Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tay cự phách Sidney Sheldon 🔒

77 trả lời, 14.420 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-05-25 03:49:04Chuột lắc>
Tiểu thuyết cực hay của Sidney Sheldon, gồm 2 tập, khổ 13x19, tập 1 313 trang, tập 2 327 trang.
Chân thành cám ơn sự giúp sức của các hiệp sĩ.[:)]

Tập 1

chương 1 bạn CuLong767805 gõ

Chương 2 CuLong767805 gõ

Chương 3 CuLong767805 gõ

Chương 4 Bạn CuLong

Chương 5 Ban CuLong

Chương 6 Ban CuLong

Chương 7 Bạn Poiuy gõ

Chương 8 Poiuy

Chương 9 Poiuy

Chương 10 Sao bang
***
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-30 03:23:58Chuột lắc>
Chương 11 thuynga đã gõ

Chương 12 thuynga nhận gõ

Chương 13 thuynga nhận gõ

Chương 14 thuynga nhận gõ

Chương 15 songduong nhận gõ

Chương 16 bạn Poiuy nhận gõ

Chương 17 Poiuy gõ

hết tập 1
***
0
CuLong đăng ký tham gia chương 1,2,3 nhé
0

Trích đoạn: Chuột lắc

Chương 11

Chương 12

Chương 13

Chương 14

Chương 15

Chương 16

Chương 17

hết tập 1


SYM gõ chương 11 --&gt; chương 14 nhe.
0
Sym à, Culong chỉ load về được mỗi chương 1, các chương khác cứ bị lỗi. Có cách nào khác không vậy? Chỉ giúp CuLong với.
Thanks
0

Trích đoạn: CuLong767805

Sym à, Culong chỉ load về được mỗi chương 1, các chương khác cứ bị lỗi. Có cách nào khác không vậy? Chỉ giúp CuLong với.
Thanks


Culong ơi, Sym cũng chỉ load được mỗi chương 1 thôi, còn các chương còn lại thì pó tay.
Tụi mình cùng gọi "CHUỘT LẮC ƠI, CỨU BỒ ĐÊ" nhé.
0
2 hiệp sĩ bình tĩnh bình tĩnh, để em kiểm tra lại. Cái tật lười, copy paste ấy mà [:D]
***
0
Các bạn bình tĩnh bình tĩnh, hết sức bình tĩnh ! Chuột lắc nhà mình đang khắc phục khắc phục !
My company: www.procard.com.vn
0
Xin lỗi các hiệp sĩ, FTP của CL có vấn đề rồi, xin cho CL vài ngày để sửa chữa. Chân thành cám ơn.[:)]
***
0
Tay cự phách, Chương I (phần 2)
📎 chuong1Phan2
0
Tay cự phách, chương 1 (phần 1)
📎 chuong1Phan1
0
Oh, bạn CuuLong gõ nhanh quá, cám ơn bạn nha.

Gởi các hiệp sĩ: CL đã sửa mấy cái link trên rồi, các hiệp sĩ down về gõ truyện giùm nha. Có gì nhớ réo CL [:)]
***
0
Đa tạ, đa tạ lời khen tặng của Chuột Lắc. CuLong cũng thích truyện này lắm, CuLong đã đọc truyện này rồi nhưng lâu quá nên cũng chẳng nhớ, đọc đến đâu mới nhớ đến đấy. Kỳ không?
Sau đây là chương II
📎 chuong2
0
Chuột lắc à, CuLong đã hoàn thành xong nhiệm vụ của mình rồi. Bây giờ CuLong sang chơi bên "Ba chàng lính ngự lâm đây". Khi nào xong bên đó, Culong lại qua tham gia cùng Chuột Lắc nhé.

À mà không hiểu vì sao CuLong không thể upload được file này, cứ báo lỗi liên tục. CuLong đành phải copy phần text này vậy. Nếu Chuột lắc cần file thì vui lòng hướng dẫn lại Culong với.

Bye

CHƯƠNG III
Klipdrift vẫn không thay đổi nhưng Jamie MacGregor đã thay đổi. Mọi người trố mắt trong khi anh đánh xe vào thị trấn, dừng lại trước hiệu bách hoá Van Der Merwe. Không phải chỉ chiếc xe và con ngựa lôi cuốn sự chú ý của khách qua đường mà chính là vẻ hân hoan của chàng trai trẻ. Họ đã nhìn thấy cái vẻ ấy trước kia của những người thăm dò kim cương may mắn đã trở nên giàu có, và cứ mỗi lần nhìn thấy nó họ lại cảm thấy trong lòng tràn ngập niềm hy vọng mới. Họ đứng từ xa nhìn trong khi Jamie nhảy ra khỏi chiếc xe ngựa.
Cũng vẫn là anh chàng da đen to lớn đứng ở đấy, Jamie nhoẻn miệng cười chào anh ta. “Chào anh bạn! Tôi về rồi đây nè”
Banda buộc sợi dây cương vào chiếc cột không nói lời nào cả, rồi đi vào phía trong cửa hiệu.
Salomon Van Der Merwe đang bận tiếp một khách hàng. Người Hà Lan bé nhỏ ấy ngẩng mặt lên mỉm miệng cười. Jamie biết rằng ông ta đã nghe được tin mừng bằng một cách nào đó. Không ai có thể giải thích được tại sao, có điều tin tức về kim cương thường được loan đi rất nhanh trên khắp lục địa với tốc độ của ánh sáng.
Khi Van Der Merwe tiếp xong khách hàng, ông ta hất cái đầu về phía cửa hiệu, “Vào trong đó, cậu Jamie MacGregor”
Jamie đi theo ông ta. Cô con gái của ông đứng bên bếp lò chuẩn bị bữa ăn trưa, “Chào cô Margaret”
Cô ta đỏ mặt nhìn đi chỗ khác.
“Phải! Tôi đã được nghe tin mừng”, Van Der Merwe nói, nét mặt rạng rỡ. Ông ngồi xuống bàn, dọn dẹp bát đũa, thìa nĩa sang một bên để thừa một khoảng trống trên bàn.
“Đúng như vậy, thưa ông ạ”, Jamie nói một cách hãnh diện rút từ trong túi áo ra một túi da lớn, rồi dốc tất cả kim cương ra trên bàn trong nhà bếp. Van Der Merwe nhìn chằm chằm như bị thôi miên rồi chậm rãi nhấc lên từng viên một, thưởng thức từng cái, chừa lại những viên to nhất để xem sau cùng. Sau đó, ông bốc kim cương lên, bỏ vào trong chiếc túi bằng da linh dương rồi đặt chiếc túi ấy vào góc tủ sắt và khoá lại.
Khi ông bắt đầu mở miệng, giọng của ông ta nghe đầy thoả mãn. “Anh giỏi đấy, Jamie MacGregor ạ. Thật là giỏi”.
“Cám ơn ông. Đấy chỉ là mới bắt đầu thôi. Ở đó còn cả trăm viên như thế. Tôi không dám nghĩ chúng có giá trị đến như thế nào?”
“Thế anh khoanh vùng đặt sở hữu đoàng hoàng rồi chứ?”
“Thưa ông rồi ạ”, Jamie với tay trong túi, lấy ra mảnh giấy chứng nhận đăng ký, “Tôi đã đăng ký với danh nghĩa cả ông và tôi”.
Van Der Merwe xem kỹ mảnh giấy rồi bỏ vào túi. “Anh xứng đáng được hưởng một số tiền thưởng, đứng chờ đấy”. Ông đi đến cánh cửa dẫn vào phía bên trong cửa hàng, “Theo ta, Margaret”
Margaret ngoan ngoãn đi theo ông. Cô ta giống như một con mèo bị khiếp hãi, Jamie thấm nghĩ.
Ít lát sau, Van Der Merwe quay lại một mình. “Đây này”, ông mở cái túi tiền ra đếm đủ năm mươi bảng Anh.
Jamie nhìn ông ta, tỏ vẻ bối rối “Cái này để làm gì, thưa ông?”
“Cho mày đất, bé con, tất cả chỗ ấy”
“Tôi… tôi không hiểu”
“Anh đã đi vắng hai mươi bốn tuần, mỗi tuần hai bảng thì tất cả là bốn mươi tám bảng Anh. Tôi cho anh thêm hai bảng nữa gọi là tiền thưởng”.
Jamie cười to, “Tôi không cần tiền thưởng, tôi có phần kim cương của tôi rồi”.
“Phần kim cương nào của anh?”
“Kìa, ông Van Der Merwe, năm mươi phần trăm của tôi. Chúng ta cùng hợp tác kinh doanh mà”
Van Der Merwe nhìn anh ta chừng chừng, “Tại sao anh lại có ý tưởng ấy?”
“Vì sao…?” Jamie nhìn Van Der Merwe với vẻ bối rối. “Chúng ta có hợp đồng mà”
“Đúng vậy, nhưng anh đã đọc chưa?”
“À, cái ấy thì không. Hợp đồng ấy viết bằng tiếng Nam Phi, nhưng chính ông đã nói rằng chúng ta là những kẻ hợp tác kinh doanh, cùng chia sẻ với nhau đồng đều”.
Lão già lắc đầu, “Anh hiểu nhầm ý tôi rồi, tôi không cần ai hợp tác cả. Anh làm việc cho tôi. Tôi cung cấp cho anh đồ trang bị, rồi tôi sai anh đi tìm kim cương cho tôi”.
Jamie cảm thấy cơn giận dữ sôi sục trong người. “Ông không cho tôi cái gì cả. Tôi đã trả ông một trăm hai mươi bảng Anh để mua các đồ trang bị ấy”.
Ông già nhún vai nói: “Tôi không chịu mất thì giờ quý báu của tôi để cãi cọ với anh. Tôi bảo với anh thế này nhé. Tôi sẽ cho anh thêm năm bảng nữa và như thế chúng ta đã thanh toán với nhau sòng phẳng cả. Tôi cho rằng như thế đã hậu hĩnh lắm rồi”.
Jamie hét lên giận dữ: “Không thể coi như thế là sòng phẳng được!”. Trong cơn giận dữ, anh quay trở lại lối phát âm của Tô-Cách-Lan, “Tôi có quyền được hưởng số kim cương ấy và tôi nhất định sẽ lấy được. Tôi đã đăng ký với danh nghĩa của tôi và ông”.
Van Der Merwe mỉm cười, “Thế ra anh muốn đánh lừa tôi phỏng? Tôi có thể làm cho anh phải ngồi tù về tội ấy”. Lão dúi tiền vào tay Jamie, “Thôi lĩnh tiền lương của anh đi rồi cút khỏi nơi này”.
“Tôi sẽ kiện ông”
“Anh có tiền để trả luật sư không? Tôi làm chủ tất cả các luật sư trong vùng này, bé con ạ”
Chuyện này không xảy ra với mình, Jamie thầm nghĩ, đó là cơn ác mộng. Những nỗi đau khổ, cực nhọc anh đã trải qua, bao nhiêu tuần lễ và tháng trong sa mạc nóng bỏng, lao động khổ sai cực nhọc từ sáng tới tối - tất cả trở lại với anh như thác lũ. Anh suýt chết, ấy thế mà giờ đây lão già này lật lọng cướp tất cả những gì thuộc về phần anh.
Anh nhìn thẳng vào mắt Van Der Merwe, “Tôi không để cho ông thoát khỏi trừng phạt sau vụ này. Tôi sẽ không rời Klipdrift, tôi sẽ kể cho mọi người nghe hành động của ông. Tôi sẽ lấy lại kim cương của tôi”.
Van Der Merwe sắp sửa quay đi để tránh cơn thịnh nộ trong đôi mắt xám nhạt, “Tốt hơn hết, anh nên đi kiếm một bác sĩ, bé con ạ”, lão lẩm bẩm, “Tôi nghĩ rằng nắng nôi đã làm anh quẫn trí rồi”.
Trong một giây đồng hồ, Van Der Merwe vụt đứng dậy, cao nghễu nghện ở phía trên Van Der Merwe. Anh nhấc bổng thân hình gày còm của lão lên, đặt ngang mặt anh, “Tôi sẽ làm cho ông phải hối hận vì đã để mắt đến tôi”. Anh thả Van Der Merwe xuống chân anh, ném tiền lên bàn rồi đùng đùng bước ra cửa hiệu.
Khi Jamie bước vào quán Sundowner, quán này gần như vắng hoe vì phần lớn những người thăm dò kim cương đều đã lên đường đi Paardspan. Jamie tràn ngập giận dữ và thất vọng. Thật là khó tin nổi, anh nghĩ thầm. Chỉ một phút, anh giàu có như Croesus rồi đến phút sau anh không còn một xu dính túi. Van Der Merwe là một tên ăn cắp. Mình sẽ tìm một cách nào đó để trừng trị lão ta. Nhưng làm thế nào? Van Der Merwe đã nói đúng. Jamie không thể tìm ra được một luật sư nào để bênh vực cho anh. Anh là một kẻ xa lạ trong khi Van Der Merwe là một thành viên được kính nể nhất trong cộng đồng này. Vũ khí duy nhất của Van Der Merwe là sự thật. Anh sẽ nói cho mọi người ở Nam Phi biết những gì Van Der Merwe đã làm.
Smit, tên phục vụ ở quầy rượu, niềm nở chào anh. “Mừng ông đã về. Ở đây có đủ mọi thứ rượu, ông thích thứ gì?”
“Một ly whisky”
Smit rót một ly lớn đặt trước mặt Jamie. Jamie uống luôn một hớp. Anh không quen uống rượu nên chất rượu mạnh như đốt cháy cổ họng và dạ dày anh.
“Thêm một ly nữa”
“Xin có ngay. Tôi luôn luôn bảo rằng người Tô-Cách-Lan có tửu lượng bỏ xa những người khác”
Ly thứ hai trôi xuống xem ra dễ dàng hơn. Jamie nhớ lại rằng chính anh bán rượu đã khuyên một người đào kim cương nên đến gặp Van Der Merwe để được sự giúp đỡ “Anh có biết rằng lão già Van Der Merwe là một tên lường gạt không? Hắn đã cố lừa tôi để cướp tất cả số kim cương của tôi”.
Smit tỏ ra vẻ thông cảm. “Sao? Như thế thì ghê gớm quá! Tôi rất buồn lòng nghe chuyện này”.
“Nhưng hắn sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt đâu”, giọng Jamie trở nên líu nhíu, “Nửa số kim cương ấy là của tôi, hắn là tên ăn cắp. Tôi sẽ cho tất cả mọi người biết điều ấy”
“Cần thận đấy, Van Der Merwe là một nhân vật quan trọng trong thị trấn này”. Người bán rượu cảnh cáo, “Nếu anh muốn chống lại hắn ta, anh phải có người giúp đỡ. Tôi biết một người như vậy. Hắn ta ghét lão Van Der Merwe chẳng kém gì anh”. Anh ta nhìn quanh một vòng để tin chắc là không có ai nghe lỏm, “Có một chuồng ngựa cũ ở cuối phố. Tôi sẽ sắp đặt mọi thứ cho anh. Hãy đến đó vào lúc mười giờ tối nay”.
“Cám ơn”, Jamie nói, “Tôi sẽ không quên ơn anh”.
“Mười giờ nhé, ở chuồng ngựa”.
Chuồng ngựa là một công trình kiến trúc dựng lên vội vã bằng tôn, xa đường phố chính, bên rìa thị trấn. Jamie đến nơi ấy vào lúc mười giờ. Trời lúc ấy tối mịt nên anh phải cẩn thận dò lối đi. Không có bóng dáng người nào ở xung quanh. Anh bước vào bên trong. “Chào…”
Không một tiếng trả lời, Jamie chậm rãi bước lên phía trước. Anh nhận ra hình dáng lờ mờ của những con ngựa đang bồn chồn, cựa quậy trong các ngăn buồng. Tiếp đó có một tiếng động. Anh sắp sửa quay lại thì một thanh sắt giáng xuống bả vai khiến anh ngã lăn xuống đất. Một cái chuỳ nên trúng đầu anh rồi một bàn tay khổng lồ nhấc bổng anh lên và giữa chặt anh lại trong khi những cái đấm và cái đạp nện vào thân anh tới tấp. Những cái đấm đập dường như cứ tiếp diễn vô tận. Khi cơn đau đớn cùng cực không chịu đựng nổi, anh ngất đi, lúc ấy nước lạnh được dội lên xối xả lên mặt anh. Mắt anh lại mở ra, anh dường như thoáng thấy tên đầy tớ của Van Der Merwe tên là Banda. Những cái đánh đập lại bắt đầu một lần nữa. Jamie cảm thấy xương sườn mình gãy ra.. Một vật gì đó đập mạnh lên chân anh. Anh nghe tiếng xương kêu răng rắc.
Lúc ấy, anh lại bất tỉnh một lần nữa.
Người anh giống như lửa đốt. Một kẻ nào đó cào lên mặt anh bằng giấy nhám nên anh cố hết sức đưa tay lên phản đối nhưng vô hiệu quả. Anh cố gắng mở mắt ra nhưng hai mắt anh sưng vù nhắm nghiền lại. Jamie nằm ở đấy, từng thớ thịt của anh như đang kêu thét vì đau đớn. Anh cố nhớ lại mình đang ở đâu. Anh cố cựa mình, cái cạo lúc nãy lại quay trở lại. Anh sờ soạn giơ bàn tay ra, sờ thấy cái nóng. Từng chút một, mỗi cử động là một cơn đau khủng khiếp, anh nhổm dậy được trên hai đầu gối. Anh cố nhìn qua cặp mắt sưng vù nhưng chỉ nhìn thấy hình mờ mờ. Anh đang đứng ỏ một nơi nào đó, trần truồng giữa vùng Karroo không có đường mòn qua lại. Lúc ấy là sáng sớm, nhưng anh cảm thấy mặt trời bắt đầu thiêu đốt xuyên qua thân thể anh.. Anh sờ soạn tìm ít thức ăn hay bình nước nào đó. Không có gì cả. Bọn chúng đã để lại anh ở đó vì tưởng anh đã chết. Salomon Van Der Merwe và dĩ nhiên Smit, tên phục vụ rượu. Jamie đã hăm doạ Van Der Merwe và Van Der Merwe đã trừng phạt anh như trừng phạt một đứa trẻ nhỏ. Nhưng rồi đây hắn sẽ bíêt rằng mình không phải là đứa trẻ, Jamie tự hứa với mình như vậy. Không còn trẻ con nữa đâu. Mình là một kẻ báo thù. Chúng nó sẽ phải trả giả, chúng sẽ phải trả giá. Nỗi thù hận chạy qua khắp thân thể anh, tạo cho anh sức mạnh có thể ngồi dậy. Hít thở lúc này đối với anh là sự tra tấn. Bọn chúng đã đập của anh bao nhiêu chiếc xương sườn nhỉ? Mình phải cẩn thận đừng để cho chiếc xương ấy chọc thủng phổi. Jamie cố đứng dậy nhưng ngã xuống với một tiếng hét. Chân phải của anh đã bị gãy và nằm theo một góc kỳ quặc. Anh không thể bước được nữa.
Nhưng anh có thể bò.
Jamie MacGregor không biết anh đang ở đâu. Bọn chúng có lẽ đã đưa anh đến một nơi cách xa đường mòn, như vậy không ai có thể tìm ra xác anh ngoài những con vật ăn xác chết trong sa mạc, những con linh cẩu, con diều ăn rắn và kên kên. Sa mạc là một nhà xác mênh mông. Anh đã từng nhìn thấy xương của những xác người đã bị rỉa ra, không một chút thịt nào dính trên bộ xương cả. Ngay lúc Jamie nghĩ vậy, anh nghe tiếng cánh đập xào xạc trên đầu và tiếng rít the thé của những con kên kên. Anh cảm thấy một luồng kinh hãi tuôn ra khắp người. Anh bị mù rồi. Anh không thấy được chúng nhưng anh có thể ngửi thấy chúng.
Anh bắt đầu bò
Anh buộc phải tập trung vào cơn đau. Thân thể anh như rực lửa bởi những cơn đau ấy và mỗi cử động nhỏ cũng đem đến những cơn đau cùng cực. Nếu anh cử động theo cách nào đó, cái chân của anh lại chuyển đến những cơn đau như châm vào da thịt. Nếu anh hơi thay đổi vị trí cho những cơn đau nhẹ ở chân thì những miếng xương sườn của anh lại cọ vào với nhau. Anh không thể chịu đựng được sự tra tấn lúc nằm yên cũng không chịu được cơn đau nhức khi cử động.
Anh vẫn tiếp tục bò.
Anh có thể nghe thấy chúng bay lượn thành vòng trên đầu, chờ đợi anh với sự kiên nhẫn bất kể của thời gian. Trí óc anh bắt đầu lang thang đây đó. Anh đang ở trong ngôi nhà thờ mát rượi của tỉnh Aberdeen, gọn ghẽ trong bộ đồ mặc vào ngày Chủ Nhật, ngồi giữa hai anh trai, chị Mary và Annie Cord mặc những chiếc áo dài trắng mùa hè thật đẹp đẽ. Annie nhìn anh mỉm cười. Jamie định đứng dậy để đi đến với nàng nhưng các anh của anh giữ anh lại và véo vào anh. Những cái véo ấy trở thành những cơn đau nhức nhối hành hạ, còn anh thì đang bò xuyên qua sa mạc, thân thể trần truồng, xương gãy. Tiếng kêu của những con kên kên lớn hơn, chúng có vẻ sốt ruột.
Jamie cố mở to đôi mắt để xem chúng gần anh bao nhiêu. Anh không thể thấy gì ngoài những vật lờ mờ, mơ hồ mà trí tưởng tượng khiếp hãi của anh đã biến thành con linh cẩu, những con chó rừng hung dữ. Gió trở thành hơi thở nồng nực, hôi thối của chúng vuốt ngang mặt anh.
Anh tiếp tục bò vì biết rằng nếu anh dừng lại những con vật ấy sẽ chồm lên người anh. Người anh đang cháy bừng vì cơn sốt và đau nhức, thân thể anh bị lột da vì sức nóng và cát. Thế nhưng anh không thể nào bỏ cuộc được, chừng nào Van Der Merwe chưa bị trừng trị - chừng nào mà Van Der Merwe còn sống.
Anh mất cả ý thức về thời gian. Anh đoán rằng anh đã đi được một dặm. Sự thực anh mới chỉ di chuyển được chừng mười mét, bò thành vòng tròn. Anh không thấy rằng anh đã ở đâu hoặc đang đi đâu. Anh tập trung trí óc anh chỉ vào một chuyện: Salomon Van Der Merwe.
Anh bị bất tỉnh rồi đánh thức dậy bởi những cơn đau la thét ngoài sức chịu đựng. Một vật gì đó đâm vào chân anh, mãi một giây sau anh mới nhớ lại được chuyện gì đã xảy ra và anh đang ở đâu. Anh kéo một mắt sưng vù cho nó mở to ra. Một con kên kên to lớn, màu đen, có mào đang tấn công vào chân anh, xé da thịt anh một cách tàn nhẫn và đang ăn sống anh với cái mỏ nhọn hoắt của nó. Jamie trông thấy đôi mắt tròn như bi và cái khoang bẩn thỉu ở cổ nó. Anh ngửi thấy mùi hôi thối của con chim trong khi nó đang đậu trên thân hình của anh. Jamie cố hét thật to nhưng không phát ra được âm thanh nào. Điên cuồng, anh giật mạnh thân hình về phía trước, cảm thấy máu nóng tuôn ra từ chân anh. Anh trông thấy những cái bóng ở xung quanh anh, đang tiến lại để giết con mồi. Anh biết rằng nếu anh bất tỉnh một lần sau nữa thì đó là giây phút chấm dứt cuộc đời anh. Ngay vào lúc anh dừng lại, những con vật kinh tởm ấy sẽ xé xác anh một lần nữa. Anh vẫn tiếp tục bò. Trí óc anh bắt đầu đi dần vào tình trạng hôn mê. Anh nghe tiếng vỗ cánh phần phật của các con chim trước khi tiến lại gần anh, làm thành một vòng tròn xung quanh anh. Bây giờ anh đã quá yếu, không đủ sức xua chúng đi nữa. Anh không còn sức nào kháng cự nữa. Anh dừng lại, nằm yên trên cát.
Những con chim khổng lồ cùng sà đến tham dự buổi tiệc của chúng.
0
Cám ơn bạn Cửu Long. Mình copy paste từ bên ni qua cũng được rồi bạn :)
***
0
Chuột lắc à, CuLong nhận gõ luôn 4,5,6 nhé. Bao giờ thì bạn scan tiếp tập 2 vậy? Culong đọc xong tập 1 rồi, sốt ruột quá.
Chuột Lắc cố gắng nạp năng lượng nhiều để lấy sức scan tiếp truyện cho anh em cùng đọc nhé.
[sm=MexicanWave.gif]
Có CuLong cổ vũ đây.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-09 11:21:34Chuột lắc>
Trích đoạn: CuLong767805

Chuột lắc à, CuLong nhận gõ luôn 4,5,6 nhé. Bao giờ thì bạn scan tiếp tập 2 vậy? Culong đọc xong tập 1 rồi, sốt ruột quá.
Chuột Lắc cố gắng nạp năng lượng nhiều để lấy sức scan tiếp truyện cho anh em cùng đọc nhé.
[sm=MexicanWave.gif]
Có CuLong cổ vũ đây.


Cám ơn bạn đã ủng hộ. Truyện Tay Cự Phách do bạn Nguyễn Chí Hải dày công scan đó, không phải CL đâu. CL up tiếp tập 2 đây, nhưng chương 26 bị lỗi không up lên được. CL sẽ gõ chương này, tuy nhiên gõ như rùa bò, hông biết khi nào mới xong[:D]. Nhân tiện xin cảm ơn ông bạn già Chí Hải đã giúp tui scan và chỉnh sửa truyện này. [:)]

Tập 2

Chương 18 khachxa đã nhận gõ

Chương 19 khachxa đã nhận gõ

Chương 20 khachxa đã nhận gõ

Chương 21 buithingoclinh đã gõ

Chương 22 buithingoclinh đã gõ

Chương 23 buithingoclinh đã gõ

Chương 24 buithingoclinh đã gõ

Chương 25 buithingoclinh đã gõ

Chương 27 buithingoclinh đã gõ

Chương 28 buithingoclinh đã gõ

Chương 29 buithingoclinh đã gõ

Chương 30

Chương 31 songduong đã gõ

Chương 32 Songduong gõ

Chương 33 Songduong gõ

Chương 34 Sumo gõ

Chương 35 Sumo nhận gõ

Chương 36 Sumo nhận gõ

Chương 37 Sumo nhận gõ

Chương 26 : Đã gởi mail cho dtquoc.

Chân thành cám ơn sự giúp đỡ của các bạn

hết
***
0
TAY CỰ PHÁCH, CHƯƠNG IV (PHẦN 1)

CHƯƠNG IV
Thứ bảy là ngày phiên chợ ở Capetown. Đường phố đông nghẹt người mua bán mong tìm được các món hàng giá hời, gặp gỡ bạn bè và người yêu. Người Boer và người Pháp, binh sĩ mặc những bộ quân phục màu sắc sặc sỡ, các bà người Anh mặc váy viền đăng ten, áo choàng có diềm đăng ten xếp nếp, hoà lẫn với nhau trong các cửa hiệu tạp hoá dựng lên trong công viên ở Braameonstain, Park town và Burgerdorp. Mọi thứ đều được bán ở đấy: bàn ghế, ngựa, xe và trái cây tươi. Người ta có thể mua áo dài, bàn cờ, thịt, sách viết bằng mười hai thứ tiếng khác nhau. Vào ngày thứ bảy, Capetown là một phiên chợ ồn ào, nhộn nhịp.
Banda chậm rãi đi xuyên qua đám đông, thận trọng không nhìn mặt người da trắng. Như vậy thật quá nguy hiểm. Đường phố chật ních người da đen, Ấn Độ và da màu, nhưng thiểu số người da trắng thống trị. Banda ghét bọn họ. Đây là đất đai của anh, còn người da trắng là người “uitlander” (ngoại quốc). Có nhiều bộ lạc ở Nam Phi: người Basutos, Zulus, Bechnuarias, Matemele - tất cả đều là người Bantu cả. Chữ Bantu cũng là do chữ “Albantu”, có nghĩ là “nhân dân” mà ra. Nhưng những người Barolongs - bộ tộc của Banda – là thuộc hàng quý tộc. Banda còn nhớ câu chuyện bà nội kể về vương quốc rộng lớn của người da đen đã một thời cai trị Nam Phi. Vương quốc của họ, thế giới của họ. Thế mà bây giờ họ bị nô lệ hoá bởi một nhúm chó rừng da trắng. Người da trắng đã đẩy họ vào lãnh thổ mỗi lúc một nhỏ dần, cho đến khi sự tự do của họ đã bị xói mòn. Bây giờ, lối sống duy nhất mà người da đen có thể tồn tại là xảo quyệt, bề ngoài thì có vẻ khuất phục nhưng bên trong thì khôn ngoan, ranh mãnh.
Banda không biết mình bao nhiêu tuổi vì người da đen không có giấy khai sinh. Tuổi của họ được tính theo truyền thuyết của bộ lạc: các cuộc chiến tranh và chiến đấu, ngày sinh và ngày chết của đại tù trưởng, các sao băng, băng tuyết và các vụ động đất, con đường mòn của Adam Kok, cái chết của Chaka và cuộc cách mạng giết hại gia súc. Nhưng tuổi tác của Banda không có gì quan trọng. Banda biết rằng anh là con trai của một tù trưởng và anh có nhiệm vụ phải làm một việc gì đó cho dân tộc của anh. Ý tưởng về sứ mệnh này của anh khiến anh bước đi cao hơn, thẳng người hơn trong một lát, cho đến khi anh bắt gặp cặp mắt nhìn của người da trắng.
Banda bước hối hả về ngoại ô thị trấn, tức khu vực dành cho người da đen. Những ngôi nhà to lớn và những cửa hiệu hấp dẫn nhường chỗ cho những cái lán bằng thiếc, mái che và túp lều lụp xụp. Anh đi xuống còn đường đất, nhìn qua vai để có thể chắc chắn rằng không có ai đang theo dõi anh. Anh đi đến một cái lán gỗ nhìn quanh quất một lần cuối cùng, gõ hai tiếng trên cánh cửa và bước vào bên trong. Một người đàn bà da đen gày còm ngồi trên một chiếc ghế ở góc phòng, đang may một chiếc ao. Banda gật đầu chào bà ta rồi tiếp tục đi vào buồng ngủ ở phía sau.
Anh nhìn xuống hình thù đang nằm trên chiếc ghế bố
Sáu tuần sau đó, Jamie McGregor đã tỉnh lại, thấy mình đang nằm trên chiếc ghế bố trong ngôi nhà lạ. Ký ức trở lại với anh dồn dập. Anh lại đang ở vùng Karroo, thân thể bị gãy, hoàn toàn bất lực. Rồi những con kên kên…
Rồi Banda bước vào trong căn phòng bé nhỏ, Jamie biết rằng hắn đến để giết anh. Van der Merwe đã biết được, bằng cách nào đó, rằng Jamie vẫn còn sống, cho nên lão sai đầy tớ của lão đến giết anh cho xong việc.
Jamie cất tiếng khàn khàn: “Tại sao chủ anh không đích thân đến đây?”
“Tôi không có chủ nào hết”
“Van der Merwe đó. Hắn sai anh đến đây, phải không?”
“Không, hắn muốn giết cả hai chúng ta, nếu hắn biết được”
Câu nói này đối với anh thật là vô lý. “Tôi đang ở đâu thế này? Tôi muốn biết tôi đang ở đâu?”
“Ở Capetown”
“Không thể thế được, tôi đến đây bằng cách nào?”
“Tôi đem anh đến đây”
Jamie nhìn chằm chằm vào đôi mắt đen láy một hồi lâu trước khi anh có thể thốt ra lời, “Tại sao?”
“Tôi cần anh. Tôi muốn trả thù”
“Anh muốn…?”
Banda xích lại gần hơn: “Không phải trả thù cho tôi, tôi không quan tâm đến bản thân tôi. Van der Merwe hiếp em gái tôi. Nó chết khi sinh đứa con của hắn. Em gái tôi lúc ấy mới mười một tuổi”.
Jamie ngả người xuống giường choáng váng, “Lạy Chúa”
“Từ ngày nó chết, tôi vẫn cố tìm một người da trắng có thể giúp cho tôi. Tôi tìm thấy anh ở chuồng ngựa vào đêm hôm ấy, khi tôi góp tay cùng bọn chúng đánh đập anh, anh Gregor ạ. Chúng tôi vứt anh trong vùng Karroo. Tôi được lệnh phải giết anh. Thế rồi tôi bảo với bọn chúng rằng anh đã chết rồi, sau đó tôi tìm cách trở lại để cứu anh thật sớm. Nhưng tôi đến hầu như quá trễ”.
Jamie không thể ngăn chặn một cái rùng mình. Một lần nữa, anh tưởng chừng như đang ngửi thấy mùi hôi hám của những con chim kia đang rỉa thịt anh.
“Những con chim ấy đã bắt đầu làm thịt anh. Tôi liền vác anh lên một chiếc xe bò và giấu anh trong nhà của đồng bào tôi. Một vị thầy thuốc của chúng tôi gắn lại cho anh các xương sườn, sửa lại chân cho anh thẳng và săn sóc các vết thương cho anh”.
“Thế rồi sau đó ra sao?”
“Có một chiếc xe bò chở đầy bà con của tôi lúc ấy đang chuẩn bị lên đường đến Capetown. Chúng tôi chở anh đi theo. Anh bị mất trí hầu như suốt thời gian ấy. Mỗi khi anh thiu thiu ngủ, chúng tôi lại lo lắng không biết anh có tỉnh dậy hay không?”
Jamie nhìn vào mắt con người đã suýt giết anh. Anh phải suy nghĩ thêm nữa, không thể tin vào con người này được. Thế nhưng chính hắn đã cứu mạng anh. Banda muốn nhờ tay anh giết Van der Merwe. Như vậy lợi cả hai đàng. Jamie suy nghĩ như vậy. Hơn bất cứ thứ gì trên đời này, Jamie muốn Van der Merwe phải trả giá đắt cho những gì hắn đã làm với anh.
“Được rồi”, Jamie nói với Banda, “Tôi sẽ tìm cách trả thù cho hai chúng ta”
Lần đầu tiên anh thấy nụ cười loé trên mặt Banda, “Hắn phải chết chứ?”
“Không”, Jamie nói, “Hắn sẽ sống”.
Jamie ra khỏi giường bệnh lần đầu tiên vào buổi trưa hôm ấy, đầu óc choáng váng và yếu ớt. Chân anh chưa hoàn toàn lành hẳn. Anh bước đi hơi cà nhắc. Banda cố giúp đỡ anh.
“Thả tôi ra, tôi có thể đi một mình”
Banda đứng nhìn trong khi Jamie thận trọng bước ngang qua căn phòng.
“Tôi muốn có một cái gương soi”, Jamie nói, “Chắc mặt tôi bây giờ trông kinh khủng lắm. Không biết bao lâu rồi mình chưa cạo râu nhỉ?”
Banda trở lại với cái gương soi. Jamie đưa nó lên mặt. Trước mặt anh là một bộ mặt hoàn toàn xa lạ. Tóc anh đã bạc trắng như tuyết. Bộ râu quai nón của anh màu trắng, mọc thật dày và bù xù. Mũi anh đã bị gãy, sống mũi bị lệch sang một bên. Mặt anh đã già đi hai mươi năm. Có những vệt sâu lõm dọc hai má và một cái sẹo xám xịt ở ngang cằm. Nhưng sự thay đổi lớn nhất là đôi mắt anh. Đó là đôi mắt đã nhìn thấy sự đau đớn, cảm thấy quá nhiều và thù hằn quá sâu đậm. Anh thong thả đặt tấm gương xuống.
“Tôi muốn đi dạo một lát”, Jamie nói
“Xin lỗi, Jamie McGregor , không thể làm như vậy được”
“Sao lại không?”
“Người da trắng không đi đến vùng này trong thị trấn giống như người da đen không đi vào những nơi của người da trắng. Những người hàng xóm của tôi không biết có anh ở đây. Chúng tôi đem anh đến đây vào ban đêm”.
“Thế làm sao tôi ra khỏi đây?”
“Tôi sẽ đưa anh đi ngay tối nay”.
Lần đầu tiên Jamie nhận ra rằng Banda đã liều mạng giúp anh rất nhiều. Bối rối, Jamie nói “Tôi không có tiền, tôi cần có một công việc làm”
“Tôi đã tìm được một việc ở bến tàu. Ở đó họ cũng đang cần người”. Anh rút từ trong túi ra một ít tiền đưa cho Jamie, “Đây này”
Jamie cầm lấy tiền: “Tôi sẽ trả lại anh sau”
“Anh cứ trả lại cho em gái tôi sau này”, Banda nói
Vào lúc nửa đêm, Banda dắt Jamie ra khỏi lán, Jamie nhìn quanh quất. Anh đang ở giữa một khu nhà tồi tàn, lụp xụp, một rừng lán lợp tôn, rỉ sét và mái che làm bằng những tấm ván mục nát và vải bao rách. Đất bùn lầy vì trận mưa vừa qua xông lên một mùi khó thở. Jamie tự hỏi vì sao những con người như Banda lại có thể sống suốt đời ở một nơi như thế này. “Chẳng phải là có một vài…”
“Đừng nói chuỵên”, Banda thì thầm, “hàng xóm của tôi có tính tò mò”. Anh dắt Jamie ra khỏi khu nhà ở rồi chỉ “Trung tâm thị trấn ở về hướng này. Tôi sẽ gặp lại anh ở bến tàu”.
Jamie đến ở tại chính ngôi nhà trọ mà anh đã tạm trú khi mới đến đây từ nước Anh. Bà Venster đứng sau bàn viết.
“Tôi cần một phòng”, Jamie nói
“Tất nhiên rồi”, bà tủm tỉm cười nhe một chiếc răng vàng, “Tôi là Venster”
“Tôi biết”
“Làm sao mà anh biết được một chuyện như thế?”, bà hỏi một cách duyên dáng, “Chắc là bạn bè của anh kháo nhau chứ gì?”
“Bà Venster ạ, bà không nhớ tôi sao? Tôi đã ở đây năm ngoái mà”.
Bà nhìn kỹ khuôn mặt đầy sẹo, cái mũi gãy và mái tọc bạc của Jamie nhưng không nhận ra một nét quen thuộc nào cả. “Tôi không bao giờ quên một khuôn mặt, anh bạn thân mến ạ. Tôi chưa gặp anh bao giờ cả nhưng không vì thế mà chúng ta không trở thành bạn thân của nhau được. Bạn bè vẫn gọi tôi là Dee Dee, thế còn tên anh là gì?”
Jamie trả lời không suy nghĩ. “Travis, Ian Travis”
Sáng hôm sau Jamie đi tìm công việc ở bến tàu
Viên đốc công bận rộn nói: “Chúng tôi cần những cái lưng rất khoẻ. Vấn đề trở ngại là anh quá lớn tuổi, không thích hợp với các loại công việc này”.
“Tôi chỉ mới mười chín tuổi…”, Jamie định nói như vậy nhưng anh đã ngừng lại. Anh nhớ cái khuôn mặt trong gương ấy, anh liền nói, “Cứ cho tôi thử làm xem”
Anh bắt đầu làm phu khuân vác với số tiền chín shillings một ngày. Công việc của anh là bốc rỡ trên các tàu cập bến. Anh nghe nói rằng Banda và những người da đen khác chỉ nhận được sáu shillings một ngày. Gặp được cơ hội đầu tiên, anh liền kéo Banda ra một chỗ riêng rồi nói. “Tôi có chuyện muốn nói với anh”
“Đừng nói ở đây, McGregor ạ. Có một nhà kho để trống ở cuối bến tàu. Khi nào xong ca, tôi sẽ đến gặp anh ở đấy”.
Banda đang chờ đợi khi Jamie đến nhà kho bỏ trống.
“Anh hãy nói cho tôi nghe về lão Salomon Van der Merwe”, Jamie nói
“Anh muốn biết chuyện gì?”
“Tất cả mọi chuyện”.
Banda nhổ phẹt một cái. “Hắn đến Nam Phi từ nước Hà Lan. Do những câu chuyện tôi nghe được thì vợ hắn là một người đàn bà xấu xí, nhưng giàu có. Bà ta chết đi vì một căn bệnh nào đó, rồi thì Van der Merwe lấy hết tiền bạc của bà ta đi đến Klipdrift mở một tiệm bách hoá. Hắn trở nên giàu có nhờ lối lừa lọc những kẻ đi tìm kim cương”.
“Giống như hắn đã lừa tôi chứ gì?”
“Đó chỉ là một trong nhiều cách thôi. Những người may mắn đào được kim cương đi đến gặp hắn để có được tiền khai thác mỏ, nhưng lão Van der Merwe đã phỗng tay trên, làm chủ các mỏ ấy trước khi họ phát hiện”.
“Có người nào tìm cách kiện lại hắn không?”
“Làm thế nào được? Các nhân viên phụ trách trong thị trấn đã ăn lương của hắn. Luật pháp quy định rằng nếu trong thời hạn năm mươi ngày mà không lo liệu việc khai thác mỏ kim cương ấy xem như để trống. Nhân viên ở đấy mách bảo cho Van der Merwe biết, thế là hắn ta chộp ngay lấy. Còn có một mánh khoé khác nữa. Vùng đất có quyền khai thác phải đóng cọc ở đường biên giới bằng những cái cọc chĩa thẳng lên trời. Nếu các cọc ấy bị đổ xúông, những kẻ khác có thể nhảy vào, đòi quyền sở hữu tài sản ấy. Thế cho nên, khi nào tìm được vùng đất khai thác mà hắn thích, lão Van der Merwe cho người đến nơi đó vào ban đêm, rồi đến sáng hôm sau các cọc ấy đều nằm dài trên mặt đất cả.
“Lạy Chúa!”
“Lão ta đã ăn thông với tên phục vụ ở quán rượu tên là Smit. Smit giới thiệu những người có vẻ đang khai thác kim cương đến gặp lão Van der Merwe. Những người này ký hợp đồng hợp tác với lão Van der Merwe, và nếu họ tìm ra kim cương thì lão ta cướp tất cả làm của riêng. Nếu họ gây rắc rối thì hắn có nhiều người được hắn trả lương để thi hành các mệnh lệnh của hắn”.
“Tôi biết rõ chuyện đấy rồi”, Jamie nói vẻ tức giận,” Còn gì nữa”
“Hắn là một tên ngoan đạo điên cuồng. Bao giờ hắn cũng cầu nguyện cho linh hồn những kẻ tội lỗi”.
“Thế còn con gái của hắn thì sao? Chắn hẳn cô ta cũng có liên quan đến việc này?”
“Cô Margaret ấy à? Cô ta sợ ông bố đến phát khiếp. Cô ta chỉ nhìn một người đàn ông thôi, lão ta cũng giết cả hai”.
Jamie quay lưng lại, bước xuống cánh cửa, nhìn xuống bến tàu. Anh còn có nhiều điều phải suy nghĩ nữa. “Chúng ta sẽ nói chuyện về ngày mai”.
Sống ở Capetown, Jamie bắt đầu ý thức được sự phân biệt giữa người da đen và người da trắng. Người da đen không có quyền lợi gì ngoài những quyền mà những kẻ có quyền hành ban cho họ. Họ bị lùa vào trong những khu vực gọi là “ghetto” dành cho người da đen và chỉ được phép rời nơi ở để làm việc cho người da trắng.
“Làm sao mà anh chịu được cảnh ấy?” Jamie một hôm hỏi Banda
“Con sư tử đói giấu móng vuốt của nó. Chúng tôi sẽ thay đổi tất cả những cái ấy một ngày nào đó. Người da trắng chấp nhận người da đen vì chúng cần các bắp thịt của họ, nhưng rồi đây chúng phải học cách chấp nhận đầu óc của họ nữa. Chúng càng dồn chúng tôi vào chân tường, lại càng phải sợ hãi chúng tôi vì biết rằng một ngày kia sẽ có thể có sự kỳ thị và hạ nhục theo chiều ngược lại. Chúng không chịu đựng được cái tư tưởng ấy. Nhưng chúng tôi sẽ tồn tại nhờ có “Isiko”
“Isiko là ai vậy?”
Banda lúc lắc cái đầu. “Không phải là “ai” mà là “cái gì”. Thật khó giải thích, Jamie McGregor ạ. Isiko là cội rễ của chúng tôi. Nó là cảm giác thuộc về dân tộc đã từng nhường cái tên của nó cho con sông lớn Zambezzi. Cách đây nhiều thế kỷ, tổ tiên của tôi đã đi vào nước sông Zambezzi trần truồng, xua những đàn gia súc về phía trước. Những kẻ yếu nhất bị mất tích làm mồi cho những xoáy nước và những con cá sấu hung dữ. Nhưng những kẻ sống sót nhô lên, ra khỏi con sông và trở nên mạnh mẽ, cương cường hơn. Khi một người Bantu chết, Isiko đòi hỏi những thành viên trong gia đình hắn phải rút lui vào trong rừng để cho những người còn lại trong cộng đồng không phải chia sẻ nỗi đau của họ. Isiko là sự khinh miệt mà người ta cảm thấy đối với một tên nô lệ khúm núm, khuất phục. Nó là niềm tin tưởng rằng một con người có thể nhìn thẳng tận mặt bất cứ ai, rằng hắn không có giá hơn hay thua kém bất cứ một người nào khác. Anh có nghe nói đến John Tengo Jabavu chưa?” Banda nói tên ấy với vẻ kính cẩn.
“Không”
“Rồi anh sẽ được nghe”, Banda hứa, “Anh sẽ được nghe”. Rồi Banda chuyển sang một đề tài khác.
Jamie bắt đầu cảm thấy càng lúc càng mến phục Banda. Thoạt tiên, hai người vẫn có ý e dè lẫn nhau. Jamie cần phải có thời gian mới tin cậy được kẻ đã suýt giết chết anh. Còn Banda cũng cần phải có thời gian để tin cậy kẻ thù truyền kiếp - một người da trắng. Không giống như phần đông những người da đen anh quen biết, Banda là một kẻ có học.
“Anh đi đến trường học ở đâu vậy?”
“Không ở đâu cả. Tôi làm việc từ khi còn bé. Bà nội tôi dạy cho tôi học. Bà làm việc cho một thầy giáo người Boer. Bà học đọc, học viết vì vậy bà có thể dạy lại cho tôi học đọc, học viết. Tôi chịu ơn bà nội về đủ mọi thứ”.
Một buổi chiều ngày thứ bảy, sau giờ làm việc,Jamie lần đầu tiên được nghe nói đến sa mạc Namib trong vùng Nemaqualand. Anh và Banda cùng ngồi trong nhà kho vắng vẻ trên tàu, cùng chia sẻ với nhau món thịt linh dương hầm mà mẹ Banda đã nấu. Thật là ngon tuy nó hơi nặng mùi với Jamie nhưng anh ăn sạch bát thịt nhanh chóng, rồi nằm tựa lưng trên cái bao cũ căn vặn Banda.
“Anh lần đầu tiên gặp Van der Merwe vào lúc nào vậy?”
“Khi tôi làm việc ở bãi kim cương trong sa mạc Namib. Lão làm chủ bãi biển ấy với hai người hợp tác khác. Lão vừa mới cướp được chỗ đất ấy từ tay một tên thăm dò kim cương nên muốn xuống đó để thăm viếng”.
“Nếu Van der Merwe giàu có như thế, tại sao hắn vẫn làm việc ở cửa hàng bách hoá?”
“Cửa hàng ấy chỉ là cái mồi nhử thôi. Nhờ thế lão mới nhử được bọn thăm dò kim cương đến với lão. Rồi lão trở nên giàu có mãi”.
Jamie nhớ lại trước đây anh đã bị hắn lừa gạt dễ như thế nào. Lúc ấy anh là một cậu con trai ngây thơ tin tưởng một cách quá dễ dàng. Anh còn nhớ đến khuôn mặt trái xoan của Margaret khi cô ta nói, “Cha tôi có thể là người sẽ giúp đỡ anh”. Thoạt tiên, anh ngỡ cô ta chỉ là một đứa trẻ con, nhưng rồi sau đó anh chợt chú ý đến bộ ngực cô ấy và… Jamie đột nhiên vụt đứng dậy, một nụ cười nở trên mặt, môi anh hếch lên làm cho vết sẹo ở ngang cằm nhăn nhúm lại.
“Anh kể cho tôi nghe trong trường hợp nào anh đến làm cho Van der Merwe”
“Một hôm hắn đến bãi biển với cô con gái. Lúc ấy cô ta chừng mười một tuổi. Tôi đoán rằng cô ta không muốn ngồi một chỗ nên đi xuống nước chơi, thế rồi nước thủy triều dâng lên, cuốn cô ta ra xa. Tôi liền nhảy xuống nước, kéo cô ấy lên. Lúc ấy tôi còn là một đứa con trai ít tuổi nhưng tôi nghĩ rằng lão Van der Merwe sẽ giết tôi”.
Jamie nhìn Banda chằm chằm, “Tại sao vậy?”
“Bởi vì tôi đã choàng tay xung quanh người cô ấy. Không phải bởi vì tôi là người da đen đâu mà là vì tôi là đàn ông. Hắn không chịu được ý nghĩ rằng có người đàn ông nào lại dám sờ lên người con gái hắn. Một người nào đó cuối cùng đã xoa dịu được hắn, và nhắc nhở hắn rằng tôi đã cứu mạng sống cho con gái hắn. Sau đó, hắn đưa tôi về Klipdrift làm đầy tớ cho hắn”. Banda do dự một lát rồi nói, “Hai tháng sau, em gái tôi đến thăm tôi”, giọng nói của Banda trở nên trầm tĩnh. “Nó cùng tuổi với con gái lão Van der Merwe”
Jamie không thể góp một lời nào.
Cuối cùng Banda phá tan sự im lặng. “Lẽ ra tôi phải ở lại sa mạc Namib. Công việc ở đó dễ dàng. Chúng tôi bò dọc theo bãi biển để nhặt kim cương, rồi bỏ vào trong những hộp thiếc đựng mứt”.
“Khoan đã. Anh bảo rằng kim cương có sẵn ở đấy, trên mặt cát, hay sao?”
“Đúng vậy, anh McGregor ạ. Nhưng nếu anh có ý định gì trong đầu thì hãy quên đi. Không ai có thể lại gần bãi kim cương đó đâu. Nó ở trên bể và ở đó sóng cao đến hàng chục thước. Bọn chúng cũng không cần phải canh gác bờ bể nữa. Nhiều người đã cố gắng lẻn đến nơi ấy bằng đường bể, nhưng rồi tất cả đều bị giết bởi sóng hay đá ngầm”.
“Chắc là có cách nào khác đi vào trong đó chứ?”
“Không. Sa mạc Namib chạy dài xuống tận đại dương”.
“Thế chỗ đi vào bãi kim cương thì sao?”
“Có một chòi canh và dây kẽm gai. Bên trong hàng rào là bọn bảo vệ với súng và những con chó có thể xé xác người ta ra từng mảnh. Chúng nó lại có một thứ thuốc nổ mới gọi là mìn. Mìn được chôn ở khắp các bãi kim cương. Nếu anh không có một bản đồ về bãi mìn ấy thì anh sẽ bị nổ tung ra thành từng mảnh vụn”.
“Bãi kim cương ấy lớn bao nhiêu?”
“Nó chạy dài chừng ba mươi lăm dặm”.
Ba mươi lăm dặm kim cương nằm trên mặt cát… Trời ơi!
“Anh không phải là người đầu tiên bị xúc động bởi mỏ kim cương ở Namib và anh cũng không phải là người cuối cùng. Tôi đã từng nhặt lên được những thứ gì còn sót lại của những kẻ đã đến nơi đó bằng thuyền rồi sau đó bị xé xác ra từng mảnh bởi đá ngầm. Tôi cũng thấy những gì các bãi mìn ấy đã gây ra cho những kẻ đặt sai bước chân, và cũng chính tôi nhìn thấy những con chó ấy xé toạc cổ họng người ta ra như thế nào. Hãy quên nó đi, anh McGregor ạ. Tôi đã ở đấy rồi, không có đường vào và cũng chẳng có đường ra - ấy là tôi muốn nói “ra mà vẫn còn sống”.
Jamie không thể nào chợp mắt được đêm hôm ấy. Anh tưởng tượng đến ba mươi lăm dặm cát trải đầy những viên kim cương to lớn thuộc quyền sở hữu của Van der Merwe. Anh nghĩ đến biển cả, những mỏm đá lởm chởm, những con chó thèm khát giết chóc, những tên bảo vệ và mìn chôn dưới đất. Anh không sợ nguy hiểm; anh không sợ chết. Anh chỉ sợ chỉ chết trước khi trả được món nợ với Salomon Van der Merwe.
Ngày thứ hai sau đó, Jamie đến hiệu bán bản đồ để mua bản đồ vùng Namaqualand. Có một bãi biển ngoài khơi Nam đại tây dương giữa Luderitz về hướng bắc và cửa sông Orange ở phía Nam. Vùng này được ghi bằng chữ đỏ: “Spergebiet”, có nghĩa là “vùng cấm”.
Jamie nghiên cứu từng chi tiết mảnh đất này trên bản đồ, xem đi xem lại bản đồ ấy. Có ba ngàn dặm bể từ Nam Mỹ đến Nam Phi, và không có gì ngăn cản sóng bể, cho nên tất cả sự hung dữ của chúng đều trút cả lên những tảng đá ngầm ở bờ bể Nam Đại Tây Dương. Bốn mươi dặm về phía Nam, xuống đến bờ biển, là bãi cát trống trải. Hẳn đó là nơi mà những kẻ khốn nạn đáng thương ấy đã thả những chiếc thuyền con của họ để đi vào vùng đất cấm, Jamie nghĩ thầm. Nhìn lên bản đồ, anh hiểu ngay vì sao bờ bể ấy không cần được canh gác. Các mỏm đá ngầm ấy khiến cho một cuộc đổ bộ không thể nào thực hiện được.
Jamie bắt đầu chú ý đến chỗ ra vào mỏ kim cương. Theo như Banda cho biết, vùng này được rào bằng dây kẽm gai và được bọn bảo vệ vũ trang đi tuần hai mươi bốn giờ trên hai mươi bốn. Ở chỗ ra vào có một tháp canh. Và cho dù người ta có len lỏi qua được tháp canh ấy, còn có bãi mìn và chó săn nữa.
Ngày hôm sau gặp Banda, anh hỏi: “Anh bảo rằng có một bản đồ vẽ bãi mìn ấy, phải không?”
“Ở sa mạc Namib à? Bọn bảo vệ có bản đồ ấy để dẫn dắt các công nhân đi làm việc. Mọi người phải đi thành một hàng dài, vì vậy không ai bị nổ lên”. Mắt Banda mơ màng như nhớ lại một kỷ niệm, “Một hôm, chú tôi đi trước tôi, bỗng ông vấp phải một hòn đá, rồi ngã xuống trên một quả mìn chôn dưới đất. Sau đó, không còn gì sót lại của ông ấy nữa để đưa về nhà”.
Jamie rùng mình
“Ngoài ra còn có một thứ sương mù ở bể nữa, gọi là “mis” anh McGregor ạ. Có bị mắc vào thứ sương mù ấy ở Namib, người ta mới biết được nó như thế nào.. Nó cuồn cuộn trên đại dương rồi thổi ngang qua suốt cả sa mạc dài đến tận dãy núi, xoá nhoà mọi thứ. Nếu bị mắc vào trong đó, anh không còn dám cựa quậy nữa. Có bản đồ về bãi mìn thì cũng vô ích thôi bởi vì anh không thấy mình đi đâu cả. Mọi người đành phải ngồi yên tại chỗ cho đến khi sương mù tan ra.”
“Nó lâu chừng bao nhiêu?”
Banda nhún vai: “Có khi hàng giờ, cũng có khi hàng ngày”.
“Banda này, anh có thấy bản đồ về bãi mìn ấy bao giờ chưa?”
“Chúng giữ kỹ lắm”, một vẻ lo ấu thoáng trên mặt anh. “Tôi bảo cho anh một lần nữa, không ai thoát ra nổi cái mà anh đang suy nghĩ đâu. Thỉnh thoảng cũng có một công nhân cố gắng đem một viên kim cương ra một cách lén lút. Có sẵn một cái cây đặc biệt để treo cổ họ. Đó là một bài học cho những ai muốn ăn cắp kim cương của công ty”.
Mọi thứ đều có vẻ không thực hiện được cả. Ngay cả nếu anh tìm cách đi vào được mỏ kim cương, anh cũng không thể nào tìm cách thoát ra được. Banda đã nói đúng. Anh phải quên chuyện ấy đi.
Ngày hôm sau, anh hỏi Banda: “Làm sao Van der Merwe ngăn được bọn công nhân không ăn cắp kim cương mỗi khi họ tan ca?”
“Họ bị lục soát. Chúng lột trần họ ra, khám xét từ trên xuống dưới, tất cả mọi lỗ trên người. Mắt tôi thấy công nhân cắt những vết rạch trên chân họ, nhét những viên kim cương vào đó để lén đem ra ngoài. Một số người đục lỗ trong răng đen của họ, rồi gắn vào đó. Họ áp dụng mọi mánh khoé có thể nghĩ ra được”. Anh nhìn Jamie và nói: “Nếu anh muốn sống, anh hãy quên cái mỏ kim cương ấy đi”.
Jamie cố gắng làm như vậy nhưng những ý tưởng đó vẫn ám ảnh, dụ dỗ anh mãi. Kim cương của lão Van der Merwe đang nằm trên cát chờ đợi. Chúng đang chờ đợi anh.
Giải pháp đến với Jamie vào đêm hôm ấy. Anh không thể chịu đựng nổi nỗi bồn chồn, sốt ruột cho đến khi anh gặp Banda. Không một lời mở đầu nào, anh nói thẳng với Banda: “Anh bảo cho tôi biết về những chiếc thuyền đã cố gắng đổ bộ trên bãi biển ấy”.
“Anh muốn biết gì các thuyền ấy?”
“Chúng là loại thuyền như thế nào?”
“Đủ mọi loại. Thuyền hai buồm, tàu kéo, thuyền máy, thuyền buồm. Có bốn người đã thử dùng một loại thuyền có mái chèo. Trong thời gian tôi làm việc ở đấy, có năm sáu vụ như vậy. Các mỏm đá ngầm nhá nát các thuyền ấy ra từng mảnh. Tất cả mọi người đều bị chết đuối”.
Jamie thở mạnh một cái: “Có ai thử đến đó bằng bè không?”
Banda trố mắt nhìn anh: “Bằng bè à?”
“Phải”, giọng nói Jamie lúc này thêm sôi nổi, “Nghĩ kỹ lại xem, không ai đi được đến bờ là vì đáy thuyền của họ bị đá ngầm xé toang ra. Nhưng một chiếc bè sẽ lướt ngay trên các đá ngầm ấy, đi thẳng đến bờ. Nó cũng có thể đi ra bằng cách như vậy”.
Banda nhìn Jamie một hồi lâu, khi mở miệng ra được, anh nói bằng giọng khác hẳn: “Anh biết không, anh McGregor. Anh vừa có ý kiến hay đấy…”



0
Chương 37

Các khách khứa đêm qua đã ra về lâu rồi bằng tàu phà và máy bay. Cả gia đình Blackwell tụ họp trong thư viện của ngôi nhà Cedar Hill. Bà Kate nhìn mọi người trong căn phòng, từng người một. Bà trông thấy mỗi người một cách rõ ràng kỳ lạ. Tony giống như một loài thực vật tươi cười, dễ thương một cách mơ hồ, đã từng cố ý giết bà, đứa con trai của bà đã từng một thời tràn đầy hứa hẹn và hi vọng. Eve, tên sát nhân, kẻ lẽ ra đã có thể làm chủ thế giới nếu hắn không có mầm mống ác độc trong người. Bà thầm nghĩ, thật là một điều mỉa mai khi sự trừng phạt ghê gớm hắn phải gánh chịu lại do tay một kẻ bé nhỏ, vô giá trị, nhu mì, dễ bảo, mà hắn đã lấy làm chồng. Rồi lại Alexandra nữa. Xinh đẹp, trìu mến, tốt bụng - nhưng lại là mối thất vọng cay đắng nhất của bà. Nàng đã đặt hạnh phúc riêng lên trên phúc lợi của công ty. Nàng đã không quan tâm gì đến Kruger - Brent và đã chọn một người chồng không muốn dính líu chút gì với công ty. Phản bội, cả hai chúng nó đều là kẻ phản bội. Phải chăng tất cả nổi đau thương trong quá khứ không đem lại một chút kết quả nào cả hay sao? Không, bà Kate thầm nghĩ. Ta không thể để nó chấm dứt như thế này được. Tất cả đều không phải là uổng phí. Ta đã xây dựng nên một triều đại đáng kiêu hãnh. Một bệnh viện ở Cape Town đã mang tên ta. Ta đã xây dựng các trường học, thư viện, và đã giúp đỡ cho đồng bào của Banda. Bà bắt đầu cảm thấy đau nhói trong đầu. Căn phòng dần dần tràn ngập những bóng ma. Jamie McGregor và Margaret - trông xinh đẹp làm sao - và Banda đang tủm tỉm cười với bà. Rồi David nữa, người chồng thương yêu, tuyệt vời của bà, đang dang tay ra chờ đón. Bà lúc lắc đầu để xua đuổi hình ảnh ấy đi. Không, bà chưa sẵn sàng đi theo bất cứ người nào trong bọn họ. Chẳng bao lâu nữa thôi, bà nghĩ thầm. Chẳng bao lâu nữa.

Còn có thêm một thành viên khác của gia đình trong căn phòng này. Bà quay về phía đứa chắt xinh đẹp và nói, "Lại đây, chắt yêu quí".
Robert bước lên, cầm lấy tay bà.
"Buổi tiệc sinh nhật thật là lớn cố ạ"
"Cám ơn chắt Robert của ta. Ta rất mừng chắt của ta đã vui thích lễ sinh nhật ấy. Chắt học hành ở trường ra sao rồi?"
"Tất cả đều là điểm nhất, đúng như cố đã bảo chắt phải lấy cho kỳ được. Chắt đứng đầu lớp đấy, cố ạ".
Bà Kate đưa mắt nhìn Peter. "Khi nào nó đủ tuổi rồi cháu nên cho Robert đi học trường Wharton. Đó là trường tốt nhất..."
Peter cười, " Lạy Chúa, Bà nội yêu quý ạ, bà vẫn chưa chịu bỏ cuộc hay sao? Robert sẽ làm đúng theo những gì mà nó thích. Nó có khả năng đặc biệt về âm nhạc, và muốn trở thành một nhạc sĩ cổ điển. Nó sẽ tự chọn lấy cuộc sống của mình".
"Cháu nói đúng đấy", Bà Kate thở dài. "Bà đã già rồi, không còn có quyền gì can thiệp nữa. Nếu nó muốn trở thành một nhạc sĩ, thì đó là điều nó nên làm". Bà quay về phía cậu bé, đôi mắt sáng ngời yêu thương. "Nhớ điều này nhé, Robert, ta không thể hứa hẹn điều gì cả, nhưng ta sẽ cố gắng giúp cho chắt của ta. Ta quen biết một người vốn là bạn thân của Zubin Mehta".

HẾT
0
mình nhận gõ chương 21 nha.
0
CHƯƠNG XXI
Sáu tháng sau khi Tony và Marianne cưới nhau, công ty Hoffman được sát nhập vào công ty hữu hạn Kruger-Brent. Lễ ký bản thỏa hiệp chính thức được tổ chức ở Munich, như là cử chỉ bày tỏ tình hữu nghị đối với Frederick Hoffman. Ông này điều hành chi nhánh của công ty ở Đức.Tony ngạc nhiên về thái độ hiền lành của mẹ anh khi chấp nhận cuộc hôn nhân này. Bà không có thói quen chấp nhận sự chiến bại một cách duyên dáng như vậy, thế nhưng bà tỏ ra rất thân thiện với Marianne khi Tony và cô dâu mới trở về nhà sau tuần trăng mật ở Bahamas. Bà nói cho Tony biết rằng bà rất sung sướng về cuộc hôn nhân này. Điều khiến Tony hết sức khó hiểu là bà đã tỏ ra rất thành thực. Sự thay đổi lập trường ấy quá nhanh chóng , không hợp với tính tình bà chút nào.Tony cho rằng anh chưa hiểu mẹ anh lắm như anh đã tưởng.
Cuộc hôn nhân này thành công một cách xuất sắc ngay từ lúc đầu. Marianne đã thỏa mãn được một nhu cầu đã cảm thấy từ lâu của Tony , và mọi người xung quanh đều nhận ra sự thay đổi của anh- đặc biệt là Kate.
Khi Tony đi đây đó vì công việc , Marianne lúc nào cũng đi theo anh. Họ cùng vui chơi , cười đùa với nhau , và đều cảm thấy thực sự hạnh phúc. Nhìn hai người, Kate thầm nghĩ ," Mình đã làm được rất tốt cho con trai mình".
Chính Marianne là người đã bắt cầu thông cảm giữa Tony và mẹ chàng.Khi trở về nhà, sau tuần trăng mật, Marianne nói với Tony ," Em muốn mời mẹ đến ăn cơm".
"Đừng làm thế. Em không hiểu mẹ anh,Marianne ạ. Bà......".
"Em muốn làm quen với bà , Tony ạ.Xin anh nghe em ,Tony".
Anh không thích ý kiến này, nhưng rồi cũng đành phải nhượng bộ.Tony đoán rằng buổi tối hôm ấy chắc buồn chán lắm , nhưng anh đã phải ngạc nhiên. Bà Kate tỏ vẻ sung sướng đến cảm động được ngồi chung với hai người. Tuần lễ sau , bà mời hai vợ chồng đến dùng cơm tại nhà bà , Rồi sau đó điều này trở thành một thông lệ hàng tuần.
Kate và Marianne trở nên thân thiết với nhau. Họ nói chuyện với nhau trên điện thoại nhiều lần trong tuần lễ và ăn cơm với nhau ít nhất mỗi tuần một lần.
Họ gặp nhau vào buổi ăn trưa tại nhà hàng Lutece, nhưng ngay khi Marianne vừa bước vào , bà thấy có gì đó không ổn.
" Cho tôi một ly húyt ky lớn có đá" Marianne nói.Thường ngày ,Marianne chỉ dùng rượu vang thôi ,
" Có chuyện gì xảy ra vậy ,Marianne?"
"Con đã phải đi khám bác sỹ Harley"
Kate đột nhiên cảm thấy hoảng sợ. "Con không ốm chứ , Marianne?"
"Không , con vẫn khoẻ.Chỉ có điều....." Toàn thể câu chuyện bắt đầu tuôn ra.
Câu chuyện ấy bắt đầu mấy ngày trước đó.Marianne cảm thấy trong người không được khoẻ nên nàng đã xin gặp mặt bác sỹ John Harley...
" Bà trông khoẻ mạnh đấy chứ ",Bác sỹ Harley tủm tỉm cười nói."Năm nay bà bao nhiêu tuổi , bà Blackwell".
" Hai mươi ba".
"Có ai bị đau tim trong gia đình bà không?"
" Không".
Ông ghi chép." Ung thư ?"
" Không".
"Cha mẹ bà còn sống không?"
"Cha tôi còn sống.Mẹ tôi mất vì một tai nạn ".
"Bà có bao giờ bị quai bị không?"
"Không"
"Bệnh sởi?".
"Có lúc tôi lên mười".
"Ho gà?"
"Không".
"Có bị mổ bao giờ không?"
"Mổ amid9an , lúc chín tuổi".
"Ngoài chuyện ấy ra, bà có bao giờ phải nằm bệnh viện vì lý do nào đó không?"
"Không....À có , chỉ có một lần, nhưng trong thời gian ngắn thôi".
"Vì chuyện gì vậy?"
"Lúc đó tôi ở trong đội khúc côn cầu ở trường học , và trong lúc chơi , tôi bị ngất xỉu.Lúc tỉnh dậy thì thấy mình đang nằm ở bệnh viện.Chỉ hai ngày thôi , thực ra chẳng có gì quan trọng cả ".
" Bà có bị thương trong khi chơi không?"
"Không. Tôi...tôi chỉ bị ngất thôi".
"Lúc ấy bà bao nhiêu tuổi?"
"Mười sáu.Bác sĩ bảo đó chỉ là do sự rối loạn các tuyến vào tuổi thanh niên thôi".
John Harley chồm về phía trước trên chiếc ghế ông đang ngồi.
"Khi bà tỉnh dậy vào lúc ấy , bà có thấy yếu ở một bên người không?"
Marianne suy nghĩ một lát."Thật ra cũng có.Phải thấy yếu ở bên phải.Nhưng chỉ ít ngày sau là hết.Từ đó không bao giờ bị trở lại nữa".
"Bà có thấy đau đầu không? Có bị mờ mắt không?"
"Có , nhưng những triệu chứng ấy cũng biến mất". Nàng bắt đầu cảm thấy lo ngại."Ông nghĩ tôi có bệnh gì hay sao , thưa bác sĩ Harley?"
"Tôi chưa dám chắc.Còn phải làm ít cuộc thử nghiệm.Chỉ là để cho chắc chắn thôi".
"Loại thử nghiệm gì?"
"Tôi muốn đo u mạch ở não. Không có gì phải lo ngại cả.Chúng tôi có thể làm ngay thôi".
Ba ngày sau , Marianne nhận cú điện thoại của cô y tá yêu cầu nàng đến gặp bác sĩ John Harley.Ông ngồi trong phòng khám đợi nàng."Chúng tôi đã tìm ra cái bí mật ấy rồi ".
"Có gì xấu không?"
"Không hẳn thế.cuộc thử nghiệm cho biết bà bị một cơn "sốc" nhỏ thôi.về y khoa chúng tôi gọi là chứng phình mạch "aneurysm", rất thông thường ở phụ nữ , đặc biệt là những cô gái dưới hai mươi.Một mạch máu nhỏ trong não bị vỡ ra , làm rỉ ra một ít máu.Áp suất là cái đã gây nên chứng nhức đầu và mờ mắt.May thay , những thứ ấy có thể tự lành lại được ".
Marianne ngồi lắng nghe , trí óc nàng cố chống chọi với nỗi hoảng sợ." Như thế... như thế là nghĩa thế nào? Nó có thể xảy ra lần nữa không?"
"Rất khó xảy ra lần nữa".Ông tủm tỉm cười." Trừ phi bà dự định tham gia đội khúc côn cầu lần nữa, ngoài ra bà có thể sống hoàn toàn bình thường ".
"Tony và tôi thích cưỡi ngựa và chơi quần vợt.Như thế có....?"
"Chừng nào bà không làm quá sức , mọi thứ đều được cả.Từ quần vợt cho đến việc ăn nằm. Không có vấn đề gì ".
Nàng mỉm cười cảm thấy an tâm."Cám ơn Chúa ".
Khi Marianne đứng dậy ,John Harley nói." Chỉ có một điều , bà Blackwell ạ.Nếu bà và Tony muốn có con thì tôi khuyên ông bà nên có con nuôi thì hơn".
Marianne cảm thấy lạnh người." Ô ng vừa bảo là tôi hoàn toàn bình thường mà".
"Bà vẫn bình thường.chỉ có điều là nếu bà có mang, nó sẽ làm tăng lên thể tích các mạch máu rất nhiều.Và trong thời kỳ từ sáu đến tám tháng mang thai , sẽ có sự gia tăng huyết áp.Một khi đã bị chứng phình mạch trong quá khứ , điều này sẽ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn. Không những nó nguy hiểm mà còn có khi rất tai hại nữa.Việc nuôi con nuôi bây giờ cũng rất dễ dàng tôi có thể thu xếp..."
Nhưng Marianne không còn nghe gì nữa. Nàng chỉ nghe văng vẳng tiếng Tony :Anh muốn chúng ta có một đứa con gái giống hệt như em."
"......Con không thể nghe được nữa", Marianne kể lại với Kate."Con cố gắng hết sức dìm các cảm xúc của xuống. Thật là một cú đánh choáng váng đối với bà.nhưng vẫn phải có cách giải quyết nào đó. Lúc nào cũng có một cách.
Bà cố nở một nụ cười rồi nói."Thế mà mẹ tưởng rằng sắp có chuyện gì tệ hại hơn thế chứ".
" Nhưng mẹ ạ.Tony và con rất mong có một đứa con".
"Marianne ạ ,ông bác sĩ John Harley là kẻ chuyên môn làm cho người ta hoảng sợ.Cách đây mấy năm con chỉ gặp một vấn đề nhỏ nhoi , thế rồi ông ta biến nó trở thành một điều gì ghê ghớm lắm.Con cũng biết bọn bác sĩ họ như thế nào rồi ". Bà nắm lấy tay Marianne." Con vẫn thấy khoẻ , phải không , Marianne?"
" Trước đây con vẫn khoẻ , nhưng khi..."
"Đó, con thấy không. Con không còn thỉng thoảng bị những cơn ngất xỉu ngắn nữa phải không?"
"Không".
"Ấy là bởi vì con đã khỏi hẳn rồi.Chính ông bác sĩ ấy nói những chừng ấy có thể tự nó chữa lành mà ".
"Ông ấy bảo những nguy cơ..."
Kate thở dài." Marianne này , mỗi lần người đàn bà có mang , họ đều gặp rủi ro này khác. Cuộc đời toàn là rủi ro cả mà.Điều quan trọng trên đời là mình phải quyết định thứ rủi ro đáng để cho mình gánh chịu, con có đồng ý như vậy không?"
"Vâng" Marianne ngồi tại chỗ suy nghĩ.nàng đã quyết định."Mẹ nói đúng.chúng ta sẽ không nói gì về chuyện này với Tony cả.Nó chỉ làm cho anh ấy lo lắng thêm thôi.Chúng ta sẽ giữ bí mật ".
Kate thầm nghĩ ,mình có thể giết cái lão John Harley chết tiệt ấy vì đã làm cho Marianne hoảng sợ.Bà nói ,"Nó sẽ là một điều bí mật của chúng ta ", để bày tỏ ý tán thành.
Ba tháng sau&lt; Marianne có mang.Tony mừng rỡ đến run người.Bà Kate cảm thấy đắc thắng âm thầm.Còn bác sĩ John Harley thì kinh hãi.
"Để tôi phải chuẩn bị cho việc phá thai ngay tức khắc ", ông nói với Marianne.
"Đừng bác sĩ Harley ạ.Tôi thấy khoẻ mà.Tôi sẽ có một đứa con".
Khi Marianne nói với Kate về cuộc viếng thăm này , Kate đùng đùng nổi giận , xông đến phòng khám bệnh của bác sĩ John Harley."Sao ông lại dám khuyên con dâu tôi phải phá thai?"
"Bà Kate này , tôi đã nói với bà ấy rằng nếu bà ấy mang thai cho đến thời kỳ ở cữ thì có nguy cơ là bà ấy sẽ chết ".
"Ông không hiểu gì cả.Bà ấy sẽ khoẻ mạnh như thường.Đừng có làm cho bà ấy hoảng sợ".
Tám tháng sau, vào lúc bốn giờ sáng ,đầu tháng Hai , cơn đau đẻ của Marianne bắt đầu trước thời hạn. Những tiếng rên rỉ của nàng khiến Tony choàng tỉnh dậy.
Anh hối hả mặc quần áo." Đừng lo, em yêu quí ạ. Anh sẽ đưa em đến bệnh viện ngay lập tức ".
Cơn đau thật là khủng khiếp."vội đi anh".
Nàng do dự không biết có nên nói với Tony về cuộc nói chuyện giữa nàng và bác sĩ John Harley hay không.Không , bà Kate nói đúng.Nàng phải tự quyết định lấy.
Cuộc sống rất tuyệt vời , cho nên Chúa sẽ không để xảy ra chuyện gì không hay cho nàng đâu.
Khi Marianne và Tony đến bệnh viện , mọi thứ đều đã sẵn sàng.Tony được đưa đến phòng đợi.Marianne được chở đến phòng khám bệnh.Ông bác sĩ sản khoa, Mattson ,đo huyết áp cho nàng. Ông nhăn mặt , đo lại một lần nữa , rồi ngước mặt lên , nói với cô y tá ,"Đưa bà ấy đến phòng mổ - nhanh lên!".
Tony đang đứng ở máy bán thuốc lá trong hành lang bệnh viện thì một giọng nói nổi lên ở sau lưng anh." Phải , phải , nếu đó không phải là Rembrantd". Tony quay lại. Anh nhận ra người đàn ông trước đây anh gặp trước căn hộ cũa Dominique.Không biết lúc ấy nàng gọi tên anh ta là gì nhỉ? À Ben. Người ấy nhìn Tony trừng trừng , với vẻ khó chịu.Hắn ta ghen chăng? Không biết Dominique đã nói gì với hắn? Ngay lúc ấy Dominique xuất hiện ," Cô y tá bảo Michelline đang được săn sóc đặc biệt.Chúng ta sẽ đến....." Nàng nhìn thấy Tony , liền ngưng lại giữa câu nói.
"Tony , anh làm gì ở đây?"
"Vợ tôi sắp sinh".
"Mẹ anh đã sắp đặt việc này à?" Ben hỏi.
"Anh nói thế là nghĩa thế nào?"
"Dominique nói với tôi rằng mẹ anh sắp đặt mọi thứ cho anh, anh bạn ạ".
"Ben , anh câm mồm đi!"
"Sao? Không phải là sự thật hay sao? Chính em nói như vậy mà".
Tony quay về phía Dominique.Anh này nói gì lạ vậy?".
" Không có gì đâu ",Dominique nhanh nhẩu nói." Ben , chúng mình đi ra khỏi nơi này ".
Nhưng Ben vẫn lấy làm thích thú." Tôi muốn được có một bà mẹ như anh, anh bạn ạ. Anh muốn có một người mẫu để ngủ chung thì mẹ anh mua ngay cho anh một người. Anh muốn có một cuộc triễn lãm tranh ảnh ở Paris thì mẹ anh thu xếp cho anh có phòng triễn lãm. Anh...".
"Anh điên rồi".
" Anh mà điên à ,Dominique?" Ben quay về phía Dominique, nói " Anh chàng này không biết hay sao?".
"Anh bảo tôi không biết cái gì?'.
"Chẳng có gì cả , Tony ạ ".
"Anh này bảo mẹ tôi xếp đặt cuộc triển lãm ở Paris. Đó là điều nói dối , phải không?" Tony nhìn thấy nét mặt của Dominique. " Có phải thế không?"
" Không ", Dominique nói một cách miễn cưỡng.
" Cô muốn nói rằng mẹ tôi đã trả tiền cho Goerg để...để trưng bày tranh của tôi, phải không?"
"Tony , ông ấy thực sự thích các bức tranh của anh mà".
"Nói cho anh ta biết về vụ nhà phê bình tranh đi, Dominique", Ben thúc giục.
" Thôi thế là đủ rồi Ben ".Dominique quay lưng đi. tony nắm cánh tay Dominique, giữ nàng lại." Khoan đã. Cô nói cho tôi biết về nhà phê bình ấy đi. Có phải là mẹ tôi xếp đặt cho ông ta đến dự cuộc triển lãm tranh không?"
"Phải ," Dominique nói , giọng nàng hạ thấp xuống thành một tiếng thì thào.
"Nhưng ông ta ghét tranh của tôi mà."
Nàng nghe giọng nói chàng có vẻ đau đớn." Không. Ông ấy không ghét.Andre' d'Usseau nói với mẹ anh rằng anh có thể đã trở thành một họa sĩ nổi tiếng."
Anh đang phải đương đầu với một điều không thể nào tin nổi." Mẹ tôi cho ông d'Usseau tiền để ông ấy hủy hoại tôi , phải thế không?"
"Không phải để hủy hoại anh đâu. Bà tin rằng như thế là làm điều tốt cho anh."
Tầm lớn lao của những gì mẹ anh đã làm thật là khủng khiếp.mọi thứ bà nói với anh đều là giả dối cả. Bà không bao giờ có ý định để cho anh sống cuộc sống của riêng anh. Thế còn Andre' d'Usseau? Làm sao một người như ông ta mà lại có thể mua chuộc được? Nhưng mà dĩ nhiên , mẹ anh đã biết được cái giá của từng con người. Wilde có thể đã ám chỉ đến Kate khi ông nói về một con người biết được giá tiền của tất cả mọi thứ , nhưng không biết được giá trị của một thứ nào cả.Tất cả mọi thứ là để phục vụ cho công ty. Và công ty ấy chính là Kate Blackwell.Tony quay lại , bước đi dọc hành lang như một người mù.
Trong phòng mổ , các bác sĩ đã chiến đấu tuyệt vọng để cứu sống Marianne.Huyết áp của nàng xuống thấp một cách đáng lo ngại , và nhịp tim của nàng hỗn loạn.Người ta cho nàng thở oxy , truyền máu , nhưng tất cả đều vô ích.Marianne nằm bất tỉnh do xuất huyết não khi đứa bé đầu tiên được đỡ ra , rồi nàng qua đời ba phút sau khi đứa bé sinh đôi thứ hai được lấy ra.
Tony nghe tiếng gọi," Ông Blackwell." Anh quay lại.Bác sĩ Mattson đang đứng bên cạnh anh.
"Ông có hai đứa con gái sinh đôi rất kháu khỉnh và khoẻ mạnh , ông Blackwell ạ."
Tony nhận ra trong mắt ông có vẻ gì khác lạ. "Marianne - nhà tôi vẫn khoẻ chứ? Phải thế không?"
Bác sĩ Mattson thở một cái thật sâu." Tôi rất lấy làm tiếc. Chúng tôi đã làm mọi cách có thể được.Bà ấy qua đời trên...."
"Bà ấy sao?" Đó là một tiếng kêu thét.Tony nắm chặt lấy áo ông bác sĩ , lay thật mạnh." Ông nói dối ! Nhà tôi không chết !"
"Ông Blackwell...."
"Nhà tôi hiện ở đâu? Tôi muốn thấy bà ấy."
"Ông không thể vào bây giờ được.Họ đang chuẩn bị..."
Tony thét lên." Ông giết nhà tôi rồi ! Ông là đồ chó đẻ ! Ông giết bà ấy." Anh đấm lên người bác sĩ thùm thụp.Hai bác sĩ nội trú vội vã chạy vào , giữ tay anh lại.
" Nào. ông hãy bình tĩnh lại đi , ông Blackwell."
Bác sĩ John Harley vội vã đi đến nhóm người này.
"Thả ông ấy ra.Để chúng tôi nói chuyện riêng với nhau ," Ông ra lệnh.
Bác sĩ Mattson và hai viên nội trú bỏ đi. Tony khóc nức nở." John, chúng nó giết Marianne rồi.chúng ám sát nhà tôi."
" Chị ấy qua đời rồi ,Tony ạ , tôi rất lấy làm đau buồn. Nhưng không ai giết chị ấy cả.Tôi đã nói với chị ấy cách đây nhiều tháng rằng nếu chị ấy cứ tiếp tục mang thai thì điều này có thể dẫn đến cái chết."
Phải một thời gian khá lâu nhưng lời lẽ này mới thấm vào đầu óc Tony." Ông vừa nói gì lạ vậy?".
"Thế Marianne không nói với ông sao? Mẹ anh cũng không nói gì cả à?"
Tony nhìn John Harley chằm chằm , chưa hiểu gì cả , " Mẹ tôi?"
"Bà ấy nghĩ rằng tôi chỉ làm cho người ta hoảng hốt thôi.Bà khuyên Marianne cứ tiếp tục mang thai. Tôi rất ân hận ,Tony ạ. Tôi đã thấy hai đứa trẻ sinh đôi ấy.Chúng rất kháu khỉnh.Anh có muốn.....?"
Nhưng Tony đã bỏ đi rồi.
Viên quản gia của Kate mở cửa cho Tony.
"Chào ông Blackwell."
"Chào bác Lester."
Viên quản gia đã nhận ra vẻ phờ phạc , nhếch nhác của Tony." Không có chuyện gì cả chứ , ông Blackwell?"
"Chẳng có chuyện gì cả.Bác cho tôi một tách cà phê được không ,Lester?"
"Thưa ông , có ngay ạ."
Tony nhìn theo viên quản gia đi về phía nhà bếp.Nào, Tony , một tiếng nói trong đầu anh ra lệnh.
Phải , ngay bây giờ.Tony quay lại , bước đến phòng trưng bày chiến lợi phẩm.Anh đến một cái tủ nhỏ đựng bộ sưu tập súng.Anh nhìn chằm chằm vào những dụng cụ giết người được xếp đặt ngay ngắn , sáng ngời.
Mở tủ ra ,Tony.
Anh mở tủ.Anh chọn một khẩu súng lục từ giá súng , kiểm soát nòng súng để tin chắc rằng nó đã được nạp đạn sẵn sàng.
Bà ấy sẽ ở lầu trên, Tony ạ.
Tony quay lại, bắt đầu bước lên cầu thang.Anh biết rằng không vì lỗi của mẹ anh mà bà ấy đã trở nên xấu xa như vậy.Bà ấy bị ám ảnh ,và anh sẽ chữa trị cho bà.Công ty đã cướp mất linh hồn của bà, và bà Kate không chịu trách nhiệm về những gì bà làm.Mẹ anh và công ty đã hòa nhập lại với nhau thành một , và khi anh giết bà , công ty sẽ chết.
Bây giờ anh đang đứng ở ngoài phòng ngủ của bà Kate.
Mở cửa đi , tiếng nói ra lệnh.
Tony mở cánh cửa.Bà Kate đang mặc áo trước một tấm gương thì nghe tiếng cánh cửa mở ra.
"Tony ! Con làm cái gì vậy..."
Tony chĩa súng vào người bà , rồi bắt đầu bóp cò,
0
CHƯƠNG XXII
Quyền con trưởng thừa kế , tức là quyền hưởng chức tước tài sản gia đình của đứa trẻ sinh đầu tiên, có cội rễ ăn sâu trong lịch sử. Trong các gia đình vua chúa ở Âu Châu , một viên quan cao cấp phải hiện diện vào lúc sinh của vị thừa kế vị sẽ không bị tranh cãi. Vì vậy , bác sĩ Mattson phải cẩn thận ghi chép ai là người được đỡ ra trước tiên trong hai đứa trẻ sinh đôi.
Ai cũng phải đồng ý với nhau rằng những đứa con sinh đôi của Blackwell rất là xinh đẹp.Chúng nó khoẻ mạnh và có vẻ linh hoạt kỳ lạ.Các y tá trong bệnh viện luôn tìm cớ để đi vào xem hai đứa bé. Sự thu hút của chúng , mặc dầu không được thú nhận, một phần là do nhưng câu chuyện bí mật người ta loan truyền về gia đình của chúng.Mẹ chúng qua đời trong lúc sinh ra chúng. Cha chúng đã biến mất , và có tin đồn rằng ông ta đã bắn mẹ ruột của mình, nhưng người ta không thể xác nhận các lời đồn đại ấy.Báo chí không đề cập gì về chuyện này mà chỉ nói một cách ngắn ngủi rằng Tony Blackwell đã bị suy sụp thần kinh và bị nhốt ở một nơi.Khi bao chí hỏi ông bác sĩ Harley thì ông ta đưa ra một câu nói cộc lốc." Không bình luận."
Những ngày vừa qua quả là địa ngục đối với ông bác sĩ John Harley. Chừng nào ông còn sống, ông vẫn còn nhớ mãi đến quang cảnh ông đã chứng kiến khi ông đi đến phòng bà Kate Blackwell sau khi nhận được một cú điện thoại rối rít của người quản gia.Kate nằm dài trên sàn nhà trong cơn hôn mê , với nhiều vết đạn ở cổ và ngực , máu tuôn ra nhuộm đỏ cả tấm thảm trắng.Tony đang sục sạo các tủ áo của mẹ anh cắt loạn xạ các chiếc áo của bà ra từng mảnh bằng một cái kéo.
Bác sĩ Harley đưa mắt nhìn bà Kate thật nhanh , rồi hối hả gọi xe cứu thương đến.Ông quì xuống bên cạnh bà Kate , bắt mạch.Mạch của bà rất yếu và rất nhỏ , mặt bà đang trở sang màu xanh nhợt.Bà sắp sửa bị kích ngất. Ông liền tiêm cho bà một mũi Adrenaline và Sodium bicarbonate.
" Chuyện gì xảy ra vậy?" Bác sĩ Harley hoi.
Viên quản gia , mồ hôi vã ra như tắm , đáp , " Tôi...tôi không biết. Ông Blackwell bảo tôi đi pha cà phê cho ông. Lúc tôi đang ở trong bếp thì nghe tiếng súng nổ.Tôi chạy lên lầu thì thấy bà Kate Blackwell nằm trên sàn nhà , như thế này. Ông Blackwell lúc ấy đang đứng phía trên bà ấy và nói." Nó sẽ không làm hại mẹ nữa đâu , mẹ ạ. Con đã giết nó rồi." Thế rồi ông ấy đi đến tủ áo và bắt đầu cắt các áo trong đó."
Bác sĩ Harley quay về phía Tony."Anh làm gì ở đấy Tony?".
Anh lại cắt xé dữ dội."Tôi giúp mẹ tôi. Tôi đang hủy hoại công ty.Chính nó đã giết mẹ tôi, ông hiểu không?"Anh lại tiếp tục cắt xé quần áo trong tủ.
Người ta đưa gấp bà Kate vào khu cấp cứu trong một bệnh viện tư của Kruger-Brent. Bà được truyền máu bốn lần trong khi bác sĩ mổ để lấy các viên đạn ra.
Phải có ba người y tá nam mới lôi được Tony vào trong chiếc xe cứu thương , sau khi bác sĩ John Harley tiêm cho anh ta một mũi thuốc để làm cho anh yên bớt. Một toán lính cảnh sát đáp ứng lời kêu gọi của xe cứu thương , và bác sĩ John Harley cho mời Brad Rogers đến để tiếp xúc với họ.Bằng phương tiện nào đó mà bác sĩ Harley không hiểu được , các giới truyền tin không đề cập một chút gì đến vụ nổ súng.
Bác sĩ Harley đi đến bệnh viện để thăm bà Kate Blackwell , lúc này đang được chăm sóc đặc biệt. Câu nói đầu tiên bà thều thào thốt ra là :" Con trai tôi đâu rồi?"
"Anh ấy được chăm sóc , bà Kate ạ.Anh ấy không hề gì đâu."
Tony được đưa đến một dưỡng đường tư ở Connecticut.
Bác sĩ John này, tại sao Tony lại cố tình giết tôi?Tại sao?" Sự đau khổ trong giọng nói của bà dường như không thể nào chịu đựng nổi.
"Anh ấy oán trách bà về cái chết của Marianne."
"Thật là điên rồ!"
John Harley không đưa ra lời bình luận nào.
Anh ấy trách bà về cái chết của Marianne!
Sau khi bác sĩ John Harley đã ra khỏi phòng , bà Kate nằm ở đó , không thể nào chấp nhận được những lời nói ấy. Bà đã yêu Marianne vì nàng đem lại hạnh phúc đến cho Tony. Tất cả những ước mơ của mẹ là dành cho con. Làm sao con không thể hiểu được điều ấy?
Thế nhưng anh ta đã ghét bà đến nỗi cố giết bà.Kate cảm thấy trong lòng tran ngập đau khổ ; bà chỉ muốn được chết.Nhưng bà không để cho mình phải chết.Bà đã làm những gì bà cho là phải.Họ đều lầm cả.Tony là một con người yếu đuối không dám một mình đương đầu với cuộc sống.Nhưng ta , Kate Blackwell , không yếu đuối.Ta có thể đương đầu với câu chuyện này , có thể đương đầu với bất cứ chuyện gì. Ta sẽ sống.Ta sẽ sống sót. Công ty của ta sẽ tồn tại.
0
CHƯƠNG XXIII
Kate hồi phục sức khoẻ ở Dark Harbor , để cho mặt trời và gió bể giúp bà chóng bình phục.
Tony ở trong một dưỡng đườnng tư để được sự săn sóc tốt nhất.Kate đã mời những nhà chuyên môn về tâm thần đến từ Paris , Vienna và Berlin , nhưng khi tất cả những cuộc thử nghiệm và khám nghiệm thực hiện xong , sự chẩn đoán của họ đều giống nhau : con trai bà bị chứng hoang tưởng bộ phận và tâm thần phân lập có khuynh hướng giết người.
"Anh ấy không có đáp ứng đối với các loại thuốc và biện pháp điều trị tâm lý.Chúng tôi phải giữ anh ấy trong tình trạng kiềm chế?"
"Kiềm chế như thế nào?"
"Anh ấy ở trong một căn phòng có bọc đệm xung quanh.Chúng tôi cho anh ấy mặc một thứ áo bó chặt chân tay hầu như suốt cả ngày."
"Có cần thiết phải làm như vậy không?"
"Thưa bà Blackwell , nếu không làm thế , anh ấy sẽ giết bất cứ ai lại gần."
Bà đau đớn , nhắm đôi mắt lại. Họ không phải đang nói chuyện về Tony hiền lành, dịu dàng của bà, mà nói về một kẻ lạ mặt nào đó , một kẻ bị ám ảnh. Bà mở cặp mắt ra." Không có cách đi đến được tận trí óc của anh ấy. Chúng tôi vẫn cho anh ấy dùng thuốc , nhưng ngay khi thuốc hết hiệu lực thì anh ta lai điên cuồng trở lại. Không thể nảo tiếp tục lối điều trị này mãi mãi được."
Kate đứng thẳng người dậy." Vậy ông đề nghị làm thế nào, bác sĩ?"
" Trong những trường hợp tương tự như vậy, chúng tôi phải lấy đi một phần não thùy tương tự như vậy , chúng tôi phải lấy đi một phần não thùy thì cũng tạo nên kết quả khả quan."
Kate nuốt nước bọt đánh ực một cai." Một cuộc phẫu thuật não thùy?"
"Đúng vậy.Con trai bà sẽ vẫn có thể hoạt động về mọi phương diện, duy chỉ có điều là anh ấy sẽ không còn có những cảm xúc mạnh mẽ bất thường nữa."
Kate ngồi yên tại chỗ , đầu óc và thân thể bà như run lên vì lạnh.Bác sĩ Morris, một bác sĩ trẻ của bệnh viện Menninger, ph1 tan sự im lặng." Tôi biết rằng bà khó có thể chịu đựng được một hoàn cảnh như vậy. Nhưng nếu bà nghĩ đến...."
"Nếu đó là lối duy nhất để ngăn chận sự đau khổ dày vò nó , thì các ông cứ tiến hành." Kate nói.
Frederick Hoffman muốn đem các cháu của ông về nuôi." Tôi muốn đưa chúng nó về Đức."
Kate nhận thấy ông ta có vẻ như già đi đến hai mươi tuổi từ ngày Marianne qua đời. Bà thương hại ông ta ,nhưng nhất định không chịu rời xa các con của Tony." Chúng được nuôi dưỡng ở nơi này. Ông hãy đến thăm các cháu luôn."
Cuối cùng, ông Frederick đành phải nghe lời.
Hai đứa trẻ sinh đôi được đưa đến ở tại nhà bà Kate. Một dãy buồng nuôi trẻ được xép đặt dành cho chúng. Kate phỏng vấn các cô nuôi dạy trẻ , và cuối cùng tuyển được một cô người Pháp tên là Solange Dunas.
Kate đặt tên cho đứa sinh ra đầu tiên là Eve và đứa em sinh đôi của nó là Alexandra. Chúng giống nhau như hệt, khó mà phân biệt được đứa này với đứa kia. Trông chúng chơi đùa với nhau giống như là nhìn vào hình ảnh trong một tấm gương.Kate ngac nhiên trước phép lạ kỳ diệu mà con trai bà và Marianne đã tạo ra. Chúng là những đứa trẻ thông minh nhanh nhẹn và dễ bảo, nhưng chỉ ít tuần lễ , Eve có vẻ phát triển hơn Alexandra, Eve là đứa đầu tiên biết bò , nói chuyện và bước đi Alexandra theo kịp nhanh chóng , nhưng ngay từ lúc đầu , Eve là đứa trẻ đi tiên phong ,Alexandra yêu thương chị nó , và cố bắt chước mọi thứ chị nó làm. Kate cố dành nhiều thì giờ tối đa để chơi với các cháu. Chúng làm cho bà thấy trẻ lại.Rồi bà lại bắt đầu mơ tưởng. Một ngày nào đó , khi ta già yếu, sẵn sàng rút lui thì....
Vào ngày sinh nhật đầu tiên của hai đứa trẻ song sinh, Kate tở chức một bữa tiệc. Chúng có hai chiếc bánh sinh nhật y hệt như nhau , và hàng chục món quà của bạn bè , nhân viên công ty, và gia nhân. Tiệc sinh nhật lần thứ hai đến tiếp đó nhanh chóng. Kate không thể tin được rằng thời gian trôi qua nhanh như vậy, và các cháu bà cũng lớn lên như thổi.Bà có thể nhận ra rõ ràng hơn sự khác biệt về nhân cách của chúng : Eva , mạnh khoẻ hơn, táo bạo hơn ,Alexandra thì dịu dàng hơn, sẵn sàng chịu sự điều khiển của chị nó.Kate thầm nghĩ, chúng nó không có mẹ có cha mà chúng yêu thương nhau như vậy thì đó là một phước lớn.
Nhưng,vào đêm trước ngày sinh nhật thứ năm , Eve tìm cách giết Alexandra.
Đã khá lâu rồi ,Eve vẫn ghét em nó. Nó nổi sùng lên một cách âm thầm khi có người nào đó bồng Alexandra lên vuốt ve nó hay cho nó một món quà. Eve cảm thấy như nó bị đánh lừa. Nó muốn có tất cả riêng cho nó- tất cả tình thương, tất cả những thứ đẹp đẽ xung quanh hai đứa. Nó không thể có một ngày sinh nhật riêng cho nó. Nó ghét Alexandra vì cô bé này giống nó. mặc quần áo y như nó , chiếm đoạt một phần tình thương của bà nội mà đáng lẽ nó phải được hưởng hoàn toàn.Alexandra yêu mến Eve , nhưng Eve lại khinh bỉ Alexandra vì chuyện ấy.Alexandra có tính tình rộng rãi, sẵn sàng nhường lại cho Eve các con búp bê và đồ chơi , nhưng điều đó lại càng làm cho Eve thêm khinh bỉ. Eve không chia sẻ thứ gì cả. Cái gì thuộc về nó là của nó ; nhưng như thế chưa đủ. Nó muốn bất cứ thứ gì mà Alexandra có. Đến đêm , dưới cặp mắt canh chừng của cô Solange Dunas , cả hai đứa bé cùng đọc kinh thật to, nhưng Eve bao giờ cũng thêm vào đó một lời cầu nguyện âm thầm rằng Chúa sẽ đánh chết Alexandra đi. Khi lời cầu nguyện ấy không được đáp ứng ,Eve không thể chịu đựng được ý tưởng phải chia sẻ một bữa tiệc sinh nhật nữa với Alexandra. Khách khứa hôm ấy là những người bạn của riêng nó , các quà sinh nhật cũng là những quà riêng cho nó mà em gái nó sẽ đánh cắp từ tay nó. Nó phải giết Alexandra cho sớm.
Đêm trước hôm sinh nhật ,Eve nằm trên giường , mắt mở thao láo.Khi đã biết chắc rằng mọi người trong nhà đều ngủ cả , nó đi đến giường của Alexandra đánh thức em nó dậy."Alex." nó thì thầm," chúng mình xuống bếp xem các bánh sinh nhật đi."
Alexandra nói với giọng còn ngái ngủ,"Mọi người đang ngủ cả."
" Mình sẽ không đánh thức ai dậy cả."
" Cô Dunas sẽ không bằng lòng đâu. Tại sao chúng ta không chờ đến sáng mai xem bánh cũng được?"
" Bởi vì chị muốn xem các bánh ấy ngay bây giờ.Em có đi hay không?"
Alexandra dụi mằt cho tỉnh ngủ. Nó chẳng thích gì xem các bánh ấy , nhưng không muốn làm chị nó phải buồn lòng."Em đi." nó nói.
Alexandra đi ra khỏi giường , xỏ chân vào đôi giày vải. Cả hai đứa đều mặc áo ngủ bằng ni lông màu hồng.
"Ta đi nào. Đừng có làm ồn ào nhé." Eve nói.
" Vâng," Alexandra đáp.
Chúng rón rén ra khỏi phòng ngủ , đi vào hành lang ngang qua cửa phòng cô Dunas, xuống chiếc cầu thang dốc dẫn xuông bếp. Đó là một cái bếp rất rộng , với hai chiếc lò lớn đốt bằng khí , sáu cái lò nhỏ , ba tủ lạnh và một tủ ướp lạnh có thể bước vào được.
Trong tủ lạnh.Eve tìm thấy những chiếc bánh mà bà làm bếp Tyler đã làm xong.Một trong những chiếc bánh ấy có ghi dòng chữ ," Mừng sinh nhật Alexandra", chiếc kia ghi ," Mùng sinh nhật Eve."
Năm sau , Eve tự nhủ thầm. chỉ có một tên mà thôi.
Eve lấy chiếc bánh sinh nhật của Alexandra ra , đặt nó trên một cái thớt gỗ giữa bếp. Nó mở một ngăn kéo. lấy ra một gói nến đủ màu sắc.
" Chị làm gì thế?" Alexandra hỏi.
" Chị muốn xem khi mình đốt tất cả các cây nến lên nó sẽ trông như thế nào." Eve bắt đầu gắn các cây nến lên lớp kem trên bánh.
"Em nghĩ chị không nên làm thế, Eve ạ.Chị làm hỏng chiếc bánh ấy đi , chắc bà Tyler sẽ giận lắm đấy."
" Bà ấy sẽ chẳng để ý đến đêu." Eve mở một ngăn kéo khác , lấy ra hai hộp diêm lớn. Nào, giúp đỡ chị một tay."
" Em muốn về giường nằm ngủ."
Eve quay lại nhìn em, giận dữ." Thôi được mày về giường mà nằm.Đồ nhát nư thỏ. Để tao làm một mình."
Alexandra do dự." Chị muốn em làm gì nào?"
Eve đưa nó một hôp diêm." Thắp các ngọn nến đi."
Alexandra sợ lửa. Cả hai đứa đều được căn dặn về sự nguy hiểm của việc chơi diêm. Chúng đã được nghe nói những câu chuyện ghê gớm về những đứa trẻ không nghe lời căn dặn ấy. Nhưng Alexandra không muốn làm chị buồn lòng , vì vậy nó phải vâng lời, bắt đầu châm các ngọn nến.
Eve đứng nhìn em nó trong một lát." Mày quên không châm những cây nến phía bên kia, đồ ngu," nó nói.
Alexandra nhoài người ra để châm những ngọn nến ở phía xa , lưng nó quay về phía Eve. Ngay lập tức , Eve quệt một que diêm , đặt nó sát vào các que khác trong chiếc hộp nó đang cầm ở tay. Các que diêm này cháy xoè lên thành những ngọn lửa. Eve thả hôp diêm dưới chân Alexandra , làm cho gấu chiếc áo ngủ của Alexandra bắt lửa. Một lát sau ,Alexandra mới biết được chuyện gì đang xảy ra.Nó thấy đau đớn khủng khiếp ở chân, vôi nhìn xuống , rồi hét to lên ," Cứu! Cứu tôi với!"
Eve nhìn chiếc áo đang bốc cháy , kinh hãi trước sự thành công mỹ mãn của mình.Alexandra đứng nguyên tại chỗ , cứng đờ , tê cóng vì sợ hãi.
" Đừng có động đậy !" Eve nói." Để ta đi lấy một xô nước." Nó hối hả chạy đến phòng chứa thực phẩm, tim đập rộn ràng với nỗi vui mừng pha lẫn chút sợ hãi.
Chính là nhờ một phim chớp bóng kinh hoàng mà người ta đã cứu sống được Alexandra. Đêm hôm ấy, bà Tyler, người đầu bếp của bà Blackwell , đi xem xi nê với một viên trung sĩ cảnh sát. Anh này thỉnh thoảng cũng chia sẻ chiếc giường nằm với bà ta.Đặc biệt tối hôm ấy, màn ảnh chiếu toàn những cảnh người ta chết chóc, cụt tay cụt chân một cách quá ghê rợn khiến cho bà Tyler không thể chịu đựng được nữa. Giữa một cảnh chặt đầu ghê rợn bà Tyler nói," Richard này , có lẽ anh quen với những cảnh tượng này hàng ngày , chứ tôi thì không chịu nổi rồi."
Viên trung sĩ Richard Dougherty miễn cưỡng đưa bà ra khỏi rạp xi nê.
Hai người về đến nhà bà Blackwell sớm hơn một giờ. Vừa mới mở cửa ra , bà nghe tiếng Alexandra kêu thét từ trong bếp. Bà Tyler và Richard liền nhảy xổ vào trông thấy cảnh kinh hoàng trước mắt , họ lập tức ra tay hành động. Richard nhẩy đến chỗ Alexandra ngã lăn ra sàn nhà , nằm bất tỉnh. Bà Tyler đổ đầy một bình nước, rồi tưới lên ngọn lửa đang lan trên sàn nhà.
"Gọi ngay một chiếc xe cứu thương ," Trung sĩ Richard Dougherty ra lệnh ," Bà Blackwell có nhà không?"
" Có lẽ bà ấy đang ngủ trên lầu."
Khi bà Tyler vừa gọi xong xe cứu thương , có tiếng khóc phát ra từ phòng chứa thực phẩm của viên quản gia, rồi Eve chạy ra , vác một xô nước , vừa chạy vừa khóc lóc điên cuồng.
"Alexandra có chết không?" Eve thét lên," Nó chết rồi hay sao?"
Bà Tyler ôm nó trong hai cánh tay để an ủi." Không , cháu yêu quí ạ. em nó không hề gì. Rồi nó sẽ khoẻ lại ngay thôi."
" Đó là do lỗi tại tôi," Eve nức nở." Nó muốn thắp đèn nến trên cái bánh sinh nhật của nó. Lẽ ra tôi phải ngăn cản nó."
Bà Tyler vuốt lưng Eve." Không hề gì đâu. Cháu đừng có tự trách mình như thế."
" Các que... que diêm ấy rớt ra khỏi tay tôi, thế là áo của nó bắt lửa. Ghê ghớm quá!"
trung sĩ Richard nhìn Eve , nói với vẻ thương xót , "Tội nghiệp con bé."
"Alexandra bị bỏng ở chân và lưng." bác sĩ Harley nói với Kate ," nhưng rồi nó sẽ khỏi ngay thôi. Vào thời buổi bây giờ , chúng tôi có thể chữa những trường hợp bị bỏng một cách kỳ diệu. bà hãy tin tôi đi chuyện vừa rồi có thể đã gây một thảm kịch khủng khiếp."
" Tôi biết." Kate nói. Bà đã nhìn thấy những vết phỏng của Alexandra và rất lấy làm kinh sợ. Do dự một lúc bà nói tiếp ," Bác sĩ này tôi lo về Eve hơn đấy."
"Eve cũng bị thương hay sao?"
" Không phải về thể chất.Con bé tội nghiệp ấy tự trách mình đã gây ra tai nạn.Nó bị những cơn ác mộng khủng khiếp.Ba đêm qua , tôi đã phải đi vào phòng nó , ôm nó trên tay , nó mới ngủ lại được. Tôi không muốn câu chuyện này gây nên chấn thương nặng hơn nữa. Eve là một đứa bé rất nhậy cảm."
" Trẻ con dễ quên đi nhanh chóng.Nếu có vấn đề gì , bà cứ cho tôi biết , rồi tôi giới thiệu cho bà một bác sĩ nhi khoa."
" Cám ơn ," Kate nói đầy vẻ biết ơn.
Eve rất bối rối khó chịu. Buổi tiệc sinh nhật đã bị hủy bỏ. Chính Alexandra đã đánh lừa để làm mình mất đi cơ hội này , Eve thầm nghĩ một cách chua chát.
Alexandra đã lành lại hoàn toàn , không mang một vết sẹo nào trên người. Eve cũng vượt qua được cảm giác tội lỗi một cách dễ dàng đến kỳ lạ. Vì bà Kate đã trấn an nó, " Tai nạn có thể xảy ra với bất cứ ai, cháu ạ. Cháu đừng có tự trách mình như thế."
Eve đâu có tự trách mình. Nó trách bà Tyler tại sao bà ấy lại về nhà sớm để làm hư hỏng tất cả mọi sự? Nó đã chuẩn bị hoàn hảo rồi mà.
Dưỡng đường , nơi Tony bị nhốt , nằm trong một vùng đất yên tĩnh có nhiều cây ở Connecticut.Kate vẫn đi xe đến đó thăm anh mỗi tháng một lần. Cuộc giả phẫu não thùy đã thành công.Anh không còn biểu lộ những dấu hiệu hung hãn nữa.Anh nhận ra được Kate và hỏi han về Eve và Alexandra. Nhưng anh không tỏ ra có ý muốn nào gặp chúng nó.Anh rất ít quan tâm đến bất cứ thứ gì. Anh có vẻ như vui thích. Không, không phải là vui thích , Kate chũa lại câu nói. Hài lòng thì đúng hơn. Nhưng hài lòng - về cái gì?
Kate hỏi ông Burger viên giam đốc dưỡng đường , " Con trai tôi có làm việc gì suốt mỗi ngày không?"
" Có chứ ạ , thưa bà Blackwell.Anh ấy ngồi hàng giờ để vẽ."
Con trai bà lẽ ra có thể làm chủ cả thế giới này , thế mà anh ta lại ngồi vẽ suốt ngày.Kate cố không nghĩ đến sự phí phạm nếu cái đầu óc thông minh sáng láng ấy bị mất đi vĩnh viễn."Anh ấy vẽ cái gì vậy?"
Viên giám đốc tỏ vẻ bối rối." Không ai có thể nhận ra được anh ấy vẽ cái gì."
0
Mình đánh như vậy có đúng cách không vậy? có được không vậy?
0

Trích đoạn: buithingoclinh

Mình đánh như vậy có đúng cách không vậy? có được không vậy?


Bạn gõ đúng cách rồi đó Ngọc Linh. Cám ơn bạn nhiều nhé. Bạn gõ nhanh thật đấy. XIN bái phục [sm=cauchuc.gif]

Mình nhận gõ chương 31.

Cám ơn songduong. Tên của bạn đã được cập nhật.
http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=143481&mpage=2



***
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-04 20:13:46songduong>
Mình nhận gõ chương 31.
0
Tâm thần của George Mellis bị rúng động thảm hại vì những gì vừa xảy ra. Y đã tiến gần một cách nguy hiểm đến việc hủy hoại tất cả những gì y đang thèm muốn. Trước đó, y đã ý thức rất rõ rằng nếu y kiểm soát được Công ty Kruger-Brent thì điều đó có ý nghĩa lớn lao đối với y như thế nào. Y đã từng thỏa mãn với cuộc sống nhờ vả vào các món quà tặng của các bà, các cô cô đơn, nhưng bây giờ y đã cưới được một cô gái thuộc gia đình Blackwell và sắp sửa nắm bắt được một công ty lớn lao hơn bất cứ thứ gì mà cha y đã từng mơ ước. Ba ơi, nhìn con đây này. Con đã sống lại và đã làm chủ một công ty lớn hơn công ty của bố rất nhiều. Đó không phải là một trò chơi nữa. Y biết rằng y phải giết người để có những gì y ao ước.
Mellis cố hết sức tạo ra cho mình hình ảnh của một người chồng toàn hảo. Y phải luôn luôn ở bên cạnh Alexandra, chừng nào có thể được. Họ ăn sáng chung với nhau, y dắt vợ ra phố ăn cơm trưa và chiều nào cũng về nhà sớm. Vào những ngày cuối tuần, hai vợ chồng cùng đến ngôi nhà trên bờ biển của bà Kate Blackwell ở East Hampton, hay đi đến Dark Harbor bằng chiếc máy bay Cessna 620 của Công ty. Dark Harbor là nơi mà Mellis lấy làm vui thích nhất. Y thích ngôi nhà cổ ấy với các đồ cổ đẹp đẽ và những bức tranh vô giá. Y lang thang hết phòng này sang phòng khác. Chẳng bao lâu nữa những thứ này sẽ thuộc về ta. Ý nghĩ này gây cho y một cảm giác ngây ngất.
Mellis cũng là một đứa cháu rể toàn hảo. Y rất chăm lo cho bà Kate. Bà đã tám mươi mốt tuổi, bà lãnh đạo công ty Kruger-Brent, một người đàn bà cương nghị, tràn đầy sức sống, Mellies thu xếp làm sao để y và Alexandra có thể ăn cơm tối với bà Kate mỗi tuần một lần, và cứ ít ngày y lại điện thoại cho bà một lần để nói chuyện. Y cẩn thận xây dựng nên hình ảnh của một người chồng tốt, một đứa cháu rể có lòng hiếu thảo.
Không ai có thể ngờ được rằng y dang âm mưu giết hai người mà y rất yêu thương.

Sự thỏa mãn của George Mellis bị phá vỡ đột ngột vì một cú điện thoại của Bác sĩ John Harley.
“Tôi đã thu xếp cho anh đến gặp một bác sĩ tâm thần. Bác sĩ Peter Templeton.”
Mellis cố đáp lại bằng một giọng sốt sắng, cố làm ra vẻ dễ mến. “Chuyện ấy bây giờ không thực sự cần thiết nữa, Bác sĩ Harley ạ. Tôi nghĩ rằng…”
“Tôi đếch cần anh nghĩ cái gì. Chúng ta đã thỏa thuận với nhau – tôi không báo cáo với cảnh sát, và anh phải đi khám bệnh với một bác sĩ tâm thần. Nếu anh muốn phản bội lời hứa…”
“Không, không.” Mellis vội vã và nói. “Nếu ông muốn như vậy thì cũng được thôi.”
“Số điện thoại của bác sĩ Templeton là 555 3161. Ông ấy chờ anh gọi điện thoại hôm nay.” Nói xong Bác sĩ Harley đập mạnh ống nghe xuống.
Đồ rách việc! Mellis rủa thầm. Y ghét nhất là mất thì giờ với những chuyện như vậy, nhưng y không dám liều mạng với Bác sĩ Harley. Y sẽ gọi Bác sĩ Templeton, gặp ông ta một, hai lần, rồi chuồn luôn.

Eve điện thoại cho George Mellis ở văn phòng. “Tôi đã về nhà.” “Em có...” Y sợ không dám hỏi, “Em có được bình thường không?”
“Đến đây sẽ biết. Tối nay.”
“Vào lúc này anh khó mà đi được lắm. Anh và Alexandra...”
“Tám giờ.”

Y khó có thể tin được. Eve đứng trước mặt y, trông vẫn xinh đẹp như bao giờ. Y nhìn kỹ mặt nàng, nhưng không tìm thấy một vết thương tích nào do y đã gây ra cho nàng trước đây.
“Thật khó tin nổi. Em giống hệt như xưa kia.”
“Phải. Tôi vẫn xinh đẹp đấy chứ? Phải không, George?” Nàng tủm tỉm cười kín đáo, trong khi đầu óc nàng đang dự tính sẽ làm gì với anh chàng này. Y là một con vật bệnh hoạn, không đáng được sống. Y sẽ phải trả đủ cho những gì y đã gây ra cho nàng, nhưng chưa đến lúc. Nàng vẫn còn cần y. Hai người đứng ở đó, nhìn nhau, tủm tỉm cười.
“Eve này, anh không thể nói với em anh đã hối hận như thế nào…”
Nàng đưa bàn tay lên. “Thôi đừng nói đến chuyện ấy nữa. Xong rồi. Không có gì thay đổi cả.”
Nhưng Melles nhớ rằng đã có một sự thay đổi. Y nói, “Anh vừa nhận điện thoại của bác sĩ Harley. Ông ấy đã xếp đặt cho anh ặp một bác sĩ tâm thần khỉ gió nào đó.”
Eve lắc đầu. “Bảo với ông ấy rằng anh không có thì giờ.”
“Anh cũng đã cố làm như vậy. Nhưng nếu anh không đi, ông ta sẽ báo cáo với cảnh sát về tai nạn vừa rồi.”
“Mẹ kiếp!”
Nàng đứng yên tại chỗ, ra dáng suy nghĩ, “Ai vậy?”
“Ông bác sĩ tâm thần ấy à? Một người nào đó tên là Templeton. Peter Templeton.”
“Tôi có nghe tên ông ta. Ông ấy nổi tiếng lắm.”
“Đừng lo. Tôi chỉ nằm xuống trên đi văng chừng năm mười phút và sẽ không nói gì hết. Nếu...”
Eve không lắng nghe. Một ý kiến chợt đến với nàng, và nàng đang thăm dò nó xem sao.
Nàng quay về phía George Mellis và nói. “Có thể rằng đó là điều may mắn cho anh đấy.”
Peter Templeton ở vào tuổi ba mươi, cao trên hai thước, vai rộng, nét mặt sáng sủa, đôi mắt xanh tò mò, trông giống như một tiền vệ bóng bầu dục hơn là một bác sĩ. Lúc này, anh nhăn mặt đọc một ghi chú trên thời khóa biểu của anh: George Mellis – Con rể bà Kate Blackwell.
Những vấn đề của người giàu có không phải là mối quan tâm của anh. Đa số các đồng nghiệp của anh đều vui mừng khi được tiếp xúc với các bệnh nhân thuộc tầng lớp cao trong xã hội. Khi mới bắt đầu hành nghề, anh cũng đã từng tiếp xúc với họ, nhưng rồi anh nhanh chóng nhận ra rằng anh không thể nào thông cảm với những vấn đề của họ. Anh đã gặp những bà quả phụ thừa kế giàu có la hét trong văn phòng của anh vì các bà ấy không được mời tham dự vào một buổi tiệc tùng nào đó, những nhà tài chánh dọa tự tử vì đã mất tiền trong thị trường chứng khoán, những bà mập ú xen kẽ cuộc sống trong các nông trại với những cuộc hội hè, tiệc tùng. Thế giới toàn những vấn đề, nhưng đó không phải là những vấn đề anh quan tâm giúp đỡ để giải quyết.
George Mellis. Peter miễn cưỡng đồng ý gặp y chỉ vì lòng kính trọng của anh đối với Bác sĩ Harley. Chính anh đã nói. “Tôi mong ông giới thiệu anh ta với bác sĩ khác, vì hiện nay thời khóa biểu của tôi đã đầy cả rồi.”
“Anh cứ xem đây là một đặc ân của anh dành cho tôi, Peter ạ.”
“Trường hợp anh ta như thế nào?”
“Đây là một trường hợp thuộc phạm vi chuyên môn của anh. Tôi chỉ là một bác sĩ già ở thôn quê thôi.”
“Thôi được.” Peter đồng ý. “Ông bảo anh ta gọi lại tôi.”
Lúc này, Mellis đã đến phòng khám bệnh của anh. Templeton ấn nút máy “Intercom” trên bàn. “Mời ông Mellis vào đây.”
Peter Templeton đã thấy ảnh của George Mellis trên báo chí nhưng anh ngạc nhiên trước dáng vẻ mạnh khỏe, tràn đầy sức sống của y.
Họ bắt tay nhau. Peter nói. “Ngồi xuống đi, anh Mellis.”
Mellis nhìn lên chiếc đi văng. “Ở nơi kia sao?”
“Đâu cũng được, miễn là anh thấy thoải mái.”
Mellis ngồi trên chiếc ghế đối diện với bàn giấy. Y nhìn Templeton tủm tỉm cười. Y nghĩ rằng y sẽ kinh sợ giờ phút này lắm, nhưng sau khi nói chuyện với Eve, y đã thay đổi ý kiến. Bác sĩ Templeton sẽ là người đồng minh với y, là nhân chứng của y.
Peter nhìn chằm chằm vào người đối diện, với anh. Khi bệnh nhân đến với anh, họ thường tỏ vẻ lo lắng. Một số che đậy sự lo lắng ấy bằng vẻ can đảm bề ngoài, một số khác chỉ yên lặng, tự bênh vực hay nói thật nhiều. Trái lại, anh chàng này xem ra có vẻ vui thích. Kỳ lạ thật, Peter nghĩ thầm.
“Bác sĩ Harley bảo tôi anh có vấn đề.”
Mellis thở dài. “Tôi có hai vấn đề thì đúng hơn.”
“Vậy anh hãy kể cho tôi nghe đi.”
“Tôi cảm thấy rất thẹn thùng. Vì vậy, tôi xin...tôi đòi phải được đến đây gặp ông.” Y tựa lưng vào chiếc ghế và nói một cách nghiêm chỉnh. “Tôi đã làm một việc mà tôi chưa bao giờ làm trước kia, bác sĩ ạ. Tôi đã đánh một người đàn bà.”
Peter chờ đợi.
“Chúng tôi cãi cọ nhau, thế rồi tôi thấy hoa mắt. Khi tỉnh dậy thì ra tôi... tôi đã đánh cô ấy.” Giọng y hơi tắc lại “Thật kinh khủng quá.”
Tiếng nói bên trong của Templeton nói với anh rằng anh đã biết vấn đề của Mellis là gì rồi. Y thích đánh đập đàn bà.
“Có phải anh đánh vợ anh không?”
“Em vợ tôi.”
Peter Templeton thỉnh thoảng cũng có đọc những bài báo về hai chị em song sinh Blackwell trên báo chí khi họ xuất hiện ở những hội từ thiện hay tiệc tùng. Peter Templeton nhớ rằng họ giống hệt nhau, và đều xinh đẹp cả. Như vậy, anh chàng này đã đánh cô em vợ. Đây là một vấn đề khá thú vị. Điều thú vị khác nữa là anh chàng Mellis này làm ra vẻ như y chỉ mới đánh cô gái ấy một, hai lần thôi. Nếu sự thực là như vậy thì bác sĩ Harley hẳn đã không nằng nặc đòi Peter phải khám bệnh cho y.
“Anh nói anh đã đánh cô ta. Vậy anh có làm cô ta đau không?”
“Thật ra, tôi đã gây thương tích khá nặng cho cô ấy. Nhưng tôi đã nói với ông, lúc ấy tôi hoa mắt, không còn biết gì nữa. Khi tỉnh dậy, tôi không thể nào tin nổi mắt tôi nữa.”
Khi tôi tỉnh dậy. Đó là một lối tự bênh vực rất cổ điển. Tôi không làm chuyện ấy, mà chính là tiềm thức tôi đã làm.
“Anh có biết nguyên do nào đã gây ra phản ứng ấy không?”
“Gần đây tôi đã bị tinh thần căng thẳng khủng khiếp. Cha tôi bị ốm nặng. Ông ta bị nhiều cơn đau tim. Tôi rất lo lắng về ông ta. Gia đình chúng tôi sống rất gần gũi nhau.”
“Cha anh có ở đây không?”
“Ông ấy ở Hy lạp.”
À, đúng ông Mellis ấy rồi. “Anh bảo anh có hai vấn đề.”
“Phải, vợ tôi, Alexandra...” Y ngưng lại.
“Anh có những vấn đề rắc rối về chuyện vợ chồng?”
“Không phải theo nghĩa ông muốn nói đâu. Chúng tôi rất yêu nhau. Chỉ có vấn đề là...” Y do dự một lát, “Gần đây, Alexandra không được khỏe.”
“Về thể chất?”
“Về cảm xúc. Vợ tôi luôn luôn tỏ ra buồn bã. Nàng luôn nói về chuyện tự vẫn.”
“Bà ấy có tìm sự giúp đỡ của y khoa không?”
Mellis tủm tỉm cười, nói. “Nhà tôi từ chối.”
Tệ quá nhỉ, Peter nghĩ. Một ông bác sĩ nào đó ở Park Avenue lại mất một cơ hội hốt bạc. “Thế anh đã nói điều này với Bác sĩ Harley chưa?”
“Chưa.
“Vì ông ấy là bác sĩ gia đình, tôi đề nghị anh nên nói với ông ta. Nếu cần, ông ấy sẽ giới thiệu cho một bác sĩ tâm thần.”
George Mellis nói ra vẻ lo lắng. “Không. Tôi không muốn Alexandra cảm thấy rằng tôi đã nói sau lưng nàng. Tôi e rằng ông Harley sẽ…”
“Thế cũng được. Để tôi sẽ gọi điện thoại cho ông ấy.”

“Eve ạ, chúng mình nguy to rồi.” Mellis nói.
“Có chuyện gì vậy?”
“Anh đã nói hệt như em dặn. Anh bảo rằng anh lo lắng vì Alexandra có ý định tự vẫn.”
“Thế thì sao?”
“Tên bác sĩ chó đẻ ấy sẽ gọi điện thoại cho Harkey và bàn vấn đề này với ông ta.”
“Lạy Chúa! Không thể để hắn làm thế!”
Eve bước qua lại, suy nghĩ. Bỗng nàng dừng lại, nói, “Thôi được rồi. Để tôi giải quyết với lão Harley. Anh còn có cuộc hẹn nào với Templeton nữa không?”
“Có”
“Phải đến đúng hẹn.”

Sáng hôm sau, Eve đến gặp Harley ở văn phòng ông ta. John Harley rất yêu mến gia đình Blackwell. Ông đã trông thấy hai cô gái này lớn lên. Ông đã chứng kiến thảm kịch về cái chết của Marianne, vụ tấn công bà Kate, và việc đưa Tony vào dưỡng đường người điên. Kate đã đau khổ quá nhiều. Ông không biết nguyên nhân nào đã gây ra những chuyện ấy, nhưng đó không phải là công việc của ông. Công việc của ông là chăm lo sức khỏe về thể chất của gia đình này.
Khi Eve bước vào, ông nhìn nàng và nói, “Keith Webster đã thành công tuyệt vời!” Một vết tích duy nhất còn lại trên mặt Eve là một cái sẹo đỏ, rất nhỏ, hầu như không thể trông thấy được, ngang qua trán. Eve nói, “Bác sĩ Webster sẽ làm cho cái sẹo này mất đi trong vòng một tháng nữa thôi.”
Harley vỗ nhẹ trên cánh tay Eve. “Nó chỉ làm cho cô xinh đẹp thêm thôi. Eve ạ, tôi rất mừng.” Ông chỉ cho nàng đến ngồi trên chiếc ghế. “Cô cần gì tôi nào?”
“Không phải vì tôi, bác sĩ ạ, mà vì Alexandra kia.”
Harley nhăn mặt. “Cô ấy có gì rắc rối chăng? Vì George hay sao?”
“Ồ, không đâu,” Eve nói thật nhanh. “George rất tử tế với nó. Sự thật là George rất lo lắng về nó. Gần đây, Alex có những cử chỉ rất lạ lùng. Nó rất buồn bã, và có ý định tự tử nữa.”
Harley nhìn Eve, và nói thẳng thắn, “Tôi không tin, Alexandra không bao giờ như vậy.”
“Tôi biết. Chính tôi trước đây cũng không tin. Vì vậy, tôi đến gặp nó. Tôi ngạc nhiên vì thấy nó thay đổi nhiều quá. Nó ở trong một trạng thái hết sức suy sụp. Tôi rất lo, bác sĩ John ạ, nhưng tôi không thể đến gặp bà nội tôi được để nói về chuyện này. Vì vậy, tôi phải đến gặp ông, ông phải làm điều gì đó để giúp đỡ nó.” Mắt nằng như nhòa hẳn đi. “Tôi đã mất bà nội tôi, bây giờ tôi không muốn mất cả em gái của tôi nữa.”
“Câu chuyện này xẩy ra bao lâu rồi?
“Tôi không biết chắc. Tôi van xin nó nói rõ cho ông biết về chuyện ấy. Thoạt tiên, nó từ chối, nhưng cuối cùng tôi thuyết phục nó được. Ông cần phải giúp đỡ cho em gái tôi.”
“Cố nhiên tôi sẽ giúp. Bảo cô ấy lại đây vào sáng mai. Và cô cũng đừng có lo, Eve ạ. Có những phương thuốc chữa trị mới rất có hiệu quả.”
Harley đưa nàng ra đến cửa. Ông cầu mong sao cho bà Kate tỏ ra khoan dung chứ đừng quá cứng rắn như thế. Eve thật là một cô gái biết quan tâm đến mọi người.
Khi Eve trở về phòng, nàng cẩn thận thoa kem để che đi sẹo đỏ trên trán.
Sáng hôm sau, nhân viên tiếp khách của bác sĩ Harley loan báo. “Bà George Mellis muốn gặp ông, bác sĩ ạ.”
“Mời bà ấy vào.”
Nàng bước vào chậm rãi, do dự. Mặt nàng tái nhợt, và có những vết thâm quầng xung quanh mắt.
John Harley cầm tay nàng nói, “Rất mừng được gặp cô. Alexandra ạ. Tôi nghe cô đang gặp vấn đề rắc rối vậy bây giờ cô hãy cho tôi biết đó là những vấn đề gì?”
Giọng nàng nói rất nhỏ. “Tôi làm bận rộn ông như thế này thật là vớ vẩn quá. Chắc rằng tôi chẳng đau ốm gì cả. Nếu Eve không nằng nặc buộc tôi phải đến đây, chắc chắn tôi không phiền đến ông làm gì. Tôi vẫn cảm tháy khỏe mạnh, về thể chất.”
“Thế còn về cảm xúc thì sao?”
Nàng do dự, “Tôi ngủ không được ngon giấc lắm.”
“Còn gì nữa không?”
“Có lẽ ông sẽ nghĩ rằng tôi mắc chứng hay lo ngại về bệnh tật.”
“Tôi biết rõ về cô hơn thế chứ. Alexandra.”
Nàng cúi gằm mặt xuống. “Nhiều khi tôi cảm thấy chán nản. Có vẻ như là lo âu và..., mệt mỏi. George làm đủ mọi cách cho tôi được sung sướng và nghĩ ra những việc cho chúng tôi cùng làm với nhau và những nơi chúng tôi thăm viếng. Vấn đề là tôi không thấy thích làm gì hay đi đâu cả. Mọi thứ có vẻ như là … vô vọng.”
Ông bác sĩ lắng nghe kỹ từng lời và quan sát nét mặt nàng. “Còn gì nữa không?”
“Tôi… tôi nghĩ đến việc tự vẫn.” Giọng nàng rất nhỏ, khiến cho ông nghe không được rõ lắm. Nàng ngước mắt nhìn lên mặt ông bác sĩ và nói, “Có phải tôi sắp bị điên không?”
“Cô có bao giờ nghe nói cái trạng thái là “anhedonia” không?”
Nàng lắc đầu.
“Đó là một trạng thái rối loạn sinh lý thường gây nên những triệu chứng cô vừa kể. Nó cũng rất thông thường thôi, và hiện nay có những thứ thuốc điều trị dễ dàng. Những thuốc này không có những hậu quả phụ, và rất hiệu nghiệm. Tôi sẽ khám cho cô, nhưng chắc rằng cô không đau ốm gì đâu.”
Khi cuộc khám nghiệm hoàn tất, và Alexandra đã mặc lại áo quần, bác sĩ Harley nói, “Tôi sẽ viết đơn cho cô mua thuốc Welbutrin. Đó là một loại thuốc mới chống tình trạng suy sụp tinh thần, một thứ thuốc mới thần diệu.”
Nàng nhìn ông lơ đãng trong khi ông viết toa thuốc.
“Tôi muốn cô trở lại đây một tuần lễ nữa, tính từ ngày hôm nay. Trong thời gian ấy, nếu cô có vấn đề gì, xin cứ gọi điện thoại cho tôi, dù ngày hay đêm.”
Ông đưa cho nàng toa thuốc.
“Cám ơn, bác sĩ John. Tôi hy vọng rằng thứ thuốc này sẽ chấm dứt cơn mơ.”
“Mơ gì?”
“Ồ, tôi tưởng đã nói với ông rồi chứ. Đêm nào cũng vậy, tôi mơ thấy mình đang đi trên một con thuyền giữa lúc gió to, rồi tôi nghe tiếng gọi của biển cả. Tôi đi đến lan can, nhìn xuống, rồi thấy mình đang ở dưới nước, sắp chết đuối…”
Nàng bước ra khỏi văn phòng Bác sĩ Harley, rồi đi xuống đường phố. Nàng tựa vào tòa nhà để thở thật sâu.
Mình đã thành công rồi. Eve nghĩ thầm một cách đắc chí. Nàng vứt toa thuốc xuống đất.

0
CHƯƠNG XX


Ngày hôm sau, Tony thuê một căn hộ trong vùng Greenwich Village. Không còn có những bữa cơm thân mật với mẹ anh nữa. Mối liên hệ giữa anh với mẹ vẫn tiếp tục trên căn bản công việc, không mang tính chất tình cảm. Đôi lúc Kate cũng tìm cách giảng hòa với con, nhưng Tony làm như không để ý đến. Kate cảm thấy đau đớn trong tim. Nhưng bà đã làm những gì mà bà cho là đúng cho Tony, cũng y hệt như trước kia bà đã làm đúng cho David. Bà không muốn bất kỳ người nào trong hai người ấy rời bỏ công ty của bà. Tony là người duy nhất trên thế gian này mà bà yêu mến, nhưng bà nhận thấy anh mỗi ngày một tách rời, kín đáo, chối bỏ tất cả mọi người. Anh không có bạn bè nào. Nếu trước kia anh là một con người nồng nhiệt, cởi mở thì bây giờ anh trở nên lạnh nhạt, dè dặt. Anh đã xây dựng lên một bức tường xung quanh mình mà không một ai có thể phá vỡ được. “Nó cần có một người để chăm sóc nó”, Kate nghĩ thầm, “Và một đứa con trai để tiếp tục sự nghiệp của nó. Mình phải giúp đỡ cho nó mới được”.



Brad Rogers bước vào văn phòng của Kate và nói, “Tôi lo rằng chúng ta sẽ phải dính líu vào nhiều vụ rắc rối nữa, Kate ạ”.
“Có chuyện gì xảy ra vậy?”
Brad đặt một bức điện lên bàn. “Quốc hội Nam Phi đã đặt Hội đồng Đại diện các Dân bản xứ ra ngoài vòng pháp luật và thông qua Đạo luật chống Cộng sản”.
Kate nói, “Lạy Chúa” Đạo luật ấy chẳng có liên quan gì đến Cộng sản cả. Nó tuyên bố rằng bất cứ ai bất đồng ý kiến với chính phủ và cố thay đổi bằng bất cứ cách nào sẽ bị coi là phạm tội theo đạo luật chống Cộng sản ấy, và có thể bị tù.
“Đó là cách của họ nhằm phá vỡ phong trào chống đối của người da đen”, Kate nói. “Nếu…”, câu nói của bà bị cắt ngang vì cô thư ký của bà vừa lúc ấy bước vào và nói.
“Có điện thoại từ nước ngoài gọi đến, thưa bà. Đó là ông Pierce ở Johannesburg”.
Jonathan Pierce là giám đốc chi nhánh của bà ở Johannesburg. Kate nhấc điện thoại. “A lô, Johnny. Mạnh khỏe chứ?”
“Vẫn khỏe, thưa bà. Tôi có ít tin tức cần cho bà biết”.
“Chuyện gì vậy?”
“Tôi vừa nhận được báo cáo cho biết rằng Banda vừa bị bắt”.



Kate lên máy bay đi Johannesburg ngay trong chuyến bay kế tiếp đó. Bà đã báo động cho các luật sư của công ty và ra lệnh cho họ nghiên cứu xem có cách nào giúp đỡ Banda được hay không. Ngay đến cả quyền lực và uy tín của Kruger – Brent cũng có thể bất lực trong việc này. Banda đã bị xem như là kẻ thù của quốc gia, nên bà lo sợ mỗi khi nghĩ đến thứ trừng phạt mà Banda sẽ phải gánh chịu. Ít nhất bà cũng phải gặp Banda, nói chuyện với bác ấy và đề nghị mọi sự giúp đỡ có thể có được.
Khi máy bay hạ cánh xuống Johannesburg, Kate đi ngay đến văn phòng của bà, rồi điện thoại đến giám đốc các nhà tù.
“Thưa bà Blackwell, hắn ta bị nhốt trong một khu riêng biệt, không được phép tiếp khách khứa nào đến thăm. Thế nhưng trong trường hợp của bà, tôi sẽ tìm cách thu xếp…”
Sáng hôm sau, Kate có mặt ở nhà tù Johannesburg, mặt đối mặt với Banda. Anh bị xiềng xích chân tay, và có một tấm vách ngăn bằng kính giữa hai người. Tóc Banda đã hoàn toàn bạc trắng. Trước đó, Kate không biết lúc gặp Banda, bác ta sẽ có thái độ như thế nào – thất vọng, thách thức – thế nhưng, khi gặp bà, Banda nhoẻn miệng cười và nói, “Bác biết thế nào cháu cũng đến. Cháu y hệt như cha cháu. Cháu không thể nào tìm cách tránh xa mọi sự rắc rối hay sao?”
“Bác hãy nhìn kỹ xem ai đang nói chuyện với bác ở đây”, Kate cãi lại. “Mẹ kiếp! Làm thế nào đưa bác ra khỏi nơi này được?”
“Trong một chiếc quan tài. Đó là cách duy nhất họ sẽ cho phép bác ra khỏi nơi này”.
“Tôi có nhiều luật sư tài giỏi có thể…”
“Bỏ qua chuyện ấy đi, Kate ạ. Chúng nó bắt bác một cách đàng hoàng thì bây giờ bác cũng phải ra đi một cách đàng hoàng”.
“Bác nói gì lạ vậy?”
“Bác không thích các lồng sắt. Chẳng bao giờ thích cả. Thế nhưng chúng nó không bao giờ dưng lên thứ lồng sắt nào khả dĩ giữ bác lại được”.
“Bác Banda, bác đừng có làm thế. Tôi xin bác. Chúng nó sẽ giết bác mất”.
“Không thứ gì có thể giết bác được đâu”, Banda nói. “Cháu đang nói chuyện với một người đã từng gặp cá mập, bãi mìn và chó săn mà vẫn sống”. Một tia sáng lóe lên trong mắt Banda. “Cháu biết không, Kate? Có lẽ đó là những giờ phút thú vị nhất trong cuộc đời của bác đó”.



Khi Kate đến thăm Banda ngày hôm sau, viên giám thị nhà giam nói, “Tôi xin lối, thưa bà Blackwell. Chúng tôi bắt buộc phải di chuyển hắn đi nơi khác vì lý do an ninh”.
“Anh ta bây giờ ở đâu?”
“Tôi không được phép nói ra”.



Khi Kate thức dậy vào sáng hôm sau, bà nhìn thấy hàng tít lớn trên tờ báo được đem đến trên chiếc khay đựng các thức ăn điểm tâm. Dòng tít ấy như sau: LÃNH TỤ PHIẾN LOẠN BỊ GIẾT TRONG KHI CỐ GẮNG VƯỢT NGỤC. Một giờ sau, Kate đến văn phòng của viên quản đốc nhà giam.
“Hắn ta bị bắn chết trong khi cố gắng vượt ngục, thưa bà Blackwell. Thế là chấm dứt mọi thứ”.
Ông lầm rồi, Kate nghĩ thầm, còn nhiều hơn thế nữa chứ. Banda đã chết, nhưng ước mơ tự do của bác ấy cho đồng bào của bác có chết được không?
Hai ngày sau, sau khi xếp đặt công việc mai táng cho Banda, Kate lên máy bay trở về New York. Bà nhìn ra ngoài cửa sổ máy bay để xem lại một lần cuối cùng vùng đất nước thân yêu của bà. Đất màu đỏ, giàu có và màu mỡ, và trong lòng đất của nó đang chứa đựng những kho tàng lớn vượt sức tưởng tượng của con người. Đó là đất lựa chọn của Chúa, và Người đã tỏ ra rất rộng lượng. Nhưng có một lời nguyền rủa trên đất nước ấy. Ta sẽ không bao giờ trở lại nơi này nữa, Kate thầm nghĩ. Không bao giờ.


Một trong các trách nhiệm của Brad Rogers là trông coi cục Quy hoạch Dài hạn của công ty Kruger – Brent. Anh tỏ ra rất xuất sắc trong việc tìm ra những dịch vụ kinh doanh đem đến nhiều lợi lộc cho công ty.
Một hôm, vào đầu tháng năm, anh bước vào văn phòng của Kate Blackwell “Tôi vừa bắt được một cơ hội rất hay, Kate ạ”. Anh đặt hai tập hồ sơ trên bàn. “Hai công ty. Nếu ta nắm được một trong hai công ty này thì đó sẽ là một việc làm phi thường”.
“Cám ơn, Brad. Để tôi xem xét các hồ sơ này tối nay”.
Tối hôm ấy, Kate ăn cơm một mình, rồi nghiên cứu các báo cáo mật của Brad về hai công ty – Công ty dầu và Công cụ Wyatt, và công ty Kỹ thuật Quốc tế. Các báo cáo ấy dài và đi sâu vào chi tiết, nhưng cả hai đều kết thúc bằng chữ NIS, một thứ mật mã của công ty viết tắt chữ NOT INTERESTED IN SELLING (Không muốn bán). Điều này có nghĩa là, nếu muốn thủ đắc công ty ấy, họ cần phải thực hiện một lối giao dịch kinh doanh không phải là đơn giản. Nhưng Kate thầm nghĩ, hai công ty này đều đáng được tiếp quản cả. Mỗi công ty ấy đều do tư nhân kiểm soát, đứng đầu là một cá nhân giàu có, cương quyết; điều này loại trừ mọi cố gắng tiếp quản, nếu có. Thật là một cuộc thử thách lớn, nhưng đã từ lâu Kate quen đương đầu với các cuộc thử thách rồi. Càng nghĩ đến chuyện này, Kate lại càng thấy các khả năng ấy trở nên hấp dẫn. Bà nghiên cứu lại một lần nữa các bản quyết toán mật về tài sản của các công ty ấy. Công ty Wyatt do một người vùng Texas làm chủ, tên là Charlie Wyatt, và tài sản của công ty này gồm có các giếng dầu, một công ty dịch vụ công cộng, và hàng chục hợp đồng cho thuê đất có dầu rất nhiều lợi lộc. Không còn phải nghi ngờ gì nữa, Công ty Công cụ và Dầu Wyatt sẽ là một sự thủ đắc tốt đẹp cho Kruger – Brent.
Kate quay sự chú ý của bà sang công ty thứ hai. Công ty Kỹ thuật Quốc tế do một người Đức, Bá tước Frederick Hoffman làm chủ. Công ty này khởi sự bằng một nhà máy cán thép nhỏ ở Essen, rồi qua nhiều năm nó phát triển lên thành một tổ hợp công ty đồ sộ, với các xưởng đóng tàu, nhà máy hóa dầu, một đoàn tàu chở dầu và một chi cục điện toán.
Một công ty lớn như công ty Kruger – Brent cũng chỉ có thể “tiêu hóa” được một trong hai cơ sở khổng lồ ấy mà thôi. Kate đã biết được bà cần theo đuổi công ty nào. NIS, tờ báo cáo nói cho biết như vậy.
Ta sẽ xem xét kỹ vấn đề này, Kate nghĩ thầm.



Sáng sớm hôm sau, bà cho mời Brad Rogers đến văn phòng. Bà cười và nói, “Tôi muốn biết bằng cách nào anh đã có được các bản quyết toán mật ấy. Hãy nói rõ về Charlie Wyatt và Frederick Hoffman cho tôi nghe”.
Brad đã chuẩn bị sẵn. Charlie Wyatt sinh ở Dallas. Một con người thích phô trương, ồn ào, điều khiển cả đế quốc của ông ta một cách rất khôn ngoan. Thoạt tiên, ông ta chẳng có gì cả, sau đó may mắn tìm được dầu nhờ ở tính liều lĩnh, và từ đó phát triển lớn mãi, cho đến bây giờ thì một nửa Texas đã thuộc về ông ta”.
“Ông ta bao nhiêu tuổi?”
“Bốn mươi bảy”.
“Có con cái gì không?”
“Một con gái, hai mươi lăm tuổi. Theo như tôi được nghe nói thì cô ta có sắc đẹp mê hồn”.
“Cô ấy có chồng chưa?”
“Ly dị chồng”.
“Còn Frederick Hoffman?”
“Hoffman trẻ hơn Charlie Wyatt chừng vài tuổi. Ông ta là một bá tước, xuất thân từ một gia đình quý tộc Đức từ thời Trung cổ. Ông ta góa vợ. Ông nội ông ấy khởi sự với một nhà máy thép nhỏ. Hoffman thừa hưởng tài sản ấy của cha, rồi xây dựng nó lên thành một tổ hợp công ty. Ông ta là một trong những người đầu tiên đi vào lĩnh vực điện toán. Ông ta nắm trong tay nhiều đặc quyền sáng chế các máy vi tính. Mỗi lần chúng ta sử dụng một máy điện toán, ông bá tước Hoffman hưởng quyền tác giả”.
“Còn các con ông ta?”
“Một người con gái, hai mươi ba tuổi”.
“Cô ta trông thế nào?”
“Tôi không thể tìm hiểu được”, Brad nói. “Đó là một gia đình rất kín đáo. Họ đi lại trong phạm vi nhỏ hẹp của riêng họ mà thôi”. Anh do dự một lúc rồi nói tiếp, “Có lẽ chúng ta sẽ phí mất thì giờ về vấn đề này thôi, Kate ạ. Tôi có lần uống rượu với vài nhân vật cao cấp trong hai công ty ấy. Cả Wyatt lẫn Hoffman đều không muốn bán, sát nhập hay hợp tác kinh doanh với ai. Như chị thấy trong các quyết toán tài chánh của họ, chỉ nghĩ đến vấn đề ấy cũng đủ làm họ phát điên lên rồi”.
Cảm tưởng thách đố một lần nữa lại trỗi dậy trong con người Kate, lôi kéo, thu hút bà.
Mười ngày sau, Kate được Tổng thống Mỹ mời tham dự một hội nghĩ các kỹ nghệ gia hàng đầu quốc tế để bàn về việc trợ giúp các nước kém phát triển. Kate gọi điện thoại rồi một thời gian ngắn sau đó, Charlie Wyatt và bá tước Frederick Hoffman cũng nhận được giấy mời tham dự hội nghị.
Kate đã hình dung trong đầu óc hai con người ấy – một người gốc Texas, người kia gốc Đức – như thế nào, và khi gặp họ, bà thấy họ đúng gần như chính xác những gì bà đã suy nghĩ về họ. Bà chưa hề bao giờ gặp một người xứ Texas nào mà lại bẽn lẽn, nhút nhát. Charlie Wyatt không phải là ngoại lệ. Ông ta có dáng người to lớn, vai rộng, thân hình của một vận động viên bóng bầu dục, nhưng béo hơn một chút. Mặt ông ta tròn, hồng hào, giọng nói to, oang oang. Ông ta tỏ ra là một người đáng tin cậy, Charlie Wyatt xây dựng đế quốc của ông ta không phải do may mắn. Ông ta là một thiên tài trong lĩnh vực kinh doanh. Kate chỉ nói chuyện với ông không đầy mười phút đã nhận ngay ra rằng ông ta không phải là một con người có thể thuyết phục được, nếu ông ta không muốn. Ông ta khăng khăng giữ ý kiến của mình và có vẻ rất ngoan cố. Không ai có thể tán tỉnh, dụ dỗ, đe dọa hay lừa gạt ông ta ra khỏi công ty của ông ta được. Nhưng Kate đã tìm được điểm yếu của ông và như thế là đủ rồi.
Frederick Hoffman là một mẫu người trái ngược hẳn lại. Ông này là một con người đẹp đẽ, có vẻ mặt quý phái, tóc nâu nhạt điểm những sợi bạc ở màng tang. Ông ta có vẻ đứng đắn, nghiêm túc cho đến từng chi tiết, với thái độ cử chỉ lịch sự theo lối xưa cổ. Ngoài mặt, Hoffman rất vui vẻ, hòa nhã, nhưng bên trong Kate biết rằng ông ta rất sắt đá.



Hội nghị Washington kéo dài ba ngày và tiến hành rất tốt. Các cuộc hội họp đều được đặt dưới sự chủ tọa của Phó Tổng thống, và chính Tổng thống cũng đã xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn ngủi. Mọi người đều có vẻ thán phục bà Blackwell. Bà là một người có uy tín và sức thu hút rất mạnh, đứng đầu một tổ hợp công ty lớn lao mà bà đã góp phần tạo dựng nên.
Khi Kate đứng riêng với Charlie Wyatt trong một lúc, bà hỏi, cố làm ra vẻ tự nhiên, “Ông có đem gia đình theo không, ông Wyatt?”
“Tôi có đem con gái tôi theo. Nó cần phải mua sắm ít thứ”.
“Ồ, thật thế à? Như vậy tuyệt quá!” Không ai biết rằng không những bà đã biết rằng con gái ông có đi theo mà còn biết loại áo dài mà cô ta vừa mua ở hiệu Garfinckel sáng hôm ấy. Bà nói tiếp, “Tôi sắp sửa tổ chức một bữa tiệc nhỏ ở Dark Harbor vào ngày Thứ sáu này. Tôi rất hân hạnh nếu ông và quý tiểu thư đến dùng cơm với chúng tôi vào cuối tuần này”.
Wyatt không do dự. “Tôi đã nghe nói về ngôi nhà của bà, bà Blackwell ạ. Chắc chắn là tôi muốn được đến đó xem”.
Kate mỉm cười. “Vậy thì tốt. Tôi sẽ chuẩn bị để đưa ông đến đó bằng máy bay vào tối mai”.
Mười phút sau, bà nói chuyện với Frederick Hoffman. “Ông đến Washington một mình hay sao, ông Hoffman?” bà hỏi. “Vậy bà nhà có đi theo không?”
“Nhà tôi mất cách đây mấy năm. Tôi hiện ở đây với con gái tôi”, Hoffman đáp.
Kate đã biết rằng hai người hiện đang ở tại khách sạn Hay Adams, trong dãy phòng số 418. “Tôi sắp tổ chức một bữa tiệc nhỏ ở Dark Harbor. Tôi muốn mời ông và quý tiểu thư đến dùng cơm với chúng tôi vào cuối tuần này”.
“Tôi phải trở về Đức vào lúc ấy”, Hoffman đáp. Ông ta nhìn Kate một lúc như dò xét, rồi tủm tỉm cười nói, “Tôi chắc hoãn lại một vài ngày cũng không hề gì”.
“Vậy thì hay quá. Tôi sẽ sắp đặt việc đưa đón ông và quý tiểu thư”.



Kate có thông lệ tổ chức tiệc tùng ở Dark Harbor, hai tháng một lần. Khách khứa đến dự là những người rất quan trọng và có thế lực trên thế giới, và các cuộc gặp mặt như vậy thường rất có lợi. Kate dự tính sẽ làm sao cho buổi tiệc sắp tới phải rất đặc biệt. Vấn đề khó khăn đối với bà là làm sao tin chắc được rằng Tony sẽ đến tham dự. Trong năm qua, Tony ít khi muốn đến gặp bà, và mỗi khi đến anh chỉ có mặt chiếu lệ, rồi đi về ngay. Lần này thì bắt buộc anh ta phải đến và phải ở lại.
Khi Kate nhắc đến buổi tiệc cuối tuần này với Tony thì anh chỉ nói ngắn gọn, “Con… con không thể đến được. Con sẽ đi Canada ngày Thứ hai, nhưng trước khi đi còn phải giải quyết cho xong một số công việc”.
“Buổi tiệc này quan trọng”, Kate nói. “Charlie Wyatt và Frederick Hoffman sẽ có mặt. Họ…”.
“Con biết họ là ai rồi”, Tony ngắt lời. “Con đã nói chuyện với Brad Rogers. Không có hy vọng gì thủ đắc được bất cứ công ty nào trong hai công ty ấy đâu”.
“Mẹ muốn thử cố gắng xem xao”.
Anh nhìn mẹ, hỏi “Mẹ định nhắm công ty nào?”
“Công ty dầu Wyatt. Nếu được như vậy nó sẽ làm tăng lợi nhuận của chúng ta lên mười lăm phần trăm, có lẽ hơn thế. Khi các nước Ả rập nhận thấy họ đã nắm thế giới ở ngay cổ họng, họ sẽ lập nên một “các-ten” (Cartel) , lúc ấy giá dầu sẽ tăng vọt lên. Dầu sẽ trở thành một thứ vàng nước”.
“Thế còn Công ty Kỹ thuật Quốc tế thì sao?”
Kate nhún vai. “Đó cũng là một công ty tốt, nhưng món bở nhất là công ty dầu Wyatt. Nó rất có lợi cho công ty ta. Mẹ muốn con có mặt hôm ấy. Việc đi Canada có thể hoãn lại it ngày”.
Tony ghét các buổi tiệc tùng. Anh ghét những cuộc chuyện trò chán ngắt, kéo dài như vô tận, các ông thì khoe khoang, còn các bà thì làm ra vẻ thông thái rởm. Nhưng đây là vì công việc.
“Thôi được, con sẽ dự”.
Như vậy là mọi thứ đều xếp đặt đâu vào đấy.



Hai cha con ông Wyatt được đưa đến Maine bằng chiếc máy bay Cessna của Công ty, rồi từ bến phà họ đi xe hơi đến Ngôi nhà trên đồi thông. Bà Kate đứng ở trước cửa để đón khách. Brad Rogers đã nói rất đúng về cô con gái của ông Wyatt. Thật là một cô gái xinh đẹp. Dáng người nàng cao, tóc đen, đôi mắt nâu điểm chấm vàng, nét mặt gần như hoàn hảo. Chiếc áo dài bóng mượt làm nổi bật lên dáng người mạnh khỏe, tuyệt đẹp. Brad cũng cho biết rằng cách đây hai năm nàng đã bỏ chồng, một anh chàng người Ý, ăn chơi, giàu có. Kate giới thiệu Lucy với Tony, và để ý xem phản ứng anh ta như thế nào. Nhưng Tony không có phản ứng nào. Anh chào ông Wyatt và cô con gái với những cử chỉ lịch sự y hệt như nhau, rồi đưa họ đến quầy rượu, nơi người phục vụ đang đứng đợi để pha rượu cho khách.
“Căn phòng này thật là đẹp!” Lucy kêu lên. Giọng nàng nghe rất êm ái, dịu dàng, không mang một âm sắc nào của miền Texas cả. “Anh có hay đến nơi này không?”
“Không”.
Nàng chờ đợi Tony nói tiếp. Rồi, nàng hỏi, “Anh lớn lên ở đây sao?”
“Một phần nào”.
Bà Kate xen vào câu chuyện, cố khỏa lấp sự im lặng của Tony. “Những kỷ niệm vui thích nhất của Tony là ở trong ngôi nhà này. Tội nghiệp, Tony quá bận rộn công việc nên ít khi có dịp ở lại vui chơi ở nơi này, có phải không, Tony?”
Anh đưa mắt lạnh nhạt nhìn mẹ, rồi nói, “Không. Lẽ ra tôi phải đi Canada…”
“Nhưng cậu ấy đã hoãn chuyến đi để được gặp cô và ông nhà đây”, bà Kate nói, trả lời hộ cho Tony.
“Thật là rất hân hạnh”, ông Wyatt nói. “Tôi đã nghe nói nhiều về cậu con bà”. Wyatt cười. “Cậu có muốn đến giúp việc cho tôi không?”
“Tôi không nghĩ rằng mẹ tôi có ý định như vậy, thưa ông Wyatt”.
Charlie lại nhe răng cười một lần nữa. “Tôi biết”. Rồi ông quay lại nhìn bà Kate. “Mẹ cậu đúng là một vị phu nhân tài giỏi. Phải trông thấy bà ấy dùng dây trói tay chân mọi người lại tại cuộc họp ở Nhà Trắng thì mới biết được. Bà…” Ông dừng lại, vì lúc ấy Frederick Hoffman và cô con gái, Marianne, đi vào trong phòng. Marianne là một hình ảnh mờ nhạt của cha cô. Cũng là những nét quý phái giống như vậy, nhưng cô có làn tóc màu hoe dài, Nàng mặc một chiếc áo sa trắng nhờ nhờ. Ngồi bên cạnh Lucy, nàng trông có vẻ phờ phạc.
“Tôi xin phép giới thiệu, đây là con gái tôi”. Bá tước Hoffman nói, “Tôi xin lỗi chúng tôi đã đến trễ. Máy bay bị chậm trễ ở La Gardia”.
“Ồ, như vậy thật tệ quá”, Kate nói. Nhưng Tony biết rằng mẹ anh đã xếp đặt việc chậm trễ này. Bà muốn cho hai gia đình Wyatt và Hoffman đi máy bay riêng, để làm sao cho cha con ông Wyatt phải đến trước, còn cha con Hoffman đến sau. Bà nói tiếp, “Chúng tôi mới dùng rượu thôi. Ông muốn dùng thứ gì ạ?”
“Cho tôi Scotch”, Bá tước Hoffman nói.
Kate quay sang Marianne. “Thế còn cô?”
“Cháu không uống gì cả. Xin cám ơn bà”.
Ít phút sau, các khách khứa khác lục tục kéo đến. Tony đi đến hết người này, người kia, đóng vai chủ nhà lịch sự. Không một ai, ngoài Kate, biết rằng tiệc tùng đối với anh chẳng có ý nghĩa gì quan trọng. Bà biết rằng đó không phải là vì Tony cảm thấy buồn chán. Nguyên nhân đơn giản chỉ vì anh tự tách rời ra khỏi những gì diễn ra xung quanh anh. Anh không vui thích tiếp xúc với ai cả. Điều này khiến Kate rất lo lắng.
Hai chiếc bàn đã được bày ra trong phòng ăn rộng lớn. Kate xếp đặt cho Marianne Hoffman ngồi giữa một vị thẩm phán Tối cao Pháp viện và một nghị sĩ ở một bàn, còn Lucy thì ngồi bên phải Tony ở bàn thứ hai. Tất cả mọi người đàn ông – dù đã có vợ hay chưa có vợ - đều đưa mắt nhìn Lucy. Kate lắng nghe Lucy đang cố kéo Tony vào câu chuyện. Rõ ràng là Lucy đã có cảm tình với Tony. Kate tủm tỉm cười với chính mình. Bước đầu như vậy là rất tốt.
Sáng hôm sau, ngày Thứ bảy, vào lúc ăn sáng, Charlie Wyatt nói với Kate. “Bà có chiếc thuyền buồm rất đẹp đang đậu ở kia, bà Blackwell ạ. Nó dài bao nhiêu thước đấy nhỉ?”
“Tôi không rõ lắm”, Kate quay về phía con trai. “Tony này, chiếc “Corsaire” (Cướp biển) ấy dài bao nhiêu, con nhỉ?”
Bà đã biết chán chiếc ấy dài bao nhiêu rồi, nhưng Tony vẫn trả lời cho phải phép, “Trên hai mươi ba thước”.
“Chúng tôi ở Texas không thích chơi thuyền lắm. Chúng tôi lúc nào cũng hối hả, nên đi đâu cũng đi bằng máy bay thôi”, Wyatt cười lên thật to. “Nhưng có lẽ tôi cũng nên thử một chút cho ướt đôi bàn chân, như thế cũng hay”.
Kate cười, “Tôi hy vọng ông sẽ cho phép chúng tôi đưa ông và cô đi chơi một vòng xung quanh đảo. Chúng ta có thể đi bằng thuyền vào ngày mai”.
Charlie Wyatt nhìn Kate, ra dáng suy nghĩ, rồi nói, “Như vậy thì tốt quá”.
Tony im lặng nhìn hai người, không nói câu gì. Thế là bước đầu tiên của mẹ anh đã được thực hiện. Anh tự hỏi không biết Charlie Wyatt có biết điều đó hay không. Chắc là không. Ông ta là một nhà kinh doanh rất khôn ngoan, nhưng chưa hề bao giờ phải đối phó với một người như bà Kate.
Kate quay về phía Tony và Lucy. “Hôm nay trời rất đẹp. Hai người nên đi chơi bằng thuyền buồm, có thích hơn không?”
Tony chưa kịp từ chối thì Lucy đã vội nói. “Thế thì thích quá”.
“Tôi xin lỗi”, Tony nói cộc lốc. “Tôi phải đợi điện thoại từ nước ngoài gọi về”. Tony trông thấy rõ vẻ bất mãn của mẹ trong đôi mắt của bà.
Kate quay về phía Marianne Hoffman. “Tôi không gặp thân phụ cô sáng nay”.
“Cha tôi đang đi thăm hòn đảo. Ông ấy có thói quen dậy sớm”.
“Tôi chắc cô thích cưỡi ngựa. Chúng tôi có nhiều ngựa rất tốt ở đây”.
“Cám ơn bà, tôi muốn đi lang thang xung quanh đây, nếu bà cho phép”.
“Tất nhiên là tôi rất vui lòng”. Kate quay về phía Tony. “Con nhất định không đưa cô Wyatt đi chơi một vòng bằng thuyền buồm hay sao, Tony?”. Giọng nói của bà có vẻ cứng rắn như thép.
“Vâng, con không thay đổi ý kiến”.
Thật là một sự đắc thắng nhỏ nhoi, nhưng dẫu sao nó cũng là sự đắc thắng. Tony nhất định không chịu thua trong trận chiến lần này. Mẹ anh không còn có quyền lừa anh nữa. Bà đã từng có lần sử dụng anh như một quân cờ rồi, lần này bà lại muốn tái diễn thêm lần nữa Nhưng bà sẽ thất bại. Bà muốn chiếm lấy công ty dầu hỏa Wyatt, còn Wyatt thì không có ý định sát nhập hay bán công ty ấy đi. Nhưng người nào cũng có một yếu điểm, và bà Kate đã tìm ra được yếu điểm ấy. Đó là cô con gái của ông ta. Nếu Lucy trở thành con dâu của gia đình Blackwell thì một hình thức sát nhập nào đó là điều không thể tránh được. Tony nhìn mẹ ngang qua bàn ăn và cảm thấy một sự khinh bỉ âm thầm. Bà đã đặt mồi nhử trong cái bẫy một cách tài tình. Lucy không những xinh đẹp, nàng còn thông minh, hấp dẫn nữa. Nhưng cô ta cũng là một quân cờ trong trò chơi này, chẳng khác gì chàng, vì vậy anh không muốn động chạm đến nàng một chút nào. Đây là cuộc chiến giữa anh và mẹ.
Ăn cơm sáng xong, Kate đứng dậy. “Tony, trước khi có điện thoại gọi đến, sao con không đưa cô Wyatt đi xem các khu vườn một lát?”
Tony không còn cách nào từ chối được nữa. “Thế cũng được”. Anh nói. Nhưng anh dự định sẽ chỉ đi chơi trong một khoảng thời gian rất ngắn thôi.
Kate quay về phía ông Wyatt. “Ông có thích đọc những cuốn sách hiếm không? Tôi có cả một bộ sưu tập trong thư viện”.
Rồi như sực nhớ ra điều gì, bà quay về phía cô Marianne và hỏi. “Cô không có gì phiền hà chứ, cô Marianne thân mến?”
“Da không, xin cám ơn bà Blackwell. Xin bà đừng bận tâm về tôi”.
“Vâng”, Kate nói.
Tony hiểu ý bà trong câu nói này. Cô Hoffman không ích lợi gì cho bà cả, vì vậy bà cho cô ra rìa. Bà thực hiện điều này với một vẻ duyên dáng và với một nụ cười, nhưng bên trong bà theo đuổi một mục đích tàn bạo duy nhất mà Tony rất ghét.
Lucy đang đưa mắt theo dõi Tony. “Anh sẵn sàng rồi chứ, Tony?”
“Vâng”.
Tony và Lucy đi về phía cửa. Chưa đi được xa bao nhiêu thì Tony thoáng nghe bà Kate nói, “Thật là đẹp đôi!”
Hai người đi xuyên qua những khu vườn rông, hướng về phía bến tàu, nơi chiếc Corsaire đang đậu. Có hàng mẫu Anh trồng hoa đủ màu sắc chói lọi, tỏa hương thơm trong không khí mùa hạ.
“Thật là một cảnh thiên đường!” Lucy nói.
“Vâng”.
“Chúng tôi không có những hoa như thế này ở Texas”.
“Không sao?”
“Ở đây thật là lặng lẽ, thanh bình”.
“Vâng”.
Lucy đột nhiên dừng lại, quay mặt lại nhìn Tony.
Anh trông thấy vẻ giận dữ hiện ra trên nét mặt nàng. “Không biết tôi có điều gì làm cô mất lòng không?”
“Chính anh không nói gì cả mới làm tôi mất lòng. Tôi chỉ nghe anh nói “Vâng” và “Không” thôi. Anh làm tôi có cảm tưởng như đang cố theo đuổi anh vậy”.
“Thật thế sao?”
“Phải, giá như tôi có thể dạy anh được cách nói chuyện, may ra anh mới có điều gì đó để mà nói”.
Tony nhoẻn miệng cười.
“Anh nghĩ gì vây?” Lucy hỏi.
“Không”.
Anh đang nghĩ đến mẹ anh, và anh biết rằng mẹ anh không thích chịu thua bao giờ.



Kate dẫn Charlie Wyatt đi xem thư viện rất lớn, lát toàn bằng ván gỗ sồi. Trên giá sách là những ấn bản đầu tiên của Goldsmith, Laurence Sterne, Tobias Smolett và John Donne, cùng với bản thảo đầu tiên của Ben Johnson. Có cả tác phẩm của Samuel Butler, John Bunyan, và ấn bản đầu tiên của “Quenn Mab”, đã được in riêng vào năm 1813 và rất hiếm. Wyatt bước dọc theo các giá sách quý giá, mắt sáng rực lên. Ông dừng lại trước một ấn bản “Endymion”, đóng bìa da rất đẹp, của John Keats.
“Đây là bản của Roseberg” Charlie Wyatt nói.
Kate nhìn ông, tỏ vẻ ngạc nhiên. “Phải, người ta biết chỉ có hai bản mà thôi”.
“Tôi có bàn thứ hai”. Wyatt nói.
“Thế mà tôi không được biết đấy”, Kate cười to. “Tôi đã bị lừa vì cái vẻ “anh chàng người Texas chất phác” của ông!”
Wyatt cười. “Thế hả? Biết che đậy như thế cũng giỏi đấy chứ!”
“Xưa kia, ông đi học trường nào vậy?”
“Trường mỏ ở Colorado, rồi học ở Oxford nhờ một học bổng Rhodes”, ông nhìn Kate một lát như dò xét, rồi nói tiếp. “Người ta bảo tôi rằng bà đã đề nghị mời tôi đến dự tại hội nghị ở Tòa Bạch Ốc”.
Kate nhún vai. “Tôi chỉ nhắc tên ông thôi. Họ rất sung sướng có ông tham dự”.
“Bà thật là tốt bụng. Bây giờ chỉ có riêng chúng ta với nhau, tại sao mà không nói thẳng cho tôi biết bà đang có dự tính gì trong đầu?”



Tony đang làm việc trong phòng đọc sách riêng của anh, một căn phòng nhỏ cách xa hành lang chính ở tầng lầu dưới. Anh đang ngôi trên chiếc ghế bành thì nghe có tiếng cánh cửa mở ra, rồi một người đi vào. Anh quay mặt lại. Đó là Marianne Hoffman. Tony chưa kịp lên tiếng cho biết có anh ngồi ở đấy thì nghe tiếng Marianne thở hổn hển.
Nàng đang đi ngắm các bức tranh treo trên tường. Đó là những bức tranh của Tony – một số ít tranh anh đã đưa về đây từ căn hộ của anh ở Paris, và đây là căn phòng duy nhất anh cho phép treo các bức tranh ấy. Anh nhìn theo nàng bước đi quanh phòng, xem hết bức tranh này đến bức tranh khác. Quá chậm rồi, anh không nói được lời nào nữa cả.
“Không thể tin nổi”, Marianne nói lẩm bẩm.
Tony cảm thấy cơn giận dữ nổi lên đột ngột trong lòng. Anh biết rằng các bức tranh của anh không đến nỗi tồi tệ như thế. Trong khi anh cử động, miếng da trên ghế anh ngồi kêu ken két, khiến Marianne quay lại, nhìn thấy anh.
“Ồ, xin lỗi”, nàng nói. “Tôi tưởng không có ai ở đây”.
Tony đứng dậy. “Không hề gì”. Giọng anh có vẻ hơi cứng rắn. Anh không muốn ai xâm phạm nơi ẩn náu này của anh. “Cô đang tìm gì vậy?”
“À không, tôi chỉ đi lang thang thôi. Bộ sưu tập này của anh chắc hẳn thuộc về viện bảo tàng nghệ thuật”.
“Ngoại trừ những bức này”.
Nàng bối rối trước vẻ thiếu thiện cảm trong giọng nói của anh. Nàng quay lại nhìn các bức tranh lần nữa. Nàng trông thấy chữ ký. “Anh vẽ các bức này sao?”
“Rất tiếc là các bức ấy không hấp dẫn lắm đối với cô”.
“Những bức ấy thật tuyệt vời!” Nàng tiến về phía anh. “Tôi thực không hiểu. Nếu anh vẽ được những bức tranh như thế này, tại sao anh còn muốn làm việc gì khác nữa? Tuyệt! Tôi không nói anh là một họa sĩ giỏi, mà tôi muốn nói rằng anh thật tuyệt vời!”
Tony đứng yên một chỗ, không nghe cô ta nói, mà chỉ muốn nàng ra khỏi nơi này.
“Tôi muốn trở thành một họa sĩ”, Marianne nói. “Tôi theo học ông Oska Kokosckka trong một năm. Cuối cùng tôi phải bỏ vì biết rằng mình không bao giờ vẽ giỏi được như mình mong muốn. Nhưng mà anh thì khác thế!” Nàng lại quay về phía các bức tranh. “Anh có học ở Paris sao?”
Anh chỉ muốn nàng để yên cho anh ngồi một mình
“Vâng”.
“Thế rồi anh bỏ ngang xương hay sao?”
“Phải”.
“Thật là uổng. Anh…”
“Kìa, cô ấy đây rồi!”
Cả hai người đều quay đầu lại. Kate đang đứng ở cửa. Bà nhìn hai người một lát, rồi bước đến gần Marianne. “Tôi đang tìm cô khắp nơi, cô Marianne ạ. Cha cô nói rằng cô thích các cây ngọc lan. Cô phải đến thăm các nhà kính của tôi mới được”.
“Cám ơn bà”, Marianne lẩm bẩm. “Thực ra tôi…”
Kate quay về phía Tony. “Tony, con ra tiếp các vị khách đi”. Trong giọng nói của bà có vẻ không hài lòng.
Bà cầm lấy cánh tay Marianne, rồi cả hai rời khỏi phòng.
Xem cái lối bà dùng thủ đoạn để điều khiển con người mới thấy là tài tình. Bà làm việc ấy một cách nhẹ nhàng trơn tru. Không có một động tác nào là thừa. Thoạt tiên bà xếp đặt để làm sao gia đình Wyatt đến đây sớm, còn gia đình Hoffman thì đến trễ sau đó. Lucy được xếp ngồi cạnh Tony ở tất cả mọi bữa ăn. Những cuộc họp riêng tư với ông Wyatt. Thật là quá rõ ràng, lộ liễu, thế nhưng Tony biết rằng nó chỉ lộ liễu đối với anh thôi, vì anh đã nắm được chìa khóa. Anh biết rõ mẹ anh và cung cách hoạt động của trí óc bà. Lucy Wyatt là một cô gái xinh đẹp, có thể trở thành một người vợ tuyệt vời cho một ai đó, ngoài anh ra. Không thể nào như thế được, khi bà Blackwell đứng ra làm kẻ bảo trợ cho nàng. Mẹ chàng là một con người tàn bạo, tính toán, và chừng nào Tony nhớ đến điều ấy, anh không thể để bà chi phối được. Anh tự hỏi không biết bước kế tiếp của bà sẽ như thế nào.
Anh không cần phải chờ đợi lâu mới biết được điều đó.
Họ đang ngồi trên sân thượng uống rượu “cocktail”. Kate nói với Tony, “Ông Wyatt đã có lòng tốt mời chúng ta đến thăm trang trại của ông vào cuối tuần sau. Con nghĩ xem, như thế có thích không?” Mặt bà rạng rỡ hẳn lên. “Mẹ chưa bao giờ được thấy một trang trại ở Texas”.
Thực ra, Kruger – Brent làm chủ một trang trại ở Texas và trang trại này lớn gấp đôi trang trại của Wyatt.
“Anh cũng đi chứ, Tony?” Ông Wyatt hỏi.
Lucy nói theo, “Anh hãy nhận lời đi”.
Họ cấu kết với nhau để thuyết phục anh. Thật là một cuộc thử thách. Anh quyết định nhận lời. “Tôi rất lấy làm vui thích”.
“Tốt”, trên nét mặt của Lucy lộ vẻ vui mừng thật sự. Và bà Kate cũng thế.
Tony nghĩ thầm, “Nếu Lucy cố ý quyến rũ mình, cô ấy sẽ bị thất vọng và phí thì giờ vô ích. Vết thương mà mẹ anh và Dominique gây ra đã ăn sâu vào lòng anh khiến cho anh không còn tin cậy vào phụ nữ nữa. Sự liên hệ duy nhất của anh với phái nữ là những cuộc giao du với những gái điếm hạng sang. Trong tất cả các loại phụ nữ, họ là những kẻ chân thực nhất. Cái mà họ muốn là tiền, và họ nói thẳng cho mình biết bao nhiêu tiền. Mình trả tiền mua cái mà mình cần và có được cái mà mình bỏ tiền ra mua. Không có vấn đề gì rắc rối, không cần nước mắt, không cần phỉnh gạt.
Lucy rồi đây sẽ phải gặp một điều bất ngờ.
Sáng sớm chủ nhật, Tony xuống bể bơi để bơi. Marianne đã ở sẵn trong nước, mặc chiếc áo may-ô trắng. Nàng có dáng người xinh đẹp, cao, thon thon và duyên dáng. Tony đứng ngắm nàng đang bơi trong nước, hai cánh tay đưa lên đưa xuống theo một nhịp đều đặn, duyên dáng. Nàng thấy Tony, và bơi lại gần anh.
“Chào anh”.
“Chào cô. Cô bơi giỏi nhỉ”. Tony nói.
Marianne mỉm cười. “Tôi thích thể thao. Tôi đã học cái thói ấy của cha tôi”. Nàng kéo người ra khỏi bờ bể bơi. Tony đưa cho nàng chiếc khăn tắm. Anh nhìn ngắm nàng trong khi lau khô tóc một cách không ngượng ngùng, e thẹn.
“Cô ăn sáng chưa?” Tony hỏi.
“Chưa. Chắc là người đầu bếp không dậy sớm như vậy”.
“Ở đây giống như là một khách sạn. Họ phục vụ hai mươi bốn trên hai mươi bốn”.
Nàng nhìn Tony, mỉm cười, “Thích nhỉ”.
“Nhà cô ở đâu vậy?”
“Phần lớn thời gian ở Munich. Chúng tôi ở trong một cái “Schloss” tức là một tòa lâu đài, ở bên ngoài thành phố”.
“Thế cô học ở đâu?”
Marianne thở dài. “Chuyện ấy dài lắm. Trong thời gian chiến tranh, tôi được gửi đi học ở Thụy Sĩ. Sau đó tôi theo học tại Oxford, tại Sorbonne, rồi sống ở London trong mấy năm”. Nàng nhìn thẳng vào mắt Tony. “Tôi ở đó từ dạo ấy đến nay. Thế còn anh?”
“Ồ, tôi ở New York, Maine, Thụy Sĩ, Nam Phi, ít năm ở Thái Bình Dương trong thời gian chiến tranh, Paris…” Anh đột ngột ngưng lại, như cảm thấy mình đã nói quá nhiều.
“Xin lỗi, tôi có vẻ như tò mò, nhưng thực sự tôi không sao hiểu được lý do nào anh ngưng không vẽ tranh nữa”.
“Chuyện ấy chẳng có gì quan trọng cả”, Tony nói cộc lốc. “Thôi, chúng ta đi ăn sáng đi”.



Hai người ăn sáng với nhau trên sân thượng, nhìn xuống vịnh mênh mông, lóng lánh. Nàng là người rất dễ tiếp chuyện. Nàng có một vẻ đoan trang, hiền dịu, khiến Tony cảm thấy rất mến. Nàng không đùa cợt, không nói lảm nhảm. Nàng có vẻ thích anh một cách thành thực. Tony cảm thấy mình bị thu hút bởi người thiếu nữ trầm lặng, nhậy cảm này. Tuy vậy, anh không thể nào không nghĩ rằng một phần sự cảm mến của anh đối với nàng là do anh muốn trêu tức mẹ anh.
“Khi nào cô trở về Đức?”
“Tuần sau”, Marianne đáp. “Tôi sắp lấy chồng”.
Câu nói của nàng quá bất ngờ, làm anh chưng hửng. “Ồ, thế à”, Tony nói ngắc ngứ. “Tuyệt quá nhỉ. Ai vậy?”
“Anh ấy là một bác sĩ. Chúng tôi quen biết nhau từ nhỏ đến lớn”. Tại sao cô ấy lại thêm câu này vào. Nó có ý nghĩa gì không nhỉ?
Bất chợt, Tony hỏi, “Cô có vui lòng đến dùng cơm với tôi ở New York không?”
Nàng nhìn anh, cân nhắc câu trả lời. “Tôi cũng thích được như vậy”.
Tony mỉm cười, tỏ vẻ hài lòng. “Đó là một cuộc hẹn hò”.



Họ ăn cơm với nhau tại một khách sạn nhỏ trên bờ biển ở Long Island. Tony muốn đi riêng với Marianne, tránh xa cặp mắt của mẹ anh. Đó là một buổi tối bình thường, không có chuyện gì, nhưng Tony biết rằng nếu mẹ anh nghe tin, bà sẽ tìm cách nào đó để ngăn cản. Đây là một chuyện riêng tư giữa anh và Marianne, và trong khoảng thời gian ngắn ây, anh không muốn có chuyện gì làm nó hư hỏng. Tony cảm thấy vui thích làm bạn với Marianne hơn là trước đây anh đã dự đoán. Nàng có tính tình nhanh nhẹn, vui tính một cách kín đáo. Tony thấy mình cười đùa vui thích hơn bao giờ hết, kể từ ngày anh rời Paris. Nàng giúp cho anh cảm thấy nhẹ nhõm, vô tư.
Khi nào cô trở về Đức?
Tuần sau… Tôi sắp lấy chồng.



Trong năm ngày tiếp theo đó, Tony gặp Marianne nhiều lần. Anh hủy bỏ cuộc hành trình của anh đi Canada, nhưng không biết chắc chắn lý do vì sao. Anh đã có lúc nghĩ rằng nó có thể là một dạng chống đối dự tính của mẹ anh, một vụ trả thù lặt vặt, nhưng nếu điều ấy đúng vào lúc đầu thì bây giờ đây nó không còn đúng nữa. Anh cảm thấy mình bị thu hút bởi Marianne mỗi lúc một mạnh mẽ hơn. Anh yêu nàng một cách chân thực. Đó là một đức tính mà anh đã cố tìm nhưng chưa hề bao giờ có được.
Từ ngày Marianne đến New York với tư cách là một du khách, Tony đưa nàng đi thăm viếng khắp nơi. Họ trèo lên tượng thần Tự Do, cùng đi đến Staten Island trên chiếc tàu phà, lên đến đỉnh tòa nhà chọc trời Empire State Building, và ăn uống tại khu vực người Trung Hoa. Họ ở lại suốt ngày tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật, và một buổi trưa tại Frick Collection. Họ chia sẻ các sở thích giống nhau. Họ thận trọng tránh né những vấn đề riêng tư, thế nhưng cả hai đều ý thức về sự hấp dẫn giới tính ngấm ngầm rất mạnh mẽ giữa họ với nhau. Ngày này qua ngày khác, chẳng mấy chốc đã đến ngày Thứ sáu, ngày mà Tony phải đi thăm trang trại của ông Wyatt.
“Khi nào cô sẽ trở về Đức?”
“Sáng Thứ hai”. Nhưng không có gì vui vẻ trong giọng nói của nàng cả.


Tony rời Houston vào buổi trưa hôm ấy. Lẽ ra anh có thể cùng đi với mẹ trong một chiếc máy bay của công ty, nhưng anh muốn tránh mọi cuộc gặp mặt riêng với mẹ. Đối với anh, mẹ anh chỉ là một người hợp tác kinh doanh, tài giỏi và nhiều quyền lực, không ngay thẳng và nguy hiểm.
Có một chiếc xe hơi hiệu Roll Royce đón Tony tại phi trường Hobby ở Houston, từ nơi đó anh được đưa đến trang trại bằng xe hơi do một người tài xế mặc một chiếc quần “jean” hiệu Levi’s và một chiếc áo sơ mi thể thao màu sặc sỡ.
“Nhiều người muốn đi máy bay đến thẳng trang trại”, người tài xế nói. “Ông Wyatt có một bãi đáp lớn ở đấy. Từ nơi bãi đáp ấy về đến cổng trang trại phải mất một giờ xe hơi rồi thêm nửa giờ nữa mới đến ngôi nhà chính”.
Tony cho rằng anh tài xế này nói cường điệu. Nhưng chính anh đã lầm. Thì ra trang trại của ông Wyatt giống như một thành phố hơn là một trang trại. Chiếc xe anh đi lọt qua cổng chính đi vào một con đường cái tư, rồi sau ba mươi phút nó bắt đầu đi ngang qua các nhà phát điện, các chuồng ngựa, bãi nuôi gia súc, nhà khách, nhà ở của gia nhân. Tòa nhà chính là một nhà một tầng có vẻ như dài vô tận. Tony cho rằng nó trông thật là xấu xí.
Kate đã đến nơi đó trước. Bà và Wyatt đang ngồi ở sân thượng nhìn xuống một hồ bơi lớn bằng một cái hồ nước nhỏ. Họ đang nói chuyện với nhau sôi nổi thì Tony xuất hiện. Vừa trông thấy Tony, ông Wyatt ngưng lại đột ngột giữa một câu nói. Tony có cảm tưởng hai người đang bàn với nhau về anh.
“Kìa cậu con trai của chúng ta kia rồi. Đi đường có vui không, Tony?”
“Vâng, xin cám ơn ông”.
“Lucy mong con đáp chuyến máy bay sớm hơn thế”, Kate nói.
Tony quay lại nhìn mẹ, “Thế hả?”
Charli Wyatt vỗ nhẹ lên vai Tony, “Chúng tôi sẽ tổ chức một buổi ăn thịt nướng ngoài trời hết sức vĩ đại để mừng anh và bà Kate đấy. Mọi người sẽ bay đến đây để tham dự”.
“Ông thật tử tế quá”, Tony nói. Anh nghĩ thầm trong bụng, “Họ tổ chức càng to thì rồi đây sẽ càng thất vọng lớn thôi”.
Lucy xuất hiện, mặc một chiếc áo sơ mi trắng và quần jean bó sát người. Tony phải công nhận rằng nàng đẹp đến nỗi gây kinh ngạc.
Nàng bước đến Tony, chìa tay ra. “Tony! Em tưởng rằng anh không đến chứ!”
“Xin lỗi, tôi đến chậm”, Tony nói. “Tôi bận chút công việc, cần phải làm cho xong”.
Lucy ném cho anh một nụ cười niềm nở. “Không hề gì đâu. Miễn là anh có đến là được rồi. Anh muốn làm gì vào trưa hôm nay?”
“Cô có gì cho tôi nào?”
Lucy nhìn vào mắt Tony. “Bất cứ thứ gì anh muốn”, nàng nói khe khẽ.
Kate Blackwell và Charlie Wyatt cười rạng rỡ.



Buổi ăn thịt nướng ngoài trời thật là linh đình, dù xét theo các tiêu chuẩn của vùng Texas này. Gần hai trăm khách mời đã đến đây bằng máy bay riêng, xe hơi Mercedes hay Rolls Royce. Hai ban nhạc giúp vui cùng một lúc ở hai nơi trên các khu đất khác nhau. Năm, sáu người phục vụ rượu sâm banh, uýt ki, nước ngọt, bia, trong khi bốn tay đầu bếp bận bịu chuẩn bị thức ăn trên những ngọn lửa ở ngoài trời… Thật là cả một sự phí phạm hiển nhiên nhất Tony chưa từng thấy. Đó là sự khác biệt giữa những kẻ mới nổi và những kẻ đã giàu có từ lâu. Phương châm của những kẻ đã giàu có từ lâu là: nếu tôi có tiền, tôi phải giấu nó đi. Còn những kẻ mới nổi thì chủ trương: nếu tôi có tiền, tôi cần phải phô trương nó ra.
Đây là một sự phô trương giàu có ngoài sức tưởng tượng. Các bà mặc những chiếc áo dài rất táo bạo, đeo nữ trang làm lóa mắt thiên hạ. Tony đứng một bên nhìn các khách khứa ăn uống nhồm nhoàm, gọi nhau ơi ới. Anh có cảm tưởng như đang tham dự vào một nghi thức suy đồi, vô ý thức. Mỗi khi quay lưng lại, anh lại chạm phải một chiêu đãi viên vác một chiếc khay chứa đựng những bình caviar hay pa-tê rất lớn, hay sâm banh. Dường như số gia nhân phục vụ cũng đông bằng số quan khách đến dự. Anh lắng nghe những câu nói chuyện ở xung quanh.
“Hắn ta đến đây từ New York để bán cho tôi một hóa đơn hàng hóa, nhưng tôi bảo hắn, “Anh chỉ phí thời giờ thôi, anh bạn. Không có vụ giao dịch béo bở nào về dầu đến được miền Đông Houston…”
“Anh phải coi chừng những đứa có miệng lưỡi khéo léo. Chúng nó chỉ khoác lác chứ thật ra chúng chẳng có cái đếch gì cả…”
Lucy xuất hiện ở bên cạnh Tony. “Anh không ăn gì cả”. Nàng nhìn chàng chăm chú. “Có gì không vui hay sao, Tony?”
“Không, mọi thứ đều rất vui. Buổi tiệc này thật là lớn”.
Nàng cười. “Chưa thấm gì đâu, anh bạn ạ. Còn phải chờ xem pháo hoa nữa”
“Pháo hoa?”
“Ừ hứ”. Nàng sờ nhẹ lên cánh tay Tony. “Rất tiếc là đông người quá nên hơi lộn xộn. Không phải lúc nào cũng như thế này. Bố em muốn gây ấn tượng đối với mẹ anh”. Nàng cười tủm tỉm. “Ngày mai họ sẽ đi về hết”.
Tôi cũng thế, Tony thầm nghĩ một cách chua chat. Anh cho rằng anh đã phạm một sai lầm lớn vì đã đến đây. Nếu mẹ anh muốn chiếm công ty dầu Wyatt một cách gắt gao như vậy, bà sẽ làm mọi cách để đoạt lấy nó. Anh đưa mắt nhìn đám đông để tìm ra mẹ anh. Anh thấy bà đang đứng giữa một nhóm người ngưỡng mộ. Bà trông thật đẹp. Bà đã gần sáu mươi tuổi, nhưng trông trẻ hơn đến mười tuổi. Mặt bà không có nếp nhăn, thân hình rắn chắc và gọn gang, nhờ tập luyện và thoa bóp hàng ngày. Bà đặt ra kỷ luật cho chính bản thân cũng như cho những người khác chung quanh bà. Về điểm này Tony cảm thấy khó chịu, nhưng anh cũng phải thán phục bà. Ai nhìn thấy bà lúc ấy cũng phải nghĩ rằng bà đang vui thích lắm. Bà nói chuyện với khách, nét mặt rạng rỡ, vui tươi. Nhưng Tony nghĩ bụng, bà ghét tất cả những thứ này, và bà có thể chịu đựng bất cứ việc gì miễn sao bà có được thứ mà bà muốn. Anh nghĩ đến Marianne và tin chắc rằng nàng cũng ghét cái loại liên hoan cuồng nhiệt một cách vô ý thức này. Ý nghĩ về nàng khiến cho Tony cảm thấy đau nhói trong lòng.
“Em sẽ lấy một bác sĩ. Em biết anh ta từ nhỏ đến lớn”.
Một nửa giờ sau, khi Lucy đến tìm anh thì anh đã lên đường trở về New York.



Anh goi điện thoại cho Marianne từ một phòng điện thoại công cộng ở phi trường. “Anh muốn gặp em”.
Không có một chút do dự nào. “Vâng”.
Tony không thể nào gạt được Marianne Hoffman ra khỏi những suy nghĩ của anh. Từ lâu nay, anh chỉ sống một mình, nhưng không cảm thấy cô đơn. Bây giờ, sống xa Marianne đối với anh là một sự cô đơn, một cảm giác như một phần thân thể anh đã bị mất đi. Được ở bên cạnh nàng là sự ấm áp, là sự ca ngợi cuộc sống, là xua đi những bóng đen ghê tởm đã từng ám ảnh anh bấy lâu nay. Anh có cảm tưởng như nếu để mất Marianne, anh sẽ chết. Anh cần đến nàng hơn bất cứ ai khác trong cuộc sống của anh.
Marianne đến gặp Tony trong căn hộ của anh. Khi nàng đi đến cánh cửa, Tony cảm thấy trong lòng một niềm khao khát tưởng chừng như đã bị tiêu diệt từ lâu rồi. Nhìn vào nét mặt nàng, anh biết rằng nàng cũng có niềm khao khát tương tự, nhưng họ không thốt ra một lời nào để tạo nên phép lạ này.
Nàng ngả vào vòng tay chàng, nỗi xúc cảm của hai người như nước xoáy của thủy triều tung họ lên cao; rồi cuốn họ đi mà không có cách nào cưỡng nổi; nó như nổ bùng lên, tạo nên một sự thỏa mãn không thể nào tả xiết. Họ cùng nhau trôi nổi trong sự êm dịu, mượt mà như nhung, không còn biết thời gian, không gian, chìm đắm trong sự huy hoàng kỳ diệu của người này với người kia. Sau đó họ nằm ôm lấy nhau, mệt mỏi, làn tóc mềm mại của nàng xõa lên mặt chàng.
“Anh sẽ cưới em, Marianne ạ”.
Nàng giữ mặt anh trong hai bàn tay, nhìn vào mắt chàng như dò hỏi. “Có chắc như vậy không, Tony?” Giọng nàng rất dịu dàng. “Có một vấn đề khó khăn, anh ạ”.
“Vấn đề đính hôn của em chứ gì?”
“Không, em sẽ hủy cuộc hứa hôn ấy. Em chỉ lo về mẹ anh”.
“Mẹ anh không có liên quan gì…”
“Không, để em nói hết đã. Mẹ anh dự tính anh sẽ cưới Lucy Wyatt”.
“Đó là dự tính riêng của mẹ anh thôi”. Anh ôm choàng lấy nàng một lần nữa. “Dự tính của anh là ở đây”.
“Bà ấy sẽ ghét em, Tony ạ. Em không muốn thế”.
“Em có biết anh muốn gì không?” Tony thì thầm.
Thế rồi phép lạ ấy lại diễn ra lần nữa.



Bốn mươi tám giờ sau đó, bà Kate Blackwell mới biết được tin tức về Tony. Anh đã biến mất khỏi trang trại của Wyatt mà không một lời giải thích hay từ biệt, và đã bay đi New York. Charlie Wyatt rất bối rối, còn Lucy Wyatt thì giận dữ. Kate đã phải xin lỗi một cách ngượng ngùng, rồi lấy máy bay của công ty bay trở về New York tối hôm ấy. Về đến nhà, bà điện thoại đến căn họ của Tony, nhưng không có ai trả lời. Ngày hôm sau cũng vậy.
Kate đang ngồi trong văn phòng thì điện thoại riêng của bà trên bàn reo lên. Bà đã biết ai gọi bà trước khi nhấc ống nghe lên.
“Tony, con có được mạnh khỏe không?”
“Con vẫn khỏe, mẹ ạ”.
“Con hiện đang ở đâu vậy?”
“Con đang vui tuần trăng mật với vợ con. Marianne Hoffman và con vừa mới cưới nhau ngày hôm qua”. Một sự im lặng rất lâu tiếp theo đó. “Mẹ có còn ở đó không, mẹ?”
“Có, mẹ đang ở đây”.
“Mẹ phải nói gì đó để mừng con, chẳng hạn như “bách niên giai lão” hay “trăm năm hạnh phúc” vân vân”. Giọng nói của anh nghe có vẻ chua chát, chế nhạo.
“Phải, phải. Dĩ nhiên rồi. Mẹ chúc con hạnh phúc dồi dào”.
“Cám ơn mẹ”. Đường dây điện thoại bị cúp.
Kate đặt ống nghe xuống, ấn nút trên máy “intercom”. “Brad, anh lại đây một chút được không?”
Khi Brad Rogers bước vào văn phòng, Kate liền nói. “Tony vừa gọi điện thoại”.
Brad nhìn vào mặt Kate và nói, “Lạy Chúa! Chắc chị đã làm được chuyện ấy rồi chứ gì!”
“Không, chính Tony làm đấy”, Kate mỉm cười. “Chúng ta đã nắm được đế quốc Hoffman và đặt nó trên đùi rồi”.
Brad ngồi sụp xuống ghế. “Thật khó tin nổi! Tôi biết rằng Tony cứng đầu cứng cổ lắm mà. Làm thế nào chị thuyết phục được hắn lấy Marianne Hoffman?”
“Rất đơn giản. Tôi đã thúc đẩy hắn không đúng hướng”.
Nhưng bà biết rằng đó mới là hướng đúng đắn. Marianne sẽ là một bà vợ tuyệt vời đối với Tony.
Lucy đã có lần bị mổ tử cung.
Marianne sẽ cho Tony một đứa con trai.
0
Chương 11 nè, chương 12,13,14 không có( mở ra thì cả 3 đường link đều là chương 11) nên không đánh máy được.không gửi kèm file được luôn.hehe
chương 11
Jamie Mc Gregor sống được đúng một năm kể từ ngày anh bắt đầu lâm bệnh, nhưng đó là thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Margaret. Jamie hoàn toàn bất lực. Anh không nói chuyện được, cũng không cử động. Margaret săn sóc cho chồng, chăm chút từng cử động. Margaret săn sóc cho chồng, chăm chút từng nhu cầu của anh, ngày cũng như đêm. Ban ngày, nàng đỡ anh ngồi dậy trong chiếc xe đẩy trong phòng may vá, và trong khi nàng đan những chiếc áo len, may những chiếc áo choàng cho anh, nàng nói chuyện với anh. Nàng bàn luận về những vấn đề nhỏ nhặt trong nhà trong cửa, mà anh chưa hề bao giờ được nghe nói trước đó, rồi nàng kể cho anh nghe về bé Kate đã tiến bộ ra sao. Đến đêm, nàng bồng thân hình gầy như bộ xương của Jamie đến phòng ngủ của nàng, nhẹ nhàng đặt anh lên giường bên cạnh nàng. Nàng đắp chăn cho anh, rồi hai người mở đầu cuộc nói chuyện lảm nhảm một chiều cho đến khi Margaret bắt đầu thấy buồn ngủ.
David Blackwell điều hành mọi công việc của công ty Kruger-Brent. Thỉnh thoảng, David đem giấy tờ đến nhà để Margaret ký, và cảm thấy đau nhói trong lòng mỗi khi trông thấy tình trạng bất lực của Jamie. Ta chịu ơn người này về tất cả mọi phương diện, David thầm nghĩ.
“Anh đã chọn người rất khéo, Jamie ạ.” Margaret nói với chồng. David là một người rất tốt” Nàng đặt đồ thêu xuống, tủm tỉm cười. “Anh ta làm cho em nhớ lại anh xưa kia. Tất nhiên, chưa bao giờ có ngưòi nào thông minh, tài giói như anh, anh yêu quí ạ, và sẽ không bao giờ có một người như vậy nữa đâu. Anh trước kia là một người rất đẹp đẽ, mạnh khoẻ và tốt bụng. Anh không e ngại mơ tưởng những việc cao xa, thế nhưng bây giờ, tất cả những giấc mơ của anh đều trở thành sự thật. công ty của ta mỗi ngày mõi lớn mạnh. Nàng nhặt đồ thêu lên, tiếp tục làm việc. “Bé Kate đã bắt đầu nói chuyện được rồi. Em chắc chắn rằng sáng nay nó đã biết kêu: “Mẹ!” được rồi…”
Jamie được chống đỡ để gnồi dậy trong chiếc xe đẩy, một mắt nhìn chằm chằm về phía trước.
“Bé Kate có cặp mắt và cái miệng cảu anh. Lớn lên nó sẽ rất xinh đẹp.”
Sáng hôm sau, khi Margaret thức dậy, Jamie McGregor đã chết. Nàng ôm anh trong vòng tay, áp sát vào người mình.
“Anh hãy yên nghỉ, anh yêu quí. Hãy yên nghỉ. Em lúc nào cũng yêu anh rất nhiều, Jamie ạ. Em hi vọng anh hiểu cho điều ấy. Vĩnh biết anh, người yêu thân thiết của riêng em.”
Bây giờ nàng sống cô đơn. Chồng và con trai nàng đã rời bỏ nàng ròi. Chỉ còn có nàng và đứa con gái. Margaret đi vào phòng đứa bé, nhìn xuống Kate đang nằm ngủ trong chiếc giường cũi. Katherine, Kate. Tên đấy là do chữ Hi lạp có nghĩa là trong sáng, tinh khiết. Đó là một cái tên dành cho các vị thánh, các nữ tu và các bà hoàng.
Margaret nói thật to: “Con sẽ trở thành người nào trong các vị ấy, hở Kate?”

Lúc ấy là vào thời kỳ bành trướng mạnh mẽ ở Nam Phi, nhưng cũng là một thời kỳ đấu tranh kịch liệt. Cuộc tranh giành vùng Transvaal vẫn dai dẳng giữa người Boer và người Anh, và cuối cùng nổ bùng ra. Ngày Thứ năm, 12 tháng 10 năm 1899, vào ngày sinh nhật thứ bẩy của Kate, người Anh tuyên chiến với người Boer, và ba ngày sau Tiểu bang Tự do Orange bị tấn công. David cố gắng thuyết phục Margaret rời Nam Phi, cùng với Kate, nhưng Margaret từ chối.
“ Chồng tôi ở đây”, nàng nói.
David không còn có cách nào thuyết phục được nàng. Anh nói với Margaret: “Tôi sẽ gia nhập nhóm người Boer. Bà có thể lo toan mọi việc được không?”
“ Cố nhiên là được”, Margaret nói. “ Tôi sẽ giữ cho công ty vẫn tiếp tục hoạt động.”
Sáng hôm sau, David lên đường.

Người Anh nghĩ rằng họ sẽ chiến thắng dễ dàng và nhanh chóng. Đó chỉ là một cuộc hành quân áp đảo mà thôi, vì vậy, họ đi vào cuộc chiến với tinh thần tin tưởng, vô tư và vui vẻ như một ngày nghỉ lễ. Trong các trại lính Hyde Park ở London, người ta tổ chức một bữa ăn tiễn chân binh sĩ, với một thực đơn đặc biệt trên đó có vẽ một người lính Anh giơ tay cao một cái khay đựng thủ cấp của một con lợn rừng. Các món ăn trên thực đơn toàn những món được đặt tên bằng các vùng đất, thị trấn, thành phố Nam Phi: chẳng hạn, sò huyết Blue Points, thịt cừu Mafeking, củ cải Transvaal, nước sốt Cape Town, phó mát Hà Lan, rượu Orange v.v…
Nhưng đến Nam Phi, người Anh đã vấp phải một ngạc nhiên lớn. Người Boer ở trên lãnh thổ của họ nên họ rất cứng rắn và cương quyết. Cuộc chiến đấu đầu tiên diễn ra ở Mafeking, chỉ lớn hơn một ngôi làng một chút, và đây cũng là lần đầu tiên họ nhận thức được kẻ thù của họ như thế nào. Nhiều đạo quan nữa được nhanh chóng chở từ nước Anh đến. Họ bao vây Kimberley, và chỉ sau một cuộc chiến đấu hung dữ, đẫm máu, họ mới tiến chiếm được Ladysmith. Các đại pháo của người Boer có tầm xa hơn các đại pháo của người Anh, vì vậy người ta phải gỡ các súng tầm xa trên các chiến hạm Anh, chuyển vào đất liền, và dùng các thuỷ thủ điều khiển các khẩu súng lớn ấy ở cách xa các chiến thuyền của họ đến hàng trăm dặm.
Ở Klipdrift, Margaret hăm hở theo dõi tin tức của mỗi trận đánh. Nàng và những người xung quanh nàng sống bằng các tin đồn; tâm trạng của họ thay đổi từ vui mừng đến thất vọng, tuy theo mỗi tin tức nhận được. Rồi một buổi sáng nọ, một nhân viên của Margaret chạy xộc vào văn phòng nàng và nói, “Tôi vừa nghe tin quân Anh đang tiến về phía Klipdrift. Họ sẽ giết tất cả chúng ta”
“Vô lý! Họ không dám đụng đến chúng ta đâu.”
Năm giờ đồng hồ sau đó, Margaret McGregor đã trở thành một tù nhân chiến tranh.
Margaret ôm Kate được đến Paardeberg, một trong hàng trăm trại tù binh đã mọc lên khắp Nam Phi. Tù nhân được nhốt trong những vùng đất rộng lớn có dây kẽm gai bao bọc xung quanh và do lính Anh võ trang canh giữ. Điều kiện ăn ở tại đó thật tệ hại.
Margaret ôm Kate vào lòng và nói, “Đừng có lo, con ạ. Sẽ không có chuyện gì xảy ra với chúng ta đâu.”
Nhưng không một ai tin điều đó. Mỗi ngày lại ghi nhận thêm nhiều chuyện kinh khủng. Họ trông thấy những người xung quanh chết, đông hàng chục, hàng trăm, rồi đến hàng nghìn người. Không có bác sĩ, thuốc men cho những người bị thương, lương thực thì hiếm hoi. Cơn ác mộng ấy vẫn cứ tiếp diễn thường trực trong hầu hết ba năm đau khổ ấy. Tệ hại nhất là cảm giác hoàn toàn bất lực. Margaret và Kate hoàn toàn phó mặc số phận cho những bữa cơm, nơi trú ẩn và cả đới sống của họ nữa. Kate sống trong sự kinh hãi. Cô nhìn thấy trẻ xung quanh bị chết, và lo sợ rằng cô sẽ là kẻ kế tiếp. Cô bất lực, không giúp đỡ gì được cho mẹ và cho bản thân, đó là một bài học mà cô sẽ không bao giờ quên được. Quyền lực. Giá như ta có sức mạnh, ta sẽ có thức ăn. Ta sẽ có thuốc. Ta có tự do. Cô nhìn thấy những kẻ xung quanh ốm rồi chết, rồi cô cân nhắc giữa quyền lực và sự sống. Kate tự nhủ, “Một ngày kia, ta sẽ có quyền lực. Không một ai có thể làm như thế này đối với ta nữa đâu.”
Những trận chiến dữ dội vẫn tiếp diễn - ở Belmont, Graspan, Stormberg và Spiocnkop – nhưng cuối cùng, những người Boer anh dũng đã chứng tỏ họ không phải là những địch thủ cân xứng của đế quốc Anh mạnh mẽ. Vào năm 1902, sau gần ba năm chiến tranh, đẫm máu, người Boer đầu hàng. Năm mươi lăm ngàn người Boer chiến đấu, và ba mươi bốn ngàn binh lính, đàn bà, trẻ con của họ đã chết. Nhưng điều đã khiến cho những kẻ sống sót cảm thấy cay đắng sâu sắc, ấy là khi họ biết rằng hai mười tám ngàn người trong số đó đã chết trong các trại tập trung của người Anh.
Vào ngày các cánh cổng của trại giam được mở tung ra, Margaret và Kate trở lại Klipdrift. Ít tuần lễ sau, vào một ngày Chủ nhật yên tĩnh, David Blackwell đến thăm họ. Chiến tranh khiến cho anh trở nên già dặn hơn, nhưng anh vẫn là anh chàng David nghiêm trang, biết suy nghĩ chín chắn, mà Margaret trước kia đã tin cậy. David đã trải qua ba năm kinh khủng ấy trong chiến đấu, và luôn luôn lo lắng không biết Margaret và Kate còn sống hay đã chết. Khi trông thấy họ được an toàn, anh cảm thấy một nỗi vui mừng tràn ngập.
“Tôi ước ao làm sao có thể che chở được cho bà và cô Kate.” David nói với Margaret.
“Tất cả chuyện ấy thuộc về quá khứ rồi, David ạ. Chúng ta chỉ nên nghĩ đến tương lai mà thôi.”
Và tương lai ấy là công ty Kruger-Brent.

Đối với thế giới, năm1900 là một bảng đá còn trinh bạch trên đó lịch sử sẽ được viết ra, một thời đại mới hứa hẹn thanh bình và hi vọng không bờ bến cho mọi người. Một thế kỷ mới bắt đầu, đem lại những phát minh kỳ diệu làm thay đổi đời sống trên toàn cầu. Máy hơi nước, xe tự động chạy bằng điện được thay thế bởi máy nổ. Có tàu ngầm và máy bay. Dân số thế giới bùng nổ đạt đến con số một tỉ rưỡi người. Đó là thời kỳ tăng trưởng và bành trướng, và trong sáu năm kế tiếp đó, Margaret và David đã tận dụng được tất cả mọi cơ hội làm ăn tốt đẹp.
Trong những năm ấy, Kate lớn lên, hầu như không có ai trông nom. Mẹ nàng quá bận bịu với công việc điều hành công ty cùng với David nên không chú ý được nhiều đến Kate. Cô là một đứa trẻ ngang tàng, cứng cổ, ngoan cố, khó bảo. Một bữa trưa nọ, khi Margaret trở về nhà sau một buổi họp công việc, nàng thấy cô con gái mười bốn tuổi đang lăn lộn trong sân đầy bùn, đấm đá với hai đứa con trai. Margaret trố mắt nhìn con, kinh hãi, khó tin.
“ Chết thật!”, nàng nói thì thầm trong miệng, “Đó là đứa con gái một ngày kia sẽ điều khiển cả Công ty Hữu hạn Kruger-Brent. Cầu chúa phù hộ cho tất cả chúng tôi!”

0
CHƯƠNG XXIV
Trong hai năm kế tiếp, Kate rất lo lắng về Alexandra. Đứa bé ấy gặp hết tai nạn này đến tai nạn khác , Trong thời gian Eve và Alexandra nghỉ hè ở Bahamas trong một vùng đất thuộc gia đình Blackwell ,Alexandra súyt bị chết chìm trong khi chơi với Eve trong bể bơi ; may mà có bác làm vườn cứu kịp thời nên nó mới thoát chết.Năm sau , khi hai đứa đi cắm trại ngoài trời ở Palisades , không hiểu sao Alexandra bị trượt chân trên bờ vách núi , nhưng thoát chết nhờ bấu víu vào một bụi cây nhô ra khỏi sườn núi dốc.
"Bà muốn cháu trông nom em cháu cho thật kỹ ", Kate căn dặn Eve." Nó vô ý vô tứ , không biết tự giữ gìn như cháu đâu".
" Cháu hiểu ". Eve nói một cách trang nghiêm. " Cháu sẽ trông nom nó ".
Kate yêu các cháu gái , nhưng theo cách khác nhau. Chúng bây giờ đã bảy tuổi , và đều xinh đẹp giống như nhau , với tóc hoe dài , mềm mại , những nét mặt thanh tú và cặp mắt McGregor. Chúng trông giống nhau , nhưng cá tính thì hoàn toàn khác nhau.Vẻ hiền lành của Alexandra khiến cho bà nhớ đến Tony , trong khi Eve giống bà hơn , cũng bướng bỉnh và tự mãn như vậy.
Một người tài xế lái xe chở chúng đến trường trong một chiếc xe Rolls Royce. Alexandra bối rối khi các bạn bè trông thấy nó đi học bằng xe hơi với tài xế lái , nhưng Eve lại lấy thế làm thích thú. Kate cho mỗi đứa một số tiền tiêu vặt hàng tuần , và ra lệnh cho chúng phải ghi chép mọi thứ chi tiêu.Eve lúc nào cũng tiêu hết tiền trước cuối tuần và vay tiền của Alexandra; Eve học cách điều chỉnh sổ sách sao cho bà nội không biết được. Nhưng Kate biết và bà không thể giấu một nụ cười. Mới bảy tuổi mà nó đã chứng tỏ là một tay kế toán có đầu óc sáng tạo.
Thoạt tiên , Kate vẫn nuôi dưỡng hi vọng thầm kín rằng một ngày kia Tony sẽ trở lại bình thường , rằng anh sẽ rời dưỡng đường để trở về với công ty Kruger- Brent. Nhưng thời gian trôi qua , giấc mơ ấy phai tàn dần. Người ta mặc nhiên hiểu rằng mặc dầu Tony có thể rời dưỡng đường để thực hiện những cuộc viếng thăm ngắn ngủi , anh sẽ không bao giờ có thể tham dự vào thế giới bên ngoài.
Lúc ấy là vào năm 1962 , và khi Kruger- Brent trở nên thịnh vượng và mở rộng , nhu cầu có lãnh đạo mới trở lại càng trở nên cấp bách.Kate vừa ăn mừng lễ thất tuần. Tóc bà bây giờ đã bạc , nhưng bà vẫn giữ dáng vẻ mạnh mẽ , thẳng thắng và linh hoạt , tràn đầy sức sống. Bà cũng biết rằng tuổi già mòn mỏi rồi đây sẽ bắt kịp bà. Bà phải chuẩn bị cho lúc ấy. Công ty phải được gìn giữ cho gia đình bà. Brad Rogers là một tay quản lý giỏi , nhưng ông ta không phải là một Blackwell.ta phải sống cho đến khi hai đứa song sinh này có khả năng nắm lấy việc điều hành công ty. bà nghĩ đến lời nói cuối cùng của Cecil Rhodes : " Việc đã làm còn quá ít , nhưng việc phải làm thì rất nhiều"
Hai đứa trẻ song sinh lên mười hai tuổi , sắp sửa trở thành nhưng thiếu nữ.Kate đã dành nhiều thì giờ ở bênh cạnh chúng , nhưng lúc này bà phải chú ý đến chúng nhiều hơn.Bây giờ là lúc phải đưa ra một quyết định quan trọng.
Trong tuần lễ Phục sinh , Kate và hai đứa trẻ song sinh hay đến Dark Harbor bằng máy bay của công ty. Hai cô gái này đã viếng thăm tất cả những tài sản đất đai của gia đình , ngoại trừ tài sản ở Johannesburg , nhưng trong số đó , Dark Harbor là nơi chúng thích hơn cả. Chúng yêu thích vẻ tự do hoang dã và hẻo lánh của hòn đảo này. Chúng thích đi thuyền buồm , bơi lội , trượt trên nước , và ở Dark Harbor có đủ các thứ này cho chúng.Eve yêu cầu bà nội cho phép nó đem bạn bè theo về nơi đó , như trong quá khứ , nhưng lần này bà từ chối. Bà nội , một người đàn bà đầy quyền lực , uy nghi , vẫn thường đi ra đi vào, ban bố một món quà ở nơi này hôn lên má ở nơi kia , thỉnh thoảng lại căn dặn các con gái phải cư xử thế này , thế nọ , bà nội ấy bây giờ chỉ muốn được ở một mình với hai cháu. Lần này , các cô gái cảm thấy có gì khác lạ sắp sửa xảy ra.Bà nội chúng ngồi với chúng ở tất cả mọi bữa ăn. Bà đưa chúng đi chèo thuyền , bơi lội và cưỡi ngựa nữa.Kate điều khiển con ngựa với vẻ chắc chắn của một tay lão luyện.
Các cô gái vẫn còn giống nhau một cách lạ lùng , cả hai đều rất xinh đẹp , nhưng bà Kate quan tâm đến sự khác biệt của chúng hơn là sự giống nhau. Ngồi ở hàng hiên , nhìn xuống chúng vừa chơi xong một ván quần vợt , bà làm một bản tổng kết về chúng trong đầu óc.Eve là kẻ lãnh đạo , còn Alexandra chỉ là kẻ thừa hành.Eve là một vận động viên bẩm sinh , Alexandra vẫn còn gặp tai nạn.Chỉ mấy ngày trước đó , khi hai đứa cùng đi chơi trong một chiếc thuyền buồm nhỏ, Eve ngồi ở bánh lái.Gió thổi đến phía sau chiếc buồm , và cánh buồm lái theo chiều gió , xoay ngang một cái về phía đầu Alexandra.Cô gái không kịp tránh , bị quét ra khỏi thuyền và suýt chìm nghỉm. Một chiếc thuyền khác gần đó giúp Eve cứu Alexandra. Kate tự hỏi không biết tất cả những sự kiện như thế có liên quan gì đến việc Alexandra ra đời sau Eve ba phút hay không , nhưng các lý do không có gì là quan trọng.Kate đã có một quyết định.Trí óc bà không còn có gì phải thắc mắc nữa cả.Bà sẽ dồn tiền của bà về phía Eve , một sự đánh cuộc trị giá mười tỷ đô la.Bà sẽ kiếm một người chồng thật tốt cho Eve , rồi khi bà lui về dưỡng già , Eve sẽ điều khiển công ty Kruger- Brent.Còn về Alexandra , nó sẽ có một cuộc đời giàu sang , và đầy đủ tiện nghi. Nó sẽ rất có khả năng trông coi các khoản trợ cấp từ thiện mà bà Kate đã thiết lập nên. Phải , như thế là rất tốt cho Alexandra . Nó vốn là một đứa trẻ dịu dàng , giàu lòng thương người.
Bước đầu tiên nhằm đến việc thực hiện dự tính này của bà Kate là sao cho Eve được theo học một trường thích hợp. Bà Kate chọn trường Briarcrest , một trường rất tốt ở Nam Carolina , " Cả hai cháu tôi đều ngoan ngoãn cả " bà Kate nói bà hiệu trưởng , Chandler , như vậy. " Nhưng bà sẽ nhận thấy rằng Eve là một đứa rất thông minh. Nó là một đứa con gái kỳ lạ , và tôi chắc chắn rằng bà sẽ giúp cho nó thâu nhận được tất cả mọi lợi ích của trường này".
" Alexandra à? Nó cũng dễ thương ". Đó là một lối nói không ngụ ý gì khen ngợi cả Kate đứng dậy.
"Tôi sẽ kiểm soát sự tiến bộ của chúng một cách điều đặn".
Bà hiệu trưởng nhận ra trong những câu nói của bà Blackwell một lời cảnh cáo nào đó , thật là kỳ lạ.
Eve và Alexandra yêu thích ngôi trường mới của chúng , đặc biệt là Eve. Nó cảm thấy được tự do vì sống xa nhà , không phải giải thích gì với bà nội và cô Solange Dunas.Các qui tắc ở trường Briarcrest rất nghiêm ngặt , nhưng Eve chặng bận tâm gì về điều ấy vì nó dễ dàng tránh né các qui tắc ấy. Mối bận tâm duy nhất của Eve là Alexandra cùng ở nơi này với nó. Khi Eve mới nghe nói đến trường Briarcrest, nó năn nỉ ,"Bà cho cháu đi học một mình , được không?"
Bà nó đáp," Không , cháu ạ. Bà nghĩ rằng cho Alexandra cùng đi với cháu thì tốt hơn".
Eve cố giấu nỗi bực tức." Bà bảo sao cũng được bà ạ".
Nó lúc nào cũng tỏ ra lễ phép và thân ái khi ở bên cạnh bà nội , vì nó biết quyền lực nằm ở đâu rồi. Cha nó là một người điên khùng đang bị nhốt trong mọt dưỡng đường của người điên. Mẹ nó đã chết rồi. Chính bà nội mới là người kiểm soát tiền bạc.Nó biết gia đình nó rất giàu có. Nó không biết họ có bao nhiêu tiền tất cả , nhưng chắc là nhiều lắm - thừa để mua tất cả những thứ đẹp đẽ mà nó thích. Eve thích những thứ đẹp đẽ. Chỉ có vấn đề khó khăn duy nhất :Alexandra.
Một trong các hoạt động được ưa thích nhất ở Briarcrest là lớp họ cưỡi ngựa. Phần nhiều các cô gái học trường này đều có ngựa riêng.Eve và Alexandra cũng được bà nội cho mỗi đứa một con ngựa vào ngày sinh nhật thứ mười hai. Jerome Davis huấn luyện viên cưỡi ngựa , xem các học trò trổ tài trong sân tập, nhẩy qua hàng rào cao ba mươi phân , rồi sáu mươi phân , rồi cuối cùng nhẩy qua hàng rào trên một thước ba. Davis là một trong những huấn luyện viên tài ba nhất trong xứ. Nhiều học trò của ông ta được mề đai vàng , và ông rất thành thạo trong việc phát hiện ra một tay cưỡi ngựa có tài năng bẩm sinh. Người con gái mới đến trường , Eve Blackwell , là một trong những người ấy. Nó không cần phải suy nghĩ về việc gì nó sẽ làm, làm thế nào nắm dây cương hay ngồi trên yên ngựa. Nó với con ngựa là một , và trong khi người và ngựa nhẩy vọt qua các hàng rào , làn tóc vàng óng của Eve bay tung trong gió , quang cảnh ấy thật là đẹp. Không có gì ngăng cản được cô bé ấy , Davis nghĩ thầm.
Tommy , tay giữ ngựa , ưa thích Alexandra hơn. Ông Davis nhìn Eve thắng yên ngựa , chuẩn bị đến phiên mình.Alexandra và Eve đeo những dải ruy băng màu sắc khác nhau để dể phân biệt.Eve giúp Alexandra thắng yên ngựa trong khi Tommy bận bịu với một học sinh khác.
Davis được gọi đến tòa nhà chính vì có điện thoại , rồi những gì xẩy ra sau đó trở thành một vấn đề rắc rối vô cùng.
Do các chi tiết Davis thu nhặt và xếp đặt lại sau đó , ông được biết rằng Alexandra trèo lên ngựa , đi một vòng sân , rồi sắp sửa cho ngựa nhẩy qua hàng rào thấp thứ nhất thì con ngựa bỗng chồm hai vó lên , ném Alexandra vào một bức tường. Nó bị ngã xuống bất tỉnh và suýt nữa bị vó ngựa đá vào mặt. Tommy khiêng Alexandra đến bệnh xá. Ở đó , ông bác sĩ của nhà trường chẩn đoán cho biết nó bị chấn thương nhẹ ở đầu.
"Không bị gãy xương , không có gì quan trọng cả ". ông nói. "Đến sáng mai cô ấy sẽ khoẻ mạnh như thường , sẵn sàng lên ngựa lại ".
" Nhưng nó có thể đã bị chết !" Eve thét lên.
Eve không chịu rời Alexandra. Bà Chandler nghĩ thầm rằng bà chưa hề bao giờ thấy một người chị hết lòng đối với em như vậy. Thật là cảm động.
Khi ông Davis đã đưa được con ngựa của Alexandra trở lại bài tập , ông thấy tấm mền lót yên ngựa đẫm cả máu. Ông nhấc nó lên thì thấy một miếng thiếc lởm chởm cắt ra từ hộp bia, nhô ra từ lưng ngực và đã cắm sâu vào da thịt khi chiếc yên ngựa bị ép xuống. Ông liền báo cáo với bà Chandler. Sau đó bà cho mở một cuộc điều tra ngay lập tức. Tất cả những cô gái đã đứng ở gần chuồng ngựa đều bị chất vấn.
Bà Chandler nói ," Tôi chắc rằng kẻ nào đặt miếng kim khí vào đó tưởng rằng đó là một trò tinh nghịch vô hại , nhưng thực ra nó có thể dẫn đếnnhu7ng4 hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Tôi muốn biết tên cô nào bày ra cái trò này ".
Khi không có ai thú nhận cả , bà Chandler nói chuyện với họ , từng người một , tại văn phòng. Khi đến lượt Eve bị chất vấn , nó tỏ ra bối rối một cách lạ lùng.
" Cô có nghi ai gây ra chuyện này cho em gái cô không?" bà Chandler hỏi.
Eve nhìn xuống nói." Con không muốn nói ". nó lầm bầm.
" Vậy cô có thấy gì không?"
" Cháu xin bà, bà Chandler ạ...".
"Eve ,Alexandra có thể bị thương nặng rồi. Cô gái nào làm chuyện ấy phải bị trừng trị để lần sau đừng có xảy ra những chuyện như thế nữa ".
" Không phải là một cô gái nào làm chuyện ấy ".
" Cô nói gì vậy?"
"Đó là Tommy ".
"Tên giữ ngựa ".
" Vâng , thưa bà , cháu thấy hắn. Cháu tưởng hắn buộc dây nịch ngựa thôi. Cháu chắn hắn không có ý làm hại. Alexandra thường hay sai bảo hắn nhiều nên có lẽ hắn muốn cho em cháu một bài học. Trời , thưa bà Chandler , lẽ ra bà không nên buộc cháu phải nói ra điều này. Cháu không muốn gây rắc rối cho ai cả ". Tội nghiệp con bé , nó hối hận , gần như phát cuồng lên.
Bà Chandler đi vòng quanh bàn viết , rồi quàng tay lên người Eve." Không hề gì đâu , Eve ạ. Cháu nói với ta như thế là phải. Bây giờ , hãy quên hết tất cả mọi thứ. Để bà sẽ lo việc này cho ".
Sáng hôm sau , khi các cô gái đi ra đến chuồng ngựa thì đã thấy có một tay giữ ngựa mới.
Ít tháng sau , lại thêm một chuyện khó chịu nữa xảy ra ở trường học. Nhiều cô gái đã bị bắt quả tang đang hút thuốc lá có chất ma túy , và một đứa trong bọn chúng tố cáo Eve đã cung cấp thứ ấy. Eve chối lỗi một cách giận dữ. Bà Chandler liền cho lục lọi khắp mọi nơi thì phát hiện ra rằng chất cần sa được giấu trong ngăn kéo của Alexandra.
" Cháu không thể tin nổi chuyện này ". Eve nói thật lớn." Có kẻ nào đó đã bỏ thứ ấy vào đó. Cháu biết".
Bà hiệu trưởng báo cáo chuyện này với bà Kate , và bà này khen ngợi Eve hết lời vì đã tìm cách che chở cho em gái. Nó đúng là một McGregor.
Vào ngày sinh nhật thứ mười lăm , bà Kate đưa cả hai đứa đến một ngôi nhà của bà ở South Carolina , ở đó bà tổ chức một bữa tiệc mừng các cháu. Lúc này không phải là quá sớm để cho Eve làm quen với những chàng trai trẻ xứng đáng , vì vậy mọi chàng trai xứng đôi vừa lứa với nàng đều được mời đến tham dự.
Các cậu con trai đang ở vào tuổi chưa quan tâm đến các cô gái một cách nghiêm chỉnh , nhưng bà Kate cho rằng nhiệm vụ của bà là tạo nên cơ hội cho chúng quaen biết nhau và kết thân với nhau. Biết đâu trong số ấy lại chẳng có một người chồng tương lai của Eve, một người thuộc về công ty Kruger- Brent về sau này.
Alexandra không thích tiệc tùng , nhưng lúc nào nó cũng làm ra vẻ vui thích để làm vừa lòng bà nội. Eve thì rất thích tiệc tùng. Nó thích được ăn mặc đẹp đẽ , được người ta ca ngợi , thán phục.Alexandra chỉ thích đọc sách và hội họa. Nó ngồi hàng giờ ngắm các bức tranh của bố nó ở Dark Harbor , và ao ước được biết bố trước khi ông ta bị ốm. Tony về nhà vào những ngày nghỉ với một đàn ông khác đi kèm , nhưng Alexandra nhận thấy nó không cách nào lại gần bố được. Ông là một người lạ mặt vui vẻ , dễ mến , muốn làm vui lòng kẻ khác , nhưng chẳng có gì để nói cả. Ông ngoại của hai đứa trẻ , Frederick Hoffman , còn sống ở Đức , nhưng ốm yếu lắm. Chúng ít khi có dịp được gặp ông.
Trong năm thứ hai ở trường học Eve có mang. Trong nhiều tuần lễ nàng tỏ ra lừ đừ , mặt mũi tái nhợt , và bỏ học nhiều buổi sáng. Khi bắt đầu nôn oẹ thường xuyên , nàng được đưa đến bệnh xá để khám bệnh. Bà Chandler được mời đến đó gấp.
"Eve đã có mang", ông bác sĩ nói với bà Chandler.
" Nhưng nó chỉ mới là một đứa bé con thôi mà "
"Vâng nhưng đứa bé con này sắp làm mẹ rồi".
Eve tỏ ra can đảm , không chịu nói gì về chuyện này. "Cháu không muốn ai bị lôi thôi về chuyện này ".
Đó là lối trả lời mà bà Chandler mong đợi ở một con người như Eve.
" Eve thân mến ạ , cháu phải nói cho ta biết chuyện gì đã xảy ra".
Cuối cùng , Eve mới tiết lộ ," Cháu bị người ta hiếp". rồi khóc òa lên.
Bà Chandler lộ vẻ sửng sốt. Bà ôm thân hình run rẩy của Eve sát vào người bà , rồi hỏi , "Ai vậy?"
"Thầy Parkinson".
Đó là thầy giáo dạy nàng môn Anh văn.
Nếu như một kẻ nào , ngoài Eve ra , nói với bà Chandler như vậy hẳn bà đã không tin. Joseph Parkinson là một con người trầm tĩnh , ít nói , đã có vợ và ba con. Ông đã dạy học ở trường Briarerest được tám năm rồi , và là người mà bà không bao giờ ngờ có thể làm những chuyện như vậy.
Bà cho gọi ông Parkinson đến văn phòng , và lập tức bà biết rằng Eve đã nói sự thực. Ông ta ngồi trước mặt bà , mặt co rúm vì lo lắng.
" Ông biết vì sao tôi gọi ông lên đây chứ , ông Parkinson?"
" V....vâng , có lẽ vậy ".
" Vấn đề có liên quan đến Eve ".
" V....vâng , tôi... tôi cũng đoán ra thế".
" Nó bảo chính ông đã hiếp nó ".
Parkinson nhìn bà có vẻ không tin." Hiếp cô ấy?. Lạy Chúa ! Nếu có ai bị hiếp thì người ấy chính là tôi ". Trong lúc bị quá xúc động ông sa vào lỗi văn phạm tiếng Anh mà không hay.
Bà Chandler nói một cách khinh bỉ."Ông có hiểu những gì ông đang nói không?? Con bé ấy nó....".
"Cô ấy không phải là một con bé". Giọng ông ta có vẻ độc địa." Nó là một con quỷ cái ". Ông lau mồ hôi trên trán." Suốt cả học kỳ , cô ấy ngồi ở bàn đầu ở lớp tôi dạy , vén cao váy lên. Hết giờ học , cô ấy lên bàn tôi , hỏi hết câu này đến câu khác một cách vô nghĩa trong khi ấy cô ta cứ cọ sát vào người tôi. Tôi vẫn không coi chuyện ấy là quan trọng. Thế rồi , vào một buổ trưa nọ , cách đây sáu tuần lễ , cô ấy đến nhà tôi trong khi vợ con tôi đi vắng rồi...".Giọng ông tắc lại." Trời Giê Su Chúa tôi ! Tôi không chịu nổi nữa rồi ". Ông ta bật khóc lên.
Người ta đưa eve lên văn phòng. Dáng điệu của cô vẫn bình tĩnh. Cô nhìn thẳng vào mắt ông Parkinson , khiến ông ta phải quay mặt đi trước tiên. Trong văn phòng lúc ấy có bà Chandler , bà hiệu phó , viên cảnh sát trưởng địa phương.
Viên cảnh sát trưởng nói một cách ngọt ngào." Cô có vui lòng nói cho chúng tôi biết câu chuyện xảy ra như thế nào không?"
" Vâng,thưa ông". Giọng Eve hết sức bình tĩnh. "Thầy Parkinson nói ông ấy muốn thảo luận về bài Anh văn của tôi. Ông yêu cầu tôi đến nhà ông vào trưa chủ nhật. Lúc ấy ông ở nhà một mình. Ông bảo ông muốn cho tôi xem một cái gì đó trong phòng ngủ , thế rồi tôi theo ông lên lầu. Ông lôi tôi xuống giường , rồi ông ấy....."
"Nói láo !" Parkinson thét lên." Chuyện xảy ra không phải như vậy. Không phải như vậy!"
Bà Kate được mời đến và nghe giải thích các tình tiết. Bà đưa ra quyết định rằng , vì lợi ích chung của mọi người , câu chuyện này phải được giữ kín. Ông Parkinson bị đuổi khỏi trường và phải rời khỏi tiểu bang trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Sau đó , người ta sắp đặt việc phá thai cho Eve một cách kín đáo.
Kate lặng lẽ mua đứt văn tự cầm cố của nhà trường , do một ngân hàng cầm giữ , rồi tịch thu để thế nợ.
Khi Eve được tin tức này , cô thở dài một tiếng , "Cháu rất lấy làm ân hận , bà ạ. Cháu thực sự thích cái trường ấy ".
Ít tuần lễ sau , Eve đã bình phục sau một cuộc phẫu thuật. Cô và Alexandra ghi danh học tại trường Fernwood , một trường học Thụy sĩ gần Lausanne.
0
«« « 1 2 3 » »»