Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Về miền đất hứa (Exodus) của Leon Uris 🔒

87 trả lời, 39.610 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2015 10:15:33 bởi scpio>
3-14
 
Từ khi Akiba và Dov Landau bị bắt, các Macchabée đã cắt đứt hoàn toàn liên lạc với Haganah. Ari phải lùng mãi mới ra Bar Israël và thuyết phục được hắn - bằng cách nâng bổng hắn lên mà lắc như rung cây - dẫn chàng tới gặp Ben Moshé.
May mắn thay Ben Moshé, mặc dù hoàn toàn nghi ngờ Haganah là đã phản bội, cũng biết rõ lòng chính trực của Ari để trình bày dự tính của Macchabée: họ định giải thoát hai tù nhân bằng một cuộc tấn công đại qui mô vào nhà tù Acre. Ben Moshé đưa Ari coi kế hoạch hành quân: cả một hồ sơ đầy đủ trong đó khu vực phụ cận cũng như bên trong của nhà tù đều được vẽ đủ, ước tính đến từng thước (hầu hết là nhờ ở các tin tức được các Macchabée đã từng bị giam giữ trong đó cung cấp), mỗi bước đi của toán biệt kích đều được tính sát tới từng giây, các cơ sở phải hủy, các địa điểm cần phải chiếm, các chướng ngại phải phá bằng lựu đạn, mìn, chất nổ đều được ghi chính xác. Đó là một hồ sơ mà bất cứ một Bộ tham mưu hiện đại nào có được cũng lấy làm hãnh diện. Ari nghiên cứu tất cả rất lâu. Ben Moshé hỏi:
- Anh nghĩ sao?
- Tất cả đều hoàn toàn, trừ một điểm. Tôi hiểu các anh định làm thế nào để tiến vào nhà tù và rút ra. Nhưng sau đó, để rút lui ra khỏi thị trấn... - chàng lắc đầu - không được đâu anh.
- Tôi biết hy vọng rút lui thoát của chúng tôi rất mỏng manh...
- Theo ý tôi thì không có tí hy vọng nào rút nổi cả. Các anh đều sẽ trở thành anh hùng, nhưng anh hùng tử trận. Quả thực rõ ràng là kế hoạch này sẽ mang lại cho các anh một trăm hay hai trăm anh hùng tuẫn quốc nữa mà thôi. Trong khi nếu các anh để tôi tính đường rút, chúng ta sẽ có may mắn là năm mươi phần trăm.
- Tôi cũng chẳng mong gì hơn. Anh cắt nghĩa ý kiến đi xem sao.
Ari suy nghĩ rất nhanh.
- Trước hết, tôi đề nghị một khi đã vào được nhà tù, các anh sẽ cố thủ trong đó từ mười lăm đến hai mươi phút để giải thoát tất cả các tù nhân. Những người này sẽ chạy tứ tán về mọi hướng, làm người Anh phải đuổi theo họ, nghĩa là làm phân tán lực lượng của người Anh đi.
- Hoàn toàn đồng ý.
- Các toán xung kích của chúng ta cũng thế, sau khi hành động xong cũng chia làm nhiều toán nhỏ, mỗi toán tự lực ra khỏi thị trấn bằng một lộ trình riêng. Tôi sẽ có thể mang theo chú Akiba của tôi, còn phía anh mang theo Dov.
- Vẫn đồng ý.
- Tôi chuồn về phía Kfar Masaryk và sẽ đổi xe ở đó. Rồi qua các đường núi, tôi sẽ đến Carmel ở phía Haïfa để ẩn trú ở Daliyat, một làng của dân Druse mà tôi có nhiều bạn tin cậy được. Người Anh không bao giờ nghĩ tới việc lên kiếm tôi ở trên đó đâu.
Ben Moshé gật đầu. Ông biết rằng có thể tin cậy được ở người Druse. Ari nói tiếp:
- Còn anh, anh có thể chạy dọc duyên hải đến Nahariya. Đến đó, quân của anh sẽ chém vè. Theo ý tôi, chỗ trốn tốt nhất cho Dov Landau là kibboutz Mishmar trong vùng đồi biên thùy Syrie, một vùng đầy rẫy hang động. Dov sẽ an toàn ở đó.
Đứng bất động, Ben Moshé chăm chú nhìn các sơ đồ đang trải trên bàn. Không được xử dụng tự do các nơi ẩn trú này, cuộc tấn công nhà tù sẽ chỉ là một cuộc hành quân tự sát tuyệt đẹp mà thôi. Với sự trợ giúp của Ari, nhân vật nhiều thế lực của Haganah, cuộc tấn công này khả dĩ có thể thành công. Nhưng vấn đề chính ra lại là liệu ông có dám liều nhận sự hợp tác này hay không? Sau cùng, ông tuyên bố:
- Được rồi đồng ý. Tôi trao cho anh việc chuẩn bị các đường rút. Nhưng anh đừng quên điều này: tôi quyết định như vậy chỉ vì anh là Ben Canaan mà thôi.
 
Ngày N trừ 4:
Không còn một vụ biểu tình nào của người Ả-rập, cũng không có một cuộc tấn công nào của các Macchabée. Thị trấn Acre đã có phong dáng của một pháo lũy trong đó đi đi lại lại hàng trăm cảnh sát Anh mặc thường phục.
Ngày N trừ 3:
Thủ tướng Anh quốc mời Akiba và Dov Landau ký đơn xin ân xá. Hai tù nhân đều khước từ.
Ngày N:
Đó cũng là ngày phiên chợ của Acre. Ngay từ sáng sớm, các nông dân của hai mươi làng Ả-rập chung quanh đều đổ xô về thị trấn. Công trường lớn chưa chi đã đầy ngổn ngang những xe bò, xe lừa cùng hàng hóa.
Các Macchabée gốc từ các quốc gia phương Đông và Phi châu, đã ngụy trang thành những người Ả-rập, lợi dụng đám đông lộn xộn trà trộn len vào Acre. Mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà đều giấu dưới quần áo vài thỏi chất nổ, ngòi nổ, các cuộn dây điện, lựu đạn, vũ khí cá nhân. Họ trà trộn vào đám đông ngay trong vùng phụ cận của nhà tù.
11 giờ: giờ G trừ 2.
Bây giờ đã có tới hai trăm năm mươi Macchabée đi lại trong Acre.
11 giờ 15: giờ G trừ 1g45.
Ngoài thị trấn, trên đồi Napoléon, một đơn vị thứ hai của Macchabée tập trung lại ba xe cam-nhông chở đầy các lính Anh giả tiến vào Acre và dừng lại dọc theo cầu tầu, gần ngay cạnh tường thành nhà ngục. Các “người lính” xuống đất, từng toán bốn người một đi khắp các nẻo đường như để tuần tiễu. Số quân nhân thực đông đến nỗi không ai để ý tới việc một trăm người này tới.
12 giờ trưa: giờ G kém 1 giờ.
Ari Ben Canaan, mặc quân phục thiếu tá quân lực Anh, cho lệnh tài xế xe mình, một chiếc xe kiểu tham mưu, tiến về cầu tầu. Chàng xuống đất đi bộ tới tận đầu đằng kia. Đứng tựa vào một khẩu thần công cổ của Thổ, chàng châm một điếu thuốc lá và ngắm dưới chân mình những làn sóng đập vỡ tan trên những tảng đá đầy rêu.
12 giờ 10: giờ G kém 50 phút.
Các cửa hàng đã đóng cửa. Bị khí nóng ngột ngạt, các quân nhân Anh (thật) hoạt động thật uể oải. Từ trên tháp cầu kinh cao, vị muzzein kêu gọi các tín đồ cầu nguyện.
12 giờ 12: giờ G kém 48 phút.
Từ từ, len lén, các Macchabée đến tập trung ở các điểm xuất phát.
Toán thứ nhất ở tiệm cà-phê Abou Christos (cha của Đấng Ki-tô), ven bờ vịnh.
Toán thứ hai, quan trọng hơn, ở giáo đường Hồi giáo. Những người này trà trộn với những người Ả-rập đang quì gối cầu kinh trong sân rộng.
Đơn vị thứ ba lẩn trong đám lạc đà, lừa, Ả-rập đang thiếp ngủ trên đất bao phủ khoảng cát rộng của Khan, công trường vĩ đại được dùng làm nơi nghỉ chân cho các đoàn lữ hành cũng như dùng làm nơi họp chợ.
Đơn vị thứ tư tập họp ở bến tầu, gần chỗ thả neo của các thuyền đánh cá.
Đơn vị thứ năm ở ngay trên cầu tầu.
Còn về một trăm lính Anh giả, họ lợi dụng khả năng tự do di chuyển do bộ quân phục Anh mang lại để chiếm cứ các mái nhà phẳng, chặn các đường hẻm, cản các đường lớn, như thế nào để kiểm soát tất cả các lối vào nhà tù.
12 giờ 45: giờ G kém 15 phút.
Ben Moshé và Nahoum Ben Ami nhận thấy tất cả mọi người đã đến vị trí. Họ nhìn về phía nhà tù: một trong bốn “người đồng lõa bên trong” cho dấu hiệu là tất cả mọi sự đều đã sẵn sàng.
Trên vòng đai ngoài của Acre, một đơn vị chót - những người không ngụy trang gì hết - đã đặt mìn xong mọi con đường và bố trí xong các ổ liên thanh. Đơn vị này sẽ chặn đứng, hay ít ra cũng làm chậm trễ các lực lượng Anh tăng viện nếu có.
Trên cầu tầu, Ari ném điếu thuốc xuống nước. Đi rảo bước, chiếc xe hơi lăn bánh theo sau, chàng hướng về điểm tấn công. Đồng thời cũng tiến tới điểm đó là nhiều toán nhỏ của hai trăm năm chục đàn ông đàn bà ăn mặc như Ả-rập của đơn vị xung kích.
Mọi người đã chọn điểm tấn công là một hamman ở sát tường thành phía nam của nhà tù. Ở cuối nhà tắm hơi này, có một cái sân để khách hàng tắm nắng. Từ sân này, một cầu thang dẫn lên tới tận mái nhà chạm sát vào tường thành. Các Macchabée đã khám phá ra rằng quân Anh, từ các đài quan sát và trạm gác trong ngục, có thể coi chừng tất cả các đường tiến sát, từ tất cả mọi chiều hướng đến, ngoại trừ cái sân và mái nhà của hamman. Vậy đó sẽ là điểm tấn công.
1 giờ trưa: giờ G.
Ben Moshé, Ben Canaan, Nahoum Ben Ami ra lệnh. Cuộc tấn công vào nhà tù bắt đầu.
Dẫn đầu một toán tiền phong năm mươi người mang chất nổ, Ari lao vào hamman. Trước sự đột nhập này, các khách hàng Ả-rập đang ngồi xổm trong đám hơi nước dầy đặc đã la hét sợ hãi. Để cho đợt thứ hai lo nhốt cái đám người trần truồng thô tục đang la hét này, Ari rảo bước dẫn quân tiến vào sân. Leo các bậc thang, họ băng qua mái nhà để đặt chất nổ vào tường nhà tù. Sau vài giây để gắn ngòi nổ, họ lui xuống sân rồi nằm bẹp xuống.
Đúng 1 giờ 15, một tiếng nổ làm rung chuyển cả thị trấn. Khi khói chậm chạp tan ra, một lỗ lớn đã thủng trong tường nhà tù.
Ngay khi có tiếng nổ, bốn đồng lõa bên trong hoạt động ngay. Người thứ nhất ném một trái lựu đạn vào trung tâm điện thoại để cắt đứt ngay liên lạc với bên ngoài. Người thứ hai, cũng bằng cách ấy, phá hủy khu kiểm soát phân phối điện lực chính: không còn ánh sáng, không còn hệ thống báo động nữa. Người thứ ba bắt sống quản ngục, trong văn phòng có sẵn chìa khóa tất cả các phòng giam. Còn người thứ tư lao về phía lỗ thủng để hướng dẫn các Macchabée trong các hành lang rắc rối của nhà tù.
Các lực lượng của Ari trước hết nhằm chiếm kho vũ khí và chặn cứng khu các lính gác tù để làm tê liệt hoàn toàn mọi kháng cự. Hai mục tiêu này đã đạt được trong vòng một phút.
Vượt qua lỗ thủng ở tường, các đơn vị khác kế tiếp nhau thực hiện những nhiệm vụ đã được chỉ định trước. Trong các hành lang và các lối đi vòm cong, tiếng người chạy rầm rập, điểm nhịp bằng những tiếng lựu đạn nổ và tràng tiểu liên. Nhờ đã chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch hành quân, các Macchabée mất đúng sáu phút để làm chủ hoàn toàn nhà ngục. Trong thời gian này, các lực lượng yểm trợ bên ngoài kìm giữ các quân sĩ và cảnh sát Anh mà tiếng nổ lớn đã báo động, đang cố gắng tiến vào nhà tù.
Chưa chi các cửa nhà giam đã vỡ tan dưới các nhát rìu và báng súng. Các tù nhân được giải thoát, Do-thái và Ả-rập lẫn lộn, được hướng dẫn chạy thật nhanh về lỗ thủng ở tường để rồi chạy phân tán ra ngoài theo đủ mọi hướng.
Đi cùng năm người nữa và đẩy quản ngục đang điên lên vì sợ, Ari lao về các xà-lim tử tội. Một trái mìn từ tính thanh toán luôn chiếc cửa bọc thép chặn lối vào hành lang. Một trái lựu đạn nữa làm bốn lính gác các tội nhân án treo cổ bỏ chạy luôn. Bằng một tay run rẩy, quản ngục mở khóa các xà-lim. Akiba và Dov được dìu, bế xốc đi thật nhanh, vượt qua lỗ thủng, băng qua hamman ra ngoài. Mọi người kéo Dov lên một cam-nhông đầy lính Anh giả, mở máy chạy ngay ra con đường đi Nahariya. Hai phút sau, trong chiếc xe tham mưu, Akiba và Ari phóng hết tốc lực theo một hướng khác.
Đúng từ lúc khởi đầu trận đánh trên mái nhà tắm Thổ, gần lỗ thủng ở tường, Ben Moshé thổi một tiếng còi ra lệnh lui quân. Khi Macchabée sau cùng rời khỏi nhà tù, đó là phút thứ hai mươi mốt sau khi có tiếng nổ đã đục thủng lỗ nhà tù Acre.
Chiếc xe trên có Dov bị săn đuổi dọc duyên hải bởi một đoàn quân Anh. Chạy đến trung tâm thị trấn Nahaiya hoàn toàn Do-thái, chiếc xe dừng lại. Nahoum Ben Ami và Dov bôn tẩu bằng chân về kibboutz Ha Mishmar, trong khi các Macchabée khác mở rộng ra hàng quân chặn hậu để làm trì hoãn các quân truy kích. Toán quân này thành công trong việc kìm quân Anh lại để cho Nahoum và Dov chạy thoát được vào vùng đồi, nhưng đó là một trận chiến tự sát: toàn thể mười bẩy thanh niên nam nữ của toán này, không có lấy một người nào sống sót.
Chiếc xe tham mưu chở Ari và Akiba đã lao vào một con đường dẫn vào nội địa, hướng về kibboutz Kafar Masaryk. Khi leo lên dốc đồi Napoléon, một toán Macchabée chặn lại. Viên chỉ huy toán này cắt nghĩa:
- Anh phải đi đường tắt. Cách đây một quãng, đường gài mìn rồi. Hơn nữa, đại đội quân Anh đang định phá xuyên qua vị trí chúng tôi về hướng Acre.
Ari hỏi:
- Đường tắt nào bây giờ?
Viên chỉ huy Macchabée nhún vai:
- Tôi cũng không biết nốt. Bản đồ không có ghi.
- Không cần. Anh tài xế ạ, anh thấy anh có đủ sức chạy bọc quân Anh bằng cách băng đồng không?
- Ta cứ thử xem.
Họ tránh được chủ lực Anh, nhưng khi chiếc xe định leo lên mặt đường, chừng một tiểu đội trông thấy liền vừa nổ súng vừa rượt theo. Ari đẩy mạnh Akiba nằm xuống sàn xe. Chiếc xe bị lảo đảo vì bị trúng đạn, suýt nữa lật. Bám chặt vào tay lái, tài xế phải chạy chậm lại để lấy lại thăng bằng rồi cài số de để leo lên mặt đường. Những giây phút bỏ mất vì việc này đã cho phép hai quân Anh trang bị tiểu liên lại gần. Bắn qua cửa kính sau, Ari hạ được một người. Đồng thời, người lính thứ hai nổ súng.
Akiba thét lên một tiếng. Một loạt đạn thứ hai bắn xuyên vào xe. Rồi bánh xe đã lăn được trên mặt nhựa đường, xe chồm lên hắt Ari ngã chúi vào Akiba.
Sau vài cây số, tài xế cho xe chạy chậm lại, lo lắng hỏi:
- Không sao cả chứ?
Ari lầu nhầu:
- Cả hai chúng tôi đều bị thương rồi.
Chàng ngắm nghía chân phải. Viên đạn đã lọt vào phía sau chân và không chui ra. Nhưng dầu sao, đau đớn còn ở mức chịu được.
Chàng quì xuống lật ngửa Akiba ra, xé chiếc áo đẫm máu của ông ra. Ngực ông già bị một vết thương lớn.
Akiba không bất tỉnh. Bằng một tay hãy còn cứng cỏi, ông kéo đứa cháu lại gần.
- Nặng lắm phải không cháu? Cháu có tin là chú có thể thoát chết được không?
- Không, thưa chú.
- Nếu vậy cháu hãy đưa chú đến một nơi nào kín đáo... cháu hiểu chứ...
- Cháu hiểu lắm...
Ở Kfar Masaryk, chừng mười người đã đợi sẵn. Mọi người giấu chiếc xe tham mưu và đưa hai kẻ đào tẩu lên một xe vận tải. Akiba đã ngất đi. Ari chỉ có đủ thì giờ rắc một ít bột sulfamide lên cẳng chân bị thương và băng bó sơ sài. Khi người tài xế đề nghị trao phó Akiba cho người trong kibboutz này để cho một y sĩ săn sóc, Ari lắc đầu:
- Ông chỉ có hy vọng một phần ngàn là thoát chết. Nếu để ông chết ở đây, tất cả Palestine đều hay. Chúng ta không được để cho quân Anh biết là Akiba đã chết.
Họ lại ra đi, người tài xế và một Macchabée nữa ngồi trên ca-bin xe. Ari và Akiba ngồi phía sau xe. Ari nghiến chặt răng. Chân bắt đầu làm cho chàng đau đớn ghê gớm.
Cuộc hành trình hầu như bất tận. Sau cùng, qua những dốc chót của ngọn Carmel, họ tới vùng cao nguyên cô độc của lãnh thổ sắc dân Druse.
Đứng ở lối vào khu rừng nhỏ cạnh một chiếc xe lửa kéo, Moussah, người Druse và cũng là đoàn viên của Haganah, ra dấu cho họ dừng lại. Ari bước xuống một cách vụng về, một tay xiết chặt lấy chân bị thương. Quần áo chàng đẫm máu Akiba. Moussah vội chạy lại để đỡ chàng. Ari nói:
- Tôi không sao hết. Hãy giúp tôi đưa ông Akiba ra. Ông chết rồi.
Họ mang xác người chiến sĩ già vào chiếc xe lừa. Ari quay lại hai đoàn viên Macchabée.
- Phải giấu kín cái chết của ông Akiba. Các anh chỉ được báo cho Ben Moshé hay Nahoum Ben Ami biết mà thôi. Bây giờ các anh mang chiếc cam-nhông này đi, chùi rửa thật sạch không còn vết tích nào. Moussah sẽ giúp tôi chôn cất chú tôi.
Vào lúc hoàng hôn, chiếc xe leo tới đỉnh cao nhất của ngọn Carmel. Xe dừng lại gần một khu rừng nhỏ, gần đền thờ đấng tiên tri Elie từ hai ngàn năm trăm năm nay vẫn nhìn đến thung lũng Jesreel. Moussah và Ari xuống xe và bắt đầu đào một nấm mồ. Ari nói nhỏ:
- Phải cởi bộ quần áo đỏ khốn kiếp này ra cho ông.
Sau khi đã được lột bỏ y phục của tử tội, xác Akiba được hạ huyệt rồi phủ đất và cành lá lên trên. Kín đáo, Moussah lảng ra xa.
Ari cầu nguyện rất lâu trước mộ của chú mình. Jacob Rabinsky đã sống trong phẫn nộ để rồi tìm thấy cái chết trong bi thảm. Bây giờ sau cùng ông đã được thứ bình an mà ông không bao giờ được hưởng trong cuộc đời. Ông sẽ an nghỉ ngàn thu trên ngọn núi mà từ đó con người có thể nhìn thấy vùng đất Chúa đã hứa cho người Hébreu.
- Vĩnh biệt chú Akiba... cháu cũng chưa kịp báo cho chú biết là bố của cháu đã tha lỗi cho chú rồi...
Chàng đứng dậy. Đột nhiên chàng loạng choạng. Moussah chạy tới kịp thời để đỡ lấy Ari ngất xỉu trong tay mình.
1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-20 16:28:42Ct.Ly>
Phần 1 - 17

Một cơn gió mạnh làm quay cuồng những đợt sương mù quanh hải cảng cổ xưa Césaráe, ném các nắm cát vào các di tích hoang tàn, quất những đợt sóng vỡ tan trên những khối đá lớn của các kẽ đá đổ nát. Thủ đô của xứ Palestine thời La Mã, do Hérode xây dựng lên để kính mừng cho César, chỉ còn là một đống nhà đổ nát, các bức tường cũ kỹ siêu vẹo. Một thành phố chết nằm giữa biển lãnh đạm và sa mạc thù nghịch.
Tuy thế, cách vài chục thước về phía nam các di tích đổ nát, mọc lên các căn nhà đầu tiên của một làng tập thể của các ngư phủ Do Thái. Đêm nay, không có dân làng nào ngủ hết. Đàn ông đàn bà nằm hay ngồi xổm giữa các di tích của sự huy hoàng xa xưa, nhìn chăm chăm ra biển khuất trong sương mù. Số dân làng vào khoảng hai trăm, tăng cường thêm cũng chừng số đó các chiến binh của Palmach.
Trên đỉnh tháp cổ Drusus xây nhô ra biển sóng vỗ tung tóe, một ngọn đèn pin mạnh lóe sáng rồi tắt ngay. Ở trên đất liền, mọi người chuẩn bị.
Trên tàu, hàm răng Bill Fry xiết chặt lấy mẩu xì-gà không bao giờ rời miệng, tay xiết chặt lấy bánh lái. Từ từ, thận trọng, ông đưa tàu về phía bờ biển theo một lộ trình ngoằn nghoèo có vẻ lung tung nhưng thực ra hết sức chính xác để tàu đi dọc được theo các bờ đá và bãi ngầm. Trên boong, những người di dân tụ họp sau lan can tàu, cứng người chuẩn bị lúc tàu va chạm vào bờ.
Đột nhiên, tàu húc phải một hòn đá lởm chởm. Chiếc tàu nhỏ rung lên, các lỗ mọt kêu rắc rắc. Một hỏa châu cô đơn vọt lên trong đêm tối. Và sau đó là một cuộc hỗn loạn mạnh ai nấy lo.
Hỗn độn chen lấn, những người di dân leo qua thành tàu để buông mình tụt xuống hay nhảy thẳng xuống nước ngập tới ngang vai, chiến đấu từng bước tiến về bờ cách đó khoảng nửa cây số. Trên bãi, ngư phủ và Palmachnik chạy ra khỏi các chỗ nấp để tiến về phía các kẻ di dân. Hai nhóm gặp nhau, nhập làm một, những bàn tay khỏe mạnh của dân Palestine nắm lấy ngang người các di dân để kéo về đất liền.
- Nhanh lên! Cởi quần áo ra, mặc quần áo này vào! Vứt các giấy tờ căn cước đi! Lẹ! Những người nào đã sẵn sàng, theo chúng tôi. Tiến lên, tiến! Nhanh lên! Giữ im lặng! Không được nói một tiếng! Không được bật ánh sáng! Đừng dúm chụm như thế, tản ra, trà trộn vào các ngư phủ?
Sững sờ, run rẩy, xúc động,những kẻ di dân cố tuân theo các mệnh lệnh đưa tới họ qua những lời thì thầm điểm bằng những tiếng “Nhanh! Lẹ!” nhắc đi nhắc lại hoài. Họ không than thở vì bị xô đẩy như thế. Một số người, hoàn toàn choáng váng với ý nghĩ là sau cùng mình đang được đặt chân lên một tổ quốc thực sự đã nằm sấp xuống đất hôn trên cát.
- Thôi nào, tiến lên đi! Các người sẽ có thì giờ để làm việc đó, nhưng đêm nay thì không. Tiến lên, nhanh lên.
Trên boong tàu, Karen chuyển từng đứa bé một cho các Palmachnik đang đi đi lại lại giữa tàu và bãi biển. Cần phải có những người khỏe mạnh để đưa chúng vượt qua vùng sóng dội ngược mạnh này.
- Nhanh lên! Tiến lên! Nhanh nữa lên!
Và họ làm việc thật nhanh! Sau chừng một giờ, trên chiếc tàu bị mắc cạn chỉ còn chừng ba mươi đứa trẻ, các cấp chỉ huy và thuyền trưởng. Bill Fry quay đầu về phía bắc bằng một dáng điệu vừa lo lắng dò hỏi vừa thích thú vì chiến thắng. Phía xa, cách đó chừng bốn mươi cây số, một đơn vị mạnh của Palmach tấn công không ngừng một kho quân dụng của Anh, một trận đánh đánh lạc hướng quân Anh để đừng quá coi chừng tới các bãi biển.
Sau cùng, đứa bé sau chót đã được đưa qua lan can tàu. Bill Fry buông người dựa vào đài chỉ huy và ra lệnh cho các cấp chỉ huy bỏ tàu.
Karen nhắm mắt lại nhảy xuống nước. Co người lại vì nước lạnh, nàng định hướng, bơi vài cái đủ để chân chạm đất. Nàng tới được một hòn đá to, đặt được chân lên đó, leo lên, tiến bằng cách bò. Một đợt sóng dữ lại vứt nàng xuống biển. Nàng lại bơi, lại đặt chân được lên cát, cố tìm đường tiến về đất liền bằng cách chống lại một luồng sóng ngầm kéo nàng ra khơi. Đất lên cao dần, người nàng mỗi lúc nhô cao, rồi lại một khoảng dốc nữa làm nàng lại phải bò...
Từ một nơi nào trong bóng đêm, một tiếng còi rít lên.
Một loạt súng nổ dữ dằn, chói tai.
Trên bãi biển, ngư phủ và di dân phân tán chạy tứ tung.
Thở hổn hển, Karen đứng dậy. Nước chỉ còn lên tới đầu gối nàng. Nhưng cách nàng hai ba bước trước mặt, nhiều người lính Anh cầm dùi cui to lớn chặn mất đường vào. Nàng kêu lên :
- Không! Không! Không!
Nàng cúi đầu lao người một cách dữ tợn vào hàng rào kaki, tay xòe móng ra, đấm đá tứ tung. Một cánh tay nắm lấy phía sau nàng, làm nàng ngã chúi quỳ người lên đầu gối. Một khoảng khắc sau, kẻ đang giữ nàng thét lên một tiếng, vùng vằng cố gỡ tay ra khỏi miệng thiếu nữ đang cắn hết sức mình. Dữ tợn, nàng vùng thoát đứng lên được. Nhưng khi nàng định chồm lên chạy nữa thì một gậy gỗ đã phang vào đầu. Nàng rên lên một tiếng, chân mềm nhũn, nàng ngã gục xuống sóng biển.
Karen mở mắt ra. Những cơn đau còn vang đội trong đầu. Tuy vậy nàng mỉm cười khi nhận ra bộ mặt râu rậm của Bill Fry đang cúi xuống. Đột nhiên trí nhớ trở lại, nàng hét lên, cố gắng đứng dậy :
- Tụi nhỏ!
Bill giữ nàng lại, bắt nàng nằm xuống.
- Đừng có lo, cô bé. Đa số tụi trẻ đã chạy thoát được. Còn các đứa khác đang ở đây với chúng ta.
Yên tâm, nàng thở dài, mắt nhắm lại.
- Chúng ta đang ở đâu đây?
- Atlit, một trại giam của quân Anh. Mấy bồ Anh ấy lãnh đủ. Quá một nửa số hành khách của chúng ta đã chạy kịp. Bọn tommy [1] điên lên, điên hẳn hoi ấy. Họ bắt tất cả những ai có mặt ở nơi ấy: thủy thủ đoàn, ngư phủ, di dân. Chút nữa họ thanh lọc, tha hồ mà cười. Cô bé cảm thấy sao?
- Cám ơn bác, còn khá đau. Nhưng cháu đã bị cái gì vậy bác?
- Một tí dại đột, cô bé đã định choảng nhau, một mình với quân lực Anh. Ta phải ghi nhận rằng ý định ấy hay lắm...
Nàng ngồi xuống, thận trọng sờ đầu. Phía trên thái dương trái, nàng tìm thấy u lên một cục. Nàng nhăn mặt một cái khi nhận thấy quần áo mình vẫn còn ướt. Nghiến răng, nàng đứng dậy đi hơi chệch choạng đến tận cửa lều. Trên một khoảng đất cát cao, hàng trăm lều nằm sau một thứ không thể thiếu được và cũng không thể chấp nhận nổi, đó là hàng rào kẽm gai. Nàng nói nhỏ :
- Cháu không hiểu cái gì đã đến với cháu nữa. Suốt đời, cháu chưa đánh ai một cái bao giờ. Nhưng trông thấy những người lính đứng ngăn cháu nơi bãi biển, và cũng không hiểu một động lực nào, thúc đẩy cháu không sao cưỡng lại được... Cháu hết sức muốn đặt chân lên cát ấy, đất của Israel... cháu có cảm tưởng sẽ chết mất nếu không tới được đó...
- Cô bé ăn một cái gì chăng?
- Cháu không đói. Bác Bill, nói cho cháu biết họ định làm gì chúng ta?
Bill nhún vai :
- Hãy chờ trời sáng đã. Chắc vẫn cái trò thường lệ, trưa nay họ sẽ thẩm vấn cô, hỏi cả triệu câu hỏi ngốc không chịu được. Hẳn cô bé đã thừa biết cách trả lời rồi.
- Cháu không quên đâu. Cứ nói: “Đây là quê tôi, Palestine là đất nước tôi - Tôi ở xứ này, nơi này...” cho tới khi họ phát chán thì thôi.
- Đúng đấy. Dầu sao họ chỉ giữ cô bé trong trại này chừng hai ba tháng. Sau đó, họ sẽ thả. Mọi sự như vậy không vui gì đâu, nhưng ít nhất cô đang ở Palestine và sẽ ở lại xứ này.
- Thế còn bác?
- Qua ấy à? Qua là công dân Hoa Kỳ, cô bé hiểu chứ. Họ sẽ trục xuất qua như lần vừa rồi, thế thôi. Qua lại chỉ huy một tàu khác của Mossad và lại thử phá vòng phong tỏa một lần nữa. Đó là một trò thể thao khá thú vị, hiểu chứ?
Nàng nằm dài ra, hai tay áp vào thái dương để cố làm giảm những đau đớn đang quay lộn trong đầu.
- Bác Bill... bác nói cháu nghe đi... tại sao bác lại làm tất cả những điều đó? Bác là người Hoa Kỳ: Những người Do Thái Hoa Kỳ là những người tự do, đâu phải biết tới thống khổ như chúng cháu. Vậy tại sao bác...?
- A, cả cô bé nữa hả? Quả thực là mọi người cứ nhất định gán cho tôi những động lực cao cả.
Lục lọi các túi, ông khám phá ra vài điếu xì gà, và khi nhận ra chúng thấm sủng nước biển ông lấy gót giày nghiền nát.
- Những chú Mossad đã đến gặp qua. Họ kiếm những thủy thủ chuyên nghiệp. Và này, qua là thủy thủ - Qua chưa bao giờ là gì khác. Qua khởi đầu bằng làm chú thủy thủ sai vặt, để rồi sau cùng có được bằng sĩ quan phó thuyền trưởng. Cô bé thấy đó, giản dị lắm. Dĩ nhiên là mọi người trả tiền công cho qua trong các vụ tàu bè này...
- Không đâu bác Bill, cháu không tin là thế.
Fry cũng có vẻ không tin ở chính lời mình lắm.
- Này... Kể cũng khó cắt nghĩa đấy. Qua yêu Hoa Kỳ... Qua sẽ không tách cuộc đời qua ra khỏi bên đó, dầu là để đổi lấy năm mươi kiếp ở Palestine.
Ông đứng dậy đi đi lại lại trong lều.
- Phải chúng tôi là người Hoa Kỳ, nhưng dẫu sao vẫn là một loại Hoa Kỳ đặc biệt. Một cái gì khác biệt... Có lẽ vì cách xử sự của chúng tôi khác với mọi người, có thể vì tại mọi người coi chúng tôi khác với họ... qua thì qua không đủ sức cắt nghĩa tại sao hết. Nhưng này, cả đời qua đây, qua đã nghe thấy mọi người bảo qua là một thằng hèn bởi vì tất cả những người Do Thái đều hèn. Bởi thế, mỗi lần Palmach giật nổ tung một kho đạn của quân Anh, hay khện cho tụi Ả Rập một trận đích đáng, qua thấy qua như được tăng thêm giá trị. Những vụ đó đã đính chính rõ ràng cho các truyền thuyết cho rằng tất cả những người Do Thái đều là thỏ đế hết. Qua không hiểu em có hiểu qua không...
- Cháu hiểu bác lắm, bác Bill.
- Vậy hả? Thế em may mắn đấy. Bởi vì chính qua..
Ông ngồi xuống cạnh Karen và xem xét vết sưng trên đầu nàng.
- Chắc không chi nặng đâu. Dầu vậy qua đã yêu cầu bọn khốn kiếp đó đưa em đến bệnh viện...
Nàng cười, mặc dù còn đau :
- Khỏi cần, bác. Cháu cảm thay đỡ dần rồi.
Vào lúc trời sắp sáng, Palmach tung ra một trận đột kích vào trại Atlit: Hai trăm di dân đã chạy thoát được qua lỗ hổng do quân Do Thái đục thủng bằng chất nổ trong hàng rào kẽm gai. Nhưng cả Karen lẫn Bill Fry đều không thoát được trong dịp này.

Hai ngày sau, một bản báo cáo đây đủ chi tiết về vụ Ngôi sao David về tới Luân Đôn. Lần này, người Anh ý thức rõ được là họ bắt buộc phải thay đổi chiến thuật! Cho tới giờ, những tàu của Mossad chỉ chở được số lượng hành khách từ hai tới ba trăm di dân một lần. Nhưng chiếc tàu khốn kiếp kia đã mang tới một ngàn sáu trăm người và đa số đã vào lọt được Palestine... Chưa chi một trên sáu người Do Thái đã nhập nội bất hợp pháp vào Palestine.
Đối với người Anh, đó là một hoàn cảnh không có lối thoát. Giải pháp cho vấn đề Palestine vẫn cứ còn xa xôi, mờ mịt. Whitehall quyết định ít nhất cũng đem đầy những kẻ di dân “lậu” mà họ đã bắt được. Nói tóm tắt, các trại ở Chypre là hậu quả trực tiếp do vụ thành công của Ngôi sao David.
Karen Hasnen Clement đi về Chypre trên một chiếc tàu chở tù của Hải quân hoàng gia. Không những không nản lòng, nàng còn sốt ruột mong tới Caraolos để làm việc. Ở Chypre cũng như ở trong các trại khác trên toàn thế giới, vẫn có những đứa trẻ, những trẻ mồ côi cần phải nuôi dạy, giáo huấn mà nàng sẽ dạy chúng cười và vui chơi... Dĩ nhiên trong khi chờ đợi ngày mà nàng sẽ thấy lại Palestine, ngày nàng sẽ được đặt chân lại trên đất lành của Israel.
Karen im tiếng. Đã phải mất nhiều giờ qua mới kể được cho Kitty Fremont nghe hết cuộc đời mình, nhưng Kitty đã ngồi nghe nàng cho hết câu chuyện một cách rất chú ý. Chưa chi một luồng cảm tình và thông cảm đã xuất hiện giữa hai người, mỗi người đều đoán được nỗi cô đơn sâu xa của nhau. Kitty hỏi :
- Từ đó em không có tin tức gì mới về ba em nữa sao!
- Không, hoàn toàn không, kể từ La Ciotat, đã sáu tháng nay rồi.
Kitty coi đồng hồ :
- Trời! Quá nửa đêm rồi!
Karen nói nhỏ :
- Thế mà em không hay.
- Tôi cũng thế. Bây giờ tôi phải về. Chúc em ngủ ngon, Karen.
- Chúc cô yên giấc. Liệu em có còn được gặp lại cô không?
- Có thể... tôi cũng chưa biết nữa.
Bên ngoài, bóng đêm và im lặng đang đè nặng lên mấy ngàn chiếc lều của trại. Từ trên tháp canh chính, một luồng đèn pha xanh xám quét không biết mệt trên đợt sóng bất động của các mái lều. Run lên trong gió đầy bụi, Kitty thu hình trong chiếc áo măng-tô. Hình dáng cao lớn của Ari Ben Canaan xuất hiện trong bóng tối để tiến đến gặp nàng. Chàng mời một điếu thuốc, nàng nhận. Không trao đổi với nhau một lời, hai người tiến về lối ra.
Trước cổng chính, Kitty dừng lại nói :
- Tôi sẵn lòng làm việc cho các ông - với một điều kiện: Thiếu nữ này không được tham dự vào vụ đào thoát đang dự trù. Nàng sẽ ở lại trong trại, với tôi.
- Đồng ý.
Nàng quay đi, tiến nhanh về phía điếm canh.

Chú thích:
[1] Tommy: tên gọi đùa các lính Anh, tương tự như chữ G.I để chỉ lính Hoa Kỳ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-20 16:27:59Ct.Ly>
Phần 1 - 18

“Chiến dịch Gédéon”, tên thơ mộng do David đề nghị bắt đầu xuất phát. Tại Caraolos, Dov Landau làm việc để chế tạo hàng đống giấy chứng nhận biên nhận cùng các giấy tờ quân sự giả mạo khác. Kitty Fremont lo việc đưa các giấy tờ đó ra ngoài trao lại cho Ben Canaan.
Nhờ các giấy tờ loại thứ nhất, Ari sửa soạn thực hiện giai đoạn đầu của kế hoạch. Trong lần đi thanh tra khắp đảo, anh đã nhận thấy ở gần Caraolos một kho tiếp vận lớn của quân Anh. Trên một khoảng đất rộng nhiều mẫu, nhiều dãy xe vận tải cùng xe chạy xích bao quanh khoảng mười kho hàng lớn. Trong thời chiến, kho này đã từng là một trong những căn cứ tiếp vận chính cho đồng minh Trung Đông. Bây giờ một phần các đồ dự trữ này vẫn được dành cho quân Anh đồn trú ở miền ấy, một phần khác, được xếp loại thặng dư, bán cho người ngoài. Vì vậy nên trong hải cảng Famagouste vẫn thường có một sự náo nhiệt của các xe vận tải từ các kho hàng tới.
Một căn cứ khác, công ty hàng hải của Mandria là đại lý chính thức của quân lực Anh tại Chypre nên Mandria có một bản liệt kê chi tiết về tất cả những gì hiện có trong đó. Trong các ngăn kéo bàn giấy của ông, còn một số giấy trưng mua trưng dụng để trắng.
Sáng thứ năm, đúng 8g, Ari Ben Canaan và mười ba Palmachnik mặc quân phục Anh và mang đủ giấy tờ quân sự hợp lệ “của họ”, dừng xe cam-nhông - cũng của Anh ­ trước cổng chính của kho, dĩ nhiên Zev Gilboa, David Ben Ami và Joab Yarkoni đều có mặt trong toán này. Ari Ben Canaan, tức đại úy Caleb Moore, trình cho trưởng kho một danh sách những hàng hóa cùng xe cộ cần trưng dụng.
- Lính của chúng tôi sẽ lo mọi việc và chuyên di chở hàng hóa đến hải cảng Famagouste để cất lên thương thuyền Achan.
Sĩ quan trưởng kho không thấy có lý do nào để khước từ. Các giấy tờ Caleb Moore hoàn toàn hợp lệ, cũng như các sự vụ lệnh cùng giấy tờ trưng dụng. Để bắt đầu, các Pamachnik lấy mười hai cam-nhông và hai jeep rồi đi từ nơi này sang nơi khác lấy đầy xe tất cả những gì cần thiết để tân trang chiếc Exodus. Danh sách do Joab thiết lập làm ta nghĩ đến sự hiện đại hóa một tàu chở hành khách hơn là tân trang chiếc tàu cũ kỹ - Aphrodite: Một máy vô tuyến điện kiểu mới nhất, nhiều máy điều hòa không khí, cả một hệ thống phóng thanh đầy đủ dụng cụ. Dĩ nhiên là chưa kể đến hàng tấn đồ hộp và thuốc men, hàng trăm bình chứa nước uống, chăn mền, đèn pin và cả một số vũ khí cá nhân nữa. Bị kích thích như một đứa bé vừa được cho một bộ đồ người Da Đỏ, Zev Gilboa “sẵn lòng” vét sạch kho vũ khí của Anh. Từ bao nhiêu năm rồi, Palmach kêu gào đòi vũ khí mà không bao giờ nhận được số lượng đủ dùng. Zev tưởng mình sắp mất trí đến nơi khi nhìn thấy nhiều liên thanh, súng cối và carbine như thế. Anh rên rỉ :
- Tôi sẵn lòng sống một năm ở đây để lấy hết các đồ chơi này đi. Đáng lẽ bọn mình nên lấy thêm năm mươi cam nhông nữa mới phải...
Để an ủi anh, David bổ túc thêm vào kho hàng lấy được vài két whisky, vài két brandy, vài két gin. Và thêm cả hai két rượu vang nữa... để dành cho các chiến binh đau ốm và đang hồi sức của “chúng ta”.
Vào lúc hai giờ trưa - ê kíp cũng không buồn luân phiên ăn cơm trưa nữa - tất cả xong xuôi. Ari từ giã trưởng kho, và mười hai cam nhông cùng hai jeep mới toanh chở nặng tới mức tối đa, lên đường đi ra hải cảng Famagouste.
Mọi người vui vẻ, mọi mong ước đã đạt được, họ cười phá ra, cất tiếng hát. Ari vội phải dẹp bớt ngay ngọn lửa hăng hái quá đáng nơi họ.
- Các chú đừng có vội yên nghỉ trên vòng hoa chiến thắng vội thế! Tôi hứa với các chú là các chú sẽ còn có ngày vỡ mày vỡ mặt.
Tiên liệu và thận trọng, anh đã tìm ra sẵn một chỗ giấu xe cộ và dụng cụ lý tưởng. Đó là một trại quân mới bỏ không dùng tới ở ven biển Famagouste. Vòng rào còn nguyên vẹn cũng như hai dãy nhà bằng gỗ cùng các cầu tiêu. Mọi người đã quên không nghĩ tới cả chuyện cúp điện nữa.
Đêm hôm đó cũng như hai đêm sau, tất cả các Palmachnik của Caraolos đều vừa làm việc tận lực vừa nguyền rủa tùm lum để dựng lều, làm cỏ, nghĩa là tất cả những gì cần thiết để mang lại cho trại bỏ hoang này vẻ sinh hoạt bình thường của một trại binh. Ngày thứ ba vào buổi sáng Joab Yarkoni vẽ trên các xe cam nhông và jeep một phù hiệu hoàn toàn hợp lệ (hay ít ra thì cũng giống như trăm ngàn phù hiệu thông dụng khác trong quân lực Anh) cũng như chữ ghi tắt sau: Đại đội 23 Vận tải HMJFC. Các Palmachnik, bảnh bao trong các bộ quân phục Anh đẹp đẽ (ăn cắp từ kho), bao quanh các xe và hỏi nhau: HMJFC là cái quái quỷ gì đây?
Joab cắt nghĩa :
- Rất giản dị. HMJFC là His Majesty’s Jewish Forces on Chypre (Lực lượng Do Thái của Đức Vua tại Chypre).
Bây giờ kể như cái khung ngoài của “Chiến dịch Gédéon” đã thực hiện xong. Ari Ben Canaan, với sự táo bạo thường lệ, đào tạo ra một đơn vị mới - đơn vị giã ­ cho quân lực Anh. Diện quân phục sĩ quan Anh vào, chàng lại thiết lập tổng hành dinh của Mossad một cách đường hoàng trên đường đi Famagouste, và chàng nhất quyết thực hiện giai đoạn chót của kế hoạch hoàn toàn bằng quân nhu quân cụ Anh. Nói chung, chàng đã áp dụng một phương lược mà chàng cho là hay nhất: Ngụy trang tốt nhất cho một cán bộ bí mật là sự hoạt động bình thường, ai cũng thấy, không thậm thụt giấu diếm gì cả.
Ngày hôm sau, ba thủy thủ Hoa Kỳ đào nhiệm khỏi một tàu chở hàng vừa mới vào hải cảng Famagouste. Thực ra đó là các cán bộ của Mossad đã nhập ngũ và được huấn luyện trong thời chiến của hải quân Hoa Kỳ. Tăng cường thêm bằng hai người di dân gốc Tây Ban Nha, họ sẽ hợp vào đoàn thủy thủ đoàn Exodus thêm vào đó với David, Ari, Joab và Zev.
Các công việc chỉnh trang trên tàu Exodus đã khởi sự rồi. May thay Larnaca là một cảng khiêm tốn và việc đút lót tiền khéo léo của Mandria đã cho phép kẻ có tính tò mò nhất cũng khỏi phải chú ý đến hoạt động náo nhiệt trên tàu này cũng như vùng phụ cận.
Vấn đề trước hết là phải dọn bỏ tất cả trang bị cũ bên trong: các ngăn xếp hàng hóa, đồ đạc, trang trí. Sau 48g chiếc Exodus chỉ còn là một cái vỏ rỗng. Sau đó mọi người làm trên boong hai nhà gỗ nhỏ: đó là cầu tiêu, buồng tắm một cho con trai, một cho con gái. Phòng ăn của thủy thủ đoàn biến thành bệnh xá. Dẫu thế nào cũng tiết kiệm được một phòng ăn, phòng khách lại càng không cần nữa: các bữa ăn sẽ toàn đồ hộp, luôn cả phòng thủy thủ đoàn cũng bỏ luôn: Các thủy thủ, chuyên nghiệp cũng như tài tử, sẽ ngủ ngay trên đài chỉ huy. Mọi người bắt hệ thống phóng thanh, xét lại toàn diện máy tàu và còn tiên liệu sẵn cả một cột buồm với đầy đủ buồm để phòng ngừa tối đa trường hợp các động cơ có thể phá lủng cũng như hư hỏng.
Có những đứa trẻ thuộc Do Thái chính thống trong ba trăm trẻ được lựa, đã đặt ra cả một vấn đề. Ngoài ra Joab đã phải liên lạc với vị trưởng lão cộng đồng Do Thái ở Chypre để chuẩn bị và đóng hộp các thực phẩm hoàn toàn “kosher” [1].
Kế đó người ta đo thật đúng dung tích của khoang tàu, cũng như diện tích có thể xử dụng được của boong tàu. Sau đấy người ta chia khoang ra bằng các vách ngăn cách khoảng nhau chừng bốn mươi phân. Những loại hành lang này sẽ được dùng làm chỗ ngủ: Mỗi đứa trẻ sẽ có đủ chỗ để ngủ nằm ngửa hay nằm sấp nhưng quay lại thì không được. Còn về chiều cao, người ta căn cứ lấy trung bình là một thước rưỡi, đánh dấu ngay trên các vách ngăn. Mọi người sẽ có thể nghỉ ngơi được trên tàu Exodus, với điều kiện là không đụng đậy nhiều quá.
Người ta tân trang lại các ca-nô cấp cứu, đục thêm các lỗ ở sườn tàu và đặt cả một hệ thống ống hút không khí vào bằng quạt. Kể cả việc lắp những máy điều hòa không khí được “cung cấp” một cách vui vẻ bởi quân lực Anh. Không có một hệ thống điều hòa không khí tốt trong khoang tàu đầy ngẹt người, dám sẽ có vụ nôn ọe tập thể.
Việc chuyên chở thực phẩm đặt ra một vấn đề khác, Ari không muốn gửi các cam nhông kaki của mình ra đến tận các cầu tàu: sự lãnh đạm và kín đáo của dân cư Larnaca chắc chắn là chỉ có giới hạn, mặc dù các quà cáp do Mandria gởi biếu để duy trì tình thân hữu. Cần phải dùng đến mưu: ngay khi nào các công việc chỉnh trang chính trên tàu đã xong, mỗi đêm chiếc Exodus sẽ lẻn ra ngoài cảng rồi bỏ neo cách đó vài dặm, trong một vùng kín đáo ở phía nam. Trên con đường ven biển, các xe của Đại đội 23 Vận tải HMJFC sẽ đổ sẵn và các ca-nô cao su bơm hơi sẽ đưa các thực phẩm lên tàu.
Đồng thời việc chuẩn bị cho dự án lớn vẫn tiếp tục ở trại Caraolos. Zev Gilboa, sau khi chọn lựa xong ba trăm đứa con trai con gái khỏe mạnh nhất, bắt đầu huấn luyện chúng một cách đặc biệt. Tập hợp tại thao trường thành từng toán năm mươi hay sáu mươi, sau các buổi tập thể dục mạnh mẽ, chúng được học cách đánh dao và đoản côn, xử dụng vũ khí cá nhân cùng ném lựu đạn. Nhiều người canh được đặt chung quanh bãi tập để đề phòng lính gác Anh xuất hiện, và trong trường hợp này, họ sẽ đưa ra mật hiệu để các huấn luyện viên thay thế các trò chiến tranh này bằng những trò chơi rõ rệt là có tính cách hòa bình hơn. Trong khoảng thời gian vài giây, các trẻ sẽ ngừng ngay việc tập chiến đấu để hát một bài ca đại chúng hay để đấu bóng chuyền. Còn về những nhóm không tham dự vào việc huấn luyện, chúng sẽ học trong các lớp địa dư xứ Palestine, nghệ thuật trả lời các câu hỏi của các sĩ quan an ninh quân đội Anh.
Vụ báo động duy nhất trong thời kỳ chuẩn bị này không phải do người Anh mà là do ba phụ tá của Ari: David, Joab và Zev. Được khuyến khích vì sự thành công của vụ đột nhập vào căn cứ tiếp vận vĩ đại ấy, họ cho rằng quả là một trọng tội nếu còn để lại trong đó dù chỉ là một đôi dây giày. Tại sao Đại đội 23 Vận tải lại không dùng các xe cộ đẹp đẽ của mình - nếu cần, làm việc hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ - để vét sạch kho hàng? Trong cơn hăng hái, Zev còn dữ tính ăn cắp luôn cả trọng pháo. Cũng như nhiều kháng chiến quân Palestine khác, họ đã phải “xoay xở” quá lâu với các phương tiện eo hẹp rồi, nên khó mà chống lại được quyến rũ này...
Ari thuyết phục họ nên biết điều nhưng vô ích.
- Tham lam quá, các chú dám làm sập tiệm cả đám. Bọn Anh có thể đang gật gù ngủ nhưng họ chưa có chết đâu. Đánh thức họ dậy là ngu không chịu được. Đại đội 23 Vận tải thỉnh thoảng lại xuất hiện là chuyện thông thường, nhưng ngày nào cũng cho xe lại kho, sau cùng thế nào cũng làm tụi Anh chú ý đến chúng ta, nghĩa là lộ tẩy hết.
Nhưng Ari nói như nói với các người điếc. Các kế hoạch do ba anh chàng bạt mạng này soạn thảo sau các vụ thảo luận thì thào bất tận đã mỗi lúc thêm điên khùng, Joab đã liều tới độ một hôm đi mời nhiều sĩ quan Anh tới dùng bữa “tại câu lạc bộ của Đại đội 23 Vận tải”. Để làm giảm bớt hăng hái của họ, Ari đã nổi giận và dọa cho đổi họ về Palestine ngay lập tức.
Sau hai tuần lễ, tất cả mọi chuẩn bị đã xong xuôi. Giai đoạn chót của “chiến dịch Gédéon” - các bài báo Parker phải viết, cũng như vụ đào thoát của ba trăm trẻ để đưa chúng đến Cyrénia có thể phát xuất vào bất cứ ngày nào. Giai đoạn chót này sẽ do chính người Anh phát động mà chính họ làm mà không biết đến. Mọi sự sẽ bắt đầu khi nào quân Anh làm xong trại mới trên con đừờng đi Larnaca và bắt đầu cho chuyển sang đó một phần di dân đang bị giữ ở Caraolos.

Chú thích:
[1] Kosher: thực phẩm ăn riêng theo Do Thái giáo: không thịt heo, thịt các thú vật ăn thịt để sống, các loại cá không vẩy, không trộn thịt với sữa hoặc các sản phẩm của sữa.
0
Phần 1 - 19

Caldwell, tùy viên của tướng Sutherland, tiến vào văn phòng của thiếu tá Allistair, trưởng phòng phản tình báo Anh tại Chypre. Allistair, bốn mươi tuổi giọng nói dịu dàng, mỉm cười với Caldwell và cầm một xấp giấy trên bàn lên.
- Ta đi chứ?
Hai người xuống tầng dưới nhà và vào văn phòng của Sutherland. Vị tướng mời hai người ngồi rồi ra dấu cho thiếu tá Allistair báo cáo. Ông này gãi mũi và giả vờ như đọc lướt qua những tờ giấy cầm ở tay, rồi nói :
- Chúng ta ghi nhận thấy một hoạt động gia tăng bất thường ở Caraolos, một thứ thì thầm âm mưu. Nhất là trong khu nhi đồng. Theo ý chúng tôi thì đây là chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy hoặc một vụ đào thoát.
Dáng điệu quá khiêm tốn sợ sệt và giọng nói khàn khàn đã làm cho Sutherland bực tức rõ rệt. Ông gần như không buồn nghe viên thiếu tá đang đọc hết trang này sang trang khác về các tin tức thiếu xót, các nhận xét mơ hồ. Khi viên thiếu tá đọc xong, ông nói :
- Ông bạn Allistair ạ, trong mười lăm phút rồi ông đã đọc những gì đấy hay chỉ cốt nói với tôi là ông nghi ngờ dân Do Thái đang bàn tính một âm mưu ghê khiếp nào đó. Trong hai tuần lễ vừa qua, ông đã gởi tám người của ông vào trong trại, trong đó có ba cho riêng khu nhi đồng. Vậy mà lần nào cũng như lần nào các tay săn tin tài ba của ông cũng bị khám phá và bị tống cổ ra trong nội một tiếng đồng hồ. Ông cũng đọc cho tôi nghe hai trang công điện do phòng kiểm soát vô tuyến của ông thu được - tiện đây cũng mở thêm dấu ngoặc là các công điện đó không mở nổi - và vẫn theo ông những công điện ấy đã do một máy vô tuyến bí mật mà ông không sao xác định nổi vị trí.
Allistair và Caldwell liếc nhìn nhau thật nhanh. Họ hoàn toàn hiểu rằng một lần nữa, ông xếp đang ở cơn nóng lạnh. Allistair nghiêng người ra phía trước, nói như thì thào :
- Thưa thiếu tướng cho phép tôi được trình bày: Xin thiếu tướng hãy tin cho rằng những tin tức do chúng tôi thâu nhận đã được kiểm chứng và có giá trị cao. Dẫu sao, chúng ta đã nhiều lần có các dữ kiện cụ thể mà chúng ta đã không có hành động thích ứng nào. Chúng ta biết một cách chắc chắn rằng Caraolos đầy những cán bộ của Palmach đang huấn luyện quân sự cho các thanh thiếu niên tại thao trường của trại. Chúng ta biết, cũng một cách chắc chắn như thế, là dân Palestine đã cho các cán bộ của họ lên đảo ở một bãi biển vắng, gần Salamis. Và chúng ta có rất nhiều lý do để nghi ngờ tên Mandria, chủ hãng đóng tàu người Hy Lạp ấy, đã cộng tác với họ.
Sutherland nói to :
- Thôi! Thiếu tá không cho tôi biết thêm được gì. Chỉ có điều anh và nhân viên của anh đã quên một điểm: chính sự hiện diện của các người Palestine ấy đã ngăn các kẻ bị giam nổi dậy. Chính họ đã điều khiển các trường học, bệnh viện, hỏa đầu vụ, nói tóm lại họ làm cho trại hoạt động. Hơn nữa, họ duy trì một kỷ luật tuyệt hảo, giảm bớt số người đào thoát, chỉ để ra vào một số người nào đó thôi. Bắt giam các người Palestine đó, chúng ta sẽ có một tình hình hết sức gay cấn ngay.
Caldwell nói xen vào :
- Trong trường hợp như vậy, tôi thấy chỉ còn một cách: Làm sao các kẻ cho tin có thể cho chúng ta biết chính xác tụi Do Thái đang am mưu những gì.
Allistair phản đối :
- Điều bất hạnh là chúng ta lại không sao mua nổi một tay chỉ điểm Do Thái. Tụi họ liên kết với nhau trong bất cứ trường hợp nào. Mỗi khi chúng tôi tưởng đã tìm được một người thì tên đó lại chỉ cung cấp cho chúng ta các tin tức bịa đặt không chịu được.
Caldwell kêu lên :
- Nếu thế phải áp dụng biện pháp mạnh vậy. Hãy nghĩ ra các hình phạt làm cho chúng phải suy nghĩ.
Sutherland nói với giọng trách cứ :
- Anh Fred, như thế không nghe được. Những kẻ này không thể làm họ sợ được đâu. Anh đừng quên là họ đã được thực tập trong các trại tập trung của Quốc xã. Anh còn nhớ Bergen-Belsen chứ? Quả thực anh có tin là chúng ta tạo ra nổi cái gì ghê khiếp hơn thế không, Fred?
Thiếu tá Allistair bắt đầu hối tiếc là đã yêu cầu Caldwell đi cùng với mình vào đây. Chàng vội vàng nói :
- Nếu thiếu tướng cho phép, tôi xin được trình bày: Caldwell chỉ nói quá lời vậy thôi, anh ấy cũng là quân nhân như chúng ta. Nhưng tôi sẽ nói dối với thiếu tướng nếu tôi báo cáo là mọi sự yên tĩnh ở Caraolos và chúng ta vẫn tiếp tục có thể khoanh tay ngồi yên.
Sutherland rời khỏi ghế, tay chắp sau lưng, bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. Trong một thời gian nhiều phút, ông chỉ im lặng hút pipe. Sau cùng ông nói :
- Nhiệm vụ tôi đã được giao phó rất là rõ ràng. Tôi phải duy trì yên tĩnh trong các trại cho tới khi chính phủ quyết định thái độ đối với vấn đề Palestine. Hơn nữa, chúng ta phải tránh tất cả những gì các kẻ địch chúng ta có thể lợi dụng để tuyên truyền chống Anh quốc.
Caldwell thoáng nhăn mặt. Chàng không thể hiểu được tại sao Sutherland lại từ chối hành động, dám để cho các người Do Thái gây rối loạn. Một lòng nhân từ như vậy, khó có thể hiểu nổi.
Còn Allistair thì hiểu những lý do của thiếu tướng nhưng không vì thế mà tán thành. Chàng thích có một phản ứng mạnh và tàn nhẫn có thể làm đảo lộn các dự án của người Do Thái. Tuy thế chàng ý thức rằng ở vị trí của mình, chàng chỉ nên chuyển đến cấp chỉ huy những tin tức thâu thập được. Quyết định sau cùng chỉ có thể thuộc về thiếu tướng. Nhưng dầu sao... Thật bất hạnh khi Sutherland lại kiên nhẫn, khoan dung, khoan dung một cách “ngu” đến như vậy!
Sutherland hỏi :
- Còn gì nữa không?
- Dạ thưa còn. Một vấn đề mới. Cái cô nữ điều dưỡng Kitty Fremont người Hoa Kỳ ấy, cùng ông bạn ký giả Hoa Kỳ Mark Parker...
- Họ liên quan gì đến vụ này?
- Dạ có chứ. Chúng tôi không dám chắc hẳn cô ta là tình nhân của Mark Parker nhưng việc cô ta tới làm việc ở Caraolos lại trùng hợp với việc Parker tới Chypre. Vậy...
- Vậy sao?
- Dạ thưa... Parker chống Anh có phải không ạ?... Chúng ta có nhiệm vụ cần phải biết...
Sutherland la :
- Anh nói những điều xuẩn không à. Đó là ký giả giỏi. Khi hắn nói ra sai lầm để chúng ta trả giá đắt hồi 1944 trên mặt trận Hòa Lan, hắn chỉ hành nghề của hắn mà thôi.
Mặc dù cách giải quyết vấn đề khô khan như vậy của viên tướng, Allistair cũng chưa chịu thua.
- Theo ý thiếu tướng, chúng ta có nên cứu xét tới trường hợp sau không: Bà Fremont, khi nhận làm việc Caraolos, có thể có ý định giúp Parker thu thập tài liệu về trại. Tài liệu mà ký giả này có thể xử dụng để viết một bài báo...
- Tội nghiệp ông bạn trẻ của tôi! Nếu ngày nào giả thử anh có bị kết tội là giết người, tôi hy vọng rằng thẩm phán đoàn trước khi treo cổ anh, sẽ đòi hỏi những chứng cớ vững chắc hơn là những giả thuyết tùy hứng mà anh vừa đưa ra đó.
- Nhưng, thưa thiếu tướng...
- Thôi! Bà Fremont là một trong những nữ điều dưỡng chuyên khoa nhi đồng giỏi vào bậc nhất vùng Trung Đông. Chính quyền Hy Lạp đã chính thức khen ngợi bà về công trình đáng kể bà đã làm trong một cô nhi viện ở Salonique. Ta cũng biết rằng bà này cùng Mark Parker là bạn với nhau từ thời thơ ấu. Sự kiện này chính thiếu tá cũng đã ghi lại trong báo cáo. Cũng như thiếu tá đã viết, cũng trong báo cáo ấy, là chính các tổ chức cứu trợ Do Thái đã yêu cầu bà tới giúp. Này, thiếu tá Allistair... Tôi nghĩ rằng chắc cũng có lúc thiếu tá đọc các báo cáo của chính thiếu tá chứ?
- Nhưng thưa...
- Tôi chưa nói hết. Bây giờ chúng ta cứ tưởng tượng là những lo ngại ghê gớm nhất của thiếu tá xảy ra đi. Chúng ta tưởng tượng là quả thực bà Fremont tìm tài liệu cho ông bạn Parker để cho đương sự viết một loạt bài về Caraolos. Cứ cho như thế đi thì mọi sự sẽ đưa chúng ta đến đâu? Xin các ông nhớ cho rằng chúng ta đang ở cuối năm 1946... Chiến tranh đã chấm dứt hơn một năm rưỡi rồi. Trên toàn thể thế giới, mọi người đã chán các câu chuyện tị nạn với di dân rồi, những câu chuyện loại này không còn làm ai chú ý nữa. Ngược lại, việc trục xuất hai người Hoa Kỳ có tiếng, một nữ điều dưỡng và một ký giả, sẽ tạo ra một ấn tượng khó chịu. Mọi sự đến thế thì quả thực tùy các ông, chứ tôi không ham rồi.
Mặt đỏ bừng, Allistair vội vã cúi xuống nhặt lại những tờ giấy của bản báo cáo rơi xuống nền gạch, Caldwell đứng nhổm dậy :
- Thưa thiếu tướng điều hay nhất chúng ta có thể làm bây giờ là bắn bỏ vài ba tên Do Thái cho tụi chúng hiểu ai là người chỉ huy ở đây!
- Fred! Nếu anh thích bắn người Do Thái như thế, tôi có thể cho anh thuyên chuyển sang Palestine. Ở đó, anh sẽ có cả ngàn ngàn Do Thái, duy chỉ có một điều là những người này lại có võ trang và không hề chịu ngồi chết rục sau hàng rào kẽm gai đâu. Những chú bé mới lớn như anh, họ “ăn” hau háu hai hay ba người vào bữa điểm tâm.
Allistair đề nghị :
- Vào phòng tôi đi.
Cánh cửa vừa khép lại, Caldwell đã để cho cơn giận tự do bùng nổ.
- Theo ý tôi, ông Già bắt đầu lẩm cẩm rồi. Sao người ta không gắn cho ông ấy cái chức danh dự nào đó rồi cho về hưu cho rồi.
- Đúng thế đấy... Từ nhiều tuần nay tôi đã suy nghĩ. Sutherland đã tỏ ra bất lực trong việc kiểm soát tình thế nữa - bất lực một cách thảm hại. Này, tôi sẽ gởi một thư riêng trình tướng Tevor Browne.
Caldwel nhíu mày.
- Làm thế có vẻ liều mạng quá đấy, ông bạn.
- Có thể lắm, nhưng chúng ta phải hành động trước khi cái đảo này nổ tung lên. Anh là sĩ quan tùy viên của ông tướng. Nếu anh ủng hộ tôi, tôi nghĩ tôi có thể bảo đảm là không có hậu quả tai hại nào về sau cho anh đâu.
Caldwell cười khẩy nhận lời. Chàng đã mệt với Sutherland cùng các dáng điệu kiểu cách của ông ta rồi. Và cũng vì Allistair là bà con xa gần gì đó với tướng Tevor Browne...
Chàng nói nhỏ :
- Nếu anh có thể thêm vào thư đó vài lời có lợi cho tôi thì...
Một tiếng gõ cửa ngăn chàng nói hết câu. Một hạ sĩ bước vào, đặt một xấp giấy trên bàn rồi đi ra, Allistair đọc lướt qua rồi thở dài và nói :
- Mọi sự mỗi lúc rắc rối hơn rồi. Đây này, mọi người cho tôi biết là có một bọn ăn cắp tổ chức rất siêu đẳng: một bọn đa mưu túc kế đến nỗi mọi người chưa khám phá ra nổi là chúng ăn cắp của chúng ta cái gì nữa. Ồ, mẹ kiếp!
Vài ngày sau, tướng Tevor Browne đã có một bản báo cáo khẩn và mật của thiếu tá Allistair. Ý tưởng đầu tiên của ông là định cho gọi Allistair và Caldwell về Luân Đôn để nói cho họ biết ông coi phương thế họ đã làm có thể kể gần như là phản loạn. Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, ông ý thức rằng Allistair không bao giờ dám liều gởi đi một bản văn như vậy nếu tình hình không quá nghiêm trọng rồi.
Allistair khuyến cáo nên tung ngay ra một cuộc tảo thanh chớp nhoáng ở Caraolos để “làm đảo lộn các kế hoạch mà chắc chắn những người Do Thái đang âm mưu thực hiện”, Tevor Browne không thể biết được rằng, ngoại trừ khi hành động thật nhanh, nếu không vụ tảo thanh này sẽ phóng vào khoảng không: Ari Ben Canaan đã ấn định ngày, giờ đến tận cả phút cho vụ đào thoát của ba trăm đứa trẻ.
Người Anh vừa loan báo rằng nhưng căn trại mới ở gần Larnaca đã làm xong. và nhiều di dân trong tại Caraolos sẽ được chuyển sang trại mới. Việc di chuyển các kẻ này sẽ thực hiện bằng cam-nhông, từ bốn đến năm trăm người trong hai mươi tư giờ và trong một thời gian là mười ngày.
Ari Ben Canaan quyết định :
- Chiến dịch Gédéon sẽ xảy ra vào ngày thứ sáu.
Xử dụng các đường hầm, các thùng hàng, lối thoát qua chỗ đổ rác? Nếu không được, Ari sẽ chỉ việc mang các xe nhà binh của mình lại trại Caraolos, chở trẻ con lên mang đi, trước mũi tất cả mọi người.
0
Phần 1 - 20

Xin trao tận tay.
Ông Kenneth Bradbury, American News Syndicate,
Văn phòng Luân Đôn.

Brad thân,
Thư này cũng như bản văn đính kèm đây đã được gởi trực tiếp từ Chypre. Tôi đã trao các bản văn này cho một hoa tiêu của hãng British Intercontinental Airways.
Chiến dịch Gédéon sẽ bắt đầu trong khoảng năm ngày nữa. Trong chuyện này tôi đã hành động theo sáng kiến riêng, tin cậy vào linh khiếu riêng, bởi vì tôi cảm thấy từ vụ này sẽ xảy ra một cậu chuyện gay cấn bậc nhất.
Vào ngày N, tôi sẽ gởi một điện tín. Nếu ký tên Mark, có nghĩa là mọi sự đã xảy ra đúng như dự liệu, và anh có thể cho đăng bài của tôi gởi sẵn. Nếu ký tên Parker, anh hiểu là có trục trặc, án binh bất động.
Tôi đã hứa với anh chàng hoa tiêu mang thư này một bồi khoản là năm trăm đô la. Anh vui lòng thanh toán cho chứ?
Chúc anh mạnh
Mark PARKER.
Mark Parker, Khách sạn Dôme
Cyrénia (Chypre)

Dì Dorothée đã đến Luân Đôn bình an - STOP - Tất cả đều vui vẻ - STOP - Chờ đợi tin anh.
BRAD,

Vì bây giờ Kitty làm việc trong trại Caraolos, nàng đã rời Cyrenia và khách sạn Dôme để đến Famagouste, ở khách sạn “Vua George”. Mark thích ở lại Dôme hơn để có mặt tại chỗ khi chiếc Exodus tiến ra cảng.
Chàng đã đến Famagouste hai lần để thăm Kitty. Cả hai lần chàng đều không gặp: nàng đều ở trong trại, Mandria thố lộ với chàng cái gì ông đã nghi ngờ từ lâu: Kitty đã yêu cầu Karen, cô bé Đan Mạch Đức ấy phụ tá cho nàng, và hai người không bao giờ rời nhau. Mark cảm thấy một lo ngại ngấm ngầm. Khi cố gắng làm sống lại đứa con gái đã chết qua sự hiện diện thường xuyên bên cạnh của Karen, Kitty đã chơi một trò nguy hiểm, và hơi kỳ quái theo ý chàng. Chưa kể những giấy tờ giả nàng chuyển ra khỏi trại nữa.
Ngày N gần đến. Mark càng lúc càng bận, viết thư cho Kitty để hẹn gặp chắc chắn tại khách sạn “Vua George”.
Ngày hôm đó vào buổi sáng, khi phóng xe trên đường tới Famagouste, chàng mới ý thức thần kinh mình căng thẳng đến độ nào. Cho tới giờ, mọi sự đã diễn ra cách một dễ dàng hết sức đáng ngạc nhiên. Ben Canaan cùng nhóm người của anh đã làm tất cả những gì họ muốn trước mũi người Anh mà người Anh không hay biết gì cả. Việc thiết lập Đại đội 23 Vận tải, tân trang tàu Exodus, huấn luyện trẻ em, đều đã diễn tiến và hoàn tất không một trục trặc nào. Hiển nhiên là “Chiến dịch Gédéon” sẽ là vụ đẹp nhất trong nghề ký giả của Parker. Nhưng chỉ có điều đáng lẽ ra giữ vai trò nhân chứng khách quan, chàng lại cố giữ vai trò tham dự, ít phù hợp với nguyên tắc của báo chí, và điều này làm chàng thắc mắc nhất.
Kitty đợi chàng ở quán giải khát sân thượng khách sạn “Vua George”. Nàng nói tươi cười và chàng ngồi xuống, nàng nghiêng người hôn lên má chàng :
- Chào anh Mark!
Bực tức, chàng thấy nàng tươi đẹp, như trẻ lại mười tuổi. Nàng thấy nỗi bực dọc ấy.
- Anh Mark ạ, mọi người có thể coi anh lúc này như hiện thân của hạnh phúc đây. Có phải tại vì gần tới ngày đại sự đã làm thần kinh anh bết thế không?
- Không, anh như thường!
Kitty đặt ly xuống bàn.
- Vẻ cáu kỉnh của anh cách xa cả kí-lô-mét cũng thấy. Anh nên cắt nghĩa lẹ lên trước khi để cơn giận của anh nổ tung lên bây giờ.
- Hình như em là người phải cắt nghĩa mới đúng. Cái gì đã xảy ra vậy? Em giận anh phải không? Em không còn thương mến gì anh nữa hả?
- Trời ơi anh Mark.. quả thực tôi không ngờ anh dễ giận đến mức đó. Em bận nhiều việc quá... Vả lại chúng ta đã đồng ý quyết định là nên bớt gặp nhau trong hai tuần lễ vừa qua. Anh còn nhớ chứ?
- Anh chỉ nhớ là chúng ta là bạn thân, chúng ta từ xưa vẫn thường nói cho nhau biết mọi chuyện thôi.
- Em không hiểu anh định đưa câu chuyện tới đâu.
- Nếu em cần được nói rõ mọi sự ra mà chịu nhận, thì này đây... Karen; Karen Clement-Hansen, một cô bé tị nạn Đức Đan Mạch.
- Karen liên quan gì tới chuyện chúng ta!
Nàng vội vã ngắt ngang lời Mark.
- Karen là một cô bé dễ thương... Chúng tôi có cảm tình với nhau, chỉ có thế thôi.
- Vậy hả? Cô bé của tôi ạ, cô chưa từng bao giờ biết nói dối một cách khéo léo đâu. Cô cho phép tôi được nói rằng trong lúc này, cô đang cố gắng tạo ra cho cô cả đống phiền muộn khó khăn. Lần chót vừa rồi, cô đã từng thấy cô trần truồng trong giường của một thủy thủ không quen biết. Còn lần này, với một chút xíu may mắn thôi, cô dám đi tới chỗ tự tử lắm.
Hai cặp mắt nhìn nhau.. Bối rối, Kitty quay đầu đi, nói nhỏ :
- Thế mà em cứ tưởng em quân bình lắm. Trong suốt đời em... Trừ mấy tuần lễ vừa qua....
- Và bây giờ thì em để em mất quân bình nhanh gấp đôi để bù lại những năm quân bình đã qua phải không, Kitty?
Đột nhiên nàng nắm lấy tay chàng :
- Anh Mark. Em xin anh hãy cố gắng hiểu cho. Em có cảm tưởng đang được hồi sinh. Em biết những chuyện đó rồi sẽ chẳng đưa tới đâu... Nhưng Karen quả thật đáng chú ý.
- Em sẽ làm gì một khi nàng Karen ấy xuống tàu Exodus? Em sẽ theo cô bé ấy sang Palestine chăng?
Nàng dụi mạnh điếu thuốc lá, cầm ly lên uống cạn. Mark đang quan sát Kitty, thấy mắt nàng nheo lại, mặt có một vẻ mà chàng rất rõ. Nàng nói :
- Karen sẽ không đi với tàu Exodus. Em đã chỉ nhận làm việc với Ari Ben Canaan với điều kiện như vậy.
Mark tức giận, la lên :
- Em thật ngốc! Ngốc một cách đáng thương.
Kitty :
- Em xin anh. Xin anh thôi đừng bôi bẩn những tình cảm của em nữa. Từ nhiều năm nay, em sống cô đơn, thèm khát một tình yêu thương như thứ tình yêu thương Karen đã mang lại cho em, đổi lại sự thông cảm và sự trìu mến em có thể mang lại được cho Karen.
- Em đâu có muốn làm bạn cô bé đó, em chỉ muốn làm mẹ nó thì có.
- Cứ cho là thế đi! Thì có gì là xấu đâu.
Chàng nói với giọng giảng hòa :
- Thôi Kitty, chúng ta hãy thôi đối chọi với nhau và thử bình tĩnh xem xét lại vấn đề. Anh không biết em đã nghĩ ngợi ra làm sao, nhưng em phải biết rằng ông bố của Karen rất có thể còn sống. Vả lại, cho dù ông ta có chết rồi, cô bé đó vẫn còn có một gia đình ở Đan Mạch, bất cứ lúc nào cũng mong đón nàng trở về. Sau hết, cô bé đã bị nhiễm độc rồi - tất cả các người Do Thái đều bị nhiễm độc hết. Nó chỉ mơ ước có một điều thôi: Về Palestine.
Kitty cúi đầu. Mark buồn bã hối tiếc khi thấy vẻ cương quyết của nàng biến đi, thay thế bằng một nỗi buồn sâu xa. Nàng nói nhỏ :
- Em đã lầm lẫn khi chống đối lại không cho Karen đi với Exodus. Nhưng chỉ tại vì em hết sức muốn giữ nàng lại với em... Trong vài tháng, để làm nó tin em hoàn toàn... Và cũng để cho nó hiểu nếu sang Mỹ, sẽ sung sướng ngần nào. Nếu em được sống với nó, dầu chỉ trong hai ba tháng thôi, em sẽ lấy lại được quân bình...
- Kitty, cô gái đó đâu có phải con của em. Karen đâu phải là Sandra. Em đã bắt đầu đi kiếm một Sandra thứ nhì ngay sau khi chiến thanh chấm dứt. Em đã tìm ở cô nhi viện Salonique, và có lẽ cũng vì lý do đó, em đã nhận thách thức của Ben Canaan: lý do bởi vì có trẻ em ở Caraolos và em hy vọng sẽ tìm thấy một Sandra ở đó.
- Xin anh thôi đi, Mark. Đừng nói nữa, em không chịu nổi nữa.
- Cũng được, anh không nói thêm về chuyện ấy nữa. Bây giờ anh có thể làm gì cho em?
- Trước hết, anh kiểm soát giùm xem cha Karen còn sống không. Nếu ông chết rồi, em muốn nhận nó làm con nuôi và đưa về Mỹ cùng với em.
Chàng hứa :
- Được rồi, anh sẽ lo vụ đó cho em. Dầu sao...
Chàng đột nhiên ngừng nói. Chàng vừa nhận thấy Ari tiến vào. Mặc quân phục sĩ quan Anh, người thanh niên Palestine này đi thẳng về phía bàn hai người.
- David báo cho tôi biết có một trục trặc xảy ra ở Caraolos và cần sự can thiệp gấp của tôi. Tôi nghĩ rằng giá bà Fremont đi cùng tôi thì hay hơn.
Cả Mark lẫn Kitty hỏi cùng một lúc :
- Chuyện gì vậy?
- Tôi chưa biết đủ chi tiết. Chắc hai ông bà biết anh chàng Landau, tay chỉ huy tổ làm giấy tờ giả, kẻ hiện đang làm những lệnh thuyên chuyển để chúng ta có thể mang các trẻ ra khỏi trại. Theo tôi được hiểu, hắn từ chối tiếp tục làm việc trước khi gặp lại tôi.
Kitty ngạc nhiên :
- Nếu hắn muốn nói chuyện với ông, tại sao lại cần có tôi?
- Cái cô bé Đan Mạch bạn cô ấy là kẻ duy nhất hắn chịu nghe lời. Trong nội ba mươi sáu tiếng nữa, chúng tôi cần có đủ tất cả những lệnh thuyên chuyển ấy. Để làm cho hắn chịu làm việc lại, có lẽ chúng ta bắt buộc phải nhờ tới người trung gian thuyết phục là Karen. Chính cái cô Karen này mới có kết quả được.
Không nói một tiếng, Kitty thẫn thờ đứng dậy theo người thanh niên Palestine. Mark lắc đầu. Cái nhìn xúc động của chàng vơ vẩn rất lâu trên phía cầu thang Ari và Kitty vừa đi xuống.[/align][/align][/align]
0
Phần 1 - 21

Trong lớp học được xử dụng làm tổng hành dinh của các Palmachnik trại Caraolos, Karen bực tức nhìn người thiếu niên đang đứng trước mặt nàng. Dov Landau vóc người hơi nhỏ so với tuổi. Vẻ dịu dàng của khuôn mặt dưới mái tóc màu vàng có thể đánh lừa một kẻ nào chỉ quan sát thoáng qua. Ngược lại, cái nhìn lạnh như tiền của cặp mắt xanh lại bộc lộ một tâm hồn rắc rối, đầy hỗn độn và hận thù. Chàng đứng thẳng với dáng điệu thách thức trước một chỗ như một thâm cung, nơi đặt cơ sở làm giấy tờ giả mạo. Karen nói, giọng nghiêm khắc :
- Anh Dov! Anh đã lại giở cái trò gì vậy. Tôi đòi hỏi anh phải cắt nghĩa.
- Tôi chẳng giở cái trò gì ca. Tôi chỉ yêu cầu được gặp anh Ben Canaan.
- Tại sao?
- Cô coi này, những giấy tờ để phía sau tôi ấy. Đấy là những giấy tờ giả bắt chước các mẫu văn kiện của Anh. Anh David Ben Anri đã trao lại cho tôi một danh sách ba trăm người - các trẻ em ở khu chúng ta - mà tôi phải ghi vào các lệnh thuyên chuyển đến trại mới ở Lacarna. Nhưng các trẻ này sẽ không tới Lacarna. Chúng sẽ được đưa xuống một tàu của Mossad để về Palestine.
- Thế rồi sao nữa? Anh phải biết rằng chúng ta không bao giờ được cãi lại các mệnh lệnh của Mossad hay Palmach.
Dov thốt lên một tiếng lầu nhầu :
- Lần này, tôi định cãi đó. Tên chúng ta, cả tên tôi lẫn tên Karen đều không có trong bản danh sách... Tôi sẽ không hoàn tất những giấy tờ này ngày nào mà họ chưa cho phép tôi thêm tên chúng ta vào.
Karen phản đối :
- Vô lý. Trước hết, ngày chính anh cũng chưa chắc là có chiếc tàu ấy. Và dầu cho có đi nữa, thì họ cũng có lý do để giữ chúng ta ở lại đây. Anh cũng như tôi, chúng ta còn việc để làm ở trại này.
- Tôi cóc cần. Mọi người đã hứa với tôi là cho tôi đi Palestine, và tôi hết sức muốn đi.
- Anh không tin là chúng ta có một món nợ với Palmach sao? Anh đã quên tất cả những gì các anh ấy đã làm cho chúng ta sao?
Dov nhắc lại, khinh bỉ :
- Làm cho chúng ta. Karen quả thực ngây thơ: nếu các anh Palmachnik phải vất vả và liều mạng như thế để đưa những người di dân về Palestine, chắc chắn không phải vì thương những kẻ khốn cùng là chúng ta. Họ chỉ cần người để chống lại tụi Ả Rập.
- Thế còn những người Mỹ, người Pháp cùng tất cả những người không đánh nhau với Ả Rập... tại sao họ lại nâng đỡ chúng ta?
Dov cười khẩy :
- Để tôi nói Karen nghe tại sao: Họ làm như vậy chỉ để trả giá cho lương tâm yên ổn. Bọn họ hối hận vì đã thoát khỏi các phòng hơi ngạt.
Karen nắm chặt tay và nghiến răng lại trong một nỗ lực cố giữ cho mình bình tĩnh.
- Vậy anh chỉ biết đến có mỗi một thứ là sự căm thù sao?
Nàng quay lại toan đi ra. Dov nhảy xổ tới cản đường.
- Karen bây giờ cũng giận tôi... Tôi xin, Karen là người bạn duy nhất của tôi ở trên đời...
- Tất cả những gì anh muốn, là về Palestine để gia nhập một nhóm đặc công cho phép anh đi giết người. Thật ác độc, anh Dov!
Bằng một dáng đi thất vọng nàng trở về lớp học, buông mình xuống một ghế dài. Trước mặt nàng, trên bảng đen có viết một câu bằng phấn: “Năm 1917, Anh quốc qua bản tuyên ngôn Balfour, đã hoàn toàn chấp thuận cho thành lập một Quê Hương Do Thái ở Palestine”. Karen đưa hai tay ôm lấy đầu, thở dài :
- Cả tôi nữa, tôi cũng muốn hết sức về xứ đó. Cha tôi đã có ở đó, ông đang chờ tôi, tôi cảm thấy như thế...
Dov ngắt ngang lời :
- Karen trở về lều đợi đi. Anh Ben Canaan sắp đến rồi.
Karen đi rồi, Dov đi đi lại lại trong lớp cảm thấy sung sướng khi cơn giận của mình mỗi lúc một thêm lớn dần. Thời khắc qua. Sau cùng, hình dáng cao lớn của Ari hiện ra trong cửa: đằng sau chàng là David Ben Ami và Kitty Fremot vẻ mặt lo âu.
Cái nhìn của Dov càng trở nên nghi ngại hơn. Dov lầu nhầu :
- Tôi không muốn có mặt bà này ở đây.
Ari nói bằng một giọng cương quyết :
- Còn tôi, tôi rất muốn bà này hiện diện. Rồi, bây giờ chú có gì nói đi, tôi nghe đây.
Sau khi do dự một chút, Dov tiến về chỗ góc phòng đặt cơ sở, cầm một mẫu văn kiện giơ lên.
- Ba trăm đứa trẻ mà tôi phải ghi tên lên đây... Tôi tin chắc là thực ra, anh sẽ cho chúng xuống một chuyến tàu của Mossad.
Ari gật gù :
- Một điều rất có thể có lắm. Chú nói tiếp đi.
- Tôi xin nhắc lại với anh sự thỏa thuận của anh và tôi. Tôi chỉ hoàn tất những giấy tờ này khi nào anh đã cho phép tôi được thêm vào hai tên nữa, tên Karen Clement và tên tôi.
David Ben Ami muốn can thiệp :
- Chú không bao giờ nghĩ rằng chú là người tối cần thiết vì chú là kẻ duy nhất biết công việc ấy sao? Chú không bao giờ nghĩ rằng cả hai, chú và Karen đều hữu ích ở đây hơn là ở Palestine sao?
Dov trả đũa :
- Thế anh không bao giờ nghĩ rằng tôi có thể cóc cần chuyện đó sao?
Ari cúi đầu xuống để che giấu một nụ cười. Chú bé này quả thực tay lão luyện, cứng rắn, mưu kế, quen ăn miếng trả miếng - một sản phẩm điển hình của thế giới tập trung quốc xã. Chàng nói :
- Tôi có cảm tưởng chú là kẻ nắm dao đằng chuôi rồi đó. Được rồi, chú cứ việc thêm tên chú vào danh sách.
- Còn về Karen?
- Karen đâu có liên hệ gì với sự thỏa thuận đã có giữa chú và tôi.
- Vậy thì tôi đòi được thêm tên Karen vào nữa. Một thỏa hiệp, thay đổi được chứ sao không?
Ari đứng dậy, tiến về phía Dov, la :
- Coi chừng đó chú! Tôi không ưng thái độ của chú cho lắm.
Dov tự động lùi lại. Nhưng không chịu thua, Dov hằn học nói :
- Đấy, anh đánh tôi đi. Tôi đã từng qua các tay chuyên viên tra tấn, tôi biết ra sao rồi. Anh có thể giết được tôi nữa! Nhưng anh không làm tôi sợ đâu. Khi đi trải qua tay tụi Đức rồi, không còn biết sợ là cái gì nữa!
- Câm cái mồm!
Ari có vẻ gờm gờm nói tiếp :
- Chú khỏi cần phải đọc các khẩu hiệu tuyên truyền cho chủ nghĩa Do Thái làm gì vô ích. Đi về lều rồi đợi ở đó. Tôi sẽ trả lời chú trong vòng mười phút.
Dov lao ra cửa và biến mất. David kêu lên :
- Thằng nhãi ranh! Đáng lẽ ta phải...
Bằng một cử chỉ, Ari mời David ra ngoài. David vừa mới đóng cửa lại, Kitty đã níu lấy áo Ben Canaan.
- Karen sẽ không đi tàu đó! Anh đã hứa với tôi như vậy rồi! Karen sẽ không đi với Exodus.
Ari nắm lấy hai cổ tay nàng :
- Cô bình tĩnh lại đi nếu cô muốn tôi nghe cô. Chúng tôi đã có quá nhiều vấn đề phải giải quyết rồi để còn có thể lo thêm cho một bà điên loạn nữa.
Kitty vùng ra khỏi tay Ari. Chàng nói tiếp.
- Hãy nghe tôi đây. Giai đoạn chót của chiến dịch Gédéon sẽ phải bắt đầu trong nội bốn ngày nữa. Vậy mà chúng tôi không thể làm được gì hết nếu tên Dov đó không hoàn tất các giấy tờ. Điều đó có nghĩa là Dov nắm cổ họng chúng ta và hắn biết rõ thế...
- Anh hãy nói với hắn đi... hứa với hắn bất cứ điều gì, nhưng trời ơi,... anh hãy để Karen ngoài vụ này đi.
- Dù tôi có sẵn lòng nói tới khản cổ nếu tôi tin rằng lời nói của tôi dùng vào việc gì.
- Tôi xin anh, anh Ben Canaan... Anh hãy thử, cứ thử... Sau cùng chắc rồi hắn cũng chịu. Một khi hắn đã được đi, hắn...
Ari lắc đầu :
- Tôi tin ngược lại. Những tên nhóc như hắn, tôi đã thấy hàng trăm rồi. Bọn chúng không còn chút gì là con người... Hay ít ra cũng chẳng còn bao nhiều là tính người. Trong tường hợp Dov Ladau, sợi dây ràng buộc sau cùng hắn với đạo đức chính là Karen. Cô cũng biết như tôi rằng không có gì có thể làm lay chuyển lòng chung thủy tuyệt đối của hắn đối với nàng...
Kiệt lực, Kitty dựa vào tường. Ben Canaan có lý, nàng đành phải chấp nhận. Dov Landau chắc chắn là một sản phẩm của cống rãnh tập trung, hết thuốc chữa, nhưng đối với Karen, hắn vẫn tỏ ra một một lòng chung thủy tuyệt đối. Nhưng Parker, cũng có lý nữa. Chính nàng đã hành động như một con bé ngu ngốc. Ari nói :
- Tôi chỉ còn thấy có một giải pháp. Cô hãy đi tìm cô bé đó, thú thật mọi tình thươnng mến của cô đối với cô bé. Cắt nghĩa cho cô bé hiểu tại sao cô lại cần cô bé ở lại Chypre như vậy.
Nàng nhìn chàng với con mắt đầy buồn nản, thì thào :
- Tôi không thể làm được. Tôi sẽ chẳng bao giờ làm..
Ari nói nhỏ :
- Kitty, tôi sẵn lòng trả giá thật đắt để tránh cho Kitty chuyện buồn này. Nhưng tôi rất tiếc...
Đây là lần đầu tiên chàng gọi nàng bằng tên. Kitty nói bằng một giọng không thành tiếng :
- Xin anh đưa tôi trở lại với anh Mark.
Ra tới tiền sảnh, hai người gặp David.
- Chú đi nói với Dov là chúng ta nhận điều kiện của nó. Bảo nó tiếp tục làm việc ngay.
Năm phút sau, một chàng Dov Landau hết sức vui mừng nhảy bổ vào lều Karen, kêu lớn :
- Chúng ta sẽ đi Pa1etsine! Palestine!
Karen nói nhỏ :
- Trời ơi! Trời ơi!
Dov cầm lấy tay Karen kéo nàng ra ngoài. Đi dưới các hàng cây keo hoang, hai người đi về thao trường nơi một nhóm trẻ đang tập đấu dao găm dưới sự huấn luyện của Zev.
Đêm về khuya, Dov một mình tản bộ đọc theo hàng rào kẽm gai. Phía bên kia hàng rào, những người lính gác Anh đi đi lại lại. Xa hơn nữa là một tháp canh với đèn pha và súng liên thanh.
Rào kẽm gai... Súng liên thanh... Những người lính...
Chàng đã được sống ngoài kẽm gai khi nào? Rất nhiều năm về trước... xa xôi đến nỗi chàng khó khăn mới nhớ lại nổi.
Kẽm gai... súng liên thanh... lính gác... Cứ như thế hoài đến nỗi chàng tự hỏi có một đời sống thực không ở bên ngoài tất cả các thứ đó. Bất động, im lặng, Dov tìm cách nhớ lại... quá xa, thật quá xa rồi trong quá khứ...
0
Phần 1 - 23

Quân Đức rất bực tức về vụ tiếp đón thiên hạ để dành cho chúng ở ghetto. Được triệu gọi tới dinh toàn quyền Frank viên ủy viên của Gestapo chịu trách nhiệm về khu Do Thái đã thề rằng sẽ giải quyết thanh toán vấn đề trong hai hay ba ngày. Để bắt đầu, họ tìm cách bôi xóa cảm tưởng có hại do “biến cố” này gây ra nơi các người dân Ba Lan. Mọi người đã nói đi nói lại là tất cả các người Do Thái đều hèn nhát, còn bây giờ thì quân Đức cả quyết với dân Ba Lan là vụ nổi dậy chỉ là công trình của một nhóm nhỏ điên khùng và lệch lạc, những kẻ trong quá khứ đã cưỡng hiếp các cô gái bé Ba Lan.
Trong ghetto, tổ chức trung ương kháng chiến, sau khi thanh toán tàn nhẫn các kẻ hợp tác với quân thù, đã chiếm ngữ các vị trí phòng ngự đã để ý sẵn và chuẩn bị sẵn từ lâu.
Thời gian chờ đợi khá dài. Quân Đức chỉ trở lại vào hai tuần lễ sau. Lần này các toán quân tiến vào đều võ trang nặng và tiến một cách thận trọng. Nhưng một lần nữa, hàng rào đạn mạnh mẽ của những người Do Thái ẩn nấp kỹ và chắc chắn đã bắt buộc quân Đức phải rút lui ra ngoài vòng ghetto.
Bộ tham mưu Đức, quá bực tức, nhất định tung ra một cuộc tấn công dữ dội. Sự kiện đáng chú ý là ngày quân Đức ấn định mở ra cuộc hành quân này lại trùng với ngày khởi đầu của các ngày lễ Pessachs, tuần thánh Do Thái, đánh dấu cuộc di cư tập thể của các người Do Thái thời cổ đã được Moise giải phóng khỏi gông cùm Ai Cập.
Vào lúc 3 giờ sáng, ba nghìn quân S.S tăng cường bằng các chú lính “Xanh” Ba Lan và Lithuanie bao vây ghetto. Hàng chục đèn pha soi sáng địa thế, chỉ định các mục tiêu cho các súng cối và trọng pháo. Hàng rào hỏa lực cứ thế tiếp tục cho tới rạng đông.
Trời sáng, quân S.S xung phong. Vượt bức tường bao quanh tại nhiều điểm, các đạo quân hướng về trung tâm ghetto không gặp một sự kháng cự nào. Đột nhiên, khi đa số quân Đức đã đi sâu, tản mác vào các đường hầm, ngoằn ngoèo, bên phòng ngự mới nổ súng, bắn địch trong tầm súng hiệu lực nhất. Và đây là lần thất trận thứ ba của quân Đức.
Hai mươi bốn giờ sau, một trận tấn công bằng chiến xa đã bị đẩy lùi bằng các chai xăng châm lửa. Thiếu sự yểm trợ, các thiết giáp đã bị đốt cháy, quân S.S. phải rút lui lần thứ tư, để lại hàng trăm người tử trận trên chiến trường.
Toàn quyền Frank không chịu nổi nữa. Ông cách chức tên ủy viên Gestapo và thay thế bằng một tướng S.S, với mệnh lệnh là phải san bằng ghetto giết hết những người trong đó để làm gương như thế nào để từ giờ về sau không còn ai dám thách thức sức mạnh của Đức quốc nữa.
Viên tướng S.S. là một người có kế hoạch. Mỗi ngày ông ném ra một trận tấn công mới, sử dụng một chiến thuật mới, đánh vào một hướng mới. Các chiến binh Do Thái chiến đấu như điên, từng căn nhà một, từng phòng một, từng tầng gác một. Họ nhất định không chịu để bắt sống. Trong ba tuần lễ nữa, sư đa mưu, lòng can trường và niềm tuyệt vọng đã cầm cự nổi với các trận tấn công hàng ngày, mặc dù ưu thế quá mạnh của địch. Tuy vậy, không còn ngờ gì được nữa về kết thúc của trận chiến: bên Do Thái không thể thay thế những người đã tử trận, mức tiêu thụ đạn dược cao hơn mức sản xuất của các cơ xưởng thô sơ của họ rất nhiều, và không còn có thể nghĩ tới chuyện đánh chiếm lại một vị trí đã bị địch quân lấy mất, dù vị trí này có là quan yếu cho việc bảo vệ một khu đi nữa.
Bên phía quân Đức, viên tướng S.S. cũng không vì thế mà kêu lên là mình thắng trận. Các quân sĩ của ông đã bị nhiều thiệt hại nặng, và tuyên truyền Quốc xã không thể nào che giấu được nữa sự kiện đáng ngạc nhiên sau: một nhóm người Do Thái đói khát đã đánh bại các đơn vị ưu tú nhất của quân lực Đức. Viên tướng quyết định đổi phương pháp. Ông cho rút quân ra khỏi ghetto, xiết chặt vòng vây chung quanh rồi đưa pháo binh nặng tới.
Khi đó, quả là địa ngục. Không ngừng, các súng lớn bắn vào khu Do Thái, phá hủy một cách có hệ thống cho đến tận bức tường sau cùng. Đêm đến, các oanh tạc cơ Heinkel trút xuống hàng trăm trái bom lửa.

Một buổi tối, sau khi bàn luận với các chỉ huy trưởng các đơn vị khác, Mundek trở về bunker của Những Kẻ Chuộc Tội. Các người của anh cũng như chính anh đều đi tới mức kiệt lực tối đa vì mệt, đói và khát. Nhiều người trong họ còn mang trên người những vết bỏng nặng. Một người lên tiếng hỏi :
- Chúng ta đã lập nổi liên lạc với kháng chiến Ba Lan chưa?
- Rồi chứ... Nhưng quý vị đó không hề có ý định đến cứu giúp chúng ta về đạn dược, vũ khí, bánh mì, nước; chúng ta chỉ còn có thể trông cậy vào những gì chúng ta hiện còn. Điều đó có nghĩa là chúng ta không còn thể chiến đấu theo một kế hoạch chung nữa. Kể từ ngày hôm nay, mỗi bunker sẽ tự mình chiến đấu đơn độc. Dĩ nhiên là chúng ta sẽ thử giữ liên lạc với bộ chỉ huy trung ương, nhưng chúng ta sẽ tự mình tổ chức và thực hiện các vụ phục kích và tấn công.
- Chúng ta còn cầm cự được bao lâu nữa, anh Mundek? Chúng ta chỉ con có ba mươi người, mười súng lục và sáu carbine.
- Ai biết được... Tất cả quân lực Ba Lan chỉ cầm cự được có hai mươi sáu ngày. Chúng ta đã làm được hơn họ rồi.
Mundek cắt lính canh, phân phối các khẩu phần ít ỏi và chỉ định những người sẽ đi tuần thám vào lúc rạng đông.
Một cô gái đã cầm lấy một chiếc phong cầm cũ kỹ, chơi một điệu nhạc chậm và buồn bã. Hết thanh niên này đến thanh niên khác, lên tiếng hát cùng thiếu nữ - một bài ca êm ái họ đã học ngày xưa trong các buổi hội của Những Người Chuộc Tội, lời ca ngợi vẻ đẹp của miền Galilée với các quả đồi tươi tốt và các cánh đồng phì nhiêu. Trong chiếc hầm ẩm ướt này, đào sâu dưới ba thước đất bị cầy nát của ghetto Varsovie, những người trẻ tuổi này ca ngợi vẻ đẹp của xứ Israel mà có lẽ chẳng bao giờ họ sẽ được nhìn thấy.
Đột nhiên có tiếng la nhỏ của người canh :
- Báo động!
Các ánh sáng tắt phụt, một im lặng nặng nề rơi xuống căn hầm. Một bàn tay hối hả gõ vào cửa, theo mật khẩu. Cửa mở, ánh sáng trở lại.
- Dov! Chú trở về đây làm gì?
- Anh Mundek, em xin anh... Đừng bắt em đi nữa!
Hai anh em hôn nhau và Dov bắt đầu khóc. Cần phải một thời gian hắn mới trấn tĩnh lại được. Sau cùng hắn loan báo một tin ghê tởm: kháng chiến Ba Lan cương quyết và dứt khoát từ chối cứu trợ ghetto, và ngoài ra thiên hạ ít nói tới vụ nổi dậy của người Do Thái ở ngoài thành. Mọi người không muốn nhắc tới nữa. Dov nói thêm :
- Khi trở về đây, em đã trông thấy trong các ống cống rất nhiều người của chúng ta, đàn ông đàn bà nằm trong bùn, quá yếu vì đói khát. Và dẫu sao họ cũng chẳng còn biết đi đâu nữa. Ở Varsovie không ai muốn có họ hết.
Vì như thế, Dov Landau, một đứa trẻ mười ba tuổi đã trở lại với ghetto để ở lại nơi này. Và Dov không phải là kẻ duy nhất làm vậy. Trong những ngày sau đó, mọi người chứng kiến một hiện tượng kỳ lạ: từ Varsovie các làng chung quanh, hàng chục hàng trăm người Do Thái đã trốn thoát được và ngụy trang được thành người công giáo đã trở lại ghetto để tham dự vào trận đánh sau cùng. Họ cho rằng chết trong nhân phẩm vẹn toàn là một một đặc quyền đẹp đẽ.

Sau cùng, pháo kích ngưng, các đám cháy tắt. Và các S.S. lại tấn công. Lần này chúng nắm giữ tất cả mọi ưu điểm. Người Do Thái không còn các vị trí phòng ngự, không còn đường liên lạc giữa các cứ điểm, các dự trữ đạn dược, bánh và nước đã hết hoàn toàn. Quân Đức tiến có phương pháp, mỗi lần chỉ bao vây một khu thôi để thanh toán tất cả các bunker trong khu đó bằng trọng pháo và súng phóng lửa.
Chúng cố gắng hết sức bắt tù binh để tra tấn mà kiếm ra vị trí các hầm trú. Nhưng các người Do Thái thích bị thiêu sống hơn là để lọt vào tay địch hay đầu hàng.
Không dám phiêu lưu vào các ống cống, quân Đức bơm hơi ngạt xuống. Ngay lập tức, nước bùn dưới cống đã lôi theo những chùm xác người bám vào nhau. Dầu thế, kháng chiến vẫn tiếp tục đột kích chớp nhoáng các toán quân Đức tách ra khỏi chủ lực, các toán quyết tử lao vào đích tay cầm các lựu đạn mở chốt sẵn đã làm cho quân Đức thiệt hại hàng trăm người. Bấy giờ tổng số tổn thất của quân Đức đã lên tới nhiều ngàn người.
Ngay 14 tháng 5, Mendek họp tất cả mười hai người sống sót trong tổ chức của anh lại. Anh cho họ chọn một trong hai đường: hoặc ở lại với anh, chết với vũ khí trên tay, hoặc là theo Dov trốn ra ngoài ghetto bằng những ống cống mà Dov biết có thể không có hơi ngạt. Dov ra đi ngay để tìm những lộ trình còn dùng được. Hắn thò ra phía bên kia tường, vô sự, nhưng khi đến gần số 99 đường Zabrowska, linh tính báo động làm hắn chậm bước. Với dáng điệu thản nhiên, hắn đi qua nhà, không vào. Cặp mắt sắc của hắn đã ghi nhận thấy ngay khoảng một chục người rải rác trên các vỉa hè, quan sát căn nhà. Dov không biết bà Wanda đã bị bắt chưa, nhưng hắn biết chắc chắn là căn nhà này không còn là nơi ẩn trú.
Hắn chỉ trở lại ghetto vào rất khuya trong đêm. Lạc lõng giữa các hoang tàn đổ nát bôi xóa cả đến các đường phố, hắn vất vã mới tìm ra lối vào bunker. Khi bước xuống các bậc thang đào trong đất, hắn đã ngửi thấy mùi thịt cháy khét quen thuộc. Hắn châm ngọn nến bao giờ cũng mang theo trên người mỗi khi xuống đường cống, và chậm chạp đi quanh hầm, quỳ gối trước từng xác người. Các tia lửa của súng phóng lửa đã lọt thẳng vào hầm trú, thiêu cháy các xác đến độ không sao nhận diện được nữa. Dov không sao biết được đâu là xác của anh mình nữa.
Ngay 15 tháng 5 đài phát thanh Do Thái phóng đi lời kêu gọi sau cùng :
“Đây là tiếng nói của Ghetto Varsovie! Nhân danh tình thương của Chúa, hãy cứu giúp chúng tôi!”
Ngay 16 tháng 5 năm 1943, bốn mươi hai ngày sau khi khởi nghĩa, quân S.S. đặt mìn cho nổ tung đại giáo đường Do Thái, tòa nhà trong bao nhiêu năm đã là biểu tượng cho Do Thái giáo ở Ba Lan. Cũng như đền thờ của Salomon đã bị quân La Mã hủy diệt, đền thờ của Do Thái giáo ở đường Tlamatzka bị phá tan bởi tay quân Đức. Và toàn quyền Frank đã có thể loan báo rằng vấn đề ghetto Varsovie đã tìm thấy được “giải pháp sau cùng”.
Bản thông cáo quân sự cho biết rằng trong vòng thành của ghetto, chỉ còn những mẩu tường không cao quá tầm người, quân chiến thắng đã thu hồi được mười sáu súng lục và bốn súng trường, những nhà cửa đổ nát trong khu sẽ cung cấp được nhiều vật liệu xây cất, không có bắt được tù binh nào.
Thoát chết một cách nhiệm mầu, Dov tụ hội cùng sáu người sống sót khác. Họ bắt đầu lục lọi các bunker cho tới khi kiếm được vũ khí đủ dùng. Sau đó, họ tổ chức cuộc sống. Ban đêm, Dov hướng dẫn họ “xuyên dưới tường” ra Varsovie để đánh cướp các kho lương thực. Ban ngày, họ chui xuống cố thủ dưới đất, trong một bunker được đào sau khi trận đánh đã kết liễu. Trong năm tháng liền, một trăm năm chục ngày liền mà mỗi ngày là một thiên thu, họ không một lần trông thấy ánh sáng mặt trời. Rồi người này đến người kia kế tiếp nhau chết: ba người bị bắn hạ trong một cuộc đột kích ở Varsovie, hai người khác tự tử, người thứ sáu chết vì đối.
Sau cùng, Dov bị một toán tuần tiểu Đức khám phá ra. Hắn đang dở sống dở chết, gầy như bộ xương, không còn hình dạng con người nữa. Toán quân chỉ làm hắn đủ tỉnh trở lại để kéo đến tổng hành dinh của Gestapo. Bị thẩm vấn, tra tấn tàn nhẫn, Dov không hé răng. Dầu thế nào, số phận của hắn cũng được định đoạt rồi: Dov Landau, mười ba tuổi, con chuột của ghetto và ống cống, tay làm giả mạo đầy kinh nghiệm, sẽ được biết niềm vui của sự tái định cư. Nơi được gởi đến: Aushwitz!
0
Phần 1 - 24

Khi đoàn tàu dài lê thê, năm mươi toa chở hàng lộ thiên ngừng lại ở Chrzanov, trạm ngừng chót trước khi tới Auschwitz, hơn một phần năm số người bị đưa đi đã chết vì lạnh. Trong những người còn sống, hàng trăm kẻ bị tuyết giá dán chặt vào các vách toa, không sao nhúc nhích mà không làm tuột da chân da tay. Nhiều người đàn bà ném con xuống, kêu gọi những kẻ tò mò chạy đến xem là hãy mang các đứa nhỏ ấy và che giấu cho chúng. Họ lấy các xác chết ra đem nhét vào sau toa phụ móc ở cuối đoàn tàu. Tất cả y phục chỉ là một chiếc sơ mi rách, Dov cũng không khá gì hơn các bạn đồng hành. Dầu vậy hắn vẫn giữ được sự nhanh nhẹn, tinh khôn, tránh khỏi chết rét. Hoàn toàn biết rõ những gì đang chờ đợi mình, hắn biết rằng chỉ có giữ được hoàn toàn khả năng, hòa hợp trí thông minh đã được thử thách với mưu kế và bình tĩnh, mới hy vọng được sống thoát mà thôi. Đoàn tàu lại chạy. Auschwitz chỉ còn cách đó một giờ xe chạy.
Đoàn tàu đi qua ga Aushwitz để dừng lại xa hơn, ngã tư Birkenau nơi đặt các phòng hơi ngạt, Dov cố gắng thở cho bình tĩnh: giờ phút sắp tới sẽ quyết định mạng sống của hắn.
Các cửa toa được mở chốt, rồi với lệnh khàn giọng: Rans! Rans. Thu thập hết tàn lực, các người Do Thái tập hợp trên ke, đối diện với hàng quân S.S. trang bị đoản côn, roi da, súng lục, kèm với các con chó vĩ đại đang chồm lên kéo căng dây xích. Chưa chi roi da và gậy đá đập lia xuống các đôi vai còng. Nhiều tiếng súng nổ bắn chết những người nào yếu quá không đi nổi.
Xếp hàng bốn, đoàn người đáng thương bắt đầu di chuyển, tiến từng bước về một căn nhà lớn ở tận đầu ke.
Dov nhìn chung quanh. Phía bên trái, bên kia các đoàn tàu, có một đoàn cam nhông đang đậu. Các xe này mui trần: vậy đó không phải là các “quan tài hơi ngạt”. Phía bên phải, đằng sau dãy lính, ta người nhận thấy giữa một bãi cỏ rộng lác đác vài cây cao, nhiều nhà cao bằng gạch. Còn những ống khói tròn cao thì khỏi cần nói, đó các phòng hơi ngạt...
Một cơn buồn nôn xuất hiện, do sợ hãi gây ra, suýt làm Dov gập đôi người lại. Trước hắn, một người vấp chân ngã gục xuống, đang cố gắng đứng dậy. Hai lính S.S. thả chó ra, các con chó nhảy xổ đến người ngã quỵ đó cắn nát người ra từng mảnh. Nghe thấy các tiếng kêu thét của kẻ bất hạnh đó, Dov bắt đầu run. Hắn phải hết sức cố gắng mới trấn tĩnh được: hắn biết rằng mọi cơn hoảng hốt lúc này đều tai hại cả.
Sau cùng toán người có Dov tiến vào tòa nhà lớn. Quân S.S. chia họ ra làm bốn hàng, tiến theo bốn hướng khác nhau về bốn cái bàn để ở cuối phòng. Sau mỗi bàn, có một y sĩ Đức ngồi, chung quanh là các phụ tá và lính gác. Dov chú mục vào cái bàn ở đầu hàng của hắn, hy vọng đoán được cái gì sẽ xảy ra.
Viên y sĩ quan sát rất nhanh người đàn ông hay đàn bà đến trước mặt rồi bằng một giọng lạnh lùng, ra lệnh cho kẻ đó đi ra bằng một trong ba cửa ở phía cuối phòng.
Cửa thứ nhất mở ra phía bên phải. Dov nhận thấy bảy trên mười người phải đi cửa này: các ông già, trẻ con ít tuổi, những người đã yếu sức rõ ràng. Và vì những khối nhà ở bên phải nhà ga là các phòng hơi ngạt, Dov không khó gì mà không hiểu rằng những người ra cửa bên phải sẽ bị giết chết ngay.
Cửa bên trái dẫn ra con đường có đoàn cam-nhông đang đợi. Viên y sĩ chỉ cửa này cho hai người trên mười, lựa trong những người khỏe mạnh nhất. Chắc các kẻ này sẽ bị gởi tới các trại lao động cưỡng bách..
- Chú ra kia ngồi đợi.
Dov tuân lời. Một cuộc “diễn hành” thảm thương lại tiếp diễn. Cách quân S.S. và các con chó ngao đang gầm gừ hai bước, Dov ngồi nghe liên tiếp việc kết án tử hình với tốc độ một phút bốn người.
Sau cùng viên phụ tá trở lại, đi cùng với một sĩ quan ngực đầy huy chương. Viên y sĩ đưa tờ giấy có chữ ký ra, viên sĩ quan ngắm nghía hồi lâu các chữ ký, hỏi xẵng giọng :
- Mày học cái nghề này ở đâu?
- Ở ghetto Varsovie.
- Ở đó mày làm công việc gì?
- Làm giả giấy thông hành, giấy cho phép di chuyển, đủ các loại giấy tờ. Tôi có thể bắt chước bất cứ loại giấy tờ nào.
- Đi theo tao!
Trong chiếc xe chạy về Auschwitz, Dov nhớ lại những lời nói của anh Mundek: “Phải có một người trong giòng Landau còn sống sót”. Chiếc xe chạy chậm lại, vượt qua cổng chính của trại. Ở phía trên cổng, một hàng chữ ghi: TỰ DO BẰNG LÀM VIỆC.

Khu trung tâm nằm giữa một khoảng bùn lầy. Hàng dãy nhà bằng gỗ, khu này cách khu kia bằng các hàng rào kẽm gai có chuyền điện. Khu trung tâm là khu dự trữ lao công cho chừng ba mươi trại khác. Mỗi kẻ tù đày này mang trên cánh tay trái và ngực trong bộ quần áo nhà tù, trắng sọc đen các phù hiệu khác nhau: vòng tròn hồng cho các kẻ đồng tính dục năm, vòng đen cho các cô gái phải làm điếm cho các quân S.S., vòng xanh cho “thường tội”, vòng tím cho các linh mục, vòng đỏ cho dân Ba Lan và Nga, còn về dân Do Thái, họ mang phù hiệu truyền thống là ngôi sao sáu cánh David..
Đối với ban giám đốc trại, không hề có kẻ mang tên Dov Landau. Trên các sổ sách, chỉ có thêm một tên Do Thái nữa, ghi với số 359.195 - con số mà mọi người đã xâm vào cánh tay trái Dov.
Ngày sinh nhật thứ mười bốn, đã làm cho Dov liên tưởng đến định mệnh đã mang lại cho mình món quà quý hóa nhất: đời sống. Món quà lại càng kỳ diệu hơn nữa bởi vì đối với Dov, đời sống ở Auschwitz tương đối chịu được: nhóm làm giấy tờ giả của Dov được hưởng một số đặc quyền. Dov làm việc trong một xưởng lo chế tạo đồng một và năm đô-la Hoa Kỳ dành cho các cán bộ và điệp viên quốc xã trong các nước Tây phương. Các người làm bạc giả được miễn các công tác nặng nhọc tại các công trường bên ngoài và còn may mắn là khỏi chết vì đói...
Tuy vậy, sau vài tháng, Dav bắt đầu tự hỏi cái chết ngay lập tức trong các phòng hơi ở Birkenau có lẽ là thích hơn chăng. Trong khu trung tâm và các trại lao công cưỡng bách, số người chết vì tra tấn, bệnh tật và thiếu ăn đạt đến một con số cũng ghê khiếp như là mức “sản xuất kỹ nghệ” của các phòng hơi ngạt. Dov không biết tại làm sao hắn còn giữ nổi sáng suốt cùng ý chí muốn sống nữa.
May mắn thay, cũng có một vài tia sáng chiếu được tới đáy của vực thẳm cùng khốn này: một ban nhạc trong trại, một phong trào kháng chiến quan trọng có một máy thu thanh, và đôi khi có được một người đàn bà để giải quyết sinh lý nữa.
Đến mùa hè 1944, một sự náo động lan rộng trong trại. Mỗi ngày một thường hơn các oanh tạc cơ Nga bay ngập trời, và các đài phát thanh loan tin các chiến bại của Đức. Niềm hy vọng yếu ớt, rụt rè nhưng dai dẳng, vượt qua các hàng rào kẽm gai, che phủ tiếng kêu của những kẻ bị hành hình, làm quen với bùn lầy và đói khát nhưng cũng là một tai họa, mỗi chiến thắng của Đồng minh làm “phấn khởi” quân S.S. Với một cơn tàn sát điên cuồng đến nỗi về sau các kẻ bị giam giữ gần như sợ hãi các tin tức chiến thắng của Đồng minh, ở Birkenau nhịp độ giết người mỗi ngày một gia tăng, và các phòng hơi ngạt hoạt động hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ.
Ngay từ đầu mùa thu, mọi người đã cảm thấy rằng quân Đức đang thất trận. Trên tất cả mọi mặt trận, quân Đức mỗi ngày một lùi. Nhưng thảm bại càng gia tăng, cơn điên dại diệt chủng của chúng càng tiến tới cực điểm. Eichmann, viên đại tá S.S. ghê gớm ấy, đã động viên tất cả mọi phương tiện để thi hành nhiệm vụ  mà Fuhrer [1] đã trao phó: Diệt chủng.
Vào tháng mười, các sonderkommandos (các kẻ bị giam giữ nhưng được quân Đức cho sống để dọn các xác chết ngạt) đột nhiên nổi dậy và thành công trong việc làm nổ tung một trong bốn lò thiêu xác của Birkenau. Kể từ đó, mỗi ngày đều có những vụ nổi dậy bất chợt, các sonderkommando bắt hai, ba hay năm tên S.S. cùng với những con chó đem ném vào trong lò thiêu xác. Sau cùng, chỉ huy trưởng Birkenau cho hành quyết tất cả các sonderkommando rồi yêu cầu trại trung ương cung cấp các ê kíp mới.
Bị dồn vào chân tường, Eichmann quyết định làm một mẻ lớn. Hắn cho lệnh di chuyển đến Birkenau và giết ngay lập tức hai mươi ngàn Do Thái - gồm các giáo sư đại học, nhà văn, y sĩ, trạng sư - đang bị giam giữ ở trại “đặc quyền” Theresienstadt bên Tiệp Khắc mà chính quyền Hitler cho tới giờ vẫn hứa là tha không giết.
Số người Do Thái bị giết ở Birkenau gia tăng đều và tiếp tục gia tăng. Vào cuối năm 1944, tổng số lên tới gần một triệu Do Thái Ba Lan, năm mươi ngàn Do Thái Đức, một trăm ngàn Do Thái Hòa Lan, một trăm năm chục ngàn Do Thái Pháp, năm chục ngàn Do Thái Úc và Tiệp, trong đó có Do Thái Hy Lạp và hai trăm năm chục ngàn Do Thái Bảo Gia Lợi, Ý, Nam Tư và Lỗ Ma Ni, cộng thêm hai trăm năm chục ngàn Do Thái Hung Gia Lợi nữa.
Một triệu chín trăm ngàn xác chết...
Vào tháng mười một, xưởng làm bạc giả đột nhiên đóng cửa. Các tay làm bạc giả bị gởi đến Birkenau để thay thế cho các sonderkommando đã bị thanh toán.
Dov và vài người bạn nữa phải làm trong một hành lang lớn dẫn đến một phòng hơi ngạt. Trong khi hơi ngạt đang tác động, họ nghe thấy rõ rệt những tiếng kêu hấp hối, tiếng đấm cửa hối hả làm rung động các tấm cửa sắt nặng nề. Khi thần chết đã làm im những tiếng kêu sau cùng, họ phải đợi thêm mười lăm phút nữa để hơi ngạt được hút hết khỏi các các ống thông hơi. Rồi các cửa mở rộng, công việc là dùng dây và móc sắt gỡ các đống xác ghê sợ chồng chất quấn quít và kéo ra ngoài để một ê-kíp khác có thể ném lên các toa xe gòong nhỏ đẩy đến các lò thiêu xác. Sau đó Dov cùng các bạn tiến vào phòng hơi ngạt, xịt nước rửa trong khi ở phòng cởi quần áo bên cạnh, lứa nạn nhân sau đã được chuẩn bị rồi.
Sau ba ngày làm công việc đẫm máu này, Dov đã đến bên bờ vực thẳm. Bản năng ham sống của con người vẫn nâng đỡ Dov đến giờ phút này hình như đã mòn mỏi dần dần sau mỗi lần cửa phòng hơi ngạt mở ra với một quang cảnh ghê khiếp. Dov cảm thấy mình chắc không chống cự được lâu hơn với cái cảnh ấy cứ tái đi tái lại hoài.
Đột nhiên đến ngày thứ tư, một biến cố không thể ngờ được xảy ra ở Auschwitz: Quân Đức cho phá hủy các lò thiêu xác và cho giật nổ tung các phòng hơi ngạt. Bị ép giữa hai gọng kềm tiến quân: quân Mỹ Anh ở phía tây và quân Nga ở phía đông, tụi Quốc xã nỗ lực điên cuồng để bôi xóa tất cả các vết tích của tội ác của chúng. Hầu hết khắp nước Ba Lan, chúng vội vàng cho khai quật tất cả các mồ chôn xác để nghiền nát các xương và rải tung ra khắp các cánh đồng. Họ còn đi tới chỗ trưng dụng tất cả các phương tiện mặc dù đang thiếu thốn trên các mặt trận để cố chở tất cả các người Do Thái còn sống sót về Đức.
Sau hết, ngày 22 tháng giêng 1945, Hồng quân giải phóng Auschwitz và Birkenau. Lúc bấy giờ Dov Landau được mười lăm tuổi, hắn hài lòng được ở trong một trăm năm chục ngàn người Do Thái Ba Lan trên tổng số ba triệu rưỡi còn sống sót. Lời hứa của Dov với anh là Mundek, hắn đã giữ được.

----------------------------------
[1] Danh từ chỉ Hitler, Quốc trưởng đảng trưởng Quốc xã Đức.
0
Trích đoạn: casau

Phần 1 - 24
...
Số người Do Thái bị giết ở Birkenau gia tăng đều và tiếp tục gia tăng. Vào cuối năm 1944, tổng số lên tới gần một triệu Do Thái Ba Lan, năm mươi ngàn Do Thái Đức, một trăm ngàn Do Thái Hòa Lan, một trăm năm chục ngàn Do Thái Pháp, năm chục ngàn Do Thái Úc và Tiệp, trong đó có Do Thái Hy Lạp và hai trăm năm chục ngàn Do Thái Bảo Gia Lợi, Ý, Nam Tư và Lỗ Ma Ni, cộng thêm hai trăm năm chục ngàn Do Thái Hung Gia Lợi nữa.

 
Bác casau ơi,
Theo tôi thì không có dân Do Thái Úc trong các trại tập trung của Đức quốc xã, nếu có thì cũng sẽ rất hãn hữu, đếm được trên đầu ngón tay thôi (chẳng hạn là tù binh dân Do Thái song là lính của Úc tham chiến dưới cờ của Nữ Hoàng). Ở đây có lẽ có sự lầm lẫn gì đó, có thể là do dịch giả (Thế Uyên, tôi đã tìm kiếm bằng Google và thấy rằng Thế Uyên - một nhà văn người gốc Hà Nội, hiện đang sống tại Hoa Kỳ - là dịch giả của cuốn Exodus nổi tiếng này, cuốn sách được xếp vào hàng best-seller ở Mỹ chỉ sau có "Cuốn theo chiều gió" của M. Mitchell tính cho tới lúc Exodus ra đời) đã nhầm Austria (Áo) thành Australia (Úc).
Rất cám ơn những cố gắng của bác khi post lên đây Exodus, tôi vẫn đang theo dõi hàng ngày, ngày nào cũng lượn qua vnthuquan để ngóng đọc, hôm nào không có lại buồn.
Giá kiếm đâu được bản tiếng Anh, dù chỉ là bản mềm, thì thật là hạnh phúc. Tôi đã search nhiều lần trên Internet mà chịu không tìm thấy.
BRS.
Khi người ta yêu thì không có gì tựa là quá khó
0
Phần 1 - 26

Ngồi trước một đĩa súp sò, Bill Fry lơ đãng nghịch với chiếc muỗng. Ông không hề thấy đói, nghĩ ngợi miên man :
“Mẹ kiếp! Làm thế nào để đưa được cái thùng gỗ cũ rích này sang bên kia Đại Tây dương đây?”
Đối với các cán bộ của Mossad, Bill có một uy tín rất lớn. Khi cho tàu Ngôi sao David lao vào mắc cạn ở Césarée, ông đã khai mạc một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhập nội bất hợp pháp. Nói chung, chính thuyền trưởng Bill Fry đã làm người Anh phải thành lập các trại ở đảo Chypre. Đây là cả một ngã rẽ, bởi người Anh càng chận bắt các tàu và đem giam hành khách ở Chypre, Mossad càng tung ra nhiều tàu khác tiến về các bờ biển Palestine. Đến nỗi rằng bây giờ trại Caraolos đã hòa hoãn, và người Anh bắt buộc phải làm một cái gì, duy chỉ có điều họ không biết phải làm gì đây.
Được sự thành công khuyến khích, cương quyết hơn bao giờ hết để cưỡng buộc người Anh phải thay đổi đến tận căn bản chính sách của họ về Palestine, Mossad đã nghĩ ra một kế hoạch táo bạo đặc biệt, nếu không nói là điên rồ, mà việc thực hiện dĩ nhiên là được trao phó cho Bill Fry.
Tàu Ngôi sao David với gần hai ngàn hành khách, cho tới giờ là chiếc tàu lớn nhất đem ra dùng. Các cấp chỉ huy của Mossad cho rằng một nỗ lực mới, lần này với một tàu chở hơn năm ngàn người, sẽ là một chưởng nặng cho người Anh, có thể là quyết định luôn.
Vì vậy Bill được trao phó nhiệm vụ đi kiếm một chiếc tàu, tân trang lại rồi đưa đến La Ciotat chở năm ngàn người về bờ biển Palestine. Phải mua tàu ở Hoa Kỳ hay châu Mỹ La tinh: ở Âu châu, các nhân viên Anh coi chừng đến tận các cảng nhỏ nhất một cách mẫn cán đến độ việc mua tàu chưa ký kết xong, nội vụ  đã bị lộ rồi. Vậy các cán bộ Mossad đi lục lọi các hải cảng Mỹ La tinh trong khi Bill đi lùng tới lùng lui khắp nước Mỹ. Ông nhận thấy ngay rằng với số tiền được xử dụng, khó mà tìm được tàu khác. Sau cùng ông đành phải làm một vụ mà ông gọi là đánh cá liều, là mua một tàu hơi nước cũ kỹ, cọc cà cọc cạch mà từ lúc hạ thủy cho tới luc già nua chỉ có chạy qua chạy lại mỗi ngày trong vịnh Chesapeake, giữa Baltimore và Norfolk. Một thứ thuyền lớn chở khách rong chơi chưa bao giờ vượt ra khơi cả, tàu Đại tướng Stonewall Jackson chỉ có mỗi một điểm tốt: là giá rất hạ. Hơn nữa, Bill còn tự hỏi liệu đồng tiền Mossad chi ra lần này có xứng đáng không đây.
Bill đã đưa con tàu cổ lỗ sĩ này đến Newport News (Virginia) nơi tàu phải tân trang lại để chuyên chở sáu ngàn tám trăm người. Và ngay sáng nay, Bill đã nhận được điện tín báo cho biết là công việc tân trang đã hoàn tất. Nhưng một lần nữa, viễn tượng được trao phó chức vụ  thuyền trưởng mới không hề làm ông hứng khởi.
Hai mươi bốn giờ sau, ở Newport News, ông cho tập hợp thủy thủ đoàn: những thanh niên Palestine thuộc Mossad và Palmach, vài người Do Thái Hoa Kỳ, Do Thái các cộng hòa nói tiếng Tây Ban Nha, Ý, Pháp. Ông thanh tra tàu, cho nhổ neo, và sau khi chạy thử một vòng trong phía nam vịnh, ông cho tăng tốc độ hướng ra khơi.
Sau chừng ba giờ, máy móc trục trặc làm ông phải cho tàu trở về Newport News.
Trong tuần lễ sau đó, Bill còn thử ra khơi ba lần nữa. Lần nào cũng vậy, chiếc tàu “từ chối” không chịu ra biển xa, ngoài môi trường sinh hoạt cũ của nó là mặt nước bìnn yên trong vịnh.
Ông bắt buộc phải loan báo cho các đại diện của Massad là ông đã lầm: tàu Jackson sẽ không bao giờ đương đầu nổi với Đại Tây dương hết. Mọi người yêu cầu ông sửa lại máy móc lần nữa và thử thêm một lần chót.
Lần thứ năm, phép mầu xảy ra: Giống như một con rùa mắc bệnh phong thấp tàu Jackson vượt qua mũi Henry tiến vào vùng nước sâu của đại dương... Và với một sự “ngoan cố” rất đẹp, tàu vẫn tiếp tục tiến.
Hai mươi hai ngày sau, tàu lê lết một cách can đảm vào cửa vịnh Lion, tiến vào Touton.
Thời gian chọn lựa thật đúng lúc. Một vụ đình công của các tài xế xe vận tải vừa xảy ra ở Pháp, và các quan sát Anh ở trại La Ciotat vì tin chắc rằng không một công cuộc quan trọng nào có thể làm được nếu thiếu xe vận tải, nên đã nới lỏng việc kiểm soát. Và dẫu sao mọi người cũng đã loan báo rằng trong tất cả các hải cảng châu Âu, không có một chuyến tàu ra đi khả nghi nào kể từ chuyến đi của tàu Cửa vào Sion đã từng đến Ý Port de Bouc cách đây mấy tuần.
Ngày hôm trước khi tàu Jackson vào cảng Toulon, một đại diện của Mossad đã để Hiệp hội các tài xế chuyên chở để trình bày tình hình. Đại diện nghiệp đoàn này bí mật báo động cho một số đoàn viên của mình, và trong khi vụ đình công làm đình chỉ tất cả mọi chuyên chở bằng đường bộ của nước Pháp, một đoàn xe năm tấn chạy đi chạy lại giữa La Ciotat và Toulon để chở đến cảng này sáu ngàn năm trăm dân tị nạn - trong số đó có Dov Landau.
Những nhân viên tình báo Anh chỉ biết “âm mưu” vào phút chót. Lúc đó tàu General Jackson đã được đặt tên lại là Đất Hứa, và trên cột đã bay phất phới lá cờ xanh trắng với hình ngôi sao David.
Ở Luân Đôn, có nhiều buổi hội khẩn ở Bộ Hải Quân, Chatham House, Whitehall. Kế hoạch của Mossad cùng các ảnh hưởng vang đội của nó đối với chính sách về Palestine thật quá hiển nhiên, do đó cần phải ngăn cản tàu khởi hành bằng tất cả mọi phương tiện và với bất cứ giá nào. Các tàu chiến chận ngoài khơi Toulon và chính phủ Anh đã đưa ra với Paris những thỉnh cầu nhưng giống như những lờ de dọa. Để thay thế câu trả lời, người Pháp cho phép tàu Đất Hứa nhổ neo.
Chiếc tàu hơi cũ kỹ vừa rời hải phận Pháp, đã bị hai tuần dương hạm Anh DunstonApex tới đi kèm cứng hai bên. Trong ba ngày liền, BillFry phớt lạnh giữ nguyên hướng đi. Cách tàu ông vài sải, hai tuần dương hạm Anh giữ liên lạc vô tuyến thường xuyên với Bộ Hải Quân. Buổi trưa ngày thứ tư, khi tàu Đất Hứa còn cách bờ biển Palestine năm mươi hải lý, người Anh ra tay hành động, bất chấp luật lệ quốc tế. Chiếc Apex lái lệch đi để lại gần chiếc tàu hơi, bắn một tràng đạn cảnh cáo rồi gọi bằng máy phóng thanh :
- Lệnh của hạm trưởng cho tàu chở di dân bất hợp pháp! Chạy chậm lại! Chuẩn bị đón tiếp toán quân lên giữ tàu.
Bill nhổ mẩu xì-gà lúc nào cũng có trên môi, cầm loa la lớn :
- Chúng tôi xin nhắc quý vị rằng chúng tôi đang ở hải phận quốc tế. Nếu các ông chiếm tàu tôi, các ông làm một hành động của dân cướp biển.
- Rất tiếc, ông bạn già, chúng tôi chỉ thi hành chỉ thị của thượng cấp. Ông bạn có tiếp nhận toán chiếm tàu của chúng tôi mà không kháng cự không?
Nhún vai, Bill quay lại người chỉ huy các Palmachnik đang đứng đằng sau :
- Chúng ta sẽ chuẩn bị tiếp đón bọn khốn kiếp đó một cách linh đình!
Đất Hứa tăng tốc độ, trong một nỗ lực vừa thê thảm vừa vô vọng, để trốn thoát hai chiếc tuần dương hạm. Apex lại gần nữa rồi quẹo một cách bất thình lình, húc vào giữa tàu Đất Hứa. Mũi thép tàu húc thủng một lỗ lớn trên vỏ tàu gỗ - may mắn thay ở trên phần ngập nước của tàu. Chiếc tàu nhỏ chưa hết rung động vì va chạm này, một tràng đạn đã quét trên boong. Các đại liên của tuần dương hạm mở đường cho toán quân chiếm tàu.
Các thủy quân lục chiến trang bị vũ khí cá nhân và mặt nạ phòng hơi đã nhảy sang tàu Đất Hứa, từ phía mũi ùa về phía đài chỉ huy. Trong khi họ còn lúng túng gỡ khỏi các vòng kẽm gai do các Palmachnik tung ra, họ bị lãnh một trận mưa đá, kèm theo đó là các vòi nước xịt mạnh. Bị đẩy lùi về đàng mũi tàu, họ vừa nổ súng vừa yêu cầu tăng viện. Nhiều thủy quân lục chiến khác sang tăng viện và cố cắt kẽm gai. Một cuộc xung phong thứ hai về đài chỉ huy lại bị đẩy lùi bằng các vòi nước xịt. Nỗ lực lần thứ ba của người Anh được đại liên yểm trợ. Lần này, quân Anh vượt qua được các hàng rào kẽm gai, nhưng để rồi bị phỏng bởi một hàng rào hơi nước nóng sôi. Do đó bên quân Anh hàng ngũ rối loạn và tình trạng này cho phép các palmachnik phản công. Trong một trận hỗn chiến ngắn, các palmachnik bắt được hết các thủy quân lục chiến Anh và ném từng tên một xuống biển, cho tới tận kẻ cuối cùng.
Chiếc Apex ngừng lại để vớt quân của mình lên, còn Đất Hứa lại tiếp tục tiến cà rịch cà tàng với sườn tàu rách tung. Chiếc Dunston đuổi kịp dễ dàng. Nhưng húc lần nữa có vẻ nguy hiểm: đến lần thứ hai chắc sẽ gửi Đất Hứa xuống đáy biển luôn. Vì vậy tàu Dunston đành dùng đại liên quạt lia lên tàu Đất Hứa, bắt các palmachnik phải tìm chỗ nấp. Rồi một toán xung kích chiếm tàu lại leo lên bằng các thang móc vào lan can. Vung đoản côn, bắn vài phát súng lục, quân Anh tiến về đài chỉ huy. Trong khi đó, tàu Apex đã tiếp tục chạy tới để tham dự vào trận chiến. Một toán xung kích thứ hai được ném ra dưới sự che chở của một hàng rào hơi cay mắt. Bị đánh gọng kềm, các palmachnik phải lui.
Dov đã chiến đấu dữ dội. Hắn thuộc vào toán có nhiệm vụ  bảo vệ thang dẫn lên đài chỉ huy. Bốn, năm, sáu lần, toán này đã đánh ngã lộn nhào các thủy quân lục chiến bám vào thang cho tới khi hơi cay mắt và đạn đại liên làm họ không thể chống cự nổi nữa.
Bây giờ quân Anh đã làm chủ trên tàu. Trong khi đa số quân xung kích Anh bắt các palmachnik đứng yên bằng các tiểu liên, phần còn lại nhào vào phòng lái. Họ va phải Bill Fry và năm người của thủy thủ đoàn, mặc dù hoàn toàn bao vây, vẫn kháng cự lại bằng đấm đá và súng lục. Sau cùng, các thủy quân lục chiến bắt được Bill kéo ra ngoài, đánh cho xỉu bằng đoản côn.
Sau một trận chiến đấu kéo dài bốn tiếng đồng hồ, quân Anh làm chủ chiến trường. Việc chiếm tàu Đất Hứa làm họ chết tám người và bị thương chừng hai chục. Bên Do Thái mười lăm chết, trong đó có thuyền trưởng Bill Fry.
Chiếc Dunston dùng dây kéo Đất Hứa về tận Haifa, nơi các nhà cầm quyền quân sự Anh đã áp dụng các biện pháp nhằm cô lập hóa hoàn toàn hải cảng. Sư đoàn 4 Không vận chiếm đóng các ke, súng trì sẵn, quân phục tác chiến. Nhưng trong khi người Anh lo lắng giữ bí mật như vậy, họ lại không biết rằng đài phát thanh bí mật Do Thái đã phổ biến trọn vẹn “vụ chiếm tàu đặc biệt có tính cách hải tặc ấy”. Các đoàn thể phục quốc Do Thái liền tuyên bố tổng đình công. Và người Anh vội vàng đưa thêm quân tới, cả thiết giáp nữa để tạo một vòng đai bất khả vượt giữa những người tị nạn và các người dân Palestine đang nổi giận bừng bừng. Bốn tàu chuyên chở tù binh mang các tên hùng hồn rất mỉa mai là Magna Charta, Empire Monitor, Empire RenownEmpire Guardian sẵn sàng tiếp nhận ngày các di dân của tàu Đất Hứa. Nhưng đúng vào lúc chiếc tàu hơi cũ kỹ nghiêng về một bên một cách nguy hiểm tiến vào vịnh Haifa, thì một tiếng nổ lớn ra làm rung chuyển cả thành phố. Đó là chiếc Empire Monitor vừa nổ tung. Một thành công đẹp đẽ của những người nhái Palmachnik đã bơi dưới nước, gắn một quả mìn từ tính vào vỏ tàu.
Mặc dù sự ngăn trở này, việc chuyển người sang tàu được thực hiện ngay lập tức. Đa số các di dân quá mệt, quá mất tinh thần, để nghĩ đến chuyện chống cự nữa. Ủ rũ, tiêu cực, họ để người Anh đưa vào các hangar cởi bỏ quần áo, bơm đầy người một chất lỏng khử trùng, khám xét rồi sau đó ngay lập tức lại được đưa lên ba chiếc “nhà tù nổi” còn lại. Tuy vậy vẫn còn một nhóm nhỏ bất khả trị, khoảng chừng hai mươi lăm người trong đó có Dov Landau. Cố thủ trong một khoang tàu, trang bị các ống chì, chống lại người Anh đến cùng. Người Anh phải bơm hơi cay vào tàu để trục xuất họ ra. Dov được bốn người lính áp tải đưa xuống đất một cách vất vả vì hắn kháng cự vùng vẫy dữ đội. Bị lôi xềnh xệch lên tàu Magna Charta, Dov bị quẳng không thương tiếc vào phòng giam trên tàu.
Ngay chiều hôm đó, ba chiếc nhà tù nổi, còn chở đông hơn cả chiếc tàu bất hạnh Đất Hứa nữa, rời hải cảng Haifa dưới sự hộ tống của DunstonApex.
Họ sẽ được đưa tới đâu? Nếu người Anh đem giam giữ họ tại Chypre, trong các trại đã đông nghẹt rồi, chiến thuật của Mossad chắc đạt được mục tiêu. Chính sách “nhân đạo” của Anh quốc như vậy sẽ chỉ đưa tới việc thêm sáu ngàn năm trăm người Do Thái trốn thoát các lò thiêu xác vào đám đông đang mọc rêu trong chờ đợi ở Chypre, nằm giữa đường Âu châu thù nghịch và Palestine bị cấm đoán.
Tại Luân Đôn, mọi người tưởng đã tìm được một giải pháp :
“Các di dân của tàu Đất Hứa sẽ được đưa trở lại Toulon, nơi họ đã lên tàu. Kể từ giờ, tất cả những ai định phá sự phong tỏa sẽ được đưa về hải cảng đã xuất phát”.
Các cán bộ của Palmach và Mossad đi cùng với các di dân không hề sững sờ trước một giải pháp như thế. Đối với họ, tình thế thật rõ ràng: nếu các người Do Thái chịu lên bờ ở Toulon, người Anh xem như cơn giông tố đã qua. Không ai còn dám phiêu lưu nhập nội bất hợp pháp nữa. Thế là chấm dứt mọi nhập nội bất hợp pháp vào xứ Palestine.
Khi các nhà tù nổi sắp bỏ neo ở Toulon, các mật lệnh bắt đầu được loan truyền đi trên các tàu. Cùng một lúc, các cấp chỉ huy của Palmach đệ trình các hạm trưởng Anh một thông điệp y hệt nhau, tuyên bố rằng “muốn bắt chúng tôi lên bờ, phải dùng tới võ lực”.
Phân vân, các hạm trưởng điện về bộ Hải quân xin chỉ thị. Bộ ngoại giao Anh ngay lập tức dùng mọi nỗ lực gây áp lực với Ba Lê - một áp lực  tối đa tới mức độ dám làm đổ vỡ bang giao Anh Pháp. Người Pháp được “mời” giữ được thái độ trung lập nghiêm chỉnh và cho phép các Hải quân của Anh hoàng đưa các Do Thái lên bờ, dầu phải dùng tới sức mạnh chăng nữa. Trong bốn ngày liền, rất nhiều điệp văn được trao đổi giữa bộ Hải quân và các nhà tù nổi, giữa Ba Lê và Luân Đôn. Đến ngày thứ năm, chính quyền Pháp phúc đáp dứt khoát :
“Chính phủ Pháp sẽ không cho phép việc cưỡng bách các di dân lên bờ. Tuy vậy, nếu các di dân tự nguyện muốn trở lại đất Pháp, họ sẽ được tiếp đón tử tế”.
Được khuyến khích bởi lập trường cương quyết này, các Do Thái trên ba tàu đều nghiêm trọng xác định ý chí muốn ở lại trên tàu. Người Anh mất hai mươi bốn giờ mới tỉnh trí lại. Rồi họ báo cho các di dân biết rằng nếu không chịu lên bờ tại Toulon, họ sẽ phải ở lại cái vịnh Lion này đến ngày thở hơi cuối cùng.
Các người Do Thái không buồn trả lời nữa. Bình tĩnh, một cách cố ý, họ cư ngụ trên các tàu như nhà mình. Các Palmachnik tổ chức các lớp học, lập một bản tin tức và một ban kịch nhạc, nói một cách chung, họ cố hết sức mình để duy trì một thứ đời sống xã hội ở trên tàu. Vì phía Pháp, chính phủ Pháp lo việc tiếp tế thực phẩm và săn sóc sức khỏe. Có nhiều đứa trẻ được sinh trên tàu. Sau một tuần lễ, phải chấp nhận sự kiện hiển nhiên sau: các di dân giữ vững được lập trường.
Tại đất liền, các ký giả tò mò chú ý đến ba chiếc tàu bị bao vây bằng một bức tường im lặng này. Một đêm, một cán bộ của Mossad rời tàu Empire Guardian, bơi vào bờ, và qua một buổi họp báo thực sự, đã kể lại hết đầu đuôi nội vụ cho các đại diện của báo chí Pháp.
Hai mươi tư giờ sau, trong tất cả các nhật báo chính của Pháp, Ý, Hòa Lan cùng Đan Mạch, đều có các bài xã thuyết chỉ trích dữ dội thái độ của Anh quốc.
Trước làn sóng phẫn nộ của dư luận quần chúng này, Luân Đôn im lặng ngượng nghịu. Chính phủ Anh chờ các phản ứng như vậy: chính thực ra, họ chờ sẵn đối phó với tất cả mọi sự - ngoại trừ sự cứng đầu không thể ngờ nổi của các di dân. Các điều kiện sinh hoạt trận các tàu chở tù rất là tồi tệ: quá đông người, thiếu không khí thiếu vệ sinh, và các điều này đã tạo ra nhiều bệnh tật. Và các thủy thủ Anh trên bờ thần kinh đã bắt đầu căng thẳng. Họ đã không dám phiêu lưu xuống các khu giam giữ để áp dụng kỷ luật nữa...
Sau hai tuần lễ, những người Do Thái vẫn giữ vững tiếng la hò của báo chí thế giới mỗi ngày một tăng thêm.
Tuần lễ thứ ba... Tuần lễ thứ tư... Rồi một người Do Thái đầu tiên lên bờ mà không ai có thể trách người Anh đã dùng tới bạo lực: người này đã chết. Các hạm trưởng của ba tàu cho biết là các di dân cương quyết hơn bao giờ hết. Tại hạ viện Anh, các dân biểu thắc mắc về sự khai triển mạnh của chiến dịch chống Anh quốc. Nếu còn những người khác chết phải đưa lên bờ, nội vụ  dám xoay ra một chiều rất tồi tệ hơn.
Lo lắng ra thoát khỏi tình trạng rắc rối ấy, người Anh yêu cầu các di dân đề cử các đại diện “để cùng cứu xét các khía cạnh dị biệt của vấn đề”. Họ nghĩ rằng việc thảo luận sẽ đưa đến một thỏa hiệp tránh cho người Anh khỏi mất mặt. Nhưng câu trả lời của ba người chỉ huy Palmach ­ mỗi người ở ba tàu - đồng nhất như sau :
“Chúng tôi chỉ chấp nhận một giải pháp: cho chúng tôi vào Palestine”.
Đến giờ, các nhà tù nổi đã bỏ neo trước Toulon sáu tuần lễ rồi. Ngày mà chiếc xuồng máy đưa vào người Do Thái thứ hai chết, người Anh gởi đến cho người Do Thái một tối hậu thư cứng rắn: hoặc là chịu lên bờ, hoặc là họ chịu lãnh mọi hậu quả của sự cứng đầu của họ. Không ai biết những hậu quả này sẽ gồm những gì, nhưng sau khi tối hậu thư bị khước từ, Luân Đôn bắt buộc phải chấm dứt một tình trạng đã kéo dài quá lâu.
Empire GuarđịanEmpire Renown sẽ nhổ neo ngay lập tức tới Hambourg thuộc vùng chiếm đóng của Anh. Sau khi tới nơi, các hành khách của hai tàu sẽ được đưa lên bờ, nếu cần bằng võ lực, và giam giữ tại Dachau cho tới khi chính phủ Đức có một quyết định dứt khoát về vấn đề của họ.
Vào lúc hai tàu trên vượt eo Gibarltar, Mossad trong một nỗ lực hối hả, thực hiện một dự án mới: lần này, sẽ trang bị hai tàu chở mười lăm ngàn di dân để phá phong tỏa vùng bờ biển Palestine. Phải lợi dụng ngay trường hợp thuận tiện: khi các di dân trở lại Đức và đem giam vào Dachau, người Anh sẽ đưa sự giận dữ của dư luận thế giới lên tới cực độ. Đối với Mossad Aliya Bet, đây là một chiến thắng - một chiến thắng buồn thảm, cay đắng, một chiến thắng để lại dư vị đắng cay trong miệng những kẻ chiến thắng.
Sau cùng để ít nhất cũng có một hành động hòa giải, người Anh cho chiếc tàu tù thứ ba, Magna Chaata, về đảo Chypre và cho giam các hành khách vào trại Caraolos. Chính vì thế, Dov Landau có được điều hài lòng tương đối là trải qua ngày sinh nhật thứ mười sáu của mình không phải trong bầu khí xám xì nặng nề của Dachau, mà dưới bầu trời Địa trung hải. Dĩ nhiên là trong một trại, đằng sau các hàng rào kẽm gai.
Dov Landau, tóc vàng, mắt xanh... một khối căm thù.
0
Phần 1 - 27

Một năm sau, Dov Landau vẫn còn ở Caraolos. Ngày sinh nhật thứ mười bảy của chàng không khác gì các ngày khác. Dov nằm dài trên giường, nhìn đăm đăm vào khoảng không, thu hình lại đằng sau vẫn thứ im lặng toàn diện mà chàng giữ kể từ khi những thủy quân lục chiến Anh lôi chàng ra khỏi hầm tàu Đất Hứa.
Trong nhiều tháng liền, các y sĩ, giáo viên, Palmachink, đã cố gắng tìm cách xuyên thủng bộ áo giáp căm thù ấy. Nhưng vô ích: Dov nghi ngờ tất cả mọi người và chỉ tìm cô đơn.
Nhưng dầu vậy... Trong căn lều đối điện, có một thiếu nữ, một thiếu nữ đẹp nhất chàng được thấy trên đời. (Trong các nơi chàng đã được sống, chưa có một thiếu nữ nào duyên dáng có thể quyến rũ chàng được). Thiếu nữ này mỉm cười mỗi khi gặp, nàng không có vẻ ghét chàng hay kiêu kỳ. Dov đã tìm được cách biết tên nàng: Karen­Hansen-Clement.
Về phía Karen, nàng đã chú ý đến Dov và đã tìm biết tại sao chàng trai này không theo học một khóa nào, không tham dư vào bất cứ cái gì trong rất nhiều sinh hoạt của trại. Mọi người đã căn dặn nàng coi chừng: Đó là một tên hết-thuốc-chữa, có lẽ còn là một tay nguy hiểm nữa. Đối với thiếu nữ, một định nghĩa như vậy về Dov là một thách thức đáng đương đầu. Một mặt khác, sự việc Dov là một kẻ thoát chết ở Auschwitz làm gợi trong lòng nàng một tình thương xót bao la. Vả lại, đối với các trẻ em được trao cho nàng coi, nàng đã đạt được các kết quả đáng ngạc nhiên. Bởi thế dù ý thức rằng thận trọng có lẽ nên để cho anh chàng gấu này yên, nàng vẫn cảm thấy tò mò mỗi lúc gia tăng mỗi khi nàng có dịp nhìn vào lều của Dov.
Một buổi sáng, Dov nằm dài trên giường, mồ hôi đang toát ra đầm đìa dưới sức nóng của mùa hè, đột nhiên chàng cảm thấy có sự hiện diện của một người khác trong lều. Chàng vội ngồi nhổm dậy và khi nhìn thấy Karen, chàng sững người như chờ đợi một xúc động mạnh mẽ xảy tới. Karen nói :
- Tôi nghĩ là có thể mượn anh chiếc thùng đựng nước. Chiếc thùng của tôi chảy mà các xe chở nước sắp sửa đi qua...
Dov nhìn nàng đăm đăm không trả lời, mắt chớp lia dưới ánh sáng chói chang.
- Tôi tự hỏi không biết tôi có mượn được thùng của anh chăng.
Dov hừ một tiếng.
- Thế nào? Anh cho mượn hay là không? Anh không biết nói sao?
Hai người gườm gườm đối đầu nhau như hai còn gà chọi. Karen bắt đầu hối tiếc ta đã vào đây làm quen. Nàng thở mạnh.
- Tên tôi là Karen. Tôi là hàng xóm của anh.
Vì Dov vẫn căm nín nàng xẵng giọng hơn :
- Về cái thùng, anh có cho mượn hay không cho mượn?
- Này, cô đến đây để thương hại tôi phải không?
- Tôi đến để mượn cái thùng của anh! Xét kỹ, tôi chẳng thấy ở anh cái gì đáng để thương hết.
Dov quay đi, ngồi xuống giường tức tối. Sự ngay thẳng của thiếu nữ làm chàng lúng túng không biết đối phó ra sao. Bằng một cử động mơ hồ, chàng chỉ cái thùng và nàng cầm lấy. Chàng ngắm trộm nàng. Karen hỏi :
- Tên anh là gì? Tôi muốn biết tên anh để gọi khi mang trả thùng.
Chàng lầu nhầu :
- Dov. Dov Landau.
- Bây giờ kể như chúng ta biết nhau rồi, chắc chúng ta sẽ có dịp chào hỏi nhau. Ít nhất cũng phải đợi cho tới khi anh biết cười đã.
Dov quay lại từ từ, như miễn cưỡng, nhưng nàng đã đi rồi. Dov cũng đi ra và nhìn nàng chạy tới đón chiếc xe chở nước vừa tiến vào trại. Dov nghĩ thầm “Nàng đẹp làm sao!”.
- Chào anh Dov. Cám ơn anh đã cho tôi mượn thùng.
Dov hầm hừ.
- À, quả ra đúng vậy đó, anh đúng là cái anh chàng chỉ biết hầm hừ chứ không biết nói. Trong vườn trẻ của tôi, tôi cũng có một chú bé cũng có thói hầm hừ như anh. Nhưng nó, ít nhất nó cũng cho rằng nó là con sư tử.
Dov la hết sức mình :
- Chào cô!
Chết thì thôi chứ Dov không dám thú nhận là chàng biết buổi sáng giờ nào nàng thức giấc, và biết đến tận thời khóa biểu các giờ học của nàng nữa. Một ngày nọ, Dov lẻn vào lều nàng để xem xét chiếc thùng nước của nàng: thùng nguyên vẹn, không thủng một lỗ nào cả. Trong nhiều giờ liền, Dov nằm dài trên giường, nhìn từng bước chân của nàng ngoài lối đi. Đôi khi chàng đứng dậy, cố ẩn giấu để tìm cách nhìn thoáng được nàng. Và vì Karen cũng thường hay quay đầu về lều của con gấu khó tính ấy nên đã xảy ra những trường hợp bốn mắt giao nhau. Những khi ấy, Dov lùi lại phía sau, tức giận vì bị bắt quả tang giây phút yếu lòng.
Một buổi tối Dov đứng gần hàng rào kẽm gai, ngắm điệu vũ không biết mệt của các đèn pha quét đi quét lại trên các lối đi trong trại. Trong vận động trường, các Palmachnik đã tổ chức một đêm lửa trại, các con trai gái hát và nhảy quanh đống lửa. Dov nhớ lại những buổi họp của Những Người Chuộc Tội mọi người cũng đã hát và đã nhảy cùng các bài ca và điệu vũ ấy. Anh Mundek, các chị Ruth và Rebecca bao giờ cũng tham dự cách buổi hội họp như thế...
- Chào anh Dov!
Chàng quay vụt lại. Trong bóng tối, chàng đoán ra thân hình mảnh mai của Karen cách đó vài bước. Nàng thì thào :
- Lại dự lửa trại với tôi, anh Dov.
Nàng bước lại gần hơn, nhưng Dov quay mặt đi. Nàng nằn nì :
- Anh rất mến tôi phải không? Anh có thể nói chuyện với tôi hoàn toàn tin cậy. Tại sao anh không chịu đến lớp học, không chịu gia nhập với bọn tôi?
Dov lắc đầu.
- Anh Dov, nghe tôi...
Giận dữ, Dov quay lại nhìn thẳng Karen, la lớn :
- Vậy đó! Tội nghiệp Dov! Tội nghiệp anh chàng nhỏ trục trặc thần kinh! Cô thì cũng như bọn họ, chỉ có điều cô ăn nói khéo hơn thôi.
Dov nắm lấy cổ Karen, khép các ngón tay lại :
- Cô cút đi đâu thì đi, để tôi yên thân, hiểu chứ... Để tôi yên thân, nếu không...
Karen nhìn thẳng vào mắt Dov.
- Buông tôi ra... Ngay lập tức!
Dov buông thỏng hai tay và lùi lại một bước, nói nhỏ :
- Tôi chỉ định làm Karen sợ thôi. Tôi không hề định làm Karen đau.
Nàng nói :
- Anh nghe đây, tôi không sợ anh đâu.
Nàng nói xong, đi xa.
Trong một tuần lễ liền, Karen coi Dov như không có trên đời. Còn Dov khích động ghê gớm, trải qua bảy ngày ấy bằng cách đi đi lại lại tối ngày. Tại sao chàng lại để người còn gái này đi vào cuộc đời chàng? Cho tới giờ, chàng cô đơn với các kỷ niệm của mình.
Ngay thứ tám ở vận động trường, Karen đang an ủi một đứa bé bị ngã thì ngửng đầu lên, nàng thấy Dov đang đứng im lặng đằng sau lưng.
- Chào cô!
Nói xong. Dov quay gót bước đi.
Vài ngày sau nữa, nàng thấy một hình vẽ để trên giường mình: trước một nền kẽm gai một cô gái quỳ gối vỗ về một đứa bé đang khóc. Nàng đi ra, vào lều Dov.
- Tôi không biết anh là một nghệ sĩ như vậy.
Dov cáu kỉnh.
- Không có gì đáng ngạc nhiên hết. Tôi đã có dịp để thực tập. Tôi còn có sở trường nữa là vẽ các chân dung George Washington và Lincoln.
Thu người trên giường, khó chịu, Dov cắn môi. Karen ngồi xuống bên cạnh. Bằng một ngón tay rụt rè, nàng lướt nhẹ trên cánh tay trái Dov, nơi có xâm số tù.
- Auschwitz?
- Tại sao cô lại chú ý đến tôi?
- Tại sao ấy hả... Anh không thể nghĩ là tôi thích anh sao?
Dov cười khẩy.
- Thích tôi?
- Tại sao lại không nhỉ? Anh khá bô trai, ít ra là trong những lúc hết sức hiếm hoi, anh không có vẻ muốn cắn người ta, và anh có một giọng nói rất dễ chịu... Ở trong trường hợp là anh không có hầm hừ hầm hừ...
Dov không nhận ra môi mình đang run lên, chàng bập bẹ :
- Tôi... Tôi cũng thích cô. Tôi có cảm tưởng là cô hiểu tôi... Như anh Mundek ngày trước.
- Anh bao nhiều tuổi rồi?
- Mười bảy tuổi.
Dov đột ngột đứng dậy
- Niềm căm thù làm tôi ngạt thở ấy... Tụi Anh khốn kiếp, tôi thật ghét chúng! Tụi chúng chẳng hơn gì tụi Đức.
- Anh Dov! Đừng thế!
Cơn giận của Dov lắng xuống nhanh như nó đã bùng ra. Đây là một sự khởi đầu của một tâm bệnh sắp lành. Đây là lần đầu tiên có lẽ từ một năm nay. Dov đã thốt ra nhiều câu liên tiếp. Bây giờ dưới đôi mắt của thiếu nữ, chàng lại co quắp thu mình lại, khép kín trong vũ trụ riêng đầy những bóng ma.
Nhưng bước đầu khó khăn đã qua. Kể từ ngày hôm ấy, Dov không còn giấu diếm ước muốn gặp mặt Karen nữa và Karen nàng cũng bắt đầu tin cậy ở Dov. Mọi sự cứ tiếp diễn tốt đẹp như thế cho tới một buổi sáng, phép mầu đã xảy ra: Dov Landau cười. Nụ cười đầu tiên của chàng từ tám năm nay!
Tình bạn của họ đã kéo dài được nhiều tuần, khi vào một buổi tối, Karen đến kiếm Dov để hoàn tất mọi nhiệm vụ đã được trao phó.
- Các anh ấy nói tôi tới yêu cầu Dov giúp cho một việc...
Ngay lập tức, Dov thủ thế liền :
- Loại việc gì?
- Các cấp chỉ huy của Mossad đã khám phá ra Dov là một tay làm giấy tờ giả hữu hạng. Một trong các cấp chỉ huy đó, anh Ari Ben Canaan, vừa từ Palestine tới, cần tới Dov đó. Anh ấy cần các giấy thông hành, giấy di chuyển, cùng các tài liệu chính thức khác...
Dov ngắt lới :
- Tôi hiểu rồi! Chính vì thế mà cô đã tỏ ra dễ thương với tôi. Chỉ cốt để lôi tôi nhập bọn!
- Dov im đi nào! Chính Dov, Dov cũng không tin lời mình nói nữa đấy.
- Đúng. Nhưng tôi không hiểu tại sao tôi lại phải làm việc cho họ nhỉ.
- Các anh ấy đã làm việc nhiều cho Dov.
- Karen ngây thơ lắm. Họ làm việc để cứu cái mạng của họ. Có thế thôi.
- Được lắm. Nếu đó là ý của anh, anh cứ việc tự do giữ lấy. Trước đây anh đã có thể chế tạo đô la Mỹ cho bọn quốc xã, bây giờ anh không có thể chế tạo thông hành giả cho Mossad sao!
Dov cằn nhằn :
- Quả thực cô nên đi làm luật sư. Cô tìm lý lẽ thật giỏi.
Karen năn nỉ :
- Tôi xin Dov. Tôi chưa bao giờ yêu cầu Dov giúp tôi điều gì, có phải không? Bây giờ tôi trả lời họ ra sao?
- ... Có thể tôi sẽ nhận, nhưng còn vài điểm cần phải giải quyết cho rõ đã.
Karen mỉm cười và cầm tay Dov.
- Tại sao không giải quyết vài điểm ấy với Ben Canaan! Anh ấy đang đợi Dov.
Dov lắc đầu.
- Không. Tôi thích để anh ấy lại kiếm tôi. Để anh ta đích thân tới hợp lý hơn.
0
Phần 1 - 25

Các quân y sĩ Nga sô khám xét Dov đều tự hỏi do phép mầu nào hắn đã trải qua được những năm đầy khổ đau ghê khiếp ấy mà vẫn không bị một vết thương nào. Dov đã yếu đi, khổ người nhỏ hơn tuổi, lâu lắm mới khỏe mạnh được, nhưng được săn sóc cẩn thận, chắc hắn sẽ hồi phục được sức khỏe bình thường.
Ngược lại, tình trạng tinh thần lại bị suy sụp nhiều. Trong sáu năm liền, tinh thần cương quyết tìm sự sống còn đã cho phép hắn chiến thắng tất cả các hiểm nguy. Bây giờ thoát chết, đáng lẽ ra hắn phải thoải mái toàn diện... Nhưng không biết bao nhiêu kỷ niệm lại tới xâm chiếm hắn suốt đêm ngày. Âu sầu, mất tinh thần, đôi khi buồn không nguôi, hắn càng ngày càng tiến tới giữa hai tâm trạng của kẻ cuồng trí và bình thường.
Những hàng rào kẽm gai đã biến mất, các lò thiêu xác, các phòng hơi ngạt đều không còn, nhưng các hình ảnh kinh hoàng của quá khứ vẫn tiếp tục theo đuổi hắn. Khi hắn nhìn con số tù xâm trên cánh tay, hắn lại sống lại quang cảnh mở cửa phòng hơi ngạt. Khi hắn nhắm mắt lại, hắn lại nhìn thấy xác mẹ và xác chị mà một móc sắt đang lôi ra từ một đống xác chết. Hoặc nữa, hắn thấy lại mình đang đưa ngọn nến lại gần các xác cháy đen trong lô cốt ở Varsovie, cố gắng tìm xem đâu là anh Mundek. Hắn nghĩ đến những sọ người quân Đức đã dùng làm đồ chặn giấy, và tưởng chừng tìm thấy ở các sọ ấy những đường nét thân thuộc cũ.
Những người Do Thái còn lại tại Auschwitz ở chồng chất trong ba hay bốn khu nhà. Trong tâm trí của Dov, điều đó là tự nhiên: hắn không thể tưởng tượng rằng ở bên ngoài trại còn có một thế giới người sống, không tiều tụy, không tra tấn, một vũ trụ mà con người không thiếu thực phẩm, hơi ấm và tình thương. Ngay cả tin nước Đức đầu hàng cũng không gây ra một cơn vui mừng nào ở Auschwitz: đối với những kẻ sống sót ở trại này, liệu họ còn có thể mang lại cho chiến thắng một ý nghĩa gì?
Chiến tranh đã chấm dứt, những mọi người không biết đi về đâu. Về Varsovie? Một quảng đường chừng hai trăm năm mươi cây số đầy nghẹt những người tị nạn. Vả lại Dov nghĩ một khi về đến Varsovie, hắn sẽ làm gì ở đấy? Ghetto không còn nữa và tất cả người thân trong gia đình đều đã chết. Trong nhiều ngày liền, hắn ngồi lì ở cửa sổ, im lặng, ngơ ngẩn nhìn bầu trời xám bất tận của đồng quê vùng Silésie.
Người này kế người kia, dân Do Thái ở Auschwitz phiêu lưu trên các con đường để trở về nhà. Rồi người này kế người kia trở lại trại, tâm hồn nặng chĩu một ảo tưởng tan vỡ. Quân Đức đã ra đi, nhưng các người Ba Lan trong địa hạt bài Do Thái đã thay thế người Đức một cách dữ dội hơn. Đã chẳng thèm khóc ba triệu rưỡi đồng bào gốc Do Thái, dân Ba Lan còn hét lên những tiếng kêu thù nghịch: “Chính bọn Do Thái đã gây ra chiến tranh này! - Giết chết bọn Do Thái đầu cơ chiến tranh! - Tụi Do Thái là nguyên nhân của tất cả các thống khổ của chúng ta!”. Tại khắp mọi nơi, họ đập vỡ cửa kính các nhà hàng Do Thái, đánh đập những người Do Thái nào dám có cái cao ngạo tìm lại nhà mình, cứu vãn lấy một vài của cải.
Những người Do Thái Auschwitz chẳng còn phương kế nào là trở lại trại. Ngơ ngác, thảng thốt, gần mất trí, họ sống chui rúc trong các căn nhà gỗ bùn lầy, chờ đợi cái chết đã ám ảnh những kẻ đáng thương này không bao giờ rời họ nữa. Vẫn mùi hôi thối muốn nôn mửa của cái nơi khốn cùng vẫn còn tỏa trên cảnh vật.
Thế rồi vào một buổi sáng cuối mùa hè, một người lạ mặt tiến vào trại với dáng đi đàng hoàng. Các tiếng cười khẩy đón chào không làm người này bối rối. Thân hình lực lưỡng, khuôn mặt vạch ngang bằng một bộ ria đen vĩ đại, người lạ khoảng chừng hai mươi hai, hai mươi ba tuổi. Một vài chi tiết làm toàn trại chú ý: Áo sơ mi trắng tinh tay sắn lên và dáng đi vừa uể oải vừa cương quyết: dáng đi của một người tự do. Người lạ tuyên bố :
- Tên tôi là Dror, Shimson baz Dror. Tôi từ Paiestine đến. Mọi người gởi tôi đến đây để đưa đồng bào về xứ sở của chúng ta.
Ngay lập tức, mọi người la lên vui mừng cuồng nhiệt. Người thanh niên xứ Palestine bị cả ngàn câu hỏi tấn công, anh vừa cố gắng trả lời vừa nhẹ nhàng đẩy những kẻ quỳ xuống để hôn tay anh. Một người Do Thái tự do... Shimson Bar Dror, Samson, con trai của Tự do... Và anh đã từ Palestine đến để hướng dẫn họ trở về xứ.
Ngay ngày hôm ấy, Bar Dror nắm quyền chỉ huy trại. Anh cắt nghĩa rằng chuyến đi lớn ấy chỉ có thể có trong vài tuần, có thể vài tháng nữa. Trong thời gian chờ đợi để Mossad Aliya Bet tìm được cách chuyên chở các người Do Thái Auschwitz thì những người này, về phía họ, cũng phải cố gắng sống cho ra con người.
Có thể nói là một nguồn nghị lực mới đã đưa trại ra khỏi tình trạng buông xuôi. Bar Dror chỉ định một ủy ban phụ trách việc sửa sang lại trại, lập ra một trường học, thành lập một ban kịch, một ban nhạc và ấn hành một “bản thông tin hàng ngày”. Trong khoảng thời gian vài tuần, một sự sinh hoạt như tổ ong đã thay thế cho tình trạng thẫn thờ của dân trong trại. Vững tâm rồi Bar Dror lại có thể ra đi khắp Ba Lan tìm kiếm các người Do Thái khổ sở khác để hướng dẫn họ về trại bây giờ đã trở thành trung tâm tiếp cư.
Trong khi Shimson Bar Dzor cùng các bạn trong Mossad cố gắng tập hợp các người Do Thái lại và đưa họ ra khỏi Ba Lan, có những người khác cũng nỗ lực hăng hái như thế để ngăn cản lại.
Tại khắp các nước Âu châu, các đại diện chính thức của đế quốc Anh gây áp lực với các chính phủ để yêu cầu họ đóng kín biên thùy không cho các dân tị nạn vào. Người Anh cả quyết rằng công cuộc của Mossad thực ra chỉ là một âm mưu phục quốc Do Thái có tính cách quốc tế, nhằm bắt mọi người phải chấp nhận một giải pháp Do Thái cho vấn đề xứ Palestine.
Luân Đôn không ngờ tìm thấy những bạn đồng minh ở Varsovie: quả thực vậy, chính quyền Ba Lan ra lệnh bắt những người Do Thái sống sót phải ở tại Ba Lan. Các lý do của lệnh này thật quá hiển nhiên: một khi ra được ngoại quốc, một vài kẻ thoát chết ấy sẽ khẳng định trước dư luận thế giới rằng người Ba Lan đã làm hết sức giúp đỡ Quốc xã hoàn tất chương trình diệt chủng Do Thái. Đây là một sự kiện không thể chối cãi, hết sức rõ ràng, nhưng Varsovie thích giữ bí mật hơn.
Vì thế, những người Do Thái Ba Lan đã bị giữ lại ở một quốc gia không muốn có họ, và bị loại ra khỏi một quốc gia đang muốn có họ.
Mùa đông đến, tinh thần của dân Auschwitz bắt đầu lung lay. Công việc vĩ đại do Bar Dror đã thực hiện dám tiêu tan. Nhiều lần, thanh niên Palestine này cố gắng cắt nghĩa cuộc tranh đấu chính trị đang xảy ra vì họ, nhưng họ từ chối không muốn nghe. Chính trị quốc tế? Họ cóc cần thiết.
Trong những ngày đầu tháng giêng 1946, sự kiện có một cán bộ thứ hai của Mossad tới đã làm cho Bar Dzor thoát ra khỏi con đường bế tắt. Sau khi bàn cãi, hai người quyết định liều được ăn cả ngã về không. Hai người cho họp các cấp chỉ huy của trại lại, yêu cầu chuẩn bị di tản khỏi trại. Bar Dzor nói :
- Chúng ta sẽ tiến về biên thùy Tiệp Khắc. Lộ trình không dài lắm - khoảng một trăm năm chục cây số - nhưng sẽ rất khó khăn. Một mặt, chúng ta bắt buộc phải đi bộ và phải đi với tốc độ của người đi chậm nhất, một mặt khác, vì phải tránh những con đường lớn, chúng ta sẽ bắt buộc phải băng qua dãy Carpathes và đèo Jablounkov.
Một người hỏi :
- Ở biên giới thì ra sao?
- Các cán bộ của chúng ta đang lo kiếm các đồng lõa cần thiết: các lính biên phòng Ba Lan chỉ mong được mua chuộc thôi. Nếu chúng ta vượt sang tới được Tiệp Khắc chúng ta sẽ an toàn, ít nhất trong lúc này. Jan Masaryk là một người bạn, ông ta sẽ không thuận để bất cứ một ai đuổi chúng ta đi hết.
Họ rời Auschwitz vào lúc nửa đêm, tiến sâu vào con đường tắt. - Một đoàn người thảm thương, những kẻ mạnh đỡ những kẻ yếu và bồng trẻ con. Với chậm chạp, khổ nhọc, họ tiến qua các cánh đồng tuyết phủ, với đôi chân tím, họ phải đi theo những dãy đường thật xa. Sau sáu ngày vất vã, họ bắt đầu leo lên các sườn núi đầu tiên của dãy Carpathes, người gập đôi xuống chống lại gió lạnh, vấp ngã. Bị kích thích bởi lòng can trường thì ít, hăng hái nhiều là do năng lực mẫn cán của các thanh niên Palestine không biết mệt là gi, đã thực hiện được chiến công là duy trì được sự sống cho họ và làm họ tiến bước.
Vượt qua biên thùy dễ dàng. Khi đoàn người tiến lại gần các lính biên phòng Ba Lan cố tình quay mặt đi, và một kẻ trong bọn, bằng một cử chỉ đầy ý nghĩa, đã đưa tay vỗ túi! Đối với họ, việc Do Thái vượt biên thùy này là một việc để họ làm ăn dễ dàng hơn.
Bây giờ đoàn người Do Thái đã vào lãnh thổ Tiệp. Vụ vượt đèo Jablounkov là cả một cơn ác mộng. Sau cùng, họ đã thở phào ra khi xuống đèo, tất cả đều đã kiệt lực, gần chết đói và chết rét. May mắn thay, Mossad đã gởi một chuyến tàu đặc biệt tới đón họ trong đó họ được ăn đồ ăn nóng, có chỗ ngủ và được săn sóc bệnh tật. Chặng thứ nhất của cuộc lữ hành nguy hiểm đã qua được rồi.
Mỗi khi có một người Do Thái được nhập nội hợp pháp xứ Palestine, người đó lại đưa sổ thông hành lại cho Mossad để dùng nữa. Năm trăm sổ thông hành loại này, mang chiếu khán của Vénezuela, Paraguay và nhiều quốc gia Mỹ La tinh khác, đã được phân phát cho các người sống sót của Auschwitz. Nhờ những giấy tờ này, mọi người có thể chống lại một phần nào các trò ngăn cản của người Anh.
Được báo tin có năm trăm người Do Thái trốn thoát từ trại Auschwitz đến, bộ ngoại giao Anh chỉ thị ngay cho đại sứ Anh tại Prague phản đối với Jan Masaryk. Được tiếp kiến ngay ngày hôm đó, đại sứ Anh trình bày rằng công cuộc Mossad vừa làm trái với luật pháp Ba Lan, và chỉ có mục tiêu duy nhất là cưỡng buộc mọi người phải chấp nhận giải pháp cho Palestine.
Masaryk nở một nụ cười :
- Thưa ông đại sứ, tôi xin thú thật là tôi không biết gì nhiều về các ống dẫn dầu Ả Rập. Ngược lại, tôi được biết khá rõ về những ống dẫn đến tình thương nhân loại nếu ông đại sứ thứ lỗi cho sự so sánh thô sơ này.
Ông đại sứ lộ một vẻ bực tức để ám chỉ rằng trong trường hợp “đoàn tàu Do Thái” được phép tiếp tục lộ trình, thì chính phủ ông sẽ có thể biểu lộ sự bất mãn bằng các biện pháp... các biện pháp..., nghĩa là các biện pháp “cụ thể”...
Masaryk ngắt lời :
- Xin phép ông đại sứ! Xin ông đại sứ biết cho rằng tôi rất tiếc không nhượng bộ vì bất cứ áp lực nào của quý quốc. Ngày nào tôi còn là ngoại trưởng của Tiệp Khắc, các biên thùy của nước tôi còn tiếp tục rộng mở cho các người Do Thái, dầu họ có thông hành hoặc chiếu khán hay không.
Đại sứ Anh bắt buộc phải thông báo cho Luân Đôn biết rằng ông đã không thể chặn đoàn tàu đó lại được. Đoàn tàu tiến xuống tận Bratislava, điểm giao nhau của ba biên thùy Hung, Tiệp và Áo, rồi tiến vào nước Áo, dưới sự che chở cá nhân của một tướng lãnh Hoa Kỳ ủng họ chủ nghĩa phục quốc Do Thái.
Sau một ngày nghỉ ngơi ở Vienne, đoàn tàu lại ra đi, qua Brenner tiến vào nước Ý. Trong bán đảo này, Mossad có thể trông cậy ở sự giúp đỡ tích cực của dân chúng và của cả chính quyền nữa, nhưng ngược lại sự hiện diện của quân lực chiếm đóng Anh lại làm trở ngại hoạt động. Dẫu sao trong quân lực Anh tại đây cũng có một lữ đoàn Do Thái Palestine mà Mossad đã lũng đoạn đến nỗi quân sĩ lữ đoàn này sẵn lòng tuân theo lời các cán bộ bí mật hơn là tuân lệnh các cấp chỉ huy chính thức. Chính một tiểu đoàn của lữ đoàn này đã đón tiếp đoàn người khi họ xuống xe lửa tại một nơi hẻo lánh, ở khoảng giữa hồ Come và Milan.
Mọi người đã cẩn thận báo trước cho những người đào thoát biết là họ sẽ được đón tiếp bởi những người mang quân phục Anh. Mặc dù đã cẩn thận như thế, sự xuất hiện của quân sĩ vẫn suýt gây kinh hoàng. Những kẻ thoát khỏi nhà thiêu xác không thể hiểu là những chiến binh này lại có thể mang trên vai trái phù hiệu ngôi sao David, phù hiệu của ghetto và biểu tượng của sự hành hạ tàn sát. Ngoại trừ trong thời gian nổi dậy của ghetto Varsovie, chưa có một người Do Thái nào chiến đấu dưới biểu hiệu này từ hai ngàn năm nay.
Dẫu sao, các e ngại của họ tiêu tan rất nhanh. Những người lính tỏ ra thân hữu, sẵn sàng giúp đỡ, rộng rãi, nhưng dù họ có bập bẹ nói tiếng yiddish và nói thạo tiếng hébreu, dáng điệu cách xử sự của họ có vẻ rất khác dáng điệu và xử sự mà người ta thường nhận thấy ở những người Do Thái Ba Lan hay Nga sô. Có thể nói đây là giống người khác...
Những người tị nạn đã sống một tuần ở trung tâm tiếp đón Milan thì một hôm, vào nửa đêm, Dov và một trăm người nữa bị kéo ra khỏi giường và đưa lên các xe cam-nhông nhà binh Anh, do quân sĩ của Lữ đoàn Palestine lái. Đoàn xe chạy theo những con đường phụ đến tận một địa điểm ven biển đã có ba trăm người từ các trại khác cũng đang chờ đợi. Trong hải cảng bên cạnh Spezia, một chiếc tàu bé xíu nhổ neo để đến gặp họ. Chiếc tàu bỏ neo cách bờ vài sải và cả một tiểu hạm đội ca-nô bơm hơi đã đưa các hành khách lên tàu. Rồi chiếc Cửa vào Sion lại nhổ neo. Ngay sau khi rời hải phận Ý, một phóng ngư lôi hạm Anh đã tới bám sát. Hải quân Hoàng gia Anh đã tỏ ra hoạt động hoàn toàn mẫn cán...
Trước sự ngạc nhiên của các sĩ quan của Đức Vua Anh quốc, chiếc tàu nhỏ, đáng lẽ hướng về Pakstine như các tàu chở di dân khác, lại hướng về duyên hải Pháp và tiến vào vịnh Lion. Cả các hành khách lẫn các thủy thủ Anh đều không lúc nào ngờ rằng chiếc Cửa vào Sion lại sẽ đóng một vai trò quan trọng trong một kế hoạch vừa rộng lớn vừa phức tạp.
0
Phần 1 - 28

Hai mươi bốn giờ trước ngày N của “Chiến dịch Gédéon”, một buổi hội họp sau cùng của Mossad được tổ chức ở nhà Mandria.
David Ben Ami mang tới những giấy di chuyển Dov vừa làm xong. Ari xem xét một cách thỏa mãn: những giấy tờ giả này sẽ đánh lừa viên sĩ quan nào đa nghi nhất, sau đó là phần báo cáo :
Báo cáo của David về cả ngàn chi tiết tân trang tàu: tiếp tế thực phẩm.
Báo cáo của Joab Marconi, phụ trách vụ di chuyển trên bộ. Các cam-nhông của anh sẵn sàng khởi hành bất cứ lúc nào có lệnh, và sẽ đi lộ trình từ nơi để xe đến trại Caraolos đúng hai mươi phút. Còn về lộ trình Caraolos Cyrénia, anh đã tính giờ sẵn cho nhiều lộ trình khác nhau.
Báo cáo của Zev Gilboa phải đưa ba trăm trẻ lên xe trong khoảng thời gian vài phút. Anh định sẽ cắt nghĩa cho các trẻ việc gì sẽ xảy ra, ngay trước khi chúng rời trại.
Báo cáo của Hank Schlosberg, thuyền trưởng người Hoa Kỳ của chiếc Exodus. Ông này trình bày rằng sẽ nhổ neo từ Larnaca vào lúc hoàng hôn như thế nào để có thể đến Cyrénia ít nhất một giờ trước khi đoàn xe chở trẻ tới.
Sau cùng là báo cáo của Mandria. Ông này đã bố trí dọc lộ trình đào thoát cả một hệ thống quan sát viên để báo động ngay cho chiếc xe đầu mọi hoạt động khả nghi của quân Anh. Ông cũng đặt các đài quan sát trên năm hay sáu lộ trình phòng hờ khác. Còn chính ông sẽ đợi trong văn phòng của mình ở Famagouste. Ngay khi đoàn xe chạy qua dưới cửa sổ văn phòng ông, ông sẽ điện thoại lại Cyrénia để báo cho Mark Parker biết.
Ari đứng dậy và nhìn các phụ tá của mình. Rõ ràng là tất cả những người này đều hồi họp bồi hồi, ngay cả Marconi bình thường lạnh lùng, cũng nhìn chăm chú xuống sàn. Ari không hề nghĩ đến chuyện khen họ, cũng như không có chúc họ may mắn. Các lời khen ngợi để về sau, còn về may mắn, thì chính họ phải tạo ra và nắm lấy.
- Lúc đầu, tôi định đợi chính người Anh bắt đầu cho di chuyển các trẻ con sang trại mới. Tuy nhiên, các tin tức giờ chót đã làm tôi phải quyết định thực hiện chiến dịch sớm hơn. Chúng ta được biết là thiếu tá Allistair nghi ngờ chúng ta làm một vụ gì lớn và hình như thiếu tá này đã vượt qua thượng cấp là thiếu tướng Sutherland để xin chỉ thị mới trực tiếp từ Luân Đôn. Vậy chúng ta phải hành động ngay. Sau đây là thời dụng biểu của chiến dịch: Vào lúc 9 giờ, các xe cam-nhông của chúng ta tới cổng trại Caraolos. Vào lúc 10 giờ các trẻ đã lên xe xong và đoàn xe đã đi qua nhà này. Kể từ lúc đoàn xe rời con đường Larnaca, sẽ có hai giờ gay go. Chúng ta không có lý do nào để giả đoán rằng đoàn xe bị chận lại dọc đường, ít nhất cũng vì lý do tất cả mọi người ở Chypre đều biết Đại đội 23 Vận tải HMJFC. Nhưng... chúng ta phải xét tới sự kiện thiên hạ nghi ngờ chúng ta. Có ai thắc mắc gì không?
Không ai trả lời. Mỉm cười, Ari tiến về phía Mandria, ôm lấy ông này theo cách thế thân ái của các palmachnik. Chàng nói :
- Ông đã tỏ ra là một trong những người bạn tốt nhất chúng tôi có thể gặp trên đời. Thôi bây giờ tôi phải tạm biệt các bạn. Tôi phải tới gặp Parker.
Một nửa giờ sau, sau khi đã ngụy trang dưới quân phục đại úy Caleb Moore quân lực Anh, Ari gặp Mark Parker ở nhà hàng sân thượng khách sạn “Vua George”. Nhà ký giả rõ ràng chỉ còn là một bộ dây thần kinh căng thẳng. Ari ngồi xuống bàn từ chối điếu thuốc Mark mời và gọi một ly scotch.
- Mọi sự vào ngày mai đây. Chúng tôi sẽ tới Caraolos vào lúc 9 giờ sáng. Thật không may là chúng ta không thể chần chừ lâu hơn được nữa. Một người bạn làm ở An ninh Quân đội đã cho biết là ông bạn Allistair thân mến của chúng ta đang âm mưu một cái gì đó. Nhưng kìa, tôi xin ông bạn, hãy ngồi cho thoải mái ra nào. Quân Anh đang tìm kiếm, nhưng họ chưa biết gì cả. Trong khi anh, anh lại biết rõ tất cả.
Mark đồng ý trong im lặng. Chàng sẽ gởi một điện tín yêu cầu cho gia hạn nghỉ phép ở Luân Đôn, Bradbury khi nhận được điện tín ký tên “Mark”, sẽ biết là “Chiến dịch Gédéon” đã thành công và cho đăng tải ngay bài phóng sự Mark đã viết sẵn và gởi về một tuần lễ trước đây. Mark nói :
- Nếu Mandria không gọi tôi vào lúc 10 giờ như đã thỏa thuận thì sao?
Ari nở một nụ cười nhạt nhẽo :
- Trong trường hợp đó, anh nên chuồn gấp bằng chuyến phi cơ đầu tiên cất cánh rời đảo này. Ngoại trừ khi anh muốn ở lại để dự lễ xử giảo tôi.
Mark đưa ly lên uống một hơi cạn, nhận xét :
- Chắc vụ đó sẽ là một bài báo hay.
Ari nói :
- Tiện đây nói luôn. Kitty không trở lại trại làm việc kể từ khi anh chàng nhãi Dov ấy bắt chúng ta phải ghi tên Karen vào danh sách đi tàu Exodus.
- Tôi biết chuyện đó. Nàng đang ở với tôi ở Khách sạn Dôme.
- Nàng khỏe mạnh?
Mark nổi giận :
- Thế anh tưởng nàng ra sao nữa? Kitty rất khổ, hết sức khổ sở. Kitty sẵn lòng đổi bất cứ cái gì để Karen đừng lên Exodus. Có lẽ anh trách cứ Kitty về chuyện đó?
- Chắc chắn là không rồi. Tôi chỉ thương cho nàng thôi.
- Quý hóa quá! Tôi không được biết là anh lại có thể thương được cái gì trên đời...
- Tôi thương nàng bởi vì nàng đã để tình cảm khống chế lương tri.
- Đúng đấy... tôi quên phăng mất là anh không hề biết tình cảm là gì hết.
Ari nhìn Mark với một vẻ bình tĩnh đượm thích thú.
- Anh Mark, thần kinh anh căng thẳng quá rồi đấy.
Mark cố gắng mới kìm được cơn giận.
- Điều đó làm anh ngạc nhiên sao? Kitty, trong đời nàng, nàng đã phải chịu nhiều đau khổ ngoài sức chịu đựng của con người.
Ari nhắc lại :
- Đau khổ? Tôi tự hỏi liệu Kitty Fremont có biết tới nghĩa của chữ này nữa không?
Mark lớn tiếng :
- Tôi muốn bẻ gãy cổ anh quá! Cái gì đã làm anh tưởng rằng dân Do Thái các anh giữ độc quyền về đau khổ?
- May mắn thay là các ông chủ báo không có trả lương anh để anh thương tôi. Dẫu sao, anh ưa hay ghét tôi, điều đó đối với tôi hoàn toàn không quan trọng.
- Chắc chắn thế rồi. Nhưng làm sao được... Tôi ưa những ai có những sự yếu đuối thông thường của con người.
- Chắc chắn là tôi không có những yếu đuối loại đó trong những giờ tôi làm việc.
Tức giận, Mark đứng dậy toan đi chỗ khác. Bàn tay mạnh mẽ của Ari nắm chặt lấy cánh tay chàng. Lần đầu tiên Mark thấy Ari ở trạng thái suýt mất bình tĩnh.
- Thưa ông ký giả, ông tưởng ông đang ở đâu đây! Ở một buổi dạ hội phù hoa trong hoa viên một quận chúa chăng? Ông quên mất rằng sáng ngày mai đây chúng tôi phải đụng độ với cả đế quốc Anh.
Buông cánh tay của Mark, Ari quay đi, ngượng ngùng rõ rệt là đã để lộ cơn giận ra ngoài. Mark không thể không cảm thấy một sự thương sót mơ hồ. Chắc chắn là Ari tự chủ hơn chàng rồi, nhưng với thần kinh căng thẳng với tình hình hiện tại cũng đã gây một cái gì cho con người “khổng lồ” xem bề ngoài như không bao giờ biết cảm giác là gì.
Vài giờ sau, Mark trở về Cyrénia, vào khách sạn Dôme, tới gõ cửa phòng Kitty. Nàng còn đủ sức mỉm cười nhẹ đón chàng, nhưng đôi mắt đỏ nhiều vì khóc chứng tỏ nàng rất buồn khổ. Mark loan báo :
- Vào ngày mai đấy.
Nàng cứng người lại.
- Nhanh đến thể sao? Em tưởng...
- Họ e ngại quân Anh đã nghi ngờ điều gì rồi.
Kitty đi lùi đến tận cửa sổ và giả vờ ngắm quang cảnh bên ngoài: trong không gian trong suốt như pha lê, như đoán thấy được bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ ở chân trời. Nàng nói khe khẽ :
- Em đã cố tìm đủ can đảm để thu xếp hành lý. Để rời Chypre...
- Nghe đây em yêu.. ngày khi câu chuyện này chấm dứt, cả hai chúng ta sẽ cùng ra đi. Một vài tuần lễ ở Côte d’Azur sẽ hữu ích cho em.
- Anh tưởng chỉ cần bấy nhiêu là đủ cho em trở lại như cũ được sao? Vả lại, anh phải đi Palestine, phải không?
- Anh không cho rằng người Anh sẽ cho phép anh nhập nội xứ đó, sau vố mà anh đã chơi họ. Em biết không... Anh rất tiếc đã lôi kéo em vào chuyện phiêu lưu này.
- Không phải lỗi tại anh đâu, anh Mark.
- Có chứ - ít nhất trong một mức độ nào đó. Bây giờ anh đang tự hỏi em làm sao qua khỏi nỗi khổ này đây. Em liệu có đủ sức chống trả được không?
Nàng trả lời bằng giọng thiếu tin tưởng :
- Phải có đủ chứ, anh. Anh Mark... sẽ có nguy hiểm cho những kẻ sẽ lên tàu Exodus phải không?
- Đến đây thì có giấu em cũng vô ích. Chiếc tàu đáng thương này là cả một trái bom nổi.
Nàng loạng choạng như bị ai đánh mạnh.
- Nói thật hết đi anh, anh Mark, anh có tin các trẻ em sẽ có may mắn ra thoát khỏi không?
- Nói cho thực, anh tin là có một may mắn. Một may mắn lớn là khác với một tay làm trò như Ben Canaan, thông minh, đa mưu túc kế và không tình cảm.
Mặt trời lặn. Mark và Kitty, trong căn phòng bóng tối xâm chiếm dần dần, im lặng theo dõi tư tưởng riêng của mình. Sau cùng Mark nói :
- Đứng suốt đêm cũng chẳng ích gì.
Kitty thì thào :
- Anh đừng để em một mình anh Mark.
Lấy trong ngăn kéo bàn ngủ hai viên thuốc, nàng uống trước khi nằm dài. Ngồi gần cửa sổ, Mark lắng nghe điệu ca trầm của sóng vỗ vào kẽ đá. Sau chừng hai mươi phút, chàng biết là nàng đã ngủ, một giấc ngủ không yên. Chàng đứng dậy, quấn mình trong một chiếc chăn rồi trở lại ghế bành.

Ở Caraolos, Karen và Dov cùng ngồi trên giường của Dov, nói chuyện thì thào. Là hai người duy nhất trong khu nhi đồng được biết cái gì sẽ xảy ra ngày mai, họ quá xốn xang không có thể đi ngủ.
Dov, có lẽ đã đến lần thứ mười, trình bày dự định vĩ đại của mình: ngay khi tới Palestine, chàng sẽ tìm gia nhập một nhóm đặc công để có dịp giết chết thật nhiều lính Anh. Sau cùng Karen cũng thành công trong việc làm Dov dịu bớt cơn hăng hái.
- Nằm ra đi Dov. Hãy cố gắng ngủ đi.
Dov nghe lời và nhắm mắt lại. Dịu dàng, nàng đứng dậy. Một cảm giác kỳ lạ chạy khắp châu thân nàng, một rung động vừa thú vị vừa đáng e ngại. Mãi cho tới giờ, nàng mới hiểu Dov đối với nàng có một giá trị như thế nào. Sự thương hại lúc đầu... Bây giờ, Dov đã không chê nàng không phải vì xác thịt, thật khó nói... Thật khó hiểu. Nàng muốn nói với Kitty về vấn đề này, nhưng Kitty đã không trở lại trại từ nhiều ngày rồi.
- Karen?
- Ngủ đi anh, Karen không về đâu.
Chậm chạp, các thời khắc trong đêm qua dần.

Trong doanh trại của Đại đội 23 Vận tải, có ba người cũng không sao ngủ được.
Đây là lần đầu tiên từ gần một năm nay, Zev mới dám mơ đến mùa xuân trên những đồi vùng Galilée. Anh nghĩ tới vợ con và trang trại. Anh đã tuân lệnh Palmach sang Chypre khi đứa con mới được có vài tháng.
Joab Yaiconi cũng nghĩ tới trang trại của mình ở ven biển, chếch về phía bắc đồng bằng Sharon. Một trang trại đẹp đẽ, được gọi là Sdot Yam, Cánh đồng Biển, vì mỗi năm thu thập toàn là cá. Yarconi thích lang thang hàng giờ trong các di tích hoang tàn của đô thị Césarée cổ xưa, tìm kiếm vài cổ vật. Anh hy vọng Palmach sẽ cho phép anh về đó sống một hay hai tuần, để có thì giờ đi câu, đến thăm viếng các anh chị, đào bớ dưới chân các bức tường của Césarée...
David Ben Ami nghĩ tới Jérusalem, đô thị anh yêu quý gần bằng anh yêu Jordana, em gái của Ari. Anh sắp được gặp lại cả hai, anh sẽ chạy chơi trên các mỏm đá lởm chởm của vùng Judée, nơi sáu anh em trai của anh đang sống...
Tì cầm lên tay, anh đọc lại bức thư đã do Ari chuyển hộ, Jordana, Jordana... Anh có cảm tưởng tim anh sắp nổ tung lên, Jordana yêu dấu!

Thiếu tướng Bruce Sutherland giật mình thức giấc. Một lần nữa ông lại bị cơn ác mộng gần đây thường gần như ám ảnh ông mỗi đêm. Ông mặc quần áo ra khỏi nhà, băng qua Famagouste đang ngủ yên, đi dọc theo các bức tường thành cũ. Đến mỗi vòm cổng, ông ngừng, đưa mắt nhìn đô thị trung cổ với rất nhiều nhà thờ, cung điện đổ nát cùng hàng nghìn kỷ niệm của một triều đại huy hoàng đã mất. Sau cùng, ông đến tháp Othello. Ông chậm chạp leo lên cầu thang xoay tròn. Đứng trên sân thượng, ông ngắm nhìn hải cảng, lo âu tự hỏi không biết tới bao giờ ông mới được biết tới hạnh phúc được ngủ yên một đêm trọn vẹn.
Thiếu tá J.J. Allistair ngủ gục ngay tại bàn làm việc, mũi chúi vào tập hồ sơ dầy cộm đã nghiên cứu từ nhiều giờ nhưng vô vọng để ước tính xem dân Do Thái đang chuẩn bị cái gì ở Caraolos.
Trong khi đó có một người ngủ lương tâm thanh thản: Ari Ben Canaan ngủ ngon lành như một đứa bé no sữa chưa hề biết đến các phiền lụy của cuộc đời.

Lúc 8g40, đại úy Caleb Moore, tức Ari Ben Canaan lên chiếc jeep dẫn đầu mười hai chiếc cam-nhông của Đại đội 23 Vận tải HMJFC. Mỗi xe do một Palmachnik mặc quân phục Anh cầm lái. Đoàn xe khởi hành, tăng tốc độ, để rồi hai mươi phút sau ngừng lại trước tòa nhà hành chánh của trại Caraolos ở bên ngoài rào kẽm gai.
Ari xuống xe và tới gõ cửa văn phòng chỉ huy trại. Ari hoàn toàn bình thản: từ ba tuần rồi, chàng đã thu xếp để làm quen với sĩ quan Anh, một sự giao thiệp hết sức hữu ích.
- Chào thiếu tá.
- Chào đại úy Moore. Tôi liệu có thể giúp gì cho anh đây!
- Thưa thiếu tá chúng tôi vừa nhận được công điện khẩn của Bộ tư lệnh. Hình như việc xây cất mới ở Larcana đã hoàn tất hơn dự trù. Thượng cấp giao cho chúng tôi nhiệm vụ di chuyển ngay một số trẻ em kể từ sáng nay.
Ari đặt xấp giấy tờ giả xuống bàn. Chỉ huy trại lãnh đạm đọc lướt qua, nhận xét :
- Vụ này không nằm trong kế hoạch di chuyển của chúng tôi. Theo dự trù thì đợt trẻ con đầu chỉ chuyển khỏi trại trong ba ngày nữa là sớm nhất.
- Quân đội mà... Thiếu tá biết đấy.
Viên thiếu tá cắn môi, do dự, nhìn đại úy Moore rồi cúi xuống nghiên cứu xấp giấy tờ. Sau cùng ông cầm điện thoại lên.
- Allôl Đây là thiếu tá Potter. Trong phòng tôi hiện có đại úy Moore xuất trình lệnh di chuyển cho ba trăm trẻ ở khu 50. Yêu cầu đặt dưới quyền của đại úy đó một toán binh sĩ để giúp đỡ ông đưa trẻ lên xe.
Buông máy, thiếu tá cầm bút ký vào các giấy tờ.
- Đây xong rồi anh Moore. Anh cố gắng lẹ lên cho: chúng tôi đang đợi một đoàn xe tiếp tế đến đây trong khoảng một giờ nữa các đường trong trại sắp sửa kẹt xe.
- Tôi hiểu, thiếu tá.
- À! Suýt nữa tôi quên mất... Cám ơn anh lần nữa là đã gửi whisky cho câu lạc bộ chúng tôi.
- Có gì đâu thiếu tá.
Khi Ari lấy lại giấy tờ, viên thiếu tá thở dài một cái.
- Những dân Do Thái lang thang ấy... Họ đi, họ trở lại.
Ari tán đồng :
- Thưa thiếu tá đúng vậy. Họ đến rồi họ lại ra đi...

Người hầu trong khách sạn đã dọn bữa ăn sáng trong phòng Mark, trước cửa sổ. Kitty không muốn ăn. Nét mặt căng thẳng, Mark dụi hết điếu thuốc này đến điếu khác vào cái đựng tàn đã đầy ngập đến tận miệng. Kitty hỏi :
- Mấy giờ rồi anh?
- Đây ít nhất là lần thứ hai mươi rồi em hỏi giờ anh, gần chín rưỡi.
- Theo ý anh bây giờ đang xảy ra cái gì?
- Nếu họ giữ đúng được thời biểu thì lúc này trẻ con đang lên xe. Nhìn kìa!
Mark chỉ ra biển. Một chiếc tàu kéo cũ kỹ đang đổi hướng tiến vào hải cảng. Kitty sợ hãi kêu lên :
- Trờ ơi! Đó là tàu Exodus sao? Nó cũ đến muốn long ra từng mảnh!
- Đúng đấy em! Tàu Exodus đó.
- Họ sẽ làm thế nào để nhét được ba trăm trẻ lên cái tàu nhỏ xíu này anh?
Để tránh trả lời, Mark châm một điếu thuốc khác, giả vờ như gặp trục trặc với chiếc bật lửa.
9 giờ ba mươi...
9 giờ bốn mươi...
Tàu Exodus tiến giữa hải đăng và tòa lâu đài, vượt qua lối đi tạo bở hai con đê hình bán nguyệt, vào hải cảng Cyrénia.
9 giờ năm mươi...
- Trời ơi anh Mark! Anh làm ơn ngồi dùm xuống đi. Anh sắp làm em loạn thần kinh lên bây giờ.
- Bây giờ Mandria sắp sửa gọi điện thoại tới. Một phút hay một vài phút nữa...
10 giờ.
10 giờ năm...
10 giờ sáu...
10 giờ bảy phút...
Mark không kèm giữ được nữa, la lớn :
- Mẹ kiếp! Ly cà phê tôi gọi, họ phải mang lên chứ! Kitty, em làm ơn vào phòng em gọi nhà hàng ăn bảo mang lên lẹ. Bảo họ mang lên ngay lập tức, nếu không, họ sẽ biết anh!
10 giờ mười lăm. Người hầu mang ly cà phê lên.
10 giờ mươi bảy phút. Giới hạn gay go đã tới. Nếu Mandria không gọi lại trong mười lăm phút sắp tới, sẽ có nghĩa là đã có biến cố bất ngờ, hay tai hại hơn nữa.
Vào lúc 10g20, điện thoại reo. Mark và Kitty nhìn nhau. Mark cầm máy lên.
- Allô?
- Ông Parker?
- Chính tôi đây.
- Xin đừng rời máy. Có người gọi từ Famagouste.
Sau một vài giây âm thanh rối loạn, một giọng chính xác cất lên :
- Allô, Parker?
- Tôi đang nghe đây.
- Mandria đây. Họ vừa đi qua dưới đường.
Mark chậm chạp đặt điện thoại xuống, loan báo :
- Mọi việc trôi chảy. Ari đã đưa được bọn trẻ ra khỏi Caraolos. Lúc này đây chắc họ đang đi trên đường đến Larnaca. Chừng mười lăm phút nữa họ sẽ quẹo về hướng bắc. Một lộ trình dài chừng 80 cây số đường bằng phẳng, chỉ có một đèo duy nhất phải vượt qua, ngoại trừ trường hợp họ bắt buộc phải mượn một lộ trình khác. Nghĩa là họ phải tới đây vào lúc 12g 15, 12g rưỡi... Nếu mọi sự xảy ra đúng như đã dự trù.
Kitty nói nho nhỏ :
- Tôi hy vọng tất cả mọi sự sẽ diễn ra đúng như đã dự trù.
- Thôi, bọn mình xuống đi. Đợi ở đây vô ích.
Mark đứng dậy.
Trước khi rời phòng, chàng cầm theo ống nhòm.

Kenneth Bradbury.
Giám đốc American News Syndicate.
London.
Du hí quá độ - STOP - Xin cho nghỉ thêm hai tuần nữa - STOP - Xin trả lời.
MARK

- Xin gửi khẩn cho. Theo ý ông, chừng bao lâu thì điện tín tới nơi?
Người phụ trách đọc qua bản văn.
- Điện tín sẽ tới Luân Đôn trong vài giờ nữa.
- Tốt lắm.
Mark nắm lấy cánh tay Kitty, kéo nàng về phía các cầu tàu. Nàng hỏi :
- Điện tín có nghĩa thế nào hả anh?
- Một mật hiệu ước định trước. Ngay tối nay, hãng thông tấn ở Luân Đôn sẽ cho đăng tải bài phóng sự của anh.
Họ đi qua chỗ tàu Exodus bỏ neo, leo lên các tường lũy lâu đài Thánh nữ Đồng Trinh. Từ vọng lâu này, hai người vừa nhìn rõ hải cảng vừa thấy rõ con đường ven biển mà đoàn xe sẽ phải đi qua.
Lúc 11 giờ mười lăm, Mark chiếu ống nhòm về con đường trải nhựa, nhận thấy phía xa một đám mây bụi nhỏ bay trên một dãy vết thẫm nhìn từ khoảng xa này không lớn hơn con kiến. Lấy khuỷu tay hích Kitty, chàng đưa ống nhòm cho nàng. Nàng giữ lấy, lo âu theo dõi mức tiến của đoàn xe xuất hiện, và biến đi tùy theo khúc đường cao thấp. Mark nhận xét :
- Họ phải mất chừng nửa giờ nữa mới tới đây. Chúng ta xuống đi.
Họ lại đi dọc cảng để dừng lại ở đầu ke. Chừng bốn mươi phút sau, họ thấy đoàn xe chạy qua bệnh viện ở đầu thị trấn. Mark cầm lấy Kitty.
- Bây giờ chúng ta có thể về rồi.
Tới khách sạn Dôme, Mark vào phòng điện thoại đóng kín cửa lại và yêu cầu được gặp An ninh Quân đội Anh ở Famagouste với ưu tiên tuyệt đối. Chàng nói qua khăn tay che miệng và cố gắng bắt chước giọng Oxford :
- Cho tôi được gặp thiếu tá Allsstair.
- Về vấn đề gì? Ai đang ở đầu dây đó?
- Nghe đây bồ, ba trăm người Do Thái vừa trốn khỏi trại Caraolos. Tin tức này liệu có đủ để bồ thôi đừng đặt những câu hỏi ngốc ngếch nữa, và cho tôi nói chuyện với thiếu tá ngay chưa?
Chàng nghe thấy một tiếng chuông reo, rồi một giọng nói khác :
- Thiếu tá Allistair...
- Đây là một người bạn. Tôi xin báo cho thiếu tá biết là hàng mấy trăm người Do Thái đã trốn khỏi Caraolos và ngay lúc này đây họ đang lên một chiếc tàu bỏ neo trong hải cảng Cyrénia.
Allistair hối hả lắc điện thoại :
- Allô.. Allô... Ai đang nói đó? Tôi yêu cầu ông... allô...
Sau cùng viên thiếu tá cắt liên lạc để quay một số khác :
- Allistair đây. Mọi người cho tôi biết là có một vụ đào thoát lớn của các dân Do Thái. Hình như lúc này họ đang lên tàu ở Cyrénia. Hãy cho báo động toàn diện ngay, ra lệnh cho chỉ huy hải cảng kiểm soát tại chỗ ngay lập tức. Nếu ông ta xác nhận tin tức của tôi đúng, hãy điều động nhiều chiến hạm tới cảng Cyrénia ngay.
Không đợi trả lời, Allistair gác máy và vội vã chạy ra ngoài, nhào vào phòng thiếu tướng Sutherland.

Đoàn xe dừng tại trên cầu tàu. Ari xuống xe và tài xế lái xe đi ngay. Các cam nhông hết chiếc này đến chiếc khác chạy đến tận thang dẫn lên tàu Exodus. Đã được huấn luyện từ nhiều tháng tuân lời trong im lặng và thực hiện nhanh chóng các mệnh lệnh của các Palmachnik, các trẻ em chỉ mất một vài phút để lên tàu. Trên boong, Zev, Joab và Hank Schlosberg thuyền trưởng Exodus, chỉ dẫn cho các nhóm tới các chỗ đã định sẵn. Tất cả diễn tiến trong một thời gian tối thiểu không một lời nói vô ích.
Trên ke vài kẻ nhàn rỗi đang ngồi nhìn ra phân vân và hơi tò mò. Hai hay ba lính Anh hiện diện tỏ ra lãnh đạm hoàn toàn. Mỗi khi trút xong người, các cam nhông rồ máy chạy ngay về ngọn Saint-Hilarion và các tài xế sẽ bỏ xe ngay sau khúc rẽ đầu tiên che khuất tầm mắt của các kẻ tò mò. Đại đội 23 Vận tải, sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, không còn tồn tại nữa. Joab không cưỡng nổi với ước muốn để lại trên băng xe một mình một mẩu giấy cám ơn quân Anh đã có nhã ý cho mượn xe cộ.
Sau chừng hai mươi phút, các đứa trẻ sau chót đi lên tàu. Ari lên tàu và leo thang dẫn tới đài chỉ huy để gặp Zev, Joab, David và Schlosberg.
- Thuyền trưởng, ông có thể nhổ neo và cho máy chạy, Zev, Joab và David, các anh hãy cắt nghĩa cho các em hiểu chúng ta đang làm gì và chờ đợi gì ở các em. Em nào thấy không đủ can đảm có thể báo cho tôi biết trong phòng lái: tôi sẽ cho em đó trở lại Caraolos. Cũng báo cho các em biết chúng có thể mất mạng trong cuộc phiêu lưu này. Các anh không được gây áp lực nào để giữ những kẻ muốn rút lui.
Tàu Exodus đã rời ke, chạy lui một cách thận trọng, ra thả neo ở giữa cảng.
Đột nhiên nhiều tiếng còi hụ rú lên phá tan không khí im lặng. Dùng ống nhòm, Ari quan sát tìm kiếm các đường dẫn tới cảng và trông thấy rất nhiều xe jeep và cam nhông của quân đội chạy hết tốc độ đổ dồn về hải cảng Cyrénie. Chàng phá lên cười khi nhận thấy trên sườn dốc ngọn Saint-Hilarion, các xe vận tải của Đại đội 23 Vận tải giao nhau với một đoàn xe sơn màu kaki đang lao nhanh xuống cầu tàu. Các người lính đầu tiên đã chạy tới. Các sĩ quan chỉ huy Exodus, la lớn mệnh lệnh. Nhiều quân sĩ chạy trên các đê bán nguyệt để đặt ở hai đầu các đại liên và súng cối ngăn chặn chiếc Exodus vượt eo ở giữa.
Sau chừng một tiếng, năm trăm quân sĩ võ trang hùng hậu chiếm cứ vững chắc hải cảng, các dây đã được chăng ngang các đường phố ngăn đôi hải cảng với thị trấn. Hai phóng ngư lôi hạm chặn đứng lối ra biển. Rồi các thiết giáp nhào xuống các ke, cùng với trọng pháo thay thế cho các đại liên và súng cối. Các còi hụ lại “rú” lên để chào chiếc xe chở thiếu tướng Sutherland, đại úy tùy viên Caldwell và thiếu tá Allistair. Thiếu tá Cook, chỉ huy vùng Cyrénia, chạy bổ tới để báo cáo :
- Chiếc tàu đó, thưa thiếu tướng. Các tin tức đã cho rất đúng: có hàng mấy trăm Do Thái trên tàu. Nhưng họ sẽ không bao giờ ra thoát khỏi đây.
Sutherland công nhận :
- Đúng thế. Với các lực lượng tập trung tại đây, thiếu tá đủ sức đánh trả với cả một sư đoàn thiết giáp của Wehrmacht. Những kẻ trên tàu này hẳn phải vô ý thức lắm. Phiền thiếu tá cho lệnh đặt ngay cho tôi một hệ thống phóng thanh.
- Xin tuân lệnh.
Caldwell nói :
- Nếu thượng cấp cho phép tôi trình bày ý kiến, tôi cho rằng chỉ việc đánh đắm luôn tàu này cho rảnh. Vài viên đạn trọng pháo...
Sutherland gắt gỏng ngắt lời :
- Tôi không hỏi ý kiến của đại úy. Thiếu tá Cook, chỉ định ngay một toán xung kích chiếm tàu: hơi cay, vũ khí cá nhân phòng trường hợp những tên điên rồ kia không chịu lên bờ. Caldwell, đại úy chạy lẹ đến khách sạn Dôme và báo cho Bộ tư lệnh biết: tin tức cấm phổ biến ra ngoài cho tới khi có lệnh mới. Không được hở một câu với các ký giả, kiểm duyệt các điện tín cùng các biện pháp tương ứng.
Allistair vẫn chưa hé môi từ lúc đến tới giờ. Mặt tái xanh, môi mím chặt, chàng quan sát chiếc tàu.
- Allistair, anh nghĩ sao về vụ này?
- Thành thật ra mà nói thưa thiếu tướng, câu chuyện này làm tôi lo lắm. Các kẻ này đây có điên gì: họ đâu dám tổ chức đào thoát như vậy, thanh thiên bạch nhật, nếu họ không có một hậu ý.
- Thôi, xin anh. Quả thực chỗ nào lúc nào anh cũng thấy có âm mưu hết.
Mark Parker đã vượt qua được hàng rào quân sĩ, uể oải tiến lại gần hai sĩ quan, hỏi bằng một giọng vô tội :
- Tại sao lại có nhộn nhịp vậy thưa quý vị?
Trông thấy người ký giả Hoa Kỳ, Allistair cảm thấy những nghi ngờ của mình biến thành tin tưởng chắc chắn.
- Ông Parker, tử tế cắt nghĩa dùm chúng tôi vụ này nghĩa là thế nào. Nhân tiện đây, tôi cũng xin nhắc ông bạn một lời khuyến cáo: Lần sau ông bạn điện thoại cho tôi hãy coi chừng nói cho đúng giọng người Anh hơn.
Mark làm ra điệu ngạc nhiên không hiểu gì :
- Tôi hoàn toàn không hiểu thiếu tá định nói cái gì.
Nhưng thiếu tường Sutherland thì ông đã bắt đầu hiểu. Ông nhìn chiếc tàu rồi nhìn Parker, nhìn Parker rồi nhìn Allistair và ông cảm thấy cơn giận bốc lên bừng mặt. Bây giờ ông biết chắc rằng Mossad đã tổ chức một chiến dịch quan trọng ngay trước mũi quân lực Anh trên đảo cùng vị chỉ huy ở đây, nghĩa là trước mũi thiếu tướng Sutherland.
Thiếu tá Cook trở lại, dáng điệu hài lòng.
- Thưa thiếu tường. Đoàn xung kích sẽ sẵn sàng trong mười phút nữa. Tổng cộng quân số hai trăm người. Chúng tôi sẽ cho trưng dụng vài tàu đánh cá để chở họ đến tận tàu kia.
Sutherland không buồn nghe nữa :
- Máy phóng thanh khốn kiếp nó đâu! Tôi đứng đợi cả giờ rồi!
Năm phút sau, ông nắm lấy micro do một trung sĩ đưa tới. Một im lặng bao trùm hải cảng.
- Tôi muốn nói với các người trên tàu đang bỏ neo ngoài kia. Đây là thiếu tướng Bruce Sutherland, tư lệnh các lực lượng Anh quốc đồn trú tại Chypre. Các ông có nghe thấy tôi không?
Trong phòng lái của Exodus, Ari bật hệ thống phóng thanh của mình :
- Allô. Sutherland? Đây là đại úy Caleb Moore thuộc Đại đội 23 Vận tải Lực lượng Do thái của Đức vua tại Chypre. Quý ông sẽ tìm thấy các xe của quý ông trên con đường đi lên đỉnh Saint Hilarion, sau khúc quanh thứ nhất.
Đứng trên ke, há hốc miệng, thiếu tá Allistair là hiện thân của sự ngạc nhiên. Giọng tức giận của Sutherland vang lên giận dữ :
- Nghe rõ những điều tôi nói đây. Chúng tôi cho các ông mười phút để trở lại ke. Hết thời hạn này, đoàn quan võ trang mạnh sẽ lên tàu để đưa các ông trở lại bờ bằng võ lực.
- Allo, Sutherland! Đây là Exodus. Chúng tôi có ba trăm trẻ em ở trên tàu. Phòng máy của chúng tôi chứa đầy thuốc nổ. Chỉ một người của ông thôi, đặt chân lên boong, chỉ một khẩu súng của các ông bắn thôi, chúng tôi sẽ cho nổ tung lên hết!
Cùng lúc đó, như để nhấn mạnh thêm cho lời thách thức trên, một lá cờ được kéo lên cột buồm của Exodus. Đó là Union Jack, lá cờ của Anh quốc nhưng ở giữa có vẽ thêm hình một chữ vạn to tướng.
Trận đánh của Exodus bắt đầu![/align][/align][/align]
0
Phần 1 - 29

ĐỘC QUYỀN TRÊN TOÀN THẾ GIỚI
DAVID CHỐNG GOLIATH, ẤN BẢN 1946
của đặc phóng viên MARK PARKER của chúng tôi
CYRÉNIA (Chypre)

Tôi viết bài này từ Cyrénia, một hải cảng nhỏ dễ thương nằm ở bờ biển phía bắc thuộc địa Chypre thuộc Anh.
Đây là một hòn đảo đầy Lịch sử, có rất nhiều di tích và đền đài, từ các di tích của đô thị cổ Salamis của người Hy Lạp, các nhà thờ công giáo ở Famagouste và Nicosie, đến các lâu đài của Thập tự quân.
Nhưng không có một giai đoạn nào của lịch sử này lại có thể so sánh, về phương diện bi thảm, với quang cảnh đang diễn ra lúc này trong hải cảng bình yên Cyrénia. Từ nhiều tháng nay, đảo Chypre đã là một trung tâm giam giữ những di dân Do Thái đã từng thử phá phong tỏa của người Anh để về đất Palestine.
Ngày hôm nay, ba trăm đứa trẻ tuổi từ mười bảy tuổi đã trốn khỏi được trại giam Caraolos bằng những phương cách chưa được biết rõ, và sau khi đã chạy trốn băng qua đảo, đã đến được Cyrénia, nơi đã có một chiếc tàu kéo trọng tải hai trăm tấn đang đợi sẵn. Chính bằng chiếc tàu cũ rỉ khốn khổ này, những trẻ này sẽ thử lên đường về Palestine.
Hầu hết những kẻ đào thoát này đều là những người đã thoát chết khỏi các trại tập trung diệt chủng của Đức trước đây. Chiếc tàu kéo, được đặt tên là Exodus, đã bị các sĩ quan An ninh Quân đội Anh khám phá ra trước khi tàu kịp rời hải cảng.
Một phát ngôn viên của tàu Exodus đã loan báo rằng hầm tàu chứa đầy chất nổ. Các trẻ em đã thỏa thuận với nhau là sẽ tự sát tập thể và thề rằng sẽ cho nổ tung tàu nếu người Anh xông lên tàu.

Tại Luân Đôn, tướng Sir Claren Tevor Browne đặt tờ báo có bài của Mark Parker chạy trang nhất xuống bàn, châm một điếu thuốc và cắm cúi nghiên cứu các báo cáo vừa ồ ạt về. Bài báo do American New Syndicate phổ biến này đã gay xúc động trên toàn thể các thủ đô Âu châu và tới tận Mỹ châu. Cũng có một điệp văn khẩn của Sutherland yêu cầu cho chỉ thị, đồng thời nói rõ rằng ông khước từ trách nhiệm trong trường hợp tàu Exodus tự cho nổ tung.
Tevor Browne hiểu một phần khá lớn các lỗi lầm vi phạm là do chính ông. Chính ông đã chọn Bruce Sutherland làm tư lệnh tại Chypre, và cũng chính ông đã xem bức thư của Allistair như không có. Mặc dù Allistair trong thư đã trình bày hết sức rõ ràng: ngoại trừ trường hợp thay thế ngay Sutherland, nếu không sẽ phải gặp nhiều rắc rối nghiêm trọng.
Humphrey Crawford bước vào làm gián đoạn sự suy nghĩ của ông Crawford, viên chức vô danh tiểu tốt đã phục vụ cả đời mình trong ngành Trung Đông của Colonial Office, [1] hiện đang giữ nhiệm vụ duy trì liên lạc giữa quân lực, các chính khách ở Whitehall và Chatham House. Crawford lên tiếng :
- Xin kính chào Sir Clarence. Thưa đã đến giờ họp của chúng ta với Bradshaw.
Tevor Browne đứng dậy và xếp lại các báo cáo vào trong hồ sơ.
- Rồi, chúng ta đi cho rồi. Không nên để ông bạn già Bradshaw của chúng ta chờ đợi.
Văn phòng của Cecil Bardshaw được đặt trong Viện Giao tế Quốc tế ở Chatham House. Từ ba mươi năm nay Bradshaw giữ một vai trò ưu thắng trong việc soạn thảo các chính sách của Anh quốc đối với toàn thể Trung Đông. Chính Bardshaw sau đệ nhị thế chiến đã chủ trương và thực hiện được một quốc gia Ả Rập mới, nước Transjordanie, cắt từ lãnh thổ bảo hộ Palestine, để tạo thành một căn cứ Anh do Liên đoàn Ả Rập giữ dưới quyền chỉ huy của Glubb Pacha. Sau đệ nhị thế chiến, khi chính phủ lao động Anh hứa thành lập một Quê hương Do Thái ở Palestine và cho phép các dân Do Thái sống sót ở Âu châu được trở về xứ đó, thì cũng chính Bradshaw đã thuyết phục được mọi người bỏ dự án đó. Dựa vào sự ủng hộ của một thành phần chuyên viên rất mạnh ở Chatham House, ông đã thuyết phục được Bộ trưởng Ngoại giao mới, Bevin, rằng những lời hứa hẹn khoan hồng rộng rãi thì khoan hồng rộng rãi thực, nhưng không thực tế. Quyền lợi của Anh quốc đòi hỏi phải ủng hộ các dân Ả Rập mà mười triệu dặm vuông rất giàu dầu lửa và bao quanh một con kênh sinh tử cho vận mệnh của đế quốc Anh.
Sự tiếp đón của Bradshaw rõ ràng là đầy ác cảm. Vóc người to béo biểu lộ đúng trên sáu mươi, ông đứng giữa phòng nhìn về phía cửa vào, hai tay chắp sau lưng. Crawford mỗi lúc thần kinh mỗi căng thẳng hơn, chỉ ngồi trên mép một chiếc ghế. Hoàn toàn điềm tĩnh, Tevor Browne ngồi rất thoải mái trong một ghế bành châm một điếu xì-gà hút. Bradshaw bắt đầu nói mắt hướng về bức tường đối diện.
- Tôi xin có lời ngợi khen quý vị vì tôi đã được biết là chúng ta đang được hân hạnh lên trang nhất các nhật báo hôm nay.
Ông quay gót lại, và bằng một dáng điệu xảo trá, lấy tay vỗ bụng.
- Whitehall đã gọi tôi sáng nay. Và như ta có thể thừa đoán biết được, Thủ tướng có lòng tốt bê vụ Exodux đặt lên đầu gối tôi.
Ông tiến về bàn làm việc và tháo kính ra với một cử chỉ giận dữ.
- Sir Clarence, xin hỏi một câu nhỏ. Các sĩ quan tình báo đã chết hết rồi hay họ chỉ quá bận chơi tennis? Hơn nữa cũng vừa nhớ ra là tôi định hỏi ông về vấn đề Sutherland. Bởi vì nói cho cùng, chính ông đã chọn lựa Sutherland.
Tevor Browne phớt lạnh trả đũa :
- Nếu ký ức của tôi không nhớ sai thì việc thành lập các trại ở Chypre là do ý ông. Nếu có thể ông cho phép tôi hỏi ông về...
Crawford can gián hai người :
- Thưa quý vị, xin quý vị. Xin quý vị đừng quên rằng trong vụ Exodus này, chúng ta đang đứng trước một tình thế hết sức đặc biệt. Đây là lần đầu tiên một biến cố như vậy được khai thác lớn đến thế trong báo chí Hoa Kỳ.
Bradshaw nở một nụ cười không vui :
- Theo lời cái ông Truman thân mến của chúng ta thì người Hoa Kỳ từ khi chấm dứt chiến tranh chỉ nhận cho nhập nội xứ họ có mười ngàn người Do Thái - một giọt nước trong biển cả. Dĩ nhiên Truman tỏ ra hết lòng ủng hộ chủ nghĩa phục quốc Do Thái ngày nào Palestine xứ này không nằm ở Pennsylvanie. Tất cả thiên hạ đều đọc những bài diễn văn tràn trề lý tưởng, nhưng chỉ có nước Anh thôi là đang có một triệu Do Thái phải lo, một triệu di dân mạnh mẽ dám làm tan tành tất cả các vị trí của chúng ta ở Trung Đông. Các tay phục quốc đã không chịu tỏ ra ngu dốt. Từ hai mươi lăm năm nay họ đã làm cho chúng ta biến thành kẻ bội hứa ở Palestine. Họ đã tìm ra trong bản văn ủy trị xứ này cùng tuyên ngôn Balfour những định ý mà chính các người soạn thảo cũng không hề định nói tới. Và các lý luận quanh co, họ đã làm cho con lạc đà chịu nhận mình là con lừa. Mẹ kiếp! Hai giờ với Chaim Weizman rồi thì chính tôi cũng sốt ruột muốn gia nhập phong trào phục quốc Do Thái luôn!
Bradshaw đeo kính lên và quay lại phía Tevor Browne :
- Than ôi đúng đấy ông bạn! Chúng tôi thừa biết cảm tình của ông bạn dành cho bên nào rồi.
- Tôi phản đối. Thưa ông, Bradshaw. Có thể tôi thuộc về một nhóm nhỏ ngoan cố quan niệm rằng việc thành lập một quốc gia Do Thái mạnh mẽ là cách thế duy nhất để duy trì chúng ta ở Trung Đông. Nhưng không phải vì thế mà tôi bảo vệ các quyền lợi Do Thái. Tôi chỉ chiến đấu cho quyền lợi của Anh quốc mà thôi.
Bằng một cử chỉ bực tức, Bradshaw gạt bỏ luận cứ của vị tướng lãnh này.
- Nếu ông đồng ý, bây giờ chúng ta hãy chỉ giải quyết vụ Exodus thôi. Theo ý tôi, đường lối cư xử của chúng ta đã được vạch sẵn rồi. Chiếc tàu đang ở trong hải phận của chúng ta chứ không ở trong hải phận Pháp như trường hợp chiếc Đất Hứa. Chúng ta sẽ không lên tàu, cũng không kéo nó về tận Đức, và cũng không đánh đắm nó nữa. Chúng ta chỉ việc để tụi Do Thái đó tại chỗ, ngay giữa hải cảng Cyrénia cho đến khi chúng thối rữa ra. Ông hiểu chứ, cho đến khi chúng thối rữa ra.
Tevor Browne nhắm mắt lại :
- Như vậy sẽ thành một thảm họa. Chúng ta không có lý do chính đáng nào, nhất là không có lý do nào có thể công bố ra được, để ngăn cản ba trăm đứa trẻ thoát chết khỏi các trại tập trung đi về Palestine cả. Dầu hỏa, kênh đào Suez, dân Ả Rập... Dẹp tất đi! Trong vụ này, chính nghĩa của chúng ta không có. Nói thế nào nhỉ... Chúng ta không có cùng một chính nghĩa. Chúng ta đã làm chúng ta thành lố bịch khi gởi những di dân của tàu Đất Hứa trở lại nước Đức...
- Chắc chắn thế rồi! Chúng tôi biết cảm... cảm tình của ông đối với...
Crawford khẩn khoảng :
- Xin quý vị! Thôi xin quý vị.
Tevor Browne đứng dậy để nghiên người xuống bàn của Badshaw :
- Nếu muốn ra thoát vụ này trong danh dự, chúng ta chỉ còn một giải pháp duy nhất. Người Do Thái đã tạo ra vụ này chỉ cốt để tuyên truyền. Ông hãy để cho Exodus ra đi, ngay lập tức. Đó chính là điều bọn họ không muốn với bất cứ giá nào.
- Không bao giờ!
- Ông không hiểu thực sự ra bọn ấy muốn gì sao?
- Tôi chỉ hiểu mỗi một điều sau: ngày nào tôi còn ở Chatham House, chiếc tàu đó sẽ không được phép nhổ neo!

----------------------------------------
[1] Colonial office: Thuộc địa vụ.
0
Phần 2

1.   Đất này thuộc ta

Trận chiến Exodus đã chấm dứt.
Trong khoảng thời gian một vài phút, những chữ: “Exodus sẽ được phép ra đi” vang lên trên khắp các làn sóng điện. Trong khoảng thời gian vài giờ, tin này được đăng trên trang đầu của tất cả các nhật báo trên thế giới.
Tại đảo Chypre, dân chúng vui mừng hò reo và toàn thể mọi người trút ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm.
Nhưng trên chiếc tàu kéo cũ kỹ bây giờ đã trở thành lịch sử này, các trẻ em không còn hơi sức để ca khúc khải hoàn nữa.
Người Anh khẩn khoản yêu cầu Ben Canaan cho tàu trở lại bến để người Anh có thể săn sóc về sức khỏe cho các trẻ, tiếp tế thực phẩm nhiên liệu cùng xét lại máy móc. Ari hoàn toàn vui lòng nhận lời. Ngay lập tức một hoạt động cuồng nhiệt diễn ra trong hải cảng. Cả một đoàn y sĩ quân y Anh lên tàu và cho đưa những trường hợp nặng nhất lên tầng dưới khách sạn Dôme bây giờ được xử dụng như dưỡng đường tạm thời. Cả một làn sóng quà tặng - thực phẩm, quần áo, chăn màn - ùa đến cầu tàu. Các kỹ sư của Hải quân Hoàng gia xem xét tàu từ đầu chí cuối, trám các lỗ thủng cùng chỗ nước rỉ, thử lại các máy tàu. Nhiều ê kíp vệ sinh cọ rửa, tẩy trùng chiếc tàu cũ cho đến khi tàu bóng lên như đồng bạc cắc mới.
Kitty lo lắng chờ đợi mãi cho tới khi nhiều y sĩ đã cho biết tình trạng Karen đã khả quan, nàng mới ban cho mình phép được hưởng tiện nghi xa xỉ: một chậu tắm nước nóng, một đĩa thịt bò lớn, hai ly whisky và một giấc ngủ kéo dài mười bảy giờ liền.
Khi thức giấc, Kitty nghĩ là mình sẽ bắt buộc phải có một quyết định. Vấn đề nàng phải giải quyết là một vấn đề lưỡng nan: hoặc là nàng chấm dứt, dứt khoát chuyện Karen, hoặc là nàng theo cô gái này sang Palestine.
Đến giờ uống trà, Mark đến phòng thăm nàng. Nàng hỏi :
- Vẫn náo nhiệt trong các tòa soạn các báo chứ anh!
- Nói thực ra, thì không. Câu chuyện Exodus đã cũ hai mươi bốn tiếng rồi và trang báo thuật lại chuyện ấy bây giờ chỉ còn dùng vào việc gói cá ngoài chợ thôi. Ngày tụi trẻ lên bờ ở Haifa, báo chí còn tìm thấy chất liệu để chạy một tít thật đẹp cùng với một bức hình cũng thật đẹp. Rồi sau đó là hạ màn!
- Con người chóng quên quá...
- Không đến nỗi thế đâu em. Chẳng qua là nhân loại ưa cục cựa thôi. Luôn cần tin tức mới, luôn luôn tin tức mới!
Kitty không đáp. Suy nghĩ, nàng nhấm nháp ly trà. Mark châm một điếu thuốc, thu hình ngồi thoải mái trong một ghế bành, gác hai chân lên thành cửa sổ. Kitty hỏi :
- Còn anh, anh định làm gì?
- Anh? Xét rằng kẻ mang tên Mark Parker đã hơi lạm dụng lòng hiếu khách và tử tế của Đức Vua Anh quốc khi ở trên đảo này... Trước hết anh sẽ trở về Hoa Kỳ để hít thở không khí quê nhà một chút, sau đó có lẽ anh sẽ đi một vòng Á châu. Hình như tình hình rắc rối ở đó.
- Anh có tin rằng người Anh sẽ để anh vào Palestine không?
- Cái gì chứ cái đó chắc là không quá. Họ không lấy gì làm mến chuộng anh cho lắm, nếu không phải là tệ hơn. Giữa đàn ông với nhau, anh thông cảm với họ lắm.
- Anh cho em một điếu thuốc.
Chàng châm một điếu Chesterfield và đưa cho nàng.
- Về phần em, không thể nói em đã để phí thì giờ. Trước khi đi ngủ, em còn đủ sức chạy tới tận văn phòng Thống đốc để yêu cầu được chiếu khán nhập nội Palestine! Dĩ nhiên là người Anh, cư xử như các gentleman hoàn toàn, đã chấp thuận cho em, còn nghiêng mình kính nể thêm là khác. Đối với họ, em chỉ là một thiếu phụ Hoa Kỳ trong sạch và khỏe mạnh đã thi hành bổn phận nữ điều dưỡng của mình. Dĩ nhiên là nếu An ninh Quan đội biết là em đã chơi giỡn bằng cách làm giao liên cho Mossad... Thôi, tóm tắt lại! Em sẽ đi Palestine hay là không đi?
- Nếu em biết được em muốn sao nữa thì còn nói gì nữa!
- Em muốn nói là vẫn chưa quyết định sang xứ đó!
- Em chỉ muốn nói là chính em cũng chưa biết nữa.
- Rồi, cô bé. Anh đoán là em muốn anh thúc đẩy em sang Miền Đất Thánh. Em muốn anh nhắc đi nhắc lại là: phải đi Palestine em phải đi Palestine. Có đúng thế không?
- Chính ra thì tại ý nghĩ phải sống với toàn dân Do Thái không mà thôi... Em không bao giờ thấy thoải mái khi gặp gỡ họ hết... Em không làm sao khác được...
- Mặc dù thế em cảm thấy hoàn toàn thoải mái với Karen, phải không? Karen vẫn làm em nhớ tới đứa con gái đã chết?
Kitty lắc đầu.
- Thực ra thì không. Trước kia thôi. Karen có cá tính quá mạnh để có thể... bất cứ ai khác. Nhưng em yêu, em cần nó...
Mark ngắt lời :
- Cứ cho là thế đi. Nhưng thưa bà Kitty Fremont, tôi muốn được hỏi bà một câu khác, một câu hỏi nổ như trái phá...
- Em chờ...
- Kitty! Em có yêu Ari Ben Canaan không, có hay là không?
Kitty quay mặt đi. Nàng có yêu người thanh niên to lớn người Palestine đó không? Chắc chắn là nàng đã ý thức rằng sự hiện diện, giọng nói, mắt nhìn của chàng đã là một mê hoặc đối với nàng, tính cương quyết và sức mạnh thể xác làm nàng sợ hãi mơ hồ và lòng can trường của chàng làm nàng đầy thán phục. Nàng cũng nhớ lại có những lúc nàng ghét chàng cay đắng. Nhưng các tình cảm phức tạp này có phải là tình yêu không? Nàng nói nhỏ :
- Em cũng không biết nữa, anh Mark. Em không thể nào gần hay dấn thân với anh ấy được... Nhưng em cũng hoàn toàn không thể tránh xa, chạy trốn anh ấy... Em không hiểu tại sao thế. Em không hiểu nổi nữa....

Một lúc sau Mark ra về. Kitty thay y phục, rời khách sạn. Mặt trời vừa lặn khi nàng ra tới các ke. Phía bên kia đường, Zev Gilboa và Joab Yaiconi đang coi sóc việc đưa thực phẩm lên tàu. Kitty liếc mắt nhìn chung quanh kiếm, hy vọng sẽ trông thấy Ari. Nhưng nàng không thấy chàng đâu hết.
Đáp lễ Zev và Joab chào nàng một cách thân hữu, nàng tiến về phía hải đăng. David Ben Ami ngồi trên một thềm gạch đang ném những viên sỏi cho thác lát trên mặt nước yên tĩnh của hải cảng.
- Shalom, Kitty! Chị có vẻ khỏe hẳn rồi đó.
Nàng ngồi xuống bên David. Trong khoảng thời gian vài phút, hai người ngắm những ánh nắng chiều phản chiếu trên mặt biển. Kitty hỏi :
- Anh đang nghĩ tới xứ sở anh phải không?
- Vâng.
- Nghĩ tới cả Jozdana nữa... Có phải tên nàng... Em gái của anh Ari? Anh sắp được gặp lại cô ta chứ?
- Nếu may mắn một chút, tôi có thể được sống với nàng vài ngày.
- Chúc anh được toại ý. Anh David, hãy cho tôi biết các trẻ em của Exodus, chúng sẽ ra sao ở Palestine?
- Chúng tôi sẽ lo cho chúng. Chúng là tương lai của chúng tôi.
- Nhưng... Hẳn là chúng cũng có thể gặp nguy hiểm chứ?
- Không thể tránh được. Nhiều nguy hiểm hơn là khác.
Hai người im lặng. Sau cùng David táo bạo hỏi :
- Chị có đi cùng với chúng tôi không?
Nàng cảm tưởng như tim mình ngừng đập.
- Tại sao anh hỏi tôi vậy?
- ... Chúng tôi đã bắt đầu quen có chị rồi. Hơn nữa anh Ari có hôm đã nói tới vấn đề này.
- Nếu anh Ari muốn biết rõ, tại sao tự anh ấy không đi hỏi thẳng tôi?
David cười :
- Anh Ari chẳng bao giờ yêu cầu ai cái gì bao giờ.
Đột nhiên Kitty quyết định :
- Anh David, anh phải giúp tôi việc này. Tôi đang cảm thấy phân vân, không hiểu rõ chính tôi nữa.. Anh hình như là người duy nhất có thể hiểu...
- Tôi sẽ hết sức giúp...
- Anh này, cho tới giờ ít khi tôi quen biết người Do Thái. Thú thật với anh là người Do Thái làm tôi ngỡ ngàng.
- Điều đó không có gì lạ đâu chị. Chính chúng tôi còn làm chúng tôi ngạc nhiên ngỡ ngàng nữa là!
- Tôi xin lỗi là nói quá thẳng, nhưng tôi có cảm tưởng là một người lạ mặt giữa các anh...
- Điều đó hoàn toàn là bình thường, chị Kitty ạ. Cảm tưởng của chị cũng là cảm tưởng của đa số thiên hạ thường có đối với chúng tôi. Ngay cả ở một số rất ít người mà chúng tôi gọi là bạn, những người đã tỏ ra hết sức tận tụy đối với chúng tôi một cách có thể gọi là cuồng nhiệt, họ cũng có thứ cảm tưởng như vậy. Những người này cho rằng có lẽ họ đã đồng lõa theo một cách thế nào đó với các tội trạng mọi người đã gây ra cho chúng tôi, những kẻ khác thì muốn làm người Do Thái... Giữa chúng ta tôi nói thật, đó quả là một ý nghĩ khôi hài! Nhưng quả thật thì bọn tôi hợp thành một tập thể kỳ lạ.
Kitty thở dài :
- Lấy một người như anh Ari Ben Canaan chẳng hạn: sau bộ mặt lạnh lùng thản nhiên ấy, anh ấy là ai? Liệu anh ấy có một đời sống thực sự không?
David quả quyết :
- Có thực chứ. Nhưng cũng rất phức tạp. Muốn định nghĩa anh Ari, tôi phải nói anh là sản phẩm thất bại, một thứ hoang thai của lịch sử.
Chậm chạp, hai người trở về khách sạn trong bóng hoàng hôn đang rơi xuống bao phủ thành phố.
David nói tiếp :
- Tôi tự hỏi không biết bắt đầu từ đâu đây. Muốn cho chị hiểu Ari, chắc chắn tôi phải đi ngược hai thế hệ, đến tận ông của Ari là Simon Rabinsky sống ở Jitomir xứ Ukraine bên Nga: như vậy chúng ta trở ngược lại quá khứ khá xa, mãi đến tận năm 1884.
0
Phần 2
 
2.   Jitomir (Ukraine), 1884
 
Simon Rabinsky, làm nghề đóng giày, cùng vợ là Rachel có hai con trai, niềm vui và kiêu hãnh của một đời sống buồn tẻ và cực khổ. Vốn linh hoạt và hăng hái, Simon Rabinsky có cái lưỡi sắc bén cho một tâm hồn lúc nào cũng tỉnh táo. Con trai cả là Jossi to lớn, cao gần hai thước với mái tóc bờm sờm đỏ hung, hiền và hay suy tư bao nhiêu thì Yakor, đứa con trai thứ, càng ồn ào và hay gây gổ bấy nhiêu. Nếu đấng sáng tạo nghĩ tới chuyện đặt trí óc phong phú của người này vào trong thân thể cường tráng của kẻ kia thì chắc chúng ta kể như sẽ có một siêu nhân.
Gia đình Rabinsky hết sức nghèo khổ, ở trong phần đất Tây Nga bao gồm các xứ Bessarabie, Ukraine, Crimée và một vài vùng Bạch Nga, nghĩa là trong vùng những người Do Thái được phép cư ngụ tại Nga. Vùng này được gọi là “vùng ngụ cư” ấn định vào năm 1804. Trên thực tế, vùng đó là cả một ghetto vĩ đại: Nioscou và Saint&shy;Petersbousg đều cấm không cho người Do Thái bén mảng đến, ngoại trừ một số hiếm hoi khá giàu để xin được quyền cư ngụ đặc biệt cho con cái bằng cách biếu khéo léo “các món quà” những nơi cần biếu. Thực ra còn một cách nữa để thoát ra ngoài “vùng cư ngụ” bắt buộc ấy nhưng các người Do Thái rất mong được khước từ: đó là 25 năm quân dịch bắt buộc mà thanh niên Do Thái phải thi hành theo một tỷ số bách phân nhất định.
Trong khu Do Thái ở Jitomir cổ xưa và đầy ắp người ở, Simon Rabinsky cùng gia đình đều phải chịu tới hai thứ giam giữ: một mặt là lệnh cấm rời khỏi vùng, một mặt khác là một cuộc sống đã vạch sẵn, chán nản và gò bó. Các tiếp xúc giữa các cộng đồng Do Thái cùng đa số dân Nga theo Ki-tô giáo trên bình diện xã hội hoàn toàn là không có, còn trên bình diện thương mại thì cũng rất ít. Người khách từ bên ngoài tới viếng đều đặn nhất là nhân viên thu thuế, một nhân vật rất đáng sợ lúc nào cũng sẵn sàng sai áp bất cứ cái gì, từ các giá nến thờ đến các đồ thờ phụng khác. Ít đều đặn hơn nhưng lại thường xảy ra, đó là các vụ xâm nhập của dân Cosague, sinh viên, hợp thành từng đoàn người dữ tợn ham muốn giết người ào vào trong khu!
Vì bị tách rời ra khỏi cộng đồng rộng lớn của quốc gia, những người Do Thái ít cảm thấy quyến luyến “quốc-gia-mẹ” này. Ngôn ngữ thông dụng là yiddish, một thứ Đức ngữ lai căng, còn ngôn ngữ cầu nguyện là tiếng hébreu cổ. Họ khác các dân Nga ngay cả về phương diện y phục: họ đội mũ đen và cái áo đuôi tôm đen bằng vải gabardine. Và dù lệnh cấm, nhiều người để tóc uốn quăn thành từng lọn tròn xoắn bao quanh khuôn mặt - đối với người Nga lúc đó, việc săn bắt một người Do Thái có tóc kiểu này để cắt các lọn tóc quăn ấy là cả một trò thể thao thịnh hành.
Dù gia đình Rabinsky sống cảnh nghèo khổ, họ vẫn có những thú vui - nói thực ra thì rất khiêm tốn - cùng những trò giải trí đơn giản. Có những vụ ngồi lê đôi mách trong khu, những vụ sinh nở, cưới xin, lễ xác tín và cả những vụ tang ma nữa. Cũng có những ngày lễ tôn giáo và lễ đẹp nhất là họ cử hành ngày sabbat hàng tuần. Chiều thứ sáu, Simon Rabinsky cùng các gia trưởng khác đều trở thành như vua hết. Ngay khi tiếng kèn nổi vang lên ngoài các đường ngõ hẹp, Simon đặt các dụng cụ làm việc xuống để chuẩn bị hai mươi bốn giờ sống cảm thông với Thượng đế. Sau khi đã cử hành các nghi lễ tẩy uế thân xác trong các nhà tắm công cộng, Simon mặc chiếc cafetan bằng lụa đen đẹp đẽ, đội chiếc mũ có viền lông thú, kiêu hãnh đi cùng Jossi và Yakov đến nhà thờ.
Khi trở về nhà, theo tục lệ đòi hỏi, ông vẫn kiếm ra một gia đình nghèo hơn mình để mời đến cùng chia xẻ bữa cơm ngày lễ. Dưới ánh sáng của các ngọn nến, ông đọc một lời chúc phúc, thêm vào vài câu biết ơn thượng đế, Rachel dọn ra cá chiên, nui nấu trứng, khoai nghiền gà. Sau bữa cơm tối, gia đình đi dạo trong ghetto hay tiếp đón bạn bè (ở cửa hiệu vì nhà ở quá chật không có phòng khách).
Ngày thứ bảy, Simon Rabinsky cầu nguyện, suy tư, nói chuyện với các con để xem chúng tiến bộ tới đâu cùng cho biết những kiến thức của ông về phương diện triết lý và tôn giáo. Và khi hoàng hôn xuống loan báo chấm dứt lễ sabbat, toàn thể gia đình cùng cất tiếng hát bài hát cổ xưa của các ghetto: “Hân hoan mừng, ô Israel... cầu mong niềm thất vọng sẽ tiêu tan...”
Ngay hôm sau dĩ nhiên lại phải kéo cầy trả nợ, trở lại với các thực tại cực khổ của đời sống thường nhật. Trong căn hầm vừa dùng làm nơi ở vừa dùng làm quán nhỏ, Simon Rabinsky lại bắt đầu cúi người xuống bàn làm việc, bàn tay khô héo xiết chặt lấy cái đục. Chính vào những lúc như thế này, đã có khi ông thì thào đọc lời cầu than có từ nhiều ngàn năm rồi, bắt nguồn từ ngày những người cổ Do Thái bị bắt giữ ở Babylone :
“Nếu ngày nào tôi quên Jérusalem, tay phải tôi sẽ không còn khéo, lưỡi tôi sẽ cứng lại... nếu, một ngày nào tôi không thích Jerusalem hơn niềm vui thích thú nhất của tôi...”
Là một người có niềm tin rất sâu xa, quen tìm lại được an ủi mới mỗi khi cầu nguyện, Simon vẫn không thể không nhận thấy sự cùng khốn bao quanh mình.. Đôi khi ông thốt lên: “Cho tới khi nào đây, thưa ngài? Lũ chúng con phải bị sống trong bóng tối này cho tới khi nào?”. Nhưng sau đó hy vọng lại nảy sinh trong tâm ông, đột nhiên tâm hồn đầy hăng hái, ông đọc lại đoạn ông thích nhất trong lời cầu nguyện ngày phục sinh:
“Năm sau, về Jérusalem..”
Cái năm sau ấy, bao giờ mới tới? Liệu đấng cứu thế một ngày kia có tới đưa họ về xứ Israel chăng?
0
Phần 1 - 31

Ngày thứ mười sáu, một băng vải lớn được treo ngang ở phía mũi tàu. Một lời ghi bằng ba thứ tiếng ­ Anh, Pháp và hébreu - loan báo rằng :
TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ NHẤT
Sáng ngày hôm sau, khi tuyệt thực đã đến giờ thứ 26, mọi người thấy thủy thủ đoàn mang mười đứa trẻ lên boong phía trước và để chúng nằm dài trên sàn tàu. Chúng đã ngất xỉu.
- Kitty: Thôi đừng có quay cuồng như thế nữa.
- Đã hơn hai mươi giờ rồi! Ari còn ngoan cố, trong đường lối ghê khiếp này bao lâu nữa? Em không có đủ can đảm xuống các ke coi nữa. Karen có ở trong các số trẻ con bị ngất xỉu không anh?
- Anh đã nói với em mười lần là không rồi.
- Bắt các trẻ em yếu sức và bị kẹt trên chiếc tàu khốn kiếp này từ hai tuần lễ phải qua một thử thách ghê rợn như thế! Ari là một con vật, một con quỷ không còn bản tính của con người.
Mark nói nhỏ, vẻ suy tư :
- Tôi không chắc Ari là như vậy. Trong những ngày gần đây tôi đã suy nghĩ rất nhiều, và tôi tự hỏi rằng quả thực ra chúng ta có hiểu nỗi sâu xa đã nâng đỡ, đã thúc đẩy họ tiến về phía trước, tiến mãi về phía trước hay không. Em chưa bao giờ tới Palestine phải không? Để tôi tả cái xứ này cho em biết: một sa mạc ghê gớm ở phía nam, một vùng bị soi mòn và một đầm lầy, lam sơn chướng khí ở phía bắc. Một dải đất khi thì bị cháy nắng, khi ung thối và hơn nữa, còn nằm vào giữa năm mươi triệu kẻ thù bất cộng đái thiên. Thế mà những người Do Thái dám liều mạng để về đó. Họ gọi đó là xứ sữa và mật chảy tràn trề, và họ mơ tới các máy tưới và các hệ thống điều hòa thủy lượng. Không còn phải là một ý tưởng nữa mà là một ám ảnh. Hãy lấy Exodus làm thí dụ: Ari Ben Canaan sẽ chẳng bao giờ dám hành động như vậy nếu không được tụi trẻ ủng hộ hoàn toàn. Chúng tin theo anh ta, không sót một đứa nào.
Điện thoại reo. Mark trả lời, lắng nghe rồi gác máy.
- Cái gì đó anh? Em muốn biết...
- Họ vừa đưa thêm mấy trẻ bị xỉu nữa lên boong. Hình như năm đứa...
- Liệu Karen...
- Anh không biết. Nhưng anh sẽ đi coi ngay xem sao.
- Để em đi cùng anh. Em muốn lên tàu, em phải lên tàu.
- Nếu em lên tàu, em sẽ xỉu luôn.
- Không đâu anh. Ngược lại là khác, em sẽ yên trí hơn. Khi em biết là Karen còn sống và khỏe mạnh, em có thể tự trấn tĩnh được. Em tin chắc là thế, em thề là em sẽ trấn tĩnh được. Còn ngồi lì ở đây không làm gì, ngồi đây có thể lúc này Karen đang có thể hấp hối - chắc em điên lên mất.
Mark nhún vai :
- Cho dù tôi có xin phép được Ari Ben Canaan mang theo em lên tàu, người Anh cũng chẳng bao giờ thuận đâu.
- Anh sẽ xin phép họ được cho em! Anh không thể từ chối giúp em chuyện đó được!
Giận dữ, nàng đứng sững trước cửa như chặn đường Mark. Mark cúi đầu.
- Được rồi, tôi sẽ hết sức...

TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ 35
Ở Ba Lê và La Mã, các đám đông biểu tình dưới các cửa sổ của các sứ quán Anh. Các diễn giả và biển ngữ đòi hỏi phải để Exodus tự do ra đi. Ở Ba Lê, cảnh sát phải dùng tới hơi cay mắt để tái lập trật tự giao thông. Nhiều cuộc biểu tình khác ở Copenhague, Stockholm, Bruxelles, La Haye nhưng đã diễn ra trong trật tự.

TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ 38
Tự động không ai bảo ai, tất cả các người dân đảo Chypre đều ngưng làm việc: chuyên chở đường bộ ngưng, các cửa hàng đóng cửa, các phu bến tàu trong các cảng ngồi khoanh tay lại, hí viện và quán ăn khóa cửa. Famagouste, Nicosie, Larnaca, Limasol chỉ còn là những thành phố chết.

TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ 40
Trong phòng lái tàu Exodus, Ari Ben Canaan đối diện với các người phụ tá.
Zev là người đầu tiên lên tiếng.
- Tôi là một quân nhân. Tôi không thể nào ngồi nhìn lũ trẻ chết đói mà không nổ bùng lên.
- Ở Palestine, các con trai con gái vào tuổi này đã chiến đấu rồi.
Ari trả lời như vậy bằng một giọng xẵng. Zev nói :
- Nhưng đây là một chuyện khác.
- Đây chỉ là một cách chiến đấu khác. Đến lượt anh nói, Joab.
Joab làm một cử chỉ bất lực.
- Tôi đã làm việc với anh từ nhiều năm rồi, anh Ari. Chưa bao giờ tôi chống lại các dự tính của anh cả. Bây giờ tôi sợ: chỉ cần một đứa trẻ chết đi thôi là chiến dịch này sẽ xoay chiều bất lợi cho chúng ta.
Ari quay lại phía Hank Schlosberg :
- Còn ông thuyền trưởng nói sao?
Người Hoa Kỳ này lầu nhầu :
- Chính ông là “xếp” ở đây, đâu phải tôi. Nhưng tôi báo cho ông rõ là thủy thủ đoàn đã bắt đầu có các dấu hiệu thần kinh căng thẳng rồi. Họ là những thủy thủ: họ không ưa những câu chuyện phiêu lưu kiểu này.
- Một cách khác, các anh muốn đầu hàng?
Mọi người xác nhận bằng một im lặng hùng hồn. Ari quay lại David :
- Còn anh, David? Anh cho ý kiến.
David tiến lên một bước :
- Gần sáu triệu người Do Thái đã chết trong các phòng hơi ngạt mà không hiểu vì sao chết. Nếu ba trăm đứa trẻ cùng vài người Do Thái nữa trên tàu Exodus này phải chết thì họ cũng biết họ chết cho chính nghĩa nào. Cách đây hai ngàn năm, khi chúng ta thành lập một quốc gia và nổi dậy chống lại áp bức của La Mã và Hy Lạp, chúng ta đã đặt ra một truyền thống: đó là chiến đấu cho tới người cuối cùng, thế mà từ cái quá khứ xa xăm đó, chúng ta ít khi chiến đấu với tư cách một quốc gia. Chúng ta chỉ có mỗi một dịp làm như thế - trong ghetto Varsovie - và vào một thời kỳ ấy, chúng ta tỏ ra xứng đáng với tổ tiên chúng ta. Bây giờ đây, nếu chúng ta tự ý bỏ tàu này để quay trở về sau hàng rào kẽm gai, chúng ta đã hủy bỏ lời giao kết của chúng ta với Thượng đế.
Ari gật đầu.
- Được, lắm. Còn ai thắc mắc? Rồi, tôi xin cám ơn các bạn.

Đêm xuống Kitty lên tàu Exodus. Ngay lập tức một không khí hôi thối, dầy dặc, không chịu nổi, xông ngay vào mũi. Từ mũi tàu tới cuối tàu, trong các ca nô phòng nguy, trên các cơ cấu trên boong, các đứa trẻ nằm dài, im lặng bất động để tiết kiệm sức lực sau cùng còn lại.
David đã tới tiếp đón nàng ngay cầu thang lên tàu để đưa nàng về phía sau, nơi sáu mươi đứa trẻ ngất xỉu được xếp nằm dài thành ba hàng. Dưới ánh sáng của một đèn bão, Kitty xem xét từng đứa một, bắt mạch, vạch mí mắt ra coi. Mỗi khi nàng thấy một khuôn mặt con gái giống Karen, nàng tưởng cũng ngất theo luôn.
Đâu đâu cũng quanh cảnh ấy: các thân thể co quắp, má hốc hác, mắt lờ đờ dưới mái tóc cáu bẩn và rối bung.
Trong khoang tàu, Kitty xuýt nôn mửa. Ánh sáng mờ nhạt làm tăng thêm cảm tưởng ghê rợn gây ra bởi cảnh tượng các đứa trẻ chồng chất lên nhau trong các vách ngăn bằng ván. Sau cùng nàng khám phá ra Karen trong một góc, nằm trên một chiếc chăn ướt đẫm mồ hôi, gần đó Dov đang ngủ nặng nhọc. Kitty thì thào :
- Karen, Karen... Kitty đây.
Cô gái cố gắng rõ ràng mới mở nổi mắt ra. Quá yếu không thể ngồi lên được, Karen giơ hai tay lên :
- Cô Kitty... Đừng để em đây... Em sợ lắm...
- Em đừng sợ gì cả. Cô còn ở trên tàu, lúc này.
Tiếp tục cuộc xem xét, nàng kiểm soát tủ thuốc nhỏ trong phòng y tế. Nàng thở dài :
- Chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều. Tôi sẽ thử làm chúng bớt sốt trong mức độ có thể làm nổi. Trong các đứa trẻ bị xỉu, có nhiều đứa đã ở trong tình trạng nghiêm trọng. Cần phải chườm lạnh cho chúng hạ bớt sốt. Sau đó phải lấy chăn quấn chúng lại, trên boong, trời khá lạnh. Nhưng điều cần nhất là tôi muốn rằng tất cả những người nào còn khỏe phải cọ rửa tàu ngay.
Đó là một cuộc chiến đấu hối hả, bất tận, giống các cố gắng của Sisyphe một cách bi thảm: cứ một đứa trẻ được cứu tỉnh, ba đứa khác lại hôn mê. Kitty nhận thấy rằng nàng bất lực: có quá ít thuốc men, quá ít nước, lại cấm không được dùng đến thứ bổ dưỡng căn bản là thực phẩm thông thường.

TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ 81
Bây giờ bảy mươi đứa trẻ hôn mê đã nằm trên boong trước tàu Exodus.
Trên các ke của hải cảng Cyrénia, các tiếng thì thào tức giận đã lan ra trong hàng ngũ các quân sĩ Anh. Một vài người, vì không còn chịu nổi cảnh tượng đáng giận như thế nữa, đã yêu cầu được thượng cấp cho thay phiên ngay, dù có vì thế bị ra tòa án quân sự chăng nữa.

TUYỆT THỰC: GIỜ THỨ 83
Ngất xỉu, Karen Hansen-Clement được mang phía trước tàu. Kitty lết đến phòng lái, ngồi phịch xuống một chiếc ghế. Nàng đã làm việc ba mươi lăm giờ liên tiếp, và bây giờ mệt nhọc làm mờ nhạt cả trí não, tê cứng các bắp thịt. Ari rót cho nàng một ly rượu, nói :
- Cô uống đi. Xét cho cùng, cô đâu có tuyệt thực.
Nàng tuân lời một cách máy móc. Một ly rượu thứ hai làm nàng tỉnh hẳn. Nàng ngồi dậy để nhìn thẳng vào Ari. Thử thách đang trải qua không ghi bao nhiêu dấu vết trên chàng. Chàng lo âu, hối tiếc, lung lay? Đôi mắt lạnh lùng, thái độ cương quyết của chàng không hề biểu lộ một xúc động nào. Chàng mỉa mai :
- Tôi chờ cô đến viếng nơi đây từ lâu rồi.
- Ồ, tôi không hề có ý định cầu xin gì ông. Tôi chỉ đến để báo cáo tình hình với ông như một Palmachnik tốt. Vào lúc này đây, chừng mười hai em kiệt lực rồi. Chúng rất có thể sẽ chết. Vậy thì thưa ông Ben Canaan ông quyết định ra sao đây?
- Sự thù hận của cô không ăn thua gì đến tôi cả đâu, Kitty. Tôi quen bị mọi người đả kích rồi. Ngược lại, tôi mong được biết rõ điều sau: các tình cảm nhân đạo của cô có đủ rộng lớn để bao trùm tất cả lũ trẻ kia không, hay chỉ liên quan đến đời sống của một đứa duy nhất thôi?
- Ông không có quyền đặt câu hỏi ấy.
- Tôi đoán có sai đâu. Cô chỉ chiến đấu cho một người con gái duy nhất, cho một mạng sống thôi. Còn tôi, tôi chiến đấu cho quyền sống của hai trăm năm chục ngàn người.
Kitty đứng dậy
- Tôi thích trở lại làm việc của tôi hơn. Tuy vậy, trước khi rời ông, đến lượt tôi đặt cho ông một câu hỏi: ông biết tại sao tôi muốn lên tàu này, như vậy sao ông còn cho phép tôi lên?
Ari quay mặt đi để ngắm qua khung cửa tròn những chiếc phóng ngư lôi hạm đang chặn đứng đường ra biển :
- Có lẽ tại vì tôi muốn được gặp lại cô, Kitty.

Sir Clarence Tevor Browne đi đi lại lại trong văn phòng của tướng Sutherland. Thỉnh thoảng ông dừng lại trước cửa sổ để nhìn về phía hải cảng Cyrénia. Khói thuốc xì gà của ông sau cùng đã tạo ra cả một đám mây mù.
Sutherland dụi tẩu thuốc và ngắm nghía đủ loại sandwich để trên chiếc bàn có bánh xe.
- Sir Clarence, sao ông không chịu ngồi xuống? Ông cần phải ăn uống đôi chút cho lại sức....
Tevor Browne thở dài, ngồi xuống và cầm một miếng bánh mì thịt. Nhưng sau khi cắn một miếng, ông lại để trả trên bàn, lầu nhầu :
- Tôi cảm thấy lương tâm bất ổn.
Sutherland phê bình một cách cay đắng :
- Quả thực là một vụ tồi tệ cho một người có lương tâm. Hai trận đại chiến, mười một lần phục vụ tại hải ngoại, sáu huy chương, ba lần tuyên dương - để rồi sau cùng tôi bị bó chân bó tay bởi một bọn nhóc con. Quả thực là một cách rất đẹp để chấm dứt ba mươi năm phục vụ trung thành và hết sức cho tổ quốc, phải không sir Clarence? Thôi, xin ông đừng có đưa mắt nhìn mấy miếng bánh mì làm gì. Tôi biết là ông chỉ đợi dịp là nói với tôi về vấn đề đó.
Tevor Bronwne rót một chén trà, và lại thở dài :
- Ông bạn Bruce ạ, nếu tôi là người duy nhất có quyền quyết định...
- Đừng có giả bộ thế, sir Clarence. Hối hận, không phải là việc của ông mà là việc của tôi. Chính tôi đã làm ông thất vọng.
Sutherland đứng dậy như để che giấu những giọt nước mắt đang chảy ra trên má :
- Tôi mệt rồi, hết sức mệt rồi...
Tevor Browne hấp tấp nói :
- Chúng tôi sẽ thu xếp để ông bạn về hưu hết sức kín đáo. Dĩ nhiên là với lương bổng phụ cấp trọn vẹn. Ông bạn có thể tin cậy ở tôi. Hiện giờ ông bạn đã có dự định gì chưa?
- Rồi và chưa: những tháng vừa qua tại Chypre nhất là mấy tuần lễ vừa rồi đã ảnh hưởng đến tôi một cách sâu đậm. Sir Clarence ạ, điều tôi nói sau đây có thể làm ông cho là dị kỳ, nhưng quả thực tôi không hề thấy tôi là chiến bại. Ngược lại là khác, có lẽ tôi đã tìm ra được một điều hết sức quan trọng, một điều mà tôi đã để mất từ nhiều năm nay.
- Thế hả? Điều gì vậy?
- Sự thực, sir Clarence. Ý nghĩa của sự công bình và bất công. Ông có nhớ những gì ông đã nói với tôi ngày mà tôi nhận chức vụ chỉ huy hiện tại không? Ông đã nói chỉ có vương quốc trên trời mới xây dựng trên sự Công chánh và Bất công mà thôi, còn các vương quốc trên thế gian này chỉ có nguyên lý chính là dầu hỏa.
- Tôi còn nhớ những lời đó lắm.
- Tôi đã suy nghĩ nhiều từ khi có vụ Exodus. Suốt đời tôi, tôi đã biết phân biệt Công bình với Bất công - như hầu hết mọi người trong chúng ta. Nhưng nhận biết điều gì là công chính là một việc, sống theo Công chính lại là một việc khác. Trong cuộc đời của một người biết bao lần hắn đã phải làm những điều trái với lương tâm chỉ để mình sống còn thôi? Tôi không thể nào diễn tả cho ông hiểu hết lòng thán phục tôi dành cho những con người phi thường ấy, những thánh nhân có thể tuyên bố lớn tiếng niềm tin của họ, dầu rằng có vì thế mà họ phải chịu bôi nhọ, tù đầy, tra tấn, tử hình. Niềm bình an nội tâm của họ chắc phải tuyệt vời! Cứ lấy Gandhi làm thí dụ thì thấy.
“Vậy tôi, tôi có ý định đi thăm cái dãy đất sa mạc khô cằn mà tất cả những người Do Thái coi như là thiên đàng trên cõi trần này đây. Tôi muốn khám phá vùng này từ bắc chí nam - Galilée Judée, Jérusalem - đến tận những nơi khuất nẻo khác. Có thể tôi còn cư ngư luôn ở xứ đó... gần Safed, trên sườn ngọn Canaan”.
Tevor Brown gật đầu :
- Xét cho cùng, tôi ao ước được như ông bạn thôi.
Có tiếng gõ cửa và thiếu tá Allistair bước vào, mặt tái xanh, xúc động ra mặt. Bằng một bàn tay run rẩy, Allistair đưa trình một bản văn. Tevor Browne đọc lướt qua, đọc lại rồi đọc lại nữa bằng một vẻ mỗi lúc càng có vẻ không tin. Ông đưa bản văn cho Sutherland, nói nhỏ :
- Xin ơn trên cứu giúp chúng ta!
KHẨN.
“Ari Ben Canaan, phát ngôn viên của Exodus, loan báo rằng kể từ ngày mai, đúng 12 giờ trưa, mười người tình nguyện sẽ tự tử mỗi ngày trên boong tàu, ngay trước mắt quân đội Anh. Sự phản kháng mỗi ngày như thế sẽ được tiếp tục cho đến khi tàu được phép nhổ neo đi Palestine hay tất cả những người trên tàu đều đã chết hết”.
Ở Luân Đôn, được thông báo cái tin không thể tin nổi ấy, Bradshaw vội vàng đưa Humphrey Crawford cùng nửa tá chuyên viên nữa lên hai chiếc xe Bentley to tướng chạy hết tốc lực về một căn nhà hoàn toàn cô lập ở miền quê. Bradshaw không thể để phí một chút thì giờ nào bởi vì ông chỉ còn đúng mười bốn tiếng nữa để tránh đợt tự sát đầu tiên trên tàu Exodus.
Dù bướng bỉnh đến độ ngoan cố, tin chắc ở trí thông minh và quyền lực của mình, không phải vì thế Bradshaw không biết nhận một chiến bại. Bây giờ ông cố gắng đạt tới một thỏa hiệp cho phép Anh quốc cứu vãn thể diện. Ông bắt đầu bằng cách điện tín hay điện thoại cho khoảng một chục lãnh tụ phục quốc Do Thái ở Anh, Palestine và Hoa Kỳ để yêu cầu họ can thiệp. Nhất là các lãnh tụ ở Palestine bởi vì họ có thể kìm hãm bớt sự hăng hái liều chết của các đồng bào kia để cho người Anh có đủ thì giờ đưa ra một kế hoạch nào đó. Theo ý của Bradshaw tất cả vấn đề là ở chỗ đó: nếu đưa được Ari Ben Canaan đến chỗ chấp nhận thương thuyết, thì ông, Bradshaw, rất có thể thuyết phục hắn cư xử hợp lý hơn. Dầu sao, ông cũng đã thuyết phục được biết bao nhiều người rồi...
Sáu giờ sau, Bradshow nhận đủ các trả lời của các lãnh tụ Do Thái. Tất cả đều đồng nhất: “Chúng tôi từ khước can thiệp”.
Bradshaw liền liên lạc với Chypre, trao nhiệm vụ cho Tevor Browne thông báo với Exodus rằng chính quyền Anh đang chuẩn bị một dự án thỏa hiệp và yêu cầu Ben Caann hoãn thêm hai mươi bốn giờ nữa.
Tevor Browne thi hành các chỉ thị này và chuyển câu trả lời của Ari về Luân Đôn :
“KHẨN
Ben Canaan cho rằng tất cả mọi thảo luận đều vô ích. Đối với hắn, vấn đề rất giản dị: Edoxus sẽ được đi hoặc là không. Ngoài ra hắn còn đòi miễn truy tố cho tất cả mọi người Do Thái gốc Paslestine hiện diện trên tàu. Hắn đã tóm tắt lập trường bằng cách nhắc lại lời nói của Moise trước Pharaon: Hãy để dân tộc tôi ra đi.
TEVOR BROWNE”

Đêm hôm đó Bradshaw không sao ngủ được. Chưa đến sáu giờ nữa, đợt tự tử đầu tiên sẽ bắt đầu trên tàu Exodus. Nghĩa là ông chỉ còn ba giờ nữa để chuẩn bị một quyết nghị đệ trình hội đồng nội các. Còn có ba giờ... Trong khi tên dân điên rồ xứ Palestine ấy lại từ chối tất cả mọi thỏa hiệp.
Thực ra, tên Ben Canaan có điên khùng thật không?
Trốn chạy căn buồng mà ông đã không biết làm gì hơn là quay cuồng, Bradshaw trở lại văn phòng. Một cách máy móc, ông cầm lấy tờ giấy đầu tiên trong tầm tay :
“Ari Ben Canaan, phát ngôn viên của Exodus, loan báo rằng kể từ ngày mai, đúng mười hai giờ trưa, mười người tình nguyện sẽ tự tử mỗi ngày...”
Tay ông run lên đến nỗi đánh rơi tờ giấy trong tay, tờ giấy rơi lên trên khoảng chừng hai chục bản văn khác phát xuất từ các chính phủ Âu châu và Mỹ châu diễn tả trong ngôn ngữ mờ mịt của ngoại giao những lo ngại nghiêm trọng về vụ Exodus. Trong một hồ sơ khác cũng có những bản văn được soạn thảo trong một bút pháp hết sức ít ngoại giao hơn: đó là các thông điệp của các quốc gia Ả Rập gửi tới Luân Đôn trong đó cho rằng “Cho phép tàu Exodus nhổ neo về Palestine, Anh quốc sẽ sĩ nhục toàn thể thế giới Hồi giáo”.
Lần đầu tiên trên đời, Bradshaw cảm thấy hoang mang không biết định ra sao. Những ngày gần đây quả thực là địa ngục. Thế mà ông đã từng nhào lặn, hướng dẫn chính trị toàn thể Trung Đông từ ba mươi năm nay... Để rồi đột nhiên phải đương đâu với một tình trạng nan giải, chỉ vì một chiếc tàu kéo khốn khổ!
Định mệnh đã đưa ông bằng một trò nham hiểm nào đó đến chỗ bắt ông phải đóng vai trò áp bức mặc dù ông không hề muốn! Không có một ai trên thế gian này có thể kết tội ông là bài Do Thái được hết. Từ nhiều năm rồi Bradshaw âm thầm thán phục những người Do Thái ở Palestine, ông hoàn toàn hiểu thấu tại sao họ muốn trở về xứ của Isarel. Liệu mọi người có thể trách ông chỉ vì ông là người Anh, tin tường rằng chỉ có thể bảo vệ quyền lợi Anh quốc bằng cách ủng hộ những người Ả Rập được chăng? Người Ả Rập, trước sự nhập nội của hơn nửa triệu người Do Thái vào phần đất do người Anh bảo hộ này, đã tức giận vì thấy người Anh dung dưỡng và che chở cho cái quốc gia tân lập này.
Hậu quả là... Bradshaw tự hỏi cái gì sẽ xảy đến cho mình đây. Ông, một con người hết sức thực tế đối với người khác cũng như đối với vấn đề của chính mình? Cô đơn trong văn phòng, ông có cảm tưởng đang trông thấy chính những đứa cháu ông đang ngất xỉu nằm dài trên boong tàu Exodus. Cũng như hầu hết các người Anh khác, Bradshaw có một quan niệm sâu xa về danh dự, và dù rằng không ngoan đạo cho lắm, ông thuộc lòng Thánh Kinh. Nhưng từ đó đến chỗ suy luận giả thử rằng những kẻ trên tàu Exodus được nâng đỡ bởi một sức mạnh thần bí... nhưng không một nhà ngoại giao chuyên nghiệp nào có thể tin ở các sức mạnh siêu nhiên.
Thế mà mặc dù vậy: HÃY ĐỂ DÂN TỘC TÔI RA ĐI! Ông, Cecil Brabshaw, có sẵn sàng dưới tay một đạo quân, một hạm đội, tất cả mọi phương tiện để đè bẹp Exodus, nhưng ông không sao xử dụng nổi tất cả các phương tiện đó. Vì Pharaon trong Cựu ước kinh phải chăng cũng đã có tất cả các phương tiện để đè bẹp những người Hébreux đó sao. Và hãy thử hỏi chính vị pharaon cùng đạo quân của ông ta đã ra sao?
Tất cả những điều này không có gì vững chắc hết. Chắc chắn là ông mệt rồi, ông đang chịu ảnh hưởng của sự căng thẳng thần kinh trong những ngày gần đây...
HÃY ĐỂ DÂN TỘC TÔI RA ĐI! Phải chăng ông đang làm thần thánh nổi giận chống lại quốc gia ông hay không? Ông trở về buồng, nằm xuống, cố ngủ. Nhưng vô ích: một nhịp điệu dồn dập, ám ảnh xoáy lên trong óc ông... Hãy để dân tộc tôi ra đi... Hãy để dân tộc tôi ra đi... Ông gọi lớn, rồi gọi lớn hơn nữa, gần như gào lên :
- Crawford! Crawford!
Viên sĩ quan liên lạc chạy tới, vừa đi vừa cột lại đai áo ngủ :
- Thưa ngài, ngài gọi tôi?
- Phải. Báo ngay lập tức cho Tevor Browne ở Chypre. Nói với ông ta... Chỉ thị cho ông ta là để tàu Exodus nhổ neo đi Palestine!
0
Phần 2 - 3

Yakov cùng Jossi từ giáo đường Do Thái trở về. Yakov vừa đi vừa nhảy, nghịch ngợm bằng cách ném những viên sỏi lớn vào các cột đá góc đường hay cổng các nhà (bao giờ Yakov cũng trữ sẵn những viên sỏi này trong túi, phòng khi gặp những tên du đãng rình rập các người Do Thái để cướp bóc). Jossi dáng đi đứng đắn nghiêm trang, cúi đầu xuống, đang suy ngẫm về cách diễn giải tế nhị một đoạn kinh Torah. Khi hai người sắp quẹo vào ngõ dẫn về nhà, Yakoy nắm lấy cánh tay anh.
- Tối nay lại có một buổi họp ở cửa tiệm của Hacohen. Lần này anh có tới không?
- Không.
- Đáng lẽ ra anh phải tới mà: thuyết trình viên là một Bilu thứ thiệt do Palestine gửi tới.
Jossi cảm thấy tim mình đập loạn lên: một Bilu thứ thiệt, một người xứ Palestine! Chàng thích biết bao được nghe và thấy một người có thể nói tới xứ Israel bằng mắt thấy tai nghe, chứ không phải do lời đồn đại! Từ nhiều tháng nay, chàng thèm muốn được như đứa em đã có cái can đảm trốn ra khỏi nhà để tham dự các buổi họp của các Thân hữu của Sion, một tổ chức mới chủ trương võ trang phòng vệ các ghetto và trở về miền Đất Thánh. Một Bilu thực sự! Nhưng không: chàng sẽ chống lại cám dỗ tới nghe này, ít nhất là ngày nào cha chàng còn chống đối với các Thân hữu của Sion.
Phong trào Bilu phát sinh trực tiếp từ một trong những thời kỳ thê thảm nhất của kiếp khốn khổ của những người Do Thái tại Nga.
Sau khi đã ban bố vài cải cách vừa rụt rè vừa quá trễ để chống lại sự xáo trộn mỗi lúc một gia tăng đáng ngại, Nga hoàng Alexandre II đã cảm thấy một điều rất dễ hiểu là muốn làm dân thôi chú trọng vào các khía cạnh đáng chê trách của chế độ và hướng về các vấn đề khác. Các cố vấn của ngài không khó khăn gì trong việc tìm ra một con dê chịu tội lý tưởng: đó là người Do Thái. Ở Nga, tính bài Do Thái, dưới hình thái dữ dội nhất, đã phát triển trên một khoảng đất phong phú những hận thù tôn giáo, mê tín dị đoan, cùng thứ hận thù mù quáng thường có của các quốc gia nghèo khổ. Sau một chiến dịch mạ lị bôi nhọ khéo léo, chính quyền Nga đã dễ dàng xúi dục lên hàng loạt pogrom làm đẫm máu trong vùng cư trú của các người Do Thái.
Nơi đâu cũng là cướp phá nhà cửa, tàn sát dân cư không có thì giờ chạy trốn - đám dân Nga cuồng nộ này chỉ giết phụ nữ Do Thái sau khi đã cưỡng hiếp họ mà thôi - tất cả với dự thỏa thuận mặc nhiên hay hợp tác tích cực của cảnh sát.
Nếu những người Do Thái còn sống sót tưởng rằng mình đã tới tận cùng của thảm cảnh thì họ đã lầm. Ngày 13 tháng 3 1881, Alexandre II bị ám sát do một quả bom của một nhà cách mạng, trong đó có một thiếu nữ Do Thái.
Đây là khởi điểm của một thời kỳ khủng bố thứ nhì.
Tân Nga hoàng Alexandre III chỉ là một trò chơi trong tay đại thần Pobiedonostsev. Ông này, còn phản động hơn vị vua nữa, đã có một kế hoạch để giải quyết vấn đề Do Thái. Với tư cách ủy viên đại diện cho hội đồng giáo phẩm tối cao, ông tin chắc sẽ được sự tán thành của giáo hội chính thống Nga về chương trình tiêu diệt Do Thái. Chương trình này rất giản dị: một phần ba sẽ bị tiêu diệt bằng các pogrom do chính quyền đề xướng và tổ chức, một phần ba bị trục xuất, một phần ba còn lại bắt cải đạo bằng võ lực cùng đe dọa.
Tuần lễ thánh năm 1881, ngày đăng quang của Alexandre III là dấu hiệu mở đầu cho đợt khủng bố tàn sát đầu tiên, tiếp theo bằng một loạt sắc lệnh cưỡng đoạt tài sản các người sống sót cùng hủy bỏ toàn diện các quyền sơ đẳng nhất của người Do Thái.
Trong cơn khiếp hãi bao trùm mọi ghetto, giữa trăm ngàn dự án không tưởng như nhau, chỉ có một nhóm ít người đã đề ra được một giải pháp hợp lý, đó là nhóm Thân hữu của Sion. Chính nhờ sự mang ra ứng dụng ý tưởng của nhóm này mà vào cuối mùa thu, bốn mươi sinh viên Do Thái trốn khỏi Vùng để đi Palestine. Có tinh thần phiêu lưu và can đảm vô bờ bến, họ đã đặt công cuộc của họ dưới danh hiệu Beth Yakov Leku Venlkha: Gia tộc của Jacob, hãy đứng dậy! Những chữ viết tắt từ cái danh xưng như một lời gào thét chiến đấu ấy đã tạo thành một tên gọi mà các bậc tiền nhân cùng hậu bối đã làm cho nổi danh: BILU.
Về được tới Palestine, những Bilu đầu tiên xây dựng một trại canh nông trong thung lũng Sharon. Họ đặt tên trại là Rishon le Zion: Kẻ đầu tiên ở Sion.
Năm sau, khi một đợt pogrom thứ hai tràn vào Vùng, nhiều nhóm khác chạy khỏi quốc gia đáng nguyền rủa ấy để lên đường về Palestine, vùng Đất Hứa. Bởi thế đến năm 1884, khoảng một nửa tá trại Bilu nghèo khổ, yếu ớt, sống bằng hy vọng hơn là bằng bánh mì, đã thành lập rải rác khắp miền Palestine.
Ngày hôm sau ngày người Bilu từ Palestine nói chuyện tại khu bộ địa phương của hội thân hữu Sion, Jossi Rabinsky đưa em ra một chỗ vắng, nói :
- Kể lại đi! Người đó như thế nào... Đã nói những gì...
Yakov ra vẻ ta đây.
- Vậy đó! Anh chưa chịu tin đã đến lúc anh tới dự một trong các buổi họp của bọn tôi sao?
Tối hôm đó lấy cớ là muốn cầu nguyện cho một người bạn mới chết, hai anh em chạy lại cửa hiệu bán nến của Hacohen. Jossi hơi sửng sốt khi thấy có những người canh gác đi đi lại lại quanh căn nhà và ngạc nhiên khi gặp biết bao khuôn mặt quen thuộc trong phòng họp. Nhưng chàng sửng sốt nhất vì bề ngoài cùng thái độ của diễn giả, Vladimir, gốc Odessa.
Vladimir không hề giống những người Do Thái ở ghetto. Anh để râu chứ không để tóc quăn, mặc một chiếc áo vét bằng da đen, quần bó sát và đi ủng, nói rất bình tĩnh và cương quyết đến lạnh lùng. Sau khi gợi lại kiếp sống trầm luân bất tận của người Do Thái tại Âu châu, anh nhấn mạnh tới tình hình thê thảm của những kẻ sống trong vùng, đã vô phương chống lại các bạo hành của một quần chúng man rợ và một chính quyền bóc lột sát nhân. Anh kết luận :
- Cho tới giờ chúng ta đã là đối tượng cho sự khinh khi và chế riễu tại tất cả các quốc gia trên thế giới. Muốn thoát khỏi thân phận này, chúng ta phải tự làm cho chúng ta có một quốc gia. Ngoài giải pháp này, chúng ta không còn cứu rỗi nào khác. Chúng ta phải xây dựng lại Nhà của Jacob!
Trên đường về nhà, Yakov để lòng nhiệt thành của mình tự do bộc lộ :
- Anh đã nghe rồi đấy, anh Jossi! Và anh đã thấy biết bao người ở đó: cả rabbin [1] Liazine cũng có mặt!
Jossi trả lời lảng tránh :
- Anh cần phải suy nghĩ đã.
Nhưng vừa nói xong, chàng đã biết là Vladimir có lý: ngoài Palestine ra, không có cách cứu rỗi nào khác cho người Do Thái.
Rabinsky đang chờ hai con về. Mặc áo ngủ, đứng trước bàn làm việc, soi sáng bằng một ngọn nến, ông nói.
- À, các con đã về! Nhờ lời cầu nguyện của các con, bạn con sẽ an nghỉ an bình!
Một lần nữa Jossi lại không thể nói dối :
- Chúng con không đi cầu nguyện cho người chết...
Simon Rabinsky giả vờ ngạc nhiên :
- À! Các con bận theo đuổi người yêu...
- Thưa bố không ạ.
- Chắc các con đến nhà thờ học kinh Talmud?
Jossi nói nhỏ gần như không nghe thấy :
- Cũng không phải đâu.
Yokov không giữ được nữa, nói thật luôn :
- Chúng con đã đến dự một buổi họp của hội thân hữu Sion.
Mọi người im lặng. Simon Rabinsky nhìn các con không tin ở mắt mình nữa. Sau cùng ông nói :
- Bố rất buồn...
Jossi nói :
- Chính vì thế chúng con không nói cho bố rõ. Chúng con không muốn làm cho bố phải buồn.
- Bố không buồn vì các con đến dự buổi họp ấy, mà buồn vì các con đã coi thường, ông bố già, không tin cậy ở bố nữa.
Yakov cãi :
- Không phải thế. Tại chúng con nghĩ rằng nếu nói ra thì bố sẽ cấm chúng con đi...
- Yakov, hãy nói cho bố nghe... có bao giờ bố đã cấm con học hỏi chưa? Ngay cả hôm con bộc lộ cái ý dị kỳ là muốn đọc Tân Ước Kinh... bố có cấm con không?
Jossi đã bình tĩnh lại. Tính tình chàng như vậy: quyết định thì chậm nhưng sau đó can đảm để bảo vệ quyết định đã có. Chàng lên tiếng :
- Chúng con sợ làm bố buồn vì chúng con biết lập trường của bố đối với hội thân hữu của Sion, đối với các tư tưởng mới nói chung. Mặc dù biết vậy, con cũng xin thưa là con hài lòng được dự buổi hội ấy. Rabbin Lipzine đã yêu cầu con gia nhập đoàn dân vệ ghetto.
Simon là :
- Rabbin Lipzine đã chối bỏ quá nhiều tập tục của chúng ta đến nỗi đôi khi bố tự hỏi không biết ông ta có còn là người Do Thái nữa không. Còn những tư tưởng mới của ông ấy à. Con tưởng bố không biết con và thằng Yakov nghĩ gì trong đầu hay sao? Đã có thời bố cũng là thanh niên, và ngay từ thời đó thiên hạ đã lải nhải những giải phóng, những bảo vệ ghetto và những gì nữa chẳng biết. Chẳng qua là hai đứa đang đến tuổi khủng hoảng mà ai trong chúng ta cũng đều phải trải qua... lúc mà con người biết địa vị mình phải giữ và cuộc đời ra sao chấp nhận như thế. Khi bố còn ít tuổi, đã còn có lần bố nghĩ tới chuyện cải đạo nữa kia! Hai con vẫn còn chưa chịu tin là bố hiểu được các tình cảm của các con sao?
Jossi sửng sốt. Bố chàng đã từng nghĩ tới chuyện cải đạo! Yakov vội vã trở lại vấn đề trước mắt :
- Tại sao chúng ta lại không có quyền tự bảo vệ chúng ta? Tại sao chính dân tộc ta lại trách chúng ta là tìm cách cải thiện thân phận của chúng ta?
Người bố nói :
- Tại vì con là Do Thái, và đã làm người Do Thái bắt con phải chấp nhận những sự áp chế.
- Chẳng hạn như là con phải chui xuống gầm giường nấp để trốn tránh bọn sát nhân phải không?
- Chưa ai dám cho rằng dễ làm người Do Thái cả. Chúng ta có mặt trên trái đất này không phải để hưởng đời sống. Thượng đế đã đặt để chúng ta ở đây để duy trì Luật của Ngài. Đó là nhiệm vụ, đó là mục đích của chúng ta.
Yakov tức giận đáp lại :
- Thế còn phần thưởng cho chúng ta!
Simon tiếp tục nói, không hề xúc động :
- Một ngày kia đấng cứu thế sẽ hiện đến để đưa chúng ta về xứ Israel. Bố nghĩ rằng Yakov Rabinsky không có quyền nghi ngờ sự khôn ngoan của Thượng đế. Ngược lại là khác, bố nghĩ rằng Yakov Rabinsky phải sống theo các luật tắc đã có ghi trong Thánh kinh.
Yakov kêu lên :
- Con không chối bỏ những luật thánh. Nhưng con chối bỏ không nhận sự khôn ngoan của những người diễn giải các luật thánh ấy. Nếu quả thực Thượng đế đã tạo chúng ta ra theo hình ảnh của Người, thì đấng cứu thế ở trong chúng ta, ở mỗi người trong chúng ta, và đấng cứu thế của con ra lệnh cho con, nhắc con hoài là con phải vươn mình dậy mà chiến đấu, hòn đá ném đi hòn chì ném lại. Đấng cứu thế của con cũng còn ra lệnh cho con phải trở về quê hương của tổ tiên chúng ta, gia nhập hội Thân hữu của Sion.
Trước các luận cứ ào ào như vậy, Simon Rabin không hề nao núng.
- Trong lịch sử của chúng ta, chúng ta đã thấy xuất hiện một số đấng cứu thế giả rồi. Và ngay lúc này đây con đang nghe theo những lời khuyến cáo của một trong những cứu thế giả ấy.
- Nhưng làm thế nào để con biết được đấng cứu thế thật?
- Vấn đề không phải là làm thế nào để Yakov Rabinsky nhận ra được đấng cứu thế, vấn đề là xét xem liệu đấng cứu thế có nhận Yakov Rabinsky hay không. Nếu kẻ mang tên Yakov bắt đầu xa dần luật thánh, nếu hắn lắng nghe những lời ẩn dụ của những kẻ tiên tri giả mạo, thì đấng cứu thế sẽ hiểu rằng Yakov thôi không còn là Do Thái nữa. Cha đề nghị với Yakov là hãy tiếp tục sống như bố nó, và như dân tộc nó.
-------------------------------------------
[1] Rabbin: giáo sĩ của Do Thái giáo, tương đương đại khái với cha xứ của Kitô giáo.

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-10 11:51:20casau>
Phần 2 - 4

- Giết tụi Do Thái!
Một viên đá ném vỡ tan cửa sổ lớp học. Vị rabbin vội vã đẩy các học trò về cầu thang dẫn xuống hầm. Ngoài đường, đàn ông đàn bà tuyệt vọng chạy đi kiếm một nơi ẩn trú, đằng sau họ hơn cả ngàn dân cosaque và sinh viên đang rượt theo. Suốt vùng bao quanh ghetto vang lên tiếng hét ngàn đời :
- Giết tụi Do Thái!
Một vụ pogrom nữa, cũng do một tên Andrev tổ chức như các vụ trước, tên giám đốc gù lưng của trường trung học Jitomir, một tay chống Do Thái điên khùng. Các học trò của hắn trà trộn với các dân cosaque, chạy ào ào trong các đường phố, đập vỡ các cửa kính, cửa sổ, kéo lê những người Do Thái mà chúng bắt được, đánh họ tàn nhẫn không thương tiếc.
Yakov và Jossi đã rời chủng viện mặc dù các lời năn nỉ của vị rabbin. Chạy theo những ngõ hẻm tối tăm nhất, vắng người nhất, hai anh em tìm cách trở về nhà để che chở các người thân. Khi hai người quẹo vào vừa tới nhà, họ va đầu với khoảng chục tên du đãng đội các mũ lưỡi trai màu: các học sinh trường trung học.
- Kìa hai tên! Bắt lấy chúng!
Yakov và Jossi quay ngoắt người chạy như thế nào để nhử tụi trẻ dữ tợn sau lưng đi xa khỏi nhà. Trong mười lăm phút, nhờ thuộc biết đường, hai anh em giữ được khoảng cách. Nhưng rồi sau cùng tụi học sinh trung học dồn được hai anh em vào một ngõ bí. Dựa lưng vào tường, thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa, hai anh em đương đầu với các địch thủ. Đột nhiên tên đứng đầu toán học sinh tiến lên, vung một ống chì toan đập vào đầu Jossi.
Jossi đỡ được, rồi nắm lấy ngang người tên học sinh nhấc bổng hẳn lên khỏi mặt đất, quay tít hắn lên không rồi ném mạnh vào đồng bọn. Cùng lúc do Yakov lấy đá sỏi chứa đầy sẵn trong các túi, nhằm hai tên địch ném, trúng đầu cả hai, ngã lăn chiêng ra đất. Những tên còn lại co cẳng chạy không kịp thở.
Yakov và Jossi lại chạy về nhà, ùa vào cửa hiệu giầy.
- Bố! Mẹ!
Xưởng giầy đã bị phá tan tành. Hai anh em tìm ra mẹ ngồi thu hình trong một góc, gầan phát điên lên, Jossi lay mạnh bà.
- Bố đâu mẹ? Mẹ nói đi nào, mẹ!
Đột nhiên bà hét lên :
- Torah! Torah!
Cùng lúc đó cách đấy hai trăm thước, Simon Rabinsky chệnh choạng tiến ra nhà thờ đốt cháy. Ông tiến vào được tới cuối phòng, vạch các tấm màn có thêu Mười Điều Răn, ôm lấy Torah, hai cuộn kinh. Ôm chặt hai cuộn kinh ấy vào người để che chở lửa khỏi bén vào, ông ra thoát được ngoài. Bị phỏng nặng, gần ngạt thở, ông bước qua bậc thềm để rồi gục xuống bên ngoài. Ông còn đủ sức để quỳ lên...
Chừng hai chục học sinh trung học đang chờ sẵn.
- Giết chết tụi Do Thái!
Simon bò được hai hay ba thước để rồi gục xuống bùn lấy thân hình che chở cho các cuộn kinh Torah. Các gậy gỗ đập xuống vỡ sọ ông, các giày đinh đá nát mặt ông. Trước khi chìm vào cõi hư vô, ông kêu lên :
- Nghe đây, Israel. Vĩnh cữu là Thượng đế của người... Vĩnh cữu là duy nhất...
Đúng một tháng sau ngày Simon Rabinsky chết. Yakov dậy vào lúc nửa đêm. Rón rén cẩn thận để không làm anh thức giấc, chàng mặc quần áo, nhét vào thắt lưng một con dao mài bén nhọn - con dao mà bố chàng thường dùng để cắt da làm giày - rồi ra khỏi nhà nhẹ bước tiến về đô thành Ki-tô giáo.
Như có linh cảm báo hiệu, Jossi tỉnh giấc vài phút sau đó. Nhận thấy Yakov vắng mặt, Jossi chỉ kịp mặc quần áo rồi vội vã ra khỏi nhà. Tới đường, chàng chạy. Chàng biết em mình đã đi đâu.
Lúc 4 giờ sáng, Yakov gõ cửa nhà Andrev. Sau khi gõ nhiều tiếng, chàng lùi lại và chờ đợi. Chính lão gù ra mở cửa. Yakov chồm tới, đâm dao vào ngực lão. Viên giám đốc trường trung học Jitomir kêu lên một tiếng ngắn, gục xuống chết.
Hối hả chạy tới, Jossi thấy em đang nghiêng người trên xác chết, như bị mê hoặc. Chàng nắm lấy tay Yakov, lôi đi. Suốt cả ngày hôm đó và cả đêm sau, hai người trốn trong hầm nhà rabbin Lipzine. Tin giết người đã lan khắp thành phố. Lo âu, các kỳ mục họp lại để tìm một cách quyết định.
Lúc rạng đông, rabbin Lipzine tụt qua cửa hầm xuống.
- Chúng tôi có nhiều lý do để e rằng cảnh sát biết danh tính hai con. Hình như một học sinh lưu trú của Andrev đã trông thấy một anh chàng khổng lồ tóc hung. Từ đó đến chỗ chúng nghi ngờ con, Jossi...
Jossi cắn môi. Với bất cứ giá nào chàng cũng không thú thực là ra chàng đến đó chỉ cốt định ngăn ngừa vụ án mạng khỏi xảy ra mà thôi. Còn Yakov, chàng không hề hối hận chút nào, lầu nhầu :
- Nếu phải làm lại, con sẵn sàng ngay.
Vị rabbin nói :
- Chúng tôi hiểu tại sao con lại làm thế, nhưng không thể tha thứ cho con được. Vụ ám sát này dám làm phát động ra một vụ pogrom mới. Một mặt khác, không hề có công lý cho một người Do Thái trước các tòa án của Nga hoàng. Nói tóm tắt, chúng tôi đã có một quyết định mà hai con phải tuân theo không bàn cãi.
Jossi nói nhỏ :
- Xin vâng.
- Các con đi cắt những lọn tóc quăn đi và ăn mặc như những người Ki-tô giáo. Chúng ta sẽ cho các con đủ thực phẩm và tiền bạc để sống một tuần. Các con phải rời Jitomir ngay lập tức, không bao giờ được nghĩ đến việc trở về nữa.
Vì thế, năm 1884 ấy, Jossi Rabinsky mười sáu tuổi và em là Yakov, mới mười bốn tuổi, đã trở thành những kẻ đào tẩu. Đi vào ban đêm, ban ngày ẩn trốn, họ mất một tuần mới băng qua được quãng đường một trăm năm chục cây số dẫn tới tỉnh Loubny. Họ lẩn được vào ghetto - để được biết rằng danh tiếng đáng sợ của hai anh em đã lan tới đây rồi. Các trưởng lão của cộng đồng Do Thái ở Loubny trao cho những gì cần thiết để sống thêm một tuần nữa rồi khẩn khoản yêu cầu hai anh em hãy lại đi. Lần này hai anh em tiến về Kharkov cách đó ba trăm cây số, hy vọng rằng khoảng cách sẽ làm giảm bớt hăng hái của cơ quan cảnh sát. Một hy vọng sớm tiêu tan: vụ giết Andrev đã gây ra tiếng vang hết sức lớn, những làng nhỏ bé nhất cũng được báo động và từ đầu này đến đầu kia Vùng Cư trú, việc săn đuổi hai anh em đã mang vẻ như là một công cuộc của thập tự quân trên bình diện quốc gia. Đến được Kharkov sau hai mươi đêm đi ngày nấp trong bờ bụi, hai anh em lại phải nấp trong căn hầm lạnh buốt của đại chủng viện Do Thái. Chỉ có rabbin và vài kỳ lão là biết sự hiện diện của hai người thôi.
Họ sống ở đó hai tuần. Rồi một buổi tối, vị rabbin đến kiếm và nói :
- Ngay cả ở đây nữa các con cũng không an toàn. Chúng ta chẳng nên lừa dối chính mình làm gì: chúng chắc chắn sẽ tìm ra các con, chỉ có vấn đề thời gian thôi. Chưa chi công an cảnh sát đã la cà quanh đây và đặt ra đủ loại câu hỏi. Vậy mà mùa đông sắp tới rồi, không thể nào còn đi được trên các con đường giá lạnh nữa. Bởi thế chúng ta thấy chỉ còn một lối thoát duy nhất: đưa các con đến trú ngụ cho qua đông sang xuân ở nhà một trong vài gia đình Do Thái đã cải đạo trong vùng này và đang làm nghề nông.
Jossi lắc đầu :
- Thưa giáo sĩ, chúng con hết sức đội ơn những gì các vị huynh trưởng đã làm cho chúng con, nhưng hai anh em đã có một dự định.
- Vậy hả? Dự định nào?
Yakov nói :
- Chúng con đi Palestine.
Vị rabbin có vẻ sửng sốt :
- Đi Palestine? Con định về xứ đó bằng cách nào đây?
- Chúng con đã vạch một lộ trình. Với sự giúp đỡ của Thượng đế....
- Chắc chắn Thượng đế sẽ giúp các con, nhưng không nên đòi hỏi ngài làm một phép mầu. Từ đây đến Odessa gần năm trăm cây số trong tuyết và lạnh. Và cứ cho rằng các con tới được Odessa đi, các con cũng không thể đáp tàu được vì không có giấy tờ. Không tàu nào dám nhận các con đâu.
- Chúng con sẽ không qua Odessa. Chúng con định đi bộ. Moise đã đi bộ trong bốn mươi năm: chúng con cũng phải làm như thế.
Vị rabbin suýt nữa phật lòng :
- Này người bạn trẻ, tôi không cần các anh nhắc tôi là Moise đã đi bộ trong bốn mươi năm. Nhưng lối so sánh táo bạo của anh vẫn chưa cắt nghĩa cho tôi hiểu làm cách nào các anh đi bộ được về Palestine.
- Kế hoạch của chúng con như sau: chúng con sẽ đi thẳng xuống phía nam, băng qua xứ Georgie ra khỏi Vùng. Sau đó chúng con sẽ đi qua xứ Caucase để sang Thỗ Nhĩ Kỳ.
Vị rabbin giơ hai tay lên trời :
- Điên rồ! Không thể thực hiện được! Các con quả thực nghĩ tới đi bộ ba ngàn cây số giữa mùa đông, leo qua những ngọn núi cao năm ngàn thước, không một chút giấy tờ, qua những vùng hoàn toàn chưa bao giờ biết, và với cảnh sát đuổi sau lưng sao? Chuyện này không đứng vững được đâu, các con! Các con mới vừa qua cái tuổi mặc quần cụt bao lâu đâu?
Yakov tiến lên một bước và nhìn vị rabbin bằng con mắt đầy cuồng nhiệt, cất tiếng đọc :
- “Con đừng sợ hãi gì cả vì ta ở với con. Ta sẽ cho gieo mầm của con về phía tây về phía đông, ta sẽ truyền cho miền bắc giải phóng con, truyền cho miền nam không được giữ con, để sau cùng ta đưa các con dân của ta ở tận các miền xa, ở tận cùng thế giới trở về”.

Ngày hôm sau, lúc trời tối, hai anh em Rabinsky, những kẻ đào tẩu bị truy tố vì tội sát nhân, chạy trốn khỏi Khartov để bắt đầu cuộc trường hành về miền nam.
Đêm rồi đêm, trong giá lạnh mỗi ngay một tàn bạo hơn, họ len lỏi tìm lối đi giữa các đám tuyết gió vun cao tới ngang thắt lưng, người cúi gập làm đôi để chống lại gió thổi mạnh. Bụng trống không, họ sống bằng những gì ăn cắp được trong các chuồng gà vịt và các nông trại. Ngay khi mặt trời mọc, họ nấp kín trong rừng già.
Suốt trong cuộc trường hành ác mộng này, chính Yakov đã không ngừng khơi dậy lòng can trường nơi người anh, thúc đẩy anh tiến thêm một bước, một bước nữa, lại một bước nữa, ngay cả khi hai người đã kiệt lực. Ngược lại, chính Jossi, nhờ thân xác khổng lồ, đã bù trừ cho sự yếu đuối thể chất của người em. Nhiều đêm, Jossi đã phải vác Yakov trên lưng trong ba, bốn, năm giờ liền vì chân người em sưng rớm máu. Nhiều ngày, Jossi đi phải nằm ôm lấy Yakov, lấy sức nóng của thân thể mình sưởi cho em.
Nhưng họ vẫn tiếp tục cuộc hành trình về phía nam, trong tuyết và băng giá, chệnh choạng vì mệt, say lên vì đói, từng cây số lại từng cây số, một tuần lễ rồi lại một tuần lễ. Trong những ngày đầu xuân, hai anh em tới Rostov, và vừa đến ghetto, hai người gục xuống.
Vị rabbin địa phương tiếp đã họ. Mọi người săn sóc, nuôi nấng, cho họ thực phẩm và quần áo mới. Họ bắt buộc phải nghỉ ngơi nhiều tuần trước khi nghĩ tới chuyện lại ra đi.
Bây giờ, gần đến mùa hè, họ không còn phải chống lại với các yếu tố thiên nhiên thù nghịch nữa. Nhưng ngược lại, họ phải thận trọng gấp đôi: đã rời khỏi Vùng Cư trú của người Do Thái, họ không còn nương tựa được ở các cộng đồng từ trước tới giờ vẫn cho họ trú ẩn cùng trợ giúp. Đi dọc theo duyên hải Hắc hải, mỗi ngày họ càng tiến sâu vào xứ Georgie. Để có ăn, họ ăn cắp thực phẩm trong cánh đồng, ban ngày cẩn thận ẩn trú.
Với mùa đông trở lại, hai anh em bắt buộc phải có một quyết định quan trọng. Họ phải ẩn náu ở Georgie cho tới khi mùa đông qua, thử tìm cách vượt rặng Caucase, hay đoạt lấy một con tàu để thử vượt qua Hắc hải?
Cả ba giải pháp ấy đều bao hàm các nguy hiểm lớn lao. Trước hết họ gạt bỏ giải pháp đường biển: cả hai anh em chưa ai đặt chân lên một chiếc thuyền bao giờ. Mặc dù việc băng qua Caucase giữa mùa đông cũng là công cuộc điên cuồng không kém, nhưng lòng hối hả muốn rời bỏ đất Nga làm cho họ chọn liều giải pháp này.
Tới Stavropol, dưới chân các rặng hoành sơn đầu tiên, họ làm một loạt đánh cắp để trang bị từ đầu đến chân và các thực phẩm dự trữ. Rồi họ bắt đầu leo núi, hướng về phía Arménie. Họ phải chạy vắt chân lên cổ bởi vì cảnh sát rượt theo sát.
May mắn thay là những thử thách của mùa đông trước đã làm thân thể họ cứng cáp lên nhiều. Mặc dù không có đường đi, ở cao độ và cái lạnh ghê người, họ tiếp tục tiến, mới đầu từ thung lũng này sang thung lũng khác, rồi từ đèo này sang đèo khác, cho tới giới hạn sau cùng của đỉnh núi. Khi xuống núi, sức lực hao mòn dần dần, đến nỗi họ đi những cây số sau cùng trong một trạng thái hầu như không còn biết gì nữa.
Vào một ngày nắng ấm của mùa xuân, sau cùng hai anh em được sống giây phút không sao quen được của hơi thở tự do đầu tiên: họ đã rời “đất mẹ”, miền đất với họ bao giờ cũng chỉ là “mẹ ghẻ”. Khi vượt biên thùy Thổ Nhĩ Kỳ, Yakov quay lại “nhổ” vào đất Nga.
Giải thoát khỏi mối lo cảnh sát, họ không vì thế mà đã hết vất vả. Vùng này là miền núi, xứ sở khác hẳn những miền họ đã từng biết và không hề có tiền bạc giấy tờ. Họ mất hai tháng mới tới được rặng núi Ararat, nơi xưa kia con tàu của Noé đã chạm xuống đất sau cơn đại hồng thủy. Đi vòng quanh núi, họ vẫn tiếp tục tiến xa: hơn về phương nam. Đến mỗi làng, họ đều đặt câu hỏi
- Ở đây có người Do Thái không?
Đôi khi, có người Do Thái thật - những nông dân vừa ngu dốt vừa mê tín như những người Thổ mà họ cùng chung sống, nhưng vẫn còn giữ tục lệ ngày sabbat cùng các ngày lễ chính như kinh Torah đã ấn định. Khi đó, hai anh em Rabinsky chỉ cần tuyên bố ý định về Palestine, là được đón tiếp nồng hậu. Chưa một lần nào các người Do Thái ấy từ chối đón tiếp họ.
Hai năm như vậy qua đi. Ngày lại ngày, họ tiến bước, gậm nhấm dần khoảng cách giữa họ và nơi đến sau cùng, chỉ ngừng lại khi đã kiệt lực hay vì bắt buộc phải làm việc ngoài cánh đồng để kiếm ăn.
- Ở đây có người Do Thái không?
Họ rời Thổ Nhĩ Kỳ để tiến vào tỉnh Syrie. Ở Alep, lần đầu tiên họ tiếp xúc với thế giới Ả Rập: thứ tranh tối tranh sáng của tiệm tạp hóa Ả Rập, các phố xá đầy phân người, tiếng ca của vị muezin từ các tháp cầu nguyện...
Họ vẫn tiếp tục đi và tiếp tục đi, để rồi tiến vào vùng trời xanh trong của Địa trung hải, trong ánh sáng tuyệt vời bôi xóa rất nhanh kỷ niệm về những cơn gió lạnh buốt trên các cánh đồng cỏ mênh mông, trên các núi non. Ăn mặc rách rưới giống như những dân Ả Rập, họ đi dọc bờ biển Tây Á, vượt qua lãnh thổ Liban, băng sa mạc man dại giữa Tripoli và Beyrouth. Chậm chạp và đều đặn, họ tiến gần về miền Đất Hứa.
Tính cho tới ngày họ dừng bước trên một ngọn đồi dốc ngược năm 1888 ấy, là bốn mươi tháng sau khi chạy trốn khỏi ghetto ở Jitomir. Jossi Rabinsky, hai mươi tuổi, một bộ râu đỏ bao quanh khuôn mặt, một thước chín mươi đường gân và bắp thịt. Yakov Rabinsky, mặt nghiêm trọng, mắt đam mê cuồng nhiệt.
Dưới chân họ, chạy dài thung lũng Houleh ở phía bắc xứ Galilée... Galilée... Palestine... hai anh em đã đi tới đích cuộc trường hành, Jossi ngồi trên một tảng đá, hai tay ôm lấy mặt khóc nức nở.
Giữa quả đồi và đỉnh đầy tuyết phủ của ngọn Hermon, thung lũng nằm dài với chiếc hồ và các đầm lầy chạy dọc theo. Phía bên phải, một làng Ả Rập nằm như tổ chim ở một chỗ trũng của các ngọn đồi thấp hơn. Jossi xúc động. Đất Israel đẹp làm sao! Một ngày kia chàng sẽ trở lại nơi này, nơi mà chàng đã khám phá ra lần đầu tiên vẻ huy hoàng của xứ sở chàng.
Sáng ngày hôm sau hai người đi xuống, tiến về phía làng Ả Rập. Dưới bầu trời tươi sáng, các ngôi nhà nhỏ quét vôi trắng có vẻ huy hoàng, với những nét thanh thanh nằm giữa các cánh đồng và vườn trồng cây như khảm vào các sườn đồi. Nhưng càng lại gần tất cả vẻ đẹp ấy, từ từ biến mất, để hiện ra một mùi hôi thối ghê khiếp. Trên đường duy nhất trong làng, một con đường đất đầy những rác rưởi, từng đám ruồi ào ra tấn công hai anh em. Một con chó ghẻ đang sục sạo trong một hố lộ thiên dùng làm cống để tìm một chút hơi mát. Những người đàn bà che mặt chạy vội vào các khung cửa bẩn thỉu, nhỏ bé, trong đó con người sống chung với gà, lừa và dê.
Hai anh em dừng bước ở giếng làng. Sự hiện diện của họ làm ngưng bặt tiếng cười nói của các thiếu nữ đang lo giặt giũ hay đội trên đầu những chiếc bình nặng hình dáng như các bình thời xưa. Jossi hỏi :
- Chúng tôi xin miếng nước được không?
Không một thiếu nữ nào dám trả lời. Bối rối, hai anh em kéo lấy một thùng nước, té vào mặt, đổ đầy bình chứa của mình rồi vội vã ra đi.
Cách một quãng nữa, một căn nhà lớn cũ kỹ được dùng làm quán cà phê maure [1]. Nhiều người đàn ông lờ đờ đang ngồi hay nằm dài luôn ra đất, trong một không khí dầy dặc mùi cà phê lẫn với mùi khói thuốc lá hay khói hachish [2]. Jossi hỏi :
- Vị nào vui lòng chỉ đường cho chúng tôi không?
Tại đây nữa cũng không ai trả lời. Sau chừng vài phút, một người Ả Rập đứng dậy, gật đầu ra dấu mời hai người đi theo. Hắn đưa hai anh em ra khỏi làng, đến tận lòng một con suối. Bên kia bờ là một giáo đường Hồi giáo nhỏ có tháp cầu nguyện vươn cao. Hai anh em được đưa vào một ngôi nhà nhỏ xinh xắn bằng đá đẻo, nằm dưới bóng mát của một tàn cây,  bên cạnh một giáo đường, đối diện là một căn nhà khác hình chữ nhật. Một căn phòng khá rộng, khá mát mẽ dễ chịu nhờ những bức tường dầy và cao có đục vài ba cửa sổ. Trên các ghế dài chạy dọc tường, có các gối nhỏ màu tươi. Hai bộ vũ khí Ả Rập và một vài bức chân dung thô sơ là những vật trang trí duy nhất cho căn phòng.
Sau một khoảng thời gian chờ đợi ngắn, họ thấy một người chừng hai mươi lăm tuổi đến, mặc một chiếc Burnos dài kẻ sọc và đội một chiếc mũ chụp trắng có bao một dải băng đen. Dáng điệu tự tin chứng tỏ là một nhân vật quan trọng.
- Tên tôi là Kammal. Tôi là mouktar (xã trưởng) của làng Abou Yeshan.
Ông vỗ tay. Nhiều thiếu niên, có lẽ là các em trai, mang cà phê và trái cây tới, trong khi các kỳ mục trong làng cũng lần lượt tới.
Trước sự ngạc nhiên của hai anh em, Kammal biết nói bập bẹ tiếng hébreu. Ông cắt nghĩa :
- Theo một truyền thuyết, Josué đã được chôn ở chỗ này là làng của chúng tôi. Chắc hai vị không biết Josué, tướng chỉ huy các dân cổ Do Thái, cũng là một trong những vị đại tiên tri của Hồi giáo.
Sau đó ông bắt đầu tìm hiểu xem hai vị khách là ai cùng mục đích của hành trình đến nơi này. Hẳn là một người Á đông trí thức, ông không đặt ra những câu trực tiếp. Sau khi đã đưa ra nhiều giả thuyết mơ hồ, ông giả đò cho rằng hai vị khách đã lạc đường: đây là lần đầu tiên thấy có người Do Thái trong thung lũng Houleb.
Khi được biết hai anh em đi tìm cộng đồng Do Thái gần nhất, ông có vẻ an lòng: hiển nhiên là ông sợ rằng hai anh em tới đây kiếm mua đất và lập nghiệp tại nơi này. Rời bỏ sự gìn giữ nghi ngờ, ông nói thật là không những ông chỉ là mouktar còn là sở hữu chủ tất cả đất đai trong làng, ông là người lãnh đạo tinh thần của cộng đồng và cũng là kẻ duy nhất biết đọc và biết viết.
Bị một cảm tình tự nhiên thúc đẩy, Jossi thuật lại cuộc chạy trốn của hai em khỏi nước Nga băng qua xứ Caucase, cùng trình bày ước vọng muốn được sống tại miền Đất Thánh. Sau khi chén cà phê sau cùng đã cạn từ lâu, trái cây cuối cùng đã ăn xong, hai anh em đứng dậy để xin cáo từ chủ nhân. Kammal nói :
- Quý vị sẽ tìm thấy các đồng bào của quý vị cách đây ba mươi cây số về phía nam. Trại ấy được gọi là “Rosh Pinna”, nằm giữa đường đi từ hồ Houleh tới biển Galilée, biển mà những người Ki-tô giáo gọi là hồ Tibériade. Dọc đường, quý vị sẽ đi qua một cái tel lớn, một vùng đất nhô cao bên dưới chôn vùi thành phố cổ Hazor mà Josué đã chiếm được của dân Cananéen... Cầu Thượng đế che chở cho quý vị!

Hai anh em đến trại Rosh Pinna vào lúc trời đổ tối, gây ra một xúc động mạnh cho người trong trại. Được đưa vào một căn nhà lớn dùng làm phòng họp công cộng, họ bị hỏi hết câu này đến câu khác. Nhưng hai anh em đã rời bỏ Jitomir từ bốn mươi tháng rồi, họ chỉ có thể trả lời bằng những vụ pogrom mở màn từ 1881 chưa ngừng tiếp diễn.
Vừa nói hai anh em vừa cố giấu các buồn thảm của mình. Quả thực Rosh Pinna thất vọng ê chề. Đáng lẽ ra là các trại thịnh vượng như đã tưởng tượng, hai anh em chỉ thấy một ngôi làng khốn khổ gồm vài chục người Do Thái sống lùi xùi trong các điều kiện hầu như đáng thương, cũng như những dân Ả Rập ở Abou Yesha. Một trong những người Bilu nhận xét :
- Đôi khi tôi nghĩ rằng chúng tôi ở lại Nga có lẽ lại hơn. Ít nhất trong các ghetto, chúng ta sống với nhau, có sách vở, có thể bàn luận với bạn bè, và có đàn bà. Ở đây hoàn toàn không có những điều đó. Hoàn toàn là không.
Jossi nói :
- Tôi không hiểu. Tất cả những gì mà thiên hạ đã kể ở hội Thân hữu của Sion...
Người Bilu đó cười khẩy :
- Hẳn là thế rồi. Chúng tôi cũng thế, chúng tôi cũng đều đầy hy vọng và lý tưởng khi tới đây. Nhưng cái xứ này sẽ làm chúng ta mất hết ảo tưởng ngay. Các anh thấy rồi chứ? Xứ này bị tàn phá, mất hết chất dinh dưỡng, bị hủy hoại đến nỗi không còn cây gì có thể mọc lên nổi nữa. Và chút ít gì chúng tôi rút được từ đất cát ra đều bị tụi Bédouin ăn cắp ngay, và những gì tụi này quên không mang theo, thì tụi Thổ lại tới vét sạch. Ở địa vị, ở tuổi các anh, tôi sẽ đi thẳng ra Jaffa để lên chiếc tàu đầu tiên đi Mỹ châu.
Một người khác hùa theo :
- Tôi cũng sẽ làm thế. Ở đây, chúng tôi sống được là nhờ sự bố thí phước thiện, không có lòng hảo tâm của các họ Rothschild, Hirsch, Schuman [3], chúng tôi chắc sẽ chết đói.
Mất tinh thần, phân vân, hai anh em Rabinsky sáng hôm sau lại lên đường đi Safed, một trong bốn thành phố thánh của Do Thái giáo. Nằm trên đỉnh một quả đồi đẹp hình trụ, Safed chế ngự lối vào thung lũng Houleh. Jossi, hy vọng sẽ tìm thấy an ủi ở nơi này: mọi người đã nói với chàng là Safed có từ ba bốn thế hệ rồi, một cộng đồng Do Thái rất sùng đạo, để cả đời vào việc nghiên cứu Cabale, bản tuyển văn chép những lời diễn giải thần bí về Thánh Kinh. Nhưng Safed chỉ là một sự nhắc lại đau đớn hơn nữa nỗi thất vọng đã có ở Aosh Pinna: một vài trăm người cao tuổi, sống bằng của bố thí, quả bị thu hút vào những cuộc thảo luận vô ích để còn có thể lo tới việc làm phục sinh Nhà của Jacob. Một thành phố ngủ im, cô lập với thế gian, nghèo đói kinh khiếp.
Họ chỉ nghĩ có một ngày trước khi trèo lên ngọn Canaan. Mặc dù quang cảnh tuyệt vời nhìn từ đỉnh núi, Yakov mỗi lúc càng để niềm chua chát của mình tự nhiên bộc lộ. Trải qua bao nhiêu khổ đau, vượt qua bao nhiêu thử thách ngoài sức người, để rồi sau cùng tấp vào cái xứ khốn khổ này! Jossi trách em :
- Không nên ngã lòng như thế. Chú đừng quên là ngày mai chúng ta sẽ lên đường đi Jérusalem.
Jérusalem! Thành phố yêu dấu, kinh đô của David và của Salomon... Cái tên gọi thần thánh này làm Yakov lạc quan trở lại.
Nhưng than ôi, không lạc quan lâu! Càng tiến xuống phía nam, ngay cả đến Jossi cũng mất tin tưởng. Từ các bờ hồ Tibériade đến những cánh đồng mà xưa kia Saladin người Kurde đã chống lại các Thập tự quân, miền Đất Hứa chỉ là một chuỗi dài những đầm lầy hôi thối và cát khô cằn cỗi. Một ngàn năm đô hộ của Thổ và Ả Rập đã lột sạch các của cải tài sản miền này, đến độ đất đai trơ trụi mệt nhoài.
Hai anh em chỉ tìm lại hăng hái của mình ngày mà trên một ngọn đồi miền Judée, họ nhìn thấy điểm tới sau cùng của họ: Jérusalem! Trong khoảng một thời gian ngắn, những năm thiếu thốn và hiểm nguy xóa nhòa hết. Băng qua trên sườn đá sỏi, họ chạy qua Cửa Damas vào đô thị cổ có các tường thành bao quanh, họ đi sâu vào các đường hẻm ngoằn nghoèo đầy những cửa hàng bách hóa để đến giáo đường vĩ đại Hourva. Jossi nói nhỏ :
- Nếu bố chúng ta có mặt được ở đây với hai ta...
Yakov lên tiếng đọc :
- “Tay tôi sẽ mất khéo léo nếu ngày nào tôi quên Jérusalem...”
Từ giáo đường này, họ tiếp tục đi về chỗ giáo đường Hồi giáo Omar, nơi còn di tích duy nhất của đền Salomon là Bức Tường Than Khóc. Chỉ sau khi đã cầu nguyện ở nơi thành kính nhất này, hai anh em mới nghĩ tới việc kêu gọi lòng hảo tâm của những người Do Thái trong đô thị.
Lẽ ra họ chẳng nên mất công như vậy. Cộng đồng Jérusalem gồm toàn các Chasidim, các siêu chính thống Do Thái cuồng tín cắt nghĩa các lời dạy trong kinh thánh một cách chật hẹp và nghiêm khắc đến nỗi họ sống cuộc đời khép kín, không tiếp xúc với đời sống thực tại. Ngay cả ở bên Nga, các tín đồ phái này cũng sống cách biệt với các dân Do Thái khác trong ghetto.
Lần đầu tiên kể từ khi rời Jitomir, Yakov thấy một cánh cửa nhà Do Thái khép kín lại trước mắt họ. Các Chasidim của Jérusalem không hề cảm tình với các Bilu vì họ sợ các ý tưởng phạm thượng của các Thân hữu của Sion.
Bị coi là những kẻ lạ mặt xâm nhập ở ngay trên chính đất nước mình, hai anh em lại ra đi, hướng về Jaffa. Đây là một hải cảng rất cổ thường được xử dụng từ thời dân Phénicien cho tới giờ, cũng tỏ ra không khác gì Beyrouth, Alep hay Tripoli: cũng bẩn thỉu dơ dáy như thế, cũng con đường nhỏ hẹp, cũng các cảnh cũ kỹ hoang tàn. Nhưng dầu sao ở các vùng phụ cận, có một số cộng đồng Do Thái nhỏ, và ngay trong hải cảng có nhiều cơ sở thương mại Do Thái cùng một sở nhập nội. Chính qua sở này, Jossi và Yakov biết rõ đầu đuôi mọi sự.
Một câu chuyện não lòng! Tổng cộng trước sau chỉ có chừng năm ngàn Do Thái trong trấn Palestine thuộc đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Hơn nữa đa số những người này lại là (các triết gia) thu hình trong việc nghiên cứu kinh thánh và cầu nguyện, tập trung trong bốn thành phố thánh Safed, Jérusalem, Nébron và Tibériade. Các nông trại - chưa quá một chục - đều nghèo khổ, chỉ thoát được đi cái đói nhờ ở các trợ cấp của vài nhà hảo tâm tỷ phú nào đó. Lý tưởng ban đầu của các Bilu đã không chống trả được mấy với thử thách của thực tại. Tưởng tượng với sự phục sinh Nhà của Jacob khi ta còn ở trong một căn hầm thuộc Vùng là một chuyện - đối diện với sự đổ nát hoang tàn của một quốc gia bị người và thiên nhiên hủy hoại lại một chuyện khác. Hơn nữa, các Bilu không có một kinh nghiệm nào trong địa hạt canh nông. Các chuyên viên do các nhà hảo tâm Âu châu gửi về cho lại chỉ thỏa mãn với giải pháp dễ dàng nhất: xử dụng nhân công Ả Rập, hết sức rẻ, và giới hạn xuất cảng: ô liu, nho, bưởi, bòng. Đến nỗi rằng trong các nhóm Do Thái lập nghiệp ở xứ này, không có người Do Thái nào tự mình làm việc - không rờ đến cái cầy hay cái cuốc - và không nơi nào họ chịu thử nỗ lực đạt tới mức sản xuất quân bình.
Tình hình lại còn thê thảm hơn nữa là các người Ả Rập cùng các chủ của họ, người Thổ, [4] ăn cắp và tước đoạt tối đa tài sản của người Do Thái. Các tay ăn cướp lang thang người Bédouin coi những người Do Thái nhập nội như là các “con của thần chết” lý do vì họ không chịu tự bảo vệ bằng vũ khí. Chính quyền Thổ đánh thuế hoa mầu hết sức cao, và ngoài ra con tìm trăm phương ngàn kế cấm đoán đủ thứ.
Trong bức tranh tình hình thê thảm này, chỉ có một tia ánh sáng hy vọng duy nhất: sự hiện diện trong vùng Jaffa vài trăm người Do Thái trẻ, tương tự như hai anh em Rabinsky, đang cố gắng duy trì tinh thần của phong trào Bilu. Hết đêm nọ tới đêm kia, các chàng trai trẻ này thảo luận với nhau trong các quán cà phê Ả Rập. Nếu sự phục hồi Palestine hầu như là một công cuộc không thể làm được, ta vẫn còn có thể thực hiện được dần dần nhưng với một điều kiện duy nhất: một đợt đông đảo các người trẻ, khỏe mạnh, có tinh thần cầu tiến. Jossi ước đoán rằng đợt người nhập nội ấy sắp có trong một tương lai gần: tại Nga, các vụ Pogrom xảy ra mỗi lúc mỗi nhiều, càng ngày càng dữ dội, sát nhân hơn, và trong tất cả mọi ghetto trong vùng, giới trẻ đang xáo động. Con trai và con gái thuộc giới trẻ bắt đầu hiểu rõ rằng có những vấn đề mà cả kinh thánh lẫn kinh Talmud đều không thể giải quyết được.

Ngay khi tới Jaffa, Jossi đã viết thư cho rabbin Lipzine. Sau một năm mới có thư trả lời: mẹ của hai anh em đã chết vì buồn phiền.
Trong bốn hay năm năm sau đó, Yakov và Jossi tập làm người. Lúc thì họ làm việc như phu khuân hàng ở cảng Jaffa, lúc làm việc trong các nông trại Do Thái quanh vùng. Khi cộng đồng Jérusalem đã đông tràn ra ngoài, các tường thành của đô thị cổ, hai anh em đi làm thợ nề. Sống từng ngày một, hết làm nghề này đổi qua nghề khác, họ dần dần mất tiếp xúc với truyền thống thuần túy cùng tập tục sâu đậm tôn giáo của đời sống trong các ghetto. Đến nỗi rằng họ trở thành mẫu người điển hình cho một giòng giống Do Thái mới, trẻ, khỏe mạnh, hoạt động, ý thức mình được hưởng một thứ tự do mà không một người Do Thái nào trong Vùng được biết tới. Tuy thế họ còn lâu mới hài lòng: họ mơ tưởng đến một mục đích mà họ đã từng chiến đấu, và cũng mơ tưởng đến một liên hệ thực sự với những đồng bào còn ở lại bên Âu châu.
1891, 1892, 1893 - một số di dân nhập nội, một con số ít ỏi, nhưng kẻ cùng khốn chỉ có làm dài thêm danh sách phước thiện của nam tước Rothchild, nam tước Thirsch và của nhà tỷ phú Thụy Sĩ Schuman.
Yakov và Jossi không thể biết được rằng dòng đời của họ sắp sửa đổi theo một chiều nhất định và dứt khoát. Trong một phần đất khác của thế giới, các biến cố thê thảm và các nỗ lực bướng bỉnh đã đang nhào nặn số mệnh của quốc gia Do Thái tương lai.
-------------------------------------
[1] Maure: một sắc dân Ả Rập.
[2] Hachish: một thứ ma túy tương tự như cần sa ở Việt Nam.
[3] Những dòng họ Do Thái tài phiệt rất giàu ở Âu và Mỹ.
[4] Trong thời kỳ này, Palestine là một thuộc địa của Thỗ Nhĩ Kỳ.
0
Phần 2 - 5

Tại Pháp, các vụ bạo hành chống Do Thái thời Trung cổ từ lâu rồi chỉ còn là một hồi ức lịch sử. Cuộc Cách Mạng và bộ Luật Nã Phá Luân đã làm cho các người Do Thái Pháp trở thành các công dân hoàn toàn bình đẳng với các công dân Pháp trong mọi lãnh vực. Bây giờ, vào cuối thế kỷ XIX, từ niệm thù hận cổ xưa, chỉ còn một thứ bài Do Thái mơ hồ về phương diện xã hội, khó nhận biết, và hơn nữa, chỉ xảy ra giới hạn trong một số thành phần của quốc gia.
Đột nhiên, năm 1893, xảy ra vụ Dreyfus [1]. Và đây là lần đầu tiên từ bao nhiêu năm rồi, mọi người mới nghe thấy một đám đông khích động kêu lên tiếng hét thê thảm cổ xưa: “Hãy giết chết tụi Do Thái!”.
Trong những người mà tiếng hét trên làm rùng mình có ký giả thường trực của một trong những nhật báo thời danh, tờ Neue Freie Presse ở thành Vienne. Nếu ký giả đó, Theodor Herzl là Do Thái, thì cho tới giờ ông cũng ít để ý tới sự kiện ấy. Gốc Hung, được nuôi dạy ở Vienne và được Ba Lê chấp nhận làm người của mình, ông càng tin ở sự đồng hóa toàn diện những người Do Thái khi thấy chính mình cũng là một thí dụ rõ ràng. Là một người viết tiểu luận giỏi, viết kịch khá và cũng là ký giả có tiếng tăm, Herzl chú ý đến công việc của mình trước hết, sau đó chú trọng tới phụ nữ xinh đẹp, hết sức ít phụ thuộc vào tôn giáo cùng các đồng bào của mình.
Vừa vì nghề nghiệp đòi hỏi vừa vì tò mò mà ông tới dự kiến vào tháng giêng năm 1895 lễ giáng chức lột lon Dreyfus tổ chức trong vũ đình trường của Trường Võ bị. Trước khi bước chân qua cổng quân trường, chắc chắn ông không thể nghĩ mình sắp sống trong giây phút quyết định cả cuộc đời. Dầu vậy, khi nghe Dreyfus lên tuyệt vọng: “Tôi vô tội!” và đám đông hét lên tiếng kêu ghê khiếp: “Hãy giết tụi Do Thái!” ông biết là mình sẽ chàng bao giờ còn tìm thấy bình an trong tâm hồn nữa.
Trở về nhà, Theodor Herzl suy nghĩ. Nếu sự bài Do Thái dữ dội có thể đột nhiên bộc lộ trong một xứ vừa tự do, vừa khoan dung đến như nước Pháp, thì liệu có phải từ đó suy ra rằng vấn đề bài Do Thái là muôn thủa, hết thuốc chữa chăng? Ngoại trừ... cứ lật đi lật lại vấn đề mà nghĩ hoài, sau cùng Herzl ngừng lại ở giải pháp mà hàng ngàn người Do Thái trong tất cả các quốc gia khác trên thế giới đã nghĩ tới: duy chỉ có sự phục hồi quốc gia Do Thái mới có thể bảo đảm cho những người Do Thái rải rác trên thế giới tự do và bình đẳng thực sự. Họ cần có một phát ngôn viên đại diện, một chính phủ được các quốc gia khác công nhận và đủ khả năng làm mọi người kính trọng dân Do Thái.
Cuốn sách trong đó ông trình bày các ý tưởng của mình đã trở thành hiến chương của phong trào phục quốc Do Thái. Cuốn sách này mang tên Quốc gia Do Thái.
Có một lòng đam mê sáng suốt thúc đẩy, Herzl lao ngay vào hành động. Ông tìm thấy ủng hộ ở Ba Lê, Đức, Luân Đôn. Không những được sự ủng hộ từ đồng bào mà thôi, mà còn có nhiều nhân vật Ki-tô giáo yểm trợ nữa. Năm 1897, Ba Lê, nhóm họp một đại hội các trưởng cộng đồng Do Thái trên toàn thế giới. Quả là một hội nghị Do Thái giáo, đại hội đã bao gồm những kẻ ủng hộ giải pháp đồng hóa lẫn các Thân hữu của Sion, những người theo chính thống giáo lẫn những người theo chủ nghĩa xã hội. Mặc dù các dị biệt, tất cả những người này ràng buộc với nhau bằng một tình cảm chung: sự nổi dậy chống lại hai ngàn năm áp bức tàn bạo. Bản quyết nghị sau cùng của đại hội chủ trương việc tạo lập, ở xứ Israel, một quốc gia Do Thái, phương cách duy nhất để giải thoát người Do Thái tại tất cả các quốc gia.
Phong trào phục quốc Do Thái đã được phát sinh như thế mục đích là “thành lập một Quê Nhà ở Palestine, một quê nhà được quốc tế công pháp bảo vệ”.
Theodor Herzl ghi trong nhật ký của mình như sau: “Nếu tôi đi ra ngoài đường phố mà loan báo rằng tôi vừa đặt nền móng cho Quốc gia Do Thái, chắc tôi sẽ bị nhiều người chế riễu. Nhưng trong năm năm, hay có thể mười năm, tất cả mọi người sẽ công nhận quốc gia này”.
Bây giờ ông phải lo chuẩn bị căn bản chính trị, “Quê Nhà Do Thái” tương lai. Đối với ông trên đời không còn gì đáng kể ngoài dự án lớn này. Bỏ tài sản riêng ra tiêu, bỏ bê gia đình, tiêu hao sức khỏe, ông đi vào các thủ đô lớn, đến đâu ông cũng xin được tiếp kiến, các Quốc trưởng hay Thủ tướng để trình bày ý tưởng của mình. Ông thành công cả trong việc xin được Abd Ul-Hamid II cho gặp mặt, Abd Ul-Hamid II, “vị Sultan bị nguyền rủa” ấy, hoàng đế của Đế quốc Thổ đang tan rã. Sau một buổi mặc cả gay go, vị vua già thuận ban cho một lời hứa hẹn mơ hồ - Ngài sẽ cứu xét vấn đề một Quê nhà Do Thái ở Palestine - dĩ nhiên với điều kiện đổi lại bằng một trợ giúp, tài chính mà ngài đương hết sức cần. Sau đó Abd Ul-Hamid thử dùng những đề nghị của phong trào phục quốc Do Thái để kiếm ở nơi khác những trợ giúp nhiều thực chất hơn để rồi sau cùng gạt bỏ lời yêu cầu của Herzl. Thất vọng đầu tiên của cả một chuỗi dài những thất vọng sau đó...
Tuy thế, một vài năm sau Anh quốc biểu lộ ý muốn ủng hộ chính nghĩa phục quốc Do Thái thiết lập vững chắc ở Ai Cập và ở chừng nửa tá thiểu quốc khác ở Azabie, đã sẵn sàng tiếp thu và kế vị Đế quốc Thổ đang hấp hối, người Anh tìm sự ủng hộ của các tổ chức lớn để thể hiện các ước vọng riêng trong miền Trung Đông. Vì vậy người Anh đề nghị tặng cho phong trào phục quốc một phần bán đảo Sinai với lời ghi chú rằng miền này ở ngay cửa vào Palestine, và ngay sau khi Thổ Nhĩ Kỳ sụp đổ các cửa ấy sẽ mở ra. Nhưng dầu thế, đề án này vẫn mơ hồ, thiếu rõ ràng, còn về phía Heizl, ông bao giờ cũng hy vọng đạt được một sự chấp thuận trực tiếp cho Palestine, nên rút cục đề án ấy phải bỏ đi.
Trong những năm sau đó, các vụ Pogrom ở Đông Âu và Trung Âu vẫn không ngừng tiếp diễn. Hezl hiểu rằng nếu muốn mang lại một nơi tị nạn cho những người Do Thái sống sót, ông bắt buộc phải nhận một giải pháp tạm thời. Người Anh liền đề nghị mở một cộng đồng Do Thái trên lãnh thổ xứ Ouganda tại Trung Phi. Và Heizl đành buồn bã hứa sẽ đưa dự án này ra Đại hội Phục quốc Do Thái lần tới.
Vừa mới bắt đầu bàn luận, kế hoạch trên đã vấp phải sự chống đối mãnh liệt của phe phục quốc Nga. Đối với họ, chỉ có xứ Israel mới có thể là nơi của Quốc Do Thái tương lai. Ouganda? Kinh thánh cũng còn chẳng biết tới địa danh này!
Tuy thế hai mươi lăm năm bạo hành liên tục ở Nga và Ba Lan đã làm tăng dòng người di cư về Palestine. Năm 1900, chừng năm mươi ngàn Do Thái đã lập nghiệp ở Palestine, trước sự giận dữ của Abd Ul-Hamid vì vị này coi họ như là các đồng minh tiềm ẩn của Anh quốc. Nhưng bây giờ đã quá trễ để hãm phong trào di cư lại. Có một bộ chỉ huy đầu não tổ chức vững chắc ở Anh và một ngân hàng nhiều phương tiện mạnh mẽ, những người phục quốc xoay quanh dễ dàng sắc luật về nhập nội do vị Sultan ấy ban hành bằng cách mua chuộc sự a tòng của các viên chức Thổ tham nhũng thường xuyên. Tất cả những ai muốn vào Palestine trước sau rồi đều vào được.
Vì thế đợt sóng trở về Đất Thánh đầu tiên đã đập được vào bờ mong muốn.
Vào đầu thế kỷ 20, toàn thể Trung Đông sôi lên sùng sục, phong trào phục quốc Do Thái, sự thức tỉnh của chủ nghĩa quốc gia Ả Rập, sự suy tàn nhanh chóng của đế quốc Thổ; sức mạnh đang lên của Anh quốc, đều là những yếu tố có thể nổ như lò thuốc súng, trộn lẫn trong một lò nung nóng bỏng có thể nổ tung lên bất cứ lúc nào, Theodor Herzl không được dự khán sự thể hiện giấc mộng lớn lao của ông. Mòn mỏi vì làm việc quá sức, suy sụp vì thần kinh căng thẳng thường xuyên, ông chết đột ngột vì một cơn đau tim vào năm 44 tuổi, đúng mười năm sau ngày ông nghe thấy tiếng kêu thảm thiết của Dreyfus: “Tôi vô tội!”

Vào thời kỳ sống lại lần thứ nhất của phong trào phục quốc này, hai anh em Rabinsky đã là những kẻ cựu trào của Palestine: họ hoàn toàn biết rõ từng miền của xứ sở, đã làm hầu hết mọi nghề và không còn ảo tưởng nào nữa.
Nếu Yakov không giấu diếm niềm chua chát của mình, Jossi lại hãy còn thử kiếm tìm một sự hài lòng nào đó trong cuộc sống mới. Chàng thích thú tự do mình được hưởng, lúc nào cũng sẵn lòng mơ đến thung lũng Houleh ở phía trên Safed, vùng đất đầu tiên chàng đã được nhìn ngắm khi bước chân lần đầu vào đất Israel.
Đối với Yakov thì Thổ và Ả Rập cũng y như nhau. Đó đều là những kẻ thù vừa nguy hiểm vừa đáng khinh y hệt bọn cosaque và học sinh trung học Jitomir. Ở điểm này nữa Jossi cũng không đồng ý với em. Yakov lầu nhầu :
- Ồ, chắc chắn rồi, chắc là chúng ta có thể có được đất bằng các phương sách hợp pháp, bằng cách bỏ tiền đi mua đất rồi. Nhưng mà để làm gi? Chúng ta thiếu nhân công canh tác, chưa nói tới tụi Bédouin và tụi Thổ không bao giờ để chúng ta làm việc yên ổn cả.
- Chúng ta sẽ có đủ nhân công canh tác khi các vụ pogrom tàn sát dân ta hơn nữa. Còn bọn Thổ? Chú cũng biết ta mua được họ mà. Còn về dân Ả Rập, chúng ta phải học cách sống hòa thuận với họ, nghĩa là bắt đầu bằng cách tìm hiểu họ.
Yakow nhún vai :
- Tụi Ả Rập chỉ hiểu có một điều...
Chàng giơ nắm tay lên thật mạnh, đe dọa :
- ... cái này đây!
Jossi tiên đoán :
- Cái điệu chú rồi sẽ có ngày lên đoạn đầu đài thôi.
Vào đầu thế kỷ Yakov gia nhập một nhóm gồm mười lăm người trên khu, dự tính làm một cuộc phiêu lưu táo bạo: khai hoang một khoảng đất nằm dưới đáy thung lũng Jezreel, một vùng mà chưa có người Do Thái nào dám bước chân vào từ nhiều thế kỷ. Họ định thành lập một trung tâm thực tập nông nghiệp và một trại thí nghiệm. Việc lựa chọn địa điểm thật đáng ngạc nhiên: bị bao quanh bằng các làng Ả Rập, nông trại mới là miếng mồi ngon cho các dân Bédouin sẵn sàng giết hết tất cả chỉ để chiếm lấy một chiến lợi phẩm nhỏ bé.
Năm 1902, hội Fondation Schuman liên lạc với Rabinsky để đề nghị với chàng chức vụ người đi mua đất khai hoang. Sự am hiểu hoàn toàn xứ sở, lòng can trường đã chứng tỏ qua các vụ dám đi một mình vào các vùng hoàn toàn Ả Rập đã đưa chàng tới chức vụ mới này. Nói cho thực ra, Jossi chỉ có một tin tưởng hết sức tương đối ở tương lai các trại nông nghiệp. Sống nổi nhờ trợ cấp phước thiện, khai thác nhân công của các fellah [2] đối với chàng không phải là phương pháp tốt để đạt tới chỗ phục sinh Quốc gia Do Thái. Tuy vậy viễn ảnh được làm việc phục vụ cho sự định cư khai hoang đã thắng các e ngại đối kháng riêng đến nỗi sau cùng chàng đã nhận lời mời làm người đi mua đất chính cho Hội.
Các cấp điều khiển Fondation Schuman rất hài lòng về sự chọn lựa của mình. Jossi, ba mươi tuổi, to lớn, bắp thịt rắn chắc, với con ngựa giống Ả Rập đã hợp thành hình ảnh một centaure [3] đáng nể. Bộ râu đỏ của chàng nổi bật trên bộ quần áo Ả Rập trắng tinh. Nhiều băng đạn quàng chéo trên ngực, một ngọn roi da cài thắt lưng, chàng tiến vào vùng đồi Samarie, cánh đồng Sharon, sa mạc Galilée, tìm kiếm đất mới.
Từ đầu đến cuối xứ Palestine thời ấy, đa số đất đai ở trong tay chừng năm mươi gia đình thế lực, các effendis. Các đại địa chủ này lấy một hoa lợi ở các người cấy rẻ Ả Rập lên tới ba phần tư hoa mầu mà không hề tìm cách cải tiện đời sống khốn khổ của các tá điền. Dĩ nhiên là các effendis chỉ chịu bán - với giá cắt cổ - những đất đai xấu nhất, các khoảng đất sa mạc hay đầm lầy hôi thối. Theo họ nghĩ, vụ bán đất này lợi tới hai lần: vừa loại bỏ được những mảnh đất chưa bao giờ sản xuất được gì, vừa mang lại ngàn năm một thủa “vùng Do Thái”.
Trong những chuyến đi mua đất, Jossi sẵn lòng vượt qua trại Rosh Pinna, cơ sở sau cùng của Do Thái ở mạng bắc, để đến viếng Kammal, mouktar của làng Abou Yesha. Hai người trở thành bạn thân rất nhanh. Lớn hơn Jossi vài tuổi, Kammal quả thực là một người đặc biệt trong giới effendis ở Palestine. Trong khi đa số các địa chủ sống một cuộc đời ăn không ngồi rồi ở Beyrouth hay Caire, Kammal lại để hết thì giờ vào việc quản trị địa hạt của mình bao gồm làng và các đất đai chung quanh. Jossi được biết rằng chừng một chục năm trước đây, Kammal đã biết thế nào là một thảm kịch tình yêu thực sự. Vị hôn thê của chàng, con gái của một fellah nghèo khổ, đau mắt hột và Kammal sẵn lòng cho tất cả những gì mình có để nàng được một y sĩ chữa chạy. Nhưng bố chàng nhất định không chịu nghe những lời cầu khẩn van nài của chàng. Kammal giàu có để nuôi bốn thê mười thiếp sao? Vậy mà lại đi lãnh một con bé nhà quê tầm thường, lại còn ốm đau nữa? Đến nỗi cô gái, vì không được thuốc, trở thành mù rồi chết sau một thời gian, trước khi đến tuổi mười tám.
Thảm kịch này làm Kammal trở thành một kẻ thù của chính giai cấp mình. Bị xúc động đến nỗi cảm thấy trong lòng trổi dậy cả một lương tâm xã hội, Kammal lên đường đi Caire. không phải để sống một cuộc đời hưởng lạc dễ dãi, mà để học những phương pháp mới về canh tác, vệ sinh và y khoa. Sau cái chết của phụ thân, chàng trở về Abou Yesha, cương quyết mang lại một tối thiểu tiện nghi dễ thở cho dân làng mình.
Việc nhập nội của các di dân Do Thái là một hiện tượng làm cho chàng ngỡ ngàng. Chính để tìm hiểu ý nghĩa cùng hậu quả của hiện tượng này, Kammal đã nuôi dưỡng tình bạn với Jossi. Tuy thế, Jossi báo cho chàng biết ước muốn mua một khoảng đất bỏ hoang để thành lập một nông trại di dân, chàng đã trả lời một cách mơ hồ. Những ngươi Do Thái này làm chàng băn khoăn suy nghĩ. Liệu có thể sống chung với họ không, có thể tin ở họ không? Trong thâm tâm, chàng nghi ngờ lắm: hiển nhiên tất cả Do Thái không thể giống như Jossi Rabinsky - một con người xứng đáng để ta kính trọng. Vả lại Kammal không muốn làm effendi đầu tiên trong vùng bán đất cho di dân.

Năm 1905, cuộc cách mạng Nga, sau khi ầm ỉ từ nhiều năm đã bùng nổ... để rồi bị dẹp yên trong máu lửa. Vụ nổi dậy thất bại này làm phát động nhiều vụ pogrom mới, lần này kinh khủng đến nỗi cả thế giới phải kinh hoàng. Nhưng mặc dù sự tức giận của Léon Tolstoi, người đã đứng ra công khai kết án thái độ của Sa hoàng cùng chính phủ Nga, các đoàn Hắc Bạch binh, chuyên viên tàn sát người Do Thái được Mật vụ Nga che chở, vẫn tiếp tục các vụ càn quét giết người cho đến khi hàng trăm ngàn người Do Thái phải chạy trớn khỏi nước Nga. Đa số đó di cư sang Hoa Kỳ, chỉ một số nhỏ đi Palestine.
Số nhỏ người này tuy thế lại thuộc một thế hệ rất khác thế hệ những người di cư đầu tiên. Họ không hề chú ý đến thương mại và tiểu công nghệ. Trẻ tuổi, đã cứng cỏi vì những thử thách đã trải qua, thấm nhuần tư tưởng phục quốc, họ cương quyết làm việc cho sự phục sinh mlền đất cát.
Đợt di cư thứ hai vào miền Đất Thánh đã xảy ra trong hoàn cảnh như thế.
----------------------------------------
[1] Dreyfus: một sĩ quan Pháp gốc Do Thái bị kết án oan là cung cấp tin cho địch (Đức). Bị tước binh quyền và tù đầy Dreyfus vẫn tiếp tục kêu oan. Dư luận Pháp bênh vực Dreyfus gây ra một tình trạng xáo trộn và chia rẽ ở Pháp. Vụ án được mang ra xử lại và Dreyfus được trắng án, phục hồi danh dự và binh quyền.
[2] Fellah : tá điền và nông dân nghèo Ả Rập.
[3] Centaure: thân trên như người, thân dưới như ngựa, trong thần thoại cổ Hy Lạp.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-08 10:50:26casau>
Phần 2 - 6

Vừa mới lên bờ các người di cư đợt hai đã lên đường, thành từng nhóm nhỏ tới các đất đai mà các effendi đã bán lại cho Cơ quan trung ương của phong trào phục quốc. Khai hoang các đầm lầy trở thành khẩu hiệu nhật tụng. Đối với Yakov, bây giờ đương làm việc ở Séjérah một nông trại thí nghiệm mới trong đồng bằng Galilée, sự hăng hái của những kẻ tiên khởi đợt hai này quả thực là một kích thích tuyệt vời. Đến nỗi một ngày nọ chàng làm một chuyến đến Jaffa để trình bày với anh mình một dự án chàng mới nghĩ ra :
- Như anh biết đấy, tụi Bédouin làm một trò xăng-ta với các nông trường của chúng ta: hoặc là họ đánh chúng ta, hoặc chúng ta phải mướn họ làm vệ quân che chở cho chúng ta chống lại... chính tụi họ. Chúng vừa thử đem áp dụng phương pháp đó ở Séréjah: chúng đã đến thăm, cắt nghĩa cho biết tụi chúng sẽ làm những gì nếu chúng ta không chịu mướn họ bảo vệ. Nhưng ít nhất lần này, bọn tôi cười vào mũi tụi chúng. Chúng tôi đã tự sức bảo vệ lấy, và tôi phải nói thực rằng vào lúc đầu, tình hình bên chúng ta không thuận lợi mấy. Cho tới hôm mà chúng tôi tổ chức một vụ phục kích và giết được tên đầu đảng. Kể từ đó không thấy tụi chúng ló mặt nữa. Kết luận rõ như ban ngày: nếu chúng ta có thể bảo vệ một nông trường, chúng ta có thể bảo vệ tất cả các nông trường khác. Hậu quả là chúng tôi đã tổ chức các đoàn dân vệ lưu động, và chúng tôi mong anh sẽ đứng ra chỉ huy một đoàn đó.
Ngạc nhiên, nhưng bị quyến rũ vì dự án, Jossi một lần nữa lại thận trọng cố hữu :
- Chú hãy để cho tôi thì giờ suy nghĩ đã...
- Tôi không thấy có gì đáng để suy nghĩ cả.
- Chú chẳng bao giờ thay đổi cả, Yakov: đối với chú một vấn đề bao giờ cũng chỉ có hai mặt: trắng và đen. Trước hết tôi nghĩ rằng tụi Bédouin khó lòng chịu bỏ một nguồn lợi tức như vậy mà không chiến đấu. Kế đó, còn tụi Thổ nữa. Người Thổ chắc chắn sẽ chống lại chuyện chúng ta võ trang. Đoàn dân vệ của chú họa chăng chỉ được phép có các gậy gỗ, chầy vồ mà thôi.
- Dẹp các lý luận của anh đi! Anh có thuộc về phía chúng tôi không thì nói, có hay không?
- Tôi đã nói với chú là tôi phải nghĩ đã. Các nông dân của chúng ta có lẽ không muốn có các người bảo vệ như chú tưởng. Và điều làm tôi khó nghĩ nhất là.... nếu chúng ta đi lang thang khắp xứ này, và võ trang thật đầy đủ, thì thiên hạ có thể nghĩ ra là chính chúng ta muốn gây hấn.
Yakov giơ hai tay lên trời :
- Khi ta muốn bảo vệ tài sản ta thì ta phải gây hấn! Quả thực là sau hai mươi năm sống ở Palestine, anh vẫn lý luận như một tên Do Thái ở ghetto. Chắc anh thích khai hoang cái xứ này dưới sự che chở của các tay cắt gân người Ả Rập chắc! Này anh Jossi, có anh không có anh, các đoàn dân vệ cũng đang thành lập. Đơn vị mà chúng tôi đề nghị anh giữ quyền chỉ huy ấy sẽ lên đường ngay từ tuần sau để đến căn cứ.
- Căn cứ này ở đâu?
- Trên ngọn Canaan.
Jossi kìm giữ cho mình khỏi giật mình. Chàng liếm môi và cúi đầu để che giấu xúc động.
- Tôi nhắc lại với chú là tôi cần suy nghĩ đã.
Jossi quả thực suy nghĩ thật. Từ lâu nay, chàng đã chán việc đi mua đất cho Fondation Schuman, chán việc thiết lập các nông trại trông cậy vào lòng hảo tâm của tỷ phú Thụy Sĩ hơn là tin vào sức làm việc của mình. Ngoài ra, một nhóm Do Thái nhỏ võ trang, toàn những dân nóng tính như Yakov, dám gây ra nhiều rối loạn trong xứ - ngoại trừ khi họ được chỉ huy bởi một người điềm đạm đúng mực như chàng. Nhưng chàng làm thế nào chống lại sự thèm muốn được sống trong vùng núi Canaan, gần thung lũng Houleh nơi mà chàng luôn luôn mơ ước tới.
Vậy Jossi đành từ chức khỏi Fondation Schuman để gia nhập toán quân vừa tới ngọn Canaan. Nhiệm vụ của hashomer (người bảo vệ) là coi sóc một vòng tròn rộng lớn lấy ngọn núi này làm tâm điểm, bao phủ cả vùng Rosh Pinna phía bắc tới tận thung lũng Genossar, dọc theo hồ Tibériade ở phía nam. Khi tổ chức những toán tuần tiễu, Jossi ý thức rằng các vụ đụng độ chắc sẽ xảy ra đến nơi. Ngay sau khi các Bédouin nhận thấy mình bị mất nguồn lợi lộc ấy, chúng sẽ tấn công. Một lần nữa, Jossi lại suy nghĩ. Sau vài giờ, chàng đã nghĩ ra một kế hoạch có thể ngăn ngừa được tất cả các đụng độ rắc rối. Bộ lạc nguy hiểm nhất trong vùng là bộ lạc có tay Suliman đứng đầu, một tay cướp lão luyện và cũng là dân buôn lậu nữa, sào huyệt của chúng thường đặt trong vùng đồi mạn trên Abou Yesha. Cho tới giờ, để đổi lại “sự bảo vệ”, Suliman lấy một phần tư hoa mầu của Rosh Pinna. Hai mười giờ sau khi tới trại - trước khi quân Ả Rập có thể biết có sự hiện diện của các vệ quân Do Thái - Jossi ra đi một mình, không vũ khí, tìm nơi cắm trại của Suliman.
Chàng chỉ tìm ra vào lúc hoàng hôn - chừng năm mươi chiếc lều bằng da dê rải rác trên sườn của một quả đồi mặt trời thiêu cháy. Sự xuất hiện của kẻ lạ mặt to lớn râu đỏ này gây ra một sự kinh hoảng. Đàn bà con gái, mặc đồ đen mỏng, mặt che bằng một màng làm bằng những đồng tiền xâu vào nhau, vội vàng chạy tìm chỗ trú. Từ phía giữa trại, một người da đen, chắc gốc Soudan, tiến về phía khách, tự giới thiệu như là nô lệ riêng của Suliman rồi đưa khách về chiếc lều lớn nhất.
Khi Jossi đặt chân xuống đất, tên cướp già bước ra tiếp. Mặc toàn đen, hai dao găm tuyệt đẹp cài thắt lưng, Suliman chột một mắt, mặt đầy những vết thẹo chứng tỏ các trận đấu chống những người trang bị dao hay lao, hoặc những phụ nữ có móng tay nhọn. Người dân Do Thái và người dân Bédouin nghinh nhau một lúc, rồi Suliman nghiêng người kính mời Jossi vào lều.
Ngồi trên các gối và chăn trải trên đất, trong lễ nửa giờ đồng hồ họ chỉ trao đổi nhau những câu nói phép và những chuyện tầm phào, vừa ăn trái cây và uống cà phê do người nô lệ mang lại, hoặc hút một thứ điếu cầy đặt giữa hai người. Sau đó, một tiếng đồng hồ, họ thưởng thức bữa cơm: cơm hầm, dái cừu chiên, dưa. Rõ ràng là Suliman đang cố gắng đánh giá trị ông khách: anh chàng lực sĩ này chắc chắn không là một dân Do Thái tầm thường đến đây vì một vụ không quan trọng. Sau cùng Suliman quyết định hỏi khách về lý do thăm viếng. Jossi báo cho chủ nhân biết rằng kể từ giờ dân vệ Do Thái sẽ tự lo lấy việc bảo vệ nông trường Rosh Pinna, cùng gởi lời cảm ơn Suliman đã bảo vệ chung thủy trước đây. Suliman tiếp nhận tin này không hề nháy con mắt duy nhất còn lại, và khi Jossi đưa tay ra để giao hảo bằng hữu, Suliman mỉm cười và xiết chặt bàn tay phải của khách.
Đến khuya, Jossi mới trở về trại Rosh Pinna và ngay lập tức triệu tập tất cả các dân trại tới họp. Chàng đã không lầm: việc loan báo thành lập các vệ quân được mọi người đón tiếp bằng những tiếng kêu sợ hãi. Tất cả đều tin rằng ngay khi nào có dịp, Suliman sẽ cắt cổ họ hết. Jossi phải hứa sẽ ở lại nông trại, họ mới yên lòng.
Ở cuối phòng, một thiếu nữ đã nghe và nhìn chàng chăm chú đam mê. Nàng là Sarah và vừa từ một thành phố nhỏ ở miền Silésie bên Ba Lan về đây. Jossi càng to lớn bao nhiêu thì nàng càng mảnh mai nhỏ bé bấy nhiêu, râu chàng càng đỏ hung bao nhiêu thì tóc nàng càng đen huyền bấy nhiêu. Buổi họp bế mạc, nàng như tình cờ đứng gần chàng. Chàng hỏi :
- Cô mới tới nơi này?
- Vâng.
- Tên tôi là Jossi Rabinsky...
- Tất cả mọi người đều đã được nghe nói về anh.
Đêm đó, hai người không đi xa hơn thế trong chuyện tình.
Jossi kéo dài thời gian lưu lại trại này tới một tuần. Chàng tin chắc thể nào Suliman cũng ra tay, nhưng chàng cũng biết lão Bédouin này khá mưu mô để biết chờ đợi thời cơ thuận tiện. Dẫu thế nào Jossi cũng không sốt ruột: tâm tư chàng mỗi lúc một tập trung vào Sarah. Nhưng sự hiện diện của thiếu nữ làm chàng đâm ra rụt rè và ít nói; nàng càng tỏ ra tinh nghịch, chọc ghẹo chàng bao nhiêu, chàng càng thu mình trong vỏ ốc bấy nhiêu. Tất cả dân cư trong nông trại đều biết Jossi Rabinsky đã yêu Sarah rồi, tất cả, trừ chính đương sự.
Ngày thứ tám, vào lúc nửa đêm, chừng chục người Ả Rập lẻn vào Rosh Pinna mang đi mấy trăm ký thóc. Jossi, đang phiên canh, thấy bọn chúng tới, lẻn vào vựa thóc rồi lại bỏ ra. Chàng có thể bắt quả tang nhưng cố dằn lại: đối với dân Bédouin, ăn cắp chỉ là một khinh tội mà thôi. Chàng có một kế hoạch hay hơn.
Sáng ngày hôm sau chàng nhảy lên ngựa làm một chuyến thăm viếng trại Suliman lần thứ hai. Lần chàng trang bị... ngọn roi da bò. Phóng nước đại, chàng tới thẳng lều của tướng cướp. Tên nô lệ người Soudan bước ra, cười ngọt ngào mời chàng vào. Bằng một cái bạt tai, Jossi đánh hắn ngã lăn ra đất. Chàng la lớn bằng giọng mạnh mẽ của mình :
- Suliman! Suliman mi hãy thò mặt ra đây!
Liếc mắt, chàng thấy khoảng mười tên Ả Rập không biết từ đâu xuất hiện, súng cầm tay, vẻ mặt ngạc nhiên lộ rõ.
- Ohé, Suliman! Mi trốn ở đâu?
Viên tù trưởng tiến ra một cách chậm chạp cố ý. Nắm tay lại đặt lên hông, môi nhíu lại trong một nụ cười đe dọa, lão dừng lại trước mặt khách chừng ba thước hỏi thủ hạ chung quanh :
- Không biết con dê ốm nào nó kêu be he quanh lều ta vậy cà?
Càc dân Bédouin cười phá lên. Jossi lờ họ đi để coi chừng từng cử chỉ của tên cướp già.
- Con dê ốm ấy tên là Jossi Rabinsky và nó tuyên bố rằng Suliman là một tên ăn cắp, lại thêm nói dối nữa.
Nụ cười trên môi Suliman biến thành cười khẩy. Xúm quanh thành nửa vòng tròn, các Bédouin sẵn sàng nhảy xổ ngay vào kẻ lạ kia ngay khi nào có hiệu lệnh của chủ tướng. Jossi nói tiếp, khinh bỉ :
- Mi còn chờ đợi gì nữa. Tại sao mi không kêu gọi tới các thuộc hạ trẻ tuổi của mi đi? Ta thấy rõ là danh dự của mi không bằng một con heo, can đảm của mi không hơn can đảm của đàn bà.
Không can đảm hơn đàn bà... lời chửi rủa độc địa nhất đối với một người Ả Rập... Ngoại trừ khi chịu mất mặt, Suliman phải chấp nhận lời thách thức của địch thủ. Lão hét lên, hai nắm tay đưa ra :
- Mẹ mày là đồ chó cái dơ dáy nhất thế giới!
- Nói tiếp đi, mụ già... tiếp tục lèm bèm đi.
Bị xúc phạm danh dự, Suliman rút một con dao găm bạc ra, hét lên một tiếng man rợ, lao về phía người khổng lồ đã khiêu khích lão.
Ngay lúc đó ngọn roi da vút lên... Ngay lập tức, Jossi lao tới sợi dây quấn chung quanh cổ chân lão Ả Rập, kéo bổng lên trời, ném ngã sấp xuống đất. Ngọn roi quất vào lưng Suliman mạnh đến nỗi tiếng đập vang dội vào các quả đồi chung quanh.
Đến ngọn roi thứ năm, tên cướp già xin hàng, kêu lên :
- Chúng ta là anh em! Chúng ta tất cả đều là anh em.
Jossi lùi lại một bước, nói :
- Suliman, cách đây một tuần, mi đã xiết tay ta để bảo đảm danh dự và bằng hữu với nhau. Thế mà lời nói này, mi đã không giữ. Ta long trọng báo cho mi biết: nếu mi, hay một thủ hạ của mi, còn đặt một chân lên các cánh đồng thôi, ta sẽ cắt mi ra từng mảnh bằng cái roi này, vứt xác cho chó rừng ăn.
Chàng quay lại đối diện với các Bédouin đang sững sờ. Không một kẻ nào có đủ can đảm nhúc nhích. Chưa bao giờ chúng trông thấy một người mạnh đến thế, táo bạo đến thế và giận dữ đến như vậy. Không thèm để ý đến mũi súng đe dọa, Jossi nhảy lên ngựa ra đi.
Bài học đã có hiệu lực: Suliman không bao giờ dám đụng tới các đồng ruộng của người Do Thái nữa.
Sáng ngày hôm sau, khi Jossi sắp sửa lên đường với toán quân của mình trên sườn ngọn Canaan, Sarah hỏi khi nào chàng định trở lại. Đỏ mặt, Jossi lúng túng nói một cái gì đại khái như: “Mỗi tháng một lần... gần như... cứ bốn hay năm tuần...”. Rồi chàng vội vã chào nàng, thúc ngựa ra đi. Vừa nhìn theo chàng, Sarah có cảm tưởng tim nàng sắp nổ vỡ tan tành. Không có một đàn ông nào trên thế gian bằng được người đó, không ai bằng đến gót chân chàng - dù kẻ đó là Do Thái, Ả Rập, Cosaque hay vua chúa đi nữa! Để cả đời, nàng cũng thấy chưa đủ để yêu và thán phục chàng!
Trong một năm liền, đứng đầu đoàn vệ quân, Jossi đã thành công việc mang lại bình an cho toàn vùng quanh núi Canaan. Đời sống của chàng không quá vui, cũng chẳng quá buồn. Nhưng trong các chuyến đi quanh vùng, chàng ưa thích nhất khúc phía bắc: chính ở phía bắc là nơi ông bạn Kammal ở, nơi có ngọn đồi từ đó nhìn xuống thung lũng Houleh. Chính cũng về phía bắc là nơi có Rosh Pinna, có Sarah, thiếu nữ xinh xắn, mắt đen lớn mà hình ảnh thường xuất hiện trong các giấc mơ của chàng. Khi chàng tiến vào nông trại này, chàng vươn mình ngồi thẳng trên yên, thúc cho ngựa chồm lên vì chàng biết có Sarah đang nhìn. Nhưng mỗi khi đứng trước mặt nàng, vẻ tự tin đẹp đẽ của chàng tan biến đi đâu mất hết, thay thế bằng một sự nhút nhát đến khôi hài.
Về phía Sarah, nàng phân vân. Tất cả cố gắng nàng đã thử làm để phá vỡ cái vỏ chàng đang thu mình vào đều không đi đến đâu. Ở Âu châu, trong thành phố nàng sinh sống, mọi sự sẽ rất giản dị: một người mối chuyên nghiệp, một nhân vật quan trọng trong ghetto, sẽ tới thăm phụ thân Jossi, và mọi sự sẽ ổn thỏa. Còn ở đây, Rosh Pinna, không có người mối mang gì cả, và cũng không có cả vị rabbin nữa.
Tình trạng như thế kéo dài hơn một năm cho tới một hôm, sau hết Jossi đã tìm thấy đủ can đảm, không phải để thổ lộ tình yêu - điều mà chàng không hề dám nghĩ tới - để tiến được lên một bước: vừa tới Rosh Pinna, Jossi đã hỏi xem nàng có muốn đi cùng chàng lên thung lũng Houleh ở phía bắc nông trại không. Sarad không đợi chàng mờ tới lần thứ nhì. Cưỡi ngựa song song nhau, họ vượt qua Abou Yesha, tiến vào vùng đồi. Con đường mòn ngừng lại ở một mỏm đồi, Jossi biết rất rõ. Chàng nói nhỏ :
- Tôi đã vào xứ Palestine qua đúng chỗ này đây, lâu rồi.
Đối với Sarah, vài lời nói ấy là quá đủ. Khi nhìn chàng đứng ngắm thung lũng, nàng hiểu chàng yêu miền đất này đến như thế nào. Im lặng, họ nhìn cảnh vật bao la. Một đôi lứa bề ngoài thật là khác nhau: một chàng trai vĩ đại, vẻ ngoài dữ tợn, một cô gái mảnh mai chỉ cao chưa tới nửa ngực chàng.
Đột nhiên Sarah cảm thấy một tình tự nồng nhiệt như thúc đẩy nàng về phía Jossi. Bởi vì chàng chỉ tìm thấy mỗi cảnh này thôi để bày tỏ với nàng ước mong quý giá nhất... Sarah thì thào:
- Anh Jossi, Jossi Rabinsky, anh có nhận... ô, xin anh... anh có nhận lấy em làm vợ anh?
Chàng phải hắng giọng trước khi bập bẹ thốt ra lời :
- À... tôi... em... lạ thật! Tôi cũng đang định hỏi em điều đó....

Chưa bao giờ, trong khắp xứ Palestine người ta được thấy một đám cưới như vậy. Các quan khách từ các miền xa nhất của Galilée đến, và có những người tới từ Jaffa, mặc dù xa cách đó tới hai ngày đường. Yakov đến cùng đoàn vệ quân, các người khẩn hoang ở Rosh Pinna đến cùng nhiều effendi người Thổ, Kammal đến đã đành mà ngay cả lão già Suliman khốn kiếp ấy cũng tới nữa. Cả một đám đông quan khách chứng kiến cô dâu chú rể tiến vào dưới chiếc lọng lớn, trao đổi các lời kết ước và uống rượu thánh. Có đủ thức ăn đẩ cho cả một đạo quân, các vũ điệu, bài ca, tiếng cười kéo dài tới một tuần lễ.
Sau khi người quan khách cuối cùng đã ra về, Jossiđưa Sarah về lều của hai người trên sườn núi Canaan.
Tuần trăng mật của họ ngắn ngủi. Tổ chức trung ương của phong trào phục quốc kêu gọi Jossi gấp để điều khiển ở Jaffa một cơ sở cố vấn cho các di dân nào muốn lập nghiệp ở miền quê. Thẩm quyền chàng có trong địa hạt này cùng sự am hiểu hoàn toàn xứ sở làm chàng hoàn toàn thích hợp với nhiệm vụ này.
Một thời gian sau, năm 1909, mọi người tham khảo chàng về một vụ hết sức quan trọng. Cộng đồng Do Thái ở Jaffa lớn mạnh đều đều và mọi người muốn có các nhà ở tiện nghi hơn, các điều kiện sinh hoạt phù hợp với vệ sinh cùng các hoạt động văn hóa.
- Những tiện nghi mà thành phố Ả Rập cũ không thể mang lại được. Jossi là một trong những người đề xướng và thực hiện kế hoạch mua một dải đất phía bắc Jaffa, một nơi nhiều cát và chỉ có một vài trại cam nhỏ.
Chính từ nơi này đã nảy sinh thành phố đầu tiên hoàn toàn là Do Thái kể từ hai ngàn năm nay. Mọi người đã tìm ra tên đặt cho đô thị này: Đồi Xuân, gọi theo tiếng hébreu là: Tel-Aviv [1].
------------------------------------
[1] Nay là thủ đô của quốc gia Israel.

0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-07-08 10:49:04casau>
Phần 2 - 7
 
Việc thất bạl hoàn toàn của các nông trường đã tạo ra một tình trạng thê thảm. Mặc dù sự nhập nội các người trẻ và lòng hăng hái gia tăng đáng kể, xứ này vẫn chưa ra khỏi được tình trạng điêu tàn mà hai em Rabinsky đã thấy cách đây hai mươi năm.
Đã từ lâu rồi, Jossi cùng vài chiến hữu đã ý thức được cụ thể ra, không thể nào khai thác tốt các trại cá nhân được. Các khó khăn rất nhiều: vấn đề an ninh vấn đề dốt nát của người Do Thái trong địa hạt canh tác, và nhất là tình trạng của đất đai đã bị bỏ hoang từ thế kỷ.
Hiển nhiên vấn đề bây giờ phải làm sao thoát ra được tình trạng hỗn loạn ấy: nghĩa là phải thành lập các làng mà dân đinh tự mình canh tác lấy, lập chế độ trồng tỉa đa loại để có thể tự túc về thực phẩm, và đủ khả năng bảo vệ chính mình bằng các phương tiện cố hữu. Hậu quả là tổ chức phục quốc Do Thái phải là sở hữu chủ của tất cả đất đai, và chỉ cho phép lập nghiệp những ai cam kết sẽ tự mình canh tác lấy, vậy không được mướn nhân công Do Thái hay Ả Rập.
May mắn thay một số di dân trong đợt hai lại sẵn sàng làm việc cho sự khẩn hoang xứ sở, không tìm bất cứ một lợi lộc cá nhân nào. Một quan niệm báo hiệu trước sự thành lập của các nông trường tập thể về sau cùng. Ưu điểm đáng nhấn mạnh là: các trại tập thể đó không hề là hậu quả của một ý thức hệ hay một cương lĩnh xã hội nào mà chỉ là kết quả của một nỗ lực sáng suốt để cứu vãn công cuộc phục quốc. Phương cách duy nhất để sống còn trong một xứ đang hấp hối.
Bây giờ, cần phải thí nghiệm. Năm 1909, tổ chức Trung ương phục quốc đã mua một vùng đất rộng ở phía nam Tiberiade, chỗ cửa sông Jomdrin chảy vào biển Galilée. Một ít cát với rất nhiều đầm lầy. Mọi người chỉ định hai mươi thanh niên và thanh nữ lo việc khai hoang, cấp cho ngân khoản và thực phẩm một năm, cùng đồ trang bị và tiền mặt. Jossi đi cùng với họ, giúp họ cắm lều dọc theo các đầm. Nông trường tương lai này sẽ mang tên là Shoshanne (sậy) để kỷ niệm loại cây đã tạo thành cả một khu rừng ven các hồ.
Họ khởi đầu bằng cách xây cất ba nhà lớn: một dùng làm nhà ăn, một dùng làm kho, và một dùng làm phòng ngủ cho mười sáu đàn ông và bốn phụ nữ.
Trong mùa đông thứ nhất, các tòa nhà bị bão rung chuyển, bị lụt soi mòn, đã sụp đổ cả chục lần. Các đường lộ biến thành các con sông bùn nên họ bị cô lập với thế giới bên ngoài nhiều tuần lễ liền. Sau cùng, các người khai hoang phải rút vào một làng Ả Rập trú ẩn đợi mùa trở lại.
Đến mùa xuân, họ có thể bắt đầu làm việc. Công cuộc khai hoang có vẻ như vượt ngoài sức con người: phải đẩy lùi các đầm lầy từng bước một. Mọi người trồng hàng trăm cây khuynh diệp Úc để chúng hút cho khô nước ướt sũng, phải đào bằng sẻng các mương dẫn thủy. Đàn ông và đàn bà làm việc quần quật từ rạng đông cho tới khi trời tối, và thường thường thì một phần ba tổng số phải nằm liệt giường vì sốt rét. Để chống lại, họ dùng phương pháp Ả Rập (họ chẳng còn biết phương pháp nào khác): trích máu ở hai trái tai. Dưới ánh mặt trời khắc nghiệt về mùa hè, họ còng lưng xuống bùn ngập tới ngang lưng hôi thối mà làm việc.
Sau hai năm, họ đã có thể tự hào về thành quả đầu tiên: Một vài khoảng đất - ta chưa có thể gọi là cánh đồng - đã được làm cho khá khô nước. Bây giờ, các con lừa phải kéo những tảng đá đi trong khi các đàn ông đốn cây và cắt các bụi rậm. Vài tháng nữa là có thể nghĩ đến, việc gieo hạt. Giây phút gay go đã tới: hầu hết mọi người trong nhóm chưa biết phải trồng gì và trồng ra làm sao. Họ đều phải vất vả lắm mới phân biệt được một con gà mái với một con gà trống. Họ đành phải thử vậy, và vì lầm lẫn, họ thường thu hoạch được những hoa mầu làm họ chưng hửng ngạc nhiên. Họ không biết gieo hạt cũng như không biết bừa cho thẳng hàng, họ chưa từng bao giờ vắt sữa một con bò hay trồng một cái cây. Đối với họ, đất là cả một bí mật vĩ đại.
Dầu vậy họ phải giải quyết cả ngàn vấn đề canh tác với tinh thần quyết thắng như khi họ tìm cách chiến thắng các đầm lầy. Sau khi dẫn thủy xong các nước tù, bây giờ phải lo dẫn thủy nhập điền. Lúc đầu, họ chuyển nước từ sông vào bằng lừa. Rồi họ làm một thí nghiệm không mấy thành công với một máy đập nước kiểu Ả Rập, rồi kế đó, họ đào các giếng. Sau cùng, họ mở các hố điều thủy và xây cất cả một hệ thống đập để giữ nước mùa đông tràn xuống.
Dần dần, đất không còn là bí mật đối với họ nữa. Trong những chuyến thăm viếng xảy ra khá thường, Jossi hết sức thán phục lòng can trường của những kẻ khẩn hoang ở Shoshanna. Những thanh niên thanh nữ này chỉ có những gì họ mang trên người, và ngay cả những áo và quần bằng vải thô ấy cũng thuộc về cộng đồng trại. Thực phẩm của họ giản dị khắc khổ, và nơi ngủ của họ chỉ là căn nhà vách ván bào không kỹ. Nhưng họ thì có một tinh thần sắt thép.
Từ các vùng chung quanh, Ả Rập và Bédouin quan sát những tiến triển chậm chạp của nông trại với các cặp mắt không thể tin nổi. Khi các Bédouin nhận thấy diện tích đất đai canh tác đã được tới mức hai trăm hectare, chúng quyết định sua đuổi những người Do Thái đi.
Kể từ ngày đó, các người khai hoang chỉ có thể làm việc bên ngoài dưới sự che chở của vũ khí. Ngoài vấn đề bệnh tật và lao lực, lại còn thêm vấn đề muôn thủa là an ninh nữa. Đàn ông, đàn bà, sau một ngày làm việc ngoài đồng lại còn đành phải thay phiên nhau gác suốt đêm nữa. Mặc dù cô lập, họ tiếp tục bám chắc, mặc dù sự ngu dốt căm thù cùng các đe dọa của người Ả Rập, mặc dù sức nóng giết người, sốt rét, và cả mười thứ thiên tai thảm họa khác nữa, họ vẫn bám chắc lấy Shoshanna.

Rồi tới một ngày đó, họ tới nông trại thấy hai người mới tình nguyện gia nhập nữa. Một người là Yakov Rabinsky, một người là Joseph Trumpledor, cựu sĩ quan của quân đội Nga hoàng, anh hùng của trận Nga Nhật đại chiến - trong trận đó ông đã cụt một tay. Chính vì tiếng kêu gọi của chủ nghĩa phục quốc Do Thái đã đưa ông tới Palestine, và gương hy sinh vì lý tưởng đã đưa ông tới Shoshanna. Nhờ ở dự trả đũa có tổ chức của hai tay chuyên viên đập lộn này, các vụ đột kích của dân Bédouin giảm dần rồi sau cùng hết hẳn.
Tuy vậy đời sống cộng đồng đặt ra nhiều vấn đề hơn là các tay khai hoang đã tưởng. Nguyên tắc cai trị dân chủ khó hòa hợp được với tinh thần độc lập truyền thống của người Do Thái cùng lòng khoái bàn cãi quá mức của họ. Sự phân công, các vấn đề vệ sinh, giáo dục đều là các khó khăn phải giải quyết cả. Chưa kể đến các xích mích cá nhân không thể tránh được trong một lối sống chung chật chội suốt ngày.
Nhưng dẫu thế nào dân ở Shoshanna cũng có được một điểm chung: thù ghét tất cả những cái gì xưa kia có thể làm cho họ thành dân Do Thái ghetto. Bởi vì họ đã khổ công để xây dựng một tổ quốc mới, họ còn ngại gì mà không phá hủy, nhổ sạch, bôi xóa đến tận kỷ niệm về thời kỳ thê thảm ghê khiếp ấy. Đến nỗi rằng Shoshanna có một nền đạo đức riêng, luật lệ riêng. Kể từ giờ hôn nhân sẽ thành hình - hoặc tiêu hủy - tùy theo sự thỏa thuận của hai vợ chồng. Các tục lệ cổ xưa trước đây đã gây ra bao chướng ngại cho cuộc đời, đều bị hủy bỏ trong mọi địa hạt. Chính vì thế, từ lòng khiếp sợ đàn áp kinh niên và lòng ao ước tự do, đã nảy sinh ra một giai cấp mới, một giai cấp nông dân Do Thái ý thức rõ và kiêu ngạo về giá trị của mình. Họ ăn mặc như nông dân, nhảy điệu hora quanh ánh lửa trại. Họ chẳng trở về với đất để làm cao quý nghề nông hay sao? Chưa chi những luống hoa, những cây cảnh, những bãi cỏ đã xuất hiện chung quanh những căn nhà nhỏ cho các cặp vợ chồng, thành lập một thư viện, và mướn y sĩ tới tận nhà.
Chính giữa các hoạt động có trật tự ấy đã bùng ra cuộc nổi dậy của phụ nữ. Của một phụ nữ là đúng hơn. Ruth một cô gái khỏe mạnh nhất và xấu nhất trong bốn người con gái khai hoang. Một cô gái có miệng lưỡi rất sắc, và nàng đã xử dụng đến nó để tuyên bố trong các buổi họp của cộng đồng là các phụ nữ không lao đầu vào cuộc phiêu lưu di cư ấy để rồi lại trở thành tôi tớ cho đàn ông. Hăng hái, khéo léo, Ruth đã thành công trong việc làm giảm bớt những cấm đoán ngày xưa, đến nỗi rằng sau vài tháng, tất cả phụ nữ đều tham dự vào tất cả mọi công việc, kể cả việc cày bừa. Đòi hỏi trách nhiệm, họ độc chiếm chuồng gà vịt và vườn rau, học xử dụng súng và nhận phiên gác đêm.
Tuy thế, Ruth chẳng những không bằng lòng với các chiến thắng như thế, nàng còn nuôi những tham vọng lớn hơn. Mục tiêu lớn của nàng là kiểm soát năm con bò sữa, thành phần gia súc chính của trại. Nhưng lần này, đàn ông nhất định không chịu thua. Mấy cô này hẳn đã tiến xa quá lố rồi! Yakov, kẻ hăng hái xông xáo nhất trong giới đàn ông, được cử ra để thuyết phục Ruth nên biết điều. Nàng phải biết bò cái là một con vật nguy hiểm không thể trao phó cho nữ nhi yếu liễu đào tơ chứ! Chưa kể sự kiện đàn gia súc này là niềm kiêu hãnh của nông trường, của cải quý nhất của nông trường, tất nhiên việc coi sóc đương nhiên phải thuộc về các chủ nhân mà Thượng đế đã sáng tạo ra là... đàn ông.
Trước sự ngạc nhiên của toàn thể, Ruth nhượng bộ dễ dàng. Trong một tháng liền, nàng tránh bàn cãi vấn đề tế nhị này. Ngược lại, nàng lợi dụng tất cả mọi cơ hội để chạy đến làng Ả Rập gần nhất để học hỏi nghệ thuật vắt sữa. Và trong những lúc nhàn rỗi hiếm hoi, nàng nghiến ngấu đọc tất cả những sách báo về kỹ thuật sữa mà nàng tìm thấy ở thư viện.
Một buổi sáng nọ, Yakov khi đi tuần tiễu về, không hiểu sao lại nghĩ tới chuyện liếc vào chuồng bò một cái. Điều này chàng bắt gặp quả tang Ruth đang vắt sữa Jézabel, con bò cái đẹp khỏe nhất trong năm con!
Ngay ngày hôm đó, một phiên họp đặc biệt được triệu tập để xử vụ bất phục tùng của thiếu nữ. Như ta có thể đoán được, lời kết án bị nàng “quạt” bay đi hết. Trang bị những bảng so sánh và các biểu đồ, nàng đã chứng tỏ hai năm rõ mười là nàng đang làm gia tăng mức sản xuất sữa. Dĩ nhiên là muốn đạt được gia tăng ấy, mà các đàn ông rõ ràng và hoàn toàn là không có khả năng. Nàng nói nhiều và nói hay đến nỗi các đàn ông sau hóa ngượng nghịu và ăn năn, để rồi sau cùng chính thức trao phó luôn cho nàng coi sóc đàn gia súc.
Đàn ông không bao giờ hối tiếc về quyết định này hết. Vài năm sau, Ruth, đứng đầu một đàn bò một trăm hai mươi lăm con, đã được vào loại những tay chăn nuôi giỏi nhất Palestine.
Đã xảy đến cái gì phải xảy đến: Ruth và Yakov lấy lấy nhau. Tất cả mọi người đều tán đồng hôn nhân này: Ruth chàng phải là kẻ duy nhất trên đi thế gian này có thể làm Yakov phải im tiếng hay sao? Hiển nhiên đó phải là một đám cưới vì tình rồi...
Do đó, sau cùng Yakov cũng thoát được niềm chua chát của mình để tìm kiếm hạnh phúc. Chàng không có một gia sản nào cả, và chàng cũng chẳng thể coi là độc quyền sở hữu những áo quần chàng mặc, vì đó cũng là tài sản của cộng đồng. Ngược lại, chàng có một người vợ linh hoạt, nhanh nhẹn, miệng lưỡi sắc bén, và cả xứ Galilée kính nể. Buổi chiều, sau một ngày làm việc mệt nhọc, khi chàng cùng Ruth đi dạo giữa các bãi cỏ, trong vườn trồng cây ăn trái hay qua những cánh đồng xanh tốt, chàng cảm thấy một tình tự bình an mà chàng chưa từng bao giờ cảm thấy.
Shoshanna không ngừng phát triển. Nông trường bây giờ đã có tới cả trăm dân đinh. Các cánh đồng và vườn tược đã chiếm hơn một ngàn mẫu. Kibboutz đầu tiên của Palestine hầu như đã mang lại được lời giải đáp cho vấn đề căn bản của chủ nghĩa phục quốc Do Thái.
 
0
Lạy chúa! Mãi bác casau mới lại xuất hiện sau 3 tuần im hơi lặng tiếng làm tôi ngóng mãi đoạn tiếp theo của Exodus.
Cám ơn bác nhiều lắm và mong bác đừng bỏ cuộc giữa chừng nhé.
Khi người ta yêu thì không có gì tựa là quá khó
0



Phần 2 - 8
 
Tối hôm đó, Jossi có về nghiêm trọng hơn thường nhật. Ngồi cạnh Sarah trên bao lơn căn nhà ba phòng xinh xắn, chàng im lặng ngắm bờ biển Địa Trung Hải giữa Tel-Aviv dưới chân chàng và Jaffa ở phía xa. Đột nhiên chàng nói :
- Nghe này em, anh vừa có một quyết định. Vừa rồi đây, mọi người yêu cầu anh lấy một tên bằng tiếng hébreu và chỉ nói tiếng hébreu thôi.
Sazah kêu lên :
- Chuyện gì kỳ quá! Chính anh đã có lần nói rằng không bao giờ người ta có thể làm sống lại một từ ngữ.
- Quả anh có nói thế. Anh cũng còn đã từng nghĩ rằng không bao giờ một dân tộc có thể làm sống lại quốc gia đã mất của mình. Dầu vậy, đó là điều chúng ta đang làm. Khi anh nghĩ tới sự phát triển tuyệt đẹp của Shohanna và các Kibboutzim khác...
Nàng ngắt lời :
- Chính em đang muốn nói về Shoshanna... Em đánh cá là anh muốn lấy một tên hébreu chỉ vì em trai anh đã làm như vậy. Bây giờ chú ấy tên là gì?
- Akiba. Để tưởng nhớ đến thần tượng của chú ngày xưa.
- Mong rằng thần tượng hồi nhỏ của anh là Bismark. Thật thú vị khi có chồng, chồng lại mang tên Tể tướng Đức quốc.
Chàng la :
- Quả thực chịu không nổi em đó. Đôi khi tự anh hỏi không biết em về Palestine làm gì. Nếu chúng ta phải học suy tưởng như chúng ta đã có một quốc gia, chúng ta cũng phải học nói quốc ngữ của chúng ta.
- Đó là điều chúng ta đang làm. Bởi vì chúng ta nói tiếng Yiddish...
Chàng phản đối :
- À, không. Chỉ những kẻ lưu đày, những kẻ ở ghetto mới nói Yiddish. Những người Do Thái Palestine, tất cả những người Do Thái đã trở về quê hương đều nói tiếng hébreu.
Tinh nghịch, nàng chọc ngón tay trỏ vào ngực ông chồng vĩ đại :
- Thôi xin bồ đừng có kể cho tôi nghe các khẩu hiệu mới nhất của phong trào phục quốc của Do Thái nữa. Đối với tôi, bồ cũng là Jossi Rabinsky.
- Em lầm rồi, Sarah. Dầu sao thì anh cũng quyết định rồi. Tốt nhất em bắt đầu học ngay hébreu: kể từ giờ chúng ta chỉ nói chuyện với nhau bằng thứ tiếng này mà thôi.
- Quyết định của anh hoàn toàn khôi hài!
Hai người đều giữ vững lập trường, thế là chiến tranh bùng nổ. Trong ba tuần lễ liền, Sarah cấm chồng không được vào phòng ngủ. Chàng phải đối lại bằng cách chỉ nói bằng hébreu. Dĩ nhiên là không trả lời bằng Yiddish.
Dầu thế, một buổi tôi nàng mở cửa phòng gọi :
- Anh Jossi! Lại giúp em một chút...
- Xin lỗi em, ở đây không có ai tên là Jossi hết. Nếu em nói với tôi thì tên tôi là Barak Ben Canaan.
- Cái gi? Anh nói sao?
- Em thừa hiểu anh nói gì rồi. Anh đã nghĩ rất lâu để tìm một tên hợp với anh. Theo tiếng hébreu, Barak nghĩa là “chớp”, dân Ả Rập gọi roi da của anh như vậy đó. Và anh lấy họ là Canaan bởi vì anh trên núi Canaan...
Sarab đóng sập cửa trước mũi chàng. Trong suốt một tuần lễ, hai địch thủ đối đầu nhau trong im lặng.
Một đêm, khi cuộc tiểu chiến đã kéo dài cả tháng rồi, Barak trở về nhà sau một buổi họp hết sức mệt nhọc. Đại hội đồng phục quốc nhóm họp ở Jérusalem. Đại hội đã kéo dài ba ngày - ba ngày bàn cãi ác liệt và thảo luận say mê. Mệt nhoài, Barak đã hy vọng Sarah sẽ chờ chàng về, pha cho một ly trà và nói chuyện cùng chàng. Nhưng Sarah đã vào phòng ngủ nằm, cửa phòng đóng kin. Chàng thở dài, tháo giày, nằm co quắp trên chiếc divan ở phong khách quá ngắn cho một người cao lớn như chàng. Chàng bắt đầu thiếp đi khi một làn sáng lọt qua kẽ mi. Đi rón rén trên đầu ngón chân, Sarah lướt nhẹ đến divan, quỳ xuống đặt đầu lên ngực chàng và thì thào bằng hébreu :
- Em yêu anh, Barak Ben Canaan. Em yêu anh biết bao.
Trở thành một trong những lãnh tụ được mọi người nghe theo nhất của phong trao phục quốc, Barak Ben Canaan phục vụ không tiếc công sức, đảm nhiệm song phương các công tác tổ chức và điều đình bao giờ cũng tế nhị với các nhà cầm quyền Thổ và các cheik [1] Ả Rập. Rất nhiều lần, có Sarah đi cùng, chàng sang Luân Đôn, nơi đặt cơ quan đầu não của phong trào phục quốc, hay sang Thụy Sĩ dự các buổi hội họp quốc tế. Tuy thế, chàng không tìm được niệm hạnh phúc mà em chàng, Akiba, đã tìm thấy ở Shoshanna. Ước vọng lớn của chàng - lập nghiệp ở phía bắc ngọn Canaan, trong thung lũng Houleh - vẫn chưa được thỏa mãn. Rất buồn vì thấy chồng tiếc nuối như thế, Sarah hết sức muốn mang lại cho chàng một bù trừ sinh con. Nhưng tạo hóa đã khước từ không cho nàng hưởng niềm vui này: trong năm năm liền, nàng sẩy thai liên tiếp.
Thất vọng này lại càng cay đắng hơn nữa vì Bark đã tới tuổi bốn mươi lăm...
Trong thời gian đó, các biến cố chính trị xảy ra dồn dập. Năm 1908, cuộc nổi dậy của Giới Trẻ Thổ đã truất phế Abd Ul Hamid II, một ông vua già thối nát, để thay thế bằng Mohammed V. Vụ thay bậc đổi ngôi này đã làm cho sự hy vọng của người Do Thái Palestine sớm bị tiêu tan: Thừa hưởng một đế quốc lung lay, Mohammed không hề muốn ban cho xứ Palestine một qui chế tự trị, bảo đảm cho sự hiện hữu hợp pháp và một đường lối chính trị của một quốc gia Do Thái. Ngược lại, Anh quốc tiếp tục biểu lộ một cảm tình sâu đậm với chính nghĩa Do Thái. Đến nỗi, đối với các người trong phong trào phục quốc cùng phát ngôn viên của họ là bác sĩ Chaim Weizmann, con đường phải theo coi như đã được vạch rõ: giữa Thổ Nhĩ Kỳ, “con bệnh của Âu châu”, khước từ tất cả mọi trợ giúp, còn Anh quốc, địa vị tại Trung Đông mỗi ngày một thêm vững chắc, nên họ chọn lựa Anh quốc.
Dầu thế nào đi nữa, sự sụp đổ toàn diện của Đế quốc Thổ chỉ còn là vấn đề thời gian.
Lúc đó, đệ nhất thế chiến xảy ra.
Các quốc gia đồng minh Âu châu, sốt ruột muốn chia xẻ các mảnh đất của Thổ ở Âu châu, đã bực tức và ngạc nhiên khi nhận ra Đế quốc Thổ chẳng những không sụp đổ, mà còn tỏ ra là một địch thủ đáng kể nữa. Quân Nga bị chặn đứng ở biên thùy Caucase. Tại Trung Đông, quân Thổ khởi hành từ các vị trí của mình tại Palestine, đã vượt sa mạc Sinai để tiến đến kênh Suez, mạch máu chính của Đế quốc Anh.
Cuống lên, người Anh xúi dục dân Ả Rập nổi loạn hứa sẽ cho họ độc lập để đổi lại sự ủng hộ chống lại Thổ. Nhưng dân Ả Rập lại muốn chờ xem gió quay chiều nào đã. Và dân Ả Rập cũng không thèm nghe những lời kêu gọi điên cuồng của Mohammed V, lãnh tụ tinh thần thế giới Hồi giáo, đã tuyên bố thánh chiến chống lại Anh quốc. Luân Đôn đành bỏ tiền ra tìm cách mua chuộc kẻ địch vậy. Và Anh lại đóng vai trò truyền thống là làm mồi. Con cá cắn lưỡi câu lần này rất to: émir [2] của La Mecque, “kẻ coi giữ các Thánh địa của Hồi giáo”, con người nhiều tham vọng đã thấy mở ra trước mặt mình những viễn ảnh huy hoàng. Sự chấm dứt triều đại Mohammed V cùng dân Thổ phải chăng sẽ cho phép ông mở rộng quyền bính ra toàn thế giới Ả Rập chăng? Chưa kể một nửa triệu đồng livre bỏ túi đã...
Vậy là vị émir bước sang hàng ngũ Anh, hứa sẽ xúi dục các bộ lạc trong sa mạc nổi dậy chống lại Thổ. Trong nhiệm vụ này, ông được người con phụ tá, đó là Faycal, một trong những lãnh tụ Ả Rập hiếm có, Faycal có ý thức về xã hội và trí xét đoán của một chính khách.
Còn về những dân Do Thái ở Palestine, Anh quốc khỏi cần phải mua chuộc. Sự ủng hộ của họ coi như là có rồi. Và họ ủng hộ mạnh đến nỗi ngay lúc chiến tranh mới bùng nổ, họ đã công khai đứng về phía Anh quốc, kẻ thù của Thổ.
Sự trả đũa của Thổ xảy ra ngay lập tức: Kemal Pacha, được bổ nhiệm làm Thống đốc tỉnh Palestine, quyết định khủng bố toàn diện cộng đồng Do Thái.
Barak Ben Canaan được báo tin vào giờ chót là chàng và Akiba nằm trong sổ đen của Mật vụ Thổ: điều đó có nghĩa là sẽ bị giết. Chàng chỉ còn tối đa sáu giờ đồng hồ để chạy trốn. Chưa chi tổ chức địa phương của phong trào phục quốc đã bị dẹp bỏ. Sarah hỏi :
- Chúng ta còn bao nhiều lâu?
- Chúng ta phải ra đi trước khi trời sáng. Em thu xếp ngay một va-li thôi, đừng lớn quá. Chúng ta phải bỏ lại tất cả.
Dựa lưng vào tường, nàng máy móc đưa tay xoa bụng. Có mang sáu tháng rồi, nàng cảm thấy cai thái cựa quậy rõ rệt hơn các lần mang thai trước. Nàng nghĩ: “Năm lần sẩy rồi, và bây giờ...”
- Em không muốn đi. Không thể được... Em không thể...
- Sarah! Không phải lúc.
Nàng rời tường để lao vào vòng tay chàng.
- Anh Barak, hiểu cho em.... em không muốn mất đứa con này... em không thế nào chịu nổi...
Chàng thở dài.
- Em không thể nào ở lại đây được đâu, Sarah. Nếu tụi Thổ đến bắt em... anh không muốn tưởng tượng đến những gì xảy đến cho em.
- Nếu em chạy theo anh, em không thế nào giữ cái thai này được. Con của chúng ta, anh!
Chàng gỡ tay nàng ra, rồi chậm chạp cột lại cai túi đi đường.
- Hứa với anh là em lập tức lên đường đi Shoshanna. Ở đó, thím Ruth sẽ chăm sóc em. Nhớ đừng có lại quá gần những con bò cái yêu quý của thím ấy!
Chàng hôn nàng và Sarah nhót gót lên để bám được vào vai chồng.
- Shalom, Sarah. Anh yêu em.
Chàng quay nhanh người lại, và từ giã.
Akiba và Bark chạy trốn sang Le Caire, nơi ông bạn Trumpeldor, người chiến binh cụt tay, đang thành lập một đơn vị Do Thái gốc Palestine. Sau này, tiểu đoàn này đã tham dự vào cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào Gallipoli cùng cuộc mở đường thất bại qua eo biển Dardanelle. Trong khi rút lui, Akiba bị một viên đạn vào ngực. Được đưa trở về Ai Cập và tiểu đoàn sau đó bị giải tán. Akiba và Barak lên đường đi Luân Đôn, nơi một đoàn viên phục quốc khác tên là Jobotinsky đang mộ người Do Thái tình nguyện để lập một đạo quân quan trọng hơn. Nhưng cả hai anh em đều không được tham dự vào đơn vị mới này: Akiba, vết thương lâu lành lại được gửi sang Hoa Kỳ đi thuyết trình. Còn Barak, hữu ích gì để làm người bộ binh tầm thường, nên tiến sĩ Weizmann đưa chàng vào trong ê-kíp lo các vụ thương thuyết về chính trị.
Quân Anh lúc đó vừa bị một loạt thất trận nghiêm trọng tại Trung Đông. Tướng Maud, sau khi đã chiến thắng “oai hùng” vài đơn vị Thổ gồm toàn dân Ả Rập, đã chạm phải cả một sư đoàn Thổ và đơn vị này đã đánh đơn vị ông tan tành. Lúc bây giờ, tại phía Nam quân Thổ đe dọa trực tiếp kênh Suez; và ở Âu châu, quân Đức đã đánh tan đạo quân Nga ở tuyến đầu!
Còn về giấc mơ của Anh là có một cuộc nổi dậy của Ả Rập chống lại Đế quốc Thổ, chưa bao giờ lại có thể khó như lúc này. Quả thực vậy, người Ả Rập nghi ngờ Luân Đôn và Ba Lê đang bí mật chuẩn bị một thỏa ước chia đôi thế giới Hồi giáo giữa hai cường quốc đó!
Chaim Weizmain ý thức rằng phong trào phục quốc Do Thái phải khai thác tình hình trên để tiến một bước quyết định. Chưa bao giờ Anh quốc lại cần trợ giúp và ủng hộ đến như vậy. Một mặt khác, chính phong trào phục quốc cũng tìm một phương cách để lôi cuốn những người Do Thái cư ngụ tại các nước khác, nhất là Hoa Kỳ; vào phong trào chung.
Bởi thế, sau một thời kỳ thương thuyết gay go, Lord Balfour, Tổng trưởng Ngoại giao Anh quốc, gửi cho Lord Rothschild một bưu điệp trong đó ông nói ;
Chính phủ của Đức Vua đang cứu xét một cách thuận lợi việc thành lập ở Palestine, một quốc gia cho dân tộc Do Thái, và sẽ cố gắng dành mọi sự dễ dàng cho việc thực hiện dự án này.
Phong trào phục quốc Do Thái sau cùng, có được Đại Hiến Chương của mình!
 
--------------------------------------------
[1] Cheik: tù trưởng Ả Rập
[2] Émir: tiểu vương Ả Rập (xem 14)



[/align]
0



Phần 2 - 9
 
Mật vụ của Kemal Pacha khám phá ra nơi trú ẩn của Sarah Ben Canaan hai tuần trước ngày nàng sinh. Không thèm để ý tới tình trạng thai nghén, chúng bắt nàng lúc nửa đêm, đẩy vào trong một xe bít bùng, đưa đến đồn cảnh sát Tibériade..
Cuộc thẩm vấn đầu tiên kéo dài hai mươi bốn giờ không một phút nghỉ.
- Chồng bà trốn nơi nào? - Hắn đã làm thế nào để chạy thoát được? Bà liên lạc với hắn bằng cách nào? - Bà do thám chúng tôi cho tụi Anh - đừng cãi vô ích chúng tôi biết rõ hết... Ai là những người cung cấp tin tức cho bà trong vùng?
Không hề bối rối, Sarah nhận Barak đã trốn vì những cảm tình thân Anh, những cảm tình từ trước đến giờ chàng cũng không bao giờ giấu diếm. Nàng ở lại xứ Palestine chỉ cốt đợi đứa con ra đời. Còn về lời kết án làm gián điệp nàng phủ nhận hoàn toàn trước sự giận dữ của thanh tra điều khiển cuộc thẩm vấn. Sau hai mươi bốn giờ thẩm vấn này, Sarab rõ ràng là người trầm tĩnh nhất trong văn phòng nhỏ bé ấy.
Nhưng nàng không thoát thân dễ dàng được. Mọi người lôi nàng sang phòng bên cạnh. Trong phòng một ngọn đèn dầu với khói đen bám vào, được treo trên trần, lắc lư phía trên một cái bàn bằng gỗ trắng. Bị năm cảnh binh đè ngửa ra giữ chặt, tên thứ sáu tháo giày nàng ra. Rồi thay phiên nhau, chúng lấy roi gân bò đánh vào gan bàn chân. Và những câu hỏi cũ lại được nhắc lại, nhưng lần này kèm với những lời chửi rủa và đe dọa.
- Mày liên lạc với Barak Ben Canaan theo cách nào? - Những cán bộ tình báo trong hệ thống của mày là những ai? Tên họ của chúng là gì? Các địa điểm gặp gỡ ở đâu?
Nỗi đau đớn rất ghê khiếp. Sarah đau quá không thể nói được nữa. Mồ hôi tầm tã, hàm răng xiết chặt, nàng kìm được những tiếng kêu rên. Lòng can đảm của nàng làm tụi Thổ điên giận hơn nữa. Chúng đánh mạnh gấp đôi: chưa chi chân nàng đã bị rách nát và máu ứa ra.
- Mi có nói không, con Do Thái bẩn thỉu này! Nói đi thú đi, đàng nào rồi mi cũng chết!
Nàng ngất đi và bị đổ cả một thùng nước vào mặt cho tỉnh. Tỉnh rồi, đòn tra tấn và các câu hỏi lại tiếp tục. Nàng lại xỉu nữa và rồi lại tỉnh dưới làn nước lạnh giá. Các cảnh binh đổi phương pháp, kéo dang hai tay nàng ra, nhét đá nóng bỏng vào dưới nách. Và các câu hỏi lại tiếp tục với các lời chửi rủa la hét...
Chúng tra tấn nàng trong ba ngày ba đêm liên tiếp. Nàng không hé răng. Sau cùng, thán phục lòng can đảm ấy, chúng thả nàng ra. Ruth, trong suốt thời gian ấy đã cầu khẩn biện hộ cho Sarah ở bên ngoài, đưa chị dâu lên một chiếc xe do lừa kéo về Shoshanna.
Chỉ mười ngày sau, khi cảm thấy cơn đau đẻ đầu tiên, Sarah mới để cho sự đau đớn bộc lộ. Tất cả những tiếng kêu đau đớn mà cảnh sát Thổ không làm nàng thốt ra được, bây giờ nàng kêu lên với một niềm tuyệt vọng. Rồi các tiếng kêu yếu dần. Trong kibbotuz, không một ai tin được nàng sẽ sống nổi.
Nàng sinh ra một đứa con trai thật đẹp và mạnh khỏe. Nói cho đúng hơn, nàng ở giữa sự sống và chết trong rất nhiều tuần lễ. Nàng, một thiếu phụ bé nhỏ, từ miền xa xôi Silesie Barak, đã tiếp tục chống trả, đẩy lùi được bóng tối của cái chết.
Thời kỳ hồi sức của nàng rất lâu, hết sức khó khăn. Sau nhiều tháng nàng có thể đứng lên nổi, và một thời gian nữa nàng mới có thể bước đi được với đôi chân bị tra tấn. Từ những thử thách khốn khổ ấy, nàng có một dáng đi khập khễnh không chữa khỏi được.

Sau cùng, đến mùa xuân 1917, quân Anh đủ sức để mở các cuộc tấn công. Xuất phát từ các vị trí ở Ai Cập, họ đã đẩy lùi được quân Thổ, với nhiều thiệt hại nặng, qua bán đảo Sinai trước, rồi kế đó đuổi luôn được địch ra khỏi xứ Palestine. Trước đêm Noel một hôm, quân đội Anh tiến vào Jérusalem.
Vài tháng sau Barak Ben Canaan cùng em là Akiba trở về xứ sở. Ngày mà hai anh em vượt qua hàng rào của Shoshanna, các bông hồng vừa nở giữa những thảm cỏ xanh tươi.
Sarah đợi chồng trước căn nhà nhỏ mà ban quản trị nông trường đã cấp phát. Đã có những sợi bạc trắng trong bộ râu hung đỏ của Barak. Và mái tóc đen của Sarah cũng đã điểm một vài sợi bạc. Nhưng khi chàng ôm nàng vào trong tay, tất cả những khổ đau của bốn năm chiến tranh đều được tan biến. Sarah, vẫn nhỏ bé mảnh khảnh, nắm lấy tay ông chồng khổng lồ, khập khễnh dẫn chồng vào nhà. Trên giường, một đứa bé ba tuổi khỏe mạnh kháu khỉnh đang quay đầu lại ngó người lạ mặt.
Barak quỳ gối và đưa hai tay mạnh mẽ bồng đứa bé đưa lên nói nhỏ :
- Con tôi! Con trai của tôi!
Sarah cúi xuống phía chàng :
- Tên con là Ari...

Bản tuyên ngôn Balfour được năm mươi nước phê chuẩn.
Ở Palestine, cuộc khủng bố của Thổ đã thanh toán hết một nửa dân số Do Thái tại xứ này. Bên Trung Âu, các rối loạn thời hậu chiến đã làm cho các vụ pogrom gia tăng trở lại. Xét theo một chiều hướng nào đó thì hai hiện tượng đó bù trừ cho nhau: chạy trốn các vụ bạo hành, một đợt sóng di dân thứ ba đổ vào xứ Israel và bù đắp cho những người đã bị tàn sát ở Palestine.
Một trong những hậu quả đầu tiên sự ủy trị của Anh quốc tại xứ này là việc hủy bỏ cấm mua đất cát do người Thổ trước kia ban hành để ngăn cản sự xâm nhập của Do Thái. Cơ quan Tài trợ Lập nghiệp của phong trào phục quốc lợi dụng cơ hội này để thực hiện một tham vọng ôm ấp từ nhiều năm: mua một vùng đất rộng trong thung lũng Jezreel bao gồm cả phần phía nam Galilée. Nhờ ở vụ mua đất này, lớn lao chưa từng có, mọi người có thể thành lập hàng loạt kibboutz mới.
Sự kiện này gây ra cả một niềm hăng hái kỳ lạ. Từ khắp mọi nơi, các tay khai hoang cựu trào từ bỏ các tiện nghi đã đạt được một cách khó khăn trước đây để tới trợ giúp cho việc xây dựng các cộng đồng mới. Akiba và Ruth mang theo đứa con gái Sharona mới sinh, rời bỏ tiện nghi (tương đối, nhưng không thể chối cãi là có tiện nghi) ở Shoshanna để mang sức và kinh nghiệm của mình giúp cho một nhóm người sắp tới lập nghiệp ở phía bắc Rosh Pinna, trong một nông trường mang tên Ein Or (Suối ánh sáng).
Trong thời gian ấy Tel-Aviv cùng các thành phố khác phát triển mạnh. Ở Haifa, người Do Thái bắt đầu mua nhà trên sườn núi Carmel. Ở Jérusalem, các nhà của họ xây cất đã vượt quá cái khung chật hẹp tạo bởi các tường thành cũ. Về phía người Anh, họ mở các con đường giao thông mới, thành lập các trường học, nhà thương, cải tổ các tòa án. Lord Balfour đích thân tới Jérusalem để đặt viên đá đầu tiên cho một Viện Đại học Do Thái trên ngọn Scopus.
Để tiến hành nhanh thêm sự tiến đến thành lập một Quốc gia thực sự, các Do Thái ở Palestine bầu ra một ủy ban đại diện, được gọi là “Trung ương” một thứ chính quyền đặc trách việc điều đình với người Anh và người Ả Rập. Trong những nhân viên của ủy ban này, Barak Ben Canaan được hưởng một uy tín xứng đáng với quá khứ cũng như các đức tính cá nhân của mình.
Nhưng chưa chi ma quỷ đã nhảy vào quậy phá. Không những còn xa mới được hưởng hòa bình mong ước, Palestine lại còn bị trở thành trung tâm cho một vụ tranh chấp quốc tế rộng lớn.
Dấu hiệu mở đầu cho tranh chấp này, kỳ dị thay, lại do Cộng sản Nga, các chủ nhân ông mới của các nước Nga ban hành. Khám phá thấy trong văn khố của sa-hoàng bản văn thỏa ước bí mật Sykes-picots trong đó Pháp và Anh chia nhau Trung Đông, điện Kumlin cho đăng tải tài liệu đó để gây rắc rối cho Anh và Pháp.
Mục đích này đã đạt được quá mức mong ước bởi vì thỏa hiệp trên mâu thuẫn quả tang với các lời hứa hẹn cho các dân Ả Rập độc lập của Anh Pháp. Trong các thủ đô Hồi giáo, các tiếng la ó vang lên dữ dội. Các biến cố xảy ra đã biện minh cho sự la ó này là đúng: tại hội nghị San Remo, Luân Đôn và Ba Lê chia cắt Trung Đông như cắt bánh. Người Pháp chiếm Syrie, kéo dài thêm bằng ống dẫn dầu từ các mỏ ở Mossoul tới, còn người Anh, họ chiếm phần sư tử bằng cách chiếm tất cả những gì còn lại. Nghĩa là một phần rất ngon lành.
Một mặt là hai vương quốc bù nhìn: Irak, tên mới của xứ Mésopotamic, ngai vàng được trao cho Faycal, con của émir thành Mecque, để thưởng công cho đã điều khiển, hầu hết bằng mồm thôi, các bộ lạc Ả Rập nổi dậy chống lại quân Thổ; và Transjordanie, tạo ra bằng cách lấy một phần của Palestine (Luân Đôn cũng chẳng buồn xin phép Hội Quốc Liên về việc cắt xén này nữa), gán ghép với các phần đất khác rồi đem trao cho Abdullah, em của Faycal, kẻ cũng đang sốt ruột mong được hưởng phần thưởng vì đã giúp người Anh những công tác khó xác định - và có lẽ là không thể nào xác định nổi.
Một mặt khác, Luân Đôn chiếm đóng trực tiếp Ai Cập và kênh Suez, Mossul với các giếng dầu, và Palestine, lãnh thổ được Hội Quốc Liên trao quyền ủy trị cho Anh. Đó là chưa kể cả chục “xứ bảo hộ” khác chung quanh bán đảo Arabie.
Tuy vậy Paleitine đặt ra một vấn đề đặc biệt. Bản Tuyên ngôn Balfour đã được toàn thể thế giới chấp nhận, Luân Đôn không thể cưỡng buộc xứ đó phải chịu nhận một chính quyền theo ý Anh quốc được. Hơn nữa những điều khoản ủy trị đã bắt buộc nước Anh phải thành lập một Quê Nhà Do Thái. Nắm vững tình thế này, tiến sĩ Weizmann cùng các lãnh tụ phục quốc khác, trong đó có Barak Ben Canaan, đã điều đình thẳng luôn với Faycal, lúc đó là phát ngôn viên không ai chối cãi được của thế giới Hồi giáo. Các cuộc thương thuyết dẫn tới một hiệp ước thân thiện trong đó Do Thái cùng Ả Rập cùng chấp nhận sẽ tôn trọng những nguyện vọng của nhau. Phía Ả Rập công nhận các quyền về lịch sử của Do Thái ở Palestine, ngoài ra còn tuyên bố rõ ràng rằng văn minh, tinh thần chủ động cùng các vốn liếng do Do Thái mang tới đã đóng góp thuận lợi cho sự phát triển xứ này.
Bây giờ, cần phải triệu tập “một hội nghị bàn tròn”. Nhưng không may là nếu phía Do Thái có được qua “Trung ương” một chế độ đại diện vừa dân chủ vừa được ủy nhiệm đủ quyền hành, thì phía Ả Rập, họ chỉ là một đám vô định hình hỗn độn. Một vài triều đại của các effendi ấy chỉ có thể nhân danh chính họ, nghĩa là cho một thiểu số rất nhỏ dân chúng mà thôi.
Một trong những triều đại mạnh nhất loại đó, là gia tộc El Husseini, sở hữu chủ của rất nhiều địa hạt rộng lớn trong vùng Jérusalem. Tộc trưởng là Hadj Amine trước đây đã có dự tính lợi dụng sự sụp đổ của Đế quốc Thổ để chiếm lấy quyền hành ở Palestine. Để đạt tới mục tiêu này, ông xoay xở để được bổ nhiệm làm mufti Jérusalem, một địa vị mang lại cho ông hai phương diện hành động. Một mặt Jérusalem là thành phố thánh thứ ba của Hồi giáo, sau La Meeque và Medine, nên ông sẽ có thể lợi dụng các số tiền lớn quyên được khắp trong thế giới Hồi giáo để bảo vệ các thánh địa. Một mặt khác, trong một đại chúng thất học mù chữ tới chín mươi chín phần trăm, các bài giảng trong các buổi lễ là khí cụ duy nhất để tuyên truyền trong quần chúng. Dụng cụ càng nguy hiểm hơn nữa là vì các fellah có khuynh hướng trở thành điên rồ sau bất cứ kích thích nào.
Dĩ nhiên là muốn làm mufti, cần phải là con cháu đích tôn của vị tiên tri xưa kia. Nhưng Hadj Amine không thắc mắc nhiều vì thế: ông cưới một cô gái thuộc giòng dõi Mahomet và tuyên bố rằng qua cuộc hôn nhân này, ông đã thực hiện được điều kiện nói trên.
Tới đây, thì vị mufti già được gọi về chầu đấng Allah. Trong cuộc bầu cử người thay thế, Hadj Amine mà các tham vọng ai cũng biết, chỉ đứng hạng tư. Ông không chịu nhận thất bại vì thế: cả tộc bộ của ông, toàn các tay chuyên cắt gân người không, đã hoạt động tích cực đe dọa ba ứng cử viên trên đến nỗi cả ba đành rút lui thì hơn. Hadj Amine thắng cuộc bầu cử làm mufti chỉ vì các ứng viên khác không ai dám nhận chức.
Đối với vị tân mufti này thì chướng ngại chính trên con đường dẫn tới quyền bính là cộng đồng các người khai hoang Do Thái. Phải tấn công đánh họ ngay. Ngày lễ mừng Đản sinh của Moise, ông đọc một bài giảng dữ dội chống lại người Do Thái. Đám đông quần chúng rách rưới nghèo đói nghe xong là nổi cơn điên lên ngay, thế là có pogrom.
Dẫu sao cơn giận của quần chúng Ả Rập cũng không đủ mạnh để thúc đẩy họ đến chỗ tấn công các thành phố cùng các Kibboutz, nơi mà người Do Thái thừa đủ khả năng để tự bảo vệ. Dân Ả Rập thích tấn công các cộng đồng chính thống giáo ở Safed, Tibériade, Hébron và Jérusalem hơn, để tàn sát các cụ già vô phương chống cự.
Ngày hôm đó Ruth cùng con gái Sharona lại có mặt ở Tibériade. Bị tràn ngập trong cơn sóng man rợ, cả hai mẹ con đều bị giết.
Khi biết tin, Akiba chìm đắm trong tuyệt vọng hoàn toàn. Barak vội vàng tới Kidboutz Ein Or để đưa em về nhà mình ở Tel-Aviv. Trong nhiều tuần lễ, chàng và Barak phải canh chừng hai mươi bốn trên hai mươi bốn, sợ Aliba sẽ tự tử. Mất nhiều tháng, Akiba mới tỉnh lại được. Nhưng đau đớn để lại trong lòng chàng một vết sẹo không bao giờ lành được.
Kể từ khi có chế độ ủy trị, đa số những cộng đồng Do Thái đã trao vũ khí cho các nhà cầm quyền Anh, kẻ chịu trách nhiệm duy trì trật tự. Bây giờ dân Do Thái đợi người Anh dẹp yên các vụ rối loạn và kết án những kẻ đầu tiên. Cao ủy Anh quả thực có chỉ định một ủy ban điều tra, ủy ban này đã quy trách cho Hadj Amine. Hadj Amine sau đó được... thứ lỗi!
Vài ngày sau, Thuộc địa vụ tại Luân Đôn cho công bố một Bạch thư giới hạn sự nhập cảnh của người Do Thái xuống “một phân xuất phù hợp với khả năng hấp thụ về phương diện kinh tế của xứ sở”. Đó cũng là lúc Churchill chọn để cắt phân nửa lãnh thổ ủy trị để tạo ra Transjordanie. Đối với phong trào phục quốc Do Thái, đến đây là chấm dứt một thời kỳ, sự sụp đổ tan tành của cả một giấc mộng đẹp.
Trong một buổi hội nghị bí mật triệu tập ở Tel-Aviv chừng năm mươi lãnh tụ phục quốc hiện diện. Có mặt: tiến sĩ Weizmann từ Luân Đôn tới, Barak Ben Canaan cùng em là Akiba, một người mang tên David Ben Gourion người thấp nhưng vai rộng, và một kẻ mang tên Avidar nào đó có thân thể vững chắc và đầu trọc lại làm người ta nhớ tới người chiến binh oai hùng đương sự đã từng trước kia trong quân đội sa-hoàng.
Ngay lúc vừa mở đầu thảo luận, ba khuynh hướng khác nhau đã biểu lộ. Tiến sĩ Weizmann cùng các bạn ông thì cho rằng, vì người Anh là chức quyền duy nhất hợp pháp trong xứ, việc duy trì trật tự - trong trường hợp này, là dẹp yên các vụ rối loạn - phải là nhiệm vụ của quân lực Anh. Đối với nhóm thứ hai, chủ hòa cực đoan thì mọi nỗ lực võ trang người Do Thái đều sẽ bị dân Ả Rập coi như là khiêu khích họ. Còn các tay tích cực do Akiba đứng đầu thì họ chủ trương trả đũa chớp nhoáng và tàn nhẫn. Họ khẳng định rằng cảm tình cũng như sự bảo vệ của người Anh chỉ có trên giấy tờ, còn trên thực tế, người Anh chỉ hành động cho quyền lợi của họ. Còn đối với dân Ả Rập, thì không có một lý luận nào, kết án nào làm cho họ suy nghĩ hữu ích bằng một khẩu súng chĩa thẳng vào họ.
Sau đó, các thảo luận sôi nổi kéo dài rất khuya trong đêm. Sau cùng, những kẻ ủng hộ một giải pháp vừa thực tế vừa thận trọng đã thắng thế. Đa số đã chấp thuận một đề án do Ben Gourion, Ben Canaan và Avidan đưa ra. Ba người này, vừa công nhận người Do Thái cần phải võ trang, vừa muốn củng cố lập trường Do Thái bằng những phương cách hợp pháp. Hậu quả là mọi người sẽ thành lập và huấn luyện một đoàn dân vệ bí mật hoàn toàn chỉ có mục đích tự vệ mà thôi. Các cơ cấu đại diện cho cộng đồng Do Thái, trên lập trường chính thức sẽ coi như không biết tới sự hiện hữu của đoàn này, nhưng khuyến khích đoàn một cách bí mật. Nhờ những trận chiến trong bóng tối như thế, ta sẽ dễ kiềm chế dân Ả Rập và điều đình với người Anh hơn.
Quyết định sau cùng là bổ nhiệm Avidan vào chức vụ tư lệnh đoàn dân vệ sẽ được gọi là Haganah, hay Tự Vệ đoàn.



[/align]
0



Phần 2 - 10
 
Đợt sóng đi cư thứ ba tiến vào các thung lũng Jezreel và Sharon, trải rộng trong vùng Samarie, len lõi vào giữa các quả đồi vùng Galilée và Judée, phiêu lưu xuống phía nam, hướng về sa mạc. Các người khai hoang mang theo tới tận nơi lập nghiệp các trang bị nặng, du nhập các nguyên tắc canh tác tăng cường và luân canh, các phân bón hóa học, dẫn thủy nhập điền trên một kích thước rộng lớn. Ngoài việc sản xuất truyền thống các bưởi bòng và ô-liu, họ trồng thêm lúa mì và rau cỏ, đây, nuôi gà và kỹ nghệ sữa. Họ tiến đến tận bờ Tử hải, chiếm các phần đất còn mặn muối biển, không thể trồng trọt gì nổi từ bốn mươi ngàn năm, để rồi vẫn cứ thu hoạch được hoa mầu từ phần đất đáng nguyền rủa đó.
Năm 1925, hơn năm chục ngàn Do Thái, phân phối trong hàng trăm nông trường, đã khai thác hơn một nửa triệu dounam khai hoang được từ một xứ đã bị bỏ hoang phế từ lâu. Đa số trong họ đều mặc thứ y phục xanh da trời của các kibboutz. Họ đã trồng hơn một triệu cây. Trong mười, hai mươi, ba mươi năm nữa, những cây đó sẽ chiến thắng dứt khoát được hiện tượng đất đai bị sói mòn.
Trồng cây đã trở thành một ám ảnh đối với những người khai hoang. Từ đầu đến cuối xứ sở họ vạch ra cả một vòng dai rộng xanh tươi.
Rõ ràng là phong trào kibboutz, phát sinh từ các nhu cầu của xứ Palestine, đã là giải pháp cho vấn đề phục quốc. Nhất là các nông trường tập thể bây giờ đã đủ nhiều để hấp thụ được hàng ngàn người di cư tới sau. Dẫu sao cũng có nhiều người cảm thấy mình không thể thích ứng với loại đời sống này: nhiều người phụ nữ sau khi đi đòi được độc lập cho phụ nữ, đã hối tiếc là đã đòi được; nhiều kẻ quá cá nhân chủ nghĩa không thể chịu nổi đời sống quá tập thể, nhiều gia đình không đành lòng trao phó con cái cho nhà nuôi trẻ. Tuy vậy lý do khước từ chính yếu vẫn là sự kiện người khai hoang không sao đồng nhất mình nổi với khoảng đất mà họ có thể coi như sở hữu chủ. Vì thế sau cùng một nhóm ly khai đã tách ra khỏi phong trào kibboutz để thành lập một tổ chức xã hội mới gọi là moshav. Trong các nông trường moshav, mỗi người đều có đất riêng, canh tác riêng và ở nhà riêng. Nhưng mọi người vẫn duy trì quyền sở hữu tập thể cho các đồ trang bị nặng, cũng như duy trì một ban quản trị chung cho các dịch vụ công ích và mại mãi.

Một buổi chiều năm 1924, trở về nhà sau một tuần lễ làm việc mệt nhoài ở “Trung ương” phục quốc, Barak ngạc nhiên thú vị khi thấy ngồi trong phòng khách ông bạn già Kammal, mouktar của làng Abou Yesha, Kammal nói :
- Từ nhiều năm nay, tôi tuyệt vọng tìm kiếm một phương cách để giúp dân tôi ra khỏi các khốn cùng mà anh đã biết. Tôi là nhận thấy một điều hiển nhiên: chưa có ở nơi nào những kẻ bóc lột người tồi tệ hơn là các effendi Ả Rập. Họ không hề muốn cải thiện đời sống của các fellah... tiến bộ nào cũng có thể coi như đe dọa sự giàu sang phú quý của họ cả. Một mặt khác, tôi đã thấy những người Do Thái trở lại xứ này và làm được các phép mầu. Chúng tôi chắc chắn là không có gì chung với người Do Thái rồi: tôn giáo không, ngôn ngữ không, hình dáng bề ngoài cũng không nữa. Hơn nữa, tôi còn tự hỏi một ngày kia người Do Thái dám chiếm hết đất xứ này không biết chừng. Dầu thế, những người Do Thái lại là lối thoát khả dĩ duy nhất cho những người Ả Rập. Từ ngàn năm nay, người Do Thái là những kẻ duy nhất đã mang ánh sáng lại cho cái xứ cằn cỗi này.
- Kammal, tôi hiểu anh khổ tâm đến mực nào khi thú nhận như thế...
- Anh để tôi nói tiếp. Nếu Ả Rập và Do Thái có thể sống nổi với nhau hòa thuận mặc dù tất cả những gì đang chia rẽ chúng ta, thì người Ả Rập về lâu về dài sẽ được hưởng công trình người Do Thái đã thực hiện. Chính vì thế tôi đã có một quyết định trọng đại: tôi có ý định bán cho Quỹ Lập Nghiệp của các anh vùng đất ven hồ Honleh mà anh vẫn ao ước từ lâu đấy.
Barak thấy tim mình nhảy nhanh hơn. Kammal nói tiếp :
- Vụ bán này không hoàn toàn là do hảo tâm. Tôi sẽ đưa ra các điều kiện của tôi. Các anh phải cho phép dân Ả Rập làng tôi được học các phương pháp vệ sinh và canh tác của các anh. Các anh cũng phải chấp nhận cho vào trường các anh những đứa có khiếu nhất để chúng có được một nền học vấn tối thiểu.
- Về hai điểm này, anh sẽ được thỏa mãn hoàn toàn.
- Tôi chưa nói hết. Còn điều kiện thứ ba nữa: chính anh phải tới cư ngụ trong nông trường mới ấy.
Barak vuốt râu :
- Tôi? Tại sao phải là tôi?
- Ngày nào anh còn ở với chúng tôi, tôi biết là các điều kiện trên sẽ được tôn trọng và chúng ta sẽ giữ được tình láng giềng tốt. Tôi tin ở anh ngay từ ngày đầu tiên anh tới Abou Yesha, khi anh còn là một chàng trai mới lớn. Nghĩa là cách đây hơn ba mươi năm rồi.
Barak lầu nhầu :
- Xin cám ơn anh. Nhưng anh để cho tôi thì giờ suy nghĩ đã.

Sarah hỏi :
- Mình định trả lời bác Kammal ra sao?
Barak nhún vai :
- Chắc chắn là trả lời không rồi. Thật đáng tiếc, dĩ nhiên... Trong biết bao nhiêu năm anh đã cầu xin bác ta ban cho chúng ta phần đất ấy, và bây giờ... nếu anh từ chối tới lập nghiệp ở đó thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được vùng đất ấy hết. Nhưng phải nhìn thẳng vào sự thực mới được. Ở trung ương, mọi người cần có anh. Anh chưa thể quy khứ lai từ được...
Sarah tán thành :
- Em hoàn toàn hiểu anh. Không có anh, tổ chức phục quốc sẽ ra sao nhỉ?
- Vậy đó! Chưa kể đến sự kiện anh đã quá năm mươi rồi, và công tác khẩn hoang vùng đó sẽ là một cuộc đội đá vá trời...
- Anh nghĩ phải đó. Không ai ở tuổi anh mà tình nguyện đi làm người khẩn hoang hết. Vả lại mình đã đóng góp đủ vào việc xây dựng xứ này rồi.
Chàng thở dài, ngừng đi đi lại lại trong phòng, ngồi phịch xuống ghế bành. Sarah lại gần, nghiêng người về phía chồng. Nàng mỉm cười. Barah la :
- Em, em đang chế nhạo anh. Vì cớ gì vậy!
Nàng lướt nhẹ ngồi lên lòng chồng và Barah vuốt tóc nàng với một dáng điệu êm dịu không ai có thể ngờ là có được ở một người to lớn như chàng. Chàng nói nhỏ :
- Anh chỉ nghĩ tới em, tới em và tới con. Công việc sẽ nặng nhọc lắm, đời sống khó khăn, hết sức khó khăn...
- Im đi nào mình. Uống trà đi...

Barak xin từ chức ở Quỹ Lập Nghiệp Do Thái, bán căn nhà đẹp ở Tel Aviv rồi đứng đầu hai mươi lăm gia đình khai hoang nữa, lên đường tới vùng đầm lầy Honleh. Chàng sẽ thành lập một moshav đặt tên Yad El, Bàn tay của Chúa.
Họ dựng lều ở mạn dưới các cánh đồng của làng Abou Yesha và thiết lập một chương trình làm việc. Trong tất cả những người khai hoang này, chưa có ai đương đầu với một công cuộc gay go như thế bao giờ. Các đầm lầy Honleh không dò nổi, phủ đầy cả một rừng bụi rậm cùng các cây cao cả năm thước. Trong bùn lúc nhúc rắn độc, bò cạp, chuột. Trong các quả đồi chung quanh, đầy lợn lòi và chó sói. Đồ trang bị, dụng cụ, thực phẩm và cả đến nước uống cũng đều phải dùng lừa chở tới..
Sarah điều khiển tại căn cứ, phòng y tế, bếp núc. Barak chỉ huy các ê-kíp ngày nào cũng như ngày nào, dưới ánh mặt trời tàn bạo, ngâm người đến tận thắt lưng và đôi khi đến tận vai vào nước hôi thối để đào những mương dẫn thủy đầu tiên. Đàn bà cùng làm việc với đàn ông, và ba đứa trẻ của nông trường, dưới quyền điều động của Ari Ben Canaan mới được mười tuổi lúc đó, lo việc mang đổ các thùng bùn và tiếp tế thức ăn. Mọi người làm việc bảy ngày trong một tuần, từ tinh sương đến mờ tối, và đêm đến lại còn phải thay phiên nhau gác vì có thú dữ và trộm cướp.
Ngay từ lúc đầu, đã là một cuộc chạy đua với thời gian rồi: các mương dẫn thủy phải được hoàn tất trước khi mùa mưa tới, nếu không tất cả nỗ lực của mùa hè sẽ bị tiêu tùng hết. Mọi người trồng hàng trăm cây khuynh diệp Úc để chúng hút nước đi. Để trợ giúp cho các người khai hoang, các kibboutzmoshav đều gửi người đến giúp mỗi khi có thể được.
Các cơn mưa đầu mùa đông suýt nữa cuốn trôi các lều. Sau mỗi trận mưa lớn, đàn ông đàn bà lại ùa ra để chữa các ống thoát nước bị bùn đóng nghẹt. Chưa chi, ngay cả đến Barak Ben Canaan, khối gân và bắp thịt ấy, cũng bắt đầu tự hỏi phải chăng lần này, họ đã không biết lượng sức mình. Mỗi khi nhìn vợ nhìn con mặt bị muỗi đốt sưng vù, yếu đi vì bệnh kiết, chàng có cảm tưởng như tim mình ứa máu. Nhưng thiên tai tồi tệ nhất, đó là bệnh sốt rét, bệnh của các đầm lầy. Trong sáu tháng đầu tiên, Sarah bị lên cơn sốt năm lần, Ari bốn và lần nào cũng tưởng là chết luôn. Dầu vậy không bao giờ họ than thở hay làm một biểu lộ nào chứng tỏ họ đã hối tiếc là đã tới nơi lam sơn chướng khí này.
Tuy thế đầm lầy đã đập vỡ tan nhiều cương nghị. Sau một năm, một nửa nhóm người nguyên thủy đã bỏ cuộc và lên đường trở về thành phố để sống một cuộc đời đỡ vất vã hơn. Chưa chi nông trường đã có nghĩa trang: bệnh sốt rét đã mang đi hai người.
Họ mất ba năm - ba năm chiến đấu không ngừng - để chiến thắng các đầm lầy. Sau thời gian này, các mặt đất đã đủ khô để đạc điền thành hai mươi lăm nông trại, mỗi trại hai mươi mẫu. Mọi ngươi không mất thì giờ để ăn mừng thành công đầu tiên này: cần phải gieo hạt ngay, xây cất nhà cửa và vựa lẫm.
Ari, hoàn toàn chiến thắng bệnh sốt rét, đã trở thành cứng cáp như sỏi đá. Mới mươi bốn tuổi, chàng đã có sức mạnh cùng khả năng chịu đựng của một người lớn.
Khi gia đình Ben Canaan đã dọn vào ở bungalow của mình, các đồng ruộng đã cày bừa xong, Barak được hưởng phần thưởng của ba năm cố gắng vượt sức con người: Sarah báo tin nàng lại có mang. Và đến cuối năm thứ tư, trong khi những khai hoang xay thóc mùa gặt đầu tiên ở Yad El, Sarah sinh đứa con thứ hai, một đứa con gái tóc óng ả, hung đỏ, giống hệt như tóc bố.
Bây giờ sau hết mọi người có thể cho phép mình nghỉ ngơi vài ngày và ăn mừng chiến thắng kỳ diệu. Và quả là một vụ ăn mừng! Từ khắp vùng kéo tới những đàn ông đàn bà thuộc các kibboutz và moshav đã từng trợ giúp cho nông trường mới này, còn từ làng Abou Yesha tới là các người Ả Rập do Kammal hướng dẫn. Trong một tuần lễ liền, mọi người nhảy điệu hora quanh các đám lửa trại. Ai cũng muốn ngắm nghía bồng bế con gái của Sarah và Barak, được đặt tên là Jordana để tưởng nhớ con sông chảy dọc theo Yad El.
Bỏ dở buổi lễ, Barak thắng yên hai con ngựa để đi cùng Ari lên chỗ mà bốn mươi năm về trước, chàng đã qua đó vào xứ Palestine. Đứng từ trên đồi cao, nhìn xuống thấy các cánh đồng, nhà cửa và các con đường của nông trường mới. Barak nói.
- Bố đã đưa mẹ con tới đây trước khi cưới...
Chàng vòng cánh tay ôm lấy đôi vai lực lưỡng của con.
- Một ngày kia tất cả thung lũng này sẽ được khai hoang, đồng lầy và sỏi đá sẽ biến thành thiên đàng dưới thế.
Các ống tưới nước tròn xoay tung ra một làn nước rẽ quạt. Một ngôi trường sắp làm xong ở giữa các thảm cỏ và các luống hồng. Một kho lẫm lớn chứa khoảng chục chiếc máy kéo và máy gặt. Chỉ có một vết đen duy nhất trong bức tranh tiến bộ hòa bình này, đó là nghĩa trang với dãy năm ngôi mộ.

Các hy vọng của Kammal, mouktar của làng Abou Yesha không bị thất vọng: việc thành lập Yad El có những tác động thần diệu với đời sống dân làng ông. Trung thành với lời hứa, Barak đã cho thành lập các trường đặc biệt trong đó thanh thiếu niên Ả Rập được học những nguyên tắc vệ sinh tân tiến, cách sử dụng các nông cụ cơ giới, các phương pháp canh tác tăng cường. Cũng như viên y sĩ và nữ điều dưỡng của Yad El cũng phục vụ cho cả người Ả Rập.
Đứa con cưng nhất của Kammal, Taha, trở thành người được gia đình Ben Canaan bảo trợ. Kammal đã truyền thụ lại cho Taha lý tưởng của mình: làm việc để cải thiện đời sống của các fellah. Đến nỗi rằng vị xã trưởng tương lai của Abou Yesha sống trong nông trường Do Thái nhiều hơn sống trong làng mình. Ari hơn Taha vài tuổi, đã kết bạn với Taha và đi đâu mọi người cũng thấy có hai người với nhau.
Tuy vậy, cái minh chứng tỏ Do Thái và Ả Rập có thể sống và làm việc cạnh nhau trong hòa thuận này không làm hài lòng tất cả mọi người. Đa số những effendi giàu đã bắt đầu sợ hãi điều mà dưới mặt họ, là một cái gương tầy trời đáng lo. Các đặc quyền của họ rồi sẽ ra sao nếu các fellah đòi hỏi quyền được đi học, đòi có các cơ sở vệ sinh, săn sóc y khoa? Nếu họ nghĩ tới - ý tưởng ghê khiếp thay! - việc bắt chước những tên Do Thái đáng nguyền rủa kia, những kẻ cai trị nhau theo phương pháp dân chủ và cho cả đàn bà quyền bỏ phiếu? Như vậy chắc sẽ là sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ phong kiến phụng sự rất tốt - cho quyền lợi của các effendi!
Để chống lại các tiến bộ của công cuộc khẩn hoang Do Thái, các effendi biết rằng họ có thể trông cậy ở sự ngu dốt, sợ hãi mê tín cùng lòng cuồng đạo của các nông dân Ả Rập. Mufti Hadj Amine, về phía ông, cũng nghĩ như thế. Dẫu sao ông cũng án binh bất động từ lâu quá rồi. Bây giờ, năm 1929, ông cho rằng đã đến lúc thuận tiện để hành động,
Địa điểm có giáo đường Omar ở Jérusalem được toàn thể thế giới Hồi giáo sùng kính như là nơi vị tiên tri đã thăng thiên. Vậy mà cũng tại địa điểm này có Bức Tường Than Khóc nổi danh, di tích sau cùng của ngôi đền thờ lớn của Do Thái đã bị quân La Mã phá hủy vào năm 70 trước TL. Những người Do Thái sùng tín thường đến tưởng niệm trước tường, để cầu nguyện và khóc cho sự huy hoàng đã mất của Vương quốc Israel.
Mufti Amine liền cho phổ biến các bức hình ngụy tạo trong đó mọi người thấy, trước Bức Tường Than Khóc những người Do Thái sắp sửa “báng bổ” thánh địa của giáo đường Omar. Cơn cuồng đạo của Hồi giáo lập tức bùng ra ngay. Dân chúng Ả Rập lại tấn công các ông già súng đạn vô phương tự vệ của các thành phố thánh, nhưng lần này các cuộc tàn sát đạt tới các tỷ lệ ghê gớm hơn các pogrom do chính mufti này tổ chức mười năm về trước nhiều. Các cuộc tàn sát cũng tràn đến cả một vài kibboutz nhỏ kém trang bị, nên con số người chết của hai bên lên tới nhiều nghìn người. Còn về người Anh, một lần nữa họ lại hầu như không sao phục hồi trật tự.
Ngược lại, họ chỉ định một ủy ban điều tra. Ủy ban này, sau khi qui trách nhiệm cho người Ả Rập mà thôi, đi đưa tới một kết luận không ai ngờ: bất cần cả bản Tuyên ngôn Balfour lẫn các điều khoản trong bản văn ủy trị, ủy ban khuyến cáo nên hạn chế nghiêm khắc việc nhập nội của Do Thái cùng việc mua đất “để làm giảm sự lo ngại của người Ả Rập”.



[/align]
0



Phần 2 - 11
 
Sáng hôm đó, Barak trao cho con trai việc mang lúa mì tới cối xay Aata ở làng Ả Rập cách đó chừng mười cây số. Sarah phản đối :
- Tại sao anh lại nghĩ tới chuyện đó! Một đứa bé mười bốn tuổi... Với những biến cố đang xảy ra, các cạm bẫy trên đường đi...
- Chính vì thế đấy! Cả con trai lẫn con gái tôi sẽ không có đứa nào suốt đời run lên như cầy sấy giống như dân Do Thái ghetto.
Rất kiêu hãnh được bố tin cậy, Ari treo lên chiếc xe do lừa kéo, khởi hành đi Aata.
Ngay khi Ari tiến vào làng, chừng mười tay du đãng Ả Rập quẩn quanh quanh quán cà-phê duy nhất ở nơi này đã nhận ra chàng rồi. Chúng chờ đợi cho tới khi xe Ari đã quẹo ở góc dường, mới kéo nhau đi theo tới tận máy xay. Ở bên trong, Ari, thạo tiếng Ả Rập, bàn cãi với chủ máy. Chàng muốn tự mình coi từ đầu tới chót để chắc chắn khi đã xay xong, chủ nhân phải đổ bột của mình vào các túi đựng bột của mình, chứ không phải đổ bậy bột lấy từ lúa mì Ả Rập tồi hơn rất nhiều. Chủ nhân rất lấy làm buồn vì hắn đã hy vọng tráo được mười hay hai mươi ký. Mọi việc xong xuôi, Ari lên đường trở về Yad El.
Chàng vừa ra đi, các du đãng Ả Rập đã lại đề nghị với chủ máy xay một đề nghị hấp dẫn: chúng sẽ cướp lấy bột của Ari rồi bán lại với chủ nhân bằng giá rẻ. Chủ máy nhận lời ngay lập tức, các du đãng rời làng bằng một con đường tắt, vội vã dựng một ụ đá chặn một cuối dốc.
Một vài phút sau Ari đâm đầu vào bẫy. Khi những viên đá đầu tiên ném ra như mưa, chàng quất mạnh roi thúc lừa cho chạy nhanh hơn để rồi phút sau đâm đầu vào hàng rào đá cản. Một viên đá ném trúng ngay đầu làm choáng váng, ngã gục xuống. Bốn du đãng lao ra đè chặt cứng chàng xuống đất trong khi những đứa còn lại chuyển các túi bột xuống xe mang đi.
Đến khuya Ari mới trở về được Yad El.
Chính Sarah ra mở cửa. Khi nhìn thấy mặt Ari đầy máu, quần áo tả tơi, bà hét lên. Răng xiết chặt, Ari đi thẳng lên phòng riêng đóng cửa lại khóa chặt. Chàng chỉ chịu xuống khi bố đã đi dự một buổi họp của moshav về. Chàng cố gắng nói rõ từng tiếng mặc dù môi sưng vù rướm máu :
- Con đã phụ lòng tin của bố. Con đã để mất bột rồi.
Barak phản đối :
- Chính bố mới đáng trách. Chỉ bố đáng trách thôi.
Sarah chạy ra ôm con vào lòng :
- Anh nghe đây, không bao giờ anh được gửi con đi một mình nữa... Không bao giờ...
Barak không trả lời. Nhưng sáng hôm sau ông đưa Ari vào vựa thóc, nói :
- Bố đã quên không dạy con về một vài phương diện...
Ông lấy chiếc roi da cũ ra, tay một thứ hình nhân đưa ra cắm ở bờ rào. Ông cắt nghĩa rất lâu cho con ước lượng xa gần, nhắm và đánh như thế nào. Nghe thấy tiếng kêu réo đầu tiên, Sarah ôm bé gái Jordana chạy lại :
- Anh điên sao anh? Dạy cho đứa bé đáng thương này cách xử dụng roi da... anh điên thật rồi đó anh!
Lần đầu tiên từ hai mươi năm lấy chồng, Sarah thấy sợ hãi chồng. Barak gầm lên :
- Bà im đi! Con trai của Barak Ben Canaan là một con người tự do! Nó sẽ không bao giờ là một Do Thái ghetto hết. Rồi, bây giờ bà đi chỗ khác cho, đàn ông chúng tôi không muốn mất thì giờ với các lời lèm bèm của đàn bà!
Đây quả là một vụ huấn luyện đến nơi đến chốn. Từ sáng đến chiều Ari tập dượt không ngừng. Hình nhân bị đánh nát tan từng mảnh, chàng lấy đích là các hòn đá, các vỏ đồ hộp, chai lọ, tập cho tới khi chàng chỉ vung tay lên một lần là đánh trúng được. Tối đến, chàng không đủ sức để giơ tay lên nữa.
Sau nửa tháng, Barah lại xếp mười hai túi lúa mì rồi lên xe lừa.
- Mang đến máy xay Aata, xay thành bột. Đừng có quên chiếc roi da. Nhưng con phải nhớ điều này: con không có quyền dùng roi vì tức giận hay để trả thù, con chỉ được dùng nó để tự vệ mà thôi.
Khi chiếc xe lên đường Sarah chạy vào phòng riêng, nằm gục xuống giường khóc nức nở. Barah, ông làm điều ông đã bao nhiêu năm nay không làm: ngồi trong chiếc ghế bành ưa thích nhất, ông đọc Thánh Kinh.
Khi rời Aata về, Ari lại rơi vào ổ phục kích cũng vẫn do tụi du đãng ấy tổ chức. Nhưng lần này chàng đề phòng rồi. Ngay khi các viên đá đầu tiên rơi xuống gần xe, chàng phóng ngay xuống đất đi lùng tên chúa đảng, tay cầm roi da. Vù một cái, sợi da dài đã quấn quanh thân tên Ả Rập, nâng bổng hắn lên, quật xuống đất. Ngay lập tức Ari gỡ roi ra và đánh một nhát thứ hai xuống làm tung da thịt. Mười giây sau, chàng làm chủ chiến trường.
Ở Yad El, Barak bắt đầu lo ngại: hoàng hôn xuống rồi và Ari chưa trở về. Sau cùng, ông thấy chiếc xe xuất hiện trên đường. Ông bình tĩnh uể oải tien ra bờ rào :
- Thế nào Ari! Mọi sự ra sao?
- Tốt đẹp lắm bố.
- Để bố mang các túi bột xuống. Con phải lên thăm mẹ ngay. Mẹ con đang lo lắng lắm, bố cũng chẳng hiểu rõ tại sao...

Năm 1930, các rối loạn đã gần như ngừng hẳn. Vả lại đa số các làng Ả Rập thoát khỏi ảnh hưởng của mufti, đã khước từ tham gia vào các vụ rối loạn đó.
Ari Ben Canaan càng ngày càng giống bố. Cũng cao lớn, khỏe mạnh như Barak, chàng cũng thừa hưởng tính bình tĩnh cùng lòng bướng bỉnh lạnh lùng của bố.. Hoàn toàn tin rằng một sự sống chung hòa thuận thành thật với người Ả Rập có thể có được, chàng vẫn có bạn thân là Taha, con trai của mouktar làng Abou Yesha.
Từ vài tháng nay, chàng yêu cô gái con trại chủ lân cận. Và nàng Dafna cũng chỉ để mắt tới chàng, tất cả mọi người đều tin chắc hai người sẽ lấy nhau trong vài năm tới. Khi ấy hai người sẽ là đôi lứa điển hình cho thế hệ mới của Palestine, thế hệ sinh trưởng ở trong xứ. Ngay từ bây giờ, Ari, mười lăm tuổi, đã là đoàn viên Haganah, đoàn dân vệ, và Dafna, mười ba tuổi, đã biết xử dụng năm sáu thứ vũ khí khác nhau. Cả hai đều kiêu hãnh khỏe mạnh và ý thức rõ nhiệm vụ định mệnh đã trao phó cho mình.
Một thời gian sau khi các vụ rối loạn chấm dứt, vị mufti, được sự của người Anh khuyến khích, âm thầm cho triệu tập một đại hội quốc tế Hồi giáo. Trước rất nhiều đại diện đã tới Jérusalem, ông tuyên bố thành lập một Liên bang (dĩ nhiên do ông chỉ huy) và tuyên bố quyết định cứu Hồi giáo khỏi nỗi hiểm nguy là người Anh và Do Thái.
Mới nhìn thoáng qua, tưởng chừng các lời lộng ngôn của các chính khách mị dân Ả Rập sẽ không có hiệu quả thực tế nào, nhất là bây giờ đoàn Haganah đã đủ mạnh để hãm bớt sự hăng hái của mufti cùng thủ hạ. Tuy thế, ngay từ 1933, tình hình mỗi lúc một nghiêm trọng hơn vì sự kiện Hitler cùng đảng Quốc Xã lên cầm quyền ở bên Đức. Trước viễn ảnh một đợt sóng di cư mới cùng lời đe dọa sẽ tổng đình công của người Ả Rập (để phản đối đợt di cư nếu có ấy), người Anh quyết định áp dụng các khuyến cáo của ủy ban điều tra: giới hạn số chiếu khán cấp phát và việc mua đất của các tổ chức Do Thái. Cũng vì thế, ngay vào lúc hàng chục ngàn người Do Thái Âu châu tìm kiếm tuyệt vọng một quốc gia nhận cho mình tị nạn, thì Anh quốc, để quên lãng lời hứa, đã đóng cửa các biên thùy của Palestine.
Dân Do Thái, qua trung gian là Haganah, phản ứng lại bằng phương sách hoạt động duy nhất còn lại: xử dụng các tay phá phong tỏa của tổ chức Mossad Aliyabet. Nhưng không may là vị mufti, xử dụng không biết xấu hổ một thứ áp lực gần như là xăng-ta, tranh đấu hăng hái đến nỗi người Anh sau cùng đành trao phó cho Hải quân Anh nhiệm vụ ngăn chặn các tàu của Mossad. Mufti hết sức mừng rỡ, không những vì người Anh cố gắng tối đa để ông khỏi bị vất vả gì hết, mà còn tìm thấy ở Hitler một bạn đồng minh mạnh không ngờ đến. Nuôi nhiều tham vọng lớn trong vùng Trung Đông Đức coi vị mufti này như một tay tuyên truyền rất tốt. Ở Caire và Damas, tiền bạc quốc xã tung ra như suối. Hỡi những người Ả Rập, Đức quốc là bạn của các bạn! Đất Ả Rập của người Ả Rập! Hãy tống cổ tụi Anh và đồng bọn Do Thái ra ngoài!
Trước cơn bão tố sắp sửa xảy ra, cộng đồng Do Thái Palestine chỉ có một lợi điểm, nhưng đáng kể: Haganah với hai mươi lăm ngàn nam nữ tổ chức được một đoàn dân quân do chừng hai mươi lăm đến ba mươi “sĩ quan chuyên nghiệp” chỉ huy, một cơ quan phản tình báo hết sức hiệu lực, trông cậy sự hợp tác thành thật của nhiều quân nhân Anh, và nương dựa vào sự tham nhũng tiền bạc đến mức độ mua chuộc dễ người Ả Rập. Mỗi thành phố, mỗi làng, và đến từng kibboutz; và moshav nhỏ nhất, cũng đều có các đơn vị dân vệ. Nhờ một bản mật mã, tư lệnh Haganah trong khoảng thời gian vài phút, có thể động viên hàng trăm nam nữ đến những nơi tồn trữ súng giấu diếm rải rác khắp xứ.
Mua từ khắp trên thế giới, các vũ khí được nhập nội Palestine bằng cả trăm ngàn phương cách khác nhau. Thí dụ như trong xe hủ lô chẳng hạn: một hủ lô thôi có thể chứa dễ dàng trăm khẩu carbine. Còn về đạn dược, mọi người giấu trong các kiện hàng, đồ hộp ngay cả tới trong các chai rượu vang nữa. Người Anh chỉ có thể ngăn chặn sự nhập nội bất hợp pháp này bằng cách kiểm soát tất cả các món hàng nhập cảng, nhưng làm như thế là hóa ra đình chỉ nhập cảng luôn. Và hơn nữa vì nhiều người Anh sẵn lòng quay mặt đi chỗ khác khi thấy một kiện hàng khả nghi...
Tuy vậy, mặc dù sự tham dự tích cực của dân chúng Do Thái, hiển nhiên là việc nhập cảng lậu không cho phép đưa vào các vũ khí nặng cùng số vũ khí tối tân đủ dùng cho cá nhân. Đa số các vụ mua súng ở ngoại quốc đều chỉ là súng trường, carbine, súng lục biến cải hay cổ lỗ. Không có một kho vũ khí nào trên thế giới lại linh tinh tạp nham cho bằng kho vũ khí của Haganah. Để chấn chỉnh một phần nào tình trạng này, các cơ xưởng chế tạo vũ khí lậu được thành lập ngay ở Palestine để chế tạo các loại súng cối, đại liên, trung liên và lựu đạn. Còn về chỗ giấu, không thành vấn đề, một khi vũ khí đã được nhập nội rồi, bất cứ ngăn kéo, tủ lạnh, giường tủ nào cũng có thể giấu được vài ba khẩu, chưa kể các sàn nhà, cửa giả hay tường rỗng. Còn về vấn đề chuyên chở, mọi người cũng không khó tính. Các vũ khí đi “phiêu du” trong các bánh xe sơ-cua của xe vận tải, ở dưới các cần xé thực phẩm, các xọt chồng chất trên xe lừa. Và biết người Anh tính e thẹn, Hagana không ngần ngại trao vũ khí cho đàn bà giấu dưới váy mang đi.
Còn lại vấn đề huấn luyện quân sĩ. Trong địa hạt này cũng như trong việc khai hoang, chính các kibboutz đã giải quyết được nhờ ở cơ cấu tổ chức cộng đồng của họ. Không có gì dễ cho bằng gửi hai mươi hay ba mươi quân nhân trẻ trà trộn vào bốn trăm năm trăm người trong một nông trường, lập các kho giấu vũ khí chính tại đó, cũng như thiết lập các công binh xưởng bí mật. Và đa số các cấp chỉ huy của Haganah cũng đều xuất phát từ các kibboutz.
Tất cả các tổ chức này, do Avidan thực hiện trước mũi người Anh, rút sức mạnh từ sự kiện là không một người Do Thái nào nghĩ tới việc phủ nhận quyền bính của ông hết. Người ta không bàn cãi một mệnh lệnh của Haganah, ngươi ta chỉ thi hành thôi. Tuy thế, ở trong Bộ Tư lệnh, lại có những chia rẽ quan trọng. Đối với Avidan và các cấp chỉ huy cựu trào, Haganah chỉ xử dụng tới võ lực khi cần tự vệ mà thôi. Sự dè dặt này mỗi ngày càng làm khó chịu phe tích cực ủng hộ việc trả đũa chớp nhoáng mỗi khi có bất cứ khiêu khích nào. Trong số những người thuộc thành phần này, Akiba - chính thức ra chỉ là một người làm nghề chăn nuôi khiêm tốn ở kibbotz Ein Or, không chính thức ra thì là kẻ đặc trách quân sự tỉnh Galilée - có một uy tín lớn đối với một số đàn em. Khi người Anh công bố phong tỏa bờ biển Palestine, Akiba cho rằng thời kỳ cũ xưa đã qua rồi. Ông tụ họp một số người đồng quan điểm, và các tay nổi loạn này đã có một quyết định làm rung chuyển cộng đồng Do Thái.

Mùa xuân 1934, Barak Ben Canaan được Avidan yêu cầu tới gặp Bộ Tư lệnh của Haganah đặt tại Jérusalem.
- Một tai họa xảy đến cho chúng ta, Barak. Akiba đã rời khỏi Haganah, lôi cuốn theo nhiều đơn vị trưởng tài ba nhất của chúng ta. Và hàng trăm dân vệ khác cũng sắp noi gương Akiba.
Barak thốt lên một tiếng thở dài.
- Chúng ta chờ chuyện đó xảy ra chứ: Akiba nói tới việc này từ nhiều năm rồi. Tôi chỉ ngạc nhiên là tại sao chú ấy có thể chịu nhịn được cho tới giờ phút này. Chú ấy uất ức kể từ ngày ông cụ chúng tôi bị bọn học sinh trung học ở Jitomir giết chết. Và chú cũng chưa bao giờ quên được vụ vợ con bị giết.
Avidan nhún đôi vai u :
- Anh cũng biết là một nửa công việc của tôi trong Haganah là kìm bớt tính sốt ruột điên rồ của các người trẻ. Nếu chúng ta để cho họ làm theo ý muốn, ngay ngày mai họ sẽ tuyên bố khai chiến với Đế quốc Anh! Các tính tình của anh, của tôi, của Akiba chắc chắn đều giống nhau như hệt, nhưng ông em anh dám phá hủy công cuộc của chúng ta. Một trong những lý do cắt nghĩa tại sao cho tới giờ phút này chúng ta đã làm được bao nhiều là việc đó chính là thứ mặt trận thống nhất chúng ta đưa ra đương đầu với địch, mặc dù các bất đồng bên trong. Bây giờ Akiba và các thành phần tích cực quá đáng ấy sẽ làm vỡ sự thống nhất. Nếu họ tung ra các hoạt động đặc công, tất cả cộng đồng Do Thái sẽ lãnh đủ hết.

Barak rời Jérusalem để tới Ein Or. Nông trường này, như mọi kibboutz đã thành lập được lâu, trông như cả một khu vườn. Với tư cách cựu trào, Akiba được sống riêng biệt trong một nhà riêng hai phòng đầy những sách. Ông cũng còn quyền, hết sức là đặc biệt, có riêng một máy phát thanh. Trong khung cảnh yêu dấu, Akiba có thể sung sướng nếu ông đã tìm cách giải thoát khỏi bóng ma ám ảnh của vợ và con đã bị giết chết.
Ngay từ những lời nói đầu tiên của Barak, Akiba đã lộ rõ một vẻ nóng nảy giận dữ. Hiển nhiên là ông sợ vụ phải cắt nghĩa trình bày này với anh ruột.
- Tôi thấy là quý ông trong Trung ương đã gửi anh tới đây để nước mắt ngắn dài với tôi. Tại sao mấy ông bự đó không thân chinh lại đây? Mấy ông đó hẳn rất thạo nghệ trong việc xoa dịu thiên hạ mà.
Barak trả lời :
- Tôi vẫn cứ lại đây dầu họ không yêu cầu. Ngay từ lúc tôi biết chuyện điên rồ của chú....
- Điên rồ? Tôi chỉ làm những gì mà Trung ương sợ không dám làm thôi. Nhưng sớm hay muộn, ngay mấy ông giáo chủ quá thận trọng với bất cứ giá nào đó cũng sẽ bắt buộc phải nhìn thẳng vào thực tại. Người Anh là kẻ thù của chúng ta....
- Tôi không tin thế chút nào, chú Akiba. Xét chung, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp dưới triều đại của người Anh. Dầu thế nào người Anh cũng là chính quyền hợp pháp ở Palestine.
Akiba mỉa mai :
- Một chánh quyền sẵn sàng cắt cổ chúng ta. Những quý vị hào hoa phong nhã trong Trung ương đi hết từ hội nghị này sang hội nghị khác, một cái cặp đầy căng giấy tờ cắp nách, đọc các bài diễn văn, cúi mình chào và cười cười, trong khi tên mufti cùng các tay sát nhân của hắn tự do hành động. Anh có thấy tại Ả Rập chịu điều đình với chúng ta không?
- Chúng ta vẫn tiếp tục các mục tiêu của chúng ta bằng các con đường hợp pháp.
- Chúng ta chỉ có thể đạt tới các mục tiêu đó nếu chúng ta chiến đấu thôi!
- Cứ cho là thế đi! Nhưng nếu chúng ta bắt buộc phải chiến đấu, thì chúng ta hãy cùng tiến bước dưới cùng một lá cờ. Chú, khi chú thành lập đoàn quân ngoài vòng pháp luật như thế, chú tự xếp chú ngang hàng với tên mufti. Chú có bao giờ nghĩ tới các hậu quả do sự ra khỏi Palestine của người Anh sẽ mang lại không? Dù sự chua chát của chú (và cả của tôi nữa) có lớn tới đâu đi nữa, thì người Anh vẫn còn là may mắn lớn nhất cho chúng ta để đạt tới qui chế Quốc gia một ngày kia.
- Chúng ta sẽ trở thành một quốc gia theo cùng cách thế chúng ta đã khai hoang: bằng mồ hôi và bằng máu của chúng ta. Về phần tôi, tôi chán ngồi móc meo trong cái xó này đợi người Anh ném cho chúng ta hạt cơm thừa miếng canh cặn.
Barak phải cố gắng mới kiềm chế nổi mình :
- Chú Akiba, lần chót tôi yêu cầu chú đừng làm như thế. Làm vậy chú chỉ mang lại cho kẻ địch của chúng ta cơ hội để bôi nhọ vu cáo chúng ta thêm mà thôi...
Akiba kêu lên :.
- À, vậy thế hả! Sau cùng, chúng ta đã đến tận cùng của vấn đề rồi đây. Bao giờ cũng cái bản nhạc cũ rích ấy hả? Một Do Thái phải tuân theo “luật chơi”, một Do Thái thì phải cầu xin, phải kêu gọi tới tình nhân đạo, một Do Thái là phải giơ má ra...
- Chú im đi!
Akiba hét lên :
- Tôi không im! Các anh ấy à, các anh chỉ có mỗi một nguyên tắc thôi: chúng ta làm gì thì làm nhưng đừng có chiến đấu. Tụi Đức, tụi Ả Rập, Anh coi các anh như các đứa trẻ con thiếu giáo dục cũng là quá ghê rồi.
- Tôi nói với chú là chú im đi.
- Thật thế hả? Anh Barak, anh là cái đồ Do Thái ghetto... các anh là thế đấy, cả các quý vị trong Trung ương nữa. Này đây, ông anh yêu quý của tôi nghe đây, tôi, tôi có thể lầm lẫn, nhưng tôi muốn sống. Mặc kệ tất cả thế giới có cho ước muốn này của tôi có là sai lầm chăng nữa!
Bây giờ đến lượt Barak run lên vì tức giận. Ông đứng dậy, giận dữ, căng thẳng, tiến ra phía cửa. Đằng sau ông, Akiba tiếp tục thốt hết ra những hận thù :
- Anh hãy nói với tất cả các kẻ chuộng ăn nói rằng Akiba cùng các Macchabée (Thây ma) có một thông điệp xin gởi tới người Anh cùng Ả Rập: “Mắt đổi mắt, răng đổi răng!”
Đứng trên ngưỡng cửa, Barak quay đầu lại :
- Thế đủ rồi! Từ giờ chú không được đặt chân vào nhà tôi nữa, không bao giờ.
Akiba sững người. Môi ông bắt đầu run lên, mắt mờ đi, nói nhỏ, không tin :
- Không bao giờ được đặt chân vào nhà anh? Anh Barak, coi kìa, chúng ta là anh em... Anh đã mang tôi trên lưng từ Nga về Palestine này...
- ... Để ngày nay hối tiếc đã làm như thế.
- Vậy anh muốn kết tội tôi chỉ vì tôi hành động theo lương tâm tôi?
Nhìn thấy Barak đặt tay lên chốt cửa, Akiba đột nhiên lại tức giận :
- Barak Ben Canaan, anh nghe lời chót đây: Không một hành động nào của chúng ta, dù cao quý hay bất xứng, lại có thể nặng nề cho bằng những hành động thiên hạ đã làm đối với dân tộc Do Thái. Ngày mai đây, cho rằng các Macchabée có nổi điên lên nữa đi nữa, thì thử hỏi mọi người lấy quyền gì mà trách cứ một khi dân tộc Do Thái đã bị hành hạ suốt hai ngàn năm?



[/align]
0
2-16
 
Sau khi được xét lại, tân trang, tiếp tế đủ thực phẩm nhiên liệu, tầu Exodus đã sẵn sàng nhổ neo đi Palestine.
Ari đã ấn định ngày khởi hành và hôm sau lễ Chanoukah, mà cộng đồng Do-thái ở Chypre đã mở ra để khoản đãi các trẻ em trên sân thượng “Khách sạn Dôme”.
Các quan khách và thủy thủ đoàn đã được mời ngồi vào các bàn danh dự. Ba trăm trẻ em, mặc quần áo mới, vui vẻ ào vào các đống quà do lòng hảo tâm của dân đảo Chypre và của nhiều quân sĩ Anh tặng đã xếp đống sẵn từ nhiều ngày. Việc phân phát quà thực hiện rất nhanh: mỗi trẻ chỉ nhận một món quà thôi, phần còn lại dành cho các người còn bị giam giữ ở trại Caraolos. Sau đó là bữa ăn với các dẫy bàn dài đầy thực phẩm ngon lành. Đó quả là một giờ thần tiên của các đứa bé trai gái đã cương quyết tuyệt thực như người lớn và bây giờ đã lại có thể được làm trẻ con.
Lo lắng đưa mắt tìm bà bạn Kitty trong đám thực khách, Karen sau cùng sung sướng đã tìm ra nàng đang đứng tựa vào bao lơn cùng với Mark Parker.
- Cô Kitty, lại đây cô. Chỗ này còn chỗ cho cô.
Kitty lắc đầu.
- Không được đâu em. Hôm nay là ngày vui của các em chứ. Chúng tôi chỉ nhìn các em cũng đủ thích rồi.
Trên bàn danh dự, David Ben Ami đứng dậy và xin cử tọa im lặng. Chàng bắt đầu nói:
- Chiều hôm nay chúng ta cử hành lễ Chanoukoh ngày đầu để tưởng niệm Judas Macchabée cùng sáu em và một nhóm người can đảm đã từ vùng đồi Judée tiến xuống để chiến đấu chống lại kẻ áp bức Hy-lạp. Đó là một đoàn quân thiếu trang bị, ít ỏi đến mức khôi hài trước đạo quân Hy-lạp lúc đó đang thống trị thế giới. Nhưng đó là một đoàn quân có một niềm tin sâu xa mãnh liệt ở Thượng đế cùng sự trợ giúp của Ngài. Họ đã tấn công Jérusalem, chiếm đô thị này, tiến vào đền thờ lật đổ tượng Zeus và trả lại đền cho Đấng Vĩnh cửu duy nhất và toàn năng. Chính Đấng Vĩnh cửu này đã đang giúp đỡ chúng ta chống lại người Anh.
Chàng phải đợi các tràng vỗ tay tán thưởng chấm dứt mới tiếp tục thuật tiếp câu chuyện phục sinh của Do-thái. Kitty Fremont mê say lắng nghe. Nàng nhìn Karen, nàng nhìn Dov Landau. Nàng quay lại nhìn Mark - để nhận ra là tướng Sutherland đang đứng gần nàng. Mắt nàng hướng về phía đầu bàn danh dự - nhìn Zev Zilboa, người nông dân xứ Galilée, nhìn Joab Yarkoni, người xứ Ma-rốc bé nhỏ, David Ben Ami, người trí thức thành Jérusalem. Sau cùng mắt nàng dừng lại ở Ari Ben Canaan. Người thanh niên Palestine to lớn này, bây giờ mới có dịp để buông xả, có vẻ như muốn gục xuống vì mệt. Lần đầu tiên từ nhiều tuần lễ...
David lớn tiến đọc:
- ... Hãy ghi nhớ điều này. Kẻ nào bảo vệ Israël không được lơ là, không được thiếp ngủ...
Kitty cảm thấy rùng mình lạnh lẽo từ đầu đến chân. Nàng không sao rời mắt khỏi khuôn mặt hốc hác của Ari Ben Canaan...
“Kẻ nào bảo vệ Israël không được lơ là, không được thiếp ngủ...”
 
Các động cơ tầu Exodus bắt đầu lịch kịch nổ máy chạy. Tầu rời ke, chậm chạp quay mũi vượt qua lối ra hải cảng, hướng về Palestine.
Rạng đông ngày thứ hai, tất cả, không ngoại trừ một ai, đều chờ đợi xuất hiện bờ biển đã ao ước biết bao lâu.
- Nhìn kia!... Đất Israël!
Sau đó là một tiếng kêu đồng loạt tiếng hét, vui mừng, tiếng khóc nức nở, tiếng cười và nước mắt.
 
 
Ở Haïfa, tầu Exodus cập bến là cả một biến cố. Cần phải thiết đãi những đứa trẻ đã từng làm xiêu cả Đế quốc Anh. Exodus tiến vào hải cảng giữa những tiếng còi hụ liên hồi, tiếng còi huýt đến như điên cuồng. Trên các ke, hai mươi lăm ngàn người hoan hô hết mình sự can trường của chiếc tầu nhỏ bé cùng các hành khách trên tầu. Người ta hầu như không nghe thấy bài ca chính thức của phong trào phục quốc Hatikvah (Hy vọng), do ban nhạc hòa tấu của Palestine cử hành.
Tầu Exodus đã hoàn tất chuyến viễn hành!
 
0
 
 
PHẦN NĂM
 
5-1
 
Với cánh phượng hoàng
 
NOME (ALASKA)
THÁNG MƯỜI 1948
 
Tất cả phi cơ của công ty Arctic Circle Airways trước sau chỉ có ba chiếc phi cơ chở hàng mua từ kho thặng dư phế thải của quân đội, và Stretch Thompson đã mua trả góp.
Cựu phi công chiến đấu ở Alaska, Stretch đã nổi tiếng là một anh chàng giầu óc tưởng tượng, nhất là cần tránh thứ tạp dịch buồn chán, các công việc đều đều. Trong những chuyến bay đêm, chàng đã có thì giờ để suy nghĩ đến các vấn đề không vui gì do việc giải ngũ sau này đặt ra. Một tối kia, chàng đã tìm ra giải pháp:
Cua!
Dọc theo các bờ biển có hàng triệu con cua vua rất to khỏe, có nhiều con có tới 40 phân đường kính. Một người khôn khéo chắc hẳn phải tìm được cách làm cho các nhà tiêu thụ khoái khẩu với cái thứ thịt trắng và chắc, mà nghĩ cho kỹ, đâu có thua sút gì tôm hùm của tiểu bang Maine. Chỉ có việc lượm thứ của trời cho lúc nhúc ấy, chèn nước đá vào rồi chuyên chở - dĩ nhiên bằng máy bay rồi - về Hoa-kỳ. Một chút quảng cáo nữa là các nhà buôn sẽ đổ xô tới thứ thức ăn trời cho này. Và trong vài năm, chàng sẽ giàu - chàng, Stretch Thompson, vua của cua vua.
Chắc đã có một trục trặc nào đó trong vụ tính toán này, có lẽ tại nhân loại chưa được tiến hóa lắm để thưởng thức món ăn Bắc cực này. Dù thế nào chăng nữa, việc bảo trì phi cơ, xăng nhớt và tiền công cho phi công cứ nhất định vượt quá tổng số thu do việc bán cua mang lại. May thay, Stretch lại không phải là người chịu thua nghịch cảnh. Nhờ có mồm mép khác thường và tính toán khôn khéo, chàng đương đầu được với bầy chủ nợ mà vẫn duy trì được, với sự tăng cường bằng giây kẽm, vải đeo dính và các lời chửi thề tùm lum, ba phi cơ trong tình trạng bay được. Và cứ đều đều, vào lúc trời tối sầm lại tới nơi tới chốn, thì lại có một chuyến chở mướn công cao tới cứu vãn.
Một yếu tố may mắn khác, đó là sự chung thủy của phi công trưởng (và thường cũng là phi công duy nhất), anh chàng Foster MacWilliams, một tay nghệ sĩ đích thực trong việc điều khiển cái cán chổi. Tài khéo léo của Foster đã nổi danh đến nỗi không ai dám nhận lời cá với chàng như sau: cá một trăm đô-la thôi, chàng sẽ đáp được chiếc C 47 xuống đầu một khối băng sơn dù trong tình trạng say rượu gần chết đi nữa. Nhưng bất hạnh thay là Foster MacWilliams lại có một tâm hồn lang thang: nếu chàng mê bay, thì chàng lại rất kinh hãi những phi trình ấn định trước cùng các thời biểu phải tôn trọng. Đến nỗi rằng chưa bao giờ chàng quyết định được đến làm cho một công ty hàng không lớn. Ngược lại, các phi trình bất nhất, các phi vụ thường là nguy hiểm của Arctic Circle Airways lại hoàn toàn vừa ý chàng.
Một ngày nọ, khi chàng tiến vào hăng-ga ở đầu phi đạo, trụ sở và bất động sản duy nhất của công ty, Stretch Thompson nhìn chàng với vẻ suy tư.
- Này cụ, cụ có khoái sống trong một xứ nhiều mặt trời hơn - và đồng thời nhận đủ tất cả số lương chưa được lãnh cho tới giờ không?
- Này bồ Stretch, bồ vẫn cứ nhăn nhó đều đều đó phải không?
- Lần này tôi không có đùa đâu, thưa cụ. Chuyện làm ăn cẩn thận đấy.
- Bồ không bán tống bán tháo cái đại công ty này rồi chứ?
- Cụ đoán sao mà hay vậy.
MacWilliams có vẻ sững sờ ngạc nhiên.
- Này, ai có thể gồng lên mà mua những con chim cu về già của chúng ta vậy?
- Tôi không có yêu cầu người mua thuật sự mô tả lại tiểu sử. Tôi chỉ biết ngân phiếu thơm lắm và tính tôi thì dễ, thế là hài lòng rồi.
Foster MacWilliams xoa cằm:
- Vụ này có vẻ tới đúng lúc đấy, bồ Stretch. Tôi cũng bắt đầu ngấy lạnh, sương mù và cua rồi. Theo như bồ tính, bồ thiếu tôi bao nhiêu tất cả?
- Tính cả tiền thưởng, chắc không xa bốn ngàn đôn là mấy.
- Một khoản xinh đấy chứ? Với khoản này, tôi sẽ có thể tặng tôi một chầu rượu chè gái ghiếc từ đây xuống tới Nam Mỹ. Lý do là tại lúc này tôi đang khoái xuống cái miền đó. Hình như thiên hạ trả công khá lắm cho những tên chuyên chở chất nổ băng qua dẫy Andes.
Stretch nói:
- Nhưng hiện chỉ có một trục trặc nhỏ, cụ Foster.
- Tôi nghĩ rằng chắc hẳn là phải có trục trặc.
- Tôi đã phải ký thuận sẽ trao ba chiếc máy già của chúng ta tại sân bay của người mua. Tôi đã tìm thấy người lái chiếc số 1 và chiếc số 2... còn mỗi chiếc số 3 là chưa có ai.
- Điều đó có nghĩa là bồ lại trông cậy ở tôi một lần nữa rồi đó. Xong rồi. Chúng ta phải trao chiếc phi cơ vừa bay vừa ho hen của chúng ta ở xó nào đây.
- Ở Israël.
- Israël? Chỗ nào vậy? Chưa bao giờ nghe ai nói tới cái tên này cả.
Stretch gật gù:
- Tôi cũng thế cụ ạ. Tôi đang kiếm cái tên đó trên bản đồ thì cụ tới.
Cả hai người chúi mũi vào bản đồ thế giới, dò từ trên xuống dưới từ trái sang phải. Sau một giờ đồng hồ, cả hai người bỏ cuộc. Foster lắc đầu:
- Thiên hạ giỡn với bồ rồi bồ ơi.
Họ đi làm một chầu khắp các quán rượu ở Nomé, nhưng ngoại trừ một ông quản già phát biểu rằng “cái tên đó có nhắc tới một cái gì đó”, còn không được ai nghe nói đến cái xứ mang tên Israël bao giờ. Sau cùng, vào lúc hàng quán đóng cửa, có người đề nghị hãy tới đánh thức hiệu sách duy nhất trong thị trấn Nomé dậy mà hỏi.
Chủ hiệu sách hét lên:
- Israël hả? Đó là tên mới của Palestine, ngu ơi là ngu! Có vậy mà các anh tưởng hay lắm đến đấm cửa nhà người ta vào lúc nửa đêm như vậy hả!
Trở về hăng-ga, hai người lại dò tìm trên bản đồ thế giới. Sau cùng Stretch khám phá ra một cái xứ nhỏ xíu. Foster làm một điệu bộ ra vẻ buồn tiếc, lầu nhầu:
- Này, hấp dẫn đấy chứ! Đất với nước gì mà chỉ to hơn một tảng băng lớn mà thôi. Tôi dám bay băng qua luôn mà không biết lắm!
Ba tuần sau, Foster MacWilliams đáp chiếc máy bay số 3 của nguyên công ty Arctic Airways xuống phi trường Lydda. Stretch Thompson, tới từ tám ngày trước, đang chờ sẵn để lôi chàng về một văn phòng cửa có đề: Palestine Central Airways: S. Thompson, Tổng Giám đốc.
- Chuyến đi vui chứ! Tôi rất khoái được gặp cụ đó, cụ Foster ạ.
- Xong này. Này, đang lúc bồ vui vẻ thơ thới hân hoan, bồ hãy tử tế làm ơn thanh toán tất cả số lương bồ còn thiếu tôi đi. Tôi định “vi hành” sang Paris để vui chơi trong một tháng trước khi đi Rio.
- Có ngay. Tấm séc của cụ đã sẵng sàng từ lâu rồi, trong tủ sắt kia.
Foster nhìn tấm séc, mắt xoe tròn.
- Bốn ngàn năm trăm đôn! Lạ quá ta...
- Năm trăm đôn phụ trội ấy, đó là để chứng tỏ rằng tên Stretch Thompson này không phải là thứ không có nghĩa với bạn.
- Bồ quả là một vĩ nhân đấy... từ xưa tôi vẫn ca bạn như thế mà.
- Vậy hả? Này, cụ Foster, chỗ này là nơi hấp dẫn đấy. Toàn dân Do-thái không à - cụ tin ở tôi đi, đổi hẳn không khí xứ Alaska được. Cụ có thấy tấm biển để cửa văn phòng không? Chính tôi tìm ra cái tên hay như thế đó: Palestine Central Airways. Được chứ? Cụ biết không, dân ở đây chẳng có bao kinh nghiệm trong việc tổ chức một công ty hàng không cỡ quốc tế, họ đã yêu cầu tôi giúp cho họ một tay và tôi đã không nỡ từ chối. Nhưng tôi đã nói với họ ngay tại chỗ rằng: “Nếu quý vị muốn có một công ty toàn hảo, quý vị phải có được một phi công trưởng toàn hảo - và tôi hiện lại đang có được một tay phi công hữu hạng nhất chưa từng thấy từ xưa nay”.
Foster vội vã đứng ngay dậy:
- Tôi sẽ cố gắng lại chào bồ trước khi ra đi...
- Cái gì mà cuống lên thế? Đâu có lửa cháy ở đây phải không?
- Tôi đã đang ở trên trường đi Paris rồi...
- Tôi có một đề nghị với cụ...
- Chắc chắn là tôi không thích cái gọi là đề nghị ấy của bồ đâu.
- Thì ít nhất cụ cũng làm một đường lịch sự tối thiểu để nghe tôi nói cho xong đã chứ.
- Tôi sắng lòng nghe bồ thật kỹ, nhưng tôi nói trước cho bồ biết là không thuyết phục được tôi đâu. Tôi sẽ đi Paris, nếu cần bơi qua biển cũng bơi.
- Được rồi, được rồi. Bây giờ cụ nghe đây. Như tôi vừa nói đó, ở đây toàn Do-thái không. Thế mà họ lại còn cho là chưa nhiều. Chính vì thế họ mới mua công ty của chúng ta - để chuyên chở thêm nhiều Do-thái nữa về đây. Hình như có cả trăm cả ngàn Do-thái khác trên khắp thế giới đang sốt ruột chờ đợi người tới đón họ về. Việc của chúng ta là chuyên chở họ. Cụ hiểu rõ chứ... hàng trăm phi vụ, tầu đầy nứt người và những kẻ ở đây cứ trả tiền đều đều, đếm đầu hành khách mà trả tiền mặt... Trước kia bọn mình giữa đêm bò dậy đi bay với số công còn mạt hơn thế nhiều. Cụ Foster, cụ ở lại với tôi đi, tôi bảo đảm là cụ sẽ lăn trên đống vàng. Nói thế nào nhỉ... cụ sẽ tắm trong vàng luôn! Cụ biết tôi đó... tôi đâu phải là kẻ không biết ăn ở phải đạo với anh em...
- Tôi thích tắm trong một đại khách sạn ở Paris hơn. Tôi... thôi, chào bồ Stretch. Khi nào tôi tới Rio, sẽ gửi thư về hỏi thăm cố tri.
- Thưa ông MacWilliams, xin lĩnh ý ông. Rất hân hạnh đã được gặp ông.
- Kìa bộ... bồ giận tôi rồi đó...
- Đâu có gì. Khi tôi nghĩ đến những thời gian thích thú chúng ta đã sống với nhau ở Nomé...
- Quả là những thời gian đáng ghi nhớ vì đó là những lúc bị lạnh làm nứt nẻ tùm lum. Nhưng đó cũng không phải là lý do để bồ nhăn nhó với tôi như thế. Bồ làm như bồ bị ai đâm cho một nhát dao vào lưng không chừng.
- Cụ nói thế cũng gần đúng đó. Thú thật với cụ, tôi đang kẹt cứng. Tôi vừa nhận được điện tín khẩn: có một nhóm Do-thái đang đợi mốc meo trong một xó gọi là Aden, cần đi kiếm họ mang họ về đây gấp. Hai chàng phi công mà tôi kiếm được lại cho tôi rơi rồi.
- Bồ đừng có trông ở tôi. Tôi xin nhắc với bồ là tôi sắp đi Paris mà.
- Xong rồi: em sẽ đi Paris. Ở vị trí của cụ, chắc tôi cũng làm như thế. Hai chú phi công mà tôi nói với cụ ấy... khi hai chú biết đi cái phi vụ này dám bị tụi Ả-rập nó quạt cho dăm ba băng kẹo đồng, hai chú chàng đã dông thiệt lẹ...
Foster đã ra đến cửa, đột nhiên quay lại. Stretch nói tiếp:
- Tôi không thể trách cứ gì được hai chú đó. Dĩ nhiên là các phi vụ đó nguy hiểm hơn việc chuyên chở chất nổ băng qua dẫy Andes rồi...
Foster liếm môi. Stretch hiểu răng ông bạn đã cắn câu rồi, cắn luôn cả mồi lẫn lưỡi câu.
- Này Stretch ạ, tôi sẵn lòng đi cái phi vụ đó cho bồ, chỉ để gỡ kẹt cho bồ thôi nghe. Và đúng một vụ đó thôi. Trong thời gian đó, bồ gắng mà kiếm lấy những tên phi công nào không có vướng dây thun trong cổ nghe. Rồi, bây giờ cái xó có tên Aden nằm ở đâu đây?
- Tôi cũng cóc biết nữa. Mời cụ theo tôi, chúng ta lùng bản đồ coi.
Khi cất cánh rời phi trường Lydda, Foster MacWilliams, phi công tưởng của hãng Palestine Central Airways, không ngờ là mình đã khai nguyên cho một câu chuyện phiêu lưu không kém gì “Ngàn lẻ một đêm”.
Chuyện phiêu lưu này bắt nguồn từ ba ngàn năm hơn về trước, nói cho chính xác, thì bắt nguồn từ thời nữ hoàng Saba. Vào thời đó, phần phía nam bán đảo Arabie còn là một xứ phì nhiêu. Các dân cư, chuyên viên trong nghệ thuật xây cất đập nước, bình chứa và giữ nước, đã làm miền này thành cả một khu vườn tuyệt đẹp.
Sau chuyến nữ hoàng Saba tới viếng thăm hoàng đế Salomon, một nhóm người Hébreu đến lập nghiệp tại Saba để thiết lập những đường dây thương mại băng qua sa mạc và dọc theo Hồng hải. Số dân này phát triển thịnh vượng trong nhiều thế kỷ. Các dân Do-thái này, dù vẫn qui tụ thành từng làng, đã hòa nhập với đời sống địa phương đến nỗi về sau có nhiều người trở thành cố vấn nhiều ảnh hưởng ở triều đình.
Rồi đến những năm khủng khiếp, cát xâm chiếm tất cả, tàn phá tất cả đất đai mầu mỡ. Các ouadi khô héo dần, nước mưa tan biến qua các khe đất nứt nẻ. Dưới ánh mặt trời chói chang, cuộc chiến đấu kiếm nước trở thành tranh đấu để sống còn. Vương quốc Saba và các quốc gia kế cận tan rã thành muôn vàn bộ lạc vừa nghèo vừa hận thù, luôn luôn gây chiến với nhau.
Khi đợt sóng Hồi giáo đầu tiên bị càn quét trên thế giới, không ai nghĩ tới chuyện tấn công những người Do-thái ở Sabra. Mọi người tôn trọng họ, để mặc họ sống theo tập tục tôn giáo của họ. Mahomet cũng đã từng ra lệnh là phải đối xử tử tế với người Do-thái.
Nhưng sự bình đẳng dành cho người Do-thái, than ôi, đã rất chóng qua. Cũng như trong tất cả các xứ Hồi giáo khác, những người Do-thái của cựu vương quốc Saba, bây giờ trở thành Yemen, bị coi như là những kẻ “bất tuân đạo”. Nhưng dẫu sao sự khinh bỉ của dân Ả-rập dành cho các dân Do-thái này vẫn hàm chứa một bao dung. Trong các quốc gia Ả-rập, các cuộc bạo hành Do-thái chưa bao giờ có tính cách tổ chức diệt chủng như ở Âu châu. Chỉ xẩy ra vài vụ tàn sát bùng lên như lửa rơm rồi tàn ngay.
Ngược lại, lại có đủ thứ cấm đoán và hạn chế để đưa người Do-thái xuống hàng công dân bậc nhì. Một người Do-thái không được quyền cất cao giọng trước một người Hồi giáo, không được cất nhà cao hơn các nhà Hồi giáo kế cận, không được chạm tới hay vượt qua phía tay mặt người Hồi giáo. Họ cũng bị cấm không được đi lạc đà vì như vậy đầu họ sẽ cao hơn đầu người Hồi giáo đi bộ. Trong hầu hết các thành phố, người Do-thái phải sống trong các mellah, một thứ ghetto kiểu Đông phương.
Trong khi toàn thể nhân loại tiến bộ thì vùng Yemen vẫn cứ bất biến, sơ khai, xa xôi cách trở, như ở ngoài thời gian. Một sa mạc rừng núi hoang dã, chỉ có những con đường mòn cho lạc đà. Một miền duyên hải không thể ở nổi, và phía trong nội địa, là các biên thùy không ai buồn vạch cho chính xác. Không nhà thương, không trường học, không báo chí và không cả máy điện thoại nữa. Dân chúng thất học đúng trăm phần trăm.
Iman, dòng dõi của Mahomet và đại diện của Đấng Allah, cai trị với quyền hành tuyệt đối. Nếu ông kiểm soát việc lấy vàng và sản xuất cà-phê, các nguồn tài nguyên duy nhất của cái xứ khốn kiếp này, ông chẳng mang lại cho thần dân điều gì hết, đến cả một nền hành chánh tối thiểu cũng không. Chủ nhân ông độc ác và sở hữu hàng mấy trăm nô lệ, ông xử án tùy hứng, lúc thì ra lệnh cắt mũi một gái điếm, lúc thì ra lệnh chặt tay một tên ăn trộm. Ông lo lắng là làm sao đừng để bất cứ một nền văn minh nào xâm nhập vào cái vương quốc ghê khiếp của ông.
Đối với dân Do-thái, Iman giữ thái độ truyền thống của bạo chúa khoan dung.
Ông không hề muốn đuổi họ đi: thủ công nghiệp cha truyền con nối từ nhiều thế kỷ, dân Do-thái là những thợ kim hoàn, thuộc da, thợ mộc, đóng giầy hữu hạng, xử dụng các phương pháp mà đa số người Ả-rập không sao học nổi. Dĩ nhiên là những kẻ hữu ích đáng được hưởng một sự che chở tối thiểu.
Sự kiện khó tin là các Do-thái xứ Yemen, mặc dù bị cô lập với thế giới bên ngoài hơn ba ngàn năm, vẫn giữ được cho mình là Do-thái. Mặc dầu nếu chịu cải đạo sang Hồi giáo, đời sống họ sẽ dễ chịu hơn nhiều. Nhưng họ vẫn cứ ngoan cố bám lấy kinh Torah, luật giáo đường, ngày sabbat cùng tất cả mọi ngày lễ khác. Đây quả là một chiến công phi thường trong một xứ không biết tới máy in, tất cả mọi sách vở đều phải chép bằng tay. Để bảo vệ niềm tìm của tổ tiên, họ chống lại tất cả mọi áp lực. Khi Iman bắt tất cả những con mồ côi trong các làng để cho theo đạo Hồi, thì dân Do-thái cưới vợ gả chồng cho chúng ngay sau khi bố mẹ chết, bất kể bao nhiêu tuổi, bởi thế có những đứa bé mới có vài tháng đã có vợ hay có chồng rồi.
Xét về phương diện thể xác, y phục, tinh thần, các Do-thái Yemen đầu thế kỷ 20 giống hệt như các bậc tiên tri trong Cựu ước. Vẫn theo chế độ đa thê, họ mang bùa phép để tránh tà ma, gió độc. Còn về Kinh Thánh, thì theo ý họ, bản văn ra sao thì theo đúng như vậy, không được cắt nghĩa biện giải chi hết: mỗi lời mỗi chữ ra sao thì phải hiểu nguyên văn và cụ thể như thế.
Suốt ba mươi thế kỷ, họ không ngừng hướng về Jérusalem. Kiên nhẫn, có một lòng chung thủy tuyệt đối, họ tin tưởng rằng Đấng Vĩnh cửu rồi sẽ ra dấu cho họ thức tỉnh. Thỉnh thoảng, một nhóm nhỏ rời bỏ được Yemen để “trở về” Palestine để rồi thành lập ở đó một cộng đồng sơ khai nhỏ bé.
Rồi tới một ngài kia, Đấng Vĩnh cửu đã ban dấu hiệu như các nhà tiên tri đã từng hứa hẹn từ xưa.
Sự kiện khá kỳ dị là mọi sự bắt đầu từ việc Iman gửi một đoàn quân Yemen nhỏ bé sang chiến đấu cùng quân Ai-cập để chống lại Quốc gia Israël mới thành lập. Không có sự can thiệp có tính cách lý tưởng này của Iman, chắc người Do-thái Yemen chẳng bao giờ biết được quốc gia họ đã phục sinh. Ngay lập tức, các rabbin tuyên bố rằng đức vua David đã trở lại Jérusalem và chính toàn dân Do-thái Yemen cũng sắp được trở về “Vùng Đất Hứa”, “trên những cánh chim phượng hoàng”.
Vị Đại Rabbin xin được Iman cho tiếp kiến để yêu cầu quốc vương này cho phép người Do-thái rời Yemen. Iman bĩu môi: vì đủ lý do chính trị và kinh tế, ông thích giữ người Do-thái ở lại hơn. Vị rabbin đề nghị quốc vương nên đọc lại vài chương trong cuốn Exodus của Cựu ước kinh.
Sau khi nghe theo lời khuyên này, Iman chìm đắm vào một suy tư dài và đau đớn. Mười tai ách của Ai-cập... mới vài tháng trước đây một trận dịch đậu lào đã giết chết một phần tư dân số. Không còn ngờ gì nữa, đây là cảnh cáo thứ nhất của đấng Allah.
Ông cho rằng thận trọng hơn nên để cho người Do-thái ra đi - dĩ nhiên là với một điều kiện: nhường lại là ông mọi nhà cửa ruộng nương và gia súc, trả một sắc thuế tính theo đầu người, phải lưu lại mấy trăm tay thợ khéo léo nhất trong mọi nghề.
Sau đó là cuộc di dân của người Do-thái Yemen. Mang theo một vài của cải họ có thể mang trên lưng - của cải mà dân du mục Bédouin - sa mạc - viện cớ là tiền mãi lộ tước đoạt hết ngay - họ lên đường tiến về thuộc địa Aden của Anh quốc, địa điểm giao liên giữa Đông và Tây, nơi tập họp của mọi đoàn người từ nội địa tiến ra. Bị bất ngờ, người Anh mới đầu tự hỏi không biết họ phải làm gì đây với đám người như ở trong thời kinh thánh tiến ra này. Sau cùng, xúc động vì niềm tin ngây thơ cùng sự khốn cùng của đám người Do-thái này, người Anh thuận cho phép họ được cắm trại trên lãnh thổi của thuộc địa trong khi chờ đợi Israël cho người đến kiếm họ. Quả thực vậy, làm thế nào xua đuổi những kẻ đáng thương quần áo tơi tả, gần chết đói chết khát, mất hết sạch gia sản mà vẫn còn tập họp theo từng làng, với những thùng đựng thánh tích của các giáo đường nghèo nàn của họ.
Đoàn cán bộ chí nguyện đầu tiên của Israël thành lập một trại tạm trú ở gần cảng Aden. Nhưng chưa chi trại nơi này đã đầy tràn trước làn sóng tràn ngập của những di dân khác tới. Các khó khăn bao hàm trong tổ chức loại này bây giờ còn tăng gấp bội lên vì sự kiện các dân Do-thái Yemen này, một đám dân bán khai, không biết tới cả một vòi nước, ống tháo nước, bóng điện ra làm sao. Trong khoảng thời gian có vài ngày mà phải cố bắt kịp sự chậm tiến kỹ thuật tới ba ngàn năm, họ sợ từ chiếc xe hơi đến ống chích. Phụ nữ la hét kinh hoàng khi các y sĩ cùng các nữ điều dưỡng định lột bỏ những quần áo rách rưới đầy chấy rận của họ. Họ cũng không chịu để cho ai chẩn bệnh, vùng vẫy chống thuốc chủng, nhảy xô vào các người trợ y đang bế con họ, những đứa quá thiếu ăn, tới phòng thuốc.
May mắn thay là các dân Israël, chính họ, họ cũng thuộc Kinh Thánh, nên đã khám phá ra rất nhanh cách giải quyết các vấn đề này. Chỉ việc chọn trong Kinh Thánh những đoạn thích hợp rồi đưa cho các rabbin Yemen coi. Thế là xong. Bởi vì cái đó “đã ghi trong Thánh Kinh”, thì các dân Do-thái Yemen nghiêng mình tuân theo ngay.
Việc phi cơ đến gây ra cả một sự sôi nổi. Nhóm di dân thứ nhất, được đưa đến phi đạo, khám phá ra ngay cánh chim phượng hoàng vẽ trên thân tầu. Có nhiều cái gật đầu tán thành: quả đúng là Thượng đế đã gửi cái này tới như Ngài đã từng loan báo qua bậc tiên tri Isaïe. Nhưng khi mọi người yêu cầu họ lên tầu, họ lại từ chối: vị rabbin của họ vừa nhớ ra rằng hôm đó là ngày thứ bẩy, ngày sabbat. Trưởng trại dù cố hết sức lên mà cắt nghĩa rằng còn cả bao ngàn người nữa đang đợi đến lượt ra đi, không thể để chim phượng hoàng này đợi tới một ngày, cũng vẫn vô ích. Họ ngồi xổm xuống dưới đôi cánh lớn của con chim bạc rồi tuyên bố rằng họ không có nhúc nhích đi đâu hết cho tới khi hết ngày sabbat. Họ đã kiên nhẫn chờ được ba ngàn năm, thì chờ thêm một ngày nữa cũng không sao hết.
Foster MacWilliams, sau khi ném một cái nhìn lơ đãng lên những hành khách kỳ dị này, phải cố lắm mới nén được một câu chửi thề rồi phóng lẹ về Aden kiếm một chầu giải khát.
Sáng ngày hôm sau, miệng còn khô cứng và mắt nặng trĩu, chàng trở lại phi đạo đúng lúc để thấy các Do-thái Yemen lên máy bay. Mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà, đều cẩn thận mang theo một chai nước - của cải duy nhất của họ trên thế gian này. Chàng buột miệng:
- Mẹ kiếp! Cái tên khốn kiếp Stretch...
Một giọng con gái cất lên phía sau làm chàng quay vội lại:
- Thưa có phải ông trưởng phi cơ MacWilliams đấy không ạ?
Sững sờ, chàng ngắm nghía một thiếu nữ cao lớn (thân thể có trước có sau đàng hoàng và có đúng chỗ đúng lúc, chàng phải nhận là như thế), mặc một bộ đồ xanh áo liền quần của cơ khí viên và đi dép da.
- Tên tôi là Hannah. Tôi được trao nhiệm vụ đi cùng với ông để lo cho hành khách.
- A! Thế... rất hân hạnh được biết cô.
Nàng cười, để lộ hàm răng trắng ngà không một vết gợn.
- Ông có chỉ thị đặc biệt nào cho tôi không? Vì đây là lần đầu tiên tôi hộ tống cho một chuyến như thế này...
- Không... không đâu. Cô chỉ việc thu xếp sao cho những con khỉ nhỏ xấu òm này đừng xâm nhập vào phòng lái là đủ. Dĩ nhiên là điều cấm đoán này không hề áp dụng cho cô. Ngược lại là khác... cô càng vào thăm tôi nhiều, tôi càng bằng lòng. Tiện đây, tên tôi là Foster...
Chàng nhìn đoàn người Yemen:
- Nhưng... hình như họ không ít bớt đi được chút nào. Chúng ta mang theo chuyến này bao nhiêu đấy cô?
- Gì cơ?... Theo danh sách của tôi, bốn trăm người.
- Cái gì! Cô điên rồi cô ơi! Không bao giờ máy bay cất cánh nổi với số người như thế. Phải bỏ bớt đi hẳn một nửa.
- Không được đâu ông. Tôi xin ông đấy... Ngày nào cũng có thêm rất nhiều người đến. Và người Anh thì cứ đòi hỏi hoài là chúng tôi phải đưa họ đi cho nhanh, càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Foster càu nhàu. Chàng cố nhớ lại những con số ấn đinh trọng lượng chuyên chở được của máy. Không còn ngờ gì nữa, chắc chắn là sắp vượt giới hạn an toàn rồi... Đúng vào lúc đó, chàng phạm lầm lỗi là nhìn vào đôi mắt của Hannah. Thôi cũng được... Chàng tính toán lại, ăn gian tí chút để tự thuyết phục rằng với một chút may mắn, chàng cũng có thể lôi được máy bay cất cánh.
Chàng lầu nhầu:
- Thôi cũng được! Dầu sao, đây cũng là chuyến bay đầu tiên và chuyến chót luôn của tôi trên lộ trình này.
Khi chàng lên tầu, chàng suýt lùi lại trước một mùi hôi thối nồng nặc. Hannah thấy mặt chàng tái đi. Nàng cắt nghĩa:
- Chúng tôi không có đủ thì giờ tẩy uế cho tất cả mọi người. Và vì chúng tôi lại không biết rõ ngày giờ có phi cơ đến...
Trong thân tầu, các dân Yemen bị nhồi nhét đúng như cá hộp. Muốn tới phòng lái, Foster phải hất ra nhiều người, gạt nhiều cánh tay sang một bên, đồng thời cố gắng chận cơn buồn nôn đang dâng lên. Ngồi được xuống ghế phi công, chàng vội mở cửa kính ngang, vừa cố giữ đầu thỏ ra ngoài, vừa cho phi cơ rồ ra trên phi đạo lấy đà cất cánh. Một cơn buồn nôn ngắn, dữ dội... Phi cơ chạy nhanh hơn... Foster cảm thấy một co thắt dạ dầy sau cùng... mũi phi cơ cất lên... rồi sau cùng các bánh xe rời mặt đất cách cuối phi đạo có vài thước. Foster há miệng cắn thẳng vào một trái chanh. Dần dần, trong không khí mát lành hơn, cơn nôn dịu dần. Sau khi bay vòng eo biển, chàng cho phi cơ hướng về phía nam Hồng hải, ở đúng giữa khoảng cách từ Arabie Séoudite phía đông và Ai-cập phía tây.
Hannah đẩy cửa buồng lại. Nàng cũng tái xanh.
- Ông có thể làm cho phi cơ bớt lắc lư không... họ đang nôn mửa hết...
- Cô đi mở hết các quạt và ống thông hơi. Tôi sẽ cố bay cao hơn một chút. Khí lạnh sẽ làm cho họ dễ chịu hơn.
Cô gái biến mất. Sau chừng nửa giờ, nàng lại trở vào.
- Bây giờ họ lại rét run lên cầm cập.
- Nếu tôi làm cho họ ấm lại, họ sẽ lại nôn mửa. Tùy ý cô chọn lựa.
Hannah đồng ý.
- Ông có lý... Thôi, cứ để họ run tốt hơn.
Nàng lại ra. Lần này chưa đến một phút, nàng đã quay lại.
- Họ đã đốt một đống lửa để sưởi.
- Mẹ kiếp.
Để cho hệ thống tự động điều khiển phi cơ, Foster chạy vội vào khoang tầu. Một đám lửa đang cháy vui vẻ giữa sàn. Tức giận, chàng lấy chân dập tắt.
- Cô có biết tiếng của tụi man ri mọi rợ này không?
- Biết chứ, bằng hébreu.
- Bây giờ cô cầm lấy micro và báo cho họ biết là kẻ nào nhúc nhích, tôi sẽ quăng xuống biển ngay lập tức.
Dân Yemen, chưa bao giờ nghe máy phóng thanh hết, sợ hãi co rụm lại, kinh khiếp nhìn lên trần phi cơ. Foster ngạc nhiên hỏi:
- Họ sợ cái gì vậy cô?
- Họ tưởng tiếng nói từ vách trần thốt ra ấy là tiếng của Thượng đế.
- Tốt quá. Cô đừng có cải chính nghe cô.
Chàng trở lại phòng lái. Trong nhiều giờ liền, không có một biến cố nào nữa quấy rầy chàng, ngoại trừ một lần Hannah vào loan báo có một vụ sinh nở.
- Ông đừng lo: mẹ tròn con vuông rồi.
Một lát sau nàng mang vào cho chàng một ly đồ uống nóng và hai người nói chuyện với nhau. Sau khi đã hỏi nàng về dân Do-thái xứ Yemen và chiến tranh Palestine, liền hỏi một câu trực tiếp hơn.
- Cô Hannah ạ... tại sao cô lại để bị lôi cuốn vào câu chuyện này mới được chứ? Dù thiên hạ có trả công hậu đến mấy, thì một công việc như thế này cũng đáng gấp đôi như thường.
Hannah cười.
- Mọi người đâu có trả lương cho tôi. Mọi người chỉ định tôi làm việc này, có thế thôi ông. Có lẽ tôi sẽ ở lại với dân Do-thái Yemen đi chuyến này để giúp họ làm một cái làng, nhưng cũng có thể tôi lại ra đi kiếm họ thêm...
- Tôi chẳng hiểu gì hết.
- Khó cắt nghĩa lắm ông. Tiền bạc đối với chúng tôi không có ý nghĩa gì nhiều. Trái lại, mang một kẻ đáng thương này về tổ quốc quả là một nhiệm vụ cao đẹp. Rõ ràng đây là hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt...
Foster nhún vai. Xét cho cùng, chàng cóc cần. Chàng sắp chuồn sang Paris đến nơi rồi...
Chàng chỉ bờ biển thẳng ngay phía trước.
- Chúng ta bay đến Israël rồi!
Hannah nói:
- Tôi phải loan báo cho họ biết. Họ chờ đợi giây phút này từ bao ngàn năm rồi...
- Họ sẽ đập vỡ máy bay của chúng ta mất... để tôi đi cho, tốt hơn.
Chàng lại để cho hệ thống tự động điều khiển phi cơ rồi bước ra khoang tầu. Ngay từ những lời của Hannah, có một cơn vui mừng điên cuồng xâm nhập các dân Yemen. Các tiếng la hét vui mừng, những vòng tay ôm cuồng nhiệt - vài người còn phác một điệu vũ nữa. Một phụ nữ Yemen già nắm lấy tay Foster hôn lia lịa. Chàng cố gỡ mới thoát được những cánh tay muốn ôm lấy mình để trở lại phòng lái. Hai giờ sau, khi phi cơ hạ xuống phi đạo Lydda, chàng nghe thấy tiếng hát của những Yemen cất lên át cả tiếng động cơ đang giảm dần tốc độ.
Lắc đầu, chàng đứng nhìn họ bước ra khỏi thân tầu, quỳ xuống vừa khóc nức nở vừa hôn đất phi đạo. Hannah nói:
- Thôi, xin chào ông Foster. Chúc ông vui vẻ ở Paris.
Foster đứng nhìn nàng xen vào hàng ngũ những người di dân cùng với các thiếu nữ khác giống nàng một cách lạ lùng. Chàng giật mình khi nghe tiếng Stretch.
- Chào cụ! Phi cơ bay vững chứ?
- Như chim phụng hoàng vậy! Một chuyến đi không có chuyện gì rắc rối cả.
Khi Stretch lôi đi, Foster còn ngoái lại. Hannah cười với chàng, vẫy tay. Chàng cũng làm như thế. Stretch nói:
- Cụ có thể đi Paris được rồi đó. Tôi đã kiếm được phi công...
- Cũng được, càng tốt. Nhưng này bồ... trong trường hợp bồ bị kẹt... tôi sẽ gỡ cho bồ lần nữa, nhưng một lần... thực đó, lần chót nữa thôi.
Stretch gãi đầu:
- Để tôi coi nào... tôi có thể dàn xếp vụ này đấy. Cụ sẽ thử giùm tôi chiếc phi cơ tôi mới tậu.
Stretch khoái chí nghĩ thầm: “Bồ sẽ tiếp tục với tôi bồ ơi. Bồ Foster ơi, phen này tôi nắm được bạn rồi và sẽ nắm chắc đó nghe”.
Chiến dịch “Tấm thảm thần” đã mở đầu như thế. Stretch Thompson, ông vua thất sủng của loài cua Alaska đã tỏ ra là một tay tổ chức hữu hạng. Chàng mướn thêm nhiều phi công Hoa-kỳ nữa, những tay cựu trào đã từng chứng tỏ khả năng trong “cây cầu không vận Bá Linh”(1). Chàng tìm mua những máy bay cũ kỹ, sửa chữa vá víu lung tung, nhưng vẫn cứ tiếp tục bay được như thường. Còn về Foster MacWilliams, phi công trưởng của công ty và cũng là tay chuyên môn về đường bay Aden: chàng không bao giờ được biết tới những lạc thú của Paris cả. Sau khi chở những Do-thái Yemen sau cùng về xứ, chàng lo việc di tản những Do-thái Irak, làm việc tối tăm mặt mũi - có thể nói chưa có phi công dân sự nào lại làm việc nhiều đến như thế. Trong khoảng thời gian ba năm, chàng bay hơn bốn trăm phi vụ, mang chừng năm mươi ngàn người Do-thái trở về quê cha đất tổ. Sau mỗi chuyến bay, chàng đều chỉ trời chỉ đât mà thề rằng đây sẽ là chuyến bay chót, rằng chàng chán ngấy đến mang tai lỗ mũi rồi... cứ thế cho đến khi chàng cưới Hannah làm vợ và vợ chồng dọn tới cư ngụ trong một căn nhà xinh xắn ở Tel-Aviv.
“Tấm thảm thần” vẫn tiếp tục. Các phi cơ mang những người Do-thái từ Kurdistan và tận cùng Thổ-nhĩ-kỳ về, rồi lại tới Aden để hồi hương cả một bộ lạc bị bỏ quên sống lùi xùi trong vùng núi Hadramout, mới biết tin thành lập nước Israël và đã lập tức lên đường ngay tiến ra biển.
Các con dân Israël từ các trại di dân từ Pháp, Ý, Nam-tư, các quốc gia miền Balkan và Bắc Âu ùn ùn kéo về. Từ các mellah Bắc Phi và các thành phố Nam Phi, từ Trung-hoa, Ấn-độ, Úc-đại-lợi, Gia-nã-đại, Anh quốc... bằng phi cơ, bằng tầu thủy, từ bẩy mươi tư quốc gia khác nhau trên thế giới, người Do-thái đổ xô về vùng đất mà chữ “Do-thái” không còn là một lời chửi rủa.
 
 
__________
 
Chú thích:
 
(1) Cầu không vận Bá-linh: Quân Nga phong tỏa Bá-linh sau đệ nhị thế chiến để cưỡng ép Anh, Pháp, Mỹ phải rời bỏ thủ đô Đức này. Bên Đồng minh, nhất là Mỹ, đã động viên phi cơ để tiếp tế cho Bá-linh trong một thời gian dài. Sau đó, Nga đành bỏ phong tỏa.
 
0
Tôi có bản scan phần còn lại nếu bạn đánh máy được thì cho đc mail tôi sẽ gửi. Thân
0