Diễn Đàn » Thơ Sáng Tác

MỘT THỜI HOA PHƯỢNG ĐỎ

603 trả lời, 67.824 lượt xem — Trang 3 / 21
390.
VŨ KHÚC GIAO MÙA

Lặng nghe xao xác hương chiều
Tiếng đêm se sắt vơi nhiều phải chi ?
Nhẹ nhàng rảo gót chân đi
Thấy thu lấp ló thương gì nhớ ai?

Thức lâu cả vú đêm dài
Lay hoay tình tự sớm mai sẫm màu
Nói lời xa tít đẩu đâu
Gió se giá lạnh vờn nhau kẽ lùa

Thôi thì ngọt nhạt chanh chua
Vu vơ gom lại thêu thùa ất ơ
Cô đơn nghĩ ngợi vẩn vơ
Cả đời rong duổi khù khờ lại qua

Cầm lòng chẳng đặng vỡ òa
Giọt thương, giọt nhớ nhạt nhòa ấp nhau
Gối chăn thảng thốt nhăn nhàu
Tàn đêm trăng xõa dìu nhau luân hồi

Kìa đông đã đến bên rồi
Rét run lẩy bẩy nắng trôi gió về
Rèm buông kín mít em che
Nhành trơ, nõn nhú thầm nghe túa lùa

Năm canh tiếng mõ nhẹ khua
Thu qua, đông tới te tua nỗi buồn
Sầu lòng chớ ướt mi tuôn
Khi nàng xuân đến u buồn tiêu tan

Hoahuyen
04.11.2009

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
391.
ƯỚC MƠ GIẢN DỊ

Tuổi thơ tôi sống ở trên sông
Thèm nếp nhà tranh, bếp lửa nồng
Sáng đến trường làng cô giáo đợi
Chiều về tới ngõ, Mẹ già mong
Dưới giàn thiên lý môi e thẹn
Bên dậu mồng tơi má ửng hồng
Đến tuổi lên đường ra mặt trận
Xa nhau mòn mỏi vẫn phòng không ?

Hoahuyen
05.11.2009

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
392.
SẮC HƯƠNG
DÙ NHẠT VẪN YÊU

Chênh chao vành nón nghiêng che
Nắng chan hòa nắng ấp e gợi tình
Mắt ngời khoe dáng eo xinh
Hiền nhân, quân tử rập rình ngó trông

Khôn thì kén vợ chợ đông
Ba quân dễ chọn ra chồng qúy yêu
Ngày lành sáp lại... chung niêu
Chung chăn, chung gối sớm chiều bên nhau

Yêu nhiều nước mắt dễ mau
Ghen tuông khôn khéo vừa đau... thì dừng
Ở đời đôi lúc xỉa xưng
Bát xô, đĩa lệch... cũng đừng âu lo

Đã yêu là hiến dâng cho
Khổ đau ráng chịu... nhằn nhò chi em !?
Năng rèn miệng cứng, môi mềm
Gối long, đầu bạc vẫn êm cửa nhà

Nắng mưa từng đã trải qua
Dù hương có nhạt, sắc nhòa vẫn yêu

Hoahuyen
05.11.2009

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
393.
TA ĐI TÌM TA

Mới hay nhan sắc do trời
Dại khôn na nết do người rèn nên
Vĩ nhân để lại tuổi tên
Ngàn năm danh tiếng vang rền ngân xa

Kẻ thì chết hóa ra ma
Chưa khô dòng lệ hương hoa đã tàn
Long lanh hạt cát này vàng
Hạt kia đen trũi phũ phàng nhom nhem

Người thì chẳng muốn ngợi khen?
Kẻ thì khoan khoái bon chen với đời
Người thì mê mẩn rong chơi
Kẻ thì lăn lộn rối bời ăn thua

Người thì bán thánh buôn vua ?
Kẻ muốn lên chùa đi quét lá đa ?
Còn ta mải miết tìm ta
Hữu danh vô thực là nhà… linh tinh(*)

Đối nhân chỉ có cái tình
Tri âm tri kỷ… nhục vinh coi thường
Vòng tay bè bạn muôn phương
Còn chăng vài chữ nhả hương cho đời

Ta là thế đấy… giàng ơi!

Hoahuyen
 

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
394.
KHIẾU “TẾU”
 
Em quả là người khếu "tiếu lâm"
Cười rung cả mắt có duyên ngầm
Gái trai đều thích vì yêu mến
Già trẻ manh nha... lắm dã tâm
 
Một lần đã gặp quên không nổi
Bốn biển năm châu chẳng lẽ nhầm ?
Quân tử tranh nhau đòi rắc thính(*)
Anh xa yếu vía ngóng âm thầm    
 
Hoahuyen
 
(*) Cho cá bu quanh ngắm chơi
 

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
395.
NẾU BỐ CÒN SAY

Bố ơi! đừng nhậu suốt đêm ngày
Be bét rượu chè… xỉn quắt quay
Quần áo lôi thôi như giẻ rách
Đầu bù tóc rối tựa bèo mây
Tương lai sẽ khổ khi không tỉnh
Hiện tại đang hèn bởi vẫn say
Nghèo rớt mồng tơi, thêm gánh nợ
Vợ con nheo nhóc, xác thân gày

hoahuyen



Bài xuớng

Mẹ

Mẹ đong năm tháng bước qua ngày
Nắng xối mưa gào với gió quay
Khi tính chắt chiu từng hạt nắng
Lúc lo gom nhặt những làn mây
Đầu làng chạng vạng cơn mê tỉnh
Cuối bãi chập chờn giấc ngủ say
Lầm lũi lưng còng run rẻ mạ
Cho con no đủ- mẹ hao gầy

luongthephiet

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
398. Thơ đố vui
LÀ CON GÌ NHỈ ?

Hung hăng khi đang đói
Dữ tợn lúc vồ.... người
No nê thường phởn chí
Nhe hàm răng ra cười

Nơi rừng xanh núi thẳm
Chuá tể cuả muôn loài
Vướng vào tờ... hôn thú
Là cụp cả hai tai

Xổng chuồng có vẻ oai
Đố là con gì nhỉ ?

Hoahuyen

 

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0


403.
NGHỀ CAO QUÝ

Hai nghề cao quý em ơi!
Lương y - Nhà giáo người đời đều mê
Cổ kim kính cẩn khen, chê
Nghề vì dân chúng tứ bề lo toan [/align]

Trồng người vất vả gian nan
Cứu nhân độ thế chứa chan ân tình
Cái nghề phải biết hy sinh
Không màng danh vọng, nhục vinh coi thường [/align]
Môi trường... hữu xạ... nhiên hương
Đối nhân xử thế yêu thương thật lòng
Uốn cây từ lúc non cong
Chữa người khỏi bệnh là lòng mừng vui [/align][/align]

Hoahuyen [/align][/align][/align]

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Bài họa
410.
THÈM CŨNG CHỊU

Hớ hênh nom rõ cả hai... đồi
Thây lẩy bồng bềnh dụ dỗ tôi
Giần giật tâm hồn chưa muốn dứt
Lâng lâng thể xác chửa thèm thôi
Khi còn son trẻ vung thừa sức
Để lúc già nua tiếc đứt hơi
Giờ có cho không... ông cũng chịu
Mó may đôi chút gọi là chơi

Hoahuyen




Bai xuong
Gửi ông Lương Hữu Chí

Tạ ông Lương Chí ở trên đồi
Đã có lời mừng sách lẫn tôi
Bốn tập "Bóng chiều" sờ lộm cộm
Bảy mươi "mùa lá" ngó lôi thôi
Cao mèo bạn biếu đà tiêu hóa
Thơ thẩn cụ cho để xả hơi
Bóng xế đã vào hồi chập choạng
Văn vo có tí cũng mần chơi

Hồ Văn Thiện
17-10-2009


Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
28.
ƠN THÀY CÔ
Chúc các Thầy, Cô
Nhân ngày nhà giáo 20/11


Tuổi thơ cắp sách tới trường
Dùng dằng kỷ niệm vẫn còn theo ta
Nhớ thời từng chữ ê, a
”O” tròn như quả trứng gà… nhà em

Chữ ”I” như thể que kem
Rắn toàn nước đá vẫn thèm mấy que
Mái đầu nắng đỏ tóc hoe
Suốt ngày lặn ngụp trên bè, dưới sông

Những ngày hè nghỉ… lông nhông
Trèo me, hái ổi tồng ngồng rong chơi
Nhớ thời đỏ xác phượng rơi
Sân trường ríu rít tiếng cười giòn tan

Câu thơ ai viết trên bàn ?
Chữ lồng tên khắc… gốc bàng còn đây
Bao năm đèn sách đêm ngày
Rèn tâm, trí, đức Cô thày bày cho

Nẩy mầm khao khát ước mơ
Niềm tin cháy bỏng từng giờ… bay cao
Công thành, danh thỏa khát khao
”Tôn sư trọng đạo” ai nào dám quên

Gia đình sự nghiệp ấm êm
Nhớ người gầy dựng tuổi tên cho mình
Thày Cô thắm nghĩa đượm tình
Dậy em tô đẹp dáng hình nước non

Tim em tạc tượng vàng son
Thầy, Cô cho cả trăng tròn ước mơ

Hoahuyen


Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-18 16:06:29HOA HUYỀN>


431.
VẦN THƠ DÂNG THẦY CÔ
Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20.11


            Uốn cây từ lúc cong... non
   Hình thành nhân cách khi còn ngây thơ
            Cô ươm hoài bão, ước mơ
    Thày nâng đôi cánh từng giờ bay cao

            Cho tri thức, vượt gian lao
  Niềm tin, tâm, đức khát khao làm người
           Mười năm chăm tốt cây tươi
 Trăm năm mới có lớp người hồng chuyên (*)

             Gia đình là chốn bình yên
     Nhà trường mảnh đất gieo hiền tài cao
            Môi trường xã hội thanh tao
     Lung linh hương sắc xiết bao ân tình

             Thày cô dạy dỗ hết mình
     Cho em tô đẹp dáng hình nước non
          Tim em tạc tượng vàng son
   "Tôn sư trọng đạo" vuông tròn giấc mơ

           Mái đầu nay đã bạc phơ
   Trào dâng cảm xúc vần thơ dâng Thày
          Nhớ lời Người dậy: trồng cây
  Trăm năn lợi ích phải xây trồng người (**)

                           Hoahuyen (431)
                                17.11.2009





(*)(**) Ngày 13-9-1958, Bác Hồ đến thăm và nói chuyện tại lớp học chính trị của các giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc. Người căn dặn: " Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Chúng ta phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Nhân dân, Đảng, Chính phủ giao các nhiệm vụ đào tạo thế hệ tương lai cho các cô, các chú. Đó là một trách nhiệm nặng n, nhưng rất vẻ vang. Mong mọi người phải cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Tất cả giáo viên chớ nên cho học thế là đủ, mà phải tiếp tục học tập thêm để tiến bộ mãi".

[/align]


Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
418.
CÔNG ƠN CHA MẸ, THẦY CÔ

Uốn cây từ lúc nẩy mầm non
Rèn chữ o, a... nắn méo tròn
Nhân cách hình thành do giáo dục
Thầy Cô tất cả chỉ vì con

Tri thức mênh mông như biển cả
Lớn khôn thành đạt nhớ ơn thày
Sinh thành dưỡng dục công cha mẹ
Bệ phóng cho con sải cánh bay

Hoahuyen

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-11-17 16:03:22HOA HUYỀN>
Họa Thơ nữ sĩ Hồ Xuân Hương

433.
ĐÊM ĐÔNG VÀO THẾ

Gió se lành lạnh sắp vào đông
Có gã trai lơ mượn chén nồng
Dựng hứng hồn thơ lay cán bút
Hớ hênh thân xác nhạo Càn Long (*)
Pháo đang vào thế chờ cơ hội
Đạn đã lên nòng đón lệnh thông
Dại dột ba năm hờn suối ngọc
Khôn ngoan một tiếng thế là xong

Hoahuyen
(*)

Rượu Càn Long Ngự Dịch được điều chế từ hơn 20 loại
dược liệu quý hiếm của Trung Quốc: Đông trùng hạ thảo,
thận hải cẩu, lộc biển, nhân sâm, tam thất, ... Một loại rượu bổ quý


Bài xướng
Thiếu nữ ngủ ngày

Muà hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng.
Lược trúc chải cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long.
Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm,
Một lạch Đào nguyên suối chửa thông.
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt,
Đi thì cũng dở, ở không xong.

Hồ Xuân Hương

 

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0



438.
Hơn nhau ở chỗ
TẦM CAO THƯỢNG

Chả trách đàn ông giỏi ngứa nghề
Chỉ ham của lạ khoái đồng quê
Hai đầu ngứa ngáy thèm nghiêng ngó
Bốn mắt long lanh thích tỉ tê
Quân tử đàng hoàng têm cánh phượng
Tiểu nhân lén lút thả đàn dê
Hơn nhau ở chỗ tầm cao thượng
Thấy gái anh nào bảo: ... tớ… chê ?

Hoahuyen
19.11.2009
[/align]

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0





Nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11 - Hoahuyen xin mở chuyên mục Xướng họa Thơ Đường luật, một thú chơi tao nhã của các bậc tiền nhân xưa... nay vẫn đang nở rộ trên cả nước nhất là những người cao tuổi thường dùng thể thơ này để rèn tâm, trí, đức và thù tạc, phản ánh một phần đời sống tinh thần phong phú " Sống vui, sống khỏe, sống có ích cho đời "... góp phần gìn giữ vốn cổ... kính mong được các bậc cao thâm và các thi hữu gần xa hửng ứng.
Hoahuyen
[/align]

Thơ mời họa

TRỌNG TRÁCH TRÊN VAI

Trí thức hơn nhau ở cái đầu
Khả năng hiểu biết rộng và sâu
Nói hay buông chữ tròn xoe nghĩa
Viết sắc rơi từ nhói buốt câu
Giỏi hướng tương lai dân sớm thịnh
Tài xoay hiện tại nước nhanh giầu
Thuyền ra biển lớn cần tài đức
Trọng trách trên vai bắc nhịp cầu

Laonong(458)
(Hoahuyen)




TRỌNG TRÁCH TRAO AI?

Món này khó gặm ít người chơi!
Dẫu đã nỉ năn gẫy đũa mời
Vướng luật câu từ... văn rối rắm
Vướng niêm ý tứ... chữ tơi bời
Lão niên thì thích khen tinh tuý
Lớp trẻ toàn chê bảo dở hơi
Trọng trách trên vai... gánh thế?
"Giữ gìn bản sắc..." Việt nam ơi!

Hoahuyền




Bài họa 1
NHỮNG CHUYẾN ĐÒ NGANG

Mỗi chuyến đò ngang vẫn đứng đầu
Quản gì sóng cả với nông sâu
Dòng tâm luôn thắm tươi màu chữ
Nguồn đức vẫn đầy thắp sáng câu
Trọn nghiệp vun trồng không hám lợi
Suốt đời dâng hiến chẳng ham giầu
Miệt mài chở chữ qua sông lớn
Mỗi chuyến đò sang tựa chiếc cầu.

Lươngthephiet
19.11.2009




Bài họa 2
Khai đường sáng

Mấy mươi năm đã nhuốm sương đầu
Thầy vẫn tận lòng ước vọng sâu
Giúp trẻ dày công mài chữ nghĩa
Nắm tay gò viết đẹp từng câu
Mai sau đất nước thêm hưng thịnh
Ngày đến muôn nơi được sướng giầu
Phía trước dù muôn vàn lối khó
Khai đường tâm vững hướng qua cầu

đông hòa Nguyễn Chí Hiệp
20.11.2009







Bài họa 5
KHÔNG ĐỀ 1

Thầy Cô gương sáng - Đức làm đầu,
Nghĩa lớp , tình trường mãi nặng sâu.
Đãi cát tìm vàng rèn đẹp chữ,
Khai tâm mở trí luyện hay câu.
Lòng mong lớp trẻ nhanh tài đức,
Dạ muốn non sông sớm mạnh giàu.
Bởi vậy Thầy Trò luôn gắng sức
Bền gan vững chí vượt qua cầu!

Võ Ngọc Sơn






Bài họa 3
LÃNH ĐẠO

Lãnh đạo là luôn biết dẫn đầu
Hướng vào lĩnh vực mới cao sâu
Đón đầu xu thế không cần đợi
Đi trước nhu cầu lọ phải câu
Tỉnh táo thì đâu đến nỗi hố
Cao mưu chắc hẵn sẽ mau giầu
Thị trường mới đúng nơi rèn luyện
Tài cán cần ai bắc hộ cầu

Hồ Văn Thiện
20.11.2009




Bài họa 4
GHI TẠC CÔNG THÀY CÔ

Thày ban Trí Đức, tích trong đầu
Ngẫm lại cả đời ý thật sâu
Trước học lễ nghi thông vạn lẽ
Sau rèn chữ nghĩa thấm từng câu
Nhân tài giúp nước yên bờ cõi
Tiềm lực xây non Tổ Quốc giầu
Ghi tạc công ơn thày dạy dỗ
Khai nguồn trí tuệ sánh toàn cầu

hadinhchung
20.11.2009



Bài họa 6
KHÔNG ĐỀ 2

Cái gì ai cũng đặt trên đầu ?
Cao chóp rộng xòe khoét lõm sâu
Mắt lớn che nghiêng thò mũi quặm
Tai to úp xéo ló cằm câu
Ngày thường vênh váo khoe môi quý
Tháng hạn lấm le giấu trán giàu
Mưa nắng tiết thời nào biết được
Lỡ mai gió lớn tọt rơi cầu

Bs Tản
Học trò trường thuốc




Bài họa 7
Tài Trí

"Trọng Trách Trên Vai"
hẵn đứng đầu
"Đò Ngang bác Phiệt" ý thâm sâu
Văn chương gói gọn năm ba chữ
Ngữ nghĩa trang đầy mấy chục câu
"Lãnh Đạo" khôn ngoan ban quyết sách
Nhân dân hạnh phúc hưởng sang giàu
Thi thơ chính trị như nhau cả
Trí thấp tài ương chớ cưỡng cầu

Phieuvan_Thlangdu

Bài họa 8
Đồ giả

Muốn làm học giả ngẩng cao đầu
Bằng cấp thầy mua mộc đỏ sâu
Ra huyện khoe mình rằng học tốt
Đến trường viết chữ chẳng thành câu
Cửa công múa bút lòe cu nhỏ
Về xóm khua trương hách kẻ giầu
Đến lúc khui ra bằng giảo mạo
Đêm khuya ông đã nhảy qua cầu
( tự vận á )

donghoa nguyenchihiep


Bài họa 9
Tự trào Đường Thi
Họa cùng "Trọng Trách Trao Ai?".

Lúc trắc khi bằng há giỡn chơi
Không thông hạn luật dễ đâu mời
Mù mờ tự loại câu toang toác
Chệch choạng vần niêm tứ rối bời
Đĩnh đạc thâm trầm còn thiếu chữ
Cuồng ngông lấc cấc hẵn thừa hơi
Đường Thi chắt lọc bao tinh túy
Xét lại thơ mình thấy hỡi ơi


Phieuvan_Thlangdu


Bài họa 10
XƯỚNG HỌA THƠ ĐƯỜNG




Xướng họa xem ra thấy nhẹ đầu

So chi cao thấp luận khơi sâu

Mong mang nhân ái gieo thi phú

Nguyện lấy vô thường dệt chữ câu

Ẩn sĩ khinh danh đời tạo phúc

Cao nhân luyện đức nghiệp thêm giàu

Tương giao thơ cổ thần an tọa

Bạn hữu dung hòa trộm khấn cầu.

NICO













BÌNH THƠ: BÀI HỌA CỦA HADINHCHUNG






Anh hadinhchung kính, đây là một vài ý kiến nhanh của hoahuyen đối với bài họa của anh:



GHI TẠC CÔNG THÀY CÔ



Thày ban Trí Đức, tích trong đầu

Ngẫm lại cả đời ý thật sâu

Trước học lễ nghi thông vạn lẽ

Sau rèn chữ nghĩa thấm từng câu

Nhân tài giúp nước yên bờ cõi

Tiềm lực xây non Tổ Quốc giầu

Ghi tạc công ơn thày dạy dỗ

Khai nguồn trí tuệ sánh toàn cầu



hadinhchung



Trong tất cả các bài thi hữu gần xa đã họa thì “ GHI TẠC CÔNG ƠN THÀY CÔ” của Nhà thơ hadinhchung có lẽ theo ý kiến rất riêng ( có thể khác với cảm nhận của một số bạn ) là bài họa hay nhất vì những lý do sau :



* Họa = vẽ lại một bức tranh khác cùng đề tài ( có thể đẹp hoặc xấu hơn là do tài năng của người “họa” và có thể đối nghịch lại cả “người xướng” )



* Bài họa đối luật, không phản đề vì : “ Bài họa đã diễn đạt lại được toàn bộ ý chính (nội dung) của bài xướng, không lạc đề. đối luật với bài xướng, vì bài xướng luật trắc - bài họa của Bác hadinhchung luật bằng, họa cùng một tư tưởng đánh giá cao vai trò của trí thức và Nhà giáo đối với xã hội…. Nghiêm túc xét về luật : đây là bài chắc luật, vững liêm, họa và đối khá chỉnh, khó bắt bẻ, 56 chữ chỉ có 2 chữ trùng lặp đó là chữ “Thày” nhưng là 2 chữ “đắt” đúng chỗ, nhấn mạnh và khẳng định vài trò của người Thày trong việc trồng người



Trước hết ta xem 2 câu đề :



Thày ban Trí Đức, tích trong đầu

Ngẫm lại cả đời ý thật sâu




Nhiệm vụ chính của người Thày là dạy học và rèn người. dạy học là cho “chữ” tức là cho iến thức để làm hành trang vào đời, mặt khác thày cô còn có nhiệm vụ cực kì quan trọng đó là rèn rũa hình thành nhân cách… đạo đức của học sinh để thực sự trở thành CON NGƯỜI đúng nghĩa có ích cho xã hội – 2 câu đề quá rõ ý, mạch lạc câu văn…


Tiếp 2 câu thực : tả thực những việc mà nghề nhà giáo đã được xã hội quy định



Trước học lễ nghi thông vạn lẽ

Sau rèn chữ nghĩa thấm từng câu




“Tiên học lễ hậu học văn” – muốn làm NGƯỜI trước phải thông lễ nghi, hiểu vạn lẽ, uốn nắn từ việc đi, đứng, nói năng, chào hỏi, thưa gửi, kính trên nhường dưới dần dần hình thành con người “đối nhân xử thế chu toàn”
Sau học chữ, tích lũy kiến thức để thấm và ngấm từng câu… có ý muốn nói học đến nơi, đến chốn, hiểu cặn kẽ từng vấn đề một cách thấu đáo, khoa học, tránh hời hợt….



Tiếp 2 câu luận :

Nhân tài giúp nước yên bờ cõi

Tiềm lực xây non Tổ Quốc giầu



Một lời bình hay : Khi là người đã có tâm tầm trí, đức thì hằn đó là hiền tài giúp nước cũng chính là tiềm lực xây dựng tổ quốc giàu mạnh – một người hoàn chỉnh lý tưởng có lẽ cần hội đủ các yếu tố:
• Tâm trong sáng – Đức cao đẹp - Trí uyên bác – Hành mẫu mực và sống “ cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư “ ( hehehe, khó nhỉ )



Tiếp 2 câu kết :

Ghi tạc công ơn thày dạy dỗ

Khai nguồn trí tuệ sánh toàn cầu



Có lẽ không cần bình nữa vì nó đã rõ như ban ngày
Một bài họa thơ đường chỉnh, hay, có tầm tư tưởng lớn, câu văn chau chuốt, bay bổng... chúc bác hadinhchung nhiều cảm xúc cho nàng thơ


Hoahuyen

22.11.2009




Một số kiến thức cơ bản cần thiết về
CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
» Tác giả: ...
» Dịch giả:
» Thể lọai: Biên khảo
» Số lần xem: 276





1. CÁC THỂ THỨC HỌA THƠ ĐƯỜNG LUẬT









Có 2 thể thức họa thơ Đường luật là: Họa Hạn Vận và Họa Phóng Vận.


1.
HỌA HẠN VẬN:
Họa hạn vận là phải theo sự hạn định trước. Người ta ra đề và cho vần nào thì mình phải dùng vần ấy. Thể Họa Hạn Vận nầy khác với thể Họa Phóng Vận, vì họa hạn vận không có bài xướng để dựa theo mà họa, hơn thế nữa, ta phải:
- Diễn tả ý thơ theo đầu đề đã ra sẵn. ...


- Dùng đúng 5 vần hạn định (trong 8 câu) và phải hạ vần đúng theo thứ tự đã hạn định.


Thí dụ: Cuộc thi thơ do học giả Phan Kế Bính tổ chức như sau:
a.
Đầu đề (nội dung) là:


Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô


b.
Năm vần hạn định theo thứ tự là: xô - cô - vô - ô - rô.
Bài thơ sát với đầu đề, hạ đúng 5 vần hạn định, được giải nhất mà tác giả lại là một thiền sư chân tu !!!
... như sau đây:


Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi gióng nhảy rô



Còn có một lối hoạ hạn vận rất khó. Hoàng Thứ Lang kể lại một câu chuyện như sau:
Mùa Hè năm 1926, trong dịp thi sĩ Đão Sĩ Nhã đến thăm gia đình họ Phan ở Hưng Yên. Ông khách Đào Sĩ Nhã thách lão thi sĩ Phan Mạnh Danh làm một bài thơ Nôm Đường luật với các điều kiện sau:
- Đầu đề: Xuân Khuê
- Hạn 5 vần: chờ - hờ - thưa - tơ - thơ
- Phải dùng 19 chữ: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, trăm, ngàn, vạn, đôi, cặp, nửa, trượng, thước, tấc.
Sau đây là bài thơ Nôm hoạ hạn vận của lão thi sĩ Phan Mạnh Danh:


Xuân Khuê


Một mong hai đợi bốn ba chờ
Mười hẹn đêm trăng tám hững hờ
Nửa gối năm canh gà gáy giục
Tấc mây sáu cánh nhạn tin thưa
Trăm lần cặp mắt đôi hàng lệ
Chín khúc bên lòng vạn mối tơ
Ngàn trượng thành sầu đo thước khó
Biếng đem bảy vẻ dệt nên thơ


Phan Mạnh Danh



2.
HỌA PHÓNG VẬN
Họa Phóng Vận là phỏng theo vần của bài xướng để họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng, còn ý nghĩa thì hoặc phụ theo cho rộng thêm, hoặc trái hẳn lại (phản đề).


Họa phóng vận còn chia ra 4 hình thức là: Họa Nguyên Vận, Họa Đảo Vận, Họa Hoán Vận và Hoạ Tá Vận.
a. Họa Nguyên Vận: là họa đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng. Trong cách họa nguyên vận thường thì có bao hàm họa ý (hoặc đối ý) và đối luật với bài xướng. Nếu không đối luật được thì cũng có thể họa luật.
b. Họa Đảo Vận: là họa ngược thứ tự của 5 vần từ dưới lên trên, thay vì họa nguyên vận là họa từ trên xuống còn họa đảo vận là họa từ dưới lên.
c. Họa Hoán Vận: là thay đổi thứ tự vị trí các vần của bài xướng tùy theo ý người họa, sắp xếp lại sao cho vần điệu nghe êm tai hơn cách sắp xếp của bài xướng.
d. Họa Tá Vận: Tá vận là mượn vần. Họa tá vận là bài họa chỉ mượn 5 vần của bài xướng để làm một bài khác mà nội dung hoàn toàn không liên quan gì đến bài xướng cả. Cách họa này ngày nay hầu hết được người ta làm rất nhiều vì dễ làm.



CHÚ Ý QUAN TRỌNG: Trong thể thức Họa Vận, không được dùng trùng từ thứ 6 trong các câu có vần của bài xướng. Tức là không được dùng lại từ đứng trước của 5 vần bài xướng. Nói dễ hiểu là không được dùng lại chữ thứ 6 ở các câu 1-2-4-6-8 của bài xướng. Càng tránh dùng trùng từ trong toàn bài của bài xướng càng tốt, ngoại trừ những từ đặc biệt không thể tránh được.
Hoạ Thơ bao gồm 2 phần chính quan trọng sau đây:
Đã có một bài thơ sẵn trước gọi là Bài Xướng. Bài xướng có thể chọn 1 bài đã có sẵn từ xưa, từ trước, hoặc 1 bài do 1 người khác làm trước "thách đố" cho người khác đáp lại. Người đáp lại thì bài reply đó gọi là Bài Họa. Bài họa phải có ít nhất 3 yếu tố quan trọng sau đây:
1. Họa vần: 5 vần tức là 5 tiếng (chữ) cuối của các câu 1-2-4-6-8 mà người xướng đã ra như thế nào thì người họa phải theo đúng y chang 5 vần đó, không được vì bí hay kẹt mà sửa đổi. Chỉ cần sai 1 trong vần kể trên thì bài họa coi như bị hỏng, và như vậy gọi là bị Xuất Vận nghĩa là bị ra khỏi vần đã hạn định cho mình, dĩ nhiên bài họa đó bị Fail.2. Bài xướng nói lên ý (main idea) gì thì bài họa cũng phải nói lên ý đó hoặc tán rộng nghĩa ra thêm.3. Bài xướng gieo luật gì thì bài họa phải đối lại luật đó (trong xướng họa có hàm nghĩa đối đáp). Thí dụ bài xướng luật trắc thì bài họa phải luật bằng và ngược lại.4. Ngoài ra bài họa có thể đối ý lại bài xướng, thí dụ bài xướng khen 1 vấn đề gì thì bài họa có thể chê vấn đề đó (gọi là phản đề, nhưng không bắt buộc).Tóm lại 3 yếu tố 1-2-3 là cần thiết cho 1 bài họa xuất sắc.Sau đây là một thí dụ về xướng họa điển hình để làm mẫu. Hai bài này nổi tiếng trong văn học Việt Nam.
Bài Xướng:


TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
(của Tôn Thọ Tường)


Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Châu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng



Bài Họa:


TÔN PHU NHÂN QUI THỤC
(của Phan Văn Trị)


Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông
Ngút tỏa trời Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng


Những bài thơ minh họa cho các thể thức Họa Thơ.
1.
HOẠ HẠN VẬN:
Thí dụ:


- Hạn đề:
"Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không ai dám dở mùng chun vô"


- Hạn vận:
Xô - Cô - Vô - Ô - Rô


Bài họa:


Nào phải là ai dám giục xô
Thuận tình trước hết tự nơi cô
Có cho mới dám trao dùi đánh
Không hẹn nào ai đẩy cửa vô
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa
Ham vui quên hết chuyện dâm ô
Thói hư thuần thước xưa còn lạc
Đừng học làm chi giống nhảy rô



2. HỌA PHÓNG VẬN:
Thí dụ 1:


a.
Họa nguyên vận:


Bài xướng:


TƯƠNG TƯ


Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi


Hoàng Thứ Lang
11/8/05



Bài họa:


TƯƠNG TƯ


Mỏi gót phiêu bồng khắp mọi nơi
Về đâu trên vạn nẻo đường đời
Mưa buồn đổ mãi mưa buồn hỡi
Tuyết trắng rơi hoài tuyết trắng ơi
Muốn nhắn đôi câu mà nghẹn ý
Mong trao mấy tiếng lại ngăn lời
Dòng sông ly biệt nào chia lối
Ngắm dải Ngân Hà đếm lệ rơi


Hoàng Thứ Lang
11/8/05


b. Họa đảo vận:


Bài xướng:


TƯƠNG TƯ


Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi


Hoàng Thứ Lang
11/8/05



Bài họa:


TƯƠNG TƯ


Lất phất bên thềm tuyết trắng rơi
Niềm riêng ấp úng chẳng nên lời
Hai hàng lệ tủi than trời hỡi
Một áng thơ sầu khóc bạn ơi
Rẽ yến chia oanh hờn số kiếp
Lìa loan rã phụng lỡ duyên đời
Sông Tương uống cạn dòng thương nhớ
Giang vĩ giang đầu đứa mỗi nơi


Hoàng Thứ Lang
11/8/05


c. Họa Hoán Vận:


Bài xướng:


TƯƠNG TƯ


Tương giang hai đứa ở hai nơi
Uống cạn dòng sông nhớ trọn đời
Chỉ thắm xe lơi người mộng hỡi
Tơ hồng buộc lỏng bạn lòng ơi
Vần thơ nức nở mi nhòa lệ
Nét chữ run run ý cạn lời
Định số an bài mang khổ hận
Đêm trường thổn thức máu tim rơi


Hoàng Thứ Lang
11/8/05



Bài họa:


TƯƠNG TƯ


Gởi gió nhờ mây nhắn mấy lời
Trao người yêu dấu của tôi ơi
Đường mơ vạn nẻo đành riêng lối
Bến mộng đôi bờ phải khác nơi
Bóng chiếc phòng đơn sầu lệ đổ
Đèn khuya gác vắng tủi châu rơi
Ai xui hai đứa mình dang dở
Chẳng trọn cùng nhau suốt cuộc đời


Hoàng Thứ Lang
11/8/05


d. Họa Tá Vận (mượn vần):


Bài xướng:


TRUNG THU


Trăng thu toả sáng nhớ xa xăm
Tháng tám chờ trông đến bữa rằm
Mẹ dán lồng đèn chơi suốt sáng
Cha làm trống ếch đánh quanh năm
Xa rồi cảnh cũ lòng se lạnh
Tiếc mãi ngày xưa lệ ướt dầm
Chiếc lá chao mình trong gió sớm
Nghe chừng vọng lại thoáng dư âm


Hoàng Thứ Lang
Oct 05, 2006



Bài họa:


XIN XĂM


Mẹ dẫn lên chùa để thỉnh xăm
Hôm nay trăng sáng đúng đêm rằm
Cầu xin phúc lộc vào nguyên tháng
Khấn nguyện bình an đến trọn năm
Giữa Hạ oi nồng đừng nắng gắt
Trung Thu mát mẻ chớ mưa dầm
Đưa tay vói rút ồ hên quá
Thượng thượng ngon lành chẳng bị âm


Bạch Mai
Oct 06, 2006


Hoạ thơ Đường luật


Họa vần là sáng tác một bài thơ thường gọi là bài họa dựa trên hệ thống vần của một bài thơ có trước thường gọi là bài xướng.


Thơ Đường luật có nhiều thể như thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú.
Nếu thể thơ thất ngôn bát cú thì toàn bài có năm vần là chữ cuối cùng của các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Những chữ vần thường là thanh bằng (có một số bài làm theo vần trắc, thì các chữ ở vị trí này là thanh trắc).


Sau khi có bài xướng, người làm thơ họa sáng tác một bài khác, dùng lại đúng năm chữ vần của bài thơ xướng, với điều kiện chỉ dùng chữ cuối, không được dùng chữ kế cuối.


Nếu dùng lại chữ kế cuối là phạm nguyên tắc "khắc lục", là lỗi cấm kỵ trong họa vần thơ Đường luật.


Bài họa phải diễn đạt lại ý chính (nội dung) của bài xướng, không được lạc đề.


Thường là bài họa phải đối luật với bài xướng, nếu bài xướng luật bằng thì bài họa phải luật trắc và ngược lại. Kẹt lắm mới làm bài họa đồng luật với bài xướng.
Thí dụ:


Bài xướng:


Vườn rau Cẩm Tú


Thầy cho xới lại mảnh vườn hoang
Cẩm Tú đem phân ủ mấy hàng
Củ cải gieo gần dây mướp đắng
Su hào tỉa cạnh gốc khoai lang
Thì là diếp cá lên muôn lối
Húng đổi cần tây mọc khắp đàng
Tứ phía rau xanh nhìn mát mắt
Tha hồ cải thiện bữa ăn...
sang


Cẩm Tú



Bài hoạ::


Vườn rau Cẩm Tú


Cẩm Tú gieo trồng mảnh đất hoang
Rau xanh thẳng tắp rất ngay hàng
Ngò om óng mượt bên giàn mướp
Húng quế thơm lừng kế luống lang
Bí rợ tần ô lên bít lối
Dưa leo ớt hiểm mọc đầy đàng
Chiều chiều đứng ngắm lòng thanh thản
Cuộc sống quê nghèo ngẫm lại...
sang


Hoàng Thứ Lang


Không được dùng lại chữ thứ 6 (chữ kế cuối) trong các câu cước vận (câu 1-2-4-6-8) của bài xướng và tất cả những bài đã hoạ trước.
5 chữ vần của bài hoạ không được khác nghĩa với 5 chữ vần của bài xướng.Coi như bài hoạ là bản copy những nét căn bản về ý và vần của bài xướng, vì vậy bài hoạ phải cùng một tựa đề với bài xướng.Hoạ thơ Đường luật không đến nổi quá khó nhưng không phải dễ dàng như nhiều người đã lầm tưởng !Hoạ sai một vần gọi là xuất vận: không được.Hoạ sai nghĩa một vần gọi là xuất ý: không được.
--

Bài đọc thêm


Xướng hoạ thơ Đường luật là có hàm ý đối hoạ ở trong đó.
Người ta xướng ra mình phải đối đáp lại, vì vậy nếu chỉ một bài xướng và một bài hoạ thì bài hoạ bắt buộc phải đối luật với bài xướng. Thí dụ bài Tôn Phu Nhân Qui Thục xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Phan Văn Trị.Trường hợp bất khả kháng không thể đối luật được thì có thể châm chế hoạ đồng luật, nhưng bài hoạ đồng luật sẽ bị giảm giá trị vì không đáp ứng đúng thể thức xướng hoạ đúng cách.Bắt đầu những bài hoạ sau đó (nếu có) thì có thể dùng luật gì cũng được.
Hoạ thơ là "vẽ lại" hình ảnh của bài xướng cho nên phải trung thực với bài xướng về ý cũng như vần.
Hoạ sai ý bài xướng là không đạt.Hoạ sai bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất vận: không đạt. Xuất vận là đi ra khỏi sự hạn định về vần của bài xướng.Hoạ sai nghĩa bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất ý: không đạt. Xuất ý là đi ra khỏi ý nghĩa chữ vần của bài xướng.
Hoạ thơ Đường luật đúng cách rất khó.


Khi bạn bè (thi hữu) chung vui xướng hoạ với nhau, có thể dùng thể thức Hoạ Tá Vận (tức là mượn vần) để hoạ những vần tử vận và tử ý. Cách nầy không đạt nhưng cốt là để cùng nhau vui vẻ mà thôi. Nhưng cũng không nên đi xa thi đề (nội dung của bài xướng). Thí dụ bài Cảm Vịnh Cây Mai xướng của Tôn Thọ Tường, hoạ của Đông Hồ.
Lấy thí dụ tử vận xót xa không thể nào hoạ nguyên vận theo chính hoạ được. Chúng ta có thể hoạ tá vận (mượn vần) theo bàng hoạ là xa xa, từ xa, đàng xa v.v... chẳng hạn. Dĩ nhiên là sai nghĩa của chữ xót xa rồi (bởi vậy mới bị xuất ý: không đạt), nhưng cốt để cùng nhau vui vẻ mà thôi.
Chúng ta học thơ Đường luật chính thể, cho nên phải học kỹ về chính luật, chính vận, chính đối, chính hoạ.


Thông vận, bàng đối và bàng hoạ...
không xuất sắc.
Làm thơ, nếu dùng thông vận thì nên dùng cận vận mà không nên dùng viễn vận. Viễn vận và cưỡng vận không hay, hạn chế dùng.
Luật bất luận trong thơ Đường luật chính thể


Người xưa đã nghiên cứu, cân nhắc rất kỹ càng chu đáo khi đặt ra luật thơ chính luật cho thơ Đường luật. Theo chính luật thì bài thơ sẽ có âm điệu du dương trầm bổng đọc hoặc ngâm nga rất êm tai truyền cảm. Thơ không phải chỉ để đọc mà còn để ngâm vịnh nữa, cho nên âm điệu rất quan trọng vì nó tạo ra nhạc tính cho bài thơ. Do đó người ta nói trong thơ có nhạc trong nhạc có thơ là bởi lẽ đó. Bài thơ mà không tuân theo thanh luật tức là luật về âm thanh hay nói khác đi nếu bài thơ mà không tuân theo luật thơ khi đọc lên thì nghe rất chỏi tai, ngâm vịnh thì bị chỏi miệng trẹo lưỡi mà trong thơ gọi là khổ độc.Tuy nhiên trong một vài trường hợp đặc biệt, có những chữ không thể sửa đổi để khép vào khuôn khổ của luật thơ (chính luật) được. Đó là những chữ thuộc về thành ngữ, điển tích, chuyên ngữ, thuật ngữ, danh từ riêng ... Vì vậy mà người ta đặt thêm luật bất luận để áp dụng cho những trường hợp đặc biệt này. Nhưng luật bất luận cũng có sự qui định chặt chẽ phải tuân theo một cách nghiêm ngặt không thua gì chính luật.Một vài thí dụ về thành ngữ, điển tích, chuyên ngữ, thuật ngữ, danh từ riêng không thể sửa theo chính luật được, như sau:


- Thành ngữ: tang điền thương hải, học tài thi mạng, tháo củi sổ lồng ...


- Điển tích: kết cỏ ngậm vành, nghiêng nước nghiêng thành, bình rơi trâm gãy ...


- Chuyên ngữ, thuật ngữ: tam bộ cửu hậu, tứ chẩn bát cương, cữu hư hoãn bổ ...


- Danh từ riêng: Mỵ Châu, Thúy Kiều, Kim Trọng, Đạm Tiên, Bá Nha, Tử Kỳ ...



So sánh đối chiếu với chính luật:


- Thành ngữ: non thề biển hẹn, quốc phá gia vong, nhà tan cửa nát ...


- Điển tích: cử án tề mi, thiên kiều bá mỵ, chim sa cá lặn, hoa tường liễu ngõ ...


- Chuyên ngữ, thuật ngữ: tứ chứng nan y, đau chân há miệng, bảng hổ danh đề ...


- Danh từ riêng: Ngưu Lang, Chức Nữ, Trương Chi, Trọng Thủy, Lưu Thần, Nguyễn Triệu ...



Vì những sự kiện đặc biệt như đã dẫn chứng trên nên luật bất luận được ra đời để áp dụng cho những từ ngữ đặc biệt không thể sửa đổi này.


Sau đây là bảng luật bất luận cho thơ Đường luật chính thể:


1.
LUẬT BẰNG VẦN BẰNG:


b - B - t - T - T - B - B (vần)
t - T - b - B - T - T - B (vần)
t - T - b - B - B - T - T (đối câu 4)
b - B - t - T - T - B - B (vần) (đối câu 3)
b - B - t - T - B - B - T (đối câu 6)
t - T - b - B - T - T- B (vần) (đối câu 5)
t - T - b - B - B - T - T
b - B - t - T - T - B - B (vần)



2.
LUẬT TRẮC VẦN BẰNG:


t - T - b - B - T - T - B (vần)
b - B - t - T - T - B - B (vần)
b - B - t - T - B - B - T (đối câu 4)
t - T - b - B - T - T - B (vần) (đối câu 3)
t - T - b - B - B - T - T (đối câu 6)
b - B - t - T - T - B - B (vần) (đối câu 5)
b - B - t - T - B - B - T
t - T - b - B - T - T - B (vần)



Ghi chú quan trọng:


- Những chữ viết hoa đứng ở vị trí 2-4-5-6-7 của mỗi câu bắt buộc phải giữ theo đúng chính luật.
- Những chữ viết thường đứng ở vị trí thứ 1-3 không bắt buộc phải giữ đúng theo chính luật. Tuy nhiên chỗ mà theo chính luật là trắc ta làm ra bằng thì không sao nhưng chỗ mà theo chính luật là bằng thì không nên làm ra trắc. Riêng chữ thứ 1 có thể linh hoạt hơn, gặp chỗ là bằng cũng có thể làm ra trắc nếu không thể tìm ra chữ khác hay hơn để thay thế. Trường hợp bất khả kháng, đối đế lắm cũng có thể áp dụng cho chữ thứ 3 giống như chữ thứ 1, nghĩa là đáng lẽ bằng mà vì kẹt phải làm ra trắc. Tuy nhiên không nên lạm dụng luật bất luận mà làm bài thơ trắc trở không êm tai.Bằng là suông sẻ, trắc là trắc trở, vì vậy chỗ đáng trắc mà làm ra bằng thì suông sẻ, nhưng chỗ đáng bằng mà làm ra trắc thì trắc trở, không nên.
Bài thơ thí dụ làm mẫu để minh hoạ cho luật bất luận:


1.
Luật trắc:


Tôn Phu Nhân Qui Thục
(Bài xướng)


Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Má hồng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng


Tôn Thọ Tường



2.
Luật bằng:


Tôn Phu Nhân Qui Thục
(Bài hoạ)


Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi đông
Khói toả đồi Ngô ùn sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cang thường nặng núi sông
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng


Phan Văn Trị


Ghi chú: đây là 2 bài thơ xướng hoạ nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam, chúng ta nhận thấy tác giả áp dụng luật bất luận đúng y như trong phần giải thích ở trên, và dùng cũng rất hạn chế.


2009-03-16 11:30:13

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0


CẢM XÚC KHÔNG TÊN


Hay thơ trăng mới xuống trần
Thơ hòa với rượu đôi vần mời trăng
Lỡ làng nỗi hẹn trăm năm
Thôi thì uống cả vầng trăng cho tròn

Ngày xưa ngắm ánh trăng non
Nửa đau mình nhận, mỏi mòn ta mang
Ngắm trăng, trăng vỡ, tình tan
Hương phai, phấn nhạt, lửa tàn, hồn tê

Say nghiêng quên cả lối về
Bọt bèo tan biến ê chề ánh trăng
Say cho gió lộng mưa giăng
Say cho bến cách sông ngăn một thời

Long lanh vời vợi người ơi!
Trăng hòa với rượu đầy vơi chưa chừa
Men nồng rối rắm tình xưa
Thôi thì uống cạn cho vừa lòng nhau

Ngất ngây say ánh trăng sầu
Tình sau ta ở, tình đầu người quên?
Uống cho hết nợ vơi duyên
Lịm trong vô vọng nhớ, quên đôi bờ...

Say cho bay bổng hồn thơ
Say cho câu chữ ngẩn ngơ ý lời
Mai sau cuối đất cùng trời
Trăng ơi! người ngắm rã rời vì trăng !

Hoahuyen (59)


Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Thơ mời họa




Bài 1 ( Lý sự )
Cảm

Lí Bạch,(1) Xuân Hương(2) tiếng để đời
Thơ đường xướng - họa kén người chơi
Vững niêm chữ nghĩa vung thừa sức
Kém luật từ câu vắt kiệt hơi
Già dặn (3) say sưa khuôn thước cổ
Trẻ trung mê mẩn kiểu tân thời
Hậu sinh gìn giữ không mai một
Cũ - mới giao duyên thuận ý trời

Laonong
Hoahuyen (533)
(1) Lí Bạch : Một nhà thơ rất nổi
tiếng của TQ
(2) Hồ Xuân Hương : Bà chúa thơ
nôm của Việt Nam
(3) Già dặn : lớp già nhưng trí ruệ
còn minh mẫn, giầu kinh nghiệm,
yêu mến và có ý thức giữ gìn vốn cổ

Bài 2
( Thơ mộng hơn )
NGUYỆT DẠ

Nguyệt dạ, xin thưa chẳng muốn già
Mặc ngàn năm tháng cứ trôi qua
Trời giăng mây trắng đùa trêu gió
Đất ngợp trăng vàng bỡn cợt da
Cung quảng Hằng Nga say Ngọc Thố
Trần gian sỹ tử đắm hồng hoa
Hữu duyên trời đất trào ân ái
Chết dưới chân nàng đã có ta.

Laonong
Hoahuyen (188)

Lưu ý:

* Xin họa đúng chủ đề,
* Số lượng bài họa không hạn chế
* Bài nào hay sẽ có bài bình và giải
thưởng là 1000 nụ hôn gió của hoa hậu
Thế giới quý bà năm 2009 (hehehe )



[@more@] Trong Entry mời họa lần trước nhân dịp ngày Nhà giáo Việt nam 20.11 Hoahuyen thât sự bất ngờ vì đã được các bậc cao niên và bạn bè thi hữu gần xa quan tâm tham gia họa bài thơ " TRỌNG TRÁCH TRÊN VAI" Của Hoahuyen ( như Bác Hồ văn Thiện, Anh Luongthephiet, anh Đông Hòa nch, anh hadinhchung, anh phieuvan08, Bác sĩ Tản, anh Võ Ngọc Sơn, Mỵ Duy Sơn, các em Sonata, Nico... và nhiều bé bạn quan tâm khác ) - Entry đó đã có gần 160 cảm nhận và trên 1000 người truy cập ( có nhiều ý kiến tranh luận nhiệt tình như hai anh Đông Hòa và anh phieuvan08...), đó chính là niềm vui, khích lệ động viên to lớn mà các bạn đã giành cho Hoahuyen - Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn gần xa - Lần này Hoahuyen đưa ra một đề tài cũng từng có nhiều ý kiến khác nhau về thơ cũ và thơ mới bằng một bài thơ mời họa như trên và 1 bài nhẹ nhàng- mong nhận được nhiều ý kiến của các bạn:









SUY và NGẪM

"Nhất tự vi sư" chẳng lỗi thời
A còng (1) hiện đại trẻ mê tơi
"Cổ nhân bất thức kim thời nguyệt"(2)
Xướng họa bây giờ ít kẻ chơi

Luân hồi như mốt thay quần áo
Hết túm thì loe, váy ngắn dài
Đã có thơ điên, văn lủm củm
Xoay vần nhật nguyệt cứ lai rai

Nếu cổ mà hay sao lại bác ?
Tân thời hợp mốt lắm người say
Công tâm ủng hộ văn thơ mới
Gìn giữ cho đời vốn cổ... hay

Lão Nông
(1) Thời đại @
(2) Một câu thơ của Lý Bạch trong bài
" Bả tửu vấn Nguyệt "

Bài họa 1
TUỔI TRẺ CHÍ KHÍ

Văn hiến nghìn năm để lại đời
Kế thừa tiếp bước chẳng ham chơi
Thi đua học giỏi bền dai sức
Tranh đấu so tài cứng cáp hơi
Phú quý giàu sang nào cậy thế
Công thành danh toại há trông thời
Tiếng thơm muôn thuở rền sông núi
Ngẩng mặt hiên ngang giữa đất Trời

Bs.Tản
Học trò trường thuốc

___________________

Bài họa 2
CHỮ NGHĨA

Thần Siêu thánh Quát hiến cho đời
Nhiều áng hùng văn đâu để chơi
Chữ nghĩa chân dân khai mở sắc
Tấm lòng bảo quốc đến tàn hơi
Khuôn vàng thước ngọc không dây mực
Khí phách trượng phu chẳng lạc thời
Bút tả thanh thiên soi hậu thế
Thanh gươm đâu tá chém ngang trời

26-11-2009
Hồ Văn Thiện

_____________________

Bài họa 1
Loạn Trăng
(thủ vỹ-thuận nghịch độc)

xuôi
Trăng viếng mộng khuya lạc bóng già
Lững lờ sao hạ giấc tìm qua
Hằng thêm gió loạn mây huyền sắc
Níu khẽ trời say lạnh tím da
Lăn chậm giọt buồn đêm khóc bạn
Nghẹn thầm môi oán lệ sầu hoa
Đằng sương khói ảo mơ cuồng vọng
Trăng đón muộn sầu gửi đến ta

ngược:
Ta đến gửi sầu muộn đón trăng
Vọng cuồng mơ ảo khói sương đằng
Hoa sầu lệ oán môi thầm nghẹn
Bạn khóc đêm buồn giọt chậm lăn
Da tím lạnh say trời khẽ níu
Sắc huyền mây loạn gió thêm hằng
Qua tìm giấc hạ sao lờ lững
Già bóng lạc khuya mộng viếng trăng

đông hòa
Nguyễn Chí Hiệp
26.11.2009

Thật sự đáng nể khả năng phản xạ thơ
Đường cực nhanh của anh Đông Hòa


_____________________
Bài họa 3
CÙNG GÓP SỨC

Công thành danh toại hiến cho đời
Kiến thức cao cầu chẳng dễ chơi
Lanh lợi thông minh cần nhã nhặn
Tài cao trí lớn há cầm hơi
Người già cố thủ mau hòa nhập
Tuổi trẻ tiên phong cải cách thời
Rạng rỡ non sông cùng góp sức
Tương lai Tổ quốc hợp lòng trời

Viết bởi hadinhchung
26 Nov 2009, 17:07
_______________________

Bài 2
CHỊ HẰNG THỜI NAY

Chị Hằng năn nỉ Bác Trăng già
Canh đón phi thuyền lúc vút qua
Tranh thủ quá giang đi uốn tóc
Sẵn thời xuống phố để căng da
Xong rồi vô shop mua giầy bốt
Tiện thể ra đường sắm váy hoa
Ở riết cung trăng buồn chán ngắt
Chỉ mong có Bạn tám cùng ta

Học trò trường thuốc
Viết bởi Bs.Tản


__________________

Bài họa 4
Thanh Bình

Đã thấy yên tâm giữa cuộc đời
Nơi nơi khắp cả được vui chơi
Tây Đô về ngắm trăng xuôi bóng
Bình Định đến thăm suối thả hơi
Thương cảnh thu xưa đêm giải hạn
Nhớ ngày hạ trước buổi giao thời
Năm dài nỗi khổ nay tan hết
Lại đón mùa xuân pháo ngập trời

đông hòa Nguyễn Chí Hiệp
26.11.2009
_______________________

Bài họa 3
ĐỘC ẨM THƠ TA

Trăng khuya thủ thỉ bóng tre già
Mờ tỏ cho nhau thoảng dáng qua
Gió lặng im lìm lay kẽ lá
Mây bay tan tác hở làn da
Thu về lồng lộng mơ người đẹp
Xuân đến tuơi nồng thắm sắc hoa
Trời đất xe duyên cùng Nguyệt Dạ
Ôm nàng độc ẩm nhắm thơ ta...

Viết bởi hadinhchung
26 Nov 2009, 21:41






Bài họa 4
CHẲNG MÌNH TA

Bảy mươi chưa hẳn tuổi về già
Gọi chú, kêu em tự nhận "QUA"
Đầu óc mẫn minh còn sáng suốt
Mặt mày tươi rói chữa nhăn da
Làm thơ lúc hứng còn trêu Nguyệt
Văn viết động tình dám cợt Hoa
Nguyễn Trải thả thi quen Thị Lộ
Thế gian thất thập chẳng mình ta

Hongle09






Kính thưa tất cả các bạn yêu thơ văn nói chung và yêu thể loại thơ Đường Luật nói riêng Hoahuyen đã đọc tất cả các bài họa của các bạn gửi về và xin sơ kết ( tạm gọi là đợt 1 ) Hoahuyen nhận thấy:
1. Tuy có sôi nổi thật nhưng chỉ tập trung vào 1 số người ( như Bác Hồ văn Thiện, Anh Luongthephiet, anh Đông Hòa, anh hadinhchung, anh phieuvan08, Bác sĩ Tản, anh Võ Ngọc Sơn, Mỵ Duy Sơn, Sonata, Nico... ) chơi loại thơ này tức vẫn chỉ "đếm trên đầu ngón tay"
2. Một số bài có nhiều ý, tứ hay nhưng cũng có bài sai chủ đề và còn "sạn". Cho đến thời điểm này Hoahuyen đánh giá cao ( theo ý kiến rất riêng ) Bài của bác Hồ Văn Thiện và BS. Tản
3.Đặc biệt anh Đông Hòa có khả năng phản xạ thơ đường nhanh ( kể cả thuận nghịch độc là loại khó nhai không dễ gì ai cũng làm được nagy nhưng với ĐH chẳng khác gì "người bị ma nhập" )
Bài của bác Hồ Văn Thiện
Bài họa 2
CHỮ NGHĨA
Thần Siêu thánh Quát hiến cho đời
Nhiều áng hùng văn đâu để chơi
Chữ nghĩa chân dân khai mở sắc
Tấm lòng bảo quốc đến tàn hơi
Khuôn vàng thước ngọc không dây mực
Khí phách trượng phu chẳng lạc thời
Bút tả thanh thiên soi hậu thế
Thanh gươm đâu tá chém ngang trời
26-11-2009
Hồ Văn Thiện
đọc nghe sang sảng như lời hịch truyền
Bài của BS.Tản
Bài họa 1
TUỔI TRẺ CHÍ KHÍ
Văn hiến nghìn năm để lại đời
Kế thừa tiếp bước chẳng ham chơi
Thi đua học giỏi bền dai sức
Tranh đấu so tài cứng cáp hơi
Phú quý giàu sang nào cậy thế
Công thành danh toại há trông thời
Tiếng thơm muôn thuở rền sông núi
Ngẩng mặt hiên ngang giữa đất Trời
Bs.Tản
Học trò trường thuốc
@ và đây là bài mà Hoahuyen thật sự đáng nể khả năng phản xạ thơ Đường cực nhanh của anh Đông Hòa ( nhưng bài này chỉ mang ý nghĩa thù tạc là chính, thông điệp gửi đến người chưa có gì lớn... )
Bài họa 1
Loạn Trăng
(thủ vỹ-thuận nghịch độc)
xuôi
Trăng viếng mộng khuya lạc bóng già
Lững lờ sao hạ giấc tìm qua
Hằng thêm gió loạn mây huyền sắc
Níu khẽ trời say lạnh tím da
Lăn chậm giọt buồn đêm khóc bạn
Nghẹn thầm môi oán lệ sầu hoa
Đằng sương khói ảo mơ cuồng vọng
Trăng đón muộn sầu gửi đến ta
ngược:
Ta đến gửi sầu muộn đón trăng
Vọng cuồng mơ ảo khói sương đằng
Hoa sầu lệ oán môi thầm nghẹn
Bạn khóc đêm buồn giọt chậm lăn
Da tím lạnh say trời khẽ níu
Sắc huyền mây loạn gió thêm hằng
Qua tìm giấc hạ sao lờ lững
Già bóng lạc khuya mộng viếng trăng
đông hòa
Nguyễn Chí Hiệp
26.11.2009
Hoahuyen hy vọng sẽ còn tiếp tục nhận được các bài họa khác biết đâu còn hay hơn




Vài nhận định về sự đối câu trong thơ Đường Luật

Phạm Doanh

Có những ý kiến cho rằng 2 cặp câu 3,4 và 5,6 của thơ Đường Luật phải đối một cách tuyệt đối, nghĩa là từng chữ câu trên thuộc tự loại nào thì chữ cùng vị trí trong câu dưới cũng phải đúng tự loại đó .

Nhiều tác giả chú trọng quá nhiều vào hình thức đối của thơ Đường nên gò từng chữ miễn sao cho đúng luật hiểu theo cái nhìn chật hẹp, nên viết những câu đối thật chặt chẽ về hình thức mà trống rỗng về nội dung cũng như gượng ép trong cách dùng chữ.
Họ có thể cho những câu như sau là hay vì chỉnh trong vấn đề đối:
Chàng trai trước cửa đứng lau xe
Cô gái sau sân ngồi rửa bát
Đối trong thơ Đường Luật là đối ý trước tiên rồi mới đến đối tự loại. Và đối từng cụm từ chứ không phải từng chữ. Ý tưởng nghèo nàn, chữ dùng thô thiển thì dù có đối chỉnh cách mấy cũng không có chút giá trị nào, loại Đường Luật nặng về hình thức này giống như 1 chiếc hộp gỗ thật vuông vức thật thẳng góc cạnh nhưng gỗ là gỗ tạp và chứa đựng trong lòng nó nội dung nghèo nàn. Sao bằng được một chiếc hộp gỗ góc cạnh có thể không thẳng hoàn toàn nhưng là gỗ quý và chứa đựng món hay vật lạ.
Ngay cả trước đây hơn một thế kỷ các nhà Nho nổi tiếng như Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến sống trong thời đại từ chương, gò bó về luật thơ, đi thi chỉ cần sai một chút là hỏng mà cụ đậu đầu cả 3 kỳ thi Hương, Hội và Đình. Bậc Trạng Nguyên như thế mà còn không cố chấp về luật đối trong thơ ĐL thì chúng ta trong quan niệm phóng khoáng ngày nay lại cố bám vào từng chữ hay sao. Có khi còn bắt lỗi là cùng là động từ nhưng transitive verb (cần túc từ) không được đối với intransitive verb (không cần túc từ) hay trạng từ chỉ thời gian không đi với trạng từ chỉ không gian, 1 câu là câu hỏi thì câu kia cũng phải là câu hỏi.
Sau đây là các thí dụ của bất chấp luật đối cứng ngắc của Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ông bất chấp chứ không phải ông không biết luật.


Thu Vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc ánh trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào ?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Với những ý kiến chấp nê thì năm ngoái,không đối với nước nào ?
"flower of yesteryear" không đối với "goose of which country"?


Thu Điếu



Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,
Tựa gối, buông cần lâu chẳng được.
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Nếu "hơi" đi với làn là danh từ kép thì khác với "sẽ" là trạng từ, còn nếu hơi là trạng từ để đối thì chữ làn đứng trơ trọi.
Rõ ràng ở đây là đấu ý, đối cả câu chứ không phải từng chữ. (1)
Tự Thuật
Tháng ngày thấm thoát tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ ?
Răng long ngày trước hãy còn đây.
Câu thơ được chửa, thưa rằng được,
Chén rượu say rồi, nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Tương tự như thế ngay cả 2 cụm từ màu xanh ở trên cũng không cùng tự loại đừng nói gì từng chữ trong nó.
Vịnh Tiến Sĩ Giấy
Rõ chú hoa man (1) khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu mặt đó chừng bao tuổi,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu ?
Bán tiếng mua danh thây lũ trẻ,
Bảng vàng bia đá vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

Ví dụ này càng cho thấy cái "không đối" theo như những lập trường cố chấp, Bán và mua trong câu trên là động từ còn Bảng và bia là danh từ; ngay cả tiếng và danh là danh từ cũng không đối với vàng và đá là tĩnh từ. Nhưng đối là đối cả ý, cả câu chứ làm sao mà Nguyễn Khuyến không biết luật được. Cái luật mà người ta khăng khăng bám vào chỉ là cái cố chấp vô lối thôi. Dĩ nhiên là nếu mình muốn đối tuyệt đối thì cũng không sao, nhưng mang lập trường đó mà phê bình thơ người khác một cách hàm hồ thì thật là thiển cận biết bao.
Ở đây không phải là người không làm nổi câu đối nên nguỵ biện, chỉ là thấy những người học được một số luật rồi bám vào đó coi như là kinh điển tuyệt đối đúng là biết một mà chẳng biết hai. Chính họ là những người hay sửa sai và chê bai người khác là làm thơ sai luật vì đối không chỉnh.

Không phải chỉ mình Nguyễn Khuyến mới "thất luật", 2 câu sau đây của Tú Xương cũng sẽ không làm vừa lòng các vị bảo hoàng hơn vua:
Chí cha chí chát khua giày dép,
Ðen thủi đen thui cũng lụa là.
Khua là động từ có đi với cũng là trạng từ không? Thưa được vì
đối ý, đối câu mà hay thì từng chữ một không cần đúng.
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong bụng sao mà những gió trăng,
Người và những trong con mắt của người cố chấp thì chắc chắn là không đối rồi.
Và hãy đọc Nguyễn công Trứ
Tự cao
Trời đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi
Dở duyên với rượu khôn từng chén
Trót nợ làm thơ phải thuộc bài
Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó
Ðàn còn phiếm trúc tính tình đây
Ai say ai tỉnh ai thua được
Ta mặc ta mà ai mặc ai
Nguyễn Công Trứ

Cả hai cặp 3,4 và 5,6 đều không đối từng chữ . Nếu khăng khăng thì hoá Nguyễn công Trứ không biết luật sao ?, "từng chén" chắc chắn không đối với "thuộc bài" và "xe ngựa" không cùng tự loại với "tính tình" , đó là chưa kể "với" versus "làm" . Nhà Nho như Nguyễn công Trứ há lại phạm 3 lần lỗi trong bốn câu hay sao ?
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong bụng sao mà những gió trăng,
"Người" và "những" trong con mắt của người cố chấp thì chắc chắn là không đối rồi.
Hay là bài thơ nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông
Đề Miếu Bà
Nghi ngút đầu ghềnh tỏa khói hương,
Miếu ai như miếu vợ chàng Trương.
Ngọn đèn dầu tắt đừng nghe trẻ,
Làn nước chi cho lụy đến nàng.
Chứng quả có đôi vầng nhật nguyệt,
Giải oan chi mượn đến đàn tràng.
Qua đây mới biết nguồn cơn ấy,
Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng...
Chúng ta thấy rõ ràng là trong hai cặp đối nhau, không phải tất cả các chữ cùng vị trí đều cùng tự loại cả, (tắt / cho), (đừng / lụy) , (nghe / đến) , (đôi / mượn), (vầng / đến) ngay cả (nhật nguyệt / đàn tràng) hay (trẻ / nàng) đều không đối theo quan niệm cứng ngắt hẹp hòi. Nếu bắt lỗi thì 4 câu của vua Lê Thánh Tông trong bài thơ truyền tụng lại đã phạm 6, 7 lỗi. Nhà vua là người uyên bác lại đứng đầu một thi đàn chẳng lẽ không biết luật.
Những sự phóng khoáng không để bị quy luật hạn hẹp của sự đối gò bó mình được thấy trong rất nhiều nhà thơ cổ xưa và hiện đại.
Những người hay phán xét thơ người khác qua lăng kính đó thì chỉ tìm xem đối từng chữ mà không thấy được những vần thơ có giá trị.
Tóm lại đối chỉ là 1 khía cạnh hình thức của thơ ĐL, mà ý tưởng, vần điệu và từ ngữ là những khía cạnh khác. Đáng giá một bài thơ ĐL không phải là trước tiên nhìn coi từng chữ có đúng tự loại hay không mà là âm điệu có êm đềm, thánh thót hay trầm bỗng, ý tưởng đặc sắc và từ ngữ trong sáng hay độc đáo và nhất là cả bài thơ có để lại cho người đọc một ấn tượng một rung động nào không.
Không lẽ
Ban ngày chó sủa trên đầu phố
Buổi tối mèo kêu dưới cuối phường
ngày/tối chó/mèo sủa/kêu trên/dưới phố/phường
là câu đối tuyệt hảo hay sao?
[/align]

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Một số hình ảnh chuyến Ngao du phía Bắc
của Hoahuyen và vợ chồng anh Phương Hà
( Nguồn tổng hợp lấy từ nhà Bạch Dương )



Từ trái sang phải: Ba mẹ con nghệ sĩ Thanh Thủy - nvHĐQ-BD-HOAHUYEN-PHUONGHA tại nhà hàng BÁNH TÔM HỒ TÂY
[@more@]






Tham dự đêm GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
"Trong em có người đàn bà khác"
của Nhà thơ Vũ Thanh Hoa




Dẫn chương trình : Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên



BD tặng hoa chúc mừng Nhà thơ Vũ Thanh Hoa





[/align]


[/align]

Hoahuyen và vợ chồng Anh Phương Hà cùng Bạch Dương và nghệ sĩ Thanh Thủy thăm quê " Làng Sơn Cốt" thắp nén nhang giỗ Thân Phụ Nhà văn Hoàng Đình Quang
_____________

Một số hình ảnh chụp tại quê nhà anh Quang


Thắp nén nhang thành kính

Ăn giỗ cùng đại gia đình anh Quang

Chụp ảnh trong vườn nhà

Lang thang ngắm cảnh quê


[/align]

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Tạp chí Ngày Nay của Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam tổ chức cuộc thi xướng - Họa nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, nhận bài tư 10-2009 đến 10-2010. Bài xướng của nhà thơ Ngô Văn Phú như sau:

Ngàn năm rực rỡ đất rồng thiêng

Hồn hoa đệ nhất có Long Biên
Núi Tản sông Hồng một cõi riêng
Bao thuở kinh đô vang chiến tích
Dấu xưa thành cổ vẫn còn nguyên
Danh nhân trí thức nhiều người giỏi
Văn hiến văn minh lắm bậc hiền
Nam Bắc Đông Tây đường trải rộng
Ngàn năm rực rỡ đất Rồng thiêng

Nhà thơ Ngô Văn Phú


Bài họa
672.
THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Thế tựa rồng bay mảnh đất thiêng

Đã bốn ngàn năm sử sách biên
Nước nam định phận cõi bờ riêng
Dáng xuân Hà Nội(1)khoe hương sắc
Nét cổ Phong Châu(2) vẫn đượm nguyên
Đánh thức địa linh... yêu kẻ sĩ
Khơi nguồn nhân kiệt... trọng tài hiền
Thủ đô văn hiến đang hòa nhập
Thế tựa rồng bay, mảnh đất thiêng

Laonong (Hoahuyen)
05.12.2009

(1) Hà nội : tên thủ đô ngày nay
(2) Phong Châu : là nơi vua Hùng đóng đô 4000 năm trước



Hà Nội ngàn năm văn hiến

Hà nội ngày nay nằm trên cùng đất bồi tụ của ngã ba sông Hồng, sông Đuống, là vùng trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, bởi vậy sự hình thành vùng đất Hà Nội cùng gắn liền với sự kiện tạo vùng châu thổ sông Hồng, vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Hà Nội cổ 4000 năm trước từ thời vua Hùng dựng nước, là một vùng đất cổ của một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Căn cứ vào các tài liệu sử học và văn hoá dân gian thì đất Phong Châu là nơi vua Hùng đóng đô.

Kinh đô nước Âu Lạc là Phong Khê nay là Cổ Loa - huyện Đông Anh, trải qua bao năm tháng, bao mùa lũ phù sa bồi đắp dần dần hồ đồng bằng đã trở thành đồng bằng. Vào thời ấy khu vực Cổ Loa là bãi bồi, bậc thềm của bờ sông Hồng, sông Ngũ Huyện,..Cổ Loa vừa là thung lũng, vừa là đê ngăn lũ cho kinh kỳ. Trong tình hình địa lý thời bấy giờ không đâu sánh kịp Cổ Loa về địa thế thuận lợi cho một kinh kỳ.

Từ thời khởi thuỷ Hà Nội cổ chỉ mới là một làng quê cổ nằm ven sông Tô Lịch. Làng quê này có cái tên huyền thoại Long Đỗ vào thời Hùng Vương, An Dương Vương. Đến thế kỷ thứ năm khu làng gốc của đất Hà Nội cổ đã phát triển thành một huyện, một quận tên là Tống Bình vào thời nhà Tuỳ. Đến năm Giáp Tý (544) Lý Nam Đế, sau khi đánh đuổi thứ sử nhà Lương, lên ngôi vua đổi tên nước thành Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diêm Hạ Mỗ (huyện Đan Phượng ngày nay) và dựng thành luỹ bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch thông ra sông Nhĩ Hà là đất phường Giang Khẩu hay Hà Khẩu (nay là phố Chợ Gạo – Hoàn Kiếm).

Sang thế kỷ thứ VII, Tống Bình trở thành trung tâm của nhà Tuỳ thống trị cả đồng bằng Bắc Bộ. Năm 621 nhà Đường thay nhà Tuỳ bắt đầu xây dựnga thành luỹ ở Tống Bình và năm 679 đặt ở đấy trụ sở của “An nam đo hộ phủ”. Đến thế kỷ thứ X, Tống Bình là thành luỹ chính của bộ máy đô hộ phủ phương Bắc, Trương Bá Nghi xây La Thành, Trương Chu đến Cao biền đắp rộng ra lấy bờ sông Tô làm hào tự nhiên. Hà Nội cổ từ đó mang tên Đại La thay cho Tống Bình.

Sau 1000 năm ngoại thuộc, Ngô Quyền giành lại độc lập và trở về kinh đô ở Cổ Loa xưa. Đất nước chưa hoàn toàn thống nhất nên phải đóng đô ở Hoa Lư, một vị trí khuất, địa thế hiểm trở không có khả năng phát triển thành nơi đô hội. Đến triều đại độc lập thứ 3, Lý Công Uẩn đã hạ “chiếu thiên đô” năm 1010, lời chiếu nói rõ lợi của việc thiên đô là “cốt để mưu việc lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì rời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”. Năm 1010 Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên là Thăng Long. Tục truyền khi thuyền ngự từ sông nước Hoa Lư cập bến Đại La, bỗng có Rồng vàng hiện lên trên sông rồi bay vút lên trời, vua Lý Thái Tổ cho đó là điềm lành nên nhân hình ảnh đó mà đặt tên cho kinh đô mới là Thăng Long có nghĩa là rồng bay lên.

Từ năm 1010 – 1225 thời kỳ kiến thiết đất nước trên qui mô lớn và Thăng Long xây dựng xứng đang là quôc đô của một nước hùng cường mở đầu một thời kỳ văn hoá rực rỡ, văn hoá Thăng Long.

Năm Mậu Thân 1428, nhà Lê lên ngôi vẫn lấy Thăng Long – Đông Đô là quốc đô nhưng đổi thành Đông Kinh (1430).

Triều Mạc ngắn ngủi vẫn lấy Đông Kinh làm quốc đô, thời ấy lái buôn phương tây bắt đầu đến, tên Đông Kinh họ phiên âm ra tiếng La tinh là “Tonquin”. Còn trong dân gian thì “Kẻ Chợ” là tên gọi phổ biến cho đô thị Thăng Long – Đông kinh bấy giờ.

Qua các thời kỳ Lý, Trần, Lê kinh thành Thăng Long – Đông đô của nước Đại Việt đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Nền văn hoá Thăng Long tiêu biểu cho cả kỷ nguyên văn minh Đại Việt từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15. Thăng Long vừa qui tụ, vừa tập trung tinh hoa văn hoá cả nước, vừa toả sáng văn hoá ra cả nước. Sau hàng nghìn năm bị đế chế Bắc đô hộ, hơn 100 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. nhân dân Việt Nam mới giành được độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Thành phố rồng bay đã vươn lên mạnh mẽ trong công cuộc phục hưng và phát triển văn hoá. Kể từ ngày giải phóng Thủ đô (10-10-1954) đến nay Hà Nội đã trải qua hơn 40 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành dưới sẹ lãnh đạo của Đảng. Ngày ấy đã cắm một mốc son sáng ngời, mở ra một thời kỳ mới cho Hà Nội trên con đường đổi mới và phát triển. Hà Nội đã hoà nhập cùng đát nước, hoà nhập với khu vực và quốc tế để bước vào một thời đại mới, hứa hẹn những thắng lợi to lớn hơn trong sự nghiệp vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

Hà Nội hôm nay là “chàng trai mười bảy” vươn vai Thánh Gióng trên thế tựa Rồng bay với hàng nghìn nhà máy, xí nghiệp lớn nhỏ thuộc mọi ngành nghề khác nhau. Thủ đô Hà Nội đang bước vào thời kỳ phát triển và đổi mới. Mọi hoạt động xã hội đều chuyển theo cái trục kinh tế. Tuy nhiên Hà Nội ngày nay còn là hiện thân của ngàn năm văn hiến, của bản sắc văn hoá, là biểu tượng, là tinh hoa của đất nước.

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Đúng 11 giờ 25.7.2007 Hoahuyên có mặt tại lầu 9 khách sạn sài gòn trong tâm trạng háo hức được gặp lại anh Hoàng Cát - cùng đón anh còn có đông đủ các gương mặt bloggers quen biết tại Sài Gòn như Nguyễn Quyết Thắng (Cúi xuống bầu trời), Phương Phương (Ngày xưa ơi), Nguyên Hùng, Trung Kim, Phương Hà, Hoa Huyền (Một thời đã xa), Đông Hòa (Đông Hòa & Tình yêu lãng mạn), Muaraothang6 (Tình yêu không có tuổi). Đặc biệt, tại cuộc hội ngộ còn có sự góp mặt của các bloggers hoàn toàn mới (đã có nhà nhưng chưa tới ở), như nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm (nguyên Trưởng BBT Tài Hoa Trẻ, tác giả "Thương nhớ tài hoa", "Nghìn câu thơ tài hoa"...), nhà thơ Trần Quang Đạo (Phó TBT báo Nhi đồng), nhà thơ Khánh Chi, nhà thơ Nguyễn Bính Hồng Cầu (NXB Văn Nghệ, con gái cố nhà thơ Nguyễn Bính).

Nhân dịp này Hoahuyen xin viết một đôi điều về :

ANH HOÀNG CÁT

Lật lại chùm quá khứ để chứng nghiệm : Đời chỉ là một khoảng khắc vô thường - Biết vô thường nên không còn chấp AI - BI - ÁI - Ố - HỶ - NỘ. Lấy cái bất hạnh dung hòa với diễm phúc để tìm ra một hướng đi tế nhị vừa xoa dịu mình vừa hoà nhập với xung quanh:

" Có những lúc lòng ta sao trống trải
Không quê hương, không bè bạn, không nhà
Chẳng thiết làm thơ, chẳng ham đọc sách
Như thể sương mờ dăng mắc bủa vây ta
...
Có những lúc chỉ thích ngồi im lặng
Một mình ta dưới gốc khế già
Chừng như cây cũng cùng ta thấu hiểu
Bao nỗi đời chua chát đã từng qua...

Theo quy luật sinh học còn hơi thở là còn sự sống, nhưng đó mới chỉ là sự tồn tại vật chất, khi hơi thở và tinh thần hoà quyện với nhau mới cho ta ý nghĩa thật sự của cuộc sống, có người sống đấy mà như đã chết, lại có người chết rồi đấy mà vẫn sống trong lòng bè bạn, độc giả... Có trường hợp sống chỉ một ngày đã lấy làm dài, mà sống trăm năm vẫn cho là ngắn ...
"Người thơ" đa số thường không tham sống dài, mà cốt sống sao cho có ý nghĩa - Mỗi bước anh Hoàng Cát đi từ thuở ấu thơ đến khi tóc ngả màu mây đều lưu dấu chân kỷ niệm buồn vui, khổ đau và hạnh phúc

"Ta lang thang không bến không bờ;
Ta thả nổi đời ta cho nắng gió
Trải dằng dặc vô vàn lo sợ,
Giờ "nỏ hại chi" - đã sắp đến bến trời !

"nỏ hại chi" tức là Không sợ gì ( tiếng Nghệ ngữ ) cho thấy cuộc đời có rất nhiều cái "ngưỡng" mà chúng ta - những người trong cuộc phải vượt qua khi "cuộc đời là một sân khấu vĩ đại, mỗi người là một diễn viên tự diễn vai diễn của mình..." anh có thể là một diễn viên đa tài, tôi có thể là một diễn viên hạng bét - Cuộc sống bắt ta phải tự thích nghi, tự làm lên giá trị, bản sắc của riêng mình - Anh Hoàng Cát đã có cho riêng mình một vị trí, khẳng định một tài năng không bị một tài năng quá lớn che phủ:
Ngạn ngữ phương tây có câu :

Mặt trời vừa trưa, vừa xế
Con người vừa sống vừa chết

Cả vũ trụ luôn luôn luân chuyển, cả không gian, thời gian đều không ngừng trôi về phía trước, sự sống cũng không thể nào đứng yên một chỗ. Con người cũng vì thế mà ngày càng già đi theo thời gian:

"Kiếp nhân sinh là cái kiếp cực dài
Cũng cực ngắn - ngắn như là tia chớp
Ai biết được khổ đau và hạnh phúc
Ấy là người sung sướng cõi trần gian... "

Anh Hoàng Cát ơi! Chúng em biết hiện tại Anh "... không còn là một chàng trai, nhưng nhất quyết không thể là một ông già. Khoảng khắc vào thu, khiến cái nắng cũng bỗng nhiên bồn chồn, mơ mộng... " anh hãy cứ sống thật với lòng mình :

"Ta thích viết những dòng thơ ứa lệ
Những trang văn thấm đẫm nhân tình
Đời hiểu ta thế nào, ta mặc kệ;
Trái tim ta đau đáu nỗi nhân sinh "

Hoahuyen rất tin với nhà thơ Hoàng Cát, dù ở độ tuổi nào, dù trong hoàn cảnh nào anh cũng đã, đang và sẽ hồn nhiên, vô tư, thoải mái sống thật với lòng mình, sống với đúng ý nghĩa của một CON NGƯỜI đang sống
[/align][/align] [/align]

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-12-11 07:27:01HOA HUYỀN>
1000 NỤ HÔN "HOA HẬU QUÝ BÀ " NĂM 2009
TRAO CHO BÀI THƠ HỌA HAY NHẤT ĐÂY

Sướng nhất bác Thiện nhé - cả 3 cô luôn


Trong Entry Thơ mời xướng hoạ - Hoahuyen có treo giải thưởng "1000 nụ hôn gió cuả hoa hậu qúy bà năm 2009" cho ai có bài hoạ hay nhất và hứa là sẽ có bài bình...
Hôm nay với tinh thần vui là chính Hoahuyen xin phép CHỦ QUAN CHỌN MỘT BÀI THEO Ý HOAHUYEN CHO LÀ HAY NHẤT để trao giải thưởng ( có thể bài này Hoahuyen chọn chưa vừa ý một số người ) thì chúng ta có thể tranh luận cho vui nhé, miễn là mọi tranh luận phải xuất phát từ tấm lòng chân thành, thẳng thắn vì sự phát triển của thể lọai thơ Đường.

Bài họa mà Hoahuyen chọn để trao giải đó là bài cuả bác Hồ Văn Thiện, nào chúng ta hãy cùng đọc và nghiền ngẫm:

Bài xướng
Cảm

Lí Bạch,(1) Xuân Hương(2) tiếng để đời
Thơ đường xướng - họa kén người chơi
Vững niêm chữ nghĩa vung thừa sức
Kém luật từ câu vắt kiệt hơi
Già dặn (3) say sưa khuôn thước cổ
Trẻ trung mê mẩn kiểu tân thời
Hậu sinh gìn giữ không mai một
Cũ - mới giao duyên thuận ý trời

Laonong
Hoahuyen (533)
(1) Lí Bạch : Một nhà thơ rất nổi tiếng của TQ
(2) Hồ Xuân Hương : Bà chúa thơ nôm của Việt Nam
(3) Già dặn : lớp già nhưng trí tuệ còn minh mẫn, giầu kinh nghiệm, yêu mến và có ý thức giữ gìn vốn cổ



Bài họa
CHỮ NGHĨA

Thần Siêu thánh Quát hiến cho đời
Nhiều áng hùng văn đâu để chơi
Chữ nghĩa chân dân khai mở sắc
Tấm lòng bảo quốc đến tàn hơi
Khuôn vàng thước ngọc không dây mực
Khí phách trượng phu chẳng lạc thời
Bút tả thanh thiên soi hậu thế
Thanh gươm đâu tá chém ngang trời

26-11-2009
Hồ Văn Thiện

Nhìn tổng quát đây là bài hoạ nguyên vận đúng 5 vần của bài xướng và hạ vần cũng đúng y theo thứ tự như cách hạ vần của bài xướng ( ĐỜI - CHƠI - HƠI - THỜI - TRỜI ) - Bài họa đối luật với bài xướng... 56 chữ không trùng lắp, niêm, luật chuẩn, bài thơ uyển chuyển đọc như có nhạc ở trong thơ và đặc biệt giọng văn hùng tráng, ta hãy xét từng cặp xướng - hoạ để thấy hết cái hay cuả bài họa:

2 câu đề bài xướng ra:
Lí Bạch,(1) Xuân Hương(2) tiếng để đời
Thơ đường xướng - họa kén người chơi
Được đáp lại ngay:
Thần Siêu thánh Quát hiến cho đời
Nhiều áng hùng văn đâu để chơi

- Lý Bạch:(tiếng Trung: 李白; bính âm: Lǐ Bái / Lǐ Bó; 701- 762) là nhà thơ danh tiếng nhất thời thịnh Đường nói riêng và Trung Hoa nói chung, được hậu bối tôn làm Thi Tiên ( Thơ của tiên ). còn Hồ Xuân Hương thì ai cũng biết là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam.
- Đối lại là Thần Siêu thánh Quát : Cao Bá Quát (chữ Hán: 高伯适; 1809 - 1855) là một nhà thơ Việt Nam. Ông có tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Thơ văn của ông được vua Tự Đức, một người giỏi văn thơ, đã phải ngợi khen: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng). Cao Bá Quát là bạn thơ văn với Nguyễn Văn Siêu, tạo nên cặp nhà thơ Thần Siêu Thánh Quát - Nguyễn Văn Siêu (1795-1872), tự là Tốn Ban, hiệu là Phương Đình, là một nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, đồng thời là kiến trúc sư xây dựng nên quần thể đền Ngọc Sơn, Đài Nghiên-Tháp Bút, cầu Thê Húc ở hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Bài xướng đã đặt vấn đề : Lý Bạch, Hồ Xuân Hương những người nổi "tiếng để đời" bằng những bài thơ xướng hoạ hay... nhưng Xướng họa ấy có còn phù hợp với ngày nay không ? vì ngày nay người ta thích thể thơ cách tân mới phóng khoáng hơn, không gò bó theo khuôn mẫu... thưa xưa cổ quá rồi kén người chơi lắm lắm, và xướng họa để làm chi vậy? không lẽ chỉ để thù tạc chén chú, chén anh tân bốc, nịnh bợ nhau thôi sao ???

* Cái hay của bài họa là đã nói rõ Thần siêu thánh Quát cũng có kém chi ai? họ đã hiến cho đời những ánh hùng văn bất hủ chứ đâu phải để chơi! bằng 2 câu đề mở đầu :

Thần Siêu thánh Quát hiến cho đời
Nhiều áng hùng văn đâu để chơi

và tiếp là 2 câu thực:
Chữ nghĩa chân dân khai mở sắc
Tấm lòng bảo quốc đến tàn hơi

xin sưu tầm tích xưa chuyện cũ lan man một chút : Tự Đức là ông vua hay chữ và hay khoe thơ với quần thần[1]. Một hôm tan buổi chầu, Tự Đức nói với bá quan:

Đêm qua trẫm nằm mơ làm được hai câu thơ thật kỳ lạ, để trẫm đọc cho các khanh nghe!
Rồi Tự Đức đọc luôn:

Viên trung oanh chuyển "khề khà" ngữ
Dã ngoại đào hoa "lấm tấm" khai
Đây là lối thơ vừa Hán vừa Nôm, các quan đều lấy làm lạ. Cao Bá Quát lúc bấy giờ cũng có mặt, thản nhiên tâu rằng:

Tưởng gì chứ hai câu ấy thì từ hồi còn để chỏm đi học, thần đã được nghe rồi! Thần được nghe cả tám câu kia, nếu bệ hạ cho phép, thần xin đọc lại tất cả.
Tự Đức đang cao hứng về mấy câu thơ vừa Hán dở Nôm độc đáo, nghe Cao Bá Quát nói rất bất ngờ, vì rõ ràng hai câu thơ đó chính vua nghĩ ra. Tự Đức bảo ông đọc cho nghe cả bài thơ, nếu không đọc được thì sẽ trị cái tội khi quân.

Ông suy nghĩ một lát như để nhớ lại một bài thơ lâu ngày không nhìn đến, rồi cất giọng sang sảng ngâm rằng:

Bảo mã tây phương huếch hoác lai,
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.
Khù khờ thi tứ đa nhân thức,
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.
Nghĩa là:

Ngựa báu từ phía tây huếch hoác lại,
Người huênh hoang nhờ cậy dìu về.
Trong vườn oanh hót giọng khề khà.
Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm.
Ngày xuân chẳng thấy sương lộp bộp.
Tiết thu chỉ thấy mưa bài nhài.
Tứ thơ khù khờ nhiều người biết,
Khệnh khạng còn mang hỏi tú tài.
Bài thơ vừa đọc xong, các quan nhìn nhau kinh ngạc, còn Tự Đức thì biết đích là Cao Bá Quát chơi xỏ mình, nhưng cũng rất sửng sốt và hết sức thán phục. Vua sai lấy chè và quế ban cho Quát và bắt Quát phải thú thật là đã bịa thêm sáu câu.

Thế mới biết chữ nghĩa với người hiểu biết thật khôn lường và hoahuyen rất nể 2 câu thực cuả lão Hồ Văn thiện "nó" có tầm khái quát cao về giá trị thật cuả chữ nghĩa, có thể làm thay đổi thế giới "chân dân khai mở sắc"...

Tiếp 2 câu bình bài xướng viết :
Già dặn (3) say sưa khuôn thước cổ
Trẻ trung mê mẩn kiểu tân thời
Bài hoạ:
Khuôn vàng thước ngọc không dây mực
Khí phách trượng phu chẳng lạc thời

Ai chơi thơ đường đều biết Luật "nó" rất gò bó trong khuôn khổ... và cái tài cuả người chơi thể hiện rõ nhất ở 2 câu bình và 2 câu kết, chơi thơ Đường Luật chính là chơi "khuôn vàng thước ngọc" giàng buộc rất chặt chẽ bởi niêm luật, đối ý, đối từ, đối câu, đối thanh bằng trắc.... và người có tâm, tầm thể hiện được "Khí phách trượng phu... " khá sắc nét, cái tài cũng bộc lộ rõ rệt...

tiếp 2 câu kết bài xướng viết :
Hậu sinh gìn giữ không mai một
Cũ - mới giao duyên thuận ý trời
Bài hoạ:
Bút tả thanh thiên soi hậu thế
Thanh gươm đâu tá chém ngang trời

đọc 2 câu này Hoahuyen có cảm giác đang đọc một câu trong bài hịch tướng sĩ hay cái khẩu khí rất "Lý Thường Kiệt" trong tuyên ngôn bất hủ:

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

Hình ảnh "Bút tả thiên thanh" tương truyền là câu cuả Nguyễn văn Siêu ( viết lên trời xanh ) chính là câu khắc ở thân Tháp Bút Hồ Gươm Hà Nội - một ngọn tháp bằng đá cao năm tầng, được xây dựng năm Tự Đức thứ 18 (1865) trên nền núi Độc Tôn (còn gọi là núi Ngọc Bội) theo ý tưởng của nhà nho Nguyễn Văn Siêu, nằm ở phía ngoài lối vào cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn. Tháp dựng trên ngọn núi do đá xếp, đường kính 12m, cao 4m. Tháp vuông có năm tầng, cao 28m. Đỉnh là một ngòi bút lông dựng ngược. Cả cán và ngòi bút cao 0,9m. Trên thân ba tầng giữa có khắc theo chiều dọc ba chữ Tả Thanh Thiên mang nghĩa "Viết lên trời xanh"... nhưng đã được Bác Hồ Văn Thiện khéo léo đưa vào câu thơ kết cuả mình thật tài tình nó cho thấy cái "dũng" cuả những người cầm bút tả xung hữu đột giữa " thanh thiên bạch nhật đấu tranh chống lại cái sai, cường quyền... bênh vực người ngay, lương thiện, yếu thế... "giữa đường thấy cảnh bất bình không tha..." hình ảnh đó còn có thể hiểu ngòi bút ngay thẳng dám nói lên sự thật, phản ánh hiện thực xã hội để lưu hậu thế, có tác dụng vần xoay thế cuộc...

Xướng và hoạ thơ Đường luật là có hàm ý đối hoạ ở trong đó.Người ta xướng ra mình phải đối đáp lại, vì vậy nếu chỉ một bài xướng và một bài hoạ thì bài hoạ bắt buộc phải đối luật với bài xướng. Trường hợp bất khả kháng không thể đối luật được thì có thể châm chế hoạ đồng luật, nhưng bài hoạ đồng luật sẽ bị giảm giá trị vì không đáp ứng đúng thể thức xướng hoạ đúng cách - Mặt khác Hoạ thơ là "vẽ lại" hình ảnh của bài xướng cho nên phải trung thực với bài xướng về ý cũng như vần. Hoạ sai ý bài xướng là không đạt. Hoạ sai bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất vận: không đạt. Xuất vận là đi ra khỏi sự hạn định về vần của bài xướng.Hoạ sai nghĩa bất cứ chữ vần nào của bài xướng gọi là xuất ý: không đạt. Xuất ý là đi ra khỏi ý nghĩa chữ vần của bài xướng. Hoạ thơ Đường luật đúng cách rất khó. Một bài thơ chuẩn sẽ có âm điệu du dương trầm bổng khi đọc hoặc ngâm nga rất êm tai truyền cảm... âm điệu rất quan trọng vì nó tạo ra nhạc tính cho bài thơ. Do đó người ta nói trong thơ có nhạc trong nhạc có thơ là bởi lẽ đó....

Bài hoạ cuả Bác Hồ Văn Thiện là một bài hoạ khá chuẩn, khó bắt bẻ tuy nhiên nếu thật khắt khe không phải không có lỗi :
ví dụ:
Chữ nghĩa chân dân khai mở sắc
Tấm lòng bảo quốc đến tàn hơi
* "khai mở sắc" là khai mở gì nhỉ? có vẻ chưa rõ nghĩa lắm
* và "Khai mở sắc" chưa thật đối chỉnh với "đến tàn hơi" liệu có thể như thế này chăng?

Chữ nghĩa chân dân, lo kiệt sức
Tấm lòng bảo quốc, dốc tàn hơi

Tuy nhiên như Phạm Doanh đã từng nói và viết : " Đối trong thơ Đường Luật là đối ý trước tiên rồi mới đến đối tự loại. Và đối từng cụm từ chứ không phải từng chữ. Ý tưởng nghèo nàn, chữ dùng thô thiển thì dù có đối chỉnh cách mấy cũng không có chút giá trị nào, loại Đường Luật nặng về hình thức này giống như 1 chiếc hộp gỗ thật vuông vức thật thẳng góc cạnh nhưng gỗ là gỗ tạp và chứa đựng trong lòng nó nội dung nghèo nàn. Sao bằng được một chiếc hộp gỗ góc cạnh có thể không thẳng hoàn toàn nhưng là gỗ quý và chứa đựng món hay vật lạ... "

nhìn tổng quát có thể thấy sân chơi thơ đường trên vnweblogs có những vấn đề như sau:

1. Tuy có sôi nổi thật nhưng chỉ tập trung vào 1 số người ( như Bác Hồ văn Thiện, Anh Luongthephiet, anh Đông Hòa, anh hadinhchung, anh phieuvan08, Bác sĩ Tản, anh Võ Ngọc Sơn, Mỵ Duy Sơn, Sonata, Nico... ) chơi loại thơ này tức vẫn chỉ "đếm trên đầu ngón tay"

2. Một số bài có nhiều ý, tứ hay nhưng cũng có bài sai chủ đề và còn "sạn". Cho đến thời điểm này Hoahuyen đánh giá cao ( theo ý kiến rất riêng ) Bài của bác Hồ Văn Thiện là bài họa hay nhất đợt này.

3.Đặc biệt anh Đông Hòa có khả năng phản xạ thơ đường nhanh ( kể cả thuận nghịch độc là loại khó nhai không dễ gì ai cũng làm được ngay... nhưng với ĐH thì chẳng khác gì "người bị ma nhập" )

Xin chúc mừng và Trân trọng trao 1000 nụ hôn gió cuả hoa hậu quý bà năm 2009 cho Bác HỒ VĂN THIỆN.
hehehe

Mời họa tếu chơi
Món quà thây lẩy ứa đầy xuân

Hôn vài vạn cái mới ngang tầm
Bởi lão từ lâu đã ngậm sâm
Chả sợ xồn xồn say sấn sổ
Chỉ e tre trẻ nó đòi ngâm
Phen này đứng nhất mềm môi mép
Lần tới thủ khoa dẻo gối gân
Kính cẩn hoahuyen trao tặng bác
Món quà thây lẩy ứa đầy xuân

Hoahuyen





Mời họa tếu chơi
Món quà thây lẩy ứa đầy xuân

Hôn vài vạn cái mới ngang tầm
Bởi lão từ lâu đã ngậm sâm
Chả sợ sồn sồn say sấn sổ
Chỉ e tre trẻ ngấm ngầm ngâm
Phen này đứng nhất mềm môi mép
Lần tới thủ khoa dẻo gối gân
Kính cẩn hoahuyen trao tặng bác
Món quà thây lẩy ứa đầy xuân

Hoahuyen

 
 Đề mời họa hạn vận:

Nội Dung: Tư do
Hạn vần :
MÂY - THẦY - ĐÂY - TAY - HAY
Trong bài họa phải có đủ các tên sau:
HÒA, HUYỀN, THIỆN, PHIỆT,
VĂN, CHUNG, TẢN, SƠN, SO, NI 
Giải thưởng : 1000 cái hôn của hoa hậu
thế giới các loài dê, hehehe




Bài họa 1
Thắm thiết ôm hôn mới xứng tầm

Thắm thiết ôm hôn mới xứng tầm
Bỏ công mấy tháng uống chè sâm
Mỗi ngày bà lão đè lên đấm
Giờ lúc đám em nhấn xuống ngâm
Chẳng biết bao lâu thì thuốc ngấm
Nào hay thoáng chốc đã tan gân
Đắm mình mê mẩn rồi thơ thẩn
Đông vẫn chưa tàn khéo đón Xuân

Học trò trường thuốc
 Bài họa 1
Xướng họa như rồng đã gặp mây

Bài xướng như rồng đã gặp mây
Tài Văn Thiện, Phiệt, quả sư thầy
Họa nhanh ai thể So Hòa(*) nhỉ ?
Phản xạ Ni bằng sánh Tản đây ?
Xử thế Huyền(**) khôn ngang ngửa óc
Đối nhân Sơn khéo xứng tầm tay
Thi đường nở rộ tình nhân ái
Chung kết trăm miền lắm kẻ hay

Hoahuyen
(*) Đông Hòa
(**) Hoahuyen


________________________

Bài họa 2
Nhận bừa một núm xuân

Vài cái xem ra đã hết tầm
Cho dầu có ngậm đến ngàn sâm
Sồn sồn ngầy ngậy như mông sấn
Tre trẻ bùi bùi tựa trám ngâm
Hôn gió ngàn lần thêm sinh khí
Đường trần một chặng đã chùng gân
Hoa Huyền quý tặng chùm thây lẫy
Lão chỉ nhận bừa một núm xuân

11 h. 8-12-2009
Hồ Văn Thiện

_________________________

Bài họa 2

GÓP CHUNG CÔNG ĐỨC

HÒA mình SƠN cảnh với trời MÂY
HUYỀN hoặc thiên thai đến với THẦY
VÂN hải muôn xa mờ phía dưới
TẢN đà thấp thoáng áng nơi ĐÂY
Lắng nghe nhân kiếp NI truyền dạy
Nguyện thấu THIỆN căn Phật chỉ TAY
Tài lộc đáng bao SO thế PHIỆT
Góp CHUNG công đức mới là HAY

Học trò trường thuốc


______________________

Bài họa 3
SỐNG KHỎE RỰC SẮC XUÂN

Hôn gió lo chi sợ vợ tầm
Lão Hồ Văn Thiện uống nhân sâm
Tiền hô khắc khắc thêm ly trắng
Hậu ủng dô dô lấy hũ ngâm
Đợt một tăng cường môi luyện dẻo
Kỳ hai sức lực gối căng gân
Đàn em kính phục noi gương bác
Sống khỏe hào hoa rực sắc xuân

Hadinhchung

 _____________________
 
Bài họa 3
Tám anh hùng giải đế

Huyền
hoặc như rồng khói lẫn mây
Hòa ta hào hiệp kiểu sư thầy
Tản vừa ứng khẩu làm nhoay nhoáy
Chung đã lò dò ngó tới đây
Phiệt dở vài chiêu đà lác mắt
Thiện căn cả buổi mỏi nhừ tay
Sơn còn lảng đảng màn sương gió
Vân kết đầu non ai có hay ?

Thiền Hộ


 
____________________

Bài họa 4 
Vui hôn gió Xướng Họa thơ

Ôm hôn hoa Hậu ngất tầng mây
Hồ Thiện So tài xứng bậc thầy
Tản viết câu Văn nhanh vượt hẳn
Hòa vung một tệp vút rào đây
Sơn Huyền Ni Phiệt cùng chung sức
Tứ hải anh em góp một tay
Chí cốt bên nhau vui xướng họa
Chung lòng một dạ ý càng hay

hadinhchung




 ___________
_____________________________________
Bài họa 5 
Văn đàn chung báo

Thơ đường Hồ Thiện cuộn trời mây
So với cánh ta, rõ bậc Thầy
Hòa khoái nhịp vần, nhiều biết mấy
Huyền mê câu chữ lắm cơ đây
Uyên thâm sử sách như in dạ
Thông hiểu địa đường tựa khắc tay
Ni, Phiệt, Tản, Sơn cùng thống nhất
Văn đàn chung báo bốn phương hay

Mỵ Duy Sơn góp vui

 
 

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
NHỚ MÙA XUÂN ẤY

Xuân về , một thoáng bâng khuâng
Chạnh lòng nhớ tuổi thanh xuân thuở nào.
Đường dài muôn dặm gian lao
Có mùa xuân đã đi vào trong tôi.

Đắng cay thôi lại ngọt bùi,
Nhớ mùa xuân ấy, người ơi! Nhớ người...
Nhớ về một thuở xa xôi,
Giữa lòng Việt bắc bồi hồi đón xuân.

Rừng mơ hoa nở trắng ngần
Bến xuân ai đứng tần ngần trông mưa...
Tân cương tươi thắm sắc cờ,
Quân reo đỉnh núi , gươm khua cuối rừng.

Sương khuya, ánh đuốc bập bùng
Sông Công, núi Guộc...tưng bừng hội quân.
Người về muôn nẻo đường xuân
Đồi xanh có giữ dấu chân ven rừng?

Qua sông cô gái ngập ngừng
Mời anh lính trẻ vui cùng hội xuân...
"Đường dài còn lắm gian truân
Mừng xuân , hẹn với cố nhân ngày về".

(Ra đi nhớ mãi câu thề:
"Nước non hết giặc mới về quê hương"!
Thanh bình gió lộng muôn phương
Ngày về "chín nhớ mười thương" vẫn chờ...)

Xuân ơi xuân đến bao giờ?
Lòng sao vẫn nhớ xuân xưa lên đường.
Dẫu còn trăm mối tơ vương,
Dẫu hồn chưa cạn tình thương buổi đầu,

Vui xuân hương sắc muôn mầu,
Vui xuân, ly rượu chúc câu tốt lành!
Ai say sưa chốn thị thành,
Thì ta ân nghĩa quê mình đẹp hơn.

Ai kia quên nghĩa cội nguồn,
Tình xưa ta vẫn vuông tròn thủy chung.
Núi kia vẫn ngát hương rừng,
Sông sâu kia vẫn dòng trong nhớ người...

Xuân về , vui nhé xuân ơi!
Đôi dòng tâm tưởng tặng người năm xưa...

Tác giả: ĐÀO MAI (Đã mất năm 2008 )
Người gửi bài : Bạch Dương- Con gái của tác giả


______________________
Bài họa của Hoahuyen
TRỞ GÓT ĐÓN NÀNG XUÂN

Tiễn đông trở gót chiều khuâng
Mới hay mình đã say xuân kiếp nào ?
Gió reo vẫy ngọn phi lao
Hương xuân phảng phất gieo vào lòng tôi

Đã từng chia ngọt, sẻ bùi
Chàng đông thỏ thẻ Xuân ơi! mến người
Giao thừa một nắm cơm xôi
Trong rừng đợi phút điểm hồi sang xuân

Nhìn hoa ban nở tần ngần
Nhành mơ điểm tuyết trắng ngần trong mưa
Xa xa rực thắm màu cờ
Quân như chảy hội, đao khua sáng rừng

Đuốc reo ánh lửa bùng bùng
Non xanh, núi thẳm bừng bừng thế quân
Muôn người nô nức đón xuân
Tiếng reo kín cả bàn chân chen rừng

Cô em nửa ngập nửa ngừng
Mời anh lính trẻ hát cùng nàng xuân
Gian nan vất vả đã truân
Có lòng tin hẹn nghĩa nhân trở về

Đi xa vẹn nhớ lời thề
Đánh tan lũ giặc ta về cố hương
Dẫu cho vướng phải... ngàn phương
"Chôn rau cắt rốn..." còn thương em chờ

Nàng xuân đang đến từng giờ
Nôn nao lại nhớ thuở xưa bên đường
Nụ hôn trao vội vấn vương
Trăm năm còn đọng mùi thương ban đầu

Khi xuân đượm sắc tươi màu
Nâng ly cạn chén bằng câu chúc lành
Hẹn nhau ở chốn đô thành
Nơi quê vẹn nghĩa ta mình tình hơn

Cây có cội, nước có nguồn
Duyên xưa nghĩa cũ cho tròn tình chung
Say sưa xin chớ quên... rừng
Một thời gian khổ vẫn trong với người

Đông qua, xuân đến nàng ơi!
Thơ trào cảm xúc dâng người ngày xưa

Hoahuyen
10.12.2009

Tặng Bạch Dương và Kính tặng hương hồn Bác Đào Mai
_________________________________________________

Một bài thơ hoạ thơ lục bát phải đảm bảo các yêu cầu sau:

1- Số câu của bài hoạ bằng số câu của bài nguyên mẫu (bài xướng);
2- Từ cuối cùng các câu của bài nguyên mẫu (bài xướng) phải được giữ nguyên; ( Thậm trí các cụ xưa còn yêu cầu trong câu 8 thì từ 6 và từ 8 cũng phải giữ như nguyên mẫu của bài xướng )
3- Từ thứ 5 (trong câu 6) và từ thứ 7 (trong câu 8) không được trùng với các từ của bài nguyên mẫu (bài xướng);
4- Trong các câu của bài hoạ không dùng hai từ liên tiếp trong bài nguyên mẫu (bài xướng) đã dùng,

Như vậy mới là một bài thơ hoạ lục bát hoàn chỉnh.

Nếu có chỗ nào chưa thật chính xác mong các các bậc cao thâm chỉ thêm cho rõ nhé!

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0

Phải không ?

Lòng tham có đáy không em nhỉ ?
Đã được voi rồi muốn với tiên
Nếu thực đức tài
Ai dám cấm ?
Đòi gì chẳng được
Huống chi tiên?

2004

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-13 12:33:54HOA HUYỀN>

Tình trong mộng

Một chút tình trong mộng
Mơ thôi !
Đủ đã đời
Đắm say tình trong mộng
"Đeo nó" mãi em ơi !
Chút tình trong ảo mộng
Hơn thực tế xa vời

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0

Hồi xuân

Bên nhau mấy chục năm rồi
Hồi xuân thơ thới thấy đời thêm tươi
Năm mươi chúm chím môi cười
Cái duyên thuở ấy lại ngời sắc hương
Gia đình đầm ấm, yêu thương
Thời gian nhuộm mấy sợi sương trắng đầu
Thăng trầm một cuộc bể dâu
Là nguồn thi hứng nối cầu nhịp thơ

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-28 17:39:52Viet duong nhan>
Trả, vay nợ trần

Đình làng nghi ngút khói nhang
Trẻ, già, trai, gái mơ màng cầu may
Tứ phương tấp nập đêm ngày
Hão huyền khấn vái trả, vay nợ trần.

Người cầu nhàn hạ tấm thân
Kẻ mong hốt bạc vàng cân sang giầu
Người cầu lắm ruộng nhiều trâu
Kẻ mong danh vọng cuỡi đầu bàn dân
Người cầu gái đẹp ái ân
Kẻ mong địa vị len chân một bầy
Người cầu rượu,thịt no say
Kẻ mong khỏi kiếp đọa đầy trần gian
Người cầu bớt nỗi gian nan
Kẻ mong cơm nóng, canh chan dưa cà

Còn tôi chẳng dám kiêu sa
Chỉ cầu đọng lại vài ba, bốn vần.
R

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0

Tình Yêu !

Khá khen em khéo ỡm ờ
Biến anh thành một ngã "khờ"ngu ngơ
Học đòi ngọng ngịu làm thơ
Tương tư mây gió thẫn thờ chơi vơi

Tình yêu đúc kết ngàn đời
Đâu cần tuổi tác vẽ vời hèn sang
Chỉ cần hai trái tim vàng
Rung cùng một nhịp thiên đàng là đâu ?

Vụng nhìn mắt chớp vào nhau
Thế là ta đã đớn đau cả đời
Niềm thương, nỗi nhớ đầy vơi
Tâm hồn thể xác rã rời vì yêu


Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
Than thân

Thở hổn hển, nhàu như “bị rách”
Thanh xuân ơi! khí phách đâu rồi ?
Hớ hênh ngó đỡ thèm thôi
Dẫu trên có bảo, dưới lời không nghe.

Sức trẻ vơi, buồng the nghẹn tức
Trút hờn, ghen uất ức vào thơ
Thôi đành co kéo trong mơ
Thỏa cơn hờn giận trước giờ tàn hoa.

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0

Rối lòng

Anh cứ đợi chờ tin em nhắn
Kìm vu vơ sợ cắn vành môi
Thời gian thì chẳng ngừng trôi
Ngập ngừng xem lại những lời trao qua
Nông, sâu khóe mắt nhạt nhòa
Hay là ta thử lòng ta rã rời

Thế mới biết hai người khốn khổ
Quá si tình trọn chỗ đa mang
Nếm mùi chua chát trái ngang
Gánh luôn cả nỗi bẽ bàng vào thân
Ta đâu phải thánh hay thần ?
Cũng người yêu ghét phàm trần như ai.

2005

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0

Men say

Ly rượu tình men say sắc thắm
Quên làm sao lúc ngắm nhìn nhau ?
Vôi trầu hẹn với hương cau
Ngày này thu tới năm sau cưới nàng

Thu 2004

Thuở lọt lòng tên cha, mẹ đặt
Giấu huyền đi gọi tắt Đào Hoa
Tuổi mùi "dê nhỏ" là ta...
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 3 4 5 » »»