Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Ai làm thơ? Ai là thi nhân?* - Hoàng Nguyên Nhuận -

34 trả lời, 1.463 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-27 18:12:26TTL>
Ai làm thơ? Ai là thi nhân?*

‘... lúc đó tôi đề cao cái tình yêu đề cao tôi khóc cái người vợ tử tế với mình hiếm có của mình lúc đó khóc như vậy là nó cho là khóc cái tình cảm riêng tôi làm vào cái lúc mà y như trong thơ nói đấy tôi lấy bà vợ rồi sau tôi đi vào bộ đội thì ở nhà bà ấy đi giặt bà ấy chết đuối ở sông mới lấy nhau được hơn tháng ấy mà thế rồi bà ấy chết ở sông tôi thấy đau xót tôi làm cái bài thơ ấy tôi khóc làm cái bài thơ ấy lúc bấy giờ họ cho là phản động...’ (Phạm Trần - Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Định Không Chịu Quỵ Luỵ...- Ngày Nay, Houston, số 492, ngày 15/11/02).

Lối nói lẩm cà lẩm cẩm điểm xuyết bằng những tiếng dư không hẳn là dư mà thiếu cũng không thể nói là thiếu như nó, cái, sự, thì, mà, rằng, là, họ... không phải là điều hiếm hoi ngay cả với những ‘nhân vật’ tiếng tăm. Cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn chí Thiện là những ví dụ. Nhưng nghe hay đọc những lời chân chất trích dẫn ở trên, người ta thật khó tưởng tượng nổi đó chính là lời của Hữu Loan giải thích với phóng viên Đài BBC về xuất xứ của bài thơ Mầu Tím Hoa Sim?! Lịch sử văn họcViệt Nam không thiếu những bài thơ lẩm cà lẩm cẩm, đã hẳn. Nhưng Mầu Tím Hoa Sim không phải là bài thơ thuộc loại đó. Trái lại,theo Trần Độ đó là ‘bài thơ tình hay nhất trong 11 bài thơ tình của văn học Việt Nam kể từ thời nhà Lý’. Bài thơ đó, theo lời tác giả, nguyên văn thế này:

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
*
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
Nắm chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe em nói
Không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng mầu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa
*
Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường đông bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Mầu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt.

Bài thơ từ đầu đến cuối chỉ có một dấu chấm (.). Không biết đó là cố ý của Hữu Loan hay vô tình của Phạm Trần, người ký chú lại bài phỏng vấn Hữu Loan của Đài BBC cho tờ Ngày Nay? Cố ý hay vô tình cũng đều là may cả, cho tác giả cũng như người đọc, bởi vì chấm phết nhiều khi là chuyện nghịch ngợm hơn cả ông Trời và dở hơi hơn cả Quận Hách. Một trong những bằng chứng sáng tạo được ồn ào ca ngợi của cái gọi là thơ-tự-do chính là ‘tài’ chấm phết, ngắt câu, ngắt đoạn tùy tiện, và những thủ thuật sáng tạo ex nihilo khác bằng cách dùng các dấu khác như: //, /, *, -, _ và space... trên bảng phím của máy điện toán. Thơ của Du Tử Lê là một ví dụ.

Hoàng tôi không thể đoan quyết đã được đọc, được nghe ngâm, nghe hát bao nhiêu bài Mầu Tím Hoa Sim. Hi vọng bài Mầu Tím Hoa Sim trong tờ Ngày Nay trích dẫn ở trên là văn bản cuối cùng và chân xác của văn học Việt Nam. Hữu Loan bảo Trần Độ cho đó là một trong mươi bài hay nhất, nhưng cả Hữu Loan và Trần Độ đều không nói thêm những bài kia là bài nào? Cầu mong Trần Độ đúng khi nghĩ đó là một bài thơ ‘hay’, hay nếu không thì cũng là một bài thơ khó mà chê ‘dở’ của văn học Việt Nam xưa nay.

Nhưng hay là gì, dở là gì? Đã hẳn, hay dở là một ý niệm tương đối như bao nhiêu ý niệm khác con người bày ra để tự trói buộc tâm tư mình. Hay hay dở không chỉ nằm trong ngôn từ, âm thanh được thu nhận bằng cảm quan. Hay hay dở có thể hệ tại ở ngoài và ở trên ngôn từ âm thanh, sau khi ngôn từ đã lắng, sau khi âm thanh đã tắt. Thật vậy, chức năng của ngôn từ và vần điệu là đưa con người đến gần sự thật như con tàu đưa bộ hành đến sân ga. Xuống tàu rồi, phải đi nữa – trước hết là rời sân ga, chứ không phải đứng ỳ trên sân ga. Văn, nhạc và thơ cũng đều thế. Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó, hay thi tứ mà bài thơ đó có thể tự động gợi ra ngoài ý tác giả. Ngôn từ và vần điệu giúp người đọc lấy trớn đi tới. Hay dở phần nào cũng tùy thuộc cái đà, cái trớn đó. Thơ của Bùi Giáng là một ví dụ. Với đa phần những bài thơ của Bùi Giáng, nếu người ta lẩm cẩm phân tích chi ly ngôn từ, âm thanh, vần điệu có thể phát âm, có thể thu nhận bằng cảm quan, như người ta diễn đạt một sự vật bằng các công thức hóa học hay các phương trình vật lý thì cũng chẳng khác gì loay hoay phân tích vôi vữa xi măng để tìm vẻ đẹp của pho tượng Vénus de Milo.

Mầu Tím Hoa Sim có phải là một trong 11 bài thơ hay nhất của văn học Việt Nam không, Hoàng tôi không có thẩm quyền đoan quyết. Nhưng dù có chẻ sợi tóc làm tư hay bới lông tìm vết đến mấy, tôi vẫn không có gì phản đối Trần Độ khi Trần Độ cho rằng đó là một bài thơ hay. Hoặc ít ra, đó là một bài thơ mà tôi khó có thể dễ dàng nói dở chỗ nào, hay dễ dàng nhắm mắt vứt đi.

Thế nào là thơ hay? Thế nào là thơ dở? Thơ dở là quái thai của kẻ tưởng mình biết làm thơ, và thơ hay là sản phẩm của người có tài làm thơ. Tài là kẻ làm ra được một cái gì hết-chỗ-chê. Thơ hay là bài thơ hết chỗ chê. Hết chỗ chê thì quý hơn khen vì chê bao giờ cũng dễ hơn khen. Chê dễ mà không chê nổi, thế là hay rồi. Điều bất công và nguy hiểm cho nghệ sĩ hay nhà sáng tạo là người thưởng ngoạn hay nhà phê bình thường rất hà tiện lời khi nói hay chỗ nào, nhưng lại rất dễ dãi hào phóng ngôn từ khi nói dở chỗ nào. Phần nào cũng dễ hiểu thôi. Vì nếu không khó khen, nếu nói hay là chuyện... dễ ợt thì mấy người giỏi nịnh hay mấy nhà gọi là phê bình văn học làm sao ăn ra làm nên?! Ước mong sao Hoàng tôi chưa phạm điều bất công đó đối với bài Mầu Tím Hoa Sim.

Bảo thơ dở thơ hay đã là khó, bảo thơ là gì lại càng khó hơn. Người ta tránh định nghĩa thơ là gì cũng như người ta tránh câu hỏi người là gì vậy. Thơ là gì? Cách định nghĩa thông thường nhất là bảo thơ không phải là cái này, thơ không phải là cái khác. Ví dụ như bảo thơ không phải là văn, hò, vè, hát nói... Nhưng định nghĩa như vậy thì cũng chẳng khác gì bảo là người không phải là lang sói, không phải là cây sậy... hay an toàn lách né như Pascal khi nói: người không phải là thiên thần mà cũng không phải là quỷ sứ.

Đã hẳn, không ai cấm người ta theo chủ trương tuyệt đối, theo đó ‘Bài thơ hay là bài thơ chưa hề được viết ra.’ Nói nghe cũng phiêu diêu tự tại lắm, nhưng chưa được viết ra thì làm sao mà bảo đó là thơ? Khổ lắm! Cho nên, không nói được thơ là gì thì ít ra - theo tiêu chuẩn xác quyết, cũng có thể bảo chất liệu của thơ là ngôn từ và vần điệu. Ngôn từ không mà thôi là văn, vần điệu không mà thôi là nhạc có lời. Không thể đem một bài thơ ra mà hát nhưng cũng không thể hát nếu lời nhạc không có chất thơ, nghĩa là không có vần điệu. Trừ một phần của tuồng cải lương, hát bội của Việt Nam hay Opera của Tây, dĩ nhiên.

Văn không cần vần điệu mà chỉ cần ngôn từ. Thơ vừa cần vần điệu vừa cần ngôn từ. Cho nên người Việt không đọc thơ như người ta đọc văn, đọc sớ. Người Việt ngâm thơ. Ngâm là một lối hát. Viết một văn bản không để mà ngâm là viết văn. Hệ luận của nhận định đó là thứ nhất, thơ tự do hay thơ chỉ chú trọng đến ngôn từ và bất chấp vần điệu là thơ lập dị ngụy biện; thứ hai, thơ chỉ có vần điệu mà không chú trọng đến ngôn từ hay ý thơ là một cách sắp chữ chứ không phải làm thơ.

Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp, theo kiểu:
Nửa đêm/giờ Tý/canh ba
Em là phận gái/ đàn bà/nữ nhi/

Đây cũng là trường hợp của những người "thích" xướng họa đối đáp. Ba bài thơ của TTKH không phải là xướng họa mặc dù đó là những bài thơ để nói-với-một-người. Trường hợp Tôn thọ Tường và Phan văn Trị cũng không phải là xướng họa. Đó là bút chiến, là phản biện trong đó Phan văn Trị lúc nào cũng lăm le chờ Tôn thọ Tường hở ra bài nào là quật lại chết bỏ như kiểu dàn quân phục kích vậy. Phan văn Trị là người đã đưa kỹ thuật bút chiến chính trị lên hàng cao thủ.

Xướng họa thông thường chẳng khác gì mấy cảnh hai người nựng má nhau khen qua khen lại những "câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An" của nhau. Cứ ì à ì ạch, lập cà lập cập như những người nhảy bao bố hay hai chân xỏ một ống quần...

Một trường hợp thợ chữ nữa là dịch thơ ra thơ hay lấy thơ dịch thơ. Ngôn từ và vần điệu mỗi nơi một khác. Làm sao mà một người Hoa, người Pháp, người Mỹ, người Nga có thể rung động khi nghe người Việt ngâm thơ Việt và trái lại? Mặt khác, có người nào dịch-thơ-ra-thơ mà được tiếng là nhà thơ, thi nhân, thi sĩ đâu. Trừ những người đã từng là thi sĩ trước khi dịch-thơ-ra-thơ như Huy Thông, Tản Đà. Một số người Việt có thể nhớ những bài thơ Đường diễn âm Hán Việt, nhưng mấy ai nhớ đến những bài dịch-thơ-ra-thơ của Trần trọng San, Trần trọng Kim, và ngay cả của Tản Đà?

Cầu mong những người yêu thơ Trung Hoa sẽ làm một việc bổ ích cho cả người Việt lẫn người Hoa là dịch-sát-nghĩa những bài thơ đó cho những người Việt không biết chữ Hán thưởng thức được ý nghĩa của bài thơ, thay vì dịch thơ bằng thơ một cách luộm thuộm ép uổng mù mờ. Trường hợp thơ Pháp, thơ Anh, thơ Nga có thể cũng vậy, dù trong lãnh vực này không phải không có những người nổi tiếng như Pierre Đỗ Đình hay Huy Thông. Nói chuyện dịch-sát-nghĩa, Hoàng tôi bỗng rùng mình nhớ đến lần trót dại đọc một loạt mấy bài trên một tờ báo văn học tranh luận về nghĩa và cách chuyển Việt ngữ của ba chữ "tịch mịch hồng" của một nhà thơ Trung Hoa nào đó. Trà dư tửu hậu thừa giấy vẽ voi đến mức ấy thì thật không còn thứ thuốc an thần nào đáng gọi là công hiệu nữa.

Dịch sát hay không sát thì có quan trọng gì đâu. Ngôn từ bất quá cũng như chiếc chiếu phủ lên những người nằm ngủ, làm sao gói trọn hết thịt da thân thể những người đó như kiểu bó giò chả ù. Thánh thư của Thiên Chúa giáo có cả hàng bao nhiêu bản dịch khác nhau và chọi nhau chí chát. Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Tâm Kinh của Phật giáo có ít ra cũng là tám bản dịch... Điều ấy đâu có làm cho Chúa hay Phật nổi trận lôi đình vì lo đồ đệ đi lạc đường?

Nhưng dịch sai là một chuyện, dịch cố ý sai vì nhu cầu phải dịch thơ ra thơ là chuyện khác. Sau năm 1975, tại trại T.4 Phan đăng Lưu, Hoàng tôi may mắn ở chung phòng với một anh bạn nguyên là thư ký riêng của Đại sứ Hồ Liêm. Anh này rất giỏi văn học Trung Hoa và nói tiếng Việt còn sành hơn tôi, nên tôi bám riết anh để học chữ... Hán giết thì giờ. Thời gian ngắn ở với anh tôi học được về văn chương Trung Hoa nhiều hơn bao nhiêu năm ở Trung học đệ nhị cấp và Đại học. Bài thơ mà anh chịu khó mất nhiều thì giờ nhất cho tôi là bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị. Sau khi ra khỏi Trại T.4, vật đổi sao dời, số chữ Hán anh dạy tôi viết chẳng may đã biến mất khỏi đầu óc tôi đến... 99,9% nhưng bài Trường Hận Ca thì không. Mới đây, đọc Dòng Việt số 11:2002, tôi mừng như bắt được vàng khi thấy lại bài Trường Hận Ca với nguyên bản chữ Hán, phần phiên âm Hán-Việt và phần dịch-thơ-ra-thơ. Tôi không khỏi khựng lại ngay với câu thơ dịch đầu tiên của bài này, nguyên văn là Hán hoàng trọng sắc tư khuynh quốc, được dịch ra là Mến sắc, vua nhớ người nghiêng nước. Biết qua tiểu sử Bạch cư Dị và nguyên lai của bài Trường Hận Ca hẳn ai cũng thấy từ "Hán" là từ quan trọng nhất của toàn bài thơ. Không có từ đó thì Bạch cư Dị cũng khó mà bảo vệ cái đầu trên cổ với các vua nhà Đường khi dám trách "vua mê gái đẹp". Dịch như vậy thì thật là chết người... cả người đọc lẫn người làm thơ.

Thơ tự do là một thứ lập dị ngụy biện? Đây là hệ quả của hội chứng ‘Tấp tễnh người đi tớ cũng đi’, thấy Tây có thơ tự do mình cũng phải có thơ tự do. Một dạo, những người ‘hậu hiện đại’ chủ trương theo mới chết bỏ bằng cách... đi thụt lùi trở lại thế kỷ trước hay mấy thập niên trước, đã ì à, ì ạch dựng tượng cho Thanh Tâm Tuyền như là kẻ khai sáng đại đạo Thơ Tự Do. Ồn ào thật, nhưng mấy ai thuộc được dăm ba câu hay một bài ‘thơ tự do’ của Thanh Tâm Tuyền? Phải chăng chỉ vì Thanh Tâm Tuyền không làm thơ mà chỉ tự do gọi những chữ ông viết là thơ, và vì ông tự do gọi đó là thơ nên cái đó đã trở thành thơ tự do?

Thơ là một trò chơi, và trò chơi ít nhiều phải có luật của trò chơi đó. Tự do là tự do chấp nhận luật chơi chứ không phải tự do bất chấp luật chơi. Luật chơi của bóng đá là 22 mạng chia thành hai phe để dành một trái banh theo một số lề luật "được phép" hay "cấm" nào đó. Thơ cũng vậy. Nếu muốn tự do hoàn toàn, nếu muốn bất chấp những nguyên tắc căn bản tối thiểu của vần điệu thì làm thơ làm gì, thì phải xác nhận là mình làm thơ hay viết văn làm gì? Cứ tự do nhắm mắt viết phứa ra, ai tự do gọi đó là gì thì gọi. Cho nên, thơ tự do là một sản phẩm của lập dị ngụy biện. Đã hẳn, những nhà thơ tự nhận làm thơ tự do sẽ hoàn toàn tự do để phủ nhận chuyện đó. Cũng xong thôi, chẳng chết ai cả. Chơi mà! Nhưng chơi thì cũng phải có luật. Tự do chơi không phải là phá bĩnh, tự do chơi là tự do chấp nhận luật chơi, nghĩa là tự nguyện kềm chế tự do của mình trong lúc chơi. Nhà thơ là kẻ tự do chấp nhận luật chơi. Luật của ngôn từ và vần điệu. Cho nên, tự do làm-thơ-tự-do là điều... thừa.

Nhà thơ là một người chơi, người làm xiệc, một nhà ảo thuật với ngôn từ và vần điệu. Nhưng không phải ai cũng làm được chuyện đó. Bởi vì người làm xiệc, nhà ảo thuật, cũng như nhà thơ, nhà văn... là những người chuyên môn, những người có năng khiếu đặc biệt – sui generis, theo hạng loại của họ. Đó là điều tôi được "mặc khải" khi đọc bài Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Định Không Chịu Quỵ Luỵ... của Phạm Trần trên tờ Ngày Nay dẫn thượng.

So sánh ngôn từ của bài Mầu Tím Hoa Sim và lời giải thích của Hữu Loan tại sao có bài thơ đó thì sẽ thấy không phải ai cũng làm thơ được, không phải nói được viết được là làm thơ được. Nhà thơ là người thực sự có tài làm thơ nhưng không tất yếu là người ‘nhả ngọc phun châu’, là người thở ra thơ, nói ra thơ. Xin hãy nghe Hữu Loan trả lời trực tiếp phóng viên Đài BBC, nghĩa là nói chứ không viết:

Phóng viên BBC: Thưa ông, nhưng mà ông ở trong quê như vậy thì ông có theo dõi những cái tình hình chung của đất nước không ạ?

Hữu Loan trả lời: Có chứ, tôi theo dõi chứ. Tôi theo dõi những cái tình hình chung của đất nước bây giờ là lừa đảo rối bét, ăn tham bẩn nhất là thằng nào cũng lợi dụng trèo đầu cỡi cổ thằng dân chứ có cái gì đâu...

Trên tờ Ngày Nay, câu trả lời của Hữu Loan được chấm phết đàng hoàng. Nhưng ai làm chuyện chấm phết đó? Chắc là không phải Hữu Loan rồi. Hữu Loan chỉ nói, nói một mạch, nên câu nói đầy dẫy những tiếng "đệm" có cũng được mà không lại càng được hơn. Vì không chấm không phết nên lời nói cũng giống như con tàu đứt thắng lừng lững tiến tới, không dừng ở ga lớn, không dừng ở ga xép, như chính lời Hữu Loan nói cho thông tín viên BBC biết tại sao có bài thơ đó.

Hú hồn hú vía, may là Hoàng tôi không nghe được lời tâm sự của Hữu Loan với Đài BBC trước khi đọc bài Mầu Tím Hoa Sim. Bằng không tôi đã phạm một bất công không thể tha thứ, đó là nhắm mắt phán: Hữu Loan cà rịch cà tang như vậy chắc thơ ông ấy cũng... cà tang cà rịch như vậy thôi, đọc chi cho phí hơi mất thì giờ!

Hữu Loan nói chuyện khác xa Hữu Loan làm thơ. Hãy xét đến một ví dụ tương tự khác. Một trong những bài thơ nổi tiếng khác của Hữu Loan là bài Chiếc Chiếu, nguyên văn theo Hữu Loan:

Có ai thấy một người cha
Từng buổi từng buổi
Trước tủ kính cửa hàng
Tì mũi dẹp như quả bóng xuống hơi
Thầm đọc đi đọc lại giá hàng từng thứ đồ chơi
Dù nhiều lần đã hạ giá
Trong óc nổi bòng bong từng mớ
Những cơm đến gạo đến quần đến áo
Đôi chiếu nằm rách từ giữa rách ra
Tục ngữ nói rằng không những chiếc nhà dột từ
nóc trên dột xuống
Từng sáng mai nhìn gầm giường
Đốt cói rụng đầy như chiếu rụng đốt xương
Gió thổi từ dưới thổi lên
Muỗi cũng đốt từ dưới đốt lên
Nhưng con đái dầm lại tiện
Ròng rã mười năm kháng chiến
Cầm vững hai tay
Một cái tinh thần
Choảng nhau với súng với bom
Gian khổ còn ư?
Bố con ta lại vung cái tinh thần như tráng sĩ vung gươm
Chong chóng không quay
Con vứt đi phụng phịu
Sáng kiến làm đồ chơi
Bố thì không thiếu
Bố lại lấy lá dứa vận cho con cái kèn
Bố thổi nó kêu lên tò he tò he
Con đắc chí giật kèn đi thổi khắp Ô Kim Mã
Tò he tò he
Như một thiên sứ hài đồng
Xuống lệnh điểm tin
Tò he tò he
Nhớ truyện Đông Chu
Sao đỏ sao đen
Tò he tò he.

Tại sao có bài thơ ấy? Đây là câu trả lời của Hữu Loan:

‘Tôi rất bằng lòng về tôi bởi vì tôi đã bênh vực được những người nghèo tôi đã làm được những các chức việc đạo đức mà tôi đã đánh những cái quân gọi là cái quân cường quyền cái quân mà gọi là lừa đảo bịp bợm lừa trời lừa đất tôi đã đánh được quân ấy cho cả nước và tôi không có ngơi một lúc nào không có cách nào là tôi cũng vẫn kiếm cách để tôi đánh chúng nó thí dụ như khi tôi về rồi thì thấy cái cảnh cán bộ khổ quá tôi làm cái bài thơ chiếc chiếu đấy cái bài thơ chiếc chiếu đấy thì tôi làm ra một cái thì nghĩ về gần cán bộ khổ quá nhà ai cũng vậy chiếc chiếu nằm cũng không có mà nằm cán bộ đói đến như vậy thế thì là đầu tiên tôi làm cái bài ấy thì Trần Dần cũng bảo là đấy cũng là chiếu của văn nghệ chiếu của Hữu Loan tức là chiếu của văn nghệ sĩ nhưng mà đến sau này thì cái chiếu ấy lan ra cả công nhân viên chức công nhân viên chức nào cũng có cái chiếc chiếu giống như cái chiếc chiếu mà tôi viết đấy là chiếu của Hữu Loan đấy.’

Hữu Loan nói đúng? nói sai? đúng bao nhiêu? sai bao nhiêu? đó là quyền và trách nhiệm của Hữu Loan, đây chưa phải là nơi để bàn chuyện ‘chính trị’ đó. Điều có thể nhất trí ghi nhận là lối nói chuyện lỉnh kỉnh, quê mùa, cục mịch, thẳng thắn của Hữu Loan hoàn toàn khác hẳn ngôn từ của bài thơ Chiếc Chiếu hay bài Mầu Tím Hoa Sim. Đây là một khác biệt trớ trêu đậm nét uyên nguyên phát xuất từ một người có tài thơ, có khiếu làm thơ. Một người đã lọt mắt xanh nàng Ly Tao, được nàng Ly Tao tuyển trạch. Hữu Loan là nhà thơ vì ông có tài làm thơ, tài chơi với ngôn từ và vần điệu theo ý nghĩa ấy. Cho nên, Hữu Loan đánh ‘cường quyền,lừa đảo, bịp bợm’ nhưng không có giọng đạo đức chính trị kiểu Bình Ngô Đại Cáo. Vì Hữu Loan là một nhà thơ chứ không phải là một chính khách hay một nhà chiến lược như Nguyễn Trãi.

Hữu Loan nói chuyện như một người bình thường chân chất, sáng suốt, dùi đục chấm mắm nêm, nhưng làm thơ như một người nhập cốt, một người lên đồng, với một ngôn từ riêng, một rung cảm riêng của ông đồng bà cốt liên hệ đến những điều người bình thường không thể nói, không thể thấy được. Hữu Loan là một nhà thơ, nghĩa là một người thuộc về loại sở đắc một khả năng sáng tạo chuyên biệt bẩm sinh. Loại nhà thơ đúng nghĩa, đúng loại, đúng hạng. Khả năng đó là thiên chức, là nghiệp dĩ của những nhà thơ đích thực, làm cho họ đương nhiên khác với những thi sĩ học đòi, những thợ sắp chữ. Ngôn từ thường nhật của họ có thể đúng, có thể sai theo lý sự thường tình, nhưng lời thơ của họ thì không thể đánh giá hay phán đoán theo tiêu chuẩn lý sự bình thường, theo cái nhìn dung tục.

Nhà thơ là kẻ thừa hưởng một loại di sản, một thứ ‘gia tài của mẹ’ đặc biệt của nhân loại, của giống nòi tích lũy qua ngàn vạn năm nói năng. Theo ngôn từ thời thượng, có thể gọi đó là loại gene hay DNA, hay một ngõ ngách nào đó trong não bộ liên hệ đến ngôn từ và vần điệu. Thử tưởng tượng những con người đầu tiên, những người Việt đầu tiên ngàn vạn năm trước. Ngôn ngữ phát xuất từ nhu cầu trao đổi kinh nghiệm sống, nhất là nhu cầu sống còn. Như gà tục tác, như chó sủa, như chim hót. Chứ không thể lôi thôi lếch thếch với những cái, sự, thì, mà, rằng, là, nó hay tuy nhiên, rồi ra, nhưng mà, lại nữa, vả lại... Phải ngắn, phải gọn, phải có vần điệu đơn sơ cho dễ nhớ, dễ hiểu, dễ phản ứng nhanh và đúng. Do đó mà có tục ngữ, ca dao, hò, vè, và ít thực tế vụ lợi hơn là câu đối, trau chuốt hơn là thơ lục bát. Tất cả đều có vần điệu. Vần điệu uyên nguyên đó có thể nói là những gene, những DNA của tổ phụ loài người, tổ phụ một dân tộc truyền lại cho các nhà thơ. Làm thơ trở thành một nghiệp dĩ, một định mạng. Cho nên, nhà thơ là hạng người đã nổi danh thì nổi danh hơn ai cả trong một dân tộc, một nước. Nổi danh một cách hữu danh như những thi hào, thi bá, thi nhân, một cách vô danh như tác giả của những câu ca dao tục ngữ, câu hò câu hát... Đó là mặc khải mà Hữu Loan và bài Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu cho phép Hoàng tôi mạnh miệng khi thử trả lời câu hỏi Ai làm thơ? Ai là thi nhân?

Sau hết, nếu muốn người ta có thể bảo Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu là những bài thơ tự do, dĩ nhiên. Nhưng chắc hẳn đây không phải là những bài thơ cố ý tự do như quý vị... hậu hiện đại làm thơ tự do, cổ vũ thơ tự do, hô hào tự do... làm thơ tự do.

Hoàng Nguyên Nhuận.
Lập Xuân Quý Mùi 2003

Ghi Chú:
*Đây là phần hiệu đính của bài đã được phổ biến trên PGVN số Xuân 2003.
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: TTL

Ai làm thơ? Ai là thi nhân?*


Nhưng hay là gì, dở là gì? Đã hẳn, hay dở là một ý niệm tương đối như bao nhiêu ý niệm khác con người bày ra để tự trói buộc tâm tư mình. Hay hay dở không chỉ nằm trong ngôn từ, âm thanh được thu nhận bằng cảm quan. Hay hay dở có thể hệ tại ở ngoài và ở trên ngôn từ âm thanh, sau khi ngôn từ đã lắng, sau khi âm thanh đã tắt. Thật vậy, chức năng của ngôn từ và vần điệu là đưa con người đến gần sự thật như con tàu đưa bộ hành đến sân ga. Xuống tàu rồi, phải đi nữa – trước hết là rời sân ga, chứ không phải đứng ỳ trên sân ga. Văn, nhạc và thơ cũng đều thế. Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó, hay thi tứ mà bài thơ đó có thể tự động gợi ra ngoài ý tác giả. Ngôn từ và vần điệu giúp người đọc lấy trớn đi tới. Hay dở phần nào cũng tùy thuộc cái đà, cái trớn đó. Thơ của Bùi Giáng là một ví dụ. Với đa phần những bài thơ của Bùi Giáng, nếu người ta lẩm cẩm phân tích chi ly ngôn từ, âm thanh, vần điệu có thể phát âm, có thể thu nhận bằng cảm quan, như người ta diễn đạt một sự vật bằng các công thức hóa học hay các phương trình vật lý thì cũng chẳng khác gì loay hoay phân tích vôi vữa xi măng để tìm vẻ đẹp của pho tượng Vénus de Milo.

Thế nào là thơ hay? Thế nào là thơ dở? Thơ dở là quái thai của kẻ tưởng mình biết làm thơ, và thơ hay là sản phẩm của người có tài làm thơ. Tài là kẻ làm ra được một cái gì hết-chỗ-chê. Thơ hay là bài thơ hết chỗ chê. Hết chỗ chê thì quý hơn khen vì chê bao giờ cũng dễ hơn khen. Chê dễ mà không chê nổi, thế là hay rồi. Điều bất công và nguy hiểm cho nghệ sĩ hay nhà sáng tạo là người thưởng ngoạn hay nhà phê bình thường rất hà tiện lời khi nói hay chỗ nào, nhưng lại rất dễ dãi hào phóng ngôn từ khi nói dở chỗ nào. Phần nào cũng dễ hiểu thôi. Vì nếu không khó khen, nếu nói hay là chuyện... dễ ợt thì mấy người giỏi nịnh hay mấy nhà gọi là phê bình văn học làm sao ăn ra làm nên?! Ước mong sao Hoàng tôi chưa phạm điều bất công đó đối với bài Mầu Tím Hoa Sim.

Bảo thơ dở thơ hay đã là khó, bảo thơ là gì lại càng khó hơn. Người ta tránh định nghĩa thơ là gì cũng như người ta tránh câu hỏi người là gì vậy. Thơ là gì? Cách định nghĩa thông thường nhất là bảo thơ không phải là cái này, thơ không phải là cái khác. Ví dụ như bảo thơ không phải là văn, hò, vè, hát nói... Nhưng định nghĩa như vậy thì cũng chẳng khác gì bảo là người không phải là lang sói, không phải là cây sậy... hay an toàn lách né như Pascal khi nói: người không phải là thiên thần mà cũng không phải là quỷ sứ.

Đã hẳn, không ai cấm người ta theo chủ trương tuyệt đối, theo đó ‘Bài thơ hay là bài thơ chưa hề được viết ra.’ Nói nghe cũng phiêu diêu tự tại lắm, nhưng chưa được viết ra thì làm sao mà bảo đó là thơ? Khổ lắm! Cho nên, không nói được thơ là gì thì ít ra - theo tiêu chuẩn xác quyết, cũng có thể bảo chất liệu của thơ là ngôn từ và vần điệu. Ngôn từ không mà thôi là văn, vần điệu không mà thôi là nhạc có lời. Không thể đem một bài thơ ra mà hát nhưng cũng không thể hát nếu lời nhạc không có chất thơ, nghĩa là không có vần điệu. Trừ một phần của tuồng cải lương, hát bội của Việt Nam hay Opera của Tây, dĩ nhiên.

Văn không cần vần điệu mà chỉ cần ngôn từ. Thơ vừa cần vần điệu vừa cần ngôn từ. Cho nên người Việt không đọc thơ như người ta đọc văn, đọc sớ. Người Việt ngâm thơ. Ngâm là một lối hát. Viết một văn bản không để mà ngâm là viết văn. Hệ luận của nhận định đó là thứ nhất, thơ tự do hay thơ chỉ chú trọng đến ngôn từ và bất chấp vần điệu là thơ lập dị ngụy biện; thứ hai, thơ chỉ có vần điệu mà không chú trọng đến ngôn từ hay ý thơ là một cách sắp chữ chứ không phải làm thơ.

Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp, theo kiểu:
Nửa đêm/giờ Tý/canh ba
Em là phận gái/ đàn bà/nữ nhi/

Đây cũng là trường hợp của những người "thích" xướng họa đối đáp. Ba bài thơ của TTKH không phải là xướng họa mặc dù đó là những bài thơ để nói-với-một-người. Trường hợp Tôn thọ Tường và Phan văn Trị cũng không phải là xướng họa. Đó là bút chiến, là phản biện trong đó Phan văn Trị lúc nào cũng lăm le chờ Tôn thọ Tường hở ra bài nào là quật lại chết bỏ như kiểu dàn quân phục kích vậy. Phan văn Trị là người đã đưa kỹ thuật bút chiến chính trị lên hàng cao thủ.

Xướng họa thông thường chẳng khác gì mấy cảnh hai người nựng má nhau khen qua khen lại những "câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An" của nhau. Cứ ì à ì ạch, lập cà lập cập như những người nhảy bao bố hay hai chân xỏ một ống quần...

........
Thơ tự do là một thứ lập dị ngụy biện? Đây là hệ quả của hội chứng ‘Tấp tễnh người đi tớ cũng đi’, thấy Tây có thơ tự do mình cũng phải có thơ tự do. Một dạo, những người ‘hậu hiện đại’ chủ trương theo mới chết bỏ bằng cách... đi thụt lùi trở lại thế kỷ trước hay mấy thập niên trước, đã ì à, ì ạch dựng tượng cho Thanh Tâm Tuyền như là kẻ khai sáng đại đạo Thơ Tự Do. Ồn ào thật, nhưng mấy ai thuộc được dăm ba câu hay một bài ‘thơ tự do’ của Thanh Tâm Tuyền? Phải chăng chỉ vì Thanh Tâm Tuyền không làm thơ mà chỉ tự do gọi những chữ ông viết là thơ, và vì ông tự do gọi đó là thơ nên cái đó đã trở thành thơ tự do?

Thơ là một trò chơi, và trò chơi ít nhiều phải có luật của trò chơi đó. Tự do là tự do chấp nhận luật chơi chứ không phải tự do bất chấp luật chơi. Luật chơi của bóng đá là 22 mạng chia thành hai phe để dành một trái banh theo một số lề luật "được phép" hay "cấm" nào đó. Thơ cũng vậy. Nếu muốn tự do hoàn toàn, nếu muốn bất chấp những nguyên tắc căn bản tối thiểu của vần điệu thì làm thơ làm gì, thì phải xác nhận là mình làm thơ hay viết văn làm gì? Cứ tự do nhắm mắt viết phứa ra, ai tự do gọi đó là gì thì gọi. Cho nên, thơ tự do là một sản phẩm của lập dị ngụy biện. Đã hẳn, những nhà thơ tự nhận làm thơ tự do sẽ hoàn toàn tự do để phủ nhận chuyện đó. Cũng xong thôi, chẳng chết ai cả. Chơi mà! Nhưng chơi thì cũng phải có luật. Tự do chơi không phải là phá bĩnh, tự do chơi là tự do chấp nhận luật chơi, nghĩa là tự nguyện kềm chế tự do của mình trong lúc chơi. Nhà thơ là kẻ tự do chấp nhận luật chơi. Luật của ngôn từ và vần điệu. Cho nên, tự do làm-thơ-tự-do là điều... thừa.

Nhà thơ là một người chơi, người làm xiệc, một nhà ảo thuật với ngôn từ và vần điệu. Nhưng không phải ai cũng làm được chuyện đó. Bởi vì người làm xiệc, nhà ảo thuật, cũng như nhà thơ, nhà văn... là những người chuyên môn, những người có năng khiếu đặc biệt – sui generis, theo hạng loại của họ. Đó là điều tôi được "mặc khải" khi đọc bài Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Định Không Chịu Quỵ Luỵ... của Phạm Trần trên tờ Ngày Nay dẫn thượng.

So sánh ngôn từ của bài Mầu Tím Hoa Sim và lời giải thích của Hữu Loan tại sao có bài thơ đó thì sẽ thấy không phải ai cũng làm thơ được, không phải nói được viết được là làm thơ được. Nhà thơ là người thực sự có tài làm thơ nhưng không tất yếu là người ‘nhả ngọc phun châu’, là người thở ra thơ, nói ra thơ.
................Nhà thơ là kẻ thừa hưởng một loại di sản, một thứ ‘gia tài của mẹ’ đặc biệt của nhân loại, của giống nòi tích lũy qua ngàn vạn năm nói năng. Theo ngôn từ thời thượng, có thể gọi đó là loại gene hay DNA, hay một ngõ ngách nào đó trong não bộ liên hệ đến ngôn từ và vần điệu. Thử tưởng tượng những con người đầu tiên, những người Việt đầu tiên ngàn vạn năm trước. Ngôn ngữ phát xuất từ nhu cầu trao đổi kinh nghiệm sống, nhất là nhu cầu sống còn. Như gà tục tác, như chó sủa, như chim hót. Chứ không thể lôi thôi lếch thếch với những cái, sự, thì, mà, rằng, là, nó hay tuy nhiên, rồi ra, nhưng mà, lại nữa, vả lại... Phải ngắn, phải gọn, phải có vần điệu đơn sơ cho dễ nhớ, dễ hiểu, dễ phản ứng nhanh và đúng. Do đó mà có tục ngữ, ca dao, hò, vè, và ít thực tế vụ lợi hơn là câu đối, trau chuốt hơn là thơ lục bát. Tất cả đều có vần điệu. Vần điệu uyên nguyên đó có thể nói là những gene, những DNA của tổ phụ loài người, tổ phụ một dân tộc truyền lại cho các nhà thơ. Làm thơ trở thành một nghiệp dĩ, một định mạng. Cho nên, nhà thơ là hạng người đã nổi danh thì nổi danh hơn ai cả trong một dân tộc, một nước. Nổi danh một cách hữu danh như những thi hào, thi bá, thi nhân, một cách vô danh như tác giả của những câu ca dao tục ngữ, câu hò câu hát... Đó là mặc khải mà Hữu Loan và bài Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu cho phép Hoàng tôi mạnh miệng khi thử trả lời câu hỏi Ai làm thơ? Ai là thi nhân?

Sau hết, nếu muốn người ta có thể bảo Mầu Tím Hoa Sim hay bài Chiếc Chiếu là những bài thơ tự do, dĩ nhiên. Nhưng chắc hẳn đây không phải là những bài thơ cố ý tự do như quý vị... hậu hiện đại làm thơ tự do, cổ vũ thơ tự do, hô hào tự do... làm thơ tự do.

Hoàng Nguyên Nhuận.
Lập Xuân Quý Mùi 2003

Ghi Chú:
*Đây là phần hiệu đính của bài đã được phổ biến trên PGVN số Xuân 2003.


Cảm ơn bác TTL đã khuân vác về cho bà con đọc. TA rất tâm đắc với đoạn quote ở trên. Nhưng thiệt tình, do trình độ có hạn TA đọc xong bài viết mà loạn hết cả đầu...Chưa hiểu được mấy tí...Mọi người đọc xong hãy phân tích, phát biểu ý kiến để cho TA tôi sáng mắt sáng lòng. Mong bà con chỉ giáo cho ạ !
Tâm An
---------------------------------
Sau lưng đất trắng rẻo đồng
Đoạn đường ngắn ngủi đi không tới mình
( Bến Giang Đình - thơ Ngân Vịnh)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-29 04:43:05Ngọc Lý>
.


mời Tâm An và các bạn cùng nghe,
nếu thấy mắt mình ướt,
lòng mình đau,
tâm mình thổn thức,
thì các bạn thành thi nhân rồi đấy...




"Thơ Hữu Loan , Phạm Duy phổ nhạc
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Thái Thanh trình bày"

(xin bấm vào tựa để nghe nhạc)




Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
*
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
Nắm chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe em nói
Không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng mầu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa
*
Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường đông bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Mầu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt.





nhà thơ Hữu Loan

.
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ngọc Lý

.


mời Tâm An và các bạn cùng nghe,
nếu thấy mắt mình ướt,
lòng mình đau,
tâm mình thổn thức,
thì các bạn thành thi nhân rồi đấy...




"Thơ Hữu Loan , Phạm Duy phổ nhạc
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Thái Thanh trình bày"

(xin bấm vào tựa để nghe nhạc)




Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
*
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
Nắm chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe em nói
Không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng mầu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa
*
Một chiều rừng mưa
Ba người anh từ chiến trường đông bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Mầu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt.



Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sút chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu.
Cô nhạn Nam phi, hồng Bắc khứ
Nhàn vân Tây vãng, thuỷ Đông lưu
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Ngọc Lý

.


mời Tâm An và các bạn cùng nghe,
nếu thấy mắt mình ướt,
lòng mình đau,
tâm mình thổn thức,
thì các bạn thành thi nhân rồi đấy...




"Thơ Hữu Loan , Phạm Duy phổ nhạc
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Thái Thanh trình bày"

(xin bấm vào tựa để nghe nhạc)


Xin phép Ngọc Lý, mời mọi người nghe Thái Thanh hát
(để mọi người đừng để ý nếu ttl nói sai [:D])

*************

Chào mọi người,

ttl cũng xin mạo mụi góp chút ý kiến của "người mù sờ voi", hy vọng sẽ diễn tả đúng được phần nào những góc cạnh đã "sờ" .

Nhận định tổng quát

1) Hoàng Nguyên Nhuận (HNN) chắc cũng như đa số người đã có đọc bài thơ Màu Tím Hoa Sim (MTHS) và có lẽ HNN cũng đã "cho điểm" bài thơ MTHS là một trong những bài thơ hay của văn học Việt Nam trước khi có dịp nghe BBC phỏng vấn Hữu Loan (HL) cùng với bài tường thuật và nhận định của Phạm Trần đăng trên báo Ngày Nay. Sự tương phản giữa phong cách đàm thoại và thơ của HL đã làm cho HNN chú ý và quyết định đi tìm trả lời cho câu hỏi như "tựa đề" của bài viết. ( như HNN đã nói)

2) Một mục đích khác thì nhân dịp này HNN mở các trận đánh "xáp lá cà", phê phán trực diện những "cái" không hợp lý (theo cách nhìn của HNN) về "thơ" như: định nghĩa thơ; cách làm thơ (kỹ thuật, thể loại…); thưởng thức thơ (cách đọc thơ, hiểu thơ, cảm thơ, đặt mình trong chiếc giày của tác giả và đi xa hơn như có thể … ); thẩm định thơ ( cho điểm, đánh giá, xếp hạng …); sự cần thiết của khả năng bẩm sinh hay thiên phú của người làm thơ (Ai làm thơ? Ai là thi nhân?); sự lạm dụng quá độ "chữ tự do" trong thơ và những biện luận (dẫn đến ngụy biện theo HNN) cũng như phẩm chất của thơ (từ khuôn sáo, rỗng toét cho đến quái dị, thách đố và khó hiểu) …

3) Trong bài viết này, khi HNN nhắc đến việc HL nói Trần Độ (TĐ) xếp hạng bài thơ MTHS vào "11 bài thơ tình hay nhất từ thời nhà Lý" dường như không phải để phản đối việc xếp hạng của TĐ. Việc này không cần thiết phải tốn giấy mực vì Ai cũng có thể thấy đây là ý kiến riêng của TĐ và không ai đủ thẩm quyền để nói như vậy. Kế đến HNN đã viết "dù chẻ sợi tóc làm tư ... hay bới lông tìm vết..." vẫn kiếm không ra chổ chê. Nói khác thì bài thơ MTHS hay "hết-chổ- chê" theo lập luận của HNN. Cuối cùng, HNN đã nhận xét HL là một người "bình thường, chân chất, sáng suốt, dùi đục chấm mắm nêm" nên cái việc phê phán HL "tự đánh giá quá cáo" xem chừng cũng không cần thiết và không phải là mục tiêu chính của HNN. Hơn nữa, đó là TĐ nói, HL chỉ nhắc lại và bản tính con người thì ai lại không thích được "khen". Đây là chuyện bình thường nên HNN cũng không cần thiết đến độ phải viết bài để "phản đối".
Có lẽ, mục tiêu chính của HNN là sự đánh giá của những người "làm văn hóa" (có thẩm quyền, hay tự gán cho mình cái quyền) về hay dở của một tác phẩm (thơ nói riêng). Những sự "quá độ" và "vô lý" (không tôn trọng luật chơi, cũng do cố tình hoặc thiếu khả năng) của những người tham gia vào cuộc chơi "thơ".
*** Bài viết này HNN viết năm 2003, năm 2004 bài thơ MTHS được doanh nghiệp Vitek mua lại bản quyền với giá 100 triệu đồng VN. Vấn đề đáng "để ý" ở đây là bài thơ không do Hội nhà văn VN thẩm định mà là một doanh nghiệp. Nếu HNN có mục tiêu này thì bái phục cái "tầm nhìn" của ông.

4) Theo thiển ý cá nhân, bài phân tích này là một bài viết hay, không uổng phí thời giờ bỏ ra xem, tôi có thể học hỏi thêm từ những nhận định của HNN về "thơ" (= đồng ý, đồng cảm). Dĩ nhiên, như một độc giả, tôi cũng có chút ý kiến riêng về những vấn đề đã nêu lên và có 2 chọn lựa, một là giữ lại cho riêng tôi, hai là đăng chia sẻ cùng độc giả. Vì vậy, mọi ý kiến xây dựng sẽ được tiếp nhận với sự quý trọng và lòng tri ân.

*Hết phần nhận định tổng quát*

(Còn tiếp)


Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-31 06:20:26TTL>
Đi Vào Chi Tiết
(Xin phép đi mặc áo giáp và đội nón sắt chút …. Xong![:D])

Định nghĩa thơ (Thơ là gì?)

"Người ta tránh định nghĩa thơ là gì cũng như người ta tránh câu hỏi người là gì …(HNN)"
HNN đã nêu ra hầu hết những "định nghĩa" về thơ chúng ta thường gặp trong văn học và nhận xét của ông. Đồng ý với HNN hay không là quyền của mỗi người. Theo tôi thì có đồng ý với định nghĩa này, định nghĩa khác, với HNN hay với ai đó cũng chẳng quan trọng lắm. Dĩ nhiên kiến thức là quan trọng, nhưng trong trường hợp thơ, uyên bác và am tường về mọi khuynh hướng và định nghĩa của thơ có lẽ chỉ giúp ích và cần thiết khi cá nhân đó là một nhà phê bình văn học (thơ). Cho người làm thơ, am tường định nghĩa thơ cũng có lợi ích, nhưng cũng chẳng giúp làm được bài thơ "hay". Cho đa số độc giả thích xem thơ, thuộc làu "định nghĩa thơ" cũng chẳng đem lại lợi ích thiết thực gì lắm trong việc thưởng thức thơ.

Thơ hay, thơ dở

Như một người rất thích xem thơ và thưởng thức những bài thơ hay, tôi thường xem lướt qua (browsing) những bài thơ tôi có cơ hội để xem (thi tập, báo chí, mạng...), bài thơ nào tôi cảm thấy "hay" (theo cảm nhận của tôi) thì sẽ trở lại đọc kỹ lưỡng . Thả hồn theo thơ, thưởng thức cái hay, "bới lông tìm vết" kiếm cái dở, hoặc tìm cái tuyệt vời hơn để thay cho cái hay của tác giả (dĩ nhiên là theo khả năng và cảm nhận của cá nhân). Và với tôi một bài thơ hay như HNN nói là một bài thơ "hết-chổ-chê".
Thơ dở, tôi có câu hỏi : Có cần phải chê không? Theo tôi thì chỉ tổn hao tâm trí bút mực vô ích. Vì cái "dở" đã quyết định sự tồn vong của bài thơ rồi. Có chê hay mặc áo thụng vái (khen nịnh) thì nó cũng sẽ biến mất tích.
Người ta nói: "Ở đời có bốn cái ngu /làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu". Theo kinh nghiệm sống của cá nhân thì "chê" thơ của người khác cũng thuộc vào loại "ngu" này. Dĩ nhiên chuyện gì cũng có ngoại lệ và đôi lúc cũng phải mở miệng cóc.

Kỹ thuật, phương tiện (thể loại, cách ngắt câu, xuống hàng, chấm, phết .... )

Ngôn ngữ và ý thơ là hồn của bài thơ hay của người làm thơ. Với "thơ", có lẽ tâm hồn, năng khiếu, cảm xúc... là điều kiện bắt buộc cho sự thành công hay thất bại của tác phẩm. Còn kỹ thuật, thể loại chỉ là phương tiện chuyên chở.
Làm bất cứ việc gì, Ai cũng có mục đích, ý định, lý do, nguyên nhân... thì cái chuyện chọn thể thơ, sử dụng từ ngữ, và các kỹ thuật trình bày như: xuống hàng, ngắt dòng, chấm, phết, .... cũng phải có lý do của nó . Dĩ nhiên, phải sử dụng "kỹ thuật" làm thơ để mọi người phân biệt đó là một bài thơ hay một bài văn . Kế đến là tác giả nhất định phải hiểu tại sao tác giả lại "làm" như vậy . Cuối cùng, nếu đọc giả hiểu và cảm nhận được những gì tác giả muốn truyền tải qua bài thơ (qua thể loại thơ đã chọn (vần, điệu) , từ ngữ sử dụng, kỹ thuật trình bày...) thì tác giả đã thành tựu. Nếu độc giả không hiểu, không cảm nhận được gì cả... là bài thơ chưa "đạt" và tác giả đã thất bại.
Thơ là "đỉnh cao của ngôn ngữ " và muốn làm thơ, phải làm cái việc đầu tiên là "học chữ" .. viết cách nào (viết nghiêng, viết đứng, viết thẳng, nét ngắn, nét dài, nét tròn, nét khuyết, nét rồng bay, nét phượng múa, nét gà bới, nét cua bò ... sử dụng từ ngữ một cách "thơ". Tự do sáng tạo, nhưng độc giả "phải" đọc và hiểu được, nếu không vậy thì đây là một việc làm vô ích. Và con người muốn "hiểu" được nhau thì cần phải có những mẫu số chung. Nói khác phải tôn trọng một số luật chơi tối thiểu. Ví dụ, muốn chắc chắn người Việt hiểu mình thì phải nói, viết, và làm thơ tiếng Việt.

************************
Bên lề chút với Huynh Lá Chờ Rơi (LCR)

HNN
Thật vậy, chức năng của ngôn từ và vần điệu là đưa con người đến gần sự thật như con tàu đưa bộ hành đến sân ga. Xuống tàu rồi, phải đi nữa – trước hết là rời sân ga, chứ không phải đứng ỳ trên sân ga. Văn, nhạc và thơ cũng đều thế. Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó, hay thi tứ mà bài thơ đó có thể tự động gợi ra ngoài ý tác giả. Ngôn từ và vần điệu giúp người đọc lấy trớn đi tới. Hay dở phần nào cũng tùy thuộc cái đà, cái trớn đó...."


LCR
* Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó,... Tôi thì nghĩ khác :
- Tại sao người đọc phải cố gắng ? Theo tôi chính tác giả phải viết lời thơ sao cho gợi được nơi người đọc những tâm cảm của chính mình. Gợi được là hay, không được thì tác giả phải ráng chịu, đừng trách sao người đọc không hiểu được mình


Nếu chỉ xem đoạn Huynh LCR trích dẫn HNN như trên thì ttl cũng có đồng suy nghĩ như huynh LCR vậy. Nhưng có lẽ đây không phải là ý của HNN, nếu xem hết phần ttl trích như ở trên.
Theo ttl hiểu, thì HNN nói với giả định là nếu bài thơ nào đó (ngôn từ và vần điệu) đã quyến rũ được mình ( mình chịu lên tàu - đọc bài thơ , bài văn, nghe bài nhạc và cảm nhận được-), thì trên căn bản đó đã là một bài thơ, bài văn, bài nhạc hay.. Nêú dừng lại ở điểm sớm quá thì có thể chưa "thấm" hết cái hay của tác phẩm (uổng cho mình & cho tác giả luôn). "Cố gắng đi xa" hơn để hiểu tác giả hơn và có thể mình sẽ nhìn thấy những ý hay khác mà chính tác giả khi viết cũng chưa nghĩ đến. Nói cách khác, HNN nói về "cách thưởng thức" một tác phẩm "hay". Còn bài thơ hay tác phẩm "dở" thì độc giả có chịu lên tàu đâu, nên nói chi đến "cố gắng đi xa hơn" .
Phần ttl thì hiểu ý HNN viết ở đoạn trên là như vậy và theo kinh nghiệm cá nhân, khi đọc lại tác phẩm (ttl thích) lần thứ hai thì quả thật có "nhìn thấy" thêm nhiều "cái" mà lần đầu đã bỏ sót hay không nhìn ra .
************************

Về chấm, phết ...và việc dùng dấu hiệu để diễn tả trong một bài thơ

Bài thơ từ đầu đến cuối chỉ có một dấu chấm (.). Không biết đó là cố ý của Hữu Loan hay vô tình của Phạm Trần, người ký chú lại bài phỏng vấn Hữu Loan của Đài BBC cho tờ Ngày Nay? Cố ý hay vô tình cũng đều là may cả, cho tác giả cũng như người đọc, bởi vì chấm phết nhiều khi là chuyện nghịch ngợm hơn cả ông Trời và dở hơi hơn cả Quận Hách. Một trong những bằng chứng sáng tạo được ồn ào ca ngợi của cái gọi là thơ-tự-do chính là ‘tài’ chấm phết, ngắt câu, ngắt đoạn tùy tiện, và những thủ thuật sáng tạo ex nihilo khác bằng cách dùng các dấu khác như: //, /, *, -, _ và space... trên bảng phím của máy điện toán. Thơ của Du Tử Lê là một ví dụ.

Đoạn này ttl cũng không hiểu ý của HNN lắm và đọc xong thì hơi thắc mắc nên mới "bold" để chờ "ý kiến cao nhân".
Nếu "bài thơ chỉ có một dấu chấm" là vô tình của Phạm Trần ... thì bài thơ có còn là "của riêng" của HL không? Và nếu đúng như vậy thì Phạm Trần là người làm cho bài thơ MTHS "hay" hơn sao???
Bài thơ MTHS có một cái chấm hay hơn trường hợp có thêm những chấm phết đúng chỗ ( giả sử như tác giả HL xài nhiều hơn một cái chấm)???

Còn về việc dùng dấu hiệu để diễn tả trong thơ (//, /, ! ) như HNN đã nhắc đến ở trên, tôi cũng có một số thắc mắc.
Xin phép "trích dẫn" một bài thơ của thi sĩ Du Tử Lê. ( http://72.14.203.104/search?q=cache:-MgUaWeRpe8J:64.235.37.212/dtl/artman/publish/article )

DU TỬ LÊ
VAI BỒ TÁT GÁNH TỬ, SINH THÍ, PHÁT
tôi sống lại từ ngôi mồ; đã lấp
mỗi căn nhà gìn giữ giấc mơ, riêng.
thiên đàng vốn chia đôi cùng địa ngục
như môi em treo lửng vết thương, hiền.
tôi sống lại từ dòng sông thuở mẹ - -
lượng bao dung / em / mở cửa tôi vào.
con đê nhỏ thắt nơ trời, đất rộng.
dăm cánh cò chở hết tử, sinh đi.

tôi sống lại từ ngọn đèn đã tắt.
theo tháng, năm / đeo nặng hạt sương, chờ - -
hiên oan khuất những lời nguyền, vây bủa(!!!!!)
em / lênh đênh / nghiệp lực / níu tôi về /.
tôi sống lại từ mắt chim cứu rỗi.
xanh / sợi mưa / khâu vá vết thương, tươi.
vai bồ tát gánh niềm vui thí, phát - -
hạt sa-di cẩn, nạm biết ơn người.
tôi sống lại từ trang kinh tháng sáu;
(và,) dòng thơ truyền nhiễm tội: em / tôi /!?!!


Đọc bài thơ trên của thi sĩ Du Tử Lê, ttl có vài thắc mắc như sau:

1) Trong bài thơ trên, làm sao để hiểu được những dấu hiệu "phát - -", "vây bủa (!!!!!) "em / tôi / !?!!" ...
2) Khi ngâm bài thơ thì ngâm làm sao?
a) Nếu bỏ phần "dấu hiệu" thì bài thơ ngâm có bị "thiếu sót" so với bài thơ viết không? Vì rõ ràng tác giả cần những dấu hiệu đó cho bài thơ nên mới sử dụng.
b) Không lẽ phải ngâm : "vây bủa (5 chấm than)", hay " em gạch tôi gạch, chấm than, chấm hỏi, 2 chấm than"
Xin các vị cao nhân chỉ giáo cho. Rất cám ơn!
Đăng nhập để trả lời
0
TL xin chào các bạn!

Có lẽ TL nhỏ tuổi nhất trong đây, nhưng cũng xin phép vào được nghe ngóng và tưởng tượng chút chút, nếu có gì sơ sót xin được cùng học hỏi và sửa chữa.
Theo thắc mắc của huynh TTL thì: Trong bài thơ trên, làm sao để hiểu được những dấu hiệu "phát - -", "vây bủa (!!!!!) "em / tôi / !?!!" ... TL nghĩ rằng những kí hiệu của nhà thơ DTL thì rất ít nhà thơ sử dụng, nhưng những kí hiệu ấy ( có lẽ do cá nhân sáng tạo theo tự do) chính vì vậy để hiểu được những dấu hiệu ấy cần phải chú ý những từ gần kề hay câu thơ có chứa kí hiệu ấy

Ví dụ như: dòng sông thuở mẹ - -
hay: đeo nặng hạt sương, chờ - -
giống như sử sụng dấu 1,2,3 (.)

Dòng sông thuở mẹ...(xa xưa hoặc âm đềm...)
Chờ...( chờ một điều gì đó, đang chờ đợi...)

Còn: lượng bao dung / em / mở cửa tôi vào.
/em/ : chỉ có em mà thôi, chỉ có em bao dung va mở cửa cho tôi.
Và: dòng thơ truyền nhiễm tội: em / tôi /!?!!
em/tôi/!?!! : tôi là người có tội trước em , em trong sáng thánh thiện
Dòng thơ truyền nhiễm ( nếu có đạo thiên chúa sẽ dễ lý giải hơn) và dóng thơ truyền nhiễm đó có em và tôi, tôi mang tội...

vây bủa(!!!!!) : những kí hiệu chỉ nhấn mạnh thêm sự bế tắt không lối thoát mà thôi

Khi ngâm bài thơ thì ngâm làm sao?
a) Nếu bỏ phần "dấu hiệu" thì bài thơ ngâm có bị "thiếu sót" so với bài thơ viết không? Vì rõ ràng tác giả cần những dấu hiệu đó cho bài thơ nên mới sử dụng.
b) Không lẽ phải ngâm : "vây bủa (5 chấm than)", hay " em gạch tôi gạch, chấm than, chấm hỏi, 2 chấm than"

Còn ngâm thì theo RIÊNG TL nghĩ, khi ngâm thơ thì các nghê sĩ sẽ chú trọng vào nội dung trước, khi hiểu nội dung thì biết những từ " đắt nghĩa" hay mang nghĩa quan trọng sẽ có cách ngâm dứt khoát hay ê a, kéo dài...
và trước những kí hiệu như vậy, nếu người ngâm hiểu ý nhà thơ hay theo ý mình ( vì không bắt buộc cứ đọc thơ thì phải đặt mình là tác giả để biết tác giả nghĩ gì, như Bác Lá đã dẫn chứng) thì lúc đó nghệ sĩ ngâm sẽ biết những câu, chữ để thể hiện nội dung, mặc dầu không ngâm kí hiệu nhưng vẫn có thể diễn đạt thông ý.

* Ngoài ra tôi nhìn nhận là HNN có cái vốn văn tự rất dồi dào. (Có vài từ tôi hoàn toàn không hiểu, như « mặc khải », như các chữ la tinh ex nihilo, sui generis.) Nhưng cách phản đối nói rộng nói xa mà không gom ý nên khó hiểu quá.

Mình hoàn toàn đồng ý với Bác Lá, kiến thức uyên thâm thì tuyệt, nhưng khi phân tích một vấn đề cần chắc chắn, không nên mở ra quá xa, vì để có một kiến thức uyên thâm không nhiều, và khi bình luận phân tích thì không phải chỉ số ít đọc, mà phân tích là để lý giải những điều khó hiểu thành gần gũi hơn chứ không xa vời hơn.

* Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp,

Nhà Văn Nguyễn Tuân sẽ không có dất sống nếu theo quan điểm này của HNN nêu ra.

* tôi không đồng ý về sự chê bai tuyệt đối thể thơ « tự do ». Vì dù đa số là những bài khó tiêu hóa như HNN nói. Nhưng cũng có những bài « hay » như bài « Màu Tím Hoa Sim » này, và xin kể thêm một bài khác là bài « Quê Hương » của Giang Nam, mà cách ngắt đoạn rất là tài tình, theo sự thẩm mỹ của riêng tôi.

Thơ nào cũng có cái hay của thơ đấy, thơ tự do dễ làm, nhưng ai dám nói làm thơ tự do sẽ dễ hay? càng dễ làm thì để hay càng khó, và đúng vậy, mỗi người thích mỗi loại
thơ, mỗi ý, tứ thơ tùy theo tâm trạng, nên không thể đưa ra những bài hay nhất, có thể nói ngay cả bài " Màu tím hoa sim" của HL vẫn có thể nhiều người không thích, vì nếu nói đến trước kia, khi chiến tranh, khi đau thương, bài thơ này la nỗi lòng của cả đông đảo mọi người, thế nhưng thế hệ sau, những thế hệ sau nữa, tuy hoc sử sách thấy nỗi mất mát đau thương trong chiến tranh, những để cảm nhận được điều đó liệu giữa các thế hệ sẽ như thế nào? và khi các thế hệ trước lần lượt qua đi, thế hệ sau sẽ thay thế, thì sao?

Vài dòng chung vui, mong mọi người lương thứ!
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
( Nguyễn Đình Chiểu)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-02 18:14:53TTL>
Chào TL & tất cả mọi người.

Trước hết ttl cám ơn ý kiến của TL nhé!
Kế đến ttl sẽ phân ra từng phần (hay từng vấn đề) để Ai muốn bình luận phần nào thì tham gia . Như vậy hy vọng vấn đề sẽ sáng tỏ và dễ theo dõi hơn . ( theo thiển ý của ttl - có sai và thiếu sót thì xin bà con đóng góp ý kiến).

Về Ngâm Thơ ; " Ngôn ngữ & Ý = Hồn thơ" (của tác giả); Hiểu & Cảm Nhận (của độc giả); Sự đồng cảm có cần thiết, có mong muốn và có chờ đợi giữa hai bên không?

TuLip (TL)
Còn ngâm thì theo RIÊNG TL nghĩ, khi ngâm thơ thì các nghê sĩ sẽ chú trọng vào nội dung trước, khi hiểu nội dung thì biết những từ " đắt nghĩa" hay mang nghĩa quan trọng sẽ có cách ngâm dứt khoát hay ê a, kéo dài...
và trước những kí hiệu như vậy, nếu người ngâm hiểu ý nhà thơ hay theo ý mình ( vì không bắt buộc cứ đọc thơ thì phải đặt mình là tác giả để biết tác giả nghĩ gì, như Bác Lá đã dẫn chứng) thì lúc đó nghệ sĩ ngâm sẽ biết những câu, chữ để thể hiện nội dung, mặc dầu không ngâm kí hiệu nhưng vẫn có thể diễn đạt thông ý.


Bác Lá (LCR) có viết hai đoạn như quote ở dưới:

Trích đoạn: lá chờ rơi
* Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó,... Tôi thì nghĩ khác :
- Tại sao người đọc phải cố gắng ? Theo tôi chính tác giả phải viết lời thơ sao cho gợi được nơi người đọc những tâm cảm của chính mình. Gợi được là hay, không được thì tác giả phải ráng chịu, đừng trách sao người đọc không hiểu được mình

Đoạn này nói: Làm cho độc giả hiểu được mình hay không, đây là "tài năng" của tác giả . Người ta hiểu sai (hoặc không hiểu) ý của tác phẩm là lỗi ở tác giả. Tác giả không có quyền trách độc giả được.

Trích đoạn: lá chờ rơi
Vả lại sự thưởng thức thơ chẳng khác mấy sự thưởng thức món ăn : bạn thích thịt gà xé phay, tôi thích cá lóc nướng trui.
Thi hào Paul Valéry cũng đã từng lên tiếng về việc ấy, ông nói : « Ai cho thơ tôi có nghĩa gì thì nó có nghĩa ấy. Tôi cho thơ tôi có nghĩa gì, thì nghĩa ấy chỉ đúng với tôi thôi ».


Đoạn này nói : Thơ tôi đó, bạn (độc giả) muốn hiểu sao thì hiểu, tôi (tác giả) hiểu sao thì tôi hiểu.

(*** ttl diễn nôm, TL hiểu thơ của thi sĩ Du Tử Lê và ttl thì không hiểu. Đây có phải là lỗi của ttl không? Thi sĩ DTL có trách được ttl không? Hoặc ttl có nên tự trách mình không? (Như khả năng và kiến thức kém cõi chẳng hạn.)... etc...)

Nói tóm lại, ý của Bác Lá như ttl hiểu, thì độc giả hiểu sai ý tác giả (là lỗi ở tác giả, không có quyền trách độc giả). Độc giả có quyền tự do của độc giả và tác giả thì cũng vậy. Nói tóm lại "không có bắt buộc", nhưng Bác Lá "không có dẫn chứng" là sự đồng cảm là không cần thiết, không quan trọng... trong việc "thưởng thức" tác phẩm một cách trọn vẹn. Và theo lý lẽ thông thường thì cả tác giả (mong muốn người đọc hiểu mình) và độc giả (cũng mong muốn hiểu được tác phẩm mình đọc, dẫn đến hiểu được tác giả). Nếu hai điều này gặp nhau được thì AI LẠI KHÔNG MONG MUỐN?
***( Nếu ttl hiểu không đúng thì xin Bác Lá sửa hay chỉnh lại giùm.)

Về ngâm thơ, ttl không có kinh nghiệm nhiều về việc này nên không dám có ý kiến về mặt chuyên môn của việc ngâm thơ. Nhưng có điều chắc chắn sự cảm thông (hiểu, cảm nhận ... etc...) giữa người nghệ sĩ trình bày ( ngâm thơ) và tác giả của bài thơ rất là quan trọng. Sự cảm thông sẽ đưa tác phẩm lên một trình độ cao hơn về cả mọi mặt (ý, hồn, vần điệu của ngôn ngữ sử dụng & âm thanh diễn tả ... ). Và tất nhiên thính giả sẽ thưởng thức hơn. Cũng như trong trường hợp nhạc vậy... một bản nhạc ... do ca sĩ khác nhau trình bày =&gt; Bản nhạc sẽ được thính giả tiếp thu khác nhau. Dĩ nhiên, điều này tùy thuộc vào khả năng của người nghệ sĩ trình bày (ngâm hoặc ca). Còn tác giả của bài thơ hoặc bài nhạc thì "không thể làm gì thêm được nữa" (thơ & nhạc đã viết rồi, đã ở đó rồi - bút sa gà chết- )

ĐIỀU MÀ TTL MUỐN NÓI Ở ĐÂY LÀ CÓ SỰ ĐỒNG CẢM SẼ ĐƯA TÁC PHẨM ĐẾN MỘT "ĐỈNH CAO" HƠN (ví dụ, nhạc Trịnh Công Sơn và ca sĩ Khánh Ly). Giữa người ngâm thơ hay ca sĩ thì sự đồng cảm với tác giả của bài thơ hay bản nhạc RẤT LÀ QUAN TRỌNG trong việc dùng âm thanh và phong cách trình bày để chuyên chở bài thơ hay bản nhạc đến với khán thính giả một cách TOÀN VẸN như có thể. Dĩ nhiên là làm sao "bắt buộc" ai được . Vì nói cho cùng, người nghệ sĩ ngâm thơ cũng chỉ là 1 độc giả (dù khá quan trọng) của bài thơ thôi.

Phần tới sẽ bắt chước Kim Dung (sử dụng võ công, "vô chiêu thắng hữu chiêu" ... hihihi ... ) để "bàn cho vui " về thơ nói chung và đặc biệt là THƠ TỰ DO. Kế đến là "Vai Trò của Tuổi trẻ" ( Sông Trường giang sóng sau lùa sóng trước; Tre già măng mọc ; Hậu sinh khả úy, Ôn cố tri tân...). Bây giờ thì bận chút việc rồi. Chủ quán nhậu Tulipdenus làm ơn chuẩn bị vài hũ rượu ngon để đãi bằng hữu trước nha.[:D]

Chúc mọi người một cuối tuần vui vẻ. Cheer !!!! [sm=beerchug.gif]

Tình thân
ttl
Đăng nhập để trả lời
0




hihihi - thay huynh Tulip, nhỏ Hạ mang rượu vô nè nhen ông anh TTL
đủ loại á - có cả nhẹ nhẹ cho cô Ngọc Lý và các tỷ khác nữa nè.
Xong rồi, chạy ra nè... rồi sẽ chạy trở vô dựa cột [:D]
Chúc các bác, huynh, tỷ một cuối tuần vui nha

Thân ái [:)]
nhỏ Hạ
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: tulipdenus

TL xin chào các bạn!

Có lẽ TL nhỏ tuổi nhất trong đây, nhưng cũng xin phép vào được nghe ngóng và tưởng tượng chút chút, nếu có gì sơ sót xin được cùng học hỏi và sửa chữa.


Hihi...

Tiểu nhi cũng xin tham gia chút chút về phần bài thơ của DTL.[:D]

Đúng như huynh TL nói, rất ít nhà thơ dùng dấu câu như DTL.

Chúng ta ko nên định nghĩa thơ ca, nhưng muội xin nhắc lại người đọc cảm nhận thơ ca qua những ngõ nào. Chủ yếu qua ngôn từ tải sự vật - theo nghĩa rộng nhất -, sự việc, hình ảnh, âm thanh... và vần điệu, từ đó tạo nên rung cảm cả về nghệ thuật và hình tượng.

Các thể thơ lục bát, Đường Luật, 5 chữ... truyền thống ko cần dấu câu (thơ chữ Hán, chữ Nôm) nhưng có thể giúp người đọc cầm nhịp bởi sự xuống dòng, vần, vế và thậm chí là ngắt đoạn.

Dấu câu chỉ được sử dụng từ khi có chữ Quốc ngữ, sử dụng ký tự La-tinh, những ký tự được gọi là "dấu câu" đó chủ yếu giúp người đọc ko mệt mỏi vì phải tự tìm chỗ ngắt ý, ngắt vế hay những từ viết liền nhau, điều đó giúp những câu văn, câu thơ trở nên mạch lạc hơn và với người đọc sự trôi chảy giúp họ cảm nhận tốt hơn, nhanh hơn, dễ dàng có cảm xúc với hình ảnh đẹp, tứ đẹp...

Dấu /!/ và /?/ đồng thời cũng là dấu chấm câu /./ nhưng biểu lộ thêm sự cảm thán hay nghi vấn trực tiếp (những câu gián tiếp ko dùng 2 dấu này). Dấu /-/ để ngắt ý sang 1 ý khác nhằm giải thích rõ hơn và sau đó được đóng lại bằng 1 dấu /-/ nữa nhằm đóng lại ý phụ.

Và mấy trăm năm sau mới có thêm 1 dấu ghép /!?/ biểu thị sự cảm thán, mỉa mai, châm biếm và ngờ vực. Dấu này được dùng nhiều trong văn hơn là trong thơ.

Gút lại, ý nghĩa của dấu câu ko nhiều, nó chỉ có tác dụng phụ giúp cách đọc chứ ko truyền ngôn, tải ý, ko chứa đựng hình ảnh, tình thái, quan hệ.

Người đọc thơ hay đọc văn chỉ muốn qua những âm tiết, thanh điệu - cái vỏ vật chất, tên gọi để tự dựng lên, đúng đắn, sinh động về biểu tượng mà nhà thơ, nhà văn muốn biểu hiện qua ngôn từ.

Những bài thơ hay nhất của thời Đường đâu phải dùng những dấu câu nhằng nhịt, nghèo nàn, đơn điệu đó. 1 điều đáng buồn cười khi DTL thuần túy dùng số lượng của 5 dấu /!/ để biểu hiện 1 cảm xúc thơ ca đã được lượng hóa. Tại sao lại là 5 chứ ko phải là 3? Chỉ đơn giản 5&gt;3 mà thôi, ko ai cắt nghĩa thêm được.

Có thể viết từ buồn rồi cho thêm 5 dấu /!/ để tải hình ảnh được ko?

Hãy nghe điệp khúc 8 câu của Nguyễn Du: "Buồn trông cửa bể chiều hôm..."

Có thể nói những dấu câu DTL dùng ko như những dấu luyến trên khuông nhạc. Người ca sỹ hát và thể hiện cho ta nghe điều đó qua trực quan sinh động. Ở đây ai là người ngâm thơ?

Về thể thơ tự do - thơ mới có cần dấu /./ ko, điều này vẫn phụ thuộc vào kỹ năng dùng từ, lập ý, tạo vần, ngắt dòng... của tác giả. Bài MTHS của HL có ai thấy cần thêm dấu /./ vào 1 chỗ nào đó để phát huy tác dụng thực sự cho sự hay hơn, mạch lạc hơn, rõ ràng hơn ko? Ko!

Nếu ai đó viết thể thơ tự do mà ko làm tốt được những điều trên, gây khó khăn cho người đọc thì cứ việc dùng các loại dấu câu nhưng dùng rối quá như DTL, đối với MHL, là sự phản cảm, ko thích tí nào.

"Tôi người vệ quốc quân xa gia đình
"Yêu nàng như tình yêu em gái"


Đó là thành công của MTHS, thơ tự do nhưng vẫn rất xuôi vần.

To huynh TL: Huynh thân mến, chữ có lẽ của huynh sai rồi, có muội và HTK nhỏ tuổi hơn huynh dù huynh ko muốn. Hihi... Huynh ko nói thì có ai nghĩ huynh nhỏ tuổi nhất ở đây đâu mà phải xin phép 1 chút chút. Huynh làm muội nghĩ tới thời Xuân Thu, có 1 ẩn sĩ mặc áo da dê ngược bơi thuyền câu cá trên 1 dòng sông...


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-03 11:06:52lá chờ rơi>
nhưng Bác Lá "không có dẫn chứng" là sự đồng cảm là không cần thiết, không quan trọng... trong việc "thưởng thức" tác phẩm một cách trọn vẹn.


Chào các bạn thân mến,

Sở dĩ không dẫn chứng là vì thực tình đâu muốn nói thế, đâu muốn nói là sự đồng cảm là không cần thiết, không quan trọng ... ?

Nhưng vì cái tựa để của bài là : « ai làm thơ ? ai là thi nhân ? » nên có sự cần thiết ưu tiên phải nhấn mạnh cái bổn phận của người làm thơ.

Do đó mà có chút sơ sót quên thêm. Nên nay xin thêm là « mặc dù người thưởng thức thơ cũng có cái bổn phận cố gắng tìm sự « đồng cảm ».

Nhưng đến đây thì có thêm nhiều cái khác phải nói là có nhiều bài thơ, văn, nhiều câu thơ ở vào trường hợp tôi cho là khó xử :

- tác giả không thể mỗi chút mỗi chú thích tùm lum, nếu thế thì còn gì là thơ ?
- nhưng nếu không thế, thì có những câu mà sự cố gắng « đồng cảm » của người thưởng thức trần tục (bình thường) rất khó mà đạt đến sự hiểu biết trọn vẹn.


Theo tôi trong những trường hợp này thì phải nhờ đến sự giảng luận, sự bình chú của những người may mắn đang mang những kiến thức cho phép hiểu được tác giả.

Xin nêu dẫn vài câu loại ấy :

1/ Trưóc sau nào thấy bóng người, Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (Kiều)
2/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng (Kiều)
3/ Mấy chòm trước giậu hoa năm ngoái (Nguyễn Khuyến)


Mực độ hiểu được các câu này từ cạn đến sâu, tùy trình độ, tùy cái vốn hiểu biết điển tích, tùy mức độ yêu thơ, tùy sự cố gắng tìm hiểu v.v. mà có khác nhau nơi mỗi người.

Tóm lại tôi vẫn coi sự cố gắng tìm hiểu để « đồng cảm » rất là cần thiết và quan trọng.
Như phim Les Trésors du Roi Salomon, tôi xem lại đến 3 lần, phim RASHOMON thì phải đến 5 lần, để nghe lại cho rõ những lời đối thoại, những đoạn kể chuyện những tình tiết trong phim.

Nhưng vì lúc ấy ta đang xét cái vai trò của thi nhân của người làm thơ, nên có chút sơ sót như đã nói trên.

Còn về đoạn nói về cảm nghĩ của Paul Valéry, thì tôi chỉ kể gọn hai câu kết luận, tránh sự nêu dẫn quá dông dài. Do đó mà khiến có thể hiểu rút gọn như ttl rằng :

Thơ tôi đó, bạn (độc giả) muốn hiểu sao thì hiểu, tôi (tác giả) hiểu sao thì tôi hiểu.

Vậy nay xin nêu lại toàn bộ cái quan điểm của P.V như sau :

PAUL VALERY

C'est une erreur contraire à la nature de la poésie et qui lui serait même mortelle, que de prendre qu'à tout poème correspond un sens véritable, unique et conforme ou identique à quelque pensée de l'auteur.

Thật là một sự sai lầm phản lại tính chất của thơ và có thể giết chết thơ, nếu ta cho rằng mỗi bài thơ chỉ tương ứng với một ý nghĩa đúng thật, độc nhất và phù hợp hay đồng nhất với một tư tưởng nào đó của tác giả mà thôi.

Ông nói thêm rằng : Người ta gán cho thơ tôi nghĩa gì thì thơ tôi có nghĩa ấy. Mà nghĩa nào tôi định cho thơ tôi thì chỉ đúng với tôi thôi, không thể buộc ai phải thừa nhận.


Tóm lại, tuy cũng là vậy mà không phải vậy !

Đây là một khuynh hướng chơi thơ, có liên hệ đến sự định nghĩa của thơ.

Còn về các dấu chấm phết : ít quá hay nhiều quá, thì tôi thấy đôi bên đều có cái lý riêng như sau :

Những người chủ trương giảm thiểu tối đa các dấu chấm phết, nhứt là ở những nơi cho phép nhiều cách phân đoạn với nhiều nghĩa khác nhau, thì coi như họ theo khuynh hướng của P.V trên đây.
Khuynh hướng nầy xem ra nghịch hẳn với khuynh hướng dùng tối đa các dấu chấm phết mà ta có thể gặp nơi thơ « tự do ».

Nhưng về khuynh hướng cho nhiều dấu chấm câu, tôi cũng có một tài liệu bênh vực được họ. Tôi làm « anh ba phải » đây :

Vào khoảng 1985-90, có một sinh viên bên Pháp viết bài Luận văn được điểm tối ưu. Bài ấy được đăng lại trên báo, và vì thấy là lạ, hay hay, nên tôi có gửi trang báo ấy về Việt cho một người bạn trong hội Văn Bút.

Trong bài ấy cậu sinh viên nói đại khái rằng những dấu chấm câu, viết to, tô đậm đúng lúc đùng nơi, có thể có tác dụng hổ trợ ý nghĩa cho câu văn.
Trong bài của cậu ấy, ta nhìn thấy có những dấu chấm than, dấu hỏi, dấu cộng trong vòng tròn v.v. đều được vẽ to tô đậm.


Tuy rằng cái tư tưởng lập dị mới mẻ đó được ban Giám Khảo cho điểm tốt, nhưng sau đó tôi cũng chẳng thấy ai áp dụng. Sách vỡ báo chí vẫn được in ấn theo cách cũ.

Vậy phải chăng trường phái thơ Tự Do cũng cảm thấy như vậy là tốt là hay, nên mới dùng nhiều dấu chấm phết ?

Có thể nói phía P.V cho rằng thơ là phải có sự hàm súc, chứa cái hay mà không quá lộ liểu, khiến cho sự thẩm định trở thành thú vị mới đúng là thơ.

Còn phía thơ tự do thì muốn khai thác tối đa công dụng của dấu chấm để tăng cường ý nghĩa của ngôn từ. Nhưng điều nầy có vô tình khiến cho thơ trở thành quá rõ, làm mất đi cái tính chất của thơ không ?

Phàm cái gì còn người theo là còn tồn tại. Cả hai khuynh hướng đối lập nhau nầy đều có chủ ý tốt. Vả lại dù có sự lạm dụng thì cũng chẳng có gì tai hại.

Nên theo ý tôi, thì ta cứ để nhờ vào sự đào thải tự nhiên, không cần can thiệp tới.

Còn về bài Màu Tím Hoa Sim, dù tác giả có tự khen quá đáng thì cũng chẳng có chút gì hại cho văn học.
Ta có thể nói lên sự « không đồng ý ». Ta có thể yêu cầu đưa hết cả 11 bài thơ hay ấy ra cho một ban Giám Khảo chấm điểm.

Bài của HNN viết rất công phu, bày tỏ sự bực tức trên nhiều điểm nên thành ra hơi lểnh loảng, khó hiểu đối với khá nhiều người. Và có vướng phải vài thiếu sót trong sự suy luận, có lẽ vì nóng giận và thiếu thì giờ.

Bài MTHS và nhạc, đã nằm trong văn học và trong lòng của những người yêu nó. Nếu cho rằng tác giả nói phét quá đáng thì cũng không ai bỏ nó. Dù có tin lời tự khen quá hay của tác giả thì số người ngưỡng mộ chắc cũng chẳng thêm.

Nhưng nhờ bài thơ ấy và bài bình luận của HNN mà chúng ta có dịp cùng nhau ngồi lại đông đảo họp bàn vui vẻ và không kém phần bổ ích.

Ông già « ba phải » xin thân ái chào tất cả các bạn đã tham gia :Tâm An, TTL, Tulipdenus, Ngọc Lý, Hồng Tuyên Kiều, Hoaidiephaphuong, Mộc Hoa Lê.

LCR
Có mợ thời chợ thêm đông
Vắng mợ chợ cũng chẳng "không" bữa nào !
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-03 18:36:25TTL>
Chào tất cả mọi người,

Cám ơn HĐHP đã mang quý tửu vào để chiêu đãi mọi người. ttl xin rót rượu mời tất cả quý vị nhé.

Không ngờ Sis MHL cũng có thích thú với BLVH ha? Bài viết lập luận vững chải. Keep it up Sis (thiển ý cá nhân)

Hi TL,
Mời nâng ly, rồi ttl tiếp tục vấn đề đang bàn luận nhé.
TL
Thơ nào cũng có cái hay của thơ đấy, thơ tự do dễ làm, nhưng ai dám nói làm thơ tự do sẽ dễ hay? càng dễ làm thì dễ hay càng khó,...

Đồng ý với TL ở đây,
Thơ vần hơi khó làm và muốn có bài thơ hay cũng khó.
Thơ tự do (hiện đại) dễ làm nhất nhưng muốn có một bài thơ hay có thể nói là khó nhất.

TL
mỗi người thích mỗi loại thơ, mỗi ý, tứ thơ tùy theo tâm trạng, nên không thể đưa ra những bài hay nhất, có thể nói ngay cả bài " Màu tím hoa sim" của HL vẫn có thể nhiều người không thích, vì nếu nói đến trước kia, khi chiến tranh, khi đau thương, bài thơ này la nỗi lòng của cả đông đảo mọi người, thế nhưng thế hệ sau, những thế hệ sau nữa, tuy hoc sử sách thấy nỗi mất mát đau thương trong chiến tranh, những để cảm nhận được điều đó liệu giữa các thế hệ sẽ như thế nào? và khi các thế hệ trước lần lượt qua đi, thế hệ sau sẽ thay thế, thì sao?

Vâng, mỗi người mỗi ý ( cá lóc nướng trui, gà xé phay, bún, mì, hủ tiếu, phở ...), ai thích gì thì món ấy ngon với họ . Tự do như THƠ TỰ DO!!!

No, bài thơ Màu Tím Hoa Sim là một bài thơ TÌNH ... không có liên quan gì đến chiến tranh hết (chỉ có bối cảnh HL sinh ra là nhằm vào thời kỳ kháng Pháp thôi - không có chọn lựa khác- ) . Tình yêu sẽ luôn là một chủ đề muôn thuở cho đủ mọi lứa tuổi. (bối cảnh khác, cách diễn tả có thể khác... v.v cho mỗi thời đại - nhưng tình yêu vẫn luôn là tình yêu-). Cái mà Hữu Loan "cay đắng", dựa theo phát biểu của HL, là vì bài thơ này mà HL bị kết tội .... Đúng hay Sai? ( nếu TL thích thì nói, không thì thôi - nói thì ttl sẵn sàng nghe và bàn luận chơi - hoàn cảnh và suy nghĩ của mỗi người mỗi khác) .

Tuổi trẻ sẽ luôn là rường cột và tương lai của dân tộc và đất nước (cho bất cứ thời đại & quốc gia nào). Các thế hệ đàn anh VN đã và đang vay những món nợ quá lớn với lãi nặng (dù vô tình hay cố ý cũng đều là lỗi lầm). Nhưng hình như đa số người VN ( kể luôn cả tuổi trẻ VN) hiện giờ đều né tránh đối diện (nguyên nhân & lý do???) với những vấn đề quan trọng quyết định đến tương lai và vận mệnh của dân tộc & đất nước. Theo cái nhìn cá nhân của ttl (rất hy vọng là sai), tuổi trẻ VN chắc sẽ phải trả "lãi nặng" thêm vài thế hệ nữa. Chỉ nhìn riêng về phần giáo dục và văn hóa (mà những biểu hiện ở nền văn học là một phần), trong nửa thế kỷ vừa qua, ai quan tâm cũng có thể nhìn thấy ở trước mắt. Làm sao theo kịp thế giới???

Thôi xin trở lại vấn đề đang bàn. ttl thấy bài viết này của thi văn sĩ kiêm nhạc sĩ Hàn Sĩ Nguyên (HSN) về Thơ Tự Do cũng hợp với chủ đề đang bàn luận, nên xin phép mang về đây. HSN ví von : Làm thơ như học võ công. Thơ Vần, người làm thơ giống như người học võ còn ở cảnh giới "hữu chiêu" -còn xài chiêu thức- . Thơ Tự Do, người làm thơ giống như người học võ đã đạt đến cảnh giới "vô chiêu" - không cần chiêu thức-. "Vô chiêu thắng hữu chiêu" (?). Nhưng chú ý cảnh giới "vô chiêu" của người không biết chiêu thức gì hết (có lẽ đây là một lý do để giải thích những bài thơ tự do "khó tiêu hóa"). Và "vô chiêu" của những người đã có trình độ võ công thượng thừa.

Kế đến, là bài "Góp Ý Về Thơ Vần" của thi sĩ Tô Thuỳ Yên.
"... trong nghệ thuật, không hề có lối đi tắt"

Xin mời các Bạn thưởng lãm .

**************
http://www.trinhnu.net/h/hansinguyen/index.php?action=Writings&case=view&storyId=5980&n=1&p=1

THƠ TỰ DO
HÀN SĨ NGUYÊN

==============

THI PHÁP
Chương 9

THƠ TỰ DO HIỆN ĐẠI

Nếu Thơ Mới ra đời vào khoảng năm 1932, và phát triển như vũ bão trong khoảng 2 thập niên, để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học, thơ ca Việt Nam, với những cái tên lẫy lừng như TTKH, Thâm Tâm, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính v.v...., thì khoảng 23 năm sau, vào năm 1955, trên các thi đàn Việt Nam bắt đầu thấy xuất hiện một thể thơ , mới hơn cả thơ mới nữa, với tên gọi là ... Thơ Tự Do.

Thật ra, có thể nói Thơ Tự Do xuất hiện từ rất sớm ở các quốc gia phương Tây : Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nga v.v...và bùng phát mạnh mẽ từ sau Thế Chiến thứ hai, như là một cách giải thoát những uẩn ức, những cô đọng, những chất chứa, được tích luỹ trong thời tao loạn. Tất cả những tích luỹ ấy dồn ép ra thành thơ ca dưới dạng phóng túng nhất của ngòi bút : Thơ Tự Do, với tất cả những phá cách tiêu biểu, như thể là một sự giải phóng của tâm hồn khỏi ách áp bức của những lệ luật, vần điệu cũ vậy.

I-Những đặc trưng nổi bật của Thơ Tự Do :

1-Về mặt hình thức :

-Số chữ trong mỗi câu không hạn định : ít nhất một từ, và nhiều thì có thể trên một chục từ.
-Số câu cũng không hạn định, và không chia ra thành khổ 4 câu như cũ nữa
-Không có những khái niệm về Niêm , Luật, Đối .
-Về Vần : cũng không có một luật lệ cố định nào. Nói chung là vần muốn gieo ở đâu cũng được cả.

2-Về mặt nội dung :

-Thường có nhiều âm thanh, hình tượng, màu sắc đa dạng và phong phú, biểu thị bởi những cách dùng từ hết sức mới lạ, mang tính cách tân, không hàm chứa những hình ảnh cũ kỹ sáo mòn, như trăng vàng, hồ thu, giọt sầu, Tương giang, Dịch thuỷ ....nữa. Thậm chí những từ chỉ các cơ quan sinh dục, các bộ phận thân thể nhạy cảm của cả nam lẫn nữ, những vật thể bình thường hay tầm thường của cuộc đời (gốc cây, hòn sỏi,....), những sinh vật bé bỏng, li ti, gớm ghiếc (theo quan điểm cũ) như ruồi, nhện gián, nhặng .... cũng thấy sử dụng, miêu tả thường xuyên

-Thường có những khái niệm trừu tượng, siêu thực , hoang tưởng, phi vật thể, đôi khi quái dị, đan xen vào nhau thay thế cho những hình tượng cụ thể quen thuộc cũ

-Lời kết đôi khi, hoặc thường khi được bỏ ngỏ, không tròn trịa, có đầu có đuôi như thơ cũ. Để tuỳ người đọc muốn kết luận ra sao thì ra, hoặc hình dung tiếp theo hướng nào cũng được cả.

-Ý thơ thì hết sức đa dạng, không gò gẫm trong bất cứ một khuôn khổ nào, một cách phối trí cố định nào. Nhưng đa phần đều đề cập đến những vấn đề cốt lõi của nhân sinh, của kiếp người. Cũng vẫn trăn trở đi tìm lời giải đáp cho những câu hỏi muôn thuở : Người là ai ? Từ đâu đến ? Sẽ về đâu ? Sống ở đời này để làm gì ? Cõi cực lạc, an bình ở chốn nào ? Đi đường nào để tìm về những cội nguồn hoan lạc ấy ? Người cư xử với người như thế nào cho phải cách ? Quan hệ giữa vô biên và bản ngã là thứ quan hệ gì ? Có hay không có mối quan hệ ấy ? Và thật ra thì có vô biên hay không ? v.v....
Những chủ đề cao siêu như vậy, cách thể hiện lại khác thường, nên Thơ Tự Do thường được hiểu một cách đơn giản và sai lầm như là một loại thơ rối rắm, tối nghĩa, khó tiếp thu, khó nhận thức, khó cảm thụ, khó đọc, và khó nhớ. Thật ra thì không phải như vậy !

II-Thơ Tự Do dễ viết hay khó viết ?

Từ những đặc trưng của thể loại Thơ Tự Do nêu trên , có thể rút ra được một số kết luận như sau :

1-Một là, Thơ Tự Do rất dễ viết :

Thậm chí dễ viết đến nỗi ai viết cũng được, chỉ cần là tay ngang, amateur, tài tử, nghiệp dư cũng viết được Thơ Tự Do một cách dễ dàng
Có nhiều nhà thơ nghiệp dư, mỗi ngày có thể sáng tác được hàng chục, thậm chí hàng vài chục bài thơ tự do (!), một cách vô cùng thoải mái, mà khỏi cần mất công học hỏi Thi Pháp, vần luật, tiết tấu gì hết (!).
Chỉ cần mỗi một điều là có hứng, là cao hứng, nghĩ một đề tài nào đấy, và cứ để xuôi dòng tư tưởng, mạnh tay phóng bút. Viết xong cũng chẳng cần phải mất công gọt giũa bao giờ (!)

Tóm lại : Thơ Tự Do rất dễ viết.

Nhưng cũng chính vì sự dễ dàng ấy mà thường là người viết chỉ cho ra những sản phẩm loại hai, loại ba, hoặc sản phẩm dạng thô mà thôi. Hiếm khi thấy được một bài Thơ Tự Do đạt tính biểu cảm cao độ, và cũng hiếm khi thấy được những bài Thơ Tự Do hoàn chỉnh. Hiếm, nghĩa là vẫn có, nhưng hoạ hoằn lắm mới có vậy.

2-Hai là, viết Thơ Tự Do cho hay là rất khó : thậm chí vô cùng khó. Tại sao ?

Thật không dễ trả lời câu hỏi này, cũng không dễ trình bày khái niệm này để ai cũng có thể quán triệt xuyên suốt, nhưng có thể tóm tắt gọn gàng như sau : Thơ Tự Do là thành tựu của thi ca hiện đại, là hội tụ của tất cả những gì cổ điển và cổ điển nhất, từ đó mà đưa đến những cách tân, vượt ra ngoài mọi thủ tục, mọi trình tự, mọi lề luật. Do đó, Thơ Tự Do là đỉnh cao thâm nghiêm nhất, vòi vọi nhất, mà người viết muốn viết thành công, không thể không hao tổn công phu, khó nhọc vậy
Người xưa nói :”Nghề chơi cũng lắm công phu”.
Không thể có cái gì ít tốn công sức mà lại đạt thành tựu to lớn một cách dễ dàng được cả.

Có thể dùng một số hình ảnh thí dụ để dễ so sánh, dễ hiểu hơn như sau :
Theo ngôn ngữ kiếm hiệp của KIM DUNG, nếu ai có đọc Tiếu Ngạo Giang Hồ, sẽ thấy Kim Dung đưa ra quan điểm “Vô chiêu thắng hữu chiêu”. Trong đó, ông lập luận rằng :

-Cấp 1 : Những người không biết gì về võ nghệ, khi đánh nhau chỉ có thể đạt mức đánh ... võ rừng, nghĩa là đánh ... loạn xạ, không đâu ra đâu cả, và tất nhiên là hiệu quả sẽ không cao.
-Cấp 2 : Đối với những người đã dày công học tập, rèn luyện võ nghệ, thì mỗi khi ra đòn đều đúng theo chiêu thức, phương pháp. Tất nhiên hiệu quả đạt được sẽ cao hơn gấp bội.
-Cấp 3 : Ở trình độ võ nghệ thượng thừa, sau khi trang bị trong mình đủ các loại võ công, bí kíp, người ra đòn lại đánh theo kiểu “vô chiêu”, nghĩa là chẳng cần chiêu thức nào hết, nhưng mỗi khi vung tay cất chân, đều tự nhiên theo đúng phép tắc tinh luyện, những đòn đánh thì cứ như thể là mây trôi nước chảy vậy. Tất nhiên hiệu quả của “vô chiêu” hơn hẳn “hữu chiêu”.

Đem khái niệm này áp dụng vào Thi ca có thể hiểu được dễ dàng :

-Người không biết gì về Thi Pháp, Vần Luật, Tiết Tấu giống như người không biết võ, khi làm thơ (bất luận thơ gì) sẽ chỉ đạt hiệu quả của nhóm cấp1.

-Những người làm thơ cổ , thơ Lục bát, thơ Đường, thơ Mới , đều phải học tập và nắm vững những quy luật về Thi Pháp, Vần Luật, Tiết Tấu của mỗi loại thơ. Có thể coi như nhóm cấp 2.

-Còn những người sau khi hiểu rõ các quy luật nói trên, quay trở lại làm Thơ Tự Do, chẳng khác nào những võ sư cao thủ sử dụng vô chiêu vậy. Hiệu quả sẽ rất ghê gớm. Đó là nhóm cấp 3 vậy.

Vì vậy, Thơ Tự Do tiếng rằng tự do, không theo quy luật nào cả, nhưng lại là loại thơ khó nhất, dễ viết thật, nhưng viết cho hay lại là ... khó nhất. Và đương nhiên, đây không phải là thể loại dành cho những người mới nhập môn như thường được dân gian hiểu lầm. Có thể nói, chỉ những ai lăn lộn với Thi Ca lâu ngày chầy tháng, mới hy vọng có thành tựu với Thơ Tự Do mà thôi.


III-Một bài “Thơ Tự Do hay” đòi hỏi những gì ?

1-Phải tinh gọn :

-Không được thừa những gì “dư thừa”, tuyệt đối tránh những từ “thì, và, là, mà, cũng, vẫn, để, nhưng, vì, vì thế, dù, dẫu ....v.v.....”

-Không được trùng lặp về cả từ lẫn ý ( Xin lưu ý là Điệp Ngữ là một thủ thuật Mỹ từ pháp như ánh sao trên trời, còn Trùng lặp chỉ là một cách diễn đạt tầm thường , như chân vịt trên mặt bùn vậy : Cả hai thứ “sao trên trời” và “chân vịt trên mặt bùn” đều có 5 cánh, nhưng khác nhau nhiều, nhiều lắm !!!)

-Không sử dụng những từ “lạc lõng” trong một tổng thể thống nhất.

2-Phải phong phú :

-Không được thiếu những thứ không thể thiếu : hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ẩn dụ, dẫn suy v.v....

-Phải phối trí hài hoà trong một bố cục linh động không định trước

-Những hình ảnh, âm thanh, màu sắc ấy khó hơn nữa, không chỉ là những hình ảnh, âm thanh, màu sắc thông thường, mà còn phải là biểu tượng cho một khái niệm trừu tượng, vô hình, siêu thực nào đó nữa (Con nhện, chẳng hạn, không những là một con nhện ..., mà còn phải đại diện cho một ý tưởng nào đấy phù hợp với mạch thơ nữa !)

3-Âm thầm đòi hỏi một tiết tấu phù hợp với bài thơ, ý thơ :

-Tiết tấu nhanh chậm, hoặc thúc hối, hoặc thư thả : mỗi tiết tấu đòi hỏi một thủ pháp riêng biệt.

-Tiết tấu liền lạc, du dương : Dù không có quy tắc cố định về vần (gieo vần ở đâu cũng được, tuỳ ý người viết), nhưng tính chất của một bài thơ vẫn âm thầm đòi hỏi phải có tiết tấu liền lạc, du dương. Nghĩa là các câu vẫn phải ăn vần với nhau ở ... chỗ thích hợp (!). Chỗ nào là ... chỗ thích hợp ? Chỉ những người có năng khiếu về thơ ca, hoặc những người đã từng lăn lóc với thơ nhiều năm mới biết được chỗ nào là chỗ thích hợp nhất để gieo vần mà thôi ! Và điều này cũng chẳng có một nguyên tắc nào để tổng kết được cả, thường là chỉ dựa trên ... “cảm nhận” mà thôi.

-Tiết tấu bổng trầm : Để câu thơ không vấp phải lỗi “khổ độc” (khó đọc) , cũng như để đạt được mức độ “êm tai, thánh thót”, mỗi câu thơ dù không tuân theo quy luật nào đi nữa, vẫn phải âm thầm chấp nhận quy tắc “DẠNG SÓNG”, tức “HÌNH SIN”, nói theo kiểu cũ thì đó là luật “Nhị Tứ Lục đảo thanh phân minh”. Nghĩa là nếu chữ thứ hai vần Trắc, thì chữ thứ tư vần Bằng, chữ thứ sáu lại vần Trắc; và ngược lại .

IV-Phân Loại các thể loại Thơ Tự Do

Dù là dựa trên hình thức hiển thị hay nội dung hàm chứa, thì Thơ Tự Do nói chung có thể tạm phân chia thành 3 loại :
-Thơ Tự Do hướng cổ điển
-Thơ Tự Do hướng hiện đại
-Thơ Tự Do hướng tạp lục
...
*****************

GÓP Ý VỀ THƠ VẦN
Tô Thùy Yên


Theo tôi thiển nghĩ, thơ, về mặt âm thanh mà xét, khởi đi từ ý muốn thuận tai. Riêng với thơ vần, những âm thanh của những từ vần được quan niệm như những âm thanh dội trả, đáp ứng.
Do đó, nhạc điệu của thơ vần mang tính chất cuộn tròn trong từng đoạn, như hình ảnh con rắn cắn lấy cái đuôi mình tượng trưng cho một ‘vicious circle’ đặc biệt, với những ngôn ngữ độc âm, quan niệm này được đẩy xa hơn trong những đối chát chẳng những của âm từ mà cả nghĩa chữ.
Ta không quên là lý thuyết văn học cổ điển xây dựng trên những tiêu chuẩn cân xứng, hài hòa và nhất quán. Tinh thần nhất quán được phát biểu rõ nhất ở kịch cổ điển và chẳng phải chỉ áp dụng riêng cho kịch, phần nào cũng được hiểu như là một tinh thần tập trung và tự chế, nhằm tạo hữu hiệu một cường độ cần yếu cho tác phẩm.Một đoạn thơ vần, cả trong phần nhạc lẫn phần tứ, không muốn mở ra xa. Những quặt rẽ, những ‘digressions’ (vốn là mặt mạnh, đồng thời cũng là mặt yếu của chủ nghĩa lãng mạn) thường không tìm thấy trong thơ vần cổ điển, nói chung trong văn học cổ điển.

Tôi cũng nhận thấy thêm là một bài thơ dài thành công, tức không bị sa lầy vào sự phân giải lắm lời, phải là một bài thơ mà mỗi đoạn ngắn của nó, nếu như được tách riêng ra, đã có đầy đủ cường độ của một bài thơ hoàn chỉnh. Nghĩ xa hơn một chút, tôi có cảm tưởng là giọng của thơ vần vốn là giọng ‘kể’, hiểu theo nghĩa ‘kể lể’cũng được, và giọng của thơ không vần là giọng ‘nói’, giọng ‘nói thường’. Sự phân biệt về mặt nội dung của hai loại thơ vần và thơ không vần, xét chung, dường như cũng quanh quất trong tinh thần đó. Một cách khái quát, ở thơ vần, thông thường, những tình ý được diễn đạt nối tiếp theo một liên lạc ‘logic’ hiển lộ, trong khi ở thơ không vần, những chuyển mạch giữa những tình ý phần nhiều bị nhận lớp hoặc bao che, người đọc phải tự lần phăng lấy. Nhận định như vậy, có lẽ từ trong căn bản, tôi cổ điển chăng ?

Thi ca và âm nhạc là hai loại hình nghệ thuật của ký ức. Cũng như âm nhạc, thơ là để trình diễn, được đọc lên thành tiếng, dù đọc thầm cho mỗi mình nghe thôi cũng vẫn là đọc thành tiếng trong đầu mình. Thơ mang tính chất truyền khẩu, nhiều hơn văn. Hiểu như vậy để thấy là thơ vẫn bắt nguồn từ ý muốn dễ nhớ. Vần điệu là những tiêu chuẩn là những tiêu điểm cắm sẵn giúp cho sự lần mò được thuận tiện hơn. Do đó, nhạc tính trong thơ vần (kể cả trong thơ mới tiền chiến tức loại thơ tám chữ phỏng theo thể ‘alexandrine’, cũng như loại thơ không đều chân nhưng vẫn có vần) phải cam phận đơn điệu, nhàm thuộc, tù túng, và khả năng khai triển nhạc tính của thơ vần bằng những cách phá nhịp, phá luật phần lớn bị giới hạn. Ngoài ra, nhìn xa hơn, ta cũng nhận thấy thêm là sự giới hạn của nhạc tính đương nhiên bao gồm cả sự giới hạn của tứ thơ. Thơ vần, nói chung, kiêng kỵ những bức phá. Trước đây vài thập niên, một số không nhỏ những người đọc thơ đã rất ngần ngại tiếp nhận thơ tự do, phần lớn chẳng phải nhạc tính xa lạ, trúc trắc, khổ độc của thơ tự do, như họ thường bày tỏ, mà có lẽ, theo thiển nghĩ của tôi, là do tinh thần của thơ tự do còn quá xa lạ đối với họ, điều mà gần như họ chẳng muốn thú nhận. Thơ tự do,cũng như thơ mới trước kia, ra đời vì sự thay đổi của hồn thơ, chớ không phải đơn thuần là sự thay đổi của luật thơ

Luật thơ như mọi thứ luật khác bao giờ cũng phải trải qua bao nhiêu là dò dẫm dãi dầu trong thực tế, rồi mới trở thành luật được. Nhưng thực tế của luật thơ là những thực tế có tính thói quen của một ngôn ngữ. Boileau của Atr Poétique xuất hiện sau khi đã có những tác phẩm cổ điển tiêu biểu, chớ Boileau tuyệt chẳng phải là người đã áp định những nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển. Những bài thơ trước đời đường, thậm chí cả trong thời Sơ đường, đơn cử bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu chẳng hạn, hay những bài thơ có dáng dấp đường thi của Nguyễn Trải rõ ràng không theo đúng niêm luật chặt chẽ về sau của Đường thi, nhưng chẳng phải vì vậy mà không phải là những bài thơ mà giá trị gần như mẫu mực. Nói cách khác, luật mô phỏng thực tế, chớ thực tế không mô phỏng luật bao giờ. Do đó, nếu đã chẳng thể coi niêm luật thơ như một thuận tiện có sẵn giúp cho người làm thơ (và hẳn nhiên cả người đọc thơ) được dễ dàng trong việc tìm gặp những thói quen nào đó của một ngôn ngữ thì lại không nhất thiết phải coi niêm luật thơ là khuôn vàng thước ngọc, để khỏi tự trói buộc chết cứng vào niêm luật thơ. Luật nào cũng vậy đã cấu thành được thì cũng hủy bỏ được. Một cách tự nhiên, thi hứng đưa đẩy tới những phá cách cần thiết. Thông thường, một bài thơ vần phá cách thể hiện cùng lúc hai khuynh hướng đối nghịch nhau là muốn thoát ly khỏi tính đơn điệu, nhưng lại vẫn muốn còn nương tựa vào tính thói quen. Hẳn nhiên, dụng ý chính trong bài thơ vần phá cách vẫn là dụng ý mở rộng, mở rộng từ nhịp điệu đến thi tứ. Thí dụ những bài ‘Đồng Cốc Thất Ca’, ‘Hiểu Phát Công An’của Đỗ Phủ hay ‘Tống Biệt Hành’ của Thâm Tâm. điều đơn giản hiển nhiên là nhịp điệu của một bài thơ không hẳn chỉ là nhịp điệu của ngôn từ, mà phải còn là nhịp điệu phát sinh từ những tứ được diễn đạt, nhịp điệu diễn đạt những thi tứ. Chọn thơ vần, thơ vần phá cách, thơ không vần, thực tế chỉ là chọn một thể thức nào thích nghi nhất để diễn đạt ưng ý nhất những gì mình mưu định diễn đạt. Tôi không nghĩ rằng người ta có thể chuyển bài ‘Prufrock’ hay ‘The Waste Land’của T.S. Eliot chẳng hạn , ra lục bát hay song thất lục bát, nói chung ra thơ vần, mà nghe được. Việc phân biệt hình thức với nội dung của một tác phẩm chỉ là một phương cách cho dễ nói thôi, chớ thực tế làm sao có thể có một sự tách rời như thế được. Với nghệ thuật, không hề có hình thức ý niệm, mà chỉ có hình thức của nội dung. Riêng tôi, tôi đến với thể thơ vần khi nào tôi cảm thấy không nhất thiết phải đẩy những tình ý muốn thể hiện trong bài thơ ra quá xa. Tùy hứng, thi sĩ chọn thể thơ cho từng bài thơ. Trong thế giới riêng của một thi sĩ, mỗi bài thơ còn là một thế giới riêng nữa.

Tôi quan niệm là nếu làm thơ vần mà cảm thấy mình bị khó khăn trở ngại vì vần thì chưa thể làm thơ vần được, nếu không nói hơn là chưa thể làm thơ được. Thơ vần có một điều thoạt nghe nghịch lý là người làm thơ phải công tìm vần, nhưng vì việc tìm vần bao giờ cũng diễn tiến song song với việc tìm tứ, nên thơ vần gần như đã rải sẵn những chỉ dấu u hiển để cho người làm thơ nương lần theo và dễ có cơ may tìm ra những chữ, những tứ tuyệt vời, nhiều khi không thể ngờ trước được. Thực tế mà nói, thông thường, vần điệu đưa tay dẫn dắt, và than ôi ! cũng kềm chế thi hứng. Một cách tiên thiên, bản thân nghệ thuật bao giờ cũng phải chấp nhận những bó buộc nào đó. Tôi vẫn không quên một lời nói của André Gide : ‘Nghệ thuật sống nhờ luật tắc, và chết vì buông thả’ Tôi tin chắc rằng ngay cả thơ tự do, tiếng gọi là tự do đi nữa, cũng phải tuân thủ những luật tắc nào đó, những luật tắc nội tại của nghệ thuật.

Có những thể thơ, như song thất lục bát chẳng hạn, không còn hợp thời nữa, nhưng chẳng phải vì vậy mà có thể quả quyết một loại thơ nào đó đã được khai thác đến cùng kiệt, không còn gì để vét múc nữa. Vấn đề chính yếu ở đây, có lẽ không phải là làm mới thơ vần, mà làm mới hồn thơ. Một thời đại không nhất thiết chỉ có độc mỗi thể thơ. Và tôi cũng không tin rằng có thể có một thiên tài thơ không vần nào mà trước đó chẳng làm nổi ít ra hai câu lục bát hay bốn câu thất ngôn ra hồn. Rõ ràng là trước khi vẽ theo lối lập thể, Picasso đã là một tay nghề tuyệt diệu của hội họa truyền thống. Trong nghệ thuật, việc đi tới phải là một nhu cầu thời thế, chớ không chỉ là ý muốn suông trơn. Hơn nữa, trong nghệ thuật, không hề có lối đi tắt.

Tô Thùy Yên
Đăng nhập để trả lời
0
Cảm hơn HDHP nhiều vì có thêm chút gụ vào mọi người sẽ hăng hơn phải không?
Cảm ơn muội MHL đã ghé vào cùng tham gia bình luận, muội có những ý kiến hay lắm và đã làm cho huynh thêm tự tin.
Cũng cảm ơn bài sưu tầm của bạn TTL nhờ đó mà TL hiểu vấn đề thêm
Thật sự mà nói TL rất yêu bài tình thơ " màu tím hoa sim " của nhà thơ HL và yêu lâu lắm rồi, và TL hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bạn : bài thơ Màu Tím Hoa Sim là một bài thơ TÌNH ... không có liên quan gì đến chiến tranh hết (chỉ có bối cảnh HL sinh ra là nhằm vào thời kỳ kháng Pháp thôi - không có chọn lựa khác- ) . Tình yêu sẽ luôn là một chủ đề muôn thuở cho đủ mọi lứa tuổi. (bối cảnh khác, cách diễn tả có thể khác... v.v cho mỗi thời đại - nhưng tình yêu vẫn luôn là tình yêu-).
nhưng TL nghĩ, chiến tranh là nỗi đau chung của cả thế hệ khi ấy, và bài thơ hay chiếm được sự yêu thích của độc giả là điều tất yếu, thế nhưng khi lồng vào tâm trạng của nhiều người thì sẽ có nhiều sự đồng cảm hơn, mặc dù tình yêu là vấn đề muôn thủa.
Như những câu rất hay là :
....

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
....

Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo
....
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại

...
Ba người anh từ chiến trường đông bắc
Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng
....

Những câu ấy diễn đạt rất hay, điều đó phải công nhận là từ khả năng của nhà thơ thế nhưng không thể phủ nhận một điều là - hoàn cảnh!















































































Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
( Nguyễn Đình Chiểu)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-20 04:35:51Mộc Hoa Lê>
BÀN VỀ DẤU CHÍNH TẢ TRONG THƠ


Phạm Tiến Duật


Thực ra thì câu chuyện này tồn tại từ hàng trăm năm rồi, nhưng ngỡ như ko thể bàn luận, bởi đấy là quyền tự do sáng tạo của mỗi cây bút, mỗi nhà thơ. Thế nhưng mấy chục năm gần đây, phong trào thơ phát triển ồ ạt, liên kết xuất bản phóng túng và rộng rãi, thấy quá nhiều tác giả lạm dụng quyền tự do chính tả trên ô giấy của mình, gây phản cảm cho người đọc.

Tôi có một anh bạn mới cho in tập thơ đầu tay, trong đó có bài thơ "Khóc cha". Anh viết:

Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?
Bây giờ con biết vuông tròn với ai?


Người ta nói, thơ bầu bạn quý ở tâm sự, thơ trai gái quý ở sự hào hoa, thơ điếu phúng quý ở sự thành thực. Tôi tin những câu thơ điếu của bạn là thật. Tuy nhiên, một cái chấm than là đủ, ba cái chấm than là quá. Dòng thứ nhất là câu than chứ ko phải câu hỏi, phải bỏ dấu chấm hỏi đi. Một trường hợp khác, nhà thơ N viết:

Kẽo kẹt...kẽo...kẹt võng đưa.

Tôi hiểu dụng ý của tác giả muốn dùng tiếng tượng thanh để tả cho đúng, bắt người nghe nghe cho được tiếng võng. Nhưng những dấu ba chấm của anh chỉ gây rối mắt. Ở đây, tôi xin nói ngay rằng, với dân tộc nào cũng vậy, tiếng tượng thanh chỉ mô tả được cái na ná như âm thanh có thực, chứ làm sao thực được. Chẳng hạn, tiếng sóng vỗ vào bờ ở chỗ ko bằng phẳng người ta ghi là vỗ ì oạp. Tiếng oạp thì hơi giống, nhưng tiếng ì, e chỉ là tiếng đệm thôi. Một bạn thơ khác, anh C.N trong bài thơ bốn câu, viết:

Mây xanh, mờ núi, vút thông reo
Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền
Ức Trai, trí dũng, ngàn năm tuổi
Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên.


Chỉ có bốn dòng mà anh tốn đến tám dấu phảy. Có cần thiết như thế hay không? Hiệu quả của các dấu phảy ấy là gì? Nếu bỏ đi có hại gì cho ngữ nghĩa, cho âm thanh bài thơ?

Và một câu hỏi tổng quát: Có lý luận chung cho việc sử dụng dấu chính tả trong thơ Việt Nam hay ko?

Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử phát triển của thể loại. Thơ tự do mới có ở ta chưa đầy một thế kỷ. Thơ văn xuôi còn mới mẻ hơn. Thơ ca ta hàng nghìn năm là các thể thơ ổn định. Tựu trung lại thì có hai loại: Các thể thơ truyền thống chẵn chữ: 4 chữ (thực phải gọi là âm), thơ 6 chữ (các cụ gọi là lục ngôn), lục bát. Đến đầu thế kỷ XX thì thêm thơ 8 chữ (từ chỗ cải tiến các câu hát bỏ bộ và hát ca trù). Loại thứ hai là các loại thơ lẻ chữ xuất phát từ thơ Đường (ngũ ngôn, thất ngôn bát cú, thất ngôn trường thiên). Các thể thơ ấy dường như ko dùng đến dấu phảy, dấu chấm câu. Các dấu chính tả khác cũng rất ít được dùng. Lý do nằm ở nhịp thơ sẵn có trong thể loại. Nhịp thơ là tiết tấu ngừng hơi (lặp đi lặp lại) trong nội bộ một câu thơ và giữa các câu thơ.

Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh... và các nhà thơ thời kỳ Thơ Mới rất ít dùng dấu chấm, dấu phảy là bởi họ nắm rất vững tiết tấu, âm luật của thơ truyền thống.

Trở lại với dấu chấm hỏi (?) và dấu chấm than (!).

Mở tập thơ "Buổi sáng cho em" do một NXB ở Hà Nội mới ấn hành, tôi bắt gặp hai dòng thơ sau đây:

Con sông đang chảy về đâu?
Mà em ngồi đó buồn rầu thế em.


Câu thơ có ý. Giá như dòng nước ngừng lại, đằng này sông cứ trôi đi làm tăng thêm sự cô đơn của cô gái. Nhưng ở dòng thứ nhất là câu hỏi vu vơ. Các nhà ngôn ngữ gọi là câu hỏi phiếm chỉ, ko có đối tượng để hỏi, ko bắt ai phải trả lời. Đã thế thì phải bỏ dấu chấm hỏi đi. Đừng bắt bạn đọc hiện trong đầu câu trả lời lẩm cẩm: Nó trôi về biển chứ trôi về đâu nữa! Dấu chấm hỏi ấy làm gián đoạn cảm xúc của người đọc.

Cũng tương tự như câu hỏi phiếm chỉ, trong thơ còn có câu hô phiếm chỉ, câu ứng phiếm chỉ. Bạn V.N.P trong bài thơ "Trở lại sông Thao" viết:

Ơi quê hương hôm nay ta trở lại
Rặng tre không còn soi bóng xuống lòng sông.


Tiếng ơi ở dòng thơ trên tương đương với tiếng ôi. Tác giả chỉ thốt lên, kêu lên vậy thôi chứ ko định gọi vào đối tượng nào. Để dấu chấm than sau âm đầu làm câu thơ bị giật cục, mạch thơ dãn.

Nói một cách bao quát thì ngữ pháp thơ cũng có khác chút ít với ngữ pháp nói chung và dấu chính tả trong thơ cũng có phần khác biệt với dấu chính tả trong văn xuôi. Đặc điểm nổi bật của dấu chính tả trong thơ là tính áp đặt của người viết đối với người đọc (bắt người ta phải ngừng hơi, bắt người ta phải kéo dài giọng, bắt người ta phải vui, phải buồn, phải hô, phải la... cùng mình). Thế mà thơ lại cần sự đồng thuận, đồng cảm giữa người viết và người đọc. Và nếu đúng thế thì các nhà thơ khi sử dụng dấu chính tả phải e dè, phải cẩn trọng lắm mới phải.

(Nguồn: Văn nghệ Công an số 30 (130) ngày 17-4-2006)


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: Mộc Hoa Lê

BÀN VỀ DẤU CHÍNH TẢ TRONG THƠ


Phạm Tiến Duật


Thực ra thì câu chuyện này tồn tại từ hàng trăm năm rồi, nhưng ngỡ như ko thể bàn luận, bởi đấy là quyền tự do sáng tạo của mỗi cây bút, mỗi nhà thơ. Thế nhưng mấy chục năm gần đây, phong trào thơ phát triển ồ ạt, liên kết xuất bản phóng túng và rộng rãi, thấy quá nhiều tác giả lạm dụng quyền tự do chính tả trên ô giấy của mình, gây phản cảm cho người đọc.

Tôi có một anh bạn mới cho in tập thơ đầu tay, trong đó có bài thơ "Khóc cha". Anh viết:

Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?
Bây giờ con biết vuông tròn với ai?


Người ta nói, thơ bầu bạn quý ở tâm sự, thơ trai gái quý ở sự hào hoa, thơ điếu phúng quý ở sự thành thực. Tôi tin những câu thơ điếu của bạn là thật. Tuy nhiên, một cái chấm than là đủ, ba cái chấm than là quá. Dòng thứ nhất là câu than chứ ko phải câu hỏi, phải bỏ dấu chấm hỏi đi. Một trường hợp khác, nhà thơ N viết:

Kẽo kẹt...kẽo...kẹt võng đưa.

Tôi hiểu dụng ý của tác giả muốn dùng tiếng tượng thanh để tả cho đúng, bắt người nghe nghe cho được tiếng võng. Nhưng những dấu ba chấm của anh chỉ gây rối mắt. Ở đây, tôi xin nói ngay rằng, với dân tộc nào cũng vậy, tiếng tượng thanh chỉ mô tả được cái na ná như âm thanh có thực, chứ làm sao thực được. Chẳng hạn, tiếng sóng vỗ vào bờ ở chỗ ko bằng phẳng người ta ghi là vỗ ì oạp. Tiếng oạp thì hơi giống, nhưng tiếng ì, e chỉ là tiếng đệm thôi. Một bạn thơ khác, anh C.N trong bài thơ bốn câu, viết:

Mây xanh, mờ núi, vút thông reo
Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền
Ức Trai, trí dũng, ngàn năm tuổi
Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên.


Chỉ có bốn dòng mà anh tốn đến tám dấu phảy. Có cần thiết như thế hay không? Hiệu quả của các dấu phảy ấy là gì? Nếu bỏ đi có hại gì cho ngữ nghĩa, cho âm thanh bài thơ?


Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?
Bây giờ con biết vuông tròn với ai?


Cái này rõ là tác giả muốn người xem hiểu lời than của tác giả ấy mà sao lại chỉ trích .....


Mây xanh, mờ núi, vút thông reo
Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền
Ức Trai, trí dũng, ngàn năm tuổi
Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên.


Nếu không có những dấu phẩy trên thì ra sao nhể , Mây xanh mờ núi ( không có nghĩa )
Ức trai trí dũng ( Má nó ơi thế thì hiểu làm sao ) Thế núi rồng chầu ( Bố nó ơi !hiểu làm sao )
Gió vẫn thổi trên những tầng mây , ngày vẫn trôi qua có ai nghĩ được gì trong khoảng miên man bất tận . Hỡi em ! Ta sẽ yêu em như những ngày xưa đầy mộng tưởng trong giấc mơ viết thành bài thơ tình lãng mạn ....
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-20 13:16:40Mộc Hoa Lê>
Trích đoạn: Donghoa

Cha ơi!!! Sao nỡ bỏ con?
Bây giờ con biết vuông tròn với ai?


Cái này rõ là tác giả muốn người xem hiểu lời than của tác giả ấy mà sao lại chỉ trích .....


Bác Donghoa thân mến!

Nhà thơ PTD muốn nói !!! (3 dấu chấm than liên tiếp) là ko cần thiết, ko tăng được ý nghĩa biểu đạt hay mức độ thương đau. 1 dấu là đủ. Và câu đó là câu thán, ko thể đặt dấu chấm hỏi /?/ ở cuối câu mà phải là dấu chấm than /!/

Mây xanh, mờ núi, vút thông reo
Vạn Kiếp, Côn Sơn, dậy hịch truyền
Ức Trai, trí dũng, ngàn năm tuổi
Thế núi, rồng chầu, một cõi tiên.


Nếu không có những dấu phẩy trên thì ra sao nhể , Mây xanh mờ núi ( không có nghĩa )
Ức trai trí dũng ( Má nó ơi thế thì hiểu làm sao ) Thế núi rồng chầu ( Bố nó ơi !hiểu làm sao )


Ở đây có thể nói Nhà thơ PTD viết ko rõ, ko thể bỏ hết các dấu phẩy /, / mà là bỏ bớt. Dù sao, mật độ quá dầy của các dấu /, / này làm mạch thơ bị giãn, giật, ko thể gọi là thơ hay. Đó là hạn chế của người làm ra bốn câu thơ đó. 4 câu thơ quá đơn giản, ngô nghê với những dữ liệu cảm xúc ai cũng rõ, ko gợi cảm, ko tình.

Người làm thơ giỏi, ngay khi đặt câu, ngắt dòng, ngắt đoạn, đặc biệt là sử dụng từ nếu như thành thạo, chau chuốt, thì bản thân âm tiết, thanh điệu đã tách bạch, rõ ràng, ko khiến người đọc nhầm lần, hiểu sai nghĩa dù chỉ dùng rất ít hoặc ko dùng dấu phẩy.

Như: Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh...


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
Càng rành mạch, càng ko phải là Thơ.
Cái rõ ràng từ đâu đó xa thẳm, và cái tài hoa từ miên man hé lộ cánh cửa thênh thang...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-21 04:28:54Mộc Hoa Lê>
Trích đoạn: huyennguyen

Càng rành mạch, càng ko phải là Thơ.
Cái rõ ràng từ đâu đó xa thẳm, và cái tài hoa từ miên man hé lộ cánh cửa thênh thang...


Hoa Lê rất hân hạnh đáo đầu Huyền Nguyên ở chốn này.[:D][8D]

Nếu Hoa Lê cứ... soi mãi vào những gì huynh viết và phân rã nó, lung lay nó thì lâu ngày, e người ta sẽ trách Hoa Lê là "nho nhỏ".[&amp;:]

Hoa Lê hổng nói cần phải rành mạch, chi li như những tập phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập kho, xuất kho, biên lai thuế, hoàn thuế, sổ sách, chứng từ kế toán, hay sổ phụ, sổ nợ ngân hàng... mà cái cần và đủ là ko đến nỗi rối ren, tối tăm về từ, về ý, về nghĩa.

Và điều đó rất khác với việc phải chú thích vì trích dẫn điển cố.

Rõ ràng, biểu đạt đúng âm tiết, thanh điệu - Ôi! Thơ dù muốn diễn đạt cái gì đi nữa vẫn cần giữ đúng điều này để ko bị coi là giống với văn xuôi - rất khác với rành mạch, chi li, rạch ròi về tứ, về nghĩa nha. Huyền Nguyên đừng cố gắng chụp mũ.

Chính việc dùng nhiều dấu phẩy mới là như huynh nói: Càng rành mạch, càng ko phải là Thơ.

Chẳng lẽ như này sao?

Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên
Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên
[:D][8D]

Đâu cần dấu phẩy vì các chữ (âm) đã có ngữ nghĩa và thanh điệu ko thể nhầm lẫn rồi.

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
Hahahaaha....
Ta mới nói một lời mênh mang, nàng đã cố cho rõ ràng, có phải nàng đang chụp mũ ta hay ta đang cố gắng chụp mũ nàng?
Ta có nói gì riêng cho nàng đâu, mà phải giật mình nhắc đến ta thế nhỉ?
Nàng thiệt nhạy cảm lắm thay...
Hahahaaaha...
http://www.gio-o.com/NgoNhanDuoc.html
http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=1475
http://www.vanchuongviet.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=2038&LOAIID=1&LOAIFID=1
http://damau.org/archives/author/ngonhanduoc
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-22 04:02:14Mộc Hoa Lê>
" Cờ Hán vừa giương doanh Tế Liễu
" Ngựa Hồ đã giẫm đất Trung Nguyên "


http://vnthuquan.net/diendan/tm.aspx?m=143994&mpage=3




[8D][8D][:D][:D][:D]


" Môi son hé nở cánh đào tân
" Ngọc trắng hai hàng nhả ánh xuân
" Ðầu lưỡi đinh hương đường kiếm sắc
" Rắp tâm chém cổ kẻ gian thần. "
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-22 06:43:26Ngọc Lý>
.





Nhạc sĩ Trịnh Hưng (phải)tới thăm nhà thơ Hữu Loan (trái)
vào năm 2002. Hình của Nhạc sĩ Trịnh Hưng.



“Những đồi hoa sim” Dzũng Chinh phổ thơ Hữu Loan, quý vị đang nghe Trường Vũ trình bày …

Trở lại quê hương lần đầu tiên, nhạc sĩ Trịnh Hưng về thăm miền Bắc, có ý tìm nhà thơ Hữu Loan nhưng khi đó không người nào dám chỉ đường cho ông vì họ còn e ngại tình trạng nhà thơ Hữu Loan bị cấm liên hệ.

Đến chuyến về năm 2002, nhạc sĩ Trịnh Hưng mới gặp được người chỉ đường tới chỗ nhà thơ Hữu Loan sinh sống ở thôn Vân Hườn, huyện Nga Sơn. Từ Thanh Hóa vào hai mươi cây số. Thế là sau hơn năm mươi năm trôi dạt theo giòng lịch sử, hai anh em nghệ sĩ mới gặp lại nhau, biết bao điều để nói.

Như những thanh niên khác, họ đem lý tưởng và tuổi trẻ ra nhiệt thành tham gia kháng chiến chống Thực dân Pháp, nhưng sau khi nước nhà được độc lập thì họ dần hiểu ra về đường lối Cộng sản, và đều thất vọng.
Từ khi Trịnh Hưng về Hà thành thì Hữu Loan ra sao? Nhà thơ thuật lại rằng chứng kiến tận mắt những vụ đấu tố, thấy sự đảo lộn của đạo lý luân thường, ông quá chán nản chủ nghĩa Cộng sản nên bỏ ngũ, về quê.

Bài thơ “Màu tím hoa sim” ông viết vào năm 1949 để khóc thương người vợ trẻ vắn số thì bị coi là mang tình cảm “tiểu tư sản” của thành phần trí thức.



"Chiếc bình hoa ngày cưới
đã thành bình hương" vẫn đặt trên bàn thờ.
Hình của Nhạc sĩ Trịnh Hưng.


Bài ấy đem lại tiếng tăm cho Hữu Loan nhưng đồng thời cũng kéo theo lắm hệ lụy. Tài làm thơ, học thức cùng với vóc dáng cường tráng đã khiến ông bị ghen ghét.

Năm 1956, phong trào Văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, bị đẩy thành một vụ án văn học, rồi thành vụ án chính trị. Nhiều văn nghệ sĩ trong nhóm “Nhân văn - Giai phẩm” bị treo bút, bắt đi lao động, cải tạo, tù đày. Hữu Loan thì tham gia các tạp chí “Nhân văn” và “Đất mới” thành ra bị quản thúc tại quê nhà, và cấm không được liên hệ với ai.

Từ một người trí thức (có Tú tài Tây vào năm 1941 nhưng khước từ làm việc với Tây) xuống thành một kẻ đi đánh giậm kiếm vài con tôm con tép; đục đá, thồ về đổi lấy ngô khoai để sống còn, mà vẫn bị gây cản trở, và luôn bị theo dõi.

Kế đến trong cuộc chuyện trò với Trịnh Hưng, ông kể lại về các vụ bị đầu độc và cả mưu sát nữa! về bài thơ “Màu tím hoa sim” một trong các nguyên do khiến Hữu Loan bị trù dập, thì nhạc sĩ Trịnh Hưng ghi lại và thuật với ban Việt ngữ đài chúng tôi như sau: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) “Màu tím hoa sim” Hồng Vân diễn ngâm …

Chúng tôi cũng điện thoại về Nga Sơn hỏi thăm sức khỏe nhà thơ Hữu Loan, và yêu cầu ông đọc tác phẩm “Màu tím hoa sim” gửi đến quý thính giả: (Xin theo dõi trong phần âm thanh bên trên) “Màu tím hoa sim” Hồng Vân ngâm …

Với những lời xuất phát tự con tim đớn đau, bài thơ ấy đã gây xúc động và chiếm ngay được lòng mến thương của mọi người. Các nhạc sĩ ở Saigon chọn để phổ, là Dzũng Chinh với bài “Những đồi hoa sim”, Phạm Duy soạn thành bài “Áo anh sứt chỉ đường tà”, Duy Khánh với “Màu tím hoa sim”, Anh Bằng với “Chuyện hoa sim”, đều được thâu băng đĩa, và hát đến giờ.

“Chuyện hoa sim” Như Quỳnh hát …

Ngoài ra, bài thơ ấy còn là nguồn cảm hứng cho các nhạc bản “Tím cả chiều hoang”, “Tím cả rừng chiều”, …

Được nhiều người coi là bài thơ tình hay nhất của Việt Nam, bài “Màu tím hoa sim” cũng đã được dịch sang Anh ngữ.

“Áo anh sứt chỉ đường tà”
qua giọng hát Thái Thanh … Mối tình của Hữu Loan với cô Lê Đỗ thị Ninh ly kỳ thật đấy! Biết từ khi cô bé vừa chào đời, cưới thì chú rể 33 tuổi, còn cô dâu mới 17.

“Áo anh sứt chỉ đường tà” …





Hình bà Hữu Loan vào năm 2005,
là người con gái nhà địa chủ mà cha mẹ bị đấu tố.
Hữu Loan đã bất chấp, đem cô về,
lấy làm vợ từ năm 1953.


Trở ra đơn vị, Hữu Loan mang theo hình ảnh người vợ bé bỏng, nhớ nhất là những khi hành quân qua những triền đồi ngút ngàn hoa sim tím

“Chuyện hoa sim” Như Quỳnh ca …

Khoảng hai tháng sau, nghe tin vợ bị tai nạn chết, Hữu Loan sững sờ, buông tách nước rơi xuống vỡ tan mà không hay biết. Ông lấy xe đạp, đạp ngay về (lối chừng 60 cây số)

“Áo anh sứt chỉ đường tà” Anh Dũng hát tiếp … Khóc thương người vợ mới cưới nhưng đoản mệnh, những lời thơ tuôn trào theo nước mắt, ông ghi thành bài “Màu tím hoa sim”.

Quá đau khổ, Hữu Loan phát ốm. Người lính cận vệ đem áo đi giặt, thấy bài thơ ấy trong túi, mới chép lại. Đến hôm đoàn quân qua huyện thì anh ta trao cho bà mẹ vợ ông. Từ đó, bài thơ “Màu tím hoa sim” lan truyền từ người này sang người kia, và ai nghe cũng rất xúc động.

“Màu tím hoa sim” Duy Khánh phổ nhạc và trình bày …

Thy Nga: Thưa nhà thơ Hữu Loan, chúng tôi nghe nhạc sĩ Trịnh Hưng thuật lại là “chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương” tới nay vẫn được đặt trên bàn thờ trong nhà, phải thế không ạ?

Nhà thơ Hữu Loan: Vẫn đang trên bàn thờ.

“Những đồi hoa sim” Phương Dung ca …

Bốn năm sau cái chết của vợ, khi Hữu Loan làm Trưởng phòng Tuyên huấn và Chính trị Sư đoàn thì cùng huyện, có một gia đình địa chủ rất yêu nước thương người, thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ.

Nhưng rồi, vợ chồng ông bị đem ra đấu tố, bị chôn để hở cái đầu cho trâu kéo bừa qua lại tới chết. Đứa con gái duy nhất của họ, năm đó 17 tuổi thì bị đuổi ra khỏi nhà, và cấm không ai được liên hệ, hoặc thuê làm công.
Hữu Loan nhớ ơn ông bà, tìm xem cô gái ấy sống ra sao thì thấy cô rất đói khổ, bèn đưa về, lấy làm vợ, bất chấp lệnh cấm lấy con cái địa chủ.
Thật là điều mà hiếm ai dám làm, quý vị nhỉ. Đó là vào năm 1953, rồi thì vợ chồng cùng nhau trải qua bao cảnh khổ cực nhưng rất hạnh phúc và có 10 con.

Thy Nga: Xin hỏi thăm sinh hoạt của ông hiện nay ra sao ạ?

Nhà thơ Hữu Loan: Tôi thì sinh hoạt bình thường. Ngày trước thì họ gò ép ghê lắm nhưng mà không gò ép nổi. Tôi làm lấy, bây giờ tôi có vườn, có ao, gia đình canh tác lấy cái ăn.

Thy Nga: Nhà thơ hết bị quản chế là từ hồi nào ạ?

Nhà thơ Hữu Loan: Bị suốt thế thôi! Quản chế, kiếm cách để không cho tôi đi đâu nhưng mà có cái là cánh đấy không biết cái gì hết. Nhiều cái, không đứa nào biết, lại phải hỏi tôi, cho nên lại phải nới cái bao vây tôi ra, chứ không dám bao vây hẳn. Cũng chả áp tôi được.

* Nhiệt huyết của tuổi trẻ, Hữu Loan đem ra phục vụ đất nước nhưng rồi lại bị trù dập đày ải thành ra sau này, ông không ngừng công kích chế độ. Ông thuật lại:

Cái hồi ấy, ai cũng tôn vinh ông Hồ nhưng mà riêng tôi, tôi bới, chửi luôn ngay trước Đại hội. Cái bữa tôi bới như thế, giới phụ nữ hoan nghênh lắm.
Họ mang bao nhiêu là hoa đến tặng, để đầy cái bàn của tôi, và nói rằng “Cái người nói thẳng, nói thật như ông là nên sống để cho dân nhờ, còn cái loại ăn điêu nói hớt thì nên chết lãng bay đi”. Thế là họ làm rầm cả Đại hội.

Hồi bắt tôi thì cánh phụ nữ ấy mà, họ phản đối và biểu tình. Nói chính ngay là tôi không khuất phục bao giờ hết. Bắt tôi cũng chả nổi.

Nhận được hết. Cái tác quyền đấy thì tôi cũng sẽ xây dựng, sắm sửa các cái thứ để sinh sống mà. Nếu có thời giờ thì lên chỗ tôi đây, nói chuyện cho vui.

Nhà thơ Hữu Loan

* Nói đến lòng cảm mến thì nhà thơ Hữu Loan kể lại là có lần, một mật vụ được giao lệnh sát hại ông nhưng anh ta lại thú thật với ông là
“Người ta bố trí tôi để giết ông nhưng mà tôi là cái thằng rất yêu quê hương, yêu quê tôi. Tôi nhớ quê, tôi đem cái bài thơ của ông, cái bài thơ Yên Mô đấy, để tôi đọc cho đỡ nhớ thì tôi không thể nỡ giết ông, là vì ông tả cái quê tôi hay quá!”

Ngoài bài “Yên Mô”, Hữu Loan còn làm nhiều bài thơ khác trong thời gian lao động, mà nổi tiếng là các bài “Đèo Cả”, “Tò he”, “Những làng đi qua”, “Hoa Lúa”, …

Nhà thơ Hữu Loan cũng kể lại là vài năm sau này, có các sinh viên tới Nga Sơn tìm hỏi ông về thơ để làm luận án ra trường. Ông tiếp đón nhưng khuyên các em là không nên làm bài về ông vì sẽ bị đánh hỏng. Quả nhiên là thế!

Và chuyện ngộ nghĩnh nữa là nhà thơ Hữu Loan có con trai lấy vợ miền Nam. Hôm đám cưới, người ta kéo đến coi mặt chú rể thì ít, mà là để ngó cha của chàng rể, “cái ông Màu tím hoa sim” thì nhiều.

“Những đồi hoa sim” Phương Dung ca tiếp … Vào năm 2002, tới thăm nhà thơ Hữu Loan, thấy chỉ có một cái giường tre của vợ chồng nhà này vì vậy, nhạc sĩ Trịnh Hưng ngồi chơi đến quá chiều là phải đi xe ôm ra tỉnh, ngủ khách sạn, để sáng hôm sau lại vào nghe Hữu Loan kể lại những chặng đường gian khổ của ông. Hai mươi cây số đi, hai mươi cây số về, 4 ngày như thế.

Nay đã 91 tuổi ta tuy nhiên, nhà thơ Hữu Loan vẫn khỏe, chỉ bị chứng phong thấp, hậu quả của những năm dài lao động trong điều kiện khắc nghiệt.

Chúng tôi hỏi chuyện tiếp là theo nhạc sĩ Trịnh Hưng cho hay thì từ tháng Ba năm nay, nhà thơ đã có điện thoại và cuộc sống thoải mái hơn, ít ra là về vật chất, do con cái thành đạt.

Quý thính giả có biết là giờ đây, ông bà Hữu Loan có bao nhiêu con cháu không? để ông nói nhé

“Tôi bây giờ đông lắm. Có lẽ trên một trăm, cả con cháu ấy!”

Thy Nga: Con cháu, ông bà có trên một trăm người! Chúng tôi cũng nghe nói là mặc dù bị nhà cầm quyền cản trở việc học nhưng các cô cậu vẫn cố gắng học lên?

Nhà thơ Hữu Loan: Đúng rồi, thành đạt hết rồi. Con út, thằng Đán ấy, là tiến sĩ về xây dựng.

Thy Nga: A! ngành xây dựng thì chắc là cậu ấy xây lại nhà cho cha mẹ, và cuộc sống gia đình khá hơn trước

Nhà thơ Hữu Loan: Vâng, khá nhiều. Tôi bây giờ đầy đủ thì cánh kia cấm đoán không được nữa rồi.

* Quý vị nhiều người chắc đã nghe về chuyện một doanh nghiệp trong nước là ViTek, viết tắt của Viet Technology Corporation, xin chuyển nhượng bản quyền bài thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Đó là vào tháng 12 năm 2004, và lần đầu tiên ở nước ta, có sự kiện mua tác quyền như vậy!

Giám đốc công ty Vitek nói là có nhiều bài thơ viết về chiến tranh nhưng Vitek chọn bài thơ “Màu tím hoa sim” vì đó là tiếng lòng của một người lính chiến khóc vợ. Vợ anh chết trẻ, do chiến tranh gián tiếp gây ra.

“Màu tím hoa sim” Hoàng Oanh diễn ngâm …

Vẫn theo lời ông giám đốc Vitek thì đây là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa, công ty Vitek sẽ lưu giữ và phổ biến bản chuẩn nhất để tác phẩm khỏi bị mai một.

Chúng tôi hỏi lại nhà thơ Hữu Loan về việc đó.

Nhà thơ Hữu Loan: Bán bản quyền cho họ 150 triệu. Thì họ ghi thành băng thành đĩa để họ bán ra thị trường đấy.

Thy Nga: 150 triệu đồng, nhận được một lúc hết?

Nhà thơ Hữu Loan: Nhận được hết. Cái tác quyền đấy thì tôi cũng sẽ xây dựng, sắm sửa các cái thứ để sinh sống mà. Nếu có thời giờ thì lên chỗ tôi đây, nói chuyện cho vui.

Thy Nga: Dạ vâng, cám ơn nhà thơ nhiều lắm.

Xin cám ơn nhà thơ Hữu Loan đã dành cho ban Việt ngữ đài chúng tôi buổi phỏng vấn hôm nay.

Trong âm thanh ca khúc “Áo anh sứt chỉ đường tà” qua giọng hát Anh Dũng, Thy Nga xin kết thúc chương trình, chào tạm biệt quý vị.




.
Đăng nhập để trả lời
0
Tác quyền Màu tím hoa sim: 100 triệu đồng




Nhà thơ Hữu Loan tên thật Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916. Quê gốc của ông - cũng là nơi ông đang ở hiện nay - là huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông tham gia Việt Minh từ trước Cách mạng Tháng Tám.

Hữu Loan làm thơ không nhiều nhưng ông có những bài được nhiều người thuộc, ghi lại tâm tư của con người trong thời kháng chiến như Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Những làng đi qua...

Màu tím hoa sim viết cách đây hơn nửa thế kỷ, là những cảm xúc tức thời sau một biến cố sâu sắc xảy ra trong đời ông. Thời kháng chiến, ông kết hôn với người vợ trẻ xinh đẹp vốn là học trò cũ. Hai người sống với nhau chỉ hai tuần rồi ông phải trở về đơn vị. Ba tháng sau, ông nhận được tin vợ mất vì bị nước cuốn. Lúc ấy vợ ông mới 16 tuổi...


TT - Mới đây, việc nhà thơ Hữu Loan ở tuổi gần 90 bất ngờ nhận được 100 triệu đồng tiền tác quyền cho bài thơ nổi tiếng Màu tím hoa sim từ Công ty điện tử Vitek VTB được coi là một sự kiện.

Từ trước tới nay chưa có bài thơ nào được mua tác quyền với giá cao đến thế. Tuổi Trẻ đã đi tìm câu trả lời từ ông Lê Văn Chính, giám đốc Công ty Vitek VTB.

* Điều mà nhiều người thấy lạ: vì sao một doanh nghiệp lại đi mua bản quyền thơ?

- Tôi muốn dùng từ “chuyển nhượng” thay cho từ mua bản quyền. Đây là một hình thức thể hiện sự trân trọng của một doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm văn hóa với một tác phẩm nghệ thuật. Dĩ nhiên là việc chuyển nhượng này còn nhằm mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp tham gia các sự kiện văn hóa - thể thao với mục đích phát triển thương hiệu.

Nhưng với các doanh nghiệp điện tử tại VN thì hầu hết là doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, họ có thiệt thòi là không biết tiếng Việt nên không hiểu được người VN thích gì, rung động trước cái gì. Họ chỉ nhận biết những gì hữu hình như người mẫu nổi tiếng, ca sĩ hát hay, một siêu sao bóng đá và đầu tư cho những đối tượng này.

Tuy nhiên, giọng hát, nhan sắc hay đôi chân cầu thủ không phải là những giá trị lâu dài. Vitek là doanh nghiệp trong nước, cảm nhận được những giá trị vô hình chính là lợi thế cạnh tranh của chúng tôi. Thơ là sự lắng đọng, khêu gợi sự rung cảm. Lý do chúng tôi chọn mua tác quyền bài thơ là như vậy.

* Thưa ông, tại sao lại là Màu tím hoa sim mà không phải một tác phẩm nào khác?

- Trong thế kỷ trước, dấu ấn đậm nhất của thế giới về VN là chiến tranh cách mạng. Có rất nhiều bài thơ viết về chiến tranh, nhưng theo chúng tôi, Màu tím hoa sim là bài thơ nhiều giá trị. Chiến tranh luôn kéo theo mất mát, đau khổ.

Trong những năm 1950 người ta cần nhiều bài thơ hô hào, những tiếng xung phong. Nhưng khi chiến tranh đã đi qua, người ta cần nhìn về nó với cái nhìn nhân bản hơn. Nỗi khổ mà chiến tranh gây ra không phải là nỗi khổ của người lính ra chiến trận mà là sự chờ đợi của những người phụ nữ ở nhà, không biết khi nào chồng, cha, anh, em mình mới trở về.

Một khi bài thơ này dịch ra tiếng Anh và đem ra với thế giới, người nước ngoài sẽ có một ấn tượng khác hơn về một VN trong chiến tranh - thổn thức và lắng đọng hơn. Bài thơ là tiếng thở dài, tiếng khóc của một người lính khóc vợ. Người vợ của anh chết trẻ, do lỗi gián tiếp thuộc về chiến tranh.

* Bài thơ này sẽ được sử dụng như thế nào?

- Chúng tôi đưa bài thơ đã được diễn ngâm vào một sản phẩm của chúng tôi. Bài thơ sẽ như một dấu ấn văn hóa của một sản phẩm VN, đi cùng sản phẩm này ra thị trường trong và ngoài nước. Trong tương lai, chúng tôi có dự định mua tác quyền của những tác phẩm khác nữa, tổ chức các hoạt động văn hóa như thi ca khúc, thi thơ, thành lập quĩ phát triển văn hóa để bày tỏ sự trân trọng, biết ơn của mình đối với những tác phẩm nghệ thuật.

Đây cũng là một hình thức bảo vệ sản phẩm văn hóa. Cụ thể, chúng tôi sẽ lưu giữ và phổ biến bản chuẩn nhất để tránh tình trạng có rất nhiều dị bản của cùng một tác phẩm có thể sẽ khiến tác phẩm bị mai một.

* Kéo theo việc mua tác quyền bài thơ Màu tím hoa sim sẽ là một loạt hoạt động liên quan, chẳng hạn như một đơn vị, cá nhân nào đó sẽ xin phép dùng bài thơ để phổ nhạc, diễn ngâm hoặc xuất bản... Vitek sẽ xử lý những việc này như thế nào?

- Tiền tác quyền thu được từ việc sử dụng bài thơ sẽ được chuyển vào quĩ phát triển văn hóa của chúng tôi.

* Xin cảm ơn ông.



Ông Lê Văn Chính, giám đốc Công ty Vitek VTB

Chị Ngọ Lý thân mến, cảm ơn chị vì bức hình hoa mua tím đẹp quá.
Hồng hoa diễm tuyệt ngát thơm hương
Mưa gió Vu Sơn luống đoạn trường
Thử hỏi Hán cung ai sánh dược
Hán nương Phi Yến sắc hoa nhường
Đăng nhập để trả lời
0
[:(]

Có những cái đẹp rất đoạn trường,
phải không Tuyết?

Người đời sử dụng cái đẹp
bước lên nó,
chà đạp nó,
giam cầm nó,
rồi khi cần,
lại mang nó ra và bầy bán...

[:(]


.
Đăng nhập để trả lời
0
Em không hiểu, "mang nó ra và bày bán" ở đây là ý chị nói về Hữu Loan đấy ạ ??? [8|]
Hồng hoa diễm tuyệt ngát thơm hương
Mưa gió Vu Sơn luống đoạn trường
Thử hỏi Hán cung ai sánh dược
Hán nương Phi Yến sắc hoa nhường
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-28 11:48:44ocra5965>
Em theo dõi câu chuyện của các bác thật thú vi.
Chỉ xin "nói leo" là cái hình bông hoa trong đấy là "HOA MUA" đấy a.
Nói mãi HOA SIM bỗng hóa thành HOA MUA.
Có bài ca cải lương "Hoa mua ai bán mà mua.." cũng cảm động lắm!

Em xin đính kèm hình HOA SIM thứ thiệt đây nè!
📎 Hoasim
[image]...[/image]

CONOCRA (Thanh Hóa)

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-29 02:47:57Ngọc Lý>
Trích đoạn: ocra5965

Em theo dõi câu chuyện của các bác thật thú vi.
Chỉ xin "nói leo" là cái hình bông hoa trong đấy là "HOA MUA" đấy a.
Nói mãi HOA SIM bỗng hóa thành HOA MUA.
Có bài ca cải lương "Hoa mua ai bán mà mua.." cũng cảm động lắm!

Em xin đính kèm hình HOA SIM thứ thiệt đây nè!


Sao không thấy hình đính kèm ocra5965 ơi.
Đi tìm hình "hoa mua" thì thấy hình này:



Hoa sim thì hình này:





mà hình này thì thắm thiết cô độc hơn cả:



Nhưng nhìn kỹ thì có lẽ là hình hoa mua, đúng như ocra5965 nói, chứ không phải hoa sim thật.

Ngày xưa khi còn bé, Ngọc Lý đi học tại một trường trên đồi, phía sau là cánh rừng thưa, toàn hoa sim và hoa "chùm bao", có tên khác là "passion flower", hay hoa nhãn lồng thì phải, có trái nhãn lồng, ăn được, giống vầy nè:





cánh rừng thưa sau đồi còn có nhiều mai rừng, đến mùa gần Tết mai nở đẹp lắm...

thú nhất ngày ấy là trốn học leo lên đồi chơi... đi hái hoa... và lội suối... con suối ấy ngày xưa rất trong và cô tịch, tên là Suối Tiên.

[;)]

Hôm nay thì cánh rừng và đồi đã biến mất rồi...
và Suối Tiên thì... toàn cảnh giả thôi... hic hic hic...

[:(]
Đăng nhập để trả lời
0
Kính thưa chị (phải chị?) Ngọc Lý,
2 ảnh thứ 2,3 từ trên xuống đích thị HOA SIM, còn lại thì không phải sim đâu chị ạ. Em xin lấy cái nick của em ra bảo đảm với chị và các bác.

Em xin khoe với cả làng là hồi bé, em đã từng đi hái sim đem ra chợ bán. Giá hồi đó là 1 hào (cắc, 1/10 đồng) một bơ (lon) đong có ngọn, chứ không phải gạt bằng miệng như bà con ta đong gạo đâu.

Thiết nghĩ, bàn về bài thơ "Màu tím hoa sim" mà có một chút hiểu biết về "hoa sim" và "cây sim" chắc cũng không thừa, nên em xin mạnh bạo giới thiệu về cây sim và hoa của nó. Ai chưa biết thì tham khảo, còn ai biết rồi thì cho em xin lỗi.

[image]...[/image]

CONOCRA (Thanh Hóa)

Đăng nhập để trả lời
0
Chào Ocra5965 ( Cô Bé Hái Sim? [:)] )

Cám ơn Ocra5965 đã tham gia chủ đề và đã có nhã ý mang hình Hoa Sim lên cho bà con xem.

Chúc vui vẻ,
ttl

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-08-30 14:24:32TTL>
Chuyện vui bên lề cuộc bút chiến thơ mới và thơ cũ


Năm 1932 được xem như cái mốc của phong trào thơ mới khi cụ Phan Khôi "trình chánh giữa làng thơ" bài thơ mới đầu tiên Tình già đăng trên báo Phụ nữ tân văn số 122 ngày 10/3/1932 làm xôn xao dư luận. Thế là bùng lên một phong trào chống đối thơ mới từ những nhà cựu học.


Điều đáng chú ý là cụ Phan Khôi (1887-1959) - cháu ngoại của cụ Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu - vốn xuất thân là nhà cựu học, đã từng đỗ tú tài chữ Hán năm 18 tuổi nhưng lại cổ vũ cho phong trào thơ mới. Năm 1928, trên Đông Pháp thời báo, cụ Phan Khôi đã dám táo bạo chê luật thơ cũ của ta là trói buộc, tù hãm. Sau khi bài thơ Tình già xuất hiện trên báo, phái thơ cũ phản ứng mạnh mẽ. Thi sĩ Tùng Thành viết bài thơ Nhàn ngâm đả kích nặng nề:

"Trách bác Phan Khôi khéo rắc rối,/ Noi gương Hồ Thích (1) làm thơ mới/ Câu dài, câu ngắn chẳng ra sao,/ Vần đụp, vần đơn nghe thật thối,/ Hăng hái, Thị Kiêm (2) diễn thuyết khen,/ Nhiệt thành, Thế Lữ lao công mãi./ Phải chăng muốn diễn ý tân kỳ?/ Hay tại làm thơ cũ kém giỏi?"

Thật ra không phải Phan tiên sinh làm thơ cũ kém giỏi, thơ Đường của cụ cũng rất hay (như bài Ngẫu cảm, Viếng mộ ông Lê Chấu) nhưng vì cụ không muốn gò bó trong phép làm thơ nên mới đề xướng ra cách làm thơ mới.

Sau Phan Khôi, hàng loạt nhà thơ mới có tài bắt đầu xuất hiện trên thi đàn làm cho vị trí của thơ mới ngày càng vững: Thế Lữ (tức Lê Ta), Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp... Trước tình hình ấy, phái thơ cũ không tiếc lời chỉ trích, chê bai thơ mới:

"Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn,/ Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ./ So với Á học như dưa đắng,/ Sánh với Âu văn tựa mít xơ..."

Họ cho rằng những người làm thơ mới đều bất tài, không làm nổi thơ luật nên mới phải làm thơ mới, là một loại thơ dễ dãi về kỹ thuật, đó là những người chẳng hiểu gì về thơ cả:

"Lạy bác xin đừng nói đến thi,/ Nghĩa thi chưa hiểu, hãy im đi".

và họ gọi những nhà thơ mới là bọn mù và dốt:

"Chẳng khác anh mù lại nói mơ,/ Chẳng qua một bọn dốt làm thơ".
(Những bông hoa trái mùa của Tường Vân và Phi Vân)


Dần dần, báo chí bị lôi vào cuộc và hình thành hai phe rõ rệt. Phe bênh vực thơ cũ có các báo: An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Văn học tuần san, Công luận, Tiếng dân, Tin văn... Phe bênh vực thơ mới có: Phong hoá, Ngày nay, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Loa, Hà Nội báo..., trong số này, báo Phong hoá là "hùng hổ" nhất. Và nhóm Tự lực văn đoàn vốn chủ trương theo mới dĩ nhiên đứng vào hàng ngũ của những nhà thơ mới.

Tản Đà lúc đầu rất thận trọng, có ý muốn đứng ngoài. Tuy chẳng ưa gì thơ mới nhưng ông không để cơ quan ngôn luận của mình là tờ An Nam tạp chí tấn công thơ mới. Mãi đến cuối năm 1932, thấy báo Phong hoá làm quá, ông mới cho đăng lên báo An Nam tạp chí số 6 một bài thơ Ông Tản Đà nhắn bạn Phong hóa (Tửu nhập thi xuất) nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì đến thơ mới cả:

"Mấy lời nhắn bảo anh Phong hoá,/ Báo đến như anh thật láo quá!/ Từ tháng đến năm không ngớt mồm,/ Sang năm Quí Dậu (1993) phải kiếm khoá./ Ông nỉnh ông ninh có liệu mà.../ Tái tứ tái tam đừng trách nhá!/ Chút tình đồng nghiệp bảo cho nhau,/ Nhờ gió thổi đi mong cảm hoá".

Gặp dịp tốt, lập tức báo Phong hoá số 28 (30/12/1932) phản ứng ngay bằng cách đăng bài hoạ nguyên vận để đả kích Tản Đà:

"Anh lên giọng rượu khuyên Phong hoá,/ Sặc sụa hơi men khó ngửi quá./ Đã dạy bao lần, tai chẳng nghe,/ Hẳn còn nhiều phen mồm bị khoá./ Thân mềm chưa chắc đứng ngay đâu,/ Lưỡi ngắn thì nên co lại nhá!/ Phong hoá mà không hoá nổi anh,/ Tuý nhân quả thật là nan hoá!"

Sau bài thơ họa nguyên vận trên đây, báo Phong hoá còn đăng nhiều bài đả kích Tản Đà vì coi Tản Đà là lãnh tụ của phái thơ cũ như bài Ông Hiếu với thầy Nhan Hồi của Tứ Ly (Hoàng Đạo), bài thơ của Vân Dương nói xỏ xiên Tản Đà, vở hài kịch Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly chế giễu không chỉ Tản Đà mà cả các ông Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Tiến Lãng, Dương Bá Trạc, Nguyễn Công Tiến, Trịnh Đình Rư, Lê Công Đắc... là những nhà văn nhà thơ cũ.

Sau Tản Đà, đến lượt Á Nam Trần Tuấn Khải, một nhà thơ lừng danh thời trước, cũng bị Việt Sinh lôi ra làm bia chế giễu. Việt Sinh viết:

"Trong sách Chơi xuân của Nam ký, ông Á Nam vì xuân làm bài thơ xuân rất hay, rất mới: "Một đời dược mấy gang tay,/ Một năm được mấy mươi ngày là xuân./ Gặp xuân ta phải chơi xuân,/ Kẻo mai hạ tới là xuân không chờ".

Hay tuyệt! Câu đầu cả ý lẫn chữ là câu sáo cũ. Câu thứ hai cũng hay như câu thứ nhất. Câu thứ ba cũng hay như câu thứ hai. Còn câu thứ tư không hay thì là của ông Á Nam!".


Năm 1934, khi cuộc bút chiến đã đến hồi gay gắt, trên báo Phụ nữ tân văn số xuân năm ấy, Tản Đà có một bài "hài đàm" nói móc Phan Khôi vốn là người đã từng "đụng độ" với ông mấy lần về vụ Nho giáo, vụ "Cái cười của con Rồng cháu Tiên". Bài hài đàm mở đầu bằng một đoạn văn xuôi rồi kết thúc bằng một bài "thơ mới":

"Đờn là đờn/ Thơ là thơ/ Thơ thời còn có chữ, đờn có tơ/ Nếu không phá cách, vứt điệu luật/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ/ Bá Nha xa/ Lý Bạch khuất/ Thơ có họ Phan, đờn họ Quách/ Thơ có chữ/ Đờn có tơ/ Đờn thì ngớ ngẩn, thơ vẩn vơ/ Tài tử văn nhân thường rứa rứa/ Bút huê ngao ngán bận đề thơ".

Không thấy Phan Khôi trả lời. Điều đáng chú ý là tờ Phụ nữ tân văn trước nay vẫn đứng về phe bệnh vực thơ mới, đã từng đăng bài thơ Tình già của Phan Khôi mà nay lại đăng bài của Tản Đà móc Phan Khôi.

Các nhà thơ mới thường hay chê các nhà thơ cũ ưa dùng những từ ngữ và hình ảnh cũ kỹ sáo mòn: hễ mùa xuân thì trăm hoa đua nở, mùa hạ có tiếng cuốc tiếng ve, mùa thu thì sương sa gió thổi, lá ngô đồng rụng, mùa đông thì tuyết phủ, tuyết ngậm mặc dù ở Việt Nam chẳng bao giờ có tuyết. Nhân Tản Đà cho đăng bài Cảm thu, tiễn thu trong đó có những chữ: gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, lá thu rơi rụng đầu ghềnh, cỏ vàng cây đỏ..., Tú Mỡ bèn làm một bài hát nói khôi hài để chế giễu lối làm thơ sai sự thực, trong đó có mấy câu:

"Cây tươi tốt, lá còn xanh ngắt,/ Bói đâu ra lác đác ngô vàng./ Trên đường đi nóng dẫy như rang,/ Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ!"

Trên báo Phong hoá số 31, Nhất Linh chế giễu thơ của Phương Lang, một nhà thơ cũ:

"Vậy tôi chỉ nói đến bài thơ của ông Phương Lang và xin chép lại bài thơ ấy ra đây lần nữa: Mặt bẩn sao chưa lau?/ Con ra lấy cái thau./ Đổ nước, mang khăn mặt,/ Mau!

Thơ như thế sao gọi là thơ được? Đó chỉ là mấy câu sai con mà có vần. Nó cũng như thơ con cóc mà thôi. Nhất Linh lại xin bắt chước ông Phương Lang làm bài thơ theo lối ấy:

"Trông vào nồi, cơm hết/ May còn miếng cháy giòn/ Ăn với cá kho mặn,/ Ngon!

(Lạc quan)

"Tay tôi mụn ghẻ đầy,/ May sao gặp thuốc hay./ Bôi được một tuần lễ,/ Khỏi ngay!"

(Mừng khỏi bệnh)


Trên tờ Hà Nội báo ngày 19/2/1936 Lưu Trọng Lư "nở một nụ cười kiêu hãnh" đăng bài thơ thất ngôn sách hoạ chế giễu các nhà thơ cũ:

"Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho,/ Thơ thẩn, thẩn thơ, khéo thẫn thờ./ Nắn nót miễn sao nên bốn vế,/ Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ!"

Không thấy ai hoạ lại, có lẽ hoặc là vì xem thường, hoặc là vì tự ái.

Phong trào thơ mới lên rầm rộ, lấn át hẳn thơ cũ, chiếm địa vị ưu thắng trên thi đàn. Nhưng bên cạnh những bài thơ hay cũng có không ít những bài thơ dở. Khái Hưng, một cột trụ của báo Phong hoá - tờ báo nhiệt liệt bênh vực thơ mới - có bài đăng trên báo này đả kích những người làm thơ mới quá dễ dãi với mình, cho ra đời những đứa con thiếu tháng. Sau khi vờ tự hỏi "làm thơ dễ hay khó?", ông đã mỉa mai "chỉ độ vài giờ thôi" rồi viết:

"Vì thế kỳ báo này/ Tôi lại/ Viết một câu văn vui đại khái/ Cũng bằng thơ mới/ Nói thơ tự do thì có lẽ phải hơn, vì cứ mỗi lần/ Gặp vần là tôi tự do xuống dòng, bất kỳ câu ngắn/ Hay dài, từ một đến mười hai chữ/ Như thế hẳn/ Chẳng khó khăn gì/ Mà bỗng mình trở nên một nhà thi/ Sĩ/ Rồi các nhà phê bình sẽ/ Tìm ra những cái hay của mình và có lẽ/ Tôn bừa mình lên bậc thi hào/ Thì mình cũng đành nhận chứ biết sao!"

Trong khi đó, nhà thơ Thế Lữ không tranh luận ồn ào, chỉ cặm cụi làm thơ và cho ra đời những bài thơ hay, có chất lượng rất cao như: Nhớ rừng, Tiếng sáo Thiên Thai, Giây phút chạnh lòng..., xây dựng một nền tảng vững chắc cho thơ mới.

* * *


Cuộc bút chiến ấy kéo dài đến năm 1936 thì nhạt dần rồi tàn hẳn. Thơ mới nghiễm nhiên chiếm ưu thế trên thi đàn rồi đi vào lớp học, đẩy lùi thơ cũ vào dĩ vãng để nằm im dưới lớp bụi thời gian. Nhưng khi thơ mới đã thắng thế rồi, người ta bắt đầu nghĩ lại và cảm thấy ân hận về những điều đã làm trước đó. Trước kia, ai nấy đều đổ xô vào mỉa mai, châm biếm, chế giễu Tản Đà thì từ năm 1938, Tản Đà được coi như vị thánh sống của làng thơ. Nhất là sau khi Tản Đà từ trần (1939), người ta đua nhau viết bài ca tụng ông như là người có công lớn đối với nền thi ca của dân tộc. Và Hoài Thanh, khi viết cuốn Thi nhân Việt Nam, đã kính cẩn đặt Tản Đà ở đầu trang sách với những lời cung chiêu sang trọng.

Ngay cả nhóm Tự lực văn đoàn trước kia công kích Tản Đà là thế mà nay cũng cho đăng nhiều bài của Văn Bình, Xuân Diệu, Khái Hưng trên báo Ngày nay ca tụng công lao và sự nghiệp văn chương của Tản Đà. Tinh thần hoà giải ấy đã dần dần xoá đi sự hiềm khích giữa hai phái thơ cũ và thơ mới.

Từ đó đến nay cũng đã ngót bảy mươi năm, thơ mới ngày ấy nay đã trở thành thơ cũ. Một thời đại trong thi ca đã khép lại, nhưng dư âm của những ngày sôi động ấy hẳn sẽ còn vang vọng mãi trên thi đàn.

· Huyền Viễm (Kiến thức ngày nay)

(1) Hồ Thích (1891-1962): nhà trí thức nổi tiếng của Trung Hoa đã từng du học ở Mỹ và suốt đời nỗ lực vận động cho nền tân văn học.

(2) Cô Nguyễn Thị Kiêm, một kiện tướng của nền thơ mới, đã hai lần đăng đàn diễn thuyết để bênh vực cho thơ mới tại Hội khuyến học Sài Gòn ngày 26/7/1933 và 9/1/1935
📎 Tienchien
Đăng nhập để trả lời
0
Một câu hỏi do một thân hữu (TTD) đặt ra từ lâu:
(Trích bài viết của KHẾ IÊM)


"Không phải những người chống đối thơ Tân hình thức làm hại thơ Tân hình thức, mà do chính những người làm thơ Tân hình thức quá tùy tiện dễ dãi, đã làm mất đi giá trị và niềm tin nơi người đọc."



Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta thử phân tích cách làm thơ Tân hình thức Việt so với thơ truyền thống tiếng anh và tiếng Việt.

Nếu không có kinh nghiệm về thơ vần điệu, rất khó để hiểu thơ tiếng Anh, cả truyền thống lẫn tự do, nếu chúng ta đọc những cuốn sách dạy về cách làm thơ. Những thể luật thơ của ngôn ngữ nào cũng vậy, xuất phát từ những lời ca, ở rất xa xưa. Ðặc biệt thơ tiếng Anh, đã chuyển thành lời đọc, từ sau thời Homer (750 trước Công nguyên). Tiếng Anh là tiếng đa và trọng âm, âm thanh rất ròn rã vì cách nuốt âm khi nói, nghe rất giống iambic (không nhấn, nhấn) , nhưng khi viết lại trên trang giấy thì không phải là iambic. Luật thơ truyền thống tiếng Anh làm công việc ngược lại, sao chép âm nói lên trang giấy và biến thành luật thơ Iambic. Như vậy luật thơ là nhịp điệu (rhythm) tự nhiên của ngôn ngữ nói, đã nằm trong tâm thức của nhà thơ. Khi sáng tác, người làm thơ chỉ còn bận tâm tới luật vần. Mà luật vần thì quá đơn sơ, cũng đã phục sẵn bên trong nhà thơ rồi. Tiến trình hoàn thành bài thơ âm ỉ bên trong nhà thơ, sự hài hòa các âm tiết, hình ảnh, ý tưởng, và khi nhà thơ viết xuống trang giấy thì có khi chẳng cần sửa đổi gì nhiều, vì sửa nhiều sẽ mất đi tính tự nhiên của thơ. Luật thơ truyền thống Anh, rút lại là: Nhịp điệu của ngôn ngữ tự nhiên và vần.

Trường hợp thơ vần điệu tiếng Việt cũng tương tự: Sự nhịp nhàng (melody) của ngôn ngữ tự nhiên và vần. Người làm thơ đã nằm lòng vần điệu rồi, nên luật tắc thơ gần như không có gì cần nói. Ðiều đáng ghi nhận, trong nhịp điệu của thơ tiếng Anh đã bao hàm luôn cả sự nhịp nhàng của ngôn ngữ. Còn tiếng Việt chỉ là sự sắp xếp sao cho hài hòa những âm bằng trắc. Khi thơ tự do tiếng Anh muốn thoát ra khỏi âm thanh đều đặn của Iambic và vần, đã dùng phương pháp lập lại chữ và nhóm chữ để thay thế vần. Thơ Tân hình thức Việt đơn giản, cũng chỉ là: Sự nhịp nhàng của ngôn ngữ tự nhiên và kỹ thuật lập lại (để thay thế vần). Trường hợp vắt dòng chỉ là một đặc điểm của thơ không vần.

Thơ như một cánh diều: luật thơ là sợi dây chỉ (phải đơn giản), con diều là thơ, gió là tài năng của nhà thơ. Tài năng càng lớn, thơ càng hay, cũng như con diều gặp gió. Nhưng nếu không có luật hay luật thơ quá rắc rối thì dù có tài năng lớn cũng không thể có thơ, không ai có thể thả diều với không có sợi dây hay với một sợi dây thừng. Trường hợp thơ Lục bát của Việt nam: Ai cũng có thể làm, từ người không biết chữ Quốc ngữ tới những tài năng lớn như Nguyễn Du. Người ta dùng Lục bát để cổ động bầu cử, tuyên truyền chính trị, nhưng cũng dùng Lục bát để hoàn thành những tác phẩm lớn như Truyện Kiều.

Nhà thơ phải nắm chắc ngôn ngữ tự nhiên. Những nhà thơ vần điệu có kinh nghiệm về âm thanh tinh tế của ngôn ngữ, tạo nên nhạc tính lôi cuốn cho thơ nhưng thường lại khó thoát ra được thói quen vần điệu. Trong khi những nhà thơ tự do, không có được kinh nghiệm đó nên những bài thơ tự do thường thiếu nhạc tính, ít người đọc. Thơ Tân hình thức Việt cân bằng lại tình trạng đó, chỉ có điều nhạc tính trong thơ Tân hình thức là loại nhạc tính đọc, và nhạc tính trong thơ vần điệu là nhạc tính để ngâm nga.

Bây giờ chúng ta có thể trả lời câu hỏi trên: Bất cứ luật thơ nào cũng tùy tiện dễ dãi, ai cũng có thể làm, tùy tài năng và cơ duyên, điều này nói lên được tinh thần tự do và bình đẳng của thơ. Thơ hay sẽ tồn tại, thơ dở tiêu tan với thời gian, chẳng có gì chúng ta phải lo ngại. Thơ độc quyền cho một số người làm thì cũng độc quyền để họ đọc với nhau. Thơ Tân hình thức dễ làm nhưng khó hay, cũng như thơ Lục bát vậy. Nhờ thế mà chúng ta đang mở rộng thơ đến cho mọi người, làm cũng như đọc thơ.

KHẾ IÊM
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»