Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Ai làm thơ? Ai là thi nhân?* - Hoàng Nguyên Nhuận -

34 trả lời, 1.465 lượt xem — Trang 2 / 2
Có một nhóm làm thơ lại tuyên bố “Chúng tôi không làm thơ” ở Tienve, Talawas, eVan, tạp chí Thơ, kể cả phụ trang báo Thơ (tháng 10.2003) của Hội Nhà văn Việt Nam.

Dòng thơ "mở miệng", tân hình thức, và làn gió thơ "rác rưởi"...

Tờ eVan giới thiệu “Mở miệng” như sau: “Có một nhóm sáng tác trẻ tự xuất bản những tác phẩm của họ dưới dạng photocopy, và coi đó như một văn bản chính thức. Họ rảo bước qua những đường phố Sài Gòn, những quán cà phê, quán thịt chó, ngày và đêm, ánh đèn, xe cộ, bụi và tiếng ồn… Họ làm thơ. Rồi cả truyện, tiểu thuyết, tiểu luận, trình diễn, sắp đặt, nghệ thuật ý niệm (conceptual), nghệ thuật thị giác (visual art)… và họ tuyên ngôn”. "Họ" là Lý Đợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán từ Quảng Nam, Bùi Chát ở Đồng Nai vào thành phố học, tốt nghiệp khoa Ngữ văn, không có việc làm ổn định, mướn nhà trọ ở Gò Vấp đặt tên là La Hán Phòng. Giờ thì Nguyễn Quán lấy vợ, lập nghiệp ở Bình Phước, thành viên bổ sung là Phan Bá Thọ, là luật sư mới ra trường. Cả nhóm trưng bảng hiệu “Nhà xuất bản Giấy Vụn”, tung ra thơ in photocopy như: "Vòng tròn sáu mặt" (thơ in chung gồm: Bùi Chát, Lý Đợi, Khúc Duy, Trần Văn Hiến, Hoàng Long, Nguyễn Quán - 2002), Bùi Chát với "Xáo chộn chong ngày" (2003), "Cai lon bo di" (2004)… đang tiếp thị xôm tụ là: sẽ ra mắt dài dài... Trước đó loại thơ in photocopy có Nguyễn Quốc Chánh với "Của căn cước ẩn dụ", Trần Tiến Dũng với "Bầu trời lông gà lông vịt", Phạm Mạnh Hiên với "Nhiệt đới cát", Đoàn Minh Hải với "Đại nguyện của đá", "Thơ Tân hình thức" (in chung)…

Lý Đợi bày tỏ quan điểm nhóm Mở miệng là “thể nghiệm hết cỡ” và “anti-poetry”, chọn con đường bứt phá, tiền phong một cách quyết liệt, dễ làm bạn đọc liên tưởng đến chủ nghĩa phi - phi của nhóm thơ trẻ Trung Quốc.

Thủ pháp mà nhóm triệt để ứng dụng là nhại diễu (parody), mô phỏng (pastiche), cắt dán ( montage) của các nhà thơ hậu hiện đại. Bùi Chát cắt dán "Thời hoa đỏ" của Thanh Tùng, chỉ cần thêm một từ sau mỗi câu thơ là có một sáng tác mới (!):

THỜI HOA ĐỎ LÈ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao nhậu
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng vẻ
….
Sau bài hát rồi anh cũng thế giới
Anh của thời trai trẻ ngày xưa đó


Ở chỗ khác Bùi Chát nhại diễu cả thơ Thanh Tâm Tuyền :

tôi buồn khóc như buồn nôn
ngoài phố
nắng thủy tinh
tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ
thanh tâm tuyền
[í quên, bùi chát chớ]
buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường
boong! boong!


Hãy xem thử Phan Bá Thọ bám chân vào thực tế trong bài thơ “iraq cúm gà chín 3 + năm”:

[…cả làng trộm cắp nhưng mình nó bị bợp tai tóm họng. cười cười không chịu được nhưng nhục nhục không thể tả.
tôi thích những thằng chưa hề cướp giựt, dầu nó có là pd dầu nhớt, có đi làm đĩ khắp địa cầu này]

Quả thật họ không làm thơ để đổi gác, để cách tân mà thoải mái… làm thơ theo cách họ đã nghĩ và đang sống. Và cho rằng thơ hôm nay, trong chừng mực nào đó mang thái độ tính tương tác (interactive), họ quan tâm đến tiếu lâm thơ, tiếu lâm đời sống, cho rằng không nhìn đúng với ý niệm như thế thì bạn đọc sẽ la hét lên đây là trò “bôi bẩn văn chương”, hay “làn gió thối”, thơ “rác rưởi”. Có người phê phán mạnh mẽ thái độ quá khích của nhóm “Mở miệng”, có người cho đó là phản ứng đối kháng của tuổi trẻ trong cuộc sống, dù sao cái vòng lẩn quẩn này khiến thơ thêm trì trệ, mất tính thăng hoa, khai phá để thành dòng chủ lưu trong nền văn học thành phố hôm nay.

Dạng thức thơ Tân hình thức do Khế Iêm tạp chí Thơ khởi xướng, mang tính truyện kể, vắt vòng, sử dụng lại thơ 5-7-8 chữ không được bạn thơ trẻ thành phố ưa chuộng và phổ biến nhiều. Hình như các nhà thơ chỉ dạo bước qua khu vườn Tân hình thức rồi lãng đi nơi khác. Tuy thế rất nhiều nhà thơ thử bút ở thể loại này như Inrasara, Khánh Minh, Nguyễn Đạt, nhóm “Mở miệng”… Thử đọc bài “Đi mình không” của Trần Tiến Dũng:

Vì sao chim chạm mỏ vào màu
đen. Đứa đầu lòng chị tôi đẻ :
Cục đá Quảng Nam có đôi mắt
đẹp. “Anh chỉ mới trả giá tới
bắp vế em”. Đường phố không vắng


Vernon Shetley nhận xét về thơ văn xuôi kể chuyện, hay cố gắng của thơ Tân hình thức (Mỹ): “Những cố gắng khôi phục địa vị của thơ bằng cách từ bỏ nhịp điệu và thay thế vào đó tính kể chuyện nhằm cạnh tranh với văn xuôi dường như rất không thực tế”. Và còn bồi thêm một cú “Những người làm thơ Tân hình thức thường kết án thơ tự do vì sự tối nghĩa và khó tiếp cận của nó, nhưng thực ra người đọc thường cũng quay lưng trước sự tầm phào, và người ta có thể tầm phào (hoặc tối nghĩa và khó tiếp cận) cả trong thơ luật và thơ tự do”. Có phải V. Shetley nói hộ về bước đường phát triển của thơ Tân hình thức ở thơ Việt?

Thơ trẻ - Mở rộng chân trời khát vọng

Ở những nhà thơ trẻ khác vấn đề làm mới thơ vẫn là mối quan tâm hàng đầu nhưng họ tách dòng riêng, tự khai phá chọn con đường sáng tạo phức tạp, “độc sáng” mỗi người một cõi lung linh. Mức độ nào đó có thể kể đến Vương Huy, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Nhiên Hạo, Thuận Nhiên, Trần Kiến Quốc, Phan Trung Thành, Nguyễn Phong Việt, Nguyễn Danh Lam…

Phan Nhiên Hạo có cái nhìn rất mới với thực tại, tính đồng hiện mạnh mẽ dồn nén từng hình tượng:

Chúng ta sống trong những chiếc tàu ngầm dị dạng
săn đuổi bí mật và sự tối tăm của đại dương
cuộc hải hành đến những chân trời bằng nhựa dẻo
……
Có lần tôi đã ở chỗ đường xích đạo
cố gắng cắt trái đất làm đôi dọc theo đường đánh dấu
nhưng có người giữ tay tôi lại và bảo :
“Nếu bạn làm thế, nước sẽ rơi ra ngoài khoảng không,
và rồi con tàu của chúng ta,
sẽ không còn chỗ nào để lặn
(Trong những chiếc tàu ngầm)


Sự làm mới là sự vượt thoát trong cô đơn, có cái giá rất đắc, Vương Huy rất có ý thức:

Ngọn thơ
Ngọn thơ
…..
Tôi tự cởi bỏ nhịp vần cởi bỏ lòng tôi không thương tiếc
Cởi bỏ độc lối về
Tự tìm xuống tìm hoài nơi không chạm
Như mũi tên lao điếng hư không
Như ngọn cây phóng ngập vô cùng
(Ngọn thơ)


Người ta gọi nhà thơ là kẻ đang đi bắt thơ, ấy là cô nàng thoáng qua, hay một vở kịch cuộc đời:

tôi thèm hôn lên cổ một cô gái sống cách tôi 12 giờ bay
nỗi thèm khát cồn ruột làm tôi nhớ về một tô phở không thịt
trong mọi buổi chiều những năm 80
buổi chiều mà các bài thơ tình tôi đọc đều nói về những dấu hài
đồng dạng những vầng trăng, cơn gió, hạt sương, nụ hoa,
mái tóc…đồng dạng
tôi cắt dán những mối sầu thành từng bài thơ
(Thận Nhiên – Kịch)


Frank O’Hara từng cảnh báo về chuyện cách tân hình thức mà quên mất nội dung sâu lắng như sau: "Chuyện nhịp điệu hay kỹ thuật là chuyện ai cũng biết: giống như khi mua quần bạn muốn nó phải bó sát để ai cũng muốn lên giường với bạn. Nhưng chẳng có gì siêu hình về chuyện này cả. Ngoại trừ, dĩ nhiên, bạn đang tự huyễn hoặc rằng trải nghiệm của bạn rất đáng 'khao khát'".
Khi đổi mới là dòng chảy chung của Thơ trẻ thành phố ở đầu thế kỷ 21, điều nầy gióng lên một tín hiệu dáng mừng. Lần lượt từng cây bút thơ sẽ tìm được tiếng nói độc đáo riêng trong bước đường tiên phong trắc trở. Chậm rải theo dõi từng bước đi vượt thoát của họ trong cơn động vở, khủng hoảng, bạn đọc có quyền tin cậy và hi vọng. Trước mặt họ là khoảng trời rộng mênh mông cho đường bay sáng tạo…

T.T

Đăng nhập để trả lời
0
http://www.tanvien.net/T_G/noi_tinh.html
Nòi Tình

Dân Việt là giống nòi tình, thơ nghiêng về cảm xúc và thường là thơ tình. Trước thời kỳ Thơ Mới, thơ Việt không có thơ tình vì bị chi phối bởi nền văn hóa Nho giáo và chế độ phong kiến. Chỉ sau thời kỳ Thơ Mới, ảnh hưởng bởi phong trào Lãng mạn Pháp, thơ Việt mới lấy lại bản chất đích thực của nó. Những nhà thơ nổi tiếng đều làm thơ tình, từ Xuân Diệu, Huy Cận (Ngậm Ngùi), Bích Khê (Tranh Lõa Thể), Hàn Mạc Tử (Tình Quê), đến Ðinh Hùng (Tự Tình Dưới Hoa), Vũ Hoàng Chương (Mười Hai Tháng Sáu), Nguyên Sa (Áo Lụa Hà Đông)... Những bài thơ trên chúng ta dễ tìm lại trên các website về Văn học Việt nam.
Khế Iêm: Nguồn
Trên là những dòng mở ra bài tiểu luận của nhà thơ chủ soái trường phái thơ tân hình thức.
Nó chứng tỏ ông này chẳng biết viết, thứ văn gọi là phê bình, khảo luận, tiểu luận. Và nó còn chứng tỏ ông này không học… toán,. nên không hiểu thế nào là lý luận, lý giải, chứng minh (raisonnement).
Dân Việt là giống nòi tình, thơ nghiêng về cảm xúc và thường là thơ tình. KI
Câu phán này thì cũng… được thôi, và dân nước nào cũng phán 'được thôi’ cả.
Tuy nhiên, chính những câu tiếp theo chửi câu phán theo kiểu huề vốn này.
Trước thời kỳ Thơ Mới, thơ Việt không có thơ tình vì bị chi phối bởi nền văn hóa Nho giáo và chế độ phong kiến. Chỉ sau thời kỳ Thơ Mới, ảnh hưởng bởi phong trào Lãng mạn Pháp, thơ Việt mới lấy lại bản chất đích thực của nó. KI
Như thế, cái gọi là bản chất đích thực của thơ Việt, nó phải có từ… thuở đồ đá, đồ đồng. Bởi vì như ông Khế Iêm phán, mãi đến Thơ Mới, nhờ ảnh hưởng chủ nghĩa Lãng Mạn của Tây, người Việt mới lấy lại được cái bản chất đích thực của thơ, mới trở lại cái nòi tình, có từ thời đồ đá, và bị Nho giáo và phong kiến thiến mất!
Viết lách như thế mà chơi cả một bài, nhiều bài, lại còn hung hăng làm chủ soái thơ nữa thì 'khổ thân' không chứ!
Thảo nào thi sĩ cứ gầy quắt người đi! NQT
*
Nhưng chúng ta mang ơn những người Hy Lạp ở nghệ thuật chứng minh. Theo René Thom, người Trung Hoa, Người Nhật, người Da Đỏ ghi nhận (constater) chứ không chứng minh. Ngược lại, lý luận Hy Lạp không hề có nhảy đoạn trong lý giải [raisonnement]
Hôm nay nhân loại nói chung một ngôn ngữ
*
Đâu phải chỉ 'mình ên' là ông Khế Iêm! Nhà văn NMG cũng chẳng chịu thua.
1. Bây giờ điểm lại người có uy tín nhất hiện nay là Nguyễn Hưng Quốc, tiếp theo là Đặng Tiến, Bùi Vĩnh Phúc, Thụy Khuê, Trần Hữu Thục, Nguyễn Vy Khanh... và một vài người khác nữa.
2. Khi kê khai mà thiếu bất kỳ ai thì chết với họ. Có khi kể họ sau người khác cũng không được. Mà chẳng lẽ kê khai đồng hạng cả thì cũng không được.
NMG
Hai câu trên coi bộ không ưa nhau, và không biết câu nào [ông nào] chết với câu nào [ông nào]? NQT
Thư Gửi Bạn Ta
Nhà văn, nhà thơ, nhà dịch thuật Dương Tường, ở trong nước, phán, nhà văn Việt Nam dốt quá.
Dốt Toán!
Giá học tí toán, đã không phán ẩu!
*

Kính Anh Trụ,
Trong bài viết ngắn của Anh về Khế Iêm [đăng trên tanvien.net], có lẽ Anh đã không chú ý đến trọng tâm của bài viết. Khế Iêm nói về Thơ. Tình yêu thì có từ thời đồ đá nhưng thơ Tình yêu thì phát triển vào thời kỳ Thơ Mới khi chế độ Phong Kiến lui vào bóng tối. Anh thử tìm một bài thơ nào xuất hiện từ thời đồ đá được không?
Đề nghị Anh nên viết thành một bài để phản bác lại lập luận của người khác. Cần phải đào sâu, phân tích trước khi gán cho người khác những thuộc từ mang tính phê phán. Như vậy bài viết sẽ mang tính lý luận nhiều hơn, đồng thời nói lên tính trách nhiệm của người viết.
[Một bạn văn]
*
Phúc đáp,
Hi,
Như vậy, Ca Dao có phải là Thơ, và Thơ Tình, không?
Bài viết thực sự chưa xong, tôi viết theo kiểu, mỗi ngày mỗi viết.
Sự thực, tôi cũng muốn nhân bài của Khế Iêm, để tán nhảm thêm về thơ, và thơ tân hình thức.
Cám ơn những lời đề nghị của bạn.
Trân trọng,
NQT
Gấu chưa từng lèm bèm về thơ.
Nếu có, có thể coi như là bài viết về Thơ Trẻ, đăng trên Talawas, đã được biên tập, edit, và tất nhiên, bỏ đi "cái rễ", chẳng liên quan gì đến thơ, nhưng nếu không có nó, không có bài viết trên.
Thơ Trẻ
Thơ Trẻ I
Thơ Trẻ II
*

Khế Iêm nói về Thơ. Tình yêu thì có từ thời đồ đá nhưng thơ Tình yêu thì phát triển vào thời kỳ Thơ Mới khi chế độ Phong Kiến lui vào bóng tối.
Một bạn văn

Từ câu viết trên của bạn, tôi suy ra: Việt Nam, trước thời kỳ Thơ Mới, chỉ có tình yêu - có từ thời đồ đá - nhưng chưa có Thơ Tình.

Nhận định này của bạn, tôi không dám có ý kiến.

Anh thử tìm một bài thơ nào xuất hiện từ thời đồ đá được không?

Cái này thì chịu thua. Có thể có thơ, từ thời đồ đá, nhưng nó không giống như thơ, bây giờ. Mô phỏng Roland Barthes, người thời kỳ đồ đá, nghe tiếng róc rách của nước, là bèn... thơ, y hệt như chúng ta, bây giờ, nghe tiếng róc rách của ngôn ngữ. Như thế, một bài thơ của thời kỳ đồ đá, là tiếng róc rách của nước, tiếng rù rì của gió, theo tôi. (1)

(1) Nguyên văn, bản tiếng Anh:
I imagine myself today something like the ancient Greek as Hegel describes him: he interrogated, Hegel says, passionately, uninterruptedly, the rustle of branches, of springs, of winds, in short, the shudder of Nature, in order to perceive in it the design of an intelligence. And I—it is the shudder of meaning I interrogate, listening to the rustle of language, that language which for me, modern man, is my Nature.
Roland Barthes: The Rustle of Language

Tôi tưởng tượng mình ngày này, giống như một tay Hy Lạp cổ xưa, như Hegel diễn tả anh ta: anh ta tra hỏi, Hegel nói, một cách say mê, không ngừng nghỉ, tiếng rì rào của những cành lá, những ngọn suối, những tiếng gió thổi, nói ngắn gọn, tiếng rùng mình của Thiên Nhiên, cố cảm nhận ở trong đó, một mẫu mã trí năng. Và tôi - chính là sự rùng mình của cái nghĩa mà tôi tra hỏi, trong khi lắng nghe tiếng rì rào của ngôn ngữ, cái ngôn ngữ mà với tôi, một người hiện đại, là Thiên Nhiên của tôi.
Đăng nhập để trả lời
0

Chào Tâm An,

Bài đó khó hiểu quá, có lẽ vì Hoàng Nguyên Nhuận (HNN) không muốn đánh xáp lá cà !
Tôi đoán mò như sau, may ra chó ngáp phải ruồi thì tốt, không thì nhờ TTL hay bạn nào hiểu rành hơn vậy.

Tôi hiểu như vầy :

Tóm tắt về bài viết TTL mang về :


1/ Trên tờ Ngày Nay có một bài của Phạm Trần tên là « Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Ðịnh Không Chịu Quỵ Luỵ ». Hữu Loan (HL) là tác giả của bài thơ « Màu Tím Hoa Sim » đã được phổ nhạc và chúng ta khá thường được nghe.

2/ Bài nói trên của Phạm Trần dường như là ghi lại cuộc phỏng vấn Hữu Loan của đài BBC. Và trong đó, Hữu Loan cho biết rằng ông Trần Ðộ nào đó trong một dịp khác nào đó, đã cho rằng bài « Màu Tím Hoa Sim » là ‘bài thơ tình hay nhất trong 11 bài thơ tình của văn học Việt Nam kể từ thời nhà Lý’ !

3/ Và HNN viết bài nầy để phản đối sự tự đánh giá quá cao đó của Hữu Loan.


Cảm nghĩ riêng của tôi về các chi tiết trong bài của HNN :

A/ Bài « Màu Tím Hoa Sim » không theo khuôn khổ của loại thơ quen thuộc nào, nên tôi cho rằng nó thuộc loại thơ « tự do ». Bài thơ nầy lời lẽ bình dị nhưng « hay » và gợi cảm nhờ những nét đáng yêu riêng của nó qua các tình tiết cho phép ta tin được là chuyện thật :

- Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói

- Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới

- Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo

- Biết tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng

- Em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị


Nhưng nếu đánh giá là nó « hay nhất » trong số 11 bài thơ tình của văn học Việt Nam kể từ thời nhà Lý thì có thể là tự khen quá đáng.

Vả lại sự thưởng thức thơ chẳng khác mấy sự thưởng thức món ăn : bạn thích thịt gà xé phay, tôi thích cá lóc nướng trui.
Thi hào Paul Valéry cũng đã từng lên tiếng về việc ấy, ông nói : « Ai cho thơ tôi có nghĩa gì thì nó có nghĩa ấy. Tôi cho thơ tôi có nghĩa gì, thì nghĩa ấy chỉ đúng với tôi thôi ».

Do đó nên nói chung :

TÔI HOÀN TOÀN ÐỒNG Ý VỚI SỰ PHẢN ÐỐI CỦA HOÀNG NGUYÊN NHUẬN

B/ Còn về các chi tiết đưa ra và cách phản ứng của HNN, đó là việc riêng, là thói quen của mỗi người.
Ý kiến của tôi về các chi tiết HNN nêu ra như sau :

* thơ chỉ có vần điệu mà không chú trọng đến ngôn từ hay ý thơ là một cách sắp chữ chứ không phải làm thơ.
- Câu nầy tôi hoàn toàn đồng ý.

* Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó,... Tôi thì nghĩ khác :

- Tại sao người đọc phải cố gắng ? Theo tôi chính tác giả phải viết lời thơ sao cho gợi được nơi người đọc những tâm cảm của chính mình. Gợi được là hay, không được thì tác giả phải ráng chịu, đừng trách sao người đọc không hiểu được mình.

* Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp,
- Tôi hoàn toàn đồng ý ở đoạn đầu câu nầy. Từ các chữ đỏ trở đi thì không.

* tôi không đồng ý về sự chê bai tuyệt đối thể thơ « tự do ». Vì dù đa số là những bài khó tiêu hóa như HNN nói. Nhưng cũng có những bài « hay » như bài « Màu Tím Hoa Sim » này, và xin kể thêm một bài khác là bài « Quê Hương » của Giang Nam, mà cách ngắt đoạn rất là tài tình, theo sự thẩm mỹ của riêng tôi.

* Bài thơ từ đầu đến cuối chỉ có một dấu chấm (.). Không biết đó là cố ý của Hữu Loan hay vô tình của Phạm Trần, người ký chú lại bài phỏng vấn Hữu Loan của Đài BBC cho tờ Ngày Nay? Cố ý hay vô tình cũng đều là may cả, cho tác giả cũng như người đọc, bởi vì chấm phết nhiều khi là chuyện nghịch ngợm hơn cả ông Trời và dở hơi hơn cả Quận Hách. Một trong những bằng chứng sáng tạo được ồn ào ca ngợi của cái gọi là thơ-tự-do chính là ‘tài’ chấm phết, ngắt câu, ngắt đoạn tùy tiện, và những thủ thuật sáng tạo ex nihilo khác bằng cách dùng các dấu khác như: //, /, *, -, _ và space... trên bảng phím của máy điện toán. Thơ của Du Tử Lê là một ví dụ.
- đoạn nầy thì hơi khó hiểu HNN. Mở đầu thì giống như chê « là chỉ có một dấu chấm ». Nhưng tiếp theo lại chê « sự dùng nhiều dấu chấm phết ». Phải chăng HNN cố ý chê nên nói ngụ ý rằng : « may » là bài thơ chỉ có một dấu chấm, chứ nếu có nhiều thì sẽ lếu láo lung tung v.v. ? Nếu quả có dụng ý đó thì đoạn phản đối này không hay.

* Trường hợp Tôn thọ Tường và Phan văn Trị cũng không phải là xướng họa. Đó là bút chiến, là phản biện...
- Tôi không đồng ý. Việc làm nầy có hai tính chất : dùng sự « họa thơ » để chống đối, tức là « bút chiến ». Nhưng không thể vì dùng từ « bút chiến » mà bát bỏ tính chất « họa thơ ».

* Xướng họa thông thường chẳng khác gì mấy cảnh hai người nựng má nhau khen qua khen lại những "câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An" của nhau.
- Tôi cũng không đồng ý. Việc nưng má nhau khen qua khen lại thì có dẫy đầy, ngay cả trong văn. Còn bảo việc Xướng Họa chỉ là vậy thì là một cái nhìn phiến diện ! Có lẽ bạn HNN đang lúc bực tức nên không kiểm soát được lời nói của mình.

* Ngoài ra tôi nhìn nhận là HNN có cái vốn văn tự rất dồi dào. (Có vài từ tôi hoàn toàn không hiểu, như « mặc khải », như các chữ la tinh ex nihilo, sui generis.) Nhưng cách phản đối nói rộng nói xa mà không gom ý nên khó hiểu quá.

Tôi chỉ hiểu được như vậy, mà cũng chưa chắc là đúng.

Bạn nào bổ khuyết được, làm sáng tỏ thêm được, xin cứ tự nhiên.

Thân mến chào Tâm An và quý bạn đọc.

LCR
Có mợ thời chợ thêm đông
Vắng mợ chợ cũng chẳng "không" bữa nào !
Đăng nhập để trả lời
0

Trích đoạn: lá chờ rơi

Chào Tâm An,

Bài đó khó hiểu quá, có lẽ vì Hoàng Nguyên Nhuận (HNN) không muốn đánh xáp lá cà !
Tôi đoán mò như sau, may ra chó ngáp phải ruồi thì tốt, không thì nhờ TTL hay bạn nào hiểu rành hơn vậy.

Tôi hiểu như vầy :

Tóm tắt về bài viết TTL mang về :


1/ Trên tờ Ngày Nay có một bài của Phạm Trần tên là « Dù Bị Trù Dập, Nhà Thơ Hữu Loan Nhất Ðịnh Không Chịu Quỵ Luỵ ». Hữu Loan (HL) là tác giả của bài thơ « Màu Tím Hoa Sim » đã được phổ nhạc và chúng ta khá thường được nghe.

2/ Bài nói trên của Phạm Trần dường như là ghi lại cuộc phỏng vấn Hữu Loan của đài BBC. Và trong đó, Hữu Loan cho biết rằng ông Trần Ðộ nào đó trong một dịp khác nào đó, đã cho rằng bài « Màu Tím Hoa Sim » là ‘bài thơ tình hay nhất trong 11 bài thơ tình của văn học Việt Nam kể từ thời nhà Lý’ !

3/ Và HNN viết bài nầy để phản đối sự tự đánh giá quá cao đó của Hữu Loan.


Cảm nghĩ riêng của tôi về các chi tiết trong bài của HNN :

A/ Bài « Màu Tím Hoa Sim » không theo khuôn khổ của loại thơ quen thuộc nào, nên tôi cho rằng nó thuộc loại thơ « tự do ». Bài thơ nầy lời lẽ bình dị nhưng « hay » và gợi cảm nhờ những nét đáng yêu riêng của nó qua các tình tiết cho phép ta tin được là chuyện thật :

Vả lại sự thưởng thức thơ chẳng khác mấy sự thưởng thức món ăn : bạn thích thịt gà xé phay, tôi thích cá lóc nướng trui.
Thi hào Paul Valéry cũng đã từng lên tiếng về việc ấy, ông nói : « Ai cho thơ tôi có nghĩa gì thì nó có nghĩa ấy. Tôi cho thơ tôi có nghĩa gì, thì nghĩa ấy chỉ đúng với tôi thôi ».

Do đó nên nói chung :

TÔI HOÀN TOÀN ÐỒNG Ý VỚI SỰ PHẢN ÐỐI CỦA HOÀNG NGUYÊN NHUẬN

B/ Còn về các chi tiết đưa ra và cách phản ứng của HNN, đó là việc riêng, là thói quen của mỗi người.
Ý kiến của tôi về các chi tiết HNN nêu ra như sau :

* thơ chỉ có vần điệu mà không chú trọng đến ngôn từ hay ý thơ là một cách sắp chữ chứ không phải làm thơ.
- Câu nầy tôi hoàn toàn đồng ý.

* Đọc bài thơ rồi phải cố gắng đi xa hơn những lời thơ để được gần hơn với tâm cảm của tác giả của bài thơ đó,... Tôi thì nghĩ khác :

- Tại sao người đọc phải cố gắng ? Theo tôi chính tác giả phải viết lời thơ sao cho gợi được nơi người đọc những tâm cảm của chính mình. Gợi được là hay, không được thì tác giả phải ráng chịu, đừng trách sao người đọc không hiểu được mình.

* Thợ sắp chữ? Đây là trường hợp của những người làm thơ rất đúng niêm luật, bằng bằng trắc trắc... không chê vào đâu được. Nhưng ý thơ thì chẳng ra gì, chỉ là khuôn sáo, nhai lại và ăn cắp,
- Tôi hoàn toàn đồng ý ở đoạn đầu câu nầy. Từ các chữ đỏ trở đi thì không.

* tôi không đồng ý về sự chê bai tuyệt đối thể thơ « tự do ». Vì dù đa số là những bài khó tiêu hóa như HNN nói. Nhưng cũng có những bài « hay » như bài « Màu Tím Hoa Sim » này, và xin kể thêm một bài khác là bài « Quê Hương » của Giang Nam, mà cách ngắt đoạn rất là tài tình, theo sự thẩm mỹ của riêng tôi.

* Bài thơ từ đầu đến cuối chỉ có một dấu chấm (.). Không biết đó là cố ý của Hữu Loan hay vô tình của Phạm Trần, người ký chú lại bài phỏng vấn Hữu Loan của Đài BBC cho tờ Ngày Nay? Cố ý hay vô tình cũng đều là may cả, cho tác giả cũng như người đọc, bởi vì chấm phết nhiều khi là chuyện nghịch ngợm hơn cả ông Trời và dở hơi hơn cả Quận Hách. Một trong những bằng chứng sáng tạo được ồn ào ca ngợi của cái gọi là thơ-tự-do chính là ‘tài’ chấm phết, ngắt câu, ngắt đoạn tùy tiện, và những thủ thuật sáng tạo ex nihilo khác bằng cách dùng các dấu khác như: //, /, *, -, _ và space... trên bảng phím của máy điện toán. Thơ của Du Tử Lê là một ví dụ.
- đoạn nầy thì hơi khó hiểu HNN. Mở đầu thì giống như chê « là chỉ có một dấu chấm ». Nhưng tiếp theo lại chê « sự dùng nhiều dấu chấm phết ». Phải chăng HNN cố ý chê nên nói ngụ ý rằng : « may » là bài thơ chỉ có một dấu chấm, chứ nếu có nhiều thì sẽ lếu láo lung tung v.v. ? Nếu quả có dụng ý đó thì đoạn phản đối này không hay.

* Trường hợp Tôn thọ Tường và Phan văn Trị cũng không phải là xướng họa. Đó là bút chiến, là phản biện...
- Tôi không đồng ý. Việc làm nầy có hai tính chất : dùng sự « họa thơ » để chống đối, tức là « bút chiến ». Nhưng không thể vì dùng từ « bút chiến » mà bát bỏ tính chất « họa thơ ».

* Xướng họa thông thường chẳng khác gì mấy cảnh hai người nựng má nhau khen qua khen lại những "câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An" của nhau.
- Tôi cũng không đồng ý. Việc nưng má nhau khen qua khen lại thì có dẫy đầy, ngay cả trong văn. Còn bảo việc Xướng Họa chỉ là vậy thì là một cái nhìn phiến diện ! Có lẽ bạn HNN đang lúc bực tức nên không kiểm soát được lời nói của mình.

* Ngoài ra tôi nhìn nhận là HNN có cái vốn văn tự rất dồi dào. (Có vài từ tôi hoàn toàn không hiểu, như « mặc khải », như các chữ la tinh ex nihilo, sui generis.) Nhưng cách phản đối nói rộng nói xa mà không gom ý nên khó hiểu quá.

Tôi chỉ hiểu được như vậy, mà cũng chưa chắc là đúng.

Bạn nào bổ khuyết được, làm sáng tỏ thêm được, xin cứ tự nhiên.

Thân mến chào Tâm An và quý bạn đọc.

LCR


Thưa bác Lá Chờ rơi ( cháu căn cứ theo nick của bác để xưng hô như vậy - Lá chờ rơi nghĩa là cũng đã ở đoạn cuối của cuộc đời một chiếc lá không còn "xanh" nữa...không biết có đúng không ạ? - Nếu sai xin được thứ lỗi - văn kỳ thanh...mà bác !)
Thật tình, cháu không biết nói gì hơn là chân thành cảm ơn lòng nhiệt tình của bác!
Cháu cũng đã dạo VNTQ một vài vong và đã đọc một số chủ đề bác tham gia (đặc biệt là chủ đề tranh luận với nick Taois...gì đó đã bị khoá !) Và có một nhận xét thầm thế này ạ : Bác Lá chờ rơi là một thành viên cực kỳ tích cực của VNTQ !
Về bài viết của Hoàng Nguyên Nhuận ở thảo luận này, thật sự cháu chưa cảm hết ý, qua phân tích và nhận định của bác cháu hiểu thêm một chút. Về cơ bản cháu nhất trí với cách hiểu của bác nên...phải cảm ơn bác một lần nữa mới được ! [sm=applause.gif][sm=35.gif]
Hôm nay cháu bận mất rồi, nhất định cháu sẽ quay lại đây ! Kính bác !
Tâm An
---------------------------------
Sau lưng đất trắng rẻo đồng
Đoạn đường ngắn ngủi đi không tới mình
( Bến Giang Đình - thơ Ngân Vịnh)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-03-30 13:33:38Hồng Tuyên Kiều>
Rút cuộc là bài thơ thuần túy "tình" của Hữu Loan và bài thơ "chính trị" của Nguyễn Trãi đều sống mãi trong lòng dân tộc.

Trần Độ có nhận xét quá chăng, điều đó ko quan trọng.

Hữu Loan có tự hào quá chăng, điều đó cũng ko quan trọng, ai sống trên đời chẳng thế?

Điều quan trọng nhất là cả 2 bài thơ trên đều tồn tại trong tâm thức người Việt, là văn hóa, là lịch sử và niềm tự hào của người Việt.

Tôi thuộc cả 2 bài thơ đó.

Ta cũng ko nên liên hệ 2 bài thơ của cùng 1 tác giả ("Màu tím hoa sim" và "Chiếc chiếu") nếu như đã công nhận tác phẩm thần diệu chỉ xuất hiện trong phút xuất thần. Đó là 2 con người, 2 hoàn cảnh đã trải qua của cùng 1 thực thể.

Phê bình tác phẩm, như HNN đã nói là ko phê phán được - Tác phẩm kiệt xuất.

Vậy hãy tôn vinh như quá khứ đã tồn tại thầm lặng và được lưu truyền trong rừng già, qua trái tim và hơi thở của người chiến sỹ trên chặng đường hành quân. Màu tím tình yêu lúc đó như ánh trăng cuối rừng soi sáng tâm hồn.
Cô nhạn Nam phi, hồng Bắc khứ
Nhàn vân Tây vãng, thuỷ Đông lưu
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»