver-laine, Baudelaire) và cả Huygô tham gia Ba-lê Công xã Pháp. Tử, dưới biệt hiệu Phong Trần, từ những năm 30-31 đã được cụ Phan Bội Châu ca ngợi, họa thơ cùng. Cụ viết đại ý: “Từ về nước đến nay, được xem nhiều thơ văn quốc âm song chưa được bài nào hay đến thế. Hồng nam nhạn bắc, ước ao có ngày gặp gỡ bắt tay cười to một tiếng cho thỏa hồn thơ đó.” Tử đã ra Huế thăm cụ, bị mật thám Pháp theo dõi, và do thế bị gạch chân trong danh sách những người được đi Pháp học. Vào Sài Gòn làm báo Tử dịch thơ tình của Mác, bênh vực Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan. Về Quy Nhơn, khi chớm có bệnh hiểm nghèo, cuối 1936 Tử đã cộng tác cùng anh Nguyễn Minh Vỹ, đảng viên cộng sản vừa ở tù ra, in giai phẩm Nắng xuân, trong đó có bài Ông Nghi gật, Tử đánh vào Viện Dân biểu thời Pháp thuộc (vừa đăng lại ở sông Hương).
Cho dù Hàn Mặc Tử có cuộc đời bệnh tật, cuộc đời tình duyên, cuộc đời cách mạng ly kỳ, giữ dội gấp trăm lần, nhưng ba hòn núi cao ấy cụm lại không đẻ ra được một cái cây, một bóng mát thơ nào, ba trái núi ấy không đẻ ra được con chuột nhắt thơ nào, thì việc gì ở đây ta phải dông dài. May thay Tử là một đỉnh cao, lòa chói trong văn học trong văn học của thế kỷ. Cho nên cũng không mất công đâu khi vì văn Anh mà tìm hiểu thân thế, đời Anh:
Hàn Mặc Tư có tài rất sớm. Tản Đà đã định khen thơ Anh trên báo nhưng rồi tiên sinh qua đời. Làm một bài như bài Cửa sổ đêm khuya, đọc lui, đọc ngược sáu cách, Tử rất giỏi:
Hoa cười nguyệt rọi cửa lòng gương
Lạ cảnh buồn tham nợ vấn vương
Tha thướt liễu in hồ gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngàn thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hoa dàn sẵn có dế bên tường
Đọc xuôi, đọc ngược, bỏ hai chữ đầu đọc xuôi, bỏ hai chữ cuối dọc xuôi, bỏ hai chữ đầu đọc ngược, bỏ hai chữ cuối đọc ngược. Tử làm bài ấy lúc 17,18 tuổi, cũng là một cách xem thường tài vua Tự Đức “chả mấy giỏi” hơn mình. Sau này, có lúc Tử tự xem mình là “vua nhà Nguyễn” (Nguyễn Trọng Trí là tên anh) “bay trên mây”, cái mầm mống phạm thượng biết đâu không bắt đầu từ lúc làm thơ thuận-nghịch độc ấy.
Tử có rất sớm, trong khuôn khổ gò bó trói voi bỏ rọ của thơ Đường luật mà có, cái khả năng Thượng thanh khí hoá, (tên một tập thơ của anh về sau) tâm tưởng tâm hồn hoá:
Tương tư, mộng thấy năm canh mộng
Luyến ái trời vương bốn phía trời
Cái khả năng thế tục hoá, da- thịt- hoá:
Bóng nguyệt leo song, sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Khả năng kỳ ảo, ma-quái-hoá cũng xuất hiện rồi:
Mở cửa nhìn trăng trăng tái mặt
Khép phòng đốt nến nến rơi châu
Đấy không phải là thủ thuật, kỹ thuật, những cách bên ngoài. Hoặc, nếu là thế thì cũng nhờ có một cái cốt thế nào đó, một cấu trúc tâm hồn thế nào đó ở bên trong. Hàn Mặc Tử, lúc đó còn lấy tên Phong Trần, tên Lệ Thanh đi về, qua lại giữa trời và đất, cảnh và người, thực và hư… rất thoải mái. Hơi văn lúc thì thu cả cảnh vật vào trong dúm chữ: “Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt” lúc thì văn chương chữ nghĩa tuột ra khỏi lòng như một tiếng kêu, một ngọn gió, nhát dao: “Vội vàng cánh nhạn bay đi tuốt”. Năng lực đàn hồi ấy cũng khá rõ ràng. Nhưng phải có cơn bão máu, trận hồng thủy tai ương, những động đất tâm – hồn, những phun lửa tình yêu kinh khủng về sau thì các khả năng kia mới lên cái thế bình phương, rồi lập phương như ta thấy. Từ năm 1936 đến năm 1940, nghĩa là sau khi rời Sài Gòn ra Gái Quê, về Quy Nhơn thọ bệnh, cho đến lúc vào Quy Hòa và mất, Anh đã làm quá trình một thế kỷ về thơ (1935- 1939 cũng là thời kỳ tôi học ở Quy Nhơn, giới thiệu, dìu dắt tôi vào thơ là công anh lúc đó). Từ một nhà thơ biến ngẫu theo lối cổ phương Đông, anh đã hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất Châu Âu, (chỉ so với Ang-đrê Brơtông, ông tổ siêu thực không thôi cũng đủ thấy rõ). Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời, còn anh thì bằng máu :
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mưa máu ra
Văn học cần những vấn đề chung, phổ biến cho nhân loại. Nhưng oái oăm chưa, nó lại đòi cái người nói nó đó là một cá nhân, một bản lĩnh, một sắc thái riêng, không giống ai chỉ có một bản duy nhất, không lặp lại hai lần (nói thế chứ trong văn học người ta vẫn na ná nhau khối ra đấy!). Hàn Mặc Tử thì không. Anh chỉ có một, thật. Như một Rimbô của Pháp, một Holderlin của Đức, một Et-ga-pô của Mỹ, một Bồ Tùng Linh của Trung Quốc, một Mai-a-kốp-xki (trước cũng như sau cách mạng tháng Mười) của Liên Xô.
Chúng ta cần có người đã trăng là trăng. Nhưng cũng cần có người vượt lề thói tập toàn mà còn xẻ trăng ra làm hai nửa. Vầng trăng ai xẻ làm đôi (Kiều). Cần truyền thống lại cần biến dị, cần nói điều chưa ai nói (nguời ấy không nói thì ta mất đi, ta nghèo đi cái điều đặc biệt duy nhất người ấy nói ra).
Hôm nay có một nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi
Ta nhớ mìnhxa thương đứt ruột
Không phải ma thuật kỹ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là một thâm sử gì làm trử kim, làm đảm bảo, thì mới có thể phát ra các từ kia.
Người Trung Quốc xưa đánh giá thơ nào thâm, nào chân, nào viên, nào cao, nào tân…nhiều thứ lắm. Tân là (mới).
Nhưng sau tân lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ).
Tóc dài ba nghìn tượng
Vì sầu nên hoá dài
(Lý Bạch)
Bốn dây ứa máu tỳ bà
Và đêm nay hồn anh về ngủ thắt lưng em
(Dân ca H’ mông)
Mái nhà dài như một tiếng chiêng. Tóc nàng dài đến nỗi thả ra thì xuốâng tận đất như một thác nước và che bóng râm như một cây K’ nia (Dân ca Tây Nguyên) hay khi Nguyễn Du tả ma: dấu giầy từng bước in rêu rành rành thì đều là “kỳ” đấy, đều là siêu đấy! Mà nào ta có mất thực đi đâu. Ta được có một cách khác ở một cường độ khác.
Người Châu Âu đẩy cái kỳ đến cái cùng, và kỳ cùng chữ thì yếu tố nó thành chủ nghĩa thành ra “isme”. Chủ nghĩa siêu thực còn có tên là romatisme jus quáu bout (chủ nghĩa lãng mạn đến cùng) rượu trên 100 độ. Thế thì chết! Chúng ta chống chủ nghĩa siêu thực. Chống siêu thực ở dạng chủ nghĩa, ở độ 100 ấy, trương lên thành ngọn cờ tướng chỉ huy. A-ra gông. E-luy-a, các vị tổ sư , vị tướng từng phất ngọn cờ ấy đã vứt nó, để trở thành đều là người lính, rồi sau là chủ soái trên thi đàn hiện thực xã hội chủ nghĩa, khi đã thành nguyên soái của thi đàn sau này, các ông vẫn sử dụng các yếu tố siêu thực, sử dụng siêu thực như yếu tố, cho cái hư ảo nó phục vụ hiện thực mình. Và sung mãn hơn lên vì vậy. Chân chân chân, thật thật thật nhưng lại còn đi với ảo ảo ảo nữa. Diệu ơi. Hàn Mặc Tử không phải là một nhà thơ siêu thực. Trước sau Anh vẫn là lãng mạn, dùng nhiều yếu tố hiện thực, dùng nhiều yếu tố siêu thực. Đó cũng là điều trước đây cha ông đã dùng. Nhưng chưa có ai dùng đậm đặc như Anh. Dù đó là Lê Thánh Tông ở Di Thảo, Nguyễn Dữ ở Truyền Kỳ Mạn Lục, Nguyễn Du ở Chiêu hồn hay lúc tả Đạm Tiên, nên nhìn trước nhìn sau Anh là của hiếm ở đất nước nên luôn luôn cần tỉnh thức nên hóa ra quá tỉnh táo là đất nước mình. Trên thế giới thì lại khác? Cần chống lại với cái không khí duy lý đến cùng, duy lý đến cùn, duy lý quá quắt của thời đại máy móc, kỹ thuật, biểu đồ, thống kê, công thức này các nhà văn Châu Aâu rất mê chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo (réalism fantas-ma gori-que) của Châu Mỹ La Tinh, trong đó các yếu tố kỳ, hư, ảo, ma quái, huyền thoại, siêu thực đã được phát huy để nuôi hiện thực. Au-tu-ri-as. Các-pên-chi-ê, Mác-két (Astui-as, Car-pentier, Marquiez) đã được đánh giá cao và hâm mộ ở Liên Xô. Tử trong thời gian chúng tôi chỉ thấy anh nói vềBaudel-lare, chớ Lô-trê-a-mông, G-ra dơ Néc-van (Lautréamont. Gé-rard de Nerval). Anh cũng ít nói đến, chỉ nói là Brơtông (Brơton). Anh có biết hay không chủ nghĩa siêu thực? Chắc là không. Giờ bảo anh có xa gần với cái họ hàng đầy biến động, thích biến động, luôn biến hóa đó, có khi anh giận cũng nên! Anh chỉ nói “Một mai tôi chết lên khe Ngọc Truyền! Bây giờ tôi dại tôi điên. Chắp tay tôi lạy cả miền không gian”
Hay Tôi điên tôi nói như người dại
Van lạy không gian xóa những ngày
Và anh giải thích vì đâu mà điên, bởi đâu mà dại:
“Nghĩa là tôi yếu đuối quá. Tôi bị cám dỗ. Tôi phản lại những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú”.
Càng chứng tỏ là siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ Châu Aâu đến mà từ thảm kịch của anh mà ra. “Nàng” ở đây không phải cô con gái nào đâu! Nàng đau thương đấy. Tử thường đọc Bô-đơ-le:
Sois sage ô ma douleur et tiens-toi plus traquille
(Hãy ngoan hỡi em đau thương và em đứng yên nào)
Tử bảo anh khóc, anh gào, anh rú, Tử quên mất (và chúng ta cũng quên heo) là anh cười nữa chứ:
Ha ha! Ta đuổi theo trăng
Ta đuổi theo trăng
Trăng rơi lả tả ngã ngã trên cành vàng
Hoặc:
Hôm nay vui quá, anh Phùng ơi
Cười nói làm sao cho hả hơi
Mà cười được thế là không điên đâu, chả dại chút nào! Anh chả thèm làm thơ của sự chết, của hư vô, như những người viện Heiddeger, viện Jas-pers, rồi dán cho anh nhãn hiệu có dấu âm, có hơi âm ấy.
Đầu câu bên này là tiếng cười ha hả, đầu câu bên kia lại là cuộc đời bi thảm vào bậc nhất. Giá tiếng cười ấy đắt lắm, chứ đâu phải thứ nhởn nhơ cười, hể hả cười của chúng ta đâu.
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây tiếng khóc giọng cười chen nhau
Ta có chịu nghe tiếng cười đắt giá đó không? Và có khôn lõi ném tiếng khóc kia đi hắt cái máu kia đi, chỉ loc lấy tiếng cười đưa vào tuyển tập, đã vô trùng hóa? Nhưng nghe tiếng khóc kia thì ta có bị nhiễm độc gì không? Ngược lại giữ gìn bịt tai không nghe nó, thì ta có bị thiệt thòi gì…
Ồ mấy chục năm trời đánh nhau với những tên giặc quỷ sứ khổng lồ, ta lắm lúc phải trị lấy ta, rồi mới đánh được giặc. Luyện chúng ta từ bùn, từ bùn thành ra sắt thép là vô cùng cần thiết. Nhưng xong giặc rồi, cậu bé Phù Đổng phải nhanh chóng trở lại làm hồn nhiên con trẻ chứ. Thế thì mới đủ sức hóa thành sắt thép lần sau. Đó là quy luật ức chế và hưng phấn của Páp lốp thôi, chả có gì lạ.
Những năm tháng trọng đại đó, ta cần tỉnh thức nên sợ cả mộng mơ thiếp ngủ. Chỉ chợp mắt một tí thôi, có khi đê vỡ, giặc tràn. Huống nữa là cái đê tư tưởng!-Đồng chí Lê Duẩn bảo: “Nhiều người, hai người, một người, cá nhân, lứa đôi, tập thể”. Nhưng những năm ấy, không có tập thể, nhiều người thì mất mạng, nên có khi ta cảnh giác lúc chỉ có hai người, lúc trơ trọi một người. Tố Hữu viết “Đêm cuối năm riêng một ngọn đèn” thì đã có nhiều người không muốn có riêng và một ấy. “Con người”, ta hích nó giữa đội hình đồng đội, tập đoàn, hơn thế, lại là đội hình đang chiến đấu và tập đoàn đang sản xuất. Ta ưa nó ở thế động, hành động, lao động với tất cả ý chí, reo hò, vỗ tay đôm đốp và ta ngại nó khi tĩnh lặng, khi xúc cảm. Có xúc cảm thì cũng là xúc cảm phấn khởi, chứ hay chi cái xúc cảm buồn? Ôi! Tử ơi, thế mà Tử lại cùng cực đau buồn
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn thổi trong cây
Còn em sao chẳng hay gì cả
Ta không hay, hoặc là không muốn hay, không dám hay. Ta không hay rằng các con người ngoài vấn đề xã hội lịch sử mà ta quan tâm, trước tiên là rất đúng, lại còn mỗi người có một thân phận, một cuộc đời riêng. Mác hơn Karl Gia-xpe chỉ biết con người trong đau khổ, trong chiến đấu, trong tội lỗi và đối diện với cái chết. Theo ông đó là cái điểm “cực” của kiếp người. Con người theo ông chỉ giao động thăng trầm giữa yêu đương và thù hận. Mác cũng cao hơn Phật, chỉ thấy sinh, lão, bệnh, tử và giao động, thăng trầm bởi vô-thể tham sân si. Ôi, chết mà có tiền thì cũng sướng đấy. Bệnh mà thuộc một giai cấp quý tộc giàu sang thì cũng khỏi bệnh ngay. Trăm năm trong cõi người ta, “hữu” tại thế, tại cõi thế này thì không phải chỉ sinh khổ, bệnh khổ, lão khổ, tử khổ mà còn không tiền nên khổ, khổ vì Tư bản và tột cùng của chủ nghĩa tư bản là đế quốc là nơ-tơ-rôn. Nhưng chỉ biết “tổng hòa các quan hệ xã hội” thì không hiểu Mác. Mác bảo “cái gì thuộc về người, với tôi đều không xa lạ”. Thế mà Tử yêu, Tử đau, Tử bệnh tật, Tử ở trong cô đơn, Tử đối diện cùng cái chết lại xa lạ với ta ư? Thảo nào A-ra-gông hỏi “Trăm năm sau người ta có thể biết Bô-đơ-le không nhỉ? Và ông nổi cáu “nếu người ta không biết Bô-đơ-le thì tôi cần cóc gì biết đến người ta”.
Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng
Những sợi hào quang vạn thước vàng
Bắt bắt thơ bay trong gió loạn
Để xem tình tứ nặng bao cân
Ồ, tại sao tôi lại hình dung ra những nhà phi hành vũ trụ của ta như Phạm Tuân có thể đọc các câu ấy. Ở cái thời điểm này của nhân loại mà cái chết khinh khí nhiệt hạch có thể đến mọi nhà, mà chuyện các thiên hà trăng sao cùng chuyện của các cháu bé cấp một, thế thì Hàn Mặc Tử đau có lạc lõng gì.
Trở lại vấn đề con người một tí. Vì nói gì thì nói, ở đâu, thơ văn nào cũng là chuyện về nó đấy thôi. Một quyển sách nổi tiếng trên thế giới là “Người, kẻ chưa ai biết ấy”. Cố nhiên là biết, nhưng mới ở vòng ngoài. Nhìn ngoài nó liền một cục. Nhưng mà nó có một đâu. Khoa học bảo nó là hai ghép lại An na de Noailles thì bảo nó là vô số. Coeur Innombrable nữa kia. Cố nhiên là ở nội tâm. Nơi Cao Bá Nhạ tìm thấy “trong một mình bảy tám biệt ly”. Nghĩa là vẫn không phải là một. Ở người, dưới nó, còn nó, bên cạnh nó, lại nó, đằng sau nó, còn có nó (mà nó ngỡ yêu tinh).
Bóng ai theo rõi bóng mình
Bóng nàng yêu tinh
Nụ cười như tiếng vỡ pha lê
Hãy đi sau vào thơ Tử, vào một tế bào của thơ Anh một chút. Gần 50 năm nay ta đã động gì đến anh đâu. Không khéo, thì đây là lần đầu tiên mất… về vấn đề mình và ai, một mình, hay hai mình đó, có lúc Tử viết:
Ai đi lẳng lặng trên làn nước
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi
Mà sao ngậm cứng thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi
L’homme-cetinconnu, người, cái kẻ bí mật ta chưa biết hết ấy rồi đây. Hàn Mặc Tử đã kể cho Quách Tấn, và họ Quách đã viết lên trên báo đây là một hiện tượng rất thật. Một đêm khuya vắng một mình Tử còn ngồi ngắm trăng bên bể. Bổng anh thấy có một ai đó ngồi khít rịt bên anh. Rồi từ người đó lại hiện ra người nữa. Rồi biến đi. Rồi thấy mặt bể đông lại như tuyết. Trên bể có một người vạm vỡ mặc áo lông gánh hai thùng thiết chạy băng băng. Từ hai thùng tung tóe ra những máu là máu. Tử hoảng sợ chạy về nhà.
Rainer Maria Rilke, thi hào Tiệp của cả thế giới thế kỷ này, khi viết Bi-ca ở Đuy-nô (Elégie de Dui-no) đã chú thích “đọc bởi một kẻ vô hình”. Hoàng Trung Thông năm ngoái bảo tôi “mình uống rượu nhiều nên bị bệnh huyện tưởng, mình nghe ai nói trong quạt máy” (xin nói anh vẫn viết hay như thường) Bệnh tâm thần, ta vội kết luận và đưa nó cho các nhà y học, phân tâm học. Hãy dừng lại đa.õ Tôi nhớ đến một ví dụ mà các nhà hiện tượng luận đồ Huýt-xéc hay nhắc. Có một bệnh nhân nghe tiếng nói kiểu ấy. Bác sĩ không tin. Người bệnh cáu ‘tin hay không mặc ông nhưng rõ ràng tôi nghe thấy”. Các vở kịch viết về Gian đa của Pháp đâu có loại việc nữ anh hùng “nghe” như trên. Mặt kệ y học, về thơ ta hãy thử đếm xỉa đến hiện tượng ấy. Nó là gì. Vì Tử đau yếu chăng! Không, theo tôi chính là Anh rất khỏe cái hồn thơ anh rất khỏe. Chả là cô đơn, chả là hư vô, chả là cái chết chập chờn ở trong phòng bệnh, và ở giữa đêm trăng này muốn thủ tiêu Anh mà không được. Anh là một. Nó muốn Ze-rô-hóa Anh, hư-vô hóa Anh cho không còn dấu vết. Nhưng Anh đau chịu thua. Anh hóa hai hoá ba mình ngồi cạnh mình, hơn theá mình mình lại vạm vỡ ra, nở nang lên gánh chạy, gánh cái máu đời mình, chạy trên cái bể thảm kịch của đời mình. Cũng là một cách đối chọi! Hơn gấp trăm lần cái phương pháp ngắm bóng mình dưới giếng của Nác-xít đến héo mòn, hủy diệt đi không còn tồn tại ở kiếp người.
Nếu ta hiểu cho sự đối phó ấy của Tử thì Hồn của anh chả có gì hồn ma, hồn ma bóng quỷ hay là cái linh hồn của Chúa thổi vào trong đất sét là ta… “ta khạc hồn ta ngoài cửa miệng”… Hồn đó là sản phẩm anh tạo ra. Tạo ra, lại dắt nó đi chơi nữa: “dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay”. Anh có bạn. Hàn Mặc Tử không còn thụ động là sản phẩm trong bàn tay thượng đế, hơi phạm thượng đấy, nhưng vui chứ, đỡ cô đơn chứ. “Khạc hồn ra cho hồn cao vang đến muôn trượng”.
Và bỗng dưng từ thơ tôi nhớ đến khoa học, đến nhà khoa học vĩ đại của nhân loại Anh-xtanh. Ông nói: “Cái điều đẹp nhất mà ta có thể cảm giác được chính là cái khía huyền bí của một đời. Đó là tình cảm sâu xa ở trong nôi của nghệ thuật và khoa học thật sự”. Nhà khoa học thật sự thì tương đối yêu sự diệu huyền và nuôi đứa trẻ ấy trong nôi, thế sao ta, nhà văn nghệ còn bấp bênh lại muốn tuyệt đối chỉ yêu cái một là một, hai là hai rõ ràng, chớ không thể một vẫn hai được?.
Đi công tác ở các nước phương Tây, tôi thường gặp anh chị em Việt kiều xa nước lâu ngày, gặp anh chị em di tản nữa, các anh chị hỏi “cách mạng đối với Hàn Mặc Tử ra sao?” ra sao ư? Cách mạng đã đón di hài của vua Duy Tân về nước vừa rồi; cách mạng cũng đón thơ của Tử như vậy! Cách đây từ những ba muơi năm, tại đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai năm 1957 lúc đất nước mới chỉ có tự do một nửa thù trong giặc ngoài làm cho Tổ quốc ta ở trong thế ngặt nghèo, thế mà nói về vấn đề tiếp thu di sản, đồng chí Trường Chinh đã nói:
“Cần nhận ra rằng văn nghệ cách mạng của chúng ta là kẻ kế thừa tất cả những giá trị văn nghệ do các thời đại trước tạo ra. Chúng ta có nhiệm vụ giữ gìn và phát triển tất cả di sản của dân tộc và cũng có chúng ta mới làm nổi công việc đó”.
Hai lần đồng chí dùng đến chữ tất cả, 57-87. Ba mươi năm chiến tranh cũng chiến tranh rồi, hòa bình cũng hòa bình rồi, nếu không tiếp thu Tử bây giờ còn đợi đến lúc nào! Giao cho con cháu tiếp thu thì cháu con sẽ lên án chúng ta thôi, sao cái gì cũng dồn cho chúng nó. Chúng nó còn bao nhiêu việc. Huống nữa tiếp thu Tử là lợi cho ta chứ lợi gì cho Tử đã chết đầy nửa thế kỷ.
Anh Trường Chinh dặn tiếp : “Việc uốn nắn lại những thái độ hẹp hòi máy móc đối với những giá trị văn nghệ cũ không những có tác dụng sửa chữa những thái độ bất công đối với nhiều tác phẩm mà còn có tác dụng mở rộng con đường cho sáng tác văn nghệ hiện thời”. Thực là chí tình đạt lý. Và tôi tin là việc tiếp thu Tử, như anh Trường Chinh nói đó, với văn nghệ hiện thời sẽ có tác dụng mở rộng con đường. Hỡi những người mỗi bước đi cứ sợ nhầm đường.
Sự thừa kế tác phẩm của Tử sẽ làm cho tim ta nhân tính hơn, óc ta co dãn đàn hồi hơn, và cái nhìn ta không đơn giản mà trở nên đa dạng và phong phú.
Ô kìa, bây giờ đối diện với bể Đông trên điểm cao Gành Ráng, mộ Tử bỗng dưng ngời chói, vua nhà Nguyễn gần đó đang lụi tàn. Nguyễn Trọng Trí là Tử đâu có thừa nhận thứ vua ấy. Dù cơ cực đến mấy, Tử vẫn tin ở cái ngôi sáng tạo của mình. Anh mới là vua chứ và anh bay tìm gặp:
Ta đi tìm mộng tầm xuân
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây
Rượu nắng uống vào thì say
Rực rỡ như một vị vua
Đầy mình lốm đốm những hào quang
Nghĩa là anh không chấp nhận sự huỷ diệt, sự cát bụi hoá anh như lời nguyền rủa: “Từ cát bụi mi trở về cát bụi”. Nghĩa là anh tin ở sức sáng tạo bàn tay thi sĩ kẻ lên trăng của anh. Đồng thời tin chúng ta sẽ đánh giá đúng tài năng “siêu” ấy.

Nguồn trích: Văn Nghệ Bình Định.- 1998.- Số 18 (Xuân Mậu Thìn);
KHPL: BĐ.04(91)
Đăng nhập để trả lời
0

"Nhớ Trường Xuyên"
một bài thơ đặc sắc về tình bạn của Hàn Mặc Tử


Mai Văn Hoan


Nhà thơ Quách Tấn kể lại rằng ông có một người tình tên là Liên Tâm “phong thái xinh tươi, văn chương thanh nhã”. Quách Tấn không dám để lộ cho Hàn Mặc Tử biết phần vì ông có cảm giác “sờ sợ như một anh chồng ngoại tình đi chơi về khuya”, phần vì ông không muốn khoe cái hạnh phúc của mình trong lúc bạn đang lâm vào căn bệnh hiểm nghèo. Nhưng có ai đó đã báo cho Hàn Mặc Tử biết mối quan hệ “khăng khít” giữa Quách Tấn và Liên Tâm. Tử bèn gửi cho Quách Tấn một bức thơ có ý trách móc, kèm theo bài thơ “Nhớ Trường Xuyên”
Trường Xuyên ơi! Trường Xuyên ơi!
Viết chẳng nên câu nói nghẹn lời
Mây nước bao la tình lẳng lặng,
Gió sương mờø mịt nhớ chơi vơi.
Tương tư mộng thấy năm canh mộng,
Luyến ái trời vương bốn phía trời.
Đây nhớ đây thương mình tệ quá.
Có ai khăng khít lại quên ai!
Nếu không biết Trường Xuyên là một bút hiệu của Quách Tấn thì nhiều người sẽ lầm tưởng đây là một bài thơ viết về tình yêu trai gái. “Nhớ Trường Xuyên” cho ta biết nỗi khao khát tình cảm của Hàn Mặc Tử. Tử trách bạn, hờn ghen bạn như trách móc hờn ghen một người tình. Bài thơ vừa thiết tha vừa nghẹn ngào vừa chân thật vừa say đắm. Tôi đã đọc hàng chục bài thơ viết theo thể Đường luật của Hàn Mặc Tử trong đó có những bài khá hay như “Buồn thu”, “Thức khuya”, “Chuyến đò ngang”… nhưng không hiểu sao vẫn thích nhất “Nhớ Trường Xuyên”. Có thể nói đây là một thơ viết về tình bạn văn chương đặc sắc của Hàn Mặc Tử.
Khi bình “Tây Tiến” của Quang Dũng tôi rất tâm đắc câu: “Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi…”, không ngờ Tử còn “nhớ chơi vơi” trước cả Quang Dũng. Tất nhiên cũng là “nhớ chơi vơi” nhưng ở mỗi bài thơ có một sắc thái riêng. “Nhớ chơi vơi” của Quang Dũng gợi lên cảnh núi rừng gắn với tình đồng chí, đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến. Còn “nhớ chơi vơi” của Hàn Mặc Tử là nỗi nhớ về người bạn thơ tri âm, tri kỷ mà “gió sương mờ mịt” đã che khuất bóng hình. Nỗi nhớ “chơi vơi” của Tử thật là tội nghiệp. Tử như đang rơi vào chân không… khoảng cách bây giờ trở nên vời vợi “mây nước bao la, tình lẳng lặng”. Nếu ở “Buồn thu”, thi sĩ:
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi”
Thì ở “Nhớ Trường Xuyên”, ngược lại :
Tương tư mộng thấy năm canh mộng,
Luyến ái trời vương bốn phía trời”.
Riêng về luật bằng, trắc thì đây là hai câu đối thanh vào loại chuẩn mực nhất:
BB TT BB T
TT BB TT B
Điều ấy chứng tỏ Hàn Mặc Tử sành điệu thơ Đường luật đến mức nào. Nhưng điều đáng nói hơn ở đây là cách sử dụng từ ngữ. Các từ “tương tư”, “luyến ái” thường chỉ dùng để diễn tả nỗi nhớ và tình yêu đôi lứa. Hàn Mặc Tử viết về tình bạn văn chương mà như đang viết về tình yêu đôi lứa. Phải chăng Tử vẫn coi Quách Tấn như “tình nhân” của mình? Mà đã coi Quách Tấn như tình nhân thì Tử có quyền “ghen”, có quyền trách móc, hờn dỗi Quách Tấn như trách móc, hờn dỗi với một tình nhân khi biết người mình yêu đang “ngoại tình” với người khác.
Đây nhớ, đây thương mình tệ quá
Có ai khăng khít lại quên ai
“Mình tệ quá” lời trách có phần nặng nề. Người ta nói có yêu mới ghen, càng yêu lại càng ghen. Hàn Mặc Tử vì quá yêu Quách Tấn nên mới giận dỗi đến như thế. Tử trách bạn “có mới nới cũ” có Liên Tâm nên hờ hững với mình. Phải là người khát khao tình cảm đến mức độ nào mới giận hờn như thế.
Trong lịch sử văn học từ xưa đến nay, thơ viết về tình bạn không hiếm. Đỗ Phủ có hai bài thơ viết về chuyện nằm mơ thấy Lý Bạch rất nổi tiếng (“Mộng Lý Bạch”). Lý Bạch cũng viết khá nhiều về tình bạn trong đó phải kể đến bài “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng lăng”. Ở ta, cùng thời với Hàn Mặc Tử - Quách Tấn có cặp: Xuân Diệu- Huy Cận. Họ là bạn “nối khố” của nhau, thuỷ chung với nhau cho đến trọn đời. Hồi ký của hai người đã phần nào nói lên điều đó. Trong tập “Lửa thiêng”, Huy Cận có bài “Vạn lý sầu” rất hay:
Người ở bên trời ta ở đây
Chờ mong phương nọ ngóng phương này
Tương tư đôi chốn tình ngàn dặm
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây.
Nắng đã xế về bên xứ bạn
Chiều mưa trên bãi nước sông đầy
Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay
Cơn gió hiu hiu, buồn tiễn biệt
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm sầu gối tay
Ở đây, Huy Cận cũng dùng từ “tương tư” để diễn tả nỗi nhớ. Nhưng cả bài thơ vẫn chủ yếu nói về tình bạn. Quách Tấn trong “Mộng thấy Hàn Mặc Tử” cũng như vậy:
Ôi Lệ Thanh ! Ôi Lệ Thanh!
Một giấc trưa nay lại gặp mình
Nhan sắc châu pha màu phú quý
Tài hoa trổ bút nét tinh anh
Rượu tràn thú cũ say sưa chuyện,
Hương tạ trời cao bát ngát tình
Tôi khóc tôi cười vang cả mộng…
Nhớ thương đưa lạc gió qua mành
(“Mùa cổ điển”)
Bài thơ “bát ngát tình” nhưng là cái “bát ngát” của tình bạn. Còn “Nhớ Trường Xuyên” của Hàn Mặc Tử không chỉ đơn thuần là tình bạn văn chương. Bất cứ trai, gái nào đang hờn ghen với người mình yêu cũng có thể mượn “Nhớ Trường Xuyên” của Tử để bày tỏ tình cảm của mình, chỉ cần thay Trường Xuyên bằng tên người yêu là đủ. Với Hàn Mặc Tử “Nhớ Trường Xuyên” còn là cách trêu đùa. Tử vốn lành nhưng nghịch ngầm. Biết Quách Tấn đang mê Liên Tâm, Tử hờn ghen bạn cho vui. Hơn ai hết Tử biết không bao giờ Quách Tấn vì tình mà bỏ bạn.


Nguồn trích: Nha Trang.- 1998. Số 49 (tháng 7-8) (2023);
KHPL: BĐ.04(91)
======================
Đăng nhập để trả lời
0

Tình yêu của Hàn Mặc Tử


Nguyễn Viết Lãm


Nhà thơ Hàn Mặc Tử qua đời đã 50 năm, nhưng ánh sáng của ngôi sao ấy ngày càng rực rỡ trên bầu trời văn học của chúng ta. Thường những bậc thiên tài dễ bị người đời sau phủ quanh bằng huyền thoại. Ở trường hợp Hàn Mặc Tử, ông đã biến thành một nhân vật lúc thì ly kỳ, lúc lại dung tục quá xa với sự thật. Vở cải lương Hàn Mặc Tử vừa được chiếu hai lần trên màn ảnh truyền hình (do Đài truyền hình Cần Thơ xây dựng) là thí dụ điển hình của sự xuyên tạc một lịch sử chưa xa đối với chúng ta, hạ thấp nhân cách của nhà thơ lớn, xúc phạm đến danh dự của những người thân yêu của Hàn Mặc Tử hiện đang còn sống.
Nhà thơ Chế Lan Viên và tôi đến với Hàn Mặc Tử từ năm 1936, khi chúng tôi đang học trường Quốc học Quy Nhơn và bắt đầu làm thơ và viết báo. Trong bốn năm liền sống gần anh tôi hiểu về anh khá rõ, nhất là về những mối tình của anh.
Độ ấy, Hàn Mặc Tử thôi làm báo ở Sài Gòn về Quy Nhơn ở với mẹ, cũng chính là lúc anh vừa trãi qua một bi kịch lớn trong tình yêu. Đó là tình yêu đối với Mộng Cầm. Trong năm 1935, anh thường đi từ Sài Gòn ra Phan Thiết để gặp Mộng Cầm, cùng đi chơi với nhau thăm các danh lam thắng cảnh. Lầu ông Hoàng nơi hai người hay đến đã được Hàn Mặc Tử đưa vào thơ (Phan Thiết-tập xuân như ý). Chị Mộng Cầm lớn hơn tôi 5 tuổi, bạn học với tôi hồi ở lớp nhất tiểu học tại Quảng Ngãi, là cháu họ của chị Ngọc Sương và của nhà thơ Bích Khê, quê ở Thu Xà, cùng tỉnh. Mộng Cầm vào Phan Thiết, nơi có trường tư thục của cậu và dì. Đây là mối tình sâu sắc nhất của Hàn Mặc Tử, cho nên khi Mộng Cầm phụ bạc vì thấy anh mắc bệnh hiểm nghèo, anh rơi vào một nổi tuyệt vọng thê thảm:
Họ đã đi rồi không níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bao,
Người đi, một nửa hồn tôi mất,
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Toàn bộ ba chương trong tập thơ Đau thương của anh đều ghi lại nổi đau vô tận ấy. Có khi anh cố lẫn tránh hình ảnh thương yêu từng làm cho lòng anh tan nát, như câu thơ trong bài Trường tương tư, nguyên được viết: Mộng Cầm ơi… - đến lúc cho in, anh đổi lại là Lệ Kiều ơi, em còn giữ ý thơ.-Nhưng cũng có khi đau quá anh gọi thẳng tên người yêu như trong bài Muôn năm sầu thảm.
Nghệ ơi Nghệ muôn năm sấu thảm,
Nhớ thương còn một nắm xương thôi
(Nghệ là tên thật của Mộng Cầm)
Từ năm 1936, Mộng Cầm đi lấy chồng, không còn gặp Hàn Mặc Tử bao giờ nữa. Trong vở cải lương nói trên, có cảnh Mộng Cầm đến nhà Hàn Mặc Tử, cũng như cảnh Mộng Cầm đến bệnh viện gặp lại Hàn Mặc Tử, đều là những cảnh bịa đặt cả. Điều xúc phạm nhất ở đây là dựng lên cảnh hai dì cháu giành nhau để chiếm đoạt người yêu, với những lời nói dung tục. Thật là quá đáng!
Mai Đình cũng không bao giờ gặp Mộng Cầm tại nhà Hàn Mặc Tử. Chị quê ở Thanh Hóa, theo cha vào làm việc ở Phan Thiết. Năm 1937, chị ra Quy Nhơn tìm gặp Hàn Mặc Tử chỉ vì yêu thơ anh và thương anh sống trong nổi đau vừa về tinh thần vừa về cơ thể. Lúc ấy, nhà thơ của chúng ta đã bị bệnh phong rõ rệt, hai má có nhiều vết đỏ, lông mi rụng gần hết. Thời kỳ ấy ai cũng ghê sợ căn bệnh nan y này, chỉ những bạn thân của anh, mới đến với anh mà thôi. Mai Đình bất chấp cả hiểm nguy, vượt lên trên mọi dư luận, đã đến với Hàn Mặc Tử với một tình cảm đằm thắm đầy hy sinh. Lúc đầu, Hàn Mặc Tử không tiếp chị. Chị đã khóc, chưa biết bằng cách nào được gặp anh. Sau, Quách Tấn chuyển cho Hàn Mặc Tử bài thơ của Mai Đình, có đoạn:
- Còn anh em đã biết anh đâu,
Chỉ cảm vần thơ có những câu
Âu yếm say sưa đầy cả mộng,
Xui lòng tơ tưởng lúc đêm thâu…
Nhà thơ cảm động với tấm chân tình của chị. Mai Đình ở lại chăm sóc anh rất tận tụy, đem tất cả vốn liếng ít ỏi của mình để giúp đỡ anh. Thật là một mối tình thơ hoàn toàn vị tha và vô tư, một tâm hồn đẹp. Thời gian Mai Đình ở với Hàn Mặc Tử chỉ có mấy tháng chứ không phải tám năm như trong vở cải lương đã nói. Sau đó, vì những khó khăn riêng trong gia đình nhà thơ, chị phải từ biệt anh và không còn gặp nữa.
Mãi đến năm 1941, Mai Đình mới lên đèo Quy Hòa thăm mộ anh. Từ sau khi giã từ Hàn Mặc Tử, đời chị gian nan lắm. Năm 1941 trong buổi tôi nói chuyện về Hàn Mặc Tử tại thành phố Sông Cầu, chợt thấy chị bên ngoài cửa sổ, tôi hẹn chị ngày hôm sau xin gặp, nhưng chị không trở lại. Lòng tôi bâng khuâng không biết cuộc đời dành cho con người có tâm hồn đẹp đẽ ấy chút may mắn nào không. Năm 1955, tôi bất ngờ thấy Mai Đình trong sân sau cơ quan Hội văn nghệ Việt Nam, 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội, trước nhà Chế Lan Viên. Tôi vui mừng được biết chị đã có gia đình hạnh phúc, bản thân chị là chiến sĩ thi đua ngành ngân hàng Nhà nước.
Năm 1938, nhà thơ Bích Khê ra thăm Hàn Mặc Tử tại Quy Nhơn. Lúc ấy, bệnh phong đã cách ly nhà thơ lớn với xã hội, anh càng thấm nổi cô đơn. Bích Khê thương bạn, tặng anh một tấm ảnh Bích Khê chụp chung với Ngọc Sương, chị ruột mình, nói thêm rằng Ngọc Sương quý Hàn Mặc Tử lắm và rất khen thơ anh. Bích Khê thầm có ý muốn tạo cho Hàn Mặc Tử một nguồn an ủi mới, dù hoàn toàn trừu tượng. Ngày ấy, Ngọc Sương đã yêu anh Lạc Nhân, một nhà phiếm luận nổi tiếng trên báo Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Chị không hề hay biết việc làm này của em trai mình. Nhưng Hàn Mặc Tử lại có tình yêu xa vời mường tượng đối với chị. Anh viết.
Ta đề chữ Ngọc trên tàu lá
Sương ở cung thiềm gió chẳng thôi
Tình ta khuấy mãi không thành khối
Như giận đòi phen cắn phải môi…
Bài thơ này chị Ngọc Sương chỉ biết khi được Mai Đình chuyển cho chị một năm sau. Hình ảnh chị bị xuyên tạc hoàn toàn trong vở cải lương nói trên.
Ngọc Sương chưa trực tiếp gặp Hàn Mặc Tử bao giờ, lại càng không có chuyện tranh giành người yêu với cháu mình để sau tuyệt vọng bèn đi tu thành bà phước! Tháng 8 năm 1990, tôi có dịp đến thăm chị tại thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, với tuổi 78 và sau nhiều lần bị giam cầm trong nhà tù của Mỹ-Ngụy cùng với chồng vì hoạt động cách mạng nội thành, Ngọc Sương vẫn tinh lợi, yêu đời và tin tưởng. Con gái chị, Thu An, là trong mười một cô gái bị đày ra Côn Đảo được đưa về Hà Nội sau ngày giải phóng. Đầu năm 1940, nhà văn Trần Thanh Địch, bạn thân của Hàn Mặc Tử gửi từ Huế vào cho anh bức ảnh của Thương Thương cháu gái mình giới thiệu là người rất yêu thơ của Tử. Cô gái ngay thẳng dịu hiền ấy mới 12 tuổi em của Trần Tái Phùng, một trí thức gia đình nho phong ở Huế. Việc làm của Trần Thanh Địch mang ý nghĩa như việc làm của Bích Khê, thương bạn nên muốn tạo một tình cảm mờ ảo nào đó giúp cho bạn bớt nổi đau cô đơn. Nhưng đối với Hàn Mặc Tử, Thương Thương đã trở thành biểu tượng của một tình yêu thánh thiện. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 1940, anh đã viết liền 3 tác phẩm xuất sắc: tập thơ Cẩm Châu duyên (trước gọi là tập Thương Thương), hai kịch Thơ duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội, anh dành cho cô thiếu nữ chưa hề gặp ấy một tình yêu đằm thắm. Cho đến lúc nghe tin gia đình Thương Thương trách cứ về chuyện này, Hàn Mặc Tử bỏ dở tác phẩm cuối cùng không viết nữa, dù anh Trần Tái Phùng viết thư khuyên anh tiếp tục hoàn thành bản thảo.
Về tình yêu của Hàn Mặc Tử, cũng cần nói thêm về mối tình đầu của anh, trước cả khi gặp Mộng Cầm. Đó là tình yêu tuổi hai mươi đối với Hoàng Cúc, con một vị Thương tá ở Quy Nhơn, một tình yêu trong sáng với một chút bâng khuâng thơ mộng chưa có gì sâu sắc. Hình ảnh Hoàng Cúc anh ghi lại trong tập thơ đầu của anh: Gái quê. Năm 1935, ở Sài Gòn về, biết Hoàng Cúc đã về Huế theo gia đình, Hàn Mặc Tử cảm thấy như một sự phụ tình, anh viết:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi kết ước mơ
Tôi sẽ đi tìm mỏm đá trắng
Ngồi lên để thả cái hồn thơ
Mối tình đầu này như gió thoảng, chưa thiết tha sâu đậm đến mức khổ đau như trong vở cải lương đã nói. Năm 1939, Hoàng Cúc gửi cho anh một chiếc bưu ảnh phong cảnh thôn Vĩ Dạ (Huế), khiến cho anh xúc động như là một hoài niệm. Anh viết bài thơ: Đây thôn Vĩ Dạ rất nổi tiếng. Có tài liệu cho rằng bài thơ này Hàn Mặc Tử viết trên tấm ảnh Thương Thương, thật ra bài thơ được viết năm 1939 sau khi nhận bưu ảnh kỷ niệm của Hoàng Cúc, còn Thương Thương bước vào đời thơ của Hàn Mặc Tử mãi tận đầu năm 1940.
Những mối tình của Hàn Mặc Tử trong cuộc đời khổ đau của anh vừa thực vừa hư, thực đến não nùng tuyệt vọng như đối với Mộng Cầm, hư như sương khói, mơ hồ như đối với Ngọc Sương và Thương Thương, nhưng tất cả đã để lại cho đời thơ của Hàn Mặc Tử những tác phẩm tuyệt vời trong nền văn học. Hiện nay, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương đều còn đang sống ở thành phố Hồ Chí Minh, Hoàng Cúc, Thương Thương đều ở Huế. Riêng chị Hoàng Cúc người phụ nữ đức hạnh ấy đã gửi thân vào cửa thiền từ rất trẻ. Đối với nhà thơ lớn ấy chúng ta cần hiểu đúng với sự thật của đời anh.

Nguồn: Nguyễn Viết Lãm, Tuyển tập H; 1997
NV/Đ 37.520
========================================
Đăng nhập để trả lời
0

Thế giới kinh động của Hàn Mặc Tử



Trần Tuấn Kiệt


Nhà thơ với cuộc đời đau thương có một không hai này, tên thật là Nguyễn Trọng Trí. Sinh ngày 22-9-1912 ở Lệ Mỹ (Đồng Hới). Ông làm thơ từ thuở nhỏ. Lấy hiệu là Phong Trần và Lệ Thanh, trong những năm mười sáu tuổi. Vốn ở Qui Nhơn từ nhỏ. Cha mất sớm, nhà nghèo. Học đến năm thứ ba ở trường Qui Nhơn, kế đó mắc bệnh hủi, đưa vào nhà trường Qui Hoà rồi mất ở đây, ngày 11-10-1940.
Ông từng chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử.
Đã đăng thơ: Phụ nữ Tân văn, Saigon, Trong khuê phòng, Đông Dương tuần báo, Người Mới.
Đã xuất bản : Gái quê (1936)
Thơ Hàn Mặc Tử (1959) gồm có: Thơ Đường Luật, Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý.
Tất cả các thi phẩm này được nhà xuất- bản Tân Việt in lại (1959). Càng ngày thơ Hàn Mặc Tử càng được phổ biến rộng và có nhiều người say sưa. Phần nhiều những người mê thơ Hàn Mặc Tử, lớp thanh niên ngày nọ... thường lê thê lếch thếch, ở các hè quán, dơ bẩn và điên loạn ... họ điên loạn để tỏ ra giống Hàn Mặc Tử, họ bày đặt đau thương khốn đốn, thơ thì dùng chữ cho sáo, cho kêu, tiếc rằng không tìm được một Hàn Mặc Tử thứ hai để cho mình chiêm ngưỡng.
Ngày nào còn bình tĩnh tôi chỉ thích đọc thơ Xuân Diệu, thơ Lưu Trọng Lư với những linh hồn sầu mộng muôn đời đó, cũng như những người làm thơ hôm nay... cái nhẹ và cao sâu của Trần Dạ Từ, Đỗ Quí Toàn và những bài thơ lục bát của Trần Đức Uyển vậy... nhưng, lúc tỉnh cũng như lúc điên... giòng thơ Việt với đôi hình sắc lạ thường rẽ thành hai nẻo... cùng hướng vọng về ân sủng của Thượng Đế, chỉ có Huy Cận ngày xưa, không cầu mong Thượng Đế điều gì, vì thi nhân mang cả cái linh hồn trần gian này mà trả lại cho Người. Nhưng đến lúc sầu hận điên đảo khôn nguôi, tôi tìm trở về với Ôn Như Hầu... với Chế Lan Viên... và nhất là với Hàn Mặc Tử. Thơ không vốn để vỗ về lấy đau thương của ai cũng không phải để nói lên cái đau khổ, mà để tạo lập một vũ trụ, một cõi mới lạ... điều đó có người bạn thơ tôi đã nói. Tôi đồng ý vì thật tình đã nghĩ như thế, nhưng còn thêm... cõi nào cũng vậy... tiếng nói của Loài Người cả đấy thôi... thì dù ở đâu, ở hoang đảo nào, ở một thế giới nào đi nữa, chúng ta vẫn cắm lều cô độc, chúng ta vẫn đến cái đỉnh chót vót của tâm hồn tẻ quạnh của ta và chừng đó hoặc là trở về cô độc, bằng thái độ sống, nếu không, thì chúng ta sẽ điên, điên như Chế Lan Viên, kinh dị như Hàn Mặc Tử và sau này trên một nguồn đó còn có nhà thơ Viên Linh với Hóa Thân xuất bản vừa rồi.
Nhà thơ đi lọc ánh sáng để gieo vần, đơn độc đắm mình trong suối ngọc cỏ thơm, trong niềm đau thương xô đẩy đến một thế giới trăng sao lộng lẫy. Thi ca là nguồn suối ở trên cõi siêu hình đảo lộn cả mọi suy tưởng đậm đà của tình nhân gian sầu mộng. Ở đó chỉ có linh hồn thi nhân và trân châu ngọc bích của Thượng Đế. Ở đó sự kỳ lạ được nhà thơ điểm vào óng ánh tinh khí, thực thể trở thành huyền hoặc lý lẽ cõi đời không có đất nẩy mầm, cõi điên loạn dị thường được soi trong cặp kính của một vì Sáng Thế, được gảy bởi cung đàn thiên tiên bất tuyệt.
Từ lắng nghe niềm đau thương vọt máu của sự tình đến khao khát ân ái của nhục thể từ lang thang cô đơn ở trong xã hội gọi là chỗ hợp quần nầy tương trợ và thông cảm nầy...rốt lại chỉ còn vò- võ từng đêm, hoảng hốt và đau buốt xương da từ đêm trong bệnh viện Qui Hoà. Từ cõi bị đày nầy, thi nhân xưa vẫn là người tiên ở thượng giới cho đến cõi đời tạm bợ đày đoạ nầy, rồi lại bị đày thêm lần nữa ở một vũng cô liêu cũ vạn đời...
Với niềm đau thương của Hàn Mặc Tử người đời còn có thể nhắc tới. Nhưng tiếc rằng nhắc tới để cảm thấy một cuộc đời rất là say đắm...rất là khốn cùng... rất là thơ mộng!!! Chứ nào ai đã cảm nhận một con người đó vượt khỏi cái âm – u, hoang lạnh của hư vô bủa vây trùng điệp... đen tối mịt mù như một thứ mê hồn trận. Những giờ phút tê điên hồn phách, sượng sùng xương da, ở giữa một căn nhà với ngọn nến, trông ra bốn bề đêm tối bủa vây, bãi tha ma hoang lạnh. Linh hồn kinh dị đến tột cùng, choáng ngộp cơ hồ nghẹt thở... đau đớn bốc dậy cùng từng sớ thịt, từng đường gân từng mạch máu, từng phút lo âu và khẩn nguyện.
Như một kẻ lâm vào ác mộng, vũ trụ quay cuồng, vang vọng đến tiếng gọi rợn người của tử thần rình rập. Cựa quậy khôn thoát, cuối cũng thể xác đành ngã gục... đành tê điên, đành tan rã, nhưng linh hồn Người đã đến một nơi cư ngụ bình yên..
Trong đời ta ít nhất là ta đã va chạm một lần với cái chết khủng khiếp, ta mê cuồng và thét gọi; ta điên đảo và bấu víu vào đời sống nầy một cách vừa bi thảm vừa run sợ. Ít nhất là như thế... ta mới cảm thông với một người trải nhiều ác mộng, luôn luôn thấy bàn tay lông lá của tử thần vươn đến chụp xuống đầu cổ, vò bóp xương da. Cuộc chiến đấu bất lực của con người với định mệnh ác nghiệt, cuộc chiến đấu giữa thể xác tanh hôi ghì kéo linh hồn chìm ngập trong đó, và ý chí thì bay vượt lên, điểm linh hồn với cõi trú ngụ mông lung mù mịt của thế giới trăng sao huyền hoặc của thơ Người.
Thơ Hàn Mặc Tử không nên đọc trong lúc bình tĩnh, vì nó sẽ dẫn ta vào chơi vơi hoang đảo trong đêm biển mù tăm. Nhưng lúc quá đau thương, ta vào cõi thơ của người để mà lảo đảo hít làn tinh khí của trăng sao, của hoa trái thanh tân, nhìn thấy ngất trời tinh đẩu, với nỗi đau đớn lạ thường , cảm giác lạnh tê. Ở đó , ta chịu nhập hồn ta vào cõi vô cùng nọ, ta cùng lùa ánh sáng như lùa một thứ tình mộng, như lùa những làn sóng trong ngần của bầu trời tinh mơ, của biển vàng rực rỡ. Ta sẽ vơi bớt nỗi đau đớn mà cảm thấy một hồng ân, bánh mật của thượng Đế. Và kẻ nào từ chối thứ bánh mật đó, từ chối mọi ân sủng thiêng liêng đó..., cũng đừng nên than vãn cõi đời ô trọc làm chi nữa, đừng tìm làm chi nữa hạnh phúc ở trong cõi trần này. Nếu có gan liền phó mặc với triều sóng thời gian đẩy ra khơi mãi thì đừng đọc thơ Hàn Mặc Tử nữa, sẽ tự dựng lấy một thế giớ riêng , ở đó mặc tình vùng vẫy.
Nói về thơ Hàn Mặc Tử, ngẫm nghĩ lại, mình không nói được gì cả...bao nhiêu lời từ trước đến giờ như là lá cây mục, như là cỏ khô... bởi vì thơ người, quá ư tràn trề ánh sáng, nhưng lúc tắm trong vùng ánh sáng nọ, thoát nó lại biến mất... lúc ta ngỡ thơ chàng là ánh sáng thái dương thì thơ chàng lại là vầng trăng thiên cổ... lúc ta ngỡ nắm được linh hồn, nắm được bản chất thơ của Người ở cõi đời này... thì thơ chàng đâu có ... mà ta cầm nắm đâu; vì:
Người thơ chưa thấy ra đi nhỉ?
Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ.
Và chân lý mà ta thấy được ở tận cõi xa mù nào... không thể hiểu nổi nữa!

***


Nguồn trích: Phổ thông.- 1966.- Ngày 15 tháng 3 (Số 168) (2.273);
KHPL: BĐ.04(91)
==============================================
Đăng nhập để trả lời
0

Đọc lại “Chơi giữa mùa trăng” của Hàn Mặc Tử



Lê Huy Oanh


Những tác phẩm quan yếu của Hàn Mặc Tử gồm có : Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý, Thượng Thanh Khí, Chơi Giữa Mùa Trăng, Duyên Kỳ Ngộ, Cẩm Châu Duyên. Tất cả đều là thơ: phần lớn có vần và một ít thơ xuôi. Những tác phẩm này vẫn còn một số lớn chưa được xuất bản. Những sách đã in rồi của Hàn Mặc Tử hình như cho tới nay mới chỉ có 3 tập: a/ Gái Quê, thơ, 1936. b/ Thơ Hàn Mặc Tử, thơ, do nhà Đông Phương ấn hành lần đầu 1942, nhà Tân Việt tái bản 1959. Đây có thể coi như một tuyển tập thơ của Hàn, rút từ các sách đã in và chưa in như Thơ đường Luật. Gái Quê, Đau Thương, Xuân Như Ý. c/ Chơi Giữa Mùa Trăng, do nhà Ngày Mới in lần 1 vào năm 1941. Nhà An Tiêm tái bản 1969. Đây là một tuyển tập các bài thơ xuôi và tạp văn của Hàn .
Cuốn Chơi Giữa Mùa Trăng gồm có 10 bài:
- Các bài Chơi Giữa Mùa Trăng ( trang 10) ( *) Mùa Thu Đã Tới (trang 21), Kêu Gọi (trang 27), Khao Khát (trang 43), Tình (trang 47). La Pureté de I’ame có kèm bản dịch Việt ngữ của chính Hàn ( trang 65 và 71) đều có thể được coi mhư mhững bài tuỳ bút được viết theo thể văn xuôi thi vị hoá (tương tự như thơ xuôi).
- Hai bài “Thơ” (trang 54) và “Ra Đời” (trang 59) thuộc thể thơ xuôi thuần tuý.
- Hai bài “Quan Niệm Thơ” (trang 33) và “Chiêm Bao Với Sự Thực” có tính chất nghị luận.
- Chúng ta hãy lần lượt xét từng bài trong tập sách.
BÀI 1 : CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG
Trong các bài thơ của ông, Hàn Mặc Tử rất hay nói với trăng. Vì sao ông đã bị trăng ám ảnh mãnh liệt như thế? Có người viện lý lý cho rằng trong trường hợp người mắc bịnh cùi, trăng càng sáng tỏ thể xác và tâm hồn họ càng bị náo động, bởi thế mà họ bị trăng ám ảnh. Riêng tôi, tôi không tin cái lý do y học đó là xác thực. Theo ý tôi, sở dĩ Hàn Mặc Tử hay nói đến trăng là vì ông rất ưa thích trăng. Sự ưa thích đó vốn có lý do của nó : ánh trăng thường tạo ra cảnh vật một vẻ mơ hồ huyền ảo rất hợp với tâm hồn ông. Hàn Mặc Tử là người ưa sống trong cảnh mộng, và ánh trăng thường hiến cho ông những cảnh mộng tuyệt vời. Trong rất nhiều bài thơ của ông ỉư tập Thơ Hàn Mặc Tử, ông đã nói tới trăng hoặc nhiều hoặc ít. Nhìn sang tập tập Chơi Gữa Mùa Trăng, bài đầu tiên, với cái nhan đề được dùng làm nhan đề chung cho cuốn sách, là một bài tràn ngập ánh trăng. Thiết tưởng chưa cần đọc nội dung bài đó, mới chỉ đọc cái nhan đề người ta đã thấy ánh trăng bao la, chứa chan ở đó rồi.
Trăng trong bài này là trăng mùa thu, nói rõ hơn nữa, trăng rằm mùa thu. Trăng lan toả trên mặt sông biến dòng sông thành một “đường trăng trải chiếu vàng”. Hai bên bờ sông cực kì êm ả với những động các và rừng xanh. Nhà thơ của chúng ta bơi thuỳen trên sông trăng. Không phải chỉ có một mình chàng, trên thuyền còn có một người nữa: chị chàng. Hai chị em bơi thuyền đi “Chơi Giữa Mùa Trăng”. Các bạn còn đợi gì, không kiếm lấy một chiếc thuyền con bơi theo họ. Đêm trăng trên sông có những gì? Trước hết là ánh trăng, dĩ nhiên, một thứ ánh sáng toả ra thật rộng. Rồi đến hương thơm mà gió thu mang tới; “một thứ mùi gì ngào ngạt như mùi băng phiến; trong ấy biết đâu lại không phảng phất những tiếng kêu rên của thương nhớ xa xưa...”.Sau nữa là cái vẻ huyền ảo tựa như trong chiêm bao:
“Thuyền đi êm ái quá, chúng tôi cứ ngờ là đi trong vũng chiêm bao, và say sưa, và ngây ngất vì ánh sáng, hai chị em như đê mê không còn biết có mình và nhận mình là ai nữa. Huyền ảo khởi sự. Mỗi phút trăng lên mỗi cao, khí hậu cũng tăng sức ôn hoà lên mấy độ, và trí tuệ, và mộng, và thơ, và nước, và thuyền dâng lên, đồng dâng lên như khói... Ở thượng tần không khí, sông Ngân Hà trinh bạch đương đắm chìm các ngôi sao đi lạc đường. Chị tôi bỗng reo to lên: “Đã gần tới sông Ngân rồi! Chèo mau lên em! Ta cho thuyền đậu ở bến Hàn Giang!”
Đi trong thuyền chúng tôi có cái cảm tưởng lý thú là đương chở một thuyền hào quang, một thuyền châu ngọc, vì luôn luôn có những vì tinh tú hình như rơi rụng xuống thuyền...”
( trang 11,12)
Chúng ta không biết rõ quả thật hai chị em Nguyễn Trọng Trí có từng chèo thuyền đi chơi sông trăng bao giờ hay không. Dầu có thật hay không thì chúng ta cũng vẫn thấy rõ ràng Hàn Mặc Tử đã vận dụng trí tưởng tượng để tạo dựng (hoặc tô diểm) cuộc “Chơi Giữa Mùa Trăng” đó thành một biểu tượng. sự huyền ảo tinh khiết của cảnh đó tượng trưng cho cõi Mộng của tác giả, bởi đối với Hàn Mặc Tử chỉ trong cõi mộng, chàng mới thấy mình lâng lâng vui sướng.
“ Sao đêm nay kiều diễm như bức tranh linh động thế này? Tôi muốn hỏi chị tôi có thấy ngọt ngào trong cổ họng như vừa uống xong một ngụm nước lạnh, mát đến tê hết cả lưỡi và cả răng? Chị tôi làm thinh - mà từng lá trăng rơi trên xiêm áo như những mảnh nhạc vàng...”
( trang 13,14)
Trong tâm trí Hàn Mặc Tử, thường có hai điều tượng trưng cho sự thanh khiết : đó là ánh trăng và thánh nữ đồng trinh Maria. Trong Chơi Giữa Mùa Trăng , Hàn Mặc Tử đã kết hợp hai sự tinh khiết đó lại với nhau:
“ Bây giờ chúng tôi đang ở mùa trăng, mở mắt cũng không thấy rõ đâu là chín phương trời, mười phương phật nữa. Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiếu diểu đến nỗi đôi đồng tử của chị tôi và tôi lờ đi vì chói lói... Ở chỗ nào cũng có trăng, có ánh sáng cả, tưởng chừng như bầu thế giới chở chúng tôi cũng đang ngập lụt trong trăng và đang trôi nổi bình bồng đến một địa cầu nào khác.
Ánh trăng tràn trề, ánh trăng tràn lan, chị tôi và tôi đều ngả vạt áo ra bọc lấy, như bọc lấy đồ châu báu...
Tôi bỗng thấy chị tôi có vẻ thanh thoát quá, tinh khôi tươi tốt và oai nghi như pho tượng Đức bà Maria là bậc tinh truyền chí thánh. Tôi muốn sốt sắng quỳ lạy mong ơn bào chữa. Nhưng trời ơi, sao đêm nay chị tôi đẹo đẽ đến thế này. Nước da của chị tôi đã trắng, mà vận áo quần bằng hàng trắng nữa, trông thanh sạch quá đi.
Tôi nắm tay chị tôi gật lia lịa và hỏi một câu tức cười làm sao: “ Có phải chị không hở chị ?” Tôi run run khi tôi có cái ý nghĩ: Chị tôi là một nàng Ngọc Nữ, một hồn ma, hay một yêu tinh. Nhưng tôi lại phì cười và vội reo lên “A ha, chị Lễ ơi, chị là trăng mà em đây cũng là trăng nữa”.
( trang 15,16)
Bài Chơi Giữa Mùa trăng chứa đựng một trong những nguồn tư tưởng thiết yếu của hàn Mặc Tử, thứ tư tưởng trong sạch thánh thiện được biểu dương bằng ánh trăng vàng. Nó còn bày tỏ cái tư tưởng siêu thoát của Hàn Mặc tử, kẻ vốn muốn xa lánh những cảnh ô trọc, trầm luân của cuộc sống thực tế, nên thường hay tạo cho mình những cõi Mộng riêng để mà ẩn náu trong đó.
Chơi Giữa Mùa trăng là một bài văn loại thơ xuôi rất đặc sắc, cả về nội dung lẫn hình thức.
Bài 2 và bài 3 : “ MÙA THU ĐÃ TỚI” và “ KÊU GỌI”
Hai bài này cũng là thứ tuỳ bút viết bằng thứ văn xuôi thi vị hoá. Các ý tưởng được phát biểu trong bài rất rời rạc mơ hồ, đôi khi nghe như những lời mê sảng. Có ba ý tưởng đáng kể liên hệ tới hạnh phúc, tài hoa, và những phút vui vô giá.
Nói tới hạnh phúc, Hàn Mặc Tử viết:
“ Tận hưởng cái thú vị của hạnh phúc trong một phút đê mê, nghĩa là đã sống đầy đủ vậy. – Hãy cầu nguyện với vì Ác tình xuống hoạ cho người để nghe rõ tiến kêu thương, vì hạnh phúc nằm trong đau khổ”
( trang 21)
Bàn về tài hoa, Hàn Mặc Tử hạ bút:
“ Nhà nghệ sĩ bao giờ cũng điên. Tài năng thì có giới hạn. Dám đem tài mọn làm rộn nước mây. Sẽ bị mạng trời đánh ngã.- Than ôi !tài hoa là một điều tai hại”
(trang 22 – 23)
Sang bài Kêu Gọi, tác giả tuyên bố : “Lòng ta hừng hực mỗi khi nắng hanh lên. Ấy là dấu hiệu mùa thơ đã chín.” Nhân đó, ông kêu gọi : “Gặt hái cho mau, kéo ngọn thơ càng cao, người thợ càng điên dại. Nàng ơi, hãy mượn lưỡi liềm của trăng non mà hái, xin đừng dẫm lên bờ lòng ta.”
( trang 28)
Theo ý của riêng tôi, bài Mùa Thu Đã Tới cũng như bài Kêu Gọi không có gì đặc sắc. Chúng ta nhận ra những điều này: Ngưới ta vừa mới có được một bài tuyệt hay như Chơi Giữa Mùa Trăng, liền ngay đó lại có những bài rất thường. Nhưng có hề chi, cái tầm thường của hai bài sau càng làm tăng thêm vẻ đặc sắc của bài trước.
BÀI 4 : QUAN NIỆM THƠ .
Đây là một bài nghị luận mà Hàn Mặc Tử đã viết gửi cho Trọng Miên để giãi bày vài điều quan trọng trong đường lối sáng tạo của ông, bằng cách so sánh, về vài điểm, thơ ông với thơ Baudelaire.
Trước hết chúng ta nên biết qua về Baudelaire. Ông này là thi sĩ lớn của Pháp thế kỉ 19, được coi như cây cầu nối giữa hai thế giới thi ca Cũ và Mới. Ông là tác giả thi phẩm Les Fleusr du mal. một thi phẩm đã phát biểu một cách can đảm, táo bạo tất cả mọi khía cạnh tốt xấu của tâm trạng con người .
Hàn Mặc Tử cho rằng thơ ông và thơ Baudelaire có điểm đồng và điểm dị: theo nhận định của Hàn, Hàn giồng Baudelaireowr chỗ ông “đã phát tiết hết tinh lực của hồn, của máu, bằng những câu thơ ngất đi vì khoái lạc”.Nhưng chính trong cái đồng đó lại có vài điểm khác biệt. Bởi vì, theo ý Hàn Mặc tử , Baudelaire đã hiểu lộn tình cảm – hay cảm hứng (enthousiasme)-vớI dục tình (passion). Dĩ nhiên, khi Hàn Mặc Tử bảo Baudelaire là hiểu lầm, tức thị Hàn có ý tự coi mình mới là “hiểu đúng”. Đúng ở chỗ phân biệt rõ trắng đen “tình cảm” với “dục tình’. Hàn viết: “Tình cảm là sự thanh bạch hồn nhiên, không có một thú gì bợn nhơ, tội lỗi, còn dục tình là cả một sự ham muốn phi thường ngoài điều răn của Đức “ Chúa Trời”. ( trang 34)
Có một lúc, khi bàn về trách vụ của nhà thơ, Hàn Mặc Tử đã lập luận một cách rất duy tâm và khá giàu tưởng tượng nhe thế này:
“Đức Chúa Trời tạo ra trăng, hoa, nhạc hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy, chiêm nghiệm lẽ màu nhiệm, phép tắc của đấng Chí Tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “ thiên thần và loài ngườI ta”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: loài thi sĩ. Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng : phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của người, và trút vào linh hồn người ta, những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch”.
( trang 34,35)
Lập luận của Hàn có đúng hay không, cái đó còn tuỳ theo hạng người đọc. Nếu bạn là người cũng có đầu óc duy thần hạng nặng như Hàn thì có thể bạn sẽ coi lập luận đó là hữu lý.
Có điều, lập luận đó giúp chúng ta phân biệt được hai quan niệm sáng tác (và cũng là quan niệm sống) của Baudelaire và Hàn Mặc Tử. Baudelaire chỉ lưu ý tìm kiếm cái đẹp mà bất cần quan tâm cái Đẹp đó phát nguyên từ Thượng đế hay từ quỷ Sa- tăng. Còn hàn Mặc Tử là một người sùng đạo Thiên Chúa nên cho rằng trong vũ trụ này chỉ có Thượng Đế là nguồn phát sinh cái Đẹp mà thôi, điều gì trái với quy luật của Thượng Đế đều không còn phải là cái Đẹp.
Lý luận đó của Hàn Mặc Tử có đặc vẻ chủ quan của một tín đồ đạo giáo; Tuy nhiên, khi ông bàn tới cái “định mệnh tàn khốc” của một thi sĩ, giọng ông có vẻ phổ quát hơn:
“Bởi muốn cho loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ của thế gian này, - nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời- Người (1) bắt chúng ta phải mua bằng giá máu, luôn luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình”.
( trang 35)
Ở đoạn cuối bài Quan Niệm Thơ, Hàn Mặc Tử có viện dẫn câu sau đây của Baudelaire:La poésie ne peut pas pêin de mort ou de décheance, s’assimiles à la sciênc ou à la morale. Elle n’a pas la vếit pour objet, elle n’a qu’elle même (2) rồi ông đả khích Baudelaire bằng những lời như sau:
“ Baudelaire nói trái nghịch vớI lẽ tự nhiên. Sở dĩ thơ văn được phong phú dồI dào, phát triển hết cả anh hoa huyền bí, và vượt lên trên những tầng biên giới tân kỳ mới cũng nhờ khoa học điểm chuyết cả. Còn luân lý là, tiêu chuẩn cho văn thơ, không có nó thì thơ văn chẳng có ra cái mùi mẫn gì nữa. Nếu để thơ trơ trọi một mình, thơ sẽ lạt lẽo vô duyên, không có phong vị gì nữa. Baudelairethuoocj về phái vô thần, nên không tin có chân lý, không nhận chân lý là tiêu chuẩn cho văn thơ. Còn Trí phải lấy Đức Chúa Trời làm Chân Lý, làm tiêu chuẩn chi văn thơ. Văn thơ không phải bởi không mà có”.
( trang 39,40)
Lại thêm một lần nữa, người ta lại được nghe cái luận điệu say sưa hăng hái đầy chủ quan của tín đồ Hàn Mặc Tử trong việc hiển dương Đức Chúa Trời.
Bài 5 và bài 6 : “KHAO KHÁT” và “ TÌNH”.
Đây lại là hai bài tuỳ bút bằng văn xuôi thi vị hoá. Bài trên bày tỏ nỗi thèm khát của tác giả đối với “ Mỹ vị của nguồn đạo ngày xưa”. Có lẽ đây là một nỗi thèm khát hoài hoài không bao giờ thỏa mãn được.
Bài dưới nói tới tình, về ảnh hưởng của những tình cảm, tình hoài đối với tác giả. Tình toát ra từ khắp nơi, ở nội giới cũng như ngoại giới con người tác giả. Nhưng cuối cùng tác giả kết luận:
“Tôi làm mất tình rồi, chừ tôi đang kiếm đây. Không biết những tiếng hát đầu mùa có gặp cùng chăng?
Thôi thôi! Đã có cô vãi non nào chận bắt tình tôi, đem về chùa đốt ra khói hương thơm”.
(trang 48,49)
Theo ý tôi, hai bài thơ này tầm thường, không có gì đặc sắc.
Bài 7 và bài 8 : “THƠ” và “RA ĐỜI”.
Bài “Thơ” là bài mà hàn Mặc Tử đã viết làm bài “Tựa” cho tập thơ Đau thương của ông. Trọng Miên đã tuyển chọn nó vào tập Chơi Giữa Muà Trăng (1941) rồi lại dùnmg nó như một bài mở đầu cho tập tuyển thơ Hàn Mặc Tử (1942). Trong thơ Hàn mặc Tử, cái nhan đề “Thơ” của bài ấy đã bị loại bỏ.
Còn bài “Ra Đời” đã được Hàn mặc Tử viết sau lễ Giáng Sinh 1939, tại Quy Nhơn, vào một ngày mà chính thi nhân cho là “rất say, rất dại và rất nhớ, rất thương”. Bài này, ngoài sự được in trong Chơi Giữa Muà Trăng còn được tuyển lựa in vào tập Thơ Hàn Mặc Tử thành bài đề tựa cho Mục Xuân Như Ý. Bài một nói về thơ bằng một ngôn ngữ rất thơ. Khi nói tới cơn đau sáng tạo của mình, nhà thơ viết :
“Tôi làm thơ?
- Nghĩa là tôi yếu đưối quá ! Tôi bị cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức bí mật.
Và cũng nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên.
Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi !
Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôpi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống...”
(trang 55,56)
Chính nhà thơ hiểu rằng những cơn đau sáng tạo như thế vốn là một cái gì quý giá, bởi nó có công dụng thúc đẩy nhà thơ tạo ra trong thơ những sắc thái mới lạ có khả năng gây những rung động chưa từng thấy. Vì thế, ông viết :
“Thôi mời cô cứ vào ...
Ánh sáng lạ trong thơ tôi sẽ làm cho gò má cô đỏ gấc. Và một khi cô đã vào là cô sẽ lạc, vì vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa là càng ớn lạnh”.
( trang 56 )
Bài Ra Đời nói tới cái vẻ giàu sang phong phú của thơ khi thơ có Đức Chúa trời ngự bên trong, khi thơ được dùng để xưng tụng Đức Tin Thiên Chúa Giáo. Trong bài “Ra đời”, Hàn Mặc Tử có viết :
“Cho mau lên! Dồn ánh nguyệt vào đây... Lời thơ ta sẽ sáng trưng như thất bảo. Tình cảm ta sẽ nóng ran như mặt trời. Ý tứ ta sẽ cao cường hơn ngọn núi.
Lạy Chúa Trời tôi! Hãy ban cho tôi hằng hà sa số là ơn lành ơn cả... Thơ tôi sẽ rất no, rất ớn, rất nư, trọng vọng như tài hoa, cao sang như nhân đức, chói chan vô vàn phước lộc...”
(trang 59)
Đối với Hàn Mặc Tử, trăng có thể biểu dương cho đủ thứ : là tuyệt vọng, là vui sướng, là đau khổ, là bình yên, là điên loạn... Ở mấu câu thơ trên, chắc hẳn ánh nguyệt biểu dương cho tinh thần và đức tin Thiên Chúa Giáo. Cho mau lên dồn ánh nguyệt vào đây... Cho mau lên dồn đức tín vào đây... Lời thơ ta sẽ sáng trưng như thất bảo...
Hai bài “Thơ” và “Ra đời” là hai bài “Tựa” mà cũng là hai bài thơ xuôi thật hay và đặc sắc.
Bài 9 : “LA PURETÉ DE L’ÂME”.
` Bài thơ văn xuôi này là một thứ kinh cầu nguyện đã được Hàn Mặc Tử sáng tác bằng Pháp ngữ vào thời gian ông nằm trên giượng bệnh và sắp chết tại nhà thương Quy Hoà. Như mọi người đều biết, thi sĩ Hàn Mặc Tử vốn là một tín đồ Thiên Chúa Giáo (tên thánh của ông là Phan-xi-cô) rất ngoan đạo. Những khi quá đau khổ, ông thương tìm sự an ủi của Chúa Jésus và Đức Mẹ Đồng trinh Maria. Những bài thơ có nhiều sắc tôn giáo của ông như Đêm Xuân Cầu Nguyện hoặc Thánh Nữ Đồng Trinh Maria (bài này còn có tên là Ave Maria- Kính mừng Maria) đều là những bài thơ đạo tuyệt hay của nhân loại.
Khi biết mình sắp chết, lòng sốt mến của ông đối với Chúa càng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Sự sốt mến đó đã khiến ông, trên giường bệnh, viết bài La Pureté de I’âme (Linh hồn thanh khiết). Trong bài thơ này tác giả có 3 điều chính yếu để ca ngợi : Trước hết là ca ngợi công trình thần bí tuyệt diệu của đấng tối cao, thứ đến ca ngợi các bà xơ dòng thánh Phan-xi-cô, là nnhững người đã hy sinh thân mình để chăm sóc cho các bệnh nhân cùi ở bệnh viện Quy Hòa, và cuối cùng ca ngợi sự thanh khiết trong linh hồn.
Điểm thứ ba có một phần liên quan mật thiết đến điểm thứ nhì, bởi ngoài nỗi ước ao (một cách mặc nhiên) cho chính mình có được một tâm hồn thanh khiết, ông còn đã ca ngợi sự thanh khiết tuyệt vời của tâm hồn các bà xơ. Ông viết :
“Tôi muốn trọn đời ngưỡng mộ vẻ trắng trong nguyên vẹn, nguồn tươi, ánh sáng, thơ vì tất cả đấy là hình tượng của LINH HỒN THANH KHIẾT”.
(trang 72,73)
Bài Linh Hồn Thanh Khiết là một bài thơ xuôi tuyệt đẹp, rất nồng thắm, rất thiết tha, và chính cái giộng say mê nồng nàn đó đã chứng tỏ Hàn Mặc Tử đã viết bài ấy trong một lúc xuất thần, cái lúc mà ông chiêm nghiệm thấy rõ rằng sự đẹp đẽ nhất của trần thế này chính là sự thanh khiết của linh hồn con người, sự thanh khiết được hun đúc bằng tinh thần Thiên Chúa Giáo.
Bài 10 : “CHIÊM BAO VỚI SỰ THỰC”.
Đây là một bài nghị luận vừa có vẻ rất thơ, lại có tính cách triết lý. Từ trước đến nay, người ta thường hay phân biệt chiêm bao và sự thực. Là một thi sĩ có nhiều siêu cảm tính, Hàn Mặc Tử thường hay sa vào trạng thái tương tư như chiêm bao, và khi tỉnh lại ông đã phân vân tự hỏi chẳng biết cái trạng thái mà ông vừa sa vào đó là sự thực hay là chiêm bao ? Ông viết :
“Ngoại cảnh đả xâm lấn xác thịt và linh hồn tôi. Bao nhiêu là tinh anh của non sông đều xông vào tôi, rút hết tình tiết của tôi. Tôi có thể bảo đây là một lốI thần giao cách cảm, mà ngoại cảnh hay thâm tâm đều xáo động, bởi dây khoái lạc vô ngần. Và có thể say mê đến điên dại, bắt chước Lý Bạch đại la tiên vồ trăng trên mặt nước.
Từ thực sự đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, từ huyền diệu đi tớI chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực bị ánh sáng của chiêm bao vây riết...
Bây giờ tôi đố tôi thử có nhận được tính cách của giây phút này không, và tôi ở trong cảnh thực hay là đương bị hãm giữa trùng vây của chiêm bao?”
(trang 79,80)
Ông hồ nghi như vậy, nhưng rồi ông không tin rằng đó là chiêm bao. Đối với ông, chiêm bao và sự thực quá gần gũi với nhau đến độ không thể phân biệt chúng được, và vì không phân biệt chúng được, nên chúng chỉ là một.Chúng ta cũng có quyền tin rằng, riêng đối với Hàn Mặc Tử, sự thực cũng là chiêm bao, ngược lại, chiêm bao cũng chỉ là sự thực.Nếu không thế thì tại sao ngay cả những lúc ông có vẻ mê sảng nhất, những lúc ông thoát tục nhất, lời thơ của ông lại tinh khôi, rõ ràng, cả quyết đến như vật được chứ ? Hãy mở những bài thơ cực kỳ huyền ảo của ông, huyền ảo còn hơn cả chiêm bao, như Chơi Giữa Mùa Trăng hay Ra Đời trong sách này, hoặc những bài thơ có vần như Những Giọt Lệ, Đàn Ngọc, Cô Liêu, Đêm Xuân Cầu Nguyện, sáng láng, Thánh Nữ Đồng Trinh Maria... trong tập thơ Hàn Mặc Tử chúng ta sẽ thấy rằng càng huyền ảo chừng nào, những ý tưởng của ông càng có vẻ xác thực và minh triết.
Cho nên, trong thơ Hàn Mặc Tử, cũng như trong thơ của một số thi sĩ khác cùng loại với ông như Bích Khê, Gérard de Nerval, Holderlin... người ta không thể nào phân biệt được sự thực với chiêm bao. Cũng như chính xác tác giả đó cũng đã không thể nào phân biệt được sự thực với chiêm bao.

Tóm lại, đọc xong tập thơ Chơi Giữa Mùa Trăng của Hàn Mặc Tử, người ta nhận thấy vài hiện tượng nổi bật như sau:
- Trong các tác phẩm của Hàn Mặc Tử - cũng như của Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Chế Lan Viên- người ta nhiều khi đã không còn có thể phân biệt được thơ và văn xuôi. Hầu hết những áng văn xuôi của họ, ngay cả những bài có tính chất nghị luận, cũng đều chứa chan hương vị thơ. Hàn Mặc Tử là một trong những thi sĩ đã có công lớn trong việc truyền bá và hiển dương lối thơ xuôi tại xứ ta.
Trong tập thơ Chơi Giữa Mùa Trăng có một số bài thật hay, thật đặc sắc, nhưng cũng có không ít những bài tầm thường không có gì đáng kể. Những bài như Chơi Giữa Mùa Trăng, Quan Niệm Thơ, thơ, Ra Đời, La Pureté de l’âme, Chiêm Bao Và Sự Thực lá những áng văn rất đặc sắc về phương diện nghệ thuật, hoặc về phương diện tư tưởng, hoặc gồm cả hai phương diện; Còn những bài như Mùa Thu Đã Tới, Kêu Gọi, Khao Khát, Tình, nghe thường trống rỗng, nhạt nhẽo không có gì hấp dẫn.
Điều này không có gì lạ cả.
Những bài cực hay nằm lẫn với những bài tầm thường, đó là hiện tượng thông thường trong bất cứ thi tập nào của bất cứ thiên tài nào, tự cổ chí kim, tự đông sang Tây.
Dầu sao, Chơi Giữa Mùa Trăng cũng là một tập sách quan trọng mà bất cứ ai yêu thơ, yêu tư tưởng của Hàn Mặc Tử, hoặc muốn để tâm nghiên cứu về cuộc sống và thi nghiệp của thi sĩ đó, đều không nên bỏ qua.

(1) Người: Thượng Đế (LHO). Câu này có nghĩa là : “Dù có bị sự tử hình hoặc sự truất quyền đe dọa chăng nữa, thơ cũng không thể nào hòa đồng được với khoa học hoặc với luân lý. Thơ không có chân lý để làm đối tượng. Trong bài Quan Niệm Thơ, Hàn Mặc Tử đã phỏng dịch câu đó như thế này: “Thơ văn không thể dung hòa với khoa học hay luân lý (hoặc tôn giáo cũng thế) và thơ văn không thể lấy chân lý làm chủ đích được, thơ chỉ là thơ”.
-------------
(*) Các số trang viện dẫn được căn cứ vào tập tái bản 1969 của nhà An Tiêm, SaiGon 1969.

Nguồn trích: Văn học.- 1974.- Số 181.- Tr. 51 - 61 (2.272);
KHPL: BĐ.04(91)
===============================================
Đăng nhập để trả lời
0

Hàn Mặc Tử, một tư duy thơ độc đáo


Đỗ Lai Thúy


Con người là một con vật biết chế tạo
Công cụ và biết chôn cất nhau khi chết

(R.Garaudy)

Tuyệt vời là khúc thương tâm
Biết bao tiếng nấc thành ngâm muôn đời.
(A.Musset)

“… Mai sau, những cái tầm thường, mực thước sẽ biến đi và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử” (Lan Viên - Tạp chí Ngày mới, ngày (23-11-1940) và Hàn Mặc Tử là “người đầu tiên làm cuộc cách mạng văn chương ở thế kỷ XX” (Trần Thanh Mại, Hàn Mặc Tử, Tân Việt, 1940). Những dòng chữ như khắc trên bia mộ kia ngày càng được thời gian mài sáng. Bài - viết – hành – hương - đến - với Hàn Mặc Tử này chỉ là một chìa khóa để đi vào tòa lâu đài nghệ thuật của thơ ông, khẳng định lại những điều mà bạn bè ông bằng trực giác đã khẳng định.

TÍNH TRỮ TÌNH

Thơ mới là sự tiếp nối một cách đứt đoạn dòng thơ trữ tình truyền thống – con sông cái trong hệ thống thủy văn văn học Việt Nam. Nếu Tản Đà, nhà thơ – nhà nho tài tử - kiện tướng cuối cùng, chạy đến hụt hơi mà vẫn không vượt qua ngưỡng Thơ mới, thì Hàn Mặc Tử là hiện thân sinh động cho sự tiếp tục cuộc chạy đua tiếp sức đó. Và điều cần thiết để bứt lên phía trước là lúc chạy khởi động ở cuối chặng đường thơ cổ điển, Hàn Mặc Tử dường như đạt tới tốc độ của Tản Đà.
Hàn Mặc Tử làm thơ khi còn nhỏ (1926, 14 tuổi). Sau đó một vài năm, Tử đã xướng họa với Phan Bội Châu và được ông Già Bến Ngự hết lòng khâm phục. Tập thơ Đường luật Lệ Thanh thi tập đã đạt đến trình độ mỹ học cổ điển với những câu: “khóc dùm thân thế, hoa rơi lệ, Buồn giúp công danh, dế dạo đàn”. (Thức khuya), với thuật làm xiếc ngôn từ ở bài Cửa sổ đêm khuya có 6 cách đọc. Tuy nhiên, ngay từ giai đoạn này, thơ Hàn Mặc Tử đã trổ ra những ánh khác lạ: “Hé cửa, nhìn trăng, trăng tái mặt/ Cài then, thắp nến, nến rơi châu” (Lều tranh đêm đông) hay “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối/ Gió thu lọt cửa cọ mài chăn”…
Chuyển sang làm Thơ mới, với tập Gái quê (1936), Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cầm châu duyên, Hàn Mặc Tử cùng các nhà thơ khác như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… tiếp tục đưa thơ trữ tình Việt Nam lên những đỉnh cao mới. Điều này trước hết nhờ có sự giải phóng cá nhân. Bởi lẽ, thơ trữ tình là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm thực tại thông qua một cá nhân cụ thể. Dòng thơ trữ tình truyền thống, từ Đoàn Thị Điểm đến Tản Đà, là sự vật vả quyết liệt và đau khổ để giải phóng cá tính: chống lại những quy phạm đã thành thiên la địa võng. Cuộc vật lộn trường kỳ đó được các nhà Thơ mới kết thúc có khải hoàng ca, tuy còn đầy mặc cảm. Chưa bao giờ và chưa ở đâu như các nhà Thơ mới thâm cung bí hiểm của nội tâm được thăm dò ở nhiều tầng bậc như vậy. Sức mạnh của tiếng nói nội tâm đã phá vỡ những rào cản ngôn ngữ để đưa ra những nhịp điệu mới làm biến đổi cả ngôn từ, thể thơ và các phương tiện biểu hiện khác.
Tuy nhiên, những thành tựu trên là chung của cả “một thời đại thơ ca”. Riêng Hàn Mặc Tử, đóng góp của ông, chỉ xét ở khía cạnh trữ tình so với những người cùng thời đã có nhiều khác lạ.
Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Bính là dòng lãng mạng thuần khiết, nếu Xuân Diệu và nhất là Huy Cận là dòng lãng mạn được cườm vào những yếu tố tượng trưng, Đinh Hùng, Bích Khê chủ yếu là tượng trưng, thì Hàn Mặc Tử là sự hoà sắc của cả lãng mạn lẫn tượng trưng, thậm chí siêu thực nữa. Dĩ nhiên, một căn cốt Đông phương thâm hậu đã làm cho tượng trưng của ông có bóng dáng tượng trưng Đường thi, và xa hơn nữa là tượng trưng Thiền, còn siêu thực thì đậm nhạt một màu sắc Liêu Trai. Điều này tạo nên sự riêng biệt, vừa phong phú vừa sâu sắc, trong phong cách trữ tình của thơ Hàn Mặc Tử.
Trữ tình Hàn Mặc Tử, trước hết, là gợi cảm chứ không phải là truyền cảm. Nhà thơ không truyền thẳng cảm xúc của mình tới độc giả nhờ phương tiện ngôn ngữ, thức dậy thứ năng lượng đó vốn tiềm ẩn trong mỗi độc giả, vì vậy mà cảm giác thẩm mỹ của người đọc no đủ hơn, sâu sắc hơnbởi như tránh được một sự áp đặt từ bên ngoài:

“ Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị hằng ơi’
(Bẽn lẽn)

Nhà thơ ở đây đã phóng chiếu những rạo rực bản năng ra ngoài vũ trụ. Cái nhìn của ông ve vuốt, mơn trớn cả tạo vật. Cảm giác này được thi nhân thể hiện theo lối ứng xử phương Đông vừa lộ liễu, vừa kín đáo theo lối gợi khác với cách nói trực tiếp theo lối truyền của Xuân Diệu (“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài ! Những cánh tay! Hãy quốn riết đôi vai! Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!”). Hàn Mặc Tử đã giăng mắc một mạng lưới các danh từ chỉ động thái nằm sõng soãi, ngây tình, hồi hộp, lả lơi… Những từ này, nếu đứng riêng rẽ thì không làm sao, nhưng một khi đứng cạnh nhau thì lập tức làm người ta nhớ đến những cụm từ khác được chuyên dùng để chỉ chuyện tình ái như gió trăng, trăng hoa, phong tình, trêu hoa ghẹo nguyệt… nghĩa là, chúng đã thu phát xạ của nhau để tạo ra một trường ngữ nghĩa khiến mỗi yếu tố ngôn ngữ trong đó đều lấp lánh cái hàm nghĩa ái ân. Cảm xúc được gợi lên từ những tín hiệu ngôn ngữ, nhờ liên tưởng, cứ lan truyền đi xa mãi như những làn sóng.
Nhà thơ cổ điển nhìn thiên nhiên như nhìn vào một tấm gương phản chiếu để tự nhận thức mình với tư cách là một bộ phận của nó, một tiểu vũ trụ. Nhà thơ lãng mạn thì sử dụng thiên nhiên như một đối tượng hưởng thụ, hoặc một công cụ để giải bầy nội tâm. Thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu thường đóng vai trò yếu tố vật liệu hay chứng nghiệm cho những ý tưởng sáng tác của ông. Nhà thơ thường lồng trăng vào những dòng tư tưởng có tính cách triết lý ( “Trăng sáng, trăng xa, trăng lạnh quá, Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”), hay nói đúng hơn, vào một thế giới trữ tình, mà trong đó những diễn biến, nếu muốn có thể giải thích thuần nhất theo một tâm hướng của cảm giác (vầng trăng trong Lời Kỹ nữ). Hàn Mặc tử, ngược lại, thường trình bầy trạng thái tỉnh của thiên nhiên nhưng không phải một tấm gương, mà như một hoạ điệu của hồn ông, đồng thời chi phối nó trong một nét tương quan thủy chung thanh thoát:
“Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô”
(Huyền ảo)

Cũng như Nguyễn Khuyến trong Thu vịnh, Hàn Mặc Tử ở đây đã khéo léo gài vào trạng thái tỉnh này những chuyển động hửng hờ. Nhưng khác ông già Yên Đổ, thi nhân biết đặt các yếu tố động ấy vào môi trường ngoại ý thức để chúng chỉ đứng vai trò làm nổi bật trạng thái tĩnh. Vầng trăng, thiên nhiên… thậm chí cả con người nữa, chỉ là những tượng trưng của một thế giới vô hình, huyền ảo. Nhờ vậy, Hàn Mặc Tử đã tạo ra được một cách thuần khiết thế giới thơ của riêng ông: khi ông vẽ lên bối cảnh thiên nhiên thì đồng thời chính ông cũng tan biến vào thiên nhiên. Đặc điểm này về sau trong “giai đoạn đau thương” còn được đầy lên một bước nữa: nhà thơ đã làm mất luôn cả bối cảnh thiên nhiên ấy để thế giới thơ ông trở thành vô thường.
Tính chất vô thường của thế giới Hàn Mặc Tử còn gắn với nghệ thuật siêu thực trong thơ ông. Trong các nhà thơ Việt Nam bây giờ có lẽ không ai đậm chất siêu thực như ông. Hãy xem, cặp mắt “đau thương” của nhà thơ nhìn một bông hoa :

“ Sao bông phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?”.

Còn đây là một tâm trạng khác của nhà thơ:

“Tôi ngồi dưới bến đợi nường Mơ,
Tiếng rú ban đêm rạn bóng mờ,
Tiếng hú hồn tôi xô vỡ sóng,
Rung tầng không khí bạt vi lô,
Ai đi lững thững trên làn nước,
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi…”

Theo Quách Tấn kể lại thì một khuya mùa đông, Tử ngồi ngắm trăng một mình trên biển. Vắng chi là vắng. Bỗng có một bóng người ngồi khít bên Tử. Từ bóng ấy ra bóng nữa… Điều này có thực hay không không quan trọng bằng những hình tượng thơ của Hàn Mặc Tử đã tạo ra một thế giới siêu thực, ảo hoá giúp ta thâm nhập vào trạng thái tâm hồn chân thực của thi nhân.
Tại sao thơ Hàn Mặc Tử lại giàu yếu tố siêu thực như vậy? Có thể tiến trình Thơ mới gần mười lăm năm là sự tương ứng với hơn một thề kỷ thơ Pháp. Sau Lãng mạn sẽ đến Tượng trưng và Siêu thực. Hàn Mặc Tử, tuy tự mình đi một mạch từ cổ điển đến siêu thực, nhưng thơ ông chín rộ vào quãng gối đầu giữa Tượng trưng và Siêu thực. Hơn nữa điều quan trọng hơn, là tạng thơ của Hàn Mặc Tử. Kiểu tư duy, khí chất và bệnh tật làm cho ông luôn luôn phân thân, mộng mị và hoang tưởng. Do vậy, siêu thực với ông không phải là thủ pháp kỹ thuật, mà là bản chất sáng tạo của thơ ông.
Sau cùng, sự khác lạ của trữ tình Hàn Mặc Tử còn ở tính se xe của nó. Với một nền văn học không có truyền thống nói đến tính dục như của chúng ta thì điều đó lại càng lạ hơn nữa. Có lẽ tính chất nhục cảm trong thơ Hồ Xuân Hương xuất phát từ tín ngưỡng phồn thục (culte de fécondité), nên đọc thơ Bà chúa đâu đâu cũng thấy những biểu tượng Âm, Dương này, tưởng như lạc vào một ngôi chùa Tây Tạng. Còn nhục cảm của thơ Hàn thì rõ rang đi từ một “ẩn ức” nào đócủa những gái quê, gái đồng trinh, ni cô, cung nữ ở Lãnh Cung… Bởi vậy, nó len thấm vào thực thể của những câu thơ, khi thì biểu lộ ra bằng từ ngữ (sờ sẫm, cọ mài, trần truồng…), bằng những hình ảnh (khuôn vàng dưới đáy khe…), bằng những ám chỉ đến hành động giao hoan (các bài ra đời, Đêm xuân cầu nguyện, Đàn ngọc…) tạo thành một thứ vi khí hậu của tác phẩm. Sự kết hợp của chất nhục cảm dân dả, trần tục với chất thánh thiện, siêu thoát trong thơ hàn Mặc Tử tạo ra sự nghịch dị, chướng, dẫu hiện đại (modernité). Nhưng đấy chỉ là sự đối lập bề ngoài, ở tầng cao hơn, tức là ở bình diện triết học tâm linh, se xe và tôn giáo lại có sự gặp gỡ nhau, bởi chúng đều mang lại sự giải thoát và đưa con người về với nguồn cội của mình.

TƯ DUY TÔN GIÁO

Đọc Hàn Mặc Tử, người ta vấp ngay phải vấn đề: Hàn Mặc Tử, anh là ai? hoặc hẹp và ít trừu tượng hơn: Hàn Mặc Tử có phải là nhà - thơ – tôn – giáo không? Câu hỏi này có nhiều câu trả lời. Để khỏi vướng vào những tranh luận không lối thoát, tôi giải đáp vấn đề theo cách riêng của mình. Nếu Nguyễn Trọng Trí là một tín đồ Thiên Chúa giáo thì Hàn Mặc Tử lại là một nhà thơ. Với nhà thơ thì một nghệ thuật là tối thượng, là đạo. Nhưng nhà thơ ấy lại không thể không liên quan đến vị tín đồ kia, nhất là trên phương diện hình thành một nhân cách và kiểu tư duy. Hơn nữa, Hàn Mặc Tử với tư cách là một nhà thơ coi tôn giáo với tất cả tinh thần của chữ ấy là một cái gì đó đời đời vĩnh hằng và tuyệt đỉnh của nghệ thuật (Tựa tập thơ Tinh huyết của Bích Khê). Với một quan điểm tôn giáo như vậy, những Chúa, những Phập, những Tây Vương Mẫu… chỉ là những biểu tượng cụ thể của những cái Duy nhất, cái Vĩnh hằng. Đến với Hàn Mặc Tử, từ cạnh khía tư duy, tư duy tôn giáo, là hợp lý hơn cả. Điều đó chẳng những khắc phục sự tranh chấp bất phân thắng phụ về vấn đề Hàn Mặc Tử có phải là nhà thơ tôn giáo không?”, mà còn cho phép thâm nhậpvào bản chất nghệ thuật của thi nhân. Dĩ nhiên tôn giáo là một hiện tượng đa tạp, có khoảng sáng và vùng tối, có thoát tục và có trần tục, nhất là với tư cách là một thiết chế xã hội. Ở đây chúng tôi chỉ xét tôn giáo trên phương diện thuần túy là một kiểu tư duy.
Tư duy ma thuật, mà chừng nào đó là tư duy huyền thoại, do tính chất đa thần, đã xé vụn thế giới ra thành những mảnh riêng rẽ (tục ngữ: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”). Còn với tư duy tôn giáo, do tính chất độc thần, thế giới vỡ vụn đã được thống nhất trở lại. Nhờ đó con người mới có điều kiện để nhận thức bản chất thế giới, trả lời những câu hỏi bản thể luận như nguồn gốc của vũ trụ và con người, ý nghĩa của cuộc sống và cái chết…Tôn giáo, do đó, đóng vai trò cơ chế tư tưởng chuyển thành những giá trị riêng tư, cá nhân, dân tộc, khu vực thành những giá` trị chung, thế giới, nhân loại. Phật giáo coi mọi người đều có chung một thân phận là ai nấy đều phải gánh chịu là tứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử. Do đó, ước mong đươc vớt khỏi bể khổ không là của riêng ai. Coi mọi người bất kể sang hèn, giàu nghèo đều có phật tính, nghĩa là có khả năng trở thành Phật, là một tư tưởng bình đẳng, nhân đạo. Thiên Chúa giáo cũng thừa nhận mọi người đều bình đẳng trước Chúa, vì giá trị của mỗi người là ở bản thân hành động của anh ta, chứ không phải ở tài sản, địa vị.
Như vậy, xét trên khía cạnh tư duy tôn giáo, các nhà thơ - thiền sư Lý - Trần (phật giáo) và Hàn Mặc Tử (Thiên Chúa giáo) đều có trong tay một công cụ như nhau (cơ chế tư tưởng) để nhân loại hoá thơ mình. Đó là sự giống nhau ở họ. Còn sự khác nhau, trước hết và chủ yếu, là ở sự khác nhau giữa Phật giáo và Thiên Chúa giáo coi trọng cá nhân nhìn con người như một cá nhân là do việc xưng tội buộc nó phải đánh giá, phán xét tâm hồn, hành vi con người một cách riêng tư. Tín đồ Thiên Chúa giáo tự chịu trách nhiệm trước Chúa về bản thân mình, với tư cách cá thể. Hai là, các nhà thơ Lý - Trần coi Hữu, Vô như nhau, sự sống, cái chết như nhau (Vạn Hạnh: ‘Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”). Bởi vậy họ rất coi thường thân, thân là không, cái thân hiện ra, tức sắc thân, chỉ là ảo. Hàn Mặc Tử, ngược lại, rất coi trọng cuộc sống và cái chết, coi trọng thân xác. Tóm lại, nguyên cớ căn bản khiến Hàn Mặc Tử khác và cũng mới hơn các nhà thơ Lý - Trần là ở tính chất cá nhân đến với ông bằng hai nẻo: Thiên Chúa giáo và nền văn minh phương Tây được xây dựng trên cơ sở Thiên Chúa giáo.
Chính tư duy Thiên Chúa giáo đã làm cho sáng tác của Hàn Mặc Tử có cấu trúc nội tại, không những ở cấp vi mô (từng bài thơ) mà cả ở cấp vĩ mô (toàn bộ các tác phẩm), tạo nên một vũ trụ thống nhất, hoàn chỉnh. Theo nhà nghiên cứu Đặng Tiến thì Gái quê là thế giới đợi chờ Điềm lạ, đợi chờ Chúa ra đời, Đau thương là tâm hồn mong mõi của Chúa trở lại. Trong Đau thương, Hàn Mặc Tử chấp nhận bệnh tật như là nguyên tội, là “phương tiện thân xác” mà Chúa đã dùng để cứu thế. Bệnh tật là tham gia vào công đức cứu rỗi, làm nối liền người bệnh với bản thân Chúa - hiện – làm - người. Còn Xuân như ý là thế giới khải huyền; con người rủ sạch được tội lỗi Đau thương (tạp chí Văn, số 179, năm 1971). Như vậy, trên bình diện cấu trúc tác phẩm, sáng tác của Hàn Mặc Tử, một cách vô thức, đã “minh họa” cho con đường cứu rỗi của Thiên Chúa giáo - nghệ thuật là chia toàn bộ sáng tạo của nhà thơ thành ba thời kỳ. Một là giai đoạn cổ điển với Lệ Thanh thi tập. Đây là sự hài hòa của Hàn Mặc Tử với chính mình và với xung quanh, tương ứng với thời thơ ấu của con người hay “thuở thiên đường” của nhân loại. Hai là giai đoạn lãng mạn, tượng trưng và siêu thực với Gái quê, Đau thương và một phần của Xuân như ý… Hài hòa bị phá vỡ. Con người bất ổn với chính mình và hoàn cảnh: đau khổ, mơ ước, điên dại… Nó tương ứng với thời kỳ trưởng thành, vấp váp, bệnh tật của con người và của nhân loại “mất thiên đường”. Ba là, giai đoạn tân - cổ điển với một phần của Thượng thanh khí và toàn bộ Cẩm châu duyên. Sự hài hòa lại được tái lập, dĩ nhiên là trong mơ ước tôn giáo. Đau thương rũ bỏ. Con người được trở lại “thiên đường” của mình. Các tôn giáo Đông phương cũng đi tìm giải pháp cho đau thương. Phật giáo coi cuộc đời là bể khổ, mà nguồn gốc của đau thương la dục vọng. Cho nên diệt dục là con đường cứu khổ cứu nạn. Lão Tử thì đưa ra thuyết vô vi, sống theo tự nhiên thì sẽ chữa được những lầm lạc của người đời. Chỗ gặp nhau của những tôn giáo lớn - những tư tưởng lớn là ở đây. Hạt nhân triết học của những tôn giáolớn cũng là ở đây.
Tư duy tôn giáo còn là công cụ hữu hiệu để nâng cánh cho trực giác nghệ thuật tuyệt vời của thi nhân bay cao, bay xa vào cõi siêu hình. Nhà thơ có một cái nhìn vũ trụ trong tính toàn thể, tính siêu việtcủa nó với một cảm xúc tràn đầy.

“Mới hay cõi siêu hình cao tột bực
Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao
Xa lắm rồi, xa lắm, hãi nhường bao!…
Ai tới đó chẳng mê man thần trí
Toà châu báu kết bằng hương kỳ dị
Của tình yêu rung động bởi hào quang
Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang
Sẽ quy tụ thâu về trong một mối
Và tư tưởng chẳng bao giờ chắp nối…”

Bức tranh vũ trụ được thi sĩ dùng trực giác để vẽ ra tưởng như đã gặp đâu đó trong một cuốn thiên văn hiện đại nào. Con người bay vào vũ trụ (cõi siêu hình cao tột bực), thoạt tiên còn có cảm giác cô đơn, nhỏ bé trước sự bao la (hãi nhường nào!), nhưng rồi thần bí mê man trước vẻ châu báu của vũ trụ, vũ trụ là thống nhất (“Những cù lao trôi nổi xứ mênh mang, Sẽ quy tụ thâu về trong một mối”), nên tư duy của con người, cái phản ánh của vũ trụ cũng mang tính thống nhất (“ và tư tưởng chẳng bao giờ chắp nối”). Bài thơ cho thấy Hàn Mặc Tử đã đạt đến một tinh thần tôn giáo – vũ trụ (khái niệm của A.Einstein): đó là tính toàn thể của thế giới và tính nhất thể giữa con người và thế giới.
Hàn Mặc Tử thường hay quay trở về cội nguồn, với mùa xuân đầu tiên của trời đất và con người. Dường như ông tìm thấy ở đấy sự nhất thể tính nguyên sơ giữa con người và vũ trụ - căn nguyên của mọi nghệ thuật, châu báu mà con người đời sau đã đanh mất trong biển thời gian, và chỉ còn giống thi sĩ là cố công ngụp lặn, mò tìm:

“Thuở ấy càn khôn mới dựng lên
Mùa thơ chưa gặp tốt tươi lên
Người thơ phong vận như thơ ấy
Nào sẽ ra đời ngọc biết tên”
(Xuân đầu tiên)

Nhờ tinh thần tôn giáo – vũ trụ đó, các bài thơ Xuân của Hàn Mặc Tử (Mùa xuân chín, Xuân đầu tiên, Đêm xuân cầu nguyện) chẳng những giữ được vẻ trinh nguyên của đất trời, mà còn đợm một cảm giác huyền bí thiêng liêng của cuộc đời. Đó là ánh thiều quang khác lạ của thơ Hàn Mặc Tử so với thơ xuân của các thi sĩ cùng thời.

MÔ HÌNH VÀ SÁNG TẠO

So với thơ của các thi sĩ cùng thời như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương…, thơ Hàn Mặc Tử có một sự khác về chất. Dó là tư duy tôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại. Tính ưu việt của “hợp chất” mới này thể hiện ở những khía cạnh sau: Một là, tư duy tôn giáo với tính hệ thống chặt chẽ của nó làm cho các yếu tố tượng trưng, cổ điển của thơ Đường , tượng trưng tôn giáo, lãng mạn, siêu thực… vốn rời rạc, lẻ tẻ trước đây kết thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh. Hai là con người cá nhân cá thể hiện đại kết hợp với con người siêu cá thể trung đại làm cho cái nhìn con người trong thơ Hàn Mặc Tử vừa có chiều sâu, thậm chí tầng sâu vô thức, vừa có chiều rộng, chiều phổ quát toàn nhân loại, đồng thời có chiều cao tâm linh. Hàn Mặc Tử đã phá vỡ con người nguyên phiến để tạo ra con người đa chiều kích. Con người với thi nhân, không chỉ là một, mà là hai, thậm chí vô số. Nếu Cao Bá Nhạ trong Tự tình khúc thấy “trong một mình bảy tám biệt ly”, thì Hàn Mặc Tử còn thấy sự phân thân, hoá thân sinh động hơn:

“Bóng ai theo dõi bóng mình
Bóng nàng yêu tinh,
Nụ cười như tiếng vỡ pha lê”

Với cách nhìn con người từ bên trong như vậy, Hàn Mặc Tử báo hiệu sự ra đời của chủ nghĩa nhân văn mới, phi cổ điển. Ba là, yếu tố siêu thực và tôn giáo đã làm cho thơ Hàn Mặc Tử mang tính chất huyền bí của cuộc đời. “Điều đẹp nhất mà ta có thể cảm giácđược chính là cái khía cạnh huyền bí của cuộc đời. Đó là tình cảm sâu xa ở trong nôi của khoa học và nghệ thuật đích thực” (A.Einstein). Bốn là, tính trữ tình kết hợp với tư duy tôn giáo đã đẻ ra những hình tượng tân kỳ, như:

“Lụa trời ai dệt với ai giăng
Ai thả chim bay đến Quảng Hàn,
Và ai gánh máu đi trên tuyết ,
Mảnh áo da cừu ngắm nở nang…”

Từ mô hình trên, ở bình diện sáng tạo cụ thể, bước đổi mới đó của Hàn Mặc Tử được thể hiện bằng những biểu tượng nghệ thuật vừa độc đáo, vừa nhất quán. Đó là các ký hiệu - biểu đạt: trăng, hồn và máu.
Trăng là một mô típ, một biểu tượng của nhiều thề hệ thi sĩ Việt Nam. Trăng xuật hiện trong thơ thiền như một cái gì lạnh và tĩnh lặng tuyệt đối. Hơn nữa trăng lại thường sóng đôi với hình ảnh dòng nước chảy để biểu hiện quan niệm thiền hữu, không:

“Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không

(Vầng trăng vằng vặc in sông,
Chắc chỉ có một không không mơ màng)

Tính chất tĩnh lạnh của vầng trăng thiền biểu lộ sự không chú ý đến hiện hữu của ngoại vật, mà chỉ chú ý đến cái hư không của nội tâm. Điều này ngược với vầng trăng của thơ lãng mạn, vốn rạo rực nồng ấm.
Trăng với Hàn Mặc Tử có một quan hệ đặc biệt. Có người cho bệnh phong có một tương tác đặc hiệu nào đó với trăng, kiểu thủy triều. Điều đó có thể có hạt nhân hợp lý. Tuy nhiên, nếu có, đấy cũng chỉ là “cái hích ban đầu” thúc đẩy cỗ xe sáng tạo lăn bánh, chứ không phải là động cơ trực tiếp. Điều đáng nói là một nhà thơ lớn bao giờ cũng biết “khai thác” đến tận cùng cái tiểu sử cụ thể của mình. Nếu không bị cùi thì hẳn Hàn Mặc Tử đã không chú ý đến cái sắc độ dị thường trên gò má:

“ Người trăng ăn vận toàn trăng cả,
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm”.

Nếu bản thân không nghèo đói, không yêu trăng thì thi sĩ cũng không có những câu thơ như:
“Áo ta rách rưới trời không vá”,
Hoặc: “Trời hỡi nhờ ai cho khỏi đói
Gió trăng có sẵn làm sao ăn”…

Chỉ có Hàn Mặc Tử mới có thể nói về cái thiếu thốn, thiếu vắng của mình cao sang như vậy.
Có thể nói, trăng, ánh trăng đã để lại những cảm giác vật chấtlên thân xác Hàn Mặc Tử. Bởi thế, trong khi các nhà thơ Lãng mạn khác thi vị hoá trăng, Hàn Mặc Tử lại trần tục hoá nó. Từ chỗ: “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối” của thơ luật đến “Trăng nằm song soài trên cành liễu… Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” thì đã là một bước tiến dài. Tuy nhiên, bên cạnh sự người hoá trăng đó, Hàn Mặc Tử còn trăng hoá người. Điều này khiến ngòi bút ông nẩy ra những câu thơ khác lạ:

“Mới lớn lên trăng đã thẹn thò
Thơm như tình ái của ni cô”.

Đây là một sự kết hợp đầy kỳ cục giữa các từ rất xa nghĩa nhau như ni cô và tình ái và thơm… Nhưng đằng sau cái vẻ nghịch lý đó là sự thuận lý: trăng đối với Hàn Mặc Tử như một con vật lưỡng thê, vừa vật chất, vừa tinh thần, vừa trần tục vừa thiêng liêng… Cạnh khía thứ hai của trăng được bộc lộ rõ hơn về giai đoạn sau của thơ Hàn Mặc Tử.
Ở giai đoạn Đau thương này, trăng trong thơ Hàn Mặc Tử đã trở thành một ám ảnh ghê gớm. Nó vừa là ánh sáng, vừa là bóng tối, hay đúng hơn, là sự tương tranh của ánh sáng cùng bóng tối, một thế giới thích hợp với Hàn Mặc Tử. Nhà thơ cũng là ánh trăng:
“Không gian dày đặc toàn trăng cả
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng”


Trăng cũng còn là hồn là máu. Đó là ba cạnh khía khác nhau của thế giới Hàn Mặc Tử, một thứ “tam vị nhất thể”:
“Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa
Vỡ trăng thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”
(Say trăng)

Và:
“Thịt da tôi sượng sần tê điếng
Tôi đau vì rung rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập dần lên tới ngực”
(Hồn là ai)

Ba hình tượng trăng, hồn, máu, theo Đặng Tiến, dồn đọng lại trong tương quan chặt chẽ: nhà thơ khạc hồn ra khỏi miệng, điên cuồng mửa máu ra hay ngậm cả một miệng trăng. Như vậy, cả ba, trăng, hồn, máu, đều từ thân xác Đau thương.
Ngoài ra, thơ Hàn Mặc Tử đầy những máu lệ/ thét gào (bút danh Lệ Thanh), gió bụi (bút danh Phong Trần)… Chúng tồn tại như những biệt thể của thân xác, khi tụ khi tán. Đau thương trong thơ ông có tính lưỡng trị: một mặt, nó làm ông suy nhược, hao mòn, tan loãng, mặt khác, nó lkhơi dậy trong ông nguồn sáng tạo vô biên. Ma1u, hồn, trăng là đau thương trở thành sáng tạo. Điều này giải thích được sở thích kỳ lạ của Hàn Mặc Tử, thoạt đầu có vẻ bệnh hoạn: nhà thơ muốn được nhìn thấy máu mình chảy:

“Lời thơ ngậm cứng không rên rỉ
Và máu tim anh vọt láng lai
Thơ ở trong lòng reo chẳng ngớt
Tiếng vang tha thiết dội muôn nơi”

Hàn mặc Tử có vẻ say mêcái “thú đau thương” này:

“ Cứ để ta ngất ngư trên vũng huyết,
Trãi niềm đau trên mảnh giấy mong manh.
Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết
Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh”

Với Nguyễn Trọng Trí, tín đồ Thiên Chúa giáo, đau thương là một phương tiện cứu chuộc tội lỗi. Còn với Hàn Mặc Tử, nhà thơ, giải phẩu đau thương là hành vi sáng tạo. Thơ Hàn Mặc Tử là kinh nghiệm đau thương, kinh nghiệm của con trai kết ngọc. “Không phải ngẫu nhiên mà tập thơ hay nhất của ông là Đau thương: Hương thơm là đau thương của thân thể rỉ ra để biến thành những dòng chữ:

“ Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút
Mỗi lời thơ đều dính não cân ta
Bao dòng chữ quay cuồng như máu vọt
Cho mê man tê điếng cả làn da”

Một kinh nghiệm, hay một giải pháp đau thương khác của Hàn Mặc Tử là hòa tan vào vũ trụ, bay sang một thế giới khác. Đọc thơ ông, thường bắt gặp những từ chỉ sự biến đổi này với một tần số cao như: tan, hóa, tiêu tán…

- “Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si”
- “Cả niềm yêu, ý nhớ cả một vùng
Hoá thành vũng máu đào trong ác lặn”

Hàn Mặc Tử diễn tả cảm giác hay ý thức tiêu tán qua những biến đổi ngược chiều: những gì thường ngày liên tục tuôn chảy như dòng đời, nguồn sống thì cứng đông lại, còn cái gì chắc chắn, có hình thù, khối lượng thì tan loãng ra. Hàn Mặc Tử có thái độ thiết tha với cuộc sống – càng vơi cạn thì càng tha thiết. Thoạt đầu có chút hốt hoảng, gào thét, nhưng dần dần đã đi đến chấp nhận, an nhiên. Lúc này, ý thức tiêu tan chuyển đến ước mơ một thể thống mới, một dạng vật chất mịn hơn, nhẹ nhàng, thanh thoát không giới hạn:

“ Đây là tất cả người anh tiêu tán
Cùng trăng sao bang bạc xứ mơ say”

Tiêu tán thân phận hữu hình, hữu hạn để được sống trường tồn với trăng sao, vũ trụ vô hạn, trở về với sự nhất thể tính vĩnh hằng giữa con người và tự nhiên . (Đặng Tiến, Văn, số 179, năm 1971)

* *
*

Thiên tài bao giờ cũng là hiện tượng đơn nhất không lập lại trong lịch sử. Nhưng thiên tài nào cũng đứng trên vai người khổng lồ để chiếm lĩnh tầm cao mới, để cắm cây mốc mới trên hành trình đi tới. Thực chất của mỗi cuộc bước tiến là đưa ra một mô hình mới. Các thế hệ sau học tập một thiên tài, thực chất, là chiếm lĩnh cải biến mô hình đó mà thôi. Hàn Mặc Tử là người xây dựng được cho mình một mô hình đó là tính trữ tình + tư duy tôn giáo + cá nhân hiện đại.
Nhìn vào diễn trình lịch sử của thơ Việt nam, có thể ghi nhận một điều: khi tính trữ tình phát triển đơn độc hoặc kết hợp với tư duy đạo đức để làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” thì thơ phát triển không cao, lại thường rơi vào tình trạng rời rạc, lẻ tẻ, không kết thành hệ thống. Còn khi tính trữ tình kết hợp được với tư duy tôn giáo hoặc triết học thì thơ được nâng lên một tầm cao mới. Những đỉnh nhọn của thi san vượt qua tầm địa quyển nhô vào khoảng không vũ trụ, hòa vào nhịp điệu miên viễn của nó.
Thời đại Lý - Trần, tư duy tôn giáo và triết học phát triển, nên thơ thời đại này phóng khoáng cao viễn. Nghĩa là ở đây, cả hai yếu tố: tính trữ tình hay tư duy tôn giáo (hay triết học) đều đã có nhưng do thiếu tính chất cá nhân hiện đại làm chất xúc tác nên hkông xảy ra một “phản ứng hóa học” nào để tạo ra một hợp chất mới cao hơn như ở Hàn Mặc Tử. Trên thế giới, nhiều thiên tài thơ ca cũng đã được sinh ra từ mô hình này, như Holderlin (1770-1843), Tagore (1861-1941), Paul Claudel (1868-1955)…
Đến đây, tôi xin tạm khép lại dòng suy nghĩ của mình về Hàn Mặc Tử bằng một câu viết của Chế Lan Viên “Trước không có ai, sau không có ai, Hàn Mặc Tử như một ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Tuyển tập Hàn Mặc Tử, NXB văn học, 1987)

Nguồn trích: Con mắt thơ.- H., 1997 (1.344);
KHPL: BĐ.04(91)
=====================
Đăng nhập để trả lời
0

Bài thơ cuối cùng của Hàn Mặc Tử


Phan Cao Toại


"Mai sau, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi,
và còn lại ở cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử ".
(Chế Lan Viên)
Trong các nhà thơ tiền chiến, Hàn Mặc Tử ở vào một hoàn cảnh rất đặc biệt: Ông mắc bệnh phong vào khoảng 1930, phát bệnh năm 1936 và mất ở nhà thương phong Quy Hòa (Quy Nhơn) ngày 11/11/1940.

Trước năm 1941, năm các nhà khoa học tìm ra DDS, một loại thuốc đặc trị bệnh phong, bệnh này được xếp vào một trong tứ chứng nan y. Do những tổn thương bệnh làm lở loét tứ chi, mặt mũi sần sùi trông rất gớm ghiếc, người đời mặc cảm với những người mắc bệnh phong, tìm cách xa lánh họ. Hàn Mặc Tử cũng rơi vào tình trạng như vậy. Năm 1936, khi kỳ lưng cho Tử, mẹ ông chợt phát hiện trên lưng con mình có những đám màu hồng nhạt. Hỏi, Tử cho biết một đêm đi chơi với Mộng Cầm, khi về bị trời mưa, và trên đường lại qua một khu mả mới. Tưởng rằng Tử bị mề đay, cả nhà không ai để ý. Những mảng đỏ trên da cứ ngày một lan rộng và sau đó hai dái tai cũng bị sưng đỏ. Căn cứ vào những mô tả của ông Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ hiện đang sống ở Nha Trang thì những thương tổn như vậy là những dát phong, tương đương giai đoạn BL của bệnh phong. Đi khám thầy thuốc bắc, thầy bảo bị phong (một chứng ngứa thông thường) và cho uống thuốc tễ. Bệnh của Tử vẫn không thuyên giảm. Thương con, mong cho con mau khỏi bệnh, bà mẹ của Tử đưa con đến khắp lượt các danh y trong vùng. Các thầy thuốc bắc thời bấy giờ có quan điểm rất lạ: lấy độc trị độc nên đã cho Tử uống các loại thuốc có nọc rắn mai gầm, nọc rắn hổ mang. Trước đó, khi từ Sài Gòn về, tử đã nhận lời làm biên tập cho tờ "Phụ nữ Tân văn" nên rất nóng lòng trở vào nhận việc. Chính vì vậy, Tử đã uống gấp đôi, gấp ba liều quy định. Có khi uống xong mặt mày xây xẩm, ngã lăn xuống đất. Các loại nọc rắn có độc lực rất mạnh đã làm hỏng gan và thận và cuối cùng, Hàn Mặc Tử được đưa vào điều trị ở Quy Hòa (21/9/1940). Hồ sơ nhập viện mang ký hiệu 1134 còn ghi rõ: bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí (tên thật của nhà thơ), chẩn đoán lúc vào: Lèpre bacteriloriquement confirmé (phong thể nhiều vi khuẩn) và lúc ra: Tử vong vì kiết lị.

Tử đến Quy Hòa vào một sáng mùa thu chớm lạnh. Hành trang chẳng có gì, trong túi không một đồng xu. Tử mặc bộ quần áo bà ba trắng đã cũ, đi đôi giày ba ta sờn, đội chiếc khăn bông trắng dài quá lưng, chừng như sợ lạnh. Các nữ tu người Pháp đón Tử với một tình cảm thương mến. Soeur Juetta, người làm việc lâu năm ở đây đã tự tay trải giường cho Tử nằm, pha sữa cho Tử uống. Mẹ Marie de la Resuression, giám đốc nhà thương nhận hồ sơ từ bệnh viện Quy Nhơn chuyển đến, bố trí cho Tử nằm ở giường số 3 khu nhà lá tập thể đối diện với nhà thờ. Ở đây Tử đã sớm làm quen với những người bạn cùng cảnh: anh Nguyễn Văn Xê (mới mất năm 1993), anh Nguyễn Văn Trung có quán tạp hóa nhỏ dành cho người bệnh và hai người Pháp cũng bị bệnh phong ở nhà bên cạnh. Anh Xê kể lại rằng, lúc đó không ai biết Tử là nhà thơ, là người có học nhưng do Tử rất hiền lành nên ai cũng mến thương Tử. Anh Xê còn cho biết thêm, Tử giỏi tiếng Pháp nhưng không khi nào dùng tiếng Pháp để nói chuyện với các soeur. Cho đến một hôm, người giúp việc cho Tử - em Hành - đưa đồ ăn từ Quy Nhơn vào mang theo cuốn sách cũ, cuốn Deux centmorceaux de poemes 'd auteurs Francais (hai trăm bài thơ của các tác giả Pháp), Xê hồ nghi và cằn nhằn: "Anh biết tiếng Pháp sao cứ bắt tôi làm thông ngôn hoài !". Tử cười: "Anh em mình cả mà, ai nói mà không được !". Trong thời gian Tử nằm điều trị ở Quy Hòa, anh Xê cho biết, ngoài em Hành, không có ai vào thăm. Có lẽ bây giờ người đời ghê sợ và xa lánh bệnh nhân phong.

Tình trạng của Tử lúc ấy rất bi đát: "Hai mắt nằm lọt vào hai lỗ hõm sâu hoắm đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc xương, chân tay co rút mà đầu tóc bù xù rối trết lại, trong đó nhô nhúc những chấy là chấy (Thư của anh Nguyễn Văn Xê đề tại Quy Hòa ngày 25/3/1941)".

Với thực trạng như vậy, việc sáng tác của Hàn Mặc Tử rất khó khăn. Ông có viết thư cho gia đình và bạn bè. Qua nét chữ xiêu vẹo, người ta thấy được thảm cảnh của Tử lúc ấy.

Sau một thời gian điều trị khoảng ba tuần lễ, nhờ sự chăm sóc của các nữ tu dòng Franciscain đặc biệt đặc biệt nhờ sự tận tình chăm sóc của soeur Juetta, sức khoẻ của Tử khá lên rất nhiều. Tử đề nghị các soeur cho tiêm thuốc Huille de moogra ethereé, loại dầu chế từ hạt đại phong tử, do bác sĩ Gourvit, giám đốc bệnh viện Quy Nhơn chế.

Tiêm được một mũi chừng một phần ba phân khối, Tử cảm thấy rất mệt, kèm theo sự rối loạn hấp thu do tì vị bị hư hỏng, Tử bị kiết lỵ, cơ thể suy sụp rất nhanh chóng buộc các soeur phải đưa vào buồng biệt lập. Tử lường được sức, chuẩn bị cho mình một cái chết thanh thản. Một hôm, soeur Julien đến thăm Tử. Biết Tử không qua nổi, nhiều người bệnh quanh đó lo lắng theo dõi từng cử chỉ của soeur. Souer Julien có tài chẩn bệnh bằng cách bắt mạch. Khi thấy souer chau mày, lắc đầu, mọi người đều thất vọng. Linh mục Nicola Cận được mời đến xức dầu và làm phép giải tội cho Tử. Tử không chịu nằm mà quỳ xuống dưới chân cha. Cha khẽ đỡ Tử dậy và bảo: "Con ngồi". Tử khẽ gật đầu: "Dạ" và đây là lần xưng tội sau cùng.

Những giờ phút cuối đời của Tử, anh Xê thường có mặt bên cạnh. Đêm 8/11/1940 đến ca trực đêm của anh Xê, Tử đột ngột ngồi dậy lấy trong chiếc áo gối mang theo từ nhà hai tập giấy đánh máy mỏng rất đẹp và hỏi anh Xê: "Anh Xê có tình yêu chưa ?". Xê trả lời: "Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ có tình yêu với Thiên chúa". Tử nói tiếp: "Đây là gia tài của tôi, xin tặng anh tập thơ Cầu Nguyện" và lấy bút chì trong túi áo ra ghi dòng chữ: thơ Cầu Nguyện đề tặng anh Xê - Francois Trí. Đó là tập thơ đánh máy trên giấy poluya mỏng, chữ không có dấu. Anh Xê phân vân: "Không có dấu làm sao tôi đọc được ?". Tử: "Để khi nào mạnh tớ thêm dấu cho". Tử vẫn lạc quan, tin yêu cuộc sống ngay cả khi thần chết đã đến gần kề.

Đặc biệt, trong 51 ngày ở Quy Hòa, do sức khỏe bị suy kiệt, Tử chỉ viết một bài thơ văn xuôi, viết bằng tiếng Pháp có nhan đề: " La purté de âme" (sự trong sạch của tâm hồn). Bài thơ được viết trên giấy ca rô kẻ nhỏ với cây bút chì cùn dài non đốt ngón tay và tuyệt nhiên không một dấu tẩy xóa, không một lỗi chính tả nào. Ngờ đâu, đó là tác phẩm cuối cùng kết thúc cuộc đời tài ba sau hơn mười hai năm cầm bút. Bài thơ được viết vào những đêm khuya, khi những người bệnh đã ngủ. Cuối bài thơ có ghi rõ ngày tháng trong đó có một đoạn như sau:

Pureté de I âme
...Anges du Ciel, Anges du Dieu
Anges de Paix et de Gaieté
Lancez-vous des roses et des nénupherds
des chant mélodieux et des notes enbaumeés
et versez avec effusion les vertus, le courage
et labonheur parmi les servantes de Dieu
Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940

Tạm dịch:
Sự trong sạch của tâm hồn
Hỡi Thiên thần của Trời, Thiên thần của Chúa,
Thiên thần của Hòa bình và Hoan lạc,
Xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng, hoa súng
Những điệu hát reo rắt và những nốt nhạc thơm tho
Và hãy xin tưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh,
Can đảm và hạnh phúc cho những vị nữ tu của Thiên chúa.

Đêm thứ tư, 24/10/1940
Francois Trí.

Đây là bài thơ Tử viết tặng các souer, những ân nhân, những người mẹ, người chị của mình ở Quy Hòa. Sau khi Tử mất, người ta tìm được trong túi áo ngực của Tử và trao lại cho các souer.

Suốt thời gian ở Quy Hòa, Tử vận động rất khó khăn, phải có người dìu hai bên nách mới ra được chỗ ăn cơm. Mặt khác, da tay bị cứng lại, cầm bút rất khó. Đây là thời kỳ khủng hoảng trong sáng tác vì Tử hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với thần chết. Có được một bài thơ như vậy là một nỗ lực phi thường của Tử. Tiếc thay bài thơ đó lại không được những người làm tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử chọn vào.

Trải qua bốn năm vật lộn với bệnh tật, tử phải chịu nỗi đau đớn cùng cực cả thể xác lẫn tinh thần. Dù được các souer tận tình cứu chữa nhưng do cơ thể suy kiệt, Tử đã lặng lẽ qua đời lúc 11 giờ sáng ngày 11 tháng 11 năm 1940.

Gia đình ở xa, bạn bè ở xa, không một ai đến đưa đám, không ai thắp một nén nhang hay một vòng hoa tưởng niệm trên mộ Tử. Chỉ có các souer, những người bạn bệnh cùng thời theo sau chiếc xe tang phủ vải đen và những lời cầu kinh vĩnh biệt.

Than ôi, Hàn Mặc Tử thiên tài đã vĩnh biệt chúng ta khi tuổi đời 28. Sự bất lực của y học thời bấy giờ đã cướp đi sự sống của nhà thơ. Hàn Mặc Tử không phải chết vì bệnh phong mà vì sự sai lầm của những ông lang băm dốt nát. Ngày nay, bệnh phong không còn là chứng nan y và với quyết tâm của ngành y tế, bệnh phong sẽ được thanh toán vào năm 2000. Ở Quy Hòa, nơi Hàn Mặc Tử nằm điều trị và viết bài thơ cuối cùng hiện có một phòng lưu niệm về nhà thơ tài ba nhưng bất hạnh này.

Nguồn trích: Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh.- 1998.- Số 10 (Ngày 9 tháng 4) (1.594);
KHPL: BĐ.04(91)
======================================
Đăng nhập để trả lời
0

Đọc "Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử" của Phạm Xuân Tuyển


Lê Hoài Lương


Sách in khổ lớn trên giấy trắng, đẹp, dày 450 trang, do Nhà xuất bản Văn học ấn hành đầu năm 1998 này.

Tác giả Phạm Xuân Tuyển từng được bạn đọc biết đến từ những bài viết trên các báo, từ vai trò diễn giả trong những sinh hoạt ăn học về Hàn Mặc Tử - một tâm huyết hiếm có đối với nhà thơ tài hoa mệnh bạc mà vì nhiều lý do, cuộc đời và thi phẩm của ông còn nhiều khuất lấp hoặc được thêu dệt thành huyền thoại. Khởi đầu từ năm 1966, bị gián đoạn rồi thực sự làm lại từ năm 1986 đến khi quyển sách ra đời, tác giả có sự say mê và cuồng nhiệt của một "tín đồ" đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử. Tự thân quyển sách đã nói lên những điều rất đáng ghi nhận:

1. Về tác giả Phạm Xuân Tuyển: Ông đã đi hầu khắp các tỉnh thành Nam, Trung, Bắc để gặp các nhà nghiên cứu. nhà văn, nhà thơ, những chứng nhân có ít nhiều liên quan hoặc hiểu biết về cuộc đời và thơ văn Hàn Mặc Tử để sưu tầm tư liệu, dù là chi tiết nhỏ nhặt nhất. Tác giả đã đọc hàng trăm quyển sách, bài báo viết về Hàn Mặc Tử, đã viết, thuyết trình, nói chuyện hàng chục lần trên nhiều diễn đàn, câu lạc bộ...Công sức ấy, tấm lòng ấy, trách nhiệm với văn học, với Hàn Mặc Tử, rất đáng trân trọng.

2. Về nội dung quyển sách: Trước hết, đó là tập hợp hơn hai chục bài viết của tác giả; những bài viết, nhạc, thơ của nhiều người được tác giả trích chọn nhằm bổ sung cho chân dung nhà thơ; hơn 200 bút tích, hình ảnh liên quan...Nội dung chủ yếu của cuốn sách là những tư liệu nhằm làm sáng tỏ cuộc đời và thi tài Hàn Mặc Tử. Đóng góp lớn nhất của tác giả là phát hiện người bạn cuối đời của Hàn - ông Nguyễn Văn Xê, người đồng bệnh và trực tiếp gần gũi chăm sóc nhà thơ 52 ngày ở trại phong Qui Hoà. Thiên hồi ký hết sức quý giá (Nhớ Hàn Mặc Tử) rọi sáng rất nhiều về tâm hồn, nhân cách nhà thơ ở những ngày đau khổ cực cùng rồi thanh thản dọn mình đi vào nước Chúa. Quyển sách cũng làm sáng tỏ nhiều về di hài nhà thơ từ mộ chôn ở Quy Hoà đến mộ cải táng ở Ghềnh Ráng. Những chú giải công phu về các địa danh ghi dấu ấn nhà thơ: Quảng Bình, Huế, Quảng Ngãi, Sài Gòn...đặc biệt là Bình Định với Quy Hòa, Ghềnh Ráng, Gò Bồi và Bình Thuận với Mũi Né, lầu ông Hoàng, bia đài...Rồi thân thế, tình cảm của những nữ lưu trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc đời và thi phẩm Hàn. Tác giả đã dày công tìm cách tiếp xúc, cố gắng rọi ánh chiếu những hình bóng giai nhân này lên trang viết của nhà thơ. Mọi chi tiết nhỏ nhặt đều được trân trọng ghi nhận. Đến như tờ giấy rửa tội lúc mới sinh (phép bí tích thanh tẩy của Luật dạo Thiên Chúa giáo) cũng được tác giả cất công đi tìm khi nhà thờ Tam Toà ở Đồng Hới, Quảng Bình qua bao bom đạn còn trơ cái gác chuông, cái giáo xứ ấy đã chuyển vào Hòa Khánh - Đà Nẵng và cái trang ghi ấy từ năm 1912 ! Vậy mà tìm được ! Ý nghĩa của cuộc tìm kiếm này thật bất ngờ: Lâu nay trên mọi sách vở, cả của người thân nhà thơ đều viết sai tên thánh. Đó là Phanxico chứ không phải Phêrô hay Pi-e. Tác giả cũng thẳng thắn tranh biện với những tác giả khác, cả những người rất danh tiếng trên văn đàn về các khía cạnh khá tế nhị, dĩ nhiên không phải lời phán quyết sau cùng (người duy nhất đầy đủ thẩm quyền để nói lời cuối cùng là...thời gian, và như vậy tức là không có lời nói thật cuối cùng trong văn chương - GS Hoàng Như Mai viết ở Lời đầu sách), những hữu ích nhất định. Hành trình của tác giả cũng làm thoáng hiện chân dung các bạn hữu nhà thơ: Trần Thanh Mại, Trần Thanh Địch, Quách Tấn, Bích Khê, Nguyễn Minh Vũ, Hoàng Diệp...Đó cũng là đóng góp của quyển sách.

Tuy nhiên, bên cạnh trái tim nóng bỏng nhiệt tình, khi làm sách Phạm Xuân Tuyển đã bộc lộ những điều hạn chế sau:

1. Thiếu khoa học: Quyển sách gộp những bài viết của tác giả in rải rác, các báo, tạp chí hoặc đọc ở đài phát thanh, ở các câu lạc bộ từ 1987 đến 1997. Nhiều chi tiết, vì là bài viết để đăng báo có thể lặp lại phần nào cho sáng tỏ thêm bài viết đó. Nhưng cứ bê tất cả vào một quyển sách sẽ dẫn tới tình trạng trùng lặp không cần thiết. Đó là những bài khá lan man về các mối quan hệu giữa Hàn Mặc Tử và 6 "xuân nữ", chuyên vở kịch "Quần tiên hội" được Đơn Dương viết tiếp, những chi tiết liên quan đến cuộc đời nhà thơ được lặp lại trong phần tranh biện với các tác giả khác...Cách làm này vừa tốn giấy mực vừa giảm mỹ cảm từ cuốn sách.

2. Thiếu chọn lọc: Dụng ý của tác giả là qui tập tư liệu nhưng không nhất thiết phải đưa vào sách toàn bộ những gì có trong tay. Hạn chế này bộc lộ khá rõ ở phần "phụ lục" dày đến 264 trang ! Hơn 100 bài thơ của ngần ấy tác giả viết về Hàn Mặc Tử mà hơn 3/4 số đó không đáng bắt bạn đọc tốn thời gian ! Phần nhạc chiếm đến 82 trang, từ bài Ave Maria, Hải Linh phổ thơ Hàn, bài "Hàn Mặc Tử" của Trần Thiện Thanh và vài bài khác, số còn lại không mấy người nghe (vì có ai hát đâu). Phần ảnh, tác giả công bố trên 75 trang đến 183 bức ảnh! Một rừng ảnh ! Số ảnh từ quyển sách biên khảo này đáng ghi vào Ghinét! Nhưng ta hãy binhg tĩnh xem thử giá trị những ảnh tư liệu này đến đâu ? Ngoài những tấm ảnh giâ đình, bạn bè, người yêu, ảnh mộ Hàn Mặc Tử và những nơi ghi dấu ấn khá sâu đậm trong cuộc đời và thơ Hàn: nhà thờ Tam Hòa, Ghềnh Ráng, Qui Hòa, Mũi Né, lầu Ông Hoàng...số còn lại, lại ghi dấu... Phạm Xuân Tuyển ! Ví như, tác giả đứng trước cổng ga Quy Nhơn mới toanh, hiện đại và chua rằng: "Nơi đây Hàn Mặc Tử thường được đưa đón mỗi khi ra về..."Vô thiên lủng những bức ảnh như thế mà người giàu tưởng tượng lắm cũng không thể có hình dung gì về Hàn !

Thật khó giải thích sự hiện diện những bài viết như: "Họp mặt bên bờ biển xanh", "Họp mặt CLB/ST/TV Quy Nhơn - Bình Định"...Những bài thơ làng nhàng, những bản nhạc không ai hát, những tin bài vớ vẩn, những tấm ảnh vô bổ chiếm đến hàng trăm trang, sao không thay bằng những bài thơ chọn lọc của Hàn, cái phần rất đáng nên có trong quyển sách và chính nó, chứ không phải ai khác, quyết định chân dung nhà thơ ?

3. Sự lên gân thái quá: Gặp cụ Từ Khương, bạn đồng nghiệp của Hàn thời làm việc ở Sở Địa chính, tác giả có thêm một số tư liệu nhưng khi nghe vợ chồng cụ bảo không thích thơ Hàn, tác giả đã "cố nén tiếng thở dài vì quá đau lòng cho Hàn Mặc Tử, 56 năm nằm dưới mộ lạnh mà thơ ông ở trần gian vẫn chưa được thương hiểu hết !" (trang 130). Xin miễn bình! Nếu chịu khó đọc hết, người đọc sẽ còn gặp nhiều vấn đề này.

4. Sự nhập vai: Vì quá yêu thương Hàn, tác giả đã lẫn lộn phần việc của nhà biên khảo sang sáng tác và ông đã nhập vai vào các nhân vật, Xin đơn cử một trường hợp: Thương Thương. Đây là người nữ cuối cùng (dù chưa một lần gặp mặt), gợi cảm hứng cho Hàn viết Cẩm Châu Duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội. Giờ bà cụ đang ở Pháp. Tác giả viết: "Tôi chắc chắn Thương Thương không sao tránh khỏi bùi ngùi xúc động khi một mình lặng lẽ đọc các câu thơ xuân tình trong kịch thơ Duyên kỳ ngộ (Tr.113), "Tôi chắc chắn nhà báo họ Trần không đè nén được xúc động..." (114), "Còn những nơi ở đây mà tôi chắc bà Thương Thương ghi đậm nét trong ký ức (vì có dân chần HMT đã đến) (115); "Thử hỏi một cô gái được chàng thi sĩ tài hoa viết cho mình những lá thư, tập thơ yêu đương nồng nàn làm sao không sung sướng (không chừng tự hào, kiêu hãnh nữa đó) (tr.121)v.v... và v.v....Thật liều lĩnh cho sự "nhập vai" trên ! Những sáng tác kiểu này chẳng làm Hàn lớn dẹp thêm chút nào cả. Cũng như kiểu "trữ tình ngoại đề", sau khi giới thiệu di tích lầu Ông Hoàng, tác giả "xin đề nghị chúng ta cùng hát vang bài "Hàn Mặc Tử"...rồi "chúng ta hãy vui lòng ngâm bốn câu thơ của bà Mai Đình..."(75). Sau đó tác giả tiếp tục đề nghị ngâm tám câu của Bích Khê rồi kết thúc bằng bài thơ 36 câu của Huyền Diệp Tử (Tr.76), cũng là chính tác giả với bút danh. Trời ơi, đừng làm vậy !

Kết luận: Quyển sách có nhiều tư liệu quý mà tác giả khổ công sưu tầm trong nhiều năm. Riêng chữ MẠC mà tác giả trích dẫn rất nhiều sách báo để chứng minh thì người khác cũng sẽ không thiếu cứ liệu kiểu ấy để gọi là MẶC. Theo chúng tôi, chỉ có một TỬ, dù là MẠC hay MẶC.

Dẫu sao, với số tư liệu phong phú đã có, nếu tác giả sắp xếp lại cho khoa học, mạnh dạn gạt bỏ những phần vô bổ thì đây sẽ là một quyển sách thực sự có giá trị./.

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1998.- Số 5 (1.513);
KHPL: BĐ.04(91)
==================================
Đăng nhập để trả lời
0

Quy Hòa của Hàn Mặc Tử


Nguyễn Thanh Mừng


Quy Hòa là một vùng eo biển cát vàng xinh đẹp và thơ mộng , bao bọc bởi ba bề đồi núi. Chỉ cần qua một con đèo thanh mảnh là đến thành phố Quy Nhơn ồn ã sôi động nhưng nơi đây lại là một thế giới khác, êm đềm biệt tịnh. Đó là thế giới của sóng biển, của chim ngàn, của những cành xanh níu nhau làm thành con đường bóng rợp, của những bà phước nhân từ, những lương y và những kiếp người đau thương vì ác bệnh, Quy Hòa được khách văn chương lưu tâm hơn vì còn là nơi vị chúa của trường thơ loạn – Hàn Mặc Tử - đã sống những ngày tháng cuối cùng, vật vã với số phận, ký thác những vần thơ cân não “Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt – như mê man chết điếng cả làn da”.

Như chúng ta đã biết, bệnh phong của Hàn khởi phát từ thời còn làm báo ở Sài Gòn. Hàn về Quy Nhơn chạy chữa một thời gian, hết hy vọng đến thất vọng và ngày 20 – 9 – 1940, ông đành từ biệt bạn bè và gia đình để lên đường điều trị cách ly ở Quy Hòa. Lưu trú ở đây chưa đầy hai tháng, ngày 11 – 11 – 1940 ông đã trút hơi thở cuối cùng. Một người đồng bệnh là ông Nguyễn Văn Xê đã chứng kiến quảng thời gian này và ghi lại khá tỉ mỉ qua hồi ký Nhớ Hàn Mặc Tử (tạp chí Sông Hương số 26 – 1987). Ngoài gia đình, người yêu, những văn nhân đương thời đã tìm đến Quy Hòa sau khi Hàn Mặc Tử tạ thế ít lâu. Đó là nhà nghiên cứu phê bình văn học Trần Thanh Mại, sau đó đến nhà thơ Quách Tấn, hai người mà trước khi nhắm mắt xuôi tay, Hàn đã nhờ người ở lại báo tin cho họ,

Ngày 23 – 11 – 1940, nhà thơ Bích Khê, một bạn thân của Hàn đã viết trên tạp chí Người Mới, số đặc biệt về Hàn:

… Rùng mình ta nhìn ra
Huyền hồ đà như ma
Gần sao mà còn xa
Lại đâu là quê nhà
Hàn Mặc Tử ! Hàn Mặc Tử !
Quy Hòa ! Quy Hòa !

Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, hai tiếng Quy Hòa dường như gắn bó mật thiết với cái tên Hàn Mặc Tử. Khách hành hương, ngoài ý nghĩ du lịch và tham quan bệnh viện phong, còn có một phần tình cảm dành cho nhà thơ tài hoa mệnh bạc. Gần đây nơi vị trí mộ cũ của Hàn đã mọc lên một biểu tượng đẹp. Đó là cụm kiến trúc mô hình trang sách mở ra bên vầng trăng khuyết, cái vẩng trăng đã từng rướm máu cùng đời thơ Hàn Mặc Tử. Công trình này do các độc giả ái mộ Hàn gửi tiền xây dựng.

Người phụ trách phòng lưu niệm (thiết kế từ phòng bệnh cũ của Hàn) đã tận tình cho chúng tôi xem một số tư liệu photocopy và các hiện vật ban đầu như chiếc giường Hàn từng nằm, sổ theo dõi trong đó ghi số hiệu và ngày nhập viện của bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí, tên thật của Hàn. Ngoài ra còn một số sách báo về Hàn mới xuất bản và một số tranh của ông Nguyễn Bá Tín, em ruột Hàn vẽ phỏng theo những ý thơ của Hàn. Phòng lưu niệm rộng khoảng trên hai mươi mét vuông, có bàn thờ đặt tượng bán thân của Hàn ở giữa và lời đánh giá của Chế Lan Viên từ năm 1940 được phóng lớn trên tường: “Mai sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại ở cái thời kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử”.

Quả tình, khung cảnh Quy Hòa nói chung và phòng lưu niệm của Hàn nói riêng đã gợi cho khách văn chương cũng như độc giả mến mộ Hàn rất nhiều điều. Từ vòm trời và mặt đất đầy yêu thương và đau khổ này, từ những kỷ vật đơn sơ từng in hẳn hình bóng Hàn, mỗi người có thể tái tạo lại gương mặt Hàn qua những cảm nhận riêng tư. Dường như những lời thơ hoặc điên cuồng như máu vỡ, hoặc trong sáng như thủy tinh, hoặc tinh khiết như trăng sao hãy còn ngự trị trên mỗi đợt sóng, trong từng làn nắng ửng và bíu chặt trái tim bao người tựa lời kinh giải thoát.

Quy Hòa của Hàn Mặc Tử là một Quy Hòa của phong cảnh thiên nhiên yên ả và những đời người khôn nguôi giông bão. Nó còn là nơi dành cho sự thánh thiện và cao khiết lên ngôi, như đã từng lên ngôi trong thơ văn Hàn.

Hy vọng những khách hành hương tìm về nơi ở cuối cùng của Hàn Mặc Tử ngoài ý nghĩa ngưỡng mộ tài thơ còn tìm được “Sự trong sạch của tâm hồn”, như nhan đề một áng văn cuối cùng của Hàn Mặc Tử.

Nguồn trích: Thanh niên.- 1999.- Ngày 19 tháng 12 (2.651);
KHPL: BĐ.04(91)
= ==============================
Đăng nhập để trả lời
0

Thêm một tư liệu mới về Hàn Mặc Tử


Phạm Xuân Tuyển


Là người chuyên tâm nghiên cứu, sưu tầm tư liệu mới về nhà thơ Hàn Mặc Tử (HTM) gần 30 năm qua, tôi đã đi gần hết các nơi ông sinh sống, làm việc và qua đời.
Tôi vui mừng khi đến tư gia nhà thơ Quách Tấn ở 12 Bến Chợ - Nha Trang xin được tập thơ “Một tấm lòng” xuất bản năm 1939, có nhiều bài thơ Đường luật xướng họa giữa HMT và Quách Tấn, mà trong đó có chữ ký “bệnh hoạn” của HTM ở cuối bài Lời Bạt. Và nhân tiện cũng tại Nha Trang, tôi đến xin giáo sư Võ Văn Côn (tức nhà văn Châu Hải Kỳ) bản sao học bạ trường Pellerin Huế mà cậu học trò Nguyễn Trọng Trí học từ năm 1928 đến năm 1930. Năm 1991, tôi ra khu điều trị phong Qui Hòa - Qui Nhơn, gặp bác sĩ giám đốc Nguyễn Hữu Ngoạn và xin ông lục cho giấy nhập viện của bệnh nhân số 1134 Nguyễn Trọng Trí ngày 20-9-1940. Đầu năm 1996, trên đường đi tìm tư liệu bổ sung cho cuốn sách “Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử” của tôi sắp ra đời, tôi đã được ông Nguyễn Đức Trinh - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Hòa Khánh (QNĐN) và linh mục Joe. Nguyễn Văn Thông - chánh xứ Hòa Khánh chân tình giới thiệu đến giáo xứ Tam Tòa - Đà Nẵng tìm “giấy rửa tội” của cậu bé trai sinh ngày 22-9-1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Đồng Hới.
Khi được biết tôi là người đã gửi thư nhờ giáo sư lục trước đó, Linh mục chánh xứ Phao Lô Lê Đình Chiến nói rõ ông đã tìm không có và ông nghĩ chắc chắn HMT không được “phép rửa tội” tại giáo sứ Tam Tòa (trước đây ở Đồng Hới). Nghe vị chánh xứ Tam Tòa đời thứ 63 khẳng định HMT không phải là con chiên của họ đạo mình, nhưng lòng tôi vẫn tin tưởng là có nên tôi đã khẩn khoản xin ông lục lại kỹ hơn.
Sau một giờ lần giở, chăm chú đọc kỹ từng trang ở cuốn thứ 2 từ 1905 đến 1914 của giáo xứ và hỏi “kiểm tra” thấy tôi hiểu biết về cha mẹ HMT, tên thật, Thánh danh, thì ông vui mừng bảo tôi lại gần xem trang ghi ngày, số thứ tự giáo dân bằng chữ la tinh. Ông đã dịch cho tôi nghe bằng chữ Việt như sau: “- Số thứ tự 437 - ngày 15 tháng 9 năm 1912 - tại giáo xứ Tam Tòa - một bé trai sơ sinh - sinh ngày 22 cùng tháng như trên ( tháng 9) - tại làng xứ Tam Tòa - con ông Vincent Thầy Toản và bà Maria Duy được chịu phép rửa tội do tôi ký tên dưới đây mang tên Thánh Francois (Phan xi cô) - người cha đỡ đầu là Francois Thầy Thông Hài ở cùng địa phương giáo xứ. Tôi chứng nhận - giuse Trần Phan-Linh mục bản quốc”.
Cùng tham dự niềm vui mừng khôn tả với linh mục chánh xứ và tôi hôm ấy còn có ông Nguyễn Thanh Kim-Phó chủ tịch Uỷ ban đoàn kết công giáo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng đến viếng thăm giáo xứ trong dịp đầu năm.
Hàn Mặc Tử ơi! Từ 55 năm sau khi ông qua đời đến nay, ai cũng đều viết sai về Thánh danh “rửa tội” theo tôn giáo (công giáo) của ông. Đến cả ông Nguyễn Bá Tín (em ruột kế HMT) trong sách hồi ký “Hàn Mặc Tử-Anh tôi-NXB Văn nghệ TPHCM 1991” cũng đã ghi nhầm tên Thánh rửa tội là Phêrô, Thánh thêm sức là Phan xi cô Xavit (trang 12 chương “Một ít lịch sử dòng họ” sđd).
Còn ông Quách Tấn là nhà thơ, bạn thân HTM được gia đình giao toàn bộ di cảo, thế mà vẫn viết từ năm 1959 ở “Đôi nét về Hàn Mặc Tử” là “tên Thánh là Phêrô Phanxicô” (trang 27 thơ Hàn Mặc Tử - Sở VHTT Nghĩa Bình xuất bản 1988, in lần thứ hai có bổ sung).
Nhà thơ Chế Lan Viên là bạn thân cận nhất ở Qui Nhơn mà khi làm “Tuyển tập Hàn Mặc Tử NXB Văn học 1987” ở trong tiểu sử vẫn viết HMT “tên Thánh là Pierre kế đó là Prancois” (sách trên tái bản 3 lần).
Để xác minh “giấy rửa tội” có tên Thánh danh cha mẹ nhà thơ HMT đúng như mộ phần tôi đã cùng nhà thơ, nhà giáo Mai Văn Hoan đang giảng dạy chuyên văn trường Quốc học Huế và nhà văn nhiếp ảnh Lê Đức Bổn đến viếng mộ cụ Vincent Nguyễn Văn Toản ở ngọn đồi sau nhà thờ Phường Đức, gần đền thờ Thánh tử đạo Tống Viết Bường và đình làng Dương Xuân Thượng, thuộc thôn Thượng Bôn, ấp Sơn Điền, xã Thuỷ Xuân, ở ngoại vi thành phố Huế.
Trước đó, vào dịp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm (8-12-1995), tôi đã cùng các bạn văn: Nguyễn Thanh Xuân, Trần Viết Dũng và Trần Hoa Khá ở Qui Nhơn đến kính viếng mộ mẹ HMT là cụ Maria Nguyễn Thị Duy ở Gồ Bồi, thôn Tùng Giảng, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Sau khi công bố tư liệu quý này, tôi sẽ tiếp tục đi tìm “giấy thêm sức” (với người Công giáo, sau khi chịu phép rửa tội lúc mới sinh. Từ 6 đến 10 tuổi được cho học giáo lý và chịu phép thêm sức) của HTM xem có phải tên Phêrô hay không vì “Phanxicô” đã rõ tên là Thánh rửa tội rồi.
Tiện đây, tôi xin thành thật cám ơn đối với Linh mục Phao Lô Lê Đình Chiến đã khổ công lục sao tặng “giấy rửa tội”, ảnh nhà thờ Tam Tòa nguyên vẹn khi xưa và băng nhạc phổ thơ Duyên kỳ ngộ của HTM. Và tôi cũng không bao giờ quên truyền thống mẫu mực của giáo xứ Tàm Tòa vì đã gìn giữ tốt đẹp những hồ sơ, sổ sách vẹn toàn qua gần hai thế kỷ thành lập với những cuộc chiến ác liệt, phải di dời từ Đồng Hới đến Đà Nẵng.

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1996.- Số 4.- Tr. 22 (780);
KHPL: BĐ.04(92)
Đăng nhập để trả lời
0


Dòng sông của Hàn Mặc Tử



Ông Phạm Xuân Tuyển, soạn giả cuốn Đi tìm chân dung Hàn Mặc Tử có lần nói với tôi, đại ý: Có người cho rằng câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” của Hàn được viết về một dòng sông nào đó ở mạn mấy tỉnh từ Quảng Ngãi vào Phan Rang, Phan Thiết. Nghĩ cũng Chế Lan Viên có lý, bởi cái nắng miền đất ấy là nắng lửa.
Ý kiến trên có thể đúng, bởi Hàn Mặc Tử sống nhiều nhất ở miền đất ấy. Nhưng đi tìm địa chỉ cho bài thơ là việc không nên làm, nhất là với thơ Hàn Mặc Tử, ngay cả những bài thơ như Đây thôn Vĩ Dạ, ai dám bảo bài thơ viết về làng Vĩ Dạ ở Huế? Thực tế là có những bài thơ viết về một địa danh, một con người cụ thể, vẫn có những câu, những ý bắt nguồn từ vốn ấn tượng trong lịch lăm đường đời, trong vốn học và đọc trực tiếp hay gián tiếp có khi tận từ thời thơ ấu.
Đọc Mùa xuân chín, quả là không thể xác định được không gian và thời gian trong đó, ta chỉ bắt được mạch cảm xúc của nhà thơ, từ đó mà đi vào tác phẩm, mà cảm nhận. Hơn nữa, nếu theo ý kiến trên, thì cái dòng sông nào đó lại phải là dòng sông chảy giữa làng quê có người phụ nữ đang gánh thóc bên bờ nữa kia. Đến thế thì ngay cả tác giả bài thơ cũng không thể nói chắc dòng sông ấy tên gì, nằm ở đâu, còn nếu nhắm mắt nhận bừa đi, thì cũng không còn là Hàn Mặc Tử nữa!
Vậy dòng sông trong câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” ấy nằm nơi nào? Xin thưa, dòng sông ấy nằm trong lòng Hàn Mặc Tử, trong lòng chúng ta, như bến My Lăng, như dòng sông Thương vậy. Nó là dòng tạo nên từ nhiều con sông có thật và những dòng chảy của cõi đời, của niềm vui là nỗi buồn của một thi nhân tài hoa mệnh bạc; dòng sông ấy có vô số địa chỉ, và nói đến địa chỉ nào cũng phải có cơ sở của nó. Chúng tôi xin đưa ra một địa chỉ đáng tin cậy của dòng sông ấy: sông Nhật Lệ.
Như ta biết, Hàn Mặc Tử sinh ngày 22-9-1912 tại làng Lệ Mỹ (tức phường Đồng Mỹ ngày nay) thuộc thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Đồng Mỹ là một phường hẹp, nằm kẹp giữa Quốc lộ 1A và kéo dài dọc đoạn cuối của con sông Nhật Lệ đổ ra biển. Đó là đoạn đẹp nhất của dòng sông, bên này là phố thị với thành luỹ xưa in dấu một thời trận mạc, bên kia là làng bảo Ninh với dải cát trắng đâm dài ra biển như một dải lụa khổng lồ. Không rõ ngôi nhà xưa của gia đình Hàn Mặc Tử nằm ở đâu, nhưng nhất định cũng chỉ định vị trong rẻo đất hẹp chạy dọc sông Nhật Lệ này (và tôi cứ tin rằng nó nằm rất gần khu nhà thờ Tam Toà, ngay trên đường Hàn Mặc Tử ở Đồng Hới bây giờ). Hà đã chào đời và cả tuổi thơ của hàn đã tắm trong không gian ngày đầy nắng, đêm đầy trăng này, đã ngược xuôi, xuôi ngược không biết bao nhiêu lần dọc con sông thơ mộng này…Chính cái không gian nước xanh – cát trắng - nắng vàng đôi bờ Nhật Lệ đã theo Hàn Mặc Tử suốt bao năm tháng trong vốn ấn tượng có được thuở ban đầu vô cùng quý báu, làm chất men khơi dậy bao ý thơ về sau. Hàn Mặc Tử sống 28 năm trên đời thì đã 8 năm, từ khi sinh đến lên 8 tuổi, gắn bó với Đồng Hới và sông Nhật Lệ cùng tổ ấm gia đình, bởi vậy nhiều bài thơ của hàn sau này dù viết trong điều kiện nào cũng có thể nói đã được bắt nguồn từ cái vốn cảm xúc đầy ắp về mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình. Trăng, Biển, Chúa Trời là ba nét lớn trong thơ Hàn Mặc Tử, thì cả ba thứ ấy làng Lệ Mỹ xưa lúc nào cũng sẵn. Rõ ràng hồn thơ của Hàn Mặc Tử được mở ra từ sông Nhật Lệ. Không thể nói dòng sông trong câu thơ “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” là sông Nhật Lệ, nhưng không có sông Nhật Lệ, chắc không có câu thơ này, và thậm chí sẽ không có cả …Hàn Mặc Tử! Không nhà thơ nào thoát ly khỏi cảm xúc huy hoàng của tuổi thơ về sông núi quê hương hay chốn sinh thành mà thành nhà thơ được …
Nói đến Quảng Bình là nói đến gió Lào, cát trắng và nắng chang chang. Ai đến đất này cũng đều chung cảm nhận ấy, xưa nay đều thế. cứ lấy từ Nguyễn Du trở đi mà xem. Hình ảnh “Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” trong Truyện Kiều chắc cũng được thoát thai từ cảm xúc về những cồn cát chạy dọc suốt bờ biển Quảng Bình thời ông làm quan cai bạ nơi đây. Riêng hình ảnh nắng chang chang thì được nhắc đến nhiều hơn. Tố Hữu trong bài thơ Mẹ Suốt có câu:
Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình
Gần đây nhà thơ Nguyễn Hoa trong bài thơ Trưa Nhật Lệ lại viết:
Biển xanh, sóng trắng, cát vàng
Trời ong óng nắng chang chang Quảng Bình
Sẽ còn nhiều bài thơ viết về Quảng Bình với hình ảnh nắng chang chang, hoặc cảm nhận cái nắng chang chang của mảnh đất này để đưa vào thơ, nhưng đừng ai quên người đưa cái nắng chang chang vào thơ đầu tiên chính là Hàn Mặc Tử. Nhật Lệ là dòng sông tuổi thơ của Hàn Mặc Tử.

Nguồn:
Văn hoá – Văn nghệ Công an
Số 5 – 2000, Tr. 87-88





Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»