Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyển tập truyện ngắn - Đoàn Thạch Biền

39 trả lời, 3.196 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-30 00:40:14Ct.Ly>
ANH CHÀNG CÓ BỘ MẶT HỀ
 
Từ nhỏ đến bây giờ tôi vẫn thích xem những bộ phim của vua hề Charlot, dù là phim đen trắng. Tôi đã học được ở ông cách “tếu tếu” nghiêm trang khi viết truyện. Chỉ tiếc một điều tôi chưa học được cách im lặng mà vẫn khiến người ta bật cười như trong những bộ phim câm của ông. Truyện của tôi còn nhiều đối thoại, còn “nói” quá nhiều . Đấy là một khuyết điểm tôi chưa sửa chữa được.
Tôi đang cắm cúi đánh máy bảng kết toán cuối năm để trình giám đốc ký. Chợt có tiếng cười vang của các bạn trong phòng, khiến tôi phải ngẩng mặt nhìn lên. Một thanh niên lạ mặt đứng ngơ ngác ở giữa phòng, tay đang mân mê chiếc mũ nỉ màu nâu đỏ. Khuôn mặt anh có vẻ gì đó tếu tếu khó diễn tả. Bộ râu mép của anh đã cạo sạch, vẫn nổi lên một vệt đen ở dưới mũi trông như râu vua hề Charlot. Có lẽ thấy tôi nghiêm mặt không cười (tôi vẫn mang tiếng là "bà cụ non"), anh rụt rè bước đến hỏi:
- Xin lỗi, đây có phải là phòng kế toán tổng hợp?
- Đúng vậy ạ.
Tôi chưa kịp mở miệng, ba cô bạn đã đồng thanh trả lời rồi cười vang. Bây giờ tôi mới biết họ cười vì anh đi hai chân "chàng hảng" chữ bát. Tôi hỏi:
- Anh cần gặp ai ?
- Tôi muốn gặp trưởng phòng.
Anh móc túi đưa tôi giấy quyết định bổ nhiệm có chữ ký của giám đốc. Tên anh là Lê Hữu Nghiêm. Nghề nghiệp: kỹ sư điện tử. Chức vụ: Phó phòng kế toán. Chị trưởng phòng của chúng tôi đi vắng. Tôi mời anh đến ngồi đợi ở chiếc bàn của chị. Tôi vẫy tay gọi cô bạn đến cuối phòng, nói nhỏ:
- Phó phòng của tụi mình đó.
Lan trợn mắt hỏi:
- Mi định "hù" tụi tao hả?
Tôi lắc đầu . Nguyệt hỏi:
- Chắc anh ta thuộc loại con ông cháu cha gốc bự, chứ tướng đó xin vào làm nhân viên hợp đồng giám đốc cũng không nhận.
- Đừng coi thường. - Tôi nói - Ông ấy tốt nghiệp kỹ sư điện tử đó.
Hương bĩu môi:
- Bằng "dỏm". Tao nghĩ ông ấy đã tốt nghiệp lớp diễn viên hề.
Ba cô bạn lại che miệng cười khúc khích rồi nhỏ to nói chuyện. Tôi trở về bàn ngồi đánh máy tiếp. Thỉnh thoảng nhìn lên, tôi thấy anh vẫn ngồi im như pho tượng ở bàn trưởng phòng. Anh ngồi rất nghiêm trang nhưng trông cũng buồn cười. Một lúc sau, chị Tâm, trưởng phòng đi công tác về. Ba cô bạn vội ngồi vào bàn chăm chỉ làm việc.
Hai người trao đổi với nhau điều gì đó, rồi chị Tâm gọi chúng tôi đến giới thiệu với anh chàng có bộ mặt hề. Anh đứng dậy, lễ phép cúi chào từng người khiến ba cô bạn của tôi lại được dịp cười . Chị Tâm nói:
- Các em hãy làm quen với anh Nghiêm, phó phòng của chúng ta . Anh tuy biên chế ở phòng, nhưng lại làm việc bên giám đốc. Anh coi máy vi tính của xí nghiệp. Thôi các em về chỗ làm việc. Chị đưa anh Nghiêm đi giới thiệu với các phòng ban khác.
Đúng như lời chị Tâm nói . Hằng ngày anh Nghiêm chỉ tạt qua phòng một chút, để chị Tâm thấy mặt chấm công. Sau đó, anh đi đâu mất. Có lần tôi lên phòng giám đốc để trình lý báo cáo sử dụng vật tư trong tháng nhưng không gặp ông. Tôi ngó qua phòng bên cạnh để tìm ông. Trong căn phòng lắp kính, chạy máy lạnh, anh Nghiêm đang ngồi trước một dàn máy có màn hình nổi lên những con số như tivi . Tôi tò mò đứng xem. Anh Nghiêm thấy tôi, vội chạy ra mở cửa, mời vào .
- Tuyết muốn hỏi chuyện gì?
- Cái máy này là "bộ óc" của xí nghiệp phải không anh?
- Đúng vậy . Tuyết thắc mắc điều gì nó sẽ giải đáp ngay .
Tôi cười nói, tôi muốn biết tại sao lương của tôi thấp quá vậy? Anh Nghiêm hỏi tôi vào làm ở xí nghiệp được bao lâu, bậc lương mấy. Anh ngồi xuống máy nhấn nút, những con số hiện ra. Anh trả lời tại cơ chế quan liêu bao cấp cần tinh giảm biên chế mới được hưởng lương cao. Tôi nói như vậy chẳng cần máy tính tôi cũng biết, và để trêu anh, tôi hỏi:
- Về chuyện tình yêu, máy có giải đáp được không?
- Được chứ. Nếu Tuyết cung cấp đầy đủ dữ kiện về người Tuyết yêu, tôi sẽ cho biết chính xác lương hai người cộng lại đủ nuôi dưỡng tình yêu trong bao lâu .
Không biết anh nói đùa hay thật, tôi bỏ đi về phòng. Tôi kể cho ba cô bạn nghe về sự kỳ lạ của máy vi tính. Lan cười nói:
- Được rồi, tao sẽ nhờ ông ấy dùng máy vi tính tìm giúp tao một người chồng đúng "kích cỡ".
Chiều đó, khi ra về tôi thấy anh Nghiêm đứng lóng ngóng đợi ai ở góc đường. Tôi vừa đi ngang, anh nói:
- Tôi muốn thông báo với Tuyết, tôi đã tìm ra người yêu của Tuyết.
Tôi chưng hửng:
- Ai vậy ?
- Qua máy vi tính tôi được biết lương của tôi cộng với lương của Tuyết đủ nuôi dưỡng tình yêu trong một tháng.
Tôi phì cười vì anh chàng "mát" này. Nhưng không hiểu sao vẫn nhận lời đi uống nước với anh. Tôi ngượng đỏ mặt khi đi bên anh vào quán đông người. Có người tế nhị che miệng cười nhưng cũng có người cười hô hố nói:
- Vua hề Charlot tái xuất giang hồ.
Người ta thường nghĩ vượt qua những giọt nước mắt thật khó khăn, nhưng tôi lại nghĩ vượt qua những nụ cười diễu cợt còn khó khăn hơn. Người ta rất dễ yêu mến một anh hề trên sân khấu, nhưng một anh hề ngoài đời lại bị diễu cợt. Phải chăng vì đời sống đã có quá nhiều trò hề, nên người ta chán một anh chàng có bộ mặt hề?
Bây giờ tôi mới hiểu và thông cảm với anh Nghiêm. Anh đã phải chịu đựng nhiều vì bộ mặt hề của mình. Anh cho biết năm nay anh 38 tuổi, vẫn chưa lập gia đình. Vì cô nào nghe anh tỏ tình cũng phì cười, cho anh nói giễu chơi. Người ta khó mà tin được lời nói đứng đắn ở một bộ mặt hề. Tôi nói:
- Anh hãy thay đổi cách diễn tả để họ không buồn cười, như viết thư chẳng hạn.
- Không phải tại cách diễn tả mà tại quan niệm của tôi về tình yêu . Tôi nghĩ yêu nhau không phải là ngồi dựa lưng vào nhau rồi bốn mắt nhìn về bốn hướng. Yêu nhau là nhìn thẳng vào mắt nhau để giúp nhau lấy những hạt bụi trong mắt.
Thú thật, tôi đã phải bậm chặt môi để khỏi bật cười . Không biết có phải máy vi tính đã giúp anh có quan niệm đó?
Sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã quyết định nhận lễ hỏi của anh Nghiêm. Mặc cho ba cô bạn cùng phòng khuyên ngăn. Lan nói:
- Nhìn bộ mặt ông ấy mà mi tin ông ấy nói thật à? Ông ấy giễu mi đó.
Hương nói:
- Trên đời này chỉ có tình yêu đứng đắn chứ làm chi có "tình hề".
Nguyệt nói:
- Hay mi "yêu" chức phó phòng?
Tôi đều lắc đầu không trả lời . Con tim có lý lẽ của nó mà tôi không giải thích được. Nhưng anh Nghiêm hỏi tôi, tại sao không từ chối tình yêu của anh. Tôi nói:
- Anh có bộ mặt "hề". Em có bộ mặt "bà cụ non". Chúng ta sẽ bổ sung cho nhau . Con cái chúng ta vừa giống cha vừa giống mẹ, chúng sẽ có bộ mặt bình thường.
Anh Nghiêm xiết chặt tay tôi, sung sướng mỉm cười . Lần đầu tiên tôi thấy anh cười . Nụ cười trông thật thảm thương. Tôi thầm nghĩ thà anh đừng cười, như vậy còn hay hơn.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 07:45:48James Jee>
BIỂN TIGÔN
 
Tôi đã viết nhiều truyện về nước mắm, chẳng phải tôi là người dân xứ nước mắm mà chỉ vì hằng ngày tôi thường ăn nước mắm. Chúng ta dễ quên đi những điều thường ngày. Tôi nghĩ nếu có lần bạn thử không quên và hết sức chú ý đến chúng, điều thường ngày sẽ có khối chuyện hay xảy ra.
Hàng ngày thay mặt ông chủ, tôi thường liên hệ với các nhà lều sản xuất nước mắm ở Phan Thiết, nhưng đặt chân đến đó thì chưa bao giờ. Sáng nay, bận công việc đột xuất, ông chủ giao tôi theo xe tải từ Đà Lạt xuống Phan Thiết nhận hàng. Hàng của chúng tôi không phải là nước mắm mà là "xác mắm" - loại phân bón tối ưu cho các nhà vườn trồng légumes ở Đà Lạt. Bạn đã bao giờ thấy xác mắm chưa? Đó là xác những con cá nát bấy được vét từ đáy những thùng muối mắm. Thấy xác mắm, bạn sẽ quên nó ngay vì nó chẳng có gì đặc biệt. Nhưng nếu đã ngửi nó một lần trong đời, chắc chắn bạn sẽ không thể nào quên nó được.
Xe tải đến Phan Thiết lúc hai giờ chiều. Trời nắng gắt. Nhà lều chúng tôi đến lấy xác mắm nằm sát bên bờ sông Mương Mán nhưng không có ngọn gió nào từ mặt sông thổi lên. Tôi lấy khăn lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên mặt rồi bước vào văn phòng làm việc. Một người đàn ông tóc đã có những sợi bạc, đeo kính lão, đang ngồi xem sổ sách. Chếch về phía bên phải bàn làm việc của ông, một cô thư ký tóc dài đang ngồi đánh máy chữ lóc cóc. Tôi mỉm cười thầm nghĩ, ông chủ này chịu chơi, tuyển nữ thư ký "nhí" ghê!
- Chào ông, tôi đại diện cho ông Quang ở Đà Lạt xuống nhận hàng.
Người đàn ông đứng dậy, vồn vã bắt tay tôi:
- Mời cậu ngồi. Tôi đã nghe điện thoại ông Quang dặn giao hàng chiều nay. Nhưng tôi gom chưa đủ số lượng. Vậy cậu hãy chịu khó đợi đến sáu giờ chiều, chúng ta sẽ cân hàng và chất lên xe luôn.
Rồi ông già quay qua cô thư ký "nhí", nói:
- Con lấy cho ba hai chai nước ngọt.
Cô thư ký rời bàn máy chữ đi vào nhà trong. Tôi ngạc nhiên hỏi ông chủ:
- Cô ấy là con gái của ông?
Ông chủ cười hề hề:
- Nó là con gái út của tôi. Nó đang học lớp 12 trường Phan Bội Châu. Những lúc rảnh, nó thường phụ giúp tôi đánh máy mớ giấy tờ. Cậu mới xuống Phan Thiết lần đầu?
- Dạ phải.
- Vậy trong khi chờ đợi nhận hàng. Tôi sẽ nói con gái tôi dẫn cậu đi coi phố xá hay đi tắm biển.
- Cám ơn ông. Tôi thích tắm biển hơn, vì ở Đà Lạt chỉ có hồ với thác, không bơi lội được.
Cô bé bưng ra hai ly nước đá và hai chai nước ngọt để xuống bàn. Ông chủ nói:
- Ba phải đi lo giấy tờ chuyên chở hàng kẻo chiều tối công sở họ nghỉ việc. Con thay ba dẫn ông khách đây đi tắm biển, ông ấy mới ở Đà Lạt xuống chưa biết biển Phan Thiết nằm ở đâu.
Cô bé quay qua nhìn tôi. Tôi cố gắng nở nụ cười thật tươi để em không từ chối. Và may mắn thay, cô bé đã gật đầu.
Uống một hớp nước ngọt, ông chủ nói:
- Cậu đi tắm biển vui vẻ nghe. Sáu giờ chiều mời cậu về đây ăn bữa cơm gia đình rồi chúng ta cùng cân hàng.
Ông cầm túi xách đứng dậy, dắt chiếc xe Honda đỏ ra khỏi nhà. Cô bé hỏi tôi:
- Ông có biết bơi không?
- Em hỏi làm chi?
- Để em biết nên dẫn ông đến chỗ bãi biển cạn hay sâu.
- Tôi sợ chết đuối lắm. Em dắt tôi đến chỗ nào nước sâu đến... trái tim là được.
Cô bé mỉm cười đi vào nhà trong sửa soạn. Tôi đi ra chỗ xe tải đậu, nói tài xế đợi đến sáu giờ chiều mới nhận hàng. Tôi với lấy túi xách có đựng quần tắm và khăn lông, tôi đã dự trù mang theo từ Đà Lạt xuống đây đợi có dịp là đi tắm biển bơi lội cho thỏa thích.
Một lát sau cô bé chạy chiếc xe cúp màu xanh rêu đến bên chiếc xe tải. Tôi vội nhảy lên ngồi ở yên sau. Cô bé tắt máy xe, bước xuống:
- Ngồi vậy kỳ chết. Ông ngồi trước lái xe đi.
- Nhưng tôi đâu có rành đường. Chạy lạc thì sao?
- Ông khỏi lo, em ngồi sau chỉ đường cho ông.
- Trời đất! Đâu có ai ngồi sau mà "chỉ đạo" được người ngồi trước.
- Có chứ. Mấy ông "sếp" thường ngồi ghế sau xe hơi chỉ đạo cho tài xế ngồi ghế trước.
Tôi nhăn mặt ngồi lên yên trước, đạp máy xe nổ. Cô bé ngồi xuống yên sau, vỗ nhẹ vào vai tôi:
- Ông cho xe quay lại.
Theo sự hướng dẫn của cô bé, tôi cho xe chạy lòng vòng qua một vài đường phố chính. Thành phố này chưa xây dựng nhiều nhà mới. Những ngôi nhà cũ kỹ được quét lớp vôi mới nhưng những mái ngói vẫn để nguyên màu nâu đen. Xe chạy qua một cây cầu mới xây ra ngoại ô. Hai bên đường, nhà cửa cũng còn mới được xây dựng nên mái ngói còn đỏ tươi. Qua một đoạn đường đầy ổ gà, xe bắt đầu leo dốc lên một đỉnh đồi. Vừa lên đến đỉnh đồi, cô bé vỗ vai tôi.
- Dừng lại.
Tôi thở phào hỏi:
- Đến rồi hả?
- Đến rồi.
Tôi lái xe vào một chỗ trống, tắt máy, đứng nhìn quanh. Trời đất! Biển xanh thẳm ở tuốc phía xa dưới chân đồi. Trên sườn đồi cây cỏ dại mọc tùm lum không thể chạy xe được. Nếu muốn tắm biển phải đẩy xe xuống dưới đó rồi lại đẩy xe lên, chắc tôi sẽ bị "xụm bà chè". Trong khi tôi đang phân vân có nên tắm biển hay không thì cô bé lấy sợi thun cột mái tóc đang bị gió thổi bay tung lên. Em hỏi:
- Ông có biết ông đang đứng ở đâu không?
Tôi nhìn xuống chân mình, quan sát kỹ lưỡng rồi trả lời:
- Tôi đang đứng trên vùng đất pha đá.
Cô bé lắc đầu:
- Ông đang đứng trên nền Lầu Ông Hoàng được người Pháp xây dựng từ năm 1920 và bị sụp đổ năm 1945. Địa danh này nổi tiếng với chuyện tình của thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm.
Nóng mũi vì thấy kiến thức của mình thua cô học trò lớp 12, tôi nói gắt:
- Tôi không cần biết Ông Hoàng là ai. Tôi cũng không cần biết thi sĩ Hàn Mặc Tử yêu ai. Tôi chỉ biết tôi đang yêu...
- Ông yêu ai?
- Yêu... xác mắm.
Cô bé lững thững bỏ đi vào một vùng cây leo bò xanh rì mặt đất và nổi bật lên những chùm hoa đỏ hồng. Sợ cô bé bị rắn cắn hay bò cạp chích, tôi vội đi theo em để xem nếu có chuyện gì xảy ra, tôi sẽ về báo cáo với ba em thật chính xác: em bị rắn nào cắn hay bị loại bò cạp nào chích. Chứ nói vu vơ ba em sẽ coi thường tôi thiếu óc quan sát thực tế.
Cô bé dừng lại bứt một bó hoa đỏ hồng rồi quay lại hỏi tôi:
- Ông có biết hoa này tên gì không?
Tôi lắc đầu:
- Ở Đà Lạt tôi chỉ rành tên các loại rau củ, còn tên hoa thì chịu thua.
- Đây là hoa Tigôn, được người Pháp đem qua trồng ở Lầu Ông Hoàng. Lâu đài đã sụp đổ nhưng loài hoa vẫn còn. Thi sĩ T.T.Kh đã tả "Hoa dáng như tim vỡ" ông thấy đúng không?
- Không. Tôi thấy nó giống đầu con cá cơm bị vỡ khi làm mắm.
Cô bé thở dài:
- Đầu óc ông không biết mơ mộng.
- Em thông cảm cho tôi. Một người buôn bán xác mắm mà mơ mộng thì xác mắm sẽ "thơm lựng", bán không được thì tôi sẽ bị chết đói.
Cô bé trao bó hoa đỏ hồng cho tôi:
- Em tặng ông.
Tôi cầm lấy bó hoa thắc mắc hỏi:
- Em nói "Hoa dáng như tim vỡ". Vậy em tặng tôi loài hoa này làm chi? Tim tôi đâu đã... vỡ.
- Em tặng ông để cảnh giác ông đừng làm vỡ trái tim.
- Bộ tôi khùng rồi sao mà tự làm vỡ tim mình?
- Nhưng ông có thể làm vỡ tim người khác vì không biết mơ mộng.
Nghe cô bé nói nhức đầu quá, tôi đề nghị:
- Chúng ta hãy tìm chỗ gửi xe rồi đi bộ xuống dưới kia tắm biển.
- Chúng ta đã tắm biển rồi thôi.
Tôi trố mắt nhìn em:
- Chúng ta tắm biển hồi nào đâu?
Cô bé cười, vòng tay chỉ quanh mình:
- Ông không thấy chúng ta đang tắm trong biển hoa Tigôn sao? Tắm ở đây ông không sợ chết đuối vì hoa Tigôn chỉ mọc cao đến tim ông. Thôi trời sắp tối rồi, chúng ta hãy về kẻo ba em đợi cơm.
Cơm nước xong, chúng tôi bắt đầu cân những bao lát chứa xác mắm chất lên xe tải. Mãi đến tám giờ tối công việc mới hoàn tất. Xe nổ máy, tôi bắt tay chào ông chủ rồi leo lên xe ngồi bên tài xế. Tôi vừa đóng mạnh cửa xe lại thì cô bé chạy đến, trao qua khung cửa xe bó hoa Tigôn.
- Ông để quên cái này.
- Cám ơn em. Mong có dịp chúng ta sẽ lại cùng nhau đi tắm biển Tigôn.
Xe chạy. Tôi buồn buồn nhìn bó hoa đỏ hồng. Tôi tưởng em sẽ đổi ý tặng tôi một lít nước mắm nhĩ loại đặc biệt hay một ký khô mực loại xuất khẩu để làm quà kỷ niệm, nào ngờ vẫn chỉ là bó hoa Tigôn.
Xe chở xác mắm sẽ chạy suốt đêm để tảng sáng có thể giao hàng cho các chủ vườn légumes ở Đà Lạt. Thật kỳ lạ, khi xe chạy qua chỗ nào, những người đứng hai bên đường đều bịt mũi. Vậy mà tôi ngồi ngay trong xe lại ngửi thấy một mùi hương rất dễ chịu. Phải chăng hương hoa Tigôn đã át mùi xác mắm? Hay tại tôi đã biết... mơ mộng?
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 07:50:47James Jee>
BUỔI CHIỀU GIÓ NGÚT
 
Một anh bạn tặng tôi một tờ tạp chí cũ, xuất bản cách đây hơn hai mươi năm, trong đó có đăng một truyện ngắn của tôi viết khi còn là sinh viên.
Truyện ngắn này tôi đã quên mất từ lâu, được đọc lại tôi rất cảm động. Không phải vì truyện hay mà vì nó đã giúp tôi sống lại một thời trai trẻ. Những nhân vật trong truyện này hoàn toàn có thật. Một số họ đã mất và một số đã đi xa, rất xa. Bây giờ chỉ còn lại một mình tôi với những nhân vật.
Con người thì chết đi, nhân vật thì sống mãi. Không biết đấy là điều nên vui hay nên buồn cho người viết?
Trên bờ sông Hàn, những thân cây trơ trụi. Gió lạnh buốt thổi ào ạt trên mặt sông kín và lòng đường trống trải. Chiều thứ bảy, Tòa thị chính Đà Nẵng đóng cửa, màu vôi trắng nhợt nhạt bệnh hoạn và người lính co ro cầm súng đứng nép vào thân cột lớn. Trời sáng đục nổi bật những sợi dây điện đen thẫm, thấp chùng. Bão sẽ đến như một người khách quen thân đã báo tin trước và mọi người chuẩn bị đón chờ. Vỉa hè sạch bóng, những viên đá ở gờ đường nổi rõ những gân xanh. Không bóng người đi bộ. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy vút qua hoặc người phu xích lô cố rướn mình đạp chiếc xe vắng khách chạy ngược chiều gió. Mới 5 giờ chiều, bóng tối đã lẩn quẩn trong những cửa sổ khép hờ của nhà hàng xây trườn ra mặt sông và bóng tối đã lấp đầy miệng cống mở phơi dọc theo con lộ.
Thịnh hít hà thở mạnh, những hơi lạnh thấm vào người qua lớp áo len mỏng, chiếc áo len ngắn tay màu xanh rêu có những đường đan dọc nổi bật hình quả trám. Chiếc áo len đó sẽ không rời khỏi chàng trong suốt mùa gió ở đây .
Mình không ngờ cô ấy đã đến thăm vào một ngày lạnh như thế. Gió lùng bùng trên trần cói như những tiếng chuột chạy, cào phá giấc ngủ trưa của mình, dù đã trùm kín thân trong chiếc chăn bông dày nặng. Tiếng mẹ từ cửa sổ dưới bếp vọng lên, qua lớp chăn bông vẫn nghe rõ giọng miền quê Bắc kỳ đặc biệt của bà.
- Mày vẫn chưa dậy hả thằng khỉ, người ta đã mất công đến chơi mà mày không chịu ngồi dậy tiếp hả?
Phải thò chân ra khỏi chăn lúc này thật ngại. Chẳng thể đi đôi tất nhà binh trước mặt nàng. Chẳng thể để những ngón chân nứt nẻ cho gió hành hạ.
- Mẹ cứ nói con ốm là xong.
Không nghe tiếng mẹ đáp, có lẽ cô ấy đã về. Thực sung sướng được tiếp tục dỗ giấc ngủ... Chiếc chăn được kéo lên bất chợt, biến mất. Mắt chóa vì nắng chói và gió lạnh buốt. Chẳng còn nhìn rõ vật gì. Tiếng cười khanh khách của cô ấy nghe như ướt.
- Giỏi cứ ngủ tiếp đi .
- Trời ơi trả lại chiếc chăn đây .
- Xuống bếp mà lấy .
Chịu thua luôn, con gái gì mà nghịch như giặc. Nằm lì mãi ươn người, đành xỏ chân vào đôi guốc mộc kéo lẹt quẹt đi rửa mặt.
Bếp nồng thơm mùi ngô rang. Mẹ đang đứng khuấy ngô đều tay ở chiếc chảo gang sứt quai, những hạt ngô nở trắng bắn lên nổ lách tách vui tai .
- Ngô chín chưa mẹ?
- Xí, chưa mở mắt mà đã mở mồm.
Trên chiếc chõng tre ọp ẹp, nàng ngồi cuốn chăn quanh vai nhìn thẳng ra vườn trông như hình nộm.
- Ai hỏi cô mà cô trả lời ?
- Ai trả lời ông?
- Thế cô vừa trả lời ai đấy ?
Mẹ cười cầm đũa quất vào lưng mình.
- Thằng khỉ, đàn ông con trai gì mà chẳng biết nhường nhịn.
- Mẹ cứ bênh cô ấy .
- Thằng khỉ, tao không bênh con dâu thì tao bênh ai ?
Nàng bĩu môi:
- Xí, chưa chi đã làm tàng?
Mẹ đưa đôi đũa cho nàng:
- Con rang ngô hộ bác để bác đi chợ chiều . Còn thằng khỉ, mày không đi rửa mặt à?
Tiếng guốc lẹt quẹt của mẹ xa dần. Mình uể oải múc từng gáo nước đầy đổ vào chậu thau đồng. Nước lạnh buốt khiến không ai dám vò cả chiếc khăn trong chậu, chỉ khẽ nhúng một phần khăn rồi gấp đôi lại, vắt cho thấm đều .
- Con trai gì mà sợ nước như hủi .
- Cô có giỏi thử nhúng tay vào nước xem.
Nàng thản nhiên đi đến ảng nước rồi úp sát mặt xuống nước, những sợi tóc nâu nổi dật dờ phủ kín lòng ảng nhỏ. Một lúc nàng ngẩng đầu lên, mắt nhắm lại, mặt tái xanh sũng nước và đôi môi run rẩy. Trông nàng thật thảm hại, thật quyến rũ. Mình vội ôm chặt nàng vào người bối rối, cúi hôn đôi môi lạnh như một thìa kem.
- Tại sao em thích hành hạ em vậy ?
Nàng không đáp mắt vẫn nhắm nghiền. Không biết nàng đã khóc hay đấy chỉ là những giọt nước lạnh còn sót lại trên đôi má ửng hồng...
Tin. Tin. Tiếng còi xe làm cho Thịnh nhảy vội lên vỉa hè lát gạch vuông. Chiếc xe lướt qua, người tài xế còn quay mặt lại cằn nhằn. Thịnh nhe răng cười xin lỗi, xin lỗi. Những ống đèn xanh đỏ bên ngoài rạp hát đã bật sáng. Thịnh rảo bước trong lòng phố lác đác những người qua lại, đôi mắt lướt nhanh trên tờ tạp chí Văn Nghệ duy nhất ở thành phố này. Tập báo đó đã được chàng và các bạn gửi bán từ tháng trước. Chàng không dám đến xem báo đã bán được mấy số, chàng sợ ông chủ nhận ra chàng là người đã đến gửi báo và sẽ trả lại những số báo không bán được. Chàng không có can đảm ôm xấp báo đi một mình ngoài đường. Thực xấu hổ, chàng nghĩ vậy, nếu người ta nhận ra chàng là người đã làm những số báo ế ẩm đó. Chàng rất thích viết văn, nhưng nếu có người lạ nào biết chàng đã viết văn, chắc chàng sẽ ngượng chín người. Vì vậy chàng đã ký rất nhiều bút hiệu và ngay đối với bạn bè, một đôi bài chàng vẫn không dám nhìn nhận mình là tác giả, chàng thường nói tránh của một người quen gửi đăng. Người ta chưa là một nhà văn khi người ta còn xấu hổ vì được gọi là một nhà văn. Thịnh biết vậy nhưng chàng đã an ủi, chàng đâu có muốn trở thành một nhà văn, chàng chỉ thích viết. Viết thì ai chẳng cầm bút viết được, nếu chịu khó cố gắng một chút. Mặc dù bút hiệu chàng được in cùng một cỡ chữ như tên các bạn trên bìa tạp chí, nhưng chỉ lướt mắt qua, chàng thấy ngay tên chàng in rõ ràng và nổi bật trên chiếc bìa màu xanh da trời. Thịnh vội rời nhà sách, chàng thầm nghĩ số báo sau phải cố quen in tên chàng ngoài bìa.
Thành Ký - cái tên ấy cho biết ngay chủ nhân của quán là người Tàu. Một đôi vợ chồng trẻ đứng sau quầy pha chế các thứ nước uống và hai cô em gái của người vợ, thay nhau bưng đến cho khách những ly trà nóng, những tách cà phê với những chiếc thìa nhỏ khuấy đường mạ kền sáng loáng và những đĩa bánh pâté chaud. Đây là chỗ Thịnh thích ngồi nhất trong thành phố này vì không có nhạc, vì được nhấm nháp những cánh hoa cúc khô héo, đắng chát trong ly trà vàng đục ngút hơi . Không bao giờ chàng bỏ đường hay vắt chanh vào những ly trà ngát hương đó, chàng muốn giữ cái vị đăng đắng ở đầu lưỡi mỗi khi uống một ngụm trà. Chất đắng sẽ làm cho chàng sảng khoái và những hơi thuốc lá trở nên ngọt dịu. Một lý do khác khiến chàng thích đến đây vì có ngôi nhà thờ lớn đối diện với quán. Ngồi trên chiếc ghế đặt ngoài hiên, chàng có thể thấy tượng Chúa đứng dang tay trên bệ cao và mỗi khi nghe những hồi chuông vang lên báo hiệu giờ tan lễ buổi chiều, chàng thường ngất ngây. Chàng không có niềm tin tôn giáo nhưng chàng đắm say vẻ đẹp tôn giáo. Những quyển kinh thật đẹp với chiếc bìa bọc da đen bóng và những dải lụa đỏ hồng ló ra ở mép sách khiến chàng chỉ muốn nhìn chúng, chứ không thích mở đọc.
Nhà thờ có vòm cong uy nghi, những cửa sổ kính lắp ghép đầy hình màu đã quyến rũ Thịnh đến ngắm nghía trong những ngày không biết đi đâu. Chàng muốn xin cha sở cho chàng giúp việc quét dọn nhà thờ, lau chùi ảnh tượng để đem đến chàng được ngủ một mình trên chiếc ghế dài mặt gỗ nâu nhẵn, các con chiên thường ngồi hành lễ. Vẻ vắng lặng trong nhà thờ lớn rộng sẽ giúp giấc ngủ đến với chàng dễ dàng, không phải trằn trọc khó khăn như những đêm nằm ở nhà chật hẹp. Nhưng chắc chắn cha sẽ không những từ chối lời đề nghị của chàng mà cha còn không muốn chàng đứng trong sân nhà thờ nữa. Cha chẳng dại gì để một con chiên ghẻ đi thong dong vào một chuồng chiên lành mạnh. Nhà thờ thì tuyệt đẹp rồi, nhưng nó vẫn có điều làm cho chàng tiếc là thiếu một mái hiên, một chỗ trú chân cần thiết cho con chiên vào những ngày mưa. Người ta không thấy dáng vẻ tội nghiệp của những con chiên bị ướt hay sao ?
Ly trà đã được Thịnh uống cạn, chàng muốn gọi thêm một ly nữa, nhưng ngại ly trà uống thêm sẽ làm mất hương vị đậm đà của ly đầu . Giá cô ấy ở đây mình sẽ tìm thấy dễ dàng hương vị thơm ngon của ly thứ hai. Nàng cũng rất thích uống trà cúc. Chỉ cần nghe nàng xuýt xoa hương trà thơm ngát, mình cũng nhận ra được hương vị ngọt đằm còn đọng trên đôi môi khô. Mình không ngờ nàng đã đến thăm vào một ngày lạnh như thế, một ngày chẳng ai muốn rời khỏi nhà. Đi bộ trên đường vắng lúc đó, gió sẽ cuốn hút thân thể lạnh run và xoay tròn như một chiếc lá lìa cành.
Mình thật quá quắt đối với nàng. Có lẽ tại mất ngủ. Gió chạy lùng bùng trên trần cói suốt đêm qua và cả buổi trưa, không sao chợp mắt được. Mặc cho mẹ gọi, mình giả lơ để dỗ giấc ngủ, mí mắt khô cộm chẳng còn muốn nhìn ai. Sự tinh nghịch của nàng đã khiến mình tỉnh táo. Gió như gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt đánh thức những tế bào ngầy ngật và giọng cười của nàng như một điệu nhạc vui, giúp mình đứng dậy xỏ chân vào quai guốc dễ dàng. Có quá nhiều nam tính hay nữ tính trong cách nói chuyện của nàng cũng không hiểu nữa. Chỉ biết nàng bướng bỉnh và nói ngang như cua. Đáng lẽ phải ngăn không để cho nàng úp mặt vào ảng nước, không nên khuấy động tự ái ao tù của nàng. Cái trán cao và những gân xanh nổi hai bên thái dương cho biết nàng là người cương quyết và cứng đầu. Nếu có lời thách đố của mình, nàng sẽ cầm dao đâm thẳng vào tim nàng dễ dàng như mình quẹt diêm châm điếu thuốc. Như có lần ốm liệt giường, nàng đến thăm thấy mình nhăn nhó uống từng thìa thuốc đắng một cách khó khăn, nàng đã bật cười. Mình giận nói:
- Cô uống thử xem rồi có nhăn mặt khóc không?
Nàng đã cầm cả chai thuốc uống luôn một hơi bất kể thuốc chữa bệnh gì. Mình hốt hoảng năn nỉ nàng ói ra, nhưng nàng đã bỏ về chẳng thèm nói một lời. Cũng may thuốc đã vô hiệu trước cái tính bướng bỉnh của nàng.
Thật buồn cười khi nghe nàng gọi mình là "cái Thịnh". A, mình đã nhút nhát hơn con gái trong tình yêu! Mình cộc cằn, thô lỗ, chẳng biết nói lời dịu ngọt với người tình, chẳng biết an ủi khi nàng khóc. Mình chỉ biết hét to như một cái máy phóng thanh khi giận dữ...
- Ngồi lâu chưa ?
Thịnh ngước nhìn người đứng trước bàn. Một người bạn cùng làm báo với chàng, anh thường viết những bài lý luận văn nghệ cho tờ báo .
- Mới uống xong ly trà, ngồi xuống chơi .
Người bạn kéo ghế ngồi, đánh diêm châm thuốc. Thịnh hỏi:
- Uống gì?
- Như vậy ?
Chàng đưa hai ngón tay ra dấu với người hầu bàn.
- Cho hai ly trà cúc nóng.
Người bạn sau khi trình bày về tình hình tài chính eo hẹp của tờ báo, hỏi chàng đã vẽ xong cái bìa cho số báo tới chưa và khuyên chàng đừng vẽ hình thiếu nữ như số báo trước nữa . Chàng cười, nói:
- Cậu nghĩ in hình đàn bà con gái là nguyên nhân khiến tờ báo chúng ta ế ẩm?
Người bạn lắc đầu:
- Tôi không tin dị đoan, nhưng thay đổi tranh bìa biết đâu báo sẽ bán chạy .
- Vậy cậu muốn vẽ cái gì?
- Tranh vẽ phải nói lên được nội dung của tờ báo . Cậu cũng biết chúng ta không viết về các vấn đề của phụ nữ, đã có những tờ tuần báo phụ nữ làm chuyện đó. Chúng ta viết về sự phản kháng của tuổi trẻ, sự tàn ác của chiến tranh, sự băng hoại của xã hội khi bọn lính Mỹ vào đây .
- Làm sao trên một bìa báo, tôi có thể vẽ đầy đủ những điều cậu nói. Tôi không phải là Picasso để có thể vẽ những bức tranh như Guernica .
Người bạn hít một hơi thuốc dài rồi thả khói bay um.
- Cậu cần phải cố gắng. Cố gắng không ngừng nếu chúng ta còn muốn sáng tạo một nghệ thuật mới .
Đột nhiên tiếng chuông nhà thờ vỡ oà trong buổi chiều nín lặng. Thịnh có cảm tưởng đã có những mảnh đồng rơi vỡ trên mặt đá cứng và âm thanh được gió thổi bay tơi tả như nắm giấy xé vụn trẻ nhỏ tung cao. Tiếng chuông làm cho Thịnh quên những lời thuyết giảng của người bạn ngồi bên. Chàng đã bị mê hoặc bởi âm thanh vỡ vụn đó và những cơn gió liên tiếp thổi thốc từ lòng đường vào quán nước khi bay ra đã đem theo lời nói của bạn chàng.
Hôm nàng đến gió còn dữ hơn hôm nay. Mình nghe rõ tiếng gió chạy trên trần cói như bầy chuột hốt hoảng trông thấy dáng mèo. Mùi ngô rang cháy khét trên bếp đã loãng tan nhanh chóng trong gió nhạt như hạt muối rơi vào ảng nước đầy. Ôm chặt nàng trong tay, mình chẳng ngửi thấy gì ngoài hương tóc đẫm ướt. Không nên khơi dậy tự ái của nàng, mình vẫn thường nhủ vậy nhưng rồi vẫn quên đi lời khuyên, như quên đi những giấc mơ. Cái trán cáo kia như Monalisa, cái trán bướng bỉnh luôn luôn muốn hơn mọi người. "Tại sao em lại thích hành hạ em vậy?" Câu hỏi đặt ra cũng loãng ta trong gió câm. Mình không biết đấy có phải là tình yêu nàng dành cho mình, thứ tình yêu biểu lộ bằng cách tự hành hạ và chối bỏ tình yêu. Còn những giọt nước trên má nàng chắc chắn phải là nước mắt. Nàng đã khóc, mình tin vậy, nếu không đầu óc bướng bỉnh kia phải vỡ tung như nồi nước sôi đậy nắp kín bưng...
Người bạn đặt tay lên vai chàng, khẽ lay:
- Lý thuyết của tôi không phải để ru ngủ. Cậu hiểu những điều tôi vừa trình bày không?
Thịnh gật gật đầu:
- Hiểu chứ, nhưng không rõ lắm.
- Không sao, tôi sẽ viết thành một bài dài đăng trên tạp chí của chúng ta trong số tới. Đọc nó, cậu dễ lĩnh hội tư tưởng của tôi hơn là nghe .
Môi nàng lạnh như một thìa kem và rõ ràng mình đã ngửi thấy mùi hương của những trái dâu tây chín đỏ trên đôi môi nàng.
Người bạn đứng dậy, cầm bao thuốc của chàng bỏ vào túi.
- Tôi lấy bao thuốc nghe. Tôi về trước cho kịp chuyến đò, chốc nữa cậu ghé tới nhà Hoàng lấy bài cho số tới .
Thịnh nhìn người bạn đi nghiêng ngả ngược chiều gió, tóc anh dài phủ gáy bồng lên rồi xoắn lại như một tàn cây olive trong tranh Van Gogh. Anh phải qua một chuyến đò và đi thêm một chuyến xe lam nữa mới về đến nhà. Không nhìn thấy dòng sông nhưng Thịnh biết lúc này nước sông lạnh băng, gió thổi ngút mặt sông rộng và khoang đò không mui che chắc chắn sẽ làm bạn chàng bật tiếng ho.
Thịnh đứng dậy đến quầy tính tiền, mua thêm một bao thuốc rồi rời khỏi quán. Những bóng đèn tròn tỏa ánh sáng vàng đục từ những cột điện cao ở vỉa hè bên kia, không hắt ánh sáng qua nổi lòng đường đen thẫm. Chàng bước vội trên vỉa hè tối, đế giày cứng nện xuống mặt xi-măng những tiếng ngắn, thô. Đôi giày chàng mang là giày nhà binh đi phép của người bạn lính đã cho chàng vào tháng trước, giày còn mới, da chưa mềm, nên nhiều lúc chàng bước đi khập khễnh tức cười .
Sợ bão đến bất chợt nên các cửa hàng ở khu phố chính trước chợ Hàn đã đóng cửa ngay khi buổi tối bắt đầu. Trời lạnh căm, Thịnh đã hơi cảm thấy đói bụng, dù mới uống xong hai ly trà cúc nóng.
"Mày vẫn chưa chịu dậy hả thằng khỉ." Nhiều lần mình đã nói mẹ đừng gọi như thế nữa . Quê quá! Nhưng bà nào có nghe lời mình. Mẹ vẫn khư khư gọi mình là thằng khỉ như khư khư mặc chiếc áo bông đen vá chằng chịt trong suốt những mùa đông xa quê nhà. Mình cũng đã nói mẹ đừng gọi nàng là con dâu. Chuyện tình giữa mình và nàng chưa đi đến đâu, vậy mà mọi người đã thay mình bàn đến chuyện hôn nhân một cách rất nghiêm túc. Mẹ nói:
- Đừng yêu thương vớ vẩn nữa thằng khỉ, mày lớn rồi lấy vợ đi để tao có cháu nội bồng. Cả họ còn ở ngoài Bắc chỉ có một mình mày vào đây, phải lo liệu sớm đi cho ấm thân.
Nghe mẹ nói thật dễ. Cưới nàng xong thì tình yêu sẽ đến. Nhưng tình yêu không đến thì sao ? Mẹ nói:
- Nó không đến thì cũng đã xong. Khi mày bồng một thằng khỉ nhỏ trên tay, mày sẽ hết thắc mắc!
Như thế mọi sự, kể cả tình yêu, rồi cũng qua đi bình thản như những ngày tươi trẻ.
Thịnh dừng lại trước cánh cửa gỗ đóng kín của căn nhà người bạn gái. Một bên cửa là khung kính lớn có nứt một đường dài, bên trong có gắn những tấm ảnh chụp làm mẫu đã cũ, các góc ảnh rơi đinh găm uốn cong như tổ sâu kèn. Tiệm chụp ảnh này từ lâu đã ngưng hoạt động nhưng trên tường vẫn còn chữ photo Thanh màu xanh nhạt chưa phai. Thịnh gõ mạnh từng tiếng rời vào cánh cửa gỗ, không nghe tiếng đáp lại ngoài tiếng gió ù ù bên tai. Chàng cầm nắm cửa giật liên hồi .
- Có ai trong nhà không? Có ai trong nhà không?
Tiếng đáp lại nghe hụt hẫng:
- Ai đấy ?
Thịnh hét:
- Tôi đây .
Cánh cửa bị gió thổi bung khi người trong nhà vừa kéo then cài. Thịnh bước vội vào nhà rồi quay lại giúp người bạn gái đóng chặt hai cánh cửa . Nàng nói:
- Tôi không nhận ra tiếng ông.
Chàng nói:
- Tiếng gió đấy, vì ngoài đường chỉ có gió.
- Còn ông nữa chi ?
- Tôi cũng là gió.
Nàng cười:
- Không khéo tôi sẽ bị thổi bay mất.
Chàng nhún vai:
- Tôi chỉ là ngọn gió tù.
Nàng kéo ghế mời chàng ngồi. Chiếc ghế cổ duy nhất còn sót lại trong căn nhà làm bằng gỗ đen nhánh, có chỗ dựa cao đan mây cong vòng. Chàng rất thích chiếc ghế cổ này và đã say mê vẽ nó trong một bức tranh tĩnh vật, để nói ánh sáng còn tỏa ra từ màu đen và sức sống còn tỏa ra từ những đồ vật cũ. Nhưng chàng đã thất bại, bức tranh chỉ nói lên vẻ tiều tụy thảm hại của tài năng chàng. Có lần chàng định vẽ chân dung cô ấy ngồi trên chiếc ghế này, nhưng chàng đã bỏ ý định đó ngay vì nghĩ vẻ bướng bỉnh của nàng cộng thêm vẻ bướng bỉnh không chịu chết của chiếc ghế, sẽ làm cho tranh của chàng trở nên bướng bỉnh khó coi. Người bạn gái vào trong, bưng ra cho chàng một tách trà còn vương những sợi khói mỏng. Nàng kéo chiếc ghế ngồi đối diện với chàng qua chiếc bàn nhỏ trước kia dùng để ghi chép biên lai chụp ảnh.
- Nhà còn cà phê, ông uống không tôi đi pha ?
- Cám ơn, tôi uống trà được rồi .
Nàng giấu hai bàn tay vào hai ống tay áo len dài .
- Trời gió thế này mà ông chịu khó đến đây có việc gì vậy? Lại muốn gỡ rối tơ lòng phải không?
Chàng bật cười:
- Khỏi, khỏi, tơ lòng của tôi thẳng tuột. Tôi đang muốn nó rối bung đây.
Rồi chàng kể lại buổi chiều gặp Trí và anh đã nhờ chàng đến đây, lấy bài cho số báo tới. Nàng nói:
- Tôi chẳng viết được gì mấy lúc gần đây.
- Cố gắng lên chứ bạn, định bỏ cuộc sao?
- Cũng muốn vậy, đã thấy chán cuộc chơi chữ nghĩa.
- Tại sao vậy?
- Không muốn sống bằng ảo tưởng nữa.
- Có thật thoát được ảo tưởng khi bỏ cuộc?
- Câu hỏi của ông khó trả lời thấy mồ. Ông thử trả lời câu hỏi của ông xem có được không?
Chàng đưa mắt nhìn người bạn gái, những giọn gió lùa qua khe cửa sổ thổi tóc nàng bay lõa xõa trên trán cao. Lại cái trán cao bướng bỉnh. Tất cả những cô gái chàng thân đều có cái trán ấy, còn trán chàng thấp tẹt trông ngu đần kinh khủng. Chàng đã quen Hoàng từ những ngày còn học chung lớp ở trường trung học Phan Châu Trinh. Nàng ít nói lầm lì như một thỏi nam châm và chàng cũng vậy. Hai người hiểu nhau rất rõ ràng và đấy chính là lý do họ chẳng thể yêu nhau. Tự ái hay lòng ích kỷ đã khiến họ chẳng ai chịu biến mình thành một cây kim cho người kia cuốn hút. Họ yêu nhau bằng đầu óc sáng suốt của mỗi người, nên chẳng bao giờ họ thật sự gần nhau như hai đường tàu mãi mãi song song dù cùng chạy về một hướng. Chàng vẫn thường kể cho nàng nghe những mối tình của chàng để nàng giúp ý kiến và nàng cũng thường nhờ chàng cho nhận xét về những người yêu của nàng. Giữa họ nếu có một mối tình thì đó là tình yêu khốn khổ, vì họ đã yêu nhau qua những mối tình của chính họ đối với người khác. Những mối tình riêng của mỗi người (họ thường kể cho nhau nghe) đều đi đến đổ vỡ, nên họ cảm thấy vẫn cần có nhau dù chẳng thể yêu nhau .
Có một chuyện chàng đã giấu người bạn gái, đó là chuyện cô ấy. Không phải chàng thiếu thành thật mà vì chàng không biết kể chuyện ấy như thế nào. Nó chưa là một chuyện tình, nó chưa là một cái gì cả. Lãng mạn. Chắc người bạn gái sẽ nói thế, khi nghe chàng tỉ tê tâm sự về cô ấy đến thăm vào một ngày gió. Lãng mạn, ừ thì tôi lãng mạn. Vậy cứ để cho tôi tiếp tục âm thầm lãng mạn một mình.
- Ông nghĩ gì mà nhăn nhó dữ vậy ?
- Tại câu hỏi của bạn.
- Của tôi ? Phải nói của ông mới đúng chứ.
- Bây giờ tính sao, nhất định bỏ cuộc à?
- Nhất định.
- Cầu mong bạn sẽ sống thoát được ảo tưởng khi bỏ cuộc, còn tôi sẽ tiếp tục viết để hy vọng được sống trong ảo tưởng.
- Không mỉa mai chứ?
- Thực tình.
- Không giận chứ?
- Tại sao phải giận?
- Tôi cũng nghĩ vậy. Tai sao phải giận, dù chúng ta không còn đi chung đường, nhưng chúng ta vẫn còn là bạn.
Không nên bàn cãi thêm với nàng lúc này. Cũng như cô ấy, nàng rất cứng đầu và chỉ có niềm im lặng mới mong thay đổi được nàng. Thịnh đứng dậy chào về. Chàng tự tay hé mở cửa và lẻn ra ngoài như một ngọn gió thoát. Khi ôm chặt cô ấy trong tay, cúi xuống hôn đôi môi lạnh rồi mình cũng chẳng biết nói gì với nàng. Im lặng để hiểu nhau. Im lặng, có thật, để hiểu nhau.
Đêm mới bắt đầu, con đường Phan Châu Trinh đã vắng ngắt như lúc nửa đêm. Thịnh loạng choạng bước đi theo chiều gió hút. Chàng bậm môi cố rít những hơi thuốc mỏng nhạt thếch vào phổi. Điếu thuốc lập lòe bay lả tả những tàn lửa đỏ vào mặt bỏng rát. Thịnh nhả điếu thuốc rơi xuống mặt đường. Tự nhiên chàng thèm nghe một tiếng động ngoài tiếng gió tru liên hồi. Chàng hét lên "Tin, tin" như tiếng còi xe ban chiều rồi bật cười hặc hặc.
Hôm nàng đến gió còn dữ hơn hôm nay nhiều và mình không ngờ, mình thật sự không ngờ...
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
CHIẾC PHONG CẦM TRONG NHÀ THỜ CỔ
 

Nơi tôi ở trọ gần một nhà thờ. Mỗi buổi chiều, sau khi ăn cơm xong, tôi thường ngồi ở ghế xích đu trước hiên nhà, nhìn thiên hạ đi lễ và chờ đợi tiếng chuông vang lên báo hiệu buổi lễ tối bắt đầu. Không hiểu sao tiếng chuông kia quyến rũ tôi rất nhiều. Như con chó của Pavlov đã có phản ứng ứa nước miếng mỗi khi nghe tiếng chuông rung dù không có miếng thịt trước mặt, tâm hồn tôi cũng có phản ứng khát khao mãnh liệt một đức tin mỗi khi nghe chuông nhà thờ đổ, dù tôi không phải là một tín đồ Thiên Chúa giáo.
Buổi chiều nay trời quá nóng. Bữa ăn chiều xong đã lâu. Ngồi đợi mãi vẫn chẳng thấy các con chiên đi lễ và cũng chẳng nghe tiếng chuông đổ, tôi uể oải đi ra biển hóng gió. Con đường dẫn ra biển phải đi vòng phía sau nhà thờ và ngang qua những dãy nhà lá chất đầy những chiếc rổ nhỏ được người lớn, trẻ em đua nhau đan, để bán cho các nhà thầu buôn cá hấp đem lên các tỉnh ở miền cao nguyên. Vượt qua một cồn cát đầy những cây xương rồng hoa nở đỏ ối, tôi đối diện ngay với mặt biển xanh thẩm. Lẫn trong ngọn gió mát từ ngoài khơi thổi vào, thỉnh thoảng có mùi tanh nồng của những con cá óc nóc nằm chết trên bờ gần mé nước. Tôi tiếp tục đi bộ thẳng xuống nơi có miếu thờ cá ông, nơi đó không khí trong lành hơn, vì xa khu dân chài đông đúc.
Trên bãi cát phẳng mịn có nhiều chiếc ghe được kéo lên nằm chờ con nước. Tôi đến ngồi trên một lưng ghe đen bóng, che gió châm thuốc hút, rồi nhìn chăm chăm mặt biển êm. Tôi thầm mong mình sẽ gặp con K. như nhà văn Ý Dino Buzzati đã mô tả. Theo truyền thuyết, con K. là một loài quái vật sống ở biển, nó luôn luôn sát hại kẻ nào đã lỡ nhìn thấy đó, dù cho kẻ đó có tìm mọi cách để chạy trốn. Tôi tưởng tượng con K. có đôi mắt thật lớn (tôi luôn luôn thích những đôi mắt lớn) và rồi chúng tôi sẽ im lặng nhìn nhau trong suốt đêm nay. Phải có một cái gì theo đuổi mình suốt đời dù là kẻ thù (như con K.) tôi thấy đời sống cũng đỡ tẻ nhạt.
- Chị xem ông kia tức cười không?
- Um, để người ta ngồi suy nghĩ.
Chắc tôi không quay lại nếu tôi không nghe tiếng "Um" lạ tai đó. Có hai chị em gái đang đi vòng phía sau chiếc ghe tôi đang ngồi. Tôi cười hỏi cô em nhỏ:
- Trông tôi tức cười lắm sao?
Cô nhỏ giơ tay chỉ.
- Tóc ông bay trông giống như con gái.
Cô chị cú lên đầu em nhỏ rồi nhìn tôi.
- Nó liếng lắm, xin ông đừng chấp.
Lúc này tôi mới nhận ra cô chị chính là người thường mặc áo dài trắng đi lễ ngang qua chỗ tôi ăn cơm. Em là một con chiên ngoan đạo và tôi thường nói với bạn bè: trông khuôn mặt dịu hiền của em, chắc lớn lên em phải đi tu, vì đời sống trần tục này không có chỗ nào dung chứa khuôn mặt đó mà không làm nó hư hỏng đi. Tôi hỏi cô chị:
- Chiều nay em không đi nhà thờ?
- Dạ em đã đi lễ buổi sáng. Ông thường đi chầu buổi chiều?
- Không. Tôi thường thấy em đi ngang qua nơi tôi ở trọ.
- Vậy ông là người ở xa đến đây?
- Phải.
- Nơi đây buồn quá trời, ông đến đây làm gì?
- Tôi đến để "bắt ốc hái rau" sống qua ngày.
- "Bắt ốc hái rau", nghề gì kỳ vậy?
- Tôi cũng không hiểu nữa. Một ông bạn người Huế nói việc làm của tôi như vậy và tôi cũng chỉ biết vậy. Có lẽ ông ấy muốn ám chỉ việc làm của tôi rất nhàn và chẳng kiếm được bao nhiêu tiền.
Cô bé cười :
- Làm công việc nhàn thật khỏe. Em cũng mong được đi "bắt ốc hái rau" như ông.
Tôi lắc đầu cười.
- Chẳng khỏe gì đâu. Ðói lắm!
Những nụ cười đã giúp chúng tôi nói chuyện với nhau cởi mở hơn. Cô bé hỏi tôi đã thấy thích quận lỵ nhỏ bé này chưa. Tôi nói: "Người ở đây nhiều tình nghĩa lắm!" Em nói: "Ông định "mọc rễ" luôn ở đây không?". Tôi cười đáp: "Nếu nhà em còn đất, tôi sẵn sàng "mọc rễ" ở đó". Cô bé vội cúi đầu, tóc xõa che lấp khuôn mặt. Một lúc sau ngẩng mặt lên, em hỏi lảng sang chuyện khác.
- Khi nãy gặp ông, em thấy ông nhìn chăm chăm như muốn tìm kiếm cái gì ở biển vậy?
Tôi không biết nói với em tôi đã tìm kiếm cái gì. Tôi chẳng thể nói ra ý định muốn gặp con K. kỳ quặc. Nhưng sợ hết chuyện nói, cô bé sẽ đòi đi về, nên tôi đã bịa ra tôi đã đánh rơi một vật quí giá xuống biển và tôi tin biển sẽ đem trả lại tôi. Nghe xong câu chuyện, cô bé ngạc nhiên hỏi:
- Ông đánh rơi cái gì vậy?
Tôi đáp gọn lỏn.
- Ðức tin.
Cô bé trố mắt nhìn tôi.
- Người ta có thể tìm thấy "đức tin" ở biển?
- Chứ em nói tôi phải tìm ở đâu bây giờ?
- Theo em, ông chỉ có thể tìm thấy ở nhà thờ.
- Chắc không?
- Chắc chắn. Ông cứ đến nhà thờ rồi ông sẽ tìm thấy đức tin.
- Vậy ngay chiều mai tôi sẽ đến nhà thờ dù cho tôi là một người ngoại đạo.
- Chúa ơi! Ông là người ngoại đạo?
- Vậy chắc tôi không thể tìm thấy đức tin ở nhà thờ phải không?
Cô bé nhíu mày suy nghĩ một lát, rồi đáp:
- Chúa đã dạy "Hãy tìm sẽ thấy". Ông cứ đến nhà thờ đi. Bây giờ trời tối rồi, em xin phép ông dẫn em nhỏ về kẻo ba má trông.
Hai chị em cô bé chậm rãi đi về phía có dốc cát cao để vào phố. Dốc cát đầy những bụi xương rồng rậm rạp che khuất cô em và tôi chỉ nhìn thấy đôi vai của cô chị nhô lên in rõ trên bầu trời tím hồng. Trước khi em xuống dốc, tôi thấy em quay lại nhìn về phía tôi. Ðôi mắt em đen, mở lớn và mặc dù cách một khoảng xa, tôi vẫn tin mình đã tìm thấy đôi mắt kia khẽ chớp.
Ngay buổi chiều hôm sau tôi đi đến nhà thờ. Ðây là một nhà thờ cổ có màu vôi trắng, nhưng từ lâu lớp vôi chưa được quét lại nên biến thành màu xám nhạt. Trên gác chuông cao nhô lên từ phía sân sau, tôi thấy còn có treo một chiếc trống lớn, tôi rất ưa thích nhà thờ này bởi vẻ đơn giản và cổ kính của nó. Tôi không ưa được những nhà thờ tân tạo với kiến trúc đồ sộ và trang hoàng rắc rối. Tôi có cảm tưởng người ta khó mà tìm thấy đức tin ở một nơi đồ sộ và rắc rối như thế.
Bên trong nhà thờ không rộng lắm, chỉ vừa đủ kê hai dãy ghế dành riêng cho nam và nữ tín đồ. Trên tường có treo những bức tranh tả lại cuộc đời của Chúa, lồng trong những khung kính cũ mờ. Cha cả đang giảng kinh ở bục cao. Cha nói về sự hy sinh của Chúa để cứu vớt nhân loại và cha mong các tín đồ hay cố gắng noi theo gương sáng của ngài, để giúp con người bớt đau thương. Khi cha giảng xong, mọi người quỳ gối xuống và bắt đầu đọc kinh. Tôi không thuộc kinh, không biết làm dấu thánh, nên lẳng lặng ngồi im nhìn tượng Chúa đóng đinh trên thập giá bằng gỗ nâu bóng.
Ðiện trong nhà thờ không quá sáng. Bóng tối còn ẩn nấp ở gầm ghé và lảng vảng ở khung cửa sổ mở ra một khu vườn rộng. Chúa đã phán "Ta là ánh sáng". Nhưng cũng may, các tín đồ của Ngài không để nơi thờ phụng sáng rực, như một ngọn đèn néon cực mạnh. Người ta đã biết giữ lại bóng tối để giúp con người dễ tạo đức tin và dễ cảm thấy khát khao ánh sáng.
Bài kinh chấm dứt, các tín đồ ngồi lại ngay ngắn trên ghế. Tiếng phong cầm đột nhiên vang lên cùng lúc với tiếng đồng ca của các em gái mặc áo dài trắng. Tiếng đàn nghe thánh thót như những giọt mưa đầu mùa và đôi lúc trầm ấm như ngọn gió mùa Xuân. Chiếc phong cầm thực sự đã mê hoặc tôi và tôi quay lại nhìn nó bằng đôi mắt trìu mến.
Nó nằm đó, sát một góc nhà thờ, phía bên trái cửa ra vào, lẫn trong bóng tối, nhưng tôi vẫn nhìn thấy nó rõ ràng. Toàn thân nó tỏa ra một thứ ánh sáng kỳ lạ như hào quang ở đầu các thiên thần và có lẽ chỉ mình tôi nhìn thấy điều đó. "Hãy tìm sẽ thấy". Tôi tin rồi Chúa sẽ mặc khải cho tôi, đức tin sẽ đến với tôi từ chiếc phong cầm cũ kỹ kia chứ không phải từ lời giảng dạy của cha cả đã vang lên đều đều qua máy phóng thanh.
Tiếng phong cầm ngưng. Buổi lễ đã xong và mọi người lặng lẽ ra về. Ðiện trong nhà thờ tắt hết, chỉ còn hai bóng đèn nhỏ màu vàng đục cháy sáng ở đầu hai cây nến đặt trên bệ thờ. Tôi nghe có tiếng cửa đóng nhẹ, nhưng vẫn ngồi im trên ghế. Tự nhiên tôi linh cảm hãy kiên nhẫn đợi chờ thêm chút nữa, rồi tôi sẽ thấy điều tôi bằng khát khao tìm kiếm. Tôi nhìn chăm chăm vào tượng Chúa như bị thôi miên và miệng lẩm bẩm : "Lạy Chúa! Ngài đã nói "Ta là ánh sáng" nhưng sao mắt Ngài lại đầy bóng tối? Ôi! Nếu Ngài còn nói thêm "Ta cũng là bóng tối", chắc con đã quì gối phủ phục dưới chân Ngài".
Cơn mệt mỏi ùa chiếm thân thể, tôi uể oải đứng dậy, tôi ngạc nhiên thấy vị sư huynh trẻ tuổi vẫn còn ngồi bên chiếc phong cầm. Tôi gật đầu chào anh. Anh chào lại và mỉm cười.
- Ông đã cảm thấy mệt mỏi?
Tôi e thẹn đáp.
- Vâng, nhưng anh cũng biết tôi chẳng thể ngồi một mình ở đây lâu hơn nữa.
- Không sao, nếu thích, ông vẫn có thể ngồi lại. Người coi nhà thờ đã đi nghỉ, tôi sẽ đợi ông và đóng cửa sau.
- Như thế thật phiền. Chắc anh cũng có nhiều việc cần làm sau buổi lễ.
- Tôi làm việc rất khuya. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau được chứ?
Thấy sư huynh trẻ chuyện trò cởi mở, tôi vui vẻ nói cho anh biết tôi là một người ngoại đạo và đang đi tìm đức tin. Tôi cũng xin lỗi không biết gọi anh bằng gì, gọi "ông" như thế khó nghe quá. Anh nói : "Thôi chúng ta cứ gọi nhau bằng "anh" cho tiện". Rồi anh kể anh là người Bùi Chu đi tu từ nhỏ, di cư vào Nam sống ở Biên Hòa và ra đây ở đã được ba năm.
Con chiên ở đây rất ít nên anh đều quen mặt. Ngay khi tôi bước vào nhà thờ lúng túng tìm một chỗ ngồi, anh đã nhận ra tôi mới tới đây lần đầu và không phải là tín đồ Thiên Chúa giáo. Anh cũng đoán được tôi là người đang đi tìm đức tin. Ðức tin thật khó đến với một người ở tuổi tôi, nếu không có ai hướng dẫn.
Tôi nói, tôi muốn tự mình tìm kiếm đức tin dù có khó khăn. Tôi không thích nhờ vả bất cứ ai, ngay cả giáo lý. Tôi đã chán nghe lời giảng của các cha và cũng chán đọc những quyển sách kinh. Tôi tin một ngày nào đó Chúa sẽ nhắn nhủ tôi không phải qua một phép lạ kỳ bí, mà có thể qua tiếng chuông nhà thờ đổ mỗi chiều hay qua tiếng đàn phong cầm mà anh đánh mỗi tối.
Vị sư huynh cười đáp :
- Anh đừng tin vào tiếng đàn của tôi. Tôi không phải là người đánh đàn giỏi.
Tôi cười nói :
- Ðánh đàn hay hoặc dở, điều đó đâu quan trọng. Ðiều quan trọng là tiếng đàn của anh đã vang lên đúng lúc. Chắc anh cũng đồng ý với tôi. Chúa không phải chỉ lựa chọn phát ngôn qua những người miệng lưỡi trôi chảy, có thể Ngài lựa chọn một người nói ngọng.
Vị sư huynh vỗ nhẹ lên chiếc phong cầm.
- Nghe anh nói, tôi nghĩ chắc anh mê chiếc đàn này lắm.
- Vâng. Bề ngoài trông có vẻ cũ kỹ nhưng thanh âm của nó nghe thật tươi mát và quyến rũ.
- Anh có thể đánh thử một bản nhạc anh thích.
Tôi lắc đầu.
- Tôi chưa đánh Harmonium lần nào.
- Không sao, anh đã nói: điều quan trọng không ở chỗ đánh đàn hay hoặc dở mà ta là đánh đúng lúc.
- Nhưng tôi không biết nhạc thánh ca.
- Anh có thể đánh một bản nhạc tình cảm.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Tôi có thể đánh một bản nhạc tình cảm ở đây?
Vị sư huynh mỉm cười:
- Tại sao không? Biết đâu anh chẳng đánh đúng lúc.
Lạy Chúa, tôi thật xúc động. Ngồi xuống ghế, tôi mân mê nắp đàn đen bóng và không dám chạm tay xuống những phím đàn trắng ngà. Ðột nhiên như bị đồng nhập, tôi đã vội vàng đánh một đoạn nhạc nào đó tôi không biết tên, tôi cũng chẳng rõ mình đánh có đúng phím nhạc không. Tôi chỉ biết tôi tay tôi lướt đi thành thạo trên những phím ngà cho đến khi đột nhiên nó chấm dứt như lúc đó mới bắt đầu. Tiếng đàn còn âm vang trong nhà thờ run rẩy như hai bàn tay tôi một lúc lâu. Tôi gục đầu xuống mặt bàn và đã nhận ra điều tôi hằng tìm kiếm.
Tôi cảm thấy có bàn tay ai đặt lên vai mình, tôi ngẩng mặt lên bắt gặp khuôn mặt nghiêm trang của sư huynh trẻ. Giọng anh nói thì thầm:
- Tôi không tin anh đã đánh được đoạn nhạc đó.
Tôi đã khóc, nên mọi việc đều trở nên sáng sủa. Tôi đáp:
- Anh nói đúng. Tôi không đánh được đoạn nhạc đó. Chính chiếc đàn tự nó đã vang lên.
- Tôi nghĩ khác. Anh đã đánh đúng lúc và có người đã giúp anh.
- Không, chẳng ai giúp tôi. Chỉ có chiếc đàn đã giúp tôi đánh lên tiếng nhạc của lòng mình.
- Anh có tin đấy là một phép lạ?
- Nếu tin vào phép lạ, anh sẽ cho là Chúa đã giúp tôi đánh đoạn nhạc kia, vậy tôi chỉ tin vào chiếc đàn.
Vị sư huynh gằn giọng:
- Anh thật cứng đầu. Suốt đời, anh sẽ chẳng bao giờ tìm thấy đức tin.
- Vâng, suốt đời tôi sẽ chẳng tìm thấy đức tin nếu tôi cứ tiếp tục tìm kiếm ở những nơi thờ phụng Chúa. Cám ơn anh đã cho tôi có dịp đánh đàn. Tôi hứa sẽ không bao giờ đến đây làm phiền anh nữa.
Tôi biết vị sư huynh đang giận nên không bắt tay chào anh. Tôi không thích làm những điệu bộ thân thiện khi lòng thân thiện chẳng còn. Tôi lặng lẽ bước ra khỏi nhà thờ. Bầu trời cao xanh biếc không một đám mây. Sao lấp lánh như những mảnh kính vỡ vụn và mặt trăng non màu vàng nhợt không chiếu xuống chút ánh sáng nào. Gió từ biển thổi vào từng đợt mát lạnh. Những chòm dương trong sân nhà thờ phát ra tiếng kêu vo vo như tiếng gió thổi những sợi tóc bay qua tai. Ở đây mười giờ đêm đã là khuya. Mọi nhà đều đóng cửa và ngay cả những quán chè bán đêm dọc lề đường cũng đã dọn dẹp hết. Ði ngang qua căn nhà nằm sát mặt đường, cách nhà thờ một khoảng ngắn, tôi nhìn thấy bóng một người đang ngồi trên bậc tam cấp. Khi tôi đến gần, người đó đứng dậy.
- Ông vừa đánh một đoạn nhạc trong nhà thờ phải không?
Vì người đó đứng trong bóng tối, nên khi nghe nói xong, tôi mới nhận ra em là cô bé, tôi đã gặp ngoài bãi biển. Tôi nói:
- Nhà em ở đây à?
- Không, đây là nhà bà dì của em.
- Sao em biết tôi đã đánh một đoạn nhạc trong nhà thờ?
- Em ở trong ban hợp ca của nhà thờ nên rất dễ nhận ra tiếng đàn của vị sư huynh, vả lại, đoạn nhạc vừa rồi không phải là thánh ca. Ông đã tìm thấy điều ông muốn tìm không?
Tôi lắc đầu, nói:
- Tôi đã sai lầm khi đi tìm điều ấy ở nhà thờ.
- Sai lầm? Vị sư huynh cũng không giúp gì cho ông?
- Chẳng ai giúp được tôi, trừ chiếc phong cầm.
- Chiếc phong cầm? Ông không nói đùa chứ?
Tôi kể lại trường hợp đánh đàn vừa qua. Tôi cố diễn tả thật giản dị để cho cô bé hiểu. Em gật đầu tỏ vẻ đã hiểu và còn hiểu hơn tôi nữa là khác. Em nói:
- Em tin Chúa đã giúp ông đánh đoạn nhạc đó. Chúa đã đến với ông, sao ông còn không tin Ngài?
Tôi thật sự chán nản. Cô bé này đã suy nghĩ y như vị sư huynh kia và tôi không biết phân giải làm sao cho em thay đổi ý kiến. Sau cùng tôi đành nói:
- Ðấy không là phép lạ của Chúa. Ðấy là phép lạ của chiếc phong cầm. Nó đã đáp lại lòng mến mộ của tôi. Nó đã phản ảnh lòng tôi như tấm gương phản ảnh gương mặt người soi. Chỉ giản dị như vậy.
- Câu chuyện không giản dị như vậy, nếu ông không tin vào Chúa.
- Trong trường hợp này, tôi nghĩ tin vào Chúa chỉ rắc rối thêm.
- Em xin ông đừng xúc phạm đến Ngài.
- Không, tôi chỉ nói thật điều tôi nghĩ. Tôi xin lỗi, nếu có xúc phạm đến đức tin của em.
- Với em, ông không cần phải xin lỗi. Ông hãy xin lỗi Chúa, vì đã lầm lỡ không tin Ngài.
- Tôi chẳng thể xin lỗi Ngài, vì nếu tôi làm như thế, chiếc phong cầm sẽ đau lòng ghê lắm!
- Dù cho em tha thiết cầu mong, ông cũng không xin lỗi Ngài?
- Không.
- Ông đã làm em đau lòng.
- Ðành vậy. Em đừng bắt tôi gian dối, em cũng biết Chúa rất ghét những người gian dối.
- Thật đáng buồn, chúng ta đã làm mất cơ hội để gặp lại nhau.
Cô bé quay người, bước vội vào bóng tối của căn nhà. Tôi thở dài buồn bã, đứng lặng im chẳng muốn bước đi. Rồi đột nhiên, tôi nghe có tiếng phong cầm trầm ấm từ nơi nào đó đang nhẹ nhàng vang vọng lại.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 08:01:40James Jee>
CHIẾC XE BUÝT MÀU XANH
 
Tôi viết truyện này khi lần đầu được nghe bản nhạc hòa tấu Love is blue của Paul Mauriat. Tình yêu màu xanh vì đấy là màu của hy vọng, tôi cũng đồng ý vậy. Và một lần ngồi trên xe buýt màu xanh, tôi đã may mắn gặp một cô gái rất vui tính. Tôi cứ tưởng tình yêu rồi sẽ xảy ra nhưng oái ăm thay “cái màu xanh kia” đã lừa gạt tôi.
Phải chăng màu xanh còn là màu giúp người ta dễ lừa gạt nhau ?
Khoảng năm giờ chiều, trên vỉa hè đường Hàm Nghi, một đám đông đang đứng chờ đợi một chiếc xe buýt. Vào giờ tan sở nên ai cũng mong về nhà sớm để nghỉ ngơi . Trong đám đông đủ hạng người đó, có một gã sinh viên cũng đang nôn nóng đợi chờ. Tay hắn cầm một món quà và hắn luôn cẩn thận tránh né không để người khác chạm vào.
Khoảng 10 phút sau, một chiếc xe buýt màu xanh to kềnh càng đi tới . Hàng chữ đỏ ghi trên khung kính phía trước cho biết lộ trình xe chạy: Sài Gòn - Bà Chiểu. Ngay khi xe chưa ngừng lại, hắn cũng như những người khác đã vội vã bước lên khung cửa mở ở phía hông xe .
Trong xe đã có nhiều hành khách, những người mới lên phải chen lấn nhau ở lối đi chật hẹp để tìm chỗ ngồi. Một tay nắm thanh sắt ở trần xe và một tay ôm sát gói giấy vào ngực, hắn đưa mắt liếc nhanh và nhìn thấy một ghế còn trống, vội nhào đến dành. Vừa ngồi xuống ghế hắn đã bị xô đẩy, đầu chạm vào khung xe đau điếng. Chiếc ghế chỉ vừa đủ cho hai người ngồi, nhưng một cô gái đã chen vào ngồi giữa hắn và một người đàn bà mập mạp.
- Ông ngồi sát vào, cho tôi ngồi với .
Chẳng thèm nhìn người vừa nói, hắn ép mình vào cửa kính nhìn xuống đường. Thiên hạ vẫn tiếp tục chen nhau bước lên xe dù trong lòng xe chẳng còn chỗ đứng. Tài xế bóp còi "tin tin" rồi rồ máy chạy. Chiếc xe rùng mình trườn đi như một người lên cơn sốt.
Trời oi nóng như sắp đổ cơn mưa, không khí trong xe ngột ngạt khó thở mặc dù các cửa kính đã kéo lên. Chiếc xe buýt chạy chậm rì trên đường Lê Lợi đông xe nên chẳng có chút gió nào từ lòng phố thổi vào. Nhận ra cửa kính chỗ mình ngồi chưa mở, hắn nhổm người cố đẩy hai miếng sắt gắn ở hai bên cửa kính lên. Hì hục mãi vẫn không đẩy được tấm kính, mồ hôi ở trán bắt đầu nhỏ giọt. Có tiếng cô gái nói:
- Ông nhìn tấm giấy kia kìa .
Hắn ngẩng đầu nhìn lên, phía trên cửa kính có dán tấm giấy ghi "Cửa hư xin đừng mở". Hắn ngồi xuống càu nhàu:
- Tại sao các cửa khác không hư lại hư ngay cửa chỗ tôi ngồi ?
- Chẳng việc gì mà ông phải thắc mắc, nó hư vì nó đã hư chứ không còn tại sao nữa .
Nghe cô gái trả lời ba phải, hắn bực mình quay sang nói:
- Chứ không phải tại cô à?
- Tại tôi ? Phải nói tại ông mới đúng.
- Tại tôi ?
- Chứ còn tại ai nữa. Nó không muốn người đi đường nhìn rõ bộ mặt nhăn nhó của ông. Nhìn ông, người ta sẽ tưởng đi xe buýt khổ cực lắm, vậy ai còn dám bước lên xe.
- Xe buýt này của cô?
- Không.
- Vậy sao cô bênh vực quyền lợi cho xe buýt ghê quá vậy? À, tôi hiểu rồi, cô được chia huê hồng 20% để quảng cáo cho xe buýt phải không?
Cô gái đỏ mặt ngồi im. Hắn khoái chí quên cả nóng bức, ngồi rung đùi cười. Cô gái đưa mắt nguýt hắn.
- Chẳng việc gì mà ông phải cười.
Hắn vẫn tiếp tục nhe răng cười để chọc tức nàng.
- Ông cười trông mặt nhăn nhó như con khỉ.
Hắn nói:
- Vậy tôi khóc nhé!
- Ừ, ông khóc có lẽ nước mắt sẽ làm không khí mát mẻ hơn.
Hắn làm bộ khóc hu hu, rồi hỏi:
- Cô thấy mát mẻ chưa?
Cô gái nhăn mặt nói:
- Ông làm tôi càng "nực" thêm.
- Thôi xin cô đừng nhăn nhó nữa.
Cô gái gắt:
- Ông là ai mà cấm tôi nhăn nhó?
- Tôi không cấm cô, nhưng vì quyền lợi của hành khách trên xe, tôi yêu cầu cô .
- Quyền lợi gì?
- Nhìn cô nhăn nhó, hành khách sẽ tưởng chiếc ghế nào trên xe buýt cũng có đinh và họ cảm thấy bất an.
Cô gái liếc mắt nhìn hắn một cách căm tức, nhưng chẳng biết nói gì. Còn hắn học tức được nàng, hắn lại khoái chí cười. Đành hanh nữa đi em, anh dư sức đành hanh hơn em mà!
Một người bán vé mặc đồng phục màu xanh xẫm đến chỗ hắn ngồi.
Hắn móc túi đưa 2.000 đồng, người bán vé hỏi:
- Anh đi đâu ?
- Đi suốt.
Người bán vé xé đưa cho hắn một tờ vé ghi 1.500 đồng và nói:
- Anh đợi có tiền lẻ, thối lại sau .
Cô gái nói với người bán vé:
- Thôi khỏi thối lại mất công. Đây tôi đưa thêm 1.000 đồng nữa, vậy là đủ hai vé đi suốt.
Hắn há hốc miệng định cằn nhằn "sao cô chơi cha quá vậy". Nhưng cô gái đã nhanh miệng nói:
- Tôi tin ông là một người thông minh.
Hắn nổi sùng gắt:
- Thông minh cái quái gì. Tôi không ưa cô nịnh.
- Đấy, chính vì vậy tôi mới nghĩ ông là một người thông minh. Ông là người rất khiêm tốn không thích nghe người khác ca tụng mình. Ông cũng không thèm đôi co 500 đồng đã mất như một người keo kiệt, bần tiện phải không ông?
Hắn giận điên lên vì bị nàng nói xỏ ngọt. Hắn muốn thân ái tặng nàng một cái tát vào mặt, nhưng nụ cười của nàng như một nụ hồng có gai khiến tay hắn run run. Không có người đàn ông nào có đủ can đảm tát một nụ hồng có gai, hắn đành thở dài .
- Ừ thì thôi thông minh, nhưng chắc suốt đời tôi sẽ không bao giờ thông minh bằng hai người đã sinh ra cô .
Cô gái thích thú cười:
- Ông không giận tôi chứ?
Hắn cố nuốt nước bọt đắng ngắt trong miệng:
- Ồ không. Đáng lẽ tôi phải xung phong mua tặng cô một vé xe mới phải .
- Cám ơn lòng tốt của ông. Xin ông cho biết quý danh để tôi ghi ơn.
- Tôi tên Dũng. Còn cô tên gì?
- Tôi tên Loan.
- À! Tên chúng ta giống hệt hai nhân vật tuyệt vời trong truyện dài "Đôi bạn" của Nhất Linh.
- Vậy chúng ta sẽ là một "đôi bạn", ông đồng ý không?
Được nàng ngỏ lời làm quen trước, hắn sung sướng gật đầu lia lịa tán thành.
- Đồng ý mạnh như thần. Tôi rất hân hạnh được làm "đôi bạn" với cô .
Bấy giờ hắn mới đưa mắt quan sát kỹ "người bạn" của mình. Nàng có mái tóc cắt ngắn, uốn ép vào phía trước và sau gáy trông rất ngộ. Nhìn chung: tai, mắt, mũi, họng, miệng, môi, răng, cằm, tay chân của nàng đều đẹp. Nhìn riêng: trán nàng quá thấp. Có lẽ ngày xưa còn bé, mẹ nàng bồng nàng rồi vô ý đánh rơi nàng té, đầu dộng xuống nền xi măng nên nàng mới có một cái trán thấp kỳ cục như vậy . Chứ Thượng đế là một nghệ sĩ tài hoa, ngài đâu có thể lỡ tay sáng tạo một tác phẩm đáng trách kiểu đó.
Cô gái mặc áo dài màu trắng. Hắn không biết nàng là học sinh hay sinh viên, thư ký hay tiếp viên nhà hàng? Dù nàng là gì đi nữa được quen với nàng hắn cũng cảm thấy hãnh diện nhiều . Thấy hắn chăm chăm nhìn mình, cô gái hơi đỏ mặt. Nàng chớp chớp đôi mắt hỏi:
- Làm gì mà ông quan sát tôi kỹ như quan sát cóc nhái trong giờ sinh vật vậy ?
- Phải quan sát kỹ chứ. Tôi sợ mình "bé cái lầm" như một ông sinh viên văn khoa cặp bồ với một cô, khi bị cảnh sát hỏi giấy tờ, chàng mới khám phá ra "nàng" là trai giả gái. Chuyện đó báo nào cũng đăng, cô không biết sao?
- Bộ tôi trông giống con trai lắm à?
- Nếu không nhìn thấy cô, chỉ nghe cô nói tôi nghĩ cô là một đấng nam nhi "vai năm thước rộng, thân mười thước cao".
- Xí, ông cho tôi ăn nói bặm trợn lắm phải không?
Hắn bật cười:
- Đâu có. Cô ăn nói nhu mì và nhã nhặn lắm lắm, chỉ có hơi hơi khiến người nghe "nhức óc" mà thôi.
Cô gái có vẻ giận dỗi, nàng quay mặt nhìn sang hướng khác. Hắn nghĩ mình thật ngu, mới làm quen với nàng vậy mà không biết "lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau". Tình yêu có bao giờ đến với người thành thật đâu. Cứ đọc mấy mục giao lưu kết bạn trên báo thì biết. Điều kiện ắt có và đủ để người ta "giao lưu" với nhau là thành thật. Nhưng, trời ạ! Nếu ai ai cũng thành thật thì cái mục đó đã bị dẹp từ lâu. Tình yêu luôn luôn sống nhờ bóng tối. Bóng tối do Thượng đế tạo ra và con người góp phần vào. Có đôi tình nhân nào dám "tâm tình" dưới bóng đèn néon sáng choang đâu. Họ thường tìm đến nơi có bóng tối giúp họ che dấu khuôn mặt, để dễ dàng nói dối một cách thành thật mà không mắc cỡ.
Hắn biết mình đã lỡ lời nhưng không dám xin lỗi, vì xin lỗi lại càng xác nhận điều hắn nói là đúng, nên mới khiến nàng giận. Hắn nghĩ phải tìm cách lái câu chuyện sang hướng khác, phải tìm cách chứng tỏ cho nàng biết, nàng ăn nói rất có duyên và khiến cho người nghe "bổ óc" vô cùng. Hắn chưa nghĩ ra cách nào thì vừa lúc chiếc xe buýt thắng gấp để tránh một người chạy băng qua đường. Hành khách trong xe ngã chúi về phía trước rồi bật ngửa ra sau. Người hắn ép mạnh gói giấy vào lưng ghế phía trước, hắn la lên:
- Á! Chết rồi .
Cô gái hốt hoảng quay sang hắn hỏi:
- Xe đụng chết người hả ông?
Hắn lắc đầu chỉ gói giấy bẹp dúm:
- Không... không... gói giấy của tôi .
- Gói gì mà ông lo lắng quá vậy ?
- Ư ... ư ... một gói giấy vậy mà.
- Nhưng gói gì mới được chứ? Ông mang hàng lậu phải không? Để tôi kêu công an.
- Ê đừng nói ẩu. Tôi mang hàng lậu hồi nào? Một gói giấy là một gói giấy có gì lạ đâu.
- Ông phải mở cho tôi xem, tôi mới tin.
Hắn ngần ngừ rồi đưa gói giấy cho nàng.
- Cô không tin thì mở ra đi. Nhớ nhẹ tay một chút.
- Bộ chất nổ hả? Thôi tôi không dám mở đâu.
Miệng nói "không dám" nhưng tay nàng vẫn cầm lấy gói giấy và tháo những sợi thun bao quanh.
- A! Một bó hoa .
- Phải, hoa hồng.
- Ông định đi lễ Lăng Ông xin xăm tình duyên nên mua hoa hồng để cúng phải không?
- Đâu có. Tôi mua hoa để tặng một người .
- Ông tặng ai?
- Tặng... má tôi.
- Ông thật là một người con có hiếu.
Nghe nàng khen, hắn chợt đỏ mặt. Má hắn đã chết từ lâu, hắn đâu còn có dịp để tặng hoa báo biếu. Hắn mua hoa để tặng cô em gái của một thằng bạn học cùng lớp. Hôm nay sinh nhật của nàng. Cũng may nàng ăn mừng sinh nhật 18 tuổi, nếu nàng ăn mừng sinh nhật 60 tuổi chắc hắn phải trốn mặt vì không có tiền mua đủ 60 bông hồng.
- Ông lo nghĩ gì vậy ? Bó hoa có bị hư bông nào đâu. Chắc má ông sẽ cảm động ghê lắm nếu biết ông đã quá lo lắng cho bó hoa. Thôi để tôi gói lại cẩn thận giúp ông.
Tiếng nói của cô gái làm hắn trở lại thực tế. Hắn nhìn nàng và so sánh với em gái người bạn. Hắn chợt nhớ đến chuyện "Thả mồi bắt bóng" trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư. Một con chó tha một miếng thịt chạy trên cầu, nó nhìn thấy một con chó khác tha một miếng thịt to lớn hơn ở dưới sông, nó vội nhả miếng thịt đang ngậm trong miệng và nhảy xuống vồ miếng thịt của con chó kia . Không ngờ nó chỉ vồ bóng nó. Miếng thịt thật sự đã chìm xuống nước mất tăm, chú chó ta uống no một bụng nước sông rồi cố ngoi vào bờ.
Khi cô gái trao hắn gói hoa đã được gói lại cẩn thận, hắn xua tay và niềm nở nói:
- Cô cứ giữ lấy. Tôi xin tặng cô để kỷ niệm ngày chúng ta quen nhau.
Cô gái tròn xoe mắt ngạc nhiên:
- Ờ, tôi không dám nhận đâu . Để ông tặng má ông.
- Má tôi già rồi, chắc bà ấy ít thích hoa . Tôi sẽ mua tặng má tôi một món quà khác. Xin cô cứ cầm lấy bó hoa.
Cô gái phân vân suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Thôi được, tôi xin nhận tạm cho ông vui lòng.
Nhận tạm! Nghe nàng nói sướng không. Cho ông vui lòng! Nàng làm như nàng là Phật Bà Quan Âm vừa ra tay cứu độ một người thoát khỏi vòng khổ đau oan nghiệt. Hắn xót ruột muốn đòi lại bó hồng nhưng các cụ ngày xưa đã dạy rằng:
Bắc thang lên hỏi ông trời, Hoa hồng tặng gái có đòi được không?
Hắn bèn vuốt bụng ngồi im.
Xe chạy qua khỏi Lăng Ông là sắp đến bãi đậu . Hắn nghĩ cần phải giữ thật chặt mối dây liên lạc với nàng nên hắn hỏi:
- Nhà cô ở đâu, xin cho biết địa chỉ để có dịp tôi ghé thăm?
Cô gái nói:
- Thôi ông khỏi ghi nhớ địa chỉ mất công, tôi sẽ mời ông đến nhà tôi uống nước ngay bây giờ.
Hắn mừng rỡ cười:
- Như vậy còn gì bằng. Cô xuống xe chỗ nào, tôi cũng xuống theo.
Cô gái chỉ tay ra phía ngoài:
- Đến đầu đường kia ông xuống xe trước nghe. Vì trong xe có người quen nên tôi không muốn xuống cùng lúc, đợi một vài người xuống theo ông rồi tôi sẽ xuống sau. Kìa xe sắp chạy đến trạm ngừng, ông chuẩn bị đi .
- Cô xuống ngay nghe. Đừng để tôi bị lạc tội nghiệp.
Cô gái cười:
- Được mà, tôi sẽ xuống ngay mà.
Hắn đứng dậy len ra lối đi ở giữa xe . Tay nắm thanh sắt ở trần xe, hắn di chuyển dần đến cửa xuống. Xe chạy từ từ rồi ngừng lại ở một trạm gần ngã tư. Cửa trước vừa mở hắn vội theo chân một vài người bước xuống đường. Chiếc xe ngừng lại khoảng một phút cho hành khách lên xuống, máy xe vẫn giữ cho nổ đều.
Khi người tài xế bóp còi "tin tin", hai cửa xe được đóng lại và chiếc xe chậm rãi lăn bánh. Hắn ngơ ngác nhìn quanh tìm cô gái vẫn chưa thấy xuống, nhìn lên xe hắn thấy nàng đã đổi chỗ ngồi ở một ghế trước có cửa kính mở ngỏ. Hắn vội chạy theo xe gọi:
- Loan... Loan...
Cô gái nhô đầu ra ngoài cửa xe, cười:
- Xin lỗi ông...
Hắn chạy sát bên hông xe, hỏi:
- Cái gì?
Người soát vé, hé đẩy cửa xe, hỏi:
- Đừng chạy theo xe, muốn chết à?
Chiếc xe vụt chạy nhanh, thành xe chạm mạnh vào người khiến hắn ngã nhào xuống mặt đường, cùng lúc hắn nghe loáng thoáng tiếng cô gái nói:
- Tôi không phải tên Loan.
Hắn lồm cồm bò dậy. Chiếc xe buýt đã chạy được một quãng xa, khói phun um ở trên nóc. Hắn nhảy lên vỉa hè đứng phủi vết bẩn ở quần áo . Bây giờ hắn mới nhận ra một vết thương rướm máu ở khuỷu tay ran rát. Hắn lẩm bẩm: Hôm nay mình thật hên. Một là mình đã không nói tên thật. Hai là mình đã tránh kịp, nếu không chiếc xe buýt màu xanh (màu của tình yêu) đã đè mình nát thây.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 11:51:06James Jee>
CHỜ ĐỢI MỘT TÌNH YÊU
 
Ba tháng hè, khoảng thời gian mơ ước của bất cứ giáo viên nào vì sẽ được cuộc sống thảnh thơi. Không phải lo soạn giáo án. Không phải lo đi dạy đúng giờ giấc. Như một ngôi nhà từ lâu bị đóng kín vì chủ nhân bị đau ốm hay đi vắng, bây giờ những cánh cửa được mở tung đón chủ nhân trở về, đón ánh nắng ban mai rực rỡ, đón những ngọn gió đêm tươi mát thổi vào. Trong ba tháng hè, tâm hồn và hành vi của giáo viên cũng được mở tung sau chín tháng bị đóng cửa.
Tất cả những người bạn giáo viên của Kha đã được sống thảnh thơi trong mùa hè. Họ đã được trở về quê nhà hay đi đến một thành phố khác để nghỉ xả hơi, để được sống tự do không bị những đôi mắt dòm ngó, phê phán của học sinh và các phụ huynh. Tưởng tượng sống ở một nơi không bị những đôi mắt đó theo dõi, thật sung sướng biết bao.
Nhưng Kha đã không được sung sướng biết bao. Không được sống thảnh thơi như các bạn trong ba tháng hè tại thị trấn này.
Kha phải ở lại để dạy các lớp hè hai buổi sáng và dạy thêm lớp toán ban đêm. Chàng muốn dành dụm một số tiền để lo đám hỏi người yêu của chàng ở quê nhà vào dịp cuối năm nay. Không có nàng chắc chàng đã theo thằng bạn dạy văn đi rong chơi. Dù cho bao tử có đói, chàng tin cũng sẽ được sống một thời gian thảnh thơi và thích thú. Nhưng vì nàng, vì những đòi hỏi của gia đình nàng. Kha đã phải tiếp tục đóng kín những cửa sổ tâm hồn trong ba tháng hè.
Những lớp toán ban đêm, Kha dạy ngay ở căn phòng trọ. Chàng đã phải khó nhọc giảng giải những bài toán cho học sinh hiểu. Không phải những bài toán đó quá khó hay học sinh chậm hiểu mà vì Kha biết chính chàng cũng không thích giải những bài toán đó một tí nào. Ðấy không phải là thời gian để giải những bài toán hình học, đại số, hóa học. Ðấy là thời gian phải được dành cho nàng. Cùng nàng đi dạo chơi dọc theo bờ sông Hương trong đêm hè nóng bức. Cùng nhau vào trong thành nội có những cây nhãn lá mướt xanh và hương hoa sen tỏa ra thơm ngát. Cùng nàng vào ngồi một quán nước có âm nhạc dịu dàng và ăn những ly chè hạt sen ngọt lịm...
Nhưng ở lại chốn này, Kha chỉ biết cùng học trò cặm cụi giải những bài toán khô khan, chán ngắt. Khi nghe những cậu học trò hỏi:  "Ba tháng hè, thầy không về thăm nhà hả thầy? Dạy nhiều vậy thầy không sợ bể phổi sao thầy?" Kha đã phải bóp vụn cục phấn trong tay, để khỏi bạt tai chúng và môi chàng đã mím chặt để khỏi cau có. Chúng đâu có biết gì, chúng còn vô tư. Chàng nghĩ vậy để xoa dịu cơn giận dữ.
Còn nàng có biết gì không? Hay nàng cũng vô tư? Thắc mắc này đã khiến Kha nổi điên đập vỡ mấy ly bia khi chàng ngồi uống một mình trong căn phòng trọ vắng lặng sau những buổi dạy đêm.
Thật ra Kha không sống cô độc khi phải ở lại đây ba tháng hè vì chàng đã có những người bạn chân tình ở địa phương này. Nhưng họ chẳng giúp được gì cho chàng. Những chai bia cũng chẳng giúp gì được cho chàng. Tất cả đều biết chuyện tình của chàng và nàng nhưng tất cả đều không hiểu tình yêu của chàng dành cho nàng.
Ngay cả thằng bạn dạy văn ở cùng phòng (nay đã đi xa) cũng không hiểu tình yêu đó. Hắn đâu đã yêu một cô gái nào bao giờ đâu mà hiểu chàng. Hắn chỉ yêu cây trúc đào sau vườn và say sưa nhìn ngắm những nụ hoa đỏ hồng lóng lánh sương đêm hé nở mỗi sáng như say sưa nhìn ngắm đôi môi người tình mỉm cười. Thấy dáng vẻ si mê điên khùng của hắn, đã có lần chàng nổi điên cầm dao định đốn cây trúc đào nếu hắn không đứng ôm chặt gốc cây che chở cho những nụ hoa.
Chàng không yêu đương lãng mạn lẩm cẩm như thằng bạn kỳ cục đó. Tuy sinh ra ở một thành phố thơ mộng nhưng Kha không yêu những đóa hoa vớ vẩn, chàng yêu một cô gái cùng quê hương và dự định phải kết hôn bằng được với nàng. "Tình chỉ đẹp khi còn dang dở". Cái "đẹp đó chàng xin dành cho thằng bạn dạy văn".
Gia đình nàng rất giàu, có gian hàng lớn buôn bán đủ thứ ở phố chính. Còn gia đinh chàng ở miền quê sống nhờ những vườn cau trổ trái bốn mùa. Ðám hỏi và đám cưới của chàng khỏi phải lo vụ trầu cau vì đã có sẵn "cây nhà lá vườn" đủ biếu cho ngàn người. Chàng chỉ còn lo mấy thứ lỉnh kỉnh: rượu, trà, bánh su sê, vòng, nhẫn, áo cưới, xe hoa... Mấy thứ đó tuy lỉnh kỉnh nhưng cũng làm chàng điên cái đầu.
Cả hai gia đình đều sẵn sàng giúp đỡ chàng mấy thứ lỉnh kỉnh, sẵn sàng đùm bọc đời sống vợ chồng chàng, nhưng Kha từ chối sự giúp đỡ và đùm bọc đó. Bài học đầu tiên chàng học được ở Ðại học Sư phạm không phải là phương pháp dạy dỗ học sinh mau hiểu mà là ý thức tự lập. Chàng muốn một gia đình do chính tay chàng tạo ra. Cưới nàng xong chàng sẽ thuê nhà cho hai người ở rồi dành dụm tiền mua nhà, rồi dành dụm tiền cho những đứa con, rồi dành dụm tiền cho đủ thứ. Nhưng trước tiên chàng phải dành dụm cho đám hỏi nàng vì vậy chàng đã ở lại thị trấn để dạy hè.
Kha không nhận được lá thư nào của nàng trong suốt ba tháng hè. Ở đây, chàng chỉ có một địa chỉ duy nhất là ngôi trường chàng dạy. Ba tháng hè trường đóng cửa những giấy tờ công văn đều được trực tiếp chuyển bằng tay từ Phòng Giáo dục đến trường, còn những thư từ riêng chẳng thể gửi đến vì không có người đi nhận. Kha có thể mượn địa chỉ của một người bạn địa phương để cho nàng gửi thư nhưng chàng sợ những lá thư của nàng gửi cho chàng trong dịp hè sẽ khiến chàng không còn can đảm ở lại đây. Nhìn những con dấu bưu điện mang tên quê hương mến yêu và đọc những dòng chữ mảnh mai nàng viết, Kha dám có quyết định trở về quê nhà gặp nàng ngay cho bớt nhớ nhung. Trở về quê nhà, bỏ dạy cours làm sao chàng còn có thể dành dụm đủ tiền đi hỏi nàng ?
Mùa hè đã chấm dứt. Kha nôn nóng chời đợi ngày khai giảng niên học mới để được nhân thư nàng. Cách một tuần trước ngày khai giảng. Kha đã gửi cho nàng một lá thư bảo đảm để nàng biết dự tính của chàng đã thành. Chàng đã dành đủ tiền cho đám hỏi. Nàng hãy gửi thư trả lời cho chàng biết ý kiến gấp qua địa chỉ nhà trường.
Ngày khai giảng đến, Kha vội vã đến trường nhưng chàng chẳng nhận được lá thư nào. Nhìn các cô cậu học sinh vui vẻ cười đùa với bạn bè sau những ngày hè tạm biệt, Kha đã buồn cho hoàn cảnh của mình ! Ðiều chàng nôn nóng đợi chờ ở niên học mới đã không đến.
Chàng tự hỏi phải chăng nàng đã đi lấy chồng trong mùa hè vừa qua? Ồ, đâu có chuyện lạ lùng đó được. Nàng phải chờ mình chứ. Mình đã trung thành với nàng vậy nàng bắt buộc cũng phải trung thành với mình. Hay nàng đã bị bệnh cúm nên chẳng thể viết thư trả lời? Giả thuyết này có thể tin được vì ở quê hương chàng mùa này mưa nắng bất thường và ai cũng có thể mắc bệnh cúm - chàng lẩm bẩm - chứ nàng đừng mắc bệnh nôn nóng lấy chồng.
Nửa tháng sau ngày khai giảng đã trôi qua. Kha đã gửi cho nàng hai lá thư bảo đảm nhưng vẫn không thấy hồi âm. Bố khỉ người yêu! Chàng lẩm bẩm khi ngồi một mình trong phòng giáo viên đợi giờ dạy. Ðột nhiên Kha bật cười, chàng nghĩ chàng đã thốt ra hai tiếng "Bố khỉ" kỳ quặc một cách vô thức và chẳng hiểu chúng có nghĩa gì? Thằng bạn dạy văn luôn miệng thốt ra hai tiếng đó và chàng không ngờ chúng đã xâm nhập vào đầu óc chàng lúc nào không hay. Bố khỉ đầu óc! Kha lẩm bẩm khi quẹt diêm châm một điếu thuốc.
Hai giờ đầu buổi sáng nay thật nản. Kha chẳng dạy được gì, có một bài toán nhỏ mà chàng giải ba lần vẫn sai khiến cả lớp cười ồ. Ðầu óc chàng bay bổng đâu đâu và chàng đã chờ đợi tiếng kẻng báo hiệu giờ ra chơi ngay khi mới bước chân vào lớp. Rồi tiếng kẻng chờ đợi đã vang lên. Kha bẻ đôi cục phấn đang viết ném xuống bục gỗ như người trút khỏi gánh nặng trên vai. Chàng cố nở một nụ cười chào học sinh và định nói vài lời xin lỗi nhưng chẳng thể hé môi, chàng đành lắc đầu bước ra khỏi lớp. Mong các em sẽ hiểu và thông cảm cho tôi. Mong các em sẽ hiểu khi các em cũng nôn nóng chờ đợi một cái gì...
Phòng giáo viên đã có mặt những cô giáo mặc áo dài đủ màu ngồi nói chuyện "thiên trời địa đất" với các ông giáo. Kha rót ly nước trà uống một hơi rồi kéo ghế ngồi dựa lưng vào tường. Chàng muốn ngủ một giấc ngắn - chỉ năm phút thôi - cũng đủ giúp chàng khỏe khoắn dạy những giờ kế tiếp. Khổ nỗi những tiếng trò chuyện cười đùa của các vị đồng nghiệp vang lên như bầy kiến lầm lì bò vào tai, khiến Kha không chợp mắt được.
"Thầy có thư".
Kha tỉnh người, ngồi thẳng dậy nói cám ơn bác bảo vệ khi đưa tay nhận lá thư. Chắc là thư của nàng rồi, ít ra nàng cũng đủ thông minh để hiểu rằng mình đang nôn nóng đợi thư của nàng chứ. Chẳng thấy tên người gửi đề ngoài bì thư, nhưng nhìn nét chữ Kha cũng biết đây không phải là thư của nàng. Chàng thở dài, vậy mình đã mừng hụt. Không phải thư của nàng thì thư của ai đi nữa chàng cũng muốn quăng vào sọt rác.
Nhìn kỹ nét chữ Kha nhận ra thư của thằng bạn dạy văn. Chàng không muốn đọc thư của thằng bạn kỳ cục làm gì, chàng chỉ muốn ngủ nhưng những tiếng cười đùa vẫn tiếp tục vang lên. Thôi thì đọc thư xem hắn viết gì. Hắn là giáo viên dạy văn biết đâu văn của hắn sẽ giúp mình ngủ được.
Kha,
Mày nói với Ông Hiệu trưởng tao chưa thể đến trường ngay được. Vì bị xe đụng gãy chân, còn đang bó bột. Như thế, tao chưa thể tiếp tục đi dạy được, dù lúc này rất muốn đi dạy sau ba tháng hè rong chơi.
Hãy chịu khó thay tao tưới nước, bắt sâu ở cây trúc đào mỗi ngày. Hãy chịu khó quét dọn phòng sạch sẽ. Hãy chịu khó giữ vững niềm tin thế nào rồi tao cũng sẽ trở về.
TH.
Bố khỉ thằng bạn văn ! Kha rủa thầm và xé lá thư ném vào sọt rác. Viết văn như thế không hiểu sao hắn lại được người ta xuất bản cho một tập truyện ngắn! Văn chương gì chỉ khiến mình mất ngủ.
Chẳng còn kiên nhẫn đợi thư của nàng, đêm nay Kha đã đem hết số tiền dành dụm được nhờ dạy thêm ba tháng hè ra đãi bạn bè nhậu. Một bữa tiệc linh đình mừng người hết lo đợi chờ : gà quay, chim cu quay, heo quay, vịt quay, đủ thứ quay cộng thêm những chai rượu Johnny "đi bộ" đã giúp Kha có những trận cười ha ha. Bữa tiệc tàn, bạn bè ra về hết, Kha vẫn còn ngồi nhâm nhi một đùi gà quay với ly rượu vàng óng ánh trong căn phòng trọ vắng lặng và bề bộn những đồ nhậu trên nền xi măng. Chàng đã dạy học trò tỉ trọng của rượu là 0,8 gram nhưng không hiểu sao nó lại làm đầu chàng nặng chình chịch. Phải chăng tỉ trọng đích thực của rượu là một tấn? Kha lắc lắc cái đầu muốn nó văng ra khỏi cổ cho nhẹ người, nhưng cái đầu vẫn bám chặt vào cổ chàng. Chẳng biết gì hơn Kha đứng dậy tìm giấy viết thư. Phải viết cho nàng một lá thư nữa - chàng nghĩ - không biết đây là lá thư thứ mấy mình gửi cho nàng mà nàng không thèm trả lời nhưng thây kệ hãy viết thêm cho nàng một lá thư cuối cùng nữa. Kha bóc một tờ lịch và viết ở phía sau để khỏi mất công ghi ngày tháng. Dù say khướt nhưng chàng vẫn đủ tỉnh táo để quẹt diêm châm một điếu thuốc và viết :
Này người anh yêu.
Chắc em nghĩ em là mẹ anh nên anh có bổn phận phải viết thư vấn an em đều đều phải không?
Hay tại lúc này giấy đắt, mực đắt, tem đắt nên em "thắt lưng buộc bụng giữ eo" không viết thư trả lời?
Chắc em cũng biết, yêu nhau đâu phải là làm cha mẹ nhau mà chỉ được quyền làm cha mẹ những đứa con của nhau mà thôi. Nhưng chúng ta đâu đã có đứa con nào vậy chúng ta chỉ là người tình của nhau. Là người tình thì phải chịu khó viết thư hỏi thăm sức khỏe nhau, chứ đâu có thể lơ là như em chẳng cần biết anh sống chết như thế nào trong ba tháng hè xa cách.
Vì vậy, anh rất buồn mà báo tin cho em biết, đám hỏi em đã được anh sửa đổi thành "đám nhậu" với bạn bè. Mong rằng hơi rượu sẽ mãi mãi ở trong tim anh như hình bóng em.
KHA.
Chẳng thèm đọc lá thư để sửa lỗi chính tả, Kha gấp tờ lịch bỏ vào bì thư màu xanh có sẵn tem và dán lại. Chàng biết khi đọc xong thư này, nàng sẽ chửi rủa chàng là người vô học, mất dạy, du côn và nhiều thứ nữa. Nhưng tất cả những tiếng chửi đó không làm chàng buồn. Chàng chỉ thật sự buồn và hiểu rằng ở kiếp này hay triệu triệu kiếp sau nàng cũng không có đủ thông minh để hiểu rằng chàng tha thiết yêu nàng... Chỉ có Chúa mới biết được tình yêu của chàng dành cho nàng. Nhưng Chúa là người quá nghiêm trang, chắc Ngài chẳng bao giờ thèm "mách lẻo" tình yêu của chàng cho nàng biết.
Kha cố gắng đứng thẳng người rồi loạng choạng bước ra khỏi nhà đi bỏ thư vào một thùng thư đặt trước Bưu điện quận ở cuối phố. Chàng phải đi bỏ thư ngay lúc này nếu không ngày mai chàng sẽ không còn hứng thú đi gửi thư nữa.
Trời mới mưa buổi chiều. Không khí mát mẻ nhưng đầu óc Kha vẫn nóng bừng. Ðêm tối đen. Những ngôi nhà quanh căn phòng chàng trọ đều đã tắt đèn. Kha nghiêng ngã bước đi không còn nhận ra phương hướng chiếc cổng sơn xanh đóng kín nằm ở đâu. Thình lình chàng đâm sầm vào một gốc cây ngã nhoài xuống đất, những giọt mưa còn đọng trên lá rơi tới tấp xuống mặt chàng mát lạnh. Kha tỉnh dần, chàng đưa tay quờ quạng trên mặt đất ướt để tìm lá thư đánh rơi và chàng chỉ bắt gặp những đóa hoa trúc đào rơi rụng. Chàng giận dữ vò nát một đóa hoa trong tay và Chúa ơi nếu có thằng bạn dạy văn ở đây chắc hắn sẽ cười chàng bể bụng, khi hắn nhận ra chàng đang khóc.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-14 11:53:42James Jee>
CÔ BÉ BẮT CHUỘT
 
Trong thời gian đi thực tập dạy học ở Long Xuyên, tôi đã được ăn thịt chuột lần đầu tiên ở một quán bán cơm tháng. Gắp miếng thịt chuột nướng lá cách bỏ vào miệng, tôi vừa sợ vừa run như lần đầu tiên hôn đại vào má người yêu.
Hai mươi năm sau, có dịp trở lại đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã được đi bắt chuột và ăn thịt chuột do một cô bé nấu nướng. Lần này, thịt chuột thơm ngon và quyến rũ như đôi môi người tình.
Hỡi cô bé bắt chuột, em còn nhớ đến tôi hay chỉ nhớ đến... chuột?
Nhân dịp đi lắp đặt máy vi tính cho một Công ty ở Cần Thơ tôi tranh thủ ghé thăm người bạn thân ở xã Thới Long. Anh đã từng học chung với tôi ở Đại Học Tổng hợp Sài Gòn. Ba năm rồi chúng tôi không gặp nhau nhưng vẫn thường thư từ với nhau. Anh cho biết đã về dạy tại trường trung học ở huyện Ô Môn. Khi nào có dịp tôi ghé nhà anh chơi và anh sẽ đãi một món ăn đặc sản quê hương: chuột đồng khìa nước dừa .
Thú thật bạn thân thì bạn thân mà ở xa xôi cách trở qua hai cái bắc, tôi cũng chỉ biết gửi "tấm lòng" là quí, chứ ít khi chịu gửi tấm thân ốm nhách của mình. Nhưng nghe bạn hứa sẽ chiêu đãi một món ăn đặc sản mà ở Sài Gòn không có thì đôi chân tôi dù có lỡ bị tai nạn, tôi vẫn cố chống nạng lên đường. Với tôi, một món ăn luôn luôn hấp dẫn hơn tình bạn, tình yêu vì những thứ đó tôi khó mà nắm bắt và bỏ vào miệng nhai nuốt như món ăn.
Chiếc xe lôi chở tôi, đậu lại ở một ngã ba đường đầy sỏi đá. Người lái xe nói:
- Đến nơi rồi. Anh đi bộ theo hướng này hỏi thăm nhà, chứ đường ruộng xe vào không được.
Tôi trả tiền xe, cám ơn anh rồi lững thững đi bộ trên con đường đất mấp mô. Trời xế trưa nắng gắt. Hai bên đường là những cánh đồng lúa mới gặt xong còn trơ gốc rạ. Xa xa còn một vài thửa ruộng gặt muộn, lúa đã chín vàng. Tôi thử quan sát thật kỹ một thửa ruộng bên đường xem có thấy bóng dáng một con chuột nào không. Nhưng chỉ thấy mặt ruộng nứt nẻ và những gốc rạ khô khốc. Tôi hy vọng bạn tôi đã nuôi sẵn chuột trong nhà để đãi khách, nếu không tôi đành phải than cho số phận hẩm hiu của mình. Món thịt chuột còn bị hụt ăn thì đừng mơ tới chuyện tình yêu.
Ở làng xóm, các ngôi nhà đều không có số. Tôi phải hỏi thăm gần chục người mới biết nhà bạn tôi phía trước có hàng cây so đũa và cái cổng gỗ sơn màu xanh. Cây so đũa là cây gì vậy trời? May thay cuối cùng tôi cũng đi tìm ra cái cổng gỗ sơn xanh, đã khóa. Tôi gọi lớn tên người bạn:
- Tuấn ơi, Tuấn!
Một con chó mực chạy ào ra sủa vang đáp lời gọi của tôi, cứ y như nó tên là Tuấn. Tôi vốn ghét loài chó vì tính ưa "theo đuôi" chủ của nó (người ta thường gọi văn hoa là lòng trung thành), nhưng tôi lại rất thích ăn thịt chó. Thật kỳ lạ, con vật nào mình càng ghét, ăn thịt lại càng ngon. Tôi nghĩ nếu không có chuột đồng, tôi sẽ xúi bạn tôi "hạ cờ tây".
Một cô gái mặc bộ bà ba lấm tấm bông xanh, đỏ, tím, vàng đi ra. Em hỏi:
- Ông hỏi ai ?
- Có anh Tuấn ở nhà không em?
- Mời ông vào.
Cô bé mở cổng gỗ cho tôi vào. Em gõ nhẹ lên đầu con mực, nó không còn nhe răng gầm gừ mà chúi đầu vào chân em. Bước đến hiên nhà lợp lá dừa, cô bé gọi:
- Anh hai ơi, có khách.
Cô bé và con mực đi thẳng vào trong nhà. Một lúc sau, Tuấn chống nạng bước ra. Bàn chân phải của anh bó băng trắng che khuất mắt cá. Tôi sững sờ. Vậy là xong! Với cái chân bị thương đó. Tuấn chẳng thể đi bắt chuột nấu món ăn đặc sản đãi tôi.
Tuấn ôm vai tôi, mừng rỡ nói:
- Cơn gió nào đã đưa bạn hiền tới đây!
Tôi buồn bã nói:
- Chẳng có cơn gió nào hết, tôi phải đi bộ muốn gãy chân để tới đây. Chân cậu bị sao vậy ?
Tưởng tôi chia buồn, Tuấn cười nói:
- Không sao, không sao. Bị tai nạn xe cộ khi tôi về Cần Thơ. Ông vào nhà ngồi chơi. Tối nay ở lại đây nghe.
Tôi theo Tuấn vào nhà và ngồi xuống bộ bàn ghế đánh vẹc-ni láng bóng. Tuấn quay vào trong gọi:
- Út ơi!
Cô bé mặc áo bà ba lấm tấm bông ở nhà sau đi lên, đứng ở cửa. Tuấn nói:
- Em chặt một trái dừa đãi khách.
Tôi vội nói:
- Thôi khỏi. Hãy để dành dừa làm món chuột đồng khìa nước dừa.
Tuấn cười:
- Ông khỏi lo. Nhà còn mấy cây dừa ở phía sau.
Rồi anh quay qua nói với cô em:
- Nè Út, em đi bắt mấy con chuột để anh làm đồ nhậu đãi bạn.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Bộ cô bé không sợ chuột à?
Cô bé che miệng cười .
Tuấn nói:
- Chuột sợ nó thì có.
Đang ngồi ôn lại chuyện ngày xưa cùng đi học với Tuấn bên ly nước dừa, tôi thấy cô bé tay cầm cái chĩa, tay cầm lồng sắt đi ra cổng. Con chó mực lẽo đẽo chạy theo sau. Tôi vội nói với Tuấn:
- Để tôi đi phụ bắt chuột với cô bé nghe.
- Ông cứ ngồi đây chơi, một mình nó làm được mà.
Tôi cười nói:
- Tôi muốn đi thực tế. Vả lại chính tay mình bắt được chuột đem về nấu ăn mới ngon.
Tôi đuổi kịp cô bé khi em vừa ra khỏi cổng một đoạn đường. Con chó mực quay qua tôi gầm gừ, chắc nó sợ tôi dành chỗ nó "theo đuôi" cô bé. Tôi vội bước lên đi ngang hàng với em. Cô bé nói:
- Ông tuổi con gì?
- Tuổi tý.
- Vậy ông nên ở nhà.
- Trời đất! Đi bắt chuột mà cũng kị tuổi à?
- Ông hạp tuổi con chuột nên mới khó bắt, vì ông dễ dàng buông tha "đồng loại".
- Sức mấy mà tôi buông tha. Tôi đang muốn tìm vài "đồng hương" để khìa nước dừa. Còn em chắc tuổi con mèo, sát tinh của loài chuột?
- Không. Em tuổi con rắn. Ở miệt quê rắn bắt chuột giỏi hơn mèo.
Tôi mừng thầm. May mà tôi không ở miệt quê, nếu không chắc em sẽ "nuốt" tôi dễ dàng. Tôi hỏi:
- Em học lớp mấy rồi?
- Hơn anh em một lớp.
- Xạo!
- Thiệt mà, em học lớp 12, còn anh em dạy học lớp 11. Ông cũng đi dạy học như anh em?
Tôi gật đầu:
- Anh em dạy chữ, còn tôi dạy sử dụng máy vi tính.
- Vậy ông có thể lập chương trình bắt chuột trên máy vi tính được không?
- Được chứ, nếu em cung cấp cho tôi những dữ kiện.
Đang đi bỗng cô gái quay trở lại, nói:
- Vậy chúng ta về nhà.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Sao lại về nhà?
- Đi bắt chuột làm chi cho mất công. Về nhà, em sẽ cung cấp cho ông những dữ kiện để ông đem về Sài Gòn khìa chuột đồng trên máy vi tính.
Tôi lắc đầu cười. Cô bé này quá lanh. Tôi ở thành phố còn chịu thua huống chi mấy con chuột ở đồng.
Cô bé dẫn tôi đến một cánh đồng lúa vừa mới gặt còn lác đác những hạt lúa rơi . Em dặn:
- Ông đứng im một chỗ, đừng đi lung tung, chuột nghe động bỏ chạy.
Tôi đứng trên bờ ruộng nhìn con mực trổ tài. Nó đi dọc theo bờ ruộng hít hít rồi sủa vang trước một miệng hang chuột. Cô bé quơ mớ rơm ở ruộng, đốt lửa, dúi vào miệng hang rồi em đứng dậy cầm cây chĩa ngạnh bén ngọt chờ đợi. Khói xông vào hang, một con chuột ngộp thở chạy ra, cô bé lanh lẹ đâm thẳng cây chĩa vào bụng chuột. Con vật kêu chít chít, cô bé gỡ con chuột bỏ vào lồng sắt. Rồi em đi theo con chó đến miệng hang khác.
Nhìn cảnh cô bé bắt chuột, tôi bỗng rùng mình nổi da gà. Không phải tôi ớn lạnh vì thấy cảnh "máu đổ thịt rơi" mà vì thấy tài đâm chĩa chính xác của cô bé. Con chuột nhỏ con và lanh như vậy, em chỉ đâm một chĩa là trúng ngay tróc. Tôi to con và chậm chạp hơn con chuột cả ngàn lần, chắc em mới dứ cây chĩa lên cũng trúng (tim) tôi ngay tróc. Đang lan man suy nghĩ, tôi nghe có tiếng cô bé la:
- Ông Vi Tính, chụp con chuột đang chạy tới ông kìa!
Tôi quay lại thấy một con chuột mập ú đang chạy về phía mình. Tôi vội đứng dạng chân, giơ tay như thủ môn chụp banh thời còn ở đội bóng đá sinh viên. Con chuột chạy qua mé phải, tôi khép góc bay người đón bắt. Nhưng khổ ơi là khổ! Nó là chuột chứ không phải là trái banh nên nó thản nhiên leo qua đầu tôi, chạy tiếp.
Tôi lồm cồm bò dậy, mắc cỡ liếc nhìn cô bé thì thấy em chỉ tay về phía mình và la lên:
- Cút! Cút! Lẹ đi .
Em chê tôi bắt chuột dở ẹc nên đuổi tôi đi? Tự ái nổi lên dồn dập, tôi cóc cần mấy con chuột nữa. Tôi bước nhanh về nhà người bạn. Có thể tôi sẽ thuê xe lôi về Cần Thơ ngay. Bây giờ bạn tôi có đãi món chuột khìa kim cương tôi cũng không thèm ăn, huống chi món chuột khìa nước dừa rẻ tiền.
Bước vào cổng, tôi thấy Tuấn đang chống nạng đứng trước hiên. Anh hỏi:
- Bắt được nhiều ít rồi ?
Tôi nhăn mặt:
- Mới được có mấy con.
- Sao ông không phụ em tôi bắt thêm mấy con nữa?
- Tôi vừa bắt hụt một con chuột, em gái cậu đã nổi giận đuổi tôi đi.
- Nó mà dám đuổi ông đi à?
Tôi nói kháy:
- Em cậu đâu dám đuổi mà chỉ "lịch sự" la: cút, cút đi.
Tuấn, tay chống nạng, tay ôm bụng cười. Tôi muốn cây nạng gãy làm đôi cho hắn ngã xuống để tắt đi tiếng cười khinh thường tôi như cô em gái hắn. Vừa xoa bụng Tuấn vừa nói:
- Ông hiểu lầm rồi . Em tôi la "Cút, cút" là nó gọi con chó mực đuổi theo con chuột ông chụp hụt, chứ đâu phải nó đuổi ông đi .
Tôi giật mình than:
- Trời đất! Ai lại đặt tên cho con chó là Cút ác nhơn vậy?
- Em tôi chớ ai . Con nhỏ đó rất thích đặt tên theo sở thích. Nó không muốn con chó săn của nó bị trùng tên với bầy chó ở xóm này. Thôi ông hãy ra phụ nó bắt thêm một mớ chuột nữa đem về đây, tôi làm đồ nhậu .
- Bây giờ tôi hiểu rồi. Hèn chi lúc đó cô bé gọi tên tôi là ông Vi Tính.
Mặc dù trời sắp tối, tôi vẫn chạy vội ra ruộng. Khi đã hiểu rõ một điều gì, dù trời có tối người ta vẫn dễ dàng chụp bắt được điều đó. Chắc các bạn nghĩ tôi sẽ quyết tâm chụp bắt lại con chuột đồng đã chạy thoát ở ngoài ruộng? "Xời", tôi đâu có thông minh mà nghĩ được điều cao xa đó. Kẻ ngu ngốc như tôi chỉ nghĩ mình sẽ chụp bắt cô chủ của con Cút, vì trong tay cô đã có sẵn một cái lồng đầy chuột đồng mập ú.
Tôi chạy đến gần cô bé... Chợt em cười ré lên giữa đồng vắng. Chắc các bạn mừng cho tôi đã chụp trúng cô bé và làm em nhột? "Xời", nếu đúng như bạn nghĩ, Tết này tôi sẽ mời bạn đến nhà tôi ăn Tết lớn. Khổ thay, tôi đã chạy vấp vào bờ ruộng và ngã chúi xuống đất. Và kỳ lạ thay, tôi đã chụp trúng con chuột tôi bắt hụt hồi chiều .
Chắc các bạn sẽ hét lên: Xạo! Nhưng sự thật đúng như vậy mà. Vì chỉ có con chuột ngu xuẩn đó mới không chịu nằm trong bàn tay mềm mại của cô bé, nó thích nằm trong bàn tay thô bạo của tôi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-21 04:40:59James Jee>
ANH CHÀNG CÓ ĐÔI MẮT CÁ VÀNG
 
- Hoài Đông yêu anh chàng mắt cá vàng phải không?
- Thủy muốn nói ai vậy?
- Anh Trịnh chứ còn ai.
- Sao Thủy gọi anh ấy như vậy?
- Hoài Đông cứ quan sát anh ấy rồi sẽ biết. Mình khuyên cậu hãy suy nghĩ kỹ, nếu không hối tiếc thì đã muộn.
Cô bạn thân người Bắc, làm chung phòng hành chánh vơi tôi, đã nói như vậy. Tôi bắt buộc phải suy nghĩ kỹ. Nhưng anh trịnh hiện nay đang đi công tác ở Đắc Min, tôi chẳng thể “quan sát” anh để quyết định.
Tôi nhờ anh Trịnh về làm việc ở xí nghiệp chúng tôi được gần hai năm. Người anh dong dỏng cao, da ngăm đen. Năm nay ba mươi tuổi. Anh tốt nghiệp kỹ sư ngành xây dựng. Giám đốc thường cử anh đại diện xí nghiệp đi giám sát các công trường do xí nghiệp thi công. Ngẫm nghĩ kỹ, tôi thấy anh chẵng có điểm nào giống con cá vàng. Nhưng cón cá vàng là cá gì nhỉ? Thú thật tôi không biết. Tôi định hỏi Thủy, nhưng tự ái khiến tôi im lặng và đi tìm hiểu một mình.
Tan sở, tôi hỏi thăm đường đến khu bán cá cảnh. Lần đầu tiên đặt chân đến nơi đây, tôi hoa mắt vì những chậu kiểng chứa đủ các loại các bày thành hàng dài trên những kệ gỗ. Tôi không thấy những loại cá hàng ngày mình thường gặp ở chợ như cá lóc, cá rô, cá bống … Gọi những con cá ở đây là cá “kiểng” thật đúng. Chúng nhỏ bé, có màu sắc rực rỡ và hình dáng lạ kỳ.
Chỉ một con cá màu vàng nghệ, nhỏ và thon như ngón tay út, tôi hỏi người bán hàng.
- Các vàng đây phải không chú?
Người đàn ông có mái tóc muối tiêu, phì phà ống píp nói.
- Không phải. Đó là cá hồng kim.
- Vậy cá vàng ở đâu chú?
Người đàn ông chỉ vào một chậu kiểng, có hai con cá màu đen mập ú đang nhởn nhơ bơi đớp lăng quăng.
- Còn một cặp đó. Cô Hai mua đi.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Đó là cá vàng ư? Sao chúng đen thui vậy?
Người đàn ông mỉm cười.
- Cô mới học chơi cá kiểng phải không? Cô hãy nhìn cái miệng chúng kìa. Có màu vàng ánh lên như vàng lá, Cô nuôi chúng chừng một tháng, toàn thân chúng sẽ đổi màu vàng như ở miệng vậy. Người ta còn gọi chúng là cá tàu, cá ba đuôi, cá đầu lân. Cô nhìn kỹ chúng sẽ thấy tên nào cũng đúng.
Tôi chợt nghĩ, có phải Thủy muốn nói anh Trịnh là người mau “thay lòng đổi dạ”, giống như con cá kia đổi màu từ đen sang vàng? Hay Thủy muốn ám chỉ anh Trịnh là người không dứt khoát, thường “lửng lơ con cá vàng”? Tôi quyết định mua cặp cá về nuôi, để có dịp quan sát kỹ chúng và so sánh với anh Trịnh.
Hai tháng sau, anh Trịnh từ Đắc Min trở về xí nghiệp. Anh bận họp cả ngày với ban giám đốc. Anh phải giải trình tiến độ thi công xây dựng một nhà hát nhân dân, do xí nghiệp chúng tôi đảm nhiệm. Buổi chiều anh mới đến nhà tôi.
Thấy anh bước vào nhà không mang theo giò phong lan như đã hứa, tôi làm mặt giận, hỏi:
- Quà của em đâu?
Anh mở túi xách lấy ra một gói nhỏ bọc giấy báo, để lên bàn. Tôi hỏi.
- Cà phê loại đặc biệt hả anh?
- Em mở ra sẽ biết.
Tôi lần mở lớp giấy bọc. Eo ơi! Cái gì giống như miếng thịt rừng chưa nướng chín, trông phát ớn. Tôi vội đẩy gói quà về phía anh.
- Cám ơn. Xin trả lại anh.
Anh Trịnh bật cười.
- Em biết cái gì không mà từ chối? Quí lắm đó, đuôi nai cái sấy khô. Đại bổ. Một anh thanh niên xung phong đi săn, bắt được con nai cái. Anh năn nỉ mãi anh ấy mới nhượng cho cái đuôi. Em nấu cháo ăn, bảo đảm một tuần sẽ lên cân. Trông em lúc này ốm lắm đó.
- Nói kiếm giò phong lan, anh lại mang thứ quỷ này về. Ai mà ham.
Anh đã hỏi thăm nhiều người dân trên đó rồi. Không có giống phong lan nào “ăn” cho mập. Tất cả chỉ để làm “kiểng”. vậy anh đem về làm gì mấy thứ lan vô ích đó. Anh tặng em một cái đuôi nai để lo “nuôi dưỡng tình yêu” của chúng ta.
Anh Trịnh luôn luôn nói đùa với vẻ mặt nghiêm túc làm người nghe tức giận mà không nói được. Để trả thù anh, tôi đứng phắt dậy đi pha cho anh một ly đá chanh, cố ý quên bỏ đường cho bỏ ghét.
- Em mới mua cặp cá vàng à?
Tôi quay lại thấy anh đang đứng trước chậu cá, tôi đặt trên kệ sách. Anh búng búng ngón tay vào mặt kiếng, hai con cá tưởng mồi nhào đến đớp.
- Vừa chơi lan vừa chơi cá kiểng, em có tư tưởng hưởng nhàn hơi sớm.
Tôi để ly đá chanh xuống bàn, trả lời.
- Em mua cặp cá đó vì anh.
- Sao em không mua cá rô? Anh rất thích món cá rô chiên giòn, chấm nước mắm ớt tỏi.
Tôi nhăn mặt gắt.
- Có người nói anh giống con cá vàng nên em mới mua về về để xem anh giốnbg nó ở điểm nào.
- À à … Tìm hiểu con người qua con cá, sinh động đấy. Còn hơn tìm hiểu con ngườI qua bộ bài tây vô tri. Vậy em thấy anh giống nó ở điểm nào?
- Ở điểm “lửng lơ con cá vàng”.
Anh uống một hớp nước đá chanh, khẽ nhíu mày rồi tỉnh bơ châm thuốc hút.
- Em nói đúng, trong đời sống, anh nhiều lúc còn chần chừ chưa có quyết định dứt khoát. Như đám cưới của chúng ta. Tình thì đủ nhưng tiền thì chưa. Một túp lều tranh hai trái tim vàng, được vậy là quá quí. Nếu đó là vàng 24 cara. Hai trái tim chúng ta cân nặng ít nhất cũng hai ký giác. Rồi như sáng nay, họp ở xí nghiệp, gáim đốc hối thúc anh lo bàn giao công trình đúng thời hạn. Anh nói, còn dãy nhà vệ sinh chưa xong. Ông phó giám đốc nói người ta cắt băng khánh thành nhà hát, chứ ai cắt băng khánh thành nhà vệ sinh đâu mà cậu lo. Vậy mà anh ngồi im chẳng có ý kiến gì.
Anh ngồi đối diện với tôi. Trong lúc nói, anh không nhìn thẳng vào mắt tôi mà nhìn vào một điểm nào đó phía trên đầu tôi. Lúc này tôi mới có dịp quan sát kỹ đôi mắt anh và nhận thấy Thủy nói đúng. Khi anh chăm chú nhìn, đôi mắt anh lồi hẳn ra như đôi mắt cá vàng. Đấy là đôi mắt của người ngố hay thông minh? Đôi mắt của người quá thực tế hay quá mơ mộng? Cần phải có thời gian, tôi mới trả lời được câu hỏi đó được.
- Bao giờ anh trở lên Đắc Min?
- Sáng mai. Anh cùng đi với giám đốc và tài vụ. Còn bây giờ anh đói bụng rồi. Chúng ta đi ăn bánh xèo.
- Lúc nào cũng chỉ nghe anh nói “ăn”.
Anh xoa bụng cười.
- Có thực mới vực được đạo. Đói là khổ nạn của con người. Nhưng giả sử con người luôn luôn no bụng không cần ăn uống, chắc nó sẽ bị hủy diệt. Vì nó sẽ lười biếng chẳng chịu làm gì.
Tôi đứng dậy nói:
- Em đồng ý đi ăn bánh xèo. Nhưng sau đó, chúng ta sẽ đi xem phim, anh chịu không?
- Nếu em thấy xem phim mà no bụng, chúng ta, chúng ta nên đi xem phim trước, khỏi cần ghé quán bánh xèo.
Ngồi phía sau chiếc xe anh khom lưng đạp, tôi biết anh đang lo tính đám cưới của chúng tôi. Mặc cho tôi nói tổ chức đơn giản thôi, anh vẫn nói chẳng thể đơn giản được sau khi ăn đám cưới. Tôi biết anh chỉ thích những bông hoa kết trái như cam, quýt, ổi, mận, ... hay những bông hoa ăn được như hoa thiên lý, hoa bí, ... Còn tôi chỉ thích hoa lan để ngắm nhìn.
Chúng tôi như hai thái cực, như mặt trời mặt trăng. Đấy là lý do khiến mọi người tiên đoán hạnh phúc của chúng tôi sẽ đổ vỡ. Nhưng tôi lại nghĩ khác. Chúng tôi sẽ bổ sung cho nhau, nếu biết tôn trọng nhau. Như ly sữa giàu chất bổ, có thêm chút cà phê mơ mộng vào, ly sữa sẽ thơm ngon hơn.
Nếu có dịp nào đó Thủy lặp lại câu hỏi:
- Hoài Đông yêu anh chàng mắt cá vàng phải không?
Tôi sẽ không trả lời lôi thôi mà nhè nhẹ gật đầu. Dù cho mai sau có thể tôi sẽ mang nặng nỗi đau vì cái gật đầu nhè nhẹ đó.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
CHIA TAY NHẢY ĐÔI
 
Khi tôi bước vào, lớp khiêu vũ đã có khoảng 60 học viên. Họ chia nhau ngồi trên những chiếc ghế dài. Một bên nữ, một bên nam. Huyến luyện viên của chúng tôi khoảng 30 tuổi.
Anh tự giới thiệu anh tên là Hòa và giảng cho chúng tôi biết vẻ đẹp của khiêu vũ. Bài học đầu tiên: điệu Rumba. Hòa dạy bước nam trước. Chúng tôi gồm đàn ông , con trai, cao, thấp, béo, gầy, đứng thành ba hàng ngang. Hòa đứng trước cách chúng tôi năm bước. Anh đếm một, chân trái bước lui. Hai, chân phải kéo xuống ngang chân trái và nhón gót … Cứ như thế, chúng tôi làm theo anh.
Hết bước nam, đến bước nữ. tôi đúng có 15 cô, (có bà nào không, thú thật tôi không biết). Họ chỉ đứng thành một hàng ngang và cũng bước theo bước của huấn luyện viên.
Đếnh phần “ráp cặp”. Nhạc mở lên bài “Ngõ vắng xôn xao”. Hòa biểu diễn trước với một cô gái có mái tóc cắt ngắn, uốn tém hai bên như con trai. Luc đầu tôi cứ tưởng cô là chuyên viên âm thanh, vì thấy cô cứ ngồi im bên chiếc máy cassette.
Biểu diễn xong, Hòa nói:
- Các bạn nam hãy mời các bạn nữ cùng nhảy.
Không đợi Hòa nhắc lần thứ hai, khoảng hai mươi nam đã chạy ào sang phía nữ. Năm bạn nam dư phải trở về chỗ ngồi đợi đợt hai. Rồi đợt ba. Tôi vẫn chưa nhảy được với cô nào, dù đã nhảy đổ mồ hôi. Không hiểu sao tôi luôn luôn chậm trễ, khi muốn chạy về phía một cô gái.
Tôi định bật hột quẹt châm một điếu thuốc, cô gái tóc tém đã đứng trước mặt tôi.
- Mời anh.
Tôi lật đật bỏ điếu thuốc vào túi, đứng dậy nắm tay cô gái. Tôi chưa kịp dìu cô đi, cô gái đã đẩy tôi bước lùi.
- Xin lỗi, cô tên gì?
- Mai Liên. Một, chân phải bước lên ...
- Mai Liên học khiêu vũ lâu chưa?
- Mới hai năm. Hai, chân trái bước lên. Ba, chân phải bước lên ...
- Mai Liên ...
- Anh đến đây học nhảy hay học nói chuyện. Một, chân phải bước lên ...
- Nếu Mai Liên dạy tôi học nói chuyện, tôi sẽ bỏ học nhảy ngay.
Cô gái mỉm cười rồi nhăn mặt. Tôi vội nói:
- Xin lỗi, tôi đã vô ý giẫm vào chân Liên.
- Anh nên chú ý một chút.
 - Cám ơn Liên đã dạy tôi bước nhảy đầu tiên trong đời. Không phải một chút, tôi sẽ chú ý đến Liên rất nhiều.
Bản nhạc dứt. Chúng tôi trở về chỗ ngồi.
Các buổi học sau tôi đã chủ động đến mời Mai Liên cùng nhảy. Hết Rumba đến Tango, Bebop, Boston ... Điệu nào tôi cũng để “dấu ấn” giầy tôi lên chân Liên.
- Anh bị tật ở chân à? – Liên hỏi.
- Không. Tôi bị thương.
- Lúc bình thường anh cũng hay giẫm lên chân người khác?
- Không. Chỉ những lúc tôi không tự chủ được.
- Anh hãy xem đây như cuộc vui chơi. Anh sẽ không bị xúc động.
- Làm sao đứng trước Liên mà tôi không xúc động được.
Hai tháng trôi qua. Lớp học đã kết thúc. Chúng tôi kết hợp với lớp bạn, cùng tổ chức một buổi dạ vũ mãn khóa. Mỗi người đóng hai trăm đồng. Chúng tôi đã mời một ban nhạc đến chơi. Dưới anh đèn màu mọi người trông đều đẹp ra. CHút son phấn, chút nước hoa của các bạn nữ làm không khí trong phòng thơm man mác.
Mai Liên đẹp rực rỡ torng chiếc áo đầm màu vàng nghệ. Sợ làm bẩn đôi giầy trắng muốt của nàng, tôi đã phải ngồi im xem nàng nhảy các điệu Rumba, Tango, Boston với những người khác. Những điệu nhảy đ1o bắt buột phải ôm sát nhau, như thế tôi khó àm giữ không đạp lên chân nàng.
Đến điệu Cha Cha Cha, tôi bước đến vội mời mai Liên. Nàng ngạc nhiên hỏi:
- Từ nãy giờ sao anh không nhảy?
- Tôi “không thích” những điệu êm dịu.
Nàng cười:
- Vậy chúng ta hãy nhảy một điệu vui nhộn.
Chúng tôi cùng bước ra “pít” và bắt đầu nhảy điệu Cha Cha Cha. Tôi giữ khoảng cách xa nàng một thước để khỏi giẫm lên chân nàng. Nhảy thếy chẳng đẹp mắt tí nào, nhưng tôi muốnh bảo “đảm an toàn” cho đôi chân của nàng.
Đang biểu diễn một đường “phăng” đột nhiên nàng đứng sựng lại, rồi nhanh cóng trở về bước nhảy cơ bản. Thật tình tôi không biết mình đã giẫm lên chân nàng lúc nào.
- Anh đúng là Pinochio
Đấy là tên của chú người gỗ., Tôi hơi hơi buồn. Chắc Liên chê tôi có “trái tim bằng gỗ”, không biết rung động trước sắc đẹp của nàng? Để nàng khỏi hiểu lầm, tôi nói.
- Ước gì anh sẽ được nhảy với em mãi mãi.
- Rất tiếc em không thể nhảy với một người cứ đạp lên chân mình. Em không muốn ngã.
Tôi thở dài:
- Em nói đúng. Chúng ta chẳng ai muốn ngã. Tất cả chỉ muốn bay lên.
- Anh đừng buồn. Chúng ta đang nhảy một điệu nhạc vui nhộn.
Lúc đó tôi chỉ muốn điệu “vui nhộn” sớm chấm dứt. Và nó đã chấm dứt. Tôi đưa Mail Liên về ghế ngồi, mời nàng uống đá chanh. Điệu nhạc Valse vang lên. Một điệu nhảy không dành cho tôi. Một bạn nam đến mời nàng nhảy. Mai Liên đứng dậy nói:
- Chúc anh một buổi tối vui.
Tôi lấy ngón trỏ khẽ đẩy trên môi mình để có một nụ cười “vui”. Buổi dạ vũ còn kéo dài đến nửa đêm, nhưng tôi đứng dậy ra về. Tôi không trách Mai Liên. Nàng đã lý luận rất xác đáng. Chẳng ai yêu được người cứ dẫm lên chân mình. Dù trên sàn nhảy bóng láng hay trên đường đời nhiều ổ gà. Ngã chỗ nào cũng đau.
Chia tay nhảy đôi. Bây giờ tôi tập nhảy một mình. May mắn thay! Chẳng bao giờ tôi giẫm lên chân tôi. Nếu không, tôi sẽ căm thù tôi suốt đời.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
CÔ BÉ NUÔI GÀ ĐÁ
 
Tuy Phong, trước ngày giải phóng là một quận lỵ ở phía Bắc tỉnh Bình Thuận. Nhắc đến Tuy Phong người ta có thể nhớ đến đủ thức. Các món nhậu đặt biệt như thỏ rừng, khô mực, dông. Các cảnh đẹp như hòn Lau Cau, chùa Hang, xóm Rau, … Riêng tôi, nhắc đến Tuy Phong là nhớ ngay đến những trận đá gà.
Chủ nhật nào ở Tuy Phong cũng có những trận đá gà, nhưng vào dịp cuối năm, những trận đá gà được tổ chức rậm rộ và gay cấn hơn. Tôi là người không có máu cờ bạc, chơi domino tôi cũng chê, nhưng tôi rất mê xem đá gà.
Xem đá gà, đâu phải bạn chỉ đứng trố mắt nhìn hai chú gà đá nhau rồi vỗ tay tán thưởng theo tinh thần thể thao như xem đấu võ đài. Xem đá gà đúng nghĩa, bạn còn sẵn sàn móc túi quần (dĩ nhiên là của bạn chứ không phải của người đứng bên cạnh) lấy tiền ra đánh cá. Đã có lần tôi thua sạch cả tháng lương thứ ký hai chục ngàn, nhưng bù lại có lần tôi đã ăn được năm trăm một cách dễ dàng
Hôm nay ông Táo về trời. Mang trong mình cả tháng lương mới lãnh cộng thêm một tháng lương Tết ông chủ tặng, tôi phóng xe Honda chạy như bay trên quãng đường 30 km từ chợ Lầu ra Tuy Phong. Tôi nôn nóng phóng xe nhanh vì muốn được xem một trận đá gà gay go. Hai chủ gà đã cá nhau một trăm ngàn. Một trận đá gà tiền cá lớn như vậy rất hiếm. Tôi cũng sẽ hy vọng mình sẽ kiếm thêm được một tí tiền còm để về Sài Gòn tiêu pha mấy ngày Xuân. Vả lại, ngày mai tôi đã rời khỏi tỉnh này và Tết xong tôi sẽ theo hãng thầu đến một tỉnh khác làm ăn, tôi sẽ chẳng có dịp nào trở lại đây xem đá gà nữa.
Đến Tuy Phong, tôi gởi xe vào nhà một người bạn rồi đi bộ đến trường gà. Tôi không dám phóng xe thẳng đến đó vì sợ nóng máu tôi sẽ đánh cá luôn chiếc Honda. Đã có lần một người đánh cá mười ngàn ăn xe Honda và ông ta đã được hai người bạn khiêng về nhà, vì bị thua nên ngất xỉu.
Trường gà là một hình tròn đường kính khoảng năm thước, chung quanh có tam cấp xây bằng xi măng để khán giả ngồi. Khi tôi đến, khán giả đã ngồi đông nghẹt và tôi phải đứng nhìn. Trong sân cát tôi nhận ra hai khuôn mặt quen thuộc trong các trận đá gà. Ông Hai Tài đang ôm con gà Ô sắc lông đen tuyền và ông Năm Đề Bô (nhà ông là depot la-de nước ngọt lớn nhất quận) đang ôm con gà Tía sắc lông đỏ óng. Cả hai ông đang “làm nước” cho gà.
Hai con gà to lớn nagng nhau nên được đánh đồng. Những lời nhận xét được tung ra, thật có, giả có, để lôi kéo thêm đồng minh hay để lừa những kẻ dễ tin. Con Ô đó cựa kim và bền sức lắm nghe. Hồi đầu tháng nó đã đá gục con gà Nhạn của cha Năm Ta ở độ thứ năm. Con Tía đó, cha Năm Đề Bô săn sóc kỹ lắm nha, cha nhất định muốn vét tiền xài Tết chuyến này. Con Tía đó có nước đá “mé” và đá “hầu” ác hiểm lắm ...
Trận đấu sắp bắt đầu. Một người đàn ông đội mũ nỉ xám ở trong ban tổ chức cầm xấp vé năm mươi đồng bán cho những người có chỗ ngồi ở tam cấp. Rồi những tiếng đánh cá vang lên. Một người mặc bà ba đen cầm hai tờ giấy một ngàn đưa lên.
- Ô ăn Tía, hai ăn hai ai bắt không?
- Bắt.
Những tiếng đánh cá nhao nhao lên ồn ào như một cái chợ. Một người khác trong ban tổ chức đi thu và phát giấy ghi tiền đánh cá. Kinh nghiệm cho biết, tôi chẳng nên đánh cá độ đầu. Hãy để hai chú gà thử sức nhau, coi kỹ chân cẳng xong, tôi đánh cá ở mấy độ sau cũng không muộn.
Trên bàn tổ chức, một cây nhang khắc làm ba đoạn đột lên để ấn định thời gian cho mỗi độ đá gà. Một người đàn ông tóc muối tiêu ngồi ở bàn lắc cái “chuông cà rem” và hai chú gà được thả ra. Nhìn thấy địch thủ, con Ô chạy đến mổ vào cổ và đá ngay vào ức con Tía. Phựt. Phựt. Một vài sợi lông ở ức con Tía rơi xuống. Những người về phe con Ô vỗ tay la hét.
- Làm mạnh nữa đi con. Làm mạnh nữa đi con.
Con Tía quá chậm chạp. Bị mấy đá vào ức mà nó vẫn đứng lơ ngơ như chưa tỉnh ngủ. Chắc nó đang bắt chước Trang Tử suy tư thắc mắc “Không biết mình bị gà đá hay gà đá mình?” Lợi dụng giây phút con Tía đang thắc mắc suy tư, con Ô nhào đến mổ vào chiếc mồng đỏ chói của đối thủ và dứt luôn hai đá vào càng cổ con Tía. Những tiếng vỗ tay vang lên.
- Đá cho nó gãy càng cổ đi con, rồi ba thưởng.
Một vết xước rỉ máu ở phía cổ phải con Tía, nó đã tỉnh ngủ; nhưng vẫn đứng lơ ngơ, rồi đột nhiên gáy vang ò ó o ... cả trường gà cười ồ lên. Một người lên tiếng trêu chủ gà.
- Ê Năm Đề Bô, cha cho nó uống la-de hơi nhiều nghe.
Cũng đòn cũ, con Ô lao vào mổ mồng con Tía và dứt lôn hai đá. Phía trái cổ con Tía lại có vết máu rỉ ra. Chắc con Tía này đã lậm lời Chúa dạy. Tôi nổi sùng, quên cả kinh nghiệm không nên đánh cá độ đầu, tôi hét lên:
- Mười ngàn ăn năm. Gà Ô ăn gà Say ai bắt không?
- Tôi bắt.
Nghe tiếng đáp, tôi giật mình, cứ tưởng gã đàn ông nào có giọng nói lạ đời giống con gái, không ngờ đó chính là cô gái thật. Cô bé chen lấn đứng bên tôi từ lúc nào tôi chẳng hay biết. Mặt em đỏ bừng giống y chang con gà Tía. Em trợn mắt nhìn tôi trừng trừng như muốn xáp vào đá gãy càng cổ tôi. Nhìn thấy vẻ “nộ khí xung thiên” trên khuôn mặt em, tự dưng tôi phát ớn và dịu giọng nói:
- Em có tiền không mà đòi đánh cá?
Cô bé móc túi lấy ra một cuộn giấy bạc toàn giấy năm trăm.
- Chừng này đủ chưa?
- Tiền của em hả?
- Chứ bộ tướng của ông mà có được chừng này tiền à.
- Ăn tiền của em, ba má em có đòi lại không?
Người ghi tiền đánh cá đã đến đứng trước mặt tôi, y cười:
- Cậu đừng lo, con gái Năm Đề Bô đó. Chả giao cho con gái toàn quyền đánh cá về con gà của chả.
Tôi ngạc nhiên nhìn cô bé.
- Con gà Say đó của em?
Cô bé mím môi rồi gằn từng tiếng:
- Ông say chứ ai say. Nó là gà Tía, ông nhớ chưa. Ông còn muốn đánh cá không?
Tôi lắc đầu:
- Không.
Người ghi tiền nói:
- Cậu sợ rồi à?
Khi nói chuyện với con gái, tôi ghét nhất mấy cha phá đám, nên tôi nhìn thẳng vào mặt người ghi tiền và nói:
- Sơ quái gì. Tôi cá Tía ăn Ô, mười ngàn ăn năm, ông bắt không?
Người ghi tiền trố mắt nhìn tôi.
- Cậu không giỡn chứ?
Tôi móc túi đếm mười ngàn đưa cho gã.
- Ông bắt không?
Gã nghi ngờ nhìn tôi một lần nữa rồi mới nhận tiền. Gã cúi xuống hí hoáy ghi vào một mảnh giấy và trao cho tôi. Khi gã bỏ đi, cô bé nói:
- Ông khùng à?
- Không khùng đâu, khi tôi có em là đồng minh.
- Em không cần đồng minh.
- Nhưng tôi rất cần.
Tiếng chuông leng keng vang lên báo hiệu dứt độ đầu. Hai chủ gà nhào ra sân ôm gà về “làm nước”. Họ đổ nước lạnh vào khăn rồi cẩn thận lao trên mình gà. Ông Năm Đề Bô lấy một gói cơm nghiền nhuyễn viên thành những viên nhỏ, ông vạch mỏ con Tía ra, nhét từng viên cơm vào. Ông cho nó một miếng nước rồi vuốt cái cổ trụi lông sần sùi của nó.
Tôi quay lại nói với cô bé.
- Sao em không vào giúp ba em?
- Ba em không cho. Ba em nói sợ con Tía mến em nó sẽ hết hung hăng.
Tôi gật gù.
- Ba em nói đúng. Chẳng cứ gì giống gà nòi ngu ngốc mà ngay cả một người thông minh như tôi nếu lỡ mến em cũng sẽ hết hung hăng.
Cô bé trợn mắt.
- Ông chê con gà Tía của em ngu hả?
Tôi xua tay:
- Đâu có. Tôi còn muốn được là con gà Tía của em.
- Xí, ông giống con gà Ô thì có.
- Giỡn nhỏ, em nhìn kỹ xem, tôi là người Việt chứ đâu phải là Mỹ đen.
Cô bé bật cười. Miệng em trông xinh như một trái tim gà luộc.
Độ hai cũng bắt đầu bằng tiếng chuông leng keng. Hai chú gà lại được thả ra sân. Con Ô vẫn hung hăng lao vào đá trước, con Tía vẫn chậm chạp lơ ngơ. Phựt. Phựt. Bị đá vào yết hầu, con tía ngã xuống sân cát quay vài vòng. Những tiếng reo hò vang lên.
- Rồi, rồi. Con Tía theo ông Táo về trời rồi.
- Năm Đề Bô ơi, La-de trào ra miệng con Tía rồi.
- Ô ăn Tía, năm ăn một nè, ai bắt không?
Cô bé nắm tay tôi giựt mạnh.
- Ông, ông. Nó chết rồi hả ông?
Nhìn thấy mặt cô bé tái xanh không dám nhìn vào trường gà, tôi vỗ vai em trấn an.
- Không sao đâu. Chuyện đó thường mà. Em xem kìa.
Trong sân cát, con Tía đã loạng choạng đứng dậy. Nó nghiêng đầu nhìn con Ô bằng con mắt của kẻ đã nhường nhịn đến cùng và chẳng thể nhường nhịn thêm. Nó vỗ cánh lao thẳng vào địch thủ, mổ vào cổ con Ô và tung thân lên đá phựt, phựt. Hai con gà ngã nhào xuống cát. Mỏ con Tía vẫn mổ chặt lớp da cổ con Ô, nó đá ngược lên phựt, phựt. Những tiếng reo hò ủng hộ con Tía vang lên.
- Gà say nổi khùng rồi.
- Ai nói Ô ăn Tía, năm ăn một đâu, tôi bắt.
- Thôi bây giờ đánh đồng.
Cô bé giựt mạnh tay tôi.
- Nó khoẻ rồi hả ông?
Tôi cười.
- Nó đang khoẻ như thần.
Đoạn nhang trên bàn đã tắt. Tiếng chuông leng keng báo hiệu dứt đội hai. Cả hai ông chủ gà đều nhào ra gỡ hai con gà đang dính chặt nhau. Có tiếng la: con Ô chột rồi. Tôi không ngờ con Tía trông nhừ nhừ như người say rượu mà lại có cú đá “mé” hiểm hóc đúng như lời quảng cáo.
Đã đến giờ ăn trưa. Theo thông lệ ở trường gà, trận đấu sẽ tạm ngưng trong nửa tiếng, để khán giả có thì giờ ăn vội một dĩa cơm, ở quán gần bên. Tôi mời cô bé vào quán. Em lắc đầu.
- Cám ơn ông, em không đói.
- Không đói thì em cũng nên vào quán ngồi nghỉ chân, uống ly đá chanh, để lát nữa còn có sức mà hét ủng hộ gà nhà.
Những bàn ăn bầy ngoài quán đều đặt dưới những tàng cây keo nhiều bóng mát. Tôi kéo ghế mời cô bé ngồi và gọi một dĩa cơm sườn, hai ly đá chanh. Tôi hỏi cô bé.
- Em không đem cơm cho ba em à?
- Trận đấu dứt ba em mới chịu ăn. Xem gà người khác đá ba em còn bỏ cơm huống chi gà nhà.
- Em có thường đi xem đá gà không, sao tôi ít gặp em vậy?
- Em mới đến đây lần đầu. Nếu hôm nay ba em không bắt con gà Tía của em đem đi đá chắc em cũng không đến đây.
- Con gà Tía là của riêng em?
- Vâng. Em đã mua nó ở chợ đem về nuôi từ lúc nó còn nhỏ xíu. Khi nó lớn lên, ba em xem tướng thấy hay nên đã đào tạo nó thành gà đá. Em nuôi nó được mười tháng rồi. Em đâu có muốn nó trở thành gà đá, tại nó đã thắng hết mấy con gà nòi của ba em, nên ba em mới bắt nó đem đi đá trận cuối năm hôm nay.
Tôi cười.
- Vậy mà lúc đầu thấy em sừng sỏ như gà đá, tôi cứ nghĩ em là một tay nuôi gà nòi chuyên nghiệp.
Cô bé chun mũi.
- Ai bảo bảo ông chê con gà cưng của em là gà say làm chi.
- May mà tôi lỡ chê con gà của em, chứ tôi lỡ chê em chắc dám bị em đá gãy càng cổ lắm.
Cô bé cười.
- Ông chê em, em chỉ biết khóc thôi.
Một trận đá gà đôi khi có thể kéo dài đến đêm, tôi phải lùa vội dĩa cơm sườn để dằn bụng cho đỡ đói. Cô bé ngồi im lần lượt khuấy hai ly chang đường, tiếng muỗng va chạm vào thành ly nghe lách cách. Gần hai giờ trưa, một số người đã rời quán ăn. Tôi vừa ăn xong, cô bé hai tay bưng lý đá chanh đưa cho tôi. Tôi cầm lấy uống từng ngụm dài. Châm một điếu thuốc, tôi gọi người tính tiền rồi dẫn cô bé trở lại trường gà. Tôi muốn tìm cho em một chỗ ngồi ở tam cấp để em đỡ mỏi chân và có thể theo dõi trận đấu rõ ràng hơn.
Độ ba bắt đầu bằng sự tấn công chớp nhoáng của con Tía, con gà này hết say la-de đến say máu. Nó lao cào con Ô đá túi bụi, trong khi con gà này một mắt đã kéo màng và di chuyển tránh né rất chậm chạp. Những sợi lông đen tuyền rơi lả tả trên sân cát. Người ta không còn đánh đồng nữa. Người ta cá Tía ăn Ô, từ năm ăn một đến tám ăn một, rồi mười ăn một. Tôi hích vai cô bé:
- Em đánh cá đi, lấy tiền tiêu Tết.
Cô bé lắc đầu.
- Em chỉ đánh cá với ai chê con Tía thua mà thôi.
- Vậy tôi đánh cá với con Ô ăn ...
Cô bé trợn mắt quát.
- Ông lại chê con Tía của em phải không?
- Gì mà dữ quá vậy. Tôi cá con Ô ăn “đất” ở hiệp này, em dám cá không?
Cô bé cười.
- Khỏi. Chúng ta là đồng minh với nhau mà.
Phựt. Phựt. Con Tía nhảy lên đá mạnh hai chân vào đầu con Ô. Mắt phải của con Ô rỉ máu. Nhiều người la lên: con Ô đui rồi, con Ô đui rồi. Không còn thấy đường để tránh né, con Ô bị con Tía đá lăn trên cát, nó gắng gượng đứng dậy, rồi lại bị đá lăn trên cát. Khi nó đứng dậy được, cái đầu đẫm máu của nó dính đầy cát.
Cô bé nắm chặt tay tôi, tôi cảm thấy bàn tay em hơi run.
- Tội nghiệp con Ô quá ông.
Tôi đã nhiều lần thấy cảnh những con gà bị đá gãy càng cổ, máu túa ra và nằm dẫy chết thê thảm trên sân cát nên bây giờ chẳng thấy còn xúc động. Con Tía như nổi khùng, nó vẫn lao vào con Ô đá túi bụi làm máu văng ra tứ tung. Không biết vì quá đau nên bị mất cảm giác hay vì lỳ đòn mà con Ô vẫn không chịu bỏ chạy để chấm dứt trận đấu. Con Tía vẫn tiếp tục lao vào đá con Ô liên miên không biết mệt. Phựt. Phựt. Một chiếc cựa của con Tía đâm lủng lớp da cổ của con Ô. Hai con gà ngã nhào trên cát. Con Tía rút cựa ra được, nó đứng dậy mổ xuống con Ô và đá tiếp. Máu chảy thành vòi ở cổ con Ô.
Đột nhiên tôi nghe rõ tiếng la của cô bé lẫn trong tiếng reo hò của khán giả.
- Bập. Bập. Thôi Tía. Thôi Tía.
Đang hăng máu đá đối thủ loạn xạ xà ngầu, con Tía tự nhiên dừng lại. Nó đứng thẳng người nghiêng đầu nhìn quanh, trong khi con Ô lảo đảo đứng dậy. Rồi chẳng ai ngờ, con Tía bỏ chạy quanh trường gà, giương mắt nhìn khán giả.
Những tiếng gào thét tức tối vang lên. Tôi thấy ông Năm Đề Bô liệng mạnh chiếc dép vào con Tía, con vật ngã xuống và ông nhào đến vặn cổ nó. Họng ông rít lên:
- Đồ phản chủ. Tao giết mày.
Cả trường gà xôn xao. Những tiếng reo hò của những người đánh cá con Ô thắng nghe điếc tai. Một ông già ngồi bên tôi lẩm bẩm.
- Gà đui thắng gà sáng. Chuyện độc nhất vô nhị trong lịch sử đá gà.
Tôi kéo cô bé đứng dậy. Em ngơ ngác nhìn tôi.
- Con Tía thua hả ông?
Tôi gật đầu.
- Phải. Vì nó đã bỏ chạy.
Cô bé bụm mặt òa khóc. Tôi đặt tay lên vai em dìu đi. Tôi nghĩ cô bé đã mất một con gà thân yêu, em khóc là đúng. Dù em khóc không đúng đi nữa, tôi cũng chẳng biết dỗ dành em như thế nào. Ngay chính tôi khóc tôi cũng chẳng biết dỗ dành mình như thế nào huống chi người khác. Vì không biết dỗ dành mình, đấy không phải là lý do khiến tôi chẳng bao giờ dám khóc?
Tôi nói với cô bé:
- Tôi đưa em về nhà nhé.
Cô bé lắc đầu.
- Em không muốn thấy cảnh ba em làm thịt con gà của em.
Giờ này vào những quán nước, tiếng nhạc oang oang chỉ làm điên đầu. Tôi nghĩ nên dẫn cô bé ra xóm Rau, nơi có không khí mát mẻ và yên tĩnh sẽ giúp cô bé dễ chịu hơn.
Mùa trái cây đã qua. Những cây xoài, vú sữa chỉ còn những tàng lá mướt xanh. Chung quanh chúng tôi những luống cải tươi tốt trổ đầy hoa vàng nhạt. Tôi và cô bé ngồi xuống một cành xoài to lớn xa ngang mặt đất. Đôi mắt cô bé vẫn đỏ hoe và tôi lại phải quẹt diêm châm điều thuốc khác trong khi chờ đợi nỗi buồn của em tan loãng vào buổi chiều vắng.
Nhìn đăm đăm về phía những bông cải vàng, cô bé nói:
- Ông có biết vì sao con Tía bỏ chạy không?
Tôi đã muốn quên chuyện đó vì nghĩ lại thêm “cáu sườn”. Tôi đã chắc ăn trăm phần trăm, vậy mà con gà Tía phải gió khi không bỏ chạy, làm tôi mất toi mười ngàn. Bây giờ nghe cô bé hỏi, tôi gắt:
- Vì nó khùng chứ còn vì gì nữa.
Cô bé quay lại nhìn tôi.
- Ông hiểu lầm nó rồi, nó bỏ chạy tại vì em.
- Tại em?
- Phải. Khi nghe em gọi “bập bập”, nó đã bỏ đi tìm em theo thói quen như em vẫn thường gọi nó ở nhà.
Tôi vỗ mạnh vào đầu mình.
- A! Phải rồi. Tôi có nghe tiếng em gọi.
- Ông không còn ghét nó nữa chứ?
Tôi gật đầu. Tôi còn ghét con Tía làm sao được khi đã hiểu nó chết chỉ vì nghe tiếng gọi của cô chủ, nó đã vội bỏ chạy đi tìm, quên cả đối thủ, quên cả sự chiến thắng của nó.
Cô bé lại đăm đăm nhìn những bông cải vàng, em nói:
- Con Tía đã thua oan và bị giết oan. Em phải nói rõ cho ba em biết.
- Con Tía đã chết rồi, em có nói cho ba em biết cũng bằng thừa. Biết đâu ba em sẽ nổi giận đánh em thêm.
- Thây kệ. Em phải nói sự thật, dù có bị ba đánh đòn. Em không muốn con Tía bị mang tiếng phản chủ.
Sự thật biết được cũng chẳng làm quái gì. Người ta vẫn xem thường sự thật như xem thường ánh sáng mặt trời. Nhưng tôi không còn muốn cản cô bé nói lên sự thật, vì tôi rất yêu ánh sáng mặt trời.
Trân mặt cát, bóng nắng đã yếu dần và ngả sang màu vàng kệch. Nghĩ đến đoạn đường về hơi xa nên tôi nói:
- Thôi, trời sắp tối rồi, để tôi đưa em về nhà. Tôi còn phải trở về chợ Lầu.
Cô bé ngạc nhiên nhìn tôi.
- Ủa! Vậy mà em tưởng ông ở đây. Tết này ở đây có tổ chức đá gà lớn lắm, ông lại ra xem nghe.
- Em còn thích xem đá gà à?
Cô bé cúi đầu.
- Không. Em chỉ muốn ông có dịp ra đây.
- Tôi chẳng còn có dịp nào ra đây nữa.
Cô bé vội ngẩng đầu nhìn tôi.
- Sao vậy? Ông giận em đã làm ông đánh cá thua?
Tôi bật cười.
- Nhằm nhò gì mấy chục ngàn bạc đó. Đánh cá cả đời tôi vì em mà có lỡ thua tôi cũng chẳng giận em. Tôi chẳng còn dịp nào ra đây nữa, chỉ vì ...
Cũng như cô bé, tôi nói lên sự thật của mình. Sự thật biết được cũng chẳng để làm quái gì, nhưng tôi vẫn nói cho cô bé biết về việc làm của tôi và sự rời bỏ tỉnh này để trở về Sài Gòn trong ngày mai, rồi lại đi đến một tỉnh khác kiếm ăn. Những miếng ăn hình như chỉ dành cho tôi ở những nơi xa lạ.
Cô bé rươm rướm nước mắt, em cúi đầu dí dí ngón chân trên cát.
- Trong một ngày mà em phải mất hai thứ thân yêu: Con Tía và ông.
Đặt tay lên vai cô bé, như một người nói ngọng, tôi phải cố gắng lắm mới phát âm được rõ ràng từng tiếng.
- Trong một ngày, người ta có thể mất nhiều thứ thân yêu cũ. Nhưng bù lại, người ta nhận được nhiều thứ thân yêu mới. Tôi sẽ không bào giờ để mất hình bóng em thân yêu trong suốt đoạn đời trôi nổi của tôi.
Tuy Phong, trước ngày giải phóng là một quận lỵ ở phía Bắc tỉnh Bình Thuận. Nhắc đến Tuy Phong, người ta có thể nhớ đến đủ thứ. Các món nhậu đặc biệt như: thỏ rừng, khô mực, dông. Các cảnh đẹp như hòn Lau Cau, chùa Hang, xóm Rau ... Riêng tôi, tôi bây giờ nhắc đến Tuy Phong là nhớ ngay đến ...
Chắc các bạn lại gắt lên: biết rồi, khổ lắm, nói mãi. Lại nhớ ngay đến những trận đá gà chứ gì.
Trời! Tôi còn phải nhớ đến những trận đá gà làm quái gì nữa. Tôi đâu đã khùng mà để cho mấy con gà nòi đá văng hình bóng cô bé thân yêu ra khỏi đầu óc nhỏ bé của tôi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
CÔ GÁI HÁT BỘ
 
Tôi được tòa soạn báo phân công đi viết bài phóng sự về đời sống các bệnh nhân ở trại phong Qui Hòa, nhưng khi ghé Qui Nhơn, thấy tấm bảng quảng cáo Nhà hát tuồng Đào Tấn trình diễn vở Hộ sanh đàn, tôi quyết đnh không bỏ lỡ dịp may tìm hiểu về tuồng. Đến đất tuồng mà không xem tuồng, không khác gì đến xứ biển mà quên… ăn hải sản.
Mặc dù buổi tối cuối năm trời lạnh căm, tôi cũng xếp hàng mua vé vào rạp xem như một khán giả “ghiền tuồng” lâu năm. Vở tuồng đã thật sự làm tôi say mê bởi các diễn viên diễn quá hay. Nhất là người đóng vai Kỷ Lan Anh khi gặp người chồng Tiết Cương sau bao năm lưu lạc. Kèm theo điệu bộ chăm sóc chồng, nàng vừa khóc vừa hát:
Sao mà trông hư (gầy gò) lắm vậy anh ơi! Trăng rẽ vần em có hay ở mô mà. Gió đã tạc, mưa đã phai. Phu quân ơi!
Tôi tự trách mình đã quên mang theo khăn tay, nếu không tôi đã có dịp khóc mùi mẫn.
Sau buổi trình diễn, tôi tìm gặp giám đốc Nhà hát tuồng để phỏng vấn. Ông nói nếu tôi muốn tìm hiểu sâu xa về nghệ thuật tuồng, nên đến gặp “thầy tuồng” Nguyễn Phổ - người đã đạo diễn vở tuồng tôi vừa xem. Và ông ghi cho tôi một địa chỉ kèm vài dòng giới thiệu.
Suốt ngày hôm sau tôi phải làm việc với ban giám đốc bệnh viện Qui Hòa. Đến 5 giờ chiều, tôi mới tìm đến nhà ông thầy tuồng. Nhà ông ở bến đầm Thị Nại. Trên bờ đầm đầy những quán ăn hải sản. Tôi nghĩ sẽ mời ông thầy vào quán nhậu, như vậy tôi sẽ tha hồ khai thác vốn hiểu biết về tuồng của ông.
Thật đáng buồn, ông thầy tuồng đang bị bệnh cúm, nằm đắp chăn đến tận cổ và rên hừ hừ. Hiểu mục đích của tôi đến viết bài về tuồng để đăng báo Xuân, ông nói:
- Tôi mệt không nói được (hừ hừ). Nhưng con gái tôi sẽ nói thay tôi (hừ hừ). Nó đang đóng vai Kỷ Lan Anh (hừ hừ). Nhưng khi đăng hình màu lên báo, cậu nhớ đăng hình tôi (hừ hừ). Ngọc Hân ơi (hừ hừ), Ngọc (hừ hừ)… ơi!
Cô con gái từ nhà dưới đi lên. Hai người nói to nhỏ với nhau điều gì đó, tô chỉ nghe loáng thoáng. Rồi cô gái mời tôi ra ngoài phòng khách. Cách chỗ ông thầy đang nằm chỉ có một tấm màn nhung màu rêu đã cũ. Tôi vừa ngồi xuống chiếc ghế, cô gái hỏi:
- Ông có thắc mắc gì về tuồng?
Nghe tiếng ông thầy tuồng rên hừ hừ vọng ra, tôi nói:
- Nếu không ngại, tôi mời em qua quán hải sản bên kia đường. Chúng ta nói chuyện thoải mái hơn và không làm phiền bác đang cần nghỉ ngơi.
Cô gái gật đầu đứng dậy.
Đây là mốt quán ăn lộ thiên, bàn ghế kê sát bên đầm Thị Nại. Gió từ mặt đầm thổi lên làm tôi ớn lạnh. Nhưng sau khi ăn vài con ốc nhảy vừa luộc nóng hổi, người tôi đã “nóng” lên, tôi hỏi:
- Em có thể cho tôi biết chút ít về nghệ thuật hát tuồng được không?
Ngọc Hân vừa ăn xong một con ốc nhảy nên lưỡi em cũng nhảy theo:
- Ba em dạy: miền Bắc gọi là hát tuồng vì hát theo tuồng tích đã có trong truyện Tàu. Miền Trung gọi là hát bộ vì vừa hát vừa diễn bằng điệu bộ. Miền Nam gọi là hát bội do chữ bội trong “gia bội, bội nhị” có nghĩa là thêm bằng hai, bằng ba, phải diễn cường điệu lên. Riêng em thích gọi là hát bộ hơn. Nghệ thuật hát bộ dựa vào các nguyên tắc cách điệu, ước lệ, tượng trưng. Ví dụ: trung thần vẽ mặt đỏ, gian thần vẻ mặt trắng mốc… Nhờ đó, người xem nhìn mặt diễn viên là biết ngay đó là vai trung hay vai gian.
Tôi nói:
- Ước chi ở ngoài đời nhìn mặt ai, người ta cũng biết ngay là trung hay gian thì đỡ khổ biết mấy!
Ngọc Hân cười:
- Như vậy em đâu dám ngồi chung bàn với ông?
- Sao vậy?
- Vì mặt ông trắng mốc.
- Hãy đợi đấy, chỉ cần uống xong một ly bia, mặt tôi sẽ trở thành trung thần ngay.
Tôi uống cạn ly bia và mặt tôi từ từ đỏ lên. Tôi cũng chứng tỏ mình rành về sân khấu nên nói:
- Tối qua tôi xem em diễn vai Kỷ Lan Anh. Em đóng rất hay lúc em can đảm giành cây roi mây trong tay người chồng, để ông ấy khỏi đánh em.
Ngọc Hân cười sằng sặc:
- Ông phê bình hát bộ như vậy là “giết” em rồi! Cái roi mây khi Tiết Cương sử dụng là cây roi thúc ngựa ra trận. Nhưng sau đó qua điệu bộ của anh ấy, cây roi mây lại là con ngựa. Khi em giằng cây roi là em diễn như mình đang giữ chặt dây cương ngựa, để níu kéo chồng lúc chia tay.
Tôi càm ràm:
- Vậy ai mà hiểu nổi khi nào là ngựa, khi nào là roi?
- Xem hát bộ quen rồi, ông sẽ hiểu tính tượng trưng đó. Hay tính ước lệ trong động tác khoa tay: hất mu bàn tay lên là nói đi. Hất mua bàn tay rồi hất lòng bàn tay lên là gọi quay lại. Cũng động tác đó nhưng chỉ làm hai ngón tay có nghĩa là đuổi đi gấp gấp.
Ngọc Hân vừa nói vừa dùng tay diễn tả, tôi nhìn theo lắc đầu.
- Rắc rối quá! Vậy ai mà hiểu nổi mấy người hát bộ!
- Hát bộ nếu cố gắng tìm hiểu, người ta sẽ hiểu được dễ dàng. Chỉ có “giả bộ” mới khó hiểu mà thôi.
- Em theo nghề hát bộ được bao lâu rồi?
- Mười tám năm.
- Xạo!
- Em nói thiệt mà. Em vừa đầy tháng, má em đã bồng em ra diễn trên sân khấu. Em chỉ hát độc nhất một câu: oa oa!
Tôi bật cười:
- Vậy em thích diễn vai nào nhất?
Ngọc Hân trầm ngâm rồi nói:
- Trên sân khấu em đã diễn các vai bà mẹ, bà tiên, người vợ, tiểu đồng, tráng sĩ… nhưng chưa bao giờ diễn vai con gái. Vì mấy vở tuồng ba em đạo diễn không có vai đó. Cho nên vai diễn em mong ước nhất là vai “con gái”.
Tôi nghĩ em đã nói thật. Em đi diễn hát bộ quá sớm, nên đã sống với tâm trạng của những nhân vật không thích hợp với tuổi của em. Những chiếc mặt nạ hát bộ đã che đi khuôn mặt thật của em. Để khỏi buông tiếng thở dài, tôi nhanh tay để vào chén của em một con ghẹ nướng to nhất. Em nói:
- Tối nay, em diễn tiếp hồi hai vở Hộ sanh đàn, mời ông đi xem, ông sẽ hiểu hát bộ hơn.
Tối đó tôi xem Ngọc Hân diễn, dù không mang theo khăn tay tôi vẫn không tự ngăn được nước mắt lăn trên má. Khi tấm màn nhung vừa khép lại, tôi chạy vào hậu trường tặng em một bó hồng đỏ thắm.
- Cám ơn em đã giúp tôi hiểu được hát bộ. Thật đáng tiếc vở tuồng còn hồi ba, nhưng sáng mai tôi phải có mặt ở sân bay Phú Cát 7 giờ để đáp máy bay về Sài Gòn lo công việc. Tôi mong một dịp khác sẽ xem em diễn vai trọn vở tuồng.
7 giờ sáng ở sân bay Phú Cát. Tôi vừa cân hành lý xong, chuẩn bị bước vào phòng cách ly. Ngọc Hân nhảy xuống từ một chiếc xe thồ và chạy ùa vào.
- May quá! Em còn kịp tặng ông một món quà.
Ngọc Hân đưa tặng một cây roi mây mà em đã dùng để diễn trong vở tuồng. Tôi nói đùa:
- Về Sài Gòn tôi đi xe Honda được rồi, đâu cần phải đi “ngựa”.
Ngọc Hân cười:
- Nó sẽ là “cây roi” nếu ông quên viết thư cho em.
Tiếng loa phóng thanh gọi hành khách gấp rút lên máy bay. Tôi bước đến cửa phòng cách ly rồi quay lại vẫy tay chào em lần cuối. Ngọc Hân hất mua bàn tay rồi hất lòng bàn tay lên, tôi nghĩ em muốn gọi tôi trở lại để dặn dò một điều gì đó. Tôi chạy thật nhanh về phía em. Em nói:
- Ông lại hiểu sai rồi. Em làm động tác đó với “hai ngón tay” có nghĩa là mong ông hãy ra đi gấp gấp. Nếu không em sẽ… khóc.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÂU PHẢI CÁI GÌ CŨNG MONG MANH
 

Mỗi chiều tan sở ra, tôi đều đi bộ đến chợ huyện xây cất ở gần bờ biển, ghé mua thực phẩm cho bữa ăn tối, trước khi trở về nhà. Bữa ăn trưa vì thì giờ eo hẹp, tôi thường ăn vội vã một dĩa cơm ở quán gần sở, rồi trở vào căn phòng ngồi ngả lưng ở ghế dựa ngủ một giấc ngắn, trước khi làm việc lại vào lúc một giờ. Bữa ăn tối, tôi thích tự tay mình làm lấy hơn là đi ăn cơm ngoài. Người dân ở đây thường nấu các món ăn bằng cá biển bỏ thật nhiều ớt. Những món ăn như thế chẳng hợp với bệnh gan của tôi.
Buổi chiều nay khi đến chợ, tôi ngạc nhiên thấy một đống bắp cải bày bán ở ngoài sân cát. Thực phẩm này vốn là thứ tôi bị bó buộc phải ưa thích vì nó cần thiết cho lá gan trục trặc. Mỗi khi đến chợ, tôi phải đến hàng rau tìm nó trước nhất rồi mới đến hàng thịt và chẳng bao giờ tôi bước chân đến hàng cá biển. Ở chợ này, bắp cải bán rất đắt, đắt vì phải chuyên chở từ Ðà Lạt xuống, thường thường một ký bắp cải giá từ ba đến bốn trăm đồng. Vậy mà chiều này, khi đi ngang qua đống bắp cải xanh tươi, tôi đã nghe cô bé rao "Trăm đồng một bắp cải đây". Tôi không hiểu cô bé nói thật hay mình nghe lầm.
Những người bán rau ở chợ này, tôi đều quen mặt (nếu không quen mặt thì sức mấy mà họ dám bán thiếu cho tôi mỗi khi tôi kẹt tiền), nhưng cô bé đây trông lạ hoắc. Ở xứ nắng chói chang này mà em vẫn mặc áo len, thế mới kỳ. Tôi đứng sững nhìn em một lát và cô bé cất tiếng mời :
- Dịp may hiếm có. Ông mua bắp cải đi, giá rẻ rề.
Tôi nói :
- Chắc bắp cải này hư nên em mới bán giá rẻ rề chứ gì ?
Cô bé cúi xuống lấy một bắp cải đưa cho tôi.
- Ông xem này. Còn tươi nguyên, mới đem ở Ðà Lạt xuống mà.
Tôi cầm lấy bắp cải, lật lớp lá xanh bao bên ngoài, bên trong những lá cải trắng nõn cuốn chặt chẳng có dấu vết hư thối nào, nó thật tươi đúng như cô bé nói.
Bắp cải nặng gần hai ký. Tôi hỏi cô bé :
- Bao nhiêu đây ?
- Em bán giá đồng hạng, một trăm một cây.
Ðể chứng tỏ mình cũng là người rành chuyện buôn bán, tôi nói :
- Thôi tám chục đi.
Cô bé lắc đầu.
- Một trăm là rẻ rồi, ngày thường ông phải mua ba trăm là ít.
- Thôi chín chục đi. Tôi sẽ mua một cây rưỡi.
- Em không bán một cây rưỡi. Cứ một trăm một cây, giá nhất định.
- Thôi chín lăm đi. Em bán không.
- Trời đất ơi ! Ông kỳ kèo trả giá còn hơn đàn bà. Bộ ông sợ mua hớ về vợ ông la hả ?
- Không. Tôi sợ mua hớ em sẽ cười tôi ngu.
Cô bé bật cười.
- Ông cứ mua một trăm một cây đi. Em không cười ông ngu đâu.
- Vậy chứ em vừa cười cái gì vậy ?
- Em cười ông thật thà. Em khuyên ông nên mua hai ba cây để dành. Ngày mai sẽ không còn bắp cải rẻ như hôm nay.
Tôi "thật thà" hỏi :
- Tại sao vậy ?
Cô bé chớp mắt nói :
- Ba em chở một xe bắp cải, định đem vào Sài Gòn bán; nửa đường xe hư, ba em phải chở vào đây bán giá rẻ. Nhưng ba em đã đi thuê xe khác, vì vậy em nói ngày mai giá bắp cải sẽ đắt.
Nghe cô bé giải thích xong, tôi nói :
- Vậy em bán cho tôi năm bắp cải.
Cô bé đi vòng quanh đống bắp cải, bới tìm những cây khá lớn, rồi em lấy dây cột chúng lại đưa cho tôi.
- Em đã lựa cho ông những bắp cải chắc nhất.
Vì đã tự giới hạn, mỗi ngày chỉ được chi tiêu ba trăm tiền chợ; nên mua bắp cải xong, tôi khỏi mất công đi đến hàng thịt hay bất cứ hàng nào khác.
Bữa ăn tối đó, tôi đã ăn bắp cải trừ cơm, rất may, bắp cải không làm tôi đau bụng phải thức giấc vào lúc nửa đêm.
Buổi chiều hôm sau đi chợ, tôi thấy cô bé vẫn còn đứng bán bắp cải. Em vẫn mặc chiếc ao len xanh dài tay, dù cho trời nắng gắt. Mặc áo len có lẽ là thói quen của dân Ðà Lạt, nên họ ít khi chịu rời bỏ. Khi tôi đến gần, nghe em rao : "Ðại hạ giá. Hai trăm đồng ba bắp cải đây". Tôi lại tự hỏi, cô bé nói thật hay mình nghe lầm. Thấy tôi, em nói :
- Mời ông mua bắp cải.
- Mua gì nữa. Hôm qua tôi đã mua năm bắp cải rồi.
- Ông nên mua thêm. Hôm nay giá rẻ hơn hôm qua.
Nghe cô bé liến láu, tôi nổi sùng nạt :
- Sao hôm qua em nói giá hôm nay sẽ đắt hơn.
- Em đâu có ngờ, ba em chưa thuê được xe chở bắp cải vào Sài Gòn. Hôm nay em bị bắt buộc phải bán giá rẻ, vì xứ nóng bắp cải mau hư.
Tôi thở dài :
- Vậy là tôi đã bị hớ rồi, em có cười tôi ngu ?
- Không. Vì em cũng đã bị hớ.
- Em hớ cái gì ?
- Cảm tình dành cho ông.
- Dành cho tôi ?
- Phải. Em tưởng ông thông cảm sẽ không kỳ kèo về chuyện mua bắp cải với giá đắt. Nào ngờ...
Cô bé bỏ lửng câu nói, thở dài, rồi ngoảnh mặt rầu rầu nhìn đi nơi khác. Tiếng thở dài của người lớn thật đáng ghét như lốp xe xì hơi. Nhưng tiếng thở dài của mấy cô nhỏ như ngọn gió mùa Thu nghe thật thê lương và trái tim tôi, một chiếc lá vàng úa, tránh sao khỏi rung động. Tôi vội nói :
- Này nhỏ, tôi thông cảm với em rồi. Hôm nay tôi mua thêm ba bắp cải nữa.
Cô bé quay nhìn tôi cười.
- Ðể em lựa cho ông ba bắp cải chắc nhất.
- Hôm qua em đã lựa cho tôi năm bắp cải chắc nhất rồi, còn đâu bắp cải chắc nhất nữa.
- Em vẫn còn những bắp cải chắc nhất dành cho ông chiều nay.
Biết mình bị cô bé lừa, nhưng tôi chỉ cười trừ. Nếu một bà già nói với tôi như vậy, chắc tôi sẽ giảng "moran" cho bà nghe điếc con ráy, nhưng với một cô bé tôi đành nín thinh. Chẳng bao giờ tôi thích cãi tay đôi với một cô bé. Giành giật "thắng lợi" với một người nhỏ tuổi hơn mình, nào có thích thú gì.
Khi cô bé đưa cho tôi ba bắp cải đã được cột dây cho cẩn thận, tôi hỏi :
- Này nhỏ, bây giờ gia đình em ở đâu ?
- Gia đình em ăn ngủ luôn trên xe, đậu ở khoảng sân trống trước rạp hát.
- Tôi cũng ở gần đó. Tối nay em rảnh không ?
- Ông định mời em đi xem cải lương ?
- Em thích cải lương ?
- Thích lắm. Em xin ba hoài nhưng ba không cho đi xem.
- Vậy tối nay tôi sẽ đến xin phép cho em đi xem.
Cô bé reo lên.
- Ông hứa chắc nghe.
Tôi cười.
- Chắc như bắp cải của em.
Sau khi rửa bát đũa xong, đúng bảy giờ, tôi đi bộ đến rạp cải lương. Mùa hè ở đây ban ngày trời rất khó chịu, chẳng ai muốn ra ngoài đường, vì nắng chiếu rát da mặt, lại thêm những ngọn gió thổi cát ào vào mắt nhắm không kịp. Nhưng đêm đến, gió từ biển thổi vào mang theo hơi nước, khiến người ta thấy dễ chịu hơn khi rời khỏi nhà. Trên vỉa hè đông người qua lại, họ đi mua sắm vật dụng hay đi xem hát. Ða số dân ở đây rất mê cải lương, nhưng chẳng mấy khi được xem tận mắt, họ chỉ được nghe các vở tuồng truyền thanh hay trên những chuyến xe đò mở nhạc cải lương oang oang câu khách. Vì vậy mỗi khi có đoàn cải lương về huyện hát, con phố nhộn nhịp hẳn lên.
Tôi đi thẳng ra sân cát rộng trước rạp hát. Có khoảng chục chiếc xe hàng đậu nơi đây. Không biết gia đình cô bé ở xe nào, tôi đi vòng quanh tìm kiếm. Chợt có tiếng kêu :
- Chào ông.
Tôi ngẩng đầu nhìn lên. Cô bé đang ngồi với hai em nhỏ trên một mui xe và em đưa tay vẫy. Tôi đưa tay vẫy lại. Cô bé bám vào một chiếc thang nhỏ leo xuống. Vẫn mặc chiếc áo len màu xanh dài tay. Cô bé đứng trước mặt tôi đưa tay vuốt lại mái tóc.
- Em đợi ông từ sáu giờ.
Tôi giải thích :
- Tôi phải nấu cơm và rửa chén bát xong mới đi được.
- Vợ ông đau à ?
- Tôi chưa hân hạnh gặp bà ấy ở đời này.
- Trời đất ! Vậy ông mua bắp cải làm gì mà nhiều quá vậy. Bộ ông có nuôi heo hả ?
- Nếu có nuôi heo, tôi sẽ sạt nghiệp. Tôi nuôi tôi còn ốm nhách thế này, nuôi heo bán ai mua.
Cô bé cười, chỉ dưới chân tôi.
- Tại ông lo chăm sóc cái bóng của ông nhiều quá. Ông thấy không, nó mập hơn ông.
Tôi cười nói :
- Ba em đâu, để tôi xin phép ông cho em đi xem cải lương. Họ sắp trình diễn rồi.
Cô bé gọi lớn vào khoang xe :
- Bố ơi, có ông khách mua bắp cải.
Từ trong khoang xe tối om, một người đàn ông mặc áo vét sờn cũ bước ra. Ðứng ở thành xe, ông hỏi tôi :
- Ông muốn mua sỉ bắp cải ?
Cô bé xua tay.
- Con bán cho ông ấy nhiều ở chợ rồi, ông ấy đến để...
Cô bé quay sang tôi :
- Ðể làm gì ông nói đi.
Người đàn ông từ thành xe nhảy xuống bắt tay tôi.
- Cậu làm việc ở huyện ?
- Dạ phải.
Bây giờ tôi mới nhận ra người đàn ông này buổi sáng tôi đã gặp ở văn phòng hành chánh huyện. Ông đến xin phép thuê xe chở bắp cải vào Sài Gòn. Tôi đã giúp ông có giấy phép sớm. Tôi không ngờ ông là ba cô bé. Tôi nói :
- Bác thuê được xe chở bắp cải chưa ?
- Cám ơn cậu. Ðược rồi, bốn giờ sáng xe chở bắp cải sẽ chạy. Còn chúng tôi ở lại sửa xe xong vào sau.
Cô bé reo lên :
- Vậy ông hên nhé. Ngày mai bắp cải sẽ đắt.
Người đàn ông nói :
- Cậu muốn mua bắp cải nữa, tôi vẫn để cho cậu giá đặc biệt.
Trước lòng tốt của người đàn ông, tôi phát hoảng, vì đã hai tối rồi tôi phải ăn bắp cải trừ cơm. Tôi vội từ chối.
- Cám ơn bác. Tôi còn sáu bắp cải ở nhà. Dư ăn một tuần.
Thấy cô bé nháy mắt ra hiệu, tôi biết em đã nôn nóng muốn đi xem cải lương. Tôi vội kết thúc câu chuyện bằng một câu quen miệng : "Sau cơn mưa trời lại sáng, chúc bác may mắn". Rồi tôi ngỏ ý muốn mời ông và cô bé đi xem cải lương "giải buồn". Ông nói :
- Cám ơn cậu. Lúc này tôi chẳng còn hứng thú xem cải lương, nhưng con nhỏ này mê lắm, vậy nhờ cậu dẫn nó đi xem.
Tôi bắt tay chào ông và dẫn cô bé đi. Khi chúng tôi đi khuất chiếc xe vận tải, cô bé nói :
- Em không ngờ ông cũng thuộc tên tuồng cải lương dữ.
Tôi ngạc nhiên hỏi :
- Tôi có thuộc tên tuồng cải lương nào đâu ?
- Hồi nãy ông nói với em "Sau cơn mưa trời lại sáng" đó không là tên một tuồng cải lương sao?
Tôi không hiểu cô bé nói thật hay đùa, nên đành nín thinh.
Sắp đến giờ trình diễn, khán giả đã vào rạp, chỉ còn bọn con nít bu đông bên ngoài chực vào ké. Tôi đến phòng vé hỏi mua hai vé hạng ba. Họ nói hạng nhất, nhì, ba đều đã hết, chỉ còn thượng hạng, tám trăm một vé. Cũng may tôi mới lãnh lương hồi chiều; nếu không, tôi phải nói dối với cô bé là đã bị bọn móc túi lấy bóp và dẫn em về.
Trong rạp đông nghẹt khán giả, thở không nổi. Nhờ mua vé thượng hạng, chúng tôi đã được ngồi ngay dưới một hàng quạt trần. Có vậy tôi mới đủ sức chịu đựng ngồi ở đây suốt ba tiếng đồng hồ.
Hồi chuông thứ tư vang lên. Ðèn trong rạp tắt hết và loa phóng thanh kêu oang oang. "Kính thưa quí vị khán giả. Hôm nay đoàn Hoa Mai chúng tôi xin trình diễn ra mắt quí vị vở tuồng "Duyên tình mong manh". Một vở tuồng tình cảm xã hội đặc sắc nhất và mới lạ nhất của soạn giả Ðức Thịnh. Với sự có mặt của các danh tài..." Và tôi ngáp, mặc dù theo thông lệ, ở nhà mỗi tối đúng 10 giờ, tôi mới đi ngủ.
Chắc tôi đã ngủ thẳng một giấc trong rạp, nếu không có những tiếng vỗ tay vang lên rào rào. Trên sân khấu, anh kép chính và chị đào thương đang ôm nhau ca những lời mùi mẫn, diễn tả mối tình trong trắng và mong manh như giấy pelure của họ. Tôi ngạc nhiên thấy những người ngồi chung quanh và cô bé đã khóc dễ dàng. Em đưa ống tay áo lên thấm những giọt nước mắt lăn trên má. Tự dưng tôi đâm "thù" những người đang ca hát trên kia, vì họ đã giúp cho người khác khóc. Tự người ta khóc chưa đủ buồn sao mà còn phải giúp người ta !
Cho đến khi tấm màn khép lại, nhạc ò e tạm biệt lên và đèn trong rạp bật sáng, tôi cũng không hiểu họ đã diễn cái gì trên sân khấu. Tôi giữ cô bé ngồi lại trên ghế, chờ khán giả ra bớt để đỡ chen lấn. Cô bé hỏi tôi :
- Ông xem hay không ?
Tôi lắc đầu nói :
- Họ diễn thua tôi nhiều.
- Còn khuya. Ông mà biết diễn tuồng ?
- Ðừng vội chê, nhỏ. Tôi mời em tối mai đến xem tôi trình diễn vở tuồng "Bữa ăn tối tại nhà trọ".
Ðạo diễn xong bữa ăn tối, tôi đi đón cô bé đến xem. Trong căn phòng chật hẹp, dưới ánh đèn néon sáu tấc, chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn nhỏ. Trên bàn, bày bắp cải bảy món, do tôi nấu theo quyển sách : "Tự học làm bếp". Gồm có : bắp cải luộc, bắp cải trộn giấm, bắp cải xào mì chay, bắp cải bằm chiên trứng, bắp cải nấu canh thịt mỡ, bắp cải hầm xương heo, bắp cải muối dưa và món tráng miệng đặc biệt là bắp cải sống.
Cô bé quan sát kỹ lưỡng món ăn rồi em hỏi :
- Sao toàn bắp cải vậy ?
Tôi phân bua :
- Thì em có bán cho tôi món gì khác ngoài bắp cải đâu ?
- Ăn xong, có đau bụng không ?
- Ðau bụng hay không chắc em biết rõ hơn tôi vì bắp cải này của em mà.
Bữa ăn tiến triển một cách chậm chạp, nhưng thành quả rất tốt đẹp; vì sau cùng, chúng tôi đã thanh toán hết các món ăn. Tôi thu dọn bát dĩa vào chậu rồi đi pha trà. Cô bé nói :
- Ðể em rửa bát chén giúp ông.
Tôi xua tay.
- Em làm giúp, tôi sẽ mất thói quen và tối mai tôi không còn can đảm rửa chén nữa.
- Sao ông không lập gia đình? Một người vợ sẽ giúp ông nhiều chuyện.
- Tôi đã biết giặt quần áo, biết đi chợ trả giá, biết nấu ăn, biết rửa chén, vậy khỏi phải lấy vợ.
- Ông vẫn cần phải lấy vợ như thường.
- Tại sao?
- Ai săn sóc khi ông đau ốm?
- Nhà thương thí.
- Ai cằn nhằn ông khi ông về khuya hay say sưa?
- Trời đất quỉ thần ba má anh chị ơi! Bộ cần phải có một người cằn nhằn mình, mình mới sống được sao?
- Ðúng vậy. Ông thấy đó, ai cũng ghét tiếng động nhưng thiếu tiếng động người ta sẽ buồn chán và hoảng sợ ngay.
Nghe cô bé nói cũng có lý, tôi không biết bắt bẻ thế nào nên chọc tức em:
- Vậy chắc em cũng rành chuyện cằn nhằn lắm hả?
Cô bé trả lời tỉnh bơ.
- Dĩ nhiên. Ðàn bà con gái ai không rành chuyện đó.
- Vậy em làm ơn cằn nhằn tôi một hồi đi.
Cô bé trợn mắt nhìn tôi.
- Bộ ông điên rồi hả?
- Tôi nói thật mà. Em cằn nhằn cho tôi thâu băng, rồi khi nào cảm thấy cần tiếng cằn nhằn, tôi sẽ mở băng ra nghe. Như thế tôi khỏi cần phải lấy vợ nữa.
Cô bé bật cười rũ rượi.
- Ông đúng là vua lười.
- Tôi mà lười ? Nếu lười tôi đã không tự tay nấu những bữa ăn tối.
- Những người đàn ông sợ lập gia đình đều là những người lười biếng. Ông hãy tưởng tượng, nếu tất cả đàn ông đều sợ lập gia đình thì thế giới này sẽ ra sao?
- Ồ ! thật tuyệt diệu. Thế giới này sẽ trở thành thiên đàng ngay.
Cô bé kéo ghế đứng dậy.
- Thôi chào ông, em về.
Tôi chưng hửng nói :
- Gấp vậy. Còn sớm mà.
- Em không muốn ở trong thiên đàng của ông nữa. Ngột ngạt quá.
Mặc dù tôi năn nỉ, cô bé vẫn đòi về. Khi đưa em đến gần chỗ gia đình em đậu xe, tôi nói :
- Em xem có hay không ?
- Xem gì đâu ?
- Vở tuồng "Bữa ăn tối ở nhà trọ" do tôi diễn.
Cô bé cười.
- Dở ẹc. Ông nấu nướng nuốt không vô.
Tuy vở tuồng của tôi "dở ẹc", nhưng tôi vẫn cảm thấy sung sướng. Tôi không làm cho cô bé tốn nước mắt mà trái lại đã giúp em có được nụ cười.
Một buổi tối từ nhà người bạn trở về, tôi thấy cô bé đã ngồi đợi tôi ở trước thềm nhà trọ. Em ngồi bó gối gục đầu, tóc buông xõa, dáng điệu ủ dột. Tôi hỏi :
- Em ngồi đợi lâu chưa ?
- Hơn nửa tiếng rồi.
- Mời em vào nhà.
- Em ngồi đây được rồi.
Tôi nghĩ vào phòng giờ này cũng nóng bức nên ngồi xuống thềm nhà với em. Căn phòng khi đi tôi đã đóng kín các cửa nên ánh sáng đèn điện bên trong không hắt ra ngoài. Trước mặt chúng tôi khoảng sân rộng lát gạch, sáng rực ánh trăng đêm mười sáu. Hai cây dừa trồng trong sân vươn cao với những tàu lá ánh bạc và im sững. Ðêm không gió, không khí ngột ngạt khó thở. Chợt cô bé ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt tôi, em nói nhanh :
- Em đến từ biệt ông. Ngày mai em đi, xe của ba em sửa đã xong.
Tôi biết chuyện này rồi sẽ xảy ra. Ðã biết trước nhưng tôi cũng không ngăn được tiếng thở dài.
- Ông đừng buồn.
- Ừ.
- Ông còn nhớ vở tuồng chúng ta cùng xem ?
- Nhớ.
- Tên tuồng là gì ?
- "Bữa ăn tối ở nhà trọ".
- Không phải vở tuồng dở ẹc đó đâu. Em muốn nói vở tuồng chúng ta cùng xem ở rạp.
- "Duyên tình mong manh".
- Ðúng rồi. Không phải ở trên sân khấu mà ở ngay đời này, mọi thứ cũng đều mong manh.
- Ðâu phải cái gì cũng mong manh.
- Có những thứ rất chắc chắn.
- Thứ gì đâu ?
- Những bắp cải của em rất chắc chắn.
- Chúng chỉ chắc chắn đối với ông.
- Ðối với em cũng có một thứ rất chắc chắn.
- Thứ gì ?
Ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt cô bé. Tôi nói chậm rãi :
- Tình cảm của tôi dành cho em.
Ðáng lẽ tôi phải đồng ý với cô bé là mọi thứ ở đời này đều mong manh. Ngày mai em đi, chẳng bao giờ chúng tôi có dịp gặp lại, tôi không nên để em còn những ràng buộc với nơi chốn này, không ràng buộc, em sẽ sống dễ chịu hơn ở một nơi chốn khác. Vậy mà vì ích kỷ, tôi đã nói lên tiếng nói của lòng mình và làm cho cô bé khóc. Hơn những thứ khác, những giọt nước mắt rất mong manh, tôi biết vậy. Nhưng chắc suốt đời tôi sẽ ân hận vì chỉ một phút yếu lòng, tôi đã giúp cho cô bé biết ở đời có một thứ không mong manh.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÊM LOBO
 

18 giờ, tôi đã có mặt ở sân khấu ca nhạc quận 10. Chẳng phải tôi có hẹn với một cô gái nào ở đó mà vì đêm nay có buổi trình diễn của ca sĩ Lobo mới từ Mỹ qua. Tôi chỉ có khả năng mua vé đứng 100.000 đồng nên phải đến sớm để dành chỗ tốt. Tôi nhẩm tính trong đầu. Nếu ta đến sớm, rờ được lưng hàng ghế cuối hạng 150.000 đồng, kể như ta đã lời 50.000 đồng. Vì đối với kẻ ngồi ở hàng ghế cuối và kẻ đứng ở hàng đầu, khoảng cách sân khấu đều bằng nhau.
Tôi cứ tưởng mình là người đến sớm nhất, đâu ngờ cũng có quá nhiều người cùng sở thích rờ hàng ghế cuối, để được lời 50.000 đồng như tôi. Ðang đứng rung đùi (không phải theo điệu nhạc máy đang phát ra oang oang mà để đỡ tê cẳng) tôi nghe có tiếng ở phía sau lưng :
- Xin lỗi nhích ra cho tôi vào với.
Tôi đáp mà không thèm quay đầu lại.
- Hết chỗ rồi.
Một bàn tay thò vào nắm ngay lưng chiếc ghế tôi đang nắm rồi tôi cảm thấy "phần mềm" của một người (chứ không phải của máy vi tính) trườn ngang be sườn của tôi. Xong. Một cô gái đã đứng bên tôi. Em đưa bàn tay hình cái lược chải lại mái tóc rối bù trước trán. Em nói như đang nói với hàng ghế trước mặt.
- Luôn luôn còn chỗ cho một người không nản lòng chen lấn.
Tôi đã nhìn thấy khuôn mặt "hết ý" của em rồi nên tôi không ngu gì nói chuyện với hàng ghế trước mặt, tôi quay qua nói với cô gái :
- Nếu biết trước em là người muốn vào đứng, tôi sẵn sàng nhích nhường chỗ cho em.
- Nếu biết trước Lobo đêm nay hát rất dở, ông có bỏ về ngay bây giờ ?
- Ồ, đã chắc đâu !
- Cũng vậy. Ðã chắc đâu ông nhường chỗ cho tôi, nếu tôi không chịu khó chen lấn.
Tôi thở dài :
- Thật đáng tiếc, ngó vậy mà em yểu tướng !
Cô gái giật mình, nhìn tôi.
- Sao, ông định trù ẻo tôi chuyện gì ?
- Ở tuổi em mà xưng "tôi" chứng tỏ em đã già. Mà người già thì chết trước người trẻ lẽ đương nhiên.
Cô gái bật cười :
- Thôi được rồi. Tôi là... em, còn ông là...?
- A simple man.
- Một người đàn ông đơn giản ! Chà, ông cũng thuộc tựa nhạc của Lobo ghê nhỉ !
- Còn phải nói. Tôi là fan của ông ấy cách đây 20 năm.
- Standing at the end of the line. Ðứng ở hàng ghế cuối thế này mà gọi là fan.
- Tôi đủ khả năng mua vé hạng nhất 200.000 đồng. Nhưng như vậy tôi sẽ không còn may mắn được gặp em.
- Ông đúng là người "đàn ông đơn giản". Thay đổi thật mau lẹ. Mới đó đã thành fan của em.
Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói :
- 20 giờ rồi. "Con sói" vẫn chưa chịu xuất hiện.
Tôi ngạc nhiên thấy cô gái đây rất rành về tựa nhạc và còn biết biệt hiệu "con sói" cùa Lobo. Những người yêu thích nhạc Lobo đều ở hàng "băm", còn em mới xấp xỉ ở hàng "hai" chứ mấy. Tôi hỏi :
- Ai chỉ cho em nghe nhạc Lobo vậy? Vì Lobo đã nổi tiếng trước khi em chào đời.
- Ông có thích nghe nhạc cổ điển không ?
- Thích chứ.
- Ông thích nhất nhạc sĩ nào ?
- Chopin.
- Vậy ông sinh cùng thời Chopin à ?
Chẳng có cơn gió độc nào thổi ngang qua nhưng tôi cảm thấy cứng họng và đứng im. Cũng may em lại tiếp tục bắt chuyện trước :
- Ông đứng giữ chỗ giùm để em đi mua một ổ bánh mì thịt.
Tôi cũng cảm thấy "kiến bò bụng" nên nói :
- Em mua giúp tôi một ổ bánh mì chả nghe.
Cô bé xòe một bàn tay ra trước mặt tôi. Tôi hiểu ý, móc túi lấy tờ giấy 5.000 đồng đưa cho em. cô gái biến đi lẹ làng như lúc đến. Ðèn sân vụt tắt. Một luồng ánh sáng xanh vụt chiếu trên sân khấu và Lobo ôm đàn guitar bước ra chào khán giả. Mọi người đứng dậy vỗ tay vang rần. Tôi sợ cô gái sẽ đi lạc vì trời tối hù và người xem đứng hỗn độn. Như thế tôi sẽ mất em, và mất tiêu luôn... ổ bánh mì kẹp chả !
Lobo bắt đầu hát bài Don't except me to be your friend. Tâm hồn tôi "lắc lư" theo tiếng đàn thùng và giọng ca trầm ấm của ông. Chợt có một bàn tay thô nhám cào vào cánh tay tôi. Tôi vội hất ra và không thèm ngó qua người bên cạnh, tôi nói :
- Xin lỗi, chỗ này có người rồi.
Bàn tay thô nhám lại tiếp tục cà vào cánh tay tôi. Tôi nhăn mặt ngó qua. Một ổ bánh mì đang nằm ở cánh tay tôi và cô gái đang chờ tôi thu gọn tay chân để em có chỗ bước vào. Tôi cầm ổ bánh mì cắn một miếng rồi cười nói :
- Xin lỗi, tôi đang mãi nghe một ca khúc mình ưa thích : "Ðừng loại trừ anh là bạn của em".
Cô gái cũng cắn một miếng bánh mì và nói :
- Em thì chỉ muốn "loại trừ".
Tôi vội giảng giải :
- Ðây là một top hit của Lobo, em không thể "loại trừ" ca khúc này được.
- Em đâu có muốn "loại trừ" ca khúc đó. Em chỉ muốn "loại trừ" ông.
"Cộp". Tôi ê cả hàm răng không phải vì đã nhai nhằm một cục sạn trong bánh mì, mà tôi đã nhai nhằm "lời nói có đá cục" của em.
Trên sân khấu, Lobo đang hát bài : Me and you and a dog named Boo. Cô gái hỏi :
- Ông thích ca khúc này không ?
Tôi lắc đầu :
- Không. Khi không giữa hai người đang yêu lại có một con chó. Thật vô duyên !
Cô gái cười nói :
- Nếu Lobo đổi con chó tên Boo thành tên B. chắc ông thích lắm phải không ?
Tôi nổi quạu định bợp tai em vì đã dám lấy tên tôi đặt tên cho con chó. Nhưng em đã vội thanh minh :
- Nhờ có tên trong bản nhạc đó, ông sẽ nổi tiếng khắp thế giới.
Nghe được "nổi tiếng khắp thế giới", tôi vui vẻ gật đầu đồng ý ngay.
Ring Ring. Tiếng chuông điện thoại reo vang trong lời ca của Lobo. Tôi vội tranh thủ hỏi cô gái :
- Em có thể cho tôi biết số phone để liên lạc ?
- Ông cứ gọi số 15 và nhắn họ gọi cho em.
- Cái gì ? Số 15 là điện thoại cấp cứu y tế mà !
- Ðúng rồi. Vì chỉ khi nào cần "cấp cứu" ông mới gọi cho em.
Baby, I love you to want me...
Ðứng riết mỏi chân nên em bắt đầu dựa vai em vào vai tôi. Tôi sung sướng nói nhỏ vào tai em :
- Tôi đã yêu cầu Lobo hát tặng em ca khúc đó.
Em lắc lắc mái tóc chạm vào má tôi :
- Cám ơn ông. It sure took a long, long time. Chắc phải mất nhiều thời gian đấy.
- Ồ nhằm nhò gì. Tôi đợi được mà. Cũng như tôi đã đợi được nghe Lobo hát từ hơn 20 năm nay.
Rồi buổi trình diễn của Lobo cũng kết thúc. Tôi buồn rầu nói với cô gái : Good night !
Em cười nói :
- Mới đó ông đã quên ca khúc Don't tell me Good night mà Lobo vừa hát.
Tôi mỉm cười, lòng tràn đầy hy vọng. Tôi nói khi em đang dắt xe ra về :
- Chắc chắn, tôi sẽ gọi điện thoại số 15.
- Ðược thôi. Nếu ông cần cấp cứu, em sẽ là một y tá.
Chúa ơi ! chưa bao giờ tôi muốn được "cấp cứu" ngay như lúc này !
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
ĐỪNG MƠ LÀ THÁC ĐỔ
 

Một lần đứng trên đỉnh thác Đambri nhìn xuống đáy vực sâu thăm thẳm, tự nhiên tôi bủn rủn tay chân và thốt gọi: "Má ơi!" Một cô nữ sinh Bảo Lộc đứng kế bên, cười nói: "Ông ngó lớn vậy mà nhát như một chú nhóc.". Tôi đỏ mặt im lặng. Về đến nhà, tôi viết ngay truyện này để bào chữa cho tánh nhát gan của mình.
Đứng trên đỉnh thác Đambri nhìn xuống vực sâu, mặc dù hai tay nắm chặt lấy lan can bằng sắt, tôi vẫn cảm thấy "lạnh" đôi chân. Trong khi ấy cô bé thản nhiên chạy đi, chạy lại tìm bứt một đóa hoa rừng rồi em quăng nó xuống mặt thác. Đóa hoa màu tím hồng trôi vật vờ trên mặt nước đục rồi bị cuốn vào dòng thác trắng xóa đổ ào xuống vực sâu. Mất hút.
Cô bé quay qua hỏi tôi:
- Nhóc thấy thác này đẹp hơn những thác ở Đà Lạt không?
Tôi dậm dậm bàn chân cho đỡ "lạnh" cẳng rồi trả lời:
- Nó đẹp hơn nhiều vì nhờ có em đứng bên cạnh.
- Em không đứng mãi bên nó đâu. Em sắp là nó...
Tự nhiên cô bé loạng choạng ôm đầu. Tôi vội chạy đến ôm vai em, dìu đến ngồi ở một kè đá, dưới một tàn cây rậm lá.
- Đừng nhìn xuống vực sâu, em sẽ bị chóng mặt.
Cô bé lắc đầu, thở hổn hển:
- Em có cảm tưởng như ai đang gọi em.
- Ai?
- Cái thác.
- Bá láp. Nó nhắc chúng ta đã đến giờ ăn trưa.
Tôi mở túi xách lấy ra một ổ bánh mì kẹp chả lụa đưa cho em. Cô bé lắc đầu:
- Em không đói.
Tôi khui một lon nước ngọt, bỏ ống hút vào rồi đưa cho em. Cô bé cầm lấy lon nước, hút một hơi dài. Khuôn mặt em đã bớt nhợt nhạt. Tôi vừa nhai bánh mì kẹp chả vừa hỏi em chuyện học hành để em quên đi chuyện cái thác gọi.
- Kỳ thi tú tài vừa qua em làm bài khá không?
Cô bé hút thêm một hơi nước ngọt rồi nói:
- Bài toán của em chắc chắn được điểm 10.
- Đừng quá tự kiêu. Có thể em chỉ được 9.5 điểm.
- Tại sao vậy? Em giải đúng một trăm phần trăm mà.
- Em hãy xòe bàn tay viết bài ra.
Cô bé đưa lon nước ngọt qua tay phải rồi xòe bàn tay trái ra. Tôi chỉ vết mực tím ở ngón giữa.
- Em thấy đó, ngón tay em khi viết còn để dính mực huống chi bài viết của em. Như vậy bài thi của em có thể bị trừ nửa điểm vì dơ bẩn.
Cô bé đưa ngón giữa lên, liếm vào vết mực tím rồi chùi ngón tay vào áo thun trắng. Vết mực vẫn còn nguyên vì vai áo em đâu phải là cụt tẩy. Cô bé gật đầu:
- Thôi được, em chịu mất nửa điểm bài toán. Còn môn Lý chắc trên trung bình. Em chỉ sợ môn Văn được điểm 2.
- Đừng quá tự ti. Những lá thư em viết cho tôi đều rất "văn học". Vậy chắc chắn bài văn của em được điểm 6.
- Em không tin khả năng thẩm định văn học của nhóc.
- Đừng đùa. Tôi từng đi dạy kèm học sinh luyện thi môn văn vào lớp 6.
- Nhưng đây là chương trình lớp 12 mà.
- Thì hơn nhau có 6 lớp chứ nhiêu mà tôi không "thẩm định" nổi. Đó là chưa kể tôi đã có một bài thơ được chọn đăng trên báo Nhi Đồng.
- Nhưng Nhóc viết văn đâu có hay. Vì nếu hay thì những lá đơn xin việc của Nhóc đã không bị người ta trả lại.
Cô bé thực tế quá khiến tôi "cứng họng". Tôi cầm lon nước ngọt, hút một hơi cạn lon để miệng lưỡi được trơn tru. Nhưng tôi cũng chẳng nói được lời nào. Chẳng bao giờ một người đang thất nghiệp lại "ăn nói" hơn người được.
- Em xin lỗi đã nói chạm tự ái Nhóc.
Tôi ngồi im không thèm cắn miếng chả to bự ở ổ bánh mì. Tôi vờ như người bị trúng gió á khẩu.
- Sự thật em rất lo...
Thấy cô bé nhíu mày lo nghĩ tội nghiệp, tôi buột miệng nói như một cái máy:
- Đừng lo cho tôi. Rồi tôi sẽ tìm được việc làm mà.
- Không. Em lo cho em. Em không muốn thi trượt lần này.
- Em đừng quá lo lắng. Còn điểm môn thi sinh ngữ nữa. Tôi biết em rất giỏi Anh Văn.
- Bây giờ em đang học tử ngữ.
- Em học tiếng La tinh làm gì?
- Không. Em đang học ngôn ngữ ở nơi đó là im lặng.
- Em đừng quá bi quan. Thua keo này ta bày keo khác. Em hãy học chuẩn bị thi lại kỳ hai. Chắc chắn em sẽ thi đậu.
Cô bé đưa hai tay lên xoa xoa hai bên thái dương:
- Em sợ không còn nhiều thời gian trước khi đến đó.
- Đã đến đó cần quái gì bằng cấp mà em phải quan tâm. Nhiều người chưa học xong lớp một cũng đến đó được.
- Nhưng em không muốn là học sinh thi rớt khi đến đó.
Tôi ném mạnh nửa ổ bánh mì kẹp chả còn lại xuống dòng thác. Lần đầu tiên trong đời tôi phung phí như vậy vì tức giận. Thi rớt cuộc đời mà em không sợ, lại sợ thi rớt bằng tú tài! Nhưng tôi không thể giải thích cho em rõ cái nào quan trọng hơn cái nào. Một khi em cảm thấy đau lòng vì một chiếc lá rơi hơn một cây cổ thụ bị ngã đổ...
Cả hai cùng im lặng nhìn xuống dòng thác và như em nói: im lặng là tử ngữ. Tôi cảm thấy không khí ngột ngạt khó thở dù đang ở độ cao trên ngàn mét so với mặt nước biển. Để phá tan không khí im lặng chết chóc, tôi bẻ gãy một cành khô và nói:
- Xin lỗi, nếu tôi có làm em buồn.
Cô bé mỉm cười nói:
- Đố Nhóc tiếng thác đổ nghe vui hay buồn?
Tôi lắng tai nghe rồi trả lời:
- Không buồn, không vui.
- Em cũng như nó vậy. Bao giờ Nhóc trở về Sài Gòn?
- Ngay chiều nay vì sáng mai có Công ty hẹn tôi đến nhận thử việc. Khi công việc ổn định, tôi sẽ lại lên Bảo Lộc thăm em.
- Thôi Nhóc khỏi lên đây nữa mất công.
- Vậy em sẽ xuống Sài Gòn?
- Nhóc quên "trái đất tròn như con số không" à? Chúng ta đã quen nhau ở điểm nào, chúng ta sẽ gặp lại nhau ở điểm đó.
Tôi vui mừng nói:
- Em thông minh ghê! Vậy chúng ta sẽ gặp lại nhau ở quán bán vịt lộn đường Kỳ Đồng, nơi lần đầu chúng ta đã quen nhau.
- Thiếu chút nữa là Nhóc đã thông minh! Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở nơi tổ tiên chúng ta đang sống. Bây giờ em hát tặng Nhóc một bài ca trước khi chia tay. "...Nhiều đêm thấy ta là thác đổ. Tỉnh ra có khi vẫn còn nghe..."
Tôi ngồi im sững nghe em hát. Tôi thành thật cầu mong em đừng mơ thấy mình là thác đổ, vì em còn quá trẻ để phải "đổ" dù cho bệnh ung thư máu của em có là bệnh nan y. Tôi mở to đôi mắt nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của em. Không phải tôi muốn ghi nhớ hình ảnh khuôn mặt đó lần cuối. Tôi - một người vốn ích kỷ - chỉ muốn giữ không cho những mí mắt gặp nhau, nếu không những giọt nước mắt tròn như con số không sẽ lăn ra...
Chú thích: Xin các bạn đừng hiểu lầm tôi tên Nhóc, sự thật tôi tên... Biền đàng hoàng. Cô bé gọi tôi là Nhóc vì không bao giờ em coi tôi lớn hơn em hoặc ngang hàng với em. Tôi cũng chẳng thèm cãi cọ với em về chuyện đó. Chẳng việc gì phải cãi cọ với một người sắp đi xa. Cô bé sắp đi xuất cảnh à? Trời! Nếu bạn nghĩ như vậy thì tôi đành phải khen bạn (như cô bé đã khen tôi): Thiếu chút nữa là bạn đã thông minh!
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
GẶP GỠ TRONG MƠ
 
Cách đây gần hai năm, tôi nhận được một lá thư từ thành phố Canberra nước Úc. Thư của cô bé Tóc Tiên đang học lớp 12, muốn gia nhập vào gia đình Áo Trắng. Tôi buồn cười nghĩ, ở mãi tận nước Úc xa xôi làm sao sinh hoạt chung với nhau được mà gia nhập GÐAT! Nhưng để an ủi em, tôi viết thư trả lời: Em đã tìm đọc được tuyển tập Áo Trắng ở Úc, vậy em đã xứng đáng trong đại GÐAT. Tháng sau, tôi nhận được một bài tùy bút viết về học sinh Việt Nam ở Úc, dưới ký tên: Tóc Tiên (GÐAT Canberra-Australia). Ðọc dòng chữ ấy, tôi bỗng ước mơ mình mọc cánh bay sang Úc gặp gỡ GĐAT Canberra. Có lẽ "ước" nhằm giờ "linh" nên tôi đã "mơ" thật...
Sáng ngày 2 tháng 2 (nhằm mùng 6 Tết Mậu Thân), vừa bước vào phòng làm việc buổi đầu năm ở cơ quan, tôi nhận được cú điện thoại có giọng nói lơ lớ:
- Chào ông. Em là thành viên GÐAT Canberra. Phi cơ đang quá cảnh ở Singapore và sẽ đến sân bay Tân Sơn Nhất lúc 16 giờ. Ông có thể đến đón em?
- Nhưng tôi đâu biết em là ai mà đón?
- Dễ thôi. Ông nhìn thấy ai mặc áo pull trắng có dòng chữ Tiên trước ngực, đó là em. Người trong "gia đình" mà. Rồi ông cũng nhận ra em thôi.
- Ðược rồi, tôi sẽ đi đón em.
- Cám ơn ông. Chúc ông đầu năm đừng nhăn nhó. Xui lắm!
Tôi nghe có tiếng cười rồi tiếng cúp máy. Quả thật tôi đang rất "nhăn nhó". Chiều nay tôi được mời ăn tân niên ở nhà một người bạn. Vậy là mất toi một chầu nhậu chỉ vì một người trong "gia đình" mà mình chưa bao giờ gặp mặt.
Ðúng 16 giờ, tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất. Nhìn tấm bảng điện báo hiệu, tôi biết chuyến bay từ Singapore đáp xuống TSN. Một đám đông đứng sát hàng rào sắt, cách cửa kính 2 mét, để nhận diện người thân đang làm thủ tục hải quan. Một số người đã đưa tay vẫy mừng rỡ khi nhận ra người thân. Chẳng biết mặt mũi Tóc Tiên như thế nào, tôi đành "đón lõng" em ở cuối con đường mà mọi hành khách đến phải đi qua để ra ngoài.
Nhiều hành khách đẩy những xe chở đầy hành lý đi qua. Rồi một cô gái đeo kính đen, tóc màu nâu, vai đeo ba lô, tay xách túi hành lý đang đi tới. Em mặc áo gió màu xanh không kéo dây khóa, để lộ chiếc áo pull trắng có chữ TIEN ở ngực. Tôi gọi: Tóc Tiên! Cô gái vẫn thản nhiên đi qua. Tôi vội bước theo và vỗ vai em hỏi:
- Xin lỗi, em có phải là Tóc Tiên?
Cô gái dừng lại, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi mỉm cười, nói:
- Chào ông Du.
Tôi xua tay:
- Thôi về đến Việt Nam rồi, em nói tiếng Việt đi. Ðừng nói tiếng Anh "You, I", tôi không hiểu.
- Em đâu có nói tiếng Anh. Trông ông giống du đãng quá nên em gọi tắt ông là ông Du cho... lịch sự!
Biết nói sao cho em hiểu? Ngay khi chào đời, tôi đã được trời ban cho một dấu "x" như cái sẹo ở gò má trái. (Ðấy là lý do tôi luôn luôn chụp hình nghiêng về phía bên phải). Chứ đâu phải tôi là dân "xã hội đen". Ðể khỏi thanh minh rắc rối, tôi hỏi:
- Bộ bên Úc người ta thích gọi tên tắt hả?
- Ðúng vậy. Bên Úc họ quen gọi em là Ti-en, nên khi ông gọi Tóc Tiên em cứ nghĩ ông gọi một người khác.
- Bây giờ em về đâu, tôi chở em đi?
- Biên Hòa.
- Trời!
- Còn Tết mà, ông đừng "nhăn nhó". Xui lắm!
- Tôi đâu có "nhăn nhó". Tôi đang "cười" đây nè.
- Vậy ông bị lão hóa rồi. Nụ cười của ông đầy nếp nhăn.
Trên xa lộ chạy về Biên Hòa, Tóc Tiên đã kể cho tôi nghe lý lịch trích ngang của em. Trước kia gia đình em sống ở Biên Hòa. Năm 10 tuổi, em theo gia đình qua Úc. Em ở Úc đã được 10 năm, hiện là sinh viên năm nhất khoa Marketing. Cách đây 4 năm, em đã về VN với mẹ ở 1 tháng. Thời gian đó em đã được đọc Áo Trắng. Sau em về Úc, bạn bè ở VN hàng tháng gửi AT qua tặng.
Tôi giữ vững tay lái Honda, ngó thẳng về phía trước, hỏi:
- Bên Úc có những tuyển tập thơ văn giống Áo Trắng không?
Em ngồi sau (ngó đi đâu, tôi không biết), đáp:
- Cũng có những tạp chí dành cho Teen-Age, nhưng họ thường đăng những bài về Mode, Music, Sport, Travel, Sex... chứ không có đăng thơ văn.
- Có phải em đã nhuộm tóc màu nâu theo mode?
- Ðâu có. Tại bên Úc bị nạn cháy rừng và tóc em đã bị lửa táp đó.
Tôi bật cười khiến tay lái loạng quạng, suýt tông vào chiếc xe Vespa chạy kế bên. Nhỏ này nói "dóc" cũng có trình độ bằng C.
- Sao em không về quê vào dịp đón giao thừa?
- Lúc đó em còn bận thi lên năm hai. Chuyến này em về một mình vì mọi người trong gia đình đang bận đi làm. Em về thăm ngoại vì nghe tin ngoại bệnh nặng. Ðáng lẽ bà dì đi đón em, nhưng dì vừa theo chồng ra Hà Nội làm ăn. Em có thể đi taxi, nhưng nghĩ thử xem GĐAT có thật sự giúp đỡ lẫn nhau như thường đăng trên báo không, nên em đã gọi điện thoại cho ông.
Nhà ngoại em ở Cù lao phố. Nơi đây chưa xây dựng nhiều nhà mới và cũng chưa mở nhiều đường mới nên em còn nhớ đường cũ, chỉ tôi chạy thẳng về nhà ngoại. Ðấy là một ngôi nhà ngói nằm sát bờ sông. Trong vườn đầy những cây xoài, mít, ổi và hàng rào leo đầy cây lá mơ chắc để "chuyên trị" thịt chó.
Nghe tiếng xe gắn máy nổ trước sân, một người trong nhà chạy ra nhìn rồi chạy vào dìu bà ngoại tóc bạc trắng bước ra. Tóc Tiên mừng rỡ chạy đến ôm chầm lấy ngoại. Một lúc sau bà ngoại nói:
- Con mời ông xe thồ vào nhà uống nước. Ðể ngoại trả tiền cho, con đâu có tiền Việt.
Tóc Tiên đến bên tôi, nói:
- Ông đừng buồn nghe. Ngoại em mắt yếu mà. Mời ông vào nhà uống nước.
Tôi cười nói:
- Cám ơn. Tôi có việc phải đi về trước khi trời tối. Khi nào lên Sài Gòn, em điện thoại cho tôi biết đến chở em đi chơi. Ðồng ý?
Em gật đầu cười. Tôi phóng xe chạy về mà lòng buồn rười rượi. Không phải vì tiếc đã chạy xe tốn 4 lít xăng, mà vì "giống ông xe thồ". Không hiểu sao tôi luôn luôn giống một người nào đó mà không "giống mình"? Ðã có người nhận lầm tôi là ca sĩ Quang Lý, danh thủ bóng đá Sinh... rồi bắt tay làm quen! Giống những người nổi tiếng thật sung sướng vì thành quả tốt đẹp của họ, tôi được hưởng mà chẳng tốn giọt mồ hôi nào. Ðồng thời cũng thật chua xót, khi thấy người ta "vỡ mộng" vì biết tôi không phải là những người nổi tiếng đó. Nhưng riêng với Tóc Tiên, tôi vái trời cho em sớm bị vỡ mộng khi nghĩ tôi giống... du đãng!
Năm ngày sau, tôi nhận được điện thoại của Tóc Tiên nhắn đón em lúc 8 giờ ở bến xe miền Ðông. Em sẽ đi xe đò từ Biên Hòa lên Sài Gòn.
Tôi đã chở em đi khắp nơi để em biết những đổi thay ở Sài Gòn. Buổi trưa tôi mời em đi ăn ở nhà hàng Ðại Dương, tôi muốn đãi em những món ăn hải sản vì ở nước ngoài những món ăn này giá rất đắt.
Em mở tờ thực đơn ra đọc và hỏi:
- Chuột đồng nướng lá cách là món gì vậy ông?
- Em đã ăn chuột túi Kangaroo ở Úc chưa?
- Em ăn rồi. Món đặc sản của Úc mà.
- Chuột đồng này cũng là món đặc sản của đồng bằng sông Cửu Long.
Khi đĩa chuột nướng lá cách được dọn lên, em gắp một miếng quan sát kỹ rồi bỏ vào miệng nhai, xong uống một ngụm bia. Tôi hỏi:
- Em thấy chuột đồng ở Việt Nam và chuột túi ở Úc con nào ăn ngon hơn?
- Chuột đồng ngon hơn nhiều!
- Em không nịnh "món ăn quê hương" chứ?
- Thật mà. Thịt Kangaroo ở Úc bán giá 1 ký là 20 đô Úc. Còn thịt chuột đồng ở đây, em ăn đâu phải trả tiền.
- Nếu em còn thời gian ở đây, tôi sẽ dẫn em xuống Cần Thơ ăn các món đặc sản như lẩu mắm, thịt trâu nấu hèm, cá lóc nướng trui... Ăn ở ngay địa phương đó mới thấy chúng ngon tuyệt vời.
- Tiếc quá! 17 giờ chiều mai em phải bay về Úc rồi, không thể đi Cần Thơ được. Hy vọng vài năm nữa ra trường đi làm có tiền, em sẽ về VN nghỉ hè và theo ông đi tới các quán ăn ở Hà Nội, Huế.
- Lúc đó chân tay tôi đã run lập cập rồi, đi xa sao nổi!
- Ông đừng lo. Em sẽ giúp ông trẻ hóa mà.
- Bộ bên Úc có bán thuốc trẻ hóa à?
- Không phải. Gần đèn thì sáng. Gần em, ông thấy em ăn gì, ông ăn theo là trẻ ngay mà.
Tôi bật cười và nói:
- Cám ơn "bài thuốc gia truyền" của em. Ðáp lại, tôi chỉ cho em một câu châm ngôn tiếng Anh để sống. Về Úc, em nói cho bạn bè nghe họ sẽ bái phục.
- Câu châm ngôn gì vậy?
- No-four-go. No là không, four là bốn, go là đi. Tổng hợp lại có nghĩa là "Vô tư đi!".
16 giờ 30 chiều hôm sau, tôi có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất. Gia đình ngoại đã thuê taxi chở Tóc Tiên từ Cù lao phố lên đây. Ðợi em chia tay bà con xong, tôi đến bắt tay em và nói:
- Chúc em đi mạnh khỏe.
Em cười:
- Chúc ông Dễ ở lại mạnh khỏe.
- Em đừng hiểu lầm tôi. Tánh tôi không dễ dãi đâu.
- Em đâu có nói ông dễ dãi, em nói ông dễ ghét. Nhưng ông đừng buồn. No-four-go!
Tóc Tiên vào phòng cách ly để làm thủ tục hải quan. Ðứng phía sau cửa kính, em đưa tay vẫy vẫy. Tôi mà dễ ghét ư? Ðể phản đối, tôi mạnh dạn hôn lên tay mình rồi đưa tay vẫy vẫy, để cho em biết tôi cũng có người thương tôi và vừa hôn tôi. Ti-en cũng hôn lên tay em rồi đưa lên vẫy vẫy chào tôi. Chúa ơi! Em lại hiểu lầm tôi rồi! Tôi đâu muốn gởi tặng em một nụ hôn gió để từ biệt. Tôi chỉ muốn... Một hành khách đẩy mạnh chiếc xe chở đầy hành lý vào người tôi, khiến tôi ngã nhào...
Tôi giật mình tỉnh dậy, mới biết mình vừa có một cuộc gặp gỡ trong mơ. Hèn chi, người ta luôn luôn hiểu lầm nhau trong mơ vì sự việc xảy ra không bao giờ có thật!
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
GẶP GỠ GIỮA ĐÁM ĐÔNG
 
Sống trên đời, nếu bạn làm được nghề bạn ưa thích thì thật hạnh phúc, giống như bạn lấy được người mà bạn thương yêu. Nhưng sống trên trái đất ở giữa thì tròn hai đầu hơi méo, bạn cũng đừng đòi hỏi mọi chuyện phải tròn vo. Nếu bạn phải làm nghề bạn chưa ưa thích, bạn cứ yêu nghề đi, nghề sẽ "yêu" lại bạn. Ðối với người bạn chưa yêu cũng vậy.
Bạn không tin ư ? Tôi xin đưa ra một ví dụ để chứng minh.
Cách đây mười bốn năm, khi còn dạy học ở một tỉnh miền Trung, tôi đã ra cho học sinh một đề tài luận văn : "Em hãy chọn một nghề em mong ước và cho biết lý do". Tôi đã xúc động khi đọc bài làm của Mai. Em là học sinh duy nhất trong lớp mong ước nghề dạy học. Em đã đưa ra những lý do thật cao quí khiến tôi lần đầu tiên cảm thấy nghề mình đang theo đuổi cao quí thật !
Ðến giữa năm học lớp 12, Mai đột nhiên bỏ học. Em đã nhất quyết lấy người mình yêu, mặc cho gia đình ngăn cấm. Sau đó, em theo chồng về miền Nam sinh sống và tôi bặt tin em.
Tôi biết trái tim có lý lẽ riêng của nó, nhưng tôi vẫn tiếc cho Mai. Em là một học sinh thông minh, luôn luôn đứng hạng nhất, nhì trong lớp. Nếu em không bỏ học và sau này làm nghề dạy học như em mong ước, chắc em sẽ giúp ích cho nhiều người.
Cũng có thể chính tôi đã sai lầm. Em đã biết nắm bắt ngay tình yêu khi nó đến. Còn tôi cứ để nó trôi qua rồi nuối tiếc, ích gì ? Trong một đời người đã chắc gì tình yêu (như thần tài) gõ cửa lần thứ hai.
Vào ngày ngăn sông Ðồng Nai tạo dòng thủy điện, tôi đã theo đoàn báo chí lên Trị An để viết bài tường thuật. Tôi không ngồi ở khán đài mà lẫn trong đám đông công nhân để hỏi chuyện. Nghe những chuyện họ kể, bài viết của tôi sẽ có nhiều chi tiết lý thú hơn là nghe những bài diễn văn.
- Chào thầy.
Tôi giật mình quay qua nhìn cô gái đứng kế bên. Tôi đã bỏ dạy học và chuyển hộ khẩu về thành phố hơn mười năm. Chẳng mấy người biết nghề cũ của tôi. Có lẽ tại cái kính cận bốn độ tôi đang mang khiến cô gái này nhận lầm tôi với một ông giáo làng.
- Thầy quên em rồi sao ? Em là Mai.
Trời đất! Cô học trò cũ của tôi đây ư? Tôi thật sự không nhận ra em. Khuôn mặt học trò với đôi mắt liếng láu ngày xưa đã biến mất, thay vào đó là một khuôn mặt rám nắng với đôi mắt cương nghị. Tôi lúng túng nói :
- Tôi xin lỗi. Em thay đổi nhiều quá.
- Em đâu có sửa mắt, sửa mũi mà thầy nhận không ra. Còn thầy chẳng có gì thay đổi. Em đã nhận ra thầy ngay từ xa.
- Tôi cũng thay đổi nhiều chứ. Em không nhìn thấy tóc tôi bạc rồi à.
Mai che miệng cười.
- Nhưng tướng thầy trông vẫn lù khù như xưa. Thầy chuyển về dạy học ở gần đây?
- Không. Tôi đã chuyển qua làm báo. Còn em làm gì ở đây?
- Công nhân lái máy ủi đất.
Tôi trợn mắt nói :
- Em lại đùa rồi.
Mai cười :
- Em đã nói thầy không thay đổi mà, kể cả đầu óc.
Vừa lúc đó tiếng pháp lệnh nổ vang làm chúng tôi giật mình. Mai nói vội vã :
- Thầy đợi em ở đây. Em còn nhiều chuyện muốn nói với thầy.
Mai cùng một số công nhân nữa chạy đến bãi đậu xe cơ giới ở bên bờ sông. Em leo lên một chiếc xe có cắm lá cờ đuôi nheo màu đỏ. Cả đoàn xe rồ máy tiến lên giữa tiếng hoan hô vang dậy. Những khối đất, đá, bê tông được đổ ào ạt xuống cửa khẩu. Nước sông bắn lên trắng xóa lẫn trong đám bụi đỏ bay mờ mờ. Không khí náo nhiệt như một ngày hội lớn. Tiếng động cơ rầm rú, tiếng còi xe hòa với tiếng vỗ tay reo hò. Tôi không còn nhận ra chiếc xe nào Mai đang lái giữa đoàn xe đang tiếng lên nhịp nhàng.
Hai giờ sau, con đê ngăn sông đã xong. Các xe cơ giới trở về bãi đậu ở hai bên bờ. Ðoàn xe con chở đại biểu từ từ đi qua con đê vững chắc. Theo sau là đoàn người đi bộ nhảy múa vui mừng.
Tôi đứng lại một mình trên đồi lởm chởm những tảng đá, không một bóng cây. Nắng chói lòa làm mắt tôi hấp háy. Mai từ dưới đồi đi lên. Áo em dính đầy bụi đỏ. Em cầm chiếc mũ nhựa màu vàng quạt quạt khuôn mặt đẫm mồ hôi. Chúng tôi đi đến ngồi ở một tảng đá gần bờ sông. Mặt nước còn ngầu đục vì đất, cát vừa đổ xuống. Mai ném một hòn đá xuống sông, chăm chú nhìn những vòng tròn đang lan ra.
- Lúc nãy em nghĩ có nhiều chuyện cần phải bày tỏ với thầy. Bây giờ lại chẳng thấy cần thiết, như con sông kia giờ đã đổi dòng.
Không phải lúc nào người ta cũng dễ dàng giải bày tâm sự. Tôi tránh hỏi Mai về chuyện cũ mà hỏi về đội máy ủi của em đã thi công xây dựng đập thủy điện Trị An.
- Thầy định đưa em lên báo à. Thôi em sợ lắm.
- Em có yêu thích nghề hiện nay hay chỉ vì hoàn cảnh bó buộc ?
- Thầy biết tánh em rồi, nếu không yêu thích, em bỏ ngay.
- Thế sao ngày xưa em lại mong ước làm cô giáo ?
Mai thở dài, đưa hai tay vuốt mái tóc ngắn về sau gáy :
- Em đã định không nói, nhưng thôi, để em kể cho thầy rõ. Ngày ấy, em ước mơ làm cô giáo vì đi học về em tập tành dạy học. Gia đình em có nhiều ruộng đất nên ba em thuê thợ làm rất đông. Ða số họ đều đọc viết chưa rành, mỗi tối em bỏ chút thì giờ dạy họ học. Thấy mỗi khi hiểu biết được một điều mới lạ, mắt họ sáng lên em rất sung sướng.
Trong số người học đó có anh Ðịnh, thợ lái máy cày thuê cho ba em. Anh học rất chăm chỉ và thường nhờ em chỉ vẽ thêm. Bù lại, anh Ðịnh đã dạy em học lái máy cày. Trong một buổi tập, em ngồi ở buồng lái, còn anh Ðịnh đứng ở dưới hướng dẫn xe quẹo phải quẹo trái. Ðể xe tránh ủi vào bờ ruộng của người khác, em đã quẹo xe quá gắt, không làm chủ được tay lái, chiếc xe đã chồm lên tông vào anh Ðịnh.
Gia đình em đã hết lòng lo thầy thuốc cho anh Ðịnh, nhưng bàn chân phải của anh vẫn bị cưa. Ba em đã bồi thường một số tiền lớn để anh có vốn sinh sống. Riêng em vẫn áy náy. Em muốn được săn sóc anh để chuộc lại lỗi lầm. Vì vậy em đã theo anh Ðịnh về quê của anh, mặc cho gia đình em ngăn cấm.
Tụi em làm ruộng được một năm thì đến ngày giải phóng. Em xin vào hợp tác xã làm công việc lái xe máy cày. Lúc đầu anh Ðịnh không cho, viện lý do em sẽ lại tông vào người khác. Em nói đâu phải mỗi lần tông một người là người đó sẽ thành chồng em. Anh Ðịnh cười nhưng chắc bụng không vui.
Khi xí nghiệp xây dựng thủy điện tuyển người, em xin vào lái xe ủi đất. Anh Ðịnh không cho, nhưng em cứ nhất quyết đi làm và tụi em đã cãi nhau. Em hiểu vì cái chân, anh Ðịnh chỉ muốn quanh quẩn ở nhà, nhưng em lại muốn đi xa. Em rất buồn khi biết anh Ðịnh làm đơn ly dị. Cũng may, tụi em chưa có con nên mọi chuyện cũng dễ dàng thôi.
Mai ngừng nói, lượm một hòn đá quăng xuống nước. Tôi châm một điếu thuốc rồi hỏi :
- Vì chiếc xe máy cày em lấy chồng, rồi vì chiếc xe máy ủi em xa chồng. Em có hấp tấp quá không?
- Lần đầu thì có. Em đã sai lầm khi nghĩ tình yêu là một sự trả ơn hay chuộc lại lỗi lầm.
- Còn bây giờ, em phải nghĩ đến đôi chân của Ðịnh chứ.
- Anh ấy cũng phải nghĩ đến đôi chân của em.
Tôi biết, cãi tay đôi với cô học trò này, tôi luôn luôn thua. Tôi còn nhớ có lần giảng một bài thơ trong lớp, tôi nói hoa hồng thường được ví với người đẹp. Mai đã đứng dậy hỏi :
- Thầy có thích hoa hồng không ?
- Thích chứ, vì ngoài vẻ đẹp, hoa hồng còn có gai.
- Thầy không sợ bị gai chích à ?
Cả lớp cười ồ lên. Tôi cố giữ bình tĩnh trả lời :
- Những cái gai làm bông hồng đẹp hơn. Như người đàn bà đẹp có thêm óc thông minh.
- Thầy ví von thật lạ. Óc thông minh mà là những cái gai ?
- Phải. Vì nó tự bảo vệ được mình và đôi khi làm người khác đau nhói.
Mai đứng im một lúc, rồi nói :
- Thật may. Tên em là loài hoa không gai.
Bây giờ nghe Mai kể chuyện, tôi nghĩ em là một bông hồng có rất nhiều gai.
- Thầy có điều gì khuyên bảo người học trò cũ không?
Tôi ngồi im lặng. Người học trò biết ơn thầy là người phải vượt qua ông thầy của mình. Theo câu danh ngôn đó, Mai đã vượt qua tôi. Không phải vì em to đầu hơn tôi mà là em có trái tim lớn hơn tôi. Vậy làm sao tôi có thể khuyên bảo em ?
Nếu bạn biết điều gì khuyên bảo, xin bạn hãy viết thư cho Mai. Tôi tin cô ấy sẽ rất nhớ ơn.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
HÃY TRÔI ĐI DÒNG SÔNG
 
Buổi tối thứ Bảy, tôi cùng người bạn ngồi uống nước dừa bên bờ sông Tiền. Trời đứng gió nhưng dòng sông vẫn trôi miên man và phả hơi nước lên mát rượi. Bạn tôi dân Mỹ Tho nên anh rành phong cảnh nơi đây. Anh đang thao thao giảng cho tôi hiểu lai lịch con sông Tiền. Còn tôi nhìn dòng sông và cố hiểu nó trong im lặng.
- Mời chú mua vé số.
Người bạn tôi lắc đầu, xua tay với một cô bé bán vé số mặc áo sơ mi trắng quần xanh và anh tiếp tục nói về dòng sông. Cô bé đưa xấp vé số qua tôi.
- Mời chú... dạ... mời thầy mua giúp em mấy tấm vé số.
Tôi nhíu mày nhìn cô bé đứng trước mặt. Ðôi mắt em đen và ướt như dòng sông đêm. Tôi hỏi :
- Tại sao em gọi tôi là "thầy"?
- Dạ tại thầy có dạy em năm lớp mười.
- Em nhận lầm rồi, tôi đâu có dạy em. Tôi mới ở Sài Gòn xuống đây chiều nay.
- Dạ năm lớp mười em còn học ở Sài Gòn. Sau đó ba em chuyển công tác xuống đây, cả gia đình phải đi theo.
- Em xuống đây bao lâu rồi ?
- Dạ mới hơn một năm.
Tôi nhìn chăm khuôn mặt cô bé một lần nữa. Em e thẹn cúi gằm đầu, mái tóc ngắn che khuất hai má. Tôi cố nhớ xem em đã học lớp nào nhưng không nhớ nổi, nên hỏi :
- Em tên gì ?
- Dạ... tên em... Mà thôi, thầy nhìn em còn không nhận ra, có nói tên thầy cũng không nhớ đâu.
Tôi gõ gõ ngón tay lên đầu mình, cười nói :
- Tôi xin lỗi. Các em quá đông tôi không nhớ hết. Ðể tôi mua giúp em hai tấm vé số.
Tôi rút hai tấm vé số và đưa tiền cho em. Cô bé vẫn cúi đầu nói lí nhí "Cám ơn thầy" rồi em bước vội đi. Người bạn tôi lại tiếp tục nói về những trận thủy chiến của Nguyễn Huệ với quân Xiêm trên dòng sông này. Tôi nhìn đồng hồ đeo tay: 10 giờ 35. Những cục đá trong hai ly nước dừa đều đã tan. Tôi nói người bạn đi về vì đã cảm thấy buồn ngủ.
Ði ngang qua một nhà hàng ăn uống xây sát bờ sông, đèn điện thắp sáng choang và nhạc disco vang ra dồn dập, tôi thấy cô bé đứng trước cửa nhà hàng với hai người bạn. Em đang đưa tay lên chùi nước mắt, tôi vội bước đến hỏi :
- Có chuyện gì vậy em ?
Cô bé ngước nhìn tôi, đôi mắt em đỏ hoe. Em lắc đầu, quay mắt đi và một người bạn của em nói:
- Có một ông quá say rượu mua mười tấm vé số của nó rồi lên xe hơi đi luôn. Nó không dám về nhà sợ má đánh.
Tôi móc túi lấy mười ngàn, nhét vào tay cô bé. Tôi vỗ vỗ vào vai em đang run lên.
- Thôi đừng khóc nữa. Em về đi, khuya rồi.
Tôi bước đi, người bạn bước theo nhăn nhó nói:
- Ông chỉ lo chuyện bao đồng.
Ðể quên chuyện đó đi, tôi cười hỏi :
- Ông có biết sông Tiền dài bao nhiêu kilomét không?
Người bạn tôi nhíu mày suy nghĩ.
- À... à... để tôi nhớ lại coi...
Buổi sáng chủ nhật, người bạn tôi bận việc nhà, tôi một mình đi dạo chơi trong thành phố. Tôi muốn vào thăm trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu nổi tiếng, nhưng vào ngày nghỉ cổng trường đóng kín, tôi nhìn qua hàng rào chỉ thấy khoảng sân rộng, những dãy nhà lầu và những tàn cây phượng lá xanh non.
Ở đây mọi con đường hình như đều dẫn ra bờ sông nên đi loanh quanh một hồi, tôi đã đi đến chân cầu Bảo Ðịnh. Tôi vào ăn sáng ở một quán xây trườn ra mặt sông Tiền. Tôi ngồi gần cửa sổ mở ra mặt sông nước đục ngầu phù sa. Bờ bên kia gần chợ, các ghe chở trái cây đậu san sát để lên hàng.
Người miền Nam vốn hào phóng và tô hủ tíu Mỹ Tho cũng vậy. Ðầy thịt, tôm và cá mực khiến tôi ăn không hết một tô. Tôi ngồi nhâm nhi ly cà phê đen và nhìn dòng sông lấp lánh ánh nắng ban mai.
- Mời chú hai, dì hai mua giúp con tấm vé số.
Nghe tiếng quen quen, tôi quay đầu lại. Cô bán vé số tối hôm qua đang mời hai vợ chồng lớn tuổi ăn hủ tíu ở bàn bên. Ðợi người đàn bà mua vé số xong. Tôi gọi :
- Này em.
Cô bé nhìn tôi, cười e thẹn rồi em bước tới, đưa xấp vé số.
- Mời thầy.
Tôi lắc đầu, kéo chiếc ghế bên cạnh.
- Em ngồi xuống đây. Tôi mời em ăn sáng.
Cô bé ngần ngại ngồi xuống chiếc ghế nệm. Tôi gọi cho em một tô hủ tíu và một ly đá chanh. Trong khi chờ đợi, tôi hỏi :
- Em tên gì ?
Cô bé lấy ngón tay gạch gạch lên mặt bàn rồi ngẩng đầu lên nói:
- Em nói thầy đừng cười nghe. Em tên là Thanh Giang.
- Tên em hay vậy mà em nói buồn cười.
- Không phải vậy. Em có hỏi ba em tên đó nghĩa là gì. Ba em nói đó là tên một dòng sông nhỏ ở miền Trung, quê hương của ba em. Em sợ thầy cười vì trên đời này làm gì có "dòng sông xanh". Như sông Tiền đây nè, hôm thì nước đục ngầu hôm thì nước đen thui, có hôm nào nước trong xanh đâu.
- Có chứ. Hôm nào trời đẹp, em thức dậy thật sớm sẽ thấy dòng sông nước trong xanh.
- Ðâu có ai mua vé số lúc thật sớm mà thầy biểu em thức dậy.
Người chủ quán bưng tô hủ tíu và ly đá chanh đặt trên bàn. Trong khi cô bé ăn hủ tíu, tôi khuấy đường trong ly đá chanh của em. Sức em thật khỏe, chỉ một loáng em đã ăn hết tô hủ tíu to đầy. Em cầm ly đá chanh và uống một hơi hết nửa ly. Tôi đốt một điếu thuốc hỏi :
- Em đi bán vé số buổi sáng, buổi tối, vậy hàng ngày em đi học buổi chiều à ?
Cô bé lắc đầu.
- Em nghỉ học rồi.
- Ồ ! Sao vậy ?
- Em phải phụ giúp ba má nuôi ba em nhỏ.
- Em hãy cố gắng đi học thêm lớp đêm.
- Em bán vé số kiếm chưa đủ tiền chợ cho gia đình, tiền đâu mà đi học lớp đêm.
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói :
- Em hãy đi học tiếp đi. Hàng tháng tôi sẽ gửi cho em một số tiền đủ để trả học phí.
- Nhưng... lương thầy chưa đủ sống mà.
- Tôi có đi dạy kèm Anh văn nên cũng đủ sống. Vậy em đừng ngại.
- Cám ơn thầy. Nhưng học xong lớp 12 em cũng phải nghỉ học phụ giúp gia đình. Vậy em có học thêm một năm cũng chẳng được gì.
- Hay em học thêm một nghề gì đó như cắt may chẳng hạn. Không lẽ em đi bán vé số hoài.
Cô bé thở dài :
- Em như dòng sông chết. Nó đâu có còn trôi tới biển được mà lo.
Tôi nhăn mặt nói :
- Sao lại dòng sông chết. Em là dòng sông xanh.
Cô bé lắc đầu :
- Ba em mới về thăm quê và cho biết dòng sông nhỏ ở làng em đã khô cạn vì qui hoạch làm thủy lợi đã rút hết nước của dòng sông. Dòng sông đó không còn trôi di nữa. Nó đã chết. Như em vậy.
- Em đừng nghĩ ba láp. Em vẫn sống như răng đây nè.
- Không phải vậy đâu. Nhiều khi cầm xấp vé số trong tay nhìn bạn bè đến trường, em có cảm tưởng mình như dòng sông chết.
Cô bé cúi đầu xuống rồi ngước lên hỏi :
- Bao giờ thầy về lại Sài Gòn ?
- Hai giờ chiều nay. Sáng mai tôi phải đi dạy sớm.
Cô bé xòe xấp vé số ra nhìn rồi em rút một tờ đưa cho tôi.
- Em xin tặng thầy.
Tôi xua tay.
- Thôi, em hãy giữ lấy mà bán. Tướng tôi dễ "trúng gió" chứ không dễ trúng số.
- Thầy chê quà em tặng của em tầm thường? Thầy hãy đọc hai số cuối.
Tôi cầm tấm vé số, đọc hai số cuối rồi cười nói:
- Em muốn tôi đánh đề hai số này dễ trúng hơn.
- Không phải vậy. Ðấy là tuổi của em.
Tôi chẳng hiểu em muốn nói gì nhưng tôi cũng gấp tấm vé số lại bỏ vào túi và nói :
- Cám ơn em. Trước khi về Sài Gòn, trưa nay tôi muốn mời em ăn cơm canh chua cá lóc ở quán cây me. Chắc em biết quán đó.
Cô bé gật đầu.
- Thầy đợi em được không ?
- Tôi chỉ có thể đợi em đến 1 giờ trưa. Sau đó tôi phải ra bến xe đò về Sài Gòn.
- Thầy đợi em lâu hơn được không ?
Tôi cười.
- Ðợi em bán hết xấp vé số à ? Như thế chắc tôi phải nhịn đói về Sài Gòn.
Cô bé nhìn thẳng vào mắt tôi, nói :
- Không phải vậy. Hãy đợi em đủ sức trôi đi.
Nói xong, cô bé cầm xấp vé số bước ra khỏi quán. Em chạy băng qua đường, vào một quán cà phê đang đông người ngồi. Tôi nhìn theo em và thầm nói : Hãy trôi đi, dòng sông xanh nhỏ bé. Hãy trôi đi.
Nhưng còn tôi? Tôi có giúp được gì cho dòng sông ấy trôi đi hay chỉ đứng yên trên bờ hò hét, thúc giục !
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
HOA Ô MÔI Ở Ô MÔN
 
Tôi được người bạn cho biết anh có cô em gái rất "căm thù" thơ . Tôi đã tò mò đi tìm hiểu tại sao em có lòng "căm thù" đó. Vì đối với tôi thơ rất cao quý và thơ mộng. Nó có làm hại ai đâu ?
Cuối cùng cô bé đã dạy cho tôi biết: Hoa ô môi không có hình dấu môi mà có hình dấu răng.
Hình như giữa thơ và thực tế cũng giống vậy ?
Họp mặt bạn đọc Áo Trắng ở Long Xuyên xong, tôi nhờ Lộc - thổ công ở đây - chở tôi bằng xe Honda đến thăm một người bạn văn nghệ ở huyện Ô Môn. Lộc nói:
- Cũng dễ thôi, huyện nằm trên đường chúng ta trở về Cần Thơ . Anh gặp ông bạn có chuyện gì vậy ? Lấy bài đăng báo hả?
Tôi cười lắc đầu:
- Không. Ông ấy viết thư hẹn sẽ chiêu đãi tôi một món ăn đặc sản địa phương.
Lộc cười:
- Anh lúc nào cũng vậy . Chỉ món ăn mới quyến rũ được anh.
Qua một cây cầu, xe quẹo trái vào huyện Ô Môn. Tôi biết được là nhờ nhìn tấm bảng xanh chữ trắng gắn ở bên đường. Lộc vừa lái xe vừa kể chuyện tình bà Sử người Việt với ông Trăng người Khơme, đã tạo nên tên đất này . Hai người đã phải vượt qua nhiều khó khăn cách trở mới gặp được nhau . Nên họ đã "ôm-em-ôm-anh" thắm thiết không rời thành tên Ô Môn. Tôi bật cười thích thú với chuyện cười dân gian giải thích tên địa phương theo Lộc kể. Và tôi nghĩ thầm miền đất nào có tên gắn liền với một chuyện tình, miền đất đó sẽ rất có... tình.
Tôi nói địa chỉ của người bạn và Lộc lái xe chạy thẳng đến một bến sông. Dưới bến có những chiếc "tắc ráng" đậu san sát. Lộc dừng xe lại, hỏi tôi:
- Ông bạn anh tên gì?
- Văn Thành Duy.
- Ở đây hỏi bút danh không ai biết đâu . Anh có nhớ ông ấy nói ba ông ấy tên gì không?
Tôi cố nhớ địa chỉ người bạn đã viết trong thư: "Đến bến đò hỏi nhà ông Năm Thành ai cũng biết." Tôi nói lại với Lộc. Anh đến hỏi một thanh niên lái đò đang đứng rước khách trên bờ. Anh thanh niên gọi lớn xuống bến sông:
- Ê, út Hường. Có người hỏi thăm ba mày nè.
Một cô gái mặc áo bà ba màu hồng đang ngồi ở tắc ráng đậu phía xa, đứng dậy . Em nhanh nhẹn nhảy qua mấy chiếc tắc ráng đậu kế bên rồi leo lên bờ. Đi đến trước mặt tôi, em hỏi:
- Ông hỏi thăm ba em có chuyện gì vậy ? Ông muốn mua cam hả?
Nhìn cái nốt ruồi trên mép trái của em, tôi nghĩ cô bé này chắc "lẹ miệng" lắm đây . Tôi trả lời:
- Không. Tôi đến thăm anh Duy .
Cô bé hất bím tóc đang đong đưa phía trước mặt ra phía sau rồi nói:
- Anh Duy đi Cần Thơ rồi .
Tôi nhíu mày vì người bạn sai hẹn. Tôi hỏi tiếp:
- Em có biết chừng nào anh Duy về không?
- Ảnh nói lên Hội Văn Nghệ Cần Thơ đón một người bạn ở Sài Gòn về chơi .
Lộc đứng bên nói xen vào:
- Đón ông này nè. Vậy chúng ta về Cần Thơ gặp ảnh.
Cô bé nói:
- Thôi, khỏi. Anh Duy có dặn bạn ảnh đến cứ chở về nhà. Ảnh sẽ về sau. Ông lên Cần Thơ không chừng hai người lại "lật" nhau.
Tôi rủ Lộc cùng đi chơi cho vui. Anh chỉ chiếc xe Honda rồi nói:
- Anh đi đi. Tôi về Cần Thơ báo cho bạn anh biết. Có gì sáng mai chúng ta gặp lại nhau .
Tôi nói:
- Chiều tối, tôi về lại Cần Thơ được mà.
Lộc cười:
- Dễ gì anh về được. Rượu gạo ở đây đâu có thiếu.
Lộc phóng xe chạy đi. Tôi theo cô bé leo xuống một chiếc tắc ráng gần bờ rồi bước qua những chiếc kế bên, để đến chiếc tắc ráng của em. Cô bé giật dây cho máy đuôi tôm nổ, chiếc tắc ráng từ từ lùi ra. Tôi ngồi đối diện với cô bé trong lòng tắc ráng hẹp mà dài. Hơi nước từ mặt sông phả lên mát rượi. Trên sông những chiếc tắc ráng xuôi ngược chở đầy trái cây và vật dụng gia đình bằng nhựa xanh đỏ. Tôi tò mò nhìn những cây mọc hai bên bờ, cố đoán xem cây nào là cây bần, cây tràm, cây ô môi ... như đã đọc trong truyện. Nhưng tôi đành chịu thua vì mùa này chẳng có cây nào trổ bông để có thể nhận diện.
- Ông ở tuốt trên Sài Gòn làm sao quen với anh em ở tuốt dưới đây?
Tôi quay lại nhìn cô bé, nói:
- Tôi đã chọn thơ của anh Duy gửi lên đăng báo. Mấy tháng trước anh ấy có lên Sài Gòn nhờ tôi in giúp một tập thơ .
Cô bé la lên:
- Chết ông rồi!
Tôi giật mình, hỏi lại:
- Chuyện gì vậy?
- Ông xúi anh em in tập thơ phải không?
- Đâu có. Anh Duy tự nguyện in mà.
- Ba em cằn nhằn ảnh chuyện đó hoài. Làm vườn không lo làm cứ lo làm thơ. Mấy tháng trước ảnh nói với ba đưa cho ảnh ba triệu đồng làm vốn buôn bán. Ba tưởng ảnh mua cam quýt ở mấy vườn bên, đem lên Sài Gòn bán kiếm lời. Nào ngờ ít lâu sau ảnh đem về nhà một đống thơ.
Tôi bật cười:
- Cứ tưởng anh ấy đem tiền đi đánh bạc thua hết mới đáng buồn, chớ đem thơ về nhà là tốt rồi.
- Tốt gì? Thơ đâu có "ăn" được. Chất cả đống ở nhà đó. Mùa nước nổi vào nhà ảnh bắt em khiêng lên khiêng xuống đống thơ cất giữ. Cực muốn chết. Ông cũng làm thơ như anh em?
Tôi chẳng biết giải thích công việc của mình như thế nào cho em dễ hiểu. Tôi nói gọn:
- Tôi chuyên "mua bán" thơ văn.
Cô bé reo lên:
- Vậy ba em mừng lắm. Ông mua "mão" luôn đống thơ của anh em nghe. Giúp em đỡ cực.
Tôi chưa kịp trả lời thì cô bé lái qua phải, lách tránh một chiếc tắc ráng đang chạy thẳng về phía chúng tôi. Chiếc tắc ráng nghiêng hẳn qua bên phải, sóng tạt vào làm người tôi ướt đẫm. Tôi hoảng sợ nắm chặt hai lườn gỗ. Cô bé đột ngột rú ga bẻ lái qua trái, chiếc tắc ráng ngóc mũi lên khỏi mặt nước và phóng đi như mũi tên, tạo ra một tia nước bắn thẳng vào chiếc tắc ráng vừa chạy ngang qua. Tôi nghe có tiếng la ơi ới, tiếng chửi thề và tiếng cô bé cười khanh khách. Mặc dù vẫn còn hơi run vì sợ rớt xuống sông tôi cũng thầm khen cô bé lái giỏi.
Chiếc tắc ráng chạy từ từ rồi ghếch mũi vào một cây cầu gỗ. Cô bé tắt máy, nói:
- Đến nơi rồi . Mời ông lên nhà.
Ngôi nhà nằm sát bờ sông, mái ngói lợp đỏ tươi. Trước sân có hai cây cau cao vút và một cây dừa lùn với tay có thể hái được chùm trái xanh bóng. Một con chó vện chạy ra sủa vang, cô bé vỗ vỗ lên đầu nó rồi chúng tôi cùng bước vào nhà. Tôi vừa ngồi xuống ghế, cô bé đã chạy đến góc nhà giở một tấm bạt lên và nói:
- Đây đống thơ của anh em. Ông mua hết luôn nha.
Tôi cười nói:
- Từ từ. Đợi anh Duy về rồi tính. Ba má em đâu?
- Ba má em đang ở ngoài vườn.
- Bộ không có ai coi nhà sao?
- Ở đây đâu có trộm cắp mà sợ. Cả đống thơ để đó mà đâu có ai lấy mất cuốn nào.
Tôi thắc mắc chẳng hiểu sao cô bé có vẻ "căm thù" thi ca quá vậy? Chắc tại Duy đã bắt em khiêng đống thơ lên bộ ván ngựa mỗi khi nước vào nhà và bắt em phải canh chừng chuột bọ quậy phá?
- Ông uống nước dừa không để em hái?
- Tôi uống nước trà được rồi. Chúng ta ra vườn chơi đi.
- Ngoài vườn đâu có gì vui đâu mà chơi?
- Tôi muốn biết cây trái ở đây có khác với cây trái ở Lái Thiêu không?
Phía sau nhà là vườn cam rộng ngút mắt. Những lá cam xanh rì và những trái cam cũng xanh rì nằm lẫn vào nhau. Cô bé nói:
- Chừng tháng nữa ông trở lại cam sẽ chín vàng.
- Vườn nhà em rộng bao nhiêu?
- Hơn mười công đất. Trước kia ba em trồng cây ca cao nhưng không bán được nên đã chặt bỏ. Bây giờ trồng cam, quýt và bưởi.
Cô bé dắt tôi vào vườn quýt. Những trái quýt cũng còn xanh lè. Qua vườn bưởi cũng vậy. Những trái bưởi mới lớn bằng nắm tay. Tôi thở dài nói:
- Vậy là tôi vỡ mộng được ăn một bữa trái cây thỏa thích ở vườn.
Cô bé quay qua hỏi:
- Ông thích lạc hậu hay văn minh?
Tôi nghĩ chắc cô bé muốn hỏi tôi thích ở miệt quê "lạc hậu" hay ở thành thị "văn minh"? Sự thật tôi cũng đã ngán ở Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt. Tôi thích ở miền quê yên tĩnh và ít xô bồ hơn. Nên tôi nói:
- Tôi thích lạc hậu.
Cô bé vụt chạy đi, mất dạng sau những tàn cây xanh rì. Một lúc sau em trở lại, đưa cho tôi một trái quýt nhỏ, vỏ vàng ửng. Em nói:
- Đó là trái quýt "lạc hậu" mùa trước còn sót lại. Còn trái "văn minh" nửa tháng nữa ông trở lại mới có. Đó là những trái chín sớm, trước mùa.
Tôi lắc đầu cười. Sử dụng ngôn ngữ như em thật hết ý! Tôi bóc vỏ trái quýt, đưa cho em một nửa. Cô bé xua tay:
- Em không thích "lạc hậu".
Tôi bỏ những múi quýt vào miệng nhai, ngọt lịm. Cô bé hỏi:
- Ông đói bụng chưa, để em lấy cơm nguội cho ông ăn.
- Thôi em khỏi mất công. Tôi đợi Duy về cùng ăn cơm cũng được.
- Đâu có mất công. Đây là cơm nguội .
Cô bé móc túi áo bà ba đưa cho tôi mấy trái xanh xanh.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Chúng tên trái "cơm nguội" à?
- Em đâu có nói xạo . Ông ăn cho đỡ đói . Nó hơi chát một chút, vậy ông nên ăn với muối.
Cô bé lại móc túi áo bà ba lấy ra mấy trái bằng lóng tay màu nâu nâu.
- Trái "muối" à?
Cô bé gật đầu cười khúc khích. Nhìn cái nốt ruồi trên méo giật giật khi em cười, tôi biết mình đã đoán đúng. Cô bé này rất "lẹ miệng". Chắc lưỡi em dẻo như kẹo cao su. Tôi nghĩ phải tìm cách "phục thù", để cho em biết Sài Gòn đâu dễ bị qua mặt, chỉ vì không biết tên mấy trái cây miệt vườn.
Chúng tôi cùng đi ra bờ sông để đợi Duy về. Những chiếc tắc ráng vẫn chạy xuôi ngược ở dưới sông như xe cộ chạy trên đường phố. Tôi chỉ một cây có tàn lá rộng rạp sà xuống mặt sông, hỏi:
- Đó là cây ô môi phải không em?
Cô bé lắc đầu:
- Đó là cây còng - Em quay qua bên phải chỉ một cây cao cành lá thưa hơn - Đó mới là cây ô môi .
Tôi nhìn cái cây trầm trồ khen:
- Ô môi nở hoa đẹp quá!
- Ông đừng xạo. Mùa này đâu có hoa ô môi.
Tôi quay lại thật nhanh, chỉ đôi môi đỏ hồng của em và nói:
- Đây là hoa ô môi hay ô răng?
Cô bé đỏ mặt, bậm môi, cúi đầu suy nghĩ rồi em ngước lên hỏi:
- Vậy đố ông giải thích tên Ô Môn quê em?
Tôi mỉm cười nghĩ đây là cơ hội phục thù tốt. Tôi kể lại chuyện tình bà Sử ông Trăng như Lộc đã kể. Để cho em dễ hiểu, tôi minh họa bằng cách ôm chặt vai em và nói:
- "Ôm-em-ôm-anh" đọc nhanh thành Ô Môn... Á!
Tôi xuýt xoa chà bóp dấu răng cô bé cắn đỏ bầm trên cánh tay tôi . Trong khi đó em vừa cười nức nẻ vừa nói:
- Ông giải thích trật lất rồi. Ở đây đâu có vùng đất nào tên Ô-Môn-Á.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
HỒNG HÀ
 
Có một số người thuở nhỏ rất thông minh nhưng càng lớn lên càng ngu, tôi là một trong số những người hiếm hoi đó. Ðáng buồn thay !
Thuở nhỏ tôi không phải là thần đồng (nếu là thần đồng chắc các bạn đã biết tiếng tăm của tôi hết rồi, khỏi cần giới thiệu lôi thôi), nhưng chắc chắn tôi con nít ngày xưa đã thông minh hơn tôi người lớn bây giờ rất nhiều. Tại sao có trường hợp hợp lạ kỳ như vậy hả? Ðêm đêm nằm vắt tay lên trán tôi vẫn thường bị mất ngủ vì không giải đáp nổi thắc mắc đó.
Bạn thấy chưa, khi nằm ngủ mà đầu óc còn phải thắc mắc này nọ, chỉ điều nhỏ nhặt đó thôi cũng đủ chứng tỏ tôi ngu hơn xưa rất nhiều. Ngày xưa, đâu có vậy, tôi đã ngủ khì ngay khi chưa đến giờ đi ngủ. Tôi thường gục đầu kéo một giấc đã đời ngay trên bàn học và buổi sáng hôm sau, khi má tôi đánh thức dậy, tôi mới hay mình đang nằm trên giường.
Vì tánh dễ ngủ đó nên tôi bị học "đúp" năm lớp Nhất, đến năm 12 tuổi tôi mới thi vào lớp Ðệ Thất (6) trường công lập. Ðấy là cuộc thi khá gay go, "một chọi bảy" vì nhà trường chỉ lấy 300 học sinh trúng tuyển trong số 2100 học sinh dự thi.
Mặc dù chính tôi cầm giấy bút đi thi chứ không phải bố mẹ tôi, vậy mà bố mẹ tôi có vẻ run hơn tôi nhiều. Buổi sáng, trước khi đến trường thi, biết tánh tôi hay ngủ gục, mẹ tôi căn dặn : "Con đừng ngủ trong phòng thi nghe, ngủ ở đó nóng lắm. Con ráng thức làm xong bài rồi về mẹ quạt cho con ngủ". Bố tôi thực tế hơn (người ít tin vào lời nói, vì cho rằng lời nói thường bay đi) nên ông dẫn tôi đi uống cà phê ở một quán cóc đầu ngõ. Ðấy là lần đầu tiên trong đời, tôi được thưởng thức hương vị cà phê đen và cũng từ ấy tôi bắt đầu nghiện uống cà phê luôn.
Kết quả kỳ thi đã làm bố mẹ tôi đứng tim, nhưng tôi thì hãnh diện lắm lắm. Tôi đỗ thứ ba (bạn thấy tôi giỏi không), trong số ba người đỗ dự khuyết. Tôi nghĩ người giỏi là đỗ thủ khoa, nhưng người thông minh phải là người đỗ chót, vì người đó biết cách làm bài chỉ đủ điểm đỗ là ngừng, biết cách làm bài khiến giám khảo không thể nào đánh rớt được, thế mới tài. Ðỗ cao làm gì cho mệt. Thầy giáo tôi đã dạy rằng : "Càng cao danh vọng càng dày gian nan".
Bạn thấy chưa, ngay thuở nhỏ tôi đã hiểu được ý nghĩa thâm thúy của câu nói đó nên đã biết chối từ danh vọng. Ấy thế mà lớn lên, tôi lại thích gian nan mới ngu chớ. Làm việc gì tôi cũng hì hục cố đạt cho được hạng "nhất thống sơn hà" mới vừa lòng. Do đó tôi đã bị nhiều người ghen ghét nhất, bị nhiều người hãm hại nhất, vì vậy mà tôi trở thành kẻ ngu nhất.
Nhưng mấy chuyện ngu đần lẻ tẻ đó đâu có nhằm nhò gì nếu so sánh với chuyện ngu đần vĩ đại của tôi sau đây:
Cũng năm 12 tuổi đó tôi được biết Hồng Hà. Hồng Hà nếu chỉ là tên con sông phát nguyên ở miền núi Vân Nam dài 1200 km, có hai phụ lưu chính là sông Ðà ở hữu ngạn và sông Lô ở tả ngạn, có phù sa đỏ ngầu, chảy ngang Hà Nội và đổ ra Vịnh Bắc phần... Như vậy thì Hồng Hà muốn chảy đi đâu thây kệ Hồng Hà, chẳng ăn nhập gì đến tôi. Nhưng Hồng Hà còn là tên của một cô bé nữa, đó mới là điều khốn khổ cho tôi.
Thi đỗ vào trường công lập, tôi được xếp và học lớp Ðệ thất A3 và ngồi sau lưng một con bé Bắc kỳ tên Hồng Hà. Hồng Hà rất giỏi toán nhưng vẽ thì dở ẹc. Con bé vẽ hai đường song song bao giờ cũng gặp nhau nếu chịu khó kéo dài ra một chút nữa. Còn vẽ vòng tròn dù đã dùng compa, con bé vẽ vẫn giống như quả đất ở giữa thì tròn hai đầu hơi bẹp. Trái lại tôi vẽ rất giỏi, nhưng toán thì dốt đặc cán mai. Tôi có thể nhắm mắt xoay chuyển vở một vòng là đã vẽ xong một vòng tròn như trăng rằm và không cần dùng thước kẻ lôi thôi, tôi vẫn vẽ được hai đường thẳng song song chẳng bao giờ gặp nhau, cho dù bạn có mỏi tay kéo dài hai đường đó đến vô cực. Chính vì có những tài năng trái ngược đó mà chúng tôi bắt buộc phải thân với nhau, để cùng nhau cộng tác làm những bài toán giải đúng và đẹp.
Gia đình Hồng Hà ở cùng trại định cư của người Bắc với gia đình tôi. Mặc dù nhà chúng tôi cách xa nhau (người ở đầu trại kẻ ở cuối trại), nhưng hai gia đình vẫn quan biết nhau như thường, vì bố tôi cùng quê với bố Hồng Hà và hai người thường gặp nhau để kể "chuyện đời xưa".
Tuy vậy, Hồng Hà và tôi chỉ biết nhau khi học chung một lớp và chỉ thân nhau khi Hồng Hà thường đến nhà nhờ tôi vẽ giúp các hình toán học, vạn vật, địa lý và các mẫu thêu, vì tôi nổi danh là "Ðịnh họa" mà lị.
Một buổi tối tôi đang cặm cụi vẽ hình những con tương cận với những con ếch cho Hồng Hà, con bé từ ngoài vườn chạy vào vỗ vai tôi :
- Ðịnh ra vườn Hà chỉ cho xem cái này đẹp lắm.
- Ðể Ðịnh vẽ cho xong cái miệng con cóc đang kêu đã, từ nãy giờ vẽ cứ hỏng mãi.
- Ðể đó chốc nữa vẽ tiếp. Ðịnh ra xem mau lên.
Không cho tôi phát biểu ý kiến, con bé giựt bút chì ra khỏi tay tồi kéo tôi đi. Phía sau nhà tôi có một khu vườn rộng trồng đủ các loại rau mà người Bắc ưa thích như : rau đay, mồng tơi, húng chó, tía tô, thì là, cải cúc... Ðêm đó trăng rất sáng và tôi nhìn thấy rõ những cánh hoa rau thì là nở trắng lấm tấm như những hạt cát. Nhìn quanh vườn chẳng thấy có gì lạ, tôi lại hỏi :
- Hà nói cái gì đẹp ?
- Ðịnh không nhìn thấy à ?
- Ðịnh chẳng thấy cái gì ăn được ngoài cây ớt chưa chín.
- Bộ cái gì ăn được mới đẹp sao ?
- Phải. Ðịnh thấy con gà luộc đẹp hơn con Liên "hoa hậu" lớp mình nhiều.
- Thôi "ông", nhìn kia kìa. Ðẹp không ?
Tôi nhìn theo tay con bé chỉ ra góc vườn. Nơi có cây hồng bạch đang trổ bông trắng xóa. Dưới ánh trăng, cây hồng trông giống như một chiếc khăn trắng bay vướng vào hàng rào kẽm gai. Cây hồng đó do một bà dì ở Lâm Ðồng đem xuống cho tôi trồng, không phải để làm cảnh mà để làm thuốc chữa bệnh ho gà kinh niên của tôi. Mỗi khi lên cơn "hụ hụ", tôi phải chạy ra vườn hái vài bông hồng bạch đưa cho má tôi chưng với cam thảo và đường phèn, chỉ cần uống một bát thuốc như vậy là cơn "hụ hụ" trong tôi chấm dứt ngay.
Chắc bạn cũng đã rành bệnh ho gà là gì rồi phải không? Vậy tôi khỏi phải kê khai bệnh trạng ra đây. Tôi chỉ nói cho bạn biết là mắc bệnh đó bạn không đau đớn gì, nhưng bạn sẽ làm cho người khác bực mình ghê lắm. Ðêm đêm nằm ngủ, bạn cứ lên cơn "hụ hụ" như tiếng gà gáy đánh thức người ta thì đố ai mà ngủ nổi. Chính mẹ tôi là người thương yêu tôi nhất nhà vậy mà bà cũng phải cho tôi nằm ngủ riêng một mình ở dưới bếp. Bạn biết không, tôi ho "hụ hụ" to đến nỗi mấy con gà ở trong buồng gần bếp đều bị mất ngủ và chết dần mòn khiến má tôi sợ hãi phải dời chuồng gà đi nơi khác gấp.
Bạn đã hiểu sơ qua về bệnh ho gà rồi, chắc bạn sẽ thông cảm với tôi, không phiền trách khi biết tôi coi cây hồng bạch như vị "cứu tinh ho gà" và sẵn sàng bảo vệ nó đến "cơn ho gà cuối cùng". Cho nên khi Hồng Hà nói :
- Cây hồng bạch đẹp quá, cho Hà cây hồng đó nghe.
Tôi hét lên :
- Cho cái chổi cùn.
Cô bé cười cười nhìn tôi trông rất ngây thơ vô (số) tội.
- Ðịnh không thương Hà à ?
- Thương Hà làm quái gì. Hà có giúp Ðịnh hết ho gà không ?
- Nhưng Hà giúp Ðịnh làm toán khỏi bị dê rô.
- Ðịnh không sợ dê rô. Ðịnh chỉ sợ ho "hụ hụ".
Con bé chớp chớp mắt.
- Hà sẽ nghỉ chơi với Ðịnh.
- Nghỉ thì nghỉ chứ ai cần. Ðịnh sẽ chơi với con Thu, con bác Sơn bán cà phê ở đầu ngõ.
Con bé bặm môi, mắt rươm rướm nước mắt rồi bật hét lên như còi xe chữa lửa:
- Con Thu bị ghẻ ruồi. Nó sẽ lây bệnh sang Ðịnh, cho chết luôn.
Hồng Hà bỏ chạy vào nhà lấy vở đi về, tôi cứ đứng yên ở vườn, tâm thần mê mẩn vì đã khám phá ra một chuyện bí mật. Không phải chuyện "con Thu bị ghẻ ruồi" đâu, tôi đã nghĩ ra cách muốn vẽ miệng con cóc đang kêu cho thật linh động, tôi chỉ cần vẽ theo cái miệng Hồng Hà lúc con bé hét lên là đúng ngay boong.
Bạn thấy chưa, ngay khi còn bé tôi đã dư thông minh để biết coi thường ánh mắt, nụ cười, nước mắt con gái. Những thứ đó tuy vớ vẩn nhưng cũng đã khiến cho ông Adam bị "sút" văng khỏi Thiên Ðàng và khiến cho biết bao nhiêu ông vua ở hạ giới bị "sút" văng khỏi ngai vàng. Bây giờ chẳng cần phải ánh mắt nụ cười, chỉ cần người đẹp ban cho một cái móng chân để làm kỷ niệm tôi cũng sẵn sàng bắt chước Tỉ Can móc tim mình dâng cho nàng ngay chứ đừng nói gì dâng cây hồng bạch vớ vẩn đó. Ðấy bạn xem, tôi-người-lớn có ngu không chứ !
Trại định cư của chúng tôi ở bên bờ một con sông nhỏ. Mỗi chiều, tôi thường ra sông tắm và đợi đến khi bữa ăn tối ở nhà đã dọn xong, tôi mới lò dò trở về để khỏi bị mẹ sai vặt. Một buổi chiều đang thả nổi mình trôi theo dòng nước, tôi nghe có tiếng khóc ré lên, nhìn lên bờ thấy Hồng Hà đang đánh cô em gái, tôi vội bơi vào bờ.
Cả tuần nay hai đứa tôi giận nhau. Không có con bé cộng tác làm toán chung tôi đã bị một con dê rô trong vở bài tập nên "hầm hơi" lắm lắm và chỉ đợi dịp gây lộn với con bé. Sẵn có dịp này, tôi vội nhào đến can thiệp.
- Hà không được đánh em Hà. Thầy giáo đã dạy "Chúng ta không được hà hiếp kẻ yếu đuối".
Con bé giở giọng người lớn nói:
- Tôi đánh em tôi, chứ tôi đánh em ông đâu mà ông nói.
- Em của ai cũng vậy. Thầy giáo đã dạy "Anh hùng thấy chuyện bất bình chẳng tha". Hà mà đánh em Hà nữa, tôi đánh Hà liền.
Con bé tát ngay vào mặt cô em cái bốp rồi đứng chống nạnh nhìn tôi thách đố.
- Ðố ông đánh tôi đấy.
- Ðánh ngay chứ sợ à, nhưng Hà không được mách bố Ðịnh mới là "anh hùng".
Không đợi con bé trả lời có chịu làm "anh hùng" hay không, tôi đấm ngay vào bụng con bé cái hự rồi bỏ chạy. Trong khi tôi lo đi trốn, Hồng hà đã chạy đường tắt về mách bố mẹ tôi. Vì vậy, tối đến, vừa thấy tôi bước chân vào cửa, (mặc dù tôi đã giả vờ lên cơn ho gà ho "hụ hụ") bố tôi vẫn túm lấy áo tôi kéo lên phản nằm, rồi quất roi mây túi bụi.
Bạn thấy chưa, ngay khi còn bé tôi đã sáng suốt biết bênh vực những kẻ "thấp cổ bé miệng" và sẵn sàng đánh con gái bằng "quả đấm" đàng hoàng. Còn bây giờ gặp chuyện như trên chắc tôi sẵn sàng giúp cô chị bạt tai cô em mấy cái cho nàng đỡ mỏi tay. Tôi cũng chẳng còn can đảm đánh con gái bằng "đóa hồng". Tôi chỉ có can đảm đưa tấm thân "tuổi ngựa" của tôi cho nàng hành hạ mà thôi. Thế mới ngu chứ!
Bị ăn bữa "cháo lươn" mập mình, buổi sáng hôm sau gặp Hồng Hà ở trường tôi liền xỉ vả con bé:
- Hà là một con hèn.
- Ai bảo Ðịnh đánh Hà đau làm chi.
- "Anh hùng" phải ráng chịu đau, không khóc than, không đi mách bố người ta.
- Ðịnh nói sai rồi, con gái không là "anh hùng", con gái chỉ là "liệt nữ".
Chắc tối qua con bé thức suốt đêm ngồi tra tự điển Hán Việt nên mới rành nghĩa hai chữ để "sửa lưng" tôi, tôi nổi sùng cãi bướng.
- "Liệt nữ" cũng vậy. Ngày xưa Hai Bà Trưng bị quân Tàu đánh, cũng đâu có khóc than và đi mách bố quân Tàu.
Con bé đuối lý, bĩu môi :
- Ðịnh chỉ tài bắt nạt con gái, có giỏi Ðịnh đánh thằng Hùng đi, Hà thách đó.
Thằng Hùng trưởng lớp tôi, nhà nó cũng ở trại định cư và ở gần nhà Hà. Nó to con và cao lớn hơn tôi nhiều vì đã 15 tuổi nhưng được bố mẹ khai sụt tuổi để thi vào trường công. Mặt nó đầy mụn trứng cá đỏ sần nên có biệt danh là "Hùng sùi". Nghe Hồng Hà thách đố, tôi nổi máu anh hùng, chẳng còn biết Hùng sùi là ai nữa. Tôi nói :
- Ðịnh đánh thằng Hùng ngay. Hà cá cái gì ?
- Ðịnh đánh thắng thằng Hùng. Hà chịu mất năm đồng. Còn Ðịnh thua thì sao ?
- Chịu mất hai hòn bi sứ.
- Hà đâu thèm chơi bi.
- Một ná cao su bắn chim gọng đồng.
- Không đáng một đồng.
- Vậy Ðịnh sẽ để Hà đấm ba cái vào lưng.
- Ðấm Ðịnh thêm mỏi tay.
- Chớ Hà muốn gì ?
- Cây hồng bạch của Ðịnh.
- Trấu xay. Nghèo mà ham. Cây hồng bạch đáng giá một trăm đồng.
- Vậy Ðịnh cắt một cành hồng cho Hà đem về trồng.
- Còn lâu, một cành hồng đáng giá mười đồng.
- Ðịnh không chịu thì thôi.
Con bé lững thững bỏ đi, tôi đứng lại phân vân suy nghĩ. Chắc bạn cũng biết năm đồng cách đây 27 năm cũng lớn lắm. Chỉ cần năm cắc bạn có thể uống được một ly cối cà phê đen tha hồ bỏ đường. Năm đồng đối với một thằng bé ở trại định cư nghèo khổ như tôi lúc đó quả là một món tiền vĩ đại. Tôi chỉ có được số tiền ấy mỗi năm một lần vào dịp Tết, khi cộng tiền ấy mỗi năm một lần vào dịp Tết, khi cộng tiền lì xì của tôi với tiền lì xì tôi ăn cắp của mấy đứa em. Có năm đồng, tôi sẽ tha hồ mua đồ ăn (tôi không thích đồ chơi, tôi chỉ thích đồ ăn) như bánh rán, kẹo kéo, bánh bao, thịt bò khô, táo tàu, xoài dầm cam thảo, bánh đa phết mật... Ối giời ! Có năm đồng tôi sẽ mua tất cả các hàng quà rong quanh trường. Nghĩ vậy, tôi chạy theo Hồng Hà nói chấp nhận cuộc đánh cá và hẹn con bé năm giờ chiều ra bờ sông xem tôi đánh Hùng sùi, vì Hùng sùi cũng thường ra sông tắm giờ đó. Nhưng Hùng sùi không phải là thằng vô hình. Chỉ cần đợi đến khi xếp hàng vào lớp là tôi biết ngay nó thật sự hiện diện ở cõi đời này còn chắc chắn hơn bánh rán, kẹo kéo bánh bao nhiều. Nó đứng chỉ huy xếp hàng, bên nam, bên nữ, nhỏ trước lớn sau. Ðứa nào đứng lộn xộn nó cú lủng đầu ngay, bất kể gái trai. Tôi còn đang mê mẩn tính, nếu có năm đồng mình sẽ mua những đồ ăn gì thì Hùng sùi cú vào đầu tôi cái cốc, khiến mọi đồ ăn đều văng ra ngoài hết. Nó hét lên:
- Mày to đầu phải đứng ở dưới kia biết chưa ?
Bấy giờ tôi mới biết Hùng sùi mạnh và hét to hơn tôi nhiều. Ðiệu này chắc tôi sẽ chẳng được năm đồng mà còn bị đòn no và mất thêm một cành hồng. Nhưng may thay, đầu óc thông minh của tôi đã hoạt động và hiến cho tôi một mưu kế thần sầu.
Ngay khi ra chơi tôi gặp riêng Hùng sùi để thương thuyết. Tôi kể cho nó nghe mọi chuyện và nói nếu nó chịu giả vờ đánh thua, tôi sẽ chia cho nó hai đồng. Hùng sùi lắc đầu :
- Mày khôn bỏ mẹ. Mày đánh tao sướng tay lại được con Hồng Hà phục, vậy mà còn được ba đồng, đâu dễ dàng vậy. Tao phải được ba đồng, nếu không tao đánh mày gục luôn.
- Mày đánh tao gục, mày cũng đâu được đồng nào. Con Hồng Hà nó đâu có đưa tiền cho mày.
- Nhưng tao sẽ làm mày mất một cành hồng và tao sẽ đấm mày đến khi nào mỏi tay mới thôi.
Nghe nó dọa "đấm mỏi tay mới thôi" khiến tôi phát hoảng. Nó mà đấm tôi kỹ như vậy chắc tôi phải nghỉ học một tuần lễ là ít. Tôi đành chấp nhận đòi hỏi của nó. Tuy vậy Hùng sùi còn dặn :
- Mày đấm tao nhẹ nhẹ thôi, nghe. Mày đấm mạnh là tao cáu sườn, không "bảo đảm sinh mạng" mày đâu.
Dĩ nhiên, trong trận "Long Hổ sát đấu" buổi chiều đó, tôi đã toàn thắng Hùng sùi. Tôi chỉ mới đấm một cú nhẹ vào bụng, vậy mà nó đã ôm ngực la "Ối giời! Bị giập phổi rồi. Tao phải đi nhà thương gấp" rồi nó chạy biến. Hồng Hà móc túi đưa tôi năm đồng, mặt con bé như cái bánh đa nhúng nước, nhưng đôi mắt con bé nhìn tôi có vẻ khâm phục sức mạnh của tôi lắm lắm.
Bạn thấy chưa, ngay từ thuở nhỏ tôi đã biết liên kết bạn bè "moi tiền" con gái tiêu chơi. Còn bây giờ, không những tôi sẵn sàng moi tiền của thằng bạn thân nhất mà còn sẵn sàng moi tiền của bố mẹ và của chính tôi để dâng cho bất cứ người đẹp nào, thế mới ngu chứ !
Suốt ba ngày sau không thấy Hồng Hà đến lớp học, tôi nghĩ chắc con bé tiếc năm đồng nên không muốn nhìn mặt tôi. Mãi đến khi bố tôi cho biết Hồng Hà bị bệnh thương hàn và bảo tôi đến thăm, tôi mới chịu khó cuốc bộ đến nhà con bé ở cuối trại định cư.
Mẹ Hồng Hà dẫn tôi vào một căn phòng được che kín bằng những màn vải có hoa lớn màu vàng. Con bé nằm im trên giường, mắt nhắm lại, mặt xanh lè, mồ hôi vã ra ướt đẫm cả tóc, vậy mà con bé vẫn phải trùm khăn đến cằm. Khi mẹ Hồng hà bận ra ngoài để coi siêu thuốc bắc, tôi ghé bên con bé gọi nhỏ:
- Hà, Hà, cho Ðịnh mượn vở tập toán nghe.
Con bé mở đôi mắt lờ đờ nhìn tôi hỏi :
- Ai đấy?
- Ðịnh họa đây.
- Vậy mà tưởng Hùng sùi.
- Bộ mặt Ðịnh nổi nhiều mụn trứng cá lắm hả?
Con bé cười không trả lời, trông dễ ghét lạ. Nếu không sợ kỳ tới thầy giáo gọi tôi lên bảng trả bài tập toán, chắc tôi sẽ cầu trời cho con bé ốm chết luôn cho bõ ghét. Tôi hỏi:
- Vì tiếc 5 đồng nên Hà ốm phải không?
Con bé lắc đầu, rồi đột nhiên ôm ngực ho "hụ hụ". Mặt con bé đỏ gay như người say rượu và lăn lộn trên giường giống hệt tôi mỗi khi lên cơn ho gà. Tự nhiên tôi thấy thương con bé lạ. Một lúc cơn ho vừa dứt, con bé nhìn tôi nói:
- Ðịnh cho Hà một cành hồng bạch nhé?
Tôi định hét "trấu xay", nhưng nghĩ đến cơn ho vừa qua của con bé, tôi đổi ý nói:
- Ðược rồi, tối nay Ðịnh sẽ đem đến cho Hà một cành hồng. Bây giờ, Hà cho Ðịnh mượn vở toán tập của Hà đi.
Con bé mừng rỡ cố nhổm dậy giơ tay chỉ:
- Vở toán tập Hà để ở bàn kia kìa, Ðịnh lấy đi. Tối Ðịnh nhớ đem cho Hà một cành hồng bạch thật nhiều bông nghe. Hà sẽ nhờ mẹ trồng ở góc vườn và khi khỏi bệnh Hà sẽ chăm sóc nó kỹ hơn. Ðịnh nhớ đem đến sớm nghe, Hà đợi đó.
Buối tối, ăn cơm xong, tôi cầm con dao ra vườn chặt cho Hồng Hà một cành hồng nở đầy bông trắng. Sợ mẹ mắng về tội "chặt vị cứu tinh", nên tôi không dám cầm cành hoa đi ra cửa trước mà phải chui vào hàng rào phía sau vườn, rồi chạy đến nhà Hồng Hà. Gần đến nhà con bé, tôi gặp Hùng sùi đứng chống nạnh ở giữa đường. Nó hỏi:
- Mày đi đâu đó Ðịnh họa?
- À trời nóng quá, tao đi vòng vòng cho mát.
- Xạo ke, mày đến nhà con Hà phải không?
- Ừ... Nghe nói nó ốm, tao định đến thăm.
- Mày cầm cành hồng cho nó hả ?
- Sức mấy mà cho. Nghe nó bị ho gà nên tao đem đến bán.
- Xạo ke, người ta bán hoa thôi chứ ai bán cả cành. Mày định cho con Hà để nó trồng trong vườn phải không?
- Bố tao nói đem tặng bố nó một cành hồng để trồng làm cây cảnh.
- Xạo ke, mày "mết" con Hà nên đem cành hồng tặng nó còn bày đặt nói nọ kia. Sáng mai đến trường, tao sẽ nói cho tụi nó biết mày là thằng "gà mái ướt" mới đi "mết" con gái.
Bị gọi là "gà mái ướt", tôi cảm thấy nhục nhã ghê gớm... Tôi hét lên đính chính :
- Tao "mết" con Hà hồi nào, tao ghét nó như ghét ông thầy dạy toán. Tao tính đem cành hồng đến lêu lêu cho nó thèm chứ còn khuya tao mới cho nó. Mày xem dây.
Tôi quăng cành hồng xuống đất, rồi giẫm nát những đóa hồng trắng dưới đôi guốc mộc. Hùng sùi vỗ tay reo:
- Mày đúng là thằng "gà cồ". Tao xin lỗi mày nghe, giờ tao đãi mày đi ăn thạch chè.
Hùng sùi quàng tay quanh vai tôi kéo đi. Ðược gọi là "gà cồ" tôi nở mũi sung sướng mặc kệ cho Hồng Hà đợi chết luôn.
Hai mươi bảy năm đã trôi qua. Bây giờ tôi đố bạn, Hồng Hà hiện đang ở đâu đấy? Chắc bạn nói nàng đang ở trong nghĩa địa, và "mồ xanh cỏ" rồi chứ gì!
Xời ! Nếu được như bạn nói thì thật "phúc đức bảy mươi đời" cho tôi. Chẳng cần phải nghĩa địa. Hồng Hà ở bất cứ chỗ nào trừ nhà tôi, tôi cũng sung sướng lắm lắm. Nhưng khổ nỗi, hiện giờ nàng đang ở trong nhà tôi đấy bạn ạ. Ðiều đó chưa có gì kinh khủng lắm đâu nếu bạn còn biết thêm rằng Hồng Hà hiện đang là "nhà tôi", thế mới thảm chứ! Tôi thật xứng đáng được bạn phân ưu phải không?
Có một số người thuở nhỏ rất thông minh nhưng càng lớn lên càng ngu, tôi là một trong số những người hiếm hoi đó. Biết làm sao bây giờ ?
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
KHI NGỌN NẾN ĐÃ TẮT
 
Mùa đông 1973 ở Sài Gòn, trời lạnh căm. Hắn bước ra ngoài rạp chiếu bóng Rex, miệng phì phèo điếu thuốc. TH. khen hắn thở khói thuốc bay đẹp như một đám mây khiến hắn nở mũi và lòng rộn lên điệu valse của “Bài ca Lara”. Hắn vừa xem xong phim “Vĩnh biệt tình em”. Nói về cuộc tình của bác sĩ Zhivago và nàng Lara. Cuộc chia tay của hai người buồn não nuột giữa mùa đông tuyết phủ trắng mặt đất. Nhưng hắn không cảm thấy buồn và lạnh, vì bên hắn đã có TH - người tình đầu. Và bàn tay nàng ấm như một ngọn nến.
Bộ phim đã khiến hắn tìm đọc cuốn tiểu thuyết “Vĩnh biệt tình em” do Nguyễn Hữu Hiệu dịch. Hắn đã biết thêm cuộc đời gian truân của tác giả Boris Parternak - giải Nobel văn chương năm 1958. So sánh tiểu thuyết với bộ phim, hắn thích bộ phim hơn. Có lẽ nhờ tài diễn xuất của Owar Sharif trong vai Zhivago, Julie Christie trong vai Lara và nhất là nhạc phim của Maurice Jarra.
Mùa đông 1988. Hắn đọc cuốn “Boris Parternak - Con người và tác phẩm” (NXB TP. Hồ Chí Minh), qua bản dịch trọn vẹn của Lê Khánh Trường, hắn mới biết chương cuối cuốn tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” là những bài thơ của Zhivago. Hắn rất thích bài thơ “Ðêm đông” ở điệp khúc:
Ngọn nến cháy trên bàn. Ngọn nến cháy.
Hắn nhớ lại những ngọn nến Zhivago đã thắp lên trong phòng khi gần gũi Lara, và những ngọn nến được thắp lên khi xa cách Lara. Những ngọn nến vẫn cháy như nhau, nhưng tâm sự người thắp nến lúc thì muốn “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt”, lúc thì muốn “le lói suốt trăm năm”. Sự dằn vặt lựa chọn giữa cái “phút chốc” và cái “trăm năm”, đấy chính là bi kịch của một cuộc tình (của một đời người).
Ðọc đi đọc lại bài thơ, hắn cố đoán xem “Ngọn nến cháy” tượng trưng cho điều gì? Tình yêu? Niềm hy vọng? Hay đấy là đôi mắt ráo hoảnh của Thượng Ðế? Ngài thấy hết, ngài biết hết nhưng ngài vẫn im lặng như:
Ngọn nến cháy trên bàn. Ngọn nến cháy.
Hắn đóng cuốn sách lại, hắn tin chẳng bao lâu rồi hắn sẽ lại mở sách ra. Bởi một bài thơ hay là bài thơ có ma lực quyến rũ người ta luôn luôn muốn tìm đọc lại, để mỗi lần lại khám phá ra thêm một điều mới mẻ.
Ngọn gió mùa đông lùa qua cửa sổ bể kính vào phòng khiến hắn rùng mình. Hắn phản xạ quờ tay qua chỗ ngồi kế bên. Không còn có TH. Nàng đã xa hút ở một nơi tuyết bay mù trời, nhưng nàng không cảm thấy lạnh vì trong tay nàng đã có một bàn tay khác ấm như một ngọn nến. Cũng may ở chỗ trống bên hắn còn có gói thuốc. Hắn quẹt một que diêm và chợt nhận thấy:
Ngọn nến cháy trên bàn. Ngọn nến cháy.
Mùa đông 1996. Hắn một mình ngồi xem lại bộ phim video “Bác sĩ Zhivago”, bản có phụ đề Việt ngữ. Hắn đã hiểu tại sao Zhivago và Lara chia tay nhau mà họ vẫn còn yêu nhau thắm thiết. Ðó là nhờ họ đã thắp cho nhau những ngọn nến cháy mãi trong tim, để giúp nhau vượt qua những đêm đông của một đời người.
Còn người tình của hắn khi chia tay, đã mau chóng quên lãng hắn. Bởi vì keo kiệt, hắn đâu có bao giờ dám thắp lên cho mình và cho nàng:
Ngọn nến cháy trên bàn. Ngọn nến cháy.
Tuyết rơi phủ đầy chiếc xe ngựa của Lara trên màn ảnh nhỏ. Hắn cố gắng hát theo bài ca “Lara’s Theme”: Some where my love... Người yêu tôi ở chốn nào... Chỉ được một câu rồi hắn nghẹn họng không thể hát tiếp. Ðể trả “thù vặt” người tình đầu đã bỏ hắn ra đi, hắn quyết định bỏ hút thuốc. Hắn không muốn thổi “những đám mây đẹp” bay về phía nàng. Giờ đây giữa đêm đông, trên đôi môi lạnh giá của hắn, thật thảm thương, chẳng bao giờ còn lập lòe một đốm lửa nhỏ nhoi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
LỘC TÌNH
 
Tôi đã đến Hà Nội vào dịp cuối đông. Tôi muốn được thấy tận mắt những trái sấu, muốn được ngửi tận mũi hương hoa sữa. Nhưng rất tiếc vào mùa ấy những cây sấu, cây hoa sữa chỉ còn lá xanh rì. Viết về món ăn ngon ở Hà Nội đã có nhà văn Thạch Lam, Vũ Bằng với những trang viết tuyệt vời. Tôi đành chọn đối tượng khác - viết về người ăn.
Truyện này khi đăng trên báo Mực Tím đã được đổi tựa là “Người đốt cháy bông hồng”. Tôi vốn không thích “đốt” bất cứ cái gì, ngay cả những lá thư tình cũ cân ký lô bán cũng có giá, nên tôi lấy lại tựa cũ: “Lộc Tình”. Ai trong chúng ta mà không thích “Lộc”?
Nhà Trung ở trong khu tập thể. Leo lên lầu ba, tôi gõ cửa phòng 306. Một cô bé tóc ngắn mặc áo len màu vàng chanh mở cửa. Khi tôi hỏi thăm Trung, em hỏi lại:
- Xin lỗi, ông ở Sài Gòn mới ra?
Tôi gật đầu. Cô bé mời tôi vào phòng rồi chạy đi lấy một lá thư để trên bàn giao cho tôi.
- Anh Trung gửi cho ông.
Tôi mở lá thư ra đọc:
"Biền thân.
Đã nhận được điện tín của cậu báo ngày ra Hà Nội để viết bài về Đại hội sinh viên. Nhưng vì phải đi công tác đột xuất viết phóng sự buôn hàng lậu ở cửa khẩu Móng Cái, nên mình rất tiếc đã không thể hướng dẫn cậu đi thăm Hà Nội. Mình đã nhờ nhỏ em Minh Thụy đang là học viên một lớp hướng dẫn du lịch sẽ "thực tập" hướng dẫn cậu. Hẹn gặp nhau vào tuần tới nếu cậu chưa vào lại Sài Gòn.
Minh Trung."
Đọc xong lá thư, tôi ngước nhìn người đưa thư hỏi:
- Xin lỗi em là Minh Thụy?
Cô bé gật đầu cười hỏi:
- Ông định kinh doanh ngành ăn uống?
- Sao em lại nghĩ vậy?
- Vì anh Trung đã dặn em chỉ hướng dẫn ông đi "tham quan" những nơi có món ăn đặc biệt của Hà Nội.
Tôi bật cười giải thích:
- Khi ở Sài Gòn tôi rất thích cuốn "Thương nhớ mười hai" của nhà văn Vũ Bằng. Ông ấy đã thương nhớ người yêu ở Hà Nội qua mười hai món ăn đặc biệt của mười hai tháng. Tôi cũng sẽ thương nhớ Hà Nội qua một món ăn đặc biệt nào đó, nên đã viết thư nói ý định nhờ Trung hướng dẫn đi ăn.
- Nhưng Hà Nội cũng có nhiều thắng cảnh đáng nhớ lắm chứ.
- Thật đáng tiếc! Chúng lại không "ăn" được nên tôi khó mà nhớ lâu .
Cô bé chép miệng, thở dài:
- Thật đáng tiếc! Bao tử của ông lại nằm trong đầu của ông.
Con gái Hà Nội có khác. Ăn nói luôn hơn người. Tôi nghĩ cần phải thận trọng khi đối đáp với "cô Bắc kỳ nho nhỏ" này.
- Bây giờ em có thể hướng dẫn tôi đi ăn tối.
- Ông muốn đi ăn cơm "bụi"?
- Cơm bình dân ở đâu mà chẳng có. Tôi muốn ăn một món ăn ngon và lạ.
- Xin ông đợi em một chút.
Năm phút sau, tôi cùng Thụy đi xuống thang lầu. Em đã đội thêm chiếc mũ len màu xanh nhạt và quấn khăn quàng cổ có những ô vuông màu đỏ. Hà Nội vào cuối đông trời se lạnh, nhưng tôi vẫn quen mặc chiếc áo gió mỏng màu xám vì nó có túi rộng để đựng chiếc máy ảnh mini.
Thụy đi lấy chiếc xe Honda gửi ở nhà giữ xe của khu tập thể. Và rồi dưới sự hướng dẫn của Thụy, tôi đã lái xe đến phố Chả Cá. Em chỉ cho tôi một nhà hàng và nói:
- Đây là nơi bán một món ăn nổi tiếng.
Tôi nhìn dòng chữ viết trên cửa kính "Cha Ca La Vong". Phía trước nhà hàng đậu đầy xe dream và xe hơi. Một vài khách nước ngoài đứng lóng ngóng trước cửa vì bên trong đã đông khách. Tôi nói:
- Thôi chúng ta đi chỗ khác.
- Ông không thích món chả cá Lã Vọng à?
- Tôi không thích vào nơi đông đúc. Ăn uống mà phải xếp hàng chờ đợi thì thật mệt. Vả lại tên bảng hiệu đã mất dấu, chắc mùi vị món ăn cũng mất theo.
- Ông khó tính thế. Vậy chúng ta đi ăn chỗ khác.
Thụy dắt tôi đi ăn bún thang rồi hướng dẫn tôi chạy xe đến phố Hàng Trống. Bộ "trống" mà cũng ăn được hay sao ?
Tôi định hỏi nhưng sợ Thụy chê "ngố" nên đành "im lặng là vàng". Chúng tôi dừng lại ở quán bánh gối. Những chiếc bánh có hình như chiếc gối thu nhỏ bằng ba ngón tay làm bằng bột có nhân thịt được chiên dòn rồi ăn với rau sống và nước mắm chua ngọt.
Tôi nói đùa:
- Sao người ta không đặt tên là bánh "trống" cho hợp với tên phố? Em xem nó cũng giống hình cái trống thu nhỏ lại .
- Thì ông cũng biết những cái gì "nhỏ" thường giống nhau. Người ta chỉ khác nhau ở chỗ "lớn".
Tôi đã dặn lòng phải cẩn thận khi nói chuyện với cô bé. Vậy mà... có lẽ tại bánh gối chiên có nhiều dầu nên đã làm... lưỡi tôi trơn!
Ăn xong đĩa bánh gối, tôi hỏi:
- Em còn biết món ăn gì đặc biệt nữa không?
- Ông chưa no à?
- Đã thấm tháp gì đâu.
- Vậy thì đi tiếp.
Tôi lái xe chạy một vòng quanh Hồ Gươm. Đêm, nước mặt hồ xanh thẳm. Những tàng cây trên bờ hồ kêu lao xao khi gió mùa đông bắc thổi về. Và tôi khẽ rùng mình. Thụy đặt tay lên vai tôi hỏi:
- Ông lạnh rồi à?
Tôi cười nói:
- Tôi có chở tủ lạnh đâu mà lạnh. Tôi đang chở một lò sưởi chạy bằng "nhân điện".
Thụy vội bỏ tay khỏi vai tôi và nói:
- Ông hãy chạy quanh bờ hồ một vòng nữa .
- Em quên chỗ bán rồi à?
- Đấy là quán hàng rong. Họ đâu có bán nhất định một chỗ nào. A! Kia rồi.
Thụy chỉ một người đẩy xe hàng có ngọn đèn dầu treo ở phía trước. Người đó vừa dừng xe hàng bên bờ hồ, tôi phóng xe đến. Trong khi tôi dừng xe Honda, Thụy đã chạy đến nói chuyện với người bán hàng. Rồi em bưng hai cái chén đến đưa tôi một chén.
Tôi hỏi:
- Món gì vậy?
- Lục tào xá.
Tôi đưa cái chén ra xem dưới ánh đèn vàng đục. Thì ra là món chè đậu xanh bột báng thiếu nước cốt dừa . Ăn xong chè tôi hỏi:
- Ở đây có món "xâu mín dìn" không?
- Có thể ở Sài Gòn người ta gọi tên món ăn đó khác với người Hà Nội. Ông hãy tả cho em biết, em sẽ chỉ chỗ bán.
- Đó là "xin miếng dầu". Em hãy chỉ chỗ cho tôi mua một chai dầu Nhị Thiên Đường. Tôi sợ tối nay sẽ bị đau bụng.
Suốt những ngày Đại hội, tôi đã phải làm việc tất bật. Phỏng vấn và ghi chép xong tôi phải viết bài rồi đến bưu điện gởi fax về tòa soạn. Tôi chỉ rảnh được buổi tối và Thụy đã hướng dẫn tôi đi ăn các món bánh tôm, quẩy nóng, gà tần, miến lươn.
Công việc xong. Hôm nay tôi hoàn toàn rảnh rỗi. Tôi nhờ Thụy dẫn đi mua một ít quà Hà Nội để sáng mai đáp chuyến bay sớm về Sài Gòn. Chúng tôi gởi xe và cùng đi bộ. Từ cửa hàng bách hóa tổng hợp Trường Thi bước ra, tay tôi nặng trĩu một túi xách đựng quà. Thụy chợt níu áo tôi đứng lại và chỉ tay qua bên kia đường.
- Ông nhìn cây kia kìa.
Tôi nhìn qua con đường xe cộ đang chạy tấp nập. Trên hè đường có một cây cao, lá thưa thớt, những chùm hoa trắng li ti đang chao đảo trong gió.
- Cây hoa sữa đó.
Hoa sữa? Tôi cố hít một hơi dài để cảm nhận mùi hương đặc biệt của hoa sữa mà người ta thường ca ngợi nhưng tôi chỉ ngửi thấy mùi khói xe. Tôi quay lại hỏi Thụy:
- Sao nó không thơm gì cả?
- Nó cũng khó tính như ông vậy. Chỉ thơm về đêm khi con đường đã im vắng.
Tôi thấy Thụy đắm đuối nhìn những chùm hoa sữa trên cao, tôi hỏi:
- Em yêu hoa sữa lắm hả?
Thụy cười buồn:
- Không bằng ông yêu các món ăn đâu, nhưng hoa sữa luôn gợi cho em nhớ đến một người. Đó là anh Hưng. Anh ấy học trên em hai lớp và đã dạy kèm cho em. Biết em thích hoa sữa, anh ấy thường trèo cây hái hoa tặng em. Có lần anh Hưng bị ngã từ trên cây xuống gãy cánh tay phải, anh vẫn tươi cười trao chùm hoa cho em bằng tay trái. Nhà anh Hưng rất nghèo. Khi anh bị bệnh nặng, gia đình thiếu tiền thuốc thang nên anh ấy đã mất. Chuyện tình của em và anh Hưng mong manh như hương hoa sữa vậy .
Tôi đưa túi xách đựng quà cho Thụy và nói:
- Em giữ giùm. Tôi sẽ trèo lên cây hái hoa sữa tặng em. Nếu có bị té gãy hai tay tôi sẽ tặng hoa bằng... miệng.
Thụy cười:
- Cám ơn ông. Ông làm việc đó chỉ khiến em nhớ đến anh Hưng nhiều hơn.
Giúp em nhớ đến Hưng thì tôi leo cây làm quái gì cho mệt! Tôi vội dắt em đi xa khỏi cây hoa sữa gợi nhiều kỷ niệm kia .
Chúng tôi đi bộ trên một con đường khác. Hai hàng cây bên đường tàn lá xanh mướt giao nhau, chỉ để lọt xuống mặt đường lấm tấm những đốm nắng vàng. Thụy dừng lại trước một cây cao và nói:
- Ông hãy nhìn cây này .
Tôi nhăn mặt:
- Lại cây hoa sữa nữa à?
- Không. Đây là câu sấu.
Tôi nhìn lên vòm lá xanh và tự nhiên ứa nước miếng dù không thấy một trái sấu nào. Tôi đã thấy trái sấu khi Hằng mang nó từ Hà Nội vào Sài Gòn. Trái sấu chỉ lớn bằng ngón chân cái nhưng chua hơn trái cóc nhiều. Hằng thách tôi ăn hết một trái sấu mà không ứa nước mắt. Tôi đã nhắm mắt ăn và khi mở mắt ra mới hay mình đã thua cuộc. Hằng đã đi đến một phương trời xa, rất xa. Nơi chỉ có trái táo chín đỏ ngọt lịm và không có trái sấu xanh chua lè.
- Ông làm gì mà đứng há hốc mồm vậy?
- À, tôi đang chờ trái sấu rụng vào miệng.
- Trái sấu không mềm như trái sung đâu. Coi chừng ông rụng hết răng.
- Đúng vậy. Trái sung đã ở một phương trời xa, rất xa.
- Ông đang nhớ đến một người ở xa?
Tôi gật đầu và nắm tay Thụy kéo đi.
- Em hãy dẫn tôi đi tìm một món ăn mới, để quên đi những kỷ niệm cũ.
Theo sự hướng dẫn của Thụy, tôi phóng xe chạy đến Phủ Tây Hồ để ăn bún ốc. Trước khi ra đến bờ hồ, xe chạy qua một làng trồng đầy hoa. Chúng tôi phải gửi xe để đi bộ vào một con đường nhỏ. Hai bên đường người ta kê những chiếc bàn bày bán những bó hoa, nhang, giấy vàng bạc, giấy tiền có in hình đồng đô la. Tôi mua một bó hồng đỏ tươi tặng Thụy. Người bán hàng chào mời:
- Anh mua thêm giấy vàng bạc, giấy tiền.
Tôi lắc đầu:
- Cám ơn. Tôi chỉ đi ăn bún ốc. Tiền đó đâu có trả cho chủ quán được.
Qua khỏi những hàng bán hoa là những quán bún ốc, ốc luộc, ốc xào . Ốc đặc sản của hồ Tây. Tôi ngạc nhiên thấy các quán đều có chiếu phim video. Có quán còn mở máy hát karaoke. Thật lạ! Không lẽ ăn ốc ở đây sẽ giúp cho giọng hát của mình hay hơn?
Ăn xong hai tô bún ốc và một đĩa ốc luộc, đôi mắt tôi đã lồi ra như hai con ốc bươu. Thụy hỏi:
- Ông đã ăn nhiều món ăn đặc biệt của Hà Nội, vậy ông thích món ăn nào nhất?
Tôi uống một ngụm bia Trúc Bạch rồi trả lời:
- Bây giờ tôi mới biết những món ăn ngon của Hà Nội mà nhà văn Vũ Bằng đã tả trong cuốn "Thương nhớ mười hai", sở dĩ chúng ngon là do bàn tay người tình của ông nấu nướng. Vì vậy món ăn ngon nhất đối với tôi sẽ là món cơm nguội chiên, nếu người tình của tôi chiên cho tôi ăn. Thôi chúng ta đi về. Trời sắp tối rồi .
- Ông hãy vào thăm Phủ Tây Hồ một lần cho biết. Nơi đây thờ bà chúa Liễu Hạnh rất linh thiêng. Người ta đến đây lễ rất đông để xin lộc.
Vì tò mò, tôi đi theo em. Trước sân Phủ, đầy những người bán vé số. Khách đi lễ mua vé số đem vào cúng với hy vọng sẽ trúng... lộc. Trong Phủ thờ khói nhang bay mù mịt, chỉ thấy những bóng đèn sáng mờ mờ. Thụy nói tôi vào cúng, tôi lắc đầu. Em đến đứng vào hàng ngang với khách thập phương trước bàn thờ. Người bỏ tiền, người bỏ vé số, còn em bỏ bó hồng lên trên bệ thờ rồi tất cả quỳ xuống khấn vái xin lộc.
Một lúc sau, Thụy cầm bó hồng đi đến chỗ hóa vàng ở ngoài sân. Người ta đốt giấy tiền, giấy vàng bạc cháy thành ngọn, Thụy quăng bó hồng vào ngọn lửa đang bùng lên. Tôi nhăn mặt hỏi:
- Em đốt bó hồng để tặng cho Hưng đã mất?
- Không. Em đốt để tặng cho người tình của ông ở phương xa. Chị ấy cần bông hồng hơn em vì em đã biết ông thích món ăn gì rồi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
LỜI CHO MỘT NỐT "MI"
 
Tôi không biết một tí gì về âm nhạc và hội họa nhưng tôi rất say mê hai môn nghệ thuật này. Cái gì mình không biết rõ, mình rất dễ say mê đắm đuối, giống như yêu một người vậy.
Một anh bạn nhạc sĩ đọc xong truyện này đã cười nói: Cậu không viết về nốt mi, cậu viết về nốt mì. Nhẹ và thấp như một tiếng thở dài.
- Anh sẽ mặc bộ veston màu gì trong ngày cưới của chúng ta ?
Nghe Mai hỏi, Trịnh uống vội một ngụm cà phê cho thấm giọng rồi trả lời:
- Anh đi thuê mà, gặp bộ nào mặc vừa thì mướn.
Mai lắc đầu:
- Thuê thì thuê, nhưng em thích anh mặc bộ veston màu kem có những đường sọc màu trắng trông sang hơn.
Trịnh bật cười:
- Tướng anh dù mặc áo dát vàng, trông cũng vẫn cù lần. Vả lại, một bộ veston như em đòi hỏi, dễ gì tìm thấy ở những tiệm cho thuê đồ cưới . Còn em, em sẽ mặc áo cưới màu hồng.
- Màu hồng ư ?
- Áo màu hồng hợp với bó hoa Maguerite trắng em cầm trên tay.
Trịnh hít một hơi thuốc dài rồi thở ra:
- Tùy em, mọi chuyện sẽ do em quyết định.
Mai khuấy lanh canh ly đá chanh rồi sôi nổi nói:
- Em quyết định phải không? Vậy anh hãy sáng tác một bản nhạc cho ngày cưới của chúng ta.
Trịnh trợn mắt:
- Sáng tác làm gì nữa. Anh sẽ đàn cho em hát bản The Wedding đã nổi tiếng khắp thế giới.
- Không, em muốn có một bản nhạc ngày cưới riêng của chúng ta do anh sáng tác.
- Dù rất dở?
- Cũng được. Nhưng của riêng chúng ta. Anh nhớ sáng tác nghe. Còn ba tháng nữa mà. Đám cưới của chúng ta sẽ tổ chức sau tết một tháng.
Từ hiên quán cà phê, Trịnh ngó mung xuống mặt sông Sài Gòn. Nước đen thẫm, lấp loáng ánh đèn từ trên bờ hắt xuống. Trịnh nói:
- Anh biết viết gì bây giờ?
- Về hạnh phúc của chúng ta.
Trịnh quay qua nhìn thẳng vào đôi mắt đen, to của Mai. Anh khẽ hỏi:
- Nó có khác gì với mọi người ?
Mai cười, ngả đầu vào vai anh.
- Nó rất khác vì nó của riêng chúng ta.
Những ngày gần Noel, trời Đà Lạt thật lạnh. Lạnh đến nỗi người ta khó mà khóc được, như thể nước mắt đã đóng thành băng ngay trong tuyến nước mắt. Đấy là lý do khiến đôi mắt Mai ráo hoảnh khi nghe người đàn ông hỏi:
- Còn một tuần nữa, đám cưới của chúng ta sẽ tổ chức tại đây. Em sẽ mặc áo cưới màu gì?
- Tùy anh quyết định.
- Em hãy mặc áo cưới màu trắng tay ôm bó hoa hồng nhung đỏ. Còn anh, anh sẽ mặc bộ veston màu kem có những sọc trắng trông rất sang. Bộ veston đó anh mang ở Mỹ về.
"Mình biết anh ấy rất căm giận. Nhưng biết giải thích làm sao bây giờ? Vì hoàn cảnh gia đình, vì lý do bất khả kháng, vì... chẳng có lý do nào hợp lý khi giải thích sự phản bội . Mình chỉ mong anh ấy tha thứ cho mình. Chỉ mong anh ấy sẽ nhanh chóng quên mình như mình đã quên..."
Mai khẽ lắc đầu . Người đàn ông vuốt tóc Mai, hỏi:
- Em không đồng ý à?
- Em đã nói tùy anh quyết định mà.
- Good! Anh sẽ thuê một ban nhạc chơi bài The Wedding nổi tiếng thế giới. Đám cưới chúng ta sẽ quay vidéo, để khi chúng ta qua bên đó chiếu cho gia đình, bạn bè của anh xem, mọi người sẽ thấy nó sang trọng không thua gì những đám cưới của người Việt tổ chức ngay tại Mỹ.
"Anh ấy đã hứa sẽ làm quà cho ngày cưới của mình một bản nhạc do anh ấy sáng tác. Mình sẽ không hát bản nhạc ấy trong ngày cưới cho mọi người nghe. Mình sẽ thầm hát trong trí tưởng tượng mỗi đêm cho mình và cho anh ấy nghe ..."
- Em có thích bản nhạc quốc tế The Wedding không?
Mai ứa nước mắt nói:
- Thích. Em rất thích.
- Very good. Nhưng tại sao em khóc?
- Trời quá lạnh đã làm em chảy nước mắt.
- Khách sạn này tệ thật, không có máy sưởi ấm. Qua bên đó dù ngoài trời tuyết đang rơi, ở trong phòng có máy sưởi vẫn ấm như thường. Hạnh phúc mà thiếu lò sưởi cũng dễ bị đóng băng lắm phải không em?
Người đàn ông bật cười thích thú với câu nói khôi hài của mình. Mai lập lại như người mất hồn:
- Vâng, lò sưởi cũng dễ bị đóng băng lắm.
Trong căn phòng nóng nực, Trịnh cởi trần ngồi đàn lại bản nhạc "Ngày cưới" do anh mới sáng tác. Phần nhạc đã xong, phần lời cũng gần xong. Chỉ còn một chữ cuối cho nốt mi. Tôi yêu Mai. Tôi yêu... em, tôi yêu... nàng. Tôi yêu... người. Trịnh phân vân không biết chọn chữ nào.
Đã bao giờ bạn thấy một người đàn ông hôn một người đàn ông chưa? Thật buồn cười phải không? Vậy mà Trịnh đã ứa nước mắt khi anh hôn... anh trong tấm gương treo trước bàn. Rồi anh cúi xuống viết dưới nốt mi tròn như giọt lệ chữ: Tôi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
MAI MƯỜI LĂM
 
Năm ấy chúng tôi cùng học chung lớp 9. Mai giỏi văn, còn tôi giỏi đá banh bàn. Mai đã đứng nhất trường trong một kỳ thi văn có cả anh chị lớp 10, 11, 12 tham dự. Còn tôi, cũng đứng nhất trường trong các cuộc thi đá banh bàn với các anh lớp trên. Chúng tôi thân nhau không phải vì hai người đều "nhất". (Hai người nhất như hai đường tàu chạy song song biết đến bao giờ mới gặp nhau). Chúng tôi thân nhau vì gặp gỡ thường xuyên.
Mỗi ngày ngoài 4 giờ học chung trong lớp, tôi thường gặp Mai ở nhà của bạn ấy. Nhà Mai có cho thuê những bàn đá banh "ngon" nhất phố. Ðấy là lý do khiến tôi thường đến nhà Mai.
Một buổi chiều, không có đồng xu dính túi, tôi vẫn đến nhà Mai. Một phần vì "ghiền" xem đá banh bàn, một phần nghĩ sẽ "câu độ" em nào dại dột mời tôi thi đấu.
Mai ngồi ở trước chiếc bàn có để hộp đựng giơ tông ở trước mặt. Tóc Mai kết thành hai bím, cột nơ màu tím nhạt. Mai đang cúi đầu lẩm bẩm học bài. Trong phòng vắng người. Bốn bàn đá banh chưa có khách đến chơi. Tôi đến nắm một cây sắt có gắn hình những cầu thủ bằng gỗ, giựt manh. Mai ngẩng đầu nhìn :
- Trịnh không ở nhà ôn bài ? Sáng mai thi rồi !
Tôi giật một cây sắt cho cầu thủ đá một trái banh tưởng tượng rồi trả lời.
- Sáng mai thi, tối học cũng kịp.
- Trịnh học kiểu đó coi chừng ở lại lớp.
- Không lên lớp năm này sang năm lên, học cũng từng ấy bài. Có thiếu bài nào đâu mà lo !
- Trịnh đừng nói bướng. Ở lại một năm rồi sẽ ân hận.
Vừa lúc đó có một anh học lớp 12 cùng trường với tôi bước vào. Anh đến bên Mai nói nhỏ gì đó và Mai hét lên :
- Tôi không quen anh. Anh đi đi cho tôi học.
Anh học sinh đỏ mặt nói :
- Cô bé chăm chỉ quá nhỉ. Nhưng anh đến đá banh bàn được chứ ?
Rồi anh lấy tay ngoắc ngoắc tôi.
- Em đá với anh một bàn cho vui.
- Không anh em gì cả. Ðá đồng chịu không ?
- Cậu khá lắm. Ðá một chầu cà phê đá, chịu không ?
- Không. Ai thua người đó ra khỏi quán.
Anh học sinh cười :
- Anh cũng đang mong vậy.
Tôi đến lấy một đồng giơ tông thảy vào hộp đựng banh, giựt mạnh. Chín trái banh gỗ lăn ra. Tôi đặt một trái ở vòng tròn đỏ giữa mặt bàn màu xanh và bắt đầu giao bóng. Chúng tôi thi đấu rất căng thẳng. Không ai còn để ý đến Mai. Kết quả 3 - 6. Dĩ nhiên phần thắng nghiêng về tôi. Anh học sinh lững thững bước ra khỏi quán. Tôi đến chỗ Mai ngồi khẽ nói :
- Cho tôi thiếu một đồng giơ tông.
- Mai tặng Trịnh đó. Mai chỉ sợ Trịnh thua và hắn sẽ ở lại đây. Ðợi Mai pha đá chanh uống nghe.
- Thôi cám ơn. Tôi về để Mai học thi.
- Nhớ thứ năm đến dự sinh nhật Mai.
Buổi tối tôi đang ngồi ôn bài, bác tôi đến chơi. Ông vỗ đầu tôi khen chăm học và hỏi :
- Lớn lên cháu muốn làm gì ?
Tôi phân vân vì câu hỏi đột ngột. Ba tôi nhắc khéo :
- Con muốn làm bác sĩ hay kỹ sư ?
Rồi mẹ tôi nhắc khéo :
- Hay con muốn làm giáo sư ?
Tôi buột miệng đáp :
- Con muốn làm chủ tiệm cho thuê đá banh bàn và có bạn Mai ngồi bán giơ tông.
Ba tôi thở dài, má tôi thở dài và bác tôi cũng thở dài :
- Hoài bão của cháu bé nhỏ và tầm thường quá. Ðời cháu rồi sẽ khổ.
Ðến ngày sinh nhật Mai, mấy đứa bạn trong lớp đều lo mua quà tặng. Ðứa mua cây viết máy, đứa mua hộp bánh bích qui, đứa mua tấm ván thông có khắc hình cây nến... Tôi chẳng biết mua tặng Mai quà gì đặc biệt. Tôi nhớ đã học lén một quyển tiểu thuyết của chị Hai trong đó tả đôi trai gái đã tặng nhau trái trim của họ (chứ không phải của người khác). Tôi cũng muốn tặng Mai trái tim của tôi. Nhưng nếu tặng Mái trái tim của tôi thì làm sao tôi còn sống được ? Tôi đem thắc mắc ấy hỏi chị Hai. Chị cú đầu tôi đau điếng và nói :
- Mày ngu lắm. Ðấy là người ta nói theo nghĩa bóng. Chứ ai ngu gì tặng người khác trái tim thật của mình.
Tôi không đủ thông minh để hiểu nghĩa bóng. Tôi chỉ hiểu nghĩa đen. Vì vậy tôi đã giết con gà mái tơ của tôi, lấy trái tim gà luộc chín bỏ vào hộp gói giấy bóng đỏ, đem đến tặng Mai.
Trong buổi tiệc sinh nhật vui vẻ đó, khi mở hộp quà của tôi. Mai đã hét to lên. Không biết bạn ấy quá sung sướng hay sợ hãi. Riêng tôi phải chạy ra khỏi nhà vì hai lỗ tai bị lùng bùng nhức buốt.
Cuối năm học, Mai thi đậu lên lớp 10. Tôi thi rớt vì hai lỗ tai lùng bùng đã nghe sai những lời thầy dạy. Con gái 15 đúng là khôn hơn con trai cùng tuổi. Ở lại lớp một năm, tôi đã phải ân hận. Tôi không đuổi kịp Mai trên đường học vấn cũng như trên đường đời. Bạn ấy luôn luôn đi trước tôi một năm.
Bây giờ tôi đã hai lần tuổi 15. Bác tôi đã chết. Tôi không thể gặp ông để cùng góp tiếng thở dài.
- Hoài bão cháu nhỏ bé vậy mà cháu chỉ thực hiện được một nửa. Nếu ngày xưa cháu nuôi hoài bão lớn và chỉ thực hiện được một phần trăm thì đỡ khổ vô cùng.
Vâng hiện nay tôi đã là chủ tiệm cho thuê một bàn đá banh để cải thiện đời sống. Nhưng người ngồi bàn giơ tông không phải là Mai mà là chính tôi sau những giờ làm việc ở xí nghiệp.
Nếu bạn có thắc mắc hỏi : "Mai 15, bây giờ ở đâu?". Tôi xin thưa : Mai mãi mãi sống trong trái tim (gà) của tôi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
MÙA ĐÔNG LẠI VỀ
 
Từ điển tiếng Việt, trang 250, định nghĩa Cơn dông : "Trận gió mạnh hay dữ dội kèm theo có chớp và sấm, thổi lúc trời oi bức, thường trước khi có mưa rào". Nhưng không có định nghĩa Con dông. Ðể bạn dễ hiểu, tôi xin định nghĩa theo một câu hát của trẻ em : "Kỳ dông là ông kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ dông...".
Bạn đã hình dung ra con dông chưa ? Nếu chưa, tôi xin phép dài dòng giải thích tiếp.
Mùa Hè năm 1974, tôi tốt nghiệp Ðại học Sư phạm Sài Gòn, hạng nhất kể từ dưới lên. Khi chọn nhiệm sở, trường lại ưu tiên gọi từ trên xuống. Vì vậy, các bạn tôi đã chọn hết các trường ở Sài Gòn hay các tỉnh lớn. Ðến phiên tôi, chỉ còn một trường trung học ở tận thị trấn Phan Rí. Tôi chẳng biết thị trấn đó nằm ở đâu trên đất nước Việt Nam nhưng cũng vui vẻ nhận giấy bổ nhiệm.
Thú thật, tôi đã nhận vì đang lúc đói, chứ không phải vì lòng ham muốn truyền bá quốc ngữ đến tận nơi chốn xa xăm. Chắc có bạn sẽ trách tôi chưa đi dạy mà đã thiếu lương tâm. Nhưng bạn đã biết đói là gì chưa ? Nếu chưa, bạn hãy làm một cuộc thí nghiệm nho nhỏ tại nhà. Nhịn ăn ba ngày, chỉ uống nước lạnh. Sau đó bạn sẽ thấy rõ chân lý... đói. Và bạn sẽ thấm thía câu nói của ông bà : Ðói, đầu gối phải bò.
Cũng may, lần đó tôi không phải bò từ Sài Gòn ra Phan Rí. Nhờ vay được tiền, tôi đã đi xe đò đàng hoàng. Xe chạy từ sáng đến chiều thì dừng lại ở một ngã ba trên Quốc lộ 1. Trời nắng gắt. Tôi bước xuống xe, lấy khăn lau mồ hôi, phủi sạch bụi đường bám ở quần áo, bôi chút biăngtin lên đầu, chải tóc rõ đường ngôi. Ðúng lời ông bà dặn : Ðói cho sạch, rách cho thơm. Tôi quên nói với bạn, tôi tốt nghiệp ban Việt văn, nên đầu óc lúc nào cũng chứa đầy "lời ông bà dặn".
Một cơn dông từ đâu đột nhiên ào đến như đón chào tôi. Cát bụi, rác rưởi bay mù trời thay confetti. Gió đã cuốn tôi về trời, nếu tôi không nhanh tay ôm chặt một gốc cây bên đường. Hai phút sau cơn dông biến mất. Quần áo, đầu óc tôi dính đầy cát bụi. Ngày đầu đặt chân đến nơi đây, tôi đã không giữ được mình sạch. Trong nhưng ngày sắp tới, tôi biết sống sao đây ? Lòng buồn rười rượi, tôi lấy khăn dụi mắt.
- Ông khóc vì bị lạc đường à ?
Cô bé mặc áo tím, có đôi mắt đen láy như hai hột nhãn. Nhìn lâu đôi mắt ấy dễ trợt chân té ngã, tôi ngoảnh mặt đi và thở dài.
- Ừ...
- Ông định đi đâu ?
- Ði tìm việc làm.
- Vậy ông đến đây không đúng lúc rồi. Ðang mùa Ðông ghe chài ít đi biển. Ðâu có việc gì làm.
- Tôi đến đây dạy học.
- Tướng ông mà là thầy giáo.
Ðể cô bé khỏi nghi ngờ, tôi móc túi đưa cho em xem tờ giấy bổ nhiệm. Cô bé lắc đầu.
- Chắc có sự lầm lẫn gì đây. Nhưng thôi, để em dắt ông đến trường cho người ta quyết định.
Tôi cầm túi xách đựng quần áo và sách vở bước theo cô bé. Vừa đi, tôi vừa hỏi em tên gì, ở đâu, làm gì ? Cô bé mím môi cười.
- Nơi đây nhỏ bé. Trước sau gì ông cũng biết mọi chuyện. Ðến trường rồi. Em chào ông.
Tôi chưa kịp nói cám ơn, cô bé đã bước đi thoăn thoắt. Sợ trễ giờ làm việc trường đóng cửa, tôi không dám đuổi theo em. Khi tôi vào văn phòng, ông hiệu trưởng đang chuẩn bị ra về. Coi giấy tờ của tôi xong, ông niềm nở dắt tôi đi một vòng giới thiệu trường. Ðể chuẩn bị cho niên học mới, các lớp học đều được quét vôi vàng sáng sủa. Ở góc sân trường, trên một cây phượng cổ thụ lá xanh um, có treo một cái kẻng lớn bằng niềng xe hơi.
- Thầy về thật đúng lúc. Tôi đang chia giờ dạy. Tôi sẽ sắp thầy dạy lớp mười một. Thứ hai tuần sau trường khai giảng, Thầy còn một tuần nghỉ ngơi. Ra đây thầy trọ ở đâu ?
Tôi nói:
- Tôi chẳng quen biết ai ở đây và nhờ ông hiệu trưởng giới thiệu một chỗ trọ.
Ông nhíu mày suy nghĩ một lúc, rồi nói :
- Tôi giới thiệu thầy tới ở tạm chỗ này, rồi tính sau.
Ông hiệu trưởng lái xe honda chạy dọc theo con đường chính dẫn vào trung tâm thị trấn. Hai bên đường là những ngôi nhà cũ kỹ, mái ngói thấp, tường vôi loang lỗ. Trừ các cửa hàng tạp hóa, các ngôi nhà khác đều đóng kín cửa tránh những con gió thường thổi bụi ở lòng đường bay mù. Trong không khí sực nức mùi nước mắm, làm bụng tôi đói cồn cào.
Ðến một con đường đầy cát, tôi phải phụ ông hiệu trưởng đẩy xe vào một xóm trồng đầy mận. Những trái mận chín đỏ, nhìn chỉ muốn hái trộm. Tôi hỏi :
- Xóm này tên xóm Mận, phải không ông hiệu ?
- Không, tên nó là xóm Rùng, vì người ở đây sống bằng nghề lưới rùng.
Không rành nghề đi biển, nghe cái tên tự nhiên tôi rùng mình. Ông hiệu trưởng dừng xe trước một ngôi nhà mới xây, mái lợp ngói đỏ tươi, phía trước có hàng rào là những cây xương rồng cao ngang ngực. Ông gọi "Chú Bảy ơi, chú Bảy." Một người đàn ông tóc muối tiêu, ngực vạm vỡ, mặc quần cụt, bước ra mở cổng. Ông mời chúng tôi vào nhà, uống nước trà.
Ông hiệu trưởng giới thiệu chú Bảy là bà con với ông. Rồi ông trình bày hoàn cảnh của tôi và nhờ chú Bảy cho tôi ở trọ. Chú Bảy gãi râu.
- Ông giáo cứ ở tạm đây. Mai sau tìm được chỗ ưng ý thời đi. Sẵn tôi nhờ ông giáo kèm hộ con nhỏ ở nhà. Tánh nó ngang quá. Con gái mà cứ đòi đi biển chứ không chịu học chữ.
Tôi cám ơn lòng tốt của chú Bảy và hứa sẽ hết lòng dạy kèm cô nhỏ. Ông hiệu trưởng đứng dậy chào ra về. Chú Bảy chỉ tấm phản nơi tôi ngủ và nói ra giếng ở phía sau tắm rửa.
Bước ra cửa sau, tôi nghe rõ tiếng sóng biển ầm ì và trước mặt cả một vòm mận đầy trái chín. Tôi không ngăn được, hái một trái bỏ vào miệng nhai. Chúa ơi ! Từ nhỏ đến bây giờ tôi mới được ăn một trái mận ngọt như vậy. Tôi hái trái thứ hai bỏ vào miệng. Chúa ơi ! Từ bây giờ cho đến lúc chết, chẳng nơi đâu tôi được ăn trái mận ngon như ở đây.
- A... á...á...
Tôi hét lên kinh hoàng và nhảy thụt lui ba bước, khi thấy những con quái vật từ trên trời rơi xuống bò lổn nhổn quanh chân mình. Cô bé tôi gặp hồi chiều đang đứng ở ngưỡng cửa sau, ôm bụng cười.
- Em thử xem ông có can đảm không.
Tôi cố gắng trấn tĩnh, nói châm chọc lại.
- Tôi nhảy thụt lùi vì sợ đạp chết những con vật "thân yêu" của em.
- Ông biết chúng là con gì không ?
Tôi nhìn kỹ những con vật đang bò trên cát. Chúng giống con tắc kè, nhưng to hơn nhiều và có những đốm xanh đỏ trên lưng, trông phát ớn. Tôi đã thấy con kỳ đà ở Sở thú Sài Gòn, nên mạnh dạn đáp.
- Chúng là bà con kỳ đà, tên chúng là con "kỳ quặc".
Cô bé ôm bụng cười phát ho rồi lắc đầu.
- Thật may, ông không phải là thầy của em. Thôi ông giúp em bắt chúng, để em làm thịt ăn cơm tối.
Tôi hơi hơi run, không biết cô bé nói thật hay đùa. Bắt chúng, lỡ chúng cắn chết, tôi phải bỏ thây nơi đất khách quê người thì thiên hạ ai là người sẽ khóc thương tôi ? May thay, chú bảy đã ra đúng lúc. Ông nói :
- Ðể ba bắt dông làm thịt. Con lo nấu nướng. Tối rồi.
Bữa cơm dọn lên chiếc bàn tròn, dưới ánh sáng ngọn đèn bình ắc qui. Chỉ có chú Bảy, tôi và cô bé. Sau này, tôi mới biết vợ chú Bảy chết đã lâu. Người con trai lớn của chú đi lính "ông Ðịa" đóng ở quận, đã có gia đình riêng.
- Ðang mùa dông, - Chú Bảy nói - tôm cá không có. Ông giáo ăn đỡ mấy con dông.
Nhìn mâm cơm thấy có ba dĩa : gỏi dông, dông xào lăn, dông nướng, mùi thơm bốc lên làm tôi ứa nước miếng. Nhưng nhớ lại hình ảnh mấy con dông khi còn sống, tôi đâm chột dạ, không dám gắp. Tôi sợ ăn chúng xong, đất sẽ "ăn tôi".
Hình như hiểu được sự e dè của tôi, cô bé gắp một miếng dông nướng ăn trước. Tôi run run gắp một miếng ăn theo. Ăn xong, tôi mới biết mình... đại ngu !
Nhớ hồi còn học tiểu học, cô giáo ra đề một bài tập làm văn : "Tả con vật mà em yêu mến nhất". Tôi đã tả con gà con. Thằng bạn thân của tôi tả con chó mực. Tôi đã chê nó ngu. Con chó đen thùi lùi làm sao đẹp bằng chú gà con trắng như cục bông gòn. Ðến năm hai mươi tuổi, biết nhậu chút chút, tôi mới biết mình ngu. Gà mái dầu cũng không "đẹp" bằng chó mực, huống chi gà con. Bây giờ gần ba mươi tuổi, gặp con dông, tôi mới biết cả hai đứa đều ngu như nhau. Thế mới biết ông bà nói chí lý : "Ði một ngày đàng học một sàng khôn".
Thấy tôi tấn công tới tấp ba dĩa thịt dông, cô bé cười nói :
- Ông làm dân ở đây được rồi.
Chú Bảy quay qua nạt cô bé :
- Con gọi ông giáo là thầy chứ.
- Ông ấy đã dạy con chữ nào đâu mà bắt con gọi là thầy.
Cô bé nói đúng. Năm học đó tôi dạy lớp 11, cô bé học lớp 10. Tôi chưa dạy em được chữ nào, trái lại, em đã dạy tôi nhiều thứ. Cách bắt dông ở những đồi cát trắng lóa. Cách làm thịt dông ăn khỏi ê mình. Cách nướng mực "một nắng" ăn ngọt nhất. Cách cạy hàu ở ghềnh Son ăn với muối tiêu...
Chưa đầy một năm, ngày giải phóng đến. Tôi phải về với gia đình ở Sài Gòn. Khi chia tay, cô bé nói mong ông sẽ không quên con dông ở xứ này. Tôi trả lời, đến lúc hấp hối vẫn thèm những món dông em làm. Không lâu đâu, mùa Đông tới tôi sẽ trở lại.
Tôi đã không giữ được lời hứa. Những công việc mới đưa đẩy tôi đi nhiều nơi trên đất nước. Mười hai năm sau, tôi mới có dịp trở về Phan Rí, đúng lúc mùa dông.
Những con dông vẫn cực kỳ ngon như xưa. Nhưng xóm Rùng đã đổi khác. Những cây mận ngọt lịm đã chết vì bị biển lấn sâu vào bờ. Và gia đình chú Bảy cũng đã dọn đi đâu mất.
Buổi chiều đứng trước biển rầm rì tiếng sóng nhìn ra chân trời phủ kín mây đen, tôi thầm mong ở một nơi chốn xa xôi, cô bé đã quên những con dông. Nếu không, mỗi lần nhớ lại em sẽ đau lòng.
Từ điển tiếng Việt, trang 893, định nghĩa Yêu : "cảm thấy gắn bó, trìu mến, hài lòng, thích thú, say mê... với người hay vật có sức mạnh thu hút".
Chắc bạn đã sốt ruột gắt lên, thôi đừng kể lể dài dòng nữa. Ông đã yêu cô bé ở Phan Rí phải không ? Vâng, tôi đã yêu. Nhưng không phải yêu cô bé mà yêu con dông, vì nó có sức mạnh thu hút kỳ lạ.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
MÙA HÈ QUÁI ÁC
 
Mùa hè, tôi quyết định ở lại quận lỵ Hòa Đa nhỏ bé này, không trở về Đà Nẵng. Một phần vì ngại di chuyển, một phần vì ngại những cơn mưa giông ào ạt ở tỉnh nhà vào những tháng sắp đến. Sẽ sống ba tháng ở một nơi mà chỉ cần đi vòng quanh một giờ người ta đã biết hết mọi chuyện, như thế không biết tôi sẽ sống ra sao?
Một hôm, thay vì đi tắm biển như thường lệ, tôi đi dọc theo con sông nước mặn lên phố, ngang qua ngôi trường cửa đóng kín, ở sân chơi những cây phượng vẫn còn những chùm hoa đỏ rực. Vượt qua một dải đất cát mọc đầy cây xương rồng, tôi đến một làng chuyên đóng ghe đánh cá. Những thân gỗ xẻ để bừa bộn trên mặt đất, một vài chiếc ghe còn đóng dỡ dang trên giàn, mùi gỗ thơm hắc và tiếng cưa đục vang lên đều đặn từ những thợ chăm chú làm việc. Một em bé đang quét dọn vỏ bào dưới bóng mát một cây lớn. Khi tôi đến gần, em ngẩng mặt nhìn tôi và vội đứng dậy:
- Thưa thầy.
Tôi gật đầu chào em và cố nhớ xem cô bé học lớp nào, nhưng không nhận ra. Tôi hỏi em học lớp mấy. Cô bé cười đáp:
- Chắc thầy không biết mô. Em mới học lớp mười, niên khóa đến mới học thầy.
Tôi cười nói:
- Vậy em đâu đã là học trò của tôi.
- Em bị đau tim phải nghỉ học một năm, nếu không em đã là học trò của thầy rồi.
Tôi chỉ những chiếc ghe hỏi:
- Em có biết cách người ta đóng ghe làm sao không?
Cô bé lắc đầu:
- Dạ không biết, sẵn có ba em ở nhà, thầy vô uống nước nói chuyện.
Vì tò mò, muốn biết công việc đóng ghe nên tôi bước theo cô bé. Trong gian phòng hơi tối vì màn chi cửa sổ được buông xuống, cô bé giới thiệu tôi với một người đàn ông ngồi hút thuốc ở bàn. Chúng tôi chào nhau và chuyện trò vui vẻ. Sau cùng, ông ngỏ ý nếu tôi không bận việc, hãy kèm giúp ông hai đứa con cho chúng học hành khá hơn một chút và nếu tôi không chê nhà ông chật hẹp, thì đến ở với ông cho vui. Tôi từ chối lời mời ở trọ, nhưng tôi nhận sẽ đến dạy kèm không lương cho hai em vào những buổi sáng rảnh rỗi. Ông nói: "Vậy là quí quá rồi, nhờ thầy giúp cho chúng được chữ nào hay chữ nấy, chứ tôi không biết đâu mà chỉ bảo tụi nó."
Trong lúc chúng tôi trò chuyện, cô bé vẫn ngồi im chăm chú nghe ở chiếc giường kê sát góc nhà. Khi ba em phải ra ngoài đốc thúc thợ làm, ông kêu em lại giao cho tôi. Đợi ông đi khuất, cô bé mới hỏi:
- Bao giờ thầy dạy tụi em thầy?
- Tùy các em, muốn bao giờ cũng được.
- Bắt đầu ngày mai đi thầy.
- Sao cô bé ham học quá vậy?
- Ở không chán lắm thầy.
- Thôi được, tôi sẽ dạy kèm các em vào buổi sáng mai.
Tôi chào cô bé ra về. Em theo tôi ra ngoài sân, đến đống võ bào đang hốt dở, tôi quay lại hỏi em:
- À, cô bé tên gì?
- Thầy muốn biết tên ba má em đặt cho em hay tên em tự đặt cho em?
- Tôi muốn biết tên riêng của em.
- Ngọc Lan?
- Ngọc Lan? Ở miền biển này làm sao em có thể biết mà chọn tên một loài hoa như vậy?
- Dạ, có lần em lên chùa trên núi với má, em thấy một cây có bông, hương thơm dịu và màu trắng dễ thương, em thích quá xin ông từ một bông và hỏi tên bông gì. Ông nói, Ngọc Lan. Sau đó, em tự đặt mình tên Ngọc Lan.
- Hách nhỉ. Ai cũng tự đặt cho mình một tên mình thích như vậy thật rắc rối.
- Tại sao rắc rối thầy?
- Vì sẽ có nhiều cô mang tên Ngọc Lan và em thử tưởng tượng một lớp học đầy hương hoa Ngọc Lan như vậy, tôi sẽ bị nhức đầu không sao dạy được.
- Xí, vậy em sẽ đổi tên.
- Đổi tên. Em định đổi tên gì?
- Tên "Dầu Cù Là" để chữa bệnh nhức đầu cho thầy.
Tôi đã sợ những thời khoá biểu, nên thường đến kèm các em bất thường vào những buổi sáng. Có khi bắt đầu vào tám giờ, có khi bắt đầu khoảng mười giờ, tất cả tùy thuộc vào giấc ngủ của tôi. Qua một vài buổi học, tôi thấy các em sẽ tiến rất nhanh nếu có người chỉ bảo lại một vài điều căn bản mà các em đã quên ở lớp dưới. Cả hai đều ham học sinh ngữ và để thay đổi không khí, chúng tôi thường ra ngồi dưới gốc cây cùng hát những bài dân ca Việt Nam và ngoại quốc. Tôi tưởng tượng đến những lớp học ngoài trời của các triết gia Hy Lạp ngày xưa và nghĩ ngày nay nếu thỉnh thoảng học sinh được học ngoài trời, chắc các em sẽ ham học hơn.
Một buổi chiều, tôi đến xin phép ba các em cho hai em đi dạo biển. Bé Toàn nói mới bị nhức đầu nên xin ở nhà.
Tôi và Ngọc Lan phải đi bộ lên bãi dương cách đó một cây số. Biển khúc này khá đẹp, nhưng không có mấy người tắm, có lẽ dân ở đây đã quen thuộc với biển. Bé Lan đi trên khoảng cát ướt mịn, vừa đi em vừa nhảy tránh những bọt sóng ùa lên bờ. Tôi hỏi:
- Em sợ nước à?
- Không, em sợ sóng.
- Gần bờ làm gì có sóng.
- Sóng không ở trong nước thì ở đâu thầy?
Tôi cười, cú lên đầu cô bé liến thoắng:
- Chu choa, sao thầy đánh em?
- Để thưởng cho em có nhận xét hay.
- Hình phạt thầy cũng cú, phần thưởng thầy cũng cú, vậy có gì khác đâu?
- Khác chứ. Em không nhận thấy phần thưởng tôi cú đau hơn sao?
- Lần sau em xin phép từ chối nhận phần thưởng quí báu của thầy.
Đi bộ quá mỏi chân, nên khi đi đến bãi dương chúng tôi mỗi người đều tìm một gốc cây ngồi dựa nghỉ. Thở một lúc, cảm thấy khát nước, chúng tôi lấy mía ăn. Ngoài khơi lấp lánh ánh nắng bạc, những chiếc ghe máy trông lờ mờ đang chạy vào cửa sông như những cành củi mục trôi theo dòng nước. Tôi cầm một miếng vỏ mía, hỏi:
- Em có nhớ hai câu thơ tả biển trong truyện Kiều không?
- Có phải hai câu: "Buồn trông cửa bể chiều hôm. Thuyền ai thấp thóang cánh buồm xa xăm". đúng không thầy.
- Đúng rồi nhưng tiếc quá, những chiếc ghe ở đây không có cánh buồm nào, nếu không cảnh ở đây sẽ đẹp biết bao.
- Thầy có thích truyện Kiều không thầy?
- Thích chứ, còn em?
- Em chẳng thích tí nào, truyện gì mà buồn quá trời. Vậy trong hai nhân vật Thúy Kiều và Thúy Vân thầy thích ai?
- Tôi thích đời sống bình dị, tôi ước mơ một hạnh phúc bình dị, nên tôi thích nhân vật bình dị là Thúy Vân.
- Ủa! Các nhà văn thường ca ngợi những mối tình lớn, em tưởng thầy dạy môn văn chương thầy cũng thích mối tình lớn chứ?
Tôi cười, hỏi:
- Theo em, thế nào là mối tình lớn?
- Em cũng không biết nữa, nhưng em nghĩ mối tình lớn phải như những mối tình cuả Thúy Kiều vì có nhiều rắc rối, nhiều sóng gió.
- Ô! Vậy thì tôi rất sợ những mối tình lớn, bởi lẽ giản dị tôi không biết bơi.
Cô bé phì cười đáp:
- Thầy phải tập bơi ngay mới được, vì em nghĩ tướng thầy dễ chết đuối quá.
Nói xong, em vội ngồi xa ra vì sợ tôi cú đầu.
Trời về chiều, mặt trời đỏ vàng không còn ánh nắn. Gió càng lúc càng lộng mạnh ở những chòm dương trên cao. đã có những đợt sóng lớn trên mặt biển xanh thẳm. Tôi châm một điếu thuốc, chăm chú nhìn những con sóng ùa vào bờ rồi lại rút ra xa. Tiếng sóng ầm ì khiến tôi chợt nhớ câu "Sinh tứ thị ba" in trên bìa một quyển sách vừa mới đọc. Có thật sống chết chỉ là một đợt sóng? Trong những đợt sóng bạc đầu kia tôi loáng thoáng nhận ra những khuôn mặt bạn bè, người tình, đứa em gái đã chết và cả khuôn mặt tôi thuở nhỏ. Sóng làm lộ rõ những khuôn mặt đó, nhưng cũng chính sóng xóa nhoà chúng rất nhanh.
- Thầy, thầy ngó gì mà sững thế?
- Em có thấy những đợt sóng kia không? Chúng có đó rồi lại mất hút, khiến tôi tin chẳng có gì có thật ở đời.
- Thầy cũng không có thật ở đời này?
- Phải.
- Vậy ai ngồi bên em?
- Một người tạm là thầy?
- Vậy ai ngồi bên thầy?
- Một người tạm là Ngọc Lan.
- Cái gì cũng tạm vậy "cái tạm là" phải có thật chứ thầy.
- Phải, nó có thật một cách tạm là.
- Thầy nói gì khó hiểu quá.
- Chính em làm những câu trả lời của tôi thành khó hiểu.
- Lỗi tại em?
- Tại tôi nữa, vì tôi đã cố gắng giải thích một cách vô ích những điều không có thật.
Im lặng một lúc như để suy nghĩ rồi cô bé nói:
- Dù sao em vẫn tin phải có một điều có thật ở đời này.
- Điều đó là gì?
- Điều đó là... điều sau này thầy sẽ biết.
Cô bé đứng dậy đi sâu vào bãi dương. Tôi không hiểu điều em nói nên nằm dài trên cát khô suy nghĩ cho đỡ mỏi lưng. đột nhiên có vô số những vòng tròn di động lúc nhanh lúc chậm trong đầu, trong mắt và cùng lúc tôi cảm thấy bụng mình đau nhói. Cơn đau gan vẫn thường đến với tôi bằng những duyên cớ không đâu. Trong lớp học, có lần cơn đau chợt đến ngay lúc tôi đang giảng bài và tôi cũng đã ngã quỵ xuống bục gỗ, không đủ sức lết đến bàn thầy giáo. Cơn đau đã trở thành người bạn thiết thân của thân thể, vì tôi không thể nào bỏ rượu, cà phê, thuốc lá và kiêng không ăn những món ăn toàn cá biển ở đây.
Có tiếng la hoảng hốt của cô bé. Thầy, thầy sao vậy thầy. Tôi khẽ lắc đầu và cố gắng nói không sao để tôi nằm yên một lát. Cô bé vẫn lăng xăng hỏi những câu hỏi tôi không nghe rõ và em lấy khăn lau mồ hôi trên mặt tôi. Thầy, thầy có sao không thầy? Dần dần tôi nghe được rõ ràng tiếng nói của em. Cơn đau đã biến đi mau lẹ như lúc đến, tôi chống tay ngồi dậy dựa vào gốc cây dương. Tôi nhờ cô bé che gió đánh diêm, để châm một điếu thuốc và nhờ những hơi thuốc đầu ngọt lịm, tôi đã tỉnh lại rất nhanh:
- Thầy còn mệt không để em nhờ người ta dìu thầy về?
- Khoẻ rồi cô bé.
- Thầy trúng gió hả?
- Không, đau gan.
- A! đồng bệnh tương thân.
- Đừng xạo cô bé. Trái tim tôi rất tốt, nó đâu có trục trặc như trái tim cô.
- Nhưng thầy có một lá gan trục trặc. Những người có bệnh đều "tương lân" với nhau bất kể bệnh gì.
Dù mệt, tôi cũng bật cười với lý luận trẻ con của em. Cô bé này lớn lên mà cãi nhau chắc chẳng thua ai. Gió biển giúp tôi lấy lại sức khỏe dễ dàng. Mặt trời sắp chìm khuất dưới những đợt sóng đen sậm không nổi bọt. Tôi nói gần tối rồi, cố gắng đi bộ về nhà trọ, tôi sẽ lấy xe chở em về nhà.
Về đêm, trời đổ mưa đầu mùa quá lớn. Không khí mát mẻ và tiếng mưa rơi đều đều trên mái tôn đã ru tôi ngủ đến chín giờ sáng mới thức giấc. Trong sân nhà, ngoài đường, nước còn đọng thành vũng chưa rút đi. đường xá quá dơ bẩn, tôi không muốn đến dạy các em sáng nay. Tôi đi xuống nhà dưới rửa mặt và uể oải dùng bữa sáng đã nguội do bà chủ nhà trọ để phần ở bếp. Có tiếng gọi lớn ở ngoài cổng. "Thưa thầy, thưa thầy". Tôi chưa kịp chạy ra, bé Toàn đã ùa vào, giọng nức nở. Thưa thầy, chị Lan đau tim nặng phải chở vào nhà thương. Tôi chẳng cần hỏi thêm em lời nào, vội vã đi thay quần áo, rồi dẫn em chạy băng qua những vũng nước đục ngầu trên đường đi đến bệnh xá ở cuối quận.
Tất cả bệnh nhân đều nằm chung trong một phòng có khoảng hai chục giường. Gia đình Ngọc Lan đang quây quần bên chiếc giường gần cửa hông phía phải. Khi đến gần, tôi nghe có tiếng khóc sụt sùi của người chị. Ba bé Lan chào tôi và ông nói nó mới tỉnh rồi lại mê man, thỉnh thoảng nó vẫn gọi tên thầy. Tôi hỏi ông tại sao bệnh tình của em đột nhiên trầm trọng như vậy. Ông nói, đêm qua sét đánh trốc gốc cây sau nhà và chính tiếng sét đó đã khiến bé Lan hốt hoảng kêu rú lên rồi bất tỉnh, lúc đó trời mưa lớn và con đường đang giờ giới nghiêm, nên ông phải đợi đến gần sáng mới đem bé Lan đến đây.
Bác sĩ đến, ông yêu cầu mọi người ra bớt, chỉ còn tôi và ba Ngọc Lan ở lại. Ông cúi xuống xem mạch cho Lan và nói người y tá chích một mũi thuốc. Ba em hỏi:
- Thưa bác sĩ, bệnh của nó có nặng không?
- Nhịp tim yếu quá.
- Có thể đưa về Sài Gòn chữa được không?
- Di chuyển càng làm em mệt hơn.
Tôi hỏi ông:
- Có cần mua thêm thuốc ở ngoài không, bác sĩ?
Ông nhìn tôi, lắc đầu:
- Tôi tin bệnh viện lớn cũng không giúp được gì.
Tôi đã hiểu ông muốn nói gì qua cách lắc đầu của ông. Ông cúi xuống đặt ống nghe vào ngực Ngọc Lan một lần nữa rồi mời ba em lên văn phòng. Tôi ngồi bên cạnh giường bệnh, lấy khăn lau mồ hôi chảy thành dòng trên khuôn mặt em tái xanh của em. Chợt cô bé cựa quậy, đôi mắt em khẽ chớp rồi mở rộng để lộ tia nhìn tinh nghịch thườn ngày. Tôi hỏi em, em thấy khoẻ không? Cô bé tỉnh dần, nhận ra tôi, em mấp máy đôi môi:
- Thưa thầy, ba em đâu?
- Ba em mới theo bác sĩ lên văn phòng, ba em sẽ trở lại ngay.
- Thưa thầy, hình như có lần thầy nói mọi sự không có thật phải không thầy?
- Phải, mà em thắc mắc làm gì? Hãy nằm im nghỉ cho khỏe.
Em mỉm cười nói:
- Bện đau tim của em cũng không có thật phải không thầy?
- Phải.
- Cái chết cũng không có thật phải không thầy?
- Phải.
- Và tình yêu cũng không có thật phải không thầy?
Không hiểu sao đôi mắt em, đôi mắt đen láy kia phát ra những tia nhìn kỳ lạ khiến tôi phải bối rối trả lời:
- Không em ạ. Tình yêu có thật.
Em run rẩy cầm tay tôi:
- Thầy thua em chưa. Em đã nói phải có một cái gì đó có thật trên đời này. Em cũng tin tình yêu có thật.
Hình như em còn muốn nói nhiều nữa, nhưng mí mắt mệt mỏi của em đã chậm rãi khép lại. Tôi hốt hoảng lay vai em. Ngọc Lan, Ngọc Lan và tôi khóc
Quận lỵ không có thật. Nỗi buồn không có thật. Những ngày dạo chơi trên biển không có thật. Ngọc Lan không có thật. Cái chết không có thật và ngay cả tình yêu tôi nói với Ngọc Lan không có thật. Tất cả đề không có thật. Tất cả chỉ là không tưởng. Nhưng điều làm tôi đau đớn là mùa hè đã có thật. Mùa hè chắc chắn đã có thật một cách quái ác ở trong tôi.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI KHÁCH LẠ
 
Một nhà văn lớn tuổi và rất nổi tiếng đã khuyên tôi: Cậu hãy cố gắng viết một đề tài gì cho sâu sắc, cứ viết mãi truyện về tuổi mới lớn, cậu sẽ không thể trở thành nhà văn lớn được.
Tôi đã bóp trán suy nghĩ nhiều đêm và cuối cùng viết được truyện này . Tôi không biết nó có sâu sắc không nhưng đọc lại tôi thấy nó lạ lẫm với phong cách thường viết của mình. Tôi hơi buồn nhưng rồi tự an ủi: Đối với thần chết, ai mà chẳng lạ lẫm. Nếu đã thân quen với ông ta, bạn sẽ chẳng còn có cơ hội để viết nữa .
Năm tôi 14 tuổi tôi bị bệnh thương hàn rất nặng. Ba tôi nói lần ấy cả nhà đều tưởng tôi sẽ không sống qua khỏi cơn bệnh. Tôi đã nằm liệt giường gần nửa tháng và thường mê man bất tỉnh khi cơn sốt lên đến 40 độ.
Một buổi sáng tự nhiên tôi thức dậy với đầu óc tỉnh táo khác thường và nhận ra ba tôi đã ngồi ở bên giường từ lúc nào . Ông hỏi tôi có đỡ mệt không? Tôi gật đầu và ông đỡ tôi ngồi dậy cho uống một viên thuốc màu trắng. Uống thuốc xong, tôi lại nằm xuống giường và đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.
Ánh nắng nhấp nháy trên những tàn cây trong vườn khiến tôi chóa mắt một lúc rồi tôi nhìn thấy một người đàn ông đang đứng tựa tay trên thành cửa sổ. Người ông ốm và cao, bộ quần áo màu đen ông mặc bó sát, làm nổi bật khuôn mặt trắng nhợt. Vì tưởng ông ta là một bác sĩ được ba tôi mời đến khám bệnh nên tôi nhắm mắt nằm im chờ đợi . Tôi đã chán nhìn mặt các bác sĩ. Ông nào cũng mạnh khỏe tươi cười, nói những lời dịu ngọt trấn an làm tôi thêm bực mình cho sức khỏe yếu đuối của tôi .
Ba tôi nói gì đó, tôi không nghe được rõ ràng và mãi khi nghe tiếng đóng cửa lại, một lúc lâu vẫn không có ai đụng chạm đến mình, tôi mở mắt nhìn quanh. Căn phòng vắng lặng chẳng có bóng dáng ai, ngay cả người đàn ông cũng không còn đứng ngoài cửa sổ. Tôi nghĩ vậy ông ta là một người bạn của ba tôi đến thăm, chứ không phải là bác sĩ đến khám bệnh và giờ này chắc ông đang ngồi nói chuyện với ba tôi ở phòng khách. Tôi bình thản nhắm mắt lại .
- Cháu khỏe chứ?
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông lúc nãy đang đứng cạnh giường. Tôi không hiểu ông ta vào phòng từ lúc nào mà tôi không nghe có tiếng cửa mở cũng như tiếng giày đi trên nền nhà lát gạch bông. Ông hơi cúi người nhìn tôi, đôi mắt ông sâu hoắm nằm giữa hai lưỡng quyền cao và cái trán rộng có nhiều nếp nhăn. Tôi ngửi thấy mùi hương thơm ngát từ người ông tỏa ra . Đây không phải là mùi nước hoa . Nó như là mùi hương của nhiều loại hoa tươi trộn lẫn với mùi trầm và tôi nhận ra rõ nhất là mùi thơn của hoa huệ, một loại hoa thường được má tôi mua về cúng vào những ngày rằm và mùng một.
Ngay đối với những người thân trong gia đình, tôi vẫn thường giấu những cơn đau không cho họ biết để khỏi phải lo lắng quá nhiều cho bệnh trạng của tôi . Nên khi nghe người đàn ông hỏi thăm, mặc dù đang mệt nhoài, tôi cũng gắng gượng trả lời:
- Cám ơn ông, cháu đã thấy đỡ nhiều .
Người đàn ông đặt tay lên trán tôi, bàn tay ông lạnh băng như được ngâm trong nước đá khiến tôi rùng mình. Ông ta nói bằng giọng khàn khàn như có cái gì đang vướng trong cổ.
- Cháu không khỏe lắm đâu, cơn bệnh chỉ tạm rút lui và chẳng bao lâu sẽ trở lại trầm trọng hơn.
Tôi hỏi:
- Ông là bác sĩ mà ba cháu mời đến?
Người đàn ông lắc đầu:
- Không. Tôi là người bạn thân của gia đình cháu .
- Cháu chưa thấy ông đến thăm ba má cháu lần nào ?
- Tôi quen ba má cháu từ khi cháu chưa ra đời, vì quá bận việc nên tôi chưa có dịp đến thăm.
- Ông gặp ba cháu chưa ? Ba cháu mới ở phòng này bước ra .
- Tôi chưa cần gặp ông ấy vội, tôi muốn đến thăm cháu trước. Cháu có muốn khỏi bệnh ngay bây giờ không?
- Ông đã nói ông không phải là bác sĩ mà.
- Tôi có cách chữa bệnh riêng của tôi . Đi theo tôi rồi cháu sẽ biết.
- Cháu đang bệnh mà, đi đâu được.
- Tôi sẽ dìu cháu đi . Không xa lắm đâu, ngay chỗ kia kìa . Đến đó cháu sẽ hết bệnh ngay .
Người đàn ông chỉ tay ra phía cửa sổ, tôi ngẩng đầu nhìn theo . Tôi chẳng còn nhận ra khu vườn hằng ngày của gia đình tôi . Khu vườn có những cây nhãn cành lá xum xuê tôi vẫn thường leo trèo bắn chim và hái trái vào mùa nhãn chín. Gần giếng nước uống có cây trúc đào trổ hoa bốn mùa và dọc theo bờ tường có những bụi hoa lài rậm rạp, ba tôi trồng để lấy hoa ướp trà uống thay bữa ăn điểm tâm trước khi đến sở làm. Ngoài cửa sổ bây giờ tôi chỉ thấy một lớp sương trắng mờ đục phủ kín mặt đất. Có những bóng người qua lại chậm rãi, vật vờ như những người di chuyển trong một đoạn phim quay chậm mà tôi đã được xem. Tôi không nghe có tiếng động nào dù đôi lúc có những chiếc xe lớn chạy ngang sát thành cửa sổ và những con chim sẻ đùa giỡn với nhau, bay vụt vào phòng rồi biến mất ngay .
Tôi quay lại hỏi người đàn ông:
- Sao cháu không thấy có nhà thương ở đó?
Người đàn ông mỉm cười:
- Nơi đó không cần nhà thương vì chẳng có ai đau ốm. Đến đó mọi người đều hết bệnh và sẽ khỏe mạnh mãi mãi .
- Nhưng nơi đó có vẻ buồn quá.
- Nơi đó không nhộn nhịp. Đấy là một nơi chốn thanh thản.
- Cháu không thích sống thanh thản, cháu chỉ thích cuộc sống nhộn nhịp.
Người đàn ông chép miệng:
- Tuổi trẻ ai cũng vậy, chỉ thích sự nhộn nhịp vô ích. Thôi chúng ta đã mất nhiều thì giờ rồi . Cháu hãy đi theo tôi .
- Cháu sẽ phải ở lại nơi đó bao lâu để chữa bệnh?
- Cháu không cần phải trở về đây nữa .
- Đâu được, cháu không muốn sống xa ba má và các em cháu .
- Đừng lo, chẳng bao lâu cháu sẽ gặp họ đầy đủ ở nơi đó.
- Còn bạn bè cháu ?
- Không trước thì sau chúng cũng phải đến đó như cháu . Nào chúng ta đi .
Tự nhiên tôi nghĩ người đàn ông đây có thể là "mẹ mìn", chuyên đi dụ dỗ con nít bắt đem bán, nên tôi nắm chặt lấy thành giường và lắc đầu .
- Không. Cháu không thích đi với ông.
Người đàn ông có vẻ bực tức, gắt:
- Không đi cũng phải đi . Mất nhiều thì giờ rồi .
Ông đến nắm tay tôi, kéo tôi nhổm dậy khỏi giường. Tôi hốt hoảng la lên:
- Ba ơi! Ba ơi!
- La hét cũng vô ích. Chẳng ai giúp được đâu .
Bị người đàn ông lôi kéo, tôi trở nên bướng bỉnh, cứng đầu như những khi bị thầy giáo phạt oan hay bị bọn học trò lớp lớn ăn hiếp, tôi hung dữ chống cự lại . Hai chân tôi đạp liên hồi vào người ông và tôi cúi xuống cắn vào bàn tay ông đang nắm chặt tay tôi . Người đàn ông nắm tóc giật đầu tôi ra, tôi nổi điên chụp con dao bổ cam để trên bàn đâm mạnh vào bụng ông. Lưỡi dao đi nhẹ nhàng như đâm vào cái gối nhét đầy bông gòn. Tôi rút lưỡi dao ra định đâm tiếp nhưng người đàn ông đã buông tay tôi và loạng choạng lùi ra xa, hai tay ôm chặt bụng - chỗ vết thương, người đàn ông ngã khụy xuống nền nhà rồi lết đi về phía cửa sổ, trong khi đó tôi cũng mệt nhoài ngã xuống giường nằm thở không ra hơi . Người đàn ông cố bám vào thành cửa sổ đứng dậy, ông quay lại nhìn tôi với đôi mắt buồn bã và nói thều thào như người sắp chết:
- Cháu hiểu lầm tôi rồi . Cháu sẽ hối tiếc đã làm mất thì giờ một cách vô ích. Không phải lúc nào tôi cũng rảnh để ghé thăm cháu . Đành phải chờ đợi một dịp khác.
Người đàn ông trèo qua thành cửa sổ để trốn đi nhưng vì đuối sức, ông ngã nhào ra ngoài vườn. Bấy giờ cơn sợ hãi mới ùa đến và tôi kêu rú lên. Nghe có tiếng cửa mở, tôi vội dấu lưỡi dao đẫm máu dưới tấm mền bông. Ba tôi nhanh chân bước vào, ông lấy khăn lau mồ hôi trên trán tôi . Không ngăn được xúc động, tôi úp mặt xuống gối khóc. Giọng ba tôi hỏi nhỏ nhẹ:
- Con đau lắm à?
Tôi lắc đầu:
- Không. Con vừa mới giết người .
- Con đã nằm mơ thấy ác mộng?
- Không. Con giết người thật sự. Một người bạn của ba đến thăm và muốn bắt con đi .
- Ai đâu ?
- Con đã đâm ông ấy chết ngoài cửa sổ.
Ba tôi đi đến cửa sổ nhìn ra ngoài rồi ông trở vào thở dài .
- Để ba cho con uống một viên thuốc an thần.
Tôi hét lên:
- Không. Con không nằm mơ . Đây bà xem lưỡi dao đẫm máu con vừa đâm ông ta .
Tôi rút lưỡi dao dưới tấm mền bông đưa cho ba tôi xem. Lưỡi dao sáng loáng không một vết bẩn. Ông cầm lấy nó đặt lên bàn.
- Con đừng chơi dao coi chừng đứt tay .
Căn phòng đột nhiên tối om. Câu chuyện kể bị dừng ngang, những ngọn đèn néon sáng choang trên trần nhà vừa được tắt đồng loạt, báo hiệu đã đến giờ ngủ của các bệnh nhân. Thạnh quay sang nhìn người bạn nằm giường bên cạnh, điếu thuốc vẫn còn cháy đỏ lập lòe trên môi anh.
- Có lẽ anh không tin câu chuyện tôi vừa kể là thật phải không? - Thạnh nói tiếp - Chính tôi, tôi vẫn không tin là người khách lạ đó có thật và tôi đã quên ông ta ngay khi khỏi bệnh thương hàn. Mãi đến khi vào nằm ở đây tôi mới sực nhớ đến ông ta và tôi tin chắc rằng ông ta có thật. Tôi tin ông ta có thật còn hơn là Thượng Đế nữa . Anh có tin một người như thế có thật không?
- Chưa bao giờ tôi gặp người khách lạ như anh kể. - Bệnh nhân nằm giường bên cạnh nói - Những lần đau mê man, tôi thường gặp bà dì của tôi . Ba ta ôm một bó huệ trắng, vẫy tay ra dấu cho tôi đến gần và đưa tay cho tôi nắm. Nhưng cứ mỗi lần tay tôi sắp chạm tay bà, bà lại biến mất và tôi tỉnh dậy .
- Có thể lắm - Thạnh nói - Có thể bà dì của anh cũng giống người khách lạ của tôi . Họ chỉ đến với chúng ta khi sinh mạng của chúng ta bị nguy ngập.
- Không phải đâu - Người bạn nói tiếp - Bà dì của tôi có thật đàng hoàng, nhưng bà ấy đã chết vào năm 16 tuổi . Tôi chỉ biết mặt bà qua một tấm ảnh chụp để lại vì lúc bà mất tôi chưa ra đời . Nhưng không hiểu sao mỗi lần mê man ở bệnh viện này, tôi không còn mơ gặp bà ấy nữa . Bây giờ tôi chỉ mơ thấy con nhỏ sexy bán ở quán Thiên Thai . Còn anh có gặp lại người khách lạ đó không?
Thạnh nằm im không trả lời câu hỏi của người bạn. Chàng không muốn tiếp tục câu chuyện để khỏi làm mất giấc ngủ của những người nằm giường kế bên.
Năm nay, Thạnh đã 28 tuổi . Mười bốn năm trôi qua chưa lúc nào chàng được gặp lại người khách lạ. Chàng mới bị tai nạn xe tôi và phải đưa vào bệnh viện cấu cứu . Biết bao lần mê man khi tỉnh dậy, Thạnh đều thầm mong sẽ gặp lại người khách lạ ngày xưa đã đến thăm chàng. Thạnh tin ông ta đã không chết vì nhát dao chàng đâm và một ngày nào đó ông ta sẽ đến, dẫn chàng tới nơi mà một lần ông ta đã chỉ cho chàng thấy . "Một nơi chốn thanh thản" như lời ông ta nói . Nơi chốn mà ngày xưa chàng đã kháng cự để từ chối bước vào, nhưng nay chàng lại ước ao mãnh liệt được sống ở nơi đó. Nhưng trong suốt sáu tháng nằm ở bệnh viện này chờ đợi, Thạnh đã thất vọng chẳng thấy bóng dáng người khách lạ viếng thăm.
Rời bệnh viện, chân phải của Thạnh bị cưa đến đầu gối . Người ta lắp cho chàng một cái chân giả bằng plastic rất khéo . Nếu Thạnh đứng thẳng không chống nạng trong lúc chụp ảnh kiểu, chẳng ai nghĩ chàng chỉ còn một chân khi nhìn chàng trong tấm ảnh toàn thân đó.
Trái với dự đoán của người thân trong gia đình, ra khỏi bệnh viện Thạnh đã hăng say hoạt động và có vẻ yêu đời hơn trước. Trên khuôn mặt của ba chàng đã để lộ nét vui của một người hết lo âu cho con.
Chàng làm việc rất cần mẫn và ông giám đốc rất bằng lòng. Những người bạn cùng Công ty cũng mến chàng vì tánh vui vẻ và sẵn lòng giúp đỡ người khác của chàng. Thạnh còn ngỏ ý với ba là chàng muốn cưới vợ. Điều mà trước đó ông đã nài ép chàng nhiều lần, nhưng chàng đều từ chối .
Một cô gái làm việc cùng công ty không đẹp lắm vì có cái mũi hơi tẹt, nhưng nàng thật sự yêu chàng và muốn lập gia đình với chàng. Thạnh chấp nhận ngay tình yêu đó. Chàng không còn mộng tưởng cưới một cô nữ sinh có đôi mắt đen láy, học giỏi, con nhà giàu như xưa . Chàng cũng chẳng còn thắc mắc đến cái chân của chàng đã mất. Thạnh cũng quên luôn ước mong được gặp lại người khách lạ.
Một buổi chiều trời quá nóng. Tan việc ra, Thạnh rủ người yêu cùng đi hóng mát ở một đồng cỏ ngay ngoại ô thành phố. Đồng cỏ này chàng thường cùng các bạn đến ngồi nhậu lai rai mỗi khi rảnh rỗi .
Thạnh và người yêu bước vào một quán lợp tranh đơn sơ có tên là Lều Mộng. Cả hai cùng ngã lưng trên một chiếc ghế dựa đôi đan bằng những sợi dây nilon trắng, xanh. Thạnh uống bia và gọi cho nàng chai cam vàng. Đồng cỏ xanh tươi với những ngọn gió mát làm Thạnh quên đi nhanh chóng những giờ làm việc mỏi mệt. Chàng châm thuốc hút và bàn với nàng về đám cưới mà họ định cử hành vào tháng tới .
- Đừng bày đặt nhiều quá anh ạ. - Nàng nói - Chúng ta hãy để dành tiền còn lo những chuyện khác.
- Anh muốn đám cưới của chúng ta giống như mọi người . - Chàng nói - Không thể thiếu xe hoa và tiệc mừng ở nhà hàng. Em cũng cần đặt may một áo cưới sang trọng.
- Không cần phải may . - Nàng nói - Thuê được rồi anh ạ. Em chỉ mặc nó một lần trong đời .
- Không phải một lần. - Chàng nói - Em phải may một áo riêng để mặc bất cứ lúc nào anh muốn em mặc. Ngay khi chúng ta đã già, anh vẫn muốn thấy em mặc chiếc áo đó.
- Tụi chúng cười chết. - Nàng nói với vẻ e thẹn.
- Ai cười ? - Chàng gắt.
- Lũ con chúng ta . - Nàng khẽ đáp.
- Đứa nào cười - chàng giơ cái nạng bằng nhôm lên - anh phang cái này vào đầu nó ngay . Chúng phải biết cái áo đó không phải là trò đùa, chính nhờ cái áo đó mà chúng mới có dịp chào đời .
- Được rồi, em sẽ may một áo cưới! - Nàng khẽ đáp - Còn anh cũng nên may một bộ complet màu nâu mà anh thích.
- Đồng ý - Chàng nói - Anh còn muốn chụp thật nhiều ảnh màu ở tiệc cưới để sau này lũ con chúng ta mở album ra xem chúng sẽ lác mắt luôn. Chúng sẽ thấy đám cưới của cha mẹ chúng đã không thua kém ai, dù cha chúng thua người ta một chân.
Khi chàng nói đến cái chân đã mất, nàng nghĩ tốt hơn là im lặng để chàng quên nó đi . Chàng rất dễ nổi sùng khi có dịp nhắc nhở đến cái chân đã mất đó.
Có tiếng còi tàu vang lên từ xa . Thạnh ngó qua ngó lại muốn biết con tàu sẽ đến từ phía nào . Một khối đen từ từ hiện ra ở phía cái chân giả của chàng.
- Em ngồi đây . - Chàng nói - Anh muốn ra xem đoàn tàu . Lâu quá anh chưa nhìn thấy nó.
- Ngồi đây anh cũng nhìn thấy nó mà. - nàng nói .
- Anh muốn nhìn nó thật gần. - Chàng nói - Anh muốn nhìn thấy bánh xe nghiến trên đường sắt.
Thạnh đứng dậy, chiếc nạng nhôm vương chân ghế rơi xuống, người thiếu nữ hơi chồm tới định cúi lượm, nhưng nàng đã kìm giữ được, ngồi im. Nàng sợ chàng sẽ chửi thề ngay khi có ai giúp đỡ chàng trong việc đi lại . Thạnh cúi lượm chiếc nạng một cách khó khăn rồi chống đi thật nhanh.
Chàng bước qua cầu ván bắc ngang một con lạch nhỏ, bờ bên kia mọc đầy cỏ ống cao . Đi một đoạn nữa Thạnh mới nhìn thấy hai đường sắt đen bóng nằm lẫn trong cỏ. Chàng cúi lượm một cục đá bằng nắm tay, đặt lên đường tàu. Chàng muốn thấy cục đá bị nghiền nát kêu rạo rạo, như những ngày còn nhỏ chàng và bạn bè vẫn thường đặt đá lên đường tàu chạy, để thi xem cục đá của ai cứng hơn. Còi tàu hú lên, tài chạy sầm sập đến gần. Đầu máy xe lửa này chạy bằng dầu diesel nên chàng không còn thấy hơi khói bốc lên trắng xóa như những đám mây nhỏ. Cục đá bị nghiền nát ngay khi bánh xe đầu tiên lăn qua . Chàng lẩm bẩm:
- Đồ gì yếu xìu, chịu không nổi một bánh xe .
Đầu máy xe lửa chạy qua . Thạnh ngước nhìn hành khách ngồi ở toa hạng nhất, tất cả các khuôn mặt đều xa lạ với chàng. Qua cửa kính của toa thứ ba, Thạnh đột nhiên nhìn thấy khuôn mặt trắng nhợt của người đàn ông đã đến thăm chàng ngày xưa . Tóc ông đã bạc nhưng khuôn mặt không thay đổi bao nhiêu nên chàng nhận ra dễ dàng. Chàng thấy đôi mắt sâu hoắm của ông có nhìn chàng, nhưng không nhận ra chàng. Thạnh hét lên:
- Này ông! Này ông! Đợi tôi với .
Chàng lao mình vào con tàu định nhảy lên khung cửa bỏ ngỏ, nhưng chiếc nạng nhôm vướng víu khiến chàng chậm chạp, người chàng đụng vào thành tàu và bị hất văng ra ngoài . Có nhiều tiếng la hốt hoảng của hành khách:
- Ông ấy muốn tự tử! Ông ấy muốn tự tử!
Và đoàn tàu vẫn thản nhiên đi qua .
Khi tỉnh dậy chẳng cần mở mắt nhìn, chỉ hít thở không khí đầy mùi thuốc, Thạnh cũng biết chàng đang nằm trong bệnh viện. Chàng nghe thấy tiếng khóc dấm dứt (có lẽ của nàng), tiếng ba chàng nói chàng nhận ra ngay và tiếng đáp (có lẽ của người y tá) "Ông ấy không sao đâu . Chỉ nằm một tuần là khỏi ." Chàng chờ đợi được nghe tiếng nói của người khách lạ, nhưng bên tai chàng vẫn tiếp tục vẳng tiếng trò chuyện của ba chàng hỏi thăm y tá về các vết thương trên thân thể chàng.
Thạnh chẳng còn muốn mở mắt nhìn mọi người . Chàng nằm im cố nhớ lại khuôn mặt của người khách lạ. Chàng mừng thấy nhát dao ngày xưa chàng đâm đã không làm ông ấy thiệt mạng. Ông ấy vẫn khỏe mạnh và chỉ già hơn xưa chút ít. Chàng chỉ buồn ông ấy đã không nhận ra chàng. Không nhận ra chàng, không biết ông ấy có còn ý định đến thăm chàng nữa không.
"Cháu hiểu lầm tôi rồi" Người khách lạ ngày xưa đã nói với chàng "Cháu sẽ tiếc đã làm mất thời giờ một cách vô ích. Không phải lúc nào tôi cũng rảnh để ghé thăm cháu . Đành phải chờ đợi một dịp khác vậy ."
Thạnh lẩm bẩm:
- Quả thật mình đã làm mất thì giờ một cách vô ích. Đành phải chờ đợi một dịp khác vậy .
Để quên đi thời gian chờ đợi, Thạnh mở mắt nhìn những người đang đứng chung quanh chiếc giường chàng nằm.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
NHÀ CÓ HOA KIM CHÂM
 
Lần đầu thấy hoa kim châm nở, tôi đã mê mẩn người vì màu vàng mật của nó. Sau đó được biết hoa kim châm còn là một món ăn ngon và bổ, tôi càng mê mẩn hơn. Tôi chỉ muốn giới thiệu với bạn đọc phần vẻ đẹp của hoa kim châm, còn phần ăn được thì các bạn phải tự tìm kiếm và nhấm nháp mới biết hết vị ngon của nó.
Xe chạy qua Sông Pha bắt đầu leo đèo Ngoạn Mục, tôi thích thú nhìn cảnh vật lạ mắt bên ngoài . Tất cả một màu xanh lá cây tĩnh lặng, khác hẳn với nơi tôi đang sống - một vùng biển động với những đồi cát gió thổi bay mù. Mãi đến khi xe chạy đến Đơn Dương, nhìn những vườn rau xanh tươi, những đống cà rốt vàng cháy, những đống củ dền đỏ thắm chất đầy hai bên đường, tôi mới nhớ đến công việc khó khăn sắp tới của mình.
Ông chủ sai tôi áp tải theo xe chở xác mắm lên giao cho ông Năm Thành, một chủ vườn rau, đồng thời đòi số tiền nợ đã 4 tháng nay ông còn thiếu Công ty hơn 2 triệu đồng. Tôi đã gặp ông Thành một đôi lần ở Công ty nơi tôi làm kế toán, khi ông xuống trả tiền mua xác mắm về làm phân bón rau. Đấy là người đàn ông vui tánh, ngoài 50 tuổi. Trong khi chờ chất hàng lên xe, chúng tôi đã nhâm nhi với nhau vài ly rượu đế Nùng với cá nục hấp cuốn bánh tráng. Khi câu chuyện vui vẻ, ông Thành đã mời tôi có dịp lên nhà ông chơi và nhậu thịt rừng. Vậy mà lần đầu tiên tôi tới thăm nhà ông lại là đi... đòi nợ.
Chiếc xe tải dừng lại trước hàng rào dâm bụt có hoa màu tím nhạt. Nhìn qua khoảng sân có những luống hoa màu vàng rực là ngôi nhà lợp tôn, chân tường loang lổ vết đất đỏ. Người tài xế nói:
- Đến nơi rồi anh Hai .
Tôi mở cửa xe bước xuống. Cơn gió chiều ập đến lùa mùi hôi xác mắm ở khoang sau xe, tỏa ra phủ lấp hương hoa . Tôi kéo dây kéo áo gió lên đến tận cổ rồi bước đến gõ cửa ngôi nhà. Một con chó lông xù từ phía sau nhà chạy ra sủa vang. Rồi một cô gái cắt tóc ngắn, mặc áo len màu vàng chanh, mở cửa hỏi:
- Ông hỏi ai ?
- Bác Năm Thành.
- Ba tôi đang làm việc ngoài vườn. Ông cần gặp có chuyện gì?
- Tôi đến giao xác mắm.
Cô gái nhìn ra hàng rào dâm bụt thấy chiếc xe tải, nói:
- Ông đợi một lát. Tôi ra vườn gọi ba về.
Cô gái kéo cánh cửa lại, tôi vội chạy đến níu cánh cửa:
- Đứng ngoài này lạnh quá... Cho tôi vào đợi ở trong nhà hay ở dưới bếp cũng được.
Cô gái che miệng cười rồi nói:
- Xin lỗi . Mời ông vào nhà.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế dựa bằng gỗ không nệm. Cô gái rót nước mời tôi một tách trà đã nguội dù ấm trà được ủ kín trong một giỏ nhồi bông. Cô gái vội vã đi gọi ba . Tôi nói:
- Để tôi ngồi một mình, em không sợ mất đồ à?
Cô gái thở dài:
- Những gì quý giá nhất của gia đình tôi đã bị mất cách đây ba tháng.
- Bị ăn trộm hả? Mất bao nhiêu lượng vàng?
Cô gái lắc đầu, nhìn vào bàn thờ đặt ở giữa nhà:
- Mẹ tôi .
Tôi nhìn vào tấm ảnh đen trắng mới phóng lớn đặt ở bàn thờ. Hình một người đàn bà, tóc quấn vòng trên đầu . Đấy có phải là lý do khiến bác Thành chậm trả nợ?
- Chào cậu Thạch. Cậu mới lên chơi ?
Tôi đứng dậy bắt tay bác Thành, bàn tay ông lạnh vì mới rửa sạch lớp đất đỏ.
- Ông chủ nói chở lên giao cho bác một xe xác mắm.
- Tốt quá. Tôi đang cần phân bón cho vườn su .
- Và nhờ bác thanh toán gấp...
- Được rồi . Tôi sẽ nói tài xế đánh xe ra vườn, xuống xác mắm xong tôi sẽ cho chất cà rốt và củ dền lên xe . Bảo đảm xong trước khi trời tối . Cậu cứ ngồi đây chơi, tôi sẽ lo mọi chuyện. Chúng ta còn phải tâm sự với nhau một bữa nhậu . Thảo ơi ...
Cô gái mặc áo len màu vàng chanh thập thò ở cửa sau . Bác Thành nói:
- Con ra chợ coi có thịt mễn hay thỏ rừng mua về làm đồ nhậu cho ba đãi khách.
Cô gái đi khuất rồi bác Thành đi khuất. Tôi thở dài . Đòi tiền từ túi này cho vào túi người khác, đấy không phải là công việc dễ dàng đối với tôi .
Đang đi chơi loanh quanh ngoài phố huyện thì trời đổ mưa lất phất, tôi vội trở về nhà bác Thành. Cô gái đang ngồi làm thịt thỏ rừng ở hiên sau nhà. Nhìn con vật bị lột da đỏ hỏn, tôi hỏi:
- Em dám lột da thỏ à?
Cô gái lắc đầu:
- Em cũng nhát như thỏ, đâu dám giết nó. Em nhờ người bán lột da giùm.
- Em còn đi học chứ?
- Em đang học lớp I ... trường Trung học sư phạm Mẫu giáo .
- Em chọn dạy con nít làm gì cho cực?
- Em thích nụ cười của chúng.
- Nụ cười của người lớn không đẹp hơn sao ?
- Nụ cười của người lớn đẹp như ...
Cô gái đưa cái đầu thỏ đã lột da đến trước mắt tôi . Hàm răng thỏ nhe ra trắng ởn. Tôi rùng mình, cũng may từ lúc gặp em, tôi chưa nở nụ cười nào "đẹp" như con thỏ này . Cô gái hỏi:
- Trong con thỏ, ông thích ăn nhất bộ phận nào ?
- Người ta thường nói ăn gì bổ nấy nên tôi thích ăn trái tim.
- Trái tim thỏ rất nhút nhát, đâu có lợi gì?
- Nhưng nó không có... xương, không làm tôi bị hóc. Còn em?
- Em thích ăn đôi tai thỏ. Nó giúp em thính tai hơn để nghe rõ mọi chuyện.
- Nghe rõ mọi chuyện có lợi gì?
- Để biết mà tránh xa .
Cô gái chặt con thỏ ra làm hai: một phần nấu đậu với khoai tây, một phần ướp ngũ vị hương để nướng. Tôi giúp em nhen lửa lò than. Gió ở đây rất hào phóng.
Chỉ mấy phút sau lò than đã đỏ rực. Em gắp thịt thỏ bỏ lên vỉ nướng và hỏi:
- Ở dưới ông chắc vui hơn ở trên này ?
- Sôi động hơn thì có. Tiếng sóng biển luôn đập ầm ĩ khiến tôi dễ nhức đầu .
- Còn ở đây lại yên tĩnh quá khiến em dễ điên đầu .
Mùi thịt thỏ nướng bốc lên thơm phức làm tôi ứa nước miếng nhớ đến món con dông nướng ở miền biển. Tôi định bốc một miếng thịt thỏ bỏ vào miệng nhai cho đỡ thèm, nhưng sợ em chê là tham ăn nên tôi đành phải "dụ khị":
- Em có tin ăn thịt thỏ xui không?
Cô bé tròn xoe đôi mắt như đôi mắt thỏ, hỏi:
- Tại sao lại xui ?
- Em không biết câu thành ngữ "ăn thịt thỏ" có nghĩa là gặp điều không thật à?
- Em không tin.
Tôi bốc trái tim thỏ vừa mới nướng xong, bỏ vào miệng nhai rồi nói:
- Bây giờ thì tôi tin trái tim thỏ cũng có thật như ... trái tim em vậy .
Buổi tối, trời đổ mưa lớn. Gió chạy trên mái tôn kêu lùng bùng. Trong căn phòng đóng kín cửa, bác Thành, người tài xế và tôi ngồi ở bộ salon gỗ trên có bày mấy đĩa thịt thỏ và một hũ rượu thuốc trong đó ngâm hai con rắn hổ. Tôi nói:
- Nhà còn ai, bác mời lên luôn.
- Vợ tôi mới mất. Đứa con gái lớn lấy chồng buôn bán ở Đà Lạt. Đứa con trai mới lấy vợ, tôi xây nhà cho nó ở kế bên đây . Nhà chỉ còn đứa con gái út.
- Mời cô ấy lên ăn luôn.
- Nó đã ăn rồi .
- Ủa, ăn hồi nào lẹ vậy ?
Bác Thành cười:
- Cậu thử kiểm tra xem có còn đôi tai thỏ ở đây ?
Những ly rượu rắn làm lưỡi chúng tôi dài ra như lưỡi rắn. Chúng tôi bàn đủ thứ chuyện trên đời ... Người tài xế xin lỗi đi ngủ sớm vì sáng mai phải lái xe chạy sớm. Còn lại tôi và bác Thành. Bác kể về người vợ vừa mới mất rồi kết luận:
- Cậu thấy đó, hạnh phúc như tiền bạc. Kiếm được rồi mất đi .
Tôi không biết bác nói đúng hay sai, nhưng tôi cũng gục gặc đầu tỏ vẻ đồng ý.
Và trong một lần gục đầu đó, tôi gục thẳng xuống bàn. Bác Thành đến ôm vai tôi lay hỏi:
- Cậu say rồi hả?
Rồi bác dìu tôi lên giường nằm.
- Để tôi cạo gió cho cậu .
Tôi cố hít thở điều hòa rồi trả lời:
- Không sao đâu . Tôi bị bệnh huyết áp cao, thỉnh thoảng tai ù đi và đầu óc choáng váng dù không uống rượu . Bác để tôi nằm nghỉ một lúc sẽ khỏe .
- Để tôi cho cậu uống thuốc này sẽ khỏe ngay . Thảo ơi ...
Cô gái mặc áo len màu vàng chanh bước đến bên giường. Em nhíu mày, im lặng đứng nhìn tôi . Bác Thành nói:
- Con xuống nấu một chén gồm có hoa và rễ cây kim châm.
Cô gái bước xuống bếp, bác Thành quay qua tôi, nói:
- Cậu có thấy khoảng sân trước nhà tôi trồng đầy cây hoa màu vàng nghệ? Cây kim châm đó. Tôi cũng mới trồng nó ba tháng nay . Khi vợ tôi mất, tôi chẳng muốn làm ăn gì nữa, đầu óc tôi luôn u buồn. Có người cho tôi uống ước cây kim châm thế là đầu óc tôi tỉnh táo và ham làm việc lại . Tôi đã xin giống cây đó về trồng trước nhà. Hoa kim châm phơi khô bán cũng kinh tế lắm. Người ta mua về nấu miến gà hay chưng cá, chưng lươn. Sách thuốc Tàu gọi nó là Vong ưu thảo . Loại cây làm quên ưu phiền và bồi bổ tim mạch. Rồi cậu sẽ nghiệm thấy mọi nỗi buồn đều từ trái tim mà ra chứ không phải từ cái đầu ...
Cô gái bưng chén thuốc lên, tôi gắng gượng ngồi dậy cầm chén thuốc uống từng ngụm nhỏ. Mồ hôi trong người vã ra, tôi cảm thấy khỏe dần và khẽ nói:
- Cám ơn bác, thuốc công hiệu thật.
- Tôi đã uống qua nên biết mà. Để sáng mai, tôi nói con Thảo nhổ cho cậu một bụi đem về trồng. Trồng nó dễ như trồng sả vậy . Khi lên cơn đau tim, cậu chỉ cần sắc một chén rễ cây kim châm uống là khỏe .
Tôi nhăn nhó:
- Đã lên cơm đau tim, tôi còn hơi sức đâu mà sắc thuốc uống?
Bác Thành cười:
- Thì cậu nhờ con gái ông chủ Công ty của cậu . Tôi nghe nói hai người sắp cưới nhau rồi mà.
Tôi buồn cười . Cô gái vội cầm chén thuốc tôi vừa uống xong, đi xuống nhà dưới . Tôi muốn phân trần cho bác Thành hiểu: Tôi và con gái ông chủ đã chia tay nhau . Nàng đã thi đậu vào Đại học Y khoa ở Sài Gòn. Với vốn học hỏi ít ỏi của mình, tôi không muốn làm vật cản trên con đường công danh của nàng. Tôi muốn nói ... Nhưng có ích gì khi phải bày tỏ nỗi buồn của mình cho người khác hiểu ? Tôi im lặng nằm xuống giường và kéo mền trùm kín đầu .
Mới 5 giờ sáng ở nơi đây trời đã sáng tỏ. Tôi thức dậy cùng người tài xế lên xe trở về Phan Rí. Bác Thành đến bắt tay tôi, nói:
- Tôi hiểu cậu đã tế nhị không nhắc đến món nợ tôi còn thiếu Công ty . Tôi nhờ cậu về nói với ông chủ, tôi sẽ thanh toán hết số nợ đó sau mùa thu hoạch trái su này . Còn giữa tôi và cậu vẫn vui vẻ.
- Cám ơn bác.
Khi xe rồ máy, cô gái mặc áo len màu vàng chanh chạy đến, trao qua khung cửa xe cho tôi một gói lớn bọc giấy báo:
- Kim châm đó, chúc ông sẽ hết bệnh đau tim.
- Cám ơn Vong ưu thảo .
Xe chạy và tôi bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Khi xe leo lên đèo Ngoạn Mục gặp phải một ổ gà lớn, xe khựng lại . Gói quà của Thảo, tôi để ở nắp cabin xe rơi thẳng vào ngực. Tôi tò mò muốn biết cây kim châm như thế nào nên mở gói quà ra . Tôi sững sờ khi thấy trong hộp giấy có một cây kim may bao bố dài gần gang tay và một mảnh giấy có ghi mấy dòng chữ: "Gửi tặng ông một cây kim châm. Ở vùng biển khi nào đau tim, ông hãy châm nó vào ngay huyệt giữa tim. Đừng run tay . Hãy châm thật mạnh. Ông sẽ khỏi bệnh."
Xe chưa qua hết đèo Ngoạn Mục, tôi đã nghe tiếng sóng vỗ lùng bùng trong lỗ tai và đầu óc choáng váng. Tôi sợ hãi xoa bóp ngực mình và năn nỉ: Tim ơi, đừng đau nữa!
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
NHÀ TIÊN TRI ẢO
 
Mắt Tùng sáng lên khi anh thấy cuốn sách có tựa "Cuộc đời của một nhà tiên tri Do Thái", nằm giữa đống sách cũ để ngổn ngang ở góc nhà. Anh cầm cuốn sách lên. Bìa sách vẽ một ông già râu tóc bạc phơ, có vầng trán cao và đôi mắt sâu hoắm như đang nhìn chằm chằm vào anh. Cuốn sách đã quá cũ, nhưng vẫn còn đọc được. Chỉ đáng tiếc là nó đã mất mấy trang cuối. Có lẽ đó là lý do khiến ông chủ hiệu sách cũ đã để nó nằm trong đống sách dưới đất, thay vì để trên kệ như những cuốn sách khác còn nguyên vẹn. Dù sao Tùng cũng thấy vui khi trả tiền vì đã mua được loại sách anh đang sưu tầm. Bước ra khỏi cửa hiệu sách cũ, anh tự nhủ: "Mình sẽ đọc cuốn sách ngay trong đêm nay".
Đang chạy xe Honda trên đường, Tùng nghe có tiếng la: "Cướp! Cướp!". Anh quay lại nhìn, Một chiếc Suzuki phóng ào lên, tiếng máy rú nghe lạnh gáy. Tùng lóng ngóng lái xe chệch ra tim đường. Chiếc Suzuki tông vào xe anh. Tùng ngã nhào, đầu đập mạnh xuống đường. Đau buốt...
Khi Tùng mở mắt, vật anh thấy đầu tiên là chai nước biển treo lơ lửng ở bên giường. Rồi khuôn mặt của Ngân - vợ anh - cúi xuống mừng rỡ:
- Ồ, anh đã tỉnh rồi!
Tùng cố nhớ lại mọi chuyện nhưng chẳng nhớ được gì. Anh cảm thấy đầu đau nhức, đưa tay trái lên bóp trán thì đụng lớp băng. Ngân nắm tay anh kéo xuống để dọc trên giường nệm.
- Anh đừng cử động. Anh mới giải phẫu xong. Bác sĩ nói anh bị chấn thương sọ não và gãy ống xương chân trái.
Tùng nhắm mắt lại. Đầu óc anh hiện ra ông già râu tóc bạc phơ, có vầng trán cao và đôi mắt sâu hoắm. Anh thều thào nói:
- Cuốn sách đâu?
- Sách gì?
- Sách anh mới mua.
- Trời ơi! Sắp chết đến nơi mà còn lo sách với vở! Nào, anh mở miệng ra để em đút cho miếng cháo.
Tùng định nói nữa nhưng muỗng cháo đã làm anh nghẹn họng.
Sau mười ngày nằm bệnh viện, Tùng được chuyển về nhà. Cái đầu đã tháo băng nhưng chân trái vẫn còn bó bột và anh phải đi đứng nhờ đôi nạng. Hàng ngày bé Ly được vợ anh chở đi học lớp 3 bán trú đến chiều mới về. ở nhà một mình, Tùng chẳng biết làm gì ngoài việc xem tivi và chơi game trên máy vi tính. Nhưng anh vẫn không quên được cuốn sách đã mất. Anh đã nhờ bạn bè đến chỗ anh gặp tai nạn để tìm, thậm chí còn hỏi những người bán hàng hai bên đường nếu ai lượm được cuốn sách thì xin chuộc lại bằng tiền. Nhưng cũng chẳng ai biết. Có lẽ cuốn sách quá cũ, nằm lăn lóc trên đường đã bị người ta lượm quăng vào sọt rác.
Có tiếng gõ cửa. Tùng chống nạng bước ra mở cửa. Hưng, bạn thân làm việc cùng công ty với anh, bước vào.
- Ông khoẻ chưa?
- Cũng đỡ. Mời ông ngồi. Ông có tìm ra cuốn sách tôi đánh mất không?
Hưng ngồi xuống ghế, đốt thuốc hút:
- Ông quên cuốn sách vớ vẩn đó đi. Ráng tĩnh dưỡng rồi vào công ty giúp tôi một tay. Công việc cuối năm tất bật làm tôi muốn điên cái đầu.
Trong đầu Tùng lại hiện ra ông già râu tóc bạc phơ, có vầng trán cao và đôi mắt sâu hoắm. Tùng nhìn Hưng bằng đôi mắt đó và nói:
- Ông đừng lo. Ông sắp được thảnh thơi rồi.
- Sao? Thảnh thơi là sao?
- Ông có muốn tôi nói thật không?
- Trời đất! Bạn bè bao lâu nay, tôi có nói dối ông điều gì đâu.
- Thứ tư tuần tới ông sẽ chết. Vậy ông còn bốn ngày nữa để sống. Hoặc ông lo làm cho hết mọi chuyện cần làm, hoặc ông cứ vui chơi thoải mái. Tuỳ ông.
Hưng trợn mắt nhìn Tùng:
- Ông điên rồi à! Ai lại đùa giỡn kiểu đó.
- Tôi không nói đùa. Ông không tin tuỳ ông nhưng ông sẽ chết vào ngày đó.
Hưng đứng dậy, hét lớn:
- Ông khùng rồi! Ông nên nhờ bác sĩ khám lại cái đầu. Nếu ông không xin lỗi, tôi sẽ chia tay ông.
- Vậy tôi xin lỗi anh trước bởi sẽ không còn dịp nào nữa.
Vào lúc đó Ngân chở bé Ly về nhà. Thấy mặt Hưng đỏ bừng có vẻ giận dữ, nàng hỏi:
- Có chuyện gì vậy anh Hưng? Mời anh ngồi chơi chút đã.
- Cám ơn chị. Chị vào lo cho ông chồng của chị đang nổi cơn khùng kia kìa!
Hưng lấy xe, nổ máy chạy đi. Ngân dẫn bé Ly vào nhà. Thấy Tùng ngồi cúi đầu ở ghế, nàng hỏi:
- Anh làm gì mà anh Hưng giận dữ vậy?
- Anh chỉ nói sự thật.
- Sự thật gì?
- Anh ấy sẽ chết vào ngày thứ tư tuần tới.
- Trời đất! Nói vậy mà anh cũng nói được hả?
- Anh chỉ muốn giúp anh ấy biết trước ngày chết để thu xếp mọi chuyện cho êm đẹp.
- Nhưng làm sao anh dám quả quyết điều anh nói là đúng?
- Chính ông già trong cuốn sách anh làm mất đã giúp anh biết điều đó.
Ngân lắc đầu, thở dài:
- Đầu óc anh bị trục trặc rồi. Sáng mai em sẽ xin nghỉ việc đưa anh đi bệnh viện khám lại cái đầu.
Có tiếng gõ cửa. Ngân ra mở cửa. Bà Năm hàng xóm tươi cười bước vào:
- Chào cô Ngân. Bảy giờ tối qua nhà tôi bỏ giấy hốt hụi nha. Còn cậu Tùng khỏe chưa?
Ngân nói đỡ lời chồng:
- Anh ấy đỡ rồi bà Năm. Tối con sẽ qua bà.
- Thôi tôi về.
Bà Năm vừa đi, Tùng nói với vợ:
- Tối em qua nhà bà Năm bỏ tiền cao mà hốt hụi đi. Bà ấy sẽ chết vào thứ hai tới.
Ngân nắm chặt hai tay, gào lên:
- Trời ơi là trời! Sao anh nhìn ai cũng thấy người ta chết vậy. Anh nhìn tôi thử nói xem bao giờ tôi chết?
Tùng nhìn Ngân lắc đầu:
- Thật đáng tiếc, anh chưa đủ khả năng nhìn xa được. Anh chỉ nhìn được những cái chết sẽ xảy ra trong vòng một tuần mà thôi.
Chiều thứ hai, Ngân đi làm về ghé bệnh viện lấy phim chụp vết thương ở đầu Tùng. Bác sĩ nói vết thương đã lành, trắc nghiệm tâm lý cũng cho biết Tùng là người bình thường, không có gì phải lo ngại. Ngân cảm thấy an tâm vì chồng đã bình phục.
Chở bé Ly về đến đầu ngõ, Ngân chợt nghe những tiếng khóc vang lên từ nhà bà Năm. Ngân dừng xe, hỏi thăm một người trong nhà và biết bà Năm đã bị điện giật chết lúc ba giờ chiều. Ngân tái mặt. Không phải nàng sợ đã không nghe lời chồng bỏ tiền cao hốt hụi để giờ đây dây hụi có thể bị đứt. Nàng tái mặt vì thấy chồng đã tiên đoán đúng cái chết của bà Năm.
Bước vào nhà, Ngân thấy Tùng đang ngồi chơi game ở máy vi tính. Nàng để hồ sơ bệnh của anh lên bàn.
- Bác sĩ nói anh bình thường.
Tùng vẫn chăm chú nhìn vào màn hình và nói:
- Anh cũng nghĩ vậy.
Bé Ly chạy đến bên anh:
- Ba cho con chơi với.
Tùng bế bé Ly đặt ngồi ở ghế bên. Đưa con chuột cho con, anh nói:
- Tới phiên con cứu công chúa. Nhớ coi chừng con rắn gác cửa nghe.
Buổi tối. Ngân định điện thoại cho anh Hưng biết cái chết của bà Năm để anh đề phòng, nhưng nàng phân vân không dám gọi. Báo cho anh Hưng biết, cả nhà anh ấy sẽ lo lắng. Nếu chuyện không xảy ra như anh Tùng dự báo thì gia đình anh ấy sẽ nghĩ gì về vợ chồng nàng? Ngân đành im lặng chờ đợi đến ngày thứ tư.
11 giờ trưa thứ tư, Ngân nhận được điện thoại của Tùng. Anh nói: "Một người trong công ty của anh điện thoại cho hay Hưng vừa mới chết ở ngay trong văn phòng làm việc vì bị nhồi máu cơ tim. Chiều nay đi làm về em hãy ghé thăm vợ anh Hưng. Còn bé Ly, anh sẽ đi taxi tới đón".
Rồi từ Ngân, nhiều người đã biết được khả năng "nhìn thấy cái chết" của Tùng, Họ đến nhờ anh coi giúp bản thân mình hay coi cho người thân. Có người biết mình sắp chết đã trở nên sống đạo đức hơn với ước muốn "để đức lại cho con". Có người trở nên ăn chơi trác táng vì nghĩ dù gì đi nữa mình cũng sắp chết rồi. Thậm chí có người còn đi vay nợ để ăn chơi vì biết sắp "xù nợ đời". Người ta gọi anh là nhà tiên tri số một, nhưng cũng có kẻ gọi anh là "Tùng quạ" vì anh chỉ bảo được cái chết như loài quạ.
Một sáng thứ hai, bé Ly vào chào ba đi học. Tùng đã tái mặt và run rẩy ôm chặt lấy con:
- Hôm nay con nghỉ học, ở nhà chơi game với ba.
Bé Ly lắc đầu:
- Cô giáo sẽ la con tội trốn học.
- Không. Má sẽ xin phép cho con nghỉ vì bệnh.
- Con có bị bệnh gì đâu ba?
- Đang có dịch sốt xuất huyết, ba muốn con ở nhà để ba dễ theo dõi. Con đi thay quần áo mặc ở nhà rồi ra đây chơi game với ba.
Bé Ly vừa ra khỏi phòng, Ngân đóng cửa lại và lo lắng hỏi:
- Có chuyện gì sắp xảy ra cho con vậy anh?
Tùng ứa nước mắt nói:
- Nó chỉ sống được một tuần nữa. Anh không muốn xa con một phút nào.
Ngân ôm tay anh lắc mạnh:
- Thật vậy không anh?
- Anh cầu mong lần này anh đoán sai.
Ngân sụt sùi khóc:
- Anh có cách gì cứu con không?
- Anh không phải là ông trời.
- Biết trước cái chết của con mà không giúp được gì cho nó, em cảm thấy như mình có tội.
- Em cứ đi làm bình thường, đừng để nó nghi ngờ. Chiều về, em nấu cho con những món ăn gì nó thích. Còn anh sẽ thuê xe taxi dẫn nó đi chơi. Chúng ta hãy cố giúp nó những ngày còn sống được hạnh phúc. Cái chết đến, nó sẽ cảm thấy đỡ đau đớn hơn.
Có tiếng đập cửa và tiếng bé Ly gọi:
- Ba ơi ra chơi game đi ba.
Tùng chống nạng đứng dậy mở cửa.
- Nào cha con mình cùng chơi game.
Một tuần được nghỉ học, được ba má chăm lo ăn uống và được dẫn lên Đà Lạt nghỉ mát, bé Ly trông hồng hào và mập hẳn ra. Sáng thứ hai, bé Ly mở cửa cho mẹ dắt xe đi làm. Bé thấy ở hàng rào có bông hoa cát đằng mới nở, bé hái định tặng ba. Một con rắn xanh lè nhỏ bằng chiếc đũa đã mổ vào tay bé. Bé hét lên. Tùng chống nạng chạy ra, lấy dây cột chặt phía trên vết rắn cắn. Anh vào nhà gọi taxi qua điện thoại. Năm phút sau xe đến. Anh bồng con vào xe, hối thúc tài xế chạy nhanh đến bệnh viện cấp cứu. Bé Ly đã chết ngay khi xe chạy đến cổng bệnh viện. Tùng đã đập đầu vào quan tài bé Ly đến ngất xỉu. Vết thương cũ bị động và anh phải vào nằm ở bệnh viện. Sau một tháng điều trị, người ta chuyển Tùng đến một bệnh viện tâm thần. Bác sĩ khám bệnh cho anh rồi cười hỏi:
- Nghe nói anh có tài đoàn đúng ngày người ta chết. Vậy anh có thể đoán tôi chết ngày nào, năm nào không?
Tùng nhìn chăm chăm ông bác sĩ rồi nói:
- 2050.
Ông bác sĩ:
- Tôi sống lâu vậy à?
Cô y tá đứng bên hỏi:
-Còn tôi?
Tùng nhìn cô y tá nói:
- 2050
- Tôi sẽ chết cùng năm với bác sĩ à? Thế còn anh sẽ chết năm nào?
- 2050.
Cô y tá nhíu mày rồi bật cười phá lên. Cô chỉ tay cho bác sĩ thấy con số trên áo bệnh nhân của Tùng: 2050. 
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
SÔNG HƯƠNG CÓ NÓI CHI MÔ
 
Tôi đã đến Huế hai lần, lần nào cũng vội vã vì bận công việc nên chỉ ở lại một hai ngày. Huế vốn thâm trầm, thầm lặng, nên chẳng thể hiểu vội vã được. Tôi đã liều viết cái phần mình chưa hiểu về Huế nên không tránh khỏi sự hiểu lầm. Rất mong bạn đọc gốc Huế lượng thứ.
Tường dắt tôi đi thăm lăng Tự Đức. Vốn là dân Huế nên Tường rành rọt, chỉ cho tôi biết nơi nhà vua xem hát bộ, nơi cung nữ ở... Khiêm Lăng to lớn này được xây dựng trong ba năm và vua thường đến đây vừa nghĩ ngơi vừa chiêm ngưỡng nơi sẽ chôn cất mình.
Ngồi nghỉ chân dưới bóng mát một cây sứ cổ thụ, bên ngôi mộ xây bằng đá cẩm thạch của vua, tôi tò mò đọc bài thơ chữ nôm của vua Tự Đức in trên tấm vé bán vào thăm lăng. "Khôn dại cùng chung ba tất đất, Giàu sang chưa chín một nồi kê". Tôi thầm hỏi: "Vua đã viết được như vậy, sao còn làm khổ người dân xây chung quanh "ba tấc đất" của vua nhiều ngôi nhà to lớn như một cung điện? Phải chăng từ xưa đến nay, giữa viết và làm thường khác xa nhau?"
Trưa hè ở Huế trời nắng gắt. Khi rời khỏi lăng vua Tự Đức, tôi cảm thấy đói bụng. Tôi nói Tường chở tôi đi ăn một món ăn Huế. Tường nói sẽ chở đến quán bánh khoái. Nơi đó cô gái bán hàng biết mười ngoại ngữ.
Tôi tin là Tường nói thật. Người Huế vốn ham học. Cô gái hàng ngày phải giao dịch với nhiều khách du lịch nước ngoài nên có thể em đã học được một số ngoại ngữ. Nhưng biết được mười ngoại ngữ thì cũng đáng nể, tôi hối thúc Tường chạy xe Honda thật nhanh để được gặp mặt cô gái. Vừa "no mắt" vừa no bụng.
Tường dừng xe trước một quán bán bánh khoái gần chợ Đông Ba. Khách ra vào tấp nập. Nhiều nhất vẫn là khách du lịch nước ngoài mặc quần soọc vai mang balô. Phải đợi một lúc, chúng tôi mới có ghế ngồi. Những chiếc bánh khoái nóng hổi được đem đến. Chúng giống như bánh xèo ở Sài Gòn nhưng chỉ nhỏ bằng lòng bàn tay và được chiên vàng rụm. Đặc biệt bánh khoái ăn với tương chứ không phải nước mắm chua ngọt. Ăn xong một chiếc bánh khoái mùi rau húng quế còn thơm ngát trong miệng, tôi hỏi Tường:
- Cô gái biết mười ngoại ngữ đâu?
Tường cười chỉ cô gái mặc áo thun đỏ, váy trắng (điều hiếm thấy ở các cô gái Huế) đang đứng nói chuyện với một ngoại kiều cách chỗ tôi ngồi hai cái bàn. Em đứng quay lưng lại nên tôi không nhìn thấy khuôn mặt em. Hai người đang trò chuyện vui vẻ, rất tiếc họ đứng hơi xa nên tôi không nghe rõ họ nói tiếng nước nào.
Một khách nước ngoài ngồi gần bàn tôi, gõ đũa vào miệng chén. Cô gái quay lại nhìn rồi bước đến tính tiền. Lúc này tôi mới nhìn rõ khuôn mặt em. Một khuôn mặt thanh tú với đôi mắt to đen láy và cái miệng luôn cười. Người khách chỉ những đĩa thức ăn trên bàn. Cô gái gật đầu nhẩm tính rồi ghi vào phiếu tính tiền đưa cho ông ta xem. Người khách chỉ vào một cái đĩa và giơ hai ngón tay. Cô gái cười ghi thêm vào phiếu tính tiền. Người khách móc tiền ra trả và cười nói: "How old are you?". Đáp lại, cô gái xòe hai bàn tay ra hai lần, lần sau em cụp lại một ngón cái.
Bây giờ tôi mới hiểu Tường đã "chơi chữ". Cô gái bị câm và phải nói chuyện bằng 10 ngón tay. Uống một ngụm bia Huda, tôi hỏi Tường:
- Cô gái bị tật hồi nhỏ à?
Tường gật đầu rồi nói:
- Cả ba chị em đều bị câm.
- Bệnh di truyền?
- Không, ba mẹ mấy cô đều nói năng bình thường. Người ta đồn rằng mộ ông nội của mấy cô táng trúng lưỡi rồng nên gia đình làm ăn phát đạt, bù lại con cháu đều bị câm. Nếu dời mộ đi chỗ khác, các cô sẽ nói được nhưng bù lại gia đình sẽ nghèo mạt ba đời. Cô chị đang đứng đổ bánh khoái đó. Cô thứ hai đi tính tiền, còn cô út ở trên lầu lâu lâu xuống phụ việc. Cũng may ba chị em tuy không nói được nhưng vẫn nghe được và họ viết chữ rất đẹp.
Tôi không biết đấy có phải là điều "may" hay càng khốn khổ hơn khi người ta nghe được mà không nói được?
Đợi quán thưa khách, tôi gọi cô gái đến tính tiền để có dịp trò chuyện. Cô gái đếm những đĩa bánh khoái và hai chai bia trên bàn rồi em viết phiếu tính tiền. Tôi hỏi:
- Em tên gì?
Cô gái cười nhìn quanh rồi chỉ bức tranh vẽ hồ sen Tịnh Tâm treo trên tường.
Tôi nói:
- Em tên Liên?
Cô gái gật đầu. Tôi hỏi tiếp:
- Nhưng gì... Liên?
Em viết trên phiếu tính tiền chữ Diệu.
- Diệu Liên! Tên hay quá. Đóa sen huyền diệu.
Cô gái e thẹn cúi đầu. Tôi bắt đầu kể lể: Tôi ở Sài Gòn mới ra thăm Huế lần đầu. Đến một nơi nào xa lạ, tôi nghĩ không phải chỉ đi xem thắng cảnh hay đi dạo phố xá mà hiểu được nơi đó. Cần phải thưởng thức những món ăn đặc sản và nhất là phải làm quen với một cô gái, nhờ vậy mình sẽ hiểu nơi đó hơn. Tôi đã ăn bánh khoái Huế rất ngon. Tôi muốn em giúp tôi hiểu Huế thêm một chút nữa được không?
Cô gái nhìn thẳng vào đôi mắt tôi. Cũng may vì vội vã khi ra Huế, tôi đã bỏ quên đôi kính cận một độ của mình ở Sài Gòn nên nhìn đôi mắt tôi lờ đờ như đôi mắt cá ươn rất "vô tư", cô gái đã thương hại gật đầu.
Buổi tối mùa hè, Huế đã mát nhờ những hàng cây hai bên đường rì rào tiếng lá. Tôi chở Diệu Liên trên chiếc xe Honda mượn của Tường. Em ngồi sau chỉ đường bằng cách vỗ vai phải, vai trái của tôi và tôi sẽ quẹo phải hay quẹp trái.
Nhờ em tôi mới biết hồ Tịnh Tâm với ngôi nhà ngồi hóng mát bị sụp đổ một bên, không còn nguyên vẹn như trong bức tranh vẽ treo ở quán em. "Đường phượng bay" xanh rì bóng lá vì mùa hoa phượng đã tàn. Bánh cuốn ở Kim Long khác hẳn bánh cuốn ở Sài Gòn. Và chè thịt heo quay ngon hơn chè sâm bổ lượng ở Chợ Lớn.
Tôi hỏi: Em hãy chỉ tiếp cho tôi biết nơi nào bán cơm hến, bánh ướt, chè bắp?
Em che miệng cười khúc khích. Tôi đưa cuốn sổ tay cho em và em viết: Ông tham ăn quá. Những món ăn ngon, ông ăn cùng một lúc, chúng cũng sẽ hết ngon.
Tôi nói: Nhưng ngày mai tôi phải về Sài Gòn rồi. Làm sao tôi có thể thưởng thức những món ăn kia?
Em viết: Chúng sẽ mãi còn ngon khi ông còn háo hức muốn ăn?
Tôi nói: Thôi bây giờ chúng ta đi uống cà phê. Tôi muốn biết cà phê ở Huế ngon cỡ nào.
Em gật đầu và tôi tiếp tục chở em đi. Cầu Tràng Tiền đang sửa chữa lại, em chỉ tôi chạy xe qua cây cầu mới. Chúng tôi vào một quán cà phê lộ thiên ở sát bờ sông Hương, ngay phía trước trường Quốc Học.
Tôi chọn một cái bàn đặt ngay dưới bóng đèn điện sáng choang. Chẳng phải tâm hồn tôi ưa thích sự trong sáng mà vì ngồi ở nơi sáng sủa, tôi mới có thể đọc được những câu em viết trả lời.
Tôi gọi cho em một ly đá chanh và cho tôi ly cà phê đen. Rất bất ngờ tôi được nghe lại giọng ca Tuấn Ngọc với bài "Chiều một mình qua phố" của Trịnh Công Sơn ở quán cà phê này. Diệu Liên mấy máy đôi môi hát theo. Tôi hỏi:
- Em cũng biết bài hát này à?
Diệu Liên gật đầu và môi em tiếp tục mấy máy. Tôi buồn muốn khóc khi thấy em say sưa hát một bài ca không thành lời. Im lặng là vàng, đúng vậy. Nhưng im lặng mãi sẽ là đất đá. Tôi không muốn em là đất đá. Tôi thầm cầu mong cho em một lần được nghe giọng hát của chính mình. Bài hát dứt, môi em vẫn còn run run vì xúc động hay vì lời ca "ngoài kia không còn nắng mềm, ngoài kia ai còn biết tên?"
Không ngăn được tò mò, tôi hỏi em câu chuyện người ta đồn về gia đình em mà Tường đã kể cho tôi nghe lúc trưa.
- Chuyện đó có thật không?
Em gật đầu. Ôi "ba tấc đất" của người chết đã làm khổ người sống quá nhiều! "Giàu sang chưa chín một nồi kê". Tại sao người ta bắt im lặng mãi? Tự nhiên tôi nổi sùng nói:
- Em hãy cho tôi biết mộ ông nội em nằm ở đâu? Tôi sẽ thuê người ta dời mộ để em nói được. Em cần phải nói, phải hát.
Em khẽ nắm tay tôi lắc lắc. Rồi em cúi xuống viết vào cuốn sổ tay tôi để trên bàn: Ông cần em phải nói, ông mới hiểu? Sông Hương có nói chi mô mà người ta cũng hiểu nó.
Viết xong, em ngẩng lên nhìn dòng sông Hương lấp lánh ánh trăng. Mặt nước phẳng lặng không gợn sóng. Gió từ mặt sông thổi lên mát rượi. Tôi nhìn vào đôi mắt em đang mở lớn. Đôi mắt cũng lấp lánh ánh trăng nhưng có nói chi mô. Đôi mắt đó câm hay tâm hồn tôi điếc?
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-21 06:53:37James Jee>
TÊN CỦA MỘT NGƯỜI
 
Tôi chăm chú xem xấp ảnh nghệ thuật của Phước. Anh muốn nhờ tôi chọn một số ảnh đem về Sài Gòn giới thiệu đăng trên các báo. Anh chuyên chụp ảnh phong cảnh và các loài hoa ở Ðà Lạt. Những tấm ảnh đó có góc chụp đẹp và lạ. Phước muốn ghi giữ lại những tia nắng lung linh trên những giọt sương ở đầu lá thông, những tia nắng lung linh trên mặt hồ Xuân Hương vào buổi sớm mai... Lẫn trong xấp ảnh đó, tôi thấy tấm ảnh chân dung một cô bé ôm bó hoa dã quì vàng rực để sát vào cằm. Tôi rất thích đôi mắt của em. Ðôi mắt mở lớn như đang cười dù em không nhếch môi. Tôi đưa tấm ảnh, hỏi Phước :
- Ai vậy ?
- Dã Quì, học sinh lớp 12 trường Quang Trung.
- Dã Quì là tên tấm ảnh hay tên cô bé ?
Phước bật cười, vừa lúc đó có người đẩy cửa hiệu ảnh của anh, bước vào. Một cô gái đội mũ len màu xanh lá cây, khăn quàng cổ màu rượu chát và chiếc áo gió màu vàng rực như hoa dã quì. Phước giới thiệu tôi và quay sang định giới thiệu cô gái thì tôi nói cắt ngang :
- Dã Quì.
Cô gái tròn xoe mắt nhìn tôi.
- Sao ông gọi em tên đó ?
Phước cười chỉ tấm ảnh chân dung tôi còn đang cầm trên tay.
Tôi nói :
- Không phải nhờ tấm ảnh đâu. Nhờ chiếc áo gió màu vàng rực em đang mặc đó.
- Vậy em tên Kim Châm. Màu vàng này cũng là màu hoa kim châm.
- Kim châm dễ khiến người ta liên tưởng đến kim chích, tên đó chẳng hay tí nào.
Cô bé che miệng cười :
- Ðọc truyện của ông thấy ông thường mô tả ăn uống rất thú vị. Vậy ông có thể giúp em biết sự thú vị đó không ?
Phước cú nhẹ vào đầu cô gái :
- Nhỏ "bắt địa" giỏi lắm.
Kinh nghiệm cho tôi biết, trong khi ăn uống người ta dễ cởi mở và thân thiện nên tôi đứng dậy nói :
- Sẵn sàng. Tôi rất "thú vị" được đi ăn với em. Rồi quay qua Phước tôi nói : Mời cậu cùng đi ăn cho vui.
Phước lắc đầu :
- Tôi bận coi cửa hiệu, có khách hẹn đến chụp hình. Hai người cứ đi ăn tự nhiên. Miễn đừng "ăn" nhau là được.
Sau khi làm một bụng bánh xèo no ứ hự, cô gái tiếp tục "hướng dẫn" tôi đi ăn xôi gà ở một quán gần đó. Kinh nghiệm cho biết khi ăn quá no, người ta sẽ làm biếng nói chuyện và chỉ muốn ngáp nên tôi nói :
- Chúng ta đi lòng vòng cho tiêu bánh xèo đã. Xôi gà, cháo vịt sẽ thanh toán sau, đồng ý ?
Cô gái gật đầu bước đi và tôi bước theo. Ði bên em, tôi chọn đi trên vỉa hè và để em đi dưới lòng đường. Chẳng phải tôi sợ xe tông mà vì em cao hơn tôi nửa cái đầu. Ði như vậy, người ngoài nhìn vào thấy chúng tôi rất "cân xứng".
Trời vừa nhá nhem tối. Gió kéo lướt thướt qua những lá dã quì xanh thẳm ở bên đường. Dưới ánh đèn cao áp trắng nhạt, một vài chiếc lá nhỏ mải chạy đuổi bắt đã xô vào đôi giày vải jean của cô gái. Em nhấc chân lên để chiếc lá khô tiếp tục cuộc chơi chạy về nơi vô định. Tôi khẽ rùng mình, cài hột nút áo sát ngay cổ và hỏi :
- Gió mùa Ðông Bắc phải không em ?
Cô gái vuốt ngược mái tóc lòa xòa trước trán về phía sau lưng và trả lời :
- Ông thấy lạnh không ?
- Lạnh.
- Vậy là đủ rồi. Bộ ông phải biết tên ngọn gió đó, ông mới cảm thấy lạnh à ?
- Tôi muốn biết đích xác tên của nó, để khi viết truyện tôi có thể mô tả rõ ràng.
- Truyện của ông luôn luôn dở ở điểm đó.
- Ðiểm nào ?
- Rõ ràng. Người đọc chẳng còn tìm thấy gì sau những dòng chữ viết của ông.
Tôi im lặng tìm hiểu ý nghĩa sau những lời nói của em. Thấy tôi cứ cúi đầu im lặng bước đi, em bật cười nói :
- Ông giận à ? Ðây, em bắt đền cho ông.
Cô gái móc túi áo gió, đưa cho tôi một nhúm hạt. Tôi hỏi :
- Hạt bí rang ?
- Không. Rõ ràng là hạt hướng dương. Ông thấy đó, khi biết sự việc rõ ràng, người ta thường được biết thêm là mình... sai. Như vậy chẳng thú vị tí nào.
Ði loanh hoanh một hồi, em dẫn tôi vào con đường không có vỉa hè, cỏ mọc tràn ra mép đường. Tôi chỉ đứng đến cằm em nên mỗi lần nói chuyện, tôi cứ phải ngẩng đầu lên mỏi muốn... gãy cổ. Em cắn hạt hướng dương vừa hỏi :
- Người ta nói "có tài là có tật". Vậy ông có thể bật mí cho em biết ông có tật gì ?
Tôi bỏ một nhúm hạt hướng dương vào miệng, nhai nhuyễn nhừ rồi nuốt luôn đỡ phải cắn lôi thôi.
- Tôi đâu có tài mà có tật.
- Ông đừng khiêm tốn. Nếu ông không có tài, em đã không đi ăn chung với ông.
- May phước ! Tôi có tài chút chút nên cũng có tật chút chút thôi. Khó thấy lắm.
- Tật gì ?
- Nói xạo !
Cô gái bật cười.
- Còn em không có tài mà cũng có tật.
- Tật gì đâu. Tôi thấy mặt mũi, tay chân em đẹp hơn bình thường mà.
- Em có tật là dễ tin vào những lời nói xạo.
Tôi muốn hôn vào trán vồ của em để thưởng một câu nói thông minh. Nhưng nghĩ lại chiều cao của mình, chỉ có thể hôn vào... vai em như thế rất dễ bị hiểu sai ý nghĩa. Tôi lắc đầu than thầm số phận "lùn" của mình. Nhưng tôi tự an ủi :
Trời cho cái này nhưng lấy đi cái khác. Nhờ được "lùn" nên tôi chẳng bao giờ té bị chảy máu đầu mà chỉ bị u sơ sơ. Vì khoảng cách giữa đầu tôi và mặt đất chưa đủ tiêu chuẩn làm "đổ máu". Còn em nếu trượt chân té, chắc chắn sẽ bị vỡ đầu. Vậy "cao" mà làm chi em !
- Sắp đến nhà em rồi. Thôi chúng ta chia tay.
Tôi vội nắm tay em. Cô gái rút tay ra và nói :
- Em hết hạt hướng dương rồi.
- Tôi không yêu hạt hướng dương. Tôi yêu...
Cô gái bịt miệng tôi và nói ngay.
- Em không thích rõ ràng.
Khi em buông tay ra, tôi vội hít thở những hơi dài. Lúc nãy vô tình em đã bịt chặt mũi tôi. Tôi muốn lặp lại rõ ràng "Tôi yêu Ðà Lạt đêm nay vô cùng". Nhưng sợ em buồn vì đã lầm nên tôi im lặng.
- Chúc ông mai về Sài Gòn bình an.
- Dã Quì, em có thể cho tôi biết tên thật của em ?
- Ông đừng hỏi tên thật của em. Bởi khi trở về Sài Gòn, ông sẽ chỉ nhớ cái tên còn con người em thì ông lại quên.
Như đã nói, tôi là người vốn thích mọi chuyện rõ ràng. Nên sau một hồi tra vấn Phước, tôi đã biết tên thật của em. Chắc các bạn cũng muốn biết cái tên đó để làm quen ? Dễ thôi mà. Tên thật em trùng với tên người đang đọc truyện này.
Thơ họa James Jee
Showroom nhạc Hoa
Những font chữ tuyệt vời
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»