Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tay cự phách Sidney Sheldon 🔒

77 trả lời, 14.418 lượt xem — Trang 2 / 3
CHƯƠNG XXV
Có một ngọn lửa bùng cháy trong con người của Eve , mà nàng không thể nào dập tắt được. Đó không phải là tính dục. Tính dục chỉ là một phần nhỏ thôi. Đó là một sự ham muốn đên cuồng được sống , một nhu cầu phải làm bất cứ thứ gì , phải trở thành bất cứ một hạng người nào. Cuộc đời là một người yêu , và Eve ham muốn một cách hung dữ chiếm đọat lấy nó với tất cả những gì nàng có. Nàng ghen tỵ với tất cả mọi người. Đi xem ba-lê (ballet) , nàng ghét các vũ công bởi vì nàng không được lên sân khấu nhảy múa và được khán giả hoan hô. Nàng muốn trở thành một nhà khoa học , một phẫu thuật gia , một phi công , một nữ nghệ sĩ. Nàng muốn làm tất cả mọi thứ , và làm giỏi hơn bất kỳ ai. Nàng muốn tất cả và không thể nào chờ đợi lâu hơn nữa.
Ở phía bên kia thung lũng , từ trường Fernwood nhìn sang , có một trường võ bị cho thanh niên. Lúc Eve mười tám tuổi , hầu hết tất cả sinh viên và non một nửa huấn luyện viên đều dính líu đến nàng.Nàng ve vãn họ một cách trắng trợn và có những chuyện tình với họ một cách bừa bãi , nhưng vào lúc này , nàng đề phòng cẩn thận hơn vì không muốn bị mang bầu lần nữa. Nàng ưa thích tính dục , nhưng không phải nàng thích cái hành động tính dục mà thích cái uy quyền nó tạo ra cho nàng. Nàng là kẻ làm chủ tất cả. Nàng hể hả trước những cái nhìn van lơn của các thanh niên và đàn ông lớn tuổi nào muốn đưa nàng lên giường và ân ái với nàng. Nàng thích những lời hứa hẹn dối trá của bọn họ nhằm chiếm đọat lấy nàng.Nàng ưa thích uy quyền của nàng tr6en thể xác của họ. Nàng có thể kích thích họ bằng một cái hôn , rồi khiến họ phải " xìu" đi bằng một lời nói.Nàng không cần đến họ , chỉ có họ mới cần đến nàng.Nàng kiểm soát họ hoàn toàn , và cảm xúc ấy thật là mạnh mẽ vô cùng. Chỉ trong vòng ít phút , nàng có thể đo lường những chỗ mạnh , chỗ yếu của một người đàn ông. Nàng cho rằng đàn ông là những kẻ điên rồ , tất cả bọn chúng đều thế.
Eve là một cô gái xinh đẹp , thông minh , thừa kế một trong những tài sản lớn nhất thế giới , nên có hàng chục nơi dòm ngó , đề nghị hôn nhân nghiêm chỉnh. Nàng không thích nơi nào cả. Những chàng trai mà nàng ưa thích là những người mà Alexandra có cảm tình hơn cả.
Trong một buổi khiêu vũ đêm thứ bảy , Alexandra gặp một sinh viên người Pháp trẻ , tỏ vẻ ân cần , tên là Rene' Mallot. Anh không đẹp trai , nhưng thông minh , nhạy cảm , và Alexandra cho rằng anh ta là tuyệt vời. Hai người chuẩn bị gặp nhau ở thị trấn vào Thứ bảy sau.
" Bảy giờ nhé ", Rene' nói.
" Em sẽ đợi ".
Trong phòng ngủ tối hôm ấy , Alexandra kể lại cho Eve về người bạn trai." Anh ấy không giống như những người con trai khác. Hơi nhút nhát và dịu dàng. Chúng em sẽ đi xem hát với nhau vào thứ bảy này ".
" Em thích anh chàng ấy lắm , pahi3 không, cô em bé nhỏ?" Eve trêu chọc.
Eve nằm xuống giường , hai tay chắp lại sau gáy. " Không , chị không biết.Em nói đi. Có phải anh chàng ấy cố dụ em lên giường với hắn , phải không?"
" Eve ! Anh ấy không phải hạng người như vậy đâu. Em nói với chị là anh ấy nhút nhát mà ".
" Phải , phải. Cô em gái bé nhỏ của tôi đã si tình rồi ".
" Dĩ nhiên là không. Lẽ ra em không nên nói với chị chuyện này ".
" Chị rất mừng là em đã nói cho chị biết", Eve nói một cách thành thực.
Khi Alexandra đến trước rạp hát vào ngày thứ bảy sau , nàng không thấy Rene' đâu cả. Alexandra chờ ở góc phố cho đến một giờ đồng hồ , không để ý đến những cái nhìn tò mò của khách qua đường. Nàng cảm thấy mình như một con điên. Cuối cùng , nàng phải ăn cơm một mình trong một quán cà phê nhỏ , rồi trở về trường , hết sức khổ sở.Eve không ở trong phòng. Alexandra ngồi đọc sách cho đến khuya , rồi tắt đèn. Đến hai giờ sáng , Alexandra nghe tiếng bước chân Eve rón rén đi vào phòng.
" Em đang lo lắng cho chị quá ". Alexandra thì thào.
"Chị gặp vài người bạn cũ -Còn em thì thế nào? Tuyệt vời chứ?
" Tệ lắm chị ạ.Anh ấy không thèm đến ".
" Tệ quá nhỉ " Eve ra vẻ thông cảm. " Em phải rút kinh nghiệm là đừng bao giờ tin cậy bọn đàn ông ".
" Không biết có chuyện gì xảy ra với anh ấy không?"
" Không đâu , Alex ạ , chị cho rằng anh ta có lẽ đã gặp một người nào đó anh ta thích hơn".
Đúng vậy , Alexandra thầm nghĩ.Nàng không lấy thế làm ngạc nhiên cho lắm. Nàng không biết rằng nàng xinh đẹp đáng yêu như thế nào. Từ nhỏ đến lớn nàng sống trong cái bóng của người chị sinh đôi. Nàng yêu mếm chị , và cho rằng nếu có ai đó say mê Eve thì đó cũng là điều phải thôi.Nàng cảm thấy mình thua kém Eve , nhưng nàng không bao giờ nghĩ rằng người chị gái của nàng đã nuôi dưỡng cái ý nghĩ ấy từ ngày còn bé.
Có nhiều cuộc lỡ hẹn khác nữa. Những chàng trai Alexandra thích cũng tỏ ra vẻ mến nàng , nhưng sau đó họ không bao giờ gặp lại nàng lần nữa. Vào một ngày cuối tuần nọ , nàng bất ngờ gặp Rene' trên đường phố của Lausanne. Anh vội vã đi lại gần nàng và nói , " Có chuyện gì vậy? Em đã hứa sẽ gọi cho anh kia mà ".
" Gọi anh?Anh nói gì lạ vậy?"
Anh ta bước lùi lại , như chợt hiểu ra." Eve đó phải không...?"
" Không, Alexandra ".
Mặt anh ta đỏ bừng lên. "Tôi....tôi xin lỗi. Tôi phải đi ngay bây giờ " Thế rồi anh ta vội vã bỏ đi , để nàng lại một mình , nhìn theo bối rối.
Tối hôm ấy , Alexandra kể lại cho Eve nghe chuyện này. Eve nhún vai nói." Hắn rõ ràng là một thằng điên. Tốt hơn hết là em tránh hắn đi , Alex ạ"'.
Mặc dầu Eve sành sõi về đàn ông , có một yếu điểm của họ mà nàng không biết và chính điều đó đã gần như gây tai họa cho nàng. Từ thuở xa xưa , đàn ông vẫn có tính hay khoe khoang về những cuộc chinh phục của họ , và các sinh viên ở trường võ bị không phải là ngoại lệ. Họ bàn tán với nhau về cô Eve Blackwell với vẻ thán phục pha lẫn kinh sợ.
"Khi cô ấy đã làm xong xuôi mọi việc với tôi rồi , tôi không còn cựa quậy được nữa..."
" Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình lại gặp được một " cái mông" như thế..."
" Lạy Chúa nó giống như một con hổ cái ".
Ít nhất có đến hàng chục bọn con trai và nửa tá huấn luyện viên ca ngợi khả năng tình dục của Eve. Vì vậy , câu chuyện này trở thành một điều bí mật mà trong trường ai cũng biết. Một trong các huấn luyện viên kể lại câu chuyện bàn tán này với một cô giáo ở Fernwood , rồi cô này báo cáo lại với bà Collins , hiệu trưởng của trường này. Một cuộc điều tra kín đáo được mở ra , kết quả là có một cuộc họp giữa bà hiệu trưởng và Eve.
" Tôi nghĩ rằng vì danh tiếng của nhà trường , cô nên rời khỏi nơi này ".
Eve nhìn bà hiệu trưởng trừng trừng như thể cô cho rằng bà này bị loạn trí." Bà nói cái gì lạ đời vậy?"
" Tôi đang nói về chuyện cô bấy lâu nay phục vụ cho một nửa số người ở trường võ bị. Còn nửa kia đang xếp hàng , nôn nóng chờ đợi".
"Tôi chưa hề bao giờ được nghe những lời dối trá như vậy ". Giọng Eve run lên vì bực tức." Bà không nghĩ rằng tôi sẽ báo cáo chuyện này với bà nội tôi sao? Nếu bà ấy nghe được...".
" Cô khỏi phải làm chuyện ấy ", Bà hiệu trưởng ngắt lời." Tôi muốn tránh sự bối rối , khó xử cho trường chúng tôi , nhưng nếu cô không ra đi một cách lặng lẽ , tôi có sẵn một danh sách dài dự định sẽ gửi đến cho bà nội cô "
"Tôi muốn xem cái danh sách ấy ".
Bà Collins đưa cho Eve , không nói một lời nào. Đó là một danh sách dài. Eve đọc thật kỹ và nhận ra rằng nó còn sót ít nhất là bảy tên.Nàng ngồi yên lặng , suy nghĩ.
Cuối cùng nàng ngẩn đầu lên , nói với một vẻ oai vệ , rõ ràng đây là một âm mưu chống lại gia đình tôi. Một kẻ nào đó muốn dùng tôi để gây bối rối cho bà nội tôi. Tôi sẵn lòng rời khỏi nơi này , thay vì để cho chuyện ấy xảy ra ".
" Như thế là một quyết định không ngoan ", bà Collins nói một cách lạnh nhạt." Sẽ có một chiếc xe hơi đưa cô ra phi trường vào sáng mai. Tôi sẽ đánh điện cho bà nội cô để bà ấy biết cô sắp về nhà. Bây giờ cô có thể đi ra khỏi đây ".
Eve quay lưng lại, bước ra cửa , rồi đột nhiên nàng quay lại hỏi ," Thế còn em gái tôi?"
"Cô ấy sẽ ở lại đây".
Khi Alexandra trở về phòng ngủ , nàng thấy Eve đang gói ghém quần áo." Chị đang làm gì vậy?"
" Chị về nhà ".
"Về nhà? Ngay giữa học kỳ hay sao?"
Eve quay về phía cô em gái." Alex , em không nhận ra rằng đi học tại trường này là một sự phí phạm lớn hay sao? Chúng mình chẳng học được gì ở đây cả. Chỉ là giết thì giờ thôi".
"Chị đã nói với bà Collins chưa?"
"Có, mới cách đây mấy phút ".
"Thế bà ấy bảo sao?"
" Lại còn phải hỏi nữa? Bà ấy khổ sở lắm.Bà ấy sợ mất danh tiếng của trường bà , nên bà năn nỉ xin chị ở lại ".
Alexandra ngồi xuống bên mép giường." Em chẳng biết nói sao nữa".
"Em chẳng cần phải nói gì nữa hết. Chuyện này chẳng có liên quan gì đến em ".
"Dĩ nhiên có liên quan chứ. Nếu chị ở đây khở sở như thế thì..." nàng ngưng lại."Có lẽ chị nói đúng. Mình quả có phí thì giờ thật. Ai mà cần chia động từ tiếng latinh kia chứ?"
"Đúng vậy. Hay ai cần biết cái ông Hannibal nào đó với cái thằng em trai khốn kiếp của ông ta tên là Hasdrubal?"
Alexandra bước đến chiếc tủ gắn vào tường , lấy ra chiếc va li của nàng , đặt nó lên giường.
Eve tủm tỉm cười." Chỉ không yêu cầu em rời khỏi nơi này , Alex ạ.Nhưng chị cũng rất vui sướng nêu chúng ta cùng về nhà với nhau ".
Alexandra bóp bàn tay chị thât mạnh. Em cũng vậy".
Eve nói , làm ra vẻ tình cờ. Chị bảo em thế này nhé. Trong khi chị xếp đặt đồ đạc, enm hãy gọi điện cho bà nội để tin cho bà biết chúng mình sẽ đi máy bay về nhà ngày mai.em nói với bà rằng chúng mình không thể chịu nổi nơi này.Em có chịu làm cho chị không?"
"Được ". Alexandra do dự. "Em lo rằng bà nội sẽ không bằng lòng ".
"Dừng có lo về chuyện bà già ấy "Eve nói với vẻ tin tưởng." Chị có cách giải quyết với bà ấy ".
Alexandra không có lý do nào để nghi ngờ điều ấy. Eve có thể xoay sở bà nội theo ý muốn của nàng. Thế nhưng mà ,Alexandra thầm nghĩ , ai mà có thể từ chối Eve điều gì?
Nàng liền đi gọi điện thoại.
Bà Kate Blackwell có nhiều bạn bè , kẻ thù và những người kết giao trong giới kinh doanh ở các địa vị cao cấp , nên trong những tháng vừa qua có nhiều tin đồn khó chịu đã lọt đến tai bà.Thoạt tiên bà không để ý , cho rằng đó là do sự ghen tỵ nhỏ.Nhưng rồi các tin đồn ấy vẫn cứ dai dẳng.Eve đã giao du quá nhiều với bọn con trai ở trường võ bị.Eve đã có một lần phá thai.Eve đang được chữa trị vì một bệnh phong tình.
Vì vậy , khi được tin các cháu gái sắp về nhà , bà cũng cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm.Bà dự tính sẽ tìm hiểu cặn kẽ về các tin đồn xâu xa ấy.
Ngày các cô gái trở về , bà ngồi ở nhà chờ đón chúng.Bà dẫn Eve vào phòng khách , cách xa phòng ngủ của bà , và nói," Bà có nghe một số chuyện đáng buồn, vì vậy hôm nay bà muốn biết vì lý do nào mà cháu bị đuổi ra khỏi trường?" Mắt bà như xoáy vào mắt hai cô cháu gái.
"Chúng cháu không bị đuổi khỏi trường ", Eve đáp." Alex và cháu đẽ quyết định rời khỏi nơi ấy ".
"Vì một số chuyện lôi thôi với bọn con trai , phải không?"
Eve nói ," Cháu xin bà. Cháu không muốn nhắc đến chuyện ấy nữa".
"Bà nghĩ rằng rồi thế nào cháu cũng phải nói.Cháu đã làm những gì?"
"Cháu không làm gì cả. Chỉ có Alex nó..."
"Alex nó sao?" Bà Kate hỏi gay gắt.
"Cháu xin bà đừng trách nó ".Eve vội vã nói."Cháu tin chắc rằng nó ở trong một hoàn cảnh không thể cưỡng lại được.Nó thích cái trò chơi trẻ con là giả làm cháu.Cháu không biết nó đã làm những chuyện gì cho mãi đến khi bọn con gái trong trường bắt đầu bàn tán. Hình như là nó đi lại với rất nhiều bọn con trai ". Đến đây Eve ngưng lại , không nói thêm được nữa , vì quá bối rối.
"Giả làm cháu à?" Bà Kate choáng váng." Tại sao cháu không tìm cách ngăn cản nó?"
"Cháu cũng cố hết sức ". Eve ra vẻ khổ sở." Nó dọa tự tử. Trời , bà ạ , chúa nghĩ rằng Alexandra có tính tình hơi..." Nàng làm ra vẻ như cố gắng thốt ra một tiếng - " hơi bất ổn định. Nếu bà nói chút gì với nó về chuyện này thì cháu rất lo sợ không biết nó có thể làm chuyện dại dột gì ".Đôi mắt đẫm lệ của Eve lộ vẻ đau khổ rõ rệt.
Bà Kate cảm thấy lòng mình như nặng trĩu trước vẻ đau khổ sâu sắc của Eve." Eve ạ cháu đừng có khóc, cháu yêu quí. Bà sẽ chẳng nói gì với Alexandra đâu. Câu chuyện này chỉ có bà và cháu biết với nhau thôi".
" Cháu... cháu không muốn cho bà biết chuyện này. Trời , bà ạ ". nàng nức nở." Cháu biết rằng nó làm cho bà buốn lòng lắm ".
Sau đó , vào giờ uống trà , bà Kate nhìn Alexandra chăm chú.Con bé ấy bề ngoài xinh đẹp ngoan ngoãn thế , nhưng bên trong thì hư hỏng , thối nát , bà thầm nghĩ. Alexandra dính líu vào những vụ bẩn thỉu như thế đã là một hành động , xấu xa lắm rồi , ấy thế mà nó còn tìm cách trút tất cả những lời chê trách lên đầu chị nó nữa ! bà Kate thấy khiếp hãi !
Hai năm kế tiếp đó , Eve và Alexandra hoàn tất việc học ở trường của bà Porter. Eve tỏ ra rất kín đáo.Nàng đã bị khiếp hãi vì câu chuyện suýt gây nguy hại cho nàng vừa rồi.Nàng không được làm gì khả dĩ gây nguy hại đến mối liên hệ với bà nội. Bà già này không còn sống lâu nữa. Nay bà đã bảy mươi chín tuổi rồi. Eve quyết sẽ trở thành người thừa kế của bà nội.
Để mừng ngày sinh nhật thứ hai mươi mốt của các cháu gái bà , bà Kate đưa hai cháu đi Paris để mua cho chúng ít quần áo mới ở hiệu Choco Chanei.
Trong một bữa tiệc nhỏ ở nhà hàng Le Petit Bedouin , Eve và Alexandra gặp bá tước Alfred Maurier và bà vợ là nữ bá tước Vivien. Ông bá tước là một người trạc ngũ tuần , trông có vẻ sang trọng với mái tóc bạc xám và thân thể cứng cáp của một vận động viên thể dục. Vợ ông ta là một người đàn bà vui vẻ và nổi tiếng là hay đãi đằng các khách quốc tế.
Eve không để ý đến cả ông bá tước lẫn bà bá tước , ngoại trừ một câu nhận xét nàng thoáng nghe được do một người nào đó nói với bà bá tước ," Tôi rất ao ước được như bà và ông bá tước. Hai vị là một cặp vợ chồng hạnh phúc nhất. Hai vị lấy nhau bao nhiêu lâu rồi nhỉ? Hai mươi lăm năm rồi phải không?"
" Năm tới là hai mươi sáu " , Alfred đáp." Và có lẽ tôi là người Pháp duy nhất trong lịch sử không hề bao giờ phản bội vợ mình".
mọi người đều cười rộ , trừ Eve. Trong phần còn lại của buổi tiệc hôm ấy , nàng nhìn chăm chú ông bá tước và vợ ông ta. Eve không thể tin tưởng được ông bá tước ấy thấy gì hấp dẫn ở người đàn bà trung niên có da thịt mềm xèo ấy. Có lẽ ông ta chưa hề bao giờ được biết làm tình thực sự là như thế nào. Cái lối khoe khoang của ông ta thật là ngu xuẩn. Bá tước Alfred Maurier là một cuộc thử thách đối với nàng.
Ngày hôm sau , Eve gọi điện thoại cho Maurier tại văn phòng của ông ta." Đây là Eve Blackwell. Có lẽ ông không nhớ tôi , nhưng...".
" Làm sao tôi lại quên cô được , hỡi cô bé. Cô là một trong hai cô cháu gái xinh đẹp của bà bạn tôi. Kate Blackwell.
" Tôi rất hân hạnh được ông nhớ đến , ông bá tước ạ. Tôi xin lỗi đã quấy rầy ông , nhưng tôi được nghe nói là ông rất sành về các loại rượu vang. Tôi đang chuẩn bị một bữa tiệc cho bà nội tôi". Nàng phát ra một tiếng cười buồn bã." Tôi muốn biết nên dọn ra loại rượu nào , nhưng tôi lại không biết gì về các loại rượu cả.Ông có thể vui lòng chỉ bảo cho tôi được không".
"Tôi rất sẵn lòng ", ông nói với vẻ khoái trá." Điều đó tùy thuộc vào thức ăn nào cô đang dọn ra. Nếu bắt đầu ăn bằng món cá thì nên dùng thứ rượu ngon và nhẹ tên là Chablis là thích hợp...".
"Trời , làm thế nào mà nhớ được những thứ này nhỉ. Hay là tôi đến thăm ông để bàn thêm về chuyện này có được không? Ông có rảnh đến dùng cơm trưa với tôi ngày hôm nay không?"
" Để làm vui lòng một người bạn cũ thì tôi chắc có thể thu xếp được ".
"Thế thì hay quá ". Eve đặt ống nghe xuống chậm rãi. Đó sẽ là một bữa ăn trưa mà ông bá tước sẽ phải nhớ đời.
Hai người gặp nhau ở Laserre. Cuộc thảo luận về rượu chỉ ngắn ngủi thôi.Eve lắng nghe bài thuyết trình chán phoè cua ông Maurier với vẻ sốt ruột , rồi cắt ngang câu nói của ông ta." Em mê anh quá , anh Alfred ạ".
"Em nói rằng em mê anh quá ".
Ông nhắp một hớp rượu." Một năm được mùa nho". Ông vỗ nhẹ lên bàn tay của Eve , rồi tủm tỉm cười." Bạn bè tốt thì đều mến nhau cả ".
"Em không nói về tình yêu bạn bè, Alfred ạ".
Thế rồi ông bá tước nhìn vào mắt Eve , và biết ngay rằng thứ tình yêu mà nàng muốn nói là tình yêu gì rồi. Ông lo sợ rõ rệt.Cô gái này chỉ mới hai mươi mốt tuổi , mà ông thì đã quá tuổi trung niên rồi và là một người chồng hạnh phúc. Ông thực sự không hiểu được cái gì đã len lỏi vào đầu óc của các cô gái trẻ vào thời buổi này. Ông ngồi đối diện với nàng mà cảm thấy bối rối, không yên. Ông lắng nghe nàng nói , và càng thấy bức rức hơn nũa bởi vì cô gái ấy có lẽ là người đàn bà xinh đẹp nhất , hấp dẫn nhất ông chưa từng gặp. Nàng mặc một chiếc váy xếp nếp màu "beige" và một chiếc áo len xanh mềm làm lộ ra bộ ngực căng phồng. Nàng không đeo nịch ngực nên ông thấy rõ những cái núm trên nhũ bộ nàng nhô lên. Ông nhìn khuôn mặt trẻ ngây thơ mà không biết ăn nói làm sao. " Cô... cô chưa hề biết rõ tôi".
"Có chứ , em vẫn mơ tưởng đến anh từ ngày em còn nhỏ.Em tưởng tượng đến một người đàn ông mặc bộ áo giáp bóng loáng , cao , đẹp trai , và...".
"Nhưng tôi e rằng bộ áo giáp của tôi hơi bị rỉ sét. Tôi...".
"Xin anh đừng có chế giễu em nữa", eve năn nỉ. Khi em thấy anh ở bàn tiệc tối hôm qua , em nhìn anh, không thể rời mắt. Em không nghĩ đến chuyện gì khác nữa từ lúc ấy. Em đã không ngủ được. Em không thể gạt hình ảnh anh ra khỏi đầu óc em dù chỉ trong chốc lát ". Điều này cũng hầu như là đúng.
"Tôi... tôi không biết nói với cô thế nào nữa , Eve ạ. Tôi là một người chồng hạnh phúc. Tôi...".
"Trời , em không thể nói em thèm muốn được như vợ anh biết chừng nào.Bà ấy là người may mắn nhất trên thế gian này. Không biết bà ấy có nhận thấy như vậy không , Alfred nhỉ".
"Cố nhiên bà ấy nhận ra điều ấy. Tôi nói với bà luôn luôn như vậy". Ông tủm tỉm cười với vẻ lo lắng , không biết làm thế nào để xoay sang vấn đề khác.
"Bà ấy có thực sự thích anh không? Bà ấy có biết rằng anh nhậy cảm như thế nào không? Bà ấy có biết lo lắng cho hạnh phúc của anh hay không? Nhưng em thì quan tâm đến các vấn đề ấy".
Ông bá tước cảm thấy mỗi lúc mỗi thêm khó xử.Ông nói ," Cô rất xinh đẹp. Rồi một ngày kia cô sẽ gặp được một chàng hiệp sĩ trong chiếc áo giáp sáng loáng , không rỉ sét , rồi thì...".
"Em đã tìm thấy chàng ấy rồi , và em muốn được ân ái với chàng ".
Ông bá tước nhìn xung quanh , sợ có ai nghe tiếng. "Tôi xin cô , Eve !".
Nàng vươn người về phía trước."Em chỉ yêu cầu có từng ấy.Kỷ niệm này sẽ tồn tại với em suốt cả cuộc đời ".
Ông bá tước nói một cách cương quyết , "Không thể thế được. Cô đang đặt tôi vào một tình thế hết sức khó xử. Những cô gái trẻ như cô không nên đưa ra những lời gạ gẫm như thế với người lạ mặt".
Chậm rãi , đôi mắt Eve nhòa lệ."Anh nghĩ em như vậy sao? Em gạ gẫm hay sao?Em chỉ biết một người đàn ông duy nhất trên đời. Chúng em đã đính hôn và sắp sửa cưới nhau ". Nàng không cần phải chùi đi những giọt nước mắt."Anh ấy rất tốt , hiền lành và yêu mến em.Sau đó anh ấy bị chết trong một tai nạn leo núi. Chính mắt em trông thấy, thật là kinh khủng quá".
Bá tước Maurier đặt một bàn tay lên người nàng."Tôi rất ân hận".
"Anh làm em nhớ đến anh ấy. Khi em gặp anh lần đầu tiên , em tưởng như là Bill trở về với em. Nếu anh chỉ dành cho em một giờ thôi , em sẽ không bao giờ quấy rầy anh nũa.Anh sẽ không cần phải gặp em lại lần nữa.em van anh , anh Alfred!".
Ông bá tước nhìn Eve một hồi lâu , như cân nhắc phải giải quyết như thế nào.
Dù thế nào đi chăng nữa , ông cũng là một người Pháp.
Hai người ở cùng nhau suốt một buổi trưa ở một khách sạn nhỏ trên đường Sainte Anne. Trong tất cả các kinh nghiệm của ông trước khi ông lập gia đình , bá tước Maurier chưa hề bao giờ ăn nằm với ai giống như Eve.Nàng là một cơn gió lốc , một vị nữ thần xinh đẹp , một con quỷ sứ. Nàng biết quá nhiều. Đến cuối trưa hôm ấy , Bá tước Maurier hoàn toàn kiệt sức.
Trong khi hai người đang mặc quần áo , Eve nói , " Khi nào thì em có thể gặp lại anh , anh yêu quí?"
"Anh sẽ gọi điện thoại cho em " , Maurier nói.
Ông không dự tính gặp lại cô gái này nữa.Nàng có vẻ gì đó làm cho ông khiếp hãi - một cái gì xấu xa tội lỗi. Nàng là thứ mà người Mỹ gọi là " bad news "(tin xấu) , nên ông không có ý định dính líu với nàng nhiều hơn nữa.
Câu chuyện này lẽ ra đến đó là chấm dứt , nêu hai người không bị bà Alicia Vanderlake trông thấy khi họ cùng nhau rời khỏi khách sạn.Bà Alicia Vanderlake là người đã từng làm việc trong một ủy ban từ thiện chung với bà Kate Blackwell năm ngoái.Bà là một người bon chen , nên dịp này là một thứ thang trời giúp cho bà thăng tiến. Bà đã thấy các bức hình của ông bà bá tước Maurier tr6en mặt báo , và cũng nhìn thấy hình các cô cháu gái song sinh của bà Blackwell.Bà Vanderlake biết nhiệm vụ của bà nên đặt ở đâu rồi. Bà liền giở cuốn điện thoại riêng tìm số điện thoại của bà Blackwell.
Người quản gia trả lời điện thoại."Bonjour!".
"Tôi muốn nói chuyện với bà Blackwell".
"Xin cho tôi biết ai đang gọi?"
"Bà vanderlake. Đây là một vấn đề riêng ".
Một phút sau , bà Kate Blackwell ở máy điện thoại." Ai đó?"
" Đây là alicia Vanderlake , bà blackwell ạ. Tôi chắc bà vẫn còn nhớ tôi. Chúng ta cùng làm việc trong cùng một ủy ban vào năm ngoái ".
"Nếu bà muốn quyên tiền thì xin gọi..."
" Không , không " , bà Alicia Vanderlake vội nói." Đây là vấn đề riêng tư về cô cháu gái của bà đấy ".
Chắc bà Kate sẽ mời bà ta đến dùng trà để hai người cúng bàn về vấn đề ấy , giữa đàn bà với nhau. Đó sẽ là bước đầu cho một tình bạn nồng thắm giữa hai người.
Bà Kate nói." Có chuyện gì về nó vậy?"
Bà Vanderlake không có ý định bàn về chuyện này trên điện thoại nhưng giọng không có vẻ thân thiện lắm của bà Kate khiến cho bà ta không còn lựa chọn nào khác." Vâng , tôi nghĩ rằng tôi có bổn phận nói cho bà biết rằng cách đây ít phút tôi thấy cô ấy lén lút rời lhoi3 một khách sạn với Bá tước Alfred Maurier. Rõ ràng đó là một cuộc hẹn hò bất chính".
Giọng bà Kate lạnh như nước đá." Tôi thấy điều này khó tin lắm. Cô cháu nào trong hai đứa cháu của tôi?"
Bà Vanderlake cười với vẻ không chắc chắn." Tôi... tôi không biết. Không thể phân biệt được hai cháu gái của bà.Mà ai có thể phân biệt được phải thế không?"
" Cám ơn bà đã cho biết tin này ". Kate đặt điện thoại xuống.
Bà đứng ngay tại chỗ , cố suy nghĩ về tin bà mới nghe được. Chỉ mới tối qua , họ dùng cơm tối với nhau. Bà Kate đã quen biết Alfred Maurier từ mười lăm năm nay, và những gì bà vừa nghe được hoàn toàn không phù hợp với tính tình của ông ta và không thể tưởng tượng được. Thế nhưng , đàn ông nào cũng dễ động lòng nếu Alexandra đã tìm cách để dụ dỗ ông Alfred vào giường ngủ thì...
Bà nhấc điện thoại lên , gọi tổng đài , Tôi muốn gọi điện thoại sang Thụy sĩ , Trường Fernwood , ở lausanne ".
Khi Eve trở về nhà xế trưa hôm ấy , nàng đỏ mặt vì thỏa mãn , không phải vì nàng thấy vui thú về việc ân ái với Bá tước Maurier mà chính là vì nàng đã chiến thắng ông ta. Nếu mình có thể chiếm đoạt ông ta dễ dàng như thế thì mình có thể chiếm đoạt bất cứ ai. Mình sẽ làm chủ cả thế giới , Eve thầm nghĩ .Nàng bước vào thư viện thì thấy bà Kate đang ngồi ở đấy.
" Chào bà ạ. Ngày hôm nay bà có thấy vui không?"
Kate đứng nhìn đứa cháu nội duyên dáng." Không vui lắm. Thế còn cháu?"
" Ồ , cháu đã mua sắm ít thứ. Không gặp được thứ gì cháu thích cả. Bà đã mua cho cháu đủ mọi thứ rồi. Bà lúc nào cũng...."
" Đóng cửa lại , Eve".
Giọng nói của bà có vẻ như cảnh cáo. Eve đóng cánh cửa bằng gỡ sồi lại.
"Ngồi xuống".
" Có chuyện gì không hay chăng thưa bà?"
" Cái ấy thì cháu nói cho bà nghe mới đúng. Bà đã dự tính mời Alfred Maurier lại đây , nhưng rồi bà quyết định tránh cho chúng ta tất cả sự nhục nhã ấy"
Đầu óc Eve bắt đầu quay cuồng. Thật vô lý! Chẳng có ai biết được về chuyện nàng với Alfred Maurier. Nàng chỉ mới chia tay với ông ta một giờ trước đó.
" Cháu... cháu không hiểu được bà đang nói gì ".
" Vậy thì để ta nói thẳng ra cho mà biết. Cháu ngủ với Alfred Maurier trưa hôm nay phải không?"
Những giọt nước mắt như vọt ra khỏi mắt Eve. " Cháu...cháu hy vọng rằng bà sẽ không bao giờ biết được những gì hắn đã làm với cháu , bởi vì hắn là bạn của bà ". Eve cố nói không vấp váp." Thật kinh tởm quá. Hắn điện thoại cho cháu , mời cháu ăn cơm , phục rượu cho cháu say, rồi.."
" Câm mồm đi!" Giọng bà Kate như một con roi quất vào người. Mắt bà tràn ngập vẻ ghê tởm." Mày thật đáng khinh bỉ".
Bà Kate trải qua giờ phút đau đớn nhất trong đời bà , khi bà bắt đầu nhận ra được sự thật về đứa cháu gái. Bà vẫn còn nghe văng vẳng lời bà hiệu trưởng , "Thưa bà Blackwell , con gái nào thì cũng là con gái , vì vậy nếu chúng có một mối tình kín đáo thì đó không phải là vấn đề của tôi. Thế nhưng Eve nó ngủ bậy bạ một cách quá trâng tráo , cho nên vì lợi ích của nhà trường..."
Thế mà Eve lại trút tất cả tội lỗi lên đầu Alexandra.
Bà Kate nhớ lại các tai nạn đã xảy ra. Vụ Alexandar suýt chết cháy. Vụ Alexandra ngã từ vách núi , Alexandra bị hất ngã ra khỏi thuyền buồm có Eve ngồi trên ấy suýt bị chết chìm. Bà con nghe tiếng Eve kể lại vụ " hiếp dâm" do ông thầy dạy Anh văn : Ông Parkinson nói ông muốn bàn luận với cháu về bài Anh văn. Ông yêu cầu cháu đến nhà ông vào trưa thứ bảy. Khi cháu đến đấy , ông ấy ở nhà một mình. Ông bảo ông muốn cho cháu xem cái gì đó trong buồng ngủ ông ấy. Theo ông lên cầu thang. Ông dè cháu xuống giường , rồi ông...
Bà nhớ đến chuyện xảy ra ở Briancrest, khi Eve bị buộc tội là bán cần sa , rồi tội lỗi ấy lại bị trút lên đầu Alexandra.Eve đã không trách cứ Alexandra , mà lại bênh vực cho nó. Đó là cái mánh khoé của Eve. Nó là một kẻ xấu xa , nhưng lại đóng vai trò một kẻ anh hùng. Trời , thật là xảo quyệt !
Lúc này , bà Kate nhìn chăm chú con quỉ sứ xinh đẹp với nét mặt thiên thần đang đứng trước mặt bà. Ta xây dựng tất cả các dự tính tương lai xung quanh ngươi. Chính ngươi sẽ là kẻ nắm quyền điều khiển Kruger- Brent một ngày nào đó. Chính ngươi là kẻ mà trước đây ta yêu quí , nâng niu. Bà nói :"Tao muốn mày rời khỏi ngôi nhà này. Tao không muốn nhìn mặt mày nữa ".
Mặt Eve tái hẳn lại.
"Mày là một con đĩ. Tao nghĩ tao cũng có thể chịu đựng được điều ấy. Nhưng mày lại lừa đảo , xảo quyệt, lại mắc phải cái bệnh dối trá. Tao không thể chịu đựng được cái tính như vậy ".
Tất cả mọi sự diễn ra quá nhanh. Eve nói với vẻ đau khổ ," Bà ạ nếu Alexandra đã nói với bà những điều dối trá về cháu thì...".
"Alexandra không biết chút gì về chuyện này. Tao vừa nói chuyện rất lâu với bà Collins ".
"Chỉ có thế thôi sao?"Eve cố làm ra vẻ như vừa trút ra khỏi một gánh nặng , qua giọng nói." Bà Collins ghét cháu vì...".
Bà Kate đột nhiên tỏ vẻ chán ngán , mệt mỏi. "Cái lối nói ấy không còn hiệu quả gì nữa đâu.Eve ạ. Dẹp nó đi. Hết rồi. Tao đã cho mời ông luật sư đến , và sẽ tước quyền thừa kế của mày ".
Eve cảm thấy như thế giới sụp đổ xung quanh nàng. " Bà không thể làm như thế được. Như thế thì cháu sẽ sống bằng cách nào?"
"Mày sẽ được một khoản trợ cấp nhỏ. Từ nay trở đi , mày sẽ sống tự lập. Mày muốn làm gì thì làm " Giọng bà Kate trở nên cứng rắn." Nhưng nếu tao còn nghe hay đọc thấy một lời nào về những vụ tai tiếng của mày , nếu mày làm ô danh gia đình Blackwell bằng cách nào đó , thì tao sẽ ngưng luôn khoản trợ cấp ấy. Nghe rõ chưa?"
Eve nhìn vào mắt bà nội , và biết rằng lần này thì không có sự hoãn lại việc thi hành quyết định này. Hàng chục cái cớ để tự bênh vực vọt lên đến môi nàng nhưng đều tắt ngay đi ở đó.
Bà Kate đứng dậy , nói bằng một giọng run run ," Tao không biết điều này có một ý nghĩa gì đối với mày hay không , nhưng đối với tao, đó là một việc khó khăn nhất mà tao đã quyết định phải làm trong đời tao".
Bà quay lưng lại , bước ra khỏi phòng , lưng bà cứng nhắc và thẳng băng.
Kate ngồi trong căn phòng tối tăm , tự hỏi vì sao mà mọi thứ đều diễn ra tệ hại đến như vậy.
Nếu David không chết vì tai nạn , và Tony được quen biết bố nó.....
Nếu Marianne còn sống...
NẾU. Một từ chỉ gồm có ba chữ cái để nói lên cái mơ ước hão huyền.
Tương lai làm bằng đất sét để có thể nặn ra ngày này qua ngày khác , nhưng qua khứ là nền đá cứng, hko6ng thể thay đổi hình dạng. Tất cả những người mình yêu đã phản bội mình.Tony , Marianne. Eve. Sarter đã nói rất đúng :" Địa ngục là những kẻ khác". Bà tự hỏi không bao giờ nỗi đau đớn của bà mới tan đi được.
Nếu bà Kate cảm thấy nỗi đau đớn tràn ngập, thì Eve cảm thấy tràn ngập nỗi giận dữ. Tất cả những gì nàng làm là để vui hưởng một vài giờ ân ái , thế mà bà nội lại coi như nàng đã phạm một ác không thể diễn tả được ! Thật là một con mụ độc ác xưa cổ ! Không , không phải xưa cổ mà là "già nua ".Đúng vậy ,bà đã suy yếu vì tuổi già.Eve sẽ tìm một luật sư tài giỏi và sẽ làm cho bản chúc thư mới của bà bị hủy bỏ trước tòa án.Cha nàng và bà nội nàng đều là những người mất trí. Không ai có quyền tước bỏ quyền thừa kế của nàng. Kruger -Brent là công ty của nàng.Đã bao nhiêu lần ,bà nội tuyên bố rằng một ngày kia công ty ấy sẽ thuộc về nàng.Còn Alexandra nữa ! Trong suốt thời gian này , Alexandra đã hãm hại nàng. Không biết nó đã thì thầm những gì để đầu độc các lỗ tai của bà nội.Hắn muốn chiếm lấy công ty làm của riêng.Điều kinh khủng nhất vào lúc này là hắn có lẽ sẽ chiếm đoạt được công ty ấy. Những gì vừa xảy ra trưa nay đã tệ hại lắm rồi , nhưng ý tưởng là Alexandra sẽ chiếm đoạt quyền kiểm soát công ty thì thật không làm sao chịu nổi.Mình không thể để cho chuyện ấy xảy ra. Mình sẽ tìm cách ngăn chặn lại.Nàng đóng các khóa trên va li lại , rồi tìm em gái.
Alexandra đang ngồi đọc sách trong vườn. Nàng ngẩn đầu lên khi Eve bước lại gần.
"Alexandra ạ chị quyết định trở lại New York ".
Alexandra nhìn chị với vẻ ngạc nhiên. " Bây giờ sao? Bà nội đang dự tính cho chúng mình đi du thuyền dọc bờ biển Dalmatian vào tuần sau kia mà".
"Ai cần đi chơi dọc bờ biển? Chị đã suy nghĩ nhiều về chuyện này rồi. Bây giờ đã đến lúc chị phải có riêng một căn hộ rất đẹp để ở , và nếu em tốt với chị , chị sẽ cho em em thỉnh thoảng ở lại đêm tại đó ". Nói như thế là đúng , Eve thầm nghĩ.Thân mật , nhưng không bộc lộ tình cảm quá nhiều.Đừng có để cho nó biết mình đã rõ được ý định của nó.
Alexandra nhìn chị nó chằm chằm với vẻ lo lắng."Thế bà nội đã biết chưa?"
"Chị đã nói với bà nội trưa nay.Dĩ nhiên là bà không hài lòng nhưng bà hiểu. Chị muốn có một việc làm , nhung bà cứ nhất thiết đòi tặng chị một khoản trợ cấp".
Alexandra hỏi ," Chị có muốn em cùng đi với chị không?".
Mẹ kiếp , cái con đàn bà hai mặt này ! Thoạt tiên , nó làm áp lực buộc nàng phải ra khỏi nhà , bây giờ nó lại vờ muốn đi với nàng.Được rồi , họ không thể vứt bỏ Eve này dẽ dàng như vậy đâu. Mình sẽ tỏ rõ cho họ biết.Nàng sẽ có một căn hộ của riêng mình nàng sẽ tìm một nhà trang trí tài giỏi để làm công việc này - rồi nàng sẽ được hoàn toàn tự do đi đi về về tùy thích. Nàng sẽ mời bạn trai đến phòng nàng , dụ họ ngủ đêm tại đó.Nàng sẽ được tự do thực sự lần đầu tiên trong đời ý nghĩ này khiến lòng nàng cảm thấy phơi phới.
Váo lúc này nàng nói với Alexandra ," Em nói như thế là rất tử tế ,Alexandra ạ , nhưng chị muốn ở riêng một mình một thời gian đã ".
Alexandra nhìn chị , cảm thấy một sự mất mát sâu sắc.Đây là lần đầu tiên hai chị em phải xa nhau. Nàng nói ," Vậy thì chúng ta sẽ gặp nhau luôn nhé?".
"Dĩ nhiên là như vậy ", Eve hứa," Gặp nhau nhiều hơn là em nghĩ đấy".
0
CHƯƠNG XXVII
Hãng quảng cáo Berkley and Matthews là chiếc vương miện trên bảng xếp hạng các hãng trên đường Madison Avenue.Số quảng cáo hàng năm của hãng ấy vượt quá số quảng cáo gập lại của hai hãng cạnh tranh gần nhất , nhất là nhờ có tài khoản lớn lao của Kruger- Brent và hàng chục các chi nhánh của nó trên khắp thế giới. Trên bảy mươi lăm nhân viên kế toán , người viết bài quảng cáo , giám đốc sáng tác , thợ ảnh , thợ khắc , nghệ sĩ , chuyên viên truyền tin đã được thu dụng nhờ có tài khoản của riêng công ty Kruger- Brent mà thôi. Vì vậy , khi bà Kate Blackwell điện thoại cho Aaron Berkley để yêu cầu ông ta tìm một chỗ cho Alexandra thì chỗ làm ấy được tìm ra ngay lập tức. Nếu bà Kate Blackwell muốn thì họ có lẽ cũng sẵn sàng nhường chức chủ tịch cho Alexandra nữa.
"Tôi tin rằng cháu gái Alexandra của tôi thích làm một người viết bài quảng cáo ," Bà Kate nói cho Aaron Berkley biết.
Berkley nói với bà Kate rằng tình cờ vừa mới có khuyết một chân viết bài quảng cáo nên cô Alexandra có thể bắt đầu công việc khi nào cô ấy muốn.
Alexandra bắt đầu đi làm việc vào ngày thứ hai.
Ít có hãng quảng cáo nào đặt trụ sở trên đường Madison Avenue , nhưng Berkley and Matthews là một ngoại lệ.Hãng có một tòa nhà lớn , tối tân , ở góc đường Madison và đường số 57. Hãng chiếm tám tầng lầu và cho thuê các tầng lầu khác.Để đỡ phải thêm một số lương mới , Aaron Berkley và người hợp tác , Matthews , quyết định rằng Alexandra sẽ thay thế một nhân viên viết bài mới tuyển dụng trước đó sáu tháng. Tin này loan ra rất nhanh chóng. Khi nhân viên biết rằng cô gái bị đuổi sẽ được thay thế bởi con gái của vị thân chủ lớn nhất của hãng thì toàn thể mọi người đều bất mãn. Mặc dầu chưa hề gặp mặt Alexandra , họ đều đồng thanh cho rằng nàng là một mụ đàn bà xấu xa , đanh ác , có lẽ đã được gửi đến làm việc ở đó để dò thám họ.
Khi Alexandra đến làm việc , nàng được hộ tống đến văn phòng đồ sộ , hiện đại của Aaron Berkley , ở đó cả hai , Berkley và Matthews đều có mặt để chào đón nàng. Cả hai người hợp tác kinh doanh này trông chẳng có gì giồng nhau cả. Berkley thì cao , gầy , tóc bạc thắng xóa , còn Matthews thì lùn tịt , to béo và hoàn toàn sói. Thế nhưng họ có hai điểm chung : cả hai đều là những nhà quảng cáo xuất sắc nhất trong thập niên qua , và cả hai đều là những tên độc tài tuyệt đối. Họ đối xử với nhân viên như những tên nô lệ , và sở dĩ các nhân viên chịu đựng lối đối xử như vậy , ấy là vì bất cứ ai đã làm việc cho hãng Berkley and Matthews này cũng có thể làm việc ở bất cứ hãng quảng cáo nào trên thế giới. Đó là nơi huấn luyện nghề nghiệp.
Lúc Alexandra đến làm việc , còn có một người khác nữa cũng hiện diên trong văn phòng. Đó là Lucien Pinkerton , phó chủ tịch của hãng , một con người lúc nào cũng tươi cười , có cử chỉ khúm núm và đôi mắt lạnh lùng. Pinkerton trẻ hơn là hai người kia , nhưng nếu ông ta thua kém về tuổi tác , bù vào đó , ông ta tỏ ra không thua kém về thái độ thù hằn đối với đàn ông và đàn bà làm việc dưới quyền ông.
Aaron Berkley dẫn Alexandra đến một chiếc ghế bành rất êm ái." Cô muốn tôi mời cô thứ gì nào , thưa cô Blackwell? Cà phê hay trà?"
" Không , tôi không uống gì cả. Xin cám ơn ông."
" Vậy thì cô sẽ làm việc ở đây với chúng tôi với tư cách là một nhân viên viết bài."
" Tôi rất cám ơn quí ông đã tạo cho tôi cơ hội này. Tôi biết rằng tôi còn phải học hỏi nhiều lắm , nhưng tôi sẽ rán sức làm việc."
" Điều đó thì không cần ," norman Matthews vội vã nói. Nhưng tiếp đó ông sữa chữa lại." Ý tôi muốn nói là cô không thể gấp rút học tập kinh nghiệm loại này được."
" Tôi tin chắc rằng cô sẽ rất sung sướng làm việc với những người ở đây ," aaron Berkley nói thêm." Cô sẽ làm việc với những người giỏi nhất trong nghề."
Một giờ sau , Alexandra ngồi suy nghĩ. Họ có thể là những người giỏi nhất , nhưng không hẳn là những người thân thiện nhất. Lucas Pinkerton đã đưa Alexandra đi mọi nơi để giới thiệu nàng với nhân viên , nhưng ở nới nào cũng vậy , sự tiếp đón khá nhạt nhẽo. Họ chấp nhận sự hiện diện của nàng , rồi sau đó họ nhanh chóng làm những công việc khác. Alexandra đã cảm thấy thái độ thiếu thiện cảm của họ , nhưng không hiểu nguyên nhân vì sao. Pinkerton dẫn nàng đến một phòng họp đầy khói thuốc lá. Giáp với tường là một chiếc tủ trưng bày các phần thưởng của Clios và các giám đốc nghệ thuật. Ngồi xung quanh một chiếc bàn là một người đàn bà và hai người đàn ông , tất cả đều hút thuốc lá , hết điếu này đến điếu khác. Người đàn bà lùn , thân hình chắc, mập , tóc màu sắt rỉ. Hai người đàn ông tuổi chừng ba mươi bốn ba mươi lăm , nét mặt tái mét , trông có vẻ ưu tư.
Pinkerton nói ," Đây là nhóm sáng tạo. Cô sẽ làm việc với nhóm này. Họ là Alice koppel , Vince Barnes và Marty Bergheimer. Đây là cô Alexandra Blackwell."
Cả ba người trố mắt nhìn Alexandra.
" Thôi , tôi để các người làm quen với nhau ". Pinkerton nói. Ông quay về phía Vince Barnes ." Tôi muốn có tờ quảng cáo thứ nước hoa mới trên bàn viết của tôi vào sáng mai. Anh hãy lo liệu sao cho cô Blackwell có được mọi thứ cô cần."
" Cô cần thứ gì vậy." Vince Barnes hỏi.
Alexandra bỡ ngỡ trước câu hỏi bất thình lình." Tôi... tôi chỉ cần hoc công việc quảng cáo thôi."
Alice Koppel nói mộtc cách dịu dàng , " Cô đã đến đúng chỗ đó , cô Blackwell ạ. Chúng tôi đang muốn làm thầy giáo đến chết đi được."
" Xéo đi chỗ khác ," Marty Bergheimer nói với Alexandra.
Alexandra bối rối. " Không biết tôi có làm điều gì mất lòng vị nào ở đây không?"
Marty Bergheimer đáp ," Không đâu , cô Blackwell ạ. Chúng tôi đang phải làm việc khẩn trương đây , về một chiến dịch quảng cáo nước hoa. các ông Pinkerton và Matthews chưa hài lòng với những gì chúng tôi đã đưa ra."
" Tôi sẽ cố không quấy rầy các anh chị."
" Như vậy thì rất tốt ," alice Koppel nói.
Những giờ còn lại của ngày hôm ấy cũng chẳng có gì khá hơn. Không ai nở một nụ cười ở nơi này. Một trong các đồng nghiệp của họ đã bị đuổi vì cô gái giàu có xấu xa này , vì vậy họ bắt cô ta phải trả giá đắt.
Vào cuối ngày đầu tiên của Alexandra , Berkley và Matthews đến văn phòng làm việc bé nhỏ họ đã dành cho Alexandra để xem cô có được thỏa mái hay không. Cử chỉ này không qua mắt được các đồng nghiệp của nàng.
Tất cả mọi người trong hãng đều gọi nhau bằng tên riêng thân mật , riêng họ gọi Alexandra bằng tên họ của nàng là Blackwell.
" Gọi tôi là Alexandra," nàng nói.
" Được."
Nhưng đến lần sau , họ lại gọi nàng là " Cô Blackwell."
Alexandra học hỏi một cách nghiêm chỉnh và nóng lòng được đóng góp vào công việc. Nàng tham dự vào các phiên họp , trong đó các chuyên viên viết quảng cáo tha hồ đưa ra các sáng kiến của mình.Nàng nghe ông Lucas Pinkerton bác bỏ không tiếc lời bài viết quảng cáo được đệ trình cho ông duyệt. Ông ta là một con người xấu xa ti tiện. Alexandra cảm thấy thương hại cho những người làm việc dưới quyền ông ta. Nàng đi đi lại lại từ lầu này đến lầu kia để tham dự các cuộc họp của các vị giám đốc , các cuộc họp với khách hàng , những buổi chụp ảnh , các phiên họp bàn cãi chiến lược quảng cáo. Nàng ngồi yên lặng , lằng nghe để học hỏi. Vào cuối tuần lễ thứ nhất , nàng cảm thấy thời gian lâu như cả một tháng. Nàng trở về nhà mệt mỏi , không phải vì công việc mà vì sự căng thẳng do sự hiện diện của nàng gây ra ở sở làm.
Khi bà Kate hỏi nàng công việc tiến triển như thế nào. Alexandra đáp ," Cũng tốt , bà nội ạ. Rất hay."
"Bà chắc chắn rằng cháu sẽ làm việc rất tốt. Nếu có gì khó khăn , cháu cứ gặp ông Berkley hay ông Mathews."
Nhưng đó là một điều mà Alexandra không bao giờ muốn làm.
Ngày thứ hai kế tiếp , Alexandra đến sở làm với ý định phải tìm cho ra một cách náo đó giải quyết vấn đề này. Có những giờ nghỉ giải lao vào buổi sáng và buổi trưa để mọi người uống cà phê , và đó là cơ hội thuận tiện để mọi người nói chuyện với nhau một cách tự nhiên , thỏi mái.
Alexandra bước vào, cuộc nói chuyện ngưng bặt lại.
" để tôi đem cà phê đến cho cô nhé , thưa cô Blackwell".
" Cám ơn tôi có thể tự đi lấy được."
Mọi người im lặng trong khi Alexandra bỏ một đồng tiền vào máy cà phê tự động. Khi nàng bỏ đi cuộc nói chuyện lai bắt đầu trở lại.
" Các bạn có nghe vụ quảng cáo Xà phòng tinh khiết bị hớ to vừa rồi không? cái cô người mẫu đẹp như tiên được dùng để quảng cáo ấy hóa ra là một minh tinh của loại ảnh khiêu dâm..."
Vào lúc giữa trưa. Alexandra nói với Alice koppel , " Nếu các anh chị rảnh có thể ăn cơm trưa với tôi , chúng ta có thể..."
" Xin lỗi , tôi có một cuộc hẹn."
Alexandra đưa mắt sang Vince Barnes." Tôi cũng thế ," anh nói.
Nàng nhìn về phía Marty Bergheimer." Thời khóa biểu của tôi cũng đã đầy ắp cả rồi."
Alexandra cảm thấy quá thất vọng , không còn muốn ăn uống gì nữa. họ đã khiến nàng có cảm tưởng như mình là một kẻ bị gạt ra ngoài lề xã hội , và nàng cảm thấy giận dữ. Nhưng nàng nhất định không bỏ cuộc. Nàng sẽ tìm ra một cách nào đó để đi đến với họ , để cho họ biết rằng ở sâu dưới cái tên Blackwell , nàng vẫn là một người trong bọn họ. Nàng ngồi dự các phiên họp , lắng nghe berkley , Matthews và Pinkerton mắng chưởi các nhà sáng tạo quảng cáo trong khi những người này chỉ cố gắng hết sức mình để làm công việc cho tốt.Alexandra thương hại cho họ , nhưng họ không cần sự thương hại ấy của nàng. Họ cũng chẳng cần có nàng nữa.
Alexandra chờ đợi thêm ba ngày , rồi lại cố gắng một lần nữa.Nàng nói với Alice Koppel ," Tôi nghe nói có một tiệm ăn Ý."
"Tôi không ăn các thức ăn Ý."
Nàng quay nhìn về phía Vince Barnes." Tôi ăn kiêng."
Alexandra lại nhìn Marty Bergheimer. " Tôi sẽ đi ăn cơm Tàu."
Mặt Alexandra đỏ bừng lên. Họ không muốn người ta thấy họ đi chung với nàng. Thôi được , mặc kệ họ. Đối với nàng như thế là quá đủ rồi.Nàng đã vượt qua thông lệ để cố làm thân với họ , và mỗi lần như vậy nàng lại bị đánh gục. Làm việc ở đây thật là một sai lầm lớn.Nàng cần phải tìm việc làm với một công ty nào đó không liên hệ gì đến bà nội nàng cả. Nàng sẽ rời nơi này vào cuối tuần. Nhưng nàng tự nhủ ," Mình phải làm cho tất cả mọi người nhớ rằng nàng đã từng ở nơi này"
Lúc một giờ trưa , tất cả mọi người , trừ nhân viên ở tổng đài diện thoại , đều đi ăn trưa. Alexandra ở lại văn phòng. Nàng nhận ra rằng tại các phòng giấy của lãnh đạo đều có máy điện đàm nội bộ nối liền với các phòng sở , để khi nào một cấp lãnh đạo muốn nói chuyện với một thuộc hạ , ông ta chỉ việc ấn nút trên hộp máy , ở đó có ghi tên mỗi nhân viên trên một tấm phiếu. Alexandra lẻn vào trong các văn phòng vắng người của Berkley , Mathews và Pinkerton rồi đổi các phiếu tên lẫn lộn. như vậy , vào lúc đầu giờ trưa hôm ấy , Pinkerton ấn nút máy liên lạc , nối liền ông ta với một chuyên viên viêt bài , và nói trong máy," Vác cái đít của mày lên đây. Ngay bây giờ!"
Một giây phút yên lặng , có vẻ như choáng váng , tiếp theo đó , rồi có tiếng Mathews gầm lên ," Anh nói cái gì?"
Pinkerton nhìn trừng trừng vào máy sững sờ ," Ông Mathews à? Ông ở đó sao?"
" Mày nói đúng rồi đấy. Vác cái đít của mày lên đây ngay !"
Một phút sau , một chuyên viên viêt quảng cáo ân trên máy liên lạc đặt trên bàn làm việc và nói ," Tôi có ít bài vừa viết xong để anh đem gấp xuông nhà dưới cho tôi."
Giọng của Berkley gầm lên ở đầu dây bên kia đáp lại." Anh anh cái gì?"
Thế là sự hỗn loạn bắt đầu. Phải bốn giờ đồng hồ sau sự lộn xộn do Alexandra tạo ra mới được chỉnh đốn lại , và đó cũng là bốn giờ vui nhộn nhất cho các nhân viên của Berkley và Mathews. Mỗi lần một sự kiện mới xảy ra họ lại reo lên vui thích. Các cấp lãnh đạo bị gọi trên máy để được sai làm việc lặt vặt , đi mua thuốc lá hay sửa lại một chậu rửa trong phòng vệ sinh bị vỡ. Berkley , Mathews và Pinkerton dò hỏi khắp nơi để tìm ra thủ phạm , nhưng không một ai biết.
Người duy nhất đã trông thấy Alexandra đi vào các phòng làm việc là Fran , một nữ nhân viên ở tổng đài điện thoại , nhưng cô ta rất ghét các ông chủ hơn là ghét Alexandra nên cô ta chỉ nói ," Tôi không thấy một mạng nào cả."
Đêm hôm ấy , khi Fran nằm ngủ trên giường với Vince Barnes cô kể lai câu chuyện xảy ra.
Vince Barnes ngồi hẳn dậy trên giường." Cái cô gái Blackwell làm chuyện ấy à? Mình thật ngốc quá !"
Sáng sớm hôm sau , khi Alexandra bước vào văn phòng , Barnes , Koppel và Bergheimer đang ngồi ở đấy chờ đợi. Họ nhìn nàng chằm cha92m trong yên lặng." Có chuyện gì không hay chăng?" Nàng hỏi.
" Chẳng có chuyện gì Alex ạ ," alice Koppel nói. " Các anh ấy và tôi muốn mời chị cùng đi ăn cơm trưa với chúng tôi. Chúng tôi biết cái tiệm ăn Ý nhỏ nổi tiếng ở gần nới này...".
0
Đây là chương 16 & 17. Poiuy thấy còn chương 28, 29, 30 chưa có ai nhận gõ. Thôi, poiuy sẽ gõ để cho xong tác phẩm này nhé.. hihi..

TAY CỰ PHÁCH
CHƯƠNG 16

Kate và David cùng đi với nhau khắp nơi trên thế giới, đến Zurich, Paris và NewYork, lo toan các công việc của công ty, nhưng dù đi đến đâu họ cũng đều bỏ chút thời giờ dành cho riêng họ. Họ nói chuyện với nhay rất khuya vào mỗi đêm, ân ái với nhay và thăm dò các suy nghĩ cùng thân thể của nhau. Kate là một nguồn vui vô tận đối với David. Nàng thường đánh thức anh dậy vào buổi sáng để hai người ân ái cuồng nhiệt với nhau, rồi ít giờ sau đó, nàng ngồi bên cạnh anh ở bàn hội nghị bàn về công việc và tỏ ra sáng suốt hơn bất kỳ một ai có mặt tại đấy. nàng nhậy cảm với công việc kinh doanh một cách thật là hiếm có và không ngờ. Vào thời ấy, rất ít phụ nữ ở vào các cấp bậc hàng đầu trong giới kinh doanh. Thoạt tiên, Kate được mọi người đối xử với thái độ nhã nhặn, chịu đựng, nhưng thái độ ấy thay đổi nhanh chóng, trở thành kính cẩn và thận trọng. Kate tỏ ra vui thích trong việc vận dụng các thủ đoạn và mưu lược của trò chơi. David đã từng thấy nàng qua mặt được những người đàn ông có kinh nghiệm hơn nàng rất nhiều. Nàng có bản năng của một kẻ chiến thắng. Nàng biết mình muốn gì và làm thế nào đạt được thứ mà nàng muốn. Đó là quyền lực.
Họ kết thức thời kì trăng mật bằng một tuần lễ huy hoàng ở Ngôi nhà Trên Đồi Thông của nàng ở Dark Harbor.
Lúc ấy là vào tháng sáu năm 1914, người ta bắt đầu bàn tán về chiến tranh. Kate và David là những vị khách mời tại một ngôi nhà ở thôn quê trong vùng Sussex. Đó là vào thời kỳ người ta sống tại những ngôi nhà ở thôn quê, và các khách mời trong những dịp cuối tuần cũng phải tuân theo một nghi thức bắt buộc. Đàn ông phải mặc quần áo chỉnh tề vào bữa ăn sáng, thay ăn trưa, rồi lại thay đổi vào giờ uống trà - với chiếc áo nhung viền xa tanh - cuối cùng đổi sang chiếc áo vét chỉnh tề đúng theo nghi thức vào buổi ăn tối.
“Lạy Chúa!” David phàn nàn với Kate, “Anh thấy mình giống như một con công”.
“Anh là một con công xinh đẹp, anh yêu quý ạ”. Kate cố trấn an David. “Khi nào về nhà rồi, anh cởi truồng đi lông nhông cũng được”.
Anh ôm nàng trong vòng tay. “Anh không còn đủ kiên nhẫn nữa”.
Đến buổi ăn tối, có tin cho biết rằng Frances Ferdinand, kẻ kế vị ngai vàng Áo-Hung, và bà vợ ông ta, Sopie, đã bị giết bởi một tên ám sát.
Ông chủ nhà, Lord Maney, nói, “Thật là một hành động xấu xa. Bắn cả một người đàn bà! Phải thế không, quý vị?” Thế nhưng sẽ không ai phải đi ra trận vì một đất nước nhỏ bé ở tận vùng Balkan.
Rồi cuộc nói chuyện chuyện sang trò chơi cricket.
Sau đó, vào lúc đi ngủ, Kate hỏi David, “Anh có nghĩ rằng sẽ có chiến tranh không?”
“Vì chuyện một vị hoàng tử bé nhỏ bị giết hay sao? Ồ, không đâu”.
Nhưng điều phỏng đoán này sau đó đã được chứng tỏ là sai lầm. Nước Áo – Hung, nghi ngờ rằng những láng giềng Serbia đã chủ mưu ám sát Ferdinand, tuyên chiến với Serbia, và vào tháng mười năm ấy, đa số các nước trên thế giới đều lâm vào cuộc chiến. Đó là một cuộc chiến tranh theo kiểu mới. Lần đầu tiên, các loại xe cơ giới hoá được sử dụng – máy bay, khí cầu và tầu ngầm.
Ngày nước Đức tuyên chiến, Kate nói, “Đây có thể là một cơ hội tuyệt vời cho chúng ta, David ạ”.
David nhăn mặt, “Em nói gì lạ vậy?”
“Các nước cần súng ống, đạn dược và…”
“Chúng ta sẽ không bao giờ cung cấp cho họ những thứ ấy”, David ngắt lời với vẻ cương quyết. “Chúng ta có khá nhiều công việc rồi, không cần phải kiếm lợi nhuận bằng máu của bất cứ ai”.
“Sao anh lại bi đát hoá vấn đề như thế. Phải có người nào làm ra súng ống chứ”.
“Chừng nào anh còn làm việc cho công ty này, chúng ta sẽ không làm chuyện ấy. Thôi, không bàn cãi chuyện này nữa, Kate ạ. Vấn đề ấy chấm dứt rồi”.
Kate thầm nghĩ. Thật là đồ chết tiệt! Lần đầu tiên trong hôn nhân của hai người, Kate và David ngủ riêng giường. Nàng nghĩ, tại sao David lại có thể là một anh chàng lý tưởng một cách ngờ nghệch đến thế nhỉ?
Còn David nằm ngẫm nghĩ, làm sao nàng có thể lạnh lùng, tàn nhẫn đến thế? Công việc kinh doanh đã làm cho nàng thay đổi rồi. Những ngày kế tiếp đó thật là khổ sở đối với cả hai người. David hối tiếc vực thẳm tình cảm giữa hai người, nhưng không biết cách nào khoả lấp cho được. Kate quá kiêu hãnh và cứng đầu nên không chịu nhường, vì nàng cho rằng nàng phải.
Tổng thống Woodrow Wilson đã hứa rằng nước Mỹ sẽ đứng ngoài cuộc chiến, nhưng vì các tàu ngầm Đức bắt đầu thả thuỷ lôi tấn công các tầu chuyên chở khách không võ trang, và những câu chuyện về hành vi tàn nhẫn của người Đức lan rộng, áp lực bắt đầu đè nặng lên nước Mỹ, thúc giục họ phải giúp đỡ các đồng minh. Khẩu hiệu lúc ấy là, “Hãy làm cho thế giới được an toàn để phát huy nền tảng dân chủ”.
David đã học lái máy bay trong vùng sa mạc Namib ở Nam Phi, nên khi phi đoàn Lafeayette được thành lập ở Pháp với các phi công Mỹ, anh đến gặp Kate và nói, “Anh phải đi tòng quân”.
Nàng kinh hãi, “Không! Đó không phải là cuộc chiến của anh mà”.
“Nó sẽ là như vậy”. David điềm tĩnh nói. “Nước Mỹ không thể đứng ngoài cuộc chiến được. Anh là người Mỹ, anh muốn giúp họ vào lúc này”.
“Anh bốn mươi sáu tuổi rồi”.
“Anh vẫn còn có thể lái máy bay được, Kate ạ. Họ đang cần sự giúp đỡ bằng đủ mọi cách”.
Kate không còn cách nào làm anh thay đổi ý định. Họ trải qua những ngày cuối cùng bên nhau trong sự yên tĩnh, quên đi mọi điều khác biệt. Họ yêu nhau, và chỉ có điều ấy là quan trọng.
Vào đêm trước khi David lên đường sang Pháp, anh nói, “Em và Brad có thể điều khiển mọi công việc giống như anh, hay còn có thể giỏi hơn nữa”.
“Nếu có chuyện gì xảy ra cho anh thì sao? Em sẽ không thể nào chịu đựng nổi đâu”.
Anh ôm nàng sát vào lòng. “Không có gì xảy ra cho anh đâu. Kate ạ. Anh sẽ trở về với em với tất cả mọi loại huy chương”.
Anh lên đường vào sáng ngày hôm sau.
Sự vắng mặt của David là cái chết đối với Kate. Nàng đã mất bao thời gian mới chiếm được chàng, và bây giờ nỗi lo sợ ghê rợn sẽ mất chàng cứ len lỏi trong tâm trí nàng trong từng giây phút của cuộc đời. Anh lúc nào cũng như ở bên nàng. Nàng tưởng như nghe tiếng anh qua giọng nói của một người lạ mặt, tiếng cười đột ngột nổi lên trên đường phố, một câu nói, một hương thơm, một điệu hát. Anh ở khắp mọi nơi. Mỗi ngày nàng viết cho anh một lá thư rất dài. Mỗi khi nhận được thư anh, nàng đọc đi đọc lại cho đến khi nó rách bươm ra. Anh vẫn mạnh khoẻ, anh viết thư cho nàng. Quân Đức có ưu thế trên không, nhưng điều ấy sẽ thay đổi. Có nhiều tin đồn cho biết rằng nước Mỹ sẽ giúp. Anh sẽ viết thư cho nàng, khi nào có thể. Anh yêu nàng.
Đừng để chuyện gì xảy ra cho anh, anh yêu quý ạ, Nếu có chuyện gì, em sẽ ghét anh vô cùng.
Nàng cố quên nỗi khổ sở cô đơn bằng cách vùi đầu vào công việc. Lúc chiến tranh bắt đầu, Pháp và Đức có những lực lượng chiến đấu được trang bị đầy đủ nhất Âu châu, nhưng quân đồng minh có nhân lực, tài nguyên và vật liệu lớn lao hơn. Nước Nga, với quân đội đông nhất, không được trang bị đầy đủ và cấp chỉ huy kém.
“Họ đều cần sự giúp đỡ”, Kate nói với Brad Rogers. “Họ cần xe tăng, súng ống và đạn dược”.
Brad Rogers cảm thấy khó chịu. “Kate ạ, David không cho rằng…”
“David không có mặt ở đây, Brad ạ. Tất cả đều do anh và tôi quyết định”.
Nhưng Brad đã hiểu ý của Kate. Tất cả đều do nàng quyết định.
Kate không thể nào hiểu được thái độ của David về việc chế tạo vũ khí. Quân đồng minh cần có vũ khí, và Kate nghĩ rằng nhiệm vụ yêu nước của nàng là cung cấp vũ khí cho họ. Nàng thảo luận vấn đề này với lãnh tụ của năm, sáu nước bạn, và trong vòng một năm, Công ty Hữu hạn Kruger-Brent chế tạo súng, xe tăng, bom và đạn dược. Công ty cũng cung cấp xe hoả, xe tăng, quân phục và súng. Kruger-Brent nhanh chóng trở thành một trong những tổ chức phát triển nhanh chóng trên thế giới. Khi Kate trông thấy những con số lợi tức gần đây nhất, nàng nói với Brad Rogers, “Anh có thấy các con số này không? David sẽ phải thú nhận rằng anh ấy đã nhầm”.
Trong thời gian ấy, Nam Phi đang ở trong tình trạng xáo trộn. Các lãnh tụ các đảng phái cam kết ủng hộ đồng minh, và nhận trách nhiệm bảo vệ Nam Phi chống lại quân Đức, nhưng đa số người Afrikaner chống lại sự ủng hộ của đất nước họ đối với nước Anh. Họ không thể quên đi quá khứ một cách nhanh chóng.
Ở Âu châu, chiến tranh diễn ra không mấy tốt đẹp cho quân Đồng minh. Cuộc chiến đấu ở mặt trận phía Tây đi đến chỗ ngưng trệ. Cả hai phe đều đào hầm cố thủ, được bảo vệ trong các chiến hào trải dài ngang qua Pháp và Bỉ. Binh lính rất khổ sở. Nước mưa và bùn tràn ngập các hầm trú ẩn, chuột bò lúc nhúc trong các chiến hào. Kate mừng rằng David lúc ấy chỉ phải chiến đấu trên không.
Ngày 6 tháng tư, 1917, Tổng thống Wilson tuyên chiến. Như vậy là lời tiên đoán của David đã thành sự thực. Nước Mỹ bắt đầu động viên quân sĩ.
Lực lượng viễn chinh đầu tiên của Mỹ, dưới quyền chỉ huy của tướng Jonh J. Pershing, bắt đầu đổ bộ vào Pháp vào ngày 26 tháng sáu, 1917. Tên của nhiều địa điểm mới trở thành quen thuộc trong ngôn ngữ của mọi người: Saint Mihiel… Château Thierry… Meuse Argonne… Belleau Wood… Werdun… Quân Đồng minh trở thành một lực lượng không ai chống cự nổi, và đến ngày 11 tháng mười một, 1918, cuộc chiến tranh kết thúc. Thế giới trở nên an toàn để xây dựng nền dân chủ.
David đang trên đường trở về nhà.
Khi David rời chiếc tàu chở quân lên bờ ở NewYork, Kate đã chờ đón anh ở đó. Hai người nhìn nhau tưởng chừng như vô tận, không còn biết gì đến những tiếng ồn ào của mọi người xung quanh. Kate nhẩy xổ vào vòng tay David. Trông anh gầy đi và mệt mỏi. Lạy Chúa! Mình nhớ anh ấy quá. Nàng có sẵn hàng nghìn câu hỏi để hỏi anh, nhưng họ có thể chờ đợi. Kate nói, “Em sẽ đưa anh đến Ngôi nhà Trên Đồi Thông. Đó là một nơi tuyệt hảo để anh nghỉ ngơi”.
oo0oo
Kate đã chuẩn bị rất nhiều thứ trong ngôi nhà này để chở đón ngày trở về của David. Căn phòng khách rộng lớn, thoáng khí đã được bày biện sang trọng với hai chiếc ghế sô pha giống hệt nhau, bọc vải hoa màu hồng và xanh lục. Những chiếc ghế bành nhồi long tơ rất hợp với nhay được xếp xung quanh lò sưởi. Trên lò sưởi là những bức tranh vẽ hoa của Vlaminck, và ở mỗi bên có những cây đèn mạ vàng. Hai bộ cửa kiểu Pháp mở ra hàng hiên chạy dài theo toà nhà ở ba phía, được che bằng một tấm vải bạt có kẻ sọc. Các căn phòng đều sáng sủa, thoáng khí, và nhìn ra quang cảnh hải cảng thật là ngoạn mục.
Kate dẫn David đi suốt ngôi nhà, vừa đi vừa nói chuyện thật là vui vẻ. Anh trông có vẻ trầm ngâm một cách lạ lùng. Sau khi đã xem xong khắp nơi, Kate hỏi, “Anh có thích những gì em đã sắp đặt trong ngôi nhà này không, anh yêu quý?”
“Đẹp lắm, Kate ạ. Bây giờ, em hãy ngồi xuống, anh muốn nói chuyện với em”.
Nàng đột nhiên cảm thấy nôn nao. “Có chuyện gì vậy?”
“Có vẻ như chúng ta trở thành kẻ cung cấp súng ống, đạn dược cho một nửa thế giới”.
“Chờ đến khi nào anh xem xét sổ sách đã”. Kate nói. “Lợi nhuận của chúng ta đã…”
“Anh đang nói về một chuyện khác kia. Nếu anh nhớ không lầm, lợi nhuận chúng ta cũng rất khám lúc anh ra đi. Anh tưởng rằng anh với em đã đồng ý với nhau rằng chúng ta không dính dáng gì đến việc chế tạo các đồ trang bị quân sự”.
Kate cảm thấy cơn giận của nàng dâng lên. “Anh đồng ý, chứ em có đồng ý đâu”. Nàng cố dằn lại cơn giận của mình. “Thời buổi thay đổi rồi, David ạ. Chúng ta phải thay đổi cùng nó”.
Anh nhìn nàng, rồi lặng lẽ hỏi, “Thế em đã thay đổi hay sao?”
oo0oo
Nằm trên giường đêm hôm ấy, Kate tự hỏi không biết chính nàng đã thay đổi, hay là David. Nàng đã trở nên mạnh mẽ hơn hay là David đã yếu đi nhỉ? Nàng nghĩ đến luận cứ của chàng chống lại việc sản xuất vũ khí. Đó là một luận cứ yếu ớt. Dẫu sao, phải có người nào đó cung cấp hàng hoá cho quân đội, và lợi nhuận trong việc làm này rất là lớn. Đã có chuyện gì xảy ra ảnh hưởng đến ý thức kinh doanh của David? Lâu nay nàng vẫn coi chàng là một con người thong minh, tài giỏi nhất nàng từng thấy. Nhưng bây giờ, nàng cảm thấy mình có khả năng điều khiển công việc kinh doanh giỏi hơn David. Nàng trải qua suốt một đêm không ngủ.
Đến buổi sáng, Kate và David cùng ngồi ăn điểm tâm, rồi đi dạo quanh vườn.
“Thật là đẹp”. David nói, “Anh rất sung sướng được ở đây”.
Kate nói, “Về câu chuyện giữa chúng ta tối hôm qua…”
“Chuyện ấy giải quyết rồi. Lúc ấy anh đi vắng, và em đã làm những gì mà em cho là phải”.
Không biết mình có làm như vậy không, nếu lúc ấy David có mặt ở đây? Kate tự hỏi. Nhưng nàng không nói ý nghĩ ấy lên. Nàng đã làm những công việc ấy vì lợi ích của công ty. Phải chăng công ty còn quan trọng hơn cuộc hôn nhân của mình? Nàng sợ không dám đưa ra câu trả lời.

CHƯƠNG 17

Năm năm kế tiếp đó chứng kiến một thời kỳ tăng trưởng khó tin nổi trên khắp thế giới. Công ty Kruger-Brent đã được xây dựng trên cơ sở kim cương và vàng, nhưng nó đã được đa dạng hoá và mở rộng ra khắp thế giới, đến nỗi trung tâm hoạt động của nó không còn ở Nam Phi nữa. Gần đây công ty đã thụ đắc được một cơ sở xuất bản lớn, một công ty bảo hiểm và nửa triệu mẫu đất để trồng cây lấy gỗ.
Một buổi tối nọ, Kate lay David dậy và nói, “Anh yêu quý, chúng ta hãy di chuyển trụ sở chính của công ty”.
David lảo đảo ngồi dậy. “S…sao?”
“Trung tâm kinh doanh thế giới ngày nay là NewYork. Đó là nơi chúng ta nên đặt trụ sở chính cho công ty. Nam Phi lại quá xa mọi nơi. Ngoài ra, với điện thoại và điện tín như chúng ta có ngày nay, chúng ta có thể liên lạc với bất cứ văn phòng nào của chúng ta chỉ trong mấy phút”.
“Tại sao anh lại không nghĩ đến điều ấy nhỉ”. David lẩm bẩm, rồi lại lăn ra ngủ.
oo0oo
NewYork là một thế giới mới rất thú vị. Trong những lần viếng thăm đầu tiên nơi ấy, Kate đã cảm thấy nhịp đập nhanh của thành phố, nhưng sống ở đây chả khác nào như bị mắc kẹt vào giữa một ma trận. Trái đất có vẻ như quay nhanh hơn, mọi vật đều cử động theo một tốc độ nhanh chóng hơn.
Kate và David lựa chọn một địa điểm cho trụ sở mới của công ty trên đừơng Wall Strett, và các kiến trúc sư khởi sự công việc. Kate lựa chọn một số kiến trúc sư khác để vẽ kiểu một toà nhà lớn theo kiểu thời Phục hưng ở Pháp vào thế kỉ mười sáu.
“Thành phố này ồn ào kinh khủng”, David phàn nàn.
Đúng như vậy. Tiếng ầm ầm của máy tán đinh tràn ngập không khí ở khắp nơi trong thành phố, trong khi các nhà chọc trời bắt đầu mọc lên cao vút đến trời xanh. NewYork đã trở thành một thánh địa cho thương mại từ khắp nơi trên thế giới, là trung tâm đóng tàu, bảo hiểm, giao thông và chuyên chở. Đó là một thành phố đang nổ bùng lên với một sức sống độc đáo. Kate yêu thích nó, nhưng nàng cũng ý thức được nỗi khổ sở của David.
“David ạ, đây là tương lai. Nơi này sẽ tăng trưởng và chúng ta lớn lên cùng với nó”.
“Lạy Chúa, Kate, em còn muốn có được thêm bao nhiêu nữa?”
Không cần phải suy nghĩ, nàng đáp, “Tất cả mọi thứ trên đời này”.
Nàng không hiểu tại sao David lại đặt một câu hỏi như thế. Đã dấn thân vào trò chơi là phải thắng, và người ta thắng bằng cách đánh gục người khác. Điều đó thật là rõ ràng đối với nàng. Nhưng sao David lại không thể thấy được? David là một nhà kinh doanh giỏi, nhưng anh vẫn thiếu một thứ. Đó là sự khao khát, một sự thôi thúc mạnh mẽ là phải chinh phục, để trở thành kẻ lớn nhất, giỏi nhất. Cha nàng đã có tinh thần ấy, và nàng cũng có. Kate không biết rõ tư tưởng này đến với nàng từ bao giờ, nhưng ở vào một thời điểm nào đó trong đời nàng, công ty này sẽ trở thành ông chủ, còn nàng là tên nô lệ. Nó làm chủ nàng hơn là nàng làm chủ nó.
Khi nàng cố giải thích các cảm nghĩ của mình cho David thì anh cười rộ lên và nói, “Em đã làm việc quá nhiều”. Nàng sao giống cha nàng thế, David thầm nghĩ. Và chính anh hình như đã nhận ra một cách mơ hồ rằng điều ấy thật đáng lo ngại.
Làm sao người ta lại có thể làm việc quá nhiều được? Kate tự hỏi. Trong đời nàng không có gì vui thú hơn là công việc. Đó là lúc nàng cảm thấy sống động nhất. Mỗi ngày đem đến cho nàng một loạt vấn đề mới, và mỗi vấn đề là một thử thách, một câu đố cần phải tìm cách giải, một trò chơi cần phải thắng. Và nàng đã thành công tuyệt vời trong đó. Nàng bị mắc kẹt vào một thứ gì ngoài sự tưởng tượng. Nó không có liên quan gì đến tiền bạc hay thành tích; nó có liên qua đến quyền lực. Một thứ quyền lục kiểm soát đời sống của hàng nghìn con người trong mọi ngõ ngách của trái đất. Giống hệt như cuộc đời nàng trước kia đã từng bị những người khác kiểm soát. Chừng nào mà nàng có quyền lực, nàng sẽ không bao giờ cần bất cứ ai. Đó là một thứ vũ khí ngoài sức tưởng tượng.
Kate được mời dung cơm với các vị vua, nữ hoàng và tổng thống. Tất cả đều mong đợi đặc ân, thiện chí của nàng. Một nhà máy Kruger-Brent có nghĩa là sự khác biệt giữa giàu và nghèo. Quyền lực. Công ty là một vật sống. Nó là một tên khổng lồ đang lớn, cần phải được cho ăn, và đôi khi cần có những sự hi sinh, vì tên không lồ ấy không thể bị còng chân lại được. Bây giờ Kate hiểu điều đó. Nó có một nhịp điệu, một nhịp đập, và nó đã thuộc về nàng rồi.
Vào tháng ba, sau khi đã chuyển đến NewYork, Kate cảm thấy trong người không được khoẻ. David khuyên nàng nên đi khám bác sĩ.
“Tên ông ấy là John Harley. Ông ta là một bác sĩ trẻ có tiếng tăm”.
Miễn cưỡng, Kate đến gặp ông bác sĩ. John Harley là dân Boston, người gầy còm, vẻ nghiêm trang, trạc hai mươi sáu tuổi, tức nhỏ hơn Kate năm tuổi.
“Tôi nói trước với ông nhé”, Kate nói với bác sĩ, “tôi không có thì giờ đâu để mà ốm”.
“Vâng, tôi xin nhớ điều đó, bà Blackwell ạ. Trong khi chờ đợi, tôi xin khám cho bà một chút”.
Bác sĩ Harley khám sức khoẻ nàng, làm một vài xét nghiệm, rồi nói, “Tôi chắc chẳng có gì đáng ngại đâu. Tôi sẽ có kết quả trong vòng một vài ngày. Xin bà gọi dây nói đến cho tôi vào ngày thứ tư”.
oo0oo
Sáng sớm ngày thứ tư, Kate gọi điện thoại cho bác sĩ Harley. “Tôi có tin mừng báo cho bà hay, bà Blackwell ạ”, ông nói một cách vui vẻ. “Bà sắp có cháu bé rồi đấy”.
Thật là giây phút vui mừng tột độ trong cuộc đời của Kate. Nàng nóng lòng báo cho David biết ngay tin này.
Nàng chưa bao giờ thấy David vui sướng đến như thế. Anh nhấc bổng nàng lên trong vòng tay khoẻ mạnh và nói, “Nó sẽ là con gái, nó sẽ giống hệt như em”. Anh thầm nghĩ, đây chính là điều mà Kate đang cần. Bây giờ, nàng sẽ phải ở nhà nhiều hơn. Nàng sẽ là một người vợ theo đúng nghĩa hơn.
Nhưng Kate lại có một ý nghĩ khác. Nó sẽ là một đứa con trai. Một ngày kia, nó sẽ nắm lấy công ty Kruger-Brent.
oo0oo
Khi ngày sinh đứa bé gần kề, Kate làm việc trong những khoảng thời gian ngắn hơn, nhưng nàng vẫn có mặt ở văn phòng mỗi ngày.
“Em hãy quên công việc và nghỉ ngơi đi”, David khuyên Kate.
Anh không hiểu được là công việc mới chính là lối nghỉ ngơi, làm nàng bớt căng thẳng.
Ngày sinh của đứa bé được dự trù vào tháng mười hai. “Em sẽ cố gắng sinh nó ra vào ngày hai mươi nhăm”, Kate hứa với David. “Nó sẽ là món quà Giáng sinh của chúng ta”.
Đó sẽ là một ngày Giáng sinh hoàn hảo, Kate thầm nghĩ. Nàng đứng đầu một tổ hợp công ty, lấy được người đàn ông mà nàng yêu, và nàng sẽ có một đứa con. Nếu có một sự mỉa mai trong thứ tự của các ưu tiên ấy của nàng, Kate cũng không nhận thức được.
oo0oo
Thân hình nàng đã lớn ra và khó coi, và mỗi ngày Kate lại càng thấy khó đi đến văn phòng, thế nhưng mỗi khi David hay Brad Rogers đề nghị nàng nên ở nhà thì nàng lại nói, “Trí óc của tôi vẫn đang hoạt động”. Hai tuần lễ trước khi đứa bé ra đời, David đang đi Phi châu, thanh tra vùng mỏ ở Pniel. Anh dự tính sẽ trở về New York trong tuần sau.
Kate đang ngồi ở bàn giấy thì Brad Rogers bước vào mà không báo trước. Trông thất nét mặt cau có của Brad, Kate liền hỏi, “Vụ giao dịch Shannon thất bại rồi, phải không?”
“Không, tôi… tôi vừa được tin xấu. Vừa xảy ra một tai nạn. Một vụ nổ ở mỏ”.
Nàng cảm thấy đau nhói, “Ở đâu vậy? Có tệ lắm không? Có ai bị chết không?”
Brad thở một cái thật sâu. “Sáu người. David cũng ở trong số đó, Kate ạ”.
Những tiếng nói ấy như tràn khắp căn phòng, rồi dội lại bức tường lót ván gỗ, mỗi lúc mội to hơn, cho đến khi chúng trở thành một tiếng kêu thét trong tai nàng, một ngọn thác Niagara bằng âm thanh đang dìm nàng xuống, rồi nàng cảm thấy mình như bị hút vào trung tâm, sâu hơn nữa, hơn nữa, cho đến khi nàng không còn thở được nữa.
Tất cả mọi vật đều tối sầm lại và im lặng.

Đứa bé ra đời một giờ sau đó, sớm hơn hai tuần. Kate đặt tên cho bé trai ấy là Anthony James Blackwell, theo tên cha của David. Mẹ sẽ yêu con vì mẹ; mẹ sẽ yêu con vì bố.
Một tháng sau, toà lâu đài mới trên đại lộ Năm đã hoàn tất, Kate, cùng với con trai và các gia nhân dọn đến đó ở. Hai toà lâu đài ở Ý đã được gỡ ra để trang bị cho ngôi nhà này. Đó là một nơi trưng bày các đồ gỗ chạm trổ công phu theo kiểu Ý thế kỉ mười sáu, những sàn nhà bằng đá cẩm thạch hồng viền bằng cẩm thạch đỏ sẫm. Thư viện lót vấn gỗ phô trương những chiếc lò sưởi tuyệt đẹp kiểu thế kỷ mười tám, trên đó có treo một bức tranh hiếm của Holbein. Lại còn có một phòng trưng bày chiến lợi phẩm với bộ sưu tập súng của David, và một phòng tranh đầy những bức hoạ của Rembrandt, Verneer, Valsqueze và Bellini. Có một phòng khiêu vũ, một phòng khách có nhiều cửa lớn, một phòng ăn chính thức, và một phòng nuôi trẻ cạnh ngay phòng của Kate, và không biết bao nhiêu phòng ngủ. Trong các khu vườn có các pho tượng của Rodin, Augustus Saint Gaudens va Maillol. Đó là toà lâu đài thích hợp cho một vị vua. Và vị vua đang lớn lên ở đó, Kate thầm nghĩ.
Năm 1928, khi Tony lên bốn tuổi, Kate gửi nó đến một trường mẫu giáo. Nó là một đứa bé xinh đẹp, nghiêm trang, có cặp mắt xám và cái cằm bướng bỉnh của mẹ. Nó được học âm nhạc, và khi lên năm, nó theo học trường múa. Những thời gian vui sướng nhất của hai mẹ con là khi họ sống bên nhau ở Ngôi nhà Trên Đồi Thông ở Dark Harbor. Kate mua một chiếc thuyền buồm có gắn động cơ, dài chừng hai mươi sáu thước, mà nàng đặt tên cho là “Cướp Biển”. Nàng và Tony thường đi trên chiếc thuyền buồm ấy chạy dọc theo bờ biển Maine. Tony rất thích. Nhưng chính công việc mới làm cho Kate cảm thấy vui sướng nhất.
Có một vẻ thần bí về công ty Kruger-Brent mà Jamie McGregor đã thiết lập nên. Nó là vật sống, nó là người yêu, và sẽ không bao giờ chết vào một ngày mùa đông để lại nàng cô đơn. Nó sẽ sống vĩnh viễn. Nàng sẽ bảo đảm cho sự sống còn của nó. Rồi một ngày kia, nàng sẽ trao nó lại cho con nàng.
Điều duy nhất khiến nàng băn khoăn, lo nghĩ là nơi quê hương của nàng. Nàng rất lo lắng về Nam Phi. Những vấn đề chủng tộc ở đó mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng, khiến Kate cảm thấy băn khoăn. Ở đó hai phe chính trị đối lập nhau: nhóm “Verkramtes”, là nhóm người có đầu óc chật hẹp, chủ trương kì thị chủng tộc – và nhóm “Verligtes”, sáng suốt hơn, vẫn mong muốn cải thiện vị thế của người da đen. Ông thủ tướng James Hertzog cùng với Jan Smut đã thiết lập một liên minh và phối hợp quyền lực với nhau để cho thông qua một đạo luật mới về đất đai. Người da đen bị xoá tên khỏi các danh sách và không có quyền đi bầu hay làm chủ đất đai. Hàng triệu người thuộc các nhóm thiểu số khác nhau đều bị xáo trộn bởi đạo luật mới này. Các vùng không có các mỏ kim loại, không có các trung tâm kỹ nghệ hay các cảng, thì được dành cho những người da màu, da đen và Ấn Độ.
Kate xếp đặt một phiên họp với các viên chức cao cấp ở Nam Phi. “Đây là một trái bom”, Kate nói với họ, “Điều mà các ông đang làm là cố giữ tám triệu người trong vòng nô lệ”.
“Đó không phải là nô lệ, bà Blackwell ạ. Chúng tôi làm như thế là vì lợi ích của họ”.
“Thật vậy sao? Làm thế nào các ông giải thích được điều ấy?”
“Mỗi sắc tộc đều có cái gì đó để đóng góp. Nếu người da đen hoà lẫn với người da trắng, họ sẽ mất đi cá tính của mình. Chúng tôi cố bảo vệ cho họ”.
“Thật là vô nghĩa lý”, Kate cãi lại. “Nam Phi đã trở thành một địa ngục kỳ thị chủng tộc”.
“Điều đó không đúng. Người da đen từ những nước khác đã từ nghìn dặm đến đây để được vào xứ này. Họ trả đến năm mươi bảng Anh để có một giấy thông hành giả mạo. Người da đen được sống sung sướng ở đây hơn các nơi khác”.
“Vậy thì họ thật đáng thương hại”, Kate nói.
“Bọn chúng là những đứa trẻ con sơ khai thôi, bà Blackwell ạ. Đó chính là vì lợi ích cho họ”.
Kate rời khỏi phiên họp, trong lòng thất vọng và rất lo sợ cho đất nước của nàng.
Kate cũng lo lắng cho Banda. Mấy lâu nay, tên ông được nhắc nhiều lần trên báo chí. Các nhật báo ở Nam Pho gọi ông là “Cây địa du đỏ” và trong các câu chuyện họ kể vẫn có một vẻ thán phục miễn cưỡng. Ông trốn thoát khỏi tay cảnh sát bằng cách hoá trang thành một người cày ruộng, tài xế xe hơi hay gác cổng. Ông đã tổ chức một đạo quân du kích và đứng hàng đầu trong danh sách những người bị truy lung gắt gao nhất. Một bài viết trên tờ báo Cape Times kể lại rằng anh được những người biểu tình khiêng trên vai, đi diễu một cách đắc thắng trên khắp các con đường của một làng da đen. Ông đi từ làng này đến làng khác để nói chuyện với các học sinh, nhưng mỗi khi cảnh sát được tin về sự xuất hiện của Banda thì ông lại biến đi đâu mất. Người ta bảo ông có một toán cận vệ đông đến hàng trăm người, gồm toàn bạn bè và những người trung thành với ông. Mỗi đêm ông ngủ tại một nhà khác. Kate biết rằng chỉ có cái chết mới làm ông ngưng hoạt động mà thôi.
Nàng phải tiếp xúc được với ông. Nàng gọi một tên đốc công trước kia của nàng, một người nàng có thể tin cậy, và hỏi anh ta, “William này, anh có thể tìm ra được Banda cho tôi không?”
“Chỉ khi nào ông ấy muốn thì mới được”.
“Vậy anh hãy thử đi. Tôi muốn gặp ông ấy”.
“Để tôi nghĩ xem có cách nào”.
Sáng hôm sau, viên đốc công ấy nói, “Nếu tối nay bà rảnh, sẽ có một chiếc xe đưa bà về đồng quê”.
Kate được đưa đến một ngôi làng nhỏ cách Johannesburg bảy mươi dặm. Người tài xế dừng xe trước một ngôi nhà nhỏ. Kate bước vào bên trong. Banda đang ngồi ở đó chờ đợi nàng. Ông trông vẫn như hồi nàng gặp ông trước kia. Chắc bác ấy nay đã sáu mươi tuổi rồi, Kate thầm nghĩ. Ông đã đi trốn trong nhiều năm để thoát khỏi tay cảnh sát, thế nhưng trông ông vẫn trầm tĩnh, thoải mái.
Ông ôm lấy Kate và nói, “Mỗi lúc cô trông lại càng đẹp hơn”.
Nàng cười, “Tôi đã già đi. Ít năm nữa thôi, tôi sẽ bốn mươi tuổi rồi”.
“Tuổi tác không ảnh hưởng đến cô bao nhiêu cả”, Banda nói.
Hai người đi vào trong bếp, và trong khi Banda đang pha cà phê, Kate nói, “Tôi không thích những chuyện đang xảy ra, bác Banda ạ. Như vậy rồi sẽ đi đến đâu?”
“Rồi đây sẽ còn xấu hơn nữa”, Banda nói một cách đơn giản. “Chính phủ không cho phép chúng tôi nói chuyện với họ. Người da trắng đã phá hỏng những chiếc cầu thông cảm giữa chúng tôi và họ, rồi một ngày kia họ sẽ thấy cần những chiếc cầu như thế để đến với chúng tôi. Bây giờ chúng tôi đã có những vị anh hung như Kate, Nehremish Tile, Mokone, Richard Msimang. Người da trắng khiêu khích chúng tôi, đẩy chúng tôi chạy loanh quanh giống như xua một bầy gia súc đi ăn cỏ”.
“Không phải người da trắng nào cũng như vậy”, Kate nói. “Bác có những người bạn đang chiến đấu để tạo nên những sự thay đổi. Điều này sẽ xảy ra một ngày nào đó, bác Banda ạ, nhưng cần phải có thời gian”.
“Thời gian giống như cát trong chiếc bình thuỷ tinh chỉ giờ. Nó sẽ cạn đi”.
“Bác Banda ạ. Ntame và Magena bây giờ ra sao rồi?”
“Vợ và con trai tôi đang lẩn trốn”, Banda nói với vẻ buồn bã, “Cảnh sát vẫn đang còn săn lùng tôi ráo riết”.
“Vậy thì tôi có thể làm gì được để giúp bác? Tôi không thể nào ngồi yên, chẳng làm gì cả. Tiền bạc có giúp được gì không?”
“Bao giờ tiền bạc cũng có ích lợi”.
“Tôi sẽ thu xếp chuyện đó cho bác. Còn gì nữa không?”
“Cầu nguyện, Kate ạ. Hãy cầu nguyện cho chúng tôi”.
Sáng hôm sau, Kate lên đường trở về New York.

Khi Tony đã khá lớn, có thể đi du lịch được, Kate đem nó đi theo trong những cuộc hành trình công vụ, vào những dịp nghỉ của nó. Tony rất thích các viện bảo tàng, và có thể đứng hàng giờ ngắm các bức tranh và pho tượng của những nghệ sị bậc thầy. Ở nhà, Tony vẽ lại các bức họa treo trên tường, nhưng nó quá e thẹn, không dám đưa cho mẹ nó xem.
Nó rất dễ thương, thông minh và vui tính. Ngoài ra nó lại có tính bẽn lẽn, nhút nhát khiến cho mọi người cảm thấy dễ mến hơn nữa. Kate hãnh diện về con mình. Nó lúc nào cũng đứng đầu lớp. “Con đánh bại tất cả bọn chúng, phải không, con yêu quý của mẹ?” Thế rồi nàng cười to lên, ôm choàng lấy đứa con trong vòng tay.
Bé Tony lại cố gắng hơn nữa để xứng đáng với các kỳ vọng của mẹ nó.
Năm 1936, vào lần sinh nhật thứ mười hai của Tony, Kate trở về nhà sau một cuộc du hàng ở Trung Đông. Nàng rất nhớ Tony, và nóng lòng muốn gặp lại con. Tony đang ở nhà chờ mẹ. Nàng ôm nó vào lòng, hôn tíu tít và nói, “Mừng con nhân ngày sinh nhật! Ngày hôm nay con thấy có vui không?”
“Th…thưa m… mẹ. Co… con vu… vui lắm ạ”.
Kate lùi lại một bước, nhìn con chằm chằm. Nàng chưa hề thấy nó nói cà lăm như thế bao giờ. “Con có khoẻ không, Tony?”
“Kh… khoẻ. Cá… cám m… mơn m… mẹ”.
“Con không được nói cà lăm như thế. Nói thật chậm đi nào”.
“Vâng, th… thưa, M… mẹ”.
Trong năm tuần lễ kế tiếp đó, cái tật này của nó lại càng tệ hơn nữa. Kate quyết định phải nói chuyện với bác sĩ Harley. Sau khi khám xong, John Harley nói, “Về thể chất, chẳng có gì đáng ngại cả. Cậu ấy có bị một thứ áp lực gì đó không?”
“Con trai tôi à? Dĩ nhiên là không. Tại sao ông lại hỏi như vậy?”
“Tony là một đứa bé nhạy cảm. Tật cà lăm thường là một sự biểu hiện về mặt thể chất của một tâm trạng thất vọng, thấy mình không có khả năng đối phó”.
“Ông lầm rồi, bác sĩ ạ. Tony đứng hàng đầu về các trắc nghiệm học tập ở trường. Học kỳ vừa rồi, nó chiếm ba phần thưởng. Nó là một vận động viên hàng đầu, một học sinh giỏi nhất về mọi mặt, đứng đầu về các môn học nghệ thuật, văn chương. Không thể nói rằng như vậy là không có khả năng đối phó được”.
“À ra thế”, Ông nhìn thẳng vào mặt nàng. “Bà làm như thế nào mỗi khi cậu ấy nói cà lăm?”
“Cố nhiên là tôi sửa chữa cho nó”.
“Tôi đề nghị rằng bà không nên làm như thế. Bà càng cố sửa chữa, cậu ấy càng nói cà lăm nhiều hơn”.
Kate nổi giận, “Nếu Tony có vấn đề gì về mặt tâm lý, như ông nói, thì đó không phải là do mẹ nó. Tôi yêu quý nó. Nó cũng biết rõ điều ấy. Nó cũng biết rằng tôi cho nó là một đứa trẻ đặc biệt nhất trên thế gian này”.
Đó mới chính là cốt lõi của vấn đề. Không đứa trẻ nào có thể sống cho thật xứng đáng với điều kỳ vọng lớn lao ấy. Bác sĩ Harley nhìn xuống bản đồ biểu của ông. “Xem nào. Cậu bé lên mười hai rồi, phải không?”
“Phải”.
“Có lẽ tốt hơn hết bà cho cậu ấy đi xa một thời gian. Có thể đến một trường học tư ở một nơi nào đó”.
Kate nhìn ông bác sĩ chằm chằm.
“Để cho cậu ấy sống độc lập một thời gian. Cho đến khi cậu ấy học xong bậc trung học, Có một ít trường học rất tốt ở Thuỵ Sĩ”.
Thuỵ Sĩ! Ý tưởng cho Tony đi học xa như vậy thật là khủng khiếp đối với Kate. Nó đang còn nhỏ, chưa được sẵn sang, nó…” Ông bác sĩ Harley nhìn nàng, chờ đợi. “Tôi sẽ suy nghĩ thêm về vấn đề này”, nàng nói.
Trưa hôm ấy, nàng huỷ bỏ một phiên họp của ban giám đốc, trở về nhà sớm. Tony đang ở trong phòng làm bài tập ở trường.
Tony nói, “Hô… hôm n… nay co… on đư… được toàn đi… ểm A, m… mẹ ạ”.
“Con có muốn đi học ở Thuỵ Sĩ không?”
Mặt Tony sáng lên. “Có đư… được khô… không, m… mẹ?”
Sáu tuần lễ sau, Kate cho Tony lên một chiếc tàu thuỷ. Nó lên đường đến trường Le Rosey ở Rolle, một thị trấn nhỏ bên bờ hồ Geneva. Kate đứng ở cầu tàu tại New York, nhìn cho đến khi chiếc tàu tách rời khỏi các tàu kéo. Mẹ kiếp! Mình lại phải vắng nó rồi. Rồi nàng quay lại, trở về chiếc xe hơi đang đứng đợi để đưa nàng về văn phòng.
Kate thích làm việc với Brad Rogers. Anh đã bốn mươi sáu tuổi, lớn hơn Kate hai tuổi. Qua nhiều năm tháng làm việc chung, họ đã trở thành những người bạn thân. Kate mến anh vì anh rất trung thành với Công ty Kruger-Brent. Brad chưa lập gia đình và có khá nhiều cô bạn gái xinh đẹp, nhưng dần dần Kate nhận ra rằng anh đã yêu nàng. Nhiều lần anh đưa ra những nhận xét cố tình làm ra vẻ mập mờ, khó hiểu, nhưng nàng muốn giữ mối liên hệ giữa hai người ở mức độ khách quan, nặng nề tính công việc. Nhưng có một lần nàng đã phá thong lệ ấy.
Brad bắt đầu thăm viếng một người nào đó rất đều đặn. Anh thức khuya và sáng hôm sau đi dự các phiên họp với dáng điệu mệt mỏi. Anh có vẻ như đãng trí, đầu óc để ở đâu đâu. Thật là một dấu hiệu không tốt cho việc làm của công ty. Một tháng trôi qua, thái độ ấy của anh lại càng trắng trợn hơn nữa. Kate quyết định phải ra tay. Nàng nhớ lại xưa kia David cũng suýt rời bỏ công ty vì một người đàn bà. Nàng không thể để cho một việc tương tự xảy ra với Brad.
Kate chuẩn bị đi sang Paris để thâu nhận một công ty xuất nhập khẩu, nhưng vào phút cuối cùng, nàng yêu cầu Brad đi cùng với nàng. Ngày đầu tiên, khi họ đến nơi, hai người tham dự các phiên họp, rồi đến tối họ cùng ăn cơm ở Grand Véfour. Sau đó, Kate yêu cầu Brad đến gặp nàng ở dãy phòng nàng thuê tại khách sạn George V để cùng xem xét các báo cáo của công ty mới. Khi Brad đến nơi, Kate đang chờ đợi anh trong một chiếc áo choàng mặc ở nhà mỏng dính.
“Tôi đem đến cho chị bản đề nghị đã được sửa chữa”, Brad mở lời, “như vậy chúng ta…”
“Cái ấy có thể để sau hẵng tính”, Kate nói nhẹ nhàng. Trong giọng nàng có vẻ như mời mọc, khiến Brad phải nhìn vào mặt nàng lần nữa. “Tôi muốn chỉ có hai chúng ta ở đây thôi, Brad ạ”.
“Kate…”
Nàng ngả vào hai cánh tay của Brad, ôm chàng sát vào người.
“Lạy Chúa!” anh nói. “Anh đã yêu em quá lâu rồi”.
“Em cũng vậy, Brad ạ”.
Rồi cả hai người đi vào phòng ngủ.
Kate là một phụ nữ tràn đầy dục tính, nhưng tất cả năng lực của nàng được dồn vào các lĩnh vực khác. Nàng được hoàn toàn thoả mãn trong công việc. Nàng cần Brad vì những lí do khác
……
Kate không bao giờ ân ái với Brad một lần thứ hai nữa. Khi anh tỏ ra không thể nào hiểu được lý do vì sao nàng từ chối anh, nàng nói, “Anh không biết được em yêu thích anh như thế nào, Brad ạ, nhưng em lo sợ rằng chúng ta sẽ không làm việc được với nhau lâu dài. Cả hai chúng ta phải hi sinh”.
Brad Rogers cũng đành phải chấp nhận như vậy.
Trong khi công ty mỗi ngày một bành trướng thêm mãi, Kate lập nên những cơ sở từ thiện đóng góp cho các trường đại học, các nhà thờ và trường học. Nàng tiếp tục bổ túc cho bộ sưu tập nghệ thuật của mình. Nàng mua tranh của các danh hoạ thời kỳ Phục hưng và hậu Phục hưng như Raphael và Titian, Tintoretto và El Greco; và các hoạ sĩ thuộc xu hướng nghệ thuật “baroque”(1) như Rubens, Carevaggio và Van Dyck.
(1): Nghệ thuật “baroque” là một loại nghệ thuật (tranh vẽ, kiến trúc) mà đặc điểm là dùng rất nhiều hình trang trí hoa hoè, và các đường cong, hơn là dùng các đường thẳng - Nghệ thuật này rất thịnh vào các thế kỷ XVI, XVII và XVIII (1550 – 1750).
Bộ sưu tập của Blackwell nổi tiếng là bộ sưu tập của tư nhân quý giá nhất trên thế giới. Nổi tiếng, bởi vì không ai, ngoài các khách quý của gia đình, được phép xem bộ sưu tập ấy. Kate không cho phép người ta chụp ảnh các bức hoạ ấy, cũng không muốn thảo luận vấn đề với báo chí. Nàng có những quy tắc chặt chẽ, cứng rắn về báo chí. Cuộc sống riêng tư của gia đình Blackwell là điều không được ai xâm phạm. Cả gia nhân lẫn nhân viên công ty đều không được phép bàn luận về gia đình Blackwell. Dĩ nhiên, người ta không thể ngăn chặn được những tin đồn, những lời dự đoán, vì Kate Blackwell vốn là một nhân vật bí hiểm gây nhiều suy nghĩ, tò mò - một trong các phụ nữ giàu nhất, có quyền lực lớn lao nhất thế giới. Có hàng nghìn câu hỏi về nàng, nhưng rất ít lời giải đáp.

Kate điện thoại cho bà hiệu trưởng ở Le Rosey. “Tôi gọi điện thoại đến bà để hỏi xem Tony bây giờ ra sao”.
“À, cậu ấy học rất giỏi, bà Blackwell ạ. Con trai bà là một học sinh tuyệt vời…”
“Không, tôi không muốn hỏi về chuyện ấy”, nàng do dự một lát, như thề không muốn chấp nhận có một yếu kém nào trong gia đình Blackwell. “Tôi muốn hỏi về cái tật nói lắp của nó”.
“Thưa bà, tôi không thấy cậu ấy có dấu hiệu nào nói lắp cả. Cậu ấy hoàn toàn bình thường”.
Kate trút một tiếng thở dài khoan khoái. Nàng đã biết từ trước đến nay rằng cái tật ấy chì tạm thời thôi, một giai đoạn nào đó rồi sẽ phải qua đi. Mặc kệ các ông bác sĩ!
Tony trở về nhà bốn tuần lễ sau đó. Kate ra phi trường đón cậu. Tony trông có vẻ đẹp đẽ, khoẻ mạnh. Kate cảm thấy một niềm hãnh diện dâng tràn. “Chào con yêu quý của mẹ. Con khoẻ mạnh chứ?”
“Thư… thưa m… mẹ. Co… on vẫn kho… khoẻ. Thế cò… còn m… mẹ?”

Trong thời gian nghỉ ở nhà, Tony hăm hở muốn được xem những bức tranh mới mà mẹ cậu đã mua trong thời gian cậu vắng nhà. Cậu cảm thấy kinh hãi trước những bức hoạ của các bậc thầy, say mê với các bức tranh của các danh hoạ theo trường phái ấn tượng Pháp như Monet, Renoir, Manet và Morisot. Chúng gợi lên một thế giới thần bí đối với Tony. Cậu mua một bộ đủ các loại sơn, một cái giá vẽ, rồi bắt đầu làm việc. Cậu cho rằng những bức vẽ của cậu thật là kinh khủng nên không muốn đưa cho ai xem. Làm sao mà những bức hoạ của cậu có thể sánh được với những tác phẩm tuyệt tác ấy?
Kate nói với Tony, “Một ngày kia tất cả những bức hoạ này sẽ thuộc về con”.
Ý tưởng ấy gieo trong đầu óc của cậu bé mười ba tuổi một cảm giác khó chịu. Mẹ cậu không hiểu được cậu. Những bức hoạ ấy không bao giờ thực sự thuộc về cậu cả, bởi vì cậu đã không làm gì để có được chúng. Cậu có những cảm nghĩ mâu thuẫn khi thấy mình xa rời với mẹ cậu, vì tất cả mọi thứ xung quanh bà lúc nào cũng gây kích thích, sôi nổi. Bà ở ngay trung tâm điểm của một trận cuồng phong; bà đưa ra mệnh lệnh, thực hiện những vụ giao dịch lớn lao khó tưởng tượng nổi; bà đưa cậu đến những nơi xa lạ, giới thiệu cậu với những nhân vật nổi tiếng. Bà là một nhân vật đáng sợ, và cậu hãnh diện về bà vô cùng. Cậu cho rằng bà là một phụ nữ tuyệt vời, hấp dẫn nhất trên thế giới. Cậu cảm thấy vô cùng tội lỗi bởi vì chỉ khi trước mắt bà cậu mới nói lắp.
Kate không bao giờ có ý nghĩ rằng con trai bà rất kinh sợ bà cho đến một hôm, khi Tony về nhà trong dịp nghỉ, cậu hỏi, “Thư… thưa m…. mẹ, có… có… phải m… mẹ điều khi… iển cả thế giới không?”
Bà cười to và nói, “dĩ nhiên là không rồi. Vì sao con lại đưa ra câu hỏi vớ vẩn như thế?”
“Tất cả… cả b… bạn bè con ở… ở trường đều nói về m… mẹ. Trời, mẹ thực sự là… là một c… cái gì đó…”
“Mẹ là “cái gì đó” thật, con ạ. Mẹ là mẹ của con mà”, Kate nói.
Tony muốn làm vừa lòng mẹ về tất cả mọi thứ. Cậu biết rằng đối với bà, công ty có một ý nghĩa rất lớn lao, bà đã làm biết bao nhiêu việc để chuẩn bị cho cậu sẽ đứng ra điều khiển nó một ngày nào đó, thế nhưng cậu lấy làm hối tiếc vì cậu biết cậu không thể làm như vậy được. Đó không phải là loại công việc mà cậu dự định sẽ làm trong cuộc đời mình.
Khi Tony giải thích điều này với mẹ thì bà cười to lên và nói, “Đừng có nói bậy, Tony ạ. Con đang còn ít tuổi quá, làm sao mà biết được việc gì con muốn làm trong tương lai?”.
Thế là cái tật cà lăm của Tony lại nổi lên.
Ý tưởng trở thành một hoạ sĩ khiến cho Tony cảm thấy thích thú. Bắt được cái đẹp, rồi giữ nó đông lạnh cho hậu thế vĩnh cửu, đó là một việc làm có y nghĩa và thật là xứng đáng. Cậu muốn đi ra nước ngoài và theo học ở Pari, nhưng cậu biết rằng cậu sẽ phải đề cập đến vấn đề này với mẹ cậu một cách rất cẩn thận.
Hai mẹ con có những ngày vui tuyệt vời bên nhau. Kate là bà chủ của những bất động sản lớn lao. Bà đã mua những ngôi nhà ở Palm Beach và South Carolina, và một trại nuôi ngựa ở Kentucky. Bà và Tony vẫn thường đến thăm những nơi ấy trong các ngày nghỉ của Tony. Họ đi xem những cuộc đua tranh giải nước Mỹ ở Newport, và khi ở New York họ ăn cơm trưa tại nhà hàng Delmonico, dùng trà ở Plazza và ăn tối chủ nhật tại nhà hàng Luchow. Kate rất thích đua ngựa, và chuồng ngựa của bà được coi là tốt nhất thế giới. Khi nào một trong các con ngựa của bà tham gia cuộc đua và Tony có mặt ở nhà, bà thường đưa cậu đi đến trường đua. Hai người ngồi trong một lo riêng, và Tony thường ngạc nhiên nhìn thấy mẹ hò hét, hoan hô đến khản cả cổ. Cậu hiểu rằng sự vui sướng của bà không có liên quan gì đến tiền bạc.
“Nó sẽ thắng, Tony ạ. Nhớ điều đó nhé. Chiến thắng mới là vấn đề quan trọng nhất”.
Họ thường có những thời gian yên tĩnh, không làm gì cả, ở Dark Harbor. Họ mua sắm ở Pendleton và Coffin, ăn kem với sô đa ở tiệm Dark Harbor. Về mùa hè, họ đi thuyền, đi bộ, thăm viếng các bảo tàng. Về mùa đông, họ trượt trên băng, đi xe trượt tuyết. Họ ngồi trước lò sưởi trong thư viện, và Kate thường kể cho con trai nghe những chuyện xưa về gia đình, về ông nội của cậu, về Banda, và về buổi tặng quà mừng đứa trẻ mới sinh do bà Agnès và các cô gái đã tổ chức mừng bà nội của Tony. Thật là một gia đình nhiều màu sắc, một gia đình đáng hãnh diện và tràn đầy thương yếu.
“Kruger-Brent một ngày kia sẽ thuộc về con, Tony ạ. Con sẽ điều khiển nó và…”
“Co… con không muốn điều kh… khiền, mẹ ạ. Con không thích k… kinh doanh hay quyền lực”.
Kate đùng đùng nổi giận, “Con điên rồi à? Con biết gì về kinh doanh lớn lao và quyền lực cơ chứ? Con nghĩ rằng mẹ đi khắp nơi trên thế giới để gieo rắc xấu xa hay sao? Làm hại người ta hay sao? Con nghĩ rằng Kruger-Brent là một bộ máy làm tiền tàn bạo đè bẹp tất cả những gì cản trở bước tiến của nó hay sao? Thôi, để mẹ nói cho con biết, con ạ. Nó là thứ tốt nhất nhì sau Chúc Giêsu đấy, con ạ. Chúng ta là sự phục sinh, chúng ta cứu sống hàng trăm nghìn người. Khi chúng ta mở một nhà máy trong một cộng đồng hay một xứ sở nghèo nàn, đình trệ, dân chúng ở đấy nhờ vậy mà có thể mở trường học, thư viện, nhà thờ; họ có thể cho con cái họ ăn mặc tử tề và có những phương tiện giải trí”. Bà thở thật mạnh, vì bị lôi cuốn trong cơn giận dữ. “Chúng ra xây dựng các nhà máy ở những nơi nào dân chúng đói khổ, không có việc làm, và nhờ chúng ta, họ có cuộc sống tử tế và có thể ngẩng cao đầu lên cao. Chúng ta trở thành những vị cứu thế. Từ nay, đừng để cho mẹ phải nghe những lời nhạo báng của con về kinh doanh lớn và quyền lực nữa”.
Tony chỉ cón biết thốt ra mấy lời, “Co… con xin lỗi m… mẹ”.
Nhưng trong thâm tâm, cậu vẫn nghĩ một cách bướng bỉnh, “Mình sẽ trở thành một nghệ sĩ”.
Khi Tony mười lăm tuổi, Kate đề nghị cậu nên nghỉ hè tại Nam Phi. Cậu chưa hề đến nới ấy bao giờ. “Mẹ chưa thể đi được vào lúc này, Tony ạ, nhưng con sẽ thấy rằng nơi ấy hấp dẫn lắm. Mẹ sẽ thu xếp mọi thứ cho con”.
“Con hi vọng được… được nghỉ hè ở Dark Harbor, m… mẹ ạ”.
“Nghỉ hè sang năm”, bà nói giọng cương quyết. “Hè này mẹ muốn con ở Johannesburg”.
Kate bàn luận cẩn thận với viên tổng đốc của công ty Johannesburg, và hai người cùng vạch ra lộ trình cho Tony. Mỗi ngày đều được sắp đặt cho một mục tiêu nhất định: tạo cho cuộc hành trình này trở nên thích thú tối đa đối với Tony, đồng thời giúp cậu nhận thức được tương lai của cậu gắn liền với công ty.
Kate nhận được báo cáo hàng ngày về con trai. Cậu đã được đi thăm một trong các mỏ vàng. Cậu đã trải qua hai ngày tại mỏ kim cương. Cậu đã được hướng dẫn đi thăm các nhà máy của Kruger-Brent và cùng tham dự một cuộc đi săn ở Kenya.
Một ít ngày trước khi kỳ nghỉ của Tony kết thúc, Kate điện thoại cho viên quản đốc công ty ở Jonhannesburg. “Tony bây giờ tiến bộ ra sao?”
“Ồ, cậu ấy vui thích lắm, thưa bà Blackwell. Thật thế, sáng nay cậu ấy hỏi thêm có thể ở lại lâu thêm chút nữa được không?”
Kate cảm thấy vui sướng tràn ngập. “Thật là tuyệt vời. Cảm ơn anh”.
Khi kỳ nghỉ hè chấm dứt, Tony đi Southamton, ở Anh; đến đó, cậu lên máy bay của hãng Pan American sang Mỹ. Kate thường đi máy bay của hãng Pan American khi nào có thể được. Nó là cho bà không còn cảm thấy thích thú với các hãng máy bay khác nữa.
Kate bỏ một phiên họp quan trọng để đi đón con khi cậu vừa về đến tại trạm cuối cùng của hãng Pan Am ở phi trường mới xây La Guardia của thành phố New York. Nét mặt xinh đẹp của Tony rạng vẻ hăm hở.
“Con có vui không, con yêu quý?”
“Nam Phi là một thứ t… tuyệt vời, m… mẹ ạ. Mẹ có… biết họ lái m… máy bay cho con đi xem sa mạc Namib, nơi ông ngoại ăn cắp… cắp kim cương của cụ… cụ Van der Merwe không?”
“Ông ngoại không ăn cắp kim cương, Tony ạ”. Kate sửa chữa lại câu nói. “Ông ấy chỉ lấy lại cái thuộc về ông ấy mà thôi”.
“Cố nhiên rồi”, Tony nói. “Nhưng mà con đã đến nơi ấy. Không có sương mù, gọi là “mis”, nhưng vẫn còn… còn có người gác, chó và đủ… đủ mọi thứ”. Cậu nhe răng cười. “Họ không chịu cho con các mẫu kim cương”.
Kate cười vui vẻ. “Họ không cần phải cho con mẫu kim cương nào cả. Một ngày kia, tất cả sẽ thuộc về con”.
“Mẹ cứ nói với họ đi. Họ không… không chịu nghe… nghe lời con”.
Bà ôm hôn con trai. “Con vui thích thực sự, phải không?” Bà sung sướng, vì cuối cùng Tony đã tỏ ra thích thú với di sản của mình.
“M… mẹ có… có biết con thích cái gì nhất không?”
Kate cười âu yếm. “Cái gì hả con?”
“Màu sắc. Con… con vẽ nhiều phong cảnh ở đấy lắm. Con không muốn bỏ đi. Con muốn trở lại đó để… để vẽ”.
“Vẽ à?” Kate cố làm ra vẻ sốt sắng. “Có vẻ như đó là một trò giải trí thú vị đấy”.
“Không. Không phải là giải… giải trí đâu, m… mẹ ạ. Con muốn trở thành một hoạ… hoạ sĩ. Con đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Con sẽ… sẽ đi Paris để học. Con thực sự nghĩ con… con có nắng khiếu”.
Kate cảm thấy căng thẳng. “Chắc con không muốn suốt đời làm nghề vẽ ấy”.
“Có. Con muốn như vậy, m… mẹ ạ. Đó là thứ duy nhất con thích”.
Thế là Kate biết rằng mình phải mất Tony rồi.

Nó có quyền được sống cuộc đời của nó. Kate thầm nghĩ. Nhưng làm thế nào mình có thể để nó phạm phải một sai lầm kinh khủng như vậy được?
Đến tháng chín năm ấy, quyết định ấy đã vọt ra khỏi tầm tay của cả hai người. Âu châu lâm vào cuộc đại chiến.
“Mẹ muốn con ghi danh theo học trường tài chánh và thương mại Wharton”, Kate nói với Tony. “Sau hai năm, nếu con vẫn còn thích làm một nghệ sỹ, mẹ cũng sẽ không phản đối gì”. Kate chắc chắn rằng đến lúc ấy Tony sẽ thay đổi ý kiến. Khó có thể tưởng tượng được rằng con trai bà sẽ chịu sống cả cuộc đời tô những màu bôi bác lên những miếng vải vẽ, trong khi nó có thể đứng đầu một tổ hợp công ty lớn mạnh nhất thế giới. Dẫu sao chăng nữa, nó cũng là con trai bà.
Đối với Kate Blackwell, Đại chiến II lại là một cơ hội lớn lao khác nữa. Khắp thế giới đều thiếu thốn các loại trang bị và vật liệu quân sự, nhưng Kruger-Brent vẫn có khả năng cung cấp các thứ ấy cho họ.
Một phân cục sản xuất của công ty chuyên cung cấp trang bị cho các lực lượng võ trang, một phân cục khác phụ trách các nhu cầu dân sự. Các nhà máy của công ty sẽ làm việc hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn.
Kate chắc chắn rằng nước Mỹ sẽ không thể nào đóng vai trò trung lập được. Tổng thống Franklin D. Roosevelt kêu gọi xứ sở ông phải là một xưởng vũ khí đạn dược để phục vụ cho dân chủ, và dự thảo luật thuê mướn vũ khí, Lend Lease Contract, được thúc đẩy thông qua Quốc hội. Các tầu của Đồng minh vượt qua Đại Tây Dương bị đe doạ bởi cuộc phong toả của nước Đức. Các loại tầu ngầm Đức tấn công và đánh chìm hàng chục tầu thuyền của Đồng minh, chiến đấu theo từng đội gồm tám chiếc một.
Nước Đức trở thành một lực lượng khủng khiếp, có vẻ như không thể nào ngăn cản nổi. Bất kể đến Hiệp ước Versailles, Adolf Hitler đã xây dựng một trong các bộ máy chiến tranh lớn nhất trong lịch sử. Theo một kỹ thuật mới gọi là Blitzkrieg, Đức tấn công Ba Lan, Bỉ và Hà Lan, rồi lần lượt tiếp theo đó, bộ máy quân sự Đức nhanh chóng đè bẹp Đan Mạch, Na Uy, Luxembourg và Pháp.
Kate ra tay hành động khi bà nhận được tin rằng những người Do Thái làm việc trong các xưởng Kruger-Brent, đã bị quân Quốc xã tịch thu tài sản, bắt bớ và đày tới tại các trại tập trung. Bà gọi điện thoại hai lần, và trong tuần lễ kế tiếp, bà lên đường qua Thuỵ Sĩ. Khi đến khách sạn Baur ở Zurich, bà nhận được thư của đại tá Brinkmann ngỏ ý muốn gặp bà. Brinkmann là quản đốc chi nhán của Kruger-Brent ở Berlin. Khi xí nghiệp ở đấy bị chính phủ Đức trưng thu, ông ta được trao cấp bậc đại tá và được giữ lại để trông coi.
Ông ta đến gặp bà Kate Blackwell ở khách sạn. Đó là một người gầy còm, kỹ tính, với mái tóc hoe chải cẩn thận trên chiếc đầu gần như hói sọi. “Tôi rất hân hạnh được gặp bà, thưa bà Blackwell. Tôi có lời nhắn của Chính phủ chúng tôi gửi đến cho bà. Tôi được phép đưa ra lời bảo đảm rằng ngay khi cuộc chiến tranh này chấm dứt, các nhà máy của bà sẽ được trả lại cho bà. Nước Đức sẽ là một cường quốc công nghệ lớn nhất thế giới, và chúng tôi hoan nghênh những người cộng tác như bà”.
“Nhưng nếu nước Đức thua trận thì sao?”
Đại tá Brinkmanm cố nở một nụ cười trên môi, “Cả bà lẫn tôi đều biết rằng một chuyện như vậy không thể nào xẩy ra được, thưa bà Blackwell. Nước Mỹ đã không ngoan đứng ra bên ngoài các công việc của Âu châu. Tôi hi vọng rằng họ sẽ tiếp tục làm như vậy”.
“Chắc chắn là ông tin như vậy, Đại tá ạ”. Bà vươn người ra phía trước, nói tiếp, “Tôi đã nghe đồn rằng những người Do Thái đang bị đưa đến các trại tập trung và bị tiêu diệt. Điều ấy có đúng không?”
“Tôi đoán chắc với bà rằng đó chỉ là tuyên truyền của người Anh thôi. Đúng là người Do Thái được đưa đến các trại lao động, nhưng với tư cách là một sĩ quan, tôi xin cam đoan với bà rằng họ được đối xử một cách xứng đáng”.
Kate tự hỏi không biết ý nghĩa của câu nói ấy như thế nào. Bà dự định sẽ tìm hiểu cho ra.

Ngày hôm sau, bà có một cuộc hẹn với một thương gia hành đầu người Đức, tên là Ôtt Bueller, tuổi trạc ngũ tuần, là một người trông có vẻ sang trọng với một vẻ mặt thương xót và cặp mắt đã từng nhìn thấy nỗi đau khổ sâu sắc. Hai người gặp nhau trong một quán cà phê nhỏ. Bueller chọn một chiếc bàn ở góc vắng vẻ.
Kate nói khe khẽ, “Tôi được nghe nói ông đã khởi sự một tổ chức bí mật nhằm lén lút đưa người Do Thái tới các nước trung lập. Có đúng như vậy không?”
“Không đúng đâu, bà Blackwell ạ. Một hành động như thế bị xem là phản bội lại Đệ tam Cộng hoà Đức Quốc xã”.
“Tôi cũng có nghe nói ông đang cần ngân quỹ để hoạt động”.
Bueller nhún vai, “Vì không có tổ chức bí mật nào cả nên tôi cần gì phải có ngân quỹ để điều hành nó, phải thế không?”
Mắt ông nhình quanh ly cà phê với vẻ lo ngại. Đây là con người hít thở và ngủ với sự nguy hiểm mỗi ngày trong cuộc sống.
“Tôi hi vọng có thể giúp đỡ phần nào”, Kate nói một cách thận trọng. “Công ty Hữu hạn Kruger-Brent có nhà máy tại nhiều nước Đồng minh và trung lập. Nếu ai đó có thể đưa những người tị nạn đến các nơi ấy, tôi sẽ thu xếp cho họ có công ăn việc làm”.
Bueller vẫn tiếp tục ngồi nhấm nháp ly cà phê. Cuối cùng, ông nói, “Tôi không biết gì về chuyện này. Nhưng nếu bà quan tâm giúp đỡ một kẻ nào trong cơn hoạn nạn thì tôi xin giới thiệu một ông chú của tôi ở nước Anh. Ông ta đanh bị bệnh tê liệt kinh khủng lắm. Tiền thuốc thang rất cao”.
“Bao nhiêu?”
“Năm mươi nghìn đô la một tháng. Cần phải thu xếp làm sao để ký gửi số tiền trả các chi phí thuốc thang ở London, rồi chuyển số tiền ký gửi ấy cho một ngân hàng Thuỵ Sĩ”.
“Chuyện ấy có thể thu xếp được”.
“Ông chú tôi sẽ vui mừng lắm”.
Chừng tám tuần lễ sau, một làn song dân tị nạn, không lớn lắm nhưng đều đặn, bắt đầu tuôn đến các nước Đồng minh để làm việc tại các nhà máy Kruger-Brent.

Tony rời trường học sau hai năm học tập. Anh đi đến văn phòng của Kate để báo cho bà biết tin này. “Con… con đã cố… cố gắng, mẹ ạ, thực sự cố gắng nhưng con đã… quyết định rồi. Con muốn học… học hội hoạ khi nào chiến tranh chấm dứt, con sẽ đi… đi Paris”.
Mỗi lời nói như một nhát búa.
“Con… con biết m… mẹ thất vọng lắm, nhưng con phải sống cuộc sống của riêng con. Con biết con có thể khá… rất khá”. Anh nhận ra được vẻ mặt của Kate. “Con đã làm những gì mẹ yêu cầu con phải làm. Bây giờ mẹ phải… phải cho con một cơ hội làm theo ý muốn của con. Trường nghệ thuật Chicago đã chấp thuận cho con theo học”.
Đầu óc Kate quay cuồng. Những gì Tony muốn làm thật là sự phí phạm kinh khủng. Bà chỉ còn có thể thốt ra một câu hỏi, “Khi nào con dự định sẽ đi đến đó?”
“Ghi danh bắt đầu vào ngày mười lăm”.
“Hôm nay là ngày mấy?”
“Sáu, tháng mười hai”.
Ngày chủ nhật, mồng bảy tháng mười hai, năm 1941, các phi đội oanh tạc Nakajiama và phi cơ chiến đấu Zero của hải quân Hoàng gia Nhật tấn công Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), và ngày sau đó nước này lâm vào cuộc chiến. Trưa ngày hôm ấy, Tony đăng ký ra nhập thủy quân lục chiến Mỹ. Anh được đưa đến Quantico, Virginia, sau đó anh tốt nghiệp trường huấn luyện sĩ quan, rồi từ đó anh được đưa đến Nam Thái Bình Dương.
Cuộc chiến tranh với Nhật Bản tiến hành không mấy tốt đẹp. Các máy bay oanh tạc Nhật tấn công các căn cứ Mỹ ở Guam, Midway và đảo Wake. Quân Nhật chiếm cứ Singapore vào tháng hai năm 1942, rồi nhanh chóng tràn ngập New Britain, New Ireland, Admiralty và đảo Solomon. Tướng Douglas Mac Arthur buộc phải rút lui khỏi Phi Lập Tân. Các lực lượng dũng mãnh của phe Trục chậm rãi chinh phục toàn cầu, và bóng đen bao trùm khắp nơi. Kate lo sợ Tony bị bắt làm tù bình và bị hành hạ, tra tấn. Với tất cả quyền lực và ảnh hưởng của mình, bà không thể làm gì ngoài việc cầu nguyện. Mỗi lá thư của Tony là một tia hi vọng, một dấu hiệu cho biết rằng, một ít tuần lễ trước đó, Tony vẫn còn sống. “Họ không cho chúng con ở đây được biết chuyện gì cả”, Tony viết trong thư, “Người Nga còn giữ vững được không? Người lính Nhật tàn bạo, nhưng chúng ta phải kính phục họ. Họ không sợ chết…”
“Có chuyện gì xảy ra ở Mỹ? Các công nhân xí nghiệp có thực sự đình công để được lương cao hơn hay không?...”
“Loại tàu phóng ngư lôi “PT boat” hoạt động rất có hiệu quả ở đây. Những người điều khiển loại tàu ấy đều là những vị anh hùng cả…”.
“Mẹ có những quen biết lớn, vậy mẹ hãy gửi cho chúng con ít trăm chiếc tàu ngầm P4U, các chiến đấu cơ mới cho Hải quân. Rất nhớ mẹ…”

Ngày 7 tháng tám, 1942, quân Đồng minh bắt đầu các hoạt động tấn công của họ ở Thái Bình Dương. Thuỷ quân lục chiến của Mỹ đổ bộ ở Guadalcanal trên đảo Solomon, rồi từ nơi đó, họ chiếm lại các hòn đảo mà quân Nhật đã chiếm.
Ở Âu châu, phe Đồng minh vui mừng với một loạt thắng lợi liên tiếp. Ngày 6, tháng sáu, 1944, cuộc xâm lăng của phe đồng minh mở màn với các cuộc đổ bộ của quân Mỹ, Anh, Canada lên bãi biển Normandie, và một năm sau đó, ngày 7 tháng năm, 1945, nước Đức đầu hàng vô điều kiện.
Ở Nhật, ngày 6, tháng tám, 1945, một quả bom nguyên tử với sức tàn phá mạnh hơn hai mươi ngàn tấn TNT được thả xuống Heroshima. Ba ngày sau, một quả bom nguyên tử khác nữa được thả xuống thành phố Nagasaki. Ngày 14, tháng tám, người Nhật đầu hàng. Cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm máu cuối cùng đã kết thúc.

Ba tháng sau đó, Tony trở về nhà. Anh và bà Kate đang ở Dark Harbor, ngồi trên sân thượng nhìn xuống vịnh điểm lấm chấm những cánh buồm trắng xoá.
Chiến tranh đã làm cho nó thay đổi, Kate thầm nghĩ. Tony biểu lộ những nét trưởng thành mới mẻ. Anh đã để râu mép mỏng, nước da rám nắng, trông đẹp trai, khoẻ mạnh. Quanh mắt anh có những vệt nhăn, trước kia không thấy. Kate tin chắc rằng những năm sống ở nước ngoài đã cho anh thời gian suy xét lại quyết định không làm việc cho công ty.
“Bây giờ con dự tính làm gì, hở con?” Kate hỏi.
Tony mỉm cười. “Như con đã nói với mẹ trước đây, các dự tính của mình bị làm gián đoạn một cách thô bạo, mẹ ạ. Con sẽ đi Paris”.
0
CHƯƠNG XXVIII.
Từ ngày còn bé , Eve Blackwell đã ý thức được khả năng vận động mọi người xung quanh bằng những mánh khoé không ranh. Trước kia , đó là một thứ trò chơi đối với nàng , nhưng bây giờ nó là một cuộc vận động nghiêm chỉnh rất nguy hiểm. Nàng đã bị đối xử tồi tệ , đã bị tước đi tài sản đáng lẽ thuộc về nàng một cách chính đáng , bởi cô em ruột nhiều mưu mô và một bà nội già đầy thù hận. Những người này phải trả giá đắt cho những gì họ đã gây cho nàng. Ý nghĩ này tạo cho nàng một niềm vui thích đến tột độ. Mạng sồng của họ bây giờ nằm trong tay nàng.
Eve chuẩn bị kế hoạch của nàng rất tỉ mỉ và cẩn thận , phối hợp mọi động tác một cách ăn ý. Thoạt tiên , George Mellis do dự chưa muốn tham gia vào cuộc âm mưu này.
" Lạy Chúa , cái trò này nguy hiểm lắm.Tôi chẳng muốn dính líu váo một việc như thế này ," anh ta cãi lại." Tôi cầnbao nhiêu tiền thì cũng có thể có được , cần gì làm chuyện ấy."
" Bằng cách nào kia chứ?" Eve hỏi với vẻ khinh bỉ." Bằng cách ăn nằm với những cô gái tóc xanh béo phục phịch ấy à? Anh định sống suốt đời như vậy hay sao? Thế rồi đến lúc anh béo thêm một chút nữa , bắt đầu có những vết nhăn xung quanh mắt , thì chuyện gì sẽ xảy ra với anh? Không , George ạ , anh sẽ không bao giờ có được một cơ hội tốt như thế này đâu. Nếu anh chịu nghe tôi , anh và tôi sẽ có thể làm chủ cả một tổ hợp công ty lớn lao nhất thế giới. Anh nghe không? Hãy làm chủ cả một cơ nghiệp lón lao như vậy."
" Làm sao mà em biết rằng kế hoạch này sẽ thành công?"
" Bởi vì tôi là người hiểu rõ nhất về bà nội và em gái tôi. Cứ tin tôi đi , kế hoạch này sẽ thành công."
Eve nói với vẻ tin tưởng , nhưng vẫn có chút dè dặt , và chính những sự dè dặt này khiến cho Mellis lo lắng. Eve biết rằng có thể đóng được vai trò của nàng , nhưng chưa chắc rằng Mellis có khả năng làm như vậy. Y có vẻ lưỡng lự , không ổn định , nhưng trong việc thực thi kế hoạch này , hko6ng được phép có sai lầm. Chỉ một lỗi lầm nhỏ , cả kế hoạch sẽ bị tan vỡ.
Lúc này , nàng nói với Mellis." Quyết định đi. Anh định dấn thân vào hay rút ra?"
Mellis nhìn nàng một lúc như dò xét." Dấn vào." Y sáp lại gần Eve , vuốt vai nàng." Dấn vào cho đến tận cùng."
Eve cảm thấy cơn dục tình của nàng dâng lên khắp người " Được rồi" nàng thì thầm , " nhưng tôi làm theo cách của tôi."
Chỉ qua một đêm , mọi thứ đều thay đổi đối với Alexandra. Những gì đã xảy ra và xem như là hoạt động cuối cùng của nàng ở hãng Berkley và Matthews đã trở thành một sự đắc thắng của nàng. Từ một kẻ bị gạt ra ngoài lề, nàng đã trở thành một nữ anh hùng. Tin tức về hành động tinh nghịch của nàng lan rộng khắp đại lộ Madison Avenue.
" Chị đã trở thành một huyền thoại ngoài giờ làm việc."
Bây giờ nàng đã trở thành một người trong bọn họ rồi.
Alexandra ham thích công việc của nàng , đặc biệt là những buổi họp đưa ra sáng kiến diễn ra mỗi buổi sáng. Nàng biết rằng đó không phải là công việc nàng sẽ làm suốt đời , nhưng thực sự nàng không biết chắc chắn nàng muốn làm gì. Đã có ít nhất hàng chục nơi cầu hôn và nàng cũng đã siêu lòng trong một vài trường hợp , nhưng vẫn có cái gì đó còn thiếu. Vấn đề đơn giản là nàng chưa tìm ra được người hợp ý với nàng.
Một buổi sáng thứ sáu , Eve điện thoại cho Alexandra mời nàng cùng ăn cơm trưa. " Có một tiệm ăn Pháp vừa mới mở cửa. Chị nghe nói thức ăn ở đó ngon lắm."
Alexandra rất vui sướng được biết tin về Eve. Nàng rất lo cho chị. Alexandra đã điện thoại hai , ba lần một tuần lễ cho Eve , nhưng lần nào Eve cũng hoặc đi vắng , hoặc quá bận rộn không gặp được nàng. Lúc này , dù Alexandra đã có một cuộc hẹn , nàng nói ," Em rất thích được ăn cơm trưa với chị."
Tiệm ăn thật sang trọng và đắt tiền , và ở quầy hàng , có rất đông khách còn chờ đợi các bàn trống. Eve đã phải sử dụng tên bà nội nàng để đặt trước một bàn ăn. Điều này làm nàng khó chịu ,nhưng nàng nghĩ , " Cứ chờ đấy , rồi một ngày kia các người sẽ phải van lạy ta đến ăn tại tiệm ăn bẩn thỉu này ," Eve đã ngồi sẵn tại đó khi Alexandra bước vào. Nàng nhìn theo Alexandra trong khi người trưởng nhóm hầu bàn dẫn Alexandra đến bàn ăn , rồi tự nhiên nàng có cảm giác kỳ lạ là nàng đang nhìn chính mình đi lại gần chiếc bàn.
Eve chào em bằng một nụ hôn trên má." Em trông xinh đẹp quá , Alexandra ạ , công việc làm có vẻ thích hợp với em lắm thì phải."
Họ gọi thức ăn và hỏi han nhau về cuộc sống của mỗi người.
" Công việc làm của em thế nào?" Eve hỏi.
Alexandra kể lại cho chị nghe tất cả những gì đã xảy ra với nàng. Eve cũng cẩn thận kể lại các hoạt động theo lối riêng của nàng. Trong lúc hai người đang trò chuyện , Eve đưa mắt nhìn lên , George Mellis đang đứng ở đấy. Anh nhìn hai người , hơi có vẻ bối rối trong chốc lát." Lạy Chúa." Eve nghĩ thầm " anh ta không biết mình là người nào trong hai người !"
"George !" nàng nói.
Anh quay lại về phía nàng , mừng rỡ." Eve !"
Eve nói , "thật là một sự ngạc nhiên thú vị". Nàng hất đầu về phía Alexandra."chắc anh chưa gặp em gái tôi. Alex , chị xin giới thiệu em anh George Mellis."
George cầm lấy tay Alexandra và nói , "Hân hạnh." Eve đã cho anh biết rằng nàng là em sinh đôi , nhưng anh không nghĩ rằng họ giống hệt nhau đến như vậy.
Alexandra nhìn Mellis , chằm chằm , có vẻ thán phục.
Eve nói ," Anh vui lòng ngồi ăn với chúng tôi chứ?"
" Tôi rất muốn thế nhưng tôi đang trễ một cuộc hẹn. Xin lần khác vậy " Anh nhìn Alexandra." hi vọng sẽ có một dịp khác gần đây nhất."
Hai người nhìn theo Mellis bước ra ngoài." Trời ơi! ai vậy , hở chị?" Alexandra hỏi.
" À , anh ấy là một người bạn của Nita Ludwig. Chị gặp anh ấy trong một bữa tiệc tai nhà Nita."
" Không biết em có điên rồ hay không , chứ em thấy anh ấy đẹp trai quá. Có thật như vậy không , chị?".
Eve cười to." Anh ta không thuộc "týp " người của chị , nhưng các cô gái thì hình như cho rằng anh ta hấp dẫn lắm."
"Em cũng nghĩ như vậy. Anh ấy có vợ chưa nhị?"
" Chưa ,nhưng không phải là vì các cô gái không cố ve vãn anh ta hết mình , em ạ. George giàu có lắm. Có thể nói rằng anh ta có đủ mọi thứ : dáng vẻ bề ngoài , tiền của , gốc gác xã hội." Sau đó , Eve khôn khéo nói lảng sang chuyện khác.
Khi Eve yêu cầu người chiêu đãi viên đưa phiếu tính tiền bữa ăn thì người ấy nói cho nàng biết rằng ông Mellis đã trả tiền rồi.
Alexandra không thể nào ngưng suy nghĩ về George Mellis.
Trưa thứ hai, Eve gọi điện thoại cho Alexandra và nói ," Có vẻ như em đã bắn trúng đích rồi đấy , em ạ. George Mellis vừa gọi điện thoại cho chị , hỏi số điện thoại của em. Em có cho phép chị cho anh ấy số điện thoại không?"
Alexandra ngạc nhiên thấy mình nở một nụ cười." Nếu chị tin chắc rằng , chị không thích anh ấy thì.....".
" Chị đã nói với em rồi. Anh ấy không hợp với "týp" người của chị."
" Vậy thì chị cho anh ta số điện thoại của em cũng không hề gì."
Hai người nói chuyện với nhau thêm ít phút nũa , rồi Eve đặt điện thoại xuống. Nàng ngước mắt nhìn Mellis , đang nằm trần truồng bên cạnh nàng trên giường." Cô ấy bằng lòng rồi."
" Bao giờ?"
" Khi nào tôi bảo anh."
Alexandra cố quên chuyện Mellis sẽ gọi điện thoại đến nàng , nhưng càng cố gạt ra khỏi đầu óc , nàng lại càng nhớ đến anh ấy. Nàng chưa hề đặc biệt chú ý đến những người đàn ông đẹp trai , vì nàng thấy đa số những người ấy thường tự cho mình là trung tâm. Nhưng George Mellis , theo nàng nghĩ , có vẻ khác họ. Anh ta có một sức mạnh thu hút kỳ lạ. Anh chỉ cần sờ vào bàn tay là nàng đã thấy rung động cả người." Mình điên rồ quá." nàng tự nhủ ," Mình chỉ mới thấy anh ta trong hai phút thôi."
Mellis không gọi điện thoại cho nàng trong suốt tuần lễ ấy , các cảm xúc của nàng đi từ chỗ sốt ruột đến thất vọng , rồi đến giận dữ." Kệ anh ta " Nàng nghĩ." Chắc là anh ta đã gặp một người nào khác rồi. Như thế lại càng hay !"
Vào cuối tuần lễ , chuông điện thoại của Alexandra kêu vang. Nàng nghe tiếng trầm trầm , khàn khàn của chàng , Nỗi giận dữ tiêu tan như do một phép lạ.
" George Mellis đây," Chàng nói." Chúng ta gặp nhau quá ngắn ngủi , khi cô và chị cô dùng cơm trưa với nhau. Eve nói cô cho phép tôi gọi điện thoại cho cô."
" Nhưng chị ấy không nói rằng anh sẽ gọi điện thoại cho tôi ". Alexandra nói một cách tự nhiên. " Tiện thể đây tôi xin cám ơn anh về bữa ăn hôm đó."
" Cô xứng đáng cả một bữa tiệc lớn , chứ như thế thì có gì."
Alexandra cười vui thích với cái lối nói cường điệu ấy của chàng.
" Không biết cô có vui lòng đến ăn cơm với tôi một buổi tối nào đó không?"
" Về chuyện ấy thì... Vâng. Như thế cũng tốt ,"
" Vậy thì tuyệt đối. Nếu cô từ chối thì có lẽ tôi đến phải tự tử mất."
" Đừng làm thế chứ ," Alexandra nói." Tôi cũng không thích ăn một mình."
" Tôi cũng vậy.Tôi biết có một tiệm ăn nhỏ trên đường Mulberry , tên là Matoon's. Ở đó rất tối , nhưng thức ăn thì..."
" Matoon's à? Tôi thích nơi ấy lắm ! Alexandra kêu lên." Đó là nơi tôi thích nhất."
" Cô biết nơi ấy à?" Giọng anh ta có vẻ ngạc nhiên.
" Ồ , có chứ."
George nhìn qua Eve , rồi nhoẻn miệng cười. Anh phải phục cái tài khôn ranh của cô gái này. Nàng đã nói cho Mellis biết tất cả những cái thích và không thích của Alexandra. George Mellis đã biết mọi thứ cần phải biết về cô em gái của Eve.
Khi Mellis đặt điện thoại xuống. Eve nghĩ thầm ," Thế là mọi sự đã bắt đầu."
Thật là một buổi tối tuyệt vời nhất trong đời Alexandra. Một giờ trước khi Mellis đến , anh đã gửi đến cho nàng một tá bong bóng màu hồng , với một đóa hoa ngọc lan buộc vào trong đó. Alexandra , trước đó , đã lo sợ rằng trí tưởng tượng có thể khiến cho nàng mong đợi quá nhiều , nhưng ngay khi nàng gặp lại Mellis , tất cả mọi nghi ngờ của nàng đều tiêu tan. Một lần nữa , nàng thấy sức thu hút của anh mạnh mẽ như là nam châm.
Hai người uống rượu với nhau ở nhà , rồi sau đó cùng đi đến tiệm ăn.
" Cô có muốn xem qua thực đơn không?" George Mellis hỏi." Hay là để tôi gọi cho cô vậy?"
Alexandra đã có sẵn những món nàng vẫn ưa thích ở nhà hàng này , nhưng để làm vui lòng Mellis nàng nói ," Sao anh không chọn đi?"
Mellis chọn toàn những món Alexandra ưa thích , khiến cho nàng có cảm giác say sưa rằng chàng đã đọc được các ý nghĩ của nàng. Họ cùng ăn món ác ti sô nhồi thịt thứ bò non Matoon , một đặc sản của nhà hàng , và món "tóc tiên " , tức là một thứ mì sợi rất ngon. Họ cũng ăn một đĩa xà lách mà Mellis tự trộn lấy ở bàn ăn một cách thật là thành thạo.
" Anh quen nấu ăn lắm à?"
"À , đó là một trong các thú vui của tôi. Chính mẹ tôi đã dạy tôi. Bà ấy nấu nướng rất giỏi ".
" Anh có ở gần gia đình không , anh George?"
Anh tủm tỉm cười. Alexandra cho rằng đó là một nụ cười đẹp nhất nàng chưa từng thấy.
" Tôi là một người Hi lạp " , Mellis nói một cách đơn giản. Tôi là con trai trưởng với ba em trai và hai em gái , thế nhưng chúng tôi như là một ". Một vẻ buồn thoáng qua trên mặt anh." Phải xa chúng nó thật là đau lòng hết sức. Cha tôi và các em trai tôi cứ năn nỉ tôi đừng đi. Chúng tôi có một cơ sở kinh doanh lớn nên họ rất cần có tôi ở nhà ".
" Thế sao anh không ở nhà?"
" Có lẽ cô nghĩ rằng tôi điên rồ , nhưng thật ra tôi muốn tự lập thân. Tôi lúc nào cũng không muốn nhận quà tặng của bất cứ ai , mà cơ sở kinh doanh ấy lại là một món quà được truyền lại từ ông tôi cho đến cha tôi. Không , tôi không muốn lấy chút gì của cha tôi cả. Cứ để cho các em trai lấy hết phần của tôi cũng được ".
Alexandra cảm phục Mellis quá trời !
" Hơn thế nữa " Mellis nói thêm bằng giọng khe khẽ. Nếu tôi ở lại Hi lạp, tôi chắc chẳng bao giờ gặp được cô "
Alexandra cảm thấy mặt nàng đỏ bừng lên." Anh chưa bao giờ lấy vợ hay sao?"
" Chưa. Tôi vẫn thường hứa hôn mỗi ngày một lần", Mellis làm ra vẻ như nói đùa ," nhưng cứ đến lúc sắp thành hôn thì lần nào tôi cũng cảm thấy có cái gì đó không ổn ". Y vươn người về phía trước , nói với giọng nghiêm chỉnh , " Cô Alexandra ạ , cô có thể cho rằng tôi là một con người xưa cổ , thế nhưng một khi đã thành hôn rồi thì cuộc hôn nhân ấy là vĩnh cửu. Đối với tôi chỉ một người đàn bà là đủ , nhưng phải là một người đàn bà xứng đáng ".
" Tôi cho rằng như vậy rất tốt " , nàng nói thì thầm.
" Thế còn cô?" Mellis hỏi." Cô có yêu bao giờ chưa?"
" Chưa ".
" Thật là không may cho một kẻ nào đó , nhưng rất may mắn cho...."
Ngay lúc ấy , người hầu bàn đem món tráng miệng đến. Alexandra đang nóng lòng muốn yêu cầu chàng nói nốt câu chàng vừa bỏ giở , nhưng nàng e ngại không dám.
Alexandra chưa hề bao giờ cảm thấy thoải mái hoàn toàn với bất cứ ai. Mellis có vẻ thực sự quan tâm đến nàng , khiến cho nàng buộc miệng kể cho chàng nghe về thời niên thiếu của nàng , những kinh nghiệm nàng đã tích lũy và ấp ủ.
George tự cho mình là một tay thành thạo về đàn bà. Anh biết rằng đàn bà xinh đẹp thường cảm thấy rất bất an , vì đàn ông thường tập trung sự chú ý của họ vào sắc đẹp đó , khiến cho đàn bà có cảm tưởng họ là những đồ vật chứ không phải là những con người. Khi Mellis ở bên cạnh một người đàn bà đẹp , anh không bao giờ đề cập đến sắc đẹp của nàng. Anh làm cho người đàn bà cảm thấy rằng anh yêu thích trí óc , tâm hồn của họ , rằng anh là người bạn tinh thần cùng chia sẻ với nàng các giấc mơ. Đó là một kinh nghiệm rất lạ lùng đối với Alexandra. Nàng kể cho Mellis nghe về bà nội Kate và về Eve.
" Chị cô không ở với cô và nội sao?"
" Không. Chị ấy.... Eve muốn có một căn hộ riêng".
Alexandra không thể nào tưởng tượng được vì sao Mellis không bị thu hút bởi người chị ruột của nàng. Dù lý do thế nào chăng nữa , nàng cũng mừng thầm. Trong lúc đang ăn cơm , Alexandra để ý rằng mọi cô gái ở nơi ấy đều biết Mellis , nhưng anh ta không hề nhìn quanh quất một lần nào , cũng không bao giờ rời mắt khỏi nàng.
Vào lúc uống cà phê, Mellis nói ," Tôi không biết cô có thích nhạc Jazz không , nhưng ở đường St Market's Place có một câu lạc bộ , gọi là Five Spot..."
" Đó chính là nơi Cecil Tayler vẫn thường chơi ".
Mellis trố mắt nhìn Alexandra với vẻ ngạc nhiên." Cô đã đến nới ấy rồi chăng?"
" Rất nhiều lần !" Alexandra cười hớn hở." Tôi rất thích nhạc sĩ ấy !thật lạ lùng đến độ khó tin ! Không hiểu sao chúng ta có những sở thích giống nhau thế !"
Mellis lặng lẽ đáp lại." Nó giống như là một phép lạ".
Hai người ngồi nghe Cecil Tayler chơi dương cầm , rồi họ cùng đi đến một quán rượu trên đường Blcecher , nơi đó các khách hàng uống rượu , ăn bắp ngô rang , ném phi tiêu và nghe chơi dương cầm. Alexandra ngồi nhìn trong khi Mellis đang thi ném phi tiêu với một khách hàng thường xuyên ở nơi này. Người ấy chơi rất giỏi , nhưng anh ta không thắng được một lần nào. Mellis chơi một cách hăm hở , đầy nhiệt tình ,trông thật đáng sợ. Đó chỉ là một trò chơi , nhưng anh chơi như thể nó là một cuộc đấu tranh sống còn. Anh ta là một con người lúc nào cũng phải thắng , Alexandra thầm nghĩ.
Lúc hai người rời quán rượu thì đồng hồ đã chỉ hai giờ sáng. Alexandra không muốn buổi tối hôm ấy chấm dứt.
Mellis ngồi bên cạnh Alexandra trong chiếc xe Rolls Royce do tài xế lái , mà anh ta đã thuê. Anh không nói lời nào mà chỉ nhìn vào mặt nàng. Hai chị em giống nhau đến kỳ lạ. Anh nghĩ thầm , " Không biết thân hình của họ có giống nhau không nhỉ?" Anh tưởng tượng Alexandra đang nằm trên giường với anh , quằn quại và la thét vì đau đớn.
" Anh đang nghĩ gì vậy?" Alexandra hỏi.
" Không , tôi sẽ không cười. Tôi hứa đấy ".
" Nếu cô có cười thì tôi cũng không trách cô được. Tôi cho rằng tôi bị xem như là một kẻ ăn chơi. Cô cũng hiểu rõ cuộc đời - những cuộc đi chơi bằng du thuyền , tiệc tùng và bao nhiêu những thứ khác".
" Vâng..."
Đôi mắt đen của anh dán chặt vào Alexandra." Tôi nghĩ rằng cô là người đàn bà có thể thay đổi tất cả các thứ ấy. Mãi mãi ".
Alexandra cảm thấy mạch máu của nàng đập nhanh hơn." Em...em không biết nói làm sao ",
" Xin em đừng nói một tiếng nào nũa". Đôi môi chàng gần sát với môi nàng. Alexandra đã sẵn sàng. Nhưng Mellis không tiến thêm một bước nào nữa. " Đừng có tấn công trước " , Eve đã căn dặn chàng.
" Nhất là vào đêm đầu tiên. Nếu anh làm như vậy , anh sẽ trở thành một trong những chàng Romeo đang xếp hàng hai khao khát một cách vô hiệu quả được đặt bàn tay lên người nàng và lên tài sản của nàng. Phải để cho nàng tiến lên trước ".
Vì vậy , Mellis chỉ cầm lấy tay nàng cho đến khi chiếc xe hơi nhẹ nhàng đỗ trước tòa lâu đài Blackwell. Alexandra dẫn chàng đến cánh cửa trước. Nàng quay lại nói với chàng ," Em không thể nói đêm nay em đã được vui thích đến thế nào ".
" Thật là một đêm kỳ diệu đối với anh".
Nụ cười của Alexandra đủ rạng rỡ để chiếu sáng cả đường phố.
" Chào anh George Mellis " , nàng thì thầm , rồi biến mất vào trong căn nhà.
Mười lăm phút sau , điện thoại trong phòng ,Alexandra reo vang." Em có biết anh vừa làm gì không? Anh gọi điện thoại cho gia đình anh.Anh kể lại cho họ nghe về người con gái tuyệt vời anh mới gặp tối nay. Em ngủ ngon nhé , Alexandra ".
Đặt điện thoại xuống. George Mellis suy nghĩ." Sau khi nó với mình cưới nhau rồi , mình sẽ gọi điện thoại cho gia đình mình.... rồi bảo cho họ biết mình sẽ không cần đếch gì họ nữa".


0
poiuy đang gõ chương 28-30 cho xong, nhưng thấy bạn buingocthuylinh gõ rồi thì thôi. Poiuy sẽ sang các truyện khác. cố gắng lêng nhé BNTL. [:D]
0

Trích đoạn: poiuy

poiuy đang gõ chương 28-30 cho xong, nhưng thấy bạn buingocthuylinh gõ rồi thì thôi. Poiuy sẽ sang các truyện khác. cố gắng lêng nhé BNTL. [:D]

poiuy ơi , ban gõ dùm mình chương 30 đi , mình chỉ gõ được tới chương 29 hà. vì bây giờ mình bận thi cuối kỳ rồi , bận viết nhiều báo cáo quá ,nên không có thời gian gõ , bạn gõ dùm mình chương 30 nha. Cám ơn nhiều. để xem thi xong coi mình có đi làm kiếm tiền năm tới học không đã , chắc có lẽ đầu năm học tới mình mới trở về gõ được nữa quá. các bạn thông cảm nha.
0
CHƯƠNG XXIX.
Alexandra không còn nhận tin tức gì về George Mellis nữa. Không có tin gì ngày hôm nay , rồi đến ngày kế tiếp , rồi suốt cả tuần cũng vậy. Mỗi lần điện thoại reo vang nàng lại chồm đến , nhặt ống nghe lên, nhưng lần nào nàng cũng bị thất vọng. Nàng không hiểu đã xảy ra chuyện gì. Nàng cố gợi lại trong trí nhớ kỷ niệm tối hôm ấy :" Anh nghĩ em là người duy nhất có thể thay đổi tất cả những thứ ấy " và " Anh đã gọi điện thoại cho ba mẹ và các em của anh , và nói cho họ biết về người con gái tuyệt vời anh đã gặp đêm nay ". Alexandra kiểm điểm trong đầu óc một loạt các lý do mà nàng cầu mong là có thực để giải thích vì sao chàng đã không gọi điện thoại cho nàng.
Phải chăng nàng đã làm mất lòng chàng bằng cách nào đó mà nàng không biết?
Chàng mến nàng quá và sợ phải si mê nàng nên đã quyết định không gặp lại nàng lần nữa?
Chàng đã đi đến quyết định rằng nàng không phải là "týp" người thích hợp với chàng?
Chàng đã gặp một tai nạn khủng khiếp và bây giờ đang nằm bất động tại một bệnh viện nào đó?
Chàng đã chết rồi?
Không còn chịu đựng được nữa , Alexandra điện thoại cho Eve. Nàng cố gắng nói chuyện lảm nhảm một lúv trước khi bật mồm nói ra , Eve này , chị có nghe được tin tức gì về George Mellis không?"
" À , không. Chị tưởng rằng hôm ấy anh ta mời em đi ăn cơm tối chứ?"
" Có , chúng em ăn cơm tối với nhau tuần trước ".
"Thế mà từ đó em không nhận được tin tức gì về anh ta cả à?"
" Không ".
" Có lẽ anh ta bận"
không ai bận đến như vậy cả , Alexandra thầm nghĩ. Nàng nói to ," có lẽ vậy ".
" Thôi quên anh ta đi , em ạ. Có một chàng trai người Gia nã đại rất hấp dẫn : chị muốn giới thiệu anh ta cho em.Anh ta làm chủ một hãng hàng không..."
Khi Eve gác máy điện thoại , nàng ngã người trên ghế tủm tỉm cười. Nàng ước mong làm sao bà nội có thể biết được nàng đã sắp đặt mọi thứ một cách tuyệt vời như thế nào.
" Này , có chuyện gì làm chị bực dọc thế? " Alice Koppel hỏi.
" Xin lỗi " , Alexandra đáp.
Alexandra gắt gỏng với mọi người vào tất cả mọi buổi sáng. Đã mấy tuần lễ rồi , nàng không có tin tức gì về George Mellis cả. Nàng giận dữ - không phải nàng giận Mellis , mà giận bản thân mình đã không thể nào quên được chàng. Anh ta có nợ gì nàng đâu. Họ là những kẻ lạ gặp nhau một buổi tối , thế mà nàng làm như là nàng đang chờ đợi anh ta phải cưới nàng. George Mellis có thể cưới bất cứ người đàn bà nào trên thế gian này. tại sao chàng lại có thể thích nàng được?
Ngay đến cả bà nội nàng cũng nhận ra tính khí cáu kỉnh ấy của nàng." Có chuyện gì vậy , hở cháu? Có phải ở hãng ấy , họ bắt đầu làm việc nhiều quá không?"
" Không, bà ạ. Chỉ có điều là gần đây cháu... cháu ngủ không được ngon thôi".
Khi nào nàng ngủ được thì nàng lại có những giấc mơ tình ái với George Mellis. Mẹ kiếp anh chàng ấy ! giá như Eve đừng giới thiệu anh ta với nàng thì hay cho nàng biết bao nhiêu !
Trưa ngày hôm sau , có điện thoại gọi đến nàng ở sở làm." Alex? George đây " Làm như thể nàng không từng nghe giọng nói trầm trầm ấy trong các giấc mơ !
"Alex? Em có ở đấy không?"
" Có , em ở đây ". Lòng nàng rộn lên với những cảm xúc lẫn lộn. Nàng không biết nên khóc hay nên cười. Anh chàng ấy vô tình , ích kỷ , chỉ biết có mình , còn nàng thì không còn quan tâm đến chuyện gặp chàng lại nữa hay không.
George Mellis xin lỗi."Anh muốn gọi em sớm hơn , thế nhưng anh mới từ Athens trở về cách đây mấy phút ".
Trái tim của Alexandra như mềm đi." Mấy lâu nay anh ở Athens sao?"
" Phải. Em có nhớ đêm chúng mình ăn cơm chung với nhau không?"
Dĩ nhiên là Alexandra còn nhớ.
" Sáng hôm sau , người em trai của anh , tên là Steve, gọi điện thoại cho anh , nói rằng bố anh lên cơn đau tim ".
" Trời George !" Nàng cảm thấy mình tội lỗi vì đã nghĩ đến những điều kinh khủng về Mellis." Bây giờ ông ấy thế nào?"
" Cũng sắp khỏi rồi , cám ơn Trời ! Thế nhưng anh cảm thấy mình như bị xé ra từng mảnh. Ông van nài anh trở về Hi lạp để thay ông trông nom công việc kinh doanh ".
" Anh có sẽ về đó không?" Nàng nín thở , chờ đợi câu trả lời.
" không".
Nàng thở phào một cái.
" Anh biết rằng bây giờ nơi ở của anh là ở đây. Không có một ngày nào hay một giờ nào mà anh không nghĩ đến em. Khi nào gặp được em?"
Ngay bây giờ !" Tối nay , em rảnh có thể đi ăn cơm với anh được".
Mellis lại muốn nêu tên một tiệm ăn mà nàng ưu thích. Nhưng thay vì làm như vậy , anh nói , " Thế thì tuyệt. Em muốn chúng mình ăn ở đâu nào?"
" Nơi nào cũng được. Hay là anh ăn cơm ở nhà em vậy?"
" Không được ". Anh chưa sẵn sàng gặp mặt bà Kate Blackwell. Eve đã dặn anh ," Trong trường hợp , phải cố gắng tránh xa bà Blackwell vào lúc này. Bà ấy sẽ là một chướng ngại vật lớn lao nhất cho anh đấy ". Mellis liền nói." Anh sẽ đến đón em vào lúc tám giờ ".
Alexandra gác máy điện thoại , hôn lên má Alice Koppel , Vince Barnes và Marty Bergheimer và nói." Tôi phải đi đến hiệu làm tóc. Sẽ gặp các anh chị ngày mai".
Họ nhìn theo Alexandra đi ra khỏi phòng.
" Lại một anh chàng nào đó rồi ", Alice Koppel nói.
Hai người ăn cơm tối tại nhà hàng Maxwell's Plum. Một người trưởng nhóm hầu bàn dẫn họ đi ngang qua một quầy rượu hình móng ngựa đông ngẹt khách khứa , gần cửa ra vào , rồi đi lên cầu thang đến phòng ăn.Họ gọi các món ăn.
" Em có nghĩ gì đến anh không , lúc anh đi vắng?"
"Có ". Nàng cảm thấy hoàn toàn chân thật với chàng trai này - một con người lúc nào cũng rất cởi mở và nhạy cảm." Không được tin anh , em cứ hay nghĩ đến một chuyện gí khủng khiếp có thể xảy ra. ồi em đâm ra hoảng sợ. Em tưởng rằng không thể chịu đựng thêm được một ngày nữa".
Phải cho Eve mười điểm trên mười mới được , Mellis nghĩ thầm. Eve đã bảo anh , " Ngồi yên tại chỗ. Tôi sẽ nói cho anh biết rằng lúc nào thì nên điện thoại cho Alexandra ". Lần đầu tiên , Mellis có cảm tưởng rằng kế hoạch này sẽ có hiệu quả thực sự. Cho đến lúc này , anh để nó gậm nhấm ở bên rìa trí óc anh , đùa rỡn với ý tưởng sẽ kiểm soát được tài sản lớn không tưởng tượng nổi của gia đình Blackwell , nhưng anh không dám thực sự tin tưởng vào điều ấy. Nó chỉ là một trò chơi mà anh và Eve đang cùng tham dự. Nhìn Alexandra , lúc này đang ngồi trước mặt , cặp mắt tràn đầy yêu thương , George biết rằng nó không còn là một trò chơi nữa. Alexandra đã thuộc về anh rồi. Đây chỉ là bước đầu tiên trong kế hoạch. Những bước sau có lẽ nguy hiểm hơn , nhưng với sự giúp đỡ của Eve , anh có thể đảm đương nổi một cách thành công.
Eve đã nói ," Chúng ta sẽ cùng tham dự vào vụ này suốt từ đầu đến cuối , George ạ , rồi chúng ta sẽ chia sẻ với nhau tất cả mọi thứ cho đến tận phần ở giữa"
George Mellis không tin tưởng vào những kẻ hợp tác với mình. Khi anh ta đã có thứ gì anh ta thích , khi anh ta đã chiếm được Alexandra rồi thì lúc ấy anh sẽ thanh toán với Eve. Ý nghĩ này khiến anh ta vui thích vô cùng.
" Anh cười gì vậy?" Alexandra hỏi.
Anh đặt bàn tay lên tay nàng. Sự động chạm này khiến nàng cảm thấy ấm áp." Anh đang nghĩ chúng mình ngồi bên nhau ở đây thật là hạnh phúc biết bao. Nghĩ đến chúng mình sẽ ở gần bên nhau tại bất cứ nơi nào ". Anh móc từ trong túi ra một chiếc hộp nữ trang." Anh đem thứ này từ Hi lạp để tặng em".
" Trời, George...."
" Em mở ra xem. Alex "
Bên trong là một chuỗi kim cương đeo ở cổ , đẹp đẽ tuyệt vời.
" Thật là đẹp".
Đó chính là chuỗi nữ trang đã lấy của Eve.
Eve đã nói với Mellis ," Cứ đưa cái này cho nó, không sợ gì đâu. Nó chưa từng thấy cái chuỗi ấy ".
" Anh cho em thế này là quá nhiều. Thật đấy ".
" Như thế chưa hẳn là đủ.Anh muốn nhìn thấy em đeo nó lên cổ ".
"Em... em " Alexandra run lên." Cám ơn anh ".
Mellis nhìn vào đĩa ăn của nàng. "Em chưa ăn gì cả "
" Em không đói ".
Anh lại nhìn vào ánh mắt của Alexandra lần nữa , rồi cảm thấy sức mạnh quen thuộc trong con người anh bắt đầu dâng lên. Anh đã nhìn thấy ánh mắt của không biết bao nhiêu đàn bà : những người đàn bà xinh đẹp xấu xí , giàu có , nghèo khổ.Anh đã sử dụng tất cả bọn họ. Bằng cách này hay cách khác, họ đều đã cho anh thứ gì đó. Nhưng cô gái này sẽ cho anh nhiều hơn là tất cả những người ấy gộp lại.
" Vậy em muốn làm gì nào?" Giọng nói khàn khàn của anh là một lời mời mọc.
Nàng chấp nhận nó một cách đơn giản và cởi mở " Em muốn ở gần anh".
George Mellis có đủ lý do để tự hào về căn hộ của y. Nó là một căn hộ đẹp đẽ , sang trọng , được trang bị bởi những người yêu biết ơn y - cả đàn ông lẫn đàn bà - những kẻ đã mua chuộc tình cảm của y bằng những món quà đắt tiền , và đã thành công , một sự thành công lúc nào cũng chỉ tạm thời.
" Căn hộ này đẹp quá", Alexandra kêu lên.
Y đến sát bên nàng , chậm rãi quay người nàng lại để cho chuỗi kim cương lóng lánh trong ánh sáng đã được làm dịu bớt đi của căn phòng." Nó thật hợp với em , em yêu quí ạ".
Rồi y hôn nàng thoạt tiên nhè nhẹ , rồi gấp gáp hơn nữa. Alexandra không còn biết gì nữa , khi y dẫn nàng vào phòng ngủ. Căn phòng được trang trí ba9ng2 các màu xanh lơ đậm nhạt khác nhau với những đồ đạc rất mỹ thuật. Ở giữa phòng là một chiếc giường rất lớn. George Mellis lại ôm nàng trong vòng tay , và thấy toàn thân nàng run rẩy." Em có hề gì không?"
" Em...em hơi bị xúc động ". Nàng sợ làm người đàn ông này thất vọng. Nàng thở mạnh ra một cái , rồi bắt đầu cởi khuy áo ra.
Mellis thì thầm ," Để anh". Y bắt đầu cởi áo cho cô gái tóc hoe tuyệt trần đang đứng trước mặt y. Y nhớ lại câu nói của Eve :" Hãy tự kiềm chế. Nếu anh làm cho Alexandra bị đau , nếu nó biết được rằng anh thực sự là một con heo đáng ghê tởm , anh sẽ không bao giờ được gặp lại nó lần nữa. Anh có hiểu không? Dành các quả đấm của anh cho bọn gái điếm và những thằng con trai bé nhỏ xinh đẹp".
Vì vậy , y cởi áo cho Alexandra một cách nhẹ nhàng, và kéo nàng sát vào người y. Hai người đứng sát vào nhau , nhìn vào mắt nhau , Mellis nhẹ nhàng , chậm chạp và trìu mến....
" Ôi , anh yêu quí " , nàng nói. " Xin anh làm mau đi.... ngay bây giờ...".
Cuối cùng , Alexandra nằm yên trong cánh tay Mellis , và thì thầm ," Trời , anh yêu quí. Em mong rằng anh cảm thấy chuyện này tuyệt vời đối với anh".
Y nói dối ," Thật tuyệt vời ".
Nàng ép sát vào người y , rồi không hiểu sao , nàng rơi nước mắt. Ấy chỉ vì nàng mừng thầm đã được hưởng những giây phút thật vui sướng , huy hoàng.
" Kìa , em " Mellis nói như vỗ về." Mọi thứ đều thật là tuyệt diệu ".
Mà tuyệt diệu thật.
Chắc hẳn Eve phải rất tự hào về y.
Trong mọi chuyện yêu đương , đều có những sự hiểu lầm ghen tuông , những xúc phạm nho nhỏ , nhưng trong mối tình giữa Mellis và Alexandra thì không thế. Với sự dìu dắt , chỉ bảo của Eve , George Mellis có thể làm rung động mọi xúc cảm của Alexandra một cách thành thạo. Y biết những nỗi lo sợ , những ý nghĩ kỳ quặc , những đam mê và ác cảm của nàng , và lúc nào cũng sẵn sàng thỏa mãn đúng nhu cầu của nàng. Y biết những gì làm cho nàng cười hay khóc. Alexandra run người lên với lối ân ái của y , nhưng y lại thấy như vậy chẳng có gì thích thú. Khi y ân ái với Alexandra , lắng nghe những tiếng kêu rên rỉ của nàng , sự kích thích của nàng làm cho cơn sốt của y lên đến cựa độ. Lúc ấy y chỉ muốn hành động như một con thú dữ , muốn nàng phải kêu thét van lơn , có như vậy y mới thấy dễ chịu. Nhưng y biết rằng nếu làm như vậy , y sẽ phá hoại tất cả mọi thứ. Sự buồn chán của y cứ tăng dần lên. Càng ân ái với Alexandra , y lại càng thấy khinh bỉ nàng.
Có một số nơi khả dĩ khiến cho Mellis được thỏa mãn , nhưng y biết y phải cẩn thận. Vào lúc đêm khuya , y lui tới những tiệm rượu của những kẻ độc thân vô danh và những tiệm disco vui nhộn , rồi y nhặt những bà góa phụ cô đơn muốn tìm thú vui qua một tối , những đứa con trai trụy lạc khát tình , những bọn gái điếm khát tiền. Y đem chúng đến những khách sạn tồi tàn ở phái Tây New York , trong các vùng Bowery và Greenwich Village. Y koh6ng bao giờ trở về cùng một khách sạn hai lần , mà người ta cũng chẳng ai hoan nghênh y trở lại. Người ta thường thấy những người tình của y hoặc nằm bất tỉnh hoặc nửa tỉnh nửa mê , thân thể bầm dập và đôi khi đầy vết bỏng vì thuốc lá.
Y không thích bon " masochists" tức là những kẻ thích được đau đớn trong lúc ân ái , do y gây ra , vì như vậy làm cho y mất vui. Không , y phải nghe họ kêu thét , van xin y thương hại , giống như y đã từng khóc thét , van xin khi còn bé mỗi lúc bị cha y đánh đập. Lối trừng phạt của cha y về những tội nhỏ nhất là đánh đập tàn nhẫn , nhiều khi khiến y phải nằm bất tỉnh. Lúc y tám tuổi , một hôm cha y bắt gặp y và một thằng con trai ông láng giềng trần truồng với nhau , thế là cha y đánh y cho đến khi máu chảy ra đằng mũi và mồm , rồi để cho y chừa cái tội này , ông ta dí điếu thuốc lá đang cháy lên " con chim" của y. Vết thương bên ngoài sau đó lành lại thành seo , nhưng cái sẹo sâu hơn ở bên trong tâm hồn bị nhiễm độc.
George Mellis có bản chất hung bạo , đam mê của tổ tiên người Hi lạp. Y không chịu được ý tưởng bị ai khống chế. Y phải chịu khuất phục trước những lời châm chọc , quở trách của Eve bởi vì y cần đến nàng. Một khi y đã nắm được tài sản Blackwell trong tay , y dự định sẽ trừng trị nàng cho đến khi nàng phải van xin y giết nàng cho chết. Gặp gỡ Eve là một điều y cho là may mắn nhất chưa từng có trong đời. Y thầm nghĩ ," Đó là một điều may mắn cho mình , nhưng không may cho nàng".
Alexandra vẫn tiếp tục ngạc nhiên vì sao George Mellis lúc nào cũng biết được loại hoa nào nàng thích, loại đĩa nhạc nào nàng muốn mua và những cuốn sách nào nàng thích đọc. Khi y đưa nàng đi xem một viện bảo tàng , y tỏ ra thích thú trước những bức tranh mà chính nàng cũng ưa thích. Thật là một điều khó tin đối với Alexandra , vì sao mà sở thích của hai người lại có thể giống hệt nhau đên như vậy. Nàng cố tìm ra một khuyết điểm nào đó ở George Mellis , nhưng chịu không thể tìm ra. Anh ấy là người hoàn hảo ! Nàng càng lúc càng muốn cho bà Kate gặp được chàng.
Nhưng Mellis luôn luôn tìm ra một cái cớ nào đó để tránh phải gặp bà Kate Blackwell.
" Tại sao, hở anh? Anh sẽ thấy mến bà. Hơn nữa , em cũng muốn khoe khoang với bà một chút về anh ".
" Chắc chắn là bà nội em là một người đàn bà tuyệt vời ", Mellis nói với vẻ ngây thơ như đứa trẻ con," Thế nhưng anh sợ bà sẽ nghĩ rằng anh không xứng đáng với em ".
"Anh nói thật vô lý !" Thái độ nhũn nhặn của anh làm nàng xúc động ," Bà nội em sẽ yêu anh lắm ".
" Rồi sẽ đến lúc , em ạ", anh nói với Alexandra. " Chừng nào mà anh có đủ can đảm đã".
Một tối nọ , anh thảo luận về vấn đề này với Eve.
Nàng suy nghĩ một lúc rồi nói ," Được rồi. Không chóng thì chầy anh cũng sẽ phải giải quyết vấn đề này. Nhưng anh phải cảnh giác từng giây từng phút. Bà ấy là một con mụ già đanh ác , nhưng rất khôn ngoan. Đừng có đánh giá bà ta quá thấp bất cứ lúc nào. Nếu nghi ngờ anh có mưu đồ gì , bà ta sẽ cắt trái tim anh ra đem cho chó ăn đấy".
" Tại sao chúng mình lại phải cần bà ấy?"Mellis hỏi.
"Bởi vì nếu anh làm điều gì khiến cho Alexandra phản kháng lại bà ấy , tất cả chúng ta sẽ bị ra rìa hết".
Alexandra chưa bao giờ cảm thấy hồi hộp , lo lắng như vậy. Mellis , Alexandra và bà Kate sẽ ăn cơm tối với nhau lần đầu tiên. Alexandra cầu nguyện sao đừng có chuyện gì bất trắc xảy ra cả. Hơn bất cứ thứ gì khác trên đời này , nàng mong muốn rằng bà nội nàng và Mellis sẽ mến nhau , bà nội sẽ thấy rằng Mellis là con người tuyệt vời , còn Mellis sẽ kính mến bà Blackwell.
Bà Kate Blackwell chưa hề bao giờ thấy cô cháu gái vui vẻ như vậy. Alexandra đã từng gặp những chàng trai trẻ rất xứng đáng , nhưng nàng không thích ai cả. Bà Kate dự tính sẽ xem xét thật kỹ con người đã thu hút được cháu gái bà. Bà đã từng có nhiều năm kinh nghiệm với những kẻ " đào mỏ" nên không muốn để cho Alexandra bị mắc vào bẫy của một kẻ nào trong bọn ấy.
Bà nóng lòng muốn gặp " ông George Mellis " ấy. Bà có cảm tưởng như anh này do dự không muốn gặp mặt bà , và bà lấy làm lạ về điều ấy.
Bà Kate nghe tiếng chuông ở cửa rung lên , rồi một phút sau , Alexandra đi vào phòng khách , dắt tay một người lạ mặt cao lớn và đẹp trai theo lối cổ điển.
" Bà nội ạ, đây là George Mellis ".
" Cuối cùng rồi tôi cũng gặp được anh ", bà Kate nói ," Tôi sắp sửa nghĩ rằng anh lại muốn tránh tôi lần nữa , anh Mellis ạ".
"Trái lại thế , thưa bà Blackwell , chắc bà không hiểu được tôi đã trông ngóng được gặp bà như thế nào ". Anh sắp sửa định nói ," Bà trông đẹp đẽ hơn là Eve đã mô tả với tôi ", nhưng anh kịp nhưng ngay lại.
Cẩn thận đấy. Đừng có nịnh hót , George ạ. Nó giống như một lá cờ đỏ đối với bà già ấy. Eve đã căn dặn như vậy.
Một người quản gia đi vào , pha rượu , rồi kín đáo rút lui.
" Anh ngồi xuống đi , anh Mellis ".
"Xin cám ơn ".
Alexandra ngồi bên cạnh anh trên đi văng , đối diện với bà nội.
" Chắc anh đã hiểu biết khá nhiều về cháu gái tôi rồi đấy nhỉ".
" Thưa bà , đó là một niềm vui thích đối với tôi".
Kate nhìn anh như dò xét bằng cặp mắt xám đục." Alexandra nói với tôi anh làm cho một hãng môi giới ".
" Vâng ạ".
" Thật tình tôi lấy làm lạ vì sao anh lại chọn làm một nhân viên hưởng lương trong khi anh có thể đứng đầu một cơ sở kinh doanh của gia đình rất có lợi".
" Thưa bà , cháu đã giải thích cho bà...".
" Bà muốn nghe chính anh Mellis này nói ra , Alexandra ạ".
Phải lễ độ , Eve đã căn dặn , nhưng đừng có tỏ ra khúm núm , quị lụy quá đối với bà ta. Nếu anh tỏ ra một dấu hiệu yếu ớt nào , bà ấy sẽ xé anh ra từng mảnh.
" Thưa bà Blackwell , tôi không quen nói về cuộc sống riêng tư của mình ".Anh do dự một lát , như thể để đưa ra một quyết định." Thế nhưng , trong hoàn cảnh này , tôi nghĩ rằng...." Anh nhìn thẳng vào mắt bà Blackwell và nói ," Tôi là một con người độc lập , không muốn nhận sự bố thí của ai. Nếu chính tôi là người sáng lập nên Mellis và Công ty , tôi đã tự mình điều khiển nó vào lúc này rồi. Nhưng cơ sở ấy là do ông nội tôi thiết lập nên rồi sau đó cha tôi xây dựng nó thành một cơ sở kinh doanh rất nhiều lợi lộc. Nó không cần sự hiện diện của tôi. Tôi có ba em trai hoàn toàn có khả năng điều khiển cơ sở kinh doanh ấy. Tôi chỉ muốn làm việc hưởng lương , cho đến khi nào tôi tự xây dựng được cho bản thân tôi và lấy làm hãnh diện về điều ấy".
Bà Kate gật đầu chậm rãi. Anh chàng này không giống như bà đã nghĩ chút nào. Bà nghĩ rằng anh ta là một kẻ ăn chơi đàng điếm , một tên đào mỏ , thuộc loại người vẫn từ lâu đeo đuổi các cháu gái bà. Anh chàng này thì khác hẳn. Thế nhưng , vẫn có điều gì đó khiến bà băn khoăn về anh ta , nhưng bà không thể làm sao xác định được.Anh ta hầu như quá hoàn hảo , đến mức khó tin.
" Tôi biết rằng gia đình anh giàu có". Bà Kate nói.
Anh nhớ câu nói của Eve ," Chỉ cần bà ta tin rằng anh rất giàu có, và yêu cháu gái bà ta điên cuồng , George ạ. Hãy tỏ ra dễ thương , hấp dẫn. Hãy kiềm chế các cảm xúc lại , thế là xong mọi việc".
" Thưa bà Blackwell ", anh nói." Tiền bạc là cần thiết , thế nhưng có hàng trăm thứ khác hấp dẫn đối với tôi nhiều".
Bà Kate đã cho điều tra giá trị thực sự của George Mellis và công ty. Theo báo cáo bà nhận được , tài sản ấy vượt quá con số ba mươi triệu đô la.
" anh có gần gũi gia đình anh không?"
Mắt mellis sáng lên." Có lẽ quá gần gũi ". Y để một nụ cười loé trên môi." Chúng tôi có một phương ngôn trong gia đình , thưa bà Blackwell , ấy là " Máu chảy ruột mềm". Chúng tôi vẫn liên lạc với nhau thường xuyên". Thật ra thì y chưa hề nói chuyện với một ai trong gia đình y đã trên ba năm nay rồi.
Kate gật đầu ra vẻ tán thưởng." Tôi tin tưởng vào các gia đình kết hợp gắn bó với nhau chặt chẽ như vậy ".
Bà đưa mắt nhìn cô cháu gái. Một vẻ kính phục trìu mến hiện ra trên mặt Alexandra. Thoáng qua một lúc , nó gợi cho bà nhớ đến bà và David vào những thời xa xưa , khi hai người yêu nhau say đắm. Nhiều năm trôi qua vẫn chưa xóa nhòa ký ức về những cảm xúc của bà lúc ấy.
Lester đi vào trong phòng." Thưa bà , cơm đã dọn rồi ạ".
Cuộc trò chuyện trong bữa ăn có vẻ tự nhiên hơn , nhưng các câu hỏi của bà Kate vẫn rất sắc nét. Mellis đã chuẩn bị sẵn sàng cho câu hỏi quan trọng nhất , khi nào nó đến.
" Anh có thích trẻ con không, anh Mellis?"
Eve đã căn dặn anh:" Bà ấy mong mỏi có một đứa chắt trai....Bà ấy mong mỏi điều này hơn bất cứ thứ gì trên đời ".
Mellis liền quay về phía bà Kate , tỏ vẻ ngạc nhiên. " Thích trẻ con ư? Một người đàn ông mà không có con trai hay con gái thì còn có ý nghĩa gì nữa? Tôi e rằng khi nào tôi lấy vợ , bà vợ tội nghiệp của tôi sẽ rất bận rộn. Ở nước Hi lạp chúng tôi , giá trị của một người được đo lường bằng số con mà anh ta đã sinh ra".
Hắn ta có vẻ chân thực , bà Kate thầm nghĩ. Nhưng cẩn thận bao giờ cũng hơn. Ngày mai , mình phải bảo Brad Rogers mở một cuộc điều tra về các tài khoản riêng của anh chàng này mới được.
Trước khi đi vào giường nằm , Alexandra điện thoại cho Eve. Nàng đã nói cho Eve biết rằng George Mellis sẽ đến ăn cơm tối hôm ấy.
" Chị nóng lòng đợi tin tức về chuyện ấy ". Eve đã nói với nàng như vậy. " Khi nào anh ấy rời khỏi nhà em nhớ điện thoại cho chị nhé. Chị muốn nghe báo cáo thật đầy đủ ".
Và bây giờ đây , Alexandra sắp sửa làm báo cáo ấy." Chị ạ, em nghĩ rằng bà nội thích anh ấy lắm ".
Eve rùng mình vì sung sướng." Bà nói gì?"
" Bà hỏi George hàng trăm câu hỏi riêng tư. Anh ấy trả lời tất cả một cách khôn khéo ".
" Thế là hắn ta làm đúng rồi.
" À, thế là hai cô cậu sắp sửa cưới nhau chứ gì?"
" Em.... Anh ấy chưa hỏi em chuyện ấy , Eve ạ , nhưng chắc cũng sắp sửa ".
Nàng có thể nhận ra vẻ sung sướng trong giọng nói của Alexandra." Thế bà nội sẽ tán thành chứ?'
" Ồ , em chưa chắc. Bà sẽ còn điều tra thêm về tài khoản riêng của anh ấy nữa , nhưng em chắc không có vấn đề gì ".
Eve cảm thấy trái tim nàng chao đảo.
Alexandra nói ," chị cũng biết rằng bà nội thận trọng lắm".
" Phải " Eve nói." Chị biết".
Thế là toi mạng cả lũ ! Trừ phi nàng nghĩ ra được một kế gì khác.
" Nhớ cho chị biết mọi tin tức nhé ".
" Em hứa. Chúc chị ngủ ngon ".
Ngay khi vừa đặt ống nghe xuống , Eve quay số điện thoại của Mellis. Y chưa về đến nhà. Cứ mười phút , Nàng gọi lại một lần , cuối cùng y trả lời . Eve nói ," Anh có thể nào kiếm gấp được một triệu đô la không?" .
" Em nói cái gì mả lạ thế?"
" Bà Kate sẽ điều tra về tài chính của anh ".
" Bà biết gia đình tôi có bao nhiêu rồi. Bà ấy..."
" Tôi không nói về gia đình anh. Tôi nói về anh kia. Tôi đã bảo anh là bà ấy không ngu đâu".
Một phút yên lặng kế tiếp theo đó." Kiếm đâu cho ra một triệu đô la bây giờ?"
" Tôi có một ý kiến ", Eve nói.
Khi bà Kate đến văn phòng bà ngày hôm sau, bà nói với viên phụ tá ," Bảo Brad Rogers thực hiện ngay một cuộc điều tra về tình trạng tài chánh riêng của George Mellis.Anh ta làm công cho hãng Hanson and Hanson".
" Ông Brad Rogers đi vắng , ngày mai mới về , thưa bà Blackwell. Có thể chờ đến lúc ấy , hay là...?"
" Ngày mai cũng được ".
Ở phía dưới Manhattan , trên đường Wall Street , George Mellis ngồi ở bàn giấy tại hãng môi giới Hanson and Hanson. Các vụ trao đổi chứng khoán đã bắt đầu , và văn phòng rộng lớn này trở thành một nơi hỗn loạn đầy tiếng ồn ào và hoạt động náo nhiệt. Có 225 nhân viên trong các ban chỉ huy của hãng : những kẻ môi giới , phân tích gia , kế toán , buôn bán chứng khoán và đại diện khách hàng. Tất cả , ngoại trừ George Mellis. Anh đang ngồi yên ở bàn viết , trong cơn hoảng sợ. Điều anh sắp sửa làm có thể sẽ đưa anh ta vào nhà tù , nếu thất bại. Nếu nó thành công , anh sẽ làm chủ cả thế giới.
"Anh không trả lời điện thoại hay sao?"
Một trong các đồng nghiệp đang đứng nhìn anh , hỏi. Lúc ấy George Mellis mới nhận ra rằng máy điện thoại của anh đang reo từ nãy giờ.Anh phải hành động với vẻ bình thường để không gây nghi ngờ. Anh nhặt máy điện thoại lên." George Mellis đây", rồi tủm tỉm cười với anh bạn đồng nghiệp.
Sáng hôm ấy , Mellis bận bịu nhận các lệnh mua và bán chứng phiếu , nhưng trí óc của anh vẫn quanh quẫn với kế hoạch ăn cắp một triệu đô la mà Eve đã gợi ý cho anh. Nó thật là đơn giản , George ạ. Tất cả công việc anh phải làm chỉ là mượn các giấy chứng nhận cổ phần qua một đêm thôi. Sáng hôm sau anh có thể trả lại chỗ củ mà không ai có thể hay biết.
Mỗi hãng môi giới cổ phần đều có hàng triệu đô la bằng cổ phần và trái phiếu cất giữ trong các hầm để thuận tiện cho các khách hàng. Một số các chứng phiếu có đề tên người chủ , nhưng đa số đều mang số mật mã để có thể nhận ra người chủ sở hữu , khi cần. Các giấy chứng nhận cổ phần ấy không thể đổi thành tiền được nhưng Mellis không có ý định lấy tiền mặt. Anh ta đã có dự tính khác trong đầu. Ở hãng Hanson and Hanson , các cổ phiếu được giữ trong một hầm lớn ở tầng thứ bảy trong một vùng an toàn , có cảnh sát võ trang canh gác trước một cánh cửa , mà cửa này chỉ có thể mở ra được bằng một tấm thẻ bằng nhựa có ghi mã số. George Mellis không có tấm thẻ nhựa này. Nhưng anh biết ai có tấm thẻ ấy.
Helen Thaocher là một bà góa phụ cô đơn ở trong tuổ bốn mươi. Nàng có khuôn mặt dễ coi , dáng người khá đẹp , và nấu ăn rất giỏi. Nàng đã có chồng được hai mươi ba năm , nhưng cái chết của chồng nàng đã khiến cuộc đời nàng trở nên trống rỗng. Nàng cần có một người đàn ông để chăm sóc cho nàng. Vấn đề khó khăn là các đàn bà , con gái trong hãng lại trẻ hơn nàng , và trông hấp dẫn hơn đối với những người môi giới làm việc trong sở. Không ai rủ nàng đi chơi cả.
Nàng làm việc tại phòng kế toán ở lầu phía trên văn phòng của Mellis. Lần đầu tiên gặp George mellis , nàng đã nghĩ rằng anh sẽ là một người chồng lý tưởng của nàng. Đã nhiều lần nàng mời anh đến ăn cơm do chính nàng nấu , và gợi ý bóng gió rằng không phải chỉ có ăn uống mà còn có những thứ khác nữa. Thế nhưng lúc nào Mellis cũng tìm cách chối từ. Đặc biệt sáng hôm ấy , chuông điện thoại của nàng reo vang , Thatcher nhặt điện thoại lên nói ," Bà Thatcher ở phòng kế toán đây ".Giọng Mellis vang lên trong máy. " Helen đó hả? George đây ". Giọng anh ấm áp khiến toàn thân nàng run lên vì sung sướng ," Anh cần gì tôi vậy , George?"
" Tôi có một điều bất ngờ nho nhỏ dành cho cô đấy. Cô có thể xuống ngay văn phòng tôi được không?"
" Ngày bây giờ à?"
" Phải ".
" Tôi sợ rằng bây giờ tôi đang....."
" Nếu cô bận quá thì thôi cũng được. Tôi sẽ giữ nó lại đã , sẽ nói sau".
" Không, không... Tôi xuống ngay bây giờ đây".
Điện thoại của Mellis lai reo vang. Anh để mặc nó ở đấy. Nhặt lấy một nắm giấy tờ , anh đi về phía dãy thang máy. Nhìn quanh quất không thấy ai quan sát mình , anh đi qua thang máy , trèo lên cầu thang ở phía sau. Lên đến tầng trên , anh kiểm soát xem Hellen đã rời văn phòng chưa , rồi bước vào tự nhiên như thể anh đang có công việc ở đấy. Giá như anh ta bị bắt nhưng anh không thể nghĩ đến chuyện ấy. Anh mở ngăn kéo giữa của Hellen ra , vì anh biết nàng vẫn để tấm thẻ nhựa ở đấy. Nó ở kia rồi. Anh nhặt lấy , nhét vào túi , rời khỏi phòng , vội vã đi xuống lầu. Về đến bàn giấy , anh thấy Hellen đang đứng ở đấy , nhìn quanh quất để tìm anh.
" Xin lỗi " ,Mellis nói." Tôi vừa bị gọi đi ra ngoài một phút".
" Không hề gì đâu.Anh nói cho tôi biết cái điều bất ngờ ấy là gì?"
" À , một con chim bé nhỏ nào đó bào cho tôi biết hôm nay là sinh nhật của cô , vì vậy tôi muốn mời cô ăn cơm trưa với tôi hôm nay ".Anh nhìn mặt của nàng để xem phản ứng của nàng như thế nào. Nàng băn khoăn không biết có nên nói sự thực cho chàng biết hay không , nhưng lại sợ lỡ mất cơ hội được hẹn hò với chàng.
" Như thế thì...rất tốt. Tôi cũng muốn cùng ăn trưa với anh", nàng nói.
" Được rồi , vậy tôi sẽ gặp cô ở hiệu Tony lúc một giờ nhé ". Đó là một cuộc hẹn hò mà anh có thể đề nghị với nàng bằng điện thoại , nhưng Thatcher quá vui sướng nên không hỏi han gì cả.Anh nhìn theo trong khi nàng rời khỏi văn phòng.
Ngay lúc nàng vừa đi khỏi , Mellis liền ra tay hành động.Anh còn phải làm nhiều việc trước khi trả lại tấm thẻ nhựa ấy.Anh dùng thang máy đi lên tầng thứ bảy , rồi tiến đến khu vực an ninh có người canh giữ trước một cánh cổng sắt. Mellis nhét tấm thẻ vào thì cánh cổng mở ra. Khi anh sắp sửa bước vào , người bảo vệ nói ," Hình như tôi chưa gặp anh bao giờ ".
Trái tim của Mellis đập lên thật nhanh." Phải , tôi vẫn không thường hay đến đây. Một trong các khách hàng của tôi đột nhiên muốn xem các chứng phiếu của ông ấy nên tôi phải đến moi nó ra. Hi vọng công việc này không làm tôi mất toi cả buổi trưa ".
Tên bảo vệ tủm tỉm cười ra vẻ thông cảm." Chúc anh may mắn ". Y nhìn theo Mellis trong khi anh bước vào trong hầm.
Hầm này bằng bê tông , khoảng mười thước trên năm thước. Mellis bước tới những chiếc tủ hồ sơ làm bằng vật liệu chống cháy , chứa đựng các chứng phiếu , rồi mở các ngăn kéo ra. Bên trong có hàng trăm các chứng phiếu cổ phần của các công ty ở New York và các giao dịch chứng khoán của Mỹ. Số cổ phần biểu thị trên mỗi giấy chứng nhận được in trên mặt giấy , và có thể từ một đến một trăm ngìn cổ phần, Mellis lục lọi rất nhanh và thành thạo. Anh chọn các giấy chứng nhận của nhiều công ty khác nhau có uy tín , giá trị đến một triệu đô la.Anh nhét các giấy tờ vào túi áo , đóng ngăn kéo lại , rồi trở lại nên người bảo vệ đang đứng.
"Nhanh nhỉ ", người ấy nói.
Mellis nói ," Các máy điện toán cho ra các con số sai. Sáng mai tôi sẽ lại phải đến điều chỉnh cho đúng ".
" Những cái máy điện toán khốn kiếp ấy!" tên bảo vệ nói ra vẻ thương hại." Chúng có thể làm tiêu ma sự nghiệp của tất cả chúng ta cũng chưa biết chừng ".
Khi trở về đến bàn giấy , Mellis thấy mồ hôi anh vã ra như tắm. Nhưng cho đến lúc này , mọi thứ đều trôi chảy cả. Anh nhấc điện thoại lên , gọi Alexandra.
" Em yêu quí ạ. Anh muốn gặp bà nội em và em tối hôm nay ".
" Em tưởng anh có một phiên họp bàn về công việc tối hôm nay chứ?"
" Có , nhưng anh đã hủy bỏ nó rồi.Anh có một chuyện quan trọng muốn nói với em".
Vào đúng một giờ trưa , Mellis đã có mặt trong văn phòng của Helen Thatcher để bỏ tấm thẻ lại trong ngăn kéo , trong khi nàng đang ngồi chờ đợi anh ở tiệm ăn. Anh rất muốn giữa lại tấm thẻ nhựa ấy , vì sẽ còn phải dùng đến nó , nhưng anh biết rằng tấm thẻ nào không được trả lại vào mỗi buổi tối thì máy điện toán sẽ làm cho nó mất hiệu lực vào sáng hôm sau. Đến một giờ mười phút , Mellis ăn cơm trưa với Helen Thatcher.
Anh nắm lấy bàn tay Thatcher và nói ," Tôi muốn chúng ta được gặp nhau như thế này thường xuyên hơn". Mellis vừa nói vừa nhìn nàng như dò xét." Ngày mai cô có rảnh để ăn cơm trưa nữa với tôi không?"
Nét mặt nàng rạng rỡ." Được , được , anh George ạ".
Khi Mellis rời khỏi văn phòng trưa hôm ấy , anh đã có trong tay các giấy chứng nhận cổ phần trị giá một triệu đô la.
Anh đến nhà bà Blackwell rất nhanh vào lúc bảy giờ tồi và được đưa đến thư viện, nơi bà Kate và Alexandra đang ngồi chờ đợi.
" Chào bà và cô " , Mellis nói ," Tôi xin mạn phép đến đây bất thình lình như thế này , vì có điều muốn thưa cùng bà và cô ". Tôi biết làm như thế này thật ra có vẻ nệ cổ , nhưng tôi thành thực muốn xin bà cho phép Alexandra và tôi tin rằng cô ấy cũng yêu tôi. Nếu được bà cho phép , đó là điều hạnh phúc lớn lao cho cả hai chúng tôi".Y thọc tay vào túi áo , rút ra các giấy chứng nhận cổ phần , ném lên bàn trước mặt bà Kate. " Tôi sẽ cho cô ấy một triệu đô la làm quà cưới. Cô ấy sẽ không cần bất cứ số tiền nào của bà , mà chúng tôi chỉ cần được bà cho phép thôi ".
Bà Kate nhìn xuống các giấy chứng nhận cổ phần mà Mellis đã trải ra một cách cẩu thả. Bà nhận ra tên của tất cả các công ty ghi trên đó. Alexandra bước đến gần Mellis , đôi mắt sáng ngời ," Ôi , anh yêu mến !" Nàng quay về phía bà nội , nhìn với đôi mắt van lơn ," Bà?"
Kate nhìn hai người đang đứng bên cạnh nhau. Không có cách nào từ chối chúng được nữa. Trong giây phút ngắn ngủi , bà thèm muốn được như chúng nó. Bà nói ," Các người được phép của ta ".
Mellis nhoẻn miệng cười , bước đến bà Kate. Xin bà cho phép ". Y hôn lên má bà một cái.
Trong hai giờ kế tiếp đó , họ bàn với nhau về lễ cưới ," Cháu không muốn một lễ cưới linh đình , bà ạ ", Alexandra nói." Cần gì phải làm thế , phỉa không bà?"
" Anh đồng ý " Mellis đáp." Tình yêu là một vấn đề riêng tư".
Cuối cùng , họ quyết định tổ chức một cuộc lễ nhỏ với một vị thẩm phán đứng ra làm chủ hôn.
" Cha anh có đến dự lễ cưới không , Mellis?" Bà Kate hỏi.
Mellis cười." Không thể nào gạt ông ấy ra rìa được. Cha tôi , ba em trai và hai em gái sẽ có mặt ở đây"
" Tôi rất mong được gặp họ ".
"Bà sẽ thích họ " Mellis đưa mắt nhìn Alexandra.
Bà Kate tỏ vẻ rất xúc động suốt tối hôm ấy. Bà mừng cho cháu gái bà - mừng vì nó được lấy một người mà nó rất yêu quí. Bà tự nhủ , " Mình phải nhớ bảo Brad Rogers đừng bận tâm tìm hiểu về tình trạng tài chính của George Mellis nữa ".
Trước khi ra về, Mellis ngồi một mình với Alexandra và nói ra vẻ tình cờ ," Anh nghĩ mình không nên để các giấy tờ chứng nhận một triệu đô la này vương vãi ở trong nhà. Anh sẽ cất chúng tạm thời cho em"
" Thật vậy sao?"
Mellis nhặt các giấy chứng nhận cổ phần lên , bỏ cả vào trong túi áo.
Sáng hôm sau , Mellis lặp lại công việc làm với Helen Thatcher giống như trước. Trong khi Thatcher xuống lầu dưới để gặp anh (" Tôi có một món quà nhỏ tặng cô") thì anh ta đi vào phòng Thatcher , lấy cắp tấm thẻ nhựa. Anh tặng nàng một chiếc khăng quàng - một món quà sinh nhật chậm trễ - rồi xác nhận cuộc hẹn hò vào bữa ăn trưa. Lần này y đi vào hầm lưu trữ dễ dàng hơn.Anh đặt lại các giấy cứng nhận cổ phần vào chỗ cũ , trả lại tấm thẻ nhựa , rồi đi đến gặp Thatcher ở một tiệm ăn gần đó.
Nàng cầm lấy tay anh và nói , " George này , anh cho phép em mời anh ăn cơm tối nay , do chính em nấu nhé?"
Nhưng Mellis đáp , " Anh e rằng anh không thể đến được em ạ. Anh sắp sửa lấy vợ".
Ba ngày trước lễ thành hôn ,George Mellis đến nhà bà Blackwell , nét mặt buồn rầu." Cháu vừa nhận được tin khủng khiếp quá , Cha cháu vừa bị một cơn đau tim".
" Trời , thật là tiếc quá ". Bà Kate nói." Thế ông ấy có bình phục được ngay không?"
" Cháu vừa nói điện thoại với gia đình cháu suốt đêm. Họ bảo cha cháu thế nào cũng bình phục , nhưng chắc là ông không thể đến dự đám cưới của cháu được".
" Chúng mình có thể đi Athens trong tuần trăng mật và thăm gia đình anh luôn thể ". Alexandra nói.
Mellis vuốt lên má Alexandra." Anh có những dự định khác cho tuần trăng mật của chúng ta rồi em ạ. Không có gia đình nào hết , mà chỉ có hai đứa mình thôi".
Lễ thành hôn được cử hành trong phòng khách của tòa lâu đài Blackwell. Không đến mười hai người khách tham dự , trong đó có Vince Barnes , Alice Koppel và Mary Bergheimer. Alexandra van xin bà Kate cho phép Eve đến tham dự , nhưng bà Kate vẫn giữ lập trường sắt đá." Chị cháu sẽ không bao giờ được bén mảng đến ngôi nhà này ".
Mắt Alexandra đẫm lệ." Bà ạ , bà làm thế thì tàn nhẫn quá. Cháu yêu cả bà lẫn chị ruột cháu. Bà không thể tha thứ cho chị ấy hay sao?"
Trong phút chốc , bà Kate định tuôn ra hết câu chuyện phản bội , bất nghĩa , của Eve , nhưng bà kịp ngưng lại và nói." Bà chỉ làm những gì cho bà là tốt nhất cho cả mọi người ".
Một người thợ nhiếp ảnh chụp ảnh trong lễ cưới , và chính tai bà Kate nghe Mellis yêu cầu anh ta rửa thêm nhiều tấm để y còn gửi về cho gia đình. Thật là con người chu đáo , bà Kate khem thầm.
Sau lễ cắt bánh , Mellis thì thầm với Alexandra ," Em yêu quí ạ. Anh sắp sửa phải lánh mặt trong khoảng một giờ đồng hồ ".
" Có chuyện gì không hay chăng?"
" Dĩ nhiên là không rồi.Anh chỉ có một cách duy nhất để thuyết phục sở làm của anh cho phép anh nghỉ việc một thời gian để đi chơi tuần trăng mật , ấy là hứa với họ rằng anh phải làm xong công việc cho một khách hàng quan trọng. Sẽ không lâu đâu. Máy bay của chúng ta mãi đến năm giờ mới cất cánh ".
Alexandra mỉm cười." Anh nên vội trở về nhé. Em không thể đi chơi tuần trăng mật mà không có anh."
Khi Mellis trở lại căn hộ của Eve , nàng đang ngồi chờ đợi , mặc một bộ đồ ngủ mỏng dính." Anh vui với lễ cưới của anh rồi chứ , anh yêu quí?"
" Vui chứ , cám ơn em. Nó nhỏ nhưng mà sang trọng. Tất cả đều trôi chảy , không gặp một trục trặc nào ".
" Anh biết đó là nhơ ai không , George? Nhờ em đấy đừng có quên điều ấy ".
Anh nhìn nàng , nói chậm rãi." Không quên đâu ".
" Chúng ta hợp tác từ đầu chí cuối ".
" Dĩ nhiên rồi ".
Eve mỉm cười." Hay thật ! thế lá anh cưới em gái tôi rồi đấy ".
Mellis nhìn vào đồng hồ." Phải. Tôi phải trở về đó ngay bây giờ ".
" Chưa được đâu ", Eve nói.
" Sao vậy?"
" Bởi vì anh sẽ phải ân ái với tôi trước đã , anh yêu quí ạ. Tôi muốn nằm với người chồng của em gái tôi ".
0
@ Truyện "Tay cự phách" hầu như đã hoàn tất, nhưng còn chương 30 sao không có hiệp sĩ nào nhận gõ vậy. [sm=17.gif]a oa. Các hiệp sĩ ui, ra tay giúp CL chương 30 đi nào.

@ Kể từ chương 11 trở đi, CL sẽ đem truyện trực tiếp lên Thư viện mà không post lên diễn đàn, vậy các hiệp sĩ nào gõ xong thì post hết vào mục này luôn nhé.
Mời các hiệp sĩ uống chung trà xả hơi để lấy sức "luyện đàn chỉ thần công[sm=44.gif][sm=44.gif][sm=44.gif]".

@Sym: hiệp sỹ SYM ui, hic, chương 11, 12, 13, 14 của hiệp sĩ đâu rùi. Sym cố gắng hoàn tất nhé, CL cổ vũ cho bạn đây[sm=MexicanWave.gif]
***
0
CHƯƠNG 30.
Eve đã lập kế hoạch cho tuần lễ trăng mật của Mellis - Alexandra. Nó sẽ rất tốn kém , nhưng nàng nói với Mellis , " Đừng có hà tiện về bất cứ thứ gì ".
Nàng bán ba món nữ trang nàng đã lấy được từ tay những kẻ si mê theo đuổi nàng , rồi đưa tiền ấy cho George Mellis.
"Anh rất cám ơn em , Eve ạ ". Y nói. Anh sẽ..."." Tôi sẽ lấy lại mà ".
Tuần trăng mật thật hoàn hảo. Mellis và Alexandra ở trong khách sạn Round Hill , trong vịnh Montego Bay., thuộc miền bắc Jamaica. Hành lang của khách sạn là một tòa nhà nhỏ , màu trắng , đặt ở giữa vài chục ngôi nhà một tầng rất đẹp của tư nhân , trải dài từ đồi xuống bãi bể màu nước trong xanh. Đôi vở chồng Mellis ở trong một ngôi nhà trệt Noel Coward , có một bể bơi riêng và một người hầu gái sửa soạn những bữa ăn sáng trong phòng ăn ngoài trời. Mellis thuê một chiếc thuyền để hai người du ngoạn và câu cá. Họ bơi , đọc sách , chơi cờ và ân ái với nhau Alexandra làm đủ mọi cách để làm vui lòng Mellis khi hai người ân ái với nhau , và khi nghe những tiếng rên rỉ của chồng vào những lúc cực khoái , nàng cũng run người lên vì thấy mình có thể đem lại sự vui sướng như vậy cho chàng.
Đến ngày thứ năm, Mellis nói , "Alexandra này , anh phải lái xe đi Kingston có công việc. Hãng của anh có một chi nhánh văn phòng ở đấy nên họ yêu cầu anh để mắt trông coi ".
" Được , để em sẽ đi với anh " Alexandra nói.
Y nhăn mặt. "Anh cũng muốn như vậy lắm em ạ , nhưng anh đang đợi một cú điện thoại từ nước ngoài. Em nên ở nhà để tiếp nhận lời nhắn nhủ hộ anh ".
Alexandra tỏ vẻ thất vọng." Có thể nào nhờ phòng tiếp tân của khách sạn nhận hộ cho mình được không?"
" Việc này rất quan trọng nên anh không thể tin tưởng ở họ được ".
" Thôi được , để em ở nhà vậy ".
Mellis thuê một chiếc xe hơi và lái đến Kingston.Y đến đó vào lúc xế trưa. Các đường trong thành phố này đông nghẹt du khách mặc quần áo sặc sỡ vừa bước xuống từ các du thuyền để đi mua sắm tại các chợ và hiệu tạp hóa nhỏ Kingston là một thành phố thương mại , với các nhà máy tinh lọc , nhà kho , và chuyên nghề đánh cá , nhưng vì là một hải cảng có đất liền vây quanh nên nó cũng là một thành phố có nhiều tòa nhà xưa cổ rất đẹp , các viện bảo tàng và thư viện. Mellis không quan tâm gì đến các thứ này. Y đang bị tràn ngập bởi một thứ nhu cầu mãnh liệt đã tích tụ trong con người y qua bao nhiêu tuần lễ và cần phải được thõa mãn. Y đi vào trong tiệm rượu đầu tiên và nói chuyện với chủ quán. Năm phút sau , Y dắt tay một cô gái điếm da đen mười lắm tuổi bước lên cầu thang của một khách sạn rẻ tiền. Y ở với cô gái suốt hai giờ đồng hồ. Khi ra khỏi khách sạn y đi một mình ngồi vào xe hơi lái về Montego Bay. Alexandra cho y biết rằng nàng ngồi đợi điện thoại khẩn cấp , nhưng không có ai gọi.
Sáng sớm hôm sau , các báo cáo ở Kingston loan tin rằng một du khách nào đó đã đánh đập và gây thương tật cho một gái điếm , và cô ta đang hấp hối.
Ở hãng Hanson and Hanson , các nhà hợp tác kinh doanh cao cấp của hãng đang bàn luận với nhau về trường hợp George Mellis. Họ đã nhận được nhiều lời than phiền của một số khách hàng về cung cách làm ăn của y với các tài khoản chứng khoán. Họ đã đi đến quyết định thải hồi y. Thế nhưng , bây giờ , họ bắt đầu suy nghĩ lại.
"Hắn ta đã cười một trong hai cháu gái của bà Kate Balckwell " , một người nói." Vấn đề này phải được đặt lại trên một căn bản khác ".
Người thứ hai nói thêm." Chắc chắn phải như vậy. Nếu chúng ta có thể thu về tài khoản của bà Blackwell thì....".
Sự tham lam thèm muốn của họ hầu như có thể sờ thấy được trong không khí. Họ quyết định cần phải cho George Mellis thêm một cơ hội khác nữa.
Khi Alexandra và Mellis trải qua tuần trăng mật , trở về đến nhà , bà Kate nói với hai người , "Bà muốn hai cháu don đến ở đây với bà. Nhà này rất rộng , nên không ai gây trở ngại cho ai cả ".
Mellis cắt ngang câu nói của bà Kate. " Bà rất tốt với các cháu, nhưng cháu nghĩ Alexandra và cháu nên có nơi ở riêng thì tốt hơn ".
Y không có ý định sống chung một mái nhà với một bà già lúc nào cũng bay lượn ở trên đầu để dò xét từng cử chỉ của mình.
" Bà hiểu", Bà Kate đáp." Nếu như vậy , các cháu hãy để cho bà mua cho các cháu một ngôi nhà. Nó sẽ là một món quà cưới do bà tặng ".
Mellis quàng tay lên người bà Kate và hôn tíu tít." Bà thật là rộng lượng ". Giọng y khàn đi vì xúc động ," Alexandra và cháu xin nhận lời với tất cả lòng biết ơn".
" Cám ơn bà ", Alexandra nói. Chúng cháu muốn ở gần để tiện trông nom săn sóc cho bà. Bà thật hấp dẫn vô cùng, bà ạ".
Trong vòng một tuần lễ , họ tìm được một nhà kiểu cổ xây bằng đá nâu rất đẹp gần công viên , chỉ cách lâu đài Blackwell chừng mười khu nhà ở cho gia nhân , một cái bếp lớn , một phòng ăn lát ván , một phòng khách sang trọng và một thư viện.
" Em sẽ tự trang trí lấy ngôi nhà này , em ạ ". Mellis nói với Alexandra. " Anh bận bịu với các khách hàng quá ".
Sự thật là y không đến sở làm bao giờ , và cũng ít tiếp xúc với khách hàng. Hàng ngày, Y bận bịu với những vấn đề thích thú hơn nhiều. Cảnh sát nhận được một loạt báo cáo của những hạng đĩ điếm , cả gái lẫn trai , những người đàn bà cô đơn lui tới các quán rượu , cho biết rằng họ bị tấn công thô bạo. Các nạn nhân mô tả kể tấn công họ là một chàng trai đẹp đẽ , có học thức , gốc gác từ nước ngoài , có lẽ gốc gác la tinh. Một số người nước được cho xem các ảnh căn cước ở sở cảnh sát , nhưng không thể nào nhận diện được tên ấy.
Eve và Mellis ngồ ăn cơm trưa tại một tiệm ăn nhỏ ở dưới phố , nơi họ ít có cơ hội bị nhận diện.
"Anh phải bào Alexandra lập một bản chúc thư mới, nhưng không được để cho bà Kate biết."
" Làm đếch thế nào được?"
" Tôi sẽ bảo cho anh , anh yêu quí ạ...."
Tối hôm sau , Mellis gặp Alexandra ở Le Plaisir , một trong những tiệm ăn Pháp ngon nhất ở New York , để cùng ăn cơm tối. Y đến trễ gần ba mươi phút , Pierre Jourdan , ông chủ tiệm,dẫn y đến chiếc bàn ăn nơi Alexandra đang ngồi đợi. "Anh xin lỗi , thiên thần cũa anh ạ " , Mellis thở hổn hển nói." Anh vừa mới gặp các luật sư của anh. Em biết họ như thế nào rồi. Lúc nào cũng làm mọi chuyện thêm rắc rối".
Alexandra hỏi. " Có chuyện gì không hay chăng?"
" Không , chỉ có vấn đề thay đổi bản chúc thư cùa anh thôi", Y cầm tay Alexandra." Nếu có chuyện gì xảy ra với anh bây giờ , tất cả những gì anh có sẽ thộc về em hết".
" Anh ạ , em không muốn....."" Ồ nó có đáng gì so với gia tài Blackwell nhưng nó cũng có thể tạo cho em một cuộc sống dễ chịu ".
" Không có chuyện gì xảy ra cho anh đâu. Không bao giờ ".
" Dĩ nhiên là không rồi , Alexandra ạ. Cuộc đời đôi khi có những trò éo le lắm. Thật ra nghĩ đến những chuyện như thế thì không vui lắm , nhưng nếu có dự tính trước để chuẩn bị tinh thì bao giờ cũng hơn , phải thế không em?"
Nàng ngồi yên lặng suy nghĩ một lát." Vậy thì em cũng nên thay đổi bãn chúc thư của em chứ. Có nên không anh?"
" Để làm gì?" Giọng y nói có vẻ ngạc nhiên. " Anh là chồng em , vậy tất cả mói thứ của em d8e62u là của anh ".
Y rút bàn tay y lại." Alexandra ạ. Anh không quan tâm một chút nào đến tiền bạc của em cả ".
" Em biết như vậy chứ , George ạ , nhưng anh nói đúng. Mình phải nhìn trước mọi chuyện để chuẩn bị ". Mắt nàng đẫm lệ." Em biết rằng em ngu lắm , nhưng em đang được hạnh phúc quá nên không thể nào chịu đựng nổi với ý nghĩ rằng sẽ có chuyện gì đó xảy ra với anh hoặc với em. Em muốn chúng ta cứ tiếp tục bên nhau mãi mãi."
" Nhất định rồi". Mellis nói khe khẽ.
" Em sẽ nói với bác Brad Rogers vào ngày mai về chuyện sửa đổi chúc thư ".
Y nhún vai. " Nếu em muốn như vậy thì anh cũng phải chịu thôi ". Nhưng rồi , y suy nghĩ lại và nói tiếp , " Nghĩ lại chuyện này , có lẽ em nên để cho luật sư của anh làm việc sửa đổi này cho em. Ông ta đã quen thuộc với các công việc liên quan đến tài sản của anh rồi , nên có thể phối hợp mọi thứ dễ dàng hơn ".
Y vuốt má Alexandra." Chúng ta không nên để cho bà nội biết chuyện này. Anh yêu quí bà lắm nhưng phải chăng là chúng mình nên giữ mọi việc của chúng mình hoàn toàn có tính cách riêng tư?"
" Anh nói đúng , anh yêu quí ạ. Em sẽ không nói gì với bà nội. Anh có thể nào thu xếp cho em gặp luật sư của anh vào ngày mai được không?"
" Em hãy nhớ nhắc anh gọi điện thoại cho ông ta nhé. Bấy giờ thì anh đói bụng lắm rồi. Chúng ta hãy bắt đầu ăn món cua bể kia nhỉ..."
Một tuần lễ sau , Mellis gặp Eve ở căn hộ của nàng.
" Alexandra có ký vào bản chúc thư mới không?"
" Sáng nay. Nó sẽ thừa hưởng phần của công ty dành cho nó vào tuần sau , đúng vào ngày sinh nhật".
Tuần lễ kế tiếp đó , 49 phần trăm các cổ phần của công ty hữu hạn Kruger - Brent được chuyển nhượng cho Alexandra. Mellis gọi điện cho Eve để báo tin này. Eve nói , " Tuyệt vời ! Lại đây tối nay nhé. Ch1ung ta sẽ ăn mừng ".
"Anh không đến đựoc. Bà Kate sẽ tổ chức buổi tiệc sinh nhật cho Alexandra".
Một phút im lặng." Họ dọn món ăn gì vậy?"
" Biết đếch thế nào được?"
" Cố dò hỏi cho ra ". Đường dây bị cúp.
Bốn mươi lăm phút sau , mellis gọi lại Eve. "Anh không biết vì sao em lại quan tâm đến thực đơn ấy như vậy " , Y nói với vẻ cáu kỉnh , " vì em có được mời đến đâu. Nhưng thôi được , nó gồm có món " Coquilie Saint Jacques " ," Chatcaubriand" , xà lách cải , " Brie Cappucino" và một chiếc bánh sinh nhật , với thứ kem đá Alexandra thích nhất , gọi là Neapolitan. Thõa mãn chưa?"
" Rồi , George ạ. Tôi sẽ gặp anh tối nay ".
" Không được , Eve ạ. Không cách nào bỏ đi được giữa lúc Alexandra đang....."
" Anh sẽ nghĩ ra cách nào đó"
Mẹ kiếp cái con mẹ quái ác! Mellis gác máy điện thoại , nhìn vào đống hô. Mẹ kiếp tất cả mọi thứ ! Y có một cuộc hẹn với một khách hàng quan trọng mà y đã lỡ hẹn đến hai lần rồi. Bây giờ thì đã trễ rồi. Y biết các chủ hàng còn giữ y lại làm việc chỉ vì đã cưới một người thuộc dòng họ Blackwell. Y không dám làm điền gì có thể gây nguy hại cho địa vị của y. Y đã tạo nên một hình ảnh khả kính đối với Alexandra và bà Kate , cho nên điều bắt buộc là y không được làm điều gì khả dĩ phá hủy nó đi. Chẳng bao lâu nữa , y sẽ chẳng cần đến bất cứ người nào trong bọn họ.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-27 08:55:58Chuột lắc>
Vì lý do trục trặc thuật (hư HDD) nên 4 chương 11, 12, 13, 14 của Tay Cự Phách phải gõ lại. CL mong được sự trợ giúp của các hiệp sĩ. [;)] [sm=----.gif]

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14
***
0
hi CL, mình đánh chương 11 và 12 nhé!
0
Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14


Cái này do CL để nhầm đường link thôi, CB đã sửa lại link rồi, bạn nào gõ thì lấy về nha [:D]
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

0
uh, thía thì Nga lấy cả 3 chương còn lại về nha.
0

Trích đoạn: thuynga

uh, thía thì Nga lấy cả 3 chương còn lại về nha.

Nga ơi, chương 13-14 có bạn Caochuong nhận gõ rồi. Bạn gõ chương 12 thôi nhé. Rất vui khi bạn đóng góp cho thư quán.

Cái này do CL để nhầm đường link thôi, CB đã sửa lại link rồi, bạn nào gõ thì lấy về nha


Cám ơn Mod Bò. Sao hôm nay dễ xương thế, không cau có nữa à [:D]
***
0
một hai ba bốn năm
0
CHƯƠNG XIV

Theo học trường kinh doanh là một cuộc phiêu lưu mới rất thú vị đối với Kate. Khi đi đến trường Cheltenham, nàng cho đó là một việc làm lặt vặt, một điều xấu xa, nhưng cần thiết. Lần này thì khác hẳn. Mỗi buổi học đều dạy cho nàng một điều gì đó thiết thực, có thể giúp cho nàng điều khiển công ty. Chương trình học gồm có các môn: Kế toán, Quản lý, Giao thương quốc tế, Hành chánh kinh doanh. Mỗi tuần lễ một lần, David điện thoại cho nàng, hỏi về sự tiến bộ của nàng trong việc học.

" Tôi rất thích " Kate nói với David " Thật là thú vị, David ạ "

Một ngày kia, David sẽ cùng với nàng ngồi làm việc sát cánh nhau vào lúc đêm khuya, và lúc đó, chỉ có hai người mà thôi. Rồi một đêm nào đó, David sẽ quay về phía nàng và nói:" Em Kate yêu quý, anh có mắt mà cũng như mù, em có bằng lòng lấy anh không? " Thế rồi, chỉ một lát sau, nàng đã nằm trong hai cánh tay của chàng...

Nhưng chuyện ấy chưa đến đâu. Trong khi chờ đợi, nàng phải học tập. Với một vẻ cương quyết, nàng quay lại các bài tập ở trường.

Lớp kinh doanh kéo dài hai năm. Kate trở lại Klipdrift vào đúng dịp nàng ăn mừng sinh nhật thứ hai mươi của nàng. David đón nàng ở nhà ga.

Trông thấy David, đột nhiên nàng giang hai cánh tay ra ôm choàng lấy anh và nói:" Trời! Anh David, gặp anh tôi mừng quá! "

Anh lùi lại, nói một cách vụng về:" Rất mừng được gặp cô, Kate ạ " Trong cử chỉ của anh có một vẻ lóng ngóng, không được thoải mái lắm.

" Có chuyện gì vậy? "
" Không... Chỉ có điều là... là... các thiếu nữ không ôm hôn đàn ông ở nơi công cộng ".

Nàng nhìn David một lát rồi nói:" À ra thế. Tôi hứa lần sau sẽ không làm anh bối rối nữa "

Trong khi đi xe về nhà, David kín đáo quan sát Kate. Nàng là một cô gái xinh đẹp mê hồn, ngây thơ và có vẻ dễ bị xúc phạm nên David quyết tâm sẽ không bao giờ lợi dụng điều ấy.

Sáng hôm thứ hai, Kate di chuyển đến văn phòng mới của nàng ở công ty Hữu hạn Kruger - Brent. Thật là, giống như nàng bị chìm vào trong một thế giới xa lạ, kỳ dị với những phong tục và ngôn ngữ riêng của nó. Đó là một tổ chức rối rắm gồm các ngành, các cơ sở phụ, các phân cục địa phương, các công ty đặc quyền và chi nhánh nước ngoài. Các sản phẩm mà công ty nàng chế tạo hay làm chủ dường như là vô tận. Có những nhà máy cán thép, những trại nuôi gia súc, một đường xe hỏa, một công ty chuyên chở đường bể, và cố nhiên, cơ sở của tài sản gia đình: Kim cương, vàng, kẽm, bạch kim, magnesium được đào lên suốt ngày đêm, rồi tuôn vào các két sắt của công ty.
Quyền lực.

Hầu như có quá nhiều thứ cần phải nắm vững. Kate ngồi trong văn phòng của David, lắng nghe anh đưa ra những quyết định có thể ảnh hưởng đến hàng nghìn người trên khắp thế giới. Các tổng giám đốc các phân cục đưa ra nhiều đề nghi, nhưng nhiều khi David bác bỏ các đề nghị ấy.

" Tại sao anh làm như vậy? Họ không biết việc làm của họ hay sao? " Kate hỏi.

" Dĩ nhiên là họ biết. Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ ấy " David giải thích " Mỗi giám đốc chỉ nhìn thấy phân cục của mình và xem nó như là trung tâm điểm của thế giới. Điều ấy cũng là phải thôi. Thế nhưng cần phải có một người nào đó có cái nhìn tổng quát và quyết định cái gì tốt nhất cho toàn thể công ty. Thôi nào, chúng ta còn phải ăn cơm trưa với một người mà tôi muốn giới thiệu với cô "

David đưa Kate đến một phòng ăn riêng rộng rải, kế cận văn phòng của Kate. Một người đàn ông trẻ tuổi, gầy giơ xương, với một khuôn mặt ốm và đôi mắt nâu tò mò, đang chờ đợi hai người.

" Đây là Brad Rogers " David nói " Brad, tôi giới thiệu với anh đây là nữ chủ nhân mới của anh, cô Kate McGregor "

Brad Rogers đưa tay ra bắt " Tôi rất hân hạnh được gặp cô, thưa cô McGregor "

" Brad là một vũ khí bí mật của chúng ta " David nói " Anh ấy hiểu biết về công ty Kruger Brent chẳng kém gì tôi. Ví thử như tôi có rời công ty này, cô cũng chẳng có gì phải lo cả. Brad sẽ có mặt ở đây "

" Ví thử như tôi có rời công ty " Riêng ý nghĩ này cũng làm cho nỗi hoảng sợ tuôn ra như một làn sóng truyền qua khắp thân thể của Kate. Cố nhiên, David sẽ không bao giờ rời công ty. Kate không nghĩ đến chuyện gì khác nữa trong suốt bữa ăn trưa ấy. Và khi bữa ăn chấm dứt, nàng cũng chẳng biết nàng đã ăn những thứ gì.

Sau bữa ăn, họ bàn với nhau về Nam Phi.

" Chúng ta sắp sửa gặp rắc rối " David nói " Chính phủ vừa đặt ra thuế thân "

" Thế là nghĩa làm sao? " Kate hỏi.
" Nó có nghĩa là những người da đen, da màu và người Ấn Độ phải trả hai bảng Anh cho mỗi người trong gia đình. Như vậy là lớn hơn số lương của họ trong một tháng ".

Kate nghĩ đến Banda và cảm thấy nỗi lo sợ tràn ngập trong lòng. Cuộc thảo luận chuyển sang các vấn đề khác.

Kate yêu thích cuộc sống mới vô cùng. Mỗi quyết định lôi kéo theo trò chơi hàng triệu đô la. Việc kinh doanh lớn là một cuộc đọ sức trí tuệ, là lòng can đảm dám đương đầu với may rủi và bản năng biết được khi nào nên dấn tới, khi nào cần rút lui.

" Kinh doanh là một cuộc đánh bạc " David nói với Kate " Với tiền cược lớn kinh khủng và mình phải cạnh tranh với các chuyên gia. Nếu muốn thắng, mình phải học để làm chủ cuộc chơi "

Đó chính là điều mà Kate quyết định sẽ làm. Nàng phải học.

Kate sống một mình trong ngôi nhà lớn, ngoài các gia nhân, Nàng và David vẫn tiếp tục có những buổi ăn chung theo nghi thức vào tối thứ sáu. Nhưng khi Kate mời anh đến ăn vào những buổi khác, David lúc nào cũng kiếm cớ từ chối. Trong những giờ làm việc, hai người vẫn họp chung với nhau thường xuyên. Nhưng ngay cả lúc ấy, David dường như đã dưng lên một bức tường giữa hai người, một bức tường mà Kate không thể nào vượt qua được.

Vào ngày sinh nhật thứ hai mươi mốt của Kate, tất cả các cổ phần trong công ty Kruger Brent đã chuyển sang cho Kate. Bây giờ nàng đã chính thức kiểm soát công ty " Chúng ta hãy ăn cơm tối hôm nay để ăn mừng " Kate đề nghị với David.

" Xin lỗi cô Kate, tôi có nhiều công việc phải làm cho kịp "

Kate ăn cơm một mình tối hôm ấy, trong lòng boăn khoăn không hiểu tại sao. Vì nàng hay vì David. Phải chăng David đã bị điếc, câm, mù nên không hiểu được tình cảm của nàng đối với anh? Nàng sẽ phải ra tay hành động bằng cách nào đó.

Công ty lúc đó đang điều đình về việc mở một đường hàng hải ở Mỹ.

" Tại sao cô và Brad không đi New York để kết thúc cuộc điều đình này? " David gợi ý với Kate " Đó sẽ là một kinh nghiệm rất hay cho cô "

Kate muốn rằng David sẽ đi với nàng, nhưng vì tự ái, nàng không nói ra. Nàng sẽ giải quyết vụ này mà không cần đến David. Ngoài ra, nàng chưa hề bao giờ sang Mỹ nên nàng mong đợi có được thêm kinh nghiệm này.

Việc kết thúc cuộc điều đình về đường hàng hải tiến hành một cách trôi chảy. David đã nói với nàng trước khi nàng lên đường "Trong thời gian ở Mỹ, cô nên thăm viếng một vài nơi cho biết "

Kate và Brad đi thăm các chi nhánh công ty ở Detroit, ChiCaGo, Pittsburg và New York. Nàng rất ngạc nhiên về sự lớn lao và năng lực của nước Mỹ. Điểm nổi bật nhất trong cuộc hành trình này là cuộc viếng thăm Dark Harbor ở Maine, trên một hòn đảo nhỏ có tên là Isleboro, trong vịnh Penobscot. Nàng được mời dự tiệc tại nhà Charles Dana Gibson, một nghệ sĩ. Có mười hai người đến dự tiệc hôm ấy, và ngoại trừ Kate, tất cả đều có nhà trên hòn đảo ấy.

" Nơi này có một lịch sử rất thú vị " Gibson nói với Kate " Cách đây nhiều năm, những người sống ở đây thường đi đến đây bằng tàu thủy từ Boston. Khi tàu cập bến, có xe độc mã đến đón họ và đưa về nhà "

" Có bao nhiêu người sống trên hòn đảo này? " Kate hỏi.

" Chừng năm mươi gia đình. Khi chiếc tàu cập bến, cô có thấy ngọn hải đăng ở đấy không? "
" Có "
" Ngọn hải đăng ấy do một người gác và một con chó điều khiển. Khi một chiếc tàu đi ngang qua, con chó chạy ra rung chuông "

Kate cười " Ông nói đùa ấy chứ ".
" Không đâu, thưa cô. Điều buồn cười là con chó ấy bị điêc đặc. Nó đặt tai vào cái chuông để xem nó có rung lên không ".

" Nghe ông nói có vẻ như hòn đảo này hấp dẫn lắm nhỉ? "

" Nếu cô ở lại đây chơi và thăm viếng hòn đảo này vào sáng mai thì chắc cô sẽ không thấy là vô ích đâu ".

Kate bật miệng:" Tại sao lại không? "

Nàng ở lại đêm trong khách sạn duy nhất trên đảo, tên nó là Quán trọ Islesboro. Đến buổi sáng, nàng thuê một chiếc xe ngựa, do một người dân trên đảo điều khiển, rời trung tâm của Dark Harbor, nơi có một cửa hàng bách hóa, một cửa hàng bán đồ sắt, một hiệu ăn và ít phút sau, nàng đi ngang một khu rừng cây rất đẹp. Kate nhận ra rằng các đường nhỏ quanh co đều không có tên. Cả trên các hộp thư cũng không có tên người.

" Không có các dấu hiệu như thế mà người dân ở đây không bị lạc sao? "

" Không. Người dân trên đảo này đều biết nơi nào, có cái gì ".

Kate liếc mắt nhìn ông ta một cái rồi nói:" À ra thế "


Ở phía dưới hòn đảo, họ đi ngang qua một nghĩa địa.

" Bác cho dừng xe lại được không? ", Kate Yêu cầu.

Nàng bước ra khỏi chiếc xe ngựa, đi bộ đến khu nghĩa địa cổ, loanh quanh, nhìn vào các bia mộ.

Bob Pendleton, mất ngày 25 tháng giêng năm 1794, 47 tuổi.

Trên văn bia ghi mấy dòng chữ:" Dưới viên đá này, tôi nằm yên nghỉ trong giấc ngủ êm đềm. Chúa ban phước lành cho chiếc giường nằm của tôi "

Jan, vợ của Thomas Pendleton, mất ngày 25 tháng hai năm 1802, 47 tuổi.

Ở đó còn những linh hồn từ một thế kỷ khác, thuộc về thời đại đã qua lâu rồi. Đại úy William Hatch, chết chìm ở đáy biển Long Island, tháng 10 năm 1866, 30 tuổi. Văn bia ghi:" Đã từng trải qua nhiều bão tố, và vượt qua nhiều sóng cả của cuộc đời "

Kate đứng ở đó một hồi lâu, yêu thích trước cảnh yên lặng, thanh bình.

" Mùa đông ở đây như thế nào? " Kate hỏi.

" Lạnh. Vịnh này thường bị đóng băng nên người ta vẫn đi từ đất liền đến đây bắng xe trượt tuyết. Bây giờ, tất nhiên, chúng tôi đã có phà rồi ".

Họ đi vòng một khúc quanh. Ở nơi kia, bên cạnh bờ nước, là một ngôi nhà hai tầng lợp bằng ván trắng. Xung quanh có trồng các loại cây phi yến, hồng dại và cây thuốc phiện. Các cánh cửa trên tám chiếc cửa sổ đều sơn màu xanh. Bên cạnh các cánh cửa đôi là những chiếc ghế dài và sáu chậu hoa phong lữ. Nó giống như một ngôi nhà trong câu chuyện thần tiên.

" Ai là chủ ngôi nhà ấy? "

" Đó là ngôi nhà xưa kia của gia đình Dreben. Bà Dreben mất cách đây ít tháng "

" Bây giờ ai sống ở đó? "

" Theo tôi biết thì ở đó không có ai cả "

" Ngôi nhà ấy có bán không? "

Người hướng dẫn nhìn Kate và nói:" Nếu có bán thì có lẻ người con trai của một trong các gia đình ở đây sẽ mua nó. Người dân đảo này không dễ dàng bán cho những người lạ mặt "

Nói như vậy với Kate thật là một điều sai lầm.

Một giờ sau, nàng nói chuyện với một luật sư về bất động sản này :" Tôi muốn bàn về ngôi nhà của họ Dreben. Không biết người ta có bán không? " Kate nói.

Viên luật sư bĩu môi:" Có thể có, mà cũng có thể không ".

" Như thế nghĩa là thế nào? "

" Người ta sẵn sàng bán. Nhưng cũng có một số người cũng muốn mua ngôi nhà ấy ".

Lại những gia đình xưa cổ trên hòn đảo này, Kate thầm nghĩ. " Họ đã trả giá chưa? "

" Chưa, nhưng... "

" Tôi sẵn lòng trả giá ". Kate nói.

Viên luật sư nói một cách nhã nhặn " Nhưng ngôi nhà ấy đắt tiền lắm "

" Ông cứ cho giá đi "

" Năm mươi nghìn đô la ".

' Chúng ta lại xem ngôi nhà ấy đi "

Bên trong ngôi nhà còn hấp dẫn hơn là Kate đã tiên đoán. Gian phòng phía trước rộng và rất đẹp, nhìn ra bể qua một bức tường bằng gương. Ở một bên đại sảnh ấy là phòng khiêu vũ lớn, và phía bên kia là một phòng khách lót ván gỗ đã hoen ố vì thời gian. Và kia là một chiếc lò sưởi đồ sộ. Có một cái thư viện, một nhà bếp lớn với một cái lò sắt, một chiếc bàn bằng gỗ thông lớn. Xa hơn chút nữa là phòng để thức ăn của quản gia và một phòng giặt. Ở dưới nhà, có sáu phòng ngủ cho gia nhân và một phòng tắm. Ở tầng trên có một dãy phòng ngủ lớn và bốn phòng ngủ nhỏ. Ngôi nhà ấy lớn hơn là Kate đã mong đợi. Nhưng khi David và mình đã có con, nàng nghĩ thầm, chúng mình sẽ cần tất cả những phòng này. Đất thuộc ngôi nhà chạy dài xuống vịnh, ở đó, có một bến tàu riêng.

Kate quay về phía ông luật sư:" Tôi mua ngôi nhà này "

Nàng quyết định đặt tên nó là Cedar Hill ( Ngôi nhà trên đồi thông ).

Nàng nóng lòng muốn về Klipdrift cho sớm để báo tin này cho David hay.

Trên đường trở về Nam phi, Kate cảm thấy một nỗi hân hoan cuồng nhiệt. Ngôi nhà ở Dark Harbor là một dấu hiệu, một biểu tượng cho biết rằng nàng và David sẽ cưới nhau. Nàng biết rằng David sẽ yêu thích ngôi nhà ấy, cũng giống như nàng.

Vào lúc xế trưa, Kate và Brad về đến Klipdrift. Kate vội vả đến văn phòng David. Anh đang ngồi làm việc ở bàn giấy. Vừa trông thấy David, tim nàng đập lên thình thình. Nàng chưa nhận thức được là nàng đã mong nhớ anh đến thế nào.

David đứng dậy:" Kate, mừng cô đã về nhà! "

Rồi trước khi nàng kịp mở lời, anh nói:" Tôi muốn cô là người đầu tiên được biết tin này. Tôi sắp sửa lấy vợ ".






0
Cưòng đã đánh chương 13 chưa? thôi. Nga cứ gửi chương 12 và 13 nhé.
Chương 12
Một đêm mùa hè nóng nực vào năm 1914, Kate McGregor đang ngồi làm việc một mình trong văn phòng tại toà nhà trụ sở chính của Công ty Hữu hạn Kruger-Brent, bỗng nghe có tiếng xe hơi tiến lại gần. Nàng đặt tập hồ sơ đang xem giở xuống, bước đến cửa sổ, nhìn ra ngoài. Hai chiếc xe cảnh sát và một chiếc xe tuần tra đã dừng lại trước toà nhà. Kate đứng nhìn, nhăn mặt lại, trong khi sáu người cảnh sát mặc đồng phục nhảy ra khỏi xe, vội vã chặn các cổng ra vào toà nhà. Lúc ấy đã khuya, đường phố vắng tanh. Kate bắt gặp hình ảnh của mình phản chiếu lờ mờ trên kính cửa. Nàng là một phụ nữ xinh đẹp với cặp mắt xám nhạt của cha và hình dáng đầy đặn của mẹ.
Có tiếng gõ trên cánh cửa văn phòng. Kate gọi to: “Cứ vào.”
Cánh cửa mở ra, hai người mặc đồng phục bước vào. Một người đeo huy hiệu chức vụ thanh tra cảnh sát.
“Chuyện gì xảy ra thế?”. Kate hỏi.
“ Tôi xin lỗi đã quấy rầy cô vào giờ này, cô McGregor. Tôi là Thanh tra Cominsky.”
“Có vấn đề gì vậy, ông Thanh tra?”
“Chúng tôi nhận được báo cáo cho biết có một tên giết người vượt ngục vừa mới đi vào toà nhà này.”
Vẻ kinh ngạc hiện rõ trên nét mặt Kate. “Vào toà nhà này?”
“Thưa cô, vâng ạ. Hắn có vũ khí và rất nguy hiểm.”
Kate nói với vẻ lo sợ: “Vậy tôi rất cảm ơn, ông Thanh tra ạ, nếu ông tìm ra được hắn và đưa hắn ra khỏi nơi này.”
“Đó chính là điều chúng tôi dự định làm đó. Cô McGregor ạ. Vậy cô có thấy hay nghe cái gì khả nghi không?”
“Không. Nhưng tôi ở đây một mình, và có rất nhiều nơi người ta có thể ẩn nấp được. Tôi muốn ông cho người các ông lục soát nơi này thật kỹ.”
“Chúng tôi sẽ khởi sự ngay bây giờ.”
Viên thanh tra quay lại, gọi những người đang đứng trong hành lang, “Toả ra khắp nơi. Bắt đầu bằng hầm nhà, rồi soát đến tận mái nhà.” Ông ta quay lại Kate, “Có phòng nào khoá kín không?”
“Chắc là không, “ Kate nói, “Nhưng nếu có, tôi sẽ mở ra cho ông.”
Thanh tra Cominsky trông thấy vẻ lo sợ rõ rệt ở nàng, nhưng ông không thể trách gì được. Nàng chắc hẳn còn cuống lên nữa nếu biết được rằng kẻ mà họ đang tìm kiếm nguy hiểm đến như thế nào. “Chúng tôi sẽ tìm ra hắn,” ông ta cố trấn an Kate.
Kate nhặt tờ báo cáo nàng đang đọc giở, nhưng không thể nào tập trung được. Nàng nghe tiếng cảnh sát sục sạo khắp toà nhà, từ phòng này đến phòng kia. Không biết họ có tìm ra hắn không nhỉ? Nàng rùng mình.
Các cảnh sát viên di chuyển chậm chạp, lục lọi một cách có phương pháp từng ngõ ngách từ hầm nhà lên đến mái nhà. Bốn mươi lăm phút sau, viên thanh tra Cominsky trở lại phòng giấy của Kate.
Nàng nhìn vào mặt ông ta. “Ông không tìm ra hắn?”
“Chưa, nhưng xin cô đừng lo…”
“Tôi lo lắm, ông thanh tra ạ. Nếu có một tên giết người vượt ngục lẻn vào trong toà nhà này, tôi rất mong ông tìm ra hắn.”
“Chắc chắn sẽ tìm được, thưa cô McGregor. Chúng tôi có chó săn.”
Từ nơi hành lang, nàng nghe có tiếng chó sủa, và một lát sau, một người huấn luyện chó săn đi vào với hai con chó săn giống Đức to lớn buộc ở đầu sợi dây.
“Những con chó này đã lục lọi khắp toà nhà, thưa ông. Chỉ còn văn phòng này là chưa lục soát thôi.”
Viên thanh tra quay về phía Kate. “Cô có lúc nào rời khỏi văn phòng này trong chừng một giờ qua không?”
“Có, tôi đi tìm ít giấy tờ trong phòng chứa hồ sơ. Ông nghĩ rằng hắn có thể…” Nàng rùng mình. “Tôi muốn ông lục soát văn phòng này hộ tôi.”
Viên thanh tra ra hiệu lệnh. Người huấn luyện thả chó ra khỏi sợi dây, ra lệnh, “Tìm đi!”
Hai con chó như điên cuồng. Chúng chạy đến một cánh cửa đóng kín sủa ầm ĩ.
“Ôi, Lạy Chúa!” Kate kêu lên. “Hắn ở trong đó!”
Viên thanh tra rút súng ra. “Mở cánh cửa ấy ra!” Ông ra lệnh.
Hai viên cảnh sát tiến đến cánh cửa tủ ăn sâu vào tường, tay lăm lăm khẩu súng, rồi kéo cánh cửa mở ra. Chiếc tủ trống rỗng. Một con chó lại chạy đến một cánh cửa khác, cào lên đó dữ dội.
“Cửa này dẫn đến đâu vậy?”
“Đến một phòng rửa ráy.”
Hai viên cảnh sát đứng thủ thế ở hai bên cánh cửa, rồi giật mạnh nó ra. Không ai bên trong đó cả.
Viên huấn luyện chó có vẻ bối rối: Những con chó này không bao giờ hành động như vậy trước đây.” Hai con chó chạy cuồng loạn quay căn phòng. “Chúng đã đánh hơi được rồi. Nhưng hắn ta ở đâu kia chứ?”
Cả hai con chó chạy đến một ngăn kéo ở bàn viết của Kate và tiếp tục sủa.
“À, tôi hiểu ra rồi,” Kate cố cười lên thật to. “Hắn ta ở trong ngăn kéo của tôi đấy1”
Viên thanh tra Cominsky tỏ vẻ bối rối, “Tôi xin lỗi đã quấy rày cô, thưa cô McGregor.” Rồi quay về phía viên huấn luyện, ông ta gắt lên, “Đem mấy con chó ra khỏi đây!”
“Ông không bỏ đi chứ?” Giọng Kate đượm vẻ lo ngại.
“Thưa cô McGregor, tôi có thể cam đoan với cô rằng cô hoàn toàn không gặp nguy hiểm gì cả. Người của tôi đã lục lọi từng ngõ ngách trong toà nhà này rồi. Tôi có thể đưa ra lời bảo đảm rằng tên ấy không có ở đây. Tôi e rằng đây chỉ là một vụ báo động hão thôi. Tôi xin lỗi cô.”
Kate nuốt nước bọt đánh ực một cái. “Chắc ông cũng biết ông đã làm một người đàn bà phải lo sợ đến thế nào vào buổi tối như thế này.”
Kate đứng ở cửa sổ nhìn ra, theo dõi cho đến khi chiếc xe hơi cuối cùng của cảnh sát đã đi ra. Khi họ đã biến mất hút, nàng mở ngăn kéo bàn biết, rút ra một đôi giày vải đẫm máu. Nàng mang nó xuống hành lang, đến một cánh cửa có ghi dòng chữ “Phòng riêng, chỉ dành cho nhân viên có thẩm quyền”, rồi nàng đi vào.Căn phòng này trống trơn, chỉ có một tủ sắt lớn, xây hẳn vào trong tường. Đó là hầm chứa kim cương của Công ty Kruger-Brent trước khi được chở xuống tàu. Kate quay các con số trên tủ sắt, rồi kéo cánh cửa đồ sộ ra. Hàng chục hộp sắt bằng kim khí được gắn hẳn vào các cạnh của hầm, tất cả đều chứa đầy kim cương. Ở ngay giữa hầm này, có một người gần như bất tỉnh nằm ngay trên sàn. Đó là Banda.
Kate quì xuống bên cạnh anh. “Bọn họ đi rồi”
Banda chậm rãi mở mắt ra, cố mở một nụ cười yếu ớt. “Nếu tôi có cách nào ra khỏi cái hầm này, cô có biết tôi sẽ giàu có đến như thế nào không, cô Kate?”
Kate đỡ Banda đứng dậy. Anh nhăn mặt lại đau đớn khi nàng sờ vào cánh tay anh. Nàng đã băng bó cho anh, nhưng máu vẫn rỉ ra qua lớp vải.
“Bác có đi giày lấy được không?” Chính nàng đã cởi đôi giày ấy ra cho anh trước đó, và để đánh lạc hướng các chó săn mà nàng biết thế nào cũng được đưa đến đây, nàng xỏ chân vào đôi giày ấy và đi lòng vòng trong văn phòng, rồi đem giấu chúng trong ngăn kéo.
Bây giờ, Kate nói, “Nào, chúng ta phải rời ngay đây.”

Banda lắc đầu nói, “Tôi sẽ đi một mình. Nếu họ bắt gặp cô giúp đỡ cho tôi thì chắc chắn sẽ có lôi thôi to.”
”Cứ để một mình tôi lo chuyện ấy.”
Banda đưa mắt nhìn một vòng xung quanh hầm.
“Bác có cần đem theo một it kim cương không? Xin bác cứ lấy tự nhiên.”
Banda nhìn vào mặt Kate, và nhận ra rằng cô đã nói nghiêm chỉnh. “Bố cô đã từng nói với tôi như vậy xưa kia.”
Kate cười ngượng nghịu, “Tôi biết”
“Tôi không cần tiền. Tôi chỉ cần phải rời khỏi thị trấn này một thời gian.”
“Bác nghĩ làm thế nào ra khỏi Johannesburg được?”
“Tôi sẽ tìm cách.”
“Nghe đây này. Cảnh sát đã chặn tất cả các ngả đường. Mọi nơi ra vào thành phố đều bị canh gác. Một mình bác không có cơ may nào đi lọt đâu.
Banda nói một cách bướng bỉnh, “Cô đã giúp tôi quá nhiều rồi.” Anh đã xỏ được đôi giày vào chân. Hình dáng anh trông thật là tiều tuỵ. Anh đứng ở đấy, mặc chiếc áo sơ mi và áo vét rách rưới đẫm máu. Mặt anh đầy sẹo, tóc bạc, nhưng khi Kate nhìn anh, nàng thấy anh vẫn là con người cao lớn, đẹp đẽ giống như nàng trông thấy anh lần đầu tiên, khi nàng còn là một đứa trẻ nhỏ.
“ Bác Banda ạ, nếu người ta bắt được bác, họ sẽ giết bác đấy,” Kate lặng lẽ nói, “Bác sẽ đi với tôi.”
Nàng biết nàng đã nói đúng về các nút chặn của cảnh sát. Mọi ngõ ra vào Johannesburg đều được canh gác kỹ bởi các toán tuần tra cảnh sát. Việc tóm bắt Banda được coi là ưu tiên hàng đầu và các nhà chức trách đã được lệnh đem anh ta về, dù là sống hay chết. Các nhà ga xe hoả và đường xá cũng đều được canh chừng.
“Tôi hi vọng rằng cô có một kế hoạch hay hơn là kế hoạch của bố cô xưa kia,” Banda nói. Giọng anh yếu hẳn. Kate tự hỏi không biết anh đã mất bao nhiêu máu.
“Bác đừng nói chuyện nữa. Hãy dành sức khoẻ lại. Để mọi thứ cho tôi lo liệu.” Giọng Kate có vẻ chắc chắn hơn sự tin tưởng của chính nàng. Mạng sống của Banda nằm trong tay nàng, và nàng không thể nào chịu đựng được, nếu có chuyện gì xảy ra với Banda. Một lần nữa, có lẽ đây là lần thứ một trăm, nàng ao ước rằng David đừng phải đi xa. Lúc này, nàng sẽ phải giải quyết mọi thứ mà không có sự giúp đỡ của David.
“Tôi sẽ đánh xe vòng đến lối đi.” Kate nói. “Bác chờ tôi độ mười phút rồi bác hãy đi ra ngoài. Tôi sẽ để mở cánh cửa sau của chiếc xe. Bác hãy lẻn vào xe, nằm ở dưới sàn. Sẽ có một tấm mền ở đó để bác phủ lên người.”
“Kate ạ, chúng nó lục lội mọi chiếc xe hơi rời thành phố.”
“Chúng ta sẽ không đi bằng xe hơi, bác ạ. Sẽ có một chuyến tàu hoả đi Cape Town vào lúc tám giờ sáng. Tôi sẽ ra lệnh cho nối toa xe riêng của tôi vào đó.”
“Thế cô định đưa tôi ra khổi nơi này bằng toa riêng của cô à?”
“Đúng vậy.”
Banda cố nở một nụ cười. “Những người trong họ McGregor của cô quả thực chỉ thích những chuyện hồi hộp, gay cấn!”

Ba mươi phút sau, Kate lái xe đến bãi xe hoả. Banda nằm trên sàn xe ở ghế sau, nấp dưới một tấm mền. Họ không gặp rắc rối gì khi đi qua các nút chặn trong thành phố, nhưng khi chiếc xe hơi của Kate đi vào trong bãi đậu xe hoả, bỗng có ánh đèn loé lên, Kate thấy rằng con đường đã bị ngăn chặn bởi nhiều cảnh sát viên. Một dáng người quen thuộc tiến đến gần chiếc xe hơi.
“Thanh tra Cominsky!”
Ông ta có vẻ ngạc nhiên. “Cô McGregor, cô định làm gì ở đây?”
Nàng nhìn ông ta, nở một nụ cười rất nhanh, có vẻ lo sợ, “Chắc ông sẽ cho tôi là một người đàn bà ngớ ngẩn, yếu đuối, ông thanh tra ạ, nhưng thú thật với ông, chuyện xảy ra vừa rồi ở văn phòng làm cho tôi sợ mất hồn vía. Tôi đã quyết định rời khỏi thành phố này cho đến khi nào các ông bắt được tên giết người các ông đang lùng kiếm ấy. Thế các ông đã bắt được hắn chưa?”
“Thưa cô, chưa ạ. Nhưng thế nào rồi cũng bắt được. Tôi có linh cảm rằng hắn sẽ đến bãi xe hoả này. Hắn có chạy đằng trời cũng không thoát được.”
“Tôi cũng hi vọng là như vậy.”
“Cô định đi đâu?”
“Toa xe riêng của tôi đang đậu ở đằng kia. Tôi sẽ dùng toa ấy để đi Cape Town.”
“Cô có cần một số người của tôi đi theo hộ tống không?”
“Ồ, cám ơn ông thanh tra, nhưng điều đó không cần thiết lắm. Bây giờ tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn nhiều vì biết có ông và các nhân viên của ông ở đây.”
Năm phút sau, Kate và Banda đi vào chiếc toa xe an toàn. Nơi ấy tối đen như mực.
“Xin lỗi. Tôi không muốn đốt đèn lên.” Kate nói.
Nàng đỡ Banda lên giường nằm. “Bác sẽ ở đây an toàn cho đến sáng mai. Khi chúng ta bắt đầu khởi hành, bác sẽ nấp trong phòng tắm rửa.”
Banda gật đầu, “Cám ơn cô.”
Kate kéo các tấm che ở cửa sổ. “Bác có bác sĩ nào săn sóc bác khi chúng ta đến Cape Town hay không?”
Banda ngước mặt lên hỏi: “Chúng ta?”
“Bác nghĩ rằng tôi có thể để cho bác đi một mình hay sao? Như vậy thì còn gì là vui thú nữa?”
Banda ngả đầu về phía sau, cười lớn, “Thật đúng là cha nào con nấy!”
Vào lúc bình minh vừa rạng, một đầu xe hoả đến kéo toa xe riêng của Kate đến con đường ray chính, ráp vào phía sau đoàn tàu sắp đi Cape Town. Toa xe lắc lư một lát khi được ráp nối với đoàn tàu.
Đúng tám giờ, chiếc tàu rời khỏi ga. Kate đã nhắn nhủ mọi ngưoiừ rằng nàng không muốn bị ai quấy rầy. Vết thương của Banda đang chảy máu. Kate lo chăm sóc cho anh. Nàng chưa có dịp hỏi han Banda từ đêm hôm trước, khi Banda loạng choạng bước vào văn phòng nàng trong tình trạng gần như chết. Bây giờ nàng mới nói.”Bác Banda, bác hãy kể lại cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.”

Banda ngước mắt lên nhìn Kate và suy nghĩ. Bắt đầu bằng chỗ nào bây giờ? Làm sao mà giải thích cho Kate nghe về chuyện những người Boer đã đẩy lui người dân Bentu ra khỏi đất đai tổ tiên của họ? Phải chăng mọi sự khởi đầu từ đấy? Hay là anh bắt đầu kể từ câu chuyện tên khổng lồ Oom Paul Kruger, Tổng thống Transvaal, đã từng nói trong bài diễn văn đọc tại Quốc Hội: “Chúng ta phải là chúa tể của bọn da đen, và bắt dòng giống chúng nó phải thần phục chúng ta…” Hay là bắt đầu với câu chuyện về Cecil Rhodes, người xây dựng đế quốc vĩ đại, đã từng đưa ra phương châm, “Phi châu là của người da trắng?” Anh làm thế nào tóm lược lịch sử của dân tộc anh chỉ trong một câu nói? Nhưng anh đã nghĩ ra được một cách. Banda nói, “Bọn cảnh sát đã giết con trai tôi.”
Câu chuyện lúc này bắt đầu tuôn ra. Người con trai đầu của Banda, tên là Ntombenthle, đang tham dự một cuộc mít tinh chính trị thì cảnh sát đến giải tán. Nhiều phát súng bắn ra, rồi cuộc nổi loạn bắt đầu. Ntombenthle bị bắt, rồi sáng hôm sau người ta thấy anh bị treo cổ trong xà lim. “Chúng nó bảo rằng đó là một vụ tự vẫn.” Banda kể. “Nhưng tôi biết rõ thằng con trai tôi. Đó là một vụ ám sát.”
“Lạy Chúa, anh ấy còn ít tuổi quá,” Kate thì thào. Nàng nhớ lại những lúc chơi đùa, cười cợt với nhau, Ntombenthle là một đứa con trai xinh đẹp. “Tôi rất lấy làm tiếc, bác Banda, ạ. Rất lấy làm tiếc. Nhưng tại sao họ lại săn đuổi bác?”
“Sau khi cúng nó giết thằng bé, tôi bắt đầu tập hợp những ngời da đen lại. Tôi phải chống trả lại chúng nó, Kate ạ. Tôi không thể khoanh tay ngồi đó mà không làm gì cả. Bọn cảnh sát gọi tôi là kẻ thù quốc gia. Chúng bắt tôi về tội ăn cướp mà tôi không hề có nhúng tay, rồi xử tôi hai mười năm tù. Bốn người trong số chúng tôi vượt ngục. Một tên lính gác bị bắn chết, thế là chúng trút cả tội lỗi lên đầu tôi. Tôi chẳng bao giơ cầm khẩu súng trong đời tôi.”
“Tôi tin bác,” Kate nói. “Việc đầu tiên tôi cần phải làm là đưa bác đến một nơi an toàn.”
“Tôi rất tiếc đã khiến cho cô dính líu đến việc này.”
“Bác không khiến cho tôi phải dính líu việc gì cả. Bác là bạn của tôi mà.”
Banda mỉm cười. “Cô có biết người da trắng đầu tiên đã gọi tôi là bạn, đó là ai không? Bố cô đó.” Anh thở dài. “Làm thế nào mà cô lén đưa tôi ra khỏi tàu hoả ở Cape Town được?”
“Chúng ta sẽ không đi Cape Town.”
“Nhưng chính cô đã nói là…”
“Tôi là một phụ nữ. Tôi có quyền thay đổi ý kiến.”
Vào giữa đêm hôm ấy, khi chiếc tàu dừng lại ở ga Wercester, Kate thu xếp cho chiếc toa riêng của nàng được tháo rời khỏi đoàn tàu và kéo đến một đường ray bên cạnh. Khi thức dậy vào buổi sáng, nàng đã đi đến chiếc giường vải của Banda. Chiếc giường trống trơn. Banda đã bỏ đi rồi. Anh đã từ chối không muốn cho nàng phải liên luỵ. Kate lấy làm buồn vì chuyện này, nhưng nàng tin chắc rằng Banda sẽ được an toàn. Bác ấy sẽ có nhiều bạn bè chăm nom cho bác. David sẽ lấy làm hãnh diện về mình, Kate nghĩ thầm.
“Tôi không thể tin nổi vì sao cô có thể ngu xuẩn đến như vậy.” David gầm lên, khi Kate trở về nhà từ Johannesburg, và kể cho anh nghe mọi chuyện. “Không những cô gây nguy hại cho sự an toàn của bản thân cô, mà còn đặt công ty trong một tình trạng nguy hiểm. Nếu cảnh sát bắt được Banda ở đây, cô có biết họ làm gì không?”
Kate trả lời với vẻ thách thức: “Có chứ. Chúng nó sẽ giết bác ấy.”
David vò đầu bứt tai. “Cô chẳng hiểu chút gì cả hay sao?”
“ Anh nói đúng đấy, tôi hiểu lắm chứ. Tôi hiểu rằng anh là con người lạnh lùng, vô cảm xúc.” Mắt nàng bừng lên giận dữ.
“Cô vẫn là một đứa bé con thôi.”
Nàng giơ bàn tay lên định đánh anh, nhưng David đã kịp giữ lấy tay nàng lại. “Kate, cô phải biết dằn cơn giận dữ của mình.”
Những tiếng nói ấy dội lại trong đầu óc Kate. Kate cô phải biết dằn cơn giận dữ của mình.
Đã khá lâu rồi, khi nàng mới bốn tuổi, giữa lúc nàng đang đám đá với một đứa bé trai dám trêu chọc nàng, thì David xuất hiện, làm cho thằng bé ấy bỏ chạy. Kate sắp sửa đuổi theo hắn thì David chụp lấy nàng. “Ngưng lại, Kate. Cô phải biết dằn lại cơn giận dữ của mình. Con gái không đấm đá như thế bao giờ.”
“Tôi không phải là con gái nhỏ,” Kate gắt lên. “Thả tôi ra.” David đành phải thả nàng ra.
Chiếc áo màu hồng của nàng dính đầy bùn và rách rưới, một bên má bị bầm.
“Để tôi lau sạch cho cô trước khi mẹ cô bắt gặp,” David nói.
Kate nhìn theo thằng bé đang chạy trốn với vẻ luyến tiếc. “ Nếu như anh để mặc tôi thì tôi đã nện cho hắn một trận nên thân rồi.”
David nhìn xuống khuôn mặt bé nhỏ hầm hầm, rồi cười to lên. “Cô có thể làm như thế thật đấy.”
Kate dịu đi, để mặc cho David bồng nàng lên, đưa về nhà. Nàng thích được bồng trong tay David.Anh là người lớn duy nhất có thể cảm thông với nàng. Mỗi khi anh trở lại thị trấn, anh thường chơi với nàng. Vào những lúc rảnh rỗi, Jamie McGregor đã từng kể cho David nghe về những cuộc phiêu lưu của anh với Banda, và bây giờ đây, David kể lại những câu chuyện ấy cho Kate. Nàng nghe mà không biết chán.
“ Anh hãy kể cho tôi nghe về chiếc bè mà bố tôi và Banda đã đóng đi.”
Rồi David kể cho nàng nghe.
“ Anh kể cho tôi nghe về chuyện những con cá mập đi. Kể cho tôi về sương mù ở bể, gọi là “mis” ấy. Kể cho tôi nghe về cái ngày mà…”
Kate ít khi gặp được mẹ. Margaret qua bận rộn về việc điều hành các công việc của Công ty Kruger-Brent. Nàng làm những việc ấy thay cho Jamie.
Margaret vẫn nói chuyện với Jamie mỗi đêm, y hệt như những năm trước khi chàng qua đời. “ David giúp đỡ cho mình rất đắc lực, Jamie ạ. Rồi khi nào Kate đứng ra điều khiển Công ty, nó sẽ có David ở bên cạnh. Em không muốn làm anh phải lo lắng, nhưng thực sự em không biết xử trí như thế nào với con bé ấy…”
Kate là một cô gái bướng bỉnh, ngoan cố, và quá quắt. Nàng không chịu tuân theo lời mẹ dạy hay bà Talley. Nếu họ chọn cho nàng một chiếc áo dài nào đó để mặc. Kate thường gạt nó sangmột bên, mặc chiếc áo khác. Nàng cũng không chịu ăn uống đàng hoàng. Nàng ăn những gì nàng thích, bất cứ khi nào nàng muốn, mà không ai có thể hăm doạ hay dụ dỗ nàng thay đổi ý kiến được. Khi nào bắt buộc phải đi dự một tiệc sinh nhật nào đó, nàng tìm mọi cách để phá hỏng mọi dự tính. Nàng không có bán gái,từ chối không chịu theo lớp học khiêu vũ. Thay vào đó, nàng dùng thì giờ chơi bóng bầu dục với bọn con trai. Khi Kate bắt đầu đi đến trường, nàng đã nổi tiếng là tinh nghịch, đến nỗi Margaret phải đến gặp bà hiệu trưởng mỗi tháng một lần để xin lỗi cho Kate và để nàng khỏi bị đuổi ra khỏi trường.
“Tôi không hiểu được cô ấy, bà McGregor ạ,” bà Hiệu trưởng thở dài nói, “Cô ấy thông minh tuyệt vời, nhưng chống đối tất cả mọi thứ. Tôi không biết xử trí với cô ấy như thế nào.”
Cả Margaret cũng chịu không biết xử trí ra sao.

Người duy nhất có thể xử trí được với Kate là David. “Tôi biết rằng cô được mời dữ lễ sinh nhật trưa hôm nay.” David nói.
“Tôi ghét các buổi sinh nhật.”
David cúi xuống ngang tầm mặt Kate rồi nói: “Tôi biết cô không thích, Kate ạ. Nhưng cha cô bé có buổi tiệc sinh nhật ngày hôm nay là một người bạn thân của tôi.Nếu cô không đi dự và cư xử như là co gái đàng hoàng thì tôi bẽ mặt với người ta quá.”
Kate nhìn thẳng vào mặt David, “Ông ấy là một người bạn tốt của anh à?”
“Phải.”
“ Vậy thì tôi sẽ đi dự.”
Thái độ, cử chỉ của nàng trưa hôm ấy thật là không chê vào đâu được.
“Tôi không hiểu bằng cách nào anh làm như vậy được.” Margaret nói với David. “Thật giống như là phép lạ.”
“Cô ấy chỉ có tính kiêu kỳ.” David cười và nói. “Lớn lên rồi sẽ hết thôi. Điều quan trọng là mình nên cẩn thận, không tìm cách phá vỡ nó đi.”
“Tôi muốn nói với anh một điều bí mật này,” Margaret nói với vẻ tức giận, “ Nhiều lúc tôi chỉ muốn bẻ gãy cổ nó ra thôi.”

Lúc Kate lên mười, nàng nói với David, “ Tôi muốn gặp Banda.”
David nhìn nàng ngạc nhiên. “Tôi e rằng chuyện ấy không thể thực hiện được, Kate ạ. Nông trại của BaAnda cách đây xa lắm.”
“ Anh bằng lòng đi với tôi đến đó, hay là anh muốn tôi đi một mình?”
Tuần lễ kế tiếp đó, David đưa Kate đến nông trại của Banda. Đó là một mảnh đất khá lớn, chừng hai mẫu, ở đó Banda trồng lúa mạch, nuôi cừu và đà điểu. Khu ăn ở là những túp lều hình tròn với tường trát bùn khô. Nhiều chiếc cột chống đỡ một mái nhà hình chóp, lợp bằng rơm. Banda đứng ở trước cửa nhìn chiếc xe của David và Kate đi đến, rồi cả hai rời khỏi xe. Banda nhìn cô gái mặt mũi nghiêm trang đang ngượng ngùng đứng bên cạnh David, rồi nói, “Tôi có thể đoán ra được ngay rằng đây là con gái của Jamie McGregor.”
“ Và tôi cũng có thể đoán chắc bác là Banda,” Kate nói một cách nghiêm nghị. “Tôi đến để cám ơn bác đã cứu sống cha tôi.”
Banda cười. “Chắc có người nào đó đã kể lại cho cô nghe rồi chứ gì. Vào trong này đi, để tôi giới thiệu với mọi người trong gia đình tôi.”
Bà vợ của Banda là một người đàn bà Bantu xinh đẹp, cô tên là Ntame. Banda có hai con trai, Ntombenthle, lớn hơn Kate bảy tuổi, và Magena, hơn Kate sáu tuổi. Ntombenthle là hình ảnh thu nhỏ lại của cha anh. Nó cũng có những nét đẹp trai, dáng diêu hãnh và vẻ chững chạc giống như bố.
Suốt cả trưa hôm ấy, Kate nô đùa với hai đứa con trai của Banda. Chúng ăn cơm trong một căn bếp của ngôi nhà nhỏ, ngăn nắp trong nông trại. David cảm thấy hơi cấn cái khi ăn cơm với một gia đình da đen. Anh kính trọng Banda, nhưng theo truyền thống, không có những cuộc giao tiếp thân mật giữa hai sắc tộc. Thêm vào đó nữa, David lo ngại về các hoạt động chính trị của Banda. Có nhiều báo cáo cho biết rằng Banda là một môn đệ của John Tengo Javabu, mà ông này đang tranh đấu cho những thay đổi quyết liệt trong xã hội. Vì các chủ mỏ không tìm ra đủ số người dân bản xứ để làm việc cho họ nên chính phủ đã đặt một thứ thuế mười shiling đánh vào những người dân bản xứ nào không làm phu mỏ, vì vậy có nhiều cuộc nổi loạn nổ ra ở khắp nơi tại Nam Phi.
Lúc trời đã gần về chiều, David nói với Kate, “Ta nên bắt đầu lên đường trở về nhà đi, Kate. Đường xa lắm.”
“Chưa đâu.” Kate quay về phía Banda. “Bác kể cho cháu nghe về chuyện những con cá mập đi.”
Từ đó trở đi, mỗi khi David có mặt trong thị trấn, Kate thường bắt anh đưa nàng đến thăm Banda và gia đình.

Lời bảo đảm của David rằng Kate lớn lên sẽ mất tính kiêu kỳ đi vẫn chưa thấy có dấu hiệu nào được thực hiện. Nếu có sự thay đổi gì chăng thì người ta chỉ thấy nàng mỗi ngày mỗi thêm ngang bướng. Nàng từ chối thẳng thừng không chịu tham gia vào các hoạt động của các cô gái khác cùng lứa tuổi với nàng. Nàng cứ khăng khăng đòi đi vào trong các mỏ cùng với David, và anh cũng phải tham dự cùng với nàng vào các cuộc săn bắn, câu cá và cắm trại. Kate rất thích các hoạt động như vậy. Một hôm, khi Kate và David đi câu cá ở sông Vaal, và Kate kéo lên được một con cá hồi lớn hơn bất cứ con cá nào David đã câu được, anh nói: “Lẽ ra cô là một đứa con trai mới phải.”
Nàng quay lại về phía David, tỏ vẻ bực bội, “ Đừng có nói bậy, David. Nếu thế thì làm sao tôi lấy được anh.”
David cười.
“ Chúng mình sẽ cưới nhau, anh biết không?”
“Tôi e rằng không được Kate ạ. Tôi lớn hơn cô đến hai mươi tuổi. Cũng khá lớn tuổi để có thể đóng vai một ông bố của cô được. Một ngày kia, cô sẽ gặp một chàng trai, một chàng trai trẻ rất dễ thương…”
“ Tôi không thích một chàng trai trẻ dễ thương” nàng nói một cách ranh mãnh. “Tôi chỉ thích anh thôi.”
“ Nếu cô nói thật sự nghiêm chỉnh, vậy thì tôi sẽ bảo chô cô biết điều bí mật đối với trái tim của một người đàn ông nhé,” David nói.
“ Anh nói cho tôi biết đi!” Kate hăm hở giục.
“Qua cái dạ dày của chàng trai ấy. Hãy rửa sạch con cá hồi ấy để chúng ta cùng ăn trưa.”

Trong đầu óc của Kate, nàng không có một chút nghi ngờ nào rằng nàng sẽ lấy David Blackwell. Chàng là ngưòi đàn ông duy nhất trên thế giới này đối với nàng.

Mỗi tuần lễ một lần, Margaret mới David đến ăn cơm tối tại ngôi nhà lớn. Như thường lệ, Kate thích ăn cơm tối trong bếp cùng các gia nhân, vì ở đấy nàng không cần phải để ý đến thái độ, cử chỉ. Nhưng vào những tối Thứ sáu, khi David đến, Kate ngồi trong phòng ăn lớn. David thường đến một mình, nhưng đôi khi anh cũng đem đến một khách mời phụ nữ, thế là Kate đâm ra ghét những người ấy ngay lập tức.
Kate thường gọi David ra một chỗ riêng và nói với một vẻ dịu dàng, ngây thơ, “Tôi chưa hề bao giờ thấy tóc ai có sắc thái tóc vàng như thế cả”, hay, “Chắc hẳn cô ấy có cái “gu” đặc biệt về quần áo, phải thế không?” hay “Cô ấy có phải là một trong các cô gái điếm ở nhà bà Agnès không?”

Khi Kate được mười bốn tuổi, bà hiệu trưởng mời Margaret đến. “Trường học do tôi điều khiển vẫn nổi tiếng là một trường học đàng hoàng, có uy tín, bá McGregor ạ. Tôi sợ rằng cô Kate, con bà, có thể tạo ảnh hưởng xấu.”
Marganet thở dài, “Lần này thì nó đã làm những trò gì?”
“Cô ấy dạy bọn trẻ con khác thứ ngôn ngữ chúng không hề bao giờ nghe trước đó”. Mặt bà tỏ vẻ tức giận. “Tôi có thể nói thêm, thưa bà McGregor ạ, rằng chính tôi cũng chưa hề nghe một số từ ấy bao giờ. Tôi không hiểu cô bé đã nhặt được những tiếng ấy ở đâu”
Nhưng Margaret hiểu Kate đã nhặt được lối nói ấy từ các bạn bè của nó trên đường phố, “Thôi được”, Margaret quyết định, “ Bây giờ là lúc cần phải chấm dứt tất cả những chuyện như thế”.
Bà hiệu trưởng nói, “ Thôi ước mong rằng bà sẽ chỉ bảo cô ấy. Chúng tôi cho cô ấy thêm một cơ hội nữa để sửa chữa, nhưng…”
“Không. Tôi có ý kiến tốt hơn thế. Tôi sẽ cho Kate đi học xa nhà”

Khi Margaret nói với David về ý định này, thì David cười và nói, “Cô ấy sẽ không thích như vậy đâu”
“Tôi không thể làm khác thế được. Lần này, bà hiệu trưởng phàn nàn về thứ ngôn ngữ mà Kate vẫn dùng. Nó đã học thứ ngôn ngữ ấy từ những người đi tìm kim cương mà nó lúc nào cũng quấn lấy xungquanh. Con gái tôi bắt đầu giống hệt như họ qua giọng nói, dáng điệu và cả cái mùi hôi hám của họ nữa. Nói thật với anh, David ạ, tôi không hiểu nó chút nào. Tôi không biết vì sao nó có tư cách như vậy. Nó xinh đẹp, nó thông minh, nó…”
“Có lẽ cô ấy quá thông minh”
“Thôi được, quá thông minh hay không, tôi cũng sẽ cho nó đi học xa nhà”
Khi Kate trở về nhà hôm ấy, Margaret tiết lộ cho nàng biết tin này. Kate đùng đùng nổi giận, “Mẹ cố tìm cách dứt bỏ con”
“Dĩ nhiên là không rồi, con yêu quí ạ. Mẹ chỉ nghĩ rằng con sẽ được sống thoải mái hơn…”
“Con sống ở đây thoải mái hơn. Tất cả các bạn bè của con đều ở đây. Mẹ cố tách rời con ra xa bạn bè”
“Nếu con muốn nói về hạng người hạ lưu ấy thì con…”
“Họ không phải là hạng người hạ lưu. Họ cũng tốt như bất cứ ai”
“Kate ạ, mẹ không muốn cãi với con. Con sẽ đến ở trong một kí túc xá dành cho các cô gái con nhà tử tế. Mẹ đã quyết định như thế rồi, không thể thay đổi gì nữa”
“Con sẽ tự tử” Kate doạ.
“ Được rồi, con ạ. Ở trên gác có sẵn con dao cạo đấy, và nếu chịu khó tìm xung quanh, con chắc chắn cũng sẽ tìm thấy nhiều loại thuốc độc khác nhau trong nhà này”
Kate bật khóc “Xin mẹ đừng làm như vậy với con, mẹ ơi!”
Margaret ôm con gái vào lòng. “Như vậy là để cho con nên người, Kate ạ. Chẳng bao lâu nữa con sẽ là một thiếu nữ rồi. Con sẽ đến tuổi lấy chồng. Không một người đàn ông nào chịu lấy một đứa con gái nói năng ăn mặc và có thái độ, cử chỉ như con đâu”
“Mẹ nói thế là không đúng” Kate sụt sịt nói “ David đâu có để ý đến những thứ ấy”
“ David thì có liên quan gì đến chuyện này?”
“ Chúng con sẽ lấy nhau mà”
Margaret thở dài “ Để mẹ bảo bà Talley gói ghém các đồ đạc của con lại”

Có chừng năm sáu trường học nội trú cho con gái. Margaret cho rằng trường Cheltenham, ở Gloucester, là thích hợp nhất cho Kate. Đó là một trường nổi tiếng về kỉ luật chặt chẽ, dựng trên nhiều mẫu đất cỏ tường cao với lỗ châu mai, mà, theo tài liệu, đã được thiết lập xưa kia cho con gái của các nhà quí tộc theo học. David có liên hệ kinh doanh với ông chồng của bà hiệu trưởng, nên việc xin cho Kate theo học trường này không gặp khó khăn gì.
Khi Kate nghe nói đến nơi nàng sẽ phải đi tới, nàng lại nổi giận lên đùng đùng, “Con đã nghe nói về cái trường ấy! Rồi đây con sẽ trở về nhà, giống như những con búp bê nhồi bông của nước Anh chứ gì? Có phải mẹ muốn như vậy không?”
“ Điều mà mẹ muốn là con học thói lịch sự trong thái độ, cử chỉ” Margaret nói
“ Con không cần những thứ ấy. Con có đầu óc”
“ Đó không phải là thứ quan trọng nhất mà một người đàn ông thường tìm kiếm ở người đàn bà” Margaret nói một cách tỉnh khô. “Rồi đây con sẽ trở thành một người đàn bà”
“Con không cần trở thành một người đàn bà gì hết. Tại sao mẹ không “mặc kệ chó” con tự lo liệu lấy?”
“ Mẹ không muốn con dùng thứ ngôn ngữ như vậy”
Thế rồi vụ cãi vã ấy vẫn tiếp tục cho mãi đến sáng hôm sau, khi Kate bắt buộc phải lên đường. Vì lúc ấy David cũng đi London có công việc, Margaret hỏi anh, “Anh có thể đưa Kate đến trường học một cách êm thấm được không? Chỉ có Chúa mới biết nó sẽ giở những trò gì, nếu nó đi một mình”
“Tôi rất vui lòng làm chuyện ấy”
“ Anh à? Anh cũng xấu xa chẳng khác gì mẹ tôi. Anh không có đủ kiên nhẫn chờ đợi dứt bỏ tôi hay sao?”
David cười “Cô lầm rồi. Tôi có đủ kiên nhẫn.”
Hai người đi bằng toa tàu riêng từ Klipdrift đến Cape Town, từ đó họ xuống tàu thuỷ đi Southampton. Cuộc hành trình kéo dài bốn tuần. Kate cảm thấy rộn ràng vui sướng được đi du lịch với David, nhưng lòng kiêu hãnh không cho phép nàng thừa nhận điều ấy. Nó giống như một tuần trăng mật, Kate nghĩ thầm. Chỉ có khác là anh ấy và mình chưa cưới nhau thôi. Chưa đến lúc.
David dùng phần lớn thời gian để làm việc trong phòng ngủ của anh trên tàu thuỷ. Kate cuộn mình trên chiếc đi văng, yên lặng nhìn David làm việc, và cảm thấy sung sướng được gần gũi anh.
Một hôm, nàng hỏi David, “ Anh làm việc với các con số như thế mà không thấy chán hay sao?”
Anh đặt bút xuống, nhìn nàng, “Đó không phải là những con số. mà là những câu chuyện.”
“Chuyện gì vậy?”
“Nếu mình biết đọc các con số ấy thì đố là chuyện về các công ty mình mua hay bán, chuyện về những ngưòi làm việc cho mình. Hàng nghìn người trên thế giới sinh sống nhờ công ty mà cha cô đã thiết lập.
“Thế tôi có giống cha tôi chút nào không?”
“Có, về nhiều phương diện. Ông ấy là một người độc lập, cứng đầu, cứng cổ.”
“Tôi có phải là một người đàn bà độc lập, cứng đầu cứng cổ hay không?”
“Cô là một nhóc con được quá nuông chiều nên đâm ra hư. Người đàn ông nào lấy cô sau này sẽ có một cuộc sống giống như ở địa nguc.”
Kate tủm tỉm cười, mơ mộng. Tội nghiệp cho anh chàng David!
Trong phòng ăn, vào đêm cuối cùng trên tầu thuỷ, David hỏi, “Tại sao cô khó khăn thể, hở cô Kate?”
“Tôi mà khó khăn à?”
“Chính cô cũng biết đấy, Cô làm cho mẹ cô phải điên đầu lên.”
Kate đặt tay lên bàn tay của David. Thế tôi có làm anh phát điên lên không?”
Mặt David đỏ bừng. “Ngưng cái trò ấy lại. Tôi không hiểu được cô.”
“Có chứ, anh hiểu tôi lắm.”
“Tại sao cô không thể giống như những cô gái cùng tuổi cô?”
“Tôi thà chết còn hơn. Tôi không muốn giống ai hết.”
“Chúa cũng biết cô chẳng giống ai cả.”
“Anh sẽ không lấy ai cả, chờ cho đến khi tôi lớn lên, xứng đôi vừa lứa với anh chứ, chịu không? Tôi sẽ lớn lên càng nhanh càng tốt. Tôi hứa với anh như vậy đó. Chỉ có điều là anh đừng có gặp bất cứ người yêu nào của anh, nhớ đấy nhé.”
David cảm động vì lời lẽ tha thiết của Kate. Anh cầm lấy bàn tay nàng và nói. “Kate ạ, khi nào tôi lấy vơ, tội muốn có được một đứa con gái giống hệt như cô.”
Kate đứng phắt dậy, nói bằng một giọng oang oang vang lên suốt phòng ăn. “Quỉ tha ma bắt anh đi, David Blackwell!” Nói xong, nàng đùng đùng đi ra khỏi phòng, trong khi mọi người trố mắt nhìn ngạc nhiên.

Kate tận hưởng từng giây phút một, trong suốt ba ngày hai người cùng sống chung ở London.
“Tôi có một cuộc vui này dành cho cô”, David nói.
“ Tôi đã mua hai vé xem vở kịch “Bà Wiggs và Mảnh đất trồng bắt cải”.”
“Cảm ơn anh. Tôi muốn đi đến rạp Galety.”
“ Không được đâu. Đó là nơi ca vũ nhạc. Nó không thích hợp với cô.”
“Tôi có xem tận mắt thì mới biết được chứ. Phải thế không?” nàng nói một cách bướng bỉnh.
Hai người cùng đi đến rạp Galety.

Kate rất thích quang cảnh ở London. Xe hơi và xe ngựa chen chúc lẫn lộn; các bà, các cô ăn mặc rất đẹp đẽ với những chiếc áo viên đăng ten, bằng vải tuyn và xa tanh, với các đồ nữ trang lóng lánh; đàn ông mặc quần áo chỉnh trề với gi-lê bằng vải sọc và vạt trước sơ mi trắng tinh.Hai người ăn trưa ở Ritz và cơm tối ở Savoy. Rồi khi đến giờ ra về, Kate nghĩ thầm, “Chúng ta sẽ trở lại nơi này. David và mình sẽ trở lại nơi này.”

Khi hai người đến trường học Cheltenham, họ được dẫn đến văn phòng bà Keaton.
“Tôi xin cám ơn bà đã cho Kate vào học”, David nói.
“Dĩ nhiên, chúng tôi rất sung sướng nhận cô bé ấy ở đây. Hơn nữa, cũng là một điều hân hạnh được giúp đỡ một người bạn của nhà tôi.”
Đến lúc ấy Kate mới biết rằng mình đã bị lừa. Chính David đã muốn nàng phải đi học xa và đã thu xếp cho nàng đến đây.
Nàng cảm thấy bị xúc phạm và giận dữ, cho nên nàng không thèm nói với David một lời từ biệt.


Chương 13
Cuộc sống ở tại trường Cheltenham thật không thể nào chịu đựng nổi. Có qui tắc và điều lệ cho tất cả mọ việc. Con gái phải mặc những đồng phuc y hệt như nhau, cho đến những cái quần lót. Ngày học kéo dài đến mười giờ đồng hồ, trong đó mỗi phút đều được sắp xếp thật là chặt chẽ. Bà Keaton điều khiển các học sinh và nhân viên bằng chiếc roi sắt. Các nữ sinh phải học tập về tác phong và kỷ luật, nghi thức và phép lịch sự, để sau này họ thu hút được những ngưòi chồng mong ước. Kate viết thư cho mẹ: “Thật là một nhà tù “chết tiệt”. Con gái ở đây thật là kinh khủng. Họ chỉ biết nói chuyện với nhau về những thứ quần áo “chết tiệt” và những bọn con trai “chết tiệt”. Các thầy giáo “chết tiệt” là bọn quỷ dữ. Họ sẽ không bao giờ giữ con lại ở đây. Con sẽ trốn thoát.”
Kate đã tìm cách trốn khỏi nơi này, và lần nào nàng cũng bị bắt lại, rồi đưa trở về trường, mà không hề hối cải.
Trong một cuộc họp hàng tuần của ban giảng huấn khi tên của Kate được đưa ra, một thầy giáo nói, “Đứa trẻ này thật là bất trị. Tôi nghĩ cần gửi trả nó về Nam Phi”.
Bà Keaton nói, “Tôi cũng muốn đồng ý với thầy, nhưng chúng ta nên xem đó là một cuộc thử thách. Nếu chúng ta thành công trong việc đưa Kate McGregor vào khuôn phép thì tôi nghĩ rằng chúng ta cũng sẽ thành công tương tự với bấ kỳ đứa trẻ nào”
Kate vẫn được ở lại trường.

Điều khiển cho các thầy cô giáo ngạc nhiên hết sức là Kate tỏ ra rất ham thích nông trại do nhà trường quản lý. Nông trại ấy có những vườn rau, gà, bò, lợn và ngựa. Kate thường ở lại nơi ấy rất lâu, và khi bà Keaton biết được điều này, bà rất lấy làm hài lòng.
Bà nói với các nhân viên nhà trường, “Quí vị thấy không? Đó chỉ là vấn đề kiên nhẫn thôi. Kate cuối cùng đã ham thích tham gia vào cuộc sống. Một ngày kia nó sẽ lấy một điền chủ và sẽ có thể giúp đỡ cho chồng rất nhiều”.
Sáng hôm sau, Oscar Denker, người phụ trách trông coi nông trại, đến gặp bà Hiệu trưởng. Ông nói, “Một trong các học sinh của bà – cái cô Kate McGregor đó – tôi chỉ mong bà cấm nó bén mảng đến mông trại của tôi”.
“ Ông nói cái gì lạ vậy?” bà Keaton hỏi. “Tôi được biết rằng nó rất ham thích nông trại.”
“ Chắc chắn là cô ấy ham thích rồi, thế nhưng và có biết cô ấy ham thích cái gì không? Cô ấy chỉ thích xem súc vật giao cấu với nhau mà thôi, tôi xin lỗi bà vì phải dùng thứ ngôn ngữ như vậy.”
” Cái gì?”
“Thưa, đúng như vậy ạ. Cô ấy đứng đó suốt ngày chỉ để xem các súc vật làm chuyện ấy với nhau thôi.”
“Đồ chết tiệt!” Bà Keaton buột miệng thốt lên.
Kate vẫn chưa tha thứ cho David vì đã đưa nàng đi đày, nhưng nàng nhớ chàng kinh khủng. Nàng nghĩ thầm, “Số phận của mình là phải yêu một người mà mình ghét. Nàng đếm những ngày phải sống xa chàng, như một tù nhân ghi dấu thời gian cho đến ngày được thả ra. Kate lo sợ anh ấy sẽ làm một chuyện gì đó kinh khủng, chẳng hạn như cưới một người đàn bà nào khác trong khi nàng còn đang bị mắc bẫy trong cái trường “chết tiệt” này. Kate nghĩ, “Nếu anh ấy làm như vậy, mình sẽư giết cả hai người. Không mình chỉ giết một mình cô ấy thôi. Người ta sẽ đến bắt mình, sẽ treo cổ mình lên, và khi mình đứng trên đoạn đầu đài rồi, anh ấy sẽ nhận ra rằng anh ấy yêu mình. Nhưng lúc ấy thì trễ qua rồi. Anh ấy sẽ van xin mình tha thứ cho anh. “Được, anh David yêu quí của em ạ, em tha thứ cho anh. Anh đã quá ngu xuẩn nên không biết được rằng anh đang nắm một mối tình lớn trong bàn tay. Anh để cho nó bay đi giống như một con chim nhỏ. Bây giờ con chim bé nhỏ ấy sắp bị treo cổ rồi. Vĩnh biệt, David”. Nhưng rồi đến phút cuối cùng, người con gái ấy được ân xá, rồi David đưa nàng đến một xứ xa lạ nào đó, nơi mà thức ăn ngon lành hơn thứ đồ ăn “chết tiệt” người ta thường dọn tại cái trường Cheltenham “chết tiệt” này.

Kate nhận được một lá thư của David cho biết rằng anh sắp sửa đi London, và sẽ đến thăm viếng nàng. Trí tưởng tượng của Kate bừng dậy. Nàng tìm thấy hàng trăm ẩn ý trong lá thư ấy. Tại sao anh ấy sắp sang Anh? Tất nhiên là để được gần nàng. Tại sao anh ấy sẽ đến thăm nàng? Ấy là bởi vì anh ấy biết anh yêu nàng và không còn có thể chịu nổi sự xa cách nữa. Anh ấy sẽ nhấc bổng nàng lên, đưa nàng ra khỏi cái nơi ghê gớm này. Nàng không thể ngăn được nỗi vui sướng tràn ngập trong lòng. Ý nghĩ kỳ quặc ấy của Kate đối với nàng có vẻ thực đến nỗi, khi David vừa đến nơi, Kate đi khắp nơi chào từ biệt bạn bè. Nàng nói với họ, “Người yêu của tôi sắp đến đây để đưa tôi ra khỏi nơi này.”
Các cô bạn nhìn nàng im lặng, có vẻ không tin. Chỉ có Georgina Christy nói với nàng với vẻ chế giễu, “Chị lai nói dối nữa rồi, chị McGregor ạ.”
“Rồi các chị sẽ thấy. Anh ấy cao, đẹp trai, và si mê em điên cuồng”.
Khi David đến trường, anh ngạc nhiên vì thấy tất cả các nữ sinh có vẻ như đang nhìn anh chằm chằm. Họ nhìn anh, rồi thì thầm, rúc rích cười với nhau. Ngay khi anh bắt gặp cái nhìn của họ thì họ đỏ mặt, quay đi chỗ khác.
“Họ làm như thể họ chưa hề thấy một người đàn ông bao giờ”, David nói với Kate. Anh nhìn nàng, nghi ngờ. “Cô có nói gì với họ về tôi không?”
“Dĩ nhiên là không rồi”. Kate trả lời với vẻ kiêu kỳ. “Việc gì mà tôi phải làm như vậy.”
Hai người ăn cơm trong phòng ăn cơm của nhà trường. David kể lại cho Kate nghe về những gì đã xảy ra ở nhà. “Mẹ cô gửi lời thăm hỏi cô. Bà ấy mong cô trở về nhà vào dịp nghỉ hè”.
“Mẹ tôi thế nào?”
“Bà vẫn khoẻ. Bà làm việc nhiều lắm.”
“ Công việc Công ty tiến hành tốt không, anh David?”
David ngạc nhiên vì Kate đôt nhiên tỏ vẻ chú ý đến công việc của Công ty. “Rất tốt. Tại sao cô hỏi như vậy?”
Bởi vì, Kate thầm nghĩ, một ngày kia Công ty ấy sẽ thuộc về mình. Anh và tôi sẽ chia sẻ gánh vác. Nhưng nàng chỉ nói, “Tôi chỉ tò mò muốn biết thôi.”
Anh nhìn vào đĩa thức ăn còn nguyên cả Kate. “Cô không ăn sao?”
Kate không quan tâm đến thức ăn. Nằng đang chờ đợi giây phút thần diệu, khi David sẽ nói với nàng, “Hãy đi theo anh, Kate. Em bây giờ là một thiếu nữ rồi, và anh muốn gần em. Chúng ta sẽ cưới nhau.”
Món tráng miệng được đem đến, rồi được dọn đi. Cà phê cũng được đem lại, rồi bưng đi nơi khác. Thế nhưng những lời nói thần diệu của David vẫn chưa đến.
Cuối cùng David nhìn vào chiếc đồng hồ, và nói, “Thôi, tôi phải đi bây giờ, kẻo lỡ mất chuyến tàu”. Đến lúc ấy, Kate mới nhận thức, với một cảm giác kinh hãi, rằng anh ấy không đến đây để đưa nàng đi xa. Cái anh chàng khốn kiếp ấy sẽ để nàng lại ở đây cho mục xương ra.
David cảm thấy vui thích về cuộc viếng thăm Kate.Nàng là một cô bé thông minh ,vui tính, và tính bướng bỉnh trước đây của nàng bây giờ cũng đã được kiềm chế. David đập nhẹ lên bàn tay Kate một cách thân mật và hỏi, “Cô có cần tôi làm giúp cô điều gì trước khi tôi ra về không, cô Kate?”
Nàng nhìn thẳng vào mắt anh, và nói một cách dịu dàng, “Có, anh David ạ. Anh có thể ban cho tôi một đặc ân rất lớn lao. Hãy cút ra khỏi cuộc sống chết tiệt này của tôi”. Nói xong, nàng trang nghiêm bước ra khỏi phòng, đầu ngẩng cao lên, để lại David ngồi ngơ ngác tại chỗ, miệng há hốc ra.
Margaret cảm thấy nhớ Kate. Đứa con gái ấy có tính ngỗ ngươc và hay làm trái ý, nhưng Margaret nhận ra rằng nó là con người duy nhất sống trên đời này mà nàng yêu mến. Nó sẽ trở thành một người đàn bà vĩ đại, Margaret nghĩ thầm và cảm thấy hãnh diện. Nhưng mình muốn nó có tác phong của một người đàn bà sang trọng.
Kate về nhà trong dịp nghỉ hè. “Con học hành ở trường thế nào?” Margaret hỏi.
“Con ghét cái trường ấy lắm. Nó giống như là mình bị bao vây bởi một trăm bà vú nuôi vậy.”
Margaret nhìn con gái như để dò xét. “Thế các nữ sinh khác có nghĩ giống như con không, hở Kate?”
“Chúng nó thì biết cái gì?” Nàng nói với vẻ khinh bỉ. “Mẹ có gặp bọn con gái ở trưòng ấy thì mới rõ được. Chúng nó được che chở suốt từ nhỏ đến lớn, cho nên chúng chẳng biết khỉ gì về chuyện đời cả.”
“Trời, như thế chắc là kinh khủng đối với con quá nhỉ.”
“Mẹ đừng có chế giễu con. Chúng nó chưa hề bao giờ sống ở Nam Phi.Những thứ thú dữ duy nhất chúng được thấy là ở các sở thú thôi. Không một đưa nào trong bọn chúng được thấy một mỏ kim cương hay mỏ vàng.”
“Thiệt thòi quá nhỉ”
Kate nói, “Thôi được. Nhưng khi nào con trở thành giống như họ thì mẹ sẽ thấy hối tiếc đến nát ruột gan ra.”
“Thế con nghĩ con sẽ trở thành giống như họ sao?”
Kate nhe răng cười tinh quái. “Dĩ nhiên là không rồi. Bộ mẹ điên rồi à?”
Một giờ sau khi trở về nhà, Kate đã ra ngoài chơi bóng bầu dục với bọn trẻ con của các gia nhân. Margaret đứng nhìn Kate qua khung cửa sổ và nghĩ thầm, “Mình đã phí tiền vô ích. Nó sẽ chẳng bao giờ thay đổi cả.”
Tối hôm ấy, vào bữa cơm, Kate tình cờ hỏi, “David có ở trong thị trấn không?”
“Anh ấy đi sang Úc, có lẽ sẽ trở về vào ngày mai.”
“Thế anh ấy có lại ăn cơm vào tối Thứ sáu tới không?”
“Có lẽ”. Nàng nhìn Kate và nói, “Con thích David phải không?”
Kate nhún vai, “Anh ấy cũng không đến nỗi nào.”
“À ra thế.” Margaret nói. Nàng tủm tỉm cười một mình vì bà nhớ đến lời nói của Kate rằng nó sẽ quyết lấy David cho kỳ được.
“Con muốn nói là con không ghét anh ấy. Con thích anh ta như là một con người thôi. Con không thể chịu được anh ấy với tư cách là một người đàn ông.”

Khi David đến ăn cơm vào tối thứ sáu, Kate chạy như bay ra đến cửa để chào đón anh. Nàng ôm lấy David và thì thầm vào tai anh. “Tôi tha thứ cho anh. Nhớ anh quá, David ạ. Anh có nhớ tôi không?”
David buột miệng đáp, “Có”. Ngay lúc ấy anh ngạc nhiên, nghĩ thầm, “Lạy Chúa, mình có nhớ cô ấy thật”.
Anh chưa hề quen ai giống như cô bé này. Anh đã thấy nàng lớn lên, va cứ mỗi lần anh đối diện với nàng, anh lại thấy phát hiện ra ở nàng một cái gì mới mẻ. nàng đã gần mười sáu tuổi và đã bắt đầu nảy nở. Nàng để cho làn tóc đen mọc dài ra, xoã xuống mềm mại trên hai vai. Nàng đã có những nét trưởng thành, và một vẻ hấp dẫn mà anh không để ý thấy trước đây. Nàng xinh đẹp, lanh lẩu, thông minh và có ý chí mạnh mẽ. Nàng sẽ khó điều khiển đối với một người đàn ông nào đó về sau này. David nghĩ thầm.
Đến bữa ăn, David hỏi, “Cô học hành ở trường như thế nào?”
“Ồ, tôi thích lắm”, nàng nói chuyện huyên thuyên. “Học được nhiều thứ lắm. Các cô giáo thật là tuyệt vời, và tôi cũng có rất nhiều bạn bè thân thiết.”
Margaret ngồi im lặng, sửng sốt.
“ David, anh có thể đưa tôi đi xem mỏ được không?”
“Cô muốn bỏ phí mấy ngày nghỉ của cô bằng cách ấy hay sao?”
“Vâng. Anh cứ cho tôi đi theo.”
Một cuộc đi thăm vùng mỏi sẽ chiếm trọn một ngày,và như vậy có nghĩa là nàng sẽ ở bên cạnh David trong suốt thời gian ấy”.
“Nếu mẹ cô cho phép thì…”
“Mẹ, mẹ cho phép đi…”
“ Thôi được con ạ. Chừng nào con ở bên cạnh David, mẹ mới yên tâm rằng con sẽ được an toàn”. Margaret hi vọng rằng David cũng sẽ được an toàn.

Mỏ kim cương Kruger-Brent là một công trình đồ sộ với hàng trăm công nhân tham gia vào công việc đào đất, xây dưng, đãi và rửa sỏi đá.
“Đây là một trong những mỏ đem đến nhiều lợi lộc nhất cho công ty”, David nói với Kate. Họ đang ở trên mặt đất, trong văn phòng của viên quản đốc, chờ đợi một nhóm hộ tống đưa họ xuống mỏ .Sát vào tường là một tủ trưng bày những viên kim cương đủ cỡ và đủ màu sắc.
“ Mỗi viên kim cương có một đặc tính riêng”, David giải thích. “Những viên kim cương nguyên thủy lấy từ các bờ sông Vaal chứa chất phú sa, và các cạnh của chúng đã bị mài mòn qua bao nhiêu thế kỷ”.
Anh ấy trông đẹp trai hơn bao giờ hết, Kate ngẫm nghĩ. Minh yêu cặp lông mày của anh ấy quá!
“Những viên đã này lấy từ nhiều mỏ khác nhau, nhưng người ta vẫn có thể nhận ra chúng dễ dàng nhờ ở bề ngoài của chúng. Cô có thấy viên này không? Nhìn vào cỡ của viên đá và màu vàng của nó, ta biết ngay rằng người ta tìm thấy nó ở Paardspan. Các viên kim cương của hãng De Beer có bề mặt trăn tru như dính dầu, và hình thể của nó là một khối mười hai mặt”
Anh ấy thật là xuất sắc, biết đủ tất cả mọi thứ!
“Cô có thể biết ngay viên này là lấy ở mỏ Kimberley, vì nó là một khối tám mặt. Các viên kim cương có nhiều loại , từ loại thuỷ tinh đục đến loại trắng tinh khiết”.
Mình thắc mắc không biết viên quản đốc có nghĩ rằng David là người yêu của mình không nhỉ. Mình hi vọng như vậy.
“Màu sắc của một viên kim cương xác định giá trị của nó. Các màu sắc được phân ra theo một thang bậc từ một đến mười. Cao nhất là loại kim cương có màu trắng xanh, thấp nhất là loại màu nâu.”
Anh ấy có một mùi rất thơm tho. Một mùi rất là…rất là đàn ông. Mình thích cái vai và cánh tay anh ấy. Mình ao ước…
“Kate!”
Nàng đáp, như cảm thấy mình phạm tôi, “Vâng, cái gì hả anh David ?”
“Cô có nghe tôi nói không?”
“Cố nhiên là có”. Giọng nàng có vẻ không bằng lòng. “Tôi có nghe từng lời nói của anh”
Họ ở suốt hai giờ đồng hồ trong lòng mỏ, rồi hai người cùng ăn cơm trưa. Đối với Kate, dodó là một ngày thần tiên.

Khi Kate trở về nhà vào xế trưa hôm ấy, Margaret hỏi, “con có thích không, Kate?”
“Thật là tuyệt vời. Công việc làm mỏ rất là thú vị.”
Nửa giờ sau, Margaret tình cờ nhìn qua cửa sổ. Kate đang vật lộn với đứa con trai của một bác làm vường.
Năm sau, các lá thư của Kate từ trường gửi về có vẻ lạc quan một cách thận trọng. Kate được cử làm thủ quân của các đội khúc côn cầu và đánh vợt, và đứng đầu lớp về việc học. Trường học không đến nỗi tệ lắm, nàng viết trong thư, và trong các lớp học của nàng cũng có một số bạn tử tế một cách vừa phải. Nàng xin phép mẹ đưa hai người bạn về nhà trong dịp nghỉ hè. Margaret cũng rất vui lòng. Ngôi nhà sẽ trở nên ồn ào, náo nhiệt với tiếng cười đùa của mấy cô gái trẻ. Margaret nóng lòng chờ đợi con gái về thăm nhà. Tất cả những mơ ước của nàng bây giờ đều đặt vào Kate. Nàng thầm nghĩ, “Jamie và mình thuộc về qua khứ rồi. Kate là tương lai. Tương lai ấy sẽ sáng sủa, tuyệt vời biết bao nhiêu!”

Khi Kate trở về nhà vào dịp nghỉ hè, tất cả mọi chàng trai xứng đôi vừa lứa cứ bám lấy xung quanh nàng, bao vây nàng, để có những cuộc hẹn hò, đi chơi, nhưng nàng không thích người nào cả. David đang ở Mỹ, và Kate nóng lòng chờ chàng về. Khi David về đến nhà, Kate đến tận cửa đón chàng, mừng rỡ. Nàng mặc một chiếc áo dài màu trắng, quấn một cái thắt lưng nhung màu đen làm nổi bật lên bộ ngực duyên dáng của nàng. Khi David ôm lấy nàng, anh ngạc nhiên cảm thấy vẻ nồng thắm trong lối đáp ứng của nàng. Anh lùi lại nhìn ngắm nàng. Ở nàng có một vẻ gì đó khác biệt, một vẻ hiểu biết. Trong đôi mắt nàng anh thấy một lối biểu lộ mà anh không thể xác định được, khiến cho anh cảm thấy bứt rứt, không yên.
Một đôi lần, trong vụ hè ấy, David thấy Kate dang đứng với mấy người bạn trai bao vây xung quanh, anh tự hỏi không biết người nào trong số ấy sẽ có diễm phúc được nàng chọn lựa. David được gọi trở lại Úc vì công việc, và khi anh trở về Klipdrift thì Kate đã lên đường sang Anh.

Trong năm cuối cùng của Kate ở trường học, David bất ngờ xuất hiện vào một tối nọ. Thường thường anh đều có thư hay gọi điện thoại báo trước. Lần này anh không báo cho biết gì cả.
“David! Thật là bất ngờ qua!” Kate ôm choàng lấy anh, “Lẽ ra anh phải báo cho tôi biết anh sẽ đến chứ”.
“Kate ạ, tôi đến để đưa cô về nhà”.
Nàng lùi lại, nhìn lên mặt anh. “Có chuyện gì không hay chăng?”
“Tôi lo rằng mẹ cô đang ốm rất nặng”.
Kae đứng đờ người trong một lúc. “Tôi sẵn sáng đi ngay bây giờ.”

Kate sửng sốt khi trông thấy vẻ ngoài của mẹ. Chỉ mới ít tháng trước, Margaret có vẻ rất khoẻ mạnh. Bây giờ mặt bà nhợt nhạt, hốc hác, đôi mắt hầu như mất vẻ tinh anh. Có vẻ như là căn bệnh ung thư đang tàn phá da thịt bà, cũng đã tàn phá cả linh hồn của bà nữa.
Kate ngồi bên cạnh giường, cầm tay mẹ trong bàn tay nàng, và nói, “ Mẹ ơi, con hối hận quá”.
Margaret bóp chặt tay con gái. “Mẹ đã sẵn sàng, con yêu quí ạ. Có lẽ mẹ đã đã sẵn sàng như vậy từ khi cha con qua đời”. Bà ngước mắt lên nhìn Kate. “Con có muốn nghe một chuyện vớ vẩn khổng? Mẹ chưa hề nói với ai điều này cả trước kia”. Bà do dự một lúc, rồi tiếp tục nói, “Mẹ lúc nào cũng lo lắng không có ai chăm nom cha con được tử tế cả. Bây giờ thì mẹ có thể làm như vậy được rồi.”

Margaret được an táng ba ngày sau đó. Cái chết của mẹ nàng đã khiến cho nàng bị xúc động sâu sắc. Kate đã mất cha và anh, nhưng nàng không hề bao giờ được biết mặt họ. Họ chỉ là những điều tưởng tượng thuộc quá khứ, nhưng cái chết của mẹ nàng là hiện thực và đau đớn. Kate đã mười tám tuổi, và đột nhiên nàng trở nên cô đơn trên cõi đời. Ý nghĩ này khiến nàng khiếp hãi.
David nhìn Kate đứng bên cạnh mộ của mẹ nàng, cố lấy can đảm để khỏi khóc. Nhưng khi hai người trở về đến nhà, Kate khóc oà lên, không sao ngưng nổi. “Mẹ lúc nào cũng rất tốt với tôi, David ạ, còn tôi thật là một đứa con gái hư hỏng”.
David cố an ủi nàng, “Cô lúc nào cũng làmột cô con gái ngoan của mẹ cô, Kate”.
“Tôi chỉ gây rắc rối cho mẹ tôi thôi. Tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì nếu tôi có thể chuộc tội lỗi ấy đối với mẹ tôi. Tôi không muốn mẹ tôi chết. David ! Tại sao Chúa lại làm như vậy đối với mẹ tôi?”
Anh im lặng một lúc, chờ cho đến khi nàng khóc hết nước mắt. khi nàng đã dịu lại, David mới nói, “Tôi biết rằng cô khó mà tin được vào lúc này, nhưng một ngày kia nỗi đau đớn này sẽ tan đi. Rồi cô biết sẽ có gì còn lại không, Kate. Những kỉ niệm êm đẹp. Cô sẽ nhớ lại tất cả những gì đẹp đẽ mà cô và mẹ cô đã từng có”.
“Tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng ngay lúc này, tôi cảm thấy đau đớn quá”.
Sáng hôm sau hai người bàn với nhau về tương lai củae Kate.
“Cô có gia đình ở Tô cách lan”, David nhắc nhở.
“Không!” Kate đáp lại một cách gay gắt. “Đó không phải là gia đình. Họ là những người bà con, họ hàng”. Giọng nàng trở nên chua cay. “Khi bố muốn đi đến xứ này, họ chế giễu bố tôi. Không ai giúp đỡ cho bố tôi, ngoài bà nội tôi, nhưng bà mất rồi. Không, tôi không có liên hệ gì với họ cả”.
David ngồi suy nghĩ. “Cô có dự định học cho nốt học kỳ này không?” Kate chưa kịp trả lời, David đã nói tiếp, “Tôi nghĩ ràng có lẽ mẹ cô cũng muốn cô làm như vậy.”
“Thế thì tôi sẽ làm đúng như mẹ tôi muốn”. Nàng nhìn xuống sàn nhà, mắt không nhìn vào đâu hết. “Địa ngục khốn kiếp!” Kate nói
“Tôi hiểu”, David dịu dàng nói. “Tôi hiểu”.

Kate học hết học kỳ và được cử đọc diễn văn tốt nghiệp. David cũng có mặt trong buổi lễ trao bằng.
Trong lúc đi từ Johannesburg đến Klipdrift trong toa xe riêng, David nói, “Cô biết không, tất cả những thứ này sẽ thuộc về cô trong ít năm nữa. Chiếc toa xe này, các mỏ và công ty này, tất cả là của cô. Cô là một cô gái rất giàu có. Cô có thể bán công ty này đi để lấy nhiều triệu bảng Anh”. Anh nhìn nàng, rồi nói tiếp, “ Hoặc cô có thể giữ lại công ty này. Cô sẽ phải nghĩ về điều đó.”
“Tôi đã suy nghĩ rồi”, Kate nói. Nàng nhìn vào mặt David, tủm tỉm cười. “Cha tôi xưa kia là một đạo tặc, David ạ. Một đạo tặc gia tuyệt vời. Tôi ao ước giá như tôi được biết cha tôi.Tôi sẽ không bán công ty này đi.Anh có biết tại sao không? Bởi vì ông đạo tặc ấy đã đặt tên cho nó theo tên của hai tên bảo vệ đã từng tìm cách giết ông. Anh nghĩ xem đó có phải là một hành động tuyệt vời hay không? Có nhiều đêm tôi không thể ngủ đươc, vì tôi nghĩ đến cha tôi và bác Banda bò xuyên qua sương mù, gọi là “mis” ấy, rồi tôi mường tượng nghe như có tiếng gọi của những tên bảo vệ: Kruger…Brent…” Nàng ngước mắt lên nhìn David. “Không, tôi sẽ không bao giờ bán đi công ty của cha tôi, chừng nào anh còn tiếp tục ở lại để điều khiển nó”.
David trầm tĩnh nói, “Tôi sẽ ở lại chừng nào cô còn cần đến tôi.”
“Tôi đã quyết định sẽ theo học một trường doanh thương”.
“Một trường doanh thương?” Giọng nói David tỏ vẻ ngạc nhiên.
“Bây giờ là vào năm 1910”, Kate nhắc nhở. “Đã có nhiều trường doanh trương ở Johannesburg mà phụ nữ được phép theo học”.
“Nhưng…”
“Anh có lần hỏi tôi muốn làm gì với tiền bạc của tôi”. Nàng nhìn thẳng vào mắt David, và nói, “Tôi muốn làm ra tiền.”



0

CHƯƠNG XIII

Cuộc sống tại trường Cheltonham thật không thể nào chịu đựng nổi. Có quy tắc và điều lệ cho tất cả mọi việc. Con gái phải mặc những đồng phục y hệt như nhau, cho đến những cái quần lót. Ngày học kéo dài đến mười giờ đồng hồ, trong đó mỗi phút đều được sắp xếp thật là chặt chẽ. Bà Keaton điều khiển các học sinh và nhân viên bằng những chiếc roi sắt. Các nữ sinh phải học tập về tác phong và kỷ luật, nghi thức và phép lịch sự, để sau này, họ thu hút được những người chồng mong ước.

Kate viết thư cho mẹ:" Thật là một nhà tù CHẾT TIỆT. Con gái ở đây thật là kinh khủng. Họ chỉ biết nói với nhau về những thứ quần áo chết tiệt và những bọn con trai chết tiệt. Các thầy giáo chết tiệt là bọn quỷ dữ. Họ sẽ không bao giờ giữ con ở lại đây được. Con sẽ trốn thoát.

Kate đã tìm cách trốn khỏi nơi này, và lần nào nàng cũng bị bắt lại, rồi đưa trở về trường mà không hề hối cải.

Trong một cuộc họp hàng tuần của ban giảng huấn, khi tên của Kate được đưa ra, một thầy giáo nói:" Đứa trẻ này thật là bất trị. Tôi nghĩ rằng cần phải trả nó về Nam Phi "

Bà Keaton nói:" Tôi cũng muốn đồng ý với thầy, nhưng chúng ta nên xem đó là một cuộc thử thách. Nếu chúng ta thành công trong việc đưa Kate McGregor vào khuôn phép thì tôi nghĩ rằng chúng ta cũng sẽ thành công tương tự với bất kỳ đứa trẻ nào.

Kate vẫn được giữ lại trường.

Điều khiến cho các thầy cô giáo ngạc nhiên hết sức là Kate tỏ ra rất ham thích nông trại do nhà trường quản lý. Nông trại ấy có những vườn rau, gà, bò lợn và ngựa. Kate thường ở lại nơi ấy rất lâu. Khi bà Keaton biết được điều này, bà rất lấy làm hài lòng.
0


CHƯƠNG XIII ( tiếp theo)


Bà nói với các nhân viên nhà trường:" Quý vị có thấy không? Đó chỉ là vấn đề kiên nhẫn mà thôi. Kate cuối cùng đã ham thích tham gia vào cuộc sống. Một ngày kia, nó sẽ lấy một điền chủ và có thể giúp đỡ cho chồng rất nhiều ".

Sáng hôm sau, Oscar Denker, người phụ trách trông coi trang trại, đến gặp bà và nói:" Một trong các cô nữ sinh của bà - cái cô Kate Mcgregor đó - Tôi chỉ mong bà cấm nó bén mảng đến gần nông trại của tôi ".

" Ông nói gì lạ vậy? Bà hỏi " Tôi được biết rằng nó rất ham thích nông trại "

" Chắc chắn là cô ấy ham thích rồi. Thế nhưng bà có biết cô ấy ham thích cái gì không? Cô ấy chỉ ham thích xem súc vật giao cấu với nhau mà thôi. Tôi xin lỗi bà vì phải dùng thứ ngôn ngữ như vậy "

- " Cái gì? "

" Thưa, đúng như vậy ạ. Cô ấy đứng đó suốt ngày, chỉ để xem súc vật làm chuyện ấy với nhau mà thôi "

" Đồ chết tiệt " Bà Keaton buột miệng thốt lên.

Kate vẫn chưa tha thứ cho David vì đã đưa nàng đi đày. Nhưng nàng nhớ chàng kinh khủng. Nàng nghĩ thầm " Số phận của mình là phải yêu người mà mình ghét ". Nàng đếm những ngày phải sống xa chàng như một tù nhân ghi dấu thời gian cho đến ngày được thả ra. Kate lo sợ anh ấy sẽ làm một chuyện gì đó kinh khủng, chẳng hạn như cưới một người đàn bà nào đó, trong khi nàng bị mắc bẫy ở đây, trong cái trường chết tiệt này. Kate nghĩ " Nếu anh ấy làm như vậy, nàng sẽ giết cả hai. Không, chỉ giết một mình cô ấy thôi. Người ta sẽ đến bắt mình và treo cổ mình lên. Và khi mình đứng trên đoạn đầu đài rồi, anh ấy sẽ nhận ra rằng anh ấy yêu mình. Nhưng lúc ấy thì trễ quá rồi. Anh ấy sẽ van xin mình tha thứ cho. Được, anh David yêu quý của em ạ, em tha thứ cho anh. Anh đã quá ngu xuẩn nên không biết được rằng anh đang nắm một mối tình lớn trong lòng bàn tay. Anh để cho nó bay đi giống như một con chim nhỏ. Bây giờ con chim bé nhỏ ấy sắp bị treo cổ rồi. Vĩnh biệt David ". Nhưng rồi đến phút cuối cùng, người con gái ấy được ân xá, David bồng nàng trong tay, đưa nàng đến một xứ xa lạ nào đó, nơi mà thức ăn ngon lành hơn thứ đồ ăn chết tiệt , người ta thường dọn tại cái trường Cheltenham Chết Tiệt này.

Kate nhận được một lá thư của David, cho biết rằng anh sắp sửa đi London và đến thăm viếng nàng. Trí tưởng tượng của Kate bừng dậy. Nàng tìm thấy hàng trăm ẩn ý trong lá thư ấy. Tại sao anh ấy sắp sang Anh? Tất nhiên là để được gần nàng. Tại sao anh ấy đến thăm nàng? Tất nhiên là vì bởi anh ấy biết anh ấy yêu nàng và không còn có thể chịu đựng nổi sự xa cách nữa. Anh ấy sẽ nhấc bổng nàng lên, đưa nàng ra khỏi cái nơi ghê gớm này. Nàng không thể ngăn được nỗi vui sướng tràn ngập trong lòng. Ý nghĩ kỳ quặc ấy của Kate, đối với nàng có vẻ thực đến nỗi, khi David vừa đến nơi, Kate đi khắp nơi từ biệt bạn bè. Nàng nói với họ:" Người yêu của tôi sắp đến đây để đưa tôi ra khỏi nơi này "

Các cô bạn nhìn nàng im lặng, có vẻ không tin. Chỉ có Georgina Christy nói với nàng với vẻ chế giễu:" Chị lại nói dối nữa rồi, chị Mcgregor "

" Rồi các chị sẽ thấy, anh ấy cao, đẹp trai, và si mê em điên cuồng "

Khi David đến trường, anh ngạc nhiên vì thấy tất cả các nữ sinh như đang nhìn anh chằm chằm. Họ nhìn anh rồi thì thầm, rúc rích với nhau. Ngay khi anh bắt gặp cái nhìn của họ thì họ đỏ mặt, quay đi chỗ khác.

" Họ làm như thể họ chưa hề thấy một người đàn ông bao giờ " David nói với Kate. Anh nhìn nàng nghi ngờ:" Cô có nói gì với họ về tôi không? "

" Dĩ nhiên là không rồi ". Kate trả lời với vẻ kiêu kỳ. " Việc gì tôi phải làm như vậy? "

Hai người ăn cơm trong phòng ăn lớn của nhà trường. David kể lại cho Kate nghe về những gì đã xảy ra ở nhà. " Mẹ cô gửi lời hỏi thăm cô. Bà ấy mong cô trở về nhà vào dịp nghỉ hè ".

" Mẹ tôi thế nào? "

" Bà vẫn khỏe. Bà làm việc nhiều lắm "

" Công việc công ty tiến hành tốt không , anh David? ".

David ngạc nhiên vì tỏ ra chú ý đến công việc của công ty. Rất tốt, tại sao cô hỏi như vậy?

Bởi vì, Kate thầm nghĩ, một ngày kia, công ty đó sẽ thuộc về mình. Anh và tôi sẽ chia sẻ, gánh vác trách nhiệm. Nhưng nàng chỉ nói:" Tôi chỉ tò mò muốn biết thế thôi "

Anh nhìn vào đĩa thức ăn còn nguyên của Kate :" Cô không ăn sao? "

Kate không quan tâm đến thức ăn. Nàng đang chờ đợi giây phút thần diệu, khi David sẽ nói với nàng :" Hãy đi theo anh, Kate. Em bây giờ là một thiếu nữ rồi, và anh muốn gần em. Chúng ta sẽ cưới nhau ".

Món tráng miệng được đem đến, rồi được dọn đi. Cà phê được đem lại, rồi bưngđi nơi khác. Thế nhưng những lời nói thần diệu của David vẫn chưa đến.

Cuối cùng, David nhìn vào chiếc đồng hồ và nói:" Thôi, tôi phải đi bây giờ, kẻo lỡ mất chuyến tàu ". Đến lúc ấy, Kate mới nhận thức được với cảm giác kinh hải, rằng anh ấy không đến đây để đưa nàng đi xa. Cái anh chàng khốn kiếp ấy sẽ để nàng lại đây cho mục xương ra.

David thấy vui thích về cuộc viếng thăm Kate. Nàng là một cô bé thông minh, vui tính và tính bướng bỉnh trước đây của nàng bây giờ cũng đã được kềm chế. David đập nhẹ lên bàn tay Kate một cách thân mật và hỏi:" Cô có cần tôi làm giúp cho điều gì trước khi tôi ra về không Kate? "

Nàng nhì thẳng vào mắt anh và nói một cách dịu dàng:" Có, anh David ạ. Anh có thể ban cho tôi một đặc ân rất lớn lao. Hãy cút khỏi cuộc sống chết tiệt này của tôi ". Nói xong, nàng trang nghiêm bước ra khỏi phòng, đầu ngẩng cao lên, để lại David ngồi ngơ ngác tại chỗ, miệng há hốc ra.

Magaret cảm thấy nhớ Kate. Đứa con gái ấy có tính ngỗ ngược và hay làm trái ý, nhưng Margaret nhận ra rằng nó là con người duy nhất sống trên đời mà nàng yêu mến. Nó sẽ trở thành người đàn bà vĩ đại, Margaret nghĩ thầm và cảm thấy hãnh diện. Nhưng mình muốn nó có tác phong của một người đàn bà sang trọng.

Kate về nhà trong dịp nghỉ hè. " Con học hành ở trường như thế nào? " Margaret hỏi.

" Con ghét cái trường ấy lắm. Nó giống như là mình bị bao vây bởi một trăm bà vú nuôi vậy "

Margaret nhìn con gái như để dò xét:" Thế các nữ sinh khác có nghĩ giống như con không hở Kate? "

" Chúng nó thì biết cái gì? " Nàng nói với vẻ khinh bỉ. " Mẹ có gặp lũ con gái ở trường ấy thì mẹ mới hiểu được. Chúng nó được che chở suốt từ nhỏ đến lớn, cho nên chúng chẳng biết gì về chuyện đời cả "

" TRời , như thế chắc là kinh khủng với con quá nhỉ! "

" Mẹ đừng có chế giễu con. Chúng nó chưa hề bao giờ sống ở Nam Phi Những thứ thú dữ duy nhất chúng được thấy là ở các sở thú thôi. Không một đứa nào trong bọn chúng được thấy một mỏ kim cương hay một mỏ vàng "

" Thiệt thòi quá nhỉ? "

Kate nói:" Thôi được. Nhưng khi nào con trở thành giống như họ thì mẹ sẽ thấy hối tiếc đến nát ruột gan ra ".

" Thế con nghĩ con sẽ trở thành giống như họ sao? "

Kate nhe răng cười tinh quái " Dĩ nhiên là không rồi. Bộ mẹ điên rồi à? "

Một giờ sau khi trở về nhà, Kate đã ra ngoài chơi bóng bầu dục với bọn trẻ con của các gia nhân. Margaret đứng nhìn Kate qua khung cửa sổ và nghĩ thầm:" Mình đã phí tiền vô ích. Nó sẽ chẳng bao giờ thay đổi cả "

Tối hôm ấy, vào bữa cơm, Kate tình cờ hỏi:" Có David ở trong thị trấn không hở mẹ? "

" Anh ấy đi sang Úc, có lẻ sẽ trở về vào ngày mai ".

" Thế anh ấy có đến ăn cơm vào tối thứ sáu không? "

" Có lẻ ". Nàng nhìn Kate và nói " Con thích David phải không? "

Kate nhún vai. " Anh ấy cũng không đến nỗi tồi ".

" À, ra thế " Margaret nói. Nàng tủm tỉm cười một mình vì nhớ đến lời nói của Kate, rằng cô bé sẽ quyết lấy David cho kỳ được.

" Con muốn nói là con không ghét anh ấy. Con thích anh ta như là một con người thôi. Con không chịu được anh ấy với tư cách là một người đàn ông "

Khi David đến ăn cơm vào tối thứ sáu, Kate chạy như bay ra cửa để chào đón anh. Nàng ôm lấy David và thì thầm vào tai anh:" Tôi tha thứ cho anh. Nhớ anh quá, David ạ. Anh có nhớ tôi không? "

David buột miệng đáp "có". Ngay lúc ấy, anh ngạc nhiên nghĩ thầm:" Lạy Chúa, mình có nhớ cô ấy thật ".

Anh chưa hề quen ai giống như cô bé này. Anh đã thấy nàng lớn lên, và cứ mỗi lần anh đối diện với nàng, anh lại phát hiện ra ở nàng một cái gì mới mẽ. Nàng đã gần mười sáu tuổi và đã bắt đầu nẩy nở. Nàng để cho làn tóc đen mọc dài ra, xỏa xuống mềm mại trên hai vai. Nàng đã có những nét trưởng thành, và một vẻ hấp dẫn mà anh không để ý thấy trước đây. Nàng xinh đẹp, lanh lợi, thông minh và có ý chí mạnh mẽ. Nàng sẽ khó điều khiển đối với một người đàn ông nào đó về sau này, David nghĩ thầm.

Đến bữa ăn, David hỏi:" Cô học hành ở trường như thế nào? "

" Ồ! Tôi thích lắm ". Nàng nói huyên thuyên. " Học nhiều thứ lắm. Các cô giáo thật là tuyệt vời, và tôi cũng có rất nhiều bạn bè thân thiết "

Margaret ngồi im lặng, sửng sốt.

" David, anh có thể đưa tôi đi xem mỏ được không? "

" Cô muốn bỏ phí mấy ngày nghỉ của cô bằng cách ấy hay sao? "

" Vâng, anh cứ cho tôi đi theo "

Một cuộc đi thăm vùng mỏ sẽ chiếm trọn một ngày và như vậy, có nghĩa là nàng sẽ ở bên cạnh David trong suốt thời gian ấy.

" Nếu mẹ cô cho phép thì..."

" Mẹ, mẹ cho phép đi ... "

" Thôi được con ạ. Chừng nào con ở bên cạnh David, mẹ mới yên tâm là con được an toàn ". Margaret hy vọng rằng David cũng sẽ được an toàn.

Mỏ kim cương Bruger Brent là một công trình đồ sộ với hàng trăm công nhân tham gia vào công việc đào đất, xây dựng, đãi vàng và rửa sỏi đá.

" Đây là một trong những mỏ đem đến nhiều lợi lộc nhất cho công ty ". David nói với Kate. Họ đang ở trên mặt đất, trong văn phòng của viên quản đốc, chờ đợi một nhóm hộ tống đưa họ xuống mỏ. Sát vào tường là một tủ trưng bày những viên kim cương đủ cỡ và đủ màu sắc.

" Mỗi viên kim cương có một đặc tính riêng ". David giải thích. " Những viên kim cương nguyên thủy lấy từ các bờ sông Vaal chứa chất phù sa, và các cạnh của chúng bị mài mòn qua bao nhiêu thế kỷ ".

Anh ấy trông đẹp trai hơn bao giờ hết, Kate ngẫm nghĩ. Mình yêu cặp lông mày của anh ấy quá!

" NHỮNg viên đá này lấy từ nhiều mỏ khác nhau, nhưng người ta vẫn có thể nhận ra chúng dễ dàng nhờ ở bề ngoài của chúng. Cô có thấy viên này không? Nhìn vào cỡ viên đá và màu vàng của nó, ta biết ngay là người ta tìm thấy nó ở Paardspan. Các viên kim cương của hãng De Beer có bề mặt trơn tru như dính dầu, và hình thể của nó là một khối mười hai mặt ".

Anh ấy thật là xuất sắc, biết đủ mọi thứ.

" Cô có thể biết ngay viên đá này lấy từ mỏ Kimberley, vì nó là một khối tám mặt. Các viên kim cương có nhiều loại, từ loại thủy tinh đục đến loại trắng tinh khiết ".

Mình thắc mắc không biết viên quản đốc này có nghĩ rằng David là người yêu của mình không nhỉ? Mình hy vọng như vậy.

Màu sắc của một viên kim cương xác định giá trị của nó. Các màu sắc được phân ra theo thang bậc từ một đến mười. Cao nhất là kim cương có màu trắng xanh, thấp nhất là loại màu nâu ".

Anh ấy có một mùi rất thơm tho. Một mùi rất là... rất là đàn ông. Mình thích cái vai và cánh tay của anh ấy. Mình ao ước...

" Kate! "

Nàng đáp như thấy mình phạm tội:" Vâng, cái gì hở anh David? "

" Cô có nghe tôi nói không? "

" Cố nhiên là có - Giọng nàng có vẻ không bằng lòng - Tôi có nghe từng lời nói của anh "

Họ ở suốt hai giờ đồng hồ trong lòng mỏ. Rồi hai người cùng đi ăn cơm trưa. Đối với Kate, đó là một ngày thần tiên.

Khi Kate về nhà vào xế trưa hôm ấy, Margaret hỏi:" Con có thích không? "

" Thật là tuyệt vời. Công việc làm mỏ rất là thú vị "

Nửa giờ sau, Margaret tình cờ nhìn qua cửa sổ, Kate đang vật lộn với đứa con trai của một bác làm vườn.

Năm sau, các lá thư của Kate gửi về từ trường có vẻ lạc quan một cách thận trọng. Kate được cử làm thủ quân của các đội khúc côn cầu, đánh vợt, và đứng đầu lớp về việc học. Trường học không đến nỗi tệ lắm, nàng viết trong thư. Và trong các lớp học của nàng, cũng có một số bạn tử tế một cách vừa phải. Nàng xin phép mẹ đưa hai người bạn về nhà trong dịp nghỉ hè. Margaret cũng rất vui lòng. Ngôi nhà sẽ trở nên ồn ào, náo nhiệt với tiếng cười đùa của những cô gái trẻ. Margaret nóng lòng chờ đợi con gái về thăm nhà. Tất cả mơ ước của nàng bây giờ đều đặt vào Kate. Nàng thầm nghĩ:" Jamie và mình đều thuộc về quá khứ rồi. Kate là tương lai. Tương lai ấy sẽ sáng sủa, tuyệt vời biết bao nhiêu! "

Khi Kate trở về nhà vào dịp hè, tất cả mọi chàng trai xứng đôi vừa lứa, cứ bám lấy xung quanh nàng, bao vây nàng để có những cuộc hẹn hò, đi chơi. Nhưng nàng không thích người nào cả. David đang ở Mỹ, và Kate đang nóng lòng chờ chàng trở về. Khi David về đến nhà, Kate đến tận cửa đón chàng một cách mừng rỡ. Nàng mặc chiếc áo dài màu trắng, thắt cái dây lưng nhung màu đen, làm nổi bật lên bộ ngực duyên dáng của nàng. Khi David ôm lấy nàng, anh ngạc nhiên thấy vẻ nồng thắm trong lối đáp ứng của nàng. Anh lùi lại, nhìn ngắm nàng. Ở nàng có một vẻ gì đó khác biệt, một vẻ hiểu biết. Trong đôi mắt nàng, anh thấy có một vẻ biểu lộ mà anh không thể xác định được, khiến cho anh cảm thấy bức rứt không yên.

Một đôi lần trong dịp hè, David thấy Kate đứng với mấy người bạn trai bao vay xung quanh. Anh tự hỏi không biết người nào trong số ấy có diễm phúc được nàng chọn lựa. David được gọi trở lại Úc vì công việc, và khi anh trở về Klipdrift thì Kate đã lên đường sang Anh.

Trong năm cuối cùng của Kate ở trường học, David bất ngờ xuất hiện vào một tối nọ. Thường thường, anh có thư hay điện thọai báo trước, lần này, anh không báo cho biết gì cả.

" David! Thật là bất ngờ quá! " Kate ôm choàng lấy anh. " Lẻ ra anh phải báo cho tôi biết là anh sẽ đến chứ ".

" Kate ạ!, tôi đến để đưa cô về nhà ".

Nàng lùi lại, nhìn lên mặt anh " Có chuyện gì không hay chăng? "

" Tôi lo rằng mẹ cô đang ốm rất nặng ".

Kate đứng đờ người trong một lúc " Tôi sẵn sàng đi ngay bây giờ ".

Kate sửng sốt khi trông thấy vẻ ngoài của mẹ, Chỉ ít tháng trước, Margaret còn rất khỏe mạnh. Bây giờ, mặt bà nhợt nhạt, hốc hác, đôi mắt hầu như mất vẻ tinh anh. Có vẻ như căn bệnh ung thư đang tàn phá da thịt bà, cũng đồng thời tàn phá linh hồn bà nữa.

Kate ngồi bên cạnh giường, cầm tay mẹ trong bàn tay mình và nói:" Mẹ ơi, con hối hận quá! "

Margaret bóp chặt tay con gái:" Mẹ đã sẵn sàng rối, con yêu quý ạ. Có lẻ mẹ đã sẵn sàng như vậy từ khi cha con qua đời ". Bà ngước mắt lên nhìn Kate " Con có muốn nghe một chuyện vớ vẩn không? Từ trước đến nay, mẹ chưa hề nói với ai điều này cả" - Bà do dự một lúc rồi nói:" Mẹ lúc nào cũng lo lắng không có ai chăm nom cha con được tử tế cả. Bây giờ thì mẹ có thể làm được như vậy rồi ".

Margaret được an táng ba ngày sau đó. Cái chết của mẹ nàng đã khiến cho nàng bị xúc động sâu sắc. Kate đã mất cha và anh, nhưng nàng chưa bao giờ biết mặt họ. Họ chỉ là những bóng hình tưởng tượng thuộc về quá khứ. Còn cái chết của mẹ nàng là hiện thực và thật đau đớn.

Kate đã mười tám tuổi. Và ở tuổi mười tám, đột nhiên nàng trở nên cô độc trên cõi đời này. Ý nghĩ này khiến nàng khiếp hải.

David nhìn Kate đứng bên cạnh mộ mẹ nàng, cố lấy can đảm để khỏi khóc. Nhưng khi hai người về đến nhà, Kate khóc òa lên, không sao ngưng nổi. " Mẹ lúc nào cũng tốt với tôi, David ạ. Còn tôi thật là một đứa con gái hư hỏng ".

David cố an ủi nàng " Cô lúc nào cũng là một cô con gái ngoan của mẹ cô Kate ".
" Tôi chỉ gây rắc rối cho mẹ tôi thôi. Tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì nếu tôi có thể chuộc lại tội lỗi ấy đối với mẹ tôi. Tôi không muốn mẹ tôi chế, David! Tại sao Chúa lại làm như vậy đối với mẹ tôi? ".

Anh im lặng một lúc, chờ cho đến khi nàng khóc hết nước mắt. Khi nàng đã dịu lại, David mới nói " Tôi biết rằng cô khó mà tin được vào lúc này, nhưng một ngày kia, nỗi đau đớn này sẽ tan đi. Rồi cô biết sẽ có gì còn lại sẽ có gì còn lại không, Kate? Là những kỷ niệm êm đẹp. Cô sẽ nhớ lại tất cả những gì đẹp đẽ mà cô và mẹ cô đã từng có ".

" Tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng ngay lúc này, tô cảm thấy đau đớn quá ".

Sáng hôm sau, hai người bàn với nhau về tương lai của Kate.

" Cô có gia đình ở Tô Cách Lan " David nhắc nhở.

" Không! - Kate đáp lại một cách gay gắt - Đó không phải là gia đình. Họ là những người bà con, họ hàng ". Giọng nàng trở nên chua cay :" Khi bố muốn đi đến xứ này, họ chế giễu bố tôi. Không ai giúp đỡ cho bố tôi, ngọai trừ bà nội. Nhưng bà mất rồi. Không, tôi không có liên hệ gì với họ cả ".

David ngồi suy nghĩ :" Cô có dự định học cho nốt học kỳ này không? ".

Kate chưa kịp trả lời, anh đã tiếp :" Tôi nghĩ rằng, có lẻ mẹ cô cũng muốn cô làm như vậy ".

" Thế thì tôi sẽ làm đúng như mẹ tôi muốn ". Nàng nhìn xuống sàn nhà, mắt không nhìn vào đâu hết :" Địa ngục khốn kiếp! ".

" Tôi hiểu! ". David dịu dàng nói :" Tôi hiểu ".

Kate học hết học kỳ và được cử đọc diễn văn tốt nghiệp. David cũng có mặt trong buổi lễ trao bằng.

Trong lúc đi từ Johannesburg đến Klipdrift trong toa xe riêng, David nói :" Cô biết không? Tất cả những thứ này sẽ thuộc về cô trong ít năm nữa. Chiếc toa xe này, các mỏ vàng và công ty này, tất cả là của cô. Cô là một cô gái rất giàu có. Cô có thể bán công ty này đi để lấy nhiều triệu bảng Anh".

Anh nhìn nàng rồi nói tiếp :" Hoặc cô có thể giữ lại công ty này. Cô sẽ phải suy nghĩ về điều đó ".

" Tôi đã suy nghĩ rồi " Kate nói. Nàng nhìn vào mặt David, tủm tỉm cười :" Cha tôi xưa kia là một đạo tặc, David ạ. Một đạo tặc già tuyệt vời. Tôi ao ước giá như tôi được biết cha tôi. Tôi sẽ không bán công ty này đi. Anh có biết tại sao không? Bởi vì ông đạo tặc ấy đã đặt tên cho công ty theo tên của hai tên bảo vệ đã từng tìm cách giết ông. Anh nghĩ xem đó có phải là một hành động tuyệt vời hay không? Có nhiều đêm tôi không thể ngủ được, vì tôi nghĩ đến cha tôi và bác Banda, bò xuyên qua sương mù, gọi là "MIS" ấy, rồi tôi mường tượng như nghe có tiếng gọi của những tên bảo vệ Kruger... Brent...". Nàng ngước mắt nhìn lên David :" Không, tôi sẽ không bao giờ bán đi công ty của cha tôi, chừng nào anh còn tiếp tục ở lại để điều khiển nó ".

David trầm tỉnh nói :" Tôi sẽ ở lại chừng nào cô còn cần đến tôi ".

" Tôi đã quyết định sẽ theo học một trường doanh thương ".

" Một trường doanh thương? ". Giọng David lộ rõ nỗi ngạc nhiên.

" Bây giờ là vào năm 1910 ". Kate nhắc nhở :" Đã có nhiều trường doanh thương ở Johannesburg mà phụ nữ được phép theo học ".

" Nhưng..."

" Anh có lần hỏi tôi muốn làm gì với tiền bạc của mình - Nàng nhìn thẳng vào mắt David và nói - Tôi muốn làm ra tiền ".

0
Chào các bạn.Các bạn ơi còn chương nào không cho mình tham gia với.
Gặp tay kiếm khách âu bàn kiếm
Chẳng phải thi nhân chớ tặng thi


Quê ngoại tớ đấy (Mũi Né - Phan Thiết)
0
Truyện này gõ xong rồi bạn ơi, bạn tham khảo các truyện khác truyện khác thử xem.
Sống để ăn ^-^
0
Sau gần 4 tháng kể từ ngày khởi đăng, cuối cùng tác phẩm này đã được đưa toàn bộ lên thư viện.

Một lần nữa xin cảm ơn Chuột lắc đã đóng góp tác phẩm và các bạn đã tham gia scan, đánh máy để hoàn thành tác phẩm.

Xin gửi tới mọi người một bản pdf do CB làm trong quá trình hiệu đính, để có thể theo dõi tác phẩm được dễ dàng hơn [:D]

http://www.zshare.net/download/sheldon-taycuphach-pdf.html
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

0
Chương 35

Lễ cưới được cử hành hai ngày trước khi có cuộc điều tra án mạng. Eve và Webster cưới nhau trước sự hiện diện của một viên thẩm phán trong phòng làm việc của ông ta. Chỉ riêng ý tưởng làm vợ Keith Webster cũng đủ làm cho Eve nổi da gà, nhưng nàng không có lựa chọn nào khác nữa. Chỉ có kẻ nào điên rồ mới nghĩ rằng mình sẽ lấy anh ta vĩnh viễn, nàng nghĩ thầm. Sau khi cuộc điều tra chấm dứt, nàng sẽ xin vô hiệu hóa cuộc hôn nhân này, thế là xong chuyện.
Thám tử Nick Pappas đang có một vấn đề. Anh tin chắc rằng anh đã biết thủ phạm giết George Mellis là ai rồi, nhưng anh vẫn chưa thể chứng minh được. Anh gặp phải sự im lặng thông đồng xung quanh gia đình Blackwell mà anh không có cách nào phá vỡ được. Anh thảo luận vấn đề này với cấp trên anh, đại úy Harold Cohn, một cảnh sát viên trên đường phố đã do công lao của mình leo dần lên những cấp bậc cao hơn.
Cohn lẳng lặng nghe Pappas trình bày, rồi nói, “Toàn là hỏa mù cả, Nick ạ. Anh chẳng có bằng cớ khỉ khô gì cả. Đem chuyện ấy ra tòa thì họ cười cho thối mũi.”
“Tôi biết,” Trung úy Pappas nói, “Nhưng tôi đúng.” Anh ngồi yên một lúc suy nghĩ. “Tôi muốn nói chuyện với bà Kate Blackwell, anh có cho phép không ?”
“Lại chúa, để làm gì kia chứ ?”
“Thì cũng giống như mình đi câu hú họa vậy. Bà ấy làm chủ cái gia đình ấy. Có thể bà ta có một số tin tức mà ngay cả bà ấy cũng không biết là mình có.”
“Anh phải cẩn thận mới được”
“Tôi xin hứa”
“Và phải nhẹ nhàng với bà ta, Nick ạ. Hãy nhớ rằng bà ấy là một bà già!”
“Chính tôi nhờ ở chỗ ấy đấy,” Pappas nói.
Cuộc gặp gỡ diễn ra vào lúc trưa ở văn phòng bà Blackwell. Nick Pappas đoán là bà ta ở vào tuổi tám mươi, nhưng bà trông vẫn còn mạnh khỏe, sáng suốt. Bà không bộc lộ vẻ căng thẳng như viên thám tử biết là bà chắc chắn phải cảm thấy vào lúc này. Bà là một con người kín đáo, nhưng đã bị bắt buộc phải nhìn thấy tên dòng họ Blackwell trở thành đề tài cho mọi người bàn tán và phỉ báng.
“Viên thư ký của tôi nói rằng ông muốn gặp tôi về một việc khẩn cấp nào đó.”
“Thưa bà, vâng ạ. Ngày mai sẽ có cuộc điều tra về cái chết của George Mellis. Tôi có lý do để tin rằng người cháu gái của bà có liên quan đến vụ án mạng này.”
Bà Kate trở nên tuyệt đối cứng rắn. “Tôi không tin”
“Xin bà nghe tôi nói cho hết, thưa bà Blackwell. Cuộc điều tra nào của cảnh sát cũng bắt bằng một câu hỏi về lý do gây ra án mạng. George Mellis là một tên đào mỏ và là một kẻ bạo dâm đồi bại.” Nick thấy rõ phản ứng hiện trên mặt bà, nhưng anh vẫn tiếp tục nói, “Hắn cưới cháu gái bà, rồi đột nhiên thấy mình nắm trong tay một tài sản lớn. Tôi đoán rằng hắn ta đã đánh đập Alexandra nhiều lần, và khi cô ấy đòi ly dị, hắn đã từ chối. Lối thoát duy nhất cô ấy có thể dứt bỏ hắn là trừ khử hắn đi.”
Kate nhìn thẳng vào anh, tái xám mặt mày.
“Tôi đã bắt đầu tìm bằng chứng để hổ trợ cho thuyết này. Chúng tôi biết George Mellis có mặt ở ngôi nhà Cedar Hill trưóc khi hắn mất tích. Chỉ có hai cách đi đến Dark Harbor từ đất liền, bằng máy bay hay tàu phà. Theo trạm cảnh sát địa phương, George đã không dùng phương tiện nào trong hai phương tiện này. Tôi không tin vào các phép lạ, nên tôi không tin rằng Mellis có thể bước đi trên nước được. Khả năng duy nhất còn lại là hắn đã thuê một chiếc xuồng ở đâu đó dọc bờ biển. Tôi bắt đầu điều tra các nơi cho mướn xuồng thì tìm đúng ngay ra được bến cảng Gilkey Harbor. Lúc bốn giờ chiều, vào ngày George bị giết, một người đàn bà đã thuê một chiếc xuồng máy và nói rằng một người bạn cô ta sẽ đến lấy nó sau đó. Cô ta trả tiền mặt, nhưng cô ta phải ký trên giấy thuê xuồng. Cô ta lấy tên là Solange Dunas. Bà có thấy tên ấy gợi cho bà nhớ lại điều gì không?”
“Có chứ. Cô ấy... cô ấy là cô giáo nuôi trẻ vẫn từng trông nom hai đứa song sinh ấy khi chúng nó còn nhỏ. Cô ấy trở về Pháp lâu rồi.”
Pappas gật đầu, một vẻ thỏa mãn thoáng qua trên nét mặt. “Xa hơn một chút nữa, cũng trên bờ bể ấy, cũng người đàn bà ấy đưa thuyền ra khơi rồi trở lại đó ba giờ sau. Tôi đưa cho các nhân viên cho thuê xuồng ở đây xem một bức ảnh của Alexandra. Họ đều tin đó là cô ta, nhưng không chắc chắn lắm, bởi vì người thuê xuồng ấy là một cô gái có tóc nâu”.
“Vậy thì có gì khiến ông nghĩ rằng …”
“Cô ấy đeo tóc giả.”
Kate nói bằng một giọng cứng rắn, “Tôi không tin rằng Alexandra giết chồng nó.”
“ Tôi cũng vậy, thưa bà Blackwell.”, trung úy Pappas nói, “đó là chị cô ấy, tức là Eve.”
Bà Kate Blackwell sững sờ như một tượng đá.
“Alexandra không thể làm chuyện ấy được. Tôi đã điều tra về những sự đi lại của cô ấy vào ngày xẩy ra vụ án mạng. Sớm hôm ấy cô ta ở New York với một ngừơi bạn, rồi bay thẳng từ New York đến hòn đảo. Không có cách nào cô ta thuê hai chiếc xuồng máy này được.” Anh vươn người về phía trước. “Vậy tôi nghĩ chỉ còn lại một người giống hệt như Alexandra; người ấy đã ký tên Solange Dunas. Đó là Eve. Tôi bắt đầu đi tìm lý do vì sao cô ấy đã làm như vậy. Tôi đưa ảnh George Mellis ra cho những người thuê các căn hộ trong cư của Eve thì mới biết rằng Mellis là người khách thường xuyên lui tới nơi ấy. Viên quản đốc trông coi chung cư ấy cho biết rằng có một đêm nọ, khi Mellis có mặt tại đó, Eve bị đánh đập gần chết. Bà có biết chuyện ấy không?”
“Không,” giọng nói của bà Kate nghe như tiếng thều thào.
“Chính Mellis đã làm chuyện ấy. Nó phù hợp với thói quen của hắn. Còn động cơ của Eve là sự trả thù. Cô ấy dụ hắn đến Dark Harbor rồi giết hắn.” Anh nhìn bà Kate, và cảm thấy hối hận day dứt vì đã lợi dụng bà già này. “Eve lấy cớ là cô ấy ở Washington D.C ngày hôm ấy. Cô ta cho người lái xe taxi tờ bạc một trăm đô la để cho người ấy nhớ đến cô ta, sau đó cô ta làm ầm ĩ lên về chuyện trễ chuyến máy bayđi Washington. Nhưng tôi không nghĩ rằng cô ấy thật sự đi Washington. Tôi tin rằng chính cô ta đã đội tóc giả, đi một chiếc máy bay thương mại đến Maine, ở đó cô ta thuê hai chiếc xuồng ấy. Cô ta giết Mellis, quẳng xác hắn ta xuống bể, sau đó neo thuyền lại trong bến, kéo chiếc xuồng máy dư thừa vào bến tàu cho thuê. Bến tàu này lúc ấy đã đóng cửa.”
Bà Kate nhìn Nick Pappas hồi lâu, rồi chậm rải nói, “tất cả bằng chứng ông đưa ra đều là suy diễn cả, phải thế không?”
“Phải.” Anh sẵn sàng xông vào để hạ thủ. “Tôi cần bằng chứng cụ thể cho cuộc điều tra sắp tới. Bà biết về cháu gái của bà hơn ai hết, thưa bà Blackwell, tôi muốn bà nói cho tôi biết bất cứ chi tiết nào có thể ích lợi trong vụ này.”
Bà ngồi yên lặng, suy nghĩ. Cuối cùng, bà nói, “Tôi nghĩ rằng tôi có thể cung cấp một chi tiết ích lợi cho cuộc điều tra này.”
Tim của Pappas bắt đầu đập nhanh hơn. Anh đã thử làm nhưng không chắc thành công, thế mà anh đã đạt được kết quả. Bà già ấy cuối cùng sẽ phải cung cấp điều mà anh đang cần. Anh vô tình vươn người ra phía trước. “Vâng, thưa bà Blackwell.”
Bà Kate nói một cách chậm rãi và rõ ràng. “Ngày mà George Mellis bị giết, ông trung uý ạ, cháu gái tôi, Eve, và tôi đang cùng ở Washington D.C.”
Bà thấy vẻ ngạc nhiên lộ ra rõ rệt trên mặt Pappas. Đồ ngu, bà Kate Blackwell thầm nghĩ, anh tưởng rằng tôi sẵn sàng đưa tên dòng họ Blackwell ra làm vật hy sinh cho anh hay sao? Tôi không bao giờ chịu cho báo chí lợi dụng tên tuổi gia đình Blackwell để mà hội hè tưng bừng với nhau đâu. Không, tôi sẽ trừng trị Eve Blackwell theo lối riêng của tôi.
Theo phán quyết của đoàn điều tra, đây là một cái chết do một hay nhiều tên sát nhân vô danh.
Với sự ngạc nhiên và lòng biết ơn của Alexandra, Peter Templeton có mặt tại buổi thẩm tra tại toà án quận.
Anh nói với nàng, “Tôi đến đó để nâng đỡ tinh thần thôi.” Alexandra đã trả lời rất lưu loát trước toà án, nhưng ve lo lắng, căng thẳng hiện rõ trên mặt và trong đôi mắt nàng. Trong giờ nghỉ giải lao, anh đưa nàng đến ăn trưa tại Lobster Pound, một tiệm ăn nhỏ đối diện với vịnh ở Lincolville.
“Khi nào xong vụ này, tôi nghĩ cô nên đi chơi một chuyến xa khỏi nơi này trong một thời gian,” Peter nói.
“Phải, chị Eve có yêu cầu tôi cùng đi với chị ấy.” Mắt Alexandra tràn ngập đau đớn. “Tôi vẫn chưa tin rằng George đã chết. Tôi biết rằng chuyện ấy đã thật sự xảy ra, nhưng nó… nó vẫn có vẻ như không thực.”
“Thiên nhiên bao giờ cũng có cách làm giảm nhẹ sự va chạm cho đến lúc con người có thể chịu đựng được sự đau đớn.”
“Sự thật vô lý quá. Anh ấy là một người hết sức tốt.” Nàng ngẫng đầu lên nhìn Peter. “Anh đã nói chuyện với anh ấy, anh không thấy anh ấy là một con người tuyệt vời hay sao?”
“Phải,” Peter chậm rãi. “Đúng như vậy.”

Eve nói với Keith Webster, “Tôi muốn xin hủy bỏ cuộc hôn nhân này, Keith ạ”
Keith Webster chớp mắt nhìn vợ với vẻ ngạc nhiên. “Trời ơi, sao em lại muốn hủy bỏ cuộc hôn nhân?”
“Thôi đi nào, Keith. Anh nghĩ rằng tôi sẽ sống với anh suốt đời hay sao?”
“Dĩ nhiên rồi. Em là vợ anh mà.”
“Anh đang theo đuổi cái gì? Tiền bạc của gia đình Blackwell hả ?”
“Anh không cần tiền, em ạ. Anh làm ra tiền và có cuộc sống đầy đủ. Anh có thể cho em bất cứ thứ gì em muốn.”
“Tôi đã nói với anh tôi muốn gì rồi. Đó là việc hủy bỏ cuộc hôn nhân này.”
Anh lắc đầu với vẻ ân hận. “Anh e rằng anh không thể cho em cái ấy được.”
“Vậy thì tôi sẽ làm đơn xin ly dị”
“Anh nghĩ rằng điều ấy không nên. Em thấy đấy, chẳng có gì thật sự thay đổi cả. Cảnh sát chưa tìm ra kẻ giết em rể em, như vậy vụ án này vẫn còn để ngỏ. Không có đạo luật nào đặt ra các giới hạn về các vụ giết người cả. Nếu em ly dị anh, anh bị bó buộc phải …” Anh giơ hai tay lên tỏ vẻ tuyệt vọng.
“Anh nói như là chính tôi giết anh ấy hông bằng.”
“Chính em chứ còn ai nữa, Eve”
Giọng nàng có vẻ khinh bỉ. “Trời đất ơi, làm sao mà anh biết ?”
“Đó chính là lý do duy nhất em đã chịu lấy anh.”
Nàng nhìn Webster đầy ghê tởm. “Đồ khốn kiếp! Vì sao anh có thể làm như vậy đối với tôi ?”
“Rất đơn giản. Chỉ vì anh yêu em.”
“Tôi ghét anh. Anh hiểu chứ? Tôi khinh bỉ anh.”
Anh cười buồn bã. “Anh yêu em nhiều quá.”

Cuộc đi chơi với Alexandra được hoãn lại. “Chị đi chơi tuần trăng mật ở Barbados,” Eve nói với Alexandra.
Barbados là nơi chính Keith đã chọn.
“Tôi sẽ không đi”, Eve nói thẳng thừng với Keith Webster. Ý tưởng về một tuần trăng mật với Webster thật là ghê tởm.
“Nếu mình không đi chơi tuần trăng mật thì điều này có vẻ lạ lùng lắm.” Anh bẽn lẽn nói. “Chúng ta không muốn người ta đưa ra hàng tràng câu hỏi, phải thế không em ?”

Alexandra bắt đầu tới thăm Peter Templeton mỗi tuần một lần. Thoạt tiên chỉ vì lý do nàng muốn nói chuyện về George Mellis, vì nàng không có ai để nói chuyện về chàng. Nhưng sau nhiều tuần lễ, Alexandra thú nhận với chính mình rằng, nàng rất thích thú được làm bạn với Peter. Nàng thấy ở anh một con người đáng tin cậy mà nàng rất cần có vào lúc này. Anh tỏ ra nhậy cảm với mọi tâm trạng của nàng, hơn nữa anh lại thông minh và niềm nở.
Anh nói với Alexandra, “Khi anh còn là bác sĩ nội trú, anh rời khỏi nhà vào giữa mùa đông rét buốt để đi thăm bệnh tại nhà lần đầu tiên. Bệnh nhân là một ông già mảnh khảnh nằm trên giường ho sù sụ. Anh sắp sữa muốn khám ngực ông ta bằng ống nghe, nhưng anh không muốn ông ta bị cảm giác lạnh bất ngờ, nên anh quyết định đặt ống nghe lên lò sưởi cho nó ấm trước đã, trong khi anh khám cổ họng và mắt. Khi anh lấy cái ống nghe rồi đặt nó lên ngực ông ta thì ông ta già nhảy chồm ra khỏi giường như một con mèo bị bỏng. Cơn ho của ông ta biến mất, nhưng phải mất hai tuần lễ mới chữa lành được vết bỏng.”
Alexandra phá lên cười. Đó là tiếng cười đầu tiên của nàng sau một thời gian khá lâu.
“Chúng ta có thể gặp lại nhau như thế này vào tuần sau không ?”, Peter hỏi.
“Vâng, nếu anh muốn.”

Tuần trăng mật của Eve hoá ra thú vị hơn Eve đã dự đoán rất nhiều.Vì da của Webster nhợt nhạt và nhạy cảm nên anh sợ đi ra ngoài nắng, cho nên Eve xuống bãi bể một mình hàng ngày. Nhưng nàng không bao giờ phải cô đơn quá lâu. Nàng bị vây quanh bởi những người cứu đắm đa tình trên bãi biển, những bọn vô công rồi nghề, những tên trùm tư bản và cả những kẻ ăn chơi. Thật giống hệt như một bữa tiệc gồm nhiều món khai vị tuyệt vời mà Eve tha hồ lựa chọn và thay đổi mỗi ngày. Nàng lại càng muốn hưởng các cuộc truy hoan phóng túng gấp đôi thế bởi vì nàng biết ông chồng nàng đang chờ đợi nàng trong phòng trên lầu.Chàng hầu hạ nàng như một con chó nhỏ nuôi trong nhà, phục vụ tay chân cho nàng. Nếu Eve bày tỏ ước muốn gì, điều ấy được thoả mãn ngay tức khắc. Nàng làm đủ mọi thứ để chửi rủa anh, chọc giận anh, làm cho anh quay lại chống nàng, để rồi anh sẵn lòng bỏ rơi nàng, nhưng tình yêu của anh vẫn không có gì lay chuyển nổi. Ý tưởng để cho Keith Webster ân ái với nàng khiến cho nàng cảm thấy ghê tởm, thế nhưng nàng cũng mừng là Webster có ham muốn tình dục yếu ớt.

Tuổi tác đã bắt đầu đuổi kịp được mình rồi, bà Kate Blackwell thầm nghĩ. Quá nhiều năm chồng chất trong đời bà, và tất cả đều đầy đủ, phong phú.
Kruger – Brent cần một bàn tay mạnh mẽ lèo lái. Nó cần một người thuộc dòng máu Blackwell. Không có một ai để tiếp tục sau khi mình qua đời, bà Kate thầm nghĩ. Tẩt cả những vận động, thiết lập kế hoạch và phấn đấu của mình cho công ty. Nhưng để cho cái gì? Cho những kẻ lạ mặt chiếm đoạt lấy nó vào một ngày nào đó hay sao ? Mẹ kiếp, mình không thể để cho chuyện ấy xảy ra được.
Một tuần lễ sau tuần đi chơi trăng mật trở về, Keith Webster nói như để xin lỗi, “Anh e rằng anh sắp sữa phải trở lại với công việc, em ạ. Anh có nhiều ca phẫu thuật đã được xếp sẵn trên thời khoá biểu. Không có anh bên cạnh em suốt ngày, em có thấy buồn không?”
Eve cố giữ vẻ mặt bình thản. “Em sẽ cố gắng”.
Mỗi buổi sáng, Webster thức dậy và ra khỏi nhà rất sớm, và khi Eve thức dậy, đi xuống bếp, nàng thấy cà phê và các thức ăn sáng đã được dọn ra sẵn sàng cho nàng. Anh mở một chương mục ngân hàng khá lớn lấy tên Eve, và bỏ tiền thêm vào chương mục ấy đều đều. Eve tiêu xài không cần tính toán. Miễn sao Eve vui thích thế là Keith Webster cảm thấy sung sướng. Eve mua những thứ trang súc đắt tiền cho Rory, và sống với anh chàng này hầu như tất cả mọi buổi trưa. Y ta làm việc rất ít.
“Tôi không thể tham dự vào bất cứ vai trò nào. Nó làm hỏng hình ảnh của tôi đi”. Y phàn nàn với Eve.
“Em hiểu, anh yêu quý ạ”.
“Em hiểu được sao ? Em biết gì về nghệ thuật trình diễn trên sân khấu? Em sướng từ trong trứng sướng ra”.
Thế là Eve lại mua một món quà tuyệt đẹp để xoa dịu y. Nàng trả hộ cho Rory tiền thuê nhà, mua cho y những bộ quần áo để xuất hiện trong những cuộc phỏng vấn, trả tiền ăn cho y tại các nhà hàng sang trọng để cho các nhà sản xuất phim ảnh trông thấy. Nàng muốn ở bên cạnh Rory hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn, nhưng phiền một nỗi là có chồng nàng ở đó. Eve thường về đến nhà lúc bảy tám giờ tối, và lúc ấy thì Keith Webster đang mặc áo tạp dề lúi húi làm cơm ở trong bếp. Anh không bao giờ hỏi vợ đi đâu về cả.

Trong năm năm kế tiếp đó, Peter Templeton và Alexandra gặp nhau thường xuyên hơn. Người này trở thành một vai trò quan trọng đối với người kia. Peter thường theo Alexandra mỗi lần nàng đi đến dưỡng trí viện để thăm cha, và lối chia sẻ như vậy giúp cho sự đau khổ dễ dàng chịu đựng được hơn.
Một buổi tối nọ, Peter gặp bà Kate, khi anh đến đó để đón Alexandra.
“Thế ra anh cũng là một bác sĩ hả ? Tôi đã đi dự hàng chục đám tang của các bác sĩ, thế mà tôi vẫn cứ sống nhăn răng. Anh có biết chút gì về kinh doanh không?”, Bà Kate hỏi.
“Thưa bà Blackwell, tôi không biết nhiều lắm”
“Các anh có tổ chức thành một nghiệp đoàn chứ?”
“Không ạ”.
Bà khịt mũi một tiếng. “Mẹ kiếp, anh chẳng biết gì cả. Anh cần có một người lo về thuế khoá thật giỏi. Tôi sẽ cho anh gặp một người của tôi rất giỏi về việc này. Việc đầu tiên người ấy làm là đưa anh vào nghiệp đoàn, rồi…”
“Xin cảm ơn bà, thưa bà Blackwell, công việc tôi làm bấy lâu nay cũng đã quen rồi và tiến hành khá tốt”.
“Ông nhà tôi xưa kia cũng bướng bỉnh như vậy”, bà Kate nói. Bà quay về phía Alexandra. “Mời anh ấy đến ăn cơm tối. Có lẻ bà có thể dạy cho anh ta khôn hơn được phần nào”.
Ra khỏi nhà , Peter nói, “Bà nội em có vẻ ghét anh”
Alexandra cười, “Bà thích anh đấy. Anh cần phải nghe người ta nói bà nội em đối xử như thế nào đối với những kẻ bà ấy ghét thì anh mới hiểu được”
“Anh không biết bà nội em sẽ nghĩ như thế nào nếu anh nói với bà rằng anh muốn cưới em làm vợ, Alex….?”
Nàng ngước mắt lên nhìn anh, nét mặt rạng rỡ, “Cả bà nội lẫn em đều sẽ cảm thấy như thế là tuyệt vời, Peter ạ.”

Bà Kate quan sát sự diễn tiến của mối tình thơ mộng giữa Alexandra va Peter với vẻ thích thú. Bà mến ông bác sĩ trẻ, và nghĩ rằng anh ta sẽ là người chồng tốt của Alexandra. Nhưng bản chất bà là một người buôn bán, đổi chác. Lúc này, bà ngồi trước lò sưởi đối diện với hai người.
“Nói thật với anh”, bà nói dối, “rằng điều này quả là bất ngờ đối với tôi. Xưa nay tôi vẫn mong rằng Alexandra lấy một nhà quản trị kinh doanh để sau này có thể nắm lấy việc điều khiển Công ty Kruger – Brent”.
“Thưa bà, đây không phải là một lời đề nghị kinh doanh. Alexandra và tôi muốn thành hôn với nhau”
“Về mặt khác”, Bà Kate tiếp tục nói như không có sự gián đoạn, “anh là một nhà tâm lý trị liệu. Anh hiểu trí tuệ và các xúc con người hoạt động như thế nào. Do đó, có lẻ anh sẽ là người điều đình rất giỏi trong công tác kinh doanh. Tôi muốn anh dính líu với công ty. Anh có thể …”
“Không”, Peter đáp với vẻ cương quyết, “Tôi là một bác sĩ. Tôi không thích đi vào lĩnh vực kinh doanh”.
“đây không phải là đi vào lĩnh vực kinh doanh”, bà Kate gắt lên, “Chúng tôi không nói đến một cửa hiệu tạp hoá ở một góc phố nào đó. Anh sẽ là một thành phần của gia đình và tôi đang cần một người có thể điều khiển…”
“Tôi xin lỗi”, giọng của Peter có vẻ dứt khoát, “Tôi sẽ không dính líu gì đến công ty Gruger – Brent. Bà sẽ phải tìm ra một người khác để làm công việc ấy …”
Bà Kate đưa mắt về phía Alexandra. “Cháu có ý kiến gì về câu chuyện ấy hay không?”
“Cháu muốn tất cả thứ gì có thể đem lại hạnh phúc cho Peter, bà ạ”
“Thật là đồ vô ân bội nghĩa”, Bà Kate quắt mắt lên, “Cả hai đứa bây đều là ít kỷ”. Bà thở dài. “Thôi được. Biết đâu các người một ngày nào đó sẽ thay đổi ý kiến”. Rồi bà nói thêm, “Các người có định có con cái không nào ?”
Đó là một vấn đề riêng tư. Tôi có cảm tưởng như bà là một người rất giỏi vận động con người, thưa bà Blackwell, nhưng Alex và tôi sẽ sống cuộc sống riêng của chúng tôi, và các con chúng tôi –nếu chúng tôi có con – cũng sẽ sống cuộc sống riêng của chúng nó”
Bà Kate cười dịu dàng. “Anh sẽ không làm thế nào khác thế được, Peter ạ. Tôi đã tự đặt ra cho mình một nguyên tắc là suốt đời không bao giờ can thiệp vào cuộc sống của những người khác”.

Hai tháng sau, Alexandra và Peter trở về nhà sau tuần trăng mật. Alexandra mang bầu. Khi bà Kate nghe được tin này, bà nghĩ thầm, “tốt lắm, nó sẽ là một đứa con trai”.

Eve nằm trên giường nhìn Rory trần truồng bước ra khỏi phòng tắm. Anh ta có một thân hình đẹp, rắn chắc, gọn gàng. Eve ưa thích lối ân ái của anh, nhưng vẫn chưa thấy được đầy đủ. Nàng ngờ rằng y có thể có nhiều nhân tình khác nữa, nhưng nàng ngại không dám hỏi sợ làm y buồn lòng. Lúc này, y đã đi đến giường nằm, đưa ngón tay vuốt nhẹ trên làn da của nàng ở ngay dưới đôi mắt, và nói, “Này, em bé ạ, em đã có ít nhiều vết nhăn rồi đó. Thế mà có duyên lắm đấy”.
Mỗi lời nói như một nhát dao đâm, một điều nhắc nhở về sự khác biệt tuổi tác giữa họ với nhau, và cho biết rằng nàng nay đã hai mươi lăm tuổi rồi. Họ lại làm tình với nhau lần nữa, nhưng trí óc của nàng thì để ở đâu đâu.
Gần chín giờ, Eve mới về đến nhà. Keith Webster đang phết mỡ lên miếng thịt nướng trên lò.
Anh hôn nàng trên má. “Chào em yêu quý. Anh đã làm xong mấy món ăn em rất thích. Chúng ta sẽ ăn…”
“Keith này, tôi muốn anh làm hết các vết nhăn này cho tôi”
Anh chớp mắt. “Vết nhăn nào ?”
Nàng chỉ vùng dưới mắt. “Những vết này”.
“Đó là những vết nhăn hiện lên khi em cười. Anh thích những cái ấy lắm!”
“Em hãy tin ở anh. Đó là…”
“Trời ơi, anh chỉ cần làm hết các vết nhăn ấy cho tôi. Nghề nghiệp sinh sống anh là như thế mà, phải thế không?”
“Phải, nhưng mà … Thôi được”, anh cố gắng xoa dịu, “Nếu điều ấy làm cho em cảm thấy sung sướng thì anh cũng sẽ làm”.
“Khi nào bắt đầu?”
“Chừng sáu tuần lễ nữa. Thời khóa biểu của anh đã sắp đầy ắp cả rồi”
“Tôi không phải là một trong các bệnh nhân chó chết của anh. Tôi là vợ anh”, Eve gắt lên. “Tôi muốn anh làm ngay bây giờ - ngày mai”
“Bệnh viện đóng cửa vào ngày thứ Bảy”
“Vậy thì mở nó ra”. Cái anh chàng này thật ngu xuẩn! Trời ơi, làm sao dứt bỏ hắn ngay bây giờ ! Thế nào nàng cũng sẽ dứt bỏ hắn. Bằng cách này hoặc cách khác. Càng sớm càng tốt.
“Em hãy đi vào trong phòng kia một lác”. Anh đưa nàng vào phòng trang điểm.
Nàng ngồi xuống một chiếc ghế dưới ánh sáng chói lọi của một ngọn đèn, trong khi Webster cẩn thận xem xét mặt nàng. Chỉ trong chốc lát anh ta từ một anh chàng lù khù bé nhỏ, tự mãn, biến thành một nhà phẫu thuật xuất sắc. Eve cũng nhận ra được sự biến đổi ấy. Nàng nhớ lại phép lạ anh đã thực hiện trên khuôn mặt nàng trước đây. Lần phẫu thuật này đối với Keith có vẻ nhuu không cần thiết, nhưng anh đã lầm. Nó mang tính chất sống còn. Eve không thể nào chịu đựng được ý nghĩ sẽ phải mất Rory.
Keith Webster tắt ngọn đèn rọi. “Không khó khăn gì!”. Anh trấn an nàng. “Anh sẽ bắt đầu làm vào ngày mai”

Sáng hôm sau, cả hai người cùng đi đến bệnh viện. Webster nói, “Anh thường có một y tá giúp việc cho anh, nhưng với một việc nhỏ nhặt như thế này thì điều đó không cần thiết”
“Anh có thể sửa đổi chút ít ở chổ này cho tôi trong khi anh làm công việc ấy”. Nàng vừa nói vừa kéo chút ít lớp da ở cổ họng.
“Nếu em muốn thì cũng được, em ạ. Để anh cho em một thứ thuốc, để em ngủ. Như vậy em sẽ chẳng thấy khó chịu gì cả. Anh không muốn em yêu quý của anh cảm thấy đau đớn”.
Eve ngồi nhìn trong khi Webster đổ thuốc vào ống tiêm, rồi tiêm cho nàng một mũi. Dù có đau đớn, nàng cũng có thể chịu đựng được. Tất cả việc làm này là vì Rory, anh Rory yêu quý. Nàng nhớ đến thân hình rắn chắc như đá của Rory và cái nhìn thèm khát của anh ta.
… Nàng dần dần trôi vào giấc ngủ.
Khi tỉnh dậy, nàng thấy mình nằm trên một chiếc giường trong một căn phòng ở phía sau của bệnh viện. Keith Webster đang ngồi trên ghế bên cạnh giường.
“Kết quả thế nào?”. Giọng nàng vẫn còn lè nhè vì ngái ngủ.
“Tốt lắm”, Webster tủm tỉm cười.
Eve gật đầu rồi ngủ lại.
Khi nàng thức dậy sau đó, Keith Webster vẫn còn ngồi tại chỗ. Anh nói, “Chúng ta còn phải để nguyên băng trong ít ngày nữa. Anh cần phải giữ em ở lại đây để tiện săn sóc chu đáo”.
“Được rồi”.
Webster kiểm soát hàng ngày, xem xét mặt nàng, rồi gật đầu nói, “Toàn hảo”.
“Khi nào thì tôi có thể nhìn thấy mặt tôi được ?”
“Vào khoản thứ sáu này, tất cả sẽ lành hẳn” Anh cam đoan.
Eve ra lệnh cho viên y tá trưởng phải gắn một điện thoại riêng bên cạnh giường nàng. Cú điện thoại đầu tiên nàng gọi là cho Rory.
“Sao, em bé, em đang ở nơi quỷ quái nào đấy?” Rory hỏi, “Anh đang ‘hứng’ lắm đây”.
“Thì em cũng thế, anh yêu quý ạ. Em vẫn còn đang bị bó chân bó cẳng vì cái hội nghị khỉ gió về y khoa của hắn ta ở Florida. Nhưng em sẽ trở về tuần sau”.
“Phải đấy, em nên trở về”
“Anh có nhớ em không?”
“Nhớ như điên ấy”
Eve nghe có tiếng thì thầm ở phía sau qua điện thoại. “Có ai đang đứng với anh ở đấy”.
“Phải, anh và các bạn sắp có một cuộc truy hoan, say sưa chút xíu thôi mà”. Rory vẫn thích nói đùa. “Anh phải đi bây giờ đây”. Đường dây bị cúp.
Eve điện thoại cho Alexandra, lắng nghe một cách chán nản câu chuyện của Alexandra, hăm hở báo tin cho Eve biết rằng nàng đang có mang. Eve nói, “Chị lúc nào cũng mong được trở thành một bà dì”.
Eve ít khi gặp bà nội. Bà có vẻ lạnh nhạt, nhưng Eve không hiểu tại sao. Rồi đây bà ấy sẽ phải nhượng bộ thôi, Eve nghĩ thầm.
Bà Kate không bao giờ hỏi về Keith Webster, nhưng Eve không trách bà bởi vì anh ta chẳng lă gì hết. Có lẽ một ngày nào đó, Eve sẽ bàn với Rory để nhờ anh ta giúp mình trừ khử Keith Webster. Lúc ấy Rory sẽ ràng buộc với nàng vĩnh viễn. Thật là một chuyện hết sức khó tin nếu Eve ngày nào cũng cắm sừng lên đầu chồng mà anh ta không nghi ngờ hay không quan tâm gì cả. Nhưng mà, cảm ơn Chúa, kể ra thì anh ta cũng có tài năng về một phương diện nào đó. Các băng sẽ được tháo ra vào thứ Sáu này.

Eve dậy thật sớm vào sáng thứ Sáu, và nóng lòng chờ đợi Keith Webster.
“Bây giờ đã gần đến trưa rồi”. Nàng phàn nàn với chồng. “Anh ở đâu mà bây giờ mới đến?”
“Anh xin lỗi, em yêu quý. Anh ở phòng mổ cả sáng hôm nay”
“Tôi chẳng cần biết khỉ khô gì về cái chuyện ấy cả. Tháo băng ra, tôi muốn xem nó thế nào”
“Được lắm”
Eve ngồi thẳng dậy, yên lặng, trong khi Webster cắt băng ra khỏi mặt nàng một cách thành thạo. Anh lùi lại để ngắm mặt nàng. Nàng thấy vẻ hài lòng hiện lên trong đôi mắt anh. “Tuyệt hảo”.
“Đưa cho tôi tấm gương soi”
Anh vội vã đi ra khỏi phòng, rồi một lát sau trở lại với một tấm gương cầm tay. Với một vẻ hãnh diện, anh đưa tấm gương cho nàng.
Eve chậm rãi đưa tấm gương lên mặt, rồi nhìn gương mặt nàng được phản chiếu trên đó.
Rồi nàng thét lên một tiếng.
0
CHƯƠNG XVIII
Tony đã đến Paris trước kia, nhưng lần này hoàn cảnh đã khác hẳn. Thành phố của ánh sáng đã bị mờ đi vì sự chiếm đóng của quân Đức, nhưng nó đã thoát sự tàn phá, khi thành phố ấy được tuyên bố bỏ ngỏ. Dân chúng đã phải khổ sở rất nhiều và quân Đức Quốc xã đã cướp bóc nhiều thứ quý giá ở Viện bảo tàng Le Louvre. Mặc dầu vậy Tony vẫn thấy Paris tương đối nguyên vẹn. Hơn nữa, lần này anh sẽ sống ở đấy, sẽ là một thành phần của thành phố này, chứ không phải là một du khách. Anh có thể ở trong một dãy phòng của Kate trên đại lộ Maréchal Foch, không bị hư hại vì cuộc chiếm đóng, nhưng anh không làm như vậy. Anh thuê một căn hộ không có đồ đạc trong một ngôi nhà cổ sau lưng Grand Parnasse. Căn hộ này gồm một phòng khách có lò sưởi, một phòng ngủ nhỏ và một cái bếp xinh xắn không có tủ lạnh. Giữa phòng ngủ và bếp có xen một phòng tắm với một bồn tắm có chân, một chậu rửa đít nhỏ, hoen ố và một bàn tọa đã gẫy, lúc có nước lúc không.
Bà chủ nhà mở miệng xin lỗi thì Tony đã vội ngăn lại, “Như thế này là tuyệt hảo rồi”.
Suốt ngày chủ nhật, anh có mặt ở chợ trời. Ngày thứ hai, thứ ba, anh đi rảo ở các tiệm đồ cũ dọc theo Tả Ngạn, rồi đến ngày thứ tư, anh đã có những đồ đạc căn bản cần thiết. Một chiếc giường vừa dùng làm sô pha, vừa làm giường ngủ, một chiếc bàn dơ bẩn, hai chiếc ghế độn quá chặt, một tủ áo cũ chạm trổ công phu, đèn, một bàn làm bếp ọp ẹp, và hai chiếc ghế thẳng lưng. Mẹ mình mà trông thấy các thứ này chắc phải kinh hãi, Tony nghĩ thầm. Anh có thể nhét đầy căn hộ anh bằng những thứ đồ cổ vô giá, nhưng làm như thế là đóng vai trò của một nghệ sĩ trẻ người Mỹ ở Paris. Anh không muốn đóng vai trò mà dự định sẽ sống với vai trò ấy.
Bước kế tiếp là xin vào một trường hội họa tốt. Trường hội họa có uy tín nhất khắp nước Pháp là École des Beaux Arts của thành phố Paris. Tiêu chuẩn nhập học rất cao, và ít người Mỹ được được thâu nhận vào đó. Tony làm đơn xin vào học. Anh nghĩ thầm họ sẽ chẳng bao giờ nhận mình vào học. Nhưng biết đâu họ sẽ nhận? Anh phải chứng tỏ cho mẹ anh thấy rằng anh đã đưa ra quyết định đúng. Anh nộp ba bức tranh của anh và chờ đợi bốn tuần lễ xem họ có chấp nhận hay không. Vào cuối tuần thứ tư, người gác cổng đưa cho anh một lá thư của nhà trường. Anh phải đến trình diện vào ngày thứ hai sắp tới.
Trường Mỹ thuật Paris là một tòa nhà bằng đá lớn, cao hai tầng với hàng chục lớp học đầy nhóc sinh viên. Tony đến trình diện ông hiệu trưởng, giáo sư Gessand, một người cao to, trông có vẻ khó khăn, cổ rụt và môi mỏng dính.
“Các bức tranh của anh có vẻ tài tử”, ông nói với Tony, “nhưng anh cũng có nhiều hứa hẹn. Hội đồng đã lựa chọn anh vì những gì không có trong những tranh ấy hơn là những gì đã có trong ấy. Anh có hiểu không?”
“Thưa giáo sư, tôi không hiểu rõ lắm ạ”.
“Rồi sẽ đến lúc anh hiểu thôi. Tôi giao anh cho giáo sư Cantal phụ trách. Ông ấy sẽ là thầy giáo dạy anh trong năm năm tới, nếu anh còn tồn tại được lâu như vậy”.
Tôi sẽ tồn tại lâu như vậy, Tony tự hứa với mình.
Giáo sư Cantal là một người lùn tịt, với một cái đầu sói hoàn toàn, khiến ông ta phải che nó bằng một cái mũ nồi màu tím. Ông có cặp mắt nâu đậm, cái mũi củ hành và cặp môi giống như xúc xích. Ông chào đón Tony bằng câu nói: “Người Mỹ là hạng tay chơi tài tử, những kẻ man rợ. Tại sao anh lại đến đây?”
“Để học, thưa Giáo sư”.
Giáo sư Cantal hứ một tiếng.
Có hai mươi lăm học sinh trong lớp, hầu hết là người Pháp. Các giá vẽ được bày ra khắp căn phòng. Tony lựa một chiếc gần cửa sổ nhìn xuống một quán rượu bình dân. Rải rác xung quanh phòng là những mấu đúc các bộ phận cơ thể bằng thạch cao theo các pho tượng Hy Lạp. Tony nhìn xung quanh để tìm một mẫu vẽ, nhưng chẳng cái nào cả.
“Bây giờ các anh bắt đầu”, giáo sư Cantal nói.
“Xin lỗi thầy, tôi… tôi không đem sơn màu theo”, Tony nói.
“Anh không cần sơn màu. Trong năm đầu tiên, anh chỉ học vẽ theo đúng cách thôi”.
Giáo sư chỉ các tượng Hy Lạp. “Anh sẽ vẽ những cái kia. Đối với anh, nó có vẻ đơn giản, nhưng tôi nói trước cho anh biết một điều: trước khi một năm học kết thúc, một nửa trong số các anh sẽ bị loại”. Giọng nói của ông trở nên sôi nổi, “Năm thứ nhất, anh học về cơ thể học. Năm thứ hai – cho những người nào qua được môn học ấy, anh sẽ vẽ theo những người mẫu sống, bằng sơn dầu. Năm thứ ba – tôi cam đoan với anh rằng lúc ấy sẽ còn rất ít người – anh sẽ vẽ tranh sơn màu với tôi, theo kiểu của tôi, tất nhiên là phải làm tốt hơn thế. Qua năm thứ tư và thứ năm, anh sẽ tìm ra được kiểu vẽ của riêng anh, tiếng nói của riêng anh. Thôi, bây giờ chúng ta bắt tay vào việc”.
Lớp học bắt đầu làm việc.
Ông giáo sư đi quanh phòng, dừng lại ở từng giá vẽ để đưa ra lời chỉ trích hay bình luận. Khi đi đến bức vẽ của Tony, ông nói cộc lốc, “Không, như thế không được. Tôi chỉ thấy ở đây cái bên ngoài của cánh tay. Tôi muốn thấy cái bên trong kia. Bắp thịt, xương, các dây chằng. Tôi muốn biết rằng có máu đang chảy ở bên dưới. Anh có biết vẽ như vậy không?”
“Vâng, thưa thầy. Mình phải suy nghĩ, trông thấy và cảm thấy nó trước khi vẽ nó ra”.


Khi không đến lớp học, Tony thường vẽ trong căn hộ của anh. Anh có thể vẽ từ bình minh hôm nay đến bình minh hôm sau. Hội họa tạo cho anh một cảm giác tự do mà anh không hề bao giờ được biết trước đó. Hành vi đơn giản ngồi trước giá vẽ với một cái cọ trong tay tạo cho anh cảm giác giống như là Thượng đế. Anh có thể tạo ra toàn thể các thế giới chỉ bằng một bàn tay. Anh có thể tạo ra một cái cây, một bông hoa, một con người, một vũ trụ. Thật là một công việc dễ làm say mê. Anh đã được sinh ra cho công việc này. Khi nào không vẽ, anh đi ra ngoài, lang thang trên các đường phố để thăm dò thành phố huyền thoại này. Bây giờ nó là thành phố của anh, nơi nghệ thuật của anh sẽ ra đời. Có hai Paris, phân chia bởi con sông Seine thành Tả ngạn và Hữu ngạn. Đó là hai thế giới tách biệt nhau. Hữu ngạn là dành cho những người giàu có, có địa vị. Tả ngạn thuộc về các sinh viên, nghệ sĩ, những kẻ tranh đấu. Nó là Montparnasse, Boulevard Romail, trà Saint Germain des Rué. Nó là cà phê Floce, Henry Miller và Eliot Paul. Đối với Tony, nó là quê hương. Anh vẫn thường ngồi hàng giờ ở Boule Blanche hay La Coupole với các bạn sinh viên, thảo luận với nhau về các thế giới bí mật của họ.
“Tôi nghe nói rằng viên giám đốc nghệ thuật của viện bảo tàng Guggenheim đang ở Paris, mua hết tất cả mọi thứ ông ta thấy”.
“Bảo ông ta hãy chờ tôi”.
Tất cả họ đều đọc những tạp chí giống nhau và chia cho nhau đọc, vì các tạp chí ấy đắt tiền: Studio, Cahiers d’Arts, Formes et Couleurs, và tờ Gazette des Beaux Arts.
Tony đã học tiếng Pháp ở Le Rosey, nên anh dễ dàng làm bạn với các sinh viên khác trong lớp, vì tất cả đều cùng chia sẻ một niềm say mê chung. Họ không biết chút gì về gia đình Tony, và chấp nhận anh như là một người trong bọn họ. Các nghệ sĩ nghèo, vật lộn với cuộc sống tập hợp lại với nhau ở quán cà phê Flore và Les Deux Maggots trên đại lộ Saint Germain. Họ ăn cơm ở Le Pot d’Etian trên đường Canettes và đường Rue d’Université. Không một người nào trong bọn họ đã từng bước chân vào Lasserre hay Maxim.
Năm 1944, những người khổng lồ trong hội họa đều thực thi nghệ thuật của họ tại Paris. Thình thoảng, Tony bắt gặp thoáng qua Pablo Picasso, và một hôm Tony cùng bạn anh đã nhìn thấy Marc Chagall, một con người to lớn, trông có vẻ hoa hòe, trạc trung tuần, với mớ tóc bù xù như chổi xể, bắt đầu nhuốm bạc. Chagall ngồi ở bàn căn bên kia quán cà phê, đang nghiêm trang nói chuyện với một nhóm người.
“Chúng mình thật là may mắn được gặp ông ấy”, bạn của Tony thì thầm nói, “Ông ấy ít khi đến Paris lắm. Nhà ông ấy ở Vence, gần bờ bề Địa Trung Hải”.
Anh thấy Max Ernest nhấm nháp rượu khai vị ở quán cà phê trên vỉa hè, và Alberto Giacometti vĩ đại đang đi xuống đường Rivoli, giống như các pho tượng của ông ấy, cao, gầy và xương xẩu. Tony ngạc nhiên nhận ra rằng chân ông ta bị vẹo. Tony gặp Hans Belmer một người đã tạo nên tên tuổi nhờ những bức tranh khiêu dâm, vẽ những cô gái giống như những con búp bê chặt đứt chân tay. Nhưng giờ phút vui sướng nhất của Tony là khi anh được giới thiệu với Braque. Nhà nghệ sĩ này rất thân thiện nhưng Tony thì ríu cả lưỡi, không nói được nên lời.
Các thiên tài tương lai thường lui tới các phòng tranh nghệ thuật, nghiên cứu sự cạnh tranh của họ. Phòng trưng bày Drouand David lúc ấy đang triển lãm tranh của một nghệ sĩ trẻ chưa có tên tuổi, Bernard Buffet, đã từng theo học Trường Mỹ thuật, của Soutine, Utrillot và Dufy. Các sinh viên tụ họp tại Salon d’Automne, các phòng trưng bày Charpentier, Mille Roussa trên đường Rue de Seine, rồi trong những lúc rảnh rỗi họ bàn tán với nhau về các địch thủ thành công của họ.


Lần đâu tiên Kate thấy căn hộ của Tony, bà bị choáng váng, nhưng do bản tính khôn ngoan, bà không đưa ra lời bình phẩm nào. Bà nghĩ thầm, mẹ kiếp! Làm sao thằng con trai mình lại có thể ở trong một căn phòng tối tăm, ảm đạm như thế này? Bà nói, “Nó cũng rất xinh xắn, Tony ạ. Mẹ không thấy tủ lạnh đâu cả. Thể con để thức ăn ở đâu?”
“Để ở ngoài cửa sổ kia kìa”.
Kate bước đến cửa sổ, mở cánh cửa, chọn một quả táo đặt trên ngưỡng cửa số, ở phía ngoài. “Chắc mẹ không ăn một trong các đối tượng hội họa của con đấy chứ?”
Tony cười, “Ồ, không đâu, mẹ ạ”.
Kate cắn quả táo. “Nào con hãy kể về công việc hội họa của con đi”.
“Chưa có… có gì nhiều lắm để… để mà kể. Năm nay chúng con chỉ mới học vẽ đồ họa qua loa thôi”.
“Con có thích ông giáo sư Cantal không?”
“Ông ấy tuyệt… tuyệt vời. Điều quan trọng là ông ấy có thích con không. Chỉ có một phần ba số sinh viên được lên năm kế tiếp thôi”.
Không một lần nào bà nhắc nhở đến việc Tony về làm việc cho công ty.


Giáo sư Cantal không phải là người dễ dàng ban lời khen cho ai. Lời khen tặng lớn lao nhất ông ban cho Tony là một câu nói miễn cưỡng, “Tôi chắc là tôi đã thấy những bức tranh còn tệ hơn thế”, hay “Tôi mới hình như bắt đầu nhìn thấy được cái ở bên dưới”
Vào cuối học kỳ, Tony được chọn trong số tám sinh viên được lên năm thứ hai. Để ăn mừng, Tony và một số sinh viên khác, cũng được cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm như anh, cùng đi đến một hộp đêm ở Montmartre, uống rượu say mèm, rồi ngủ đêm với mấy cô gái người Anh đang đi du lịch ở Pháp.



Khi trường học mở cửa lại, Tony bắt đầu vẽ với sơn dầu và người mẫu. Thật là giống như vừa được thoát khỏi trường mẫu giáo. Sau một năm học về các bộ phận cơ thể, Tony cảm thấy anh đã biết rõ từng bắp thịt, đường gân và tuyến trên thân thể con người. Đó không phải là hội họa – nó chỉ là sự sao chép lại thôi. Bây giờ, với cái cọ trong tay và một người mẫu trước mắt, Tony bắt đầu sáng tạo. Ngay cả đến Cantal cũng phải chú ý.
“Anh biết nhận xét đấy”, ông nói một cách miễn cưỡng. “Bây giờ chúng ta phải học về kỹ thuật”.


Có hơn một chục người ngồi làm mẫu cho các lớp học ở trường. Những người mà giáo sư Cantal thường sử dụng nhiều nhất là Carlos, một chàng trai trẻ làm việc kiếm tiền để theo học trường thuốc; Annette, một cô giá da ngăm ngăm đen, thấp, khỏe mạnh, có một chòm long đỏ ở hạ bộ và lưng có nhiều vết sẹo do mụn nhọt; và Dominique Masson, một cô gái xinh đẹp, tóc hoe lả lướt, với gò má xinh xắn và đôi mắt xanh đậm. Dominique đã từng làm mẫu cho nhiều họa sĩ danh tiếng. Nàng rất được mọi người ưa thích. Hằng ngày, sau buổi học, các nam sinh viên thường vây quanh nàng, tìm cách hẹn hò với nàng.
Nàng thường nói với họ, “Tôi không bao giờ lẫn lộn công việc làm ăn với vui chơi. Dẫu sao, như vậy cũng không công bằng. Các anh đã thấy tất cả những gì tôi có thể cống hiến. Làm sao tôi biết được các anh có cái gì để cống hiến cho tôi?”
Thế rồi lối nói chuyện thô tục ấy lại tiếp tục. Nhưng Dominique không bao giờ đi chơi với bất cứ ai ở trường này.
Vào một buổi chiều nọ, khi tất cả các sinh viên khác đều đã rời lớp học và Tony sắp vẽ xong một bức họa của Dominique, nàng bất ngờ đi đến phía sau lưng Tony và nói, “Cái mũi tôi dài quá”.
Tony bối rối. “Ồ, tôi xin lỗi, để tôi sửa lại”.
“Không, không. Cái mũi trong bức họa thì tốt rồi. Chính cái mũi của tôi mới dài quá thôi”.
Tony cười. “Thế thì tôi e rằng tôi phải chịu bó tay rồi”.
“Giá như một người Pháp thì người ấy sẽ nói, “Mũi của em thật hoàn hảo, “Chérie” ạ”.
“Tôi thích cái mũi của cô, nhưng tôi không phải là người Pháp”.
“Điều đó thì rõ ràng rồi. Anh không bao giờ rủ tôi đi chơi cả. Tôi không hiểu vì sao”.
Tony tỏ vẻ ngạc nhiên. “Tôi… tôi không biết. Tôi nghĩ rằng ấy là vì mọi người khác đã làm như vậy, nhưng cô không đi chơi với ai cả”. Dominique tủm tỉm cười. “Người nào cũng có một ai đó để đi chơi với mình chứ. Thôi chào anh nhé”.
Rồi nàng bỏ đi.


Tony nhận ra rằng bất cứ hôm nào anh ở lại trễ, Dominique mặc quần áo xong cũng trở lại đứng ở phía sau lưng anh để xem anh vẽ.
Một buổi chiều nọ, nàng nói, “Anh vẽ rất đẹp. Rồi đây anh sẽ là một họa sĩ danh tiếng”.
“Cám ơn, Dominique, tôi hy vọng cô nói đúng”.
“Hội họa đối với anh quan trọng lắm à?”
“Phải”.
“Vậy thì một người sắp sửa trở thành một họa sĩ danh tiếng có chịu đãi tôi một bữa cơm tối không?”
Nàng nhìn thấy vẻ ngạc nhiên hiện rõ trên mặt Tony. “Tôi không ăn gì nhiều đâu. Tôi phải giữ hình dáng của tôi”.
Tony cười. “Cố nhiên tôi rất lấy làm vui mừng”.
Họ cùng ăn cơm tối tại một quán ăn bình dân gần Sacré Coeur. Hai người bàn chuyện với nhau về các họa sĩ và hội họa. Tony nghe rất say mê các câu chuyện nàng kể về các nghệ sĩ danh tiếng đã từng nhờ nàng làm mẫu. Khi hai người dùng xong cà phê sữa, Dominique nói, “Tôi cần phải nói cho anh biết. Anh cũng giỏi như bất kỳ ai trong số ấy”.
Tony sung sướng vô cùng, nhưng anh chỉ nói, “Tôi còn xa lắm mới được bằng các ông ấy”.
Ra khỏi quán ăn, Dominique hỏi, “Anh có định mời tôi đến xem căn hộ anh đang ở không?”
“Tôi cũng muốn lắm chứ, nhưng tôi e rằng nó chẳng có gì đẹp đẽ lắm đâu”.
Đến nơi, Dominique nhìn quanh căn hộ bé nhỏ, ngổn ngang, rồi lắc đầu nói, “Anh nói đúng. Nó chẳng có gì đẹp đẽ thật. Ai trông nom cho anh?”
“Có một bà đến đây mỗi tuần để lau chùi”.
“Đuổi bà ấy đi. Nơi này bẩn thỉu quá. Thế anh không có một bạn gái nào sao?”
“Không”.
Dominique nhìn anh một lúc rồi hỏi. “Anh không thấy khó chịu à?”
“Không”.
“Tốt. Thật là phí phạm kinh khủng. Anh hãy kiếm cho tôi một xô nước và một ít xà phòng”.
Dominique bắt đầu lau chùi, cọ rửa căn hộ, rồi cuối cùng xếp đặt lại mọi thứ cho gọn ghẽ. Làm xong công việc nàng nói, “Hôm nay, như thế là tạm được rồi. Lạy Chúa, tôi cần phải tắm mới được”.
Nàng đi vào phòng tắm bé nhỏ, cho nước chảy vào bồn tắm. “Làm thế nào anh ngồi được trong cái này?” Nàng kêu to lên.
“Tôi co chân lại”.
Nàng cười. “Tôi muốn xem anh làm như vậy quá!”
Mười lăm phút sau, Dominique ra khỏi phòng tắm với chỉ có một chiếc khăn long quấn xung quanh người, làn tóc hoe của nàng ướt đẫm và quăn lại. Nàng có một thân hình rất đẹp, ngực đầy đặn, eo nhỏ và dài, cặp đùi thon thon. Trước kia, Tony không bao giờ để ý đến nàng như là một người đàn bà. Nàng chỉ là một hình khỏa thân để vẽ trên vải. Kỳ lạ thay, chiếc khăn lông ấy đã thay đổi tất cả mọi thứ. Đột nhiên, anh cảm thấy máu như dồn lên ở chỗ thắt lưng.
Dominique đang đứng nhìn anh. “Anh có muốn ân ái với em không?”
“Muốn lắm”.
Nàng chậm rãi thả tấm khăn lông ra. “Anh hãy chứng tỏ cho em xem đi”.



Tony chưa hề bao giờ được biết một người đàn bà nào như Dominique. Nàng tặng cho anh tất cả, nhưng không đòi hỏi một điều gì. Hầu như tất cả mọi buổi tối, nàng đến nấu ăn cho Tony. Khi hai người cùng đi ăn ở ngoài, nàng bao giờ cũng đòi phải đến những quán ăn rẻ tiền hay những quầy bán bánh sandwich. Nàng thường la rầy, “Anh phải biết dành dụm tiền. Bước đầu bao giờ cũng rất khó khăn ngay đối với cả một nghệ sĩ tài giỏi. Mà anh cũng là một nghệ sĩ tài giỏi, “chéri” ạ”.
Họ đi với nhau đến Les Halles vào những lúc sáng sớm, và ăn súp hành ở Pied de Cochon. Họ cùng đi đến Bảo tàng Carnavalet và những nơi xa xôi các du khách thường không lui tới, chẳng hạn như Nghĩa địa Père Lachaise – nơi yên nghỉ của Oscar Wilde, Fédéric Chopin, Honoré de Balzac và Marcel Proust. Họ viếng thăm các hầm mộ, và trong những ngày nghỉ lễ họ thường đi xuôi con sông Seine trên một chiếc thuyền của một người bạn của Dominique.
Tony rất lấy làm vui sướng được sống bên cạnh Dominique. Nàng vui tính, thích khôi hài, và mỗi khi Tony có vẻ buồn bã, nàng cười to lên làm cho anh khuây khỏa. Nàng có vẻ như quen biết rất rộng, và thường đưa Tony đến dự những buổi tiệc tùng rất thú vị để chàng có thể gặp những nhân vật danh tiếng thời ấy, chẳng hạn như thi sĩ Paul Élouard và André Breton, phụ trách phòng trưng bày Maeght rất có uy tín.
Dominique là một nguồn khích lệ thường trực. “Anh sẽ danh tiếng hơn tất cả những người ấy, “chéri” ạ. Hãy tin em đi. Em biết mà”.
Nếu Tony muốn vẽ vào ban đêm, Dominique cũng sẵn sàng ngồi làm mẫu cho anh vẽ, dù cho nàng có phải làm việc suốt cả ngày hôm ấy. Lạy chúa, mình thật là may mắn, Tony nghĩ thầm. Đây là lần đầu tiên trong đời anh tin chắc rằng có một người nào đó yêu mến anh vì bản chất của anh chứ không phải vì anh là ai.



Tony e ngại không muốn nói cho Dominique biết anh là người thừa kế một trong những tài sản lớn nhất thế giới, e ngại rằng nàng sẽ thay đổi, e ngại chàng sẽ mất đi những gì chàng hiện đang có. Nhưng đến ngày sinh nhật của Dominique, Tony không thể nào cưỡng lại ý định mua cho nàng một chiếc áo bằng lông mèo rừng của Nga.
“Đó là một thứ đẹp đẽ nhất em chưa từng thấy trong đời!” Dominique xoay tròn chiếc áo xung quanh người, nhảy múa khắp căn phòng. Đang xoay như vậy, bỗng nàng dừng phắt lại hỏi, “Cái này ở đâu mà có, Tony? Anh lấy tiền đâu mà mua cái áo này?”
Anh đã có sẵn câu trả lời. “Cái áo ấy mới bị ăn trộm. Anh mua nó từ trong tay một anh chàng bé nhỏ đứng bên ngoài bảo tàng Rodin. Hắn ta muốn bán tống bán tháo nó đi, cho nên giá chiếc áo ấy chẳng đắt hơn giá một chiếc áo vải loại tốt ở nhà hàng Au Printemps”.
Dominique nhìn anh một hồi, rồi phá lên cười. “Em sẽ mặc chiếc áo ấy dù cho cả hai chúng ta có phải ngồi tù”.
Rồi nàng choàng hai cánh tay ôm lấy Tony, rồi gào lên, “Ồ Tony, anh ngốc quá! Anh yêu quý, anh ngốc kinh khủng!”
Nói dối như vậy thật không uổng công chút nào, Tony nghĩ thầm.



Một buổi tối nọ, Dominique gợi ý với Tony rằng chàng nên dọn đến ở chung với nàng. Vừa làm việc ở Trường Mỹ thuật, vừa làm kiểu mẫu cho một số nghệ sĩ danh tiếng ở Paris, Dominique đã thuê được một căn hộ rộng rãi, hiện đại, trên đường Rue Prêtres - Saint Severain. “Anh không nên ở một nơi như thế này, Tony ạ. Nó kinh khủng lắm. Hãy đến sống với em, anh sẽ không phải trả một xu nào tiền thuê nhà. Em có thể giặt giũ, nấu cơm cho anh, và…”
“Không được, Dominique ạ. Xin cám ơn em”.
“Nhưng tại sao?”
Làm sao anh có thể giải thích được? Lẽ ra, ngay từ lúc đầu, anh đã phải nói cho nàng biết rằng anh rất giàu có, nhưng lúc này thì đã quá trễ rồi. Nàng sẽ nghĩ rằng anh đã đánh lừa nàng. Nghĩ vậy, anh nói, “Anh muốn sống cách xa em. Em giúp đỡ cho anh quá nhiều rồi”.
“Vậy thì em sẽ dời bỏ căn hộ của em để đến ở đây. Em muốn ở bên cạnh anh”.
Nàng dọn đến ngay ngày hôm sau.
Giữa hai người có một sự thân ái tuyệt diệu và thoải mái. Vào những ngày cuối tuần, họ đi chơi với nhau về miền quê, dừng lại những quán trọ bên đường, rồi Tony dựng giá vẽ lên, vẽ phong cảnh. Khi nào họ đói bụng, Dominique trải ra trên có những thức ăn nàng đã nấu sẵn, rồi hai người cùng ăn chung với nhau giữa cánh đồng cỏ. Sau đó, họ ân ái với nhau thật lâu và thật thắm thiết. Tony chưa bao giờ cảm thấy hạnh phúc như vậy.
Công việc học tập của anh tiến triển tốt đẹp. Một hôm giáo sư Cantal giơ một bức họa của Tony lên cho cả lớp xem, “Xem cái thân hình này. Các anh có thể thấy nó như đang thở”.
Tony hăm hở báo tin ấy ngay cho Dominique. “Em biết làm thế nào anh diễn tả được đúng cái hơi thở ấy không? Ấy là bởi vì đêm nào anh cũng ôm cái người mẫu ấy trong vòng tay”.
Dominique cười lên vui sướng, nhưng ngay sau đó nàng ra vẻ nghiêm nghị, “Tony ạ, em không nghĩ rằng anh cần học thêm ba năm nữa ở trường. Anh bây giờ đã sẵn sàng rồi. Mọi người ở trường đều nhận thấy như vậy. Cả ông Cantal nữa”.
Tony e ngại rằng như vậy vẫn chưa đủ. Anh chưa được khá lắm, anh chỉ là một họa sĩ khác thôi, và tác phẩm của anh sẽ bị chìm nghỉm trong hàng nghìn bức họa sản xuất bởi hàng nghìn họa sĩ trên thế giới mỗi ngày. Anh không thể chịu được với ý tưởng như vậy. Chiến thắng mới là vấn đề quan trọng, Tony ạ. Nhớ kỹ điều ấy.
Đôi khi anh vừa vẽ xong một bức tranh, anh thường thấy tràn ngập một nỗi hân hoan, rồi anh suy nghĩ, “Mình có tài năng. Mình thực sự có tài năng”. Lúc khác, anh nhìn lên tác phẩm của mình, rồi tự nhủ, “Mình chỉ là một tay tài tử khốn kiếp thôi”.
Được sự khuyến khích của Dominique, Tony mỗi lúc một thêm tin tưởng vào việc làm của mình. Anh đã hoàn tất được trên hai chục bức họa theo ý riêng của anh. Phong cảnh và tĩnh vật. Có một bức tranh vẽ Dominique đang nằm khỏa thân dưới một lùm cây, ánh nắng lốm đốm trên thân hình nàng. Một chiếc áo vét và sơ mi đàn ông ở cận cảnh, khiến cho người xem có thể hiểu rằng người đàn bà đang chờ đợi người tình.
Khi trông thấy bức ảnh ấy, Dominique kêu lên, “Anh phải có một cuộc triển lãm mới được”.
“Em điên rồi hay sao, Dominique? Anh chưa sẵn sàng đâu”.
“Anh lầm rồi, “mon cher” ạ”.
Tony về đến nhà trễ vào trưa hôm sau thì thấy Dominique đang có khách. Đó là Anton Goerg, một người đàn ông gầy, với một cái bụng phệ và đôi mắt lồi màu xanh nhạt. Ông ta là chủ nhân của phòng trưng bày nghệ thuật Goerg Gallery, một phòng trưng bày khiêm tốn trên đường Dauphine. Các bức họa của Tony trải khắp căn phòng.
“Có chuyện gì vậy, Dominique?”
Anton Goerg liền kêu lên, “Có chuyện là, thưa ông, các tác phẩm của ông thật là xuất sắc”. Ông đập nhẹ lên lưng Tony, “Tôi rất lấy làm hân hạnh được dành cho ông một cuộc trưng bày tại phòng tranh của tôi”.
Tony nhìn qua phía Dominique. Nàng cũng nhìn chàng, nét mặt rạng rỡ.
“Tôi… tôi không biết nói làm sao nữa”.
“Ông đã nói rất nhiều rồi đấy”, ông Goerg đáp, “Trên các bức tranh này đây”.
Tony và Dominique bàn với nhau về vấn đề này suốt cả nửa đêm ấy.
“Anh cảm thấy mình chưa sẵn sàng. Các nhà phê bình sẽ treo anh lên thập tự giá”.
“Anh lầm rồi, “chéri”. Như thế này là tuyệt hảo cho anh. Đó là phòng trưng bày nhỏ thôi. Chỉ có những người địa phương đến xem tranh và phê phán thôi. Không có cách nào xúc phạm anh được. Ông Goerg không bao giờ đề nghị anh trưng bày tranh nếu ông ấy không tin tưởng ở anh. Ông ấy đồng ý với em rằng anh sẽ trở thành một nghệ sĩ quan trọng”.
“Thôi được rồi”, Tony cuối cùng phải chấp nhận. “Ai mà biết? Mình cũng có thể bán một bức tranh cũng chưa biết chừng”.



Bức điện văn viết: SẼ ĐẾN PARIS THỨ BẢY. ĐẾN DÙNG CƠM VỚI MẸ. THÂN YÊU. MẸ.
Ý nghĩ đầu tiên khi Tony trông thấy mẹ bước vào xưởng vẽ là, “Mẹ mình trông xinh đẹp quá!”. Bà nay đã trạc ngũ tuần, tóc không nhuộm, với những sợi tóc bạc xen lẫn tóc đen, nhưng bà vẫn rất linh hoạt. Có lần Tony hỏi bà vì sao bà không tái giá, thì bà trầm tĩnh trả lời, “Chỉ có hai người đàn ông quan trọng trong cuộc đời của mẹ. Đó là cha con và con”.
Bây giờ đứng trong căn hộ bé nhỏ ở Paris, đối diện với mẹ, Tony nói, “Con… con rất mừng được gặp m… mẹ”.
“Tony, con trông thật là tuyệt vời! Lại mới có cái chòm râu này nữa!” Bà cười, dùng các ngón tay vân vê chòm râu Tony. “Con trông giống như Abe Lincoln” . Bà đưa mắt nhìn khắp căn hộ bé nhỏ. “Lạy Chúa, con đã có một người hầu phòng thật giỏi. Nó giống như là một nơi khác hẳn”.
Kate đi đến giá vẽ, nơi Tony đang vẽ dở một bức tranh. Bà dừng lại, ngắm nhìn một hồi lâu. Tony đứng tại đó, lo lắng chờ đợi phản ứng của mẹ.
Khi Kate mở lời, giọng bà rất hiền dịu. “Thật là xuất sắc, Tony ạ. Rất xuất sắc”. Bà không có một cố gắng nào che dấu niềm hãnh diện của bà. Không ai có thể đánh lừa bà về mặt nghệ thuật, nên bà cảm thấy một niềm hân hoan nhận ra rằng con trai bà có tài năng thật sự.
Bà quay mặt về phía Tony, nói, “Cho mẹ xem thêm ít bức tranh nữa”.
Hai giờ kế tiếp đó, Tony và mẹ cùng xem xét cả một chồng tranh của anh. Họ bàn cãi từng bức tranh một thật chi tiết. Không có gì là vị nể trong lối nói của bà cả. Bà đã thất bại trong cố gắng kiểm soát đời sống của con trai bà, nhưng Tony phải thán phục và chấp nhận sự thất bại ấy thật là duyên dáng.
Kate nói, “Mẹ sẽ thu xếp việc trưng bày các bức tranh này. Mẹ có quen biết một số nhà buôn tranh…”
“Cám ơn m… mẹ. Mẹ không… không cần phải bận tâm. Con sẽ có một cuộc triển lãm tranh vào ngày Thứ sáu tuần sau. Một phòng tranh sẽ tổ chức việc triển lãm ấy cho con”.
Kate đưa hai tay ra, ôm chầm lấy Tony. “Thật tuyệt vời! Phòng triển lãm nào vậy?”
“Phòng triển lãm G… Goerg Gallery”.
“Hình như mẹ không nghe tên ấy bao giờ”.
“Nó nhỏ thôi, mẹ ạ. Con chưa sẵn sàng để trưng bày tranh tại Hammer hay W… Wildenstein”.
Bà chỉ bức tranh Dominique dưới lùm cây, “Con lầm rồi, mẹ cho rằng bức tranh này…”
Ngay lúc ấy có tiếng cánh cửa trước mở ra. “Em đang nổi hứng đây. Hãy cởi cái…” Dominique chợt thấy Kate, “Thôi chết tôi rồi! Xin lỗi bà. Tôi… tôi không có biết Tony đang có khách”.
Một phút im lặng băng giá.
“Dominique, đây là m… mẹ tôi. Mẹ ạ, con xin giới thiệu với mẹ cô Dominique Masson”.
Hai người đàn bà đứng nhìn nhau chằm chằm, như dò xét
“Bà có được mạnh khỏe không ạ, thưa bà Blackwell?”
Kate nói, “Tôi đã được xem bức tranh con trai tôi vẽ cô”, phần còn lại được bỏ lửng, không nói ra.
Lại một phút im lặng ngượng nghịu khác nữa.
“Tony có nói cho bà biết về cuộc triển lãm sắp tới của anh ấy hay chưa, thưa bà Blackwell?”
“Có. Thật là một tin rất đáng mừng”.
“Mẹ có… có thể ở lại để tham dự không, mẹ?”
“Mẹ rất mong muốn có thể có mặt ở đó, nhưng ngày kia mẹ sẽ có một cuộc họp của ban giám đốc ở Johannesburg, không thể vắng mặt được. Giá như mẹ được biết sớm hơn, có lẽ mẹ đã sửa đổi lại được thời khóa biểu”.
“Thôi thế cũng được”, Tony nói. “Con hiểu”, Tony lo sợ rằng mẹ anh có thể sẽ nói thêm nữa về công ty trước mặt Dominique, nhưng may thay, trí óc của Kate chỉ nghĩ đến các bức tranh.
“Điều quan trọng là phải có những người xứng đáng đến xem cuộc triển lãm ấy”.
“Ai là những người xứng đáng, thưa bà Blackwell?”
Kate quay về phía Dominique. “Những người tạo dư luận, những nhà phê bình. Cân phải có một người nào đó như André d’Usseau – Ông ấy cần phải có mặt ở đó”.
André d’Usseau là một nhà phê bình nghệ thuật được kính trọng nhất ở Pháp. Ông là một con sư tử hung dữ canh gác ngôi đền nghệ thuật, mà chỉ một bài điểm tranh của ông cũng đủ để tạo nên hay để đánh ngã gục một nghệ sĩ chỉ qua một đêm. D’Usseau được mời khai mạc tất cả các cuộc triển lãm, nhưng ông chỉ tham dự những cuộc triển lãm quan trọng thôi. Các chủ phòng tranh, các nghệ sĩ run rẩy, chờ đợi các bài phê bình của ông xuất hiện trên báo chí. Ông là bậc thầy về “bon mot” , và những câu nói châm biếm của ông bay đi khắp Paris trên những chiếc cánh tẩm thuốc độc. Ông ta là người bị ghét nhất trong giới nghệ sĩ ở Paris, nhưng cũng là người được kính nể nhất. Lối phê bình hóm hỉnh và cay độc một cách tàn nhẫn của ông được tha thứ bởi vì khả năng chuyên môn của ông.
Tony quay về phía Dominique nói, “Bà ấy là mẹ của mình nên mới nói thế”. Rồi anh quay lại nói với mẹ. “André d’Usseau không đi đến dự những cuộc triển lãm nhỏ đâu”.
“Ồ, Tony, ông ấy thể nào cũng phải đến. Ông ta có thể giúp cho con nổi danh chỉ qua một đêm”.
“Hay đánh gục ngã con cũng chưa biết chừng”.
“Thế con không tin vào khả năng của con hay sao?” Kate nhìn con và nói.
“Cố nhiên là anh ấy tin.”. Dominique nói. “Nhưng chúng cháu không dám hy vọng rằng ông d’Usseau sẽ đến”.
“Tôi có thể tìm các người bạn quen biết ông ta”.
Mặt Dominique rạng hẳn lên. “Thế thì tuyệt vời!” Nàng quay lại nói với Tony, “Chéri, anh có biết nếu ông ấy đến vào ngày khai mạc thì điều ấy sẽ có ý nghĩa như thế nào không?”
“Mình sẽ rơi vào quên lãng hoàn toàn”.
“Đừng có nói đùa. Em biết sở thích của ông ấy, Tony ạ. Em biết ông ấy thích những gì. Chắc chắn ông ấy sẽ thích các bức họa của anh”.
Kate nói, “Mẹ không tìm cách mời ông ta đến, trừ khi con bằng lòng”.
“Dĩ nhiên anh ấy muốn rồi, thưa bà Blackwell”.
Tony thở mạnh một cái. “Con sợ… sợ quá, nhưng thôi, mình cứ thử làm như vậy xem sao”.
“Để mẹ sẽ tìm cách”, Kate nhìn bức tranh trên giá vẽ một hồi lâu, rất lâu, rồi quay lại nhìn Tony. Một vẻ buồn thoáng qua trong đôi mắt bà. “Con ạ, mẹ phải rời Paris ngày mai. Chúng ta có thể ăn cơm chung tối nay được không?”
Tony đáp, “Được lắm, mẹ ạ. Chúng con rảnh tối nay”.
Kate quay về phía Dominique và nói một cách duyên dáng, “Cô thích ăn cơm ở Maxim’s hay ở…”
Tony nói thật nhanh. “Dominique và con có biết một quán ăn nhỏ rất tốt, không xa đây lắm”.
Họ cùng đến một quán ăn rẻ tiền ở Place Victorie. Thức ăn ở đấy ngon và rượu cũng tuyệt hảo. Hai người đàn bà có vẻ ăn ý với nhau lắm. Tony cảm thấy hãnh diện về cả hai người. Đó là một đêm vui vẻ nhất trong đời mình, anh nghĩ thầm. Mình đang ở bên cạnh mẹ mình và một người đàn bà mình sẽ cưới làm vợ.
Sáng hôm sau, Kate gọi điện thoại từ phi trường. “Mẹ đã gọi điện thoại đến hơn chục nơi. Không ai trả lời dứt khoát về André D’Usseau cả. Nhưng dù thế nào chăng nữa, Tony ạ, mẹ rất hãnh diện về con. Các bức tranh của con tuyệt vời. Tony, mẹ yêu con”.
“Con cũng yêu mẹ, mẹ ạ”.



Phòng triển lãm Goerg Gallery chỉ vừa đủ lớn để thoát khỏi cái mà người ta gọi là “Phòng triển lãm thân mật”. Chừng hai chục bức tranh của Tony đang được treo lên các bức tường trong một sự chuẩn bị gấp gáp vào giờ phút chót trước khi khai mạc. Trên một chiếc bàn cẩm thạch là những lát phó mát, bánh bích quy và những chai rượu Chablis. Phòng tranh vắng tanh, chỉ có mặt Anton Goerg, Tony, Dominique và cô phụ tá trẻ đang treo bức tranh cuối cùng lên tường.
Anton Goerg nhìn vào đồng hồ. “Các giấy mời ghi rõ “bảy giờ”. Chắc các quan khách sẽ bắt đầu đến ngay bây giờ đây”.
Tony không nghĩ rằng anh sẽ bồn chồn, sốt ruột. “Mình không bồn chồn, sốt ruột”, anh tự nhủ. “Mình chỉ cảm thấy hoảng sợ!”
“Nếu không ai đến cả thì sao nhỉ?” Anh hỏi. “Tôi muốn nói là, nếu không có một ma nào đến thì mình sẽ làm thế nào?”
Dominique mỉm cười, vuốt má Tony và nói, “Thì chúng mình tha hồ ăn uống, cho hết tất cả các thứ này!”
Khách khứa bắt đầu lục tục kéo đến. Thoạt tiên họ đến chậm rãi, nhưng sau đó họ đến đông hơn nhiều. Ông Goerg đứng ở cửa, niềm nở chào mọi người. Họ có vẻ không giống như là những khách mua tranh, Tony nghĩ thầm một cách bực bội. Con mắt nhận xét của anh phân chia họ ra làm ba hạng người: thứ nhất là những nghệ sĩ và sinh viên mỹ thuật tham dự các cuộc triển lãm để đánh giá sự cạnh tranh giữa họ với nhau; thứ hai, những nhà buôn bán tranh vẫn hay đến tất cả các cuộc triển lãm để họ có thể loan truyền những tin tức xúc phạm làm giảm uy tín những kẻ đang mong muốn trở thành họa sĩ; và thứ ba là đông đảo quần chúng làm ra vẻ ưa thích nghệ thuật, trong đó bao gồm số đông những kẻ đồng tính luyến ái nam và nữ. Những kẻ này dường như sống cuộc đời của họ quanh quẩn ở ven rìa thế giới nghệ thuật. Tony quả quyết, “Mình chắc sẽ không bán được một bức tranh khỉ khô nào”.
Ông Goerg vẫy tay ra dấu cho Tony từ bên kia phòng.
“Anh nghĩ rằng anh không muốn gặp bất kỳ ai trong số người này”. Tony thì thầm với Dominique, “Họ đến đây để xé toạc anh ra từng mảnh”.
“Nói bậy nào. Họ đến đây để được gặp anh. Bây giờ, anh hãy tỏ ra dễ mến đi, Tony”.
Và vì thế, anh tỏ ra dễ mến. Anh gặp tất cả mọi người, tủm tỉm cười luôn miệng, và thốt ra những lời lẽ thích hợp để đáp lại những lời khen tặng dành cho anh. Nhưng có thật đó là những lời khen tặng hay không? Tony tự hỏi. Qua bao nhiêu năm, người ta đã đặt ra trong các giới nghệ thuật một thứ ngôn ngữ để sử dụng khi nói về những cuộc triển lãm của các họa sĩ không có tên tuổi. Những câu nói, nói lên đủ mọi thứ, nhưng chẳng có nghĩa gì cả.
“Mình thực sự cảm thấy như mình đang hiện diện ở đó…”
“Thật tôi chưa hề được thấy một lối vẽ nào hoàn toàn giống như của anh…”
“Đó mới thực sự là một bức tranh!”
“Nó như nói lên với tôi…”
“Anh khó có thể làm tốt hơn thế được…”
Khách vẫn tiếp tục kéo đến. Tony tự hỏi sức thu hút ấy là do sự tò mò muốn biết về các bức tranh của anh hay là do phó mát và rượu được cung cấp miễn phí. Cho đến lúc ấy, chưa có bức tranh nào được bán, nhưng rượu và phó mát đang được tiêu thụ rất mạnh.
“Hãy kiên nhẫn”, ông Goerg thì thầm vào tai Tony. “Họ thích đấy. Thoạt tiên họ phải nếm mùi vị tổng quát của các bức tranh nào đó họ ưa thích, họ sẽ quay trở lại với bức tranh ấy. Một lát sau đó, họ hỏi giá, và khi họ rỉa vào cái mồi thì, A lê hấp! Cá đã cắn câu!”
“Lạy Chúa, anh có cảm tưởng như anh đang tham dự vào một cuộc đi câu cá vậy!” Tony nói với Dominique.
Ông Goerg hối hả chạy đến Tony, “Chúng ta bán được một bức rồi!”, ông kêu lên. “Bức phong cảnh Normandy. Năm trăm francs”.
Đó là những giây phút mà Tony sẽ nhớ mãi chừng nào anh còn sống. Một người nào đó đã mua một bức tranh của anh! Một người nào đó đã suy nghĩ khá kỹ về tác phẩm của anh để bỏ tiền ra mua, rồi treo nó ở nhà hay văn phòng, để được nhìn ngắm nó, sống với nó, trình bày nó cho các bạn xem. Nó là một mảnh nhỏ của sự bất diệt. Nó là một lối sống, hơn là một đời sống, được có mặt tại nhiều nơi trong cùng một lúc. Một nghệ sĩ thành công có mặt ở hàng trăm gia đình, văn phòng và viện bảo tàng trên khắp thế giới, đem đến sự vui thích cho hàng ngàn – có khi hàng triệu con người. Tony có cảm tưởng như mình đã bước vào đền thờ của Da Vinci, Michelangelo và Rembrandt. Anh không còn là họa sĩ tài tử nữa, anh đã trở thành chuyên nghiệp. Một kẻ nào đó đã trả tiền để mua tác phẩm của anh.
Dominique vội vã đến chỗ Tony, cặp mắt sáng lên sung sướng. “Mình lại vừa bán được một bức nữa, Tony ạ”.
“Bức nào?” Anh hăm hở hỏi.
“Bức tranh hoa”.
Phòng tranh bé nhỏ lúc này đã đông nghẹt người. Họ nói chuyện ồn ào, cụng ly với nhau lách cách. Bỗng một sự im lặng đột nhiên giăng khắp căn phòng. Có những tiếng thì thầm như sóng ngầm, rồi mọi con mắt đều hướng về phía cửa.
André d’Usseau đang đi vào phòng tranh. Ông ở vào trạc trung tuần, cao hơn người Pháp bình thường, với một khuôn mặt khỏe mạnh giống như sư tử, và một cái bờm tóc bạc. Ông mặc một chiếc áo choàng kiểu Tô cách lan, và đội một chiếc mũ Borsalino, và sau lưng ông là một đoàn tùy tùng gồm những kẻ “theo đóm ăn tàn”. Mọi người trong phòng tự động dãn ra để nhường lối cho d’Usseau. Không một ai hiện diện ở đó mà không biết ông là ai.
Dominique bóp chặt tay Tony, nói “Ông ấy đã đến kia! Ông ấy có mặt ở đây!”.
Một vinh dự lớn lao như vậy chưa hề bao giờ xảy đến với ông Goerg. Vì vậy, ông điên lên vì vui mừng, ông cúi đầu xuống, quỵ lụy, trước nhân vật vĩ đại; ông làm đủ mọi thứ, chỉ thiếu điều giựt mạnh chùm tóc trên trán ông mà thôi.
“Thưa ông d’Usseau”, ông lắp bắp nói, “Thật là một điều vui sướng, một vinh dự lớn lao! Xin cho phép tôi được mời ông chút rượu và ít lát phó mát”. Ông tự trách mình đã khônng mua thứ rượu sang hơn.
“Xin cám ơn”, nhân vật vĩ đại nói. “Tôi đến đây chỉ để cho cặp mắt tôi được thỏa mãn với cái đẹp thôi. Tôi muốn được gặp nghệ sĩ”.
Tony quá choáng váng, không còn có thể cử động được. Dominique đầy anh ra phía trước.
“Ông ấy đây ạ”, ông Goerg nói. “Thưa ông d’Usseau, đây là Tony Blackwell”.
Lúc ấy Tony mới thốt được ra lời. “Xin kính chào ông. Cám ơn ông đã đến thăm cuộc triển lãm”.
André d’Usseau khẽ cúi đầu, rồi đi thẳng đến các bức tranh treo trên tường. Mọi người lùi lại để nhường chỗ cho ông. Ông đi một cách chậm rãi, nhìn mỗi bức tranh thật lâu và cẩn thận, rồi lại tiếp tục đi đến bức tranh kế tiếp. Tony cố đọc các ý nghĩ của ông qua nét mặt, nhưng anh không thấy gì hết. D’Usseau không nhăn mặt cũng không cười. Ông dừng lại một hồi lâu trước một bức họa đặc biệt, đó là bức họa Dominique khỏa thân, rồi lại tiếp tục di chuyển. Ông đi hết một vòng khắp căn phòng, không bỏ sót một bức tranh nào. Tony toát mồ hôi như tắm.
Xem xong d’Usseau bước đến chỗ Tony. “Tôi vui sướng được đến đây”. Ông chỉ nói vỏn vẹn có thế.
Chỉ trong vòng ít phút sau, khi nhà phê bình nổi danh ấy rời căn phòng, tất cả mọi bức tranh đều được bán hết. Một nghệ sĩ vĩ đại sắp ra đời, và mọi người đều muốn tham dự vào buổi khai sinh ấy.
“Tôi chưa hề chứng kiến một chuyện như thế này”, ông Goerg kêu lên. “André d’Usseau đến phòng tranh này. Phòng tranh của tôi! Tất cả Paris sẽ đọc thấy sự kiện này trên báo chí ngày mai. Ông ấy nói, “Tôi vui sướng đến đây”. Ông André d’Usseau không phải là một người chịu phí lời nói. Riêng chuyện này không cũng đáng phải gọi thêm rượu sâm banh rồi. Nào chúng ta hãy ăn mừng”.
Khuya hôm ấy, Tony và Dominique tổ chức cuộc ăn mừng riêng tư của họ. Dominique rúc vào cánh tay Tony và nói, “Em đã ngủ với nhiều họa sĩ trước kia, nhưng không có ai danh tiếng như anh sau này. Ngày mai cả Paris sẽ biết anh là ai”.
Dominique đã nói đúng.



Vào lúc năm giờ sáng hôm sau, Tony và Dominique hối hả mặc quần áo để đi ra ngoài mua số đầu tiên của một tờ báo xuất bản vào buổi sáng. Số báo này vừa được đưa đến sạp bán báo. Tony chụp lấy một tờ, lật sang trang Văn nghệ. Bài điểm tranh của d’Usseau là bài báo đăng ở trang đầu dưới cái tên André d’Usseau in ngay ở phía trên. Tony đọc lên thật to:
Một cuộc triển lãm tranh của một họa sĩ trẻ người Mỹ, tên Anthony Blackwell, vừa được khai mạc đêm hôm qua ở Phòng tranh Goerg Gallery. Đây là một kinh nghiệm học hỏi lớn lao đối với người viết bài phê bình này. Tôi đã tham dự nhiều cuộc triển lãm tranh của các họa sĩ có tài năng đến nỗi tôi đã quên đi thế nào là những bức tranh thực sự là tồi. Đêm qua, tôi mới được nhắc nhở lại điều này…
Mặt Tony tái mét lại…
“Thôi, đừng đọc nữa”, Dominique năn nỉ. Nàng cố giằng lấy tờ báo khỏi tay Tony.
“Để anh đọc tiếp”, Tony ra lệnh.
Anh tiếp tục đọc:
Thoạt tiên, tôi tưởng rằng người ta muốn bày ra một trò đùa. Tôi không thể nào tin được một cách nghiêm chỉnh rằng có một kẻ nào đó lại bạo gan treo những bức tranh tài tử như thế và dám gọi đó là nghệ thuật. Tôi cố tìm chút tài năng rất nhỏ bé le lói trong những bức tranh ấy. Thế nhưng tôi chẳng thấy chút gì cả. Lẽ ra người ta nên treo cổ nhà họa sĩ ấy thay vì treo các bức tranh của anh ta lên. Tôi xin thành thực khuyên cái ông Blackwell loạn óc ấy nên trở về cái nghề thực sự của anh ta, mà tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng đó là nghề sơn nhà, sơn cửa.
“Em không thể nào tin nổi”, Dominique thì thào, “Em không thể nào tin được rằng ông ấy không thấy tài năng của anh. Trời, cái lão chó đẻ ấy!” Dominique bắt đầu khóc sướt mướt.
Tony cảm thấy như ngực anh chứa đầy chì. Anh thấy khó thở quá. “Ông ấy đã thấy”, anh nói, “Ông ấy biết rõ tài năng của anh, Dominique ạ. Ông ấy biết rõ lắm”. Giọng anh tràn ngập đau khổ. “Đau đớn nhất chính là chỗ đấy. Lạy Chúa. Mình thật là một thằng điên!” Anh sắp sửa bước ra ngoài.
“Anh định đi đâu, Tony?”
“Anh không biết”.
Anh đi lang thang quanh các đường phố lạnh lẽo vào lúc rạng đông, không biết rằng những giọt nước mắt đang tuôn xuống mặt anh. Chỉ trong ít giờ đồng hồ nữa, cả Paris sẽ đọc bài bình luận ấy. Anh sẽ trở thành một đối tượng chế giễu. Nhưng đau đớn hơn thế nữa, anh đã tự lừa dối mình. Anh đã thực sự tin tưởng rằng anh có một sự nghiệp sáng lạn trước mắt với tư cách là một họa sĩ. Ít nhất ông André d’Usseau đã cứu anh ra khỏi sự lầm lẫn ấy. Những mảnh nhỏ dành cho hậu thế! Tony nghĩ một cách chua chát. Những mảnh phân c… thì đúng hơn! Anh bước vào một quán rượu đầu tiên vừa mở cửa, rồi ngồi xuống uống rượu cho đến lúc không còn biết trời đất gì nữa.



Khi Tony cuối cùng trở về căn hộ thì đã năm giờ sáng hôm sau.
Dominique đang chờ đợi anh, lo sợ cuống cuồng. “Hôm qua đến giờ anh ở đâu, Tony? Mẹ anh đã tìm cách tiếp xúc với anh. Bà ấy lo lắng lắm”.
“Thế em có đọc bài báo ấy cho bà nghe chưa?”
“Có, bà ấy cứ đòi em phải đọc. Em…”
Tiếng điện thoại reo vang. Dominique đưa mắt nhìn Tony, rồi nhặt ống nghe lên. “Alô? Phải, thưa bà Blackwell, anh ấy mới về”. Nàng đưa ống nghe cho Tony. Anh do dự một lát, rồi cầm lấy.
“Alô, m… mẹ”
Giọng Kate có vẻ buồn bã. “Tony yêu quý, nghe mẹ nói đây này. Mẹ có thể yêu cầu ông ta rút lại lời tuyên bố ấy…”
“M… mẹ ạ”, Tony nói một cách chán chường. “Đây không phải là một vụ giao dịch mua bán. Đây là một nhà phê bình bày tỏ ý kiến của mình. Ý kiến của ông ta là con đáng bị treo cổ”.
“Con ạ, mẹ không thích để người ta xúc phạm đến con như thế. Chắc là mẹ không chịu đựng nổi rồi…” Nói xong bà ngưng bặt lại, không thể tiếp tục được nữa.
“Không hề gì đâu mẹ ạ. Con muốn thử tài con một chút. Con đã thử rồi và thất bại. Con không có cái mà nghề ấy đòi hỏi. Chỉ đơn giản có thế thôi. Con không thích lối nói của d’Usseau, nhưng ông ta là một trong những nhà phê bình nghệ thuật “chết tiệt” tài giỏi nhất trên thế giới. Con phải công nhận điều đó. Ông ấy đã giúp con thoát khỏi một sự lầm lẫn kinh khủng”.
“Tony ạ, mẹ ao ước có một điều gì đó mẹ có thể nói…”
‘D’Usseau đã nói hết rồi. May mà con phát hiện được điều ấy ngay vào lúc này, còn hơn là chờ cho đến mười năm nữa, phải thế không mẹ? Con phải rời khỏi thành phố này”.
“Hãy ở đó chờ mẹ, con ạ. Mẹ sẽ đi Johannesburg ngày mai, rồi chúng ta sẽ cùng trở về New York với nhau”.
“Được rồi”, Tony nói. Anh đặt ống nghe xuống, quay về phía Dominique. “Xin lỗi Dominique, em đã chọn lầm một người bạn rồi”.
Dominique không nói gì. Nàng chỉ nhìn anh bằng những con mắt chứa đầy nỗi u sầu không nói được ra lời.


Trưa ngày hôm sau, ở văn phòng của Kruger – Brent trên đường Magnon, Kate Blackwell ngồi viết trên tấm ngân phiếu. Người ngồi đối diện với bà ở bàn viết thở dài nói, “Thật đáng tiếc. Cậu con trai bà có tài năng, bà Blackwell ạ. Lẽ ra anh ấy có thể trở thành một họa sĩ nổi danh”.
Kate nhìn ông ta, nét mặt lạnh lung. “Ông d’Usseau ạ, hiện có hàng chục ngàn họa sĩ trên thế giới. Tôi không dự tính cho con trai tôi trở thành một trong đám đông người ấy”. Bà đưa tấm ngân phiếu ngang qua bàn viết. “Ông đã hoàn thành phần giao kèo của ông. Tôi cũng chuẩn bị làm tốt phần giao kèo của tôi. Hãng Kruger – Brent sẽ bảo trợ các Viện Bảo tàng nghệ thuật ở Johannesburg, London và New York. Ông sẽ phụ trách việc tuyển chọn các bức tranh – dĩ nhiên là ông sẽ nhận được tiền hoa hồng hậu hĩnh”.
Nhưng, sau khi d’Usseau đã ra về khá lâu rồi, bà ngồi ở bàn viết, tràn ngập một nỗi u sầu sâu đậm. Bà quá yêu thương con bà. Nếu như một ngày nào đó nó phát hiện ra điều này thì… Bà biết rõ điều rủi ro mà bà đã chấp nhận. Nhưng bà không thể ngồi đó để nhìn Tony vứt bỏ đi tài sản lớn lao nó sẽ thừa kế sau này. Dù cái giá phải trả như thế nào chăng nữa, Tony cũng phải được bảo vệ. Công ty phải được bảo vệ. Kate đứng dậy, đột nhiên cảm thấy mệt mỏi. Đã đến lúc bứng Tony đi, đưa anh ta về nhà. Bà sẽ giúp Tony quên đi câu chuyện này, để có thể bắt tay vào thứ công việc anh ta đã được sinh ra để hoàn tất.
Đó là điều khiển công ty.


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-01 19:58:14sumo>
Chương 34

Lúc mười giờ tối, Alexandra đi đến ngôi nhà ở Dark Harrbor. Nàng cố gọi điện thoại cho Mellis nhiều lần, nhưng không có ai trả lời. Nàng hi vọng rằng y sẽ không giận nàng vì đã đến chậm. Thật là một rắc rối ngu xuẩn. Trưa hôm ấy, khi Alexandra sắp sữa đi đến Dark Harbor thì có tiếng điện thoại reo vang. Lúc ấy nàng nghĩ, mình trễ rồi, cứ để cho nó reo, rồi đi thẳng ra xe. Người hầu gái chạy đuổi theo nàng và nói, "Bà Mellis, chị bà vừa gọi điện thoại đến, bảo rằng có việc gấp lắm".
Khi Alexandra nhấc điện thoại lên, Eve nói, "Em ạ, chị đang ở Washington D.C đây.Chị đang gặp một vấn đề kinh khủng lắm. Chị cần gặp em".
Alexandra liền đáp ngay, "Dĩ nhiên rồi. Em sắp đi đến Dark Harbor gặp Mellis, nhưng em sẽ trở về vào sáng thứ Hai và..."
"Chuyện này không thể trì hoãn được". Giọng Eve có vẻ tuyệt vọng. "Em có thể gặp chị ở phi trường La Guardia được không? Chị sẽ đi trên chuyến máy bay lúc năm giờ".
"Em cũng muốn vậy, chi Eve ạ, nhưng em đã nói với George Mellis..."
"Việc này khẩn cấp lắm Alex ạ, nhưng nếu em quá.."
"Thôi được, em sẽ đi đến đó!"
"Cám ơn em. Chị biết rằng chị có thể trông cậy ở em".
Ít khi Eve nhờ Alexandra việc gì, vì vậy nàng không thể từ chối chị được. Nàng sẽ đi máy bay đến hòn đảo ấy. Nàng điện thoại đến văn phòng cho biết rằng nàng sẽ đến trễ, nhưng Mellis không có mặt ở đấy.
Nàng nhờ người thư ký của y ghi lại lời nhắn nhủ. Một giờ sau, nàng thuê taxi đi đến phi trường La Guardia cho kịp chuyến bay từ Washington. Nhưng Eve không có mặt trên chuyến bay ấy. Alexandra chờ đợi thêm hai giờ nữa, nhưng vẫn không thấy Eve. Alexandra không biết tìm Gặp Eve ở nơi nào trong thành phố Washington D.C. Cuối cùng, vì không còn cách nào khác nữa nàng lên máy bay đi đến hòn đảo. Lúc này, nàng đã đến gần ngôi nhà Cedar Hill, và thấy nó tối bưng. Chắc chắn Mellis đã đến đây trước nàng rồi. Nàng đi từ phòng này qua phòng khác, và bậc đèn lên cho sáng.
"George?"
Không thấy bóng dáng anh ta đâu cả. Nàng điện thoại về nhà nàng ở Manhattan. Người hầu gái trả lời.
"Có ông Mellis ở nhà không?" Alexandra hỏi.
"Thưa không ạ. Ông ấy bảo bà và ông sẽ nghỉ cuối tuần".
"Cám ơn Marie. Chắc ông ấy bị mắc kẹt ở nơi nào đó"
Chắc hẳn phải có lý do chính đáng nào đó cho sự chậm trễ này. Rõ ràng đã có công việc nào đó xảy đến vào phút chót, và như mọi lần các ông chủ đã phải nhờ Mellis giải quyết hộ. Chắc anh ấy sẽ đến ngay thôi. Nàng quay số điện thoại của Eve.
"Eve!" Alexandra kêu lên. "Có chuyện gì xảy ra với chị vậy?"
"Xảy ra với chị à? chị chờ em ở phi trường Kennedy, thế mà không thấy em đến"
"Kennedy à? Chị bảo em đến phi trường La Guardia chứ!"
"Không em ạ. Chị nói phi trường Kennedy"
"Nhưng..." Vấn đề không còn quan trọng nữa.
"Em xin lỗi. Có lẽ em nghe lầm. Chị có được bình thường không? "
"Bây giờ thì khá rồi. Chị vừa trải qua một thời gian kinh khủng quá. Chị có dính líu với một nhà chính khách lớn ở Washington. Ông ta ghen tuông điên cuồng nên..." nàng cười to lên "Thôi, chị không thể nói chi tiết trên điện thoại được. Công ty điện thoại sẽ gỡ máy điện thoại của chúng ta đi mất. Chị sẽ nói với em về chuyện này vào ngày thứ Hai".
"Được rồi", Alexandra nói. Nàng cảm thấy rất yên tâm.
"Chúc em một ngày cuối tuần hết sức vui vẻ". Eve nói. "George bây giờ thế nào?"
"Anh ấy không có ở đây". Alexandra cố không bộc lộ nỗi lo âu của nàng qua giọng nói. "Em chắc anh ấy bị vướng bận công việc nên không có thời giờ gọi đến cho em được"
"Chắc em sẽ được tin tức của anh ta ngay thôi. Chúc em ngủ ngon".
Alexandra đặt máy xuống, suy nghĩ. Mong sao chị Eve gặp được một người chồng thật tốt, cũng tốt và hiền lành như George Mellis. Nàng nhìn vào đồng hồ đeo tay. Đã gần mười một giờ khuya rồi. Chắc là anh ấy sẽ có cơ hội gọi cho mình vào lúc này. Nàng nhấc ống nghe lên. Quay số điện thoại của hãng môi giới. Không có tiếng trả lời. Nàng gọi đến câu lạc bộ của Mellis. Không, họ không thấy Mellis đâu cả. Đến nữa đêm, nàng đâm ra lo sợ, và đến một giờ sáng thì nàng hoảng hốt thực sự. Nàng không biết nên làm thế nào. Có thể rằng Mellis đi đâu đó với một khách hàng nên không điện thoại được cho nàng, hoặc có lẽ anh ấy đã lên máy bay đi đâu đó mà không có cách nào liên lạc được với nàng trước khi đi. Có một lối giải thích đơn giản nào đó. Nếu nàng gọi điện thoại cho cảnh sát, rồi sau đó George Mellis bước vào nhà thì nàng sẽ cảm thấy lố bịch vô cùng.
Đến hai giờ sáng, nàng điện thoại cho cảnh sát. Không có trạm cảnh sát nào ở đảo Isleboro. Trạm cảnh sát gần nhất là ở quận Waldo.
Một giọng nói ngái ngủ trả lời, "Sở cảnh sát quận Waldo. Đây là Trung sĩ Lambert"
"Đây là bà George Mellis ở ngôi nhà Cedar Hill"
"Vâng, thưa bà Mellis". Giọng nói ấy tỉnh lại ngay lập tức. "Bà cần gì ạ?"
Alexandra ngập ngừng nói, " Thật ra, tôi cũng không biết chắc chắn phải nhờ ông chuyện gì. Nhà tôi lẽ ra trở về nhà gặp tôi vào bữa chiều thế nhưng đến bây giờ anh ấy vẫn chưa về nhà"
"À ra thế". Có rất nhiều ngụ ý trong câu nói ngắn ngủi ấy. Viên trung sĩ ấy biết ít nhất có ba lý do khiến một ông chồng vắng nhà vào lúc hai giờ sáng: các cô gái tóc hoe, tóc nâu và tóc đỏ.
Anh nói một cách lịch sự, "Có thể nào ông ấy bận việc ở nơi nào đó chăng?"
"Anh ấy... anh ấy thường gọi điện thoại về"
"Chắc bà cũng hiểu rõ vì sao rồi chứ, thưa bà Mellis. Có khi người ta ở trong một hoàn cảnh không thể gọi điện thoại được. Chắc bà sẽ nghe tin ông ấy ngay thôi"
Quả thật nàng cảm thấy mình lố bịch. Dĩ nhiên cảnh sát không thể làm gì được trong trường hợp này. Nàng đã đọc thấy ở đâu đó rằng có người đã mất tích hai mươi bốn giờ rồi, lúc ấy cảnh sát mới bắt đầu tìm kiếm. Mellis không bị mất tích, anh ấy chỉ về trễ thôi.
"Chắc là ông nói đúng". Alexandra nói trong máy. "Tôi xin lỗi đã quấy rầy ông"
"Không có gì đâu, bà Mellis ạ. Tôi cuộc với bà rằng ông nhà sẽ trở về trên chuyến tàu phà lúc bảy giờ sáng mai"

Mellis không có mặt trên chuyến tàu phà lúc bảy giờ sáng và cả chuyến tàu kế tiếp đó. Alexandra lại điện thoại về ngôi nhà của nàng ở Manhattan. George Mellis cũng không có ở đó.
Alexandra bắt đầu có cảm giác rằng một tai họa nào đó đã xảy ra. Mellis đã gặp một tai nạn; anh ấy đang ở bệnh viện, ốm đau, hay chết. Giá như nàng không có chuyện lộn xộn với Eve ở phi trường thì đâu đến nỗi! Có lẽ Mellis đã trở về nhà, và khi không thấy có nàng ở đó, anh ấy đã bỏ đi. Nhưng còn có nhiều điều không được giải thích. Anh ấy có thể để lại một mảnh giấy. Cũng có thể anh đã bị bọn trộm cướp tấn công hay bắt cóc. Alexandra tìm tòi, lục lọi khắp các phòng, may ra tìm được một manh mối nào đó, nhưng tất cả đều nguyên vẹn. Nàng đi xuống bến tàu. Chiếc du thuyền Corsan vẫn còn bỏ neo ở đó, không có gì suy suyển.
Nàng điện thoại cho trạm cảnh sát ở Waldo một lần nữa. Trung úy Philip Ingram, một tay lão luyện trong lực lượng cảnh sát với hai mươi năm kinh nghiệm, đang trực vào buổi sáng ấy. Ông ta đã biết Mellis đã không trở về nhà suốt đêm. Vấn đề này đã trở thành một đề tài thảo luận ở trạm cảnh sát này suốt cả buổi sáng, phần lớn là những câu chuyện tục tĩu.
Lúc này ông trung úy nói với Alexandra. "Không có vết tích gì của ông ấy cả hay sao, thưa bà Mellis? Được rồi, tôi sẽ đích thân đến đó". Ông biết rằng đây chỉ là một chuyện làm phí thì giờ. Anh chồng bà này có lẽ đã đi mò gái ở các ngõ ngách nào đó. Nhưng kho một người trong gia đình Blackwell đã gọi thì những kẻ thấp kém phải chạy đến ngay, ông suy nghĩ một cách gượng gạo. Dẫu sao, cô gái này cũng là con người dễ thương. Ông từng gặp cô ta ít lần qua nhiều năm nay.
"Tôi sẽ trở về trong khoản một giờ", ông nói với viên trung sĩ ngồi bàn giấy.

Trung úy Ingram lắng nghe câu chuyện của Alexandra; ông kiểm soát trong nhà, trên bến tàu, và đi đến kết luận rằng quả Alexandra đang gặp vấn đề rắc rối. Lẽ ra George Mellis phải gặp vợ vào buổi tối hôm trước ở Dark Harbor, nhưng anh ta không đến. Mặc dầu đó không phải là vấn đề của Ingram, ông biết rằng nếu ông giúp đỡ cho một người trong gia đình Blackwell thì cũng chẳng có hại gì. Ingram điện thoại cho phi trường trên đảo và cho trạm tàu phà ở Lincolnville. George Mellis đã không sử dụng các phương tiện này trong vòng hai mươi bốn giờ qua. "Ông ấy không đến Dark Harbor", viên trung úy nói với Alexandra. Như thế là thế nào? Tại sao anh chàng ấy đột nhiên biến mất? Theo lối suy nghĩ có cân nhắc của viên trung úy, không một người đàn ông nào biết suy nghĩ lại cố tình bỏ rơi một người đàn bà như Alexandra.
"Chúng tôi sẽ lục soát các bệnh viện và nhà..." Ông vội ngưng bặt lại. "...và các nơi khác nữa, rồi sẽ ra thông cáo đi khắp mọi nơi để tìm ra ông ấy"
Alexandra cố nén các cảm xúc, nhưng viên trung úy có thể nhận ra rằng nàng đã cố hết sức để làm như vậy. " Cám ơn Trung úy, chắc ông cũng hiểu cho tôi sẽ chịu ơn ông lớn lao đến như thế nào về những gì ông có thể làm hộ cho tôi"
"Đó là nhiệm vụ của tôi", Trung úy Ingram nói.
Khi trung úy Ingram trở về trạm, ông bắt đầu gọi điện thoại đến các bệnh viện và nhà xác. Không có tin tức gì. Không có báo cáo tai nạn nào về George Mellis. Công việc kế tiếp của Ingram là điện thoại cho một người bạn làm phóng viên cho tờ Main Courier. Sau đó, ông ra một bản thông cáo gửi đi khắp nơi về vụ mất tích.
Các tờ báo buổi trưa hôm ấy đăng tin này bằng hàng tít lớn : CHỒNG BÀ THỪA KẾ BLACKWELL BỊ MẤT TÍCH.
Peter Templeton thoạt tiên nghe tin này qua viên thám tử Nick Pappas.
"Peter, chắc anh còn nhớ cách đây ít lâu anh có nhờ tôi điều tra về George Mellis chứ?"
"Phải..."
"Hắn ta vừa diễn trò mất tích"
"Hắn sao?"
" Hắn biến mất, bỏ trốn hay chết rồi". Anh chờ một lúc cho Peter kịp "tiêu hóa" tin này.
"Hắn có đem theo cái gì không? Tiền bạc, quần áo, giấy thông hành?"
"Không. Theo báo cáo nhận được tư Maine, Mellis chợt tan đi trong không khí. Anh là bác sĩ của hắn, chắc anh cũng có thể biết phần nào tại sao hắn ta lại làm một chuyện như vậy?"
Peter nói thành thật. "Chính tôi cũng chẳng thể hiểu vì sao, Nick ạ"
"Nếu anh có ý kiến gì, cho tôi biết nhé. Chuyện này rồi sẽ sôi nổi lắm đây"
"Phải", Peter hứa. "Tôi sẽ cho anh biết"

Ba mươi phút sau, Alexandra gọi điện thoại cho Peter Templeton. Anh nhận ra được tiếng the thé hoảng hốt của nàng qua điện thoại. "George bị mất tích rồi. Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với anh ấy. Tôi hi vọng anh Mellis có thể đã nói với ông điều gì đó có thể giúp tìm ra manh mối..." Nàng ngưng bặt lạil
"Tôi rất tiếc, bà Mellis ạ. Anh ấy không nói gì. Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra"
"Trời!"
Peter muốn tìm lời lẽ nào đó để an ủi nàng. "Nếu tôi nghĩ ra được điều gì, tôi sẽ kêu lại cho bà. Tôi có thể tiếp xúc với bà ở đâu?"
"Ở Dark Harbor. Nhưng tôi sẽ trở về New York tối nay. Tôi sẽ ở nhà bà nôi tôi"
Alexandra không chịu đựng được cảm giác cô đơn vào lúc này. Nàng đã gọi điện thoại nhiều lần cho bà Kate sáng hôm ấy. Bà Kate ngỏ lời khuyên nhủ, "Không hề gì đâu, cháu ạ. Anh ấy có lẽ đi lo công việc nào đó, không kịp báo cho cháu biết thôi"
Cả hai bà cháu đều thật sự không tin có chuyện ấy.

Eve trông thấy chuyện George Mellis mất tích trên truyền hình. Có những bức ảnh về bên ngoài tòa nhà Cedar Hill, về George Mellis và Alexandra sau ngày cưới. Có cả ảnh Mellis chụp gần cho thấy y đang nhìn lên, đôi mắt mở rộng. Nó nhắc nhở cho Eve vẻ ngạc nhiên trên mặt Mellis ngay trước khi y chết.
Người bình luận trên truyền hình nói, "Người ta không có bằng chứng rằng đây là một trò xấu xa, và cũng không có chuyện đòi tiền chuộc. Cảnh sát dự đoán rằng George Mellis có thể là nạn nhân của một tai nạn nào đó, và cũng có thể ông ta bị mất trí nhớ". Eve mỉm cười thỏa mãn.
Người ta sẽ chẳng bao giờ tìm được xác hắn cả. Nó đã bị thủy triều cuốn đi xa rồi. Tội nghiệp cho George. Hắn đã làm theo đúng kế hoạch của nàng. Nhưng chính nàng đã thay đổi kế hoạch ấy. Nàng đã bay đi Maine, thuê một chiếc xuồng máy ở Philbrook Cove, giữ nó lại đó "cho một người bạn". Tiếp đó, nàng thuê một chiếc xuồng thứ hai từ một bến đậu gần đó, rồi đưa nó đến Dark Harbor. Nang ở lại đó chờ George Mellis. Y hoàn toàn không ngờ chút gì. Chính nàng đã cẩn thận lau sạch boong cửa chiếc du thuyền trước khi đem chiếc du thuyền này trở lại bến đậu. Sau đó là công việc đơn giản: kéo chiếc xuồng máy thuê của George trở lại cầu tàu, trở về chiếc xuồng của nàng, rồi bay ngay về New York để chờ cú điện thoại của Alexandra mà nàng chắc chắn thế nào cũng phải đến.
Thật là một vụ giết người toàn hảo. Cảnh sát sẽ liệt nó vào loại mất tích bí mật.
Người phát ngôn trên truyền hình nói."Về các tin tức khác...". Eve tắt máy truyền hình.
Nàng không muốn đến trễ trong cuộc hẹn hò sắp tới Rory McKenna.

Vào lúc sáu giờ sáng hôm sau, một chiếc thuyền đánh cá tìm thấy xác của Mellis mắc vào đê chắn sóng ở vịnh Penobscob. Các bản tin sớm nhất gọi đây là một vụ chết đuối và là một cái chết ngẫu nhiên, nhưng khi nhiều tin tức đổ dồn đến thì luận điệu bắt đầu thay đổi. Từ sở khám nghiệm tử thi có những tin tức đưa đến cho biết rằng những vết thương mà đầu tiên người ta ngỡ là do cá mập đớp thật ra là do những nhát dao đâm. Các số báo về buổi chiều hét to lên: NGHI NGỜ CÓ VỤ ÁM SÁT TRONG CÁI CHẾT BÍ MẬT CỦA GEORGE MELLIS - NHÀ TRIỆU PHÚ BỊ ĐÂM CHẾT.

Trung úy Ingram nghiên cứu bản đồ thủy triều vào đêm trước. Làm xong việc này, ông ngả lưng trên ghế, vẻ bối rối hiện rõ trên nét mặt. Xác George Mellis có lẽ đã bị cuốn ra ngoài bể khơi nếu nó không bị mắc vào đê chắn sóng. Điều khiến cho viên trung úy bối rối là xác chết ấy chắc chắn đã bị nước thủy triều cuốn đi từ hướng Dark Harbor. Nhưng Mellis, theo như người ta biết, đã không đến đó.

Thám tử Nick Pappas bay đến Maine để nói chuyện với trung úy Ingram.
"tôi nghĩ rằng sở của tôi có thể giúp anh trong vụ này", Nick nói. "Chúng tôi có một số tin tức khá thú vị về lý lịch của George Mellis. Tôi biết rằng việc này không thuộc thẩm quyền của chúng tôi, nhưng nếu anh cần có sự hợp tác của chúng tôi, chúng tôi rất sẵn lòng, trung úy ạ".
Trong hai mươi năm làm việc với Sở Cảnh Sát quận Waldo, trung úy Ingram chỉ chứng kiến một vụ duy nhất thực sự sôi nổi là một du khách say rượu bắn rơi một cái đầu nai sừng ra khỏi bức tường trong một tiệm đồ cổ. Bây giờ vụ ám sát George Mellis được đăng trên trang đầu của báo chí: ông Ingram nghĩ rằng đây là một cơ hội để tạo tên tuổi cho ông. Với chút ít may mắn, nó có thể dẫn đến cho ông một việc làm giống như một thám tử trong sở cảnh sát của thành phố New York. Vì vậy, vào lúc này, ông nhìn Nick Pappas và nói lẩm bẩm."Tôi chưa biết"
Như đã đọc được ý nghĩ của Ingram, Nick Pappas nói, "Chúng tôi không hề nghĩ đến công trạng nào trong việc này cả. Trong vụ này rồi đây sẽ có nhiều áp lực cho nên chúng ta cần phải giải quyết nó xong cho nhanh. Tôi có thể bắt đầu bằng cách cung cấp cho anh về lý lịch của George Mellis".
Ingram nghĩ rằng ông không có gì mất mát cả nên ông nói, "Thôi được, tôi đồng ý"

Alexandra nằm trên giường, sau khi uống khá nhiều thuốc ngủ. Trí óc nàng khăng khăng không chịu chấp nhận sự kiện rằng George đã bị ám sát. Làm sao có thể như vậy được? Không có lý do nào để cho người ra giết anh ấy cả. Cảnh sát đã nói đến vết thương do dao đâm nhưng họ đã lầm. Đó chỉ là do một tai nạn tình cờ nào đó. Không ai lại muốn giết anh ấy cả... Không ai muốn giết anh ấy... Chất thuốc phiện do bác sĩ Harley cho nàng uống bắt đầu có tác dụng. Nàng ngủ thiếp đi

Eve choáng váng khi nghe tin người ta đã tìm ra xác Mellis. Nhưng có lẽ, đó là điều may, Eve nghĩ thầm. Alexandra sẽ là kẻ bị tình nghi. Nó có mặt ở trên đảo vào lúc ấy.
Bà Kate ngồi bên cạnh Eve trên đi văng trong phòng khách. Tin tức vừa qua đã khiến cho bà sửng sốt.
"Tại sao lại có kẻ nào đó muốn giết George kia chứ?" Bà hỏi.
Eve thở dài. "Cháu không biết, bà ạ. Thực sự cháu không hiểu. Tim cháu như vỡ ra vì thương hại Alexandra quá chừng"


Trung úy Ingram thẩm vấn nhân viên trông coi tàu phà Lincoln - Isleboro."Anh có chắc không thấy cả vợ lẫn chồng Mellis trên chuyến tàu phà ngày thứ sáu chứ?"
"Họ không đi trên chuyến phà vào lúc ca tôi phụ trách. Tôi cũng đã dò hỏi nhân viên phụ trách vào buổi sáng hôm ấy, anh ta cũng không thấy họ. Có lẽ họ đi đến đó bằng máy bay".
"thêm một câu hỏi nữa, Lew, có người lạ mặt nào đi phà vào ngày thứ sáu không?"
"Mẹ kiếp, anh cũng biết rằng không có người lạ mặt nào đi đến đảo ấy vào thời gian này trong năm. Có một số du khách vào mùa hè - nhưng vào tháng mười một ấy à? có chó nó đi!"
Trung úy Ingram lại đi đến gặp viên quản đốc phi trường Isleboro. Anh ta nói, "Chắc chắn George Mellis không đến đây bằng máy bay vào tối hôm ấy. Có lẽ ông ta đến đảo bằng tàu phà".
"Lew nói rằng anh ấy không thấy Mellis"
"thế thì hẳn ông ta bơi qua vịnh. Có thể như thế được hay sao?"
"Thế còn bà Mellis?"
"Có, bà ấy đến đây bằng chiếc máy bay Beechcraft vào lúc mười giờ. Thằng con trai tôi, Charley, đã lái xe cho bà ta từ phi trường đến ngôi nhà Cedar Hill".
"Tâm trạng của bà Mellis lúc ấy có vẻ như thế nào?"
"Anh hỏi thật là buồn cười. Bà ấy có vẻ sốt ruột như ngồi trên lửa bỏng vậy. Ngay cả thằng con tôi cũng nhận thấy điều ấy. Thường ngày, bà ấy điềm đạm, ăn nói lúc nào cũng vui vẻ với mọi người. Nhưng tối hôm ấy, bà ta có vẻ hấp tấp lắm".
"Thêm một câu hỏi nữa. Có người lạ mặt nào đến đây bằng máy bay vào trưa hôm ấy không? Vào buổi tối? Có mặt nào quen thuộc không?"
Anh ta lắc đầu."không. Toàn là người quen biết cả"
Một giờ sau, Ingram điện thoại cho Nick "Những tin tức mà tôi thu thập được đến giờ đều rối mù. Tối thứ sáu, Bà Mellis đến Isleboro bằng máy bay riêng vào lúc mười giờ, nhưng không có chồng bà ta theo. Chồng bà ta cũng không đi đến đó bằng máy bay hay bằng tàu phà. Thật sự, không có dấu vết nào chứng tỏ ông ấy có mặt trên đảo vào tối hôm ấy"
"Ngoại trừ nước thủy triều"
"Phải"
"Kẻ nào giết Mellis có lẽ sẽ ném y xuống bể từ một chiếc thuyền, nghĩ rằng thủy triều sẽ cuốn xác y ra bể. Anh có kiểm soát chiếc Corsair chưa?"
"Tôi đã xem khắp nơi. Không có vết máu cũng chẳng có dấu hiệu nào chứng tỏ có xảy ra bạo lực".
"Tôi muốn đem một chuyên viên tòa án đến đó xem. Anh có thấy trở ngại gì không?"
'không, chừng nào anh vẫn có nhớ điều thỏa thuận của chúng ta"
"Tôi vẫn nhớ. Gặp anh vào ngày mai"

Nick Pappas và một toán chuyên viên đến vào sáng hôm sau. Trung úy Ingram dẫn họ đi đến bến tàu của nhà Blackwell, nơi có chiếc du thuyền Corsair đang đậu. Hai giờ sau, các chuyên viên nói, "Có vẻ như chúng ta đã vớ được món bở rồi, Nick ạ. Có một số vết máu ở bên dưới tấm rào chắn gió".
Trưa hôm ấy, các phòng thí nghiệm của cảnh sát xác nhận rằng các vết máu ấy phù hợp với loại máu của George Mellis.
Khu vực cảnh sát "tất lụa" của vùng Manhattan vào lúc này bận rộn hơn bao giờ hết. Một loạt những vụ ma túy, rượu chè xảy ra suốt đêm đã làm các lồng giam người đầy ắp và và các phòng giam cũng đông nghẹt bọn gái điếm, bọn say rượu và những kẻ xâm phạm tiết hạnh. Tiếng ồn ào và mùi hôi thối tranh nhau lôi cuốn sự chú ý của Peter Templeton trong khi anh được dẫn đến văn phòng của Nick Pappas giữa tiếng động đinh tai nhức óc.
"Chào, Peter. Rất mừng anh ghé thăm tôi".
Trứơc đó, Pappas đã nói với anh bằng điện thoại, "Anh cứ giấu tôi mãi, anh bạn ạ. Hãy đến văn phòng tôi vào lúc sáu giờ, nêu không tôi cho toán truy nã lôi cổ anh đến đấy".
Khi toán người hướng dẫn rời khỏi văn phòng, Peter hỏi, "Câu chuyện này là thế nào, hở Nick? Có điều gì làm anh bực mình vậy?"
"Để tôi nói cho anh biết cái gì làm tôi bực mình. Ấy là có đứa nó còn khôn ngoan hơn mình nữa. Anh có biết chúng tôi gặp chuyện gì không? Một anh chàng mất tích trên một hòn đảo mà anh ta chưa hề đặt chân đến".
"Chuyện ấy thì vô lý thực".
"Anh nói cho tôi nghe thử. Tên điều khiển chiếc tàu phà và anh chàng trông coi phi trường đều thề thốt rằng họ không thấy George Mellis vào đêm hắn mất tích. Cách duy nhất hắn có thể đi đến Dark Harbor là bằng xuồng máy. Chúng tôi hỏi tất cả những người lái xuồng máy trong vùng. Không ai thấy gì cả"
"Có lẽ hắn không ở Dark Harbor tối hôm ấy".
"Phòng thí nghiệm của tòa án lại nói khác. Họ tìm thấy bằng chứng rằng Mellis đã có mặt ở trong ngôi nhà đó. Hắn thay bộ quần áo làm việc bằng bộ quần áo đi thuyền và người ta tìm thấy xác hắn trong bộ quần áo này"
" Hắn bị giết ở trong nhà hay sao?"
"Trên chiếc du thuyền của nhà Blackwell. Xác hắn bị vứt ra khỏi thuyền. Kẻ nào giết hắn có lẽ nghĩ rằng giòng nước sẽ cuốn xác hắn đến tận nước Tàu"
"Làm sao mà... "
Nick Pappas giơ bàn tay rắn chắc của anh lên. "Đến lượt tôi nói. Mellis là bệnh nhân của anh. Chắc hẳn hắn có nói với anh về vợ hắn."
"Bà ấy có dính líu gì đến chuyện này?"
"Đến mọi chuyện. Bà ấy là lựa chọn thứ nhất, thứ hai và thứ ba của tôi"
"Anh điên rồi"
"Này, một bác sĩ tâm thần như anh không bao giờ sử dụng những tiếng như là "điên""
"Nick này, có lý do nào khiến anh nghĩ rằng Alexandra giết chồng bà ta?"
"Bà ấy đã có mặt ở đó, và đã có một ý định nào đó. Bà ta đến hòn đảo vào lúc tối mịt đêm ấy với lý do là đã bị trì hoãn vì đón chị bà ấy ở một phi trưòng nhưng bà chị lại đến ở một phi trường khác"
"Thế chị bà ấy nói thế nào?"
"Khoan đã. Anh còn muốn bà ấy nói cái khỉ khô gì nữa? Họ là chị em sinh đôi. Chúng ta biết Mellis có mặt ở ngôi nhà ấy tối hôm ấy, nhưng vợ hắn lại thề thốt rằng bà ta không thấy mặt hắn. Nhà ấy lớn thật nhưng không quá lớn đến như vậy. Tiếp đó nữa, bà ta cho bọn gia nhân nghỉ làm việc vào ngày cuối tuần ấy. Tôi có hỏi bà ta lý do thì bà ấy bảo rằng đó là ý muốn của Mellis. Dĩ nhiên, George Mellis làm sao cãi lại được?"
Peter ngồi yên một chỗ, suy nghĩ. "Anh nói rằng bà ấy có ý định. Vậy ý định ấy như thế nào?"
"Anh có trí nhớ ngắn quá. Anh là người đầu tiên bảo tôi điều tra anh chàng ấy. Người đàn bà ấy lấy một thằng loạn trí thích bạo dâm bất cứ kẻ nào hắn tóm được. Có lẽ hắn đã đánh bà ta khá nhiều. Ta cứ cho rằng bà ta không còn muốn chơi với hắn nữa và đã đòi ly dị. Hắn ta không chịu. Việc gì mà hắn phải chịu, chính hắn đã gây ra chuyện đó mà. Bà ấy không dám đưa hắn ra toà, vì như thế sẽ gây quá nhiều tai tiếng. Không còn cách nào khác nữa, bà ta phải giết hắn". Anh ngả người vào lưng ghế.
"Vậy thì anh muốn tôi giúp anh việc gì?", Peter hỏi.
"Tin tức. Anh đã ăn cơm trưa với vợ Mellis cách đây mười ngày". Nick ấn nút trên máy ghi âm, "Chúng ta hãy ghi âm cuộc nói chuyện này, Peter ạ. Anh hãy nói cho tôi nghe về bữa ăn trưa hôm ấy. Thái độ Alexandra lúc ấy thế nào? Có vẻ căng thẳng không? Có giận dữ, sôi nổi cuồng nhiệt không?"
"Nick ạ, tôi chưa hề thấy một người đàn bà có chồng nào mà lại có thái độ cử chỉ thoải mái, hạnh phúc đến như vậy"
Nick Pappas nhìn anh giận dữ, tắt máy ghi âm đánh cộp một tiếng.
"Đừng có xử tệ với tôi như vậy anh bạn ạ. Tôi đã gặp bác sĩ Harley sáng nay. Ông ấy đã cho Alexandra dùng thuốc để ngăn ngừa bà ấy tự tử!"

Bác sĩ Harley đã tỏ ra rất lo lắng vì cuộc nói chuyện với trung úy Pappas. Viên thám tử này đã đi thẳng đến điểm chính yếu.
"Gần đây ông có khám bệnh cho bà Mellis không?"
"Tôi xin lỗi", Bác sĩ Harley nói."Tôi không có quyền nói về các bệnh nhân của tôi. Tôi e rằng không thể giúp ông được"
"Được rồi. Tôi hiểu điều đó. Ông và họ là bạn cũ vơi nhau mà. Ông muốn giữ kín miệng về toàn thể câu chuyện. Đối với tôi thì như thế cũng được". Nick đứng dậy. "Đây là một trường hợp giết người. Tôi sẽ trở lại trong vòng một giờ với một giấy phép để xem xét các sổ khám bệnh của ông. Nếu tôi tìm ra được những gì tôi muốn biết, tôi sẽ cung cấp tin ấy cho báo chí"
Bác sĩ Harley nhìn Nick Pappas như dò xét.
"Chúng ta có thể xử sự theo cách ấy, hay là ông nói cho tôi biết ngay bây giờ những gì tôi muốn biết, rồi tôi sẽ cố gắng giữ kín đến tối đa. Đồng ý chứ?"
"Ông ngồi xuống đi", Harley nói, Nick ngồi xuống. " Gần đây, Alexandra có một số vấn đề liên quan đến xúc cảm"
"Vấn đề gì?"
"Bà ấy bị suy sụp tin thần trầm trọng, và có nói đến chuyện tự vẫn"
"Bà ấy có nói gì đến việc sử dụng một con dao không?"
"Không bà ấy thường hay có những giấc mơ thấy mình bị chết đuối. Tôi cho bà ấy dùng thuốc Well-butrin. Sau đó bà ấy trở lại, nói với tôi rằng bà ấy chưa đỡ, rồi tôi cho bà ấy dùng Monifensine - tôi không biết thuốc này có công hiệu hay không"
Nick Pappas ngồi tại chỗ, cố sắp đặt các chi tiết lại với nhau trong đầu óc. Cuối cùng, anh ngẩng đầu lên hỏi. "Còn gì nửa không?"
"Chỉ có thế thôi, Trung úy ạ"

Nhưng thật ra còn nhiều hơn thế nữa. Lương tâm của bác sĩ Harley đang dày vò ông. Ông đã cố ý không nhắc đến vụ đối xử tàn bạo của George Mellis đối với Eve Blackwell. Một phần lo lắng của ông là về chuyện ông đã không báo cáo chuyện ấy cho cảnh sát khi việc ấy xảy ra, nhưng phần lớn là vì ông muốn bảo vệ cho gia đình Blackwell. Ông không có cách nào biết được rằng có mối liên hệ nào hay không giữa vụ tấn công Eve và cái chết của George Mellis, nhưng bản năng bảo cho ông biết rằng tốt hơn hết là không nên nêu vấn đề ấy ra. Ông dự định làm tất cả những gì có thể được để bảo vệ cho bà Kate Blackwell.

Muời lăm phút sau khi ông đưa ra quyết định, người nữ y tá của ông nói, " bác sĩ Keith Webster gọi ông ở đường dây số hai, bác sĩ ạ"
Sự việc diễn ra như thể chính lương tâm ông đang thúc đẩy ông.
Webster nói, "Ông John này, tôi muốn ghé thăm ông vào xês trưa hôm nay. Ông có rãnh không?"
"Tôi cố thu xếp. Mấy giờ?"
"Năm giờ được không?"
"Được, Keith ạ. Tôi sẽ gặp anh vào lúc ấy"
Thế là sự việc không thể gác sang một bên một cách dễ dàng.
Đến năm giờ, Harley mời Webster vào văn phòng.
"Anh muốn dùng thức uống gì?"
"Cảm ơn ông. Tôi không uống. Tôi xin lỗi vì đã quấy rầy ông như thế này"
John Harley nhận ra rằng cứ mỗi lần gặp Keith Webster thì anh này lại đưa ra lời xin lỗi về một chuyện gì đó. Webster là một anh chàng bé nhỏ, hiền lành, không hề làm mất lòng ai , và chỉ thích làm vui lòng mọi người - giống như con chó con chờ đợi người ta vỗ lên đầu. Thật khó tưởng tượng được bên trong một con người nhợt nhạt, không màu sắc ấy lại ẩn nấp một tài năng thật xuất sắc.
"Anh cần tôi có chuyện gì vậy, Keith?"
Keith Webster thở một cái thật sâu. "Về câu chuyện - như ông biết rồi đấy - chuyện George Mellis đánh đập cô Eve Blackwell ấy?"
"Có chuyên gì liên quan đến việc ấy?"
"Ông cũng biết rằng cô Eve suýt chết"
"Phải"
"Thế nhưng vấn đề ấy không được cảnh báo cho cảnh sát. Do những sự việc vừa xảy ra - vụ ám sát George Mellis và tất cả mọi thứ - tôi tự hỏi rằng không biết mình có nên nói với cảnh sát về chuyện ấy hay không"
Sự thể là như vậy. Không còn cách nào thoát ra khỏi vấn đề răc rối ấy nữa.
"Anh nên làm bất cứ thứ gì mà anh cho là tốt nhất, Keith ạ"
Keith Webster nói một cách buồn bã. "Tôi biết. Chỉ có điều là tôi không muốn làm điều gì có hại cho Eve Blackwell. Nàng là một con người rất đặc biệt"
Bác sĩ Harley nhìn Webster một cách thận trọng. " Đúng vậy"
Keith Webster thở dài. " Điều băn khoăn duy nhất, bác sĩ John ạ, là nếu tôi giữ kín câu chuyện này bây giờ, rồi sau này cảnh sát phát hiện ra thì không còn mặt mũi nhìn ai nữa"
Điều đó tai hại cho cả hai chúng ta, John Harley nghĩ thầm. Ông thấy có một lối giải quyết. Ông nói, làm ra vẻ tình cờ. " Không chắc cảnh sát sẽ tìm ra được. Eve tất nhiên không bao giờ nhắc chuyện ấy, và anh đã chữa trị cho cô ấy một cách toàn hảo. Ngoài một cái sẹo nhỏ, không ai biết cô ấy đã bị làm xấu xí mặt mày".
Keith Webster chớp mắt một cái, " vết sẹo nào?"
"Vết sẹo màu đỏ trên trán ấy. Cô ấy bảo tôi anh sẽ làm cho mất vết sẹo ấy đi trong vòng một vài tháng"
Bác sĩ Webster bây giờ chớp mắt lia lịa. Đó là một cái tật máy giật, Harley thầm nghĩ.
"Tôi không... thế ông gặp cô Eve lúc nào?"
"Cô ấy đến đây cách đây mười ngày để nói về một vấn đề liên quan đến em cô ấy. Thật ra, cái sẹo ấy là thứ duy nhất giúp tôi nhận ra rằng đó là Eve, chứ không phải Alexandra. Hai người ấy giống nhau như hệt, anh biết không?"
Keith Webster gật đầu chậm rãi. "Phải tôi đã thấy ảnh cô em của Eve trên báo. Họ giống nhau đến kỳ lạ. Và ông nói rằng ông chỉ có thể phân biệt được họ là nhờ ở cái sẹo trên trán cô Eve do cuộc mổ xẻ tôi đã thực hiện?"
"Đúng như vậy"
Bác sĩ Webster ngồi im lặng, cắn môi suy nghĩ. Cuối cùng anh nói."Có lẽ tôi chưa nên đi vội đến sở cảnh sát. Tôi muốn suy nghĩ về vấn đề này thêm chút nữa".
"Thành thực mà nói, anh làm như thế là khôn ngoan, Keith ạ. Hai cô gái ấy đều trẻ đẹp và dễ thương cả. Báo chí gợi ý xa xôi rằng cảnh sát nghi rằng chính Alexandra đã giết George Mellis. Thật vô lý. Tôi nhớ lại khi chúng còn là hai đứa bé gái..."
Nhưng bác sĩ Webster không còn nghe gì nữa.

Rời khỏi văn phòng bác sĩ Harley, Keith Webster chìm đắm trong suy nghĩ. Chắc chắn anh đã không để lại một vết sẹo nào trên khuôn mặt xinh đẹp của Eve. Thế nhưng Harley đã thấy có vết sẹo ấy. Có thể rằng Eve đã bị thêm một vết sẹo sau đó do một tai nạn nào khác. Nhưng tại sao cô ấy phải nói dối? thật là vô lý.
Anh xét vấn đề này từ nhiều khía cạnh, lược qua tất cả mọi khả năng khác nhau, rồi khi đã đi đến một kết luận, anh thầm nghĩ, "Nếu mình nghĩ đúng thì điều này sẽ thay đổi toàn thể cuộc sống của mình..."
Vào lúc sáng sớm tiếp theo đó, anh gọi điện thoại cho bác sĩ Harley. " Ông John ạ, tôi xin lỗi đã quấy rầy ông. Có phải ông nói rằng Eve Blackwell đến nói chuyện với ông về Alexandra không?"
"Đúng vậy".
"Sau khi Eve đến thăm ông. Alexandra có đến gặp ông không?"
"Có, thật ra cô ấy đến gặp tôi ngay ngày hôm sau. Tại sao anh hỏi vậy?"
"Chỉ vì tò mò thôi. Ông có thể cho biết Alexandra đến gặp ông về chuyện gì không?
"Cô ấy bị suy sụp tinh thần trầm trọng. Eve cố tìm cách giúp đỡ em gái"
Eve đã bị đánh đập và suýt bị chồng Alexandra giết. Ấy thế mà bây giờ người chồng ấy bị giết thì Alexandra lại bị buộc tội.

Keith Webster luôn luôn tự cho rằng mình không phải là người xuất sắc cho lắm. Ở trường học anh đã phải cố gắng hết sức để chỉ đạt được điểm vừa đủ đỗ thôi. Anh là cái đích thường trực để bạn bè chòng ghẹo, đùa rỡn. Anh không phải là một vận động viên thể thao, một học giả, và cũng không có khả năng tiếp xúc xã hội. Anh gần như một con số không. Trong gia đình anh không ai có thể ngờ rằng anh lại có thể vào được trường y khoa. Khi anh có ý muốn trở thành nhà phẫu thuật, các bạn bè. thầy giáo đều không mong đợi anh sẽ trở thành một phẫu thuật gia vĩ đại. Nhưng anh đã làm cho tất cả mọi người phải ngạc nhiên. Anh trở thành một nhà nặn tượng tuyệt vời đã tạo nên những phép lạ với da thịt con người chứ không phải với đất sét, và chỉ trong một thời gian ngắn, tiếng tăm của anh lan rộng. Thế nhưng mặc dầu thành công như vậy , anh không thể nào vượt qua được sự chấn thương của thời tuổi trẻ. Bên trong, anh vẫn là một cậu bé con gây buồn chán cho mọi người, và là đối tượng cho các cô gái chế riễu , trêu chọc...

Cuối cùng anh gọi điện thoại đến Eve, hai bàn tay anh ướt đẫm mồ hôi. Nàng trả lời qua đường dây, " Rorry đó hả?" Giọng nàng thấp và sôi nổi.
"Không , đây là Keith Webster"
"À, chào anh"
Anh nghe nàng thay đổi giọng nói."Cô có được khỏe không?"
"KHỏe"
Anh thấy nàng có vẻ như sốt ruột. "Tôi.. tôi muốn gặp cô"
" Tôi không muốn gặp ai cả. Nếu anh đọc báo chắc anh cũng rõ rằng người em rể tôi vừa bị giết. Tôi đang hết sức buồn phiền."
Anh chùi tay trên quần. " chính tôi đang muốn gặp cô về chuyện ấy, cô Eve ạ. Tôi có một số tin tức cô cần phải biết."
"Tin gì?"
"Tôi không muốn nói trên điện thoại ". Anh có thể tưởng tượng trí óc lúc này của Eve đang hoạt động.
"Được rồi, Vậy khi nào gặp?"
"Ngay bây giờ, nếu tiện"

Khi anh đến căn hộ của Eve ba mươi phút sau đó, Eve ra mở cửa và nói." Tôi đang bạn lắm. Anh muốn gặp tôi về chuyện gì?"
"Về cái này," Webster nói như để xin lỗi. Anh mở một phong bì bằng giấy dày đang cầm ở tay, lấy ra một tấm ảnh, rụt rè đưa cho Eve. Đó là một tăm ảnh của nàng.
Nàng nhìn tấm ảnh, tỏ vẻ ngạc nhiên. "Vậy có chuyện gì?"
"Đó là một bức ảnh của cô."
"Biết rồi, " nàng cộc lốc, "vậy thì sao?"
"Ảnh này chụp lúc cô vừa được mổ xong."
"Có gì lạ đâu?"
"Không có vết sẹo nào trên trán cô cả, cô Eve ạ"
Anh nhận ra sự thay đổi trên nét mặt Eve.
"Anh ngồi xuóng đi."
Anh ngồi xuống đối diện với nàng, trên mép chiếc đi văng, nhưng vẫn nhìn nàng không rời mắt. Anh đã nhìn thấy nhiều đàn bà xinh đẹp trong lúc hành nghề, nhưng Eve Blackwell đã làm anh hoàn toàn mê mẫn tâm thần. Anh chưa hề bao giờ thấy ai giống như nàng.
"Tôi nghĩ cô nên nói rõ cho tôi biết tất cả chuyện này"
Anh khởi sự ngay từ lúc đầu. Anh nói với nàng về cuộc viếng thăm bác sĩ John Harley, và về vết sẹo bí mật. Trong khi nói, Webster vẫn nhìn vào đôi mắt nàng. Đôi mắt ấy có vẻ như không có tinh thần.
Khi Webster nói xong. Eve tiếp lời, "Tôi không biết anh đang nghĩ gì, nhưng dù thế nào chăng nữa, anh đã làm tôi mất quá nhiều thời giờ. Còn về cái sẹo ấy, tôi đùa rỡn chút xíu với cô em gái tôi mà thôi. Chỉ đơn giản có như vậy. Bây giờ nếu anh nói xong rồi. Toi còn phải làm nhiều chuyện khác nữa"
Webster vẫn ngồi yên tại chỗ, "Tôi xin lỗi đã quấy rầy cô. Tôi nghĩ tôi cần phải nói chuyện với cô trước khi đi đến sở cảnh sát"
Đến đây thì anh nhận thấy đã thu hút hoàn toàn sự chú ý của Eve.
"Trời ơi, anh định đến sở cảnh sát làm gì?"
"Tôi bắt buộc phải báo cáo về vụ George Mellis đã bạo hành đối với cô trước đây. Rồi đến chuyện cô và vết sẹo trên trán. Tôi chưa hiểu về chuyên này, nhưng chắc chắn cô có thể giải thích rõ cho họ"
Eve lần đầu tiên cảm thấy sợ hãi, như có một vết dao đâm vào lưng. Cái anh chàng bé nhỏ buồn tẻ đần độn đang đứng trước mặt nàng không biết câu chuyện đã thực sự xẩy ra như thế nào, nhưng anh ta cũng biết khá nhiều để khiến cảnh sát phải đặt ra câu hỏi.
George Mellis là người khách thường xuyên đến căn hộ này của nàng. Cảnh sát có thể tìm ra những nhân chứng đã từng thấy anh ta tại đây. Nàng đã nói dối về chuyện nàng ở Washington vào đêm xẩy ra vụ Mellis bị giết. Nàng không có bằng chứng nào chứng tỏ nàng vắng mặt. Nàng đã tưởng rằng không cần có bằng chứng ấy. Nếu cảnh sát biết rằng George Mellis đã suýt giết nàng, họ sẽ nghĩ rằng đó là lý do gây nên vụ án mạng. Toàn thể kế hoạch của nàng của nàng sẽ bị phanh phui. Nàng cần buộc anh chàng này phải im tiếng.
"Vậy thì anh muốn gì? Tiền?"
"Không!"
Nàng thấy vẻ tức giận hiện ra trên mặt Webster. "Vậy thì cái gì?"
Webster nhìn xuống tấm thảm, mặt đỏ lên vì bối rối. "Tôi... tôi rất mến cô, Eve ạ. Tôi không muốn thấy bắt cứ chuyện gì xảy ra với cô."
Nàng cố nở nụ cười."không có chuyện gì tai hại xảy ra cho tôi đâu. Tôi không làm điều gì sai lầm cả. Hãy tin tôi đi. Tất cả chuyện này không có liên quan gì đến vụ ám sát George Mellis cả". Nàng đưa tay ra, cầm lấy tay Webster," Toi rất cảm ơn anh nếu anh vui lòng quên tất cả chuyện này đi , Được chứ?"
ANh chụp lấy tay nàng, bóp thật chặt. "Tôi cũng muốn như vậ, cô Eve ạ. Tôi thành thực muốn vậy. Nhưng họ sẽ bắt đầu cuộc điều tra ấy và phải nói tất cả những gì tôi biết".
Webster thấy rõ vẻ hoảng sợ trong cặp mắt nàng.
"Anh không cần phải làm việc ấy!"
Webster vỗ nhẹ trên tay nàng. " Tôi phải làm, cô Eve ạ. Đó là nhiệm vụ đã được tuyên thệ của tôi. CHỉ có một điều duy nhấtcó thể ngăn cản tôi làm viêcj ấy." Anh thấy nàng như chực nhảy lên để đớp các lời nói của anh.
"Điều gì vậy?"
Giọng anh trở nên rất dịu dàng. "Một người chồng không thể bị bó buộc phải làm nhân chứng cho vợ mình"


0
CHƯƠNG 32
Bà Kate Blackwell cảm thấy mệt mỏi. Cuộc họp đã kéo dài quá lâu. Bà đưa mắt nhìn quanh bàn họp, nhìn ba người đàn ông và ba người đàn bà trong lãnh đạo công ty. Tất cả đều tươi trẻ, tràn đầy sức sống. Không, không phải phiên họp đã kéo dài quá lâu, mà bà cảm thấy chính bà đã ngồi quá lâu. Ta đã tám mươi hai tuổi rồi, bà thầm nghĩ. Ta đã già rồi. Ý nghĩ này khiến bà cảm thấy phiền muộn, không phải vì bà sợ chết, mà vì bà cảm thấy bà chưa sẵn sàng để nhắm mắt. Bà không muốn chết chừng nào công ty Kruger-Brent chưa có một người thuộc gia đình Blackwell đứng ra điều hành nó. Sau khi chịu nỗi thất vọng với Eve, bà Kate cố gắng xây dựng các dự tính tương lai cho Alexandra.
Chính Alexandra đã nói với bà “Bà biết rằng cháu sẵn lòng làm bất cứ điều gì cho bà, bà nội ạ, duy có điều là cháu không thích sau này phải dính líu đến công ty, Goerge sẽ là một nhân viên điều khiển xuất sắc…”
“Bà có đồng ý không, bà Kate?” Brad Rogers thình lình đặt câu hỏi.
Câu hỏi ấy khiến bà Kate tỉnh khỏi giấc mơ. Bà nhình Bard như để nhận lỗi. “Tôi xin lỗi, câu hỏi gì vậy?”
“Chúng ta đang thảo luận về việc sát nhập công ty Delco.” Giọng Brad Rogers đầy vẻ kiên nhẫn. Bard lo lắng về bà Kate Blackwell. Trong những tháng gần đây, bà có thói hay đãng trí, mơ màng giữa các phiên họp của công ty, thế nhưng ngay khi Brad bắt đầu lo lắng rằng bà đã già rồi và sẽ phải rút lui khỏi ban lãnh đạo thì đột nhiên bà đưa ra một quyết định sáng suốt khiến cho mọi người ngạc nhiên vì sao họ đã không nghĩ ra được ý kiến ấy. Bà thật là một con người kỳ lạ. Ông nghĩ đến câu chuyện tình ngắn ngủi xa xưa, rồi một lần nữa ông tự hỏi vì sao nó chấm dứt đột ngột như vậy.

Bây giờ là lần khám bệnh thứ hai của George Mellis tại văn phòng bác sĩ Templeton. “Trong quá khứ anh có nhiều hành động hung bạo không, George?”
George Mellis lắc đầu. “Không, tôi rất ghét bạo lực.”
Ghi nhớ câu nói ấy nhé, đồ chó đẻ, Peter Templeton nhủ thầm. Nhân viên điều tra các vụ giết người sẽ hỏi mày về chuyện ấy.
“Anh nói cha mẹ anh không bao giờ trừng phạt anh về thể xác cả, phải không?”
“Đúng vậy.”
“Vậy anh có thể nói rằng anh là một đứa con biết vâng lời không?”
Cẩn thận đấy nhé. Đây là cái bẫy. “Vào hạng trung bình thôi. Tôi nghĩ như vậy.”
“Đứa trẻ trung bình thỉnh thoảng cũng bị phạt vì vi phạm qui phạm của người lớn.”
Mellis nở một nụ cười ngụ ý không tán thành. “Tôi cho rằng tôi đã không có vi phạm nào cả.”
Hắn nói dối. Peter nghĩ thầm. Vấn đề là vì sao? Hắn đang muốn che giấu cái gì? Anh nhớ lại cuộc nói chuyện với Harley sau khi khám bệnh cho Mellis lần thứ nhất.
“Hắn bảo hắn đã đánh cô chị vợ, John ạ và…”
“Đánh cô ấy à?” Giọng Harley đầy vẻ bực tức. Hắn chặt người ta như một tên đồ tể vậy, Peter ạ. Hắn đánh vỡ xương gò má cô ấy, làm gãy mũi và ba cái xương sườn, rồi đốt cháy mông và bàn chân cô ta bằng thuốc lá đang cháy giở.”
Peter thấy cảm giác kinh tởm như một làn sóng tràn khắp người, “Hắn không nhắc chuyện ấy với tôi.”
“Tôi cũng đoán rằng hắn không nói,” Harley nói. “Tôi bảo với hắn rằng nếu hắn không đến với anh, tôi sẽ báo cáo với cảnh sát.”
Peter nhớ lại lời của Mellis. “Tôi cảm thấy thẹn quá. Vì vậy tôi đòi phải đến gặp ông”. Thì ra, hắn nói dối ngay cả chuyện ấy nữa.
“Mellis nói với tôi rằng vợ hắn mắc bệnh hay chán nản, buồn bực và có ý định tự tử.”
“Phải, điều ấy thì tôi bảo đảm là có. Alexandra đến gặp tôi cách đây mấy ngày. Tôi cho uống Wellbutrin. Tôi rất lo lắng về cô ấy. Cảm tưởng anh đối với George Mellis thế nào?”
Peter nói chậm rãi. “Tôi chưa biết. Tôi có cảm giác rằng hắn là một kẻ nguy hiểm”

Bác sĩ Keith Webster không thể nào gạt hình ảnh Eve Backwell ra khỏi đầu óc được. Nàng giống như một vị nữ thần xinh đẹp, không có thực, không sờ mó được. Nàng cởi mở, linh hoạt, hấp dẫn trong khi ông buồn tẻ, nhếch nhác. KeithWebster chưa bao giờ lấy vợ, bởi vì ông không bao giờ thấy một người đàn bà nào không xứng đáng để làm vợ ông. Ngoài công việc làm ra, ông không bao giờ tự đánh giá quá cao. Ông lớn lên dưới sự chăm sóc của một bà mẹ độc đoán, hung dữ, và một người cha yếu ớt, dễ bị bắt nạt. Lòng ham muốn tình dục của Webster ở mức độ rất thấp, và nếu ông có chút ít ham muốn nào thì nó cũng được làm cho trong sạch trong công việc làm của ông. Nhưng bây gờ đây, ông bắt đầu mơ tưởng đến Eve Blackwell, và khi nhớ đến những giấc mơ vào buổi sáng thì ông cảm thấy bối rối. Nàng đã lành hẳn rồi, nên ông không còn có lý do nào đến gặp nàng nữa, thế nhưng ông biết thế nào ông cũng phải gặp nàng.
Ông gọi điện thoại đến căn hộ của Eve. “Eve? Đây là Keith Webster. Tôi mong rằng tôi không quấy rầy cô. Tôi…tôi vừa nghĩ đến cô hôm trước đây, và không… không biết bây giờ cô như thế nào”.
“Tôi vẫn khoẻ, cám ơn ông. Thế còn ông thì sao?” Trong giọng nói của nàng có vẻ như trêu ghẹo.
“Cũng … khá” ông nói. Một phút im lặng kế tiếp theo đó. Webster cố lấy can đảm. “Tôi e có lẽ cô quá bận rộn không thể đến ăn cơm trưa với tôi được”.
Eve mỉm cười với chính mình. Anh chàng nhút nhát một cách thật là dễ thương. Chuyện này sẽ vui lắm đây. “Tôi muốn lắm chứ”.
“Thật thế hả?” Nàng có thể nhận thấy vẻ ngạc nhiên qua giọng nói của Webster. “Khi nào?”
“Ngày mai nhé?”
“Nhớ hẹn đấy”. Ông nói thật nhanh, sợ rằng nàng có thể thay đổi ý kiến.
Eve rất vui trong bữa ăn trưa hôm ấy. Bác sĩ Webster hành động như một cậu học trò vừa mới được yêu. Ông đánh rơi khăn ăn, làm vung vãi rượu ra bàn, và làm đổ một bình hoa. Nhìn ông ta, Eve cảm thấy vui vui, và nghĩ thầm. “Không ai có thể tưởng tượng được rằng đây là một nhà phẫu thuật hết sức tài giỏi”.
Khi bữa cơm trưa vừa xong, Webster bẽn lẽn hỏi, “Không biết… chúng ta có thể gặp nhau lần nữa vào một hôm nào đó không?”
Nàng nhìn thẳng vào mặt ông và nói, “Có lẽ không nên. Keith ạ. Tôi sợ rằng tôi phải lòng anh mất thôi.”
Mặt Webster đỏ bừng. Ông không biết nói làm sao nữa.
Eve vỗ nhẹ lên tay ông nói “Tôi sẽ không quên anh”. Ông bác sĩ lại làm đổ bình hoa một lần nữa.

John Harley đang ăn cơm trưa tại quán ăn trong bệnh viện thì Webster đến gặp ông. Webster nói. “John này, tôi hứa với anh rằng tôi sẽ giữ bí mật, nhưng tôi cảm thấy dễ chịu hơn nếu anh nói cho tôi biết sự thật và những gì đã xảy ra với cô Eve Blackwell.”
Harley do dự một lúc, rồi nhún vai nói, “Thôi được. Chính thằng em rể của cô ta, George Mellis, đã làm chuyện ấy.”
Bây giờ, Webster cảm thấy mình đang được chia sẻ một phần thế giới bí mật của Eve.

George Mellis tỏ vẻ sốt ruột. “Tiền bạc ở đó rồi, bản chúc thư đã được sửa đổi. Vậy thì chúng ta còn chờ đợi gì nữa?”
Eve nằm trên đi văng, hai chân dài gấp lại, nhìn theo Mellis trong khi y đi qua đi lại. “Anh muốn giải quyết xong chuyện này cho rồi, Eve ạ”
Hắn mất can đảm rồi, Eve thầm nghĩ. Hắn giống như một con rắn độc đang cuộn mình lại. Rất nguy hiểm. Nàng đã phạm một sai lầm với hắn bằng cách thúc hắn đi quá xa, và đã suýt mất mạng vì chuyện ấy. Nàng sẽ không để phạm sai lầm nữa.
“Tôi đồng ý” nàng nói chậm rãi. “Chắc cũng đã đến lúc rồi.”
Y đang bước vội dùng phắt lại. “Khi nào?”
“Tuần sau.”

Buổi khám bệnh đã gần như xong, nhưng George Mellis không nhắc đến vợ y lần nào. Đột nhiên hắn nói “Tôi lo lắng về Alexandra quá, bác sĩ ạ. Vẻ buồn nản của cô ấy có vẻ như trầm trọng hơn. Đêm qua, cô ấy cứ nói về chuyện chết chìm. Tôi không biết phải làm thế nào.”
“Tôi đã nói chuyện với ông Harley. Ông ấy đã cho cô ta ít thuốc uống có thể giúp cô ta chóng bình phục”,
“Tôi hy vọng thế”. Mellis nói với vẻ nghiêm chỉnh “Tôi chắc không chịu đựng nổi nếu có chuyện gì xảy ra cho nhà tôi”.
Với lỗ tai quen bắt lấy những lời lẽ không được nói ra, bác sĩ Peter Templeton có cảm giác khó chịu là ông đang chứng kiến một trò chơi đố. Ở trong anh chàng này có ẩn một sự hung bạo nguy hiểm. “Anh Mellis này, quan hệ của anh với các phụ nữ trước đây như thế nào?”
“Bình thường”.
“Anh có bao giờ giận dữ, nổi sùng lên không?”
Mellis biết rằng câu hỏi ấy đang dẫn dắt y đến đâu rồi. Y nói, “Không bao giờ”. Y nghĩ bụng, tôi cũng đủ không ngoan để không bị mắc lừa ông đâu, bác sĩ ạ. “Tôi nói ông rồi mà. Tôi không thích bạo lực.”
Câu nói của Harley vẫn còn văng vẳng: “Hắn chặt người ta như một tên đồ tể. Hắn đập vỡ xương gò má, làm gãy mũi, ba xương sườn, rồi đốt mông và bàn chân cô ấy bằng thuốc lá đang cháy giở.”
“Với một số người sự hung bạo đôi khi cũng tạo cho người ta một lối thoát cần thiết, một sự giải toả về mặt xúc cảm”, Peter nói.
“Tôi hiểu ông nói gì rồi. Tôi có thằng bạn thường xuyên hay đánh đập bọn gái điếm.”
Tôi có một thằng bạn. Đó là một dấu hiệu báo động. “Nào anh nói cho tôi nghe về bạn anh đi.”
“Hắn ghét bọn gái điếm lắm. Chúng lúc nào cũng tìm cách bóc lột hắn. Vì vậy, khi làm xong xuôi rồi, hắn đánh đập chúng chút xíu, chỉ để cho chúng một bài học thôi.” Y nhìn vào mặt Peter, nhưng không thấy dấu hiệu nào tỏ ý phản đối. Y mạnh dạn nói tiếp, “Tôi nhớ có lần hắn và tôi cùng ở Jamaica với nhau. Con gái điếm da đen bé nhỏ ấy dẫn hắn đến một phòng khách sạn, rồi sau khi nó cởi quần áo cho thằng ấy rồi, nó đòi thêm tiền,” Mellis tủm tỉm cười, “thế là hắn đánh con bé ấy đến vãi phân ra. Tôi chắc chắn rằng con bé ấy tởn đến già, không dám đòi thêm tiền của ai nữa”.
Hắn là một thằng loạn óc. Peter thầm nghĩ. Không có bạn bè nào cả, dĩ nhiên rồi. Hắn khoe khoang, khoác lác về mình, che giấu bên trong một “cái tôi” khác của hắn. Hắn mắc chứng hoang tưởng tự đại, và rất nguy hiểm.
Peter nghĩ rằng anh cần phải nói chuyện với bác sĩ Harley càng sớm càng tốt.
Hai người gặp nhau ở Câu lạc bộ Harvard. Peter Templeton ở trong một tình thế khó khăn. Anh cần có tất cả thông tin về Mellis, mà không vi phạm sự bí mật, của mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân...
“Ông có thể cho tôi biết chút ít về người vợ của Mellis không?” Anh hỏi bác sĩ Harley. “Alexandra là một cô gái xinh đẹp, dễ thương. Tôi đã săn sóc cho cả hai chị em cô ấy, từ ngày chúng mới ra đời.” Ông cười khúc khích. “Anh đã từng nghe nói về những đứa trẻ em sinh đôi chứ gì, thế nhưng anh không bao giờ nhận thức ra được ý nghĩa của điều ấy cho đến khi nào anh thấy hai đứa ấy đứng bên cạnh nhau.”
Peter chậm rãi hỏi, “Chúng giống hệt nhau sao?”
“Không ai có thể phân biệt chúng được. Chúng thường thường bày ra những trò chơi độc địa, khi chúng còn nhỏ như những con chó con. Tôi còn nhớ có lần Eve bị ốm, cần phải tiêm, rốt cuộc, không hiểu làm sao tôi lại chích lầm cho Alexandra”. Ông nhấp một chút rượu rồi nói tiếp, “Thật là lạ lùng, chúng bây giờ đã lớn rồi, thế mà tôi vẫn chưa phân biệt được đứa này với đứa kia.”
Peter suy nghĩ về vấn đề này. “Ông bảo rằng Alexandra đến khám bệnh với ông vì cô ấy có khuynh hướng muốn tự tử phải không?”
“Đúng vậy”.
“Ông John này, làm sao ông biết được đó là Alexandra?”
“Điều đó rất dễ”, bác sĩ Harley nó, “Eve vẫn còn một cái sẹo nhỏ trên trán vì bị mổ sau vụ Mellis đánh đập cô ấy”.
Peter cảm thấy mình lâm vào ngõ cụt. “À ra thế”.
“Công việc của anh với Mellis tiến triển thế nào?”
Peter do dự, băn khoăn không biết mình có thể nóiđược bao nhiêu. “Tôi vẫn chưa tìm ra. Hắn nấp kín trong một vẻ ngoài giả dối. Tôi đang cố gắng vạch trần nó ra”.
Cẩn thận đấy, Peter ạ. Nếu anh muốn nghe ý kiến tôi, hắn là một thằng loạn óc”. Ông nhớ đến cảnh Eve nằm trên giường, giữa một vũng máu.
“Hai chị em cô ấy là thừa kế một gia tài lớn, phải thế không?” Peter hỏi.
Bây giờ đến lượt Harley do dự. “Đây là một vấn đề riêgn tư của gia đình, nhưng câu trả lời của tôi là “không”. Bà nội của họ đã từ cô Eve, không cho một hào nhỏ. Alexandra được hưởng tất cả”.
Peter nhớ lại câu nói của Mellis, “Tôi lo cho Alexandra- Cô ấy cứ hay nói về việc chết chìm. Tôi không thể chịu đựng được nếu có gì xảy ra cho nhà tôi.”
Đối với Peter Templeton, lối nói ấy giống như một lối dàn dựng cổ điển cho một vụ giết người, duy chỉ có điều là Mellis là kẻ thừa kế một tài sản lớn lao riêng của y. Không có lý do gì hắn lại giết người vì tiền. Mình chỉ hay tưởng tượng thôi, Peter tự trách mình.

Một người đàn bà sắp chết đuối giữa bể lạnh, còn anh thì đang bơi đến bên cạnh cô ta, nhưng sóng cao quá và cô ta cứ chìm xuống dưới sóng bể, rồi lại nhô lên. “Giữ yên như thế, tôi đến ngay đây”, anh kêu to lên. Anh cố bơi nhanh lên, nhưng tay chân anh nặng như chì. Rồi anh đành nhìn cô ta chìm xuống làn nước. Khi tới đến nơi cô gái ấy vừa biến mất, anh nhìn xung quanh thì thấy một con cá mập trắng to lớn đang sắp tấn công anh. Peter tỉnh dậy. Anh vặn đèn lên, rồi ngồi trên giường nghĩ đến giấc mơ vừa qua.
Sáng sớm hôm sau, anh điện thoại cho Trung uý Thám tử Nick Pappas.

Nick Pappas là một con người to lớn, cao trên hai thước, nặng trên trăm cân. Như nhiều bọn tội phạm có thể chứng minh, không một lạng da thịt nào của anh là mỡ cả. Trung uý Pappas ở trong đội điều tra các vụ giết người trong khu vực “tất lụa” của Manhattan.
Peter đã gặp Pappas nhiều năm trước đây, khi anh đứng ra làm chứng với tư cách nhà chuyên môn về bệnh tâm thần trong một vụ xử án giết người. Từ đó anh và Pappas trở thành bạn thân thiết. Pappas thích chơi cờ vua, và cả hai thường gặp nhau mỗi tháng một lần để cùng nhau chơi cờ.
Nick trả lời điện thoại. “Pappas, phòng hình sự đây”
“Đây là Peter, Nick ạ”
“À, anh bạn! Những vụ bí mật của tâm trí tiến triển ra sao rồi?”
“Tôi đang cố tìm ra manh mối, Nick ạ. Tina có được khoẻ không?”
”Tuyệt vời. Anh cần gì tôi nào?”
“Tôi cần ít tin tức. Anh vẫn có những mối liên hệ với Hy lạp chứ?” Peter hỏi.
“Có liên hệ à? Tôi có một trăm người bà con thân thuộc ở đó. Tất cả đều cần tiền, và tôi phải làm cái việc ngu xuẩn là gửi tiền cho họ đều đều. Có lẽ anh cần phải phân tích tâm lý tôi mới được.”
“Chậm rồi anh bạn ơi. Anh là một ca tuyệt vọng”. Peter nói đùa.
“Tina cũng bảo với tôi như thế đó. Bây giờ anh cần những tin tức gì nào?”
“Anh có bao giờ nghe cái tên George Mellis không?”
“Gia đình nổi tiếng về thực phẩm ấy à?”
“Phải”
“Hắn không hẳn ở trong phạm vi điều tra của tôi, nhưng tôi biết hắn là ai. Về chuyện gì vậy?”
“Tôi muốn biết hắn có tiền bạc gì không”.
“Anh không nói đùa đấy chứ? Gia đình hắn…”
“Tôi muốn nói đến tiền riêng của hắn kia”.
“Để tôi sẽ điều tra xem sao, nhưng chỉ mất thì giờ thôi. Gia đình Mellis ấy giàu vô kể”.
“À này, nếu anh có nhờ ai hỏi ông bố của George Mellis thì bảo với người ấy phải khéo léo, nhẹ nhàng một chút, kẻo ông già ấy hay lên cơn đau tim lắm đấy”.
“Được rồi. Tôi sẽ dặn điều ấy trên điện tín”.
Peter nhớ lại giấc mơ, “Nick này, anh có thể nào gọi điện thoại thay vì dùng điện tín được không? Ngay hôm nay?”
Giọng của Pappas nghe có vẻ khác. “Có điều gì anh muốn nói cho tôi biết không, Peter”.
“Không có gì để nói cả. Tôi chỉ muốn thoả mãn trí tò mò của tôi thôi. Anh hãy để tôi trả tiền điện thoại ấy”.
“Dĩ nhiên là phải như vậy rồi, lại còn một bữa cơm anh sẽ đãi tôi nữa khi nào anh nói cho tôi biết cái chuyện khỉ gió ấy là chuyện gì”.
“Đồng ý”. Peter gác máy điện thoại. Anh cảm thấy trong người dễ chịu hơn.

Bà Kate Blackwell cảm thấy không được khoẻ. Bà đang ngồi ở bàn giấy, nói chuyện trên máy điện thoại, thì lên cơn đột ngột. Căn phòng bắt đầu xoay như chong chóng. Bà nắm lấy bàn viết thật chặt cho đến khi mọi thứ chở lại bình thường.
Brad đi vào văn phòng. Ông nhìn qua nét mặt tái nhợt của bà, rồi hỏi, “Bà có bình thường không, bà Kate?”
Bà thả tay ra khỏi bàn và đáp ‘Chỉ hơi choáng váng thôi. Chẳng có gì quan trọng”.
“Đã bao lâu rồi bà không khám bác sĩ?”
“Tôi không thì giờ đâu để làm cái chuyện vớ vẩn ấy, Brad ạ”.
“Phải cố tìm ra thì giờ chứ. Tôi sẽ bảo Annette gọi điện thoại để xếp đặt cho bà một cuộc hẹn với Bác sĩ Harley”.
“Quỷ tha ma bắt anh đi, Brad ạ. Đừng có cuống quýt lên như thế nữa”.
“Thế bà có sẽ đi khám bác sĩ không?”
“Tôi sẽ đi nếu việc ấy sẽ làm cho anh thôi không quấy rầy tôi nữa”.

Sáng hôm sau, viên thư ký của Peter nói, “Thám tử Pappas gọi ông trên điện thoại”.
Peter nhấc ống nghe. “Chào anh, Nick”.
“Tôi nghĩ anh với tôi nên bàn với nhau chút xíu, anh bạn ạ”.
Peter đột nhiên cảm thấy lo lắng. “Anh đã nói chuyện với ai về Mellis chưa?”
“Tôi đã nói với chính ông bố của George Mellis. Trước hết, ông ta chưa hề bao giờ đau tim cả. Thứ hai, ông ta nói rằng, riêng đối với ông ta, ông coi George Mellis như đã chết rồi. Khi tôi hỏi tại sao thì ông già ấy cúp ngay điện thoại. Thế rồi tôi gọi cho một số bạn cũ ở Athens. Tên George Mellis của anh, hắn quả thực là nổi danh. Cảnh sát ở đó biết hắn rất rõ. Hắn có cái thú riêng là đánh đập đàn bà và bọn trai trẻ. Nạn nhân cuối cúng của hắn trước khi rời Hy lạp là một thằng bé trong một khách sạn, và liên hệ vụ này với George Mellis. Lão già mua chuộc ai đó để thả hắn ra, rồi “đá đít” hắn ra khỏi xứ. Vĩnh viễn. Như vậy anh đã thỏa mãn chưa?”
Peter đã quá thoả mãn rồi. Nó làm cho anh khiếp sợ “Cám ơn Nick. Thế là tôi nợ anh một lần điện thoại nhé”.
“Ồ, không đâu, anh bạn ạ. Lần này thì tôi chịu tiền điện thoại. Nếu thằng ấy được thả rông lần nữa, anh nên cho tôi biết nhé”.
“Sẽ cho anh biết sớm tối đa, Nick ạ. Gửi lời thăm Tina nhé”. Peter gác máy điện thoại. Anh có nhiều chuyện phải suy nghĩ. George Mellis sẽ đến đây vào lúc trưa.

Bác sĩ John Harley đang khám bệnh thì nhân viên tiếp khách của ông nói, “Bà George Mellis đng ở đây, chờ được gặp ông, bác sĩ ạ. Bà ấy không có hẹn khám bệnh, nên tôi nói cho bà ấy biết thời khoá biểu của ông là…”
Harley nói, “Đưa bà ấy vào bằng cửa hông, rồi mời bà ta vào văn phòng tôi”.
Mặt nàng trông nhợt nhạt hơn lần trước, vết thâm quầng xung quanh mắt đậm hơn. “Tôi xin lỗi đã đến đột ngột như thế này, bác sĩ ạ, nhưng…”.
“Không hề gì, Alexandra ạ. Có chuyện gì vậy?”
“Nhiều chuyện lắm. Thật là kinh khủng quá…”.
“Cô vẫn uống đều Wellbutrin chứ?”
“Có”.
“Thế mà cô vẫn còn cảm thấy buồn nản?”
Bàn tay nàng nắm chặt lại. “Còn tệ hơn như thế nữa. Tôi cảm thấy tuyệt vọng, tưởng chừng không còn có thể kiểm soát được gì nữa. Tôi không còn có thể chịu đựng chính mình nữa. Tôi sợ, tôi sợ rằng tôi sẽ làm chuyện gì ghê gớm lắm”.
Bác sĩ Harley trấn an, “Cô chẳng có bệnh tật gì đâu. Tôi xin đem danh dự của tôi ra để bảo đảm với cô như vậy. Tất cả chỉ là vấn đề xúc cảm thôi. Tôi sẽ đổi thứ thuốc khác. Lần này tôi sẽ cho cô dùng Nomifensine, một thứ rất công hiệu. Cô sẽ thấy rõ sự thay đổi chỉ trong vòng ít ngày”. Ông viết đơn thuốc, rồi đưa cho nàng. “Nếu đến thứ Sáu, cô không thấy khá hơn, xin cô cứ gội tôi. Tôi có thể giới thiệu cô với một bác sĩ tâm thần”.
Ba mươi phút sau, trở lại căn hộ. Eve xoá đi lớp kem nhợt thoa trên mặt và chùi đi những vệt thâm quầng quanh mắt.
Bước đi bây giờ nhanh hơn.

George Mellis ngồi đối diện với Peter Templeton, tủm tỉm cười và tin tưởng.
“Hôm nay anh cảm thấy thế nào?”
“Khá hơn nhiều lắm bác sĩ ạ. Những buổi khám bệnh như thế này có hiệu quả hơn là ông nghĩ”.
“Thật thế sao? Hiệu quả bằng cách nào?”
“Ấy chỉ là như mình có một người nào đó để nói chuyện. Cũng giống như lệ xưng tội của Thiên Chúa giáo vậy. Nguyên tắc cũng như vậy, phải không?”
”Tôi rất mừng các buổi tiếp xúc này đã giúp anh nhiều. Vợ anh khoẻ rồi chứ?”
George Mellis nhăn mặt, “Tôi e rằng chưa. Nhà tôi lại gặp bác sĩ Harley lần nữa, nhưng vẫn cứ nói về chuyện tự tử mỗi lúc một nhiều hơn. Tôi có lẽ phải đưa nàng đi xa. Nàng cần có sự thay đổi”.
Peter nghe như đây là điềm báo trước đáng ngại. Có thể nào đó là do trí tưởng tượng của hắn chăng?
“Hy lạp là nơi nghỉ ngơi rất tốt”, Peter nói, “Anh đã đưa vợ anh đến đó để gặp gia đình anh chưa?”
“Chưa. Họ đang rất mong được gặp Alex”. Y cười. Chỉ có điều khó khăn duy nhất là mỗi lần cha tôi và tôi gặp mặt nhau thì ông ấy cứ nằng nặc khuyên tôi nên trở về để nắm lấy cơ sở kinh doanh của gia đình”.
Ngay lúc này, Peter thấy rằng Alexandra đang gặp nguy hiểm thực sự.

Sau khi Mellis rời khỏi văn phòng một hồi lâu, Peter ngồi xem lại những điều ghi chép. Cuối cùng, anh với lấy điện thoại, quay một con số.
“Tôi muốn nhờ ông một việc, bác sĩ John ạ. Ông có thể dò hỏi hộ xem George Mellis đã đưa vợ đi chơi tuần trăng mật ở đâu”.
“Tôi có thể cho anh biết ngay bây giờ. Chính tôi đã tiêm cho họ trước khi họ lên đường. Lúc ấy họ đi Jamaica”.
Peter nhớ lại câu chuyện của Mellis. “Tôi có một thằng bạn hay đánh đập các con điếm. Tôi nhớ một lần chúng tôi cùng ở Jamaica với nhau...”.
Thế nhưng vẫn chưa có bằng cớ nào về việc George Mellis dự tính giết vợ hắn cả. John Harley đã kiểm chứng rằng Alexandra Mellis có khuynh hướng tự vẫn. Đó không phải là vấn đề của mình, Peter cố tự nhủ như vậy. Nhưng anh biết rằng đó chính là vấn đề của anh.
Peter Templeton trước kia đã phải làm việc để kiếm tiền ăn học. Cha anh là nhân viên bảo vệ ở một trường đại học trong một thị trấn nhỏ, nên dù có học bổng, Peter cũng không thể nào theo học được một trong các trường đại học y khoa danh tiếng. Anh tốt nghiệp trường đại học Nebraska với danh dự, rồi tiếp tục theo học ngành tâm lý trị liệu. Anh thành công ngay từ ban đầu. Bí quyết của anh là lòng thành thực yêu người. Anh quan tâm đến những gì xẩy ra với họ. Alexandra không phải là bệnh nhân của anh, nhưng anh có dính líu đến nàng. Nàng là phần thiếu sót trong bài toán đố, và sự giáp mặt với nàng có thể giúp anh giải được bài toán đố ấy. Anh giở tập hồ sơ về Mellis ra, tìm số nhà và điện thoại cho Alexandra. Một người đầy tớ gái gọi nàng đến điện thaọi.
“Bà Mellis ạ, tên tôi là Peter Templeton. Tôi là...”.
“Ồ, tôi biết ông là ai rồi, bác sĩ ạ. George nói với tôi về ông”.
Peter rất ngạc nhiên. Anh tưởng rằng Mellis không bao giờ nhắc nhở tên anh với vợ hắn cả. “Tôi không biết chúng ta có thể nào gặp nhau được không . Có thể là tại một bữa ăn trưa nào đó?”
“Có phải là về vấn đề của George không? Có chuyện gì không hay chăng?”
” Ồ, không đâu. Tôi chỉ nghĩ rằng chúng ta có thể nói chuyện với nhau một chút thôi”.
“Được lắm chứ, bác sĩ Templeton”.
Họ hẹn nhau vào ngày hôm sau.

Hai người ngồi ở một bàn trong góc tại quán ăn La Grenouille. Từ khi Alexandra bước vào tiệm ăn, Peter không thể nào rời mắt nàng. Nàng chỉ đơn giản mặc một chiếc váy và áo khoác trắng làm lộ ra dáng người xinh đẹp của nàng, và đeo một chuỗi hạt trai xung quanh cổ. Peter cố tìm ra những nét mệt mỏi và buồn chán trên mặt nàng, như bác sĩ Harley đã nói. Nhưng anh không thấy gì cả. Nếu Alexandra biết rằng Peter đang quan sát nàng thì nàng cũng không lộ ra một dấu hiệu nào như thế cả.
“Chồng tôi vẫn bình thường phải không, bác sĩ Templeton?”
“Vâng”. Điều này sẽ trở nên khó xử hơn là anh đã tiên đoán. Anh đang đi trên một sợi dây rất nhỏ. Anh không có quyền vi phạm mối quan hệ thiêng liêng giữa bác sĩ và bệnh nhân, thế nhưng đồng thời anh cảm thấy có nhiệm vụ phải cảnh cáo Alexandra.
Sau khi đã gọi món ăn, Peter nói, “Chồng bà có nói cho bà biết vì sao anh ấy phải đi khám tại văn phòng tôi không, bà Mellis?”
“Có chứ. Gần đây tinh thần anh ấy rất căng thẳng. Các ông chủ hãng của anh ấy đặt phần lớn trách nhiệm trên vai anh ấy. George làm việc rất có lương tâm. Chắc ông cũng biết điều này, phải không, bác sĩ?”
Thật là khó tin. Nàng không biết chút gì về việc hắn đã tấn công chị ruột nàng. Tại sao không ai nói cho nàng biết cả?
“George bảo anh cảm thấy dễ chịu hơn nhiều khi có một người nào đó để anh có thể giãi bày tất cả những vấn đề khó khăn”. Nàng nhìn Peter tủm tỉm cười. “Tôi rất mừng là ông đã giúp anh ấy”.
Nàng thật là ngây thơ, vô tội! Rõ ràng nàng đã thần tượng hoá ông chồng. Làm sao anh có thể nói cho nàng biết rằng chồng nàng chỉ là một tên loạn óc đã từng từng giết một đứa bé trai làm điếm kiếm tiền; rằng hắn đã bị gia đình từ bỏ và đã cưỡng dâm tàn bạo chị ruột nàng? Thế nhưng, làm sao anh có thể không nói ra được?
“Làm một bác sĩ tâm thần cũng rất là thú vị, vì ông có thể giúp đỡ được cho biết bao nhiêu người”. Alexandra nói.
“Có khi tôi giúp được, nhưng cũng có khi không”. Peter đáp một cách thận trọng.
Thức ăn được đưa đến. Hai người nói chuyện với nhau trong khi ăn. Cuộc giao tiếp giữa họ thật là dễ dàng thoải mái. Peter thấy mình như đã bị thu hút bởi Alexandra, và đột nhiên anh có cảm giác khó chịu là anh đang ghen tị với George Mellis.
“Tôi rất vui thích về bữa ăn trưa hôm nay, bác sĩ Templeton ạ” Alexandra nói, “Thế nhưng hình như ông muốn gặp tôi hôm nay vì một lý do nào đó, phải thế không?”
Cơ hội cần phải trình bày sự thật đã đến.
“Vâng, thật ra, tôi…”
Peter dừng lại. Những lời nói tiếp theo của anh có thể sẽ làm tan vỡ cuộc sống của nàng. Anh đã quyết định đến đây là để nói cho nàng biết về những mối nghi ngờ của anh và đề nghị đưa chồng nàng vào một bệnh viện tâm thần. Nhưng bây giờ gặp mặt nàng, anh nhận ra rằng vấn đề không phải đơn giản như vậy. Anh lại nhớ đến câu nói của Mellis “Nhà tôi không khá hơn chút nào. Tôi lo nhất là nàng có ý định tự vẫn”. Trái lại thế, anh chưa bao giờ thấy một người đàn bà nào hạnh phúc và bình thường hơn nàng. Phải chăng là do thứ thuốc nàng đang uống? Cuối cùng, anh cũng hỏi được nàng về chuyện ấy, “John Harley nói rằng bà đang uống…”
Ngay lúc ấy, tiếng nói của Mellis vang lên, “À, em ở đây rồi! Anh gọi điện thoại về nhà và được biết rằng em hiện đang ở đây”. Y quay về phía Peter, nói, “Chào ông, bác sĩ Templeton. Tôi cùng ngồi ăn chung với hai người được chứ?”
Thế là cơ hội tan biến mất.

“Tại sao anh chàng bác sĩ ấy lại muốn gặp Alex?” Eve hỏi.
“Anh chẳng hiểu chút nào”, Mellis đáp. “May mà Alex đã nhắn cho biết rằng nàng đang ở đâu, trong trường hợp anh cần gặp nàng. Thì ra cô ấy đi gặp Templeton. Lạy Chúa! Tôi vội vàng đi đến đó gấp”.
“Tôi e ngại chuyện ấy lắm”. Eve nói.
“Tin tôi đi. Chẳng có gì nguy hại cả đâu. Tôi đã hỏi cô ấy sau đó, và cô ấy nói rằng hai người không thảo luận về vấn đề gì đặc biệt cả”.
“Tôi nghĩ rằng chúng ta nên xúc tiến chương trình của chúng ta đi”.
George Mellis cảm thấy một sự kích thích gần giống như tình dục rung lên trong con người y qua câu nói ấy. Y đã chờ đợi cơ hội quá lâu rồi. “Khi nào?”
“Ngay bây giờ".
0
Chương 33
Những cơn chóng mặt trở nên tệ hơn, và mọi thứ bắt đầu nhoà đi trong trí óc bà Kate. Bà có khi ngồi ở bàn giấy nghiên cứu việc đề nghị sát nhập công ty rồi đột nhiên bà nhận ra rằng vấn đề sát nhập ấy đã xẩy ra mười năm trước đó rồi. Bà thấy khiếp hãi, rồi cuối cùng bà quyết định nghe lời khuyên của Brad Rogers là nên gặp Bác sĩ John Harley để được khám bệnh.
Đã lâu rồi, bác sĩ Harley đã không thuyết phục được bà Kate Blackwell đi kiểm tra sức khoẻ toàn bộ, cho nên ông lợi dụng triệt để cơ hội này. Ông khám bệnh rất kỹ, và khi khám xong, ông yêu cầu bà chờ đợi ông ở văn phòng. John Harley rất bối rối. Bà Kate vẫn còn có những dấu hiệu đáng lo ngại. Các động mạch của bà rõ ràng đã cứng lại thỉnh thoảng gây chứng choáng váng và làm cho trí nhớ bà kém đi. Lẽ ra bà nên rút lui dưỡng già cách đây nhiều năm rồi, thế nhưng bà vẫn bám vào công việc một cách dai dẳng, không muốn trao dây cương cho bất kỳ một ai khác. Thế nhưng mình có tư cách nào khuyên bà như vậy không, bác sĩ John tự hỏi. Chính ông lẽ ra cũng đã phải rút lui từ lâu rồi.
Bây giờ, với kết quả khám nghiệm trước mặt, John Harley nói, “Tôi ước ao có điều kiện sức khoẻ như bà”.
“Bỏ cái lối nịnh hót ấy đi, ông John. Tôi có vấn đề nào?”
“Chủ yếu là do tuổi già. Các động mạch hơi cứng và...”.
“Bệnh xơ cứng động mạch chứ gì?”
“Đó là danh từ y khoa dùng để mô tả bệnh ấy. Dù sao chăng nữa, bà cũng đang ở trong tình trạng như vậy”.
“Có nặng lắm không?”
“Ở tuổi bà, như thế là khá bình thường. Tất cả những thứ này đều là tương đối cả thôi”.
“Ông có thể cho tôi thứ thuốc gì để làm mất đi những cơn choáng váng khó chịu ấy không? Tôi không thích ngã xỉu ra trước mặt bọn đàn ông. Với phụ nữ, như thế trông không hay lắm”.
Ông gật đầu. “Tôi nghĩ rằng điều đó không khó khăn gì. Khi nào thì bà định sẽ rút lui dưỡng già?”
“Khi nào tôi có chắt trai để trông nom cơ sở kinh doanh của tôi”.
Hai người bạn già ấy đã quen biết nhau từ rất nhiều năm rồi. Bây giờ họ ngồi đối diện ở bàn giấy nhìn như để đánh giá lẫn nhau. John Harley không phải lúc nào cũng đồng ý với bà Kate, nhưng cũng phải phục bà về lòng can đảm.
Như đã đọc được ý nghĩ của Harley, bà Kate thở dài và nói, “Ông có biết nỗi thất vọng lớn lao nhất trong đời tôi là cái gì không? Chính là con Eve. Tôi đã thực sự quan tâm, săn sóc nó, và muốn trao cho nó cả thế giới này, nhưng nó chẳng thèm nghĩ đến ai cả ngoài bản thân nó”.
“Bà lầm rồi, bà Kate ạ. Cô ấy rất quan tâm đến bà”.
“Phải, quan tâm như quỉ sứ ấy”.
“Tôi có điều kiện để biết rõ điều này. Gần đây cô ấy...”. Ông phải cẩn thận lựa chọn từng chữ. “Cô ấy đã gặp một tai nạn khủng khiếp. Cô ấy suýt chết”.
Bà Kate cảm thấy trái tim bà chao đảo. “Tại sao, tại sao ông không nói cho tôi biết lúc ấy?”
“Cô ấy không cho phép tôi nói. Cô ấy sợ rằng bà quá lo lắng nên bắt tôi phải thề không được nói lời nào".
“Trời ơi”. Bà thốt lên một tiếng thì thào đau đớn. “Nó...nó có sao không?” Giọng bà khàn hẳn đi.
“Bây giờ cô ấy khoẻ lại rồi”.
Bà Kate ngồi nhìn chằm chằm vào trong không gian. “Cám ơn ông đã cho tôi biết, ông John ạ. Cám ơn”.
“Để tôi viết cho bà một cái toa để mua các viên thuốc ấy”. Khi ông viết xong toa, ngước mắt nhìn lên thì bà Kate đã bỏ đi đâu rồi.

Eve mở cánh cửa ra, nhìn chằm chằm như không thể tin vào mắt mình nữa. Bà nội nàg đang đứng trước mặt, người cứng và thẳng băng như ngày nào, không biểu lộ một nét nào yếu ớt cả.
“Bà có thể vào nhà được không?” Bà Kate hỏi.
Eve bước qua một bên, chưa có thể nhận định được chuyện gì đang xảy ra. “Được chứ ạ”.
Bà Kate bước vào, nhìn quanh căn hộ bé nhỏ, nhưng không đưa ra lời bình luận nào. “Bà ngồi được chứ?”
“Cháu xin lỗi. Xin mời bà ngồi. Xin bà tha lỗi cho. Bà dùng thứ gì để cháu lấy. Trà, cà phê hay thứ gì?”
“Không, cám ơn. Cháu có được khoẻ không Eve?”
“Dạ khoẻ, cám ơn bà”.
“Bà vừa gặp bác sĩ Harley. Ông ấy nói cho bà biết cháu vừa gặp một tai nạn ghê gớm”.
Eve nhìn bà nội một cách thận trọng, không biết chắc những gì sắp diễn ra. “Vâng...”
“Ông ấy bảo cháu suýt chết, nhưng cháu không cho phép ông ấy báo cho bà biết vì cháu không muốn làm cho bà phải lo lắng”.
À thì ra thế. Eve bây giờ cảm thấy yên tâm hơn. “Đúng vậy, thưa bà nội”.
“Điều ấy chứng tỏ rằng...” Bà Kate đột nhiên cảm thấy nghẹn lời. “...rằng cháu quan tâm đến bà”.
Eve bắt đầu khóc thổn thức vì mừng thầm đã trút được một mối lo ngại. “Cố nhiên rồi, cháu lúc nào cũng quan tâm đến bà”.
Thế rồi chỉ một lát sau đó, Eve ngã vào vòng tay của bà nội. Bà Kate ôm nàng thật chặt, áp sát môi bà lên đầu tóc hoe đặt trên đùi bà, rồi bà thì thầm “Bấy lâu nay, bà thật là ngu xuẩn. Cháu có tha thứ cho bà không?” Bà Kate rút ra chiếc khăn mù soa để sỉ mũi. “Bà đã tỏ ra quá cứng rắn đối với cháu. Nếu có chuyện gì không hay xẩy ra cho cháu, chắc bà sẽ không chịu đựng nổi”.
Eve vuốt ve bàn tay đầy gân xanh của bà nội và nói, “Cháu không hề gì, bà nội ạ. Mọi việc đều tốt đẹp cả”.
Bà Kate đứng dậy chớp mắt để giữ lại những gịot nước mắt. “Chúng ta sẽ khởi sự lại từ đầu, được không?” Bà kéo Eve lên, nhìn vào mặt nàng, “Bà đã tỏ ra ngoan cố, cứng rắn, giống như cha bà xưa kia. Rồi bà sẽ đền bù lại chuyện này. Việc đầu tiên bà sẽ làm là ghi tên cháu lại trên bản chúc thư của bà, đúng như quyền của cháu đáng được hưởng”.
Những gì xẩy ra lúc ấy quá tốt đẹp đến mức khó tin. “Cháu không cần tiền. Cháu chỉ quan tâm đến bà thôi”.
“Cháu là người thừa kế của bà – cháu và Alexandra. Hai cháu là tất cả gia đình mà bà hiện có”.
“Cháu sống như thế này cũng tốt rồi, nhưng nếu điều đó làm bà vui sướng thì...”
“Điều ấy sẽ làm cho bà rất sung sướng cháu ạ. Thật sự sung sướng. Khi nào cháu có thể trở về nhà?”
Eve chỉ do dự một lát, rồi nói, “Cháu nghĩ tốt hơn hết cháu ở lại đây, nhưng cháu sẽ đến thăm bà luôn luôn. Bà ạ, chắc bà không biết từ dạo ấy đến nay cháu cảm thấy mình cô đơn như thế nào”.
Bà Kate cầm lấy tay cháu gái và nói, “Cháu có thể tha thứ cho bà được không?”
Eve nhìn vào mắt bà nội và nói một cách nghiêm trang, “Dĩ nhiên rồi, cháu có thể tha thứ cho bà”.
Khi bà Kate đã ra về, Eve pha một ly rượu Scotch nặng với nước, rồi nằm lăn xuống đi văng để mường tượng lại cảnh khó tin vừa xẩy ra với nàng. Nàng muốn thét to lên vì vui mừng. Bây giờ nàng và Alexandra là những người thừa kế duy nhất của tài sản Blackwell. Loại bỏ Alexandra sẽ là một chuyện khá dễ dàng. Chỉ riêng có George Mellis là nàng hơi lo. Đột nhiên hắn ta trở thành một chướng ngại vật đối với nàng.

“Có sự thay đổi trong kế hoạch của ta”, Eve nói với George Mellis. “Bà Kate đã để tên tôi lại vào chúc thư”.
George Mellis đang châm điếu thuốc lá, vội dừng ngay lại. “Thật thế hả? Mừng em nhé”.
“Nếu có chuyện gì xẩy ra cho Alexandra vào lúc này thì người ta sẽ nghi ngờ. Vậy chúng ta sẽ thanh toán nó sau này, khi...”.
“Anh e rằng như thế không thích hợp với anh chút nào”.
“Anh nói thế là nghĩa làm sao?”
“Anh không ngu đâu, cô em yêu quí ạ. Nếu có chuyện gì xẩy ra cho Alexandra anh sẽ thừa hưởng phần của cô ấy. Em muốn gạt anh ra rìa hả?”
Eve nhún vai. “Phải nói rằng anh là một điều rắc rối không cần thiết. Tôi sẵn sàng điều đình với anh. Cứ xin ly dị đi, rồi chừng nào tôi nắm được tiền trong tay, tôi sẽ cho anh”.
Melles cười to. “Thật là buồn cười. Như thế không tốt đâu, cô bé ạ. Không có gì thay đổi cả. Alex và anh đã hẹn với nhau vào tối thứ Sáu ở Dark Harbor. Anh có ý định sẽ đến đúng hẹn”.
Alexandra mừng rỡ vô cùng khi được nghe tin về Eve và bà nội. “Thế là gia đình ta lại được sum họp trở lại”, nàng nói.

Điện thoại.
“Alô, tôi hy vọng không quấy rầy cô, cô Eve ạ. Webster đây”.
Lúc này anh đã bắt đầu gọi điện thoại cho nàng hai, ba lần một tuần. Thoạt tiên vẻ nhiệt tình, vụng về của anh làm cho Eve thấy vui vui, nhưng rồi nó trở thành một điều bực mình.
“Tôi không thể nói chuyện với anh vào lúc này. Tôi sắp đi đây”, Eve nói.
“Ồ, xin lỗi”, Webster nói, “Vậy tôi không dám giữ cô lâu đâu. Tôi có hai vé đi xem biểu diễn ngựa tuần sau. Tôi biết cô thích ngựa”.
“Xin lỗi, có lẽ tuần sau tôi đi vắng xa”.
“À, ra thế”. Nàng nghe giọng nói anh có vẻ thất vọng. “Vậy có lẽ tuần sau nữa chắc là được. Tôi sẽ mua vé xem hát. Cô thích xem vở gì?”
“Tôi xem cả rồi”, Eve nói cộc lốc, “Tôi phải đi gấp đây”. Nàng đặt máy xuống. Bây giờ là lúc mặc quần áo. Nàng sẽ đi gặp Rory McKenna, một kịch sẽ trẻ nàng mới quen biết. Anh ta trẻ hơn nàng năm tuổi, và giống như một con ngựa đực hung hăng, không bao giờ thoả mãn. Eve tưởng tượng đến lúc ân ái với anh ta mà cảm thấy trong lòng bị kích thích, đê mê. Nàng trông ngóng được hưởng một đêm vui thú với chàng.

Trên đường trở về nhà, George Mellis dừng lại mua hoa cho Alexandra. Tâm trạng của y đang vô cùng phấn chấn. Việc bà Kate đã đặt lại tên Eve vào trong chúc thư là một điều mỉa mai thú vị, nhưng nó không thay đổi gì cả. Sau tai nạn sẽ xẩy ra với Alexandra, y sẽ thanh toán Eve. Tất cả mọi sự xếp đặt đã sẵn sàng. Ngày thứ Sáu, Alexandra sẽ chờ đợi y ở Dark Harbor. Y đã hôn nàng và căn dặn: “Chỉ có hai chúng ta thôi. Em đừng có đem bọn gia nhân đi theo, em yêu quí ạ”.

Peter Templeton không thể nào gạt Alexandra ra khỏi đầu óc. Anh dường như nghe câu nói của Mellis văng vẳng bên tai: “Tôi sẽ đưa nàng đến một nơi nào đó. Nàng cần có sự thay đổi”. Tất cả bản năng nói cho chàng biết rằng Alexandra đang gặp nguy hiểm.
Thế nhưng anh bất lực, không làm gì được. Anh không thể đến với Nick Pappas khi anh còn có những mối nghi hoặc, anh không có bằng chứng nào cả.

Ở bên kia thành phố, trong văn phòng của KrugerBrent, bà Kate Blackwell đang ký một bản chúc thư mới, để lại các tài sản của bà cho hai cô cháu gái.

Ở phía bắc tiểu bang New York, Tony Blackwell đang đứng trước giá vẽ trong vườn dưỡng đường. Bức tranh trên giá vẽ là một mớ hỗn độn các màu sắc, một thứ tranh vẽ mà một đứa trẻ không có tài năng cũng có thể làm được. Tony lùi lại mấy bước, tủm tỉm cười vui sướng.

Thứ Sáu, 10 giờ 57 sáng.
Ở phi trường La Guardia, một chiếc taxi dừng lại trước trạm hàng không Eastern Airlines. Eve bước ra khỏi xe. Nàng chìa cho người lái taxi một tờ 100 đô la.
“Này cô, tôi không có tiền thối. Cô có giấy bạc hỏ hơn không?” anh ta nói.
“Không”.
“Vậy cô vào trong đó đổi tiền đi”.
“Tôi không có thì giờ. Tôi phải lên chuyến máy bay sắp tới đi Washington”, nàng nhìn chiếc đồng hồ Baume Mercier đeo trên cổ tay, rồi đưa ra quyết định, “Thôi anh cứ giữ cả số tiền ấy”. Người lái xe trố mắt nhìn ngạc nhiên.
Eve vội vã đi vào trạm hàng không. Nàng nửa đi nửa chạy đến cổng khởi hành có đề chữ “Máy bay đi Washington”. “Đi Washington khứ hồi”. Eve vừa thở hổn hển vừa nói.
Người của hãng hàng không nhìn đồng hồ ở phía trên đầu và nói, “Trễ hai phút rồi. Máy bay mới cất cánh”.
“Tôi nhất định phải đi chuyến này. Tôi cần đi gấp. Ông có cách nào giúp tôi được không?”
“Yên chí đi. Sẽ có một chuyến Shuttle (loại máy bay chuyên chở đường ngắn ở Mỹ. Không cần mua vé trước, hành khách trả tiền vé trên máy bay, giống như xe đò) khác trong vòng một tiếng nữa”.
“Lại chuyện ấy nữa - Mẹ kiếp”.
Người ấy chờ đợi nàng lấy lại bình tĩnh.
“Thôi được rồi. Tôi sẽ đợi. Có tiệm cà phê nào gần đây không?”
“Không. Nhưng có một máy bán cà phê ở cuối hành lang”.
“Cám ơn”.
Ông ta nhìn theo nàng, ngẫm nghĩ. Người đâu mà đẹp thế. Chắc cô ta vội vã đi gặp người yêu. Anh chàng nào mà phúc thế.

Thứ Sáu, 2 giờ chiều.
Đây là tuần trăng mật thứ hai của mình. Alexandra thầm nghĩ. Ý nghĩ này làm nàng vui thích. Mellis đã nói, “Đừng đem theo bọn gia nhân. Chỉ có hai ta thôi. Chúng ta sẽ có một ngày cuối tuần tuyệt vời”. Lúc này, Alexandra đang sắp rời ngôi nhà xây bằng đá nâu của nàng để đi đến Dark Harbor gặp Mellis. Nàng đã hơi trễ vì có cuộc hẹn ăn cơm trưa và bữa cơm này kéo dài hơn là dự tính. Nàng nói với người hầu gái. “Tôi đi bây giờ đây. Sẽ trở về vào sáng thứ Hai”.
Vừa đến cửa trước nhà, nàng nghe tiếng điện thoại reo vang. Mình đã trễ rồi. Mặc kệ cho nó reo. Nghĩ vậy, nàng hối hả đi ra khỏi cửa.

Thứ Sáu 7 giờ tối.
George Mellis đã nghiên cứu kế hoạch của Eve thật kỹ. Nó không có một sơ hở nào. Sẽ có một chiếc xuồng máy đợi anh ở Phibrock Cove. Hãy lái nó đến Dark Harbor, nhưng phải cẩn thận đừng để ai trông thấy. Buộc nó vào đuôi chiếc du thuyền Corsair (Quỉ bể). Anh dùng chiếc du thuyền ấy đưa Alexandra đi chơi dưới ánh sáng trăng. Khi đã ra khơi rồi, anh tha hồ muốn làm gì nó thì làm, George ạ, chỉ cần không để lại một vết máu nào. Vứt xác nó xuống bể, nhảy xuống chiếc xuồng máy, rồi để mặc chiếc du thuyền ấy trôi dạt trên biển. Anh sẽ đem chiếc xuống máy ấy trở về Phibrock Cove, rồi lên chiếc tàu phà Lincolville đến Dark Harbor. Lấy một chiếc taxi trở về nhà. Hãy dùng một cái cớ nào đó để dụ tên tài xế taxi vào trong nhà để làm sao cho cả hai người đều cùng phát hiện ra rằng chiếc Corsair đã mất tích, không còn đậu ở bến nữa. Khi anh thấy rằng Alexandra không có nhà, anh sẽ gọi điện thoại cho cảnh sát. Họ sẽ chẳng bao giờ tìm ra được xác Alexandra. Thuỷ triều sẽ cuốn nó ra ngoài khơi. Hai vị bác sĩ danh tiếng sẽ chứng nhận rằng đó là một vụ tự vẫn.
Y thấy chiếc xuống máy đã đậu sẵn ở Phibrook Cove, chờ đợi y, đúng như kế hoạch.
George cho xuồng vượt qua vùng vịnh, dùng ánh sáng trăng chứ không dùng đèn để lái. Y đi ngang qua nhiều chiếc thuyền đậu ở đó mà không bị ai phát hiện, rồi đến bến đậu của nhà Blackwell. Y tắt máy, buộc chiếc xuồng vào chiếc du thuyền Corssair.

Nàng đang nói chuyện điện thoại, chờ đợi y trong phòng khách thì Mellis bước vào. Nàng đưa tay ra vẫy, rồi bịt ống nghe lại, nói với y, “Eve đấy”. Nàng lắng nghe một lúc, rồi nói trong máy, “Em phải đi bây giờ đây, chị Eve ạ. Người yêu của em vừa đến. Sẽ gặp lại chị vào buổi ăn trưa tuần sau”. Nàng đặt máy xuống, vội vã chạy đến hôn Mellis. “Anh đến sớm đấy. Em rât mừng”.
“Anh nhớ em quá nên bỏ tất cả mọi thứ để đến đây với em”.
Nàng hôn y. “Em yêu anh”.
Nàng tủm tỉm cười. “Chỉ có hai chúng mình ở đây thôi. Thôi được rồi. Em phải đi thay quần áo đã. Chỉ không đầy một phút thôi”
“Để anh thi với em xem ai nhanh hơn”.
Y đi lên lầu, đến tủ, thay quần áo, mặc một chiếc quần dài, áo len, và đi đôi giày dùng để đi thuyền. Bây giờ cơ hội đã đến, y cảm thấy hân hoan mong đợi, một niềm thích thú như nổ bùng lên trong người .
Y nghe tiếng nàng gọi, “Em sẵn sàng rồi, anh yêu quí ạ”.
Y quay lại. Nàng đứng ở bậc cửa, mặc một chiếc áo len ngắn, chiếc quần màu đen và đi đôi giày vải. Mái tóc dài, màu hoe buộc ở phía sau bằng một sợi dây ruy băng xanh nhỏ. Lạy Chúa! Nàng xinh đẹp quá! Thật là phí phạm nếu phải phá huỷ một sắc đẹp như vậy, y thầm nghĩ.
“Anh cũng xong rồi đây”, Mellis đáp lại với nàng.
Nàng để ý thấy y buộc chiếc xuồng máy vào đuôi chiếc du thuyền. “Như thế để làm gì hở anh?”
“Ở cuối vịnh có một hòn đảo nhỏ mà mấy lâu nay anh vẫn muốn thám hiểm xem sao”, Mellis giải thích. “Chúng ta sẽ đi xuồng máy đến đó, như vậy sẽ không sợ va phải đá ngầm”.
Y tháo các dây buộc thuyền, cho chiếc du thuyền thong thả rời khỏi bến đậu. Y quay mũi thuyền về hướng gió để kéo cánh buồm chính và cánh buồm tam giác lên. Chiếc thuyền trở buồm, hướng về mạn phải. Mellis cho chiếc du thuyền đi thẳng ra khơi. Khi đi qua đê chắn sóng, họ gặp cơn gió mạnh, chiếc thuyền bắt đầu chòng chành.
“Thật là dữ dội và tuyệt vời”, Nàng kêu lên. “Em sung sướng quá, anh ạ”.
“Anh cũng thế”, Y tủm tỉm cười đáp lại.
Mellis cảm thấy một niềm vui thú hết sức kỳ quặc rằng Alexandra đang vui sướng và sẽ được chết với nỗi vui sướng ấy. Y nhìn về phía chân trời để tin chắc rằng không có chiếc thuyền nào khác gần đó. Chỉ có ít ánh sáng lờ mờ ở phía xa xăm. Bây giờ đã đến lúc rồi.
Y để cho chiếc thuyền được điều kiển tự động, đưa mắt nhìn lần cuối cùng về phía chân trời vắng vẻ, rồi đến chỗ bức rào chắn gió, tim y bắt đầu đập dồn dập.
“Alex”, y gọi. “Lại đây nhìn cái này”.
Nàng đi về phía y, nhìn xuống nước đen ngòm, lạnh lẽo đang chạy ở phía dưới.
“Lại đây”, giọng y nghe như một mệnh lệnh gay gắt.
Nàng ngã vào cánh tay y, y hôn nàng thật chặt trên môi. Cánh tay y ôm chặt lấy người nàng. Y cảm thấy thân thể nàng như giãn ra, y co bắp thịt, nhấc bổng thân hình nàng lên cao, đưa về phía bức rào chắn.
Nàng đột ngột chống cự và kêu lên, “George!”
Y nhấc nàng lên cao nữa, và cảm thấy nàng cố vùng ra khỏi tay y, nhưng y khoẻ quá so với nàng. Lúc này nàng đã bị đưa lên gần đỉnh bức rào chắn, hai chân đá dữ dội. Y cố sức đẩy nàng qua khỏi mạn thuyền. Ngay khi ấy, y bỗng thấy một cơn đau nhói ở ngực. Ý nghĩ đầu tiên của y là, “Mình đang lên cơn đau tim!” Y mở mồm ra để nói thì máu phọt ra. Y thả cánh tay xuống, nhìn lên ngực. Y không thể nào tin được, máu đang tuôn ra từ một vết thương trên ngực y. Y ngước mắt nhìn lên, thấy nàng đang đứng ở đấy, tay cầm một con dao, nhìn y tủm tỉm cười.
Ý nghĩ cuối cùng thoáng qua trong đầu óc y, “Eve”
0
Tôi nhận gõ chương 15.
0
CHƯƠNG XIX

Trong hai năm kế tiếp đó, Tony Blackwell cảm thấy mình như đang ở trên một cái cối xay khổng lồ, không đưa mình đi đến đâu cả. Anh là vị Hoàng thái tử thừa kế đế quốc Kruger – Brent, một tổng công ty lớn khủng khiếp đã được mở rộng ra để bao gồm cả các nhà máy giấy, một đường hàng không, nhiều ngân hàng và cả một dây chuyền bệnh viện. Tony nhận thức được rằng một cái tên chính là một chìa khóa mở tất cả mọi cánh cửa. Có những câu lạc bộ tổ chức và phe nhóm xã hội, mà ở đó yếu tố chủ yếu không phải là tiền bạc hay ảnh hưởng mà là tên tuổi. Tony được nhận làm hội viên cho nhiều câu lạc bộ danh tiếng, được tiếp đãi ở khắp mọi nơi, nhưng anh cảm thấy mình giống như một kẻ mạo danh. Anh không làm để xứng đáng với các thứ ấy. Anh chỉ là một cái bóng khổng lồ của ông ngoại anh; anh cảm thấy mình như luôn luôn được so sánh với ông ấy. Thật là không đúng, không công bằng, vì anh không bao giờ phải bò qua bãi mìn, không có tên bảo vệ nào bắn vào anh, không có những con cá mập đe dọa anh. Những câu chuyện xưa cũ về các hành động gan dạ không có liên quan gì đến anh cả. Chúng thuộc về thế kỷ trươc, một thời đại khác, một nơi chốn khác, những hành động anh hùng thuộc về một nhân vật xa lạ.
Tony làm việc gấp đôi bất cứ người nào khác ở Kruger – Brent. Anh làm việc cật lực, cố vứt bỏ những kỷ niệm quá đau đớn, không thể chịu đựng nổi. Anh viết thư cho Dominique, nhưng các thư của anh đều bị trả lại nguyên vẹn. Anh điện thoại cho giáo sư Cantal, nhưng Dominique không còn làm người mẫu cho Trường Mỹ thuật nữa. Nàng đã biến mất rồi.
Tony giải quyết công việc một cách thành thạo và có phương pháp, nhưng không đam mê hay ham thích gì, và nếu anh cảm thấy một sự trống rỗng trong lòng thì cũng không một ai nghi ngờ gì. Cả Kate cũng không nghi ngờ điều đó. Bà vẫn nhận được những báo cáo hàng tuần về Tony và cảm lấy làm hài lòng.
“Nó có năng khiếu tự nhiên về kinh doanh”, bà nói với Brad Rogers.
Đối với Kate, những giờ làm việc kéo dài của Tony là bằng chứng cho thấy anh yêu mến công việc đang làm. Mỗi khi nhớ lại rằng Tony đã có lần suýt vứt bỏ cả tương lai, bà vẫn thường rùng mình và cám ơn trời đất rằng bà đã cứu anh ra khỏi cảnh ngộ ấy.



Năm 1948, Đảng Dân tộc nắm toàn quyền ở Nam Phi, cùng với nạn kỳ thị chủng tộc ở khắp nơi công cộng. Cuộc di cư bị kiểm soát chặt chẽ, và nhiều gia đình bị phân cách cho sự thuận tiện của Chính phủ. Mỗi người da đen đều phải mang một cái “bewshoek”. Cái này không phải chỉ là một thứ giấy thông hành mà nó còn là một thứ bùa hộ mệnh, một giấy khai sinh, một giấy cho phép làm việc, một biên lai trả thuế. Nó quy định tất cả các hoạt động, các sự di chuyển và đời sống của người ấy. Càng lúc càng có nhiều cuộc nổi loạn ở Nam Phi, nhưng tất cả đều bị đàn áp một cách tàn nhẫn bởi cảnh sát. Thỉnh thoảng, Kate đọc những bài báo kể về những vụ phá hoại, bất ổn, và tên Banda luôn được nhắc đến hàng đầu. Anh vẫn là lãnh tụ của những tổ chức bí mật, mặc dầu tuổi tác đã lớn. Dĩ nhiên, bác ấy chiến đấu cho đồng bào của bác, Kate thầm nghĩ. Bác là Banda mà.



Kate tổ chức lễ sinh nhật thứ năm mươi sáu một mình với Tony ở ngôi nhà trên Đại lộ Thứ năm. Bà nghĩ thầm. Người con trai hai mươi bốn tuổi đang ngồi ở bên kia chiếc bàn không thể là con trai của mình được. Mình còn quá trẻ. Tony nâng ly chúc mừng mẹ, “Mừng bà mẹ kỳ diệu của con. Chúc mẹ một ngày sinh nhật vui vẻ”.
“Con phải nâng ly chúc mừng bà mẹ già kỳ diệu mới phải”.
Bà nghĩ thầm, “Chẳng bao lâu nữa mình sẽ rút lui dưỡng già, nhưng con trai mình sẽ thay thế mình. Con trai của tôi”.
Do lời yêu cầu khẩn khoản của mẹ, Tony đã dọn đến ở tại tòa lâu đài trên Đại lộ Thứ năm.
“Nơi ấy quá rộng lớn để mẹ đi lại trong đó một mình”, Kate nói với con trai. “Con sẽ có cả một chái phía tây dành riêng cho con, tha hồ yên tĩnh, kín đáo”. Tony thấy tốt hơn hết là nhượng bộ thay vì cãi lại bà.
Tony và Kate ăn điểm tâm với nhau mỗi buổi sáng. Đề tài nói chuyện của họ bao giờ cũng về công ty Kruger – Brent. Tony ngạc nhiên không hiểu vì sao mẹ anh lại có thể tha thiết như vậy với một thực thể không có linh hồn, không có mặt mũi, một tập hợp vô hình dạng những tên nhà, máy móc và những con số kế toán. Cái ma thuật ấy nằm ở đâu? Trước bao nhiêu những điều bí mật trên thế giới còn cần phải khám phá, tại sao lại có người muốn phí phạm thì giờ trong cuộc sống để tích lũy của cải cho mỗi lúc một nhiều hơn nữa và để thu thập lấy quyền hành càng ngày càng lớn mạnh? Tony không hiểu được mẹ anh. Nhưng anh yêu mẹ. Và anh cố gắng sống để đạt đến những mong ước của bà.



Chuyến bay của hãng Pan Am đi từ Rome đến New York mà không có gì trục trặc. Tony thích hãng máy bay này. Nó vừa dễ chịu vừa có hiệu quả. Anh ngồi xem xét các báo cáo của các cơ sở công ty ở nước ngoài từ lúc máy bay bắt đầu cất cánh, bỏ cả bữa ăn, không để ý đến những người chiêu đãi viên đem các thức uống, gối nằm và mọi thứ tiện nghi cho ông hành khách quý này của họ.
“Cám ơn cô. Tôi cảm thấy dễ chịu rồi”.
“Thưa ông Blackwell, ông cần thêm thứ gì nữa không ạ?”
“Cám ơn”.
Một người đàn bà trạc trung niên, ngồi bên cạnh Tony đang đọc một tạp chí thời trang. Trong khi bà giở trang báo, Tony chợt liếc mắt qua. Anh bỗng thấy lạnh người. Trên tờ báo có hình một người mẫu mặc một chiếc áo choàng. Đó là Dominique. Không thể lầm lẫn được. Cũng là đôi gò má cao, xinh xắn, cũng vẫn đôi mắt xanh màu lục sẫm và làn tóc hoe sum sê ấy. Mạch trong người Tony bắt đầu đập thật nhanh.
“Xin lỗi bà”, Tony nói với bà hành khách bên cạnh, “Bà có thể cho tôi mượn trang báo ấy được không?”
Sáng sớm hôm sau, Tony gọi điện thoại đến cửa hiệu bán áo dài phụ nữ để hỏi tên của hãng quảng cáo. Anh điện thoại đến nơi này. “Tôi muốn tìm địa chỉ của một người làm mẫu cho quý hãng”. Anh nói với nhân viên phòng điện thoại. “Cô có thể nào…”
“Xin chờ một lát”.
Tiếp đó là tiếng của một người đàn ông. “Thưa ông cần gì ạ?”
“Tôi trông thấy một bức hình trên số báo Vogue tháng này. Một người mẫu quảng cáo một chiếc áo dài khiêu vũ cho các cửa hiệu Rothman. Có phải quảng cáo ấy của quý ông không?”
“Phải”.
“Ông có thể cho tôi biết tên hãng giới thiệu người mẫu cho quý ông được không?
“Có lẽ đó là hãng Carleton Blessing”. Người ấy cho Tony số điện thoại.
Một phút sau, Tony nói chuyện với một người đàn bà ở hãng Carleton Blessing. “Tôi muốn tìm một trong các cô làm người mẫu của quý hãng. Cô ấy tên là Dominique Masson”.
“Xin lỗi, hãng chúng tôi đã có nguyên tắc không cung cấp mọi thông tin có tính cách cá nhân”. Đường dây điện thoại bị cúp.
Tony ngồi tại chỗ, nhìn chằm chằm vào ống nghe. “Chắc phải có cách tiếp xúc với Dominique”. Anh đi vào văn phòng của Brad Rogers.
“Chào anh Tony. Uống cà phê nhé?”
“Không, cám ơn. Bác Brad, bác có nghe nói về hãng người mẫu Carleton Blessing không?”
“Có. Hãng ấy thuộc về chúng ta”.
“Sao?”
“Hãng ấy được đặt dưới sự bảo trợ của một trong các chi nhánh của chúng ta”.
“Chúng ta mua hãng ấy lúc nào vậy?”
“Chừng một vài năm trước đây. Ngay vào lúc anh bắt đầu vào làm việc cho công ty. Anh có gì phải quan tâm về hãng ấy?”
“Tôi cố tìm cho ra một người mẫu làm cho hãng ấy. Cô ta là một người bạn của tôi”.
“Chẳng có gì khó khăn cả. Tôi sẽ gọi điện thoại, rồi…”
“Bác khỏi bận tâm, để tôi tự làm việc ấy. Cám ơn bác Brad”.
Một cảm giác mong đợi ấm áp dâng lên trong lòng Tony.



Chiều hôm ấy, Tony đi lên phố, đến văn phòng hãng Carleton, chìa danh thiếp của anh ra. Chỉ sáu mươi giây sau, anh ngồi tại văn phòng của ông chủ hãng, ông Tilton.
“Thưa ông Blackwell, đây là một vinh dự lớn cho chúng tôi. Tôi hy vọng rằng không có vấn đề gì rắc rối cả. Tiền lời của chúng tôi trong quý trước là…”
“Chẳng có vấn đề gì cả. Tôi chỉ muốn gặp một người làm mẫu cho các ông, tên là Dominique Masson”.
Mặt của Tilton sáng lên. “Cô ấy đã trở thành một trong các cô làm mẫu khá nhất của chúng tôi. Bà thân mẫu của ông thật là một người có mắt”.
Tony tưởng rằng Tilton hiểu lầm câu nói của anh, “Tôi xin lỗi”.
“Chính bà thân mẫu của ông đích thân yêu cầu tôi nhận cô Dominique ấy vào làm việc. Đó cũng là một phần của hợp đồng khi Công ty Kruger – Brent tiếp quản chúng tôi. Tất cả đều ghi trong hồ sơ. Nếu ông muốn xem thì…”
“Không”, Tony không thể hiểu được chút nào về những gì anh vừa nghe. Tại sao mẹ anh lại…? “Ông cho tôi địa chỉ của cô Dominique được không?”
“Dĩ nhiên là được, thưa ông Blackwell. Cô ấy đang có một cuộc trưng bày ở Vermont hôm nay, nhưng cô ấy thể nào cũng trở về”. Tilton nhìn vào thời khóa biểu trên bàn – “vào trưa ngày mai”.



Tony đang chờ đợi ở bên ngoài tòa nhà, nơi có căn hộ của Dominique, thì một chiếc xe hơi đen dừng lại, và Dominique bước ra khỏi xe. Cùng đi với nàng là một anh chàng to lớn như lực sĩ đang vác một va li của Dominique. Dominique dừng phắt lại, đứng sững sờ khi nhìn thấy Tony.
“Tony! Lạy Chúa! Anh làm cái gì ở đây?”
“Anh cần nói chuyện với em”.
“Thôi, bữa khác đi, anh bạn”. Anh chàng lực sĩ ấy nói. “Trưa nay chúng tôi bận lắm”.
Tony không thèm để ý đến hắn ta. “Em bảo cái anh bạn này của em hãy đi chỗ khác đi”.
“Này, anh kia, anh nghĩ anh là cái quái gì mà…”
Dominique quay về phía anh chàng lực sĩ. “Thôi đi đi, Ben. Tôi sẽ gọi lại anh tối nay”.
Hắn ta do dự một lúc, rồi nhún vai nói, “Ô kê”. Hắn đưa mắt giận dữ nhìn Tony, trở lại chiếc xe, rồi rồ máy chạy thẳng.
Dominique quay về phía Tony. “Chúng ta nên đi vào trong nhà nói chuyện”.
Căn hộ của Dominique là một buồng hai tầng rộng lớn với những tấm thảm và màn màu trắng và đồ đạc tối tân, có vẻ rất đắt tiền.
“Em có vẻ làm ăn khá nhỉ”.
“Vâng. Em may mắn thôi”. Các ngón tay của Dominique bấu vào chiếc áo choàng, có vẻ bồn chồn. “Anh muốn uống thứ gì không?”
“Không, cám ơn. Anh cố tìm cách liên lạc với em sau khi rời Paris”.
“Lúc ấy em rời đi nơi khác”.
“Rời sang Mỹ phải không?”
“Phải”.
“Làm sao em kiếm được việc làm ở hãng Carleton Blessing này?”
“Em… em viết thư trả lời cho một mục quảng cáo trên báo”. Nàng ấp úng nói.
“Em gặp mẹ anh lần đầu tiên vào lúc nào?”
“Tại… tại căn hộ của anh ở Paris, anh không nhớ sao? Chúng mình…”
“Thôi đừng dở trò nữa”, Tony nói. Anh cảm thấy cơn giận sôi lên sùng sục. “Cái trò đùa ấy chấm dứt rồi. Tôi chưa hề bao giờ đánh một người đàn bà, nhưng nếu cô còn dối trá với tôi nữa, tôi hứa với cô rằng cái mặt của cô không còn được nguyên vẹn để chụp ảnh nữa đâu”.
Dominique định mở miệng nói, bỗng khựng lại vì cặp mắt giận dữ của Tony.
“Tôi hỏi cô lại một lần nữa. Cô gặp mẹ tôi lần đầu tiên ở đâu?”
Lần này, Dominique không còn do dự gì nữa. “Khi anh được nhận vào Trường Mỹ thuật Paris. Mẹ anh thu xếp cho tôi làm kiểu mẫu ở đó”.
Tony cảm thấy đau nhói trong lòng. Anh cố tiếp tục hỏi, “Như vậy để tôi có thể gặp cô, phải thế không?”
“Phải, em…”
“Rồi mẹ tôi trả tiền cho cô để cô làm nhân tình cho tôi, để giả vờ yêu tôi, phải thế không?”
“Phải. Lúc ấy chiến tranh vừa chấm dứt. Thật là kinh khủng. Em không có tiền, anh hiểu không? Nhưng, Tony ạ, anh hiểu cho em, em mến, em thực sự mến…,”
“Cứ trả lời thẳng câu hỏi của tôi”. Vẻ hung bạo trong giọng nói của Tony làm cho nàng hoảng sợ. Đây là một người lạ mặt đang đứng trước mặt nàng, một kẻ có thể trở nên hung bạo vô cùng.
“Mục đích là để làm gì?”
“Mẹ anh muốn em canh chừng anh”.
Anh nghĩ đến vẻ âu yếm của Dominique trước kia, đến những lúc hai người ân ái với nhau – tất cả đều do mẹ anh bỏ tiền ra mua. Anh cảm thấy đau đớn vì thẹn. Thì ra trong suốt thời gian ấy, anh chỉ là một tên bù nhìn của mẹ anh, bị kiểm soát, bị vận dụng. Mẹ anh đã coi anh chẳng ra cái quái gì. Anh không phải là con trai của bà ta. Anh là vị hoàng thái tử, là vị thừa kế của bà. Bà chỉ xem công ty của bà là quan trọng đối với bà mà thôi. Anh đưa mắt nhìn Dominique lần cuối cùng, rồi lảo đảo bước ra ngoài. Nàng nhìn theo anh, đôi mắt nhòa lệ. Nàng nói thầm trong bụng. “Em không nói dối về tình yêu của em đối với anh, Tony ạ. Em không nói dối về chuyện ấy đâu”.



Kate đang ngồi trong thư viện thì Tony bước vào, vừa uống rượu say mèm.
“Con… con vừa nói chuyện với Do… Dominique. Hai người chắc tha hồ vui thích, chế giễu sau lưng tôi…”
Kate lập tức cảm thấy hoảng sợ. “Tony…”
“Từ nay trở đi, con muốn mẹ đừng có xen vào cuộc sống riêng tư của con nữa, mẹ có nghe không?” Nói xong, anh quay người lại, loạng choạng bước ra khỏi phòng.
Kate nhìn theo, đột nhiên cảm thấy linh tính của bà báo trước một điều gì kinh khủng sẽ xảy ra.

lpttlc
0
Chương 15
Câu chuyện bắt đầu một cách tình cờ sáu tuần lễ trước đó. Giữa một ngày làm việc sôi nổi. David nhận được một thông điệp cho biết rằng Tim O’Neil, bạn của một khách hàng kim cương người Mỹ, đang ở Klipdrift và hỏi David có thể nào đến đón ông ta và ăn cơm với ông được không. Daviđ không có thì giờ để tiếp đón các du khách, nhưng anh không muốn làm mất lòng ông khách hàng. Anh có thể đã nhờ Kate tiếp đón ông khách hộ, nhưng lúc ấy nàng đang đi thăm viếng các nhà máy của công ty ở Bắc Mỹ cùng với Brad Reoger. Thật là khó xử. Anh liền điện thoại đến khách sạn của O’Neil và mời ông ta đến dùng cơm vào tối hôm ấy.
O’Neil nói với David trên điện thoại, “Côn gái tôi cùng đi với tôi. Tôi hy vọng ông sẽ không thấy phiền hà gì nếu tôi đem nó đi theo”.
David không có tâm trạng nào ngồi suốt buổi tối với một đứa con nít, nhưng anh vẫn nói một cách lịch sự, “Không có phiền gì cả.” Anh dự định sẽ làm cho buổi tiếp khách ấy càng ngắn càng tốt.
Họ gặp nhau ở khách sạn Grand Hotel, trong phòng ăn. Khi David đến nơi, O’Neil và cô con gái đã ngồi sẵn ở bàn ăn. O’Neil là một người Mỹ gốc Ái Nhĩ Lan, lịch sự, tóc bạc, vào khoảng ngũ tuần. Con gái ông, Josephine là một phụ nữ xinh đẹp chưa từng thấy. Nàng vào khoảng trên ba mươi tuổi, có dáng người rất đẹp, tóc hoe mềm mại và đôi mắt trong xanh. Vừa trông thấy nàng, David cảm thấy như bị nghẹt thở.
“Tôi.. tôi xin lỗi vì đã đến trễ.” Anh nói. “Tôi bận chút công việc vào phút chót.”
Josephine nhìn phản ứng của David trước mặt nàng với một vẻ vui vui, “Đôi khi những công việc vào phút chót ấy rất là thú vị,” nàng nói mà không ngụ ý gì châm chọc. “Cha tôi nói ông là một người quan trọng, ông Blackwell ạ”
“Không hẳn là như vậy...Xin cô cứ gọi tôi là David.”
Nàng gật đầu. “Đó cũng là một tên rất hay. Nó nói lên sức mạnh.”
Trước khi bữa cơm tối chấm dứt, David nhận ra rằng Josephine không chỉ là một phụ nữ xinh đẹp, nàng là một người thông minh, vui tính, và có tài làm cho anh cảm thấy thoải mái khi tiếp xúc. David cảm thấy nàng thành thực có cảm tình với anh. Nàng hỏi những câu hỏi về anh, mà trước kia chưa có ai đã từng hỏi anh. Vào lúc buổi ăn tối hôm ấy kết thúc, anh cảm thấy mình gần như đã bắt đầu yêu nàng.
“Quê hương của ông ở đâu?” David hỏi Tim O’Neil.
“Ở San Francisco.”
“Vậy chắc ông sắp về rồi?”
Anh cố làm cho câu nói có vẻ như tình cờ.
“Tuần sau.”
Josephine mỉm cười với David, “Nếu Klipdrift cũng thích thú như hứa hẹn, thì có lẽ tôi sẽ thuyết phục được cha tôi ở lại lâu hơn chút nữa.”
“Tôi có ý định sẽ làm cho nó trở nên thích thú tối đa.” David nói. “Cô có muốn đi xuống một mỏ kim cương không?”
“Thế thì thích quá. Cám ơn ông.”
Đã có một thời anh vẫn thường đích thân hộ tống những vị khách quan trọng xuống thăm các mỏ, nhưng đã khá lâu rồi, anh uỷ thác công việc này cho các nhân viên dưới quyền. Bây giờ, không hiểu sao, anh buột miệng nói, “Vậy ngày mai có tiện cho cô không?” Anh có năm sáu phiên họp đã được xếp đặt vào sáng hôm ấy, nhưng đột nhiên tất cả trở nên kém quan trọng.

Anh dẫn ông O’Neil và cô con gái đi xuống một giếng đá, sâu đến ba mưới sáu thước, chia thành bốn ngăn, một ngăn để bơm nước, hai ngăn để kéo đất chứa kim cương lên, và một ngăn có lồng hai tầng dùng để chuyên chở công nhân lên xuống.
“Tôi hay có tính tò mò muốn biết điều này, điều kia.” Josephine nói. “Tại sao người ta lại đo kim cương bằng cà rá?”
“Cà rá là gọi theo tên của một lại hạt cây đậu gọi là “carob”,” David giải thích. “Ấy là vì hạt carob có trọng lượng ít thay đổi. Một cà rá bằng hai trăm mi li gam, hay một phần một trăm bốn mươi của một “ounce” (1 ounce bằng 28,35g)
Josephine nói. “Tôi hoàn toàn như bị thôi miên, anh David ạ.”
David tự hỏi không biết Josephine muốn nói đến kim cương hay chuyên gì khác. Anh cảm thấy ngây ngất được gần gũi nàng. Mỗi khi anh dưa mắt nhìn Josephine, David cảm thấy một sự rung động tươi mát.
“Ông và cô cũng cần phải biết qua miền đồng quê ở đây,” David nói, “Nếu ông và cô Josephine không bận bịu gì vào sáng mai, tôi sẽ vui lòng đưa quí vị đi chơi một vòng.”
Cha Josephine chưa kịp trả lời thì nàng đã nói, “Như thế thì tuyệt quá!”

David ở bên cạnh Josephine và cha cô suốt mọi ngày sau đó, và cứ mỗi ngày qua đi, anh lại càng đi sâu vào tình yêu. Anh chưa hề bao giờ gặp được ai làm cho anh say đắm đến như vậy.

Khi David đến để đón cha con Josephine đi ăn cơm, vào một tối nọ, ông Tim O’Neil nói, “Tối nay tôi hơi mệt, anh David ạ. Anh miễn cho tôi hôm nay, có được không?” David cố giấu vẻ vui sướng.
“Thưa ông, không hề gì ạ. Tôi hiểu.”
Josephine tủm tỉm cười ranh mãnh. “Tôi sẽ đi ăn với anh cho anh vui lòng.”
David đưa nàng đến tiệm ăn trong một khách sạn vừa mới khai trương. Căn phòng đông khách, nhưng người ta nhận ra David và dọn ngay một chiếc bàn cho anh. Một ban nhạc ba người đang chơi âm nhạc Mỹ.
David hỏi. “Cô có thích nhẩy không?”
“Tôi cũng thích.”
Một lát sau, Josephine ở trong vòng tay của David trên sàn nhẩy. Thật như một phép lạ, David ôm chặt thân hình tuyệt vời của Josephine sát với người chàng, và cảm thấy được phản ứng của nàng.
“Josephine, anh yêu em.”
Nàng đặt ngón tay lên môi David. “David, xin anh…đừng…”
“Tại sao?”
“Bởi vì em không thể lấy anh được.”
“Em có yêu anh không?”
Nàng tủm tỉm cười, đôi mắt xanh lóng lánh. “Em say mê anh, anh yêu quí ạ. Anh không nhận ra sao?”
“Vậy thì tại sao?”
“Bởi vì em không bao giờ sống ở Klipdrift.”
“Em có thể thử sống ở đây xem sao.”
“David, em cũng muốn lắm, thế nhưng em biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Nếu em lấy anh và phải sống ở đây, em sẽ trở thành một mụ đàn bà đanh đá, la hét om xòm, rồi cuối cùng chúng mình sẽ ghét bỏ nhau. Em muốn rằng chúng ta chia tay nhau như thế này thì tốt hơn.”
“Anh không muốn chia tay.”
Nàng ngước mặt lên nhìn vào mặt David. Anh cảm thấy thân hình nàng như tan ra, hoà lẫn với anh. “David ạ, có thể nào anh sống San Francisco được không?”
Thật là một ý tưởng không thể nào thực hiện được. “Anh làm gì ở đó được?”
“Chúng ta hãy ăn sáng với nhau vào ngày mai. Em muốn anh nói chuyện với bố em.”

Tim O’Neil nói, “Josephine đã kể lại cho tôi nghe về cuộc nói chuyện giữa anh với nó đêm qua. Hình như cả hai người đang có vấn đề khó khăn. Nhưng tôi có thể có một giải pháp, nếu anh quan tâm đến việc này.”
“Thưa ông, tôi rất quan tâm đến việc này.”
O’Neil nhặt chiếc cặp da nâu lên, lấy ra một số bản thiết kế. “Anh có hiểu biết gì về thực phẩm đông lạnh không?”
“Tôi e rằng không.”
“Người ta bắt đầu làm thực phẩm đông lạnh ở Mỹ vào năm 1865. Vấn đề là làm sao chuyên chở đường xa mà thực phẩm không bị tan giá. Chúng tôi đã có những toa xe hoả ướp lạnh, nhưng chưa có ai nghĩ cách làm những chiếc xe hơi chở hàng ướp lạnh.” O’Neil đập nhẹ trên bản vẽ. “Cho mãi đến bây giờ. Tôi vừa nhận được một bằng sáng chế về lối ướp lạnh mới ấy. Nó làm đảo lộn toàn thể công nghệ thực phẩm, David ạ.”
David nhìn vào các bản vẽ. “Tôi sợ không hiểu lắm về những cái này.”
“Điều đó không quan trọng. Tôi không cố tìm một chuyên gia kỹ thuật. Tôi đã có rất nhiều hạng người này rồi. Cái mà tôi cần là vấn đề tài trợ và một người nào đó có thể điều hành công việc. Đây không phải là một điều mơ tưởng hão huyền đâu. Tôi đã bàn với những nhà chế biến thực phẩm hàng đầu về vấn đề này. Nó sẽ là một cơ hội làm ăn lớn, lớn hơn là anh có thể tưởng tượng được. Tôi cần có một người như anh.”
“Trụ sở chính của công ty ấy sẽ đặt tại San Francisco.” Josephine nói thêm.
David ngồi im lặng, cố nghiền ngẫm về những gì anh vừa nghe được. “Ông nói rằng ông đã được cấp bằng sáng chế, phải không?”
“Đúng vậy. Tôi đã sẵn sàng bắt tay vào việc.”
“Ông có thể cho tôi mượn các bản thiết kế này để đưa cho một người nữa xem hay không?”
“Tôi không có gì phản đối.”

Việc đầu tiên David phải làm là điều tra về Tim O’Neil. Anh được cho biết rằng O’Neil có danh tiếng thật sự ở San Francisco. Ông đứng đầu ban khoa học tại Đại học Berkerkey, và rất được kính trọng. David không hiểu gì về thực phẩm đông lạnh, nhưng anh dự định tìm hiểu vấn đề này cho kỹ.
Anh sẽ trở về trong vòng năm ngày, em yêu quí ạ. Anh muốn em và ba em chờ đợi anh trở về.”
“Bao lâu cũng được. Em sẽ nhớ anh lắm,”Josephine nói.
“Anh cũng sẽ nhớ em,” Anh nói câu ấy với nhiều ngụ ý hơn là nàng nghĩ.

David đi tàu hoả đến Johannesburg, và xếp đặt một cuộc gặp mặt với Edward Broderick, chủ nhân một xí nghiệp thịt hộp lớn nhất Nam Phi.
“Tôi muốn nghe ý kiến của ông về vấn đề này.”
David đưa cho ông xem các bản vẽ. “Tôi cần biết cái này có thể thực hiện được không.”
“Tôi không biết chút gì về thực phẩm đông lạnh hay về xe đông lạnh cả, nhưng tôi biết có người rành vấn đề này. Nếu ông trở lại đây trưa hôm nay, tôi sẽ cho mời vài chuyên gia đến đây gặp ông.’

Đến bốn giờ trưa hôm ấy, David trở lại xưởng đóng thịt hộp. Anh cảm thấy mình bồn chồn, lo lắng, bởi vì anh không biết chắc chắn anh muốn cuộc họp này sẽ tiến hành như thế nào. Hai tuần lễ trước đó, có lẽ anh đã cười lên ha hả, nếu có ai đề nghị với anh nên bỏ công ty Kruger-Brent. Nó là một phần của bản thân anh rồi. Anh sẽ cười to hơn thế nữa, nếu người ta bảo anh nên xét đến việc điều khiển một công ty thực phẩm nhỏ ở San Francisco. Đó là một ý kiến điên rồ, ngoại trừ một điều duy nhất: Josephine O’Neil.
Có hai người ngồi trong phòng với Edward Broderick “Đây là Tiến sĩ Crawford và ông Kaufman. David Blackwell.”
Họ trao đổi nhau lời chào hỏi. David hỏi, “Quí ông đã có cơ hội xem các bản vẽ chưa?”
Tiến sĩ Crawford đáp. “Chúng tôi dĩ nhiên dã xem rồi, ông Blackwell ạ, và xem xét rất kỹ.”
David thở một cái thật sâu. “Vậy thì sao?”
Hình như Sở Cấp Bằng Sáng Chế của Mỹ đã cấp bằng sáng chế cho cái này rồi, phải không?”
“Đúng vậy.”
Vậy thì, ông Blackwell ạ, kẻ nào được cấp bằng sáng chế này sẽ là người giàu có vô cùng.”
David chậm rãi gật đầu, lòng tràn gnập những cảm xúc đối chọi nhau.
“Giống như tất cả những phát minh lớn - nó đơn giản đến nỗi mình phải ngạc nhiên tại sao không có người nào nghĩ ra nó sớm hơn. Cái này không thể thất bại được.”

David không biết nên phản ứng thế nào. Trước đó anh nửa hy vọng, nửa không, rằng quyết định ấy sẽ được lấy đi khỏi bàn tay anh. Nếu phát minh của Tim O’Neil là vô dụng, anh còn có cơ may thuyết phục Josephine ở lại Nam Phi. Nhưng điều O’Neil đã nói với anh là đúng. Phát minh ấy có thể thực hiện được. Bây giờ anh phải tự mình đưa ra quyết định.
Anh không nghĩ gì khác ngoài vấn đề ấy trong suốt cuộc hành trình trở về Klipdrift. Nếu anh nhận lời, như vậy có nghĩa là anh sẽ rồi công ty này, để khởi sự một việc kinh doanh mới, chưa hề được thử nghiệm. Anh đang giữ một chức vụ quan trọng trong một công ty có thế lực hàng đầu trên thế giới. Anh yêu công việc làm của anh. Jamie và Margaret McGregor đều rất tốt đối với anh. Sau đó là Kate. Anh đã săn sóc cho nàng từ khi nàng mới sinh. Anh đã được trông thấy nàng lớn lên, từ một cô gái tinh nghịch, bướng bỉnh, đến một thiếu nữ xinh đẹp, đáng yêu. Cuộc đời của nàng là một cuốn album tranh ảnh trong trí óc anh. Anh lật từng trang, và thấy Kate lúc bốn, tám, mười, mười bốn, rồi hai mươi mốt tuổi - dễ bị xúc phạm, khó đoán trước được.
Chiếc tàu vừa đến Klipdrift, David đã quyết định xong. Anh sẽ không rời Công ty Hữu hạn Kruger-Brent.
Anh đi xe đến thẳng khách sạn Grad Hotel, rồi đi lên dãy buồng của gia đình Josephine. Josephine ra mở cửa cho anh.
“David!”
Anh ôm nàng trong vòng tay, hôn tíu tít, cảm thấy thân hình ấm áp của nàng áp sát vào người anh.
“Ồ, David, em nhớ anh quá. Em không muốn phải xa anh nữa.”
“Em sẽ không phải xa anh đâu,” David chậm rãi nói. Anh sẽ đi San Francisco.”

David nóng lòng chờ đợi Kate trở về từ Mỹ. Bây giờ anh đã có quyết định rồi, nên anh hăm hở khởi sự một cuộc đời mới, anh nóng lòng muốn cưới Josephine.
Lúc này, Kate đã trở về đến nhà, anh đứng trước mặt nàng và nói, “Tôi sắp sửa lấy vợ...”
Kate nghe những lời ấy qua tiếng ù ù vang dội trong tai. Nàng đột nhiên cảm thấy muốn ngất xỉu. Nàng nắm chặt lấy gờ bàn viết cho khỏi ngã. Mình muốn chết, nàng thầm nghĩ. Xin hãy để cho tôi được chết.
Nhưng không hiểu sao, do một nguồn ý chí mạnh mẽ nào đó ở bên trong, nàng cố nở một nụ cười và nói,
“Anh kể cho tôi nghe về cô ấy đi, David.” Nàng cảm thấy hãnh diện về sự bình tĩnh trong giọng nói của nàng. “Cô ấy là ai vậy?”
“Tên cô ấy là Josephine O’Neil. Cô ấy đến thăm nơi này cùng với ông bố. Tôi chắc rằng hai người sẽ là bạn thân thiết với nhau, cô Kate ạ. Cô ấy rất tốt.”
“Cô ấy chắc chắn phải như vậy, nếu anh yêu cô ta, David ạ.”
Anh do dự một lúc. “Còn có một chuyện nữa, cô Kate ạ. Tôi sẽ rời công ty này.”
Cả thế giới như đổ ập xuống người nàng. “Anh sắp sửa lấy vợ, như vậy đâu có nghĩa là anh bắt buộc phải...”
“Không phải thế. Cha của Josephine sắp khởi sự một công việc kinh doanh mới ở San Francisco. Ông ấy đang cần có tôi.”
“Vậy thì, vậy thì anh sẽ sống ở San Francisco.”
“Phải. Brad Rogers sẽ đảm trách công việc của tôi một cách dễ dàng. Rồi đây chúng ta sẽ chọn một toán nhân viên quản lý tài giỏi nhất để giúp đỡ anh ta. Cô Kate ạ, tôi…tôi không thể nói cho cô biết tôi đã đi đến quyết định ấy một cách khó khăn như thế nào.”
“Tất nhiên là khó khăn rồi, anh David ạ. Chắc hẳn anh phải yêu cô ta lắm nên mới phải làm thế. Khi nào thì tôi có thể gặp mặt cô dâu?”
David mỉm cười, trong lòng cảm thấy sung sướng vì Kate đã tiếp nhận tin này một cách vui vẻ. “Đêm nay, nếu cô có thì giờ ăn cơm với chúng tôi.”
“Có, tôi rảnh thì giờ.”
Nàng cố ngăn những giọt nước mắt cho đến khi nàng ngồi lại một mình.

Cả bốn người ăn cơm tối tại toà nhà McGregor. Ngay lúc Kate trông thấy Josephine, mặt nàng tái nhợt đi. Lạy Chúa! Không trách gì David phải lòng cô gái ấy! Nàng đẹp một cách lộng lẫy. Chỉ cần đứng trước mặt Josephine, Kate cũng đủ cảm thấy mình sao mà vụng về, xấu xí thế. Lại còn tệ hơn thế nữa. Josephine là một phụ nữ duyên dnág, hấp dẫn. Rõ ràng là cô ấy rất say mê David “Mẹ kiếp!”
Trong lúc ăn cơm, Tim O’Neil nói với Kate về công ty mới.
“Nghe có vẻ rất hấp dẫn,” Kate nói.
“Tôi nghĩ rằng nó không thể nào so sánh được với Kruger-Brent đâu, cô McGregor ạ. Chúng tôi sẽ khởi sự bằng một công ty nhỏ, nhưng dưới sự điều khiển của David, chúng tôi sẽ làm ăn khá.”
“Với sự điều khiển của David, ông không thể nào thất bại được đâu,” Kate nói.
Tối hôm ấy là cả một nỗi đau khổ khủng khiếp. Đồng thời với mối tai hoạ ấy, nàng đã mất một người mà nàng yêu và người duy nhất không thể thiếu được của công ty Kruger-Brent. Nàng cố gắng tiếp tục cuộc nói chuyện cho qua buổi tối hôm ấy, nhưng sau đó nàng không còn nhớ mình đã nói những gì. Nàng chỉ biết rằng mỗi lúc David và Josephine đưa mắt nhìn nhau, hay đụng chạm vào người nhau, nàng chỉ muốn mình chết đi cho rồi.
Trên đường trở về khách sạn, Josephine nói, “Cô ấy yêu anh đấy, David ạ.”
David mỉm cười. “Kate à? Không đâu. Chúng tôi là bạn thân của nhau, từ khi cô ấy còn được ẵm trên tay. Cô ấy mến cô lắm.”
Josephine tủm tỉm cười. Đàn ông sao mà ngây thơ thế!
Trong văn phòng của David, sáng hôm sau, Tim O’Neil và David ngồi đối diện nhau. “Tôi cần hai tháng nữa để thu xếp cho xong các công việc ở đây. “David nói, “Tôi đã nghĩ đến vấn đề tài trợ cần phải có để khởi sự công cuộc kinh doanh này. Nếu chúng ta nhờ một trong các công ty lớn tài trợ cho ta, họ sẽ nuốt chửng chúng ta và chỉ dành cho ta một phần nhỏ thôi. Nó sẽ không còn là của ta nữa. Như vậy, tôi nghĩ chúng ta nên tự mình tài trợ cho công cuộc làm ăn này. Tôi tính ra chúng ta cần tám mươi nghìn đô la để khởi sự. Tôi đã tiết kiệm được vào khoảng bốn mươi nghìn đô la. Chúng ta cần có thêm bốn mươi nghìn nữa.”
“Tôi có mười nghìn đô la.” O’Neil nói, “ngoài ra, tôi cũng có một người anh ruột có thể cho tôi vay thêm năm nghìn đô là nữa.”
“Như vậy chúng ta còn thiếu hai mươi lăm nghìn đô la.” David nói. “Chúng ta thử vay ngân hàng xem sao.”
“Chúng tôi sẽ đi San Francisco ngay bây giờ,” O’Neil nói, “rồi sẽ giàn xếp mọi thứ cho anh.”

Hai ngày sau Josephine và cha nàng lên đường về Mỹ. “Anh hãy lấy chiếc toa xe riêng của tôi để đưa họ đi Cape Town, David ạ.” Kate nói.
“Như vậy thật tốt quá, cô Kate ạ.”
Sáng hôm Josephine lên đường, David cảm thấy như một phần đời sống của anh đã bị lấy đi. Anh nóng lòng muốn gặp lại nàng ở San Francisco.
Hai tuần lễ kế tiếp được dành cho việc tìm kiếm một toán nhân viên quản lý để giúp đỡ cho Brad Rogers. Kate, David và Brad có một danh sách các ứng viên được liệt kê cẩn thận, và họ ngồi với nhau hàng giờ để thảo luận về từng người một.
“…Taylor là một kỹ thuật viên giỏi, nhưng về quản lý thì yếu…”
“Thế còn Simmons thì sao?”
“Hắn cũng tốt, nhưng chưa sẵn sàng đảm nhận công việc,” Brad nói. “Cho hắn thêm năm năm nữa.”
Babcock thì thế nào?”
“Chọn hắn cũng được. Chúng ta hãy bàn về hắn.”
“Thế còn Peterson?”
“Chưa đủ tư cách đề làm một người của công ty. Hắn quan tâm đến bản thân hắn nhiều quá.” David nói. Cùng lúc ấy, anh cảm thấy chính anh cũng có tội vì sắp bỏ rơi Kate.
Họ tiếp tục bàn cãi về danh sách các ứng viên. Vào cuối tháng ấy, họ đã thu hẹp lại bản danh sách, chỉ còn lại bốn người để sau này làm việc với Brad. Tất cả bốn người ấy đều đang làm việc ở nước ngoài, và sẽ được gọi về để phỏng vấn. Hai cuộc phỏng vấn đầu tiên đều thành công. “Tôi hài lòng về cả hai người,” Kate nói với David và Brad.
Vào buổi sáng, khi cuộc phỏng vấn thứ ba sắp được tiến hành, David bước vào văn phòng của Kate, mặt mũi nhợt nhạt, “Chỗ làm của tôi vẫn chưa bị mất chứ?”
Kate nhìn nét mặt của anh, rồi đứng dậy, tỏ vẻ hoảng sợ, “Có chuyện gì vậy, David?”
“Tôi…tôi..” Anh ngồi sụp xuống ghế, “Vừa có chuyện xẩy ra.”
Kate đã ra khỏi bàn viết. Nàng đến bên cạnh David nói, “Anh nói cho tôi biết đi!”
“Tôi vừa nhận được thư của Tim O’Neil. Ông ấy bán cả công việc kinh doanh ấy rồi.”
“Như thế nghĩa là thế nào?”
“Đúng như tôi vừa nói đấy. Ông ta đã nhận hai trăm nghìn đô là và tiền bản quyền phát minh của ông ta, theo đề nghị của Công Thịt Hộp “Ba Ngôi Sao” ở Chicago.” David nói với giọng chua chát. “Công ty ấy muốn thuê tôi làm quản lý cho họ. Ông ấy lấy làm tiếc vì đã gây bất tiện cho tôi, nhưng ông không thể từ chối số tiền ấy được.”
Kate nhìn David chăm chú. “Thế còn Josephine? Cố ấy nói thế nào? Chắc hẳn cô ấy giận ông bố lắm.”
“Tôi cũng có cả thư của cô ấy nữa. Chúng tôi chỉ sẽ cưới nhau khi nào tôi đến San Francisco.”
“Thế anh sẽ không đi sao?”
“Cố nhiên là tôi sẽ không đi!” David nói với vẻ giận dữ. “Trước kia, tôi đã đưa ra đề nghị. Tôi có thể xây dựng một công ty lớn. Nhưng họ quá vội vã để có được số tiền khốn kiếp ấy.”
“David ạ, anh không được công bằng khi anh dùng chữ “họ” trong câu nói ấy. Chỉ vì…”
“Cái ông O’Neil ấy không bao giờ thoả thuận như vậy nếu không được sự tán thành của Josephine.”
“Tôi …tôi không hiểu anh muốn nói gì, David ạ.”
“Chẳng có gì để nói cả. Chỉ có điều là tôi đã phạm phải một sai lầm lớn lao nhất trong đời tôi.”
Kate đi đến bàn viết, nhặt bản danh sách ứng viên lên. Chậm rãi, nàng bắt đầu xé toạc tờ giấy.

Sáu tháng đã trôi qua từ ngày David nhận được lá thư của Tim O’Neil. Trong thời gian ấy, Kate và David tiếp tục làm việc sát cánh nhau, cùng đi nơi này nơi kia với nhau, và có nhiều thì giờ ngồi riêng với nhau. Kate cố làm mọi cách để cho David được vui. Nàng chưng diện vì chàng, dự tính thực hiện những gì chàng vui thích, và nhiều khi vượt ra ngoài thông lệ của nàng để làm cuộc sống của chàng được hạnh phúc tối đa. Nhang, theo như nàng nhận xét, tất cả đều không có kết quả nào cả. Cuối cùng, nàng đâm ra mất kiên nhẫn.
Nàng và David cùng đi Rio de Janeiro để kiểm tra một mỏ mới tìm được. Hai người vừa ăn cơm xong ở khách sạn và đang ngồi trong phòng của Kate, xem xét các con số vào lúc đêm đã khuya. Kate đã thay quần áo, mặc chiếc Kimono và đi giép vải. Khi làm xong công việc, David vươn vai và nói, “Làm như thế là đủ cho tối nay rồi. Bây gờ chắc tôi phải đi ngủ.”
Kate điềm tĩnh nói, “Đã đến lúc anh thoát khỏi sự đau buồn rồi đấy chứ, David?”
David nhìn nàng, ngạc nhiên. “Đau buồn gì?”
“Về chuyện Josephine ấy.”
“Cô ấy ra khỏi cuộc đời của tôi rồi.”
“Vậy anh phải hành động để chứng tỏ điều ấy chứ.”
“Thế cô bảo tôi làm thế nào, Kate?” David hỏi cộc lốc.
Kate cảm thấy giận. Nàng giận vì David đã mù quáng không thấy gì cả, và đã phí phạm biết bao thì giờ. “Để tôi bảo anh phải làm thé nào – hãy hôn tôi đi.”
“Sao?”
“Mẹ kiếp, David! Tôi là bà chủ của anh, đồ con khỉ!” Nàng tiến lại, sát bên David. “Hôn tôi đi…” Rồi nàng áp sát môi nàng vào môi David, choàng cánh tay quanh người chàng. Nàng cảm thấy chàng hơi cưỡng lại, định lùi lại. Nhưng rồi, chậm rãi hai cánh tay chàng ôm chặt lấy thân hình nàng. Chàng vừa hôn nàng vừa kêu lên, “Kate…”
Nàng thì thầm sát vào môi chàng. “Em nghĩ rằng anh sẽ chẳng bao giờ yêu cầu…”
Hai người cưới nhau sáu tuần lễ sau đó. Đó là một lễ cưới lớn nhất mà thị trấn Klipdrift chưa từng bao giờ thấy và sẽ không bao giờ được thấy. Buổi lễ được tổ chức tại nhà thờ lớn nhất và sau đó là một buổi tiếp tân ở đại sảnh của thị trấn, mời tất cả mọi người. Có hàng núi thức ăn, không biết bao nhiêu thùng bia, uýt ki, và sâm banh. Các nhạc sĩ chơi nhạc và tiệc tùng linh đình kéo dài cho đến lúc bình minh. Khi mặt trời lên, Kate và David lẻn ra về.
“Em phải về nhà, xếp đặt đồ đạc,” Kate nói. “Đến đón em trong vòng một giờ nữa.”

Vào lúc trời còn tờ mờ sáng. Kate đi vào ngôi nhà đồ sộ một mình, bước lên phòng ngủ, nàng đi đến một bức tranh trên tường, ấn mạnh trên chiếc khung. Bức tranh mở ra phía sau, để lộ ra một tủ sắt gắn vào tường. Nàng mở tủ sắt, lấy ra một bản hợp đồng. Đó là hợp đồng mua lại Công ty Thịt hộp “Ba Ngôi Sao” ở Chicago. Bên cạnh đó là một hợp đồng khác của Công ty “Ba Ngôi Sao” mua lại quyền phát minh máy làm đông lạnh của O’Neil với giá hai trăm nghìn đô la. Kate do dự một lát, rồi bỏ các giấy tờ lại trong tủ sắt, khoá lại. Bây giờ David đã thuộc về nàng rồi. Anh vẫn luôn luôn thuộc về nàng. Và thuộc về Công ty Hữu hạn Kruger- Brent. Cùng chung sức với nhau, hai người sẽ xây dựng nó trở thành một công ty lớn nhất, có quyền lực nhất thế giới.
Đúng như Jamie và Margaret McGregor trước đây vẫn hằng mong muốn.
0