Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Cuộc đời và sự nghiệp của Hàn Mặc Tử

35 trả lời, 18.398 lượt xem — Trang 2 / 2

Hàn Mặc Tử


Quỳnh Dao


Hàn Mặc Tử là tác giả tập “Gái Quê” xuất bản từ hồi Octobre 1936. Một tập thơ phần nhiều tả những cảnh sắc nhà quê, cây tre, khóm lau, bờ cỏ, hay những phút yêu mong, nhớ của những cô gái quê.
Hồi tập thơ này xuất bản là hồi chúng tôi đang còn chủ trương tờ HA NOI Báo. Nhận được tập thơ ông, chúng tôi đã vui mừng giới thiệu ông-một thi sĩ mới-với độc giả, và nói rõ tính cách của tập thơ ông nó có cái phong vị mộc mạc, ngây thơ và thi vị.
Tuy cả tập GÁI QUÊ không phải bài nào cũng hay ngang bài nào, nhưng nhiều bài đủ tỏ rằng tác giả có một tâm hồn đa cảm lắm, một tâm hồn nồng nàn của thi nhân, và vì thế Hàn Mặc Tử đã ở trên nhiều những ông thợ thơ khác. Ta phải nói hẳn ngay Hàn Mặc Tử là một thi sĩ.
Bài mà chúng tôi thích nhất trong quyển GÁI QUÊ (hồi ấy có trích đăng lại ở Hanoi Bao) là bài TÌNH QUÊ mà bạn Quỳnh Dao cũng có trích ở đoạn đầu bài dưới này.
“Tình Quê” có một âm điệu như “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư. Đọc lên, ta nghe như tiếng gió rào rạt trong khóm tre một buổi chiều hôm, tiếng nghe văng vẳng buồn, một cái buồn nhè nhẹ.
Nhưng, đó mới chỉ là mấy vần thơ đầu. Sau này thơ của Hàn Mặc Tử còn “hứa hẹn” nhiều và đi qua từ Sáng-Tạo, sang Siêu-Việt và gần đây lại hơn nữa là Điên lúc Hàn Mặc Tử đau buồn quá.
Muốn độc giả rõ Hàn Mặc Tử hơn, tôi xin nhường lời cho thi sĩ Quỳnh Dao, người đã gặp Hàn Mặc Tử và đã sống những phút đầy đủ bên Hàn Mặc Tử.
Lê Tràng Kiều

Mùa hè năm 1937, tôi gặp Hàn Mặc Tử ở Quy Nhơn. Rất cảm động khi thấy một thân hình tiều tụy, như van lơn cầu khẩn một điều gì. Dù gặp lần đầu, mà đã thân nhau. Vì chúng tôi quen nhau đã lâu trong tập “Gái Quê”!
“Gái Quê”, tập thơ đầu của Hàn Mặc Tử, tuy chưa được hoàn toàn đặc sắc, nhưng đã chiếm một địa vị rất cao rồi. Lời đi nhẹ nhàng uyển chuyển như hơi may, đọc lên nghe ngọt đến đáy hồn, cho nên dễ nhớ. Trong đó, thỉnh thoảng chơi vơi một nổi buồn kín đáo.

Từ ấy anh ra đi
Bóng trăng vàng giải cát,
Cánh cô nhạn bơ vơ…
Liệng dưới trời xanh ngắt,
Từ ấy anh ra đi,
Tiếng dương cầm vắng bặt,
Dường tan trong đám sương,
Thoảng về nơi làng mạc…
(Nhớ Nhung)

Và đã mấy khi ta nghe một điệu nhạc hiền từ:
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê
Gió chiều quên ngừng lại;
Giòng nước luôn trôi đi…
Ngàn lau đường đê mê.
Cách nhau ngàn vạn dặm,
Nhớ chi đến trăng thề
Dầu ai không mong đợi,
Dầu ai không lắng nghe
Tiếng buồn trong sương đục,
Tiếng hờn trong lũy tre,
Dưới trời thu man mác,
Bàng bạc khắp sơn khê.
Dầu ai trên bờ liễu,
Dầu ai dưới cành lê…
Với ngành xanh hờ hững,
Cố quên tình phu thê,
Trong khi nhìn mây nước
Lòng xuân cũng não nề…
(Tình quê)

Giữa hỗn tạp của thứ thơ Tây, Hàn Mặc Tử lần đầu tiên cho ta nghe một điệu nhạc ngọt ngào:
Kìa anh xem! Giải mây hờ trên đỉnh núi,
Buổi chiều hôm đã nhuộm một màu lam
Và trên không hàng cò trắng đương làm
Một bài thơ dài không vần điệu.
Bài thơ ấy xóa dần trong rặng liễu,
Mà chúng ta – thi sĩ – đương mơ say
Đương lặng nhìn hiện tượng của trời mây,
Lòng ta bổng xôn xao và nức nở.
Rồi tự nhiên âm thầm trong tiếng thở,
Lời ca ngâm vang dậy khắp đồi thông,
Khiến vi lau im lặng, suốâi không ngừng,
Không lay nữa cũng không thèm chảy nữa.
Chỉ ngây ngất lắng nghe lời mai mỉa
Những linh hồn vất vả vì yêu thương
Kìa anh xem! Cô gái đứng bên đường!
Mặc yếm thắm, dáng ngây thơ và bẽn lẽn;
Hái rau sam, nhưng xuân tình không thể nén
Trên làn môi ươn ướt như thèm duyên.
Mà chúng ta – thi sĩ – lặng triền miên
Đương tìm vần: trẻ, đẹp, non trong nếp áo.
(Hồn Thơ)

Đây, là một câu trả lời rất sâu cho phái cũ ghét thơ mới. Họ tưởng rằng thơ mới là một thứ thơ lởm chởm những đá sỏi, không âm điệu, không ý tứ, như hầu hết của những nhà lạm dụng chữ thi sĩ trước khi “Gái Quê” ra đời. Những nhà thơ non nớt ấy, vô ý gieo mầm họa lớn cho tính cách thơ mới, làm mất lòng tin cậy của người đi.
Buổi đầu, xuân trong lòng mới dậy, thi sĩ bồng bột lạ thường. Ai ngăn cản được những ý lẳng lơ, những lời hổn hển.
Từ gió xuân đi, gió hạ về
Anh thường gửi gắm mối tình quê.
Bên em mỗi lúc trên đường cái
Hóng mát cho lòng được thỏa thuê… Em có ngờ đâu trong những đêm
Trăng ngà giải bóng mặt hồ em
Anh đi thơ thẩn như ngây dại
Hứng lấy hương nồng trong áo em (Âm thầm)

Trăng nằm sóng soài trên ngành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!…
Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi!
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm.
Em sợ lang quân em biết được ,
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em…
(Bẽn lẽn)

Hàn Mặc Tử khéo dùng những ý quê. Gió hôn trên má, với một nàng quê đã lấy làm bẽn lẽn. Ấy là nghệ thuật tinh vi!
Thế là ý tứ
Với tập “Gái Quê” Hàn Mặc Tử đã xứng đáng làm thi sĩ rồi!
Sao lại:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ước mơ…
Đó chẳng qua thi sĩ hờn lẫy, trong chốc lát. Trời còn bắt anh làm thi sĩ mãi mãi, vì trời đã gieo trong người anh, sự nghiệp anh… một bài thơ!
Trời ơi! Trời bắt Hàn Mặc Tử làm thi sĩ rồi!
Đời anh càng lạ, lời thơ càng lạ hơn. Thơ anh lại bước sang thời kỳ sáng tạo!
Thời kỳ sáng tạo là cuộc cách mệnh trong thơ. Giữa lúc làm cho âm điệu ấy bằng phẳng rồi lại kêu vang lên, rồi lại bằng phẳng; ý tứ đi từ từ rồi lại lạ lùng quá, khiến ta phải để ý, ngừng lại để hưởng dư âm của hơi thở, cho lòng đi sâu vào để phân chất cái dụng công thi sĩ.
Thời kỳ sáng tạo làm cho thơ mới lạ hơn, làm cho thơ thoát sáo, một là về cách chọn chữ, hai là về cách đặt câu.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hò reo…
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu!
(Đalat trăng mờ)

Nào đâu tráng lệ một thời xanh,
Mai vị thơm tho của ái tình,
Đố kiếm cho ra trong lớp bụi,
Ít nhiều hơi hám của kiên trinh
(…)

Đã có khi nào có ước mơ
Rồi đây khai mạc cuộc đời thơ,
Bằng đêm hôm ấy êm như rót
Lời mật vào tai, ngọt sững sờ…
(Tối tân hôn)

Một buổi chiều gần lặn, ngồi trên bãi biển Quy Nhơn. Tôi thinh lặng nghe anh cầu khẩn những vị thiêng liêng!
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi.
Bao giờ tôi hết được yêu - Vì!
Bao giờ mặt nhật tan thành máu,
Và khổ lòng tôi cứng tợ si!

Tôi hãy còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu!
Sao? Bóng phượng nở trong màu huyết,
Nhỏ xuốâng lòng tôi những giọt châu!

Lòng tôi nao nao đi trong một ngọn gió buồn từ xa thổi lại. Tôi lẩm bẩn: “Hàn Mặc Tử là yêu Ma” Dưới mấy lá dừa biếc sắc, hơi đêm càng làm rõ những nét ghê rợn của người anh. Thốt nhiên anh nói:
-Thôi ta đi về, tôi biết về thì tiếc trời tiếc nước, tiếc bao nhiêu là thơ nhưng tôi không dám ngồi chờ cho sương xuống.
Tôi lẳng lặng đem anh về. Những nét xương dưới áo lụa Quy Nhơn phai màu, theo sức gió, nổi hằn lên mỗi khi anh đi qua một ngọn đèn. Anh đi thất thểu như một người điên, dưới cằm lâu ngày không cạo, với bộ mặt bạc nhược, tuy ít tuổi đã để ra vài sợi râu!
Và ngày mai, khi nắng lên là Hàn Mặc Tử không thể ra ngoài đường được. Anh yếu lắm, mẹ anh buồn, và thơ anh buồn…
Anh đã kể tôi nghe hầu hết những mẫu đời, tôi chỉ nói anh là một Nạn Nhân, thế thôi! Những việc riêng tôi muốn giữ kín để thơ anh được giữ kín những nhiệm mầu.
Lời thơ không đi theo sự dồi dào của thực tế, thì lời thơ chỉ tặng những người mang chung một điệu lòng! Người ngoài có ai ưa đâu, người ngoài bạc đãi. Trời hỡi! Bao giờ ai ai cũng biết yêu thơ như ta.
Nhiều khi anh như ngây dại, nhắm mắt đuổi một ngày đẹp đã qua…

Trăng đang nằm trên sóng cỏ
Cỏ đưa trăng đến bên ao,
Trăng lại đắm mình xuống nước,
Trăng nước đều ngủ với nhau!
Đôi ta bắt chước thì sao!

Đọc câu ấy, tự nhiên đầu ta cứ chuyển! Hay là ta say!
Thời kỳ siêu việt làm bài thơ huyền ảo hơn, sâu xa ngâm ngầm hơn… Ta phải đi vào đến đáy thơ lòng ta ớn lạnh!

Hãy van lơn ở dưới chân Bàn Thánh
Cho yêu ma muôn năm vùng trở dậy
Náo không gian cho lửa hồng bùng cháy,
Và để cho kinh động đến người tiên…
Đang say sưa ở thế giới ảo huyền
Đang trừng dởn ở bên sông Ngân biếc
Anh rõ trước, sẽ có ngày cách biệt,
Ngó tuy gần, song vẫn thiệt xa khơi
Lau mắt đi! Đừng cho lệ đầy vơi,
Hãy mường tượng một người thơ đang sống,
Đang im lìm lẻ loi trong giẫy động.
Cũng hình như em hỡi! Động Huyền không!
Mà đêm nghe, tiếng khóc, ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa,
Em có nghĩ ra… một chiều vàng úa.
Lá trên cành héo hắt gió ngừng ru
Một khối tình nức nở giữa ám u,
Một hồn đau đã lần theo hương khói
Một bài thơ cháy tan trong nắng dọi,
Một lời run hoi hóp giữa không trung.

Anh càng đau đớn bao nhiêu thơ anh càng tha thiết. Rồi dần dà đem anh vào thế giới lạ hơn:
Điên:

Ha! Ha! Ta đuổi theo trăng!
Trăng bay lả tả ngả lên cánh vàng…
Tới đây, là nơi ta được gặp nàng,
Rủ rê, rủ rê hai đứa vào rừng hoang,
Ta lượm lá trăng làm chiếu trải,
Chúng ta kê đầu lên khối sao băng!
Chúng ta nói chuyện bằng hơi thở,
Đon đón hoa cỏ biến ra thơ,
Chúng ta lại là người của ước mơ,
Không xác thịt, chỉ có linh hồn đang mộng

Cách đây tám tháng tôi ghé Quy Nhơn thăm anh, vì có việc gấp tôi phải đi ngay, nên chỉ ngồi chơi với anh được chừng năm phút. Bệnh anh càng ngày nặng, nước da anh đã thay màu. Nhìn thấy một cảnh tưởng thê thảm nghèo nàn, tôi cảm động quá, cầm lấy tay anh. Một bàn tay đã viết ra bao nhiêu là ngà ngọc mà nay lại khô và thâm tím, một bàn tay (tôi biết lắm) không ai dám cầm tay, mà anh cũng không đưa cho ai cầm.
Tôi hứa với anh, sẽ trở lại sau khi đi Đà Lạt về. Nhưng mà khi về, anh không còn ở đó nữa. Theo lời Chế Lan Viên thì mẹ anh không muốn cho anh trông thấy chúng tôi, không muốn cho anh trông thấy những cảnh ngoài xinh quá, sợ lòng anh lại chua chát thêm. Anh đã bị đưa vào một chổ vắng, một gian nhà có ít người qua, gần mé núi. Thường ngày chỉ có người đem cơm và thuốc uống. Cái nhà ấy bọn chăn trâu gọi là nhà “thằng ốm”! Biết đâu trong ấy lại chứa một hồn thơ thơm lắm.
Cảnh tình, nghèo ngặt, những người yêu anh thì cũng gần một số phận. Duy chỉ có anh Quách Tấn ở Nha Trang thường vẫn để tâm tới.
Tôi thường được tin anh, nên biết cả ngày cả đêm, công việc của anh chỉ có:
Ăn, ngủ, rên, khóc, ngâm thơ và… cầu nguyện.
Hãy mường tượng một người thơ đang sống
Được im lìm lẻ loi trong giãy động,
Cũng hình như em hỡi1 Động Huyền Không!
Mà đêm nghe tiếng khóc ở đáy lòng,
Ở trong phổi, trong tim, trong hồn nữa.

À té ra, một lời thơ năm xưa, mà nay thành sự thật.


Nguồn trích: Văn phẩm Quỳnh Dao.- H.; 1999 (2033);
KHPL: BĐ.04(91)
==================================
Đăng nhập để trả lời
0

Thêm vài chi tiết về cuộc đời và mộ chí của Hàn Mặc Tử ở bệnh viện phong Qui Hòa


Ngọc Minh


Vừa qua, chúng tôi có dịp vào bệnh viện phong Qui Hòa, nơi trước đây Hàn Mặc Tử đã đến điều trị và đã qua đời để tìm hiểu thêm về quãng đời cuối cùng của nhà thơ và những nghi vấn chung quanh hài cốt của thi sĩ.
Dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của bệnh viện, chúng tôi đã tìm được cuốn sổ dày cộp ghi lại danh sách của các bệnh nhân do bà sơ người Pháp ghi bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Chúng tôi nhìn thấy tên Nguyễn Trọng Trí ở hàng số thứ tự 1134 tính từ người đầu tiên nhập viện. Tại đây cũng ghi rõ ngày vào viện 20-9-1940 và ngày mất 11-11-1940; như vậy nhà thơ đã qua đời chỉ vỏn vẹn chưa đầy 2 tháng.
Trong cuộc gặp gỡ trao đổi với bác Trần Kế, năm nay 72 tuổi là một bệnh nhân cùng thời và nằm cùng buồng với Hàn Mặc Tử và các bác Bùi Tuất, Lê Lừ là những bệnh nhân vào bệnh viện sau vài ba năm nhưng đã được nghe kể lại, chúng tôi được biết trong những ngày điều trị ở đây Hàn Mặc Tử tỏ ra là người trầm tư ít nói, thường lang thang một mình ra các ghềnh đá ven biển vào các buổi chiều. Trừ một phụ nữ không rõ là chị em hoặc người yêu thường đến, nhà thơ sống cô độc, ít có ai đến thăm, và cũng ít tiếp xúc với ai. Thỉnh thoảng người ta thấy người thanh niên trẻ ngồi viết dáng điệu tư lự nhưng không ai biết viết gì, mãi đến khi qua đời người ta xếp dọn chỗ ở mới thấy những bài thơ viết và truyền tay nhau đọc. Sau người nhà thu lại một ít còn một số thất lạc.
Bác Kế còn cho biết Hàn Mặc Tử chết vì một bệnh gì khác giống như thương hàn chứ không phải vì bệnh phong. Chúng tôi đem vấn đề này trao đổi với bác sĩ Ngoạn, giám đốc bệnh viện, anh cho biết nguồn tin này có lý bởi ngày nay khoa học đã xác nhận bệnh phong rất khó lây và rất khó làm chết người. Thực tế ở bệnh viện nhiều bệnh nhân thọ rất cao dù đã mắc bệnh ba bốn mươi năm. Một người trai trẻ khó có thể chết nhanh chóng vì bệnh phong!
Về hài cốt của Hàn Mặc Tử, bác Kế cho biết : đám tang Hàn Mặc Tử rất thê lương lặng lẽ chỉ một vài người lo chôn cất và đưa tang. Nấm mộ được đắp thêm mấy hòn đá để làm dấu (thời ấy chưa có bia mộ). Bác để ý bởi chỉ cách 3 nấm là đến mộ cuả người con sinh non tháng của bác. Đến khi Quách Tấn vào tìm để chuyển hài cốt ra Ghềnh Ráng bác có đến chỉ dẫn nhưng không hiểu sao nấm mộ ấy vẫn còn nguyên. Theo bác hài cốt đã chuyển ra Ghềnh Ráng là của ai khác do người ta chỉ nhầm chứ không phải của Hàn Mặc Tử. Chúng tôi cũng đã gặp anh Huỳnh Ngọc Hải là một bệnh nhân đời sau nhưng anh cho biết đã có lần nghe ông Bửu Căn, một bệnh nhân cùng thời với Hàn Mặc Tử người đã chỉ cho Quách Tấn dời mộ Hàn Mặc Tử chuyển ra Ghềnh Ráng sau này, nói đại ý: Hồi đó cũng chỉ đại chứ có nhớ gì đâu! Nhưng đáng tiếc là sau đó cả khu nghĩa trang này đã được bốc dời sang một địa điểm mới và người ta cũng không để ý phân biệt là mộ của ai. Nên nếu giả thuyết hài cốt đã được chuyển ra Ghềnh Ráng không phải của Hàn Mặc Tử thì cũng không cách gì tìm được hài cốt thật của nhà thơ hiện nằm ở chỗ nào Xin nói thêm, bằng tấm lòng ngưỡng mộ một nhà thơ lớn, để phục vụ khách tham quan du lịch, bằng những tư liệu thu thập bước đầu, bệnh viện phong Qui Hòa đang suy nghĩ kế hoạch phục hồi những hiện vật có liên quan đến Hàn Mặc Tử như buồng bệnh bàn ghế và các vật dụng khác lập thành một phòng lưu niệm nhà thơ. Tại khu vực trước đây đã mai táng nhà thơ sẽ lập nên ngôi mộ tượng trưng và tượng của thi nhân.
Thiết tưởng đấy là những việc có ý nghĩa đối với nền văn hóa dân tộc.

Nguồn trích: Bình Định.- 1990.- Ngày 13 tháng 3 (799);
KHPL: BĐ.04(91)
Đăng nhập để trả lời
0


Hàn Mặc Tử và tôi


Trinh Đường



Trên tấm phản gỗ, Cụ Phan Bội Châu đắm hồn vào trang sách cổ nhân, quên mình đang ở trong nhà, cũng quên nốt đang ở trong vòng trong vòng ngoài của mật thám ma tà. Nghe có tiếng động cửa, cụ bỏ mục kỉnh trông ra thì thấy có bóng người thập thò phía ngoài rồi một chú bé dáng thư sinh khép nép bước vào nha. Giọng huế của cụ trầm xuống, bao dung, khi chú bé đến gần bên phản " trò có việc gì cần đến cụ ?" Đứng trước một ngọn núi về thơ và về mặt chí sĩ, chú bé ấp úng mới nói thành tiếng " dạ, dạ ... cụ cho phép cháu được gặp cụ " vẫn giọng độ lượng cha già, cụ chậm rãi: " Cháu là ai, tên gì, đến với cụ có việc gì ? ". Như được khuyến khích, chú bé đáp trôi chảy hơn " cháu, cháu là Nguyễn Trọng Trí". Như bị điện giật. Như bị điện, cụ Phan giật mình ngồi thẳng lên " Trí à ? có phải Trí là tác giả mấy bài thơ giử cho tôi và đã đăng báo Tiếng Dân đó phải không ?". Chú bé mạnh dạn hơn " Dạ thưa cụ phải ạ ".
Cụ già Bến Ngự bỗng à lên một tiếng, ngồi lùi về phía bên kia, đưa tay trỏ bên này phản, mời chú bé, giọng không còn bình thường " Thế thì, mời trò ngồi lên đây, nói chuyện ". Chú bé sợ quá, lùi lại mộ bước và khúm núm từ chối " Thưa cụ cháu không dám, cháu đâu dám... Cháu chỉ dám xin cụ cho ý kiến về mấy bài thơ cháu giử cụ duyệt lãm thôi". Cụ Phan vẫn đưa tay trỏ bên kia phản" không, không tài thơ của cháu đáng được ngồi ngang với cụ, cháu cứ ngồi đây". Thấy cụ kiên trì ý kiến, chú bế bèn leo lên phía trong phản, nép mình sát tường - giọng ngâm thơ của cụ Phan sang sảng như có lửa:
Ấp úng không ra được nữa lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi
Vội vàng cánh nhạn bay đi trót
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi...
Cụ Phan vỗ đùi đánh đét" Hay, hay lắm, bạc đầu trong làng thơ, không dễ gì viết được đâu... Lại còn bài khác, trò viết:
Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
gió thu lọt cửa cọ mài chăn...
" Tuyệt ! Trác tuyệt ! Vừa đại khoa, vừa tài tử ! Cứ yên tâm, trò đáng được ngồi ngang với cụ ! Xưa nay thơ hay có ai tính tuổi đâu..." .
Chú bé có cái tên quai nôi là Trí trong lần đầu tiếp xúc với nhà chí sĩ kiêm nhà thơ Phan Bội Châu ấy tên là Hàn Mặc Tử. Và từ đấy trổi lên trên mặt bằng thi ca Việt Nam một thiên tài trác tuyệt: Hàn Mặc Tử của chúng ta !.
Từ nhỏ, tôi tìm đọc và thuộc không thiếu một dòng nào của Hàn Mặc Tử,
Từ Gái Quê đến thơ Hàn Mặc Tử đến các vở kịch thơ, đến lời đề tựa cho Tinh Huyết của Bích Khê, đến bản Tụng ca Thượng đế bằng tiếng Pháp, cả bản anh tự dịch trước khi lìa trần, làm ánh sao băng chói loà cả ba ngàn thế giới thi ca đến tận ngày nay và mãi mãi về sau này.
Cũng từ nhỏ mê thơ đến chết, nhận định của tôi về ngọn cờ thơ mới 30 - 45 vẫn không thay đổi cho đến ngày nay. Phan Khôi đề xướng, Thế Lữ mở đầu, Xuân Diệu âu hoá thơ Việt, " một thiên tài sớm lộ " ( Chữ trên bọc ngoài tập Thơ Thơ của Tự Lực Văn Đoàn) Huy Cận sâu sắc một nổi buồn nhân thế, Chế Lan Viên ma Hời, Lưu Trọng Lư làm thơ bằng hồn chứ không bằng tay, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng rất mực tài hoa, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân trầm hùng, Nguyễn Bính truyền thống và dân dã... Nhưng vượt lên trên những đỉnh cao nói trên vẫn là Hàn Mặc Tử với châu tuần một vệ tinh là Bích Khê.
Tôi đã viết nhiều chân dung nghệ sĩ bằng văn xuôi, cả bằng thơ, nhưng nghĩ hoài, vẫn không sao lấp được hai khoảng trống lớn trong đầu tôi: Nguyễn Du và Hàn Mặc Tử. Tôi đã dám bình nhiều đoạn về Kiều, nhưng dẫu đã đi thăm vẫn chưa dám viết về mộ Nguyễn Du và Hàn Mặc Tử. Cứ mỗi lần cầm bút định viết một trong hai người, tôi đều có cảm giác ớn lạnh và " run như run thần tử thấy long nhan". Mãi đến khi trường viết văn Nguyễn Du có một hội thảo về thơ Hàn Mặc Tử mà tôi có phần trách nhiệm, tôi phải động viên tôi nhiều đêm mới dám động đén cái thế giới thơ huyền hoặc kỳ bí ấy - cũng để, trên hết, thắp một nén hương nguyện, trả một món nợ tinh thần canh cánh trong lòng đã suýt gần nửa thế kỷ nay với người tôi tôn thờ từ nhỏ : Hàn Mặc Tử.
Cái gì đã làm tôi tự nguyện cúi đầu trước thần tượng nói trên của tôi ? Trên hết mọi điều ở thiên tài này là phần tâm linh, phần huyền nhiệm, không một ai vươn tới được của anh. Với một mức độ tài năng nào đó, ta có thể bắt kịp Thế Lữ, đến gần Xuân Diệu, Huy Cận, nhưng không thể có được cái hồn trời cho của Lưu Trọng Lư và xa đến tuyệt mù với Hàn Mặc Tử và phần nửa Bích Khê, đang chiếm lĩnh cho riêng hai người cả vòm trời, cả thế giới tâm linh. Cùng ở mặt đất, không thể bén gót ngay cả việc tả chân một người lao động vốn là " nghề " sở trường của chúng ta trong nhiều thập kỷ qua, Chị ấy năm nay còn gánh thóc, dọc bờ sông trắng nắng chang chang (một vần trong ai đó đã ảnh hưởng mà người chưa đọc Hàn, cứ cuống cả lên !) đến một thương tiếc rất đời" Ngày mai anh bỏ làm thi sĩ, em lấy chồng rồi hết ước mơ" (Không còn ước mơ, không còn thi sĩ, em ở đây là cái bóng dáng hạnh phúc riêng và chung). Anh để chúng ta lại dưới trần khi đi vào cõi biếc hư linh Nhớ xưa kia ta là chim phượng hoàng , vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất, bay từ Đạo Lỵ đến cung Đâu xuất, và hùa theo không biết mấy là hương... hay Như Song lộc triều nguyên ơn phước cả, dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng, Thơm tho bay cho tới cõi thiên đàng, huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thế... Cả hiện thực ở Hàn Mặc Tử cũng huyền hoặc. Chim hay tin ngọc đá biết tuổi vàng hay ngửa nghiêng đời cao bọc trăng ngủ... Áo em trắng quá nhìn không ra. Đến cả một hiện thực không hư ảo, anh cũng vượt xa mọi người Lá trúc chen ngang mặt chữ điền... Và thật không sao hiểu được khi bên những câu tân kỳ cả về hình thức này " Trăng, trăng là trăng, trăng trăng. Ai mua trăng tôi bán trăng cho, không bán đoàn viên bán hẹn hò... lại có những câu rung động ta bằng hầu hết những từ cổ, có sẵn " Trăng cố độ hết vươn cành trúc, hẹn đoàn viên tình thực chiêm bao hay Huyền Tiên hỡi, Sao em không hội ý, đôi ta xưa vầy hiệp nợ Châu Trần... Tưởng như mọi từ ngữ đã chết đều trỗi dậy sống động dưới ngòi bút thiên tài của anh.
May mà chúng ta có đâu đó một người thương nhớ để ta nhớ họ. Thật vô cùng hạnh phúc khi trên cái bình diện thơ ca chúng ta có Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm,... và cận đại là những đỉnh thơ 30 - 45 mà chọc trời là Hàn Mặc Tử - người đầu tiên nối bước Nguyễn Du(1) chắp đôi cánh linh thần cho thơ Việt Nam bay đi chinh phục mọi tầng trời..
==========
(1) Xin ghi nhận các câu trong Kiều "Ở đây âm khí nặng nề, Bóng chiều đã ngã dặm về còn xa - Sương in mặt tuyết phá thân, Sen vàng lảng đảng như gần như xa..."

Nguồn trích: Bình Định nguyệt san.- 1992.- Số 9.- Tr.10 (701;
KHPL: 04(91)
Đăng nhập để trả lời
0

André Breton và Hàn Mặc Tử


Hoàng Nhân

Năm nay giới văn học Pháp đang chuẩn bị nhiều hoạt động kỷ niệm 100 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất của nhà thơ nổi tiếng André Breton (1896 – 1966), nhà thơ tiền phong và là người đứng đầu trường phái siêu thực về lý luận và thực hành sáng tác như thế nào? Thử tìm hiểu đôi điều liên hệ giữa André Breton và nhà thơ Hàn Mặc Tử của chúng ta.

Chủ nghĩa siêu thực là một trào lưu năng động nhất về văn nghệ của thời kỳ sau Thế chiến lần thứ I. Hình thành ở Pháp khoảng từ năm 1920, chủ nghĩa siêu thực tự khẳng định với bản Tuyên ngôn siêu thực lần thứ nhất (1924) và tạp chí Cách mạng siêu thực. Từ năm 1926 đến năm 1928, trường phái này hoạt động sôi nổi với nhiều tác phẩm của các tác giả như: Nadja của Breton, người nông dân Paris của Aragon, Tự do hay tình yêu của Desnos, Trí tuệ chống lại lý trí của Crével, Đô thị đau thương của Eluard,. Đây là thời kỳ chủ nghĩa siêu thực trong thơ và hội họa đầy sinh khí và có sức hấp dẫn mạnh mẽ một bộ phận khá đông công chúng ở Tây Âu. Từ năm 1929, trường phái siêu thực bắt đầu chia rẽ và phân tán với Tuyên ngôn thứ hai (1930) của Breton. Từ năm 1927, Aragon và Eluard đã ra nhập đảng Cộng sản Pháp và đến năm 1932 thì cắt đứt với phái siêu thực. Năm 1938 là năm mở đầu các cuộc triễn lãm hội họa siêu thực ở Paris trong nhiều năm.

Trường phái siêu thực ra đời có nguyên nhân sâu xa về xã hội, văn hoá từ giữa hai cuộc thế chiến (1919 –1939). “Một thế hệ mất mát” (une g1enératon perdue) sau thế chiến lần I, lo âu trước sự đe dọa của một cuộc chiến tranh mới, đã tỏ ra “bất phục tùng” trước thực tại. Họ đi tìm một cách nhìn mới về một thế giới trước nghịch lý của nền văn minh liên tục xây dựng và liên tục bị tàn phá. Họ day dứt trước bao điều trái ngược về các mối quan hệ giữa thực tại và tưởng tượng, tinh thần - vật chất, Lý trí – Phi lý tính… Họ muốn cởi mở tiếp nhận và dung hòa nhiều yếu tố tư duy khác nhau: ý nghĩ “đổi đời” của Rinbaud, tư duy “cải tạo thế giới” của Mác, cái “đà sống” của con người qua phân tâm học của Freud.

Andeton là nhà lý luận, một nhân cách độc lập và say mê đã kiên trì thể hiện và bảo vệ những giá trị của trào lưu này. Có mặt ở trung tâm các cuộc luận chiến, ông thường sử dụng hai vũ khí: khen ngợi và chê trách mạnh mẽ. Ông cho rằng tiếng nói nguyên sơ của con người đã mất đi vì bị phó mặc cho chủ nghĩa duy lý và ông khẳng định rằng con người luôn giữ trong suy tư của mình một thực tại còn chưa khám phá ra. Ông quan niệm “một lực chủ đạo là dục vọng không gò bó” sẽ làm nẩy nở: thơ, tình yêu, tư do - vốn là hạnh phúc trọn vẹn của nhân loại. Ông muốn con người cần loại bỏ những ràng buộc của cuộc sống hàng ngày, những thói quen làm cho con người trở nên “ù lì”. Do đó ông nổi loạn thường trực chống lại cuộc đời như đã định sẵn và trong bản thân ông diễn ra nghịch lý: ý thức cách mạng nẩy nở khi đấu tranh cho tự do chống lại mọi chế độ ràng buộc, nhưng ông lại không tán đồng mệnh lệnh của các đảng phái chính trị làm cho hoạt động trí tuệ thuộc vào sự thống nhất của tổ chức. Và quan niệm về chủ nghĩa xã hội của ông có tính chất một chủ nghĩa tự do không tưởng. Breton ý thức rằng cuộc sống phải có những cắt đứt và điều chỉnh, và chủ nghĩa siêu thực mang lại sự thuần khiết trọn vẹn của cá nhân.

Trong Tuyên ngôn của ông đã nêu lên “lối viết tự động” (écriture automtique) là lối viết thể hiện mọi ý tưởng, cảm xúc ngẫu nhiên từ cõi tiềm thức, những giấc mơ, ảo giác… vượt ra sự kiểm soát của lý tính: “Từ niềm tin về những khám phá của Freud, một trào lưu sẽ ra đời. Nhờ trào lưu đó, nhà thám hiểm nhân văn có thể đẩy ra những cuộc tìm kiếm của mình mà không chỉ cần đến thực tại sơ sài… Chủ nghĩa siêu thực là chủ nghĩa tự động tâm lý thuần túy, nhờ nó mà người ta đặt vấn đề biểu hiện hoặc bằng lời nói, hoặc bằng bài viết, hoặc bằng bất cứ cách thức nào, hoạt động thực tế của tư tưởng thoát khỏi mọi sự kiểm soát của lý tính…”

Nadja (1928) là tác phẩm văn xuôi có tính chất thơ tiêu biểu của Breton. Tác giả kể về sự kỳ diệu của hai Paris của những chốn và con người có thật, và một Paris khác có tính chất biểu tượng với những cuộc gặp gỡ. Vấn đề không phải là ở người gặp mà ở sự gặp gỡ khi nhân vật Nadja hoà lẫn với những người gặp trên đường. Qua những lần gặp gỡ thì sự trợ giúp của người phụ nữ là yêu việt, vì người phụ nữ gắn với thiên nhiên hơn người đàn ông, và giúp ta hiểu được bí mật của thời gian. Những lần gặp gỡ phát hiện ra vẽ đẹp thật ngẫu nhiên và “sự lên men của các dục vọng bí ẩn” nằm sâu trong cõi tiềm thức và vô thức. Từ năm 1942 đến năm 1947, nhiều tác phẩm của ông có tính chất sử thi và triết lý. Ví dụ bài thơ Chuyến thư cuối cùng (Dernìere levée) là cuộc vi hành của một lá thư “đóng dấu đường hoàng đạo”, bóc ra bởi những mái chèo, mở ra bao điều bí mật của tâm hồn, sống và chết, quá khứ và tương lai, cái cao và cái thấp… không còn được nhìn trong thế mâu thuẫn.

Văn học hiện đại Việt Nam không có chủ nghĩa siêu thực mà chỉ có những yếu tố siêu thực nhất định, khởi đầu với tác phẩm của một số nhà thơ Mới như Chế Lan Viên (Điêu tàn), Nguyễn Xuân Sanh (Xuân Thu nhã tập) và nhất là Hàn Mặc Tử (Thơ điên: đau thương, thượng thanh khí…). Trong Lời giới thiệu Thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên viết: “Anh bị xô vào giữa trận bão, cơn giông, đám cháy, giữa chết chóc, cô đơn, máu lệ nên có cách nào hơn? (…). Cuối cùng anh dùng đến cả bút pháp siêu thực châu Âu. Anh tả sao:

Đứng ngửa tay mà hứng máu trời sa

Và chính anh đang cảm thấy máu sa trong hồn anh thực. Anh viết:

Ta đi tìm nụ tầm xuân
Gặp vua nhà Nguyễn bay trên mây
Rượu nắng hồng vào thì say
Áo ta rách rưới trời không vá
Suốt bốn mùa trăng mặc vải trăng

Điên đầu phải không? Nhưng anh say say chứ? Ngấm rượu siêu thực của anh rồi!”

Hàn Mặc Tử đã viết những vần thơ đau thương trong hoàn cảnh anh bị bệnh phong vào thời ấy phải sống cách biệt với mọi người. Có thể nói bao nhiêu ham muốn và khát vọng cháy bỏng từ thân xác, trái tim, trí tuệ, tài hoa của một chàng trai bị dập vùi, dồn nén vào trong tầm thức, vô thức để rồi thoát thành những vần thơ theo “lối viết tự động” như của Breton, vượt ra ngoài sự kiểm soát của lý tính.

Từ đó ta mới có thể hiểu chất thơ thế tục của ông:

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
…Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
… Dám ôm hồn Cúc trong sương
Ôi Hoàng hoa, hồn phách nơi đây

Hàn Mặc Tử là một tín đồ Thiên Chúa giáo, thế mà tín điều ép phần xác cho siêu thoát phần hồn của Kinh thánh lại không kiểm soát được cảm hứng thế tục của nhà thơ thoát ra từ bản năng vô thức bị dồn nén. Có thể Hàn Mặc Tử chưa hề biết đến trường phái siêu thực trong thơ của họ lại gặp nhau.

Điếu khác biệt là Breton đứng đầu cả một trào lưu siêu thực, tiêu biểu cho sự phản ứng của cả một Thế chiến I nhằm chống lại thực tại tư sản, còn Hàn Mặc Tử của chúng ta là sự giằng xé đau thương của một cá nhân đơn độc, của một người dân Việt Nam trong xã hội thuộc địa, mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo. Do đó chất thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử lại toả ra “thanh khí” riêng của một hồn thơ dân tộc say mê mãnh liệt cuộc sống. Do đó ông đã sáng tạo ra một cõi sống riêng, một hồn riêng mà không phải là hư vô như có người ngộ nhận, không phải là hồn như của bao con chiên khác hướng đến thiên đàng.

Ta khạc hồn ra ngoài cửa miệng
Há mình cho hồn văng lên muôn trượng
… Hồn là ai, là ai tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Và nhà thơ yêu sức sống của ánh trăng bàng bạc, của gió mây trời quê hương:

Lụa là ướt đẫm cả trăng thơm
Người trăng ăn vận toàn trăng cả
Gò má riêng thôi lại đỏ hườm
… Nghe hơi gió ôm ngang lấy gió
Tưởng chừng như trong gió có hương
Của người mình nhớ mình thương
Nào hay gió tạt chẳng vương vấn gì
… Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng qúa nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà

Trong quá trình sáng tác, Chế Lan Viên, Xuân Diệu đã cảm nhận sự cần thiết “một thoáng siêu thực” trong thơ làm cho chất trữ tình, chất hiện thực càng dễ say lòng người. Nếu chất thơ siêu thực của Preton và trường phái siêu thực Pháp vẫn đậm màu duy lý khi kết hợp thực và mộng, thực và siêu thì chất thơ siêu thực của Hàn Mặc Tử lại thấm màu trực giác tổng hợp của phương Đông về thời gian - không gian, con người – vũ trụ, thể chất – tâm hồn… Vì lẽ đó mà chất thơ siêu thực của ông đã vượt ra ngoài mọi khuôn khổ của tín điều, giáo lý.

Nhà phê bình Albérès viết: “Trong đời người có những lúc một vật nhàn chán nhất cũng làm cho chúng ta tràn đầy vui sướng, chúng ta sống những phút ấy vì gặp tình cờ, có khi vì mỏi mệt, chúng ta nhìn sự vật khác hẳn lúc bình thường. Chủ nghĩa siêu thực tạo những cơ hội ấy… cho tấm màn thói quen nhàm chán rách tung và làm hiện ra một thế giới ở bên ngoài biên giới của hệ của thông lệ tạo nên bởi giáo dục” (Văn chương đương đại thế giới)

Nhà thơ Chế Lan Viên nhận xét: “Siêu thực của châu âu là chủ nghĩa siêu thực, ta không chấp nhận chủ nghĩa. Nhưng ta mừng trước thơ Hàn Mặc Tử vì thơ ông có mang những yếu tố siêu thực, với một tỷ lệ chấp nhận được. Hơn nữa, siêu thực châu Âu là siêu thực vì bộ óc. Hàn Mặc Tử thì Nàng đánh tôi quá đau. (Tựa thơ Hàn Mặc Tử)

Giới văn học Pháp kỷ niệm lớn André Breton với những lý do riêng của xã hội nước pháp vẫn đang trãi qua muôn vàn sóng gió ở cuối thế kỷ này. Tìm hiểu tính chất siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử là để thấy sự gặp gỡ Đông – Tây về văn hoá, nhưng ở Hàn Mặc Tử vẫn đậm đà bản sắc của một hồn thơ Việt Nam

Nguồn trích: Tạp chí Văn hóa.- 1996.- Số 7 (1.348);
KHPL: BĐ.04(91
=====================================
Đăng nhập để trả lời
0

Nhớ Hàn Mặc Tử


Nguyễn Viết Lãm



Giữa những năm ba mươi, nhóm thơ Quy Nhơn từ Thái Dương văn đoàn ở Bình Định mở rộng, bao gồm cả các nhà thơ đang sống hoặc đang học ở trường Quốc học Quy Nhơn, tụ tập họp lại để giúp đỡ nhau sáng tác, gần gũi yêu thương nhau, vì hầu hết những người trong nhóm đều thuộc tầng lớp nghèo cả. Ngày ấy, cũng từ Quy Nhơn ra, nhưng các anh Xuân Diệu, Nguyễn Xuân Sanh đều đã rời trường ra Huế và Hà Nội, anh Phạm Văn Ký thì sang Pháp trước đó. Nhà thơ và nhà bác học Bùi Văn Lãng chỉ chuyên dịch thơ cổ điển Việt Nam sang Pháp văn nên ít có quan hệ với anh em "thơ mới'. Chế Lan Viên và tôi đang học năm thứ hai trường Quốc học. Yến Lan vẫn thường ở trên thành Bình Định, thỉnh thoảng mới xuống thành phố. Lớn tuổi hơn chúng tôi lúc ấy có Hàn Mặc Tử và Hoàng Diệp. Cả hai anh đều là nhân viên ngành Đạc điền trong một thời gian ngắn và đều đã làm thơ trước chúng tôi khá lâu. Hoàng Diệp là bạn của anh Thanh Tịnh, cùng quê Thừa Thiên. Nổi bật trong nhóm thơ chung là Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên.
Tôi được gặp Hàn Mặc Tử vào giữa năm 1936, nhưng tên tuổi của anh đã được thành phố, đặc biệt đối với anh em học sinh, biết rộng rãi từ lâu. Thầy dạy văn của chúng tôi là giáo sư Trần Cảnh Hảo (ông đồng thời là người dạy văn của nhiều thế hệ học sinh sau này trở thành nhà văn, nhà thơ có tiếng trong nước). Thầy nguyên là một nhà nho, từng đi thi hương, sau mới học Cao đẳng sư phạm Hà Nội, có ảnh hưởng lớn đối với chúng tôi. Chính thầy Hảo là người đầu tiên nói với tôi về anh Hàn Mặc tử, vì năm 1933 Hàn Mặc Tử tuy tuổi còn rất trẻ đã cùng với thầy Hảo và nhiều trí thức tiêu biểu khác tham gia giám khảo cuộc thi thơ ở Quy Nhơn. Thời bấy giờ, việc cụ Phan Bội Châu xướng họa thơ và khen phục tài thơ của Hàn Mặc Tử đã tạo cho anh một tiếng vang lớn trong xã hội.
Hàng ngày đi học, tôi qua trước hiên nhà Hàn Mặc Tử, một dãy nhà nhiều gian, thấp nhỏ của nhiều gia đình cùng thuê ở gần Ngân hàng Pháp Hoa. Một ngày chủ nhật, Chế Lan Viên dẫn tôi đến thăm anh. Anh tiếp chúng tôi, ân cần và chan hòa, như đối với những người em ít tuổi. Hàn Mặc Tử vóc người nhỏ gầy, giọng nói Quảng Bình pha lẫn giọng miền trong nhỏ nhẹ như thầm thì tâm sự. Hôm đầu tiên ấy, anh ít nhắc đến thơ Đường luật của anh tuy anh đã có nhiều bài bát cú tuyệt hay. Tuy viết theo luật Đường, thơ anh tài hoa, khoáng đạt khác hẳn lối thơ cử tử, những câu thơ đối nhau khá chặt chẽ mà vẫn tự nhiên trôi chảy với những từ dân dã:
..."Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt
Chỉ có thông kia chịu với trời".
Từ sau buổi gặp ấy, Hàn Mặc Tử thường bảo tôi năng đến với anh. Cuối năm 1936, anh tặng tôi tập thơ Gái quê, tập thơ đầu của anh. Hàng chữ anh viết tặng đến nay tôi vẫn còn nhớ rõ từng nét, lối viết phóng khoáng, chữ ký rõ ràng, chân phương. Tiếc rằng tập thơ quý giá ấy bị thất lạc trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu 5.
Anh biết tôi là người Quảng Ngãi nên thường nhắc tới với tôi những kỷ niệm riêng của anh có liên quan tới địa phương này. Anh nói với tôi về Bích Khê, bảo rằng anh đang viết bài tựa cho tập thơ Tinh huyết của Bích Khê, anh bảo: "Mình thích Bích Khê và thơ cậu ấy không chịu khép mình vào khuôn cũ của ai cả". Hàn Mặc Tử khuyến khích tôi viết, mạnh dạn viết, vì anh thấy tôi có phần rụt rè trước mặt anh. Anh động viên: "Gắng viết, làm tựa cho Bích Khê xong, mình sẽ giúp Lãm tập hợp thơ lại và sẽ viết tựa cho Lãm". Tôi xúc động trước sự chăm sóc của anh, nhưng tiếc thay, việc ấy chưa kịp làm thì anh lâm bệnh nặng.
Sau này, tôi hiểu vì sao Hàn Mặc Tử lại chú ý đến Quảng Ngãi, quê tôi. Trong cuộc đời riêng của anh, một nỗi đau lớn gây cho anh một vết thương rỉ máu không bao giờ hàn gắn được. Nhưng mối tình đau khổ ấy lại là chất men cho tài năng sáng tạo của anh, y như vết thương trong lòng con trai, tạo nên hạt ngọc. Mộng Cầm, người anh yêu tha thiết, đã rời bỏ anh sau khi biết anh bị bệnh hiểm nghèo. Mộng Cầm tên thật là Nghệ, gọi nữ sĩ Ngọc Sương là dì, gọi Bích Khê là cậu quê ở Quảng Ngãi. Chị Mộng Cầm là bạn học với tôi ở lớp nhất trường tiểu học Quảng Ngãi, lớn hơn tôi năm tuổi. Dung nhan không lộng lẫy nhưng có đôi mắt đẹp và một tâm hồn nhiều xúc cảm. Đối với Mộng Cầm, tôi là bạn học, đối với gia đình Ngọc Sương, tôi là người thân, tôi rất buồn khi người bạn gái lớn tuổi ấy đã làm cho Hàn Mặc Tử tan nát cả lòng mình. Một hôm, đến chơi Hàn Mặc Tử, nhân nhắc đến quãng đời tuổi nhỏ của anh ở Sa Kỳ, một cửa biển ở Quảng Ngãi, tôi vô tình nói: "Từ Sa Kỳ, anh chỉ qua một cửa sông là đến quê chị Mộng Cầm, quê của Bích Khê rồi !". Chợt thấy anh lặng người chốc lát, tôi ân hận, sực nhớ mình đã gợi lại cho Hàn Mặc Tử nỗi đau xưa. Sau này, tôi có được thư của Chế Lan Viên viết cho tôi sau ngày giải phóng đất nước, cho biết ở Quy Nhơn người ta gọi con đường lên Gành Ráng, Quy Hoà, nơi có mộ Hàn Mặc Tử, là dốc Mộng Cầm. Chế Lan Viên tỏ sự bất bình về việc đó. Chế nói: "Đáng lẽ phải gọi là dốc Mai Đình mới phải".
Vậy Mai Đình là ai ? Người thiếu phụ ấy, vóc nhỏ mình gầy, không thuộc vào lớp người nhan sắc, nhưng tâm hồn chị đẹp xiết bao. Có sách viết rằng Mai Đình yêu thơ Hàn Mặc Tử, bèn trốn nhà đi từ quê Thanh Hóa tìm vào xin gặp. Mai Đình đúng là quê tỉnh Thanh, nhưng đã theo cha vào Phan Thiết. Từ đây, chị ra Quy Nhơn, nhờ người quen là Trần Kiên Mỹ, một bạn văn của Hàn Mặc Tử, đưa tới giới thiệu. Mai Đình yêu thơ Tử đắm say một cách kỳ lạ. Tôi chưa nghe chị nhắc tới Mộng Cầm bao giờ, nhưng chúng tôi đoán biết rằng chị đã rõ mối tình đau khổ của Hàn Mặc Tử, đã biết tài thơ lớn của anh ngay lúc còn ở Phan Thiết, vì cũng chính nơi đây, nơi Lầu Ông Hoàng này (một thắng cảnh của Phan Thiết), Hàn Mặc Tử gặp và yêu Mộng Cầm. Trong hoàn cảnh cô đơn buồn đau, Hàn Mặc Tử hết sức cảm kích trước mối tình của chị, nhưng lúc đầu anh nghĩ rằng chỉ là một mối tình vô vọng. Nhưng sau, trước tấm lòng tha thiết gần như hy sinh của Mai Đình, anh đã đáp lại mối tình ấy. Nên biết rằng lúc đó, bệnh phong hủi đã được khẳng định trên cơ thể, trên khuôn mặt của Hàn Mặc Tử. Những mảng ửng đỏ trên gò má, lông mi rụng hết trên đôi mắt không làm cho Mai Đình xa lánh. Lúc bấy giờ, chỉ có người thân trong gia đình và chúng tôi, những bạn thơ của anh đến với anh mà thôi. Tôi không tán thành việc thần thánh hóa tình yêu của Mai Đình, nhưng phải nhận rằng chị có một tấm lòng cao quý. Thời gian gần gũi chưa bao lâu thì Mai Đình phải từ giã người mình yêu, do quan hệ gia đình không thuận lợi. Từ đó về sau, tôi được biết Mai Đình đã trải qua những tháng năm vô cùng gian nan trong cuộc sống. Năm 1942, trong lần tôi nói chuyện về Hàn Mặc Tử tại câu lạc bộ Quảng Ích tại thành phố Sông Cầu, tình cờ tôi gặp Mai Đình, trông chị tiều tuỵ quá. Tôi biết rằng buổi nói chuyện của tôi đã đem lại cho chị một niềm an ủi nào đó. Sau hôm ấy, tôi không còn gặp lại Mai Đình nữa tuy tôi có ý định đi tìm chị. Trong lòng tôi, thương nhớ Hàn Mặc Tử càng khiến tôi thầm nghĩ không biết trên đường đời, Mai Đình có gặp ai là kẻ hiểu mình và trân trọng phẩm giá chân thực của mình không. Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc được một năm, tôi không ngờ được gặp lại Mai Đình tại nhà Chế Lan Viên ở phố Trần Hưng Đạo, trụ sở Hội văn nghệ Việt Nam. Thật là vui mừng được biết chị đã có gia đình hạnh phúc và riêng chị là "chiến sĩ thi đua toàn quốc" của ngành ngân hàng năm ấy. Trước khi mất một năm, Chế Lan Viên có gửi cho tôi một trang thơ của Mai Đình, trong đó có bài Ghen trăng chị nói đến tình yêu với Hàn Mặc Tử thiết tha đến chừng nào:
" Chị Hằng hẳn chị có bằng em chưa ?
Vì em là một nàng thơ,
Của chàng thi sĩ ước mơ mộng vàng,
Em có điệu nhạc du dương
Có đôi mắt ngọc để chàng say mê..."
Nếu anh quên mất lời thề,
Em đòi tất cả những gì của em !
Vì lòng em đã quá ghen,
Chị Hằng sao chị lại thèm duyên ta ?
Những đêm u ám trăng mờ,
Em buồn em sợ như là mất anh,
Cớ sao trăng lại ẩn hình,
Hay là trăng ở bên anh lúc này ?
Có chăng, anh hãy tỏ bày,
Để em bớt sợ những ngày còn xa..."
Sao Mai Đình không ghen với bao cô gái khác yêu thơ Hàn Mặc Tử mà lại chỉ ghen với trăng ? Quả là trong thơ Hàn Mặc Tử, vai trò của trăng đặc biệt quan trọng. Trong thơ anh, chúng ta luôn gặp trăng, càng về sau nỗi thất vọng càng tăng theo bệnh tình của anh thì trăng càng xuất hiện, càng như hiện diện thường trực trong thơ. Trăng trở nên một vật thể có linh hồn, có cuộc sống đối với nhà thơ. Trăng trở thành một ám ảnh từ trạng thái bình thường đến những biểu hiện ma quái. Trong Gái quê, bóng trăng sờ sẫm gối đã trở thành trăng vàng trăng ngọc về sau; đến lúc nhà thơ cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng, là lúc hồn anh bắt đầu chìm sâu vào vô thức. Hình như giữa nỗi sầu điên dại và ánh sáng trăng có gì như là một tương quan bệnh lý. Gần đây, đọc hồi ký của Papilon, người tù vượt ngục, tôi thấy có đoạn viết về những người điên trong bệnh viện tâm thần càng lên cơn nặng hơn mỗi lúc có tuần trăng sáng. Không rõ ở trường hợp Hàn Mặc Tử có trạng thái ấy không ?
Đối với Hàn Mặc Tử, có nhiều sự đánh giá tuỳ tiện. Một số bài viết trong miền Nam thời Mỹ - Nguỵ đã thêu dệt và ly kỳ hóa cuộc đời của Hàn Mặc Tử, hoặc đề cao một cách không chính xác tính chất tôn giáo trong thơ anh. Một số bài viết ở miền Bắc trong thời kỳ chống Mỹ nghiên cứu về Hàn Mặc Tử một cách thô thiển và sai lầm. Thơ của Hàn Mặc Tử bản chất trong ngần như ngọc mà ta từng gặp trong Đây thôn Vĩ Dạ hoặc Mùa xuân chín, chân chất như trong Gái quê. Đến khi anh không còn hy vọng gì về sự phục hồi sức khỏe bằng phương pháp trần gian nữa, anh đã dành những lời thơ cuối đời của anh hướng về cõi vô cùng. Khác với thơ Thiên chúa của Claudel, Hàn Mặc Tử đã nâng hồn thơ mình đến cõi thượng thanh khí, đến một vùng trời tinh khiết nào đó trong ước mơ, đến một cõi sống mùa xuân vĩnh hằng anh mong chờ, không chỉ cho riêng anh mà cả - và thiên hạ: tứ thời xuân tứ thời xuân non nước. Tâm hồn Hàn Mặc Tử vừa dịu dàng đôn hậu, vừa say đắm nhiệt thành. Tôi không bao giờ quên hình ảnh của anh, giọng điệu của anh khi anh ngâm thơ, một lối ngâm riêng anh có.
Nhà thơ lớn Mỹ La tinh Nicôla Ghiden thường khai thác những lời nói, những giai điệu dân gian để đưa vào thơ, tôi được biết Hàn Mặc Tử cũng quan tâm đến phương pháp ấy. Ví dụ, bài Trăng vàng trăng ngọc mở đầu bằng câu: Trăng, trăng, trăng là Trăng, Trăng, Trăng ! Câu thơ ấy được lặp lại hai lần nữa trong bài. Nhạc điệu lạ lùng ấy từ đâu mà có ? Trong những năm 30, trên đường phố Quy Nhơn có một người điên nhưng rất hiền, lại hay có những cử chỉ thương người một cách kỳ lạ. Anh ta người cao lớn, ăn mặc rách rưới, ngực áo đeo đầy những nắp bia, những nhãn hiệu hàng hóa màu sắc loè loẹt, tay cầm chiếc gậy ngắn, vừa đi vừa hát. Thỉnh thoảng, anh ta đứng lại, miệng nói không ngừng: "pat xi ma ! pat xi măng ! từng tằng ! tằng ! tằng, tằng, tằng, tằng !", nói xong, anh lại hát. Hình ảnh rất quen thuộc với mọi người ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử thường chú ý đến con người hiền lành ấy. Chính câu thơ nói trên được viết trên cơ sở câu nói vô nghĩa của người điên kia.
Năm 1942, tôi đang ở Sông Cầu, được tin có vụ kiện do anh Quách Tấn, nguyên đơn khiếu nại anh Trần Thanh Mai, với lý do anh Trần Thanh Mại đã sử dụng những bài thơ của Hàn Mặc Tử vào cuốn nghiên cứu của mình: Hàn Mặc Tử, thân thế và sự nghiệp, nhưng không xin phép Quách Tấn là người được Hàn Mặc Tử di chúc giao quyền quản lý. Vụ kiện trở thành vụ án văn học đầu tiên ở nước ta, báo chí từ Nam chí Bắc đều đăng tin và mọi người, ai cũng chờ đợi kết quả, tin ấy đã làm phiền lòng những người bạn thân của Hàn Mặc Tử. Từ Sông Cầu, tôi viết thư vào Nha Trang cho Quách Tấn và viết ra Huế cho Trần Thanh Mại, đề nghị hai anh đừng kiện nhau nữa, vì tôi không muốn tên Hàn Mặc Tử được nhắc đến trong một phiên tòa của chế độ thời ấy. Mấy hôm sau, anh Quách Tấn viết trả lời tôi: "...Nguyễn Hạnh Đàn hãy yên tâm, tôi tin rằng dưới suối vàng, Tử sẽ vui lòng về việc này..." (Trước cách mạng, tôi đăng thơ trên báo chí với tên ký Nguyễn Hạnh Đàn). Anh Trần Thanh Mại cũng viết gửi tôi, đại ý nói rằng việc kiện này là do Quách Tấn đưa ra chứ không phải anh, đồng thời anh Mại gửi tặng tôi tập sách. Tòa án Nam triều đã mở phiên tòa tại Thừa phủ ở Huế xét xử. Báo chí khắp nước đổ xô săn tin. Nguyên và bị cáo là hai nhà văn, kiện nhau về tác phẩm của một nhà thơ quá cố, chánh án giữ quyền xét xử cũng là một nhà văn, đó là Nguyễn Tiến Lãng, nhà văn viết bằng tiếng Pháp khá nổi tiếng và là em vợ của thi sĩ Tản Đà. Kết quả, Quách Tấn thua kiện (chứ không phải xử hòa như tạp chí Văn của Sài Gòn cũ đã viết).
Từ ngày Hàn Mặc Tử mất đến nay, tròn nửa thế kỷ. Phải chờ đến năm mươi năm sau, thiên tài trác tuyệt ấy mới được công nhận trong cả nước. Chúng ta vui mừng với sự đổi mới trong quan điểm đánh giá văn học của chúng ta, đồng thời cũng tiếc cho bao thế hệ phải chậm tiếp cận với một tài thơ hiếm có. Hôm nay, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, những ngọn cờ của Nhóm Quy Nhơn ngày cũ đã vắng bóng, nhưng tác phẩm của các anh đã trở thành di sản quý giá của dân tộc. Năm kia, khi Chế Lan Viên báo cho tôi biết Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử sắp ra đời có bài tựa của Chế, tôi vui mừng, nhân dịp ấy, tôi gửi cho Chế Lan Viên bài thơ tôi viết về người bạn lớn của chúng tôi, đoạn kết như sau:
"...Phải một nửa đường thế kỷ
Ánh sáng thơ anh mới về được với đời sau,
Tử thân yêu, hồn thơ anh chỉ một,
Hành tinh chật rồi, không chứa nổi hai đâu !".
11-1990
(Viêt vào dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử )

Nguồn trích: Tuyển tập Nguyễn Viết Lãm. - H. , 1997 (1.593);
KHPL: BĐ.04(91)
=======================================
Đăng nhập để trả lời
0

Đọc lại Mùa xuân chín của Hàn Mặc Tử


Mai Văn Hoan


Có rất nhiều bài thơ nói về mùa xuân nhưng không hiểu sao tôi cứ bị ám ảnh với “Mùa Xuân chín” của thi sĩ Hàn Mặc Tử. Ngay cái tiêu đề “Mùa xuân chín” đã khác lạ rồi. Trong “Bức tranh quê” của Anh Thơ ta gặp “Chiều xuân”, “ Đêm xuân”. Ở Xuân Diệu ta gặp “Xuân không mùa” và Chế Lan Viên ta gặp “Xuân”… Tất cả những tiêu đề đó đều rất quen thuộc nên ít gây ấn tượng. Tiêu đề “Mùa xuân chín” buộc ta phải nghĩ ngợi để tìm một cách hiểu. “Mùa xuân” sao lại “chín”? phải chăng mùa xuân là trái trên cây, là quả ở trên cành. Trên cành có quả xanh, quả chín. Mùa xuân cũng thế: có mùa xuân đang xanh và có mùa xuân đã vào độ chín. Hàn Mặc Tử là người đầu tiên có cách nói về mùa xuân độc đáo, mới lạ như vậy. Nhưng đó mới chỉ là suy đoán. Đọc hết bài thơ ta mới hiểu ngầm ý của tác giả.
Muốn hiểu chủ đề của “Mùa xuân chín” tốt nhất là ta thử làm phép so sánh, đối chiếu hai khổ thơ quan trọng sau đây:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

Khách xa gặp lúc mùa xuân chín
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng
Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang

Trước mắt chúng ta hiện lên hai bức tranh, hai khung cảnh gần như hoàn toàn đối lập nhau, hai khung cảnh hình như hoàn toàn đối lập nhau. Một bên “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”. Còn bên kia “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”. Cái “xanh tươi” của cỏ, đối với cái “chang chang” của nắng. Một bên “Bao cô thôn nữ hát trên đồi. Còn bên kia “Chị ấy năm nay còn gánh thóc”. “Cô” và “chị”, “Bao cô” và “Chị ấy”, “ Hát trên đồi” và “gánh thóc” bên sông… Một còn xuân xanh, một đã qua thời tuổi trẻ. Một bên đông đảo vui vẻ, một bên lặng lẽ cô đơn. Một bên hát hoà một cách say sưa. Bao cô thôn nữ đang hát những bài hát về tình yêu. Khi thì tinh nghịch như tiếng sáo thiên thai “vắt vẻo”, khi thì “hổn hển” như tiếng thở gấp của lồng ngực đang phập phồng. Khi thì “Thầm thì” như lời tình tự. Các cô thôn nữ hát một cách hồn nhiên, vô tư. Ở đây có sự hoà hợp giữa ngày xuân và tuổi xuân. Mùa xuân ở trên là mùa xuân đang xanh còn dưới kia là mùa xuân đã chín. Chị ấy đang gánh trên vai gánh nặng của cuộc đời. Chị cần mẫn, chăm chỉ, siêng năng như “con cò lặn lội bờ sông” như bà Tú trong thơ Tú Xương “lặn lội thân cò khi quãng vắng” Hàn Mặc Tử có ý nhấn mạnh chữ “còn”. Trong khi bao cô thôn nữ chơi đùa hát hò vui vẻ thì chị ấy “còn” gánh thóc, chị gánh năm này qua năm khác giữa cái nắng “chang chang” như vậy. “Chị” có vẻ đẹp riêng của “Mùa xuân chín”. Thi sĩ hết sức cảm phục nhưng đồng thời cũng hết sức cảm thông với chị. Từ hình ảnh chị ấy đang gánh thóc “Dọc bờ sông trắng nắng chang chang” mà Hàn Mặc Tử ngậm ngùi cho bao cô thôn nữ ở trên kia:

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.

Đó là quy luật ít ai cưỡng được. Thi sĩ biết vậy mà cứ tiếc thầm cho họ. Và biết đâu cũng như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử cũng tiếc cho cả tuổi xuân của mình. Xuân Diệu thì bộc trực hơn: “Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua. Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”. Hàn Mặc Tử cũng với ý ấy nhưng thể hiện kín đáo hơn. Nói cho cùng các thi sĩ đang nói hộ tâm trạng chung của mọi người. Vì ai mà chẳng muốn tuổi xuân của mình được dài thêm nếu “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” vì nói như Xuân Diệu: “Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật. Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian”… Trong khi tả cảnh mùa xuân vui tươi với các thi sĩ thường hay có những phút chạnh lòng như vậy. Ngày xưa Nguyễn Du vẽ cảnh mùa xuân thật sinh động với “Cỏ non xanh rợn chân trời” với “Dập dìu tài tử giai nhân”… Nhưng cũng chính Nguyễn Du đặt câu hỏi trước ngôi mộ của nàng Đàm Tiên (qua lời nàng Kiều):

Rằng sao trong tiết thanh xuân Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?

Cũng như vậy. Hồ Xuân Hương tả cảnh chơ idu trong ngày xuân với “Bốn mảnh quần hồng bay phất phới” với “Đôi hàng chân ngọc duỗi song song” và nữ sĩ hạ hai câu thật bất ngờ:

Chơi xuân ai biết xuân đang tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

Đó chính là sự gặp nhau của những tâm hồn lớn. Những thi sĩ vốn mang nặng “nỗi đau nhân tình”. Cái điều họ “Sực nhớ”, sực nghĩ, cái điều họ băn khoan… tuy nó khác nhau nhưng đều quy tụ trong tình yêu thương đối với con người - đặc biệt là số phận của người phụ nữ.



Nguồn trích
: Giáo dục và thời đại chủ nhật.- 1997.- Ngày 16 tháng 2 (1355);
KHPL: BĐ.04(91)
===============================================
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»