Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Chùm truyện ngắn của TRẦN LỆ THƯỜNG (Sưu tầm từ Internet)

32 trả lời, 4.361 lượt xem — Trang 1 / 2
BÀI HỌC VỞ LÒNG
Trần Lệ Thường
 
Hai mí mắt đã sụp xuống dù tôi đã cố mở to, cổ tôi không giữ được cái đầu trống rỗng, cứ lắc la lắc lư, gật gà gật gù. Cuối cùng cơn buồn ngủ ập đến…Vai tôi bị lắc mạnh khiến tôi giựt mình mở choàng mắt ra. Cô đang đứng trước mặt nhìn tôi nghiêm khắc. “Buổi tối, em không có ngủ sao?” Tôi đứng lên, hai tay khoanh trước ngực và vẫn như mọi khi cô gọi, tôi nhìn xuống vì không dám nhìn cô. “Ba má bạn gây gỗ hoài nên bạn không ngủ được.” Một bạn ở gần nhà tôi buột miệng trả lời hướt. Tôi òa lên khóc nức nở. Mới hôm qua cô gọi lên trả bài tôi đã không thuộc. Tôi sợ hãi nhìn cây viết mực đỏ trên tay cô đang đặt trên trang vở. Tôi đã hứa với cô sẽ cố gắng chăm chỉ học.
  Năm đó tôi học lớp một. Những gì xảy ra không thể nhớ hết nhưng những gì nhớ được thì lại là nỗi kinh hoàng đột nhập vào giấy mơ tạo thành những cơn ác mộng. Cô Trúc đến với tôi khi tôi bắt đầu đi học. Bài học vỡ lòng cô dạy tôi vô cùng quý giá. Cô có một người con gái lớn hơn tôi vài tuổi. Lúc ấy tôi không hề thắc mắc: Ba chị đâu? Chúng tôi chơi với nhau chị chở che cho tôi như một người chị ruột. Trên bàn học của chị có chiếc đồng hồ reo hình chú gấu Misa tôi rất thích. Lúc ở nhà cô, tôi cảm thấy thật yên lành ấp áp như đang sống trong gia đình của mình.
  Một buổi tối, má đi làm về thấy ba nằm lăn lốc trên nền nhà, người đầy mùi rượu liền ném các thứ vừa mua được để nấu cơm tối ra ngoài sân và vào góc khóc.  “Tôi đi làm cả ngày muốn đứt hơi mà anh còn ở nhà ăn nhậu. Chịu nỗi không nè trời!”. Má làm mướn ở một quán ăn, ba làm hồ, khi có việc khi không. “ Không có việc làm thì nhậu chứ sao!” Ba nhướng mắt lè nhè nói trong lúc má dùng chân đá vào người ba. Người ta bắt đầu xúm lại nhìn ngó xì xào, mặt dù chuyện như vậy vẫn thường xảy ra. Như vậy có nghĩa là tôi sẽ không được ăn gì cho đến khi lắng dịu đi, có thể hơn nữa đêm. Sau khi đã bình tâm lại và ngồi khóc tỉ tê, hả hê rồi má mới sực nhớ đến tôi thì tôi đang nằm còng queo ngủ trước hàng ba nhà hàng xóm.
  Có bàn tay ai đó kéo tôi ra khỏi đám đông. “Về nhà cô!” cô chở tôi bằng xe đạp qua hai con đường dài có nhiều nhà trồng hoa giấy đỏ và một cây cầu trắng trong mắt tôi lúc ấy cũng thật dài. Một ngôi nhà nhỏ có khuôn sân hẹp, rào sắt thưa, mái ngói đã cũ. Đêm đó, tôi ngủ với chị Ngọc, nghe cô kể chuyện cổ tích. Tôi ngủ say sưa trong mớ chăn nệm ấp áp, trong không gian êm ả tĩnh lặng đầy tình người. Tôi tỉnh giấc khi tiếng reo của tiếng đồng hồ vang lên. Cô đưa tôi về nhà để chuẩn bị đến trường. Ba ngồi gật gù ậm ừ như chưa tỉnh hẳn rượu còn má có vẻ bực bội khó chịu. Trận cải vả hôm qua vẫn còn lắng động trong nhà. Tôi lấm la lấm lét không dám nhìn ba má vì có thể bất ngờ tôi sẽ bị đánh mà không biết vì sao. Những bộ đồ đứt chỉ, sứt nút tôi vẫn mặt đi học, tôi không biết má có thấy hay không nữa. Có rất nhiều điều tôi không hiểu và không biết cho đến khi lớn lên trưởng thành. Tôi vẫn nhớ má dù má hay đánh tôi  vẫn nhớ ba dù ba thường biểu tôi đi mua rượu khi bên ngoài trời tối đen. Có vài lần ba đến nhà cô đón tôi với vẻ hung dữ gây sự. “Mày ở luôn đằng đó thì tốt”. Trên đường về ba luôn miệng chì chiết. Lần nào tôi cũng im thin thít cho đến nhà. “Mày câm rồi hả?” Ba  xô ngã chiếc xe đạp khi vừa về đến nhà, quát lên. Tôi đứng cúi đầu, nhìn xuống đất. Tôi được sinh ra trong một căn nhà trọ chật hẹp từ một phụ nữ chưa đầy hai mươi tuổi. Ba má tôi bỏ quê ra phố chợ để tìm một cuộc sống khá hơn, sung túc hơn. Nhưng sau này tôi hiểu, chốn thị thành nhiều cám dỗ, má tôi chán cuộc sống làm thuê làm mướn vất vả, chán người chồng không biết làm ăn, chữ không có và tiền cũng không có. Má chán luôn cả tôi, đứa con ngoài ý muốn của một lúc buông thả.
 Năm học đầu trôi qua, mùa hè đến rồi lại đi để năm học mới bắt đầu. Tôi lên lớp hai và không còn học cô Trúc nữa. Nhưng không vì vậy mà cô bỏ quên tôi dù thời gian rãnh rỗi của cô rất ít. Chưa hết học kỳ I thì má bắt buộc tôi nghỉ học. Má nói ba không làm gì chỉ lo nhậu nhẹt nên tôi phải đi bán vé số để có thêm tiền trả tiền thuê nhà, mua thức ăn. Cô vội vã đến gặp ba má tôi, năm lần bảy lượt thuyết phục cho tôi đi học. Cô sẽ lo tất cả chi phí học tập cho tôi dù đồng lương ít ỏi. Má cứ dùng dằn mãi, cuối cùng không biết có phải vì không muốn cô quấy nhiểu nữa nên má cho tôi tiếp tục đi học.
Một buổi đi học về tôi thấy một vài người hàng xóm đang đứng tụm năm, tụm ba bàn tán. Ba đã đưa má đi bệnh viện vì lỡ tay đánh má bị thương. Vẫn còn đeo cặp trên lưng tôi quàng trở ra đâm đầu chạy. Chạy mãi, chạy mãi, qua hai con đường đầy hoa giấy đỏ và một cây cầu trắng. Cô thường chở tôi qua cây cầu này, mỗi khi lên dốc cầu cô lại xuống xe, gò lưng dắt lên dốc. Ngồi đằng sau, hai tay tôi nắm chặt yên trước nhìn cô mồ hôi nhuể nhoại trên gương mặt đỏ lửng vì bắt nắng. Xe cộ dập dìu, tôi không biết bằng cách nào và mất bao lâu tôi đã đến được nhà cô. Vừa mếu mào khóc tôi vừa kể kể. Cô vỗ về an ủi, khuyên tôi yên tâm má sẽ bình yên trở về. Tôi ở lại nhà cô trong suốt thời gian má nằm bệnh viện. Nhưng sau một tuần nằm bệnh viện , má về thu xếp đồ đạt đi luôn, không gặp lại tôi dù để từ biệt.
 Hơn một tháng sau ngày má bõ đi ba quyết định dắt tôi về nội. Ở đó rộng rãi, cũng có trường học, có nhiều bạn bè và cô giáo khác. Ba dỗ dành tôi sau khi dọa nạt quát mắng. Tôi khóc. Ngần ấy tuổi tôi biết phải làm gì hơn là khóc. Cô buồn bã sửa soạn cho tôi một ít quà, tập vở. Chị Ngọc ngậm ngùi tặng tôi chiếc đồng hồ reo hình chú gấu Misa mà tôi rất thích.
 Tôi được chuyển trường về quê tiếp tục học. Trong những năm tháng ngồi ghế nhà trường tôi có nhiều thầy cô nhưng cô Trúc cùng tấn bi kịch của gia đình tôi ngày ấy như một vết cắt trong lòng tôi không lành. Còn nhớ, lúc ở nhà cô khi tỉnh giấc trong đêm tôi thấy cô ngồi bên bàn dáng gầy gầy, lưng cong cong, nhẫn nại và kiên trì. Và như bao đứa con nít khác, lúc ấy tôi mơ được trở thành cô giáo.
 Ước nguyện ấy sau cùng tôi đạt được. Tôi dạy văn ở một trường trung học tại huyện nhà. Thời gian trôi qua không hề nán lại giây phút nào. Trời hết mưa rồi nắng. Nắng cháy thịt da người đi làm đồng và mưa thật to cho hoa màu tươi tốt. Còn dòng sông trước nhà vẫn chảy quanh năm. Trên chiếc cầu mới xây hàng ngày học sinh đi về lũ lượt. “Những tà áo trắng bay trong gió. Có áo em mình trong đó không?” Tôi bắt đầu biết rung động trước những câu thơ và tập tành viết văn. Trong cái tất bật của cuộc sống hằng ngày những gì tôi học được không thể so sánh với bài học vỡ lòng cô đã dạy tôi. Cho nên bây giờ, khi cầm cây viết mực đỏ đặt trên quyển vở học trò tôi đều cân nhắc kỹ lưỡng. Vết cắt trong tôi lại trở mình. Một lần, có người trong xóm nói với tôi là nhìn thấy một người đàn bà đội nón sùm sụp đi qua đi lại trước nhà nhiều lần. Tôi để ý tìm một thời gian dài nhưng không thấy ai lãng vãng trước nhà nữa. Tôi linh cảm đó là má tôi. Có lẽ má sợ bà nội nên không dám vào hay vì ngượng ngùng cũng không biết.
Lần lựa, đắn đo mãi sau cùng tôi và ba cũng có dịp đi thị xã. Nhiều lần tôi định mang chiếc đồng hồ reo hình chú gấu Misa theo để chị Ngọc biết tôi vẫn còn giữ kỷ vật của chị dù chiếc đồng hồ không còn sử dụng được. Nhưng rồi lại thôi vì thấy không cần thiết. Ba có vẻ không chắc lắm là còn nhớ được nhà cô không nữa. Nhiều năm qua rồi có biết bao là thay đổi. Phố chợ, đường xá đều mở rộng đổi mới. Tuy vậy ba cũng tìm được cây cầu trắng rồi lần dò hỏi thăm nhà cô. Tôi không tìm thấy hai con đường có nhiều hoa giấy đỏ nhưng thật bất ngờ, trước nhà cô có một giàn hoa giấy đỏ thật to. Nhánh xum xuê, hoa đầy cành, như thể đánh dấu để một ngày trở về thị xã tôi sẽ tìm được cô. Ngần ấy năm cây lớn lên là tôi đã hiện diện trong cô theo những tháng ngày. Vẫn là một ngôi nhà trệt có khuôn sân hẹp, giản dị đơn sơ dù có sửa sang đôi chút.
Thoạt đầu tôi không nhận ra cô ngay nhưng nhìn vào mắt cô tôi biết tôi đã không lầm. Anh mắt đã từng nhìn tôi đau đến xé lòng. Cô cười, hai giọt nước lăng ra từ đôi mắt ấy. Thời gian đã biến tôi trở nên một thiếu nữ xinh đẹp thì thời gian đã để lại trên mái tóc cô những sợi bạc, trên gương mặt cô những nếp nhăn. Cô sắp sửa nghỉ hưu rồi, chị Ngọc đang dạy ở trường cao đẳng. Và cho đến lúc này tôi mới biết chị Ngọc không phải là con ruột của cô. Trong lúc trò chuyện có một đứa trẻ thập thò nơi cửa buồng nhìn ra.” Ai vậy cô?” Cô cười đằm thắm. “Như con ngày đó”.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
QUÊN
Trần Lệ Thường
 
Trời mưa to, cơn mưa kéo dài khiến bầu trời u ám. Cây  Hoàng Hạ rủ xuống như liễu, buồn đến ngơ ngác. Trong mưa, từng chùm hoa vàng không còn lộng lẫy kiêu sa. Thật thảm hại! Mưa làm lạnh buốt toàn thân và cái lạnh tâm hồn khiến tôi oằn người như cây Hoàng Hạ.
Trong nỗi cô đơn cùng cực tôi đã gặp một người. Một người đàn ông trung niên có địa vị và một gia đình, theo lời anh nói thì không hạnh phúc. Tôi gặp anh trong một chuyến tham quan. Anh ở cách xa tôi mấy trăm Kilômet. Anh về, gởi qua đường Bưu điện cho tôi tấm ảnh chụp chung với nhiều người khác lúc đi chơi. Trong ảnh, tôi đứng cạnh anh cười rạng rỡ. Còn có một bài thơ tặng tôi. Mối cảm tình phát sinh từ đó. Thỉnh thoảng anh gọi điện cho tôi, giọng trầm ấm, dịu dàng. Và tiếng cười khiến cả vùng không gian quanh tôi ấm lại.
Tôi có một mối tình đầu năm hai  mươi mốt tuổi. Anh ấy là bạn học chung trường thời trung học. Thời gian yêu nhau kéo dài cả năm. Như bao cô gái khác, tôi đã yêu với một tình yêu nồng nàng, say đắm. Một buổi  tối đi chơi bất ngờ trời đổ mưa, anh đưa tôi về chỗ nghỉ của anh. Vòng tay ôm và những nụ hôn khiến tôi không còn tự chủ. Tuy vậy, tôi vẫn quyết liệt kháng cự nhưng anh đã thô bạo cưỡng bức tôi. Sự thể đã rồi, đàng nào chúng tôi cũng kết hôn. Sau lần đó anh luôn tìm cách tránh mặt tôi, lúc nào anh cũng bận. Hàng tháng trời chờ đợi, tìm kiếm anh, cuối cùng anh nói: “Mình không hợp nhau, chia tay đi”. Tôi đi, đi mãi dưới trời mưa, không dám về nhà gặp người thân. Tôi đi lên cầu rồi đứng trên đó nhìn ra biển. Biển mênh mông mờ mịt dưới mưa. Cả người tôi ướt sủng, tôi không biết mình có khóc hay không khi mặt đầy nước. Trong tôi trống trải đến lạ kỳ, cuộc sống bỗng trở nên vô vị. Tôi dở sống dở chết một thời gian dài, như một người ốm nặng. Ngủ thì thôi, mở mắt lại thấy anh, cảm thấy đôi môi đang chạm vào tai và bàn tay đang ở trên ngực. Uất ức và đau  khổ, tôi trở nên lặng lẽ, sống khép kín. Tôi thề: “Không bao giờ yêu ai nữa”.
Khi gặp anh, người đàn ông trung niên có một người gia đình không hạnh phúc, tôi đã qua tuổi ba mươi. Ngần ấy năm dài lo toan vất vả, cuộc sống bộn bề với bao khó khăn cho tương lai sự nghiệp, tôi quên đã có lần thề: “Không bao giờ yêu ai nữa”. Buổi tối, nằm trên chiếc giường rộng thênh thang, tôi nhận ra nỗi cô đơn đang nhấn chìm tôi xuống đầm lầy. Tôi như bị đóng băng giữa một vùng nhiệt đới. Và ánh mắt anh, những lời thơ của anh làm tan chảy lớp băng bao bọc tôi. Ánh mắt mà lần đầu tiên tôi gặp, tôi đã không thể  nào quên được. Một đôi mắt biết nói. Chỉ vì một đôi mắt người ta có thể yêu luôn con người đó. Còn anh, yêu gì ở tôi? Anh nói: “Em là một người phụ nữ rất đàn bà. Anh yêu cái lặng lẽ âm thầm mà nói lên thật nhiều ở nơi em”. Tôi tin những lời anh nói vì tôi quên, có lần tôi cũng đã tin. Nhưng tôi chỉ biết yêu anh qua tâm tưởng vì anh đang có gia đình dù không hạnh phúc. Vì vậy, nỗi cô đơn trong tôi càng lớn hơn, mãnh liệt hơn. Tôi muốn có anh, muốn được anh siết chặt trong vòng tay đến nghẹt thở, tôi muốn được có cái cảm giác đã từng có… Tôi đã không làm được và không có được. Quả thật, người ta nói niềm vui và nỗi buồn đi đôi với nhau. Có hạnh phúc thì sẽ có khổ đau. Tôi muốn thoát ra rồi lại tự buột vào. Sự mâu thuẫn cứ tồn tại trong tôi ngày này sang ngày khác.
Rồi có một ngày tôi đi công tác nơi anh, vỡ lẽ ra anh có rất nhiều người từ Nam ra Bắc. Nơi nào đi qua anh đều gieo lại yêu thương. Chẳng biết gặt hái được bao nhiêu. Tôi về, đổ xuống như cây cổ thụ bị đốn. Xác xơ như người bệnh lâu năm. Đó là tình yêu sao? Tôi vụt tỉnh ngộ. Đó chỉ là lời lẽ trên đầu môi chót lưỡi để tìm kiếm những cuộc vui. Cái gọi là “Một gia đình không hạnh phúc” chỉ là giả dối. Một cuộc chia tay âm thầm, lặng lẽ, êm rơ như nước chảy qua cầu. Một lần nữa tôi lại thề…
Mấy năm qua đi, thời gian như những sợi tóc ở trên đầu, cứ dài theo năm tháng. Có một người khác lại đến với tôi. Theo lời anh nói thì anh đã ly dị vợ, đang sống độc thân, lương cũng khá. Tôi quen anh trong một đám cưới. Anh đưa tôi về, xin số điện thoại. Rồi những cuộc nói chuyện qua điện thoại bắt đầu. Những tấm thiệp, những món quà nho nhỏ khởi đầu cho một mối tình mới. Lòng tôi bắt đầu chao đảo rung động, lại thấy xao xuyến với cái nắm tay vội vàng trong quán nước. Tôi lại quên đã có lần thề… Anh có một ngôi nhà nhỏ xinh xắn, chúng tôi dự định sẽ sống ở đó, chỉ sửa sang lại đôi chút. Tôi hớn hở đi mua quần áo trong mới, toàn những thứ đắc tiền mặc dù thường ngày chi tiêu rất dè xẻn. Tôi đi làm tóc, massage… Cái người đàn bà bị bỏ quên quá lâu rồi ở trong tôi bắt đầu trỗi dậy. Dầu muộn màng, tôi vẫn có cảm giác của một người sắp sửa làm cô dâu.
Một buổi chiều, hết giờ làm việc tôi bỗng thấy nhớ, muốn đến chỗ anh nên mua một ít thức ăn cầm đến để cùng nhau ăn tối. Muốn cho anh bất ngờ nên không gọi điện. Tưởng sao, tôi cũng là kẻ bị bất ngờ. Bất ngờ đến muốn biến thành Tô Thị dầu không chờ chồng. Giá mà có thể hóa đá thì hay biết mấy. Để không biết đau khổ và oán hận. Vợ anh từ dưới quê lên thăm chồng cùng với đứa con nhỏ. Cái gọi là” ly dị, sống độc thân” chỉ là một trò lường gạt. Tôi về, mở mắt thao láo nhìn lên trần nhà, nghiến răng: “Không bao giờ yêu ai nữa”.
Có người mang đến nhà tặng một cây Hoàng Hạ. Cây đẹp rực rỡ, kiêu sa. Đó là anh của một người bạn đồng nghiệp. Cô bạn này muốn mai mối cho tôi. Anh ấy đã hơn bốn mươi, có việc làm ổn định, vợ con đi nước ngoài hết. Bởi vì anh không thuận với bên vợ nên họ bỏ anh lại. Có một chút gàn và một chút mơ mộng. Rất tiếc, lần này tôi nhớ mình đã từng thề… Tôi không tin cái gọi là “Vợ con bỏ đi nước ngoài”. Tôi như con chim cánh cụt đi lặc lè và không biết bay giữa vùng băng tuyết. Cô bạn thường là trung gian cho những món quà và những cuộc đi chơi. Anh gọi điện hoặc nhắn tin cho tôi thường xuyên dầu chỉ nói: “Mưa lớn quá!”, “Trời lạnh ghê!”.
Ba tôi phải nhập viện vì bệnh nặng. Ba bị đau bao tử mấy năm trước rồi bây giờ trở bệnh. Má và tôi vô cùng tất bật. Anh cũng tất bật theo. Một ngày mấy lượt anh đến bệnh viện thăm nom ba, đôi khi cùng tôi về. Anh nói về bên vợ, chạy theo vật chất tiền bạc, xem thường anh, một công chức tầm thường mê nhạc Trịnh Công Sơn và tranh của Picasso. Không thích sắm xe xịn và không uống cafê ở những quán đắt tiền. “Vào đây ăn tối đi!”. Một tối đi về, anh đưa tôi đến một nhà hàng sang trọng. Tôi ngập ngừng giây lát. “Đến đằng kia ăn phở cũng được”. Anh cười nhẹ: “Tiết kiệm dùm anh hả?”, “Không phải! Em vốn là vậy mà!”.
Sau một tháng ở bệnh viện, về nhà ba tôi nói: “Nó là một người tốt sao vợ con lại bỏ đi”. Tôi không giải thích với ba về những gì đã biết. Tôi hiểu anh, không còn nghi ngờ anh nhưng tôi luôn nhớ mình đã từng thề…
Mưa ngớt hạt rồi tạnh hẳn. Mặt trời lấp ló dầu chỉ vớt vát một chút ráng chiều. Tôi bắt đầu thấy ấm áp. Cây Hoàng Hạ bắt đầu bừng tỉnh, màu vàng lại sáng rực lên kiêu hãnh. Món quà đầu tiên anh tặng tôi, từ khi đem về trồng cây lớn nhanh, ra hoa đẹp. Tiếng nhạc điện thoại chợt vang lên, tôi vừa lấy điện thoại trong túi áo ra thì đã thấy anh chạy xe gắn máy đến trước nhà dừng lại: “Trời đẹp quá!”. Ngay lúc này và mãi mãi về sau tôi muốn quên mình đã nhiều lần thề: “Không yêu ai nữa” để yêu anh. Tôi đi về phía anh bằng những bước chân của con chim cánh cụt. Điện thoại áp vào tai, tôi cũng ngớ ngẩn chẳng khác gì anh “Mưa tạnh rồi!”.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
LAN HỒ ĐIỆP
Trần Lệ Thường
Cuối cùng thì tôi và Hoa Hồ Điệp cũng hẹn gặp nhau hơn một năm quen biết. Cái trò tán gẫu trên mạng cũng chẳng mới mẻ gì, những bi kịch, hài kịch diễn ra từ đây báo chí đăng cũng nhiều. Tôi không thích trò chơi này nên lúc đầu Hoa Hồ Điệp cứ “Hi” rồi lại “Hi” nhưng tôi nhằm dấu x mà nhấp chuột.
Tôi có một đứa bạn theo gia đình định cư ở nước ngoài. Ban ngày bên đó thì ban đêm bên này. Thỉnh thoảng một hai giờ sáng nó dựng tôi dậy chat. Mắt nhắm mắt mở tôi cũng gõ bàn phím lia lịa. Đang trò chuyện với bạn thì Hoa Hồ Điệp nhảy xổm vào. Cái nick name Hoa Hồ Điệp khiến tôi cứ mường tượng một vở tuồng cải lương nào đó hay một tên tướng cướp lừng danh như Bạch Hải Đường. Cho đến một ngày Hoa Hồ Điệp mail cho tôi, ba, bốn thư liền. Thư nào cũng tha thiết mong hồi âm. Tôi mềm lòng tự nhủ. Mình vào cuộc thôi, chơi trò chat cho biết với người ta, để bạn bè chê mình lạc hậu. Chỉ  là trò chơi thôi mà.
“Cái nick Mắt Mèo thật dễ thương, có lẽ người cũng vậy” “Lầm rồi! Tôi là một bà già gần năm mươi tuổi khó tính”. “Thì tôi cũng là một ông già không dễ dãi lắm”. Vậy là vừa trò chuyện với bạn tôi vừa chat với Hoa Hồ Điệp. “Rửa chén làm bể dĩa bị má mày mắng à?” “Gì? Mắt Mèo nói ai bị mắng?” Ngủ gà ngủ gật tôi nhầm lẫn. “Anh uống rượu cần không say à?” “Trời đất! Tao có uống rượu bao giờ lại còn trả lời gọi tao bằng anh nữa”. Thật điên đầu nhưng cũng thật vui. Đã nói là một trò chơi nhưng tôi cũng buồn thê thiết khi Hoa Hồ Điệp giới thiệu là một người đàn ông năm mươi tuổi, mặt tròn, mũi to, mắt híp và như bao người đàn ông lớn tuổi khác ông ấy có cái bụng to đàng trước. Tôi, một đứa con gái còn chưa tốt nghiệp trung học mới tập tành lên mạng đua đòi chơi trò chơi hiện đại. Đối tượng lần đầu tiên lại là một người đàn ông có tuổi ba lần li dị vợ, sáu đứa con. Mỗi người vợ có hai đứa. Tất cả đều theo mẹ. Cái người đàn bà gần năm mươi tuổi khó tính do tôi sáng tạo ra sao trùng hợp. Có đôi lần tôi quên lại gọi Hoa Hồ Điệp bằng chú.
“Có đứa học trò đã làm bài như thế này. Bà Triệu là em của ông Trần Hưng Đạo”. Hóa ra là một ông thầy dạy lịch sử. “Chiều nào cũng thấy nhà thơ Xuân Diệu đi dạo ở công viên”. Tôi cũng bịa ra một vài mẩu chuyện vui cho thấy tôi đang dạy văn ở một trường trung học. Những cuộc trò chuyện trên mạng đưa Hoa Hồ Điệp đến gần tôi hơn. “Hồ Điệp là tên một loại lan rất quí, hiếm có. Người ta thường gọi lan Hồ Điệp. Hoa này có hình con bướm, lan màu trắng sữa rất đẹp  và dĩ nhiên thơm nồng nàn”. Ông già có hơi kiêu ngạo ví mình như một loài lan quí hiếm. Tôi  nghĩ thầm trong lúc hình dung ra một cái hoa mang hình con bướm ngộ nghĩnh.
 Hoa Hồ Điệp gửi cho tôi mấy tấm ảnh khiến tôi vô cùng bối rối. Người đàn ông trong ảnh giống như Hoa Hồ Điệp đã tả, tuy nhiên dù bụng to vẫn không đến nỗi nào, miệng cười thật tươi chiếc cằm xệ cho thấy người phúc hậu. Ảnh đâu để gửi cho ông ta? Sau nhiều ngày suy nghĩ tôi quyết định lấy cắp một tấm ảnh của má tôi để gửi. Má tôi là một phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi, rất đẹp. Ngày xưa má đã từng nổi tiếng hoa khôi, hát hay, kết hôn với ba tôi là một nhạc sĩ. Nhưng hai người đã chia tay khi tôi còn nhỏ. Đúng như tôi nghĩ, nhận được ảnh Hoa Hồ Điệp khen không tiếc lời. Ông ấy nói không gọi Mắt Mèo nữa mà gọi là mỹ nhân. Tôi cười như mếu.
Vài tháng sau, tôi và Hoa Hồ Điệp gọi điện cho nhau. “Giọng nói của mỹ nhân còn trẻ quá !”. Đến lúc này tôi muốn ngả bài không đùa nữa. “Xin lỗi chú nghe! Lúc đầu cũng muốn đùa ...Mắt Mèo đang học lớp mười hai ...” “Trời đất ! Còn tấm ảnh ?”. “Của má cháu, chú ... ơ ... anh ... tấm ảnh không phải của anh ... ơ ...chú. Đúng không?” “Ảnh của tôi chứ còn của ai nữa”. Tôi vô cùng thất vọng. “Cháu xin lỗi! Mình vẫn quen nhau chứ?” Có tiếng Hoa Hồ Điệp cười. “Thì vẫn quen nhưng đáng đánh đòn”. Vậy rồi chúng tôi tiếp tục chat và thỉnh thoảng gọi điện cho nhau. Hoa Hồ Điệp kể về nơi đang sống, có dòng sông Sérépoc ấm áp chảy quanh năm chở những mối tình như huyền thoại. Có thác Ray Sap đổ ầm ầm, dòng nước đổi màu theo ánh sáng mặt trời bụi nước trắng xóa như sương mù và cây cà phê bạt ngàn trên những ruộng bậc thang ... Nơi ấy quả thật tuyệt vời và đầy bí ẩn. Hoa Hồ Điệp còn nói trồng được rất nhiều lan Hồ Điệp, có giò lan trổ đến ba mươi hai bông. Mong sao có dịp vào Nam sẽ mang tặng tôi một chậu lan màu trắng. Tôi cũng háo hức kể với Hoa Hồ Điệp về quê tôi, là những gam màu đẹp của mây trời, sông nước, của những cánh đồng lúa chín bạt ngàn và có món ba khía thật ngon, cũng thật bình dị. Sau vụ gặt là mùa ba khía hội, người dân quê chèo xuồng đi bắt ba khía. Con ba khía tách ra trộn với tỏi, ớt, chanh, đường. Ăn với cơm nguội rất “bén”. “Sẽ có một lần tôi vào Nam ăn ba khía của Mắt Mèo trộn” Tôi nói với Hoa Hồ Điệp về cuộc sống của tôi. Ba người đàn bà trong ngôi nhà không có đàn ông. Bà ngoại, má và tôi. Tôi muốn nghe kể về ba lần li dị nhưng Hoa Hồ Điệp từ chối, ông ấy không muốn nhắc lại chuyện cũ.
Lời hẹn về miền Nam ăn ba khía cuối cùng cũng được thực hiện. cái nắng chói chang cùng với những cánh phượng nở trên cành báo hiệu một mùa hè. Hoa Hồ Điệp hẹn về, tôi ghi thật rõ các đặc điểm cần thiết để ông ấy dễ dàng nhận ra tôi. Còn Hoa Hồ Điệp sẽ xách một chậu lan Hồ Điệp màu trắng. Những bông hoa mang hình con bướm.
Chín giờ sáng chủ nhật tôi ngồi đợi trong một quán cà phê. Hơn nửa giờ vẫn không thấy bóng Hoa Hồ Điệp. “Em đẹp quá  pleiku ơi! Trái tim ta muốn vỡ tan rồi. Nhìn vào đôi mắt ấy. Đôi mắt pleiku biển hồ đầy”. Nhạc trong quán vang lên hết bài này sang bài khác. Muốn gọi điện thoại nhưng ngại ông ấy cho là mình quá nôn nóng nên tôi không gọi, cứ cầm cây muỗng khuấy ly nước, mắt đau đáu nhìn ra cửa. Tôi bỗng giật mình khi thấy một người đàn ông bước vào trong quán nhìn quanh quất. Giống hệt người trong ảnh Hoa Hồ Điệp đã gửi tặng tôi, tay xách một chậu hoa. Rõ ràng là lan Hồ Điệp màu trắng. Những chiếc bông mang hình con bướm. Nhưng sao ánh mắt ông ấy lướt qua tôi vẫn thản nhiên. Tôi mặc một chiếc áo màu xanh lá, tóc xỏa thẳng chấm vai, xách một chiếc túi màu đỏ điểm hoa trắng. Tôi đã ghi như vậy. Tôi gọi: “Chú! Chú ơi!” Người đàn ông làm như không nghe thấy, đến chiếc bàn gần đó ngồi xuống. Thấy ông ấy vẫn chưa nhận ra tôi, tôi liền nói to. “Chú Hoa Hồ Điệp! Áo màu xanh lá, tóc dài, túi xách đỏ điểm hoa trắng”. Nhiều người trong quán nhìn tôi và ông ấy cũng nhìn tôi như mọi người. Tôi vội vã đến bên cạnh. “Chú Hoa Hồ Điệp!” Người đàn ông mở to mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Ánh mắt khiến tôi sựng lại, tôi cười gượng gạo. “Cháu là Mắt Mèo!” “Mắt Mèo?” Tôi cố gắng nói trước vẻ mặt ngơ ngác của người đàn ông. “Mỹ Nhân nè!” “Xin lỗi! Đi nhầm mấy con đường mới tìm được quán cà phê nên đến muộn”. Một người vừa bước đến đã vội vàng lên tiếng. Giọng nói của Hoa Hồ Điệp. Đó là một thanh niên trạc tuổi tôi, đen dòn. Đặc biệt có đôi mắt đen với đôi rèm mi dày thật đẹp. Người đàn ông lên tiếng chậm rãi. “Bạn của cháu phải không? Y Boom! ” “Xin lỗi nghe! Đây là chú của tôi, tôi đã rủ đi cùng. Ngồi xuống đi, chúng mình sẽ nói rõ với nhau hơn”. Sau phút bất động vì bị bất ngờ tôi quay người bỏ đi. Mặt nóng bừng, nước mắt chực trào ra. Mình đã bị gạt, cái cảm giác bị người khác lừa dối, khiến tôi bực tức. Tôi vào cuộc chơi rồi bị cuốn hút. Tôi quên, đó là một trò chơi. “Mắt Mèo!”. Y Boom xách chậu hoa đuổi theo. “Chẳng phải lúc đầu Mắt Mèo cũng đùa đó sao?” “Nhưng bạn đùa quá dai”. “Thì cũng kết thúc rồi. Tôi mang lan Hồ Điệp tặng Mắt Mèo, thì tôi cũng phải được ăn ba khía chứ”.
Đàng nào thì hai chú cháu cũng đã vào đây. Phải đãi một bữa cơm với ba khía trộn tỏi, ớt, chanh, đường, nhưng má trộn chứ không phải tôi. Hai người khen ngon và xuýt xoa luôn miệng vì ... cay quá. Thỉnh thoảng tôi gửi mail cho đứa bạn vì nhường máy cho má tôi chat. Má tôi có bạn rồi, là chú của Y Boom. Ông ấy cũng độc thân nhưng chưa li dị lần nào vì chưa kết hôn. Ba lần li dị và sáu đứa con chỉ là sản phẩm tưởng tượng của Y Boom vậy mà tôi cũng tin và đã từng buồn thê thiết. Chậu lan Hồ Điệp má tôi treo trong phòng khách. Ban đêm, mùi hương lan tỏa khắp nhà. Tôi và Y Boom có lời hẹn gặp nhau ở trường Đại Học Sài Gòn. Một cuộc gặp thật với người thật chứ không phải là cuộc hẹn hò của một trò chơi trên Internet.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
NHỮNG NHÀNH MAI VÀNG CHO EM TÔI
Trần Lệ Thường
 
Tết này là thằng Dế Mèn đã bảy tuổi. Nó học trường bán trú. Nó lớn hơn ngày hôm qua và có nhiều thắc mắc hơn ngày hôm trước. “Chị Sơn Ca ơi! Tại sao trái ớt cay? Tại sao con Bò hổng có sừng? Sao con Vịt hổng gáy như con Gà hả chị?” và còn vô số câu hỏi khác mà một người chị mười sáu tuổi như tôi không có khả năng trả lời.
Tôi học buổi chiều nên sáng tôi đưa nó đi học, chiều hết giờ làm việc má đón nó. Ngồi sau lưng tôi trên chiếc xe đạp, Dế Mèn nói chuyện huyên thuyên. Đôi khi xe xẹp bánh phải dừng lại ở góc đường để bơm xe. Chú Thịnh, chủ tiệm sửa xe hay chọc ghẹo đùa giỡn với Dế Mèn và nó cũng tỏ ra yêu mến chú. Dế Mèn là một đứa trẻ bụ bẫm, xinh xắn, trắng như cục bột, hai mắt tròn xoe, long lanh sáng. Lúc nó mới biết đi lẩm đẩm, nói chuyện bập bẹ ai thấy cũng đều thương. Từ lúc còn ẳm trên tay, nó đã cùng má và tôi lui tới tiệm sửa xe. Chiếc xe gắn máy của má bị hư thắng, đứt dây sên … má đều đem tới đó. Chú Thịnh là một người đàn ông hơn bốn mươi tuổi, đã từng đi bộ đội bị thương. “Vợ con chú đâu?” Có lần đến sửa xe, tò mò tôi hỏi thằng Hòa trạc tuổi tôi, làm công trong tiệm chú. “Chú không có vợ”. Tôi cũng không hề thắc mắc tại sao một người đàn ông đến tuổi đó không lập gia đình. Chẳng biết chú sống ở đây từ lúc nào. Chỉ biết, lớn lên tôi đã thấy chú. Người lấm lem dầu mỡ, đôi bàn tay to lem luốc thường đưa ra hù dọa Dế Mèn. Nó cười khanh khách bỏ chạy.
Một lần, xe bị bể bánh phải vá. Thấy tôi thắc thỏm sợ trễ giờ học của Dế Mèn chú liền lấy xe gắn máy đưa nó đi. Khi vừa xuống xe, một đứa bạn cùng lớp hỏi: “Ba của bạn phải không ?” Nó đã trịnh trọng gật đầu. “Phải”. Chiều, đi học về tôi thấy nó ngồi cúi đầu trước mặt má tôi, vẫn còn vẻ giận dữ. “Đó là nói dối, con biết chưa ?”. Một người bạn đưa con đi học đã nhìn thấy nên khi má đến trường đón nó người này đã hỏi: “Chị có chồng rồi hả ?”. Dế Mèn  thấy tôi, tức tưởi “Bạn Diễm có ba, em hổng có ba”. Rồi nó khóc nức nở. Phải chi Dế Mèn  nói “Bạn Diễm có con Gấu nhồi bông, em hổng có” thì tôi sẽ nhịn tiền tiêu vặt mua cho nó.
Ba đối với tôi cũng là một điều xa lạ lắm. Cái cảm giác có ba tôi chưa từng có. Chung quanh tôi là ông bà ngoại, cậu, dì. Bên nội mơ hồ như một ảo ảnh. Và cũng không phải là một thiên đường để mà mơ tới. Tôi nhớ, khi bắt đầu hiểu biết tôi cũng đã thường thắc mắc. Ba đâu? Má đã cười buồn. Hai người đã chia tay nhau khi tôi còn chưa ra đời. Đúng hơn là má tôi bị phụ bạc. Sau này tôi hiểu. Cái người đàn ông lẽ ra tôi phải gọi là ba đã không cần biết tôi có tồn tại trên đời hay không. Loại người sống không cần nhân quả, chỉ vì dục vọng thấp hèn. Má tôi vì tình yêu mù quáng bị lường gạt. Còn Dế Mèn thì khác, nó không biết và sẽ không bao giờ được biết, nó đã được đưa về từ một nơi nuôi trẻ mồ côi khi mới năm tháng tuổi. Má muốn tôi không cô độc. Có thêm một đứa trẻ gia đình sẽ vui hơn. Từ khi Dế Mèn có mặt trong nhà, tôi chưa bao giờ nghĩ nó là một đứa em nuôi. Má và tôi đã yêu thương chiều chuộng nó hết mực, bởi vì nó đáng được chiều chuộng và yêu thương.
Buổi tối, hai chị em đứng ngoài hàng ba, tôi vỗ về. “Trên đời này đâu có ai giống ai. Bé Diễm có ba, Dế Mèn không có ba. Cũng như … em xem nè …”. Tôi chỉ vào hai chậu hoa hồng. “Cây này có hai bông màu đỏ đẹp còn cây kia không có cái bông nào”. Chẳng biết nó có chấp nhận câu trả lời này hay không chỉ thấy nó im lặng mở to mắt nhìn. Cái thí dụ quá đơn giản của tôi lại gây nên nhiều phức tạp. Chẳng  biết bao nhiêu ngày đã qua, một sáng chuẩn bị lên xe đi học Dế Mèn chợt reo lên. “Chị ơi! Cây kia có bông rồi! Có bông rồi! Em có ba! Em có ba!”. Tôi không biết nên khóc hay cười nữa. Giá mà tôi dậy sớm ngắt phứt cái bông mới nở đó đi nhưng chỉ vì tôi quên đã từng thí dụ như vậy. Còn Dế Mèn không quên, nó nói tôi nói dối, giận tôi, không thèm lên xe tôi chở đi học. Cuối cùng má phải quát: “Có lên không hay muốn ăn đòn?” Mặt nó sa sầm, đôi gò má phính xệ xuống, đôi mắt ngân ngân nước “Em sẽ nói dối! Em sẽ nói dối!” Dế Mèn leo lên xe ngồi, hăm dọa tôi.
Chủ nhật cả nhà được nghỉ, má thường nấu những món thịnh soạn hơn, đôi khi đổ rau câu hay nấu chè… Dế Mèn luôn lẩn quẩn một bên và… hỏi. Tôi là người thường xuyên trả lời còn má thì cười lắc đầu.
Sáng nay trong lúc má đi chợ mua thức ăn tôi dọn dẹp nhà cửa, rửa chén bát. Dế Mèn đùa nghịch thế nào làm chiếc bình bông trên bàn rơi xuống nền nhà vỡ tan. Tôi hốt hoảng chạy lên phòng khách nhìn chiếc lọ hoa má tôi yêu thích chỉ còn là những mảnh vụn. Nó đứng một bên lấm lét “Em xin lỗi! Em xin lỗi!”. Tôi phát vào mông nó mấy cái. “Nghịch nè! Nghịch nè!” rồi tôi lo thu dọn mảnh vỡ, lau nhà sạch sẽ. Trong lòng nơm nớp lo mẹ mắng, ở nhà giữ em để nó làm đổ bể. Mãi làm việc tôi quên, đến khi sực nhớ thì không thấy Dế Mèn đâu nữa. Thoạt đầu, tôi tưởng nó vào phòng ngủ hay vào nhà vệ sinh. Đến khi tìm không thấy tôi bắt đầu hoảng sợ hớt hải chạy sang mấy nhà bên cạnh. Không ai thấy nó cả. Trời ơi! Hai đầu gối tôi muốn nhủn ra, sụm xuống. Tôi lập cập gọi điện cho má rồi đóng cửa dắt xe đạp chạy tìm Dế Mèn. Tôi chạy giữa trời nắng chang chang, không đội nón, không mang dép. Trên người là bộ đồ lửng sát cánh dùng để mặc trong nhà. Tôi về nhà ngoại dẫu biết nhà ngoại rất xa nó không thể nào đi tới. Tôi đến nhà cô giáo chủ nhiệm cũng không thấy. Nơi nào quen biết tôi đều dừng lại tìm kiếm. Tuyệt vọng và sự hãi tôi quay về, hình dung ra má đang cuống cuồng trong chợ không biết lối về nhà. Sắp đến nhà tôi vụt nhớ tiệm sửa xe. Vừa thấy tôi dừng xe, thằng Hòa đã nói to: “Sơn Ca! chú Thịnh đưa Dế Mèn về rồi!”. Trời đất ơi! Tôi thót lên xe đạp quên cả cám ơn thằng Hòa. Tuy vậy tôi vẫn kịp thấy đôi mắt tò mò của nó nhìn vào tôi. Xa xa, tôi thấy chú Thịnh đang cõng dế mèn đứng trước nhà. Má tôi cũng vừa về đến, vừa sợ, vừa mừng và vừa giận. Nó sợ bị đòn nên lén đến chỗ chú Thịnh. Chú đang bận nên bảo nó chờ xong việc đưa nó về, không dám để nó về một mình. Má định phát cho nó mấy cái nhưng chú Thịnh đã can. Má đánh không phải vì làm bể bình bông mà vì dám đi một mình không cho ai biết.
Chẳng biết có phải từ lần đó má và chú Thịnh thân nhau hơn. Chỉ biết có vài lần Dế Mèn nói má và chú cùng đến trường đón nó. Dĩ nhiên là Dế Mèn lên xe chú Thịnh, ngồi sau lưng chú nó thích hơn. Hai người đưa nó đi ăn kem, khi về chú mua quà cho nó. Đôi khi má có nhắc đến chú trong bữa ăn: “Chú là người không có quá khứ, chú bị thương trong chiến tranh và bị mất trí nhớ”. Dế Mèn quay qua tôi. “Quá khứ là gì hả chị Sơn Ca?” “Ờ … ờ … thì là … là lúc em không ngoan, ngủ còn tè trên giường”. Tôi ậm ừ lấp liếm cho qua, thay vì nghiêm trang nói với nó như trong phim. “Lớn lên, đến một tuổi nào đó em sẽ hiểu quá khứ là gì”. Mấy ngày sau đến chỗ chú Thịnh bơm xe, nó nói oang oang. “Má nói chú ngoan, ngủ không tè trên giường”. Tôi bụm miệng nó không kịp, vội vã xốc nó lên xe chạy biến còn nghe tiếng cười của chú và thằng Hòa đuổi theo.
Giói thổi hiu hiu gờn gợn. Buổi sáng thức giấc lười dậy nằm quấn mền thật chặt thưởng thức cái lạnh se se của những ngày giáp tết. Đã qua rồi tuổi thơ lòng tôi vẫn nôn nao háo hức nói chi Dế Mèn. Nó vui vì sẽ được mặc quần áo mới, sẽ được nhiều tiền lì xì, sẽ được đi chơi … Má mua về mấy chậu cúc vàng rực rỡ. Nó vỗ tay reo lên: “Cây nào cũng có bông”. Bằng một giọng hết sức vui mừng khiến tôi muốn phát khóc vì cái thí dụ quá đơn giản của mình ngày nọ. Chú Thịnh mang đến nhà một nhánh mai, nụ đầy cành, điểm lác đác vài cái hoa nở sớm. Dế Mèn chạy ra đón chú, khệ nệ cầm nhánh mai cao qua khỏi đầu nó, miệng cười toe toét. Tôi nhìn ra, chú Thịnh đi bên cạnh nó uy nghiêm, dũng mãnh. Đôi bờ vai khiến người  khác tin tưởng tựa đầu.
Mồng một tết, trời mới mờ mờ sáng, Dế Mèn đã gọi tôi dậy. Chẳng biết nó thức từ lúc nào, đêm qua lúc giao thừa nó vẫn cùng má và tôi đón năm mới. “Chị ơi! Dậy! Dậy! Đi mừng tuổi ông bà ngoại”. Tôi nằm nướng một lúc không được với nó đành phải dậy sửa soạn đi mừng tuổi ông bà như hàng năm. Dế Mèn đã tự mặc quần áo xong, trong lúc ngồi mang giày nó bỗng nói. “Em xin lỗi! Em xin lỗi!” Đang chải tóc, tôi nhìn nó trong gương. “Em đã nói dối! Em đã nói với các bạn chú Thịnh là ba. Em xin lỗi! Chị Sơn Ca đừng giận em”. Tôi đến giúp Dế Mèn mang giày, âu yếm nói với nó. “Em không có nói dối đâu. Em nói thật đó, lát nữa chú sẽ đi cùng má và chị em mình về ngoại mừng tuổi”. Dế Mèn nhảy cởn lên vỗ tay. “Em không nói dối, em đã có ba!”. Trông nó thật đáng yêu và cũng thật buồn cười với một chân chưa mang giày. Mùa xuân này quả thật dành cho em tôi. Nhánh mai vàng của chú Thịnh là một mùa xuân hạnh phúc nhất chú mang tặng Dế Mèn. Mùa xuân nó hằng mong đợi.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 06:10:44ldlvinhquang>
SONG NGUYỆT
Trần Lệ Thường
 
Từ trong cửa sổ tôi nhìn ra, trăng mỗi lúc một sáng. Khoảng hàng ba hẹp vàng nhạt soi rõ mấy chậu phong lan treo lủng lẳng thơm ngát. Những đóa hoa hồng trắng của ông tôi nở rực rỡ tỏa hương hòa vào trong đêm. Nơi góc nhà, chậu đổ quyên mang một màu tím sen nhàn nhạt khiêm tốn nép mình. Chậu hoa này khiến suýt nữa má bị hành hung vì tranh nhau mua. Những ngày giáp tết hoa nhiều nhưng đổ quyên rất hiếm, má vừa tìm thấy còn đang trả giá thì một người phụ nữ khác đến tranh mua. Lời qua tiếng lại một lúc má định bỏ đi nhưng vì nhớ đến tôi lúc nãy đã dặn mua nên má quyết lòng dành cho được. May sao, chủ hàng kế bên còn một chậu đổ quyên to hơn, hoa nở nhiều hơn. “Chậu hoa này mua quá đắc”. Má về thở hổn hển than nhưng miệng mỉm cười.
Chỗ ngồi đã quá quen thuộc, tôi ngồi học, nghe nhạc, lướt mạng… Chỉ cần lăn chiếc xe đến bên bàn. Từ nơi đây, những đêm có trăng tôi nhìn trăng. Bầu trời cao trong vắt, không gợn mây. Thật ngậm ngùi! Mỗi một người khi sinh ra đã được đặt để vào một hoàn cảnh khác nhau. “Thượng đế làm ra lúa gạo nhưng con người làm ra cơm”. Tôi vẫn sống và muốn sống tốt. Nơi đây ba tôi đã ngồi viết nhạc hàng đêm, lưng hơi còng và cặp kính trể xuống sống mũi. Rồi ba đàn và hát, khi lên cao, khi xuống thấp, âm thầm ray rứt làm xáo động những sợi tóc. “Tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống đời làm sóng lênh đênh” ba hát. Đêm thật sâu, đêm thật diệu kỳ, trăng mười sáu thật sáng. Má đến ngồi bên cạnh dựa đầu vào vai ba. Ba tắt đèn cho ánh trăng lùa vào phòng, hai người ngồi yên lặng rất lâu, rất lâu để cảm nhận sự êm ả tuyệt vời, một hạnh phúc ngút ngàn như những nốt nhạc của ba. “Lúc ấy con ở đâu?” Khi nghe má kể, tôi đã thắc mắc. “Đang dần tựu hình trong má”.
Tôi mở mạng lên trang web quen thuộc, click chuột vào một bản nhạc. “Đành nhũ lòng thôi giã từ kỷ niệm. Cho qua bao năm mộng buồn quên dấu. Nhưng sau bao năm ngày dài qua mãi…” trên đời có những tình cờ không giải thích được, có những ngẫu nhiên như được bàn tay ai sắp đặt. Cuộc đời, huyền bí sau bức màn còn chờ bàn tay tạo hóa vén lên. Một lần, tôi tình cờ nhìn thấy tên ba trên trang web với hơn hai trăm bài hát được các ca sĩ thể hiện điêu luyện. Ba! Ở trong tôi không hình dung ra được gì ngoài những tấm ảnh chụp chung với má và những câu chuyện kể chắp vá. Ba còn để lại một cây đàn dương cầm và một cái tên trên giấy khai sinh của tôi. Thoạt tiên tôi bàng hoàng rồi sau đó hồi hộp như sắp sửa gặp ba. Tôi nói với má, không biết là má đã biết chưa, má chỉ biểu: “Đừng bao giờ mở trang web đó”. “Nhưng đó là ba con”. “Ông ta đã từ bỏ con”. Tiếp theo đó là má lặp lại những điều đã cũ, những điều má nói suốt mười mấy năm qua. Tuy nhiên mỗi một lần, theo thời gian giọng nói nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn. Vết thương trong má đã lành, vết sẹo đang dần phai. Ba bắt đầu suy sụp chán nản khi tôi chào đời với đôi chân thỏng thượt không động đậy được, tôi khóc triền miên, èo uột đến tưởng phải bỏ đi. Kết tinh của mối tình quá say đắm. Đến với nhau, theo nhau mòn con đường đến trường. Những bài tình ca ba viết tặng má không bao giờ cạn. Hàng cây sao đã bao lần thay lá, cuối cùng là tôi. Lỗi tại ai? Không ai biết! Ba không dám nhìn tôi, ngại đến gần tôi. Ba thường xuyên vắng nhà, la cà ở nhà bạn bè hoặc ngoài quán nhậu. Có đêm ở nhà ba ngồi yên lặng hút thuốc không bật đèn, không viết, không đàn, chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ. Trăng suông mờ mờ không soi rõ gương mặt ba. Má bước ra phòng khách, lặng lẽ nhìn ba một lúc rồi thở dài quay trở vào với tôi. “Cả một trời yêu bao giờ trở lại. Thôi ta xa nhau tưởng chừng như đã. Thôi ta xa nhau để lòng thương nhớ. Tình bất phân ly tình vẫn như mơ”. Một ngày, má từ cơ quan về mới hay ba đã ra đi, không một lời giã biệt. Là hết! Một mối tình kéo dài bốn, năm năm ròng rã và một cuộc hôn nhân chóng vánh. Tôi không hiểu và cũng không bao giờ muốn hiểu. Lý lẽ đó thuộc về người lớn. Ông không nói gì chỉ hầm hừ nho nhỏ, không muốn má đau lòng thêm. Lúc ấy tôi chưa đầy ba tuổi.
“ …Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Rọi xuống trăm năm một cõi đi về…” Tôi mở sang một bản nhạc khác. Lại cũng một bài tình ca. Những bài tình ca luôn tràn ngập trái tim ba tôi. Ba hát “Một cõi đi về” rất hay, má thích lắm nên hay ép ba hát đi hát lại nhiều lần. “Mây che trên đầu và nắng trên vai. Đôi chân ta đi sông còn ở lại. Con tim yêu thương vô tình chợt gọi. Lại thấy trong ta hiện bóng con người”. Bây giờ má hát một mình và khóc. Ba đi rồi, má ngồi nơi đây nhóm lại bếp than hồng quá khứ. Bỏ lại bao lo toan bộn bề của cuộc sống mà trãi hồn ra thao thức cùng trăng để nhớ một người. Đôi khi má tự an ủi, ba đi để vùng vẩy thỏa chí giang hồ, thị xã này quá nhỏ hẹp không giữ nổi con cá lớn. Những dòng nhạc như những dòng sông cuốn ba trôi, trôi mãi chẳng biết đến bến bờ nào. Ba đi với những cuộc tình như những mảnh vá chằn chịt trên chiếc áo đã sờn cũ, không hề ngó ngoáy lại sau lưng trong khi có một người lúc nào cũng đau đáu dõi mắt về một phương trời vô định.
Tôi để âm thanh nhỏ hơn, sợ ông nghe thấy. Ông đã về hưu, tối đi nghỉ sớm. Tuyệt đối không muốn tôi nghe nhạc của ba hay nhắc đến tên ba. Tôi không muốn làm ông phật ý nhưng tôi thật sự không thể làm khác được. Đó là ba tôi! Cay nghiệt làm sao, má kinh hoàng khi thấy tôi suốt ngày mê mãi với cây đàn dương cầm. Ông tôi bàng hoàng khi thấy tôi ngồi nghe say sưa bài “Ánh trăng” của Bét-tho-van lúc mới tám tuổi. Làm sao tẩy rửa được thứ âm nhạc đã ăn sâu trong máu, trong từng chân tóc, kẻ răng, trong từng hơi thở. Chỉ khi nào tôi chảy hết máu chứ không mong tôi từ bỏ âm nhạc. Cả một sự tranh đấu dai dẳng, một thời gian dài dằn xé ray rứt, cuối cùng ông và má đành để tôi đến với con đường âm nhạc. Mỗi ngày, ngoài thời gian đến trường tôi có hai giờ học đàn tại nhà. Thầy dạy tôi là một nhạc sĩ do ông tôi mời về, kém má tôi bốn tuổi.
Ngoài kia con đường nhỏ thật yên ắng. Ban ngày cũng chẳng thấy mấy người qua lại, đêm tối càng vắng lặng hơn. Ông tôi rất thích nơi này, chỉ là một con đường nhỏ trong thành phố, ông tôi đã sống trên ba mươi năm. Nhà cửa có sửa sang đôi chút, hàng ba hẹp lại và treo đầy phong lan, ông tìm mua đủ loại. Ông thích hoa phong lan và yêu hoa hồng trắng. Yêu quí ông, tôi cũng theo sở thích của ông, thích ngắm phong lan và hoa hồng trắng dưới trăng. Hình như trong trăng thực và ảo hòa lẫn vào nhau tạo nên một cõi thiên đường dù rằng vay mượn. Sau này tôi có thêm hoa đỗ quyên luôn nở rộ thấp thoáng dưới trăng huyền bí như trong các câu chuyện cổ tích. Yêu quí ông nhưng tôi đã lén ông nghe nhạc của ba, mail cho ba. Tôi không thể dừng được. Ba ở đó mail ràng ràng đó, cứ nhắp chuột là được thôi. Tôi kể với ba về cuộc sống khó khăn với đôi chân tật nguyền của tôi, ba chắc hẳn cũng hình dung được ông và má đã cực nhọc vì tôi như thế nào rồi. Còn nỗi tủi thân của tôi lúc đến trường bị bạn bè dè bỉu, chăm biếm. Quanh năm suốt tháng tôi ở trong nhà không dạo phố mua sắm, ăn quà chỉ biết đàn, làm bạn với máy vi tính và thú nhồi bông. Tôi khóc nước mắt nhỏ xuống bàn phím lẫn trong tiếng lách cách. Tôi khao khát có ba như bao con người khác. Ông và má yêu thương tôi, hết lòng bù đắp cho tôi nhưng tôi vẫn thấy thiếu. Người ta có ba đưa đi xem Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, đi Nhật Bản ngắm Phú Sĩ sơn, đi ăn Kim Chi ở Hàn Quốc… Mười tám tuổi tôi chưa một lần đối diện với ba, chua xót hơn là biết ba vẫn tồn tại trên đời. Điều quan trọng nhất tôi muốn nói với ba là tốt nghiệp phổ thông xong tôi sẽ vào nhạc viện Hà Nội. Tôi không quên khoe, năm mười hai  tuổi tôi được giải thưởng đặc biệt của cuộc thi đàn piano toàn quốc, mười lăm tuổi được giải ba cuộc thi Âm nhạc quốc tế thường niên tại Ý. Thầy dạy đàn nói tôi có khả năng cảm thụ âm nhạc tuyệt vời. Ba ơi! Đó là gia tài vô giá ba để lại cho con. Tất cả tôi đều nói thật, nói với cả nỗi lòng của một đứa con mong mỏi gặp cha nhưng có một câu tôi đã nói dối. “Ông và má đều đã tha thứ cho ba”.
Trăng lên cao sáng rõ hơn, tôi chợt thấy bụi Đỗ Quyên động đậy rồi có tiếng chim kêu ríu rít, thì ra có một chú chim non rơi xuống hốt hoảng kêu vang trời. Là một con chim sẻ lạc loài! Chim đã về tổ  hết rồi trong những tàng cây sao con chim này bị lạc và rơi xuống ? Có lẽ là một con chim tật nguyền! Thật đáng thương! Hơn nửa năm, không thấy ba hồi âm, như thể tôi đã mail vào khoảng không nào mờ mịt, như ném một viên đá xuống biển. Ba không đọc được hay vì ba xấu hổ ngại ngùng? Tôi buồn thê thiết! Tôi lại mail cho ba nói là buổi lễ tổng kết cuối năm của trường, tôi có tiết mục đàn piano một bản nhạc của ba, tôi tha thiết xin ba có mặt, chỉ để nhìn tôi trình diễn cũng là hạnh phúc với tôi rồi. Buổi sáng hôn ấy tôi mặc chiếc áo dài trắng mới, tóc thẳng qua vai, đôi mắt sáng trên gương mặt háo hức. Sau phần phát thưởng là đến phần văn nghệ. Tôi tự lăn xe ra sân khấu. Đã bao lần trình diễn trước đám đông tôi không hề hồi hộp, nhưng lần này tôi thấp thỏm không yên. Ngồi dưới kia là ông, là thầy tôi, là má tôi, là bạn bè tôi, là những người thân quanh tôi. Tôi đưa mắt nhìn tìm, chẳng thấy có điều gì khác lạ. Lòng lại lo âu, liệu tôi có nhận ra được ba không? Những ngón tay tôi bắt đầu run, những đầu ngón tay đã từng bật máu vì tập dượt. Thầy tôi bao giờ cũng bắt cắt ngắn móng tay và luôn giữ cho đôi bàn tay mềm mại. Thầy đang nhìn tôi với ánh mắt động viên cổ vũ. Hơn mười năm rồi, thầy luôn gần gũi tôi cũng như một người bạn thân thiết nhất. Bắt gặp ánh mắt thầy tôi, tôi bình tĩnh trở lại nhưng nước mắt tôi trào ra, vừa đàn vừa khóc. Ba đã không về, một nơi chốn có quá nhiều kỷ niệm, những kỷ niệm ba không bao giờ muốn nhớ. Thỉnh thoảng tôi thấy má đưa tay lên mắt, ông tôi húng hắng ho giả vờ che giấu xúc cảm. Bản đàn dứt trong tiếng vỗ tay rào rào, hoa chất đầy lên người tôi. Mắt tôi mờ đi vì nước mắt.
Tiếng chuông điện thoại reo cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Thầy gọi đến, nhắc tôi nghỉ sớm, giữ gìn sức khỏe, tiếng nhạc vọng vào điện thoại khiến thầy không yên tâm. Thầy không giống ba tôi, chiếc áo tình yêu còn lành lặn chưa vá một lần nào.  Gác điện thoại, tôi nhẹ nhàng lăn xe vào nhà bếp rót một ly nước, tránh va chạm để không đánh thức mọi người. Khi quay trở ra, bất chợt tôi thấy dưới ánh trăng nhàn nhạt, bên cạnh chậu Đỗ Quyên, một người đàn ông tay xách chiếc ba lô nặng trĩu đang đứng nhìn tôi qua cửa sổ. Tất cả các giác quan trên người tôi đều trỗi dậy, một linh cảm nào đó cho tôi biết cái dáng vẻ bơ phờ mệt mỏi kia chính là người tôi hằng chờ đợi. Mường tượng người đàn ông đã đứng cạnh má tôi trong ngày cưới. Chiếc ly trong tay tôi rơi xuống nền nhà vỡ tan. Tiếng thủy tinh vỡ khô rắc khiến tôi bừng tỉnh. Là ba đó sao? Đã đến lúc tôi tưởng chừng tuyệt vọng, không còn hy vọng gì nữa thì ba xuất hiện. Cơn lũ nào đã cuốn ba về đây như một chiếc thuyền rách nát. Chiếc áo tình yêu vá đùm vá đụp có lẽ ba đã vứt ở dọc đường. Ba về đây có nghĩa là có người phụ nữ mất chồng, có những chàng trai, cô gái mất cha. Nhưng tôi không cân biết, tôi chỉ biết tôi đã có ba, gia đình sum hợp. Người đàn ông bỗng dưng quỵ xuống, hai tay chống lên nền gạch, đầu cúi gục như sám hối bên cạnh chậu Đỗ Quyên. Chậu hoa mà má phải giành giật mới có. Phải giành giật mới có, kể cả ba. Tôi chợt nhận ra con chim lạc đã bay về tổ không con kêu thắt thẻo nữa.
Một bàn tay mềm mại đặt nhẹ nhàng lên vai tôi. “Má ơi!” Tôi quay lại, ngước nhìn. Nước mắt long lanh nhưng miệng má hơi mỉm cười. Tôi không biết má đang cười hay đang khóc nữa. “Con có nghe câu hát của Trịnh Công Sơn. Yêu em yêu thêm tình phụ. Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”. Tôi òa khóc nức nở. Tôi tưởng má sẽ gào thét đuổi xua cho thỏa lòng oán hận bao năm nay. Má nói khẽ khàng như tiếng thì thầm và cũng rất nhẹ nhàng má đi ra mở cửa. Có tiếng ông tôi húng hắng ho rồi không nói gì ông lẳng lặng đẩy xe tôi ra cửa xuống thềm. Tôi còn chưa tắt máy vi tính. “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 06:18:06ldlvinhquang>
ĐÊM PHÁO HOA
Trần Lệ Thường
 

Hơn năm giờ, công viên sôi động hẳn lên. Có đến ba cửa vào mà người cứ chen chút xếp hàng đông nghịt, họ nối đuôi nhau thành một con rắn khổng lồ đầy màu sắc sặc sỡ, chỉ mùa xuân mới có. Và những gương mặt rạng ngời như hoa mai, lấp lóa những hàm răng trắng sáng. Các đứa trẻ chạy trên đôi giày mới và súng sính trong bộ quần áo thời trang còn thơm mùi vải.
Hai người cặp tay nhau dạo qua hàng đồ chơi. Chàng trai đeo cặp kính gọng đen giống như Đoàn. Cô gái trong bộ đồ Hip Hop duyên dáng với mái tóc kéo thẳng hình chiếc lá. Thoáng chút buồn, Tĩnh nhìn lên những chiếc bong bóng mang hình các con thú đang đung đưa trong gió. Mấy hôm trước Đoàn chia tay về quê, Tĩnh nói cũng sẽ về nhà, mồng năm trở lên trường. Nhưng Tĩnh không về. Tĩnh ở lại, không về ăn tết với gia đình, không đón giao thừa cùng với ba và em gái. Buồn lắm chứ, nhưng nhà nghèo, cuộc sống sinh viên vất vả, Tĩnh chưa cho phép mình thụ hưởng cho dù một hạnh phúc đơn giản chẳng cầu kỳ. Tĩnh ở lại bán bong bóng trong công viên mấy ngày tết, sẽ được một món tiền kha khá, qua tết có dịp sẽ về mua quà cho ba và Tâm đang học trung học. Chính điều ấy đã khiến cho Tĩnh hớn hở tìm một chỗ bán và cũng để được xem bắn pháo hoa vào đêm nay lúc mười giờ.
Đoàn và Tĩnh gặp nhau trong năm đầu trường Cao Đẳng. Đoàn sẽ ra trường dạy thể dục còn Tĩnh theo môn văn. Ông thầy dạy thể dục tương lai có bàn tay trắng với những ngón dài mềm mại viết chữ rất đẹp. Tấm thiệp xuân đầu tiên đã làm Tĩnh chao đảo tâm hồn. Ngược lại, cô giáo văn chương có đôi bàn tay đen ròn chai sạn, rắn chắc mạnh mẽ. Đoàn trắng trẻo, tóc hớt ngắn, dong dỏng cao. Đẹp, một vẻ đẹp công tử. Cũng phải, con một gia đình cán bộ, ông bà  nội cưng chiều, cuộc sống vật chất dư thừa nhưng cũng phải có một nghề cho bản thân và vì không thể dạy các môn khác nên Đoàn phải chọn môn thể dục. Đoàn không thông minh, chậm chạp nhưng Đoàn cũng dễ thương. Cô gái ranh mảnh đã nhận xét về Đoàn như thế. Rồi Đoàn thường xuyên lui tới nhà trọ và ngỏ lời với Tĩnh. Buổi tối không có ai, cô bạn cùng phòng đã đi vắng, Đoàn đưa cho Tĩnh một nhánh hồng nhung kèm theo ánh nhìn thật nồng nàn quyến rủ. Tĩnh ngồi trên ghế run rẩy trong khi Đoàn ngồi dưới chân cầm hai bàn tay Tĩnh áp lên má. Từ giây phút đó, Tĩnh thấy cuộc đời đã gắn chặt vào Đoàn.
Đèn bật sáng, khung cảnh càng thấy tưng bừng nhộn nhịp hơn trong tiếng nhạc mùa xuân phát ra rộn rã. Tĩnh bị vây kín bởi người là người. Tiếng hỏi, tiếng mua… lấy tiền, thối tiền… vèo một cái chiếc cây treo đầy bong bóng trống trơn. Tĩnh cuống quít lôi bọc bong bóng trong giỏ xách ra, còn đang lúng túng thì cậu bé chừng chín, mười tuổi ở gian hàng bán đồ chơi bên cạnh đang cho chiếc xe đồ chơi chạy vòng vòng ở phía sau bất chợt đi đến. “Chị để em thổi giúp cho!” Rồi nó nhanh nhẹn cho vòi ống bơm vào cái bong bóng. Nhìn vẻ thành thạo của nó, Tĩnh xuýt xoa. “Sao em rành quá vậy?” “Cha em lúc trước cũng bán bong bóng”. Thằng bé thật lanh lẹ, nhờ có nó Tĩnh không phải luống cuống nhưng vẫn có lúc thối nhầm tiền, người ta đưa trả.
Đêm mỗi lúc một lạnh và càng khuya người ta càng đông, hình như họ vào để chờ xem bắn pháo hoa. Lúc đã thư thả Tĩnh đưa cho thằng bé chiếc bong bóng con gà nhưng nó cười lắc đầu. “Em không chơi thứ này nữa”. Nó huyên thuyên kể về những chuyến theo ghe đi bán với gia đình. Nó đã quá quen với việc bán vào dịp tết, hội chợ, ca nhạc, cải lương… “Đào kép dỡ thì bán đắc còn họ hát hay quá không bán được đồng nào”. Thấy Tĩnh nhìn vẻ không hiểu nó mới giải thích. Thì ra, hát hay người ta xem đến hết giờ rồi ra về luôn còn hát dỡ họ bỏ ra ngoài đi lòng vòng mua đồ chơi, kẹp tóc… Thằng bé ranh mảnh, liếng láo nhưng không biết chữ. Ở dưới ghe rày đây mai đó làm sao đi học.
Tĩnh thấy thương nó, lớn lên rồi sẽ ra sao. Cứ theo cha anh dong ruỗi kiếp đời sông nước. “Anh, chị của em hả?” Tĩnh chỉ người con trai và cô gái đội chiếc kết ngược ra phía sau hỏi nó. “Anh hai, còn Bê là chị dâu”. Tĩnh mở to đôi mắt đen ra nhìn hai người đang mãi mê bán hàng. “Anh hai mười chín tuổi, Bê mười bảy tuổi. Nhưng chị đừng lầm, anh hai đánh lộn không lại Bê đâu, bị Bê xô té xuống sông hoài”. Tĩnh cười, người ta lại tới mua hàng khiến Tĩnh không có dịp trò chuyện với thằng bé nữa. Nó lại chơi với chiếc xe.
Họ lập gia đình khi còn quá trẻ. Tĩnh bần thần nghĩ. Chẳng lẽ lớn lên không có gì để làm hay sao. Cứ phải lập gia đình khi các thứ trên người chưa phát triển hết. Một lần, Đoàn hôn Tĩnh, đẩy Tĩnh ngã xuống giường. Tĩnh muốn mê đi, lịm đi, cả người Tĩnh như lò than hồng đang rừng rực cháy nhưng Tĩnh vẫn nhận ra bàn tay Đoàn trượt trên người Tĩnh và lần mở nút áo. Tĩnh hốt hoảng đẩy mạnh Đoàn ra rồi bật dậy. Đoàn luống cuống xin lỗi rồi bỏ về, mặt đỏ bừng. Nhưng hôm sau Đoàn lại đến đưa Tĩnh vào trường, không ai nhắc đến chuyện hôm qua. Mãi lâu lắm, một tháng hay có thể hơn nữa, Đoàn mới ngượng ngùng giải thích chuyện hôm nọ. “Chỉ vì anh yêu em!” “Em biết!” Tĩnh gật đầu thông cảm và tận đáy lòng Tĩnh cũng nghĩ vậy. Một tối, Đoàn đến cô bạn cùng phòng lại đi vắng. “Anh vừa gặp Liên đi với một ông già tóc hoa râm”. Đêm, Liên thường vắng nhà, về muộn bị bà chủ nhà càu nhàu mãi nhưng cũng như nước đổ đầu vịt. Hai giờ sáng Liên về gọi cửa, hơi thở đầy mùi rượu. Thích ăn diện se sua, Liên đeo đầy vàng giả. “Em không tiến bộ, lạc hậu quá”. Không nghe Tĩnh nói gì Đoàn lại nói và nắm lấy bàn tay đang cầm viết của Tĩnh. Hai bàn tay khác biệt ràng ràng nổi bật trên trang giấy. “Ra trường sẽ cưới nhau mà, vài tháng nữa thôi”. Tĩnh hồn nhiên an ủi.
Những giây phút cuối cùng của năm cũ thật vô cùng quý giá, hình như ai cũng trân trọng từng giây phút. Người lớn và trẻ con. Những người đang hạnh phúc và những kẻ cô đơn. Tĩnh nhìn những gương mặt lướt qua vui lây. Nụ cười dễ lây như tiếng khóc. Thằng bé vừa mua chiếc bong bóng chẳng biết táy máy thế nào lại bể. Tiếng nổ khiến nó giật mình muốn khóc hay vì tiếc cái bong bóng? Nhìn vẻ mặt nó Tĩnh thấy thương. “Thôi! Cô đền cho cái khác!”. Mẹ nó lật đật mở ví lấy tiền khi nó hớn hở cầm chiếc bong bóng mới. Tĩnh gọi khi thấy hai mẹ con bỏ đi. “Chị ơi! Lấy tiền thừa”. “Lì xì năm mới!”. Chị kia nói với lại. Tĩnh tần ngần một lúc, có người kì kèo từng đồng bạc để mua chiếc bong bóng, có kẻ lại cho không một món tiền lớn.
Chợt có nhiều tiếng la hốt hoảng khiến Tĩnh giật mình. Bê ngồi thụp xuống ôm lấy bụng, mặt trắng như tờ giấy, dưới chân máu đọng vũng. “Trời ơi!”. Má cậu bé cuống cuồng rối rít. “Ẳm nó lên, đi bệnh viện”. Mọi người đổ xô ra bu kín phía trước. Trong khi anh con trai bồng vợ vẹt đám đông chạy ra cổng thì bà quơ vội tiền cho vào túi xách rồi nhìn quanh quẩn. Biết ý, cậu bé chạy đến gần. “Coi chừng bán với cha. Nghe chưa! Nghe chưa! Trời ơi! Có thai mà nó nhảy lên nhảy xuống suốt ngày”. Bà tất tả chạy theo con trai. Ba người biến mất sau đám đông thì khung cảnh trở lại bình thường như vừa rồi chẳng có chuyện gì xảy ra. Tĩnh hoàn hồn chợt nhận ra trời rất lạnh. Tĩnh lấy áo ấm mặc vào người. Má Tĩnh cũng vì sẩy thai mà chết. Nhọc nhằn, lam lũ, cày thuê, cấy mướn, chiếc bụng to vướng víu vẫn không nghỉ ngơi, một chiều người ta bắt gặp má xỉu ngoài ruộng. Năm đó, Tĩnh mới tám tuổi, ba Tĩnh làm thuê, làm mướn cho hai chị em Tĩnh đi học. Bây giờ, thỉnh thoảng ngày nghỉ Tâm làm  cỏ mướn… Nó nói với Tĩnh bạn bè rủ ra chợ bán quán có nhiều tiền, làm cỏ suốt ngày chỉ có mười lăm ngàn đồng, tay chai hết. Tĩnh hết hồn giải thích cho nó hiểu nhiều điều về sự phức tạp của xã hội, về cạm bẫy của cuộc đời khi rời khỏi gia đình. Những điều Tĩnh đọc qua sách báo, trên đài. Và ngay trước mắt Tĩnh, cô bạn nhởn nhơ sống không cần một ngày mai. “Sợi dây này mày tưởng giả hả? Thật đấy!” Liên chìa sợi dây chuyền vàng nơi cổ ra khoe với Tĩnh. Nó làm gì có nhiều tiền? Tĩnh lúc lắc đầu không muốn nghĩ đến.
Đôi khi Tĩnh nhận từ nơi Đoàn những món quà nho nhỏ và Tĩnh cũng nhín nhút tiêu xài tặng lại Đoàn những món quà chẳng có giá trị kinh tế gì nhưng ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn Tĩnh. Đi chơi, tiêu xài quá đáng Tĩnh càu nhàu Đoàn phung phí. Tĩnh lấy lại tiền thừa kể cả năm trăm đồng trong khi Đoàn nhăn mặt. Tĩnh  vẫn mang đôi giày cũ bạc thếch khiến Đoàn nhằn nhì lúc đón Tĩnh đi chơi. Hẳn nhiên Tĩnh không cho Đoàn biết Tĩnh bán hàng trong công viên. “Thôi dẹp đi! Tao cho mày vay một triệu về ăn tết”. Liên bác bỏ ngay hôm đầu nghe Tĩnh nói. “Sau mấy ngày tết mày sẽ đen như dân Châu Phi. Bồ sẽ bỏ!” “Không bao giờ!” Tĩnh cười nằm lăn ra giường ôm lấy Liên, nhớ nhánh hồng nhung của Đoàn, nhất là hôm Đoàn ôm lấy Tĩnh trên giường tham lam tìm kiếm trên người Tĩnh. Hơi hướm của Đoàn vẫn còn khiến Tĩnh ngây ngất như ong say mật. Tĩnh nghĩ đến ngày đám cưới mà hai má nóng bừng lên.
Nhìn sang gian hàng đồ chơi, Tĩnh thấy thằng bé đang lanh lẹ bán hàng với khuôn mặt ranh mảnh trong khi cha nó mặt nặng trịch đầy lo âu, miệng nói nói cười cười nhưng đôi mắt cứ nhìn ra cổng sốt ruột. Bất  chợt, Tĩnh trông thấy một bàn tay cho vật gì đó vào túi, Tĩnh định gọi cậu bé nhưng thằng nhỏ đột nhiên quay sang bắt gặp ánh mắt Tĩnh, nó nhìn Tĩnh. Nó không mặc đồ mới, nét mặt xanh xao và cặp môi khô nứt. Tĩnh im lặng nhìn nó lẫn vào dòng người đang đi, không biết phải làm gì nữa. Đôi tròng mắt trắng dã của nó khiến Tĩnh rùng mình. Khách bu đông nên cha con cậu bé chưa biết đã mất hàng. Người ta lại đến gian hàng của Tĩnh lựa lựa chọn chọn, mấy cặp choai choai cũng tấp vào. Cô gái chọn chiếc này rồi lại đổi sang chiếc khác. “Có cái nào to nữa không?” Người con trai đi cùng hỏi và ngước nhìn người bán hàng. Giọng nói khiến Tĩnh cũng nhìn anh ta. “Trời đất!” Ngay lúc ấy, nhiều tiếng kêu thốt lên, bầu trời rực sáng rạng rỡ với muôn ngàn ánh sáng bủa ra rơi xuống, những sợi dây lân tinh rơi rơi rồi tan dần trong màn đêm. Rồi tiếp tục…, mọi sự mua bán hình như ngừng hẳn, người người đổ xô về hướng đó, ngước mặt lên trời tấm tắc. Tĩnh  đứng ngây người bất động. Pháo hoa! Thật tuyệt vời! Những chiếc hoa ánh sáng nhỏ tan trong không trung, rồi những chiếc hoa khác nổi lên, từng đợt, từng đợt… Đến khi Tĩnh chợt tỉnh nhìn lại thì Đoàn và cô gái kia biến mất tự bao giờ. Tĩnh chợt giật thót người khi thấy thằng nhỏ đưa đôi mắt trắng dã gườm gườm nhìn Tĩnh. Nó đứng sát bên Tĩnh, chậm rãi đưa tay ra. “Trả chị!” “Hả?” Rõ ràng là túi tiền của Tĩnh bỏ trong giỏ xách.
Tĩnh còn chưa nói được tiếng nào thoắt cái nó đã biến mất vào giữa đám đông.
Tĩnh thu xếp đồ đạc, xem bắn pháo hoa xong mọi người cũng sẽ ra về hết. Còn một chiếc bong bóng Tĩnh cầm về, theo dòng người nối  đuôi ra cổng. Đứa  trẻ được mẹ bế đi phía trước cứ nhìn chiếc bong bóng đỏ trên tay Tĩnh. “Tặng cháu nè!” Tĩnh  đưa chiếc bong bóng cho nó. Nó nhìn Tĩnh  rồi nhìn mẹ. “Cảm ơn cô đi con!” Chị phụ nữ cười tươi. “Chúc cô một năm mới nhiều may mắn!” Người đàn ông đi bên cạnh góp lời. Vâng! Sắp đến giao thừa rồi. Một năm mới sắp bắt đầu, những gì của năm cũ hãy qua đi. Có nghĩa là nhánh hồng nhung, những nụ hôn, đám cưới… sẽ mãi mãi đi dần vào quá khứ.
Đêm nay Tĩnh  về muộn nhưng có lẽ chủ nhà không càu nhàu đâu vì là đêm giao thừa mà.
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC ÁO MÀU CHIỀU
Trần Lệ Thường
 
Thế là chị trở về Hà Tiên, lên lăng Mạc Cửu một mình, không vào ngày rằm cũng chẳng chờ lễ hội. Lần này chị lên lăng mà không phải tìm kiếm ai. Đứng bên chậu mai chiếu thủy năm nào, chị nhìn mây trắng từng mảng trôi trên nền trời màu xam xám của một buổi hoàng hôn. “Tôi là người lữ khách. Màu chiều khó làm khuây”. Màu chiều như màu áo của chị mà người đó đã đọc lên máy câu thơ làm nao nao lòng. Thật ra, có thể gọi màu khói nhang hay màu tro bếp cũng được. Lại gọi màu chiều khiến chị liên tưởng đến cuộc đời mình. Ai không có buổi hoàng hôn, nhưng chị vẫn mong cho thời gian đi chầm chậm. Thời gian là thứ không thể sờ được, không nhìn thấy được nên không thể thúc đẩy hay trì kéo. Bởi vậy, thời gian cứ lặng lẽ trôi qua trên mái tóc đen, dài theo mỗi mùa mưa nắng, theo con nước lớn ròng ở bến Tô Châu. Và tình cảm cũng là cái gì không thể nhìn ngắm hay chạm tay vào nhưng sao chi cảm nhận được sự mất mát và tồn tại, sự rung động và đau đớn. Người bạn gái đã an ủi: “Mày có mất mát gì đâu!” Có thật chị không mất mát gì? Chị chua xót tự hỏi rồi đau đớn một mình, ngậm ngùi một mình… Trời mỗi lúc một chiều, sắp tối. Ngày thường lăng vắng vẻ ít người, chỉ có một mình chị làm thành một bức tranh mà người họa sĩ đã cho màu xám xịt. Chị nhặt những bông hoa rụng rồi lặng lẽ đi ra ngoài, đến bên hồ nước, thẫn thờ rải những bông hoa trắng nhỏ xuống mặt hồ…
World cup có dời về Hà Tiên thì chắc mọi người trong cửa hàng thương mại này cũng  không ngạc nhiên bằng khi thấy chị cửa hàng trưởng thường ngày khô như cá khô quá nắng trong lúc rảnh rỗi đang đọc một tập thơ của ai đó. Bị bắt gặp, chị cười ngượng nghịu giấu vào ngăn bàn trong khi đôi mắt sáng lên một cách kỳ lạ. Chị cũng không hiểu sao thuở còn đi học chị không có hứng thú trước những quyển tiểu thuyết, những bài thơ. Chị viết chữ xấu, lười viết văn và  ghét học Kiều. Người nhỏ nhắn, lúc nào cũng có vẻ bận rộn, hấp tấp, vội vội vàng vàng trên những đôi giày gót cao. Thằng Nam em kế của chị phàn nàn. “Nói chuyện với chị cúi xuống muốn gẫy cổ”. Còn chị thì nói ngược lại. Bởi vậy, đi đâu về mọi người thấy trong túi xách của chị quà mang về đa phần là giầy cao gót. Cũng may thời trung học chị không bị gọi là “Việt còi” hay “ Việt đẹt” mà là “Việt nhon”. An ủi phần nào “nỗi buồn nhan sắc”.
Buổi tối hôm ấy thấy chị mặc chiếc áo dài đó con bé Hài bán hàng kêu lên: “Mặc áo màu này trông chị già quá!”. “Ờ! Như già thêm mấy tuổi”. Như kế toán đồng tình thêm vào: “Bước qua tuổi bốn mươi rồi còn gì!”. Chị tần ngần ngắm nghía mình giây lát, thở ra. “Thì đã già rồi còn ngại gì già nữa”. Hài tò mò. “Ai tặng mà chị quý quá vậy?” “Thằng Nam tặng hôm sinh nhật tao”. “Hèn gì! Ảnh như ông cụ non, lựa màu áo…” Lóng ngóng thế nào đi vào lăng chị để tà áo sau bay vướng vào cành mai chiếu thủy. Lễ hội kỷ niệm thành lập Tao Đàn Chiêu Anh Các, người đông, khách nhiều. Họ đi lại chuyện vãn hay ngồi chờ đến giờ làm lễ. Trên  sân, hầu như không còn chỗ trống. chị quay lại định gỡ tà áo ra khỏi cành cây thì đã có bàn tay ai đó làm rồi. “Không sao! Cũng chẳng cần cảm ơn!” Người đàn ông có đôi chân mày rậm đen như vẽ, nhìn chị cười bằng mắt. “Màu áo đẹp làm sao! Màu chiều! Nếu không có đóa hoa quỳ trên ngực và những bông hoa nhỏ rơi trên vạt áo thì cô đã bị lẫn trong hoàng hôn mất rồi”. Đêm đó, chị thức trắng. Lòng xao động mãi không yên. “Màu áo thật tuyệt vời! Gặp một lần nhớ suốt đời!” Cứ như nghe giọng nói trầm trầm êm như tiếng gió dìu dịu bên ngoài cửa sổ len vào, ánh mắt khiến cho cõi lòng tẻ lạnh của chị ấm lại. Lúc ấy, mấy tiếng trống chợt vang lên báo hiệu giờ thắp hương nhưng người đó làm như không nghe thấy vẫn đúng đọc cho chị nghe cả một bài thơ. “Trên đường về nhớ đầy. Chiều chậm đưa chân ngày. Tiếng buồn vang trong mây…”. Hài đã bỏ đi trước lúc nào, chỉ còn lại hai người trên sân, bên chậu mai chiếu thủy đầy hoa trắng. Đến giờ làm lễ, nghe giới thiệu chị mới biết đó là nhà thơ Lê Toan.
Năm hai mươi mấy tuổi chị có mối tình đầu cũng sôi nổi  như ai. Nhưng chờ nhau ba bốn năm dài người ấy không chờ được nữa. Ba hy sinh năm bảy mươi hai, má nghèo ở Hòn Đất chạy chợ mỗi ngày, thằng Nam, con Hoà, con Bình lúc ấy còn đi học, cái gánh nặng oằn trên vai gầy, thấp của chị. Lấy chồng về Rạch Giá yên ổn phận chị rồi nhưng chị không yên lòng. Mẹ già, mỗi ngày thêm còm cõi trong khi đời chị còn dài. Nhưng rồi chị lao vào công việc kiếm sống, có lúc chị quên, mình đã từng yêu ai đó. Bây giờ, thằng Nam, con Hòa đã lập gia đình có con cái; con Bình tuy muộn nhưng sắp đám cưới. Còn chị, đã quá muộn, cây mai vàng quên nhặt lá qua xuân rồi mới trổ hoa thì còn ai mà ngắm. Sau này, thỉnh thoảng có người giới thiệu vài đối tượng nhưng chị chỉ bắt gặp cái cảm giác nhạt nhẽo, trơ trẻn. Thứ tình cảm nồng nàn của mối tình xưa đã lẫn lộn đâu mất trong mớ chai, lọ, ly, chén. Cuối tháng kiểm kê mọi người đã quá quen thuộc với hình ảnh chị tay áo xắn cao, mồ hôi nhễ nhại, đích thân xem từng mặt hàng trong kho. Say xưa với công việc, mệt mài với những con toán, đi đi về về trên những đồi giầy cao gót mỗi ngày một thấp, chị không để ý mái tóc đen mượt đã bắt đầu có sợi trắng.
Bỗng dưng rồi chị có nhiều thay đổi, thường tư lự, không hay la rầy mấy con bé bán hàng như trước nữa. Tuy vậy, má chị hồng hơn đôi khi còn hát vu vơ nho nhỏ. Có dịp đi Rạch Giá, thành phố Hồ Chí Minh hay nơi nào khác chị thường tìm cơ hội vào các hiệu sách lớn, nhỏ để mong bắt gặp một quyển sách có tên người ấy ngoài bìa. Chị vui như muốn reo lên khi thấy một bài thơ đăng trên báo có tên Lê Toan. Tối, không xem chương trình ti vi hay đĩa hát, không ngồi trước máy vi tính hay kiểm kê một thứ gì. Chị cài chặt cửa phòng vì sợ Hài sẽ bất ngờ qua mượn một cái đĩa hài hước hay một thỏi son – con bé vẫn thường như vậy. Chị thoải mái nằm lăn ra giường đọc thơ hay tiểu thuyết. Mà không cần phải là thơ, là truyện của người ấy. Chị bỗng chốc trẻ trung và lãng mạn. Tháng sáu mưa tầm tã, tháng bảy mưa ngâu, giọt mưa trên lá, hạt mưa ở bất cứ đâu ngày trước dội vào tâm hồn chị như vào các núi đá, vậy mà bây giờ mưa chị buồn bâng khuâng nghĩ vẩn vơ. Biết khi nào người ấy trở lại Hà Tiên, viếng lăng Mạc Cửu và thăm người đàn bà đã mặc chiếc áo màu chiều suýt nữa bị hoàng hôn nuốt mất. Chị vẫn hy vọng Hà Tiên sẽ réo gọi được người về như bao du khách khác. Sang năm chị lại lên lăng, tìm giữa bao màu áo một gương mặt thân quen. Hà Tiên với những con đường ngắn hẹp và ánh đèn vàng dọi hai chiếc bóng của chị với Hài ngã dài sang tận lề bên kia. Đường về chán ngắt, thất thiểu và buồn mênh mang, chị về căn phòng của mình, ngập chìm trong nổi nhớ ngút cao, lại lấy những bài thơ của người ấy ra đọc. Trong mơ ước âm thầm, người đó lại về theo những giấc mơ của chị nhưng chỉ toàn ác mộng. Chị thấy người ấy đi trên lăng, chập choạng trong bóng chiều, chiếc áo sơ mi màu lá úa lúc ẩn lúc hiện. Chị đuổi theo, hớt hơ hớt hải gọi thất thanh. “Lê Toan!” Người đàn ông quay lại cũng là lúc chị đuổi kịp đến gần. Không phải! Chị sững sờ nhìn người đàn ông xa lạ vừa lúc nghe ai gọi mình ơi ới. “Chị Việt! Chị Việt! Mở cửa! Mở cửa! Có chuyện gì vậy? ngủ mơ hả?” Thì ra Hài đang đập cửa đánh thức chị.
Người đợi không về, kẻ không chờ lại tới. Mối tình đầu của chị, Triệu về Hà Tiên theo đoàn du lịch. Ngỡ ngàng và hết sức bối rối khi anh thấy chị vẫn một mình bên những con số đến điên đầu. Và rồi Triệu thỉnh thoảng lại về Hà Tiên, cuối tuần lại theo chị về Hòn Đất như ngày xưa chị đi học ở Rạch Giá, Triệu theo chị về chơi dịp lễ hoặc ngày nghỉ. Kỷ niệm đã biến mất tăm theo bụi thời gian. Trong cái cửa hàng tạp hóa của tâm hồn chị đã không còn mặt hàng Triệu. Có lần, chị lườm. “Lá gan em nhỏ lắm, không dám ngó chồng người”. Triệu đưa tay vuốt tóc sau gáy dù tóc hớt cao ngắn ngủn như bị chị nhìn thấu tim, rồi Triệu vụt cười ha hả. Tiếng cười sang sảng của người đàn ông trung niên thành đạt về đường sự nghiệp, có một gia đình hạnh phúc. Giữa lúc ấy má chị qua đời. Sớm hay muộn gì rồi con người cũng sẽ có ngày đó. Những ngày ấy, chị như thấy người đàn bà nhiều nghị lực ở trong chị biến đâu mất. Chị mệt mỏi, đuối sức sau những nổ lực phi thường trong suốt bao nhiêu năm qua. Người đàn bà nhiều nghị lực đã bỏ trốn tận đâu đó trong con người chị. Chị ta đi để chị được khóc thỏa thuê. Má mất rồi, con Bình cũng sắp sửa có gia đình, chị sẽ cô đơn hơn nữa, trống trải hơn nữa. Không còn chờ cuối tuần để về nhà tâm sự với má những vui buồn bực dọc trong cuộc sống. Không còn ai đau đáu bên những gốc mãng cầu đợi chị về. Sau đám tang, chị ngã bệnh phải nằm vùi cả tuần. Đôi khi trong lúc nửa mê nửa tỉnh chị như thấy lại hết những ngày đội mãng cầu đi bán với má dầm mưa tầm tã, những ngày đi học ở Rạch Giá, ở Thành Phố Hồ Chí Minh với Triệu. Chị lại thấy Lê Toan, người ấy vào Lăng Mạc Cửu thắp hương rồi không trở ra. Chị cứ đứng mãi bên cây mai trắng dưới ánh mặt trời ngày một xuống thấp. Rồi người đàn bà mặc áo màu chiều cuối cùng bị lẫn mất trong hoàng hôn. Không còn ai nhìn thấy chị, mặc dù chị vẫn đứng ở đó lặng lẽ âm thầm đợi người ấy. Chuyện chiêm bao mộng mị chị không quan tâm nhưng rõ ràng những giấc mơ càng làm tăng thêm nỗi buồn ở nơi chị. Mấy ngày chị ốm đã giữ chân Triệu lại Hòn Đất. Lúc thức, lúc ngủ nhòe nhoẹt hình ảnh Triệu đứng bên giường bỗng chốc hóa thành Lê Toan đang âu yếm đọc cho chị nghe bài thơ “Chiều” của nhà thơ Hồ dzếnh … “Ngỡ hồn mình là rừng. Ngỡ hồn mình là mây. Nhớ mà châm điếu thuốc. Khói huyền bay lên cao”.
Mọi chuyện rồi cũng qua đi, cuộc sống lại tiếp tục. Những bước chân thoăn thoắt của chị giờ đây hơi trì trệ bởi những nỗi buồn. Vào lúc này, một người bạn ở thành phố Hồ Chí Minh mời chị dự tiệc mừng tân gia. Lập gia đình hơn mười năm, đã có hai đứa con, cô bạn này mới có điều kiện mua một căn hộ để ra riêng. Chị thu xếp công việc, hối hả đi trong chiếc áo hoa màu đỏ. Chị rẽ vào đường Nguyễn Huệ mua một bó hoa. Xa cách nhiều năm, chị vẫn nhớ cô bạn này rất thích hoa huệ trắng hay vẫn gọi là hoa loa kèn. Cũng dáng tất bật, chị hấp tấp quay ra và va phải một người. “Xin lỗ ! Tại tôi vội quá!” Chị nói và ngước lên nhìn người đàn ông thản nhiên đưa tay ra vịn lấy vai chị cho khỏi ngã. “Chiếc áo của cô đẹp hơn cả chợ hoa này!” Cũng đôi chân mày rậm đen như vẽ, cũng đôi mắt biết cười dù chiếc miệng không cười và giọng nói… Trời! Lê Toan! Chị thoảng thốt kêu thầm. “Chiếc áo thật đặc biệt. Người mặc càng đặc biệt hơn”. Đôi chân chị run lên trên đôi giầy đã sờn cũ. Những giấc chiêm bao, những bài thơ… gần ba năm rồi có lẽ, bao nhiêu là ngày, bao nhiêu là đêm người ấy vẫn ở bên chị mà sao bây giờ lại xa đến nghìn trùng. Vẫn thanh lịch như ngày nào, người ấy không có gì thay đổi, có khác chăng là không nhận ra chị, người đàn bà đã mặc chiếc áo màu chiều trên lăng Mạc Cửu. Chị rất muốn mở lời nhắc một tiếng. Tôi! Người đàn bà suýt nữa đã lẫn mất trong chiều ở Hà Tiên. Nhưng chị uất nhẹ không nói được nên lời. Bó hoa trên tay rơi xuống đất, chị bỏ chạy trước khi chị nghe người đàn ông nói thêm câu gì. Buồn đến lịm người, chị đau, lòng thổn thức. Một chiếc gót giầy chợt văng ra khiến chị loạng choạng. Chị gượng được, ném luôn chiếc kia và cứ thế với đôi chân trần chị chạy ra tới đầu đường. Chị dừng lại thở hổn hển khi biết chắc người ấy không đuổi theo. Nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn hơn bao giờ hết, chị xách chiếc túi đứng bên lề đường nhìn xe cộ chảy như dòng sông. Trong chị cũng có một dòng sông, con nước đang lớn dần lên sợ rằng dòng sông chảy chậm sẽ làm vở đôi bờ. Mùa mưa, trời Sài Gòn vẫn nóng hầm hập, bụi đường bay vào mặt chị tới tấp. Đón xe về được tới nhà bạn, chị nhào vào lòng bạn khóc nức nở, với đôi chân trần, không hoa, không quà và không cả lời chúc.
Sinh nhật chị năm nay thằng Nam tặng một xấp vải màu rêu xanh rất đẹp. “Vợ em mua ở Rạch Giá đó”. Chị cười buồn trong khi nó hớn hở khoe. Chị đem xấp vải cất vào trong tủ cũng như chiếc áo màu chiều và những tập thơ để thỉnh thoảng mở ra nhìn ngắm. Chị không muốn một lúc nào đó sẽ bị cây cỏ hai bên đường nuốt mất vào một ngày trời dứt cơn mưa.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
NGÀY NẮNG
Trần Lệ Thường
 
Tôi lột chiếc nón lá xuống cầm tay, đứng ngập ngừng trước cánh cổng màu xanh mở toang và hàng rào cây bùm sụm thấp lè tè có thể nhìn thấy rõ qua mãng sân lát gạch màu đỏ là ngôi nhà màu vôi, cửa kính xanh lấp lóa ánh nắng. Nắng lên cao, dọi bóng những cây mãng cầu bên hè xuống những chiếc băng đá. Nắng xuyên qua kẻ lá làm thành những chiếc hoa vàng trên mặt đất. Tôi bứt một trái bùm sụm chín cho vào miệng. Những trái bùm sụm chín đỏ nhỏ xíu có mùi vị ngọt chan chát, bất cứ đứa trẻ nào trông thấy cũng thích. Con Nhi nhà tôi cũng vậy. Quay qua quay lại, thoắt cái biến đi thì sẽ tìm thấy nó bên hàng rào nhà chú thím Út Cho đang vạch lá tìm trái chín. Nó bệnh rồi, nóng hầm hầm nằm li bì không muốn dậy đi hái trái bùm sụm nữa, để cho tụi thằng Bi, con Son dành hết.
“Ủa! Đứng làm gì ở đây? Vô nhà chơi!” Thím Út đi đâu vừa về tới thấy tôi liền bảo. Tôi ngập ngừng. “Con… có chuyện muốn gặp thím”. “Ừ! Vô nhà đã. Chú Út chắc ở đàng sau vườn. Con Mỹ học buổi chiều, không có thím thì cứ vô chơi với nó. Sợ chó hả? Con Vàng hiền lắm”. “Dạ không! Con Vàng quen con, thấy con nó mừng”. Ngôi nhà này tôi và anh Đảnh vào ra không biết bao nhiêu lần mà mỗi lần đến tôi vẫn thấy ngại. Ngại vì khi đến tôi luôn mang theo sự cầu cạnh nhờ vả. Đôi khi anh Đảnh đến tiếp đào ao, kéo cá, làm cỏ,… Có chuyện gì cần thì chú Út lại gọi anh Đảnh. Anh Đảnh làm giỏi cũng có, còn vì chú thím thấy gia đình tôi quá khó khăn về kinh tế. Hai đứa con, thằng Chân đến tuổi vô lớp một rồi mà còn chưa đến trường, con Nhi bốn tuổi nay ốm mai đau hoài. Anh Đảnh làm thuê làm mướn đem tiền về. Nhưng không phải lúc nào anh cũng có việc làm.
Thím Út im lặng khi nghe tôi muốn mượn một ít tiền để mua thuốc cho con Nhi. “Uống nước đi”. Thím đẩy ly nước lạnh về phía tôi. Cục nước đá nổi lên trong chiếc ly thủy tinh trong suốt. Cầm ly nước, tôi len lén nhìn thím nhưng nét mặt thím bình thản, không nói lên điều gì. Thím Út trạc năm mươi tuổi, cao lớn nhưng không đẩy đà như những phụ nữ nhiều tuổi khác, nước da ngâm ngâm đen, hàm răng trắng sáng, khi cười gương mặt thím trông thật rạng rỡ. Nghe nói thím là dân thành phố rất xinh đẹp, hát hay còn biết đàn nữa. Gặp chú Út Cho rồi về đây làm dâu, một vùng ven thành phố, thím đã trở nên một người phụ nữ đảm đang chân đất. Chú Út vì hoàn cảnh bắt buộc phải nghỉ học khi hết phổ thông để chăm sóc mảnh vườn ổi khô cằn thu hoạch chẳng được bao nhiêu. Ba chú sức khỏe kém ngày một yếu đi, thím Út về làm dâu không bao lâu thì ba Chú Út mất trong ngôi nhà lợp mái tole nóng bức. Chú Út đổi sang trồng mãng cầu ta, đào mấy cái ao, đìa thả cá, mở rộng chuồng heo và nuôi gà vịt.
Uống một hớp nước thím Út đứng lên đi vào trong rồi trở ra với một rổ bánh lá dừa, mùi nếp chín thơm lừng. “Nè! Ăn bánh đi! Thím với Con Mỹ gói tối qua để tối nay thằng Thiện về thăm nhà ăn. Nó thích bánh lá dừa lắm. Ở thành phố ít khi nào nó mua. Nó chỉ thích bánh thím gói”. Tôi cầm lấy một cái lột lớp lá còn âm ấm. Chắc thím Út và Mỹ đã thức canh nồi bánh đến gần sáng. “Thiện sắp sửa tốt nghiệp Đại học rồi phải không thím?”, “Ờ! Năm sau! Chú Thím đang lo chuyện cưới vợ cho nó. Hai đứa nó đã thương nhau cũng đã lâu rồi”. Rồi thím kể tôi nghe chuyện Thiện muốn làm đám cưới thiệt lớn, rước ban nhạc ở thành phố về, thuê quay phim chụp ảnh, cả đoàn xe du lịch đi rước dâu, mời luôn cả thằng bạn từng đánh nhau thời trung học đi đám cưới… “Bộ tiền không có chỗ xài hả?” Chú Út nạt ngang cáu có”. Chủ yếu là tụi bây sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc lâu dài. Chụp vài ba tấm ảnh kỷ niệm là được rồi…”. Chú thím Út rất nuông chiều con nhưng chuyện gì không thể thì đừng mong. Được cái Thiện, Mỹ đều ngoan, biết vâng lời, chăm chỉ học hành. Mỹ đang học lớp 12 sang năm lại đi Sài Gòn vào đại học. Thím nói thao thao mà quên lúc đó có tôi làm cỏ trong vườn cùng với mọi người. Thiện cười vớt vát. “Làm đám cưới lớn rồi sống không hạnh phúc sao? Ba!”. “Đám cưới đơn giản tụi bây không ăn đời ở kiếp với nhau được hả? Mày sợ không ai biết mày cưới vợ sao?” Chú nói. Chú không phải là một ông già nhà quê hủ lậu, chỉ là bản tánh khiêm tôn, giản dị, nghiêm chỉnh đến cứng ngắc. Có chuyện đi thành phố bằng xe gắn máy, thím Út không chịu đội nón bảo hiểm là chú không đi. Thím thì hay nói đùa. “Đi xe gắn máy gì bây ơi! Chỉ mau hơn xe đạp một chút”. Ý than phiền chú chạy chậm.
“Thím nói thì bây cứ nói thím nói hoài, chưa già mà lẩm cẩm. Con thử nghỉ lại coi…” tôi chưa ăn hết cái bánh lá dừa thì thím Út nói, cũng vẫn giọng nói trầm trầm dịu dàng. “Một mình thằng Đảnh làm nuôi cả gia đình bốn người thì làm sao sống nỗi. Mà nếu có sống thì sống cũng như không phải chết. Con cái không học hành, nay ốm mai đau…”. Cũng vẫn chuyện thím biểu tôi cho thằng Chân đi học, đem con Nhi gởi mẫu giáo để tôi đi buôn bán. Học thức không có, nghề nghiệp cũng không, lập gia đình rồi tôi chỉ biết ở nhà giữ con. “Bây thấy dì Tư ngọt chưa? Lúc đầu có biết buôn bán gì đâu bây giờ đẩy xe rau cải nhẹ tênh, cuộc sống thoải mái, không chạy đầu này đầu kia vay tiền nữa. Dì Tư mới đổi chiếc tivi 12 inch, bỏ tivi cũ rồi. Ờ! Chiếc tivi hôm trước đem về có xem được không?” “Dạ được! Màn hình trong lắm. Mấy đứa trẻ nhà con rất thích”. Năm ngoái trúng mùa mãng cầu chú Thím mua tivi mới nên cho tôi chiếc tivi cũ rớt đời. “Chiều nói thằng Đảnh qua kéo cá với chú Út. Thím tính hỏi tháng này cá mới đủ ngày nhưng bây giờ muốn bán để cho con mượn một số tiền để làm vốn buôn bán…” Tôi ngồi im lặng nhìn con Vàng đang nằm dưới chân thím Út phe phẩy đuôi. Con chó này thím tìm thấy bên bờ kênh, nằm thoi thóp sắp chết. Nó có bộ lông màu vàng nên đặt tên là Vàng. Giờ này anh Đảnh đang ở nhà trông chừng hai đứa nhỏ chờ có ai đó kêu đi làm. Con Nhi bị bệnh chắc cũng không màng xem phim hoạt hình chú vịt Đô - Nan nữa. Thằng Chân có lẽ đang nghịch với quả bóng. Nó mơ lớn lên làm cầu thủ bóng đá. Tôi suy nghĩ miên man trong lúc thím nói: “Đừng ngại, cũng không cần phải nói ơn nghĩa gì. Xóm giềng với nhau. Người ta vấp ngã còn đứng lên được”. Tôi ngập ngừng “Con sợ… làm không được”. “Không sợ gì hết, mạnh dạn lên. Tập tành lần lần rồi sẽ quen. Cái gì không biết thì hỏi. Lát nữa thím bàn với chú Út. Bây biết tánh ổng rồi đó. Ổng sẽ ủng hộ thím hết mình”. Tôi nhớ năm làm đường trước nhà, nhà nào cũng dời vô hai mét. Chú dời hàng rào vô trước tiên còn đi từng nhà động viên mọi người. Dĩ nhiên chú cũng bị nhiều kẻ ganh ghét nói mắc mỏ, khích bác nhưng sau đó họ lại tìm đến chú xin lỗi. Chú đầy lòng vị tha bỏ qua hết không để tâm còn sẵn lòng giúp đỡ họ. Ở xóm này ai cũng biết gia đình chú cần cù làm ăn, nuôi dạy con nên người, chấp hành tốt chủ trương Nhà nước. Năm nào gia đình chú cũng được bình chọn là gia đình văn hóa tiêu biểu xuất sắc.
“Nè! Cầm lấy ít tiền đưa con Nhi lên bệnh xá  khám bệnh, mua gì  ngon ngon nấu cho mấy đứa nhỏ ăn. Nghe lời thím đầu năm học này cho thằng Chân vô  lớp một đi”. Tôi xúc động đến lặng người, nhớ đến giấc mơ làm cầu thủ của thằng chân mà ứa nước mắt. Tôi sẽ nghe lời thím Út, tập tành bán buôn để trở nên một người phụ nữ đảm đang, nuôi dạy con tốt để chúng nó có thể thực hiện được những ước mơ. “Chị kêu thằng Chân sang đây em dạy nó học”. Mỹ từ nhà trong đi ra nói rồi đưa cho tôi một hộp giấy cứng nhiều màu. “Chị đưa bộ chữ này cho thằng Chân ráp chữ. Có nhiều màu mấy đứa nhỏ rất thích”. “Cám ơn Mỹ nhiều nghen!”, “Tui nói thiệt lòng đó chớ. Mang ơn quá nhiều biết lấy gì trả”. “Chị tin là có kiếp sau không? Em chờ chị ở kiếp sau đó”. Thím Út nạt khẽ “Con nhỏ này!”. Mỹ rụt vai rồi bước qua cái hồ cá bằng thủy tinh nghịch mấycon cá  kiểng đang bơi quanh hòn non bộ giả, hát khe khẽ: “Chiếc cầu tre xinh xinh nhỏ bé. Không mang nổi người gánh thóc về”. Tiếng hát trong trẻo, véo von và thật hồn nhiên. Tôi bỗng thấy mình già sọp, cằn cỗi trong khi tôi chỉ lớn hơn Thiện có hai tuổi.
“Thôi về! Để mấy đứa nhỏ trông. Nhớ nói thằng Đảnh chiều qua đây nghen! Cầm mấy cái về cho con!”. Thím Út dúi vào tay tôi mấy cái bánh lá dừa. Tôi lấy chiếc nón lá từ giã ra về. “ Sẵn sàng đây ở lại ăn cơm rồi hãy về”. Chú Út từ ngoài vườn vào, mặt đỏ lửng vì bắt nắng, nói sang sảng. Tôi đáp lại vài câu rồi đi ra cổng. Con Vàng đi sau tôi đuôi ve vẩy. Bước ra ngoài tôi thấy thằng Bi, con Son đang đứng hái trái bùm sụm dưới trời nắng chang chang. Lòng cồn cào nhớ con Nhi khôn xiết, tôi rảo bước thật nhanh, tay vẫn cầm chiếc nón lá quên đội lên đầu. Một ngày nắng thật đẹp.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
LỤC BÌNH TRÔI
Trần Lệ Thường
 
 
Bình về.
Mẹ vẫn ngồi bên bàn viết như lúc Bình đi, đầu hơi cúi xuống bên những trang giấy đầy kín chữ.
Có đêm, gần hai giờ sáng, giật mình thức giấc muốn uống nước Bình thấy mẹ vẫn con người bên bàn viết như lúc đầu hôm, dáng gầy và lưng hơi cong. Bình đem nước cho mẹ. Mẹ mỉm cười, nụ cười đã có vẻ mệt mỏi. Còn ba thì quát lên khi nửa đêm bước ra khỏi phòng ngủ lụng thụng trong bộ Pyjama kẻ sọc màu xanh với chiếc bụng to đàng trước. “Viết cái gì mà cứ viết hoài. Hơn hai mươi năm rồi, lập đi lập lại những chuyện cũ rích”. Cũ à? Bình không hề thấy cũ. Bởi lẽ những câu chuyện của mẹ đã xảy ra vào lúc Bình chưa chào đời, vào thời mẹ Bình còn là một thiếu nữ mười bảy tuổi, quàng tiểu liên trên vai, nép người chạy dưới hàng dừa ven sông. Cô gái thường vòi vĩnh anh Tư Thanh kéo những bè lục bình màu tím nhạt. Cho nên người ta thì là Ngọc Lan, là Cúc, là Lài, là Dạ Lý Hương, còn Bình lại là Lục Bình. Nguyễn Thị Lục Bình! Mộc mạc và đơn giản làm sao. “Nhưng con của mẹ vẫn rực rỡ như hoa hồng nhung buổi sáng”. Mẹ khen Bình song không phải vì lời khen của mẹ mà Bình tự mãn. Bình vui vì hoa lục bình là kỷ niệm của cả hai người cho dù bây giờ, hơn hai mươi năm, sau những tháng ngày gian khổ ấy ba và mẹ không còn hoà hợp nữa.” Viết một bài được bao nhiêu tiền, tôi trả cho. Đừng có ngồi viết nữa”. Ba đi làm về, thay bộ đồ thể thao đi đánh tenis, ba bực dọc gắt gỏng, mai mỉa khi thấy mẹ đang đọc lại những trang bản thảo. “Đi làm cả ngày đã mệt rồi về nhà nghỉ ngơi cho khỏe, tội gì cứ đầy ải đầu óc suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác. người lúc nào cũng như ở trên mây”. Ba nói thì Bình thấy hơi quá đáng nhưng Bình cũng phải nhìn nhận mẹ như một người ở tận đâu, xa, xa lắm, bị lạc đến trần gian. Lúc nào mẹ cũng như bâng khuâng ray rứt, trăn trở kiếm tìm trong cuộc sống hiện tại một điều gì đó mà mẹ đã đánh mất trong dĩ vãng. Có phải là quê ngoại có con nước khi lớn khi ròng? Có phải là bác Mười, chú Bảy, má Sáu, cô Tư… Những nhân vật luôn lảng vảng trong các câu chuyện của mẹ? Hết thảy đối với Bình đều lạ lẫm như con đường mới mở. Ngoại mất rồi không ai còn muốn về nơi đó nữa dù dòng sông vẫn còn đó, con nước thì sáng chiều vẫn lên xuống. quê nội thì còn xa hơn nữa. Ở tận cùng đất nước. Nghe mẹ nói thì Bình có được về năm lên ba tuổi. Ba bận, lúc nào ba cũng bận. Tết ba không về được, đám giỗ ba cũng không được về. Hôm rồi chú Út lên chơi ba đi thành phố họp cả tuần lễ, bỏ mặc ở nhà mẹ loay hoay mua quà và thuốc uống cho bà nội. “Anh Tư mỗi ngày một khác”.
Nghe chú Út nhận xét mẹ chỉ cười buồn. Ba vẫn thường chê mẹ lỗi thời lạc hậu. “Cái thời em còn mặc quần vải đen với chiếc áo bà ba sờn vai đến cơ quan gõ máy đánh chữ lọc cọc đó, qua rồi!” “Phải! đã qua nhưng không có nghĩa là người ta phải đánh mất quá khứ. Cái gì cũng có giá trị của nó trong một khoảng thời gian nhất định”. Mỗi khi hai người tranh luận ba thường là người bỏ đi. Không biết có phải vì mẹ nói đúng? Có lần ba có ý định nuôi một con chó ngoại nhưng mẹ và Bình quyết liệt phản đối. Về chuyện này mẹ và Bình có quan điểm giống như nhau. Không phải Bình ngại thêm việc cho mình, mua chó phải tốn một khoản tiền không nhỏ và mỗi ngày phải mất vài lạng thịt bò cho nó ăn. Ba cứ hăng hái chạy theo mốt thời thượng như chiếc bụng của ba đang tích cực cạnh tranh với đồng nghiệp. “Nếu không có chỗ tiêu tiền thì để khoản tiền đó cho tôi mang vào trung tâm bảo trợ xã hội”. Giằng co cả tháng thì ba thôi không nghĩ đến chuyện nuôi chó nữa. Phải chi với chuyện viết lách của mẹ ba cũng nhượng bộ thì hay biết mấy. “Bà muốn ám chỉ ai? Cái tay giám đốc tiêu cực trong chuyện của bà đó. Tôi đâu có thèm đọc truyện của bà nhưng người ta dí vào mặt tôi bắt tôi phải đọc. Liệu hồn…”. Ba về khuya say rượu, hùng hổ gây sự với mẹ. Ba ném tung bản thảo lên, những tờ giấy bay như bươm bướm rồi rơi xuống dưới chân ba. Như chỉ chờ có vậy, ba giẫm lên không thương tiếc kèm theo những lời rủa xả: “Cái nhà này đâu có sống bằng những đồng bạc nhuận bút của bà… Dẹp hết! Bà phải chấm dứt… Bà sẽ lôi tôi lên giấy, bà sẽ bán tôi…” “Anh tư Thanh!” Mẹ quát to trong khi hai hàng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt tái nhợt. Ba hơi khựng người lại như vừa nhận ra mẹ gọi ai đó quen quen. Còn Bình, cùng lúc với hình ảnh tư Thanh vào sanh ra tử, sống chết không màng vụt như khói thuốc tan vào khoảng không mờ mịt. Lần đó, Bình ngồi lượm những tờ bản thảo cho mẹ mà rưng rưng khóc. Đêm thật lạnh! Trong nhà hầu như không ai muốn thở. Ba ngã vật xuống giường ngủ say như chết, mẹ lại ngồi bên bàn nhưng không viết và không cả bật đèn. Trong bóng tối, thỉnh thoảng Bình nghe có tiếng thở dài. Bình về phòng riêng, úp mặt xuống gối.
Rồi bỗng dưng mẹ chợt nhận ra chẳng biết từ lúc nào ba không còn to tiếng, cáu gắt nữa. Ba chỉ gườm gườm, chỉ hầm hừ khi đi qua mẹ. “Ba con lúc này thật dễ chịu”. Mẹ cười vui vẻ nói với Bình. Con Bình không thể vui được. Mẹ không biết từ lúc nào ba thôi không gây gổ nữa nhưng Bình  thì biết. Từ buổi tối Bình bắt gặp ba chở một cô gái tóc ngắn, mặc áo hở vai, vòng tay qua bụng ba thật chặt. Cô ta có lẽ chỉ lớn hơn Bình vài tuổi. Sáng hôm sau, Bình sửa soạn đi học, ba xách chiếc cặp đen ra đến cửa vụt quay lại. “Con thích thứ gì nói ba mua?” “ Con chẳng thích gì cả!” Bình nghe giọng mình nhạt nhẽo khô khốc. “Chuyện tối qua…” Ba nói rất nhỏ có lẽ vì sợ mẹ ở trong phòng nghe thấy. “Ba yên tâm, con sẽ không nói gì với mẹ”. Bình nhìn ba như nhìn kẻ lở đường xin bát nước. Ba chắc lưỡi phân bua. “Chặc! Không có gì đâu! Không có gì! Hôm nào có dịp ba với con sẽ nói chuyện nhiều hơn…”.
Bình trở nên buồn bã. Mười tám tuổi! Bình cảm thấy không còn vô tư nữa. Năm nay là năm cuối của Bình ở bậc trung học. Mẹ đã có ý định sang năm đưa Bình lên thành phố vào Đại học. Mẹ sẽ sống sao đây khi ngôi nhà chỉ còn lại mẹ và ba? Đôi lần Bình cũng hỏi tại sao Bình im lặng, không nói gì với mẹ. Bình không biết, Bình không thể trả lời mình. Có đêm, Bình mơ thấy hai mẹ con đứng ở ven bờ trông theo bè lục bình đang trôi giữa dòng sông, trên đó có mấy bông tim tím. Mẹ và Bình đứng trong bóng hoàng hôn đến khi bè lục bình mất hút cuối dòng sông. Tiếc ngẩn ngơ, Bình bật khóc nức nở. Choàng tỉnh, nước mắt còn đầy trên má. Bình nghe tiếng ngáy đều đều của ba từ phòng bên vọng sang lẫn trong tiếng đồng hồ tích tắc. Bình yên tâm hơn khi nghe tiếng mẹ hắt hơi. Có lẽ đêm trở lạnh mà vì mải mê viết mẹ quên không mặc áo ấm…
Bình đến ngồi xuống chiếc ghế trống bên kia bàn. Mẹ quay nhìn Bình rồi buông viết xuống vươn vai. “Con đi chơi về sớm vậy?” “Con đến nhà nhỏ Thuỷ lấy quyển sách. Tụi con chuẩn bị thi kỳ hai rồi đó mẹ”. Mẹ đưa tay vỗ trán. “Ồ! Mẹ quên mất! Đã thi kỳ hai rồi à? Có lẽ mẹ phải nghỉ viết một thời gian để chăm sóc sức khỏe cho con học thi. Con bớt làm việc nhà đi để có thời gian học. Để mẹ làm cho”. “Không sao! Mẹ đừng lo con biết thu xếp mà”. “À! Nhà mình còn trứng gà không con?” “Con mới mua hôm qua”. “Ờ! Mẹ muốn nấu chè trứng cho con ăn tối, thức khuya xót ruột lắm”. Mẹ xếp những tờ giấy ngay ngắn rồi đứng lên. “Ba con cũng thích ăn chè trứng. Tối nay hai mẹ con mình cùng đợi ba về ăn”. “Con không tiếp mẹ đâu nghen!” Bình nói với theo khi mẹ đi vào trong. Bình nghe mẹ nói câu gì không rõ. Lòng buồn rười rượi khi thấy mẹ hớn hở đi làm bếp. Hồi chiều, ba gọi điện thoại về nhà bảo không về vì có khách. Chiều nay không đi đánh tennis, Bình biết ba đi đâu. Có lẽ tối nay mẹ và Bình sẽ cùng ngồi bên nồi chè trứng đến gần sáng.
Bình cầm lấy tờ bản thảo mẹ đặt trên cùng đang viết dở dang. “Anh cầm cây  tre dài cố chồm tới trước để kéo bè lục bình đang trôi trên sông. Cô gái đứng bên cạnh luôn miệng thúc hối khiến tay chân anh càng thêm lóng ngóng. Nước dưới sông hình như chảy xiết thêm, bè lục bình trôi ra xa hơn nữa. Anh cứ rướn người, rướn người thêm chút nữa, chút nữa. Rồi anh rơi ùm xuống nước. Cô gái đưa tay bưng miệng cười quên khuấy bè lục bình đã theo dòng nước trôi đi mất”.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
ĐỢI HOÀI KHÔNG THÂY MƯA NGÂU
Trần Lệ Thường
 
Không biết từ lúc nào, năm lên mấy tuổi, Thảo đã biết mình là con nuôi của ba. Hồi nhỏ Thảo ốm yếu, bệnh tật liên miên. Bao nhiêu người hiếm muộn muốn xin con nuôi đều lắc đầu không nhận. Cô Hai và ba đã không chê Thảo, nhận lấy một chút hạnh phúc mỏng manh mà người khác vứt bỏ! Cái danh từ trừu tượng không  hình dạng, không màu sắc vẫn tồn tại giữa cuộc sống đầy dẫy chông gai. Là đứa con sinh ra ngoài ý muốn trong một gia đình nông dân quá nghèo khổ, Thảo chỉ là một sinh vật biết khóc oe oe, nặng hơn hai kilôgam bị đem cho khi mở mắt chào đời chưa được ba ngày. Thảo được nhận về nhà khi vừa biết đi, biết nói bập bẹ vào một ngày tháng bảy mưa ngâu gắn liền với mối tình bi thương và đẹp như một bài thơ. Bên ngoài trời mưa tầm tã, trong nhà Thảo khóc ngất từng cơn vì lạ cảnh lạ người. Cô Hai ẵm Thảo đứng bên cửa sổ trông ra màn mưa mờ mịt cố dỗ cho Thảo nín. Ba Thảo vụng về đi mắc võng, pha sữa. Rồi con bé ngủ lịm đi mòn mỏi với giọt sữa còn động trên môi, trời tháng bảy mưa liên miên, cỏ lên thật mau. Trong vòng tay săn sóc thương yêu của người cha, đứa bé lớn thật nhanh, biết nhận ra cỏ gà, cỏ lác… Mảnh đất đầy cỏ đó bây giờ ba đã đào ao thả cá, làm rẫy, chăn nuôi. Trúc không còn nữa sau lần bị ba đốn sạch, nhưng cỏ thì cứ phải nhổ và nhiệm vụ đó là của Thảo. Đứa bé ba tuổi đã bắt đầu cuộc đời mới trên mảnh đất nhỏ nhoi đầy cỏ ấy.
Rồi cô Hai Thảo về Sài Gòn với gia đình của cô, bỏ lại hai cha con Thảo trong ngôi nhà không có bàn tay người phụ nữ. Bên kia con đường hẹp, sau dãy nhà là biển và những cây mắm nhiều vô kể. Thảo có thể nghe được tiếng sóng vỗ vào bờ trong những đêm thanh vắng. Ấy là con đường của những năm trước, còn bây giờ nhà đông đường hẹp, tiếng xe gắn máy nổ suốt ngày đêm làm gì còn nghe được tiếng sóng vỗ mà háo hức chờ sáng. Ngày còn nhỏ, Thảo thường lén ba theo bọn trẻ xuống mé biển chơi. Ba rất lo nên đi đâu thường gởi Thảo cho bác Ba Tam nhà bên cạnh. Bác Ba người miền bắc nhưng rất thích nói tiếng miền nam, nhất là những từ nói đớt. “Ăn cơm gồi!”. Rồi ông cười sặc sụa. Thuyên, con trai bác ba kể cho Thảo nghe về chuyện tình của bác với một cô gái miền Nam quê ở Thứ Mười Một trong thời chiến chống Mỹ. Trước khi đi bộ đội, bác Ba cũng đã ngồi ở ghế đại học hai năm, cô này biết đọc biết viết, đánh giặc rất giỏi vẫn thường “Bắt con cá gô bỏ trong gổ”. Không làm sao hiểu hết những lá thư mà khó khăn lắm từ chiến trường bác mới gởi về được. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao họ chia tay nên Thuyên không phải là kết quả của mối tình lãng mạn đó. Nhưng bác ba vẫn còn giữ chiếc kẹp ba lá bằng nhôm dù đã rỉ sét. Nhất là sau ngày mẹ Thuyên qua đời, thỉnh thoảng bác lại đem chiếc kẹp ra nhìn ngắm. Đôi lần Thuyên tự hỏi, chẳng biết cô gái nọ hay người đàn bà kia bây giờ có còn đủ tóc để kẹp chiếc kẹp này hay không? Tối tối, bác Ba cùng với ba Thảo tâm sự chuyện tình yêu thời trai trẻ. Cái chuyện mà với ba Thảo như một điều xa xỉ. Ông chỉ có Thảo thôi, Thảo là tài sản vô giá cho nên sau này ai muốn cưới con gái “rượu” của ông phải chịu ở rể và cam kết không bao giờ hiếp đáp con gái ông, dù Thảo còi như con búp bê lại có chiếc mũi hếch hay hắt hơi mỗi khi trở trời.
“Ba!” “Cha mày!”. Mỗi khi đi đâu về Thảo rón rén đến sau lưng ba hù thật to. Nếu không “Cha mày” thì đó hổng phải ba. Vậy mà bây giờ ba im lặng rồi từ từ quay sang nhìn Thảo với ánh mắt buồn bã. Người đàn ông hơn năm mươi tuổi với những sợi tóc bạc lóm đóm ở trên đầu mà đôi lần Thảo đã trêu: “Tóc ba muối nhiều hơn tiêu”. Người đàn ông chưa có một mảnh tình vắt vai, chưa một lần lập gia đình bị Thảo và mấy đứa bạn gọi là Đông – Gioăn. Người đàn ông có bàn tay thương tật rúm ró như gương mặt người phụ nữ bị tạt a-xit chống lưỡi cuốc xuống đất rồi gục đầu khóc. Những giọt nước mắt rơi xuống đôi bàn chân to bè dính đầy bùn đất.
Sau chiến tranh, ông về từ chiến trường nào đó Thảo không rõ lắm. Dĩ nhiên ở đó có bom đạn, có chết chóc; có người đi không trở lại, có kẻ về không nguyên vẹn. Ba về, không còn nguyên vẹn. Ba Thảo vẫn sống với chính sách đãi ngộ thương binh của Nhà nước. Thượng đế làm ra lúa gạo nhưng con người làm ra rượu. “Hạnh phúc đâu tự có”. Một chúc hạnh phúc tự ba tìm thấy giờ đây có người tới nhìn nhận. Tuy ông ta không có ý giành giựt nhưng sự xuất hiện đột ngột này khiến ba khó chịu và làm Thảo đau đớn. Đứa con gái yếu đuối trưởng thành trong trường học và trong sự chăm sóc quá chu đáo của người cha không thể nào chấp nhận được một sự thật đã dành riêng cho mình, là của mình. Thảo không muốn! Sao Thảo không được sinh ra từ một gia đình nào đó khác hơn? Ông ta khoảng chừng hơn sáu mươi tuổi, tóc bạc gần hết, cằm tua tủa những sợi râu trắng đen lẫn lộn trong thật nham nhở, đôi mắt hấp háy với đôi tròng mắt đỏ ngầu của một người nát rượu, lếch thếch trong bộ quần áo xác xơ và đôi giép nhựa đã mòn vẹt. “Ba ơi! Có thể nào… có sự nhầm lẫn”. Thảo nghi ngờ hay đúng ra không dám tin, người cứ run như lên cơn sốt. “Con giống ông ta nhất là chiếc mũi”. Thảo khóc ngất. Người đàn ông sau gần mười năm tù vì tội ngộ sát có dịp đi thị xã mới sực nhớ, hơn mười tám năm trước có bỏ lại nơi nuôi trẻ mồi côi đứa con mà ông ta đã không muốn nó ra đời. “Má nó bị bệnh mấy năm nay rồi. Mấy đứa lớn có vợ chồng hết. Tui rầu nhất là thằng Sáu trộm cắp hoài nói không được, vào tù ra khám như cơm bữa. Hai con chị kế nó bỏ nhà đi hai, ba năm nay nghe nói bán bia ôm ở trên này mấy bữa rày tui kiếm chưa gặp…”.
Thảo thoát ra khỏi nhà trong màn đêm đen nghịt. Không có cơn mưa nào đuổi theo Thảo, không có cơn mưa nào đổ ập xuống người Thảo để làm dịu bớt đi cơn bỏng cháy. Ở đây, không có mùa thu cũng chẳng có mùa đông, đơn giản chỉ có hai mùa mưa nắng. Thảo nhớ Thuyên hay hát “xin gởi cho em một chút nắng vàng” để nhớ về Hà Nội mặc dù nơi ấy đối với anh chỉ tồn tại trong ký ức tuổi thơ. Trời đang làm hạn, tháng ba rồi mà vẫn chưa có hạt mưa nào để làm lắng đi lớp bụi đường dày mịt. Thảo thích mưa, Thảo chờ mưa như ruộng cày nứt nẻ, như đứa trẻ mong mẹ đi chợ về với món quà nó ưa thích, Thảo vẫn đợi… mà chiều vẫn chưa mưa. Bao nhiêu thông minh lanh lợi, những gì tốt đẹp người đi trước đã hưởng hết, đã tước đoạt hết. Thảo là chút gì còn có được sau khi vắt đến cạn kiệt sức lực của một người phụ nữ quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời mà vẫn cày thuê cuốc mướn. Người phụ nữ mà quanh năm suốt tháng cứ phải giặt giũ phơi phóng quần áo trẻ con và chăn chúng nó như chăn vịt. Người phụ nữ mà quần lúc nào cũng ống thấp ống cao với mười ngón chân cáu bẩn cắp cái rỗ tre thủng đi hái rau dại ở bờ đê. Người phụ nữ mà cái thời tuổi trẻ quá ngắn ngủi đã bỏ phí biết bao cuộc vui. Thảo không muốn biết gì về những người đó. Thảo chỉ là con của  ba. Một chút mong manh này xin đừng ai giành lấy. Cô nữ sinh hiền như rau mồng tơi leo ở bên rào thường mơ  mộng với mấy vần  thơ, rồi có khi mất ngủ mấy đêm liền chỉ vì lời khen vu vơ của ai đó được ba cưng yêu như vàng như ngọc.
Thảo cứ đi, tay quệt nước mắt như đứa trẻ. Cơm chiều còn chưa ăn, không biết ba có biết lọ ớt Thảo để trong góc tủ, keo rượu ngâm chuối hột Thảo đã dời vô nhà trong. Thảo tuyệt đối không muốn nhìn mặt ông ta một lần nào nữa. Thảo thở dài khi nghĩ trời đã sinh ra ba sao còn sinh ra một người như ông ấy. Không biết đến bao giờ ông ta mới tìm ra các con trong hàng chục quán bia ở thị xã này khi không có địa chỉ chính xác. Những con thiêu thân đã bỏ những cánh đồng lúa vàng để lao vào ánh đèn đô thị. Họ đang rửa đôi chân đang dính đầy bùn đất phèn chua bằng thứ nước thải thị thành. Hồi chiều, Thảo nghe ông ta nài ba mua rượu rồi ép ba uống trong khi ba đang bị cao huyết áp. Thảo nhớ ba, không có Thảo ai sẽ giũ chiếu giăng mùng, cho ba ngủ, ai sẽ nấu nước pha trà để ba với bác Ba Tam tâm sự đến khuya. Cũng vẫn chuyện chiếc kẹp ba lá thời chiến tranh ấy. Nếu có cơ hội Thuyên lại sẽ đứng bên lắng nghe để chờ kịp kể cho Thảo. Người đàn ông cứ một điều “con tui” hai điều “má nó” khiến ba Thảo khó chịu. “Trời! tui nói bữa sinh nó mưa sao tối trời tối đất. Nóng ruột mấy đứa kia ở nhà tui với má nó đón xe ôm đi dưới trời mưa. Từ bệnh viện thị xã vô tới Mong Thọ, tới nơi nó như con mèo ướt…”. Không biết ông ta sẽ còn quấy nhiễu ba đến bao giờ.
Thảo nhớ đến cô Hai, Thảo muốn được gục đầu vào lòng cô mà khóc cho hả hê. Không suy tính gì nữa, Thảo lên chuyến xe đêm tốc hành đi Sài Gòn. Nghỉ học vài ngày trong học kỳ hai này Thảo cũng ngại lắm. Năm nay thi tốt nghiệp phổ thông trung học, nếu đậu Thảo cũng sẽ vào Đại học ở thành phố. Xa ba, nhưng nếu Thảo rớt ba sẽ buồn vô cùng. Chỉ vài ngày  thôi mà rồi ông ta cũng sẽ đi. Thảo ngã đầu vào lưng ghế lan man nghĩ. Đến nơi gọi điện về cho ba biết. Có lẽ cũng nên gọi điện cho bác Ba Tam sang chơi chứ ba ở nhà một mình với ông ta Thảo lo lắm bởi ông ta từng ngồi tù vì tội ngộ sát. Thật chua xót! Đó là kẻ đã tạo ra Thảo dù không muốn. Còn mấy luống rau thơm cỏ đã lên nhiều đi về Thảo sẽ làm. Chắc là ba sẽ phát hiện ra sau mấy cây ớt là lõm cỏ gà Thảo đã giấu không làm sạch để chơi. Thuở nhỏ, Thảo hay rủ bọn trẻ hàng xóm sang chơi “đá gà”. Có lần “đá gà” với Thuyên, gà của Thảo bị gãy cổ. Vậy là Thảo khóc, Thuyên phải dỗ bằng cả hai que kem. Nhớ lại còn tiếc! Kem ăn ngon nhưng mau tan! Như tuổi thơ đẹp nhưng qua rất nhanh. Lần đó, Thuyên bấm bụng nhìn Thảo ăn luôn que kem của mình. Thảo chợt mỉm cười một mình. Vậy mà sau ngần ấy năm Thảo chưa một lần hối hận vì chuyện đó. Lần này về có lẽ Thảo sẽ hỏi lại Thuyên vì sao bác Ba còn giữ chiếc kẹp lâu đến vậy mà không một lần “di hành” về An Minh tìm người xưa xem bây giờ ra sao. Sẽ thú vị lắm đây nếu như cô gái đó vẫn còn ở vậy đợi bác. Thảo sẽ phải dặn ba không cuốc đất suốt ngày ở ngoài nắng nữa, đang mùa nắng nóng rất dể bị cảm. Chiếc áo ba vẫn mặc để làm rẫy đã bị rách ở khuỷu tay, Thảo chưa vá, ba phải lấy áo mới mà mặc, để dành làm gì, Thảo biết tánh ba không bao giờ thích mặc đồ mới, áo mới phải giặt năm, bảy lần cho bạc nhớt, cũ bớt ba mới chịu mặc. Có dịp đi đâu đóng bộ quần áo mới toanh được Thảo ủi cẩn thận ba lóng ngóng ngượng nghịu như diễn viên sắp bước ra sân khấu, Thảo khác với ba, quần áo mới may về Thảo mặc ngay, còn cả lằn phấn đỏ. Mùi vải mới, mùi chỉ sợi thật mê như miếng kem lạnh ngọt lịm của ngày còn nhỏ…
Thảo sẽ tính toán dặn ba nhiều hơn nữa nếu như không có một sự va chạm thật mạnh bắn Thảo lên, đầu va vào trần xe. Thảo chưa nghiệp cảm nhận được điều gì. Sự hoảng loạn trong xe, những tiếng thét hãi hùng, sự đau đớn… Thảo chưa kịp cảm nhận được điều gì… chỉ thấy cỏ úa hết, tàn hết… cả một vạt cỏ vàng khè giữa trời nắng hạn… Đợi hoài sao không thấy mưa ngâu.

 

My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
DÂY TÓC TIÊN
Trần Lệ Thường
 
Vừa qua khúc quanh Mây chợt trông thấy Hưng đứng trong sân nhà bên mấy chậu kiểng, Bộ quân phục màu xanh nổi bật trên nền hoa cúc vàng. Không biết đã từ bao lâu rồi, Mây đã không gặp anh. Một năm hay nhiều hơn vậy nữa, có lẽ cũng đã trông thấy Mây nên anh đứng lại chờ. “ Mây! Vừa về đến hả?” Anh hỏi, mắt nhìn các thứ lỉnh kỉnh trên tay Mây. Anh đen và khỏe mạnh, nụ cười thật tươi. Mây nhận xét nhanh khi trả lời: “Em vừa về đến đây. Anh về bao giờ?” “ Anh về mấy ngày rồi, mai anh phải đi. Nè! Có mua gì cho anh không? Thấy nhiều quà quá?”. “Có biết anh về đâu mà mua quà. Thôi để lần sau vậy!” Mây cười mở hết miệng, bày chiếc răng khểnh tận khóe. Trò chuyện vài câu Mây đi về nhà, cách nhà Hưng khoảng một trăm mét, qua một ngôi nhà có hàng rào dây tóc tiên. Ngôi nhà này hồi nhỏ đi qua là chạy vì vẻ hoang vắng, âm u. Mây khệ nệ với các thứ trên tay bước chậm, không biết là Hưng bước ra ngoài cổng rào đứng tần ngần trông theo.
“ Sinh viên thành phố về rồi mọi người ơi!” Anh Sáng kêu lên trước khi mọi người nhìn thấy Mây. Xa nhà mới có nửa năm thôi mà. Nếu sau này lấy chồng xa xứ đi biền biệt luôn thì sao đây? “Quà của má, của ba, của cô Ba nè, cái này của anh Hai…” “Mua nhiều thứ như vậy tiền đâu con xài?” Nghe má chậc lưỡi Mây nghiêng đầu xòe bàn tay ra. “ Thì con về xin tiền má nè!” Sáng cầm gói lấy gói quà quay người đi “Chẳng khác ngày càng nhỏ bao nhiêu. Đêm nào ngủ chắc cũng nhớ má khóc.” “Anh này!” Mây đập lên lưng anh túi bụi. Ba cười hiền hòa. “Thôi rửa mặt rồi ăn cơm. Chắc đói rồi! Má con làm toàn những món con thích để đón con”. “Hoan hô má!” Mây nắm hai vai má nhảy lên. Bất chợt Mây trông thấy cô Ba đứng im lặng nhìn Mây dịu dàng. Tuổi xuân đã qua nhưng ở cô vẫn còn phảng phất vẻ đẹp thanh tú. Đôi mắt đen buồn vời vợi, bất chợt trông thấy ai cũng nao lòng. “Con nhớ cô lắm”. Mây nắm lấy bàn tay cô lắc nhẹ. Cô cười vỗ nhè nhẹ lên lưng bàn tay Mây. “Chăm học là cô vui rồi”.
Buổi sáng thật trong lành, mây trắng đầy trời, gió lồng lộng, tiếng chim kêu ríu rít khiến lòng Mây thật vui. Cũng có thể vì Mây đã thoát ra được cuộc sống thị thành tất bật, oi bức nên Mây cảm thấy thật thảnh thơi. Ở đây, Mây đã lớn lên từng ngày, những bụi tre bên đường, những cánh đồng lúa chín, con kênh êm ả mang những mảng lục bình phiêu bạt. Đi xa nhưng Mây vẫn mong một ngày trở về làm việc ở thị trấn như anh Sáng. Cả đến hàng rào dây tóc tiên đầy sợ hải luôn ám ảnh Mây trong suốt tuôi thơ, Mây vẫn muốn nhìn thấy. Ngày còn nhỏ, một tối đòi theo anh Sáng và anh Hưng đi xem ca nhạc. Khi về đường tối đen, cố tình trêu trọc Mây nên đến hàng rào dây tóc tiên hai anh bỏ chạy thật nhanh khiến Mây kinh hãi khóc thét lên. Lạ làm sao Mây không chạy được, đôi chân nhũn ra sụp xuống, May sao anh Hưng quay trở lại đón Mây. Lần đó anh Sáng bị ba bắt nằm dài quất mười roi. Còn Mây thề sẽ không bao giờ theo anh nữa. Nhưng theo năm tháng lớn dần lời thề đã như miếng kem ngọt lịm tan trong miệng, Mây lại lẻo đẻo theo anh Sáng và anh Hưng ra ruộng thả diều. “Này! Hưng hỏi thăm em đó!” Sáng từ trong nhà đi ra vươn  vai làm vài động tác thể dục. “ Hôm qua em có gặp anh ấy”. “Hồi tối tụi anh nhậu với nhau một trận quá trời.” “Hèn gì! Đêm qua anh về trễ lại say”. “ Hưng về đơn vị rồi. Sáng nay đã đi sớm.” Hưng và Sáng là bạn học của nhau. Tốt nghiệp phổ thông Hưng vào quân đội, Sáng học kinh doanh. Mỗi người đều có ước mơ để theo đuổi. “Mà sao lần này về Hưng lại hỏi thăm em?” Bất ngờ trước câu hỏi của Sáng, Mây tròn xoe mắt. “Em biết đâu à” rồi Mây cười. “Hỏi thăm thì có gì lạ?” Làm như không nghe Mây nói gì, Sáng nhìn chầm chầm Mây. “Anh nói nè! Nếu đứng trước mặt Hưng, có cười em không nên rộng miệng, xấu lắm”. “ Kệ em!”
Thật là lạ! Số điện thoại khiến Mây ngập ngừng khi nghe máy. “ Mây hả? Anh Hưng đây! Đừng thắc mắc khi anh biết số điện thoại của em. Sáng là bạn thân thiết mà. Thật bất ngờ khi gặp em hôm trước. Em đã lớn và rất xinh đẹp, không còn là đứa bé con chạy lẻo đẻo theo anh và thằng Sáng nữa… lẽ nào em đã quên anh khi anh luôn tồn tại trong suốt quãng đời thơ ấu của em. Về ngôi nhà vắng vẻ có hàng rào dây tóc tiên…” Khi Mây học cấp hai anh Hưng có kể cho Mây nghe về ngôi nhà đó. Người chủ từ nước ngoài về với một căn bệnh hiểm nghèo, chờ ngày được chết ở quê hương. Ngôi nhà này là của ông bà để lại. Vợ con ông không về và cũng không ai thấy về thăm. Có mấy đứa cháu giúp việc nhà, chăm sóc vườn cây. Sau này ông không để cây cối um tùm nữa, đốn tỉa bớt nên thấy vườn cây thoáng mát hơn, ngôi nhà bớt vẻ âm u. Trước cổng có đặt hai bóng đèn tròn to, sáng trưng. Nhưng cho dù không có đèn Mây cũng không còn sợ hãi nữa vì Mây đã là người lớn. Khi Mây để điện thoại xuống thì thấy những chiếc đầu trong mùng thò ra mở to mắt thao láo nhìn Mây. Mây kéo mền trùm kín đầu trước khi cả bọn ùa sang tốc mùng đè Mây giật lấy điện thoại. Chẳng có gì được gọi là riêng tư trong căn phòng của lục đại công chúa này. Nhưng anh Hưng đâu có phải là bí mật của Mây mà cần phải giấu. “Có cao như anh Sáng không?” “Tao thích bộ đội!” “Cho tao làm em gái với!” Cuối cùng Mây không biết đứa nào thích cao, đứa nào thích bộ đội, đứa nào muốn làm em gái trong cái âm thanh hỗn độn như chợ chiều đó.
Tan học, Mây còn trong sân trường thì có điện thoại của anh Hưng. Hình như đó cũng là điều Mây chờ đợi. Không biết từ bao giờ và khi nào, anh Hưng hiện diện trong Mây không với hình ảnh một người anh thường dắt Mây ra đồng bắt cua, làm diều cho Mây thả… Anh thường xuyên gọi điện thoại cho Mây nói về nơi anh đang sống. Những chiều biên giới đầy gió lộng anh thấy mây. Mây đầy trời đuổi theo từng bước anh đi, anh nghĩ đó là Mây. Những ngày mưa không có mây anh buồn tê dại. “Ra khỏi cổng trường bên trái, dưới gốc me, em sẽ thấy anh!” Trời! Sao không báo trước chứ? Anh Hưng hay nói đùa sẽ đến trường Mây trên cây chổi của mụ phù thủy. Anh nói sẽ gặp anh trong giấc mơ. “Mây! “Còn đang đứng tần ngần nghe gọi Mây giật mình. Năm đứa bạn đang tò mò nhìn Mây chờ đợi nhưng bây giờ anh Hưng đã là bí mật của Mây rồi nên Mây quyết liệt xua tay. “Chiều nay xin cho tao được tự do”.
Và Mây thấy anh Hưng đứng lóng ngóng bên cây me vẻ chờ đợi. Vẫn bộ quân phục màu xanh nổi lên trong màu khói lam chiều. Tim Mây đập  rộn lên theo từng bước chân đi. “Có nghĩa gì đâu một buổi chiều. Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt. Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.” Mây chợt nhớ mang máng mấy câu thơ của nhà thơ nào đó trong nỗi xuyến xao. Trong cái nắng còn có cái gì đó, trong mây còn có    ai đó và trong gió hình như có một người. “Tặng em!” Anh Hưng cười đưa ra một mớ dây tóc tiên xanh bọc trong giấy bóng đỏ. Cô Ba rất thích dây tóc tiên nên xin về trồng nhưng dây không sống được. Có lẽ đất không thích hợp mặc dù từ đó sang đây chỉ cách vài mươi mét. Người chủ rào dây tóc tiên thỉnh thoảng có sang chơi, ông không giam mình trong nhà nữa. Ông lui tới nhà tình thương, làm nhiều việc từ thiện khác. Có một mối tình nở muộn nhưng không sống được đã tàn héo như dây tóc tiên cô Ba trồng. Thiếu gì hoa trồng hàng rào như hoa hoàng anh, hoa giấy… nhưng cô Ba không chịu trồng. Bao nhiêu năm qua hàng rào nhà Mây vẫn trống trơn. Thấy Mây đứng lặng im anh Hưng hỏi. “Sợ hả?” “Không có! Nhưng sao lại tặng em dây tóc tiên?” “Để trói buộc và vì với anh và em dây tóc tiên có nhiều kỉ niệm” Mây nhận món quà, đầu hơi cuối thấp tránh ánh mắt nồng nàn của anh Hưng. “Anh Sáng có biết anh lên thăm em không?” “Có! Sáng nói, từ bây giờ mày không được kêu tao bằng mày nữa.” Mây bật cười và ngẩng lên. Nhưng ngay lập tức Mây nhớ lời anh Sáng nói nên nụ cười mở ra chưa hết đã bị giữ lại nửa chừng.  Anh Hưng nhìn có vẻ là lạ nhưng không quan tâm chỉ nắm vội bàn tay Mây. “Em phải đưa anh đi khắp thành phố đó!” Một tay của Mây anh Hưng nắm, còn tay kia Mây nắm mớ dây tóc tiên thật chặt. Cả hai hòa vào dòng người tấp nập nhộn nhịp của thành phố với một buổi tối đang bắt đầu.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÊM NGẮN
Trần Lệ Thường
 

Đêm tĩnh lặng vô cùng, gió nhè nhẹ lùa từ bên ngoài cửa sổ. Nằm cuộn người trong chăn nhưng tôi vẫn không sao ngủ được. Thoang thoảng có mùi hương hoa cúc trong phòng. Mấy chậu hoa cúc trắng tôi đã từng chăm chút khi tôi còn ở nhà. Bên cạnh Tần ngủ say sưa, trên mặt còn hai hàng nước mắt. Căn phòng này ngày trước là của hai chị em tôi, bây giờ tôi về làm khách.
Má mất đột ngột nên tôi phải về. Lòng đau như cắt nhưng phải nén những cơn vật vã. Ân hận thật nhiều vì những ngày cuối cùng của má, tôi không được ở gần. Tôi đã ra đi vì muốn vượt qua số phận ở một vùng quê một nắng hai sương. Ở đó má tôi còng lưng trên những cánh đồng lúa chín, đôi bàn chân nứt nẻ vì lội bùn dơ, đôi bàn tay chai sạn vì vất vả. Má đã từng động viên tôi ở lại thành phố làm việc sau khi tốt nghiệp đại học, sẽ có một cuộc sống khác hơn. Bây giờ má mất rồi, ngồi nhà nhỏ chỉ còn lại một mình Tần. Con bé đang học lớp mười hai. Lòng tôi chùng xuống lo âu, nó sẽ rất cô đơn khi sau trước chỉ có một mình. Hồi sáng bên mộ má, Chương đã an ủi khi thấy tôi cứ băn khoăn ray rứt. Anh nói từ từ rồi Tần sẽ quen. Tôi chỉ biết cười gượng gạo. Có nghĩa là nó sẽ tập quen dần với cô độc, làm quen với cuộc sống lẻ loi. Tự chăm sóc bản thân, mọi thứ sinh hoạt… vì không còn má nữa và không có chị cạnh bên. Tôi thật đáng trách, có mỗi đứa em nhưng không thể chăm sóc được. Mỗi người đều có ước vọng và tương lai. Tôi bắt buộc phải đi tiếp trên con đường đang đi, còn phải phấn đấu và ganh đua cho tương lai chính mình. Và vì vậy, tôi tập dần với sự xa cách Chương. Mấy năm rồi, những ngày tôi về nhà đều như là ngày hội. Chúng tôi ở bên cạnh nhau, cùng nghe lại tiếng kẽo kẹt của bụi tre già, cùng rượt bắt những con châu chấu ngoài đồng rồi về nhà cùng ăn tối với má và Tần. Mắm kho ăn cùng rau đắng, thật mặn mà hương vị quê hương. Khô cá sặt nước thơm lừng, ăn cơm rất ngon. Thật vui! Thật hạnh phúc! Chẳng biết có phải là hạnh phúc hay không khi ngày mai mặt đã đầy nước mắt chia tay. Và chúng tôi cứ chờ cứ đợi nhau, hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác. Có anh tôi cũng yên tâm phần nào về Tần. Nhà anh ở cách nhà tôi không xa. Chơi với nhau từ nhỏ, anh thường đi bắt dế cho tôi, hái cho tôi những trái bần chín. Lớn lên, tôi nhận ra đã có tình cảm với anh từ lúc nào không biết. Anh thường lo ngại, đó chẳng qua là một thứ tình cảm phát sinh quá bình thường khi gần gũi lâu ngày. Và anh sợ có một ngày tôi không về nữa vì đã gặp ai đó ở thành phố. “Chẳng lẽ không có lòng thuỷ chung hay sao?” Tôi nói. Anh buồn buồn. “Chỉ có trong tiểu thuyết”. Hơn hai năm rồi, từ ngày anh ngỏ lời với tôi, tôi vẫn đang viết tiếp quyển tiểu thuyết còn dang dở.
 Con Tần cựa mình rồi mở mắt ra nói giọng ngái ngủ “Chị không ngủ được à?”. Tôi vuốt nhẹ lên má nó, đôi gò má mịn màng đầy đặn. “Ừ!”. Nó đập nhẹ lên lưng bàn tay tôi thì thầm. “Đừng lo cho em! Em sẽ sống tốt thôi”. Tôi lại ậm ừ trong lúc Tần huyên thuyên kể về má, về thầy cô, về bạn bè. Người chết thì đã chết rồi, người sống thì vẫn phải sống. Chị em tôi tiếp tục sống. Người đi thì sẽ phải đi và người ở lại cũng đành ở lại. Phải chọn cho mình cách sống để hướng tới tương lai. Em tôi đã trưởng thành mà tôi cứ tưởng còn bé mãi. Lúc trước tôi và Chương đi chơi còn đòi đi theo, vào rạp chiếu phim thì ngồi giữa, dành con dế to Chương bắt cho tôi luôn cả những trái bần chín. Nó đã lớn dần lên trong những ngày tôi xa nhà. Có lần nó đã hỏi tôi sao chúng tôi không kết hôn rồi anh Chương cùng lên thành phố. Tôi cho nó biết Chương không chịu bỏ quê đi và vì gia đình anh cũng đơn chiếc. Anh còn là con một. “Còn chị bao giờ thì về nhà luôn?”. Tôi không trả lời được bởi tôi còn chưa biết. Tôi sẽ trở về nhưng chưa biết đến bao giờ. “Mỗi tháng chị sẽ gởi tiền về cho em. Đám giỗ má chị sẽ về. Cố gắng học nghen! Má vẫn mong em trở thành cô giáo”. Tần ôm lấy tôi, thút thít khóc. Tôi lại nghe hương hoa cúc thoang thoảng, càng về khuya mùi hương nồng nàn hơn.
Được một lúc, chợt nhớ ra một chuyện, tôi trở dậy bước đến bên bàn tìm con cào cào bằng lá dừa đã mang về hồi sáng. Chương vừa ngồi nói chuyện vừa thắt rồi anh đưa cho tôi, nói nửa đùa nửa thật “Anh thấy người ta hay thắt cào cào bằng lá dừa tặng nhau. Anh tặng em để lúc nào em cũng nhớ quê”. Lúc ấy lòng tôi bồi hồi xúc động nhưng vờ  lườm. “Bày đặt!” Bây giờ thấy con cào cào tim tôi lại đập rộn ràng. Tôi bỏ con cào cào vào vali quần áo đã chuẩn bị sẵn ngày mai lên đường. Con cào cào này sẽ đi vào quyển tiểu thuyết của tôi. “Chị à!” Tần đã ngồi dậy, ánh mắt theo dõi tôi từ lúc nào. “Chị đem theo làm gì, cho em đi”. Tôi ngần ngại một lúc. Tôi sẵn sàng cho nó bất cứ thứ gì không lẽ lại tiếc con cào cào bằng lá dừa này. Và bởi vì tôi thấy mình có lỗi với nó nên tôi bằng lòng. “Ừ! Cũng được!” Nó có biết đâu con cào cào này là món quà vô cùng quý giá đối với tôi. Tôi lấy con cào cào ra đặt trở lại trên bàn. Ngoài kia, trời đã tang tảng sáng. Đêm thật ngắn!
Chị em tôi trãi qua rất nhiều đêm ngắn. Mỗi một lần tôi về đêm càng ngắn hơn, nói không hết chuyện. Lâu dần, con Tần không dụi đầu vào tôi khóc nữa, không còn hỏi tôi bao giờ chị về nhà luôn, vui vẻ, tự tin. Cho dù mới chân ướt chân ráo ra đời dạy cấp hai ở trường trung học trong thị trấn, trông nó rất chửng chạc và vô cùng xinh xắn trong những bộ áo dài mượt mà. Cũng vẫn chăn nuôi như lúc má tôi còn sống và hoa cúc bao giờ cũng nở đẹp trong sân. Tôi đã bước qua tuổi ba mươi.
Đám giỗ má, tôi lại về. Loay hoay cũng qua ba ngày, hết đêm nay lại trở lên thành phố, trở về với những công việc bận rộn lo toan hằng ngày. Đôi khi quá mệt mỏi về áp lực công việc tôi muốn bỏ hết, quên hết để về quê cùng Chương chạy đuổi bắt châu chấu ngoài đồng, cùng con Tần sắn quần đi bắt cua về nấu bún. Nhưng tôi không thể. Bửa trưa qua quít với hộp cơm mua vội vàng khiến tôi càng nhớ mắm kho của  má với những cọng rau đắng xanh rờn. Rồi tôi khắc khoải trong căn phòng hẹp với một tương lai, một cuộc sống còn nhiều khó khăn phía trước.
Đêm tối dần, đưa một ngày qua mau. Chương còn lẩn quẩn  ngoài sân bên mấy chậu cúc trắng. Từ lâu, tôi đã nhận ra một điều gì đó như là lạnh nhạt thờ ơ trong các email anh gởi tôi, trong những lần nói chuyện qua điện thoại với anh. Từ ngày đó, chưa một lần nào anh nhắc đến con cào cào bằng lá dừa anh tặng tôi bên mộ má và cũng chẳng thắt thêm con cào cào nào nữa. Tôi cũng không biết Tần đã vứt con cào cào ở xó xỉnh nào rồi sao khi đã chơi chán chê. Chương đem mấy nhánh cúc cắm vào bình đặt trên bàn. Tránh ánh mắt tôi, anh đi vào nhà sau và đi về lúc nào tôi cũng không biết. Không từ giã tôi. Những đoá hoa cúc trắng như vô hồn trơ trơ giữa gian phòng rộng. Những đóa hoa do chính tay Chương cắm vào mà sao thấy nhạt nhẽo chẳng có mùi hương. Con Tần còn bận rộn dọn dẹp ở nhà sau, bên chuồng lợn. “Chị đi nghỉ đây!”. Tôi nói vọng vào và đi vào phòng. Căn phòng này ngày trước là của chị em tôi, bây giờ để dành cho khách. Tôi về làm khách trong chính căn phòng của mình. Con Tần ngủ trong phòng của má tôi. Tôi một mình đắp chiếc chăn mỏng nằm mở mắt nhìn lên trần nhà. Gió thổi vào nhè nhẹ qua cánh cửa sổ khép hờ. Không nghe được mùi hương nồng nàn của hoa cúc, thấy nhơ nhớ, buồn buồn. Mấy chậu cúc có lẽ đã tàn rồi theo tháng năm. Đã tàn rồi! Những ngày tôi về không còn là ngày hội nữa. Cuộc đời tôi không còn những ngày hội.
Khi Tần đẩy cửa phòng vào nằm cạnh tôi thì cũng đã hơn nửa đêm. Có lẽ nằm mãi không ngủ được nó lại sang với tôi. Những gì muốn nói chắc cũng đã nói hết rồi trong mấy ngày qua. Nó bỏ một chân qua người tôi, giọng mè nheo “Chị em mình nói chuyện tới sáng nghen!” Tôi vuốt tóc nó, dịu dàng. “Chị tưởng em không còn gì để nói chứ” “Ừ! Sao lại không còn? Còn nhiều, rất nhiều nữa đó. Nhưng chị đừng có ngủ trong lúc em nói nghen!” Tôi cười. “Ừ! Không ngủ!” Vậy là, như những lần trước, nó huyên thuyên nói về trường lớp,về bài giảng, về học trò, có lần bị học trò trêu phát khóc… cũng vẫn cứ cái giọng trong trẻo mè nheo nhưng tôi nghe như có cái gì gượng ép, giả vờ hồn nhiên ở tiếng cười trong trẻo cố làm ra vẻ vô tư. “Nhờ vậy em trưởng thành hơn”. Tôi tát nhẹ lên má nó, thấy mình già quá đỗi, khô cằn hơn số tuổi của mình. “Chị nè!” Tần vụt gọi khẻ ngập ngừng, rút chiếc chân đang đặt trên người tôi lại nằm ngay ngắn. “Chị à!” nó lại gọi khe khẻ, ngượng ngùng. “Muốn xin gì phải không?” Tôi bẹo má nó, âu yếm. Đôi mắt to, đen láy, chớp lia, nó nói như hụt hơi. “Em sẽ kết hôn”. Có mấy từ như vậy mà hình như Tần đã thu hết can đảm để nói. Như vừa vứt xuống một vật nặng trên vai, nó thở phào. Hình nó đã lần lựa đắn đo quá lâu rồi, bây giờ nhất định phải nói. Cũng có thể những lần trước tôi về, nó muốn nói nhưng không nói được. Nét mặt nó như sạm lại, sượng ngắt. “Lấy chồng à? Có gì đâu mắc cở, nhưng có sớm quá không?” “Em đã tự lo cho mình được”. Thật nực cười, vừa mới ra đời đã muốn lập gia đình. Nó không muốn sống già như mình. “Ai vậy? Ở đâu?” Con Tần không trả lời. Hình như lần này nó không đủ can đảm để nói, gắng hết sức rồi. Nó đã hụt hơi. “Là ai?” Im lặng! Một sự im lặng đến ngạt thở. Sự im lặng không bình thường khiến tôi nổi gai khắp mình, có hàng ngàn mũi kim đang chích vào da thịt khiến tôi không thể nằm yên. Người tôi bỗng dưng lạnh buốt. Tôi tốc mền ngồi dậy, hai tay ôm lấy gối, đưa lưng về phía Tần. Quả bóng được bơm căng ở trong nó đã xì hơi bẹp dúm. Tần vụt ngồi dậy ôm lấy tôi. “Em có lỗi! Nhưng mà…!” Nó khóc, bỏ dở câu nói nửa chừng. Giọng nghẹn ngào trong tiếng nấc. Đầu áp vào lưng tôi, hơi nóng lan sang, người tôi dần dần ấm lại. Máu dồn lên mặt nóng ran. Máu đang chảy trong người tôi cũng là máu đang chảy trong người nó. Tôi ngồi thẩn thờ, có cái cảm giác giống như lúc nó hỏi xin tôi con cào cào bằng lá dừa, ngoài kia trời đã tang tảng sáng. Đêm ngắn vô cùng.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI ĐÀN BÀ KHÔNG NHAN SẮC
Trần Lệ Thường
 

Thơm đứng bên cửa sổ, tóc buộc ở sau gáy bằng một sợi dây thun màu vàng. Trong ngày, hễ có lúc nào thuận tiện chị lại đứng bên cửa sổ nhìn ra khoảng sân xi măng rợp bóng cây bàng. Gió đưa những chiếc lá xào xạc, lá nào vàng thì lìa cành rơi xuống sân. Hoàng hôn với những bóng râm sẫm lại giữa những cây bàng trong khi bầu trời vẫn còn giữ được một màu nhôm đánh bóng. Luồng ánh sáng lấp lánh cuối ngày ví như tia hy vọng mỏng manh ở trong chị.
Đến tháng bảy mưa dầm thì chị về đây làm việc đã mười năm. Trước đó chị công tác ở một cơ quan hành chánh sự nghiệp trong thị xã. Quê ở vùng nông thôn sâu, bên dòng sông nước đục ngầu sáng chiều vẫn chở những mảng lục bình xuôi ngược. Khi chiến tranh kết thúc, mái nhà của gia đình chị chỉ còn là một hố bom khuất sau hàng dừa nước xanh rì. Cô bé Thơm lúc ấy mười ba tuổi, người gầy nhom đen đúa với đôi bàn tay, bàn chân thô kệch lại thêm tật lãng tai sau lần hụt chết vì một quả bom nổ rất gần - chẳng còn ai thân thích ngoài một người chú họ xa. Thơm được chú đưa về thị xã nuôi nấng và bắt cô phải học văn hoá dù cô đã qua tuổi tiểu học. Dù sau Thơm cũng qua được lớp năm phổ cập và đậu tiểu học. Năm Thơm hai mươi tuổi, chú Thơm xin cho cô vào làm việc ở một cơ quan hành chánh. Cô làm tạp vụ, tiếp phẩm và vô số công việc khác. Ban ngày, lặng lẽ chăm chỉ với công việc. Tối đến, lùi lũi về căn hộ chật hẹp ở khu tập thể, Thơm nằm co quắp trên chiếc giường gỗ cứng, mắt mở thao láo nhìn lên nóc mùng, cô cố vận dụng đôi tai bệnh tật của mình để lắng nghe tiếng gió thổi bên ngoài cửa sổ. Sáng ra, chưa sáu giờ, Thơm đã dậy nấu cơm, quét sân với đôi mắt trũng sâu vốn có tròng trắng nhiều hơn tròng đen.
Sau, nghe nói có làng trẻ mồ côi Thơm xin chuyển về đó. Ở đây, công việc có bận rộn hơn nhưng những đứa trẻ hình như khiến chị vui lên. Cùng với chị có hai người phụ nữ khác cũng làm công việc nuôi trẻ. Mẹ Hai, mẹ Tươi ngoài ba mươi tuổi có gia đình và con cái. Vì công việc đòi hỏi nên thỉnh thoảng cả hai mới về thăm nhà. Họ có một mái nhà riêng và một hạnh phúc riêng. Đôi lần chị thở dài khi chị nghĩ về họ rồi nhớ đến mình. Chú chị giờ đây đã về hưu sống với vợ chồng người con trai duy nhất, hoạ hoằn một năm có hai lần chú đến thăm chị, mặc dầu từ thị xã đến đây chỉ hơn hai mươi cây số. Lặng lẽ, cô đơn, đêm đêm ngồi đơm những chiếc cúc áo đứt như người thư ký ngồi mân mê những chiếc đinh ghim mà mong cho đến giờ tan sở. Gần bốn  mươi tuổi, chị chưa bao giờ nghe được một lời tỏ tình, một câu hò hẹn, nào đâu một bài thơ đẹp, nào đâu nhữngcánh bướm ép khô trong quyển vở học trò. Và chị chưa bao giờ nhỏ được một giọt nước mắt dỗi hờn trong một lần ai lỗi hẹn. Có lần xem phim truyền hình “Hoa Phong Lan” chị cứ bồi hồi day dứt. Giá mà có ai đó tặng cho chị một giò phong lan như vậy có lẽ chị hạnh phúc lắm. Thời gian cứ qua, mỗi ngày tóc chị mỗi ít đi, xơ xác, đôi vai gầy nhô lên qua lần vải áo rẻ tiền. Tự biết mình, một người đàn bà không nhan sắc, nên chị chẳng màng soi gương, không bao giờ quan tâm đến thân thể áo quần. chị chỉ cặm cụi với công việc và tìm vui trong tiếng cười của các đứa trẻ. Rồi bỗng dưng một tối ẵm thằng bé quấy khóc trên tay chị nẩy ra ý nghĩ có một đứa con riêng của mình. Thật hạnh phúc! Đó sẽ là niềm an ủi vô biên của chị! Và chị chọn đứa trẻ mà chị yêu mến nhất. Nó được mang đến đây khi vừa mở mắt chào đời được hai ngày, bây giờ đã qua tuổi thôi nôi. Trước tình cảnh của chị, ban giám đốc bằng lòng để chị nhận nuôi đứa bé. Mọi sinh hoạt chẳng có gì thay đổi, duy có đìều nó sẽ được khai sinh mang tên Lê Minh Nhựt, mẹ là Lê Thị Thơm.
Cũng chẳng có gì khiến cho chị phải ngóng trông khắc khoải nếu như không có một người trong đoàn từ thiện thường đến thăm trẻ muốn nhận nuôi bé Nhựt. Chẳng phải chú Sáu giám đốc đã cho anh ta biết bé Nhựt không phải là trẻ mồ côi đó hay sao? Nhưng anh ta vẫn tỏ ra quyến luyến bé, quan tâm đặc biệt đến nó làm như thằng bé bụ bẩm vừa biết nói bập bẹ này có sức thu hút đặc biệt đối với anh ta. Qua cô Huế y sĩ chị cũng biết đôi điều về anh ta. Tên là Phạm Văn Quân, đã từng đi bộ đội, có một mối tình dang dỡ trong chiến tranh. Hoà bình rồi, cuộc sống ổn định, anh ta có một cửa hiệu bán tạp hoá bên chợ Ba mươi tháng tư, sống với mẹ và một cô em gái… tất cả những chuyện về Quân chị không hề quan tâm. Huế nói thì chị làm ra vẻ chú ý, đầu gật gật. Những điều Huế được biết về Quân là qua những người cùng đi với Quân nói lại chưa biết thực hư thế nào. Cho dù có thực hay hư thì chị cũng không màng đến, cả đến dáng đi khập khểnh của Quân, nếu Huế không nói thì chị cũng không biết. “Anh ta là thương binh, bị thương ở chân trái”. Điều chị lo lắng là bé Nhựt rất mến Quân. Trẻ con được ai thương yêu chiều chuộng cũng đều quyến luyến người đó. Nào đồ chơi, nào quần áo, nào quà, nào bánh… Nó thường cười nắc nẻ mỗi khi Quân nhấc bổng nó lên cao. Tiếng cười của cả hai làm vỡ toang không gian yên tĩnh của buổi trưa êm ả và muốn làm vỡ tung lồng ngực chị. Những lúc ấy Thơm từ trong cửa sổ nhìn ra rất khó chịu. Bản tính ích kỷ của người phụ nữ trổi dậy ở  trong chị, chị không muốn ai đụng vào một sở hữu của chị dù rằng  họ không làm mất mát một thứ gì. Thêm nữa đó lại là lẽ sống của đời chị. Bởi vậy chị thường tìm cách giữ rịt lấy thằng bé ở trong nhà mỗi khi thoáng thấy Quân đi vào hay đang đứng nói chuyện với ai đó cạnh cây bàng. Còn bé Nhựt vừa  nhác thấy Quân đã vứt bỏ cả đồ chơi, bỏ dỡ chén cơm đang ăn tất tả chạy ra ngoài “Ba! Ba Quân!”. Nó hét to lắm. Thật là ghét! Thơm bị lãng tai mà còn nghe nó hét inh ỏi. Mỗi lần nghe như vậy chị lại thấy tưng tức, mặc dù tất cả trẻ ở đây đều gọi Quân là “Ba Quân”. Có lần Quân đến vào lúc bé Nhựt đang ngủ trưa. Thật may! Trưa nó ngủ dậy muộn. Chị khắp khởi mừng thầm. “Nó ngủ rồi”. Chị nói ngay khi Quân vừa bước vào. “Vậy à!” Quân đưa mắt nhìn về phía thằng bé đang nằm ngủ như để yên tâm về những lời chị vừa nói. Thơm hả hê trong lòng khi thấy Quân có vẻ ngượng ngập, tay cầm một món gì đó trong chiếc hộp giấy. Chị vờ chăm chú xếp quần áo. “Nó mới ngủ thôi. Đừng đánh thức nó”. “Ờ!” “Mà nè!” Hôm trước nó ăn sôcôla của anh cho nó đau bụng cả đêm. Lần sau đừng để phần cho nó nữa, cứ chia hết cho mấy đứa kia đi”. Không ngẩng lên nhưng Thơm biết Quân đang nhìn chị khó chịu. “Tôi có bắt mất nó đâu mà chị ghét tôi quá vậy?” Quân hỏi lớn tiếng, nhưng không phải vì đang bực mình mà vì anh biết chị bị lãng tai. Anh toan đi ra cửa nhưng chưa đi vội mà đưa chiếc hộp về phía chị. “Đưa bé hộ tôi”. Chẳng biết chị có nghe hay không nhưng chị vẫn bình thản gấp chiếc áo trên tay và không buồn ngẩng lên. Quân thở ra, đặt chiếc hộp trển đầu giường rồi khập khểnh ra khỏi phòng. Tiếng chân của anh vang lên không đều và chị cũng không nghe thấy.
Lại một buổi chiều, mọi sinh hoạt đang dần đi vào buổi tối, tất cả trẻ đều đã tập trung vào nhà sau bữa ăn chiều vậy mà Quân còn bế bé Nhựt ngồi trên thành xi măng ở gốc cây bàng. Những người cùng đi với Quân chờ anh không được đã đi về trước. Đã vậy, đến lúc anh lên xe bảo nó vào nhà để anh đi về nó cứ lắc đầu “Hổng chịu! Hổng chịu!” và khóc đòi theo. Thơm bồn chồn từ nãy giờ, không nén được chị ra ẵm phắt nó vào còn phát vào mông nó mấy cái ngay trước mặt Quân. Anh nhìn theo cả hai một lúc lâu với vẻ mặt buồn bã. Đợi hai mẹ con khuất hẳn trong nhà, anh mới nổ máy xe chạy đi. Nghe tiếng xe nổ bé Nhựt càng khóc dữ dội hơn, nó dỗi không thèm nhìn chị mà úp mặt xuống gối đến khi ngủ thiếp đi. Đêm hôm đó chị mấy lần đến giường thăm chừng như thể sợ nó có thể bất ngờ biến mất,  như sợ có ngọn gió lạ ùa vào phòng cuốn nó đi. “Tôi có bắt mất nó đâu mà chị ghét tôi quá vậy”. Câu nói của Quân như là tiếng chuông gõ vào đầu Thơm từng hồi, từng hồi khiến chị vô cùng hoang mang lo sợ. Liệu có một lúc nào đó Quân sẽ thực hiện lời nói ấy không? Và bé Nhựt, tự nó sẽ bỏ chị mà về với Quân. Chị không có thời gian dành riêng cho nó, ăn thì ngồi xếp hàng như các trẻ khác, ngủ cùng đồng loạt trên giường như nhau. Với chị chỉ có sự khắc khe và hình phạt còn Quân luôn mở rộng vòng tay đón với bao vuốt ve trìu mến, cả đến những sự nuông chiều có khi quá đáng. Chị cứ ngồi  bó gối trên giường thằng bé cho đến sáng. Phải biết giành giật lấy những gì mình đang có. Chị quyết tâm nghĩ như vậy nên sáng hôm sau chị lên văn phòng gặp chú sáu giám đốc. “Cái gì? Nghỉ việc à?” Chú sáu muốn nhảy chồm lên trên ghế khi nghe nguyện vọng của chị. “Rồi hai mẹ con sẽ sống ra sao? Đâu cần phải trốn tránh như vậy…”. “Cháu phải đi chú à…”. “Chặc! Thôi để chú nói với Quân đừng đến đây nữa để cho cháu yên tâm. Chú hứa như vậy. Nhớ! Không được lén lút bỏ đi đâu. Nghe chưa?”.
Quân không đến thật! Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày… chị thở phào nhẹ nhõm như người vừa cất được gánh nặng khỏi vai. Chị không còn lúc nào cũng để mắt đến thằng bé nữa. Có lẽ vì vậy nên chị không thấy nó buồn và ngơ ngác. Một tuần, hai tuần, rồi ba tuần… một đoàn xe gắn máy chạy vào sân chưa kịp dừng lại bé Nhựt đã chạy ra ngoài hét to: “Ba Quân! Ba Quân!” Thơm ôm một chồng quần áo trẻ em. Vừa bước vào nhà trẻ, trông qua cửa sổ chị thấy nó xẻn lẻn đứng nhìn những gương mặt lạ hoắc vừa mới đến. Một người cúi xuống bế nó lên nựng nụi. Nó buồn thiu sụp mắt nhìn xuống đất. Thơm quay mặt đi che giấu nỗi xót xa và cũng như chị trốn tránh không muốn nhìn nhận lòng cảm thấy trống vắng. Như Huy Cận  “Vậy đó tự nhiên mà họ lớn”. Cái “tự nhiên” sao mà thật “tự nhiên”. Đã hơn nửa đời người lẽ nào vẫn còn “tự nhiên” đến vậy. Lần đầu tiên trong đời chị cảm nhận một nỗi nhớ da diết dày vò tâm tư chị. Một sự tiếc nuối tưởng chừng như khiến chị ngạt thở. Thằng bé mỗi ngày càng bơ phờ thấy rõ, biếng ăn, lười chơi, đêm ngủ hay giật mình. Chị chợt nhận ra mình đã quá ích kỷ. Có lẽ không nên giành giựt những gì không thể giành giựt được. Về với Quân tương lai nó sẽ tốt đẹp hơn. Quân sẽ cho nó một mái nhà riêng và những gì nó mong muốn. Thơm muốn ứa nước mắt khi nghĩ đến lúc chị phải mất nó. Nhưng chị không thể vì chị mà không nghĩ đến tương lai của nó. Chị thầm mong Quân trở lại, lần này thôi, chị sẽ nói: “Tôi thua anh rồi!” và để Quân mang thằng bé đi càng xa càng tốt. Chị sẽ khóc, sẽ đau khổ lắm nhưng rồi chị sẽ quên, sẽ lại sống như những ngày tẻ nhạt trước đó. Không có bé Nhựt và không có cả Quân. Hôm trước, thằng bé ôm con gấu nhồi bông ngồi ở bậc thềm thì chú Sáu đến, thấy chú nó hỏi: “Ba! Ba Quân đâu?” Chú cười xoa đầu nó: “Bỏ rồi! Bỏ Nhựt rồi!” Rồi chú nhìn Thơm đang đứng cạnh đó. “Con có mẹ Thơm rồi”. Vẻ đắc ý của chú khiến Thơm phải nhìn xuống đất. Chị chỉ muốn nói với chú “Cháu đã sai rồi chú ạ!”
Hai mươi chín ngày rồi Quân vắng bóng. Mẹ Hai và mẹ Tư nói như vậy còn Huế y sĩ thì nói ba mươi ngày. Thơm thì cho là ba mươi mốt ngày. Chị tin là mình chính xác nhất. Từ buổi chiều Quân mặc chiếc áo sơ mi màu xanh dương và chiếc quần xam xám đứng vịn con ngựa gỗ cho thằng bé Nhựt cưỡi với vẽ mặt nặng trĩu. Chị biết, hôm đó chú Sáu đã nói những gì chú đã hứa với chị. Chú đâu biết là giờ đây chị cảm thấy thiêu thiếu một cái gì đó. Hình như là tiếng cười của Quân và thằng bé, hình như chiếc bóng của Quân ngã dài trên mặt sân, hình như… mọi cái điều hình như thoắt ẩn thoắt hiện ở trong chị, ở nơi người đàn bà không nhan sắc đã đi quá xa tuổi dậy thì. Chị bỗng dưng khắc khoải từng ngày, mong chờ từng phút mà hy vọng thì như ánh hoàng hôn sắp tắt ở cuối ngày.
Thơm vén mấy sợi tóc loà xoà trên má, nghe tiếng trẻ nhốn nháo chị biết chúng sắp sửa từ nhà ăn đi lên. Thơm định rời cửa sổ thì bỗng nhiên chị trông thấy Quân xuất hiện trên khoảng sân đã râm mát. Chị nhìn đăm đăm không chớp mắt như sợ chỉ cần chớp mắt một cái thì dáng người vừa xuất hiện kia sẽ biến mất như ảo ảnh. Trên sân Quân đang hối hả đi vào, về phía nhà trẻ, một tay xách vali, tay kia xách mấy túi nilon nằng trĩu. Anh có vẽ bơ phờ như vừa qua một chặng đường dài. Sau phút lặng người, Thơm như sực tỉnh quay đi toan tìm thằng bé thì nó đã cùng bọn trẻ chạy vào phòng. “Nhựt! Lại đây! Ba Quân! Ba Quân!” Chị gọi nó và chỉ tay ra cửa. Thằng bé ngẩn người ra nhìn chị một chút rồi chợt hiểu, nó ù chạy ra khỏi phòng. Bọn trẻ chạy theo nó nhưng đến cửa thì cả bọn dừng lại trố mắt nhìn nó đang lao vào vòng tay của Quân. “Ba! Ba!” Các thứ trên tay Quân bị vứt xuống sân. Anh nhấc bổng nó lên miết cằm vào mặt vào cổ nó. “Ôi! Nhớ quá! Nhớ quá!” Thằng bé cười nắc nẻ. “Bỏ! Bỏ rồi!” “Bỏ à! Ai bỏ? Bỏ ai?” “Ba! Bỏ! Bỏ Nhựt!” Quân bật cười. “Không bao giờ! Không bao giờ ba Quân bỏ Nhựt”. Thơm đứng bất động bên cửa sổ với đôi mắt vô hồn. Cuối cùng thì ánh sáng le lói cuối ngày cũng tắt. Cuối cùng thì Quân cũng trở lại. Chị sắp mất tất cả rồi. Có ai như chị, đợi chờ để bàn giao lẽ sống của đời mình. Có cái gì đó dâng lên ngực chị đầy ứ, tức uất. Chị bỏ đi như chạy trốn ra phía sau nhà, đứng tựa vào bồn chứa nước, úp mặt vào hai bàn tay chị khóc nức nở. Khóc thật to như ngày nào người ta cho chị hay bom rơi ngay nhà của chị mà mẹ chị còn ở trong đó, như lúc người ta đưa cho chị chiếc nón tai bèo và chiếc khăn rằn của ba chị. Những giọt nước mắt đã từ lâu lắm rồi không thoát ra khỏi đôi mắt khô khốc của Thơm giờ như nguồn nước có muốn ngăn cũng không được. “Mẹ Thơm!” Tiếng gọi của thằng bé lôi khuôn mặt đầy nước mắt của chị ra khỏi đôi bàn tay, Quân đang bế nó trên tay đứng trước mặt chị. Thơm nhìn cả hai như qua một tấm kính phủ hơi sương. “Xin lỗi!”. Quân có vẽ bối rối. “Tôi thăm thằng bé một lát… tôi biết chị phiền. Xin chị thông cảm! Tôi đi thành phố vừa về đến đây thì ghé lại. Tôi… có quà cho hai mẹ con”. Quân đặt bé Nhựt xuống đất để nó chạy đến với thơm. Chị bế nó lên, úp mặt vào vai nó thổn thức. “Anh mang nó theo đi. Nó nhớ anh lắm… Nó rất cần anh…” Rồi chị sụt sùi khóc. Những tiếng nấc bị nén lại trong lồng ngực khiến đôi vai chị run lên. Tai chị lùng bùng nhưng chị vẫn nghe được tiếng Quân rõ ràng, chậm rãi. “Đi xa lâu ngày tôi cứ nôn nóng, linh cảm có người đang chờ đợi tôi. Không phải là bé Nhựt! Vì thằng bé, tôi biết nó nhớ tôi lắm, nó rất cần tôi. Và nó cũng rất cần chị”. Quân bước tới một chút như sợ Thơm không nghe được lời anh. “Tôi cũng rất cần chị, nhưng… tôi không biết chị có cần tôi hay không?”
Thơm không trả lời, người người như nhẹ hẫng lâng lâng và chị như thấy trước mặt một giò phong lan thơm ngát.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
ĐÔI CHÂN MÀY LỆCH
Trần Lệ Thường
 

Họ không biết đã bỏ đoàn người bao xa rồi chỉ thấy còn lại hai người với rừng thông xanh ngắt. Mưa bụi bay bay, trời lành lạnh. Bích kéo cao cổ áo khẻ rùng mình. “Lạnh hả?” Thế hỏi, mắt nhìn chị đắm đuối. “Không! Có anh, em không thấy lạnh”. Bích trả lời nhẹ, không kém phần nồng nàn. Má đỏ hồng, nong nóng. Ngực phập phồng theo tiếng đập rộng ràng của trái tim “Em có đôi mắt đẹp, đen và buồn. Em có biết là có những đôi mắt sẽ ám ảnh ta đến hết một đời không? Một đời trăn trở và đau đớn.” Thế là như vậy đó. Thơ ở trong anh và anh ở trong thơ. Bích rất thích thơ anh, ngưỡng mộ anh. Từ lúc nào chị cũng không biết, có thể là từ lúc còn đi học, còn là thiếu nữ với mái tóc dài quá vai thơ thẩn đi trong sân trường. Bất ngờ gặp anh trong trại sáng tác này Bích bỗng thấy mình trở lại thời con gái, mơ mộng và yêu đương. Chợt nhận ra giữa Thế và chị có một sự đồng cảm sâu sắc. Nhưng Bích đã là một phụ nữ có gia đình và một con gái lên năm tuổi. Có lẽ nào một đời sẽ trăn trở và đau đớn như Thế nói?
“Mẹ ơi!” Tiếng gọi trong trẻo cắt đứt dòng suy nghĩ của Bích. Chị trở mình lên tiếng. “Bé Yến chưa ngủ hả?” Con bé đẩy cửa phòng nhào lên giường. “Con ngủ với mẹ!” “Gì nữa đây ?” “ Con ngủ với mẹ chừng nào ba về thì con lại ngủ một mình”. Bích cười quàng tay ôm lấy con. “Được rồi! Không kể chuyện cổ tích nghen!” Bé Yến giẫy nẫy lên “Không chịu! Mẹ phải kể chuyện ông chằng”. “Không sợ hả ?” “Không sợ!” “Ông chằng sẽ ăn thịt bé Yến.” Con bé ôm chầm lấy Bích. “Có mẹ là cô tiên sẽ giết ông chằng” Bích vỗ nhẹ lên lưng con. “Thôi! Được rồi! Mẹ sẽ kể chuyện, con ngủ sớm để sáng mai còn đến trường. Ngày xửa ngày xưa...”  Bé Yến nằm im lắng nghe rồi từ từ ngủ thiếp đi. Vẻ mặt sáng rở vô tư. Bích ngắm con giây lát. Bé Yến rất giống ba. Từ đôi mắt đến đôi môi, sóng mũi thẳng, gương mặt xương xương. Bởi Bích đã từng gởi hết tâm hồn mình cho Quảng. Tưởng rằng mình đã chính chắn khi lựa chọn ý trung nhân. Quảng là người ham mê với công việc, khô như cá khô quá nắng, không màng đến vợ là người thích viết văn, yêu thơ. Bích cảm thấy anh không hiểu chị và ngày càng xa cách nhau hơn.
Từ khi đi trại sáng tác về chị không bình yên, lòng chị đang có sóng. Những cơn sóng nhỏ âm ỉ chực chờ được bùng lên nổi dậy. Hai tuần ít ỏi đã làm thay đổi cuộc đời chị. Cứ khắc khoải đau đáu về một nơi xa tít sắp có mùa thu trải thảm lá vàng và mùa đông thì mặc áo màu trắng. Thỉnh thoảng Thế lại thả vào điện thoại Bích vài câu thơ đốt cháy thêm bếp than trong lòng chị. Một lời chúc buổi sớm mai thật đẹp cũng đủ làm Bích vui nhiều ngày sau đó. Nhưng rồi chị lại ủ ê bởi nỗi nhớ và sự khát khao gặp Thế dày vò khôn nguôi. Cuối cùng thì Quảng cũng nhận thấy. Anh nhìn chị chằm chằm dò xét trong bữa điểm tâm. “Em lạ làm sao? Như người mất hồn.” “Em mệt!” Bích trả lời gọn lõn, cảm thấy bực bội. “Công việc ở công ty nhiều à? Tối còn ngồi viết làm gì. Suy nghĩ cho thêm đau đầu.” Bích mai mỉa. “Anh quan tâm đến em sao?” “Em nói gì lạ vậy? Anh đầu tắt mặt tối chẳng phải vì em và vì con đó sao?” “Anh chỉ vì hám danh vụ lợi, chỉ biết có tiền bạc chớ nghĩ gì đến em và con”. Bích nói như tát nước vào mặt Quảng khiến anh sửng sốt. “Anh kiếm nhiều tiền cũng để lo cho gia đình mình. Em không thích như vậy sao? Hay em muốn mỗi ngày phải chạy gạo hai bữa.” Tim Bích thắt lại, nhói lên đến tận óc. Người gì mà mở miệng ra chỉ biết có buôn bán, chỉ biết tiền bạc. Không như Thế, tâm hồn đầy thơ, chất chứa muôn ngàn cái đẹp. Vẻ đẹp của thiên nhiên, của tâm hồn, của con người... Nếu như mà người ta có thể làm lại từ đầu, quay lại trang quá khứ của những ngày còn thiếu nữ, để còn tự do đến với Thế. Có những chiều tan sở, trời thật đẹp, mây trắng lửng lờ trôi chầm chậm, gió mát rượi khiến lòng Bích lâng lâng. Chị gọi điện thoại cho Quảng. “Anh đưa em và con đi chơi rồi ăn tối bên ngoài đi. Lâu rồi chúng mình không có đưa con đi chơi”. “Trời! Anh bận lắm, đang tiếp khách. Em đưa con đi chơi đi!” Bích buồn thiu, bần thần giây lát rồi nhắn tin cho Thế. “Khi nào có thể anh sẽ gọi điện cho em. Nhớ nhiều!” Thế nhắn tin lại. Thỉnh thoảng nói chuyện qua điện thoại với nhau. Bích nói không hết chuyện. Bao giờ chị cũng là người tiếc nuối.
Bích nhổm người lên vói tay lấy chiếc điện thoại định gọi cho Thế nhưng chần chừ mãi rồi thôi. Lúc nãy anh nói là tối sẽ gọi lại cho chị. Bích có cho Thế biết là Quảng vắng nhà. Không phải là lần đầu, Quảng thường xuyên đi công tác, đi tham quan. Năm năm sống với nhau Bích nhận thấy Quảng rất hời hợt. Không quan tâm đến vợ, không cần biết chị cần gì, thích gì. Có đêm về hơn một giờ sáng, người đầy mùi rượu, úp mặt vào Bích thở phì phò, tìm kiếm trên chị như một thói quen. Không cần biết cảm nhận của chị lúc này. Bích nằm như khúc gỗ đôi mắt rưng rưng. Những giọt nước mắt tràn ra khoé, lăn dài, thấm vào môi như vị mặn một nụ hôn đã tàn. Nào đâu “Con đường em về ban trưa, ngọc lan chín rụng trong vườn, tiếng dương cầm trôi lặng lẽ, đưa ta đến cuối đường.” Bài hát cả hai cùng ưa thích ngày mới quen nhau, lâu rồi chưa được ngồi cùng nhau nghe lại. Nào đâu những ngày mưa mùa tháng bảy, anh đèo chị trên chiếc xe đạp, nghe tiếng nước rào rào dưới bánh xe. Ôm chặt vòng bụng anh, chị không hề thấy lạnh, lại có cảm giác thật yên bình. Một buổi trưa ở công ty, nhìn qua cửa sổ thấy mưa bay nhè nhẹ, đường phố phủ một màu xanh tươi mát, những ngọn gió bấc chớm xuân khiến lòng Bích nao nao. Chị hớn hở điện cho Quảng. “Anh ơi! Trời đẹp lắm! Chúng mình ra ngoài một lát đi!” “Trời ơi! Em điên rồi hả? Anh đang họp có gì tối về nhà nói”. Bích tiu nghỉu, rủ xuống như cây bàng cuối thu, một mình đi ra ngoài nhắn tin cho Thế.
Sáng nay trước khi Quảng đi hai người lại to tiếng với nhau. “Em lại bắt đầu, cũng chuyện ngày đó mới quen nhau. Sao em cứ mãi như trẻ con không chịu trưởng thành. Tại sao chúng mình phải như những ngày mới cưới. Chúng mình đã có con và phải lo cho tương lai của nó.” “Đâu có nghĩa là phải bỏ quên nhau!” Quảng cau có trước cái nhìn xiêng của Bích “Sao lại là bỏ quên? Đâu thể nào ở bên nhau suốt ngày rồi nhìn trăng nhìn sao mà sống được. Em tỉnh lại đi! Cái tuổi mộng mơ đã qua đi rồi sao em vẫn còn mơ mộng”. Bích ngồi trước bàn trang điểm, chị hơi chồm tới trước để nhìn mình trong gương rõ hơn. Mãi nói chuyện, chị tô hai đường chân mày không đồng đều, bên đậm bên lợt. Bích cầm chiếc gương nhỏ tô lại. Chiếc gương này ít khi dùng đến nên đầy bụi. Một gương mặt đầy những chấm li ti. Thật hãi hùng! Là mình đó sao? Bích thảng thốt nghĩ thầm. Ngay lúc ấy bé Yến chạy ùa vào phòng, nắm cánh tay mẹ lắc. “Đi đi mẹ! Lâu quá vậy! Trễ giờ rồi!” Nó đã sửa soạn xong, đợi mẹ đưa đến trường. Chiếc gương tuột khỏi tay Bích rơi xuống nền nhà vỡ tan. Quảng xách hành lý đến cửa phòng, quay lại nhìn. Thấy bé Yến sợ hãi lấm lét nhìn mẹ, anh bảo: “Không sao! Bể rồi thì thôi! Bé Yến ở nhà ngoan, ba đi về mua quà!” Sau phút lặng người Bích ngồi xuống nhặt những mảnh gương vỡ. “Con ra ngoài đợi mẹ, ở trong này không khéo lại đứt chân”. Chị thấy gương mặt mình bị chia làm nhiều mảnh trên từng mảnh gương vỡ.
Kéo mền đắp cho bé Yến xong Bích trở dậy đến ngồi trước bàn trang điểm chải tóc. Nhìn mình trong gương Bích chợt mỉm cười. Thế nhắn sẽ gọi điện chứ có gặp nhau đâu mà trang điểm. Tuy vậy, chị vẫn thoa nhẹ lên môi một lớp son mỏng, kẻ lại đôi chân mày cong vòng nguyệt. “Anh ước gì được là Đường Minh Hoàng”. Có lần nghe Thế nói, Bích đã nhìn anh bằng cái đuôi con mắt. “Để vẽ chân mày cho Dương Quý Phi chứ gì?” Thật đơn giản dễ dàng mà chẳng bao giờ nghe Quảng nói. Không lẽ dưới con mắt của Quảng, chị không thể là một nàng Dương Thái Chân kiều diễm hay sao? Còn dễ dàng hơn, ngắn gọn hơn. “Em đẹp quá!” “Rất đẹp!” Trong một thời gian ngẵn Thế có thể lập lại nhiều lần. Còn Quảng năm năm trời, Bích nhớ anh chỉ khen một lần hôm đám cưới.
Tiếng đàn phát ra từ chiếc điện thoại di động không cho Bích suy nghĩ nữa. Chị vội vàng bỏ bút chì xuống hớn hở nghe máy. “Đang làm gì?” Tim Bích đâp rộn lên khi nghe giọng nói ấm áp của Thế. “Đang chờ anh!” ‘Thật à? Chưa ngủ hả? Nửa đêm rồi đó!” “Không ngủ được!, nhớ” “Anh cũng vậy! Giá mà anh đang ở miền Tây để đến với em”. Giọng của Thế hơi kéo dài. “Anh say rồi hả?” Bích giận dỗi. “Uống rượu thì có nhưng say thì không. Anh đang đứng ngoài sân nhà một người bạn để nói chuyện với em đây”. “Đêm nay không về nhà à?” “Chuyện thường ngày!” “Bích chợt đổi giọng tha thiết. “Chúng mình gặp nhau đi, Thế!” “Có tiếng Thế cười “Anh lấy lý do gì để đi?” “Vì em!” “Vì em?” Thế nhắc lại cùng với một tiếng cười. “Anh có thể nói như thế với vợ anh sao?” Tim Bích nhói lên, không buốt lên tận óc như mỗi lần gây sự với Quảng mà ngoáy sâu, thật sâu ở đó làm đau đớn khôn cùng. “Đừng có mà nheo! Em có một chỗ đứng riêng trong lòng anh”. “Em không thể sống như vầy mãi được, em cần có anh!” Không nghe Thế nói gì, chỉ có tiếng thở dồn dập. “Em không cần gì hết, em chỉ cần có anh thôi, chúng mình sống với nhau đi, em sẽ mang bé Yến đi theo”. “Em rắc rối quá!” Giọng Thế lè nhè như đã uống quá nhiều rượu. “Hay để bé Yến lại cho ba nó cũng được. Em sẽ chết dần chết mòn mất thôi”. “Anh không thể!”. Bích tái mặt muốn bật  khóc. “Anh không thể!” Chị nghẹn ngào lập lại lời Thế. “Phải!” “Anh đã từng nói muốn có em mà?” “Nhưng không phải vì vậy anh sẽ bỏ gia đình mình. Anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó”. “Anh… Đồ tồi!”. “Anh xin lỗi!” “ Sau những gì xảy ra giữa anh và em thì anh nói xin lỗi là hết rồi sao?” “Thôi mà anh cũng vẫn liên tục với em, sẽ gữi cho em thật nhiều hoa sữa vào trong giấc mơ…” Toàn là những lời hoa mỹ đẩy đưa, dối trá. Những lời lẽ đã từng khiến Bích rung động đảo điên. Bích cúp máy, không muốn nghe Thế nói nữa. Trong cơn say anh đã bộc lộ rõ chân tướng. Chị thẩn thờ nhìn vào gương. Một gương mặt bơ phờ ngơ ngác. Đôi chân mày lại bên đậm bên lợt. Một chiếc chân mày chị chưa kịp tô thì có điện thoại của Thế. Như một diễn viên hài với một vai diễn quá tệ. Thật thảm hại! Vì một trò đùa chị đã muốn rời bỏ tổ ấm của mình.
Tiếng chuông điện thoại đột ngột vang lên khiến Bích giật mình. Thế không biết số điện thoại cố định, còn Quảng thì đi xa không khi nào chịu gọi điện thoại về nhà. Đừng có ai nói là Quảng gặp chuyện gì. Phập phồng lo sợ, chị ngập ngừng nhấc ống nghe lên. “Anh đánh thức em rồi phải không?” Bích thở phào nhẹ nhỏm, mừng đến phát khóc khi nghe được giọng nói quen thuộc của Quảng với chữ  “r” được phát âm thật rõ ràng. “Em chưa ngủ!” “Anh xin lỗi! Sáng nay anh đã quá lời…” “Không phải! Lỗi tại em…” “Anh đã mua cho em một chiếc gương nhỏ thật xinh xắn, chắc chắn em sẽ hài lòng”. Sự xúc động khiến Bích không thể nói được lời nào. Chị nghe giọng Quảng vô cùng phấn chấn. “Anh đã tìm mua được mấy tập thơ hay lắm để tặng em”. Bích giật nảy người như đạp phải than nóng. “Không cần đâu anh!” “Anh nghĩ là em thích mà!” “Thích… nhưng có lẽ em  không có thời gian để đọc”. “Dầu sao anh cũng mua rồi, khi nào đọc cũng được, chiều mai anh về đến sẽ đưa em và con đi ăn tối bên ngoài”. “Em sẽ nấu mấy món anh thích chờ anh về. Gia đình mình ăn tối trong nhà sẽ ấm cúng hơn”. “Cũng được, tuỳ em! Hôn con hộ anh nghe! Chúc ngủ ngon!”
Bích nhìn vào gương tô lại đôi chân mày cho đồng đều trước khi chùi xuống giường, dụi mặt vào tóc con thổn thức. Những giọt nước mắt ân hận pha lẫn hạnh phúc. Bé Yến cựa mình ú ớ rồi tiếp tục ngủ say sưa.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
THẰNG TỬNG
Trần Lệ Thường
 
Khi bà Thầy Bói dắt nó về xóm lao động nghèo trong con hẻm này thì thằng Tửng mới đi học lớp một. Còn má nó mới ngoài ba mươi tuổi nhưng người ta vẫn gọi bằng bà. Bà “Thầy Bói”. Cái lẽ thường là thế, người này gọi sao người kia gọi vậy. Có những cái tên không do cha mẹ đặt ra nhưng sẽ theo người đó đến hết đời. Như những câu ca dao tục ngữ không in thành sách, không tác giả mà người đời vẫn đọc, vẫn truyền miệng nhau, vẫn tồn tại đời đời kiếp kiếp. “Tưởng giếng sâu anh nối sợi dây dài. Ai đâu giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây”. Hay “Con Chim Se Sẻ nó đẻ cột đình. Bà ngoại đẻ má, má đẻ mình anh biết không?” Người ta thường nghe bà đọc bằng cái giọng ồm ồm đùn đục của đàn ông để dỗ thằng Tửng. Thì bà cũng là mẹ và cũng là ba của nó.
Ở đâu bà về không ai biết cũng như bà làm thầy ở đâu chứ ở xóm này không thấy bói cho ai. Vẻ đồng bóng trên gương mặt xương xương và đôi tròng mắt trắng đục khiến mọi người không có thiện cảm với bà. Thằng Tửng, nó cũng có cái vẻ gì đó như “dở hơi, tưng tửng” làm sao, có lẽ vì vậy má nó gọi thằng Tửng. Nó dám đánh thằng mập hơn nó gấp ba lần vì bênh con Cam trong xóm. Thằng nọ cứ thấy con Cam là nắm đuôi tóc giựt giựt chọc ghẹo. Nhà thằng Mập giàu, ở đầu ngỏ. Ba má nó đi làm việc Nhà nước.  Má thằng Mập dẫn con xuống mách với bà Thầy Bói bắt đền nhưng thấy bà nghèo quá nên thôi, chửi vài câu rồi đi mua bông băng bịt cái trán bị tét của con lại. Mặc dầu vậy thằng Tửng cũng bị một trận đòn ra hồn. Nó học giỏi còn thằng Mập học kém. Đường, sữa, xúc xích khiến cho thằng Mập ngày càng đần độn. Sáng ra vào lớp thằng Tửng hất mặt lên nhìn chiếc trán bị băng của thằng Mập. Suốt bậc tiểu học nó đều lãnh thưởng hàng năm. Tuyệt nhiên không thấy nó có họ hàng xa gần gì đến thăm. Sáng bà Thầy Bói ra khỏi nhà khi mặt trời chưa lên, chiếc nón lá trên đầu, tay xách giỏ đệm. Chiều, có khi sập tối, bà về đi qua những căn nhà đã bật đèn sáng choang và mùi thức ăn thơm phức. Chiếc giỏ đệm thấy nằng nặng, chẳng biết  cái gì ở bên trong. Ai đó đứng trước nhà lên tiếng hỏi thăm, bà liền cười đáp lại. Hàm răng thô đã xỉn vàng. Từ căn hộ cuối cùng thằng Tửng đi ra đón giỏ xách từ tay má nó. Nó kể chuyện thầy giáo đến thăm, đưa đón nó đi bồi dưỡng môn Văn và Toán để thi học sinh giỏi cấp Tỉnh... cuối cùng thì nó nói “Con đói lắm rồi vì má về trễ quá!” Bà Thầy Bói vỗ lên đầu nó rồi lấy từ trong giỏ đệm ra một chiếc bánh nếp nướng. Nó cười nhảy lên trông như thằng Bờm khi thấy gói xôi từ trong tay Phú Ông.
Một tối, thằng Tửng chạy về kêu bà Thầy Bói “Thím Ba, má con Cam đau dữ dội lắm, đi cạo gió đi má!” Má nó lắc đầu từ chối. Hình như bà có mặc cảm về công việc của mình nên không đến nhà ai. Thằng Tửng năn nỉ lôi kéo mãi cuối cùng bà phải xiêu lòng. Thím Ba gánh hàng rong, chú Ba thì đi khuân vác, bốn đứa con. Con Cam là đứa lớn nhất. Buổi chiều đi bán về Thím bị mắc mưa, gần đến nhà nên Thím cứ đội mưa đi luôn. Ai ngờ Thím bị chóng mặt, người toát mồ hôi còn muốn nôn. Đôi bàn tay thô, rám nắng với những ngón nần nẫn của bà Thầy Bói cạo gió tới đâu Thím Ba thấy dễ chịu tới đó. Cơn đau dịu dần, đôi gò má hồng hào trở lại. “Giả gừng nhỏ uống với nước trà cho ấm”. Bà đi về trong khi cả nhà rối rít cảm ơn.
Mấy ngày sau, sáng sớm Thím Ba đến nhà bà Thầy Bói vì sợ lát nữa bà đi khỏi. Thím mang nải chuối siêm, một ít táo, lấy cớ xem một quẻ. Nhưng không thấy có bàn thờ nào ngoài ông Thần Tài, Thổ Địa, trước nhà là bàn thờ ông Thiên. Nhà cửa bày trí sơ sài nghèo nàn nhưng không có vẻ đồng bóng. Bà Thầy Bói xua xua tay không nhận trái cây và cũng chẳng xem bói. Bà nghỉ lâu rồi, không còn xem được nữa.
Lên cấp hai thằng Tửng chạy xe đạp đi bán bánh mì. Má nó sau một cơn bệnh nặng chân trái bị đau khớp đi đứng rất khó khăn, bà phải dùng gậy chống. Tuy vậy sáng sáng bà vẫn ra khỏi nhà rồi về trong ánh nắng chiều nhàn nhạt. Lặng thầm và buồn tẻ trong cái góc cuối cùng của dãy phố. Ngọn gió đông lành lạnh mang hơi hướm của mùa xuân về cho chồi non đâm lá cho mai vàng nở rực rở, cho đứa trẻ trưởng thành và người già chợt nhận ra mình còm cõi. Cả dãy phố dài hơn mười căn chỉ còn lại nhà thằng Tửng giữ nguyên hiện trạng cũ. Nhà nhà đều thay đổi xây cất mới. Thời mở cửa, xã hội đi lên hiện đại hóa. Mấy đứa con gái mặc áo thật ngắn, tóc hung đỏ nhìn thằng Tửng như nhìn một người ở hành tinh khác rơi xuống. Nó không nhìn họ, những đường Parabol nó đã quá thành thạo. Nó và họ là hai đường thẳng song song mà hai đường thẳng song song thì không bao giờ gặp nhau. Nó kết luận, muốn đi hết đường kính của cuộc đời nó phải đi quan tâm điểm. Tâm điểm là miếng cơm manh áo hàng ngày đè lên đôi vai má nó. Thằng Tửng làm được nhiều việc, sửa cái hàng rào, xây lại bậc thềm, khuân vác... có khi nhận tiền, có khi không. Trời mưa mưa ầm ầm, nó leo lên nóc nhà đậy lại miếng Tol bị tróc dùm cho bác Tám giữa ánh chớp sáng và mưa quất vào mặt xối xả. Nhà này chỉ có mấy đứa con gái. Bên này con Cam đang ngồi may đồ, môi dưới trề ra. Lên lớp mười học không nổi con Cam nghỉ học đi học may. Nghề này xem ra thích hợp với nó. Nó may đẹp, có nhiều khách, mặc dù toàn là những người trong xóm “Đồ dở hơi!” Nghe con Cam vừa đạp máy may rột rột vừa lầm bầm nho nhỏ Thím Ba cười. “Nó là đứa tốt! Sau này ai làm vợ nó có phước”. Ai làm vợ thằng Tửng thì còn chưa biết chứ không phải con Cam. Thằng Tửng vừa tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông thì con Cam lấy chồng về bên xóm Bành Tầm. Lần đầu tiên, từ nhỏ đến bây giờ con Cam thấy thằng Tửng đẹp trai trong ngày đám cưới của nó. Thằng Tửng mượn đâu ra chiếc quần tây đen và chiếc áo sơ mi xanh mới toanh, thêm đôi giày bóng lộn, tóc chải keo mướt rượt bày vầng trán cao và đôi mắt sáng . “Chim đẹp nhờ lông”. Con Cam nhớ đến câu nói ấy khi đến bên thằng Tửng chụp ảnh kỷ niệm. Rồi hình ảnh thằng Tửng lăn xã vào thằng Mập ở đầu ngỏ năm nào trở lại trong nó. Bồi hồi, ray rứt. Rượu vào vài ly thằng Tửng cao hứng. “Ra đường thiếp hãy còn son. Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng”. Con Cam bỗng muốn khóc. Nó chưa đầy hai mươi tuổi. Cái tuổi khi quyết định việc gì chưa được xem là chính chắn.
Thằng Tửng muốn nghỉ học. Cuộc sống gia đình khó khăn, má nó đau yếu khiến nó chùng bước. Phải có công việc gì làm  để nuôi má nó. Đôi lần nó cũng có phàn nàn về cái gọi là “Thầy Bói”. Sợ bạn bè biết được cười chê. Bà Thầy Bói vỗ về, “Má đi xa, xa lắm mới xem bói. Con yên tâm”. Nghĩ cho cùng thì má nó làm gì cũng là để nuôi nó. “Con cò đi ăn đêm. Đụng phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi mau. Tôi có bề nào ông hãy xáo ăn, có xáo thì xáo nước trong. Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”. Thằng Tửng thương má nó quá. Vài lần nó dọ hỏi về thân thế, má nó ngậm ngùi nói qua loa. Ở xa lắm, bên dòng sông Nhật Lệ, ngày ấy chưa bắt cầu qua sông, gia đình nội ngoại nó không ưa nhau nên cuộc hôn nhân không ai chấp nhận. Bà Thầy Bói qua sông bắt đầu một cuộc sống chung không hợp pháp. Bỗng dưng rồi bà sinh ra tính khí thất thường, nói nhảm, xem tay, bói toán, không thích gần chồng. Năm thằng Tửng lên ba, không chịu nổi sự đồng bóng của bà, ba nó bỏ đi. Bà Thầy Bói bỏ quê dắt thằng Tửng vào nam tự dạo đó. Ngùi ngùi thương thân, thương mẹ, nó muốn làm một việc gì đó để đở đần cho mẹ, để nuôi lấy thân. Thầy cô hết lòng khuyên bảo, phải vào đại học cuộc sống khác mới bắt đầu được. Bạn bè động viên giúp đở. Thầy hiệu trưởng đứng ra bảo lãnh lo toan, cuối cùng thằng Tửng đi Sài Gòn thi đại học.
Con Cam rảnh rỗi về thăm má nó, Thím Ba khoe. “Thằng Tửng đậu đại học rồi”. Con Cam chớp chớp mắt che giấu xúc động rồi góp lời. “Bây giờ học sinh nghèo học giỏi rất nhiều. Con đọc báo thấy có người đậu cả ba trường như là Nguyễn Văn Đừng, Trần Trung Chỉnh”. “ Mày có tiếc không?” Con Cam mở to mắt nhìn Thím Ba không hiểu má nó hỏi nó tiếc vì bỏ học nửa chừng hay vì lấy chồng sớm. Nó không trả lời nhưng Thím Ba cũng không buồn hỏi nữa. Thím biết, con nít quá vội vàng không nhìn xa trông rộng, chứ còn thằng Tửng từ nhỏ Thím đã biết nó không “tửng” mà là gàn. Cái gàn của một thằng học trò nghèo học giỏi.
Nói năm điều bảy chuyện rồi con Cam rủ má nó đi thăm một người bà con bên chồng mới sinh được mấy ngày. Hơn ba giờ chiều, chợ Minh Lương tấp nập người mua bán, cái nắng gay gắt như đốt cháy da thịt. Con Cam nào kiếng mát, nào khăn che mặt, nào găng tay lùi lũi dắt xe gắn máy len vô chợ. Thím Ba đi sau nó đưa mắt nhìn bâng quơ. Chợt Thím trông thấy ở một góc nhà bà Thầy Bói  đang ngồi thu lu, chiếc nón lá rách te tua chùm hụp, trên người là chiếc áo bạc màu vá đùm vá đụp, trước mặt là chiếc lon sữa bo rỉ sét còn trống không. Đôi bàn tay đặt trên đùi nần nẫn to bè. Còn lẫn vào đâu được. Dù bà Thầy Bói không ngẩng lên. Thím Ba chết lặng một lúc lâu. Trời đất ! Lẽ nào…? Hình ảnh thằng Tửng vụt hiện ra thật to thật rộng choáng hết tâm trí Thím. Cũng có lần nó nói với Thím về chuyện người ta gọi má nó là bà Thầy Bói. Nó phân trần, thật ra má nó đi giúp việc nhà cho người ta, nhưng từ ngày chân bị đau đến nay bà Thầy Bói không thể giúp việc nhà được nữa…? Thím Ba hiểu ra mọi điều . Len lén, Thím bước tới bỏ tờ giấy bạc vào trong chiếc lon. “ Xin cảm ơn!” Rõ ràng là giọng ồm ồm của bà Thầy Bói. Thím vội vã bỏ đi vì con Cam đang quay lại nhìn quanh quất tìm Thím.
Lòng nặng trĩu như treo đá, chiều tối nhác thấy bà Thầy Bói khập khiểng từ xa Thím Ba liền bỏ đi vào nhà. Không biết có phải vì ngại bà Thầy Bói biết Thím đã biết chuyện hay vì một lẽ gì đó Thím cũng không biết nữa, Thím ngồi đứng không yên khi canh cánh bên lòng điều không thể nói ra được. Tối đi nằm, Chú Ba mở lời. “Bà làm như có điều gì không yên ?” Thím im lặng một lúc lâu rồi lắc đầu. Ở xóm này không ai biết trừ Thím. Người ta cứ tưởng bà lén lút đi xem bói ở đâu đâu. Thằng Tửng cũng ngỡ vậy. Sáng cũng áo bà ba phẳng phiu, quần đen bóng, nón lá mới. Chiều về hớn hở với giỏ xách nặng trĩu. Thím cứ lăn qua trở lại, mấy lần thấy chú Ba ngáy pho pho Thím muốn gọi dậy để nói nhưng rồi lại thôi. Lâu rồi câu chuyện cũng tạm yên  trong lòng Thím. Thỉnh thoảng Thím đi Minh Lương đi một mình bằng xe buýt.
Mấy năm thằng Tửng đi Đại Học có xóm giềng giúp đở má nó. Đứa con gái lớn của Bác Tám làm việc ở Thành Phố, lấy chồng giàu có. Hôm nọ về thăm nhà có mua cho bà Thầy Bói một ít Tol để lợp lại nóc nhà. Con Tâm đứa con gái út học sư phạm thường xuyên đi lại nhà bà Thầy Bói hơn cả. Thằng Tửng cũng có nhờ điện thoại nói chuyện với má nó là ở trên này làm thêm được nhiều việc, trang trải được sinh hoạt, má nó đừng bận tâm, đừng gửi tiền cho nó hoài. Năm nào thằng Tửng về nghỉ hè Thím Ba cũng muốn nói với nó nhưng lần lựa mãi rồi cũng thôi. Quấy động làm gì mặt hồ đang lặng sóng. Thỉnh thoảng mới về thăm nhà nhưng con Cam cũng tinh ý, “Con Tâm sao đến nhà bà Thầy Bói hoài ?” “ Nó thích thằng Tửng chứ còn sao nữa. Thằng Tửng chắc cũng biết mà không nói gì”. Con Cam lườm vào khoảng không. “Sao má biết người ta không nói?” “Tao hỏi con Tâm mà cái thằng này cũng lạ đời lắm”. Thằng bé trên tay con Cam khóc, nó đứng lên dỗ dỗ con, mà môi dưới tre ra. “Dở hơi !” Nếu tinh ý một chút Thím Ba sẽ nhận ra con Cam sử dụng cặp từ này không phải bằng cái giọng mỉa mai, dè bỉu. Nó quen miệng rồi mỗi khi nhắc đến thằng Tững.
Hết năm nay thằng Tửng sẽ ra trường, thầy hiệu trưởng của nó từ thời Trung Học Phổ Thông đang tìm cho nó một Công ty để về làm việc mặc dù không phải dễ. Nhưng mùa hè chưa kịp đến, hoa phượng chưa nở trên cành nó đã về vì một tin báo.
Hơn ba giờ sáng thằng Tửng về tới, lên phòng cấp cứu bệnh viện Tỉnh. Thím Ba đang ngồi bên cạnh má nó trong căn phòng lạnh băng. Bà Thầy Bói nằm trên giường trãi khăn trắng muốt, mắt nhắm nghiền, đang thở ôxy. Nước mắt ứa ra thằng Tửng mím chặt môi để không bật ra tiếng khóc. Mắt đỏ hoe Thím Ba nhìn nó với ánh mắt đủ cho nó hiểu hết mọi chuyện, có nghĩa là nó về muộn, là má nó đã đi… Khi mọi người phát hiện được thì bà Thầy Bói đã hôn mê gần cả ngày rồi. Hôn mê sâu! Tuy tim còn đập nhưng không có khả năng hồi tỉnh. Thím Ba thì thầm cho biết, ở nhà bà Thầy Bói có khách. Cầu đã bắt qua sông Nhật Lệ, hai nhà tìm kiếm nhau. Mãi rồi họ cũng tìm được bà Thầy Bói. “Là ông ấy, là ba của con!” Nước mắt lưng tròng thằng Tửng bật lên những tiếng khô lạnh. “Ba của con!” “Chắc là có để địa chỉ lại cho má con, rất tiếc hai mẹ con đã không gặp được nhau”. Tiếc à? Trong thâm tâm thằng Tửng muốn gào lên mot ngàn lần không có điều gì phải tiếc. Một đời đói no, ấm lạnh có cũng chỉ có một mình mẹ nó mà thôi. Cầm bằng má nó uống nước trong gáo dừa mà sinh ra nó, cũng may nó được sinh ra không phải ở trong lốt cái sọ dừa. “Tửng con có định về quê không ?” Thím Ba thì thầm bằng giọng lo ngại. Nước mắt thấm qua môi nhưng giọng thằng Tửng chua chát. “Về quê?” Còn quê nào nữa! Những ngọn gió mang hương vị mằn mặn đã nuôi lớn nó. Chiều tan học về, đứng trên cầu xem mặt trời lặn bất giác lại trông xuống đường như để tìm trong dòng người xuôi ngược một khuôn mặt quen. Nào xóm kho dầu, xóm bánh tầm, dữ tợn hơn xòm lò heo và vô cùng lãng mạn là xóm biển. Những tên gọi thân quen, gần gũi như những sợi tóc ở trên đầu. Thằng Tửng nắm bàn tay giá lạnh của bà Thầy Bói đưa lên áp vào má, “Con chim se sẻ nó đẻ cột đình, bà ngoại đẻ má, má đẻ mình em biết không”. Nó khóc, loáng thoáng nghe Thím Ba nói hết chuyện nọ đến chuyện kia ở nhà. Nhưng có một chuyện Thím Ba không nói. Thật ra Thím Ba muốn nói nhưng không nói được. Có cái gì uất nghẹn nơi cổ Thím. Lần nọ, Thím vừa bỏ giấy bạc vào lon định quay đi thì bà Thầy Bói ngẩng lên “Thím Ba! Tôi biết là Thím từ lần đầu. Không cần làm như vậy đâu, chỉ xin Thím đừng nói cho thằng Tửng biết”. Từ lần đó bà ít khi ra khỏi nhà. Sau lần người thân tìm gặp bà đột nhiên ngã bệnh.
Phòng trực mời thằng Tửng vào ký giấy tờ gì đó. Thím Ba đi theo, qua đôi vai rộng Thím thấy nó ký rồi viết tên vào bên dưới. Trần Trung Chỉnh!.
Sau đám tang thằng Tửng trở lên trường. Nắng đã lên, cái nắng gay gắt bắt đầu cho một mùa hè mới. Cái nắng mở cửa cho những chú ve sầu xum xoe bên các nàng phượng đỏ kiều diễm. Nó xách hành lý đi ra ngõ. Con Cam đứng trước nhà tay dắt một bé trai, chiếc bụng lum lúp. Mấy ngày đám tang Cam có đến nhưng không có dịp nào để nói chuyện với nhau. Mặc dầu vậy thằng Tửng vẫn có lúc thấy mắt Cam đỏ hoe nhìn nó buồn rười rượi. Con Cam thấy ánh mắt thằng Tửng rớt xuống bụng nó, nó vụt sụp mi nhìn xuống đất. “ Ra đường thiếp hãy còn son…” Nó ghét thằng Tửng quá chừng vì đã đọc câu đó hôm đám cưới nó làm nó chụp tấm ảnh ở bàn thằng Tửng xấu quá. Thằng Tửng thấy con Cam nhìn đi nơi khác nhưng vẫn mỉm cười. Nụ cười buồn bã “Thương em tôi tìm được lá diêu bông sao em nở vội lấy chồng”. Thím Ba ở trong nhà hối hả đuổi theo. “ Tửng! Tửng!” Nhưng khi thằng Tửng dừng lại chờ đợi thì Thím ấp úng. “ơ… a trường con có trở về đây không?” Thím không định hỏi như vậy nhưng chuyện muốn nói Thím không nói được. “Con sẽ về, sống trong căn nhà của má con”
Thằng Tửng bước đi, nó nghe tiếng giày vang trên nền xi măng khô khốc. Lẫn trong tiếng giày của nó có thêm tiếng giày khác. Con Tâm lẻo đẻo đi phía sau im lặng. Tâm đã đi dạy một năm nay. Thằng Tửng biết nhưng không quay lại. Nó không biết phải nói gì, hơn nữa có nói gì thì nó cũng đi mà. Đừng làm một cuộc chia tay. Nó không lãng mạn, không mơ mộng, không thích “chia tay hoàng hôn” hay chia tay bình minh. Nó sợ, một ánh mắt nhìn níu kéo bước chân nó. Đến đầu ngõ thằng Tửng chợt đứng lại và chợt nhận ra nó với con Tâm đang đứng trước nhà thằng mập. “Ba nó bị ở tù, má nó đã chuyển nhà đi nơi khác”. Con Tâm trả lời mà mắt nhìn đi đâu không nhìn người đối diện. Tưởng sao, hai đứa nói với nhau một câu lãng xẹt. Nhưng cũng nhờ vậy có được một điều để thằng Tửng hỏi cho có chuyện. Mãi rồi thằng Tửng mới bối rối nhìn cô láng giềng xinh đẹp, khẽ khàng lên tiếng. “Tôi đi nghen!”
Con Tâm chớp chớp mắt. Đôi mắt long lanh như mặt hồ. Trời đang nắng đẹp, cái nắng vàng hanh của một mùa hè đang bắt đầu. Và gió, gió thổi những sợi tóc loà xoà trên trán, mái tóc con Tâm bay bay như quyến luyến. Những cơn gió mang hương vị quê hương mằn mặn sẽ theo thằng Tửng đến chốn thành đô. Con Tâm đứng trông theo đến khi thằng Tửng mất hút ở cuối đường, chiếc bóng ngắn ngủn nằm trên mặt đường lẻ loi, cô độc.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
BÔNG LỤC BÌNH
Trần Lệ Thường
 
Nắng trưa trải vàng lên cánh đồng xanh mướt, gió lướt qua mặt Vui mát rượi. Cảm giác quê hương sao thật yên lành như câu hát “Quê hương là chùm khế ngọt cho tôi trèo hái mỗi ngày”. Đi mới có vài tháng mà đã nhớ nhà quá đỗi như thể đã xa hàng thế kỷ. Hôm đám cưới con Tằm, Vui không về được, gặp nó thế nào cũng biết tay. Tằm thường hăm dọa như vậy lắm và mỗi lần nó nói Vui đều cười nắc nẻ “Hù hả?” Con Tằm thi rớt không vào đại học được, chẳng biết có phải vì vậy mà nó có chồng hay còn lý do nào khác. Mới tí tuổi đầu mà đã sống chung chỉ để dành ăn dành chơi. Vui cười một mình khi nghĩ về Tằm, đứa bạn thân nhất của Vui “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Bên bờ kênh, dưới bóng dừa một người đàn ông đang lúi húi cắt lục bình xếp vào trong chiếc thúng tre. Trên bè lục bình có vài cái bông tim tím thật xinh nhưng hình như người đàn ông không màng tới. Vui thả những bước chân dài trên đường đất nóng ran, dừng chân lại bên người đàn ông. “Chú Sền!” Vui gọi. Người đàn ông ngoái cổ ra sau một cách chậm chạp “Vui hả! Mới về hả?” “Dạ! Cháu mới về tới đây. Chú ơi! Chú hái cho cháu mấy cái bông lục bình kia đi!” “Ờ ờ! Con gái đứa nào cũng thích bông lục bình”. Chú với hái mấy cái bông rồi đứng dậy khập khểnh đến bên Vui. Vui hớn hở cầm mấy cái bông tắm tắc. “Đẹp quá! Đẹp ghê đi! Cháu cảm ơn! Chú khỏe không chú?” “Như voi, cháu thấy rồi đó. Chú vừa đào xong một cái ao nuôi cá mới, chỉ một mình chú” “Chú giỏi thiệt!” “Chừng nào cháu trở lên trường?” “Chiều mai chú à! Đi xe đêm để kịp sáng đi học”. Chú Sền thở ra. “Đi đường vất vả quá mà ở nhà không được bao lâu”. “ Nhưng không về thì nhớ lắm. Thôi! Cháu về thăm ngoại với má đây. Gặp lại chú sau nghen!” Vui cười ròn xách túi và mấy cái bông chạy đi. Gió thổi chiếc nón ngược ra sau rơi xuống đất. Khi quay lại nhặt nón lên Vui thấy chú Sền vẫn còn đứng tần ngần trông theo.
Chú Sền tuy xấu xí nhưng tốt bụng và rất thích trẻ con, ngày còn nhỏ Vui cùng mấy đứa khác thường theo chú đi bẻ bông điên điển, những cây bông vàng mọc hai bên đường đi. Còn đến nhà chú hái chùm ruột, leo khế, chơi mèo bắt chuột trong sân. Trời mưa thì theo chú đi soi ếch bắt nhái. Đôi khi đi học về gặp chú, chú cho quà. Bọn trẻ, trong đó có Vui xem chú như ông già Noel của một xứ sở đầy tuyết trắng. Tuổi thơ nào cũng đẹp nhưng qua mau như miếng kem ngọt lịm tan nhanh. Lớn lên Vui dần dần xa chú vì bận học hành và không còn thú vui con nít nữa. Ở đây chỉ có một mình Vui đi đại học, thầy cô nào cũng nói Vui thông minh, học rất giỏi. Bởi vậy dù đã có gia đình riêng tư cậu Hai vẫn quyết tâm lo cho Vui vào đại học. Nói là ra riêng chứ cậu chỉ cất nhà sát bên để tiện săn sóc ngoại và má.
“Ngoại ơi! Má ơi! Con về nè!” không thấy ai ở nhà trước Vui đi tuốt ra nhà sau. “Chưa thấy người đã nghe tiếng rồi”. Bà ngoại đang đứng bên bếp, mái đầu bạc gần hết, miệng cười hiền từ hằn sâu những nếp nhăn trên má. “Ơ ngoại! Ngoại nói như vậy con ế chồng luôn. Má! Con về rồi nè!” Người đàn bà đang ngồi nhặt rau trên bộ ván nhìn vui cười ngây ngô.  “Về rồi hả? Lát nữa ăn cơm”. “Biết con về ngoại chuẩn bị thức ăn cho con đây. Cá của cậu mợ hai đưa sang còn mấy con lươn của chú Sền đưa hồi sáng. Thỉnh thoảng cứ đưa cái này cái kia hoài mà trả tiền chú không lấy”. Bà loay hoay bên bếp trong tiếng dầu xôi xèo xèo, mùi thức ăn thơm phức. Vui đặt các thứ lên bàn rồi đến bên má. “Má! Má nhớ con không?” Vẻ mặt ngờ nghệch, má cười, đầu lúc lắc. Vui nắm cánh tay má lắc mạnh. “Má làm bộ nè! Má nhớ nè! Con là con của má mà má không nhớ con sao?” “Hông! Hông nhớ!”  Má cúi xuống vờ lặt rau, người lắc lư như một con lật đật. “Má không nhớ con, con đi nữa.” “Nhớ mà, nhớ nhiều… ăn cơm, ăn cơm rồi đi”. Má lật đặt nắm lấy tay Vui. Những sợi tóc bay lòa xòa trên má. Tóc má còn xanh đen, rối bù được buộc ra sau gáy bằng một sợi dây thun. Đôi mắt rưng rưng, Vui cười, cổ nghèn nghẹn. “Con biết mà!”.
Má có mang, chiếc bụng lớn dần lên đội áo. Chuyện thiệt động trời! Cậu Hai nghiến răng rít lên. “ Biết thằng nào, tao giết”. Rồi thật tự nhiên má sinh Vui bình thường như bao người đàn bà khác. Nhưng má không hề biết mình làm mẹ và không biết chăm sóc con. Có lần cả nhà đi vắng má đã đem Vui ra tắm mưa khi Vui chưa đầy năm. May là bà đã về kịp lúc. Sau lần đó không bao giờ ngoại để Vui ở nhà một mình với má. Vui lớn lên, ngoại hay kể cho Vui nghe bằng một giọng đều đều, không buồn phiền hay than trách.
“Con mua sợi dây buộc tóc này tặng má nè! Để con chải tóc cho má nghen!” Má ngồi yên cho Vui chải tóc. Đôi bàn tay đặt trên đùi, những đầu ngón tay thâm đen vì nhựa rau động đậy. Công việc má có thể làm được là bẻ rau muống, lục bình, lặt rau, thỉnh thoảng cũng có cho heo ăn tiếp tay với bà. Chiếc áo vải hoa nhăn nheo bạc màu. Ngoại già rồi, cậu mợ Hai bận rộn, Vui đi rồi không ai chăm sóc má. Vui cố nuốt nước mắt, vài năm thôi Vui sẽ về săn sóc má đến hết đời. Vui tự an ủi. Bất chợt má nhìn thấy mấy cái bông lục bình đặt trên bàn. “Bông!” Má kêu như thảng thốt. “Bông lục bình! Đẹp không? Má!” “Đẹp! Đẹp!” Má mấp máy môi, đôi chân mày nhăn lại giật giật. “Má thích không tặng má nè!” “Tặng hả? Tặng hả?” Má nhìn mấy cái bông như thể nhớ ra điều gì. “Héo! Héo hết rồi!” Má chợt thút thít khóc. Có một buổi chiều, con chim non rơi xuống hiên nhà kêu chíu chít, nó cố đập cánh nhưng bay không nổi. Nó cứ đứng ở đấy và kêu. Một  lát sau cả bầy chim sẻ sà xuống bay quần quần quanh nó kêu rộn ràng. Cảnh tượng ngộ nghĩnh thu hút sự chú ý của má. Má mê mải nhìn quên cả trời tối. Rồi bầy chim cũng bay đi mất. Vui vào nhà học bài quên luôn con chim non trước hiên nhà. Mấy ngày sau má chợt nói với Vui. “Con chim bay được rồi” Lúc ấy Vui nhận ra má cũng có ngăn ký ức, có điều khi ẩn khi hiện, lúc tỏ lúc mờ như bị một lớp sương mù che phủ. “Héo rồi con sẽ hái bông khác thật nhiều, thật nhiều tặng má”. Có ai tặng bông lục bình cho má không? “ Má nín khóc, mặt ngơ ngác rồi cười. “Có! Có” “Có thằng điên tặng bông cho má mày”. Bà phá lên cười nhưng vì ngoại quay lưng lại nên không thấy má bước xuống đi thậm thọt, chân thấp chân cao. Vui lặng người đi, có một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng lạnh buốt.
Nhiều lần Vui định đi trở xuống nhà chú Sền để từ giã chú nhưng lại thôi. Bỗng dưng không muốn gặp chú nữa. Giá mà má tỉnh táo dù chỉ giây lát thôi để nói với Vui rõ ràng mọi chuyện, cho vui hết hoang mang. Chiều xuống thật thấp, gió vẫn nhởn nhơ trên đầu, những đám mây màu trắng đã ngã sang màu xám xịt. Một buổi chiều bình thường như mọi buổi chiều khác nhưng lòng Vui không bình yên. Có những cơn sóng nhè nhẹ khuấy động mặt hồ làm gợn lên bao ray rứt băn khoăn. Những bước chân không dài không thoải mái. Vui đi, chân hầu như không muốn bước, lòng nặng trĩu. Bất chợt, Vui trông thấy chú Sền đang đứng dưới gốc dừa nơi chú cắt lục bình, tay xách một túi nilon đen nằng nặng. “Hôm qua cháu nói chiều nay đi nên chú chuẩn bị một ít khô cá sặc và nếp thơm để đem lên trường. Khô này hôm trước tác đìa chú phơi đó”. Trước sự ân cần săn sóc của chú Vui chỉ im lặng, đôi mắt long lanh. Vui chợt nhận ra suốt quãng đời thơ ấu của Vui lúc nào cũng có chú Sền bên cạnh. “Sao vậy? Bị ngoại mắng rồi hả?” Chú cười ha hả như mọi khi rồi ấn quai túi vào tay Vui. “Nè! Cầm đi! Mang lên trường ăn dần. Ráng học giỏi thì ngoại không mắng”. Năm ngón tay Vui buông thõng, chiếc túi rơi xuống vang lên một tiếng khô khốc. Chú như giật mình mở đôi mắt to đầy tròng trắng ra nhìn Vui. Chiếc trán dồ láng lẩy mồ hôi. Chú đứng hai tay xuôi theo người, chiếc đầu to như kéo ghị chú xuống và chiếc chân thọt khiến chú trông thật thảm hại. Chú không cười nữa mà trở nên lúng túng. “Có chuyện gì vậy? Vui! Cho chú biết đi”. Thật dễ hiểu, vậy mà trong suốt bao nhiêu năm Vui không nhìn thấy. Trong Vui như có một cái gì đang cuồn cuộn, sắp sửa vỡ tung. Oán trách hay vui mừng? Đau khổ hay hạnh phúc? Tất cả hòa lẫn vào nhau tạo nên những dòng nước mắt. Thấy Vui khóc chú càng trở nên bối rối. “Có chuyện gì vậy? Nói đi cháu!” “Sao chú không nói chứ? Sao không nói?” Vui khóc nức nở khiến chú càng luống cuống. “Nói... nói gì chứ?” “ Không nói cháu sẽ đi luôn, không bao giờ về nữa”. “ Đừng! Đừng!”. Chú cuống quít. “ Ờ thì... lâu lắm rồi… lâu rồi chú có hái dùm mấy cái bông lục bình cho một người... nhưng má cháu không bao giờ nhận ra chú”.
Vui xách túi chạy đi, vừa chạy vừa khóc. Khóc được thì trong người sẽ nhẹ nhõm hơn. Được một quãng chợt nhớ chú Sền không thể đuổi theo được Vui đứng lại. Chú vẫn đứng lặng lẽ trông theo Vui, tưởng chừng như đang khóc. Dáng đứng thật khác biệt gợi trong Vui biết bao thương cảm. Dù có đi chân trời góc bể nào Vui cũng không bao giờ quên được. Vui đưa tay lên má lau nước mắt. “Lần sau con về sẽ biết tay”. Vừa đi Vui vừa nghĩ thầm.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
GIÓ BÊN HÈ
Trần Lệ Thường
 
1. Quỳ trở về nhà vào một buổi chiều trời mưa to, cơn mưa như trút nước dữ dội xuống khoảng sân còn ẩm ướt vì cơn mưa hôm trước. Gió lướt trên mái nhà khiến hoa xoài rụng đầy sân. Cây xoài bên hè lại sắp sửa cho trái. Ngày còn nhỏ, tôi và Quỳ đã từng mê mãi với những chùm quả no tròn treo lủng lẳng trên cây đẹp như tranh vẽ. Mưa bắt đầu ngớt hạt, tôi bất chợt trông thấy con Quỳ đứng yên lặng trên mặt sân loang loáng nước, cả người ướt sủng, tóc dính bết vào gương mặt tái xanh. Không biết nó đã đứng đó từ bao giờ. Quỳ đó sao? Đứa em gái chưa tròn mười tám tuổi của tôi ngày nào giờ đây như một thiếu phụ đầy ưu tư phiền muộn.
Vào một lúc nào đó má và tôi biết được con Quỳ thường bỏ học đi chơi thì hình như đã quá muộn. Hàng ngày tôi phải ngồi chợ bán, trưa về ăn bữa trưa vội vàng rồi bắt đầu gói bánh, đêm đêm thức canh nồi bánh đến gần sáng. Chẳng ai để ý đến Quỳ, tưởng nó chăm lo học hành. Một lần nó về khuya gọi cửa, lúc ấy má đã đi nằm. “Sao về muộn vậy?” Vừa mở cửa tôi vừa gắt. Nó làm như không nghe thấy im lặng đi tuốt ra đàng sau. Khi nó đi qua tôi nghe mùi rượu từ nơi người nó. “Uống rượu hả? Quỳ!” “Chị nói nhỏ thôi để má nghe được. Bánh chín chưa chị? Em đói!” Cái giọng mè nheo giống hệt ngày còn nhỏ. Tôi lườm. “Hồi chiều không phải đã ăn cơm rồi sao?” Tuy nói vậy tôi vẫn lấy cho con Quỳ một đòn bánh tét rồi nhìn nó vừa thổi vừa ăn lại thấy thương, giận sao đành. Khi chúng tôi còn nhỏ, ngủ một giấc thức dậy thấy má còn lục đục ở nhà sau liền đòi ăn bánh. Má luôn mắng yêu nhưng rồi chúng tôi cũng được ăn. Những đòn bánh no tròn thơm nức được máng trên chiếc sào dài trông thật ngon lành. Má nổi tiếng gói bánh ngon từ khi chưa lập gia đình. Ba tôi có đôi chân bước đều thoăn thoắt, đôi bàn tay nhịp nhàng xạ lúa nhanh và đẹp. Nhưng ba đã bỏ gia đình để đi cùng một người đàn bà khác. Tôi không hiểu, có phải vì ba mê cuộc sống thị thành hay vì một thứ tình yêu muộn màng nào đó. “Cô giáo chủ nhiệm lại đến nhà nữa”. Con Quỳ ngồi trên võng đung đưa, nghe tôi nói môi dưới nó trề ra. “Đến nữa! Rảnh rỗi quá đến hoài”. “Cô nói nghỉ nhiều sẽ ngồi lại lớp, còn làm bài kiểm tra không được”. “Em chán học rồi”. Nó nói trong lúc đang nhai, miệng đầy bánh “Em sẽ nghỉ học”. “ Nghỉ học để ra chợ ngồi bán bánh như chị sao?”. Con Quỳ nhún vai, làm điệu bộ. “Bán bánh hả? Mấy đứa học chung lớp sẽ cười em”... Có đêm má và tôi đi tìm rồi lôi nó về từ một quán cà phê đèn mờ dưới những tán cây, đôi khi trên bờ ruộng. Quỳ vẫn ngổ ngáo và ương ngạnh. Những trận đòn xảy ra liên tiếp càng khiến nó bỏ nhà đi nhiều hơn. Con Quỳ đi hai ba ngày rồi về chùi xuống giường ngủ mê mệt. Má lôi nó từ trên giường xuống, ném quần áo ra sân. Quỳ đi luôn từ đó, tóc thẳng qua vai, đôi mắt đen sáng và đôi môi đỏ.
2. Giờ đây Quỳ về, tóc xác xơ khô chẻ ngọn, đôi mắt mệt mõi và đôi môi khô nứt. Sau một tiếng thở dài, một nụ cười buồn và đôi hàng nước mắt má không nhắc gì đến chuyện cũ nữa. Vòng tay của người mẹ nào cũng luôn mở rộng chờ đón những đứa con quay về. Đã chấm dứt những tháng ngày như mộng du, con Quỳ ngồi lau lá phơi dây tiếp tôi gói bánh, cho lợn ăn và chăm sóc mấy luống rau bên hè. Đôi khi theo tôi ra chợ bán. Thật chẳng có gì ngạc nhiên khi nó không còn là một cô học trò ngây thơ, vô tư trong cuộc sống, mơ mộng chuyện yêu đương. Đã hết những tháng ngày đó. Những tháng ngày tôi không có được. Vì sinh kế tôi đã dở dang việc học hành và chuyện tình duyên cũng không kết quả. Văn làm việc trên huyện, mỗi ngày đều chạy xe qua nhà tôi mấy lượt. Một lần đi bán về tôi gặp anh đang sửa xe bên lề đường. Nắng ở trên đầu, chiếc bóng anh nằm ngay dưới chân, ngắn ngủn. Anh cười, mượn tôi chiếc nón lá. Chiếc nón lá được cho mượn rồi đem trả, chiếc nón lá được đưa đi rồi đưa về, chiếc nón lá che một nụ hôn vội vàng trên đường đê. Văn bứt một cọng cỏ “con gà” tặng tôi. Cọng cỏ “con gà”  mỏng manh được cầm bằng cả hai bàn tay mà vẫn run lên nhè nhẹ theo nhịp đập trái tim. Gia đình Văn khá giả, chê tôi ít học, nghèo. Chuyện tình của chúng tôi không có đoạn kết. Anh đã từng rủ tôi bỏ đi thật xa nhưng tôi không thể. Một mình con Quỳ đủ đã làm má tôi già đi trăm tuổi, mệt mõi u sầu, ngủ không yên giấc. Cọng cỏ “con gà” trở thành kỷ niệm.
“Đến khi nhận ra lúc còn quá trẻ người ta thường làm những điều nông nổi thì đã muộn rồi. Em không thể lấy lại những gì đã đánh mất”. Hai chị em nằm hai đầu võng như ngày trước, thỉnh thoảng đến đút củi vào lò. Lửa cháy lớn, khói tuôn ra cửa sổ bị gió thổi lảng đảng như sương mù. Gió thổi mạnh đưa nhánh xoài xào xạc. Lúc còn nhỏ Quỳ sợ lắm cứ ôm chặt lấy tôi còn tôi thì im lặng lắng nghe. Bây giờ cũng vậy, nghe tiếng gió bên hè tôi lại thấy bình yên và vì hai chị em tôi đang ở đây, gần bên nhau. Con Quỳ lót hai tay sau gáy, mắt nhìn lên trần nhà, thở dài. Những tiếng thở dài muộn màng sau khi đã làm điều gì đó đáng tiếc. Sau khi má tôi sụp xuống cũng với những tiếng thở dài. “Em còn biết phải làm gì khi anh ấy bị bắt vì tội cướp giật. Còn đứa bé nữa... em đành nhắm mắt đưa chân...”. Nó nói nhiều lần rồi, như một lời phân bua. Lần nào tôi cũng im lặng, đau nhói. Vì sao lại ra nông nổi? Nó bị bắt rồi đi cải tạo gần một năm, ra trại đi tìm con thì người đàn bà giữ trẻ đã đưa đứa bé trốn biệt. Xuôi ngược kiếm tìm không thấy, nó đành quay về nhà. “Lúc đói, trong túi không có tiền em thèm bánh tét ở nhà mình biết chừng nào. Em mới hiểu nổi vất vả của má và chị nuôi em. Em hối hận quá!” Con Quỳ thút thít khóc. Nước mắt chảy trong lòng, tôi bỏ đến bên bếp lửa ngồi nghe tiếng nước trong nồi sôi sùng sục. Lạy trời! Mọi chuyện đã qua đi rồi. Đóng lại trang quá khứ để bắt đầu một cuộc đời mới.
Nhưng quá khứ như cái vòi bạch tuột tủa ra, vươn dài quấn lấy tương lai của nó. Một người đàn ông có đôi chân mày rậm, mắt một mí đến tìm con Quỳ ở chợ. Đôi khóe miệng hơi trễ xuống tạo nên vẻ ngạo mạng trên gương mặt xạm đen. Nó hớt hải kéo người đó đi để tránh xa tầm nhìn của tôi. Tôi chỉ kịp thấy một vết sẹo ngắn trên má đã phai mờ. Lóng ngóng đợi đến hết buổi chợ sáng không thấy Quỳ trở lại tôi thu dọn ra về. Trên con đường đất dẫn về nhà tôi cứ phân vân, không biết phải nói thế nào với má đây nữa. “Tình cũ không rủ cũng tới.” Người ta thường hay nói như vậy. Tôi cũng có một mối tình, chưa mới đã cũ. Cọng cỏ “con gà” nằm trong quyển tiểu thuyết xác xơ khô. Quyển tiểu thuyết cũng của Văn tặng, dày ba trăm trang tôi đã đọc gần hai tháng trời. Hôm Văn cưới vợ, tôi đi thơ thẩn trong chợ thị trấn chẳng biết đi đâu. Lòng cuồn cuộn sóng, cứ gì vẫn đau khi không thể cùng Văn làm một chuyến viễn du như Quỳ. Đêm nằm nghe gió thổi không còn cảm giác yên lành nữa, trống vắng và hụt hẫng như đã đánh mất một cái gì. Còn đang nghĩ lan man thì nghe tiếng chân chạy phía sau, tôi quay lại. Quỳ đuổi kịp tôi, thở hổn hển. “Muốn dắt nhau đi nữa hả?” Tôi chì chiết, nó lật đật phân bua: “Không có! Anh ấy muốn tìm con. Còn gì nữa mà trở lại hở chị? Suốt thời gian anh ấy ngồi tù em không thể đi thăm được. Giữa chúng em mọi chuyện đã chấm dứt.” Con Quỳ lùi lũi đi bên tôi suốt con đường dài. Sài Gòn mênh mông biết đâu mà tìm. Nhưng chắc gì người đàn bà giữ trẻ còn ở Sài Gòn hay đã về một miền cao nguyên hẻo lánh nào rồi. Như thả chiếc gàu xuống biển.
Vậy rồi thỉnh thoảng con Quỳ lại đi vài ngày, tìm đến những người quen hỏi thăm tin tức đứa trẻ. Sau mỗi lần đi về nó mệt mõi hơn, tuyệt vọng hơn. Mỗi lần kéo chiếc gàu từ lòng biển lên nó lại thấy kiệt sức. Cây xoài già cằn cỗi đang chết dần, rụng đến chiếc lá cuối cùng nhưng má không cho đốn bỏ, sừng sững đứng bên hè như một hình nộm. Gió vẫn thổi nhưng không còn nghe tiếng lá xạc xào nữa. Đêm nằm nghe trông trống.
3. Đặt nồi bánh lên bếp xong tôi đi ra nhà trước. Má ngồi trước sân trên chiếc ghế dựa ngó ra đường như lúc con Quỳ bỏ nhà đi. Bây giờ nó chết rồi chiều chiều má vẫn ra sân ngắm mây trên trời, nhìn mông lung đón gió. Buồn phiền đưa đến bệnh tật, Quỳ không chống chỏi được. Ra đi trong khắc khoải, đau đớn, lòng vẫn khao khát tìm gặp con. Còn lại tôi, một mình chăm sóc má, tự chăm sóc bản thân. Một mình gói bánh và đem bán. Đêm đêm, một mình nghe tiếng củi nổ lép bép lẫn trong tiếng nước sôi sùng sục của nồi bánh đang chín tới. Và bên hè, gió vẫn thổi đùa những cụm khói tản mác trong đêm. “Lúc này con gói bánh không chắc tay. Hồi sáng cắt đòn bánh ra má biết liền.” Vừa thấy tôi, má nói. Đôi mắt hấp hem nhìn ra ngoài rào. “Dạ! Con yếu rồi, tay ghịt dây không chặt nữa.” Má thở ra chép miệng: “Mày sống già như vậy sao!” Tôi cười muốn ra nước mắt. “Má ơi! Còn nói mà làm gì!” “Coi ai lấp ló ngoài rào đó. Người ta hỏi gì?” Mắt má vẫn còn tinh lắm. Tôi chưa ra đến cổng thì người bên ngoài đã bước vào trong rào. Người thanh niên cao dong dỏng nhìn tôi rụt rè. “Cháu muốn hỏi có phải nhà cô Quỳ gia đình sống bằng nghề gói bánh tét?” Thoạt đầu tôi thấy khuôn mặt thằng con trai rất quen, khoảng hai mươi tuổi, cứ ngờ ngợ như đã gặp ở đâu. “Cháu là…?” Ngay lập tức tôi nhận ra đôi chân mày rậm đen và hai khóe miệng hơi trễ xuống. Đôi mắt một mí nhìn tôi thăm dò. “Cháu là con của mẹ Quỳ. Má nuôi con chết rồi chỉ con về đây tìm mẹ."
4. Nắng đã tắt nhưng bầu trời vẫn còn sáng trong, gió thổi qua thân cây xoài xám xịt khô cằn. Trên sân không có hoa xoài rơi tơi tả như ngày nào, chỉ có một chiếc bông duy nhất gió mới thổi tạt về. “Má ơi!” Nước mắt lưng tròng tôi quay ra sau thì mới hay má đã đứng sau lưng tôi từ bao giờ. Đôi mắt hấp hem đầy nước.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 17:20:18nguyen.bamboo>
Xin lỗi, đăng nhầm truyện đã có rồi
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 17:20:50nguyen.bamboo>
Xin lỗi, đăng nhầm truyện đã tồn tại trong Thư Viện!
tồn tại hay không tồn tại
Đăng nhập để trả lời
0
(LÀM ĂN BÊ BỐI, KHÔNG KIỂM TRA TRƯỚC TRONG THƯ VIỆN VẬY LÀ ĐÁNG BỊ ĐÁNH ĐÒN NHA ÔNG TƯỚNG KIA[:D][:D])
 
HOA CÚC TRẮNG
Trần Lệ Thường
 
“Cẩm Tú nhìn xuống bên dưới. Nhà cửa, xe cộ, con người đều nhỏ như những món đồ chơi mà cô vẫn thường chơi lúc bé. Chỉ lát nữa thôi, cô sẽ lìa xa tất cả. Tất cả chẳng còn gì có thể giữ chân cô lại cỏi tạm đầy lọc lừa man trá. Cuộc sống như tấm màn màu đen kéo kín sân khấu đời cô. Cẩm Tú hít thở thật mạnh rồi thu hết cam đảm, cô nhắm mắt lao xuống...”
Phố nhìn những giọt nước từ mái nhà rơi xuống qua khung cửa sổ. Ánh đèn từ trong nhà hắt ra khiến cho những giọt nước sáng lóng lánh giữa màn đêm đen nghịt. Rùng mình vì một cơn gió lạnh ùa vào, Phố nhổm người lên định với tay đóng cửa sổ lại nhưng Phố chợt trông thấy một người con gái đang đứng trú mưa dưới mái hiên. Mái tóc dài quá nửa chiếc lưng thon và chiếc áo dài màu nõn chuối tha thướt đập vào mắt Phố trông quen quen nhưng Phố không tài nào nhớ ra được người con gái đó là ai. Ngập ngừng giây phút Phố rời khỏi bàn viết đi ra mở cửa. “Cô vào trong này tránh mưa!” Phố vừa dứt lời cô gái đã quay lại. Đôi mắt đen sáng lóng lánh nằm bên dưới đôi mày thanh mãnh mở to nhìn Phố. Chiếc mũi thẳng hơi kiêu kỳ nằm trên đôi môi hồng chúm chím và làn da trắng mịn màng lại gợi cho Phố một hình ảnh quen thuộc lạ thật! Mình đã gặp cô gái này ở đâu rồi? Trên đường lúc hết giờ làm việc hay trong rạp chiếu phim? Ở bệnh viện khi đi khám bệnh hay trên công viên những chiều đi dạo? Cứ như là có một màn sương huyền ảo che mờ ký ức Phố. Ai đã bỏ một tấm màn the trước mặt Phố và cô gái. Tuy vậy, Phố phải nhìn nhận. Thật là một tuyệt tác! Như một tác phẩm hoàn hảo được tạo nên bởi bàn tay một nhà nghệ sĩ tài hoa. Trong lúc Phố nghĩ thầm thì cô gái không để Phố mời đến lần thứ hai, như thể chỉ chờ có vậy, cô gái quay người bước lên bậc thềm vào nhà. Tay cô cầm một đóa cúc trắng. Khi đi qua Phố, cô gái nghiêng đầu nhìn, miệng hơi mỉm cười. Như nụ cười Bao Tự! Dáng vẻ dịu dàng, tư cách khoan thai, nửa trang trọng như Thúy Kiều, nửa uyển chuyển như Điêu Thuyền của Lữ Bố. Còn Phố, như chàng Kim Trọng thời hiện đại cứ ngơ ngẩn nhìn.
Cô gái đi đến bên bàn viết thì dừng lại. Phố vội và chỉ vào chiêc ghế bên cạnh bàn. “Mời cô ngồi!” Cô gái vén tà áo dài ngồi xuống ghế, ánh mắt lướt qua những trang giấy bày bừa bộn trên bàn. Phố vả lã. “Xin lỗi! Tôi chưa kịp thu dọn”. “Anh là nhà văn Hoàng Phố?”. Cô gái bất ngờ lên tiếng khiến Phố giật mình. Không phải giật mình vì cô gái biết Phố là nhà văn mà vì giọng nói của cô như tiếng chim sơn ca hót. “Cô biết tôi?” Đôi ngươi đen sẫm như sáng lên khi cô chúm chím cười. “Em mê tiểu thuyết của anh. Quyển nào mới ra em đều tìm mua cho được. Tất cả truyện ngắn của anh đăng trên mạng em đều đã đọc hết. Anh viết thật hay!” Phổ mở cả lòng nhưng vờ khiêm tốn. “Tôi viết cũng tạm thôi”. “Đọc quyển nào em cũng khóc”. Phố nhìn cô gái dò xét xem cô ta nói thật hay chỉ đưa đẩy chờ mưa tạnh...” Đọc xong, câu chuyện lúc nào cũng ở trong em thật lâu.
Fan hâm mộ của mình! Phố tự đắc nhũ thầm. Trú mưa có khi là một cái cớ để cô ta gặp Phố. “Em còn biết anh sắp sửa hoàn thành một cuốn tiểu thuyết”. Vẻ úp mở bí mật của cô gái khiến Phố ngạc nhiên thật sự. Chỉ còn một đoạn ngắn nữa thôi Phố sẽ hoàn thành cuốn tiểu thuyết đã viết ba tháng rồi. “Sao cô biết ?” Không trả lời, cô gái hơi mỉm cười đưa đóa cúc trắng lên môi rồi đột ngột đưa ra trước mặt Phố. Cử chỉ của cô gái bất giác khiến Phố nhớ đến nhân vật Sở trong cuốn tiểu thuyết đang viết dở dang. Sở thường mua hoa cúc tráng để tặng người yêu và làm động tác đó mỗi khi đưa hoa. Phố còn ngồi đờ người ra đó thì cô gái đặt đóa hoa cúc lên bàn. “Xin lỗi! Hoa này em đã hái trong chậu hoa trước nhà. Anh có biết câu chuyện về hoa cúc trắng không?” Rồi không đợi Phố trả lời, cô gái dịu dàng kể. “Ngày xưa, có một cô bé mẹ bị bệnh phải đi tìm thuốc. Cô tiên nói rằng hoa cúc rụng hết cánh mà cô bé chưa về kịp thì mẹ sẽ chết. Hoa cúc hồi ấy chỉ có bốn cánh. Vậy là cô bé xé nhỏ từ bốn cánh hoa ra cho thật nhiều cánh rồi mới lên đường đi tìm thuốc. Vượt qua bao gian khổ cô bé đã về kịp cứu mẹ. Ngày nay hoa cúc có rất nhiều cánh...”
Câu chuyện này người yêu của Sở đã kể cho Sở nghe, cô thích hoa cúc trắng vì cô yêu mẹ. Nhân vật nữ này Phố cho tính cách vừa mạnh mẽ vừa ủy mị. “Tôi biết câu chuyện này. Tôi cũng yêu hoa cúc”. Phố nói. Cô gái nhìn Phố đăm đăm khiến Phố cảm thấy người nóng ran, tim đập dồn dập. Giá mà được hôn lên đôi môi nồng mộng kia. Hơn thế nữa, được bỏ một vòng ôm qua tấm thân kiều diễm. Được một lần làm Ngô Phù Sai để yêu nàng Tây Thi. Cô gái nhìn Phố bằng cái đuôi con mắt. “Anh không muốn biết gì về em sao?” “Ờ... ờ... Anh cũng đang muốn hỏi”. Phố ngẩn ngơ như Nguyễn Lạc Thiên Thai. “Em ở dưới quê, lên Sài Gòn làm việc đã mấy năm nay...” “Có mẹ và em trai đang học trung học phải không ?” Phố tiếp lời, cảm thấy có một sự trùng hợp thật kỳ lạ. “Mẹ em bệnh nhiều năm rồi, em nỗ lực làm việc. Ngoài việc làm kế toán ở công ty em không ngại nhọc nhằn, từ hầu bàn đến giúp việc nhà...” Những giọt nước mắt lăn dài trên má rơi xuống đóa hoa cúc. Cứ ngờ ngợ về một điều gì đó trước những lời tâm sự của cô gái. Phố ngồi yên bất động. Những giọt nước mắt lại làm nên bức tranh tuyệt vời. “Em chỉ mong kiếm được nhiều tiền trước khi hoa cúc rụng hết cánh...” Chợt cô gái nấc lên nức nở. “Vậy mà người yêu em lại phụ bạc em, bỏ rơi em chạy theo người con gái khác...” Bỗng nhiên rồi Phố nhận ra tất cả những gì cô gái nói từ nãy giờ đều là cốt truyện của quyển tiểu thuyết Phố đang viết, chiếc lưng thon, đóa cúc trắng, nụ cười... Tất cả đều từ ngòi bút của Phố viết ra. Phố đứng bật lên, kinh hãi. “Em là...” “Em là Cẩm Tú đây”. “Cô gái khóc nghẹn ngào. “Anh đã ban cho em nhiều nghị lực dũng cảm để đối chọi với một số phận nghiệt ngã, vậy thì tại sao lại nỡ bắt em phải chết, phải nhảy lầu tự vẫn chỉ vì bị người yêu phụ bạc...” Toàn thân Phố lạnh toát, một luồng hơi lạnh chạy dọc sóng lưng. Miệng như cứng lại. “Anh tạo nên em một cô gái đẹp, thuần lương đầy nghị lực, tại sao lại bắt em chết đi. Sá gì một kẻ như Sở mà em phải chấm dứt cuộc đời mình. Thật không đáng! Em muốn được sống. Em phải có tiền trị bệnh cho má em trước khi hoa cúc rụng hết cánh. Em phải sống!” Cô gái lau vội nước mắt trên má rồi đứng lên. “Em đến gặp anh chỉ để cầu xin điều đó thôi. Em muốn được sống. Em về đây!” Phố trừng trừng trông theo cô gái đi ra cửa. Hình như mưa đã tạnh từ lúc nào. Chiếc lưng thon, mái tóc dài, tà áo thướt tha... Rồi Phố chợt nhận ra, cô gái đi chân không chấm đất. Phố hét to kinh hoàng...
Phố giật mình choàng tỉnh ngơ ngác nhìn quanh. Thì ra quá mệt mỏi Phố đã ngủ quên trên trang bản thảo còn đang viết dở dang. Đèn sáng choang Phố nhìn đồng hồ trên tường. Ba giờ sáng! Bên ngoài cửa sổ, trời tối đen và không có tiếng mưa rơi. Trên bàn, đóa cúc trắng vẫn còn thoang thoảng hương. Đóa hoa này Phố đã hái từ chậu hoa trước nhà lúc chiều. Mỗi khi ngồi vào bàn viết Phố thường đặt đóa hoa trước mặt vì nhân vật Cẩm Tú rất yêu hoa cúc.
Phố bần thần cầm đóa hoa lên ngắm nghía rồi nhìn xuống trang bản thảo. “...Cẩm Tú hít thở thật mạnh rồi thu hết can đảm, cô nhắm mắt lao xuống...” Phố cầm lấy cây viết gạch chéo lên trang giấy, viết lại đoạn kết.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
VÒNG TAY YÊU THƯƠNG
Trần Lệ Thường
 
Mưa bắt đầu ngớt hạt thì trời cũng vừa sập tối. Mặt đường loang loáng nước dưới ánh điện sáng choang. Thành phố về đêm đẹp rực rỡ như một nàng công chúa trong thiên đường cổ tích. Con Thiệt hớn hở đi, miệng hát nho nhỏ một vài câu hát quen thuộc. Trên tay là chiếc áo mà nó đã cặm cụi may suốt ngày nay. Đó là quà sinh nhật cho thằng Bảnh. Con Nhàn cũng nghỉ đi làm ở tiệm uốn tóc một ngày để tự tay làm chiếc bánh kem sinh nhật. Ba đứa lớn lên một lượt dưới mái nhà chung, chơi với nhau và cùng bước ra đời một lúc.
Thiệt là tên Trung tâm bảo trợ xã hội đặt cho. Không biết con bé chừng tám tuổi đã đứng trước cửa trung tâm từ bao giờ, chỉ biết khi có người nhìn thấy thì nó đã khóc mắt sưng đỏ lên, tiếng khàn đặc, bên cạnh là chiếc túi nilon đựng vài bộ quần áo nhàu nát. Lớn lên, thiệt chỉ cười buồn khi nghe nhắc lại chuyện đó. Mỗi người có một số phận, nó không hề than trách và cũng không muốn biết vì sao nó bị đem bỏ đi. Con Thiệt được đưa về tiệm may Hoàng Bích học may và sống luôn tại đây. Phải chi nó học giỏi như anh Đạt đã được một gia đình ở Sài gòn bảo lãnh đi đại học, thỉnh thoảng anh ấy có gởi thư về. Lần nào đọc thư con Thiệt và con Nhàn cũng khóc. Thằng Bảnh buồn thiu nhưng làm bộ “Không ai chỉ bài cho tụi bây nữa nên khóc chứ gì”. Con Nhàn mặt còn đầy nước mắt rượt thằng bảnh đánh túi bụi.
Con Thiệt bước vào trong quán đưa mắt tìm “Thiệt! Đây nè!” Con Nhàn gọi và đưa cao tay. Thằng Bảnh hôm nay thật khác với mọi ngày. Chiếc áo sơmi kẻ sọc mới toanh, đầu chải mướt rượt khiến gương mặt sáng gỡ. Con Thiệt cười đưa gói quà cho nó “Chúc mừng sinh nhật!”. “Còn phải hát bằng tiếng Anh nữa”. Thằng Bảnh cười lớn tiếng theo tính cách của nó. “Hứ!”. Con Nhàn lườm, “Mày được voi đòi tiên”. Con Thiệt biết mỗi khi bối rối hay che giấu cảm xúc gì đó thằng Bảnh sẽ cười thật to hay nói một câu gì khác đi. Lớn lên cùng nhau từ nhỏ, con Thiệt còn lạ gì. Con Nhàn cũng biết nữa nên thường càu nhàu “Người gì mà kỳ khôi. Ai biểu mình làm như vậy chớ”. Hồi nhỏ tưởng đâu thằng Bảnh câm luôn rồi. Người ta tìm thấy nó trong rừng dừa nước trên chiếc xuồng ba lá cùng với thi thể ba má nó. Hai người đã bị rắn cắn chết. Chẳng biết phép nhiệm màu nào đã giúp nó vẫn được bình yên. Điều kỳ diệu không thể nào giải thích được. Nó mở đôi mắt trắng dã thất thần ra nhìn mọi người. Miệng há hốc không phát ra được tiếng nào. Năm đó nó mới ba tuổi, bụ bẩm, cứng cáp. Phải mất một thời gian khá lâu sau nó mới nói chuyện lại bình thường.
Cả bọn gọi thức ăn. Vẫn là con Nhàn lựa chọn rồi nó mở hộp bày chiếc bánh kem lên bàn “Đẹp quá!” Con Thiệt tắm tắc khen nhìn màu kem Sôcôla chảy bên thành chiếc bánh “Hơi nhỏ!” thằng Bảnh nheo mắt, người lắc lư. Con Nhàn cười. “Đừng có đánh nhau để giành ăn đấy” Con Thiệt và thằng Bảnh nhìn nhau rồi bật cười. Nó đã từng đánh nhau với thằng Bảnh nhưng không phải vì giành ăn. Chỉ vì hôm đó vừa quét rác xong quay lại thì con Thiệt thấy vỏ kẹo, bánh vứt đầy dưới chân thằng Bảnh “Lượm lên!” Con Thiệt chống hai tay lên hông hách dịch. Thằng Bảnh cười giọng mũi “Hông! Thì sao?”  “Tao mét cô Hương” “Xời! Cô đi họp từ sáng rồi” “Mày phải lượm lên, tao vừa mới quét xong”. “Thì mày quét nữa đi!” Thằng Bảnh chưa nói dứt lời con Thiệt đã xông vào túm lấy nó. Cả hai vật nhau lăn ra sân, cào cấu. Đang lúc túm lấy tóc nhau thì con Thiệt thấy một đôi giầy đen trước mặt. Cả hai buông nhau ra đứng lên lắm lét không dám nhìn cô Hương giám đốc. Cô nhìn hai đứa bằng ánh mắt nghiêm khắc rồi quầy quả đi lên Văn phòng. Con Thiệt, thằng Bảnh lẻo đẻo theo sau cùng im lặng. Mỗi đứa bị phạt làm cỏ một phần như nhau. Trời mỗi lúc một chiều, bầu trời sang sáng một màu sáng của nhôm được đánh bóng. Loáng cái thằng Bảnh đã xong việc, nó đứng nhìn con Thiệt đang đưa từng nhát dao chậm rãi, tay đưa lên má chổ bị con Thiệt cào xướt da rát rạt. Nó định đi vào nhà nhưng lại đi đến bên con Thiệt. “Tao làm tiếp cho” “Không cần!” Con Thiệt lườm, dấm dẳng. “Mày không muốn vào nhà ăn cơm rồi còn học bài hay sao? Sắp tối rồi!” Thấy con thiệt im lặng, thằng Bảnh ngồi xuống đưa lưỡi dao vào đống cỏ còn dày mịt. “Tao không cám ơn đâu”. Con Thiệt nói nhẹ xìu. “Tao đâu cần mày cám ơn”. Thằng Bảnh làm ra vẻ ta đây, phớt lờ. Năm đó con Thiệt mười hai tuổi còn thằng Bảnh mười ba. Thằng Bảnh lớn hơn con Thiệt, nhưng con thiệt không bao giờ kêu nó bằng anh cho dù nó luôn làm ra vẻ ta đây, con Nhàn thì nhỏ hơn con Thiệt một tuổi, bị bỏ rơi ở bệnh viện khi vừa chào đời. Nhanh nhẹn, hiền lành, luôn giảng hoà mỗi khi Thiệt và Bảnh cải nhau. Thích làm đẹp nên nó chọn nghề uốn tóc. Xem ra thằng Bảnh làm thợ hàn tiện là khá giả nhất, cho nên nó tự cho phép hoang phí một lần trong ngày sinh nhật của mình. Nhưng con Nhàn keo kiệt đã tiết kiệm dùm nó, khi gọi món ăn luôn xem giá tiền. Có lần con Nhàn đã hỏi “Lớn lên mày chọn ai làm vợ? Tao hay con Thiệt? “Con Nhàn xanh mặt, mím môi còn con Thiệt trề môi chưa kịp “phang” một câu gì cho hả tức thì thằng Bảnh đã nói tiếp : “Tao mong cho hai đứa bây gặp được Hoàng Tử Bạch Mã để mà đổi đời, chứ dính với tao làm gì.” Lần đầu tiên thằng Bảnh nói một câu thật nghiêm túc, bén ngót, đâm thấu tim hai đứa con gái. Con Thiệt, con Nhàn lặng người đi muốn khóc. Dẫu vậy con Thiệt vẫn dài môi “Chỉ có trong chuyện cổ tích.” Con Nhàn len lén quệt nước mắt.” Tao cũng mong cho mày gặp được một người giàu có”. ”Ừ! Ở trong bệnh viện tâm thần thiếu gì ?” Con Thiệt tiếp lời con Nhàn bằng một câu cay nghiệt. Thằng Bảnh chẳng màng để ý, ngồi run đùi. “Làm sao chọn hai đứa bây được khi tao biết quá rõ. Đứa thì ngủ chảy nước dãi, đứa thì quay như chong chóng đánh võ thiếu lâm. Chân con Thiệt có nhiều mụt…”. Lần đó hai đứa rượt thằng Bảnh chạy vòng quanh mấy cây bàng trên sân muốn hụt hơi mà không đánh được thằng Bảnh cái nào.
“Mày cứ ngồi im lặng là tao sẽ chén hết các thứ này đó”. Con Thiệt cười hiền lành như cô tiên sắp sửa phất cây đũa thần, âu yếm nhìn thằng Bảnh.  “Mày cứ tự nhiên đi, hôm nay sinh nhật mày mà”.Con Nhàn lườm con Thiệt một cái.”Mày làm sao vậy Thiệt ? Không dành ăn à?” “Ừ!” Con Thiệt chớp lia đôi mắt sợ con Nhàn thấy ánh mắt nhìn thằng Bảnh. Đột ngột thằng Bảnh hỏi “Hai đứa bây gặp được Hoàng Tử Bạch Mã chưa?” Không đứa nào trả lời. Con Nhàn xấu hổ khi nhớ lại câu nó hỏi thằng Bảnh lúc đó. Nó vả lả. “Hồi đó còn con nít mà!” “Bây giờ mày lớn rồi hả? Mày có người để nghĩ  đến rồi hả? “ Thằng Bảnh hỏi và nhìn con Nhàn dò xét. “Không! Tao chỉ nghĩ đến công việc làm thôi. Làm sao cho tốt, cho giỏi.” “Còn mày? Thiệt! “Thằng Bảnh nhìn con Thiệt, thấy nó đỏ mặt. “Tao cũng vậy! Mơ ước sau này sẽ có thể mở một tiệm may.” “Mày sẽ may quần áo ở chỗ con Thiệt còn tao không uốn tóc cho mày được đâu”. Con Nhàn nói với vẻ buồn thiu, mắt nhìn xuống ly nước ngọt vàng óng sóng sánh mấy viên đá trong suốt. Bất giác con Thiệt và  thằng Bảnh nhìn nhau, không hiểu con Nhàn nghĩ gì mà lại nói như vậy. Những năm tháng sống dưới một mái nhà, cùng dắt nhau đi khi mới lẫm đẩm biết đi, cùng đi nhặt lá bàng mỗi khi gió lớn, chia nhau từ trái xoài non. Kỷ niệm ăn sâu trong từng chân tóc, vật đổi sao dời cũng không thể nào làm thay đổi tình bạn của chúng mình. Thằng Bảnh nghĩ thầm rồi cầm lấy ly nước ngọt đưa lên. “Chúng ta đều sống trong một vòng tay yêu thương. Nào! Hãy uống mừng tình bạn vĩnh cửu!”. Tiếng thủy tinh va vào nhau khe khẻ nghe vui tai. Mới buồn thiu đó thoắt cái con Nhàn hớn hở, mặt mày tươi rói uống cạn ly nước. Con Thiệt kín đáo quan sát con Nhàn và nó biết, cũng như nó, con Nhàn trong lòng đã có một chàng Bạch mã hoàng tử. Lạ lùng làm sao, chàng hoàng tử lộng lẫy trong bộ triều phục xa xưa lại có khuôn mặt của thằng Bảnh.
“Tết này chúng mình cùng về Trung tâm thăm cô Hương và các mẹ nuôi đi”. Nghe thằng Bảnh đề nghị con Nhàn gật đầu tán thành liền “Ờ! Còn thằng Niển nữa, không biết đã quên chú Tạo chưa?” Nghe nhắc thằng Niển, con Thiệt lại thấy thương xót trong lòng. Thằng Niển mới chập chửng biết đi, nói năng lọng ngọng, cái đầu nghiêng nghiêng mỗi khi nhìn ai, dễ thương lại. Chú Tạo về giám sát công trình xây dựng một dãy phòng ở Trung tâm, chú thường nựng nịu đùa giỡn với nó, đôi khi cho bánh kẹo, đồ chơi. Suốt mấy tháng, ngày nào chú cũng có mặt, luôn cả ngày chủ nhật. Công trình hoàn thành chú không đến nữa, sáng nào thằng Niển cũng lẩm đẩm đi lên văn phòng ngồi ở hành lang cửa phía sau, nơi mà chú Tạo và nó thường ngồi trông ra công trình đang thi công. Có ai hỏi, nó nói: “Đợi... đợi chú Tạo”. Đang mãi suy nghĩ con Thiệt chợt nhận ra con Nhàn và thằng Bảnh nhìn nó chăm chú. Thiệt ngạc nhiên. “Có chuyện gì vậy?” Con Nhàn hỏi. “Sao nín thinh vậy? Mày không muốn về Trung tâm à?” Con Thiệt bật cười. “Về chứ! Về để có chổ đánh nhau với thằng Bảnh”.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
QUA SÔNG
Trần Lệ Thường
 
Sài Gòn những ngày này nắng nóng và đầy bụi đường nhưng về đêm thì thật tuyệt vời. Đèn màu giăng mắc khắp nơi, thật náo nhiệt tưng bừng với những dòng xe cộ tưởng không bao giờ dứt. Nói như vậy em đừng tưởng là buổi tối chị hay ra đường, thỉnh thoảng thôi vì chị phải làm việc đến chín giờ đêm. Công việc thật là nhiều ở một công ty nước ngoài. Chan, ông giám đốc của chị nói tiếng Anh giỏi hơn tiếng Hàn Quốc, tính tình phóng khoáng và không đến đổi khó khăn trong công việc. Thật là buồn khi ba má giận chị vì không chịu về quê làm việc như anh Kha.  Anh ấy là kỹ sư nông nghiệp thì về nhà là phải rồi, còn chị với cái bằng Anh văn này về quê làm gì. Hơn nữa vào được chổ làm hiện nay đâu phải dễ. Chị còn phải cố gắng rất nhiều để làm tốt công việc của mình. Dù có đi đâu xa chị vẫn nhớ quê mình, có hàng dừa nước xanh rì và những cây bình bát với những quả chín vàng thơm nức. Chị em mình thường đi dọc bờ sông hái bình bát cùng với anh Kha. Anh ấy và chị đã đợi nhau nhiều năm rồi, từ ngày còn học trung học ở quê nhà rôi đến những năm đi học đại học. Những năm tháng ấy quả thật đã để lại ấn tượng thật sâu sắc trong chị. Nhưng càng ngày chị càng nhận ra giữa chị và anh ấy không phù hợp. Anh ấy thích làm ruộng, trồng trọt hay chăn nuôi. Anh mê “Nàng Hương” và “Ba Bụi”. Thật chán! Từ hôm anh Kha về tới nay không có gọi điện cho chị bởi vì trước khi về chị và anh đã cải nhau. Em năm nay đã học lớp mười hai rồi cố gắng đi để vào sư phạm như ba má mong muốn. Thỉnh thoảng hãy gọi điện vì suốt ngày chị bận lắm. Tối, đọc thư xong mail cho chị nghen!
 Chị mệt mỏi lắm chuẩn bị đi nằm nhưng ráng mở máy một chút để mail cho em ít hàng. Hồi sáng má gọi điện nhưng chị đang bận việc nên không thể nói chuyện lâu được, chắc má buồn. Thôi thì nói với má lúc nào rãnh rỗi chị sẽ gọi về nhà để ba má yên tâm. Em viết thư cho chị ngắn gọn thôi đừng kể lể dong dài. Cả nhà đều mạnh khoẻ chị rất vui. Anh Kha gọi điện cho chị nhưng đang bận việc nên chị tắt máy. Buổi tối vừa xong việc chị gọi thì máy anh ấy bận, chị thôi không gọi nữa. Chị ở cùng phòng với Lê, làm chung trong công ty. Tụi chị rất vui và thương yêu nhau. À! Chị đã gửi một ít quà về nhà, có lẽ vài ngày nữa sẽ đến. Tạm biệt!
 Anh Kha có thường sang nhà chơi không ? Gọi điện cho anh ấy nhưng chị không nói được, thấy ngượng ngùng. Chị rất muốn nói lời chia tay với anh ấy bởi lòng chị thay đổi rồi. Chị đã có người khác. Anh ấy là Chuyên, trưởng phòng của chị. Người cao lớn, lịch thiệp, gia đình giàu có. Đã ngõ lời với chị rồi và chị đã nhận lời. Dĩ nhiên chị nói là chị chưa yêu ai bao giờ. Chị thật có lỗi phải không? Mối tình đầu không bao giờ được trọn vẹn. Vậy mới đẹp chứ! Mới thơ mộng! “Ngày mai anh bỏ làm thi sĩ. Em lấy chồng rồi hết ước mơ”. Thật lãng mạn phải không? Nhưng em cũng nên khuyên anh ấy đừng quá đau buồn. Thời gian sẽ làm phôi pha tất cả. Chị luôn cầu nguyện cho anh Kha gặp được một người tốt hơn chị. Nếu anh ấy có gửi trả kỷ vật của chị thì em nhận dùm chị nhé! Có lẽ chị sắp đi công tác xa, sẽ vắng gửi thư cho em đó.
 Chị đi công tác một tuần. Một tuần đầy ác mộng. Buồn nên chị không mail cho em mà cũng lười trả lời điện thoại. Có phải người ta nói vấp ngã bao giờ cũng khiến ta đứng vững vàng hơn ? Bỗng dưng rồi chị thấy con đường trước mặt đầy chông gai trắc trở, con đường mà mới vài tháng trước khi bước lên chị thấy mịn như nhung. Chuyện gì đã xãy ra cho chị ư? Đó là một buổi tối ở khách sạn, sau một ngày làm việc mệt mõi chị đang muốn ngủ thì ông Chan vào, ngồi xuống giường, nắm lấy tay chị. Chị cảm thấy bất ngờ vì thường ngày ở công ty ông ấy không có quan tâm đến chị. Ông Chan khoảng gần năm mươi tuổi, người cao to không bụng phệ. Chị run lên ngỡ là ông ấy sẽ tỏ tình với chị. Nhưng Chan không nói gì, đầy chị ngã xuống giường rồi chồm lên người chị. Chị kháng cự quyết liệt. Ông ấy dỗ dành không được giận dữ bỏ ra khỏi phòng. Những ngày còn ở lại ông ấy không nó gì đến chị nữa và khi về chị nhận được quyết định thôi việc. Anh Chuyên nói là sẽ tìm cho chị một chỗ làm khác. Em đừng nói cho ba má biết chuyện của chị nghen! Khuyên anh Kha hãy quên chị đi đừng nhắn tin cho chị nữa.
 Chuyên đã tìm cho chị việc làm khác, lương cũng khá. Ở đây công việc ít bận rộn nên chị và anh ấy thường gặp nhau đi chơi. Thật vui khi ở bên cạnh anh. Tình yêu đã thắp cho ta đôi cánh và cũng chính tình yêu đã đẩy ta xuống vực sâu. Chị rời quê hương như một chuyến sang sông và chị đã qua sông bằng một chuyến đò quá khẩm, chị sợ đắm đò. Một tối đi chơi về Chuyên đưa chị vào nhà. Lê đã đi vắng. Anh ấy hôn chị và đưa chị đến giường. Anh đã quát giận dữ khi chị đẩy anh ra thật mạnh. “Chẳng phải em đã cùng ông Chan rồi đó sao?” Như tiếng sét nổ bên tai. Tim chị thắt lại rồi vỡ ra từng mảnh. Chị dang tay tát Chuyên thật mạnh và bật khóc, lẽ nào anh ấy lại nghĩ về chị như vậy. Vậy là tan nát hết, chấm dứt. Một mối tình nữa lại qua đi trong trái tim son trẻ. Chị nằm ủ ê như người ốm nặng. Nhớ hàng dừa nước xanh rì và những trái bình bát chín vàng. Chia tay với Chuyên chị không giữ được việc làm ở đó lâu. Lê giới thiệu cho chị một công việc tạm thời là dạy kèm anh văn cho một cậu học sinh lớp mười hai. Nhà rộng, tường cao, trong sân có nhiều hoa đẹp. Thoạt nhìn chị rất thích nhưng ngay lần gặp đầu tiên chị đã bỏ chạy vì thiếu gia này có cái đầu mít đặc, ngỗ nghịch và thỉnh thoảng lại nắm tay cô giáo.
 Mấy ngày nay Lê nằm vùi, đầu tóc rối bù, không ăn cơm, thỉnh thoảng lại ụa khan. Chị rất lo lắng. “Tao đưa mày đi bác sĩ nghen!” Lê rầu rầu. “Tao đi rồi! Tao có mang!” “Hả? Trời đất! Với ai?” “ Không biết nữa”. Em ơi! Chị không muốn qua sông nữa, đò sẽ đắm thật, chị sẽ chết chìm mất thôi. Chị muốn về nhà, chị sẽ cùng em đi bẻ trái bình bát với anh Kha.
 Ba má rất vui khi biết chị sẽ về, em cũng vậy. Hàng dừa nước vẫn xanh rì nhưng những cây bình bát không còn trái nữa. Còn kỷ vật của chị, em đòi anh Kha không trả vì anh ấy bỏ mất rồi. Xấp vải chị gởi về em đã may áo để chuẩn bị đi đám cưới anh Kha.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
TRẦM
Trần Lệ Thường
 
Muốn đi qua nhưng rồi Trầm đứng lại bên cổng chùa nhìn vào trong. Sự tấp nập nhộn nhịp khác thường, khiến Trầm nôn nao. Hằng ngày đi bán qua đây, sự tĩnh lặng của cảnh chùa đôi khi khiến Trầm không dám cất tiếng rao. Hôm nay là lễ Vu Lan, Trầm rất muốn vào thắp một nén hương để xin Trời Phật phù hộ cho ba mạnh khoẻ, sống lâu nhưng Trầm ngần ngại vì từ bé đến giờ chưa vào chùa lần nào, hơn nữa còn gánh chè trĩu nặng vai.
 Người ta nói rằm tháng bảy là lễ Vu Lan, là mùa báo hiếu. Chẳng phải Trầm vẫn thường xuyên báo hiếu đó hay sao? Mới hôm qua, Trầm lại về thăm ba, dọn dẹp nhà cửa rồi đưa cho ông một ít tiền, bất kể là ông có đi làm được hay không. Trong suốt năm năm ở riêng vẫn đi đi về về như vậy đó, mua cho ông từ chiếc khăn lau mặt, chiếc áo sơ mi đến chai dầu gió... Nếu không là Trầm thì ai sẽ chăm sóc cho ba. Nhớ lúc chưa lấy chồng, có lần đi bán về thấy ông say khướt năm dưới nền nhà, Trầm ức quá. “Ba có tin là tui bỏ đi như  má không?” “ Gì? Hổng có... nhắc má mầy”. Ba nhướng mắt lờ đờ nhìn Trầm rồi lại gục xuống ngủ tiếp. Bình thường, có nhắc đến má thì ba cũng gạt ngang. Đó là nỗi đau, sự ân hận mà ba muốn chôn sâu tận đáy lòng. Hình ảnh đứa bé gái mười một tuổi bị má lôi ra khỏi nhà để tránh cơn thịnh nộ của ba không bao giờ phai trong tâm trí Trầm. Trầm đã gào khóc giãy giụa, cố giật tay ra khỏi bàn tay đang nắm thật chặt của má để quay trở lại. Trầm sợ, tối ba say rượu ngủ dưới nền nhà không ai đuổi muỗi cho ba. Chưa bao giờ Trầm thấy má làm việc đó, dù chỉ làm lấy cớ. Những lúc đó má chỉ khóc hoặc chửi bới, má chửi số phận, má chửi ba. Rồi má đi luôn không quay lại lần nào nữa. Hình ảnh má lần cuối cùng Trầm nhìn thấy là người đàn bà tóc rối tung hớt hải đuổi theo Trầm trong tiếng kêu thất thanh tuyệt vọng. “Trầm! Trầm ơi! Đừng quay lại con ơi! Ổng sẽ giết con!” Ba không giết Trầm, không có má ba tỉnh ra như người vừa thức dậy sau cơn mê ngủ. Ba không uống rượu, hiền như phật, đi làm thuê làm mướn nuôi Trầm. Khi thì Trầm được vài trái chuối nướng, lúc thì mấy quả mận, bữa thì cơm với canh chua cá, hôm thì với canh thịt. Rồi ba  lại không có việc làm, đi ra đi vô, buồn ba lại uống rượu. Lớn thêm chút nữa Trầm lại gánh chè đi bán như má. “Nếu ba cứ uống rượu hoài tui sẽ lấy chồng bỏ ba đó”. Trầm giận, tuyên bố. Ba cười hềnh hệch. “Khỏi hăm dọa con! Ê! Bộ mày tưởng ba không thấy mày liếc qua liếc lại với thằng Đức hoài đó hay sao. Nó làm bộ tới kiếm tao nhậu chứ thật ra là để kiếm mày”. Trầm có chồng rồi vẫn ở nhà nuôi ba. Có một lần đi bán về thấy lối xóm bu đông nghẹt trước cửa, ba thì đang ra sức ném đồ đạc của vợ chồng Trầm ra khỏi nhà. Thì ra nhậu say rồi ba và Đức gây gổ nhau, ba nổi cáu đuổi đi. Vợ chồng Trầm dắt nhau đi thuê nhà ở, cách đó cũng không xa.
 Nghĩ tới nghĩ lui, Trầm lần lựa mãi mới chịu gánh chè đi tiếp. Trời nắng chang chang, giờ này thằng Quang Anh với Quang Em dễ gì chịu lên giường ngủ trưa trước khi đi Trầm đã dặn. Có lẽ chúng nó chạy đi “giựt vàng” ở nhà lối xóm rồi. Trầm hình dung ra hai đứa con ngồi bệt trước cửa chia nhau trái ổi xanh, củ khoai sống vừa giựt được. Sang năm thằng Quang Anh đã đủ tuổi vào lớp một, còn Quang Em lên bốn. Trầm tính tới lúc Quang Anh đi học thì đưa Quang Em đi mẫu giáo chứ để ở nhà ai trông. Hôm trước Trầm có biểu, Đức nói: “Đàn ông ở nhà giữ con còn gọi đàn ông làm gì?” Lúc trước Đức đi làm phụ hồ ngày làm ngày nghỉ nên mới mua xe lôi chạy, thấy chồng chạy xe lôi cực khổ quá, Trầm hốt mấy chân hụi mua xe gắn máy cho anh ta chạy xe ôm. Hụi chưa dứt mà tuần trước thua bạc anh ta đã đem chiếc xe ra tiệm cầm đồ rồi. Hễ đi thì thôi, về tới nhà đi ra vô thở ngắn than dài, quạu quọ cau có, kiếm chuyện đánh con. Tối tối, sau bữa cơm muộn màng, hai đứa trẻ đã lên giường ngủ, Trầm nằm võng đợi chồng về. Anh ta đi nhậu nhẹt đâu đó, la cà chiếu bạc hay làm điều gì khác Trầm cũng không cần biết và chỉ giật mình khi nghe tiếng gọi cửa. Giá mà mình có, dầu chỉ một chút can đảm của má để bỏ đi. Ý nghĩ ấy chỉ thoáng qua như ánh chớp trời mưa vậy mà Trầm tự thấy mình có lỗi. Bởi Trầm không bao giờ quên được những ngày má mới bỏ đi, ba và Trầm đã sống như thế nào. Trong thâm tâm Trầm không bao giờ tha thứ cho má, ngay cả khi ba đã quên.
Mãi suy nghĩ, có người gọi chè hai ba tiếng Trầm mới nghe thấy. Ngày nào đi qua Trầm cũng ghé lại nhà này bán vài chén chè. Biết lỗi, Trầm cười giả lả đặt gánh ngồi xuống múc chè. “Đôi bàn tay đẹp chưa kìa!” Ai đó trêu ghẹo liền bị  bà chủ nhà quen mặt mắng: “Thôi đi! Thằng quỷ! Đi tới đâu cái miệng cũng dẻo đeo, mày làm cổ múc đổ ra ngoài hết”. Trầm cười không nói gì rồi múc tiếp chén khác. Nhà này hôm nay có khách hay sao ấy, họ gọi nhiều hơn một chén. “Cô có biết chuyện Kinh Kha sang Tần thích khách Tần Thuỷ Hoàng không?” Cũng người lúc nãy lên tiếng rồi không đợi Trầm trả lời, anh ta nói luôn. “Kinh Kha chỉ khen một tiếng mà thái tử Đan đã cho chặt đứt đôi bàn tay đẹp của người con gái”. Rồi vừa ăn chè anh ta thao thao kể... Có khi ngồi đợi khách ăn chè, Trầm phải nghe diễn tả lại vụ đánh nhau dữ dội của hai vợ chồng mới cưới, vụ bể hụi của cô Bảy, chị Tư, những lời dự đoán con số sẽ xổ chiều nay... còn nhiều nữa, có lần Trầm còn được nghe người ta chỉ cho một bà thầy bói coi tay hay lắm để xem số Trầm sao cực khổ như  vậy. Trầm không than thân trách phận nên chẳng quan tâm, như bây giờ ngồi nghe khách kể chuyện Kinh Kha như nghe dự báo thời tiết. Trầm ngồi chờ lấy tiền, rửa chén rồi lại đi tiếp...
Trầm về đến đầu đường thì trời cũng vừa sắp tối. Đường phố lên đèn sáng choang xua đi ánh sáng chập choạng lúc nãy, như ai đó vừa cất đi chiếc áo vá đùm vá đụp bạc thếch trên vai người lữ hành để thay chiếc áo khác đầy màu sắc sặc sỡ sang trọng. Trầm biết mình đã về muộn hơn mọi ngày vì đúng ra lúc này Trầm đã tới trước quán cà phê “Thảo” và nghe những bài hát quen thuộc. Có một bản nhạc mỗi lần nghe Trầm đều nhớ tới một người bạn gái là thợ may, cũng bằng tuổi Trầm. Nó thích bài này, nó nói: “Tao sợ như lá diêu bông, lấy chồng sớm làm gì nhưng tao mê bài hát này”. “Vậy mày mê ai? Bác Hoàng Cầm hay chú Trần Tiến”. Lần đó hai đứa ôm nhau cười ngặc ngoẻo để rồi vài tháng sau Trầm sinh thêm thằng Quang Em, còn nó thì cho đến bây giờ vẫn còn một mình đi tìm chú Trần Tiến hay bác Hoàng Cầm cũng chẳng ai biết. Tuy nhiên, nó thảnh thơi và rất khá giả.
 Trầm đi riết qua quán cà phê rồi quẹo vào con ngõ nhỏ. Nhà nhà đều đã lên đèn. Giờ này mọi người đều quây quần sum họp bên mâm cơm gia đình, họ kể cho nhau nghe những chuyện vui buồn của một ngày vất vả. Trầm nhìn vào gióng gánh xem lại các thứ đã mua lúc nãy: Vài con cá, một mớ rau xanh, hai trái bắp cho Quang Anh và Quang Em. Chúng nó sẽ ăn bắp trong khi chờ cơm chín.  Mùi xào nấu, mùi thịt nướng, mùi nắm kho, cả mùi cơm bị quá lửa hòa lẫn trong gió thơm lừng quyện vào mũi Trầm. Mãi đến lúc này Trầm mới thấy bụng đói cồn cào, đôi chân rã rời như sắp rớt ra, những giọt mồ hôi rơi xuống thấm  vào môi mặn đắng. Gần đến nhà rồi mà Trầm không còn hơi sức để bước nữa. Trầm biết hai đứa đang ngồi trước căn phòng tối om đợi mẹ. Hai trăm ngàn một tháng cho một căn phòng gần mười mét vuông và một bóng néon sáu tấc. Bất giác, Trầm thở dài, một trận ẩu đả, một vụ bể hụi, lễ Vu Lan, một chiếc lá diêu bông cùng cô bạn gái... Có lẽ Trầm để tất cả như khói cơm chiều bay lên tan biến vào không gian trong cuộc sống bộn bề vất vả. Nhưng tận đáy lòng Trầm không ai biết ai hay, chỉ có một mình Trầm biết, Trầm vẫn giữ lại đôi bàn tay đẹp của một kẻ sắp sang Tần.
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 17:40:52ldlvinhquang>
HẸN HÒ TRONG THINH KHÔNG
Trần Lệ Thường
 

Không phải dòng sông cũng không phải con đò; không là bến cũng không là thuyền; không là cây đa cũ với bến đò xưa. Ấy vậy mà chúng tôi đã gặp nhau và cùng đúng trước bàn thờ tổ tiên mà thề hẹn, sau hai mươi năm không một lần nào nghĩ tới nhau. Cái lẽ đời vẫn vậy, không có điều gì mình mong muốn mà nó đến và có những điều mình không hề nghĩ đến nhưng tự nó đã tới với mình. Bình thản tự nhiên như khi sáng ra thức dậy đứa học trò thấy hoa phượng đỏ cả một gốc phố thì nhận biết đó là mùa thi, mùa nghĩ hè và tự nhiên và chia tay, là những quyển lưu bút truyền đi như bươm bướm bay.
 Hồi đó, tôi không ưa Diễn mặc dầu cả tôi và Diễn đều bị bạn bè cho là “gàn gàn… dỡ dỡ”. Nhà tôi ở gần cuối con ngõ cục, còn nhà Diễn ở ngoài đầu ngõ cạnh hai hàng bông bụp. Tôi không ưa Diễn vì Diễn thường ra đầu ngõ bẻ bông. Chẳng hiểu vì có gì vui khi đứng nhìn người qua lại trên đường còn tay thì ngắt bông, không có bông thì ngắt lá. Có lúc, tôi từ trên đường đạp xe vù vào giữa hai hàng bông bụp suýt nữa đâm vào Diễn. Thằng con trai học lớp chín quắc mắt lên muốn gây sự với đứa con gái học cùng lớp, ngụ cùng ngõ và cùng tuổi với nó. Tôi lúc lắc mái tóc lưa thưa của mình, mắt lườm thằng con trai mà cái lưỡi thì thè ngạo nghễ. Chiếc xe đạp chạy tuốt vào trong, tôi nghe loáng thoáng “đồ gì!” ấy. Đồ chết tiệt chứ có đồ gì chứ có đồ gì! Tôi rủa thầm. Tên này ưa không nỗi. Không biết galăng và cũng chẳng dịu dàng với phái đẹp. Thật sự thì tôi không biết mình có đẹp hay không nữa. Tóc thưa hoe vàng cháy nắng, nước da bánh ít vì đạp xe rong ngoài phố, mắt to có đuôi rất phù hợp với chiếc miệng rộng. Người gầy như cái que cà rem khi mà các thứ phụ tùng trên người chưa phát triển kịp và chưa được trang bị bằng hàng ngoại nhập. Nhưng cho dù có xấu đến đâu tôi cũng được liệt vào phái đẹp. Cũng như Diễn dầu gầy nhôm người ta vẫn gọi là phái khỏe.
 Làm sao có thể ưa được một kẻ chỉ nhìn mình có một con mắt. Trong lớp tôi có tiếng là ngâm thơ rất hay, rất truyền cảm. Cái lừng khừng ở trong tôi mà bạn bè đôi khi gọi là “té giếng” ấy nó tôi ngâm thơ rất đạt, cho nên dầu lem luốc như ma tôi cũng có người “trồng cây”. Cây si thì bốn mùa luôn xanh lá. Tôi cảnh giác mình. Người thích giọng ngâm thơ của mình thôi. Nhớ! Nếu qua một cơn viêm họng hoặc sợi dây thần kinh trong đầu “mát” hẳn luôn thì mình “té giếng” thật sẽ không có con ma nào trồng cây mình nữa. Sẽ không còn thiệp noel, sẽ không còn thiệp chúc xuân, sẽ không còn ai đóng hộ chiếc quai guốc đứt và sẽ không còn những ly chè đá lạnh trong những chiều mưa thầy chủ nhiệm bị đau nặng. Sẽ không còn tất cả, tất cả... Và tất cả những thứ ấy không từ Diễn. Đã thế, khi mà cả lớp phát hiện ra giọng ngâm thơ tuyệt vời của Diễn thì tôi càng khó chịu hơn. Đương kim vô địch không còn là tôi mà là Rômaniô, xin lỗi là Huỳnh Diễn. Tàn rồi giấc mộng huy hoàng trên đất khách, à không, trong lớp chín một với bốn mươi chín học sinh và một giáo sư hướng dẫn thường xuyên bị đau nặng. “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa khiến cho mọi người ngưỡng mộ Diễn bao nhiêu thì lòng tôi càng ấm ách bấy nhiêu.
 Có một lần lớp tôi tổ chức đi cắm trại ở bên kia sông. Có nghĩa phải qua đò. Từng chuyến một qua sông với nồi niêu xoong chảo rộn ràng. Ba mươi con người qua đò làm ba chuyến. Những ba chuyến đò qua sông mà tôi phải đi cùng chuyến đò với Diễn. Cái tình cờ ác nghiệt đấy ở trong tôi nghĩ về “đồ gì” mà sôi máu. Bởi thế, khi đò cặp bến chỉ có Diễn và tôi lên sau cùng. Tôi xô vội đò ra trong khi phía sau tôi Diễn đang sửa soạn bước lên. Vậy là Diễn rơi tòm xuống nước. Mọi người đứng trên bờ được dịp cười ầm ĩ. Tuấn đang cầm máy ảnh bấm liền tức thì cảnh hiếm có. Sau đó đoàn cắm trại đi từ từ vô địa điểm. Chỉ cách một con sông mà ở đây như một vùng nông thôn chính hiệu. Chúng tôi sẽ đi qua cầu khỉ chênh vênh. Từ từ, lần lượt. Tôi, dép cầm tay mà vẫn run lên mỗi khi nhích được một bước. Sợ bạn bè cười, cố lắm tôi đi được nửa cây cầu trong khi trống ngực đập liên hồi. Tôi dừng lại và ngập ngừng quay qua phía sau. Trời! Diễn đang lù lù ở sau tôi từ lúc nào. Không qua khỏi mắt Diễn, Diễn đưa tay ra. “Sợ hả? Nè! Vịn đi!” Không! Không bao giờ! Không đời nào! Không thể!... Trong tôi gào lên thảm thiết. Nhưng nước dưới kênh đen đặc và bạn bè ở phía sau Diễn cũng nhiều. Nhất là Tuấn với máy ảnh trong tay lăm lăm rình cơ hội. Tự trọng là gì nhỉ? Là không vịn vào cánh tay đang chờ đợi kia để rơi tòm xuống nước hay tự trọng là vịn vào đấy để yên tâm mà qua cầu? Dẹp quách cái tự trọng vào trong túi du lịch cho rồi khi mà đôi chân đang run lên như người bị cảm cúm. Tôi bèn... thở dài, không nhìn Diễn và cũng không buồn tự hỏi tại sao cái gã bẻ bông bụp này hôm nay học được bài học galăng ở đâu mà lịch sự quá. Tôi vịn vào cánh tay của Diễn... thật chặt.
 Vậy đó, chúng tôi – gồm có tôi và Diễn – qua cầu bình yên. Tôn Ngộ Không phò Tam Tạng qua cầu. Tôi nghĩ thầm. Dẫu sao, thì Tuấn cũng đâu có bỏ qua mấy cảnh gay go đó. Khi những tắm ảnh của ngày cắm trại được công bố, và những cái đầu đang châu vào nhau tìm kiếm mình thì tôi thấy mình đang trịnh trọng vịn vào cách tay Diễn với vẻ mặt cực kỳ nghiêm trang, còn Diễn ngước cái mặt Tôn Ngộ Không lên tự mãn. Trời! Giá mà lúc đó mình cứ kéo rẹt các phẹc-ma-tuya túi du lịch ra, rồi ôm cái tự trọng cùng cái túi du lịch mà pờ-lông-nhông xuống kênh để làm con chuột ướt cho rồi.
 Dĩ vãng thì cứ chạy giật lùi, tôi thề không bao giờ nhớ cái ơn qua cầu đó. Cuối năm, quyển lưu bút của tôi chuyền đi vù vù không thấy bóng, mãi đến khi phượng không còn đỏ nữa mới thấy quyển sổ màu xanh tái ngộ chủ nhân của nó. Bính lớp trưởng chúc tôi học giỏi. Tôi bỗng bật ngửa khi thấy nét chữ xấu như ma của Diễn ngoằn ngoèo trên giấy. Anh ta còn làm một bài thơ chia tay. Rằng là sẽ đi xa xa lắm, tận đâu đâu; rằng là trong đời Diễn đến lúc này, một học sinh lớp chín trường phổ thông trung học tổng hợp Nguyễn Trung Trực chỉ có một lần làm việc thiện duy nhất, đó là hôm đi cắm trại... Tôi hùng hổ rứt mạnh trang giấy ra khỏi quyển sổ và xé nát vụn. Ai đã đưa quyển lưu bút cho anh ta. Tuấn này chứ chẳng ai! Nhưng Tuấn chối bai bải và chuồn mất khi thấy mặt tôi tối sầm như đêm ba mươi – và điện bị cúp. Diễn khôn hồn chiều hôm đó không ra hàng bông bụp bẻ bông nữa. Tôi đạp xe vù qua nhà Diễn mà không thèm nhìn dù bằng cái đuôi con mắt.
 Tôi cũng chưa bao giờ để ý là lần sau cùng tôi nhìn thấy Diễn ở đâu. Thời gian qua đi với bao điều thay đổi. Sau này, nhà Diễn được xây cất lại quét vôi trắng và lắp toàn cửa kính. Còn nhà tôi vẫn vậy, tuy nhiên má tôi không còn bán bún nước trước cửa nhà nữa. Tôi thì là cô giáo, nhà văn, nhà thơ. Năm tháng qua đi, Tý Sửu Dần Mẹo... hơn hai mươi năm cứ lặng lẽ trôi qua, tôi vẫn một mình “ên” với văn với thơ học trò với giáo án và với cái ti vi trắng đen cổ lỗ sĩ cùng với một bà già thật già. Dĩ nhiên tôi cũng có phần hồn của riêng mình trong cái “ên” đó. Rồi một hôm trong lúc đang cặm cụi viết tôi nghe má tôi nói: “Thằng Diễn ở đầu ngõ mới về”. “Vậy hả má!” Tôi lơ đễnh lên tiếng. “Nghe nói nó về đây cưới vợ”. Má tôi lại nói trong tiếng nhai trầu bỏm bẻm. Chợt nhận ra điều gì đó, tôi ngẩng lên. “Ủa? Anh ta cũng lớn tuổi rồi, chưa lập gia đình à?” Má tôi chặc lưỡi. “Thì cũng như mày, ai mày cũng chê trần tục. Phải mà, tại vì mày không phải người phàm. Ai mày cũng chê không có tâm hồn. Có tâm hồn! Có tâm hồm là sao? Tao chỉ thấy mày có khi ngồi viết tới sáng mà ti vi màu đổi không nổi trong khi người ta bắt đầu có ti vi “mùi” rồi. Mày không thực tế con ạ! Dẹp ba cái tiểu thuyết lãng mạn ấy lại đi. Còn thơ với thẫn, còn tạp chí với tuần báo. Con ơi! Giá má lúc trước con nhận lời thằng Xại bán thịt heo... “Trời! Trời!” Tôi kêu lên vì cảm thấy bị tổn thương nặng nề. “Ông ta có sáu đứa con gái và ba đứa trên sáu mươi kí”. “ Rồi sao? Vợ ông ta mất rồi, con cái ổng giỏi buôn bán đứa nào cũng được việc...” Má tôi nhổ trầu rồi ca tiếp bài ca tôi đã nghe đến một nghìn lẽ một lần. “ Còn ông phó giám đốc công ty chăn nuôi gia súc gia cầm gì đó mày cũng chê nốt”. “Má ơi!” Tôi rên lên. “Ông ta đã ba vợ và mới ly dị vợ thứ ba có hai tháng”. “Xí! Vậy là ổng đang độc thân chứ gì?” Má tôi xỉ ngón tay trỏ vào trán tôi. “Mày già rồi mà không biết sao? Những người đàn ông đến tuổi đó thì cũng phải nhiều con nhiều vợ. Mày nên nghĩ đến thân mày con ạ! Má đâu có sống đời với con rồi con cũng sẽ già như má. Ai sẽ thắp nhang cho mày? Tao nói cái chuyện thằng Diễn ở bển bị đá lên đá xuống nên muốn về đây cưới vợ. Ối! Con gái ở bển con cũng biết rồi đó. Có nghĩa là hiện giờ nó không có gia đình”. Tôi không để ý lắm tới lời của má tôi vì bà vẫn thường như  vậy. Có dịp là lại ca cẩm tới chuyện lập gia đình của tôi. Mà tại sao tôi nhất thiết phải có gia đình chứ?
Cho tới một ngày Diễn bước vào nhà khi tôi vừa đi dạy về, chưa kịp thay chiếc áo dài. Không phải là Diễn gầy còm yếu ớt thường ra hàng bông bụp bẻ bông nữa. Chúng tôi hỏi thăm nhau theo cách thông thường của hai người bạn cũ gặp nhau. Nhắc chuyện cũ tôi và Diễn cười vui như tết. Tấm ảnh đen trắng hôm đi cắm trại tuy đã ố vàng tôi vẫn còn giữ. Tiếc cái trang lưu bút phải chi ngày đó tôi đừng xé. Còn cái ơn qua cầu tôi đã thề không nhớ lại chính tôi nhắc cho Diễn nghe. “Tôi nghe má tôi nói...” Diễn tự nhiên nói với tôi. “Chị chưa có chồng, chị là một cô giáo già rắc rối. Má tôi nói chứ không phải tôi nói nghe. Còn tôi thì thấy là bây giờ chị đẹp lắm. Chứ hồi đó... xin lỗi nghe!” A! rõ ràng Diễn đã hấp thụ nền văn minh Tây phương triệt để lắm. Cho dù tôi là một cô giáo lỡ thời, cho dù tôi là một nhà văn kiêm nhà thơ cũ kỹ như chiếc tivi nhà tôi thì tôi cũng là một phụ nữ, thế cho nên... “Mãi cho đến bây giờ chị cũng vẫn chưa gặp được ai à?” Nghe Diễn tò mò hỏi tôi liền hồ hởi tâm tình. “Anh biết rồi đó, hồi ấy tôi mê Ng.T.Nh lắm. Tôi cứ mơ ước sẽ có một ngày mình gặp được gặp ông ta. Nhưng sau này tôi đọc báo thấy đăng tin ông ta tự tử trong chiếc xe của ổng ở bển. Tôi buồn quá, bệnh luôn. Mơ ước của tôi muôn đời không thực hiện được. Tôi thất tình như điên, cũng muốn tìm một chổ nào nương thân cho rồi nhưng không muốn “trao duyên cùng tướng giặc” nên cứ lần lựa mãi. Có đêm tôi mơ thấy mình biến thành “Cô bắc kỳ nho nhỏ” không thích xem cải lương và “xem như Hà Nội xứ hoang đường”. Tôi mơ thấy “Chúa cười run thánh giá” còn “đám đông” thì nhìn tôi cười ngạo nghễ. Anh tính xem,  hơn hai mươi năm thì có bao nhiêu đêm. Có lẽ đường tình yêu của tôi lận đận lắm. Nè! Có biết xem tử vi không xem dùm tôi một quẻ”. “Tôi nghĩ đó không phải là tình yêu. Chị si mê thần tượng của mình chứ không phải là tình yêu. Đúng ra chị chưa yêu ai vì chưa gặp người vừa ý. Còn thần tượng, chị yêu vì chị ở xa đó thôi, đến gần chán lắm, họ cũng tầm thường như bao người”. Diễn phân tích cái gọi là yêu với không phải yêu, rồi xởi lởi nói tiếp. “i cũng đã từng như chị, muốn chạy đến với thần tượng của mình. Giờ thì tôi quên hết rồi “Áo lụa Hà Đông”, nhưng không phải như vậy là tôi không còn thích nghe lại những bài thơ ấy. Tôi hồi hương, lập nghiệp, muốn có một gia đình ấm cúng bình dị. Tôi không thích một bộ cánh lòe loẹt mà rỗng tuếch. Nhưng năm tháng xa quê tôi da diết nhớ “Hà Nội ba sáu phố phường. Lòng chàng có để một tơ vương”. Rồi khao khát “Tháng sáu trời mưa trời mưa không ngớt. Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa”. Mấy bài chị đã ngâm trong lớp” Đang trò chuyện râm ran tôi bỗng dưng đâm ra bối rối. Tôi chưa thấy mình như vậy bao giờ. “Mấy bài đó lạc hậu rồi, bây giờ nếu có ngâm thơ tôi sẽ ngâm những bài thơ khác. Nhiều bài mới hay lắm...” “Ờ được! Chị muốn ngâm bài nào cũng được... Tôi không biết xem tử vi,  nhưng tôi biết năm nay có đám cưới thì tốt lắm. Có lẽ đã đến lúc Thường không độc thân nữa”. Rồi Diễn thấp giọng hơn. “Bỏ Ng.T.Nh qua một bên và dẹp quách mấy bài thơ lãng mạn. Chuẩn bị may áo dài mới vì áo Thường mặc đã cũ rồi. Có lẽ ngày đó em nghĩ đến tôi nên mới chờ đợi tôi đến bây giờ”. Biết Diễn đã hiểu lầm nhưng tôi không thèm đính chánh. Trời! Ngày đó hả... tôi ghét anh khỏi phải nói.
 Tối đó, tôi nói với má: “Diễn về đây cưới vợ đúng như má nói và sẽ cưới một cô giáo già “té giếng” má ạ!
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-15 17:45:33ldlvinhquang>
TẤT CẢ CÁC DÒNG SÔNG ĐỀU CHẢY
Trần Lệ Thường
 
 
Trong lúc này ba tôi lại nằm bệnh viện, tôi tới lui được vài ngày rồi biến luôn để mặc má và vợ chồng đứa em trai chăm sóc.
  Tôi xin nghỉ phép rồi nằm mẹp trong phòng như người ốm lâu năm. Nằm chứ không phải ngủ. Mắt có quầng đen còn da dẻ thì thâm xì khô khốc. Qua một đêm đầu tóc như Ngũ Tử Tư. Con Trúc đang học lớp mười một, đi học về ghé chợ mua thức ăn, làm cơm. Thằng Trân chiều chiều không đi đá banh mà ngồi xem tivi với khuôn mặt chảy dài. Chốc chốc tụi nó lại đi qua phòng nhìn vào thở dài thườn thượt. Tụi nhỏ tưởng mình có thể ngủ một giấc rồi đi luôn hay sao? Nếu mà có thể được như vậy thì cũng tốt. Tôi càu nhàu thầm dụi mặt xuống gối, tay vô tình quờ quạng nhằm chiếc gối nằm trống không bên cạnh. Tôi túm lấy ném mạnh vào cánh cửa. Tiếng động khiến cho con Trúc, thằng Trân hốt hoảng chạy vào phòng. Trong khi con Trúc ra vẻ người lớn ngồi yên lặng bên giường thì thằng Trân cúi xuống cố tìm gương mặt tôi, nó thở phì phì trên tóc tôi. “ Mẹ! Mẹ ơi!” Nước mắt tôi bỗng ứa ra. Tôi đang làm gì đây? Trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn tôi tự hỏi, tự thán rồi trách. Một không khí buồn tẻ phủ chụp lên ngôi nhà xinh xắn đã từng có một thời hạnh phúc. “Ôi! Hạnh phúc! Một đời hay một thuở. Vẫn miệt mài cuống quýt sợi tơ vương.”
 “Alô! Mày đang làm gì đó?” Giọng thánh thót của Kim vang trong máy khi tôi uể oải nhấc máy lên. “Tụi tao đang kéo nhau ra quán bún riêu của bà Năm mập. Mày ra đi, tao chờ!”. Tôi rên rỉ ca cẩm một hồi lâu, cuối cùng khi đặt máy xuống chỉ nhớ nó nói sẽ đến sau giờ làm việc. Kim lớn hơn tôi vài tuổi, lập gia đình sau tôi nên đứa con gái lớn chỉ bằng thằng Trân. Người mập thấp nhưng nhanh nhẹn tháo vác. Đặc biệt có giọng nói trong trẻo hát rất hay. Nghe tiếng nói mà chưa thấy người không ai có thể hình dung ra được nó. Gần mười năm làm bạn với nhau, Kim luôn săn sóc quan tâm đến tôi như một người chị mà lúc nào nó cũng làm ra vẻ chị cả tôi. Nhưng gọi Kim bằng chị thì tôi không gọi được.
 Chằng hiểu tại sao nữa. Thỉnh thoảng Kim đưa tôi về quê nội chơi khi có dịp gì đó. Buổi trưa, hai đứa đứng bên bờ sông trước nhà dưới bóng một cây dừa xanh um râm mát. Bóng cây như tán dù to rộng che lấy hai chúng tôi. Nơi nào cũng có một dòng sông dù lớn hay bé và dòng sông nào cũng chảy dù nước lớn hay ròng. Con sông nào cũng đẹp, cũng đổ ra biển. Rồi Kim vụt cười lớn. “Và cũng mang theo ít nhiều rác rưởi”. Tôi nhìn theo những chiếc lá vàng đang trôi lững lờ trên dòng nước. “Văn chương của mày nghe mùi câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An quá!”. Tôi nhặt một nắm đất ném xuống sông, Kim kêu oai oái khi bị nước văng lên người. Không có chồng, không cả con, giờ phút này chúng tôi thấy thoải mái làm sao, tâm tư quay về thời đi học trên đôi guốc vong quai trắng. Ba con Trúc thường hay nhặt bông sao tặng tôi. Anh ấy thích hàng cây sao cao ngất và những chiếc bông sao rơi như bông vụ trong gió. Tôi nhớ nhà vườn của ba má tôi. Mảnh vườn mãng cầu được má tôi, một cô gái phố thị về làm dâu chăm sóc. Ngày còn bé tôi và đứa em trai mê mải suốt ngày bên những gốc cây, ném đất xuống ao nuôi cá.
 Tôi lập gia đình về thị xã cách xa hơn mười cây số. Thỉnh thoảng ngày nghỉ lễ, chủ nhật tôi cùng chồng con về thăm ông bà. Cũng như tôi ngày đó, vừa đến chúng đã chạy ra vườn mất dạng. Cả hai đứa chạy tìm ông ngoại. Từ ngày nghỉ hưu ba lúc nào hầu như cũng ở ngoài vườn. Sùm sụp trên đầu chiếc nón lá, chân đất, quần xắn đến gối ông miệt mài ngoài vườn với khuôn mặt đỏ lửng bắt nắng. “Ba mày dành hết phần việc của má.” Nói thế thôi chứ má còn cả chuồng lợn, bầy gà thêm đàn vịt ta đang cho trứng làm gì còn có thời gian ra vườn. Vợ chồng đứa em trai đều đi làm ngày hai buổi, đứa cháu nội lên tám đi học. Rất ít khi nào tôi thấy ba má to tiếng với nhau. Chẳng biết có phải vì má là một người phụ nữ khéo chiều chồng hay ba là một người đàn ông thương vợ. Từ ngày lập gia đình lúc nào tôi cũng ao ước được như ba má tôi. “Con cá làm nên con mắm. Vợ chồng già thương lắm ai ơi!” Đứa em dâu thường trêu, đôi mắt đong đưa.
  Mười mấy năm rồi, chúng tôi cũng có nhiều lần to tiếng với nhau nhưng là chuyện sinh hoạt gia đình, nuôi dạy con cái. Gần năm mươi tuổi, anh ấy có nhiều thay đổi rõ rệt. Ít quan tâm đến việc học hành của con cái, không ngó ngàng gì đến nhà cửa. Trong ngoài, sau trước chỉ có một mình tôi. Đi làm việc, đi hội họp, đi công tác,... đi đêm. Hai ba giờ sáng về kêu cửa. Con Trúc mắt nhắm mắt mở đi lấy chìa khóa, miệng càu nhàu như bà già nhai trầu. Chẳng hiểu sao, hứa hẹn gì mà sau này thằng Trân dành phần đi mở cửa. Nó ngủ say con Trúc cũng gọi nó. Thằng Trân lãnh việc này con Trúc rất mừng. Tôi thì nằm im trong phòng nghe ngóng. Vật xuống giường, anh ấy ngáy như ống khói lò rèn bên tai tôi. Mọi tức uất tôi đều cố nuốt xuống bụng nhưng tất cả không chịu xuống cứ nằm lại nơi ngực tôi nhức nhối. “Nhậu nhẹt với bạn bè.” Buổi sáng, chuẩn bị đi làm anh giải thích. Chuyện bồ bịch của anh tôi đã nghe người ta xì xào từ lâu rồi. Nhiều ngày liền tôi không nói gì đến anh, về nhà anh vả lả nói chuyện với mấy đứa nhỏ. Tôi gọi điện thoại cho má để nhận được lời khuyên: “Không nên có thái độ như vậy.” Tôi biết là má sẽ khuyên tôi câu đó. Nhưng tôi khác má cũng như anh ấy không làm sao với tới ba.Vậy đó, đàn ông thì vẫn gọi đàn ông như nhau nhưng mỗi người là một thế giới riêng tư khác biệt. Nhưng tìm hiểu họ làm gì kia chứ? Trời chưa sáng rõ mặt người, hơi sương còn lành lạnh, anh ấy về với khuôn mặt mất ngủ, lén lút quay mặt đi che miệng ngáp. “Sao không đi luôn?” Câu này tất cả các bà vợ đều sẽ nói nếu ở vào hoàn cảnh của tôi. Anh không nói gì chỉ đưa mắt nhìn tôi như biết lỗi rồi đi vào phòng. Sự im lặng như một lời thách thức, tôi lao theo vào mở tủ tuôn quần áo của anh ra giường. Sự nín nhịn chịu đựng ở trong tôi đã bùng nổ. Con sông nào cũng có sóng ở đáy sông. Những con sóng ngầm sẽ chồm lên bất cứ lúc nào không lường trước. Cho dù anh có là cái gì ngoài xã hội thì trong gia đình anh cũng chỉ là một người chồng, một người cha. Rằng là anh chà đạp hạnh phúc gia đình, phản bội vợ. Rằng là lòng chung thuỷ anh đã cầm ở quán nào rồi. Rằng là anh một người cha vô trách nhiệm, một người đàn ông không ra gì...Tôi nắm lấy ngực áo anh gào lên, rít lên. Hai cái đầu thò vào phòng với bốn con mắt mở to. “Thôi mà! Các con nghe thấy.” Anh xuống nước năn nỉ. “Nghe thấy, nghe thấy... tôi muốn các con phải nhìn, phải thấy, phải biết ba nó một người sa ngã bê tha... Giọng nói đục trầm của tôi hôm nay sao cứ the thé nghe chói tai. Anh tái mặt rồi bỗng gạt mạnh tay khiến tôi ngã chúi xuống giường. “Ba! Ba!” Các con tôi xô vào phòng kêu toáng lên vì tưởng ba nó đánh tôi. Anh hằn hộc lôi chiếc vali trong tủ ra cho quần áo vào...
 “Mày làm tao tưởng trời đã sập hay sắp sữa có sóng thần. Chuyện bình thường.” Kim đến như đã hứa. Sau khi nghe tôi vừa khóc lóc vừa kể lể, một mình độc diễn mấy lớp, nó dựng tôi dậy, lôi xuống giường lấy lược chảy tóc cho tôi. “Trời! Tóc bạc!” Kim kêu như cháy nhà, như người thợ hớt tóc khi phát hiện hai lỗ tai lừa của vua phải chạy vào rừng gào lên. Bà muốn mất chồng luôn rồi hay sao mà bỏ ăn bỏ uống nằm mẹp như người hấp hối chứ. Phải đẹp, phải tươi tắn, phải dịu dàng để lôi ông ấy về... Kim đẩy tôi vào nhà tắm rồi phấn sáp, rồi chảy matcara cho mắt đen mướt, rồi son môi thật ướt thật mềm. Đi nhuộm tóc, đi mátxa, mua mấy bộ đồ ngủ mỏng dính bằng loại vải thật mềm. Mười hai giờ! Khi lên giường được rồi tôi nằm rã rời buồn thê thiết. Giường sao rộng mênh mông, gối chăn sao lạnh lẽo quá. Anh ấy bỏ đi đã mấy ngày rồi. Mấy ngày như mấy thế kỷ trôi qua, thoắt cái tôi thấy mình già như mụ phù thuỷ sống đến mấy trăm tuổi với chiếc lỗ mũi thật dài. Thật hãi hùng! Chắc là anh ấy vẫn đến cơ quan làm việc. Tôi mà đến đó thì sự thể không biết sẽ xảy ra như thế nào nữa. Ừ! Bể rồi cho vỡ luôn. Li dị! Đi thì cho đi luôn. Tôi sẽ lấy chồng khác sau ba tháng. Tôi tuyên bố thầm trong lúc lơ mơ ngủ thiếp đi. Tiếng gõ cửa khiến tôi choàng tỉnh. Nhảy xuống với đôi chân trần lạnh băng tôi hối hả mở cửa. Hai hòn bi xanh lè, màu xanh ngọc bích đang chiếu thẳng vào tôi thứ ánh sáng ma quái. Con mèo mun! Tôi hét lên đóng sập cửa phòng quay lại thì đã thấy anh đang nằm trên giường nhìn tôi cười, đôi tay dang rộng. Lao vào vòng tay anh, tôi khóc nấc lên. Nỗi sợ hãi vừa rồi khiến tôi thấy tôi cần anh biết chừng nào.Vai tôi bị lắc mạnh khiến tôi choàng tỉnh. Gương mặt con Trúc đang cúi xuống tôi thật gần lo lắng. “Mẹ mơ thấy gì mà khóc?” Tôi đưa tay lau vội má, những giọt nước còn nóng hổi trong lòng bàn tay tôi. Thở hắt ra tôi vuốt tóc con gái. “Mẹ không sao, các con về ngủ đi”. Thằng Trân ngồi phịch xuống giường. “Con sẽ đi tìm ba”. Tôi muốn phì cười khi trông thấy gương mặt nghiêm trọng của nó. “Để làm gì?” Con Trúc trả lời hướt.“Xin tiền đi cắm trại đó mẹ.” Thằng Trân sừng sộ. “Chị biết gì, chị xem thường người ta quá. Lúc trước ba hứa sẽ cho tiền em đi cắm trại nhưng bây giờ em không đi nữa, em không muốn đi. Vui vẻ gì mà đi. Em chỉ muốn hỏi ba: Tại sao làm khổ mẹ?” Tôi lịm người đi chua xót. Thằng con trai học lớp tám của tôi không còn vô tư trong vòng tay hạnh phúc của gia đình nữa.Tôi đã lôi kéo các con tôi vào vòng tròn u ám mà đúng chỉ một mình tôi ở trong ấy. Tôi nhớ ba, giá mà ba đang khỏe mạnh tôi sẽ gục đầu lên vai ông mà khóc cho hả hê, cho vơi bớt nỗi đau đang ăn mòn tôi từng giờ từng phút. Một phần đời sống trong đạn bom khói lửa, phần còn lại sống với gia đình. Ba là đóm lửa trong đêm tối để chị em tôi soi đường. Mùa này, trong vườn mãng cầu sai trái lắm. Những trái to hình bầu dục treo lủng lẳng nặng oằn nhánh cây. Ba tôi nằm bệnh, mãng cầu chín cả trên cây không ai buồn ngó tới. Tôi ngồi lên, dang tay ôm cả hai đứa vào lòng. “Ngày mai mẹ con mình đi thăm ông ngoại. Mẹ sẽ không buồn nữa”. Hôn nhẹ lên tóc thằng Trân tôi nói: “Con cứ đi cắm trại, mẹ sẽ cho tiền.”
  Chưa đến ngày thằng Trân đi cắm trại thì ba tôi mất. Chuyện gì đến thì sẽ phải đến thôi. Trời buồn u ám, không phải mùa đông, không phải trời cao nguyên mà mưa bụi cứ bay lất phất. Trời lúc nào cũng như hoàng hôn. Hay hoàng hôn chỉ trong mắt tôi? Tôi thẫn thờ đứng bên bờ ao nhìn những con cá ngoi lên hớp không khí mà hình dung ra ba tôi đang rải thức ăn xuống với những tiếng chắc lưỡi quen thuộc. Dưới gốc mấy cây mãng cầu gần đó, trưa nào ba cũng ngồi nghỉ rồi ăn chén chè thưng nóng hay uống ly nước trái cây do má tôi mang ra. Lúc này, má gầy đi hốc hác, hai má lỏm vào bày chiếc mũi cao và đôi mắt sâu thăm thẳm nhưng đầy nghị lực. Bà vẫn đi ra đi vào thu xếp các thứ. Kim theo tôi về, lẩn quẩn bên tôi với những lời ca cẩm. “Mày yếu đuối quá!” Tôi không phản đối. Mắt tôi sưng đỏ lên. Tôi đang có đến hai điều mất mát. Ba và chồng tôi! Dù hai người bằng hai cách khác nhau đã bỏ tôi.
 Tôi quay vào nhà, bỗng dưng tôi thấy đứng cạnh quan tài là một người đàn ông hao hao đứa em trai đang nói chuyện với má. Mất mấy giây sau tôi mới biết không phải giống em tôi mà thật ra là giống ba. Giống ba hơn cả chị em tôi. Tay tôi lạnh toát, mắt hoa lên, người tôi chao đi tưởng sắp gục xuống. Má vụt bất chợt quay lại, bà vội vã đến bên tôi. “Anh con, về chịu tang... trong chiến tranh... thất lạc...” Má nói khẽ đứt quảng từng câu ngắn. Bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tôi hình dung ra được tấn bi kịch ngày ấy. Tôi chạy vào phòng má tôi ngã vật lên giường, úp mặt xuống gối. Người tôi dãn ra từ từ, mềm nhũn đi rồi tôi chợt cảm thấy nhe nhõm. Cái khối đá ngàn cân đè lên ngực tôi lâu nay bỗng tan biến.
 Một bàn tay đập nhè nhẹ lên vai tôi. “ Ba con Trúc đã về, đang thắp hương.” Tôi quay người lại nhìn Kim. Anh mắt nhìn tôi cho biết Kim hiểu tôi đang nghĩ gì. “Tất cả các dòng sông đều chảy mày ạ!” Tôi mếu máo tiếp lời Kim. “Và có mang theo  ít nhiều rác rưởi phải không?”.
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
CÂY XĂNG SỐ 12 BIS
Trần Lệ Thường
 
“Mẹ có biết Thanh bây giờ như thế nào hay không? Con đã hết sức ngỡ ngàng khi người ta chỉ cho con ngôi nhà trệt lợp ngói đỏ, quét vôi màu xanh nhạt có khoảng sân lát gạch tàu thật rộng ở ngay dưới chân cây cầu sắt mới toanh. Con đứng tần ngần ở bên này sông nhìn sang. Con sông hẹp với dòng nước xanh biêng biếc mang những mảng lục bình và thuyền ghe xuôi ngược. “Nhà chồng của cô Thanh đó.”
 Người đàn bà chỉ nhà vừa đi được vài bước vụt quay lại. “Cô ấy về kìa”. Đúng là một phụ nữ nông thôn. Mẹ sẽ không còn nhận ra một cô gái mười bảy tuổi mặc chiếc áo ngắn củn cởn ôm sát người bày ra một phần bụng trắng trẻo hay đưa một phần lưng ngực ra ngoài cùng với hai cánh tay tròn lẳn. Thanh đội chiếc nón lá đã cũ thâm đen vì mưa nắng nhưng chiếc áo bà ba màu đọt chuối còn mới tinh trên nền chiếc quần đen bóng khiến gương mặt Thanh rạng rỡ. Một tay cắp cái thúng tre to, tay kia xách mấy trái dừa tươi Thanh bước lên sân đặt các thứ xuống, thay vì đi vào nhà nhưng linh cảm điều gì đó Thanh vụt quay phắt lại. Mẹ ơi! Lòng con như có con sóng nhỏ xôn xao. Có một chút bồi hồi thoảng qua như cơn gió giống hệt năm nào ở nơi thằng con trai mười tám tuổi mới biết làm thơ và nhặt những cánh phượng ép vào trang sách. Bờ sông bên kia có một cây phượng đang trổ bông rực rỡ. Con nhớ mùa hè ở cây xăng, trước cửa hàng cũng có một cây phượng đang ra hoa và thật là ngạc nhiên khi Thanh không mảy may xúc động khi nghe tiếng ve kêu râm ran trên tàng cây phượng mỗi trưa. Mỗi một kỉ niệm là một nắm đất ném lên nấm mồ quá khứ. Con như ngửi thấy mùi xăng nồng nặc cùng với mùi dầu gội tóc của Thanh. Mùi hương đã làm tỉnh cơn buồn ngủ của những ca bán từ nửa đêm về sáng. Con lưỡng lự không biết có nên qua cầu hay không. Cuối cùng thì con cũng qua cầu bằng những bước chân ngập ngừng. Cây cầu sắt kêu lên theo từng bước chân con đi hòa trong tiếng tim con đang đập. Nhìn con trân trối giây lát rồi Thanh reo lên: “Trời! anh Thương!” Thật là hồn nhiên như ngày nào. “Anh đi đâu? Mãi đến bây giờ mới đi tìm em à!” Con cười nhẹ. “Tôi về nghỉ hè, tình cờ bắt gặp mảnh giấy Thanh đưa tôi năm đó, tôi bỗng muốn đi thăm Thanh”. “Em có chồng rồi, gần hai năm”. Thanh cười gượng gạo. “Nghe lời anh, em trở về nhà tiếp ba má làm ruộng, chăm sóc các em”. Con im lặng, chẳng biết buồn hay vui nữa. Ngạc nhiên thì cũng đã ngạc nhiên rồi, ngỡ ngàng thì cũng đã ngỡ ngàng rồi .Có điều con cũng mừng cho Thanh đã lấy chồng ngay trên mảnh đất quê hương. Mẹ ơi! Năm đó khi con đi rồi Thanh có đến nhà tìm con mấy lần nhưng mẹ không cho con biết và giấu biến luôn địa chỉ của con...”
Người phụ nữ thở ra thật mạnh như thể để thổi bớt cái nặng nề trong người đi. Chị nhìn cái màn hình đầy những con chữ đều tăm tắp khô như miếng bánh mì khô rắc đường. Lá thư điện tử được gửi từ Sài Gòn về. Nó trách chị. Cái chuyện ở cây xăng số mười hai bis ấy mà !
Thật là ngẩu nhiên không làm sao giải thích được, ở cửa hàng xăng dầu này trừ bà chủ Lê Hồng Ngọc Anh thì tất cả thành viên có mặt đều có tên gọi bắt đầu bằng phụ âm T hoặc Th. Ông chủ Huỳnh Tía, ngót ngét cũng hơn bốn mươi với đôi chân ngắn ngủn chở chiếc bụng cao quá ngực như những nhân vật trong tranh biếm họa. Tía không trán trợt đầu hói, tóc đen dày, chải bảy ba, bóng mượt. Hôm nào đi tiệc  tùng cưới hỏi ông ta diện bộ comlê đen giống hệt mấy tấm hình trong báo cắt ra. Ăn to, nói lớn Tía đi tới đâu như dời cả chợ theo. Chẳng kém gì chồng, Ngọc Anh ra rả nói suốt ngày với công việc giữ tiền, đếm tiền, chăm sóc hai con và một chiếc bụng gần ngày sinh nở. Nhỏ hơn chồng mười tuổi nhưng trông chị chẳng trẻ hơn Tía bao nhiêu bởi chị có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai. Những đường nét thô kệch trên gương mặt chị không nản lòng Huỳnh Tía theo đuổi từ ngày Tía còn là một công nhân viên đi theo ghe xăng dầu của công ty. Ngọc Anh là con gái út của một thương gia giàu có. Hơn mười năm, không ai biết kể cả Ngọc Anh, Tía đã moi của ông già vợ bao nhiêu là tiền của. Chỉ biết ông ta mở hai đại lý xăng dầu, mua đất cất nhà kinh doanh bất động sản. Từ thời còn đi học Tía mê toán học ghét văn chương. Nói đến thiếu phụ Nam Xương ông ta lầu bầu: “Quá dại dột”. “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay”. Tía lắc đầu khi nghe nhắc đến Hàn Mặc Tử. “Chở xăng dầu mới sống được, chứ chở trăng thì lấy gì ăn”. Ấy vậy mà đừng tưởng ông ta không nhiều tình cảm. Buồn dàu dàu khi xem tivi thấy cảnh lũ lụt tràn lan. Thở dài như cửa hàng bị bán ế hàng tháng. Có lần Tía mất tích cả tuần lễ, tắt máy điện thoại di động luôn. Ngọc Anh gần phát điên chuẩn bị cho phát tin tìm người thì ông ta gọi điện thoại về. Đi Sa Đéc nhập thất trong chùa, ăn chay, đọc kinh. Dầu bận tối mắt tối mũi Tía vẫn dành thời gian tới những nơi nuôi trẻ mồ côi, người già neo đơn.
  Thương về đó khi cửa hàng mới mở, bán suốt ngày đêm. Hè rảnh rỗi, Thương muốn làm một cái gì để có thêm thu nhập phụ giúp gia đình. Ít nói nhưng nhanh nhẹn, Thương là người thứ hai có trình độ học thức sau chị Thêu kế toán. Người gầy như các người mẫu mà đường sữa không bao giờ dám ngó, chỉ toàn  rau cải trái cây, cơm ăn mỗi bữa một chén lưng. Ba mươi tuổi, Thêu đang chiêu phu. Có một lần chia tay với người bạn trai, nói đúng hơn là Thêu bắt được anh ta đang bắt cá hai tay. Với lời biện hộ: “Anh phải về đưa má anh đi bơi.” Thêu xù tức thì mặc dù tuổi xuân đang vẫy tay chào tạm biệt. Thêu buồn, làm hết một tô phở bò, bốn hột vịt lộn, tối về thấy mẹ nấu chè ăn luôn hai chén. Trước khi lên giường còn nốc một ly milo. Một tuần lễ Thêu cảm thấy quần áo mặc chật ních, hai gò má no căng. Trời! Thất tình rồi mình muốn tự tử hay sao? Hoảng hồn Thêu chợt tỉnh trở lại kiêng khem. Nhưng sau lần đó lúc nào Thêu cũng cảm thấy đói. Lâu lâu lại lén – mà lén ai cũng không biết – tối ra vĩa hè ăn một tô bún riêu hay một tô hủ tiếu “gõ”. Tiền là con một người bạn thân của Tía. “Cho nó có việc làm không đi phố đêm”. Tía ừ mà muốn khóc. Thi rớt tiểu học không thèm học nữa, đi ra đi vô, tụ tập bạn bè tối tối đi rểu phố. Còn Thiện biết đọc biết viết, khù khờ chậm chạp, thường để sai vặt. Là con của ông anh vợ, Tía không nhận cũng không được. Thiện không thông minh là bẩm sinh, tuy nhiên cũng không đến đổi nào, nói biết nghe, không quậy quạng gì. Và Thanh, từ một quán bán bia được Tía gọi về giúp việc nhà. Một tối theo bạn bè đi nhậu, cái vẻ thật thà chất phác ở nơi Thanh khiến ông ta để ý. Mà thật ra, mười bốn tuổi Thanh rời quê ra chợ đi giúp việc nhà. Một “Osin” xinh đẹp, thời đại. Về nhà này chưa được bao lâu thì chủ nhà mở quán. Nghe Tía đề nghị Thanh đồng ý về cây xăng liền không ngần ngại. Huỳnh Toàn học lớp năm theo chị Thanh không rời, bé Huỳnh Lê Ngọc Tú thì khỏi nói, tối chị Thanh không dỗ thì nó không ngủ. “Con Thanh có bùa mê gì hay sao mà cái nhà này ai cũng thích nó. Thứ gái quê ra chợ nó nhả phèn đẹp ghê luôn. Thằng Thiện, mày cứ theo theo nó vô bếp hoài là ổng đuổi mày đó. Nói là nói vậy chứ nó siêng năng dịu dàng ai mà không mến. Có nó tao khoẻ, hai đứa nhỏ theo nó cho tao nghỉ ngơi...” Tối bà chủ ra ngoài ngồi chơi nói suốt, hết chuyện nọ đến chuyện kia. “Để tao làm mối cho mày lấy chồng Việt kiều, mày dư sức. Rồi sẽ sống giàu sang không đi ở nữa. Mày thấy con Nở làm bên quán cơm bà Sáu chưa? Nó xấu hơn mày nhiều mà người ta lấy chồng Việt kiều đi rồi đó. Đừng có ngu dại mà dính vô thằnh nào nghèo kiết xác...” Cũng cái chuyện này hôm đó ở bàn ăn Tía gắt ầm lên. “Nói như vậy mà nghe được sao?” Ngọc Anh như muốn trêu tức chồng. “Sao không được, em muốn giúp đỡ nó.” Tía đứng lên, các thứ trên bàn rơi xuống đất tung toé. Thanh, Toàn, Ngọc Tú hoảng hốt bỏ chạy ra nhà trước. Thái độ của Tía càng khiến Ngọc Anh điên tiết lên, phản ứng mạnh mẽ. Mười hai giờ đêm Thương đến thay ca bán với Tiền, trong nhà đã yên ắng, mọi thứ đã được thu dọn sạch sẽ. Khi Huỳnh Tía lệt bệt từ trên lầu đi xuống thì đã hai giờ. “Con Thanh giờ này sao không đi ngủ.” “Con ngồi chơi với mấy anh”. Thanh trả lời nhỏ xíu. “Thằng Thiện pha cà phê được mà.” “Kệ nó! Nó chưa buồn ngủ”. Ngọc Anh đứng sau lưng Tía tự lúc nào hằn hộc lên tiếng.
   “Tại sao lại gọi mười hai bis hả anh Thương?” Mặc dù bằng tuổi nhau một điều Thanh vẫn gọi anh Thương hai điều cũng anh Thương. “Người ta kiêng số mười ba như mùng năm, mười bốn, hăm ba âm lịch”. Có lúc Huỳnh Tía bảo Thương vào kho xếp mấy cái phuy không, Thanh lại lục đục vào làm tiếp. Trưa nắng nóng, mùi xăng dầu rất khó chịu trong bốn bức tường kín bưng không một chút gió. Thỉnh thoảng ông ta lại đứng ở cửa đi giục. “Tụi bây làm gì lâu vậy?” Thanh nhăn. “Ngạt thở muốn chết luôn, hối hoài.” Thương không nói gì đưa tay quệt mồ hôi trên trán rồi tiếp Thanh lăn chiếc phuy không vào trong góc. Đôi lần Thương cũng nhận thấy vẻ khó chịu của ông ta khi Thanh có vẻ quyến luyến Thương. Thứ tình cảm của những đứa trẻ mới lớn mơ hồ. Có buổi chiều Thương rửa xe, chiếc xe con màu trắng  đục vừa bò mấy trăm kilômet đường dài đầy bụi bậm. Thanh cầm vòi nước thỉnh thoảng cố tình đưa về phía Thương trong tiếng cười giòn tan. Tía vừa về đến còn đang tắm gội, trùm chiếc khăn lau trên đầu vội vã chạy ra. “Tụi bây làm trầy xe tao trừ lương.” Những gịot nước trên tóc chảy xuống cổ, lên bờ vai u nần đầy thịt. Thanh đưa vòi nước cho Thương rồi lẵng lặng đi vào nhà không nhìn ông ta. Đôi mắt ti hí của Tía nhìn theo với tiếng gầm trong cổ họng.
Có khi nào Thanh nghĩ đến việc trở về nhà không? Một lần nghe Thương hỏi   Thanh nhăn mặt : “Về nhà không đủ cơm ăn”. Thanh còn bốn đứa em, đứa nhỏ nhất mới ba tuổi”. “Rồi các em Thanh sẽ lớn, sống như vầy mãi sao?” “Anh không nghe thím Ngọc Anh nói sẽ gã em cho Việt kiều đó sao. Có người rồi”. Thanh thở hắt ra rồi nói luôn. “Người này bị mù hai mắt vì tai nạn ô tô, vợ con chết cả rồi, cần người săn sóc”. Thương bật cười khan. “Thanh nghĩ sao?”. “Hổng nghĩ sao hết!”. Thanh vụt cười nắc nẻ. “Sợ sang bên đó em sẽ bỏ ông ta nên bắt phải làm giấy cam đoan.” Thương khó chịu. “Tôi thấy không có gì để cười cả.” “Tức cười quá! Có khi nào em nghĩ đến việc lấy ông ta đâu mà làm giấy.” Thanh nói hồn nhiên như khi người ta mua hay không một khúc vải áo.
  Bà chủ sinh một bé gái bụ bẩm, tóc đen mun giống tạc Huỳnh Tía. Thanh tất bật quên cả tên tuổi, lên lầu rồi xuống lầu, nhà trước rồi nhà sau. Hai đứa nhỏ thức quá khuya không ai buồn gọi đi ngủ. Mấy ngày nay Thêu phải vào bếp nấu ăn, thở dài thườn thượt. “Mùi thức ăn, làm sao chịu được”. “Con Thanh đi nghỉ một chút đi” Mười hai giờ thấy Thanh còn mang thau tả em bé đi giặt, Tía lên tiếng. “Để sáng hẳn hay”. “Nó làm được, anh lo quá đi.” Tiếng Ngọc Anh chan chát trong phòng vọng ra. Huỳnh Tía sầm mặt xuống rồi bỏ lên lầu bế Ngọc Tú vào phòng ngủ. Con bé ngủ gục trước máy vi tính khi chơi điện tử. Huỳnh Toàn thì còn đeo theo Thương ở dưới nhà đòi kể chuyện. Tối hôm sau, Tía về nhà trong tình trạng say khướt. Điều này rất ít khi có. Tía nằm sóng sượt ở salon nghêu ngao những  câu hát không đầu không đuôi. Ông già vợ sang thăm con gái gầm gừ nhìn Tía. “Tao đem Ngọc Anh về bển”. Tía nằm im giả vờ ngủ. Thật ra ông ta đang nguyền rũa ai không giữ lời nói. Đã xấu xí lại còn quá đáng. Nghi ngờ như Tào Tháo.
Hết hè! Thương nghỉ việc trở lại trường. Tối hôm đó, Thanh mắt đỏ hoe đưa cho Thương mảnh giấy nhỏ với những dòng chữ ngoằn ngèo ghi địa chỉ. “Em cũng xin nghỉ, về nhà. Đi thăm em nghen!”. Huỳnh Tía mặt  lầm lầm đưa cho Thanh thêm một số tiền ngoài tiền lương rồi nói: “Về nhà, đừng trở lên nữa. Đời nhiều cạm bẫy. Tình yêu thì chỉ có một nhưng gần gần như vậy thì rất nhiều. Tụi bây còn trẻ dễ dàng ngộ nhận. Thằng Thương còn phải lo học hành. Đời còn dài ở phía trước”. Ngọc Anh ngồi im lặng từ nãy giờ, chị nhận ra với chồng mình có lỗi. Huỳnh Toàn, Ngọc Tú nhao nhao. “Con đi theo chị Thanh”. “Em cũng đi nữa”. Thanh nấu nồi cháu cá lóc thiệt ngon như vẫn thường nấu cho những người bán ca đêm ăn. Thanh bỏ tiêu thiệt nhiều vào tô của mình để có khóc không ai biết. Mọi người đều thức trắng đêm không biết có phải vì mấy ly cà phê pha đặc quẹo của Thiện. “Tui sẽ đi thăm Thanh”. Nghe Tiền tuyên bố Thiện cũng hùa theo. “Tui cũng đi”. Thương ngồi yên lặng nhìn ra mặt đường chỗ tối chỗ sáng. Mấy lần định nhặt cánh phượng trao Thanh nhưng lại thôi. Cây phượng đã tàn, hoa rụng đỏ mặt đường.
Thương vào đại học, bài vở ngập đầu, cuộc sống lôi cuốn. Đôi hồn thơ dại của năm mười bảy tuổi đã được xếp vào ngăn tủ quá khứ. Thanh chờ mãi không thấy Thương xuống tìm nên nhiều lần đi thị xã, đến nhà Thương. Nhưng thái độ lạnh nhạt hờ hững của mẹ Thương khiến Thanh buồn bã không trở lên nữa. Thanh hiểu ra chỗ của Thanh là trên đường đê, bên những cánh đồng lúa chín. Nguời đàn bà ngồi tần ngần một lúc rồi cầm lấy “con chuột” và...nhấp.
Chúng con chia tay nhau mặc dù Thanh cố nài ở lại  chờ chồng Thanh đi làm việc về.Con đi lên cầu, đến chỗ cao nhất giữa sông thì Thanh gọi với đuổi theo. Thanh đến gần đưa cho con cánh phượng vừa nhặt ở bờ sông nhưng lại hỏi một câu chẳng liên quan gì đến cánh phượng. “Chị Thêu đã có chồng chưa?” Con bật cười đưa cánh phượng lên ngắm nghía: “Từ sau ngày thím Ngọc Anh sinh bé Ngọc Thuý chị Thêu “tăng trọng” dữ lắm. Chẳng biết bây giờ chị ấy đã có chồng chưa nữa”.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
DƯỚI CHÂN CẦU TÀ XĂNG
Trần Lệ Thường
 

Chiếc quán nằm một mình dưới chân cầu trên một khoảng đất rộng. Xung quanh thưa thớt những cây bình bát, cây dừa... nhưng dọc bờ sông là hàng cây mắm dày mịt che khuất tầm nhìn khúc sông ngắn. Khúc sông này đổ ra sông lớn chảy ra biển. Bãi cạn, cát lồi lên mặt nước. Người ta neo sẵn mấy chiếc vỏ giọt đợi ghe vô. Một con đường mòn cặp bờ sông ngoằn ngoèo dẫn vào trong xóm. Ngày trước ở đây là một bãi lầy lồi lõm ao đìa, vũng trâu, hoa lau cao ngút đầu. Người ta thổi cát cao lên, xây một cái quán bán nước giải khát cho khách vãng lai. Từ ba bốn giờ trưa, khách đến đây thường là đợi ghe chở ghẹ về. Người nhà cũng có, khách hàng cũng có. Họ trò chuyện râm ran về đủ mọi đề tài.
Người đàn bà cầm chiếc nón lá phe phẩy quạt. Người hơi đẩy đà trong bộ đồ bông tím. Bên ngoài chị mặc một chiếc áo khoác màu kem. Đôi mắt tròn to đen láy với rèm mi dày quyến rũ và cặp môi đầy đặn. Màu da đen giòn nhưng mịn màng. Một người phụ nữ lai rất đẹp ngoài ba mươi tuổi.
Ngày nào chị cũng ra quán ngồi đợi chồng đi mua ghẹ từ ngoài hòn về mặc dù anh không muốn. Anh nói chị cứ ở nhà, không có chị công việc vẫn trôi chảy. Nhưng chị không thể ngồi yên trong nhà chờ đợi, sốt ruột lắm, hơn nữa ra đây ngồi thấy vui, thời gian trôi nhanh hơn. Sẽ thấy anh đứng ở mũi ghe, mặt đỏ lựng đưa tay vẫy vẫy chào chị khi mũi ghe vừa xuất hiện ở khúc sông, sau hàng cây mắm. Ngồi nhà làm sao có được giây phút ấy, rồi anh sẽ đèo chị về trên xe gắn máy. Ngồi sau lưng chị sẽ nghe thấy mùi nước biển, mùi ghẹ hay cá mực... hết thảy nói chung là thứ mùi biển cả quê hương mà anh đã mang từ biển về. Quen thuộc đến mức chị thấy nhớ, thiêu thiếu khi anh tắm rửa sạch sẽ mặc vào người bộ đồ thơm vải mới. Đôi khi còn nhặt những con ốc mang hình thù kì lạ về làm quà cho thằng Sáng.
 Một thằng bé đến mời chị mua vé số, chị lắc đầu đưa ly nước lên môi. Ngụm nước còn chưa xuống tới bụng thì người khác lại tới mời mua vé số nữa. Một người phụ nữ khoảng tuổi chị, chân mày mắt đen nhánh, môi xăm đỏ, bàn tay cầm xấp vé số đưa trước mặt chị. Mãi nhìn, chị quên cả lắc đầu. Người đàn bà bán vé số đứng đợi một lát rồi quay đi sang bàn bên kia. Lạ lẫm gì! Chị biết người đàn bà nọ đi nhưng con mắt vẫn cứ nhìn. Ba người đàn ông chạy xe ôm đang tán gẩu, họ cầm xấp vé số lựa lựa buông lời bỡn cợt, cho qua ngày giờ. Chiếc tivi đang chiếu phim gì đó mà nhiều người xem rất say mê. Cái màn hình đưa ra ngoài bị ánh sáng dọi rất khó xem. Một chị quay qua. “Chị Sương! lát nữa để tui vài kí ghẹ nghen! Làm biếng đi chợ”. “Để coi, không biết có còn không nữa. Ghe bà Hai còn nhiều đó”. Sương vừa trả lời vừa phe phẩy chiếc nón lá. Chị chủ quán thỉnh thoảng đưa mắt nhìn ra chiếc bàn có mấy người đàn ông đang mua vé số rồi lại tiếp tuc xem tivi. Ông chồng nằm trên ghế bố ngáy pho pho như giữa chỗ không người. Chiếc quần soóc ngắn bày đôi chân đầy lông lá. Sương hơi mĩm cười khi nhớ tới những câu chuyện ngồi lê về vợ chồng chủ quán. Ông chồng hơn bà vợ mười tám tuổi. Bốn đứa con đều ở nước ngoài. Hai người vợ trước bỏ đi khi nhà còn ở sâu phía trong. Đất của ông bà để lại bán dần đi. Bốn đứa con là của hai bà. Bà lớn một đứa trai một đứa gái, bà kế có hai đứa con gái. Thằng Dũng là con của bà này, hai người không có con với nhau. Thỉnh thoảng về, chẳng đứa nào cho ông một xu họa hoằn lắm thì có vài chai dầu xanh, cây thuốc. Ông chửi  “Nó nghe lời má nó”. Có trời mới biết vì sao mấy bà vợ bỏ đi.
 Thông thường ghe về thì ghẹ đưa đi Hà Tiên Mũi Nai, phần chừa lại ít ỏi để ăn. Mối lấy ghẹ lâu năm phải giữ. Anh ấy cũng không chịu bán lẻ, bận rộn, phiền hà. “Ông chồng hiền như cục đất”. Ai cũng nói với chị như vậy. Mười mấy năm sống chung chị cũng nhìn nhận câu nói đó đúng chín mươi phần trăm. Con người làm sao hoàn hảo được chứ. Mười tám tuổi được gã đi do người mai mối. Vừa hết tiểu học rồi ở nhà tiếp gia đình ruộng nương chăn nuôi, anh cũng như chị thật thà chân chất. Không biết đải bôi lừa lọc, bụng sao thì sống làm vậy, không ảo đường màu mè. Đám nói xong, tình cờ gặp nhau anh bỏ chạy trước khi Sương nhận ra mình cũng muốn chạy như anh. Hơn hai năm sau ngày cưới chị mới sinh thằng Sáng. Ai hỏi sao muộn con cả hai cùng cười không trả lời. Có những chuyện không trả lời được dù là với người thân. Mười phần trăm Sương chừa lại cũng có nguyên do. Lúc cân ghẹ xong ngồi nghỉ uống nước, chủ vựa cười trêu ghẹo. “Cho ảnh ba quan tiền đi học khôn đi. Lấy anh khỏi phải dạy chồng”. Nào ngờ anh đi rửa tay cũng vừa ra tới. Mặt đỏ như trái gấc anh lôi chị ra xe mặc kệ anh kia rối rít xin lỗi. “Bây giờ em tính sao?” Suốt trên đường đi anh không nói lời nào có lẽ vì ngại có mặt lái xe. Vừa về đến nhà đã lôi chị vào phòng cau có. “Cho tui là thằng ngốc cũng được. Không làm khó dễ gì ai hết, theo nó thì theo, tui trở về nhà ba má tui. Nhà bán đi, thằng Sáng tui nuôi ”. Sương cười ngất. “Ba mày điên rồi hả?” “Anh ta bắt đầu dụ dỗ em hồi nào? Từ lúc giao ghẹ đến bây giờ...” Chị không còn cười được nữa mà muốn bật khóc. “Thôi đi muốn tui thề hông...” Từ lúc ấy không bán ghẹ cho chủ đó nữa, cũng không cho Sương đi Hà Tiên.
  “Bún bì đây! Gỏi cuốn đây!”. Một phụ nữ đặt gánh xuống trước quán mời. “Hai dĩa bún, bốn gỏi cuốn đi chị Tư”. Một người chạy xe ôm lên tiếng. Người mặc áo gió xanh hỏi người kia. “Sao ông không ăn?”. “Tội nghiệp vợ con làm lụng bán buôn  cực khổ, ăn không lấy tiền”. “Hứ!” Chị bán bún nạt nhưng miệng thì cười, hàm răng trắng đều làm gương mặt chị sáng lên. Người đàn ông không ăn bún cũng có một chút ngẩn ngơ khi ánh mắt đậu trên mặt chị, tuy vậy anh ta vẫn đùa. “Không ăn bún, chừa bụng để chiều ăn cơm. Mua vài  kí ghẹ để lát nữa anh dẫn bạn về nhậu nghen Tư”. Lời qua tiếng lại, cười nói xôn xao đến lúc chị Tư gánh hàng đi. Sương thấy anh này len lén trông theo dáng đi lắc lư vì gánh nặng của chị. Trời nắng chang chang, chiếc bóng của chị và gánh hàng in xuống mặt cát nghiêng nghiêng về hướng mặt trời lặn. Chị đi xuống con đường mòn dẫn vào trong xóm.
  “Ủa! Chị Sương phải không?” Sương ngước nhìn hai cô gái vừa bước vào trong quán. Cả hai đều còn rất trẻ, độ khoảng mười chín hai muơi. Trước khi chị kịp nhận ra quen với cô nào thì một cô đã đến bàn chị kéo ghế ngồi. “Quên em rồi sao? Ở bệnh viện tỉnh...” À! Chị nhớ rồi. Bé Hiên! Bảy tám năm rồi thì phải. Bây giờ con bé đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp duyên dáng. Lần đó chị phải nằm viện vì đau dạ dày. Một cô bé bán vé số không bà con thân thuộc từ ngoài Trung vào được đưa đi cấp cứu vì đau ruột thừa. Cha thì không biết, mẹ mất sớm, sống với bà. Bà mất, bé len lỏi vào Nam tự kiếm sống. Vợ chồng chị có giúp một số tiền. Những ngày nằm ở bệnh viện Sương thường đi thăm Hiên, nghe bé tâm sự kể về một miền quê sỏi đá khô cằn, quanh năm suốt tháng người bà không có một đồng bạc trong túi. Từ ngày rời bệnh viện chị không còn gặp lại Hiên cũng như không biết tin tức gì của cô bé. Đôi khi trong cuộc sống bận rộn thường ngày chị vẫn nhớ gương mặt trẻ thơ đầm đìa nước mắt ngày chị xuất viện. Mừng mừng tủi tủi, hàn huyên tâm sự mãi không hết chuyện. Hiên cùng bạn đi Hà Tiên về, ghé uống nước tình cờ gặp chị. Vậy là cả hai có đi qua nhà chị, nhà mới cất lại một năm nay rất khang trang. Sương mời hai cô gái về nhà chơi dùng cơm chiều nhưng phải nán lại đợi ghe về để đãi hai cô gái thị xã một bữa tiệc ghẹ tươi thiệt ngon. Từ chối không được hai cô đành phải ngồi lại mặc dù rất nôn nóng vì trời chiều sắp tối. Một người đàn ông dựng xe trước quán chưa vào đến cửa đã oang oang. “Tao lấy ba kí ghẹ nghen Sương! Có khách”. Chị cười nhẹ nói với hai cô gái. “Anh của chị, ngày nào cũng có khách”. Chợt có tiếng máy nổ xa xa, xình xịch mỗi lúc một gần. “Ổng về đó Sương!” Chị chủ quán gọi Sương. Sương lắc đầu. “Hổng phải ghe của bà Hai”. Hôm nay ghe về muộn thật! Gần năm giờ chiều rồi mà chỉ mới có một ghe sắp vào. Tám giờ sáng ghe bắt đầu đi, đến khoảng ba giờ về đến là về sớm, còn chùng chình mua bán hay trục trặc máy móc thì cũng phải hơn năm giờ chiều. Hai cô gái sốt ruột cứ nhìn ra khúc sông đầy cây mắm, nơi ghe sẽ xuất hiện đầu tiên. Họ nói chuyện với nhau nho nhỏ, hình như cô bạn thôi thúc Hiên đi về.
Ghe vào đến! Ghe của bà Hai! Trong quán chộn rộn hẳn lên, nhiều người bỏ ra bờ sông đứng. Ông chủ quán giựt mình mở mắt ngồi dậy đưa tay tắt tivi, mắt nhắm mắt mở ngó ra ngoài, ngáp không buồn che miệng. Khi chiếc ghe vừa ló đầu ra khỏi khúc sông thì mấy chiếc vỏ neo sẵn được đẩy ra, ghe không cặp sát bờ được. Những con ghẹ to bằng bàn tay người lớn, càng buộc co lại để chúng không kẹp lẫn nhau chất đầy trong các cần xé, người ta khiêng xuống vỏ. Bà Hai đứng trên ghe thấy Sương nói: “Sắp vô rồi! Máy hư”.  Sương cười gục gặc đầu để bà Hai biết chị đã nghe. Ghe đi bà không bao giờ chịu ở nhà dù đã năm mươi chín tuổi. Thằng con trai càu nhàu mãi bà cũng không nghe. Ở nhà buồn ngồi đứng không yên. Cũng cỡ ghe Sương, sáu mươi kí ghẹ mỗi ngày. Ít bỏ mối nên bà bán lẻ nhiều. Sự nhộn nhịp bùng lên khác hẳn cái im lìm vừa rồi chỉ cách nhau vài phút. Sương đi xuống bờ sông, vẻ sốt ruột. Hai cô gái còn sốt ruột hơn đi theo chị. “Em về chị ơi! Để lần khác sẽ ghé nhà. Chị chỉ như vậy là em biết nhà rồi. Trời tối đi xe gắn máy tụi em sợ lắm”. “Ghe sắp về tới rồi”. Giữ mãi không được chị mượn của bà Hai vài kí ghẹ để Hiên mang về. Nài ép nhiều lần cuối cùng Hiên phải cầm. Chiếc xe mang hai cô gái chạy lên cầu. “Tao tưởng mày ở lại đợi ghe về để gặp ảnh chứ”. Làm như không nghe giọng mai mỉa của bạn Hiên buồn buồn chậm rãi nói  “Tao thấy có lỗi với chị Sương”. “Mãi đến bây giờ mới thấy có lỗi à! Còn mấy năm trước....”
Sương nhìn theo hai cô gái trong ánh nắng chiều đã nhạt. Chị vụt nhớ lúc nãy chị có hỏi hiện nay sống bằng nghề gì, chẳng biết Hiên có trả lời hay không hay là nghe qua chị lại quên. Hình như cô bạn trả lời hộ thì phải. Làm gì đó như là uốn tóc, làm móng tay móng chân. Chị vụt gọi: “Sáng! Sáng! Không được chạy qua cầu. Trở lại!” Thằng bé gần như nằm dài trên chiếc xe cuộc trắng định leo lên dốc cầu nghe mẹ gọi quay đầu xe trở xuốn. “Về nhà đi! Cứ chạy rong ngoài đường”. Thằng bé phụng phịu. “Có chị Nở ở nhà”.  Nở là đứa cháu ở trong ruộng ra giúp việc nhà, trông nom thằng Sáng từ khi nó còn nhỏ. Học lớp bảy rồi mà người cứ bé choắt, mãi chơi nên nó rất lười ăn. Đen giòn màu da của ba mẹ nó và đôi mắt đẹp của chị Sương nổi bật trên gương mặt xương xương rắn rỏi. “Chạy ngoài đường hoài đen thui. Về đi, ba sắp về đó. Ghe bà Hai vô rồi”. Dỗ ngon dỗ ngọt một lát thằng bé mới chịu về. “Coi chừng xe nghen con!” Chị dặn vói theo dù biết nói cũng vô ích. Chị lúc lắc đầu kèm theo tiếng chắc lưỡi. Thằng này cưng riết rồi hư. Vậy mà hôm trước anh ấy còn tính dành dụm mua máy vi tính cho nó.
Tiếng máy quen thuộc nổ ròn tan mỗi lúc một gần. Lạ thiệt! Ai cũng vậy, dù có lẫn trong nhiều tiếng máy khác người ta cũng vẫn nhận ra máy nhà. Ông anh đến bên Sương. “Chồng mày về đó.” Sương gật đầu, bước tới đàng sau một chút tránh chiếc ghe của bà Hai che khuất tầm nhìn của chị. Chiếc ghe từ từ chui ra giữa hai hàng cây rậm rạp. Anh đứng trước mũi, hai tay chống hông, dáng dấp mạnh mẽ. Lòng Sương thấy bình yên lạ thường. Có cảm giác yên lành và hạnh phúc. Chị đưa cao chiếc nón lá, miệng mĩm cười. Anh đưa tay vẫy vẫy, cười với chị. Bao nhiêu năm rồi nhỉ mà giây phút này vẫn làm chị xúc động bồi hồi.
Trời đỏ lựng, một chút ráng chiều tiễn đưa ngày vào tối.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
HƯƠNG ĐÊM
Trần Lệ Thường
 
Hôm nay Hường về muộn. Con hẻm đã vắng tanh vắng ngắt, mờ mờ sáng từ ánh đèn ở những khuôn bông của những nhà thức khuya hắt ra. Nhà nhà đều đã đóng cửa. Trời đã bớt oi bức nhờ những cơn gió nhẹ. Hường nghe như trong đêm có mùi thơm thoang thoảng ngọt ngào. Đáng lẽ dọn dẹp xong nó đã có thể ra về từ tám giờ nhưng bà chủ bảo nó ở lại chơi cho vui với mấy đứa nhỏ, hôm nay sinh nhật đứa con gái út của bà. Mấy năm rồi, Hường làm ở đây được bà chủ thương lắm. Xẻ cá, trở khô. Trong ngày thăm chừng trời mưa thì đem vô, trời nắng thì đem ra. Ăn uống ở đó, tối về nhà ngủ. Nhà chỉ có hai mẹ con. Thím Tư mẹ nó đã ngoài bốn mươi, hàng ngày đi mua ve chai. Lúc nào thím cũng về nhà trước nó. Ngày còn nhỏ Hường đi theo Thím Tư khắp cùng thị xã, chân đất chạy lon ton phía sau vừa gặm một trái oåi hay một khúc bánh mì. Ba đâu Hường không biết, không bao giờ nghe Thím Tư nói tới và lớn lên nó cũng không bao giờ hỏi. Thắc mắc mà làm gì bởi khi biết rồi có thay đổi được gì không? Hồi còn nhỏ nó tin, má nó một đêm bước nhằm lên dấu chân hoang khoång lồ mà sinh ra nó. Lớn lên nghe lại câu chuyện đó nó cười. Dẫu sao nó cũng học hết lớp năm, thích đọc sách báo và nghe radio.
Gần tới nhà Hường thấy như có ai đó tựa vào vách nhà nó ngủ. Cửa đóng im ỉm, chắc là má nó đã ngủ. Cánh cửa bằng thiếc chỉ cần đụng nhẹ vào là kêu như báo động. Hồi nãy thấy khuya bà chủ kêu thằng Phi khiêng cá lấy xe gắn máy đưa Hường về. Thằng Phi đòi chạy vô tới nhà nhưng Hường sợ đêm khuya thanh vắng tiếng máy xe sẽ làm kinh động khiến mọi người thức giấc nên biểu nó ngừng ngay đầu ngỏ. Bây giờ Hường thấy sợ, nó ngập ngừng đi chậm lại rồi dừng chân trước nhà. Thằng con trai chừng mười lăm mười sáu tuổi như nó với mái tóc bù xù có vài mớ nâu nâu đỏ đang ngoẻo đầu vào vách giựt mình mở mắt ra. Bộ quần áo trên người nó tuy còn mới nhưng nhàu nát, gương mặt hơi lem luốc nhưng không che giấu được vẻ sáng rở. “Sao nằm đây?” Hường bình tỉnh lại hách dịch hỏi. “Ờ ờ! ngủ nhờ”. Thằng con trai đứng lên lúng túng “Bụi đời hả?”. “Hổng có!”. “Phố đêm hả?”. “Hổng phải!”. “Tao kêu mấy chú khu phố”. “Đừng!”. Thằng con trai đưa một bàn tay ra phía trước, kêu khẽ “Ổng với bả choảng nhau rồi đưa ra toà tao không biết ở với ai nên đi luôn”. “Sao không ra công viên ngủ?”. Hường chằm chằm nhìn thằng con trai. Cái vẻ bụi đời mới toanh của nó khiến cho Hường tin nó nói thật. “Hồi nãy mấy thằng bạn kéo ra đó nhưng tao sợ bị bắt. Giờ này chàng ràng ngoài đường là bị hốt liền. Mày không cho thì tao qua đây”. “Mày nằm đây cũng được”. Hường lật đật nói vì nhà bên cạnh là nhà cô Sáu tổ trưởng, thấy nó cô ấy sẽ nắm cổ lên khu phố liền.         
Hường đẩy cửa vào nhà. Ngày nào cũng vậy, nó chưa về là Thím Tư vẫn  chờ cửa chưa gài chặt. “Hường về hả con?”. Nghe cánh cửa kêu lèng xèng Thím Tư nằm trong mùng lên tiếng. “Sinh nhật bé Bo vui lắm má!” “Ờ! Thôi đi tắm đi! Có mấy trái chuối nướng má dành phần con để trên bàn.” “Con quá no rồi!” Tắm xong Hường ra ngồi trước quạt gió để hong tóc. Nó cứ  hít thật sâu rồi thở ra. Tắm, gội đầu thật kỹ bằng xà bông thơm vậy mà mùi cá tanh tanh vẫn phảng phất. Một lần đi chơi với tụi con Hén bán rau cải, con Hén kêu: “Mày hôi khô quá!”. Hường tái mặt lặng người đi. Mùi cá khô như ăn sâu vào da thịt nó, thấm nẫm từng sợi chân lông, ý chừng chảy tràn trong huyết quản nó. Cởi bỏ bộ quần áo đi làm, mặc vào người bộ quần áo mới toanh thơm mùi vải mới cũng không làm bay mất mùi cá muối ương ương. Nhất là nếu mưa liên tiếp nhiều ngày liền thì cái mùi ấy càng nồng nặc hơn nữa. Tìm một công việc gì khác ư? Ở đây đồng lương tương đối khá, chủ nhà lại tốt bụng tử tế. Hường cũng giúp đỡ má nó được nhiều việc. Lam lủ cực nhọc từ nhỏ nên nó già cỗi ý thức được đói nghèo. Cái nhà chật hẹp ẩm thấp ở tít mù sâu trong con hẻm cụt đã bắt đầu rệu rã, chỉ còn lại mấy miếng tol đã rỉ sét trên mái nhà. Chỗ đất này lúc trước là đường đi cặp sát nhà cô sáu bán bún. Lúc bà ngoại Hường về che tạm một mái lá trú mưa tránh nắng thì người ta cất nhà bít lối đi. Ngoại nhiều lần bị chính quyền địa phương bắt nhà dời đi. Nhưng rồi năm này sang tháng nọ, người này cho mấy tấm tol cũ, người kia cho một ít xà bần, ngoại trở thành người dân cư trú hợp pháp.
  Láp dáp vài ba câu chuyện rồi Thím Tư mòn mõi ngủ thiếp đi. Hường cũng lên giường nằm cạnh thím nhưng nó không ngủ được mặc dù rất mệt mỏi. Nó nghĩ tới thằng con trai đang ở bên ngoài cánh cửa nhà nó. Có thật thằng kia không phải dân trộm cắp hút chích? Nó cũng không hiểu tại sao hồi nãy không nói thằng con trai sang hàng ba nhà cô Sáu ngủ. Có phải vì cái vẻ thật thà của thằng nọ? Ngay lúc ấy, nó nghe như là tiếng mấy đầu ngón tay gõ gõ vào cánh cửa. Nín thở, Hường nhìn qua thấy Thím Tư vẫn nằm im quay mặt vào vách, nó nhè nhẹ bước xuống giường rón rén ra mở cửa. “Gì vậy?”. Thấy nó thò đầu ra thì thào thằng con trai gãi gãi đầu cũng thều thào “Còn gì ăn không?”. “Trời đất!”. “Nhịn đói từ trưa tới bây giờ. Có chiếc cà rá bán xài mấy bửa nay hết rồi. Còn sợi dây chuyền thằng Bầu mượn chưa trả”. “Đứt luôn rồi chứ trả gì”. Hường lầm bầm rồi nó vụt nhớ. “Chuối nướng ăn đỡ được không?”. “Được được!”. Hường lại rón rén quay vào rồi nhè nhẹ trở ra “Cám ơn nghen! Tao là Mạnh! Còn...” “Hường!”. Hường quay vào giường trằn trọc đến gần sáng mới ngủ thiếp đi. Vậy mà nó cũng nằm chiêm bao. Nó thấy đi lạc vào một nơi đầy hoa thơm đủ sắc màu, mường tượng như công viên có đài phun nước và mây, mây trắng bay lững lờ ngang thân người nó như cõi tiên. Nó chạy tung tăng và cười hăng hắc. Đến khi Thím Tư đánh thức nó thì đã bảy giờ. Thường ngày giờ này Hường đã đến chỗ làm. Lúc nào nó cũng ra khỏi nhà trước Thím Tư vì thím chẳng vội gì phải đi sớm. Kiếm cái gì đó ăn cho chắc bụng rồi quảy đôi cần xé ra đi với chiếc kèn trên tay và đôi dép mòn vẹt, thím cười hớn hở cầu cho một ngày mới đầy may mắn. Cái ước muốn thật giản đơn, một hạnh phúc chẳng cầu kỳ.
Thật may, đêm qua về muộn nên sáng nay Hường lừ đừ ngáp vắn ngáp dài mà bà chủ cũng không mắng. Trưa nằm ở hàng ba trông mấy vĩ khô, gió thổi hiu hiu, Hường kéo sụp chiếc nón lá đậy mặt làm một giấc. Vừa giật mình nó lật đật ngồi dậy ngó ra ngoài trời. Trời vẫn nắng chang chang. Hú hồn! Nãy giờ mà mưa... Thằng Phi đưa cho nó một ly cà phê đá lớn. “Dì Hai biểu đưa cho mày”.  Hường mở to mắt.  “Tao hổng uống đâu. Tao uống đá lạnh”. “Uống vô tỉnh ngủ liền. Đêm qua mày làm gì mà không ngủ chứ?” Hường chối biến. “Sao hổng ngủ! Về tới nhà là tao lên giường làm một giấc tới sáng”. Thằng Phi làm ra vẻ không quan tâm. “Mắt mày chỏm lơ”. Mấy ngày sau mắt con Hường cũng vẫn chỏm lơ như vậy. Thằng Mạnh khuya thật khuya thì lại tới ngủ. Nó không mở cửa nhưng thỉnh thoảng nó nghe có tiếng đập muỗi nhè nhẹ. Có lần Thím Tư vụt lên tiếng lo lắng. “Hình như có ai đó ngoài cửa”. “Chắc lại mấy con chó nhà cô Sáu”. Hường hồi hộp nói cho Thím Tư yên tâm đến khi Thím Tư thở đều nó mới thả người ra không căng thẳng nữa, nhắm mắt ngủ.
Hường giật mình tỉnh giấc vì tiếng xe gắn máy rồ ga thật lớn và có tiếng chân chạy gấp rút. Nó chưa kịp hiểu chuyện gì đang xãy ra ngoài kia thì có tiếng đập cửa dồn dập và giọng thằng Mạnh. “Hường! Hường! Mở cửa cho tao!”. Nó bật dậy như chiếc lò xo quên cả Thím Tư cũng bật dậy như nó. Thằng Mạnh lách người vào liền rồi đóng ngay cửa lại. Nó tựa vào cánh cửa, mặt tái mét còn hằn nét kinh hoàng. “Tao không làm gì hết. Tao thề! Tao thề! Tao vừa đi tới đầu đường thì tụi nó đánh nhau ở đâu rượt tới đây”. “Mày...” Hường trân trối nhìn thằng Mạnh như quái vật. Bên ngoài tiếng xe gắn máy đảo lại hai ba lần nữa rồi im lặng. Con hẻm lại bắt đầu lặng yên. “Đứa nào vậy Hường?”. Tới bây giờ Hường và thằng Mạnh mới nhận ra sự có mặt của Thím Tư mặc dù thím đứng ở đó từ lúc con Hường nhảy cái rột xuống giường.
Thằng Mạnh không trở lại nữa, không biết có phải vì Thím Tư la mắng đêm đó hay vì nó đánh lộn nên mắc cỡ với Hường. Con Hường cũng không biết thằng Mạnh có đánh nhau hay không nữa nhưng tối đó nó có vẻ sợ hãi dữ lắm. Áo ướt đẩm mồ hôi và cái vẻ thất kinh hồn vía của thằng Mạnh khiến cho Hường tin nó không dám đánh lộn. Đêm khuya lắm! Con Hường không ngủ được rón rén mở cửa bước ra sân. Trên nền trời đen thăm thẳm là những đóm sáng nhấp nháy đẹp vô cùng. Hường ưỡn người hít thở. Trong đêm có mùi hương thật đằm thắm, dìu dịu. Hường không biết có phải mùi hương từ những giỏ hoa phong lan treo lủng lẳng trên gác nhà đối diện hay là mùi hương của đêm. Đêm ngọt ngào sâu lắng. Cả con hẻm chỉ còn nhà chú Nghĩa bán nước mía là sáng đèn vì có lẻ chú vừa lấy xe về, còn dọn dẹp. Chú góa vợ, có một người con trai đang học lớp mười một hay mười hai gì đó, tối tối phụ bán nước mía với chú ở ngoài đường. Có lần mua nước mía cho Thím Tư, chú Nghĩa cười cười nói với nó: “Làm dâu tao nghen !”
Nghe chú đùa con Hường cũng cười. “Con dốt, hổng dám đâu. Anh Nhân làm gì ngó tới con”. “Bây con nhà giàu, ai dám chê”. “Chú ghẹo con hoài. Má con nghe chửi đó”. “Chửi gì tao ở đây từ khi chưa có bây với thằng Nhân. Hổng tin bửa nào mày ra cái nhà lầu ở ngoài đường cạnh cây xăng đó hỏi coi...” Có lần chú say rượu nói với nó, Ông Tư Sang một đêm cải nhau với vợ say khướt, bỏ nhà đi vô con hẻm tối mịt ngập ngụa nước vì trời mưa. Mười mấy năm trước nhà cửa còn thưa thớt vắng tanh. Đến trước nhà Thím Tư ông ta té rồi ngủ khò... “Mấy tấm tol lợp nhà của ổng chứ của ai”. Nghe con Hường nói Thím Tư cười ngất : “Thằng cha này tao phải chửi một bửa. Mày có tin không?” Hường cười theo. “Tin! Như chuyện dấu chân ông khổng lồ”. Hết thảy đối với Hường là những câu chuyện thần thoại. “Còn mấy tấm tấm tol...” “Thì thoảng cũng có cho nhiều người khác đâu phải một nhà mình. Ổng ở trong hội từ thiện”. Bất giác Hường mĩm cười một mình. Mong sao ông Bụt hiện ra để nó xin một điều ước thôi. Cho câu chuyện thần thoại trên trở thành sự thật. Nó ngữa mặt nhìn trời, muôn ngàn vì sao vẫn lấp lánh như hoa rải trên tấm thảm đen. Ngay lúc ấy, con Hường bất chợt trông thấy một đóm sáng dời chỗ, xẹt ngang. Sao đổi ngôi! Nó lập tức lầm thầm khấn vái cho má nó mạnh khỏe, cho chuyện ông Tư Sang... Vì nó vẫn mong một lần trong đời má nó được một ai đó yêu thương. Kiếp đời nghèo khổ vất vả nó chưa từng thấy má nó có một chút hạnh phúc riêng tư. Người đàn bà mỗi ngày hao mòn đi như đôi dép mang dưới chân. Tóc có sợi bạc và nụ cười héo úa.
Vậy rồi nó trở vào giường ngủ say sưa, lòng thanh thản hớn hở. Một ngày mới lại bắt đầu, trời nắng gắt, chắc là chiều nay sẽ có mưa. Con Hường đội chiếc nón lá sùm sụp đứng trở khô. Nó chợt trông thấy một đôi xăng đan đen và đôi ống quần xám. Hường kéo chiếc nón lên ngước nhìn. Thằng Mạnh! Mái tóc bù xù có vài mớ nâu nâu được chải bóng mượt ép sát đầu. Chiếc áo trắng mới tinh còn thơm mùi long nảo. Thằng Mạnh toe toét cười, hai tay cho ra sau lưng như giấu cái gì đó. “Tao về nhà rồi. Đi học lại. Ba má tao đã giảng hoà”. Hường trân trối nhìn thằng Mạnh, bỗng dưng lòng thấy nhẹ nhõm. “Kiếm được tao má khóc dữ lắm”. Thằng Mạnh vụt đưa hai tay ra “Nè! Tặng mày! Chai này gội đầu, chai này tắm”. Hai má Hường nóng bừng lên nhưng rồi sau đó tái đi. Có lẻ thằng Mạnh đã nghe được mùi cá khô từ nơi người nó. “Tụi mình là bạn nghen!” Thằng Mạnh nói giọng chân thành rồi nó vụt cao giọng lên: “Bửa nào tao dắt mày theo thằng Bầu đi phố đêm một chuyến”. Dứt lời thằng Mạnh cười giòn tan vô tư. Con Hường cũng bật cười vui lây theo nó. Rõ ràng mấy ngày qua đã làm thằng Mạnh hết vía. Không đứa nào để ý, mấy người trong nhà đang nhìn tụi nó lom lom.
Buổi tối, tắm xong Hường đứng trước chiếc gương nhỏ chải tóc. Thím Tư đang lúi húi giủ mùng gối xuýt xoa: “Chà! thơm dữ vậy!” Hường không nói gì chỉ nhỏn nhẻn cười nhìn mình trong gương. Thế nào rồi Thím Tư cũng sẽ thấy hai chai dầu trên đầu tủ. Thay vì ngồi trước quạt gió hong tóc như mọi khi nó bước ra ngoài. Còn sớm, con hẻm còn nhộn nhịp người qua lại. Nó lùa bàn tay vào trong tóc, cảm nhận được từng sợi tóc mượt mà chảy qua kẽ tay của nó. Theo thói quen, nó lại hít thở mạnh. Đêm chưa sâu, mùi hương có lẽ từ nơi người nó toát ra hay lại là mùi hoa phong lan từ căn gác nhà đối diện. Con Hường lại ngước nhìn trời. Giá mà lại có sao băng! Nhưng lần này có lẽ nó thầm cầu mong một điều mà không bao giờ nó dám nói ra.
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
CHIẾC ÁO MÀU MẬN CHÍN
Trần Lệ Thường
 
1- Cúc Phương mở cửa rồi bước vào bật đèn. Căn phòng quét vôi xanh sáng loá trong ánh điện néon, như một khối hình chữ nhật trống không rổng tuếch. Nào tranh vẽ, nào bột màu, nào quầo áo cả đến vỏ hộp thức ăn, vỏ lon bia... hàng ngày ngổn ngang dưới con mắt quan sát lén lút của Phương bây giờ tất cả đã biến mất, sạch bóng như có bà tiên cầm cây đủa thần vừa đi qua đây. “Từ đó trong vườn khuya ôi áo xưa còn là một chút mây phù du đã thoáng qua đời ta…”. Phương ngồi bệt xuống nền nhà còn vương vải một ít bột màu, sơn vẽ chưa lau sạch. Tay ôm lấy gối Phương mơ màng nghe tiếng hát từ căn hộ kế bên vọng sang nhè nhẹ ray rứt... Chân Phương bước ngập trong cát. Cát nóng bỏng rát đôi chân trần nhưng Phương vẫn cố bước đi và ra sức gọi to: “Chú Chiêu! Chú Chiêu! Đợi cháu với! Dừng lại cho cháu hỏi chú một điều thôi!”. Phương vừa cố nhấc chân ra khỏi cát vừa cố sức gào lên. Gió thổi dữ dội, Phương kinh hoàng vì đã từng nghe nói đến những cơn bão cát ở sa mạc. Thôi còn mong gì trở về để gặp lại ba má, chị Thanh Tâm. Gió từ phía sau thổi tới nên cát trùm lên đầu lên vai Phương. Có lẽ nhờ gió đưa nên tiếng gào của Phương đã đến tai người đàn ông mặc áo màu mận chín thấp thoáng phía trước. Nào túi đeo, tranh vẽ, giá vẽ, người đàn ông cứ chập choạng bước. Có lẽ nghe tiếng gọi cũng muốn quay người lại nhưng không thể vì cát sẽ quất vào mặt. Phương tuyệt vọng gào to hơn nữa rồi cát và cát đổ xuống người Phương như mưa. Trước khi không còn mở mắt ra được nữa Phương kịp trông thấy một điểm nhỏ màu mận chín ẩn hiện chập chờn trong cơn bão mịt mùng... Tiếng hát đột ngột im bặt như sợi dây đàn bị đứt khiến Phương bừng tỉnh ngơ ngác nhìn quanh. Chú Chiêu đã đi rồi!
2- Ai giới thiệu chú Chiêu đến thuê nhà Phương cũng không biết. Năm căn phòng cất một dãy san sát nhau liền vách. Căn đầu của hai vợ chồng anh Sử chị Hà, cả hai cùng làm việc trong một công ty. Họ mới cưới nhau nên ra thuê nhà cho tự do. Đặc biệt họ rất thích nhạc Trịnh Công Sơn. Đi thì thôi nếu có ở nhà mọi người sẽ nghe tiếng hát lúc to lúc nhỏ tuỳ hứng. Chú Chiêu thuê căn số hai, lúc nào cửa cũng đóng im ỉm dù chú có nhà hay không. Ba căn kia họ buôn gánh bán bưng, từ đâu đến thuê nhà Phương không biết. Sáng ra họ đi, chiều tối về tắm giặt nấu ăn, chuyện trò đánh thức bộ mặt im lìm của mấy căn hộ mới toanh. Thỉnh thoảng Phương đúng trước nhà trông sang góp lời. Có hôm Phương đứng bên ngoài cửa sổ căn số hai nhìn vào lúc chú Chiêu không có ở nhà. Phương thấy có nhiều tranh, tranh phong cảnh, tranh tĩnh vật,lại có một bức chân dung thật đẹp. Chị Tâm nói: “Vợ ổng”. “Vẽ không cần người mẫu à!”. “Trời ơi! Vợ ổng thì ở trong đầu ổng chứ đâu”. Với cặp kính gọng đen và mái tóc hớt ngắn chú trông giống một ông giáo già hơn là một nghệ sỹ. Tuy nhiên đôi giày  "mọi" bạc thếch và chiếc quần jean cũng giống như vậy đem lại cho chú một chút gì hay hay. Sự xuất hiện của chú ở nơi nửa chợ nửa quê này gây không ít hiếu kỳ. Một vùng ven thị xã đang từ từ đổi mới, giống một đứa con gái mới lớn đang tập tành son phấn, như nét chì kẻ vụng trên đôi chân mày vòng nguyệt. Chú thì ít tiếp xúc với ai. Bí mật như một câu chuyện cổ tích của An-Det-Xen dĩ nhiên không kém phần hấp dẫn.Thường thì sáng nào chú cũng ra hồ nước ở cuối dãy giặt giũ phơi phóng quần áo. Có ai đó hỏi chuyện thì chú cũng lịch sự trả lời nhưng không vồn vã. Có nghĩa là không muốn câu chuyện kéo dài lâu hơn nữa. Không phải vì chú là nghệ sỹ mà vì tánh chú là như vậy, như cái tánh bừa bộn, lượm thượm, cẩu thả của chú. Có hôm trời mưa, chú đi vắng Phương lấy hộ chú bộ đồ phơi ngoài sân. Chiếc áo sơmi có màu của trái mận chín trông thật hay bị sứt chỉ ở vai trái, lại còn bốn chiếc cúc áo không giống nhau, ba chiếc màu tráng trong sáng, một chiếc màu tráng đục. Tối, Phương nhờ chị Tâm đưa đồ cho chú. "Ông nói cám ơn rồi biểu tao bỏ vô cửa sổ". "Chị kêu ổng bằng gì?". "Bằng anh!". "Ông gần bằng tuổi ba đó. Chị kêu bằng anh thì em cũng kêu ổng bằng anh luôn". Chị Tâm cười dữ dội như có ai cù vào người. "Mày mới có hai mươi tuổi, tao hai mươi chín rồi nghen. Mày tưởng tao nói thật à! Nhỏ khờ! Ê nè! Tao thấy có một bức tranh vẽ đứa con gái mặc đồ dài, tóc dài trên chiếc xe đạp.Chắc là mày". "Hứ! Miễn tóc dài thì là em. Nếu ổng vẽ tóc ngắn chắc chị cho là chị".
  Gia đình chú ở đâu gần sài gòn, một biệt thự to lộng lẫy với ba gia đình sống chung và một mức sinh hoạt không bình thường. Ăn chơi, tiệc tùng sắm sửa... mọi thứ trông chờ từ tiền nước ngoài.Vợ chú lúc trước làm việc ở một công ty sau cũng nghỉ, đứa con gái bỏ học lêu lổng chờ ông bà bảo lãnh đi còn ngấp nghé lấy chồng Đài Loan. Chú chui rúc trong cái giang san dành riêng cho vợ chồng chú mà vẫn không chạy trốn được tiếng ồn ào từ bên ngoài vọng vào. Đôi lần chú đề nghị ra ở riêng nhưng vợ chú không đồng ý. Đi là mất quyền lợi, mất luôn cả ngôi nhà. Còn cho là chú dở hơi. Thỉnh thoảng buổi tối ba sang chơi, hỏi chuyện gia đình, chú có tâm sự. Chú buồn ngao ngán bỏ đi, sống bằng tiền bán tranh và minh hoạ cho các tạp chí.
Buổi tối Phương nằm trên giường nhìn chị Tâm đứng trước gương chảy tóc. "Tháng này lĩnh lương mua cho em hộp kem nghe chị". Phương nài nĩ. "Mày còn nhỏ xài mỹ phẩm làm gì, tao già rồi nên mới sửa soạn". "Xời! Nhỏ gì! Em sắp thành cô giáo rồi". Chị Tâm nhìn Phương trong gương bằng đôi mắt soi mói. "Họa sỹ người ta thích cái gì tự nhiên". "Nói với em làm gì?". Phuơng cáu trở mình quay mặt vào trong. Phương thấy trong ánh mắt chị có cái gì không thật. Cũng như tối đó hai chị em ra hàng ba ngồi, thấy căn số hai tối om là biết chú Chiêu chưa về. Phương gợi ý chị cho tay qua cửa sổ bật đèn hộ chú. "Bậy mầy! Người ta tưởng tao để ý ổng. Ế gì thì ế chứ họa sỹ tao hổng ưa". Lát sau chú về, tay xách nào tranh nào giá vẽ lại còn một túi xách trái thanh trà. "Muốn vẽ xe bán thanh trà phải mua một kí". Vẻ mặt chú không nói lên buồn hay vui khi dừng lại trước hai chi em. Không đứa nào đưa tay lấy bọc thanh trà chú đưa. Chú nhướng mày đặt lên băng đá rồi bước qua mở cửa. Đèn bật lên rồi cánh cửa đóng liền sau đó. Chị Tâm chỉ chờ có vậy. "Chua quá!". "Họa sỹ chị không ưa mà!". "Họa sỹ chị không ưa nhưng thanh trà chị ưa nhất". Mỗi người đều có một nơi sâu thẳm của tâm hồn mình không muốn ai nhìn thấy, không cho ai hay biết. Những đau đớn khắc khoải, những dằn vặt riêng tư, những cơn đau không thể gọi tên và cũng không nói bằng lời. Ở chị Tâm Phương thấy những điều ấy quá sâu kín. Nhưng mà tại sao lại phải che dấu đến vậy. Chị nhìn đời hững hờ lãnh đạm. Chị có phần hồn nghiệt ngã cô đơn trong đôi mắt to đen láy não nùng. Đó là cửa sổ của một trái tim màu xanh. Chị thường tự hào. "Tao là Thanh Tâm vì lúc đó ba má mới cưới nhau, còn mày là Cúc Phương vì năm đó ba đi làm việc trên rừng". "Trái tim màu xanh hay rừng Cúc Phương thì cũng là con gái như nhau." Ba giảng hoà như vậy đó. Nói công bằng hồi còn đi học, bạn trai quanh chị đếm không xuể. Những tấm thiệp xuân, những tấm thiệp giáng sinh rồi còn những lá thư được viết trên những tờ pơ-luya thật mỏng màu hồng kèm theo những lời tỏ tình vụng dại. Nhưng lòng chị dửng dưng, không mảy may xúc động. Rồi khách đến chơi nhà bắt gặp những tấm thiệp, những lá thư nằm lăn lốc trên nền nhà hay dưới bàn giấy thế là từ từ họ biến mất như bị bốc hơi. Một người bà con thấy chị đã lớn tuổi nên muốn làm mối mai, giới thiệu chị cho một người đàn ông gần bốn mươi tuổi, chưa lập gia đình lần nào. Anh ta lúng túng chùi giày trên tấm thảm trước cửa, đôi giày bóng lộn có thể soi gương. Khi Phương mang nước ra thì anh ta đang ngó quanh quất khắp phòng khách. Cây đàn piano bao nhiêu tiền? Chiếc bình hoa kiểu cổ đang có mấy nhánh huệ trắng này bao nhiêu? Còn dàn máy vi tính...Thỉnh thoảng anh ta rút khăn tay trong túi quần ra lau trán còn chị Tâm thì khoanh tay ngồi bật ngữa trên ghế nhìn anh ta như nhìn đứa học trò trả bài lấp vấp. Anh ta lại như miếng bông gòn bị gió thổi bay vù đi mất tăm mất tích. Chị lại đốp chát "Tao ế rồi! Tao sắp ba muơi!". Rồi chị cắt tóc ngắn hơn nữa, mặc áo ngắn hơn nữa.
Chị Tâm đến nằm cạnh gác một chân qua người Phương. "Hồi sáng má sai tao đem tô chè biếu ổng. Tao đứng ngoài cửa sổ gọi: Chú ơi! Má cháu cho chè. Ông đang lúi húi vẽ đưa lưng ra, biểu bỏ vô cửa sổ đi. Trời ơi! Chú ơi! Bể tô còn gì. Ông mới quay ra cười ngất". Chị Tâm nói bằng giọng cố hữu của chị rồi cười ròn rã. "Nhờ trời ổng không có gọi tao mua dùm cục nước đá, gói thuốc". Phương ức ghê! Mọi lần má biểu Phương còn nạnh chị Tâm vậy mà chú sai Phương như đứa trẻ. Sao không giỏi kêu chị Tâm? Mà lúc này chị hay thức khuya nghe nhạc. Nghe đi nghe lại bài "Big big world" không biết chán. Thế giới quả vô cùng rộng lớn, từ nơi chân trời góc bể nào chú trôi dạt về đây đánh thức mùa đông muôn năm ở trong chị. Có một buổi sáng, hai chị em thấy chú vừa giặt đồ vừa đàn miệng theo bài "Big big world". Chị cười ngất. "Bà Hà ra rả như cuốc kêu bên lỗ tai mà ổng đâu có ưa họ Trịnh". Vẻ đắc ý của chị cho Phương thấy một điều dù không rõ lắm vì nó ở tận trong sâu thẳm của tâm hồn chị.
Có một tối chú không về nhà. Ba cứ thắc thỏm không yên vì từ ngày về ở đây chú chưa có khi nào như vậy. Sáng ba dậy sớm uống trà thì thấy chú về mở cửa. "Gặp một người bạn cũ, lôi kéo ở lại nhà nhậu, say quá không về được". Chú nằm suốt hai ba ngày, tối chị Tâm ngồi làm việc thỉnh thoảng giật mình vì tiếng ho từ bên kia vọng sang. Sau này nghe ba nói Phương mới biết người ta nói với chú là gặp vợ chú ở Nha Trang với một người đàn ông trong bộ đồ tắm hai mảnh. Vậy rồi vài ngày sau chú trở dậy ra hồ nước giặt đồ. Chị Tâm đợi đúng lúc chú phơi xong quần áo dắt xe gắn máy ra đi làm, còn đạp hoài không nổ. "Xe mới sao không nổ?". Chú vừa đi tới thì máy xe nổ rền lên. "Chú khoẻ rồi hả?". "Có bệnh gì mà khoẻ, làm biếng thì nằm vài ngày". Giọng nói này là của chị Tâm đã ảnh hưởng sang chú tự lúc nào. Buổi sáng với không khí bao trùm lên vạn vật trong khi bầu trời còn chưa vén hết lớp mây mờ ảo.Chị Tâm rạng rỡ làm sao trong một ngày mới với màu áo đỏ như màu son môi. Chị cười rực rỡ như hoa nắng rơi ở hiên nhà. Rất tiếc chú Chiêu đã quay lại hồ nước nên không thấy nụ cười của chị. Ánh mắt của chú nhìn chị khiến Phương nhớ đến ánh mắt của người bạn ngày nào cũng đạp xe cùng với Phương về đến nhà. Đi chơi uống nước, chuyện trò vui vẻ, Phương đọc thấy trong mắt anh ta có cái gì khan khác. Nửa năm rồi Phương không nghe nói gì cũng chẳng thấy một tờ pơ-luya mỏng màu hồng nào. Anh ta vẫn cứ lẳng lặng bên cạnh Phương như chiếc xe đạp màu xanh mỗi ngày Phương đi học.
Vừa dắt xe vào cổng Phương đã thấy chị Tâm ngối buồn bã ở băng đá. Đêm ba muơi chưa tối như mặt chị. "Chú Chiêu đi rồi!". Chị nói ngay khi vừa thấy Phương như chị chờ đợi đã quá lâu rồi. Phương choáng một cái suýt nữa buông rơi cổ xe. "Người ta cho chú biết vợ chú tự tử, đang cấp cứu ở bệnh viện thành phố". "Chú còn về làm gì?". Chị trề môi. "Để ký giấy ly hôn. Dĩ nhiên bà ta chưa chết. Bị gạt tình lẫn tiền nên bà ấy chán đời. Chú muốn giải thoát cho cả hai người". "Từ em tôi đã đắp bồi có tôi trong dáng em ngồi trước sân..."Chị chợt nổi cáu: "Trời ơi! Bà Hà sao mở nhạc lớn quá vậy. Nhỏ nhỏ chút đi! Nè! Bức tranh này chú bỏ quên hay vì bị rách mà chú bỏ lại không biết nữa. Tao se dán lại."
Thay vì nghỉ trưa để lát nữa đi làm chị ngồi lúi húi cắt băng keo dán chỗ tranh bị rách rồi loay hoay tìm chỗ treo. "Kỷ niệm của chú!". Chị nói mà không nhìn Phương, như nói với chính mình. Phương biết, từ bây giờ nỗi cô đơn ở trong chị càng dày như lá mùa thu.
3- "Ngồi làm gì đó Phương?" Chị Tâm đứng trước cửa phòng lên tiếng cắt đứt dòng suy tưởng của Phương. Chị đưa mắt nhìn quanh. "Ủa!"Chị kêu khẻ rồi đến kẹt cửa nhặt lên chiếc cúc áo màu trắng trong. Phương nhận ra ngay đó là chiếc cúc áo của chiếc áo màu mận chín. Chị bỏ chiếc cúc áo vào lòng bàn tay lẩm bẩm: "Không biết là chú có biết chiếc áo màu mận chín có một chiếc cúc áo không cùng màu?". Chị quay đi quên hẳn Phương, miệng bật ra những câu hát không phải là bài hát chị vẫn thường ưa thích. "Từ đó em là sương rụng mát trong bình minh. Từ đó ta là đêm nở đóa hoa vô thường". Phương bỗng muốn khóc. Trong Phương cũng có một nơi sâu kín âm thầm thăm thẳm như đáy mắt chị Tâm. Ở đó Phương dấu một điều muốn hỏi chú Chiêu. Chiếc áo màu mận chín bị sứt chỉ ở bả vai trái Phương đã lén may lại chú có biết hay không?
 
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-03-19 07:43:37ldlvinhquang>
HOA HOÀNG ANH VẪN NỞ
Trần Lệ Thường
 
Nhà ông lão có khách.
Thứ về đây có lẽ cũng gần một năm rồi. Vẻ thờ ơ phố thị, cánh cửa đóng then cài khiến anh vẫn còn xa lạ với xóm giềng. Đối diện với nhà anh, cách con đường hẻm hơn ba mét là một ngôi nhà trệt khang trang, cửa kính đen, rào sắt thưa và đặc biệt có giàn hoa hoàng anh trên rào như nhà của Thứ. Có lẽ chủ cũ nhà này với ông lão bên kia là đôi bạn thân thiết. Anh thường nghe bé Chi, đứa con gái đang học lớp ba của anh gọi ông lão là ông Hai Nhường.
Mỗi ngày hai buổi đi làm thỉnh thoảng gặp ông thì Thứ buông lời chào chiếu lệ. Tóc đã hoa râm, đeo kính lão gọng đen, ông thường đi trên chiếc xe gắn máy màu xanh lá cây. Sáng sớm, đứng trong sân tập thể dục anh đã thấy ông về mở cổng. Áo trắng, quần soóc trắng, giày vớ trắng. Tuyệt nhiên anh không thấy ai trong khuôn sân xinh xắn có hoa hoàng anh rụng đầy và anh cũng không buồn thắc mắc ngạc nhiên. Thời gian không có đủ cho anh và bé Chi trong một ngày tất bật. Từ sau ngày vợ mất đi anh rời khỏi nhà cha mẹ vợ, mua một căn nhà nhỏ trong hẻm bằng số tiền dành dụm được. Hơn mười năm, lúc nào cũng có một người phụ nữ chờ đợi săn sóc yêu thương cho nên bây giờ anh bị hẩng. Cơm nước, giặt giũ quần áo, giờ giấc con đi học, công việc ở công ty... mọi cái lôi anh đi vùn vụt như tàu cao tốc lướt trên mặt biển mà anh chưa đi bao giờ. Anh bị chóng mặt còn bé Chi buồn thẫn thờ, ngơ ngác. Dầu sao nó cũng ý thức được mẹ nó không bao giờ trở về sau buổi sáng được đưa ra nghĩa trang.
Một người đàn ông khoảng hơn bốn mươi đi cùng thằng con trai mười bốn mười lăm tuổi, đeo kính cận dày, trắng trẻo gọi ông Hai "ông nội". Là hai người khách đầu tiên anh thấy trong nhà ông Nhường. Buổi tối, bé Chi ngồi học bài, Thứ bật tivi nhưng lại nhìn sang nhà ông Hai như là một thói quen. Nhà sáng choang, ông bật luôn bóng điện ngoài sân. Sự cô đơn, lặng lẽ hàng ngày biến đâu mất. Đã thuộc về quá khứ rồi hay sao ấy? Ông Hai ngồi đối diện người đàn ông, thằng con trai ngồi gần đấy ngó mong ra cửa nghe chuyện. Ông đứng châm trà, lưng đưa ra cửa như anh vẫn thường thấy mỗi tối. Anh bước ra sân nhặt mấy chiếc hoa rụng túm lại thành chùm. Dưới ánh đèn, màu hoa sáng rực,hàng rào bên kia hoa nở dày hơn, điểm vàng trên màu xanh của lá. Họ nói chuyện thư thả, thong dung nhưng không cười. Tiếng được tiếng mất, người con vẻ kính nể cha nhưng không giấu vẻ bực bội. Giữa họ có một điều gì đó cần tranh cãi,hình như nhiều lần rồi, về một câu chuyện đã cũ và lần nào câu chuyện cũng không có đoạn kết.
Sáng sớm còn chưa thấy rõ mặt người, mở cửa ra sân định tập thể dục Thư trông thấy trong sân bên kia môt người phụ nữ đang quét sân. Thấy anh, chị dừng lại mở to mắt nhìn.Có lẽ người khách đã về trong đêm. Gương mặt hao hao  giống người đàn ông trung niên đến hôm trước. Chị trẻ hơn, xinh đẹp. Đôi mắt và chiếc miệng mường tượng ông Hai. Thứ nhận biết được một điều là ông Hai có con cái, cháu nội mà vẫn cô độc ở lứa tuổi không còn trẻ nữa. Phải chăng ông đang tự trừng phạt mình vì một điều gì đó? Người phụ nữ bước ra sân mĩm cười với Thứ. "Bác Năm không còn ở đây nữa à?". Có lẽ chị đã biết rồi nhưng vẫn hỏi để gợi chuyện. Phụ nữ hay bắt chuyện. Trò chuyện năm ba câu anh vội vội vàng vàng vào đánh thức con dậy đi học. Trong ngày, chuyện về nhà ông Hai cứ lởn vởn trong đầu anh, qua câu chuyện vội vàng buổi sáng. Ông Hai là một cán bộ về hưu, hai người con đều thành đạt. Anh con trai có chức quyền ở Sài Gòn, chị con gái chẳng kém gì, chủ một doanh nghiệp, có chồng chẳng chịu về quê. Lần này chị dắt hai đứa con gái về thăm ông ngoại. Một đứa trạc bằng bé Chi, một đứa mới lên ba. Cả hai đều xinh đẹp như búp bê.
Có đôi khi Thứ thấy ông Hai ngồi uống rượu một mình, ti vi bật lên, đèn bật sáng, ông nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế dựa bằng gỗ sơn nâu bóng. Ông có đưa mắt nhìn ra khi ở bên này anh đi về đang lạch cạch mở cổng. Tiếng ông đọc Kiều sang sảng: "Ngổn ngang trăm mối bên lòng". Thứ cười một mình, anh cũng đang bên lòng trăm mối ngổn ngang đây. Tiền điện, tiền nước, tiền làm đường... có thể nào nếu nốc một ly rượu mà hết ngổn ngang anh sẽ chẳng nề hà gì mà không làm liền hai ba ly. Một đêm, công ty họp rồi liên hoan nên anh về muộn lắm. Gần mười hai giờ đêm, nhà ông Hai đèn vẫn sáng, cửa mở, tivi vẫn còn bật dù đã hết chương trình. Trên bàn ngổn ngang các thứ, ông nằm im trên ghế như đã ngủ quên hay vì say rượu Thứ cũng không biết. Anh thì đầu đang váng vất, muốn vật xuống ngủ mà còn phải cố bồng con bé vào giường khi nó ngủ quên ở phòng khách vì chờ anh. Vậy mà lúc Thứ đẩy xe ra cổng đi làm ông lão đã đi tập thể dục về, mặt mũi tươi rói cười chào Thứ. Anh cũng cười. "Bác Hai dậy sớm quá!" "Quen!" Rồi ông vào nhà đóng cổng lại để chấm dứt câu chuyện với anh láng giềng trẻ.
Những ngày mưa, hoa hoàng anh nở nhiều và đẹp hơn lúc trời nắng. Màu vàng sáng, cánh hoa dày, mướt. Bất chợt đôi lần qua cửa sổ, Thứ thấy ông đứng bất động ở hàng ba chăm chú nhìn qua rào nhà anh. Mưa trắng xóa, những giọt nước đọng lại trên cánh hoa lấp lánh. Trên gương mặt phương phi hằn rõ đôi mắt u ẩn sau cặp kính. Đôi chân mày cũng đã mang hai màu đen trắng.Sự cô đơn bộc lộ hết ra ngoài không che dấu. Bất giác, Thứ cũng nhìn theo đôi mắt ông, giàn hoa như linh động chấp chới trong mưa, mang một vẻ huyền ảo kì bí. Nhiều lần anh đã cắt tỉa bớt cho nhánh đừng đưa ra đường, nó vẫn dày mịt tươi tốt.
Buổi trưa, trước khi đi nằm Thứ lấy cây chổi quét vội vàng mảng sân xi măng đầy lá rụng. Thằng con trai đứng chơi ngoài cổng từ nãy giờ vụt lên tiếng "Bà nội cháu ghét hoa này". Thứ ngẩng lên ngạc nhiên. Vậy mà anh cứ ngỡ... "Nó cũng chẳng có hương thơm. Đẹp quái quỷ gì...". Thằng bé đưa ngón tay trỏ đẩy gọng kính trên mặt, nói bằng một giọng hằn học. "Bà nội cháu đâu?" Thứ tò mò quan sát sự biến đổi trên gương mặt nó. "Bà sống với ba má cháu ở Sài gòn, ông và bà cháu giận nhau rất lâu rồi". Thằng con trai rất nhạy cảm, rõ ràng người bà đã từng ngày nhồi nhét vào đầu nó về một loài hoa "quái quỷ", về một điều gì đó có liên quan đến rào hoa nhà Thứ.
Bọn trẻ đùa nghịch suốt ngày, đánh động vẻ tĩnh lặng thường ngày của ông Hai. Ông vui, không hề la rầy. Cô con gái thì bận rộn nấu ăn, đi chợ về mua sắm thật nhiều thứ. Dễ thường, mấy năm rồi họ không có về thăm, bỏ quên ông trong vùng trời thầm lặng cô đơn của riêng ông. Thỉnh thoảng có vài người bạn đến chơi, họ uống rượu hay đưa nhau ra quán cà phê tán gẩu. Anh con trai xách chiếc kéo ra hàng rào cắt bớt những nhánh cây đâm tua tủa. "Chặt phứt đi ba, cho thoáng mát". Ông Hai nhìn theo tay con trai lẩm bẩm: "Có ảnh hưởng gì đâu, loài thực vật vô tri mà". Ở bên này Thứ bỗng rùng mình. Một tiếng rên, một tiếng than hay một lời ca cẩm? Có đêm, bên này anh nghe giọng say rượu lè nhè vọng sang: "Chưa rõ nơi nào ta sẽ ở. Dù rằng lỡ hẹn án chung thân (thơ Linh Phương). Anh không hiểu gì hết. Mấy vần thơ không cho anh biết điều gì đang khiến cho ông  buồn đến vậy. Bây giờ nghe giọng rên rỉ anh chợt nhận ra âm hưởng ở nơi ông như những bản giao hưởng trong đêm mưa. Thứ cường điệu lên, là bản Concerto của thiên tài âm nhạc Mozart. Cũng may, cuộc sống bận rộn đời thường lôi cuốn, anh vẫn còn một niềm say mê âm nhạc. Nghe nhạc giao hưởng vào những lúc thật khuya. Những việc trong ngày gác lại, thả người ra lắng nghe tiếng nhạc, rót vào tim vào hồn. Quên đi nỗi buồn, quên đi niềm đau, quên đi những tháng ngày anh gọi là hạnh phúc. "Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp". Rồi buâng khuâng anh nhớ đến câu thơ của ai đó. Thứ cũng có một khoảng trời cô đơn riêng lẻ như ông Hai nhưng giữa anh và ông là hai điều khác biệt. Ông Hai đã qua rồi thời trai trẻ, nhàn rỗi ngồi giở từng trang quá khứ ra mà buồn hay vui còn Thứ, khi bình minh thức dậy, khi chú gà trống kiêu căng cất tiếng thì cô đơn chỉ còn là một sợi tơ mỏng máng qua tâm hồn anh hững hờ. Dầu vậy anh cũng là người đồng cảm với ông Hai nhiều nhất. Dì Bảy ở bên trái nhà Thứ bỉu môi. "Ông già khó chịu". Vợ chồng chú Tư ở sát nhà ông Hai thì càu nhàu: "Ông ấy tự làm mình cô độc". Thứ chỉ biết cười. Dư luận mà, lại ở trong một xóm nhỏ. Nếu phải nói thì anh biết nói gì đây? Thật ra anh có biết gì đâu để nói, những gì trong thấy không giúp anh biết nhiều hơn ngoài một ông già sống cô độc tự nấu ăn bữa sáng và bữa chiều có thể thay thế bằng một tô hũ tiếu gõ trên vĩa hè. Xem ra anh gần gũi với ông lắm vì đôi lần mệt mỏi bận rộn anh cũng đưa bé Chi ra ngoài ăn bữa tối qua loa.
"Lúc đó, chúng tôi còn ở nhà chưa đi đại học. Khi hoa hoàng anh bắt đầu trổ bông cả hai rào thì cuộc chiến giữa ba má tôi càng dữ dội hơn, má tôi bỏ về nhà ngoại ở quê. Ba cho là má tôi quá hồ đồ, quá ghen tuông khiến ba mất mặt. Bác Năm là bạn thời chiến đấu với ba nhưng không may mắn trong bước đường sự nghiệp. Ba tôi giúp đỡ bác và hai nhà ở đối diện nhau. Bác chỉ có một người con gái duy nhất lỡ thì, tuổi xuân đã qua, đã bỏ lại trong cuộc chiến tàn khốc. Già cỗi, thương tật, cô vui vẻ sống cùng bác Năm không nghĩ đến chuyện lập gia đình. Sự chênh lệch về tuổi tác không ngăn trở má tôi nghi ngờ khi cô này đem hai gốc hoàng anh về trồng. Hơn mười năm rồi, nhiều lần tôi năn nỉ ba về sống với vợ chồng tôi, ba vẫn không chịu. Cô ấy mất đã hơn hai năm, ba cũng không thay đổi ý định. Bây giờ bác Năm đã đi ba cũng vẫn khăng khăng từ chối.Ba cố chấp không tha thứ cho má tôi, không bao giờ gặp lại má từ ngày li dị. Còn má cứ đinh ninh ba đeo riết ở đây, bám lấy ngôi nhà này là vì cô ấy. Anh thử nghĩ xem má tôi có đúng không? Chúng tôi ở giữa không biết phải quay mặt về bên nào, đưa lưng về bên nào. Từ ngày ngoại  mất, anh tôi đón má về thành phố nhưng ba thì tôi không cách gì lay chuyển được. Ông sống như thế này cũng chẳng ai yên tâm, họ hàng kêu rêu anh em tôi". Con bé chui rúc trong lòng mẹ nó rồi ngủ say trong lúc chị  nói chuyện với Thứ. Khi chị bước sang nhà anh cũng đã nghĩ chị muốn nói một điều gì đó. Lòng anh nặng trĩu bỗng dưng buồn ghê gớm. "Anh thử nghĩ xem má tôi có đúng không?". Làm sao có thể trả lời đúng hay không? Trong tim người đàn ông có nhiều ngăn chứa, có thể cô ấy ở đâu đó một góc khiêm tốn trong tim ông. Một chút bâng khuâng khi mùa đông về, một chút hồ hỡi khi mùa xuân đến, một nỗi nhớ... tất cả không gọi được tên. Hình ảnh ông Hai đứng bất động nhìn hoa hoàng anh trong những đêm mưa bỗng khiến Thứ bàng hoàng. Ông muốn tìm gì? Một thời đạn bom khói lửa, một người bạn chiến đấu thân thiết già nua, một người đàn bà không còn trẻ nữa lấp ló bên hàng rào nhìn sang.
Họ về hết rồi!
Nhà ông Hai trở lại yên ắng như cũ. Ông lại đi về như chiếc bóng trong căn nhà cũ kỷ. Các con muốn sửa chữa lại ông cũng không cho. Đổi chiếc ti vi, thay bộ bàn ghế mới ông cũng càu nhàu. Giản dị và khiêm tốn! Thứ rất quý ông ở hai điều anh nhìn thấy. Từ khi những người khách đi lòng anh không bình yên. Anh như bị rơi vào khoảng không u ẩn trầm uất.
Một sáng chủ nhật, Thứ quyết định sau khi đã lần lựa mãi. Anh chặt bỏ cây hoàng anh, giựt dây trên rào xuống hết, không để lại một chiếc lá vàng nào.Tất cả sạch bóng như chưa từng có một loài hoa nào leo ở hàng rào. Anh không dám nhìn sang bên kia nhưng anh vẫn thấy ông Nhường lấp ló nơi cửa, lặng lẽ. Lúc đứng đó, lúc biến mất như bóng ma. Rồi như người có lỗi anh tránh không gặp ông. Anh không giải thích được, anh đã có lỗi gì khi chặt đứt dây mơ rễ má đã bám lấy ông từ lâu đời. Khi anh nhận ra thì hình như đã mấy ngày không thấy ông. Sáng ông không đi tập thể dục, trong ngày không thấy ông đi ra đi vào .
Chiều tối hối hả về nhà, anh thấy con gái ông Hai, không biết xuống tới từ bao giờ đang trong nhà đi ra, tay xách lỉnh kỉnh các thứ. Anh chưa kịp hỏi chị đã buồn bã nói: "Ba tôi bệnh nhiều, đang nằm bệnh viện. Có lẽ lần này ông sẽ đi khỏi đây vĩnh viễn". Đôi mắt đỏ hoe, chị nhìn cái hàng rào trống không còn chưa quen mắt nhưng không nói gì rồi xách các thứ đi ra ngỏ.
Thứ tần ngần nhìn cái hàng rào sắt nhà anh rồi nhìn sang rào bên kia, hoa hoàng anh vẫn nở.
My company: www.procard.com.vn
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»