<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-10-25 05:44:58Nhatho_PhamNgocThai>
Bài thơ 32:
SÁNG THU VÀNG
Gặp lại em một sáng thu vàng
Nơi em đứng nắng tràn ngoài phố
Với trời xanh... Hồ xanh gió...
Gió đưa làn tóc em bay.
Kỉ niệm BĐ - Gặp lại em sáng đó bên hồ gió...Anh
đã viết để lại cho đời bài thơ mùa thu mĩ lệ này!
Sáng thu này trĩu cả hàng cây
Đô thành dịu mát
Ông lão ngồi bên gốc cây
bán những cây sáo trúc thổi vói lên trời
Bà xúc tép váy khều khào nước.
Một thời xa lắc
Em nghiêng chao về một thời xa...
Người con gái đã thành chính quả!
( phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha )
Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...
Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...
Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!
Sáng thu vàng mông mênh mênh mông
Anh đứng trông em bên bờ sóng vỗ
Hồn đã mất trong rừng hoang thiếu nữ
Và trái tim cũng không còn.
Sáng thu vàng xang xênh xênh xang
Những con đường xưa tắm hơi em
Môi em cười...hoa lá nát đau thêm
Thời gian trôi cuộc sống buồn tênh.
Một mùa thu lá lá
Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang
Người đàn bà!
Em nuốt mùa thu tan...
Phạm Ngọc Thái
(những năm 90)
Sáng Thu Vàng (STV) được xây dựng như một thiên tình ca. Một khoảng không gian thiên nhiên được dựng lên, bên câu chuyện tình như truyền thuyết. Đó là một buổi sáng trong đô thành dịu mát , có:
Ông lão ngồi bên gốc cây
bán những cây sáo trúc thổi vói lên trời
Chữ "vói" nghe như những tiếng sáo trúc réo rắt,vút lên trong mùa thu. Bà xúc tép thì "váy khều khào nước" ở bên hồ. Những hình ảnh mà ngày ngày tác giả đi qua đọng vào trong tiềm thức anh...Tới một lúc nào đó đi vào bến bờ mơ mộng của thi ca!
Với những nét hoạ phốp pháp kiểu dân dã ấy, tạo cho phong dáng của bài thơ mùa thu vốn đượm sắc ảo huyền,lại thêm chất dân gian. Đem nó trải rộng ra: STV là cả một tấm pan-nô hoành tráng, để kể về chuyện của một đôi trai gái đầy khúc triết sâu xa.
Đô Thành hôm nay đang ngày càng trở thành một thành phố công nghiệp, thương mại hoá, hiện đại hoá và thị trường kinh tế hoá. STV gợi cho ta nhớ về một Hà Nội trong kí ức xa xưa... Sang đoạn thơ thứ hai thì câu chuyện tình mùa thu thực sự được bắt đầu. Nhưng ngay ở cuối đoạn thơ thứ nhất tác giả đã hạ hai câu thơ:
Một thời xa lắc
Em nghiêng chao về một thời xa...
Cả một mùa thu nghiêng chao theo người con gái, để nhắc lại một thuở đôi trai gái đã từng hạnh phúc yêu nhau. Hai câu thơ này là nhịp cầu bắc nối giữa hai đoạn thơ : giống như con suối rừng khi chảy qua triền đá có các khe ngách, những hoạ tiết ở đoạn thơ đầu đã bắn toá ra thêm mấy nhánh (đó là những hình ảnh của đô thành), đến đây con suối thơ lại được reo trở lại... để câu chuyện tình mùa thu vẫn chảy theo dòng.
Trong toàn bộ đoạn thơ hai chân dung của người con gái được hiện lên:
Người con gái đã thành chính quả!
Có nghĩa, giờ đây nàng đã thành một người đàn bà trẻ. Như qui luật sinh nở của tạo hoá, thiếu nữ năm xưa đã khai hoa kết trái: ấy là khi nàng đã thành chính quả! Hai chữ "chính quả" nghe như có cả tiếng kinh nguyện của chùa chiền, báo về sự đắc đạo của nàng.
Một sự chuyển hoá từ tiết trinh sang tiết hạnh! Có lẽ lúc này khi gặp lại người tình xưa ấy, lòng nhà thơ vấn an nơi chốn cửa thiền...nên ngôn ngữ thi ca mới chứa chất tính Phật đài như thế. Cả đến câu sau khi anh miêu tả:
Phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha
(câu 8)
Tựa như cảnh vật trong tạo hoá, tất thảy năm tháng đều không tránh khỏi qui luật rêu phong. Nói đến khối tình phàm tục cõi đời mà thơ đượm màu sắc Phật. Linh hiệu của tình thơ... cứ như thể chảy từ chốn thiêng trong Đất Thánh mà ra. Cũng trong đoạn thơ hai này, ta hãy nghe xem tác giả tả về nàng ra sao:
Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...
Đây là đôi mắt đẹp của mùa thu thăm thẳm mơ màng. Bóng trúc phủ trong đôi mắt: thơ trìu tượng. Nồng nàn ân ái, hiền hoà... Hai chữ "bay xoà" mang màu sắc ảo rợp lên! Câu thơ từ trong cảm rung đã thần xuất mà thành.Và:
Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...
Nói về hình tượng thơ đã dùng vầng trăng để ví, ta liên tưởng tới hình ảnh thơ cụ Nguyễn Du đã tả nàng Thuý Vân:
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Cái vầng trăng tròn trịa dịu dàng này, cụ lấy từ cách thường ví trong dân gian...để miêu tả nét đẹp mực thuớc , đoan trang của Thuý Vân, khác vẻ đẹp kiêu sa sắc sảo của Kiều:
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Số Kiều bạc mệnh! Bởi đến cả trời đất cũng ganh ghét với nàng. Phương pháp so sánh trong thơ cụ Nguyễn Du, tuy sử dụng thi pháp thơ miêu tả của dòng thơ cổ điển, nhưng thật thần bút, sinh động và hàm xúc.
Trở lại với STV: khi tác giả mô tả về nàng như một "vầng trăng đầy nở" , đó là phương pháp miêu tả thơ tượng trưng của dòng thơ hiện đại. Hiểu được thơ phải lắng cảm từ trong tư duy, tâm thức...chứ không chỉ bằng vốn hiểu biết của kiến thức sách vở hoặc kinh nghiệm dân gian.
"Đường phúc hậu như vầng trăng..." - Đường, mà lại... để nói lên cả tấm thân, làn da, vóc dáng con người nàng...(chứ không phải chỉ là "khuôn trăng" để chỉ riêng mỗi khuôn mặt của nàng Thuý Vân mà cụ Nguyễn Du mô tả).
Mà lại là:...vầng trăng đầy nở/ - Nghĩa là, từ khuôn mặt thân thể và tâm hồn nàng đã toát ra. Nàng đẹp một cách dịu dàng, mộng mơ và cám dỗ như trăng. Để rồi tác giả hạ một câu kết đoạn:
Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!
Ta nghe như có cả tiếng mùa thu rơi, đổ sập từ trên trời cao xuống. Tức là trái tim và tâm hồn chàng đang tan vỡ! Có thể coi đoạn thơ thứ hai này là nhân trung thần cốt, điểm hội tụ chói sáng nhất của tình thơ STV. Nó chứa đầy bích ngọc trong thơ, đưa STV đậu lên tầm cao của những bài thơ mùa thu!...
Những đoạn ba-bốn-năm sau đó, phát triển cùng với những kỉ niệm xưa...trong nỗi lòng chàng tan nát. Cuộc sống thì trống vắng, mùa thu vàng vừa xa xót, vừa bay rợp bóng xuống ngổn ngang. Lòng thơ như nhát chém:
Hồn đã mất trong rừng hoang thiếu nữ
Và trái tim cũng không còn
Tình yêu thiếu nữ như một cánh rừng hoang ư? Hay là, thiếu nữ đi rồi để lại trong chàng cả một cánh rừng hoang? Trái tim chàng tan vỡ đã đành, đằng này... chàng lại không còn tim! Nghĩa là trái tim chàng cũng đã rời bỏ để đi theo người con gái mất rồi!
Chắc rằng, đời sẽ còn nhiều bình luận khác nhau về những hình ảnh thơ này? Thơ là vậy, nhiều người thường có những cảm nhận và lý giải riêng. Nhà thơ chỉ biết lúc đó nó ra như thế thì viết như thế!
Hay là ở đoạn thơ thứ tư:
Môi em cười...hoa lá nát đau thêm
Thời gian trôi cuộc sống buồn tênh.
Hoa lá đến mức độ phải héo hắt, nát đau trước đôi môi người đàn bà trẻ! Thì không biết đôi môi nàng chan chứa, mĩ miêù hấp dẫn đến mức nào? v.v... Mỗi đoạn thơ đều được tác giả níu giữ bằng những câu thơ sâu sắc ấy.
Bởi vậy tuy các tứ thơ được viết ra tự do, phóng túng...mà cảm xúc của tâm hồn vẫn đằm đìa, cô đọng ở trong thơ. STV bọc chứa tạo cho thiên tình ca một thi phong độc đáo!
Chỗ này chỗ khảc trong suốt bài thơ : khung cảnh thiên nhiên được phục hiện, miêu tả bao quanh đôi tình nhân năm xưa. Ngay ở trong đoạn thơ làm tựa đề, tác giả đã giới thiệu quang cảnh họ gặp nhau:
Gặp lại em một sáng thu vàng
Nơi em đứng nắng tràn ngoài phố...
Tiếp đến tác giả miêu tả về mùa thu đó:
Sáng thu này trĩu cả hàng cây
" trĩu cả hàng cây" nghĩa là, một mùa thu đang trĩu xuống và chín mọng - ( lối cảm thơ này cũng như khi Hàn Mặc Tử đã viết Mùa Xuân Chín ), thuộc loại thơ tượng trưng thi cảm. Đến đoạn ba thì tình thơ trào lên dào dạt:
Anh đứng trông em bên bờ sóng vỗ
Tựa như đôi trai gái đang đứng bên bờ biển xanh, đầy sóng vỗ vậy. Rồi cảnh thơ gợi lại những con đường mà họ đã dẫn nhau đi ngày xưa:
Những con đường xưa tắm hơi em
Và:
Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang
Quang cảnh phục hiện ở hai câu thơ này thuộc cảnh thơ siêu thực: cảnh có mà không có. Nó chỉ được gợi lên trong tâm thức mà thôi v.v...và v.v...
Trước khi bàn về phương pháp nghệ thuật xây dựng thi dáng STV - Xin điểm qua mấy nét đôi bài thơ mùa thu hay trong thi đàn! Đố là bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư (LTL) và Thu Điếu của Nguyễn Khuyến (NK).
Tiếng Thu của LTL là một bức tranh mùa thu mĩ lệ! Được viết trong mộng cảm phiêu diêu của cố thi nhân. Từ xúc cảm "dưới trăng mờ thổn thức"...đến cảnh chia ly mùa thu (chỉ mang tính ước lệ): về nỗi lòng người cô phụ trông ngóng bóng chinh phu!
Vì mùa thu là biểu tượng của chia ly. Nhưng sở dĩ bài thơ có thể đạt đến độ là một kì thơ, vì ông đã vẽ lên bức tranh có con nai vàng đạp trên lá mùa thu khô kêu xào xạc. Nhưng đọc Tiếng Thu để ta hưởng thụ, ngắm nghía vẻ kiều mĩ của bức tranh...nhiều hơn sự rung cảm bởi nỗi thơ!
Để cho rõ, xin phân tích mấy lời về sự khác nhau so với bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (HMT).
Nếu coi Tiếng Thu của LTL xuất hiện như một ngôi sao sa quẹt trên bàu trời thi ca!...Ta hò reo , ngắm nhìn vẻ đẹp lung linh, kì ảo của nó. Ai cũng thấy đẹp, thấy ngay - Thế thôi! Nhìn cho thích mắt rồi vào nhà mà ngủ cho ngon...(sự so sánh cũng chỉ mức độ để tác giả đễ diễn đạt ý mà thôi). Chẳng cần bận tâm nhiều lắm về thế giới trong thơ...
Nhưng Đây Thôn Vĩ Dạ của HMT thuộc trong số ít những bài thơ hay nhất thế kỉ: chứa đầy nỗi u tình, uẩn khúc...Nó giống như một vòm trời sao xanh thăm thẳm. Nhìn sâu hút mãi vòm trời ấy, ta khám phá ra thế giới của nó! Bao chứa rung rinh rất nhiều các ánh ngọc, hào quang trong tiểu tiết các vì sao.
Đó chính là thế giới trong thơ! Nhưng không phải ai nhìn vào cũng thích ngay?...Chẳng thế mà bài thơ được thi nhân viết ra tới 30 năm sau nó mới thực sự nổi tiếng. Nó đã thuộc vào hàng thơ tầm cao, không phải ai cũng đủ khả năng nhìn thấu vòm trời sao xanh ấy! Hiểu càng sâu ta càng rung động, bị cảm hoá trước cái hay huyền diệu của thi ca!
Thu Điếu của NK là một bài thơ tả cảnh tình câu cá mùa thu trong ao khuya. Với gam màu xanh vắt và hơi hiu hắt. Ngôn ngữ hoạ tiết thơ thanh và xao...Nét tả của ông thì thật kiêu sa, lắng đọng của một tầm bậc danh nhân ẩn sĩ. Đây thuộc lối chơi thơ phú vịnh, dạng thơ miêu tả tinh tế của các bậc tổ tiên ta.
Giờ xin trở lại để bình tiếp STV - Thu vàng của PNT được xây dựng theo nhịp điệu như một cánh võng mùa thu. Làn điệu thơ chuyển dần... Như ở đoạn thơ làm tựa đề thì làn thơ còn đưa nhẹ:
Với trời xanh... Hồ xanh gió...
Gió đưa làn tóc em bay
Hình ảnh người con gái, tóc em xoà bay trong gió. Giọng thơ có vẻ hơi uyển chuyển. Sau đó cánh võng thơ trĩu xuống, chao nghiêng đi và chòng chành:
Sáng thu này trĩu cả hàng cây
Đô thành dịu mát...
Sang đến đoạn ba và đoạn bốn , thì cánh võng mùa thu đã đươc đẩy bay bổng lên cao vút:
Sáng thu vàng mông mênh mênh mông
(câu 12)
Sáng thu vàng xang xênh xênh xang
(câu 16)
Một cánh võng mùa thu để chứa trong lòng nó mọi điều về mối tình đôi nam nữ. Đến đoạn cuối cùng cánh võng xoà ra, thả xuống một mùa thu đầy lá rụng:
Một mùa thu lá lá
Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang
Nghĩa là nơi gặp nàng giờ đây đã thành xa vắng, cỏ dại mọc đầy lên. Như trên đã phân tích: ảnh bướm vàng và hoa cũ ấy, như thực mà phi thực. Đó là ảnh của kí ức nuối tiếc mối tình xưa. Để rồi tác giả kết bài:
Người đàn bà!
Em nuốt mùa thu tan...
Chẳng ai "nuốt" được mùa thu cả! Chữ nuốt đầy sắc thơ siêu thực. Nàng đi để cả mùa thu trống vắng còn ở lại, hay đã mang theo mùa thu đi mất rồi? Ai có thể trả lời? Không ai cả!...và chính tác giả cũng không thể trả lời.
STV hoà quyện nhiều trường phái: lãng mạn, tượng trưng trìu tượng và siêu thực. Nhiều hình ảnh thơ cô đúc tính triết lý, phảng phất phong dáng của trường ca.
Nó đã đứng vào hàng thơ có tầm bậc! Các hoạ tiết thơ phát triển xum xuê, tạo nên cả một khoảng trời mùa thu toả bóng xuống thi ca! Nhưng nó đã đứng đến tầm bậc của ngọn núi thi nào? Vẫn phải để thời gian và các thời đại trả lời (!?)
Đời hư, thực nhập nhoè lẫn lộn
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.
Đêm ái tình... ta nương ngủ trái tim hoang.