Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

HÀN PHI TỬ 🔒

71 trả lời, 12.854 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-15 09:20:58Ct.Ly>
Đánh máy: muatrongdem

Hàn Phi Tử
Phần 8
Trang 180 – 193




hữu hằng tâm; vô hằng sản giả vô hằng tâm). Nếu dân đói thì họ tranh giành nhau, và thời Hàn Phi là thời “người ta tranh đoạt của nhau”, thời trọng sức mạnh.
   
Hàn Phi đã thấy luật “đấu tranh để sống”. Luật đó ở thời Chiến Quốc thật gay gắt. Như ở phần I chúng tôi đã nói, bọn tân địa chủ có học vấn tài năng trong Chiến Quốc sách gọi là kẻ sĩ, trong Hàn Phi tử gọi là kẻ sĩ giỏi pháp thuật - phải tranh đấu với bọn quí tộc cũ, tức bọn cha anh của vua chúa, bọn “trọng nhân” nắm hết quyền hành ở triều đình.

Trong Chiến Quốc sách (Lá Bối – 1972) phần I, chúng tôi đã nói bọn biện sĩ như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy… phải đút lót kẻ hầu cận các vua chư hầu, phải ăn dầm nằm dề trong một quán trọ một kinh đô nào đó mới xin được vô yết kiến vua. Được yết kiến, trình bày kế hoạch của mình rồi, được vua chấp nhận rồi, còn phải đánh át bọn “cha anh” nhà vua; bọn này ảnh hưởng lớn tới chính sách của nhà vua, mà vì quyền lợi, nên có tinh thần bảo thủ, ghét bọn biện sĩ. (“Bọn biện sĩ sợ thế lực của bọn “cha anh” đó nhất. Tính mạng họ ở trong tay bọn này; ngày nào mà vua không dùng họ, nghe lời bọn “cha anh” thì học phải trốn đi nước khác, nếu không thì chết, có khi trốn mà không thoát, rốt cuộc cũng bị phân thây (trường hợp Thương Ưởng). Cho nên họ luôn luôn nhắc vua phải trọng kẻ sĩ, tức trọng họ, (…) nhắc vua chúa về cách dùng người theo tài năng…

“Đã phải đối phó với bọn quí tộc, các biện sĩ còn phải đối phó với chính bọn họ với nhau nữa vì chính họ với nhau cũng thường gièm pha nhau, lừa gạt nhau, kèn cựa nhau như Cam Mậu và Công Tôn Diễn (Tần II – 13) Công Tôn Hãn đối đầu với Điều Kị (Tề I 8)” (trang 54-58)

Họ phải tranh đấu gay gắt non hai thế kỉ, tới đầu đời Hán địa vị mới có thể gọi là vững.

Hàn Phi rất hiểu rõ tình cảnh đó vì ông đã phải chiến đấu và đã thất bại mà lưu lại những lời ai oán trong thiên Cô phẫn. Ông bảo bọn sĩ giỏi pháp như ông với bọn “trọng nhân” thù nhau đến một mất một còn, mà bọn sĩ giỏi pháp thuật có năm cái thế để bại:

“Bọn đại thần được cầm quyền ít khi không được tin yêu, lại được vua chúa biết từ lâu, cho nên đón được ý vua, vua thích hay ghét cái gì thì họ cũng thích hay ghét cái đó, nhờ vậy mà tiến thân. Quan tước cao quí mà bè đảng lại đông nên được cả nước khen. Còn kẻ sĩ giỏi pháp thuật có muốn được yết kiến vua thì đã thiếu tình thân yêu tin cậy, không được cái may mắn biết vua từ lâu, mà lại đem lời pháp thuật ra kiểu chính lòng vua, tất làm trái ý vua. Địa vị họ đã thấp mà không bè đảng nên bị cô lập. Họ là kẻ sơ tình mà không muốn tranh với kẻ thân cận của vua, tất nhiên là không thắng được; họ mới tới mà muốn tranh với kẻ quen biết từ lâu, tất nhiên là không thắng được; họ ở địa vị hèn thấp mà muốn tranh với kẻ cao quí, tất nhiên là không thắng được; họ chỉ có một miệng mà muốn tranh với cả nước (vì người ta về hùa với bọn quyền quí còn dân thì ngại sự cải cách của họ) tất nhiên là không thắng được. Kẻ sĩ giỏi pháp thuật ở vào năm cái thế không thể thắng được đó (…). Thế đã không thắng được mà lại không sống chung được (với bọn trọng nhân) tất có kẻ mất người còn, kẻ sĩ giỏi pháp thuật sao khỏi bị nguy? Bọn trọng nhân nếu có thể vu tội lỗi cho ai thì sẽ dùng phép công mà giết người đó; không thể vu được thì sai người ám sát. Tóm lại làm sáng tỏ phép thuật mà trái ý vua chúa, nếu không bị quan giết, tất cũng chết vì bị ám sát” (Cô phẫn).

Từ quan niệm “đấu tranh để sống” tới quan niệm đấu tranh giai cấp, con đường có vẻ như không xa. Vậy mà suốt thời Chiến Quốc, Pháp gia tức giai cấp tân địa chủ lẻ tẻ đánh vào giai cấp lãnh chúa cũ bằng các hình thư, bằng qui tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật, bằng chính sách tước quyền thế tập của quí tộc như chính sách của Ngô Khởi, Thương Ưởng (cả Tuân Tử nữa), nhưng không có một nhà nào có một quan niệm giai cấp cả; họ cũng không lập nên một đoàn thể chính trị nữa như Khổng gia, Mặc gia.

Trong cuốn Nho giáo một triết lí chính trị và Đại vượng triết học Trung Quốc chúng tôi đã nhiều lần nhấn vào tính cách chính trị của Nho giáo: “Nhân đạo, chính vi đại”. Ngũ kinh của Khổng tử đều có mục đích chính là dạy về chính trị, mà cuốn Đại học dạy cách sửa mình để tề gia, trị quốc và bình thiên hạ, nghĩa là để thành một người dân tốt, một ông quan, một ông vua tốt. Vậy có thể nói trường học của Khổng tử là một trường dạy chính trị mà ông cùng mấy ngàn môn sinh là một đoàn thể chính trị, một chính đảng (1).

Xét lời ông nhận định về sở trường của các môn sinh trong chương Tiên tiến – 2, ta cũng thấy ông có ý đào tạo những người ra làm việc nước. Ông bảo: “Về đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung; về ngôn ngữ (tức tài ăn nói) có Tể Ngã, Tử Cống; về chính trị có Nhiễm Hữu, Quí Lộ; về văn học có Tử Du, Tử Hạ”

Khi ông bôn ba các nước chư hầu, ông dắt các môn sinh theo và khi phải giao thiệp với người ngoài, ông thường sai Tử Cống, Tể Ngã đi thay, coi họ như những nhà ngoại giao.

Mạnh tử nối chí Khổng tử cũng dạy học và dắt các môn sinh đi khắp các nước, lần nào cũng gồm mấy trăm người trên mấy chục cỗ xe.

Còn đạo Mặc thì rõ ràng là một đoàn thể chính trị có qui luật nghiêm khắc hơn cả một chính đảng ngày nay: môn sinh phải tuyệt đối tuân lời Mặc tử. Ông thành một đảng chủ, gần như một giáo chủ. Người có tài đức trong đảng được cử làm “cự tử” (tức như thủ lãnh) và các người trong đảng hễ làm quan, có lộc, phải nộp cự tử một phần để chi dùng cho đảng. Có lần ở Dương Thành, tám mươi ba đệ tử cùng chết theo một cự tử tên là Mạnh Thắng; lần khác con trai một cự tử tên là Phúc Thôn giết người, Tần Huệ vương thương Phúc Thôn đã già mà chỉ có một mình nó là con, tha tội cho nó; Phúc Thôn không tha, tự giết con, vì phải theo luật của đạo Mặc: hễ giết người thì phải đền mạng.

Lão tử và Trang tử tuy có bàn về chính trị - Lão chủ trương vô vi, Trang chủ trương hoàn toàn tự do, gần như vô chính phủ - nhưng không hoạt động về chính trị. (Trang tử muốn làm con rùa sống mà lết đuôi trong bùn còn hơn là một con rùa chết được trân tàng ở miếu đường) cho nên không lập đảng mà không có hoặc có rất ít môn sinh. Lẽ ấy dễ hiểu.

Nhưng Pháp gia hầu hết ở trong giai cấp tân địa chủ, chuyên hoạt động về chính trị mà trong suốt ba bốn chục năm không nhà nào đào tạo môn sinh, thành lập một đảng, là tại sao? Họ rời rạc: Thương Ưởng không nhận là môn đệ của Ngô Khởi, Hàn Phi không coi Thương Ưởng là thầy. Hình như họ chỉ như người phương Tây ngày nay gọi là “technocrate” (kĩ phiệt), chỉ là những kĩ thuật gia về chính trị, về pháp thuật, không được như giai cấp “bourgeoisie” của Pháp ở thế kỉ XVIII, nên không gây được một cuộc cách mạng, không có ý lật đổ quân quyền, trái lại còn quá tôn trọng quân quyền nữa. Hàn Phi tập đại thành tư tưởng các Pháp gia đời Tiên Tần, học thuyết của ông tuy có hệ thống nhưng ông chú trọng quá tới thuật trị nước, còn tinh thần tranh đấu của ông kém Thương Ưởng, chỉ nhận thấy rằng :”các huyện lệnh thời ông khi chết rồi, con cháu mấy đời còn được (ung dung) ngựa xe” (Ngũ đố) còn các nông dân, chiến sĩ làm cho nước giàu và mạnh thì sống cực khổ; không thấy ông chủ trương triệt các đặc quyền của giai cấp quí tộc, một phần có lẽ giai cấp đó là giai cấp của ông.

Tóm lại, cũng như các Pháp gia khác, ông không có ý thức rõ rệt về giai cấp đấu tranh. Phải chăng đó là một hạn chế của thời đại? Nếu họ có ý thức đó và lập được, một đảng chính trị thì lịch sử và văn minh Trung Hoa có lẽ đã thay đổi hẳn.



Về bản tính thứ nhì, Tuân Tử bảo con người “mệt thì muốn nghỉ” (có thể hiểu là ít chịu gắng sức); Hàn Phi gay gắt hơn cho là làm biếng, hễ có dư ăn rồi thì không muốn làm gì nữa. Hàn cũng có lí: loài người thời ăn lông ở lỗ chắc chắn là như vậy. Một người “esquimau” (thổ dân Bắc Mỹ sống ở gần Bắc Cực) bảo: “Khi tôi dư thịt ăn rồi thì tôi chẳng nghĩ tới gì cả”. Và theo ông Loskiel thì một bộ lạc láng giềng sẽ chia lương thực cho họ”. Và những bộ lạc này thấy người siêng năng cứ phải nuôi báo cô kẻ lười biếng, nên càng ngày trồng trọt càng ít đi. (Will Durant – sách đã dẫn).

Tuy nhiên, Hàn cũng nhận rằng có một số ít rất siêu nhãn có đủ dùng rồi mà vẫn chịu gắng sức, nhờ họ mà nhân loại mới tiến bộ được; nhưng ngưòi trị dân là trị số đông nên bắt buộc dân phải gắng sức. Thiên Lục phản ông viết:

“Con người bẩm sinh hễ có tài sản đủ dùng rồi thì hoá ra lười biếng, không chịu gắng sức, bề trên không nghiêm trị thì kẻ dưới phóng túng làm bậy. Tài sản đủ dùng rồi mà vẫn gắng sức làm lụng thì chỉ có Thần Nông thôi; bề trên không nghiêm trị mà kẻ dưới có đức hạnh thì chỉ có Tăng Sâm và Sử Ngư. Hạng dân thường không bằng được Thần Nông, Tăng Sâm và Sử Ngư là điều hiển nhiên rồi (…) Cho nên bậc minh chủ trị nước phải thích nghi với thời mà sản xuất nhiều tài vật, định thuế má sao cho giàu nghèo bình quân (công bằng), ban nhiều tước lộc để dùng hết tài năng trong dân, dùng hình phạt nặng để ngăn cấm gian tà, khiến cho dân hễ gắng sức làm lụng thì sẽ giàu, hễ có công nghiệp thì sẽ sang, làm bậy thì bị tội, có công thì được thưởng, chứ không mong được bề trên nhân từ ban cho ân huệ…”

(chữ hán)

(Phàm nhân sinh chi dã, tài dụng túc tắc huy sĩ dụng lực, thượng trị noạ (2) tắc tứ ư vi phi. Tài dụng túc nhi lực tác giả, Thần Nông dã; Thượng trị noạ nhi hạnh tu giả, Tăng Sử dã. Phù dân bất cập Thần Nông, Tăng Sử diệc dĩ minh hĩ (…) Cố minh chủ chi trị quốc dã, thích kì thời sự dĩ trí tài vạt, luận kì thuế phú dĩ tuân bần phú, hậu kì tước lộc tận hiền năng, trọng kì hình phạt dĩ cấm gian tà, sử dân dĩ lực đắc phú, dĩ sự trí quí, dĩ quá thụ tội, dĩ công trí thưởng nhi bất niệm từ huệ chi tứ…)

Hễ ai gắng sức nhiều thì được hưởng nhiều, được giàu sang, làm biếng thì chịu nghèo. Nhưng vì quá mong cho nước giàu và mạnh, quá theo “chủ nghĩa thực lợi”, nên có khi ông bất công, tàn nhẫn với người nghèo:

“Đa số học giả ngày nay nói đến việc trị nước đều bảo: “Cấp đất cho người nghèo, cho người không có tư sản đủ ăn”. Nay có người cũng như những người khác, không trúng mùa, không có nguồn lợi nào khác mà riêng được dư ăn, thì nếu không phải là nhà siêng năng, tất là nhờ tiết kiệm. Lại có người cũng như người khác không gặp năm đói kém, không bị tật bệnh, tỗi lỗi gì mà riêng cùng khốn, thì nếu không phải là do xa xỉ, tất là do biếng nhác. Xa xỉ và biếng nhác thì nghèo, siêng năng và tiết kiệm thì giàu. Nay bậc vua chúa thu thuế của người giàu để bố thí cho người nghèo, thế thì cướp của người siêng năng và tiết kiệm để phân phát cho kẻ xa xỉ và biếng nhác, như vậy mà muốn cho dân gắng sức làm lụng tiêu pha bớt đi thì không thể được”.

(chũ hán)

(Kim chi học sĩ ngữ trị dã, đa viết: dữ bần cùng địa, dĩ thực vô tư. Kim phù dữ nhân tương nhược dã, vô phong niên bàng nhập chi lợi, nhi độc dĩ hoàn cấp dã phi lực tắc kiệm dã. Dữ nhân tương nhược dã, vô cơ cận tật cứu hoạ tội, chi ương, độc dĩ bần cùng giả, phi xa tắc hoạ dã. Xa phi hoạ giả bần, nhi lực nhi kiệm giả phú. Kim thượng trưng liễm ư phú nhân dĩ bố thí ư bần gia, thị đoạt lực kiệm nhi dữ noạ dã, nhi dục sách dân chi tật tác nhi tiết dụng, bất khả dã - Hiển học).

Có phải người nghèo nào cũng do xa xỉ hoặc làm biếng cả đâu, có phải người giàu nào cũng do tiết kiệm và siêng năng cả đâu, nhất là trong xã hội thời ông mà đã phải nhận rằng sự đấu tranh để sống rất gay go. Mà trong xã hội lí tưởng của ông, thưởng phạt rất công minh, thì vẫn có những người sinh ra yếu đuối, đần độn hơn những người khác, hoặc cha mẹ nghèo nàn không nuôi nấng giáo dục như những người khác, những người đó khốn khổ đâu phải tại họ, sao lại không cưu mang, bố thí cho họ. Tâm lí Hàn đúng là tâm lí hạng tân địa chủ, tôn trọng sự cần kiệm nhưng bất công và có phần tàn nhẫn.



Bản tính thứ ba của con người, theo Hàn, là chỉ phục tòng quyền lực thôi. Về điểm này ông hoàn toàn Tuân Tử. Tuân còn tin ở công dụng của sự giáo hoá bằng lễ, nghĩa; ông thì không.

Thiên Lục phản ông viết:

“Mẹ yêu con gấp bội cha yêu con mà cha ra lệnh thì côn tuân lệnh gấp mười mẹ ra lệnh. Quan lại không yêu gì dân mà lệnh được dân tuân gấp vạn lần của cha mẹ tích luỹ lòng yêu con mà lệnh không được theo; quan lại dùng oai nghiêm mà dân tuân lệnh. Vậy dùng oai nghiêm hay dùng lòng yêu, cách nào nên theo là điều dễ quyết định được rồi”.

(chữ hán)

(Mẫu chi ái tử dã bội phụ, phụ lệnh chi hành ư tử giả mẫu. Lại chi ư dân vô ái, lệnh chi hành ư dân dã giả mẫu. Lại chi ư dân vô ái, lệnh chi hành ư dân dã vạn phụ. Mẫu tích ái nhi lệnh cùng, lại dụng uy nghiêm nhi dân thính tòng; nghiêm ái chi sách diệc khả quyết hỉ).

Thiên Ngũ đổ, ông cho sự giáo hoá không có công hiệu, chỉ có nghiêm hình mới đc thanh niên:

“Nay có đứa con hư, cha mẹ giận, la ó, nó không sửa tính, người trong làng trách nó, nó cứ trơ trơ, thầy dạy nó, nó cũng không chừa. Lòng yêu của cha mẹ, hành động của người trong làng, và lời giáo huấn sáng suôt của thầy dạy, có đủ ba cái đẹp đẽ đó mà chung qui bộ đem binh tới thi hành phép nước, lùng bắt kẻ gian, lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính khí, hạnh kiểm. Vậy lòng yêu của cha mẹ không đủ để dạy con, phải đợi có nghiêm hình của châu bộ mới được, vì dân vốn được yêu thì nhờn, phải dùng uy lực mới chịu nghe”

(chũ hán)

(… Cố phụ mẫu chi ái bất túc dĩ giáo tử, tất dã châu bộ chi nghiêm hình giả, dân cố kiêu ư ái, thỉnh ư uy hỉ)

Cha mẹ yêu con, cọn vị tất đã không loạn. Vua cũng vậy, dù yêu dân như con, dân cũng vị tất cũng không loạn. Muốn ngăn loạn, dùng nhân nghĩa không được phải dùng uy thế. Vì bản tính của dân là chỉ sợ hình phạt, tin ở tính thiện của họ là lầm lớn:

“ Bậc thánh nhân trị nước, không trông mong gì dân làm điều thiện (3) chỉ cốt sao cho dân đừng làm bậy thì khắp nước có thể không làm bậy. Người trị nước dùng chính sách nào thích hợp với đại chúng mà bỏ chính sách nào thích hợp với một số ít người, cho nên không vụ đức mà chỉ vụ pháp luật.”

(Phù thánh nhân chi trị quốc, bất thị nhân chi vi ngô thiện dã, nhi dụng kì bất đắc vi phi dã. Thị nhân chi vi ngô thiện dã, cảnh nội bất thập số, dụng nhân bất đắc vi phi, nhất quốc khả sử tề. Vi trị giả dụng chúng nhi xả quả, cố bất vụ đức nhi vụ pháp Hiển học.)

Hàn Phi thật bi quan, không cho hạng bình dân có một đức nào cả, chỉ chê họ là tự tư tự lợi, biếng nhác, không dạy được để kết luận rằng muốn trị học chỉ có một cách là dùng nghiêm hình nhưng ông quên rằng thiện Ngũ đố ông đã bảo dù có thưởng hậu, phạt nặng cũng không làm cho dân khỏi loạn được! Đó là một điểm mâu thuẫn của ông.


Chú thích:

(1). Trong Luận ngữ (Tử lộ - 18) Khổng tử có dùng chữ ngô đảng mà có người dịch là xóm tôi, có người dịch là đoàn thể của tôi.
(2). Cũng đọc là nhu.
(3). Nguyên văn: vi ngô thiện, có thể hiểu là làm điều thiện theo ý ta, cho ta.
0
Đánh máy: snowqueen244

(từ 139 đến 151)

Chương 1



Lịch sử quan
Từ Khổng Tử, không triết gia nào không bất mãn về xã hội thời Đông Chu, nhà nào cũng đưa ra một biện pháp để cứu thế. Đại khái có hai phái: phái quý tộc suy vi không muốn đổi mới, phái tân địa chủ muốn đổi mới.
Trong phái trên, Lão tử chủ trương hoàn toàn thoái hóa, trở về chế độ bộ lạc thời nguyên thủy. Nòng cốt tư tưởng về chính trị (mà cũng về nhân sinh nữa) của ông ở trong câu: “phản giả đạo chi động” (Đạo đức kinh- chương 40).
Chữ “phản” đó có thể hiểu theo hai nghĩa:
_Nghĩa thứ nhất là tuần hoàn, hết một vòng rồi lại trở về, như trăng tròn rồi lại khuyết, mặt trời lên tới đỉnh rồi lại xuống, triều dâng rồi rút, hết đông rồi sang xuân, tóm lại là “vật cùng tắc biến vật cực tắc phản”
_ Nghĩa thứ nhì là trở về cái gốc, tức cái tự nhiên như “vô”. Vì theo ông, vạn vật từ cái hữu mà ra, cái “hữu” lại từ cái “vô” mà ra.
Vì vây, ông cho rằng trị nước tốt nhất là “vô vi”, mà lí tưởng là một nước nhỏ, dân ít mà không đi đâu xa. Có xe thuyền mà không ngồi, có gươm giáo mà không bày. Bỏ hết văn tự, dùng lối thắt dây (kết thằng) đời thượng cổ; ai nấy chỉ ăn no, mặc ấm, ở yên ổn ; đến chết cũng không can thiệp đến đời sống của nhân dân để dân sống theo tự nhiên. (Xem Đại cương triết học Trung Quốc của chúng tôi quyển hạ, trang 690, 691- Cảo thơm- Sài Gòn, 1996).
Khổng Tử muốn duy trì chế độ phong kiến, nhưng nghĩ rằng phải tùy thời biến dịch, cho nên tuy ông “tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ” (1) (bắt chước vua Văn, vua Võ nhà Chu), khen tổ chức nhà Chu là rực rỡ, đáng theo (Chu giám ư nhị nhị đại, úc hồ văn tai! Ngô tòng Chu: Nhà Chu noi theo hai nhà Thượng và Hạ mà định lễ tiết, rực rỡ, đẹp đẽ thay, cho nên ta theo lễ tiết nhà Chu- Bát dật-14) mà cũng có tinh thần cải cách cho hợp thời:
1/ Đưa ra chủ trương chính danh- phải có tư cách ông vua thì mới đáng gọi là vua- viết sách Xuân Thu để “chính danh tự, định danh phận, ngu bao biếm”.
2/ Bảo vua phải vậy mới gọi là cha mẹ dân được (dân chi sở hiếu, hiếu chi, dân chi sở ố, ố chi, thử chi vị dân chi phụ mẫu- Đại học), và kẻ cai trị dân mà dùng chính hà khắc thì còn gớm hơn cọp (Lễ Kí).
Trên một thế kỷ sau, xã hội loạn hơn, bọn quý tộc suy hơn, bọn tân địa chủ lớn mạnh, Mạnh tử đứng về phía bọn tân địa chủ, có tư tưởng tiến bộ hơn, cơ hồ không đáng tin cậy gì ở nhà Chu nữa, muốn ủng hộ bất kì một ông vua Chư hầu nào chịu thi hành nhân chính để thay thế nhà Chu. Ông quí dân hơn Khổng tử, bảo: “dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, lớn tiếng mạt sát những ông vua tàn bạo ham giết người, xa xỉ, để cho dân đói, bảo Trụ là tên thất phu, giết Trụ là giết một tên thất phu chứ không phải thí quân, mắng Lương Huệ vương là “cho loài thú ăn thịt dân”; có lần còn dọa Tề Tuyên vương là coi chừng kẻo bị truất ngôi, khiến cho Tuyên vương biến sắc (Vạn Chương hạ-9). Ông cho bề tôi có quyền coi vua là giặc: “Vua xem bề tôi như chó như ngựa thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước, vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi xem vua như giặc như thú” (Quân chỉ thị thần như khuyển như mã, tắc thần thị quân như khấu ù thù – Li Lâu hạ).
Mạnh còn sáng kiến đưa ra thuyết “nhất trị nhất loạn” trong lịch sử (1) &lt;(1): vì trong thiên nhiên thì dân tộc Trung Hoa đã biết luật thịnh suy hữu thời từ hồi mới có nông nghiệp, mà Lão tử, Khổng tử đã cho nó là một luật tự nhiên&gt; Thiên Đằng Văn công hạ, bài 9, ông bảo một môn đệ là “đương thời vua Nghiêu, các dòng bị ngăn nên chảy nghịch, nước ngập tràn cõi Trung Quốc. Các giống rắn rồng ở lẫn lộn với người trên mặt đất, dân không có nơi ở yên. Kẻ ở dưới thấp phải làm chòi mà ở, kẻ trên hang phải đào hang mà trú. Kinh thư chép: “Nước tràn ta nên phòng bị. Nước tràn bờ là nạn lụt (hồng thủy ) đấy”.Đó là một thời loạn.
“Vua Thuấn sai ông Vũ trị thủy. Ông Vũ đào vét những chỗ bề tắc cho nước chảy ra biển. Ông đuổi rắn rông ra nơi đồng xa cỏ rậm. Các dòng nước mới theo chiều đất mùa chảy, đó là mấy sông Giang, Hoài, Hà, Hán. Những cái ngăn trở sông rạch đã dẹp xong , loài chim loài thú hại người đều bị tiêu diệt, từ đó nhân dân mới được đất bằng mà ở”. Đó là thời trị.
“Vua Nghiêu vua Thuấn đã mất, đạo trị quốc của hai ông thánh đó mỗi ngày một suy. Những ông vua bạo ngược nối nhau mà ngất ngưởng trên ngai; họ phá cung tường, nhà cửa bách tính đề đào ao xây hồ, dân chúng chẳng có chỗ an nghỉ. Họ lấy ruộng đất của bách tính làm vườn bách thảo, bách thú, khiến cho dân thiếu ăn thiếu mặc. Lại thêm những tà thuyết bạo hạnh nổi lên. Vườn bách thảo bách thú, ao hồ, bái(hồ trồng hoa), đầm ngày càng nhiều thì các chim và thú quí tụ càng đông. Tới đời vua Trụ loạn cực điểm”. Đó lại là một thời loạn nữa.
“Bấy giờ, ông Chu công giúp ông Võ vương, giết vua Trụ, phạt nước Yên, ba năm mới giết được vua nước Yên, đuổi Phi Liêm (kẻ sủng ái của vua Trụ) ra tận góc biển mà giết. Năm chục vua chư hầu (theo nhà Thương, tức theo vua Trụ) bị Võ vương tiêu diệt hết. Những đoàn thú như cọp, beo, tê, voi (vua Trụ nuôi), ông thả ra và đuổi đi xa. Thiên hạ rất mừng rỡ”. Đó là một thời trị nữa.
“Rồi đời càng suy, đạo càng kém, những tà thuyết, bạo hạnh lại nổi lên, có kẻ bề tôi giết vua, có kẻ làm con giết cha”. Đó lại là một thời loạn nữa. Khổng tử sợ, mới soạn bộ Xuân Thu, chép hành vi các vua để răn đời” (…).
“ Ngày nay bậc thánh vương không ra đời, các vua chư hầu thì luông tuồng , mà hạnh xử sĩ thì bàn ngang luận càn, học thuyết của Dương Chu và Mặc Địch lan tràn thiên hạ, khi bàn bạc người nào không theo Dương thì theo Mặc. Dương chỉ biết có mình, như vậy là không có vua; Mặc thương tất cả mọi người (như nhau), như vậy là không có cha. Không vua, không cha, tức là cầm thú”. Loạn cực rồi. Mạnh tử còn bảo cứ năm trăm năm lại một thời thịnh, rồi lấy sử ra để chứng thực:
_Từ vua Nghiêu, vua Thuấn đến vua Thang là trên 500 năm; (1)
_ Từ vua Thang đến Văn vương là trên 500 năm (2)
_Từ Văn vương đến Khổng tử là trên 500 năm nữa.(3)
&lt;Sự thực thì (1)= -1783-(12357) = 574 năm; (2)= -1185-(-1783) = 598 năm; (3)= -551- (-1185) = 635 năm&gt;
(Tận tâm hạ-38)
Ông biết rằng từ Khổng tử đến ông mới được trên trăm năm, nhưng lại không tính theo từ Khổng tử, mà từ vua Thang đến ông được non 1500 năm (sự thực cũng gần đúng), nên ông hi vọng đã đến một thời thịnh , ông có thể nối nghiêp của Khổng tử được. Ông đã thất vọng: thuyết nhất thịnh nhất suy đúng (có bao giờ một triều đại, một dân tộc thịnh hoài được đâu) nhưng cái luật 500 năm của ông sai (từ Văn vương đến Khổng tử là 634 năm) mà ông chết rồi ( năm -289), Trung Quốc còn tiếp tục loạn thêm 68 năm nữa, đến năm -221 Tần Thủy Hoàng mới diệt hết lục quốc, thống nhất được toàn cõi. Thực ra suốt triều Tần, Trung Hoa cũng không thể coi là trị được, phải đợi đến năm -206, Hán Cao Tổ lên ngôi, mới bắt đầu một thời bình trị, vậy là từ khi Võ vương chết phải đợi 909 năm sau mới có một thời trị (-1115 đến -206) chứ không phải 500 năm.
Đưa ra thuyết nhất trị nhất loạn đó là Mạnh tử đã trình bày một lịch sử quan rồi. Trước thế kỉ thứ 4 trước T.L, ở Trung Quốc chưa xuất hiện một lịch sử quan nào cả; từ thế kỉ đó nối tiếp nhau, chúng ta có tới ba lịch sử quan: của Mạnh tử, của Trâu Diễn và của Thương Ưởng.
Trâu Diễn (-340 _ -260) sinh sau Mạnh tử, thuộc phái Âm dương, cũng chủ trương thịnh suy hữu thời, nhưng thuyết của ông rất kì cục, dùng ngũ hành – ông gọi là ngũ đức- để giảng lịch sử. Theo ông thì “ngũ đức chuyển di, trị các hữu nghi”. Ngũ hành thay phiên nhau : thổ rồi tới mộc, mộc rồi tới kim, kim rồi tới hỏa, hỏa rồi tới thủy, hết thủy rồi lại trở về thổ; cứ mỗi hành thịnh cực rồi lại suy và cái hành khắc nó lên thay nó (mộc khắc thổ, kim lại khắc mộc, hỏa lại khắc kim, thủy lại khắc hỏa, thổ lại khắc thủy ), như vậy là “ngũ đức chuyển di”, và người trị dân, cầm quyền trong nước phải hành động hợp với hành nào đang thịnh ở thời mình, như vậy là “trị các hữu nghi”. Khi một thời đại nào suy đến cùng cực, thời đại khác sắp dấy lên thì trời có điềm báo cho dân biết.
Thời Hoàng đế, hiện ra điềm ở các loài côn trùng vàng. Màu vàng là màu của thổ. Hoàng đế biết là khi thổ mạnh, cho nên ông chuộng màu vàng, và công việc chú trọng vào đất. Tới thời vua Vũ (nhà Hạ) có điềm cây cỏ mùa đông, mùa thu không tàn lụi, ông biết là khi mộc mạnh, nên chuộng màu xanh (màu của mộc) và công việc chú trọng vào cây cối. Qua đời vua Thang (nhà Thương) có điềm các loài kim thuộc sinh ra ở chất nước (?), ông biết là khí kim mạnh, nên chuộng màu trắng (màu của kim), và công việc làm theo tính chất của kim(?). Đến đời Văn vương (nhà Chu), có điềm con quạ đỏ ngậm sách vàng trên nền thờ nhà Chu, ông biết là khi hỏa thịnh nên chuộng màu đỏ và công việc làm theo tính chất hành hỏa. Thay thế hành hỏa tất sức là hành thủy, tất cũng sẽ có điềm cho thủy mạnh, và ông vua thời sau sẽ chuộng màu đen(màu của thủy) , công việc là sẽ theo tình chất hành thủy. Tới khi hành thủy suy cực rôi, sẽ trở về hành thổ. Các thời đại trong lịch sử cứ nối tiếp nhau, thay nhau theo luật ngũ hành đó, hết một vòng rồi trở về thổ là nguyên thủy, hơi giống thuyết “phản giả đạo chi động”của Lão tử.

Nhưng thuyết của Lão tử hợp với thiên nhiên,còn thuyết của Trâu Diễn có tính cách thần bí , phản khoa học mà cũng không thể chứng minh bằng lịch được. Thời vua Thang có thật chuộng màu trắng không mà công việc làm tính chất hành kim là như thế nào? Và kim thuộc sinh ra ở chất nước là kim thuộc nào? Truyện con quạ đỏ ngậm sách vàng đậu trên nền thờ nhà Chu là truyện hoang đường, và chúng ta cũng không hiểu công việc làm tính chất hành hỏa là làm sao?
Tuy nhiên tư tưởng của Trâu Diễn cũng có điểm đúng: ông nhận ra rằng lịch sử luôn luôn biến động, theo những mâu thuẫn bên ngoài (mâu thuẫn đó ông gọi là sự xung khắc của ngũ hành); và mỗi thời có một chế độ, văn hóa riêng (ông gọi là công việc làm theo tính chất của mỗi hành); cái gì không hợp thời đều phải bỏ, đời sau không nên theo chính sách của đời trước. Ông bảo:
“Chính trị, giáo dục, văn hóa, nghi thức cụ thể là những cái để bỏ cứu cho thời đạo. Hợp thời thì dùng, lỗi thời thì bỏ, (thời thế) có thay đổi thì thay đổi. Cho nên người cố chấp mà không biến đổi thì chưa thấy việc chính trị được đạt đến hết mức vậy” (Theo sách Hán thư, chương Nghiêm An truyện-do Lã Chấn Vũ trích trong sách đã dẫn-trang190).
Lịch sử quan thứ ba của Thương Ưởng. Thương lớn tuổi hơn Mạnh. Theo Hàn Phi thì ở thời ông nhiều người còn giữ bộ “Thương Quân thư”. Bộ đó có thể không phải của Thương Ưởng viết, và cũng như bộ Quản tử, do người đời sau ngụy tạo, vậy không đáng tin hẳn. Nhưng các học giả gần đây như Phùng Hữu Lan, Tần Khải Thiên, Lã Chấn Vũ… đều cho rằng Thương Ưởng có thuyết “tam thế”, nên dưới đây chũng tôi cũng dẫn một đoạn trong chương Khai tắc về thuyết đó:
“Có trời đất lập ra rồi mới có dân, thời bấy giờ dân biết mẹ mà không biết cha; đạo lí của họ là thân cận với người thân thuộc và yêu cái riêng tư (…). Người thì đông mà ai cũng lo cho cái riêng tư, không biết đến ai thì sẽ gây ra loạn. Ở thời ấy dân chỉ nhằm lợi cho mình và dùng sức mà đè nén nhau. Muốn có lợi cho mình thì phải đè nén nhau; tranh giành nhau thì phải kiện tụng nhau; kiện và mất lòng ngay thẳng thì sẽ không còn là bản tính của mình.Cho nên khi người hiền đặt ra lẽ công bằng và đạo vô tư thì dân lại dần dần yêu thích đạo nhân. Và lúc bấy giờ người ta đã bỏ việc thân yêu người thân thuộc, mà tôn quý người hiền và lập họ lên (…). Đông người mà không có chế độ nhất định(…) thì sẽ có loạn, cho nên bậc thánh nhân nhận thấy điều đó mới có sự phân biệt ruộng đất, tài sản và nam nữ. Phân biệt như vậy mà không có chế độ để giữ gìn thì không được, cho nên đặt ra pháp lệnh cấm. Đặt ra pháp lệnh mà không có người thi hành bảo vệ thì không được, cho nên phải đặt ra quan. Có các quan rồi mà không có người thống nhất lại một khối thì không được, cho nên lập ra vua. Đã lập ra vua thì phải bỏ lệ tôn quý và lập người hiền, mà lại quý trọng người sang mà lập họ lên. Như vậy là thời thượng cổ thì thân yêu người thân thuộc và quý chuộng cái riêng tư, thời trung thế thì yêu quý người hiền và yêu thích đạo nhân, thời hạ thế thì quý người sang và tôn trọng các quan. Tôn quý người hiền là lấy việc giúp đỡ nhau làm đạo; mà, lập ra vua là khiến cho người hiền thành vô dụng; thân yêu người thân thuộc lấy cái riêng tư làm đạo lí; mà lập ra đạo công thì làm cho cái riêng tư không thực hành được. Ba điều đó không phải là trái ngược nhau nhưng khi đạo trong dân xấu nát thì phải đổi di” (Lã Chấn Vũ trích trong sách đã dẫn, trang 193-194).
Thời mà Thương Ưởng gọi là “thượng thế” tức là thời nguyên thủy, thời xã hội gồm những bộ lạc mà gia đình theo chế độ mẫu hệ. “Trung thế” là thời theo chủ nghĩa nhân trị, tức như nhà Nho gọi là thời Nghiêu , Thuấn. Còn “hạ thế” là thời “quan trị”, tức “pháp trị”, thời của Thương Ưởng. Thuyết đó chưa phát hiện được quy luật của lịch sử; mà quan niệm thành lập vua, quan của ông cũng không đúng : các nhà xã hội học ngày nay cho rằng chiến tranh giữa các bộ lạc tạo nên quốc vương và quốc gia. (Xem Nguồn gốc văn minh – Chương III, tiết I Nguồn gốc quốc gia của Will Durant- bản dịch của tôi, nhà Phục Hưng 1974). Tuy nhiên lịch sử quan đó với hai lịch sử quan trên của Mạnh tử và Trâu Diễn tiến bộ hơn cả: không có chút gì thần bí, mà có tính chất tất nhiên; không có thời nào tốt đẹp hơn thời nào, không có một hoàng kim thời đại trong dĩ vãng như Lão, Khổng tin tưởng vì theo ông, thân yêu người thân, theo cái riêng tư, hay tôn quí người hiền mà giúp đỡ lẫn nhau, hoặc lập ra vua quan, theo đạo công, ba cái đó, “không trái ngược nhau” – ông muốn nói là đều theo luật tự nhiên cả, đều là hợp với mỗi thời cả, không thể gọi là tốt hay xấu được, hễ việc đời biến đổi thì việc hành đạo cũng phải khác.
Cho nên ông bảo: “Phải tùy thời đại mà định chế độ, mỗi cái đều phải thuận theo hoàn cảnh của nó”.
Trong phần I chúng tôi đã dẫn lời ông đáp Tần Hiếu công: “Thời tam đại (Hạ, Thương, Chu) lễ không giống nhau mà đều làm được vương nghiệp; các ông bá pháp luật không giống mà đều lập được bá nghiệp (…). Vua Thang, vua Vũ không theo cổ mà làm bậc vương, Hạ và Âu có thời theo cổ mà mất nước. Vậy làm khác thời trước chưa hẳn là đáng chê mà theo thời cổ cũng chưa hẳn là đáng khen”. Qui tắc là phải theo thời và hợp lí.
“ Lễ dộ và pháp luật phải theo thời mà qui định; chế độ và pháp luật phải thuận theo lẽ phải mà thích nghi với hoàn cảnh; quân đội, võ khí, các đồ dùng đều phải thuận tiện cho việc sử dụng”.
Nếu những đoạn chúng tôi mới dẫn đó thực là tư tưởng của Thương Ưởng (do người đời sau chép lại) thì Hàn Phi đã chịu ảnh hưởng rất lớn của ông.
Hàn cũng đưa ra thuyết “tam thế”. Thiên Bát thuyết ông viết: “Người đời (thượng) cổ gấp lo về đức hạnh, người đời Trung cổ ganh nhau về trí, người đời nay tranh nhau về sức mạnh. (Cổ nhân cứu đức, trung thệ trục ư trí, đương kim tranh ư lực). Thời thượng cổ ít việc mà dùng thiết bị đơn giản, chất phác, thô lậu mà không tinh, cho nên mài vỏ trai lớn để dầy cỏ, dùng xe bánh không có tay hoa. Thời thượng cổ ít người mà thân nhau, tài vật nhiều nên người ta thích cái lợi và dễ nhường nhau, do đó mới có việc

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-15 16:40:11Ct.Ly>

Đánh máy: cunhoi


Phần 14
Chương VI
(Từ trang 273 đến trang 289)
PHÁP
 
Nho gia dùng chữ “pháp” theo nghĩa phép tắc, như trong các từ ngữ “tiên vương chỉ pháp”, “hậu vương chỉ pháp” (phép tắc của tiên vương, của hậu vương); còn Pháp gia nói tới “pháp” là luôn luôn trỏ pháp luật.
 
Trong thiên Định pháp, Hàn Phi định nghĩa chữ “pháp” như sau: “Pháp là hiệu lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp”.
 
(Pháp giả hiến lệnh trứ ư quan phủ; thưởng phạt tất ư dân tâm, thưởng tồn hồ thận pháp, nhi phạt gia hồ gianlệnh giá dã; thứ nhân thần chỉ sở sư dã).
 
Thiên Hữu độông ví pháp luật với dây mực, cái thuỷ chuẩn, cái qui, cái củ, tức những đồ dùng làm tiêu chuẩn. Pháp luật tức là một thứ tiêu chuẩn để biết đâu là chính, đâu là tà, để khen dúng người phải, trách đúng kẻ quấy.
 
Trong phần I (tiểu sử Tử Sản) chúng tôi đã xét sự tiến triển của ý niệm về pháp luật ở thời Xuân Thu và Chiếc Quốc ra sao, và các pháp gia từ Quản Trọng tới Thương Ưởng đã lần lần lấy pháp luật thay cho lễ, bỏ tính cách giai cấp của lễ ra sao. Có điều đáng để ý là sự tôn quân càng tăng thì ý niệm về pháp luật càng mạnh. Nho gia tuy tôn quân nhưng coi vua là người chỉ nhận sứ mạng của trời, mà ý dân là ý trời, nên đòi vua phải có đạo đưc (vua có ra vua thì bề tôi mới giữ đạo bề tôi) ông vua nào không có tư cách đều bị Khổng Tử, Mạnh Tử chê hoặc mạt sát; mà Nho gia lại chính là những chính trị gia chỉ có ý niệm về đạo đức (nhân) về bổn phận (nghĩa) chứ chưa có ý niệm về pháp luật. Trái lại Pháp gia tôn quân hon Nho gia nhiều (coi chương II và III phần này) thì lại có ý niệm rất rõ về pháp luật và đòi hỏi các vua chúa phải luôn luôn áp dụng đúng pháp luật. Cơ hồ họ cảm thấy rằng phải có pháp luật để giảm bớt uy quyền của vua. Họ không nói đến mệnh trời, ý dân nữa, không đề cao nhân nghĩa nữa mà chỉ nói đến pháp luật, đề cao pháp luật. Đó là một sự biến chuyển lớn trong tư tưởng chính trị của Trung Quốc thời Chiến Quốc mà chúng tôi chưa thấy học giả nào phân tích.
 
Ba thuyết thế,  pháp, thuật của pháp gia liên quan chặt chẽ với nhau, chống đỡ lẫn nhau: “thế” như cái khung cửa tò vò, pháp và thuật như hai chân cột của cửa; có cái thế mới thi hành được pháp, thuật; mà có pháp, thuật thì mới giữ vững được cái thế, hễ thiếu một là sụp đổ hết. Vì vậy mà khi xét tới một trong ba cái đó, phải nhắc tới hai cái kia, không thể tách rời hắn ra được. Chúng tôi bất đắc dĩ phải tạm chia làm ba chương: thế, pháp, thuật chỉ để cho dễ trình bày, chứ thực sự muốn hiểu rõ một chương nào thì phải tham khảo thêm hai chương kia.
 
Tính cách của pháp luật theo Hàn Phi.
 
Theo chủ trương của Pháp gia, vua tượng trưng cho quốc gia, vua là quốc gia, nên nắm hết uy quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên vua không thể muốn đặt luật pháp ra sao cũng được, mà phải theo ba qui tắc chính dưới đây:
 
1- Luật pháp phải hợp thời: Trong chương Lịch sử quan của Hàn Phi, chúng tôi đã nói Hàn cũng như Thương Ưởng cho rằng lịch sử biến chuyển, thời sau không giống thời trước, mà hễ thời đã khác thì việc cũng phải khác (thế dị tắc sự di), thánh nhân không theo cổ, phải xét tình hình hiện tại mà tuỳ nghi tìm biện pháp.
 
Về việc lập pháp, Hàn tất nhiên không thể chủ trưương khác được. Thiên Tân độ (1) có câu:
 
“Pháp luật cùng với thời mà thay đổi thì nước trị, trị dân mà hợp với đời thì có kết quả (…) Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn, đời đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị chia cắt. Cho nên thánh nhân trị đâu thì pháp luật theo thời mà đổi, cấm lệnh cùng với đời mà biến”.
 
(Pháp dữ thời chuyển tắc trị; trị dữ thế nghi tắc hữu công… Thời di nhi pháp bất dịch giả loạn, thế biến nhi cấm bất biến giá tước. Cố thánh nhân chi trị dân, pháp dữ thời di, nhi cấm dữ thế biến).
 
2- Pháp luật phải soạn sao cho dân dễ biết, dễ thi hành.
 

Thiên Ngũ đố, Hàn viết:
 
“Pháp luật không gì bằng thống nhất, cố định để cho dân dễ biết”.
 
(Pháp mạc như nhất nhi cố, sử dân tri chi) Thống nhất nghĩa là pháp luật phải qui định cho cả nước theo, chứ nếu mỗi miền có luật lệ, cấm lệnh riêng thì daan miền này qua miền khác, cứ tưởng luật lệ cũng như ở miền mình ở mà vô tình phạm pháp mất. Thống nhất còn có nghĩa là khi đã ban bố một pháp lệnh mới thì phải bỏ pháp lệnh cũ đi, nếu không thì kẻ gian sẽ lợi dụng tình trạng mập mờ đó, lựa pháp lệnh nào có lợi cho họ mà theo, như trường hợp nước Hàn khi mới tách ra khỏi nước Tấn, pháp luật của Tấn chưa bỏ mà pháp luật của Hàn đã ban hành, vì vậy mà nước Hàn chịu cảnh hỗn loạn một thời gian, không mau mạnh lên được (Định pháp). Cố định nghĩa là không được thay đổi hoài, mới ban một lệnh được ít ngày hay ít tháng đã ban một lệnh ngược lại. Việc thưởng phạt cũng vậy, đã thưởng thì không đổi ý, phạt thì không ân xã.
 
Pháp luật là để cho toàn dân theo, cho nên phải tường tận cho người không có học cũng hiểu được, lại phải dễ thi hành:
 
“Cái gì mà kẻ sĩ có óc tinh tế mới biết được thì không nên ban làm lệnh, vì dân không phải người nào cũng có óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền mới làm được, thì không nên dùng làm phép tắc vì không phải người dân nào cũng hiền cả”.
 

(Sát sĩ nhiên hậu năng tri chí, bất khả dĩ vi lệnh, phù dân bất tận sát. Hiền giá nhiên hậu năng hành chi, bất khả dĩ vi pháp, phù dân bất tận hiền – Bát thuyết).
 
Nhất là phải soạn ra sao cho minh bạch, mọi người đều hiểu như nhau; nếu tinh lược quá, mỗi người hiểu một cách thì sinh ra nhiều việc tranh tụng, và có những kẻ lợi dụng sự mập mờ của pháp luật mà làm bậy. “Pháp luật mà tinh lược thì dân chúng hay tranh tụng, vì vậy mà (…) pháp luật của minh chủ ghi việc rất tường tận”.
 
(Pháp tinh nhi dân manh tụng, thị dĩ (…) minh chủ chi pháp tất tưởng sự. Như trên).
 
3- Pháp luật phải công bằng binh vực kẻ yếu, số ít, như vậy mới có trật tự trong nước được:
 
“Bậc thánh nhân xem sự thực của sự phải quấy, xét tình hình của sự trị loạn, cho nên trị nước thì minh định pháp luật, đặt ra hình phạt nghiêm khắc để cứu loạn cho quần chúng, trừ hoạ cho thiên hạ, khiến cho kẻ mạnh không lấn kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít, người già được hưởng hết tuổi trời, bọn trẻ côi được nuôi lớn, biên giới không bị xâm phạm, vua tôi thân nhau, cha con bảo vệ nhau, không lo bị giết hay bị giặc cầm tù, đó cũng là cái công cực lớn vậy”.
 

(Thánh nhân giả thầm ư thị phi chi thực, sát ư trị loạ chi tình dã. Cố kì trị quốc dã, chính minh pháp, trấn nghiêm hình, tương dĩ cứu quần sinh chi loạn, khử thiên hạ chi hoạ, sử cường bất lăng nhược, chúng tất bạo quả, kỳ lão đắc toại, ấu cô đắc trưởng, biên cảnh bất xâm, quân thần tương thân, phụ tử tương bải, nhi vô tử vong hệ lỗ chi hoạn, thử diệc công chi chí hậu giả dã – Gian kiếp thí thân).
 
Trọn bộ Hàn Phi tử chỉ có mấy hàng đó là có giọng thương dân. Tư tưởng không khác mà có phần đầy đủ hơn của Mạnh Tử trong các thiên Lương Huệ vương thượng và hạ:
 
“…người bảy chục tuổi có lụa mà mặc, có thịt mà ăn, dân cũng khỏi đói, khỏi lạnh…”
 
“…trên thì đủ phụng dưỡng cha mẹ, dưới thì đủ sức nuôi vợ con, năm được mùa thì mãi mãi no đủ, năm mất mùa thì cũng khỏi chết đói…”, “…già mà goá vợ gọi là quan, già mà goá chồng gọi là quả, già mà không có con gọi là độc, trẻ mà mồ côi cha gọi là cô. Đó là bốn hạng cùng khổ nhất trong thiên hạ, không biết nhờ cậy vào ai. Vua Văn vương bắt đầu trị nước, thi nhân, lưu tâm tới bốn hạng người ấy trước nhất”.

 
Hàn khác Mạnh là chủ trương không ban ân huệ cho dân, không bố thí, bắt dân phải tận lực rồi mới thưởng. Thiên Ngoại trừ thuyết hữu hạ, ông chép lại truyện Chiêu Tương vương nước Tần từ chối không phát rau quả cho dân đói vì mất mùa, lấy lẽ rằng:
 
“Theo pháp luật của nước Tần ta thì dân có công mới được thưởng, có tội mới bị phạt. Nay phát cho dân rau quả trong năm vườn (của ông) tức là dân có công hay không có công đều được thưởng là gây loạn trong nước”.
 
Xét chung, các Pháp gia chỉ muốn công bằng mà không muốn có tình thương; nhưng thiếu tình thương thì có thể công bằng được không? Công bằng còn có nghĩa là mọi người, chẳng kể sang hèn, đều bình đẳng trước pháp luật. Điểm này có tính cách tiến bộ, ngược lại với tính cách gia cấp của “lễ”. Thời Xuân Thu, “hình bất thướng đại phu”, bọn quý tộc không bị hình phạt như thường dân, không bị trị theo phép nước mà được xử theo lễ, tức theo các lệ riêng của quý tộc với nhau. Thương Ưởng và Hàn Phi muốn dùng luật để trừ cái đặc quyền đó của quý tộc, kéo họ xuống ngang hàng với bình dân.
 
4- Pháp luật có tính cách phổ biến
, trái với lễ có tính cách bí mật. Pháp luật phải được phổ biến để không một người dân nào có thể viện cớ rằng mình không biết pháp luật nên lỡ phạm pháp. Thiên Nạn tam, Hàn Phi phân biệt pháp và thuật như sau:
 
“Pháp luật là cái chép trong sách vở, bày ở công sở và công bố cho toàn dân. Thuật là cái giấu trong lòng để so sánh mọi việc mà ngầm chế ngự quần thần. Cho nên pháp luật không gì bằng phải bày ra cho mọi người biết mà thuật thì không muốn cho người khác thấy. Bậc minh chủ nói đến pháp luật thì hết thảy những kẻ ti tiện trong nước đều được nghe biết…; còn như dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe…”
 
(Pháp giả, biên trứ chi đồ tịch, thiết chi ư quan phỉ, nhỉ bố chi ư bách tính giả da. Thuật giả, tàng chỉ ư hung trung, dĩ ngẫu chúng đoan nhi tiềm ngự quần thần giả dã. Cố pháp mạc như hiển, nhi thuật bất dục hiện. Thị dĩ minh chủ ngôn pháp, tắc cảnh nội ti tiện mạc bất văn tri dã…, dụng thuật tắc thân ái cận tập, mạc nhi đắc văn dã…).
 
Có hai cách để “hết thảy những kẻ ti tiện trong nước đều được nghe biết”:
 
a) Viết hay khắc lên thẻ tre treo ở chỗ công cộng, như Đặng Tích đã làm từ thời Xuân Thu. Những thẻ đó gọi là trúc hình. Cũng có thể đúc lên các đỉnh bằng sắt, nhưng đỉnh chỉ bày trong cung hay ở miếu đường, dân thường không tới coi được nên kém tính cách phổ biến;
 
b) Sai các quan lại dạy cho dân. Đây là chính sách “lấy pháp luật mà dạy dân” “dùng quan lại làm thầy” mà Hàn Phi đã nói trong thiên Ngũ đố. “Dĩ pháp vi giáo” tức là đem bộ luật làm sách giáo khao, “dĩ lại vi sư” tức là dùng quan lại làm giáo viên, như vậy pháp luật vừa được thống nhất vừa được phổ biến.
 
Vậy từ thời Chiến Quốc, người Trung Hoa đã có ý dạy pháp luật chẳng những cho quan lại mà cả cho dân chúng nữa. Chủ trương đó hợp lý và thực tế, nếu được áp dụng lâu, chẳng hạn một thế kỷ, thì chưa biết chừng Pháp gia sẽ gây được một đảng phái chính trị có quyền hành lớn mà sự diễn biến của lịch sử Trung Hoa có thể đã khác. Nhà Tần bị diệt rồi, lại phải đợi mười hai thế kỷ sau, một nhà cách mạng là Vương An Thạch mới có ý dạy luật cho kẻ sĩ để sau bổ dụng họ; nhưng ông chưa kịp cải tổ nền giáo dục khoa cử chuyên về thơ phú đã làm hại nhân tài, thì phe ông đã bị “cựu đảng” (đảng thủ cựu) lật đổ, mà lối học từ chương lại sống thêm tám thế kỷ nữa.
 
Thiên Định pháp, Hàn Phi báo pháp và thuật đều là công cụ của đế vương, không thể thiếu một trong hai cái đó, cũng như ăn và mặc đều cần thiết như nhau cho cuộc sống cả. Vua có thuật mà bề tôi không có pháp luật thì nước sẽ loạn; có pháp luật mà vua không dùng thuật để biết kẻ gian thì nước có giàu, mạnh cũng chỉ lợi cho bọn đại thần thôi. Vì vậy Hàn luôn luôn nhắc các bậc vua chúa phải theo pháp thuật, phải trọng kẻ sỉ giỏi pháp thuật.
 
Tuy nhiên trong thiên Hữu độ, ông lại bảo:
 
“Người thi hành pháp luật mà cương cường thì nước mạnh, người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu”.
 
“Nhà cầm quyền nào biết bỏ tư lợi tà tâm mà theo phép công thì dân sẽ yên, nước sẽ trị; biết bỏ hành động riêng tư mà làm theo phép công thì binh sẽ mạnh, địch sẽ yếu. Cho nên vua (theo pháp độ mà) xét sự thành bại của việc, dùng người biết giữ pháp đọ mà đặt lên trên các quần thần thì không kẻ nào gian trá gạt vua được; (theo pháp độ mà) xét sự thành bại của việc, dùng người biết cân nhắc mà giao cho các việc ở xa thì không kẻ nào lừa gạt về việc quan trọng hay không quan trọng trong thiên hạ được”.

 
(Năng khử tư khúc, tựu công pháp giả, dân an nhi quốc trị; năng khử tư hành, hành công pháp giả, tắc binh cường nhi đích nhước. Cố thẩm đắc thất, hữu pháp độ chi chế giả, gia ư quần thần chỉ thượng, tắc chủ bất khả khi dĩ trả nguỵ; thẩm đắc thất, hữu quyền hành chi xứng giả, dĩ thĩnh viễn sự, tắc chủ bất khả khi dĩ thiên hạ chi khinh trọng. Hữu độ).
 
Ông muốn nói cứ theo phép công - tức theo pháp luật – thì nước yên và mạnh, mà không bị bề tôi lường gạt. Vậy ông có vẻ nhận rằng pháp luật quan trong hơn thuật.
 
Gần cuối thiên đó ông lại nói:
 
“Áp dụng pháp luật thì kẻ trí phải theo mà kẻ dũng không dám cãi (…) Khiến cho toàn dân noi theo một đường thì không gì bằng pháp luật (…) Pháp luật phân minh thì người trên được coi trọng, không bị lấn; người trên được tôn trọng không bị lấn thì vua mạnh, nắm được các mối quan trọng. Vì vậy tiên vương quí pháp luật mà truyền lại đời sau”.
 

(Pháp chỉ sở gia, trí giả phất năng từ, dùng giả phất cảm tranh (…) Nhất dân chi quĩ, mạc như pháp (…) Pháp thẩm tắc thượng tôn nhi bất xâm, thượng tôn nhi bất xâm tắc chủ cường nhi thủ yếu. Cố tiên vương quí nhi truyền chi).
 
Vậy mặc dầu không thể thiếu thuật, pháp luật vẫn quan trọng nhất, cho nên áp dụng chính sách thưởng phạt để giữ cái thế, vua phải theo đúng pháp luật như chương trên chúng tôi đã nói, mà dùng thuật để tuyển và điều khiển bề tôi, vua cũng phải theo pháp luật, như chương sau độc giả sẽ thấy.
 
Vì pháp luật là cái qui cái củ “Người thợ dù khéo, mắt nhìn và ý đoán không sai với dây mực, nhưng cũng phải dùng cái qui cái củ để đo trước đã; ông vua vào hạng thượng trí tuy cử sự nhanh chóng và thích đáng cũng phải dùng pháp độ của tiên vương làm tiêu chuẩn”.
 
(Xảo tượng mục ý trúng thằng, nhiên tất tiên dĩ qui củ vi độ; thượng trí tiệp cử trúng sự, tất nhiên dĩ tiên vương chi pháp vi tỉ - Như trên). Nghĩa là đã không được theo ý riêng, mà cũng không được tin cậy ở sự sáng suốt của mình, mà nhất thiét hành vi nào cũng phải theo pháp luật.
 
Thiên Nạn tam, Hàn phi dẫn truyện Tử Sản nhờ thông minh, giỏi nhận xét, suy luận mà phát giác được một vụ vợ giết chồng.
 
Sáng hôm đó Tử Sản đi qua cửa phường Đông Tượng, thấy có một người đàn bà khóc, bèn bảo người đánh xe dừng lại, ông lắng nghe một lát, rồi sai thuộc hạ bắt người đàn bà đó lại tra hỏi, thì ra mụ đó đã tự tay thắt cổ chồng. Người đánh xe hỏi ông làm sao mà đoán được, ông đáp: “Vì thấy tiếng khóc mụ đó run sợ. Thương tình hễ người thân của mình mới đau thì mình lo lắng, khi sắp chết thì mình run sợ, khi chết rồi thì mình đau xót. Mụ đó khóc chồng chết, không đau xót mà run sợ, vì vậy mà biết là có tình ý gian”.
 
Nếu chuyện đó có thật thì Tử Sản có thể là thuỷ tổ của các nhà trinh thám Trung Hoa, là thầy của Bao Công sau này. Nhưng Hàn Phi chê:
 
“Tử Sản trị dân cách đó cũng chẳng rắc rối ư? Phải đợi trông thấy nghe thấy rồi mới biết là gian thì nước Trịnh bắt được ít kẻ gian lắm. Không dùng bọn lại coi ngục tụng, không dùng chính sách khoả sát nhiều mặt, không làm sáng tỏ phép đo lường, mà cậy vào sự tận dụng trí thông minh, sự suy tư mệt trí của mình mới biết được kẻ gian, chẳng là thiếu thuật quá ư?”
 
Lời chê đó bất công. Tử Sản là một chính trị gia giỏi, cho đúc “hình thư”, vậy là trọng pháp luật; trước khi chết lại dặn người sẽ nối chức ông – Du Cát - phải dùng hình phạt nghiêm khắc để cho dân sợ mà tôn trọng pháp luật, khỏi phạm cấm. Vậy có lý nào ông không dùng bọn lại coi về ngục tụng , không làm sáng tỏ phép đo lường, mà chỉ cậy vào sự suy tư mệt trí để biết được kẻ gian. Việc Tử Sản phát giác án mạng đó chỉ là do ngẫu nhiên, không thể căn cứ vào đó mà bảo ông chủ trương chỉ dùng mưu trí để trị quốc. Nhưng lời khuyên của Hàn Phi đúng.
 
Chương này chứa nhiều tư tưởng rất tiến bộ của Hàn – nói chung là của Pháp gia – chương sau Hàn Phi sẽ hé mở cho ta cái “trí khôn” của cổ nhân.
 
 
(1) Nhiều học giả ngờ giọng văn thiên này không phải của Hàn nhưng nhận rằng tư tưởng hợp với Hàn, nên có thể tạm dùng được. Riêng mấy hàng đầu dưới đây thì rõ ràng là ý kiến của Hàn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-15 16:38:38Ct.Ly>
Đánh máy: Ct.ly

Hàn Phi Tử
 
( Phần 12 )

Chương 5
 
( từ trang 247 đến -  259)
 
 
Trong phần I, chúng tôi đã nói Pháp gia đầu tiên bàn vế cái "thế " là Thận Đáo. Đại ý ông ví vua với con rồng, rồng nhờ có mây mà bay lên cao được. Hiền và trí không đủ cho đám đông phục tòng mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục được người hiền. Chẳng hạn " vua Nghiêu (bậc hiền trí) hồi còn là dân thường thì không trị được ba người, mà Kiệt khi làm thiên tử thì có thể làm loạn cả thiên hạ, nghĩa là ban lệnh nào - dù lệnh xấu - dân chúng răm rấp theo hết.
 
    Chủ trương đó ngược với chủ trương của Nho gia mà Hàn Phi đã trình bày trong thiên Nạn thế, đọan " Có kẻ trả lời Thân tử", ( coi phần dịch ). Nho gia trong hiền trí hơn địa vị, và cái uy thế của vua do giá trị của vua hơn là do địa vị. Con rồng mà bay được, đành rằng dựa vào cái thế của mây, nhưng trước hết là nhờ cái tài của nó, chứ nếu là con giun vô tài thì dù có mây cũng không cưỡi được. Vả lại cái thế - tức cái ngôi vua - tự nó không thể khiến cho người hiền dùng nó, kẻ bất tiếu không dùng nó. Người hiền dùng nó thì thiên hạ trị ( như vua Nghiêu ) kẻ bất tiếu dùng nó thì loạn ( như vua Kiệt ). Tính tình con người, hiền thì ít, bất tiếu thì nhiều. Lấy cái lợi của uy thế mà giúp kẻ bất tiếu thời loạn thì kẻ dựa thế làm loạn thiên hạ sẽ đông, người nhờ thế làm lợi cho thiên hạ sẽ rất ít (... ). Giúp cho kẻ bất tiếu có thế lực, tức là chấp cánh cho cọp. (Nạn thế ). Vậy Nho cho rằng vua xấu khiến cho thời loạn.
 
        Hàn Phi bác chủ trương đó của Nho trong đoạn " Lại có kẻ trả lời câu hỏi trên" (Nạn thế) . Đọan này có vài chỗ khó hiểu, chẳng hạn trong mươi hàng đầu Hàn phân biệt " thế tự nhiên " và " thế do người lập ra" (nhân sở thiết) mà không cho biết thế nào là thế tự nhiên, cho nên có học giả hiểu là thiếu mệnh, là thời thế, có học giả lại hiểu là thiên mệnh, là thời thế, có học giả lại hiểu là sự truyền ngôi. Chúng tôi đoán Hán muốn nói rằng thời suy như thời Kiệt thì sinh ra vua xấu, ngược lại với thuyết của Nho gia: vua xấu làm cho thời loạn. Nhưng đoán vậy có sai chăng vì Hán vốn tin rằng thịnh suy do sức người, không liên quan gì với sức trời kia mà.
 
            Rồi những hàng sau, Hán dẫn truyện người bán mâu và thuẫn khoe thuẫn minh chắc, không gì đâm thủng được, lát sau lại khoe " mâu mình bán không gì là đâm không thủng". Trần Khải Thiên hiểu rằng Hán muốn bảo sự hiền minh với cái thế không dung nhau được như cái mâu và cái thuẫn : Vandermeerseh lại bảo Hàn cho rằng khi lý luận mà đưa những trường hợp cực đoan ra ( như Nghiêu Thuấn, Kiệt Trụ) thì lý lẽ nào vững tới mấy cũng có thể bác được vì có mâu thuẫn, Trần Khải Thiên và Vandermeerseh, ai hiểu đúng Hàn Phi? Bỏ những chỗ khó hiểu đó đi, đọc kỷ cả đoạn, tôi thấy Hàn rõ ràng bênh vực thuyết của Thuận Đáo, cho rằng cái " thế " không liên quan gì với gia trị về đạo đức và tài trí của con người; và trong việc trị dân, cứ đợi có ông vua hiền thì ngàn đời mới gặp một ông, không lẽ trong chín trăm chín mươi chín đời kia, để cho dân loạn sao. Ông viết:
" Nghiêu, Thuấn, Kiệt, Trụ ngàn đời mới xuất hiện một lần; số đó rất ít  '1' . Mà cái thường thấy trên đời thì là hạng người trung bình, cho nên tôi nói về thế là nói về hạng trung bình. hạng người trung bình thì trên không bằng Nghiêu, Thuấn, dưới không đến nỗi như Kiệt, Trụ. Nếu cứ giữ chặt pháp luật dùng quyền thế thì nước trị, quay lưng lại, bỏ quyền thế. Nay bỏ quyền thế, quay lưng lại pháp luật mà đợi Nghiêu, Thuấn; Nghiêu Thuấn tới là nước trị thì ngàn đời loạn mới có một đời trị. Giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế mà đợi  Kiệt, Trụ ; Kiệt, Trụ tới là nước loạn thì ngàn đời trị thì mới có một đời loạn ( ...) Vả lại ( .... ) nói về việc trị nước, không đưa ra trường hợp Nghiêu, Thuấn thì đưa ra trường hợp Kiệt, Trụ làm loạn nước; như vậy tức nói về khẩu vị, nếu không đưa ra đường mật thì đưa ra rau đắng, rau đay; nghị luận như vậy là nói cho nhiều mà không hợp lý hợp phép vì đưa ra hai trường hợp cực đoan, làm sao có thể bắt bẻ những lời hợp đạo lý được ? " ...
 
( Chữ Trung Hoa )
 
 
(.... Trung giả, thượng bất cập Nghiêu, Thuấn , nhi hạ điệc bất vi Kiệt, Trụ, bảo pháp xử thế tắc trị, bội thế khử pháp tắc loân. Kim phế thế bội pháp nhi đãi Ngjiêu, Thuấn, Nghiêu Thuấn chí nãi trị, thị thiên thế loạn nhi nhất trị dã, bão pháp xử thế nhi đãi Kiệt, Trụ, Kiệt, Trụ chí nãi loạn, thị thiên thế trị nhi nhất loạn dã ( ...) Thả  ( ... ) trị, phi sử Nghiêu, Thuấn dã, tất khổ thái, đình lịch dã, thử tắc tích biện loạn, li lí thất luật, lưỡng mạt chi nghị dã, hề khả dĩ nạn phù đạo lý chi ngôn hồ tai! ( Nạn thế).
 
              Hàn Phi đã vu oan cho Nho gia. Nho gia có bao giờ mong ông vua nào cũng được như Nghiêu, Thuấn đâu; chỉ nói rằng ở vào địa vị ông vua, có quyền thế của ông vua, mà có tài trí hiền đức, thì nước mới trị, nếu tàn bạo thì nước càng loạn thêm, Nghiêu Thuấn, Kiệt Trụ chỉ là những thí dụ vậy thôi. Mà chính pháp gia cũng nhận rằng vua cần sáng suốt, có tài năng mới áp dụng pháp thuật, họ luôn luôn nhắc đến bậc " minh chủ" biết dùng pháp thuật là vì vậy. Họ có khác gì Nho gia đâu.
 
                Nho gia cũng không khác họ ở điểm nhận rằng địa vị, uy quyền - tức cái thế - rất quan trọng, cho nên họ mới tôn quân. Chung quy họ chỉ không đồng ý với nhau ở mỗi điểm này: Nho gia đặt tài đức lên trên địa vị, phải có tài đức tới một mức nào đó thì mới xứng đáng với địa vị, mới không làm hại dân. Pháp gia đặt địa vị, quyền thế lên trên tài đức ; miễn là tài đức trung bình mà có quyền thế là trị nước được rồi ; Nho chủ trưong nhân trị, Pháp chủ trương Pháp trị, nhưng dù chủ trương nhân trị thì cũng không thể bỏ pháp, mà chủ trương pháp trị thì càng không thể bỏ « nhân », nghĩa là bỏ cái yếu tố người (facteur humain ) đi.
 
 
            Trong cái «  thể » tức là trọng sự cưỡng chế. Có thể nói Pháp gia hiểu ý nghĩa, mục đích của quốc gia nếu không đúng hơn thì cũng thực tế hơn Nho gia, vì từ hồi nào tới giờ, mục đích của quốc gia là « yên ổn trong nội bộ để chiến đấu với ngoại quốc » ; và chính quyền nào cũng phải áp chế - nhiều ít tùy thời - bằng cách này hay cách khác đễ giữ được trật tự, thực hiện một chương trình.
 
      Vì trong sự cưỡng chế, cho nên pháp gia chủ trương :
 
1 – Chủ quyền( lập pháp, hành pháp, tư pháp ) tập trung cả vào một người là vua ;
 
2 – Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để : dân không được quyền làm cách mạng, không được trái ý vua, vua bắt chết thì phải chết, không chết tức là không trung, điều đó chúng tôi đã xét ở chương trên ; hơn nữa, dù vua có nhường ngôi cho, cũng không được nhận, vì nếu nhận thì vua sẽ thành bề tôi của mình mất, trái phép, bất trung. Hàn Phi nhiều lần đả đảo chính sách thiện nhượng.
 
          Trong thiên Ngũ đổ, ông cho việc vua Ngiêu truyền ngôi cho ông Thuấn là không hợp thời, mà hành động đó cũng không cao quý gì vì thời đó làm vua không sướng : ở nhà tranh, ăn cơm gạo xấu với rau, mặc áo da thú hoặc vải thô ; nhường ngôi thiên tử chỉ là từ bỏ cuộc sống của ,người giữ cổng, của tên nô lệ, không có gì đáng khen.
 
         Trong thiên Trung hiếu (2), Hàn còn mạt sát Ngiêu Thuấn là làm loạn đạo nghĩa. Thiên hạ đều cho rằng đạo hiếu, đề, trung, thuận là phải nhưng không ai xét kỹ bốn đạo đó để thi hành cho đúng, vì vậy mà thiên hạ loạn.
 
        « Thiên hạ đều cho đạo của Nghiêu Thuấn là phải theo, vì vậy mới có những vụ thí vua, không coi cha là cha. Nghiêu, Thuấn, Thang, Võ đả phản lại nghĩa vua tôi, làm loạn sự giáo hóa đời sau . ( Nghiêu làm vua mà lại làm cho bề tôi ( tức Thuấn ) thành vua của mình ; Thang, Võ mà làm vua mà lại thí chúa, chém thây chúa ( 3 ). Vậy mà thiên hạ lại khen, cho nên thiên hạ đến nay vẫn không trị ».
 
Chữ Trung Hoa ….
 
( Thiên hạ giai dĩ hiếu đễ trung thuận chi đạo vi phụ dã, nhi mạc tri sát hiếu đễ trung thuận chi đạo nhi thẩm hành chi, thị dĩ thiên hạ loạn. Giai dĩ Nghiêu Thuấn chi đạo vi thị nhi pháp chi, thị dĩ hữu thi quân, hữu khúc phụ. Nghiêu, Thuấn, Thang. Vũ hoặc phản quân thần chi nghĩa, loạn hậu thế chỉ giáo giả đã, Nghiêu vi nhân nhi quân thần kỳ thần, Thuấn vi nhân thần nhi thần kỳ quân ; Thang, Võ vi nhân thần nhi thí kỳ chủ, hình kỳ thi nhi thiên hạ dự chi, thử thiên hạ sỡ dĩ chí kim bất trị giả dã)
 
      Vậy vua dù là tàn bạo như Kiệt, Trụ, bề tôi cũng không đươợ đánh giết, đánh giết tức là trái đạo bề tôi, là nghịch thần chứ không bảo là cứu vớt dân được ; còn Nghiêu nhận ngôi vua cũng là trái đạo bề tôi. Tôn quản đến vậy là cực điểm, trái hẳn với chủ trương của Nho gia.
 
     3 – Sau cùng quy kết thứ ba của chủ trương trọng sự cưỡng chế ; đó là hai cái «cán », hai quyền binh ở trong tay nhà vua, của riêng nhà vua. Muốn cho nước trị thì vua chỉ cần dùng thưởng phạt chứ không cần dùng giáo hóa, lễ nhạc. Đây cũng là một điểm trái hẳn với Nho giáo. Nho giáo dùng sức để giáo hóa dân dã, kẻ nào không thể cảm hóa bằng đức được thì mới bất đắc dĩ phải dùng đến hình phạt .
 
      Khổng tử bảo :
« Bật Thái thượng (tức cao nhất ) lấy đức dạy dân, mà lấy lễ tề dân (tề là sửa lại cho ngay ). Bậc thứ nhí lấy chính sự mà khiến dân và lấy hình (phạt) mà ngăn cấm : hình đặt ra nhưng không dùng đến. Chỉ có lúc hóa dân mà dân không theo để đến hại nghĩa nát tục thì bây giờ mới phải dùng hình vậy
 
 
Chữ Trung Hoa …….
 
( Thái thượng dĩ đức giáo dân, nhi dĩ lễ tế chi. Kỷ thữ di chính dự đạo dân, dĩ hình cấm chi, hình bất hình dã. Hóa chi phát biến, dãn chi phát tòng, thương nghĩa nhi bại tục, ư thị hồ dụng hình hi - Khổng tử gia ngư . Ngũ hình giải) (4).
 
        Dùng đức và lể để cảm hóa dân, kết quả tốt hơn dùng hình phạt, nên chương Vi chính, bài 3 ( Luận ngừ) ông nói thêm : « Dùng pháp chế mà bắt dẩn dân, dùng hình phạt mà sửa dân cho ngay thì dân không phạm pháp nhưng không biết xấu hổ ; dùng đức mà dắt dân, dùng lễ mà sửa cho ngay thì dân biết xấu hổ mà trở nên tốt » .
 
 
Chữ Trung Hoa …..

 
(Đạo chi dĩ chính, tể chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sĩ, đạo chi di đức, tế chi di lễ, hữu si thả cách).
 
      Ông còn mong đạt được lý tưởng trong nước không còn sự tranh giành, kiện tụng nữa : Xử kiện tụng mới hay.
 
-     Chữ Trung Hoa ….
 
 
( Thính tụng ngô do nhân dã, tất đã sử vô tụng hồ - Nhân Uyên – 13)
 
      Vì Pháp gia cho sự thưởng phạt là cách tốt nhất để trị dân, nên chúng tôi để riêng tiết dưới đây để xét quan niệm về thưởng phạt của Hàn Phi.
 
 
         Thưởng Phạt.
 
Hàn Phi cho rằng trừ một số ít siêu nhân, còn thì hầu hết loài người có nhiều tật xấu tham lợi, tranh giành nhau, làm biếng, chỉ sợ sức mạnh – ( coi phần I ) nên không mong gì họ làm điều thiện được, chỉ cầu sao họ biết sợ mà đừng làm điều ác thôi, vậy phải dùng chính sách cưỡng chế chớ không cảm hóa được. Tính người là có ưa có ghét – ưa tư lợi, ưa được khen, ghét bị cực khổ, bị hình phạt – cho nên có thể dùng sự thưởng phạt để bắt dẫn dân ngăn cấm họ. « Đạo trị thiên hạ chỉ có vậy thôi » ( Bát kinh ).
 
        Chính sách cảm hóa của đạo Nho đẹp nhất đấy nhưng Hàn chê là không thực tế ; lâu có kết quả mà phải bậc hiền minh như Nghiêu, Thuấn mới may ra thi hành được : dùng sự thưởng phạt kết quả rất mau ( chỉ trong mươi ngày, không phải đợi tới một năm ) mà ông vua tầm thường nào cũng làm được. Thiên Nạn thất, Hàn chép lại một truyền thuyết về cách cảm hóa dân của vua Thuấn :
 
     « Nông phu ở Lịch Sơn lấn ruộng nhau ; ông Thuấn lại đó cày ruộng được một năm thì bờ ruộng đều chỉnh tề cả. Dân chài ở bờ sông Hoàng Hà tranh nhau các bãi trên sông : ông Thuấn đến đó đánh cá, được một năm thì người trẻ nhường những bãi đó cho người lớn tuổi. Đồ gốm thợ Đông Di làm đều xấu, dễ vỡ ; ông Thuấn lại đó làm, đồ gốm được một năm, đồ gốm đều tốt, chắc chắn ».
 
     Khổng tử khen ông Thuấn là bậc thánh, dùng đức mà cảm hóa được dân.
 
      Hàn Phi chê : « Ông Thuấn sửa khuyết điểm (cho dân ), một năm mới sửa được một tật, ba năm được ba tật. Tuổi thọ của ông có hạn mà tật của dân thì vô cùng : lấy cái hữu hạn để trừ cái vô cùng, thì trừ được bao nhiêu đâu ? Nếu dùng sự thường bắt dân thi hành mà ra lệnh rằng : « Hễ làm đúng phép thì được thưởng, trái phép thì bị phạt » thì sáng ban lệnh chiều sự tình đã thay đổi, chiều ban lệnh thì sáng hôm sau sự tình đã thay đổi, chỉ trong mười ngày là khắp nước thay đổi cả, đâu phải đợi đến một năm ? ( … ) Vả lại nếu phải đích thân chịu lao khổ rối mới cảm hóa được dân thì ngay Nghiêu, Thuấn cũng khó làm được, còn dùng (quyền) thế mà uốn nắn thiên hạ mà lại bỏ cái cách một vị chúa tầm thường cũng dễ dàng làm, thì kẻ đó chưa có thể cho làm chính trị được ».
 
 
-     Chữ Trung Hoa ….
 
 
( Thả Thuấn cứu bại, cơ niên dĩ nhất quá, tam niên dĩ tam quá, Thuấn thọ hữu tận, thiên hạ quá vô
 
 
 
 
 
 
 
 
Chú thích:
1)  Nguyên văn: tị kiên tùy chủng nhi sinh dã". Chúng tôi dịch theo Trần Khải Thiên. Có vẻ ngược với nguyên văn mà ý thì hợp với cả đoạn.
2)  Thiên này có người ngờ không phải của hàn Phi viết ( coi phần I) nhưng tư tưởng trong đoạn chúng tôi trích đây hợp với pháp gia, nên có thể dùng được.
3)  Vua Thang giết Kiệt, dựng nênb nhà Thương : vua Võ ( nhà Chu ) đánh bại Trụ, Trụ nhảy vào lửa tự thiêu, mà vua Võ còn xông vào chém thây nhà Trụ.
4)  Do Trần Trọng Kim dịch và dẫn trong Nho Giáo - Quyển thượng – sách đã dẫn. Nhưng chữ trong dấu móc cho chúng tôi thêm vào
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-15 16:33:18Ct.Ly>
Đánh máy: heo _mapyeu

Phần 16



(từ trang 304 - 317)



Lấy pháp luật làm danh thì việc là hình: sự việc mà hợp với pháp thì danh và thực hợp nhau. Lấy quan vị làm danh thì chức vụ là hình: nếu hai cái không hợp nhau (chẳng hạn một người địa vị là trưởng ti mà không điều khiển nổi nhân viên trong ti, còn việc gì cũng guao cho một người phụ tá) thì là hình danh không hợp.
         Hàn cho qui tắc hình danh hợp nhau là quan trọng bậc nhất trong việc trị quan lại (tức trị nước), nếu không theo nó thì không sao phân biệt được kẻ giỏi người dở, kẻ ngay người gian, không sao thưởng phạt cho đúng được, vua sẽ mất quyền, nước sẽ loạn.
         Thiên Dương giác chép:
         “Cái đạo (tức thuật) nắm được cái cốt yếu(1) là lấy danh làm đầu, danh chính thì vật định, danh lệch thì vật đổi… vua nắm lấy danh, bề tôi làm ra hình. Hình và danh so sánh mà giống nhau thì trên dưới hoà điệu”
 ……………………
         (Dụng nhất chỉ đạo, dĩ danh vi thủ, danh chính vật định, danh ỷ vật tỉ… quân tháo kì danh, thấn hiệu kì hình, hình danh tham đồng, thượng hạ hoà điệu).
         Thiên đó, hiển nhiên không phải của Hàn Phi, vì dùng thể văn cân đối bốn chữ, đôi khi có vần; lại dùng từ ngữ “chính danh” mà chúng tôi không thấy trong các thiên khác. Nhưng ý nghĩa giống câu này trong thiên Nhị binh:
         “Bậc vua chúa muốn ngăn cấm gian tà tất phải xét xem hình và danh có hợp nhau không, danh là lời nói mà hình là sự việc”.
…………..
         (Nhân chủ tương dục cấm gian, tắc thẩm hợp hình danh; hình danh giả, ngôn dữ sự dã).
         Thiên Nạn nhị,  Hàn cũng viết:
         “Bậc nhân chủ tuy sai khiến bề tôi, nhưng tất phải có độ lượng (tức pháp độ, pháp luật) làm tiêu chuẩn; việc mà hợp với pháp thì làm, không hợp thì ngưng; công (tức kết quả)xứng với lời nói thì thưởng, không xứng thì phạt, dùng quy tắc hình tdanh mà thu phục bề tôi, lấy độ lượng làm tiêu chuẩn cho kẻ dưới”.
………….
         (Nhân chủ tuy sử thần, tất dĩ độ lượng chuẩn chi, dĩ hình danh tham chil sự ngộ ư pháo tắc hành, bất ngộ ư pháp tắc chỉ, công đáng kì ngôn tắc thưởng, bất đáng tắc phạt; dĩ hình danh thu thần, dĩ độ lượng chuẩn hạ).
 
         “Dùng qui tắc hình danh hợp nhau mà thu phục bề tôi” (dĩ hình danh thu thần) thì không được nghe lời giới thiệu của người khác mà phải đích thân xét xem người mình muốn dùng có xứng đáng không vì người giới thiệu có thể vì tình riêng, vì tư lợi, vì tinh thần bè đảng mà đề cử hạng bất tài, vô đức. Mà trong đời, kẻ có tài chưa nhất định đã đáng tin, kẻ có đức lại chưa nhất định là có tài(1), cho nên việc bổ nhiệm người, nếu không có thuật thì sẽ thất bại.
         Muốn cho khỏi bị gạt, khỏi thất bại thì phải rất thận trọng, tham bác ý kiến của nhiều người, đích thân xét tài đức rồi mới giao việc.
         Về điểm đó, Hàn cũng nghĩ như Mạnh tử. Mạnh tử khuyên các vua chúa:
         “Như muốn dùng một người nào mà hỏi kẻ tả hữu, ai cũng bảo người đó là hiền, như vậy cũng chưa được; hỏi các đại phu, các đại phu cũng bảo người đó hiền, như vậy cũng chưa được, khi hết thảy quốc dân đều bảo người đó là hiền, lúc đó mới xét người ấy, xét xong mà thấy người đó quả là hiền thì mới dùng (Lương Huệ vương - hạ - 7).
         Nhưng Mạnh tử nói vậy mà không chỉ cách xét người ra sao, Hàn Phi cho ta phương pháp “thinh ngôn”, “tham nghiệm” và “thí chỉ quan chức”.
         Thinh ngôn: phương pháp nghe.
1-    Khi nghe bề tôi nói thì vua phải trầm mặc, lầm lì, không khen không chê, không để lộ ý nghĩ cùng tình cảm của mình:
“Đạo nghe người nói là làm cho người say mèm. Môi chừ, răng chừ ta đừng hé trước. Răng chừ, môi chừ ta càng giữ yên, để kẻ đó tự hé môi, ta sẽ nhận đó mà biết ý và lòng họ”
……………..
     (Thinh ngôn chi đạo, dong nhược thậm tuý. Thần hố, xỉ hố, ngô bất vi thuỷ hồ! Xỉ hồ, thần hồ, dù hôn hôn hồ! Bỉ tự li chi, ngô nhân dĩ tri chi – Dương giác
     Thiên Dương giác như chúng tôi đã nói không phải là Hàn Phi nhưng ý trong đoạn trên đúng là ý của Hàn: bậc vua chúa phải bí hiểm, để bề tôi khỏi dò được lòng mình (coi cuối chương III phần này).
2-    Phải bắt bề tôi nói, không được làm thinh, mà nói thì phải có đầu đuôi, có chứng cứ:
“Đạo làm chúa là khiến cho bề tôi biết rằng họ chịu trách nhiệm về điều họ đã nói, lại có trách nhiệm về chỗ họ không nói. Lời nói khong có đầu đuôi, biện luận mà không có chứng cứ, đó là chịu trách nhiệm về điều đã nói: không nói để trốn tránh trách nhiệm, để giữ địa vị quan trọng của mình, đó là chịu trách nhiệm về chỗ không nói. Bậc vua chúa bắt bề tôi hễ nói thì phải có đầu đuôi, đúng với sự thực; nếu họ không nói thì phải hỏi họ lấy chỗ nào, bỏ chỗ nào trong đề nghị để rồi khi thực hành xét xem ý kiến họ có đúng hay không; như vậy bề tôi không dám nói bậy, cũng không dám làm thinh… “.
……………..
(Chủ đạo giả, sử nhân thần tri hữu ngôn chi trách, hựu hữu bất ngôn chi trách. Ngôn vô đoạn mạt, biện vô sở nghiệm giả, thử ngôn chi trách dã. Dĩ bất ngôn tị trách, trì trọng vị giá, thử bất ngôn chi trách dã. Nhân chủ sử nhận thần ngôn giả, tất tri kì đoạn mạt, dĩ trách kì thực; bất ngôn giả tất vấn kì thủ xã dĩ vi chi trách, tắc nhân thần mạc cảm vọng ngôn hĩ, hựu bất cảm mặc nhiên hĩ. Nam diện).
3-    Lời nói của bề tôi không được trước sau mâu thuẫn với nhau: “Đạo làm chúa là khiến cho lời nói trước của bề tôi không trái với lời nói sau, lời nói sau không trái với lời nói trước, (nếu trái thì) dù việc thành cũng phải chịu tội”.
...............
     (Chủ đạo giả, sử nhân thần tiền ngôn bất phục ư hậu, hậu ngôn bất phục ư tiền, sự tuy hữu công, tất phục kì tội – Như trên).
4-    Bề tôi phải đưa ra ý kiến rõ rệt, không được mập mờ, ba phải để trốn tránh trách nhiệm.
“Bề tôi đưa ra nhiều ý kiến là để tỏ rằng mình có nhiều trí và khiến cho vua phải tự lựa lấy một ý kiến mà mình tránh được tội. Cho nên chỉ hạng vua dở mới để bề tôi đưa ra nhiều ý kiến. Đừng để bề tôi đưa ra một ý kiến thứ nhì mà ý kiến đó với ý kiến thứ nhất xem ra giá trị như nhau… “.
……………..
     (Chúng gián dĩ hiệu trí, sử quân tự thủ nhất dĩ tị tội. Cố chúng chi gián dã, bại quân chi thủ dã. Vô phó ngôn ư thượng, dĩ thiết tương nhiên… Bát kinh).
5-    Quan trọng nhất là lời nói phải có thiết thực, có công dụng, không phải là hư ngôn. Ý này, Hàn diễn đi diễn lại trong nhiều thiên: “Minh chủ nghe lời nói thì đòi phải có công dụng”.
…………………..
         (Minh chủ thích kì ngôn tất trách kì dụng - Lục phản).
         “Minh chủ dùng sức (của bề tôi) mà không nghe lời nói của họ”.
……………
         (Minh chủ dụng kì lực, bất thính kì ngôn –Ngũ đố) Nghĩa là lời nói hay mà không được việc thì cũng vô ích.
         “Lời nói và hành vi, lấy công dụng làm cái đích để nhắm”
…………….
         (Ngôn hành giả, dĩ công dụng vi đích cấu giả dã).
         “Bậc vua chúa khi nghe người nói mà không lấy công dụng làm mục đích thì kẻ biện thuyết sẽ nói nhiều về những thuyết mũi gai đâm và ngựa trắng”
………….
         (Nhân chủ chi thính ngôn dã, bất dĩ công dụng vì đích, tắc thuyết giả dã cức thích bạch mã chi thuyết (Ngoại trừ thuyết tả thượng – Kinh 2).
         Thuyết “bạch mã phi mã” (ngựa trắng không phải là ngựa) của Công Tôn Long, chúng ta đã biết rồi; còn thuyết mũi gai đâm thì Hàn Phi đã chép lại trong phần truyện cùng thiên kể trên:
         Một người nước Tống nói với vua Yên rằng có thể chạm hình con khỉ vào đầu một mũi gai, nhưng vua phải trai giới ba tháng rồi mới trông thấy hình cực nhỏ đó. Vua Yên tin, ban lộc cho anh ta để anh ta khởi công.
         Một người hầu cận vua chỉ cho vua thấy sự vô lí của lời người nước Tống đó: mũi nhọn để chạm phải nhỏ hơn vật được chạm (tức mũi gai). Mà không có người thợ nào đúc được mũi nhọn như vậy. Vả lại vua không thể trai giới luôn ba tháng được. Vậy lời của người đó chỉ là lời nói láo. Lúc đó vua Yên mới tỉnh ngộ, chất vấn, người đó phải thú tội.
         Tham nghiệm
         Tham nghiệm là khảo sát nhiều mặt để biết lòng bề tôi và để xem lời nói của họ có giá trị hay không.
         Thiên Bát kinh tiết Lập đạo, Hàn Phi bảo muốn biết lời nói của người thành thực hay không thì phải:
         “Khảo sát việc đã qua để biết rõ lời nói (trước kia) có đúng không; đặt bề tôi ở gần mình đêể xét nội tình của họ, đưa họ ra xa để xét tình hình ở ngoài của họ; dùng những điều mình biết rồi để tra hỏi về những điều chưa biết: (…) có thái độ khiêm nhường để thấy kẻ nào cương trực, kẻ dào a dua; tiết lộ những ý khác nhau để dễ biết ý kiến của kẻ dưới”.
         Lại phải tham khảo ý kiến nhiều người để biết thực tình; nếu chỉ nghe, tin một người thì sẽ bị bề tôi che lấp.
……….
         (Quan thính bất tham, tắc thành bất văn; thính hữu môn hộ tắc thần ứng tắc - Nội trừ thuyết thượng).
         Phải bắt kẻ bề tôi trình bày ý kiến, nghe hết thảy ý kiến tứng người một, mới phân biệt được ai trí ai ngu. (Nhất thính tắc ngu trí phân – Như trên).
         Tuy nhiên ý kiến mọi người như nhau thì phải đề phòng. Hàn Phi kể trường hợp Lỗ Ai Công việc gì cũng bàn tính tới quần thần mà nước càng loạn thêm. Ai Công không hiểu tại sao, hỏi Khổng tử, Khổng Tử đáp:
         “Bậc minh chủ hỏi quần thì thì có người biết, lại có một người không biết, như vậy là minh chủ ở trên, quần thần bàn luận ở dưới. Nay quần thần đều răm rắp nói theo Quí Tôn (một trong ba đại phu chuyên quyền ở Lỗ), thành thử cả nước hoá là một, dù nhà vua có hỏi khắp người trong nước, nước cũng không khỏi loạn được” (Như trên).
         Huệ tử trả lời vua Nguỵ cũng như vậy, nhân việc hết thảy quần thần trừ Huệ tử đều theo Trương Nghi khuyên vua đánh Tề và Kinh.
         “(Việc đó” cần phải xét kĩ. Nếu việc đánh Tề, Kinh quả thực có lợi (cho Nguỵ) mà cả nước đều cho là có lợi thì sao người trí đông được đến thế! Nếu việc đó quả thực là bất lợi mà cả nước đều cho là có lợi thì sao người ngu lại đông đến thế! Sở dĩ còn phải bàn tính vì còn nghi ngờ: nếu quả thực có sự nghi ngờ thì tất phân nửa cho là nên, phân nửa cho là không nên. Nay cả nước cho là nên, tức thị nhà vua mất phân nửa người (đưa ý kiến) rồi đó. Chúa bị tấn hiếp nên mới mất phân nửa người như vậy”.
………….
         (… Bất khả bất sát dã. Phù công Tề, Kinh chi sự dã, thành lợi, nhất quốc tận dĩ vi lợi, thị hà trí giả chi chúng dã! Công Tề, Kinh chi sự thành bất lợi, nhất quốc, nhất quốc tận dĩ vi lợi, hà ngu giả chi chúng dã! Phàm mưu giả, nghi dã; nghi dã giả, thành nghi, dĩ vi khả giả bán, dĩ vi bất giả bán. Kim nhất quốc tận dĩ vi khả, thị vương vong bán dã. Kiếp chủ giả, cổ vong kì bán dã…  NHư trên).
         Vậy việc còn đáng ngờ, còn phải bàn mà thấy mọi người đều đưa ra một ý kiến như nhau, tất có sự âm mưu để gạt vua.
         Giao chức
         Giai đoạn cuối cùng là cho họ bắt tay vào việc rồi mới biết chắc được hay dở.
         Nghe lời nói, biết đề nghị, kế hoạch của một người rồi, lại tham nghiệm để dò xét lòng kẻ đó có đáng tin không, tài năng kẻ đó có đủ không, rồi mời giao chức cho để thử, như vậy mới khỏi lầm được:
         “Chỉ vạch mõm, coi răng và nhìn hình dáng thì Bá Lạc (hay Nhạc) (người giỏi xem tướng ngựa) cũng không quyết định được giá trị con ngựa nhưng nếu cho ngựa kéo xe, xem nó chạy hết con đường thì bọn nô bộc cũng biết được ngựa tốt hay không. Nhìn dung mạo, y phục, nghe lời nói một kẻ sĩ thì Trọng Ni cũng không quyết định được kẻ đó trí tuệ ra sao, nhưng nếu thử bổ nhiệm rồi xét thành tích thì người thường cũng biết rõ được kẻ đó ngu hay không (Hiển học).
         Khi giao chức, phải nhớ ba qui tắc dưới đây:
1-    Mới đầu hãy giao cho một việc nhỏ đã. Hàn Phi bảo: “Quan lại của vua chúa, thì tể tướng phải bắt đầu từ một chức ở châu quận, mà tướng soái phải bắt đầu từ chân lính trơn… Cấp bậc cứ tuần tự mà lên thì chức càng lớn càng có tài cai trị.
………….
                   (Minh chủ chi tại, tể tướng tất khởi ư châu bộ, mãnh tướng tất phát, ư tốt, ngũ… Thiên quan tập cấp, tắc quan chức đại nhi dũ trị - Hiển học).
         Thiên Vấn Điền chép một cố sự để giải thích qui tắc đó.
         Từ Cừ hỏi Điền Cừu sao lại bắt một danh tướng là Nghĩa Cừ mới đầu phải làm chức trưởng đồn, ông Công Tôn Đàn Hồi, một bậc hiền minh, phải xuất thân từ một chức ở châu quận. Điền Cừu đáp: vì cần phải thử tài họ, nếu không thì có thể lầm vì những lời biện thuyết của họ mà nước sẽ suy vong như trường hợp nước Sở dùng Tống Cô làm tướng soái, nước Nguỵ dùng Phùng Li làm tướng quốc.
         Cách dùng người như vậy hiện nay được đa số các xí nghiệp lớn áp dụng: một kĩ sư tập sự dù có bằng cấp cao cũng phải qua một cuộc trắc nghiệm để dò xét tình hình, khả năng đã, rồi mới được giao một công việc thấp trong xí nghiệp, rồi từ địa vị đó càng ngày càng tiến lên những chức vụ quan trọng hơn.
 
 
(1)  Nguyên văn là “dụng nhất”, chúng tôi hiểu theo Tràn Khải Thiên, có sách giảng là “điều khiển công việc một mình”.
(1)  Thiên Bát thuyết:
“Bổ nhiệm người làm việc là cái then chốt của sự tồn vong trị loạn (…) Bậc vua chúa bổ nhiệm ai, nếu không lựa người có tài trí thì lựa người có đức; bổ nhiệm họ là cho có quyền hành. Nhưng kẻ sĩ có tài trí mà chưa nhất định đã đáng tin; vua thấy bọ có tài trí không xét rằng vị tất họ đã đáng tin, nếu họ dùng mưu trí, dựa vào quyền hành của chức vụ mà làm việc riêng tư thì vua tất bị gạt. Vì kẻ tài trí chưa đáng tin, nên vua lại bổ nhiệm kẻ sĩ có đức. Bổ nhiệm ai là cho người đó quyết đoán công việc. Nhưng kẻ sĩ có đức chưa nhất định có tài; vua thấy họ giữ mình cho liêm khiết mà không biết rằng vị tất họ đã có tài. Kẻ ngu hàn ám mà giao cho một chức quan, để họ quyết định công việc, họ quyết định bậy mà cho là đúng thì công việc tất phải rối loạn”.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-18 09:10:26Ct.Ly>
Đánh máy: hoa_ sua

Hàn Phi Tử - phần 10

(từ trang 216-229)



tử, Lương Tương vương(1) thời trước, hoặc như Tần Thuỷ Hoàng thời ông. Cuối bài biểu dâng Tần Thuỷ Hoàng (bài Tồn Hàn), ông bảo nếu Thủy Hoang làm theo kế hoạch của ông thì có thể không tốn sức mà làm cho Triệu Tề, Nguỵ Sở, Hàn quy phục, nghĩa là làm cho thiên hạ quy về một mối. Nhưng đó chỉ là vì muốn cứu tổ quốc nên ông khuyên Tần đánh Triệu, đừng vội xâm chiếm Hàn, chứ chưa chắc ông đã thực tâm mong Tần thống nhất Trung Quốc. Nếu Tần trọng dụng ông mà hoà hảo với Hàn thì có thể ông giúp Tần đấy, nhưng Lí Tư biết tài ông rồi, đâu có chịu cho ông lấn tài mình.
Vậy học thuyết của Hàn chỉ nhằm mục đích làm cho một quốc gia mạnh lên để chống vói các nước khác không ; một khi mạnh lên rồi, có xâm chiếm các nước khác không, là điều không bàn tới. Cho nên ông chỉ xét cái lợi của quốc gia, chứ không mưu cái lợi cho khắp thiên hạ như Mặc tử.
Trái với Mạnh tử, ông coi quốc gia trọng hơn dân. Mạnh bảo : dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Hàn bắt dân phải hì sinh cho vua, vua phải làm cho nước mạnh và giàu, nghĩa là cũng phải phục vụ cho quốc gia. Vua đã phải phục vụ cho quốc gia thì cũng phải trong cái lợi của quốc gia mà không được có tư tâm, tư tình, không được nghĩ tói cái lợi của riêng cá nhân mình.
Điểm quan trọnh nhất đối với mọi người trong nước, từ vua tới quan lại, dân chúng, là phải phân biệt minh bạch công và tư. Thiên Ngũ đố, Hàn viết:
“Nước Sở có người được tiếng là “ngay thẳng”, cha ăn trộm cừu, anh ta báo quan. Quan lệnh doãn ra lệnh : “Giết nó đi”, vì anh ta ngay thẳng đối với vua mà lại có lỗi với cha, cho nên tuy báo quan mà bị giết. Do đó mà xét, người bề tôi chính trực đối với vua là đứa con hung bạo đối với cha. (Phù quân chi trực thần, phụ chi bạo tử dã).
“Nước Lỗ có kẻ theo vua ra trận, ba lần đánh, ba lần chạy. Trọng Ni hỏi nguyên do, người đó đáp : “Tôi có cha già, tôi chết thì không ai nuôi”. Trọng Ni khen là hiếu, tiến cử người đó với vua Lỗ. Do đó mà xét, người con có hiếu với cha là kẻ bề tôi phản vua.
(Phù phụ chi hiếu tử, quân chi bội thần dã).
“Cho nên quan lệnh doãn nước Sỏ giết kẻ tố cáo mà không ai tố cáo kẻ gian với bề trên nữa : Trọng Ni thương kẻ bỏ chạy khi ra trận mà dân Lỗ dễ hàng giặc, bại tẩu ; cái lợi của người trên kẻ dưói (tức của quốc gia và của cá nhân) khác nhau như vậy đó. Bậc vua chúa muốn vừa khen hạnh tốt của nhân dân, vừa mưu cái phúc cho xã tắc thì tất không thể được. Đời xưa, ông Thương Hiệt đặt ra chữ viết dùng cái hình như cái vòng (chữ hán) khép gọi là chữ “tư” (nghĩa là riêng), trái với “tư” là gọi là “công” (chữ hán) (chung) ; vậy ông Thương Hiệt đã biết rằng công và tư trái nhau rồi. Ngày nay coi công và tư lợi hại như nhau là “dò cái hoạ của sự không biết thẩm xét”.

(chữ hán)

(Cố lệnh doãn tru nhì Sở gian bất thượng văn, Trọng Ni thưởng nhi Lỗ daâ dị hàng bắc. Thương hạ chi lợi, nhược thì kỳ dị dã, nhi nhân chủ kiêm cử thất phu chi hạnh nhi cầu trí xã tắc chi phúc, tất bất cơ hĩ. Cổ giả Thưong Hiệt chi tác tự dã, tự hoàn giả vị chi tư, bội tư vị chi công. Công tư chi tương bội dã, nãi Thương Hiệt cố dĩ tri chi hĩ. Kim dĩ giả, bất sát chi hoạn dã).
Đây là một điểm rất quan trọng mà từ xưa tói nay cơ hồ nhân loại vẫn chưa giải quyết được ổn thoả: Sự mâu thuẫn giữa công và tư, giữa trung và hiếu.
Tuyện Khổng tử khen người con vì hiếu mà đào ngũ, không biết có thật không. Nếu có thật thì ông đáng trách : chỉ nên xin giảm tội cho người đó thôi chứ không nên tiến cử : mà vua Lỗ cũng đáng trách : không nên bắt người đó ra trận, nên cho làm một công việc khác có thể ở gần cha mà giúp nước được, hoặc triều đình nên có một tổ chức nuôi những ông già đó để con họ có thể hi sinh cho tổ quốc mà khỏi lo lắng cho cảnh cha của cha già. Vì vậy chúng tôi chưa tin hẳn truyện đó.
Còn trường hợp của cha ăn trộm cừu và con tố cáo thì Luận ngữ có chép nhưng hơi khác, và Khổng Tử chê con người đó : “Diệp công nói với Khổng tử : “Ở xóm tôi (2), có ngưòi rất ngay thẳng như cha ăn trộm cừu thì con đứng ra làm chứng, khai thật”.  Khổng Tử bảo : “Người ngay thẳng trong xóm tôi cư xử khác vậy : cha che lỗi cho con, con che lỗi cho cha ; như vậy là ngay thẳng (trực tại kỳ trung hĩ)”. ( Tử Lộ-18). Có lẽ Khổng tử muốn bảo : Không nên tố cáo, cũng không nên nói ngược lại, cứ im lặng như không biết thế thôi.
 
(1)       Mới gặp Mạnh Tử lần đầu, Lương Tương vương đã hỏi ngay : “Thiên hạ làm sao yên định được ?”. Lại hỏi : “Ai gom được về một mối?”. Mạnh tử đáp : “Ông vua nào không ham giết người (nghĩa là thi hành nhân nghĩa) thì gom được về một mối”. (Mạnh Tử - Lương Huệ vương - thượng – bài 6).
   (2)Nguyên văn là đảng, một khu có 500 nhà là một đảng. Cũng có thể là một đoàn.
 
 
 
 
 
Ăn cắp là một tội nhỏ, nếu cha phạm một tội nặng hơn nhiều, như giết người thì sao ? Trường hợp này Mạnh tử đã rán tìm lời giải quyết :
Một môn đệ của ông là Đào Ứng hỏi ông :
“Vua Thuấn làm thiên tử, ông Cao Dap coi về hình phạt, nếu ông Cổ Tẩu là cha vua Thuấn giết người thì cách xử cách nào ?”.
Mạnh tử đáp : “Cứ việc bắt ông Cổ Tâu chứ có gì đâu ?”
- Vậy vua Thuấn  không cản ư ?
- Vua Thuấn làm sao ngăn cản được ? Phép truyền từ đời nọ sang đời kia là phép công mà.
- Như vậy ông Thuấn nên làm như thế nào ?
- Ông Thuấn (khônng màng ngôi đế vương), coi thiên hạ như một đôi rép rách vậy, sẽ cõng cha mà chạy ra bờ biển ở, trọn đời vui vẻ (vì giữ được đạo hiếu) mà quên thiên hạ đi” (Tận tâm thượng – 35).
Chúng ta không biết ỏ vào trường hợp Mạnh tử, Khổng tử sẽ trả lời, chứ cách giải quyết của Mạnh tử lúng túng lắm, không ổn : cõng cha đi trốn cũng là trái pháp luật vì như vậy vẫn là một cách ngăn cản sự thi hành của pháp luật : mà lại còn làm cho quốc dân mất một ông vua nhân từ hiền minh.
Nhưng bài đó cũng cho thấy rằng thời Mạnh tử, nếu dân tộc Trung Hoa chưa có ý thức rõ rệt về sự phân biệt quyền hành pháp và quyền tư pháp thì ít nhất cũng đã nhận rằng mọi người đáng được bình đẳng về pháp luật. Chúng ta nên nhớ Mạnh tử đồng thời với Thân Bất Hại , Thận Đáo, Thương Ướng.
Khổng giáo coi trọng đạo hiếu, cho rằng nó là gốc của đạo trung. Quan niệm  ấy không phải là vô lí hoàn toàn vì thời đó gia đình quan trọng hơn thời chúng ta nhiều, quả thật là nền tảng của xã hội, gia đình có vững vàng thì xã hội mói vững : vả lại thực tế mà xét chung thì con ngưòi có hiếu thời đó tương thường là người tôi trung. Cho nên trong tư tưởng của Khổng Mạnh, công và tư chưa phân biệt được rõ ràng.
Mặc gia và Pháp gia cho rằng công và tư mẫu thuẫn lẫn nhau và phải hi sinh tư cho công. Ở một chương trên chúng tôi đã kể truyện con một cự tử đạo Mặc phạm tội giết người, Tần Huệ Vương thương cự tử đó tên là Phúc Thôn già có mỗi mình nó là con trai, nên tha tội cho nó. Nhưng Phúc Thôn không chịu, tâu : “Cái phép của đạo Mặc, giết người thì phải tội chết, đả thương người thì bị tội hình, như vậy để cấm giết người và đả thương người ; cấm giết người đả thương người là đại nghĩa của thiên hạ. Mặc dầu nhà vua tha tôik, không giết nó nhưng Thúc Thôn tôi không thể không thi hành phép của đạo Mặc”. Rồi người cha đó tự giết con. Trong lịch sử Trung Hoa, chưa bao giờ sự mẫu thuẫn giữa gia đình và xã hội được giải quyết một cách bi thảm ghê góm như vậy.
Pháp gia đả đảo tất cả những cái gì gọi là tư : tư lợi, tư dục, tư tình, tư học (cái học không hợp với đường lối của quốc gia như Nho gia, Mặc gia… thời Hàn Phi), tư kiếm (tay kiếm riêng, nghĩa là bọn hiệp sĩ dùng cây kiếm để chém giết nhau chứ không trừ địch)… Sủng thần của vua mà phạm tội thì cũng bị giết như Điền Hiệt trong truyện thiên Ngoại trừ thuyết hữu thượng ; Thái tư mà phạm pháp thì cũng bị trừng trị như con vua Trang vương nước Kinh, trong truyện cũng thiên đó, hoặc như con Tần Hiếu công (coi đời Thương Ưởng, phần I). Vua không thể vì tình riêng mà khoan hồng với sủng thần, với con được vì “kẻ phạm pháp, bỏ lệnh, không tôn kính xã tắc là lấn quyền vua, phạm thượng. Bề tôi lấn quyền thế của vua thì vua mất uy, kẻ dưới phạm thượng bề trên thì nguy. Uy mất, địa vị nguy thì xã tắc không giứ được”. Moị người bình đẳng trước pháp luật tức là mọi ngưòi đẻu phải trọng công lợi hơn tư lợi, phải đặt quốc gia lên trên gia đình.
Đó là một tiến bộ : có trọng công hơn tư thì nước mới mạnh được, nhưng Pháp gia chưa đặt ra vấn đề nếu vua phạm pháp thì sao. Đó là một hạn chế của thời đại. Ngày nay không còn vua thì trung với vua thành ra không trung với nước, địa vị của gia đình không quan trọng như hồi xưa, không còn đại gia đình, chỉ còn tiểu gia đình tức vợ chồng con cái vị thành niên, thì hiếu thành ra hiếu với dân ; nhưng con người, như Hàn Phi đã nhận thấy, vốn bảm sinh nghĩ tới tư lợi trước hết, thì mẫu thuẫn giữa cá nhân và xã hội vẫn còn ; vấn đề là phải tìm cách hoà giải mà giảm lần lần mâu thuẫn đi tuỷ từng giai đoạn.
Một điểm tiến bộ nữa của Hàn Phi là chinh sách tự cường, và chỉ tin ở sức mạnh của mình thôi, không tin mạng trời hay thần quyền, cũng không tin ở nước ngoài.
Ông cũng như Tử Sản, Tuân tử cho rằng nước mà thịnh hay suy là do người chớ không do trời. Tử Sản bảo : “Đạo trời ở xa, đạo người ở gần, không liên quan gì với nhau”. (coi tiểu sử Tử Sản - phần I).
Tuân Tử bảo : “Sao mà sa, cây mà kêu… đó là cái biến hoá của trời đất, âm dương, là sự ít khi xảy ra của vạn vật ; cho là quái lạ thì nên, mà lo sợ thì không nên. Mặt trời mặt trăng có khi ăn lẫn nhau, mưa gíó có khi không hợp thời, những ngôi sao lạ có khi hiện lên bất ngờ(3), nhưng cái đó không thời nào không thấy. Người trên sáng suốt mà chính trị phải lẽ thì dù tất cả những cái quái lạ đều xuất hiện cũng không sao. Ngưòi trên mờ ám mà chính trị hiểm ác thì dù không có quái lạ nào xuất hiện, cũng không hay gì (Thiên luận).
Đầu thiên Hữu Độ; Hàn Phi viết : “Người thi hành pháp luật mà cương cường thì nước mạnh ; người thi hành pháp luật ma nhu nhược thì nước yếu”, đại ý cũng như hai câu cuối của Tuân tử.
Thên Sức tà, ôn đả đảo thói bói toán, tin các sao tốt, sao xấu, kể trường hợp nước Yên bói mái rùa cở thi, được quẻ “đại cát” mà lại thua Triệu ; Triệu cũng được quẻ đại cát mà thua Tần.
Tin cậy vào nước ngoài còn tai hại nhiều nữa. Cũng gần tới cuối thời Chiến Quốc thì các tung hoành gia lại càng tha hồ tunh hoành. Bọn biện sĩ đó không có lí tưỏng gì cả, chẳng trung một vua nào cả, nước nào mạnh thì theo để hễ nước đó chiếm được một nước khác thì kể công mà xin chia đất của nước bị diệt ; nếu rủi mà phải thờ một nước yếu thì ăn hối lộ cuả nước mạnh mà khuyên vua cắt đất thờ nước mạnh.
“Tô Tần, một biện sĩ, mà cũng phẫn uất về bọn đó lắm, mấy lần lớn tiếng mắng họ : Ở Sở : :Cậy cái uy lực của Tần ở nước ngoài mà ở trong hiếp đáp vua mình để đòi vua cắt đất cho Tần, đại nghịch, bất trung đến vậy là cùng cực” (Sở - I – 16).
 Rồi ỏ Triệu :
“Họ cầu hoà với Tần thì có thể xây cất đài cao, sửa sang cung đẹp (…) rồi khi có cái hoạ vì Tần thì bỏ mặc vua” ( Triệu II 1).
(…) Nhưng chính Tô Tần muốn dụ các nước đó (Sở, Triệu…) theo kế hoạch hợp tunh cũng hứa dâng họ những sản phẩm, bảo vật  cùng gái đẹp của nước mà Tô đương phụng sự. Cho nên thời đó đường cái nườm nượp xe ngụa của các vị sứ thần mà xe nào cũng chỏ đầy vàng bạc gấm vóc…” (Chiến Quốc sách – trang 67,68 – Lá Bối – 1972).
Vua nước Hàn cũng bị bọn biện sĩ đó mê hoặc, thao túng nên mỗi ngày một suy, Hàn Phi đau xót nên trong thiên Ngũ đó cảnh cáo nhà cầm quyền:
“Quần thần bàn về đối ngoại, nếu không chia ra hai phe hợp tung và liên hoành thì cũng nhân có mối thù với nước khác mà mượn sức mình để trả thù. Hợp tung là liên hợp các nước yếu (tức lục quốc) để đánh một nước lớn (Tân) ; liên doanh là thờ một nước mạnh để đánh các nước yếu, hai phe đó đều không duy trì được quốc gia.
“Bọn bề tôi nói chuyện hợp tung đều bảo : “Không cứu nước nhỏ mà đánh nước lớn thì thiên hạ sẽ bị thôn tính mà thiên hạ mất thì nước mình nguy, nước nguy thì vua hoá thấp hèn”. Cứu nước nhỏ chưa chắc đã bảo tồn được nước đó mà đành nước lớn vị tất đã không có sự sơ hở (?), có sự sơ hở thì sẽ bị nước khác chế ngự. Xuất quân thì quân thua, lui về thì thành bị phá. Vậy là theo chủ trương hợp tung để cứu nước nhỏ, lợi chưa thấy mà đã mất đất thua quân.
“Kẻ chủ trương thờ nước mạnh chỉ mong nhờ thế lực nước ngoài đề có quan chức lớn ở trong nước; kẻ chủ trương cứu nước nhỏ chỉ mong muốn thế lực của nước mình mà cầu lợi ở nước ngoài. Quốc gia chưa được lợ gì mà họ đã được đất phong, lộc hậu ; địa vị của vua vị hạ thấp mà quyền thế của bề tôi lại thêm cao, đất đai của quốc gia bị cắt xén mà nhà riêng (của bề tôi) thì giàu thêm. Việc thành thì họ được nắm quyền mà được trọng dụng hoài ; việc hỏng thì họ cũng giàu có rồi, lui về mà hưỏng ?
Trong đoạnt trên Hàn đã phân tích kĩ và đúng chính sách ngoại giao của bọn biền sĩ, nhất là lòng gian trá, tự tư lợi của họ. Cá nhân hành động vì tư lợi thì quốc gia cũng vậy, không bao giờ có nước nào mà thật tâm giúp nước nào, hoàn toàn vì lợi của nước mà họ giúp cả. Trong Thiên Huyết lâm thượng, ông kể hai trường hợp để các vua chúa suy ngẫm. Trường hợp thứ nhất là nước Tề đối với nước Hình :
“Nước Tấn đánh nước Hình, Tề Hoàn Công muón cứu Bảo Thúc tâu :
- Còn sớm quá ! Nước Hình không mất thì nước Tấn không mệt : Tấn không mệt thì Tề không được trọng. Vả lại cái công cứu một nước nguy không lớn bằng cái công phục hưng một nước đã mất. Tốt hơn đại vương nên chậm cứu nước Hình để làm cho nước Tấn mệt, đợi Hình mất rồi mới phục hưng lại cho, như vậy xét về thực lực có lợi, mà xét về danh lại càng tốt”.
Hoàn Công không cứu Hình nữa. Trường hợp thứ nhì là Kinh (Sơ) đối với Tống :
“Tề đánh Tống, Tống sai Tang Tôn tử xuống phía Nam cầu cứu với nước Kinh. Vua Kinh rất mừng, hứa sẽ tận lực giúp. Tang Tôn tử lo lắng ra về, người đánh xe thấy vậy hỏi :
- Việc cầu cứu có kết quả mà sao nghĩ lại có vẻ lo lắng ? Tang Tôn tử đáp :
- Tống nhỏ mà Tề lớn. Cứu nước Tống nhỏ mà để cho nước Tề lớn ghét, điều đó ai cũng lấy làm lo mà vua Kinh lại mừng, chắc ông ta (hứa hão) để chúng ta kiên tâm chống cự. Chúng ta nên kiên tâm chống cự, Tề sẽ mệt, đó là điều lợi cho Kinh. (Quả nhiên) Tề chiếm năm thành của Tống rồi mà vẫn chưa đem quân cứu”.
Tanh Tôn tử thật là sáng suốt. Một chính khách Á Đông bảy chục năm trước đã khuyên một nhà cách mạng của ta : cá nhân có thê vị tha nhưng một quốc gia thì bao giờ cũng nghĩ tới cái lợi của mình trước hết. Trong lịch sử ngoại giao của nhân loại, những truỵên giả nhân giả nghĩa, phản nước bạn như Tề, Sở không thể nào chép hết được. Không có nhân nghĩa, chỉ có lợi thôi, không có tình cảm chỉ có sức mạnh thôi. Mạnh thì không bị người tấn công mà được yên ổn, có thể tấn công thêm ngưòi mà thêm mạnh. Và Hàn khuyên :
“Mà cái sự mạnh và trị (yên ổn) thì không thể trông vào việc ngoại giao, nó tuỳ nội chính (tốt hay không). Không thi hành pháp luật ở trong nước mà cứ trông vào mưu trí đối ngoại thì không thể trị và mạnh được. Tục ngữ có câu “Tay áo dài thì khéo múa, tiền của nhiều thì khéo buôn”, nghĩa là có nhiều vốn thì dễ thành công. Nước trị và mạnh thì dế mưu sự, nước yếu và loạn thì khó thiết kế. Cho nên dùng ở nước Tần (nước mạnh) mưu có thể thay đổi mười lần cũng ít thất bại : dùng ở nước Yên (nước yếu) mưu chỉ một lần thay đổi mà cũng ít thành công ; không phải vì mưu dùng ở Tần đều khôn cả, mưu dùng ở Yên đều ngu cả, chỉ vì cái “vốn” trị hay loạn khác nhau đấy thôi”.

(Chữ Hán)


Chú thích:

(1)Mới gặp Mạnh Tử lần đầu, Lương Tương vương đã hỏi ngay : “Thiên hạ làm sao yên định được ?”. Lại hỏi : “Ai gom được về một mối?”. Mạnh tử đáp : “Ông vua nào không ham giết người (nghĩa là thi hành nhân nghĩa) thì gom được về một mối”. (Mạnh Tử - Lương Huệ vương - thượng – bài 6).
         (2)Nguyên văn là đảng, một khu có 500 nhà là một đảng. Cũng có thể là một đoàn.
         (3) Trong bộ Đại cương Triết học Trung Quốc, quyển hạ trung trang 195 (Cảo Thơm 1966) chúng tôi dịch là “hiện từng chùm”. Nhưng nhiều học giả đã cho chữ “đảng hiện” nên sửa là “thảng hiện” vì không bao giờ các sao xuất hiện từng chùm cả.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-18 09:18:27Ct.Ly>
Đánh máy: heo _ mapyeu


Phần 20

Từ trang 360 - 373




Ung Quí đáp: “Đốt rừng để săn bắn thì được nhiều thú, nhưng sau sẽ không còn con nào. Dối trá với dân thì thu lợi được một lần thôi, sau không gạt được lần nữa”.
Tấn Văn Công khen lời Ung Quí là phải nhưng lại dung mưa của Cậu Phạm, đánh thắng được Sở rồi, khi thưởng công, đặt Ung Quí ở trên Cậu Phạm, lấy lẽ rằng: “Lời Cậu Phạm chỉ là lời quyền biến dùng tạm một thời, còn lời Ung Quí là cái lợi muôn đời”.
Khổng tử nghe truyện đó khen Văn Công là quyền biến lại hiểu cái lợi vạn đại, rất đáng làm bá chủ.
Hàn Phi bắt bẻ cả Ung Quí, Tấn Văn Công lẫn Khổng tử.
a/ Trước hết Ung Quí không hiểu câu hỏi của Tấn Văn Công, đáp ra ngoài. Văn Công hỏi cách lấy ít chống đông, mà lại đáp rằng “Sau không gạt được lần nữa”, như vậy là đáp không sát.
b/ Văn Công (và cả Ung Quí nữa) không biết cái lẽ quyền biến một thời và cái lợi muôn đời. “Đánh mà thắng thì được nước yên, binh mạnh, uy thế vững, sau có chiến tranh cũng không thể lớn hơn vậy, thế thì sao lại lo không có cái lợi muôn đời? Còn như đánh không thắng thì nước mất, thân chết (…) đâu còn rảnh để đợi cái lợi muôn đời?”.
c/ Văn Công cũng không hiểu lời của Cậu Phạm nữa. Cậu Phạm bảo “không ngại trá ngụy” là trá nguỵ với Sở chứ đâu phải trá nguỵ với dân mình. Địch là nước mình đánh, sau dù không lừa gạt được nữa thì có hại gì đâu?
d/ Ung Quí không có công gì trong việc thắng Sở cả, chỉ khuyên giữ chữ tín (chữ tín trong trường hợp này vô dụng); Cậu Phạm đã có công trong việc thắng Sở lại cũng không quên khen chữ tín (Người quân tử trọng lễ thì cực lực giữ sự trung tín), nghĩa là tuy khuyên Văn Công tạm dùng mưa để chiến thắng nhưng rồi sau phải nhớ chữ tín, như vậy là chính Cậu Phạm mới biết lẽ quyền biến, vừa hiểu cái lợi lâu dài. Văn Công khen và thưởng Ung Quí trên Cậu Phạm là bậy.
e/ Mà Khổng tử khen Văn Công cũng bậy nữa (1)
Có khi một hành động của cố nhân được Hàn mổ xẻ về nhiều khía cạnh, tuỳ nhiều hoàn cảnh, lúc khen, lúc chê. Thí dụ sự phê phán hành động phản chủ của Dương Hổ.
Dương Hổ (trong Luận ngữ chép là Dương Hoá) là gia thần của quan đại phu họ Quí ở nước Lỗ, mà phản chủ, muốn đánh họ Quí với họ Mạnh, họ Thúc, việc thất bại, phải trốn ra khỏi Lỗ, mới đầu qua Tề, Tề Cảnh Công lấy lễ tiếp đãi. Bão Văn tử can:
“Không nên, Dương Hổ được họ Quí yêu mà đánh lại Quí tôn là ví ham sự giàu có của ông ấy. Nhà vua giàu có hơn Quí tôn mà nước Tề lớn hơn nước Lỗ, Dương Hổ sẽ còn hết sức gian trá nữa”. “Cảnh Công bàn bỏ tù Dương Hổ” (1) (Nạn tử - bài 2).
Hàn Phi chê Bão Văn tử, bảo:
Dương Hổ chỉ có tội là vụng về mà thất bại, còn gian trá, thì bề tôi nào mà chẳng có lòng gian trá, chẳng muốn cướp quyền vua để hưởng lợi, giữa vua và họ có tình ruột thịt gì đâu mà bảo họ thương yêu vua. Mà họ thành ra gian trá chính là lỗi ở vua nhu nhược, hôn ám, chứ nếu vua sáng suốt, nghiêm khắc thì họ đâu dám không trung tín. Vậy Bão Văn tử khuyên vua trừng phạt Dương Hổ là bậy.
         Nhưng rồi xem xét lại, bênh vực Bão Văn tử: trừng trị Dương Hổ là phải vì vậy là ngăn ngừa cái loạn có thể phát ra (Dương Hổ có thể làm loạn ở Tề như đã làm loạn ở Lỗ), thị oai với bọn bề tôi có lòng gian tà, mà lại được tình thân ái của Quí tôn, Mạnh tôn, Thúc tôn ở Lỗ.
Dương Hổ bị nghi ở Tề, bèn trốn qua Triệu, được Triệu Gián chủ phong làm tướng quốc. Ngoại trừ thuyết tả hạ, truyện 2c/ chép:
“Kẻ tả hữu hỏi Giản chủ: “Hổ giỏi cướp chính quyền mà sao nhà vua lại dùng làm tướng quóc?” Giản chủ đáp: “Dương Hổ lo cướp chính quyền, ta lo giữ” và ông dùng thuật để khống chế Hổ. Hổ không dám làm bậy, trung thành phụng sự, làm cho Giản chủ mạnh hơn lên, gần thành một bá chủ chư hầu”.
Đó mới là chủ trưpng của Hàn Phi: vua đối với bề tôi, chỉ nên cậy vào cái thuật khống chế bề tôi của mình chứ không nên trông cậy vào sự trung thành của bề tôi vì bề tôi nào cũng có những quyền lợi ngược với quyền lợi của vua, cũng nuôi lòng phản vua. Hễ có bản lạnh như Triệu Giản tử mà không ngại làm mất lòng nước Lỗ (Triệu ở xa Lỗ) thì sự dùng Dương Hổ: nếu thiếu bản lĩnh như Tề Cảnh ông lại ở sát nước Lỗ, sợ mất lòng Lỗ thì đừng dùng Dương Hổ. Còn bản thân Dương Hổ thì chẳng có gì tội với Tề, với Triệu cả, không đáng trách. Quan niệm đó là quan niệm của Pháp gia, mà phân tích, xét tới, xét lui cả mọi mặt như vậy quả là kì.
Vandermeersch, trong sách đã dẫn trang 237, đã khen Hàn Phi có tài cung bàn về một vấn đề mà đưa ra được hai lối nghị luận trái ngược nhau, như trong bài 6 thiên Nạn nhị. Cố sự như sau:
“Lí Khắc trị nước Trung Sơn. Quan lệnh ấp Khổ Hình trình bản kế toán, số thu quá nhiều. Lí Khắc bảo: “Lì nói khéo léo nghe thì thích, nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là “diệu ngôn” (hư ngôn, không thực). Không có mối lợi về núi rừng, chàm hang và số thu được nhiều, như vậy là “diệu hoá” (hư vật, không có thực). Người quản tử không nghe “diệu ngôn”, không nhận “diệu hoá”; ông nên từ chức đi”.
Hàn Phi bác bẻ lời của Lí Khắc theo hai cách: Cách thứ nhất theo lối nguỵ biện, khúc luận của Danh gia. Ông bảo:
“Lí tử lập thuyết: “Lời nói khéo léo nghe thì thích nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là “diệu ngôn”.
Khéo nói là làm cho người nghe thích, cái đó tuỳ người nghe. Người nói không phải là người nghe thì sự khéo nói cũng không phải là sự thích (1). Cái mà Lí tử bảo là không hợp tình lí không tuỳ thuộc người nghe mà tuỳ thuộc lời người đó nghe được. Người nghe nếu không phải là tiểu nhân (vô học) thì là quân tử. Tiểu nhân không hiểu tình lí vậy không thể xét lời nói xem có hợp tình lí hay không; quân tử biết xét lời nói xem có hợp tình lí hay không thì tất không thể thích được (vì lời nói khéo không hợp tình lí). Vậy bảo “Lời nói khéo léo nghe thì thích nhưng không hợp tình lí” là nói sai”.
“Tóm lại – đây là lời của Vandermeersch – “diệu ngôn” không phải là một đặc tính áp dụng cho một lời xác định được, mà cũng không thể làm cho một người hiểu biết thích được. Nó chỉ là một cái “danh” Lí Khắc dùng ở đây không hợp, thành thử ông ta lí luận sai. Công Tôn Long cũng cho rằng không thể bảo một con ngựa nào đó trắng được vì cái “danh” trắng không thể dùng để gọi một cái gì không phải là màu sắc, mà là một sinh vật được”.
Chúng ta thấy lối lí luận, khúc mắc (cho nên gọi là khúc luận) chỉ dựa trên cái “danh” mà không dựa trên sự thực. Sự thực thì ai cũng thấy những lời khéo nói thường là sai (giấu giếm hoặc phóng đại) không nhiều thì ít, mà dù có học (quân tử) hay vô học (tiểu nhân) thì cũng có thể thấy được chỗ sai nhưng vẫn phải nhận là nói khéo.
Cách thứ nhì dễ bác bẻ Lí Khắc là dựa trên sự thực, và cách này, Vandermeersch gọi là lí luận của Pháp gia. Hàn Phi bảo: Thu được nhiều mà cho là “diệu hoá”, lời đó chưa phải là luôn luôn đúng. Lí Khắc không có thuật nào để biết là khai đúng hay gian mà sao cứ thấy thu được nhiều đã vội cho là khai gian? Vì đất đai tuy xấu nhưng nếu làm đúng mùa, không bị thiên tai, không bị trở ngại trong công việc, lại tận lực làm ruộng, tận dụng kĩ thuật (lựa lúa giống, bón phân, có những tiện lợi của xe thuyền, máy móc…), biết tiết kiệm thì thu được nhiều, như vậy đâu phải là “diệu hoá”. Không tham nghiệm, căn cứ vào sự thực mà chê trách bậy, Lí Khắc quả là không biết thuật trị nước (Coi bài 6 - Nạn nhị - phần dịch).
Hàn Phi đã dùng lí luận của Danh gia để bác bẻ hai chữ “diệu ngôn”, lại dùng lí luận của Pháp gia để bác bẻ hai chữ “diệu hoá”. Lí Khắc nếu còn sống cũng không thể cãi được. Lí luận thực xác đáng, sắc bén, tinh tế. Nhưng chúng tôi cũng tự hỏi: Hàn vốn ghét thói ngụy biện của Danh gia mà sao lần này lại cao hứng dùng thuật đó? Kể cũng đáng ngờ.
Sau cùng, điểm này quan trọng nhất: Hàn Phi có công làm cho thể văn nghị luận của Trung Hoa thời Chiến Quốc rất mực phong phú, có đủ hình thức.
Ông tập đạo thành của người trước, dùng.
-         Hình thức vấn đáp trong Luận ngữ, Mạnh tử, như trong các thiên Định pháp, Vấn biện. Thiên Định pháp đáng coi là mẫu mực. Ông tưởng tượng một người ngồi đối thoại với ông, người đó hỏi, ông đáp, lại hỏi nữa, lại đáp nữa, như vậy ba lần. Nhờ cách đó, ông xét được mọi khía cạnh của vấn đề, mà chúng ta đọc không thấy chán.
-         Hình thức cố sự và ngụ ngôn như trong sáu thiên Nội, ngoại trừ thuyết. Chúng tôi chỉ xin giới thiệu hai trong vô số truyện lí thú, một truyện là cố sự về Ngô Khởi, một viên tướng đạt tới tuyệt đỉnh qui tắc Đắc nhân tâm:
“Ngô Khởi làm tướng quốc nước Nguỵ, đánh Trung Sơn, Quân sĩ có người bị nhọt, ông quì xuống tự hút mủ cho. Mẹ anh ta đứng bên khóc. Có người hỏi:
-         Tướng quân đối với con bà như vậy, sao bà lại khóc?
Đáp:
-         Ngô Khởi đã hút mủ vết thương của cha nó, mà cha nó chết (vì cảm mối tình đó, hi sinh đánh giặc cho Ngô Khởi). Nay nó lại sẽ chết mất thôi, vì vậy mà tôi khóc”.
-         Một truyện là ngụ ngôn: “Một người nước Trịnh muốn mua giày, đo bàn chân mình rồi đặt cái ni ở chỗ ngồi. Anh ta ra chợ quên đem cái ni theo. Tìm được thứ giày muốn mua rồi, anh ta (sực nhớ lại) bảo: “Tôi quên đem cái ni theo, để tôi trở về lấy”. Rồi trở về nhà, khi trở lại thì chợ đã tan, không mua giày được. Người ta hỏi: “Sao không lấy chân để thử giày?” Đáp: “Nên tin cái ni, chứ không nên tin mình (Ngoại trừ thuyết tả thượng - truyện 3s).
Hàn Phi mỉa bọn chính khách đương thời chỉ xưng tụng tiên vương mà không xét hành động của mình có thích hợp với việc nước, với xã hội trước mắt không.
Hàn lại có sáng kiến:
-         Đưa các qui tắc lên trên, gọi là phần kinh, rồi mới chú thích ở dưới, gọi là phần truyện, như trong sáu thiên Nội, ngoại trờ thuyết. Cách trình bày đó giống cuốn Đại học.
-         Mở đầu loại phê bình nhân vật lịch sử, cho các nhà văn sau này (Đường, Tống, Minh) như bài 3 thiên Nạn nhất chê Quản Trọng: “Lời Quản Trọng khuyên Hoàn Công đó (tức đuổi Thụ Điêu, Dịch Nha, công tử Khai Phương đi) – không phải là lời của một người biết pháp độ.
         Ông ta muốn đuổi Thụ Điêu, Dịch Nha là cho rằng họ không yêu thân họ để thoả ý muốn của vua. “Bản thân mà mình không yêu thì làm sao yêu vua được?”. Như thế là muốn vua đuổi hết các trung thần đi. Vả lại lấy lẽ họ không yêu thân họ mà suy đoán rằng họ không yêu vua thì cũng có thể lấy lẽ Quản Trọng không chết vì Công Tử Củ để suy đoán rằng ông ta sẽ không chết cho Hoàn Công, vậy thì ông cũng thuộc hạng bề tôi phải đuổi đi..
         “Đạo của bậc minh chủ không phải vậy. Lập ra cái mà dân muốn để họ làm việc cho mình, vì vậy mà đặt ra tước lộc để khuyến khích họ; lập ra cái mà dân ghét để ngăn cấm sự gian tà, vì vậy mà đặt ra hình phạt để ra oại với họ. Khen thưởng mà xác thực, hình phạt mà cương quyết thì bề tôi có công được cất nhắc, mà kẻ gian tà không được dùng, như vậy dù có Thụ Điêu, hẳn cũng không làm gì được vua; mà bề tôi sẽ tận lực thờ vua, vua ban tước lộc đẻ báo đáp bề tôi. Vua tôi đối với nhau không có tình cha con, đều là tính toán với nhau cả; hễ vua có đạo (tức thuật) thì bề tôi tận lực mà việc, gian tà không phát sinh, vua vô đạo thì bề tôi trên che lấp cái sáng của vua, dưới thực hành tư dục của mình. Quản Trọng không làm cho Hoàn Công hiểu rõ pháp độ đó, chỉ khuyên đuổi (Thụ Điêu), giả sử đuổi Thụ Điêu rồi thì một Thụ Điêu khác lại đến, đó không phải là cách tận diệt sự gian tà” (1).
-         Xin độc giả so sánh đoạn đó với đoạn dưới đây trong bài Quản Trọng luận của Tô Tuân (cha Tô Đông Pha) đời Tống:
         Quản Trọng đau nặng, Uy Công (2) hỏi ai có thể thay làm tể tướng được. Lúc đó tôi tưởng Trọng nên đề cử những bậc hiền tài trong thiên hạ để đáp Uy Công, mà Trọng chẳng qua chỉ bảo rằng Thụ Điêu, Dịch Nha, Khai Phương ba người đó không hợp với nhân tình (3), không thể thân cận được, thế thôi. Than ôi! Trọng cho rằng Uy Công quả có thể dùng được ba con người đó ư? Trọng với Uy Công gần nhau đã lâu năm cũng biết Uy Công là người ra sao chứ? Uy Công, sắc không lúc nào thiếu ở trước mắt, không có ba con người kia thì không thể thoả mãn được dục vọng. Ông ta mới đầu không để cho bọn đó chuyên quyền chỉ là nhờ có Quản Trọng. Ngỳa nào mà không có Trọng thì ba người kia có thể phủi bụi trên mũ (1) mà chúc mừng lẫn nhau. Trọng cho rằng lời mình dặn dò lúc lâm chung đủ để trói buộc chân tay Uy Công chăng?
         “Nước Tề không lo rằng có ba người đó mà lo không có Quản Trọng. Có Trọng thì ba con người đó chỉ là ba thất phi. Không vậy thì thiên hạ thiếu gì hạng người như ba tên đó? Dù Uy Công may ra mà nghe lời Trọng, giết ba người đó đi, thì cong những kẻ khác, Trọng có thể trừ hết được không? Than ôi! Có thể bảo rằng Trọng không biết cái căn bản vậy. Nhận lời hỏi của Uy Công mà tiến cử bạc hiền tài trong thiên hạ để thay mình. Trọng tuy mất, nhưng nước Tề Cũng vần còn Trọng. Như vậyba con người kia có đáng ngại đâu, chẳng cần nói nữa…” (1).
         Hai nhà sống cách nhau mười ba thế kỉ (Hàn sinh năm – 280, Tô sanh năm 1009), một là pháp gia, một là nho gia, cung phê bình một nhân vật mà sao giống như thế; cùng không trách Hoàn Công mà chỉ kết tội Quản Trọng. Hàn chê Quản Trọng là không làm cho Hoàn Công hiểu rõ pháp thuật, Tô bắt lỗi Quản là không tiến cử người hiền; cùng bất công thiên lệch cả: Hàn không xét rằng Hoàn Công không phải hạng vua đủ tư cách, bản lãnh để tự giữ được pháp thuật; Tô quên rằng Quản đã mấy lần tiến cử người hiền (như Thấp Bằng, Ninh Thích, Ninh Việt… ) lên Hoàn Công, trước khi chết lại tiến cử Thấp Bằng thay mình nữa, chẳng may Thấp Bằng cũng chết sớm nên Tề mới mau loạn.
         Lời văn cũng giống nhau. Hàn viết: “Quản Trọng không làm cho Hoàn Công hiểu rõ pháp độ (chỉ khuyên đuổi Thụ Điêu). giả sử đuổi Thụ Điêu rồi thì một Thụ Điêu khác lại đến, đó không phải là cách tận diệt sự gian tà…
………………
         (Sử khử Thụ Điêu, nhất Thụ Điêu hựu chí, phi tuyệt gian chi đạo dã).
         Tô viết: “Dù Uy Công may ra mà nghe lời Trọng, giết ba người đó đi thì còn những kẻ khác, Trọng có thể trừ hết được không?
………….
         (Tuy Uy Công hanh nhi thính Trọng, tru thử tam nhân, nhi kì dư giả, Trọng năng tất số nhi khử chi da?).
         Chúng tôi ngờ rằng Tô Tuân đã đọc Hàn Phi tử. Văn của ông tô chuốt hơn văn của Hàn, nhưng cũng hơi quá “kêu”, chúng tôi ưa văn của Hàn hơn: bình dị mà có khí, đúng là giọng một tư tưởng gia về chính trị, chứ không phải một nhà văn.
(1) Có thực là Khổng tử khen Văn công không, đó là vấn đề khác, không cần xét ở đây.
(1) Có lẽ chỉ đuổi Dương Hổ ra khỏi nước thôi, hoặc nếu bỏ tù thì sau cũng thả
(1) Ý muốn nói: không phải có người thích mà là khéo nói, mà khéo nói chưa nhất định đã được mọi người thích
(1) Chúng tôi bỏ đoạn sau chê Hoàn công cho bề tôi có thế lực mạnh quá nên mới chết thảm, không được chôn.
(2) Tức Tề Hoàn công. Đời Tống kị tên huý của Khâm tôn, cho nên đổi Hoàn ra Uy.
(3) Tức như Hàn Phi bảo “Bản thân mà họ không yêu thì làm sao yêu vua được?” Thụ Điêu tự thiến để tiến thân, Dịch Nha giết con để lấy thịt nấu cho Hoàn Công ăn, Khai Phương không nghĩ tới cha mẹ mà ở hoài với Hoàn Công.
(1) Khi Vương Dương được làm thứ sứ Ích Châu thì bạn là Cống công sửa mũ cho ngay, phủi bụi cho sạch để vào mừng rồi được tiến cử làm đại phu.
(1)Chúng tôi bỏ đoạn sau. Coi trọn bài trong Cổ văn Trung Quốc – Tao đàn – Sài Gòn - 1966
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-19 04:31:44cunhoi>
(từ trang 377 đến trang )
 
THIÊN L
 
HIỂN HỌC
 
(CÁC HỌC THUYẾT DANH TIẾNG (1) )
 
Các học thuyết danh tiếng nhất trong đời là Nho và Mặc. Đạt tới mức cao nhất của Nho là Khổng Khâu, của Mặc là Mặc Địch. Sau khi Khổng Tử mất, có phái Nho của Tử Trương, phái Nho của Tử Tư, các phái Nho của họ Nhan, họ Mạnh, họ Tất Điêu, họ Trọng Lương, họ Tôn, họ Nhạc Chính­ (2). Sau khi Mặc Tử mất, có các phái Mặc của họ Tương Lí, Tương Phu, họ Đặng Lăng (3). Như vậy là sau Khổng Tử và Mặc Tử, Nho chia làm tám phái, Mặc tách làm 3 phái, chủ trương trái nhau, khác nhau mà đều tự cho là chân truyền của Khổng, Mặc. Khổng Tử và Mặc Tử đã không thể sống lại thì ai là người quyết định được học phái n ào là chân chính cho đời? (4). Khổng Tử và Mặc Tử đều xung tụng Nghiêu, Thuấn mà chủ trương khác nhau và đều tự cho là chân truyền của Nghiêu, Thuấn. Nghiêu, Thuấn đã không thể sống lại thì ai là người quyết định được học thuyết nào mới thực là của Nghiêu Thuấn? Đời Ngu và đời Hạ dài trên 700 năm, đời Ân và Chu dài trên 2000 năm (5), mà còn không quyết định được Nho hay Mặc là chân chính; nay muốn khảo sát đạo cách đây 3000 năm của Nghiêu, Thuấn thì cơ hồ không sao xác định được! Không tham nghiệm được mà cứ xác định thì là ngu; không xác định được mà làm dùng làm chứng cứ thì là lừa gạt người ta. Vậy cứ căn cứ vào các tiên vương mà theo đạo Nghiêu, Thuấn, nếu không phải là ngu, cũng là lừa gạt thiên hạ. Cái học ngụ và gạt người ấy, hỗn tạp và mâu thuẫn (6) ấy bậc minh chủ không chấp thuận.
 
Lễ chôn cất của phái Mặc, mùa đông thì mặc y phục mùa đông, mùa hè mặc y phục mùa hè, áo quan làm bằng gỗ cây đồng, dày ba tấc, để tang ba tháng; các vua chúa đời nay khen là tiết kiệm và tôn trọng (phái Mặc). Phái Nho phá sản vào việc chôn cất, không có tiền thì đi vay rồi đợ con, trừ nợ, để tang ba năm, thân hình tiều tuỵ phải chống gậy mới đi được, các vua chúa đời nay khen là nhân hiếu, và tôn trọng (phái Nho). Nhưng nếu khen Mặc là tiết kiệm thì tất phải chê Nho là xa xỉ; khen Khổng Tử là hiếu thì phải chê Mặc Tử là có tội. Nho với Mặc, có hiếu với có tội, xa xỉ với tiết kiệm, (trái ngược nhau như vậy), mà các bậc vua chua lại tôn trọng cả hai! Họ Tất Điêu chủ trương (trước sự nguy hiểm) không được biến sắc, chớp mắt (nghĩa là không tỏ vẻ sợ sệt); mình làm bậy thì dù là bọn nô tì mình cũng phải nhường, mình chính trực thì dù trước các vua chư hầu mình cũng dám nổi giận; các vua chúa đời nay cho là cương trực (7) nên tôn trọng. Tống Vinh Tử (8) chủ trương không tranh đấu, không trả thù, không cho bị tù tôi là xấu hổ, không cho bị người ta khinh là nhục, các bậc vua chúa cho là khoan dung, nên tôn trọng. Nhưng nếu khen sự cương trực của Tất Điêu là phải thì phải chê sự khoan thứ của Tống Vinh là sai; mà nếu khen sự khoan thứ của Tống Vinh là phải thì phải chê sự táo bạo của Tất Điêu là trái. Hai ông ấy (trái nhau như vậy) khoan dung với cương trực, nhân thứ với táo bạo, mà các bậc vua chúa lại tôn trọng cả hai! Cái học ngu và lừa gạt, các lời tranh luận hỗn tạp và mâu thuẫn đó, các bậc vua chúa đều tin cả, cho nên kẻ sĩ trong thiên hạ, bàn luận không biết lấy gì làm tiêu chuẩn, hành động không có chủ trương nhất định. Nước đá và than (hồng) không thể đựng chung với nhau lâu được, nóng và lạnh không thể cùng tới một lúc; cái học hỗn tạp, mâu thuẫn không thể lưỡng lập mà không loạn. Nay cùng nghe theo những cái học hỗn tạp, cùng làm theo những lời mâu thuẫn nhau thì làm sao khỏi loạn cho được? Nghe và làm như vậy thì trong việc trị nước, kết quả tất cũng phải như vậy.
 
*
 
Đa số học giả đời nay nói đến việc trị nước đều bảo: “Cấp đất cho người nghèo, cho người không có tư sản được đủ ăn”. Nay có người cũng như những người khác, không trúng mùa, không có nguồn lợi nào khác mà riêng được dư ăn, thì nếu không phải nhờ siêng năng, tất là nhờ tiết kiệm. Lại có những người như những người khác, không gặp năm đói kém, không bị tật bệnh, tội lỗi gì mà riêng cùng khống, thì nếu không phải là do xa xỉ, tất là do biếng nhác. Xa xỉ và biếng nhác thì nghèo, siêng năng và tiết kiệm thì giàu. Nay bậc vua chúa thu thuế của người giàu để bố thí cho người nghèo, thế là cướp của người siêng năng và tiết kiệm để phát cho kẻ xa xỉ, biếng nhác, như vậy mà muốn cho dân gắng sức làm lụng, tiêu pha bớt đi thì không thể được.
 
*
 
Nay có người chủ trương không vô thành bị nguy, không vô quân đội, không chịu đổi một sợi lông chân lấy cái lợi lớn là có cả thiên hạ (9) mà bậc vua chúa đời này lại tôn kính, trọng cái trí, đề cao cái đức của họ, khen là kẻ sĩ khinh ngoại vật, trọng đường sinh. Bậc vua chúa để sẵn ruộng tốt, nhà to, đặt ra quan tước bổng lộc, là để cho dân đem cái chết vì mệnh lệnh đổi lấy những cái đó; nay lại tôn kính kẻ sĩ khinh ngoại vật trọng đường sinh, mà muốn dân hi sinh cho vua chúa, thì không thể được. Thu chứa sách cho nhiều, tập tành đàm luận, tụ họp đồ đảng, nghiên cứu văn học và biện luận, mà bậc vua chúa đời nay lại tôn kính, bảo: “Trọng hiền sĩ là đạo của tiên vương”. Nhưng quan lại đánh thuế là đánh vào nông dân, mà vua chúa nuôi là nuôi kẻ học sĩ. Nông dân phải nộp thuế nặng, mà kẻ học sĩ thì được thưởng nhiều, như vậy mà muốn cho dân gắng sức làm lụng và bớt bàn luận thì không thể được. Lập tiết tháo, gây danh tiếng, giữ nghĩa khí không để cho ai xâm phạm, lời oán trách mà tới tai là rút kiếm ra đuổi theo, mà bậc vua chúa đời nay lại tôn kính, khen kẻ sĩ biết trọng danh dự. Người có công chém đầu giặc (cho nước) thì không thưởng mà kẻ dũng cảm chiến đấu cho mình thì được vinh hiển, như vậy mà muốn cho dân hăng chiến đấu, cự với địch, không đấu tranh riêng cho mình, thì không thể được. Thời bình thì nuôi nho sĩ và hiệp khách, tới thời loạn nạn thì dùng kẻ sĩ mang khí giới, thế là kẻ được nuôi không phải là kẻ cần dùng, mà kẻ cần dùng tới lại không được nuôi, loạn do đó mà ra. Vả lại bậc vua chúa nghe các học giả, nếu cho lời họ là phải thì nên bổ nhiệm họ làm quan mà dùng họ, nếu cho lời là trái thì nên đuổi họ đi để trừ mầm loạn. Nay cho lời họ là phải mà không bổ nhiệm họ, cho lời họ là trái mà không trừ mầm loạn. Cái phải không được dùng, cái trái không bị trừ, suy vong do đó mà ra.
 
*
 
Đạm Đài Tử Vũ (10) có dong mạo người quân tử, Trọng Ni cơ hồ vừa ý nên thu nhận, nhưng ở lâu rồi mới thấy hành vi ông ta không đúng với dong mạo. Tế Dư (11) có lời nói văn nhã, Trọng Ni cơ hồ vùa ý nên thu nhận, nhưng ở lâu rồi mới thấy trí năng không phù hợp với lời biện luận. Cho nên Khổng Tử bảo: “Coi dong mạo mà chọn người, ta đã lầm về Từ Vũ; nghe lời nói mà chọn người, ta đã lầm về Tế Dư (12). Sáng suốt như Trọng Ni mà còn than rằng đã xét lầm. Bọn biện sĩ mới (13) ngày nay còn lém hơn Tế Dư nữa mà bậc vua chúa lại mê muội hơn Trọng Ni, nghe họ nói mà bùi tai là bổ nhiệm họ làm quan, thì làm sao khỏi lầm lẫn được! Vì vậy, vua Nguỵ nghe Mạnh Mão biện thuyết mà bổ nhiệm ông ta, nên bị cái hoạ ở chân núi Hoa (14); vua Triệu nghe Mã Phục biện thuyết mà bổ nhiệm ông ta, nên bị cái hoạ Trường Bình (15). Hai việc đó đều là lầm lẫn vì nghe lời biện thuyết mà bổ nhiệm. Xem đúc thiếc (để làm kiếm) mà chỉ căn cứ vào màu xanh màu vàng của ánh lửa thì dù là Âu Dã (16) cũng không quyết định được kiếm tốt xấu ra sao; nhưng nếu thử đâm con ngỗng trời ở dưới nước, chém con ngựa tơ ở trên cạn, thì bọn nô bộc cũng biết được kiếm sắc hay nhụt. Chỉ vạch mồm coi răng, và nhìn hình dáng thì Bá Lạc (17) cũng không quyết định được giá trị con ngựa, nhưng nếu cho ngựa kéo xe, xem nó chạy hết con đường thì bọn nô bộc cũng biết được ngựa tốt hay không; Nhìn dong mạo, y phục nghe lời nói một kẻ sĩ thì Trọng Ni cũng không quyết định được kẻ đó trí tuệ ra sao, nhưng nếu thư bổ nhiệm, rồi xét thành tích, thì người thường cũng biết rõ được kẻ đó ngu hay khôn. Cho nên quan lại của vua chúa, thì tể tướng phải bắt đầu từ một chức ở châu quận, mà tướng soái phải bắt đầu từ chân lính trơn (18). Ai có công thì tất được thưởng, như vậy tước càng cao, lộc càng hậu, thì càng phấn khởi; cấp bực cứ tuần tự mà lên thì chức càng lớn, càng có tài cai trị. Tước cao, lộc hậu mà quan chức giỏi cai trị, đó là cái đạo để lập được nghiệp vương.
 
*
(Một nước) có một ngàn dặm đá tảng, không gọi là giàu được; có một trăm vạn hình nộm không gọi là mạnh được. Đá không phải là không lớn, hình không phải là không đông, nhưng không gọi được là giàu mạnh vì đá không sản xuất được lúa, hình nộm không dùng để cự địch được. Nay bọn thương nhân (19) và công nhân cũng không cày cấy mà có ăn (không cày cấy tức là) đất không được khai khẩn, (không sản xuất được lúa), như vậy không khác gì hình nộm. Biết rằng đá tảng và hình nộm vô dụng, mà không biết rằng thương nhân, nho sĩ và hiệp sĩ là thứ đất không khai khẩn, thứ dân không dùng được, như vậy là không biết những thứ cùng một loại.
*
Vua các nước ngang sức với ta tuy thích chính sách của ta, ta cũng không thể bắt họ nộp cống, làm bề tôi của ta; các tước hầu trong nước (không có nước riêng) tuy chê hành động của ta, nhưng ta có thể bắt họ cắm chìm (20) mà triều cống ta. Như vậy là ta mạnh thì người triều phục ta, ta yếu thì phải triều phục người, cho nên bậc minh quân chỉ cần sao cho được mạnh. Nhà nghiêm thì không có đầy tớ ngỗ nghịch, còn mẹ hiền thì con hư. Do đó tôi biết rằng uy thế có thể cấm được sự hung bạo, mà đức dày không đủ để ngăn loạn. Bậc Thánh nhân trị nước, không trông mong gì dân làm điều thiện (21), chỉ cốt sao cho dân đừng làm bậy. Trông mong dân làm điều thiện thì khắp nước không tìm được mười người, cốt sau cho dân đừng làm bậy thì khắp nước có thể đều không làm bậy. Người trị nước cùng chính sách nào thích hợp với đại chúng mà bỏ chính  sách nào chỉ thích hợp với một số ít người, cho nên không vụ đức mà chỉ vụ pháp luật. Nếu cứ mong có được một cây tên tự nó đã thẳng sẵn rồi thì cả trăm đời cũng không có được một cây; nếu cứ mong có được một khúc cây tự nó tròn sẵn rồi thì ngàn đời cũng không có được một cái bánh xe. Cây tên tự nó thẳng sẵn, khúc cây tự nó tròn sẵn, trăm đời không có một; vậy mà người đời vẫn ngồi xe, vẫn bắn chim là nhờ đâu? Nhờ biết cách luộc rồi uốn lại (22). Dù không phải dùng cách đó mà cũng có được cây tên tự nhiên thẳng, khúc cây tự nhiên tròn thì người thợ khéo cũng không quí. Tại sao vậy? Tại không phải chỉ có một người ngồi xe và người bắn tên không phải chỉ bắn một phát. Dù không phải dùng thưởng phạt mà có được người dân tự làm điều thiện thì bậc minh quân cũng không quí. Tại sao vậy? Tại phép nước không thể mất, mà số dân cần trị không phải chỉ có một người. Cho nên bậc vua chúa biết dùng thuật không tuỳ theo cái thiện ngẫu nhiên (khai hoá bằng đức) mà thi hànhcái đạo tất nhiên (cai trị bằng pháp).

*

Nay có kẻ bảo: “Tôi có thể làm cho ông nhất định sẽ thông minh và sống lâu”, thì người đời sẽ cho kẻ ấy là điên. Thông minh là bẩm sinh mà sống lâu là số mạng. Bẩm sinh và số mạng là cái không thể học được. Kẻ kia đem cái không thể học được mà hứa với người, cho nên người ta cho là điên. Hứa với người điều mình không thể làm được, như vậy là dua nịnh. Đem nhân nghĩa ra dạy người, cũng không khác gì hứa làm cho người hoá thông minh và sống lâu, bậc vua chúa có pháp độ không chấp nhận điều đó. Khen Mao Tường, Tây Thi là đẹp, có ích gì cho mặt của mình đâu; dùng son, phấn, dầu, thuốc màu đen (23) (mà tô điểm) thì mặt mới đẹp gấp bội. Khen tiên vương là nhân nghĩa, có ích gì cho việc trị nước đâu; làm sáng pháp độ (phép tắc) thưởng phạt cho đúng và nghiêm, đó mới là thứ sơn, phấn, dầu, thuốc màu đen của quốc gia. Cho nên bậc minh chủ gấp lo việc có kết quả (tức pháp độ, thưởng phạt) mà hoãn cái chuyện ca tụng (tiên vương) lại. Vì vậy mà không nói đến nhân nghĩa.

*

Bọn thầy cúng, cô đồng bảo một người: “Tôi sẽ cầu cho ông sống ngàn năm, vạn tuổi”. Những tiếng ngàn năm vạn tuổi loạn cả tai người đó mà không có gì chứng tỏ rằng người đó thọ thêm được một ngày, vì vậy mà người ta khinh bọn thầy cúng, cô đồng. Ngày nay bọn nho sĩ thuyết các vua chúa thì không chỉ cách thời nay phải trị nước ra sao mà cứ kể cái kết quả trị nước của thời xưa, không xét cách trị dân của quan lại (24) cùng lòng dạ kẻ gian tà, mà chỉ kể những lời khen đời thượng cổ truyền lại, cùng sự nghiệp của tiên vương. Họ huênh hoang: “Cứ nghe lời tôi thì sẽ lập được nghiệp bá vương”; họ chính là hạng thầy cúng, cô đồng trong giới du thuyết đấy; bậc vua chúa có pháp độ không dùng họ. Bậc minh chủ vụ cái thiết thực, bỏ cái vô dụng, không giang thuyết nhân nghĩa, không nghe lời nói của bọn học giả.

*

Bọn không biết trị nước ngày nay nhất định bảo: “Cần được lòng dân”. Nếu chỉ được lòng dân là nước được trị, thì còn cần dùng gì đến Y Doãn (25), Quản Trọng nữa, cứ nghe lời dân là đủ rồi. Nhưng cái trí của dân không dùng được, cũng như cái lòng của trẻ con vậy. Một đứa trẻ đau ở đầu, không cạo đầu nó thì nó đau thêm, không nặn mụn nhọt thì mụn nhọt càng ngày càng tấy lên. Muốn cạo đầu, cắt mụn nhọt thì một người phải ghì nó để cho mẹ hiện của nó làm những việc ấy. Như vậy mà nó còn gào khóc không ngừng vì nó không biết phải chịu đau một chút rồi mới được cái lợi lớn (là hết bệnh). Nay bậc vua chúa gấp vỡ đất, cày ruộng để dân có thêm tài sản, mà dân oán là tàn khốc, sửa hình phạt và trừng phạt nặng, để ngăn cấm bọn gian tà, mà dân oán là nghiêm khắc; thu thuế bằng tiền gạo để cho kho lâm được đầy, hầu cứu tế khi đói kém, cung cấp cho quân đội, mà dân oán là tham lam (…) (26), gom sứclại đánh cho mạnh để bắt giặc mà dân oán là bạo ngược. Bốn việc đó là để trị an mà dân không biết mừng. Sở dĩ vua chúa cầu bậc thánh trị, thông đạt là vì dân trí không đủ cho mình theo được. Ngày xưa ông Vũ khơi sông (Dương Tử), đào sông (Hoàng Hà) mà dân gom ngói và đá (tính ném ông); Tử Sản vỡ đất trồng dâu, mà người nước Trịnh chê bai. Ông Vũ làm lợi cho thiên hạ, ông Tử Sản bảo tồn được nước Trịnh mà đều bị huỷ báng, như vậy dân trí có thể dùng được không, là điều ta thấy rõ rồi (26), làm chính trị mà mong vừa lòng dân, đều là mối loạn, không thể theo chính sách đó mà trị nước được.




(1) Trần Khải Thiên giảng là các học thuyết chủ yếu (dominant schools)
(2)  Tử Trương và Tử Tư đều là học trò Khổng Tử - Họ Nhan đây không chắc là Nhan Hồi vì học trò Khổng Tử có 8 người họ Nhan, mà Nhan Hồi chết sớm khi Khổng Tử còn sống. - Họ Mạnh là Mạnh Tử; họ Tất Điêu là Tất Điêu Khai; họ Trọng Lương là Trọng Lương Hoài; họ Tôn có thể là Công Tôn Sửu, cũng có thể là Tôn Khanh, tức Tuân Khanh (Tuân Tử); họ Nhạc Chính là Nhạc Chính Tử, học trò Khổng Tử. Chúng ta chỉ cần biết Tất Điêu Khai, Trọng Lương Hoài đều là học trò mấy đời sau của Khổng Tử.
(3) Tương Lí là Tương Lí Cần; Tương Phu và Đăng Lăng (tên đất dùng làm tên người) không rõ là ai. Cả ba có lẽ là học trò Mặc Tử.
(4) Nguyên văn là “hậu thế” (đời sau); các nhà chú giải đều bảo: dư chữ hậu (sau).
(5) Nguyên văn ngược lại: “Ân, Chu dài trên 700 năm, Ngu, Hạ dài trên 2000 năm” – Các nhà hiệu đính sửa lại như chúng tôi đã dịch. Thực ra Ngu và Hạ dài khoảng 500 năm thôi, Ân và Chu dài khoảng 1400 năm thôi. Hàn Phi ghi theo truyền thuyết, nên sai.
(6) Hỗn tạp vì đạo Nho có tới 8 phái, đạo Mặc có tới 3 phái; mâu thuẫn vì chủ trương của Mặc trái với Nho.
(7)  Nguyên văn là “liêm” (như liêm khiết), có sách giảng là có cạnh góc.
(8)  Cũng có chỗ gọi là Tống Kiên, sanh khoảng 383, mất khoảng 290, đồng thời với Mạnh Tử.
(9) Ám chỉ phái theo Dương Tử.
(10)  Môn sinh của Khổng Tử
(11) Câu này ở trong Khổng Tử gia ngữ
(12) Biện sĩ mới là biện sĩ thời Chiến Quốc, còn Tế Dư là biện sĩ mới.
(13) Mạnh Mão là tướng Nguỵ bị Bạch Khởi tướng nước Tần, đánh bại ở núi Hoa, giữa hai nước Tần và Nguỵ.
(14) Mã Phục tức Triệu Quát, tướng nước Triệu bị Bạch Khởi đánh bại ở Trường Bình (một ấp nước Triệu) trận này là trận Bạch Khởi chôn sống 40 vạn quân Triệu đã đầu hàng.
(15)   Người đời Xuân Thu, giỏi đúc gươm.
(16)   Người đời Xuân Thu, giỏi xem tướng ngựa, tức Tôn Dương. Có người đọc là Bá Nhạc.
(17)  Coi phụ lục ở cuối thiên.
(18) Nguyên văn “thương quan”, có sách giảng là thương nhân và quan lại, có sách lại giảng là thương nhân mua chức quan; Trần Khải Thiên cho rằng chữ quan chính là chữ cố (hai chứ hơi giống nhau); thương cổ tức là con buôn.
(19) Xưa, muốn yết kiến người trên thì phải mang chim hay một vật quí như ngọc lại làm lễ vật.
(20) Nguyên văn: “Vi ngộ thiên”, có thể hiểu là làm điều thiện cho ý ta, cho ta.
(21) Nguyên văn là “ẩn quát” có học giả đọc là “ẩn thiểm”, và mỗi sách giảng một khác: sách thì bảo là kéo cho ngay và uốn cho cong, có sách bảo là uốn cho cong và đẽo bớt đi. “Ẩn quát” là một đồ để uốn gỗ cong lại cho thẳng.
(22) Dầu và thuốc màu đen tức như kem và than (để vẽ lông mày).
(23)Chúng tôi theo bản Trần Khải Thiên: quan trị Vương Tiên Thận chép là quan pháp.
(24)Y Doãn là khai quốc công thần của Thành Thang.
(25) Chỗ này có 9 chữ, không ai hiểu là gì, ngờ thiếu sót hoặc sai lầm.
(26)Cho nên để cử kẻ sĩ mà cầu kẻ hiền sĩ Hàn Phi đã chủ trương “thượng hiền” của Nho, Mặc.

 
 
 
 
 
0
(từ trang 389 đến trang 391)


PHỤ LỤC
 
Chủ trương “tể tướng phải bắt đầu từ một chức ở chân quận, tướng soái phải bắt đầu từ chân lính trơn” được giảng rõ trong đoạn đầu thiên XLII Vấn Điền mà chúng tôi trích dịch thêm dưới đây:
 
Tử Cừ hỏi Điền Cưu (1):
 
-         Tôi nghe nói kẻ sĩ có trí không từ một địa vị thấp (tiến lên lần lần rồi sau mới) được yết kiến vua, bậc thánh nhân không đợi lập được nhiều công rồi mới được tiếp xúc với vua (2). Nay ông Nghĩa Cừ ở Dương Thành là một danh tướng mà mới bắt đầu dùng làm trưởng đồn; ông Công Tôn Đàn Hồi (3) là một tướng quốc hiền minh vào bậc thánh mà xuất thân từ một chức ở châu quận (tức một chức quan nhỏ ở địa phương). Tại sao vậy?
 
Điền Cựu đáp:
 
-         Lí do có gì khác đâu. Chỉ là vì vua có pháp độ và có thuật. Ông không nghe vua Sở dùng Tống Cô làm tướng soái mà quốc chính hoá loạn, vua Nguỵ dùng Phùng Li (4) làm tướng quốc mà suy vong đấy ư? Hai vua đó bị những lời rồng lôi cuốn, bị lời biện thuyết mê hoặc mà không thử tài họ ở chức trưởng đồn và chức quan châu quận, nên quốc chính mới loạn, quốc gia mới suy vong. Do đó mà xét, không thử dùng người ở chức trưởng đồn, ở chức quan châu quận (rồi mới cho tiến lên lần lần) thì đâu phải là phép phòng bị của bậc minh chủ?
 

(1), (2), (3), (4) Những nhân vật Từ Cừ, Điền Cưu, Nghĩa Cừ, Đàn Hồi, Tống Cô, Phùng Li trong đoạn này, đều chưa rõ là ai, không thấy chép trong sách nào khác.
(2) Từ Cừ muốn bảo những bác có tài đức thì nên dùng ngay vào những chức vụ cao như Quản Trọng chẳng hạn.
 
THIÊN XLIX
 
NGŨ ĐỐ
 
(NĂM LOẠI MỌT)
 
Đời thường cổ nhân dân ít mà cầm thú nhiều, nhân dân không thắng được cầm thú, trùng, rắn. Sau có cá thánh nhân ra đời, kết cành làm rổ (trên cây) để các loài đó khỏi xâm hại, nhân dân mừng, tôn làm vua thiên hạ, gọi là họ “Hữu Sào” (có ổ). Nhân dân ăn trái cây, rau cỏ, trai hến, tanh tao hôi hám mà hại ruột, bao tử, nhiều người đau ốm. Sau có thánh nhân ra đời, dùng cái “toại” dùi cây khô để lấy lửa, nướng các thức ăn cho hết tanh tao, nhân dân mừng, tôn làm vua thiên hạ, gọi là họ “Toại nhân”. Thời trung cổ, thiên hạ bị tụt lớn, ông Cổn và ông Vũ (1) khơi ngòi (cho nước rút). Đời cận cổ, Kiệt, Trụ bạo loạn, ông Thang (nhà Thương), ông Võ (nhà Chu) đánh dẹp họ. Nếu có người ở đời Hạ dạy nhân dân kết cành làm ổ, hoặc dùng cái “toại” để lấy lửa, tất bị ông Cổn, ông Vũ chê cười; có người ở đời Ân (Thương), Chu khơi ngòi tất bị ông Thang, ông Võ chê cười. Hiện nay nếu có người ca tụng đạo đức các ông Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Võ, tất bị các ông

 
(1) Ông Cổn là cha của ông Vũ, người sáng lập nhà Hạ. Vua Thuấn sai ông Cổn trị lụt không thành công, bị giết; sau ông Vũ trị lụt vua Thuấn truyền ngôi cho. Đừng lộn ông Vũ này với ông Võ của nhà Chu đời sau.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-19 09:44:17Ct.Ly>
Đánh máy: hoa _ sua



Hàn Phi Tử

Phần 17

( từ 318 – 331 )



Như vậy các kĩ sư sẽ hiểu biết rõ mỗi ngành hoạt động, sau mới có đủ tư cách và kình nghiệm để điều khiển.
2- Không cho kiêm nhiệm : Phải phân công rõ ràng, mỗi người lãnh một chức vụ, hoàn toàn chịu trách nhiệm về chức vụ đó thôi. Không phải là chức vụ của mình thì không được làm dù biết việc đó có ích cho nước. Hàn Phi rất mgại sự vượt chức ; bề tôi mà vượt chức thì không sao kiểm soát được, mối loạn do đó mà ra. Vượt chức là trái với nguyên tắc “hình danh” (hình vượt danh).
Thiên Nhị bính, Hàn chép truyện Hàn Chiêu hầu nằm ngủ, viên quan coi về mão sợ ông lạnh. lấy áo đắp cho ông ; khi thức dậy ông phạt viên quan coi về áo vì không làm nhiệm vụ, lại phạt cả viên quan coi về mão vì vượt chức vụ. “Không phải là ông không sợ lạnh, nhưng ông cho rằng bề tôi vượt chức vụ thì hại còn hơn là mình bị lạnh… Hễ vượt chức vụ thì chết”.

( chữ hán    Việt quan tắc tử ).


3- Đã giao trách nhiệm cho một người nào rồi thì đừng dùng một kẻ khác để dòm ngó kẻ đó.
“Cái lỗi của bậc vua chúa là đã giao trách nhiệm cho một bề tôi rồi lại dùng một bề tôi không được giao trách nhiệm đó để phòng họ. Sở dĩ vậy là vì chúa nghĩ rằng người không được giao trách nhiệm coi người được giao trách nhiệm là kẻ thù ; nhưng hậu quả ngược lại, chính chúa bị người không được giao trách nhiệm đó chi phối… Chúa bỏ pháp luật mà dùng bề tôi để đề phòng bề tôi thì những kẻ thân yêu nhau kết bè đảng mà khen lẫn nhau, những kẻ ghét nhau cũng kết bè đảng để chê lẫn nhau, hai bên khen chê lẫn nhau đó tranh nhau thì vua sẽ bị mê loạn”.
Vậy cứ tin họ, để họ làm việc, rồi tuỳ họ làm việc được hay không mà thưởng phạt họ đúng pháp luật chứ không phải cho người dòm ngó họ. Vả lại, đã có lệ trên dưới tố cao lẫn nhau thì cần gì phải dùng thêm sự dòm ngó nữa.
Trong việc dùng người, quy tắc là như vậy, nhưng đớ chỉ là để cho các hạng vua chúa tầm thường theo ; còn hạng minh chủ có pháp thuật thì chẳng cần theo qui tắc nào cả, dù là phản thần như Dương Hồ cũng dùng được (coi tiết Trừ gian, chương VII), mà dù có hai trọng thần cũng không sao như Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng lẫn Bảo Thúc, Thành Thang dùng cả Y Doãn lẫn Trọng Huỷ (Nạn thất) ; trái lại, vua hôn ám, không có pháp thuật thì dùng người tốt họ cùng sẽ pảhn mình, dùng hai trọng thần thì họ sẽ tranh quyền nhau mà kết giao với nước ngoài, chỉ dùng một trọng thần thì họ sẽ chuyên quyền mà giết mình. Thành hay bại đều do tư cách, tài năng của vua hết. Tuy trọng pháp thuật nhưng yếu tố người vẫn là chính ; vậy pháp trị hay nhân trị đều cần có người tốt cả, chỉ khác một bên trọng pháp thuật, một bên trọng nhân nghĩa, lễ giáo.
 
C - THUẬT VÔ VI

Trung Hoa có điểm khác Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây là các triết gia lớn của họ đều quan tâm tới đời sống của dân, đều muốn cứu đời bằng chính trị, mà bàn về chính trị thì hầu hết họ đều lấy sự “vô vi” làm lí tưởng.
Người ta quen cho “vô vi” là danh từ của Lão, Trang chỉ vì hai nhà ấy dùng nó nhiều nhất, sự thực thì chính Không tử đã dùng nó trước tiên mà đa số học giả ngày nay nhận rằng Lão có nhiều phần chắc là sinh sau Khổng.
Luận ngữ, chương Vệ Linh công, bài 4, chép : “Khổng tử bảo : “Không làm gì mà thiên hạ được trị, là vua Thuấn đó chăng ? Ông có làm gì đâu ? Chỉ cung kính giữ mình, (ngồi trên ngôi) quay mặt về hướng Nam, thế thôi.”
Chữ Hán
 ( Tử viết : Vô vi nhị trị giả, kì Thuấn dã dư ? Phù hà vi tai ? Cung kỉ, chính Nam diện nhi dĩ hỉ? Chu Hi chú giải rằng : bậc thánh nhân có đức cao, cảm hoá được dân, nên chẳng cần làm gì mà thiên hạ cũng bình trị. Sở dĩ vua Thuấn được như vậy, một phần là do nối nghiệp vua Nghiêu, lại được một số bề tôi hiền giúp sức.
Sau Khổng rử tới Lão tử. Chương XLVIII Đạo đức kinh, ông viết :
“Theo đạo thì càng ngày càng bớt, bớt rồi lại bớt đến mức vô vi… Vô vi thì không cái gì không trị…”

Chữ Hán

( Vị đạo nhật tổn, tổn chi hựu tồn, dĩ chí vô vi… Vô vi tắc vô bất trị… )
Chương LVII, ông còn nói rõ hơn :
“Ta vô vi mà dân tự hoá, ta ưa tỉnh mà dân tự sửa mình, ta không mưu tính gì mà dân tự giàu, ta không ham muốn mà dân tự thành chất phác”

Chữ Hán

(Ngã vô vi nhi dân tự hoá, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nhi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác).

Ông cho rằng cứ theo đạo, tức theo tự nhiên, thì mọi sự hoàn hảo. Cứ cho dân tự lo lấy thì ai nấy được thoả ý mà trên dưới yên ổn, nhà cầm quyền càng can thiệp thì càng gây rối : bắt dân đóng thuế nặng thì dân sẽ đói, ruộng đất bỏ hoang, hình phạt càng nghiêm thì dân càng phạm tội. Phải giảm chính phủ, đừng dùng nhân nghĩa, lễ giáo : “Mất Đạo rồi mới có Đức, mất Đức rồi mới có nhân, mất nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ”. Trí tuệ cũng phải bỏ (khí trí), vì có bỏ “trí” rồi mới trở về tự nhiên được. Chỉ cần cho dân khỏi đói, khỏi rét, rồi để dân muốn làm gì thì làm. Ông muốn trở về chế độ cộng sản nguyên thuỷ : nước nhỏ, dân ít, không dùng khí cụ, xe thuyền, không có gươm giáo, không có văn tự, không ai đi đâu xa (coi thêm chương VII và phần XI - phần VI - Đại cương Triết học Trung Quốc, quyển hạ - Cảo Thơm – 1966).

Chủ trương vô vi của Liệt tử đại khái cũng như Lão tử (coi Liệt tử và Dương tử, phần II – Lá Bối – 1972).

Lão tử chỉ giảm thiểu chính phủ thôi, Trang tử mới hoàn toàn vô vi, cho chính phủ là vô dụng, không được dùng pháp độ mà phải theo tính của dân. “Con chim biết bay cao để tránh cái lưới và mũi tên ; con chuột đồng biết đào hang sâu ỏ dưới gò thờ thần để tránh cái hoạ bị hun khói, đào hang. Lẽ nào người không khôn bằng hai con vạt đó ?” (Trang tử - Ứng đế vương). Dùng pháp độ, bắt dân vào khuôn vào phép theo ý riêng, thành kiến của mình thì sẽ thất bại.

Vậy phải để cho dân hoàn toàn tự do (đói thì kiếm ăn, no thì vỗ bụng đi chơi ), như vậy dân mới thảnh thơi tự tại, mới “tiêu dao”, vui vẻ hưởng hết tuổi trời.
Trong thiên Ứng đế vương, Trang dùng một ngụ ngôn :

“Thiên Căn đi lên núi Ân dương, đến sông Liễu, gặp vô danh nhân, nói : “Xin hỏi làm sao trị thiên hạ”. Vô danh nhân đáp : “Cút đi, ngươi là kẻ quê mùa… Ta muốn cùng tạo vật mà làm người ( tức là hoà đồng với vạn vật ), chán thì cưỡi con chim mang diểu ra ngoài lục cực (trời đất và bốn phương), ngao du ở làng Vô hà hữu (tức Đạo)… ngươi sao lại lấy việc trị thiên hạ làm rộn lòng ta?

Vô danh nhân trong ngụ ngôn đó chính là Trang. Tương truyền Sở Uy vương mòi ông làm tể tướng, ông từ chối, chỉ thích ẩn dật. Có thể coi ông là một triết theo chủ nghĩa vô chính phủ.
Pháp gia cũng nói tới vô vi. Trong Hàn Phi tử có dăm ba chỗ dùng chữ “vô vi”. Chẳng hạn :
Thiên Dương giác :
“Hư tình vô vi là tình (thực) của Đạo. Tham khảo, đối chiếu, so sánh mọi việc là “hình” của công việc. Tham khảo để so sánh mọi vật, đối chiếu để nó hợp với sự không hư”.

Chữ Hán

(Hư tĩnh vô vi, đạo chỉ tình dã, tham ngũ tỉ vật, sự chỉ hình dã, tham chỉ dĩ tỉ vật, ngũ chỉ dĩ hợp hư).
“Vật có chỗ thích nghi, tài có chỗ dùng. Mọi người đều có việc thích nghi thì trên dưới đểu vô vi”.

Chữ Hán


(Vặt giả hữu sở nghỉ, tài dã hữu sở thi ; các xử kì nghi, cố thượng hạ vô vi – Như trên)
Thiên Nạn nhị :
“… Các ông già nước Trịnh có câu : “Hiểu đạo lí thì nên đừng làm gì, đừng cho thấy”

Chữ Hán

(Trịnh trưởng giả hữu ngôn : “Thể đạo, vô vi, võ hiện dã” )
Thiên Ngoại trừ huyết hữu thượng, truyện 2 dẫn lời của Thân Bất Hại : “Sự sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ đề phòng, sự không sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ gạt bề trên, (…) sự không ham muốn của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ rình bề trên ; sự ham muốn của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ nhử bề trên. “Cho nên bảo : “Ta không dựa vào đâu mà biết người (tức bề tôi) được, chỉ có vô vi là có thể dò xét được họ thôi”.

Chữ Hán

(Ngô vô tòng tri chi, duy vô vi, khả dĩ qui chi).
Thiên Dương giác của người sau viết, mà những ý : “Hợp với sự không hư”, “trên dưới đều vô vi” trong thiên đó không hợp với chủ trương của Pháp gia ; còn câu trong Nạn nhị, chỉ là một cách xử thế của các ông già nước Trịnh, chứ không phải là một đường lối chính trị, nhưng đoạn dẫn trên trong Ngoại trừ thuyết hữu thượng, thì tuy là lời của một Pháp gia, Thân Bất Hại mà cũng hợp với học thuyết của Hàn Phi. Trong thiên Hữu độ, Hàn viết :
“Làm vua mà đích thân xem xét các quan thì không đủ thời gian mà cũng không đủ sức. Vả lại bề trên dùng mắt thì kẻ dưới tô điểm bề ngoài, người trên dùng tai thì kẻ dưới sửa giọng nói, người trên dùng trí óc để đoán xét thì kẻ dưới khéo nói, nói nhiều”

Chữ Hán

(Phù vi nhân chủ nhi thân sát bách quan, tắc nhật bất túc, lục bất cập. Thả thượng dụng mục tắc hạ sức quan ; thượng dụng nhĩ tắc hạ sức thanh ; thưọng dụng lự, tắc hạ phồn từ). Tiên vương cho ba cái đó ( mắt, tai, trí óc) là không đủ nên không ỷ vào tài năng của mình mà dựa vào pháp độ, xét kĩ việc thưởng phạt, tiên vương chỉ giữ cái cốt yếu, nên pháp độ giản dị, mà không bị vi phạm ; một mình tự chế ngự dân trong bốn bể, khiến cho kẻ thông minh không gian trá được, kẻ miệng lưới  không nịnh bợ được, kẻ gian tà không biết dựa vào đâu được ; dù cho kẻ ỏ xa ngoài ngàn dặm cũng không dám đổi lòi, kẻ thân cận như các lang trung cũng không dám che dấu cái tốt, tô điểm cái xấu ; như vậy từ các bề tôi tại triều, tụ họp ở bên vua cho đến những kẻ thấp hèn ở xa cũng không dám lấn nhau mà đều giữ chức phận mình. Cho nên công việc cai trị ít, ngày giờ dư, được vậy là do vua biết dùng quyền thế để trị nước”

Chữ Hán

( Cố trị bất túc nhi nhật hữu dư, thượng chi nhiệm thế sử nhiên dã).
Thiên Ngoại trừ huyết hữu hạ, Hàn Phi chép truyện Tư Trịnh tử ngồi trên càng xe ca hát mà qua được cây cầu cao :
“Tư Trịnh tử đánh xe lên một cây cầu cao không được, bèn ngồi trên càng xe mà hát, (tức thì) người đi trước ngừng lại, người đi sau đẩy xe cho ông và xe lên được dốc cầu. Nếu ông không có thuật để lôi kéo người giúp ông thì dù ông có gắng sức đến chết, chiếc xe cũng không lên được cầu. Đằng này ông khỏi phải mệt thân mà xe lên được là nhờ ông có thuật lôi kéo người giúp ông”.
Nhưng có thật là không mệt thân không ? Tuy không phải làm một việc gì đấy, nhưng phải dò xét, đề phòng mỗi bề tôi, lúc nào cũng sợ họ làm phản mình, phải tìm hiểu tình hình, tài năng họ để giao việc, khi việc rồi  phải theo dõi xem có kết quả không, kết quả có hợp với lời nói của họ không, sau cùng đích thân định việc thưởng phạt,… ; vì vậy mà thiên Nan nhị, chính Hàn cũng nhận rằng trị nước không phải là việc an nhàn :
“Sai khiến người lại không phải là việc an nhàn. Bậc vua chúa tuy ( không làm gì) chỉ sai khiến người, ( nhưng cũng ) phải dùng sự đo lường ( pháp độ ) làm tiêu chuẩn, dùng thuật hình danh để tham bác.
Việc nào hợp pháp thì làm, không hợp pháp thì ngưng : công trạng xứng đáng với lời nói thì thưởng không xứng thì phạt. (…) Như vậy bậc vua chúa trị dân đâu được an nhàn !”.

Chữ Hán

( Sử nhân hựu phi sở dật dã dĩ hình danh tham chi. Nhân chủ tuy sử nhân, tất dĩ độ lượng chuẩn chi. Sự ngộ ư pháp tắc hành, bất ngộ ư pháp tắc chỉ ; công đáng kì ngôn tắc thưởng, bất đáng tắc tru… Quân nhân giả yên dật tai ! ).
Vậy vô vi của Hàn khác vô vi của Lão, của Khổng : Lão vô vi được là nhờ theo tự nhiên, theo đạo, không can thiệp vào đời sống của dân ; Khổng vô vi được là nhờ có đức khéo cảm hoá dân, dùng lễ, nhạc, ít dùng hình pháp ; Hàn chỉ dùng hình pháp để trị dân, dùng thuật bắt dân cáo gian, can thiệp vào đời sống của dân, nhất là dùng tâm thuật, phải tính toán lo lắng nhiều, không tin cậy ai cả, có khi không dám ngủ chung với vợ con nữa, lại phải giữ ý, dụng ý trong mỗi cử chỉ, lời nói, nét mặt, chẳng hạn cúi đầu xá con ếch (để khuyến khích các dũng sĩ) như vua Việt, giữ kĩ chiếc khố cũ (để thưởng kẻ có công lao) như vua Hàn (Nội trừ huyết thượng) ; như vậy đâu phải là vô vi, mà là cực hữu vi, đâu cứ ung dung, nhàn tản như họ Khổng, họ Lão.
Danh từ vô vi thời Chiến Quốc cũng như danh từ dân chủ ngày nay ai muốn hiểu sao thì hiểu. Phải chăng vì vậy mà nó thành một lí tưởng hấp dẫn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-20 15:00:42Ct.Ly>
Đánh máy: Ct.Ly



Phần 13
 
Từ trang 260 đến 271

 
Dĩ giả, dĩ hữu tận trục vô dĩ, sở chỉ giả quả hỉ. Thưởng phạt sử thiên hạ tất hành chi, lệnh viết : « Trúng trình giả thưởng, phất trúng trình giả tru. lệnh triêu chí mộ biến, mộ chí triêu biến, thập nhật nhi hải nội tất hĩ, hề đãi cơ niên ? ( … ). Thả phù dĩ thân ví khổ nhi hậu hóa dân giả, Nghiêu, Thuấn chi sở nan dã ; xử thế nhi kiểu hạ giả, dung chủ chi sở dị dã, Tương trị thiên hạ, thích dung chủ chi sở dị dã, Tương trị thiên hạ, thích dung chủ chi sở dị dã. Tương trị thiên hạ, thích dung chủ chi sở dị, đạo Nghiêu, Thuấn chỉ sở nan, vị khả dữ vi chính dã).
 
      Hàn Phi cho cách thưởng phạt là mầm trị hay loạn của quốc gia nên gần như thiên nào ông cũng nhắc tới, trước sau có tới trên trăm chỗ, dưới đây chúng tôi tổng hộp lại để tìm ra nguyên tắc chính.
 
1-  Thường thì phải « tín », phạt thì phải « tất » (Ngũ đố) : Chữ tất chúng tôi dịch là cương quyết, nghĩa là hết kẻ cô tội thì phải trừng trị chớ không tha : chữ « tín » khó dịch hơn, chúng tôi dịch tạm là xác thực, nghĩa là hễ có công thì phải được thưởng theo như luật định, trái lại không có tội thì dù là kẻ mình ghét cũng không được trừng phạt ; không có càng mà thường thì là thi ân, mầm của loạn vì dân sẽ không gắng sức làm việc nước để được thương mà tìm cách hối lộ quan lại, quan lại sẻ thi an cho dân để mua lòng dân, kéo họ về phe mình mà mưu tư lợi. Ngay vua cũng không được thi ân cho dân, vì như vậy là trái phép, bất công, vả lại sẽ trông vào sự thi án mà biênế nhác công việc. ( Thường vô công tắc dân du hành nhi vọng ư thượng - Nạn nhị).
 
 
         Hai chữ « Tín » đó còn có nghĩa là không được mâu thuẩn trong việc thưởng phạt ; chẳng hạn « ban tước cho kẻ có (quân) công mà lại khinh thị quan võ, thương kẻ gắng canh tác mà lại coi rẻ nghề nông » ( Ngủ đố) : hoặc thường người chém được đầu quân dịch, mà đồng thời lại để cao hành vi nhân từ ; ( … ) quân địch trông cậy vào nông dân để cho nước giàu, trông cậy vào quân lính để cự địch mà đồng thời lại trọng kẻ sĩ chuyên về văn học » ( Ngủ đố) tức những kẻ chỉ nói suông, chê bai pháp thuật, ngăn cản việc trị nước, chứ không giúp ích được chút gì cả.
 
         Nếu khiến cho kẻ phạm điều mình cấm lại được lợi, kẻ làm lợi cho mình lại bị cấm ; hoặc khen kẻ có tội, chê kẻ đáng thưởng thì sự thưởng phạt chĩ làm cho nước thêm loạn. ( Ngoại trừ thuyết tả hạ)
 
2-  Thường thì phải trọng hậu, phạt thì phải nặng. Thưởng trọng hậu thì dân mới thấy lợi mà ham : phạt nặng thì dân mới sợ mà tránh.
 
        Thiên Lực phản, hàn Phi viết :
 
     « Các học giả đều bảo : Phải giảm nhẹ hình phạt đi », đó là thuật làm cho loạn vong. Thưởng phạt mà xác định là để khuyển thiện cấm ác. Thưởng hậu thì mau được cái mình muốn, phạt nặng thì mau cấm được cái mình ghét ( … ) Cho nên rất ham bình trị thì phải thưởng cho hậu, rất ghét rối loạn thì phải phạt cho nặng ( … ) Vả lại hình phạt nặng không phải chỉ để trị tội nhân, nó còn để làm sáng pháp độ của vua ( … ) cho nên bảo :  « Phạt tội một kẻ gian mà ngăn cấm được mọi sự gian tà trong nước » ( … ) kẻ bị phạt nặng là kẻ cướp mà kẻ sợ hãi là lương dân (… ) . Còn việc thưởng hậu không phải chỉ để thưởng công, còn để khuyến khích toàn dân trong nước nữa. Người được thưởng vui vì được lợi mà người chưa được thưởng sẽ ham được thưởng (…). Nay những kẻ không biết cách trị nước đều bảo :  « Hình phạt nặng làm thương tổn dân, hình phạt nhẹ có thể cấm gian được rồi, cần gì phải dùng hình phạt nặng ? » . Đó là không xét kỹ về sự trị nước. Một tội ác có thể ngăn cấm bằng hình phạt nặng thì chưa chắc đã ngăn cấm được bằng hình phạt nhẹ ; còn một tội ác ngăn cấm được bằng hình phạt nhẹ thì càng dễ ngăn cấm bằng hình phạt nặng. Cho nên đặt ra hình phạt nặng thì mọi sự gian tà sẽ chấm dứt, mọi sự gian tà sẽ chấm dứt thì thương tổn cho dân ở chỗ nào ? ( … )
 
Chữ Trung Hoa
 
 
 
( Phù dĩ trọng chỉ giả, vị tất dĩ khinh chỉ dã : dĩ khinh chỉ giả, tất dĩ trọng chĩ hĩ. Thị dĩ thượng thiết trọng hình giả nhi gian tận chỉ ; gian tận chỉ, tắc thử hồ thưong ư dân dã ?)
 
           Vậy dùng hình phạt nặng thì dân mới sợ mà mau có kết quả , nước sẽ hết loạn, chỉ có lợi cho dân chứ không làm thương tổn gì cho họ cả. Hơn nữa, còn là nhân từ đối với dân nữa, vì nếu dùng hình phạt nhẹ, dân không sợ mà mắc tội, như vậy không khác gì bẫy dân, còn dùng hình phạt nặng là tránh cho dân sa vào bẫy ( Lục phản).
 
     Đó là chủ trương của Thương Ướng : dùng hình phạt để bỏ hình phạt ( hình dĩ khử hình ) trái với chủ trương đặt ra hình phạt mà không dùng (hình bất hình) của Khổng.
 
 
      Nếu kẻ phạm tội mà trốn được thì phải truy nả cho tới cùng, quyết không để cho một tội nào đã phát giác mà thoát khỏi lưới pháp luật – đây cũng là một quy kết của nguyên tắc «  phạt thì phải « tất ».
 
 
      Trong Nội trừ thuyết thượng Hàn Phi đưa Vệ Tự Công ra làm gương : « Thời Vệ Tử Công có người bị tội đồ trốn qua nước Ngụy và trị bệnh cho hoàng hậu của Ngụy Tương vương. Tự Công hay tin sai người đem năm chục ( lượng hay dật ?) vàng để mua người có tội đó ; sứ giả đi đi về về năm lần mà vua Ngụy không chịu giao : Tự Công bèn lấy ấp Tả thị để đối ».
 
      Đem một ấp để đổi lấy một tên phạm tội về mà trừng trị, cổ kim chắc chưa có ai như ông vua nước Vệ đó. Quần thần can ông đáp : « Muốn trị nước thì đừng coi thường những việc nhỏ, loạn không phải là toàn là do việc lớn mà phát đâu. Pháp luật không vững, hình phạt không cương quyết thì dù có mười ấp tả Thị cũng vô ích, ngược lại pháp luật mà vững, hình phạt mà cương quyết thì dù mất mười Ấp Tả Thị cũng không hại.


Chữ Trung Hoa

 
 
( Phù trị vô tiểu nhi loạn vô đại. Pháp bất lập nhi tru bất tất, tuy hữu thập Tả Thị, vô ích dã, pháp lập nhi tru tất tuy thất thập Tả Nhị, vô hại dã)
 
       Trước sự cương quyết đó của Vệ Tự quân, vua Ngụy đành phải trao kẻ đã trị bệnh mẹ mình, để khỏi mất tình hòa hiếu với bạn chư hầu. Câu chử Hán chúng tôi dẫn ở trên tóm tắt được một cách mạnh mẻ sự quan trọng của pháp và hình theo Pháp gia.
 
     3 - Sự thưởng phạt phải theo đúng phép nước, chí công vô tư.
      Thiên Hữu độ, Hàn bảo :
« Pháp luật nghiêm là để ngăn cấm tội lỗi, trừ bỏ riêng tư : hình phạt gắt là để lệnh được thi hành khấp và trừng trị kẻ dưới ». Nói tới thưởng phạt, nhất là phạt, Hàn thường kèm thao với pháp luật. Vì pháp luật như cái dây mực, cái thủy chuẩn, cái quy cái củ, cứ theo đó thì hành động không sai ; dù là người thợ khéo đến mấy cũng phải dùng những cái đó làm tiêu chuẩn, không nên theo ý mình.
 
     « Dùng pháp luật để trị nước chỉ là đề khen đúng người phải, trách đúng kẻ quấy mà thôi. Pháp luật không thể a dua người sáng cũng như dây mực không chừa các quan lớn, thưởng công thì không bỏ sót dân thường ( … ). Hình phạt nặng thì người sang không dám khinh kẻ hèn : Pháp luật phân minh thì người trên được tôn trọng, không bị lấn
 
-     Chữ Trung Hoa
 
 
( Cố di pháp trị quốc, cử thổ như dĩ hĩ – Pháp bất a quí, thắng bất nao khúc ( …) Hình quá bất tị đại thần, thường thiện bất di thất phu ( … ). Hình trọng tắc bất cảm dĩ quí dị tiện, pháp thẩm tắc thượng tôn nhi bâtấxâm - Hữu độ)
 
      Thiên Chữ đạo, cùng bảo : « Nếu quả thực có công thì dù là kẻ không thân và hèn mọn, cũng thưởng, nếu quả thực có tội thì dù là kẻ thân ái cũng phạt ».
 
    Thiên Ngoại trừ thuyết hữu thượng, Hàn nhắc lại nữa : «  Không tránh người thân và đại thần, thi hành với cả người mình yêu » và kể ra hai cố sự mà chúng tôi đã dẫn ở trên. Truyện Tấn Văn Công rơi lệ để cho viên lại chém Điền Hiệt sủng thần của ông, vì tội tới trể trong một buổi đi săn ; và truyện thái tử nước Kinh ‘Sở’ phạm cấm, bị viên đình lý ‘coi sân chầu’ phạt, khóc lóc xin với vua cha, vua cha đã không an ủi mà còn bênh vực viên đình lý.
 
      Tóm lại thưởng phạt không được vì tư tình, không được có tư ý, không được để lộ vui buồn của mình ra nữa, mặt phải lạnh như tiền : ‘ hữu thưởng phạt nhi vô hỉ nộ - Dụng nhân’
 
     Cứ theo đúng pháp luật mà thưởng phạt, thì kẻ bị trừng phạt không oán bề trên vì không coi sự được thưởng là môộ ân huệ, chỉ là một sự công bằng mà thôi.
 
 
     Đầu thiên Ngoại trừ thuyết tả hạ, Hàn kể lại hai cố sự đễ dẫn chứng (Một người phạm tội, bị Tử Cao làm chức coi ngục xử tội và chặt chân. Sau Tử Cao bị truy nã vì bị nghi là luyên lụy trong một vụ làm loạn, người cụt chân đó không oán, không tố cáo. Tử Cao ngạc nhiên, hỏi tại sao không oán mình, người đó đáp : « Tôi bị chặt chân vì tội tôi đáng vậy, làm sao khác được ? ».
-      Châu Mão có công du thuyết mà cứu Ngụy khỏi bị Tần và Hàn đánh, Ngụy Tương vương thưởng ông lộc năm cổ xe , ông không mang ơn mà còn chê là thửơng ít.
 
Theo đúng pháp luật thì hình phạt sẽ thích đáng, nhiều hay ít không thành vấn đề : nước loạn nhiều kẻ phạm pháp thì trừng trị nhiều, tuy nhiều cũng vô hại. Đầu thiên Nạn thị, Hàn Phi chép truyện Án Anh trách khéo Tề Cảnh Công dùng nhiều hình phạt quá, Cảnh Công nghe lời, bỏ bớt đi năm hình phạt, Hàn Phi chê Án  Anh không biết thuật trị nước.
     « Hình phạt mà thích dáng thì nhiều cũng vô hại, nếu không thích đáng thì tuy ít cũng là hại. Án Tử không giảng cho vua lẽ thích đáng mà chỉ chê là nhiều quá, đó là cái hại vô thuật. Phạt quân thua trận thì đến số ngàn, số trăm vẫn chưa ngăn được sự bại tẩu, vậy thì hình phạt để dẹp loạn chỉ sợ không xuể mà kẻ gian vẫn còn. Án tử không xét là thích đáng hay không mà chỉ cho laànhiều quá, chẳng là bậy ư ? »
 
 
Chữ Trung Hoa
 
 
(Phù hình đáng vô đa, bất đáng vô thiểu, cô dĩ bất dáng vân nhi dĩ thái đa thuyết vô thuật, chi hoạn dã. Bại quân chi tru dĩ thiên bách số, do bắc thả bất chi, tức trị loạn chi hình, như khủng bất thắng nhi gian thượng bất tận. Kim Án tử bất sát kỳ đáng phủ, nhi dĩ thái đa vi thuyết, bất diệt vong hồ ! - Nạn nhị ».
 
        Sau cùng, nếu theo đúng pháp luật thì không lạm dụng hình phạt lmà khỏi mất nước (Vong trưng - điểm 10).
 
     Quyển thưởng phạt là một lợi khí, đích thân vua phải nắm lấy, không được ủy quyền cho ai cả ; giao cho người thì uy của vua sẽ phân tán, và sẽ bị bề tôi che lấp, không chế ngự họ được. Hàn Phi cảnh cáo các bậc vua chúa nhiều lần như vậy, như trong các thiên Bát kinh, Nội trừ thuyết thượng, Nội trừ thuyết hạ, Ngoại trừ thuyết hữu hạ … đặc biệt là trong thiên Nhị binh.
 
 
    Ông cho rằng vua sỡ dĩ chế ngự được bề tôi là nhờ hai cái quyền (nhị bính ) : thường mà ông gọi là « đức » v àphạt mà ông gọi là « hình », nếu không tự nắm lấy hai quyền đó mà giao cho bề tôi thì dân sẽ sợ mà quy phục bọn bề tôi đó mà coi thường vua. Hai quyền đó như nanh vuốt của cọp vậy :
 
       « Cọp làm cho chó khiếp phục là nhờ nanh với vuốt, nếu cọp bỏ nanh vuốt đi để cho chó dùng thì ngược lại nó phải khiếp phục chó »
 
 
Chữ Trung Hoa

 
(Phù hổ sỡ dĩ năng phục cẩu giả, trảo nha dã, sử hổ thích kì trảo nha nhi sử cẩu dụng chi, tắc hổ phản phục ư cẩu hĩ - Nhị bính)
 
      Bậc vua chúa dùng hình và đức để chế ngự bề tôi, nếu bỏ hai quyền đó để cho bề tôi dùng thì ngược lại bị bề tôi chế ngự.
 
     Vì vậy vua không được giao một quyền nào cho bề tôi cả. Giao quyền thưởng thì nguy cho vua đành rồi, như trường hợp Tề Giản Công để quyền thi ân cho một đại phu là Điền Thường dùng (Điền Thường được phép ban tước lộc cho quần thần) mà rốt cuộc bị Điền Thường giết, rồi sau đó con cháu họ Điền cướp luôn ngôi vua Tề ; ngay đến việc giao quyền phạt cho bề tôi cũng rất tai hại nữa. Hai lần - ở thiên Nhị bính và ở thiên Ngoại trừ thuyết hữu hạ, Hàn Phi dẫn truyện vua Tống (không rõ là ai ) bị Tử Hãn đảm nhiệm việc hành phạt, việc mà ông ta cho là bị dân ghét :
     Tử Hãn tâu với vua Tống : Khen thưởng và ban ơn là làm cho dân thích, việc đó xin nhà vua đảm nhiệm lấy : chém giết, trừng phạt là làm cho dân ghét, việc này thần xin đảm đương ».
 
     Vua Tống cho là Tử Hãn yêu mình, chịu nhận tiếng xấu thay mình, chấp nhận liền, từ đó hễ có việc phải ban lệnh ra oai, trừng trị đại thần thì bảo : « Hãy hỏi Tử Hãn ». Vì vậy mà đại thần đều sợ Tử Hãn, dân chúng đều theo Tử Hãn; được một năm ông bị Tử Hãn giết rồi cướp ngôi.
 
     Cho vua nắm hết quyền thưởng phạt rồi buộc vua phải tuân theo pháp luật, đó là một điều hợp lý về nguyên tắc : uy quyền của vua được mạnh nhưng hơi bị hạn chế vì còn có pháp luật hãm hại : nhưng đem ra áp dụng thì không hợp tình, tư lợi, thì sao lại mong vua - hạng vua bình thường – « dung chủ » - bỏ việc tư tình mà luôn luôn giữ đúng pháp luật được. Thuyết của ông nếu không mẫu thuẩn thì cũng không thực tế. Có nhà cầm quyền nào từ xưa tới nay bỏ được yêu ghét, vui giận đâu ? Cũng chưa hề có nhà cầm quyền nào chỉ dùng chính sách thưởng và phạt - tức như người phương Tây gọi là « củ cà rốt và cây gậy » mà trị nước được lâu, vì con người còn biết trọng cái khác ngoài cái lợi, biết sợ cái khác ngoài hình phạt, xã hội không phải là một chuồng thú của một gánh xiếc.
 
     Vua Hàn không theo chính sách của Hàn chưa chắc đã hoàn toàn vô lý.
0
truyện còn chương nào chưa đánh không Ct.Ly? còn thì gửi thêm cho mình mấy chương nữa nhé. 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-21 10:29:10Ct.Ly>
Chào cunhoi

HuyTran chưa gửi thêm, chắc đợi mọi người đưa lên hết, HuyTran mới gửi tiếp


**********

HuyTran ơí ời

Gửi tiếp đi HuyTran ơi, có người đang tìm việc làm kìa [8D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-22 11:07:28cunhoi>
(từ trang 404 đến trang 410)
 
loạn nước. Nay nhân dân trong nước đều bàn về chính trị, chưa cất những sách về pháp luật của Thương Ưởng, Quản Trọng, mà nước càng nghèo, là vì kẻ bàn về nông nghiệp thì đông mà kẻ cầm cày lại ít. Trong nước ai cũng bàn về việc binh, chứa cất những sách về binh pháp của Tôn Tử, Ngô Tử (1), mà binh lực càng yếu là vì kẻ nói chuyện đánh giặc thì đông mà kẻ bận áo giáp lại ít. Cho nên bậc minh chủ chỉ dùng thực lực chớ không nghe lời nói suông, thưởng công lao mà nhất định cấm cái vô dụng, như vậy dân mới tận lực đến chết để theo bề trên. Cày ruộng là việc rất lao khổ mà dân làm vì biết rằng có vậy mới giàu được, đánh giặc là việc rất nguy hiểm mà dân làm vì biết có vậy mới sang được. Nếu trau dồi văn học, tập tành ngôn luận, không cày cấy khó nhọc mà được giàu có, không nguy hiểm đánh giặc mà được tôn quí thì ai chả muốn làm như vậy? Kết quả là một trăm người dùng trí chỉ có một người dùng sức, người dùng trí mà đông thì pháp luật bại hoại, kẻ dùng sức mà ít thì nước nghèo, do đó mà đời hoá loạn. Cho nên một nước có minh chủ thì không dùng văn học trong sách (2) chỉ lấy pháp luật mà dạy dân không dùng lời của các “tiên sinh” (3), chỉ dùng quan lại làm thầy (dạy pháp luật), không có bọn hiệp khách hung hãn, cho chém được đầu giặc mới là dũng cảm. Nhờ vậy dân trong nước hễ đàm luận là căn cứ vào pháp luật, hễ hành động là hướng về sự lập công, sự dũng cảm đem dùng hết vào việc quân, mà thời bình thì nước giàu, lúc có giặc thì binh mạnh. Đó là cái vốn (4) để  lập vương nghiệp. Súc tích cái vốn đó, thừa lúc địch sơ suất thì sự nghiệp sẽ vượt ngũ đế, bằng tam vương (5). Theo phép đó nhất định phải thành công.
 
*
 
Ngày nay khác hẳn. Bên trong thì sĩ dân làm theo ý mình, bên ngoài thì bọn biện sĩ mườn quyền gây thế lực, trong ngoài đều làm điều gian ác để đợi cường địch, như vậy chẳng nguy ư? Cho nên quần thần bàn về đối ngoại, nếu không chia ra hai phe hợp tung và liên hoành thì cũng nhân có mối thù với nước khác mà mượn sức nước mình để trả thù (6). Hợp tung là liên hợp các nước yếu  (tức lục quốc Hàn, Triệu, Nguỵ, Sở, Yên, Tề) để đánh một nước lớn (tức nước Tần); liên hoành là thờ một nước mạnh để đánh các nước yếu, hai phe đó đều không duy trì được quốc gia. Bọn bề tôi nói chuyện liên hoành đều bảo: “Không thờ nước lớn thì tất bị địch xâm lược”. Thờ nước lớn đâu phải là nói suông, tất phải đem bản đồ nước mình và ấn của các quan giao cho nước lớn xin họ phân phát. Dâng bản đồ thì nước bị cắt xén, giao ấn thì danh phận bị hạ thấp; đất đai bị cắt xén thì nước yếu đí, danh phận bị hạ thấp thì chính trị hỗn loạn. Vậy là theo chủ trương liên hoành để nhờ nước lớn, lợi chưa thấy mà đã mất đất và loạn chính. Bọn bề tôi nói chuyện hợp tung đều bảo: “Không cứu nước nhỏ mà đánh nước lớn thì thiên hạ sé bị thôn tính, mà thiên hạ mất thì nước mình nguy, nước nguy thì vua hoá thấp hèn”. Cứu nước nhỏ đâu phải là nói suông, phải đem binh đánh nước lớn. Cứu nước nhỏ chưa chắc đã bảo tồn được nước đó mà đánh nước lớn vì tất đã không có sự sơ hở (?), có sự sơ hở thì sẽ bị nước mạnh chế ngự. Xuất quân thì quân thua, lui về cố thủ thì thành bị phá. Vậy là theo chủ trương hợp tung để cứu nước nhỏ, lợi chưa thấy mà đã mất đất, thua quân. Kẻ chủ trương thờ nước mạnh chỉ mong nhờ thế lực nước ngoài để có quan chức lớn ở trong nước (7); kẻ chủ trương cứu nước nhỏ chỉ mong mượn thế lực của nước mình mà cầu lợi ở nước ngoài (8). Quốc gia chưa được lợi gì mà họ đã được đất phong, lộc hậu; địa vị của vua bị hạ thấp mà quyền thế của bề tôi lại thêm cao, đất đai của quốc gia bị cắt xén mà nhà riêng (của bề tôi) thì giàu thêm. Việc thành thì họ nắm quyền mà được trọng dụng hoài; việc hỏng thì họ cũng giàu có rồi, lui về mà hưởng. Còn bậc vua chúa nghe lời họ, việc chưa thành, tước lộc của họ đã thêm cao, việc hỏng thì lại không giết họ, thành thử kẻ sĩ du thuyết không người nào không dùng những lời hão huyền để cầu may, được tước lộc. Tại sao lại nghe những thuyết hão huyền đó để cho nước tan, vua chết? Tại vua chúa không hiểu rõ cái lợi công và tư, không xét kĩ xem lời nói của bọn biện sĩ có thích đáng hay không, mà sau khi thất bại rồi, lại không giết, trị tội bọn họ. Những kẻ chủ trương liên hoành và hợp tung đó đều nói: “Việc đối ngoại (nghĩa là theo liên hoành hay hợp tung) thành công lớn thì có thể thành bá vương, nhỏ thì nước cũng được yên”. Làm bá vương thì có thể tấn công người, mà nước yên thì không bị người tấn công. Nhưng cái sự mạnh và trị thì không thể trông vào việc ngoại giao, nó tuỳ nội chính (tốt hay không). Không thi hành pháp luật ở trong nước mà cứ trông vào mưu trí đối ngoại, thì không thể trị và mạnh được. Tục ngữ có câu: “Tay áo dài thì khoẻ múa, tiền của nhiều thì khéo buôn”, nghĩa là có nhiều vốn thì dễ thành công. Nước trị và mạnh thì dễ mưu sự, nước yếu và loạn thì khó thiết kế. Cho nên dùng ở nước Tần (nước mạnh), mưu có thay đổi mười lần cũng ít thất bại; dùng ở nước Yên (nước yếu), mưu chỉ một lần thay đổi mà cũng ít thành công; không phải vì mưu dùng ở Tần đều khôn cả, mưu dùng ở Yên đều ngu cả, chỉ vì cái “vốn” trị hay loạn khác nhau đấy thôi. Cho  nên Chu li khai Tần mà theo hợp tung, mới một năm đã bị diệt, Vệ li khai Tần mà theo hợp tung, mới một năm đã bị diệt, Vệ li khai Nguỵ mà theo liên hoành, mới nửa năm đã mất. Chu vì hợp tung mà bị diệt, Vệ vì liên hoành mà mất nước. Giá Chu và Vệ khoan tính cái kế hợp tung hay liên hoành, mà gấp lo việc trị nước, làm cho phép lệnh nghiêm minh, thưởng phạt xác định, khai phá hết đất đai để súc tích cho nhiều khiến cho dân xuất tự lực ra giữ thành trì, thì thiên hạ dù có chiếm đất mình, lợi cũng không được bao, công phá được đất mình thì tổn thất cũng nặng, như vậy một nước vạn cỗ xe không dám đóng binh ở dưới thành kiên cố của mình, mà chế ngự chỗ yếu kém của mình (?) đó là cái thuật chắc chắn giữ được nước cho khỏi mất. Bỏ cái thuật chắc chắn giữ được nước cho khỏi mất mà làm cái việc nhất định cho nước tới diệt vong, đó là lối của kẻ trị nước. Kết quả là mưu trí lúc ngoại giao bị khốn ở ngoài mà chính trị thì loạn ở trong như vậy tất mất nước, không sao cứu được.
 
*
 
Nhân dân bao giờ cũng tìm sự an toàn, lợi ích mà tránh sự nguy nan, khốn cùng. Nay ta bắt họ ra trận, tiến lên thì chết vì địch mà lui về thì bị giết, đằng nào cũng nguy. Bỏ việc nhà cửa làm ăn mà tìm cái công lao hán mã (9), nhà lâm cảnh khoỏ mà bề trên không xét cho thì tất phải khốn cùng. Chỗ nào khốn cùng và nguy nan thì làm sao dân không tìm cách tránh? Cho nên họ thờ các tư gia có thế lực để được miễn quân dịch mà xa trận mạc, xa trận mạc thì được yên. Họ dùng hối lộ nhờ nhà cầm quyền để được cái họ muốn, được cái họ muốn thì có lợi. Chỗ nào yên ổn và có lợi thì sao dân không ùa tới? Do đó mà dân lo việc công thì ít mà dân lo việc tư thì nhiều. Chính sách trị nước của bậc minh chủ là khiến cho bọn thương nhân, công nhân và du thủ du thực ít và bị khinh để cho dân đổ xô vào các nghề gốc (trồng trọt, cày cấy) mà bỏ các nghề ngọn (công và thương). Nay lời xin của bọn thân cận với vua chúa được chấp nhận, thì quan tước có thể mua được, quan tước có thể mua được thì công nhân và thương nhân không còn thấp hèn nữa. Của gian và đồ gian được dùng ở chợ, thì thương nhân tất nhiều. Tiền của họ tích tụ được nhiều gấp bội nhà nông, mà địa vị của họ lại cao hơn nông gia và chiến sĩ, như vậy thì chiến sĩ (10) tất ít, mà bọn con buôn phải nhiều. Cho nên nước loạn có cái thói: bọn học giả thì khen đạo tiên vương, tạ khẩu là trọng nhân nghĩa, trau chuốt dung mạo và y phục lời ăn tiếng nói để làm loạn pháp độ đương thời, làm mê hoặc lòng vua chúa; bọn du sĩ thì dùng thuyết gian trá mượn thế lực của nước ngoài để đạt được tư lợi, làm thiệt hại cho quốc gia, bọn đeo gươm thì tập hợp đàn em, lập tiết tháo để nổi danh mà phạm cấm lệnh của năm chức quan (11) (tức của triều đình) bọn thị thần nịnh bợ, tích tụ tài sản, ăn hối lộ, mượn cái thế của nhà cầm quyền mà xin miễn dịch (cho kẻ hối lộ cho họ) còn bọn thương gia và công nhân thì sửa lại (12) những đồ xấu xí, tích trữ những vật thường dùng (13) để đợi thời (bán đắt giá mà) bóc lột cái lợi của nông phu. Năm hạng người đó là mọt của nước, bậc vua chúa không trừ chúng, không nuôi chiến sĩ thì trong thiên hạ có quốc gia bị tàn phá suy vong, có triều đại bị tiêu diệt, cũng không có gì lạ!

 
(1)   Tôn Tử tức Tôn Võ, người nước Tề, giỏi binh pháp, tác giả một bộ binh thư nổi tiếng. Ngô Tử tức Ngô Khởi, một danh tướng đời Chiến Quốc, gốc nước Vệ, làm quan ở Lỗ, Nguỵ, Sở, mấy lần thắng được Tần.
(2)   Tức các Thi, Thư, điển tích của Nho gia.
(3)   Tức các học giả (như các Tắc hạ tiên sinh). Có sách chép là tiên vương.
(4)   Tức nước giàu binh mạnh.
(5)   Ngũ đế là Hoằng đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Nghiêu, Thuấn.
Tam vương là vua đời Tam đại: Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn vương.
(6)   Như trường hợp Ngũ Viên, người nước Sở, cha là Ngũ Xa bị vua Sở giết, ông qua nước Ngô, thuyết phục vua Ngô là Hạp Lư đánh nước Sở để báo thù cho cha.
(7)   Khuyên vua thờ nước mạnh mà vua nghe thì họ được nước mạnh trọng dụng, thăng quan, phong đất cho.
(8)   Khuyên vua cứu nước nhỏ mà vua nghe thì họ được nước nhỏ mang ơn, tặng cho tiền của, bảo vật.
(9)   Công lao lập trên lưng con ngựa toát mồ hôi, tức chiến công.
(10)  Nguyên văn là cảnh giới chi sĩ nghĩa là kẻ sĩ ngay thẳng, nhưng ý đồ không hợp với tiền hậu vận, cho nên một số học giả ngờ là chiến giới chi sĩ (chiến sĩ) hoặc canh chiến chi sĩ (nông gia và chiến sĩ).
(11) Năm chức đó là: tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ và tư khâu.
(12) Tức như ta nói: đánh bóng lại cho có vẻ mới, trông được.
(13) Nguyên văn: phất mị tài, có sách giảng là tiền của vô dụng hoặc vô hạn. Chúng tôi thấy không xuôi nên theo Trần Khải Thiên: phất mị tài - bất gia hoá - tiện nghi hoá.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-23 04:34:45cunhoi>
(Từ trang 411 đến trang 417)

THIÊN XL
 
NẠN THẾ
 
(VẤN NẠN VỀ CÁI THẾ (1))


Thận Tử (tức Thận Đáo) bảo:

- Con phi long cưỡi mây mà bay (lên trời), con đằng xà (một loại rắn như rồng, không có chân) chế ngự sương mù mà lượn (trong đó). Mây tan sương tạnh rồi thì hai con đó cũng hỉ như con giun, con kiến vì mất chỗ dựa. Người hiền mà chịu khuất kẻ bất tiếu (tài đức kém) là vì quyền (thế) nhẹ, (địa) vị thấp; kẻ bất tiếu mà khuất phục được người hiền là vì quyền trọng, vị cao. Nghiêu hồi còn là dân thường thì không trị được ba người, mà Kiệt khi làm thiên tử thì có thể làm loạn cả thiên hạ. Do đó tôi biết rằng quyền thế và địa vị đủ để nhờ cậy được, mà bậc hiền trí không đủ cho ta hâm mộ. Cây ná yếu mà bắn được mũi tên lên cao là nhờ sức gió đưa đi; kẻ bất tiếu mà lệnh ban ra được thi hành là nhờ sức giúp đỡ của quần chúng. Nghiêu khi còn lệ thuộc, đi giảng dạy thì dân không nghe; đến khi ngồi quay mặt về phương Nam, làm vua thiên hạ, lệnh ban ra là người ta thi hành liền, cấm đoán là người ta phải ngừng ngay. Do đó mà xét thì hiền và trí không đủ cho đám đông phục tòng, mà quyền thế và địa vị đủ khuất phục người hiền.
 
Có kẻ trả lời Thận Tử: (2)

- Con phi long cưỡi mây mà bay, con đằng xà chế ngự sương mù mà lượn, tôi đồng ý rằng hai con đó dựa vào cái thế của mây và sương mù. Tuy nhiên, nếu bỏ người hiền mà chuyên dựa thế lực, có đủ để trị nước không, thì tôi chưa được thấy đấy. Có cái thế của mây, sương mù mà cưỡi, lượn được, quả là con rồng, con rắn có tài cao. Có mây dày mà con giun không cưỡi được; có sương mù đặc mà con kiến không lượn được vì tài năng của chúng kém. Kiệt Trụ quay mặt về phương Nam, làm vua thiên hạ, dùng uy thế của ngôi thiên tử làm mây và sương mù, mà thiên hạ không khỏi đại loạn là vì tài năng của họ kém. Vả lại ông đó (tức Thận Tử) bảo cái thế của vua Nghiêu trị được thiên hạ, thì cái thế đó có khác gì cái thế Kiệt làm loạn thiên hạ đâu? Cái thế tự nó không thể khiến cho người hiền dùng nó, kẻ bất tiếu không dùng nó. Người hiền dùng nó thì thiên hạ trị, kẻ bất tiếu dùng nó thì thiên hạ loạn. Tính tình con người hiền thì ít, bất tiếu thì nhiều. Lấy cái lợi của uy thế mà giúp kẻ bất tiéu thời loạn thì kẻ dựa thế làm loạn thiên hạ sẽ rất đông, người nhờ thế làm cho thiên hạ trị rất ít. Cái thế rất tiện lợi cho việc trị mà cũng tiện lợi cho sự loạn. Cho nên Chu Thư (3) có câu: “Đừng chắp cánh cho cọp, cọp sẽ bay vào trong ấp, bắt người để ăn thịt”. Giúp cho kẻ bất tiếu có thế lực tức là chấp cánh cho cọp, Kiệt Trụ bắt dân xây đài cao, đào ao sâu, làm kiệt sức dân, dùng cực hình báo lạc (4) làm hại mạng dân. Kiệt Trụ làm được bốn việc đó (5) nhờ có cái uy thế thiên tử làm cánh cho họ. Nếu họ là thường nhân thì chưa làm được một (trong bốn việc đó) đã bị xử tử rồi. “Thế là cái nuôi lòng hổ lang để gây nên việc bạo loạn. Đó là mối hại lớn của thiên hạ. Thế có thể làm cho nước trị, cũng có thể gây loạn, chớ không nhất định. Như vậy mà chuyện nói rằng thế đủ để trị thiên hạ, thì kiến thức cực là nông cạn. Có ngựa tốt và xe chắc mà sai đầy tớ đánh xe thì bị thiên hạ cười, giao cho Vương Lương (6) đánh xe thì ngày đi được ngàn dặm. Cũng vẫn là ngựa ấy xe ấy mà người thì đi được ngàn dặm, người bị chê cười, chỉ do khéo vụng khác nhau xa vậy. Nay coi nước là chiếc xe, coi cái thế là con ngựa, coi hiệu lệnh là dây cương, hình phạt là ngọn roi, để ông Nghiêu, ông Thuấn đánh xe thì thiên hạ trị, để Kiệt, Trụ đánh xe thì thiên hạ loạn, chỉ do hiền và bất tiếu khác nhau xa vậy. Muốn đi nhanh và xa thì biết dùng (7) Vương Lương; mà muốn tiến lợi trừ hại lại không biết dùng người hiền năng, đó là cái hại của sự không biết suy luận về những cái giống nhau. Nghiêu, Thuấn chính là Vương Lương trong việc trị nước đấy.”
 
*
 
Lại có kẻ (7) trả lời câu trả lời trên:

- Ông ấy (Thận Tử) cho cái “thế” là đủ để vua dựa vào mà trị quan lại; mà ông (tức người bắt bẻ Thận Tử như trên) lại bảo: “Phải đợi có hiền thần rồi mới trị được”, như vậy không đúng. Cái thế, “danh” chỉ có một mà “thực” thì thay đổi rất nhiều (8). Nếu cái thế tự nhiên (9) thì chẳng cần phải bàn. Nhưng cái tôi gọi là thế là cái thế do người thiết lập ra kia (10). Ông bảo: Nghiêu, Thuấn đắc thế mà trị; Kiệt, Trụ đắc thế mà loạn. Tôi không bảo rằng dưới triều Nghiêu Thuấn (vua Kiệt, Trụ), không phải như vậy, nhưng cái đó không phải do người thiết lập ra. Nghiêu, Thuấn sinh ra mà đã làm vua thì có mười Kiệt, Trụ (ở dưới) cũng không làm cho loạn được vì đó là cái thế trị; Kiệt, Trụ sinh ra mà dã làm vua thì có mười Nghiêu, Thuấn (ở dưới) cũng không làm cho trị được, vì đó là cái thế loạn. Cho nên bảo: “Thế mà trị thì không thể làm cho loạn được, thế mà loạn thì không thể làm cho trị được”. Đó là cái thế tự nhiên, không phải con người thiết lập được. Cái tôi nói là cái thế mà con người có thể thiết lập được kia (tức là quyền thế). Mà cái này thì sự hiền minh có liên quan gì tới? Làm sao biết được điều ấy?
 
Có người kể chuyện: “Một người bán máu và thuẫn, khoe thuẫn của mình chắc, không vật gì đâm thủng được. Một lát sau lại khen mâu của mình bén, không vật gì là không đâm thủng”. Có người hỏi lại anh ta: “Thế bây giờ lấy cây mâu của ông mà đâm cái thuẫn của ông thì sao” – Anh ta bí. Cái thuẫn không gì đâm thủng với cái mâu không gì là không đâm thủng, hai cái đó không cùng tồn tại một lúc được. Sự hiền minh thì không chịu sự cưỡng chế (như cái thuẫn), mà cái thế dùng làm đạo trị nước thì cả tính cách công dụng cưỡng chế (như cái mâu). Hai cái đó để chung thì là mâu thuẫn. Hiền và thế, không thể dung nhau được, điều đó, hiển nhiên (11).
 
Vả lại, Nghiêu, Thuấn, Kiệt, Trụ ngàn đời mới xuất hiện một lần; số đó rất ít (12). Mà cái thường thấy trên đời thì là hạng người trung bình (13), cho nên tôi nói về thế là nói hạng trung bình. Hạng người trung bình thì trên không bằng Nghiêu, Thuấn, dưới không đến nỗi như Kiệt, Trụ. Nếu cứ giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế thì nước trị, quay lưng lại pháp luật, bỏ quyền thế thì nước loạn. Nay bỏ quyền thế, quay lưng lại pháp luật mà đợi Nghiêu, Thuấn. Nghiêu, Thuấn tới là nước trị, thì ngàn đời loạn mới có một đời trị. Giữ chặt pháp luật, dùng quyền thế mà đợi Kiệt, Trụ. Kiệt, Trụ tới là nước loạn, thì ngàn đời trị mới có một đời loạn. Ngàn đời trị mà một đời loạn, với ngàn đời loạn mà một đời trị, hai cái đó ngược hẳn nhau như hai người cưỡi con ngựa Kí và con ngựa Nhĩ (14), mà mỗi người phi nhanh về một phía vậy.
 
Bỏ đồ để uốn gỗ (ẩn quát) (15), bỏ đồ đo lường mà sai Hề Trọng (16) đóng xe thì một cái bánh xe ông ta đóng cũng không xong. Không có sự khuyến khích khen thưởng, không có cái uy của hình phạt, bỏ quyền thế pháp luật, thì Nghiêu, Thuẫn dù đi từng nhà thuyết phục, người ta cũng cãi lại, mà không trị nổi ba nhà. Vậy cái thế đủ để dùng được, điều đó hiển nhiên. Mà ông bảo: “Phải đợi có người hiền”, thì là sai. Vả lại không ăn một trăm ngày, đợi có thịt ngon mới ăn thì tất chết đói mất. Đợi có bậc hiền như Nghiêu, Thuấn để trị dân đời nay thì khác gì đợi có thịt ngon để cứu người chết đói không?
 
Ông bảo: “Có ngựa tốt xe chắc mà sai đầy tớ đánh xe thì bị thiên hạ cười; giao cho Vương Linh đánh thì ngày đi được ngàn dặm”. Tôi nghĩ không phải vậy. Một người Trung Quốc (tức ở Trung Nguyên, như miền Lỗ, Tề, Tấn, Chu…) chết đói mà đợi người nước Việt lội (17) giỏi tới cứu, thì người Việt lội giỏi đến đâu cứu cũng không được. Đợi ông Vương Lương thời cố để đánh cỗ xe ngày nay thì cũng không khác gì đợi người nước Việt cứu ngưòi chết đuối vậy. Đợi làm sao được, lẽ đó là hiển nhiên. Có ngựa tốt, xe chắc cứ năm chục dặm đặt một trạm (để tiếp sức), rồi sai người trung bình đánh xe thì có thể chạy nhanh, đi xa, một ngày đi được ngàn dặm, cần gì phải đợi có ông Vương Lương thời cổ! Vả lại nói tới việc đánh xe, không đưa ra trường hợp dùng Vương Lương thì đưa ra những trường hợp dùng kẻ tôi tớ, không biết đánh xe, nói về việc trị nước, không đưa ra trường hợp Nghiêu, Thuấn thì đưa ra trường hợp Kiệt, Trụ, làm loạn nước; như vậy tức như nói vè khẩu vị, nếu không đưa ra đường mật, thì đưa ra rau đắng, rau dày, nghị luận như vậy là nói cho nhiều mà không hợp lý hợp phép vì đưa ra hai trường hợp cực đoan, làm sao có thể bắt bẻ những lời hợp đạo lí được? Lời ông bàn không bằng thuyết về thế trên kia của Thận Tử.


 
(1) Vấn nạn là đặt câu hỏi để bắt bẻ.
(2) Hàn Phi thay lời Nho gia mà bác thuyết về thế của Thận Đáo.
(3) Phần trong kinh Thư chép về nhà Chu.
(4) Tương truyền do vua Trụ đặt ra nhưng không chắc đúng; Trụ sai bôi mỡ lên một cái trụ bầng đồng, dưới để than hồng, bắt tội nhân đi lên cái trụ (đặt nằm ngang), để hắn trượt chân té xuống than hồng, cho Đát Kỉ thấy mà cười. Có thuyết nữa cho rằng tội nhân bị cột vào một cái ông đồng rỗng, rồi người ta đổ than hồng vào cho nó đỏ lên làm cháy da thịt tội nhân.
(5) Trên chỉ mới kể ba việc: xây đài cao, đào ao sâu, dùng cực hình bào lạc, cho nên có người bảo bào và lạc là 2 cực hình (không đáng tin), có người bảo trên chép thiếu một việc (đáng tin hơn).
(6) Người nước Tấn giỏi đánh xe, thời Xuân Thu.
(7) Có bản thêm chữ bất: Muốn đi xa và nhanh mà không biết dùng Vương Lương… Chúng tôi cho là sai vì như vậy không hợp với kết luận ở cuối câu: cái hại của sự không biết suy luận về những cái giống nhau.
(8) Đây là ý kiến của Hàn Phi.
(9) Có sách giảng là ý nghĩa rất nhiều. Nguyên văn: biến vô số.
(10) Có học giả hiểu là thiên mệnh, có học giả lại hiểu là sự truyền ngôi.
(11) Có học giả hiểu là sự vận dụng chủ quyền (quyền thế).
(12) Cả đoạn này nguyên văn rất khó hiểu.
(13) Nguyên văn là: thị tị kiên, tuỳ chủng nhi sinh, dịch từng chữ là: là sách vai nối gót mà sinh, mỗi sách giảng một khác có sách ngờ là sai hay thiếu chữ. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên đoán ý mà dịch.
(14) Nguyên văn là: thế chí trị giả, bất tuyệt ư trung; mỗi sách cũng hiểu một khác, chúng tôi cũng đoán ý mà dịch.
(15) Những loài ngựa tốt, ngày đi ngàn dặm.
(16) Coi chú thích ở thiên Hiển học.
(17) Bề tôi vua Hạ, Vũ, coi về xe cộ
(18) Có bản thêm chữ hải: lội bể giải
0
Đánh máy: caufale



Phần 28


Trang 458 + 459


Hạng dân bảo toàn pháp luật, thế mà người đời lại chê là chất phác, hủ lậu; làm lụng khó nhọc để kiếm ắn, đó là hạng sinh lợi, thế mà người đời lại chê là “không có tài năng”; trung hậu trong sạch, đó là hạng dân ngay thẳng, tốt, thế mà người đời lại chê là “ngu dại”, trọng mênh lệnh, lo lắng về công việc, đó là hạng dân bề trên, thế mà người đời lại chê là “khiếp nhược”; đánh bại giặc, ngăn kẻ gian tà (cáo gian), đó là hạng dân làm sang pháp lệnh, mà người đời lại chê là “sàm báng” (vạch lỗi của người). Đó là sáu hạng dân bị người đời chê.
            Sáu hạng dân gian ngụy, vô ích mà đời khen như thế kia, sáu hạng dân đi cày đánh giặc mà đời chê như thế này, tôi gọi đó là sáu cái ngược đời. Bọn áo vải theo lợi riêng mà khen sáu hạng người trên rồi bậc vua chúa nghe cái tiếng hão mà kính trọng họ, họ được kính trọng thì tất được hưởng lợi; bách tính theo cái lợi riêng mà chê sáu hạng người dưới, rồi bọn vua chúa bị thế tục chê lấp mà khinh họ, họ bị khinh thì tất bị hại. Thành thử hạng sân mưu tư lợi, làm bậy, đáng tội thì được khen thưởng; còn hạng dân mưu lợi chung (lợi cho quốc gia), làm điều tốt đáng được thưởng thì bị chê, bị hại. Như vậy mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
            Đời xưa có câu tục ngữ này: “làm chính trị cũng như gội đầu, tuy tóc rụng đấy những vẫn phải gội”. Sợ tóc rụng, uổng, mà quên cái lợi tóc sẽ dài ra, tức là không biết quyền nghỉ (không thông đạt). Mổ nhọt thì đau, uống thuốc thì đắng, nhưng không mổ , không uống thì thân không thể sống, bệnh không thể biết. Ngay trong sự giao tiếp giữa vua tôi, không có cái ân như cha đối với con mà mong lấy việc làm theo nghĩa để cấm bề tôi thì sự giao tiếp  tất sinh hiêm khích. Và cha mẹ đối với con,sanh con trai thì mừng, sanh con gái thì giết; trai gái đếu từ trong lòng cha mẹ mà ra, mà con trai thì mừng, con gái thì giết, là do nghĩ đến sau này, đứa con nào có lợi cho mình hơn. Vậy cha mẹ đối với con mà còn mang lòng tính toán lợi hại huống hồ là những người không có tình cha con với nhau. Các học giả ngày nay thuyết bậc vua chúa đều bảo phải bỏ cái lòng cầu lợi đi, đưa ra cái đạo tương ái, như vậy là đòi vua chúa đối với dân phải thân hơn cha mẹ đối với con nữa, đó là suy nghĩ chưa chín về ân tình, lầm lẫn gạt người, bậc minh quân không chấp nhận được. Thánh nhân trị quốc thì xét kĩ pháp luật, cấm lệnh, hai cái đó mà minh bạch thì quan lại có kỉ luật; qui định thưởng phạt cương quyết và giữ đúng, thưởng phạt mà không thay đổi vì tư tâm thì dân sẽ dễ sai khiến. Dân sai khiến được, quan có kỉ luật thì nước giàu, nước giàu thì binh mạnh mà nghiệp bá vương sẽ  thành. Làm bá vương là cái lợi lớn của bậc vua chúa; bậc vua chúa nhắm cái lợi lớn mà trị nước, cho nên bổ nhiệm quan chức thí phải xứng với tài năng, thưởng phạt thì chí công vô tư, khiến cho sĩ dân đều thấy rõ điều đó mà (tin rằng) hễ tận lực liều chết lập công được, thì được ban tước lộc, do đó hóa giàu sang. Giàu sang là cái lợi lớn của bề tôi, bề tôi nhắm cái lợi lớn đó mà làm việc, nên mạo hiểm tới chết, kiệt sức mà không oán. Như vậy là vua không tư với dân, bề tôi không trung với vua (cứ theo pháp luật thôi) thì có thể lập được nghiệp bá vương.
 
*
 
Trang 460 + 461
            Gian mà nhất định sẽ bị phát giác thì kẻ gian sẽ tự răn mình, nếu nhất định sẽ bị giết  thĩ họ phại ngừng (không dám làm nữa) : vì không bị phát giác nên họ mới phóng túng, không bị giết nên mới làm. Bày một thứ hang rẻ tiền ở chộ u ẩn thì dù Tăng Sâm, Sư Ngư (1) cũng bị nghi là lấy trộm; treo trăm lượng vàng (2) ở chợ thì dù một tên cướp lớn cũng không dám lấy. Không ai biết, nên Tăng Sâm, Sư Ngư có thể bị nghi ở chỗ u ẩn, ai cũng biết, nên kẽ cướp không dám lấy vàng treo ở chợ.
            Cho nên bậc minh chủ dùng nhiều người giữ (pháp luật) (3) mà trị tội nặng, khiến cho dân vì sợ hình pháp chứ không vì tính liêm khiết mà không bậy. Mẹ yêu con gấp bội cha yêu con, mà cha ra lệnh thì con tuân lệnh gấp mười mẹ ra lệnh. Quan lại không yêu gì dân mà lệnh được dân tuân gấp vạn lệnh của cha. Mẹ tích lũy lòng yêu con mà không được con theo; quan lại dung oai nghiêm mà dân tuân lệnh. Vậy dung oai nghiêm hay dùng lòng yêu, cách nào nên theo, là điều dễ quyết định  được rồi. Vả lại cha mẹ mong mỏi ở hành động của con cái là chúng được yên vui, có lợi, đừng mắc phải tội lỗi. Vua đối với dân (trái lại), khi cá nạn thì muốn dân hi sinh tính mạng, khi bình an thì muốn dân tận lực với mình..
__________________________________________
            (1)Tăng Sâm, môn sinh của khổng tử, nổi tiếng là hiền. Sư Ngư, một đại phu nước Vệ, được Khổng tử khen là ngay thẳng. Tương truyền ông can vua, vua không nghe, khi chết bảo vợ con đem xác bỏ ngoài đồng để vua động lòng mà tỉnh ngộ.
            (2)chữ Kim có thể trỏ một lạng vàng, một đống tiền vàng, lại có thể trỏ một câu, một lượng, một đồng tiền bằng đồng.
            (3)tức dùng nhiều kẻ cáo gian.
 
Cha mẹ rất yêu con, muốn cho nó được yên vui và có lợi, mà nó không nghe; vua không yêu, không muốn dân có lợi, đòi dân phải hi sinh tính mạng, tận lực vì mình, mà dân lại tuân lệnh bậc mình chủ biết lẽ đó, nên không nuôi lòng nhân ái mà chỉ tăng cái thế oai nghiêm. Mẹ rất yêu con, mà con phần nhiều lại hư hỏng, chỉ vì mẹ dùng lòng yêu; cha ít yêu con, dạy bằng roi, mà sau phần nhiều lại tốt, chỉ vì cha dùng sự oai nghiêm.
 
*
 
            Một gia đình làm ăn, nếu cùng nhịn đói chịu rét, cùng gắng sức lao khổ thì (trong miền) tuy gặp binh đao, hay mất mùa, riêng gia đình đó vẫn được ăn no mặc ấm. Còn gia đình nào vì thương nhau, vì nhân từ mà cho nhau ăn mặc sung sướng, ở không vui chơi, thì gặp nạn đói kém, gia đình đó tất phải bán vợ đợ con. Cho nên, dùng pháp luật thì trước chịu khó, sau được lợi bền lâu; còn theo đạo nhân từ thì mới đầu tạm được vui mà sau sẽ khốn cùng. Bậc thánh nhân cân nhắc, lựa cái lợi lớn cho nên dùng pháp luật mà bắt nhau chịu cực, và bỏ sự nhân ái đối với nhau. Các học giả đều bảo: “phải giảm nhẹ hình phạt đi”, đó là thuật làm cho loạn vong. Thưởng phạt mà xác định là khuyến thiên và cấm ác. Thưởng hậu thì mau được cái mình muốn; phạt nặng thì mau cấm được cái mình ghét. Người nào muốn cái lợi thì tất ghét cái hại, vì lợi và hại tương phản nhau. Cho nên rất ham bình trị thì phải thưởng cho hậu, rất ghét rối loạn thì
 
Trang 462 + 463
 Phải phạt cho nặng. Nay chủ trương giảm nhẹ hình phạt, tức là không mấy ghét rối loạn mà cũng không mấy ham bình trị. Như vậy chẳng những không có thuật (trị nước) mà con không biết hành động nữa. Bởi vậy phương pháp quyết định có tài năng hay không, ngu hay trí ở chỗ thưởng phạt nặng hay nhẹ. Vả lại hình phạt nặng không phải để trị tội nhân, nó còn để làm sáng pháp độ của vua. (chẳng hạn) giết giặc, khộng phải chỉ để trị kẻ mình giết, vì nếu trị kẻ mình giết thì tức là trị kẻ chết; (hoặc như) phạt kẻ cướp, không phải chỉ để trị kẻ mình phạt, vì nếu trị kẻ mình phạt thì tức là trị kẻ bị đày (1), cho nên bảo : “phạt nặng tội một kẻ mà ngăn cấm được mọi sự gian tà trong nước. Đó là cái đạo trị nước. Kẻ bị phạt nặng là kẻ cướp mà kẻ sợ hãi là lương dân. Vậy muốn trị nước còn tri nghi gì nữa mà không dùng trọng hình? Còn việc thưởng hậu, không phải chỉ để thưởng công, còn để khuyến khích toàn dân trong nước nữa. Người được thưởng vui, vì được lợi, mà người chưa được thưởng sẽ ham được thưởng. Đó là báo đáp công lao của một người mà khuyến khích được toàn dân trong cõi. Vậy muốn trị nước, còn tri nghi gì nữa mà không hậu thưởng? Nay những kẻ không biết cách trị nước đều bảo : “hình phạt nặng làm thương tổn dân; hình phạt nhẹ có thể cấm được gian giối, cần gì phải dùng hình phạt nặng?” Đó là không xét kĩ về sự trị nước. Một tội ác có thễ ngăn cấm được bằng hình phạt nặng thì chưa chắc đã cấm được bằng hình phạt nhẹ; còn một tội
_________________________________________
            (1)Hàn phi muốn nói : dùng hình phạt không cốt ở sự trừng trị kẻ gian mà cốt để ngăn ngừa  sự gian, để người khác thấy mà sợ , không dám làm điều gian.
 
Ác ngăn cấm được bằng hình phạt nhẹ thì lại càng dễ ngăn cấm bằng hình phat nặng. Cho nên, bề trên đặt ra hình phat nặng thì mọi sự gian tà sẽ chấm giứt; mọi sự gian tà chấm giứt thì thương tổn cho dân chỗ nào? Khi kẻ gian chỉ được một cái lợi nhỏ thì bề trên  bắt chịu một cái tội lớn, như vậy gọi là hình phạt nặng; dân không muốn cái lợi nhỏ mà bị một cái hại lớn, cho nên mọi sự gian tà đều chấm dứt. Vì vậy tiên hiền có câu : “không vấp núi mà vấp đống kiến đùn” (1). Núi lớn nên người ta phải cẩn thận, đống kiến đùn nhỏ nên người ta coi thường. Dùng hình phạt nhẹ thì tất người dân coi thường. Không trừng phạt kẻ phạm tội tức là phóng khí toàn dân; trừng phạt nhẹ kẻ phạm tội tức là cái đống kiến đùn để cho dân vấp phải, mà cái đạo dùng hình phạt nhẹ nếu không làm cho nước loạn thì cũng làm bẫy cho dân sa vào (2). Cái đó mới làm thương tổn dân chúng đấy.
 
*
            Các học giả ngày nay đều giảng những lời hay trong sách mà không xét sự thực đương thời. Họ bảo : “bề trên
_________________________________________
            (1)Tựa như câu của ta : “đi sông đi biển không chết mà chết lỗ chân trâu”
            (2)Hào Phi muốn nói : “không ngăn cấm gian tà (bằng hình phạt nặng), để dân phạm tội rồi mới trừng phạt, tức là đánh bẫy dân.
 
Trang 464 + 465
Không thương dân, thuế má thường nặng, dân không đủ tiêu dùng nên oán bề trên do đó mà thiên hạ đại loạn”. Như vậy là họ cho rằng cho dân có đủ tiêu dùng rồi lại yêu dân nữa là dùng hình phạt nhẹ, nước cũng trị được. Lời đó sai. Đa số kẻ bị hình phạt nặng là sau khi họ có đủ để tiêu dùng rồi. Họ đủ tiêu dùng rồi mà bề trên còn thương họ, giảm nhẹ hình phạt thì vẫn còn loạn. (Chứng cứ là : con cưng của nhà giàu, tài sản có đủ tiêu dùng; tài sản đủ tiêu dùng thì tiêu xài không tiếc, tiêu xài không tiếc thì hóa ra xa xỉ; cha mẹ thương yêu con thì không nỡ rày mắng thì nó hóa kiêu căng, phóng túng. Xa xỉ thì nhà sẽ nghèo, kiêu căng phóng túng thì làm bậy, đó là cái hại có tài sản đủ dùng mà thương yêu nhiều, và trừng trị nhẹ. Con người bẩm sinh hễ có tài sản đủ dùng thì hóa ra lười biếng, không chịu gắng sức, bề trên không nghiêm trị thì kẻ dưới phóng túng làm bậy. Tài sản đủ dùng rồi mà vẫn gắng sức làm lụng thì chỉ có Thần Nông thôi ; bề trên không nghiêm trị thì kẻ dưới vẫn có đức hạnh thì chỉ có Tăng Sâm và Sư Ngư. Hạng dân thường không bằng được Thần Nông, Tăng Sâm, Sư Ngư, là điều hiển nhiên rồi. Lão Đam nói : “Biết đủ thì không nhục, biết ngừng thì không nguy” (1). Vì sợ bị nhục và nguy, nên hễ có đủ rồi thì thôi, không cầu gì hơn nữa chỉ có lão Đam được như vậy. Nay bảo rằng cho dân có đủ rồi thì nước có thể bình trị, tức là coi dân ai cũng như lão Đam cả. Như Kiệt kia, sang tới mức làm thiên tử mà vẫn chưa cho là đủ tôn quý ;  giàu tới mức có cả thiên hạ, mà
_________________________________________
            (1)Đạo Đức Kinh -  Chương 44 Tri túc bất nhục, tri chí bất đãi.
 
Vẫn chưa cho là có đủ châu báu. Bậc vua chúa dù (hết sức) cho dân có đủ,cũng không thể làm cho họ tới cái mức như thiên tử, mà Kiệt kia vẫn chưa cho làm thiên tử là đủ, thì làm cho dân có đủ, chắc gì đã làm cho nước bình trị được? Cho nên bậc minh chủ trị nước phải thích nghi với thời mà sản xuất nhiều tài vật, định thuế má sao cho giàu nghèo bình quân (công bằng) ban nhiều tước lộc để dùng hết tài năng trong dân, dùng hình phạt nặng để ngăn cấm gian tà, khiến cho giân hễ gắng sức làm lụng thì sẽ giàu, hễ có công ngiệp thì sẽ sang, làm bậy thì bị tội, có công thì được thưởng chứ không mong được bề trên nhân từ ban ơn huệ cho. Đó là chính trị của bậc đế vương.
 
*
            Mọi người đều ngủ cả thì không biết ai đui, mọi người đều làm thinh thì không biết ai câm. Đánh thức họ dậy bảo họ nhìn, hỏi họ, bắt họ đáp, thì những người   đui và câm vô phương giấu được (1). Không nghe một người trình bày thì không biết được rằng họ không có thuật (trị nước), không giao công việc cho họ thì không thể biết được rằng họ có tài cán. Nghe họ trình bày rồi xem xét lời họ có thích đáng ko, giao công việc cho ho rồi xem xét có kết quả ko, thì kẻ không có thuật, không có tài cán sẽ vô phương giấu được. Muốn lựa một lực sĩ mà chỉ căn cứ vào lời họ tự khoe thì không sao phân biệt được người tầm thường với Ô Hoạch (2) đưa cho họ một cái vạc
_________________________________________
            (1)Nguyên văn là cùng nghĩa là cùng đường.
            (2)Một dũng sĩ nước Tần.
Trang 466 – 467
(1) bảo họ nhấc lên thì ai yếu ai mạnh thấy rõ liền. Quan chức tức là “cái vạc" để thử kẻ sĩ có tài năng đấy; giao chức vụ cho họ thì ai ngu, ai trí, phân biệt được ngay. Cho nên thấy lời nói của ai vô dụng thì biết được kẻ đó không có thuật; thấy ai không làm được nhiệm vụ thì biết được kẻ đó không có tài cán. Có kẻ lời không được ai dùng mà tự trau chuốt, cho mình là hùng biện; không được giao cho trách nhiệm mà tự khoe rằng mình cao thượng. Các vua chúa đời nay bị mê hoặc vì lời nói của họ, bị gạt vì sự cao ngạo của họ mà tôn quý họ, như vậy là không đợi họ có nhìn thấy không mà đã tin chắc mắt họ sáng, không đợi họ đáp được không mà đã tin chắc họ có khẩu tài, tức như không biết rõ được ai đui ai câm vậy. Bậc minh chủ nghe ai nói thì xét xem lời nói của họ có dùng được không, thấy ái làm thì xét xem có kết quả không, như vậy thì các học thuyết trống rỗng đời xưa không còn được đem ra bàn, mà các hành vi kiêu căng, gạt người không còn được tô điểm nữa.
_________________________________________
(1)Thời xưa, muốn thử dũng sĩ, người ta bảo họ cầm chân một cái vạc nhấc lên rồi đi (cử đỉnh).
 
THIÊN XVII
BỊ NỘI
(ĐỀ PHÒNG BÊN TRONG)
   Cái họa của bậc vua chúa là tin người, tin người thì bị người chế ngự. Bề tôi đối với vua không có tình cốt nhục, bị cái thế bó buộc không thể không thờ vua, cho nên, luôn luôn dò xét lòng vua, không một phút nào ngưng; mà vua lại ngồi trên ngạo mạn, biếng nhác, vì vậy mới có những ông vua bị áp bức và bị giết.
   Làm vua mà quá tin con thì gian thần sẽ dựa vào con vua để thực hiện tư dục của họ. Vì vậy mà Lí Đoái giúp vua Triệu, bỏ Chú Phụ chết đói(1). Làm vua mà quá tin vợ thì gian thần sẽ dựa vào vợ vua để thực hiện tư dục của họ. Vì vậy mà Ưu Thi giúp Lí Cơ giết Thán Sinh, lập Hễ Tế(2). Thân cận như vợ con mà còn không thể tin thì người khác làm sao có thể tin được? Vả lại chúa có vạn cỗ xe, vua có ngàn cỗ xe thì hoàng hậu, thứ phi, phu nhân, đích tử làm kế tự, thế nào cũng có người muốn cho vua chết sớm.
_________________________________________
(1)Lí Đoái (có chỗ gọi là Lí Khắc), quan thái phó nước Triệu, theo phe Huệ Vương, bao vây cung của Triệu Chủ Phu để Chủ Phu chết đói.
(2)Ưu Chính Nghĩa là người kép hát. Ưu Thi là kép hát tên Thi, tình nhân của Lí Cơ – một mỹ nhân – vợ sau của tấn Hiến Công, xui Hiến Công giết thế tử Thân sinh để lập con Lí Cơ là Hễ Tế.
 
Trang 468 – 469:
Làm sao biết được như vậy? Là vì vợ chồng không có tính cốt nhục với chồng, hễ yêu thì thân, không yêu thì sơ. Tục ngữ có câu : “Mẹ được yêu thì con được chìu”. Ngược lại, hễ mẹ bị ghét thì con bị bỏ. Đàn ông năm chục tuổi vẫn còn hiếu sắc, đàn bả ba chục tuổi sắc đã tàn. Vợ sắc đã tàn mà thờ chồng hiếu sắc thì tất ngại bị hắt hủi, con tất ngờ sẽ không được nối ngôi. Đó là lẽ tại sao hoàng hậu, thứ phi, phu nhân mong cho vua chết sớm. Chỉ khi nào mẹ làm thái hậu, con làm vua thì lệnh mới được mọi người thi hành, điều cấm mới được mọi người tuân; cái vui trai gái không dám so với khi tiên vương còn mà lại chắc nắm được quyền một ông vua vạn cỗ xe. Do đó mà có những vụ đầu độc bằng rựu mà thắt cổ lén. Vì vậy sách Đảo Ngột Xuân Thu (1) bảo: “Bậc vua chúa chết vì bệnh chưa được phân nửa” (2). Làm vua mà không hiểu điều đó thì loạn sẽ sinh ra nhiều. Cho nên có câu: “số người có lợi thấy vua chết mà nhiều thì tính mạng vua sẽ nguy.
            Vương Lương yêu ngựa, Việt Vương Câu Tiễn (3) yêu dũng sĩ vì thích cưỡi ngựa, đánh giặc. Thầy lang khéo mút vết thương, ngậm máu bệnh nhân đâu phải vì tình cốt nhục mà chỉ vì lợi. Thợ đóng xe mong cho nhiều người giàu sang, còn thợ đóng quan tài mong nhiều người chết yểu, không phải là thợ đóng xe có lòng nhân mà thợ quan tài tàn nhẫn.
_________________________________________
            (1) Một bộ sử nước Sở. Có sách chép là Đào Tả Xuân Thu
            (2) Còn già nửa bị ám hại, bắt đắc kì tử.
            (3) Vương Lương, người nước Tần thời Xuân Thu, giỏi đánh xe. Câu Tiễn vua nước Việt, muốn có binh mạnh để diệt Phù Sai, vua nước Ngô báo thù. Sau ông làm bá chủ cả vùng sông Dương Tử và sông Hoài.
 
Chỉ vì người ta không giàu sang thì không mua xe, người ta không chết thì quan tài không bán được. Thợ đóng quan tài không phải là ghét người, nhưng có người chết thì chú ta mới có lợi. Cho nền bè đảng của hoàng hậu, thứ phi, phu nhân, thái tử mà thành thì họ mong cho vua chết, vua không chết thì quyền thế của họ không mạnh; họ không phải là ghét gì vua, nhưng vua có chết thì họ mới có lợi. Bởi vậy bậc vua chúa phải hết sức lưu ý tới những kẻ có lợi mà thấy mình chết. Mặt trời mặt trăng mà có quầng bên ngoài là tại bên trong của nó. Người ta thường đề phòng những kẻ mình ghét nhưng họa lại xảy ra do những kẻ mình yêu. Cho nên bậc minh chủ không làm những việc mình chưa tham khảo kĩ, không ăn những món khác thường; mà phải nghe những tin tức ở xa, xem tình hình ở gần để biết trong ngoài có cái gì sơ suất không; xét những lời giống nhau và khác nhau để phân biệt các bè đảng, khảo nghiệm lời người ta nói để bắt buộc người ta phải trung thực, không được hư trá; hễ dùng lời một người nào rồi thì xem kết quả về sau có phù hợi với lời nói trước không; cứ theo pháp luật mà trị dân; xem xét tất cả các đầu mối của sự việc; kẻ sĩ không có công thì không thưởng, mà công nhỏ thì không thưởng nhiều; kẻ nào đáng giết thì mới giết, có tội thì không tha. Như vậy thì kẻ gian tà không thể làm chuyện riêng tư được.
 
*
            Sưu dịch nhiều thì dân khổ, dân khổ thì quyền thế của bề tôi dấy lên (nghĩa là bề tôi nhân đó mà nắm lấy
 
Trang 470 – 471:
quyền thế); quyền thế của bề tôi dấy lên thì xự miễn dịch sảy ra nhiều, miễn dịch nhiều thì người sang làm giàu (vì dân phải hối lộ cho họ để được miễn dịch). Hậu quả là làm khổ dân để cho người sang được giàu làm đẩy lên (tăng) cái quyền thế của bề tôi để cho bề tôi dùng (1); đó không phải cái lợi lâu dài của dân chúng. Cho nên có câu “Sưu dịch ít thì dân được yên ổn, dân yên ổn thì bề tôi không có quyền lớn, bề tôi không có quyên lớn thì quyền thế bị diệt, quyền thê diệt thì “đức” tức việc ân thưởng của nhà vua. Nước thắng (làm tắt) lửa, điều ấy hiển nhiên. Nhưng nếu đựng nước trong nồi để ngăn cách nước với lửa, rồi đun, thì nước bốc hơi ở trên cho đến cạn, mà lửa ở dưới vẫn bừng bừng cháy; nước đã mất cái thế thắng lửa. Pháp luật là để cấm gian tà (pháp luật thắng được gian tà), điều đó còn hiển nhiên hơn nữa. Nhưng bề tôi thi hành pháp luật mà hành động như cái nồi (ngăn cách pháp luật với gian tà) thì pháp luật chì còn sáng rõ trong long (vua) mà mất cái thế cấm gian tà rồi. Căn cứ vào các truyền thuyết thời cổ và các điều ghi chét trong sách Xuân Thu thì những kẻ phạm pháp làm phản, thành đại gian ác đều từ trong giới bề tôi tôn quý mà ra.
_________________________________________
            (1) Nguyên văn:khổ dân dĩ phú quí nhân, khởi thế dĩ tạ nhân thần. Câu này tối nghĩa. Diệp Ngọc Lâm dịch là: làm khổ dân vì bọn người phú quí được khởi thế (quyền thế được nổi lên được tăng lên) mượn bề tôi giúp sức (?). Nghe không thống chút nào. Có dịch giả dịch chữ khởi trong câu đó là bỏ (vua bỏ cái thế của mình) cho bề tôi mượn dùng. Dịch như vậy thông, chỉ ngặt một điều: chữ khởi ở câu trên dịch là dấy lên (rất đúng) sau ở đây là bỏ đi ? Cách dịch của chúng tôi cũng gượng lắm.
 
Còn những người bị pháp lệnh đề phòng, bị hình phạt trừng trị, đa số là trong bọn dân thấp hèn. Do đó  mà dân chúng tuyệt vọng, không biết tố cáo ở đâu. Đại thần kết bè đảng nhất tề che lấp vua, ngầm thân nhau mà bề ngoài làm ra vẻ ghét nhau, để tỏ ra rằng mình không có tư tình; họ cùng dùng tai mắt để rình kẽ hở của vua, vua bị che lấp, không có cách nào biết được chân tình nữa, thành thử chỉ có cái danh là vua mà mất cái thực; bề tôi chuyên thi hành pháp luật (theo ý họ). Các vua nhà Chu như vây đó. Giao quyền thế cho bề tôi thì vị trí vua tôi sẽ đả lộn. Vậy không nên giao quyền thế cho bề tôi.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-27 02:01:08Ct.Ly>
Phần 7

Đánh máy: heo _ mapyeu
THIÊN VI

HỮU ĐỘ

(CÓ PHÁP ĐỘ)

         Không nước nào luôn luôn mạnh, không nước nào luôn luôn yếu. Người thi hành pháp luật mà cương cường (nghĩa là chí công vô tư) thì nước mạnh; người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu. Vua Kinh (Sở) Trang vương thôn tính hai mươi sáu nước, mở đất ba ngàn dặm mà khi mất rồi (1) thì nước Kinh suy vong. Vua Tề Hoàn Công thôn tính ba mươi nước, mở đất ba ngàn dặm mà khi mất rồi thì nước Tề suy vong. Vua Yên Chiêu vương (2) lấy dông Hoàng Hà làm biên giới, lấy đất Kế làm đô mà bình phong là đất Trác và đất Phương Thành (3), tàn phá nước Tề, bình định nước Trung Sơn, khiến cho nước láng giềng nào là bạn cua vua Yên thì được coi trọng, nếu không thì bi khinh, vậy mà khi Chiêu vương mất rồi thì nước Yên suy vong. Vua Ngụy là An Li vương đánh nước Yên, cứu nước Triệu, chiếm đất Hà Đông, công phá hết đất Đào và đất Vệ, rồi đem binh đánh Tề, chiếm Bình Lục; lại đánh nước Hàn, chiếm đất Quản, đại thắng quân Hàn ở dưới sông Kì; trong trận Thư Dương, làm cho quân Kinh bị đình đốn quá lâu phải bỏ chạy; phá tan quân Kinh ở Thái và Triệu…; binh Ngụy bốn lần giàn ra trong thiên hạ, uy thế lan khắp các nước (văn minh) “đội mão mang đâi”, (tức khắp Trung Quốc), vậy mà An Li vương chết rồi thì nước Ngụy suy vong. Vậy có Trang Vương, Hoàn Công thì nước Kinh, nước Tề làm bá chủ; có Chiêu vương, An Li vương thì nước Yên và nước Ngụy mạnh lên. Nay các nước ấy đều bị suy nhược cả vì quần thần, quan lại của họ đều theo con đường loạn vong chứ không theo cái thuật trị cường. Nước đã loạn suy rồi, họ lại còn bỏ phép nước mà lo quyền lợi riêng, như vậy không khác gì vác củi để cứu lửa, càng loạn, suy hơn nữa.
         Cho nên ở vào thời này, nhà cầm quyền nào biết bỏ tư lợi tà tâm mà theo phép công thì dân sẽ yên, nước sẽ lợi, biết bỏ hành động riêng tư mà mà làm theo phép công thì binh sẽ mạnh mà địch sẽ yếu. Cho nên vua (theo pháp độ mà xét sự thành bại của việc (1), dung người biết giữ pháp để mà đặt lên trên các quần thần thì không kẻ nào gian trá gạt vua được; (theo pháp độ mà) xét sự thành bại của việc dùng người biết cân nhắc mà giao cho các việc ở xa thì không kẻ nào lừa gạt về việc quan trọng trong thiên hạ được. Nếu nhờ vào danh tiếng mà được cất nhắc thì bề tôi xa bề trên (vua) mà kết bè phái ở dười; nếu nhờ có phe đảng mà được làm quan thì dân sẽ chỉ lo kết giao với nhau mà không cần giữ pháp luật. Quan lại mà không được dùng đúng khả năng thì nước loạn. Nếu thưởng phạt ai chỉ do lời khen chê của người khác thì kẻ thích được thưởng, ghét bị phạt sẽ bỏ phép công mà chỉ theo thuật riền, kết bè đảng để làm lợi cho nhau, quên vua mình mà giao thiệp với nước ngoài, để đưa phe mình lên, mà bề tôi sẽ ít phục vụ cho vua. Bề tôi kết giao với nhau nhiều, trong ngoài đều có bè đảng thì dù có tội lớn, cũng che lấp hết, vua không sao biết được. Do đó mà bề tôi trung chẳng có tội cũng bị giết, còn bọn gian thần chẳng có công gì lại được yên ổn hưởng lợi. Bề tôi trung không có tội mà bị giết thì hạng lương thần (bề tôi tốt) phải ẩn mình; bọn gian thần không có công mà được yên ổn hưởng lợi thì bọn gian thần tiến lên. Đó là nguồn gốc sự suy vong. Như vậy thì bề tôi bỏ pháp luật mà lo việc riêng tư, coi thường phép công; thường lui tới nhà riêng của bọn cầm quyền mà không tới triều đình của vua; trăm lần lo cái lợi cho tư gia mà không một lần mưu tính việc cho vua. Thuộc hạ tuy đông mà không phải để tôn quân, bách quan tuy đủ mà không phải để lo việc nước. Như vậy, vua chúa chỉ có cái danh là vua chúa mà thực tế thì phải nhờ cậy vào nhà của bề tôi. Cho nên thần (tức Hàn Phi) bảo: “Triều đình của nước suy vong không có người”. Triều đình không có người, không phải là triều đình, không lo làm lợi cho nước, các quan lớn lo tôn lẫn nhau mà không tôn quân, còn các quan nhỏ dùng bổng lộc để kết giao chứ không làm việc nước. Sở dĩ như vậy là vì vua chúa ở trên không quyết đoán theo pháp luật mà tin lời khen chê của kể gian, thưởng phạt theo ý họ. Bậc minh chủ (trái lại) chọn người theo pháp luật, không theo ý riêng mà cất nhắchọ, xét công lao của bề tôi theo pháp luật, khoôg theo ý riêng mà ước lượng, (như vậy) kẻ làm được việc không bị phạm, kẻ làm hỏng việc không thể nói hay cho mình được; họ được khen (bậy) không được tiến cử (hay thăng chức), kẻ bị chê (oan) không bị cách chức (hay giáng chức); mà giữa vua tôi, thiện ác phân minh, nước dễ trị. (Tóm lại) vua theo đúng pháp luật thì thành công.
 
         Người hiên làm bề tôi thì quay mặt về hướng Bắc dâng lễ vật (1) (thề) không có hai lòng, ở triều đình không dám từ chối đại vị thấp hèn, trong quân đội, không dám từ chối việc gian nan; một mực thuận tòng việc làm, pháp độ của vua, hư tâm (2) để đợi mệnh lệnh, không dám dị nghị phải trái, cho nên có miệng mà không nói ý riêng, có mắt không nhìn riêng, hoàn toàn do vua kiềm chế. Phận bề tôi, cũng nhưcánh tay, trên che đầu, dưới che thân, thân thể nóng hay lạnh thì phải cứu dù lưỡi kiếm Mạc Da kề thân cũng không dám không bắt. Bề tôi hiền triết kẻ sĩ tài bằng làm việc riêng tư (mà phải lo việc công). Cho nên dần không dám ra khỏi làng mà giao du, không có thân thích ngaòi trăm dặm. Sang hèn không lẫn nhau, trí ngu đều có chỗ đứng. Như vậy là cực trị.
         Hạng người khinh tước lộc, dễ dàng bỏ chức vụ mà đi chọn vua khác, thần không gọi là liêm. Hạng người đặt lỗi giả dối, trái pháp luật, không theo vua, một mực can gián, thần không gọi là trung. Hạng người thi hành ân huệ, phân phát lợi lộc, thu phục kẻ dưới để được tiếng tốt, thần không gọi là nhân. Hạng người lánh đời, ở ẩn, chê bai vua, thân không gọi là nghĩa. Hạng người ra ngoài giao thiệp với chư hầu (để làm lợi cho mình), ở trong làm hao tổn cho nước, rình lúc nước nhà gặp cơn nguy hiểm để dọa vua, bảo: “Việc ngoại giao không có tôi thì không kêt thân với nước ngoài được; nước khác thù oán mình, không có tôi thì không giải cho được”, mà vua tin, giao việc nước cho, nhân đó họ làm cho uy danh của vua bị hạ thấp để cho uy danh của họ rực rỡ, huỷ hoại thực lực của quốc gia làm lợi cho nhà họ, hạng đó thần không gọi là trí. Mấy hạng (liêm, trung, nhân, nghĩa, trí) đó, thời loạn người ta quí trọng, nhưng phép của tiên vương thì gạt bỏ họ ra. Phép của tiên vương bảo: “Bề tôi không được ra oai, không được gian ác mà phải theo đương lối của vua”. Đời xưa, khi quốc gia bình trị thì dân theo phép công, bỏ thuật riêng, thống bình trị thì dân theo phép công, bỏ thuật riêng, thống nhất ý nghĩ và việc làm để đợi vua giao cho nhiệm vụ.
 
         Làm vua mà đích thân xem xét bách quan thì không đủ thời giờ mà cũng không đủ sức. Vả lại người trên dùng mắt thì kẻ dưới tô điểm bề ngoài; người trên dùng tai thì kẻ dưới sửa giọng nói; người trên dùng trí óc để đoán xét thì kẻ dưới khéo nói, nói nhiều. Tiên vương cho ba cái đó (mắt, tai, trí óc) là không đủ nên không ỷ vào tài năng của mình mà theo pháp độ, xét kĩ việc thưởng phạt. Tiên vương chỉ giữ cái cốt yếu, nên pháp độ giản dị mà không bị vi phạm; một mình tự chế ngự dân trong bốn bề, khiến cho kẻ thông minh không gian trá được, kẻ miệng lưỡi không nịnh bợ được, kẻ gian tà không biết dựa vào đâu được, dù kẻ ở xa ngoài ngnà dặm cũng không dám đổi lời, kẻ thân cận như các lang trung cũng không dám che dấu cái tốt, tô điểm cái xấu; như vậy từ các bề tôi tại triều tụ tập ở bên vua cho tới những kẻ thấp hèn ở xa cũng không dám lấn nhau mà đều giữ chức phận mình (1). Cho nên việc cai trị ít, ngày giờ dư, được vậy là do vua biết dùng quyền thế để trị nước.
 
         Bề tôi lấn vua cũng hình thế đất đai, mỗi ngày thêm một chút, lần lần làm cho vua mất đầu mối (tức pháp độ), đổi hướng từ đông sang tây mà không hay. Tiên vương đặt ra kim chỉ nam (tức quốc pháp) là để biết phương hướng mặt trời mọc và mặt trời lặn (tức biết đâu là chính, đâu là tà). Nhơg vậy mà bậc minh chủ khiến cho quần thần không dám nghĩ lông bông vượt ra ngoài pháp luật, không dám thi hành ân huệ quá sự qui định của pháp luật, mà nhất cử nhất động đều hợp pháp. Pháp luật nghiêm là để ngăn cấm tội lỗi, trừ bỏ riêng tư; hình phạt gắt là để lệnh được thì hành khắp, quyền chế tài không thể cho người khác giữ chung. Hai cái đó mà vua tôi giữ chung thì vô số sự gian tà xuất hiện. Pháp luật mà không xác định thì hành động và lời nói của vua trái ngược nhau (1), hình phạt không kiên quyết thì không trừ được kẻ gian. Cho nên bảo: “Người thợ không khéo thì mắt nhìn và ý đoán không sai với dây mực, nhưng cũng phải dùng cái qui cái củ để đo trước đã: hạng thương trí tuy xử sự nhanh chóng, thích đáng, nhưng cũng phải dùng pháp độ của tiên vương làm tiêu chuẩn”. Nhờ dây mực thẳng mà đẽo được cây cong làm cho thẳng ngay; nhờ cái thuỷ chuẩn bằng mặt mà san phẳng được chỗ lồi lõm; nhờ cái cán cân mà quả cân treo lên mà bớt được bên nặng bù vào bên nhẹ; nhờ có cái đấu, cái thạch (2) mà giảm được nhiều chỗ thêm vào chỗ ít. Dùng pháp luật để trị nước chỉ là để khen đúng người phải, trách đúng kẻ quấy mà thôi. Pháp luật khống thể a dua người sang cũng như dây mực không thể uốn theo gỗ cong. Áp dụng pháp luật thì kẻ trí phải treo mà kẻ dũng không dám cãi. Trị tội thì không chừa các quan lớn, thưởng công thì không bỏ sót dân thường. Kiểu chính lỗi của người trên, trách sự gian tà của kẻ dưới, trừ loạn, sửa tài, giảm cái hữu dư, bù cái bất túc (1) khiến cho toàn dân đi theo một đường, thì không gì bằng pháp luật. Khống chế quan lại, ra oai với nhân dân, trừ sự bậy bạ, biếng …, ngăn sự gian trá, thì không gì bằng hình phạt. Hình phạt nặng thì người sang không dám khinh kẻ hèn; pháp luật phân mình thì người trên được tôn trọng, không bị lẫn, thì vua mạnh, nắm được các mối quan trọng. Vì vậy mà tiên vương … pháp luật mà truyền lại đời sau. Bậc vua chúa bỏ pháp luật mà theo ý riêng thì trên dưới không phân biệt (nước sẽ loạn)
 
(1) Nguyên văn là chữ mạnh …(nghĩa là dân), mỗi nhà bàn một khác; có nhà ngờ là chữ mẫn…(nghĩa là tiêu diệt). Chúng tôi lấy ý mà dịch
(2) Có sách chép là Tương vương, sai
(3) Có sách cho rằng Phương Thành ở trong đất Trác
(1) Ý muốn nói trước khi dùng ai, vua phải xét xem người đó được việc hay không đã
(1) Vì vua quay mặt về phương Nam (phương có nhiều ánh sáng) Thời xưa, khi mới yết kiến, người dưới dâng lễ vật cho người trên, như quan khanh dâng con dê con, quan đại phu dâng … lên vua.
(2) Không có sắn ý riêng.
(1) Nguyên văn: triều đình trực tấu, đan vi bất cảm tương du viết. Câu đó tối nghĩa. Trần Khải Thiên hiểu là: các bề tôi tụ họp ở bên vua mà không tơ hào lấn áo nhau (chữ đan vi hiểu là… chứ không phải là kẻ thấo hèn ở xa); lại có nhà hiểu: bất cảm tương du viết là không dám vượt pháp độ.
(1) Chữ nguy… ở đây, các nhà chưa giải bảo phải đọc là quí…, như trong chữ quỉ biện mà thường đọc là ngụy biện.
(2) Thcạch là một độ đo lường bằng đấu.
(1) Nguyên văn: chuất tiện tề phi …, có sách… là khen đúng người phải, trách đúng kẻ bậy. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-28 10:53:19cunhoi>
(Từ trang 491 đến trang 496)
 
THIÊN XLVII
 
BÁT THUYẾT (Trích)
 
(TÁM ĐIỀU)
 
Nhan đề Bát thuyết (tám điều, tức tám hạng người không nên dùng) chỉ đúng với đoạn đầu; ba đoạn sau (lập pháp phải tuỳ thời, không thể trị nước bằng nhân ái được, đừng giao quyền cho bề tôi) không liên lạc gì với đoạn đầu mà cũng không liên lạc gì với nhau; vậy thiên này chỉ là một thiên tạp luận. Chúng tôi sẽ trích trọn đoạn đầu; vài câu trong đoạn 2 về thuyết “tam thế”, và phần đầu đoạn 4: pháp luật phải rõ ràng, vua phải phán đoán lấy, quyết định lấy mọi việc.
 
*
 
Vì người quen cũ mà làm việc riêng thì gọi là người không bỏ bạn; đem của công ra bố thí thì gọi là người nhân; khinh bổng lộc, trọng thân mình thì gọi là quân tử; uốn cong pháp luật vì người thân thì gọi là người có tính nghĩa (1); bỏ chức quan mà thích giao du thì gọi là người hào hiệp; lánh đời trốn vua thì gọi là người cao ngạo; tranh thắng với người trên, làm trái lệnh trên, thì gọi là người cứng cỏi; thi ân để lấy lòng mọi người thì gọi là người được lòng dân.
 
Nhưng có người không bỏ bạn thì có quan lại gian; có người nhân thì hao tổn của công; có quân tử thì dân khó sai khiến; có người tình nghĩa thì pháp chế bị huỷ bỏ; có người hào hiệp thì quan chức bỏ trống; có người cao ngạo thì dân không làm nhiệm vụ; có người cứng cỏi thì lệnh không thi hành; có người được lòng dân thì vua cô độc. Tám hạng người được thế tục khen đó là cái hại lớn của vua chúa, mà tám hạng người ngược lại, bị thế tục chê, là cái lợi chung của vua chúa. Bậc vua chúa không xét cái lợi hại của xã tắc, dùng hạng người được thế tục khen mà muốn cho nước không nguy loạn là điều không thể được.
 
Bổ nhiệm người làm việc là cái then chốt của sự tồn vong, trị loạn. Không có thuật để bổ nhiệm thì sẽ luôn luôn thất bại. Bậc vua chúa khi bổ nhiệm ai, nếu không lựa người có tài trí thì lựa người có đức; bổ nhiệm họ tức là cho họ có quyền hành. Nhưng kẻ sĩ có tài trí chưa nhất định đã đáng tin; vua thấy họ có tài trí mà không biết rằng họ vị tất đã đáng tin, nếu họ dùng mưu trí, dựa vào quyền hành của chức vụ, mà làm việc riêng tư thì vua tất bị gạt. Vì kẻ có tài trí chưa đáng tin, nên vua lại bổ nhiệm kẻ sĩ có đức. Bổ nhiệm ai là cho người đó quyết đoán công việc (2). Nhưng kẻ sĩ có đức chưa nhất định là có tài trí, vua thấy họ giữ mình cho liêm khiết mà không biết rằng họ vị tất đã có tài trí. Kẻ ngu hôn ám mà giao cho một chức quan, để họ quyết định công việc, họ quyết định bậy mà cho là đúng (3) thì công việc tất phải rối loạn. Do đó, không có thuật, mà bổ nhiệm người tài trí thì vua bị gạt, bổ nhiệm người có đức thì việc rối loạn cái hại không có thuật như vậy.
 
Cái đạo minh quân là người hèn được quyền tố cáo việc gian của người sang, thượng cấp có tội, thuộc hạ không tố cáo thì bị liên luỵ; vua muốn biết rõ sự thực thì phải tham bát ý kiến nhiều người, không nên chuyên nghe lời một người; như vậy kẻ sĩ tài trí mới không gạt vua được. Xét công rồi mới thưởng, lượng tài năng rồi mới giao việc, xét kĩ đầu đuôi, xem sự thành bại, kẻ có lỗi thì trị tội, kẻ có tài năng thì dùng; như vậy kẻ ngu sẽ không được bổ nhiệm. Kẻ có tài trí không dám gạt vua, kẻ ngu không được quyết đoán thì công việc không hỏng.
 
Cái gì mà kẻ sĩ có óc tinh tế (4) mới biết được thì không nên ban làm lệnh vị không phải người dân nào cũng có óc tinh tế cả. Cái gì mà bậc hiền (5) mới làm được thì không nên dùng phép tắc, vì không phải người dân nào cũng hiền cả. Dương Chu, Mặc Địch là những người đượi coi là có óc tinh tế trong thiên hạ, nhưng họ gặp (6) thời loạn mà rốt cuộc không làm cho hết loạn được, cho nên tuy họ có óc tinh tế cũng không thể dùng làm chức trưởng quan được (7). Bảo Tiêu và Hoa Giác (8) là những người được coi là bậc hiền nhưng Bảo Tiêu thì chết như vây khô, Hoa Giác thì nhảy xuống sông, cho nên tuy họ là bậc hiền mà không thể dùng họ để cày ruộng, đánh giặc được. Vì vậy bậc vua chúa chỉ xem trọng (9) kẻ sĩ nào trổ hết tài hùng biện của họ, chỉ tôn kẻ sĩ nào có tài năng làm hết công việc của họ. Ngày nay bậc vua chúa xem trọng lời biện thuyết vô dụng, tôn những hành động không có công dụng; như vậy mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
 
Học rộng mà hùng biện, sáng suốt (biện trí) thì như Khổng, Mặc, nhưng Khổng, Mặc không cày bừa thì nhờ họ được gì đâu? Luyện đức hiếu, ít ham muốn thì như Tăng Sâm, Sử Ngư, nhưng Tăng Sâm, Sử Ngư không ra trận thì có lợi gì cho nước đâu? Người dẫn thường có cái lợi riêng, bậc vua chúa có cái lợi chung. Không làm lụng mà đủ ăn, không làm quan mà hiển danh, đó là lợi riêng. Chấm dứt văn học mà làm sáng pháp độ, ngăn chặn tư lợi, nhất thiết tước lộc đều do có công mới được, đó là cái lợi chung. Ban bố pháp luật để dẫn dắt mà lại còn quí văn học thì dân còn nghi ngờ khi tuân theo pháp luật; thưởng công để khuyến khích dân mà lại còn trọng sự sửa đức thì dân sẽ biếng nhác trong việc sản xuất. Quí văn học để cho dân nghi pháp lệnh, trọng đức hạnh, khiến cho việc lập công không do một đường (là làm ruộng đánh giặc) nữa, mà muốn cho nước giàu mạnh thì không thể được.
 
*
 
Người đời (thượng) cổ gấp lo về đức hạnh, người đời trung cổ (10) Thời thượng cổ người ít mà thân nhau, tài vật nhiều, nên người ta khinh cái lợi mà dễ nhường nhau, do đó mới có việc vái nhau mà nhường thiên hạ (11). Nhưng thi hành chính sách vái nhường, đề cao lòng từ huệ và giảng đạo nhân hậu đều là thứ chính trị chất phác (12) cả. Sống ở thời nhiều việc mà dùng những khi cụ của thời ít việc, không phải là cách xử sự của người có trị. Giữa cái đời tranh nhau gay gắt mà theo lối vái nhường, không phải là phép trị nước của thánh nhân. Cho nên người có trí không ngồi cỗ xe bánh không có tay hoa, thánh nhân không thi hành chính sách chất phác. Sách mà giản ước thì (khó hiểu mà) học trò tranh biện (về ý nghĩa trong sách); pháp luật mà tỉnh lược thì dân chúng hay tranh tụng. Vì vậy sách của thánh nhân nghị luận tất rõ ràng, pháp luật của mình chủ ghi việc tất tường tận. Hết sức suy nghĩ, tính trước sự đắc thất, thì người trí (cũng) cho là khó;  không cần suy nghĩ (tính trước), cứ nắm lấy lời nói lúc đầu mà xét xem công việc làm về sau có hợp với lời nói đó không để biết người nói có tài năng hay không), thì kẻ ngu cũng thấy là dễ. Bậc minh chủ làm theo cách kẻ ngu cho là dễ mà không dùng cách người trí cho là khó, vì vậy không dùng trí lự mà nước trị. Không dùng lưỡi để phán đoán các vị chua ngọt mặn nhạt mà để cho người đầu bếp quyết định thì người bếp sẽ coi thường vua mà trọng đầu bếp; không dùng tai để phán đoán các thanh bổng trầm trong đục mà để cho nhạc trưởng quyết định thì nhạc công (13) sẽ coi thường vua mà trọng nhạc trưởng. Không dùng thuật để phán đoán việc trị nước phải hay quấy mà để cho kẻ được sủng ái quyết định thì bề tôi sẽ coi thường vua mà trọng kẻ được sủng ái. Bậc vua chúa không đích thân xem và nghe mà để người dưới quyết đoán mọi việc thì chỉ là kẻ ăn nhờ trong nước (Bỏ từ đây)
 

(1) Nguyên văn là hạnh: chúng tôi theo chú thích của Trần Khải Thiên.
(2) Hai câu này có nhà chấm câu khác và dịch là: Vậy kẻ sĩ có tài trí không thể tin được. Bổ nhiệm kẻ sĩ có đức là khiến hạ quyết đoán công việc.
(3) Câu này có người hiểu là… mà làm theo ý họ. Nguyên văn nhị vĩ ki sở nhiên. Nghĩa cũng vậy.
(4) Nguyên văn là “sát sĩ”. Sát là xét. Trần Khải Thiên bảo “sát sĩ” cũng như “trí sĩ”, kẻ sĩ sáng suốt. Có nhà bảo là kẻ sĩ biết xa. Chúng tôi theo Giả Nghị tân thư. Có óc tinh tế nghĩa là thây s những điều tế vị mà thiên hạ không thấy.
(5) Hiền ở đây không phải là bậc hiền tài, mà là người theo đạo, ở ẩn.
(6) Nguyên văn là “can”, có sách giảng là làm bớt (cái loạn).
(7) Nguyên văn là: quan chức chi lệnh. Chữ lệnh này như chữ huyện lệnh, chủ một huyện. Có sách dịch là: không dùng làm lệnh cho quan chức theo được.
(8) Bảo Tiêu: ẩn sĩ đời Chu không chịu thần phục nhà Chu, ôm gốc cây mà chết – Hoa Giác: chưa biết là ai.
(9) Nguyên văn là “sát”, nhưng nên theo nghĩa thường là “xét”, chứ không phải nghĩa trong “sát sĩ” ở trên.
(10) Thời thượng cổ đây trỏ đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ Văn vương, Võ vương; thời trung cổ trỏ đời Xuân Thu.
(11) Nguyên văn là “truy xa”. “Truy” nghĩa là chậm chạp; có thể hiểu là chất phác. Trần Khải Thiên giảng là thứ xe mà bánh là một khối không có tay hoa, thời Nghiêu, Thuấn người Trung Hoa chưa biết dùng bánh xe có tay hoa. Nhưng có sách bảo là “thối xa” nghĩa là xe đẩy, chứ chưa có ngựa kéo; e lầm.
(12) Ám chỉ việc Nghiêu, Thuấn nhường ngôi.
(13) Nguyên văn: “truy chính”. Có sách bảo là “thôi chính”; e sai.
(14) Nguyên văn là “cổ công” là nhạc công mù. Thời đó người ta thường dùng những nhạc công mù.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-28 11:01:25cunhoi>
(Từ trang 497 đến trang 503)


THIÊN XV
 
VỌNG TRƯNG
 
(ĐIỂM MẤT NƯỚC)
 
  1. Hễ nước của vua nho mà thái ấp của đại phu lớn, quyền vua nhẹ mà thế của bề tôi nặng thì có thể mất nước.
  2. Bỏ pháp luật, cấm lệnh mà chuyên dùng mưu trí, trễ nải việc nội chính mà trông vào ngoại viện thì có thể mất nước.
  3. Quần thần chăm giảng học, con em các đại phu thích diễn thuyết, con buôn lo tích trữ ở ngoài, dân nghèo khốn đốn ở trong thì có thể mất nước.
  4. Vua thích cung thất, đài tạ (1) đồi ao, ham xe ngựa y phục, ngoại vật (2) khiến trăm họ lao khổ, tài sản cháy rụi (khô kiệt) thì có thể mất nước.
  5. Coi ngày giờ (tốt xấu), thờ quỉ thần, tin bói toán, thích cúng tế thì có thể mất nước.
  6. Nghe lời kẻ có chức tước, không tham khảo lời nói của nhiều người, lệnh ban xuống và lời tâu lên đều phải qua một người thì có thế mất nước.
  7. Quan chức có thể nhờ người có thế lực mà có, tước lộc có thể nhờ hối lộ mà được thì có thể mất nước.
  8. Trì hoãn khiến việc không thành, nhu nhược mà không quyết đoán, lúc yêu lúc ghét, lập trường không nhất định thì có thể mất nước.
  9. Tham lam không biết chán, chỉ ham lợi mà muốn được thì có thể mất nước.
  10. Ham lạm dụng hình phạt mà không theo pháp luật, thích biện thuyết mà không cầu thực dụng, say mê hư văn, không xét xem có công hiệu hay không thì có thể mất nước.
  11. Nông nổi, để người ta thấy lòng dạ mình, tiết lộ điều bí mật mà không giấu được, đem lời nói của quần thần kể lại cho người khác nghe thì có thể mất nước.
  12. Hung hãn, không hoà nhã, ương ngạnh không nghe lời can gián mà hiếu thắng, không nghĩ tới quốc gia, khinh suất tự tin thì có thể mất nước.
  13. Ỷ vào sự kết giao, viện trợ (của nước xa) mà khinh thường các nước láng giềng gần, trông vào sự cứu giúp của nước lớn mà khiêu khích nước sát nách với mình thì có thể mất nước.
  14. Để bọn cư sĩ kiểu cư nước mình nhận nhiều tiền hối lộ của nước ngoài, trên thì bàn mưu kế với vua, dưới thì tiếp xúc với dân, như vậy có thể mất nước.
  15. Dân không tín nhiệm tướng quốc, kẻ dưới không yêu quí bề trên, mà vua vẫn tin yêu không phế bỏ ông ta thì có thể mất nước.
  16. Không dùng hào kiệt trong nước mà tìm và phong kẻ sĩ nước ngoài, không trắc nghieemj bằng công lao mà thích căn cứ vào danh vọng để cử dụng hay truất bỏ, bọn dụ sĩ kiểu cư đột nhiên được tôn quí, lấn các bề tôi cố cựu, như vậy có thể mất nước.
  17. Khinh đích từ (con trưởng, tức thái tử), coi ngang hông với con thứ (hoặc) ngôi thái tử chưa định mà vua đã qua đời thì có thể mất nước.
  18. Không thận trọng (3) mà không biết hối hận, nước loạn mà tự cho mình là hiền tài, không lượng thực lực trong nước mà khinh thị kẻ địch ở bên cạnh, thì có thế mất nước.
  19. Nước nhỏ mà không xử nhũng, sức yếu mà không kiêng nước mạnh, vô lễ mà khinh lơn nước láng giềng mạnh, tham lam, ương ngạnh, vụng giao thiệp, thì có thể mất nước.
  20. Đã lập thái tử rồi mà còn cưới vợ nước địch mạnh, lập làm hoàng hậu thì thái tử nguy, quần thần sinh ra nghi ngờ, suy nghĩ thì có thể mất nước.
  21. Khiếp nhược, cam phận, tuy sớm thấy mối hoạ mà vì nhu nhược, không ngăn cấm được, tuy biết rằng việc có thể làm được mà không dám làm, thì có thể mất nước.Vua còn lưu vong tại nước ngoài, trong nước lập vua khác; thái tử làm con tin ở nước ngoài chưa về mà vua lập thái tử khác thì trong nước chia rẽ, như vậy có thể mất nước.
  22. Làm nhục đại thần, sau lại thân cận với họ, trừng phạt nặng dân nhỏ, tàn ngược với họ (4), họ bị nhục, bị ngược đãi, sẽ nuôi lòng oán hận mà lại được gắn vua thì tất âm mưu ám hại vua, như vậy có thể mất nước.
  23. Có hai đại thần quyền cao ngang nhau, bậc cha anh có nhiều người mạnh thì ở trong họ sẽ kết bè đảng, ở ngoài sẽ cầu ngoài viện để tranh việc, giành thế lực, như vậy có thể mất nước.
  24. Nghe lời tì thiếp, dùng mưu trí của bọn sủng thần, khiến trong ngoài đều buồn hận, mà lại thường làm những điều trái pháp luật, thì có thể mất nước.
  25. Khinh rẻ, làm nhục đại thần, vô lễ với bậc cha anh, làm cho dân chúng lao khổ, giết hại kẻ vô tội, thì có thể mất nước.
  26. Thích dùng trí thông minh của mình để sửa đổi pháp luật, lại hay xen lẫn việc riêng vào việc công, thay đổi pháp luật hoài, lệnh bất nhất thì có thể mất nước.
  27. Không có địa thế hiểm yếu, thành quách lại không kiên cố, không tích trữ, tài vật ít không chuẩn bị việc phòng vệ mà lại khinh suất tấn công nước khác, thì có thể mất nước.
  28. Dòng giống (nhà vua) không thọ, vua thường chết yếu, trẻ con lên nối ngôi, đại thần chuyên chế, nuôi ngoại kiều để gây đảng, thường cắt đất để kết giao cầu viện, thì có thể mất nước.
  29. Thái tử được tôn hiển, có bộ hạ nhiều và mạnh, hay kết giao với nước lớn, sớm có đủ uy thế, thì có thể mất nước.
  30. Lòng dạ hẹp hòi, nóng nảy, nông nổi dễ xúc động, lúc giận dữ thì không nghĩ trước nghĩ sau, như vậy có thể mất nước.
  31. Vua hay nổi giận mà thích dùng binh, lơ là nghề gốc (nghề nông) và việc luyện binh mà khinh suất tấn công thì có thể mất nước.
  32. Các quí nhân (bậc cha anh nhà vua) ganh ghét nhau, bọn đại thần làm khốn khó trăm họ, để đà kẻ thù riêng, mà vua không trừng phạt, thì có thể mất nước.
  33. Vua bất tiểu mà em thuộc dòng trắc thất (vợ lẽ của cha) lại hiền, thái tử bị khinh mà thứ tư bình đẳng với thái tử, quan lại nhu nhược mà nhân dân khó chế ngự thì nước hỗn loạn có thể mất nước.
  34. Giấu nỗi giận không cho phát ra, treo tội đó không phạt ngay, khiến cho bề tôi vừa thầm oán vừa thêm sợ, (hồi hợp) lâu mà không biết thân phận sẽ ra sao, như vậy có thể mất nước.
  35. Tướng cầm quân có quyền lớn quá, quan giữ biên cương được tôn quá, họ chuyên chế, tự ý hành động, không xin lệnh của vua, thì có thể mất nước.
  36. Hoàng hậu dâm loạn, thái hậu ô uế (không trinh tiết), người ngoài hỗn loạn ra vào cung cấm, trai gái không phân biệt, như vậy gọi là “có hai vua”, có thể mất nước.
  37. Hoàng hậu bị khinh mà tì thiếp được quí, thái tử bị biếm, mà thứ tử được tôn, tướng quốc bị khinh mà quan điền yết (5) được trọng, như vậy thì trong ngoài khác nhau, có thể mất nước.
  38. Đại thần quyền thế lớn quá, bè đảng đông và mạnh, ngăn cản quyết đoán của vua mà chuyên quyền trị nước, thì có thể mất nước.
  39. Dùng tư nhân của đại thần làm quan, truất bỏ con cháu các chiến sĩ, cất nhắc người được làng xóm khen mà phế bỏ các quan chức có công lao với nước, trọng tứ đức mà coi nhẹ công với nước, thì có thể mất nước.
  40. Nhà công trống rỗng mà nhà đại thần đầy (của cải), dân trong nước nghèo khổ mà kiều dân giàu có, kẻ làm ruộng và đánh giặc khốn cùng còn kẻ làm nghề ngọn (công và thương) thì có lợi, như vậy có thể mất nước.Thấy lợi lớn mà không sấn tới, biết có mầm hoạ mà không đề phòng, trễ nải việc tranh thủ, mà dùng nhân nghãi để tự trau dồi thì có thể mất nước.
  41. Không theo cái hiếu của bậc vua chúa mà hâm mộ cái hiếu của dân thường (6) không nghĩ tới cái lợi của quốc gia mà tuân theo mệnh lệnh của mẫu hậu, để cho đàn bà nắm chính quyền, bọn hoạn quan điều khiển việc nước, như vậy có thể mất nước.
  42. Lời nói thì hay mà không theo pháp độ, lòng có trí mưu mà không có thuật, vua đa tài mà không dùng pháp độ để làm việc thì có thể mất nước.Bề tôi mới thì được tiến dụng, bề tôi cũ phải lui về, kẻ bất tiếu được dùng, người hiền lương phải ở ẩn, kẻ không có công lao được quí hiển mà kẻ lao khổ chịu cảnh thấp hèn, như vậy thì kẻ dưới sẽ oán hận, mà có thể mất nước.
  43. Các bậc cha anh và đại thần, lộc và trật lớn hơn công lao, y phục vượt đẳng cấp của họ, cung thất và sự cung dưỡng quá xa xỉ mà vua không cấm, như vậy bề tôi tất tham lam không biết đâu là cùng, mà có thể mất nước.
  44. Rể và cháu của vua ở cùng xóm với dân mà tàn bạo, ngạo mạn với hàng xóm thì có thể mất nước.  
*
 
“Điềm mất nước” không có nghĩa là nhất định sẽ mất nước mà có nghĩa là có thể mất nước. Hai ông Nghiêu không thể làm cho nhau cùng dựng được nghiệp vương, hai ông Kiệt không thể làm cho nhau cùng mất nước. Cái cơ mất nước và dựng nghiệp vương tất phải do (cùng mọt lúc có) một nước trị một nước loạn, một nước mạnh một nước yếu, khác nhau xa. Cây mà gẫy là do sâu mọt, tường mà đổ là do kẽ nứt. Nhưng cây tuy bị sâu mọt mà không có gió mạnh thì cũng không gãy; tường tuy có kẽ nứt mà không có mưa to thì cũng không đổ. Ông vua một nước vạn cỗ xe mà biết thi hành pháp thuật, làm gió mưa đối với các ông vua có điềm mất nước thì việc thôn tính thiên hạ không có gì là khó.
 


(1)   Nền cao gọi là đài, trên nền đó dựng một ngôi nhà gọi là ?
(2)   Đồ chơi quí, đẹp.
(3)   Nguyên văn: đại tâm, trái với tiểu tâm. Tiểu tâm là cẩn thận.
(4)   Nguyên văn: nghịch kì sử, có sách cho rằng chữ nghịch đó chính là chữ cận (gần) và dịch là: cho giữ chức ở bên mình. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên, cho chữ nghịch đó là ngược.
(5)   Coi về việc các tân khách xin yết kiến vua.
(6)   Hiếu kinh có câu: phân biệt cái hiếu của chư hầu (bảo tồn được xã tắc, hoài với nhân dân) với cái hiếu của dân thường (giữ gìn thân mình, tiết kiệm để nuôi đựoc cha mẹ). Vì vậy có người ngờ rằng thiên này hoặc ít nhất điều 43 này không phải của Hàn Phi viết.
0
Đánh máy: Chipmuck

Phần 26

THIÊN XLVIII

BÁT KINH (TRÍCH)
(TÁM THUẬT PHẢI THEO)

Tám thuật trong thiên này là: 1. Theo tình người mà lập ra thưởng phạt; 2. Dùng một người không bằng dùng cả nước; 3. Muốn phòng gian thì phải biết rằng cái lợi của vua và của bề tôi khác nhau; 4. Dùng cái thuật “tham ngữ” để xét gian; 5. Phải bí mật không để bề tôi biết mình vui hay giận; 6. Nghe bề tôi đề nghị thì phải xét xem có dùng được không; 7. Bề tôi phải làm cái gì có lợi chung thì mới thưởng, phải phục vụ bề trên thì mới được danh; 8. Bề tôi không được làm những chuyện riêng tư mà có hạ cho cái uy của vua.
Tư tưởng rất hợp với Hàn Phi, nhưng lời văn nhiều chỗ tối, khó hiểu; có thể không phải của Hàn viết, hoặc nếu là của Hàn thì nhiều chỗ mất mát, sai lầm, người sau thêm vào, tự ý sửa chữa.
Chúng tôi chỉ trích dịch những tiết có thể bổ túc chờ các thiên khác.
1. Theo tình người (1) Trị thiên hạ thì phải theo tình người, mà tình người là có ưa có ghét, vì vậy mà sự thưởng phạt có thể dùng được; thưởng phạt có thể dùng được thì có thể ban cấm lệnh ( cái gì không được là, cái gì phải làm); đạo trị thiên hạ như vậy là đủ. Vua nắm quyền để giữ cái thể, cho nên ban lện thì phải thi hành mà hễ cấm là phải ngưng. Quyền là để quyết định sự sống, chết; thế là để thắng quần chúng.
*
Truất giáng hay cất nhắc người dưới mà không theo pháp chế thì quyền lớn; thưởng phạt mà kẻ dưới cũng được dự vào thì uy của vua bị chia xẻ. Bởi vậy bậc minh chủ không vì thương yêu mà nghe người, không vì vui thích mà tính việc. Nghe lời người mà không tham khảo đúng không thì quyền sẽ bị chia cho kẻ gian; không dùng trí thuật thì bị khôn vì bề tôi. Cho nên bậc minh chủ thi hành pháp chế thì (không thiên vị) như trời, đông người thì (kín nhẹm) như quí. Như trời thì không bị chê, như qui thì không bị người ta dò biết mà lợi dụng quyền thế giữ được thì sự giáo hóa nghiêm mà dân không dám trái; sự khen chê theo đúng một nguyên tắc thì không ai dị nghị (…)
2. Đạo làm chúa: Sức một người không địch nổi đám đông, trí một người không biết được mọi vật; dùng một người không bằng dùng cả nước. Cho nê dùng trí, lực một người (tức vua) mà địch với mọi người, mọi vật thì tất thua; dự đoán mà đúng thì mệt thân, không đúng thì phải chịu ( hậu quá của) lỗi lầm. Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết khả năng của mình, bậc vua chúa trung bình dùng hết sức của người, bậc vua chúa cao hơn cả dùng hết trí của người. Bởi vậy, khi có việc, vua tập hợp các người trí, nghe ý kiến từng người rồi hợp các ý kiến lại mà quyết đoán. Không nghe ý kiến của từng người, (mà chỉ mưu tính với một người thôi) thì lời sau sẽ ngược lại với lời trước(?), lời sau ngược lại với lời trước thì không phân biệt được kẻ ngu người trí. Không tập hợp được các ý kiến lại thì sẽ do dự, không quyết đoán được: Không quyết đoán được thì công việc ngưng trễ. Nghe ý kiến của từng người thì không bị người ta đánh bẫy (lập kế để hại mình). Bảo mỗi người báo cáo, báo cáo xong rồi thì vua rầy mắng (kẻ gian). Cho nên ngày trình bày ý kiến tất phải ghi chép (trong biên bản). Kết hợp ác người trí rỗi, khi việc phát ra thì trắc nghiệm lời nói của họ; kết hợp ác tài năng rồi, khi việc đã thành, sẽ luận công mà thưởng. Thành hay bại đều có bằng chứng, thưởng hay phạt đều tùy theo đó. Như vậy việc mà thành, thì công về vua, việc mà bại thì tội về bề tôi.
Bậc làm vua, ngay đến việc phù tiết có hợp không cũng không tự mình xem xét huống hồ là tự mình ra sức; Việc tới rồi cũng không tự minh lo lấy, huống hồ là việc chưa tới. cho nên vua dùng người thì không cho lập phe đảng mà cùng ý kiến với nhau, nếu cùng một ý với nhau thì phải rầy họ. Khiến cho người nào cũng dùng hết tài trí        thì vua như thần, vua như thần thì kẻ dưới tận lực thì bề tôi không lợi dụng vua được; đạo làm vua như vậy là hoàn tất.
3. Loạn do đâu mà dấy: Kẻ biết rằng bề tôi và vua có cái lợi khác nhau thì là bậc vương, kẻ cho rằng hai bên lợi giống nhau thì bị hiếp; kẻ cho bề tôi cùng dự vào việc thưởng phạt với mình thì bị giết. Cho nên bậc minh chủ phân biệt rõ công với tư, lợi và hại ở đâu mà kẻ gian không có chỗ len vào được.
Loạn sở dĩ sinh là do sáu hạng người này: 1. mẹ vua, 2. hậu phi, 3. con cháu, 4. anh em, 5. đại thần, 6. người nổi danh là hiền. Cứ theo pháp luật mà bổ nhiệm quan lại, giao trách nhiệm cho bề tôi thì mẹ vua không thể phóng túng. Nghi lễ và thứ bậc khác nhau thì hoàng hậu và phi tần phân biệt hẳn, (không có sự tranh giành). Thế không chia cho đích tử và thứ tử (nghĩa là chỉ đích tử mới có quyền thế) thì dòng đích và dòng thứ không tranh nhau, quyền thế không mất, (nghĩa là tập trung cả vào vua) thì anh em vua không lấn vua. Kẻ dưới không theo về một của đại thần thì đại thần không che lấp vua được. Lệnh cấm và thưởng mà nhất định thi hành thì người nổi danh là hiền không làm loạn được (…)
Đối với người địa vị cao, trách nhiệm lớn thì có 3 cách để kiềm chế: con tin, an định, nắm chắc. Thân thích, vợ con họ là con tin; tước lộc hậu hĩ. Đúng như lời đã hứa là để an định họ; dùng nhiều cách để khảo sát ý kiến và định gian hay ngay của bề tôi, xét trách nhiệm và trừng phạt, là để nắm chắc họ. Đối với người hiền thì tìm cách chặn họ bằng cách giữ con tin, đối với kẻ tham lam thì cảm hóa bằng cách an định, đối với kẻ gian tà thì làm cho họ khốn cùng bằng cáh nắm chắc (…). Có kẻ để cho sống thì việc nước mà giết đi thì tổn thương danh tiếng của vua, nên dùng thức ăn uống mà trừ họ, hoặc giao cho kẻ thù của họ (giết hộ) như vậy là trừ gian một cách kín đáo (….) Cha anh người hiền lương mà lưu vong ở nước ngoài là “cái họa trôi nổi”, mối họa là họ mượn sức người nước ngòa ( để chống mình); Cho những kẻ bị mình làm nhục được hầu cận mình, là cái họa giặc ở bên cạnh, mối họa ở chỗ họ sinh lòng oán hận vì bị nghi hay bị nhục; vua mà không để lộ ra, ghét mà không trừng trị ngay, là làm “tăng thêm loạn”, mối họa ở chỗ bọn cầu may vọng động nổi lên ( dunugf kẻ mình ghét đó để cướp ngôi của mình); có hai đại     quyền uy như nhau, không bên nào hơn bên nào, gọi là “nuôi hoa”, mối họa ở chỗ các gia tộc lớn tranh cướp, giết chóc mà sinh loạn, không cẩn thận, không giữ cái thể uy nghiêm như thần của mình, gọi là “mất oai”, mối lo ở chỗ có             , mình bị đầu độc. Năm mối họa đó, bậc vua chúa mà không biết thì sẽ bị hiếp hay bị giết (…)
*
4. Lập đạo: (…) Khảo sát việc đã qua để biết rõ (lời     trước kia) có đúng không; đặt bề tôi ở gần mình để xét cái tình của họ, đưa họ ra xa để xét tình hình ở ngoài của họ, dùng những điều mình biết rồi để tra hỏi về những điều chưa biết; giả vờ sai khiến họ làm bậy để chấm dứt thói khinh lờn của họ, đảo lộn lời nói của mình để thử kẻ sinh nghi; dùng lí luận tương phản để tìm ra kẻ gian ngầm; đặt kẻ gián điệp để bẫy kẻ làm bậy; dùng sự bổ nhiệm và cách chức để xét hành động của kẻ gian; ra chỉ thị rành rọt để người dưới khỏi làm bậy vì hiểu lầm; có thái độ khiêm nhường để dễ thấy kẻ nào cương trực, kẻ nào a dua; nghe nhiều người để biết về những điều mình chưa biết; xúi cho kẻ dưới tranh đấu nhau để phá các bè đảng; nghiên cứu cho sâu một vấn đề để làm cho người ta              ; tiết lộ những ý khác nhau để dễ biết ý kiến của kẻ dưới.
5. Giữ bí mật: Bậc minh chủ phải giữ bí mật, nếu để lộ niềm vui ra thì bề tôi nhân dịp vua vui mà xin gia ân cho người khác, nếu để lộ nỗi giận ra thì bề tôi nhân đó mà thị uy với người khác. Vì vậy, lời nói của minh chủ phải được ngăn cách, đừng cho thông ra ngoài, phải giữ kín  đừng để cho người ta biết. Dùng trí của một người để biết cái gian của mười người, là cái đạo thấp; dùng trí của mười người để biết cái gian của một người là cái đạo cao.
Bậc minh chủ dùng cả đạo thấp và đạo cao, cho nên không kẻ gian nào thoát được. Trong một huyện, nhà nào cũng gần nhau, họp nhau thành từng ngũ ( 5 nhà?), từng liên (250 nhà), hễ ai tố cáo lỗi của người khác thì được thưởng, không tố cáo thì bị trừng trị. Bề trên đối với người dưới…người dưới đối với bề trên đều như vậy cả; như vậy thì trên dưới, sang hèn, đều đem pháp luật ra, răn nhau, đem điều lợi ra dạy nhau. Bẩm tính của người dân là muốn có cái “thực” của sự sống, lẫn cái “danh” của sự sống. Cái danh của bậc vua chúa là hiền, trí; cái thực của họ là quyền thưởng phạt. Danh thực có đủ là có phúc, tốt.
*
6. Tham nghiệm lời nói: Nếu không nghe lời nói của nhiều người và tham nghiệm với thực tế xem có công hiệu không thì (không phán đoán được), không trách kẻ dưới được; nếu không lấy sự công dụng, làm tiêu chuẩn thì những tà           sẽ là mê hoặc bề trên.
Hễ nhiều người cùng nói như nhau về một việc thì dễ             .Chẳng hạn một việc không có thực, mười người nói thì cũng khả nghi, một trăm người nói thì đã đáng tin, một nghìn người nói thì đã tin chắc rồi không cởi bỏ được lòng            .Nói mà ấp úng vụng về thì bị người ta nghi, nói mà lưu loát khéo léo thì người ta tin. Gian thần che lấp bề trên thì dựa vào người khác mà mưu tư lợi dùng nhiều kẻ          (bảo họ khen mình) mà được bề trên tin, lấy những trường hợp giống nhau để tô điểm những hành động công tư. Bậc vua chúa không nén sự bất mãn mà đợi kiểm nghiệm ( lời nói với việc làm của bề tôi rồi mới thi hành) thì làm cho gian thần có cái thế thủ lợi được. Bậc vua chúa nào có thuật thì khi nghe bề tôi, buộc họ có ý kiến phải thiết thực rồi thi hành phải thành công; có thành công mới thưởng, không thì phạt. Như vậy những lời vô     không được đem bàn ở triều đình, kẻ nào lãnh nhiệm vụ mà thấy không đủ khả năng thì đuổi về, thu ấn tín lại. Kẻ nào khoa trương thì bề trên xét kỹ từ đấu đến cuối                 kẻ gian tình không, nếu có thì sẽ nổi giận mà trừng trị. Lời nào không có chứng cớ mà khi thi hành không có          như đã nói thì là lời vu khoát, bề tôi mà vu khoát thì phải trị tội. Lời nói phải thiết thực, lí thuyết phải có chỗ dùng, như vậy những lời nói thiên vị của bè đảng không dám tâu lên vua (…). Bề tôi đưa ra nhiều ý kiến là để tỏ rằng mình có trí và khiến vua phải tự lựa lấy một ý kiến, mà mình tránh được ( trách nhiệm và tội). Cho nên chỉ hạng vua dở mới để bề tôi đưa ra nhiều ý kiến. Đừng để cho bề tôi đưa ra một ý kiến thứ nhì, mà ý kiến đó với ý kiến thứ nhất giá trị như nhau, bắt bề tôi lời nói phải phù hợp với hành động sau này, để biết họ nói thực hay nói láo. Đạo (thuật) của bậc minh chủ là không cho bề tôi đưa ra hai ý kiến để bắt họ phải chịu trách nhiệm về một ý kiến thôi; không cho họ tự ý hành động, phải tham nghiệm lời của họ, xem có đúng, có hợp với việc, có hiệu quả không; như vậy bọn gian thần không có đường tiến lên được .(bỏ tiết 7 và 8)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-15 02:10:39Ct.Ly>
Đánh máy: tuusacqui

Phần 33


THIÊN XXXI

NỘI TRỪ THUYẾT HẠ - LỤC VI (Trích)

(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NỘI, HẠ - SÁU ĐIỀU PHẢI XÉT KĨ)

Trong thiên này, Hàn Phi đưa ra 6 mối ẩn vi cần phải xét kĩ.


Kinh1:
Quyền giao kẻ khác.

Quyền thế không thể giao cho kẻ khác; quyền vua mất đi một thì quyền
bề tôi tăng lên gấp trăm. Vì vậy bề tôi mượn được quyền của vua thì
thế lực thêm nhiều, thế lực thêm nhiều thì trong (bách quan) và ngoài
(chư hầu) đều bị họ sử dụng, trong ngoài bị họ sử dụng thì vua bị che
lấp (…) (1)

Truyện 1 (….)(2)
c/ Thời Tấn Lệ công, sáu quanh khanh được tôn quí Tư Đồng và Trường
Kiều can: “ Đại thần quá tôn quí thì đối địch với chúa và tranh giành
gải quyết việc nước, tư thông với nước ngoài, lập bè đảng, dưới làm
loạn phép nước, trên áp bức chúa, như vậy mà nước không nguy là điều
chưa từng thấy”
Lệ công bảo: “Phải”, rồi giết ba quan khanh. Tư Đồngvà Trường Ngư Kiều
lại khuyên:
-    Họ cùng một tội như nhau mà thiên vị không giết hết, thì kẻ còn sống
sẽ oán hận, rình cơ hội mà hại mình.
Lệ công bảo:
-    Một buổi sáng mà ta đã diệt ba quan khanh, ta không nỡ lòng nào diệt hết.
Trường Ngư Kiều đáp:
-    Chúa công không nỡ diệt họ, nhưng họ sẽ nhẫn tâm hại chúa công.
Lệ công không nghe. Được ba tháng, ba quan khanh can lại gây loạn,
giết Lệ công, chia đất của ông.
d/Một người nước Yên không mê loạn mà bị (vợ bắt) tắm bằng nước phân
chó (3) (Nguyên do như vầy): vợ anh ta tư thông với một chàng trai
trẻ. Người chồng sáng sớm từ ngoài về nhà, gặp chàng trai trẻ đó đi ra
bèn hỏi:
-    Khách nào đó?
Vợ đáp:
-    Có khách nào đâu.
Hai kẻ tả hữu, họ đều bảo không có, mười miệng như một. Người vợ bảo:
“ông bị mê loạn rồi”, bèn đem anh ta tắm bằng nước phân chó.
(Còn một thuyết nữa, ý nghĩa cũng như thuyết trên, nên chúng tôi bỏ).


Kinh 2: Lợi mỗi bên khác nhau.
Cái lợi của vua (công lợi) và của bề tôi (tư lợi) khác nhau cho nên bề
tôi (tư lợi) khác nhau cho nên bề tôi chẳng ai trung với vua cả, hễ bề
tôi có lợi thì vua mất lợi. Vì vậy mà gian thần triệu quân địch để trừ
kẻ chống đối trong nước, đem sự tình nước ngoài để huyễn hoặc vua; chỉ
nghĩ thực hiện được tư loại, không đoái hoài gì tới tai họa của đất
nước (…) (4)

Truyện 2 (…)41)
a/ Vợ một người nước Vệ cầu đảo: “ Xin cho cúng tôi khi không (5) mà
được mười bó vải” Người chồng hỏi” “Sao xin ít vậy?” Đáp: “Xin nhiều
hơn để anh mua nàng hầu à?”
b/ Vua nước Kinh muốn cho các công tử vua làm quan các nước láng
giềng. Đái Yết khuyên không nên. Vua Kinh bảo:
-    Cho các công tử làm quan ở các nước láng giềng thì các nước đó sẽ trọng họ.
Đái Yết đáp:
-    Các công tử qua các nước đó sẽ được trọng vọng, được trọng vọng thì
về hùa với các nước đó, như vậy là nhà vua dạy cho con cháu cấu kết
với nước ngoài, bất lợi cho nước mình.
k/ Tống Thạch là tướng nước Ngụy, Vệ Quân là tướng nước Kinh. Hai nước
gây chiến với nhau, mà Tống Thạch và Vệ Quân đều cầm quân. Tống Thạch
viết thư cho vệ Quân, bảo: “Quân hai bên gặp nhau, cờ hai bên đối
nhau, nhưng đừng giao chiến với nhau nhé, vì giao chiến thì tất một
mất một còn. Đây là việc riêng của hai vị chúa, tôi với ông không có
tư thù gì với nhau, tốt hơn là nên tránh né nhau”
g/ Đại Thành Ngọ làm quan nước Triệu, qua nói với Thân Bát Hại ở Hàn:
“Nếu ngài dúng thế nước Hàn mà làm cho tôi được trọng hơn ở Triệu thì
tôi cũng xin lấy thế nước Triệu giúp ngài được trọng hơn ở Hàn, như
vậy cũng như ngài có hai nước Hàn, tôi có hai nước Triệu (ý nói: thế
của mỗi người tăng lên gấp đôi)”
***
Kinh 3. Giống nhau.
Những việc giả dối giống như việc thực làm cho vua (mê hoặc) trùng
phạt sai mà đại thần nhân đó sẽ được lợi riêng (…)

Truyện 3
d/ Vua nước Kinh có một ái thiếp  là Trịnh Tụ. Khi mới nạp một mĩ n,
Trịnh Tụ dạy cô ấy.
-    Nhà vua rất thích người ta lấy tay che miệng, khi gần nhà vua, em
nhớ che miệng đấy nhé.
Mĩ nữ đó (nghe lời) vào yết kiến, khi lại gần vua thì lấy tay che
miệng. Vua hỏi (Trịnh Tụ) tại sao lại vậy? Trịnh Tụ đáp: “Cô ấy bảo
không chịu được mùi hôi của đại vương”. Gặp lúc nhà vua, Trịnh Tụ và
mĩ nhân đó cùng ngồi, Trịnh Tụ đã dặn trước người đánh xecho vua rằng:
“Nếu vua ra lệnh gì thì phải thi hành ngay tức khắc”. Mĩ nữ tiến lại
thật gần nhà vua, mấy lân che miệng. Nhà vua bỗng nổi giận bảo: “Cắt
mũi nó đi”. Người đánh xelieenf rút dao ra cắt ngay mũi mĩ nữ.
Một thuyết khách bảo (…)  (6)

d/ Phí Vô Cực (7) là người thân của một quan lệnh doán nước Kinh.
Khích Uyển mới giúp việc quan lệnh doãn, được quan lệnh doãn rất yêu.
Vô cực (ghen ghét) bảo quan lệnh doãn:
-    Ngài rất yêu Uyển, sao không bảo bày tiệc rượu một lần ở nhà ông ta?
Quan lệnh doãn khen phải và bảo Uyển bày tiệc một lần ở nhà ông ta?
-    Quan lệnh doãn rất ngọa mạn và thíh binh khí. Ông nên tỏ vẻ kính cẩn
và bầy binh khí ở sân và cửa.
Uyển làm theo. Quan lệnh doãn tới, thấy vậy, kinh hoảng hỏi:
“Thế nghĩa là làm sao?” Vô Cực bảo: “Ngài chỏ có cách là đi về ngay
đi”. Sự việc chưa biết sẽ ra sao. Quan lệnh doãn nổi giận, đem binh
đánh Khích Uyển và giết ông ta.
e/  Tế Thủ (8) và Trương Thọ thù oán nhau. Trần Nhu mới (từ Sở) và
(Ngụy) không ưa tế Thủ bèn sai người ám sát Trương Thọ. Vua Ngụy cho
rằng Tế Thủ là việc đó, trách ông ta.


***

Kinh 4. Việc có bề trái: Một sự tình phát sinh, nếu có lợi thì nhà vua
làm chủ nó, nếu có hại thì nên xét ngược lại xem ai có lợi trong đó.
Cho nên bậc minh chủ luận việc: nếu có hại cho nước thì xem xét ai là
kẻ có lợi trong việc đó (…)

Truyện 4 (…)
a/ Trần Nhu là kẻ bề tôi của vua Ngụy, thân thiện với vua Kinh, xúi
Kinh đánh Ngụy. Trần Nhu nhân đó xin vì vua Ngụy mà đứng ra học giải
rồi nhờ thế lực của Kinh được làm tướng quốc Ngụy.
b/ Thời Chiêu Hy hầu, người đầu bếp dâng thức ăn trong món canh có
miếng gan còn sống. Chiêu Úi hầu kêu người phụ bếp vô mắng: “Tại sao
ngươi bỏ miếng gan sống vào nồi canh của quả nhân?” Hắn khấu đầu chịu
tội chết, đáp: “Thần muốn ngầm hại anh đầu bếp”.
Một thuyết khác bảo:
Hy Hầu tắm thấy trong nước có sạn. Ông hỏi:
-    Nếu người coi việc tắm gội mất chức thì có ai thay chân không?
Kẻ tả hữu đáp “có”. Hy hầu bảo: “Gói nó vào” Rồi mắng người đó:
-    Tại sao ngươi bỏ sạn vào nước nóng?
Hắn đáp:
Anh coi việc tắm gội mà mất chức thì thần dduwwocj thay chân vì vậy
thần bỏ sạn vô nước nóng.


***

Kinh 5: Quyền thế ngang nhau. Quyền thế ngang nhau thì mầm loạn phát
sinh, vì vậy mà các bậc minh chủ phải thận trọng (…)

Truyện 5 (…)
d/ Sở Thành vương đã lập Thương Thần làm thái tử rồi lại muốn lập công
tử Chức (9) nữa. Thương Thần làm loạn đánh và giết Thành vương.
Một thuyết khác bảo:
Sở Thành vương đã lập Thương Thần làm thái tử rồi lại muốn lập công tử
Chức nữa. Thương Thần hay được mà chưa tin, hỏi quan sư phó (thày học)
là Phan Sùng: “Làm cách nào mà cho biết chắc được!” Phan Sùng đáp:
“Mời Giang Mi (10) lại dự tiệc mà tỏ vẻ không kính trọng bà ấy” Thái
tử làm theo lời. Giáng Mi mắng (Thương Thần):
-    Hừ quân ti tiện, quân vương muốn phế mi lập thằng Chức là đáng lắm.
Thương Thần nói (với Phan Sùng): Tin đồn đó đúng. Phan Sùng hỏi:
-    Có thể thờ Chức được không?
-    Không!
-    Có thể qua nước chư hầu được không?
-    Không.
-    Có thể làm lớn được không?
-    Được.
Thương Thần bèn dùng binh túc vẻ giũ dinh đánh Thành vương. Thành
vương xin ăn món chân gấu(11) không được bèn tự sát.
k/  Vua Trịnh hỏi Trịnh Chiêu: “Thái tử ra sao?” Đáp: “Thái tử chưa
sinh”, Vua hỏi: “Thái tử đã lập rồi mà bảo chưa sinh là nghĩa làm
sao?” Đáp: “Thái tử tuy lập rồi nhưng tật hiếu sắc của vua chưa dứt,
nếu bà phi nào được nhà vua yêu mến mà có con trai thì nhà vua tất yêu
người con đó, yêu ai thì muốn cho người đó kế nghiệp, vì vậy mà thần
bảo thái tử chưa sinh”.


***

Kinh 6. Sa thải và bổ dụng. Điều mà địch mưu tính là làm loạn sự phán
đoán của ta để ta làm bậy, nếu bậc vua chúa không xét kĩ trong việc sa
thải, bổ dụng quân thần, có thể mắc mưu địch (…)

Truyện 6 (…)
c/ Trọng Ni cầm quyền ở Lỗ, ngoài đường không có kẻ lượm của rơi, Tề
Cảnh công đâm lo, Lê Thả (mưu thần của Tề) tâu với Cảnh công:
-    Làm cho Trọng Ni mất chức là việc dễ như thổi sợi lông. Nhà vua sao
không dùng lộc hậu chức cao mà mời ông ta, rồi tặng Lỗ Ai công (12)
một đoàn nữ nhạc để vua Lỗ hóa kiêu mà mê loạn? Ai công ham cái vui
mới, tất bỏ bê việc chính trị. Trọng Ni sẽ can gián (không được) sẽ bị
coi thường ở Lỗ(13).

Cảnh công khen là phải, sai Lê Thả đua hai đoàn nữ nhạc, mỗi đoàn tám
người, qua  tặng Ai công. Ai công ham vui, quả nhiên bỏ bê việc triều
chính. Trọng Ni can gián không được bỏ qua nước Sở(14).
g/ Thúc Hướng (15)  muốn gièm Trành Hoàng (16) viết một bức thư giả là
của Trang Hoàng gửi cho mình, bảo: “Xin ngài vì tôi nói với vua tấn
rằng điều nhà vua với tôi hẹn nhau, lúc này làm được rồi, sao không
gấp gởi bình tới?”

Rồi Thúc Hướng giả vờ đánh rơi bức thư đó ở sân chầu vua nha Chu và
vội vàng đi về. Vua Cho cho rằng Tràng Hoàng phản nhà Chu, đem ông ta
ra giết.
h/ Trịnh Hoàn công muốn đánh nước Khoái, trước hết hỏi tên họ tất cả
những hào kiệt, lương thần cùng kẻ sĩ mưu trí giỏi ăn nói, dũng cảm,
rồi lựa những ruộng đất tốt của nước Khoái (làm bộ) hối lộ cho họ, và
biên trong số những chức tước dành cho họ, sau cùng lập dâng trang ở
ngoài của quách(17) chôn sổ đó, lại bôi máu heo vào sổ như một tập thề
ước. Vua Khoát (phát giác) cho rằng trong nước có kẻ muốn làm loạn,
bèn giết hết các lương thần Trịnh Hoàn công lúc đó mới đem quân đánh,
chiếm được nước Khoái.
I/ Người hề lùn nước tần giao hảo vói vua Kinh, lại ngầm kết giao với
tả hữu vua Kinh, mà ở trong nước, anh ta được Huệ Văn quân (18) trọng.
Thành thử hễ nước Kinh mưu tính điều gì, anh ta thường biết trước mà
báo cho Huệ Văn quân hay.
  

Chú thích:

(1)    Bỏ mấy hàng dẫn chứng.
(2)    Hàn Phi chép 5 truyện a, b, c, d,e để giải thích những điều dẫn
chứng ở trên. Chúng tôi chỉ dịch hai: c và d.
(3)    Nguyên văn: Yêu nhân võ hoặc, cổ dục cẩu thì. Có học giả sửa lại
là: Yêu nhân hoặc dị…nghĩa là người nước Yên dễ bị mê loạn (nên phải
tắm bằng nước phân chó). Người Trung Hoa thời đó cho rằng chứng đo bị
quỉ ám, nên trị như vậy.
(4)    Coi chú thích (1) và chú thích (2) Kinh ở trên. Sau cùng vậy
(5)    Không tốn công của gì cả
(6)    Thuyết này gần giống y hệt truyện Sở IV 2 trong Chiến Quốc sách,
nên chúng tôi không dịch lại. Chiến Quốc sách chép là Trịnh Du.
(7)    Có chỗ gọi là Phí Vô Kị, một gian thần của Kinh Bình vương.
(8)    Tế Thủ là một chức quan của Ngụy như tướng soái. Theo Chiến Quốc
sách, Tế Thủ Công tôn Diễn, đồng thời với Trương Nghi
(9)    Chức là em khác mẹ của Thương Thần
(10)    Giang Mi là em gái Thành vương. Theo Sử kí của Tư Mã Thiên thì là
một ái phi của Thành vương. Có sách chép là Giáng Thiên, hoặc Giáng Vu
và cho Giang Vu  là một cận thần của Thành vương.
(11)    Món ăn thời đó cho là rất quí. Món đó nấu lâu chin, Thành vương
xin ăn mon đó là có ý kéo dài để chờ cứu viện.
(12)    Hàn Phi lầm: chính là Lỗ Định công.
(13)    Nguyên văn: Khinh tuyệt ư lễ. Có sách dịch là tất bỏ nước Lỗ.
(14)    Có sách sửa lại là quan Tề
(15)    Tóc Dương Thiết Chất học rộng làm quan nước Tấn, viết thư phản
kháng. Tử Sản làm hình thư – Coi phần I
(16)    Tràng Hoàng là một đại phu của Chu Kính vương
(17)    Quách là bức tường ngoài của một thị trấn thời đó.
(18)    Vua Tần, người giết Thương Ưởng
0
Mình đã nhận được phần 36. Mình sẽ cố gắng hoàn thành sớm nhất có thể. Do lần đầu đánh có thể có sai sót mong các bạn sửa lại giùm mình nha.
Từ trang 572 đến trang 578
 
Chu công Đáng ở nước Lỗ hay tin, phái người gấp tới hỏi:”  Hai người đó là bậc hiền , nay ông mới tới nhận nước, đã giết ngay người hiền, tại sao vậy?” Thái công Vọng đáp: “Hai anh em nhà đó bàn với nhau: “ chúng ta không làm bề tôi thiên tử không làm bạn chư hầu, cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, không nhận danh hiệu, bổng lộc của vua, không làm quan mà lao động để sống”. Họ không chịu làm bề tôi của thiên tử thì Vọng này không coi họ là bề tôi được; họ cày ruộng mà ăn , đào giếng mà uống, không cầu gì ở người khác, thì tôi không thể thưởng phạt, khuyên cầm họ được. Vả lại họ không nhận danh hiệu vua ban thì dù họ có tài trí cũng không để cho Vọng tôi dùng ; họ không cầu bổng lộc của vua thì dù họ có hiền đức cũng không lập công với Vọng được. Họ không chịu làm quan thì không trị họ được, họ không lãnh nhiệm vụ thì họ không trung với mình. Tiên vương sở dĩ sai khiến được thần dân được là nhờ tước lộc hoăc hình phạt. Nay,  dung cả bồn cái đó không đủ để sai khiến họ thì Vọng tôi cai trị ai nổi bây giờ? Không đeo binh pháp mà được vẻ vang, không tự cày bừa mà nổi danh, đó cũng không phải là điều đem ra dạy dân đươc (….). Họ tự cho là hiền sĩ trong đời mà không để cho chúa dùng, hạnh của họ cực hiên nhưng vô dụng cho vua, đó đâu phải là bề tôi của bậc minh chủ, có khác chi con ngựa kí ( chạy rất nhanh) mà không lái qua tả qua hữu được , vì vậy mà tôi phải giết.
             Kinh 2. Bậc vua chúa là cái đích lợi và hại (ai nhắm trúng tức đoán đúng ý của vua thì có lợi ngược lại thì có hại. Người nhắm đích rất đông, cho nên bậc vua chúa dễ bị chia uy quyền với bề tôi (1). Vì vậy nếu điều yêu ghét của vua bộc lộ ra thì bề tôi lợi dụng mà làm cho vua bị mê hoặc ; vua tiết lộ lời của bề tôi cho người khác biết thì bề tôi khó nói ( tố cáo) mà vua không còn là thần thánh nữa (…).
            Truyện 2.  a/ Thân tử (Thân Bất Hại) nói: “Sự sang suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ đề phòng ; sự không sáng suốt của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ gạt bề trên ; sự hiểu biết của bề trên mà để lộ ra thì người dưới sẽ dối sự thật  ; sự không ham muốn mà để lộ ra thì bề dưới sẽ rình bề trên ; sự ham muốn của bề trên mà lộ ra thì người dưới sẽ nhử bề trên. Cho nên bảo :” Ta không dựa vào đâu mà biết người ( tức bề tôi) được, chỉ có vô vi (không làm gì cả) là có thể dò xét được họ thôi”(2)
            d/  Tĩnh Quách quân  ( Điền Anh) làm tướng quốc nước Tề . Vợ vua chết, chưa biết ai sẽ được lập làm hoàng hậu, ông dâng vua hoa tai bằng ngọc để biết. (Truyện này giống Truyện Tề III 2 trong Chiến Quốc sách ).
               
e/ (Tần Huệ vương đuổi Công tôn Diễn đi, vì nghe lời gièm pha của Cam Mậu mà ngờ Công tôn Diễm bép xép để tiết lộ việc ông cho Diễn làm tướng quốc thay Cam Mậu. (Truyện này chép trong Chiến Quốc sách – Tần II 13, nên chúng tôi không dịch lại).
 
            g/ Đường Khê công nói với (Hàn) Chiêu hầu : “ Nay có một cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng mà không có đáy có thể đựng rượu được không ?”. Chiêu hầu đáp  :”Không được”
            -“ Có cái vò bằng đất nung mà không rịn, có thể đưng rượu được không ?” – “Được” – Cái vò bằng đất, cực xấu xí rẻ tiền , mà không rịn thì đựng được rượu, còn cái chén ngọc đáng giá ngàn vàng, cực quí mà không có đáy thì đựng nước cũng không được, thì còn ai rót nước uống vào đó nữa ? Làm vua mà tiết lộ lời nói của bề tôi thì không khác gì chén ngọc không đáy, dù là bậc thánh trí cũng không dùng hết thuật được vì không kín tiếng”. Chiêu hầu đáp :” Phải” Ông nghe lời khuyên của Đường Khê công, từ đó về sau, hễ muốn thi hành một việc lớn trong thiên hạ thì luôn luôn ngủ một mình sợ ngủ mê, nói mớ mà người khác biết mưu tính của mình.
 
            (Còn một thuyết nữa, gần y hệt thuyết trên ; bỏ).
           
            Kinh 3. Thuật sở dĩ không thi hành được là có lí do ; (người bán rượu ) không giết con chó (dữ) thì rượu hóa chua, mà chọn bề tôi cầm quyền là bầy chó dữ của nước ; còn bọn tả hữu của vua là bầy chuột làm hại nền xã tắc (vì dòm ngó tình ý của vua). (…) {Muốn diệt bọn nó thì phải cương quyết như }  Trang vương trả lời thái tử { bắt thái tử giữ phép nước như mọi người) (…) ( và phải nén đau khổng trừ bở bề tôi mình yêu nhất nếu họ phạm pháp như ) Văn công chém Điên Hiệt (3).
 
            Truyện 3.     a/ Nước Tống có người bán rượu, đong rượu rất ngay thẳng , tiếp khách  rất ân cần,  bài rượu treo thật cao, nhưng vẫn ế, rượu (để lâu ) hóa chua, lấy làm lạ, hỏi một ông già trong xóm là Dương Thiến. Thiến đáp: “ Tại chó của chú dữ quá !” Hỏi : “Chó dữ thì tại sao rượu lại ế?”  Đáp :” Có người sai trẻ mang tiền, cầm bình hoặc vò tới mua, chó của chú xông ra cắn, vì vậy rượu để tới chua , không người mua” Nước cũng vậy, có loài chó dữ. Những kẻ sĩ biết đạo đem thuật (trị nước ) tới muốn soi sang cho bậc chúa muôn cỗ xe thì bọn đại thần làm chó dữ, xông ra cắn, vì vậy chúa bị che lấp, lấn áp, kẻ sĩ  có đạo không được dùng.
 
            Dõ lẽ đó mà (xưa kia khi Tề) Hoàn công hỏi Quản Trọng : “Trị nước thì cái gì đáng lo nhất ?”, Quản Trọng đáp :” Đáng lo nhất là bầy chuột nền xã”. Hỏi : “Sao lại lo chuột nền xã ?” Đáp : “Nhà vua đã thấy người ta lập nên nền xã (nơi thờ thần đất đai) rồi chứ ? Người ta trông một cây (tượng trưng cho thổ thần), rồi tô đất màu nên. Chuột khoét đất, đào hang ở trong nền xã ; hun khói thì sợ cây cháy mà rội nước thì sợ trôi mất màu, vì vậy mà không sao bắt được chuột nền xã. Nay bọn tả hữu của nhà vua thì khi ra thì ỷ vào quyền thế mà bóc lột dân chúng, khi vào thì lập bè đảng che giấu tội ác không cho vua thấy, bên trong dò xét tình ý của vua để cho bên ngoài biết, ở trong và ở ngoài quyền thế đều lớn, ăn hối lộ của các quan lại mà hóa giàu. Người chấp chính không giết họ thì phép nước sẽ loạn mà giết thì vua không chiuj, che chở mà giữ họ (4) , họ cũng là loài chuột nền xã trong nước đấy”.
           
            Hạng bề tôi cầm quyền mà tự ý ra cấm lệnh, khiến cho thiên hạ thấy rõ rằng ai vị họ thì tất có lợi, không vị họ thì tất bị hại, hạng đó cũng là chó dữ đấy. Đại thần làm chó dữ, cắn kẻ sĩ có đạo ; kẻ tả hữu làm chuột nền xã dò xét tình ý của chúa, chúa không giác ngộ thì làm sao khỏi bị che lấp mà nước khỏi bị suy vong ! (5).
 
            (Còn một thuyết khác nữa, nội dung không khác,  nên bỏ)
 
            c/ Kinh Trang vương có phép “mao môn” (cũng gọi là trí môn) (6) bảo: “Quần thần, đại phu và các công tử vào triều, nếu móng ngựa đạp lên chỗ ở dưới máng xối thì viên đình lý (coi sân chầu) sẽ chặt đòn xe và giết kẻ đánh xe”. Một hôm thái tử vô triều, móng ngựa đạp lên chổ ở máng xối viên đình lí bèn chặt đòn xe và giết người đánh xe. Thái tử nổi giậnm vô khóc lóc với vua : “ Xin vua vì con mà giết tên đình lí đi”. Trang vương đáp: “Đặt ra pháp luật để kính trọng tôn miếu, xã tắc ; cho nên ai lập pháp, theo lệnh tôn kính xã tắc thì đều là bề tôi của xã tắc, sao lại giết được ? Còn kẻ phạm pháp, bỏ lệnh, không tôn kính xã tắc là lấn quyền thế của vua. phạm thượng . Bề tôi lấn quyền thế của vua thì vua mất uy : kẻ dưới phạm thượng thì địa vị của bề trên nguy. Uy mất, địa vị nguy, xã tắc không giữ được, ta lấy gì mà để lại cho con cháu ?”. Thái tử liền trở về, không vào nhà mà ở ngoài ba ngày, hướng về phía bắc lạy mấy lần, xin tha tội chết.
 
            (Một thuyết khác nữa cũng giống thuyết trên, nên bỏ)
 
            g/ ( Truyện này dài, chúng tôi cắt trên, cắt dưới, chỉ dịch đoạn giữa) (…) Tấn Văn công hỏi Hồ Yến (7) :
-         Hình phạt thì hành đến đâu là cùng cực ?
Hồ Yến đáp:
-         Không tránh người than và đại thần thi hành cả với người mình yêu.
Công khen : “ Phải”
 
Hôm sau , công ra lệnh đi săn ở Phố Lục, ra hẹn giữ trưa phải tới chỗ, ai tới trễ thì bị trị tội như quân pháp. Một sủng thần là của công là Điền Hiệt tới trễ. Viên lại ( thi hành mệnh lệnh) xin trị tội Điền Hiệt. Văn công rơi lệ , lo lắng, do dự. Viên lại nói :” Xin thi hành pháp luật”, chém Điền Hiệt ngang lưng để cho dân chúng thấy rõ ràng pháp luật đã ban thì thi hành đúng. Từ đó dân chúng đều sợ, bảo :” Vua quá trọng Điền Hiệt như vậy mà còn thi hành pháp luật, huống hồ là đối với chúng ta” (…).
 
(1) Nguyên văn : “cố nhân chủ công hì” thật khó hiểu, chúng tôi theo bản của Trần Khải Thiên. Có người dịch là : cho nên bậc vua chúa có nhiều kẻ bao vây.
(2) Vì không làm gì thì không để lộ của mình ra, cứ núp vào sự hư tỉnh của bề tôi thì không đoán được ý mình mà mình dò được ý họ.
(3) Đoạn này nếu dịch sát thì rất khó hiểu nên chúng tôi bất đắc dĩ phải cắt bớt giảng giải.
(4) Nguyên văn: quân bất an, cứ nhi hữu chi. Có bản chép là: cứ quân sơ an, cứ nhi hữu chi? và dịch là: vua căn cứ vào đầu mà bắt tội họ (vì họ lập bè đảng che giấu cho nhau rồi)
(5) sáu hàng cuối này, Trần Khải Thiên cho là lời của Quản Trọng. Chúng tôi cho là giọng của Hàn Phi.
(6) Cung điện vua chư hầu có 3 cửa: ngoài ,giữa, trong. Mao môn là cửa giữa.
(7) Cậu của Văn công, tong vọng với công, sau giúp công lập được nghiệp bá, Thường gọi là cậu Phạm
 
0
Mình đã hoàn thành xong phần 36. Rât vui vì góp được gì đó cho mọi người. Có thể có nhiều sai sót mong các bạn hiệu đính lại giùm nha.
Từ trang 579 đến 585

THIÊN XXXV
 
NGOẠI TRỪ THUYẾT HỮU HẠ (Trích)
 
(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN HẠ NGOẠI, HỮU, HẠ)
 
            Kinh 1. - Việc thưởng phạt giao cho bề tôi thì cấm lệnh không được thi hành (…).
 
            Truyện 1.
            b/ Quan tư thành (một chức lớn) Tử Hãn tâu với vua Tống :”Khen thưởng và ban ơn là làm cho dân thích việc đó xin vua đảm nhiệm lấy ; chém giết, trừng phạt là làm cho dân ghét, việc này thần xin đảm đương”. Vua Tống bảo :” Được”. Từ đó hễ có việc ban lệnh ra oai, trừng trị đại thần thì ông bảo :” Hãy hỏi Tử Hãn”. Do đó đại thần sợ Tử Hãn, dân chúng theo ông ta. Được một năm, Tử Hãn giết vua Tống cướp ngôi. Vậy là Tử Hãn dùng cách thả con heo nái (làm cho ngựa sợ) (1)    để cướp nước của vua.
 
            Kinh 2. Nước trị và mạnh là nhờ pháp luật ; nước loạn yếu là do bề tôi lậpbè đảng mưu tư lợi(2) .Vua chúa hiểu rõ lẽ dùng hình phạt cho đúng mà bỏ long nhân đối với kẻ dưới. Có công lao thì mới được tước lộc, có tội thì bị hình phạt. Bề tôi biết rõ như vậy thì tận lực tới chết mà bỏ lòng trung với vua(3 ).  Vua hiểu cái lẽ bất nhân (không ban ơn riêng), bề tôi hiểu rõ cái lẽ bất trung thì có thể lập được nghiệp vương (...).
 
                        Truyện 2. a/  Tần Chiêu vương đau, dân chúng mỗi lí (hai mươi lăm nhà một lí) chung nhau mua bò và nào cũng cầu cho vua hết bệnh. Công tôn Thuật ra ngoài thấy vậy, bèn vào mừng vua :”Trăm họ đều chung nhau mỗi lí mua bò để cầu nguyện cho nhà vua hết bệnh”. Chiêu vương sai người đi dò hỏi, quả có như vậy, ra lệnh :”Phạt mỗi lí phải nộp hai áo giáp (bằng da tê ngưu). Không ra lệnh mà tự ý cầu nguyện là thương quả nhân. Họ thương quả nhân mà quả nhân cũng phải đổi pháp luật mà làm vừa lòng họ, như vậy pháp luật không dùng được, pháp luật không dùng được sẽ đưa tới nước loạn và mất nước. Không bằng phạt mỗi lí hai áo giáp mà cho nước loạn thì trị được trở lại.
           
                        (Còn một thuyết nữa cũng đại ý như vậy , bỏ)
                       
                        b/ Nước Tần rất đói kém. Ứng hầu(4) xin với vua :”Rau có hột quả trong năm vườn của nhà vua đủ để cứu đói cho dân, xin nhà vua phát cho họ” Chiêu Tương vương bảo :”Theo pháp luật nước Tần ta thì dân có công mới được thưởng, có tội mới bị phạt. Nay phát cho dân rau quả trong năm vườn, tức là dân có công hay không đều được thưởng là gây loạn cho nước. Phát rau quả trong năm vườn mà nước loạn sao bằng đừng phát mà nước được trị”.
 
                        d/ Công Nghỉ Hưu làm tướng quốc nước Lỗ thích ăn cá. Cả nước tranh nhau mua cá tặng ông, ông không nhận. Em trai ông hỏi :”Anh thích ăn cá mà sao người ta tặng lại không nhận !”. Đáp :” Chỉ vì thích ăn cá mà không nhận đấy vì nhận phải chịu ơn của người, chịu ơn của người thì phải uốn cong pháp luật, uốn cong pháp luật thì mất chức tướng quốc, mất chức tướng quốc thì người trong nước không tặng ta cá nữa mà ta cũng không tự cung cấp cá được (vì hết bổng lộc). Còn như không nhận cá thì vẫn còn làm tướng quốc, có tự cung cấp hoài được”. Truyện đó cho ta thấy rõ ràng trông cậy ở người không bằng trông cậy ở mình, nhờ người ta làm cho mình không bằng tự mình làm lấy.
                        Kinh3. Bậc vua chúa(5) lấy việc nước ngoài làm gương, thì việc bên ngoài không thể không thành, bởi vậy mà Tô Đại chê vua Tề. Bậc vua chúa lấy việc thời cổ làm gương thì bọn xử sĩ (không ra làm quan) mà tư tưởng không hợp với nhà cầm quyền sẽ không được vinh hiển, bởi vậy mà Phan Thọ nói về tình của vua (Hạ) Vũ, (…). Phương Ngô không ngồi cùng xe với kẻ mặc áo như mình, không ở cùng nhà với người trong họ, huống hồ là cho người khác mượn quyền mình, Ngô Chương nói chuyện thì không vờ thương ghét, huống hò là thương ghét thật (…).
 
                        Truyện 3.
                       
                        a/ Tử Chi làm tướng quốc nước Yên, chức cao mà chuyên quyền, Tô Đại được vua Tề sai đi sứ qua Yên. Vua Yên hỏi :”Vua Tề là ông vua ra sao ?” Đáp :”Không thể làm bá chủ được” – “ Sao vậy ?” – “Xưa Tề Hoàn công làm bá chủ, nội chính giao cho Bảo Thúc, ngoại giao giao cho Quản Trọng. Ông bỏ xõa tóc mà vui với đàn bà, suốt ngày dạo phố phường. Còn vua Tề ngày nay thì không tin đại thần” Nghe lời Tô Đại, vua Yên càng tin Tử Chi hơn. Tử Chi biết chuyện đó, sai người tặng Tô Đại trăm dật vàng (mỗi dật khoảng 20 – 30 lượng) để ông ta tiêu.
 
                        (Còn một thuyết nữa, bỏ).
                       
                        b/ Phan Thọ nói với vua Yên :”Nhà vua nên đem nước nhường cho Tử Chi. Người ta sở dĩ khen vua Nghiêu hiền đức là vì ông nhường thiên hạ cho Hứa Do, Hứa Do tất không nhận, như vậy vua Nghiêu được tiếng là nhường thiên hạ cho Hứa Do mà thực ra vẫn không mất thiên hạ. Nay nhà vua nhường nước cho Tử Chi, Tử Chi tất không nhận ; nhà vua sẽ được tiếng là nhường nước cho Tử Chi mà đức hạnh sẽ ngang với vua Nghiêu”. Vua Yên bèn đem việc nước giao hết cho Tử Chi, quyền của Tử Chi cực lớn.
 
                        (Còn hai thuyết nữa, và chỉ hai thuyết này mới nhắc đến vua Hạ Vũ trong phần kinh đã nói, nhưng chúng tôi cũng bỏ vì ý nghĩa không khác. – xin ghi thêm : Chiến Quốc Sách – Yên 9 – cũng chép truyện đó gần giống hết thuyết thứ nhất chúng tôi đã dịch).
 
                        c/ Phương Ngô Tử (không rõ là ai) bảo :”Ta nghe nói theo lỗ cổ, vua đi đường không ngồi cùng xe với người y phục đẹp đẽ như mình, tại nhà thì không ở chung với người trong họ mình (để người ngoài khỏi lầm những người trọng họ đó là vua) ; huống hồ là cho bề tôi mượn quyền của mình mà làm mất cái (uy) thế của mình đi.
 
                        d/ Ngô Chương (bề tôi nước Hán) nói với Hàn Tuyên vương : ”Bậc vua chúa không nên giả vờ thương người vì như vậy một ngày kia không thể lại ghét họ trở lại được ; không nên giả vờ ghét người vì như vậy một ngày kia không thể lại thương họ trở lại được. Sự giả vờ thương hay ghét mà để lộ ra một chút thì kể nịnh bợ nhân đó mà khen chê (người mình giả vờ thương hay giả vờ ghét), (lúc đó) dù là bậc mình chủ cũng không bỏ được thái độ vờ thương, vờ ghét của mình, huống hồ lại thành thực thương hay ghét (thì làm sao còn có thể bỏ thương bỏ ghét được nữa).
 
                        Một thuyết khác bảo : Ngô Chương nói: “ Bậc vua chúa không nên giả thương giả ghét được  nữa ; giả thương rồi thì không trở lại ghét được nữa , giả ghét rồi thì không thể trở lại thương được nữa”.
 
                        Kinh 4. - Bậc vua chúa là người giữ pháp luật, xét bề tôi có thể làm được việc hay không để đinh công. Nghe nói quan lại dù loạn thì vẫn có hạng dân riêng giữ được đức hạnh, tiết tháo (độc thiên kì than) ; chứ không nghe nói dân loạn mà có quan lại riêng tốt ( nghĩa là dân loạn luôn luôn do quan lại xấu), cho nên bậc minh chủ trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân (hễ quan lại tốt thì dân không loạn) (…)
                        Truyện 4. Muốn lay cây thì không kéo từng cái lá một, như vậy tốn công mà không xuể ; nắm thân nó mà lắc  qua phải qua trái thì lá đều rung rinh hết (…) Người khéo bủa lưới thì kéo dây lưới ; chứ nếu kéo từng mắt lưới một cho tới hết cả vạn cái mắt thì mệt và khó. Kéo dây lưới lên là bắt được cá rồi. Quan lại là dây lưới của dân, cho nên thánh nhân trị quan lại chứ không (trực tiếp) trị dân.
 
                        c/ Tháo Phủ ( một người giỏi đánh xe thời cổ) đương cào cỏ, thấy hai cho con nhà nọ đi ngang. Con ngựa sợ, trùn lại, không chịu đi nữa. Người con xuống xe lôi nó, người cha xuống đẩy xe, và nhờ Tháo Phủ tiếp tay đẩy giùm. Tháo Phủ xếp đồ cào cỏ, buộc lại, đặt trên xe, giúp (cha) con nhà đó đánh xe, mới bắt đầu so cương cầm roi, chưa keo cương, quất roi mà ngựa đã lồng lên. Nếu Tháo Phủ không biết đánh xe thì dù hết sức cực nhọi đẩy xe, ngựa cũng không đi. Đằng này ông khỏe ru, được ngôi xe của người mà lại mang ơn, chỉ nhờ ông có thuật đánh xe. Nước là xe của vua, (quyền thế) là ngựa của vua. Không có thuật để điều khiển (việc nước) thì đã mệt sức mà không tránh khỏi loạn ; có thuật để điều khiển thì đã an lạc mà lại lập được nghiệp đế vương.
 
                        Kinh 5. – Tùy theo cái “lí” (tại sao, thế nào), của việc mà hành động thì không mệt mà thành công. Vì vậy mà Tư Trịnh ngồi trên cang xe mà hát để qua cây cầu cao (…).
 
                        Truyện 5.          a/ Tư Trịnh tử đánh xe lên một cây cầu cao mà không được, bèn ngồi trên càng xe mà hát, (tức thì) người đi trước ông ngừng lại, người đi sau đẩy x echo ông và ông lên được dốc cầu. Nếu ông không có thuật lôi kéo người (để giúp ông) thì dù ông có gắng sức đến chết, xe cũng không lên cầu được. Đằng này ông khỏi phải mệt than mà xe lên được, là nhờ ông có thuật lôi kéo người để giúp ông.
                        d/ Diên Lăng Trác tử ngồi trên xe thắng con ngựa lớn màu xanh có vằn như lông chim trĩ, phía trước có dây cương mang móc, phía sau có cây roi đầu nhọn, vì vậy mà ngựa muốn tiến thì bị cái móc cản, muốn lui thì bị đầu roi đâm, no đành phải quay ngang. Tháo Phủ đi ngang qua, (thấy vậy) rơi lê, bảo :” Đời xưa trị dân cũng vậy. Thưởng  là để khuyến khích, vậy mà thưởng rồi mà còn chê trách ; phạt là để ngăn cấm, vậy mà phạt rồi lại còn khen thêm. Dân đứng giữa mà không biết theo đường nào, thánh nhân khóc cho họ là vì vậy”;
 
(1) Theo chú thích của bản đời Tống. Ý nói dùng hình phạt để cho quần thần và dân chúngsợ mình
                        (2) Nguyên văn là:         , có sách giảng là : quanh co, không theo đúng pháp luật
                        (3) Nghĩa là có được thưởng thì mới hết lòng, chứ không vì tình riêng mà trung với vua.
                        (4) Tức Phạm Tuy (cũng có sách là Phạm Thư), có tài biện bác, được Tần t        trọng dụng, phong chức là Ứng hầu.
                        (5) Có bản chép là minh chủ.
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-10 12:15:53cunhoi>
(Từ trang 518 đến trang 533)

gũi được; không có lòng nhân thì không thể cùng mưu tính được; không có lòng bất nhẫn thì không thể gần gũi được.
Vua Tề hỏi:
- Vậy thì quả nhân quá nhân từ, quá bất nhân ở chỗ nào?
- Đại vường quá nhân từ với Tiết công, quá bất nhẫn với những người họ Điền (1). Quá nhân từ với Tiết công thì quyền của đại thần không gì lớn bằng (2) mà quá bất nhân với những người họ Điền thì bậc cha anh sẽ phạm pháp. Quyền đại thần không thể gì lớn bằng thì binh lực sẽ yếu so với nước ngoài, cha anh phạm pháp thì chính trị loạn ở trong. Binh lực yếu ở ngoài, chính trị loạn ở trong, đó là gốc của sự mất nước.
 
i/ Nguỵ Huệ vương hỏi (một vị đại thần là) Bốc Bì:
- Ông nghe thiên hạ bàn về quả nhân ra sao?
- Thần nghe người ta đồn rằng đại vương từ huệ (nhân từ hay gia ân).
Huệ Vương hoan hỉ:
- Như vậy thì sự nghiệp của quả nhân tới đâu?
- Sẽ tới mất nước.
- Từ Huệ là làm điều thiện; làm việc thiện sao lại mất nước?
- Tử thì bất nhân, mà huệ thì gia ân. Bất nhân thì không trừng trị kẻ có tội, hay gia ân thì thưởng cả kẻ không có công. Kẻ có tội mà không bị trừng trị, kẻ không có công mà được thưởng, như vậy mất nước cũng là đáng chứ.
 
k/ Nước Tề thích chôn cất trọng hậu, vải lụa dùng hết vào việc tẩm niệm, cây gỗ dùng hết vào việc đóng quan quách. Vua Hoàn công lo, hỏi Quản Trọng:
- Vải lụa hết thì không có gì làm màn che (chiến xa và ngựa cho địch khỏi thấy) (3) cây gỗ hết thì không có gì để phòng bị, mà dân chúng vẫn cứ chôn cất trọng hậu, làm sao cấm được bây giờ?
Quản Trọng đáp:
- Người ta hành động, nếu không phải vì danh thì vì lợi.
Rồi ông hạ lệnh:
“Quan quách dầy quá mức thì thây người chết sẽ bị chặt mà kẻ chủ tang sẽ bị tội”. Thây bị chặt thì không có danh, chủ tang bị tội thì không có lợi. Như vậy còn có lí do gì để chôn cất trọng hậu nữa (4).
 
l/ Thời Vệ Tự công, có ngời bị tội đồ (5) trốn qua nước Nguỵ và trị bệnh cho hoàng hậu của Nguỵ Tướng vương. Tự Công hay tin, sai người đem năm chục (lượng hay dật) vàng để mua người có tội đó, sứ giả đi đi về về năm lần mà vua Nguỵ không chịu giao; Tự công bèn lấy ấp Tả Thị để đổi. Bề tôi tả hữu can:
- Đem một ấp để mua một kẻ tội đồ, phỏng có nên chăng?
Tự công đáp:
- Các ông làm sao hiểu được. Muốn trị nước thì đừng coi thường những việc nhỏ, loạn không phải toàn là do việc lớn mà phát đâu (6). Pháp luật không vững, hình phạt không cương quyết thì dù có mười ấp Tả Thị cũng vô ích, ngược lại pháp luật mà vững, hình phạt mà cương quyết thì dù mất mười ấp Tả Thị cũng không hại. Vua Nguỵ hay tin đó, bảo: “Vua một nước muốn trị kẻ phạm tội mà mình không nghe theo thì là điều bất tưởng”. Rồi sai chở tội nhân đó trả cho Vệ, không lấy vàng hoặc ấp.
 
*
 
Kinh 3 – Khen thưởng.
Khen thưởng đã bạc (trái với hậu) mà lại giả dối thì không dùng được kẻ dưới, khen thưởng hậu mà xác thực thì ở dưới coi thường sự chết. Thuật này rút từ:
 
a/ Lời Văn tử so sánh bề tôi với loài nai;
b/ Truyện Việt vương đốt cung thất;
c/ Truyện Ngô Khởi thưởng ai dời được càng xe đi;
d/ Truyện Lí Khôi xử kiện bằng cách cho bắt tên;
đ/ Truyện người Sùng Môn nước Tống huỷ hoại thân thể đến chết;
e/ Truyện Câu Tiễn biết thuật khen nên kính chào con ếch nổi giận;
g/ Truyện Chiêu hầu biết thuật thưởng nên giữ cái khố cũ;
h/ Biết thưởng hậu thì khiến người ta biến thành Mạnh Bôn, Chuyên Chư; người đàn bà nhặt tằm, người đánh cá bắt lươn đủ chứng minh điều đó.

 
Truyện 3.
a/ Vua Tề hỏi (quan đại phu) Văn Tử (Trần Tu Vô):
- Trị nước phải làm sao? Cách nào?
Đáp:
- Việc thưởng phạt là một lợi khí, đại vương phải nắm chặt lấy nó, đừng để cho người khác thấy. Bề tôi chạy theo sự thưởng như bầy nai thấy cỏ tốt là chạy tới.
 
b/ Vua Việt hỏi quan đại phu Văn Chủng:
- Ta muốn đánh lấy nước Ngô được không?
- Được, ta chỉ cần thưởng hậu mà xác thực (không giả dối), phạt nặng mà cương quyết. Đại vương cứ thử đốt cung thất thì biết (sự hiệu nghiệm của sự thưởng phạt).
Vua Việt bàn cho đốt cung thất, không ai tới cứu lửa cả. Rồi ông ra lệnh: “Kẻ nào cứu lửa mà chết thì được thưởng như chết vì địch, cứu lửa mà không chết thì được thưởng như thắng địch, không cứu lửa thì bị tội như hàng địch hoặc bỏ chạy”.
Dân chúng bèn lấy bùn trát vào người, bận áo ướt để nhảy vào lửa, bên trái 3000 người, bên phải 3000 người. Do đó vua Việt biết thế tất thắng của mình.
 
c/ Ngô Khởi làm quan thú đất Tây Hà (giữ biên cương) cho Nguỵ Vũ hầu. Tần có một cái “đình” (7) nhỏ ở biên giới Ngô Khởi muốn triệt hạ nó vì nó có hại cho việc làm ruộng, nhưng lại không muốn trưng binh (vì nó quá nhỏ). Ông bèn chống một cái càng xe ở phía ngoài cửa Bắc và ra lệnh: “Ai dời được cái càng xe đó ra phía ngoài cửa Nam thì được thưởng ruộng, và nhà thượng hạng”. Mới đầu, chẳng ai dời cả (vì không tin). Sau có một người dời đi và được ban thưởng như lịnh đã hứa. Một lát sau, ông lại đặt một thạch (mười đấu) đậu đỏ ở phía ngoài cửa Tây thì cũng thưởng như lần trước”. Người ta tranh nhau dời đi. Rồi ông hạ lệnh: “Ngày mai sẽ đánh chiếm cái “đình”, người đầu tiên lên chiếm được sẽ được phong chức đại phu, ban cho ruộng và nhà thượng hạng”. Người ta tranh nhau tới tấn công, chỉ một buổi sáng là chiếm được.
 
d/ Lý Khôi làm quan thú đất Thượng Địa cho Nguỵ Văn hầu. Ông muốn cho người nơi đó bắn giỏi, nên hạ lệnh: “Trong việc tranh tụng mà còn hồ nghi thì cho hai tên bắn vào đích, ai bắn trúng sẽ thắng kiện, bắn trật thì thua”. Lệnh ban xuống, dân chúng vội vàng tập bắn, ngày đêm không nghỉ. Tới khi chiến đấu với quân Tần, ông đại thắng nhờ dân của ông đều bắn giỏi.
 
đ/ Trong ngô Sùng Môn nước Tống có một người vì để tang mà tự huỷ thân đến nỗi ốm nhom. Vua Tống cho anh ta có lòng thương yêu cha mẹ phong anh làm chức quan sự (một chức trung sĩ hay hạ sĩ đời xưa). Từ đó cứ mỗi năm có trên mười người tự huỷ thân đến chết vì việc để tang. Con để tang cha mẹ vì tình yêu thương, vậy mà còn có thể ban thưởng để khuyến khích được, huống hồ là vua đối với dân.
 
e/ Vua Việt tính việc đánh Ngô, muốn cho ai cũng coi thường cái chết. Một hôm đi đường, gặp một con ếch nổi giận, ông vịn cây ngang trước xe, đứng dậy kính chào nó. Kẻ theo hầu hỏi: “Sao nhà vua kính nó tới vậy?”. Đáp: “Vì nó có dũng khí”.
Từ đó cứ mỗi năm có trên mười người xin được dâng đầu cho nhà vua. Do đó mà xét thì lời khen cũng đủ khuyến khích người ta hi sinh. Một thuyết khác nói: (…) (8)
 
g/ Hàn Chiêu hầu sai người giữ kĩ chiếc khố cũ. Người hầu bảo:
- Đại vương bất nhân quá (9) Chiếc khố cũ không cho kẻ tả hữu mà còn đem cất.
Chiêu hầu đáp:
- Nhà ngươi không biết được đâu. Ta nghe nói bậc minh chủ tiếc cả một nét cau mày, một nụ cười (chứ không dùng bậy), cau mày phải có lí do, cười cũng phải có lí do. Chiếc khố này cũng vậy, há chi có nét cau mày và nụ cười khác nhau xa đấy, nhưng ta cũng đợi ai có công lao rồi mới ban, cho nên giữ kĩ, chưa cho vội.
 
h/ Con lươn giống con rắn, con tằm giống con sâu. Người ta thấy con rắn thì kinh hoảng, thấy con sâu thì dựng tóc gáy. Vậy mà đàn bà vẫn lượm tằm, người đánh ca vẫn bắt lươn. Hễ có lợi thì người ta quên cái ghét mà      ra dũng cảm như Mạnh Bôn, Chuyên Chư cả (hai dũng sĩ thời trước, Mạnh ở Tần, Chuyên ở Ngô).
 
*
 
Kinh 4: Nghe hết thảy từng người một.
Nghe hết thảy ý kiến từng người một thì phân biệt được bề tôi ai trí, ai ngu; bắt bề tôi trình bày ý kiến thì bề tôi sẽ cùng nhau tham nghị (10)
Thuyệt này rút từ các truyện:
a/ Vua Nguỵ đòi sát nhập nước Trịnh.
b/ Tề Tuyên vương sai người thổi ống vu (11)
c/ Thân tử dùng Triệu Thiệu, Hàn Đạo để xét ý vua.
d/ Công tử Ti chủ trương cắt đất Hà Đông.
đ/ Và Ứng hầu muốn giảm binh lực Thượng Đảng.

 
Truyện 4:
a/ Vua nước Nguỵ nói với vua nước Trịnh (12)
- Trịnh và Lương (13) vốn là một nước, sau mới tách ra nay xin Trịnh lại hợp vào Lương.
Vua Trịnh lo, triệu quần thần lại bàn mưu đối phó với Nguỵ. Công tử nước Trịnh thưa với vua Trịnh:
-Việc này rất dễ đối phó. Xin nhà vua cứ đáp vua Nguỵ như vầy: “Lấy lẽ rằng nước Trịnh vốn là một phần của Nguỵ mà bảo lên sát nhập Trịnh vào Nguỵ, thì tệ ấp (14) cũng xin cho Lương sát nhập vào Trịnh”.
Vua Nguỵ bèn bỏ việc đó.
 
b/ Tề Tuyên Vương mỗi khi sai thổi ống vu thì bắt ba trăm người cùng thổi một lượt. Nhiều xử sĩ ở Nam Quách (thành ngoài phía nam kinh đô) xin thổi. Tuyên Vương mừng, và cấp lương thực cho mấy trăm người như vậy. Tuyên Vương mất, Mân Vương lên nối ngôi, thích nghe từng người thổi một, các xử sĩ bỏ trốn hết.
Một thuyết khác nói:
Hàn Chiêu hầu bảo: “Nhiều người cùng thổi ống vu, ta không ai thổi hay”. Điền Nghiệm thưa: “Nên nghe từng người thổi một”.
 
c/ Nước Triệu sai người nhờ Thân tử (Thân Bất Hại) xúi Hàn giúp binh để đánh nước Nguỵ. Thân Tử muốn nói với vua Hàn (Chiêu Hầu) về việc đó, nhưng lại sợ Chiêu Hầu nghi mình nhận hối lộ của nước ngoài (Triệu); mà không nói thì sợ Triệu ghét. Ông ta bèn sai Triệu Thiệu và Hàn Đạp dò xét thái độ của Chiêu hầu ra sao rồi mới nói. Nhờ vậy bên trong ông biết được ý Chiêu Hầu, bên ngoài lập được công với Triệu.
 
d/ Binh ba nước (Hàn, Triệu, Nguỵ) đến ải Hàm Cốc (một ải hiểm yếu của Tần, nay ở Hà Nam). Vua Tần bảo Lâu Hoàn:
- Binh ba nước vô sâu rồi (15) quả nhân muốn cắt đất phía đông sông lớn (16) để giảng hoà, ông nghĩ sao?
Đáp:
- Cắt phía đông sông lớn, thì tổn thất nặng mà tránh được tai nạn cho nước là có công lớn. Đó là nhiệm vụ của bậc cha anh nhà vua, sao nhà vua không vời Công tử Ti (17) để hỏi ý kiến”. Vua Tần triệu Công tử Ti lại hỏi. Công tử Ti đáp:
- Giảng hoà thì sẽ hối hận, không giảng hoà cũng sẽ hối hận. Nay nhà vua cắt đất ở phía đông sông lớn để giảng hoà, quân ba nước rút về rồi, nàh vua tất bảo: “Quân ba nước vốn muốn rút về rồi mà ta còn cắt ba thành để tiễn họ, (uổng quá). Còn như không giảng hoà, quân ba nước tất vào ải Hàm Cốc, cả nước sẽ nguy to, nhà vua sẽ ân hận lớn, bảo: “Chỉ tại không dâng ba thành cho họ”. Vì vậy mà thần mới nói: “Nhà vua giảng hoà thì sẽ hối hận, không giảng hoà cũng sẽ hối hận”.
Vua Tần bảo: “Bề nào cũng hối hận, thà mất ba thành mà hối hận, còn hơn là để nước bị nguy lớn mà hết hận. Quả nhân quyết định giảng hoà”.
 
đ/ Ứng hầu nói với vua Tần:
- Nhà vua được các đất Uyển, Diệp, Lam Điền và Dương Hạ, chiếm đất Hà Nội, áp bức Trịnh và Lương, mà chưa làm chủ cả thiên hạ là vì nước Triệu chưa phục. Nay nhà vua rút binh chiếm Thượng Đảng (ở Hàn) đi mà đem qua Đông Dương (ở Triệu) thì Hàm Đan (kinh đô của Triệu) sẽ nguy như con rận nằm trong miệng vậy (sẽ chiếm lúc nào cũng được), lúc đó (Triệu sẽ thần phục), nhà vua có thể khoanh tay mà thiên hạ sẽ về chầu nhà vua, kẻ nào tới sau, nhà vua sẽ đem quân đánh. Nhưng Thượng Đảng đang yên vui mà xé đó lại mạnh, khó trị, e rằng thần xin rút quân ở đó đi mà nhà vua không chịu nghe, biết làm cách nào bây giờ (18)
Vua Tần đáp: Ta sẽ rút quân ở đó mà dời đi.
 
*
 
Kinh 5: Làm bộ như ra lệnh và ra lệnh giả.
Cho mộ người yết kiến nhiều lần, bắt chờ đợi lâu mà không bổ nhiệm thì những người khác cho rằng người đó đã được bí mật giao cho nhiệm vụ rồi, nên không dám làm điều gian mà sẽ phân tán như bầy nai. Sai một người dò xét một việc để mình biết một việc khác thì kẻ dưới không dám bán cái lợi riêng (mưu tư lợi).
Do thuật đó mà
a/ Bàng Kinh gọi vị công đại phu trở lại.
b/ Đái Hoan sai người dò xem có xe bít kín không.
c/ Chúa nước Chu sai tìm cái trâm ngọc.
d/ Quan thái tế nướ Thương nói về phân bò.

 
Truyện 5:
a/ Bàng Kính làm huyện lệnh sai các viên lại đi tuần chợ, rồi gọi giật vien công đại phu (viên chỉ huy bọn đó) trở lại; bắt đừng gần mình một lúc, không ra lệnh gì cả, sau cùng lại sai đi. Các viên lại kia cho rằng quan huyện đã nói riêng gì với viên công đại phu, vì vậy mà họ không tin viên công đại phu và không dám làm gian.
 
b/ Đái Hoan làm thái tế (như tướng quốc) nước Tống, ban đêm gọi bộ hạ vô bảo: “Ta nghe mấy đêm nay có người ngồi xe bít kín đến cửa nhà Lí Sử, các ngươi vì ta dò xét kĩ xem”. Bọn họ dò xét rồi trở về báo: “Không thấy xe bít kín nào cả, chỉ thấy có người bưng cái giỏ (đựng quần áo hay thức ăn) tới nói chuyện với Lí Sử, một lát sau Lí Sử nhận giỏ (19)”.
 
c/ Chúa nước Chu mất cái trâm ngọc, sai nha lại tìm, ba ngày không thấy. Rồi ông sai một người khác đi tìm trong nhà một gia nhân (20) và tìm được. Ông bảo: “Ta biết bọn nha lại không lo làm hết phận sự, tìm cái trâm ba ngày mà không được. Ta sai người khác đi tìm, không đầy một ngày mà tìm được”. Do đó bọn nha lại đều run sợ, cho là vua thần minh.
 
d/ Quan thái tế nước Thương sai một viên thiếu thứ tử (một chức quan nhỏ) ra chợ, khi người đó về, ông hỏi:
- Thấy gì ở chợ?
Đáp:
- Không thấy gì lạ cả?
- Thì cũng phải thấy cái gì chứ.
- Thưa bên ngoài cửa Nam chợ, có rất nhiều xe bò, khó len lỏi qua được.
Quan thái tế bèn dặn người đó:
- Không được nói với ai rằng ta nói với ngươi như vậy, nghen
Rồi ông cho gọi viên lại coi chợ vô rầy:
- Sao ngoài cửa chợ có nhiều phân bò thế?
Viên lại coi chợ ngạc nhiên sao quan thái tế biết mau như vậy, từ đó đau đáu lo sợ rắn rết hế sức làm việc. (21)
 
*
 
Kinh 6. Giấu điều mình biết rồi.
Giấu điều mình biết rồi mà hỏi thì biết thêm được những điều mình không biết. Biết rõ một sự thật thì bao nhiêu điều bí ẩn sẽ biến mất.
Thuật này rút từ các truyện:
a/ Chiêu hầu nắm một móng tay;
b/ Biết rõ về cửa Nam mà biết thêm được ba hướng khác;
c/ Chúa nước Chu tìm cây gậy cong mà quần thần đều sợ;
d/ Bốc Bi dùng viên thứ tử (chức quan nhỏ);
đ/ Tây Môn Đảo giả bộ đánh mất cái chốt ở trục xe.

 
Truyện 6:
a/ Hàn Chiêu hầu (cắt móng tay) rồi nắm tay lại, nói dối rằng mình mất một móng, bảo phải tìm gấp. Kẻ tả hữu bèn cắt móng tay của họ dâng lên. Nhờ vậy mà ông biết được sự thiếu thành thực của họ.
 
b/ Hàn Chiêu hầu sai kị sĩ đi thị sát các huyện. Khi sứ giả về báo cáo, ông hỏi: “Thấy những gì?” Đáp: “Không có gì lạ”. Ông lại hỏi: “Thì cũng phải thấy gì chứ?” Đáp: “Ngoài cửa Nam, có bầy bò con vàng gặm mạ ở bên tả đường đi”. Ông dặn người đó: “Không được tiết lậu với ai điều ta mới hỏi ngươi”. Rồi ông hạ lệnh: “Mùa mạ đang mọc, cấm bò ngựa vô ruộng. Lệnh đã ban rồi mà bọn lại không làm hết phận sự, để rất nhiều bò ngựa vào ruộng người ta; vậy phải gấp điều tra số bò ngựa vào ruộng rồi trình lên, không điều tra được thì sẽ bị tội nặng”. Do đó ba hướng (đông, tây, bắc) điều tra rồi trình lên. Ông bảo: “Chưa hết”. Họ đi điều tra lại, thấy bày bò con vàng ở ngoài cửa Nam. Bọn lại cho rằng ông biết rõ mọi việc, đều sợ hết sức làm việc, không dám làm bậy. (22)
 
c/ Chúa nước Chu ra lệnh, tìm một cây gậy cong (mà ông nói dối rằng đánh mất), bọn nha lại tìm thấy mấy ngày không thấy, ông sai riêng một người đi tìm, không đầy một ngày tìm được. Ông bèn rầy bọn nha lại kia: “Ta vốn biết bọn bay không làm tròn phận sự. Cây gậy cong rất dễ tìm mà bay tìm không ra, tai sai người khác tìm, không đầy một ngày mà được. Như vậy có thể gọi là trung được không?”.
Do đó bọn nha lại đều sợ, hết sức làm việc và cho vua là thần minh (23).
 
d/ Bốc Bi làm huyện lệnh, viên lại coi về tụng ngục (24) của ông tham những bẩn thỉu, và có một người thiếp yêu. Ông có một viên thứ tử (một chức quan nhỏ) giả vờ yêu người thiếp đó để dò xét ẩn tình của viên lại.
đ/ Tây Môn Báo (25) làm quan lệnh đất Nghiệp, giả vờ đánh mất cái chốt ở trục xe, sai một nha lại tìm, không được, sai một người khác tìm thì được trong nhà một gia nhân (26)
 
*
 
Kinh 7: Nói ngược lại.
Nói ngựoc lại, làm trái lại điều mình muốn nói, việc mình muốn làm để dò xét người mình nghi ngờ thì biết được gian tình.
Do thuật đó mà:
a/ Sơn Dương quân cố ý nhục mạ Cưu Thụ;
b/ Náo Xi sai người giả trang làm sứ thần nước Tần;
c/ Tử Chi nói dối rằng thấy con ngựa trắng.
d/ Tử Sản tách những người kiện nhau ra;
e/ Tự công sai người làm khách qua cửa ải;

 
Truyện 7.
a/ Sơn Dương quân (27)  làm tướng quốc nước Vệ, nghe nói bị vua nghi bèn nhục mạ Cưu Thụ để Cưu Thụ tức mà nói toạc ra cho ông biết vè việc vua nghi mình.
 
b/ Náo Xi (28) nghe nói vua Tề ghét mình, sai người giả làm sứ thần nước Tần, chê bai. Náo Xi trước mặt vua Tề, để dò biết lòng vua Tề.
 
c/ Một người nước Tề muốn làm loạn, sợ vua biết được bèn giả vờ đuổi các người yêu, khiến cho vua biết việc đó mà không nghi mình.
 
d/ Tử Chi (29) làm tướng quốc nước Yên, đương ngồi với nhiều người, làm bộ nói láo: “Có con ngựa trắng nào chạy ngoài cửa đó?”. Kẻ tả hữu đều bảo không thấy. Một người đuổi theo, về báo rằng: “Có con ngựa trắng”. Tử Chi do đó mà biết trong số kẻ tả hữu, ai là người không thành thực.
 
đ/ Có hai người kiện nhau. Tử Sản (30) tách họ ra, không cho họ đối chất nhau (như vậy người này không biết người kia nói về mình ra sao), rồi ông nói ngược lời của người này để tố cáo người kia, mà biết được sự thực.
 
e/ Vệ Tự quản sai người làm khách qua cửa ải. Viên quan coi ải làm khó (giữ lại không cho qua), người đó dùng vàng hối lộ, được thả cho qua. Tự công bảo viên quan coi ải: “Giờ đó có người khách qua cửa ải của người, cho ngươi vàng nên ngươi cho qua”. Viên đó kinh hoảng, cho rằng Tự công sáng suốt.
 

(1) Tiết công là chúa đất Tiết, thuộc Tề. Đất đó vua Tề cho Điền Anh (Tịnh Quách quân) hoặc Điền Văn (Mạnh Thường quân) làm thực ấp.
(2) Nguyên văn: đại thần vô trọng. Trần Khải Thiên cho rằng chữ vô đó, cũng giống chữ vô trong vô địch, và giảng như chúng tôi đã dịch. Có sách giảng: vo trọng là đắc vô trọng hề (làm sao mà không lớn cho được?). Phép hành văn đó cổ nhân thường dùng.
(3) Nguyên văn: dĩ vi tế; có sách bảo chữ tế đó phải sửa lại là tệ (lụa, tiền bạc)
(4) Chúng tôi nghĩ Quản Trọng không tàn nhẫn tới mức đó. Truyện này có lẽ cũng do Pháp gia đặt ra.
(5) Nguyên văn: trị vo tiểu nhi vô dại. Có sách giảng là: không trị cái tội nhỏ thì loạn lớn sẽ phát, hoặc: phép trị nước không coi thường việc nhỏ thì sẽ không có loạn lớn.
(6) Đình là môtọ cái nhà trống cất trên một nền cao. Có sách giảng đình đây là phong hoả đài,  một đền canh trên chỗ cao, lính đốt lửa lên khi có giặc cướp để báo cáo cho các đồn ở xa.
(7) Không khác gì thuyết trên mà rườm hơn, nên chúng tôi bỏ.
(8) Ý nói: keo cú
(9) Thuật này tức là thuật 2 trong thiên XL VIII Bát Kinh
(10)  Một loại sáo tựa như cái sênh (quả bầu khoét lỗ)
(11) Lúc này Trịnh đã bị Hàn diệt, sáp nhập vào Hàn, vậy vua Trịnh đây chính là vua Hàn.
(12) Nguỵ lập đô ở Đại Lương, cho nên cũng gọi Nguỵ là Lương.
(13) Lời nói nhũn: cái ấp nhỏ của tôi.
(14) Nguyên văn là thâm. Có sách giảng là nguy lớn, có lẽ nghĩ rằng Hàm Cốc ở biên giới Tần, nên chưa gọi là vô sâu được.
(15) Sông lớn đây là sông Hoàng Hà. Có sách bảo: Hà Đông là tên đất, mới đầu thuộc Nguỵ, sau thuộc Tần (nay ở Sơn Tây) và ba thành đây là baaong haggaio hg huyện của đất Hà Đông.
(16) Truyện này có trong Chiến Quốc sách. Tần sách IV3 (Lá Bối), và chép là công tử Trì; cũng có chỗ gọi là công tử thứ Ba chữ (tỉ) (trì) (tha) hơi giống nhau.
(17) Truyện này, nguyên văn khó hiểu, mỗi nhà hiệu đính, giải thích một khác. Chúng tôi theo Trần Khải Thiên.
(18)  Ám chỉ rằng Lí Sử ăn hối lộ.
(19) Chắc chúa nước Chu giấu cây trâm ở nhà gia nhân đó rồi làm bộ đánh mất. Có vậy thì mới là dùng thuật.
(20)  Truyện đầu a/ là làm bộ như ra lệnh mà không ra lệnh; còn ba truyện sau b/ c/ d/ là ra một lệnh giả. Vì vậy nhan đề kinh 5 này chỉ có hai chữ “nguỵ sử” mà chúng tôi phải dịch là “làm bộ như ra lệnh và ra lệnh giả” cho đủ nghĩa.
(21) Truyện 6b/ này giống truyện 5d/ ở trên, và truyện 6c/ này giống truyện 5c/ vậy mà 5d và 5c sắp vào kinh 5, còn 6b và 6c, 6d/ sắp kinh 6. Sự sắp đặt, phân loại không hợp lý.
(22) Nguyên văn là ngự sử, có sách cho là ngự lại: người lai đánh xe.
(23) Tây Môn báo là một viên quan nước Nguỵ, nổi tiếng cai trị.
(24) Nghĩa là chúa đất Sơn Dương, một ấp nước Nguỵ.
(25) Người nước Sở gởi qua giúp Tề Mân vương.
(26) Tức Công tôn Tháo, làm ra bộ hiền nhân quân tử, được vua Yên là Khoái nhường ngôi cho, người Yên không phục, nổi loạn. Coi Chiến Quốc sách – Yên sách 9 (Lá Bối) - Thuật trong truyện này cũng như thuật trong truyện 6a/
(27) Tức Công tôn Kiều, tướng quốc nước Trịnh – coi phần I
 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-06-12 16:06:44Ct.Ly>
Đánh máy: hai au trang

Hàn phi Tử phần 38-

trang 600

 
Xưa, Văn Vương xâm lấn nước Vu, đánh nước Cử, chiếm nước Phong, ba lần dùng binh như vậy nên bị vua Trụ ghét. Văn Vương sợ, dâng đất Lạc Tây, một miền đất nhỏ (phì nhiêu){1} rộng một ngàn dặm vuông để xin bỏ hình bào lạc{2}thiên hạ đều mừng. Trọng Ni nghe chuyện đó bảo:Văn Vương thật là nhân từ coi nhẹ một nước ngàn dặm mà xin bỏ hình bào lạc! Văn Vương thật là minh trí, bỏ đất ngàn dặm để được lòng thiên hạ!”
*



{1} Nguyên văn là xích nhưỡng, có sách cho là tên đất, tên nước.
{2} Coi chú thích ở Thiên XL Nạn thế.
 
 
Có người bảo:
         Trọng Ni khen Văn Vương là minh trí, chẳng là lầm ư? Bậc minh trí biết chỗ tai họa mà tránh, cho nên thân bị hại. Nếu Văn Vương bị vua Trụ ghét vì ông không được lòng dân, mà ông tìm cách được lòng dân để vua Trụ không ghét nữa, như vậy là phải. Nay vua Trụ đã ghét ông vì ông rất được lòng dân, mà ông lại coi rẻ đất đai để thu phục lòng dân thì cảng thêm bị vua Trụ nghi, nên mới bị xiềng xích trong ngục Dữu Lí đấy. Các ông già nước Trịnh có câu: “Hiểu đạo lý thì nên đừng làm gì, đừng cho thấy.” Lời đó thật thích hợp với Văn Vương để cho người khác khỏi nghi ông, Trọng Ni khen Văn Vương minh trí là chưa hiểu lời nói đó!{1}”
4-Ngũ Bá (Tề Hoàn công, Tống Tương công, Tấn Văn công, Tần Mục công, Sở Trang công) sở dĩ thành công là nhờ sức của các vua lẫn bề tôi, chứ không phải của riêng bề tôi, hoặc của riêng vua.
Hàn Phi đưa ra chứng cứ: “Xưa Cung Chi Kì ở nước Ngu, Hi Phụ Kì ở nước Tào, đều là những bề tôi minh trí, đoán trúng việc, làm nên công, mà hai nước đó đều bị diệt vong là vì có bề tôi tốt mà không có vua hiền. Lại như Kiến Thúc giúp nước Ngu mà Ngu bị diệt vong, giúp nước Tần thì Tần thành bá chủ, như vậy đâu phải là ở nước Ngu thì tối tăm, ở Tần thì sáng suốt, chỉ do gặp được vua giỏi hay không”, (….)
5-Trị nước không phải là việc dễ, nhàn, vì dù lựa được bề tôi giỏi rồi, cũng phải có thuật sai khiến họ, xét họ, đối phó với họ.
6-Cần xét kĩ lí do rồi mới kết luận được.
Lí Khắc{2} trị nước Trung Sơn, Quan lệnh ấp Khổ Hình trình bản kế toán, số thu quá nhiều, Lí Khắc bảo: “Lời nói khéo léo, nghe thì thích, nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là điệu ngôn (lời không thực hư ngôn).”
 
{1} Tư tưởng trong đoạn này giống Đạo gia, nên có học giả còn ngờ.
{2} Lí Khắc, hoặc Lí Đoái, Lí Khôi - coi phần I.
 
Không có mối lợi về núi, rừng, chằm hang mà số thu được nhiều, như vậy gọi là “điệu hóa” (hóa vậy không có thực hư vật). Người quân tử không nghe “điệu ngôn”, không nhận “điệu hóa”; ông nên từ chức đi.
*
Có người bảo:
Lí tử lập thuyết: “Lời nói khéo léo, nghe thì thích nhưng không hợp tình lí, như vậy gọi là “điệu ngôn”. Khéo nói là làm cho người nghe thích, cái đó tùy người nghe. Người nói đã không phải là người nghe thì sự khéo nói cũng không phải là sự thích{1}. Cái mà Lí tử bảo không hợp tình lí không tùy thuộc người nghe mà tùy thuộc lời người đó nghe được. Người nghe nếu không phải là tiểu nhân (vô học) thì là quân tử. Tiểu nhân không hiểu tình lí, vậy không thể xét lời nói xem có hợp tình lí hay không; quân tử biết xét lời nói xem có hợp tình lí hay không thì tất không thể thích được (vì lời nói khéo không hợp tình lí). Vậy bảo “Lời nói khéo nghe thì thích nhưng không hợp tình lí” là nói sai”.
 
{1} Nguyên văn: Ngôn phi thích giả dã, tắc biện phi duyệt giả dã. Câu này có sách không chép, đại ý là: Không phải có người thích mà là khéo nói.
 
 
- Thu được nhiều mà cho là “điệu hóa”, lời đó chưa phải là luôn luôn đúng{1}. Lí tử không sớm cấm điều gian, để cho viên lệnh làm kế toán như vậy, là có lỗi rồi. Ông không có thuật nào để biết là gian, mà cứ thấy ghi thu được nhiều là nói láo, thì mới làm sao đây khi số thu bất thường{2}? Thu được nhiều (có thể) là nhờ được mùa. Làm lụng mà chú trọng đến sự hòa hợp của âm dương, trồng trọt mà hợp với bốn mùa, không mất mát vì muộn quá, sớm quá, không bị các họa lạnh quá hay nóng quá thì thu hoạch được nhiều. Tìm hiểu kỹ thuật nuôi súc vật, nghiên cứu đất xem phù hợp với loại cây nào thì lục súc sinh sản nhiều, ngũ cốc tươi tốt mà thu được nhiều. Hiểu rõ việc cân, lường, kế toán, xét rõ địa hình, biết dùng cái tiện lợi của xe thuyền, máy móc, thì dùng sức ít, kết quả lớn mà thu được nhiều. Làm cho sự đi lại các chợ, búa, cửa ải và cầu được tiện lợi để đem hàng hóa từ chỗ dư tới chỗ thiếu, khách mua bán qui lại, ngoại hóa tụ lại, rồi tiết kiệm trong việc tiêu xài, ăn uống, xây cất cung thất, chế tạo khí giới, có đủ vật thường dùng mà không phung phí vào những vui chơi xa xỉ, thì thu được nhiều. Những sự thu được nhiều đó đều do sức người; nếu lại thêm mưa thuận gió hòa, nóng lạnh thích hợp thì dù đất không tăng, gặp năm được mùa, số thu cũng nhiều. Sức người và thời tiết, hai cái đó đều làm cho thu vào nhiều, không phải là mối lợi của rừng núi, chằm hang. Vậy gọi là “điệu hóa” chỉ vì không có mối lợi rừng núi, chằm hang mà thu được nhiều, là lời nói của kẻ không biết thuật trị nước.
      
{1} Nguyên văn: vị khả viễn hạnh giả Trần Khải Thiên cho viễn = cửu (lâu). Chúng tôi đoán ý mà dịch như trên.
{2} Nguyên văn là 倍(bội) (chữ tiếng Trung này trong sách viết sai thành chữ (vị 位: vị trí) bản Trần Khải Thiên bảo chữ bội 倍(nghĩa là gấp đôi) đó xưa dùng như chữ (bội = trái đạo ngược lí) 悖
*
7-Vua không cần xông pha tên đạn mà cần biết cách thưởng phạt.
 
Tóm tắt: Triệu Giản tứ vây một thành của Vệ, đứng phía sau đánh trống thúc quân mà quân không tiến. Nghe lời khuyên của Chúc Quá ông xông tới trước, đứng chỗ tên đạn mà thúc quân, lúc đó quân mới theo ông xông lên, mà đại thắng. Hàn Phi chê là không cần như vậy, cứ thưởng công cho xứng, phạt tội cho nghiêm thì quân sĩ sẽ tử chiến vì mình.
 
 
THIÊN XXXVIII
NẠN TAM (TRÍCH)
(BIỆN NẠN-III)
 
1-Phải trọng dụng kẻ cáo gian (tố cáo kẻ gian)
Lỗ Mục công hỏi Tử Tư (cháu nội của Khổng Tử):
-             Ta nghe nói con của họ Bàng Giản{1} bất hiếu. Hạnh kiểm nó ra sao?
Tử Tư đáp:
-  Người quân tử tôn hiền, trọng đức, nêu điều tốt ra để khuyên người, còn những hạnh kiểm lầm lẫn là để cho tiểu nhân nhớ, thần không biết tới.
Tử Tư lui ra, Tử Phục Lệ Bá (một đại phu nước Lỗ) vô, Mục công hỏi về con họ Bàng Giản. Tử Phục Lệ Bá đáp:
-  Nó có ba cái lỗi mà nhà vua chưa được nghe. Từ đó, Mục Công quý Tử Tư mà coi thường Lệ Bá.
*
Có người bảo:
 
{1}Bộ mễ bên chữ gian ….Tự điển không có – Các nhà chú thích cho là chữ 簡 (giản).  
 
Công Thất{1} nước Lỗ ba đời bị họ Quí lấn áp, cũng là đáng! Bậc minh quân tìm người tốt để thưởng, kẻ gian để phạt, hai việc đó đều chung một nghĩa. Cho nên kẻ báo cáo người tốt là để cùng với vua mà mừng, kẻ báo cáo đứa gian là để cùng với vua mà ghét, và cả hai người báo cáo đó đều đáng khen thưởng. Không báo cáo với vua là không đồng lòng với vua mà kẻ dưới sẽ đứng về phe gian, thái độ đó đáng chê phạt. Tử Tư không báo cáo lỗi (của con họ Bàng Giản) mà Mục Công quí, Lệ Bá báo cáo mà Mục Công coi rẻ. Nhân tình ai cũng thích được quí mà ghét bị coi rẻ, vì vậy họ Quí làm loạn mà không biết, và vua Lỗ mới bị lấn áp. Đó là cái thói của các ông vua mất nước, dân nước Trâu và nước Lỗ{2} cho thói đó là đẹp, và riêng Mục Công lại quí, chẳng là trái lẽ ư?
*
2-Không nên nghe lời tô điểm (giả dối, tự biện hộ) của bề tôi.
(Hàn Phi ghét hạng bề tôi khi vua mình bị địch giết, vội đầu hàng địch và hứa sẽ thờ vua địch như thờ vua cũ của mình).
      
 
{1}                Họ vua một nước chư hầu.
{2}                Trâu và Lỗ là nơi phát nguyên của đạo Nho, nên dân hai nước đó được sự giáo hóa của Nho gia, có thói quen khen đức hạnh và giấu tội lỗi của người khác.
 
3-Không để cho kẻ dưới lấn người trên, địa vị trên dưới phải phân minh:
Có người đố Tề Hoàn công: “Cái khó thứ nhất, cái khó thứ nhì, cái khó thứ ba là cái gì?” Hoàn Công không giải đáp được, hỏi Quản Trọng, Quản Trọng đáp: “Cái khó{1} thứ nhất là gần bọn kép hát mà xa kẻ sĩ, cái khó thứ nhì là rời quốc đô để thường ra biển chơi, cái khó thứ ba là vua đã già mà chậm lập thái tử”. Hoàn Công khen phải rồi không đợi lựa ngày mà làm lễ lập thái tử ở thái miếu.
*


 
{1} Khó giữ cho nước khỏi loạn, ngôi vua khỏi mất.
 
 
Có người bảo:
Quản Trọng giải câu đố đó không đúng. Việc dùng kẻ sĩ không ở chỗ xa hay gần (xa họ vẫn có thể dùng được); còn bọn kép hát và hề lùn giải muộn cho vua lúc nhàn, cho nên vua gần bọn họ mà xa kẻ sĩ nước vẫn trị được, không phải là điều khó. Có được (quyền) thế mà không biết dùng, chỉ cố giữ lấy quốc đô, không rời nó, tức là lấy sức một người (tức vua) mà cấm cả một nước (chiếm quốc đô); lấy sức một người mà cấm cả một nước, ít ai thành công được. Sáng suốt thì có thể soi thấu được việc gian ở xa, thấy được chỗ kín đáo nhỏ nhặt, hễ ra lệnh tất được thi hành, thì dù có đi chơi xa ở biển, trong nước cũng không có biến loạn, vậy có bỏ quốc đô, ra chơi ở biển mà không bị cướp ngôi, bị giết, không phải là điều khó (….)Không chia hai địa vị và quyền thế, để cho con thứ ở địa vị thấp (không lấn được thái tử), không cho ái thiếp mượn quyền thế của mình, thìdù già mà chậm lập thái tử cũng không sao; vậy thì lập thái tử trễ mà con thứ không làm loạn, cũng không phải là điều khó. Những cái này mới khó: để cho người ta lập được thế mạnh rồi mà giữ, cho người ta không lấn hại mình, đó có thể gọi là cái khó thứ nhất; quí ái thiếp mà giữ sao cho khỏi có hai hoàng hậu (ái thiếp quyền ngang với hoàng hậu), đó là cái khó thứ nhì; yêu con thứ mà giữ sao cho con đích (con dòng lớn, tức thái tử) khỏi bị nguy; chuyên nghe một bề tôi mà giữ sao cho họ không đối địch với mình, đó có thể gọi là cái khó thứ ba.
*
         4-      Làm cho dân vui, chọn người hiền và tiết kiệm, ba việc đó không cần bằng biết rõ bề tôi.
         Nhiếp{1} công (một đại phu nước Sở) tự là Tử Cao hỏi Trọng ni về chính trị, Trọng Ni đáp: “Việc chính trị cốt làm cho kẻ ở gần vui mà kẻ ở xa tìm đến.”
         Lỗ Ai Công hỏi về chính trị, Trọng Ni đáp: “Chính trị cốt ở chỗ lựa người hiền”.
         Tề Cảnh công hỏi về chính trị, Trọng Ni đáp: “Việc chính trị cốt ở việc tiết kiệm tài sản”.
 
           
{1} Chữ diệp là lá, đây đọc là Nhiếp, tên đất và tên họ.
 
Ba ông đó ra, Tư Công (một đệ tử của Trọng Ni) hỏi: “Ba ông đó cùng hỏi một câu về chính trị mà thầy đáp mỗi ông một khác là tại sao?” Trọng Ni đáp: “Nước Nhiếp kinh đô lớn mà đất đai nhỏ, dân có lòng phản bội, cho nên việc cai trị cốt làm cho kẻ ở gần vui mà kẻ ở xa tìm đến. Lỗ Ai Công có ba vị đại thần họ ngoài thì ngăn cản kẻ sĩ các nước chư hầu bốn bên, trong thì kết bè đảng để gạt vua; khiến cho tôn miếu không được quét dọn, nên xã tắc (nơi thờ Thần Đất và Thần Nông) không được cúng tế, tất là tại ba đại thần đó cả, vì vậy mà thầy bảo việc chính trị cốt ở chỗ lựa người hiền. Tề Cảnh Công xây cửa Ung (cửa thành) và đài Lộ Tẩm, (nhân vui mà) trong một buổi sáng cho ba đại phu một thái ấp ba trăm cỗ xe{1} bởi vậy thầy bảo việc chính trị cốt ở chỗ tiết kiệm tài sản”.
*
 
{1} Thời đồ thái ấp của đại phu là 100 cỗ xe, mỗi cỗ bằng sáu dặm vuông. Coi chú thích thiên XXXIII ngoại trừ thuyết tả hạ.
 
Có người bảo:
         Câu trả lời của Trọng Ni là lời nói làm cho mất nước. Dân nước Nhiếp đã có lòng phản bội mà còn khuyên Nhiếp Công làm cho người ở gần vui, người ở xa tìm đến, như vậy là dạy cho dân chờ mong ân huệ. Dùng chính sách gia ân đó thì kẻ không có công được thưởng, kẻ có tội được tha, mà pháp độ sẽ bại hoại. Pháp độ bại hoại thì chính trị loạn, dùng chính trị loạn để trị dân bại hoại, là việc chưa từng thấy thành công. Vả lại dân có lòng phản bội là vì sự sáng suốt của vua có chỗ không thấu đáo. Không chỉ cho Nhiếp Công thêm sáng suốt mà lại khuyên làm cho kẻ ở gần vui, kẻ ở xa tìm đến, đó là không dùng quyền thế của mình để cấm mà cùng với bề tôi tranh dân bằng ân huệ, như vậy làm sao giữ được quyền thế của mình (….)
Ai công có bề tôi, ngoài thì ngăn cản (người nước khác đến), trong thì lập bè đảng mê hoặc vua; vậy mà Trọng Ni lại khuyên ông lựa người hiền không phải theo cách xét công nghiệp của người, chỉ chọn người lòng mình cho là hiền thôi. Nếu Ai Công biết rằng ba đại thần của mình (tức Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quí Tôn) ngoài thì ngăn cản kẻ sĩ các nước chư hầu, trong thì kết bè đảng, thì ba người đó không đứng được một ngày nữa; chính vì Ai công không biết lựa người hiền, chỉ lựa người mà lòng ông cho là hiền, nên họ mới được giao cho việc nước Tử Khoái nước Yên cho Tử chi là hiền mà chê Tôn Khanh{1} cho nên phải chết nhục. Phù Sai cho thái tử Phi là có trí, Tử Tư{2} là ngu cho nên bị nước Việt diệt. Vua Lỗ nhất định không biết ai là hiền, mà lại khuyên ông lựa người hiền, tức là khiến ông bị cái họa của Phù Sai và Tử Khoái nước Yên. Bậc minh quân không tự đề cử bề tôi mà để cho bề tôi tự tiến thân
   
{1} Tức Tuân Khanh sư phụ của Hàn Phi. Hàn chỉ nhắc tới thầy ở mỗi đoạn này, mà không ai biết việc đó ra sao. Tử Khoái là vua nước Yên, xem chú thích thiên VII Nhị Bính.
            {2} Phù Sai là vua nước Ngô không nghe lời Tử Tư, sau bị Câu Tiễn, vua Việt diệt.
 
( bằng cách lập công), không tự cho ai là hiền mà xét ai tùy theo công nghiệp của người đó; bổ nhiệm họ để xét họ, giao cho công việc để thử tài rồi phán đoán tùy theo kết quả, cho nên quần thần ngay thẳng, không mưu lợi riêng, không giấu người hiền, không tiến cử kẻ bất tiến, như vậy vua đâu có khó nhọc về việc chọn người hiền?
         Cảnh Công ban 100 cỗ xe cho bề tôi mà Trọng Ni khuyên ông phải tiết kiệm tài sản, là không có thuật để phân biệt xa xỉ và tiết kiệm; vả lại riêng vua phải kiệm ước thì đủ tránh được sự nghèo. Ví dụ có ông vua lấy lộc ngàn dặm để nuôi miệng mình thì dù Kiệt, Trụ cũng không xa xỉ bằng; hoặc nước Tề rộng ba ngàn dặm mà Hoàn Công lấy lộc một nửa nước để tự cung dưỡng thì là xa xỉ hơn Kiệt, Trụ. Nhưng Hoàn Công đứng đầu ngũ bá chính là nhờ khi nào nên xa xỉ, khi nào nên tiết kiệm (…) Bậc minh quân khiến cho bề tôi không lo việc riêng, cấm họ nhờ gian trá mà sống; bề tôi nào tận lực làm việc thì tất biết, biết thì tất thưởng; bề tôi nào tham ô làm việc riêng tư thì tất biết, biết thì tất phạt. Như vậy bề tôi trung sẽ hết lòng với việc công, dân và kẻ sĩ hết sức với việc nhà, bách quan sẽ thanh liêm, tự kiềm chế mình để phục vụ vua, và trong việc thưởng vua có xa xỉ gấp hai Cảnh công cũng không hại gì cho nước. Vậy lời khuyên tiết kiệm tài sản không phải là điều cần gấp cho Cảnh Công. Trọng Ni chỉ trả lời ba ông Nhiếp công, Ai công, Cảnh công một câu này thôi là họ không lo gì nữa cả: “Phải biết kẻ dưới”. Biết rõ người dưới thì cấm ngay từ khi ý gian mới hiện, cấm như vậy thì sự gian không tích lũy, thì không có lòng làm phản. Biết rõ người dưới thì thấy một cách tường tận, thấy tường tận thì sáng suốt trong việc thưởng phạt, sáng suốt trong việc thưởng phạt thì nước không nghèo. Cho nên tôi bảo rằng chỉ trả lời ba ông ấy một câu: “Phải biết kẻ dưới” là họ không còn lo gì nữa.
*
         5-      Trị dân thì đừng cậy ở trí khôn của mình mà cứ theo pháp luật-Phải lấy vật trị vật, lấy người trị người.
         Tử Sản nước Trịnh sáng sớm ra đi, qua cửa phường Đông Tượng{1} nghe tiếng một người đàn bà khóc, bèn vỗ vào tay người đánh xe, (bảo ngừng lại), lắng tai nghe một lát rồi sai người thuộc hạ bắt người đàn bà đó, lại tra hỏi thì ra mụ ta đã tự tay thắt cổ chồng. Hôm khác, người đánh xe hỏi ông: “Ngài làm sao biết được?” Ông đáp: “Vì thấy tiếng khóc mụ đó run sợ. Thường tình hễ người thân của mình mới đau thì mình lo lắng, khi sắp chết thì mình run sợ, khi chết rồi thì mình đau xót. Mụ đó khóc chồng chết, không đau xót mà run sợ, vì vậy mà biết có tình ý gian”.
*
                                                                     
{1} Có sách giảng là xóm thợ phía đông
 
Có người bảo:
         Tử Sản trị dân cách đó cũng chẳng rắc rối ư? Phải đợi trông thấy, nghe thấy rồi mới biết được là gian thì nước Trịnh bắt được ít kẻ gian lắm. Không dùng bọn lại coi về ngục tụng, không dùng chính sách khảo sát nhiều mặt, không làm sáng tỏ phép đo lường, mà cậy vào sự tận dụng trí thông minh, sự suy tư mệt trí  của mình mới biết được kẻ gian, chẳng là thiếu thật quá ư? Vả lại sự việc thì nhiều mà trí lực thì ít, ít không thắng được nhiều, cho nên phải lấy vật mà trị vật; kẻ dưới thì nhiều mà người trên thì ít, ít không thắng được nhiều, cho nên phải dùng người mà trị người; như vậy không lao lực mà được việc, không dùng nhiều trí lực mà bắt được kẻ gian. Người Tống có câu: “Nếu Nghệ (người bắn giỏi) bảo con chim sẻ nào bay qua cũng bắn được thì là Nghệ nói khoác. Nếu lấy thiên hạ làm cái lưới thì không một con chim sẻ nào sẽ thoát được. ” Muốn biết kẻ gian thì cũng phải có cái lưới lớn mới không để thoát một kẻ nào cả. Không sửa cái lưới{1} mà cứ lấy lòng (trí khôn) mình làm cung tên thì dù Tử Sản cũng là khoác lác. Lão tử bảo: “Lấy trí khôn trị nước, tức là giặc (cái họa) của nước{2}” lời đó áp dụng vào Tử Sản được.                
*
         6-      Trị nước chỉ nên dựa vào cái thế của mình thôi. (Lược bỏ)



{1} Có sách chép là “bất tu kì lí” và giảng là không học cái lẽ đó.
{2} Đạo đức kinh – Chương LXV 2 Dĩ trí trị quốc, quốc chi tắc (dã).
 
7-Thưởng phạt mà chỉ căn cứ vào bề ngoài thì bề tôi gian dối sẽ gạt mình được (Lược bỏ).
8-Pháp (luật) thì phải cho mọi người biết, thuật thì phải giấu mọi người.
Quản Tử (Quản Trọng) nói: “Lời nói ở nhà riêng thì phải đầy nhà riêng (nghĩa là ai cũng nghe thấy, không giấu ai cả), lời nói ở công đường thì phải đầy công đường, như vậy gọi là làm vua thiên hạ”
*
Có người bảo:
Quản Trọng bảo “Lời nói ở nhà riêng phải đầy nhà riêng, lời nói ở công đường thì phải đầy công đường” không phải chỉ riêng trỏ những việc du hí, ăn uống, mà tất còn trỏ những việc lớn{1} nữa. Những việc lớn của bậc vua chúa nếu không phải là pháp luật thì là thuật. Pháp luật là cái chép trong sách vở, bày ở công sở và công bố cho toàn dân. Thuật là cái giấu trong lòng để so sánh mọi việc mà ngầm chế ngự quần thần. Cho nên pháp luật không gì bằng phải bày ra cho mọi người biết, mà thuật thì không muốn người khác thấy. Bậc minh chủ nói đến pháp luật thì hết thảy những kẻ ti tiện trong nước đều được nghe biết, chớ nào phải đầy nhà riêng mà thôi; còn như dùng thuật thì những kẻ yêu mến, thân cận cũng không được nghe, làm sao có thể đầy nhà riêng được? Vậy lời nói của Quản Tử không phải là lời nói đúng với pháp thuật.  


 
{1} Nguyên văn đại vật (vật lớn), có người giảng là lễ pháp.
0
Đánh máy: Ut cung



Phần 41



Thượng đó chứng tỏ rằng thiên đó của Hàn Phi, chứ nếu người sau viết thì tất không dám cho Hàn Phi mạt sát vua la “kẻ ngu” như vậy. Và ông đoán rằng bài biểu đó không phải để dâng lên vua Hàn, mà để gởi Tần Thủy Hoàng khi Hàn Phi biết chắc rằng mình không thoát chết, chẳng cần giữ ý nữa. Chúng tôi ghi lại cả hai ý kiến. Thực hư ra sao, chưa dám quyết đoán.
THIÊN XI
CÔ PHẪN
( NỖI UẤT CÔ ĐƠN )
Kẻ sĩ biết thuật tất nhìn xa, xét rõ; không xét rõ thì không thấu được tâm tư của kẻ khác. Kẻ sĩ giỏi pháp độ tất cương nghị mà ngay thẳng, không ngay thẳng thì không hiểu chính được kẻ gian. Bề tôi nào cứ tuân lệnh (vua) mà làm, theo pháp luật mà thi hành chức vụ thì không gọi là “ trọng nhân” . Kẻ nào không có lệnh (vua) mà tự chuyên, làm trái pháp luật để lợi cho mình, làm hao tốn của nước để ích cho nhà, dùng khí lực khiến được vua theo mình, như vậy mới là trọng nhân. Kẻ sĩ biết thuật, xét rõ mà được dùng thì thấu được tính mờ ám của trọng nhân. Kẻ sĩ giỏi pháp độ, ngay thẳng mà được dùng thì kiểu chứng được hành vi gian tà của trọng nhân. Cho nên kẻ sĩ biết thuật, giỏi pháp độ mà được dùng thì hạng bề tôi tôn quí tất bị gạt ra ngoài thành thử họ với bọn cầm quyền thù nhau đến một mất một còn.
Bọn cầm quyền mà nắm sự thưởng phạt thì chư hầu ở ngoài và bách quan trong triều đều bị họ sai khiến. Chư hầu không nương tựa vào họ thì việc không thành, cho nên dịch quốc ca tụng họ; bách quan không nhờ cậy họ thì công nghiệp không tiến, cho nên quần thần bị họ sai khiến, kẻ tả hữu của vua không nhờ cậy họ thì không được gần vua, cho nên che giấu lỗi của họ; hạng học sĩ không nhờ cậy họ thì lộc ít, lễ thấp, cho nên nói tốt cho họ. Bọn gian thần nhờ bốn sự yểm trợ đó ( của chư hầu, quần thần, kẻ thù của nhà vua, các học sĩ) mà tự tô điểm cho chúng. Bọn trọng nhân không thể trung với chúa mà tiến cử kẻ thù ( tức các kẻ sĩ có pháp thuật), các vua chúa không vượt được bốn sự yểm trợ trên mà xét rõ bọn gian thần, cho nên vua chúa bị che lấp thì đại thần càng quyền cao chức trọng. Bọn đại thần đương cầm quyền, ít khi không được tin yêu, lại được vua biết từ lâu, cho nên đón được ý vua, vua thích hay ghét cái gì họ cũng thích, ghét cái đó, nhờ vậy mà tiến thân. Quan tước cao qúi mà bè đảng lại đông nên được cả nước khen. Còn kẻ sĩ giỏi pháp thuật có muốn yết kiến vua thì phải thiếu tinh thần yêu tin cậy, không được cái may mắn được vua biết từ lâu, mà lại đem lời pháp thuật ra kiểu chính lòng vua, tất làm trái ý vua. Địa vị họ đã thấp, lại không bè đảng nên bị cô lập. Họ là kẻ sơ tình mà muốn tranh với kẻ thân cận của vua, tất nhiên là không thắng được; họ mới tới mà muốn tranh với kẻ quen biết từ lâu, tất nhiên là không thắng được; họ làm trái ý vua mà muốn tranh với kẻ chiều ý vua, tất nhiên là không thắng được; họ ở địa vị thấp hèn mà muốn tranh với kẻ cao quí, tất nhiên là không thắng được; họ chỉ có một miệng mà muốn tranh với cả nước, tất nhiên là không thắng được. Kẻ sĩ giỏi pháp thuật ở vào năm cái thế không thắng được đó nên có đợi mấy năm nữa cũng không được yết kiến vua, còn bọn đương cấm quyền thừa năm cái thế thắng được kia mà sớm chiều trình bày trước mặt vua, như vậy thì kẻ sĩ giỏi pháp thuật do đường nào mà được tiến cử, còn vua chúa biết bao giờ mới được giác ngộ ? Thế đã không thắng được vua mà lại không sống chung được (với bọn trọng nhân); tất có kẻ mất người còn, kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao khỏi bị nguy? Bọn trọng nhân nếu có vu tội lỗi cho ai thì sẽ dùng phép công mà giết người đó; không thể vu được thì sai người ám sát. Tóm lại, làm sáng tỏ pháp luật là trái ý vua chúa, nếu không bị quan giết thì tất cũng chết vì bị ám sát.
Những kẻ lập bè đảng vào hùa với nhau để che lấp vua, nói những lời trái pháp luật để mưu tư lợi thì tất được bọn trọng nhân tin dùng; ai có thể gán cho công lao thì trọng nhân sẽ tặng cho quan tước cao sang, ai có thể gán cho tiếng tốt thì mượn thế nước ngoài mà cho được quí trọng. Vậy che lấp vua mà hùa theo một họ riêng ( trỏ bọn đại thần tự chuyên) thì nếu không được chức tước vinh hiển, cũng được quí trọng nhờ thế nước ngoài. Nay các vua chúa không dùng cách tham nghiệm mà trừng phạt, không đợi thấy công lao rồi mới ban tược lộc, thì kẻ sĩ biết pháp thuật làm sao dám liều chết mà đưa ý kiến, bọn gian thần làm sao chịu bỏ tư lợi ma rút lui? Thành thử vua chúa càng mất địa vị còn các họ riêng càng được tôn quí. Nước Việt tuy giàu, mạnh, mà các vua Trung nguyên ( như Chu, Tề, Lỗ…) đều cho là vô ích cho mình, bảo : “Nước đó ( ở xa) ta không chế ngự được” (có ích lợi gì cho dân ta đâu). Nay bậc làm vua một đất ruộng dân đông, mà bị đại thần chuyên quyền che lấp thì nước đó cũng như nước Việt vậy (vô ích cho vua). Nước Việt, mình không chế ngự được, đó là chỗ giống nhau; vậy mà nước Việt thì mình biết là vô ích cho mình, còn nước mình thì mình lại không biết vậy, thế là không biết xét sự giống nhau ở đâu. Người ta bảo nước Tề mất, không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Lư mất quyền mà quyền về họ Điền hết. Người ta bảo nước Tấn mất cũng không phải vì đất và thành mất, mà vì họ Cơ mất quyền mà sáu quan khanh chuyên quyền. Nay đại thần cầm quyền độc đoán mà chúa ở trên không biết thâu quyền lại, tức là không sáng suốt. Mắc cùng bệnh với một người chết thì không sao sống được; cùng có những hành vi với một nước mất thì nước cũng không sao còn được. Theo dấu vết của Tề, Tấn mà mong cho nước yên ổn tồn tại, là điều không thể được.
Pháp và thuật khó thi hành được, không phải chỉ những nước vạn cổ xe (nước nhỏ) cũng vậy. Kẻ tả hữu của bậc vua chúa không nhất định là người trí; bậc vua chúa nghe lời được hay của người trí, rồi đem lời đó bàn với kẻ thù tả hữu, như vậy là người ngu luận về người trí; bậc vua chúa thấy hành vi của người hiền mà trọng, rồi đem hành vi đó bàn với kẻ tả hữu, như vậy là cùng với kẻ càn dở luận về người hiền. Kế hoạch của người trí phải do người ngu quyết định, hành vi của người hiền phải do kẻ gàn dở phê phán, thì kẻ sĩ trí mưu và hiền lấy làm xấu hổ mà lời bàn của bậc vua chúa lầm hết. Bề tôi mà muốn được làm quan, thì hạng sĩ có đức hạnh phải sửa mình cho liêm khiết, hạng sĩ có trí mưu phải luyện tài biện luận để tiến nghiệp, chứ không thể dùng của cải đút lót và thờ người; chỉ trông vào đức liêm khiết, tài biện luận của mình, mà lại không chịu bẻ cong pháp luật để trị nước, như vậy không thể thờ kẻ tả hữu của vua chúa, không thỏa mãn yêu cầu của chúng được. Bọn tả hữu có đức không được như Bá Di, yêu sách (kẻ sĩ) không được, không được (kẻ sĩ) đút lót, tất không kể gì tới công sửa mình cho liêm khiết, luyện tài biện luận cho hơn người của kẻ sĩ mà chỉ hủy bang, vu oan cho họ thôi. Thế là cai công luyện tài biện luận hóa công toi, cái đức liêm khiết bị hủy báng, rốt cuộc kẻ sĩ hiền, trí bị bỏ trơi mà sự sáng suốt của vua chúa bị che lấp. Không xét công lao nhiều ít mà phán đoán về tài trí, đức hạnh, không dùng cách khỏa nghiệm dể thẩm xét tội lỗi, chỉ nghe lời kẻ tả hữu thân cận, như vậy, triều đình tất đẩy kẻ bất tài mà bọn ngu xuẩn tham ô nắm hết các chức vụ. Mối lo của nước có vạn cỗ xe là đại thần có quyền lớn quá; mối lo của nước có ngàn cỗ xe là kẻ tả hữu được tin dùng quá; đó là những mối lo chung của các bậc vua chúa. (Tới nông nỗi đó thì) bề tôi có tội nặng của bề tôi mà vua chúa cũng có lỗi lớn của vua chúa. Cái lợi của vua chúa và bề tôi vốn khác nhau. Sao biết được điều ấy? Đáp : Cái lợi của vua chúa ở chỗ kẻ nào có tài thì giao cho quan chức, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình vô tài mà được làm quan; cái lợi của vua chúa ở chỗ ai có công lao thì mới thưởng cho tước lộc còn cái lợi của bề tôi ở chỗ mình không có công mà cũng dược giàu sang; cái lợi của vua chúa ở chỗ khiến cho hào kiệt trỗ hết tài năng, còn cái lợi của bề tôi ở chỗ kết bè đảng mà mưu tư lợi. Do đó mà đấ đai của nước bị tước lần đi mà tư gia cứ giàu thêm, vua chúa mạt địa vị mà quyền của đại thần mạnh lên; vua thất thế mà bề tôi nắm quyền trong nước, vua phải xưng là phiên thần cho nước ngoài mà tướng quốc thì chẻ phù (ra lệnh cho quần thần), như vậy là bề tôi lừa vua để mưu lợi riêng cho mình. Cho nên đại thần cầm quyền, một khi vua có sự thay đổi, mà còn được sủng ái như trước thì mười người không chắc được hai ba. Tại sao vậy ? Tại tội của họ quá lớn. Bề tôi có tội lớn, lừa gạt chúa, tội đó đáng chết. Kẻ sĩ có trí, thấy xa, sợ tội chết nên không theo chúng. Kẻ sĩ có đức, liêm khiết, cho sự vào bè cới gian thần là xấu hổ, nên không theo chúng. Vậy kẻ đi theo bọn gian đại thần đương cầm quyền, nếu không phải là ngu xuẩn, không sợ chết thì tất là tham ô không tránh bọn gian. Bọn đại thần nắm hạng người ngu xuẩn tham ô đó để trên thì gạt chúa, dưới thì chu lợi, vơ vét của dân, kết bè đảng, vào hùa nhau, trăm miệng như một làm mê hoặc chúa, bại hoại pháp luật để loạn sĩ dân, khiến cho nước suy vong, mất lần đât đai, chúa bị hao tổn, nhục nhã, tội đó lớn lắm. Bề tôi có tội lớn mà vua chúa không cấm được, cũng là có lỗi lớn. Khiến cho ở trên vua có lỗi lớn, như vậy mà mong nước không bị diệt vong, là điều không thể được.
THIÊN XIII
HÒA THỊ
( HỌ HÒA )
Người nước Sở là ( Biện) Hòa tìm được trong núi Sở một khối ngọc sống, đem dâng vua Lệ vương. Lệ vương sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc báo chỉ là mộ cục đá. Lệ vương cho (Biện) Hòa là nói láo, ra lệnh chặt chân trái ông ta. Khi Lê vương mất, Võ vương nối ngôi, (Biện) Hòa lại dâng ngọc lên. Võ vương lại sai thọ ngọc xem, thợ ngọc lại bảo chỉ là đá. Võ vương lại cho la Biện Hòa nói láo, ra lệnh chặt chân phải ông ta, Võ vương chết, Văn vương lên nói ngôi, (Biện) Hòa ôm khối ngọc mà khóc ở chân núi Sở ba ngày đêm, hết nước mắt thì khóc ra máu. Văn vương hay tin, sai người hỏi nguyên do :
-       Trong triều hạ có nhiều người bị chặt chân, sao mà riêng ông khóc lóc bi thảm đến vậy ?
(Biện) Hòa đáp :
-       Tôi không đau xót vì bị chặt chân mà vì nỗi : thiệt là ngọc mà lại bảo là đá, kẻ sĩ ngay thẳng mà lại bảo là nói láo, tôi đau xót vì lẽ đó.
Nhà vua bèn sai thợ mài khối ngọc đó, được một hòn ngọc quí, và đặt tên là : “ngọc bích Biện Hòa”.
Châu ngọc là thứ mà nhà vua muốn có gấp, dù Biện Hòa dâng một khối ngọc không tốt thì cũng không hại gì cho nhà vua, thế mà phải bị chặt hai chân rồi khối ngọc mới được nhận là quí; nhận ra được của báu, khó như vậy đó. Ngày nay bậc vua chúa cần có pháp thuật để ngăn cấm quần thần, sĩ dân gian tà chưa chắc đã gấp như cầu có ngọc bích Biện Hòa, sở dĩ kẻ sĩ có đạo ( tức có pháp thuật) chưa bị giết là vì họ chưa dâng thứ ngọc lập nên nghiệp để vương (tức pháp thuật) cho vua vậy. Vua chúa dùng thuật thì đại thần không thể tự chuyên, kẻ thân cận không dám bán quyền chức; quân thi hành pháp luật thì bọn du thủ du thực vội quay về nghề nông, bọn sĩ du thuyết phải chịu cảnh nguy hiểm ngoài mặt trận. Vậy thì pháp thuật là cái quần thần, sĩ dân cho là tai họa; bậc vua chúa nếu không phản đối lời bàn bạc của đại thần, không bất chấp lời chê bai của nhân dân, cứ làm đúng theo đạo thì kẻ sĩ có pháp thuật dù chết, đạo vẫn không được chấp nhận.
Xưa Ngô Khởi dạy Sở Điệu vương về tục (tình hình) nước Sở: “ Quyền thế  của đại thần lớn quá, các vị hầu được phong đất nhiều quá, như vậy họ áp bức chúa ở trên, ngược đãi dân ở dưới, nước tất nghèo mà bình tất yếu. Chi bằng đối với con cháu các vị hầu được phong đất, cứ ba đời thì thu tước lộc lại, tài giảm lương bổng của thư lại, bỏ các chức quan không cần thiết đi để có tiền nuôi các chiến sĩ được chọn và huấn luyện kĩ” Điệu vương mới thi hành kế hoạch đó được một năm thì chết và Ngô Khởi bị chặt tay chân ở Sở. Thương quân (tức Thương Ưởng) dạy Tần Hiếu công thi hành phép ngũ gia và thập gia liên bảo, nhà nào có tội, nhà khác phải tố cáo, nếu không thì bị liên lụy; đốt thi thư mà làm rõ pháp luật; chặn những lời thỉnh cầu của thư gia mà thưởng những người có công lao với đất nước; cấm bọn đi nơi này nơi khác làm quan, hiển dương nông dân và chiến sĩ. Hiếu Công thi hành kế hoạch đó mà vua được tôn sùng, yên ổn, nước mới được phú cường, tám năm sau chết, Thương quân bị xe xé thay ở nước Tần. Sở không dùng Ngô Khởi mà bị mất đất và loạn. Tần thi hành phép của Thương quân mà phú cường. Lời hai ông ấy đều đúng mà Ngô Khởi bị chặt chân tay. Thương quân bị xe xé thây là tại sao? Tại bọn đại thần oán pháp thuật mà dân chúng ghét sự cài trị. Đời nay, đại thần tham quyền, dân chúng quen cảnh loạn còn hơn tần và Sở thời xưa nữa, mà bậc vua chúa không có ai nghe lời phải như Điệu vương, hiếu Công, như vậy kẻ sĩ giỏi pháp thuật làm sao được mạo hiểm cái nguy của hai ông ấy mà làm sáng tỏ pháp thuật của mình được? Do đó mà đời nay mới loạn mà không ai thực hiện nghiệp bá vương được.
0
Đánh máy:caufale

Phần : 31


Trang 504 – 505

THIÊN XXX

NỘI TRỪ THUYẾT THƯỢNG – THẤT THUẬT (Trích)

(NHỮNG THUẬT ĐỂ DÀNH MÀ DÙNG – THIÊN NỘI, THƯỢNG – BẢY THUẬT)

    Đây là thiên đầu trong một loạt sáu thiên mang chung một nhan đề; trừ thuyết: nghĩa là những “thuyết”, những quy tắc, những thuật để  dành (trừ) mà dùng trong việc trị nước.
    Có hai thiên “nội”: thượng (XXX) và hạ (XXXI) với bốn thiên “ngoại”: tả thượng (XXXII) và tả hạ (XXXIII0, hữu thượng (XXXIV), hữu hạ (XXXV). Những chữ thượng, hạ, tả, hữu chỉ để đánh số thứ tự. còn hai chữ nội và ngoại thì có sách giảng rằng: nội là những thuật liên quan tới việc bên trong, tức việc chế ngự bề tôi; ngoại là những thuật liên quan tới việc bên ngoài, tức việc quan sát lời nói và hành vi của bề tôi để dùng họ, thưởng hay phạt họ. Chúng tôi nghĩ cách giảng độ gượng ép vì thưởng phạt cũng là một cách chế ngự bề tôi. Cho nên chúng tôi theo thuyết của Dực Xuê: nội và ngoại cũng chỉ để đánh số
(như trong Trang Tử có Nội thiên và Ngoại thiên) chứ không có ý nghĩa gì cả.
    Cả sáu thiên đều chắc chắn là của Hàn Phi, đều chép những thuật để trị nước (chép một cách lộn xộn, trừ hai thiên Nội là hơi có thứ tự) và đều có một lối trình bày đặc biệt, không giống các thiên khác: mới đầu Hàn Phi đưa ra các quy tắc, các thuật, dẫn chứng vắn tắt nên khó hiểu, phần đó gọi là kinh; khi đưa ra hết các quy tắc, tức hết phần kinh rồi, mới tới phần truyện, tức phần giải thích rõ ràng các chỗ dẫn chứng trong phần kinh.
Sáu thiên đó rất dài và rườm, nhiều chỗ ý giống nhau, dịch hết thì phải trên một trăm trang, nên chúng tôi dịch trọn thiênXXX, còn những thiên khác thì chỉ dịch hết các thuật trong phần kinh, và lựa một số cố sự trong phần truyện thôi. Cố sự nào để giải thích kinh nào thì chúng tôi để ngay sau kinh đó, chứ không theo cách trình bày trong nguyên tắc: gom hết các kinh lên trên và tách hết các truyện (cố sự) ra, đặt xuống dưới. Để phân biệt tôi cho in phần kinh bằng chữ ngả.
    *
    Trong thiên XXX này, Hàn Phi đưa ra bảy thuật (bảy kinh):    Kinh 1. Tham khảo ý kiến    . Không  tham khảo nhiều ý kiến thì không biết được thức tình. Nếu chỉ nghe, tin một người thôi ( cũng như vô nhà chỉ do một cửa) thì bề tôi sẽ che lập vua. Thuật này rút từ:
Truyện người (hề) lùn mộng thấy bếp;
Lời của Ái công: “Không mưu tính với nhiều người thì sẽ mê hoặc”;
Truyện người nước Tề thấy Hà Bá;
 Lời Huệ tử bảo: “mất phân nửa số người”. Cái hại dễ như:
Trang 506 – 507
Thúc Tôn bị Thu Ngưu bỏ đói;
Lời Gian ắt nói về tục nước Kinh;
Vệ Tự công muốn trị nước mà không biết cách khiến cho thế lực của đại thần và sung phỉ ngang nhau. Bởi vậy bậc minh chủ phải:
 Biết chứa sắt (đề phòng mũi tên bắn vào nhà);
Xét mối lo chợ có cọp.
    *
    Truyện 1. a/ Thời Vệ Linh công, Di Tử Hà được vua yêu nên chuyên quyền ở Vệ. Một người (hề) lùn yết kiến Linh công, tâu:
    - Giấc mộng của thần đã ứng nghiệm.
    Công hỏi:
    - Mộng thấy gì?
    Công giận, bảo:
    - Ta nghe nói sắp gặp vua thì mộng thấy mặt trời. Sao ngươi trước khi yết kiến quả nhân lại mộng thấy bếp?
    - Mặt trời chiếu khắp một nước, không người nào làm khuất được; vì vậy mà khi sắp gặp vua mới mộng thấy mặt trời. Còn bếp, một người đứng nấu (phía trước) thì người phía sau không thấy lửa nữa. Hoặc giả có một người nào đó(1) che khuất nhà vua chăng? Nếu vậy thì thần mộng thấy bếp, cũng là phải đấy chứ?
    b/ Lỗ Ái Công hỏi Khổng Tử:
    
    (1) Ám chỉ Di Tử Hà. Về Di Tử Hà coi thiên Thuế nạn. Cũng nên coi lời Hàn Phi phê bình truyện này trong thiên Nạn tử, tiết 4.

    - không cùng nhiều người mưu tính thì sẽ mê hoặc. Hay quá nhãn làm việc gì cũng bàn tính với quần thần mà nước các loạn thêm là tại làm sao?
    Khổng tử đáp:
    - bậc minh chủ hỏi quân thần thì có một người biết lại có một người không biết, như vậy là mình chủ ở trên, quần thần thẳng thắn bàn luận ở dưới. Nay quần thần đều răm rấp nói theo Quí Tôn (1) thành thử cả nước hóa là một, do nhà vua có hỏi khắp người trong nước, nước cũng không khỏi loạn được.
*
    Một thuyết khác bảo: (2)
    Khi Án Tử (3) qua thăm nước Lỗ, Ai Công cũng hỏi:
    - ngạn ngữ có câu: “không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc”. Nay quả nhân cùng với mọi người trong nước mưu tính mà nước Lỗ không khỏi loạn là sao?
    ấn Tử đáp:
    - người xưa bảo: “không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc” là vì có một người sai thì có hai người tính đúng, ba người đủ thành số đông rồi. Cho nên mới bảo:
   
    (1) Một trong ba người đại phu chuyện quyền ở Lỗ.
    (2) Xét giọng văn trong “thuyết này” thì không phải là của Hàn Phi, vì rườm, non, như câu (4) ở đây quả là thừa. Vì vậy có người nói rằng Hàn Phi đọc thấy ở đâu đó rồi chép lại nguyên văn, chứ không viết lại; có người nói lại bảo do người đời sau thêm vào.
    (3) Án tử tên là Anh, tự là Bình Trọng, làm tướng quốc nước Tề, có tài có đức. Bộ Án tứ xuân thu do người đời sau viết, chứ không phải ông.
Trang 508 – 509:
“không có ba người cùng mưu tính thì sẽ mê hoặc”. Nay bề tôi nước Lỗ có hàng trăm, hàng ngàn mà đều nói theo ý riêng của họ Quí, như vậy số người tuy đông nhưng cũng chỉ là có một người nói, đâu được tới ba?
    c/ có người nước Tề tâu với vua Tề: “Hà Bá (1) là một vị thần lớn, sao đại vương gặp được”. Rồi lập đàn trên sông lớn, cùng với vua Tề đứng trên đán. Một lát sau, một con cá lớn quẫy lên, anh ta bảo: “Hà Bá đấy”.
    d/ Trương Nghi muốn mượn thế của Tần, Hàn, và Ngụy để đánh Tề, Kinh (Sở), mà Huệ Thi muốn Tề, Kinh giúp để ngưng chiến. Hai người tranh luận với nhau. Các quần thần và tả hữu đều theo chủ trương của Trương Nghị, cho việc đánh Tề, Kinh là có lợi, mà không nghe lời của Huệ Tử. Vua nghe lời Trương Nghi, cho lời Huệ tử là không thi hành được. Việc đánh tề và Kinh đã quyết định, Huệ tử về yết kiến vua. Vua bảo:
    - tiên sinh đừng nên nói thì hơn. Việc đánh tề và Kinh qua là có lợi, cả nước đều nghĩ như vậy.
    Huệ tử nhân đó mới tâu:
    - cần phải xét kĩ. Nếu việc đánh Tề, Kinh quả thực có lợi mà cả nước đều cho là có lợi thì sao người trí đông được đến thế! Sở dĩ phải bàn tính vì còn nghi ngờ; nếu quả thực có sự nghi ngờ thì tất phân nửa cho là nên, phân nửa cho là không nên. Nay cả nước cho là nên, tức thì; nhà vua mất phân nửa người (đưa ý kiến) rồi đó. Chúa bị lấn át nên mới mất phân nửa người như vậy.
   
    (1) Hà Bá là thần sông Hoàng Hà.

    đ/ Thúc Tôn làm tước quốc nước Lỗ, chức cao và chuyên quyền. Một người được ông ta yêu tên là Thụ Ngưu cũng tự chuyên, lạm dụng mệnh lệnh của ông. Con trai Thúc Tôn tên là Nhâm bị Thụ Ngưu ghét, muốn giết. Một hôm Thụ Ngưu cùng mới Nhâm vô chơi trong cung vua Lỗ, vua Lỗ ban cho Nhâm một chiếc vòng ngọc. Nhâm vái, nhận mà không dám đeo, nhờ Thụ Ngưu xin phép cha để đeo. Thụ ngưu nói gạt câu ta: “Tôi đã xin phép cho cậu rồi, ngài bảo cậu đeo đi”. Nhâm bèn đeo. Thụ ngưu nhân đó báo với Thúc Tôn: “sao ngài không dắt cậu Nhâm yết kiến vua?”. Thúc tôn đáp: “Nó con con nít, không dám cho yết kiến”. Thụ ngưu nói: “Cậu Nhâm đã mấy lần yết kiến vua, vua ban cho vòng ngọc, cậu đã đeo”. Thúc tôn gọi Nhâm về, thấy Nhâm đeo vòng ngọc thật, ông nổi giận giết Nhâm.
    Anh của Nhâm là Bính, cũng bị Thụ Ngưu ghét, muốn giết, Thúc Tôn đúc cho Bính một cái chuông, đúc xong Bính không dám đánh, nhờ Thự Ngưu xin phép cho đánh. Thụ ngưu không xin giùm, lại nói gạt cậu ta là: “Tôi đã xin phép cho cậu rồi đấy, ngài bảo cứ đánh đi”. Thúc Tôn nghe tiếng chuông bảo thằng Bính không xin phép tao mà tự ý đánh chuông, rồi nổi giận đuổi đi. Bính chạy qua tề; được một năm. Thụ Ngưu xin lỗi Thúc Tôn cho Bính. Thúc Tôn sai Thụ Ngưu triệu Bính về. Hắn không triệu mà báo với Thúc Tôn: “Tôi triệu về mà cậu ấy giận lắm, không chịu về”. Thúc Tôn nổi đóa, sai người giết Bính.
    Thế là hai người con đã chết cả. Vì vậy, khi Thúc Tôn đau, Thụ Ngưu một mình săn sóc ông ta, đuổi hết kẻ tả

Trang 510 – 511:
hữu, không cho ai vào, bảo: “Ông Thúc Tôn không chịu được tiếng người”. Rồi không cho ông ta ăn, để ông ta chết đói. Thúc tôn chết rồi. Thụ ngưu không phát tan, lấy hết báu vật trong kho trốn qua Tề. Nghe lời người mình tin cậy đến nỗi cha lẫn con bị người giết, cái họa không tham khảo ý kiến nhìu người như vậy đó.
    e/ Giang ất vì vua Ngụy đi sứ nước Kinh, báo vua Kinh:
    - Thần vô biên cảnh nhà vua, nghe nói quí quốc có tục này: “Người quân tử không che cái tối của người, không vạch cái xấu của người”, có thực vậy chăng?
    Vua đáp: Có
    - Vậy thì làm loạn như Bạch Công tất thành công mà nước Kinh phải nguy chứ? Nếu quả thực vậy thì bề tôi miễn tội chết (ý nói: có điều xấu mà không bị tố cáo thì có tội gì đâu) (1)
    g/ Vệ tử công (con Vệ Bình hầu) trọng Như Nhi và yêu nàng Thế Cơ, sợ hai người đó được trọng được yêu mà che lấp mình, bèn cho Bạc Nghi một chức cao để địch với Như Nhi và tôn nàng Ngụy Cơ ngang với Thế cơ. Ông bảo:
   
    (1) Bạch Công tên là Thắng, là cháu nội Sở (Kinh) Bình Vương. Cha là thái tử Kiến bị Bình vương từ bỏ, phải chạy qua nước Ngô. Khi Sở Huệ vương lên ngôi, Thắng về nước được phong là Bạch Công. Ông muốn đánh Trịnh để báo thù cho cha, quần thần Sở không chịu, ông mưu làm lạm để cướp chính quyền, thất bại, phải tự tử.

    Như vậy để họ bàn bạc với nhau (1). Ông muốn khọi bị che lấp nhưng chưa nắm được cái thuật để khỏi bị che lấp. Không cho người hèn cùng bàn bạc với người sang, kẻ dưới tố cáo người trên mà cứ phải đợi có những kẻ quyền thế ngang nhau rồi mới được bàn bạc với nhau thì tức là làm cho có thêm nhiều bề tôi che lấp mình (2). Tự công bị che lấp là bắt đầu tứ đó.
    h/ nếu tên bắn tới có hướng nhất định thì phải chứa sắt để phòng bị phía đó; nếu không có hướng nhất định thì phải cất nhà bằng sắt để phòng bị mọi phía; phòng bị như vậy thì mình không bị thương. Vua mà phòng bị hết các bề tôi thì bề tôi không còn ai là gian nữa.
   




    i/ Bàng Cung (mưu thần nước Ngụy) sắp đưa thái tử qua làm con tin ở Hàm Đan (kinh đô nước Triệu, nay là Hà Bắc), tâu với vua Ngụy:
    - có người nói rằng chợ có cọp, đại vương tin không?
    Vua đáp:
    - Không.
    - hai người nói thì đại vương tin không?
    - không.
    - Ba người nói thì đại vương tin không?
    - Quả nhân tin.
    Băng Cung bèn thưa:
    - Chợ thì không có cọp được, điều đó hiển nhiên. Vậy mà ba người nói thì chợ hóa ra có cọp. Nay từ Hàm Đan
   
    (1) Nguyên văn: tương tham. Có sách giảng là: sa sánh với nhau.
    (2) vì những kẻ quyền ngang như nhau đó sẽ lập riêng một đảng để mưu tư lợi mà che lấp vua.
Trang 512 – 513
    Cách nước Ngụy hơn xa là (từ triều đình tới) chợ, mà bọn bề tôi bàn ra nói vào đông hơn ba người, xin đại vương xét cho điều đó.
    Bàng Cung đi Hàm Đan về, không được vô yết kiến vua nữa(1).
    *
    Kinh 2. Chương quyết trừng phạt. Nhân ái thái quaa1 thì pháp độ không thi hành được, uy nghiêm không đủ thì kẻ dưới lấn người trên. Hình phạt không cương quyết thì cấm lệnh không được tuân.
    Thuật này rút ra từ:
    a/ Truyện Đồng Tử đi thăm Thạch ấp.
    b/ Truyện Tử Sâm dạy Du Cát.
    c/ Lời Trọng Ni nói về sương rơi.
    d/ Phép nhà Ân phạt việc đổ tro ra dường.
    đ/ Truyện người điều khiển đoàn xe xin bỏ việc.
    e/ Truyện Công Tôn Ưởng phạt năng những tội nhẹ.
    g/ Việc vàng sông lệ không giữ được lửa đâm Tích không cứu được.
    h/ Lời Thành Hoàn cho rằng vua Tề quá nhân từ mà nước Tề suy yếu,
    i/ Lời Bốc Bì cho rằng vua Ngụy quá nhân từ mà làm cho nước Ngụy suy vong.
    k/ Việc Quản Trọng biết thuật trừng phạt nên chặt thây người chết,
   
    (1)Truyện này chép trong Chiến Quốc sách – Ngụy II 17 Chiến Quốc sách gọi là Bàng Thâng.

    l/ Việc Vệ Tự công biết thuật trừng phạt nên mua người bị tội đó.
    Truyện 2. a/Đồng An Vu làm thái thú đất Thượng Địa cho Triệu, đi tuần trong núi miền Thạch ấp, thấy một vật khe sâu cả trăm nhân, bờ dựng đứng như nức tượng, bèn hỏi những người chung quanh chỗ đó:
    - Đã có ai vào trong khe đó không?
    Họ đáp:
    - Không.
    - Có trẻ con, người đui, người điếc, người điên, người khùng nào vào trong khe đó không?
    - Không.
    - Có bò, ngựa, chó, heo nào vào trong khe đó không?
    - Không.
    Đồng An Vu thở dài, bảo:
    - Ta có phép trị dân rồi. Làm cho pháp luật của ta không tha ai, hễ trái phép thì phải chết như vào trong khe này vậy. Không ai dám phạm pháp thì làm sao không hình trị?
    b/Tử Sản làm tướng quốc nước Trịnh, khi đau nặng gần chết, dặn dò Du Cát(1):
    - Tôi chết rồi, ông sẽ cầm quyền nước Trịnh, ông phải nghiêm khắc trị dân. Lửa có vẻ dữ dằn, nên ít người bị chết thiêu; nước có vẻ nhu nhược; nên nhiều người bị chết đưới. Ông nên dùng hình phạt nghiêm khắc, đừng để cho dân chết đuối vì sự nhược của ông.
   
(1)Lúc đó làm quan khanh, sau nối chức Tử Sản

Trang 514 – 515
    Tử Sản chết rồi, Du Cát không nhẫn tâm dùng nghiêm hình. Thiếu niên nước Trịnh theo nhau làm giặc cướp, tụ tập ở chằm cỏ hoàn(1) sắp làm loạn. Du Cát không suất chiến xa và kị binh, chiến đấu một ngày một đêm mới gần khắc phục chúng được. Ông thở dài, than:
    -Giá ta sớm theo lời dạy thầy (tức Tử Sản) thì không phải hối hận như vầy.
    c/ Lỗ Ái công hỏi Trọng Ni:
    - Sách Xuân Thu chép: “Mùa đông, tháng chạp, sương rơi, cỏ không chết khô”, là muốn nói gì vậy?
    Trọng Ni đáp:
    - Lời đó có nghĩa rằng có thể diệt (để cho chết hô) mà không diệt. Nên diệt mà không diệt thì đào, mận (đáng lẽ có trái vào mùa hè, lại) có trái vào mùa đông. Trởi mất đạo trời (trái thời tiết) thì cây cỏ cũng phạm vào, huống hồ là vua chúa (nếu mất đạo thì tất bị bề tôi lấn).
    d/ theo phép nhà Ân thì kẻ nào đổ tro ra ngoài đường thì bị trị tội, Tử Công cho vậy là nghiệm khắc quá, hỏi Trọng Ni. Trọng ni đáp: “(Không), như vậy là biết đạo trị nước. Đổ tro ra ngoài đường thì nó bay lên, phủ cả người ta (2) người ta tất nổi giận, nổi giận thì ẩu đả nhau, mà ba họ (3) mỗi bên tàn hại nhau. Làm tàn hại ba họ như vậy thì trị
   
    (1) Có bản chép: chằm tên là Quán, chúng tôi theo bản Trần Khải Thiên.
    (2) Theo Trần Khải Thiên thì “hôi” là hỏa hôi (than chưa vạc, còn lửa và yểm là: làm bỏng người ta.
    (3) Nguyên văn: tam lộc. Có thuyết giảng là họ cha, họ mẹ, họ vợ, có thuyết bảo : cha, con, cháu; có thuyết bảo : cha mẹ, anh em, vợ con.

    Tội là phải. Vả lại khộng có ai muốn bị trị tội nặng mà không đổ tro ra ngoài là việc dễ, khiến cho dân làm một điều dễ để khỏi bị cái tội mà họ ghét, đạo trị nước là vậy.
    Một thuật khác bảo: Phép nhà Ân, ai đổ tro ra đường thì bị chặt tay, Từ Công bảo:
    - đổ tro ra đường tội nhẹ, chặt tay là hình phạt nặng, cổ nhân sao mà tàn khốc vậy?
    Đáp
    - không đổ tro là việc dễ, bị chặt tay là điều dân ghét.
Làm việc dễ để khỏi bị cái mình ghét, cổ nhân cho như vậy là việc dễ nên ban hình luật đó.
    đ/ tướng quốc nước Trung Sơn là Nhạc Tri dùng một trăm cỗ xe đi sứ nước Triệu, lực một người tài trí trong đam khách (1) để điều khiển đoàn xe, giữa đường đoàn xe hỗn loạn, Nhạc Trì bảo:
    - Tôi cho ông là tài trí nên dùng ông điều khiển đoàn xe, giữa đường đoàn xe lại hỗn loạn là sao?
    Người khách đó xin thôi việc, đáp:
    - Người không biết cách trị người. Phải có uy để người ta phục, phải có lợi để khuyến khích người ta thì mới trị người ta được. Nay tôi chỉ là một người khách nhỏ của ngài. Người nhỏ mà sửa sai người lớn, người hèn mà trị người sang, lại không có quyền ban phát lợi hại để chê1 phục họ, vì vậy mà sinh ra hỗn loạn. Giả sử khi sai khiến
   
    (1) Thời đó những người có quền thế như Mạnh Thường quân, Bình xuyên quan, Xuân Thân quân.... nuôi rất nhiều khách trong nhả để được tiếng là trọng kẻ sĩ, và đôi khi hỏi ý kiến họ, sai bảo họ.


Trang 516 – 517:
bề tôi, ai tốt tôi có thể làm khanh tướng, ai xấu tôi có thể chặt đầu, thì làm gì mà không trị họ được.
    e/ Phép của Công Tôn Ưởng là trừng phạt nặng những tội nhẹ. Tội nặng người ta khó phạm vào, mà tội nhẹ thì người ta dễ bỏ. Khiến cho người ta bỏ cái dễ mà đừng phạm vào cái khó phạm, đó là phép trị nước. Lỗi nhỏ không sinh ra, tội nặng không đến, thì dân không có tội mà loạn không phát.
    Một thuyết khác bảo: Công Tôn ưởng nói : “Phép thi hành hình phạt là phạt nặng tội nhẹ thì lỗi nhẹ không sinh mà tội nặng không đến, như vậy gọi là dùng hình phạt để trừ bỏ hình phạt.”
    g/ Sông Lệ (2) ở phía Nam nước Kinh có vàng, nhiều người lén đãi vàng. Có luật cấm đãi vàng, ai bị bắt thì bị phân thây giữa chợ. Thấy người bị tội nhiều tới có thể lấp sông, vậy mà người ta vẫn đãi lèn, không ngừng (2). Tội không gì nặng bằng phân thậy giữa chợ, vậy mà vẫn không ngăn được là vì kẻ phạm tội không nhất định bị bắt. Thí dụ nay có người bảo: “ tôi cho anh cả thiên hạ, nhưng rồi giết chết anh” thì tất người bình thường không ai chịu. Có cả thiên hạ là cái lớn mà không nhận vì biết rằng sẽ phải chết; còn như không nhất định bị bắt thì dù sẽ bị tội phân thây, cũng vẫn trộm vàng. Biết rằng thế nào cũng chết thì cho cả thiên hạ, cũng không nhận.
   
    (1) Nay ở Vân Nam.
    (2) Nguyên văn : Thuận chúng ung li hi thủy. Chữ ki có sách bảo nên đọc là lệ (sông lệ) và giảng như chúng tôi đã dịch; có sách lại bảo là chữ li (hàng rào tre) và giàng là : chính quyền rào hai bờ sông....


    Người nước Lỗ thiêu chằm Tích. Trời nổi gió bấc cháy lan về phía Nam, sợ lấn tới khắp nước, ai cũng lo lắng, tự điều khiển việc cứu lửa. Nhưng chung quanh không có ai, mọi người đều mắc săn thú, nên lửa không cứu được. Ông bảo vời Trọng Ni đến hỏi Trọng Ni thưa:
    - việc săn thú vui mà không bị phạt, việc cứu lửa khổ sở không được thưởng. Vì vậy mà không cứu được lửa.
    Ai Công bảo: Phải, Trọng Ni nói thêm:
    - Việc gấp rồi, không kịp treo giải thưởng; vả lại nếu không cứu lửa thì bị trừng trị như tội hàng giặc hoặc bỏ chạy, ai săn thú thì bị trừng trị như tội phạm cấm”. (1) lệnh chưa truyền đi khắp nơi mà lửa đã diệt được.
    h/ Thành hoàn tâu với vua tề:
    - Đại vương quá nhân từ, quá bất nhẫn. (2)
    vua Tề hỏi:
    - quá nhân từ, quá bất nhẫn, như vậy là không tốt sao?
    Đáp:
    - Đó là cái tốt của kẻ bề tôi, bậc vua chúa không nên theo. Bề tôi phải có lòng nhân từ rồi mới có thể dùng mưu tình việc được, phải có lòng bất nhẫn rồi mới có thể gần
   
    (1) Chúng tôi ngờ rằng truyện này do Pháp gia đặt ra chứ Khổng Tử không chủ trương như vậy, hai chữ “phạm cấm” có sách giàng là vào chỗ cung cấm của vua.
    (2) Bất nhẫn là không nhẫn tâm, không nỡ lòng thấy người khác đau khổ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-08-01 00:57:11Ct.Ly>
Đánh máy: heo _ mapyeu

THIÊN XXXIX
NẠN TỨ (Trích)
(BIỆN NẠN – IV)
         Thiên này gồm bốn tiết và khác với ba thiên trên ở chỗ sau lời phê bình lại dẫn thêm một lời phê bình lời phê bình đó - đều của Hàn Phi - để bác ý kiến trên hoặc xét thêm một khía cạnh nữa của vấn đề.
*
1 -  Bề tôi và vua nên giữ phận mình. Lược bỏ
2 - Vua nên sáng và nghiêm.
Dương Hổ nước Lỗ muốn đánh Tam Hoàn (ba đại phu trong công thất Lỗ, con của Lỗ Hoàn Công: Mạnh tôn, Thúc tôn và Quí tôn) không được, phải trốn qua Tề, Tề Cảnh Công lấy lễ tiếp đãi. Bão Văn tử can: “Không nên, Dương Hổ được họ Quí yêu mà lại đánh Quí tôn, là vì ham sự giàu có của họ ấy. Nhà vua giàu có hơn Quí tôn và nước Tề lớn hơn nước Lỗ, Dương Hổ sẽ còn hết sức gian trá nữa”. Cảnh Công bèn bỏ tù Dương Hổ(1)
Có người bảo:
Nhà có ngàn vàng thì con cái bất nhân, vì họ quá gấp mưu lợi. (Tề) Cảnh Công đứng đầu trong ngũ bá. (mới đầu) tránh nước mà giết anh là vì cái lợi quá lớn. Giữa vua tôi không có tình anh em ruột thịt. Trong việc cướp quyền giết vua, chế ngự một nước vạn cỗ xe để hưởng cái lợi lớn thì bề tôi nào chẳng là Dương Hổ. Việc làm hễ tinh tế, khéo léo thì thành, sơ suất, vụng về thì thất bại. Bề tôi chưa khởi loạn là vì dự bị chưa đủ. Nhưng bề tôi nào cũng có cái lòng (cướp ngôi) như Dương Hổ mà vua không biết, là vì việc làm của họ tinh tế, khéo léo. Dương Hổ vì tham muốn đánh bề trên, mà để cho thiên hạ biết được là do hắn sơ suất, vụng về. (Không khuyên Cảnh Công trừng phạt bọn bề tôi gian xảo của Tề(1) mà khuyên ông trừng phạt tên Dương Hổ vụng về, đó là chỗ sai trong lời khuyên của Bão Văn từ. Bề tôi trung tín hay gian trá là tuỳ hành động của vua: vua sáng suốt và ngiêm khắc thì họ trung tín, vua nhu nhược và hôn ám thì họ gian trá. Sáng suốt là biết được cái tinh tế, nghiêm khắc là không tha tội. Không biết ai là bề tôi gian xảo của Tề (2) mà trị loạn thần của Lỗ, chẳng cũng bậy ư?
*
(Lại) có người bảo:
(…) Vua sáng và nghiêm thì bề tôi trung tín. Dương Hổ làm loạn ở Lỗ, việc không thành, chạy qua Tề, Tề không trừng trị , tức là để cho Hổ lại làm loạn ở Tề. Vua sáng suốt thì biết rằng việc trừng trị Dương Hổ có thể cứu loạn được cho Tề, như vậy là tinh tế thấy được tình thế (khi loạn chưa phát). Lời xưa có câu: “Chư hầu lấy nước làm tình thân”. Vua nghiêm khắc thì tội của Dương Hổ không thể bỏ qua, đó là phép “không tha tội”. Vậy giết Dương Hổ là để cho bề tôi phải trung tín. Chưa biết được bọn bề tôi của Tề kẻ nào gian xảo mà bỏ sự trừng phạt một kẻ đã hiển nhiên làm phản, thế là trách kẻ chưa hẳn đã làm bậy mà không trừng trị cái tội rành rành, hành động đó bậy. Trừng phạt một kẻ làm loan ở Lỗ để thị oai với bọn bề tôi có lòng gian (ở Tề) mà lại được tình thân ái của Quí tôn, Mạnh tôn, Thúc tôn, lời khuyên của Bão Văn có gì là trái đâu.
*
3 – Chưa đáng giận thì đừng tỏ sắc giận ra, chưa đáng phạt thì đừng tỏ ý muốn phạt ra.
(Lược bỏ)
*
4 – Dùng người thì tránh đừng dùng kẻ mình yêu mà không thực hiền.
(Hàn Phi chép lại ở đây cố sự một người hầu bàn đem giấc mộng thấy bếp để khuyên Vệ Linh Công đừng để cho một sủng thần là Di Tú Hà “che khuất”. Cố sự đó ông đã kể trong truyện là thiên Nội trừ thuyết thượng. Cuối truyện Hàn Phi thêm câu này:
“Vệ Linh công khen phải rồi đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà nữa mà dùng Tư không Cẩn”, rồi ông phê bình như sau:
Có người bảo:
Người hề lùn đó khéo đặt sự chuyện nằm mộng để bày tỏ cái đạo làm vua, nhưng Linh công không hiểu hết lời của anh ta. Đuổi Ung Tư, không dùng Di Tử Hà mà dùng Tư không Cẩn là bỏ người mình yêu mà dùng người hiền. Nhưng Tử Đô nước Trịnh cho Khánh Kiến là hiền mà bị Khánh Kiến che lấp. Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền (1)  mà bị Tử Chi che lấp. Bỏ người mình yêu mà dùng người mình cho là hiền, chưa chắc đã khỏi bị một người đứng phía trước mà che mình. Kẻ bất tiếu đứng phía trước của chúa, không nhất định là làm hại sự sáng suốt của chúa. Nếu không thấy sự sáng suốt cho mình mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước thì đất bị nguy.
*
(Lại) có người bảo:
Khuất Đào (một ông quan đời Xuân Thu) thích củ ấu, vua Văn vương thích dưa xương bồ. Hai món đó không phải là món ngon mà hai bậc hiền đó đều chuộng, vậy hợp khẩu vị chưa nhất định là ngon. Tấn Lính hầu ưa Tham Vô Tuất (1) Tử Khoái nước Yên cho Tử Chi là hiền, hai người bề tôi đó không phải là kẻ sĩ chính trực mà được hai ông tôn trọng, vậy người mình cho là hiền vị tất đã hiền. Dùng người mình cho là hiền mà thực ra không hiền thì cũng như dùng người mình yêu, không khác gì. Dùng người thực sự hiền thì dùng người mình yêu, hai cái khác nhau. Vì vậy Sở Trang vương dùng Tôn Thúc (Ngao) (một hiền thần) mà làm bá chủ, còn Thương Tân (tức vua Trụ nhà Thương) dùng Phí Trọng (một nịnh thần) mà bị diệt, hai ông vua đó đều dùng người mình cho là hiền mà kết quả trái ngược nhau. Tử Khoái nước Yên tuy đề cử người ông cho là hiền mà chỉ như dùng người ông yêu thôi. Trường hợp Vệ Linh Công có khác gì vậy? người hề lùn đó chưa nhận ra được điều ấy. Vua vệ bị che lấp mà không biết mình bị che lấp, sau khi anh ta nói, vua mới biết rằng mình bị che lấp, cho nên đuổi bọn bề tôi che lấp mình đi, như vậy là thêm sự sáng suốt cho mình rồi. Bảo: “Không thêm sự sáng suốt cho mình, mà để cho người (mình cho là) hiền đứng phía trước che mình thì tất bị nguy” (lời đó đúng); nhưng nay vua Vệ đã thêm sự sáng suốt cho mình rồi, thì dù bị (người mới dùng) che lấp mình, tất không bị nguy nữa.
THIÊN XXII
THUYẾT LÂM THƯỢNG (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN TRÊN)
Thuyết lâm có thề hiểu là rừng truyện, từng cố sự; chúng tôi dịch là Rừng mưu mô vì thiên này cũng như thiên sau, (Thuyết lâm hạ), (mà mọi học giả đều nhận là của Hàn Phi) chép toàn những mưu mô của người trước, đa số là chính trị gia, một số ít là người thường. Hàn Phi nhớ đâu chép đấy, không sắp đặt, phân loại cũng không nhằm mục đích chứng minh học thuyết của ông mà cơ hồ chỉ để tặng các nhà cầm quyền và độc giả của ông một cái “túi thuật” của cổ nhân thôi.
Thiên này gồm 34 truyện, thiên sau gồm 37 truyện, tổng cộng là 71 truyện (1)
Có một số truyện chép cả.
Trong Chiến Quốc sách, như:
Truyện XXII.8 tức truyện Nguỵ sách 1.1 (Chiến Quốc sách, Lá Bối 1972)
-         XXII 10                     - Tống sách -1                         nt.
-         XXII 13                     - Đông Chu sách 10                nt.
-         XXII 17                     - Sở sách IV 8                          nt.
-         XXII 22                     - Nguỵ sách 122                       nt.
-         XXII 28 – 8               - Nguỵ sách 11.13                    nt.
-         XXII 34                     - Tề sách 1.3                            nt.
-         Hoặc trong Liệt tử, như: Truyện XXII.31 tức truyện Liệt tử II 16 (Liệt tử - Dương tử - Lá Bối 1972)
-         XXII.9                       - Liệt tử VIII 24                        nt.
Những truyện trùng nhau đó chép gần y hệt nhau, chỉ khác nhai ít chữ, không rõ sách nào chép của sách nào.
Chúng tôi bỏ không dịch lại những truyện đó, trừ truyện XXII.10, và chỉ trích trong thiên này 8 truyện để giới thiệu với độc giả, vì cho cả hai thiên đều không quan trọng, chỉ đáng coi là phần phụ lục thôi. Chúng tôi đánh số tưng truyện cho dễ kiếm.
*
1. Thang đã diệt nhà Hạ (vua Kiệt). Sợ mang tiếng là tham nên (làm bộ) đem thiên hạ nhường cho (một ẩn sĩ là) Vụ Quang nhưng sợ Vụ Quang nhận, lại sai người thuyết Vụ Quang: “Thang giết vua mà muốn gieo tiếng xấu cho ông đấy”. Do đó, Vụ Quang nhảy xuống sông tự tử(1).
2. Tần Vô vương bảo Cam Mậu tự lựa lấy cho mình một trong hai chức “bộc” (một chức hầu cận) hay “hành” (sứ thần). Mạnh Mão khuyên Cam Mậu (1):
- Ông nên xin làm quan “bộc”. Sở trường của ông là đi sứ. Tuy ông giữ chức “bộc”, nhà vua cũng sẽ sai ông đi sứ; mà ông vừa cầm ấn quan “bộc” vừa làm việc của quan “hành”, như vậy là kiêm cả hai chức.
5. Nước Tấn đánh nước Hình, Tề Hoàn Công muốn cứu Bảo Thúc tâu (2) :
- Còn sớm quá! Nước Hình không mất thì nước Tấn không mệt, Tấn không mệt thì Tề không được trọng. Vả lại cái công cứu một nước nguy không lớn bằng cái đức phục hưng một nước đã mất. Tốt hơn, đại vương nên chậm cứu nước Hình để làm cho nước Tấn mệt, đợi cho Hình mất rồi, phục hưng lại cho; như vậy xét về “thực” là có lợi mà xét về “danh” lại càng tốt.
Hoàn Công không cứu Hình nữa.
10. Tề đánh Tống. Tống sai Tang Tôn tử xuống phía Nam cầu cứu với nước Kinh (Sở). Vua Kinh rất mừng, hứa sẽ tận lực giúp. Tang Tôn tử lo lắng ra về, người đánh xe thấy vậy hỏi:
- Việc cầu cứu có kết quả mà sao ngài lại có vẻ lo lắng?
Tang Tôn tử đáp:
- Tống nhỏ mà Tề lớn. Cứu nước Tống nhỏ mà để cho nước Tề lớn ghét, điều đó ai cũng lấy làm lo mà vua Kinh lại mừng, chắc ông ta (hứa hão) để chúng ta kiên tâm chống cự. Chúng ta kiên tâm chống cự, sẽ mệt; đó là điều có lợi cho Kinh.
Tang Tôn tử về nước. (Quả nhiên) Tề chiếm năm thành của Tống rồi mà Kinh vân chưa đem quân cứu.
16. Quản Trọng và Thấp Bằng (1) theo Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc. Mùa xuân đi, mùa Đông về, quên đường lạc lối. Quản Trọng bảo:
- Có thể dùng trí nhớ của con ngựa già được.
Họ bèn thả con ngựa già đi trước rồi theo nó mà tìm được đường về. Tới một chỗ trong núi, thiếu nước, Thấp Bằng bảo:
- Loài kiến mùa đông ở phía nam của núi (vì có ánh nắng, ấm áp), mùa hè ở phía Bắc của núi (vì có bóng mát). Chỗ nào ổ kiến cao một tấc, đào xuống một nhẫn (8 thước thời đó) thì có nước.
Họ cho đào và được nước.
Quản Trọng là bậc thánh, Thấp Bằng là bậc trí, mà có điều không ngại học con ngựa già và loài kiến. Ngày nay, người ta không biết rằng mình ngu để học cái sáng suốt của thánh nhân, chẳng là lầm lẫn ư?
26. Vua Trụ uống rượu suốt đêm (1) , vui say (2)  không biết ngày nào nữa, hỏi kẻ tả hữu, không kẻ nào biết, bèn sai người hỏi Cơ tử (3)  . Cơ tử nói với môn đồ đó:
- Làm chúa thiên hạ mà tới nỗi cả nước không ai biết ngày, như vậy thiên hạ nguy rồi. Cả nước không ai biết mà ta biết thì ta cũng nguy rồi.
Rồi ông lấy cớ là say không biết ngày.
30. Thấp Tư Di (một vị quan nước Tề) lại thăm Điền Thành tử (4) , Điền Thành tử cùng ông ta lên lầu ngắm cảnh bốn phía. Ba phí đều trống, duy có phía Nam là bị cây nhà Thấp tử che khuất. Điền Thành tử không nói gì. Thấp tử sai người đốn cây đó, mới chặt được vài nhát thì ông ta bảo thôi. Người quản gia hỏi sao đổi ý như vậy. Ông ta đáp:
- Người xưa có ngạn ngữ này: “Biết cá trong vực sâu là điều bất tưởng”. Họ Điền tương mưu tính đại sự (1) mà tôi tỏ cho ông ta thấy rằng tôi hiểu được ẩn ý của ông thì tôi tất nguy. Không đốn cây này, chưa phải là có tội, mà biết được điều người ta không nói ra mới là tội lớn.
Bèn thôi không đốn cây nữa.
32. Một người nước Vệ gả con gái, dạy nó: “Con phải góp nhặt của riêng, nghen. Làm vợ người ta mà bị đuổi về là chuyện thường; sống với nhau tới già mới là chuyện hiếm có”. Người con nghe lời, tom tóp của riền, mẹ chồng cho là quá lo việc riêng tư, đuổi cô ta về. Lúc về nhà tiền của cô ta gấp bội lúc về nhà chồng. Người cha không tự nhận rằng mình dạy con sai mà còn tự đắc rằng mình không, đã làm giàu thêm được. Ngày nay bọn bề tôi làm việc quan đều một loại như vậy.
THIÊN XXIII
THUYẾT LÂM HẠ (Trích)
(RỪNG MƯU MÔ - PHẦN DƯỚI)
1.                 Bá Lạc dạy hai người coi tướng những con ngựa hay đá, dắt họ lại chuồng ngựa của Triệu Giản tử. Một người lựa một con ngựa hay đá đưa ra, còn người kia đi theo sau ba lần vỗ vào chỗ xương cụt ở mông của con ngựa, nhưng nó không đá; người lựa ngựa tự cho rằng mình coi tướng ngựa sai. Người kia bảo: “Anh coi không sai đâu, nó hay đá đấy nhưng vai ngắn mà đầu gối sưng. Ngựa khi đá thì cất chân sau lên mà chân trước phải chịu tất cả sức nặng; đầu gối nó sưng thì làm sao chịu được, cho nên chân sau không cất lên được. Anh giỏi coi tướng ngựa nhưng dở coi đầu gối sưng”. Việc gì cũng có lí do, mà chỉ bậc trí giả mới biết rằng đầu gối sưng thì không chịu được sức nặng. Huệ tử (1) bảo: “Nhốt con vượn vào cũi thì nó không khác gì con heo”. Hễ cái thế bất lợi thì không tỏ được khả năng của mình.
2.                  Hoàn Hách (2) nói: “Phép tạc tượng thì mũi nên cho lớn, mắt cho nhỏ vì mũi lớn thì có thể đục lại cho nhỏ, chứ đã nhỏ thì không làm cho lớn lên được; còn mắt nhỏ thì có thể đục lại cho lớn, chứ đã lớn thì không thể làm cho nhỏ lại được”. Làm việc gì khác cũng vậy, hễ việc làm rồi, sau sửa lại được thì ít khi thất bại.
3.                 Quan thái tể nước Tống quyền lớn mà chuyên chính. Quí tử (1) sắp yết kiến vưa Tống. Lương tử (1) hay tin bảo Quí tử: “Trong khi hầu chuyện vua, tất phải có quan thái tể cùng ngồi nghe chứ? Nếu không thì ông khó tránh được hoạ đấy”. Quí tử bèn khuyên vua Tống nên trọng sức khoẻ, đừng quan tâm quá đến việc nước.
16. Ba con bọ chét (sống bám vào con heo) sắp đi kiện nhau. Một con khác đi ngang qua, hỏi: “Kiện nhau về việc gì vậy?” Ba con kia đáp: “Vì tranh nhau chỗ béo bở”. Con thứ tư bảo: “Các anh không lo ngày tế chạp (2) tới, người ta đốt cỏ mao thui con heo ư? Mà còn tranh nhau nữa?” Ba con kia nghe vậy bèn xúm nhau hút máu con heo (cho thật nhiều); con heo gầy đi, khỏi bị giết.
24. Chu Táo hỏi Cung Tha (3) :
- Xin ông vì tôi mà tâu với vua Tề rằng nếu vua Tề giúp tôi làm quan ở Nguỵ thì tôi xin làm cho Nguỵ sẽ phải thờ Tề.
Cung Tha bảo:
- Không được. Như vậy tỏ rằng ông không có thế lực gì ở Nguỵ, vua Tề tất không giúp một người không có thế lực gì ở Nguỵ để kết oán với một người khác đã có thế lực ở Nguỵ. Tốt hơn ông nên nói: “Nhà vua muốn thì thần xin thuyết nước Nguỵ thờ nhà vua”. Như vậy vua Tề cho rằng ông đã có thế lực ở Nguỵ, tất ưng ông.Rốt cuộc ông có thế lực ở Tề, rồi nhờ Tề mà có thế lực ở Nguỵ nữa.
27. Vua nước Kinh (Sở) đánh nước Ngô. Vua Ngô sai bắt Tư Vệ Quệ Dung(1) khao quân Kinh. Tướng nước Kinh bảo: “Bắt trói hắn lấy máu thoa trống”. (Khi bắt rồi) ông ta hỏi (Tư Vệ Quệ Dung): “Người có bói rồi mới đi không?”
Đáp
- Có
- Quẻ tốt không?
- Tốt
Người nước Kinh hỏi
- Nay Tướng nước Kinh sắp lấy máu chú thoa trống, quẻ tốt ở chỗ nào?


(1) Sau Dương Hổ qua Triệu, được Triệu Giản chủ trọng dủng. Coi truyện 2c, thiên XXXIII, Ngoại trừ thuyết tả hạ.
(1) Các nhà hiệu chú đều cho rằng phải thêm như vậy mới đủ nghĩa. Coi (2) ở cuối đoạn sẽ thấy.
(1) Coi chú thích thiên VII Nhị kinh – chưa rõ truyện Tử Đô và Khánh Kiến.
(1) Chưa rõ là ai.
(1) Vài truyện là ngụ ngôn hoặc danh ngôn.
(1) Truyền thuyết truyền ngôi này không chắc có thực, và được nhiều sách nhắc tới; nhưng chỉ Hàn Phi là cho rằng Thang không thực tâm, chỉ làm bộ nhường thôi và dùng “thuật” đó.
(1) Cam Mậu là tả thừa tướng cảu Tần Vô Vương, Manh Mão làm xá nhân, thuộc quyền Cam mậu.
(2) Hình là một nước nhỏ ở tỉnh Trực Lệ ngày nay. Bão Thúc là bạn thân của Quản Trọng (Coi tiểu sử Quản Trọng trong phần nhất).
(1) Một bề tôi giỏi của Hoàn Công.
(1)Tương truyền vua Trụ ở trong cung, đóng cửa, đốt đước để dâm lạc, “lấy 120 ngày làm một đêm”, vì vậy mà quên ngày.
(2) Có bản chép là cu (sợ). Chữ cu với chữ hoan (vui) hơi giống nhau.
(3) Cơ tử là chú vua Trụ, can Trụ không được, giả điên, làm tên nô lệ. Chu Vô Vương diệt Trụ rồi, phong ông làm vua Triều Tiên.
(4) Điền Thành tử hay Điền Thành. Điền thưởng, Điền Hằng, hay Trần Hằng ở đời Xuân Thu, làm đại phu triều Tề Giản công, giết Giản Công để lập Bình Công. Sau con cháu ông ta cướp ngôi nước Tề.
(1) Ám chỉ việc Điền Thành tử mưa giết Giản Công. Coi thêm chú thích thiên XXXIV. Ngoại trừ thuyết hữu thượng.
(1) Tức Huệ Thi, một triết gia đồng thời với Trang tử, làm tướng quốc cho Lương Huê Vương.
(2) Ba nhân vật: Hoàn Hách, Quí tử, Lương tử này không rõ là ai.
(1) Ba nhân vật: Hoàn Hách, Quí tử, Lương tử này không rõ là ai.
(2) Một ngày tế lễ chư thần trong tiết đông chí.
(3) Chu Toá: chỉ biết là một người nước Nguỵ - Cung Tha là một mưu thần nước Tề.
(1) Chỉ biết là bề tôi nước Ngô
0
Đánh máy: muatrongdem



Hàn Phi tử


Phần 22



Trang 392 - 403

 
 
 
 
Thánh đời nay chê cười. Vậy thì thánh nhân không nhất định phải theo cổ, giữ lệ cũ, mà phải xét việc đương thời rồi tuỳ nghi tìm biện pháp. Nước Tống có người đi cấy, trong ruộng có mấy gốc cây khô, một con thỏ đâm bổ vào, gãy cổ, chết. Anh ta thấy vậy bỏ cày mà ôm gốc cây khô, hi vọng lại bắt được con thỏ nữa. Thỏ không được thêm, mà bị cả nước Tống chê cười. nay muốn dùng chính sách của tiên vương để trị dân thì cũng không khác gì anh chàng ôm gốc cây đợi thỏ đó vậy.
 
                                                *
 
      Thời cổ đàn ông không phải cày ruộng, trái cây và hột cỏ đủ ăn rồi; đàn bà không phải dệt vải, da cầm thú đủ che thân rồi. Họ không phải gắng sức mà dư ăn đủ mặc, nhân dân ít mà vật dụng thừa cho nên không tranh giành nhau. Vì vậy khỏi phải thường hậu, phạt nặng mà dân tự nhiên không loạn. Ngày nay một người có năm người con, không phải là nhiều, mỗi người con lại có năm người con nữa, thành thử ông chưa chết mà đã có hai mươi lăm đứa cháu, vì vậy nhân dân đông mà tài sản ít, phải lao lực nhiều mà thức ăn đồ mặc lại ít, cho nên họ phải tranh giành nhau, dù có thưởng hậu gấp hai, phạt nặng gấp mấy thì cũng không tránh khỏi loạn.
 
                                                *
 
      Ông Nghiêu làm vua thiên hạ mà nhà lợp bằng cỏ tranh không xén, cột rui bằng gỗ không đẽo, ăn cơm gạo xấu với canh rau lê rau hoắc, mùa đông không mặc áo da hươu da nai, mùa hè mặc áo vải thô, dầu kẻ canh cổng cũng không sống đạm bạc hơn. Ông Vũ làm vua thiên hạ, tự cầm bừa và xách sọt đi trước nhân dân, đùi và ống chân trụi hết lông, đến kẻ nô lệ cũng không cực khổ hơn. Do đó mà xét, các vua thời thượng cổ nhường ngôi thiên tử thì cũng chỉ là từ bỏ cuộc sống của người giữ cổng và đời lao khổ của tên nô lệ, có gì đáng khen đâu. Một viên huyện lệnh ngày nay khi chết rồi, thì con cháu mấy đời còn được (ung dung) ngựa xe, vì vậy mà người ta quí chức huyện lệnh. Cho nên về cái việc từ nhượng, thời xưa nhường ngôi thiên tử thật dễ mà ngày nay từ chức huyện lệnh thật khó, chỉ do cái lợi hậu hay bạc khác nhau xa. Người ở trong núi, lại hang múc nước, tới ngày lễ “lâu”, lễ “lạp”(1) đem nước tặng nhau(2), còn người ở chằm thì khổ vì úng nước, phải thuê người đào rãnh cho nước thoát. Mùa xuân những năm đói kém, dù là em ruột còn nhỏ, người ta cũng không nhường cho thức ăn, mà mùa thu những năm được mùa, dù là khách lạ tới, cũng mời ăn, đâu phải sơ với tình ruột thịt mà thân với khác qua đường, chỉ là vì thực phẩm còn nhiều hay ít đấy thôi. Cho nên cổ nhân khinh tài vật, không phải là có lòng nhân, mà vì tài vật có nhiều; ngày nay người ta tranh đoạt của nhau không phải là ti tiện mà vì tài vật có ít; ngày xưa người ta coi thường và từ bỏ ngôi thiên tử, không phải cao thượng mà vì quyền thế ít; ngày nay người ta coi trọng và tranh nhau quan chức, không phải đê tiện mà vì quyền thế nhiều. Vì vậy thánh nhân xét xem tài vật nhiều hay ít, quyền thế nặng hay nhẹ mà tuỳ theo đó lập ra chính sách: phạt nhẹ không phải là nhân từ, mà chém giết không phải là tàn bạo, chỉ là tuỳ thế tục mà thi hành pháp luật. Tóm lại việc phải theo thời, mà biện pháp phải thích ứng.
 
                                                *
 
      Thời xưa vua Văn vương ở đất Phong, đất Cảo (3), đất vuông trăm dặm, thi hành nhân nghĩa, vỗ về rợ Tây Nhung mà thống nhất được thiên hạ. Vua Yển Vương nước Từ ở phái đông sông Hán (4) đất vuông năm trăm dặm, thi hành nhân nghĩa, mà ba mươi sáu nước chư hầu cắt đất triều phục. Vua Văn vương nước Kinh (Sở) sợ (nước Từ mạnh lên) nguy hại cho mình, bèn đem quân diệt nước Từ (5). Vậy ra Văng vương thi hành nhân nghĩa mà thống nhất thiên hạ còn Yến vương thi hành nhân nghĩa mà mất nước. Thế thì nhân nghĩa dùng được ở thời xưa mà không dùng được ở thời nay. Cho nên bảo: “Đời khác thì việc cũng khác”. Đời vua Thuấn, rợ Miêu không qui phục, ông Vũ muốn đem quân đi đánh, vua Thuấn can: “Không nên. Người trên đức không dày mà dùng vũ lực là trái đạo”. Rồi vua Thuấn sửa sang việc giáo hoá trong ba năm, sau đó tổ chức lễ múa khiên múa búa, rợ Miêu coi rồi thuần phục. Tới khi lâm chiến với Cung Công (6), binh khí bằng sắt (7) ngắn quá, không đâm tới địch, áo giáp không chắc, bị địch đâm phạm thân thể, vậy việc múa khiên và búa dùng được thời xưa mà không dùng được thời nay. Cho nên bảo: “Việc khác thì biện pháp phải đổi”. Đời thượng cổ người ta đua nhau trọng đạo đức, đời trung cổ người ta tranh nhau về mưu thí, đời nay người ta tranh nhau về sức mạnh. Nước Tề muốn đánh nước Lỗ, vua Lỗ sai Tử Cống (một môn đệ của Khổng tử) qua Tề thuyết phục. Người nước Tề bảo: “Lời thầy nói không phải là không khéo. Nhưng cái chúng tôi muốn là đất đai kia chứ không phải cái mà thầy nói”. Rồi họ đem quân chiếm Lỗ, cách kinh đô Lỗ mười dặm mới ngừng lại, lấy chỗ đó làm ranh giới. Vậy Yến vương thi hành nhân nghĩa mà nước Từ mất Tử Cống dùng trí mưu, khéo nói mà nước Lỗ bị chiếm đất: theo đó mà xét nhân, nghĩa, trí, mưu khéo nói không giữ được nước. Bỏ cái nhân nghĩa của Yến vương, cái trí mưu của Tử Cống đi, mà dùng binh lực nước từ, nước Lỗ, cự với nước địch vạn cỗ xe, thì tham vọng của Tề, Kinh làm sao thi hành với hai nước đó được.
 
                                                *
 
      Phong tục xưa và nay khác nhau, biện pháp cũ và mới phải khác nhau. Muốn dùng chính sách khoan hoà để trị dân thời loạn thì không khác gì không dùng dây cương và roi mà muốn chế ngự một con ngựa bất kham. Đó là cái hại của sự bất trí. Nho và Mặc đều khen tiên vương kiêm ái thiên hạ, coi dân như con (8). Để chứng minh điều đó, họ bảo: “Khi quan tư khấu (coi việc hình) hành hình thì vua không tấu nhạc; khi báo kẻ bị tử hình đã chết thì vua rơi lệ”. Họ đem điều đó để khen tiên vương, rồi bảo vua tôi coi nhau như cha con thì nước tri. Cứ như họ nói thì cha nhân từ, con nhất định không loạn sao? Theo tình người, không ai yêu con bằng cha mẹ, nhưng như vậy vị tất con đã không loạn: vậy thì dù vua rất yêu dân đi nữa, làm sao giữ cho dân không loạn được? Tiên vương yêu dân không hơn cha mẹ yêu con, mà cha mẹ yêu con vị tất con đã không loạn, thì tiên vương làm sao cho dân trị được? Vả lại theo pháp luật hành hình, mà vua rơi lệ, như vậy chứng tỏ rằng vua có lòng nhân từ chứ không phải làm cho nước được trị (vì nếu nước được trị thì sao còn phải hành hình?) Rơi lệ, không muốn hành hình, là nhân; nhưng vẫn không thể không hành hình được, đó là pháp luật. Tiên vương đã cho pháp luật thắng lòng nhân, không theo lòng thương của mình (9) vậy thì rõ ràng là nhân ái không dùng để trị nước được. Lại thêm, dân chúng đa số phục tùng quyền lực, đạo nghĩa chỉ cảm hoá được một số ít thôi. Trọng Ni là bậc thánh trong thiên hạ, nhưng quí lòng nhân, khen lòng nghĩa, mà phục dịch ông thì chỉ có bảy mươi người (10), vì số người quí đức nhân ái vốn ít mà thi hành đạo nghĩa là việc khó. Cho nên thiên hạ mênh mông như vậy mà kẻ phục dịch ông chỉ có bảy mươi người, thi hành được nhân nghĩa thì chỉ có một người (tức Khổng tử). Lỗ Ai Công là hạng vua tồi, quay mặt về phương nam mà trị dân, thì dân trong nước không ai dám không thuần phục, vậy dân vốn phục tòng quyền thế mà quyền thế quả là dễ khiến cho người ta phải phục. Cho nên Trọng Ni mới phải làm bề tôi, Ai Công ngược lại, được làm vua. Trọng Ni (thời Ai Công) đâu phải là khen đạo nghĩa của Ai Công mà chỉ là phục tòng cái thế của ông ta thôi. Xét về đạo nghĩa thì Trọng Ni không phục Ai Công, mà nhờ cái thế, Ai Công bắt Trọng Ni phải làm bề tôi mình. Nay bọn học giả đi du thuyết các vua chúa không khuyên họ dùng cái thế tất thắng, mà lại bảo: “Trọng nhân nghĩa thì lập được nghiệp vương”, như vậy là đòi bậc vua chúa phải (có đức) như Trọng Nhi hết, mà phàm nhân trong đời đều phải như (bảy chục) môn sinh của ông hết. Đó là điều nhất định không thể được.
 
                                                *
 
      Nay có đứa con hư, cha mẹ giận, la nó, nó không sửa tính, người trong làng trách nó, nó cứ trơ trơ, thầy dạy nó, nó cũng không chứa.
      Lòng yêu của cha mẹ, hành động của người trong làng và lời giáo huấn sáng suốt của thầy dạy, có đủ ba cái đẹp đẽ đó mà chung qui không động đến được một sợi lông ở ống chân của nó. Khi quan lại ở châu bộ đem binh tới thi hành phép nước, lùng bắt kẻ gian, lúc đó nó mới hoảng sợ, thay đổi tính khí hạnh kiểm. Vậy lòng yêu của cha mẹ không đủ để dạy con, phải đợi có nghiêm hình của châu bộ mới được, vì dân vốn được yêu thì nhờn phải dùng uy lực mới chịu nghe. Thành cao mười nhẫn ( bảy hay tám chục thước), dẫu Lâu Quí(11) cũng không vượt qua được vì nó dựng đứng; ngọn núi cao ngàn nhẫn thì con cừu què cũng dắt lên đó chăn được vì dốc thoai thoải (12). Cho nên bậc minh chủ mới đặt ra hình pháp nghiêm khắc. Tấm vải dài một tầm hay một thường (13) thì người thường (không tham lam) cũng không chịu bỏ, mà một trăm dật vàng chảy (nóng bỏng) thì Đạo Chích cũng không lấy đi. Biết rằng không hại gì cả nên không bỏ một tầm, một thường vải, biết rằng bỏng tay nên một trăm dật vàng chảy cũng không lấy. Cho nên bậc minh chủ cương quyết trừng trị. Thưởng thì không có gì bằng trọng hậu và tín thực để cho dân thấy là lợi; phạt thì không gì bằng nặng mà cương quyết để cho dân sợ; pháp luật không gì bằng thống nhất, cố định để cho dân dễ biết. Bậc vua chúa thưởng thì không đổi ý, phạt thì không ân xá, đã thương rồi lại khen thêm nữa, đã phạt rồi lại chê thêm nữa, như vậy người hiền và kẻ bất tiếu đều tận lực làm điều phải.
 
      Ngày nay không vậy: ban tước cho kẻ có (quân) công nhưng lại khinh thị quan (võ); thưởng kẻ gắng canh tác nhưng lại coi rẻ nghề nông; kẻ mình không thu dùng được (tức bọn ẩn sĩ) thì bỏ ra ngoài, nhưng lại đề cao là biết khinh thế tục; kẻ nào phạm cấm thì bị tội, nhưng lại khen là dũng cảm (trỏ bọn hiệp sĩ). Khen chê, thưởng phạt trái ngược nhau như vậy cho nên pháp luật, cấm lệnh bị huỷ hoại mà dân càng loạn. Ngày nay ai đánh kẻ xâm phạm đến anh em mình thì được khen là người có góc cạnh (có khí tiết): ai thấy bạn bị nhục mà trả thù cho bạn thì được khen là trung trinh. Cái phẩm hạnh có góc cạnh, trung trinh mà thành thì pháp độ của vua bị vi phạm. Bậc vua chúa tôn trọng cái hạnh góc cạnh, trung trinh mà quên cái tội phạm cấm, cho nên dân ganh nhau xem ai mạnh mà quan lại không kiềm chế họ được. Không phải làm lụng khó nhọc mà có ăn có mặc thì khen là có tài năng; không có chiến công mà có chức vị tôn quí thì khen là hiền đức. Tài năng và hiền đức như vậy mà thành thì binh lực trong nước phải yếu mà đất bị bỏ hoang. Bậc vua chúa ưa thích cái hạnh tài năng hiền đức đó mà quên cái hoạ binh nhược đất hoang, như vậy là cái hạnh riêng được thành lập mà cái ích công bị tiêu diệt.
 
                                                *
 
      Bọn nho sĩ dùng văn làm loạn pháp luật, bọn hiệp sĩ dùng võ phạm cấm, mà bậc vua chúa đều tôn trọng, do đó mới sinh loạn. Hễ trái phép thì bị tội, nhưng các “tiên sinh” (14) lại nhờ văn học mà được dùng; phạm cấm thì bị giết, nhưng các hiệp sĩ chuyên ám sát lại được nuôi. Vậy người mà pháp luật cho là trái thì vua lại dùng, kẻ mà quan lại giết thì bề trên nuôi. Pháp luật, thu dụng, trên, dưới bốn cái đó trái nhau, không có gì nhất định, như vậy dù có mười ông Hoàng Đế cũng không làm cho nước trị được. Vậy kẻ thi hành nhân nghĩa là không nên khen, khen thì hại cho sự nghiệp, kẻ chuyên về văn học là không nên dùng, dùng thì loạn pháp. Nước Sở có người được tiếng là “ngay thẳng” cha ăn trộm cừu, anh ta đi báo quan. Quan lệnh doãn ra lệnh: “giết nó đi”, vì anh ta ngay thẳng đối với vua mà có lỗi với cha, cho nên tuy báo quan mà bị giết. Do đó mà xét, người bề tôi chính trực đối với vua là đứa con hung bạo đối với cha. Nước Lỗ có kẻ theo vua ra trận, ba lần đánh ba lần chạy. Trọng Ni hỏi nguyên do, người đó đáp: “Tôi có cha già, tôi chết thì không ai nuôi”. Trọng Ni khen là hiếu, tiến cử người đó với vua Lỗ. Do đó mà xét, người con hiếu với cha là kẻ bề tôi phản vua. Cho nên quan lệnh doãn nước Sở giết kẻ tố cáo cha, mà không ai tố cáo kẻ gian với bề trên nữa; Trọng Ni thương kẻ bỏ chạy khi ra trận mà dân nước Lỗ dễ thua trận, hàng giặc; cái lợi của người trên kẻ dưới khác nhau như vậy đó. Bậc vua chúa muốn vừa khen hạnh tốt của nhân dân vừa mưu cái phúc cho xã tắc thì tất không thể được. Đời xưa, ông Thương Hiệt đặt ra chữ viết, dùng cái hình như cái vòng khép, gọi là chữ “tư” (nghĩa là riêng), trái với “tư” thì gọi là “công” (chung) (15), vậy ông Thương Hiệt đã biết rằng công và tư trái với nhau rồi. Ngày nay coi công và tư, lợi hại như nhau, là do cái hoạ của sự không biết thẩm sát. Như vậy thì đối với người dân thường, lợi hơn hết là làm điều nhân nghĩa và luyện tập văn học. Làm điều nhân nghĩa thì được tin cậy và sẽ được giao cho chức vụ; luyện tập văn học thì thành ông thầy giỏi và sẽ được vinh hiển, đó là điều tốt đẹp đối với người dân thường. Nhưng không có quân công mà được giao cho chức vụ, không có tước mà được vinh hiển, theo chính sách đó, nước tất loạn, vua tất nguy. Hai cái đó không thể dung nhau được, không thể lưỡng lập được. Thưởng người chém được đầu quân địch mà đồng thời lại đề cao hành vi nhân từ; ban tước lộc cho người phá được thành địch mà đồng thời lại tin thuyết kiên ái; chế tạo áo giáp cho chắc và luyện binh cho nghiêm đề phòng hoạn nạn mà đồng thời lại thích y phục của nhà Nho; trông cậy vào nông dân để cho nước giàu, trông cậy vào quân lính để cự địch mà đồng thời lại trọng kẻ sĩ chuyên về văn học; ruồng bỏ hạng dân biết kính bề trên, biết sợ pháp luật mà nuôi bọn hiệp khách ám sát kẻ thù riêng, hành động như vậy mà mong cho nước được trị và mạnh là điều không thể được. Thời bình nuôi nho sĩ và hiệp khách, thời loạn lại dùng binh sĩ như vậy là kẻ được ân huệ. Vì vậy mà kẻ nhiệm sự bỏ bê công việc mà kẻ du học mỗi ngày mỗi đông, do đó mà đời hoá loạn.
 
                                                *
 
      Người đời mà gọi là hiền thì giữ khí tiết và có tín nghĩa; người đời mà gọi là trí thì lời nói tinh vi tế nhị. Lời nói tinh vi tế nhị thì ngay bậc rất thông minh cũng khó hiểu được. Nay, làm pháp luật cho quần chúng mà dùng những lời ngay bậc rất thông minh cũng khó hiểu được thì quần chúng biết đâu mà rờ. Tấm cám mà còn không có đủ ăn cho no thì đâu có nghĩ tới gạo thơm, thịt bổ; quần áo cụt mà không được lành lặn thì đâu có nghĩ tới gấm thêu. Chính sách trị nước, việc gấp kia mà chưa làm xong thì việc hoãn, tính tới làm gì. Làm chính trị lo việc trong dân gian, mà điều dân thường hiểu rõ được thì lai không dùng, đi hâm mộ ngôn luận của bọn thượng trí, như vậy là trái ngược với việc trị dân. Cho nên những lời tinh vi tế nhị, không phải là cái cần thiết cho dân chúng. Nếu khen hành vi giữ khí tiết có tín nghĩa là hiền thì tất quí kẻ sĩ không dối trá, mà quí kẻ sĩ không dối trá thì tất cũng không có cái thuật làm cho người không lừa gạt mình được(16). Người áo vải giao du với nhau, không vì ham của cải hoặc sợ uy thế của nhau, cho nên mới cầu kẻ sĩ không dối trá. Còn bậc vua chúa đã ở vào cái thế chế ngự được người, mà lại giàu có làm chủ cả một nước, thưởng hậu, phạt nặng, nắm hai quyền (thưởng, phạt) đó để làm sáng tỏ cái mà thuật của mình soi đến được (tức để biết rõ được kẻ gian tà), thì tuy có bề tôi như Điền Thường, Tử Hàn (17) cũng không dám dối mình, vậy thì còn cần gì tới kẻ sĩ không dối trá? Kẻ sĩ giữ khí tiết có tín nghĩa (cả nước) không được tới mười người mà số quan lại trong cõi thì có tới trên trăm, nếu cứ phải hạng sĩ giữ khí tiết có tín nghĩa mới được bổ dụng thì kiếm đâu cho đủ người làm quan? Không có đủ người làm quan thì kẻ cai trị ít mà kẻ làm loạn nhiều. cho nên cái đạo của bậc minh chủ là cứ nhất thiết theo pháp luật mà không cần có người trí, cứ nắm vững lấy thuật mà không hâm mộ kẻ trung tín, như vậy pháp luật không bị huỷ hoại mà quan lại không sinh ra gian trá.
 
                                                *
 
      Ngày nay bậc vua chúa, đối với ngôn luận (của bọn du sĩ) chỉ thích lời nói khéo mà không xét xem có thích đáng hay không; đối với hành vi (của bọn du sĩ) thì chỉ trọng hư danh của họ chứ không xem họ có công (cày ruộng hay đánh giặc) không, vì vậy mà dân trong thiên hạ hẽ đàm luận thì chỉ vụ ăn nói cho khéo chứ không nghĩ đến thực dụng. Cho nên bọn dẫn chứng tiên vương, nói chuyện nhân nghĩa đầy cả triều đình mà quốc chính không khỏi loạn; kẻ lập thân chỉ tranh nhau cái tiếng thanh cao (18), không cầu cái công dụng thực tế, do đó bọn trí sĩ lui về ở ẩn trong hang núi, từ bỏ tước lộc không nhận mà binh lực không khỏi suy nhược. Binh lực không khỏi suy nhược, quốc chính không khỏi loạn, nguyên do ở đâu? Ở chỗ cái mà dân chúng khen, nhà vua trọng đều là những học thuyết làm
 
 
 
 
 
 
(1)                                                                                                                Tục nước Sở, tháng hai có lễ “lâu”, đông chí có lễ “lạp” để tế thần.
(2)                                                                                                                Vì ở núi ít nước, nước hoá quí.
(3)                                                                                                                Phong và Cảo đều ở Thiểm Tây, nhà Chu mới đầu đóng đô ở đất Cảo.
(4)                                                                                                                Một con sông phát nguyên từ Thiểm Tây, chày vào Hồ Bắc rồi đổ vào sông Dương Tử.
(5)                                                                                                                Tương truyền vua Yển vương vì thương dân không kháng cự nên Sở chiếm được nước Từ.
(6)                                                                                                                Cung Công là một bộ lạc thời thượng cổ, trước thời vua Vũ đã có lần xâm phạm Trung Nguyên, thời vua Vũ cũng có thể gây chiến với trung nguyên nữa, nhưng không thấy sử chép việc đó.
(7)                                                                                                                Theo các nhà khảo cổ gần đây thì thời đó chưa có sắt cuối đời Xuân Thu mới có.
(8)                                                                                                                Nguyên văn: “thị dân như phụ mẫu”. Câu này theo Trần Khải Thiên tỉnh lược mấy chữ (… như phụ mẫu) chi phụ mẫu.
(9)                                                                                                                Nguyên văn: bất thính kì khấp là không theo sự khóc lóc.
(10)         Tức thất thập nhị hiền.
(11)         Một người nổi tiếng chạy nhanh thời xưa.
(12)         Nguyên văn là di có sách giảng là phẳng, có sách giảng là phẳng lần lần.
(13)         Một tầm là tám thước, một thường là hai tầm, thước hồi đó bằng khoảng một gang tay.
(14)         Chữ “tiên sinh” mới đầu trỏ các danh sĩ khắp nơi tụ tập ở Lâm Tri (Tề) mà được vua Tề trọng đãi (coi phần I), ở đây trỏ hạng người mà ngày nay chúng ta gọi là học giả.
(15)         Coi chú thích phần III chương IV
(16)         Chúng ta nên nhớ Hàn Phi chủ trương vua phải dùng thuật để chế ngự bề tôi.
(17)         Điền Thường hay Điền Thành, Điền Hằng, một đại phu nước Tề đời Xuân Thu, giết vua Tề là Giản Công để lập Bình Công. Sau con cháu ông ta cướp luôn ngôi vua nước Tề - Tử hãn chưa rõ là ai, có lẽ là một Đại phu nước Tống.
(18)         Ám chỉ bọn Đạo gia ở ẩn.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-05-25 05:20:47cunhoi>
(Từ trang 418 đến trang 422)
 
THIÊN XLIII
 
ĐỊNH PHÁP
 
(LẬP PHÁP (1))
 
Có người hỏi:
 
- Thuyết của hai ông Thân Bất Hại và Công Tôn Ưởng, thuyết nào khẩn thiết cho quốc gia hơn? Đáp: - Không thể quyết được. Ngưòi ta không ăn mười ngày thì chết, mà trời lạnh gắt, không có áo mặc cũng chết. Hỏi ăn mặc cái nào khẩn thiết cho người hơn thì không thể quyết được vì cả hai đều để dưỡng sinh, không thể thiếu một. Thân Bất Hại nói về thuật, mà Công Tôn Ưởng nói về pháp. Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực (nói sao thì phải làm đúng như vậy hoặc giữ chức vụ nào thì phải làm đúng nhiệm vụ), nắm quyền sinh sát, xét khả năng của quần thần. Đó là cái bậc vua chúa phải nắm trong tay. Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt (2) đều được dân tin chắc là thi hành (3), thường người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp (4). Ở trên vua không có thuật thì bị bề tôi che lấp; ở dưới bề tôi không có pháp luật thì loạn. Vậy không thể thiếu một trong hai cái đó, cả hai đều là công cụ của bậc đế vương.
 
*
 
Người đó lại hỏi: “Chỉ theo thuật mà không có pháp luật hoặc chỉ có pháp luật mà không theo luật, đều không được, là tại sao? Đáp: “Thân Bất Hại  làm phụ tá cho Hàn Chiêu hầu, Hàn (lúc đó) là một phần của nước Tấn (mới) tách ra (5). Vì vậy pháp luật cũ của Tấn chưa bỏ mà pháp luật mới của Hàn đã đặt ra: lệnh của vua trước chưa thu về mà lệnh của vua mới đã ban hành. Nếu Thân Bất Hại không chỉnh đốn lại pháp luật, thống nhất lại hiến lệnh thì sẽ có nhiều kẻ gian vì pháp luật và lệnh cũ có lợi cho họ thì họ theo, pháp luật và lệnh mới có lợi cho họ thì họ theo. Cũ và mới trái ngược nhau, trước và sau nghịch nhau, thì dù Thân Bất Hại có bảo Chiêu hầu cả chục lần phải dùng thuật, bọn gian thần vẫn còn có chỗ dối trá trong lời nói được. Vì vậy, Thân Bất Hại dựa vào sức mạnh của nước Hàn có vạn cỗ xe mà mười bảy năm (6) không lập được nghiệp bá vương cho Hàn. Đó là cái hại bề trên tuy dùng thuật mà các quan không chỉnh đốn, thống nhất pháp luật.
 
Công Tôn Ưởng trị nước Tần, đặt ra lệnh phải cáo gian, nếu tố cáo sai thì bị tội, năm và mười nhà phải cùng chịu trách nhiệm; thưởng hậu mà xác thực, phạt nặng mà cương quyết; nhờ vậy mà dân tận lực làm lụng không nghỉ, đánh đuổi địch, dù nguy cùng không lùi bước, làm cho nước giàu binh mạnh. Nhưng không dùng thuật để biết kẻ gian, cho nên sự giàu mạnh đó chỉ lợi cho bọn đại thần mà thôi. Tới khi Hiếu Công và Thương quân (Thương Ưởng) chết, Huệ Vương lên nối ngôi, pháp luật của Tần chưa huỷ hoại, mà Trương Nghi đem Tần hi sinh cho Hàn, Nguỵ (7). Rồi Huệ Vương chết, Võ Vương lên nối ngôi, Cam Mậu (Tả thừa tướng của Tần) đem Tần hi sinh cho nước Chu. Võ Vương chết, Chiêu Tương Vương lên nối ngôi, Nhưng Hầu (tức Nguỵ Nhiễm) vượt nước Hàn, nước Nguỵ mà đánh Tề ở phía Đông, năm năm Tần không thêm được một thước đất, mà Nhương Hầu thì được phong ấp Đào, Ứng Hầu (tức Phạm Tuy) đánh Hàn tám năm, mà được phong đất Nhữ Nam. Từ đó trở đi, những kẻ được trọng dụng ở Tần đều thuộc hạng Ứng Hầu, Nhượng Hầu hết. Vậy, đánh giặc mà thắng thì đại thần được tôn quí, quố gia được thêm đất thì đại thần được thêm đất riêng, chỉ vì nhà vua không có thuật để biết kẻ gian. Thương quân dù mười lần sửa sang pháp luật, gian thần cũng ngược lại lợi dụng pháp luật làm lợi cho họ (8). Cho nên nhân sức mạnh của Tần mà mấy chục năm không lập được sự nghiệp đế vương. Đó là cái hại của pháp luật được các quan áp dụng đúng, nhưng vua ở trên lại không có thuật.
 
*
 
Lại nói:
 
- Vua chúa dùng thuật của Thân tử, quan lại dùng pháp của Thương quân, như vậy là được rồi chứ (hay chưa đủ?) (9)
 
Đáp:
 
- Thận tử chưa đạt đến chỗ hoàn toàn của thuật, Thương quân chưa đạt đến chỗ hoàn toàn của pháp. Thận tử bảo: “Quan lại không được vượt chức (không thuộc quyền chức của mình thì) dù biết cũng không được nói”. Quan lại không được vượt chức, như vậy là giữ chức phận của mình, cái đó được; nhưng biết mà không nói thì là không tố cái lỗi (10) (của người khác với vua), cái đó sai. Bậc vua chúa lấy mắt của cả nước mà xem cho nên không ai nhìn sáng bằng, lấy tai của cả nước mà nghe cho nên không ai nghe tỏ bằng. Nay bề tôi biết mà không nói thì vua chúa còn nhờ vào đâu mà nhìn thấy, nghe thấy được nữa? Pháp luật của Thương quân bảo: “Chém được một đầu giặc thì thăng tước một cấp, nếu muốn làm quan thì được một chức quan mà lương là 50 thạch (mỗi thạch là mười đấu); chém được hai đầu giặc thì thăng tước hai cấp, nếu muốn làm quan thì được một chức quan lương 100 thạch. Việc thăng quan tước xứng với công chém đầu giặc. Nay nếu có một pháp lệnh bảo: “Ai chém được đầu giặc thì được làm thầy thuốc hay thợ mộc” thì nhà cất không xong mà bệnh trị không hết. Làm thợ cần khéo tay, làm thầy thuốc cần giỏi dùng thuốc. Cứ chém được đầu giặc là được làm những nghề đó thì không hợp với khả năng của họ. Làm quan trị dân thì cần có trí năng, còn chém đầu giặc thì cần sức mạnh. Dùng người chỉ có sức mạnh mà cho làm quan trị dân cần có trí năng, thì cũng như cho người có công chém đầu giặc làm thầy thuốc hay thợ mộc. Cho nên tôi bảo: “Hai ông ấy – Thân tử và Thương quân – chưa đạt được đến cho hoàn toàn của thuật, pháp”.

 
Nhưng thiên Bát kinh viết: yết quá thưởng, thì rõ ràng yết có nghĩa là tố cáo. Tố cáo tội lỗi của người khác nên được thưởng.
 
(1) Theo Trần Khải Thiên, cũng có thể hiểu là giải thích pháp luật. Nhưng chúng tôi nghĩ nghĩa đó hẹp quá. Nhan đề này không tóm được ý toàn thiên.
(2) Có bản chép là hình phạt, nhưng đọc hàng dưới sẽ thấy thưởng phạt đúng hơn.
(3) Nghĩa là pháp luật đã ban thì phải thi hành đúng, dân mới tin.
(4) Nguyên văn: nhân thần chi sở sư, có bản giảng là: bề tôi sẽ coi là thầy.
(5) Năm 376 trước Tây Lịch, nước Tấn chia ba thành Nguỵ, Triệu và Hàn.
(6) Sự thực chỉ cso 15 năm thôi mà Hàn không phải là nước lớn có vạn cỗ xe.
(7) Trương Nghi lầm tướng quân Tần Huệ vương, chủ trương liên hoành, thuyết lục quốc họp nhau lại phục vụ Tần. Vậy thì sao lại bảo đem Tần hi sinh cho Hàn, Nguỵ.
(8) Chính nghĩa là “nhờ cậy vào đó”
(9) Nguyên văn: khá hồ? Nhiều sách dịch sát là được không? Chúng tôi nghĩ dịch như vậy thì lời đáp của Hàn Phi ở dưới hoá ra không nhằm, cho nên chúng tôi lấy ý mà dịch như trên.
(10) Nguyên văn: thị bất yết quá dã. Có sách không dịch chữ yết đó, có sách dịch là không nói cái gì không thuộc chức vị của mình.
0