Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Về miền đất hứa (Exodus) của Leon Uris 🔒

87 trả lời, 39.607 lượt xem — Trang 3 / 3
Vậy thì anhvu cho CtLy xin bản scan phần còn lại nha

ctly_ly@yahoo.com

Cảm ơn anhvu nhiều nha
0
Đã rất lâu không có thời gian ghé vnthuquan, nay vào mới đọc được post của bác anhvu1954. Nếu bác có ghé lại, xin bác vui lòng cho tôi xin bản scan của cuốn Về miền đất hứa do cố nhà văn Thế Uyên dịch với. Tôi sẽ dành thời gian để gõ dần nó lên đây và có thể, đưa cả lên Facebook cho nhiều người được cùng đọc.

Cám ơn bác anhvu nhiều trước.

E-mail của tôi là: nqbinhdi@gmail.com 
Khi người ta yêu thì không có gì tựa là quá khó
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.09.2014 16:18:20 bởi scpio>
2-12
 
Mười bảy tuổi, Ari Ben Canaan cao một thước chín mươi lăm và khỏe như voi. Ngoài hébreu và tiếng Anh, chàng cũng thông thạo Ả-rập, Đức, Pháp cùng bập bẹ nói được Yiddish, ngôn ngữ mà bà mẹ đã xử dụng mỗi khi bà nổi cơn giận.
Vị hôn thê của chàng là Dafna đã nẩy nở thành một cô gái khỏe mạnh, vui tính, đầy duyên dáng... Và sống chỉ cho chàng mà thôi... Chắc chắn là họ sắp cưới nhau đến nơi. Tuy vậy, tình hình càng căng thẳng thêm ở Palestine, họ càng có ít thì giờ để gặp nhau. Là đoàn viên nhiệt thành của Haganah, Ari đã chứng tỏ các khả năng đặc biệt đến nỗi Avidan coi chàng như một trong những nguồn hy vọng của quân lực Do-thái tương lai. Sự kiện này không có gì ngạc nhiên hết: đa số các quân nhân ưu tú đều chưa đến tuổi trưởng thành.
Trong cơ ngũ của mình, Ari từng tổ chức cho năm hay sáu kibboutz. Sau đó một thời gian, khi Mossad bắt đầu đánh phá phong tỏa mặt biển, thượng cấp chỉ định chàng chiếm giữ tại các bãi biển, nơi các tầu đưa người di cư đổ bộ xuống. Chàng cũng lo đưa di dân tới các nông trường trà trộn với các nông dân, cùng thu thập các sổ thông hành của các di dân được nhập nội chính thức Palestine để phân phối lại cho các Do-thái bất hạnh còn kẹt ở Âu châu.
Mỗi khi chàng được rảnh vài ba hôm, chàng điện thoại về Yad El, và ngay lập tức Dafna lên đường đi Tel-Aviv, bằng ngựa, bằng cách quá giang xe hơi hay đi bộ để tới gặp chàng. Hai người đi nghe nhạc của Ban đại hòa tấu mới thành lập mà buổi trình diễn đầu tiên đã được hân hạnh do Toscanini điều khiển. Họ đi thăm các triển lãm hội họa, dự các buổi diễn thuyết, hay chỉ lang thang trên các đường phố Yehuda và Albenby, giữa các quán cà-phê bàn ghế bầy ra đến tận vỉa hè. Mỗi lần được gặp gỡ, sung sướng càng thêm mãnh liệt và lúc chia tay càng thêm đau buồn. Ari không muốn cưới vợ trước khi có được một nông trại riêng để xây dựng tổ ấm. Nhưng tình hình mỗi ngày một trầm trọng, và công vụ trong Haganah mỗi ngày đòi hỏi thêm nhiều thời gian, chàng tự hỏi ước mong đó liệu một ngày kia có thực hiện được hay không nữa. Họ yêu nhau điên cuồng và không còn chịu đựng nổi nữa. Bởi vậy một đêm - Ari đã mười chín và Dafna mười bẩy - nàng hiến thân cho chàng. Kể từ giờ, trong những giờ khắc riêng tư hiếm hoi mà các biến cố còn cho phép, họ ngây ngất khám phá ra hạnh phúc được thuộc về nhau.
Nếu đợt di cư thứ hai đã mang vào Palestine các người lý tưởng và những người chỉ huy lãnh đạo, đợt thứ ba mang lại những người khai hoang, thì đợt thứ tư, gồm toàn Do-thái Đức, đã mang lại cho cộng đồng Do-thái một thúc đẩy lớn về văn hóa và khoa học. Trước các tiến bộ không ngừng của sự khẩn hoang Do-thái, các effendi hoảng hốt - hoảng sợ cho đến nỗi rằng đây là lần đầu tiên trên đời, họ quyết định bỏ qua các tranh chấp nội bộ để gây một áp lực mạnh hơn nữa đối với người Anh. Vụ gây áp lực này sớm thấy hiệu quả. Đến mùa xuân năm 1936, khi cơ cấu trung ương phục quốc xin nhiều ngàn chiếu khán cho rất nhiều nam nữ đang bị cơn điên khùng của Hitler đe dọa tới tính mạng, Luân-đôn chỉ chấp thuận cho chưa tới một ngàn.
Vị mufti không cần nhiều hơn thế để lại tiếp tục tấn công. Các rối loạn xẩy ra ở Jaffa, nơi các tay xách động tuyên truyền cả quyết rằng ở Tel-Aviv, người Do-thái đã bắt cóc các người Ả-rập đem giết đi. Đồng thời mufti tuyên bố thành lập một “Ủy ban Ả-rập Tối cao” đặc trách việc tổ chức một cuộc đình công toàn diện để chống lại thái độ “thân Do-thái” của người Anh. Thực ra, tàn sát và đình công chỉ là một mặt ngoài che giấu cho các tay giết mướn chuyên nghiệp đi thanh toán một cách có hệ thống những nhân vật Ả-rập nào chống lại với đường lối chính trị của mufti.
Cũng vì thế mà Kammal, mouktar của làng Abou Yesha là bạn chung thủy của Barak Ben Canaan, đã trả giá bằng mạng sống của mình do các liên hệ láng giềng mà ông đã duy trì với các nông trường Do-thái. Các tay sát nhân của mufti tìm thấy ông đang cầu nguyện trong giáo đường nhỏ ven giòng suối - và chúng đã cắt cổ ông. May mắn thay người con trai là Taha lại trốn thoát được, chạy sang nhà Barak và sống tại đó trong an toàn.
Lần này sự khủng bố đã đưa tới tổng đình công bắt buộc cùng sự tẩy chay của người Do-thái: tình hình toàn xứ lâm nguy. Không còn tìm thấy người mua, dân Ả-rập để các hoa mầu của mình thối ủng ngoài đồng. Hải cảng Jaffa bị tê liệt, thương mại trong thành phố đình chỉ. Dĩ nhiên là trong các bài giảng, mufti đổ hết trách nhiệm cho người Do-thái, và các dân Ả-rập, trước thảm họa mỗi ngày một lớn, đã buông thả cho cơn giận dữ của mình. Bây giờ họ táo bạo đến độ tung ra các cuộc dạ kích chống các nông trường Do-thái, đốt phá nhà cửa, cướp thực phẩm mang đi. Khi các toán Ả-rập này bắt gặp một người Do-thái đi một mình, chúng giết ngay, chặt đầu chặt chân, moi mắt người đó.
Mặc dù các tàn bạo dã man này, Haganah, dưới quyền chỉ huy của Avidan, vẫn giữ được thái độ hoàn toàn phòng thủ. Ngược lại, các Macchabée của Akiba cố gắng hòn đá ném đi thì hòn chì ném lại. Vị trí của họ rất khó khăn: bị người Anh đặt ra ngoài vòng pháp luật, họ bắt buộc phải rút lui về ba thành phố Tel-Aviv, Jérusalem và Haïfa - nơi mà các đường phố ngõ hẻm cùng đám đông tạo thành những “bưng biền” rất tốt. Mặc dù “Trung ương” đã hoàn toàn phủ nhận các Macchabée, rất nhiều đoàn viên phục quốc lại tán đồng hoạt động của Akiba một cách bí mật.
Bây giờ toàn thể Hồi giáo vang lên những kêu gọi điên cuồng của mufti, hô hào thánh chiến chống lại đế quốc Anh và phục quốc Do-thái. Lời kêu gọi này có tiếng vang trong vương quốc Irak kế cận, nơi mà Kavouvkji, sĩ quan quân lực chính qui, đã chờ đợi đúng cơ hội này để chứng tỏ tài năng mà đương sự coi như là đặc biệt hiếm có. Mufti đã đặt dưới quyền xử dụng của sĩ quan này một phần số tiền bóc lột được của dân Ả-rập Palestine. Với số tiền này Kavouvkji đi chiêu mộ các tay buôn thuốc phiện lậu và các tay buôn nô lệ ham mê viễn ảnh được hiếp hàng ngàn phụ nữ Do-thái và cướp hàng triệu sterling, đã rời các xóm ăn chơi du đãng của Bagdad và Mossoul để nhập ngũ. Rồi đứng đầu đạo quân này, Kavouvkji vượt qua Liban tiến vào Palestine để đến cứu giúp cái kẻ đang bị “hành hạ” là mufti Hadj Amine.
Không hề lo tới việc tạo chiến thắng, Kovouvkji chỉ giới hạn hành động trong các vụ hành quân nguy hiểm. Xét chung, hoạt động của hắn chỉ giới hạn trong việc phục kích các xe hàng và xe súc vật kéo, hoặc cùng lắm là tung các toán tuần tiễu nhỏ ở những nơi nào có thể rút lui nhanh chóng. Nhưng vậy là đủ mở rộng kinh hoàng trong toàn thể lãnh thổ.
Sau một vài vụ phản kích, người Anh đã mang ra áp dụng một chiến thuật không ai ngờ. Đáng lẽ phải tiêu diệt các toán cướp, họ lại đi xây chung quanh Palestine chừng năm mươi đồn bê-tông cốt sắt, mỗi đồn có thể chứa được từ vài trăm đến hàng ngàn người. Đêm tới, người Anh rút quân vào trong các đồn đó - được gọi là các “fort Taggart” theo tên viên kỹ sư đã đề ra kế hoạch xây cất đó - để mặc các vùng chung quanh không tuần phòng không bảo vệ. Ban ngày, các cuộc hành quân Anh đều chỉ đánh vào khoảng không. Ngay khi một đoàn quân rời đồn, hệ thống “điện thoại Ả-rập” hoạt động liền. Chưa kịp tới mục tiêu, địch đã tan biến đâu mất rồi.
Nhưng mặc dù áp lực mỗi lúc một nặng, các di dân mới vẫn tiếp tục đổ vào Palestine và các nông trường mới tiếp tục xuất hiện. Ngày thiết lập nông trường mới, hàng trăm nông dân và thợ thuyền từ các kibboutz đổ xô đến từ sáng tinh sương tới địa điểm đã chọn lựa. Làm việc tận lực từ sáng tới tối, họ xây cất một tháp canh trang bị nhiều đèn pha do một máy phát điện cung cấp điện lực và bao quanh bằng một hàng rào công sự vững chắc. Đêm tới, họ lại ra đi, để những người mới tới ở lại trong vòng rào dưới sự che chở của một trung đội Haganah.
Trong khoảng thời gian vài tháng, Ari Ben Canaan đã trở thành một chuyên viên trong phương pháp thành lập nông trường kiểu này. Chàng thường thường chỉ huy trung đội bảo vệ, dậy cho các lính mới chiến thuật chống xâm nhập cùng dạ kích của người Ả-rập - các cuộc xâm nhập và dạ kích này không nông trường mới lập nào thoát khỏi được mặc dù lần nào địch cũng bị thất bại. Sau vài tuần, Ari cùng các chiến hữu lại ra đi để trợ giúp một “tháp canh và công sự phòng vệ” khác, nói theo ngôn ngữ thông dụng lúc bấy giờ.
Chậm chạp, tiệm tiến, các người khai hoang vượt qua hàng rào đầu tiên, khai hoang thêm tới đâu lập hàng rào tới đó. Họ xây cất nhà cửa theo kiểu “công sự chiến đấu” để rồi dần dần tạo lập thành một làng thực sự. Nếu nông trường mới này chấp nhận chế độ kibboutz, họ sẽ xây nhà Trẻ Em trước tiên nằm trong trung tâm chu vi phòng thủ để khi địch có xâm nhập, cũng chỉ sau cùng mới tiến tới được.
Sự hỗn xược của người Ả-rập, sau cùng cũng làm người Anh phát chán, chịu không nổi. Mufti và “ông tướng” Kovouvkji làm cho họ trở thành lố bịch, người Anh ban hành sắc luật hủy bỏ Ủy ban Tối cao Ả-rập và tống trát bắt giam mufti. Được báo trước kịp thời, ông này trốn vào thánh đường Omar, thánh đường chính của Hồi giáo ở Palestine. Vì người Anh không dám xâm nhập vào nơi tôn nghiêm này, nên sau một tuần lễ trốn tại đây ông cải trang làm đàn bà và trốn sang Liban. Tất cả Palestine thốt lên một tiếng thở dài nhẹ nhõm. Các rối loạn xẹp đi rất nhanh và người Anh đã có thể xét lại vấn đề: các ủy ban điều tra và du hành quan sát liên tiếp xẩy ra. Sau cùng người Anh đề ra một giải pháp: chia Palestine làm hai quốc gia khác nhau. Dĩ nhiên các ông Ả-rập yêu quí và oai dũng của người Anh được hưởng phần sư tử, còn người Do-thái phải hài lòng với phần đất dọc duyên hải giữa Tel-Aviv và Haïfa cùng một số vùng trong xứ Galilée.
Chán ngán, mệt mỏi, những người phục quốc Do-thái ở Palestine quyết định chấp nhận giải pháp này. Chắc chắn là họ không quên rằng giải pháp nguyên thủy của người Anh là thành lập một Quê Nhà Do-thái nằm hai bên bờ sông Jourdain. Nhưng họ mệt rồi - mệt vì máu đã chẩy quá nhiều, mệt vì phải chiến đấu xoay sở quá nhiều giữa sự cuồng tín của người Ả-rập và sự lừa dối của Luân-đôn. Nhưng ngược lại mufti, tị nạn ở Beyrouth, lại kêu ầm lên phản đối. Chia đôi Palestine? Không bao giờ! Người Ả-rập chỉ hạ vũ khí khi nào người Do-thái cuối cùng bị ném xuống biển thôi.
Một trong các pháo đài loại này được đặt ở khoảng trên Abou Yesha và Yad El, xây cất ở một địa điểm mà theo truyền thuyết có mộ của hoàng hậu Esther. Dân cư trong vùng đó liền gọi pháo đài này là Fort Esther.
Trong cộng đồng Do-thái, sau nhiều năm cố giữ một sự dè dặt vừa khó khăn vừa bấp bênh, đoàn Haganah bắt đầu sốt ruột. Liệu bây giờ “Trung ương” có chịu cho họ chủ động trên bình diện quân sự chưa? Sau cùng Ben Gourion nhượng bộ trước áp lực của Avidan và chấp thuận cho mua một khoảng đất nằm ở cực bắc xứ Galilée, dọc theo biên thùy Liban. Theo tin tức của cơ quan tình báo của Haganah, chỗ đó chính là điểm các đoàn Ả-rập đi qua.
Một vài ngày sau khi việc mua bán đất xong xuôi, Ari Ben Canaan cùng hai cấp chỉ huy khác nữa của Haganah được lệnh gọi tới trình diện Bộ tư lệnh bí mật của Avidan.
- Các anh hãy nhìn bản đồ đây. Các anh hiểu dễ dàng tính cách quan trọng của vị trí này. Các anh sẽ chỉ huy một đơn vị đặc trách việc thành lập một kibboutz ở ngay chỗ đó. Không nói, các anh cũng thừa biết đây không phải là một vụ đi cắm trại thú vị. Tên mufti ấy sẽ cố gắng tối đa để trục xuất các anh. Và các anh phải tử thủ với bất cứ giá nào: đây là lần đầu tiên chúng ta chọn lựa một địa điểm làm nông trường hoàn toàn vì lý do chiến lược.
 
Sarah cố kìm nước mắt. Từ biết bao nhiêu năm, bà chỉ nhìn thấy con trai không roi da thì súng ở trong tầm tay. Nhiệm vụ mới mà thượng cấp trao phó cho Ari có vẻ nguy hiểm hơn tất cả các nhiệm vụ từ trước tới nay. Tám mươi thanh niên và hai mươi thanh nữ, tuyển chọn trong các phần tử ưu tú nhất của Haganah, sẽ hợp thành một đoàn quyết tử thực sự. Rất bình tĩnh, Ari hôn mẹ nói bà hãy lau nước mắt và cho rằng mọi sự rồi sẽ tốt đẹp đâu vào đấy không việc gì phải lo. Rồi Ari, không nói một tiếng, xiết tay bố: hai người đàn ông không cần phải lời nói cũng hiểu được nhau. Dafna gõ cửa vào giã từ bố mẹ chồng tương lai. Rồi cặp trai gái trẻ tuổi ra đi, vẫy tay chào các thân bằng quyến hữu tụ tập ở vòng rào. Barak thở dài, vòng tay ôm đôi vai run rẩy của vợ. Sarah nói nhỏ.
- Trong đời các con, chúng chỉ được biết mỗi một điều: chiến tranh. Chúng ta còn phải dâng hiến con chúng ta cho chiến tranh đến bao giờ nữa?
- Mình hãy nhớ rằng Thượng đế đã yêu cầu Abraham hy sinh con trai cho Thượng đế. Những người phục quốc Do-thái chúng ta sống trong truyền thống này. Chúng ta phải cho Ari đi ngày nào Thượng đế còn đòi hỏi như thế.
2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.09.2014 16:16:19 bởi scpio>
2-13
 
Mười xe vận tải chở một trăm đoàn viên nam nữ của Haganah cùng đồ trang bị chạy theo con lộ duyên hải, vượt qua kibboutz cuối cùng nằm ở cực bắc Galilée, tiến vào một vùng mà từ trước tới giờ chưa một người Do-thái nào dám phiêu lưu đặt chân tới. Hàng ngàn ngàn cặp mắt Ả-rập theo dõi đoàn xe bây giờ đã tiến vào vùng núi biên thùy Liban.
Đến địa điểm đã được chọn lựa thành lập Ha Mischmar (Người lính gác giặc), các xe dừng lại. Mọi người đặt lính canh phòng, mang mọi thứ xuống xe. Rồi đoàn xe ra đi ngay để có thể đến kịp nông trường Do-thái đầu tiên trước khi trời đổ tối. Đoàn người nhỏ bé ở lại cô đơn giữa các ngọn đồi đầy rẫy các tay khủng bố Ả-rập.
Họ dựng lên một hàng rào, bố trí bên trong và chờ đợi suốt đêm.
- Tụi Do-thái đã tới cư ngụ trong vùng đồi!
Điên lên vì tức giận, mufti thề với Thượng đế của hắn là sẽ rửa mối nhục này trong máu và sẽ không để một đứa nào trong các tụi hỗn láo này trốn thoát.
Trong ba ngày liền, đoàn người làm việc tới kiệt lực, tăng cường hệ thống phòng thủ của căn cứ. Đêm đến, Dafna và Ari sau khi mãn phiên canh, tìm nhau ngủ trong vòng tay nhau.
Đêm thứ tư địch tấn công.
Chưa bao giờ người Do-thái phải đương đầu với cơn bão tố lớn như vậy. Trong năm giờ liền, vài ngàn Ả-rập trang bị vũ khí cá nhân và được liên thanh yểm trợ trút cả cơn mưa đạn vào vòng hàng rào, bên Do-thái chờ đợi cuộc xung phong. Sau cùng, các tổ báo động báo hiệu địch tấn công đợt đầu: hàng ngàn bóng đen bò sát đất tiến tới, răng ngậm chặt dao găm.
Đột nhiên sáu đèn pha bừng bật sáng trên tháp canh, quét sáng tứ bề. Bị quáng mắt vì đèn, quân Ả-rập khựng lại. Đoàn Haganah khai hỏa. Trong vài giây đồng hồ, bên tấn công đã bị thiệt chừng năm mươi người. Sợ hãi, quân Ả-rập bắt đầu lùi lại. Nhưng Ari đã cầm đầu một nửa lực lượng Do-thái mở vòng rào xông ra phản công, biến cuộc rút lui của Ả-rập thành thảm bại. Các Ả-rập sống sót bỏ chạy vào đồi núi chung quanh, kinh sợ la hét.
Trong trận giao tranh đầu tiên này, Haganah có bốn người chết, một cô gái và ba thanh niên. Nhưng cả những lời hò hét của mufti lẫn các lời thúc giục của Kovouvkji cũng không làm sao cho quân Ả-rập tiến lên lần thứ hai. Bài học đã có nhiều hiệu quả: trong suốt một tuần lễ, quân Ả-rập không nhúc nhích. Nhưng bên Do-thái viên đơn vị trưởng đã tử trận trong trận giao tranh đầu và Ari lên thay.
Mỗi ngày Haganah tiến từ mười đến hai mươi thước về phía đỉnh đồi, củng cố vị trí mới và cố thủ qua đêm. Quân Ả-rập quan sát sự tiến quân này, nhưng không can thiệp. Sau một tuần lễ, Ari quyết định bỏ trại căn cứ để lập một trại khác ở lưng chừng đồi.
Khi ấy, Ả-rập lại tấn công. Nhưng lần này họ không dám xung phong, chỉ nổ súng từ phía xa. Ari chờ đợi thêm một tuần nữa rồi đột nhiên cho lệnh tấn công. Một sáng tinh sương, dẫn đầu hai mươi thanh niên và mười thanh nữ, chàng lao lên đánh bật tung các quân Ả-rập bắt đầu thiếp ngủ sau một đêm quấy phá, rồi chiếm luôn đỉnh đồi. Địch phản công nhưng bị đẩy lui. Dĩ nhiên là Ari thiệt thêm năm người nữa nhưng ngược lại, chàng đã chiếm được một vị trí khống chế được toàn vùng. Và bên Ả-rập ý thức rất nhanh rằng chàng sẽ không để cho họ trục xuất khỏi vị trí ấy.
Nếu họ không tung ra một nỗ lực quan trọng nào để chiếm lại quả đồi, họ lại quấy phá Do-thái suốt ngày đêm. Tình hình của Ha Mishmar vẫn còn bấp bênh. Nông trường hoàn toàn bị cô lập: kibboutz gần nhất cũng cách đó cả mấy chục cây số. Lương thực đạn dược và ngay đến cả nước uống đều phải mang đến bằng xe vận tải qua một vùng thù nghịch đến trại căn cứ đầu tiên, rồi sau đó chuyển bằng sức người lên đỉnh đồi.
Tuy vậy Ha Mishmar vẫn giữ vững. Đạo quân đồn trú xây cất vài căn nhà ở phía trong vòng rào, vạch cả một con đường dẫn xuống chân đồi nữa. Ari bắt đầu tung ra các toán tuần tiễu dọc theo tuyến Taggart để ngăn chặn các tay khủng bố Ả-rập. Dần dần Haganah ngăn chặn được đường chuyển quân của các toán khủng bố Ả-rập giữa Liban và Palestine.
Một ngày nọ, phép mầu thực hiện: Ha Mishmar gieo thửa ruộng đầu tiên! Họ tới để xây dựng một kibboutz mà, có đúng thế không? Vậy thì, mặc dù gió to bão lớn kibboutz sẽ được thực hiện. Đất dốc? Thì ta làm ruộng theo từng nấc thang. Không có nước sao? Chỉ việc đào giếng. Thiếu nông cụ? Thì Quĩ Lập nghiệp Do-thái cứ việc dốc hầu bao đi mua.
 
Ari đang ngủ say sưa trong lều thì cảm thấy một bàn tay lạnh.
- Dậy anh! Nhanh lên!
Chàng tung chăn, nắm lấy súng và chạy theo người đánh thức mình chạy về cánh đồng phía nam, nơi mà mọi người bắt đầu trồng nho. Một đám đông đã tụ tập. Khi thấy Ari tới, mọi người im lặng. Chàng vượt qua vòng người, đứng lại nhìn chăm chú mặt đất. Dưới ánh sáng của đèn pin, mọi người nhận thấy các mảnh vải rách nát của một chiếc áo xanh lẫn lộn với các đất vụn máu bám tung tóe. Máu nhỏ giọt thành vệt tiến xa dần về phía vùng đồi chung quanh. Ngơ ngác, Ari dò hỏi nhìn mọi người chung quanh, mọi người đều tránh không nhìn mặt chàng. Ari chợt hiểu, thì thào:
- Dafna! Dafna...
Hai ngày sau, các tên sát nhân đặt xác thiếu nữ trẻ gần trại. Nàng đã bị cắt tay, cắt mũi, cắt chân, moi mắt và bị hiếp ít nhất là năm mươi lần.
Không ai nghe thấy Ari thốt lên một tiếng kêu rên, không ai trông thấy chàng nhỏ một giọt nước mắt.
Nhưng thỉnh thoảng chàng biến đi đâu mất trong nhiều giờ và khi chàng trở về, mọi người đều thấy mặt chàng tái ngắt, môi run run. Không bao giờ chàng để cho thất vọng xâm chiếm, không bao giờ chàng để cho cơn giận bùng nổ. Chàng cũng không nhắc đến tên cả vị hôn thê nữa. Tất cả các làng Ả-rập trong vùng Ha Mishmar đều run rẩy chờ đợi cuộc trả thù. Nhưng cuộc báo thù không xẩy ra.
 
Không những không hài lòng với việc giữ chắc được Ha Mishmar, phục quốc Do-thái còn thành lập thêm khoảng mười nông trường tương tự, cũng tại những địa điểm được lựa chọn vì giá trị chiến lược. Chiến thuật này làm giảm bớt và gây khó khăn cho các toán khủng bố của mufti, nhưng không diệt được hẳn.
Trong tình hình hỗn độn và gay cấn này, đột nhiên xuất hiện vóc dáng cao gầy của Ngài P.P. Malcolm, thiếu tá trong quân lực Anh hoàng.
Thiếu tá Malcolm được thuyên chuyển sang Palestine và bổ nhiệm vào ngành tình báo Anh ngay từ khởi đầu cuộc khởi loạn của mufti. Đó là một con người cô đơn và độc đáo. Ông ăn mặc lè phè coi thường cả các truyền thống lẫn thủ tục của quân đội, diễn tả các ý nghĩ của mình một cách minh xác và nếu cần, dữ dội nữa. Đôi khi ông trầm tư cả ngày liền - trầm tư sâu xa đến độ quên cả cạo râu lẫn chải đầu. Và ngoài ra vì ông còn rất cao rất gầy và đi hơi khập khễnh nữa, nên các bạn bè coi ông như một “típ không chịu nổi”.
Khi mới tới Palestine, ông thân Ả-rập chỉ vì lý do là một sĩ quan Anh phải thân Ả-rập. Thứ cảm tình “thời trang” này không đứng vững được lâu khi phải va chạm với thực tại. Trong khoảng thời gian vài tuần lễ, P.P. Malcolm đã trở thành một người ủng hộ phong trào phục quốc Do-thái nhiệt thành.
Cũng như hầu hết những người Ki-tô giáo khác bị chủ nghĩa phục quốc Do-thái chinh phục, ông tỏ ra đam mê hăng hái, cuồng nhiệt với phong trào hơn chính người Do-thái nữa. Ông học tiếng hébreu với một rabbin để có thể đọc được Kinh Thánh trong những giờ rảnh rỗi. Tin chắc rằng sự phục sinh Do-thái phù hợp với ý muốn của thần thánh, ông nghiên cứu tỉ mỉ các chiến trận trong Cựu Ước. Và cứ đồng hóa mình với Josué, David và Gédéon, ông đâm ra tin chắc rằng sự kiện ông tới Palestine là do ý chí của Đấng Tối Cao. Ngài, với khôn ngoan vô tận của Ngài, đã chọn thiếu tá P.P. Malcolm để dẫn đầu đoàn Thập tự quân của các con dân Israël.
Trên một chiếc xe mua lại, chiếc xe ngày xưa chắc cũng có thời trông được, ông đi khắp Palestine. Khi đường xá xe đi không nổi nữa, ông tiếp tục đi bộ, cà rịch cà tang, vừa đi vừa hát vang một bài thánh ca ông ưa thích nhất. Với phong thái như vậy, một chiều nọ trên đường tới Yad El, hai bánh xe bị nổ, ông tiến vào chu vi phòng vệ của nông trường, các lính canh đã đổ xô lại. Tươi cười, ông vẫy tay chào:
- Tốt lắm! Ít nhất các chú đã không ngủ gục khi canh! Bây giờ các chú hãy tử tế dẫn tôi đến gặp Barak Ben Canaan.
Trong văn phòng của Barak, ông mở đầu câu chuyện bằng cách đọc một bài diễn văn dài ca tụng sự đẹp đẽ của chủ nghĩa phục quốc Do-thái cùng vận mệnh huy hoàng của quốc gia Do-thái. Tuy vậy, sau chừng một tiếng đồng hồ, ông cũng hạ cố bàn đến một vấn đề loại thực tế hơn.
- Theo tôi, người lính Do-thái là một trong những người lính ưu tú của thế gian này, nếu không phải là giỏi nhất. Họ chiến đấu cho một lý tưởng luôn luôn hiện hữu và sống với lý tưởng này. Chất liệu nhân sự của Haganah hoàn toàn đặc biệt. Này đây, tôi có ý định lấy chất liệu nhân sự ấy để tạo ra một tổ chức chiến đấu chưa có bao giờ trên thế gian. Chính vì mục đích này, tôi đã tới đây.
Barak mở to mắt ra nhìn. Malcolm cũng không thèm để ý. Quay mặt về phía cửa sổ, ông nhìn, qua các cánh đồng xanh tươi dưới làn nước như mưa phát từ các máy tưới, về phía các quả đồi khống chế bởi hình dáng cục mịch của “fort Esther”. Ông nói tiếp:
- Coi đây này, nhìn cái đồn trên cao kia... lại thêm một bằng chứng nữa về sự ngu xuẩn của người Anh. Dân Ả-rập chỉ việc đi vòng quanh là xong, một đứa bé cũng thừa biết như thế.
Ông vụt quay lại nhìn Barak bằng cái nhìn đột nhiên bốc lửa, cũng vẫn thứ nhìn mà Barak thường thấy trong mắt Akiba.
- Các anh chiến đấu đi chứ, trời đất thánh thần ơi, đợi gì nữa! Giải pháp duy nhất! Chiến đấu. Thiên mệnh của dân Do-thái là chiến đấu để trở thành một quốc gia.
- Về điểm này, ông thuyết phục một kẻ đã tin theo từ lâu rồi. Ông khỏi cần nhắc lại là chúng tôi phải chiến đấu.
- Phải nhắc chứ! Phải nhắc đi nhắc lại hoài cho các anh ngày nào các anh còn thu hình trong bốn bức tường rào của các nông trường. Tin ở tôi đi, đã đến lúc các anh xông ra ngoài, trừng phạt các tụi khốn nạn ấy. Mỗi khi một tên Ả-rập ra khỏi một quán cà-phê và vác súng bắn các anh cách cả ngàn thước, hắn đã cho hắn là anh hùng rồi. Được, chúng ta sẽ cho tụi vô đạo ấy biết tay! Tôi tin cậy ở anh xin cho tôi hội kiến với Avidan ngay lập tức. Người Anh thiển cận quá, khó để hiểu các phương pháp của tôi.
Tới đây, Malcolm đột nhiên ra đi cũng như bất ngờ đến đây, để lại cho một Barak ngồi phân vân, gãi đầu.
Sau đó Barak quyết định gọi điện thoại cho Avidan. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Yeddish để đề phòng có người Ả-rập nghe trộm. Barak hỏi:
- Cái anh chàng thiếu tá Anh đó là ai vậy? Hắn rơi từ trên trời xuống như một đấng cứu thế vậy và thuyết cho tôi một bài về chủ nghĩa phục quốc Do-thái...
Avidan nói:
- Chúng tôi có nhiều báo cáo về hắn. Thành thật mà nói, hắn có vẻ kỳ dị đến độ tôi cũng không biết nghĩ ra sao nữa.
- Có thể tin được hắn không?
- Tôi cũng không biết.
 
Bây giờ thiếu tá P.P. Malcolm để hết các thì giờ rảnh của mình để sống với người Do-thái, tuyên bố công khai là các sĩ quan Anh ngốc lắm và chán chết. Sau chừng vài tháng, tất cả dân Do-thái ở Palestine đều biết tới ông. Mới đầu, mọi người coi Malcolm như một kẻ lập dị dở hơi vô hại. “Anh chàng Anh tốc của chúng ta” như mọi người thường nhắc đến một cách mỉa mai đượm tình thương mến. Tuy thế, dần dần mọi người nhận ra nhân vật này không hề tốc tí nào. Ông có khả năng thuyết phục đến nỗi có thể bán được cả thập tự giá cho quỷ.
Các cấp chỉ đạo của “Trung ương” bịa hết cớ này đến cớ khác để không tiếp Malcolm. Cho đến một hôm, không thèm báo trước, ông xông thẳng vào văn phòng Ben Gourion, lớn tiếng:
- Ông nghe đây! Ông chỉ là một người ngu! Ông để mất thì giờ bàn cãi với kẻ địch mà lại không có được năm phút để bàn luận với một người bạn!
Ben Gourion không có dịp tìm câu trả lời. Viên thiếu tá đã ra đi rồi, đóng sầm cửa lại.
Cuộc vận động kế tiếp của Malcolm để có một buổi được tướng Charles, tổng trấn Palestine tiếp kiến. Malcolm xin phép được thí nghiệm các lý thuyết du kích chiến của mình bằng cách xử dụng quân sĩ Do-thái. Chắc chắn là tướng Charles thân Ả-rập rồi, cũng như đa số sĩ quan trong bộ tham mưu của ông, nhưng cuộc khởi loạn của mufti đã bắt đầu làm cho ông bị mọi người chế riễu. Đến nỗi rằng ông đã bí mật cho thành lập, trang bị và huấn luyện một đoàn cảnh sát Do-thái cùng nhắm mắt bỏ qua mọi vụ buôn lậu vũ khí của Haganah. Sau khi do dự một lần chót, và trước sự thất bại hoàn toàn của các cố gắng của mình, tướng Charles báo cho thiếu tá Malcolm biết là chấp thuận cho toàn quyền hành động.
Vài ngày sau, chiếc xe của Malcolm hục hặc dừng lại trước cổng nông trường Ha Mishmar. Một lính canh đưa ông vào Bộ chỉ huy của Ari trên đỉnh đồi. Không thèm phật ý vì thái độ ngạc nhiên châm chọc của người thanh niên to lớn này, Malcolm đưa tay vỗ má Ari như vỗ má con.
- Chú có vẻ khá đấy. Chú chỉ việc nghe tôi, quan sát tôi và thi hành lệnh tôi, là tôi sẽ làm cho chú trở thành một quân nhân ưu tú. Bây giờ, chú có bản đồ chứ? Tốt. Chú hãy chỉ cho tôi căn cứ xuất phát của tụi Ả-rập.
Nửa bất mãn, nửa bị khuất phục, Ari chỉ một làng cách đó chừng mười lăm cây số, trong lãnh thổ Liban. Malcolm phớt lạnh nói:
- Gần thế thôi hả? Được, tối nay chúng ta sẽ phá tan căn cứ đó.
Đêm tới, Malcolm cầm đầu một toán quân gồm tám thanh niên hai thanh nữ, băng qua biên giới. Các người Do-thái kinh ngạc khi thấy cái ông già năm mươi khập khễnh và gầy lêu kêu này băng qua các sườn dốc một cách dễ dàng. Trước khi khởi hành, ông đã đe rồi: kẻ nào theo không kịp, sẽ biết tay ông. Thật là kỳ lạ khi nghe lời đe dọa này, không ai dám cười cả.
Khi tới gần mục tiêu, Malcolm tiến lên trước để thám sát địa hình địa vật. Một nửa giờ sau ông trở lại.
- Đúng như tôi đoán, chúng không thèm đặt lính canh. Đây, chúng ta làm ăn như sau...
Bằng vài nét bút chì, ông vẽ phác một sơ đồ.
- Tôi sẽ lấy theo ba chú tiến vào tận giữa làng. Bọn tôi sẽ bắn vào các nhà, ném dăm ba trái lựu đạn để đánh thức bọn chúng dậy. Họ sẽ chuồn lẹ và khi đó chúng tôi sẽ xua họ về điểm này, đầu làng, nơi Ben Canaan đã giăng sẵn một ổ phục kích. À! Tôi quên: Ben Canaan, chú làm ơn bắt cho tôi một hay hai tù binh. Tôi sẽ thẩm vấn chúng: chắc chắc các vùng quanh đây đầy chỗ giấu vũ khí.
Ari phản đối:
- Làm thế thật là điên. Kế hoạch của ông không thực hiện được đâu.
- Nếu chú tin vậy, tôi chỉ yêu cầu chú một việc là chú lên đường về nhà đi.
Ari không bao giờ còn nghi ngờ tính cách khôn ngoan trong các lệnh của Malcolm nữa. Niềm tự tín người Anh này lan truyền nhanh như dùng thuật thôi miên vậy.
Kế hoạch đã được thi hành và mọi sự đã diễn ra đúng như tiên liệu. Trong mười phút, tất cả mọi sự xong xuôi. Bên Ả-rập bị mất chừng ba chục người chết, chưa kể số bị thương đã nhờ bóng tối chạy thoát. Bên Do-thái bắt được hai tù binh, áp tải tới trước thiếu tá Malcolm. Ông này hỏi người thứ nhất bằng tiếng Ả-rập.
- Vũ khí của các anh giấu đâu?
Người tù binh nhún vai. Một cái tát không làm cho hắn nhận định rõ hơn tình hình. Malcolm rút súng lục ra và lạnh lùng bắn cho hắn một phát vào đầu. Kế đó, ông quay lại người tù binh thứ hai và nhắc lại câu hỏi. Ấp úng vì sợ, hắn thú luôn cả loạt địa điểm chôn giấu vũ khí.
 
Cuộc tấn công đầu tiên của Haganah đã làm giảm bớt hăng hái của các toán quân mufti. Ngược lại, nó lại gây ra cả một vụ ồn ào phản đối trong Bộ Tổng tư lệnh Anh. Rất nhiều sĩ quan cao cấp đòi triệu hồi ngay thiếu tá Malcolm. Tuy vậy, tướng Charles vẫn phớt lạnh. Cho tới giờ, các phương pháp của người Anh đã thất bại một cách thảm hại trong việc chống lại các tay khủng bố Ả-rập nên ông thích để mặc cho sĩ quan thuộc cấp đặc biệt ấy hành động, kẻ mà ông tin có lẽ đủ sức giải quyết vấn đề.
Malcolm lợi dụng tình trạng trên để thực hiện một kế hoạch đã soạn thảo xong từ lâu: thành lập một đơn vị lưu động. Ông điều đình được với Haganah “cho mượn” một trăm năm chục người chọn lựa hết sức cẩn thận cùng Ari Ben Canaan, kẻ mà ông cho là có tài chỉ huy đặc biệt. Vài tuần lễ sau, các “Raider” bắt đầu lâm chiến.
Đây cả là một vụ khám phá mới lạ và hàng loạt thành công chớp nhoáng. Các toán khủng bố Ả-rập không biết khi nào, nơi nào các “Raider” sẽ tung ra trận đánh kế tiếp. Lần đầu tiên, hệ thống “điện thoại Ả-rập” tỏ ra vô hiệu. Khi thì Malcolm chia quân làm ba đoàn tiến về ba hướng khác nhau, khi thì cho quân đi qua một làng khả nghi, đi vòng năm cây số ngược lại rồi ào tới tấn công. Hoặc ông cho một đoàn xe lên đường sau khi đã huấn luyện cho quân sĩ cách nhảy xuống từng người một trong khi xe đang chạy, nấp vào trong bờ bụi đợi tới tối mới tập họp lại để tấn công địch hoàn toàn bất ngờ. Rất nhanh chóng, cuộc khởi loạn bị dẹp, bị truy lùng, mất dần khí thế để rồi sau cùng tắt hẳn. Với một trăm năm chục người, Malcolm đã thành công trong việc quét sạch khỏi Palestine những toán quân của “Quân lực Giải phóng”, tàn quân rải rác còn lại vượt biên thùy trở lại Liban. Nếu mufti là một người yêu nước, dù sai lầm nhưng thành thật, khi tổng kết thành tích hoạt động của ông cũng làm ông kinh hãi: trong ba năm trời đẫm máu, ông chỉ đẩy người Ả-rập ở Palestine vào một tình trạng nghèo khốn cùng cực mà không chiếm nổi một nông trường nào, và cũng chẳng cản được người Do-thái thành lập thêm chừng năm chục nông trường mới.
Yên tĩnh đã trở lại, Whitehall xét lại toàn diện chính sách của mình trong lãnh thổ ủy trị.
Để bắt đầu, người Anh cho triệu hồi thiếu tá Malcolm. Kế đó, tướng Charles bị thay thế vì bị coi là quá mềm yếu và tướng Haven-Hurst sang thay. Để thay đổi tới nơi tới chốn, tất cả những nhân vật cao cấp trong hệ thống cai trị quân sự cũng bị thay thế nốt. Các chủ nhân ông mới khai trương triều đại của họ bằng cách nhốt tất cả các quân sĩ trong “Raider”. Một tòa án quân sự kết án họ từ sáu tháng đến năm năm tù - vì tội mang vũ khí bất hợp pháp!
Bị giam cùng các bạn trong nhà tù vĩ đại Acre, đầy chấy rận, chuột, bùn lầy và không khí hôi thối, Ari được phóng thích vào mùa xuân 1939. Xanh xao, gầy đi, chàng trở về Yad El kịp thời để biết rằng người Anh, trong một cuốn Bạch thư mới, cấm tất cả mọi sự di nhập vào Palestine cùng mua đất tại xứ này. Sự kiện này có nghĩa là, ngay trước khi đệ nhị thế chiến bùng nổ, Neville Chamberlain, kẻ ủng hộ chính sách hòa dịu với bất cứ giá nào, đã không thèm chú trọng, không biết đến bao nhiêu ngàn ngàn Do-thái Đức đang bị Quốc xã đe dọa diệt chủng. Xét cho cùng, ông là chính khách chuyên che dù, cũng đã có thói quen bỏ rơi thiên hạ rồi: ông cũng đã từng bỏ rơi phe cộng hòa Tây-ban-nha và dân tộc Tiệp-khắc trong những năm về trước đó sao?
0
Hoan nghênh scpio post tiếp quyển "Về miền đất hứa". casau còn nợ quyển này không hoàn thành. Đang đánh máy ngon ơ, ở nhà dọn dẹp nhà sao đó làm mất quyển này nên không post tiếp được. Mất luôn quyển "Giờ thứ 25" mới đau chứ.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.09.2014 16:14:39 bởi scpio>
2-14
 
Cuốn Bạch thư của người Anh có hậu quả đầu tiên là khơi dậy phong trào đã bắt đầu im ngủ của các Macchabée. Rất nhiều người Do-thái từ trước cho tới giờ vẫn phản đối các phương sách bạo động dữ dội của nhóm này, bây giờ cũng ủng hộ hoàn toàn. Ngay lập tức, các Macchabée lâm chiến, tung ra nhiều cuộc xung kích vào các làng Ả-rập, làm nổ một trái bom trong một câu lạc bộ sĩ quan Anh ở Jérusalem, cướp một kho võ khí Anh và tấn công nhiều đoàn xe nhà binh.
Tướng Haven-Hurst phản ứng ngay lập tức: giải tán cánh sát Do-thái, cấm đoán đoàn Haganah làm hại đoàn này bắt buộc phải biến thành tổ chức bí mật. Sợ điều tệ nhất sẽ xảy ra, Avidan phải dùng hết uy tín của mình để kìm giữ quân mình đang tức giận, nghĩ tới chuyện dàn trận đánh nhau với người Anh một trận sống mái. Một chuyện điên rồ như vậy chắc chắn sẽ đưa đến chỗ tiêu diệt lực lượng quân sự duy nhất người Do-thái hiện có ở Palestine.
Trong thời gian này tình thế những người Do-thái Đức, sau khi đã ở tình trạng báo động trong sáu năm, đã tới lúc hoàn toàn tuyệt vọng. Văn phòng của phục quốc Do-thái ở Berlin bị hàng ngàn ngàn đàn ông đàn bà bao vây, họ sẵn lòng hy sinh tất cả những gì họ có để đổi lấy quyền được rời bỏ nước Đức. Khi những viên chức của phục quốc Do-thái bị công việc quá tràn ngập, yêu cầu tăng viện, “Trung ương” ở Jérusalem quyết định gửi Ari Ben Canaan sang. Cuộc viễn hành thật khó khăn. Người Anh nghi ngờ một kẻ mà họ biết rõ các liên hệ chặt chẽ với Haganah. Ari phải rời xứ một cách bí mật qua vùng biên thùy Liban mà chàng biết rõ, tiếp tục đi bộ đến tận Beyrouth để từ nơi đó, nhờ sổ thông hành của một những Do-thái mới tới với tư cách “du khách”, chàng đã có thể lên một chiếc tầu đi Marseille. Một tuần lễ sau, chàng đã đến được văn phòng của phục quốc Do-thái tại Bá-linh bình yên vô sự.
Các chỉ thị Ari nhận được rất giản dị: “Hãy cố đưa tối đa người Do-thái ra khỏi nước Đức”. Nhưng thực hiện các chỉ thị này lại vấp vào các trở ngại ghê gớm. Tất cả vấn đề xoay quanh việc xin chiếu khán vào một quốc gia khác - bất luận quốc gia nào. Một chiếu khán, là một mạng người, do đó người ta tìm cách mua, ăn cắp, giả mạo. Thế mà đa số các quốc gia đã bộc lộ sự “hăng hái” khá hạn chế với ý nghĩ tiếp nhận những người Do-thái Đức vào lãnh thổ mình - quốc gia này ngại vì đó là những người Do-thái, quốc gia khác ngại vì đó là những người Đức. Ari phải xoay xở đêm ngày mới kiếm được một phần nhỏ số chiếu khán cần có. Trong suốt mùa hè thê thảm 1939, hầu như chàng làm việc hai mươi bốn trên hai mươi bốn mỗi ngày, vì tin tưởng rằng các biến cố sẽ không để cho chàng nhiều thì giờ nữa.
Vào khoảng giữa tháng tám, một điện văn khẩn của Mossad ở Pháp ra lệnh cho chàng rời Đức quốc ngay lập tức. Chàng coi điện văn này như không có và tiếp tục cuộc chạy đua với giòng lịch sử. Một điện văn thứ hai, lần này phát xuất từ Haganah, ra lệnh cho chàng phải lên đường tức khắc. Ari liều bất tuân trong bẩy mươi hai giờ nữa để đủ thì giờ phân phối xong năm trăm chiếu khán cho phép gửi một đoàn tầu trẻ em sang Đan-mạch. Và cũng là đủ thì giờ nhận thêm một điện văn thứ ba và thứ tư nữa.
Vào giờ khắc mà đoàn tầu vượt biên giới Đan mạch vô sự, Ari mới nghĩ tới việc thoát thân cho chính mình. Chàng thoát ra khỏi được nước Đức đúng hai ngày trước khi quân Đức Quốc xã xâm lăng Ba lan.
Đệ nhị thế chiến vừa bùng nổ, “Trung ương” Do-thái ở Jérusalem đã triệu tập phiên họp bất thường. Trong vòng chưa đến mười phút, các lãnh tụ Do-thái ở Palestine đã đồng ý quyết nghị xong về đường lối của mình: tất cả thanh niên Do-thái sẽ tình nguyện nhập ngũ vào quân lực Anh để chiến đấu chống kẻ thù chung.
Quyết định trên được Haganah tán thành toàn diện vì thấy đây là một cơ hội ngàn năm một thủa để huấn luyện quân sĩ xử dụng các vũ khí tối tân một cách chính thức và hợp pháp nữa.
Tướng Haven-Hurst cũng nhìn thấy cơ hội đó, nhưng ông lại nhận định dưới một khía cạnh khác. Ông viết trong một báo cáo gửi War Office(1) như sau:
“Khi huấn luyện các quân sĩ Do-thái bằng cách mang lại cho họ kinh nghiệm chiến đấu, chúng ta sẽ đi ngược với quyền lợi của chúng ta. Bởi vì sớm hay muộn, chúng ta cũng phải chiến đấu chống lại chính những người Do-thái này”.
Xét cho cùng, có lẽ tướng Haven-Hurst ít thiển cận hơn nhiều người đã tưởng...
Trong khoảng thời gian một tuần lễ, một trăm ba mươi ngàn nam nữ - một phần ba tổng số dân Do-thái ở Palestine - đã ghi tên ở “Trung ương” để xin tình nguyện chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Anh.
War Office không thể lờ đi không nhận một đề nghị thành thực có lợi cho Anh như vậy, nhưng cũng không thể bỏ qua lời cảnh cáo của Haven-Hurst. Bộ Quốc phòng sau cùng đã chấp nhận một giải pháp trung dung: các chức quyền quân sự sẽ thu nhận những người Do-thái tình nguyện đầu quân, nhưng từ chối dùng họ vào các đơn bị chiến đấu, sung họ vào ngành Quân vận và Công binh. Các dân Do-thái Palestine thấy mình mất cơ hội để học cách xử dụng võ khí tối tân cùng chiến thuật tại chiến trường. Dĩ nhiên là “Trung ương” phản đối, đòi hỏi các chức quyền Anh cho quân Do-thái có dịp chiến đấu trực tiếp chống Đức, nhưng một lần nữa các đòi hỏi của Do-thái không đi đến đâu.
Tuy vậy, mặt trận thống nhất của phong trào phục quốc có một khe hở: nhóm ly khai Macchabée. Avidan quyết định dẹp tự ái sang một bên, nhờ trung gian của nhiều người, báo cho Akiba biết là ông muốn gặp.
Buổi hội kiến xẩy ra ở Jérusalem, trong hầm của một tiệm ăn lớn, giữa các két đồ hộp và thùng rượu. Đến trước, Avidan cố tình không bắt tay vị thủ lãnh của đoàn Macchabée. Avidan nói thẳng ngay vào đề:
- Tôi muốn gặp anh chỉ vì một lý do. Tôi muốn anh tuyên bố đình chiến với người Anh cho tới khi chiến tranh chấm dứt.
Đúng như ông đã chờ đợi, Akiba lên tiếng thuyết một hồi dài trong đó lòng căm thù người Anh lẫn lộn với niềm căm tức của ông đối với thái độ thụ động của “trung ương”. Sau cùng Avidan ngắt lời:
- Tôi xin anh. Anh không cho tôi biết thêm điều gì mới cả. Tôi biết các tình cảm của anh, tôi biết rất chính xác cái gì ràng buộc, cái gì chia rẽ chúng ta. Nhưng mặc dù thế, Đức vẫn là một kẻ thù nguy hiểm hơn người Anh rất nhiều.
- Có thể. Nhưng dẫu sao đây chính là lúc đòi hỏi Luân-đôn phải thâu hồi Bạch thư lại, phải công bố thành lập Quốc gia Do-thái nằm hai bên bờ sông Jourdan! Chính lúc này đây, hoặc chẳng bao giờ có nữa! Anh quốc đang lung lay, đây là lúc nắm ngay lấy cổ hắn!
- Theo ý anh, việc đưa Quê nhà Do-thái trở thành Quốc gia đã quan trọng đến nỗi chúng ta phải góp công cho Đức chiến thắng hay sao?
Akiba đi đi lại lại trong hầm. Nóng nẩy, tức giận, ông lầu nhầu những lời buộc tội hăng hái.
- Như vậy là dù quân Anh phong tỏa bờ biển Palestine... dù rằng trong quân lực của họ, họ duy trì quân sĩ ta trong một thứ ghetto... dù họ đánh lừa chúng ta không thương tiếc... chúng ta vẫn cứ phải hợp tác với họ.
Đột nhiên Akiba đứng lại, nói bằng một giọng run run:
- Được rồi! Đồng ý, anh Avidan. Các Macchabée tuyên bố đình chiến.
Hai người nghiêm trọng bắt tay nhau. Akiba hỏi một cách rụt rè:
- Anh tôi dạo này ra sao?
- Barak vừa mới về. Anh đi dự một hội nghị ở Luân-đôn.
- Chắc chắn thế rồi, lại một hội nghị nữa. Ông ấy chỉ thích có vậy. Còn chị Sarah và các cháu?
- Mọi người mạnh khỏe cả. Anh có thể tự hào về cháu Ari của anh.
- Phải. Đó là một thanh niên rất khá. Tôi muốn gặp lại nó...
Không trả lời, Avidan tiến về phía cầu thang. Khi ông nâng nắp hầm lên, ông nghe thấy Akiba đọc lớn tiếng trong bóng tối:
- Những kẻ ác và tội lỗi sẽ bị tiêu diệt và những kẻ nào quên Đấng Vĩnh cửu sẽ bị sét đánh. Một ngày kia bọn Anh sẽ phải thanh toán ân oán với chúng ta.
 
Ari đã thay đổi nhiều. Buồn bã, ít nói, chàng hầu như lơ là với tất cả những gì không liên quan trực tiếp tới các cánh đồng, các cây ăn trái cùng vườn rau của chàng. Chiến tranh đã bùng nổ, nhưng chàng từ chối rời khỏi Yad El. Những lúc rảnh rỗi, chàng qua làng Abou Yesha sống với bạn cố tri là Taha, bây giờ là mouktar của làng.
Một buổi tối vào đầu năm 1940, khi trở về nhà, chàng thấy Avidan đang đợi. Sau bữa cơm, Ari, Avidan và Barak ngồi bàn chuyện riêng với nhau ở phòng khách. Avidan mở đầu:
- Chắc cháu cũng đoán được lý do cuộc thăm viếng của bác.
- Vâng.
- Như vậy, chúng ta chẳng phải bàn quanh làm gì vô ích. Trong Haganah, theo ý bác, có vài chục thanh niên cần phải nhập ngũ. Nhiều lần người Anh tiếp xúc với chúng tôi và hỏi thăm về cháu. Họ chỉ mong được bổ nhiệm cháu là sĩ quan...
- Cháu không hề thiết việc đó.
- Nghĩa là họ rất cần có cháu. Chúng tôi có thể xin cho cháu bổ nhiệm - theo bác nghĩ, vào ban phản tình báo Ả-rập - nơi mà cháu có thể giúp nhiều cho Haganah nữa.
- Tử tế quá! Cháu e rằng họ sẽ xếp cháu vào ban tạp dịch đi đổ rác cùng với những thanh niên Palestine khác. Cháu rất hãnh diện được thiên hạ coi cháu như một tên Do-thái hữu ích...
- Ari, đừng có bắt tôi phải biến đề nghị của tôi thành lệnh.
- Lệnh? Thưa Tư lệnh, Tư lệnh chắc sẽ ngạc nhiên đấy.
Avidan giật mình. Là người hết sức trọng kỷ luật, ông không thể quan niệm một quân nhân tôn trọng hệ thống quân giai như Ari Ben Canaan lại có thể đột nhiên bất phục tùng như vậy. Barak can thiệp:
- Tôi hài lòng Ari đã trình bày một cách thẳng thắn: Ari ấm ức hoài từ khi rời Tây Bá-linh.
Avidan lắc đầu.
- Coi nào, Ari... Bác không muốn nhấn mạnh hơn...
- Việc quái gì tôi lại phải mặc quân phục Anh nhỉ? Để cho quý vị đó nhốt tôi vô tù sao? Bố muốn con cắt nghĩa ngay thẳng mọi sự phải không bố? Vậy con xin nói: từ năm năm rồi, chú Akiba đã có can đảm chỉ đích danh kẻ thù của chúng ta.
Barak gầm lên:
- Bố muốn con không được nhắc tên chú ấy trong cái nhà này!
- Con rất tiếc là không nhắc tới tên chú Akiba sớm hơn. Chính chỉ vì không muốn đương đầu công khai với bố nên con đã không gia nhập hàng ngũ Macchabée.
Avidan nói:
- Cháu chưa biết là Akiba cùng tất cả các Macchabée đã từ bỏ chiến đấu chống người Anh trong lúc này. Hậu quả là sự khước từ của cháu...
Ari đứng dậy và đi ra phía cửa:
- Con sang chơi domino bên nhà Taha. Ngày nào quân Quốc xã xâm lăng Palestine, xin mọi người báo cho con biết.
Cộng đồng Do-thái dù có đóng góp hết sức mình vào nỗ lực chiến tranh của Anh, Luân-đôn vẫn không vì thế mà chịu đổi thái độ thù nghịch. Một thái độ sẽ gây ra nhiều biến cố ghê khiếp đến nỗi làm một người Do-thái ôn hòa nhất cũng phải nổi nóng.
Trước hết là tấn thảm kịch tầu Strouma. Một chiếc tầu hơi chạy trên sông Danube, cổ lỗ, lọc xọc, mục nát, dài chưa tới hai mươi thước mà trên đó chồng chất tới tám trăm người Do-thái tuyệt vọng tìm cách chạy khỏi Âu châu. Không biết do phép mầu nào, chiếc tầu xác này, nước ngập mấp mé vì chở nặng, cũng đã tới được Istamboul. “Trung ương” phục quốc Do-thái hầu như lạy người Anh xin ban cho các chiếu khán cần thiết. Nhưng người Anh không những từ chối không cho, còn gây áp lực mạnh với chính quyền Thổ để chính quyền này không cho phép tầu được tạm trú trong hải phận mình nữa. Sau cùng, các cảnh sát Thổ lên tầu. Chiếc Strouma bị kéo qua Bosphore rồi bỏ mặc cho trôi giạt ngoài Bắc hải, không nước uống, lương thực và không cả nhiên liệu nữa. Không chống nổi cơn mưa đầu tiên, chiếc tầu hơi chạy sông này đắm.
Chỉ có một người trên tầu sống sót.
Một thời gian sau, một thảm kịch thứ hai diễn ra ngay ngoài bờ biển Palestine. Hai chiếc tầu chở hàng kiệt quệ đã lết được tới Haija với khoảng chừng hai ngàn người Do-thái. Người Anh ra lệnh chuyển họ ngay lập tức sang chiếc Patria nhổ neo rồi bị đắm ngoài khơi hải cảng. Trong vụ này nữa, cũng có hàng trăm người mất tích.
Tất cả những điều đó đều được thực hiện tuân theo Bạch thư, để khỏi làm thiệt hại, dù chỉ rất nhẹ, tới người Ả-rập!
Vào lúc đã làm chủ lục địa Âu châu, Wehrmacht sắp sửa tung ra một trận quyết định đánh vào tim của Đế quốc Anh - nghĩa là vào kênh Suez, Ai-cập và Palestine - vị mufti ấy, sau cuộc nổi dậy thất bại ở Irak, đã sang Bá-linh. Được Hitler tiếp đón nồng nhiệt vì lãnh tụ Đức thấy đó là một đồng minh hữu ích, mufti được xử dụng đài phát thanh Đức để lên tiếng hô hào với giọng điệu cũ rích:
“Hỡi dân Ả-rập, hãy đứng dậy, hãy trả thù những kẻ đã hành hạ đồng bào... Tôi, mufti Palestine, tuyên bố thánh chiến, nổi dậy chống lại áp bức gông cùm Anh cùng sự hỗn láo đã làm ô uế các nơi thờ phụng của chúng ta. Giết chết được một tên Do-thái, là làm hài lòng đấng Allah, là cứu vãn danh dự của đồng bào. Cầu cho bọn Do thái bị tiêu diệt đến tên cuối cùng!”
Trong thời gian này, lộ quân thứ VIII của Anh bị Afrika Korps của Rommel đẩy lui, đang chuẩn bị giao tranh trận chót để giữ đồng bằng sông Nil. Đằng sau lưng đạo quân này, ở Alexandrie, dân Ả-rập đang chuẩn bị cờ xí để đón tiếp “các người giải phóng” một cách xứng đáng. Xa hơn về phía bắc, ở Syrie, quân Đức, dưới sự che chở của chính quyền Pháp phe Vichy(2), đã dự trữ đủ vũ khí để chuẩn bị xông vào Palestine. Trong toàn thể Trung Đông, Anh quốc chỉ trông cậy ở một đồng minh duy nhất: các lực lượng phục quốc Do-thái.
Tình hình kẹt đến nỗi một ngày nọ người Anh cầu tới “Trung ương” và yêu cầu Do-thái thành lập các đơn vị du kích: các đơn vị này, trong trường hợp lộ quân VIII rút lui, sẽ tạo thành quân chặn hậu và tấn công quấy nhiễu các đạo quân đồn trú Đức. Do đó phát sinh Palmach, lực lượng xung kích chính của Haganah.
 
Ari Ben Canaan ngồi xuống bàn dùng bữa cơm, và điềm tĩnh nói:
- Con vừa tình nguyện đầu quân vào quân lực Anh.
Ngày hôm sau, chàng tới trình diện tại kibboutz Beth Alonime, Nhà Cây Sồi, nơi mà tất cả thanh niên Palestine khắp xứ đổ về để thành lập các đơn vị Palmach.
__________
 
Chú thích:
(1) War office: bộ Quốc Phòng Anh
(2) Vichy: sau khi đệ nhị thế chiến mở màn một thời gian ngắn, quân Pháp Anh thua nặng. Quân Anh phải rút về Anh quốc, chính phủ Pháp - lúc đó do thống chế Pétain lãnh đạo - phải xin hòa với Đức. Đức chiếm cứ miền Bắc nước Pháp, để miền Nam dưới quyền kiểm soát của chính phủ Pháp thân Đức đóng đô ở Vichy. Một thiếu tướng Pháp, DE GAULLE, không chịu nhận hòa ước ô nhục này, trốn sang Anh thành lập một chính phủ lưu vong và Quân lực Pháp tự do, sau này đã trở về giải phóng đất nước. Trong những năm đầu, phe DE GAULLE yếu thế vì đa số được tư lệnh các đạo quân Pháp ở các thuộc địa hải ngoại (trong đó có Syrie và Đông Dương) đều theo chính phủ Vichy. Sau khi bên Đồng Minh thắng trận, De Gaulle trở thành anh hùng dân tộc và từng lãnh đạo dân tộc Pháp nhiều lần - tới gần đây, ông tự ý từ chức về trí sĩ. Còn thống chế Pétain bị khổ sai chung thân và chết trong tù.
0
2-15
 
Ari, được bổ nhiệm chức trung úy, được trao phó phụ trách các cuộc hành quân du kích. Đa số thanh niên thanh nữ dưới quyền chàng chưa đạt tới tuổi trưởng thành. Còn về các sĩ quan, đó là các tay “cựu trào” mà tuổi trung bình vào khoảng trên dưới hai mươi lăm. Đó là một đoàn quân rất đặc biệt, không đồng phục không phù hiệu, con trai cũng như con gái đều được huấn luyện y như nhau, một sự huấn luyện căn cứ trên một ý nghĩa sâu xa về định mệnh đã ghi trong Thánh kinh về dân tộc họ.
Trong hàng quân, có hai người đã chứng tỏ có nhiều đức tính nên được bổ nhiệm làm các trưởng đoàn, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Ari. Người thứ nhất, Zev Gilboa, là một nông dân miền Galilée, thấp, khỏe, nặng nề, có một bộ ria vĩ đại đen thẫm. Người thứ hai, David Ben Ami, một sinh viên ở Jérusalem, nhỏ bé và nóng nẩy, có một khuôn mặt linh hoạt, các nét nhiệt thành và nhậy cảm. Cộng chung cả hai người, chưa được bốn mươi tuổi.
Một ngày kia, trại được tướng Haven-Hurst đến thăm. Trong khi đi thanh tra, viên tướng Anh đã có thể nhận thấy sự hiện diện của ông không hề gây ra một niềm phấn khởi nào. Không hề bối rối vì thế, ông cho gọi Ari đến bộ chỉ huy trại.
- Trung úy Ben Canaan, trung úy hãy ngồi xuống. Trước hết tôi muốn khen ngợi anh: anh đã làm được công việc rất tuyệt hảo với các lực lượng của Palmach.
- Xin cám ơn đại tướng.
- Tôi đã nghiên cứu hồ sơ của anh, nói cho đúng hơn, các chặng trong đời sống của anh. Một đời sống rất phong phú.
- Những trường hợp bất hạnh cùng sự thù nghịch bao quanh chúng tôi đã bắt tôi phải sống một cuộc đời như thế. Thực ra thì tôi thích yên tĩnh hơn xáo trộn: tôi thích được sống như nông dân.
Haven-Hurst không để ý đến lời chàng.
- Tôi tới thăm trại này chính ra để có dịp nói chuyện với anh. Tôi muốn anh tình nguyện nhận một nhiệm vụ đặc biệt. Tôi biết là anh đã chỉ nhập ngũ với điều kiện để huấn luyện cho Palmach thôi, nhưng chúng tôi cho rằng vụ này khá khẩn cấp để biện minh cho một sự sửa đổi thái độ cần thiết.
- Thưa đại tướng, tôi là quân nhân trong quân lực Anh quốc. Vậy tôi sẽ nhận tất cả các nhiệm vụ mà thượng cấp sẽ trao phó cho tôi.
- Tốt lắm. Đây, tóm tắt vấn đề như sau. Kể từ một thời gian gần đây, quân Đức tích trữ quân cụ ở Syrie. Chúng tôi e rằng họ sẽ tấn công Palestine trong mùa xuân này. Vậy mà vì không có khai chiến với chính phủ Vichy, chính chúng tôi không thể nào tung ra một cuộc tấn công phòng ngừa chống lại Syrie được. Ngược lại chúng tôi có đủ các lực lượng Pháp Tự do(1) cần thiết nhưng với điều kiện là chúng tôi có thể chuẩn bị cho họ can thiệp bằng cách cung cấp những tin tức thật chắc chắn và đầy đủ. Chính vì cuộc hành quân này mà chúng tôi đã nghĩ tới anh: một mặt vì anh biết rõ Syrie và Liban, sự hiểu biết do từ thời kỳ anh còn ở Ha Mishmar, một mặt khác bởi vì anh nói thông thạo Ả-rập. Chúng tôi muốn anh sẽ thu thập các thanh niên đã từng ở Ha Mishmar với anh rồi trở lại miền đó, dùng kibboutz như căn cứ xuất phát. Một khi cuộc tấn công của chúng tôi được phát động, anh sẽ có các nhiệm vụ khác. Kể từ bây giờ, tôi có thể hứa thăng cấp đại úy cho anh.
- Tôi thấy có một trở ngại, thưa đại tướng.
- Trở ngại nào?
- Đa số các bạn đồng đội của tôi ở Ha Mishmar đã bị cảnh sát của đại tướng bắt nhốt.
Haven-Hurst đỏ bừng mặt.
- Tôi sẽ ra lệnh tha họ ngay lập tức.
- Xin cám ơn đại tướng. Một điều khác: ở đây tôi có hai quân nhân hữu hạng. Tôi mong được đưa họ tới Ha Mishmar và xin cho họ được chuyển sang quân lực Anh.
- Chấp nhận hoàn toàn.
Ari đứng dậy, chào và tiến ra cửa. Trên ngưỡng cửa, chàng quay lại:
- Nếu đại tướng cho phép tôi được góp ý kiến, thì bây giờ đúng là lúc tiến đánh Syrie. Cuộc hành quân này sẽ mang lại cho Lộ quân VIII khoảng thời gian cần thiết để rút lui sang Ấn-độ.
Haven-Hurst nhìn thẳng vào Ari bằng ánh mắt lạnh như thép.
- Ari Ben Canaan, không cần phải nói anh cũng biết rằng một ngày kia chúng ta sẽ gặp lại nhau, nhưng mỗi người một bên chiến tuyến.
- Thưa đại tướng, chúng ta đang là như thế rồi.
Đi cùng Zev Gilboa và David Ben Ami, Ari lên đường đi Ha Mishmar, trái đồi cao đối với chàng đã ghi bao nhiêu là kỷ niệm thê thảm. Trong một thời gian ngắn, chàng đã đứng đầu năm mươi chiến binh lão luyện của Haganah, trong đó có nhiều kẻ đã từng phục vụ trong quân lực Anh ở các xứ xa xôi.
Các toán tuần thám Ari tung ra trong lãnh thổ Syrie đã liều lĩnh tiến đến tận Damas. Vì chiến dịch tấn công cần phải bất ngờ hoàn toàn, chàng cần phải hành động hết sức thận trọng để địch khỏi nghi ngờ. Ari xử dụng phương pháp vừa giản dị vừa hiệu lực. Đa số quân của chàng nói thạo tiếng Ả-rập cùng am tường địa thế, chàng cho họ ăn mặc như dân bản xứ để gửi họ lên đường công khai giữa ban ngày: họ chỉ còn việc mở mắt trông và lắng tai nghe. Nhưng dẫu sao phương pháp này cũng có vẻ không đủ để khám phá đến nơi đến chốn những đô thị lớn như Damas và Beyrouth. Đó là một công việc hết sức tế nhị cần đến một hành động cá nhân: là một người có thể đến vào bất cứ nơi đâu mà không bị nghi ngờ. Ari tham khảo Haganah và thượng cấp ở đây đã tìm ra được một con chim hiếm, đó là một chàng trai mười bẩy tuổi, tên Joab Yarkoni.
Đó là một người Do-thái Ma-rốc, sinh quán tại Casablanca, vóc người nhỏ bé, can đảm, táo bạo, có bộ óc khôi hài “cao độ” trong bất cứ hoàn cảnh nào. Với da mặt xạm nắng và đôi mắt đen lớn, hắn có thể ngụy trang thành bất cứ người Ả-rập nào. Joab nói:
- Đi coi xem có gì trong các đô thị đó hả? Không có gì dễ hơn. Tôi sẽ mang về tất cả những tin tức gì anh muốn.
Joab Yarkoni đã giữ lời. Đi từ biên giới tới Damas, từ Damas tới Beyrouth, từ Beyrouth đến Tyr, hắn trở về Ha Mishmar sau ba tuần lễ. Những tin tức hắn thâu thập được cho phép mọi người biết rõ quân lực Vichy đến nỗi chỉ sai chừng nửa đại đội là cùng.
Một cách kín đáo, các lực lượng Pháp Tự do tiến vào Galilée rồi dàn ra dọc biên thùy Syrie.
Một nhóm người của Palmach - tổng cộng chừng năm chục - bị sát nhập vào một đoàn đặc công được tuyển lựa kỹ càng, gồm toàn các tay chuyên viên về mìn và chất nổ. Lực lượng này, chia làm ba nhóm xung kích, được trao phó nhiệm vụ tiến vào lãnh thổ Syrie và Liban trước khi có trận đánh để chiếm cứ một số trục giao thông cùng các cây cầu chiến lược, tử thủ tại đó cho tới khi quân lực đồng minh tiến tới nơi.
Nhiệm vụ nguy hiểm nhất được trao phó cho toán của Ari. Chàng phải dẫn ba mươi người của chàng đi dọc theo duyên hải Liban, tiến đến gần một đạo quân của chính quyền Vichy và ngăn cản đạo quân này tổ chức phòng thủ chừng sáu cây cầu trong vùng núi, một sự phòng thủ có thể làm quân Pháp Tự do phải ngừng tiến quân. Ari mang theo Joab, Zev và David. Ngoài ba trung sĩ này, chàng còn có mười sáu người Do-thái và mười người Úc nữa.
Khởi hành hai mươi bốn giờ trước ngày N, họ đi ngược bờ biển rất nhanh nhờ am tường địa thế, liên tiếp vượt qua sáu cây cầu, chiếm một hẻm núi gần đạo quân của Vichy đồn trú ở Fort Henried. Rồi sau khi chôn mìn trên đường, chọn vị trí đặt các khẩu liên thanh, họ chờ quân đồng minh tiến đến.
Nhưng, như thường thấy xẩy ra trong một cuộc hành quân loại này, đã có một kẻ nào đó đã phạm lỗi lầm. Cánh quân phía đông, đã phát xuất từ Transjordanie mười hai tiếng đồng hồ quá sớm, tiến thẳng về Damas, làm mất luôn yếu tố bất ngờ.
Đối với Ari, sự kiện đó có nghĩa là chàng bắt buộc phải tử thủ hẻm núi đó không những trong ba hay bốn tiếng cần thiết để đại quân đồng minh tiến đến, mà còn phải giữ thêm mười hai giờ nữa.
Viên chỉ huy quân sự Vichy ở Fort Henried không để mất thì giờ. Vừa được báo động, ông đã tập trung hai tiểu đoàn có thiết giáp và pháo binh yểm trợ, khởi hành dọc duyên hải để đi phá các cầu trong miền núi. Khám phá ra tiền quân địch, Ari hiểu là đã có gì trục trặc xẩy ra. Ngay lập tức, chàng gửi ngay Zev và David về biên thùy Palestine để cầu viện.
Tiến vào hẻm núi không nghi ngờ gì, đạo quân của Vichy bị thiệt hại khá nặng vì các liên thanh bắn từ cạnh sườn và các trái mìn nổ tung dưới chân. Họ lùi lại, tập trung rồi cho pháo binh bắn như mưa.
Sáu giờ ghê gớm trôi qua trước khi một tiểu đoàn Pháp Tự do tới tăng viện kịp. Hẻm núi vẫn giữ được. Tất cả các cuộc xung phong đều đã bị đẩy lui. Và trên đèo nằm rải rác hơn bốn trăm xác quân sĩ của quân lực chính phủ Vichy.
Trong đoàn đặc công của Ari, chỉ còn có năm người sống sót. Chính Ari cũng hầu như hấp hối. Lưng chàng đầy mảnh đạn, hai viên đạn nữa nằm trong người, một chân và mũi bị gẫy. Đối với chàng, chiến tranh chấm dứt ở đây.
Một xe tải thương đưa chàng về Palestine. Trong khi quân lực Pháp Tự do hoàn tất công cuộc chiếm cứ Syrie, Ari phải chịu cực hình gắp từng mảnh đạn ra, rồi sau đó là một thời kỳ dưỡng bệnh rất dài. Để tuyên dương công trạng của chàng, người Anh thăng chức thiếu tá và ban một huân chương cho chàng để tưởng thưởng chiến công ở hẻm núi.
Ari Ben Canaan đã tỏ ra xứng đáng với chính nghĩa của Đồng minh, như tất cả hàng ngàn đoàn viên phục quốc Do-thái khác.
Người ta thấy các Do-thái Palestine hiện diện trong các toán xung kích chuẩn bị chiếm Tobrouk và Bardia. Sau này, một trong những tiểu đoàn của Do-thái này đã tham dự vào cuộc tử thủ Tobrouk oai hùng. Họ chiến đấu ở Ý, ở Hy-lạp, đảo Crète, Hòa-lan.
Hàng trăm người trong họ thuộc vào các phi hành đoàn oai hùng của không lực Hoàng gia Anh. Trong một cuộc đột kích táo bạo, một đơn vị quyết tử của Do-thái đã phá hủy xưởng lọc dầu Tripoli, và sau đó không một người nào sống sót trở về. Có những người Do-thái Đức, mặc quân phục Đức, làm việc ở Tổng hành dinh của Rommel. Nhiều quân nhảy dù Do-thái được thả xuống các nước Trung Âu để sưu tầm tin tức và tổ chức phá hoại. Tại những nơi đây nữa, nhiều kẻ đã ra đi không về. Một thiếu nữ tên là Hanna Senesh, được thả xuống Hung-gia-lợi, bị cơ quan Gestapo bắt, đã trở thành một bậc anh thư của kháng chiến bởi vì mặc dù bị tra tấn tàn bạo vẫn không khai những nơi nàng tiếp xúc.
Các đoàn viên phục quốc Do-thái lập không biết bao nhiêu chiến công oai hùng, nhưng chính quyền Anh không hề muốn họ sau này sẽ dựa vào đó để đưa ra những nguyện vọng yêu nước. Do đó hậu quả là Luân-đôn cố tránh không nói gì đến các nỗ lực quân sự của Do-thái cả. Đến nỗi những nỗ lực này trở thành một trong những bí mật được giữ kín nhất trong chiến tranh.
Điều chờ đợi xẩy ra đã xẩy ra: chiến tranh chấm dứt, kẻ thù chung bị đánh bại. Anh quốc từ chối thu hồi lại Bạch thư. Mặc dù cả ngàn vụ phản bội của Ả-rập và đã không giơ đến ngọn ngón tay lên để góp phần vào chiến thắng, mặc dù các đóng góp anh hùng của các đoàn viên phục quốc Do-thái, mặc dù sáu triệu người Do-thái đã bị Quốc xã giết chết, người Anh vẫn giữ nguyên lập trường - không cho người Do-thái về Palestine.
Haganah, với một lực lượng bây giờ gồm nhiều chiến binh kinh nghiệm, đã bắt đầu bất mãn, xôn xao. Nhưng dù thế nào chính các Macchabée là những kẻ đầu tiên tuyên chiến lại với người Anh. Một loạt tấn công bằng chất nổ làm rung động cả xứ. Trong khi người Anh rút quân đóng vững trong các đồn Taggart, các Macchabée lần lượt cho nổ hết các cơ sở quân sự nầy đến cơ sở quân sự khác của người Anh.
Việc trả đũa thật tàn bạo. Tỏ ra một nghị lực không ai có thể ngờ được là có, tướng Haven-Hurst cho bắt giam và đầy sang Soudan cả trăm đoàn viên Macchabée. Tuy vậy, cơ quan an ninh không sao khám phá ra các nơi ẩn trú của các cán bộ của Akiba. Sau đó, Haven-Hurst cho đánh đòn bằng roi da tất cả những đoàn viên nào bị bắt về sau này, tại nơi công cộng. Đoàn Macchabée đáp lễ bằng cách bắt cóc quân sĩ Anh để rồi cũng đem ra đánh bằng roi da ở nơi công cộng.
Người Anh cho treo cổ các đoàn viên Macchabée và đoàn này cũng treo cổ những quân lính Anh bắt được. Rất nhiều viên đạn Do-thái đã bắn hạ sát các sĩ quan Anh công khai chống lại phục quốc Do-thái. Về phía người Ả-rập, họ cũng thực hiện nhiều vụ ám sát ghê tởm để đáp lễ các hành động của Do-thái. Từ bắc tới nam, Palestine sống run sợ dưới chế độ khủng bố.
Trong chuyến ngao du Âu châu, mufti đã có cái dại là tuyên bố mình là lãnh đạo tinh thần của các dân Nam-tư theo Hồi giáo đang chiến đấu trong hàng ngũ quân lực Đức. Khi chiến tranh chấm dứt, chính phủ Belgrade ghi tên ông vào danh sách những tội nhân chiến tranh. Mufti chạy trốn sang Pháp và bị chính quyền nơi này bắt giữ. Tuy vậy người Anh vẫn muốn duy trì ông để sau này có thể cần tới như một tay xách động ở Trung Đông. Bởi thế họ giúp cho mufti trốn thoát được sang Ai-cập, nơi đây ông được đón tiếp như một anh hùng của Hồi giáo. Trong thời gian này, ở Palestine, cháu ông là Jammal đã nắm lấy guồng máy chỉ huy cộng đồng Ả-rập.
Dầu thế nào, do sự suy yếu của Anh quốc, phần đất này của thế giới không còn chỉ ở dưới quyền kiểm soát của Anh nữa mà thôi. Mỹ đã đứng ra chuẩn bị thay thế, và dưới áp lực của Hoa-thịnh-đốn, Luân-đôn phải chấp nhận thành lập một ủy ban Mỹ-Anh đặc trách việc cứu xét vấn đề Palestine. Ủy ban này, sau khi điều nghiên tại chỗ và đã đi thăm tất cả các trại tập trung di dân Do-thái ở Âu châu đã đi đến một kết luận khả dĩ chấp nhận được: “Phải cho phép nhập nội ngay một trăm ngàn người Do-thái”.
Người Anh phản đối. Họ tuyên bố rằng một biện pháp như vậy chỉ có thể áp dụng được nếu người Do-thái phải giải tán vĩnh viễn luôn cả Haganah lẫn đoàn Macchabée. Ngoài điều kiện vô lý này, người Anh còn đưa thêm cả chục điều kiện nữa, điều nào cũng kỳ cục, được tưởng tượng ra cốt để khỏi phải chấp nhận đề nghị của ủy ban.
Bây giờ, chính “Trung ương” cũng không nhịn được nữa. Chính cơ quan đầu não này đã ra lệnh cho Haganah cùng Palmach thực hiện cả loạt đột kích vào các cơ sở vị trí của Anh. Áp lực căng thẳng mỗi lúc một tăng. Mang hàng mấy chục ngàn quân sĩ tới, người Anh thiết lập một chế độ cảnh sát trị không thua kém gì các chế độ chuyên chế đã có từ xưa đến nay. Trong một cuộc bố ráp khổng lồ, họ bắt hàng mấy trăm nhân vật của phục quốc Do-thái, đem an trí ở ngục Latrun. Để trả thù vụ bắt giam khổng lồ này, Haganah cho nổ tung tất cả những cây cầu dọc theo biên thùy Palestine.
Sau cùng, trong một bài diễn văn chống Do-thái rõ ràng, Ngoại trưởng của Anh hoàng tuyên bố đình chỉ toàn diện việc nhập nội Palestine của người Do-thái.
Câu trả lời của các Macchabée làm vỡ tai nhiều người. Vài hôm sau đó, khoảng một chục người ăn mặc như người Ả-rập, trao rất nhiều thùng sữa cho “Khách sạn Đức vua David”, một dinh thự lớn cánh trái được dùng làm Bộ Tư lệnh quân lực Anh. Các lính gác, không thể ngờ được đó là các thùng thuốc nổ, đã để cho họ đi qua. Các Macchabée mang các thùng xuống các hầm phía dưới cánh trái tòa nhà, điều chỉnh ngòi nổ theo thời hiệu đã định rồi ra về. Rồi một người trong bọn họ điện thoại cho Bộ Tư lệnh, khuyến cáo người Anh nên di tản cấp tốc ra khỏi tòa nhà đó. Dĩ nhiên là lời khuyến cáo này không được coi là đứng đắn. Hiển nhiên đây là một trò đùa làm cho quân lực Anh bị lố bịch. Đoàn Macchabée đâu dám hỗn láo đến độ cho làm nổ tung Bộ Tư lệnh Anh...
Mười lăm phút sau, một tiếng nổ lớn làm rung động cả đô thị. Khi những tiếng dội vào đồi núi chung quanh đã yếu bớt, mọi người nghe thấy một tiếng nổ rền. Đó là cả cánh trái của “Đức vua David” đã sụp đổ.
__________
 
Chú thích:
(1) Lực lượng Pháp Tự do: hợp bởi các đơn vị cùng các quân sĩ Pháp không nhận quyền bính của chính phủ Vichy. Lực lượng này cũng như phong trào kháng chiến tại nội địa Pháp, đều đặt dưới quyền lãnh đạo của De Gaulle.
 
0
3-1 (tiếp)
 
- Họ muốn chống trả ai đây? Hồng quân chăng?
- Bây giờ cháu hiểu rồi chứ? Mỗi ngày, bác đưa danh sách này cho các chú “điên cái đầu” của Palmach đọc, những người muốn đập phá tất cả. Tại sao chúng ta không tung ra một hành động nào? Tại sao chúng ta khước từ chiến đấu dàn trận công khai? Lý do rất giản dị: làm vậy, chúng ta sẽ phải đương đầu với hơn một phần năm sức mạnh quân lực của Đế quốc Anh - hơn một trăm ngàn người, chưa kể Lữ đoàn Ả-rập.
Ông đập mạnh tay trên bàn:
- Mẹ kiếp! Tưởng cháu loạn trí rồi chứ! Chỉ có Trời mới biết bác đã làm những nỗ lực tuyệt vọng để tạo ra một quân lực. Nhưng lúc này đây, chúng ta không có tới mười ngàn khẩu súng. Và cháu đừng có quên điều này: nếu Haganah bị tiêu diệt, chúng ta cũng bị tiêu diệt theo hết - hết tất cả, đến tận người cuối cùng.
- Vâng, cháu hiểu.
Bằng một cử chỉ giận dữ, Ari dụi tắt điếu thuốc.
- Các lệnh của bác cho cháu bây giờ là gì?
- Bác chưa thể trao cho cháu chức vụ mà cháu xứng đáng nhận lãnh. Trước hết, hãy trở về nhà nghỉ ngơi đã. Sau đó cháu trình diện Bộ Chỉ huy của Palmach ở Ein Or. Nhiệm vụ như sau: kiểm kê thật chính xác lực lượng của chúng ta trong tất cả các nông trường ở Galilée. Chúng ta muốn biết có thể hy vọng giữ được những gì... Và phải chờ đợi mất đi những gì...
- Bác chưa bao giờ tỏ ra bi quan như vậy.
- Lý do bởi vì tình hình chưa bao giờ đen tối đến như vậy. Người Ả-rập từ chối ngay đến cả việc tham dự vào một hội nghị với chúng ta.
Ari đã ra đến cửa, chàng quay lại.
- Ngày mai cháu sẽ đến Jérusalem. Bác có việc gì giao phó ở đó không?
- Có chứ. Hãy kiếm cho bác mười ngàn quân sĩ ưu tú cùng các võ khí tương xứng.
- Shalom, Avidan.
- Shalom, Ari. Rất hài lòng thấy cháu trở về đây.
Khi lái xe về Tel-Aviv, Ari buông thả mình vào niềm chán nản mơ hồ. Khi xưa, ở Chypre, chàng đã cắt nghĩa cho người bạn trẻ tuổi David Ben Ami rằng Haganah, Palmach và Mossad mang ra thí nghiệm tất cả các phương pháp. Một số thành công, một số khác thất bại. Một chiến sĩ chuyên nghiệp phải thực hiện các công tác của mình một cách chuyên nghiệp, không được để tình cảm nào dính dấp vào. Chính chàng, Ari Ben Canaan, cũng chỉ là một cái máy do một bộ óc hiệu lực và táo bạo điều khiển. Trong trò chơi chiến tranh, không phải ván nào người ta cũng thắng...
Dầu vậy, có những lúc chàng nhận định tình hình một cách hoàn toàn thực tế. Như tối nay chẳng hạn có lúc chàng có cảm tưởng đang mấp mé bên bờ thảm bại. Một thảm bại không thể tránh được.
Vụ Exodus, xưởng lọc dầu Haïfa, một cuộc đột kích chỗ này, một trận đánh chỗ kia. Nhiều người đã chết để nhập nội bất hợp pháp năm mươi khẩu súng, những người khác bị treo cổ vì đã phá sự phong tỏa với một trăm người sống sót của các trại tập trung. Phục quốc Do-thái, như một anh chàng tí hon chống lại một người khổng lồ. Ari sẵn lòng trả giá rất đắt để có thể như David Ben Ami tin tưởng có sự can thiệp của Thượng đế. Nhưng một người thực tế không thể nào tin ở các phép mầu được.
Kitty Fremont chờ chàng ở quầy rượu mặt tiền của khách sạn. Nàng trông thấy chàng đẩy cánh cửa xoay và tiến về quầy tiếp khách để lấy chìa khóa phòng. Nàng gọi:
- Anh Ari!
Khuôn mặt chàng lại có cái vẻ hướng hoàn toàn vào nội tâm mà nàng đã trông thấy trong lần gặp gỡ đầu tiên ở đảo Chypre. Nàng lại gọi chàng, nàng ra dấu mời chàng rõ ràng, nhưng chàng hình như không trông thấy, không nghe thấy nàng. Trong khoảng thời gian vài giây, mắt họ gặp nhau. Rồi chàng quay đi và chậm chạp bước lên thang lầu.
__________
 
Chú thích:
(1) Một lối dùng chứ không thể dịch được. Lệnh giới nghiêm ban hành đối với người “Do-thái”, trong khi Ari chỉ nhận mình là người Israël. Tương tự như một người Việt dưới thời Pháp thuộc không nhận mình là “Annamite”, chỉ nhận làm người Việt-nam.
0
3-2
 
Hai chiếc xe ca mỗi chiếc chở hai mươi lăm đứa trẻ của tầu Exodus tiến vào thung lũng Houleh. Con lộ lên cao, quanh co, theo sườn núi, sau mỗi khúc quanh, mọi người lại nhìn rõ hơn những cánh đồng xanh tươi của các kibboutz và moshav, các khoảng vuông chói sáng của các ao nhân tạo dùng cho việc chăn nuôi dọc theo bờ lầy lội của những hồ nước.
Xe chạy chậm lại để băng qua làng Abou Yesha. Ở đây, các trẻ em trên xe không hề nhận thấy vẻ thù nghịch chúng đã nhận thấy trong tất cả các làng Ả-rập khác. Khi xe chạy qua, dân làng giơ tay vẫy, cười và la lên những lời chúc mừng thân hữu.
Con đường vẫn tiếp tục leo lên cao nữa. Khi đến một tấm bảng chỉ dẫn ghi độ cao sáu trăm thước, con đường chạy thẳng đến tận trung tâm thanh niên Dafna. Hai chiếc xe dừng lại trước một thảm cỏ rộng ở giữa trại. Trại nằm trên một khoảng phẳng lớn có hai con đường chạy ngang chia ra làm bốn khu. Chỗ nào cũng đầy những cây hoa và một thảm cỏ. Chính giữa thảm cỏ có dựng tượng Dafna to bằng thật, thiếu nữ trẻ tuổi đã chết thảm cho chính nghĩa mà tên nàng đã được chọn đặt cho trung tâm thanh niên này. Dong dỏng cao, kiêu hãnh, súng carbine cầm tay, nàng đứng nhìn xuống thung lũng trong dáng điệu hẳn nàng đã có ở Ha Mishmar ngày mà quân Ả-rập ám sát nàng.
Các trẻ em được người sáng lập trung tâm ra đón tiếp. Đó là một người nhỏ bé, hơi gù, hút một ống điếu cong và to. Qua một vài lời, bác sĩ Liebermann kể lại cho các trẻ nghe, sau khi rời Đức quốc năm 1934, ông đã làm thế nào để đến Gan Dafna năm 1940, trên khoảng đất do Kammal, vị cố moutak làng Abou Yesha, đã hảo tâm tặng cho. Rồi ông trà trộn vào trong đám trẻ, nói với từng em một bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Karen, đang quan sát ông, có cảm tưởng mơ hồ là hình như đã được gặp ông ở đâu rồi. Ông giống như các giáo sư đại học thường đến chơi nhà ba má nàng ở Cologne. Nhưng chuyện này quá xa trong quá khứ, cách không biết bao nhiêu năm tháng, qua biết bao nhiêu biến cố nên nàng không thể nhớ lại nổi một cách chính xác.
Mỗi trẻ em có một nhân viên trại chờ đợi sẵn. Karen được một cô gái gốc Ai-cập nhiều tuổi hơn nàng một chút đón tiếp.
- Karen Clement phải không? Tôi là Iona. Hai đứa chúng mình sẽ ở chung. Lại đây tôi chỉ cho phòng của bọn mình.
Karen la lớn báo cho Dov biết nàng sẽ gặp chàng sau rồi theo Iona đưa nàng qua khu hành chánh, trường học đến một khu nhà nằm hai bên một con đường có trồng cây nhỏ. Iona cắt nghĩa:
- Chúng ta gặp may đấy. Khu nhà này dành cho lớp tráng niên.
Căn buồng giản dị đơn sơ, nhưng đối với Karen, quả là chuyện thần tiên: một chiếc giường trải ra trắng tinh, một bàn làm việc, một ngăn tủ, một ghế bành - tất cả dành cho nàng!
Mãi đến tối nàng mới gặp lại Dov. Sau cơm chiều, các trẻ em dự một buổi trình diễn trên cỏ. Karen lảng xa để gặp Dov trước tượng của Dafna. Lần đầu tiên từ nhiều tuần, nàng mới thấy thèm được khiêu vũ, ca hát. Không khí miền núi lành mạnh và trong lành, và trại quả thật là một thiên đàng trên thế gian! Chưa kể tới thú vị về phương diện y phục - Karen tự thấy mình rất đẹp trong một chiếc quần mầu xanh ô-liu, một chiếc áo trắng kiểu thôn nữ và đôi dép da hoàn toàn mới.
- Ôi anh Dov! Một ngày thần tiên! Tôi chưa bao giờ sung sướng đến như thế!
Trong cơn vui lộ ra ngoài, nàng lăn ra cỏ. Nhăn nhó, Dov vẫn sững như cây cột. Nàng nắm tay Dov kéo xuống ngồi cạnh. Dov lầu nhầu:
- Thôi, để mặc tôi.
Nhưng nàng cứ năn nỉ, và sau cùng Dov cũng nhượng bộ. Nhưng khi Karen định ngã đầu vào vai chàng, Dov tránh sang một bên.
- Anh Dov, xin anh... hãy cố sung sướng, cả anh nữa.
- Không ai thèm lo tới tôi có sung sướng hay là không...
- Anh nhầm rồi. Tôi, tôi thắc mắc lo lắng về anh.
- Nếu thế thì em nghe đây: em cứ lo cho em thôi...
- Tôi không có quên anh đâu, đừng có vội...
Nàng quỳ trước chàng, hai tay nắm lấy vai chàng.
- Anh đã thấy phòng của anh, giường, ghế của anh chưa? Đã bao năm rồi anh không có một căn phòng như vậy?
Ngượng nghịu vì tay nàng chạm đến thân thể mình, Dov cúi đầu. Karen nói tiếp:
- Anh không chịu hiểu gì hết sao? Bây giờ là hết trại tạm cư, hết tầu phá phong tỏa. Giờ đây chúng ta đã được ở quê hương chúng ra, một xứ sở còn đẹp hơn tôi thường tưởng nữa.
Dov gỡ tay Karen ra, đứng dậy, quay lưng lại phía nàng, lầu nhầu.
- Nếu chỗ này làm em thích, càng tốt. Còn tôi, tôi có các dự định khác.
- Xin anh quên các dự định đó đi. Anh nghe này! Ban nhạc bắt đầu chơi rồi. Chúng ta hãy lại coi trình diễn đi anh.
 
Chiếc Fiat vừa rời Tel-Aviv, Kitty đã cảm thấy tâm trí nàng lại căng thẳng như bầu không khí của Palestine. Khi đi qua thành phố hoàn toàn Ả-rập Ramlé, nàng cảm thấy hàng trăm cặp mắt hận thù đang nhìn theo chiếc xe. Còn Ari chàng có vẻ như không biết tới những người Ả-rập cũng như sự hiện diện của Kitty bên cạnh mình. Từ lúc khởi hành, chàng không nói với nàng một lời.
Tuy vậy nỗi khó chịu của nàng giảm dần. Ngay sau các khúc quanh co của các quả đồi vùng Judée, sự quyến rũ thần diệu của Jérusalem đã xâm chiếm nàng trọn vẹn. Trong cái khung cảnh nặng nề đè nén một sự im lặng hư ảo, nàng bắt đầu hiểu cái nghĩa được sống ở Đất Thánh là như thế nào. Và khi từ trên một đèo cao, nàng trông thấy ở phía xa bức tường thành đô thị của David, nàng không còn chống cự nổi nữa với một niềm hân hoan thánh thiện đã dâng lên trong mình.
Họ đi qua Tân thành do người Do-thái xây cất, xuống con đường huyết mạch thương mại mới của khu vực đường Jaffa, dọc theo tường thành của Cổ thành đến khách sạn Đức vua David. Tòa nhà này có các kích thước lớn lao đáng chú ý - kiến trúc theo kiểu nặng nề của những năm 1900 - nhưng sự đối xứng đã bị hỏng vì cánh bên trái đã bị sập - cựu Bộ Tư lệnh của Anh - mà bây giờ người ta mới bắt đầu dọn những đống gạch đổ nát đi.
Đến giờ cơm trưa, Kitty là người đầu tiên xuống phòng ăn. Nàng đi thơ thẩn trên thềm từ đó ta nhìn thấy được tháp David, và bên kia một thung lũng nhỏ, một phần của dẫy tường thành. Từ trong phòng ăn ra, Ari đứng sững lại trên ngưỡng cửa: “Nàng thực đẹp!” Dầu sao trong chiếc áo mỏng nhẹ kiểu mặc trong buổi chiều, với chiếc mũ kiểu Florentine và đôi bao tay dài trắng, nàng có vẻ xa cách quá với vũ trụ của chàng - nàng, cô gái phù hoa đỏm đáng của La-mã hay Ba-lê, sống trong một thế giới mà các người phụ nữ thường hành động một cách khó hiểu, ít nhất cho một người như chàng. Cả một năm ánh sáng chia cách giữa Kitty và Dafna... Nhưng trời ơi, nàng đẹp làm sao!
Hai người ngồi xuống một chiếc bàn.
Ari nói:
- Tôi vừa điện thoại cho Harriet Salzman. Ăn xong, chúng ta sẽ đi gặp bà ta liền. Bà ấy sẽ làm cô cảm thấy dễ chịu ngay. Trước hết, đó là một đồng hương của cô, thứ hai là tại bà là một người rất đặc biệt. Chắc bà hiện giờ cũng tới hơn tám mươi tuổi rồi. Nếu Do-thái giáo có chuyện phong thánh, chắc bà sẽ là vị nữ thánh đầu tiên của chúng tôi. Cô nhìn đây, ngọn đồi ấy - đó là ngọn Scopus. Các tòa nhà chạy bao quanh đỉnh là trung tâm y khoa tối tân nhất Trung Đông. Tài chính thì do các phục quốc Hoa-kỳ tài trợ, trong một tổ chức do Harriet thành lập sau đệ nhất thế chiến.
- Như vậy bà quả là người đáng chú ý.
- Đó chỉ là một phần công cuộc của bà. Khi Hitler lên cầm quyền, chính bà đã đứng ra thành lập các trung tâm thanh niên của Mossad Aliya Bet. Nhờ có bà, hàng ngàn thanh thiếu niên nam nữ đã được sống một cuộc đời đáng sống.
Trong khi nói chàng đã liếc mắt nhận thấy một người nhỏ bé, nước da xám xanh, vừa xuất hiện trước lối vào. Chàng đã nhận ra hắn là ai: Bar Israël là một đoàn viên của Macchabée. Nhận thấy Ari đã nhận ra mình, Bar Israël gật đầu rồi đi ra. Ari nói:
- Xin lỗi cô một chút.
Chàng tiến ra tiền sảnh, mua thuốc lá, và đứng trước gian hàng báo, chàng lấy một tạp chí lật ra coi. Bar Israël uể oải tiến lại gần và giả vờ chú ý đến các bưu ảnh, rồi thì thào.
- Chú Akiba của anh hiện đang ở Jérusalem. Ông muốn gặp anh.
- Tôi có một cái hẹn ở Quỹ Lập nghiệp Do-thái. Sau đó tôi hoàn toàn rảnh.
- Hãy đến kiếm tôi ở khu Nga.
Bar Israël nói xong, rời xa.
Khu nhà của Quỹ Lập nghiệp nằm trong đại lộ King Georges. Một lối đi dài dẫn vào cửa chính.
- Shalom, Ari.
Harriet Salzman, với một vẻ linh hoạt trái với tuổi mình, đứng lên ra tiếp đón khách. Bà nhón chân, vòng tay ôm cổ Ari và hôn lên má chàng.
- Để thưởng cho công tác tốt đẹp chú đã làm ở đảo Chypre! Chú khá lắm.
Nhận thấy Kitty đang đứng chờ bên cửa, bà nói:
- Như vậy chắc cô là Katherine Fremont. Con ạ, con thật đẹp và duyên dáng.
- Xin cám ơn bà Salzman...
- À không được! Không có “bà Salzman” gì hết, lối xưng hô ấy chỉ tốt cho người Anh và người Ả-rập thôi. Cô gọi tôi như thế làm tôi già đi quá! Mời hai cô chú ngồi. Tôi sẽ gọi mang trà hay là cô chú thích ly cà-phê hơn?
- Cháu xin bà ly trà.
- Tốt lắm.
Tinh nghịch, bà Harriet Salzman quay lại phía Ari.
- Chú thấy không, các cô gái Mỹ như vậy đó.
- Cháu tin chắc rằng không phải tất cả các cô gái Mỹ đều xinh đẹp như Kitty. Bây giờ, chắc là bà không cần đến cháu, cháu xin rút lui. Kitty ạ, nếu tôi trở lại không kịp để đón, cô vui lòng lấy taxi về nhé.
Bà già nói:
- Đi đi chú. Bọn tôi không cần chú đâu. Tôi và Kitty sẽ ăn cơm tối với nhau.
Ari mỉm cười rồi đi ra. Harriet Salzman nhận xét:
- Một thanh niên ưu tú. May mắn thay chúng tôi có được một số người như vậy. Họ làm việc nhiều quá, và chết quá trẻ.
Bà châm một điếu thuốc và đưa bao mời Kitty việc
- Cô người vùng nào ở Hoa-kỳ?
- Indiana.
- Tôi, tôi người San Francisco.
- Thành phố đó đẹp lắm bà. Cháu đã tới thăm một lần cùng chồng cháu xưa kia. Cháu vẫn hy vọng được trở lại đó.
- Tôi cũng vậy. Tôi có cảm tưởng càng ngày càng nhớ không khí Hoa-kỳ. Từ mười lăm năm nay, tôi không ngừng thề với tôi rằng ngay khi nào có cơ hội đầu tiên đưa tới, tôi sẽ về Hoa-kỳ nghỉ một thời gian, nhưng khổ một nỗi ở đây công việc không lúc nào hết. Chắc tôi già yếu hẳn rồi!
Kitty cãi:
- Ồ, chắc chắn là không rồi!
- Tôi cũng chẳng hiểu rõ tôi nữa. Cô nghĩ coi, được làm người Do-thái và đóng góp vào công cuộc phục sinh quốc gia Do-thái là điều hay, nhưng làm người Hoa-kỳ cũng tốt nữa. Cô bé ạ, đừng có bao giờ quên điều ấy nhé. Kể từ vụ Exodus, tôi sốt ruột mong được biết cô, và tôi phải nói thẳng rằng tôi cảm thấy ngạc nhiên ghê lắm. Thế mà tôi cứ tưởng trên đời không còn gì làm tôi ngạc nhiên được nữa...
Mặc dù bị quyến rũ vì vẻ tử tế dễ mến của bà lão, Kitty cũng ý thức được rằng bà lão đang cân nhắc xét đoán mình. Vả lại, sau vài phút trao đổi các kỷ niệm về Hoa-kỳ, bà đã bàn thẳng đến vấn đề sự hiện diện của Kitty ở Palestine.
- Nếu tôi không lầm, cô thích cộng tác với chúng tôi?
- Vâng. Đáng tiếc hôm nay cháu không mang các chứng chỉ đến...
- Cô chẳng cần chứng nhận chứng chỉ nào cả. Chúng tôi đã được biết rõ cô, chúng tôi đã có năm hay sáu báo cáo về cô trong hồ sơ của chúng tôi. Xin cô đừng để ý tới chuyện đó: trong hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi bắt buộc phải biết rõ đang phải đối diện với ai. Tôi cũng xin thú thật là tôi đã đọc lại báo cáo đó trước khi tiếp cô hôm nay. Nhưng đọc đi đọc lại các giấy tờ đó cũng không làm tôi hiểu tại sao cô đến với chúng tôi.
- Cháu tưởng không có gì khó hiểu cả: cháu là nữ điều dưỡng và bà thì đang cần... điều dưỡng.
Harriet lắc đầu.
- Đó không phải là một lý do đầy đủ cho một người Ki-tô giáo. Chắc cô phải có một động lực khác. Phải chăng cô tới Palestine vì Ari Ben Canaan?
- Không đâu bà. Dù rằng cháu thấy rất có cảm tình với anh...
- Đó cũng là ý kiến một nhiều phụ nữ khác cũng đồng ý. Chỉ khác mỗi một điểm là cô là người đàn bà duy nhất Ari có cảm tình thôi.
- Thế thì cháu ngạc nhiên đấy.
- Thế hả... tôi hy vọng là đối với cô mọi sự là như thế. Có cả một thế giới cách biệt giữa các kibboutz của chúng tôi và tiểu bang Indiana. Ari là một sabra, điều đó có nghĩa là chỉ một nữ sabra mới hiểu được Ari mà thôi.
- Một sabra?
- Đó là từ ngữ dùng để chỉ những người Do-thái sinh trưởng trong xứ Palestine. Sabra là tên trái cây cactus (xương rồng) dại ở Palestine đâu cũng có. Dưới một vỏ ngoài rất cứng, bên trong là múi rất mềm rất dịu. Ari, cũng như tất cả các sabra khác, hoàn toàn không có ý niệm nào về quan niệm của cuộc sống Hoa-kỳ - cũng như cháu không thể hiểu được cuộc sống của Ari. Cháu thấy không, cháu không phải là Do-thái, cháu cũng chẳng cảm tình gì với phong trào phục quốc của Do-thái. Cháu chỉ là một cô gái Hoa-kỳ duyên dáng ngơ ngẩn phân vân trước cách xử sự của dân Do-thái, tương tự nhà du lịch phân vân ngơ ngẩn trước cách xử sự của các bộ lạc man rợ vùng Amazone. Bởi thế tôi hỏi lại cháu lần nữa: tại sao cháu lại đến xứ này?
- Vì một lý do chẳng có gì bí mật cả: cháu thương mến một cô gái đã về xứ này bằng tầu Exodus. Cháu quen biết em ở đảo Chypre, trong trại Caraolos. Em hy vọng kiếm lại được người cha nhưng cháu e rằng nó sẽ thất vọng. Nếu người cha còn sống, cháu sẽ rút lui. Nhưng nếu ông ta đã chết hay mất tích, cháu muốn nhận em đó làm con nuôi để có thể cùng cháu về Hoa-kỳ.
- Bây giờ mọi sự mới rõ ràng sáng tỏ. Giải quyết điểm này rồi, bây giờ hai ta bàn đến công việc. Tôi có thể dành cho cháu một chân nữ điều dưỡng tại Gan Dafna, một trong các trung tâm thanh niên của chúng tôi ở phía bắc Galilée. Một chỗ có cảnh đẹp. Giám đốc trung tâm, bác sĩ Lieberman là một trong những bạn thân nhất của tôi. Trung tâm chứa chừng bốn trăm trẻ, đa số là những đứa sống sót khỏi các trại tập trung. Tôi không giấu cháu là công việc ở đó sẽ nhiều lắm. Ngược lại, cháu sẽ được ăn ở tiện nghi và lương bổng cao...
- Cháu mong được biết... Cháu muốn hỏi thăm về...
- Về Karen Hansen phải không?
- Bà biết cả tên cô bé đó sao?
- Chúng tôi là một cộng đồng nhỏ nên sau cùng rồi cái gì ai cũng biết. Karen Hansen lại đang ở Gan Dafna.
- Cháu không biết cám ơn bà ra sao...
- Cháu phải cám ơn Ari mới đúng. Chính chú ấy đã dàn xếp tất cả. Ari sẽ đưa cháu đến đó. Trung tâm chỉ cách kibboutz của Ari có vài cây số thôi. Bây giờ cháu cho tôi khuyên cháu một điều chót nhé?
- Xin bà cứ nói.
- Cháu ạ, tôi lo săn sóc trẻ mồ côi từ 1933 đến giờ. Lòng quyến luyến của các trẻ này đối với xứ sở này sâu đậm đến nỗi cháu khó có thể hiểu nổi. Một khi chúng đã được thở không khí tự do nơi đây, một lòng ái quốc xâm chiếm lấy chúng, chúng sẽ rất khó mà từ bỏ được Palestine. Đa số những đứa đã rời xứ này không bao giờ thích ứng được với môi trường mới. Ở Hoa-kỳ, người công dân coi khung cảnh hiện tại của cuộc đời mình như vĩnh cửu. Còn ở đây, mỗi buổi sáng khi thức dậy, chúng tôi lại tự hỏi kết quả của những nỗ lực của chúng tôi liệu có bị mất hết trong ngày hôm nay không nữa. Người Do-thái Palestine bắt buộc phải nghĩ đến xứ sở mình từ sáng đến tối. Đó là điểm hội tụ của toàn thể cuộc đời họ, đó là ý nghĩa sống của họ.
- Như vậy có phải bà muốn nói rằng cháu sẽ không thể thuyết phục nổi Karen về Hoa-kỳ với cháu?
- Tôi chỉ nói rằng cháu phải đo lường những trở ngại lớn lao mà cháu sẽ phải gặp.
Có tiếng gõ cửa và David Ben Ami tiến vào văn phòng.
- Shalom, Harriet. Shalom Kitty. Anh Ari gửi tôi tới đây. Tôi hy vọng là không làm phiền hai bà chứ?
- Không có chi. Chúng tôi đã giải quyết xong công việc rồi. Tôi sẽ gửi Kitty tới Gan Dafna.
- Tôi nghĩ là chị Kitty sẽ thích lúc khởi đầu của ngày sabbat. Tôi có thể sẽ đưa chị tới coi đường Mea Shearim.
Bà Harriet tán đồng:
- Ý kiến hay đó! Sau đó chú nhớ đưa Kitty trở lại dùng cơm tối với tôi. Rồi, chúng ta sẽ gặp lại...
Ra đến đường, Kitty nắm lấy tay người thanh niên.
- Chắc gia đình anh hận tôi vì đã giữ anh ở đây.
David cãi:
- Chị không hề làm phiền gia đình tôi chút nào hết. Gia đình tôi khá phân tán vào lúc này. Tôi có sáu anh em thì bốn đã ở trong Palmach. Dĩ nhiên là tất cả chúng tôi sẽ hội họp nhau một bận để mừng tôi trở về... Tất cả, trừ một người...
- Anh đó đau sao?
- Không, anh ấy là đặc công. Nói cho chính xác hơn, anh thuộc đoàn Macchabée. Ông bố tôi cấm anh không được về nhà nữa. Anh ở dưới quyền Ben Moshé, cựu giáo sư của tôi ở đại học đường Do-thái.
David đưa tay chỉ ngọn Scopus.
- Ở trên kia kìa, đàng sau là Trung tâm Y khoa. Những khối nhà trắng đó.
- Anh nhớ học hành lắm phải không?
- Vâng. Mong rằng một ngày kia tôi sẽ có dịp đi học lại.
Một âm thanh trầm nổi lên, nghe như một tiếng kèn ở xa. Các tiếng người gọi nhau dọc theo các đường phố đang chìm dần vào hoàng hôn.
- Sabbat! Lễ Sabbat!
David đội lên đầu một chiếc mũ tròn màu đen bao phía trên đầu. Rời bỏ đại lộ Các Bậc Tiên tri, chàng đưa Kitty về đường Mea Shearim, Bách môn của những người Do-thái chính thống.
- Tôi không thể đưa chị vào các giáo đường, bởi ở khu này các giáo đường chỉ dành cho đàn ông thôi. Nhưng chị có thể nhìn thấy bên trong qua các cửa sổ. Chị sẽ nhận thấy các c%
0
3-1 (tiếp)
 
- Tôi không thể đưa chị vào các giáo đường, bởi ở khu này các giáo đường chỉ dành cho đàn ông thôi. Nhưng chị có thể nhìn thấy bên trong qua các cửa sổ. Chị sẽ nhận thấy các cách cầu nguyện khác nhau. Thí dụ như người Yemen lắc lư đều đều như ngồi trên lưng lạc đà. Đó là cách họ thực hiện bình đẳng vào các thời kỳ những người Do-thái không có quyền được cưỡi lạc đà, làm như thế đầu họ sẽ cao hơn đầu những người Hồi giáo.
Kitty nói nhỏ:
- Thật kỳ lạ.
- Hay như những người Do-thái gốc Tây-ban-nha. Giáo hình đã bắt họ cải sang đạo Ki-tô, nêu không sẽ bị xử tử. Được rửa tội theo Ki-tô rồi, họ cầu nguyện lớn tiếng bằng la-tinh, nhưng thêm vào cuối mỗi câu một lời cầu nguyện bằng tiếng hébreu nói nhỏ như hơi thở. Ngày hôm nay họ vẫn còn chấm dứt cầu kinh bằng một tưởng niệm tới Thượng đế trong im lặng.
Ngay khi họ rẽ vào đường Mea Shearim, Kitty có cảm tưởng bước vào một thế giới khác. Giữa hai dẫy nhà thấp có bao lơn sắt uốn, một đám đông đủ mầu sắc đang vội vã đi. Do-thái Trung Âu râu rậm, đội những chiếc mũ tròn có viền lông thú, mặc những chiếc áo khoác dài bằng sa-tanh đen. Do-thái Yémen quấn khăn trắng. Do-thái Kurdistan, Boukharie, Ba-tư mặc áo lụa mầu thật chói mắt. Phố phường vắng rất nhanh trong khi các giáo đường đầy chật các tín đồ. Qua các cửa sổ nhỏ có chấn song, Kitty thấy những người gần như điên cuồng xúm xít trước cuốn kinh Torah, vừa khóc vừa rên la, những người già người cứ lắc lư đàng trước ra đàng sau, đọc bằng một giọng đều đều các bài kinh bằng tiếng hébreu. Họ thật khác xa với những người đàn ông khỏe mạnh, lực sĩ mà nàng đã gặp ở Tel-Aviv. David cắt nghĩa:
- Ở Palestine chúng tôi có đủ loại người Do-thái. Tôi đưa chị đến đây bởi vì tôi biết Ari sẽ không làm thế. Anh Ari cũng như đa số các sabra đều khinh bỉ những di tích của một thời đại này, những kẻ ăn hại không chịu cầy cấy, từ chối mang vũ khí. Dầu vậy, khi người ta sống ở Jérusalem, như tôi, người ta sẽ học biết khoan dung với họ hơn, đoán hiểu được những sự khủng khiếp xưa kia đã giam họ trong lòng cuồng tín như thế.
 
Ari đứng đợi ở lối vào khu Nga, gần nhà thờ Hy-lạp. Chàng bắt đầu sốt ruột thì Bar Israël xuất hiện, như ở dưới đất chui lên. Ari theo Bar đến một xe taxi đậu trong một ngõ hẻm. Khi chiếc xe mở máy, Bar lấy trong túi ra một chiếc khăn tay lớn. Ari có một cử chỉ lảng tránh.
- Quả thực tôi có phải chịu cái trò trẻ em đó không?
- Cá nhân tôi thì tôi tin anh, nhưng lệnh là lệnh.
Mắt bị bịt, Ari phải nằm dài xuống sàn xe, đầu gối một cái chăn. Chiếc xe chạy trong hơn hai mươi phút, quẹo cả trăm vòng trước khi dừng lại trước một nhà ở khu Katamon. Bar Israël đẩy người bạn đồng hành vào trong nhà, đưa vào một căn phòng rồi tháo khăn bịt mắt.
Ánh sáng chập chờn của một ngọn nén cho phép Ari nhận ra một chiếc ghế, một chiếc bàn trên có để một chai rượu mạnh và hai cái ly, và sát tường là hình dáng ốm yếu của chú là Akiba. Vị chỉ huy của các Macchabée đã già đi rất nhiều. Râu và tóc đã bạc trắng như tuyết, vai đã còng, mắt đầy nếp nhăn. Với một cử chỉ chậm chạp cố tình, Ari tiến về phía ông.
- Chào chú.
- Cháu Ari!
Hai người ôm nhau. Rõ rệt là Akiba cố nén một xúc động mạnh. Ông cầm nến đưa lại gần mặt cháu.
- Cháu có vẻ đương phong độ lắm, Ari. Chú có lời khen cháu về công tác tốt đẹp cháu đã hoàn tất được ở Chypre.
- Cám ơn chú. Thế còn chú, chú khỏe chứ?
Akiba nhún vai.
- Khỏe đến mức tối đa có thể khỏe được khi phải sống trong vòng bí mật. Thế mà chú không gặp cháu tới hai năm rồi đấy! Hồi trước khi em Jordana còn học ở đại học, chú ít nhất mỗi tuần gặp nó một lần. Nếu chú không nhầm, chắc con bé giờ hai mươi tuổi rồi chứ? Nó vẫn yêu cái anh chàng... chú không nhớ nổi tên là gì nữa...
- David Ben Ami. Vâng, họ vẫn yêu nhau say mê như ngày đầu gặp gỡ. David đã có bên cạnh cháu ở Chypre. Đó là một trong những hy vọng tương lai của chúng ta.
- Cháu có biết một đứa anh của nó là Macchabée không? Hắn thuộc khu của Ben Moshé. Jordana gia nhập Palmach rồi phải không?
- Vâng. Em cháu đặc trách các thiếu nhi ở Gan Dafna. Đôi khi các đài phát thanh lưu động di chuyển tới vùng này, Jordana cũng cộng tác với các chương trình phát thanh.
- Ở Gan Dafna? Chỗ này rất gần Ein Or, kibboutz cũ của chú. Thế con bé có nói với cháu về kibboutz này không?
- Chắc chắn là có chứ chú. Ein Or vẫn là một thiên đàng nhỏ.
- Có lẽ một ngày kia chú sẽ có thể trở về đó.
Akiba ngồi xuống, và bằng bàn tay run run, rót rượu vào đầy ly.
- Uống với chú ly rượu chứ...
- Xin vâng thưa chú. Hôm qua cháu có được gặp Avidan. Ông đã cho cháu coi lệnh hành quân của người Anh. Chú có biết không?
- Biết chứ. Chú cũng có các bạn ở trong Cơ quan Tình báo Anh.
Akiba đứng dậy để đi đi lại lại trong buồng.
- Haven-Hurst đã quyết định thanh toán một lần cho xong các Macchabée. Hắn cho tra tấn những người của chú mà hắn bắt được, treo cổ họ và đã lưu đầy toàn thể bộ chỉ huy của các Macchabée luôn. Các Macchabée một mình chống lại người Anh đã rồi, đàng này còn trầm trọng hơn nữa là còn phải khó khăn chống lại với những kẻ phản bội trong chính hàng ngũ chúng ta nữa. Than ôi, đúng vậy! Chú biết là Haganah đang bán các Macchabée cho người Anh...
- Sai chú!
- Đó là sự thực!
- Không! Mới ngay sáng nay thôi, ở trụ sở của “Trung ương”, Haven-Hurst đã yêu cầu chính người Do-thái tiêu diệt hệ thống Macchabée, và một lần nữa các cấp lãnh đạo của chúng ta đã không chịu.
- Từ chối cao thượng nhỉ! Vậy người Anh từ nguồn tin nào đã kiếm được những tin tức của họ? Các tên gà chết ở “Trung ương” đã để mặc bọn chú làm tất cả các công việc bẩn thỉu này, chúng để bọn chú hy sinh tính mạng, đồng thời còn phản bội bọn chú nữa. Ồ, chắc chắn là mấy ông nội đó tự cho mình là thông minh, kín đáo... Nhưng họ phản bội bọn chú.
Đột nhiên Akiba ngừng nói, ý thức được sự vô lý cơn giận của mình. Ông hạ giọng:
- Bây giờ nói về bố cháu đi. Bố cháu có biết đôi khi cháu, Jordana và cả Sarah gặp chú không?
- Có thể lắm.
- Thế... Có bao giờ bố cháu hỏi thăm về chú không?
- Thưa không.
Akiba nở một nụ cười không vui, buông mình ngồi xuống chiếc ghế, rót thêm một ly rượu nữa, nói nhỏ:
- Thật là một nghịch cảnh! Bao giờ chú cũng là người giận hờn và Barak là người tha thứ. Cháu Ari ạ, chú cảm thấy mệt, rất mệt. Chắc chú chỉ còn sống được một năm, hai năm nữa là cùng. Barak phải tìm sự ước muốn cùng sức lực để phá vỡ sự im lặng này. Cháu hãy nói với bố cháu... nói với bố cháu là phải tha thứ cho chú, dù rằng chỉ làm thế vì nhớ đến linh hồn ông nội mà thôi.
0
3-3
 
Buổi sáng ngày hôm sau Ari và Kitty rời Jérusalem trên con đường đi Galilée. Trước hết họ đi qua vùng thảm xanh của thung lũng Jezreel, một vùng xưa kia là đầm lầy nay đã thành vùng trù phú nhất Trung Đông nhờ ở các nỗ lực của phục quốc Do-thái. Rồi càng lại gần Nazareth, họ như trở lui lại mười chín thế kỷ. Trong một khung cảnh đồng ruộng điển hình Ả-rập, khô cằn và sỏi đá, đô thị Nazareth không thay đổi bao nhiêu kể từ ngày Chúa Ki-tô còn là thanh niên.
Họ dừng xe ở trung tâm thành phố, và Ari phải đẩy lui cuộc xung phong của cả một bầy trẻ con rách rưới. Một đứa hầu như bám chắc lấy cánh tay chàng.
- Thầy cần một người hướng dẫn, thầy hai...
- Không.
- Thầy hãy mua một kỷ vật cho cô hai nè. Tôi có thứ làm bằng gỗ lấy từ Thập tự giá ra, một mảnh vải liệm...
- Chú cút đi xéo lẹ cho tôi nhờ!
Hơi ngạc nhiên, Ari ném cho thằng nhỏ một đồng tiền.
- Giữ xe nghe. Xẩy ra cái gì tôi đập chú bể sọ đấy, hiểu chứ.
Nazareth như ngủ im dưới một đám mây đầy mùi hôi thối và ruồi nhặng. Trong các đường đầy rác rưởi, những kẻ ăn mày mù cầu khẩn lòng thương của những khách qua đường. Kitty nép sát vào Ari đang lôi nàng qua khu hàng tạp hóa để đến một địa điểm, theo truyền thuyết, nơi đây Đức Mẹ Maria đã đặt nhà bếp và Joseph đặt xưởng thợ mộc của họ.
Họ lại ra đi ngay. Kitty không giấu sự ngạc nhiên của mình.
- Chỗ gì mà ghê quá! Tồi tệ không thể ngờ nổi.
- Nhưng ít ra dân Ả-rập ở đây cũng không thù nghịch với chúng ta. Quả thật họ là những tín đồ Ki-tô giáo.
Kitty gằn giọng:
- Những thứ giáo dân cần mang tắm cho đỡ dơ.
Họ dừng lại một lần nữa ở Kaf Kanna, trước giáo đường mà Đấng Ki-tô đã thực hiện phép mầu đầu tiên bằng cách biến nước thành rượu vang. Thánh tích này nằm ở giữa một làng Ả-rập khung cảnh đẹp và chìm đắm trong một thứ thanh tĩnh ngoại thời gian.
Im lặng, Kitty cố gắng xác định những ấn tượng nàng đã tiếp nhận trong vài ngày gần đây. Chắc chắn là một quốc gia bé xíu rồi, nhưng mỗi phân đất đều gợi lại những kỷ niệm máu lửa và huy hoàng. Khi thì tính cách thần thánh của một địa điểm làm ta xúc động, khi thì lòng sùng kính biến thành kinh tởm. Các người Do-thái kêu than trong các giáo đường ở Mea Shearim, các ngọn lửa rực trời của xưởng lọc dầu bị tiêu hủy, các sabra kiêu hãnh của Tel-Aviv và các nông dân thung lũng Jezreel, tạo ra cả ngàn tương phản và nghịch cảnh.
 
Chiều xuống, khi chiếc Fiat vượt qua cổng Yad El để dừng lại trước một bungalow ẩn dưới những cây cối đầy hoa lá. Cửa nhà bật mở và Sarah Ben Canaan chạy về phía chiếc xe.
- Ari! Con tôi, con tôi!
Ari bế mẹ lên, hôn và đu đưa bà trong tay như một đứa trẻ.
- Đừng khóc, mẹ... Đừng khóc nữa, con đã về rồi mà...
Barak, hình dạng như một con gấu về già xuất hiện trên bực cửa, sải bước nhanh tiến tới để ôm cậu con trai của mình. Barak nhắc đi nhắc lại bằng một giọng trầm.
- Con khá lắm, khá lắm. Con có vẻ khỏe mạnh sung sức lắm, Ari!
Sarah phản đối:
- Tôi không đồng ý. Mình không thấy con nó mệt mỏi như vậy sao?
- Không đâu mẹ, con khỏe như voi. Con xin giới thiệu với bố mẹ một người bạn thân, Katherine Fremont, y tá trưởng mới của Gan Dafna.
Bà mẹ than:
- Con bao giờ cũng ngu hết. Đáng lẽ phải gọi điện thoại báo trước cho bố mẹ... Cô Fremont, xin mời cô vào. Cô hãy tắm một cái cho mát, thay đổi y phục cho dễ chịu trong khi tôi chuẩn bị cơm tối. Ông Barak! Mình đợi gì nữa mà không mang hành lý cho cô ấy vào.
 
Jordana Ben Canaan cho tập họp các thiếu nhi của tầu Exodus ở rạp hát ngoài trời. Mười chín tuổi, cao lớn, nàng vừa mảnh dẻ vừa khỏe mạnh, làn tóc hung buông thả xuống đôi vai của một thiếu nữ ham thể thao. Được Palmach giao phó cho việc huấn luyện quân sự cho các trẻ em dưới mười bốn tuổi, Jordana đã cho đặt chiếc ghế bố của nàng trong văn phòng mình. Nàng bắt đầu nói:
- Tên tôi là Jordana Ben Canaan. Tôi là thượng cấp, là người chỉ huy của các em. Trong những tuần lễ sắp tới, các em sẽ học quân sự sơ đẳng, nói cách khác nghĩa là sẽ học dọ thám, truyền tin, xử dụng và bảo trì vũ khí, chiến đấu bằng đoản côn. Chúng ta cũng làm nhiều cuộc di hành để tạo sự bền bỉ dai sức cho các em. Ở Palestine, các em không còn xấu hổ vì là người Do-thái nữa. Các em phải nỗ lực hết sức vì nước Israël của chúng ta rất cần tới các em. Ngày mai, trong cuộc di hành thứ nhất, tôi sẽ chỉ cho các em thấy bia của ngôi mộ Joseph Trumpledor, vị anh hùng của dân tộc chúng ta, ở Tel Hai. Trên bia của mộ này có khắc hàng chữ sau: “Chết cho tổ quốc là một điều tốt đẹp”. Tôi muốn thêm vào đó lời như sau: “Tốt đẹp thay khi ta có được một tổ quốc để hy sinh thân ta”.
Một lúc sau, khi nàng tiến vào khu hành chánh, có điện thoại gọi nàng.
- Jordana? Mẹ đây, Ari về rồi!
- Anh Ari? Con về ngay bây giờ.
Chạy một mạch ra tận chuồng ngựa, nàng nhẩy lên con ngựa bạch của ông bố và phóng như bay trên con đường về Yad El, làn tóc dài bay phất phới trước gió. Nàng quả là hiện thân cho cả một gương xấu đối với những người già cả Ả-rập của làng Abou Yesha khi nàng phi nước đại qua. Thật là xấu hổ cái cô gái cưỡi ngựa không yên và để hở đùi với chiếc quần cụt ngủn! Nhưng hiển nhiên người ta phải tha thứ rất nhiều điều cho con gái của Barak, em gái của Ari Ben Canaan.
Ari nắm lấy tay Kitty.
- Lại đây, tôi đưa cô đi một vòng quanh trại trước khi trời tối hẳn.
Sarah nói:
- Cố về đúng giờ cơm nhé. Mẹ đã điện thoại cho Jordana, chắc nó về ngay bây giờ.
Sau khi đi dạo trong khu vườn của Sarah, Ari và Kitty dừng lại ở hàng rào đơn sơ làm bằng gỗ cao chừng nửa thước. Một chân gác lên, Ari im lặng ngắm các cánh đồng. Làn bụi nước của các máy tưới làm mát đất, gió nhẹ buổi chiều tung mùi thơm của loài hoa hồng bà Sarah thích nhất trong các loại hoa. Kitty ngắm chăm chú và hơi ngạc nhiên về người thanh niên đứng cạnh mình. Lần đầu tiên kể từ khi quen biết chàng, Ari có vẻ tìm thấy bình an với chính mình và thế giới chung quanh. Vậy chàng cũng có thể tìm thấy hạnh phúc sao?
Ari nói:
- Tôi sợ rằng khung cảnh này không giống với Indiana bao nhiêu.
- Như thế này tôi cũng bằng lòng lắm rồi.
- Dĩ nhiên rồi. Các cánh đồng và vườn tược xứ cô đâu có phải tạo ra từ bùn lầy ở các đầm ao.
Chàng muốn nói nhiều hơn nữa, cắt nghĩa cho Kitty hiểu chàng mong ước biết bao được ở lại nhà, canh tác đất đai. Nhìn nàng, chàng thấy nàng đẹp, tươi vui. Chàng muốn ôm nàng trong tay, xiết nàng thật chặt vào lòng. Nhưng thứ kỷ luật thép chàng đã tự khép mình vào và một thứ rụt rè kỳ lạ đã ngăn cản chàng làm cử chỉ mà có lẽ nàng cũng đang chờ đợi. Chàng đột ngột nói:
- Chúng ta đi thăm chuồng gà vịt đi.
Sau khi ngắm nghía gà, vịt và ngỗng, hai người dừng lại trước một khu đất quây kín, trong đó một con heo nái to tướng đang điềm tĩnh chịu đựng cuộc xung phong bú mẹ của mười hai con heo con đang đói. Ari nói:
- Đây là những con ngựa rằn của chúng tôi.
- Vậy hả! Nếu tôi không có nhiều kinh nghiệm về loại ngựa rằn thì tôi thề với anh đây là đàn heo.
- Suỵt! Đừng nói lớn thế. Nếu một viên chức của Quỹ Lập nghiệp Do-thái nghe thấy... Chúng tôi không có quyền nuôi những con... những con ngựa rằn trên các đất đai của Quỹ đã bỏ tiền ra mua. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn cứ nuôi - sau khi đề phòng cẩn thận. Cũng vì thế ở Gan Dafna, trẻ con gọi chúng là chim bồ nông. Và trong một số kibboutz thực tế hết sức, họ gọi chúng là “thân hữu”. Cô nhìn kia, chỗ góc cánh đồng ấy, cô sẽ trông thấy Gan Dafna. Phía trên ấy, trong các quả đồi đó.
- Những ngôi nhà trắng kia phải không?
- Không phải. Đó là Abou Yesha, một làng Ả-rập. Gan Dafna ở phía bên phải và cao hơn nhiều. Cô có trông thấy cây cối trên vùng cao kia không?
- Thật như tổ chim ưng ấy! Còn cái khối nhà lớn trên đỉnh đồi?
- Đồn Esther, một đồn biên giới của người Anh. Nhưng thôi lại đây, tôi muốn cho cô coi nhiều điều khác.
Đi dọc theo các cánh đồng, hai người đến một khu rừng nhỏ ven một con sông nước chảy xiết.
- Ở Hoa-kỳ, người da đen ca những bài spirituals rất hay ca tụng giòng sông này.
- Sông Jourdain phải không?
- Đúng.
Chàng tiến lại gần nàng và mắt hai người gặp nhau.
- Cô có tin là cô có thể yêu xứ này không? Cô có thể thương mến bố mẹ tôi không, Kitty?
Cổ họng khô lại, Kitty chỉ có thể gật đầu. Sau hết, cũng đã tới lúc Ari sắp ôm nàng vào lòng. Hai bàn tay chàng mạnh mẽ đã xiết chặt lấy hai vai nàng...
Một giọng con gái vang lên:
- Anh Ari, Ari!
Chàng buông nàng ra, quay vụt lại. Một người kỵ mã đang lao thẳng tới phía hai người, hình dạng nổi đen thẫm trên ráng chiều. Kitty chỉ đủ thì giờ để nhận ra một khuôn mặt táo bạo với mái tóc hung đỏ bao quanh. Kéo cương một cái mạnh, người nữ kỵ mã dừng con ngựa sùi bọt mép lại. Rồi giơ hai tay lên trời, hét lên một tiếng la vui mừng, nàng chồm vào Ari mạnh đến nỗi hai người té ngã lăn ra đất. Mềm dẻo và khỏe mạnh, Jordana ngồi lên người anh như cưỡi ngựa để hôn như mưa. Ari kêu lên:
- Thôi em, thôi đi em nào!
Nhưng chàng phải đè ngửa Jordana, dùng vai chặn xuống mới gỡ được ra khỏi vòng tay em gái. Đột nhiên Jordana, đang vùng vẫy, nhận thấy có Kitty. Ngay lập tức, mặt nàng nghiêm chỉnh lại. Mỉm cười ngượng nghịu, Ari đỡ em đứng dậy.
- Kitty, xin giới thiệu với cô cô em gái quỷ sứ của tôi. Chắc cô nàng đã tưởng nhầm tôi là David Ben Ami.
Kitty giơ tay ra bắt:
- Chào Jordana! Tôi có cảm tưởng là đã được biết cô rồi. Anh David đã nói rất nhiều về cô...
- Chị là Katherine Fremont phải không? Tôi, tôi cũng được nghe nói về chị.
Kitty ngạc nhiên khi thấy Jordana bắt tay mình lạnh nhạt rõ ràng. Jordana quay đi, tay dắt ngựa đi trước hai người về phía nhà. Sau một phút, nàng hỏi anh:
- Anh có gặp David không?
- Có chứ. Chú ấy nói với tôi là chiều nay sẽ điện thoại, và sẽ tới đây nghỉ cuối tuần, ngoại trừ khi em thích tới gặp chú ấy ở Jérusalem.
- Em không đi được đâu với lũ trẻ vừa mới tới trại.
Ari lấy tay hích Kitty một cái trước khi tiếp tục nói:
- Anh cũng gặp cả bác Avidan ở Tel-Aviv. Bác có nhắc... xem nào, bác nói sao nhỉ... À, nhớ rồi, bác nói là David được thuyên chuyển đến lữ đoàn Galilée ở Ein Or.
Jordana quay lại, mắt mở hết cỡ.
- Anh nói thật chứ? Anh không định trêu em đấy chứ?
- Đời nào!
- Em thù anh quá! Sao anh không nói ngay cho em biết?
- Anh làm sao đoán được chuyện đó lại quan trọng đến vậy nhỉ.
Nếu không có sự hiện diện của Kitty, chắc Jordana dám chồm lên Ari vật lộn lần nữa. Nàng đành chỉ giơ nắm đấm lên dọa anh, nói nhỏ:
- Em sung sướng ghê đi!
Bữa cơm quá hoàn toàn dù rằng Kitty phải cố gắng hết sức để khỏi làm thất vọng bà chủ nhà. Sau món tráng miệng, bà Sarah vội vã xếp ra vườn những bàn ghế để tiếp đón khách khứa sắp ào ào kéo đến.
Một giờ sau quả thực là đông quan khách. Hầu như toàn thể dân cư Yad El đều muốn đến để chúc mừng con trai của Barak và Sarah, và cũng để thỏa mãn lòng tò mò về cô gái Mỹ xinh đẹp. Hoàn toàn tự nhiên, ngoài ra còn tin cậy ở sự hiện diện của Ari, Kitty đã khôn khéo trả lời hàng trăm câu hỏi. Dần dần, nàng cũng ý thức được rằng cả sự khéo léo lẫn lòng tử tế tự nhiên của nàng cũng không sao thắng được ác cảm của Jordana. Kitty hầu như có thể đọc rõ tư tưởng của thiếu nữ Palestine này: “Cô là loại người nào mà dám tới đây chinh phục anh tôi?”
Rất khuya sau nửa đêm, khi những khách sau cùng đã chịu ra về, Barak và Ari mới có thể nói chuyện riêng với nhau. Trong đống chai lọ lộn xộn của tủ rượu, Barak tìm ra được một chai rượu cognac chưa cạn hết. Ly cầm tay, hai người ngồi thoải mái, bình thản. Barak nói trước:
- Nói cho bố về cô Fremont đi. Bố mẹ cũng như mọi người đều hết sức tò mò muốn hiểu rõ về cô ta.
- Rất tiếc sẽ làm bố thất vọng. Kitty đến Palestine chỉ vì nàng chú trọng tới một cô bé của tầu Exodus. Con tin rằng nàng có ý đinh nhận cô bé đó làm con nuôi. Chúng con có cảm tình với nhau...
- Không có gì hơn sao?
- Hoàn toàn không, bố.
- Bố ưa cô ta lắm, ưa nhiều lắm. Nhưng đáng tiếc là cô khác chúng ta. Nhưng một khi giữa cô ta và con chưa có gì... Thôi nói chuyện khác, bố muốn con xuống Abou Yesha nói chuyện với Taha.
- Con cũng định hỏi bố xem có chuyện gì rắc rối. Tối nay con ngạc nhiên khi không thấy Taha tới.
- Có rắc rối thật con ạ... như hầu hết mọi nơi khác trong cái xứ này. Từ hai mươi năm chúng ta sống hòa thuận với dân Abou Yesha. Ông già Kammal đã là bạn thân của bố cả nửa thế kỷ. Bây giờ hai bên lạnh nhạt với nhau. Chúng ta đã gọi dân làng đó bằng tên tục, chúng ta đã được họ tiếp đãi ở nhà họ, họ đã từng cắp sách đến trường học của chúng ta, và hai bên đã cùng nhau cử hành không biết bao nhiêu là đám cưới nữa. Đó là những bạn thân của chúng ta. Nếu có một sự hiểu lầm nào giữa hai bên, chúng ta phải cố dẹp bỏ bằng bất cứ giá nào.
- Con sẽ tới thăm Taha ngày mai, sau khi đưa cô Fremont tới Gan Dafna.
Một khoảnh khắc im lặng. Ari đứng dậy, lại gần tủ sách, lơ đãng vuốt ve những tác phẩm cổ điển Hy-bá-lai, Anh, Pháp, Đức, Nga. Sau một do dự chót, chàng quay lại đối diện với bố.
- Con đã gặp chú Akiba ở Jérusalem.
Barak cứng người lại, la con:
- Không được nhắc tới tên con người ấy ở dưới mái nhà này.
- Chú đã già đi nhiều lắm. Con e chú chỉ còn sống được vài năm nữa thôi. Chú xin bố hòa giải với chú để tưởng nhớ ông nội.
Barak kêu lên bằng một giọng run run.
- Bố không muốn nghe nói tới chuyện này nữa!
- Mười lăm năm im lặng, bố không thấy là đã quá đủ rồi sao?
Đứng vươn thân hình cao lớn dậy, Barak nhìn thẳng vào mắt con.
- Chú ấy đã xúi giục người Do-thái chống lại người Do-thái. Lúc này đây, các Macchabée của chú ấy đang làm dân làng Abou Yesha chống lại chúng ta. Cầu Thượng đế tha thứ cho chú ấy - còn bố, bố không bao giờ tha thứ hết. Không bao giờ...
- Con xin bố, hãy nghe con...
- Chúc con ngủ ngon, Ari.
 
Sáng ngày hôm sau, Kitty từ giã gia đình Ben Canaan để lên đường tới Gan Dafna bằng chiếc xe Fiat. Khi đi qua Abou Yesha, Ari d�%
0
3-3 (tiếp)
Sáng ngày hôm sau, Kitty từ giã gia đình Ben Canaan để lên đường tới Gan Dafna bằng chiếc xe Fiat. Khi đi qua Abou Yesha, Ari dừng xe lại, nhờ một đứa bé báo cho Taha là chàng sẽ trở lại thăm trong một giờ nữa.
Họ càng tiến lên cao trong vùng đồi, Kitty càng thấy sốt ruột muốn gặp lại Karen và cũng cảm thấy lo ngại gia tăng về sự tiếp đón sắp dành cho nàng. Jordana Ben Canaan chỉ xử sự như một cô em gái ganh với người tình tương lai của anh mình, hay nàng là một thứ tiền phong của một loại người hoàn toàn thù nghịch với “người ngoài”.
Ari nói:
- Tôi sẽ phải rời cô ngay lập tức.
- Chúng ta sẽ gặp lại nhau không anh?
- Gặp chứ, đôi khi. Cô có thành thực muốn chúng ta gặp lại nhau không Kitty?
- Có chứ anh.
- Trong trường hợp như vậy, tôi sẽ cố gắng trở lại.
Một khúc quanh sau cùng đưa họ lên tới bình nguyên nhỏ của Gan Dafna. Bác sĩ Lieberman, ban nhạc của trung tâm, tất cả nhân viên và năm mươi trẻ em Exodus đã tụ tập sẵn trước tượng của Dafna trên bãi cỏ chính của trại. Trước sự tiếp đón nồng nhiệt, tự nhiên này, các e ngại của Kitty tan biến hết. Được Karen ôm hôn và bị các trẻ em bao vây, nàng hầu như không còn ngoái đầu lại được để nhìn Ari ra đi.
Buổi lễ đón tiếp nhỏ chấm dứt, bác sĩ Lieberman và Karen đưa Kitty đến một căn nhà trắng xung quanh có nhiều hoa. Phòng chính là một phòng khách rộng cũng dùng làm phòng ngủ, đồ đạc giản dị nhưng mỹ thuật. Karen chạy ra cửa sổ để vén bức màn làm bằng voan Négev. Bên ngoài cửa sổ là thung lũng, quang cảnh tuyệt vời, dưới thấp sáu trăm thước. Phòng thứ hai được dùng làm nơi làm việc, bên kia hành lang là một căn bếp nhỏ và một phòng tắm. Đâu đâu cũng là hoa lá, cây kiểng. Kitty nở một nụ cười làm rạng rỡ khuôn mặt nàng. Bác sĩ Lieberman nói:
- Thôi, thôi, thôi! - Ông giơ tay chỉ cửa ra cho Karen - Chốc nữa em sẽ gặp bà Fremont.
Ông chờ cho cô gái đã bước ra mới nói tiếp:
- Thế nào, bà bằng lòng về nơi ở chứ?
- Rất bằng lòng, bác sĩ.
Ông ngồi xuống một góc đi-văng.
- Khi những trẻ em của Exodus biết bà sắp đến, chúng liền chuẩn bị. Chính chúng đã sơn lại nhà, làm màn cửa. Chúng đã làm cả một cuộc bố ráp hoa và cây cảnh của chúng tôi, nghĩa là nói tóm tắt chúng đã vất vả lắm để có thể tiếp đón bà một cách long trọng.
Kitty nói nhỏ:
- Tôi cảm động lắm. Tôi không hiểu tại sao tôi lại được đối đãi tử tế quá như vậy.
- Trẻ con chúng có một bản năng chắc chắn để biết ai là bạn chúng. Bà có muốn tôi đưa bà đi một vòng quanh trung tâm không.
Hai người trở lại nhà hành chánh. Bác sĩ, thấp hơn Kitty một cái đầu, nóng nẩy vỗ túi tìm hộp quẹt để hút píp. Ông kể:
- Tôi từ Đức đến đây năm 1933. Tôi có cái may mắn là đã tiên đoán được rất sớm những gì sẽ xẩy ra tại Âu châu. Vợ tôi mất trước khi tôi đến đây. Cho tới 1940 tôi làm giáo sư văn học tại đại học đường Jérusalem. Rồi bà Harriet Salzman đã yêu cầu tôi giúp đỡ bà thành lập trung tâm thanh niên này. Ngày hôm nay tôi chỉ còn một ước vọng: được ở lại đây trong nhiều năm nữa. Bình nguyên này do vị cố mouktar của Abou Yesha tặng, một con người rộng rãi và thông minh. Nếu sự giao thiệp của chúng tôi với các dân làng này được dùng làm gương cho tất cả những người Do-thái và Ả-rập khác... Bà có một que diêm không?
- Rất tiếc tôi không mang theo.
- Không quan trọng! Dầu sao tôi cũng hút nhiều quá.
Họ ngừng lại ở bãi cỏ trung tâm từ đó nhìn xuống thung lũng Houleh đẹp nhất. Viên bác sĩ nói tiếp:
- Những đồng ruộng của chúng tôi ở phía dưới. Bà hãy nhìn bức tượng này: đó là Dafna, một thiếu nữ của Yad El chết trong khi phục vụ cho Haganah. Vị hôn thê của Ari Ben Canaan. Trung tâm của chúng ta mang tên nàng...
Đột nhiên Kitty cảm thấy đau đớn. Không còn nghi ngờ gì nữa: nàng đang ghen. Quyền lực của Dafna vẫn còn tồn tại công khai ở nơi đây, trong bức tượng đồng bất diệt này, mẫu người điển hình cho một Jordana Ben Canaan và nhiều thiếu nữ tiền khu khác mà nàng đã gặp tối hôm qua ở nhà Ari.
Viên bác sĩ đã nắm lấy tay nàng để dẫn đi xa hơn.
- Người Do-thái chúng tôi đã tạo ra một nền văn minh khác thường ở Palestine. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, sự phát triển của các dân tộc đều phát xuất từ các thành phố. Ở đây điều đó xẩy ra ngược hẳn lại. Nỗi tiếc nuối ngàn năm một xứ sở trước đã thuộc về chúng tôi lớn đến nỗi ngày nay sự phục sinh của chúng tôi lại bắt đầu từ nông thôn. Âm nhạc, văn chương, nghệ thuật tượng hình, các nhà trí thức và thậm chí đến cả các quân sĩ của chúng tôi nữa đều xuất phát từ các kibboutz và các moshav. Bà trông thấy dẫy nhà dành cho trẻ ở chứ?
- Vâng, tôi thấy.
- Bà để ý thấy tất cả các cửa sổ đều mở ra phía đồng dưới thung lũng. Như vậy cái nhìn đầu tiên và cuối cùng mỗi ngày của chúng đều hướng về đồng ruộng. Một nửa chương trình giáo dục của chúng tôi dành cho canh tác. Chưa chi nhiều nhóm do chúng tôi đào tạo đã thành lập được bốn kibboutz mới nữa rồi. Chúng tôi sản xuất tất cả thực phẩm chúng tôi cần, chúng tôi có đàn bò sữa, sân nuôi gà vịt và dệt được đa số lượng vải cần dùng nơi đây. Chúng tôi chế lấy đồ đạc và có các xưởng sửa chữa riêng cho các nông cụ cơ giới. Vậy mà tất cả đều là công trình của lũ trẻ. Chúng tự quản trị lấy và nói cho thật, nhiều quốc gia phải lấy chúng làm gương.
Khi họ đi tới đầu bãi cỏ rộng, Kitty để ý tới một địa đạo hình như chạy vòng quanh trung tâm. Viên bác sĩ thở dài:
- Than ôi, đúng đấy bà! Địa đạo này, những công sự bê-tông này đều xấu xí vô kể. Tôi cũng biết là các trẻ quá tôn thờ chủ nghĩa anh hùng quân đội. Tôi e rằng tình trạng này còn kéo dài cho tới khi chúng tôi giành được độc lập. Đến lúc đó hẳn chúng tôi sẽ có thể mang lại cho cuộc sống một căn bản xứng đáng hơn, nhân bản hơn là căn bản dựa trên sức mạnh vũ trang.
 
Ari đứng trong phòng tiếp khách của Taha, mouktar của Abou Yesha. Người thanh niên Ả-rập, bạn từ thiếu thời của chàng, đang vừa nhấm nháp ăn một trái cây vừa nhìn khách đang bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. Ari nói:
- Chúng ta hãy để những lời đạo đức giả và các lời quả quyết nọ kia cho các nhà ngoại giao của chúng ta đang họp ở Luân-đôn. Giữa anh và tôi, tôi nghĩ là chúng ta có thể nói thẳng với nhau không ngoắt ngoéo gì hết.
Taha cãi:
- Tôi làm sao cắt nghĩa cho anh được những gì đã xẩy ra? Nhiều áp lực mạnh ghê gớm đã bắt tôi... tôi đã chống cự lại...
- Chống cự? Anh quên anh đang nói với bạn anh, Ari Ben Canaan sao?
- Tôi không có quên, nhưng chỉ vì... thời thế đã thay đổi...
- Sao mà nhanh thế được. Sự hòa hợp giữa các dân ở Abou Yesha và Yad El đã sống thoát được hai đợt khủng bố. Còn chính anh, anh đã cắp sách đến học trường của Yad El, anh đã sống trong nhà của bố tôi, dưới sự che chở bảo vệ của người.
- Đúng. Tôi đã sống sót được là nhờ lòng tốt của các anh. Bây giờ các anh cũng đòi hỏi dân tôi chấp nhận cùng thứ sinh tồn kiểu ấy. Thế mà các anh đang vũ trang. Chúng tôi cũng có quyền làm như vậy chứ? Chúng tôi đã tin cậy các anh khi các anh mới có súng. Bây giờ chỉ vì đến lượt chúng tôi cũng có súng, các anh lại khước từ không tin chúng tôi sao?
- Chỉ có anh nghĩ thế đấy chứ!
Thanh niên Ả-rập nhún vai chịu đựng.
- Tôi hy vọng sẽ không bao giờ có cái ngày chúng ta, anh và tôi, hai đứa chúng ta phải đối diện nhau với vũ khí cầm tay. Nhưng anh phải ý thức rằng, đối với tất cả chúng ta, thời kỳ thụ động đã qua mất rồi.
Bực tức, Ari đến đứng trước mặt bạn.
- Quả thực tôi không còn nhận ra anh nữa đấy, Taha. Tôi muốn tránh nhắc lại với anh một số bằng chứng, nhưng tôi có cảm tưởng là tôi đã lầm. Mặc kệ anh và lòng kiêu hãnh của anh. Những ngôi nhà bằng đá thay thế cho những nhà ổ chuột của làng anh trước kia, ai đã vẽ kiểu và xây cất lên? Chúng tôi. Ai đã cho phép con trẻ của các anh được học đọc học viết? Chúng tôi. Chính cũng nhờ chúng tôi các anh mới có hệ thống cống rãnh tối tân. Cũng vẫn nhờ chúng tôi mà trẻ em của các anh mới không chết trước khi lên tám lên chín. Chúng tôi đã dậy các anh cách gia tăng canh tác, đã mang lại cho các anh một đời sống dễ chịu tối thiểu. Chúng tôi đã mang lại cho các anh những gì mà các effendi của các anh chưa chắc đã chịu ban ra trong cả ngàn năm nữa. Thân phụ anh đã hiểu thế, và ông đã khá khoan dung để chấp nhận rằng chẳng có ai khinh ghét và bóc lột người Ả-rập. Và ông đã chết vì tin tưởng rằng sự giải thoát của các anh là ở nơi sự hợp tác với chúng tôi, những người Do-thái.
Taha đứng dậy.
- Tất cả những điều đó, tôi công nhận là đúng. Nhưng anh có thể bảo đảm rằng đêm nay các Macchabée không tàn sát chúng tôi không?
- Anh biết thừa rằng tôi không thể mang lại một bảo đảm loại này cả. Nhưng anh cũng biết là các Macchabée cũng chiến đấu cho chính nghĩa của chúng tôi, anh thừa biết các ý định thật sự của mufti rồi đó.
- Dẫu sao, dù dưới bất cứ trường hợp nào, tôi cũng không bao giờ tấn công Yad El. Tôi hứa danh dự như vậy, Ari.
Sau khi bạn về khá lâu, Taha còn đứng im lặng giữa phòng. Mỗi ngày, thiên hạ càng gây áp lực mạnh hơn đối với chàng và ngay trong làng nữa, nhiều em thật khó cưỡng nổi tiếng nói đe dọa đã cất lên đòi hỏi chàng, với tư cách làm người Ả-rập và Hồi giáo, chàng phải chọn lựa. Biết làm gì bây giờ? Đứng lên chống lại Barak Ben Canaan, người đã tiếp đón nuôi dưỡng chàng trong lúc lâm nguy tới tính mạng; chống lại Ari, người chàng coi thân hơn cả anh ruột nữa? Không thể tưởng tượng được!
Dầu vậy... Chàng quả thực là một người em của Ari không, hay chỉ là một thứ bà con nghèo? Câu hỏi này, Taha đặt đi đặt lại mỗi ngày, và mỗi ngày qua, chàng càng cảm thấy rõ câu trả lời là thế nào. Chàng chỉ là em ngoài miệng của Ari mà thôi.
Cái thứ bình đẳng người Do-thái thường rao giảng ấy, trên thực tế ra sao? Liệu chàng có thể, chàng, một người Ả-rập thú nhận chàng yêu Jordana từ nhiều năm rồi - trong im lặng, một thứ im lặng làm chàng đau đớn đến muốn hét lên. Gia đình Ben Canaan liệu có chịu nhận người Ả-rập Taha làm con rể không? Các đoàn viên của moshav liệu có đến dự đám cưới của chàng không? Cái gì sẽ xẩy ra nếu chàng tìm đến Jordana xin cưới nàng làm vợ? Chắc chắn là nàng sẽ nhổ vào mặt chàng rồi, chắc chắn thế.
Chàng không thể chống lại Ari, chàng lại càng không thể thú nhận tình yêu của chàng đối với Jordana. Chàng không thể chiến đấu chống lại bạn bè Ả-rập, chàng lại càng không thể chống lại những kẻ tuyên bố rằng Do-thái là kẻ thù của Ả-rập, và chàng, xã trưởng của một làng Ả-rập, chàng phải ủng hộ các đồng bào của mình. Và chàng phải làm như vậy dù tiếng nói của lương tâm chàng có như thế nào chăng nữa.
0
3-5
 
Ngọn Tabor, không đủ cao để đáng gọi là núi, nhưng cũng lại quá cao để có thể gọi là đồi, là một khối thẳng đứng một mạch bẩy trăm thước nằm giữa một đồng bằng phẳng đều.
Sau một bữa điểm tâm đến nơi đến chốn ở kibboutz Beth Alonim dọn ra ở chân núi, Ari và Kitty lên đường trước tất cả mọi người để tận hưởng khí mát buổi sớm mai. Con đường mòn bám theo sườn núi, mỗi quãng lại cho ta nhìn thấy một thung lũng. Đột nhiên, sau chừng một giờ leo dốc, Ari đứng sững lại, lắng nghe, rồi nói nhỏ:
- Có đàn dê. Cô ngửi thấy mùi chúng không?
Kitty hít không khí một cách cẩn thận.
- Không. Tôi chẳng ngửi thấy gì hết.
- Dân Bédouin, chắc thế. Ở kibboutz hôm qua mọi người đã báo cho tôi biết là có họ. Lại đây, Kitty.
Quả đúng vậy, ở khúc quẹo sau, hai người thấy chừng mười cái lều cắm dọc theo sườn đồi và chung quanh là các con dê đang gặm cỏ. Hai người dân du mục cầm súng tiến lại. Ari nói vài câu bằng tiếng Ả-rập rồi nắm lấy cánh tay Kitty đưa nàng theo hai người kia đến chiếc lều lớn nhất, chắc hẳn là lều của cheik. Kitty muốn bịt mũi lại luôn. Nếu nàng vẫn không ngửi thấy mùi dê, nàng nhận thấy mùi đàn bà ăn mặc rách rưới, đen cáu ghét, và mùi những trẻ con cởi truồng, trông da thì đủ biết là chúng không hề biết đến nước và xà phòng là gì kể từ khi ra đời.
Một người râu tóc tiêu muối tiến ra và trao đổi với Ari những cái chào đầy nghi lễ. Sau vài phút trò chuyện náo nhiệt, Ari quay lại Kitty:
- Ngoại trừ khi muốn làm hắn cảm thấy bị xúc phạm nghiêm trọng, chúng ta phải nhận lời mời. Và cũng phải ăn luôn những cái gì hắn mời nữa. Sau đó cô vẫn có cách nôn những gì đã ăn ra.
Trong lều, mùi còn kinh khiếp hơn nữa. Họ ngồi xuống những tấm da dê và thảm len. Ari làm thông ngôn. Rất xúc động khi biết Kitty từ Mỹ châu tới, vị cheik nói một cách kiêu hãnh rằng trước kia ông đã từng có một tấm hình của phu nhân tổng thống Roosevelt.
Sau đó mọi người dọn bữa ăn. Kitty thấy mình một tay cầm một miếng đùi cừu lầy nhầy những mỡ, tay kia cầm một nắm cơm trộn tủy. Nàng đủ sức gặm gặm miếng thịt, rồi khi thấy chủ nhân quan sát, nàng cố nở một nụ cười tán thưởng miếng thịt. Tráng miệng gồm có những trái cây chưa rửa và cà-phê cho nhiều đường đến lợm giọng lên được, rót vào những chiếc ly bám đầy đất. Về khăn ăn, mọi người dùng quần để chùi tay và dùng tay áo để chùi miệng.
Một thời gian sau, vẫn trịnh trọng, Ari từ giã chủ nhân. Khi họ đã rời trại Bédouin được vài bước, Kitty dừng lại và thở hắt ra:
- Chúa ơi! Những con người đáng thương!
- Cô đừng có thương cho họ. Họ tin họ là những con người tự do nhất trên thế gian này. Cô có nhớ phim “Tiếng hát sa mạc” không, phim mà cô coi hồi còn nhỏ ấy?
- Nhớ chứ. Nhưng bây giờ thì tôi biết rằng nhà đạo diễn phim này chưa từng bao giờ trông thấy một trại của người Bédouin cả. Anh nói gì với vị cheik vậy? Hai người nói chuyện có vẻ hăng lắm.
- Tôi nói với hắn là đừng có rắc rối tối nay, và đừng có tìm cách tịch thu các nhẫn và đồng hồ của các thanh niên Palmach.
- Còn ông ta, ông ta nói những gì với anh?
- Hắn đề nghị mua cô. Hắn trả giá cho tôi là sáu con lạc đà.
- A, tên cướp! Thế anh trả lời hắn ra sao?
- Tôi trả lời là hắn nhìn cô không kỹ đấy, cô đáng giá ít nhất là mười con lạc đà, ai cũng biết là thế...
Ari đưa mắt nhìn trời quan sát: mặt trời đã lên tới đỉnh.
- Trời sắp nóng bỏng đến nơi rồi. Tốt nhất chúng ta nên cởi bỏ quần áo ngoài đi.
Khi thấy Kitty mặc chiếc quần sọc xanh cổ điển do ban tiếp liệu của Gan Dafna cấp phát, chàng nở một nụ cười tán thưởng.
- Có lời khen cô! Bây giờ cô hoàn toàn có vẻ là một sabra.
Con đường mòn leo lên sườn phía nam ngọn Tabor. Mới sáng trời đã nóng bức. Và hơn nữa, con đường thỉnh thoảng lại biến đâu mất, và lúc đó hai người bắt buộc phải trèo bằng tay và đầu gối. Gần xế chiều hai người mới lên tới khoảng phẳng trên đỉnh núi.
Họ chậm chạp đi vòng quanh, khám phá ra cả một khung cảnh bao la kỳ diệu. Về phía nam, thung lũng Jazreel với ô vuông của các cánh đồng chung quanh kibboutz và những chấm trắng của các làng Ả-rập xa dần đến tận ngọn Carmel và Địa trung hải. Phía bắc hồ Tiberiade. Theo lời chỉ dẫn của Ari, Kitty có thể nhìn thấy bằng ống dòm địa điểm Ein Or, nơi Saül đã gặp nhà nữ phù thủy, cùng đỉnh trơ trọi của núi Gilboa, nơi mà Saül và Jonathan đã chết khi chiến đấu chống lại quân Philistins.
Ari cất tiếng đọc:
- Ôi các ngọn Gilboa, các cánh đồng của mi sẽ không được mưa, không được sương thấm xuống nữa. Vì chính trên sườn của mi tấm mộc của Saül đã vỡ...
Kitty ngạc nhiên nói:
- Tôi không ngờ là anh lại có thể thi sĩ như vậy.
- Chắc tại hậu quả của cao độ và cảm tưởng mình đang ở xa, rất xa các làng xóm thị thành. Và cũng vì tôi đang ở trên ngọn Tabor, chiến trường thường xuyên kể từ khi con người phát minh ra chiếc rìu đá, vị trí đã nhìn thấy trận đánh sau cùng của người Do-thái chống lại các binh đoàn La-mã, vị trí mà các Thập tự quân và quân Ả-rập đã chiếm được và để mất cả năm chục lần. Mỗi một phân vuông của núi này đều đẫm máu - cũng như nhiều địa điểm khác ở xứ này. Chắc cô chưa biết câu nói đùa cợt này: “Giá Moïse đưa các bộ tộc của Israël lang thang thêm bốn mươi năm nữa và kiếm cho họ một xứ ít xáo trộn thì có lẽ tốt hơn!”
Ở giữa vùng đất phẳng trên đỉnh núi, họ đi qua một rừng tùng mà người La-mã, Byzance, Thập tự quân và Ả-rập đều để lại các di tích: những mảnh chén lọ vỡ, các mảng tường, cột đá sụp đổ. Xa hơn một chút là hai tu viện, một của Chính thống giáo, một của Ki-tô giáo, bao quanh lấy nơi mà đấng Ki-tô đã biến hình để nói với Moïse và Elie.
Bên kia rừng là một gò cao tạo thành điểm cao nhất của ngọn Tabor, một pháo đài của Thập tự quân mà di tích lẫn lộn với di tích của một lâu đài của dân Sarrasin. Phía đông là một bức tường xây thẳng đứng sát bờ vực dốc thẳng, từ đó có thể nhìn thấy toàn thể hồ Tibériade, đến tận Cornes Hattin, nơi Saladin đã đánh tan lực lượng của Thập tự quân.
Sau khi đã ngắm cảnh, hai người trở lại lâu đài Sarrasin và mặc lại quần áo ngoài. Ari trải tấm chăn ra và Kitty nằm dài lên trên khoan khoái.
- Nhờ anh mà tôi có được một ngày tuyệt vời, anh Ari. Nhưng rồi tôi sẽ đau mỏi cả tuần cho mà xem.
Tì cằm lên khuỷu tay, Ari nhìn nàng chăm chú trong im lặng. Nàng liệu có biết rằng chàng phải kiềm chế hết sức mới khỏi đưa tay ôm nàng không?
Đến khi chiều xuống, nhóm người leo núi đầu tiên mới lên tới đỉnh: Do-thái Đông phương da rám nắng, Do-thái Phi châu da đen như gỗ mun, Do-thái Bắc Âu cao lớn tóc vàng mắt xanh. Và dĩ nhiên đó là các sabra, con gái khỏe mạnh vú cao thẳng, con trai lực sĩ để ria lớn, dáng điệu kiêu hãnh. Kitty thích thú được gặp lại cả Joab Yarconi lẫn Zev Zilboa. Trong một nhóm khác, nàng nhận ra hình dáng cao và mái tóc hung đỏ của Jordana đứng cạnh David Ben Ami.
Lúc đêm xuống, chừng hai trăm thanh niên nam nữ của Palmach đã tập hợp đủ trên đỉnh. Người ta đào một cái hố để quay ba con cừu. Rồi mọi người ngồi vòng tròn quanh một đống lửa trại lớn. Chưa chi những tiếng hát đầu tiên đã cất lên ca tụng mầu nhiệm của nước đã làm phục sinh những đất đai khô cằn, ca tụng vẻ đẹp của miền Galilée và Judée, sự quyến rũ huyền bí của sa mạc Négev.
Rồi Joab, ngồi theo kiểu Thổ-nhĩ-kỳ, bắt đầu đập trống cầm nhịp cho một bài ca cổ Do-thái. Một tiếng tiêu cất lên theo điệu đó và một vài thiếu nữ gốc Đông phương bắt đầu khiêu vũ cùng với những cử động chậm, lắc lư, dâm tình mà các vũ nữ thời xưa đã trình diễn cho vua Salomon. Dần dần, các ngón tay và mu bàn tay được Joab đánh nhanh hơn, các thiếu nữ nhảy nhịp nhanh theo để rồi sau cùng gục xuống với một điệu quay tròn. Một nhóm chừng mười trai và gái khác ra thay thế, nhẩy hora, điệu vũ của các nông dân Do-thái. Một tay Ari nắm, một tay Joab cầm, Kitty cũng nhẩy vòng tròn theo một chiều này, rồi đột ngột đổi sang chiều kia.
Không ai để ý là David và Jordana đã biến đâu mất. Tay nắm tay, họ chạy băng qua lâu đài đổ nát để dừng lại trong một chỗ giống như một căn phòng nhỏ đào sâu vào trong tường. David trải chiếc chăn ra và hai người nằm xuống hôn nhau và xiết chặt lấy nhau. Các ngón tay David hối hả trên một nút khuy áo, một núm kéo phéc-mơ-tuya mà thiếu nữ giúp chàng cởi hộ, và sau cùng, khi cả hai đã trần truồng, các thân thể của họ hòa lẫn vào nhau. Và khi đã thỏa mãn, họ chìm đắm vào trong giấc ngủ, tiếng trống đã im để cho tiếng gió từ thung lũng lên như để ru họ.
Vào lúc bốn giờ sáng, mọi người dọn ra món cừu quay vừa chín tới và cà-phê nóng bỏng. Vì là khách danh dự, Kitty phải nhận miếng thịt đầu tiên. Khi cắn miếng thịt ngon lành, với hàm răng đẹp nàng nhìn dò xét những khuôn mặt chung quanh. Phải chăng đúng đây là đạo quân mà thành phần chiến đấu ưu tú là lớp người trẻ này? Một đạo quân không quân phục, không phân biệt cấp bực, trong đó đàn bà chiến đấu bên cạnh đàn ông, cùng trải qua những thử thách, xử dụng cùng thứ vũ khí.
Một đạo quân tân tiến? Chắc chắn là không rồi. Nói cho đúng, đây chỉ là sự tái hiện của những người hébreu ngày xưa, một đạo quân đầy rẫy những Samson, những Deborah, Saül, một lực lượng vô địch vì sức mạnh của Chúa ở trong họ!
0
3-6
 
Chatham House
Viện Giao tế Quốc tế
Luân-Đôn
 
Nhà chuyên viên của chính phủ Đức Vua về những vấn đề Trung Đông, Cecil Bradshaw từ ba ngày nay đang cố gắng tổng kết rất nhiều bá cáo đang về tràn ngập văn phòng ông. Trong ba mươi bẩy năm phục vụ, tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết phải hòa hợp với người Ả-rập, ông đã gỡ rối nhiều vụ rắc rối, và kết thúc biết bao là âm mưu, bôi xóa che giấu rất nhiều vụ bội phản và xăng-ta của các bạn đồng minh yêu quí phương đông ấy của ông. Tuy vậy, lần này, các rắc rối đó đã vượt mức. Các hội nghị bàn cãi bất tận ở Luân-đôn đã chấm dứt bằng một thảm bại toàn diện. Đáp ứng với thái độ tiêu cực, điên khùng của những người Ả-rập là hành động khủng bố của các Macchabée, các tay liều mạng đáng sợ nhất mà người Anh phải chống lại từ xưa đến nay.
Mặc dù các lời yêu cầu khẩn cấp và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, (Trung ương) Phục quốc Do-thái vẫn khước từ không chịu trợ giúp chức quyền Anh chiến đấu chống lại các phần tử sát nhân kết hợp dưới danh xưng là các Macchabée. (Trung ương) quả quyết là họ không có quyền hành gì đối với bè lũ mà họ tuyên bố kết án công khai này. Vậy mà một phần khá lớn cộng đồng Do-thái lại tán đồng bí mật đường lối khủng bố của các Macchabée mà hoạt động đã lan rộng đến tỉ lệ mà chúng tôi xin khuyến cáo tản cư tất cả những người Anh nào mà sự hiện diện không là tối cần thiết ở Palestine.
Hay đây nữa:
Cuộc đột kích vào xưởng lọc dầu ở Haïfa đã làm chúng ta thiệt hại mất hai tuần lễ sản xuất. Cuộc tấn công phi trường Lydda đã cho phép tụi khủng bố phá hủy một phi đội khu trục cơ đang đậu dưới đất. Ngoài ra chúng tôi còn ghi nhận phục kích qui mô cùng mười lăm trận đột kích quan trọng vào các cơ sở của chúng ta. Theo các tin tức đã được phối kiểm, Haganah cùng đoàn xung kích của họ là Palmach, cũng đã bắt đầu hoạt động mạnh. Có thể chính họ cũng đã tham dự vào các trận đánh đã liệt kê trên.
Ở một đoạn khác:
Mặc dù đã tăng cường cho các đơn vị hải quân tuần duyên, hoạt động của Mossad Aliya Bet đã gia tăng rất nhiều kể từ vụ Exodus. Sáu tầu đã thành công trong việc phá phong tỏa và đổ bộ chừng tám ngàn di dân nhập nội bất hợp pháp. Theo các báo cáo của các sứ quán và lãnh sự quán của chúng ta ở các quốc gia ven Địa trung hải, Mossad đang trang bị ít nhất là năm tầu nữa.
Và để bổ túc cho đủ bảng tình hình đen tối trên:
Kể từ khi chúng ta khước từ không chịu nhận các khuyến cáo của ủy ban Anh-Pháp đề nghị cho nhập nội thêm một trăm ngàn người Do-thái nữa vào Palestine, uy tín của Anh quốc đối với các bạn đồng minh đã suy giảm rất nhiều, nhất là vì các thất bại tủi nhục mà một số hành động do các Macchabée đã gây ra cho chúng ta. Cũng vì thế vụ bắt cóc mới đây là một thẩm phán Anh vừa kết án một tay khủng bố Do-thái, đã làm suy sụp thêm những gì còn lại của uy tín chúng ta.
Bradshaw đẩy hồ sơ sang một bên, tháo kính và lấy khăn lau trán. Quả là một vụ lộn xộn thảm hại! Quả thực vụ ủy trị xứ Palestine dám chấm dứt bằng một thảm họa. Dầu thế...Vị trí chiến lược của cái xứ bé nhỏ này, trên cả phương diện quân sự lẫn chính trị, có một sự quan trọng chính yếu. Với căn cứ hải quân Haïfa ở ngay kế cận kênh đào Suez, Palestine là trụ của cả Đế quốc. Do đó, cần phải giữ, cần phải bảo vệ xứ này với bất cứ giá nào.
Điện thoại nội bộ reo. Bradshaw cầm máy lên.
- Thưa Ngài, Đại tướng Tevor-Browne đã đến.
- Mời ông ấy vào.
Hai người chào nhau với vẻ lạnh lùng rõ rệt. Tevor-Browne chưa bao giờ giấu giếm cảm tình thân Do-thái của mình. Khác với Bradshaw và gần như toàn thể Thuộc địa vụ, ông cho rằng Anh quốc phải nương tựa ở Trung Đông, không phải thứ thiện chí vì tiền và hay thay đổi của người Ả-rập, mà vào một liên minh chắc chắn với những người phục quốc Do-thái, bạn trung thành và đáng kính. Ông còn đề nghị tới cả việc biến ủy trị Palestine thành một Quốc gia Do-thái nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung.
Bradshaw nói:
- Tôi vừa đọc lại bản tóm tắt các tờ trình mới nhất.
Tevor-Browne châm một điếu xì gà, nhận xét:
- Sự đọc rất là hữu ích. Nếu những người Do-thái muốn làm chúng ta vui lòng, họ sẽ lùi thẳng xuống biển. Nhưng đáng tiếc thay là họ không hề muốn làm như thế.
Bực dọc, Bradshaw lấy tay gõ nhịp xuống bàn.
- Sir Clarence, tôi xin đại tướng miễn cho những lời ám chỉ. Tôi yêu cầu đại tướng đến đây để cùng xét xem có nên duy trì Haven-Hurst hay thay thế ông ta bằng một người khác cương quyết hơn. Theo ý tôi, đã tới lúc thay đổi thái độ của chúng ta đối với người Do-thái.
- Đối với tôi, Haven-Hurst hoàn toàn thích hợp với công cuộc ngài dự trù - ngoại trừ khi ngài thích dùng tới một vài tướng lãnh S.S. Nhưng cũng xin ngài đừng quên cho rằng chúng ta vẫn còn một chính quyền dân sự ở Palestine, dưới quyền của một cao ủy đại nhân.
Đỏ bừng mặt, Bradshaw phải hết sức cố gắng mới trấn áp được mình. Những ngày gần đây đã làm thần kinh ông phải trải qua một thử thách khó nhọc. Ông nói:
- Tôi có ý định cho tăng thêm quyền hành cho tướng Haven-Hurst. Tôi đã chuẩn bị một dự án...
Ông đưa một tờ giấy cho Tevor Browne. Đó là một bức thư gửi cho Tư lệnh các Lực lượng Anh quốc đồn trú tại Palestine, trong đó Luân-đôn trao phó cho tướng Haven-Hurst chuẩn bị toàn thể các biện pháp “có thể mang lại ngay lập tức trật tự tại Palestine”. Tevor Browne lắc đầu.
- Công thức nghe hay lắm. Tôi chắc chắn rằng ngài sẽ thấy những đề nghị của Haven-Hurst hết sức là đáng chú ý - nếu ngài là người thích đọc những truyện kinh khủng toát mồ hôi lạnh.
 
Safed (Palestine)
 
Sau khi tầu Exodus nhổ neo vài ngày, việc cho Sutherland hồi hưu được thực hiện rất là kín đáo. Sutherland lập tức đi ngay Palestine để đến ở trong một biệt thự đẹp đẽ trên sườn ngọn Canaan cách Safed năm cây số, thành phố thánh nằm ở đường vào thung lũng Houleh.
Lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay - nói cho đúng hơn, kể từ khi bà mẹ chết - Sutherland được biết tới thứ hạnh phúc của một tâm hồn thanh thản toàn diện. Lần đầu tiên ông có thể đi ngủ mà không sợ bị giật mình thức tỉnh vì một cơn ác mộng. Biệt thự của ông quả là một tiểu thiên đường. Một cơn gió nhẹ mát thường xuyên thổi vào nhà, ngôi nhà trắng mái ngói đỏ, nền lát đá đen, và sau hàng hiên nhà, là một khoảng đất rộng bốn sào trải ra như một thềm cao. Ông định biến khu đất thành vườn cảnh, bao quanh bằng bốn trăm cây hoa hồng xứ Galilée.
Ngày ngày ông cuốc vườn, đi thăm rất nhiều thánh địa trong vùng, học tiếng Ả-rập và tiếng hébreu, hay lang thang trong muôn ngàn con đường hẻm nhỏ của thành phố Safed. Khu Do-thái, chiếm chừng một phần mười thành phố này, chứa đựng một cộng đồng toàn đàn ông rất sùng đạo và rất nghèo, sống tằn tiện qua ngày bằng các khoản tiền phước thiện do các đồng đạo giầu hơn gửi tặng. Trong trung tâm của Kabbalah này, một giáo phái thần bí của Do-thái giáo, mọi người chỉ sống để cầu nguyện và nghiên cứu kinh thánh. Trong một xứ mà nội chiến đang bùng nổ dữ dội từ bắc chí nam, các tín đồ của Kabbalah ở Safed vẫn cương quyết sống một cuộc đời bình an, như ở ngoài thế gian, dù rằng lối sống này đặc biệt làm họ dễ hứng chịu những cơn cuồng nộ sát nhân của đám quần chúng do mufti xúi giục.
Thành phố Ả-rập thì bao gồm những nhà lụp xụp thường thấy trong bất cứ nơi thị tứ nào của thế giới Hồi giáo Trung Đông. Tuy vậy, khí hậu đặc biệt và cảnh đẹp đã làm cho nhiều effendi xây cất ở đây nhiều nhà ở rộng rãi và sang trọng. Sutherland biết cách kết bạn với cả người Ả-rập lẫn Do-thái.
Ngoài các cổ tích, như giáo đường các Nữ tử của Jacob xây cất trên di tích hoang tàn của một tu viện của các Thập tự quân Hung-gia-lợi, Safed còn có cả một bảo ngọc nữa: đó là acropole. Các con đường nhỏ leo lên đồi chạy qua một Kraal của các hiệp sĩ giáo phái Temple và các di tích của một chiến lũy của người Hébreu. Đỉnh cao nhất nhô lên khỏi một rừng tùng, từ đó cho ta một quang cảnh duy nhất, đi từ hồ Tibériade phía nam đến tận giòng Jourdain. Rất xa ở chân trời là hình dáng cô đơn của ngọn Hebron. Trong khung cảnh của một vẻ đẹp toàn thiện này, chỉ có một đồn Taggart nằm trên đường dẫn lên đỉnh Canaan.
Một buổi chiều, sau khi đi dạo thăm Gan Dafna về, Sutherland ngạc nhiên khi nhận thấy viên sĩ quan tùy viên cũ của mình, thiếu tá Caldwell, đang ngồi đợi ở thềm hiên.
- A, anh Fred! Anh sang Palestine từ bao giờ vậy?
- Dạ, các vài hôm rồi. Thượng cấp đã bổ nhiệm tôi vào ngành phản tình báo thuộc bộ Tư lệnh. Tôi được trao phó nhiệm vụ liên lạc với An ninh. Họ vừa bị một vụ nặng: hình như một số sĩ quan đã mật báo các tin tức cho Haganah, và cho cả Macchabée nữa. Ngài có thể tưởng tượng nổi một điều như vậy không?
Sutherland tưởng tượng nổi điều đó dễ dàng lắm, nhưng ông thích giữ im lặng hơn là nói ra. Caldwell nói tiếp:
- Chiều nay, việc tôi đến thăm viếng ngài có một tính cách hơi chính thức một chút. Nhưng cũng xin ngài ghi nhận cho là dù không có là thế, tôi cũng vẫn cứ tới đây để vấn an ngài. Nhưng vì trước đây tôi đã có vinh dự được phục vụ dưới quyền ngài... Nói tóm tắt, đại tướng Haven-Hurst đã trao phó cho tôi nhiệm vụ tới đây. Chắc ngài cũng đã được biết chúng tôi đang chuẩn bị chiến dịch Polly: di tản tất cả những người Anh không là tối cần thiết cho Palestine...
Sutherland ngắt lời:
- Tôi đã nghe thấy mọi người gọi cuộc hành quân này là “Điên đi”.
Caldwell nở một nụ cười lễ độ trước khi nói tiếp:
- Đại tướng Haven-Hurst mong được biết dự tính của ngài.
- Tôi chẳng có dự tính nào cả. Tôi đang ở nơi đây, nhà tôi, và tôi dự tính tiếp tục ở nhà của tôi.
Caldwell nằn nì:
- Đại tướng Haven-Hurst muốn nhấn mạnh với ngài là một khi cuộc di tản đã hoàn tất, đại tướng sẽ không còn đủ sức bảo vệ an ninh cho ngài nữa. Việc ngài cư ngụ tại Safed đã tạo rất một vấn đề... một vấn đề tế nhị...
Sutherland gật đầu: hiển nhiên là Haven-Hurst đã hay biết các cảm tình của ông đối với phục quốc Do-thái và sợ ông sẽ mang kinh nghiệm quân sự ra giúp cho Haganah.
- Thiếu tá nói hộ với đại tướng là tôi xin cám ơn lòng ân cần của đại tướng đối với tôi, và tôi rất thông cảm với địa vị của đại tướng.
Caldwell bĩu môi và định thử nhắc lại vấn đề. Nhưng chàng không có thì giờ để khai triển các luận cứ của mình. Sutherland đã đứng dậy, nhờ chàng chuyển lời hỏi thăm đại tướng và tiễn chàng đến tận đường, nơi một chiếc xe tham mưu đang đợi dưới sự canh gác của một trung sĩ. Dựa vào cột ngoài cổng, Sutherland nhìn chiếc xe đi xa dần về phía đồn Taggart. Một lần nữa anh chàng Fred đáng thương này lại “hư sự” nhiệm vụ mình.
Đi từng bước nhỏ chậm rãi trở về biệt thự, Sutherland suy nghĩ. Về một điểm nào đó, Haven-Hurst chắc chắn là có lý: mạng sống của ông đang lâm nguy. Nếu Haganah hoàn toàn thích thú trong việc giao thiệp với ông, thì các Macchabée lại rất dễ nghĩ đến việc thanh toán một tướng lãnh Anh hồi hưu thường hay giao thiệp với Ả-rập. Cũng như bất cứ một tay giết người nào của mufti cũng có thể bực tức khi thấy ông giao thiệp với người Do-thái. Chưa kể đến chuyện có thể rằng trong những người Do-thái ông giao thiệp, có trà trộn vài đoàn viên của Macchabée, và như vậy sẽ là cả một hoàn cảnh hết sức rắc rối...
Ông xuống vườn. Những bông hồng đầu tiên đã nở, đêm vừa xuống bao phủ thung lũng. Sutherland cảm thấy những lo ngại của ông tiêu tan trước bao vẻ đẹp và an bình. Không, ông sẽ không ra đi, dầu là ngày mai hay một ngày xa hơn.
 
Vừa tới đồn, Caldwell đã được mời lên phòng An ninh Quân đội.
- Thiếu tá có về ngay Jérusalem bây giờ không?
Caldwell coi đồng hồ.
- Có. Khởi hành ngay bây giờ, tôi có thể về kịp đó trước khi trời tối hẳn.
- Tốt lắm. Ở đây chúng tôi có một tên Do-thái cần phải đưa về trụ sở An ninh. Một Macchabée - một tên rất nguy hiểm. Thế mà các bạn của hắn biết chúng tôi đang giữ hắn và trong trường hợp đúng như vậy, bọn chúng có thể tổ chức một cuộc phục kích đoàn xe chở tên này về. Chính vì thế áp tải hắn về trụ sở bằng một xe thường có lẽ tốt hơn.
- Rất vui lòng được giúp các ông ở đây.
Viên thanh tra mở cửa và ra lệnh. Hai binh sĩ tiến vào, lôi theo một anh chàng bé con chừng mười bốn mười lăm tuổi. Tay chân đều bị xiềng xích, mặt đầy vết đấm đá thâm tím, một băng keo dán kín miệng, rõ ràng là hắn đã bị thẩm vấn đúng mức. Viên thanh tra tiến đến trước mặt kẻ bị trói, nói:
- Thiếu tá đừng để hắn đánh lừa bởi cái vẻ thiên thần tuẫn nạn. Chúng tôi bắt được hắn đêm hôm qua. Tên nhóc khốn kiếp này đã tham dự vào toán tấn công đồn cảnh sát Safed. Chính hắn đã giết chết hai cảnh binh bằng lựu đạn. Mi đúng là một tên Do-thái dơ dáy khốn kiếp, Ben Salomon.
Im lặng, kẻ bị bắt nhìn viên thanh tra bằng một con mắt khinh bỉ.
- Thiếu tá đừng có tháo băng dính ra nghe, hắn sẽ lợi dụng ngay để ca kinh thánh cho thiếu tá nghe ngay. Tụi nhóc này cuồng tín lắm! Bao giờ mày mới thôi nhìn tao cái kiểu này hả thằng khốn!
Viên thanh tra vả cho cậu bé một cái vào miệng thật mạnh trước khi đương sự ngã lăn ra đất.
- Tống cái tên khốn này ra cho khuất mắt tôi!
Mọi người ném Ben Salomon vào xe, cho nằm trên sàn giữa hai hàng ghế. Caldwell lên ngồi cạnh tài xế, để một binh sĩ võ trang canh người tù. Cửa đồn mở ra, chiếc xe vọt nhanh.
Khi họ tới gần thị trấn hoàn toàn Ả-rập Naplus, Caldwell tự dưng một có ý kiến. Chàng quay lại người lính đang chặn một chân lên đầu tù nhân cười khẩy.
- Đây, chúng ta sẽ làm như sau. Chừng một hai cây số nữa, chúng ta sẽ đến một làng Ả-rập căn cứ của mufti. Khi đi qua, chúng ta sẽ chạy chậm lại và ném tên nhóc này ra khỏi xe.
- Nhưng thưa thiếu tá, tụi Ả-rập sẽ giết chết hắn mất!
Người lính cũng tiếp lời người tài xế:
- Tôi, tôi thú thật là cũng ghét tụi Do-thái lắm. Nhưng khi người ta trao phó cho mình một tù nhân, chúng ta bắt buộc phải áp tải tới nơi...
Caldwell hét lên:
- Các anh im cái mồm! Tôi đã nói là ném thằng khốn này ra khỏi xe. Các anh chỉ việc thề là chúng ta bị tụi Macchabée chặn lại và cứu thoát hắn là xong. Nếu anh nào sau này phản tôi, anh đó sẽ chấm dứt cuộc đời trong một cái hố với một viên đạn trong đầu. Hiểu rõ rồi chứ?
Hai người lính sợ hãi, ưng thuận
Khi qua làng, ngang qua quán cà-phê xe chạy chậm lại một khoảng thời gian đủ để mở cửa xe và ném tù nhân xuống. Rồi xe lại rồ ga chạy về hướng Jérusalem.
Mọi sự đã xẩy ra đúng như Caldwell đã dự đoán. Trong khoảng thời gian một giờ, Ben Salomon đã bị tra tấn, xẻo tai mũi rồi chặt đầu. Chừng hai mươi tên Ả-rập tươi cười hí hởn đứng quanh tên chỉ huy để chụp hình, đầu nạn nhân giơ cao. Sau đó, hình này được phổ biến thành hàng trăm bản để cảnh cáo cho dân Do-thái biết số phận sẽ được dành cho họ.
Tuy thế, thiếu tá Caldwell đã phạm một lỗi lầm tai hại. Trong những người Ả-rập đứng ở cửa quán cà-phê nhìn thấy tù nhân bị ném ra khỏi xe, có một đoàn viên của Macchabée.
 
Đại tướng Haven-Hurst giựt mình vừa đi đi lại lại trong văn phòng, ông vừa đọc đi đọc lại bức thư của Cecil Bradshaw.
“... các biện pháp có thể mang lại ngay trật tự...”
Nếu các quí ông ở Luân-đôn cứ để mặc cho ông làm, thì tình hình hẳn không đến nỗi như thế này. Ông đã chẳng báo trước cho họ cả mười, cả trăm lần rằng cho các tên Do-thái khốn kiếp ấy gia nhập quân lực Anh là nhầm sao? Nhưng Bộ Quốc Phòng không thèm biết tới ý kiến ông. Thế mà bây giờ ở Luân-đôn mọi người còn bàn tới bàn lui! Quả là một sự điếm nhục, ô nhục thực sự!
Mỗi lúc thêm tức giận, đại tướng ngồi vào bàn, viết văn thư phúc đáp.
“Tôi kính đề nghị chấp thuận cho thi hành các điểm sau, những điều mà tôi tin chắc khi đưa ra áp dụng sẽ mang lại an ninh trật tự trong xứ:
1. Hủy bỏ tạm thời các tòa án dân sự. Kể từ giờ, tất cả các vụ xử án đều do vị tư lệnh quân sự quyết định.
2. Giải tán “Trung ương” Do-thái, Quỹ Lập Nghiệp, cùng tất cả các cơ cấu tổ chức Do-thái khác.
3. Thủ tiêu nhanh chóng và bí mật từ năm mươi tới sáu mươi nhân vật quan trọng của phục quốc Do-thái, phương pháp mà hiệu lực đã được chứng tỏ qua vụ mufti tiêu diệt phe đối lập trong Hồi giáo. Việc thi hành biện pháp này có thể giao phó cho một nhóm Ả-rập.
4. Cấm chỉ hoàn toàn báo chí Do-thái.
5. Xử dụng ào ạt Lữ đoàn Ả-rập võ trang của Transjordanie.
6. Bắt giữ chừng vài trăm cấp chỉ huy địa phương của tổ chức Do-thái, cùng đầy họ sang một thuộc địa cô lập bên Phi châu.
7. Chấp nhận trao quyền cho cấp chỉ huy quân sự được tiêu hủy tất cả các kibboutz, moshav, làng hay khu trong thành phố nào mà ta khám phá ra vũ khí. Bố ráp đại qui mô để khám phá ra những di dân nhập nội bất hợp pháp, kế đó cho họ đi đầy.
8. Để trả thù tất cả các hành động khủng bố, phạt toàn thể cộng đồng Do-thái ở Palestine một số tiền lớn đến nỗi họ phải thôi hợp tác với Macchabée.
9. Xử tử ngay (nên xử giảo) tất cả các Macchabée nào bị bắt quả tang khủng bố.
10. Tổ chức những ngày tẩy chay thương mại và nông phẩm Do-thái. Tổ chức kiểm soát gắt gao sự di chuyển của tất cả các xe cộ nào thuộc người Do-thái.
11. Tiêu diệt Palmach bằng cách cho quân đội tấn công các kibboutz mà ai cũng biết là nơi trú ngụ của các đơn vị Palmach này.”
 
Chathom House
Viện Giao tế Quốc tế
Luân-đôn
 
Mặt của Cecil Bradshaw đã xám lại. Tướng Tevor-Browne nhận thấy ngay điều đó và đoán được lý do.
- Ngài Bradshaw, ngài đã yêu cầu Haven-Hurst đưa ra các đề nghị. Chắc hẳn là các điều trong thư trả lời của đương sự đã làm ngài khó chịu chăng?
Bradshaw không còn đủ sức để trả đũa giọng mỉa mai của viên tướng nữa. Ông nói bằng một giọng khổ sở.
- Tôi tự hỏi không biết Haven-Hurst có mất trí không. Trời, đọc thư của hắn, tưởng như hắn đã sao chép nguyên văn lại “giải pháp sau cùng” của Hitler. Dĩ nhiên là chúng ta muốn giữ Palestine rồi, nhưng không phải với giá như thế: ám sát, đốt phá làng mạc, xử giảo... toàn những điều kinh tởm. Sir Clarence, Trời làm chứng cho tôi, cả đời tôi đã chiến đấu để cứu vãn Đế Quốc, và đã hơn một lần tôi đã phải dùng tới những biện pháp bất công và hà khắc. Nhưng tôi thành thực tin ở Chúa và luật của Ngài. Nếu chúng ta phải trả giá như thế để giữ được Palestine, thì này, tôi thích chúng ta mất xứ đó còn hơn. Ngoại trừ khi có một kẻ nào khác có cái can đảm thê thảm nhận lãnh trách nhiệm về những cơn khát máu của Haven-Hurst... Còn tôi, tôi xin khước từ.
Ông vò nát bức thư của Haven-Hurst, bỏ vào gạt tàn thuốc rồi châm lửa đốt. Ông nói nhỏ:
- May mắn là chúng ta còn đủ can đảm trả lời cho những tội lỗi của chúng ta.
Vấn đề ủy trị xứ Palestine được mang ra trước Liên Hiệp Quốc.
 
3-7
 
Vào cuối mùa xuân năm 1947, Ari biến mất hoàn toàn khỏi cuộc đời của Kitty Fremont. Nàng không gặp lại chàng từ chuyến đi leo ngọn Tabor. Và nếu chàng có gửi thư cho nàng qua Jordana, thì cô em gái này cũng chẳng chuyển lại.
Liên Hiệp Quốc cố gắng thành lập một ủy ban gồm đại diện của các nước nhỏ và trung lập để tới điều tra tại chỗ với mục đích để rồi đưa ra khuyến cáo. Các tổ chức Do-thái đã chấp nhận sự điều giải cùng các quyết nghị sau chót của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Còn về các quốc gia Ả-rập, họ xử dụng các phương sách thường lệ - tẩy chay, xăng-ta - để nghiêng cán cân về phía lợi cho họ.
Ở Gan Dafna, mọi người tăng cường việc huấn luyện quân sự. Trại thanh niên trở thành một kho vũ khí. Mỗi khi Karen sung vào một đoàn lo việc chuyên chở lậu vũ khí, Kitty lại run sợ cho nàng. Nhưng nàng cảm thấy nàng không thể nào phản đối được. Hơn nữa càng ngày Karen càng thuộc vào chính nghĩa phục quốc Do-thái hơn.
Nếu trong khi hành sự chức vụ y tá trưởng, Kitty đã lấy được lòng kính trọng thương mến của tất cả mọi người - đặc biệt của bác sĩ Lieberman bây giờ đã hoàn toàn tin cậy vào nàng - thì vẫn còn một bức rào ngăn sau chót tồn tại giữa nàng và các dân khác trong trại. Một bức rào một phần lớn do nàng cố ý dựng lên bằng các xử sự của mình. Nàng chỉ thực sự cảm thấy hoàn toàn thoải mái với tướng Sutherland, bây giờ là khách thường xuyên của trung tâm. Với ông, nàng cảm thấy mình sống trong môi trường thực sự của mình, cảm tưởng mà nàng không bao giờ tìm thấy khi sống với một người Do-thái. Đến nỗi bây giờ nàng sốt ruột chờ đợi một vài kỳ nghỉ để thỉnh thoảng tới sống trong biệt thự của viên cựu tướng già.
Đối với Karen, địa vị của nàng là địa vị của một người chị cả thay thế cho cha mẹ đối với cô em út. Kitty sung sướng khi biết mình là tối cần thiết cho Karen: mặc dù trao đổi rất nhiều thư từ với gia đình Hansen, Karen không thể tưởng tượng tới việc có thể một ngày kia trở về Copenhague, và các công cuộc tìm kiếm người cha vẫn chưa đạt kết quả nào. Còn về Dov, bao giờ cũng ủ ê, luôn luôn bị những cơn lãnh đạm và tuyệt vọng, và vẫn nhận sự ân cần của thiếu nữ mà không bao giờ đền đáp lại gì. Thành thử càng ngày Karen càng bám vào người bạn gái lớn tuổi của mình. Đối với Kitty, sự quyến luyến này là yếu tố hay nhất: có lẽ rằng một ngày kia lòng quyến luyến này sẽ thắng được địch thủ ghê gớm là sự quyến rũ mạnh mẽ của xứ Israël.
Khi mùa mưa chấm dứt và tháng năm tới, thung lũng và đồi núi đều bao phủ bằng một tấm thảm xanh điểm hoa rừng, Gan Dafna chuẩn bị ăn mừng hoa lợi đầu mùa.
Ngay từ buổi sáng, hàng dẫy xe vận tải chở đầy quan khách đã tiến lên Gan Dafna. Họ đến từ Yad El, từ các kibboutz biên thùy Liban, từ phía bên kia hồ và các nơi xa tiếp giáp với Syrie. Tuy vậy chính bác sĩ Lieberman đã đưa ra nhận xét này bằng một giọng e ngại - phía đoàn Ả-rập của làng Abou Yesha đã ít người hơn năm ngoái, và mouktar Taha thì cho rằng mình không cần đến dự. Ngược lại, có rất nhiều quân sĩ của đồn Esther, những bạn thân bao giờ cũng báo trước cho trại biết mỗi khi có toán quân nào tới lục soát trung tâm, kiếm vũ khí.
Trình diễn súc vật, thi điền kinh, vũ điệu bình dân - ngày lễ trôi qua trong một bầu không khí vui vẻ và cuồng nhiệt. Đêm xuống, tất cả ra dự đêm kịch nhạc trình diễn ngoài trời. Trên sân khấu, các đèn rọi đang chiếu sáng một vũ điệu ballet thiếu nhi, diễn tả lại cuộc đời của Ruth, người thiếu nữ Moabite đã lấy người Do-thái Booz.
Vai Ruth do Karen đóng. Cổ họng thắt lại, Kitty nghe nàng nói những lời nổi danh của một lòng chung thủy không gì bôi xóa được.
“Chàng đi đâu, thiếp theo đó; nơi nào chàng ở là nơi thiếp ở. Dân tộc chàng sẽ là dân tộc của thiếp, và Thượng đế của chàng là Thượng đế của thiếp.”
Kitty nhắm mắt lại. Một ngày kia liệu nàng có đủ sức nói với thiếu nữ: “Dân tộc của em là dân tộc của tôi, Chúa của em là Chúa của tôi”? Và nếu nàng không đủ sức, liệu nàng có cam chịu mất Karen hay không?
Nàng giật mình khi cảm thấy có người đặt tay lên vai mình. Viên thư ký của bác sĩ Lieberman nói nhỏ:
- Xin mời lại ngay văn phòng bác sĩ cho.
Lo ngại mơ hồ, nàng đi theo người đó. Vừa mở cửa văn phòng nàng đã thốt lên sợ hãi:
- Trời ơi! Chuyện gì vậy? Bác sĩ có vẻ như vừa trông thấy...
- Mọi người đã tìm thấy cha của Karen.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 13.05.2015 16:00:19 bởi scpio>

3-11
 
Sau khi quá giang xe đến Jérusalem, Dov Landau tìm thuê một căn phòng tồi tàn trong khu Cổ thành. Rồi tuân theo đúng lời chỉ dẫn, chàng đến quán cà-phê Saladin, gần cửa Damas, để gửi chủ quán tên và địa chỉ của chàng cho Bar Israël.
Sau khi đem cầm ở một tiệm cầm đồ những nữ trang đã lấy cắp ở Gan Dafna, chàng đi thám hiểm thành phố. Đối với một tay cựu chuyên viên đi dưới ống cống như chàng, những đường phố ngõ hẻm nghèo của đô thị này không có gì là khó nhớ. Trong khoảng thời gian ba ngày, chàng biết rõ đến từng hẻm nhỏ trong khu buôn bán, kiến thức rất quí giá cho một kẻ phải sống còn bằng những gì ăn cắp được. Rồi sau khi đã mua chừng hai mươi cuốn sách về nghệ thuật, hội họa và kiến trúc cùng nhiều tờ giấy lớn và bút chì, chàng ở lỳ trong phòng.
Trong hai tuần lễ liền, chàng chỉ ra ngoài để mua thực phẩm. Từ sáng tới chiều, chàng nghiên cứu học hỏi như điên, chỉ đôi khi ngừng lại khi hình ảnh Karen hiện ra làm chàng không sao tập trung vào công việc được. Khi chạy trốn khỏi Gan Dafna, chàng không ngờ mình đã mang theo biết bao nhiêu là kỷ niệm, kỷ niệm nào cũng liên hệ mật thiết với Karen đến nỗi bây giờ, không có nàng, chàng đau đớn từ tâm hồn đến tận thể xác. Đôi khi, niềm đau dâng lên đến mức độ không sao chịu nổi, chàng vẽ khuôn mặt của Karen, qua từng nét mặt vui buồn của nàng. Rồi tức giận, chàng vò nát tờ giấy, ném vào một góc, không bao giờ chàng vẽ nổi vẻ đẹp duyên dáng của nàng.
Sau hết, sau hai tuần lễ, khi chàng ra ngoài để đi cầm vài thứ đồ linh tinh ăn cắp được ở một cửa hàng, một người đàn ông đang chờ đợi chàng. Tay xiết chặt khẩu súng bao giờ cũng để trong túi, chàng đi qua người lạ mặt, sẵn sàng quay phắt lại nếu có tiếng động nào khả nghi. Một tiếng nói cất lên, ra lệnh:
- Cấm động đậy, không được quay lại.
Dov đứng lại bất động.
- Chú đã hỏi thăm về Bar Israël. Chú muốn gì?
- Anh biết tôi muốn gì mà.
- Tên chú là gì?
- Dov, Dov Landau. Tôi từ Gan Dafna tới.
- Ai gửi chú tới đây?
- Mordéchaï.
- Chú đã vào được Palestine như thế nào?
- Bằng tầu Exodus.
- Tốt. Bây giờ chú tiếp tục đi thẳng, không được quay lại. Chúng tôi sẽ tiếp xúc với chú sau.
Ngày hôm sau, khi chàng vừa thiếp ngủ, có người tới gõ cửa. Ngay lập tức, chàng đứng dậy, súng lục cầm tay. Một giọng nói cất lên ngoài hàng lang.
- Bọn tôi là bạn của chú đây.
Dov đã nhận ra tiếng nói đó là của người đã nói với chàng hôm trước ở cửa khách sạn. Chàng mở cửa nhưng không nhìn thấy ai.
Giọng nói lại cất lên:
- Chú quay mặt vào tường đi.
Chàng tuân lời, ý thức được rằng sau mình có tới hai người. Một người bịt mắt chàng, cặp tay dẫn chàng ra đến tận xe. Chàng phải lên phía sau, nằm dài ra sàn xe, và phải chịu để mọi người phủ lên một cái chăn. Xe rồ máy chạy ngay lập tức. Tài xế có thể chẳng phải mất công chạy quanh co vòng vèo làm gì. Dov, tất cả giác quan vận dụng tối đa, từng quen thuộc với việc tìm đường trong các đường hầm cống tối đen, chàng xác định được lộ trình không khó khăn gì. Đường dốc lên này, hẳn là đường lên ngọn Olives. Đoạn đường êm và rộng này, chắc chỉ có thể nằm trên vùng phẳng ngọn Scopus, nơi có Viện Đại học Do-thái và Trung tâm Y khoa.
Sau cùng, xe dừng lại. Dov được dẫn vào một căn nhà và đẩy vào một căn phòng đầy những khói thuốc lá. Chắc phải có tới năm hay sáu người trong phòng. Mọi người cho chàng ngồi trên một chiếc ghế rồi thẩm vấn gắt gao trong hai giờ liền. Vừa trả lời cả ngàn câu hỏi, Dov, vừa hiểu được vài điều: nhờ ở các tình báo viên, các Macchabée đã biết được chàng là tay làm giấy tờ giả hữu hạng - tài năng mà họ lại đang cần nhất. Chắc những người đang thẩm vấn chàng thuộc vào bộ chỉ huy của tổ chức.
Một giọng cất lên:
- Tôi nghĩ rằng như thế đủ rồi. Cho hắn thề đi.
- Dov Landau, có một tấm màn trước mặt chú. Giơ hai tay lên để chúng tôi có thể đưa qua tấm màn.
Dov thi hành. Có người cầm lấy tay chàng, đặt một tay lên cuốn kinh thánh, tay còn lại trên khẩu súng lục. Rồi nhắc lại những lời mọi người đọc cho chàng, Dov tuyên thệ:
- Tôi, Dov Landau, tôi hiến dâng thân xác tôi, tâm hồn tôi, ý chí tôi cho Macchabée, Chiến sĩ của Tự do, không một hạn chế dè dặt nào. Tôi sẽ thi hành lệnh nhận được, lệnh sao thi hành vậy. Dù bị tra tấn hay bị giết chết, tôi cũng không khai tên các đồng chí cùng các bí mật tôi đã các biết. Tôi sẽ chiến đấu không ngừng chống lại các kẻ thù của dân tộc Do-thái, cho tới khi nào thành lập được một Quốc gia Do-thái nằm hai bên bờ sông Jourdain. Tôi sẽ chiến đấu theo khẩu hiệu: mắt đổi mắt, răng đổi răng. Tất cả những điều trên, tôi xin thề sẽ tuân theo trước sự chứng giám của Abraham, Isaac và Jacob, Sarah, Rébecca và Rachel, các bậc tiên tri cùng anh hồn của tất cả các người Do-thái đã bị giết chết.
Sau cùng, mọi người tháo khăn bịt mắt. Chàng nhìn thấy mình ở giữa sáu người đàn ông và hai người đàn bà đang nghiêm trọng đưa tay xiết chặt tay chàng. Ông già Akiba ngắm kẻ mới gia nhập với một nụ cười suy tư.
- Các kiến thức khá đặc biệt của chú rất quí giá cho chúng tôi. Chính vì thế chú mới được chấp nhận mặc dù chú chưa được huấn luyện theo thường lệ.
Dov phản đối:
- Cháu không gia nhập Macchabée để ngồi vẽ.
- Chú sẽ làm cái gì chúng tôi bảo chú làm. Chú lo thành lập một xưởng chế tạo mọi thứ giả mạo đủ loại. Nếu chú làm việc khá, thỉnh thoảng chú sẽ được tham dự vào một cuộc đột kích.
 
Thiếu tá Caldwell đang chơi bridge trong đại tiền sảnh của câu lạc bộ Sĩ quan Anh thì có người gọi điện thoại.
- Kính chào thiếu tá. Đây là văn phòng trung ương An ninh. Đứa con gái Do-thái mà chúng tôi thẩm vấn bây giờ đã sẵn lòng khai. Thanh tra Parkington mong có thiếu tá dự khán buổi lấy khẩu cung này. Chúng tôi đã cho một chiếc xe đến đón thiếu tá ở Câu lạc bộ.
- Tốt lắm.
Năm phút sau, Caldwell lên một chiếc xe nhà binh do một trung sĩ lái. Sau khúc quanh đầu tiên, xe thắng lại. Các cửa xe mở tung và ba người đàn ông nhẩy vào trong xe. Sau đó, xe lại rồ máy chạy hết sức nhanh.
Ba ngày sau, một toán quân tuần tiễu tìm ra thi thể thiếu tá Caldwell gần tường thành của Cổ thành. Trên áo ông có gắn bức hình quân Ả-rập đang giơ thủ cấp của Ben Salomon lên cùng với bản sao chụp lại lời thú tội đã giết Ben Salomon cùng hai binh sĩ Anh. Bản tài liệu thứ nhì này có ghi thêm một câu bằng bút chì: “Mắt đổi mắt, răng đổi răng.”
 
Trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ, một sự kinh ngạc lan tràn toàn xứ Palestine. Rồi sau đó các Macchabée được biết là thiếu nữ bị An ninh Quân đội bắt đã chết vì băng huyết, hậu quả trực tiếp của một cuộc thẩm vấn gắt gao trong ba ngày ba đêm bằng dùi cui. Tin tức này là dấu hiệu làm phát sinh một chiến dịch trả thù dữ dội. Trong khoảng thời gian mà sau này những Do-thái Palestine phải gọi là “Mười lăm ngày Địa ngục”, các cuộc đánh phá của Macchabée đã làm cho đạo quân đồn trú Anh chìm đắm trong máu lửa. Cuộc trả đũa của tướng Haven-Hurst cũng tàn nhẫn không kém: tuyên bố tình trạng giới nghiêm, bố ráp, khám xét, xử tử sau khi xét xử sơ sài. Vì Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc có thể đến vào bất cứ lúc nào, tướng Haven-Hurst muốn chấm dứt một lần cho xong hoạt động của “Trung ương” Do-thái. Ông thân chinh chọn hai sĩ quan và bốn binh sĩ nổi tiếng là bài Do-thái ghê gớm và bắt họ thề giữ bí mật tuyệt đối. Rồi sau đó, ông trình bầy kế hoạch dự trù.
Tới ngày ấn định, “sáu vị anh hùng” này ngụy trang làm người Ả-rập. Hai người trong bọn họ lái một chiếc xe cam-nhông chở hai tấn chất nổ đến trước tòa nhà trụ sở của Quỹ Lập Nghiệp Do-thái. Tài xế cho xe dừng trước lối dẫn vào cổng, chận cứng tay lái lại, cài số một rồi mở ga. Sau đó hai người nhẩy xuống đất, chạy biến vào trong đám đông.
Chiếc xe húc nhẹ lên bờ hè chỗ cửa vào rồi đâm sầm vào cột bên trái cổng. Một tiếng nổ dữ dội làm rung động cả khu phố. Khi khói đã tan, tòa nhà sụp đổ tan tành.
Cùng lúc ấy, một ê-kíp thứ hai hai người cũng thực hiện một công cuộc tương tự chống lại trụ sở của “Trung ương” đúng lúc tại đây đang có một phiên họp của các cấp lãnh đạo chính của phục quốc Do-thái. Nhưng lần này, chiếc xe cũng húc vào bờ hè nhưng mạnh hơn nên xe đâm lệch mục tiêu. Vụ nổ sau đó chỉ phá hủy tòa nhà bên cạnh.
Đến một chỗ đã định trước, bốn người này lên hai chiếc xe chạy nhanh do các sĩ quan của “đoàn đặc công đặc biệt” cầm lái. Họ chạy sang xứ Transjordanie, quốc gia bù nhìn do người Anh kiểm soát.
Trong vài trăm người chết ở trụ sở Quỹ Lập Nghiệp, có Harriet Salzman, bà già Hoa-kỳ tám mươi tuổi đã từng thành lập các Trung tâm Thanh niên của Mossad Aliya Bet.
Các Macchabée hoạt động ngay lập tức để trừng phạt những kẻ có tội. Chưa đến một ngày, họ đã xác định được rằng “sáu tên Ả-rập kia” thực ra là quân sĩ Anh và kẻ có trách nhiệm thực sự về cả hai vụ tấn công phá hoại bằng chất nổ chính là đại tướng Haven-Hurst. Đánh bài liều xả láng, viên tư lệnh Anh đã đạt tới kết quả hoàn toàn ngược lại với những gì ông đã kỳ vọng: tức giận, uất ức, Haganah và Macchabée chẳng những đã không sợ, lại còn đi tới chỗ liên kết nhau nữa.
Cuộc gặp gỡ giữa hai bên được tổ chức vào lúc một giờ sáng, trong một cánh đồng dọc con đường đi Jérusalem. Một bên là Akiba và Moshé đại diện cho Macchabée, một bên là Avidan, tư lệnh có thẩm quyền của Haganah, và Zev Gilboa chỉ huy lực lượng xung kích Palmach. Không có bắt tay, trao đổi các lời xã giao gì hết. Đối diện với nhau, trong đêm tối, hai bên vào cuộc bàn cãi trong một bầu khí nghi ngờ toàn diện.
Trục trặc ngay từ lúc đầu: các Macchabée nghi ngờ Avidan muốn đặt lực lượng của mình hoàn toàn dưới quyền chỉ huy của ông ta mà thôi. Có các lời trách cứ phóng ra từ hai phía, và tinh thần căng thẳng lên cao dần cho tới khi Avidan, cắt ngang những lời phàn nàn của Akiba, đặt ra một câu hỏi dứt khoát:
- Các anh có chấp nhận hợp tác với chúng tôi hay không?
Ben Moshé lầu nhầu:
- Chúng tôi sẽ cố thử.
Mười lăm ngày sau, việc hợp tác này biểu lộ bằng một cuộc phát động hoạt động trên một tầm mức rộng lớn.
Trong nội một đêm, Haganah làm tê liệt toàn diện hệ thống hỏa xa ở Palestine. Đêm sau, các Macchabée xâm nhập vào sáu sứ quán và lãnh sự quán Anh vùng chung quanh Địa trung hải để phá hủy một khối lượng tài liệu vĩ đại người Anh xử dụng để chống lại sự nhập nội bất hợp pháp Palestine. Một đêm sau nữa, Palmach phá hoại các ống dẫn dầu từ Mossoul ra biển tại mười lăm địa điểm khác nhau.
Vấn đề còn lại là làm sao tiêu diệt được địch thủ chính của phong trào phục quốc Do-thái là đại tướng Haven-Hurst. Mới nhìn qua, đây là một công cuộc không thể nào thực hiện được. Trại Schnellner, tổng hành dinh của đại tướng này, là cả một pháo đài kiên cố do nhiều ngàn quân sĩ bảo vệ. Trong những chuyến xuất trại hiếm hoi, đại tướng được một đoàn hộ tống võ trang mạnh đến nỗi phải hy sinh hàng trăm Macchabée mới tấn công nổi.
Nhưng các trạm quan sát đặt chung quanh trại đã khám phá ra khe hở của bộ giáp sắt.
Những quan sát viên nhận thấy rằng cứ ba lần một tuần, một chiếc xe dân sự ra khỏi trại vào lúc giữa nửa đêm và một giờ sáng để rồi tờ mờ sáng mới trở về. Một vụ kiểm soát nhanh chóng cho biết rằng chiếc xe này thuộc một gia đình Ả-rập giầu có. Một mặt khác mọi người biết rằng bề ngoài, Haven-Hurst bao giờ cũng gentleman đến độ phát chán lên được, nhưng bên trong, bao giờ ông cũng có nhân tình. Thế mà không có một tin đồn đại nào là ông có liên hệ tình ái với một phụ nữ Âu châu cả. Ngược lại, trong gia đình Ả-rập sở hữu của chiếc xe bí mật kia, có một thiếu phụ khá xinh và khá thông minh để quyến rũ một người như Haven-Hurst. Từ đó đi đến một kết luận dễ dàng.
Người ta cho đặt thêm quan sát viên trước địa chỉ của gia đình Ả-rập. Những người này không mất công chờ đợi lâu. Ngày hôm sau, lúc nửa đêm, họ thấy thiếu phụ ra khỏi nhà để đến một căn nhà tọa lạc trong khu thượng lưu El Baqua. Nửa giờ sau, một chiếc xe dừng lại ngoài vòng rào căn nhà này và hình dạng rất dễ xác định là ai vội vã bước xuống, tiến vào nhà.
Ngay đêm hôm đó, vào lúc ba giờ sáng, Haven-Hurst bị đánh thức đột ngột bằng một giọng nói lớn dõng dạc:
- Hãy tán dương Đức Vĩnh cửu đã báo thù cho Israël!
Khi ông chồm ra khỏi giường, hàng tràng đạn tiểu liên quạt khắp phòng, cầm nhịp cho những tiếng thét kinh hoàng của thiếu phụ Ả-rập.
Vào buổi trưa, bộ Tư lệnh Anh được báo tin bằng điện thoại cho biết địa điểm đặt xác của vị Tư lệnh. Kẻ báo tin vô danh ấy còn thêm rằng mọi người đã cẩn thận chụp ảnh đại tướng vào lúc ông này qua đời, đang ra sao chụp y như vậy. Trong trường hợp người Anh báo thù bằng cách đàn áp dân Do-thái, các bức hình bệ rạc này sẽ được trao lại cho các ký giả ngoại quốc.
Và các vụ báo thù đã không xẩy ra.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 04.06.2015 04:49:41 bởi scpio>

3-12
 
Kitty và Karen đã trở về Gan Dafna. Kitty chờ đợi cơ hội để nói chuyện dứt khoát với Karen, nhưng đồng thời vẫn e ngại. Chính một bức thư của Dov đã làm nàng quyết định giải quyết dứt khoát ngay vấn đề.
Tối hôm đó, vừa bôi móng chân, Kitty đang tìm cách đưa câu chuyện về đề tài nàng thiết tha, thì chính Karen lại tạo ra cơ hội.
- Cô có vẻ buồn phải không? Không phải riêng ngày hôm nay đâu, mà từ ngày cô đi chơi hồ Tibériade về. Chắc đã xẩy ra chuyện gì giữa cô và chú Ari phải không cô?
- Quả cô có buồn lo thật, nhưng không phải về “một chuyện gì” đó đâu. Nếu cô có lo âu, đó là về em, về cô, về tương lai của chúng ta thôi. Em biết đó, từ ngày gặp gỡ đầu tiên ở trại Caraolos, cô hết sức mong muốn em là con gái của cô.
Thiếu nữ nói nhỏ:
- Em cũng thế, em cũng muốn thế.
- Như vậy em phải hiểu là cô đã suy nghĩ từ lâu, và cô đã tính toán mọi việc thế nào để hữu ích cho em thôi. Karen yêu, cô đã quyết định mang em theo cô trở về Mỹ. Em sẽ sống ở nhà cô, nghĩa là nhà chúng ta.
Sững sờ ngạc nhiên, Karen nhìn nàng bằng một vẻ không tin, nhắc lại lời Kitty một cách máy móc.
- Nhà chúng ta? Nhưng cô Kitty, nhà của em là ở đây mà, Gan Dafna.
- Tạm thời thôi, cưng. Còn cô, cô muốn có em ở với cô mãi mãi.
- Em cũng muốn thế. Nhưng chỉ vì... em thấy kỳ dị quá đi... khi cô nói “nhà chúng ta” là ở bên Mỹ.
- Không có gì kỳ lạ hết: cô là người Mỹ và cô muốn trở về sống ở quê nhà.
Rõ ràng là Karen đang cố gắng cầm nước mắt.
- Thế mà em cứ tưởng là chúng ta ở xứ này, cô ở Gan Dafna, còn em ở...
- ... Còn em ở trong Palmach, bổ nhiệm tới một kibboutz biên thùy nào đó chẳng biết nữa!
- Đúng là điều em đang nghĩ đó cô. Quả thật em đã íck kỷ quá: em quên mất là cô có thể nhớ nhà, nhớ quê hương cô. Cô chưa bao giờ đòi hỏi cái gì cho cô...
- Lời em vừa nói quả là một lời khen đẹp nhất cô nhận được từ trước đến giờ.
Karen nỗ lực suy nghĩ một cách tuyệt vọng. Dĩ nhiên Kitty là tất cả đối với mình... Nhưng rời xứ này để ra đi nơi xa... Làm sao mình có thể làm nổi?
- Cô Kitty, có lẽ em diễn tả ý em không rõ. Cô hiểu cho rằng ở đây, em có một cái gì... Em không biết gọi tên ra sao... Một cái gì không ai tước đoạt được của em, ngày nào em còn ở Palestine.
- Em đâu mất mát gì khi em đi với cô. Cái thứ tình tự cảm thấy mình thuộc về một cộng đồng, những người Do-thái ở Mỹ cũng có như em, và...
- Nhưng đó là những người bị lưu đầy.
- Không đâu em. Vậy em không thể hiểu là người Do-thái Mỹ cũng yêu nước Mỹ sao?
- Người Do-thái Đức cũng yêu nước Đức như thế, cô!
Đột nhiên Kitty không thể nhịn được nữa.
- Thôi em! Cô không có nghe những khẩu hiệu tuyên truyền dối trá mà thiên hạ đã nhồi nhét vào đầu em nữa đâu! Cô và em, chúng ta chẳng có gì chung với mọi người ở đây cả. Có lẽ em tưởng cô không hiểu một quyết định ra đi như thế đau đớn biết bao nhiêu cho em hay sao? Em tưởng cô tìm cách hại em sao?
- Không, chắc chắn là không rồi... Nhưng...
Kitty lại quì gối trước Karen.
- Karen... em yêu! Em chưa bao giờ được biết hòa bình là gì sao? Em không ý thức được là chưa bao giờ em được thưởng thức hạnh phúc được đi chơi dưới ánh sáng mặt trời, đầu cất cao mà không phải sợ một kẻ thù nào đang rình mò trong bóng tối sao? Em cũng biết như cô là ở đây sẽ chẳng bao giờ có hòa bình hết. Tin ở cô đi em, cô không hề tìm cách đưa em ra khỏi Do-thái giáo hay ngăn cản em yêu đất nước em, nhưng chỉ vì trên đời còn có nhiều điều khác... biết bao điều khác cô muốn mang lại cho em. Đi cùng cô đi em...Cô mơ tưởng một ngày kia sẽ được thấy em mặc jupe plissée và đi giầy cao gót, ngày cô được nghe thấy em nói và cười qua điện thoại với cậu bạn trai đang tán tỉnh em. Cô muốn em đầu óc chỉ đầy nhóc muôn ngàn chuyện nhỏ mọn trẻ con, như trăm ngàn thiếu nữ khác ở tuổi em - như thế còn là bình thường hơn rất nhiều chuyện em xử dụng một khẩu súng hay vận chuyển đạn dược. Em đã thiếu, không được hưởng biết bao niềm vui thú ở trên đời... Ít nhất em hãy tận hưởng cho biết chúng trước khi đi đến một quyết định dứt khoát. Cô xin em, cưng, hãy nghe cô đi.
Mặt xanh như tầu lá, Karen cố gắng gỡ mình ra khỏi vòng tay của Kitty, thì thào:
- Còn anh Dov? Nếu em ra đi, anh ấy sẽ ra sao?
Kitty đứng dậy mở ví lấy ra bức thư nàng mới nhận được vài giờ trước đây.
- Đây, em có thể đọc nếu em muốn. Cô thấy bức thư này nằm trên bàn cô. Cô hiện còn đang tự hỏi làm thế nào thư lại tới chỗ đó được.
“Thưa bà Fremont:
“Thư này do một người bạn biết tiếng Anh hơn tôi đã viết hộ, nhưng tôi đã chép lại để bà nhận ra đó đúng là chữ viết của tôi. Lúc này, tôi rất bận. Tôi sống với các đồng chí, những người bạn - những người bạn đầu tiên tôi có được sau rất nhiều năm. Tôi viết thư này cho bà để trình bày bà rõ tôi đã sung sướng khi rời được Gan Dafna, nơi mà tất cả mọi người đều ghê tởm tôi. Tất cả mọi người đây bao hàm cả bà lẫn Karen luôn. Bà hãy nói giùm với Karen là nàng đừng hy vọng tôi trở về. Dù sao Karen mới chỉ là một cô bé con! Ở đây tôi có một cô bạn, một người đàn bà hẳn hoi, sống cùng với tôi. Tại sao bà không cùng với Karen trở về Hoa-kỳ đi. Hai người phải sống ở Mỹ mới đúng, chứ không phải ở Palestine nơi mà muôn đời hai người dầu sao cũng chỉ là những kẻ lạ mặt mà thôi.”
Kitty lấy lại bức thư để xé tan ra từng mảnh.
- Cô sẽ lại ngay thăm bác sĩ Lieberman để xin từ chức. Ngay khi nào mọi người kiếm được người thay thế, cô sẽ giữ chỗ cho chúng ta đi Nữu-ước. Em có đồng ý không?
- Xin vâng, em sẽ đi với cô.
 
Kể từ lâu rồi, các Macchabée đã có thói quen là cứ hai hay ba tuần lễ lại di chuyển tổng hành dinh một lần. Sau “Nửa tháng địa ngục” và vụ ám sát Haven-Hurst, Akiba và Ben Moshé cho rằng thận trọng vẫn hơn, nên rời hẳn Jérusalem và chia nhóm chỉ huy đã thu hẹp lắm rồi thành nhiều nhóm phân tán hơn nữa. Vì vậy, chỉ có bốn người tới Tel-Aviv: Akiba, Ben Moshé, Nahoum Ben Ami (anh của David) và Dov Landau - nhờ tài làm giả và lòng can trường đến mức điên rồ trong khi hoạt động đặc công, đã được chấp nhận cho vào nhóm chỉ huy thu hẹp này.
Họ trú ẩn trong căn phòng tầng trệt trong một tòa nhà của một đoàn viên Macchabée nằm trong một khu buôn bán náo nhiệt. Nhiều người canh phòng được đặt ở chung quanh tòa nhà, và Nahoum đã lo sẵn một đường rút lui khi cần. Nói tóm lại, đó là một nơi trú ẩn lý tưởng.
Nhưng do một trùng hợp bất hạnh, cảnh sát Anh lại đang canh chừng một tòa nhà khác, cách đó vài thước, trong cùng đường. Các thanh tra đang tìm bắt quả tang một nhóm buôn lậu, theo như tin thu thập được, đang để các hàng hóa trốn thuế đoan cảng Jaffa trong nhà này. Rất nhanh chóng, các cảnh sát chú ý đến sự hiện diện của nhiều người, không có lý do nào chính đáng, cứ đi đi lại lại không ngừng chung quanh tòa nhà bên cạnh. Các hình chụp bằng viễn kính cho phép người Anh xác định được ít nhất hai kẻ trong những người này là đoàn viên Macchabée. Rất dễ đưa ra một kết luận: đang đi rình săn sắt họ cũng khám phá ra hang cá rô. Và vì họ đã am hiểu từ lâu chiến thuật của Macchabée, người Anh quyết định xông tới ngay lập tức.
Ngày hôm đó chỉ có Akiba và Dov ở trong phòng. Nahoum Ben Ami và Ben Moshé đã đi ra ngoài để gặp Zev Gilboa đang giữ vai trò liên lạc với Haganah và Palmach. Akiba đang ngủ chập chờn còn Dov đang hoàn tất một số thông hành của xứ Salvador, bắt chước rất khéo. Dov đang ngoằn ngoèo ký tên một viên chức trưởng của Salvador thì có tiếng gõ cửa. Akiba mở mắt.
- Chắc Ben Moshé và Nahoum đó. Chú ra mở cửa cho họ.
Sau khi đã cẩn thận kiểm soát lại giây xích ở cửa, Dov hé mở cánh cửa. Ngay lập tức, một chiếc búa thợ rèn phang vào cửa, đập tan thớ gỗ. Dov kêu lớn:
- Tụi Anh! Tụi Anh!
 
Tin truyền đi nhanh như một làn thuốc súng cháy. Akiba, chiến binh của huyền thoại, người đã trốn thoát khỏi tay quân Anh trong hơn mười năm bây giờ vừa bị bắt sống.
Các Macchabée kêu ầm lên là bị phản bội. Bởi vì Ben Moshé và Nahoum đã đi gặp Zev Gilboa, và kẻ này hay một nhân viên nào khác của Haganah đã theo dõi hai nhân vậy này trở về để khám phá nơi trú ẩn của họ rồi sau đó báo cho người Anh biết. Một lời kết tội vừa kỳ cục vừa khó kiểm chứng nhưng không thiếu gì người lan truyền đi.
Muốn làm tăng thêm hoang mang cho các Macchabée, Cao ủy Anh ra lệnh xét xử hai tù nhân trong một thời hạn ngắn nhất. Dĩ nhiên là dân chúng cùng báo chí đều không được dự khán phiên xử. Bởi thế, Akiba và Dov Landau đã bị kết án tử hình trong một phiên tòa xử kín. Viên chánh án (tên tuổi được giữ kín để khỏi bị các Macchabée trả thù) tuyên bố chính xác rằng bản án sẽ được thi hành trong một hạn kỳ không quá mười lăm ngày nữa.
Trong khi vội vã, Cao ủy đã phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Khi cấm đoán các báo chí, ông đã quên mất rằng ở ngoại quốc, nhất là ở Hoa-kỳ, các Macchabée được nhiều thế lực ủng hộ. Thế là bùng ra một cơn tức giận dư luận làm đẩy lui việc có tội hay vô tội của hai tù nhân này xuống hàng thứ yếu. Các hãng thông tấn hay biết và cho đăng tải luôn cuộc đời của Dov Landau, anh hùng của ghetto Varsovie, kẻ sống sót của trại diệt chủng Auschwitz. Các bức hình của Akiba, ông già tám mươi trông như một bậc tiên tri, và Dov, đồ đệ trẻ tuổi của ông, đã gây ra cả một cơn giận dữ phản đối trên toàn thế giới.
Vừa mới tới Palestine với tư cách quan sát viên trong Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc, Cecil Bradshaw hiểu ngay mình phải can thiệp. Ông còn nhớ bài học cay đắng của Exodus để không thể để mọi việc cứ thế mà diễn ra. Nhất là vào lúc mà Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc lại bắt đầu điều tra. Sau khi xin các chỉ thị của Luân-đôn, ông thỏa hiệp với Cao ủy là sẽ nêu rõ tính cách cao thượng của công lý Anh quốc. Viện dẫn tuổi trẻ của Dov và tuổi già của Akiba, ông loan báo rằng các tội nhân được phép nộp đơn xin ân xá và đơn này sẽ được cứu xét khoan hồng.
Trận bão phản đối lắng dịu rất nhanh. Nhưng cuộc thăm viếng hai tội nhân tại nhà tù của Bradshaw và vị cao ủy đã hoàn toàn thất bại. Cả ông già đến thiếu niên đều không buồn đọc tới bản văn xin ân xá đã soạn sẵn cho họ nữa. Còn ký các văn bản ấy à... vị lãnh tụ già của các Macchabée tuyên bố:
- Từ tội tử hình sang hai hay ba năm cấm cố? Tôi không hiểu đấy. Chúng tôi không hề có tội. Thử hỏi từ bao giờ, một chiến binh chiến đấu cho đất nước mình lại bị coi là có tội? Chúng tôi chỉ chiến đấu cho các quyền lịch sử và tự nhiên của chúng tôi mà thôi. Chúng tôi là các tù binh và sự kiện các ông đang chiếm đóng nước tôi không phải là lý do cho phép các ông quyền phán xử chúng tôi.
Còn Dov thì chẳng nói năng gì cả, nhổ bẹt ngay vào tài liệu do Bradshaw đưa ra.
Ngày hôm sau, tin khước từ của hai tù nhân này chạy tít lớn trên các đại nhật báo. Bradshaw tức điên lên: bây giờ, ngay cả những người Do-thái từ trước đến giờ vẫn phản đối hoạt động của các Macchabée, cũng coi hai tù nhân như biểu tượng kháng chiến của Do-thái. Chẳng những đã không đánh ra phía địch được chưởng nào, Anh quốc còn mang lại cho địch hai anh hùng hy sinh vì đại nghĩa. Trong những điều kiện như vậy, người Anh chỉ còn mỗi một cách: ấn định ngày xử tử. Dầu thế nào, xứ Palestine đã tạm vắng các vụ phá hoại và ám sát, cũng đang là một thùng thuốc súng rồi, một thùng thuốc súng sắp nổ tung đến nơi. Ngoại trừ khi đưa ra một vụ trừng trị nêu gương, khó mà ngăn được nó nổ.
 
Acre, thị trấn hoàn toàn Ả-rập, bao gồm những nhà cửa cũ kỹ nằm ở cực bắc vịnh còn Haïfa nằm ở phía nam. Nhà tù, một khối nhà xây cất trên những di tích của một pháo đài Thập tự quân, chạy dọc theo con đê cho tầu cập bến đến hàng trăm thước. Toàn thể những tường thành cổ cao ngất, pháo tháp, lối đi quanh co và tháp canh sắc cạnh, cộng với một bức tường dầy cộp nữa, pháo đài lớn này đã chống lại được cuộc tấn công của Napoléon trước kia. Bây giờ người Anh dùng chiến lũy này làm một nhà tù đáng sợ nhất trong toàn thể Đế quốc.
Dov và Akiba bị giam trong hai phòng giam nhỏ hẹp, tường trần và sàn đều bằng đá. Vì không có cửa sổ, không cả hệ thống cống, nên không khí nơi đây hầu như không thở nổi. Các cửa bọc thép chỉ có một cửa nhỏ xíu đục xuyên qua. Một khung nhỏ được đục vào tường từ bên ngoài để đưa cơm nước qua, chỉ có nhìn thoáng thấy ở phía xa một vài ngọn cây.
Hai hay ba lần một ngày, một viên chức cao cấp lại tới đề nghị một vụ dàn xếp vào phút chót để tránh vụ xử tử. Và đều đều họ gặp cho một sự im lặng đầy khinh bỉ của Dov, còn Akiba thì đuổi họ bằng cách đọc lớn tiếng những đoạn thánh kinh. Sau cùng, chán quá, người Anh chuyển họ sang khu tử tội, gần phòng xử giảo. Cai tù lấy quần áo họ đi, bắt mặc quần áo đỏ tía thường lệ của các tội nhân xử giảo.
Hai người chỉ còn được phép sống sáu ngày nữa thôi...
0

3-13
 
 Lúc đó là một giờ sáng. Bruce Sutherland vừa mới thiếp ngủ trong chiếc ghế bành ông thích nhất thì người làm vào đánh thức ông dậy, loan báo là có một “tiểu thư” tới thăm.
Thấy Karen tiến vào, Sutherland dụi mắt.
- A! Cô bé. Cháu làm cái gì ở đây, vào giờ này? Cô Kitty có biết cháu tới đây không?
Mặt xanh xao, căng thẳng, thiếu nữ lắc đầu. Sutherland đưa nàng tới đi-văng ngồi.
- Chắc cháu cũng phải ăn cơm tối rồi chứ?
- Cháu không đói...
Sutherland ra lệnh cho người hầu:
- Mang một sandwich và một ly sữa vào đây.
Rồi quay lại Karen, ông hỏi:
- Bây giờ cháu vui lòng cắt nghĩa cho vì cớ gì tiểu thư lại tới đây.
- Cháu phải gặp anh Dov Landau. Trong tất cả những người cháu biết, chỉ có bác là giúp được cháu thôi.
- Hừm... được... chắc bác giúp được đấy, nhưng bác tự hỏi... một buổi gặp gỡ như vậy chỉ làm cháu khổ thêm thôi. Trong vài tuần nữa, cháu và cô Kitty sẽ rời xứ này rồi, tại sao cháu không cố quên chàng trai đó đi?
Karen cầu khẩn:
- Cháu van bác. Cháu biết cháu hiểu những điều bác nói. Nhưng kể từ khi anh Dov bị bắt, cháu không thể nghĩ tới ai khác được. Cháu phải gặp anh ấy. Hãy giúp cháu... cháu xin bác.
Sutherland càu nhàu.
- Được, được rồi. Để bắt đầu, bác sẽ điện thoại cho Kitty đã: chắc cô ấy đang điên vì lo lắng. Cháu kỳ thật đó, nửa đêm dám đi bộ đến đây qua một vùng toàn Ả-rập.
Sáng ngày hôm sau, Sutherland gọi điện thoại tới Jérusalem. Vị cao ủy không đợi nói tới lần thứ hai, nhận lời ngay. Biết đâu khi nói chuyện với Dov, Karen lại không thành công trong việc thuyết phục Dov chịu ký đơn xin ân xá. Vài giờ sau, sau khi ghé đón thêm Kitty, Sutherland và Karen đến đồn cảnh sát Naharya, nơi có một đoàn hộ tống võ trang đưa họ tới thẳng nhà tù Acre.
Sutherland và Kitty được mời ngồi đợi trong văn phòng quản ngục. Còn Karen, đi giữa hai người lính, vượt qua hàng loạt cửa bọc thép, băng qua một sân trong tường bao quanh có đục những ô nhỏ có chấn song. Nàng cảm thấy hàng trăm cặp mắt thèm khát của các tù nhân nhìn nàng đi qua, và nghe thấy những lời nói tục tĩu nữa. Nhìn thẳng về phía trước, đi như một người máy, nàng leo lên một cầu thang hẹp, đi qua một ụ đại liên đặt sau dây kẽm gai rồi dừng lại trước cánh cửa sau cùng có hai người lính súng lắp lưỡi lê đứng gác.
Mọi người đưa nàng vào một xà-lim nhỏ cùng một người lính. Cánh cửa đóng lại sau lưng nàng. Người lính mở một cái khe nhỏ chừng vài phân trong tường đối diện, cười khẩy bảo:
- Này cô nhỏ, cô có thể nói chuyện với hắn qua cái khe này.
Karen nghiêng người xuống. Nhìn qua hành lang phía bên kia, nàng thấy hai xà-lim: trong xà-lim thứ nhất có một ông già, xà-lim thứ nhì có Dov đang nằm ngửa nhìn lên trần. Một người lính gác đến mở cửa xà-lim của Dov.
- Đứng dậy, Dov Landau. Mi có người tới thăm kìa.
Để thay cho câu trả lời, Dov lấy một cuốn sách và mở ra đọc.
- Mi điếc hả? Có người tới thăm kìa.
- Xin anh nói giùm với các nhà thương thuyết đầy lòng tử tế của các anh rằng tôi đi vắng.
- Không phải thăm viếng chính thức đâu. Đây là một cô gái mà.
Các ngón tay Dov vụt xiết chặt cuốn sách.
- Nói giùm với cô ta là tôi bận.
Khi người lính gác nhún vai quay đi, Karen ghé sát môi vào khe hở gọi:
- Anh Dov! Anh Dov!... Em đây, Karen đây mà
Akiba nói:
- Này chú bé! Ra nói chuyện với nàng đi. Chú muốn chết trong thứ câm nín như anh của lão bắt lão phải chịu sao? Ra nói chuyện với cô bé!
Chậm chạp, Dov đặt cuốn sách xuống, đứng dậy ra nhìn qua khe hở. Karen nhìn thấy rõ ràng đôi mắt xanh đầy giận dữ lạnh lùng của chàng. Dov trách cứ:
- Tôi chán ngấy mọi trò đạo đức giả rồi! Nếu thiên hạ gửi cô tới đây để ăn mày chữ ký của tôi, thì cô có thể ra về ngay lập tức. Tôi không thèm cái lòng khoan hồng của tụi chúng đâu.
- Em thề với anh là không có ai gửi em tới đây hết. Em thề như vậy.
- Nếu đúng vậy em đến đây làm gì?
- Em chỉ muốn nhìn thấy anh lần chót.
Bên này bức tường, Dov cứng người lại. Ước muốn được chạm vào má nàng mạnh mẽ đến nỗi làm chàng đau đớn. Karen lại nói:
- Có thật là anh đã nghĩ như anh đã viết trong bức thư anh gửi cô Kitty không... hay anh chỉ nói thế chỉ vì...
- Tôi nghĩ thế thật.
- Anh! Anh hiểu chứ, em rất muốn biết...
- Bây giờ thì Karen biết rồi đó.
- Vâng, anh Dov... Em... em sắp ra đi. Em sang xứ Mỹ.
Chàng có một cử chỉ biểu lộ lãnh đạm.
- Có lẽ em đã lầm khi đến đây. Em làm phiền anh...
- Không đâu. Tôi biết em muốn làm vui lòng tôi. Dĩ nhiên tôi thích cô bạn kia hơn, nhưng nàng ở trong Macchabée nên nàng không thể đến đây... Em là một cô gái khá lắm, Karen... Em hãy yên tâm mà sang Hoa-kỳ và quên tất cả những gì đã xẩy ra đi. Chúc em may mắn!
Nàng nói như một hơi thở:
- Có lẽ bây giờ em về thì hơn.
Nàng đứng thẳng người dậy, quay ra phía cửa.
- Karen!
Nàng quay lại.
- Em nghe đây đã... để chứng tỏ chúng ta vẫn là bạn tốt với nhau... nếu lính gác cho phép, có lẽ ta nên xiết tay nhau một lần chót.
Người lính gác đang nhìn đi chỗ khác, Karen luồn tay qua khe, Dov nắm lấy xiết chặt giữa hai tay mình. Trán tì vào đá, chàng nhắm mắt lại. Đột nhiên chàng cảm thấy Karen đã nắm lấy một tay mình và đang kéo qua khe hở.
Chàng phản đối:
- Đừng, đừng... không nên...
Nhưng chàng không còn đủ sức chống cự nữa. Karen hôn lên tay chàng nhiều lần, ép sát vào má và chàng cảm thấy những giọt nước mắt của nàng chẩy trên các ngón tay. Rồi đột nhiên nàng rời xa.
Được đưa trở lại xà-lim, Dov nằm gục xuống giường. Trong đời, chưa bao giờ chàng yếu đuối đến độ để nước mắt phải tràn ra. Nhưng bây giờ, không nỗ lực nào của ý chí có thể ngăn cản nổi. Quay lưng lại để giấu Akiba và người canh gác, chàng khóc nức nở không kìm giữ.
 
Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc đã ra đi. Ủy ban đã trông thấy những thực hiện đẹp đẽ của các nhà tiên khu Do-thái, đã nhận thấy ác ý cùng thứ đạo đức giả đầy thù hận của người Ả-rập. Hiển nhiên là không thể có một giải pháp trung gian nào. Nếu chỉ lấy lý lẽ của công bằng làm căn bản, Liên Hiệp Quốc phải khuyến cáo thành lập một Quê Nhà Do-thái. Bây giờ vấn đề chỉ còn là chờ xem các hội viên của Liên Hiệp Quốc sẽ chống lại các lời đe dọa hầu như công khai của các quốc gia Ả-rập như thế nào thôi.
Một lần nữa được trao phó nhiệm vụ đại diện cho “Trung ương” ở hội nghị Genève, Barak Ben Canaan quyết định, trước khi ra đi, trở về Yad El để sống vài ngày với Sarah. Một bữa cơm giã từ mang lại cơ hội cho hai bậc cha mẹ - cơ hội mỗi ngày một hiếm có - gặp lại các con, Ari và Jordana, và cả David Ben Ami nữa. Cuối bữa cơm, Jordana hỏi:
- Mọi người có biết tin là bà Fremont sắp rời Palestine chưa?
Cố gắng giấu ngạc nhiên, Ari nói:
- Anh không biết gì cả.
- Bà ta cũng xin bác sĩ Lieberman cho từ chức. Bà mang theo đứa con cưng, Karen Clement. Về phần em, em không ngạc nhiên gì hết về chuyện này: em biết chắc từ lâu là bà ta sẽ chạy lẹ ngay khi tình hình mới nguy ngập một tí.
Ari cãi:
- Xét cho cùng, sao cô ta phải ở đây nhỉ? Cô ta là người Hoa-kỳ, cô chỉ đến Palestine để theo đuổi cô bé Karen đó.
- Hơn nữa, bà ta còn không ưa gì chúng ta hết.
David can thiệp:
- Nói thế là sai!
- Quả thực lúc nào anh cũng chỉ bênh người đó không à!
Bà Sarah nói:
- Mẹ thì mẹ thấy dễ thương lắm. Cô ấy đã làm được nhiều điều kỳ diệu cho các lũ trẻ đáng thương ở Gan Dafna và được mọi người ưa chuộng lắm.
Jordana vẫn chưa chịu:
- Còn con thì con thấy bà ấy ra đi là điều hay. Dĩ nhiên là chúng ta có thể tiếc là bà mang theo Karen, nhưng một mặt khác, bà ấy đã nuông chiều cô bé này đến nỗi ta khó mà có thể cho nó là một người Do-thái phục quốc được nữa.
Ari đột nhiên đứng dậy và đi ra vườn. Sarah bất mãn nói:
- Tại sao con lại cứ cố tìm cách làm cho anh buồn vậy? Con biết rõ các tình cảm của anh đối với cô ấy mà...
- Anh Ari sẽ cám ơn Thượng đế là loại bỏ được người đàn bà đó cho mà xem.
Barak nói:
- Thực vậy hả? Con lấy quyền gì mà phán xét tình yêu của một người đàn ông?
Mọi người đều im lặng. David cầm lấy tay Jordana.
- Em đã hứa đi chơi bằng ngựa với anh. Bây giờ đi chứ?
Giận dỗi, nhưng rồi sau cùng Jordana cũng nhận lời. Hai người đứng dậy đi ra ngoài. Barak càu nhàu:
- Để hai đứa nhỏ ấy đi. Thằng David ấy biết cách xoa dịu cô Jordana của chúng ta. Tôi có cảm tưởng rõ ràng là nó ghen với bà Fremont. Có lẽ một ngày kia các cô gái của xứ ta cũng tìm được thì giờ để trở thành đàn bà hơn.
Ông im tiếng, lơ đãng quấy chiếc muỗng trong ly trà. Đi vòng ra sau ghế của ông, Sarah đặt má lên mái tóc hoa râm của chồng.
- Mình ra kiếm Ari đi. Hãy nói với con về cô ấy, và cũng hãy...
Barak vỗ nhè nhẹ lên tay vợ.
- Rồi, ta ra gặp nó.
Ông kiếm thấy con trai đứng gần vườn trồng cây ăn trái, mắt nhìn đăm đăm về các quả đồi có Gan Dafna.
- Con yêu cô gái đó đến như thế sao, con?
Ari càu nhàu:
- Ích gì đâu? Nàng từ một thế giới đầy lụa và hương thơm đến, bây giờ nàng lại trở về đó. Xét cho kỹ, chuyện đó là bình thường.
Barak cầm lấy cánh tay con, và qua cánh đồng, ông tiến về chỗ giòng Jourdain chảy dọc ven trại. Bên kia sông, hai người trông thấy David và Jordana đang phi ngựa như bay. Họ nghe thấy tiếng cười của cô gái.
- Con thấy không? Jordana đã nguôi rồi. Này con, mọi việc của Palmach ra sao ở Ein Or?
- Như thường lệ, bố. Nhiều thanh niên khá, nhiều thiếu nữ tận tụy, nhưng họ quá thiếu thốn trang bị. Thật là điên khi hy vọng thắng trận chống lại bẩy đạo quân Ả-rập.
Chậm chạp, hai người trở về nhà. Đột nhiên Ari cảm thấy bàn tay mạnh mẽ của bố xiết chặt lấy vai mình. Chàng kinh ngạc khi thấy con người to lớn này đầu gục thấp xuống, như một nỗi buồn đè nặng trĩu.
- Nghe đây con. Hai ngày nữa bố sẽ lại lên đường đi Genève. Chưa bao giờ bố ra đi mà trong lòng buồn như vậy. Từ mười lăm năm nay rồi, đã có một người vắng mặt nơi bàn ăn của chúng ta. Bố đã là một con người kiêu ngạo, bướng bỉnh đến độ kinh khủng, nhưng có Chúa chứng kiến bố đã trả giá cho lòng kiêu hãnh bướng bỉnh này. Ngày hôm nay, buồn bã hành hạ bố như bị đầy xuống địa ngục. Ari con, bố chỉ còn biết trông cậy vào con thôi: con đừng để em Akiba của bố treo lủng lẳng ở đầu một sợi dây thừng của người Anh!

0
3-15
 
Kitty ra khỏi văn phòng bác sĩ Lieberman, người đã một lần nữa đã thử thuyết phục - một cách vô ích - nàng rút đơn từ chức lại. Buổi tối, ngay sau bữa cơm chiều, nàng phải dự một buổi lễ giã từ do thiếu niên trong trại tổ chức để tiễn nàng và Karen, buổi lễ mà nàng hơi e ngại - nhất là từ lúc loan báo tin Macchabée đã tấn công nhà tù Acre. Trong vụ này, các Macchabée đã mất ba mươi lăm thanh niên nam nữ - hai mươi người tử trận trong đó có Ben Moshé, mười lăm bị bắt làm tù binh. Không ai biết rõ số người bị thương mà các bạn đồng đội mang theo. Đó là một giá khá cao để cứu lấy hai mạng người... ngoại trừ khi quan niệm rằng Akiba và Dov là một cái gì khác hơn là hai mạng người. Nhìn dưới khía cạnh chính trị, dĩ nhiên trận tấn công cướp tù này là một thành công tuyệt đẹp.
Nàng bước lên các bậc thang của bệnh viện và tiến vào văn phòng của mình. Nàng có ý định xét lại một lần chót các phiếu y lý của các trẻ em đau thần kinh. Nhưng chưa chi nàng đã bỏ dở công việc. Những đứa trẻ đáng thương này, nàng có quyền từ bỏ chúng khi chúng đang cần đến nàng như vậy không? Muốn thoát ra khỏi những thắc mắc lương tâm sẽ làm cho chuyến ra đi của nàng khó khăn hơn, Kitty mở ngăn kéo kiếm thuốc trị loại thắc mắc đó: sổ thông hành của nàng và của Karen, hai vé máy bay Lydda - Nữu-ước.
Đột nhiên nàng cảm thấy sau lưng mình có một hiện diện kỳ lạ. Nàng quay lưng lại, cố gắng hét một tiếng kêu. Trên ngưỡng cửa, một người Ả-rập bộ ria to bự bóng loáng, mặc một y phục Tây phương kẻ sọc, đội một chiếc mũ fez đỏ có quấn một băng vải trắng. Hắn nói bằng một giọng thân hữu:
- Tôi xin lỗi. Tôi không hề muốn làm bà sợ. Tôi vào được không?
Ngạc nhiên thấy người đó nói tiếng Anh, Kitty gật đầu. Người Ả-rập bước vào và đóng cửa lại.
- Chắc bà là bà Fremont?
- Vâng, tôi đây.
Tôi là Moussah. Tôi là dân Druse. Chắc bà đã nghe thấy mọi người nói tới chúng tôi.
Kitty biết mơ hồ rằng dân Druse là một môn phái Hồi giáo sống ở phần phía trên ngọn Carmel. Nàng cũng nhớ rằng sắc dân này không hề chia xẻ sự hận thù của dân Ả-rập đối với người Do-thái.
Người đàn ông nói thêm:
- Tôi là đoàn viên của Haganah.
Nàng thốt lên trong một hơi thở:
- Anh Ari nhưng
- Anh đang trốn ở Daliyat, làng tôi. Chính anh đã chỉ huy cuộc tấn công vào nhà tù Acre. Anh yêu cầu bà lại ngay. Tôi cũng phải nói bà hay là anh bị thương nặng. Bà có nhận đi cùng tôi không?
- Chắc chắn có rồi.
- Bà đừng mang theo thuốc men. Chúng ta phải hết sức thận trọng. Người Anh đã lập rất nhiều chặng kiểm soát và nếu họ khám phá ra thuốc men, họ nghi ngờ ngay. Ari khuyên nên lấy một xe cam-nhông và mang theo chừng hai ba mươi em. Chúng tôi nói với người Anh là chúng tôi mời các em tới dự một đám cưới cử hành vào ngày mai ở làng tôi. Nếu bà có thể tập hợp các em... chúng nên mang theo túi ngủ...
Kitty ngắt lời:
- Chúng tôi sẽ sẵn sàng trong mười phút nữa.
Vừa đi như chạy, nàng bổ tới văn phòng bác sĩ Lieberman.
Chuyến đi dài: chừng tám mươi cây số qua những con đường núi mà xe chỉ leo được rất chậm. Giữa đám trẻ con đang vui mừng vô lý, ngồi giữa Karen và Moussah cầm lái, nàng nghĩ tới những viên đạn đã tiến vào sâu trong bắp chân... Ari không thể nào đứng lên nổi... đau đớn ghê khiếp... mất máu nhiều. Để săn sóc người bị thương nàng chỉ có vài thứ thuốc trong túi cứu thương mà nàng mặc kệ lời cảnh cáo của Moussah: vài cuộn băng, teinture d’iode, sulfamide, tất cả giấu trong túi đựng bao tay.
Đến trạm kiểm soát thứ nhất, quân Anh bắt tất cả mọi người xuống xe. Các quân lính tháo tất cả các túi ngủ ra, đâm dăm ba nhát lưỡi lê, xét dưới gầm xe, tháo các bánh sơ-cua ra coi. Họ khám động cơ, lục soát từng trẻ em một. Kitty nghiến răng chặt coi đồng hồ: mất thêm một tiếng rưỡi rồi...
Các quân sĩ ở trạm kiểm soát thứ hai ở chân ngọn Carmel cũng không kém tỉ mỉ cẩn thận. Kitty gần như hết sức chịu đựng thì chiếc xe được phép ra đi để leo lên những đường núi hẹp ngoằn ngoèo đưa lên đỉnh. Moussah cắt nghĩa:
- Tất cả những làng Druse đều ở trên cao hết. Chúng tôi là một sắc dân thiểu số nên bắt buộc phải chọn các cao địa để dễ chống cự với các cuộc tấn công của dân Ả-rập.
Một giờ rưỡi sau họ tiến vào Daliyat, một tổ phụng hoàng nằm tít trên một cao nguyên chung quanh dốc ngược.
So với các làng Ả-rập ở dưới đồng bằng, Daliyat, với các ngôi nhà trắng xóa, có vẻ xinh xắn sạch sẽ đến độ đáng ngạc nhiên. Các dân đinh cũng khác và khá hơn các dân Hồi giáo khác ở Palestine. Nhiều đàn ông ăn mặc theo kiểu Tây phương. Phụ nữ xinh xắn, một số trẻ con rất đẹp, khỏe mạnh và linh hoạt.
Chiếc xe rẽ từ từ qua đám đông quan khách tụ tập nơi này để dự đám cưới sẽ cử hành vào ngày mai. Xe dừng trước phòng chính lễ, các trẻ con nhẩy xuống đất, và mang theo túi ngủ. Chúng chạy đến lập trại ở một khoảng đất kế cận. Kitty và Karen ngồi lại trong ca-bin xe. Moussah lại cho xe chạy qua đường phố chính rồi quẹo vào một ngõ nhỏ dốc ngược. Moussah nói:
- Còn trăm thước chót này chúng ta sẽ đi bộ. Đường này dốc quá thắng xe không đủ sức chịu.
Moussah đưa Kitty và Karen đến ngôi nhà cuối làng có chừng mười người Druse võ trang đứng gác. Phía trong, hai người nữa đứng canh trước một cánh cửa. Kitty quay lại Karen:
- Em đợi cô ở đây đi. Nếu cô cần, cô sẽ gọi. Anh Moussah, xin anh đi với tôi.
Trong phòng hầu như tối hoàn toàn. Kitty nghe thấy một tiếng rên. Nàng tiến về phía cửa sổ, mở tung các cánh.
Ari nằm dài trên một chiếc giường đồng lớn. Các thanh giường đã cong vì tay Ari níu vào, đủ cho biết chàng đã đau đớn đến mức nào. Kitty lật chăn. Quần áo Ari cùng chăn nệm đều đẫm máu.
- Anh Moussah giúp tôi cởi quần anh Ari ra hộ.
Moussah không giấu nổi một cái giật mình. Kitty trách:
- Đâu không phải lúc thẹn thò về những chuyện như thế. Thôi, tôi cũng cởi nổi một mình rồi. Bây giờ anh dang ra đừng đứng đó làm vướng tôi thì có.
Sau khi cắt bỏ vải quần, Kitty xem xét vết thương. Mầu da hầu như bình thường, mạch đập tương đối cao. So sánh hai chân, nàng nhận thấy chân bị thương chỉ hơi sưng thôi. Yên tâm, nàng tìm lại ngay được tính cứng rắn nghề nghiệp.
- Anh Moussah, mang ngay lại đây cho tôi xà-bông, nước, khăn sạch. Tôi sẽ thử thăm dò vết thương.
Khi nàng thận trọng đưa tay thăm dò quanh vết thương, Ari mở mắt.
- Kitty! Cám ơn Trời... cô đã đến được...
- Anh đã làm gì để chữa trị?
- Chiều qua, tôi đã rắc bột sulfamide. Tôi cũng quấn băng ép, nhưng vào lúc đó, máu không ra nhiều...
- Tốt. Tôi bắt buộc phải kiếm đạn trong chân anh - anh sẽ đau ghê lắm đó.
- Cô làm đi!
Nhưng khi nàng mới ấn mạnh ngón tay trên vết thương, Ari đã rên lên. Mặt ướt đẫm mồ hôi, chàng nắm lấy thành giường. Kitty vội rút tay lại. Nhưng Ari vẫn tiếp tục run lên. Cơn đau chỉ dịu đi sau nhiều phút. Kitty cúi xuống lau trán cho chàng.
- Anh có đủ sức nói không?
- Đủ. Bây giờ đỡ hơn rồi. Thứ đau đớn này - lúc nó xuất hiện, lúc nó biến đi... Bao nhiêu là rắc rối vì cái cẳng bị hư này! Tôi thật là thảm hại. Cô có hiểu tại sao không?
Nàng lo âu nói:
- Hiểu và không hiểu. Một viên đạn có thể rắc rối lắm. Không thể biết nó đi qua đâu hay nấp vào chỗ nào. Tình trạng chung của anh không có gì đáng lo: mạch và nhịp thở bình thường, không bị choc, chân chỉ sưng ở phần chung quanh vết thương thôi. Như vậy là không có xuất huyết bên trong: viên đạn không chạm tới động mạch. Cũng không bị nhiễm độc nữa. Nói chung, anh may mắn đó. Điều duy nhất làm tôi thắc mắc không hiểu là thứ đau đớn ghê gớm của anh thôi.
- Đúng thế. Cứ hai hay ba tiếng, tôi lại ngất xỉu đi một lần.
- Anh nắm lấy các thành giường đi. Tôi phải xem lại vết thương.
Nhưng sau vài giây, nàng lại phải thôi. Thét lên một tiếng, Ari cong tung người lên rồi sụm xuống, không thở nổi. Lần này các co quắp run rẩy kéo dài tới mười phút mới hết. Ari rên rỉ:
- A, khốn nạn quá! Kitty, cô hãy cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao một viên đạn tầm thường lại có thể làm đau đớn đến như thế được...
Kitty lắc đầu:
- Tôi không phải là y sĩ. Tôi có thể đoán lầm lắm. Tôi không dám đưa ra một định bệnh nào...
Ari hổn hển:
- Thì cô cứ nói cô đã phỏng đoán ra sao cũng được.
- Nếu anh muốn, cũng xin vâng... Viên đạn đã chạm vào xương. Đạn không làm vỡ xương bởi vì anh còn đi được sau khi bị thương, nhưng chắc nó đã gây ra một vết rạn nứt hay làm sứt một mảnh xương. Có lẽ như thế là đủ cắt nghĩa tại sao đau đớn như vậy. Nhưng tôi, tôi tin có lẽ là viên đạn trượt trên xương rồi nằm áp sát ngay vào một dây thần kinh.
- Trong trường hợp như thế, phải làm gì?
- Lấy viên đạn ra với bất cứ giá nào. Nỗi đau đớn này sau cùng có thể làm anh chết hay ít nhất cũng có thể làm tê liệt. Nhưng không thể có vấn đề chở anh xuống dưới đồng bằng. Chúng ta sẽ bị nguy hiểm hơn, nhất là sự xuất huyết bên trong. Do đó, phải tìm cách gọi y sĩ đến đây - trong nội vài giờ nữa thôi, nếu muốn tránh tình trạng trầm trọng hơn.
Ari ngửng đầu lên nhìn Moussah. Người dân Druse này giơ tay làm một cử chỉ biểu lộ bất lực.
Kitty đứng dậy. Bằng một bàn tay run rẩy, nàng châm một điếu thuốc lá nói:
- Trong trường hợp như thế này, tôi chỉ thấy còn một cách: anh ra đầu hàng người Anh để được săn sóc đúng cách.
Ari ra dấu, Moussah đi ra.
- Lại gần tôi đi, Kitty.
Chàng cầm lấy tay nàng:
- Cách giải quyết của Kitty không đi tới đâu hết. Người Anh sẽ treo cổ tôi. Chỉ có em là cứu được tôi thôi, Kitty.
Cổ họng khô lại, Kitty rút tay và lùi lại tựa người vào tường. Ari, bây giờ rất điềm tĩnh, nhìn nàng một cách nghiêm trang.
- Em không làm được đâu... Em không phải là y sĩ...
- Em phải làm bằng được, còn cách nào nữa đâu.
- Em không có dụng cụ...
- Tôi nhắc với em lần nữa là đâu có cách nào khác.
- Nhưng em không làm được... đau đớn sẽ giết chết anh mất... Anh sẽ không chống lại nổi đâu... Anh Ari, em sợ lắm.
Nàng ngồi gục xuống ghế. Hiển nhiên là Ari có lý: nếu người Anh nắm được kẻ đã điều khiển trận đánh cướp tù, họ sẽ treo cổ ngay. Nàng là hy vọng độc nhất của chàng: dầu sao, không làm gì hết, cũng là đưa chàng đến chỗ chết.
Nàng đã quyết định. Nhìn thấy một chai rượu mạnh trong phòng, nàng đưa lại cho Ari.
- Anh hãy bắt đầu bằng cách uống chai này. Khi cạn chai, em sẽ đưa cho anh chai khác. Anh hãy uống say thật cẩn thận, chúng ta chỉ có mỗi loại thuốc mê này thôi. Và em cũng phải nói anh sẽ đau đớn kinh khủng lên được.
- Cám ơn Kitty.
Nàng ra mở cửa.
- Anh Moussah! Chúng ta có thể kiếm thuốc men ở đâu?
- Ở kibboutz Yaggour.
- Một chuyến đi về sẽ mất bao nhiêu lâu?
- Đi thì nhanh. Về, đường khác vì quân tuần tiễu Anh, không thể đi trên đường lộ được. Bắt buộc phải đi bộ và leo dốc núi thì lâu lắm. Cho dù đi ngay bây giờ, cũng phải quá nửa đêm mới về tới đây.
- Được. Tôi sẽ lập một danh sách những gì cần thiết. Anh lo sao cho người bạn anh lên đường ngay lập tức. Nói với anh ta là phải nhanh lên.
Khi sắp viết danh sách thuốc men, nàng do dự. Người giao liên có thể trở về đây rất trễ. Hơn nữa, phòng y tế của kibboutz sẽ không có những thuốc mê thuốc tê nàng cần. Điều đó có nghĩa là nàng không thể chần chừ chờ đợi lâu hơn được nữa. Bởi thế nàng chỉ biên vào giấy yêu cầu cung cấp hai lít máu, trụ sinh, morphine, băng và một nhiệt kế. Moussah trao tờ giấy cho một người đứng canh, người này lập tức lên đường.
- Karen, cô sẽ cần tới em. Nhưng cô báo trước cho em biết là vụ này sẽ khó khăn, hết sức khó khăn đấy.
- Em sẽ chịu đựng được bất cứ cái gì để giúp cô.
- Tốt lắm, cưng. Anh Moussah, vì anh chẳng có bao nhiêu thuốc men trong làng nên chúng tôi sẽ thử làm việc với những gì chúng tôi đã mang theo được. Nhưng tôi cần có một đèn pin và... coi nào... vài lưỡi dao cạo chưa dùng lần nào hay một con dao nhỏ mài thật sắc.
- Tôi có thể tìm kiếm được các thứ đó.
- Tốt. Anh đun sôi những dao cạo và dao nhỏ đó trong nửa giờ cho tôi.
Moussah ra mở cửa ngoài, ra các chỉ thị Kitty dặn.
- Bây giờ anh trải chăn ra đất cho tôi. Giường nhún nhẩy quá không được, cần phải giữ người bị thương hoàn toàn bất động. Karen, ngay sau khi anh Ari đã được đưa xuống đất, em tháo những ra bẩn này đi. Chắc anh Moussah sẽ có thể đưa em ra mới thay thế.
Moussah nói:
- Dĩ nhiên rồi. Bà còn cần gì nữa không?
- Có chứ: tôi cần sáu hay bảy người để chuyển anh ấy xuống đất cùng để giữ chặn anh trong khi tôi mổ vết thương.
Các lệnh của nàng được thi hành nhanh chóng. Sau khi uống hết nửa chai rượu thứ hai, Ari đã say không nói được nữa. Mọi người khiêng chàng xuống chăn trải dưới đất. Kitty chèn thêm một cái gối dưới đầu và nhét một khăn tay vào giữa hai hàm răng. Rồi sau khi rửa tay, nàng rửa chỗ vết thương và bôi teinture d’iode. Nàng nói:
- Tôi sẵn sàng rồi. Cần nhất các anh phải giữ anh ấy thật chắc, không để nhúc nhích tới một phân nào.
Moussah đã mang vào tám người nữa: một người giữ đầu, hai người giữ hai tay, hai người nữa giữ chân lành, hai người chót giữ chân bị thương. Karen thì đứng, cầm đèn pin, chai rượu và băng bông. Kitty quỳ gối xuống.
Rạch một nhát chính xác, nàng mở các bắp thịt ngay bên trên lỗ đạn một đường dài năm phân. Ari giật mình mạnh đến nỗi những người dân Druse phải dùng hết sức của mình đè xuống.
Nhìn thấy môi Kitty tái đi và mắt lờ đờ, Karen vội nắm lấy tóc nàng và đưa ly rượu vào miệng. Kitty suýt sặc, nhưng nàng tỉnh trí lại được và uống thêm một ngụm thứ hai nữa. Ari đã ngất đi. Một tay Kitty vạch vết thương, tay kia nàng thăm dò bên trong. Nàng cảm thấy một vật cứng thoáng chạm vào móng tay trỏ. Sau một nỗ lực chót, nàng nắm được viên đạn và kéo ra ngoài.
Ngồi phịch xuống đất, nàng ngơ ngẩn nhìn viên đạn.
Nàng nấc lên một tiếng rồi đột nhiên phá lên cười như điên rồi òa lên khóc. Nàng hầu như không nghe tiếng nói vững vàng của Karen:
- Nhanh lên, đưa chú Ari lên giường. Cẩn thận, đừng để bất cứ cái gì chạm vào vết thương hết.
Cũng vẫn chính Karen rắc bột sulfamide vào vết thương và băng bó lại. Ngồi xụp trong một góc, Kitty vẫn khóc nức nở. Karen yêu cầu tất cả đàn ông ra khỏi phòng, rót cho Kitty một ly rượu nữa rồi sau cùng, cũng mở cửa ra khỏi phòng.
Chậm chạp, Kitty đứng dậy. Lại gần giường, nàng xem mạch, vạch các mi mắt lên coi, quan sát màu da.
Đúng... không còn nghi ngờ gì nữa, chàng sẽ qua khỏi.
Quì xuống, nàng đặt đầu mình lên bộ ngực rộng của Ari đang còn hôn mê, thì thào giữa hai tiếng nức nở:
- Anh Ari... anh Ari...
1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.07.2015 09:20:52 bởi scpio>
3-16
 
Tới sáng ngày hôm sau, thuốc men vẫn chưa về đến nơi. Bị đau đớn hành hạ, Ari không ngừng trăn trở và rên xiết. Kitty không rời chàng lúc nào, đã kiệt lực.
Nàng gọi Moussah đang đứng chờ ở lối vào nhà.
- Anh sắp phải đưa các trẻ con trở về Gan Dafna. Trong làng còn có ai biết nói tiếng Anh nữa không?
- Có chứ. Tôi sẽ nói với hắn túc trực gần bà.
- Cám ơn, bây giờ anh có thể kê thêm một chiếc giường khác hay một đi-văng không? Tôi ít nhất cũng một tuần nữa mới có thể rời bệnh nhân được.
- Tôi sẽ cho kê dọn ngay.
Trong phòng Karen ngồi trên một ghế dài, đã thiếp ngủ. Kitty dịu dàng đánh thức nàng dậy. Thiếu nữ hỏi:
- Anh ấy ra sao?
- Không được khá cho lắm. Anh đau đớn nhiều. Karen cưng, em phải trở về Yad El ngay bây giờ cùng với các trẻ em. Cô xin em, đừng có cãi cô. Em cắt nghĩa cho bác sĩ Lieberman hiểu là cô phải ở lại đây...
- Nhưng cô ơi, mai chúng ta phải lên tầu rồi mà...
- Em hủy chỗ đi. Đổi lui lại một thời gian... Cô cũng chẳng biết bao giờ cô mới rời nổi thương binh của chúng ta. Bây giờ một việc khác: em ghé qua Safed báo cho bác Bruce Sutherland biết và yêu cầu bác đợi cô ở Haïfa. Nhắc bác mang giùm cho cô ít quần áo.
Karen hôn nàng rồi ra đi.
Sau cùng, tới buổi chiều, thuốc men cũng lên tới nơi. Người giao liên đã phải nhiều lần lẩn trốn trong nhiều giờ để tránh các toán quân Anh đã được tung ra để lùng kiếm các Macchabée bị thương. Kitty tiếp cho Ari một lít huyết và rất nhiều liều trụ sinh để ngừa mọi nhiễm độc, chích một mũi morphine để làm dịu cơn đau ghê gớm.
Trong bốn mươi tám tiếng sau đó, nàng duy trì Ari trong tình trạng ù lì nhưng dễ chịu bằng morphine. Rồi nàng bắt đầu chích thưa dần đi. Bây giờ Ari, nhờ sức mạnh sẵn có và thần kinh hữu hạng, đã bắt đầu bình phục dần dần. Sáng ngày thứ năm, Ari đột nhiên tỉnh táo, đòi ăn và xin ngay một con dao cạo và gương soi. Bằng một giọng nữ điều dưỡng, nàng nói:
- Tôi nghĩ là cuối tuần này, chúng ta có thể thôi dùng morphine. Đến khi đó, anh sẽ bắt đầu tập đi với chân bị thương - một cách cẩn thận bởi vì vết thương chưa liền, dám lại toác ra nếu anh bắt bắp thịt cố gắng quá sức.
- Khi nào thì tôi lại có thể đi được?
- Khó biết lắm, ngày nào chúng ta chưa chiếu điện được chân anh. Có thể xương chỉ bị rạn thôi: nếu có mảnh, anh sẽ đau đớn như cũ. Dẫu thế nào, anh cũng không thể rời làng này ít nhất là trong một tháng nữa.
Nàng cúi xuống để kéo lại chăn.
- Anh có vẻ khỏe hẳn rồi đó, tôi đi dạo một vòng. Nửa giờ nữa tôi sẽ trở lại...
- Đợi chút đã, Kitty. Tôi... tôi muốn nói... cô đã săn sóc tôi khéo léo như một nàng tiên. Thế rồi đột nhiên cô lại cáu giận. Tại sao vậy? Tôi đã làm gì cô?
- Không có gì hết. Tôi chỉ kiệt sức thôi. Tôi đã coi sóc anh trong năm ngày năm đêm liền...
Ari ngắt lời nàng:
- Không phải thế. Tôi cảm thấy có một cái gì khác. Hãy nói cho tôi biết đi... cô hối tiếc là đã tới đây phải không?
Kitty nói nhỏ:
- Anh đã đoán đúng.
- Nhưng sao mới được chứ, Kitty? Vậy cô ghét tôi sao?
- Những điều tôi làm chưa đủ để chứng tỏ là tôi không ghét anh sao? Nhưng... thôi xin anh... tôi mệt thật rồi...
- Cắt nghĩa đi Kitty.
Nàng thở dài:
- Được rồi, nếu anh muốn thế. Tôi hận tôi, tôi khinh tôi vì đã lo lắng cho anh nhiều đến như thế. Rồi, nói vậy anh đã hài lòng chưa?
Ari lắc đầu:
- Đàn bà rắc rối! Tại sao cứ gặp nhau là chúng ta kình nhau như hai địch thủ đấu boxe vậy, lúc nào cũng sẵn sàng đánh ra, né tránh? Tại sao vậy?
Kitty nhìn chàng rất lâu.
- Có lẽ tại tôi không chịu chấp nhận tuân theo các quan niệm quá đơn giản của các anh: “Anh thích tôi, tôi thích anh, vậy chúng ta hãy ngủ với nhau”. Trang 444 cẩm nang của Palmach: Con trai con gái phải tránh tất cả mọi thẹn thùng giả tạo. Hỡi phụ nữ Palestine, hãy thẳng thắn và trực tiếp: khi nào gặp người đàn ông mình ưa, hãy vào giường hắn. Rất tiếc, nhưng tôi không thể là, không bao giờ có thể tân tiến như Jordana hay cái cô bất tử Dafna của anh...
- Cô im đi nào! Tại sao cô lại dám quả quyết là phụ nữ chúng tôi lại lăng loàn như thế? Jordana trước sau chỉ yêu có một người: nàng có quyền khước từ hiến thân cho người nàng yêu không, một khi chỉ đến cuối tuần lễ đó thôi, cả hai đều có thể đã chết cả rồi? Cô tin ở tôi đi, tôi thích sống trong bình an với Dafna giữa ruộng vườn hơn là trương mình ra cho quân Ả-rập ám sát.
Kitty nhún vai.
- Làm thế nào được. Tôi, tôi không quan niệm cuộc đời như một sứ mệnh cao cả bao giờ. Tôi cần được tin chắc rằng tôi là kẻ tối cần thiết cho người tôi yêu.
- Tôi đã không chứng tỏ tôi cần em đến mức nào sao?
Nàng nở một nụ cười ngắn ngủi, chua chát.
- Ồ, có chứ! Anh đã cần đến tôi ở đảo Chypre để đưa giấy tờ giả do Dov Landau chế tạo ra ngoài trại. Anh lại cần đến tôi ở Palestine này để lấy một viên đạn lạc vào chân ra. A! Anh quả là người tài ba: ngay cả lúc đau gần chết, anh còn nghĩ ra mưu kế khôn ngoan cho tôi đi du hành giữa một bầy trẻ trong một chiếc cam-nhông. Thực ra, anh đâu cần tôi, anh chỉ cần một y tá giỏi đủ khả năng vượt qua các trạm kiểm soát của quân Anh mà thôi. Tôi biết là tôi chỉ nên trách tôi mà thôi. Xét cho cùng, nếu tôi đã đi yêu một cái máy không hiểu đến nghĩa của chữ “yêu” nữa, thì lỗi chính là tại tôi mà thôi.
Nghiêng người xuống Ari, nàng không nghĩ tới việc giữ những giọt nước mắt tức giận đang lăn dài xuống má.
- Có thể rằng một ngày nào đó anh sẽ cần đến một người nào. Và lúc đó sẽ ghê khiếp cho anh bởi vì anh không thể nào yêu cầu nổi người ta giúp anh một cách thành thật.
- Có phải cô lúc nãy nói là sắp đi dạo một vòng phải không?
- Tôi có nói thế và tôi sắp làm bây giờ đây. Tôi sẽ còn đi dạo rất lâu, không hề muốn trở lại nữa. Điều dưỡng Katherine Fremont xin cáo từ ông Ben Canaan. Trong vài ngày nữa, Palmach sẽ đến đây lo cho ông. Từ giờ đến đó, ông không có chết đâu.
Nàng quay lưng và đi ra. Một giờ sau nàng rời làng.
Nàng chỉ trở lại Gan Dafna sau khi đã sống hai ngày ở Haïfa cùng Bruce Sutherland. Khi nàng sặp mở cửa phòng làm việc, nàng ngạc nhiên thấy Jordana đang đứng đợi nàng, vẻ ngượng ngùng.
Kitty lạnh lùng hỏi:
- Cô muốn gì? Sáng nay tôi bận lắm.
- Chúng tôi đã được biết chị đã làm những gì cho anh Ari. Tôi chỉ muốn nói là tôi rất biết ơn chị...
- Tôi thấy là các cơ quan tình báo của cô đã liên lạc được với các dân làng Druse. Về phần tôi, tôi rất tiếc là đã phải lui ngày khởi hành đi Mỹ của tôi lại quá nhiều ngày. Nhưng cô đừng cho là tại phía cô: nếu một con chó bị thương đi nữa, tôi cũng lo cho nó như thế.
 
Vào cuối tháng tám 1947, Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc cho công bố hai khuyến cáo, một được đa số ủy ban ủng hộ, một là của nhóm thiểu số cũng trong ủy ban này. Cả hai dự án này đều chủ trương nên chia Palestine: sẽ có một Quốc gia hoàn toàn Do-thái, một Quốc gia hoàn toàn Ả-rập, và một vùng quốc tế bao gồm đô thị Jérusalem cùng các thánh địa.
Người Do-thái khẩn khoản xin ủy ban, ngoài các vùng đã có dân cư, phân phối cho thêm sa mạc Néguev nữa. Bên Ả-rập đã có cả triệu cây số vuông sa mạc mà chưa tìm cách khai thác bao giờ. Còn người Do-thái, họ hy vọng sẽ mang lại được một hình thức sinh động nào đó cho mấy ngàn cây số vuông này, bằng cách tưới mồ hôi và nước mắt lên cát và sỏi đá. Ủy ban điều tra chấp nhận. Tuy thế, dù có được lớn thêm bằng sa mạc Néguev, phần lãnh thổ của Do-thái theo dự án thuận lợi cho họ nhất, cũng vẫn là một sự vô nghĩa lý trên cả ba bình diện chính trị, kinh tế của quân sự: ba dẫy đất duyên hải nối liền với nhau bằng các hành lang hẹp - một vùng đất thành lập kỳ cục, khó khai thác, khó bảo vệ, một thứ thỏa hiệp không ra làm sao cả. Nhưng các đoàn thể phục quốc Do-thái, đã thấm mệt vì đã chiến đấu trong nửa thế kỷ rồi, tuyên bố là họ sẽ chấp nhận dự án này.
Còn người Ả-rập, họ tuyên bố răng chia Palestine là có chiến tranh ngay.
Nghị quyết sau cùng sẽ được bàn cãi vào giữa tháng chín, khi có phiên họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở Nữu-ước.
Thể theo sự nài nỉ thân hữu của bác sĩ Lieberman, Kitty đã lui ngày ra đi lại nhiều tuần nữa. Bây giờ, sắp đến lúc chia ly. Sáng ngày mai, Bruce Sutherland sẽ đưa nàng cùng Karen đến phi trường Lydda để lên máy bay đi La-mã. Các hành lý cồng kềnh đã được gửi đi theo đường biển.
Ngồi một mình trong văn phòng, Kitty đọc lại vài phiếu của những đứa trẻ mới tới trại trong những tháng gần đây...
“ROBERT DUBUAY, 16 tuổi. Quốc tịch gốc: Pháp. Tìm thấy ở Bergen-Belsen. Lúc giải thoát, Robert mười ba tuổi, nặng 28 ký. Phải chứng kiến cảnh xử tử bố mẹ và một đứa em. Chị Robert (sau này tự tử) bị bắt phải làm điếm cho các quân S.S. trong trại. Robert tỏ ra nhiều triệu chứng thù hận sâu xa, và e rằng sẽ bị...”
“SAMUEL KASNOWITZ, 12 tuổi, gốc Estonie. Theo như được biết tới giờ, không còn thân nhân nào sống sót. Sau khi trốn tránh trong hầm của một gia đình Ki-tô giáo, đã phải chạy vào rừng sống một mình trong vòng hai năm...”
Tất cả những phiếu này đều giống nhau. Ác mộng... các cơn khủng hoảng tinh thần... tính gây hấn... Kitty xếp các phiếu trả lại hồ sơ. Bằng một cử chỉ đột ngột, nàng đứng dậy, tắt đèn, vừa ra khỏi phòng vừa chạy.
Dùng đèn pin soi đường, nàng đi qua bãi cỏ lớn. Mọi người đã đào thêm các địa đạo. Gần khu nhà ngủ của các trẻ em, mọi người đã tăng cường thêm bê-tông cho các hầm trú.
Nàng mở cửa nhà mình. Trong một góc, các va-li đã sẵn sàng cái nào cũng đã cột nhãn đầy đủ.
- Karen... em ở đâu, cưng?
Có một mẩu giấy nhỏ để trên bàn bếp.
“Bạn bè tổ chức một chầu nhẩy nhót giã từ quanh lửa trại. Em sẽ về khá sớm. Hôn cô. Karen.”
Kitty châm một điếu thuốc và đi đi lại lại trong phòng. Sau một vài phút, bị trời nóng khó chịu, nàng ra khỏi nhà. Trong không khí yên tĩnh, thoang thoảng một mùi hương hoa hồng. Nàng đi theo con đường nhỏ chạy giữa các ngôi nhà nhỏ, nhà nào cũng có thảm cỏ, hàng rào và cây cối. Lúc sắp quay trở lại, nàng nhận thấy có ánh sáng đèn sau cửa sổ nhà Lieberman.
Nàng nghĩ: “Chắc hẳn ông ấy đang khổ sở lắm”. Hai đứa con của ông, một trai một gái, đã rời trường Đại học để nhập ngũ trong Lữ đoàn Néguev, một đơn vị mới thành lập của Palmach. Nàng đi tới tận cửa nhà, giơ tay gõ. Bà quản gia, cũng già và cũng dễ thương như ông trưởng trại, mời nàng vào phòng làm việc. Vị bác sĩ già đang tìm cách đọc một lời ghi bằng tiếng hébreu trên một chiếc bình cổ xưa. Máy phát thanh đang chơi một điệu nhạc của Schumann. Khi Kitty bước vào, viên bác sĩ đặt chiếc kính phóng đại xuống. Nàng nói:
- Shalom.
Viên bác sĩ già mỉm cười. Đây là lần đầu tiên nàng chào ông bác sĩ bằng tiếng hébreu.
- Shalom, Kitty. Đây là một tiếng rất dịu để giã từ người bạn cố tri...
- Và cũng là một tiếng rất dịu để đón chào một người bạn... để chúc bạn một ngày tốt đẹp.
- Kitty... coi kìa...
- Vâng, bác sĩ ạ. Shalom... Tôi sẽ ở lại đây, Gan Dafna này. Chính nơi này mới là nơi tôi phải sống.
1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 05.08.2015 13:51:12 bởi scpio>
4-1
 
Mùa thu 1947
Liên Hiệp Quốc
Flushing Meadow (Nữu-ước)
 
Vụ biểu quyết chia xẻ xứ Palestine sẽ rất là gay go, thê thảm.
Muốn thắng, cần phải đạt được đa số hai phần ba. Vậy mà các quốc gia Ả-rập, nếu chính họ chỉ có mười một phiếu, lại có thể lợi dụng các vị trí chiến lược cùng tài nguyên dầu hỏa để gây một áp lực mạnh với rất nhiều quốc gia khác. Chưa kể đến sự họ có thể lợi dụng cuộc tranh chấp giữa Nga Xô và Hoa-kỳ, đồng minh chính của Anh quốc, để vận động thêm. Còn phía Do-thái, dĩ nhiên là họ có nhiều thân hữu trong các quốc gia trung lập, các quốc gia Bắc Âu và Mỹ la-tanh. Họ cũng có thể trông cậy ở nước Pháp, dù rằng quốc gia này phải rất gượng nhẹ với các thuộc địa Hồi giáo Bắc Phi, cho tới giờ vẫn chưa mặc cả sự ủng hộ Do-thái bao giờ. Nhưng từ đó tới chỗ hội đủ hai phần ba tổng số phiếu, còn cả một khoảng cách ghê gớm nữa. Hơn nữa, chính Anh quốc cũng chống lại sự chia cắt bởi vì nước Anh hy vọng sẽ được Liên Hiệp Quốc trao quyền ủy trị xứ này một lần nữa. Anh quốc chắc sẽ không do dự trong việc gây áp lực tối đa với một số nước nhỏ ở Âu châu có nền kinh tế tùy thuộc ở đồng Anh kim.
Như vậy trận đánh mở ra vào ngày 29 tháng 9 có vẻ như bất trắc cho người Do-thái. Tuy vậy, sau chừng một tiếng đồng hồ, Chaim Weizmann và Barak Ben Canaan, các trưởng phái đoàn Do-thái, bắt đầu hy vọng. Mặc dù số phiếu trắng khá cao, các phiếu ủng hộ chia cắt Palestine thắng thế rõ rệt. Các quốc gia của Khối Thịnh Vượng Chung, ngoại trừ nước Pakistan theo Hồi giáo, đều bỏ phiếu thuận, chứng tỏ chính sách của Anh quốc đã thất bại. Cũng như trường hợp của đại diện Nga Xô - đây là một ngạc nhiên vui sướng bởi vì Weizmann đã dự trù Liên Xô sẽ bỏ phiếu trắng, căn cứ trên sự kiện tại quốc gia này, các chủ nhân ông của điện Cẩm-linh đã cấm chỉ tất cả mọi tuyên truyền cho chủ nghĩa phục quốc Do-thái. Không ai thèm muốn địa vị của đại diện Anh quốc, mặt tái xanh, loan báo rằng “chính phủ của Đức Vua mong muốn không bầy tỏ ý kiến”. Các phiếu sau cùng, của Uruguay và Vénézuela, đã mang lại cho Do-thái đa số cần thiết.
Ở Tel-Aviv, mọi người điên lên vì vui mừng. Ít nhất cho một thời gian ngắn. Ben Gourion và các lãnh tụ khác của “Trung ương” đều biết rằng cần có một phép mầu lớn hơn nữa mới có thể giành được độc lập cho quốc gia Israël tương lai, cái quốc gia chung quanh chưa chi đã vang lên hàng triệu tiếng la hét của người Ả-rập: “Hãy giết chết bọn Do-thái!”
Ở Caire, ở Damas, ở Arabie Séoudite, các tiếng nói căm thù cất lên hô hào thánh chiến. Azzam Pacha, tổng thư ký của Liên đoàn Ả-rập, tuyên bố công khai như sau:
“Chúng ta sẽ mở ra một cuộc chiến tranh diệt chủng. Mọi người sẽ được thấy những cuộc tàn sát như của dân Hung nô đã thực hiện trước đây.”
Ngay hôm sau ngày biểu quyết của Liên Hiệp Quốc, một cuộc tổng đình công đã biến thành dấy loạn. Ở Jérusalem, dân chúng tàn phá trung tâm thương mại của khu Do-thái trước con mắt lãnh đạm của quân lực Anh. Còn Liên Hiệp Quốc, chẳng những không nghĩ tới chuyện thành lập một lực lượng quốc tế để tới trám chỗ cho lực lượng Anh sắp sửa rút đi đến nơi, lại chỉ bàn cãi thảo luận không ngừng.
Còn những người Do-thái, họ tỏ ra thực tế hơn. Bây giờ quốc gia tương lai của họ có một căn bản hoàn toàn hợp pháp. Nhưng nếu họ muốn tuyên bố độc lập sau khi quân Anh di tản khỏi Palestine, nửa triệu dân thiếu trang bị của họ sẽ phải cô độc đương đầu với chừng năm mươi triệu dân Ả-rập cuồng tín.
Người Ả-rập không hề có ý định chờ đợi sự tuyên bố độc lập này của người Do-thái. Tạm dành quân chính quy lại, người Ả-rập cho thành lập nhiều “đạo quân giải phóng”, gồm có những người được gọi là tình nguyện, để xâm chiếm Palestine. Đồng thời, một nhóm buôn lậu hoạt động tích cực để thành lập rất nhiều kho vũ khí tồn trữ trong nội địa xứ này.
Trong lúc đó, “Trung ương” Do-thái kiểm kê lại lực lượng bên mình. Bản tổng kết rất bi quan: về chiến binh trang bị và huấn luyện đầy đủ, họ chỉ có trước sau bốn ngàn người của Palmach. Các Macchabée chỉ chiêu tập được chừng một ngàn người, và còn xa mới kiếm được sự thỏa thuận hợp tác của họ. Tuy thế Avidan có thể trông cậy ở nhiều yếu tố phụ nữa. Trước hết là các nhân sự dự trữ của Haganah, gồm rất nhiều ngàn người đã được huấn luyện quân sự đầy đủ trong quân lực Anh thời đệ nhị thế chiến. Kế đó các dân vệ của các kibboutz mà ông đã kiên nhẫn và tỉ mỉ tổ chức suốt hai mươi năm trường. Và sau hết là một hệ thống tình báo tuyệt hảo. Ngược lại, các lực lượng Do-thái rất thiếu hụt vũ khí: các cơ sở phục quốc Do-thái rải rác khắp thế giới chỉ mua được một số lượng giới hạn, hạm đội Anh tiếp tục phong tỏa duyên hải Palestine, và tệ hơn nữa là Hoa-kỳ lại vừa ra lệnh cấm gửi mọi loại vũ khí sang Trung Đông. Một biện pháp chỉ có nhằm vào người Do-thái thôi. Còn các quốc gia Ả-rập họ có thể mua vũ khí ở nhiều nước và tùy ý chuyên chở về nước dưới hiệu kỳ quốc gia.
Nói tóm tắt về phía Ả-rập có một ưu thế hết sức rõ rệt về người cũng như vũ khí. Hơn nữa phía Ả-rập lại có, đây là trường hợp kỳ lạ, một lãnh tụ quân sự xứng đáng với danh từ là Abdoul Kadar, cháu của vị mufti.
Nhưng sự kiện nghiêm trọng nhất là thái độ của người Anh. Luân-đôn còn hy vọng rằng “Trung ương” Do-thái sẽ cầu cứu tới họ, từ bỏ việc chia cắt và xin người Anh ở lại Palestine. Do đó phát xuất một chiến thuật hết sức lợi cho phía Ả-rập. Trên lý thuyết, mỗi khi di tản khỏi một vùng nào, người Anh phải trao các đồn Taggart cho chức quyền nào đại diện cho đa số dân trong vùng liên hệ. Trên thực tế, các chỉ huy trưởng địa phương đã thích trao các pháo đài này cho người Ả-rập hơn, ngay cả trong các khu vực hoàn toàn chỉ có người Do-thái.
Chưa chi các cuộc chạm súng đầu tiên đã xẩy ra chung quanh các nông trường cô lập. Rồi Abdoul Kadar, được tấn phong làm “tư lệnh” vùng Jérusalem, đã cho áp dụng một chiến thuật kép để hy vọng đạt chiến thắng dễ dàng. Một mặt, không dám dàn trận tấn công các kibboutz phòng vệ kỹ lưỡng, ông bao vây tuyệt lương cho đói, một mặt khác, ông cho tăng cường các cuộc tấn công chống lại sự vân chuyển đường bộ của Do-thái.
Bởi thế, ngay từ lúc đầu khởi chiến, người Do-thái đã bắt buộc phải cố thủ trong các vị trí mà việc tiếp vận vũ khí đạn dược đã đặt ra những vấn đề không sao giải quyết nổi. Tình trạng này còn lâm nguy hơn nữa khi Kadar quyết định tuyệt lương của một trăm ngàn dân Do-thái trong Jérusalem. Vậy mà con đường duy nhất nối liền khu Do-thái mới này với Tel-Aviv lại băng qua vùng núi Judée, vùng mà các làng Ả-rập khống chế tất cả mọi hẻm núi, mọi đèo. Để bảo vệ cho các đoàn xe của mình, Do-thái bắt buộc phải chế tạo ra các “chiến xa”, các xe bọc thêm một vài tấm thép và trang bị đại liên. Nhưng biện pháp này đã tỏ ra không đủ để chống lại các vụ phục kích, và con đường máu ấy đã ngổn ngang các xác xe bị đốt cháy. Trong Jérusalem, bắt đầu đã có nạn đói, mọi người chỉ di chuyển trong các xe buýt bọc sắt và trẻ con nô đùa trong tầm súng của các tay bắn sẻ Ả-rập. “Trung ương” hoài công kêu gọi người Anh, nhấn mạnh tới sự bạo tàn của kẻ địch đang tâm bỏ đói cả thường dân. Người Anh vẫn cứ làm như điếc và án binh bất động.
Như vậy, chiến tranh đã bắt đầu ngay khi người Do-thái chưa tuyên bố độc lập.
Ari Ben Canaan vết thương chưa đủ lành để đứng ra chỉ huy một trong ba lữ đoàn của Palmach như ý Avidan muốn. Không phải cứ lê chân đau mà chàng theo nổi những đơn vị ưu tú lúc nào cũng di động qua mọi địa thế khó khăn nhất.
Ngược lại chàng nhận, nhân danh Haganah, công việc bảo vệ thung lũng Houleh, khu hết sức là lâm nguy bởi vì vùng này một phía là Liban và Syrie, và xa hơn một chút xuống phía nam, lại tiếp giáp với Transjordanie: ba quốc gia Ả-rập - ba kẻ thù.
Tình hình trong khu gồm ba điểm: điểm thuận lợi nhất - các nông trường Do-thái, công sự phòng thủ vững chắc, nằm ở các vị trí có thể tương trợ nhau dễ dàng, thừa đủ sức đẩy lui các cuộc tấn công của các đơn vị không chính quy địch. Điểm đáng lạc quan - đa số dân vùng này là Do-thái và người Anh hứa sẽ trao đồn Esther cho Do-thái, vị trí chìa khóa nằm ở biên thùy Liban. Điểm thứ ba đáng lo - hai vị trí cô lập: khu Do-thái ở Safed và trung tâm thanh niên Gan Dafna, đều khó có thể bảo vệ nổi.
Nhưng không phải vì thế mà phía Do-thái chịu di tản khỏi hai vị trí trên. Ở Safed, viên chỉ huy địa phương của Haganah, được Bruce Sutherland ủng hộ, nhất quyết đánh nhau tới khi bắn hết viên đạn cuối cùng.
- Nhưng mọi người cũng phải cung cấp cho tôi những viên đạn cuối cùng ấy chứ! Và cả súng để bắn chúng nữa. Dĩ nhiên là muốn đánh đấm ra trò, phải tăng viện cho tôi... phải cung cấp đại liên cho tôi...
Ari chỉ biết hứa hẹn mơ hồ với cấp chỉ huy này. Khi còn ngồi lại một mình, chàng thoáng một lúc ngã lòng. Cứ cho rằng mọi sự tiến diễn thuận lợi nhất chăng nữa, sau khi quân Anh ra đi, chàng cũng chỉ mang thêm được chừng năm mươi người của Palmach đến tăng cường bảo vệ cho Safed mà thôi. Từ đầu đến cuối xứ Palestine, vấn đề này chỗ nào cũng đặt ra tương tự. Năm mươi người chỗ này, hai mươi lăm người chỗ kia... đạn dược phân phối nhỏ giọt. Ngày nào bên Ả-rập biết rõ tình trạng thê thảm này, họ sẽ nhào tới.
Còn về Gan Dafna... Nếu người Anh giữ lời hứa và trao đồn Esther lại cho Haganah, nếu mouktar của làng Abou Yesha chung thủy với tình thân hữu đã có với gia đình Ben Canaan thì việc bảo vệ trung tâm Gan Dafna chưa là vấn đề khẩn cấp. Trong trường hợp ngược lại...
 
Jordana Ben Canaan tiến vào văn phòng của Kitty.
- Rất tiếc làm phiền chị. Mọi người vừa cho biết anh David Ben Ami sắp đến thanh tra hệ thống phòng thủ của chúng ta và sau đó sẽ hội họp với các cấp chỉ huy của trung tâm. Tôi mong chị sẽ tới tham dự buổi họp này.
Kitty nói, cố giấu kín ngạc nhiên:
- Được lắm.
Jordana nói tiếp:
- Như chị đã biết, tôi là người chỉ huy của cái người ta thường gọi là lực lượng quân sự trong trại. Do chức vụ này, chị và tôi, chúng ta bắt buộc phải hợp tác chặt chẽ với nhau. Tôi cũng muốn nói để chị rõ là tôi hoàn toàn tin cậy ở chị và tôi cũng cho rằng sự hiện diện của chị ở Dafna này là một điều may mắn lớn cho toàn thể chúng tôi.
Mỗi lúc thêm ngạc nhiên, Kitty tò mò nhìn Jordana, thiếu nữ này nói thêm:
- Theo ý tôi, chúng ta phải dẹp bỏ mọi tình cảm cá nhân của chúng ta. Làm được thế, tinh thần mọi người trong trung tâm sẽ vững hơn.
- Dĩ nhiên rồi. Nhưng cô Jordana ạ... tình hình chính xác về chúng ta ra sao hiện giờ?
- Trong lúc này thì không tệ lắm. Dĩ nhiên chúng ta chỉ nhẹ thở ngày nào đồn Esther được trao lại cho Haganah.
- Nếu biến cố diễn ra theo một chiều khác thì sao? Giả thử người Anh trao đồn Esther cho người Ả-rập... và con đường qua Abou Yesha bị đóng kín?
- Trong trường hợp thế, viễn tượng của chúng ta sẽ rất là đen tối.
Kitty đứng dậy đi đi lại lại trong phòng.
- Mong cô hiểu cho là tôi không hề muốn xen vào những vấn đề không liên quan tới tôi. Nhưng chỉ vì... chúng ta hãy nhìn thẳng vào thực trạng: chúng ta dám bị vây hãm lắm phải không cô?
- Rất có thể lắm.
- Thế mà ở đây chúng ta có nhiều em bé mới sinh. Chúng ta chắc phải lập một kế hoạch tản cư cho chúng cùng các trẻ em nhỏ tuổi chứ.
- Di tản chúng đi đâu bây giờ?
- Tôi đâu có biết... Trong một kibboutz hay một moshav nào đó an toàn hơn chẳng hạn.
Jordana nhún vai.
- Tôi không biết nơi nào cả, thưa chị. Dầu thế nào “an toàn hơn” cũng chỉ là một từ ngữ hết sức là tương đối. Chiều rộng trung bình của Palestine chưa tới sáu mươi lăm cây số. Điều đó có nghĩa là không có một kibboutz nào được coi như an toàn hết. Mỗi ngày, lại có thêm một nông trường bị xâm nhập...
- Ta có thể đưa chúng về các thành phố.
- Jérusalem kể như hoàn toàn bị bao vây. Và chính ở Haïfa và ở khu vực giữa Haïfa và Tel-Aviv hiện là nơi đánh nhau ác liệt nhất.
- Vậy... không còn nơi ẩn trốn nào nữa sao?
Jordana không trả lời. Không còn gì để trả lời cả.
 
 
4-2
 
GAN DAFNA
ĐÊM NOEL, 1947.
 
Các đám tuyết đầu tiên của mùa đông rơi xuống những con đường nhỏ sũng nước.
Karen đang mặc một chiếc quần len và một áo xăng-đai dầy. Nàng coi đồng hồ và thở dài.
- Tối nay em phải ăn cơm sớm. Tối nay, em phải gác đêm, cô.
Kitty bắt đầu cột tóc cho Karen thì đột nhiên một giọng đồng ca của trẻ con cất lên phía trước nhà. Kitty kêu lên:
- Cái gì vậy?
Karen nắm tay nàng kéo ra cửa sổ.
- Đó là quà Noel của cô đó. Các em nhỏ bí mật học hát bài này mất hai tuần lễ đó cô.
Kitty kéo màn cửa. Trên thảm cỏ tuyết bắt đầu phủ, năm mươi “đứa con” của nàng tay cầm nến thắp sáng, đang hát bài thánh ca. Nàng mặc áo măng-tô, rồi mở cửa bước ra thềm. Sau lưng các trẻ, bẩy trăm thước xa hơn các ánh đèn lấp lánh như sao dưới thung lũng. Trong các bungalow kế cận, các cửa nhà mở ra và các khuôn mặt tò mò nhìn ra ngoài. Kitty cảm thấy một niềm xúc động siết chặt lấy cổ họng. Nàng không hiểu lời bài ca, những âm điệu này...
Karen nói:
- Merry Christmas, Kitty!
Kitty không còn kìm giữ nữa, nước mắt nàng chảy xuống má.
- Cô không bao giờ có tưởng được một ngày kia sẽ được nghe bài Silent night bằng tiếng hébreu. Đây là món quà Noel đẹp nhất của đời cô!
 
Karen phải ra đổi phiên canh ở địa đạo vòng đai ngoài của Gan Dafna, nơi nhìn xuống các sườn dốc của cao nguyên. Sau khi người thanh niên gác phiên trước đã ra về, Karen nhét một kẹp đạn vào súng, đóng cơ bẩm lại rồi xỏ bao tay.
Chung quanh nàng, không gian chìm sâu trong im lặng. Tuyết vẫn rơi lả tả, bao phủ dần dần sườn núi. Đột nhiên nàng nhận thấy có gì động đậy trong hàng cây phía sau nàng. Nàng thận trọng quay lại, cố giương mắt nhìn xuyên qua bóng tối hoàn toàn. Lại có cái gì động đậy. Đó chỉ là một con chó đói hay là... Nàng mở chốt an toàn, đưa súng lên vai nhắm sẵn. Một bóng đen tách ra khỏi hàng cây, tiến về phía nàng...
- Đứng lại!
Bóng đen đứng sững lại.
- Mật khẩu?
Nàng giật bắn mình khi nghe thấy một giọng quen thuộc gọi tên nàng.
- Karen!
- Anh Dov!
Nàng leo ra khỏi địa đạo và chạy tới để rơi vào vòng tay chàng.
- Dov! Em không thể ngờ được... Lại đây anh!
Cả hai người cùng nhẩy xuống địa đạo. Dov cắt nghĩa:
- Tôi đợi em cả giờ rồi. Tôi đã đứng chờ trước nhà rồi theo em tới đây...
Hai tay run rẩy nàng xiết chặt lấy vai, cánh tay Dov.
- Anh lạnh ngắt rồi này. Anh cũng không mặc áo len nữa. Anh sắp lạnh cóng đến nơi giờ...
- Không đâu. Tôi thấy dễ chịu lắm.
Mặt trăng hiện ra giữa một khoảng trống của đám mây làm hai người sau hết đã có thể nhìn thấy nhau. Dov nói:
- Tôi... tôi tưởng Karen đã ở Mỹ rồi chứ.
- Em và cô Kitty đều không thể nào đi được.
- Chắc em đang tự hỏi tại sao tôi lại trở lại đây. Đã từ lâu rồi, tôi muốn nhìn lại Gan Dafna, nhưng chỉ vì... khi bỏ trốn khỏi đây, tôi có ăn trộm một số nữ trang. Chắc tất cả mọi người đều coi tôi như một tên ăn cắp...
- Ồ, không có đâu! Ngày nào anh còn sống, hiện diện nơi đây.
- Tôi sẽ bồi hoàn lại tất cả.
- Điều đó không quan trọng đâu anh. Không ai giận anh vì chuyện đó hết.
Dov đã ngồi xụp xuống đất, nói nhỏ:
- Khi tôi còn ở trong tù, và ngay sau khi ẩn trú trong các hang động gần Mishmar, lúc nào tôi cũng nói đi nói lại với tôi một điều: Dov, không ai oán ghét mi hết. Không ai thù mi hết. Chỉ có tự mi làm khổ mi mà thôi. Khi em lại thăm tôi tại nhà tù Acre, đột nhiên tôi không muốn chết nữa. Cũng không muốn giết cả các kẻ thù nữa.
Dov ngừng nói một chút, rồi tiếp tục với giọng thấp hẳn xuống:
- Em biết không... tôi nói với em hồi ấy tôi có một cô bồ, là tôi nói dối đấy. Tôi bịa chuyện ra như vậy để... Karen chịu ra đi...
- Em biết thế mà anh.
- Karen biết thực sao?
- Ít nhất thì em cũng đã cố thuyết phục em như thế. Em muốn tin hết sức ở tình thương của anh đối với em.
Nàng đưa tay chạm vào má Dov.
- Anh run lên vì lạnh rồi anh. Em van anh, vào sưởi trong nhà đi. Anh có thể nói hết mọi sự với cô Kitty, cô biết những gì giữa hai ta mà. Ngay khi mãn phiên gác, chúng ta sẽ đến gặp bác sĩ Lieberman. Cẩn thận nghe anh, anh dám bị các người canh khác chặn lại. Mật khẩu đêm nay là: Mừng lễ vui.
Trước khi đi, Dov do dự.
- Karen... anh muốn hôn em.
Nàng nhón chân lên và hai đôi môi nứt nẻ vì lạnh chạm vào nhau rất nhanh. Dov thì thào:
- Anh yêu em, Karen.
Nói xong, Dov nhẩy ra khỏi địa đạo chạy về phía cổng vào Gan Dafna.
 
Vào đầu năm 1948, người Ả-rập mỗi ngày tỏ ra liều lĩnh táo bạo hơn. Người Anh càng rút quân dần ra miền duyên hải, bỏ hết vị trí này đến vị trí khác, các vụ chạm súng nho nhỏ lúc trước bây giờ biến thành các trận đánh dàn trận hẳn hoi.
Chưa chi cuộc chiến đã lan rộng ra toàn thể xứ sở. Nhưng các kibboutz, mặc dù bị bao vây, quấy phá, tấn công, vẫn cố thủ vững và còn tấn công trả đũa lại. Ngược lại, tình hình mỗi lúc một nghiêm trọng hơn lên trong các thành phố. Ở Safed, bên Ả-rập tập trung nhiều lực lượng quan trọng để chờ đợi ngày đại tá Hawks, chỉ huy trưởng yếu khu này, mang trung đoàn quân Anh của mình ra duyên hải. Trong lúc chờ đợi, người Ả-rập chỉ ngăn chặn mọi đường tiến vào khu Do-thái của thành phố này: ai cũng biết đại tá Hawks thân với người Do-thái.
Ở Haïfa, nơi người Anh chiếm cứ vững chắc các bến tầu, chặng chót của chuyến rút quân khỏi Palestine, người Do-thái chiếm ưu thế về cao địa: cư ngụ trên các sườn ngọn Carmel, họ khống chế khu Ả-rập. Nhưng bất hạnh một điều là mỗi khi họ chiếm được một điểm chiến lược, người Anh lại bắt họ rời bỏ trong vài giờ sau.
Trong vùng pha trộn các nhà cửa cũ kỹ tồi tàn của Jaffa với các tòa nhà cao tối tân của Tel-Aviv, các cuộc ám sát đột kích và đánh nhau ngoài đường phố xẩy ra không ngừng. Nhưng những trận đánh dữ dội nhất lại diễn ra chung quanh các khu Do-thái ở đô thị Jérusalem. Tại phần này của Cổ thành, hoàn toàn bị cô lập bởi các đơn vị không chính quy Ả-rập tăng cường thêm nhiều đơn vị của Liên đoàn Ả-rập Transjordanie, thực phẩm và nước uống thiếu thốn đã tạo ra một tình trạng mỗi ngày một thêm thê thảm. Dưới làn đạn súng cối và súng trường của các tay thiện xạ Ả-rập nấp trên các nóc nhà, dân Do-thái chỉ có thể di chuyển bằng xe bọc thép. Bên Ả-rập kêu ầm lên là đã chiến thắng khi họ chặn được một đoàn xe của Hồng Thập Tự do trung tâm y khoa ở ngọn Scopus gửi đến. Ngày hôm đó, họ tàn sát bẩy mươi bẩy y sĩ Do-thái không võ trang theo đúng Quy ước Genève. Việc tàn sát ghê tởm này xẩy ra ngay trước mắt quân đội Anh mà người Anh không can thiệp.
Đại tá Hawks sắp bắt đầu di tản khỏi khu Safed. Ari đã trao cho Zev Gilboa đại diện bên Do-thái trong buổi lễ bàn giao chính thức đồn Esther cho các lực lượng Do-thái.
Vài giờ sau Ari được biết rằng Zev và quân sĩ của anh khi tới đồn đã bị tiếp đón bằng một loạt đạn bắn ra ào ào. Trái với lời đã hứa hẹn long trọng, quân Anh đã trao đồn Esther cho người Ả-rập.
Nhẩy vội lên xe jeep, Ari phóng như bay về Safed. Hất viên trung úy có nhiệm vụ loan báo chàng đến sang một bên, Ari đi thẳng vào văn phòng đại tá.
- Các ông đã phản bội chúng tôi!
Hawks cãi bằng một giọng não nề:
- Không phải lỗi tại tôi. Tôi thề với anh là không phải tại tôi. Tối qua, lúc 10 giờ, tôi được lệnh rút quân ngay lập tức ra khỏi đồn ấy.
- Các ông có thể báo trước cho tôi được chứ.
- Tôi không thể báo cho các anh biết trước được - tôi không có quyền làm như vậy. Tôi là quân nhân, anh Ben Canaan, tôi phải tuân lệnh thượng cấp của tôi. Anh hãy tin ở tôi đi, đêm qua tôi nhắm mắt không nổi.
- Một lời xin lỗi thật đẹp cho một kẻ mang trách nhiệm về số phận của Gan Dafna trong lương tâm - giả thử là đại tá có một lương tâm.
Hawks tái mặt:
- Anh sẽ không để tụi trẻ trên đó, trên cao nguyên cô lập đó chứ? Anh bắt buộc phải đưa chúng xuống dưới đồng bằng...
- Đáng lẽ đại tá phải nghĩ tới chuyện đó sớm hơn chứ. Không có đồn Esther, chúng tôi bắt buộc phải cố thủ ở Gan Dafna, nếu không muốn mất toàn thể thung lũng Houleh.
Hawks cúi đầu xuống, hai tay xiết chặt lấy thành bàn. Hiển nhiên viễn ảnh ba trăm đứa trẻ bị tàn sát làm ông xúc động dữ dội. Ari nói tiếp:
- Có lẽ còn có cách để sửa sai bớt tai hại đại tá đã làm. Ít nhất một phần nào.
- Tôi sẽ làm tất cả những gì anh muốn...
- Với tư cách chỉ huy trưởng khu Safed, chắc đại tá có quyền đi lên Gan Dafna để khuyến cáo chúng tôi di tản trung tâm này chứ?
- Chắc chắn vậy.
- Được, vậy ông sẽ làm chuyến thăm viếng đó. Ngày mai đại tá lên Gan Dafna với một đoàn năm mươi xe cam-nhông có chiến xa hộ tống. Chính thức, đại tá có ý định mang trẻ em xuống thung lũng.
- Tôi không hiểu. Anh muốn tản cư trung tâm?
- Không. Nhưng đại tá khỏi lo tới chuyện đó. Đại tá cứ mang đoàn xe lên Gan Dafna đi.
Hawks không đủ can đảm để đặt ra các câu hỏi khác. Ngày hôm sau, đoàn xe vĩ đại lên đường đến cao nguyên, băng qua sáu làng Ả-rập, vượt qua trước mặt các lính canh Ả-rập ở đồn Esther, để tới Gan Dafna vào lúc gần trưa. Trong một tiếng đồng hồ liền, Hawks cố gắng thử thuyết phục bác sĩ Lieberman di tản trung tâm. Nhưng đã được Ari báo trước, Lieberman cương quyết từ chối. Mỗi lúc thêm phân vân khó hiểu, Hawks đành ra về với các xe cam-nhông trống không.
Trong lúc đó Ari dạo chơi trong làng Abou Yesha, thố lộ với các bạn bè Ả-rập là đại tá Hawks đã trút xuống Gan Dafna hàng tấn vũ khí đủ loại, nhất là súng cối và đại liên. Chàng cắt nghĩa:
- Ít ra thì đại tá cũng phải giúp chúng tôi như vậy. Vả lại đại tá cũng chưa bao giờ giấu giếm cảm tình với dân Do-thái chúng tôi. Ông giúp vũ khí như vậy để đền bù lại vụ ông phải trao đồn Esther cho bên Ả-rập các anh.
Ngay tối hôm đó, cả vùng đều “biết” là Gan Dafna bây giờ đã trở thành “pháo đài” khó mà chiếm cho nổi. Câu chuyện này lại càng đáng tin hơn nữa vì sau đó không hề có một vụ tản cư nào. Hiển nhiên hơn nữa là chắc chắn người Do-thái đâu dám để trẻ con ở lại một vị trí không bảo vệ được bao giờ.
 
Ngược lại, buổi hội kiến của Ari với mouktar làng Abou Yesha đã đưa đến một kết quả tai hại. Sau khi gợi lại rất lâu những kỷ niệm chung, Ari cảnh báo bạn: nếu làng này chấp nhận cho các quân không chính quy Ả-rập biến làng thành một căn cứ hành quân, Haganah sẽ bắt buộc phải tấn công tiêu diệt làng.
Xúc động vì cái giật mình đau đớn của Taha, Ari đặt một tay lên vai bạn:
- Anh Taha... tôi xin anh hãy giúp tôi.
- Anh quên rằng tôi chỉ là một tên Ả-rập - một tên Ả-rập dơ dáy sao.
- Chỉ có anh, mình anh mới nhét cái ý nghĩ phi lý ấy vào đầu anh thôi.
- Có lẽ anh sẽ nói tôi là anh em với anh chăng?
- Từ bao giờ tôi vẫn coi anh là anh em với tôi.
- Thực vậy hả? Vậy này, nếu sự thật là như thế, hãy cho tôi Jordana. Anh hãy thuận cho tôi Jordana để nàng trở thành vợ, thành mẹ của các con tôi...
Taha chưa kịp nói hết câu, Ari đã bằng một cú đấm chớp nhoáng, đánh Taha ngã lăn ra đất. Taha chồm dậy, rút dao găm cài ở thắt lưng ra, tiến tới phía Ari. Sững người, Ari không làm một cử chỉ nào để bảo vệ mình. Taha giơ dao lên, toan đâm, nhưng rồi buông dao. Tiếng kim khí va vào sàn đá làm Ari bừng tỉnh. Chàng thì thào:
- Trời! Tôi đã làm gì? Tôi đã làm gì?
Chàng giơ tay ra như để xin thứ lỗi... Taha quay đi, nói bằng giọng cứng rắn:
- Anh đã cho biết điều tôi cần muốn biết. Bây giờ anh đi đi, đồ Do thái!
2
4-3
 
Rất nhiều biến cố sẽ đánh dấu những tháng đầu năm 1948.
Ở Âu châu, các cán bộ của “Trung ương” nhờ sự ủng hộ của Jan Masaryk, tổng trưởng ngoại giao Tiệp-khắc, đã mua được một số lượng vũ khí. Để có thể đưa số vũ khí này về Palestine vượt qua hàng rào phong tỏa do hải quân Anh duy trì, họ phải thành lập ở Vienne một công ty hàng không. Công ty này mua ở kho quân cụ thặng dư của Hoa-kỳ một chiếc oanh tạc cơ Liberator cũ và mướn một phi hành đoàn: sáu người Do-thái cựu chiến binh đệ nhị thế chiến, bốn người Nam Phi và hai người Mỹ. Về bãi đáp, họ chọn nơi khuất nẻo trong thung lũng Jezreel có sẵn một căn cứ khu trục cũ không lực Hoàng gia Anh. Nằm giữa một vùng hoàn toàn Do-thái, phi đạo này khó bị người Ả-rập biết. Còn về sự có thể bị các phi tuần Anh bắt gặp, thì đành tin cậy ở tài năng khéo léo của các phi công lái chiếc Liberator... và tin ở may mắn. Dầu thế nào, đây cũng là một cuộc chạy đua với thời gian. Nhận các vũ khí ở năm hay sáu nước khác nhau, hết sức bí mật đưa về Vienne, đã mất tối thiểu hai tuần rồi. Xét sự tiến diễn mỗi ngày thêm thê thảm của tình hình ở Palestine, mọi người chỉ có thể hy vọng rằng chuyến vũ khí đầu tiên sẽ về đến nơi không quá trễ.
Bên phía Ả-rập, hăng hái điên cuồng trong những ngày đầu đã bắt đầu nhường chỗ dần cho chán nản thất vọng. Một cuộc tấn công đại qui mô vào một kibboutz cô lập hoàn toàn chỉ có dân Do thái chính thống giáo cư ngụ, đã chấm dứt bằng một thảm bại đẫm máu trước mắt rất nhiều phụ nữ Ả-rập đã tụ tập lại để tham dự vào vụ hôi của kibboutz. Vài ngày sau, trên đường đi từ Tel-Aviv tới Jérusalem, Lữ đoàn 2 của Palmach đã chiếm được, sau một trận cận chiến dữ dội, ngọn đồi trước đây đã cho phép quân Ả-rập chặn đường tiến của các xe cộ. Ngày hôm sau, một đoàn xe vĩ đại chở đầy thực phẩm đạn dược, mặc dù địch kháng cự dữ dội, đã tới tiếp tế được cho Tân Jérusalem bị bao vây từ nhiều tháng rồi.
Trong “Bộ tư lệnh tối cao” Ả-rập, thiên hạ sửng sốt. Những tên Do-thái đáng nguyền rủa kia chẳng những không tự vệ mà thôi, lại còn lao ra tấn công nữa! Hiển nhiên là chính nghĩa của cuộc thánh chiến cần gấp một chiến thắng. Cần hết sức khẩn cấp!
Bị triệu gọi cấp tốc đến tổng hành dinh Ả-rập đặt ở Naplus, Mohammed Kassi, chỉ huy các quân không chính quy thung lũng Houleh nhận được lệnh - “nhân danh Ngài mufti” - tấn công ngay lập tức Gan Dafna, chiếm trung tâm này, san bằng đến tận móng. Dù Kassi có viện dẫn thế nào tới “cả ngàn khẩu súng, trăm đại liên, hai mươi đến ba mươi súng cối” đại tá Hawks đã biếu cho trung tâm này, dù đã thề chính mắt mình trông thấy một ngàn Palmachnik tới tăng cường cho các đơn vị thiếu nhi Gan Dafna, Kassi rút cục chỉ nhận được hai cái tát nên thân.
- Một là mi tiêu hủy được Gan Dafna, hai là xác mi phanh thây cho kên kên ngoài đồi rỉa thịt.
Kassi không biết làm sao hơn là tuân theo lệnh.
 
Để mở đầu, Kassi cho một trăm quân chiếm cứ Abou Yesha. Quen thuộc sống hòa thuận với các láng giềng Do-thái từ mấy chục năm nay, dân làng không giấu vẻ bực tức với sự chiếm cứ này. Rất nhiều người trong họ đã xuống tận kibboutz Ein Or để báo cho Ari biết. Đồng thời các kỳ mục khẩn khoản yêu cầu Taha đòi hỏi đạo quân kia phải rút đi. Nhưng mouktar Taha đã khép mình trong một câm nín hoàn toàn, và với thái độ này, các fellah quen nhận chỉ thị chính xác, đành chịu chết không biết hành động ra sao nữa. Rồi một hôm quân của Kassi bắt gặp bốn dân làng đang mang thực phẩm lên Gan Dafna. Những những dân xấu số này bị chặt đầu đem bêu ngay giữa chợ. Kể từ ngày đó, Abou Yesha thôi không còn chống đối nữa.
Do đó con đường độc đạo dẫn lên Gan Dafna đã bị cắt đứt. Kassi, từ đồn Esther cao, cho bắn súng cối không ngừng vào trung tâm.
Tình trạng này, người Do-thái đã tiên liệu ngay từ khi thành lập trung tâm. Lầu chứa nước uống được một bức tường bao cát che kín, các máy phát điện, các kho dự trữ thực phẩm thuốc men và đạn dược, cũng như các kho vũ khí, đều được đào trong các hầm núi rộng rãi có đủ cả các phòng ngủ và lớp học nữa. Một vài giờ sau đợt pháo kích đầu, toàn thể trung tâm đã được tổ chức để sống một cuộc sống khá dễ chịu trong hang động. Còn về việc liên lạc với Yad El, đường điện thoại đã bị cắt, mọi người xử dụng gương Scott (gương kim khí phản chiếu ánh sáng và truyền các tín hiệu Morse).
Dưới thung lũng, ở kibboutz Ein Or, Ari chỉ có thể xiết tay lại mà chờ đợi thôi. Nếu Gan Dafna có đủ dự trữ để cố thủ cả tháng, thì ngược lại, trận đánh đầu tiên sẽ làm tiêu mất “huyền thoại” là trung tâm này “được võ trang ghê gớm”. Và tới khi đó địch sẽ nhào lên và sau đó trẻ con bị tàn sát...
Lục lọi vơ vét khắp nơi, Ari chỉ kiếm được chừng một chục khẩu súng trường kiểu 1883 của Tây-ban-nha, hai mươi ba tiểu liên nội hóa và một súng chống chiến xa Hung-gia-lợi dư mức độ phế thải và năm băng đạn. Zev Gilboa và hai mươi Palmachnik nữa mang các vũ khí này lên tận cao nguyên bằng cách leo lên sườn dốc đứng ban đêm.
Sau mười ngày pháo kích liên tục, đa số nhà cửa trong trung tâm sụp đổ. Một phát đạn nổ tung cả lối vào hầm, làm hai trẻ em bị chết, những người đầu tiên bị chết của cuộc công hãm Gan Dafna.
Cũng ngày hôm đó, Ari được Tel-Aviv cho biết là Bộ tư lệnh cho phép được tản cư trẻ em ra khỏi các vị trí bị địch quân đe dọa và tấn công. Quyết định tối hậu để cho các cấp chỉ huy các kibboutz tùy nghi thẩm định, và trong trường hợp của Gan Dafna, quyền này tùy thuộc khu trưởng, các trẻ em sẽ được đưa về miền duyên hải. Rất dễ đọc được ẩn ý của Bộ tư lệnh qua những dòng chữ của điệp văn này: rõ ràng là, trước tình trạng lâm nguy gia tăng trầm trọng, Haganah đã dự trù tới việc có thể di tản trẻ em bằng đường biển để cứu chúng khỏi vụ tàn sát lớn có thể xẩy ra.
Ari cho triệu tập các đơn vị trưởng và những người này đồng ý khuyến cáo cho tản cư gấp trẻ em ít tuổi. Bây giờ vấn đề là làm cách nào đưa được chúng ra khỏi trại. Tổ chức một đoàn xe sẽ đòi hỏi động viên tới tất cả lực lượng xử dụng được trong vùng - và có làm như vậy, một sự tập trung quân như thế cũng không đủ bảo đảm thành công cho chiến dịch di tản. Vậy mà vấn đề ở đây không phải là thắng hay thua một trận đánh. Vấn đề ở đây quan trọng hơn nhiều: mạng sống của mấy trăm trẻ em.
Tới đây, một lần nữa Ari lại nghĩ ra một kế hoạch táo bạo đến điên rồ. Được rồi, nếu các phương cách thông thường không dùng được, chàng sẽ liều đánh cá lớn với số mệnh - chàng lại thắng cuộc.
Sau khi đã trao cho David Ben Ami thành lập một “lực lượng cứu ứng”, Ari leo lên cao nguyên - một chuyến đi ghê khiếp bởi vì bất cứ một nỗ lực nhỏ nào của chân cũng làm chàng đau đớn vì vết thương cũ chưa lành. Lên được tới Gan Dafna vào lúc rạng đông, chàng cho triệu tập ngay tất cả các trưởng nhiệm sở của trung tâm. Chàng tuyên bố, không giáo đầu gì hết.
- Ở đây các bạn có hai trăm rưỡi trẻ em dưới mười hai tuổi. Chúng ta sẽ tản cư các em đó vào tối mai. Đêm nay, bốn trăm người lấy từ tất cả nông trường trong thung lũng sẽ leo lên đây dưới sự hướng dẫn của David Ben Ami. Nếu họ không bị địch khám phá ra và tấn công, sáng mai họ sẽ tới đây. Đêm mai họ sẽ lại xuống núi - hai trăm rưỡi người mỗi người cõng theo một trẻ, một trăm rưỡi còn lại sẽ giữ nhiệm vụ bảo vệ cho tất cả. Tôi cũng cần nói thêm rằng một trăm rưỡi người bảo vệ này sẽ được xử dụng tất cả các vũ khí cộng đồng nặng của toàn khu chiến Houleh
Mọi người đưa mắt nhìn nhau như Ari vừa nói vừa quàng xiên xong. Bác sĩ Lieberman phản đối:
- Xuống núi kiểu đó rất nguy hiểm, dầu là thực hiện ban ngày đi nữa. Ban đêm, trên lưng hay trong tay bồng một đứa trẻ... chắc chắn sẽ có tai nạn xảy ra...
- Đó là một thứ may rủi mà chúng ta đành phải chấp nhận.
Zev Gilboa nhận xét thêm:
- Đó không phải là may rủi duy nhất đâu. Đoàn người bắt buộc phải đi băng qua gần Abou Yesha. Quân Ả-rập sẽ nghe thấy họ...
Ari ngắt lời:
- Chúng ta sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để quân Ả-rập không nghe thấy họ. Dầu thế nào, chúng ta cũng chẳng thể còn cách nào khác nữa.
Ngay lập tức các lời phản đối cất lên nhao nhao.
- Im lặng! Chúng ta đâu có ở trong quốc hội! Các bạn sẽ phải giữ bí mật tuyệt đối: không được có một hành động cuống quít sợ hãi nào hết. Rồi, bây giờ bắt đầu làm việc!
 
Sáng ngày hôm sau, bốn trăm người tình nguyện đã lên đến nơi, và theo lệnh Ari, họ phân tán ẩn núp vào các bờ bụi chung quanh trung tâm. Do đó, các quan sát viên Ả-rập đứng sau các lỗ châu mai của đồn Esther đều không trông thấy được họ.
Đúng 17g55, các trẻ em phải di tản được tập họp để ăn cơm chiều: không đứa nào nhận thấy là bữa nay có một vị hơi đắng do thuốc ngủ hòa tan gây ra. Lúc 18g15, mọi người đưa chúng vào giường. Mười phút sau, chúng đã ngủ say sưa.
Đến 18g32, mặt trời lặn xuống sau đồn Esther. 18g40, Ari lại họp các trưởng nhiệm sở.
- Yêu cầu các bạn lắng nghe tôi thật cẩn thận. Vụ di tản sẽ khởi sự trong vài phút nữa. Mỗi bạn sẽ ở đúng vị trí tôi sẽ chỉ định. Cuộc hành quân đặc biệt này sẽ diễn ra theo một thời biểu hết sức chính xác: bất cứ một sai lệch, tùy hứng nào cũng dám đưa đến những hậu quả nghiêm trọng. Tôi sẽ không chấp nhận bất cứ một bàn cãi nào. Tất cả mọi sự phản đối, khước từ thi hành lệnh đều sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc.
Đến 18g45, Jordana ra lệnh cho các thiếu nhi ở lại trung tâm lập bốn vòng vây chung quanh trung tâm. Hơn lúc nào hết, lúc này hết sức cần tránh sự xâm nhập của địch có thể khám phá ra bí mật hoạt động trong trại. Zev Zilboa cùng hai mươi Palmachnik của anh tiến ra vùng đồi để thi hành “nhiệm vụ bảo vệ đặc biệt”.
Lúc 19 giờ, mọi người chuẩn bị cho các trẻ em vẫn ngủ say sưa: mặc quần áo ấm cho chúng, đặt một băng keo lên miệng để ngăn cản chúng kêu khóc. Lúc 17g30, Ari ra ngoài để đưa bốn trăm người tình nguyện trở vào.
Một đường dây người được thành lập tới tận cửa lối vào các hầm trú để chuyền tay nhau các trẻ em. Các người tình nguyện sẽ mang chúng trên lưng trong một thứ như các yên biến cải không cản trở gì hết cử động chân tay họ. Lúc 20g30, sau khi kiểm soát lại một lần chót hệ thống dây nhợ, đoàn người dài bắt đầu di chuyển, hộ tống bằng một trăm năm mươi người võ trang. Dưới sự hướng dẫn của Ari, họ lần lượt vượt qua bờ cao nguyên để rồi tan biến vào trong bóng đêm.
Từ đó là sự chờ đợi khắc khoải, im lìm, bất tận. Không thể nào ngồi yên nổi một chỗ, Kitty đi lang thang giữa các căn nhà. Nửa đêm, một giờ sáng, hai giờ... Đột nhiên một loạt súng nổ ở xa vọng lại. Nàng hét lên một tiếng.
- Các đứa nhỏ của tôi! Chúng giết các đứa nhỏ của tôi!
Nàng lao mình chạy vào bóng đêm. Jordana phải ôm cứng lấy nàng và sau cùng phải đấm cho nàng một cái vào giữa lưng ngã sóng soài ra đất.
- Nghe tôi đã nào chị Kitty! Tiếng súng đó là của Zev Gilboa cùng các Palmachnik đang tấn công đánh lạc hướng địch ở phía bên kia Abou Yesha để quân Ả-rập khỏi chú ý tới lộ trình của đoàn người chúng ta.
Jordana đỡ Kitty đứng dậy, rót cho nàng một ly rượu.
- Cầm lấy uống đi chị! Tôi rất tiếc là đã phải đánh chị...
- Cô làm phải đó. Tại tôi mất bình tĩnh quá.
Ba giờ sáng... bốn giờ... năm giờ rưỡi, họ đều ra hết bên ngoài, trong bình minh lạnh cóng, để tiến ra ngoài vòng rào trại về đài canh và quan sát cheo leo bên bờ vực.
Chậm chạp, sương mù tan dần để lộ rõ thung lũng phía dưới. Ống nhòm dán vào mắt, người quan sát nhìn chăm chú sườn núi. Không có gì hết... không có một cái gì động đậy...
- Nhìn kìa!
Trong các khu vườn của nông trường Yad El, một tấm gương đang gửi những dấu hiệu Morse, các chấm, vạch, các chấm rồi các vạch...
Người quan sát có vẻ phân vân.
- Họ nói... tôi chẳng hiểu họ nói gì hết... họ nói như sau: X 14 16.
Mọi người ngơ ngẩn một thời gian ngắn. Tấm gương lại nhắc lại bản điệp văn. Rồi bỗng giọng Jordana cất lên, đầy vui mứng chiến thắng:
- Họ đã xuống tới nơi, hoàn toàn bình yên vô sự. Exodus 14 16: Con hãy giơ gậy của con lên và giơ tay về phía biển: hãy rẽ nước ra và con dân Israël sẽ băng qua không ướt gót.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.08.2015 17:14:38 bởi scpio>

4 - 4
 
Bốn ngày sau, nhận thấy địch giảm bớt rõ rệt các áp lực đối với các nông trường trong thung lũng, Ari hiểu là địch sắp tấn công Gan Dafna đến nơi. Bởi thế chàng lại leo lên trung tâm thanh niên để thân chinh điều khiển công việc phòng thủ.
Đối diện với mấy ngàn người Ả-rập của Mohammed Kassi đạn dược dự trữ thừa thãi và được các súng cối của đồn Esther yểm trợ, chàng chỉ dàn ra được hai mươi Palmachnik của Zev và các đơn vị thiếu nhi của trung tâm. Vũ khí rất sơ sài, dự trữ đạn dược không có, nhưng ngược lại bên chàng có hai yếu tố tốt: trí thông minh và kinh nghiệm chiến trường của chàng. Bây giờ vấn đề là chờ xem hai yếu tố này liệu có đủ để quân bình với ưu thế vật chất quá lớn của địch không.
Nếu quân Ả-rập vẫn giữ chiến thuật quen thuộc của họ là tấn công trực diện, họ sẽ phải qua một hẻm núi đổ dốc xuống chạy dài tới những căn nhà đầu tiên của Gan Dafna. Ari ra lệnh cho các toán tuần thám đêm gài mìn hai bên sườn hẻm núi và cho đào ở các đỉnh hơi xa đó một vài công sự để đến khi cần thiết, chàng sẽ cho bố trí ở đó các Palmachnik, hai khẩu đại liên và tất cả số lượng lựu đạn và chất nổ chàng có. Nếu các trái mìn, điều khiển từ xa, nổ đúng lúc thì các kẻ tấn công - hay những kẻ sống sót thì đúng hơn - sẽ bị đẩy lui về phía giữa hẻm núi và khi ấy sẽ bị các đại liên và lựu đạn thanh toán nốt.
Ba ngày sau khi chàng tới Gan Dafna, một liên lạc viên do các tổ báo động tiền đồn báo về cho chàng biết là quân Ả-rập đang rời đồn và lao xuống đồi. Ngay lập tức lệnh báo động được ban hành. Một im lặng nặng nề bao phủ trung tâm. Tất cả các cặp mắt đều hướng về khoảng đất nhô cao nằm giữa đồn Esther và Gan Dafna, giới hạn trường quan sát của những người phòng vệ trại.
Sau chừng nửa giờ, một vài cái đầu nhô lên khỏi khu đất cao. Rồi sau đó là địch ào lên: một đợt biển người thứ nhất là hét, vung chân múa tay, vung kiếm và súng, tràn thẳng vào hẻm núi. Trên đỉnh bên trái, Zev Zilboa, hoàn toàn nấp kín, phất một ngọn cờ vàng. Trong Gan Dafna, Ari ấn một cái cần xuống.
Tất cả các trái mìn nổ cùng một lúc. Khi các làn khói đã tan, người ta trông thấy những kẻ sống sót đang chạy dưới hẻm núi - lao thẳng vào các đạn đại liên và các chùm lựu đạn ném như mưa xuống.
Đợt tấn công thứ nhất đã bị tiêu diệt hoàn toàn, nhưng đợt thứ hai và thứ ba đã ào tới. Không còn mìn để giật cho nổ, và một phát súng cối may mắn của đồn bắn ra đã phá hủy mất một trong hai khẩu đại liên của trung tâm. Khẩu thứ hai, nóng quá cháy nòng súng, không mấy chốc cũng bị loại ra khỏi vòng chiến. Zev và các Palmachnik rời bỏ các vị trí trên hẻm núi để rút vào bên trong trung tâm phòng thủ. David Ben Ami trong hầm trú làm bằng các túi cát cho điều chỉnh đường nhắm của khẩu súng chống chiến xa cũ kỹ. Mọi người đã biến cải các viên đạn: bây giờ mỗi một băng trong năm băng đạn hiện có hai ngàn mảnh. Nếu khẩu súng chịu hoạt động, các loạt đạn của nó sẽ tàn sát ghê gớm.
Đội Ả-rập thứ nhất đã lao tới hàng rào. Họ còn cách có bốn mươi thước - ba mươi thước - hai mươi, mười.
- Bắn!
Khẩu súng cũ nhẩy chồm lên, khạc đạn. Xuyên qua làn khói, David trông thấy những chùm người rụng xuống và những kẻ khác đang loạng choạng tìm đường chạy...
- Bắn!
Đến loạt thứ ba, nòng súng rơi ra khỏi giá súng. Khẩu súng già đã chấm dứt sự nghiệp của mình bằng cách giết chết chừng ba trăm quân Ả-rập và bẻ gãy hẳn đà tấn công của địch. Đến nỗi đợt tấn công thứ tư bị đẩy lùi ngay khi một trung đội thiếu nhi nổ súng.
Cuộc rút lui của địch chưa chi đã biến thành cảnh mạnh ai người ấy chạy. Zev Gilboa hiểu ngay tình trạng đó và quyết định khai thác chiến thắng ngay lập tức. Dẫn đầu nhóm Palmachnik chạy đuổi theo mấy trăm quân Ả-rập đang hốt hoảng, Zev đã băng qua khu đất nhô cao và tiếp tục tiến thẳng về đồn Esther. David kêu lên bất bình.
- Chắc Zev mất trí rồi đó!
Ari nói:
- Đi với tôi! Phải chặn cái anh chàng điên ấy lại.
Sau khi đã ra lệnh cho Jordana thu nhặt vũ khí của các xác địch nằm ngổn ngang trước vòng rào, chàng vừa đi vừa chạy, theo sau là David.
Gần đồn Esther, là cả một vụ kinh hoảng hỗn độn. Nhận thấy các Palmachnik đang đuổi theo quân mình các pháo thủ trong đồn đã bắn vội đến nỗi đạn họ bắn ra nổ ngay giữa đám quân bên mình. Các Palmachnik lợi dụng tình trạng này để tiến thêm nữa. Zev, dẫn đầu, vượt qua hàng rào kẽm gai thứ nhất, còn cách tường đồn chừng 40 thước thôi. Chàng quay lại ra lệnh cho quân mình:
- Nấp đi!
Còn chính chàng nằm xuống đất, quạt một băng tiểu liên vào các lỗ châu mai. Đằng sau chàng, các Palmachnik đã bắt đầu lùi một cách thận trọng. Hiểu rằng bắn nữa vô ích, Zev cũng quay lại và cố rút lui bằng cách trườn mình giữa các tảng đá. Một viên đạn bắn trúng chàng, Zev chồm lên định chạy nhưng lại bị bắn trúng lần nữa, gục xuống hàng rào kẽm gai không gỡ ra được nữa.
Ở một trăm thước thấp hơn phía dưới, ngồi sau một hòn đá, Ari thận trọng thò đầu ra. Không thể nào lên tới chỗ Zev được: trước hàng rào kẽm gai là cả một khoảng trống không có chỗ nào nấp được. Chàng quay lại David:
- Chú đưa tôi vài trái lựu đạn rồi đưa anh em trở về trung tâm.
- Anh điên sao? Anh không định...
- Thi hành những gì tôi nói.
Trước khi biến sau khoảng đất nhô cao, David quay lại. Chàng nhìn thấy hình dáng lom khom của Ari chạy từ tảng đá này sang tảng đá khác.
Quân Ả-rập quan sát cảnh Ari tiến lên nhưng không bắn. Rõ ràng là họ đợi cho tới khi chàng ra tới khoảng trống để bắn cho chắc. Rồi chắc bên Do-thái sẽ gửi một người khác... một người khác nữa lên...
Ari đã lên đến cách kẽm gai chừng hai mươi thước. Zev, bây giờ đã trông thấy Ari, la lớn tuyệt vọng yêu cầu bạn hãy trở lại. Ari lắc đầu. Zev hét lên:
- Đi đi! Đằng nào tôi cũng chết. Bụng tôi bị banh ra rồi... Anh có thể tin ở tôi, ruột tôi tung ra mắc đầy vào kẽm gai rồi. Tôi sống được mười phút nữa là nhiều nhất. Đi đi, đừng ngốc thế!
Ari lấy trong túi ra hai trái lựu đạn, chặn cứng chốt lại để lựu đạn khỏi nổ tung khi va chạm, rồi la lớn bằng tiếng Đức:
- Chú ý này Zev! Tôi sẽ ném cho chú hai trái lựu đạn!
Chàng vươn người lên, tung hai trái lựu đạn lên rồi lại ngồi xụp xuống. Một trong hai trái rơi xuống chân Zev. Zev nhặt lên được ôm sát vào bụng đang mở banh ra...
- Tôi bắt được rồi! Bây giờ anh rút lẹ lên!
Ari lao mình chạy xuống, đột ngột, đến nỗi quân Ả-rập để trôi qua mất nhiều giây đồng hồ. Khi họ đưa súng lên được thì đã quá trễ rồi: Ari đã biến mất đằng sau chỗ đất nhô cao.
Zev còn lại một mình. Quân Ả-rập đã thôi bắn, hy vọng sẽ có người Do-thái khác tới tiếp cứu cho bạn đồng đội bị thương. Dầu thế nào, họ cũng muốn bắt sống Zev.
Khi ấy Zev, máu đã trào ra gần kiệt, tháo chốt lựu đạn rồi đưa lên ép sát vào đầu.
Khi nghe tiếng lựu đạn nổ, Ari đứng sững ngay lại. Chàng cảm thấy người tê tái đi. Sau cùng, khi đã chế ngự được cơn buồn nôn đang làm rung động toàn thân, chàng bắt đầu bò trở về Gan Dafna.
Một lúc sau, có một mình trong hầm trú của bộ chỉ huy trại, chàng cố gắng một cách vô ích chú trọng tới những kết quả tốt đẹp thu lượm được trong ngày. Chàng giật nẩy mình khi nghe thấy cửa hầm mở. Kitty loan báo.
- Các người Ả-rập bị thương đã được cho mang xuống Abou Yesha. Chúng tôi chỉ giữ lại những người anh muốn thẩm vấn mà thôi.
- Còn những người bị thương của chúng ta?
- Hai em ở trong tình trạng tuyệt vọng. Những người khác sẽ qua khỏi. Tôi mang lại đưa anh những đồ vật cá nhân của anh Zev Gilboa. Chẳng có gì nhiều...
Ari nói với một chút chua cay:
- Một kibboutznik theo định nghĩa là một người nghèo. Tất cả những gì hắn có đều thuộc về đất nước, kể cả mạng sống của hắn.
- Mới tối hôm qua thôi anh Zev còn nói chuyện với tôi về chị ấy. Anh thố lộ với tôi là vợ anh sắp có một đứa con nữa.
Ari càu nhàu:
- Zev đã cư xử như một thằng ngu. Hắn tưởng hắn có thể chiếm đồn một mình! Tôi khó kiếm được người thay thế cho Zev.
Kitty tức giận phản đối:
- Anh chỉ biết nói thế thôi à? Khó mà thay thế được cho Zev! Anh không thèm nói một tiếng về chị Zev...
- Kitty! Khi chồng cô gục xuống ở Guadalcanal liệu tiểu đoàn trưởng của anh có đọc một bài điếu văn không?
- Nhưng đó là trường hợp khác! Còn anh, anh biết anh Zev từ ba năm rồi. Anh biết cả chị Zev sinh trưởng cách nhà anh có năm mươi thước nữa.
- Vậy tôi hỏi cô, tôi làm gì khác được bây giờ?
- Ít nhất anh cũng phải thương cho thiếu phụ tội nghiệp đó.
Trong khoảng thời gian một giây, môi Ari hơi run lên. Nhưng sau đó, chàng đã tìm thấy sự cứng rắn thường nhật.
- Một người chết giữa chiến trường là một cảnh tượng thông thường ngày nay. Bây giờ, xin cô để yên cho tôi làm việc...
 
Bị bao vây từ ngày có cuộc biểu quyết lịch sử của Liên Hiệp Quốc, thành phố Safed sau cùng cũng được giải tỏa nhờ ở sự can thiệp của một vũ khí kỳ dị, chưa từng có bao giờ, một thứ con hoang của súng bắn đá và bích kích pháo địa đạo. Hình dáng nó kỳ cục đến nỗi tướng Sutherland cũng phải tự hỏi không biết dùng nó vào việc gì. Đó chỉ là một cái ống lớn người ta tọng qua miệng cả một thồi đầy chất nổ. Trên lý thuyết, viên đạn kỳ lạ này phải bay xa được vài trăm thước. Trên thực tế, mọi người còn đang sợ rằng vừa ra khỏi nòng, nó dám rơi huỵch ngay xuống, giết chết hết những người xử dụng nó. Nhưng vì đạn dược của quân phòng vệ đã cạn, đành phải dùng đến Davidka - “Tiểu David”. Đến lúc cùng này thì...
Để an toàn, mọi người sẽ khai hỏa nó bằng một sợi dây dài để cho những người xử dụng có thể nấp được chỗ chắc chắn. Mọi người hướng nòng súng - một cách rất đại khái - về đồn cảnh sát, tổng hành dinh của quân Ả-rập.
Bây giờ các chuyến vũ khí đã về nhiều. Dần dần chuyển từ thủ sang công, bên Do-thái mỗi ngày ghi nhận cái nhiều chiến thắng rõ rệt hơn, ý nghĩa hơn. Được một loạt thành công khuyến khích, Haganah quyết định chiếm lấy hải cảng Haïfa. Trong ba ngày liền, các lực lượng Do-thái vấp phải một sự chống trả dữ tợn, thông minh, phối hợp chặt chẽ. Rồi đến đêm thứ ba, các cấp chỉ huy của Ả-rập bỏ trốn. Hai mươi bốn giờ sau, Do-thái chiếm được hải cảng.
Tới lúc đó mọi người được chứng kiến một hiện tượng đáng ngạc nhiên, chắc là do nỗi khiếp sợ từ Safed lan truyền tới: các thường dân Ả-rập tuyên bố rằng họ muốn rời bỏ thành phố, rời cả xứ mà đi nữa. Ở Acre, rồi ở Jaffa, nơi Do-thái chiếm được mà không phải chiến đấu gay go cho lắm, cũng xẩy ra hiện tượng đó. Tại khắp nơi, các đám dông dầy đặc hối hả, điên sợ chạy về phía biên thùy Liban mà không ý thức được rằng chẳng hề có ai truy kích họ.
Mọi sự đang tiến diễn như thế thì tới tháng năm, tháng mãn nhiệm kỳ ủy trị của người Anh tại Palestine.

0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.09.2015 08:50:07 bởi scpio>
4 - 5
 
TEL-AVIV, NGÀY 14 THÁNG 5. 1948
 
Các lãnh tụ “Trung ương” và của phong trào phục quốc Do-thái trên toàn thế giới nhóm họp trong tòa nhà của Mier Dizenff, kẻ sáng lập cũng là vị đô trưởng đầu tiên của Tel-Aviv. Ngoài đường, các quân canh trang bị tiểu liên phải khó khăn mới ngăn chặn được một đám đông đang lo âu chờ đợi.
Trên toàn thể thế giới, hàng triệu người dán sát tai vào máy phát thanh để chờ nghe những lời sắp được cất lên từ tòa nhà này. Một giọng trầm của xướng ngôn viên loan báo:
“Đây là Tiếng nói Israël. Chúng tôi vừa nhận được một văn kiện liên quan tới sự chấm dứt ủy trị của người Anh. Chúng tôi xin đọc...”
Một bản văn khô khan, kiểu cách, không một dấu vết xúc động nào. Rồi đột nhiên giọng xướng ngôn viên thay đổi hẳn:
“Xứ sở Israël là nơi của dân tộc Do-thái, là nơi đã đào tạo ra tính chất tinh thần, tôn giáo và dân tộc của Do-thái. Chính nơi này dân tộc Do-thái có thể hoàn tất được nền độc lập của mình mà sáng tạo ra một nền văn minh có tầm mức trên hoàn vũ. Chính tại nơi đây các nhà lãnh đạo chính trị và các bậc tiên tri của dân tộc Do-thái đã viết ra Thánh Kinh...
“Ngày hôm nay, chúng tôi long trọng tuyên cáo sự tái sinh của Quốc gia Do-thái ở Palestine, quốc gia sẽ mang tên gọi là Israël. Mở rộng cho tất cả những người Do-thái trên toàn thế giới, Quốc gia của chúng ta sẽ hoạt động, tranh đấu để thăng tiến tất cả nhân dân theo những nguyên tắc của tự do, hòa bình và công lý đã do các bậc tiên tri công bố tự xưa kia, trong bình đẳng hoàn toàn, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo, và trong niềm kính trọng chân thật Hiến chương của Liên Hiệp Quốc.
“... Chúng tôi kêu gọi tất cả các nhân dân Ả-rập ở Israël, chúng tôi mời họ nhận chỗ của mình trong công cuộc phát triển Quốc gia với tư cách công dân tự do trên căn bản đại diện dân chủ trong mọi cơ cấu tổ chức của Quốc gia Israël.
“Chúng tôi xin mở bàn tay thân hữu với tất cả những quốc gia láng giềng, những quốc gia mà chúng tôi hết sức mong mỏi được sống chung hòa bình.
“Xác tín niềm tin của chúng ta đối với Đấng Thượng đế Toàn năng, chúng tôi đã ký bản tuyên ngôn này, với sự chấp thuận của Quốc hội Lâm thời, trên đất nước của tổ quốc chúng ta, tại châu thành Tel-Aviv, ngày thứ năm tháng Yar năm năm ngàn lẻ tám tức là ngày 14 tháng 5 năm 1948 của lịch Ki-tô giáo”.
Trong các đường phố của Tel-Aviv vui mừng hân hoan, già trẻ nắm tay nhau nhẩy một điệu hora cuồng nhiệt. Họ không thể biết rằng cũng vào giờ đó, các oanh tạc cơ Ai-cập đã cất cánh để tới tiêu hủy các thành phố của họ và nhiều đạo quân Ả-rập đã vượt qua biên thùy.
Dân Do-thái phải một người chống lại trăm người. Mặc dầu thế...
Họ đẩy lui được quân Ả-rập đã tiến chiếm sa mạc Néguev. Họ chặn đứng được quân Syrie muốn biến hồ Tibériade thành một mare nostrum nội địa. Họ đánh bại quân Irak (nói cho thực, đạo quân này không muốn chiến đấu). Không lực của họ - lúc khởi đầu chỉ có hai chiếc Piper-Cub khốn khổ dùng vào việc tiếp tế cho các nông trường bị cô lập và ném những quả bom chế tạo thô sơ qua cửa sổ xuống đầu những toán quân không chính quy Ả-rập - đã bắn hư chiếc tuần dương hạm Ai-cập đang quay các khẩu đại pháo định bắn vào Tel-Aviv. Ngay cả đối với Liên đoàn Ả-rập vẫn chiếm đóng khu Do-thái ở Jérusalem, họ cũng cải thiện được các vị trí của mình. Bây giờ họ đã chiếm được nhiều vị trí chế ngự con đường duy nhất tiến vào thánh địa. Nhưng bất hạnh thay là khi rút quân, quân Anh đã trao lạio Liên đoàn Ả-rập đồn Latrun, một đồn đôn xây cất để chặn cứng lối vào hẻm núi Bab El Wad. Được xây cất chắc chắn, được bảo vệ bởi các Bédouin do Glubb Pacha[link=#p4_06_1](1)[/link] huấn luyện theo kiểu Anh, Latrun đã chống lại được tất cả các cuộc tấn công của Do-thái. Ít ra là tạm thời, Jérusalem vẫn bị cô lập.
Còn về hải quân Israël, gồm nhiều tầu trinh sát nhỏ chạy nhanh, đã đạt được một chiến thắng khá đẹp khi chiếm được chiếc tầu hơi Vesuvius, do người Syrie thuê để chuyên chở vũ khí từ Naples về Beyrouth. Chiếc tầu hơi này vừa nhổ neo thì một tầu nhỏ mang cờ Ý đuổi theo và yêu cầu ngừng lại. Hai mươi người mặc quân phục tiến lên tầu dưới quyền chỉ huy của một người cao lớn râu hung trông rất giống, giống kỳ lạ,với Barak Ben Canaan.
- Chúng tôi vừa nhận được tin có một trái bom nổ chậm đã được đặt dưới hầm tầu ông. Xin thuyền trưởng cho tập hợp tất cả thủy thủ đoàn, chúng tôi sẽ khám phá ra thủ phạm và tôi hứa thuyền trưởng là tên đó sẽ chỉ cho chúng ta chỗ giấu bom.
Các thủy thủ Ả-rập phải trình diện lần lượt từng người một trong một phòng khách được đặt dưới quyền xử dụng của ông “cẩm Ý-đại-lợi”. Việc thẩm vấn kéo dài khá lâu để đủ cho chiếc tầu (mà thuyền trưởng gốc Naples là đồng lõa) ra khỏi hải phận nước Ý. Khi ấy, các cán bộ của Mossad, súng lục cầm tay, nhốt luôn thủy thủ đoàn cùng viên sĩ quan Syrie đi cùng. Chiếc tầu nhỏ trở về bờ, nhưng vài giờ sau, còn cách hải phận Palestine khá xa, quân Do-thái bắt thủy thủ đoàn xuống ca nô, cho viên hạm phó một bản đồ và địa bàn rồi cắt dây luôn. Hai mươi bốn giờ nữa, hai chiếc tầu nhỏ chạy nhanh mang hiệu cờ cướp biển truyền thống - một sọ người trên hai chiếc xương tréo - áp vào hai sườn chiếc tầu hơi, chuyển vũ khí sang cùng với toàn thể cán bộ của Mossad, rồi tiến về cảng Haïfa. Còn chiếc tầu hơi, bình tĩnh trở lại Naples để viên hạm trưởng chạy vội vào Cơ quan Phụ trách Hải vận khai rằng thủy thủ đoàn đã nổi loạn và bỏ tầu trốn đi.
 
Ari được lệnh gọi tới Tổng hành dinh đặt tại Tel-Aviv.
Tòa nhà được dùng làm Tổng hành dinh, trước được dùng làm nhà cho các gia đình thuê lại từng căn, chưa chi đã có vẻ là một Bộ Quốc Phòng thực sự. Trên mái, phất phơ bay lá cờ ngôi sao David, trước lối vào, tại tiền sảnh và các hành lang đều có các quân sĩ mặc quân phục của quân lực mới cầm tiểu liên đứng gác. Ari đi qua các phòng trong đó các cuộc hành quân được trình bầy tiến diễn theo từng giờ trên những tấm bản đồ vĩ đại trên tường. Chàng đi qua trung tâm truyền tin, nơi các máy vô tuyến và điện thoại liên lạc với tất cả các đơn vị, các phòng tuyến và nông trường trên toàn quốc. Mọi người đã xa vời Tổng hành dinh cũ của Haganah chỉ gồm có một cái bàn, vài hồ sơ và khả năng chuyên môn là dọn trụ sở cấp tốc.
Chàng được Avidan tiếp - bây giờ ông đã nhường quyền chỉ huy các đơn vị cho các sĩ quan trẻ hơn để đảm nhiệm việc liên lạc giữa quân lực và chính phủ. Avidan tiếp chàng vui vẻ nồng nhiệt.
- Bác rất mừng các gặp cháu. Mọi sự có thay đổi từ một năm nay, cháu thấy không? Về phần bác, bác chưa sao quen được. Lắm lúc bác vểnh tai nghe tiếng chân người ngoài hành lang mà tưởng như quân Anh trở lại và sắp ném bác vào tù ngồi.
- Tin tức mới có tốt không bác?
- Tốt và không tốt. Vấn đề lớn vẫn là Jérusalem, hay nói cho chính xác hơn, vấn đề đồn Latrun. Sau hết... bác cho gọi cháu về đây để yêu cầu cháu quét sạch cho xong vùng của cháu. Điều đó có nghĩa trên thực tế là cháu phải chiếm đồn Esther.
Ari lắc đầu:
- Cháu không thể làm được ngày nào chưa có pháo binh. Cháu đã báo cáo cho bác hay như thế rồi, cách đây không lâu. Cháu cần có ít nhất ba hay bốn khẩu Davidka.
- Đòi thế thì chẳng khác đòi bác cung cấp các thoi vàng khối. Cháu muốn bác lấy những khẩu súng đó từ đâu bây giờ? Bác sẽ cố xoay cho cháu một khẩu thôi...
Avidan đứng dậy đi đi lại lại trong phòng.
- Không phải bác chỉ muốn nói với cháu về đồn Esther mà thôi. Từ mười lăm ngày nay, cháu đã nhận được lệnh chiếm Abou Yesha. Thế mà tới giờ cháu phớt lạnh lệnh này.
Ari cứng người lại, phản đối:
- Với tư cách khu trưởng, cháu có thẩm quyền hơn bất cứ ai để xem xét một cuộc hành quân có là cần thiết này không.
- Thôi... thôi... giữa bác với cháu, chúng ta biết nhau quá kỹ để chơi trò ú tim. Bác biết tại sao cháu do dự chiếm làng đó.
- Nhưng dân làng Abou Yesha - cháu quen biết họ từ hồi nhỏ. Cháu đã đi dự đám cưới đám tang của họ. Người Do-thái chúng ta đã giúp họ xây dựng nhà cửa, và họ đã tặng chúng ta đất đai... Bác hãy tin ở cháu, họ không phải là kẻ thù của chúng ta, mà chỉ là những người nông dân chất phác chỉ muốn yên phận sống trong hòa bình mà thôi.
- Bác không đồng ý với cháu. Có những làng Ả-rập từ chối không chịu cho quân Ả-rập trú ngụ. Nhưng đó không phải là trường hợp của Abou Yesha. Những kẻ mà cháu vừa hăng hái bào chữa đó đã đứng về phía chống lại chúng ta. Làng họ đã trở thành căn cứ của địch. Bác ra lệnh cho cháu phải tiêu diệt căn cứ này. Chờ đã nào, bác chưa nói hết. Cháu Ari ạ, từ mười lăm tuổi cháu đã chiến đấu rất đẹp. Chưa một lần nào bác có dịp khiển trách cháu về bất cứ một bất phục tòng nào. Và bây giờ...
Ari tái mặt. Nét mặt căng thẳng, chàng buông mình xuống một chiếc ghế, nói nhỏ:
- Tuân lệnh. Cháu sẽ làm điều gì bác bảo.
- Cháu liên lạc với phòng hành quân. Bây giờ làm ngay đi.
Ari đứng dậy, tiến về phía cửa. Avidan nói:
- Suýt nữa bác quên... Kể từ ngày hôm nay, cháu là đại tá Ben Canaan.
Ari thốt lên một tiếng cười ngắn ngủi, không vui. Avidan nói:
- Cháu, bác rất tiếc, quả thực là bác rất tiếc.
Việc chiếm đồn Esther thật quá dễ dàng dù Ari chỉ có mỗi một khẩu Davidka. Ngược lại, yếu tố bất ngờ tác dụng tối đa: đa số quân Ả-rập trong đồn ngày hôm đó đã phân tán rải rác ở các làng chung quanh. Nhóm quân còn lại trong đồn, chừng một trăm người, khẩu Davidka vừa mới bắn tung cửa thép của đồn, đã vội vã đầu hàng.
Dân làng Abou Yesha nghe thấy các tiếng nổ và biết rằng sắp đến lượt họ. Ari cử một sứ giả tới làng: dân làng có hai mươi phút để rời làng, nếu không sẽ bị giết chết tại chỗ. Đứng từ trên một đồi cao, Ari nhìn những bạn bè từ thuở thiếu thời chồng chất nồi niêu quần áo lên xe lửa, ra đi hướng về phía biên thùy. Quang cảnh này làm chàng đau đớn.
Sau một giờ, David lại kiếm chàng.
- Anh Ari, hạn kỳ anh cho họ đã chấm dứt từ lâu rồi.
- Hãy cho họ thêm một khoảng thời gian nữa.
- Những kẻ nào muốn đi đã đi rồi. Chỉ còn lại Taha và chừng một trăm kẻ điên rồ nữa tưởng rằng có thể đánh lui chúng ta. Anh Ari, anh phải cho lệnh tấn công đi thôi.
Ari quay đi, bước ra xa vài bước. David bước theo.
- Anh có muốn tôi chỉ huy thay thế cho anh không?
- Muốn chứ. Cám ơn chú.
Taha và những “kẻ điên rồ” chống cự can đảm nhưng trong tuyệt vọng. Phải mang cả Davidka đến lúc đó mới diệt được những ổ kháng cự sau cùng. Ngồi gục trên đỉnh đồi, Ari muốn bịt hai tai lại để khỏi nghe thấy tiếng đạn nổ, những căn nhà xụp đổ tan tành. Đêm xuống, David trở lại gặp chàng.
- Xong rồi anh. Bên phía Ả-rập không còn ai sống sót. Chúng ta thiệt hại nặng... mười bốn nam và ba nữ. Thêm chừng chục người bị thương nữa.
Ari nói nhỏ:
- Những dân làng khốn khổ ấy sẽ ra sao? Họ đi đâu... Kiếm ăn bằng gì?
Ari đứng dậy. David nắm lấy cánh tay bạn.
- Xin anh đừng đi về phía đó làm gì. Không ích gì.
- Chú hãy cho tôi biết... căn nhà nhỏ trắng, gần suối...
- Anh hãy cố giữ lấy hình ảnh căn nhà đó ngày xưa.
Đột nhiên Ari vùng ra. Chàng ném một cái nhìn xuống các mái nhà làng, nói bằng một giọng không âm sắc.
- Chú xuống làng nữa đi. Phải thanh toán cho xong. Phải phá hủy Abou Yesha.
0
4 - 6
 
David thức giấc. Chàng đã thiếp ngủ đi trong vòng tay Jordana. Khi chàng rón rén đẩy chăn ra, Jordana mở mắt ra. Chàng hỏi:
- Sao em không ngủ tiếp đi?
- Em sẽ có thừa thì giờ để ngủ khi xa anh.
Dịu dàng âu yếm, David cúi xuống nàng, thì thào:
- Anh yêu em... Nhưng anh vẫn phải ra đi như thường. Bác Avidan đang chờ anh.
Một giờ sau, Avidan đưa thiếu tá David vào văn phòng thiếu tướng Ben Zion, trưởng khối hành quân.
- Rất vui sướng được biết thiếu tá. Hình như thiếu tá có một đề án hay muốn trình bày cùng chúng tôi.
- Vâng, thưa thiếu tướng. Vấn đề Jérusalem. Thiếu tướng cũng biết như tôi tình hình bi thảm đến mức nào rồi. Kể từ khi các trạm bơm nước bị phá hủy, dân ta cùng quân sĩ chỉ sống được nhờ ở các hầm chứa nước của Salomon, một thứ nước cũ đến hai ngàn năm. Mọi sự như vậy là tại đồn Latrun do quân Ả-rập chiếm đã ngăn cản chúng ta tiếp tế.
- Thiếu tá chẳng cho tôi biết thêm được gì mới lạ. Latrun là vấn đề số 1 của chúng ta hiện giờ.
David nói tiếp:
- Tôi biết rõ vùng Latrun như biết nhà tôi vậy. Tôi say mê khảo cổ và vì thế tôi đã thăm viếng vùng đó tới cả trăm lần. Từ nhiều tháng nay, tôi suy nghĩ nhớ lại từng thước đất ở vùng ấy và đã đi đến kết luận sau: ta có thể đi vòng quanh đồn Latrun.
Zion ngạc nhiên nhắc lại:
- Đi vòng quanh. Thiếu tá muốn nói gì vậy?
- Lấy đường lộ làm chuẩn, nếu vạch một nửa vòng tròn quanh tâm điểm là Latrun, thiếu tướng sẽ thấy một lộ trình dài là 16 cây số.
- Rồi sao nữa? Mười sáu cây số này chỉ là một đường vạch trên bản đồ thôi. Không hề có một con đường nào và các đồi núi thì lởm chởm thẳng đứng...
- Chính vấn đề là ở chỗ này, thưa thiếu tướng. Có một con đường. Một phần của đường này là một con đường cổ xưa có từ thời đế quốc La-mã. Một con đường xưa đến hai mươi thế kỷ, bị cây cối đá vụn phủ kín, nhưng vẫn là một con đường. Đường này băng qua các đường trên một chiều dài là 8 cây số. Và tôi biết rõ là 8 cây số còn lại còn xử dụng được.
Mọi người im lặng. Avidan và Zion đưa mắt hỏi nhau rồi Avidan nói:
- Cứ cho là có con đường này đi. Và cứ cho là chú có thể kiếm lại được nó đi. Như vậy thì chúng ta tiến thêm được gì không? Tôi vẫn chưa trông thấy dự án hấp dẫn của chú đâu hết.
- Tôi đề nghị chúng ta sẽ làm một con đường mới trên con đường La-mã cũ. Như vậy chúng ta sẽ đi vòng quanh được Latrun và tiết kiệm được trận công đồn chắc chắn là đắt giá.
Ben Zion mỉa mai:
- Thế bộ thiếu tá thực hiện được công cuộc đó trước mũi Liên đoàn Ả-rập được sao?
- Tại sao lại không? Tất cả những gì chúng ta đang cần, đó là một con đường đủ rộng để cho một xe cam-nhông qua được. Với hai đoàn nhân công, một xuất phát từ Jérusalem, một từ Tel-Aviv, đường sẽ làm xong trong vòng một tháng. Còn về Liên đoàn Ả-rập, ai cũng biết là Glubb Pacha không dám đem thí liều trong một trận đánh dàn trận với chúng ta. Ông ta thích giữ quân tử thủ sau tường đồn Latrun hơn.
Một lần nữa Avidan và Ben Zion lại nhìn nhau. Anh chàng thiếu tá trẻ tuổi này có vẻ tự tin lắm... Ben Zion hỏi:
- Bây giờ thiếu tá cần gì?
- Một chiếc jeep, trong một đêm. Sau đó tôi sẽ làm tờ trình sau.
Ben Zion vẫn còn ngần ngừ khi có tiếng gõ cửa. Một trung úy đem công điện vào. Ben Zion cầm lấy, đọc lướt qua, mặt tái lại. Không nói một tiếng, ông đưa tờ giấy lại cho Avidan. Viên chiến sĩ già giật mình.
- Cổ thành đầu hàng rồi.
Ben Zion nắm chặt tay lại, kêu lên:
- Nếu chúng ta mất Jérusalem, chúng ta sẽ mất cả Quốc gia Do-thái. Rồi, thiếu tá Ben Ami, thiếu tá đi lựa một chiếc jeep nhanh lên.
 
Chừng mười ngày sau khi thành lập các công trường làm “một con đường Diến-điện mới”[link=#p4_06_2](2)[/link] để đi bọc quanh được đồn Latrun, điện thoại viên tổng đài Gan Dafna khẩn cấp gọi bà Katherine Fremont. Kitty cầm điện thoại lên nghe rất lâu, đặt vài câu hỏi rồi gác máy. Rồi đi từng bước chậm chạp, Kitty đi về phía văn phòng chỉ huy của Jordana.
Jordana ngửng đầu lên và mỉm cười với nàng. Nhưng trước vẻ mặt buồn của Kitty, nụ cười của Jordana im lặng.
Sau cùng, Jordana tìm thấy đủ can đảm để cất tiếng.
- Anh David chết rồi phải không chị?
- Đúng thế...
- Cái gì đã xẩy đến cho anh ấy?
- Anh Ari vừa gọi điện thoại cho tôi. Hình như anh David đã thành lập một nhóm xung kích gồm các Palmachnik và Macchabée. Dĩ nhiên là anh đã hành động không có sự chấp thuận của thượng cấp. Tôi đoán là anh không chống lại nổi với sự quyến rũ của các bức tường cũ của Cổ thành. Nhóm của anh đã tấn công để lấy lại... họ đã thành công trong công việc chiếm lại được ngọn Zion, nhưng đó chỉ là một chiến công tuyệt vọng, một nhiệm vụ tự sát.
Im lìm, Jordana như hóa đá. Kitty thì thào:
- Liệu tôi có thể làm được gì bây giờ? Tôi không còn biết nói gì...
Người con gái sabra đứng dậy. Đầu ngẩng cao, nàng nhìn Kitty, nói bằng một giọng mạnh mẽ:
- Chị khỏi phải lo cho tôi.
Không ai được trông thấy nàng nhỏ một giọt nước mắt.
Một tháng đúng sau ngày khám phá ra con đường La-mã xưa, con đường chạy bọc đồn Latrun đã hoàn tất. Ngay đêm đó, một đoàn xe đầu tiên đã tới được đô thị Thánh. Cuộc vây hãm Jérusalem kể như đã chấm dứt.
 
__________
 
Chú thích:
 
[link=#n4_06_1](1)[/link] Glubb Pacha: một sĩ quan Anh, làm cố vấn, huấn luyện rồi sau chỉ huy luôn Liên đoàn Ả-rập, tên thật la Sir Jir John Bagot.
[link=#n4_06_2](2)[/link] Con đường Diến Điện: trong đệ nhị thế chiến, quân Nhật chiếm hết miền duyên hải Trung hoa, dồn quân lực Trung hoa vào nội địa, chiếm cứ Đông dương, cắt hết đường tiếp vận của Trung quốc. Để tiếp vận cho quân lực Tưởng giới Thạch, bên Đồng minh phải làm một con đường đi từ Miến điện sang tới Trùng khánh, thủ đô lâm thời của Trung quốc. Con đường này làm rất công phu, có nhiều đoạn chạy toàn trên các đỉnh núi hoang vu.
0
4-7
 
Sau khi người Do-thái đã thành công trong việc chận đứng được xâm lăng của các đạo quân Ả-rập, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc bắt hai bên chấp nhận một cuộc ngưng chiến tạm thời. Nói thực ra, cả hai bên đều mong có ngưng chiến này. Bên Ả-rập, tủi nhục vì các thất trận liên tiếp, muốn lợi dụng ngưng chiến để tổ chức lại lực lượng. Bên Do-thái, để kiếm thêm vũ khí và gia tăng tiềm năng tấn công.
Dẫu sao, ở ngay bên trong Bộ tư lệnh tối cao của Israël, còn có nhiều khó khăn. Quyền hành của chính phủ lâm thời đối với Palmach, Macchabée và Chính thống giáo cực đoan vẫn còn bấp bênh lắm. Nhưng Palmach còn hiểu được vài lý lẽ: các lữ đoàn của Palmach bị đe là sẽ bị loại trừ ra khỏi lực lượng xung kích nếu họ cứ tiếp tục bàn cãi lệnh thượng cấp nên sau cùng đã chịu sát nhập vào quân lực. Các Macchabée cũng chịu đưa các đơn vị đặc công của họ vào quân lực chính quy với điều kiện là được duy trì các cấp chỉ huy cũ. Bướng bỉnh bất trị nhất là các Chính thống giáo, rất cuồng đạo, hiểu các lời trong kinh thánh một cách máy móc, nhất định ngoan cố chờ Đấng Cứu thế tới.
Nhưng dù thế nào, sự thống nhất tối cần thiết cho quân lực sắp sửa hoàn tất thì một biến cố thê thảm làm vấn đề phải đặt lại. Ở Hoa-kỳ, các cảm tình viên của Macchabée đã thu thập được một số lượng vũ khí tối tân và đã mua một máy bay chở hàng đặt tên là Akiba. Đồng thời, hàng trăm thanh niên tình nguyện cũng chuẩn bị lên đường tới với các tiểu đoàn Macchabée. Các điều kiện đình chiến dĩ nhiên là cấm cả hai bên tăng viện rồi, nhưng cả Ả-rập lẫn Do-thái đều coi nhẹ điều khoản này, cùng nỗ lực một cách bí mật nhiều hay ít để củng cố các vị trí của mình.
Được các điệp viên bên Âu châu báo cho biết, chính phủ Israël đòi chiếc Akiba cùng mọi vũ khí do máy bay này chuyên chở phải được đặt dưới quyền chính phủ: xét cho cùng thì các Macchabée cũng thuộc về quân lực. Các Macchabée không chịu, viện lý là theo những người tặng thì các vũ khí này đặc biệt chỉ gửi tới cho các đơn vị của họ mà thôi. Chính phủ liền viện lý mình là kẻ thích ứng hơn ai hết để đưa các vũ khí ấy nhập nội bí mật theo một cách thế như thể nào để bề ngoài vẫ giữ được vẻ tôn trọng các điều khoản ngưng chiến. Ngay lập tức, các Macchabée trả lời là họ độc lập với cơ quan lãnh đạo trung ương và không hề muốn tôn trọng ngưng chiến. Mỗi ngày qua, cuộc tranh luận lại càng trở thành cay độc hơn.
Trong thời gian đó, Akiba đã cất cánh. Chính phủ, dù biết rằng mình rồi cũng được xử dụng vũ khí cùng các thanh niên tình nguyện do phi cơ này chuyên chở, cũng vẫn phải yêu cầu các Macchabée hủy bỏ chuyến bay đó. Vụ này đã lộ ra ngoài, và việc phi cơ này đáp xuống lãnh thổ Palestine sẽ là một vi phạm trắng trợn đình chiến. Như ta có thể đoán biết trước, các Macchabée không thèm nghe lời.
Phi trường mà chiếc Akiba sẽ hạ cánh hôm đó lại có nhiều quan khách: các viên chức cao cấp của Israël, các lãnh tụ của Macchabée, các quan sát viên của Liên Hiệp Quốc. Chính phủ cho gửi tới phi công lời cảnh cáo chót qua vô tuyến điện: Phải quay lại, không được đáp xuống Palestine. Phi công không chịu nghe, các khu trục liền được lệnh cất cánh: chiếc Akiba bị chặn đường, bắn hạ.
Vài trận đánh dữ dội liền xẩy ra giữa lực lượng chính phủ và lực lượng Macchabée. Sau cùng, các lãnh tụ Macchabée liền rút các đơn vị của mình ra khỏi quân đội. Xét cho cùng, thảm kịch này thanh lọc được một bầu khí đã trở thành quá khó thở. Dưới chế độ ủy trị, các Macchabée đã đóng góp rất nhiều vào việc làm cho quân Anh phát ngán xứ Palestine. Nhưng bây giờ người Anh đã đi rồi, chiến thuật khủng bố vô giới hạn đã mất đối tượng. Đồng thời các Macchabée lại tỏ ra không sao chấp nhận được kỷ luật tối cần thiết khi hành quân. Mặc dù đã chứng tỏ được một lòng can trường đáng kính phục và một hy sinh tuyệt đối, họ lại tỏ ra phản động với bất cứ một quyền bính nào không phát xuất từ các cấp chỉ huy của họ. Bởi thế sau vụ Akiba, họ thu mình vào trong một cách cô đơn gầm gừ, tạo thành một nhóm cực đoan chỉ biết tới có một giáo điều: đó là bạo lực tàn nhẫn, giải pháp duy nhất cho tất cả mọi vấn đề.
 Trong thời gian này, những người hòa giải của Liên Hiệp Quốc, bá tước Bernadotte và người Hoa-kỳ phụ tá là Ralph Bunche, cố gắng một cách tuyệt vọng để hòa giải Do-thái, Ả-rập. Nhưng vô ích: bốn tuần lễ thương thuyết không thể nào xóa bỏ được ba mươi năm hận thù chồng chất. Sau cùng, người Ả-rập lại khởi chiến không cần đợi đến khi hết hạn kỳ đình chiến.
Về phía Ả-rập đây là một lầm lẫn ghê gớm bởi vì quân Israël phản công ngay lập tức. Sau khi đã làm các chuyên viên quân sự trên toàn thế giới ngạc nhiên về khả năng kháng cự, lần này Do-thái làm mọi người sững sờ trước sự tấn công chớp nhoáng của họ.
Để mở đầu, không lực Israël oanh tạc Le Caire, Damas và Amman để làm cho người Ả-rập hiểu rằng tốt nhất đừng có nên gửi phi cơ bay tới vòm trời Tel-Aviv và Jérusalem nữa. Một cảnh cáo thật là minh bạch lắm bởi vì từ đó không gian trên các thành phố Do-thái vắng bóng phi cơ địch. Trên bộ, các kibboutz vùng Ein Gev, sau khi đã chống lại một cuộc vây hãm trong nhiều tháng, đã đẩy lui được quân Syrie và chiếm lại được bờ bên phía Israël của hồ Tibériade. Tại vùng Trung Galilée, Ari Ben Canaan dẹp tan được quân không chính qui của mufti và chiếm được Nazareth, vị trí then chốt của tỉnh. Trong miền “hành lang” của Jérusalem, lữ đoàn 2 của Palmach mở rộng thêm được phòng tuyến và tiến về phía Bethléem. Trong thung lũng Sharon, các lực lượng Do-thái, xử dụng hàng trăm xe jeep, đã chiếm được các thành phố thuần Ả-rập là Lydda và Ramle, những đồn địch nằm trên đường về Jérusalem, chiếm phi trường Lydda, đẩy lui quân đội Irak, mở một gọng kìm để bao vây Latrun.
Tới lúc đó quân Ả-rập, hoảng sợ vì cả loạt thảm bại trong vòng mười ngày, khẩn thiết kêu gọi đình chiến lần thứ hai.
Lần này Bernadotte và Bunche ít nhất cũng có một lý do để hy vọng. Vua Transjordanie là Abdullah đã hiểu gió thổi về chiều nào rồi. Sau khi hòa đàm mật với chính phủ Do-thái, ông chấp nhận giữ Liên đoàn Ả-rập đứng ngoài cuộc chiến, và nhờ thế quân lực Do-thái mới có thể tập trung chống lại Ai-cập. Để đổi lại, bên Israël cam kết sẽ không tấn công các vị trí của Liên đoàn trong cổ thành của Jérusalem và ở Samarie. Thỏa hiệp này có chấm dứt huyền thoại được duy trì cẩn thận cho tới giờ là liên minh “cho tới chiến thắng sau cùng” của các quốc gia Ả-rập. Xẩy ra sau đó nhiều vụ biện giải đầy sóng gió, nhiều lời kết tội tàn tệ, chửi rủa, bôi nhọ khôi hài kỳ cục. Sau cùng Abdullah bị các tín đồ Hồi giáo cực đoan bắn hạ khi ông rời khỏi giáo đường Omar trong Cổ thành. Một lần nữa các chính trị gia Ả-rập lại dùng đến các phương pháp họ ưa thích, đó là âm mưu và ám sát.
 
Bây giờ quân lực Israël đã được tập trung lại, có thể dồn hết sức mạnh của mình để chống lại Ai-cập. Trong những ngày đầu của chiến dịch, quân lực Israël chiếm được trong sa mạc Néguev pháo lũy quan trọng Suweïdan mà địch đã xử dụng từ bao nhiêu tháng nay để đe dọa những dân khai hoang sa mạc. Xa hơn một chút, tại Faloujah, một “cái túi” Ai-cập, đã được quân lực Do-thái bỏ qua không đánh chiếm vì còn vội tiến nhanh khai thác chiến thắng. Đạo quân Ai-cập đồn trú tại điểm này sau đó đã rút được đi nhân một dịp ngưng chiến. Trong những sĩ quan của đạo quân Faloujah, có một đại úy trẻ tuổi sau này sẽ giữ vai trò chính yếu trong vụ truất phế vua Farouk, đó là đại úy Gamal Abdel Nasser.
Một vài giờ trước khi có “ngưng bắn” cục bộ này, tuần dương hạm Farouk, niềm kiêu hãnh của hải quân Ai-cập, đã định pháo kích một vị trí của Israël. Nhưng chính chiến hạm này lại lãnh đủ: ngay lập tức, một tiểu đĩnh chở đầy chất nổ, bánh lại chặn cứng, phóng hết tốc lực lao vào nổ tung đánh chìm luôn chiếc Farouk.
 
Mùa thu 1948, bằng một trận đánh bất ngờ, quân Israël chiếm được thành phố được phòng vệ rất kỹ là Beersheba. Muốn tránh một cuộc tấn công chính diện chắc chắn tổn thất nhiều, quân Israël đã mượn một con đường khuất nẻo có từ thời Abraham để bọc ra phía sau pháo lũy Ai-cập. Bị đánh bọc hậu, các chiến binh anh dũng của Farouk vứt vũ khí để chạy nhanh hơn.
Đến đây là mạnh ai người ấy chạy. Lao về phía trước truy kích quân Ai-cập, quân Israël để dải đất Gaza ở lại phía sau không đánh, tiến luôn vào Sinaï, băng qua bán đảo này, tiến gần đến kênh Suez. Lo sợ cho con kênh, người Anh yêu cầu Tel-Aviv ngưng ngay các cuộc hành quân lại, và để nhấn mạnh sự khẩn thiết của đòi hỏi này, quân Anh cho ngay một phi đội khu trục Spitfire bắn xuống các tiền quân của Israël. Vụ này gần như một biểu tượng: những phát đạn sau cùng của chiến tranh. Giải phóng của Do-thái là nhằm vào người Anh. Không lực Israël liền bắn hạ sáu phi cơ Anh, rồi sau đó cái Quốc gia trẻ trung này, nhượng bộ trước áp lực quốc tế, đành chấp nhận để tàn quân Ai-cập tẩu thoát về châu thổ sông Nil. Những tàn quân này đã lợi dụng cơ hội đó để tập họp lại, và với một sự can đảm không mấy có ngoài chiến trường, họ dám tổ chức một “Diễn binh Chiến thắng” vĩ đại ở Le Caire!
Israël đã chiến thắng! Một mình chống lại cả một liên minh các kẻ địch, dân tộc Do-thái, sau khi trả giá bằng máu và nước mắt, đã hoàn toàn chinh phục dứt khoát được xứ sở mà lương tâm toàn thế giới đã phân phối một cách hợp pháp cho họ. Lá cờ Ngôi sao David, sau khi hai ngàn năm khuất bóng, lại phất phơ bay từ Hồng hải tới Địa trung hải.
 
Trong những hậu quả không thể tránh được của chiến tranh là thảm kịch những người tị nạn Ả-rập tìm nơi ẩn trú nương thân ở các nước láng giềng. Các cuộc thảo luận về vận mạng của các kẻ đáng thương này chưa chi đã sa lầy ngay vào sự hỗn độn đạo đức giả, quốc gia chủ nghĩa mù quáng, quyền lợi phe đảng cùng các toan tính bẩn thỉu - cả một trái bom nổ chậm mà Liên Hiệp Quốc cố gắng gỡ ngòi một cách vô ích.
Barak Ben Canaan, được chính phủ trao phó việc lập một tờ trình về tình hình có vẻ không lối thoát này, đã viết như sau trong phần kết luận của bản văn:
“Vấn đề do các dân Ả-rập tị nạn của Palestine đặt ra đã trở thành vũ khí chính trị chính của các quốc gia Ả-rập. Họ không bỏ sót một điều gì không làm để mô tả cảnh khổ của những nạn nhân chiến tranh này, và họ cũng không từ một điều gì không làm để ngăn cản tất cả mọi giải pháp giải quyết cho những kẻ khốn khổ đó. Người Ả-rập muốn các trại tị nạn tồn tại và tiếp tục tồn tại để chứng tỏ với thế giới sự độc ác của những người Do-thái. Chắc chắn là nhiều quan khách tới viếng các trại đó đều xúc động vì bao nỗi khốn cùng của các nơi này.
“Vậy mà chính những người Ả-rập đã tạo ra vấn đề này: tháng 11-1947, ngay khi Liên Hiệp Quốc đã biểu quyết chia cắt Palestine, các nhà cầm quyền Do-thái đã không ngừng yêu cầu các dân Hồi giáo Palestine hãy bình tĩnh, giữ một thái độ thân hữu cùng tôn trọng những quyền lợi hoàn toàn hợp pháp của người Do-thái. Sáu tháng sau, Quốc gia Israël, trong bản tuyên ngôn độc lập, đã long trọng đưa tay kết giao với các quốc gia Ả-rập láng giềng và vào ngay lúc chính các quốc gia này sắp sửa xâm phạm biên thùy Israël.
“Sự kiện nhiều ý nghĩa là: đa số những người Ả-rập Palestine đã chạy đi ngay trước khi có xâm lăng. Ở Jaffa, ở Haïfa, ở Galilée, hàng bao ngàn người Ả-rập đã lên đường tiến về biên giới trong khi những trận giao tranh chưa có gì là gay go, quan trọng.
“Nguyên nhân đầu tiên của hiện tượng này hiển nhiên là lòng sợ hãi. Trong mấy chục năm nay, một số lãnh tụ tham vọng và thiếu lương tâm của Ả-rập đã khai thác sự ngu dốt, mê tín cùng lòng cuồng đạo của các fellah, đã nhồi nhét vào đầu họ ý tưởng về một cuộc tàn sát tập thể. Chính thứ sợ hãi vô lý này đã đưa những người Ả-rập Palestine vào con đường lưu đầy. Sự sợ hãi này có thể biện minh bằng các sự kiện không? Chắc chắn là không. Ngoại trừ một trường hợp đặc biệt - một nhầm lẫn đáng tiếc đã gây ra một vụ tàn sát không tha thứ được - không có một làng Ả-rập trung lập nào lại bị quân Israël tấn công hay phải chịu một biện pháp khó khăn nào.
“Nguyên nhân thứ hai của tình trạng hiện tại - một nguyên nhân đã được nhiều tài liệu chứng tỏ là đúng - là sự khai thác bóc lột quá đáng mà các lãnh tụ Ả-rập đã làm và hiện còn đang làm. Các lãnh tụ này muốn thường dân Ả-rập rời khỏi Palestine. Trước hết bởi vì sự hiện diện của những thường dân này sẽ làm ngáng trở công cuộc dự trù là diệt chủng dân tộc Do-thái. Thứ hai bởi vì họ cần một phương tiện để minh chứng “xử sự phi nhân” của Do-thái, những kẻ đã cưỡng bách những kẻ khốn khổ đó phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn ra đi.
“Liên Hiệp Quốc đã thành lập một quỹ hai trăm triệu đô-la để tái lập nghiệp cho những người tị nạn của Palestine. Không hề thiếu đất mầu mỡ và thiếu dân trong mười triệu cây số vuông của thế giới Ả-rập. Miền thung lũng sông Tigre và Euphrate chẳng hạn, bao hàm nhiều vùng có thể nói là mầu mỡ nhất trong những vùng đất cần khai hoang. Trong lúc này, các vùng đó chỉ chứa một nhóm nhỏ bé Bédouin. Vùng thung lũng nói trên không thôi thừa sức nuôi mười triệu người, trong khi tổng số những người tị nạn mới có chừng nửa triệu.
“Một mặt khác, Israël, một xứ ít mầu mỡ rộng có mười ngàn cây số vuông mà thôi, mà một nửa là đất sa mạc, đã phải tiếp nhận nửa triệu người tị nạn Do-thái từ khắp các nước Ả-rập chạy về. Và chúng ta còn phải chuẩn bị tiếp nhận thêm từng ấy nữa...
“Các lãnh tụ Ả-rập quả quyết rằng Quốc gia Israël nuôi những tham vọng đế quốc. Tôi mong mỏi rằng mọi người sẽ cắt nghĩa cho tôi hiểu làm sao một quốc gia chưa có tới một triệu dân lại có thể theo đuổi một chính sách bành trướng lãnh thổ đối với 50 triệu dân khác được.
“Thực ra, toàn thể các dân tộc Ả-rập cần phải có một thế kỷ hòa bình. Và cũng cần phải có những lãnh tụ không phải là những cheik có hàng ngàn ngàn nô lệ, không phải là những kẻ cuồng đạo tù hãm trong các ý tưởng thời trung cổ, không phải là tập đoàn quân phiệt, mà là những người đủ can đảm, đủ sáng suốt để tấn công cái nghèo khó, sự ngu dốt và các bệnh tật địa phương. Nhưng bất hạnh thay, những người hiếm hoi thuộc thành phần này đều bị ám sát chết mỗi khi xuất hiện. Những lãnh tụ Ả-rập hiện nay không muốn giải quyết vấn đề dân tị nạn, và cũng chẳng hề muốn có hòa bình.”
 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.09.2015 12:44:29 bởi scpio>
5-2
 
Việc hồi hương làm tăng gấp đôi rồi gấp ba dân số Israël. Nền kinh tế quốc gia, đã bị thiệt hại nặng vì chiến tranh, đang lung lay vì làn sóng hồi hương. Rất nhiều dân hồi hương chẳng có gì hơn ngoài quần áo mang trên người, và không biết bao người chẳng có một chút học vấn nào. Mặc dù gánh nặng phải mang, không thể có vấn đề khước từ không cho một người Do-thái trở về đất tổ.
Tại khắp nơi, từ Galilée đến sa mạc Néguev, các làng toàn lều vải và các thị trấn bằng tôn làm xấu xí cả cảnh vật. Các cơ sở y tế, trường học, các tổ chức xã hội càng ngày càng tỏ ra thiếu hụt. Dầu vậy, không có gì làm giảm được niềm lạc quan cuồng nhiệt đang ngự trị từ đầu đến cuối xứ sở. Mỗi một ngày qua, lại có thêm các nông trường xuất hiện. Ở khắp mọi nơi, họ tấn công sa mạc với cùng thứ hăng hái nhiệt thành của các bậc tiên khu trước kia đã đối với các đầm lầy.
Trong các thành phố, tư bản Nam Phi, Nam Mỹ, Gia-nã-đại, đã thành lập các nền kỹ nghệ mới. Công cuộc tìm kiếm khoa học, tổ chức y tế, các trại thí nghiệm canh tác đã đạt tới mức độ có thể so sánh với các quốc gia Âu châu tiền tiến nhất. Mọi người xây cất các phi trường, các hải cảng, đường lộ, và mức sản xuất kỹ nghệ đã đạt tới mức độ đáng ngạc nhiên so với diện tích nhỏ bé của xứ sở. Mọi người lo xây cất nhiều nhất là nhà ở để có nơi trú ngụ cho không biết là bao nhiêu ngàn người hồi hương. Trong các vùng ngoại ô của Tel-Aviv, Haïfa, Tân Jérusalem, các nhà chọc trời hết sức tối tân bắt đầu vươn những hình dáng kỷ hà lên không trung. Tiếng búa hơi, tiếng máy đúc bê tông, máy hàn, hình như không lúc nào ngưng trên toàn cõi Israël.
Dầu vậy, đời sống vẫn còn đầy cực nhọc. Trong một xứ nghèo như vậy, đất đai cằn cỗi, một tiến bộ nhỏ bé đến đâu cũng đòi khá nhiều mồ hôi nước mắt. Thợ thuyền nhận những thời biểu làm việc nặng nề ghê gớm cho một số lương chẳng nghĩa lý gì. Tại các nông trường, việc khai hoang vẫn tiếp tục trong các điều kiện thật phi nhân. Thuế má đánh rất nặng vào mỗi cá nhân để lấy tiền cần thiết lập nghiệp cho một hay hai đồng bào hồi hương khác. Cuộc sống cam go và chịu đựng, trong một nỗ lực của cả tâm hồn lẫn thể xác, quốc gia tân lập này mới chinh phục được quyền sống.
Một công ty hàng không quốc gia gửi được phi cơ bay trên lộ trình khắp thế giới, một hàng hải thương thuyền mang cờ ngôi sao David ngang dọc trên mọi đại dương. Lòng cương nghị, ham hoạt động và hy sinh của dân tộc Israël đã làm toàn thể thế giới văn minh phải thán phục. Một quốc gia mà không ai làm việc chỉ cho lợi ích riêng tư, một xứ sở mà tất cả nỗ lực đều hướng về thế hệ tương lai, cho con cháu, cho lớp trẻ sabra chưa bao giờ phải chịu biết tới những tủi nhục làm người Do-thái, nhưng sẽ có cả ngàn lý do để hãnh diện về chủng tộc của mình.
Israël quả đã viết một chương tuyệt vời trong Lịch sử của Nhân loại.
 
Sa mạc Néguev chiếm một diện tích bằng một nửa lãnh thổ của Israël. Một khoảng không gian lớn hoang vu tiêu điều, ban ngày nhiệt độ lên tới 50 độ đã thiêu cháy đến cả những cao nguyên đá đen bất tận, những hẻm sâu chồng chất, những vách núi thẳng đứng. Không có tới một ngọn cỏ và loài diều hâu cũng chẳng dám bén mảng tới.
Chính trong sa mạc này đại tá Ari Ben Canaan đã tới cư ngụ kể từ khi chiến tranh chấm dứt. Đại tá tình nguyện đi khám phá vùng đất nằm ép giữa ba lân bang thù nghịch của Israël: Ai-cập, Jordanie và Arabie Séoudite.
Chàng bắt đầu bằng cách đưa quân mình băng qua một vùng núi đá mà rõ ràng là Đấng Chí tôn khi tạo ra đã không nghĩ đến việc dành cho vết chân người. Chàng hoàn tất những phương pháp huấn quân tàn nhẫn và khó khăn đến nỗi đa số quân lực hiện đại đều không dám bắt chước. Những phương pháp đã cho phép chàng đào tạo ra được những đơn vị được hãnh diện mang tên gọi là “dã thú Néguev”. Những quân sĩ này thù ghét sa mạc khi đang ở đó, nhưng lại mơ tưởng đến mỗi khi được về phép trong các thành phố. Mỗi người ít nhất cũng phải nhẩy dù hai mươi lần, làm các chuyến di hành một trăm cây số, và hoàn toàn nắm vững kỹ thuật cận chiến đã do các đoàn đặc công Anh nghĩ ra. Quân lực Israël không có phân phát Anh dũng bội tinh: sĩ quan hay binh sĩ mỗi người đều được coi can trường như các bạn đồng đội khác. Những kẻ nào trên tay áo mang phù hiệu của “dã thú Néguev” đều được mọi người kính nể hết sức đặc biệt.
Ari đã đặt Tổng hành dinh của binh chủng mình tại Elath. Nơi đây đã thành một thành phố nhỏ, có hệ thống ống dẫn nước uống, các cơ xưởng để khai thác lại những mỏ đồng thời xưa. Ở Elath, mọi người coi đại tá Ben Canaan như một con người kỳ lạ. Chàng không cười bao giờ và nét mặt nghiêm khắc của chàng chỉ đôi khi mới dịu xuống mà thôi. Mọi người đồn rằng một nỗi buồn nào đó đang gặm nhấm tim con người đại tá trẻ tuổi này.
Trong hai năm liền, chàng không chịu rời sa mạc lần nào.
Còn Kitty Fremont, nàng cũng lao mình vào công cuộc quốc gia là lo việc hồi hương và lập nghiệp cho những người Do-thái tản mác khắp thế giới trở về. Tổ chức các trung tâm tiếp đón thanh thiếu niên ở Aden, Bagdad, Ma-rốc, chiến đấu trong các trại tạm cư để giải thoát cho những nạn nhân sau cùng của Hitler, nàng đã hoàn tất cả một công việc vĩ đại. Toàn quốc Israël đều coi nàng như “Thân hữu”, tước hiệu mà từ trước tới giờ họ mới chỉ ban cho một người nữa thôi, đó là thiếu tá P.P. Malcolm, người đã sáng lập các đạo đặc công dạ chiến cho quân lực Israël. Bây giờ đã nói thạo hébreu, nàng đi thám sát thăm viếng các trung tâm thanh thiếu nhi khác, thành lập theo mẫu trung tâm Gan Dafna.
Thời gian càng qua nàng càng hay nhận thấy một hiện tượng vừa thích thú phấn khởi nhưng cũng vừa buồn bã cho nàng. Các con trai con gái nàng biết xưa kia ở Gan Dafna bây giờ đã lớn, lấy vợ lấy chồng cả, đến nỗi rằng nàng đã trông thấy các con cái của chúng trong các trong các trung tâm và trường học. Mười năm trước đây, Kitty đã giúp đỡ phong trào phục quốc Do-thái vượt qua giai đoạn tìm kiếm để đạt đến mức hoàn tất một hệ thống giáo dục mỗi ngày một hoàn thiện hơn cho phép đứa trẻ nẩy nở được cả về phương diện thể xác lẫn tinh thần. Bây giờ nàng ý thức được rằng nhiệm vụ của nàng đã xong. Cả Karen lẫn Israël đều là còn cần đến nàng nữ. Tâm hồn buồn bã, nàng quyết định sẽ trở về Hoa-kỳ, không còn nghĩ đến chuyện trở lại nữa.
 
 
5-3
 
Đến năm tám mươi ba tuổi, Barak Ben Canaan qui ẩn, trở về điền viên.
Sau cùng, ông đã có thể để hết ngày giờ săn sóc căn trại ở Yad El. Nếp sống yên lành này, ông đã ước mơ từ nửa thế kỷ rồi. Tuổi tác hầu như không ảnh hưởng gì đến thân hình to lớn, sức khỏe cùng trí óc sáng suốt của ông. Hạnh phúc của ông bên cạnh Sarah, sẽ là hoàn toàn nếu ông không buồn vì sự bất hạnh của Jordana và nỗi buồn của Ari. Jordana không sao nguôi được, không sao quên được cái chết của David Ben Ami. Sau khi đã sang du lịch Âu châu, phiêu lưu dăm ba cuộc tình duyên không mang lại gì hơn cho nàng là niềm chua chát, Jordana đã cắp sách đi học lại ở Jérusalem, hy vọng lấp đầy cuộc sống trống rỗng của mình bằng sách vở và học hành.
Còn về Ari, kẻ tự nguyện lưu đày trong sa mạc Néguev, Barak hiểu rõ lý do đó, nhưng ông không thể lôi kéo chàng trở về được.
Một ngày kia, bưu tín viên mang đến một thiếp mời đáng kể nhất: chính Ben Gourion tự tay viết lấy mời bạn cố tri Barak cùng vợ là Sarah đến dự trong khán đài danh dự buổi diễu binh kỷ niệm năm thứ ba của nền độc lập. Sarah nói:
- Tôi hy vọng ông sẽ nhận lời. Hơn nữa ông cũng nên làm vui lòng tôi bằng cách nhân dịp này đến khám bệnh ở một bác sĩ có khả năng. Những cơn đau dạ dày của ông gần đây, có lẽ chỉ cần một liều thuốc thường thôi cũng chữa được.
Buổi diễn binh trong Haija cờ xí rợp trời thật là tuyệt vời. Barak, đứng cạnh Ben Gourion, nhìn quân lực mới diễn ra, mỗi đơn vị đều có hiệu kỳ đi trước, y hệt các bộ tộc của Israël thời xưa. Các quân sĩ gốc Yemen đã quên được tình trạng bán nô lệ của mình xưa kia, các sabra kiêu hãnh và khỏe mạnh, các phi công Mỹ và Nam Phi, nhẩy dù đội mũ đỏ, lực lượng biên phòng, thiết giáp, pháo binh. Sau cùng, dưới tiếng gầm của các phi cơ khu trục, một đoàn quân râu rậm, mặt cháy nắng mặt trời, đơn vị đại diện cho binh chủng “Dã thú Néguev” đã diễn qua và giơ tay chào rất lâu thân phụ của vị chỉ huy binh chủng mình.
Hai ngày sau, vừa mới trở về Yad El, Barak bị một cơn ho dữ dội. Kiệt lực, ông ngồi rũ xuống ghế bành. Sarah trách:
- Ông phung phí sức quá đấy. Bao lễ lạc, diễn văn... ở tuổi ông, đâu có được. Để tôi pha cho ông một chén trà.
Nhưng khi bà vừa định quanh đi, Barak nắm lấy tay, kéo ngồi lên lòng mình. Ngửng đầu lên, Sarah ngạc nhiên khi thấy chồng tránh không nhìn mình. Bà lo lắng hỏi:
- Ông đã tới khám bác sĩ rồi chứ? Bác sĩ nói sao?
- Bà đã đoán đúng. Quả thực, tôi vẫn chưa học được cách nói dối bà.
- Tôi hứa sẽ hết sức bình tĩnh, hoàn toàn bình tĩnh...
- Được... Bà cần nhất là đừng có cuống lên... nhất là chính tôi, tôi cũng sẵng sàng... tôi đã ngờ là như thế từ lâu. Phải báo cho Jordana và Ari biết...
Sarah thốt lên một tiếng kêu.
- Có phải... không phải ung thư chứ?
- Đúng ung thư mình ạ.
- Thế... mình còn được bao lâu nữa?
- Một vài tháng... nhiều tháng thần tiên nữa, Sarah ạ.
Có thể nói là cơn bệnh như đột nhiên tàn phá hết ngay sức lực của ông già khổng lồ này. Trong có vài tuần, Barak chỉ còn da bọc xương, lưng còng, da xám xì, nhưng nhất định không chịu vào bệnh viện. Sarah đã đặt giường ông trước cửa sổ phòng khách để ông có thể ngắm qua các cánh đồng, những quả đồi biên thùy Liban. Ari trở về để gặp bố, đang nhìn bằng một cặp mắt buồn rầu làng Abou Yesha, mà không còn nữa.
- Shalom, bố. Con về ngay lập tức ngay khi có thể. Những thứ lẩm cẩm mẹ kể cho con là cái gì vậy bố. Y sĩ rất có thể nhầm...
- Không đâu con. Những con đừng có lo cho bố làm gì. Bố đã đủ già để bình tĩnh chấp nhận cái chết. Nói về con đi, tốt hơn. Mọi sự ra sao ở Néguev.
- Không được tốt đẹp cho lắm. Bọn Ai-cập đã thành lập các toán fedayeen - “quyết tử quân” - cho xâm nhập vào lãnh thổ chúng ta để cướp phá và ám sát.
- Mọi người cũng đã nói bố về chuyện đó. Nói cho thật, bố suy nghĩ nhiều nhất đến con mà thôi. Con hiểu chứ, đây là lần đầu tiên trên đời bố mới được thú không làm gì cả - nghĩa là có thể nghỉ ngơi được. Bố mới nhận rõ ra rằng bố đã không phải là một người cha tốt. Bố gần như bỏ rơi hai con, con và Jordana - bố dành cho các con quá ít thì giờ... không, đừng có cãi, Ari. Ngày hôm nay bố biết là chúng ta đã trả một giá quá cao cho nền độc lập của chúng ta. Chúng ta đã đào tạo con cái chúng ta thành một dòng Tarzan, chỉ mang lại cho con cái một cuộc đời đầy máu và nước mắt...
- Không có giá nào là quá cao cho Israël đâu bố. Dầu thế nào, đâu có phải bố đã lấy David của Jordana đi. Chết cho đất nước chúng ta vẫn hơn là chết như ông nội vì những hòn đá của một đám dân cuồng sát ào vào ghetto chứ?
- Dĩ nhiên là thế rồi... nhưng bố, bố trách bố về nỗi buồn con đang phải chịu. Này Ari, con có biết bây giờ Jordana đã trở thành bạn rất thân của Kitty Fremont rồi không?
Ari cố giữ khỏi giật mình. Chàng đứng dậy, với một vẻ lãnh đạm giả vờ vụng về đi đi lại lại trong phòng.
- Bố ạ, nghe con...
- Bố không có nghe con đâu. Sao con mù quáng giữa thế? Con không nhìn thấy trong mắt người thiếu phụ ấy, con không thấy Kitty cần đến con ra sao chăng? Có phải con chôn mình trong sa mạc để chinh phục nàng hơn phải không? Ari ạ, con đã chạy trốn như một tên ăn cắp, từ hai năm nay, con ẩn trốn. Cái gì ghê gớm đến nỗi đã làm con không chạy theo Kitty được, không cho con thú nhận là con yêu nàng, rồi con sẽ đến chết vì tình yêu nàng?
Ari cúi đầu.
- Một ngày nọ Kitty có nói với con là nàng chỉ yêu con với một điều kiện: con cần nàng đến độ quỳ xuống chân nàng mà cầu xin.
- Thế thì con hãy quì xuống cầu xin đi!
- Không thể làm được. Con đâu có được học quì học bò trước ai đâu. Bố không chịu hiểu là con không phải là người nàng ước mơ sao?
Barak thở dài:
- Trong trường hợp như thế, bố thương cho con lắm. Bố thành thật tiếc cho con lắm.
 
Ba ngày sau, mọi người chôn cất Barak Ben Canaan trên ngọn đồi Tel Hai, đúng nơi mà cách đây một nửa thế kỷ, ông và em là Akiba đã đặt bước chân đầu tiên lên xứ Palestine.
Mọi người đã mang di hài của Akiba về đây để ông yên nghỉ vĩnh viễn giữa những vệ quân khác, những kẻ đầu tiên đã cầm vũ khí chống lại dân Bédouin. Từ nhiều tuần lễ rồi, một cái huyệt bên cạnh Akiba đã được dành hẳn cho Barak. Hơi cách xa huyệt một chút, một mộ chí trên tạc hình sư tử ghi hàng chữ sau: “Hy sinh cho tổ quốc là một điều tốt đẹp”. Ari nhớ lại những lời nói chót của bố: “Tốt nhất là có được một tổ quốc để ta hy sinh”.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2015 11:39:59 bởi scpio>

 
 
5-4
 
Dov Landau đã tham dự vào những cuộc hành quân sau cùng chống lại quân Ai-cập. Chàng đã chiến đấu xuất sắc trong vùng lửa đạn nên đã được cấp bậc đại úy. Sau nhiều tháng ở với các Dã thú Néguev, chàng được tuyển cho theo học Viện Kỹ thuật Haija, chuyên về ngành nghiên cứu canh nông. Những người nào trước kia biết chàng ở Gan Dafna, bây giờ thấy sự biến đổi ở nơi chàng, phải cho là phép mầu. Vừa ham hoạt động, vừa dễ chia xẻ với các niềm bất hạnh của kẻ khác, Dov đã trở thành một thanh niên vui vẻ, lễ độ, một người bạn vừa dễ chịu vừa thông minh.
Rất đẹp trai, và mặc dù không được khỏe cho lắm, chàng cũng không để phí thì giờ để ngắm các cô gái đẹp. Đối với chàng, trên đời chỉ có một người yêu duy nhất: Karen Clement.
Karen cũng đã gia nhập quân đội. Bây giờ là một nữ điều dưỡng tốt nghiệp, nàng làm việc trong một bệnh viện ở thung lũng Sharon, và cứ rảnh thì giờ thì đến Jérusalem để sống với Kitty hoặc tới Haïfa để gặp Dov. Kitty sau cùng đã chịu hiểu rằng Karen, đã trở thành một thiếu nữ rất xinh đẹp, đã quá ăn sâu bén rễ ở Israël để có thể theo nàng về Hoa-kỳ. Nàng chịu nhận tình trạng đó, nhất là bây giờ nàng không quá cần đến sự hiện diện của Karen như xưa nữa. Hàng trăm đứa trẻ mà nàng đã săn sóc - “những đứa con của nàng” - như nàng thường nói, đã dần dần lấp kín khoảng trống mà xưa kia chỉ có một mình Karen mới có thể lấp đầy.
 
Để có thể đáp ứng với các cuộc tấn công của các fedayeen, Israël đành giải quyết bằng cách thiết lập dọc theo những vùng biên thùy bị đe dọa cả một hàng rào người. Israël cho thành lập các nông trường biên giới trong đó các thanh niên chí nguyện tới sống, làm việc và chiến đấu trong những điều kiện hết sức là gay go với một số lương có ba mươi đô-la một năm. Dầu vậy số thanh niên tình nguyện đi vẫn cao hơn số nhu cầu cần thiết.
Nông trường nguy hiểm nhất là kibboutz Nahal Midbar nằm trong dải đất Gaza, cách những trại tỵ nạn Ả-rập Palestine, nơi mộ các tay giết người của Ai-cập, có mười cây số. Kibboutz này do hai mươi hai thanh niên và mười sáu thiếu nữ thành lập, trong đó có nữ điều dưỡng Karen Clement.
 
Dov vừa mới vượt qua vòng rào của kibboutz Nahal Midbar, đã thấy Karen chạy ra đón, nàng vấp vào một tảng đá và chàng chỉ có đủ thì giờ mở vòng tay là nàng đã ngã vào lòng chàng.
Họ tay trong tay đi dạo dọc theo một con đường chạy ngoằn ngoèo trên cát. Karen ra dấu cho người đang canh, người này cười ra về. Ngay ở trong sa mạc đi nữa, những người yêu nhau cũng cần một tối thiểu cô đơn. Dov bắt đầu nói:
- Anh phải báo cho em hay một tin quan trọng. Một người đề nghị cho anh hoàn tất việc học tại Viện Kỹ thuật Massachusetts. Dĩ nhiên là anh chưa nhận. Hai năm xa cách, dài ghê gớm lắm. Anh phải bàn với em đã.
Karen, can đảm lắm, cố gắng mỉm cười.
- Hai năm, đâu có phải là lâu gì anh. Đối với sự nghiệp anh...
Dov ngắt lời:
- Vấn đề không phải ở chỗ đó. Anh sẽ không đi Mỹ hay bất cứ đâu mà không có em. Chúng ta sẽ lấy nhau, ngay lập tức. Dĩ nhiên là ở bên đó đời sống chẳng toàn mầu hồng đâu: mọi người chỉ cho một học bổng nghèo lắm, như vậy anh bắt buộc sẽ phải làm việc thêm, nhưng em cũng đi làm thì bọn mình sẽ sống được lắm.
Karen không trả lời ngay... nàng nói nho nhỏ:
- Bây giờ em chưa có thể đi được. Ở đây mọi người vừa mới bắt đầu xây cất những căn nhà đầu tiên. Các anh ấy phải làm việc hai mươi giờ một ngày... Mọi người đang cần đến em ở đây. Anh đi một mình đi, anh Dov! Em sẽ đợi anh mà, anh biết thế mà.
- Không đâu! Đổi cả thế giới, anh cũng không chịu sống hai năm xa em đâu. Hai ngày thôi không thấy em, anh đã không chịu nổi rồi.
Đột ngột, Dov ôm lấy Karen, hôn nàng như mưa và nàng hôn trả lại cuồng nhiệt không kém. Chưa chi các bàn tay của hai người đã lạc lõng trên thân thể nhau; họ quấn lấy nhau, buông thả dần cho nhau... Karen thở hổn hển nói:
- Vâng anh Dov! Bây giờ đi anh yêu...
Dov cố gỡ ra. Hai tay nắm lại, chàng đứng dậy:
- Bọn mình mất bình tĩnh rồi, Karen. Không nên như vậy... đừng khóc em, anh van em.
Karen nức nở:
- Chúng ta sẽ làm sao đây? Chúng ta sẽ trở thành sao đây, anh? Em không thể tiếp tục sống mãi như thế này được. Khi anh không có đây, em có cảm tưởng em không còn sống nữa và khi anh đến, cả hai đứa đều đau khổ... em cần có anh biết bao, cần đến muốn hét lên được, anh.
- Thế Karen tưởng anh sướng hơn sao? Đó là lỗi tại anh... nếu chúng ta không để bị lôi cuốn đi như thế...
- Nhưng em yêu anh mà, anh Dov. Em đâu có xấu hổ vì muốn hiến thân cho anh.
- Anh sẽ không làm bất cứ gì thương tổn đến em... làm cho em phải hối tiếc... Ô, Karen, em yêu, anh không còn biết...
Trong một khoảng thời gian dài, hai người im lặng, cố gắng chống lại lòng thèm muốn nhau đang làm toàn thân họ run rẩy. Sau cùng, Karen nói bằng một giọng tiếc nuối:
- Thôi chúng ta về kibboutz đi anh.
 
5-5
 
Để cử hành lễ phục sinh, tất cả sẽ tụ họp ở Yad El, tại nhà của Sarah Ben Canaan. Có Kitty Fremont, Bruce Sutherland, Dov Landau và Jordana. Thiếu tướng Ari Ben Canaan đến sau chót. Khi trông thấy Kitty, Ari cố giấu xúc động: rất lâu, viên sĩ quan quân lực Israël và người nữ điều dưỡng Hoa-kỳ nhìn nhau trong một im lặng đầy những lời mà không một người nào dám thốt lên. Sarah và Jordana đã lảng tránh vào bếp. Sutherland cầm lấy tay Dov kéo ra vườn. Vị tướng già Anh nói đối với Dov:
- Thiếu tá hãy nói cho tôi biết một chút về dự án dẫn thủy ấy. Hình như thiếu tá định tát hết nước hồ Houleh sang hồ Tibériade phải không. Đây không phải là một công cuộc nhỏ bé đâu...
Còn lại có hai người, Kitty và Ari tiếp tục im lặng. Có lẽ người nào cũng tìm cách mở đầu cho câu chuyện bình thường. Sau cùng nàng nói:
- Anh có vẻ khỏe lắm, anh Ari.
- Tôi cũng định nói cô như vậy. Thế... dạo này Karen ra sao? Nàng không đến sao?
- Có chứ. Chúng tôi đang chờ, con bé có thể đến bây giờ.
- Vậy hả... tốt lắm... tôi đang tự hỏi... cô có thích đi dạo một chút trước bữa cơm tối không? Chúng ta có thể đi ngoài cánh đồng...
- Vâng.
Trong con đường nhỏ, Ari liếc nhìn nàng. Nàng đẹp quá! Còn đẹp hơn những hình ảnh nàng trong kỷ niệm của chàng nữa.
Kitty thốt lên một tiếng thở dài.
- Tình hình ở Néguev chắc ghê khiếp lắm phải không anh, với các cuộc tấn công của bọn fedayeen. Thẳng thắn mà nói: tôi run lên khi tưởng tượng đến cuộc sống của Karen ở Nahal Misbar. Chỗ đó có vẻ nguy hiểm lắm...
Ari đồng ý.
- Một nơi thê thảm lắm. Nhưng Karen trẻ tuổi, và tuổi trẻ của chúng ta chịu đựng được tất cả mọi sự.
Kitty thầm nghĩ: “Quả thực chàng chẳng thay đổi gì. Chắc chàng không bao giờ thay đổi hết”.
Ari nói tiếp:
- Mọi người nói với tôi là cô định trở về Mỹ. Tại sao cô lại rời bỏ chúng tôi?
- Ồ, có gì đâu. Tôi tin chắc rằng không có tôi, Israël vẫn vững như thường. Anh thấy Dov đó, hắn đã trở thành một thanh niên hoàn toàn. Có hắn, tôi không cần phải lo cho Karen nữa. Sau cùng, bây giờ tôi có thể nghĩ đến thân tôi. Tôi bắt đầu nhớ quê hương sau bao nhiêu năm xa cách.
Vì Ari không trả lời, nàng quay về phía nhà.
- Tôi nghĩ là Karen chắc sắp về đến nơi. Tôi muốn con bé thấy tôi ngay khi về tới nơi.
- Kitty... hãy ngừng lại một chút đã... tôi muốn nói tôi rất chịu ơn về những gì Kitty đã làm cho Jordana. Kitty đã là một nguồn an ủi lớn cho nàng, trong cơn đau buồn.
- Jordana khổ sở lắm. Không ai có thể biết Jordana đã yêu David đến mức độ như thế nào đâu.
- Kitty có tin rằng một ngày kia Jordana sẽ thắng nỗi buồn đó không?
- Tôi chịu không biết được anh ạ. Tuy thế, cứ sống mãi trong xứ này, tôi đâm ra lạc quan. Tôi cho là rồi Jordana cũng sẽ được biết tới hạnh phúc.
Một câu hỏi câm nín như treo lơ lửng giữa chàng và nàng. Liệu chính hai người một ngày kia có được biết đến hạnh phúc không?
Đột nhiên nàng nói:
- Chúng ta về thôi anh.
Hai giờ sau, khi Sarah gọi hai người tới ngắm bàn ăn đã bầy biện cho buổi lễ, Kitty sốt ruột.
- Quỉ bắt con bé đó đi cho rồi! Bao giờ cũng lỉnh kỉnh chậm trễ... nó biết chúng ta mong đợi nó kia mà. Ít nhất cũng phải điện thoại cho biết tại sao về trễ chứ.
Sutherland lắc cái đầu:
- Đừng có nóng nẩy thế, Kitty. Vào ngày lễ, phải mất cả giờ mới gọi được điện thoại.
Ari đề nghị:
- Để tôi qua nhà làng một chút. Lấy quyền ưu tiên gọi kibboutz của Karen, tôi sẽ biết nàng ra đi và theo lộ trình nào.
Ari đã đi. Mọi người sang cả phòng ăn. Trên bàn lớn, các cây nến đã được thắp sáng. Các chén bạc cổ đã được bầy ra thay thế cho ly tách. Ở giữa bàn là một cái đĩa chân cao bằng vàng đựng các thực phẩm tượng trưng: cái xoong loan báo mùa xuân trở lại, xương cừu để tưởng nhớ đến các vụ tế thần ở đền Salomon, cỏ đắng tượng trưng cho sự cay đắng phải làm nô lệ xưa kia ở Ai-cập. Trước mỗi đĩa là matèc, bánh mì không men bởi vì lệnh truyền rời Ai-cập ban ra đột ngột đến nỗi các bộ tộc Israël không có đủ thì giờ làm dậy men nữa.
Họ trở lại phòng khách, Jordana là người đầu tiên trông thấy Ari, mặt tái xanh, ngơ ngác, ủ rũ tì người vào thành lò sưởi. Trông thấy Ari như vậy, Kitty hét lên:
- Karen! Karen đâu?
Ari phải cố gắng ghê gớm mới nói được nên lời:
- Karen chết rồi. Bị bọn fedayeen ám sát đêm hôm qua trong miền Gaza.
Sutherland bước tới quá chậm để đỡ Kitty ngất đi.
 
Kitty đã hồi tỉnh. Đẩy Jordana đã nghiêng người xuống mình ra, nắm lấy cổ tay Sutherland, nàng đứng dậy.
- Dov đâu? Tôi phải gặp hắn.
Nàng tìm thấy Dov trong phòng bên cạnh. Ngồi xụp trong một chiếc ghế, mắt bất động, chàng không buồn ngừng đầu lên nữa. Mãi khi Kitty vòng tay ôm, chàng mới để nỗi buồn xâm chiếm mình tự do. Hai người khóc trong vòng tay nhau tới khi không còn nước mắt nữa.
- Dov... nghe cô đây... cô không biết nói gì... cô sẽ ở lại xứ này cùng với mọi người...
Dov gỡ khỏi tay Kitty.
- Cám ơn cô... em sẽ can đảm, xin hứa với cô như thế. Em muốn dù chết đi rồi, Karen vẫn kiêu hãnh được về em.
Hai người quay lại khi nghe thấy tiếng cửa mở. Giọng của Sarah cất lên, run rẩy:
- Tôi xin lỗi, nhưng Ari ở có một mình trong vựa lúa...
Băng qua sân, Kitty trông thấy những ánh sáng bắt đầu được thắp lên trong các nhà khác trong làng. Phục sinh đã bắt đầu, tụ họp trong các gia đình quanh bữa cơm ngày lễ. Trong vựa thóc tối tăm nàng không tìm ra ngay được Ari đang nằm dài trên một kiện rơm, lưng quay ra phía cửa vào. Nàng cúi xuống, chạm vào vai chàng.
- Anh Ari... đừng nên quên ngày lễ.
Đến lúc ấy, nàng mới nhận ra hai vai chàng đang rung lên trong một nức nở không thành tiếng. Chậm chạp, Ari quay lại, thì thào:
- Suốt đời tôi... suốt đời tôi chỉ trông thấy những người thân yêu của tôi bị giết chết. Những người thân yêu của tôi. Tôi chết cùng với họ. Mỗi lần tôi như chết cùng với họ. Tôi chỉ còn là một cái xác không...
- Anh Ari... không nên...
- Tại sao chúng ta cứ bắt buộc phải tranh đấu để sống còn? Tại sao thế?
Chàng đứng dậy, chệnh choạng. Hai tay nắm chặt lại, chàng như chất vấn Hóa công:
- Chúa ơi, tại sao chúng không chịu để chúng con sống bình an? Tại sao?
- Anh Ari... em cũng thế, em đã làm anh đau khổ. Em đã xua đuổi anh... Anh Ari, liệu một ngày kia anh có thể tha thứ cho em không?
Ari đi qua nàng, nói nhỏ:
- Tôi không còn là tôi, Kitty cần nhất đừng có nói với ai là Kitty đã trông thấy tôi trong tình trạng vừa rồi nhé.
- Thôi, chúng ta trở lại với mọi người đi.
Đột nhiên Ari quay lại, tiến về phía nàng, buông mình quì xuống. Chàng vòng tay ôm lấy ngang người nàng, đầu chàng tìm một nơi nương tựa trên thân thể nàng. Đến khi ấy, nước mắt chàng mới trào ra.
Quá xúc động, Kitty đưa tay vuốt tóc chàng. Ari nói qua tiếng nức nở:
- Đừng bỏ anh, Kitty. Đừng có ra đi, Kitty!
Những lời nói nàng đã chờ đợi từ biết bao lâu rồi! Nàng thầm nghĩ: “Vâng, em sẽ không rời bỏ anh, ngày hôm nay cũng như hai hay ba tuần lễ tới, ngày nào anh còn cần có em. Cho tới ngày mà anh lại trở thành thiếu tướng Ari Ben Canaan, vị anh hùng không xúc động bao giờ mà cuộc đời chỉ là để cho thảm kịch và đấu tranh. Đến lúc đó, anh đâu cần tới em nữa”.
Nàng giúp chàng đứng dậy. Chưa chi, Ari đã tìm lại được sức mạnh của mình. Nhưng trước khi trở vào nhà, chàng cầm lấy cánh tay nàng.
- Kitty, cho đến nay chưa bao giờ tôi có can đảm để thú nhận... bây giờ là lúc em phải biết rõ điều này: tôi chưa bao giờ yêu Dafna được bằng yêu em. Dĩ nhiên là cuộc sống mà tôi có thể mang lại cho em thì...
- Em biết, anh Ari. Em chấp nhận cuộc sống như thế.
- Tôi không giống như tất cả mọi người, tôi biết rõ như vậy và hối tiếc tại sao mình lại là như thế. Có thể sẽ nhiều năm tháng qua nữa tôi mới lại nói được tôi cần có em trước hết, thứ yếu mới đến đất nước tôi. Liệu em có thể hiểu được như thế không, Kitty?
- Em hiểu chứ, em sẽ hiểu anh mãi mãi.
Tất cả mọi người đã hội họp trong phòng ăn. Đàn ông đều đội mũ tròn đen úp lấy đầu. Khi Ari định tiến lại chỗ ngồi danh dự, Sutherland rụt rè chạm vào cánh tay chàng.
- Thứ lỗi cho sự đường đột của tôi. Tôi là người Do-thái cao niên nhất trong căn phòng này, liệu tôi có thể xin thiếu chủ vinh hạnh được hướng dẫn cầu nguyện chăng?
- Chúng tôi rất hân hạnh.
Sutherland ngồi vào chỗ dành cho người trưởng gia đình. Mỗi người đều mở cuốn Haggadah, sách lễ phục sinh. Sutherland ra dấu mời Dov Landau mở đầu.
Bằng một giọng run run, Dov đọc:
- Tại sao đêm nay lại khác với tất cả các đêm khác trong năm?
Đêm nay khác với tất cả các đêm khác trong năm bởi vì đêm nay chúng ta ca tụng giây phút quan trọng nhất trong Lịch sử của dân tộc chúng ta. Đêm nay, chúng ta mừng cho cuộc khởi hành chiến thắng từ nô lệ tới tự do của đất nước chúng ta.
 
THẾ UYÊN dịch
 
HẾT

0
Về miền đất hứa (Exodus) của Leon Uris
 
Một thời gian dài, cũng hoàn tất cuốn sách này
 
Thành thậT cảm ơn casau và scpio đã góp sức cho thư viện
 
Chúc hai bạn mộT giáng Sinh vui vẻ, an lành
 

 
 




0
«« « 1 2 3 » »»