Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HÀN PHI TỬ 🔒

71 trả lời, 12.849 lượt xem — Trang 3 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-25 08:56:40cunhoi>
(Từ trang 423 đến trang 427)
 
THIÊN VII
 
NHỊ BÍNH
 
(HAI QUYỀN CỦA VUA (1))
 
Bậc minh chủ sở dĩ chế ngự được bề tôi là chỉ nhờ có hai cái quyền mà thôi. Hai cái quyền đó là “hình” và “đức”. Thế nào là hình và đức? Giết phạt gọi là hình, khen thưởng gọi là đức (2). Bề tôi nào cũng sợ bị giết phạt và ham được khen thưởng, cho nên vua chúa biết tự sử dụng hai cái quyền hình và đức thì quần thần đều sợ uy của vua mà mong được vua khen thưởng. Bọn gian thần trên đời thì không vậy. Chúng ghét ai thì làm mê hoặc vua để được vua giao cho quyền trị tội ngưòi đó; chúng yêu ai thì làm mê hoặc vua chúa để được vua giao cho quyền thưởng người đó. Bậc vua chúa không giữ cho cái uy cùng cái lợi phạt và thưởng xuất phát từ chính mình, mà nghe lời bề tôi, thưởng phạt theo ý họ thì dân chúng trong nước đều sợ bọn bề tôi đó mà coi thường vua, qui phục họ mà xa vua, đó là cái hại bậc vua chúa đánh mất hai cái quyền hình và đức. Đập làm cho chó phải khiếp nhục là nhờ nhanh với vuốt: nếu cọp bỏ nanh vuốt đi, để cho chó dùng thì ngược lại nó phải khiếp phục chó. Bậc vua chúa dùng hình và đức đế chế ngự bề tôi, nếu bỏ hai quyền đó, để cho bề tôi dùng thì ngược lại bị bề tôi chế ngự. Cho nên Điền Thường trên xin tước lộc để ban cho quần thần, dưới làm cái đấu cái hộclớn hơn mẫu mực để thi ân cho trăm họ; thế là Giản Công mất cái quyền thi ân, để cho Điền Thường lấy mà dùng, rốt cuộc Giản Công bị giết (3) Hàn tâu với vua Tống (4): “Dân thích được khen thưởng, vậy việc đó xin đại vương tự làm lấy; dân ghét bị hình phạt, việc này thần xin đảm nhận”. Thế là vua Tống mất cái quyền hình phạt để cho Tử Hân lấy mà dùng, rốt cuộc vua Tống bị hiếp bức. Điền Thường chỉ dùng cái đức mà Giản Công bị giết; Tử Hân chỉ dùng cái hình mà vua Tống bị hiếp. Vậy mà ngày nay bọn bề tôi dùng cả hai cái hình và đức, thì vua chúa tất nguy hơn Giản Công và vua Tống nhiều. Cho nên các vua chúa bị hiếp, bị giết, bị che lấp, lừa dối là vì bỏ cả hai cái quyền hình và đức để cho bề tôi dùng. Như vậy mà không bị nguy vong là điều không thể có được.
 
*
 
Bậc vua chúa muốn ngăn cấm gian gà, tất phải xét xem hình và danh có hợp nhau không; danh là lời nói mà hình là sự việc. Bề tôi trình bày một kiến nghị, vua theo kiến nghị đó mà giao việc cho, rồi tuỳ việc mà xét kết quả. Kết quả phù hợp với việc, việc phù hợp với lời nói thì thưởng; trái lại, kết quả không phù hợp với việc, việc không phù hợp với lời nói thì phạt. Lời nói của bề tôi huênh hoang, mà kết quả nhỏ thì phạt, không phải phạt vì kết quả nhỏ mà vì kết quả không phù hợp với lời nói. Lời nói của bề tôi nhũn quá mà kết quả lớn thì cũng phạt, không phải không mừng vì kết quả lớn, nhưng kết quả không phù hợp với lời nói thì công không đủ bù hại, vì vậy nên phạt. Xưa Hàn Chiêu hầu say rồi ngủ. Viên điền quan (thị thần coi về mão), sự vua lạnh, lấy áo đắp lên cho vua Chiêu Hàn thức dậy, thấy vậy, vui lòng, hỏi kẻ tả hữu: “Ai đắp áo cho ta đó?”. Kẻ tả hữu đáp: “Viên quan coi về mão. Chiêu Hầu bèn phạt cả viên điền y vì không làm nhiệm vụ; phạt viên điền quan vì vượt chức vụ. Không  phải là ông không sợ lạnh, mà vì ông cho rằng để bề tôi quên chức vụ thì cái hại còn hơn là mình bị lạnh. Cho nên bậc minh chủ đối với bề tôi, không để cho bề tôi vượt chức mà lập công, không để cho lời nói không phù hợp với việc làm. Vượt chức thì chết, lời nói không phù hợp với việc làm thì bị tội. Bề tôi cứ giữ chức vụ của mình, lời nói phù hợp với việc, như vậy quần thần không thể kết bè đảng làm điều gian tà được.
 
*
 
Bậc vua chúa có hai mối lo: dùng người hiền (5) bề tôi nhân sự hiền tài của họ mà lấn vua; mà dùng người bừa bãi thì việc tất thất bại. Vua thích người hiền thì bề tôi trau dồi bề ngoài để làm vừa lòng vua, như vậy chân tình của họ không xuất hiện, mà chân tình của họ không xuất hiện thì vua không phân biệt được đâu là chân, đâu là nguỵ. Cho nên vua Việt hiếu dũng mà đa số nhân dân coi thường sự chết; Sở Linh vương thích những lưng eo mà trong nước nhiều người (nhịn ăn tới) chết đói; Tề Hoàn công hay ghen mà hiếu sắc. nên Thụ Điêu tự hoạn để được làm thái giám; ông lại thích ăn ngon nên Dịch Nha luộc đừa con đầu lòng của mình (6) để dâng; vua nước Yên là Tử Khoái htích người hiền (7) cho nên Tử Chi làm bộ tỏ ra rằng mình (thanh cao) không nhận ngôi vua (8). Vua để lộ lòng ghét của mình thì bề tôi làm ra bộ tài năng để hợp với sở thích của vua; vua để lộ lòng muốn thì bề tối sửa đổi tính tình thái độ để thích ứng với lòng vua mà cầu lợi. Cho nên Tử Chi làm bộ hiền nhân mà đoạt được ngôi vua; Thụ Điêu, Dịch Nha lợi dụng sở thích của vua mà lấn vua; (kết quả là) Tử Khoái chết vì nội loạn, Hoàn Công chết tới khi giòi bò ra ngoài cửa phòng (9) mà chưa được chôn. Nguyên do tại đâu? Tại vua để lộ tình dục của mình, để bề tôi lợi dụng (mà mưu lợi cho họ). Bề tôi vị tất đã yêu vua, họ chỉ tính cái lợi cho họ thôi. Bậc vua chúa không che giấu tình dục, ý tứ của mình mà để cho bề tôi có cơ hội lấn áp mình thì bề tôi học cái thói của Tử Chi, Điền Thương đâu có khó. Cho nên bảo: “Vua bỏ yêu, bỏ ghét đi thì chân tướng của bề tôi sẽ hiện, mà vua sẽ không bị che lấp”.
 
*

 
(1) Bình nghĩa gốc là cái cán, là cầm. Ở đây bính là quyền binh, nghĩa là quyền thế nằm trong tay như cầm cái cán của vật.
(2) Chữ đức ở đây có nghĩa khác nghĩa người ta thường dùng.
(3)(4) Điền Thương và Giản công: Tử Hán và vua Tống coi chú trang 10 thiên Ngũ đố.
(5) Chữ hiền này trỏ hạng người đa tài đa thuật, không phải hạng hiền nhân quân tử theo quan niệm Nho gia.
(6) Thụ Điêu và Dịch Nha đều là bọn gian trá được Tề hoàn công tin dùng. Nguyên văn bản Trần Khải Thiên: thủ tử. Có bản chép là tử thủ (luôc) đầu đứa con (của mình).
(7) Chữ hiền này hiểu theo quan niệm Nho gia.
(8) Việc này chép trong Chiến Quốc sách – Yên sách -9 – (Lá Bối - 1973) Yên vương là Khoái đem nước nhường cho Tử Chi để được tiếng là hiền như vua Nghiêu (người đã nhường ngôi cho Hứa Do), nhưng Tử Chi không được người nước Yên phục, nước Yên hoá loạn, sau bị Tề đánh. Sử không chép Tử Chi mới đầu có làm bộ cao thượng như Hứa Do mà từ chối hay không.
(9) Nguyên văn bản của Trần Khải Thiên: trùng lưu xuất lạ. Có bản chép là trúng lư xuất thi (giòi từ thây bò ra). Hai chữ bò và thi chỉ khác nhau một nét chấm.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-26 10:24:51cunhoi>
(từ trang 482 đến trang 486)
 
THIÊN XIX
 
SỨC TÀ (Trích)
 
(TÔ ĐIỂM SỰ GIAN TÀ)
 
Trong phần I chúng tôi đã nói thiên này có nhiều điểm đáng ngờ rằng người đời sau nguỵ tác; tuy nhiên những ý chính đều hợp với chủ trương của Pháp gia. Chúng tôi chỉ trích dịch đoạn đầu: đừng tin sự bói toán và đừng trông cậy vào chư hầu; bỏ ba đoạn sau nói về pháp luật, thưởng phạt mà trong các thiên khác Hàn Phi đã bàn quá nhiều rồi.
 
Nước Triệu bói mai rùa, cỏ thi, được quẻ “đại cát” (rất tốt) bèn tấn công nước Yên (năm - 242). Yên bói mai rùa chỏ thi, được quẻ “đại cát” bèn tấn công Triệu. Kịch Tân thờ Yên, không có công mà nước Yên nguy (1); Trâu Diễn thờ Yên, không có công mà đạo nước không còn (2) Triệu trước thắng Yên, sau lại thắng Tề, tuy loạn mà khí tiết vẫn còn cao, tự cho mình ngang hàng với Tần. Không phải là vì mai rùa của Triệu linh mà mai rùa của Yên không linh (3).
 
(Vả lại) Triệu cũng đã có lần bói mai rùa cỏ thi về việc đem quân lên phía Bắc tính cướp nước Yên để cự Tân (năm 236) được quẻ “đại cát”. Nhưng Triệu mới bắt đầu đánh Đại Lương thì Tần đã đánh Thượng Đảng (4); khi binh Triệu đến đất Lí (ở Yên) thì Triệu đã mất sáu thành về Tần; khi họ đến Dương Thành thì Tần đã chiếm đất Nghiệp (5); Bàng Viên vội kéo binh trở về Nam thì các thành để bảo vệ (ở đất Nghiệp) đã mất về Tần hết rồi. Vì vậy mà thần (tức Hàn Phi) (6) bảo mai rùa ở Triệu nếu không biết được rằng đánh Yên không thắng thì cũng phải biết rằng cự Tần là có hại chứ (7). Tần được quẻ đại cát mà thực sự đã mở rộng được đất đai, lại thêm cái danh là cứu được Yên. Triệu cũng được quẻ đại cát mà đất bị cướp, binh bị nhục, vua (8) buồn rầu mà chết. Lại cũng không phải mai rùa của Tấn linh mà của Triệu không linh.
 
Mới đầu, nước Nguỵ trong mấy năm quay về phía Đông, chiếm hết đất Đào và nước Vệ; rồi sau trong mấy năm quay về hướng Tây mà mất đất về Tần. Như vậy không phải là vì các sao (tốt) Phong long, Ngũ hành (Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ), Thái ất, Vương tương, Nhiếp  đề, Lục thần, Ngũ quát, Thiên hà, Ân thương, Tuế tinh trong mấy năm ở về phương Tây cả (9) cũng không phải các sao (xấu) Thiên khuyết, Hồ nghịch, Hình dinh, Huỳnh hoặc, Khuê, Thai, trong mấy năm đều ở phương Đông cả (10).
 
Vì vậy thần báo: Mai rùa cỏ thi, quí thần không đủ cho ta luận được sẽ thắng hay không; các sao ở bên phải, bên trái, sau lưng, trước mặt (11) không đủ cho ta quyết định nên ra quân hay không. Nếu ỷ vào đó thì không gì ngu bằng.
 
Xưa các đấng tiên vương hết sức thân dân và làm sáng tỏ pháp luật. Pháp luật sáng tỏ thì trung thần hăng hái, hình phạt cương quyết thì gian thần ngừng lại. Trung thần hăng hái, gian thần ngừng lại, mà đất mở rộng, vua được tôn, đó là trường hợp nước Tần. Quần thần kết bè đảng để che giấu chính đạo, làm việc cong queo riêng tư, đất bị cướp, vua bị khinh, đó là trường hợp lục quốc (Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở) ở phía đông núi Hoa. Yếu, loạn thì mất, thế thường con người là vậy; mạnh, trị thì lập được nghiệp vương, đạo từ thời xưa là vậy. Việt vương Câu Tiễn tin con rùa đại bằng (rùa thiêng của đất Việt), đánh nhau với nước Ngô, không thắng, phải đem thân làm bề tôi, hầu hạ vua Ngô; sau được trở về nước thì bỏ rùa, làm sáng tỏ pháp luật, thân dân để mưu tính việc trả thù nước Ngô, kết quả là bắt được Ngô vương Phù Sai. Vậy ỷ vào quỉ thần thì bỏ bê pháp luật.
 
Mà ỷ vào chư hầu thì nước sẽ nguy. Nước Tào (12) ỷ vào nước Tề mà không nghe nước Tống, khi Tề đánh nước Kinh (Sở) thì Tống diệt Tào; nước Hình (13) ỷ vào nước Ngô mà không nghe nước Tề, khi Việt đánh Ngô thì Tề diệt Hình; nước Hứa ỷ vào nước Kinh mà không nghe nước Nguỵ, khi Kinh đánh Tống thì Nguỵ diệt Hứa; nước Trịnh ỷ vào nước Nguỵ mà không nghe nước Hàn, khi Nguỵ đánh Kinh thì Hàn diệt Trịnh.
 
Nay nước Hàn nhỏ mà ỷ vào nước lớn, nhà vua bỏ bê (pháp luật) mà nghe Tần, Nguỵ ỷ vào Tề, Kinh thì càng mau mất nữa (14). Ỷ vào người, không đủ để mở rộng đất đai, Hàn không thấy vậy. Kinh nhân đánh Nguỵ mà tấn công luôn cả Hứa, Yên (đồng minh của Nguỵ). Tề đánh Nhiệm và Hề mà cướp đất của Nguỵ, nhưng điều đó không đủ để cứu Trịnh (15) Hàn không biết vậy. Các nước đó (16) đông không làm sáng tỏ pháp luật, cấm lệnh để trị nước, cứ ỷ vào nước ngoài mà khiến cho xã tắc bị diệt. (Bỏ từ đây)
 

(Nhảy 4 trang: 487, 488, 489, 490 chứ không thiếu bài)

(1) Kịch Tân là tướng Yên, thua Triệu, bị Triệu bắt.
(2) Trâu Diễn là triết gia sáng lập phái Âm dương, người nước Tề, làm quân sư cho Yên Chiêu vương “đạo nước không còn”, nguyên văn là: “quốc đạo tuyệt”, có người giảng là quốc đạo đó là đạo trị nước theo pháp gia; có người lại bảo là đường đi trong nước, (đường đi vắng người - tuyệt – vì Yên thua Triệu).
(3) Vì được quẻ “đại cát” mà sao Yên lại thua Triệu.
(4) Đại Lương là kinh đô Nguỵ, không phải ở Yên, Triệu muốn cướp Yên mới đầu đánh Đại Lương có lẽ để Yên không ngờ; Thượng Đảng vốn là đất của Hàn, lúc đó thuộc về Triệu; Tần thấy Thượng Đảng bỏ trống thì Triệu không đề phòng, nên đem quân đánh.
(5) Dương Thành của Yên; đất Nghiệp của Triệu.
(6) Một danh tướng của Triệu, có sách gọi là Bàng Nguyên.
(7) Một số học giả cho rằng thiên này là một bài biểu Hàn Phi dùng vua Hàn, nhưng thuyết đó không đáng tin.
(8) Tức Điệu Tương vương.
(9) Các sao tốt ở phương Tây, cho nên Nguỵ ở phương Tây mới chiếm được Đào, Vệ ở phương Đông.
(10) Các sao xấu ở phương đông, cho nên Nguỵ ở phương đông (đối với Tần) mới bị Tần (ở phương Tây) chiếm hết đất.
(11) Theo sách Hoài Nam từ thì môn thiên văn thời đó cho rằng nếu sao Hình ở phía trái hay phía trước, sao Đức ở phía phải hay sau lưng, mà ra quân thì tất thắng.
(12) Một nước nhỏ ở Sơn Đông ngày nay.
(13) Một nước nhỏ ở Trực Lệ ngày nay.
(14) Câu này có sách chấm câu ở sau chữ Tần mà dịch là: “…mà nghe Tần. Các nước nhỏ ỷ vào Nguỵ, Tề, Khinh mà mau mất nước”. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
(15) Câu này nữa cũng rất khó hiểu, ngờ rằng thiếu sót hoặc sai lầm.
(16) Cõ lẽ là các nước Hứa, Yên, Trịnh nói trong câu trên.

 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-15 22:40:57Ct.Ly>
Đánh máy: muatrongdem


Phần 15




Hàn Phi Tử
Chương VII
THUẬT
 
 
 
Chủ trương của Pháp gia là bậc vua chúa có nhiệm vụ làm sao cho dân theo đúng pháp luật như vậy là nước trị. Công việc nhiều quá, vua không thể làm hết được, phải giao cho quan lại, hễ quan lại tốt thì dân không loạn, hễ dân nổi loạn thì luôn luôn là do quan lại xấu. Vì vậy bậc minh chủ trị quan lại chứ không trị dân.
 
(chữ hán)
 
        (Văn hữu lại tuy loạn nhi hữu độc thiện chi dân, bất văn hữu dân loạn nhi hữu độc trị chi lại, cố minh chủ trị lại bất trị dân - Ngoại trừ thuyết hữu hạ - Kinh 4) Rốt cuộc thuật trị nước tức là trị quan lại.
 
        Hàn Phi rất chú trọng đến thuật trị quan lại, để riêng cả chục thiên xét riêng về vấn đề đó: Bát thuyết, Bát gian, Bát kinh, nam diện, Gian kiếp thi thần hai thiên, bốn thiên Ngoại trừ thuyết; ngoài ra hầu hết các thiên khác cũng có vài câu nhắc tới.
 
        Danh từ “thuật” ông dùng có hai nghĩa:
       
-              Kỹ thuật: Tức phương án để tuyển, dùng, xét khả năng của quan lại, đúng với định nghĩa của Thân Bất Hai:
 
“Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực, nắm quyền sinh sát trong tay mà xét khả năng của quần thần” (Định pháp) Thuật đó là thuật hình danh hoặc danh thực (sẽ xét ở sau) có thể để cho mọi người biết, vua không cần phải giấu.
 
-              Tâm thuật, tức những mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ phải để lộ thâm ý của họ ra, như những thuật trong Ngoại trừ thuyết hữu thượng:
 
        + Làm bộ như ra lệnh và ra lệnh giả.
        + Giấu điều mình biết rồi mà hỏi để biết thêm những điều khác.
        + Nói ngược lại những điều mình muốn nói để dò xét gian tình của người.
        + Ngầm hại những bề tôi mình không cảm hoá đuợc, ….
 
        Cuốn thiên Nạn tam, Hàn Phi bảo: “Thuật thì không muốncho người khác thấy,… dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe”; chữ thuật ông dùng đó có nghĩa là tâm thuật.
 
        Trong chương này chúng tôi không xét các tâm thuật vì chúng nhiều quá, thiên biến vạn hoá, không theo một qui tắc nào khác, ngoài qui tắc này: gạt người sao cho có kết quả; độc giả sẽ thấy chúng rải rác trong các cố sự Hàn đã ghi lại trong các thiên Nội trừ thuyết, Ngoại trừ thuyết, Nạn, thuyết tâm… Dưới đây chúng tôi chỉ phân tích kĩ thuật trừ gian và dùng người của Hàn Phi
 
 
A - TRỪ GIAN
 
        Hàn cho rằng cái lợi của vua tôi khác nhau, mà ai cũng chỉ lo cho tư lợi, nên bề tôi nào cũng mang ý phản vua (chữ bề tôi ở đây có nghĩa rộng trỏ cả anh em, vợ con của vua) và ông khuyên các vua chúa: “Bậc minh chủ không nên ỷ vào cái lẽ bề tôi không phản mình mà ỷ vào cái lẽ họ không thể phản mình được; không ỷ vào cái lẽ họ không gạt mình mà ỷ vào cái lẽ họ không thể gạt mình được”
 
(chữ hán)
 
(Minh chủ giả bất thị kì bất ngã bạn dã, thị ngô bất khả bạn dã; bất thị kì bất ngã khi dã, thị ngô bất khả khi dã - Ngoại trừ thuyết tả hạ).
 
        Trong thiên Bát kinh, Hàn kể sáu hạng người có thể làm loạn: mẹ vua, hậu phi, con cháu vua, anh em vua, đại thần, người nổi danh là hiền, được lòng dân.
 
        Trong thiên Bát gian, ông trở lại vấn đề đó, vạch ra tám hạng gian thần: bọn chung giường với vua (vợ vua, cung nhân, sủng thần đẹp trai), bọn tả hữu thân cận (hề, kép hát…), bọn cha anh của vua, bọn thoả lòng ham vui, ham sắc của vua, bọn làm hao tán của công để mua chuộc lòng dân, bọn ăn nói khéo léo làm mê hoặc vua, bọn tụ tập các hiệp sĩ, kiếm khách để tỏ cái uy của họ, và bọn thờ nước ngoài.
 
        Sự liệt kê đó lộn xộn: sắp lại thì có thể chia làm hai hạng: kẻ thân thích của vua và quần thần. Cả hai đều đánh vào tình cảm thị dục nhược điểm của vua để lung lạc, che giấu vua. Họ lập bè đảng ở trong nước ngầm giao kết với nước ngoài, nuôi uy thế để khi đủ mạnh rồi thì lật đổ vua. Để tự do hoành hành, họ ngăn cản, hãm hại các trung thần. Hàn Phi coi họ là bầy chó dữ của nước.
 
        Thiên Ngoại trừ thuyết hữu thượng, ông kể truyện nước Tống có người bán rượu ngay thẳng, ân cần với khách, rượu lại ngon mà bán vẫn ế chỉ vì tiệm nuôi một con chó dữ, hễ thấy người tới mua là xông ra cắn.
 
        Các trung thần muốn giết bọn gian thần nhưng vua lại che chở chúng, thành thử chúng yên ổn ỷ quyền thế mà bóc lột dân làm giàu, lập bè đảng để che giấu tội ác của nhau, bịt mắt vua; cũng như loại chuột khoét đất, đào hoang ở trong nền xã (nơi thờ thần đất đai) mà không ai làm gì được vì nếu hun khói thì sợ cây cột (thần vị) cháy, mà dội nước thì sợ trôi mất lớp đất màu tô ngoài cây cột.
 
        Để ngăn cấm bọn đó, vua chúa phải:
       
-              Đừng để lộ sự yêu thích, giận ghét của mình. “ Bậc minh chủ phải giữ bí mật, nếu để lộ niềm vui ra, thì bề tôi nhân dịp vua vui mà xin gia ân cho người khác, nếu để lộ nỗi giận ra thì bề tôi nhân đó mà thị uy với người khác”  (Bát kinh).
 
 
+ Không cho họ biết mưu tính của mình, nếu là việc quan trọng thì vua phải ngủ riêng để hễ có nằm mơ, nói mớ thì cũng không ai biết được.
 
+ Không phải họ mưu tính việc riêng, không để họ tự ý hành động, việc gì cũng phải hỏi mình trước.
 
+ Bắt họ phải theo đúng pháp luật mà chính vua cũng phải theo pháp luật trong việc thưởng phạt họ.
 
+ Xét xem hành động của họ có hợp với lời nói của họ không (coi tiết sau: thuật dùng người).
 
+ Không cho họ cùng phi tần, cung nữ riêng cái gì cả.
 
+ Không cho họ lấy tiền bạc trong kho, lúa trong lẫm để thi ân riêng cho dân.
 
+ Khi họ khen ai, chê ai, thì phải xét xem người được họ khen thực có tài năng không, người bị họ chê thực có tội lỗi không. Các yêu sách của chư hầu, hợp hợp phát thì nghe, không thì cự tuyệt (Bát gian).
 
 
 
 
Có một cách để tìm kẻ gian là khi một việc xảy ra, hại cho nước hoặc cho một người nào đó thì xét xem ai là kẻ có lợi.
 
        Ví dụ: Trần Nhu là bề tôi của vua Nguỵ; nước Kinh đánh Nguỵ, ông ta vì vua Nguỵ đứng ra hoà giải, rồi nhờ thế lực của Kinh mà ông ta được làm tướng quốc Nguỵ. Việc đó có lợi cho Trần Nhu, cho nên ta biết được ông ta đã ngầm xúi Kinh đánh Nguỵ.
 
        Một ví dụ nữa: “Chiêu Hi Hầu tắm, thấy trong nước có sạn, hỏi:
 
-              Nếu ngươi coi việc tắm gội mất chức thì có ai thay chân không? Kẻ tả hữu đáp có. Hi Hầu bảo: “Gọi nó vô” rồi mắng người đó:
 
-              Tại sao ngươi bỏ sạn vô nước nóng?
 
Hắn đáp:
 
-              Anh coi việc tắm gội mà mất chức thì thần được thay chân, vì vậy thần bỏ sạn vô nước tắm: (Nội trừ thuyết hạ)
 
 
 
Muốn kiềm chế hạng người có địa vị cao, trách nhiệm lớn ta có ba cách:
 
-              Nếu là người hiền, có thể bắt vợ con, thân thích của họ làm con tin;
 
-              Nếu là kẻ tham làm thì cho họ tước lộc hậu hĩ như đã hứa với họ để “an định” họ, tức là mua chuộc họ để họ khỏi làm phản;
 
-              Nếu là kẻ gian tà thì phải làm cho họ khốn khổ bằng cách trừng phạt (Bát kinh)
 
 
 
 
Dùng những cách đó mà vẫn không cải hoá được thì phải trừ họ đi. Muốn trừ họ mà không thương tổn danh tiếng của vua thì nên đầu độc họ, hoặc dùng kẻ thù của họ để giết họ, như vậy alf trừ gian một cách kín đáo (Bát kinh).
 
Điều cần nhất là phải diệt cho sớm, đừng để họ làm bậy lâu, mỗi ngày một chất chứa, sức họ mạnh lên, có thể giết mình được. Hàn Phi khuyên vua chúa nhớ lời của Tử Hạ (một môn đệ của Khổng tử): “Sách Xuân Thu chép cả chục vụ bề tôi giết vua, con giết cha; tất cả những vụ đó đều không phải chỉ trong một ngày mà xảy ra, mà do chất chứa lần lần rồi sau mới phát” (Ngoại trừ thuyết hữu thượng)
 
 
 
 
 
Mà cách tốt nhất để theo lời Tử Hạ là đừng dùng những kẻ không nên dùng để khỏi phải đề phòng họ. Hàn Phi trong thiên Hữu độ cho ta biết năm hạng người không nên dùng:
 
1.   Hạng người khinh tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ mà đi chọn vua khác.
2.   Hạng người lánh đời, ở ẩn, chê bai vua.
3.   Hạng người đặt lời giả dối trái pháp luật.
4.   Hạng người thi ân để thu phục kẻ dưới.
5.   Hạng người vì tư lợi mà giao thiệp với chư hầu. Rồi trong thiên Bát thuyết, ông lại kể thêm năm hạng người nữa. (1).
6.   Hạng người vì người quen cũ mà làm việc riêng tư, họ là bạn tốt nhưng là quan lại gian.
7.   Hạng người bỏ chức quan mà thích giao du.
8.   Hạng người tranh thắng với bề trên.
9.   Hạng người uốn cong pháp luật vì người thân (giống hạng 6)
10.        Hạng người đem của công ra bố thí. (giống hạng 4).
 
Tuy nhiên ông cũng nhận rằng một số gian thần chính là kẻ tài giỏi, nếu vua có đủ thuật để khống chế họ thì họ sẽ trung thành với mình mà giúp mình đắc lực như trước hợp Triệu Giản Chủ dùng Dương Hổ, một phản thần của Lỗ, mưu cướp quyền chúa, thất bại phải trốn qua Triệu. Kẻ tả hữu can Giản chủ: “Hổ giỏi cướp chính quyền, sao nhà vua lại dùng làm tướng quốc?” Giản chủ đáp: “Hổ lo cướp chính quyền, ta lo giữ” và ông dùng thuật, khống chế nơi Dương Hổ, Dương Hổ tận tâm phụng sự, làm cho Triệu mạnh lên. Rốt cuộc quan trọng hơn cả vẫn là phải có thuật.
 
Phòng gian, diệt gian là khía cạnh tiêu cực của thuật, tuyển người, dùng người để tăng công hiệu hành chánh mới là khía cạnh tích cực.
 
 
 
B – DÙNG NGƯỜI.

 
 
 
 
 
Qui tắc căn bản của thuật dùng người theo pháp gia là thuyết hình danh. Người đầu tiên lập thuyết về danh là Khổng tử. Thuyết chính danh của ông là một thuyết để trị nước: chính danh là để “minh phận”, phận sự sang hèn, cũng để nhắc nhở nhà cầm quyền nhớ đến bổn phận của họ: đã mang danh là vua, là cha mẹ của dân thì phải giữ tư cách ông vua, làm tròn sứ mệnh ông vua, cũng như cái “cô” - một bình rượu – thì phải có khía, có cạnh, không có khía, có cạnh thì không được gọi là cái “cô” (Luận ngữ -Ung dã – 23 – Cô cất cô, cô tai, cô tai!)
 
        Vì vậy mà chương Tử Lộ, bài 3, khi Tử Lộ hỏi ông nếu được vua Vệ mời tham chính thì ông sẽ làm gì trước hết, ông đáp phải chính danh trước hết vì nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành; việc không thành thì lễ nhạc không hưng, lễ nhạc không hưng thì hình phạt không trúng, hình phạt không trúng thì dân không biết chỗ nào mà đặt tay chân (tức không biết hành động ra sao”
 
(chữ Hán)
 
        (Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận, tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng; hình phạt bất trúng tắc dân vô sở thố thủ túc).
       
        Mạnh tử cũng theo thuyết đó nhưng gay gắt hơn, bảo vua mà tàn bạo như Trụ thì không phải là vua, chỉ là một thất phu, vậy giết Trụ không phải là thí vua mà chỉ là giết một tên thất phu (tàn tặc chỉ nhân vị chi thất phu; văn tru nhất phu Trụ hĩ, vị văn thí quân dã –Lương Huệ Vương, hạ - bài 8).
 
        Rồi sau Công Tôn Long áp dụng nguyên tắc chỉnh danh vào tất cả các lĩnh vực, chứ không riêng trong lĩnh vực chính trị. Chính danh của ông là để phân biệt đồng và dị (giống và khác nhau).
 
        Mặc gia cũng chính danh để phân biệt đồng, dị và bước thêm vào khu vực tri thức luận, vào ngôn ngữ học, chia danh thành ra ba loại: đạt danh (danh phổ biến, như: vật), loại danh  (danh chỉ loài, như: ngựa, mèo) và tư danh (danh riêng, như nhân danh, địa danh). (2).
 
        Tuân tử tập đài thành Khổng tử, Công Tôn Long và Mặc gia. Mục đích chính danh của ông là vừa để “minh phận vừa để phân biệt đồng và dị. ông nêu lên phép chế danh gồm bốn qui tắc mà qui tắc chính là “thực cùng thì danh phải cùng”, “thực khác thì danh phải khác”, nghĩa là danh và thực phải hợp nhau.(3)
 
        Hàn Phi là môn đệ của Tuân Tử chắc đã trực tiếp chịu ảnh hưởng của Tuân hơn là của phái Danh gia, nhưng ông có óc thực tế, không bàn về tri thức luận, chỉ áp dụng thuyết của Tuân vào chính trị: mà trong phạm vi chính trị, ông cũng chỉ thu hẹp vào việc dùng người gạt bỏ luân lí, đạo đức ra, vì vậy ông không hề nó đến việc chính danh, chỉ nói đến hình danh           ( chũ hán)                    , hoặc danh thực      (chũ hán)        . Sự thật hễ có hình, có thực thì có danh. Danh và hình (hay thực) phải hợp nhau, như vậy là “tuần danh trách thực”         (chữ hán)                   theo cái danh mà đòi, cầu cái thực; “hình danh tham đồng”                  (chữ hán)            hình và danh hợp với nhau; “thẩm hợp hình danh”               (chữ hán)             xét xem hình với danh có hợp nhau không.
 
        Ví dụ một ông bạn hứa sẽ tới thăm ta, lời hứa đó là “danh”, mà việc ông ấy tới thăm là “hình” hay “thực”; nếu ông ấy giữ lời hứa, tới thăm thật thì “danh” và “hình” hợp nhau; “danh” và “thực” hợ nhau; nếu không thì chỉ có danh mà không có hình, không có thực.
 
 
Chú thích:
 
(1), (2)  Coi thêm Đại cương triết học Trung Quốc - quyển thượng thiên II, chương II - Cảo Thơm 1965.
(3) Coi thêm Tuân tử của tác giả - NXB Văn Hoá, 1994.
0
Kết
(trang 332 đến trang 338)

 
Ái quốc, ưu thời mẫn thế, có óc thực tế, được sinh vào cuối thời Chiến Quốc, được biết tất cả các giải pháp cứu thế của người trước, Hàn Phi đã có công suy nghĩ, so sánh cắt chỗ này, lấy chỗ kia, rút kinh nghiệm để lập một học thuyết gần như là một tổng kết các tư tưởng chính trị thời Tiên Tần.
 
Ông đá Nho mạnh nhất vì Nho là một “hiển học” đương thời, cho chính sách giáo hoá bằng nhân nghĩa, chủ trương “hữu trị nhân vô trị pháp”,  người hiền còn sống thì chính sự còn, người hiền mất thì chính sự bỏ (1) của họ, là không hợp thời, làm loạn nước; nhưng sự “tôn quân” của Nho gia thì ông chẳng những vẫn giữ mà còn cho là rất quan trọng, căn bản nữa. Riêng đối với Tuân Tử, ông không trực tiếp chê, nhưng cũng không khen, mặc dầu ông mượn thuyết tính ác, chủ trương cấm tranh biện, “pháp hậu vương” của Tuân.
 
Ông rất ghét bọn hiệp sĩ làm loạn pháp và bọn nguỵ biện trong phái Mặc gia thời ông, nhưng theo thuyết trọng “công dụng” và công lợi của Mặc Địch, mặc dù không cùng một quan niệm về lợi; lợi theo ông là lợi cho quốc gia, còn lợi theo Mặc Địch là lợi cho mọi người, cho khắp thiên hạ.
 
Đối với danh gia, ông mượn thuyết “hình danh” (danh thực của họ) và áp dụng nó trong thuật dùng người, nhưng phản đối thói nguỵ biện của họ.
 
Ông cho thái độ ẩn dật, “li chúng độc hành” (tách khỏi quần chúng mà đi một mình), “độc thiện kỳ thân” (giữ riêng tư cách, đạo đức của mình) của Đạo gia (và của Mạnh Tử nữa) là có hại cho nước; nhưng ông mượn chủ trương “tuyệt thánh khí trí” (không dùng bậc thánh hiền, bỏ trí xảo) để thuyết minh chính sách “nhiệm pháp nhi bất nhiệm hiền”, “nhiệm pháp nhi bất nhiệm trí” (dùng pháp luật chứ không dùng người hiền, dùng pháp luật chứ không dùng trí tuệ) của ông, hậu quả là chủ trương vô ví của ông hoá ra cực hữu vị, trái ngược hẳn với bản ý của Lão, Trang.
 
Còn Âm dương gia và Tung hoành gia thì bị ông khinh rẻ.
 
Rốt cuộc chỉ còn có Pháp gia - đặc biệt là Thận Đáo, Thân Bất Hại và Thương Ưởng – là được ông gần như hoàn toàn tán đồng. Ông tập đại thành học thuyết của họ và của Tuân Tử, điều chỉnh, bổ túc, khai triển, dựng được một lịch sử quan tiến bộ, một xã hội quan thiên lệch nhưng độc đáo, nhất là đưa ra một chính sách trị dân lập trên ba chân vạc: thế, pháp, thuật, làm cho lí thuyết về pháp luật được hoàn chỉnh và phương pháp dùng người được hữu hiệu. Đó là những cống hiến đáng kể trong học thuyết của ông thời Chiến Quốc.
 
Để cứu vãn một xã hội loạn lạc, chia rẽ, suy nhược, học thuyết của Hàn có lợi hiển nhiên; nhưng khi xã hội đã bình trị rồi, thì nó không cần thiết nữa mà còn có hại vì có nhiều khuyết điểm; dùng uy quá nhiều, không hợp tình, coi con người như loài vật; quá trọng nông nghiệp và võ bị, ghìm công và thương, mà không một nước nào chỉ trông cậy vào nông nghiệp, võ bị mà giàu có, văn minh được; nhất là bỏ cả đạo đức, lễ nhạc, giáo dục, chỉ cho dân học luật pháp. Phải trong sự thực khách quan và trong thời loạn thì pháp luật phải nghiêm; thực tiền có thể là cực chân lí nhưng chỉ nghĩ đến cái lợi ngắn hạn, mà quên cái lợi dài hạn thì chưa chắc đã phải là thực tiễn.
 
Chúng tôi không biết Lí Tư và Tần Thuỷ Hoàng đã áp dụng học thuyết của Hàn Phi tới mức nào trong việc thống nhất Trung Quốc, cũng không biết Hàn Phi chịu trách nhiệm tới mức nào trong sự suy sụp qua mau của nhà Tần; nhưng cả Lục Giả lẫn Giả Nghị ở đầu đời Hán đều cho rằng Tần mất thiên hạ vì quá trọng hình pháp, quá bạo ngược với dân, không biết rằng không thể dùng chính sách lấy thiên hạ để trị thiên hạ được. Đời sau – Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh – khôn hơn, đã dung hoà nhân trị của Khổng và pháp trị của Hàn, dùng chính sách chuyên chế, cực tôn quân của Hàn mà cũng dùng Tứ thư và Ngũ kinh để dạy dân, một mặt bắt dân phải tận trung với vua nhưng một mặt cũng nhận rằng vua phải được lòng dân theo ý dân, yêu dân.
 
Người đầu tiên chê Hàn Phi có lẽ là Lưu An (Hoài Nam vương). Lưu bảo Hàn không biết trọng cái gốc của việc trị nước, tức nhân nghĩa mà chỉ vụ cái ngọn, tức hình pháp.
 
Các nhà Nho thời sau phần nhiều đều theo luận điệu đó, như: “giáo hoá không đủ mà dùng hình pháp thì dư” (Tô Thức); “Tần, Hàn được yên một thời mà cái hại thì lâu dài” (Tô Triệt)…; nhưng cũng có nhà công bình hơn, vừa khen vừa chê.
 
Tư Mã Thiên bảo: “Hàn Tử… chú trọng tới thực tế (thiết sự tình) phân biệt rõ phải trái, nhưng lòng quá cứng như đá (tuy nhiều mà ít ân)”.
 
Đường Tử Tây cho rằng Khổng Minh khuyên Hậu chủ (con Lưu Bị) đọc Hàn Phi là phải vì Hậu chủ quá khoan hậu, thiếu quyền lực, mưu trí.
 
Chu Hi chỉ khen thuật du thuyết của Hàn (thiên Thuế nan) là cực tinh vi.
 
Phùng Hữu Lan kín đáo bảo Hàn “cũng là một kẻ sĩ tích cực cứu thế” (diệc tích cực cứu thế chỉ sĩ dã). Lời đó gọn mà hàm súc.
 
Muốn tích cực cứu thế thì phải cực đoan; thời càng loạn thì sức phản động phải càng mạnh, phải dùng độc để trị độc, phải mổ nhọt như Hàn đã nói. Cho nên ba nền văn minh lớn của nhân loại: Ấn, Hoa, Âu tới một thời loạn nào đó, đều sản xuất những chính trị gia trọng pháp luật.
 
Ở Ấn, khoảng một thế kỉ trước Hàn Phi, sau cuộc xâm lăng của vua Hi Lạp, Alexandre, dưới triều Chandragupta, có Kautilya, tác giả cuốn Arthasastra; ở Châu Âu, cuối thế kỷ XV, nước Ý bị chia rẽ cũng như Trung Hoa thời Chiến Quốc, có Machiavel, tác giả cuốn Le prince.
 
Đại khái Kautilya cũng coi thường đạo đức, dùng nhiều thuật như Hàn Phi, đối nội thì tổ chức ban mật vụ, đối ngoại thì dùng mưu mô lừa gạt, nhưng ông hơn Hàn ở chỗ còn xét cả về phong tục, về cách tổ chức các cơ quan hành chánh.
 
Machiavel có nhiều điểm giống Hàn hơn nữa: cũng phản cổ, cho rằng tính dân vốn ác: tham lợi, sợ nguy, bạc bẽo; trị dân thì cần làm cho dân sợ uy của mình, mọi việc phải quyết định lấy, phải quỉ quyệt, bất chấp luân lý, trọng vô bị, nhưng ông ta khác Hàn ở điểm trọng thương mại (nước Ý thời đó giàu nhờ thương mại) và biết mua chuộc lòng dân.
 
Cả ba nhà đó đều tách rời chính trị ra khỏi luân lí, nêu ra một số vấn đề cho hậu thế suy nghĩ: làm chính trị có nên dùng “thuật” không, giáo dục có cải hoá được con người không hay phải dùng hình phạt nghiêm khắc; nhà cầm quyền là một hiền triết như Khổng Tử chẳng hạn có lợi cho quốc gia bằng một chính trị gia có óc thực tế như Hàn Phi không? Khó đáp một cách dứt khoát là “không” hay “có” được. Chúng ta có thể nói rằng cho tới nay không có một nhà nào cầm quyền được lâu mà không phải rằng phải trọng ý dân, dù chỉ là trọng ngoài miệng. Và bất kì thời nào, bất kì ở đâu, người ta tuỳ theo lời khuyên của những chính trị gia như Hàn Phi nhưng vẫn trọng những triết gia như Khổng Tử hơn. Hàn chỉ được coi là một kẻ “si” như Phùng Hữu Lan gọi chứ không phải là một bậc hiền. Điều đó cũng dễ hiểu: cần lập một chế độ hợp thời, hữu hiệu, nhưng phải có con người tốt để thực hiện mà chính những nhà như Khổng Tử mới có công đào tạo những con người ấy.
 
0
PHẦN IV
(từ 339 trang đến trang 345 )
 
VĂN NGHỊ LUẬN CỦA HÀN
 
Trong phần II, chúng tôi đã nói tác phẩm Hàn Phi Tử có phần nguỵ tạo của người đời sau như thiên Sơ kiến Tần ý kiến không phải của Hàn Phi; những thiên Giải lão, Dụ lão tư tưởng trái ngược với Pháp gia, không thể do Hàn viết; những thiên Tam thủ, Tâm độ, Nhân chủ…. giọng văn non nớt, rườm rà cũng rất đáng ngờ; nhất là những thiên có vần như Chủ đạo, Dương giác thì càng không thể tin được. Vì vậy để viểt phần này, chúng tôi bỏ qua một bên tất cả những thiên đó, chỉ dùng những thiên mà đa số học giả công nhận là của Hàn. Tóm lại, chúng tôi muốn xét văn nghị luận của Hàn Phi, chứ không xét văn nghị luận trong Hàn Phi Tử.
 
Chúng ta hãy tạm dừng xét văn trong Đạo đức kinh: nó thật đặc biệt, gồm những châm ngôn có những vế đối nhau, cân xứng, có khi có vần nữa, gần giống thể phú cuối đời Chiến Quốc và đầu đời Hán, khiến một số học giả vẫn tự hỏi nó xuất hiện vào đời nào, có thực của Lão Đam không, mà Lão Đam có sống thực không. Tạm gạt tác phẩm đó ra rồi, chúng ta thấy trong khoảng hai thế kỷ, từ thế kỷ V tới thế kỷ III trước T.L., văn của “chu tử”, tức các triết gia Trung Hoa đã tiến bộ gần như liên tục. Mới đầu là bộ Luận ngữ chỉ dùng một thể đơn giản nhất là kí ngôn; môn sinh của Khổng Tử ghi những lời của thầy. Rồi tới các cuốn Trung Dung, Đại học cũng vẫn là kí ngôn thêm những đoạn nghị luận ngăn ngắn. Bộ Mặc tử mở đầu cho thể nghị luận – hay biện luận – nhưng lí luận lắm chỗ ngây thơ và rườm. Bộ Mạnh Tử cũng là kí ngôn như Luận ngữ, đúng ra là ghi những đối thoại giữa Mạnh Tử và một số vua chư hầu hoặc một số học giả đương thời. Trang tử dùng ba lối: kí ngôn, lí luận vắn tắt và ngụ ngôn. Tới Tuân tử mới bỏ hẳn lối kí ngôn mà dùng thể lí luận theo đề tài. Sau cùng là Hàn Phi dùng hết thảy các thể của người trước, cho nên tác giả bộ Trung Quốc văn học sử của viện Đại học Bắc Kinh soạn, do Nhân dân văn học xã ở Bắc Kinh xuất bản năm 1959, khen Hàn là “tập đại thành bút pháp thuyết lí của chư tử thời Tiên Tần” và “văn lí luận đến Hàn Phi đã hoàn toàn thành thục” (quyển 1 trang 93).
 
Trước khi phân tích bút pháp của Hàn, chúng ta nên biết quan niệm của ông về văn nghị luận. Thiên Bát thuyết, ông viết: “Thư ước nhì đẹ tử biện, pháp tính nhi dân mạnh tụng. Thị dĩ thánh nhân chỉ thư tất trứ luận, minh chủ chi pháp tất tưởng sự”.
 
Nghĩa là: sách mà giản ước thì (khó hiểu mà) học trò tranh biện về ý nghĩa trong sách; pháp luật mà tỉnh lược thì dân chúng hay tranh tụng. Vì vậy sách của thánh nhân nghị luận tất rõ ràng, pháp luật của mình chủ ghi việc tất tường tận.
 
Ông chủ trương rằng trình bày một học thuyết cũng như soạn một bột luật, phải thực rõ ràng, khiến cho ai đọc cũng hiểu rõ được, mà tất cả những người đọc đều hiểu như nhau, không thể có hai ba cách giải thích khác nhau được, như vậy để tránh những sự tranh luận, kiện tụng vô ích. Gọn là một đức tốt, nhưng gọn quá đến nỗi hoá ra mập mờ thì phải trách. Chúng tôi nhớ thể kỷ XIX, tiểu thuyết gia Pháp Stendhal đọc đi đọc lại bộ dân luật của Napolêon để tập lối viêté của các nhà thảo luật.
 
Viết là cốt để trình bày tư tưởng, tình cảm của mình, hễ người đọc hiểu là mình đạt được mục đích rồi. Lời không cần tô chuốt. Vì nội dung có tầm thường thì mới phải tô chuốt, mà tô chuốt quá có thể làm cho người đọc quên mất nội dung đi.
 
Đầu tiên Ngoại trừ thuyết tả thượng Hàn Phi chép lại một cố sự lí thú. Vua Sở chê lời của Mặc Tử không văn nhã, tô chuốt, một môn đệ của Mặc Tử bênh vực thầy, kể ra hai việc: con gái Tần Mục Công về làm dâu nước Tấn mà trang sức, không đẹp, sang bằng các nàng hầu, thành thử bọn nước Tấn yêu bọn thiếu nữ đó hơn cô dâu (họ choá mắt vì sự tô chuốt mà coi thường nội dung); một thương nhân nước Sở bán hạt châu cho nước Trịnh, quá trang sức cái hộp, và người nước Trịnh chỉ mua cái hộp và trả lại hạt châu (họ thấy nội dung tầm thường nên không dùng). Rồi môn đệ của Mặc Tử đó kết: “Ngày nay người ta bàn luận đều thích dùng lời khéo léo văn hoa, bậc vua chua thấy cái văn hoa mà quên rằng những lời đó vô dụng. Thuyết của Mặc Tử truyền cho cái đạo của tiên vương, luận lời của thánh nhân để tuyên cáo cho mọi người. Nếu dùng những lời văn hoa tô chuốt thì sợ người ta chỉ nhớ cái văn hoa mà quên cái hữu dụng của học thuyết, như vậy là lấy cái văn hoa làm hại cái hữu dụng (dĩ văn hại dụng), không khác gì việc người nước Sở bán hạt châu, vua Tần gả con gái”.
 
“Dĩ văn hại dụng” là cái tật của rất nhiều người cầm bút trong những thời theo chủ trương duy mĩ. Ít nhất là về điểm đó Hàn Phi không phản đối Khổng Tử. Vì Khổng bảo: “Lợi cốt diễn được ý là đủ rồi” (Từ đạt nhi dĩ hĩ - Vệ Linh công 40).
 
Chúng ta còn nhớ “thực tế’ là tính cách nổi bật nhất của Pháp gia. Đưa ra một lí thuyêté nào, đặt ra một qui chế nào, họ nhằm trước hết sự ích lợi của quốc gia, nếu làm cho quốc gia phú cường là tốt, ngược lại thì dù cao siêu, tốt đẹp đến đâu cũng phải bỏ. Vì vậy họ áp dụng triệt để qui tắc danh phải hợp với thực của Danh gia, nhưng lại ghét bọn nguỵ biện như bọn Công Tôn Long vì những biện luận của bọn đó đều là hư ngôn hết. Hàn Phi chỉ trong có mấy hàng đã cho ta thấy rõ ông khinh họ ra sao:
 
“Nghê Duyệt là người nước Tống, giỏi biện thuyết, đưa ra thuyết “ngựa trắng không phải là ngựa” – Hàn chắc là lầm, thuyết đó là thuyết của Công Tôn Long – các biện sĩ ở Tắc Hạ không ai bác được, nhưng khi ông ta cưỡi ngựa trắng qua khỏi ải thì chịu nộp thuế. Vậy dựa vào lời hư không, có thể thắng được một nước, mà khảo về thực tế, xét về hình trạng thì không thể gạt nổi một người” (Ngoại trừ thuyết tả thượng).
 
Hơn nữa, ngay những thuyết nhân nghĩa của Nho và Mặc, ông cũng chê là không thực tế, không áp dụng được, nói chỉ để chơi thôi. Ông ví những thuyết đó như đất, bùn trẻ con làm bộ dùng làm cơm canh trong khi vui đùa, nhưng tới bữa vẫn về nhà ăn cơm canh của cha mẹ… (Như trên).
 
Vậy biện luận thì phải thiết thực, không được dùng “hư ngôn”, đó cũng là một qui tấc nữa của Hàn Phi.
 
Sau cùng, khi biện luận có khi phải dẫn chứng, không phải tham nghiêm trước đã, nếu có đúng thì mới dùng làm chứng cứ, nếu không thì hoặc là ngu, hoặc là lừa gạt thiên hạ. Hàn Phi diễn ý đó trong đoạn đầu thiên Hiển học mà nhiều sách văn học sử Trung Quốc cho là tiêu biểu cho văn nghị luận của ông. Hàn viết:
 
(…) (1) Khổng Tử và Mặc Tử đều xưng tụng Nghiêu Thuấn mà chủ trương khác nhau và đều tự cho là chân truyền của Nghiêu Thuấn. Nghiêu Thuấn đã không sống lại thì lấy ai là người quyết định được học thuyết nào mới thực là của Nghiêu Thuấn (…)(1)
 
Không tham nghiệm được mà cứ xác định là ngu; không xác định được mà dùng làm chứng cứ thì là lừa gạt người ta. Vậy căn cứ vào các tiên vương mà theo đạo Nghiêu, Thuấn, nếu không phải là ngu cũng là lừa gạt thiên hạ. Cái học ngu và gạt người ấy, hỗn tạp và mâu thuẫn ấy, bậc minh chủ không chấp nhận.
 
(Khổng Tử, Mặc Tử câu đạo Nghiêu Thuấn nhi thủ xả bất đồng, gia tự vi chân Nghiêu Thuấn; Nghiêu Thuấn bất phục sinh, tương thùy sử định Nho Mặc chi thành hồ (…) Vo tham nghiẹm nhi tất chi giả, ngu dã; phất năng tát nhi cứ chi giả, vu dã. Cố minh cứ tiên vương, tất định Nghiêu Thuấn giả, phi ngu tắc vu. Ngu vu chi học, tạp phản chi hành, minh chủ phất thụ dã).
 
“Phi ngu tắc vu” và “ngu vu chi học” đã thành những thành ngữ chúng ta thường gặp trên sách báo Trung Hoa. Lời mạt sát của Hàn Phi xác đáng, gọn

(1) Chúng tôi đã cắt đi nhiều, xin coi toàn văn ở phần dịch


0
(tiếp từ trang 346 đến trang 359)
 
mà mạnh, nhằm vào hầu hết các triết gia thời đó chứ không phải riêng Nho gia, Mặc gia vì cả Đạo gia, Danh gia cung có tật viện Nghiêu Thuấn để chống đỡ học thuyết của họ. Họ đã chụp lên Nghiêu  Thuấn đủ các thứ mũ, phái nào cũng đưa hai ông ấy lên làm ông tổ. (1)
 
Xét chúng thì Hàn Phi luôn luôn theo đúng được ba qui tắc trên: văn ông sáng sủa, lập luận rành mạch (thỉnh thoảng chúng ta gặp những chỗ khó hiểu là do người sau chép sai hoặc thiếu và do có những chữ cổ ngày nay không dùng nữa), cho nên đọc không mệt như Nam Hoa kinh mà cũng không gây những cuộc tranh biện bất tận cho người sau nhu Đạo đức kinh; văn ông lạ bình dị, không tô chuốt (chúng ta có cảm tưởng rằng thời ông người ta nói sao thì ông viết vậy); còn tính cách thiết thực, không hư ngôn, không quái đản, nguỵ biện thì càng hiển nhiên hơn nữa. Độc giả đọc bất kì thiên nào trong phần dịch ở sau, nhất là các thiên Hiển học, Ngũ đố, Thuế nan, Cô phần sẽ nhận thấy rõ, chúng tôi khỏi phải dẫn chứng ở đây thêm rườm.
 
Về qui tắc cuối: phải tham nghiệm, có thấy đúng rồi mới dùng làm chứng cứ, Hàn Phi có hai điểm đáng khen:
 
- Ông hiểu biết rộng, chịu tìm tòi, thu thập rất nhiều cố sự để dẫn chứng: sáu thiên dài Nội trừ thuyết thượng và hạ, Ngoại trừ thuyết tả thượng hạ, Ngoại trừ thuyết hữu thượng và hạ với bốn thiên Nạn, hai thiên Thuyết lâm, đã gồm trên 200 cố sự rồi nếu kể cả những cố sự rải rác trong các thiên khác thì con số chắc tới 300. Nhờ vậy Hàn Phi Tử khác hẳn Tuân Tử, nhiều màu sắc hơn, đọc vui hơn; nó cũng khác hẳn Liệt Tử vì Liệt Tử tuy cũng có mấy trăm cố sự nhưng phần lí thuyết, biện luận gần như thiếu hẳn. Hàn Phi dung hoà được bút pháp của hai nhà đó.
 
- Ông lại có tinh thần phê phán, biết tồn nghi: gặp một cố sự nào có hai thuyết khác nhau, ông ghi cả hai. Trong sáu thiên Nội trừ và Ngoại trừ có cả chục trường hợp tồn nghi như vậy, chúng tôi chỉ xin đan cử một truyện 2d/ Nội trừ thuyết thượng về phép nhà Ân trị tội kẻ đổ tro (2) ra đường nhưng không nói dùng hình phạt nào. Tử Cống cho vậy là nghiêm khắc, hỏi Khổng Tử, Khổng Tử đáp như vậy là biết đạo trị nước, rồi giảng tại sao: “Đổ tro (hoặc than) ra đường, nó bay lên, phủ cả người ta (3), người ta tất nổi giận, rồi ẩu đả nhau, tàn hại nhau nữa, gây loạn nên cần phải trị. Lại phải trị nặng thì mới có công hiệu; chỉ cần làm một việc dễ (không đổ tro ra đường) mà tránh được một tội nặng thì dân sẵn sàng nghe theo.
 
Thuyết thứ nhì nói rõ là nhà Ân chặt tay kẻ đổ tro ra đường. Tử Cống cũng cho là nghiêm khắc quá, nhưng Khổng Tử chỉ đáp vắn tắt:  Không đổ tro là việc dễ, bị chặt tay là điều dân ghét. Làm việc việc dễ để khỏi bị cái mình ghét, cổ nhân cho như vậy là dễ (nghĩa là dân sẵn sàng làm), nên ban hành luật đó”.
 
Chúng ta thấy thuyết sau đáng tin hơn thuyết trước: ghi rõ là chặt tay, như vậy mới hiểu tại sao Tử Cống cho là nghiêm khắc quá; Khổng Tử chỉ giảng lí do nhà Ân ban hành luật đó, chứ không khen là “biết đạo trị nước”. Khổng Tử chủ trương trọng lễ hơn hình, trọng sự giáo hoá hơn sự trừng phạt, tất không nói những lời như trong thuyết thứ nhất. Có lẽ Hàn Phi cảm thấy vậy nên tồn nghi mà ghi thêm thuyết sau (4&shy;)&shy;
 
Tuy nhiên chúng ta phải nhận rằng một số cố sự Hàn đưa ra làm chứng cứ không đáng tin và ông đã không luôn luôn theo đúng qui tắc cuối cùng của ông.
 
Chẳng hạn, trong phần truyện 2- Nội trừ thuyết thượng, chuyện Khổng Tử ra lệnh cho dân nước Lỗ: sai không cứu lửa (ở chằm Tích) thì bị trừng trị như tội hàng giặc hoặc bỏ chạy”, chúng tôi ngờ rằng cũng không hợp với chủ trương của Khổng Tử. Nhất là truyện 1a/ thiên Ngoại trừ thuyết tả hạ, Hàn Phi chép rằng khi Khổng Tử làm tướng quốc nước Vệ, có người ghét ông, tâu với vua Vệ, vu oan cho ông muôn làm phản. Truyện đó sai: Khổng Tử không hề làm tướng quốc nước Vệ; thời đó kẻ làm loạn ở Vệ là Khổng Khôi, trùng họ với Khổng Tử, nên người ta lầm là Khổng Tử.
 
Về Quản Trọng, cũng có vài cố sự chúng tôi vẫn còn ngờ. Truyện 2k/ Nội trừ thuyết thượng gây cho ta một hình tượng đáng tởm về vị tướng quốc của Tề Hoàn Công đó: muốn cho dân Tề bỏ cái tục chôn cất trọng hậu làm tốn vải, tốn gỗ của quốc gai, Quản Trọng hạ lệnh: “Quan quách mà dầy quá mức thì thây người chết sẽ bị chặt mà kẻ chủ tang sẽ bị tội”. Trị tội người chủ tang là điều có lí, chặt thây người chết thì vừa vô lí vừa tàn nhẫn quá, một chính trị gia được Khổng Tử khen là có lòng nhân, dân chúng được hưởng ân đức (Luận ngữ - Hiến vấn - 17); được Tư Mã Thiên ngưỡng mộ vì “dân chúng yêu ghét cái gì thì cũng yêu ghét cái đó”, “mệnh lệnh nào ban xuống cũng thuận lòng dân, như nguồn nước xuôi dòng”, “dân muốn cái gì thì cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cái đó”, biết “phân biệt nặng nhẹ, cẩn thận về việc cân nhắc lợi hại”, một người như vậy lẽ nào lại ra cái lệnh “bất nhân” kia.
 
Mà Quản Trọng cũng không thể có thái độ bỉ ổi như trong truyện 5b/ thiên Ngoại trừ thuyết tả hạ; phàn nàn với Tề Hoàn Công rằng mình nghèo, Hoàn Công cho có đài tam qui; được đài tam qui rồi lại phàn nàn rằng địa vị thấp – làm tướng quốc địa vị còn thấp! – Hoàn Công cũng chiều lòng, đặt ông ta lên trên hai quí tộc Cao và Quốc của Tề; được địa vị đó rồi lại xin được coi là người trong họ nhà vua, vì vậy mà Hoàn Công mới “lập ông làm Trọng phụ” (như hàng cha chú của vua).
 
Truyện xin xỏ, vòi vĩnh đó chắc chắn không có; Quân Tử không chép, Sử kí của Tư Mã Thiên cũng không; Luận ngữ chỉ chép lời Khổng Tử che Quản Trọng xa xỉ vì cất đài tam qui, còn tên gọi là Trọng phụ và sự được tôn trọng hơn hai họ Cao và Quốc là những điều không thể xin được.
 
Hàn Phi giá bỏ hẳn thuyết đó đi, chỉ chép thuyết thứ nhì: “Quản Trọng ra ngoài thì dùng xe bọ màu đỏ, với người hầu mặc áo xanh, về nhà thì cho đánh trống, trước sân bày vạc, trong nhà có đài tam qui” thì hơn, nhưng thuyết này chỉ tỏ rằng Quản Trọng xa xỉ và không biết lễ như Khổng Tử chê thôi chứ không đủ chứng minh rằng Quản Trọng áp bức vua như Hàn Phi nói trong phần kinh.
 
Truyện đó Luận ngữ (Bát dật -22) đã chép rành mạch như sau:
 
“Khổng Tử bảo: “Khí tượng của Quản Trọng nhỏ thay! Có người hỏi: “Quản Trọng là người tiết kiệm không?” Ông đáp: “Quản Trọng có đài tam qui, về việc quan thì không kiêm nhiệm như vậy sao gọi là tiết kiệm được?” (Lại hỏi) “Nhưng Quản Trọng biết lễ chứ? Đáp: Vua chư hầu dựng cái tắc môn (một thứ cửa) trước dinh. Quản Trọng cũng dựng cái tắc môn. Vua chư hầu dùng giá để úp chén (phản điểm) khi dự yến với một vua chư hầu khác, Quản Trọng cũng có ái úp chén. Họ Quản mà biết lễ thì còn ai mà không biết lễ?”.
 
Rõ ràng là Hàn Phi không tra cứu xem cố sự ông dùng để dẫn chứng có đúng không. Nhưng chúng ta cũng nên hiểu cho ông: ông không có đủ sách để tra cứu như chúng ta ngày nay. Thời đó sách còn bằng thẻ tre. Một bộ Luận ngữ khắc lên thẻ tre chắc chứa đầy một cái rương lớn, và những nhà nổi tiếng là có nhiều sách như Huệ Thi đi đâu cũng chở theo năm xe sách thì số sách cũng chỉ được khoảng năm sáu chục bộ như bộ Luận ngữ, không bằng một ngăn trong tủ sách của chúng ta. Rất có thể Hàn Phi không được đọc Luận ngữ, Tuân Tử không được đọc Mạnh Tử, Trang tử không được đọc Đạo đức kinh (5) và ngay cả Huệ Thi cũng không có đủ những bộ mà đời sau gọi là Tứ thư và Ngũ kinh. Không có đủ sách để đọc, cho nên già nửa sự hiểu biết của họ về lịch sử, về các triết thuyết, về đời sống của người trước phải dựa vào truyền thuyết, mà truyền thuyết thì mười phần may lắm đúng sự thực được vài ba. Không có sách để tra cứu, cho nên Hàn Phi dù có muốn tham nghiệm xem có đúng không trước khi dùng một cố sự nào làm chứng cứ cũng không được. Và ta có thể nói rằng họ không hiểu những triết gia sống cách họ một vài trăm năm, ngay cả người đồng thời với họ, bằng chúng ta ngày nay hiểu những người đó. Thiên Thiên hạ trong Trang tử, thiên Phi thập nhị tử trong Tuân Tử, tuy có những nhận xét đáng quí nhưng xét chung thì thiếu sót, thiên lệch, nhất là lời Tư Mã Đàm (cha Tư Mã Thiên) phê bình các triết gia lớn thời Tiên Tần thì càng nông cạn nữa. Vậy ta cũng không nên trách Hàn Phi không hiểu Khổng Tử và Quản Trọng; không ai có thể chỉ nghe những truyền thuyết mà hiểu một triết gia, một chính trị gia được.
 
Văn của Tuân Tử có tổ chức, lời tinh luyện mà dụng ngữ phong phú, có cái giọng nghiêm túc, bình đạm của một bậc thầy, một triết gia thuần tuý truy bàn về chính trị nhưng không chiến đấu cho chủ trương của mình. Văn của Hàn Phi thường thiếu những đức đó.
 
Văn của Mạnh Tử hùng hồn, lôi cuốn, bừng bừng cái nhiệt tâm của một chiến sĩ và tràn trề cái khí hạo nhiên của một đại trượng phu dám mắng thẳng vào mặt các vua chúa đương thời, như khi ông mạt sát vua chư hầu là hiếu chiến “cho đất ăn thịt dân, tội đáng chết” (Li Lâu thượng - 14); là “làm liều, hoang vọng”, ham tiệc tùng, săn bắn làm cho dân phải nhịn ăn, phải hầu hạ, không được nghỉ ngơi (Lương Huệ vương hạ - 4); hoặc khi ông vạch tội Lương Huệ vương là giết dân rồi đổ lỗi cho sự mất mùa: “Vua để cho loài chó, heo ăn hết đồ của dân mà chẳng biết ngăn cấm, trên đường đầy những kẻ chết đói mà không xuất lúa phát chẩn cho dân. Dân chết, vua nói rằng: “Chẳng phải tại ta, tại mất mùa đấy. Như vậy có khác nào đâm chết người ta rồi lại bảo: “Chẳng phải tại ta, tại mũi dao đấy!” (Lương Huệ vương thượng - 3), nhất là khi ông buộc tội Lương Huệ vương là đã khiến cho loài thú ăn thịt dân vì trong bếp nhà vua có thịt béo, trong tàu có ngựa mập mà dân không có gì ăn, trong đồng la liệt kẻ chết đói (Lương Huệ vương thượng  - 4).
 
Trong bộ Mạnh Tử có tới non một chục chỗ giọng gay gắt như vậy; Hàn Phi không có khí phách đó vì ông chủ trương tôn quân triệt để, vua dù bất lực; có lỗi. bề tôi cũng không được phê phán, cho nên trong tác phẩm của ông, chỉ có mỗi một chỗ ông nặng lời với vua, tức đoạn cuối thiên Nạn ngôn:
 
“… Tuy là hiền thánh thì cũng không thoát chết, không tránh khỏi bị lăng nhục. Tại sao vậy? Tại khó thuyết phục được kẻ ngu (tức bọn vua hôn âm). Lời nói phải thì trái tai, phật ý, không phải là hiền nhân, thánh nhân thì không chấp nhận được”. Nhưng đoạn đó lại bị một số học giả ngờ rằng không phải của Hàn Phi mà của người sau nguỵ tạo, vì nó trái hẳn với giọng các thiên khác.
 
Kém hùng hồn, kém cái khí hạo nhiên, nhưng văn Hàn Phi bi đát hơn. Khi cực kì chán nản, Mạnh Tử chỉ chua xót thở dài:
 
“Có người hồi nhỏ học đạo (trị quốc) của thánh hiền, lớn lên, mong thi hành sở học của mình, nhưng nhà vua (Tề Tuyên vương) lại bảo: “Khoan, hãy để qua một bên sở học của ngươi mà làm theo ý ta đã”. Như vậy mới làm sao! Nay nhà vua có một hạt ngọc chưa mài, dù đáng một vạn dật thì cũng giao cho thợ ngọc giũa mài. Đến việc trị quốc thì nhà vua lại bảo: “Khoan, hãy để qua một bên sở học của ngươi mà làm theo ý ta đã” Sao hành động khác thì giao ngọc cho thợ giũa mài?” (Lương Huệ vương hạ - 9).
 
Hàn Phi khi nào tuỵêt vọng thì nghĩ tới chết, tự ví mìh với Ngô Khởi và Thương Ưởng, một kẻ bị chặt chân tay, một kẻ bị xé thây.
 
Trong thiên Cô phần, sau khi xét cái lẽ không đội trời chung giữa bọn trọng nhân (tức bọn quí tộc cầm quyền mà bảo thủ), và bọn sĩ giỏi pháp thuật như ông, sau khi nhận rằng bọn sĩ giỏi pháp thuật có năm cái thế phải thua bọn trọng nhân, mà không có một thế nào thẳng nổi, Hàn Phi kết luận:
 
“Thế đã không thắng được mà lại không sống chung được, tất có kẻ mất người còn, thì kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao khỏi bị nguy? Bọn trọng nhân nếu có thể vu tội lỗi cho ai thì sẽ dùng phép công mà giết người đó, không vu được thì sai người ám sát”. Tóm lại là hạng sĩ nhiệt tâm cứu quốc như ông, dám cải cách, thì nếu không bị bọn cầm  quyền dùng phép công mà giết, cũng sẽ bị chúng sai người ám hại.
 
Cuối chương Hoà thị ông kể hai trường hợp để dẫn chứng:
 
“Sở không dùng Ngô Khởi mà bị mất đất và loạn, Tần thì hành pháp của Thương quân mà phú cường. Lời hai ông ấy đều đúng mà Ngô Khởi bị chặt chân tay, Thương quân bị xé thây là tại sao? Tại bọn đại thần oán pháp thuật mà dân chúng ghét sự cai trị”.
 
Hàn chủ trương không tô chuốt lời văn, nhưng một số thiên ông viết kĩ đáng làm mẫu mực cho thời sau, như các thiên Hiền bạc, Ngũ đố, Cô phần (coi phần dịch) nhất là thiên Thuế nạn mà từ Tư Mã Thiên đến nay ai cũng nhận là bất hủ, bộ Cổ văn nào cũng trích dẫn.
 
Bố cục minh bạch: có mở có kết, mở thì đột ngột, vào thẳng ngay vấn đề, kết thì gọn mạch, đập vào óc ta, khiến ta khong quên được. Phần giữa (khai triển) gồm đủ cả lí thuyết: (những điều nên tránh và những điều nên theo khi thuyết phục các vua chúa) và chứng cứ (cố sự về Y Doãn, Bách Lý Hề, Quan Kì Tư, Nhiễu Triều, Di Tử Hà, và người nước Tống bị trộm).
 
Ông phân tích thuật du thuyết thực đầy đủ, đời sau không ai hơn, mà tâm lí sâu sắc, như khi ông bảo:
 
“Bậc quí nhân được người ta bày cho một mưu kế mà thích, coi đó là công (sáng kiến) của mình, kẻ du thuyết biết rõ đầu đuôi thì thân sẽ nguy”.
 
hoặc:
 
“Bọn quí nhân muốn khoe trí thì nên kể cho họ nghe nhiều việc khác đồng loại với việc họ định làm để họ tham khảo được rộng, khiến cho họ dùng kiến nghị của ta mà ta cứ giả đò như không biêté, để họ không ngờ rằng mình đã mở trí cho họ”.
 
Các tâm lí gia ngày nay cũng khuyên ta như vậy.
 
Giọng của ông lúc thì thành khẩn, như khi ông chỉ ước ao được “làm tên đầu bếp (như Y Doãn), hay kẻ tôi mọi” (như Bách Lí Hề) miễn là được vua chúa nghe lời mình, dùng mưu mình để cứu đời; lúc thì dí dỏm một cách hơi ngạo đời, như hai câu kết!
 
“Rồng là một con vật thần, có thể lấn lờn mà cưỡi, nhưng dưới họng nó có những vây ngược, chu vi rộng cả thước, ai mà đụng tới thì nó sẽ giết. Bọn vua chúa có những vẩy ngược, kẻ du thuyết mà biết đừng đụng tới thì là tạm được rồi vậy”.
 
(Phù long chi vi trùng dã nhu, khả hiệp nhi kị dã; nhiên kì hầu hạ hữu nghịch lân kích xích, nhược nhân hữu anh chi giả, tắc tất sát nhân. Nhân chủ diệc hữu nghịch lân, thuế giả năng vô anh nhân chủ chi nghịch lân, tắc cơ hĩ).
 
Vị vua chúa với con rồng, vừa hợp vừa đúng với tục Trung Hoa. Đọc Chiến Quốc sách chúng ta thấy biết boa vua chúa bị bọn biện sĩ như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy, Thái Trạch “lấn lờn mà cưỡi” Hàn Phi đã khéo léo, không ví họ với loài nào khác mà ví với con rồng, cũng là hiểu tâm lí họ nữa. Tần Thuỷ Hoàn đọc tới hai câu đó chắc chỉ mỉm cười chứ không trách Hàn vào đâu được, chưa biết chừng còn thích Hàn vì Hàn biết sợ những “vẩy ngược” của mình.
 
Chúng ta đã thấy nghệ thuật trình bày tư tưởng, học thuyết của Hàn trong thiên Thuế nan. Trong các thiên khác như Hiển học, Ngũ đố, Nạn thế, Định pháp v.v… ông vừa trình bày học thuyết của ông vừa đả kích tư tưởng của người khác. Riêng về việc bác bỏ lời ở nhân, ông viết tới bốn thiên: Nạn nhất, nhị, tam, tứ và chính trong bốn thiên đó, lí luận của ông xác đáng, sắc bén, đanh thép nhất, hơn Mạnh Tử nhiều. Ông phân tích kĩ một cố sự hoặc lời lẽ của một người, đả kích cả mọi mặt, không còn để lọt một sơ hở nào khiến cho chúng ta khó có thẻ nói thêm được nữa.
 
Thí dụ bài 1 trong Nạn nhất. Cố sự như sau:
 
Tấn Văn Công sắp khai chiến với Sở, quân Sở đông mà quân Tấn ít, ngại khó thắng, nên hỏi ý kiến của hai người:
 
Cậu Phạm (Tức Hồ Yển) và Ưng Quí. Cậu Phạm đáp: ”Thần nghe nói người quân tử trọng lễ thì cực lực giữ sự trung tín, nhưng lúc chiến tranh thì không ngại trá nguỵ, nhà vua cứ dùng mưu mô mà lừa gạt“.
 



(1)   Dân tộc Trung Hoa không thích bàn về siêu hình (như dân tộc Ấn Độ), cho nó là bất khả tri, nên các triết gia của họ, bắt đầu từ Nho gia, phải đưa vào lịch sử, tái tạo một thời đại lí tưởng – thời Nghiêu Thuấn – làm căn bản cho tư tưởng chính trình, coi Nghiêu Thuấn là những bậc thánh. Nhưng Thánh của họ không phải là thánh (Saint) của phương Tay mà đại khái chỉ là những chính trị gia minh triết.
(2)   Theo Trần Khải Thiên thì là than chưa vạc.
(3)   Theo Trần Khải Thiên thì là làm bỏng chân người ta.
(4)   Vương Ứng Lân đã thiếu đức chính trực, bỏ thuyết sau đi mà chỉ căn cứ vào thuyết trên mà mắng Hàn Phi là đem pháp trị dân của Thương Ưởng gán cho nàh Ân và vu cái Khổng Tử đã khen “đạo trị nước đó” (Trần Khải Thiên dẫn trong Hàn Phi tử hiệu thích – trang 1025).
Nhưng Vương có lí khi trách Hàn không tra cứu kĩ: chép trị tội kẻ đổ tro đó không phải của nhà Ân mà của Thương Ưởng.
(5)   Điểm này tác giả đã xét trong bộ Trang Tử, NXB Văn Hoá; nên nghĩ vậy vì trong Nội thiên (phần chắc chắn của Trang Tử viết) không thấy dẫn một câu nào trong Đạo đức kinh cả (BT).
 
 
0

Đánh máy: caufale
 
Phần 29
Trang 472
THIÊN IX
 
BÁT GIAN
 
(TÁM THUẬT THÀNH GIAN THẦN)
 
 
Bề tôi thành gian thần là do tám thuật.
Thuật thứ nhất là "(do kẻ) chung giường". Thế nào là chung giường? Đáp : Phu nhân (vợ vua chúa chư hầu) được quí, cung nhân được yêu (1) sủng thần đẹp trai (2), đó là những người dễ làm mê hoạc vua chúa. Họ nhân lúc chúa nhân vui vẻ, hoặc lúc chúa no say mà xin điều họ muốn, chúa tất nghe. Bề tôi bên trong dùng vàng ngọc hối lộ họ đề họ làm mê hoặc chúa, như vậy là [dùng thuật do kẻ] chung giường.
Thuật thứ nhì là (do kẻ) ở bên. Thế nào là kẻ ở bên? Đáp : Bọn hề, kép hát, bọn lùn làm cho chúa cười, bọn tả hữu thân cận, chúa chưa ra lệnh họ đã dạ dạ, chưa sai bảo họ đã vâng vâng, đoán được ý chúa mà làm trước, dò nét mặt, sắc diện mà biết trước được long chúa, họ cùng tiến cùng thoái, cùng ứng cùng đối, nói năng hành động như nhau để làm thay đổi long chúa. Bề tôi bên trong thì vàng ngọc, châu báu hối lộ họ, bên ngoài thì vì họ làm điều trái phép để họ lần lần thay đổi tính của chúa, như vậy là [dùng thuật do kẻ] ở bên.

(1) Nguyên văn là nhụ tử. Có ba nghĩa : con còn nhỏ, vợ bé, thiếu nữa đẹp. ở đây, trỏ những cung nhân đẹp.

(2) Như Di Tử Hà được vua Vệ yêu vì đẹp trai. Coi thiên Thuế nan



Trang 473

Thuật thứ ba là (do bậc) cha anh. Thế nào là cha anh? Đáp : Các người trong tôn thất vào hàng cha anh của chúa (1) là người được chúa thương yêu, quan lớn nhỏ ở triều đình, là những người cùng mưu tính việc nước với vua. Nếu họ tận lực thuyết phục (nói riết) thì chúa tất nghe. Bề tôi dùng âm nhạc nữ sắc cung phụng cho các người trong tôn thất, dùng lời khéo léo thu phục các quan lớn quan nhỏ, ước với họ về một việc (tâu với chúa), nếu việc thành thì thăng tước, tăng lộc để khuyến khích họ, như vậy là (dùng thuật do bậc) cha anh.
Thuật thứ tư là nuôi tai ương. Thế nào là nuô tai ương? Đáp : Chúa thích có cung thất, đài và ao đẹp, thích gái đẹp, thích có chó ngựa tốt để giải buồn, đó là những tai ương của họ. Bề tôi dùng hết sức dên để xây cất, sửa sang cung thất, đài, ao cho đẹp, đánh thuế nặng để có gái đẹp, chó ngựa tốt làm cho vua vui và tâm trí háo mê loạn; làm thỏa lòng muốn của chúa để nhân đó mưa lợi riêng cho mình, như vậy là thuật nuôi tai ương.
Thuật thứ năm là do nhân dân. Thế nào là do nhân dân? Đáp : bề tôi làm hao tán của công để được long nhân dân, thi hành những ân huệ nhỏ để thu phục trăm họ, khiến cho triều đình, thành thị ai cũng khen mình, chúa bị che mắt, mà ước vọng cùa mình đạt được, như vậy là dùng thuật do nhân dân.
Thuật thứ sáu là ăn nói lưu loát. Thế nào là ăn nói lưu loát? Đáp : Chúa vốn ở thâm cung, bị bế tắc và ngôn đàm, ít được nghe nghị luận, nên dễ bị thuyết phục. Bề tôi tìm

(1) Nguyên văn: trắc thất công tử, có sách giảng là con vợ nhỏ.


Trang 474

Hạng biện sĩ trong các nước chư hầu, nuôi những kẻ nói giỏi trong nước, dùng họ để tuyết vẽ những việc riêng của mình, bằng những lời văn vẻ khéo léo, lưc loát, khi thì vạch cho chúa thấy cái lợi thế, khi thì đem tài hoar a dọa chúa, bày đặt ra để phá hoại chúa, như vậy là dùng thuật ăn nói lưu loát.

Thuật thứ bảy là dùng uy quyền và sức mạnh. Thế nào là dùng u quyền và sức mạnh? Đáp : Uy quyền và sức mạnh của vua chúa là do quần thần và trăm họ. Cái gì quân thần và trăm họ cho là tốt thì vua cho là tốt, cái gì quần thần và trăm họ cho là không tốt thì vua cho là không tốt. Bề tôi tụ tập kẻ đeo gươm (tức bọn hiệp khách) nuôi hạng cảm tử để tỏ cái uy của mình, khiến cho bọn này thấy theo họ thì tất có lợi, không theo họ thì tất chết; do đó họ làm cho quần thần và trăm họ phải sợ họ mà đạt được mục đích riêng, nhưg vậy là dùng quyên uy và sức mạnh.
Thuật thứ tám là do bốn phương. Thế nào là do bốn phương? Đáp : Làm cho vua một nước; hể nước nhỏ thì phải thờ nước lớn, bình lực yếu thì phải sợ binh lực mạnh. Nước lớn yêu sách điều gì, nước nhỏ tất phải nghe; binh mạnh tấn công thì binh yếu tất phải hàng phục. Bề tôi đánh thuế nặng, dốc hết kho lẫm làm cho nước rỗng không để đem thờ nước lớn, rồi mượn uy nước lớn dụ dỗ vua mình; nặng thì xin nước lớn đem binh mạnh tụ họp ở biên giới để uy hiếp vua nước mình, nhẹ thì xin nước lớn sai người đi sứ làm chấn động vua mình, khiến vua sợ hãi, nhu vậy là thuật do bốn phương.


Trang 475

Do tám thuật đó mà bề tôi thành gian, vua chúa bị che mắt, hiếp đáp, mất quyền thế, cho nên bậc vua chúa lưu ý tới.
*
Bậc minh quân:
- đối với các phi tần cung nữ, vui hưởng sắc đẹp của họ mà không làm theo lời họ xin, không cho họ xin riêng cái gì cả;
- đối với kẻ tả hữu thì khi sai khiến họ, thì phải xét cách hành động của họ có hợp với lời nói của họ không, không cho họ nhiều lời, ngoài nhiêm vụ của họ mà cũng nói;
- đối với bậc cha anh, đại thần, dùng lời họ nhưng sau thấy lời không thích đáng (việc không thành) thì phạt, không để họ tự làm bậy;
- về các cung đài, châu báu, tất phải biết ở đâu ra, không để cho bề tôi tự ý dâng hay lấy đi, mà do đó họ chiếm được sở thích của mỉnh;

- về việc thi ân đức thì lấy tiền bạc trong kho (1), phát hóa trong lẫm để làm lợi cho dân tất phải có lệnh của vua, bề tôi không được thi ân riêng;
- về các lời thuyết nghi, nếu có ai được khen là tốt, bị chê là xấu thì phải xét xem người đó thực có tài năng, tội lỗi không, chứ không để cho quần thần tang bốc, chê bai lẫn nhau;

(1) Nguyên văn là cấm tài : tiền của cấm, tức tiền bạc của vua, của quốc gia. Cái gì riêng của vua thì thường gọi là cấm, như cấm thành, cấm uyển.
 

Trang 476

- đối với dũng sĩ, nếu có quân công thì không quên thưởng cho xứng đáng, rồi còn kẻ cậy sức mà gây lộn trong làng thì không tha tội, khổng để cho quân thần mưu tính chuyện riêng;
- về các yêu sách của chư hầu,nếu hợp pháp thì nghe không thì cự tuyệt. Ông vua mất nước không phải là ông vua không còn quốc gia, tuy còn đấy, nhưng không nắm được nó nữa (thì cũng là mất). Cho bề tôi dựa vào nước ngoài, áp chế nước mình, như vậy vua tất suy vong. Nếu nghe lời nước lớn để cứu vãn nước mình thì còn mau suy vong hơn là không nghe họ. Cho nên không nên nghe. Bề tôi biết vua không nghe lời nước lớn thì sẽ không kết nạp chư hầu ở ngoài; chư hầu biết vua không nghe lời mình thì sẽ không kết nạp bọn bề tôi vu cáo vua.
*
Bậc minh chủ, lập ra quan chức, tước lộc để tiến dụng người tài, khuyến khích kẻ có công. Cho nên bảo : "hễ hiền tài thỉ được có bổng lọc dồi dào, làm chức lớn; có công thì được tước cao, được trọng thưởng”. Họ ước lượng tài năng cùa người giỏi rồi mới bổ nhiệm, bạn lộc cho xứng với công, vì vậy mà người giỏi không mạo nhận những tài năng mình không có để thờ vua, người có công vui vẻ lập công thêm nữa, do đó mà mọi việc thành công. Nay thì không vậy. Vua chúa không phân biệt người giỏi người dở, chẳng kể bề tôi có công lao hay không, dùng những kẻ dựa vào uy

(1) Nguyên văn ghi chép là bất thính, có sách giảng là không nghe lời bề tôi.
 

Trang 477

Thế của chư hầu, nghe lời thưa bẩn của kẻ tả hữa. Các bậc cha anh và đại thần xin vua tước lộc để bán cho kẻ dưới mà thu tiền rồi lập bè đảng riêng. Vì vậy, kẻ có nhiều tiền thì mua quan chức để được sang, kẻ kết giao với bọn tả hữu của vua thì xin xỏ để gây quyền thế. Vua không biết tới các bề tôi có công lao trong việc thăng quan giáng chức lại lầm lẫn, bất công; kết quả là quan lại coi nhẹ chức trách sẽ giao thiệp với nước ngoài, bỏ bê công việc mà lo lúm tiến; người giỏi sinh ra biếng nhác, không gằng sức, kẻ có công chán ngán mà làm quấy quá cho xong. Cái thói cua nước suy vong như vậy.

Trang 478
THIÊN XIV
GIAN KIẾP THÍ THẦN (Trích)
BỀ TÔI DÙNG MƯU GIAN ĐỂ HIẾP VÀ GIẾT VUA
Ý nghĩa trong thiên này là phải dùng pháp luật, nghiêm hình để trị gian thần, chứ nếu dùng cái "ngu học" của Nho gia thì sẽ mất nước. Nội dung cũng giống các thiên Ngũ đố, Hiến học, Bát gian. Có một đoạn ở giữa kể cái nguy của bọn sĩ dùng pháp thuật mà bị ghét và gièm pha, không liên lạc gì đến các đoạn trên và dưới; nên các học giả ngờ rằng ở thiên XIII Hòa thị sắp lộn vào đây.

Chúng tôi chỉ trích một đoạn 3 Hán Phi đả Nho học và nửa đoạn 5 mạt sát chính sách dùng nhân nghĩa để trị dân.
*
Các học giả ngu trên đời đều ko hiểu tình hình trị loạn, cứ lam nham tụng hoài các sách cổ, làm loạn sự cai trị hiện thời; trí lực của họ không đủ để tránh cái hố bẫy mà lại chê bậy các thuật sĩ (kẻ sĩ dùng pháp thuật) nghe lời họ thì nguy, dùng kế họ thì loạn, ngu tới vậy là cùng cực mà lại hại cùng tột bực. Họ với các thuật sĩ đều mang cái danh là biện sĩ, nhưng thực thì cách khác nhau cả ngàn vạn (dặm). Danh là một mà thực thì khác. Hạng người theo cái
 

Trang 479

Học ngu trên đời đó so với các thuật sĩ cũng như tổ kiến đùn so với gò cao vậy, khác nhau xa lắc. Bậc thánh nhân xem sự thực của sự phải quấy, xét tình hình của sự trị loạn, cho nên trị nước thì mình định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho quần chúng, trừ họa cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già cả được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ con được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết, bị giặc bắt hay cầm tù; đó cũng là cái công cực lớn vậy mà kẻ ngu không biết, cho là tàn bạo.
Kẻ ngu cũng muốn cho được trị đấy nhưng lại chết cái làm cho trị; chúng ghét cái nguy đấy, nhưng cũng thích cái làm chon guy. Làm sao biết được vậy? Hình phạt nghiêm và nặng là cái dân ghét, nhưng nhờ đó mà nước trị; thương xót trăm họ làm nhẹ hình phạt là cái dân thích nhưng vì đó mà nước nguy. Thánh nhân đặt pháp luật cho nước thì tất nghịch với đời mà thuận với đạo đức. Hiểu biết lẽ đó thì cứ theo điều nghĩa (1) không ngại khác thế tục. Trong thiên hạ số người hiểu lẽ đó mà ít thì điều nghĩa bị chê {mà thế tục thắng}.
*
Bọn học giả đời nay thuyết phục các vua chúa, không bảo : “Nên dùng cái thế uy nghiêm để làm không bọn bề tôi gian tà", mà đều bảo : “Chỉ nên dùng nhân nghĩa, huệ ái

(1) Tức điều nên làm, theo quan điểm Pháp gia, khác với điều nghĩa theo quan điểm Nho gia.
 

Trang 480

Mà thôi". Bậc vua chúa đời nay quí cái “danh” là nhân nghĩa mà không xét cái "thực", cho nên (tai họa) lớn thì nước mất, thân chết, nhỏ thì đất bị cướp, vua bị coi hèn. Làm sao biết rõ điều ấy? Thi ân cho kẻ cùng khốn, như vậy đời gọi là nhân nghĩa; thương xót trăm họ, không nỡ trừng phạt, như vậy đời gọi là huệ ái. Nhưng thi ân cho kẻ cùng khốn thì kẻ không có công được thưởng, không nở trừng phạt thì kẻ bạo loạn không ngừng làm bậy. Nước có kẻ không có công lao mà được thưởng thì dân, bên ngoài không lo việc cự định, chém đầu giặc, bên trong không gấp ra sức canh tác, mà đều muốn dùng tiền của, hóa vật thờ kẻ giàu sang, làm việc thiện riêng, gây danh dự để được chức cao, lộc hậu. Vì vậy mà bọn bề tôi gan lo việc riêng càng đông mà bọn bạo loạn càng mạnh. Còn đợi gì nữa mà nước không mất? Hình nghiêm là cái dân sợ, phạt nặng là cái dân ghét, cho nên thánh nhân bày cái dân sợ ra để cấm kẻ tà; lập ra cái dân ghét để phòng kẻ gian, nhờ vậy mà nước yên, bạo loạn không nổi dậy. Tôi xét vậy mà biết rõ rằng nhân nghĩa, huệ ái không dùng được mà nghiêm hình trọng phạt có thể trị nước được. Không có cái uy của cây roi, cái lợi ích của hàm thiếc thì dù là Tháo Phù (1) cũng không trị được ngựa; không có cái qui cái củ để vẽ, dây mực để vạch, thì dù là Vương Nhì (2) cũng không làm được hình tròn hình vuông; không có cái thế uy nghiêm, cái phép thưởng phạt thì dù là Nghiêu, Thuấn cũng không làm cho nước bình trị được. Bậc vua chúa ngày nay đều khinh bỏ trong phạt, nghiêm hình, để làm cho huệ ái.

(1) Một người đánh xe giỏi thời xưa.

(2) Một người thợ giỏi thời xưa.
 

Trang 481

Mà muốn lập sự ngiệp bá vương thì cũng không thể được. Cho nên khéo trị nước thì làm sáng việc thưởng, đặt ra cái lợi để khuyến khích dân, khiến cho dân lập công để được thưởng chứ không mong được vua vì long nhân nghĩa mà ban ơn; đặt ra nghiêm hình, trọng phạt để cấm dân, khiến cho dân hễ có tội thì bị trừng phạt chứ không mong được vua vì long ân huệ mà tha cho. Như vậy kẻ không có công lao thì không mong được thưởng mà kẻ có tội thì không mong được tha. Ngồi xe có ngựa tốt thì đường bộ vượt được những hiểm trở trên núi dốc; cưỡi thuyền vững nắm tay chèo tốt thì đường thủy qua được thác ghềnh trên sông; nắm được pháp thuật; thi hành trọng phạt nghiêm minh thi lập được sự ngiệp bá vương. Trị nước mà dụng pháp thuật, thưởng phạt thì như trên bộ có xe chắc ngựa tốt, trên thủy có thuyền nhẹ, chèo tốt, tất phải thành công.
0
Đánh máy: tuyenduong114

Phần 39

THIÊN XLVIII

BÁT KINH (TRÍCH)

(TÁM THUẬT PHẢI THEO)

Tám thuật trong thiên này là: 1. Theo tình người mà lập ra thưởng phạt; 2. Dùng một người không bằng dùng cả nước; 3. Muốn phòng gian thì phải biết rằng cái lợi của vua và của bề tôi khác nhau; 4. Dùng cái thuật “tham ngữ” để xét gian; 5. Phải bí mật không để bề tôi biết mình vui hay giận; 6. Nghe bề tôi đề nghị thì phải xét xem có dùng được không; 7. Bề tôi phải làm cái gì có lợi chung thì mới thưởng, phải phục vụ bề trên thì mới được danh; 8. Bề tôi không được làm những chuyện riêng tư mà có hạ cho cái uy của vua.
Tư tưởng rất hợp với Hàn Phi, nhưng lời văn nhiều chỗ tối, khó hiểu; có thể không phải của Hàn viết, hoặc nếu là của Hàn thì nhiều chỗ mất mát, sai lầm, người sau thêm vào, tự ý sửa chữa.
Chúng tôi chỉ trích dịch những tiết có thể bổ túc chờ các thiên khác.
1. Theo tình người (1) Trị thiên hạ thì phải theo tình người, mà tình người là có ưa có ghét, vì vậy mà sự thưởng phạt có thể dùng được; thưởng phạt có thể dùng được thì có thể ban cấm lệnh ( cái gì không được là, cái gì phải làm); đạo trị thiên hạ như vậy là đủ. Vua nắm quyền để giữ cái thể, cho nên ban lện thì phải thi hành mà hễ cấm là phải ngưng. Quyền là để quyết định sự sống, chết; thế là để thắng quần chúng.
*
Truất giáng hay cất nhắc người dưới mà không theo pháp chế thì quyền lớn; thưởng phạt mà kẻ dưới cũng được dự vào thì uy của vua bị chia xẻ. Bởi vậy bậc minh chủ không vì thương yêu mà nghe người, không vì vui thích mà tính việc. Nghe lời người mà không tham khảo đúng không thì quyền sẽ bị chia cho kẻ gian; không dùng trí thuật thì bị khôn vì bề tôi. Cho nên bậc minh chủ thi hành pháp chế thì (không thiên vị) như trời, đông người thì (kín nhẹm) như quí. Như trời thì không bị chê, như qui thì không bị người ta dò biết mà lợi dụng quyền thế giữ được thì sự giáo hóa nghiêm mà dân không dám trái; sự khen chê theo đúng một nguyên tắc thì không ai dị nghị (…)
2. Đạo làm chúa: Sức một người không địch nổi đám đông, trí một người không biết được mọi vật; dùng một người không bằng dùng cả nước. Cho nê dùng trí, lực một người (tức vua) mà địch với mọi người, mọi vật thì tất thua; dự đoán mà đúng thì mệt thân, không đúng thì phải chịu ( hậu quá của) lỗi lầm. Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết sức của người, bậc vua chúa cao hơn cả dùng hết trí của người. Bởi vậy, khi có việc, vua tập hợp các người trí, nghe ý kiến từng người rồi hợp các ý kiến lại mà quyết đoán. Không nghe ý kiến của từng người, (mà chỉ mưu tính với một người thôi) thì lời sau sẽ ngược lại với lời trước(?), lời sau ngược lại với lời trước thì không phân biệt được kẻ ngu người trí. Không tập hợp được các ý kiến lại thì sẽ do dự, không quyết đoán được: Không quyết đoán được thì công việc ngưng trễ. Nghe ý kiến của từng người thì không bị người ta đánh bẫy (lập kế để hại mình). Bảo mỗi người báo cáo, báo cáo xong rồi thì vua rầy mắng (kẻ gian). Cho nên ngày trình bày ý kiến tất phải ghi chép (trong biên bản). Kết hợp ác người trí rỗi, khi việc phát ra thì trắc nghiệm lời nói của họ; kết hợp ác tài năng rồi, khi việc đã thành, sẽ luận công mà thưởng. Thành hay bại đều có bằng chứng, thưởng hay phạt đều tùy theo đó. Như vậy việc mà thành, thì công về vua, việc mà bại thì tội về bề tôi.
Bậc làm vua, ngay đến việc phù tiết có hợp không cũng không tự mình xem xét huống hồ là tự mình ra sức; Việc tới rồi cũng không tự minh lo lấy, huống hồ là việc chưa tới. cho nên vua dùng người thì không cho lập phe đảng mà cùng ý kiến với nhau, nếu cùng một ý với nhau thì phải rầy họ. Khiến cho người nào cũng dùng hết tài trí        thì vua như thần, vua như thần thì kẻ dưới tận lực thì bề tôi không lợi dụng vua được; đạo làm vua như vậy là hoàn tất.
3. Loạn do đâu mà dấy: Kẻ biết rằng bề tôi và vua có cái lợi khác nhau thì là bậc vương, kẻ cho rằng hai bên lợi giống nhau thì bị hiếp; kẻ cho bề tôi cùng dự vào việc thưởng phạt với mình thì bị giết. Cho nên bậc minh chủ phân biệt rõ công với tư, lợi và hại ở đâu mà kẻ gian không có chỗ len vào được.
Loạn sở dĩ sinh là do sáu hạng người này: 1. mẹ vua, 2. hậu phi, 3. con cháu, 4. anh em, 5. đại thần, 6. người nổi danh là hiền. Cứ theo pháp luật mà bổ nhiệm quan lại, giao trách nhiệm cho bề tôi thì mẹ vua không thể phóng túng. Nghi lễ và thứ bậc khác nhau thì hoàng hậu và phi tần phân biệt hẳn, (không có sự tranh giành). Thế không chia cho đích tử và thứ tử (nghĩa là chỉ đích tử mới có quyền thế) thì dòng đích và dòng thứ không tranh nhau, quyền thế không mất, (nghĩa là tập trung cả vào vua) thì anh em vua không lấn vua. Kẻ dưới không theo về một của đại thần thì đại thần không che lấp vua được. Lệnh cấm và thưởng mà nhất định thi hành thì người nổi danh là hiền không làm loạn được (…)
Đối với người địa vị cao, trách nhiệm lớn thì có 3 cách để kiềm chế: con tin, an định, nắm chắc. Thân thích, vợ con họ là con tin; tước lộc hậu hĩ. Đúng như lời đã hứa là để an định họ; dùng nhiều cách để khảo sát ý kiến và định gian hay ngay của bề tôi, xét trách nhiệm và trừng phạt, là để nắm chắc họ. Đối với người hiền thì tìm cách chặn họ bằng cách giữ con tin, đối với kẻ tham lam thì cảm hóa bằng cách an định, đối với kẻ gian tà thì làm cho họ khốn cùng bằng cáh nắm chắc (…). Có kẻ để cho sống thì việc nước mà giết đi thì tổn thương danh tiếng của vua, nên dùng thức ăn uống mà trừ họ, hoặc giao cho kẻ thù của họ (giết hộ) như vậy là trừ gian một cách kín đáo (….) Cha anh người hiền lương mà lưu vong ở nước ngoài là “cái họa trôi nổi”, mối họa là họ mượn sức người nước ngòa ( để chống mình); Cho những kẻ bị mình làm nhục được hầu cận mình, là cái họa giặc ở bên cạnh, mối họa ở chỗ họ sinh lòng oán hận vì bị nghi hay bị nhục; vua mà không để lộ ra, ghét mà không trừng trị ngay, là làm “tăng thêm loạn”, mối họa ở chỗ bọn cầu may vọng động nổi lên ( dunugf kẻ mình ghét đó để cướp ngôi của mình); có hai đại     quyền uy như nhau, không bên nào hơn bên nào, gọi là “nuôi hoa”, mối họa ở chỗ các gia tộc lớn tranh cướp, giết chóc mà sinh loạn, không cẩn thận, không giữ cái thể uy nghiêm như thần của mình, gọi là “mất oai”, mối lo ở chỗ có             , mình bị đầu độc. Năm mối họa đó, bậc vua chúa mà không biết thì sẽ bị hiếp hay bị giết (…)
*
4. Lập đạo: (…) Khảo sát việc đã qua để biết rõ (lời     trước kia) có đúng không; đặt bề tôi ở gần mình để xét cái tình của họ, đưa họ ra xa để xét tình hình ở ngoài của họ, dùng những điều mình biết rồi để tra hỏi về những điều chưa biết; giả vờ sai khiến họ làm bậy để chấm dứt thói khinh lờn của họ, đảo lộn lời nói của mình để thử kẻ sinh nghi; dùng lí luận tương phản để tìm ra kẻ gian ngầm; đặt kẻ gián điệp để bẫy kẻ làm bậy; dùng sự bổ nhiệm và cách chức để xét hành động của kẻ gian; ra chỉ thị rành rọt để người dưới khỏi làm bậy vì hiểu lầm; có thái độ khiêm nhường để dễ thấy kẻ nào cương trực, kẻ nào a dua; nghe nhiều người để biết về những điều mình chưa biết; xúi cho kẻ dưới tranh đấu nhau để phá các bè đảng; nghiên cứu cho sâu một vấn đề để làm cho người ta              ; tiết lộ những ý khác nhau để dễ biết ý kiến của kẻ dưới.
5. Giữ bí mật: Bậc minh chủ phải giữ bí mật, nếu để lộ niềm vui ra thì bề tôi nhân dịp vua vui mà xin gia ân cho người khác, nếu để lộ nỗi giận ra thì bề tôi nhân đó mà thị uy với người khác. Vì vậy, lời nói của minh chủ phải được ngăn cách, đừng cho thông ra ngoài, phải giữ kín  đừng để cho người ta biết. Dùng trí của một người để biết cái gian của mười người, là cái đạo thấp; dùng trí của mười người để biết cái gian của một người là cái đạo cao.
Bậc minh chủ dùng cả đạo thấp và đạo cao, cho nên không kẻ gian nào thoát được. Trong một huyện, nhà nào cũng gần nhau, họp nhau thành từng ngũ ( 5 nhà?), từng liên (250 nhà), hễ ai tố cáo lỗi của người khác thì được thưởng, không tố cáo thì bị trừng trị. Bề trên đối với người dưới…người dưới đối với bề trên đều như vậy cả; như vậy thì trên dưới, sang hèn, đều đem pháp luật ra, răn nhau, đem điều lợi ra dạy nhau. Bẩm tính của người dân là muốn có cái “thực” của sự sống, lẫn cái “danh” của sự sống. Cái danh của bậc vua chúa là hiền, trí; cái thực của họ là quyền thưởng phạt. Danh thực có đủ là có phúc, tốt.
*
6. Tham nghiệm lời nói: Nếu không nghe lời nói của nhiều người và tham nghiệm với thực tế xem có công hiệu không thì (không phán đoán được), không trách kẻ dưới được; nếu không lấy sự công dụng, làm tiêu chuẩn thì những tà           sẽ là mê hoặc bề trên.
Hễ nhiều người cùng nói như nhau về một việc thì dễ             .Chẳng hạn một việc không có thực, mười người nói thì cũng khả nghi, một trăm người nói thì đã đáng tin, một nghìn người nói thì đã tin chắc rồi không cởi bỏ được lòng            .Nói mà ấp úng vụng về thì bị người ta nghi, nói mà lưu loát khéo léo thì người ta tin. Gian thần che lấp bề trên thì dựa vào người khác mà mưu tư lợi dùng nhiều kẻ          (bảo họ khen mình) mà được bề trên tin, lấy những trường hợp giống nhau để tô điểm những hành động công tư. Bậc vua chúa không nén sự bất mãn mà đợi kiểm nghiệm ( lời nói với việc làm của bề tôi rồi mới thi hành) thì làm cho gian thần có cái thế thủ lợi được. Bậc vua chúa nào có thuật thì khi nghe bề tôi, buộc họ có ý kiến phải thiết thực rồi thi hành phải thành công; có thành công mới thưởng, không thì phạt. Như vậy những lời vô     không được đem bàn ở triều đình, kẻ nào lãnh nhiệm vụ mà thấy không đủ khả năng thì đuổi về, thu ấn tín lại. Kẻ nào khoa trương thì bề trên xét kỹ từ đấu đến cuối                 kẻ gian tình không, nếu có thì sẽ nổi giận mà trừng trị. Lời nào không có chứng cớ mà khi thi hành không có          như đã nói thì là lời vu khoát, bề tôi mà vu khoát thì phải trị tội. Lời nói phải thiết thực, lí thuyết phải có chỗ dùng, như vậy những lời nói thiên vị của bè đảng không dám tâu lên vua (…). Bề tôi đưa ra nhiều ý kiến là để tỏ rằng mình có trí và khiến vua phải tự lựa lấy một ý kiến, mà mình tránh được ( trách nhiệm và tội). Cho nên chỉ hạng vua dở mới để bề tôi đưa ra nhiều ý kiến. Đừng để cho bề tôi đưa ra một ý kiến thứ nhì, mà ý kiến đó với ý kiến thứ nhất giá trị như nhau, bắt bề tôi lời nói phải phù hợp với hành động sau này, để biết họ nói thực hay nói láo. Đạo (thuật) của bậc minh chủ là không cho bề tôi đưa ra hai ý kiến để bắt họ phải chịu trách nhiệm về một ý kiến thôi; không cho họ tự ý hành động, phải tham nghiệm lời của họ, xem có đúng, có hợp với việc, có hiệu quả không; như vậy bọn gian thần không có đường tiến lên được .(bỏ tiết 7 và 8)

0
Phần 41

Đánh máy: Utcung



Thượng đó chứng tỏ rằng thiên đó của Hàn Phi, chứ nếu người sau viết thì tất không dám cho Hàn Phi mạt sát vua la “kẻ ngu” như vậy. Và ông đoán rằng bài biểu đó không phải để dâng lên vua Hàn, mà để gởi Tần Thủy Hoàng khi Hàn Phi biết chắc rằng mình không thoát chết, chẳng cần giữ ý nữa. Chúng tôi ghi lại cả hai ý kiến. Thực hư ra sao, chưa dám quyết đoán.


THIÊN XI

CÔ PHẪN

( NỖI UẤT CÔ ĐƠN )

Kẻ sĩ biết thuật tất nhìn xa, xét rõ; không xét rõ thì không thấu được tâm tư của kẻ khác. Kẻ sĩ giỏi pháp độ tất cương nghị mà ngay thẳng, không ngay thẳng thì không hiểu chính được kẻ gian. Bề tôi nào cứ tuân lệnh (vua) mà làm, theo pháp luật mà thi hành chức vụ thì không gọi là “ trọng nhân” . Kẻ nào không có lệnh (vua) mà tự chuyên, làm trái pháp luật để lợi cho mình, làm hao tốn của nước để ích cho nhà, dùng khí lực khiến được vua theo mình, như vậy mới là trọng nhân. Kẻ sĩ biết thuật, xét rõ mà được dùng thì thấu được tính mờ ám của trọng nhân. Kẻ sĩ giỏi pháp độ, ngay thẳng mà được dùng thì kiểu chứng được hành vi gian tà của trọng nhân. Cho nên kẻ sĩ biết thuật, giỏi pháp độ mà được dùng thì hạng bề tôi tôn quí tất bị gạt ra ngoài thành thử họ với bọn cầm quyền thù nhau đến một mất một còn.
Bọn cầm quyền mà nắm sự thưởng phạt thì chư hầu ở ngoài và bách quan trong triều đều bị họ sai khiến. Chư hầu không nương tựa vào họ thì việc không thành, cho nên dịch quốc ca tụng họ; bách quan không nhờ cậy họ thì công nghiệp không tiến, cho nên quần thần bị họ sai khiến, kẻ tả hữu của vua không nhờ cậy họ thì không được gần vua, cho nên che giấu lỗi của họ; hạng học sĩ không nhờ cậy họ thì lộc ít, lễ thấp, cho nên nói tốt cho họ. Bọn gian thần nhờ bốn sự yểm trợ đó ( của chư hầu, quần thần, kẻ thù của nhà vua, các học sĩ) mà tự tô điểm cho chúng. Bọn trọng nhân không thể trung với chúa mà tiến cử kẻ thù ( tức các kẻ sĩ có pháp thuật), các vua chúa không vượt được bốn sự yểm trợ trên mà xét rõ bọn gian thần, cho nên vua chúa bị che lấp thì đại thần càng quyền cao chức trọng. Bọn đại thần đương cầm quyền, ít khi không được tin yêu, lại được vua biết từ lâu, cho nên đón được ý vua, vua thích hay ghét cái gì họ cũng thích, ghét cái đó, nhờ vậy mà tiến thân. Quan tước cao qúi mà bè đảng lại đông nên được cả nước khen. Còn kẻ sĩ giỏi pháp thuật có muốn yết kiến vua thì phải thiếu tinh thần yêu tin cậy, không được cái may mắn được vua biết từ lâu, mà lại đem lời pháp thuật ra kiểu chính lòng vua, tất làm trái ý vua. Địa vị họ đã thấp, lại không bè đảng nên bị cô lập. Họ là kẻ sơ tình mà muốn tranh với kẻ thân cận của vua, tất nhiên là không thắng được; họ mới tới mà muốn tranh với kẻ quen biết từ lâu, tất nhiên là không thắng được; họ làm trái ý vua mà muốn tranh với kẻ chiều ý vua, tất nhiên là không thắng được; họ ở địa vị thấp hèn mà muốn tranh với kẻ cao quí, tất nhiên là không thắng được; họ chỉ có một miệng mà muốn tranh với cả nước, tất nhiên là không thắng được. Kẻ sĩ giỏi pháp thuật ở vào năm cái thế không thắng được đó nên có đợi mấy năm nữa cũng không được yết kiến vua, còn bọn đương cấm quyền thừa năm cái thế thắng được kia mà sớm chiều trình bày trước mặt vua, như vậy thì kẻ sĩ giỏi pháp thuật do đường nào mà được tiến cử, còn vua chúa biết bao giờ mới được giác ngộ ? Thế đã không thắng được vua mà lại không sống chung được (với bọn trọng nhân); tất có kẻ mất người còn, kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao khỏi bị nguy? Bọn trọng nhân nếu có vu tội lỗi cho ai thì sẽ dùng phép công mà giết người đó; không thể vu được thì sai người ám sát. Tóm lại, làm sáng tỏ pháp luật là trái ý vua chúa, nếu không bị quan giết thì tất cũng chết vì bị ám sát.
Những kẻ lập bè đảng vào hùa với nhau để che lấp vua, nói những lời trái pháp luật để mưu tư lợi thì tất được bọn trọng nhân tin dùng; ai có thể gán cho công lao thì trọng nhân sẽ tặng cho quan tước cao sang, ai có thể gán cho tiếng tốt thì mượn thế nước ngoài mà cho được quí trọng. Vậy che lấp vua mà hùa theo một họ riêng ( trỏ bọn đại thần tự chuyên) thì nếu không được chức tước vinh hiển, cũng được quí trọng nhờ thế nước ngoài. Nay các vua chúa không dùng cách tham nghiệm mà trừng phạt, không đợi thấy công lao rồi mới ban tược lộc, thì kẻ sĩ biết pháp thuật làm sao dám liều chết mà đưa ý kiến, bọn gian thần làm sao chịu bỏ tư lợi ma rút lui? Thành thử vua chúa càng mất địa vị còn các họ riêng càng được tôn quí. Nước Việt tuy giàu, mạnh, mà các vua Trung nguyên ( như Chu, Tề, Lỗ…) đều cho là vô ích cho mình, bảo : “Nước đó ( ở xa) ta không chế ngự được” (có ích lợi gì cho dân ta đâu). Nay bậc làm vua một đất ruộng dân đông, mà bị đại thần chuyên quyền che lấp thì nước đó cũng như nước Việt vậy (vô ích cho vua). Nước Việt, mình không chế ngự được, đó là chỗ giống nhau; vậy mà nước Việt thì mình biết là vô ích cho mình, còn nước mình thì mình lại không biết vậy, thế là không biết xét sự giống nhau ở đâu. Người ta bảo nước Tề mất, không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Lư mất quyền mà quyền về họ Điền hết. Người ta bảo nước Tấn mất cũng không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Cơ mất quyền mà sáu quan khanh chuyên quyền. Nay đại thần cầm quyền độc đoán mà chúa ở trên không biết thâu quyền lại, tức là không sáng suốt. Mắc cùng bệnh với một người chết thì không sao sống được; cùng có những hành vi với một nước mất thì nước cũng không sao còn được. Theo dấu vết của Tề, Tấn mà mong cho nước yên ổn tồn tại, là điều không thể được.
Pháp và thuật khó thi hành được, không phải chỉ những nước vạn cổ xe (nước nhỏ) cũng vậy. Kẻ tả hữu của bậc vua chúa không nhất định là người trí; bậc vua chúa nghe lời được hay của người trí, rồi đem lời đó bàn với kẻ thù tả hữu, như vậy là người ngu luận về người trí; bậc vua chúa thấy hành vi của người hiền mà trọng, rồi đem hành vi đó bàn với kẻ tả hữu, như vậy là cùng với kẻ càn dở luận về người hiền. Kế hoạch của người trí phải do người ngu quyết định, hành vi của người hiền phải do kẻ gàn dở phê phán, thì kẻ sĩ trí mưu và hiền lấy làm xấu hổ mà lời bàn của bậc vua chúa lầm hết. Bề tôi mà muốn được làm quan, thì hạng sĩ có đức hạnh phải sửa mình cho liêm khiết, hạng sĩ có trí mưu phải luyện tài biện luận để tiến nghiệp, chứ không thể dùng của cải đút lót và thờ người; chỉ trông vào đức liêm khiết, tài biện luận của mình, mà lại không chịu bẻ cong pháp luật để trị nước, như vậy không thể thờ kẻ tả hữu của vua chúa, không thỏa mãn yêu cầu của chúng được. Bọn tả hữu có đức không được như Bá Di, yêu sách (kẻ sĩ) không được, không được (kẻ sĩ) đút lót, tất không kể gì tới công sửa mình cho liêm khiết, luyện tài biện luận cho hơn người của kẻ sĩ mà chỉ hủy bang, vu oan cho họ thôi. Thế là cai công luyện tài biện luận hóa công toi, cái đức liêm khiết bị hủy báng, rốt cuộc kẻ sĩ hiền, trí bị bỏ trơi mà sự sáng suốt của vua chúa bị che lấp. Không xét công lao nhiều ít mà phán đoán về tài trí, đức hạnh, không dùng cách khỏa nghiệm dể thẩm xét tội lỗi, chỉ nghe lời kẻ tả hữu thân cận, như vậy, triều đình tất đẩy kẻ bất tài mà bọn ngu xuẩn tham ô nắm hết các chức vụ. Mối lo của nước có vạn cỗ xe là đại thần có quyền lớn quá; mối lo của nước có ngàn cỗ xe là kẻ tả hữu được tin dùng quá; đó là những mối lo chung của các bậc vua chúa. (Tới nông nỗi đó thì) bề tôi có tội nặng của bề tôi mà vua chúa cũng có lỗi lớn của vua chúa. Cái lợi của vua chúa và bề tôi vốn khác nhau. Sao biết được điều ấy? Đáp : Cái lợi của vua chúa ở chỗ kẻ nào có tài thì giao cho quan chức, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình vô tài mà được làm quan; cái lợi của vua chúa ở chỗ ai có công lao thì mới thưởng cho tước lộc còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình không có công mà cũng dược giàu sang; cái lợi của vua chúa ở chỗ khiến cho hào kiệt trỗ hết tài năng, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ kết bè đảng mà mưu tư lợi. Do đó mà đấ đai của nước bị tước lần đi mà tư gia cứ giàu thêm, vua chúa mạt địa vị mà quyền của đại thần mạnh lên; vua thất thế mà bề tôi nắm quyền trong nước, vua phải xưng là phiên thần cho nước ngoài mà tướng quốc thì chẻ phù (ra lệnh cho quần thần), như vậy là bề tôi lừa vua để mưu lợi riêng cho mình. Cho nên đại thần cầm quyền, một khi vua có sự thay đổi, mà còn được sủng ái như trước thì mười người không chắc được hai ba. Tại sao vậy ? Tại tội của họ quá lớn. Bề tôi có tội lớn, lừa gạt chúa, tội đó đáng chết. Kẻ sĩ có trí, thấy xa, sợ tội chết nên không theo chúng. Kẻ sĩ có đức, liêm khiết, cho sự vào bè cới gian thần là xấu hổ, nên không theo chúng. Vậy kẻ đi theo bọn gian đại thần đương cầm quyền, nếu không phải là ngu xuẩn, không sợ chết thì tất là tham ô không tránh bọn gian. Bọn đại thần nắm hạng người ngu xuẩn tham ô đó để trên thì gạt chúa, dưới thì chu lợi, vơ vét của dân, kết bè đảng, vào hùa nhau, trăm miệng như một làm mê hoặc chúa, bại hoại pháp luật để loạn sĩ dân, khiến cho nước suy vong, mất lần đât đai, chúa bị hao tổn, nhục nhã, tội đó lớn lắm. Bề tôi có tội lớn mà vua chúa không cấm được, cũng là có lỗi lớn. Khiến cho ở trên vua có lỗi lớn, như vậy mà mong nước không bị diệt vong, là điều không thể được.
THIÊN XIII
HÒA THỊ
( HỌ HÒA )
Người nước Sở là ( Biện) Hòa tìm được trong núi Sở một khối ngọc sống, đem dâng vua Lệ vương. Lệ vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc báo chỉ là mộ cục đá. Lệ vương cho (Biện) Hòa là nói láo, ra lệnh chặt chân trái ông ta. Khi Lê vương mất, Võ vương nối ngôi, (Biện) Hòa lại dâng ngọc lên. Võ vương lại sai thọ ngọc xem, thợ ngọc lại bảo chỉ là đá. Võ vương lại cho la Biện Hòa nói láo, ra lệnh chặt chân phải ông ta, Võ vương chết, Văn vương lên nói ngôi, (Biện) Hòa ôm khối ngọc mà khóc ở chân núi Sở ba ngày đêm, hết nước mắt thì khóc ra máu. Văn vương hay tin, sai người hỏi nguyên do :
Trong triều hạ có nhiều người bị chặt chân, sao mà riêng ông khóc lóc bi thảm đến vậy ?
(Biện) Hòa đáp :
Tôi không đau xót vì bị chặt chân mà vì nỗi : thiệt là ngọc mà lại bảo là đá, kẻ sĩ ngay thẳng mà lại bảo là nói láo, tôi đau xót vì lẽ đó.
Nhà vua bèn sai thợ mài khối ngọc đó, được một hòn ngọc quí, và đặt tên là : “ngọc bích Biện Hòa”.
Châu ngọc là thứ mà nhà vua muốn có gấp, dù Biện Hòa dâng một khối ngọc không tốt thì cũng không hại gì cho nhà vua, thế mà phải bị chặt hai chân rồi khối ngọc mới được nhận là quí; nhận ra được của báu, khó như vậy đó. Ngày nay bậc vua chúa cần có pháp thuật để ngăn cấm quần thần, sĩ dân gian tà chưa chắc đã gấp như cầu có ngọc bích Biện Hòa, sở dĩ kẻ sĩ có đạo ( tức có pháp thuật) chưa bị giết là vì họ chưa dâng thứ ngọc lập nên nghiệp để vương (tức pháp thuật) cho vua vậy. Vua chúa dùng thuật thì đại thần không thể tự chuyên, kẻ thân cận không dám bán quyền chức; quân thi hành pháp luật thì bọn du thủ du thực vội quay về nghề nông, bọn sĩ du thuyết phải chịu cảnh nguy hiểm ngoài mặt trận. Vậy thì pháp thuật là cái quần thần, sĩ dân cho là tai họa; bậc vua chúa nếu không phản đối lời bàn bạc của đại thần, không bất chấp lời chê bai của nhân dân, cứ làm đúng theo đạo thì kẻ sĩ có pháp thuật dù chết, đạo vẫn không được chấp nhận.
Xưa Ngô Khởi dạy Sở Điệu vương về tục (tình hình) nước Sở: “ Quyền thế  của đại thần lớn quá, các vị hầu được phong đất nhiều quá, như vậy họ áp bức chúa ở trên, ngược đãi dân ở dưới, nước tất nghèo mà bình tất yếu. Chi bằng đối với con cháu các vị hầu được phong đất, cứ ba đời thì thu tước lộc lại, tài giảm lương bổng của thư lại, bỏ các chức quan không cần thiết đi để có tiền nuôi các chiến sĩ được chọn và huấn luyện kĩ” Điệu vương mới thi hành kế hoạch đó được một năm thì chết và Ngô Khởi bị chặt tay chân ở Sở. Thương quân (tức Thương Ưởng) dạy Tần Hiếu công thi hành phép ngũ gia và thập gia liên bảo, nhà nào có tội, nhà khác phải tố cáo, nếu không thì bị liên lụy; đốt thi thư mà làm rõ pháp luật; chặn những lời thỉnh cầu của thư gia mà thưởng những người có công lao với đất nước; cấm bọn đi nơi này nơi khác làm quan, hiển dương nông dân và chiến sĩ. Hiếu Công thi hành kế hoạch đó mà vua được tôn sùng, yên ổn, nước mới được phú cường, tám năm sau chết, Thương quân bị xe xé thay ở nước Tần. Sở không dùng Ngô Khởi mà bị mất đất và loạn. Tần thi hành phép của Thương quân mà phú cường. Lời hai ông ấy đều đúng mà Ngô Khởi bị chặt chân tay. Thương quân bị xe xé thây là tại sao? Tại bọn đại thần oán pháp thuật mà dân chúng ghét sự cài trị. Đời nay, đại thần tham quyền, dân chúng quen cảnh loạn còn hơn tần và Sở thời xưa nữa, mà bậc vua chúa không có ai nghe lời phải như Điệu vương, hiếu Công, như vậy kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao được mạo hiểm cái nguy của hai ông ấy mà làm sáng tỏ pháp thuật của mình được? Do đó mà đời nay mới loạn mà không ai thực hiện nghiệp bá vương được.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-15 22:38:51Ct.Ly>
Phần 40

trang 630 -643



Đáp:
-        Chính vì vậy mà quẻ tốt đấy. Nước Ngô sai người qua đây xem tướng Kinh có giận hay không. Nếu tướng quân giận thì nước Ngoo sẽ đào hào cho sâu thêm, đắp lũy cho cao thêm; nếu không giận thì nước Ngô sẽ thủng thẳng. Nay tướng quân giết tôi thì nước Ngô sẽ phòng thủ gắt. Và quẻ đó bói cho cả nước, không phải cho một bề tôi. Giết một bề tôi còn cả nước được bảo tồn, thì sai không gọi là tốt được? Lại thêm nếu kẻ chết rồi không biết gì nữa thì lấy máu tôi bôi trống có ích gì đâu; nếu chết rồi mà còn biết thì trong khi lâm chiên, tôi sẽ làm cho trống không kêu.
Người Kinh nghe vậy thôi không giết ông ta.
32. Tề đánh Lỗ, đòi cái đỉnh đất Sàm. Lỗ đưa một cái đỉnh giả qua. Người Tề bào: “Đỉnh đó giả”. Người Lỗ cãi: “Đỉnh đó thật”. Người Tề bảo: “Mời ông Nhạc CHính Tử Xuân (1) sang đây, chúng tôi sẽ tin lời ông ấy”. Vua Lỗ cho mời Nhạc Chính Tử Xuân, ông hỏi: “Sao không dám đưa cái đỉnh thật qua?” Nhà vua bảo: “Ta quí cái đó”. Ông đáp: “Thần cũng quí cái tín nghĩa của thần vậy”.
37. Người nước Trịnh có một cậu con sắp đi xa (2). Trước khi đi cậu ta dặn người nhà: “Phải sửa bức tường hư để kẻ bất lương khỏi vô trộm.” Một người hàng xóm cũng nói vậy. Chưa kịp sử tường thì quả nhiên bị trộm rồi. Người nước Trịnh đó cho con mình là không mà ngờ hàng xóm là kẻ trộm.


THIÊN XI
VẤN BIỆN.

(HỎI VỀ SỰ TRANH BIỆN)


Có người hỏi:
-        Do đâu mà có sự tranh biện?
Đáp:
-        Do bề trên (vua chúa) không sáng suốt.
Lại hỏi:
-          Tại sap bề trên không sáng suốt mà lại sinh ra tranh biện?
Đáp:
-                      Trong nước của một vị minh quân thì lệnh là lời nói rất quí, pháp luật là việc thích đáng. Lời không thể có hải cùng quí (3), pháp luật không thể có hai cùng thích đáng. Cho nên lời nói và việc làm mà không theo pháp lệnh thì phải cấm. Nếu có người nào (bảo) không theo pháp lệnh mà có thể đối phó với sự gian trá, thích ứng với sự biến động, mưu lợi, dò đoán được sự tình thì bậc vua chúa nên thu nạp, lời người đó mà xét xem có thực tế không. Lời nói ciuar họ mà thích đáng thì thưởng lớn (4) khoong thích đáng thì phạt nặng. Như vậy người ngu sợ tội mà không dám nói (bậy), người thông minh không cãi lí, do đó mà không có sự tranh biện. Đời loạn thì không vậy, Vua ban lệnh mà dân lây văn học để chê bai, công sở có pháp luật mà dân lấy hành động riêng để sửa pháp luật theo ý mình; vua làm loạn pháp lệnh mà trọng trí lược, hành vi của bọn học giả, vì vậy mới có nhiều văn học. Phàm lời nói và hành vi phải lấy công dụng làm tiêu chuẩn. Mài mũi tên cho thật bén rồi lây bắn cận thì thế nào mũi thên cũng trúng một sợi lông mùa thu (lông tơ), nhưng như vậy không thể bảo là bắn giỏi được, vì không có cái đích nhất định. Đặt một cái đích rộng năm tấc, đứng cách xa trăm bước thì nếu không phải là Nghệ và Phùng Mông (5) tất bắn không trúng được, vì phải nhắm một cái đích nhất định. Cho nên nhắm đích nhất định, thì đích rộng tới năm tấc mà bắn được như Nghệ và Phùng Mông đã khóe rồi; không có đích nhất định mà bắn càn thì dù trúng mười cái lông mùa thu cũng là vụng. Nay nghe lời nói, xét hành vì (của ai) mà không lấy công dụng làm tiêu chuẩn thì lời tuy tinh thâm, hành vi tuy rất kiên cường , cũng chỉ là lời nói cản (việc làm càn) thôi. Cho nên thời loạn thì người ta cho lời khó hiểu là tinh thâm, cho sự uyên bác là hùng biện; xét hành vi thf cho người ta cho sự xa rời quần chúng là hiền minh, cho phạm thượng là cao ngạo. Bậc vua chúa thích lời tinh thâm, hùng biện, trọng hành vihieen minh, cao ngạo, cho nên tuy có nguwowiflaapj ra pháp luật, định hành vi nào nên giữ nên bỏ, phân biệt lời nào phải lời nào trái, nên kẻ mặc áo nhà Nho và bọn đeo kiếm (hiệp khách) mới đông, nông phu và chiến sĩ mới ít, lời luận về “chắc, trắng”, “không có chiều dầy (6) mới nổi lên mạnh mà pháp lệnh của quốc gia không còn. Vì vậy mà tôi bảo rằng bề trên không sáng suốt thì sinh ra tranh biện.


THIÊN XII

THUẾ NẠN

(DU THUYẾT KHÓ)


1.      Du thuyết khó ở chỗ hiểu được tâm lý đối phương (7)
Du thuyết khó, nhưng không khó ở chỗ trí thức của ta đủ thuyết phục được vua chúa hay không, cũng không khó ở chố khẩu tài của ta phát biếu được rõ ý của ta hay không, cũng không khó ở chỗ ta dám tung hoành phóng dật diễn hết ý của ta hay không, mà khó ở chỗ hiểu được tâm lí đối phương để cho lời chúng ta hợp với tình ý của họ. Như đối phương nghĩ tới danh dự thanh cao mà ta đem tài lợi ra thuyết thì tất họ cho ta là bỉ lậu, tư cách đê hèn mà không dùng ta, lánh xa ta. Nếu đối phương nghĩ tới tài lợi mà ta đem danh dự thanh cao thuyết thì họ cho ta là không biết thời thế, không hiểu sát sự tình tất không dụng ta. Đối phương trong lòng thích tài lợi mà ngoài mặt bộ thích danh dự cao, nếu ta đem danh dự thanh cao ra thuyết thì bề ngoài họ thu dụng ta mà thực tâm xa lánh ta; nếu ta đem tài lợi ra thuyết thì bề trong họ dùng lời ta mà bề ngoài xa lánh ta. Những điều đó không thể không xét đến.
2.      Những điều nên tránh để khỏi nguy hiểm tới thân.
Việc làm phải kín đáo mới thành công, lời nói vit tiết lậu mà thất bại. Không nhất định là mình cs ý tiết lậu ra, có khi  chỉ vì vô tình nói lên điều đối phương muốn giấu mà thân cũng nguy rồi. Đối phương bề ngoài làm việc đó mà thực sự nhắm mục đích khác, kẻ du thuyết không những biết việc mưu tính của họ lại còn biết họ vì lẽ gì mà làm như vậy, thế là thân sẽ nguy. Mình giúp họ lập kế hoạch về một việc đặc biệt nào đó mà thỏa đáng, có kẻ thông minh ở ngoài dò xét được biết được, việc tiết lậu ra, họ sẽ cho là chính mình tiết lậu, như vậy thân sẽ nguy. Tình chưa thân, ân huệ chưa thấm nhuần, mà nói hết ra như chỗ cực thân với nhau, nếu ý kiến của mình được thi hành mà  thành công thì rồi mình cũng bị quên; còn nếu như nếu ý kiển của mình thi hành không được mà thất bại thì sẽ bị nghỉ, như vậy thân sẽ nghuy. Bậc quí nhân có điều lầm lỗi mà kẻ du thuyết đem lễ nghĩa ra bàn để che cái ác cảm của họ, như vậy thân sẽ nguy. Bậc quý nhân được người ta bày cho một mưu kế nào mà thích, coi đó là công của mình, kẻ du thuyết biết rõ đầu đuôi, như vậy thân sẽ nguy. Ép buộc họ làm một công việc mà họ không làm, như vậy thân sẽ nguy. Cùng phê bình với họ về các đại thần của họ thì họ cho là mình có lòng li gián bọn họ với nhau; cùng phê bình với họ về hạng quan nhỏ của họ thì họ cho rằng mình được yêu mà lộng quyền. Phê bình những người họ yêu thì họ cho rằng mình muốn nhờ cậy bọn đó; phê bình những kẻ họ ghét thì họ cho rằng minhg muốn dò xét long họ. Lời của mình thẳng tuột mà vắn tắt thì họ cho là mình bất trí, vụng về; còn như mình biện bác tế toái thì họ cho là mình rườm rà, tô điểm. Bày tỏ sự tình, ý kiến một cách sơ lược thì họ bảo mình nhút nhát, không dám nói hết; suy xét kỹ sự tình và trình bày một cách phóng túng thì họ bảo mình lỗ mãng, khinh mạn. Đó là những chỗ khó khawntrong sự du thuyết, không thể không biết được.
3.      Những thuật để thành công.
Điều cốt yếu của phép du thuyết là biết tô điểm cái mà đối phương khoe  khoang tự phụ và che giấu cái đối phương lấy làm hổ thẹn. Họ gấp muốn làm một việc thì phải thuyết sao cho việc riêng đó thành ra nghĩa chung mà khuyến khích họ làm. Trong ý họ, họ cho việc đó là đê hèn nhưng không thể không làm được thì kẻ du thuyết phải tô điểm sao cho việc đó hóa ra đẹp đẽ, nếu không làm thì thì đáng tiếc. Trong lòng họ cho việc đó là cao thượng nhưng thực tế họ không làm được, kẻ du thuyết phải vạch rõ chỗ hỏng của việc họ thấy nó xấu, rồi khen rằng không làm là sáng suốt. Họ muốn khoe trí thì kể cho họ nghe nhiều việc khác đồng loại với việc họ định làm để họ tham khảo đượcrộng, khiến cho họ dùng kiến nghị của ta mà ta cứ giả đò như không biết, để họ không ngờ rằng mình đã mở trí cho họ. Muốn dâng cái ý rằng đôi bên thọ và người khác nên chung sống với nhau thì phải khen rằng hành đôngh như vậy sẽ được tiếng tốt mà đồng thời ám chỉ rằng cũng hợp với tư lợi của họ nữa;  muốn bày tỏ sự nguy hại thì cho họ thấy rằng như vậy sẽ bị phỉ báng mà đồng thời ám chỉ rằng có hại cho riêng họ nữa. Nên khen những người hành vi giống hành vi của họ, mưu tính những việc giống việc của họ.  Nếu có kẻ nào cũng dơ dáy như họ thì nên too điểm cho là không có gì thương phong bại tục; có kẻ nào cũng thất loại như họ thì nên tỏ ra rằng kẻ đó không hề lầm lẫn. Nếu họ tự nhận rằng năng lực dồi dào thì đừng đem những nỗi khó khăn ra làm nhụt chí họ (8) nếu họ tự cho là quyết đoán hơn người thì đừng vạch những lầm lẫn của họ cho họ giận, nếu họ cho rằng mưu tính sáng suốt thì đừng đem sự thất bại ra nén lòng họ. Đừng trái với chủ ý của họ, đừng xung đột trong lời nói với họ, như vậy rồi mới đem hết tài trí ra trần thuyết. Đó là cái phép làm cho họ thân cận, không hoài nghi, rồi mới có thể hết lời thuyết phục họ được.
Y Doãn làm đầu bếp, Bách Lí Hề (9) làm tôi mọi, đều là vì muốn bề trên biết tới mình. Hai ông đó đều là bậc thánh mà còn làm những việc ti tiện để cầu tiến thân, xấu a như vậy đó. Nay ta làm tên đầu bếp hay kẻ tôi mà có thể được vua chúa lắng nghe lời ta, dùng mưu ta để cứu đời thì có gì đáng xấu hổ cho hạng sĩ có tài năng đâu. Trên dưới có gần nhau đã lâu ngày, tình đã thân thiết mà ân trạch đã thấm nhuần, bàn những kế hoạch sâu sắc mà không bị nghi ngờ, tranh biện mà không bị tội, lúc đó ta mới có thể phân tích lợi hại để lập sự nghiệp cho vua, nói thẳng điều phải trái để sửa đức hạnh của vua; vua tôi đối đãi với nhau được như vậy là ta thành công trong sự du thuyết.
4.      Dẫn cố sự để chứng minh.
Xưa kia Trịnh Vũ Công muốn đánh nước Hồ, mới đầu đem con gái gả cho vua Hồ để làm cho vua Hồ vui lòng. Rồi hỏi quần thần: “Trẫm muốn dùng binh thì nước nào nên đánh?” Quan đại phu là Quan Kỳ Tư bảo: “nên đánh nước Hồ”. Vũ công giận, sai đem giết Quan Kỳ tư, bảo: “Hồ là nước anh em, sao nhà ngươi lại bảo nên đánh?” Vua Hồ nghe chuyện đó, cho là nước Trịnh thân với mình, không đề phòng, quân Trịnh đánh úp mà chiếm được.
Nước Tống có một nhà giàu, trời mư, tường đổ. Người con nói” “Không xây lại thì sẽ bị trộm”. Cha người hàng xóm cũng nói như vậy. Tối, quả nhiên mất trộm lớn; người trong nha rất khen người con là khôn ngoan ma nghi cha người hàng xóm.
Lời hai người đó nói đều đúng cả mà nàng (Quan Kỳ Tư) thì bị giết, nhẹ (cha người hàng xóm) thì bị nghi, vậy đủ thấy: biết không phải là khó, biết dùng cái biết mới khó. Cho nên lời đoán của Nhiễ Triều (10) rất xác đáng, người nước Tống coi ông là bậc thánh mà người nước Tần coi ông là vô dụng (11). Điều đó không thể không xét được.
5.      Phải xem vua yêu hay ghét mình; đừng làm trái ý vua
Xưa Di Tử Hà được vua Vệ yêu. Theo phép nước Vệ, hễ lên đánh xe vua thì bị tội chặt chân. Mẹ Di Tử Hà đau có người hay tin, đương đem báo cho Di Tử Hà; Di Tử Hà truyền lệnh giả rồi ngồi xe vua ra khỏi cung. Vua hay được khen: “Thực có hiếu, vì mẹ mà quên tội chặt chân”. Một hôm khác, Di Tử Hà cùng dạo trong vường với vua, ăn một trái đào, thấy ngọt, lấy nửa trái đào ăn dở đút cho vua. Vua bảo: “thực là yêu ta. Quên miếng ngon mà đút cho ta”. Đến khi dung nhan Di Tử Hà suy kém, tình yêu của vua lơi là, có tội với vua, vua bảo: “Nó đã tự tiện lên ngồi xe của ta, lại đút cho ta trái đà nó ăn dở”. Hành vi của Di Tử hà có thay đổi gì đâu mà trước thì được khen, sau lại bắt tội, chỉ tại lòng yêu ghét đã thay đổi vậy. Cho nên được vua yêu thì tài trí hóa ra hợp ý, bị vua ghét thì tài trí hóa ra không hợp ý, bị tội mà càng hóa sợ. Cho nên kẻ sĩ can gián, du thuyết, đàm luận, không thể không xét vua chúa yêu hay ghét mình rồi sau mới nên thuyết.
Rồng là con vật thuần, có thể lấn lớn mà cưỡi, nhưng dưới họng nói có những vẩy ngược chu vi rộng cả thước, ai mà đụng tới thì nó sẽ giết. Bậc vua chúa cũng có những vẩy ngược, kẻ du thuyết mà biết đừng đụng tới thì là tạm được rồi.
 
 
 
THIÊN III

NẠN NGÔN

(KHÓ NÓI)


Thần là Phi, không phải là khó nói. Sở dĩ khó nói là vì: lời nói xuôi tai, thân mật, hoạt bát, trơn tru đẹp đẽ, có thứ tự thì bị xem là hoa mĩ, không thành thực; lời nói đôn hậu, cung kính, cương trực, cố chấp thận trọng, chu đáo thì bị xem là vụng về, mà lộn xộn; nói nhiều mà tường tận dẫn chứng, so sánh đưa tỉ dụ bị xem là trống rỗng, vô dụng; lời nói tóm tắt, giản lược trình những phép chính mà không tô điểm thì bị xem là khái quát không rõ ràng; lời nói đụng chạm tới người thân cận của vua và thấu đáo nhân tình thì bị xem là lấn người, không khiêm nhường; lời nói mênh mông, quảng bác xa xôi, khó lường thì bị xem là khoe khoang, vô dụng; nói những chuyện vặt trong nhà, đưa cả những con số ra thì thì bị xem là bỉ lậu; nói mà hợp thế tục, tránh xa không làm phật ý người thì bị xem là tham sống, nịnh bề trên, nói mà khác thế tục, không cận nhân tình thì bị xem là quái đản; lời nói mẫn tiệp, hùng hồn nhiều văn vẻ thì bị xem là tô điểm, không thành thật; bỏ hết văn hoa, cái chất phác nói thẳng sự việc ra thì bị xem là quê mùa; thường dẫ thi thơ kinh điển, kể những phép tắc thời xưa thì bị xem là chỉ biết tụng sách cổ. Đó là những lẽ làm cho thần là Phi khó nói mà rất sợ sệt. Cho nên đồ lo lường tuy đúng vị tất đã được theo, nghĩa lễ tuy hoàn bị, vị tất đã được dùng. Nếu đại vương không tin thần muốn nói thì (xin xem người đời xưa can vua), tội nhẹ thì bị hủy báng mà tội nặng thị bị họa chết chóc đến mình(12).
(Chúng tôi cắt bỏ đoạn giữa Hàn Ph dẫn chứng hơn một chục cổ nhân – như Ngũ Tử Tư, Khổng Tử, Quản Trọng, Y Doãn, Văn Vương, Tỉ Can, Tôn Tử, Ngô Khởi, Thương Ưởng….đều là “bậc hiền tài, trung lương, có đạo thuật, vì chẳng may gặp một ông vua hung bạo, hôn ám mà phải chết” Cuối cùng Hàn Phi kết luậnJ
Vậy tuy là hiền thành cũng không thoát chết, không tránh khỏi bị lăng nhục? Tại sao vậy? Tại khó thuyết phục được kẻ ngu (13) Lời nói phải thì trái tai, phật ý, không phải là hiền nhân, thánh nhân thì không chấp nhận được. Xin đại vương xét kỹ cho.
Nhận định : Vì đoạn cuối có câu “Tại khó thuyết phục được kẻ ngu” nên nhiều học giả ngờ rằng thiên này không phải là một bài biểu do Hàn Phi viết, mà do người sau ngụy tạo. Nhưng có nhà nhứ Léon Vandermeereah (trong sách đã dẫn trang 183) lại bảo chính giọng phạm


Chú thích:
 
 
(1)   Người nước Lỗ, học trò ông Tăng tử nổi tiếng là hiền sĩ.
(2)    Nguyên văn là hoạn . Có sách giảng là đi làm quan, hoặc đi du học. Truyện này trong thiên Thuế nạn  chép là người nước Tống.
(3)   Nghĩa là về một việc đã ra lệnh thì phải theo, chứ không thể vừa theo lệnh đó vừa theo một mệnh lệnh ngược hoặc khác hẳn.
(4)   Nguyên văn: hữu đại lợi = có lợi lớn (cho người nói), tức là người đó sẽ được thưởng.
(5)   Hai người bắn giỏi thời xưa – Phùng Mông là học trò của Nghệ. Nhiều người đọc là Bàng Mông hoặc Bỗng Mông, nhưng lời đọc này bị các học giả Nhân Sư Cổ Vầ Nguyễn Nguyên bác.
(6)   Công Tôn Long tách ròi cái cứng và cái trắng (…. Kiên bạch) Như phiến đá trắng, lúc thì ta thấy nó trắng mà không thấy nó chắc, lúc thì thấy nó chắc mà không thấy nó trắng, thấy cái nọ, không thấy cái kia, như vậy là cái nọ lìa cái kia, không chứa cái kia.
Huệ Thi bảo: cái không có chiều dày thì không chồng chất lên được vậy mà nó lớn tới ngàn dặm (vô hậu, bất khả tích dã, kì đại thiên lí)
Coi thiên Thiên hạ trong trang tử. Không rõ Huệ Thi (một nhà ngụy biện cũng như Công Tôn Long) muốn nói gì. Có người không chấm câu sau chữ hậu và giảng là: không có cái gì có chiều dày mà không chồng chất lên được, chất hoài nó sẽ lớn tới ngàn dặm.
(7)   Chúng tôi chia đoạn, đánh số và đặt tiêu đề cho mỗi đoạn. Thiên này chúng tôi đã dịch trong Cố vấn TRưng Quốc (Tao đàn 1966) nay sửa lại vài chỗ.
(8)   Nguyên văn: Khái (chữ Hán trang 638) là cái ống để gạt thóc, sau trò công việc gạt thóc, do đó có nghĩa là làm cho với di.
(9)   Y Doãn là một tể tướng giỏi đời Thương, có công đánh vua Kiệt, hồi trẻ nghèo, muốn được tiến cử lên vua Thương, phải xin làm đầu bếp đem phép gia vị trong thuoaath nấu ăn để giảng cho vua Thang hiểu về vương đạo. Đó chỉ là truyền thuyết, chưa đáng tin.
Bách Lí Hề là một vị tể tướng giỏi nhà Tần. Trước làm đại phu nước Ngu, ông bị bắt làm tù binh, sau trốn được, bị nước Sở bắt phải làm đầy tớ chăn bò. Tần Mục công đen năm bộ da dê chuộc ông, giao cho việc nước. Vậy ông vì hoàn cảnh mà phải chăn bò chứ không cố ý chăn trâu bò đề cầu cạnh vua Tần biết đến. Tác giả dẫn thí dụ đó hơi ép.
(10)        Nhiễu Triều là một đại phu nước Tần. Một vị công khanh nước Tấn tên là Sĩ Hội trốn qua tần, được Tần Mục Công trọng: nước tấn thấy vậy sai người lén qua Tần thuyết phục Sĩ Hội và đón Sĩ Hội về. Nhiễu Triều biết trước việc đó, can vua Tần, vua Tần không nghe
(11)       Chữ lục (chữ Hán trang 640) (giết) ở đây, (vò lục ư Tần) theo Cổ kim văn tuyến, nên coi là chữ nhục, có nghĩa là bị nhục không được vua Tần tin dùng.
(12)       Nguyên văn:  Đại vương nhược dĩ thứ bất tín, tắc tiểu giả dĩ vi hũy, ti phỉ báng, đại giả hoạn họa hại tử vong cấp kì thân.  Có sách giảng là: nếu đại vương không tin lời người nói thì người nói ít ra cũng bị cho là cố ý hủy báng, nhiều hơn thì bị tai họa chết chóc đến mình.
(13)      Ở đây có bản thêm 6 chữ: cố quân tử bất thiểu dã; ngờ rằng sai.
tuusacqui
0
Đánh máy: muatrongdem
 
Hàn Phi Tử
 
Chương 27
 
 
Oai được, không giả bộ trung tín thì không vượt cấm lệnh được. Ba cái đó làm cho vua hoá hôn mê mà pháp luật bị huỷ hoại. Vua phải khiến cho kẻ bề tôi dù có tài trí cũng không trái phép mà tự chuyên, dù có hiền đức cũng không vượt công mà được thưởng trước (1), dù trung tín cũng dám bỏ pháp luật mà vượt cấm lịnh. Như vậy là làm sáng tỏ pháp luật. Bậc vua chúa có khi bị gạt vì công việc, có khi bị che lấp vì lời nói, phải xét hai trường hợp đó.
Bề tôi đề nghị một công việc, cho là dễ dàng, giảm phí tổn, để dụ chúa, chúa bị gạt mà không xét kỹ, lại khen bề tôi đó là hiền tài, thế là bề tôi ngược lại, lấy công việc để chi phối chúa. Như vậy gọi là bị gạt vì công việc, bị gạt vì công việc thì phải khốn vì lo lắng. Khi đề nghị bảo là phí tổn ít, rồi sau phí tổn nhiều, như vậy dù có công (tức việc thành ) lời đề nghị vẫn là không đúng. Không đúng là có tội cho nên, việc dù thành công cũng không thưởng, như vậy bề tôi sẽ không dám tô điểm lời nói để mê hoặc chúa. Đạo làm chúa là khiến cho lời nói trước của bề tôi không trái với lời nói sau, lời nói sau không trái với lời nói trước (nếu trái thì) dù việc thành cũng phải chịu tội. Như vậy là phép dùng kẻ dưới.
Bề tôi lập kế cho chúa, sợ kẻ khác chê kế hoạch của mình, nên rào đón trước: “Kẻ nào chê bai kế hoạch là kẻ ấy ghen ghét (muốn phá) việc". Chúa để bụng lời đó mà không nghe lời can gián của quần thần, quần thần sợ lỗi đó, không dám bàn cãi nữa. Vì hai cái thế đó (một là chúa cự tuyệt lời can gián, hai là quần thần phải làm thinh), bề tôi trung không được nghe, còn bề tôi (xảo quyệt) có hư danh thì lại riêng được trọng dụng. Như vậy gọi là bị che lấp vì lời nói: bị che lấp vì lời nói thì bị bề tôi chế ngự. Đạo làm chúa là khiến cho bề tôi biết rằng mình chịu trách nhiệm về điều mình đã nói, lại cũng có trách nhiệm về chỗ mình không nói. Lời nói không có đầu đuôi, biện luận mà không có chứng cứ, đó là chịu trách nhiệm về điều mình đã nói: không nói để trốn tránh trách nhiệm, để giữ địa vị quan trọng của mình, đó là chịu trách nhiệm về chỗ không nói. Bậc vua chúa bắt bề tôi hễ nói thì phải có đầu có đuôi, phải đúng với sự thực; nếu họ không nói thì phải hỏi họ lấy chỗ nào, bỏ chỗ nào trong đề nghị để rồi khi thi hành xét xem ý kiến của họ có đúng không; như vậy bề tôi không ai dám nói bậy mà cũng không làm thinh; nói hay làm thinh đều chịu trách nhiệm cả. Bậc vua chúa muốn làm một việc gì, không hiểu đầu đuôi mà bày tỏ ý muốn của mình, rồi cứ làm thì việc làm không có lợi, trái lại có hại. Người hiểu lẽ đó (2) thì áp dụng cách này: tính toán thấy vô nhiều, ra ít (lợi nhiều, phí tổn ít) thì là việc nên làm. Vị chúa bị mê hoặc thì không vậy, tính số vô mà không tính số ra, ra gấp bội vô mà không thấy hại, thế là được tiếng mà mất miêng, công ít mà hại nhiều. Phải vô nhiều, ra ít mới đáng gọi là có công. Nay xài phí nhiều mà vô tội, kết quả ít mà lại là có công, thì tất nhiên bề tôi cứ xài phí cho nhiều để được kết quả nhỏ; tuy có kết quả nhỏ mà vua vẫn có hại.
*
Người không biết cách trị nước tất bảo: "Không biến cổ, không đổi tập tục” Thánh nhân không nhất định phải biến đổi hay không biến đổi, miễn việc trị nước được thích nghi mà thôi. Thay đổi phép tắc cổ hay không là ở chỗ phép tắc cổ và tập tục còn thích hợp hay không. Y Doãn không biến đổi nhà Ân, Thái Công (3) không biến đổi nhà Chu thì vua Thang, vua Võ đâu lập được nghiệp vương. Quản Trọng không biến đổi nước Tề, Quách Yển (4) không biến đổi nước Tần, thì Tề Hoàn công và Tấn Văn công đâu lập được nghiệp bá. Người ta sở dĩ không biến cổ là vì ngại làm cho đời của dân xáo động (5). Nhưng nếu không biến cổ, cứ theo dấu vết thời loạn để làm vừa lòng dân thì là thả lỏng cho cách hành vi gian tà. Dân ngu không biết là loạn mà bề trên nhu nhược không dám sửa đổi thì sao còn là trị nước nữa. Bậc vua chúa phải sáng suốt đủ để biết cách trị nước, và nghiêm khắc nhất định thi hành cho được, cho nên dù trái ý dân cũng có lập lại sự bình trị. Chứng cứ là Thương Quân đi ra đi vô (6) lúc nào cũng dùng cái "thủ" (một binh khí dài có mũi nhọn), cãi thuẫn nặng để đề phòng (kẻ ám sát mình); khi Quách Yển bắt đầu trị nước Tấn thì Tấn Văn Công phải dùng vệ sĩ; khi Quảng Trọng bắt đầu trị nước Tề, Tề Hoàn Công phải dùng xe có võ trang để đề phòng dân chúng (…) (7)
 
 
 
 
 

Nghĩa là công chưa đáng thưởng mà đã được thưởng “trước”, đây không phải là trước người, mà chỉ có nghĩa là sớm quá, trước khi đáng thưởng.
Ở đây có bản thêm 4 chữ: nhiệm lí, khứ dục = theo lí bỏ tư dục. Trần Khải Thiên cho là do người đời Tống thêm vào
Y Doãn là khai quốc công thần của Thành Thang, ông vua sáng lập nhà Thương. Thái Công, tức Lã Vọng, là công thần bậc nhất của Văn vương và Võ vương nhà Chu.
Quách Yển một đại phu có tài của nước Tấn.
Nguyên văn: đạn dịch dân chi an dã. Có học giả bảo không hiểu hia chữ dịch dân đó nghĩa là gì, ngờ là ngư dân mà cổ nhân chép lầm. Chúng tôi hiểu là sơ làm biến đổi sự tình của dân nên dịch như vậy
Nguyên văn: thuyết tại Thương Quân chi nội ngoại. Có sách dịch là: thuyết này ở thiên Nội ngoại của sách Thương Quân. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên mà dịch như trên.
Chúng tôi bỏ câu cuối gồm 48 chữ vì các nhà chú giải đều ngờ rằng chép lầm hoặc sót, không sao hiểu nổi.
 
 
 
 
 
THIÊN XLV
 
NGỤY SỬ
 
(TRỊ NƯỚC BẬY (1))
 
 
Thuật (2) trị nước của thánh nhân gồm có ba : 1, dùng lợi (tức bổng lộc, thưởng), 2, dùng uy, 3, dùng danh (tức quan tước, khen chê). Lợi để mua chuộc dân, uy để thi hành lệnh, danh để trên dưới cùng theo (cũng trọng) (3). Ngoài ba thuật đó ra, tuy còn những thuật khác, nhưng không gấp bằng. Nay lợi tuy có mà dân không cảm hoá theo vua, uy tuy còn mà dân không nghe, quan chức tuy có luật định mà thực (chức) không hợp với danh (tước) (4). Ba cái đó đều còn đấy mà đời thì cứ trị rối loạn, loạn rồi trị là tại sao? Tại cái mà vua quí thường trái với cái làm cho nước trị.
 
*
 
Đặt ra danh hiệu để tôn trọng, thế mà nay có kẻ coi thường cái danh, khinh rẻ cái thực (của quan tước), thì đời lại cho cao thượng; đặt ra tước vị để làm tiêu chuẩn cho sự sang hèn, thế mà kẻ xa lánh bề trên, không cầu được yết kiến thì đời lại cho là hiền nhân; dùng uy và lợi là để dân thi hành mệnh lệnh thế mà kẻ không ham lợi, coi thường cái uy thì đời cho là đáng trọng; ban bố pháp lệnh để trị nước thế mà kẻ không tuân pháp lệnh, làm những điều họ riêng cho là thiện (5) thì đời lại cho là trung; đặt ra quan tước để khuyến khích dân thế mà kẻ thích danh nghĩa, không chịu làm quan thì đời lại cho là liệt sĩ; đặt ra hình phạt để nắm cái uy, thế mà kẻ khinh pháp luật, không tránh hình phạt, tội chết thì đời gọi là dũng. Dân cầu danh (6) hơn cầu lợi như vậy thì kẻ sĩ nghèo đói túng thiếu làm sao không vô núi ở, chịu khổ thân để tranh danh với thiên hạ cho được? Cho nên đời sở dĩ không trị, không phải do tội của kẻ dưới mà do bề trên bỏ mất cái thuật, thường quí cái làm cho nước loạn, khinh cái làm cho nước trị, mà cái kẻ dưới muốn thường trái ngược với cái bề trên (phải) dùng mới trị nước được. Nay cái cần gấp cho bề trên là người dưới nghe theo mình, thế mà kẻ đôn hậu, cung kính thuần lương, thành tín, hết lòng dạ, dè dặt lời nói thì cho là bần tiện, quê mùa; kẻ giữ chặt pháp luật, tuân lệnh răm rắp thì cho là ngu; kẻ kính bề trên sợ tội thì cho là khiếp nhược, kẻ nói đúng lúc và vắn tắt, làm hợp với đạo trung thì cho là bất tiếu (dở); kẻ không hai lòng, không theo cái học tư(7) mà nghe lời quan lại, theo sự giáo hoá của nhà nước, thì bị gọi là hủ lậu; kẻ không vời thì không tới, gọi là chính; kẻ thưởng cũng không nhận thì gọi là liêm; kẻ khó ngăn cấm thì gọi là đàng hoàng; kẻ được lệnh mà không nghe thì được gọi là dũng; kẻ không cầu người trên thưởng, gọi là ít lòng dục; kẻ rộng rãi ban ân huệ, gọi là nhân từ; kẻ trịnh trọng tự tôn gọi là trưởng giả(8); kẻ hợp nhau theo cái học tư gọi là thấy trò; kẻ nhàn nhã ở yên gọi là suy tư sâu sắc; kẻ hại người trục lợi gọi là lanh lợi; kẻ gian hiểm trái trở lại gọi là trí; kẻ trước vì người sau mới vì mình, coi mọi người đều là đồng loại(9), đưa ra thuyết phiếm ái (yêu khắp mọi người), gọi là thánh; kẻ mà lời nói thì không hợp lí, không thể dùng được, hành vi thì trái với thế tục, gọi là đại nhân; kẻ khinh tước lộc, không phục tòng bề trên, gọi là hào kiệt. Bề dưới mà theo nhau làm như vậy thì trong đời tư làm loạn dân, ra làm quan bề trên sẽ không sai khiến được. Bề trên nên cấm ý muốn, diệt "dấu vết" của họ, (như vậy) họ còn không chịu ngừng thay; (huống hồ) còn theo họ, tôn trọng họ (10) thì tức là dạy kẻ dưới làm loạn bề trên, mà lại cho là trị nước!
Hình phạt là cái bề trên dùng để trị dân, mà ny kẻ tự thi hành việc nghĩa (ân huệ) ở ngoài pháp luật lại được tôn trọng (11) Nhờ yên tĩnh mà xã tắc đứng được, thế mà kẻ gian hiểm gièm pha, a dua lại được bổ nhiệm. Trong nước, dân sở dĩ nghe theo bề trên là vì tín trên và có đức, thế mà kẻ gian dối phản phúc lại được làm quan lại. Lệnh sở dĩ được thi hành, uy sở dĩ lập được là vì dân cung kính nghe bề trên, thế mà kẻ ở trong núi, mạt sát đời lại được vinh hiển. Kho lẫm đầy là nhờ nghề gốc, tức canh nông; thế mà kẻ làm những nghề ngọn như dệt gấm vóc, chạm vẽ lại giàu. Danh sở dĩ thành được đất sở dĩ mở rộng được là nhờ chiến sĩ, mà nay con côi của tử sĩ chết đói xin ăn ngoài đường, còn bọn hề kép hats, rượu chè lại ngồi xe mặc đồ lụa. Thưởng lộc là để cho dân tận lực, kẻ dưới dám liều chết, mà nay kẻ sĩ chiến thắng chiếm được thành địch, công lao khó nhọc mà không được thưởng còn bọn bói toán, coi chỉ tay, dùng lời để mê hoặc nịnh hót vua thì ngày nào cũng được ban ơn. Bề trên cầm pháp độ để chuyên nắm quyền sinh sát trong tay mà nay kẻ sĩ giữ trung can gián (12) vua thì không được yết kiến, còn kẻ khéo nói bẻm mép, dùng mưu gian, may mắn mà thành công thì lại thường được vua vời. Căn cứ vào pháp luật mà nói thẳng, danh với thực (13) hợp nhau,theo đúng lằn dây mực (14), giết kẻ gian để bề trên trị nước, thì càng ngày càng bị bề trên xa cách; còn kẻ xiểm nịnh, thuận theo ý, chiều lòng dục của bề trên khiến cho nước nguy thì lại được gần gũi bề trên. Thu hết thuế, dùng hết sức dân là để phòng tai nạn (tức giặc), làm cho kho lẫm được đầy; thế mà những sĩ tốt bỏ bổn phận, trốn lánh, dựa vào các nhà có uy quyền để tránh xâu, thuế, bề trên không bắt được, nhiều có tới số muôn. Bày những ruộng tốt, nhà đẹp ra là để khuyến khích chiến sĩ, thế mà kẻ bị chặt đầu banh bụng, phơi xương nơi đồng hoang, khi tòng chinh không có nhà để ở, chết rồi ruộng bị chiếm đoạt (15), còn kẻ cho con gái, em gái đẹp và bọn đại thần, tả hữu không có công lao gì thì được chọn nhà mà lãnh, chọn ruộng mà hưởng. Việc thưởng lợi chỉ do bề trên ban ra là để chế ngự người dưới, thế mà chiến sĩ không được ban chức còn kẻ ở không thì được tôn hiển. Bề trên giáo hoá dân như vậy thì danh làm sao không bị hạ thấp, địa vị làm sao không bị lung lay. Danh bị hạ thấp, địa vị bị lung lay thì kẻ dưới sẽ không tin pháp lệnh, sinh ra hai lòng, theo cái học riêng tư phản nghịch lại xã hội như vạy mà không cấm hành động của họ, phá tan bè đảng của họ, lại còn theo họ mà tôn trọng họ, cầm quyền như vậy là lầm lớn! Bề trên đặt ra sự liêm sỉ là để khích lệ kẻ dưới, mà nay kẻ sĩ và đại phu không xấu hổ vì nhơ nhớp, thối tha nhục nhã thì được làm quan, kẻ nhờ bọn con và em gái đẹp thì được nhảy bậc. Ban thưởng là để cho được quí trọng, thế mà các chiến sĩ có công thì nghèo hèn còn bọn sủng ái, kép hát thì được vượt bực. Danh hiệu mà thành tín (hễ có quan tước thì có thực quyền) là để bày tỏ cái uy thế mà vua bị che lấp. Kẻ thân cận và các sủng phi đều tự chuyên, nắm quyền ban phát tước lộc, đổi chỗ thăng giáng các quan lại, cầm quyền như vậy là lầm lớn. Đại thần khi bổ nhiệm ai làm quan thì mưu tính trước với kẻ đó, lập phe đảng không theo pháp luật, như vậy là uy và lợi nằm trong tay kẻ dưới (đại thần), vua bị hạ thấp mà hạ thần được tôn quí.
Đặt ra pháp lệnh là để bỏ cái riêng tư, hễ pháp lệnh được thi hành thì cái đạo riêng bị phế. Riêng tư là cái làm loạn pháp. Kẻ sĩ có hai lòng, theo cáo học riêng, ở trong núi, trong hang, mượn có để tìm những ý sâu xa, lớn thì mạt sát đời, nhỏ thì mê hoặc kẻ dưới mà bề trên không cầm lại mà còn theo, tặng họ danh hiệu tôn quí cùng tài sản, như vậy kẻ không có công thì được vinh hiển kẻ không làm lụng khó nhhọc thì được giàu có. Như vậy kẻ sĩ có hai lòng, theo cái học riêng làm sao mà khỏi cố tìm ra những ý mà họ cho là sâu xa, gắng dùng lời xảo trá để phỉ báng pháp lệnh, tự tạo ra cái thế để chống lại với đời? Những kẻ làm loạn bề trên, chống lại với đời thường là những kẻ sĩ có hai lòng theo cái học riêng. Cho nên sách có câu (16): "Làm cho trị là pháp luật, làm cho loạn là cái riêng tư; pháp luật đặt ra rồi thì không ai còn làm điều riêng tư được nữa” Vì vậy mà "theo cái riêng tư thì loạn theo pháp luật thì trị". Bề trên không theo đúng đạo (thuật), thì kẻ trí có những lời nói riêng tư, kẻ hiền có những ý nghĩ riêng tư, bề trên ban những ân huệ riêng tư kẻ dưới có những ham muốn riêng tư. Những kẻ được tiếng là thánh, trí lập thành đám đông, lập thuyết giảng học, để chê bai pháp luật trước mặt bề trên đã không cấm chỉ lại còn theo mà tôn trọng như vậy là dạy kẻ dưới không nghe lời bề trên, không tuân pháp luật, thành thử người hiền nổi danh mà không làm quan, kẻ gian nhờ được thưởng mà giàu có, cho nên bề trên không chế ngự được kẻ dưới.
 
 
 
 

Chữ nguy, chính ra phải đọc là qui, có nghĩa là trái, lầm. Sử là sai khiến, ở đây trỏ việc trị nước. Trần Khải Thiên giảng nguỵ sử là trái với đạo trị nước.
Nguyên văn là đạo, tức cách trị nước, thuật trị nước.
Rốt cuộc cũng chỉ là hai thuật: { thưởng (bằng lợi, danh) và phạt (dùng uy) }
Có thế hiều là cái mà vua quí (danh) không hợp với cái mà sự trị nước cho là quan trọng (thực).
Chẳng hạn lòng nhân từ của đạo Nho, lòng nghĩa hiệp của đạo Mặc, Nho, Mặc cho là "thiện"(tốt) nhưng chính quyền theo Pháp gia, cho là xấu.
Cầu danh ở đâu là cầu cho được đời gọi là trung, là liệt sĩ, dũng… chứ không phải cầu được chức tước, được chính quyền khen.
Pháp gia chủ trương dân phải học pháp luật do quan lại dạy, cái học đó là học công, còn ngoài ra (như Nho học, Mặc học, Lão học… ) đều là học tư hết.
Trưởng giả thời đó có nghĩa là kính trọng như trưởng thưởng.
Nguyên văn: “loại danh hiệu ngôn”, chúng tôi hiểu theo Trần Khải Thiên, có người dịch là: đặt ra các danh hiệu.
Có người chấm câu khác và giảng là: lại không ngăn chặn họ mà còn theo họ
Theo Pháp gia thì bọn đó đáng trừng trị.
Nguyên văn là anh, tức là xúc phạm. Đoạn này Hàn Phi chủ trương vua phải có đức, bề tôi trung phải can gián vua, tư tưởng mâu thuẫn với các thiên khác, nên người ta ngờ rằng viết từ lúc đầu, khi Hàn Phi mới thôi học Tuân Tử và trở về nước Hàn, sau tư tưởng ông thay đổi đó không có gì lạ. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu rằng các thiên khác ông chê bọn trung thần can gián vua theo quan niệm Nho gia, như Tỷ Can, Ngũ Tử Tư… vì theo ông họ muốn uy hiếp vua; còn ở đây ông trách vua không nghe lời nói thẳng của kẻ sĩ có pháp thuật như ông.
Nguyên văn là danh với hình.
Nghĩa là không vượt ra ngoài phép tắc
Thời đó không phát tiền lương cho quân sĩ nhưng cấp cho họ “lộc điền” để gia đình họ cày cấy mà ăn.
Nguyên văn là bản ngôn. Theo Trần Khải Thiên, Hàn Phi ám chỉ một cuốn sách của pháp gia khá lưu truyền thời chiến Quốc sau thất truyền
 
 
 
 
 
THIÊN XLVI
LỤC PHẢN
(SÁU CÁI NGƯỢC ĐỜI)
 
 
Sợ chết, trốn tránh hoạn nạn, hạng dân đó tất thành giặc hoặc bỏ chạy, vậy mà người đời tôn là "kẻ sĩ quí trọng sự sống" học đạo lập nên học thuyết, hạng dân đó tất làm trái pháp luật, vậy mà người đời tôn là "kẻ sĩ văn học”; đi nơi này nơi khác, ở không được hậu đãi (1), hạng dân đó ăn bám, vạy mà người đời tôn là có tài năng; nói quanh co, bậy bạ (2), đó là hạng dân trá nguỵ, vậy mà người đời lại tôn là "kẻ sĩ biện trí" (3); cầm quân đâm chém người, đó là hạng dân hung bạo, vậy mà người đời lại tôn là "kẻ sĩ dũng cảm"; cứu sống giặc, giấu giếm kẻ gian, đó là hạng dân đáng tội chết, vậy mà người đời lại tôn là kẻ sĩ hào hiệp" đó là sáu hạng dân được người đời khen.
Sấn vào chỗ nguy hiểm, trung thành tới hi sinh, đó là hạng dân tuẫn tiết, mà người đời lại chê là "kẻ không biết mưu tính" trí thức kém nhưng (răm rắp) theo lệnh, đó là
 

Hàn Phi ám chỉ các triết gia, học giả - như thầy trò Mạnh Tử - tới nước nào – như Tề, Lương chẳng hạn – cũng được vua trọng đãi.
Nguyên văn mâu tri, bốn năm học giả, mỗi nhà giảng mặt khác, mà không nhà nào giảng xuôi cả; chúng tôi tạm theo Trần Khải Thiên mâu cùng nghĩa với mậu là lầm, bậy
Ám chỉ bọn "danh gia".
0
Đánh máy:  caufale



Phần 35



Trang 558 – 559


Không tử nghe nói rồi ghi lại: “Đánh đất Nguyên mà được vua nước Vệ là nhờ chữ tín.”
         d/ Ngụy Văn hầu hẹn đi săn với người nước Ngu. Đúng ngày hẹn(1) thì trời nổi cơn going. Kẻ tả hữu khuyên đừng đi, ông không nghe, bảo: “Không ên. Lấy lẽ trời nổi cơn going gió mà thất tín, ta không làm vậy được”. Rồi tự lấy xe xông pha cơn dông, tới chỗ hẹn, nhưng người nước Ngu chưa tới, bèn bãi bỏ cuộc đi săn(2).
         đ/ Vợ Tăng tư (Tăng Sâm, môn sinh của Khổng tử) đi chợ, đứa con chạy theo khóc. Bà dỗ nó: “Con về đi, mẹ đi chợ về sẽ làm thịt heo cho con ăn”. Lúc bà đi chợ về, Tăng tử muốn bắt heo để giết, bà vợ ngăn: “Tôi nói đùa với nó vậy thôi mà”. Tăng tử bảo: “Mình cho nói đùa, chứ trẻ không cho là nói đùa(3). Trẻ không phải tự nhiên biết, toàn là học của cha mẹ, nghe lời cha mẹ bảo. Nay mình nói láo với nó tức là dạy nó nói láo. Mẹ nói láo với con, con mà không tin cha mẹ được, đó không phải là cách dạy con. Rồi ông làm thịt con heo, đem luôc.
_____________________________________
         (1)Nguyên văn: minh nhật (hôm sau). Chiến Quốc sách Ngụy 4 – chép là thị nhật (hôm ấy), có phần đúng hơn.
         (2)Nguyên văn: bãi Ngu nhân. Chúng toi theo Trần Khải Thiên mà dịch như vậy. Có thể dịch là: (xông pha cơn dông) để bảo người nước Ngu bãi cuộc đi săn.
         (3)Nguyên văn: Anh nhi phu dữ hi da. Có thể dịch là không thể nói láo với trẻ được.
THIÊN XXXIII
NGOẠI TRỪ THUYẾT TẢ HẠ (Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, TẢ, HẠ)
         Kinh 1. Có tội ma 2b5 trừng phạt thì không oán bề trên như người giữ cửa cụt chân cừu Tứ Cao: có công mà được thưởng thì không cho đó là một ân huệ (...) như Chiêu Mão coi măn cỗ xe không hơn xà cạp và dép cỏ.
         Truyện I – a/ Khổng tử làm tướng quốc nước Vệ(1), học trò là Tử Cao làm chức coi ngục, chặt chân một người phạm tôi, người này sau làm chân giữ cửa. Có người ghét Khổng tử, nói với vua nước Vệ: “Trọng ni muốn làm loạn”. Vua nước vệ bắt Khổng tử, Khổng tử chạy kịp, các môn ninh đều trốn thoát, (chỉ có) Tử Cao không ra được vì cửa (thành) đã đóng(2), người cụt chân dẫn ông ta núp trong các phòng ở chân cưa, viên lại tìm ông không được. Nửa đêm, Tử Cao hỏi người cụt chân: “Tôi không thể không thí
_____________________________________
         (1)Khổng tử không làm tướng quốc nước Vệ. Thời đó Khổng Khôi làm loạn: ngẫu nhiên cùng họ với Khổng tử, nên người ta gọi là Khổng Tử.
         (2)Nguyên văn: Tử Cao hậu mon. Có sách dịch là Từ Cao đi ra ngõ sau, có sách dịch là : ra cửa sau cùng. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
 
Trang 560 – 561:
hành pháp lệnh của vua, nên đích thân chặt chân của ông. Nay là lúc ông báo thù, mà sao ông lại giúp tôi trốn (ở đây)? Sao tôi lại được ông cứu như vậy?” người cụt chân đáp: “tôi bị chặt chân, vì tội tôi đáng vậy, làm sao khác được? Nhưng khi ngài định tội tôi, ngài xét mọi khía cạnh của pháp lệnh tìm cách giúp tôi (1), muốn cho tôi khỏi tội, tôi biết vậy. Đến khi án đã quyết, tội đã định, ngài luôn buồn bã không vui, hiện rõ trên mặt, tôi thấy và biết vậy. Không phải ngài riệng thương tôi, bản tính ngài nhân từ như vậy. Tôi vui và mang ơn ngài là vì thế” (...).
         c/ Tần và Hàn đánh Ngụy, Chiêu Mão (bề tôi nước Ngụy) qua phía Tây (Tần ở phía Tây) du thuyết mà Tần và Hàn bãi binh. Tề và Kinh đánh Ngụy, Mão qua phía Đông (Tề ở phía đông) du thuyết mà Tề và Kinh bãi binh. Ngụy Tương vương thưởng ông lộc năm cỗ xe (2), Mão nói: “Bá Di được chôn cất theo cấp tướng quân ở chân núi Thú Dương, và thiên hạ đều bảo: “Hiền (có khi tiết) và có tiếng nhân nghĩa như Bá Di mà chôn cất theo cấp tướng quân thì (cũng như) chôn còn hở tay chân (3). Ngay thần bã binh
______________________________________
         (1) Nguyên văn: tiên hậu thần di ngôn. Trần Khải Thiên giảng : tiên hậu là tả hữu, ngĩa là giúp.
         (2) Thời dó thiên tử có vạn cỗ xe, vua chư hầu có 1000 cỗ, quan đại phu có 100 cỗ. Mỗi cỗ xe tương đương cho lộc 6 dặm vuông đất.
         (3) Bá Di con vua Cô Trúc có đạo đức, không ham ngôi vua lại chê Chu Võ vương giết Vua Trụ trong lúc con tang cha, nến không phục tang Võ Vương, bỏ vào núi Thú Dương, chết đói ở đó.
 
Được năm cỗ xe thì khác gì nhà vua cho thần xà cạp và dép cỏ (1).
         Kinh 2: nên cậy vào thế lực mà  không nên cậy vào tín nhiệm (2), cho nên Đông Quách Nha chống lại việc Quản Trọng làm tướng quốc; nên cậy vào thuật mà không nên cậy vào tin nhiệm, cho nên Hồn Hiên chỉ trích Văn Công. Bậc vua chúc có thuất trị nước thì thưởng một cách xác đáng để bề tôi phát triển hết tài năng, trừng phạt một cách cương quyết để ngăn cản gian tà, như vậy bề tôi dù có hành động lộn xộn, mình cũng lợi dụng được (...).
 Truyện 2 a/ Tề Hoàn công sấp lập Quản Trọng làm trọng phu (3), ra lệnh cho quân thần :” Quả nhân sắp lập Quản Trọng làm Trọng Phụ, ai tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên trái, ai không tán thành thì vào cửa rồi đứng qua bên phải”, Đông Quách Nha đứng qua ở giữa. Hoàn công hỏi : “Quả nhân lập Quản Trọng làm trọng phụ, ra lệnh ai tán thành thì bên trái, không tán thành thì đứng bên phải, sao ông lại đứng ở giữa cửa?” Nha đáp: “Thông minh như Quản Trọng có thể mưu tinh1 lấy thiên hạ được không?” Công đáp: “Được”.
______________________________________
         (1) Ý nói: thưởng không hậu. Mấy hàng cuối này nguyên văn khó hỉu, mỗi sách giảng một khác. Chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên.
         (2) Tức không nên quá tin bề tôi.
         (3) Trọng phụ là tiếng tôn xưng (coi Quản Trọng như hàng cha chú mình) chứ không phải là chức tước.
 
Trang 562 – 563:
         - “Quyết đoán như quản trọng có dám làm đại sự không?” Công đáp: “Dám”, Nha nói: “Thông mình có thể lấy thiên hạ, quyết đoán dám làm đại sự, mà nhà vua giao quyền binh cho ông ta thì ông ta tất dựa vào thế lực của nhà vua để trị nước Tề, có thể không nguy được không”, Công khên phải, rồi cho Thấp Bằng coi về nội chính, Quản Trọng coi về ngoại giao, hai người dòm ngó nhau (1).
         b/ Tôn Văn công lưu vong ra nước ngoài. Cơ Trịnh bưng bình thức ăn theo hầu, lạc đường, mất dấu Văn công, khóc trên đường, nhịn đói rồi ngủ, chứ không dám ăn. Khi Văn công về nước, đem quân đánh đất Nguyên, chiếm được. Ông bảo: “Người chịu nhịn đói để giữ thức ăn trong bình cho ta, chắc không vì đất Nguyên mà phản ta”, rồi phong cho Cơ Trịnh làm huyện lệnh đất Nguyên. Quan đại phu Hồn Hiền nghe vậy, chê rằng: “Vì cái lẽ không đụng  vào thức ăn trong bình mà tin rằng sẽ không vì đất Nguyên mà phản mình, chẳng phải là không có thuật trị nước ư? Bậc minh chủ không cậy vào cái lẽ bề tôi không phản mình mà ỷ vào cái lẽ không phản được mình, không ỷ vào cái lẽ không gạt mình mà ỷ vào cái lẽ ho không gạt được mình”.
______________________________________
         (1) Truyện này không có thực. Theo sử thì Quản Trọng nắm trọn quyền hành.
 
         c/ Dương Hổ bàn rằng: “Chúa mà hiền minh thì mình hết lòng phụng sự, nếu bất tài thi mình làm điều gian để thử chúa”. Ông ta bị đuổi ở nước Lỗ, bị nghi ở nước Tề (1), phải trốn qua Triệu, được Triệu Giản Chu tiếp; phong cho tướng quốc, kẻ tả hữu hỏi: “Hổ giỏi cướp chính quyền, sao nhà vua lại dùng làm tướng quốc?”. Giản Chu đáp: “Dương Hổ lo cướp chính quyền ta lo giữ”, và ông dùng thuật để khống chế Hổ, Hổ không dám làm bậy, trung thành phụng sự, làm cho Giản chủ mạnh hơn lên, gần thành một bá chủ chư hầu.
*
         Kinh 3: văn Vương bỏ cái lễ vua tôi mà buộc lấy dây vớ, có lỗi mà còn khoe; Quí Tôn không phân biệt lúc ở triều, lúc về nhà, lúc nào cũng trang trọng, rốt cuộc bị hại.
         Truyện 3.  a/(Chu) Văn vương đem quân đánh nước Sùng, đến gò Phượng Hoàng thì dây vó tuột, ông tự buộc lại, Thái Công hỏi: “Sao nhà vua lại tự buộc lấy?” văn vương đáp: “những người mà vua dùng, bậc trên đều là bạn vua, bậc dưới đều là người sai khiến (2). ở đây đều là bề tôi của tiên vương, nên không có ai để sai khiến”.
______________________________________
         (1) Theo thiên XXXIX Nam Tứ 2 thì Dương Hổ bị Tề Cảnh Công bỏ tù. Luận ngữ chép là Dương Hóa (Hóa là tên tự).
         (2) Câu này nguyên văn có bản chép khác và có nghĩa cũng khác:.... vua vào bậc trên (hiền đức nhất) coi các bề tôi đều là
 
Trang 564 – 563:
         Một thuyết khác bảo:
         Tấn Văn Công giao chiến với Sở, tới gò Phượng Hoàng,  dây dép tuột ra, ông tự buộc lại. Kẻ tả hữu hỏi “Nha vua không sai người buộc lại cho được ư?”. Ông đáp “Ta nghe nói vua bậc trên ở gần ai thì đều nể họ; vua bậc trung ở gần ai thì đều iu họ; vua bậc dưới gần ai thì đều khinh họ. Quả nhân tuy bất tiểu nhưng người của tiên vương còn đó, cho nên khó sai ai được”.
         b/ Quí tôn thích nuôi kẻ sĩ, suốt đời trang trọng, cach cư xử va ăn mặc ở nhà lúc nào cũng như ở triều đình. Nhưng có lần ông làm biếng nên sơ thất, không trang trọng được hoài. Các khách (kẻ sĩ ông nuôi) cho rằng ông đã chán và khinh họ nên oán ông, giết ông. Vì vậy bậc quân tử nên bỏ cái gì thái quá. (1)
*
         Kinh 4: Khiến cho phạm điều mình cấm được lợi, hễ làm hại cho mình là bị cấm, như vậy vua dù là thần thánh cũng không trị nước được. Khen kẻ có tội, chê kẻ đáng thương thì dù là vua Nghiêu cũng không trị nước được. Làm cửu mà không cho người ta vào, bày cái lợi ra mà
______________________________________
Thấy cả bậc giữa thì coi bề tôi đều là bạn, bậc thấp nhất coi bề tôi đều là người để sai khiến.
         (1) Năm truyện sau từ c/ đến g/, không được nói tới trong phần Kinh mà cũng chẳng liên quan gì đến Kinh.
 
Không cho người ta tiến lại (để hưởng), mối loạn sinh ra từ đó (...)
         Truyện 4 b/ Tây Môn Báo làm quan lệnh đất Nghiệp, nghiêm khắc liêm khiết, không mảy may tự lợi, coi thưởng kẻ tả hữu của vua nên bọn họ kết bè nhau để hủy báng ông. Được một năm ông dâng báo cáo lên, nhà vua thu ấn của ông lại. Ông dâng bỉu xin vua: “Trước thần không biết cách cai trị đất Nghiệp, nay thần biết rồi, xin được giao ấn lại để cai trị đất Nghiệp lần nữa, không được xin việc thì xin chịu tội chém. (Vua là) Văn Hầu thương tình cho phục chức. Từ đó Bảo đánh thuế nặng bách tính, hối lộ kẻ tả hữu của vua. Được một năm ông dâng báo cáo lên. Văn Hầu nghinh tiếp và bái tạ ông, ông thưa: “Năm trước thần vì nhà vua mà trị đất Nghiệp thì nhà vua thu ấn của thần, năm nay thần vì các tả hữu của nhà vua mà trị đất Nghiệp thì vua bái tạ thần, thần không thể trị đất Nghiệp được nữa”. Rồi trả ấn mà đi. Văn Hầu không nhận bảo: “Trước kia quả nhân không biết ông nay biết rồi, xin ông vì quả nhân mà răn trị đất Nghiệp cho”. Và trả lại ấn.
         d/ Từ Xước nói không có thể đồng thời tay trái vẽ hình vuông tay phải vẽ hình tròn được.
         đ/ Dùng thịt đuồi kiến thi kiến càng đông, dùng cá đuổi ruồi thì ruồi càng bu lại. (1)
______________________________________
         (1) Ba truyện sau không liên quan đến phần Kinh, riêng truyện cuối h/ không được nói tới trong phần Kinh.
 
Trang 566 – 567:
         kinh 5: bề tôi nào quá tự ti và tiết kiệm thì tước lộc không đủ đề khuyến khích; ân sủng và vinh quang mà ban phát không tiết độ thì bề tôi áp bức vua chúa (...).
         bè đảng phụ họa cho nhau, bề tôi thỏa mãn được từ dục thì vua bị cô lập; quân thần lấy công tâm mà đề cử người, kẻ dưới không phụ họa nhau (làm điều gian) thì là vua sáng suốt (...).
        
 Truyện 5.  a/ Vu Hiến Bá làm tướng quốc nước Tấn (1) mà rau lê sau hoắc mọc đầy dưới sân, gai góc sum xuê ngoài cửa, bữa ăn không hai món, chỗ ngồi không có hai lớp chiếu, vợ không mặc đồ lụa, ở nhà không cho ngựa ăn lúa, ra ngoài không có xe theo hầu. Thúc Hưởng hay điều đó lại nói với Miêu Bôn Hoàng, Bôn Hoàng chê : “Như vậy là lấy lộc tước vua làm vui lòng kẻ dưới”.
         (Còn một thuyết khác, đại ý cũng vậy chúng tôi bỏ).
         b/ Quản Trọng làm tướng quốc nước Tề, tâu với vua:
“thần sang nhưng nghèo”. Hoàn Công bảo: “Cho ông có nhà tam qui” (2), (có nhà tam qui rồi) Quản Trọng lại tâu:
______________________________________
         (1) Có sách chép là Mạnh Hiến Bá và nước Lỗ, Sai.
         (2) Về danh từ “tam qui” này có tới 5 – 6 thuyết: 1 – một lần cưới 3 vợ, 2 – cho phép đánh thuế, 3 – dựng đài tam qui; ngụ ý rằng 3 hạng người qui phục mình, dân qui phục, chư hầu qui phục, các rợ qui phục, chỉ bậc thiên tử mới đáng dựng đài đó, 4 – thuế chợ nộp vào kho nhà nước, 5 – chỗ chứa tiền của Trần Khải.
 
“thần đã giàu rồi, nhưng địa vị thần còn thấp”. Hoàn Công đặt ông ta lên hàng họ Cao, và họ Quốc (hai quí tộc lớn nhất của nước tề). Ông ta lại xin: “Địa vị của thần cao rồi, nhưng thần còn sơ với nhà vua (không được ở trong công tộc)”. Hoàn Công bèn lập ông làm trọng phụ (như hàng cha chú của vua) Khổng tử nghe chuyện đó, chê Quản Trọng là “xa xỉ quá đáng, bức hiếp vua”. (1)
         Còn 1 thuyết khác: “Quản Trọng ra ngoài thì dùng xe bọc màu đỏ với người hầu mặc áo xanh, về nhà thì cho đánh trống, trước sân bày vạc, trong nhà có đài tam qui. Khổng Tử nói: “Ông ta là một quan đại phu giỏi, nhưng quá đáng, và bức cấp trên”.
         (Đoạn dưới chép về Tôn Thúc Ngao, tướng quốc Sở, chúng tôi bỏ).
         d/ Đất Trung Mâu không có quan lệnh, Tấn Bình Công hỏi Triệu Võ:
         - Trung Mậu là tay chân của Tần, vai lưng của Hàm Đan, quả nhân muốn, có một quan lệnh tốt ở đó, dùng ai được bây giờ?
______________________________________
Thiên nghiên cứu kỹ và cho rằng thuyết này của Dực có lý hơn; tam qui là tam bách thắng (300 cỗ xe). Quan Đại Phu có 100 cổ xe, lộc mỗi cỗ xe bằng thuế một xã 30 nóc nhà, 6 dặm vuông. Quản Trọng được lộc tam qui, tức lộc ba trăm cỗ xe, bằng ba lộc đại phu, cho nên mới gọi là giàu.
         (1) Trong Luận ngữ - Bất đật -23, Khổng Tử chê Quản Trọng là khí tượng nhỏ nhen, không tiết kiệm, không biết lễ.
 
Trang 568 – 569:
         Võ thưa:
         - Có thể dùng Hình Bá Tứ.
         Công hỏi:
         - Người đó không phải là kẻ thù của ông ư?
         - Thù riêng không vào cửa công (nghĩa là việc dông việc nước thì không kể đến thù riêng).
         Công lại hỏi:
         - Còn chức lệnh ở Trung phủ thì dùng ai?
         - Dùng con của thần được.
         Cho nên bảo: “Triệu võ tiến cử người ở ngoải họ mình thi không chừa kẻ thù, tiến cử người trong thân thuộc của mình(1) thì không chừa con”. Ông tiến cử 46 ngời, đến khi ông mất, họ đều đến điếu với tư cách là khách (chứ không thân mật như người nhà). Đức vô tư của ông như vậy đó (...).
         e/ Giả Hô tiến cử kẻ thù của mình làm tướng quốc cho Giản chủ. Người thù đó cho rằng mình may mắn được tha thứ rồi nên bái tạ. Hồ giương cung bắn ông ta, bảo: “Tiến cử người là việc công, vì cho rằng ngươi lãnh được nhiệm vụ; còn thù ngươi thì là cái oán riêng, ta không vì oán riêng mà chặn đường của ngươi, không tiến cử ngươi lên với vua”.
______________________________________
         (1) Nguyên văn : ngoài cử và nội cử, có sách giảng là cử người bên ngoài, bên trong.
 
Vì vậy có ân oán riêng thì không vào cửa công (1).
*
         Kinh 6. vua (2) hèn kém thì kị lời  nói thẳng, ân nghĩa riêng tư mà chiếm phần ưu thắng thi công nghiệp của vua sẽ ít.
         Truyện 6.  – (Bốn truyện trong phần này không thực là những dẫn chứng mà chỉ hơi có liên quan tới phần kinh. Truyện đầu là lời Võ tử khuyên con đừng nói thẳng mà nguy đến thân; truyện thứ 2 thì là lời Từ Quốc khuyên con là Từ Sán (tướng quốc nước Trịnh) đừng nên trung với vua vì bị quân thần ghét mà nguy đến thân; truyện thứ 3; Lương Xa có công tấm quá, tới mức chặt chân chị khi chị phạm tội nhỏ, vua đã chẳng khen mà còn chê là bất tử, cách chức huyện lệnh của ông ta; truyện cuối cùng; quản Trọng bị bắt, từ nước Lỗ giải về Tề, dọc đường đói khát, được một người giữ biên giới tặng thức ăn. Người này hỏi sau này được trọng dụng thì quản Trọng sẽ đền ơn anh ta ra sao. Quản Trọng không nghĩ đến ơn riêng đó, đáp sẽ dùng người hiền để giúp nước, và bị anh ta oán.
______________________________________
         (1) Truyện g/ không được nói tới trong phần kinh.
         (2) Nguyên văn: công thất.
 
 
Trang 570 – 571:
THIÊN XXXIV
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU THƯỢNG
(Trích)
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NGOẠI, HỮU, THƯỢNG)
         Kinh 1, bề tôi nào mà vua dùng quyền thế cải hóa không được thì trừ đi (...).
         Truyện 1. – a/ Thưởng và khen không khuyến khích được, phạt và chê cũng không sợ, dùng cả bốn cách mà không biến đổi được thì trừ đi.
         d/ Người đi săn nhờ sự vững chắc của xe, dùng chân của sáu con ngựa, sai Vương Lương (một người giỏi đánh xe ngựa) cầm cương thì thân không mệt mà đuổi kịp những con thú chạy nhanh. Nay bỏ cái tiện lợi của xe, không dùng sáu con ngựa, không dùng tài đánh xe của Vương Lương mà xuống xe chạy bộ đuồi theo con thú thì dù có chân của Lâu Quí (một người chạy rất nhanh) cũng không sao đuổi kịp thú. Dùng ngựa tốt xe bền thì dù kẻ tôi tớ (không quen đi săn) cũng dư sức sặn được thú. Nước là xe của vua, quyền thế là ngựa của vua, không dùng cái thế để cấm và giết bề tôi, chuyên mua lòng dân (bằng cách ban ân huệ riêng cho dân) mà cứ muốn phải có đức để cùng tranh dân với bề tôi thì cũng như không dùng xe của vua, sức của ngựa mà bỏ xuống chạy bộ vậy.
         đ/ Tử Hạ môn đệ của Khổng Tử nói: “Sách Xuân Thu chép cả chục vị bề tôi giết vua, con giết cha, tất cả những vụ đó đều không phải chỉ trong một ngày mà xảy ra, trái lại do chất chứa dần dần rồi sau đó mới phát”. Kẻ gian làm bậy với dân, mỗi ngày một chất chứa, chất chứa rồi thì sức mạnh lên, có thể giết vua, vì vậy mà bậc minh chủ nên sớm diệt họ. Nay Điền Thường (1) đã làm loạn, đã lần lần thấy rồi, mà vua (Tề Giản Công) không giết đi, Án Tử không khuyên vua giết bọn bề tôi xấm lãng mà khuyên ban ân huệ cho dân (2), vì vậy mà sau Giản Công bị họa. Cho nên Từ Hạ bảo: “Người nào giòi nắm cái thế thì giệt ngay cái gian khi nó mới manh nha”.
         g/ Thái Công Vọng được phong ở nước Tề, tại phía đông. Trên bờ biển đông nước Tề có hai anh em ruột đều là cư sĩ: Cuồng Duật và Hoa Sĩ. Họ bàn với nhau: “Chúng ta không làm bề tôi thiên tử, không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hịu (chức tước), bổng lộc của vua, không làm quan, mà lao động đổ sống! Thái công Vọng khi đến Doanh Khâu (kinh đô Tề lúc đó) sai bắt giết hai người ấy, đó là đợt giết đầu tiên.
______________________________________
         (1) Điền Thành (hoặc Điền Thường, coi chú thích thiên Ngũ đố) ban ân huệ riêng cho dân theo mình mà xa vua, như vậy là có chiếm ngôi của Tề giản công. Giản Công biết là nguy cho mình, hỏi An Tử cách đối phó ra sao. Án Tử khuyên Giản Công ban ân huệ cho dân hơn Điền Thành thì dân sẽ bỏ Điền Thành mà theo mình.
0
«« « 1 2 3 » »»