Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Người từ miền đất lạnh 🔒

67 trả lời, 10.703 lượt xem — Trang 1 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-25 18:34:07Ct.Ly>
NGƯỜI VỀ TỪ MIỀN ĐẤT LẠNH
Nguyên tác: " The spy who came in from the cold "

Tác giả: John Le Carrée

Dịch giả: Bồ Giang Và Đoàn Lạc Anh Xuân


- Chương 1-4 SYM đã nhận (hoàn tất)
- Chương 5-13 CuLong767805 đã nhận (hoàn tất)
- Chương 14-16 Smallduck đã nhận (hoàn tất chương 14)[/font]
- Chương 17-26 Chưa có người nhận

Hết

[color=#0033FF]
Phần mộtChương1&gt;Chương5 / trang01&gt;trang60


[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Nguoi tu mien dat lanh. part 2.pdf]
Phần haiChương6&gt;Chương8 / trang61&gt;trang121
[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Nguoi tu mien dat lanh. part 3.pdf]
Phần baChương9&gt;Chương13 / trang122&gt;trang189
[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Nguoi tu mien dat lanh. part 4.pdf]
Phần bốnChương14&gt;Chương20 / trang190&gt;trang256
[/url]

[url=http://vnthuquan.net/user/nikolailovxop/Nguoi tu mien dat lanh. part 5.pdf]
Phần nămChương21&gt;Chương26 / trang257&gt;trang321
[/url]

Hết


📎 Nguoi tu m..anh back
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-04-01 06:21:53Thái Nhi>
Chương 1-4
SYM đang gõ

NGƯỜI VỀ TỪ MIỀN ĐẤT LẠNH

Nguyên tác: " The spy who came in from the cold "

Tác giả: John Le Carrée

Dịch giả: Bồ Giang Và Đoàn lạc Anh Xuân



Chương 1 :

GIỚI TUYẾN



Anh chàng người Mỹ đưa cho Leamas một tách cà phê và nói:
- Sao ông không về ngủ đi? Chúng tôi có thể điện thoại cho ông biết nếu thấy hắn xuất hiện.
Leamas không nói gì cả, chỉ nhìn chăm chăm qua khung cửa sổ của trạm gác, dọc theo con đường vắng tanh.
- Ông không thể đợi mãi. Có thể hắn sẽ tới vào một lúc khác. Chúng tôi có thể cho Poliezei liên lạc với cơ quan và ông có thể trở lại đây trong vòng hai mươi phút.
Leamas trả lời
- Không, gần tối rồi
- Nhưng ông không thể đợi mãi, hắn đã trễ hẹn chín tiếng đồng hồ rồi.
- Nếu anh muố đi, thì cứ đi. Anh đã làm việc chu tất.
Leamas nói thêm :
- Tôi sẽ cho Kramer biết là anh đã tỏ ra rất giỏi
- Nhưng ông sẽ đợi bao lâu?
- Đến khi hắn tới.
Leamas bước đến cửa sổ và đứng giữa hai viên cảnh sát bất động. Ống nhòm của họ đang hướng về phía nút chặn phía Đông
Leamas khẽ bảo :
- Anh ta đang đợi trời tối. Tôi biết thế.
- Sáng nay ông nói với anh ta sẽ tới với bọn thợ.
Leamas quay lại:
- Điệp viên không phải là máy bay. Họ không có thời biểu. Anh ta bị lộ, đang chạy trốn, đang sợ hãi. Mundt đang bám theo anh ta, ngay lúc này. Anh ta chỉ có một cơ hội. Hãy để anh ta chọn lựa giờ giấc.
Anh chàng trẻ tuổi ngập ngừng, muốn đi mà chưa thấy được lúc thuận tiện.
Có tiếng chuông reo trong vọng gác. Họ đợi, và bất thần cảnh giác sẵn sàng. Một viên cảnh sát nói bằng tiếng Đức :
- Xe Opek Rekord đen, bảng số liên bang
Anh chàng người Mỹ thì thầm :
- Hắn không thể thấy xa như thế trong bóng tối, mà chỉ phỏng đoán
Rồi y nói thêm :
- Sao mà Mundt biết được?
Leamas nói từ cửa sổ
- Im đi
Một cảnh sát rời vọng gác và bước tới rào bao cát, chỉ cách lằn ranh trắng nằm ngang con đường như lằn gạch cuối sân quần vợt hơn nửa thước tây. Viên cảnh sác kia đợi đến bạn khom mình sau viễn vọng kính ở hàng rào bao cát, mới hạ ống nhòm xuống, lấy chiếc mũ sắt đen nơi giá đỡ cạnh cửa và đội cẩn thận trên đầu. Ở một chỗ cao trên vọng gác ngọn đèn chiếu chợt bật cháy, quét những tia sáng như trong hí viện xuống mặt đường phía trước họ.
Viên cảnh sác bắt đầu phúc trình. Leamas thuộc lòng những lời đó.
- Xe ngừng tại trạm kiểm soát thứ nhất. Chỉ có một người đàn bà trên xe. Đang được dẫn vào vọng gác Vopo để xét giấy tờ.
Mọi người im lặng chờ đợi.
Anh chàng người Mỹ hỏi:
- Hắn nói gì vậy?
Leamas không trả lời. Cầm một cặp ống nhòm lên, chàng nhìn chăm chú về phía những trạm kiểm soát Đông Đức.
- Xét giấy xong rồi. Cho đi đến trạm thứ hai.
Anh chàng người Mỹ căn vặn:
- Ông Leamas, có phải đó là người của ông? Tôi phải gọi về cơ quan mới được.
- Khoan.
- Chiếc xe đâu rồi? Còn chuyện gì nữa?
Leamas gắt :
- Kiểm soát tiền tệ, thuế quan.
Leamas nhìn chiếc xe. Có hai viên Vopo tại cửa tài xế, một người nói chuyện, một người đứng lui lại đợi, một người thứ ba đi vòng quanh xe. Y ngừng nơi thùng xe, rồi tiến lại phía tài xế. Y đòi chìa khóa. Y mở thùng xe, nhìn vào bên trong, đóng lại, trả chìa khóa và đi bộ chừng 30 thước ngược con đường đến giữa hai trạm gác đối diện, nơi một lính canh Đông Đức đứng-một gã mập lùn đi ủng, ống quần phồng ra. Cả hai đứng nói chuyện, không được tự nhiên trong ánh đèn chiếu sáng rực.
Với một động tác uể oải, họ vẫy tay cho chiếc xe chạy. Tới hai người lính gác ở giữa đường, xe lại ngừng. Họ bước quanh xe, đứng lui ra và lại nói chuyện; sau cùng, gần như miễn cưỡng, họ để xe tiếp tục chạy qua lằn ranh đến khu vực Tây Đức.
Anh chàng người Mỹ lại hỏi :
- Ông Leamas, có phải ông đang đợi một người đàn ông?
- Phải, một người đàn ông.
Kéo cao cổ áo. Leamas bước ra ngoài, trong gío lạnh như cắt cổ của tháng mười. Lúc bấy giờ, chàng mới trong vọng gác chàng đã quên. Người tuy thay đổi nhưng sắc diện thì không. Nó như một đám đông bất lực bu quanh một tai nạn lưu thông, không ai biết nó sẽ xảy ra như thế nào, có nên dời nạn nhân đi không. Khói hoặc bụi bốc lên trong những ánh đèn như một tấm màn biến đổi không ngừng giữa các lằn ranh ánh sáng.
Leamas bước đến cạnh xe và nói với người đàn bà:
- Anh ta đâu?
- Bọn chúng đến tìm và anh ấy đã bỏ chạy. Anh ấy đi xe đạp. Về phần tôi thì bọn chúng không hay biết gì.
- Anh ta đi đâu?
- Chúng tôi có một căn phòng gần Brandenburg, trên lầu một quán rượu. Anh ấy để một số vật dụng tại đó, tiền, giấy tờ. Tôi nghĩ có lẽ anh ấy đã tới đó. Rồi anh ấy sẽ đến đây.
- Đêm nay?
- Anh ấy nói sẽ đến đêm nay. Tất cả những người khác đã bị bắt- Paul, Viereck, Landser, Salomon. Chắc anh ấy cũng sắp sửa đến.
Leamas im lặng nhìn chăm chăm người đàn bà một lúc:
- Landser nữa à?
- Đêm qua.
Một viên cảnh sát đến đứng cạnh Leamas.
- Ông bà phải dời khỏi đây. Không được làm cản trở lưu thông tại địa điểm giao tiếp giữa 2 vùng.
Leamas hơi xoay người lại, sẵng giọng:
- Ai thèm ở đây làm gì.
Viên cảnh sát người Đức cứng người lại, nhưng người đàn bà nói ngay:
- Anh hãy lên xe đi. Mình sẽ lại đằng kia.
Chàng leo lên ngồi cạnh người đàn bà và họ chạy chầm chậm tới một con đường nhỏ rẽ ngang..
- Tôi không biết cô có xe hơi.
Nàng thản nhiên đáp :
- Của chồng tôi đây. Karl chắc chưa hề cho anh biết là tôi đã có gia đình?
Leamas im lặng trong lúc người đàn bà nói tiếp:
- Chồng tôi và tôi làm việc cho một hãng mắt kiếng. Họ để chúng tôi qua lại để làm việc. Karl chỉ cho anh biết tên riêng của tôi. Karl không muốn tôi dính líu với anh.
Leamas rút trong túi ra một chiếc chìa khóa và nói bằng một giọng dửng dưng:
- Cô sẽ cần một chỗ để nghỉ ngơi. Có một phòng tại Albrecht-Durer-Strasse cạnh Viện bảo tàng, số 28A. Cô sẽ có đủ thứ cần dùng. Tôi sẽ gọi điện thoại cho cô khi anh ấy đến.
- Tôi ở lại đây với anh.
- Tôi không ở lại đây. Cô hãy về căn phòng đó đi. Tôi sẽ điện thoại lại. Lúc này đợi ở đây cũng vô ích.
- Nhưng anh ấy sắp tới điểm gaio tiếp này.
Leamas kinh ngạc nhìn sững người đàn bà.
- Anh ấy nói với cô thế à?
- Phải. Anh ấy quen biết một người trong đám Vopo tại đây, con của người chủ nhà trọ. Chuyện đó rất hữu ích. Chính vì thế anh ấy đã chọn lộ trình này.
- Anh ấy đã nói thật với cô hay sao?
- Anh ấy rất tin tôi. Chuyện gì anh ấy cũng cho tôi hay.
- Chúa ơi!
Chàng đưa chìa khóa cho nàng và quay lại trạm gác cho khỏi lạnh. Mấy người cảnh sát đang nói chuyện nho nhỏ với nhau lúc chàng bước vào, người cảnh sát lớn con quay ngoắt người đi một cách vênh váo.
Leamas nói :
- Tôi xin lỗi đã không được dịu lời.
Chàng mở một chiếc cặp rách nát, lục lọi giây lát cho tới lúc được vật muốn tìm là nửa chai whisky. Người cảnh sát lớn tuổi gật đầu nhận lấy, rót lưng cốc và đổ thêm cà phê đen lên trên.
Leamas hỏi :
- Anh người Mỹ đi đâu rồi?
- Ai?
- Anh chàng CIA. Người đã đến đây với tôi
- Đến giờ ngủ rồi.
Người cảnh sát già nói, và họ cùng cười to. Leamas đặc cốc xuống và hỏi:
- Luật lệ của các anh ra sao trong trường hợp bắn để bảo vệ cho một người chạy tới đây? Một người đang chạy trốn.
- Chúng tôi chỉ có thể bắn che nếu tụi Vopo bắn vào khu vực chúng tôi.
- Nghĩa là các anh không thể bắn trừ phi một người đã vượt qua giới tuyến.
Người cảnh sát già đáp:
- Chúng tôi không thể bắn che, thưa ông…
Leamas liền xưng danh :
- Thomas
Họ bắt tay nhau, hai người cảnh sát cũng xưng tên trong lúc bắt tay.
- Chúng tôi không thể bắn che. Đó là sự thực. Người ta bảo rằng chiến tranh sẽ tái phát nếu chúng tôi nổ súng.
Người cảnh sát trẻ đã trở nên bạo dạn nhờ hơi rượu, lên tiếng:
- Thật là vô lý. Nếu quân đội Đồng minh không có mặt ở đây thì bức tường này đã không còn.
Người cảnh sát già lẩm bẩm
- Berlin cũng thế.
Leamas bất thần bảo:
- Tôi đang chờ một người đến đây đêm nay.
- Ở đây? Tại điểm giao tiếp này hay sao?
- Mong được anh ta về đây an toàn thì quý lắm. người của Mundt đang săn bắt anh ta.
- Có nhiều chỗ có thể leo qua được.
- Anh ta không phải thuộc loại đó. Anh ta sẽ dùng mánh khóe để đi qua. Anh ta có giấy tờ, nếu giấy tờ đó vẫn xài được. Anh ta còn có một chiếc xe đạp.
Chỉ có một ngọn đèn tại nút chặn, một ngọn đèn để bàn với chụp xanh lá cây, nhưng ánh sáng vẫn tỏa khắp căn lều như ánh trăng nhân tạo. Đêm đã xuống trong im lặng. Họ nói chuyện như sợ bị ai nghe lén. Leamas tiến đến cạnh cửa sổ và chờ đợi. Trước mặt chàng là con đường và hai bên là Bức tường, một vật được soi sáng bằng một thứ ánh sáng vàng vọt rẻ tiền, như tấm màn che trong một trại tập trung. Phía đông và tây của bức tường là phần Berlin chưa kịp tái thiết, một nửa thế giới điêu tàn kéo về hai hướng , những đống gạch vụn của chiến tranh.
Con mụ ấy, Leamas nghĩ, và thằng cha Karl điên khùng đã nói dối về con mụ. Nói dối bằng cách bỏ bớt, bọn điệp viên trên thế giới đều thế cả. Mình dạy chúng cách che giấu hành tung, và chúng bịp luôn mình. Anh tả chỉ đưa cô nàng đến một lần, sau bữa ăn tối tại Schurzstrasse năm ngoái. Karl lúc đó vừa làm được một vố lớnvà Control muốn gặp anh ta. Control bao giờ cũng nhảy vào những lúc công chuyện đã thành. Họ đã ăn tối với nhau-Leamas, Control và Karl thích thế. Anh ta mang một bộ mặt như một đứa bé đến trường ngày chủ nhật, chải chuốt bóng láng, nhấc mũ xuống và đầy vẻ kính cẩn.
Control đã bắt tay anh ta đến năm phút và nói:
- Karl, tôi muốn anh biết chúng tôi hài lòng về anh đến mức nào, rất hài lòng.
Leamas nhìn cảnh đó và nghĩ chắc mình sẽ mất mỗi năm hai trăm rưỡi nữa.
Ăn xong, Control lại bắt tay họ lia lịa một hồi, gật gù đầy ý nghĩa, cho mọi người hiểu rằng ông tại lại phải liều thân đi tới một khu khác, và ngồi vào trong xe có tài xế lái. Lúc bấy giờ Karl mới phá ra cười và Leamas cười theo. Họ uống cạn sâm banh, vẫn cười về Control. Sau đó họ đi Alter Fass ; Kark nhất định thế và Elvira đang đợi họ ở đó, một người đàn bà bốn mươi tuổi có mái vàng cứng như đinh.
Karl đã hỏi:
- Đây là một điều bí mật nhất của tôi.
Và Leamas đã nổi nóng. Rồi họ đã cãi nhau một trận.
- Cô ta biết được những gì? Cô ta là ai? Anh gặp cô ta trong trường hợp nào?
Karl xịu mặt, không chịu nói. Sau đó tình hình tệ hơn. Leamas cố sửa đổi lịch trình công tác thường xuyên, thay địa điểm và mật khẩu, nhưng Karl không thích vậy. Anh ta biết lý do tại sao lại thế nên không thích.
- Nếu anh không tin tưởng ở cô ta thì cũng muộn rồi.
Leamas hiểu ý và lặng thinh, nhưng từ đó cẩn thận hơn, cho Karl biết ít hơn và sử dụng nhiều hơn những mánh khóe đánh lạc hướng của kỹ thuật điệp báo.
Và bây giờ cô nàng đang ngồi trong xe ở ngoài kia, biết hết, cả mạng lưới địa điểm an toàn, mọi thứ và Leamas thề, không phải lần đầy, sẽ không bao giờ tin một tên điệp viên nào nữa.
Chàng lại điện thại, quay số về nơi trọ của chàng. Cô Martha trả lời, Leamas bảo :
- Mình có khách đến Durer Strasse, một đàn ông và một đàn bà.
- Vợ chồng?
Leamas đáp :
- Gần như thế.
Chàng nghe tiếng cười đáng sợ của nàng. Khi chàng bỏ xuống một người cảnh sát quay về phía chàng cho hay:
- Ông Thomas! Nhanh lên.
Leamas bước lại cửa sổ. Người cảnh sát thì thào:
- Có một người đàn ông, ông Thomas à, một người đi xe đạp.
Leamas liền nhấc ống nhòm lên.
Đúng là Karl, với đáng người không lầm được, dù ở cách xa như thế này, khoác một chiếc áo mưa, đang đẩy chiếc xe đạp. Anh ta đã thoát nạn. Leamas nghĩ, chắc chắn phải thoát, anh ta đã qua trạm kiểm soát giấy tờ, chỉ còn trạm tiền tệ và quan thuế là xong. Leamas nhìn Karl dựa chiếc xe đạp và bờ rào, bước tự nhiên lại trạm quan thuế. Đừng làm quá, chàng nghĩ. Sau cùng Karl bước ra vui vẻ vẫy tay với người đàn ông trên hàng raò và cây sào trắng-đỏ từ từ dỡ cao. Anh ta qua khỏi rồi, đang tiế về phiá bên này. Anh ta đã thành công. Chỉ còn tên Vopo giữa đường, qua khỏi lằn ranh và thế là an toàn.
Ngay lúc đó dường như Karl nghe có tiếng động la. Cảm thấy một nguy cơ nào đó. Anh ta liếc nhìn qua vai ra đằng sau, bắt đầu đạp xe dữ dội, khom mình trên ghi đông. Bây giờ chỉ còn tên lính gác đơn độc trên cầu và y đang nhìn Karl. Rồi vô cùng bất thần, đèn chiếu bật sáng chói loà, chụp lấy Karl và giữ y trong luồng ánh sánh như một con thỏi trước ánh đèn pha của một chiếc xe hơi. Có tiếng còi lanh lảnh, tiếng quát tháo ra lệnh một cách hung hăng. Trước mặt Leamas, hai người cảnh sát quỳ xuống nhìn qua khe những bao cát, nhanh nhẹn nạp băng đạn vào súng.
Tên lính đông đức nổ súng, hết sức cẩn thận, không bắn ra ngoài khu vực của y. Phát đạn đầu tiên như đẩy Karl chồm tới trước, phát thứ nhì kéo anh ta giật lùi. Dù thế, anh ta vẫn còn tiến tới trên chiếc xe đạp, qua khỏi tên lính gác, và tên lính vẫn bắn vào người anh ta. Rồi anh ta ngã quỵ, lăn xuống đất và họ nghe rõ tiếng loảng xoảng của chiếc xe đạp trên mặt đường. Leamas cầu trời cho anh ta chết hẳn.

Hết chương 1

_____________

Chương 2 :

BẢN DOANH


Chàng nhìn phi đạo Temphehol thấp dần xuống.
Leamas không phải là người hay suy tư và cũng không phải là người hay triết lý vụn. chàng biết chàng đã bị xóa tên khỏi danh sách-đó là sự kiện của đời sống mà chàng từ nay phải nhận lấy như một người phải sống với chứng ung thư hay trong vòng lao lý. Chàng biết không có sự sửa soạn nào có thể lấy được khoảng cách giữa lúc đó và lúc này. Chàng đã nhận chịu thất bại như một ngày nào đó có lẽ chàng sẽ nhận chịu cái chết, với sự cay đắng mỉa mai và lòng can đảm của một kẻ cô độc. Chàng đã sống lâu hơn nhiều kẻ khác và bây giờ chàng đã cùng đường. Người ta bảo con chó chỉ sống khi còn răng. Có thể nói răng của chàng đã bị nhổ sạch và kẻ nhổ răng chàng chính là Mundt.
Mười năm trước đó đáng lẽ chàng có thể chọn con đường khác-có nhiều công việc tại bàn giấy trong các toà nhà vô danh của chính quyền tại Công trường Cambridge mà chàng có thể đảm được và bám vào đó đến khi già khọm. Nhưng Leamas không phải là người sinh ra để làm thế. Ai có thể yêu cầu một anh nài ngựa trở thành một viên thư ký trường đua, họa chăng mới có thể mong Leamas bỏ cuộc đời hoạt động để xoay qua lối sống xu hướng và vị kỷ một cách mờ ám của Whitehall . Chàng đã ở lại Berlin, biết rằng Nha nhân viên đã xếp hồ sơ của mình vào loại sẽ xét mỗi cuối năm-tức loại bướng bỉnh, thích làm theo ý mình, coi thường chỉ thị. Và thế nào cũng có chuyện cần tới chàng. Nghề tình báo chỉ có một luật lệ được biện minh bằng các thành quả. Ngay cả lối lý luận của Whitehall cũng theo luật đó, mà Leamas thì đã gây được nhiều thành tích. Cho đến khi Mundt đến.
Thật kỳ lạ vì Leamas sớm nhận ra Mundt chính là dấu hiệu của định mệnh.
Haos Dieter Mundt ra đời cách đây 42 năm Leipzig. Leamas biết rõ hồ sơ của y, biết rõ tấm hình chụp của y trong hồ sơ, gương mặt cứng và trơ dưới mái toác vàng hoe. Chàng thuộc lòng diễn tiến câu chuyện Mundt leo lên địa vị thứ hai trong Abteilung kiêm chức trưởng khối hoạt vụ. Ngay cả trong nội bộ cơ quan của y, Mundt cũng bị người ta ghét. Leamas biết điều này qua những chứng cứ cung cấp bởi những tên phản bội, và do Riemeck, một thành viên trong chủ tịch đoàn SED của những ủy ban an ninh cùng với Mundt và sợ Mundt như sợ bệnh dịch hạch. Riemeck đã không lầm, vì cuối cùng Mundt cũng đã giết anh ta.
Mundt chỉ là một nhân viên quèn của Abteilung cho đến năm 1959, hoạt động ở London dưới lốt Phái Bộ Thép của Đông Đức. Y trở về Đức một cách vội vã và sau khi giết hai nhân viên của y để tự cứu và sau đó người ta không nghe nhắc nhở gì đến y trong hơn một năm. Bất thần y xuất hiện tại đại bản doanh của Abteiling ở Leipzig với chức vụ Trưởng Khối Phương Tiện, có trách nhiệm phân phối tiền bạc, dụng cụ và nhân viên cho các công tác đặc biệt. Cuối năm đó xảy ra cuộc tranh dành quyền hành trong nội bộ Abteilung. Số lượng và ảnh hưởng của các sĩ quan liên lạc Nga xô giảm xuống một cách thảm hại, nhiều tay kỳ cựu bị thải hồi với những lý do do có tính cách ý thức hệ và ba người nổi bật : Fiedler, trrưởng khối phản giáo, Jahn thay Mundt làm trưởng khối phương tiện, và Mundt với được một chức ngon lành : Phó giám đốc hoạt vụ - vào lúc 41 tuổi. Thế rồi tình hình bắt đầu đổi khác. Nhân viên đầu tiên mà Leamas mất là một cô gái. Nàng chỉ là một mắt xích trong mạng lưới, làm công việc liên lạc. Chúng bắn nàng chết ngoài phố khi nàng ra khỏi rạp chiếu bóng ở Tây Berlin. Cảnh sát không bao giờ tìm ra thủ phạm và thoạt tiên Leamas định coi như biến cố, không liên hệ đến công tác của nàng. Một tháng sau một gã khuôn xác của sở hỏa xa tại Dresden, một cựu nhân viên của mạng lưới Peter Guiliam, bị giết chết và nát thây tại một khúc đường rầy. Leamas biết không phải là chuyện ngẫu nhiên nữa. Sau đó không lâu hai nhân viên khác của một mạng lưới dưới quyền Leamas bị bắt và kết án tử hình. Cứ thế tình hình tiếp diễn : một cách tàn nhẫn và đáng giận.
Và bây giờ chúng lại hại Karl. Leamas rời Berlin như khi chàng đã đến-không có được lấy một nhân viên nào đáng giá. Mundt đã thắng.

Leamas là một người đàn ông thấp với mái tóc xám tro hớt ngắn, và thân hình của một tay bơi lội. Chàng rất khoẻ. Sức khoẻ này hiện rõ nơi vai và lưng, nơi cổ và nơi hai bàn tay với mười ngón tay lớn.
Chàng có một quan niệm duy dụng về quần áo, cũng với hầu hết mọi thứ khác, ngay cả cặp kính đôi khi chàng đeo cũng có gọng bằng thép. Phần lớn quần áo chàng mặc đều bằng hàng nhân tạo, không bao giờ có áo nịt. Chàng thích mặc sơmi kiểu Mỹ có nút ở đầu 2 cánh cổ, và mang giày da hoẵng đế cao su.
Chàng có một gương mặt điển trai, quả quyết và một cái miệng bướng bỉnh. Đôi mắt nhỏ mày nâu, có vẻ Ái Nhĩ Lan. Có người nói vậy. Khó ai đoán được Leamas thuộc vào hạng người như thế nào. Nếu chàng phải bước vào một hội quán tại London, tên bồi sẽ không thể lầm lẫn chàng là một hội viên ; nếu chàng vào một hộp đêm ở Berlin người ta sẽ dọn cho chàng bàn tốt nhất. Chàng có vẻ như một người có thể gây chuyện, một người theo đuổi tiền, một người không hẳn lịch thiệp.
Theo mắt cô chiêu đãi hàng không, chàng là một người đáng lưu ý. Nàng đoán chừng chàng sinh quán ở Miền Bắc Anh Quốc, điều đó có lẽ đứng, và giàu có, điều hoàn toàn sai. Nàng tưởng tượng chàng 50 tuổi, kể như gần đúng. Nàng đoán chàng độc thân, chỉ đúng một nửa. Cách đây đã lâu, đã có một vụ ly dị ; ở một nơi nào đó có một mấy đứa trẻ, giờ chúng đã mười mấy cả rồi, vẫn nhận tiền trợ cấp nơi một ngân hàng tư hơi lạ kỳ trong thành phố.
Nàng nói với Leamas:
- Nếu ông muốn uống một ly whisky nữa thì xin nhanh lên. Máy bay sẽ tới phi trường London trong 20 phút nữa.
- Thôi.
Chàng không nhìn nàng, chàng đang nhìn ra ngoài cửa sổ, về phía những cánh đồng xanh mướt của Kent.
Fawley đón chàng ở phi trường và lái xe đưa vào London. Y liếc về phía Leamas , cho hay :
- Control bực vì chuyện Karl lắm.
Leamas chỉ im lặng gật đầu
Fawley hỏi :
- Chuyện xảy ra thế nào?
- Bị bắn. Do Mundt hạ.
- Chết?
- Chắc vậy. Thế vẫn hơn. Anh ta suýt thoát được. Nếu anh ta không quá hấp tấp, chúng còn chưa thể biết chắc. Bọn Abteilung đến nút chặn ngay sau khi anh ta vừa được phép qua. Chúng thổi còi và một tên Vopo bắn anh ta ở cách lằn ranh chừng hai mươi thước. Anh ta chỉ cựa quậy trên mặt đất một chút, rồi nằm yên
- Tội nghiệp
- Đúng thế.
Fawley không có cảm tình với Leamas và nếu Leamas biết chàng cũng cóc cần. Fawley là loại người của các hội quán, luôn luôn mang cà vạt một cách long trọng, nói năng có vẻ sành thể thao và giữ một chứ thư ký soạn thảo văn thư. Anh ta nghĩ là Leamas khả nghi, còn Leamas thì cho là anh ta ngu.
Leamas hỏi :
- Anh ở ban nào ?
- Nhân viên.
- Thích không?
- Tuyệt.
- Tôi ra sao bây giờ? Phế thải?
- Nên để chính Control cho bồ hay.
- Bồ biết không?
- Biết chứ.
- Mẹ kiếp, sao không cho tôi biết?
Fawley vẫn ấm ớn:
- Rất tiếc không thể được
Leamas bỗng suýt nổi sùng. Nhưng rồi chàng nghĩ có lẽ Fawley chỉ là một tên khoác lác.
- Thế thì bồ hãy cho biết một điều này, được không ? Tôi có phải đi một căn phòng thổ tả nào ở London không?
Fawley gãi tai :
- Chắc không đầu, bồ ạ
- Không? Tạ ơn đức Chúa trời.
Họ đậu xe gần công trường Cambridge, ngay trước một máy thu tiền đậu xe và cùng bước vào cổng.
- Ê, chắc bồ không có thẻ ra vào? Bồ phải điền tên vào một tấm phiết.
- Ở đây có cái trò này thẻ ra vào từ hồi nào vậy? McCall biết tôi quá mà.
- Chỉ thị mới. Cơ sở mình đang bành trướng, chắc bồ đã biết.
Leamas không nói gì, gật đầu chào McCall và bước thẳng vào thang máy không trình thẻ.
Control bắt tay chàng hơi cẩn thận, như bác sỹ khám xương. Ông nói với vẻ thông cảm, giọng vẫn rè rè, lạnh nhạt như thường lệ.
- Chắc anh mệt lắm, ngồi xuống đi
Leamas ngồi xuống một chiếc ghế đối diện một lò điện màu ôliu có một tô nước đặt phiá trên.
Con trol hỏi :
- Anh có thấy lạnh không?
Ông ta khom mình trên lò sưởi, xoa 2 tay vào nhau. Ông ta mặc một áo len đan bện dưới chiếc vét đen, màu nâu đã xộc xệch. Leamas chợt nhớ đến bà vợ của Control, một mụ đàn bà nhỏ người và ngu đần, có cái tên Mandy, lúc nào cũng tưởng chồng mình làm việc cho Uỷ ban than đá, chàng đoán chính mụ đã đan chiếc aó len đó cho ông ta.
Con trol nói tiếp
- Trời khô quá, thế mới phiền. Càng sưởi cho ấm, mình lại càng làm cho bầu không khí thêm khô. Như vậy lại càng nguy hơn nữa
Ông ta tiến tới bàn giấy và nhấn một cái nút, nói :
- Mình gọi càphê uống nghe. Ginnie đang nghỉ phép, thế mới phiền. Họ gửi đến cho tôi một cô mới. Thật quá tệ.
Ông ta còn lùn hơn cả mức Leamas nhớ trong trí, ngoài ra thì cũng như trước. Cũng cái vẻ giả bộ xa cách, cũng cái hợm hình hĩnh cổ lỗ, cũng vẫn sợ gió máy, lịch thiệp theo kiểu cách mà Leamas đã mất hẳn từ đời nào. Cũng nụ cười đãi bôi, cũng cái lối làm ra vẻ nhút nhát, cũng cố bám theo một cung cách xử sự mà chính ông ta giả bộ coi là lố bịch. Tóm lại, cũng vẫn tầm thường.
Ông ta lấy một gói thuốc lá từ bàn giấy và đưa cho Leamas một điếu.
- Anh sẽ thấy thứ này sắp sửa lên giá.
Leamas gật đầu lấy lệ. Control vừa bỏ bao thuốc vào túi vừa ngồi xuống.
Im lặng một lát. Cuối cùng Leamas lên tiếng:
- Riemeck chết rồi.
Control bảo, tựa hồ Leamas đã nói một ý gì hay :
- Phải, đúng thế. Thật quá xui xẻo. Hầu hết… Tôi đoán cô gái đó đã làm cho anh ta tiêu mạng – Elvira?
- Tôi cũng nghĩ thế.
Leamas không có ý định hỏi tại sao ông ta biết về Elvira.
Control nói thêm :
- Và Mundt đã cho lệnh bắn anh ta.
- Vâng.
Control đứng lên đi quanh phòng tìm cái gạt tàn thuốc. Ông ta tìm được một cái và đặt nó xuống một cách vụng về trên mặt bàn giữa 2 người.
- Anh cảm thấy thế nào? Khi Riemeck bị bắn. Anh trông thấy tận mắt cảnh đó chứ?
Leamas nhún vai:
- Tôi hết sức bất mãn.
Control nghiêng đầu, lim dim mắt.
- Chắc chắn anh phải cảm thấy hơn thế. Chắc anh phải bối rối lắm? Tự nhiên là như vậy.
- Tôi bối rối thật. Ai mà không thế?
- Anh có cảm tình với Riemeck không – tôi muốn nói về phương diện nhân tính?
Leamas đáp một cách khổ sở :
- Chắc có.
Rồi chàng tiếp ngay :
- Nhắc đến chuyện đó làm gì nữa.
- Đêm ấy anh làm gì, sau khi Riemeck bị bắn?
Leamas sẵng giọng :
- Kìa, chuyện gì vậy? Ông muốn nói gì?
Control trầm ngâm :
- Riemeck là người cuối cùng, cuối cùng của một loạt người chế. Nếu tôi nhớ không lầm thì bắt đầu là cô gái. Cô gái bị bắn ở Wedding ngoài cửa rạp xinên. Rồi đến anh chàng ơ Dresden, rồi những vụ bắt vớ ở Jens. Như trong truyện “Mười chú mọt con ”. Bây giờ lại tới Paul, Viereck và Landser – tất cả đều đã chết. Và sau cùng là Riemeck.
Ông ta mỉm một nụ cười chua chát:
- Thật là những tổn thất quá nặng. Tôi không hiểu đối với anh như thế đã đủ chưa?
- Ông muốn nói gì? Đủ là thế nào?
- Tôi tự hỏi anh đã mệt mỏi chưa, chán chưa?
Im lặng thật lâu.
Cuối cùng Leamas nói :
- Cái đó tuỳ ở ông.
- Chúng ta phải sống không cảm tình, chứ gì. Dĩ nhiên là không thể như vậy được. Chúng ta xử sự thế đối với nhau, cứng rắn quá ; nhưng bản chất chúng ta không như thế. Ý tôi định nói là người ta không thể ở ngoài trời lạnh giá mãi được, người ta phải đi tránh cái lạnh chứ. Anh hiểu ý tôi không?
Leamas hiểu. Chàng còn nhớ con đường dài ở phía ngoài Rotterdam, con đường dài thẳng tắp cạnh những cồn cát, và dòng suối người tị nạn dọc theo đó. Thế rồi, chiếc phi cơ nhỏ xíu từ xa bay đến, dòng người ngừng lại và nhìn về nó đang tới gần, ngay trên những cồn cát. Liền đó là cảnh hỗn loại, là địa ngục phi lý, khi những trái bom rơi trúng con đường.
Sau cùng Leamas bảo :
- Tôi không thể tiếp tục nói chuyện như thế này mãi được. Ông muốn tôi làm gì bây giờ?
- Tôi muốn anh ở ngoài trời lạnh thêm chút nữa.
Thấy Leamas vẫn im lặng, Control lại nói tiếp “
- Theo tôi hiểu, luân lý của nghề chúng ta dựa trên một giả thuyết mà thôi. Đó là chúng ta sẽ không bao giờ gây hấn. Anh nghĩ thế có đúng không?
Leamas gật đầu. Làm bất cứ gì để khỏi phải nói chuyện.
- Tức là ta làm đủ chuyện một cách bất đắc dĩ, chỉ vì ta phải tự vệ. Như vậy cũng là hợp lý. Ta làm những chuyện bất đắc dĩ để các người dân thường ở đây và nơi khác được ngủ yên trên giường ban đêm. Nói thế có lãng mạn lắm không? Dĩ nhiên thỉnh toảng chúng ta đã làm những điều rất đáng trách.
Ông ta nhe răng cười như một cậu bé học sinh:
- Riêng về vấn đề đạo đức thì chúng ta không ngại. Dù thế nào, ta không thể so sánh lý tưởng của bên này với những phương pháp của bên kia.
Leamas bối rối. Chàng đã từng nghe Control nói đủ thứ bá láp trước khi đi đến kết luận, nhưng chưa hề nghe một chuyện nào như thế này.
- Tôi muốn nói rằng anh phải so sánh phương pháp với phương và lý tưởng với lý tưởng. Tôi cho rằng từ khi có cuộc chiến đến giờ, những phương pháp của đôi bên – của ta và của đối phương – đã thành giống nhau nhiều quá. Ý tôi là bây giờ anh không thể kém tàn nhẫn so với địch chỉ vì chính sách của chính phủ ta nhân đạo, chắc anh phải nhìn nhận điều đó?
Ông ta tự mỉm cười với mình
- Như thế sẽ không bao giờ nên chuyện.
Trời ơi, Leamas nghĩ, lão như một anh thầy tu bất hảo. Lão đang định bày trò gì đây?
Control tiếp tục:
- Đó là lý do tại sao tôi cho rằng ta nên cố tìm cách loại trừ Mundt. Ồ thật vậy.
Nói đến đây, ông ta quay nhìn về phía cửa, lên tiếng gắt:
- Càphê đâu không thấy thế này?
Control bước ra, mở cửa và nói với một cô gái khuất mặt nào đó ở phòng bên ngoài. Khi quay vào ông ta nói tiếp:
- Tôi thật tình nghĩ rằng chúng ta cần phải thanh toán hắn nếu có thể.
- Tại sao? Chúng ta đâu còn gì ở Đông Đức nữa? Ông vừa nói thế - Riemeck là người cuối cùng. Ta chẳng còn gì để bảo vệ.
Control ngồi xuống và nhìn tai bàn tay một lúc, rồi sau cùng ông ta nói :
- Cũng không hẳn thế. Nhưng tôi nghĩ không cần phải làm phiền anh với những chi tiết.
Leamas nhún vai, Control lại tiếp lời:
- Anh cứ nói thật, có phải anh đã chán nghề điệp báo này? Tôi xin lỗi vì đã hỏi đi hỏi lại câu đó. Tôi muốn nói đây chỉ là 1 hiện tượng chúng ta đều hiểu. Nói theo ngôn ngữ của các nhà vẽ kiểu phi cơ – độ môi của kim khí – nếu anh đã nản, cứ nói thẳng ra.
Leamas nghĩ đến chuyến bay hồi hương sáng nay và sinh ra phân vân.
- Nếu anh đã nản, ta phải tìm một cách để khác để đối phó với Mundt. Những gì tôi đang nghĩ đều hơi khác thường.
Cô gái bưng cà phê vào. Nàng để khay trên bàn và rót vào hai tách. Control đợi cho nàng đi ra khỏi phòng mới nói, như nói với chính mình:
- Thật là một con bé ngu ngốc. thật là lạ vì họ không tìm được ai khá hơn. Ước gì Ginnie không nghỉ phép vào những lúc như thế này.
Ông khuấy cà phê với vẻ bực bội trong một lúc, rồi bảo:
- Nhất định ta phải hạ Mundt. Anh uống rượu nhiều không? Whisky chẳng hạn?
Thế mà Leamas vẫn tưởng đã hiểu rõ Control. Chàng trả lời:
- Chút đỉnh, có lẽ chỉ hơi quá mức trung bình.
Control gật gù một cách thông cảm”
- Anh biết gì về Mundt
- Y là một tên giết mướn. Trước đây một hai năm y đã trở về đây với Phái Bộ Thép Đông Đức. Hồi đó mình đã có một cố vấn trong phái bộ là Maston.
- Đúng vậy.
- Mundt đã chỉ huy một nữ nhân viên, vợ của một tên trong Bộ Ngoại Giao. Sau đó hắn đã giết bà ta.
- Y đã cố giết Geogre Smiley, và dĩ nhiên y đã bắn chết luôn chồng của người đàn bà. Y là một kẻ đáng tởm. Xuất thân từ phong trào thanh niên thời xưa của Hitler. Hoàn toàn không phải là một tên cộng sản trí thức. Một tay chuyên ngiệp trong ngành chiến tranh lạnh.
Leamas vắn tắt bảo
- Thì cũng như mình vậy.
Control không cười.
- Geogre Smiley biết rất rõ về vụ này. Hắn không còn làm cho ta nữa, những tôi tưởng anh nên tìm cho ra hắn. Hắn đang nghiên cứu gì đó về nước Đức thuộc thế kỷ 17. hắn sống ở Chelsea, ngay sau công trường Sloane, đường Bywater, anh biết khu đó chứ?
- Vâng
- Và Guiliam cũng rành chuyện này. Hắn ở Ban vệ tinh 4 lầu 1. Tôi e rằng mọi việc từ ngày anh đi đã thay đổi
- Vâng
- Anh hãy bỏ một hai ngày với họ. Họ biết tôi đang nghĩ gì trong đầu. rồi tôi xin mời anh đến nhà cuối tuần này. Có lẽ vợ tôi sẽ thăm bà cụ. Chỉ có anh và tôi thôi.
- Cám ơn ông. Tôi xin hoan hỉ nhận lời
- Mình có thể nói chuyện một cách thoải mái. Như thế cũng thú chứ. Tôi nghĩ sau vụ này anh có thể kiếm được khá nhiều tiền. Anh có quyền giữ tất cả những gì kiếm được.
- Cám ơn ông.
- Nghĩa là, dĩ nhiên nếu anh chắc chắn anh muốn … không bị chán nản mệt mỏi gì nữa?
- Nếu đó là chuyện giết Mundt, tôi xin tình nguyện lãnh công tác của ông.
Control hỏi một cách lễ độ:
- Anh có thật cảm thấy thế không?
Rồi sau khi trầm ngâm nhìn Leamas một lúc, ông ta nhận xét:
- Phải, tôi quả thật tin rằng anh đang cảm thấy thế. Nhưng anh không được nghĩ là anh phải nói như thế. Tôi muốn nói… trong thế giới ta sống tình thương yêu và lòng thù hạn thường mất hương vị quá nhanh-như nhiều âm thanh mà một con chó không nghe được. Mọi thứ còn lại rốt cược chỉ là một loại buồn nôn, mình không còn muốn gây đau khổ nữa. Anh hãy tha lỗi cho tôi, nhưng phải chăng đó là điều anh cảm thấy khi Karl Riemeck bị bắn? Không ghét Mundt, cũng không thương Karl, mà chỉ là xao động buồn nôn, như một cú đấm trên một thân hình vô tri giác… Tôi nghe nói anh đã đi bộ suốt đêm, lang thang qua các đường phố của Berlin. Đúng vậy không?
- Đúng là tôi đã đi dạo.
- Suốt đêm?
- Vâng.
- Còn Elvira thì sao?
- Trời mới biết được… tôi chỉ muốn nhảy ngay vào vụ Mundt.
- Tốt … tốt. À, nếu anh gặp bạn bè cũ lúc này, nhớ đừng nói gì với họ về chuyện anh đang làm.
Control im lặng một lát, và nói thêm :
- Tôi nghĩ nên giấu họ thì hơn, cứ để họ nghĩ chúng tôi vẫn còn xử tệ với anh. Hay nhất là mình hãy khởi sự khi mình định tiếp tục, phải không anh?


Hết chương 2
___________________


Chương 3 :

SUY ĐỒI


Không ai ngạc nhiên nhiều khi thấy người ta cho Leamas về vườn. Đại khái họ với công việc ở Berlin trong nhiều năm qua chỉ toàn thất bại, và phải có một kẻ gánh chịu hậu quả. Hơn nữa, chàng già rồi không lo chuyện hành động được nữa, những công việc cần đến các phản ứng nhanh như một tay quần vợt nhà nghề. Leamas đã rất được việc trong thời chiến, ai cũng biết vậy. Ở Nauy và Hà lan, chàng đã làm thế nào đó mà vẫn sống nhăn và sau cùng người ta gắn huy chương và cho chàng giải ngũ. Sau đó, dĩ nhiên người ta lôi chàng trở lại. Thật tệ, số tiền cấp dưỡng của chàng hiển nhiên quá tồi. Phòng kế toán đã để lộ ra, qua miệng cô nàng Elsie. Elsie nói trong phòng ăn rằng anh chàng Alec Leamas đáng thương chỉ được 400 Anh kim mỗi năm để sống vì công vụ không liên tục. Elsie cho đó là một luật lệ phải thay đổi : dầu sao, ông Leamas cũng đã thi hành nhiệm vụ mà? Nhưng họ còn có cơ quan tài chánh sau lưng, không giống xưa tí nào, và thế thì họ biết làm sao được? Ngay cả vào thời tệ hại còn Maston, họ cũng đã xoay xở công việc khá hơn.

Những nhân viên mới nghe nói Leamas thuộc lớp già, là hạng người nhiệt tình, gan dạ, thích chơi côn cầu, học trường Pháp. Trong trường hợp Leamas, điều này không đúng, vì chàng nói được 2 thứ tiếng Anh và Đức, và tiếng Đức thuộc loại giỏi, chàng lại ghét côn cầu. nhưng quả thật chàng chẳng có lấy mảnh bằng cấp nào.
Hợp đồng của Leamas còn vài tháng mới hết, và họ chuyển chàng qua làm ở ban ngân sách trong những ngày còn lại. Ban ngân sách khác ban kế toán, nó lo việc trả tiền tại ngoại quốc, chi tiền cho các công tác và các điệp viên. Phần lớn công việc ở Ban ngân sách lẽ ra có thể để một cậu bé con làm cũng được nếu không vì tính cách tối mật của nó, và do đó ban ngày trong cơ quan được xem như một chỗ nằm nghỉ ngơi cho các nhân vật sắp sửa bị cho về vườn.
Leamas trở nên tàn tạ.

Thường thường con đường tàn tạ vẫn được xem là khá dài và từ từ, nhưng trường hợp Leamas thì không thế. Trước mắt các đồng nghiệp, chàng biến đổi từ một người bị cho về một cách vinh dự thành một gã say sưa tồi tàn. Và tất cả chỉ trong vài tháng. Có một thứ ngu độn nơi các anh nghiện rượu, nhất là khi họ tỉnh táo, đó là thái độ tách biệt khỏi cuộc đời mà những người không tinh ý sẽ cho là thái độ mập mờ và Leamas đã có thái độ này mau một cách khác thường. Chàng bắt đầu lưu manh vặt, mượn các cô thư ký những món tiền nhỏ và quên trả, đi trễ về sớm với những duyên cớ không chính đáng. Thoạt tiên, các đồng nghiệp đối xử với chàng bằng sự khoan thứ. Có lẽ sự xuống dốc của chàng khiến họ sợ cũng như mình vẫn thường sợ những người què quặt, hành khát hay tê liệt bởi vì mình sợ rằng mình có thể như họ. Nhưng sau cùng, sự bê bối và tính vô liêm sỉ vô lý của chàng làm mọi người lánh xa chàng.

Đáng ngạc nhiên hơn nữa là Leamas lại không có vẻ quan tâm gì đến chuyện mình bị thất sủng. Ý chí của chàng hình như bất thần bị suy sụp. các viên thư ký mới, vẫn muốn tin rằng Cơ quan tình báo gồm toàn những con người bạt mạng, đều sửng sốt khi thấy Leamas hư hỏng rõ rệt. Chàng ít săn sóc đến diện mạo và ít chú ý đến ngoại cảnh, chàng ăn trưa ngay trong phạm điếm thường dành cho nhân viên cấp dưới, và rõ ràng là chàng uống rượu. Chàng trở nên cô độc, thuộc về giai cấp thảm thương của những người ham hoạt động mà lại bị đình chỉ công tác quá sớm, những tay bơi lội bị cấm xuống nước, hoặc diễn viên bị loại khỏi sân khấu.
Có người cho rằng chàng đã phạm phải lỗi lầm ở Berlin, và đó là lý do mạng lưới của chàng đã bị tiêu hủy, không ai thật sự biết chắc. hết thảy đều đồng ý chàng đang bị bạc đãi một cách khác thường dù bởi một nha nhân viên nổi tiếng chẳng nhân ái gì. Người ta thường chỉ vào chàng một cách kín đáo mỗi khi chàng đi ngang, như thường học chỉ trỏ một cựu lực sỹ và nói với nhau “Đó là Leamas. Y đã phạm tội ở Berlin. Thật đáng thương cho y đã xuống dốc một cách thảm hại như vậy”

Thế rồi, một hôm chàng biến mất. Chàng không từ biệt một ai, hình như cả với Control. Sự việc tự nó không có gì đáng ngạc nhiên. Bản chất của nghề nghiệp gạt bỏ những lối chào hỏi rườm rà và trình diễn xôm tụ, nhưng dù thế nào đi nữa sự ra đi của Leamas vẫn có vẻ đột ngột. Theo người ta ước đoán, sự ra đi xảy đến trước thời gian chính thức mãn hạn giao kèo. Elsie thuộc ban kế toán tiết lộ một vài mẩu tin tức : Leamas đã lãnh hết tiền trong trương mục của chàng và theo chỗ Elsie biết, chàng đang gặp rắc rối với ban ngân sách. Tiền trợ cấp thôi việc sẽ được lãnh vào cuối tháng. Elsie không thể biết rõ bao nhiêu nhưng chắc không quá bốn con số, thật đáng tội nghiệp. Thẻ bảo hiểm quốc gia của chàng đã được gửi đi. Nha nhân viên có địa chỉ của chàng. Elsie nói với một cái bĩu môi, nhưng dĩ nhiên họ không chịu tiết lộ.

Rồi có chuyện tiền bạc. Không ai biết từ đâu, có nguồn tin tiết lộ rằng sự ra đi bất ngờ của Leamas có liên hệ với những sai biệt trong giấy tờ kế toán tại ban ngân sách. Một số tiền khá lớn đã bị thiếu (lên tới hàng ngàn Anh kim, theo lời 1 bà tóc xanh làm trong phòng điện thoại), họ đã thu lại được gàn hế, và số còn thiếu sẽ được khấu trừ vào tiền cấp dưỡng. Những người khác tỏ ý không tin : họ cho rằng nếu Alee đã muốn thụt két, chàng thừa biết nhiều phương pháp khác hay hơn là đụng tới các trương mục của Tổng Hành Dinh. Không phải vì chàng không có khả năng làm thế-chàng có thể làm hay hơn nữa là đằng khác. Nhưng những người không tin bản chất tội lỗi tiềm tàng trong chàng nói đến số rượu lớn lao mà chàng uống, đến tổn phí của một căn nhà riêng, với sự cách biệt trầm trọng giữa lương ở nhà và phụ cấp ở ngoại quốc, và nhất là những cám dỗ đối với một người hằng ngày vẫn nắm trong tay những món tiền lớn mờ ám mà lại biết mình sắp nghỉ việc đến nơi. Mọi người đồng ý rằng nếu Alec đã nhúng tay vào việc này thì kể như tàn đời đến chết. Cơ quan tìm việc sẽ không ngó ngàng tới chàng và Nha nhân viên sẽ không cấp phát chứng chỉ - chỉ cho một mảnh giấy vô vị mà một ông chủ nhiệt tâm nhất cũng phải rùng mình khi trông thấy. Biển thủ là một tội mà Nha nhân viên sẽ không bao giờ quên. Nếu thật đúng Alec đã trộm tiền của cơ quan, chàng sẽ phải gánh cơn thịnh nộ của Sở xuống mồ, và Nha nhân viên sẽ không trả tiền phúng điếu.

Sau khi chàng ra đi chừng một hai tuần, vài người tự hỏi chàng ra sao, nhưng các bạn cũ của chàng đã cố không dính líu gì đến chàng. Chàng đã trở thành một con người cay cú, ai cũng chán ngán, luôn miệng chỉ trích cơ quan và các cấp điều hành, cùng những người mà chàng gọi là bọn kỵ binh vì cho rằng họ làm việc như đây là một câu lạc bộ của quân đoàn. Chàng không bỏ lỡ cơ hội nào mạt sát người Mỹ và các cơ quan tình báo của họ. Chàng có vẻ ghét họ hơn cả họ. Abteiling, những kẻ mà chàng rất ít khi đề cập đến. Chàng thường nói xa xôi rằng chính họ đã làm hư mạng lưới của chàng, điều này hình như không ngừng ám ảnh chàng, và an ủi chàng đã chẳng có kết quả bao nhiêu mà còn làm chàng thành khó ưa hơn, vì vậy những ai biết chuyện và dù có ngầm thích chàng đi nữa, đều phải chừa giao du với chàng. Sự ra đi của Leamas chỉ gây một lằn gợn trên mặt nước, rồi mọi người cùng quên lãng ngay sau đó.

Căn phòng chàng nhỏ và tồi tàn, quét sơn nâu và gắn các bức hình của Clovelly. Nó nằm ở ngay mặt sau của ba nhà kho bằng đá xám, với những khung cửa sổ, vì lý do mỹ thuật, được sơn dầu mộc du. Phía trên nhà kho là một gia đình người Ý, tối thì cãi nhau và sáng thì đập thảm. Leamas ít có vật dụng để làm sáng sủa căn phòng. Chàng mua vải chụp đèn và cặp ra để thay những tấm vải ô vuông của chủ nhà. Còn thì Leamas mặc kệ, những bức màn bằng vải hoa, không viền không nẹp, những tấm thảm màu xơ xác và đồ đạc bằng gỗ đen sì, như ở một lữ quán của bọn thủy thủ. Mỗi lần lấy nước nóng từ một máy đun cũ chàng phải mất một shilling.

Chàng cần một việc làm, chàng không có tiền, sạch nhẵn. Nên có lẽ cái chuyện biển thủ là thật. Những đề nghị tìm việc của Sở đã khiến Leamas ấm lòng và cũng cho thấy chàng “không xài được”. Thoạt tiên chàng cố xin một việc trong thương trường. Một hãng chế tạo keo kỹ nghệ có ý muốn thu dụng chàng làm phụ tá giám đốc đặc trách nhân viên. Bất cần sự giới thiệu khiếm khuyết của Sở, họ không đòi điều kiện và đề nghị số lương 600 Anh kim mỗi năm. Chàng làm được một tuần, trong thời gian đó mùi hôi của dầu cá đã thâm nhiễm vào quần áo và tóc chàng, còn vương mãi nơi khứu giác như mùi người chết. Rửa cách mấy cũng không hết, nên sau cùng Leamas phải cắt tóc ngắn đến da đầu và liệng đi 2 bộ đồ tốt nhất. Chàng mất thêm một tuần nữa cố đi bán tự điển bách khoa cho các bà nội trợ ở ngoại ô, nhưng chàng không phải là một người mà các bà nội trợ thích hoặc thông hiểu; họ không muốn thấy Leamas, chứ đừng nói gì đến tự điển của chàng. Mỗi tối chàng uể oải trở về phòng, cuốn tự điển làm mẫu trông thật lố bịch dưới cánh tay. Cuối tuần chàng điện thoại đến công ty và cho họ hay chàng không bán gì được hết. không tỏ vẻ ngạc nhiên, họ nhắc nhở chàng có bổn phận trả lại cuốn tự điển mẫu nếu không làm việc cho họ nữa và cúp máy. Leamas bước vội khỏi phòng điện thoại trong cơn phẫn nộ, bỏ quên cả cuốn tự điển mẫu trong đó, đến quán rượu và uống say mèm mất 25 shilling, số tiền đáng lẽ chàng không nên xài phí. Họ liệng chàng ra khỏi quán vì chàng đã la lối một người đàn bà cố lay tỉnh chàng. Họ bảo chàng đừng bao giờ trở lại, nhưng rồi tuần sau họ quên hết mọi chuyện. Dân ở đây bắt đầu biết đến Leamas.

Người ta bắt đầu biết chàng ở chỗ khác nữa, cái hình dáng màu xám thất thểu đi ra từ khu chung cư. Chàng nói thừa một tiếng, không có một người bạn dù là đàn ông hay đàn bà hay là một con vật nào. Họ đoán chàng đang gặp chuyện rắc rối, có thể là trốn vợ. Chàng không biết giá cả bất cứ vật gì, người ta có cho hay cũng không nhớ, chàng phải vỗ khắp các túi mỗi khi tìm tiền lẻ, không bao giờ nhớ mang một cái gỉo, luôn luôn mua hàng đực trong bao. Người trong vùng không ưa gì chàng, mà chỉ gần như thương hại chàng. Họ lại còn cho rằng chàng dơ dáy, vì chàng không cạo râu mỗi cuối tuần và sơ mi thì nhàu nát. Một bà tên McCaird ở đại lộ Sudbury dọn phòng cho chàng được một tuần, nhưng vì không nhận được một lời lịch thiệp nào của chàng, nên bà ta nghỉ làm. Bà ta là một nguồn tin tức cho cả khu phố, nơi mà các tay buôn bán bảo nhau những điều họ cần biết phòng khi chàng xin mua chịu. Bà McCaird khuyên đừng cho chàng mua chịu. Leamas không hề có một bức thư, bà ta nói vậy, và họ đồng ý rằng đó là chuyện nghiêm trọng. Chàng không có hình ảnh và chỉ có vài quyển sách ; bà ta cho rằng có cuốn thuộc loại dâm ô nhưng không thể chắc được vì nó được viết bằng ngoại ngữ. Theo ý bà ta chàng chỉ có một chút ít tiền để sống, và chút ít đó đó đã sắp cạn. Bà biết chàng lãnh tiền vào mỗi thứ năm. Cả con đường Bayswater đều được khuyến cáo và không cần sự cảnh cáo nào thêm nữa. Họ nghe bà McCaird kể lại rằng chàng uống như hũ chìm, anh đứng bán ở quầy rượu xác nhận điều này . Nhân viên bán rượu và người làm mướn đều không quen để khách hàng thiếu chịu tiền, nhưng những ai có nghề thường cho khách mua chịu đều nhớ nằm lòng những tin tức trên.

Hết chương 3
---

CHƯƠNG 4
LIZ


Cuối cùng chàng đi làm việc tại một thư viện. Nha nhân công đề nghị chàng hãy đến đó mỗi sáng thứ năm khi chàng lãnh trợ cấp thất nghiệp, nhưng chàng đã luôn luôn gạt đi. Ông Pitt nói :
- Thật ra thì không phải loại việc xứng đáng với ông nhưng lương trả khá và công việc dễ dàng đối với một người có học.
Leamas hỏi :
- Thư viện thuộc loại nào?
- Thư viện nghiên cứu tâm linh Bayswater. Đó là một tổ chức được trợ cấp. Họ có cả ngàn cuốn sách đủ loại và vừa được tặng thêm nhiều cuốn khá. Họ cần một người phụ giúp nữa.
Chàng cầm số tiền và mảnh giấy. Ông pitt nói thêm :
- Những người ở đó rất kỳ quái, nhưng không lẽ ông cứ ở không mãi hay sao? Tôi nghĩ đã đến lúc ông nên thử với một chuyến.
Pitt thật kỳ. Leamas chắc chắn chàng đã nhìn thấy anh ta ở một nơi nào đó trước kia. Tại sở, trong thời kỳ chiến tranh.

Thư viện như một đại sảnh trong nhà thờ, và rất lạnh. Các lò sưởi đen sì ở hai đầu phòng khiến nó phảng phất mùi dầu hôi. Giữa phòng là một cái bục như bục dành cho nhân chứng tại toà và cô Crail, quản thủ thư viện ngồi trong đó.
Leamas chưa hề có ý tưởng chàng sẽ ngồi trong đó làm việc cho một người đàn bà. Không ai tại nha nhân công đã nói gì về điều này.
Chàng lên tiếng :
- Tôi là người giúp việc. Tên tôi là Leamas
Cô Crail ngẩng đầu khỏi đống phiếu chỉ thư mục, nhìn chàng bằng một ánh mắt thật sắc như vừa nghe một lời thô lỗ.
- Giúp? Ông muốn nói giúp là thế nào?
- Phụ tá. Do nha nhân công giới thiệu lại. Ông Pitt.
Chàng đẩy qua mặt quầy tấm phiếu lý lịch của chàng điền bằng một tưồng chữ nghiêng. Cô ta nhặt tấm phiếu lên đọc kỹ.
- Ông là ông Leamas.
Đây không phải là câu hỏi mà bước đầu của một cuộc điều tra tỉ mỉ về các sự kiện.
- Và ông từ nha nhân công đổi đến
- Không. Tôi được nơi đó giới thiệu lại đây. Họ nói cô cần 1 phụ tá.
Cô ta đáp lại bằng một nụ cười khô khan.
- Tôi hiểu.
Đúng lúc đó điện thoại reo, cô ta nhấc máy và bắt đầu bàn cãi với một người nào đó một cách mãnh liệt, Leamas đoán họ cãi nhau liên miên, khỏi cần giáo đầu gì cả. cô ta chỉ việc lên giọng và bắt đầu cãi cọ về mấy tấm vé đi dự hòa nhạc. Chàng nghe một vài phút và lảng ra chỗ các kệ sách. Chàng nhận thấy một cô gái ở trong một căn phòng, đang đứng trên một cái thang, phân loại những quyển sách dày cộm.
Chàng tự giới thiệu trước :
- Tôi là nhân viên mới. Tên tôi là Leamas
Nàng bước xuống thang và bắt tay chàng hơi trịnh trọng.
- Chào ông. Tôi là Liz Gold. Ông đã gặp cô Crail rồi chứ?
- Rồi, nhưng cô ấy đang bận điện thoại.
- Chắc là đang cãi nhau với mẹ cô ấy. Ông định làm gì?
- Tôi không rõ. Làm việc gì chẳng được?
- Hiện giờ chúng tôi đang ghi dấu sách. Cô Crail sửa soạn làm lại một thư mục mới.
Nàng là một cô gái dáng người cao, hơi vụng về, với một thân hình dài và đôi chân thon. Nàng mang giày vải, đế bằng, để giảm chiều cao. Mặt nàng cũng như thân hình, có những nét hơi thô, dường như lưỡng lự giữa sự tầm thường và vẻ đẹp. Leamas đoán nàng 22 hoặc 23 tuổi, và là người Do thái.
- Chỉ là vấn đề kiểm soát lại xem tất cả sách có đủ trên kệ không. Đây là số tham khảo. Khi kiểm soát xong ông viết số mới bằng bút chì và ghi vào thư mục
- Rồi sao nữa?
- Chỉ cô Crail được quyền ghi bằng bút mực. Luật lệ là thế.
- Luật lệ của ai?
- Của Cô Crail. Ông thử bắt đầu bằng các sách về khảo cổ xem sao?
Leamas gật đầu và họ cùng bước sang căn phòng nhỏ kế bên nơi có một cái hộp chứa đầy đủ thẻ nằm trên sàn nhà. Nàng chợt hỏi:
- Ông đã từng làm công việc loại này chưa?
- Chưa
Chàng ngừng lại, nhặt một tấm thẻ, vừa xóc lại vừa nói tiếp:
- Ông Pitt gửi tôi lại. Từ nha nhân công
Chàng cất thẻ và chỗ cũ và hỏi:
- Cô Crail là người duy nhất có quyền viết mực lên thẻ sao?
- Phải.
Nàng bỏ chàng ở đây, và sau một lúc lưỡng lự, chàng lấy ra một quyển sách và nhìn vào danh phiếu. Nó có tên Những khám phá về khảo cổ tại Tiểu Á-Quyển bốn. Hình như họ có bốn quyển.
Đã một giờ trưa và Leamas đói meo, nên chàng bước lại chỗ Liz Gold đang soạn sách và nói :
- Ăn trưa thì sao?
- Ồ, tôi mang theo bánh sandwich
Nàng có vẻ bối rối tiếp
- Ông có thể dùng đỡ một chút với tôi. Xung quanh đây không có một tiệm cà phê nào ở gần.
Leamas lắc đầu:
- Cám ơn cô nhiều, tôi sẽ ra ngoài ăn. Tôi cũng cần mua một vài món đồ
Nàng im lặng nhìn chàng đi qua những khung cửa bật.

Mãi tới hai giờ rưỡi chàng mới trở về, đầy mùi rượu. Chàng mang theo hai bao đựng đầy thực phẩm, đặt vào một góc phòng và uể oải bắt tay lại vào việc với những sách về khảo cổ. Chàng làm việc được chừng mười phút thì nhận thấy cô Crail đang nhìn mình
- Ông Leamas
Chàng đang đứng ở lưng chừng thang, nên phải ngoái đầu nhìn xuống và nói :
- Vâng ?
- Ông có biết những bao đồ này ở đâu ra không?
- Của tôi.
- Tôi biết. Của ông.
Leamas im lặng đợi. Cuối cùng, cô ta tiếp tục:
- Tôi rất tiếc là luật lệ không cho phép mang đồ vào thư viện
- Thế tôi để đâu được. Tôi không thể tìm ra một nơi nào khác hơn.
- Không để trong thư viện
Leamas làm ngơ và trở về với công việc trong khu khảo cổ. Cô Crail vẫn nói :
- Nếu ông chỉ ăn trưa theo đúng thời gian thường lệ, ông sẽ không có thì giờ để đi mua đồ. Không một ai trong chúng tôi làm thế, cô Gold hay tôi cũng vậy, chúng tôi không có thì giờ đi mua đồ.
- Sao cô không dành thêm ra nửa tiếng cho rộng thì giờ? Nếu công việc cần làm gấp, mình có thể làm thêm nửa tiếng vào buổi chiều. Nếu quả thật gấp.
Cô Crail đứng im một lúc, chỉ nhìn chàng và rõ ràng đang cố nghĩ ra một điều gì để nói. Sau cùng, trước khi bỏ đi, cô tuyên bố:
- Tôi sẽ bàn chuyện này với ông Ironside
Đúng năm giờ rưỡi cô Crail khoác áo choàng và chỉ nói một câu :
- Chào cô Gold
Rồi cô ta ra về. Leamas đoán cô ta đã suy nghĩ nhiều về những bao đồ suốt buổi chiều. Chàng vào căn phòng nhỏ kế cận, nơi Liz đang ngồi trên bậc thang cuối cùng đọc một mảnh giấy giống như một tờ truyền đơn. Khi thấy Leamas nàng liền lúng túng bỏ vào trong ví tay và đứng lên, Leamas hỏi :
- Ông Ironside là ai ?
- Tôi nghĩ là không có ông ấy. Đó chắc là lão ngáo mà cô Crail thường mang ra mỗi khi bí câu trả lời. Có lần tôi hỏi ông ấy là ai, cô ta đã trả lời một cách quanh co bí hiểm và bảo “bỏ qua chuyện đó đi”. Tôi cho là không có ông ta.
Leamas nói :
- Tôi không tin cô Crail “bỏ qua” được như lời cô ta bảo.
Và Liz mỉm cười
Đến sáu giờ chiều nàng khóa cửa và đưa chìa khóa cho người gác dan, một ông già bị ám ảnh về Đệ nhất thế chiến – Liz nói vậy – sẽ thức suốt đêm để phòng trường hợp bọn Đức phản công. Trời bên ngoài lạnh cóng.
Leamas hỏi :
- Cô về có xa không?
- Đi bộ khoảng hai mươi phúc. Tôi luôn luôn đi bộ. Còn ông?
Leamas đáp :
- Không xa lắm. Chào cô.


Chàng đi từ từ về nơi trọ. Chàng vào phòng và bật công tắc đèn. Không thấy gì. Chàng thử lại ngọn đèn trong bếp và cuối cùng là lò sưởi điện cắm ở bện cạnh giường. Trên tấm thảm chùi chân có một bức thư. Chàng nhặt lên và đem ra đọc dưới ánh điện màu vàng lờ mờ ngoài cầu thang. Đó là thư của công ty điện, lấy làm tiếc rằng không thể làm gì khác hơn là đành phải cúp điện cho đến khi nào số 9 anh kim 4 shiling và 8 xu được thanh toán.

Chàng đã trở thành một kẻ thù của cô Crail và có nhiều kẻ thù là điều cô Crail thích thú. Cô ta hoặc là cau có với chàng hoặc coi chàng như không có. Và khi chàng lại lại gần, cô ta phát run lên, nhìn trái nhìn phải, hoặc là để tìm cái gì tự vệ, hoặc tìm đường thoát thân. Đôi khi cô ta bày tỏ một thái độ hết sức bất bình, chẳng hạn khi chàng móc áo tựa trên cái giá của cô ta. Cô ta cứ đứng trước chỗ đó giũ mạnh có đến năm phút, cho tới lúc Liz để ý trông thấy và lớn tiếng gọi Leamas.
Chàng liền đi lại gần cô ta và hỏi
- Có chuyện gì làm phiền cô thế, cô Crail?
Cô ta hổn hển trả lời, giọng líu lại:
- Không, không có gì cả.
- Áo tôi bị cái gì chăng
- Không có gì cả
- Tốt lắm
Nói đoạn, chàng trở về phòng sách của mình. Cô ta run lên vì giận suốt cả ngày hôm ấy và thì thầm nói điện thoại suốt nửa buổi sáng. Liz bảo :
- Cô ấy đang kể chuyện với bà mẹ. Cô ấy luôn luôn kể lể đủ thứ với mẹ. cả chuyện về tôi nữa.

Cô Crail mỗi ngày một thêm có ác cảm với Leamas đến nỗi cô ta không thể nói chuyện với chàng được. Và những ngày phát lương, khi đi ăn trưa về chàng lại thấy một phong bì trên bậc thang thứ ba của chàng ở ngoài có viết tên chàng, mà lại viết sai. Lần đầu tiên chàng mang tiền và phong bì lại cô ta và nói “Cô Crail, tên tôi viết là LEA, và chỉ có một chữ S”. Tức thì cô ta như bị cơn tê bại thật sự, mắt láo liêng và máy mó cây viết chì cho đến khi chàng bỏ đi. Sau đó cô ta thủ thỉ trong điện thoại hàng giờ.
Sau khi chàng làm ở thư viện được ba tuần. Liz mời chàng đi ăn tối. nàng làm vẻ như đây là một ý kiến bất ngờ trong đầu nàng, vào lúc 5 giờ chiều, hình như nàng biết rằng nếu mời chàng ngày mai ngày mốt chàng sẽ có thể quên hoặc không đến. Leamas có vẻ không muốn nhận lời nhưng sau cùng chàng nhận.
Họ đi bộ về phòng nàng dưới trời mưa, xuyên qua một vùng không có gì đặc biệt. Có thể là Bálinh, Luân đôn hay bất cứ đô thị nào mà những lề đường lát đá biến thành những cái áo sáng loáng trong mưa đêm và xe cộ chạy một cách buồn nản qua các con đường ướt át.

Đó là bữa cơm đầu tiên Leamas ăn tại phòng nàng trong các bữa ăn nàng mời. Nàng thường mời và chàng không từ chối. Chàng ít nói. Khi nàng tin tưởng chàng sẽ đến, nàng chuẩn bị bàn vào buổi sáng trước khi đến thư viện. Nàng còn soạn món rau sẵn và để nến trên bàn, vì nàng yêu ánh nến. Nàng luôn luôn biếr rằng có cái gì đó thật không ổn với Leamas, và một ngày kia, vì một lý do nào không rõ, chàng sẽ cắt đứt và đi biệt.
Nàng cố cho chàng hay rằng nàng biết, nàng nói vào một buổi tối:
- Anh cứ đi khi anh muốn. Em sẽ không bao giờ theo anh đâu. Alec à
Cặp mắt nâu của chàng nhìn nàng một lúc và chàng trả lời
- Anh sẽ cho em biết khi đến lúc
Chỗ nàng ở gồm một phòng khách kiêm phòng ngủ và một gian bếp. Trong phòng khách có hai ghế tựa, một trường kỷ làm giường ngủ và một kệ chứa toàn sách loại bìa dày, phần lớn là những tác phẩm nổi tiếng mà nàng chưa hề đọc.
Sau bữa an tối nàng thường nói chuyện với chàng, và chàng thường hút thuốc trên chiếc trường kỷ. Nàng không bao giờ biết rõ chàng nghe được những gì, nhưng nàng không cần. nàng thường quỳ xuống bên cạnh trường kỷ ôm đầu chàng sát vào má mình trong lúc nói chuyện
Rồi một buổi tối nàng bảo chàng :
- Alec, anh tin tưởng ở cái gì? Anh đừng cười, hãy cho em biết.
Nàng đợi và sau cùng chàng nói :
- Anh tin chuyến xe buýt 11 giờ sẽ đưa anh tới Hammeramith. Anh không tin là ông già Noel đã lái nó.
Nàng có vẻ suy nghĩ và sau cùng nàng lại hỏi
- Nhưng anh tin tưởng ở cái gì?
Leamas nhún vai, nàng vẫn tiếp :
- Anh phải tin một cái gì chứ. Thượng đế chẳng hạn – em biết là anh có tin ; đôi khi trông anh có vẻ thế, tựa hồ anh có việc gì đặc biệt phải làm, như một tu sĩ vậy. Alec, đừng cười, em nói thật mà.
Chàng lắc đầu :
- Rất tiếc, Liz à, em hiểu lầm rồi. anh không thích bọn Mỹ và các trường công. Anh không thích diễn binh và những người đóng trò binh sĩ.
và không mỉm cười, chàng nói thêm
- Và anh không thích nói chuyện về cuộc đời
- Nhưng Alec, anh đáng lẽ có thể nói
Leamas chặn lời
- Đáng lẽ anh phải nói thêm là anh không thích người nào bảo anh nên nghĩ thế này thế nọ.
Nàng biết chàng sắp sửa nổi giận, nhưng không thể ngừng được nữa.
- Đó là vì anh không muốn nghĩ, anh không dám. Có nọc độc trong đầu anh, có sự thù ghét nào đó. Anh là một con người cuồng tín, em biết thế, nhưng không biết về chuyện gì. Anh là một con người cuồng tín không muốn cải hóa người khác, và như vậy là một điều nguy hiểm. anh như là một người đã … thề trả thù hay một chuyện gì tương tư.
Đôi mắt nâu vẫn không rời nàng. Khi chàng nói chàng phát sợ bởi sự hăm dọa trong giọng nói. Chàng gằn :
- Nếu anh là em. Anh sẽ lo chuyện riêng của mình.
Và chàng mỉm cười, một nụ cười kiểu Ái nhĩ lan hơi đểu. chàng chưa hề cười như vậy
Rồi chàng chợt hỏi :
- Thế còn Liz tin ở gì?
Nàng đáp ngay :
- Em không dễ bị xỏ mũi thế đâu, Alec à.
Đêm đó họ lại nói chuyện về điều này. Leamas khơi ra, chàng hỏi nàng có tín ngưỡng không. Nàng nói:
- Anh đã lầm về em, hoàn toàn lầm. Em không tin ở thượng đế
- Thế em tin cái gì?
- Lịch sử.
Chàng nhìn nàng ngạc nhiên trong một lúc và cười
- Ồ, Liz , ồ không! Em không phải là một tên cộng sản chứ?
Nàng gật đầu, đỏ bừng mặt như một cô bé trước tiếng cười của chàng, vừa giận nhưng cũng vừa nhẹ người vì chàng không có vẻ quan tâm.
Nàng bằng lòng cho chàng ở lại đêm đó và họ trở thành tình nhân. Chàng ra về lúc năm giờ sáng. Nàng không hiểu tại sao như vậy ; nàng rất hãnh diện mà chàng thì lại có vẻ xấu hổ.

Chàng rời phòng nàng và quẹo xuống con đường vắng về phía công viên. Sương mù giăng đầy khắp nơi. Phía dưới con dường một quãng không xa, chỉ chừng hai chục thước hoặc hơn một chút – có bóng dáng một người đàn ông mặc áo mưa, thân hình thấp và hơi mập. y dựa vào hàng rào công viên, nổi bật trong màn sương. Khi Leamas tiến lại, màn sương như daỳ hơn, bao quanh bóng người nơi hàng rào và khi nó tan bớt, người đó biến mất.

Hết chương 4
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 23:34:13Ct.Ly>
Chương 5-8
CuLong767805 nhận gõ

CHƯƠNG V

MUA CHỊU

Rồi một hôm, chừng một tuần sau chàng không tới thư viện, cô Crail mừng như mở cờ. Chưa đến mười một rưỡi, cô ta đã điện cho bà mẹ biết, và khi đi ăn trưa về, cô ta lại đứng trước các kệ sách về khảo cổ, nơi chàng đã làm việc. Cô ta nhìn chòng chọc vào các hàng sách và Liz biết cô ta đang làm bộ tìm xem Leamas có lấy cái gì không.
Liz hoàn toàn không để ý cô ta ngày hôm đó, quên cả trả lời khi cô ta gọi nàng và chăm chú vào công việc. Lúc chiều, nàng đi bộ về nhà và khóc cho đến khi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau nàng đến thư viện sớm. Nàng cảm thấy một cách mơ hồ là nàng càng đến sớm, Leamas càng có thể đến sớm. Buổi sáng hôm đó trôi qua, hy vọng của nàng trôi dần và nàng biết chàng sẽ không bao giờ đến. Nàng đã quên làm sandwich cho mình ngày hôm đó nên nàng quyết định đi xe buýt đến đường Barswater và đến quán ABC. Nàng cảm thấy trống rỗng và muốn bệnh nhưng không đói. Nàng có nên đi tìm chàng không? Nàng đã hứa là không bao giờ theo chàng nhưng chàng đã hứa là sẽ cho nàng biết, nàng có nên đi tìm chàng không?
Nàng vẫy một chiếc tăc xi và chỉ địa chỉ của chàng.
Nàng leo lên chiếc cầu thang u tối và nhấn chuông. Chuông hình như hư vì nàng không nghe thấy gì cả. Có ba chai sữa trên tấm thảm chùi chân và một hoá đơn từ cơ quan điện. Nàng ngập ngừng một lúc rồi gõ cửa, nàng nghe thấy tiếng rên của một người đàn ông. Nàng chay ùa xuống cầu thang, đập cửa rầm rầm và nhấn chuông căn hộ ở tầng dưới. Không nghe ai trả lời nên nàng lại chạy xuống tầng nữa và thấy mình ở phòng sau của một tiệm tạp hoá. Một bà già ngồi trong góc và đung đưa chiếc ghế. Liz nói như la lên:
- Ở phòng lầu trên cùng có một người ốm nặng. Có ai có chìa khoá không?
Bà già nhìn nàng một lúc và gọi vọng về căn buồng phía trước, nơi bán tạp hoá:
- Arthur, vào đây Arthur, có một cô gái đây nè.
Một người đàn ông mặc áo khoác nâu và đội mũ nỉ xám nhìn qua cửa và nói:
- Cô gái à?
Liz nói:
- Có người ốm nặng ở phòng trên cùng. Ông ấy không bước ra mở cửa được. Ông có chìa khoá không?
Ông ta trả lời:
- Không. Nhưng tôi có búa
Họ vội vàng lên thang lầu. Viên chủ tiệm tạp hoá vẫn đội cái mũ nỉ, mang theo một cây vặn ốc lớn và một cái búa. Ông ta gõ mạnh cửa và họ nín thở chờ tiếng trả lời. Không có động tĩnh.
Liz thì thào:
- Hồi nãy tôi có nghe một tiếng rên. Tôi cam đoan như vậy
- Cô có trả tiền cho cái cửa không, nếu tôi phá nó?
- Vâng!
Cái búa gây một âm thanh khủng khiếp. Với ba nhát, ông ta phá nguyên một miếng khung và ổ khoá rời ra theo. Liz bước vào trước và ông ta theo sau. Trong phòng lạnh cóng và tối om, nhưng trên chiếc giường trong góc họ nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.
Trời ơi, Liz nghĩ, nếu chàng chết chắc mình không dám chạm vào người chàng. Nhưng nàng vẫn tiến lại và chàng còn sống. Kéo màn cửa, nàng tiến lại gầng giường:
Nàng nói, không quay đầu lại:
- Tôi sẽ gọi ông nếu cần. Cám ơn ông
Viên chủ tiệm tạp hoá gật đầu và xuống lầu
- Alec, chuyện gì vậy? Chuyện gì làm anh ốm thế này? Chuyện gì vậy, Alec?
Leamas cựa quậy đầu trên mặt gối. Đôi mắt sâu hoắm của chàng nhắm lại. Bộ râu xám đen nổi bật trên gương mặt xanh xao
- Alec, anh phải cho em biết. Em van anh.
Nàng nắm lấy bàn tay của chàng, nước mắt nàng chảy dài trên má. Nàng luýnh quýnh không biết phải làm gì, rồi nàng đứng dậy chạy vào căn bếp nhỏ xíu và đặt một cái ấm lên bếp. Nàng không biết rõ phải làm gì nhưng làm an tâm vì đã làm một cái gì đó. Để ấm trên bếp, nàng nhặt chiếc ví tay, lấy chìa khoá phòng của Leamas để ở chiếc bàn đầu giường và chạy xuống lầu, qua bốn tầng cho tới dưới cùng và băng ngang đường tớ tiệm thuốc tây của Sleaman . Nàng mua một ít giò bê nấu đông, một ít thịt gà, một ít nước cốt thịt bò và một ống aspirine. Nàng đi ra cửa rồi quay lại, mua thêm một gói bánh mì khô. Tất cả tốn 16 đồng silling. Còn 4 đồng silling và 11 Anh kim trong trương mục tiết kiệm của nàng tại bưu cục nhưng số tiền này phải đến hôm sau nàng mới lĩnh được. Khi nàng về phòng ấm nước đang sôi.
Nàng làm món súp thịt bò như mẹ nàng thường làm, trong một cái ly có để sẵn một cái muỗng cà phê trong đó để tránh rạn ly, và trong suốt thời gian này nàng vẫn liếc nhìn chàng như sợ chàng chết mất.
Nàng phải đỡ chàng dậy cho chàng uống súp. Chàng chỉ có một cái gối và không có gối tựa nên nàng phải lấy chiếc áo khoác của chàng màng nơi cửa cuốn lại để dưới cái gối. Nàng phát sợ khi sờ vào người chàng: người chàng đẫm mồ hôi nên mái tóc ngắn màu xám ướt mèm và mềm nhũn. Để cái tách bên cạnh giường, nàng nâng đầu chàng bằng một tay còn tay kia cho chàng uống súp. Sau khi cho chàng uống được vài muỗng, nàng nghiền nát hai viên aspirine và để vào muỗng cho chàng uống. Nàng nói chuyện với chàng như thể chàng là một đứa bé trong lúc ngồi trên mép giường nhìn chàng, thì thầm tên chàng nhiều lần: “Alec, Alec”
Dần dần hơi thở chàng trở nên điều hoà, người chàng thoải mái hơn trong lúc chàng từ trạng thái đau đớn ê ẩm vì sốt bước vào một giấc ngủ yên tĩnh. Liz nhìn chàng, cảm thấy không có gì nguy ngập nữa. Bỗng nhiên, nàng nhận thấy trời đã gần tối.
Rồi nàng cảm thấy xấu hỗ vì đáng lẽ mình cần phải lau dọn phòng. Nhổm ngay dậy, nàng tìm một cái chổi quét thảm và một cái khăn ẩm dưới nhà bếp rồi bắt đầu làm việc một cách hăng hái. Nàng tìm một cái khăn bàn sạch và trải ngay ngắn trên chiếc bàn cạnh giường, rửa ly tách chén đĩa trong bếp. Khi mọi việc xong xuôi, nàng nhìn đồng hồ, thấy đã quá tám giờ rưỡi. Nàng để cái ấm lên bếp và quay lại giường. Leamas đang nhìn nàng. Nàng nói:
- Alec, anh đừng giận em, em xin anh. Em sẽ đi, em xin hứa nhưng hãy để em làm cho anh một bữa cơm. Anh đang ốm, anh không thể tiếp tục thế này, anh thật là,… ồ, Alec
Rồi nàng bật khóc, hai tay ôm lấy mặt, nước mắt chảy qua kẽ ngón tay, như nước mắt của một đứa bé. Chàng để mặc nàng khóc, nhìn nàng với cặp mắt nâu, tay nắm chặt lấy nệm giường.
Nàng giúp chàng rửa mặt, cạo râu, rồi nàng tìm thấy một ra giường sạch. Nàng cho chàng ăn một chút súp thịt bê, và một chút thịt gà từ cái hũ đã mua ở cửa hàng ông Sleaman. Ngồi trên giường, nàng nhìn chàng ăn và chợt có ý nghĩa mình chưa bao giờ hạnh phúc như thế.
Chẳng mấy chốc, chàng ngủ thiếp đi. Nàng lấy chăn đắp đến tận vai chàng rồi bước đến bên cửa sổ, rẽ những tầm màn vải thưa, nàng nâng khung cửa và nhìn ra ngoài.. Hai cửa sổ nơi sân, phía trên nhà kho đều thắp sáng đèn. Trong một khung cửa, nàng thấy bóng xanh nhấp nháy của một màn ảnh truyền hình, những bóng người im phăng phắc say mê theo dõi. Ở khung cửa sổ kia, một người đàn bà rất trẻ đang cuộn lại tóc. Liz muốn khóc trước những ảo tưởng khó hiểu của những giấc mơ của họ.
Nàng thiếp ngủ trong ghế bành và mãi tới gần sáng mới thức giấc, cảm thấy tê cóng vì lạnh. Nàng lại giường: Leamas cựa mình khi nàng lại gần giường và đưa đầu ngón tay sờ lên môi chàng. Chàng không mở mắt nhưng nhẹ nhàng cầm lấy tay nàng và kéo nàng xuống giường. Bỗng nhiên nàng muốn chàng mãnh liệt, không kể gì nữa, nàng hôn chàng liên tiếp không ngừng. Khi nàng nhìn chàng, hình như chàng đang mỉm cười.
Nàng đến hàng ngày, suốt sáu hôm liền. Chàng không bao giờ nói nhiều với nàng, và có lần khi nàng hỏi chàng có yêu nàng không, chàng bảo chàng không tin ở những câu chuyện thần tiên. Nàng thường nằm lên giường, kê đầu vào ngực chàng, và đôi khi chàng lùa những ngón tay to, thô ráp vào tóc nàng, giữ chặt mái tóc và Liz cười bảo đau. Vào tối thứ sáu, nàng thấy chàng mặc quần áo nhưng không cạo râu, và tự hỏi vì sao chàng không cạo? Vì một lý do mơ hồ, nàng cảm thấy sợ. Có những thứ lặt vặt biến mất khỏi phòng - đồng hồ và cái máy thu thanh xách tay rẻ tiền thường để trên bàn. Nàng muốn hỏi nhưng không dám. Nàng đã mua vài quả trứng và thịt heo và nàng nấu bữa tối trong khi Leamas ngồi trên giường hút thuốc liên miên. Khi bữa ăn sẵn sàng, chàng vào bếp và trở lại với một chai vang đỏ.
Chàng hầu như không nói gì suốt bữa ăn và nàng nhìn chàng, nỗi sợ hãi của nàng tăng dần cho đến khi nàng không chịu nổi nữa và nàng bật khóc.
- Alec, ồ Alec,… chuyện gì vậy? Mình sắp xa nhau rồi phải không anh?
Chàng đứng dậy, rời khỏi bàn, cầm tay nàng và hôn theo cách mà chàng chưa hề làm và nói với nàng một cách dịu dàng một lúc lâu, kể cho nàng nghe những điều nàng chỉ hiểu một cách mơ hồ. Nàng chỉ nghe được một nửa vì suốt câu chuyện nàng biết đã đến lúc chấm dứt và không còn gì quan trọng nữa. Chàng nói:
- Mình phải chia tay, Liz à. Đừng theo anh. Đừng nữa.
Liz gật đầu và khẽ nói:
- Như mình đã hứa với nhau.
Nàng cảm ơn cái lạnh cắt da ngoài đường và bóng tối đã che giấu những dòng lệ cho nàng.
Mãi sáng hôm sau, một ngày thứ bảy, Leamas mới hỏi mua chịu ở quán bán tạp hoá. Chàng hỏi với vẻ vụng về, theo một cách không tính sẵn trước để có thể thành công. Chàng gọi mua đến năm sáu món đồ - tất cả không quá 1 Anh Kim và khi người ta gói lạ bỏ vào bao chàng mới nói:
- Ông hãy gửi hoá đơn đến nhà tôi.
Gã chủ tiệm tạp hoá gượng mỉm cười và bảo:
- Tôi e không thể được.
Không có chữ “thưa ông” đi kèm theo đó.
- Sao lại không?
Leamas hỏi và những người khách xếp hàng dọc sau chàng xôn xao một cách khó chịu. Gã chủ tiệm trả lời:
- Tôi đâu có quen biết ông?
Leamas nói:
- Đừng có điên. Tôi đã đến đây bốn tháng rồi.
Gã chủ tiệm đỏ mặt
- Chúng tôi phải có giấy xác nhận của ngân hàng mới cho mua chịu.
Leamas nổi giận hét vang:
- Đừng có lớn lối. Nửa số khách hàng của anh chưa hề bước chân vào bên trong ngân hàng và chắc chắn đến chết họ cũng chẳng vào trong đó.
Đây là sự kiện không sao chối cãi vì nó đúng sự thật. Gã chủ tiệm tạp hoá bảo lại một cách thô lỗ:
- Tôi không quen biết ông, và tôi không thích ông. Bây giờ mời ông ra khỏi cửa hàng của tôi ngay.
Và y định lấy lại túi đồ chẳng may đang ở trong tay của Leamas.
Sau này người ta kể lại khác nhau về những gì xảy ra kế tiếp. Có người nói, gã chủ tiệm tạp hoá trong khi cố lấy lại gói đồ đã xô Leamas; những người khác lại bảo không phải vậy. Nhưng dù có thế hay không, hầu hết mọi người đều nhớ rằng Leamas đã đánh gã chủ tiệm trong lúc bàn tay phải vẫn đang cầm chặt gói đồ. Hình như chàng đã đánh không bằng nắm tay mà bằng cạnh bàn tay trái, rồi tiếp theo động tác nhanh lạ thường này, bằng cùi chỏ trái; và gã chủ tiệm ngã lăn kềnh ra bất động như một cục đá. Người ta kể rằng, sau đó khi ra toà, gã chủ tiệm còn bị thêm hai thương tích - một xương má bị bể vì cú đánh thứ nhất và một quai hàm bị trẹo vì cú thứ hai. Các bài tường thuật trên nhật báo đều khá đầy đủ nhưng không được tỉ mỉ cho lắm.

* * * * * * ***** **** * * *

CHƯƠNG VI

TIẾP XÚC

Ban đêm chàng nằm trên giường nghe các âm thanh do các tù nhân khác gây ra. Có một cậu bé khóc thút thít và một ông già hát bản “On likely Moor bar t’at” đánh nhịp trên chiếc hộp đồ ăn bằng thiếc. Có một anh gác ngục la lớn: “Câm đi, thằng ngu hèn hạ” sau mỗi câu hát nhưng không ai thèm để ý. Có một gã Ái nhĩ lan chuyên hát những bài ca về IRA dù các người khác nói gã vào tù vì tội hiếp dâm.
Leamas vận động cơ thể rất nhiều vào ban ngày với hi vọng về đêm chàng sẽ ngủ được; nhưng vô hiệu. Về đêm mình biết mình ở trong tù; về đêm không có gì, không có một sự đánh lừa nào của thị giác hoặc với chính mình có thể kéo mình ra khỏi tù túng muốn buồn nôn của xà lim. Mình không thể loại bỏ được cái mùi vị tù, mùi quần áo tù, mùi nhà vệ sinh được tẩy uế kỹ lưỡng, tiếng ồn ào của tù nhân. Chính lúc đêm về, sự mất nhân cách của đời sống lao tù trở thành không chịu nổi, chính lúc đó Leamas ước mình đi bộ trong ánh mặt trời đầm ấm của công viên ở Luân Đôn. Chính lúc đó, chàng ghét cay ghét đắng cái chuồng sắt to lớn đang nhốt mình, phải cố dằn lòng lắm mới không đập nắm tay vào chấn song hoặc đập vỡ mồm những tên gác và phóng vào khoảng trời tự do của Luân Đôn. Đôi khi chàng nghĩ đến Liz. Chàng thường hướng đầu óc mình về Liz một cách chớp nhoáng như màn che tiếp - vận – kính của một máy chụp hình, nhớ lại cảm giác khi mềm mại, khi rắn chắc trên thân hình thon dài của nàng rồi gạt ngay nàng ra khỏi ký ức. Leamas không phải là một người quen sống trong mộng tưởng.
Chàng khinh những bạn tù xà lim và họ ghét chàng. Họ ghét chàng vì chàng đạt được trạng thái mà ai nấy trong thâm tâm đều mong mỏi trở thành: một bí mật đối với những kẻ khác. Chàng cố gắng không hoà vào đám đông một phần rõ rệt của cá tính chàng, chàng không để bị lôi kéo vào chuyện tâm sự vụn vặt về người yêu của mình, gia đình của mình hoặc con cái của mình. Họ không biết gì về Leamas, họ đợi, nhưng chàng không thổ lộ. Tù nhân mới hầu hết gồm hai loại – có kẻ vì xấu hổ, sợ hãi hay xúc động mạnh thì chờ đợi trong sự ghê rợn lẫn mê hoặc để được người khác gợi cho biết những kiến thức về đời sống ngục tù, có kẻ thì mang chuyện của mình làm quà để cố hoà mình với mọi người. Leamas không thiên về loại nào. Chàng có vẻ hài lòng vì đã khinh được mọi người và họ ghét chàng vì, cũng như trong đời sống ngoài nhà tù, chàng không cần họ.
Sau chừng mười ngày họ không chịu nổi nữa. Tên đầu sỏ không được chàng kính nể, bọn đàn em không được chàng khích lệ một hai lời nên bọn họ ép Leamas khi đang xếp hàng đợi lấy cơm. “Ép” là một lẽ nghi trong tù, tương tự với xô lấn hồi thế kỷ 18. Bề ngoài không khác gì một tai nạn bất ngờ khiến cho gamen của tù nhân bị lật úp và thức ăn rơi đầy quần áo. Leamas bị xô mạnh về một bên trong khi bên kia có một bàn tay chờ sẵn chặt vào cánh tay chàng, và thế là chuyện xảy ra. Leamas không nói gì, nhìn một cách trầm ngâm vào hai gã đàn ông ở hai bên và lẳng lặng nhận chịu câu chửi tục tĩu của một tên giám thị vốn thừa biết chuyện gì xảy ra.
Bốn ngày sau, trong khi làm việc với một cái cuốc ở luống hoa của nhà tù, hình như chàng vấp ngã. Chàng đang cầm cái cuốc với hai tay ngang người mình, cái cán cuốc ló ra khỏi cánh tay phải độ chừng mười phân. Trong khi chàng vặn người cố giữ căng thẳng thì tên tù ở bên phải chàng gập đôi người với một tiếng rên đau đớn, tay ôm ngang bụng. Từ đó về sau, không có vụ “ép” nữa.
Có điều lạ nhất về chuyện tù là cái bao giấy màu nâu khi chàng ra khỏi tù. Một cách châm biếm, nó nhắc nhở chàng nhớ tới vụ cử hành hôn lễ - với chiếc nhẫn này ta kết hợp ngươi, với bao giấy này ta trả ngươi về xã hội. . Họ đưa chàng cái bao, yêu cầu chàng ký tên và cái bao chứa đựng tất cả tài sản của chàng. Không có cái gì khác nữa. Leamas cảm thấy đó là lúc mất nhân vị nhất trong ba tháng tù và chàng quyết định liệng cái bao đi ngay khi ra đường.
Chàng đã tỏ ra là một tù nhân ít nói, không ai phàn nàn gì chàng cả. Viên quản đốc Khám đường, người đã khá lưu tâm tới trường hợp của chàng nghĩ rằng đó là dòng máu Ái nhĩ lan mà ông ta khẳng định đã khám phá ra nơi chàng.
Ông ta hỏi:
- Anh định làm gì khi ra khỏi đây?
Leamas trả lời, không hề mỉm cười, rằng chàng sẽ làm lại cuộc đời và viên quản đốc nói rằng đó là một điều rất tốt. Và ông ta nói tiếp:
- Còn gia đình anh thì sao? Có dàn xếp yên được mọi chuyện với vợ anh không?
Leamas trả lời dửng dưng:
- Tôi sẽ cố. Nhưng cô ta đã tái giá rồi
Viên sĩ quan hướng dẫn muốn Leamas trở thành một nam trợ tá cho bệnh viện tâm trí ở Burkingham-chire và Leamas đồng ý nộp đơn xin. Chàng còn ghi cả địa chỉ và giờ xe lửa chạy từ Marylebone.
Viên sĩ quan nói thêm:
- Đường xe điện bây giờ chạy đến tận Great Messenden
Leamas bảo như vậy thì hay quá. Thế rồi họ đưa cái gói cho chàng và chàng ra đi. Chàng đi xe buýt đến Marble Arch và xuống đi bộ. Chàng có một ít tiền trong túi và muốn đãi mình một bữa tươm tất. Chàng nghĩ chàng sẽ đi bộ ngang qua công viên Hade để tới Picassilly, và rồi ngang công viên Green và công viên St.James để tới quảng trường quốc hội, và thả bộ xuống Whitehall xuống Strand, nơi chàng có thể đến quán cà phê lớn gần ga Charring Cross và ăn một đĩa thịt bò kha khá với giá 6 silling.
Hôm đó công viên thật đẹp, mùa xuân đã gần tàn và công viên đầy những hoa kỵ phủ lam và thuỷ tiên. Một luồng gío trong sạch và mát mẻ từ phía Nam thổi tới, chàng có thể đi bộ suốt cả ngày. Nhưng chàng vẫn còn gói đồ và chàng phải tống khứ nó đi. . Cái giỏ rác lại quá nhỏ và cố nhét cái túi vào là một hành vi lố bịch. Chàng nghĩ có một hai thứ nên lấy ra – toàn là giấy cũ nát, thẻ bảo hiểm, bằng lái xe và tấm giấy ba mang mấy chữ E93 vỏn vẹn đựng trong chiếc phong bì OHMS - màu vàng nhạt, nhưng bỗng nhiên chàng không muốn phiền phức với nó nữa. Chàng ngồi xuống trên một băng đá và để gói giấy bên cạnh mình, không gần lắm, và xích xa khỏi nó một chút. Sau vài phút, chàng bỏ đi để lại gói đồ. Chàng vừa tới lối đi thì nghe thấy một tiếng kêu, chàng quay lại, có lẽ hơi đột ngột, chàng nhìn thấy một người mặc áo mưa nhà binh gọi chàng, cầm cái gói giấy màu nâu.
Leamas thọc hai tay vào trong túi, quay nhìn qua vai về phía người đàn ông mặc áo mưa. Người đàn ông ngập ngừng, rõ ràng chờ Leamas quay trở lại hoặc tỏ dấu hiệu quan thiết, nhưng Leamas chẳng làm gì cả. Trái lại, chàng nhún vai và tiếp tục đi. Chàng nghe một tiếng kêu khác nhưng vẫn lờ đi và chàng biết người đàn ông đang chay theo sau. Chàng nghe thấy có tiếng chân trên sỏi, gần như chạy nhanh lại gần và một giọng nói gần như đứt quãng với một chút bực bội:
- Này ông, nghe tôi nói đây!
Rồi ông ta chạy lên ngang hàng với chàng khiến Leamas đành phải dừng lại, quay nhìn ông ta:
- Vâng?
- Đây là cái gói của ông phải không? Ông bỏ quên trên băng đá. Tại sao ông không dừng lại khi tôi gọi?
Cao, tóc xoăn màu nâu, cà vạt da cam và sơ mi xanh nhạt, hơi nóng tính, hơi diêm dúa. Leamas thầm nghĩ. Có thể là một giáo sư tốt nghiệp trường Kinh tế Luân đôn và điều hành một hội quán kịch nghệ ở ngoại ô. Mắt yếu. Chàng nói:
- Ông cứ việc để lại đó. Tôi không muốn mang theo.
Người đàn ông đổi sắc mặt:
- Ông không được để đồ ở đó, mất vệ sinh
Leamas đáp lại:
- Có thể lắm chứ. Có thể có người sẽ thấy nó hữu dụng.
Chàng định đi tiếp nhưng người lạ vẫn tiếp tục đứng trước mặt chàng, hai tay ôm cái gói như ôm một đứa trẻ con. Leamas nói:
- Xin cảm phiền tránh đường cho tôi.
Người đàn ông nói bằng một giọng cao hơn:
- Ô kìa, tôi cố ra ơn cho ông. Sao ông phải tỏ ra thô lỗ như thế?
Leamas nói:
- Nếu ông muốn ra ơn cho tôi, sao ông phải theo dõi tôi suốt nửa tiếng vừa qua?
Anh ta cũng khá đấy, chàng nghĩ, anh ta không có vẻ xao xuyến nhưng chắc cũng cứng người.
- Tôi ngỡ ông là một người tôi đã có dịp biết tại Bá Linh
- Vì vậy ông đã theo dõi tôi suốt nửa giờ qua?
Giọng Leamas đầy mỉa mai, trong lúc cặp mắt nâu của chàng vẫn không rời gương mặt ông ta.
- Đâu có tới nửa giờ. Tôi chợt trông thấy ông ở Marble Arch và ngỡ ông là Alec Leamas, người mà tôi đã mượn một số tiền. Tôi thường ở BBC tại Bá Linh và một người ở đó thường cho tôi mượn tiền. Từ đó tôi cứ bận tâm vì món nợ này và chính vì thế tôi đã đi theo ông. Tôi muốn chắc chắn.
Leamas tiếp tục nhìn anh ta không nói, và nghĩ anh ta không khá lắm nhưng cũng không tệ. Câu chuyện của anh ta nghe khó xuôi nhưng cũng không sao. Điều đáng kể là anh ta đã tạo ra một chuyện mới và bám theo nó sau khi Leamas đã phá cái lối làm quen cổ điển. Cuối cùng chàng bảo:
- Tôi là Leamas, còn ông là ai?
Anh ta cho biết tên là Ashe , với một chữ ‘e” anh ta nói thêm. Và Leamas hiểu anh ta đang nói dối. Anh ta làm bộ không chắc Leamas quả là Leamas nên trong bữa ăn trưa, cả hai mở cái gói và xem thẻ bảo hiểm quốc gia, như hai anh chàng nhu nhược đang rửa mắt với một tấm hình tục tĩu. Ashe gọi thức ăn như một kẻ bất cần phí tổn và họ uống Frankenwein để hồi tưởng thời xưa. Leamas bắt đầu bằng cách chàng không nhớ nổi Ashe và Ashe bảo anh ta rất lấy làm lạ. Anh ta nói với cái giọng ra vẻ mất lòng. Anh ta kể lại hai người đã gặp nhau tại nhà Derek Williame phía trên khu Ku-damn (quả đúng như vậy), vả cả bọn nhà báo cũng ở đó, chắc Alec phải nhớ chứ? Không, chàng không nhớ. Vậy chắc chàng nhớ Derek Williams viết cho tờ Observer, gã thanh niên chịu chơi vẫn thường tổ chức những bữa tiệc đầy thú vị?. Leamas có một trí nhớ rất tồi vê tên người và chăng họ đang nói chuyện về năm 1954, biết bao nhiêu nước đã chảy qua dưới cầu kể từ năm đó… Ashe vẫn nhớ (tên thánh của anh ta là William, tuy vậy hầu hết mọi người vẫn gọi ông ta là Bill), Ashe nhớ một cách rõ ràng. Họ đã uống như một hũ chìm, rượu mạnh cùng rượu bạc hà, và cả hai đều ngà ngà say, rồi Derek gọi các em thật thơm, phân nửa là vũ nữ hộp đêm Malkesten, chắc Alec còn nhớ? Leamas bảo có lẽ chàng sẽ nhớ lại được nếu Bill cứ tiếp tục nói thêm chút nữa.
Bill tiếp tục, có lẽ đụng đâu nói đó nhưng khá hấp dẫn, hơi thiên về chuyên trai gái. Anh ta bảo rằng họ đã kết thúc đêm vui tại một hộp đêm với ba cô gái trong bọn kể trên như thế nào. Alec, một anh chàng làm việc tại phòng cố vấn chính trị và Bill; và Bill đã quá bối rối vì quên mang tiền theo nên Alec phải trả, và Bill đã muốn đem một em về phòng và Alec đã cho anh ta mượn một món tiền nữa…
Leamas kêu lên:
- Trời ơi, bây giờ tôi đã nhớ. Dĩ nhiên là phải nhớ.
Ashe sung sướng nói, gật đầu với Alec qua mép ly
- Tôi biết anh sẽ nhớ ra. Nào, mình hãy uống cạn ly. Vui quá!
Ashe tiêu biểu cho loại người sống với người khác theo một nguyên tác: thử thách và đáp ứng. Mềm nắn rắn buông. Tự mình không có một ý kiến hoặc sở thích nào đặc biệt, anh ta dựa theo bất cứ điều gì phù hợp với kẻ đối thoại. Anh ta sẵn sàng uống trà tại tiệm Fortum và uống bia tại Prospect of Whitby; anh ta có thể nghe quân nhạc tại công viên St.James cũng như có thể nghe nhạc jazz trong một hầm nhạc tại đường Compton; giọng anh ta có thể rất run rẩy đầy thiện cảm khi nói về Shapervile, hoặc có vẻ hằn học khi nói về sự gia tăng của những người da màu tại Anh Quốc. Với Leamas, cái vai trò thụ động rõ rệt này thật là đáng lánh; nó bộc lộ cái huênh hoang nơi anh ta nên chàng thường nhẹ nhàng đưa hắn vào một vị trí đã định và tự mình rút về khiến Ashe luôn luôn phải luống cuống thối lui khỏi thế kẹt mà Leamas đã nhử hắn vào. Trưa hôm đó có những lúc Leamas ương ngạnh một cách khá trâng tráo đến nỗi Ashe cảm thấy có đủ lý do để chấm dứt câu chuyện - nhất là vì hắn là người trả tiền – nhưng hắn không dứt chuyện. Người đàn ông nhỏ thó với nét mặt buồn bã đeo kính ngồi ở bàn bên cạnh, đang mải mê với cuốn sách nói về sự chế tạo các vỏ bao đạn, có lẽ đã suy đoán rằng, nếu anh ta đang lắng nghe, Leamas đang say sưa với trò hành hạ người bạn ngồi chung bàn, hoặc (nếu anh ta là một người rất tinh tế) Leamas đang chứng tỏ rằng chỉ người nào có một lý do kín đáo thúc đẩy mới chịu đựng được lối đối xử như vậy.
Khi họ gọi tính tiền thì đã gần bốn giờ, Leamas cố nài trả phần mình nhưng Ashe không chịu. Anh ta trả tiền và rút tập ngân phiếu ra để trang trải món nợ của anh ta cho Leamas. Anh ta vừa nói vừa điền ngày tháng vào ngân phiếu:
- Hai chục Anh kim
Rồi anh ta ngước nhìn Leamas, mở to mắt và mỉm cười:
- Anh lấy chi phiếu tiện cho anh chứ?
Hơi đỏ mặt, Leamas trả lời:
- Lúc này tôi không có ngân hàng nào cả vì mới ở ngoại quốc về. Chắc tôi phải thu xếp lại. Tốt hơn anh đưa tôi một chi phiếu và tôi sẽ lĩnh tiền tại ngân hàng của anh.
- Bồ ơi, tôi không hề ngờ như vậy. Anh phải đi tới Rotherhithe để đổi chi phiếu này lấy tiền mặt.
Leamas nhún vai và Ashe cười. Họ đồng ý gặp lại nhau vào chỗ cũ ngày hôm sau, vào lúc một giờ. Ashe sẽ mang tiền mặt đến.
Ashe kêu tắc xi tại đường Compton và Leamas vẫy tay chào cho đến khi cái xe khuất dạng. Lúc xe đi rồi, Leamas nhìn đồng hồ. Bốn giờ. Chàng đoán là vẫn còn bị theo dõi nên đi bộ xuống đường Fleet và uống cà phê tại quán Black and White. Chàng nhìn các tiệm sách, đọc qua các bài báo buổi chiều bày tại các sạp báo. Rồi hết sức bất ngờ, làm như ý tưởng đó mới hiện đến trong đầu, chàng nhảy lên một chiếc xe buýt. Xe buýt chạy đến đồi Ledgate, thì bị kẹt đường tại một chô gần ga tàu điện ngầm. Chàng liền xuống xe và đi tàu điện. Chàng mua vé giá 6 xu, đứng trên ga cuối và xuống ga kế. Chàng đáp một chuyến tàu khác tới Euston, đi ngược lại Charing Cross. Khi chàng tới ga thì đã 9 giờ và trời trở lạnh. Một chiếc xe chở hàng đậu trong sân phía trước và gã tài xế xe đang ngủ.
Leamas liếc nhìn số xe, đi lại và gọi chủ xe:
- Ông từ Clement tới phải không?
Người tài xế giật mình thức dậy, hỏi:
- Ông là Thomas?
Leamas trả lời:
- Không, Thomas bận không đến được. Tôi là Amies từ Houslow đến.
Người tài xế mở cửa:
- Nhảy vào đi, ông Amies
Họ cho xe chạy về phía Tây, tới đường King. Người tài xế có vẻ biết rõ con đường.
Contro mở cửa cho chàng và bảo:
- George Smiley đi vắng. Tôi đã mượn nhà anh ta. Anh hãy vào đây.
Khi Leamas đã đi vào và cửa được đóng lại, Control mới bật đèn trong tiền đình. Leamas nói:
- Tôi bị theo dõi đến tận giờ ăn trưa.
Họ bước vào một phòng khách nhỏ, sách để đầy rẫy. Đó là một căn phòng xinh xắn, trần cao, trang trí kiểu thế kỷ 18, cửa sổ dài và một lò sưởi tốt.
Leamas đốt một điếu thuốc lá và nói tiếp:
- Chúng vừa tiếp xúc với tôi sáng nay. Một người tên Ashe. Một anh diêm dúa. Chúng tôi hẹn mai gặp lại.
Control chăm chú nghe chuyện của Leamas, từng đoạn một, từ ngày chàng đánh gã chủ tiệm tạp hoá Ford cho đến cuộc chạm trán với Ashe sáng hôm nay. Control hỏi, tựa hồ Leamas vừa nghỉ phép về:
- Anh thấy ở tù ra sao? Rất tiếc chúng tôi không làm gì hơn đựơc cho anh. Chẳng hạn thêm một chút tiện nghi đặc biệt, chúng tôi không thể làm thế.
- Dĩ nhiên là không.
- Phải trước săunh một. Đối với mỗi giai đoạn mình phải theo đúng răng rắc. Nếu phá mặt lá bùa thì hỏng bét. Tôi nghe nói anh đã bị ốm. Tôi xin chia buồn. Sao vậy?
- Chỉ là bị sốt chút đỉnh.
- Anh phải nằm bao lâu?
- Khoảng mười ngày.
Im lặng rất lâu rồi Control tự hỏi một cách bình thản:
- Anh biết cô ta ở trong Đảng Cộng Sản chứ?
Leamas đáp:
- Vâng
Im lặng một lúc nữa, Leamas mới tiếp lời:
- Tôi không muốn cô ta bị liên quan vào chuyện này
- Sao lại để cô ta liên quan?
Control hỏi bằng giọng gay gắt, trong chốc lát, chỉ trong chốc lát Leamas nghĩ chàng đã chọc thủng được chiếc mặt nạ lãnh đạm giả tạo của ông ta. Control tiếp:
- Ai nói là nên đưa cô ta vào vụ này?
Leamas trả lời:
- Không ai nói cả. Tôi chỉ muốn trình bày việc này cho rõ. Tôi biết sự việc sẽ ra sao – toàn những hành động gây hấn. Sẽ có những vụ phản động, những diễn biến bất ngờ. Trong lúc mình yên trí sẽ bắt được một con cá thì lại bắt dược con cá khác. Tôi muốn cô ta được tách ra khỏi vụ này.
- Hẳn rồi, hẳn rồi.
- Người đàn ông tên Pitt ở Nha Nhân công là ai vậy? Có phải anh ta đã làm cho cơ quan trong thời chiến tranh?
- Tôi không biết ai có tên đó. Anh nói y tên Pitt?
- Vâng
- Không, tôi không hề biết y. Anh nói y làm ở Nha Nhân công à?
Leamas khẽ kêu lên:
- Trời ơi!
Control đứng dậy:
- Tôi xin lỗi đã lơ là nhiệm vụ của m ột phó gia chủ. Anh uống một ly nhé?
- Không, tôi muốn đi ngay đêm nay. Về thôn quê để tập luyện lại. Nhà còn mở cửa chứ?
- Tôi sẽ thu xếp một chiếc xe. Anh sẽ gặp lại Ashe mấy giờ ngày mai - một giờ chứ?
- Tôi sẽ điện thoại cho Haldane hay anh muốn theo luyện. Anh nên đi khám bác sĩ, về cái bệnh sốt hôm trước của anh.
- Tôi không cần bác sĩ.
- Tuỳ anh.
Control tự rót cho mình một ly whisky và lơ đễnh nhìn giá sách của Smiley xếp trên kệ. Leamas hỏi:
- Sao không có Smiley ở đây?
Control trả lời một cách thản nhiên:
- Anh ta không thích công tác này. Anh ta nghĩ đây là một vụ không thú vị. Tuy vẫn cho là cần thiết nhưng anh ta vẫn không muốn dính vào.
Control vừa mỉm một nụ cười lạ vừa nói thêm:
- Cơn sốt của anh ta hầu như vẫn tái diễn thường xuyên.
- Anh ta không ưa tôi.
- Đúng thế, anh ta không muốn dính vào nhưng anh ta đã nói cho anh nghe về Mundt và anh cho biết tình hình hiện tại?
- Vâng
Control trầm ngâm
- Mundt là một tên khó chơi, chúng ta đừng bao giờ quên điều đó. Y lại còn là một sĩ quan tình báo lỗi lạc.
- Smiley có biết lý do công tác không? Các lợi ích đặc biệt.
Control gật đầu và hớp một miếng whisky:
- Thế mà anh ta vẫn không thích?
- Đây không phải là vấn đề luân lý. Anh ta cũng như một viên bác sĩ giải phẫu chán thấy máu. Anh ta thích có người khác đảm đương vụ này.
- Xin ông hãy cho tôi biết, tại sao ông chắc việc này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn? Sao ông bọn Đông Đức sẽ nhảy vô mà không phải bọn Tiệp hay Nga?
Control nói giọng hơi phách lối:
- Anh cứ yên tâm. Mọi việc đã đựơc lo liệu kỹ càng.
Khi hai người ra đến cửa, Control nhẹ đặt tay lên vai Leamas và bảo:
- Đây là một công tác cuối cùng của anh. Rồi anh sẽ được về, khỏi phải ở ngoài nơi giá lạnh. Còn cô gái đó – anh có muốn chúng tôi giúp cô ta cái gì không? tiền bạc hay bất cứ gì?
- Khi công việc xong, tôi sẽ tự lo cho cô ta.
- Hẳn rồi. Làm cái gì bây giờ cũng không an toàn.
Leamas nhấn mạnh lần nữa:
- Tôi muốn cô ta được yên. Tôi không muốn cô ta bị quấy rầy. Tôi không muốn cô ta có tên trong hồ sơ hoặc bất cứ thứ gì. Tôi muốn mọi người quên cô ta đi.
Chàng gật đầu chào Control và nhẹ nhàng bước ra ngoài không khí ban đêm. Vào nơi giá lạnh.


******************

CHƯƠNG VII
KIEVER
Ngày hôm sau, Leamas đến muộn hai mươi phút so với giờ hẹn ăn trưa với Ashe và người nồng mùi whisky. Vẻ khoan khoái của Ashe khi thấy chàng, tuy vậy vẫn không giảm sút. Anh ta cho hay cũng vừa mới tới, hơi trễ một chút vì phải đi nhà băng. Anh ta đưa cho chàng một phong bì:
- Giấy một anh kim, được chớ?
Leamas nói:
- Cám ơn. Mình hãy uống một ly.
Chàng không cạo râu và cổ áo dơ dáy. Chàng gọi bồi kêu rượu, một ly whisky lớn cho chàng và một ly gin cho Ashe. Khi rượu được mang tới, tay của Leamas run rẩy trong khi rót sôda vào ly, suýt đổ ra ngoài.
Họ ăn ngon, uống nhiều và Ashe nói hầu hết câu chuyện. Như Leamas đã đoán trước, thoạt tiên anh ta nói những chuyện về mình, một mánh khoé từ xưa nhưng không đến nỗi tệ. Ashe bảo:
- Thành thực mà nói, tôi dạo này khác. Viết bài anh ngữ cho báo ngoại quốc, làm việc không bó buộc. Sau thơi gian ở Bá Linh, đầu tiên mọi việc đều rối beng lên cả - Công ty không chịu tái tục khế ước và tôi phải làm cho một tờ tuần báo lá cải về sở thích của những ông già trên 60. Anh có tưởng tượng được cái gì đáng sợ hơn không? Đó là vào lúc xảy ra cuộc đình công thứ nhất của ngành ấn loát. Thật đỡ cho tôi quá. Rồi tôi về sống với bà cụ ở Cheltenham một thời gian – bà cụ có một tiệm bán đồ cổ thuộc vào loại khá. Rồi tôi nhận được thư của một người bạn cũ, tên thật của anh ta là Sam Kiever, lúc đó đang khởi sự xây dựng một cơ sở mới chuyên viết những loạt bài ngắn về nước Anh, đặc biệt dành cho báo ngoại quốc. Anh biết loại bài này mà – 600 chữ. Về môn khiêu vũ Morris Sam tuy vậy mà lại có một mánh khoé: anh ta bán loại bài đã được dịch sẵn và anh biết không, nó khiến mọi người khác hẳn. Thiên hạ cứ nghĩ rằng ai cũng có thể mướn một người dịch hoặc tự mình dịch lấy, nhưng nếu anh đang tìm bài để nhét vào nửa cột báo, nói về đời sống dân ngoại quốc, anh sẽ không muốn phí thời giờ và tiền bạc vào chuyện dịch thuật. Mẹo của Sam là tiếp xúc thẳng với các chủ bút – ông ta đi khắp châu âu như một tên du mục, kể cũng tội nghiệp, nhưng có việc luôn.
Ashe dừng lại, đợi Leamas nói chuyện về chàng nhưng Leamas lờ đi. Chàng chỉ gật gù và bảo “Hay quá!”. Ashe định gọi rượu vang nhưng chàng bảo chỉ uống whisky và khi bồi bưng cà phê ra chàng đã uống bốn ly lớn. Chàng có vẻ rạc người đi: Chàng có thói quen của bợm rượu, chõ môi ra về phía ly trước khi uống, làm như mình có thể lỡ tay và làm đổ rượu.
Ashe im lặng một lúc rồi hỏi:
- Anh không biết Sam à?
- Sam?
Giọng Ashe có vẻ bực bội:
- Sam Kiever, sếp của tôi. Cái anh chàng tôi vừa nói chuyện ấy mà.
- Anh ta cũng ở Bá linh sao?
- Không. Anh ta biết rõ nước Đức nhưng chưa hề tới Bá Linh. Anh ta có quấy phá ở Bonn một chút, viết báo kiểu tài tử ấy mà. Anh có thể đã gặp anh ta, anh ta dễ thương lắm.
- Tôi không nghĩ là đã gặp anh ta.
Im lặng một lát, Ashe chợt hỏi:
- Dạo này bồ làm gì?
Leamas nhún vai và nhăn răng cười có vẻ ngây ngô.
- Ngồi chơi, bị cho về vườn và đang ngồi chơi.
- Tôi quên không nhớ anh đã làm gì ở Bá Linh? Anh không phải là một trong những chiến sĩ bí mật của cuộc chiến tranh lạnh sao?
Mẹ kiếp, Leamas nghĩ, bạn hơi vội đấy nhé. Chàng nghập ngừng và đỏ mặt, tỏ vẻ hung hãn nói:
- Làm công cho bọn Mẽo cũng giống như phần lớn các bạn của tôi.
Ashe nói, làm như đã đắn đo ý từ lâu:
- Anh nên gặp Sam, anh sẽ thích anh ta.
Và anh nói thêm vẻ lo âu:
- Này Alec, tôi không biết làm cách nào để có thể gặp anh?
Leamas trả lời một cách hờ hững:
- Không được đâu
- Tôi không hiểu nổi ý anh. Hiện giờ anh ở đâu?
- Thì loanh quanh đây. Hơi bê bối một chút, tôi vẫn chưa có việc làm. Bọn khốn không chịu cấp dưỡng cho tôi khá hơn một chút.
Ashe có vẻ kinh ngạc:
- Alec này, thế thì tệ quá. Sao anh không bảo tôi? Sao anh không đến ở đằng tôi? Nhỏ thôi nhưng đủ chỗ cho một người nữa nếu anh không ngại nằm trên cái đi văng. Anh không thể sống lang bang như vậy được.
Leamas vừa trả lời vừa vỗ tay vào cái túi đựng tiền:
- Hơi đỡ rồi. Tôi sẽ tìm được việc làm.
Rồi chàng gật đầu với vẻ quả quyết
- Độ một hai tuần là có. Rồi đâu sẽ lại vào đấy.
- Việc loại nào?
- Ồ, không biết nữa. Bất cứ gì.
- Nhưng anh không thể sống tiêu cực như thế được. Alec, anh nói tiếng Đức cừ như dân bản xứ, tôi vẫn nhớ thế mà. Anh có thể làm được khối việc.
- Tôi đã làm khối việc. Bán Bách khoa toàn thư cho một hãng buôn Mỹ, xếp sách ở một thư viện tâm linh, bấm lỗ thẻ trong một xưởng làm kẹo hôi thối. Tôi còn có thể làm cái mẹ gì bây giờ?
Chàng nói trong lúc mắt không ngước lên nhìn Ashe mà nhìn cái bàn trước mắt, đôi môi run lên vì sự kích động. Ashe đáp lại sự kích động này bằng cách, cúi người qua mặt bàn, nói nhấn mạnh một cách đắc thắng:
- Alec, bạn cần chỗ quen biết, bạn hiểu không? Tôi đã hiểu rõ vì chính tôi đã gặp phải cảnh này. Đó là lúc anh cần biết người này người nọ. Tôi không biết anh đã làm gì ở Bá Linh, tôi không muốn biết, nhưng chắc chắn đó không phải việc mà anh có thể gặp những người đáng nói, phải không? Nếu tôi đã không gặp Sam ở Poznan năm năm trước thì tôi vẫn còn đói dài dài. Alec anh hãy đến ở với tôi vài tuần đi. Bọn mình sẽ dò hỏi Sam hoặc một vài tên bạn ký giả cũ ở Bá Linh, nếu còn có tên nào.
Leamas lắc đầu:
- Nhưng tôi không viết lách gì được. Tôi có viết được cái mẹ gì đâu?
Ashe đặt tay lên cánh tay của Alec và xoa dịu:
- Anh đừng nóng. Mình cứ từ từ lo mọi việc. Đồ phụ tùng của anh hiện giờ để ở đâu?
- Cái gì của tôi?
- Thì vật dụng của anh đó: quần áo, hành lý và các món khác
- Tôi chẳng có gì cả. Tôi bán hết rồi, trừ cái gói đồ.
- Cái gói nào?
- Cái gói màu nâu mà anh đã nhặt được ở công viên hôm qua. Cái gói mà tôi đã quăng đi.
Ashe có một căn phòng ở công trường Dolphin. Thật đúng như Leamas phỏng đoán – căn phòng nhỏ và không có gì đặc sắc, ngoại trừ vài món đồ chơi mang từ Đức về đến vội vàng: ly uống bia, một ống điếu kiểu quê mùa, vài cái tượng mỹ nhân hạng thường. Ashe nói:
- Cuối tuần tôi về với bà cụ ở Cheltonham. Tôi chỉ ở đây vào những ngày giữa tuần thôi. Như thế này cho tiện.
Họ kê cái đi văng vào trong phòng khách nhỏ xíu. Lúc đó khoảng bốn giờ rưỡi, Leamas hỏi:
- Anh ở đây được khoảng bao lâu rồi?
- Ồ, khoảng trên dưới một năm
- Tìm ra có dễ không?
- Kẻ này đi thì người khác đến. Anh biết đấy, những căn này vẫn thế. Mình ghi tên và có ngày có người gọi điện thoại đến cho mình biết là có phòng trống.
Ashe pha trà và cả hai cùng uống. Leamas lầm lì như một kẻ không quen với tiện nghi. Ngay cả Ashe cũng có phần lắng dịu. Sau khi uống xong, Ashe nói:
- Tôi chạy ra ngoài mua chút đồ trước giờ các bảng tiệm đóng cửa rồi sau đó mình sẽ tính phải làm gì. Có lẽ là tôi sẽ địên thọai cho Sam tối nay – tôi nghĩ là hai anh gặp nhau càng sớm càng tốt. Sao anh không ngủ đi – trông anh phờ phạc lắm.
Leamas gật đầu và phát một cử chỉ vụng về:
- Anh tốt quá. Anh đã hết lòng với tôi.
Ashe vỗ vai Leamas, nhặt cái áo mưa nhà binh và đi ra.
Ngay lúc Leamas biết Ashe đã đi khỏi, chàng để cánh cửa trước hơi hé mở và xuống lầu ra căn phòng chính nơi có hai buồng điện thoại Chàng quay một số MadenVale và hỏi gặp thư ký của Thomas. Tức thì một giọng con gái cất lên:
- Thư ký của ông Thomas đây.
- Tôi gọi giùm cho ông Sam Kiever. Ông ấy đã nhận lời mời và mong được tiếp xúc với ông Thomas tối nay.
- Tôi sẽ chuyển lời lại cho ông Thomas. Ông ấy có biết chỗ liên lạc với ông không?
Leamas liền cho địa chỉ:
- Công trường Dolphin
Sau khi hỏi thăm vài chuyện ở quầy lễ tân, chàng quay về phòng của Ashe và ngồi xuống chiếc đi văng nhìn hai tay đang nắm vào nhau. Môt lúc sau chàng nằm xuống. Chàng quyết định theo lời khuyên của Ashe là nghỉ ngơi một chút. Trong lúc nhắm mắt, chàng tưởng tượng Liz đang nằm bên cạnh mình ở Bayswater và tự hỏi bây giờ nàng ra sao.
Chàng bị đánh thứ bởi Ashe, đi với một người có thân hình hơi mập, thấp, với mái tóc hoa râm dài chải lật ra sau và mặc bộ quần áo có cổ rất lớn. Y nói với một giọng hơi giống miền Trung âu, có lẽ là giọng Đức, thật khó đoán. Y nói tên y là Kiever – Sam Kiever.
Họ uống gin-tonic và Ashe nói nhiều nhất trong bọn. Hắn bảo cũng như hồi xưa ở Bá Linh, cả bọn tụ họp lại chơi suốt đêm. Kiever cho hay y không muốn về trễ quá, sáng mai y còn chuyện phải làm. Họ đồng ý ăn ở một nhà hàng Trung Hoa mà Ashe biết - đối diện với bót cảnh sát Limehouse và mình có thể mang rượu theo. Hơi lạ là Ashe có mấy chai Burgundy trong bếp và họ mang theo trên tắc xi.
Bữa ăn tối thật ngon và họ uống hết cả hai chai rượu. Kiever hé lộ một chút khi bắt đầu uống chai thứ hai: y vừa đi một vòng Tây Đức và Pháp về. Ở Pháp tình hình đang rối beng, De Gaulle đang trên đà đi xuống và chỉ có trời mới biết chuyện gì sắp xảy ra. Với một trăm ngàn anh thực dân bại hoại phong hoá từ Algierie trở về, y tin chắc chế độ phát xít sắp sửa vùng lên. Ashe hỏi y để gợi chuyện:
- Còn Đức thì sao?
Kiever nhìn Leamas một cách mời mọc:
- Đó chỉ là vấn đề bọn Mẽo có giữ đựơc họ không?
Leamas hỏi:
- Thế nghĩa là sao?
- Thế nghĩa là Dulles cho họ chính sách đối ngoại bằng một tay, Kenedy lấy lại bằng tay khác. Họ bắt đầu bực rồi.
Leamas gật đầu:
- Đúng là bọn Mẽo chính cống
Ashe xen lời một cách độc địa:
- Alec có vẻ không ưa các anh bạn Mỹ của mình
Và Kiever khẽ bảo với vẻ thản nhiên:
- Thế à?
Leamas nhận thấy Kiever chơi cái trò này rất lâu. Như một người quen dùng ngựa, y để người ta phải đến với y. Y tuyệt giỏi trong việc gây cho một kẻ đa nghi có cảm tưởng rằng y sắp được hỏi xin một đặc ân, và không dễ gì y chịu nhượng bộ.
Sau bữa ăn, Ashe nói:
- Tôi biết một chỗ ở sau đường Wardour – anh đã từng đến đó rồi mà, anh Sam. Họ tiếp đãi khá lắm, mình gọi tắc xi lại đó đi?
Leamas hỏi với một vẻ khác lạ trong giọng khiến Ashe nhìn chàng thật nhanh
- Khoan. Xin các anh cho tôi biết một điều. Ai trả tiền cho cuộc du hí này?
Ashe đáp ngay:
- Tôi. Sam và tôi.
- Các anh đã bàn chuyện này chưa?
- Ồ.. chưa.
- Bởi vì tôi không có tiền. Chắc các anh đều biết điều đó. Không có tiền để liệnh đi như thế.
- Tất nhiên, Alec. Tôi lo cho anh chu đáo đến tận giờ phút này mà.
- Đúng. Anh nói đúng.
Chàng như định nói điều gì nữa nhưng đổi ý. Ashe có vẻ băn khoăn nhưng không giận còn Kiever thì vẫn khó hiểu như từ trước.
Leamas tránh nói trên tắc xi và Ashe cố gắng gợi chuyện bằng vài nhận xét hoà giải nhưng chàng chỉ nhún vai. Họ đến đường Wardour và xuống xe. Cả Kiever và Leamas đều không sẵn sàng trả tiền xe. Ashe dẫn họ qua cửa hàng bày bán các tạp chí dành cho thiếu nữ, đi vào một ngõ hẻm, cuối hẻm là một bảng hiệu bằng đèn ống rẻ tiền đang chói sáng: HỘI QUÁN PUSSYWILLOW – DÀNH RIÊNG CHO HỘI VIÊN. Hai bên cửa vào là hình chụp các cô gái, và trên mỗi hình đều có ghim một tờ giấy mỏng viết tay bằng chữ in: nghiên cứu thiên nhiên – dành riêng cho hội viên.
Ashe bấm chuông. Cửa được mở ngay bởi người đàn ông cao lớn mặc áo sơ mi trắng và quần đen. Ashe bảo:
- Tôi là hội viên. Hai vị này đi với tôi.
- Ông cho xem thẻ.
Ashe rút ra một chiếc thẻ màu vàng trong ví và đưa cho ông ta.
- Khách của ông phải trả mỗi người một anh kim và được xem như hội viên tạm thòi. Ông giới thiệu phải không?
Hắn đưa trả thẻ và trong lúc đó Leamas với tay qua người Ashe đón lấy cái thẻ. Chàng nhìn tấm thẻ một lúc và trả cho Ashe.
Lấy ra hai Anh kim trong túi quần, Leamas đặt vào tay người đàn ông và nói:
- Hai Anh kim cho khách
Và mặc những lời phản đối đầy sửng sốt của Ashe, chàng đưa cả bọn qua lối vào có màn che, vào trong hành lang mờ tối của hội quán. Chàng quay lại nói với gã gác cửa:
- Tìm cho chúng tôi một cái bàn và một chai whisky. Và đừng để ai đến quấy rầy chúng tôi.
Gã gác cửa ngập ngừng một lát rồi quyết định không cãi lại làm gì, đưa cả bọn xuống thang. Trong lúc xuống thang, họ nghe thấy một tiếng rên rỉ rất nhỏ của âm nhạc. Họ lấy một cái bàn riêng ở cuối phòng. Một ban nhạc hai người đang trình diễn và các cô gái đang ngồi túm năm tụm ba ở quanh phòng. Có hai cô đứng dậy khi họ tới gần nhưng gã gác cửa cao lớn lắc đầu.
Ashe liếc nhìn Leamas một cách bất yên trong khi cả ba đang đợi whisky, Kiever có vẻ hơi khó chịu. Anh bồi mang đến một chai rượu và ba cái ly. Họ ngồi im lặng nhìn trong lúc anh bồi rót vào mỗi ly một ít rượu. Leamas liền lấy chai rượu từ tay anh bồi và lót thêm vào ly số rượu bằng số ban nãy. Rót xong, chàng nghiêng mình qua bàn nói với Ashe:
- Bây giờ có lẽ anh sẽ cho tôi biết tất cả câu chuyện này là cái quái gì?
Ashe có vẻ phân vân:
- Anh định nói gì? Anh định nói gì thế, hả Alec?
Chàng trầm tĩnh bắt đầu:
- Anh theo dõi tôi từ cửa khám, ngày tôi được phóng thích, bịa ra một câu chuyện xuẩn ngốc là dã gặp tôi ở Bá Linh. Anh trả tôi số tiền mà anh không hề nợ tôi. Anh đãi tôi ăn uống tốn kém và lại chấp nhận chứa chấp tôi ở nhà anh…
Ashe đỏ mặt:
- Nếu đó là…
Leamas nói hùng hổ:
- Anh đừng ngắt lời. Cứ đợi đến khi tôi nói xong đã, anh nghe chưa? Thẻ hội viên của anh để vào đây được cấp cho một người tên Murphy. Tên anh đó chứ gì?
- Không phải
- Vậy chắc là một anh bạn nào tên Murphy cho anh mượn thẻ?
- Không. Quả không phải thế. Nếu anh cần biết, tôi đến đây thỉnh thoảng để kiếm một cô gái. Tôi dùng một tến giả để vào hội.
Leamas vẫn tiếp không nương tay:
- Vậy tại sao người ta lại ghi Murphy là người thuê căn phòng của anh
Cuối cùng Kiever phải lên tiếng:
- Anh về đi. Tôi sẽ lo chuyện này.
Một cô gái đang biểu diễn màn thoát y vũ, một cô gái trẻ ngăm ngăm có vết bầm đen trên đùi. Cô ta có một thân hình thảm hại khiến người xem thêm khó chịu, bởi vì nó chẳng gợi tình tí nào, nó vụng về và không gây hứng thú. Cô tay quay mình một cách chậm chạp, thỉnh thoảng tay chân mới giật một cái, tựa hồ cô ta chỉ nghe từng hồi âm nhạc và mắt cô ta nhìn không rời họ với một vẻ thích thú của một đứa bé đứng trứơc đám người lớn. Nhịp nhạc tăng nhanh một cách bất thần và người con gái đáp ứng như một con chó nghe hiệu còi, trườn tới thụt lui với vẻ đú đởn. Cởi bỏ cái nịt vú ở nốt nhạc cuối, nàng dơ cao nó lên khỏi đầu, trình diễn thân hình èo uột của nàng với ba cái dải kim tuyến rẻ tiền treo lủng lẳng như đồ trang hoàng một cây Noel cũ.
Leamas và Kiever cùng ngồi im lặng xem
Cuối cùng Leamas lên tiếng:
- Chăc anh lại định bảo tôi rằng mình đã xem những màn khá hơn nhiều, hổi ở Bá Linh?
Kiever thấy rõ chàng vận còn giận. Y nói một cách vui vẻ:
- Tôi mong anh đã được như thế. Tôi thường ở Bá Linh, nhưng tôi e rằng tôi không thích các hộp đêm.
Leamas không nói gì. Kiever tiếp:
- Anh nên biết, tôi không phải khiêm cẩn gì, tôi chỉ duy lý thôi. Nếu tôi muốn một người đàn bà, tôi biết các cách khác kiếm ra rẻ hơn, nếu tôi muốn nhảy, tôi biết tìm chỗ khá hơn để đi nhảy.
Leamas như không chú ý nghe và chàng bảo:
- Có lẽ anh sắp cho tôi biết, tại sao anh chàng nhu nhược đó lại chay theo làm quen tôi?
Kiever gật đầu:
- Vâng, chính tôi bảo hắn làm
- Tại sao?
- Tôi thích anh. Tôi muốn đề nghị với anh một chuyện, một chuyện về báo chí
Im lặng một lát, Leamas nhắc lại:
- Báo chí à? Tôi hiểu
- Tôi điều hành một cơ sở cung cấp các bài viết về quốc tế. Nhuận bút trả cao - rất cao – cho những tài liệu nào hay.
- Ai xuất bản tài liệu?
- Tiền trả cao đến nỗi, quả thật một người như anh… với kinh nghiệm về tình hình quốc tế, một người có cả quá trình như anh, anh hiểu chứ, tức là người có thể cung cấp những tài liệu chính xác và đáng tin, sẽ khỏi phải lo âu về vấn đề tài chính trong một thời gian
Leamas lại hỏi:
- Ai xuất bản tài liệu?
Có một vẻ đe doạ trong giọng của Leamas, và trong một thoáng, gương mặt nhẵn nhụi của Kiever chợt phác ra một thoáng lo sợ
- Các khách hàng quốc tế. Tôi có một đặc phái viên ở Bá-Lê lo liệu phần lớn công việc. Chính tôi cũng không biết ai xuất bản thế. Tôi thú thật thế.
Y mỉm cười cầu tài nói tiếp:
- Điều đó tôi cũng chẳng cần biết. Họ trả tiền và họ yêu cầu thêm tài liệu. Chắc anh biết họ là hạng người không quan tâm đến tiểu tiết. Họ trả tiền chóng vánh và họ sẵn sàng trả qua các ngân hàng ngoại quốc là nơi không ai phải lo chuyện thuế má gì cả.
Leamas không nói gì. Chàng đang cầm cái ly với hai bàn tay và chăm chăm nhìn vào bên trong
Trời ơi, chúng đang đốt giai đoạn, chàng nghĩ, thế là không đứng đắn. Chàng nghĩ đến một câu nói đùa tại một nhạc đường ngu xuấn nào đó – “Đây là một đề nghị mà không cô gái tử tế nào chấp nhận được - vả lại tôi đâu biết đề nghị này giá trị bao nhiêu”. Về mặt chiến thuật, chàng nghĩ, chúng có lý khi vào vấn đề gấp. Mình đang xuống dốc và tả tơi, mới ra tù, còn căm thù xã hội. Mình là một con ngựa già, mình không cần tập luyện, mình không cần phải làm bộ như chúng đã đụng chạm đến danh dự của một nhà quý tộc Anh.
Mặt khác, chúng sẽ mong đợi những phản đối có tính chất thực tiễn. Chúng tin tưởng chàng tỏ vẻ sợ: vì cơ quan của chàng sẽ săn đuổi những tên bội phản như mắt Thượng Đế theo Gain qua suốt sa mạc. Và cuối cùng, chúng sẽ biết đây là một ván bài. Chúng sẽ biết rằng sự mâu thuẫn trong quyết định của con người có thể khiến một phương cách điệp báo hoạch định kỹ biến thành vô nghĩa; sẽ biểt rằng những tên bịp bợm, láo khoét, hay phạm nhân có thể cưỡng lại mọi lời phỉnh nịnh trong khi có nhiều nhà quý phái đáng kính trọng lại bị đưa tới những sự phản bội kinh khiếp về những lợi lộc hèn mọn.
Cuối cùng, Leamas thốt lên:
- Họ sẽ phải trả giá đắt
Kiever rót thêm whisky cho chàng:
- Họ đề nghị trả dứt khoát 15.000 Anh kim. Tiền đã được để tại ngân hàng Contonale ở Bern. Chỉ cần xuất trình một lý lịch phù hợp, lý lịch đó khách hàng của tôi sẽ cho anh là anh rút tiền ra được. Khách hàng của tôi xin được quyền đặt những câu hỏi riêng với anh trong thời gian một năm và sẽ trả thêm năm ngàn Anh kim sau này nếu họ cần sẽ giúp anh định cư ở lại bất cứ nơi nào.
- Anh muốn tôi trả lời trong bao lâu?
- Ngay bây giờ. Anh không cần phải viết tất cả các ký ức của anh lên giấy. Anh sẽ gặp khách hàng của tôi và ông ta sẽ thu xếp để những tài liệu đó được một người khác viết thay cho anh.
- Tôi sẽ gặp ông ta ở đâu?
- Chúng tôi nghĩ vì lợi ích của mọi người. Đơn giản nhất là chúng ta nên gặp nhau ở ngoài Vương quốc Anh . Khách hàng tôi để nghị Hoà Lan
Leamas nói một cách buồn thảm:
- Tôi không có thông hành
- Tôi đã mạn phép lo cho anh một cái rồi
Kiever trả lời một cách mềm mỏng, không có gì trong giọng y hoặc trong cung cách của y cho thấy y đã làm một việc gì đó khác hơn là thương lượng một chuyện làm ăn bình thường, trong lúc y nói tiếp:
- Mình sẽ bay qua Le Harve sáng mai lúc 9h45. Mình có nên về nhà và bàn chi tiết thêm không?
Kiever trả tiền và họ bắt tắc xi đi đến một địa chỉ khá sang không xa công viên St. James
Phòng của Kiever khá sang trọng nhưng đồ đạc có vẻ được xếp đặt một cách vội vàng. Người ta nói rằng ở Luân Đôn có những tiệm bán sách bọc bìa da, bán theo thước chứ không theo cuốn, và có những tay trang trí địa ốc sẽ hoà hợp màu tường với màu tranh. Leamas, vốn không nhiều thụ cảm với những điểm tinh tế như vậy, thấy khó mà nhớ được rằng mình đang ở trong một văn phòng tư nhân chứ không phải một khách sạn. Trong khi Kiever chỉ cho chàng căn phòng riêng trông ra một sân trông dơ dáy chứ không trông ra đường, Leamas hỏi:
- Anh ở đây bao lâu rồi?
Kiever trả lời một chút lơ đãng:
- Ồ, không lâu lắm. Chỉ độ dưới vài tháng thôi
- Chắc phải tốn kém lắm. Tuy nhiên tôi nghĩ anh phải ơ những chỗ như thế này mới xứng
- Cám ơn anh quá khen.
Có một chai whisky trong phòng và một bầu rượu trên một cái khay bằng bạc. Một khung cửa có màn ở cuối phòng dẫn qua một phòng tắm và vệ sinh.
- Thật không khác một tổ uyên ương xinh xắn. Tất cả được trang trải bởi Nhà nước Lao động phải không?
- Câm đi
Kiever nói một cách hung hãn và thêm:
- Nếu anh cần gì tôi, tôi có điện thoại bộ đàm liên lạc với phòng tôi. Tôi sẽ thức.
Leamas trả đũa:
- Tôi nghĩ tôi sẽ tự cởi nút được
Kiever vắn tắt:
- Thế thì chúc anh ngủ ngon.
Rồi hắn ta ra khỏi phòng
Leamas thầm nghĩ y cũng đang tức giận
Leamas bị đánh thức bởi cái điện thoại ở cạnh giường. Kiever cho hay:
- Sáu giờ rồi. Nửa tiếng nữa chúng ta ăn sáng.
- Được rồi.
Leamas cúp máy. Chàng cảm thấy nhức đầu
Nhất định Kiever đã điện thoại gọi một chiếc tắc xi vì lúc bảy giờ chuông cửa reo và Kiever hỏi:
- Sẵn sàng chưa?
- Tôi không có hành lý, trừ một cái bàn chải đánh răng và một dao cạo râu
- Các món đó đã lo liệu rồi. Tôi muốn hỏi anh đã sẵn sàng chưa?
Leamas nhún vai:
- Chắc là rồi. Anh có thuốc lá?
- Không, nhưng anh có thể mua trên máy bay. Anh nên xem qua cái này.
Vừa nói y vừa đưa cho Leamas một sổ thông hành Anh quốc. Cuốn sổ có tên và hình của chàng, có khuôn dấu nổi của Sở hải ngoại chạy qua góc sổ. Nó chẳng mới mà cũng chẳng cũ. Nó ghi Leamas làm nghề thư ký và độc thân. Cầm cuốn sổ lần đầu, Leamas hơi nôn nao, cũng như lấy vợ vậy: từ nay trở đi mọi việc sẽ không còn như xưa nữa. Chàng hỏi:
- Tiền bạc thì sao?
- Anh không cần gì cả. Tất cả do hãng đài thọ.

*****************

CHƯƠNG VIII

“LE MIRAGE”

Sáng hôm đó trời lạnh, sương nhẹ, xám và ẩm ướt châm vào da thịt. Phi trường nhắc Leamas nhớ tới chiến tranh: các máy móc ẩn trong sương mù, kiên nhẫn đợi chủ của chúng, các giọng nói âm vang, các tiếng la bất ngờ và tiếng gót giầy lạc điệu của một cô gái trên mặt sàn lót đá; tiếng gầm của một động cơ nghe như sát bên cạnh. Khắp mọi nơi là bầu không khí đồng loã, gần như phi phàm, tạo ra giữa những người dậy từ sáng tinh mơ, do thói quen muốn chứng kiến cảnh đêm tàn và ngày đến. Các nhân viên có cái vẻ hiểu biết về bí mật bình minh đến và lăng xăng vì lạnh, họ đối đãi với các khách hàng và hành lý bằng vẻ xa vắng của những người trở về từ tiền phương; trong những buổi sáng như thế này, người trần mắt thịt không có nghĩa lý gì với họ.
Kiever đã sắm hành lý cho Leamas. Đó là một chi tiết hay, Leamas phải phục thầm. Các hành khách không có hành lý thường lôi kéo sự chú ý và Kiever không muốn như vậy. Họ làm thủ tục tại quầy giấy của hãng hàng không và theo các dấu hiệu tiến về trạm kiểm soát sổ thông hành. Chỉ có một lúc buồn cười là lúc họ lạc đường và Kiever gắt một anh phu xách hành lý. Leamas đoán Kiever đang lo lắng về cuốn thông hành - không cần phải thế, Leamas nghĩ, tất cả đều hợp lệ mà.
Viên chức kiểm soát sổ thông hành là một gã đàn ông trẻ, nhỏ người, mang một chiếc cà vạt của Sở tình báo và một dấu hiệu bí mật trên ve áo. Anh ta có bộ ria mép đỏ hoe và một giọng nói miền Bắc mà suốt đời anh ta thù ghét. Anh ta hỏi Leamas:
- Thưa, ông đi xa độ bao lâu?
Leamas đáp:
- Vài tuần
- Xin ông lưu ý. Thông hành của ông phải tái kiểm ngày 31.
- Tôi biết.
Họ bước vào phòng đợi hành khách. Trên đường đi Leamas nói:
- Anh là một con người đa nghi, phải không Kiever?
Y cười lặng lẽ trả lời:
- Không thể thả lỏng anh được. Không có trong hợp đồng.
Họ còn phải đợi thêm hai mươi phút nữa. Họ ngồi xuống một cái bàn và gọi cà phê. Kiever vừa nói với anh bồi vừa chỉ các chén đía và gạt tàn thuốc trên bàn:
- Dọn mấy thứ này đi.
Anh bồi đáp:
- Có xe đẩy lại dọn bây giờ
Kiever nổi giận nhắc lại:
- Mang tất cả đi. Tởm quá, ai lại để chén đĩa dơ như thế này.
Anh bồi quay lưng đi thẳng. Anh ta không lại quầy hàng và cũng không gọi cà phê cho họ. Kiever mặt trắng bệch, giận điên lên. Leamas bảo:
- Thôi bỏ qua đi, đời sống ngắn lắm.
Kiever hậm hực bảo:
- Thằng khốn hỗn láo, nó như thế ai mà chịu nổi
- Đựơc rồi, được rồi. Anh cứ gây chuyện làm người ta chú ý đi; anh chọn đúng lúc lắm rồi bọn họ không bao giờ quên bọn mình ở đây đâu.
Các thủ tục tại phi trường La Hayde không có gì rắc rối. Kiever có vẻ an lòng. Y trở nên hoạt bát và nói năng luôn miệng khi họ đi khoảng đường ngắn từ máy bay đến lầu quan thuế. Viên thanh tra trẻ người Hoà Lan nhìn lấy lệ giấy thông hành và hành lý của họ và nói tiếng Anh với một giọng vụng về:
- Tôi mong hai ông đến Hoà Lan gặp nhiều vui vẻ.
Kiever nói với vẻ gần như biết ơn hơi quá đáng:
- Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều
Họ đi bộ từ lều quan thuế, dọc theo hành lang, đến phòng tiếp tân bên kia dãy nhà phi cảng. Kiever rẽ đường đến lối ra chính giữa các nhóm nhỏ hành khách đang lơ đãng nhìn vào những nhóm trưng bày nước hoa, máy ảnh và trái cây. Trong khi họ đẩy cánh cửa xoay bằng kiếng để ra ngoài, Leamas quay lại nhìn. Đứng ở một quầy báo đang coi tờ Cotendinal Daily. Mail là một người nhỏ thó như con nhái, mắt đeo kính, vẻ mặt trang nghiêm đầy lo âu. Trông y như một công chức hoặc đại khái như thế.
Một chiếc xe đang đợi họ ở bãi đậu. Một chiếc Volkswagen, số đăng bộ Hoà Lan. Tài xế là một người đàn bà, không để ý gì tới họ. Nàng lái chậm, luôn luôn ngừng khi đèn vàng. Leamas đoán nàng đã được chỉ thị lái như vậy và có lẽ họ đang bị một chiếc xe theo dõi đằng sau. Chàng nhìn vào kính chiếu hậu, cố nhìn ra chiếc xe đằng sau nhưng vô hiệu. Có lần chàng thấy một chiếc Peugeut đen với biển CD, nhưng khi họ quẹo ở góc đường thì chỉ thấy một chiếc cam nhông chở đồ chạy theo. Chàng biết thành phố La Haye rất rõ từ thời chiến tranh và chàng cố để ý xem xe đang chạy về đâu. Chàng đoán cả bọn đang đi về hướng tây bắc đến Schevinegen. Chẳng bao lâu, xe rời ngoại ô và tiến về một ngôi biệt thự dọc theo các cồn cát ven biển.
Đến đây họ ngừng lại. Người nữ tài xế bước ra, họ ngồi trong xe và bấm chuông cửa một biệt thư nhỏ màu kem ở cuối dãy. Một bảng sắt treo trên cửa với chữ “LE MIRAGE” kiểu Gothique màu xanh nhạt. Trên cửa sổ có một yết thị cho hay đã hết phòng.
Cửa mở do một người đàn bà mập lùn có vẻ chất phác. Bà ta nhìn về phía chiếc xe, mắt vẫn không rời xe, bà ta tiến xuống con đường dẫn về phía đá với nụ cười niềm nở. Bà ta làm Leamas nhớ lại bà cô già đã từng đánh chàng vì tội phí phạm dây. Người đàn bà nói:
- Thật quý hoá quá, chúng tôi rất vui mừng vì các ông đến.
Họ theo bà ta vào nhà. Kiever dẫn đường còn tài xế thì trở lại xe. Leamas ngoảnh lại nhìn về phía con đường đã chạy qua, ở cách xa chừng 300 thước, một chiếc xe sơn đen, có lẽ là một chiết Fiat hoặc Peugeot vừa dừng lại. Một người đàn ông mặc áo mưa bước ra khỏi xe.
Khi đã vào trong nhà, người đàn bà bắt tay Leamas thật nồng nhiệt, nói:
- Xin chào mừng các ông đã đến Le Mirage. Các ông khoẻ cả chứ?
Leamas trả lời:
- Vâng, khoẻ lắm.
- Phi cơ bay đường biển?
Kiever cũng đáp:
- Chúng tôi đã đáp một chuyến phi cơ vô cùng êm ái
Đáng lẽ Kiever phải làm chủ hãng máy bay mới đúng. Người đàn bà nói:
- Tôi sẽ làm cơm trưa, một bữa thật đặc biệt. Tôi sẽ nấu một món hết sức ngon. Các ông muốn ăn món gì?
Ôi trời, Leamas kêu thầm.
Chuông cửa chợt reo vang, người đàn bà đi nhanh vào bếp và Kiever đi ra mở cửa:
Người đàn ông mặc chiếc áo mưa có hàng nút bằng da. Dáng người y cùng cỡ với Leamas nhưng già hơn, Leamas đoán y chừng 55 tuổi. Mặt cứng rắn, sắc xám, có những nét nhăn sâu. Có lẽ trước kia y là một quân nhân. Y chìa một bàn tay có những ngón thon và trau chuốt, tự giới thiệu:
- Tôi tên Peter, các ông vui vẻ chứ?
Kiever đáp nhanh:
- Vâng, hoàn toàn bình an
- Ông Leamas và tôi còn phải thảo luận nhiều. Tôi nghĩ không cần anh ở đây, Sam à. Anh có thể lấy chiếc Volkswagen đi về phố.
Kiever mỉm cười. Leamas có thể thấy rõ vẻ khoan khoái trong nụ cười của ông. Kiever quay sang chàng và nói bằng giọng vui vẻ;
- Chào Leamas, chúc anh bạn may mắn.
Leamas gật đầu, lờ đi như không trông thấy bàn tay của Kiever đang chìa ra.
Kiever cất tiếng chào lại một lần nữa rồi đi ra phía cửa trước.
Leamas theo Peters vào một phòng phía sau. Cửa sổ treo những bức màn dày viền reo, uốn và gấp kỹ lưỡng. Thành cửa có nhiều cây trồng trong các chậu nhỏ - cây xương rồng, cây thuốc là và một loại cây kỳ lạ có lá rộng bản như bằng cao su. Đồ đạc nặng nề, giả làm đồ cổ. Bàn dược phủ bởi một tấm vải màu đỏ gạch trông như một tấm thảm; trên đó, trước mỗi cái ghế có một cái bút và một tập giấy. Trên một cái kệ và whisky và soda. Peters tiến lại và rót rượu cho hai người uống. Leamas bất thần lên tiếng:
- Kể từ giờ phút này, tôi không cần giữ phép lịch sự nữa, anh hiểu không? Mình đã quá biết nhau, cả hai đều là dân chuyên nghiệp. Anh vừa vớ được một điểm chỉ viên vì tiền và tôi xin chúc anh may mắn. Vậy anh đừng giả vờ si mê tôi làm gì cho mất công.
Giọng chàng nghe có vẻ bực tức, không được tự tin. Peter gật đầu, nhận xét một cách thản nhiên:
- Kiever cho tôi hay anh là một người kiêu hãnh
Đoạn y vẫn không mỉm cười, nói tiếp:
- Vả lại, còn có lý do nào khác khiến người ta công kích bọn thương gia?
Leamas đoán y là người Nga, nhưng không chắc.. Y nói tiêng Anh gần như hoàn hảo. Y có vẻ thung dung và những thói quen của một người quen sống trong những tiện nghi của đời sống văn minh.
Họ ngồi vào bàn, Peters hỏi ngay vào đề:
- Kiever đã nói với anh về những gì tôi sẽ trả cho anh chứ?
- Rồi. Mười lăm ngàn Anh kim rút từ một ngân hàng tại Bern
- Phải.
- Anh ta nói, anh có thể hỏi thêm trong vòng một năm sau. Anh sẽ trả thêm năm ngàn nữa nếu còn cần đến tôi.
Peters gật đầu. Leamas tiếp lời:
- Tôi không nhận điều kiện đó. Anh biết và tôi cũng biết như thế không ổn. Tôi muốn lấy mười lăm ngàn và dứt khoát hẳn không còn dính líu gì nữa. Các anh có những biện pháp khắt khe với những nhân viên bội phản thì bên tôi cũng thế. Tôi không định ngồi chết dí tại St.Morizt trong khi các anh phá tan các màng lưới mà tôi đã cho các anh biết. Họ không phải là một lũ ngu, họ sẽ biết phải tìm ai. Nói tóm lại, anh và tôi đều biết họ đang theo dõi chúng ta.
Peters gật đầu:
- Dĩ nhiên anh có thể đến một nơi nào đó an toàn hơn, được không?
- Bên kia Bức Màn Sắt?
- Phải
Leamas chỉ lắc đầu và trở lại vấn đề chính:
- Tôi đoán anh sẽ cần khoảng 3 ngày để phỏng vấn sơ khởi. Rồi anh sẽ trở lại đây với đủ chi tiết
Peters đáp :
- Không cần phải như vậy
Leamas nhìn y nói vẻ thích thú:
- À, tôi hiểu. Họ đã cử đến đây một chuyên viên hay là Mạc tư khoa đang nhúng tay vào vụ này?
Peters im lặng, chỉ nhìn Leamas, cố tìm hiểu ý chàng. Cuối cùng y cầm bút chì trước mặt lên và bảo:
- Chúng ta sẽ bắt đầu với các công tác của anh thời kỳ chiến tranh?
Leamas nhún vai:
- Tuỳ anh
- Được rồi. Ta sẽ bắt đầu với các công tác thời kỳ chiến tranh của anh. Anh bắt đầu đi.
- Tôi gia nhập Công Binh năm 1939. Tôi vừa mãn khoá huấn luyện thì có thông báo mời những người giỏi sinh ngữ ghi tên phục vụ công tác chuyên môn ở ngoại quốc. Tôi biết tiếng Hoà Lan, tiếng Đức, khá giỏi tiếng Pháp và đã chán ngấy đời lính nên tôi liền ghi tên. Tôi biết rõ nước Hoà Lan, cha tôi đã có một đại lý dụng cụ cơ khí ở Leiden; tôi đã ở đó chín năm. Tôi đựơc phỏng vấn theo đúng thủ tục và học tại một trường gần Oxford, nơi họ dạy nghề này cho tôi.
- Ai điều hành trường huấn luyện đó?
- Về sau tôi mới biết. Rồi tôi gặp Steed Asprey và một cựu giáo sư Oxford tên Fielding. Họ cùng điều khiển trường huấn luyện. Năm 1941, họ thả dù tôi xuống Hoà Lan và tôi ở đó 2 năm. Hồi ấy chúng tôi bị mất nhân viên nhiều hơn con số chúng tôi có thể kiếm đựơc - đầy những vụ ám sát đẫm máu, Hoà Lan là một địa ngục đặc biệt cho những chuyện thuộc lọai này – nó không phải là một xứ có địa thế hiểm trở, không một nơi nào có thể dùng đặt bản doanh hay một đài truyền tin. Luôn luôn di động. Luôn luôn chạy trốn. Khiến cho tình hình trở thành một trò chơi dơ bẩn. Tôi dời Hoà Lan năm 1943 và sống vài tháng ở Anh. Rồi tôi đi Nauy – so với chuyến đi trước đây thì đây chỉ là một cuộc du ngoạn. Năm 1945, họ cho tôi về vườn và tôi quay lại Hoà Lan, cố kế nghiệp cha tôi. Công việc không xong nên tôi theo một người bạn cũ lúc đó đang làm cho hãng du lịch ở Bristol. Ở đây được 18 tháng, chúng tôi bị phá sản. Rồi trong lúc ngồi buồn, tôi đựơc Cơ Sở hỏi thăm tôi có muốn làm không. Nhưng tôi đã chán làm lắm rồi, tôi nghĩ vậy, nên tôi đã trả lời tôi sẽ suy nghĩ lại và mướn một ngôi nhà trên đảo Lundy. Tôi sống ở đấy một năm, chỉ biết nhìn cái bụng của mình ngày một phì ra, rồi lại chán ngấy nên tôi viết thư cho bọn họ. Cuối năm 1949, tôi lại có tên trong sổ lương. Dĩ nhiên, công vụ gián đoạn thì tiền thù lao cũng giảm và lại còn bị chê bai đủ điều. Tôi nói có mau lắm không?
Peters vừa rót thêm whisky cho chàng vừa nói:
- Bây giờ thì không. Dĩ nhiên mình sẽ bàn lại những chuyện đó với ngày tháng và danh tính.
Có tiêng gõ cửa và người đàn bà mang bữa ăn trưa vào, một bữa ăn khá thịnh soạn với thịt nguội, bánh mì và súp. Peters gạt tập giấy ghi chú của y sang một bên và họ ngồi trong im lặng. Cuộc thẩm vấn thế là đã bắt đầu.
Bữa ăn được dọn đi, Peters lại hỏi:
- Thế rồi anh quay lại với Cơ Sở?
- Phải. Trong một thời gian, họ cho tôi làm bàn giấy, duyệt các phúc trình, ước tính các lực lượng quân sự của quốc gia bên kia Bức Màn Sắt, theo dõi các đơn vị và các công tác, đại khái như thế.
- Ban nào?
- Vệ tinh Bốn. Tôi làm ở đấy từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 5 năm 1951.
- Ai là đồng nghiệp của anh trong thời gian đấy?
- Peter Guiliam, Brian De Grey, George Smiley. Smiley li khai khỏi nhóm năm 1951 và gia nhập ngành Phản Gián. Tháng 5 năm 1951, tôi được cử tới Bá Linh với chức vụ C.D.A - tức Phó Kiểm soát viên khu vực, tức là tất cả các công tác hoạt vụ.
- Anh có những ai dưới quyền?
Peters viết thật nhanh. Leamas đoán y có lối tốc ký riêng.
- Hackett, Sarrow và De Jong. De Jong đã bị chết trong một tai nạn lưu thông năm 1951. Chúng tôi đoán anh ta bị ám sát nhưng không chứng minh được điều này. Tất cả bọn cùng điều hành tổ của họ một cách trôi chảy, và tôi vẫn thường kiểm soát họ. Anh còn muốn biết chi tiết gì không?
- Dĩ nhiên, nhưng sau này đã. Anh cứ nói tiếp tục.
- Cuối năm 1954, chúng tôi bắt được miếng mồi ngon tại Bá Linh. Fritz Feder, nhân vật quan trọng đứng hàng thứ hai trong Bộ Quốc phòng Đông Đức. Cho tới lúc đó tình hình vẫn gay go, nhưng đến tháng 9 năm 1954, chúng tôi vẫn vớ được Fritz. Anh ta chịu đựng được gần hai năm rồi một hôm chúng tôi mất liên lạc hẳn với anh ta. Tôi nghe nói anh ta đã chết trong khám. Rồi năm 1959, Karl Riemick bị lộ tẩy. Karl có chân trong Chủ tịch Đoàn của Đảng Cộng sản Đông Đức. Anh ta là nhân viên giỏi nhất trong số những người tôi đã từng biết.
Peters nhắc:
- Bây giờ y đã chết.
Một cảm giác xấu hổ thoáng qua gương mặt của Leamas. Chàng nói:
- Tôi có mặt tại đó khi anh ta bị bắn. Anh ta có một cô bạn gái đã qua khỏi giới tuyến trước khi anh ta chết. Anh ta đã cho cô bạn này biết hết mọi chuyện – cô ta biết rõ toàn thể màn lưới. Kể ra anh ta bị táng mạng cũng không đáng ngạc nhiên.
- Mình sẽ trở lại chuyện Bá Linh sau. Bây giờ anh hãy cho tôi biết điều này. Khi Karl chết, anh liền bay về Luân Đôn. Anh có Luân Đôn suốt thời gian còn lại trong công vụ hay không?
- Vâng, trong suốt thời gian còn lại.
- Anh giữ việc gì ở Luân Đôn?
- Ban Ngân sách. Coi sóc lương bằng cho các nhân viên, trả tiền tại ngoại quốc cho những mục tiêu mật. Một đứa bé cũng làm được việc đó. Chúng tôi nhận chỉ thị và ký vào giấy tờ. Thỉnh thoảng mới bị nhức đầu về vấn đề an ninh.
- Anh liên lạc thẳng với các địêp viên chứ?
- Làm sao có thể đựơc? Thường trú viên ở mỗi xứ sẽ làm một phiếu thỉnh cầu. Người có trách nhiệm sẽ đóng dấu trên đó và đưa qua cho chúng tôi lo việc trả tiền. Trong đa số các trường hợp chúng tôi chuyển tiền qua ngân hàng ngoại quốc nơi thường trú viên có thể tự ý rút tiền ra trao cho điệp viên.
- Các điệp viên được ghi danh như thế nào? Bằng bí danh?
- Bằng Bí số. Cơ Sở gọi đó là các tổ hợp. Mỗi màn lưới được cấp một số tổ hợp, mỗi điệp viên sẽ mang thêm số tổ hợp trước số hiệu của anh ta. Số tổ hợp của Karl là 8, kế đó là A.1
Leamas toán mồ hôi. Peters ngắm chàng một cách bình thản, đánh giá chàng như một con bạc chuyên nghiệp từ bàn bên kia. Leamas đáng giá bao nhiêu? Cái gì sẽ đánh ngã chàng? Chàng ghét cái gì? Và nhất là chàng biết những gì? Chàng có sẽ dành lá bài tẩy đến phút cuối để bán với một giá thật đắt không? Peters không nghĩ thế. Leamas đã mất bình tĩnh quá rồi, không thể nói loanh quanh được nữa. Chàng là một người đang bối rối với lương tri, một người chỉ có một cuộc đời, một niềm tin và đã phản bội cả hai thứ đó. Peters từng thấy những kẻ tương tự, ngay cả những người đã thay đổi hoàn toàn về ý thức hệ, những người trong bóng đêm âm thầm đã tìm thấy được một niềm tin mời và một mình, bị thúc đẩy bởi niềm tin mãnh liệt tận trong lòng, đã phản bội gia đình, tổ quốc của họ. Ngay cả họ, tâm hồn tràn đầy hăng hái và hy vọng mới cũng phải tranh đấu chống lại vết nhơ của sự phản bội, ngay cả họ cũng đã phải vật lộn với sự đớn đau gần như của thể chất khi nói ra những điều mà họ đã dược huấn luyện để không bao giờ tiết lộ. Cũng như những kẻ Hội giáo sợ không dám đốt Thập tự giá, họ lưỡng lự giữa bản năng và vật chất và Peters, giữa hai thái cực này, phải vừa làm cho họ nản ý vừa diệt lòng kiêu hãnh của họ. Đó là tình trạng mà cả hai bên đều biết, do đó Leamas đã kiên quyết cắt bỏ mối liên hệ nhân tính với Peters, vì lòng kiêu hãnh của chàng không cho phép Peters biểt rằng vì những lý do đó Leamas sẽ nói dối; có lẽ chỉ nói dối bằng cách bỏ bớt, nhưng cũng là nói dối, vì kiêu hãnh, vì thách đố, hoặc chỉ vì tính chất tà dị của nghề nghiệp chàng, và y, Peters sẽ phải khám phá cho bằng đựơc mọi điều dối trá. Y cũng biết rằng chính vì Leamas là một tay chuyên nghiệp, chàng có thể làm cho y bất lợi vì Leamas sẽ lựa chọn kỹ trong lúc Peters không muốn lựa chọn. Leamas sẽ tiên liệu loại tin tức tình báo mà Peters cần – và khi làm thế sẽ có thể bỏ qua một vài mẩu tin tình cờ nhiều khi lại là tin trọng yếu đối với ban lọc tin. Ngoài những điều này, Peters còn phải chịu đựng tính kênh kiệu, bốc đồng của một tên nghiện rượu hư hỏng. Y bảo:
- Bây giờ tôi sẽ đi vào chi tiết và công tác của an ở Bá Linh. Đó là khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1951 đến tháng 3 năm 1961. Anh hãy uống một ly nữa đi.
Leamas nhìn y lấy một điếu thuốc từ trên bàn và châm lửa. Chàng nhận được hai điều: Peters thuận tay trái, và một lần nữa y lại để điếu thuốc lên miệng với cái đầu có chữ chìa ra ngoài, để nó cháy trước. Đó là tác phong mà Leamas thích: nó chứng tỏ Peters cũng như chàng, từng trải trong nghề.
Peters có khuôn mặt rất lạ, vô cảm giác và nước da xám. Chắc y đã có nước da này từ lâu lắm – có lẽ trong một nhà tù nào đó vào những ngày đầu Cách Mạng – và lúc này nét mặt y đã biến thành cố hữu mà Peters sẽ giữ mãi cho đến chết. Chỉ có mái tóc cứng hoa râm sẽ bạc đi, nhưng mặt y sẽ không thay đổi. Leamas mơ hồ tự hỏi tên thật của y là gì? Y lập gia đình chưa? Có một cái gì rất chân thực nơi hắn mà Leamas thích. Đó là sự chân thực của sức mạnh, của lòng tin. Nếu Peters nói dối thì nhất định phải có một lý do. Điều dối trá sẽ đựoc tính toán, một điều dối trá cần thiết, khác hẳn với sự xảo trá vụng về của Ashe.
Ashe, Peters, Kiever đó là một sự thăng tiến về phẩm chất, về thẩm quyền và đối với Leamas là thứ bậc phải có một màn lưới điệp báo. Ngoài ra, theo ý chàng, đó cũng là một sự thăng tiến về ý thức hệ. Ashe là một tên đánh mướn, Kiever là kẻ phiêu lưu và bây giờ Kiever là con người mà cứu cánh với phương tiện chỉ là một.
Leamas bắt đầu nói với Bá Linh, Peters ít khi ngắt lời, ít khi hỏi hoặc bình phẩm, nhưng nếu có, y cho thấy một sự hiếu kỳ về nghề nghiệp và sự giám định hoàn toàn hợp với khí chất của Leamas. Leamas còn có vẻ đáp ứng cho sự đòi hỏi chuyên môn của kẻ thẩm vấn chàng. Đó là một điểm tương đồng của hai người.
Họ phải mất một thời gian mới thiết lập lại được một màn lưới đoàng hoàng tại khu vực Đông Bá Linh, Leamas giải thích. Trong những ngày đầu, thành phố đầy những nhân viên hạng thứ; tình báo bị xuống giá và thành một phần đời sống hàng ngày tại Bá Linh đến nỗi mình có thể tuyển một người trong buổi dạ tiệc, giải thích sự tình cho y nghe trong lúc ăn và y sẽ bị thải hồi trong buôi điểm tâm ngày hôm sau. Đối với một tay chuyên nghiệp, đó là một cơn ác mộng. Hàng chục cơ quan, một nửa hàng nhập bởi người của đối phương, hàng ngàn kẽ hở, quá nhiều mối dây, quá ít nguồn gốc, quá ít phạm vi để hoạt động. Họ đã hoạt động mạnh với Ferger năm 1954. Nhưng đến năm 1956, khi mỗi cơ quan tình báo đều kêu gào đòi hỏi tin tức hạng khá, họ lại xẹp xuống. Ferger đã làm họ hư sự với những tin tức và tài liệu hạng xoàng, chỉ hơn tin tức lượm ngoài đường một chút. Họ cần thứ thiệt – và họ phải đợi thời gian hơn ba năm sau mới đạt được.
Rồi một hôm De Jong đi picnic trong rừng ven Đông Bá Linh. Anh ta có bảng số quân đội Anh, anh ta đậu xe, khoá lại trên con đường đá cạnh bờ kênh. Sau buổi picnic, lũ con của anh ta xách giỏ chạy trước. Khi chúng đến gần xe, chúng ngừng lại, ngập ngừng, buông rơi chiếc giỏ và chạy trở lại. Có người đã nạy cửa xe – tay cầm bị bể và cửa mở hé. De Jong chửi thề, chợt nhớ đã để cái máy ảnh trong hộc xe. Anh ta liền xem xét chiếc xe. Tay cầm đã bị gãy. De Jong đoán nó đã bị nạy với một ống thép, thứ đồ mình có thể mang trong tay áo Nhưng máy ảnh vẫn còn, chiếc áo choàng cũng vậy, cho đến mấy cái bao đồ của vợ anh ta cũng còn đủ. Trên ghế của người lái là hộp thuốc lá bằng thiếc và trong hộp thiếc có một ống niken, De Jong biết rõ nó chứa đựng cái gì, đó là một cuốn phim của một máy ảnh tí hon, có lẽ hiệu Minox.
De Jong lái xe về nhà và rửa cuốn phim. Nó chứa các biên bản của buổi họp cuối của Chủ tịch Đoàn Đảng Cộng sản Đông Đức, tức SED. Do một sự tình cờ kỳ lạ, anh ta có thể kiểm chứng lại nguồn tin này; các bức hình đều là thật.
Leamas liền bắt tay lo việc. Chàng rất cần một thứ thành công. Chàng gần như chẳng làm đươợ trò trống gì từ khi đến Bá Linh và chàng đang vượt qua mức tuổi thông thường để giành trọn thời giờ vào công việc hoạt vụ. Đúng một tuần sau, chàng mang chiếc xe của De Jong lại chỗ cũ và đi dạo bộ.
Chỗ mà De Jong đã chọn cho buổi picnic là một khu rừng hiu quạnh, nơi một con kênh đào và vài hầm trú ẩn bị đạn cào xé, những bãi đất đầy cát khô và về phía đông là một rừng thông lưa thưa nằm cách con đường đá chạy dọc bờ kênh chừng hai ba trăm thước. Nhưng chỗ này có cái tốt là yên tĩnh - một điều khó kiếm được ở Bá Linh – và sự kiểm soát không thể thực hiện được, Leamas tản bộ trong rừng. Chàng không tìm cách coi chừng chiếc xe vì không biết người kia có thể tiến lại bằng hướng nào. Nếu y bắt gặp chàng từ trong rừng nhìn ra canh chừng chiếc xe, có thể y mất tin tưởng nơi chàng Chàng không cần phải lo lắng.
Khi chàng quay lại, không có gì trong xe nên chàng tự lái xe quay về Tây Bá Linh và tự trách mình ngu xuẩn. Chủ tịch đoàn phải nửa tháng sau mới họp lại. Ba tuần sau, chàng mượn xe của De Jong và mang theo 1.000 đô la giấy hai mươi trong một cái bao đi picnic. Chàng để xe không khoá trong hai giờ đồng hồ và khi quay lại, có một hộp thuốc lá bằng thiếc trong xe, và cái bao picnic đã không còn.
Phim đầy những tài liệu quý giá. Và trong sáu tuần sau đó, chàng làm thêm hai lần nữa, và chuyện xảy ra y hệt như tuần trước.
Leamas biết mình đã trúng mỏ vàng. Chàng đặt cho nguồn tin may mắn này cái bí danh “Mayfair” và gửi một lá thư bi quan về Luân Đôn. Chàng biết, nên hé cho Luân Đôn nửa câu chuyện là đủ để họ tự nhảy vào điều khiển câu chuyện, điều này chàng làm mọi cách để tránh. Đây có lẽ là hoạt động duy nhất cứu chàng khỏi bị cho về vườn, và cũng chính là loại đủ quan trọng để Luân Đôn muốn nhảy vào tự lo liệu lấy. Dù chàng có giữ họ ở xa ra thì cũng có cái nguy là Cơ sở sẽ đặt giả thiết, đưa đề nghị, khuyên cẩn trọng, hối thúc hành động. Họ sẽ muốn chàng cho toàn giấy bạc mới để mong theo dấu đựơc, sẽ muốn các cuốn phim được gửi về để điều tra thêm, sẽ soạn những kế hoạch theo dõi mật vụ vụng về và cho các Bộ biết. Nhất là họ muốn các Bộ biết, và như thế, theo ý Leamas sẽ hỏng hết việc. Chàng đã làm việc như một tên điên trong ba tuần. Chàng lục lạo các hồ sơ cá nhân của các thành viên trong Chủ tịch đoàn. Chàng lập danh sách những nhân viên văn phòng có thể lấy được biên bản, trừ danh sách phân phối trên trang cuối của bản mô tả, chàng kê tới 31 nhân viên có thể là người cung cấp tin, kể cả thư ký.
Đứng trước công việc gần như không thể thực hiện được là xác nhận một người đưa tin trong số hồ sơ không đầy đủ của 31 ứng viên, Leamas quay lại với tài liệu nguyên thuỷ mà theo chàng là việc đáng lẽ phải làm sớm hơn. Có điều khó nghĩ là trong các phóng ảnh biên bản đã nhận được, không có cái nào được đánh số trang, không có cái nào được đóng dấu mật, và trong bản thứ hai và thứ tư có chữ bị gạch đỏ bằng bút chì hoặc bút màu. Cuối cùng chàng đi tới một quyết định quan trọng: các phóng ảnh không phải được sao lại từ chính các biên bản cuộc họp mà từ các bản thảo của biên bản. Điều này cho thấy giả thuyết tin tức xuất phát từ các thư ký, thành một giả thuýêt không vững.. Các bản thảo biên bản đã được chụp lại một cách cẩn thận, khéo léo. Điều này cho thấy người chụp rất có thể đã có thì giờ và một phòng riêng.
Leamax xem lại bản danh sách các nhân viên. Có một người tên Karl Riemeck trong Bí thư đoàn, trước là một trung sĩ quân y, ba năm làm tù binh chiến tranh của Anh. Em gái của y đang sống ở Poremania khi quân Nga tràn tới, và y từ đó không nghe tin tức gì về cô ta nữa. Y đã kết hôn và có một đứa con gái lên là Carla.
Leamas quyết định liều một phen. Chàng nhờ Luân Đôn tìm được số tù của Riemeck là 29012, và ngày phóng thích là 10-12-1945. Chàng mua một cuốn sách khoa học giả tưởng loại dành cho trẻ em ở Đông Đức và viết lên mặt trong của tờ bìa mấy câu bằng tiếng Đức có tuồng chữ của một thiếu niên: “Quyển sách này là của Carla Riemeck, sinh ngày 10-12-1945 ở Bideford, Bắc Devon. Ký tên: Moonspacewoman 29012. Và dưới đó chàng ghi thêm: Các ứng viên muốn dự chuyến bay không gian phải đích thân đến trình diện với C.Riemeck để nhận chỉ thị. Mẫu đơn đính kèm. Cộng hoà nhân dân không gian dân chủ muôn năm”.

************** * * * * * *

Chương VIII phần 2

Chàng vạch mấy lằn dọc trên một tờ giấy, thành các cột tên tuổi và địa chỉ, rồi viết ở cuối trang:
Mỗi ứng viên sẽ được tiếp kiến riêng. Viết đến địa chỉ thường lệ cho biết ngày giờ và địa điểm muốn gặp. Đơn sẽ được cứu xét trong bảy ngày.
Leamas gấp tờ giấy trong quyển sách, chàng lái xe đến địa điểm thường ngày, vẫn bằng xe của De Jong, và để cuốn sách trên ghế người lái với năm tờ giấy 100 Mỹ kim cũ dưới bìa sách. Khi Leamas quay lại, quyển sách không còn và có một hộp thuốc lá bằng thiếc để lại. Hộp đựng ba cuốn phim, Leamas rửa tất cả trong đêm đó: một cuốn chụp các biên bản họp thông thường về cuộc họp vừa qua Chủ tịch Đoàn, cuốn thứ nhì cho thấy một bản thảo duyệt lại mối liên hệ giữa Đông Đức và COMECON, cuốn thứ ba là một bản phân bảy cơ quan tình báo của Đông Đức, đầy đủ nhiệm vụ các bộ phận và chi tiết của từng nhân vật
Peters ngắt lời:
- Khoan. Anh muốn nói là tất cả tin tình báo này đều đến từ Reimeck?
- Sao không? Anh biết là y đã thấy được nhiều thứ chứ?
Peters nhận xét, gần như với chính y:
- Khó có thể được. Hắn phải có người giúp.
- Sau này hắn có. Tôi sắp nói đến chỗ đó.
- Tôi biết anh sắp nói với tôi những gì. Nhưng anh không hề có cảm tưởng rằng y được sự giúp đõ từ phía trên, cũng như từ các nhân vật sau này hắn thu được?
- Không, không hề. Tôi không hề nghĩ như thế.
- Bây giờ nghiệm lại, anh thấy có thể như thế không?
- Không hẳn.
- Khi anh gửi các tài liệu này về cơ sở, họ không nghĩ rằng dù với một người có địa vị như Riemeck, tin tức tình báo đó quá đặc biệt sao?
- Không.
- Họ không bao giờ hỏi Riemeck lấy máy ảnh ở đâu, ai chỉ hắn cách chụp hình tài liệu sao?
Leamas ngập ngừng:
- Không, tôi chắc chắn là họ không hề hỏi.
Peters lạnh lùng:
- Hay lắm. Xin anh cứ tiếp tục. Tôi không muốn đoán trước ý anh.
Leamas tiếp tục câu chuyện.
Đúng một tuần sau chàng lái xe tới con kinh và lần này chàng cảm thấy lo ngại. Khi chàng rẽ vào con đường trải sỏi, chàng thấy ba chiếc xe đạp nằm trên cỏ và cách đó chừng hai trăm thước, trên bờ kinh có ba người đàn ông đang ngồi câu cá. Chàng ra khỏi xe như thường lệ và bắt đầu đi bộ về phía rặng cây bên kia cánh rừng. Chàng đi được chừng hai mươi thước thì nghe có tiếng gọi. Chàng quay lại và thấy một người trong bọn đang vẫy mình. Hai người kia cũng quay lại nhìn chàng. Leamas mặc chiếc áo mưa cũ, chàng đang để tay trong túi và không kịp rút tay ra. Chàng biết hai người đàn ông đứng hai bên đang che cho người ở giữa và nếu chàng rút tay ra khỏi túi, họ sẽ có thể bắn chàng; họ sẽ nghĩ chàng đang thủ một khẩu súng trong túi. Leamas dừng lại, cách người đàn ông đứng giữa chừng mười thước, chàng hỏi:
- Ông cần việc gì?
- Ông là Leamas?
Y là một người thấp, đẫy đà, rất vững chắc. Y nói tiếng Anh, Leamas đáp:
- Phải.
- Số căn cước Anh Quốc của ông là gì?
- PRT gạch L 58003 gạch I
- Đêm VJ anh ngủ ở đâu?
- Ở Leiden bên Hoà Lan, tiệm của cha tôi, với vài người bạn Hoà Lan.
- Ông Leamas, mình hãy đi dạo một vòng, ông không cần mặc áo mưa. Ông hãy cởi ra và để trên mặt đất, chỗ ông đang đứng. Các bạn tôi sẽ canh chừng nó.
Leamas ngập ngừng, nhún vai và cởi áo mưa.Rồi họ bước mau về phía cánh rừng.
Leamas mệt mỏi nói:
- Anh biết rõ cũng như tôi anh ta là ai, người thứ ba trong Bộ Nội Vụ, Bí thư chủ tịch Đoàn SED, Trưởng Ban phối trí bảo vệ nhân dân. Tôi cho là vì thế mà anh ta biết về De Jong và tôi. Anh ta đã thấy hồ sơ phản gián của chúng tôi ở Abteilung. Anh ta có ba ưu thế trong tay: Chủ tịch Đoàn, quyền được báo cáo thẳng về kinh tế và chính trị nội bộ, quyền được xem xét các hồ sơ của cơ quan An ninh Đông Đức.
Peters nhấn mạnh:
- Nhưng chỉ có giới hạn. Họ không bao giờ để một người ngoài cơ quan được duyệt qua các hồ sơ.
Leamas nhún vai:
- Họ đã để
- Anh ta làm gì với số tiền kiếm được?
- Sau buổi chiều đó tôi không cho anh ta tiền nữa. Cơ sở đã nhảy vào và tự lo mọi việc. Tiền trả tại ngân hàng Đông Đức. Anh ta còn trả lại tôi số tiền tôi đã đưa cho anh ta. Luân Đôn đã gửi tiền vào tài khoản của anh ta.
- Anh nói với Luân Đôn tới mức độ nào?
- Tất cả mọi việc sau đó. Tôi đành phải làm vậy. Cơ sở đã cho Bộ biết.
Leamas nói thêm một cách căm hận:
- Sau đó sự suy sụp chỉ là một vấn đề thời gian. Có các Bộ đứng sau lưng, Luân Đôn quá tham lam. Họ bắt đầu hối thúc chúng tôi lấy thêm nữa. Họ muốn cho anh ta thêm tiền. Sau cùng chúng tôi phải đề nghị với Karl rằng anh ta nên tuyển thêm một vài người nữa, và chúng tôi hướng dẫn họ lập thành màn lưới. Thật vô cùng ngu xuẩn, như thế khiến Karl thêm nhọc, khiến cho anh ta lâm nguy, phải huỷ lòng tin cậy của anh ta với chúng tôi. Đó là khởi thuỷ của một đoạn kết.
- Anh khai thác anh ta được bao nhiêu?
- Bao nhiêu à? Trời ơi tôi cũng không biết nói sao nữa. Thời gian chịu đựng của anh ta kéo dài một cách khác thường. Tôi tưởng anh ta bị lộ từ lâu trước khi anh ta bị bắt. Trong mấy tháng sau cùng, mức hữu dụng giảm hẳn, chắc là họ đã bắt đầu nghi ngờ anh ta và không cho anh ta tham dự các buổi họp quan trọng nữa.
Peters vẫn hỏi tới:
- Dẫu sao thì anh ta đã cung cấp cho anh những gì?
Theo đúng thứ tự, Leamas kể lại toàn bộ công việc của Karl Riemeck theo đúng thứ tự. Trí nhớ của chàng – theo Peters - thật chính xác nếu đem so với lô rượu mà chàng uống. Chàng có thể nhớ đựơc tên người và ngày tháng, nhớ rõ những phản ứng của Luân Đôn, bản chất của sự phối kiểm những lúc cần. Chàng có thể nhớ được các số tiền đòi và trả ngày các nhân viên khác vào làm trong màn lưới.
Leamas vẫn giữ vững lập trường và bất thần nổi giận:
- Anh ta có thể lắm chứ. Anh ta đã tỏ ra rất được việc nhờ xoay trở giỏi.
- Và Cơ sở không hề bảo anh làm sáng tỏ vụ đó hay sao? Về cách anh ta tìm được tài liệu và tìm vào lúc nào?
Leamas cau có:
- Không, Reimeck rất nhạy cảm về chuyện này và Luân Đôn bằng lòng cứ để nguyên như vậy.
Peters trầm ngâm:
- Được, được…
Một lúc sau, Peters chợt hỏi:
- À, anh nghe nói về người đàn bà đó chứ?
Leamas sẵng giọng hỏi lại:
- Người đàn bào nào?
- Nhân tình của Karl Riemeck, người đã qua Tây Bá Linh vào đêm Riemeck bị bắn.
- Rồi sao nữa?
- Cô ta chết tuần trước. Bị ám sát. Bị bắn trên một chiếc xe hơi khi cô ta rời khỏi phòng.
Leamas nói một cách máy móc:
- Trước là phòng tôi đó.
Peters phỏng đoán:
- Không chừng cô ta biết rõ màn lưới của Riemeck hơn anh.
Leamas gặng hỏi:
- Anh muốn nói cái mẹ gì vậy?
Peters nhún vai:
- Thật kỳ lạ. Tôi băn khoăn không hiểu nổi ai muốn giết cô ta.
Khi họ đã nói hết về trường hợp của Riemeck, Leamas bắt đầu nói về các nhân viên khác nhưng chuyện kém li kì hơn, rồi nói về quy củ hoạt động ở văn phòng của chàng tại Bá Linh, với các phương tiện truyền tin, với toàn thể nhân viên, với các chi nhánh mật, nhà ở, cách chuyển vận, dụng cụ chụp hình và ghi âm. Họ nói chuyện đến khuya và suốt ngày hôm sau. Rồi sau cùng, khi Leamas nhảy vào phòng ngủ đêm kế tiếp, chàng biết mình đã bội phản về tất cả những gì chàng biết được về tình báo Đồng Minh tại Bá Linh và đã uống hai chai whisky trong hai ngày.
Có điều làm chàng khó nghĩ: là Peter chắc chắn rằng Karl có người hỗ trợ - chắc y phải có một cộng tác viên vào hàng cao cấp. Control cũng hỏi chàng câu đó – bây giờ chàng mới chợt nhớ ra – Control đã hỏi về sự trợ giúp mà Karl đã nhận được. Tại sao cả hai cùng chắc chắn rằng Karl không xoay trở một mình. Dĩ nhiên anh ta có người giúp, chẳng hạn hai người lính gác hôm Leamas gặp cạnh bờ kinh. Nhưng đó chỉ là hạng cắc ké – Karl đã cho biết như vậy. Nhưng Peters, dầu sao Peters cũng biết tầm tin tức chính xác mà Karl đã đoạt được – Peters lại không chịu tin rằng Karl đã hoạt động một mình. Về điều này, hiển nhiên Peters và Control cùng chung ý nghĩ.
Có lẽ thế thực. Có lẽ còn một người khác. Có lẽ đó chính là nguồn lợi đặc biệt mà Control đang bảo vệ cho khỏi lọt vào tay Mundt. Điều này có nghĩa là Karl Riemeck đã cộng tác với con người đặc biệt đó và cung cấp những gì cả hai đã chung sức lấy được. Có lẽ đó là điều Control nói riêng với một mình Karl tối hôm nọ trong phòng Leamas tại Bá Linh.
Dù sao ngày mai sẽ biết rõ. Ngày mai chàng sẽ ra tay.
Chàng băn khoăn ai đã giết Elvira Và chàng băn khoăn tại sao người ta giết nàng. Dĩ nhiên – đây là một điểm, đầy là một lối giải thích khả chấp. Elvira, vì biết lý lịch cộng tác viên đặc biệt của Karl, nên đã bị chính cộng tác đó giết…Không, suy luận đó xa quá. Nó bỏ qua không xét đến sự khó khăn của việc di chuyển từ Đông sang Tây, dẫu sao thì Elvira cũng đã bị giết tại Tây Bá Linh.
Chàng tự hỏi vì sao Control không hề cho biết Elvira đã bị ám sát. Như thế chàng có thể đối phó thích ứng khi Peters hỏi chuyện. Suy nghĩ nhiều chỉ vô ích, Peters có những ý riêng của ông ta, thông thường những lý do này rất quanh co, mà phải mất cả tuần mới nghĩ ra đựơc.
Khi thiếp ngủ, chàng lẩm bẩm:
- Karl là một thằng ngu. Con mẹ đàn bà đó đã giết hắn, chắc chắn con mẹ đó đưa hắn đến chỗ chết.
Elvira giờ đã chết cũng đáng đời. Chàng chợt nhớ tới Liz.
0
Thái Nhi à,

CuLong đăng ký type từ chương 1-4 nhé.
0
Ngươi từ miền đất lạnh

CuLong vào dây xem nè

Truyện này đã được Sym gõ dến chương 3 rồi
CuLong ngừng đi, kẻo gõ xong, mà có người gõ rồi thì phiền lắm
0
Thai Nhi a
CuLong may qua moi go duoc co 3 trang. CuLong xem phan Thai nhi gui chi thay Sym go nhung khong thay phan moi nguoi dang ky tiep. Truyen nay la do Sym dang ky ca quyen a? Neu khong thi CuLong dang ky tu chuong 5-8 nhe.
Mong Thai nhi phan hoi som lai cho CuLong biet
Thanks
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 23:36:13Ct.Ly>
Chương 11-13
0

Trích đoạn: Thái Nhi

Mình đã đăng ký cho Hiệp sĩ CuLong chương 5-8 rồi



Mình đã gõ xong 4 chương rồi, post vào rồi, Culong gõ tiếp chương 5-8 vậy nhé.
0
CHƯƠNG 4
LIZ

Cuối cùng chàng đi làm việc tại một thư viện. Nha nhân công đề nghị chàng hãy đến đó mỗi sáng thứ năm khi chàng lãnh trợ cấp thất nghiệp, nhưng chàng đã luôn luôn gạt đi. Ông Pitt nói :
- Thật ra thì không phải loại việc xứng đáng với ông nhưng lương trả khá và công việc dễ dàng đối với một người có học.
Leamas hỏi :
- Thư viện thuộc loại nào?
- Thư viện nghiên cứu tâm linh Bayswater. Đó là một tổ chức được trợ cấp. Họ có cả ngàn cuốn sách đủ loại và vừa được tặng thêm nhiều cuốn khá. Họ cần một người phụ giúp nữa.
Chàng cầm số tiền và mảnh giấy. Ông pitt nói thêm :
- Những người ở đó rất kỳ quái, nhưng không lẽ ông cứ ở không mãi hay sao? Tôi nghĩ đã đến lúc ông nên thử với một chuyến.
Pitt thật kỳ. Leamas chắc chắn chàng đã nhìn thấy anh ta ở một nơi nào đó trước kia. Tại sở, trong thời kỳ chiến tranh.

Thư viện như một đại sảnh trong nhà thờ, và rất lạnh. Các lò sưởi đen sì ở hai đầu phòng khiến nó phảng phất mùi dầu hôi. Giữa phòng là một cái bục như bục dành cho nhân chứng tại toà và cô Crail, quản thủ thư viện ngồi trong đó.
Leamas chưa hề có ý tưởng chàng sẽ ngồi trong đó làm việc cho một người đàn bà. Không ai tại nha nhân công đã nói gì về điều này.
Chàng lên tiếng :
- Tôi là người giúp việc. Tên tôi là Leamas
Cô Crail ngẩng đầu khỏi đống phiếu chỉ thư mục, nhìn chàng bằng một ánh mắt thật sắc như vừa nghe một lời thô lỗ.
- Giúp? Ông muốn nói giúp là thế nào?
- Phụ tá. Do nha nhân công giới thiệu lại. Ông Pitt.
Chàng đẩy qua mặt quầy tấm phiếu lý lịch của chàng điền bằng một tưồng chữ nghiêng. Cô ta nhặt tấm phiếu lên đọc kỹ.
- Ông là ông Leamas.
Đây không phải là câu hỏi mà bước đầu của một cuộc điều tra tỉ mỉ về các sự kiện.
- Và ông từ nha nhân công đổi đến
- Không. Tôi được nơi đó giới thiệu lại đây. Họ nói cô cần 1 phụ tá.
Cô ta đáp lại bằng một nụ cười khô khan.
- Tôi hiểu.
Đúng lúc đó điện thoại reo, cô ta nhấc máy và bắt đầu bàn cãi với một người nào đó một cách mãnh liệt, Leamas đoán họ cãi nhau liên miên, khỏi cần giáo đầu gì cả. cô ta chỉ việc lên giọng và bắt đầu cãi cọ về mấy tấm vé đi dự hòa nhạc. Chàng nghe một vài phút và lảng ra chỗ các kệ sách. Chàng nhận thấy một cô gái ở trong một căn phòng, đang đứng trên một cái thang, phân loại những quyển sách dày cộm.
Chàng tự giới thiệu trước :
- Tôi là nhân viên mới. Tên tôi là Leamas
Nàng bước xuống thang và bắt tay chàng hơi trịnh trọng.
- Chào ông. Tôi là Liz Gold. Ông đã gặp cô Crail rồi chứ?
- Rồi, nhưng cô ấy đang bận điện thoại.
- Chắc là đang cãi nhau với mẹ cô ấy. Ông định làm gì?
- Tôi không rõ. Làm việc gì chẳng được?
- Hiện giờ chúng tôi đang ghi dấu sách. Cô Crail sửa soạn làm lại một thư mục mới.
Nàng là một cô gái dáng người cao, hơi vụng về, với một thân hình dài và đôi chân thon. Nàng mang giày vải, đế bằng, để giảm chiều cao. Mặt nàng cũng như thân hình, có những nét hơi thô, dường như lưỡng lự giữa sự tầm thường và vẻ đẹp. Leamas đoán nàng 22 hoặc 23 tuổi, và là người Do thái.
- Chỉ là vấn đề kiểm soát lại xem tất cả sách có đủ trên kệ không. Đây là số tham khảo. Khi kiểm soát xong ông viết số mới bằng bút chì và ghi vào thư mục
- Rồi sao nữa?
- Chỉ cô Crail được quyền ghi bằng bút mực. Luật lệ là thế.
- Luật lệ của ai?
- Của Cô Crail. Ông thử bắt đầu bằng các sách về khảo cổ xem sao?
Leamas gật đầu và họ cùng bước sang căn phòng nhỏ kế bên nơi có một cái hộp chứa đầy đủ thẻ nằm trên sàn nhà. Nàng chợt hỏi:
- Ông đã từng làm công việc loại này chưa?
- Chưa
Chàng ngừng lại, nhặt một tấm thẻ, vừa xóc lại vừa nói tiếp:
- Ông Pitt gửi tôi lại. Từ nha nhân công
Chàng cất thẻ và chỗ cũ và hỏi:
- Cô Crail là người duy nhất có quyền viết mực lên thẻ sao?
- Phải.
Nàng bỏ chàng ở đây, và sau một lúc lưỡng lự, chàng lấy ra một quyển sách và nhìn vào danh phiếu. Nó có tên Những khám phá về khảo cổ tại Tiểu Á-Quyển bốn. Hình như họ có bốn quyển.
Đã một giờ trưa và Leamas đói meo, nên chàng bước lại chỗ Liz Gold đang soạn sách và nói :
- Ăn trưa thì sao?
- Ồ, tôi mang theo bánh sandwich
Nàng có vẻ bối rối tiếp
- Ông có thể dùng đỡ một chút với tôi. Xung quanh đây không có một tiệm cà phê nào ở gần.
Leamas lắc đầu:
- Cám ơn cô nhiều, tôi sẽ ra ngoài ăn. Tôi cũng cần mua một vài món đồ
Nàng im lặng nhìn chàng đi qua những khung cửa bật.

Mãi tới hai giờ rưỡi chàng mới trở về, đầy mùi rượu. Chàng mang theo hai bao đựng đầy thực phẩm, đặt vào một góc phòng và uể oải bắt tay lại vào việc với những sách về khảo cổ. Chàng làm việc được chừng mười phút thì nhận thấy cô Crail đang nhìn mình
- Ông Leamas
Chàng đang đứng ở lưng chừng thang, nên phải ngoái đầu nhìn xuống và nói :
- Vâng ?
- Ông có biết những bao đồ này ở đâu ra không?
- Của tôi.
- Tôi biết. Của ông.
Leamas im lặng đợi. Cuối cùng, cô ta tiếp tục:
- Tôi rất tiếc là luật lệ không cho phép mang đồ vào thư viện
- Thế tôi để đâu được. Tôi không thể tìm ra một nơi nào khác hơn.
- Không để trong thư viện
Leamas làm ngơ và trở về với công việc trong khu khảo cổ. Cô Crail vẫn nói :
- Nếu ông chỉ ăn trưa theo đúng thời gian thường lệ, ông sẽ không có thì giờ để đi mua đồ. Không một ai trong chúng tôi làm thế, cô Gold hay tôi cũng vậy, chúng tôi không có thì giờ đi mua đồ.
- Sao cô không dành thêm ra nửa tiếng cho rộng thì giờ? Nếu công việc cần làm gấp, mình có thể làm thêm nửa tiếng vào buổi chiều. Nếu quả thật gấp.
Cô Crail đứng im một lúc, chỉ nhìn chàng và rõ ràng đang cố nghĩ ra một điều gì để nói. Sau cùng, trước khi bỏ đi, cô tuyên bố:
- Tôi sẽ bàn chuyện này với ông Ironside
Đúng năm giờ rưỡi cô Crail khoác áo choàng và chỉ nói một câu :
- Chào cô Gold
Rồi cô ta ra về. Leamas đoán cô ta đã suy nghĩ nhiều về những bao đồ suốt buổi chiều. Chàng vào căn phòng nhỏ kế cận, nơi Liz đang ngồi trên bậc thang cuối cùng đọc một mảnh giấy giống như một tờ truyền đơn. Khi thấy Leamas nàng liền lúng túng bỏ vào trong ví tay và đứng lên, Leamas hỏi :
- Ông Ironside là ai ?
- Tôi nghĩ là không có ông ấy. Đó chắc là lão ngáo mà cô Crail thường mang ra mỗi khi bí câu trả lời. Có lần tôi hỏi ông ấy là ai, cô ta đã trả lời một cách quanh co bí hiểm và bảo “bỏ qua chuyện đó đi”. Tôi cho là không có ông ta.
Leamas nói :
- Tôi không tin cô Crail “bỏ qua” được như lời cô ta bảo.
Và Liz mỉm cười
Đến sáu giờ chiều nàng khóa cửa và đưa chìa khóa cho người gác dan, một ông già bị ám ảnh về Đệ nhất thế chiến – Liz nói vậy – sẽ thức suốt đêm để phòng trường hợp bọn Đức phản công. Trời bên ngoài lạnh cóng.
Leamas hỏi :
- Cô về có xa không?
- Đi bộ khoảng hai mươi phúc. Tôi luôn luôn đi bộ. Còn ông?
Leamas đáp :
- Không xa lắm. Chào cô.


Chàng đi từ từ về nơi trọ. Chàng vào phòng và bật công tắc đèn. Không thấy gì. Chàng thử lại ngọn đèn trong bếp và cuối cùng là lò sưởi điện cắm ở bện cạnh giường. Trên tấm thảm chùi chân có một bức thư. Chàng nhặt lên và đem ra đọc dưới ánh điện màu vàng lờ mờ ngoài cầu thang. Đó là thư của công ty điện, lấy làm tiếc rằng không thể làm gì khác hơn là đành phải cúp điện cho đến khi nào số 9 anh kim 4 shiling và 8 xu được thanh toán.

Chàng đã trở thành một kẻ thù của cô Crail và có nhiều kẻ thù là điều cô Crail thích thú. Cô ta hoặc là cau có với chàng hoặc coi chàng như không có. Và khi chàng lại lại gần, cô ta phát run lên, nhìn trái nhìn phải, hoặc là để tìm cái gì tự vệ, hoặc tìm đường thoát thân. Đôi khi cô ta bày tỏ một thái độ hết sức bất bình, chẳng hạn khi chàng móc áo tựa trên cái giá của cô ta. Cô ta cứ đứng trước chỗ đó giũ mạnh có đến năm phút, cho tới lúc Liz để ý trông thấy và lớn tiếng gọi Leamas.
Chàng liền đi lại gần cô ta và hỏi
- Có chuyện gì làm phiền cô thế, cô Crail?
Cô ta hổn hển trả lời, giọng líu lại:
- Không, không có gì cả.
- Áo tôi bị cái gì chăng
- Không có gì cả
- Tốt lắm
Nói đoạn, chàng trở về phòng sách của mình. Cô ta run lên vì giận suốt cả ngày hôm ấy và thì thầm nói điện thoại suốt nửa buổi sáng. Liz bảo :
- Cô ấy đang kể chuyện với bà mẹ. Cô ấy luôn luôn kể lể đủ thứ với mẹ. cả chuyện về tôi nữa.

Cô Crail mỗi ngày một thêm có ác cảm với Leamas đến nỗi cô ta không thể nói chuyện với chàng được. Và những ngày phát lương, khi đi ăn trưa về chàng lại thấy một phong bì trên bậc thang thứ ba của chàng ở ngoài có viết tên chàng, mà lại viết sai. Lần đầu tiên chàng mang tiền và phong bì lại cô ta và nói “Cô Crail, tên tôi viết là LEA, và chỉ có một chữ S”. Tức thì cô ta như bị cơn tê bại thật sự, mắt láo liêng và máy mó cây viết chì cho đến khi chàng bỏ đi. Sau đó cô ta thủ thỉ trong điện thoại hàng giờ.
Sau khi chàng làm ở thư viện được ba tuần. Liz mời chàng đi ăn tối. nàng làm vẻ như đây là một ý kiến bất ngờ trong đầu nàng, vào lúc 5 giờ chiều, hình như nàng biết rằng nếu mời chàng ngày mai ngày mốt chàng sẽ có thể quên hoặc không đến. Leamas có vẻ không muốn nhận lời nhưng sau cùng chàng nhận.
Họ đi bộ về phòng nàng dưới trời mưa, xuyên qua một vùng không có gì đặc biệt. Có thể là Bálinh, Luân đôn hay bất cứ đô thị nào mà những lề đường lát đá biến thành những cái áo sáng loáng trong mưa đêm và xe cộ chạy một cách buồn nản qua các con đường ướt át.

Đó là bữa cơm đầu tiên Leamas ăn tại phòng nàng trong các bữa ăn nàng mời. Nàng thường mời và chàng không từ chối. Chàng ít nói. Khi nàng tin tưởng chàng sẽ đến, nàng chuẩn bị bàn vào buổi sáng trước khi đến thư viện. Nàng còn soạn món rau sẵn và để nến trên bàn, vì nàng yêu ánh nến. Nàng luôn luôn biếr rằng có cái gì đó thật không ổn với Leamas, và một ngày kia, vì một lý do nào không rõ, chàng sẽ cắt đứt và đi biệt.
Nàng cố cho chàng hay rằng nàng biết, nàng nói vào một buổi tối:
- Anh cứ đi khi anh muốn. Em sẽ không bao giờ theo anh đâu. Alec à
Cặp mắt nâu của chàng nhìn nàng một lúc và chàng trả lời
- Anh sẽ cho em biết khi đến lúc
Chỗ nàng ở gồm một phòng khách kiêm phòng ngủ và một gian bếp. Trong phòng khách có hai ghế tựa, một trường kỷ làm giường ngủ và một kệ chứa toàn sách loại bìa dày, phần lớn là những tác phẩm nổi tiếng mà nàng chưa hề đọc.
Sau bữa an tối nàng thường nói chuyện với chàng, và chàng thường hút thuốc trên chiếc trường kỷ. Nàng không bao giờ biết rõ chàng nghe được những gì, nhưng nàng không cần. nàng thường quỳ xuống bên cạnh trường kỷ ôm đầu chàng sát vào má mình trong lúc nói chuyện
Rồi một buổi tối nàng bảo chàng :
- Alec, anh tin tưởng ở cái gì? Anh đừng cười, hãy cho em biết.
Nàng đợi và sau cùng chàng nói :
- Anh tin chuyến xe buýt 11 giờ sẽ đưa anh tới Hammeramith. Anh không tin là ông già Noel đã lái nó.
Nàng có vẻ suy nghĩ và sau cùng nàng lại hỏi
- Nhưng anh tin tưởng ở cái gì?
Leamas nhún vai, nàng vẫn tiếp :
- Anh phải tin một cái gì chứ. Thượng đế chẳng hạn – em biết là anh có tin ; đôi khi trông anh có vẻ thế, tựa hồ anh có việc gì đặc biệt phải làm, như một tu sĩ vậy. Alec, đừng cười, em nói thật mà.
Chàng lắc đầu :
- Rất tiếc, Liz à, em hiểu lầm rồi. anh không thích bọn Mỹ và các trường công. Anh không thích diễn binh và những người đóng trò binh sĩ.
và không mỉm cười, chàng nói thêm
- Và anh không thích nói chuyện về cuộc đời
- Nhưng Alec, anh đáng lẽ có thể nói
Leamas chặn lời
- Đáng lẽ anh phải nói thêm là anh không thích người nào bảo anh nên nghĩ thế này thế nọ.
Nàng biết chàng sắp sửa nổi giận, nhưng không thể ngừng được nữa.
- Đó là vì anh không muốn nghĩ, anh không dám. Có nọc độc trong đầu anh, có sự thù ghét nào đó. Anh là một con người cuồng tín, em biết thế, nhưng không biết về chuyện gì. Anh là một con người cuồng tín không muốn cải hóa người khác, và như vậy là một điều nguy hiểm. anh như là một người đã … thề trả thù hay một chuyện gì tương tư.
Đôi mắt nâu vẫn không rời nàng. Khi chàng nói chàng phát sợ bởi sự hăm dọa trong giọng nói. Chàng gằn :
- Nếu anh là em. Anh sẽ lo chuyện riêng của mình.
Và chàng mỉm cười, một nụ cười kiểu Ái nhĩ lan hơi đểu. chàng chưa hề cười như vậy
Rồi chàng chợt hỏi :
- Thế còn Liz tin ở gì?
Nàng đáp ngay :
- Em không dễ bị xỏ mũi thế đâu, Alec à.
Đêm đó họ lại nói chuyện về điều này. Leamas khơi ra, chàng hỏi nàng có tín ngưỡng không. Nàng nói:
- Anh đã lầm về em, hoàn toàn lầm. Em không tin ở thượng đế
- Thế em tin cái gì?
- Lịch sử.
Chàng nhìn nàng ngạc nhiên trong một lúc và cười
- Ồ, Liz , ồ không! Em không phải là một tên cộng sản chứ?
Nàng gật đầu, đỏ bừng mặt như một cô bé trước tiếng cười của chàng, vừa giận nhưng cũng vừa nhẹ người vì chàng không có vẻ quan tâm.
Nàng bằng lòng cho chàng ở lại đêm đó và họ trở thành tình nhân. Chàng ra về lúc năm giờ sáng. Nàng không hiểu tại sao như vậy ; nàng rất hãnh diện mà chàng thì lại có vẻ xấu hổ.

Chàng rời phòng nàng và quẹo xuống con đường vắng về phía công viên. Sương mù giăng đầy khắp nơi. Phía dưới con dường một quãng không xa, chỉ chừng hai chục thước hoặc hơn một chút – có bóng dáng một người đàn ông mặc áo mưa, thân hình thấp và hơi mập. y dựa vào hàng rào công viên, nổi bật trong màn sương. Khi Leamas tiến lại, màn sương như daỳ hơn, bao quanh bóng người nơi hàng rào và khi nó tan bớt, người đó biến mất.

Hết chương 4
0
Thái Nhi à, CuLong đen quá đi mất thôi. Toàn bộ dữ liệu của CuLong bị virut nên mất sạch rồi. CuLong đang kỳ cạch gõ lại từ đầu. Thái Nhi và mọi người thông cảm nhá.
Đợi CuLong lâu một chút.
Thanks
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 00:32:25Ct.Ly>
Người tư miền đất lạnh,

John Le Carrée

chương V

MUA CHỊU

Rồi một hôm, chừng một tuần sau chàng không tới thư viện, cô Crail mừng như mở cờ. Chưa đến mười một rưỡi, cô ta đã điện cho bà mẹ biết, và khi đi ăn trưa về, cô ta lại đứng trước các kệ sách về khảo cổ, nơi chàng đã làm việc. Cô ta nhìn chòng chọc vào các hàng sách và Liz biết cô ta đang làm bộ tìm xem Leamas có lấy cái gì không.
Liz hoàn toàn không để ý cô ta ngày hôm đó, quên cả trả lời khi cô ta gọi nàng và chăm chú vào công việc. Lúc chiều, nàng đi bộ về nhà và khóc cho đến khi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau nàng đến thư viện sớm. Nàng cảm thấy một cách mơ hồ là nàng càng đến sớm, Leamas càng có thể đến sớm. Buổi sáng hôm đó trôi qua, hy vọng của nàng trôi dần và nàng biết chàng sẽ không bao giờ đến. Nàng đã quên làm sandwich cho mình ngày hôm đó nên nàng quyết định đi xe buýt đến đường Barswater và đến quán ABC. Nàng cảm thấy trống rỗng và muốn bệnh nhưng không đói. Nàng có nên đi tìm chàng không? Nàng đã hứa là không bao giờ theo chàng nhưng chàng đã hứa là sẽ cho nàng biết, nàng có nên đi tìm chàng không?
Nàng vẫy một chiếc tăc xi và chỉ địa chỉ của chàng.
Nàng leo lên chiếc cầu thang u tối và nhấn chuông. Chuông hình như hư vì nàng không nghe thấy gì cả. Có ba chai sữa trên tấm thảm chùi chân và một hoá đơn từ cơ quan điện. Nàng ngập ngừng một lúc rồi gõ cửa, nàng nghe thấy tiếng rên của một người đàn ông. Nàng chay ùa xuống cầu thang, đập cửa rầm rầm và nhấn chuông căn hộ ở tầng dưới. Không nghe ai trả lời nên nàng lại chạy xuống tầng nữa và thấy mình ở phòng sau của một tiệm tạp hoá. Một bà già ngồi trong góc và đung đưa chiếc ghế. Liz nói như la lên:
- Ở phòng lầu trên cùng có một người ốm nặng. Có ai có chìa khoá không?
Bà già nhìn nàng một lúc và gọi vọng về căn buồng phía trước, nơi bán tạp hoá:
- Arthur, vào đây Arthur, có một cô gái đây nè.
Một người đàn ông mặc áo khoác nâu và đội mũ nỉ xám nhìn qua cửa và nói:
- Cô gái à?
Liz nói:
- Có người ốm nặng ở phòng trên cùng. Ông ấy không bước ra mở cửa được. Ông có chìa khoá không?
Ông ta trả lời:
- Không. Nhưng tôi có búa
Họ vội vàng lên thang lầu. Viên chủ tiệm tạp hoá vẫn đội cái mũ nỉ, mang theo một cây vặn ốc lớn và một cái búa. Ông ta gõ mạnh cửa và họ nín thở chờ tiếng trả lời. Không có động tĩnh.
Liz thì thào:
- Hồi nãy tôi có nghe một tiếng rên. Tôi cam đoan như vậy
- Cô có trả tiền cho cái cửa không, nếu tôi phá nó?
- Vâng!
Cái búa gây một âm thanh khủng khiếp. Với ba nhát, ông ta phá nguyên một miếng khung và ổ khoá rời ra theo. Liz bước vào trước và ông ta theo sau. Trong phòng lạnh cóng và tối om, nhưng trên chiếc giường trong góc họ nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.
Trời ơi, Liz nghĩ, nếu chàng chết chắc mình không dám chạm vào người chàng. Nhưng nàng vẫn tiến lại và chàng còn sống. Kéo màn cửa, nàng tiến lại gầng giường:
Nàng nói, không quay đầu lại:
- Tôi sẽ gọi ông nếu cần. Cám ơn ông
Viên chủ tiệm tạp hoá gật đầu và xuống lầu
- Alec, chuyện gì vậy? Chuyện gì làm anh ốm thế này? Chuyện gì vậy, Alec?
Leamas cựa quậy đầu trên mặt gối. Đôi mắt sâu hoắm của chàng nhắm lại. Bộ râu xám đen nổi bật trên gương mặt xanh xao
- Alec, anh phải cho em biết. Em van anh.
Nàng nắm lấy bàn tay của chàng, nước mắt nàng chảy dài trên má. Nàng luýnh quýnh không biết phải làm gì, rồi nàng đứng dậy chạy vào căn bếp nhỏ xíu và đặt một cái ấm lên bếp. Nàng không biết rõ phải làm gì nhưng làm an tâm vì đã làm một cái gì đó. Để ấm trên bếp, nàng nhặt chiếc ví tay, lấy chìa khoá phòng của Leamas để ở chiếc bàn đầu giường và chạy xuống lầu, qua bốn tầng cho tới dưới cùng và băng ngang đường tớ tiệm thuốc tây của Sleaman . Nàng mua một ít giò bê nấu đông, một ít thịt gà, một ít nước cốt thịt bò và một ống aspirine. Nàng đi ra cửa rồi quay lại, mua thêm một gói bánh mì khô. Tất cả tốn 16 đồng silling. Còn 4 đồng silling và 11 Anh kim trong trương mục tiết kiệm của nàng tại bưu cục nhưng số tiền này phải đến hôm sau nàng mới lĩnh được. Khi nàng về phòng ấm nước đang sôi.
Nàng làm món súp thịt bò như mẹ nàng thường làm, trong một cái ly có để sẵn một cái muỗng cà phê trong đó để tránh rạn ly, và trong suốt thời gian này nàng vẫn liếc nhìn chàng như sợ chàng chết mất.
Nàng phải đỡ chàng dậy cho chàng uống súp. Chàng chỉ có một cái gối và không có gối tựa nên nàng phải lấy chiếc áo khoác của chàng màng nơi cửa cuốn lại để dưới cái gối. Nàng phát sợ khi sờ vào người chàng: người chàng đẫm mồ hôi nên mái tóc ngắn màu xám ướt mèm và mềm nhũn. Để cái tách bên cạnh giường, nàng nâng đầu chàng bằng một tay còn tay kia cho chàng uống súp. Sau khi cho chàng uống được vài muỗng, nàng nghiền nát hai viên aspirine và để vào muỗng cho chàng uống. Nàng nói chuyện với chàng như thể chàng là một đứa bé trong lúc ngồi trên mép giường nhìn chàng, thì thầm tên chàng nhiều lần: “Alec, Alec”
Dần dần hơi thở chàng trở nên điều hoà, người chàng thoải mái hơn trong lúc chàng từ trạng thái đau đớn ê ẩm vì sốt bước vào một giấc ngủ yên tĩnh. Liz nhìn chàng, cảm thấy không có gì nguy ngập nữa. Bỗng nhiên, nàng nhận thấy trời đã gần tối.
Rồi nàng cảm thấy xấu hỗ vì đáng lẽ mình cần phải lau dọn phòng. Nhổm ngay dậy, nàng tìm một cái chổi quét thảm và một cái khăn ẩm dưới nhà bếp rồi bắt đầu làm việc một cách hăng hái. Nàng tìm một cái khăn bàn sạch và trải ngay ngắn trên chiếc bàn cạnh giường, rửa ly tách chén đĩa trong bếp. Khi mọi việc xong xuôi, nàng nhìn đồng hồ, thấy đã quá tám giờ rưỡi. Nàng để cái ấm lên bếp và quay lại giường. Leamas đang nhìn nàng. Nàng nói:
- Alec, anh đừng giận em, em xin anh. Em sẽ đi, em xin hứa nhưng hãy để em làm cho anh một bữa cơm. Anh đang ốm, anh không thể tiếp tục thế này, anh thật là,… ồ, Alec
Rồi nàng bật khóc, hai tay ôm lấy mặt, nước mắt chảy qua kẽ ngón tay, như nước mắt của một đứa bé. Chàng để mặc nàng khóc, nhìn nàng với cặp mắt nâu, tay nắm chặt lấy nệm giường.
Nàng giúp chàng rửa mặt, cạo râu, rồi nàng tìm thấy một ra giường sạch. Nàng cho chàng ăn một chút súp thịt bê, và một chút thịt gà từ cái hũ đã mua ở cửa hàng ông Sleaman. Ngồi trên giường, nàng nhìn chàng ăn và chợt có ý nghĩa mình chưa bao giờ hạnh phúc như thế.
Chẳng mấy chốc, chàng ngủ thiếp đi. Nàng lấy chăn đắp đến tận vai chàng rồi bước đến bên cửa sổ, rẽ những tầm màn vải thưa, nàng nâng khung cửa và nhìn ra ngoài.. Hai cửa sổ nơi sân, phía trên nhà kho đều thắp sáng đèn. Trong một khung cửa, nàng thấy bóng xanh nhấp nháy của một màn ảnh truyền hình, những bóng người im phăng phắc say mê theo dõi. Ở khung cửa sổ kia, một người đàn bà rất trẻ đang cuộn lại tóc. Liz muốn khóc trước những ảo tưởng khó hiểu của những giấc mơ của họ.
Nàng thiếp ngủ trong ghế bành và mãi tới gần sáng mới thức giấc, cảm thấy tê cóng vì lạnh. Nàng lại giường: Leamas cựa mình khi nàng lại gần giường và đưa đầu ngón tay sờ lên môi chàng. Chàng không mở mắt nhưng nhẹ nhàng cầm lấy tay nàng và kéo nàng xuống giường. Bỗng nhiên nàng muốn chàng mãnh liệt, không kể gì nữa, nàng hôn chàng liên tiếp không ngừng. Khi nàng nhìn chàng, hình như chàng đang mỉm cười.
Nàng đến hàng ngày, suốt sáu hôm liền. Chàng không bao giờ nói nhiều với nàng, và có lần khi nàng hỏi chàng có yêu nàng không, chàng bảo chàng không tin ở những câu chuyện thần tiên. Nàng thường nằm lên giường, kê đầu vào ngực chàng, và đôi khi chàng lùa những ngón tay to, thô ráp vào tóc nàng, giữ chặt mái tóc và Liz cười bảo đau. Vào tối thứ sáu, nàng thấy chàng mặc quần áo nhưng không cạo râu, và tự hỏi vì sao chàng không cạo? Vì một lý do mơ hồ, nàng cảm thấy sợ. Có những thứ lặt vặt biến mất khỏi phòng - đồng hồ và cái máy thu thanh xách tay rẻ tiền thường để trên bàn. Nàng muốn hỏi nhưng không dám. Nàng đã mua vài quả trứng và thịt heo và nàng nấu bữa tối trong khi Leamas ngồi trên giường hút thuốc liên miên. Khi bữa ăn sẵn sàng, chàng vào bếp và trở lại với một chai vang đỏ.
Chàng hầu như không nói gì suốt bữa ăn và nàng nhìn chàng, nỗi sợ hãi của nàng tăng dần cho đến khi nàng không chịu nổi nữa và nàng bật khóc.
- Alec, ồ Alec,… chuyện gì vậy? Mình sắp xa nhau rồi phải không anh?
Chàng đứng dậy, rời khỏi bàn, cầm tay nàng và hôn theo cách mà chàng chưa hề làm và nói với nàng một cách dịu dàng một lúc lâu, kể cho nàng nghe những điều nàng chỉ hiểu một cách mơ hồ. Nàng chỉ nghe được một nửa vì suốt câu chuyện nàng biết đã đến lúc chấm dứt và không còn gì quan trọng nữa. Chàng nói:
- Mình phải chia tay, Liz à. Đừng theo anh. Đừng nữa.
Liz gật đầu và khẽ nói:
- Như mình đã hứa với nhau.
Nàng cảm ơn cái lạnh cắt da ngoài đường và bóng tối đã che giấu những dòng lệ cho nàng.
Mãi sáng hôm sau, một ngày thứ bảy, Leamas mới hỏi mua chịu ở quán bán tạp hoá. Chàng hỏi với vẻ vụng về, theo một cách không tính sẵn trước để có thể thành công. Chàng gọi mua đến năm sáu món đồ - tất cả không quá 1 Anh Kim và khi người ta gói lạ bỏ vào bao chàng mới nói:
- Ông hãy gửi hoá đơn đến nhà tôi.
Gã chủ tiệm tạp hoá gượng mỉm cười và bảo:
- Tôi e không thể được.
Không có chữ “thưa ông” đi kèm theo đó.
- Sao lại không?
Leamas hỏi và những người khách xếp hàng dọc sau chàng xôn xao một cách khó chịu. Gã chủ tiệm trả lời:
- Tôi đâu có quen biết ông?
Leamas nói:
- Đừng có điên. Tôi đã đến đây bốn tháng rồi.
Gã chủ tiệm đỏ mặt
- Chúng tôi phải có giấy xác nhận của ngân hàng mới cho mua chịu.
Leamas nổi giận hét vang:
- Đừng có lớn lối. Nửa số khách hàng của anh chưa hề bước chân vào bên trong ngân hàng và chắc chắn đến chết họ cũng chẳng vào trong đó.
Đây là sự kiện không sao chối cãi vì nó đúng sự thật. Gã chủ tiệm tạp hoá bảo lại một cách thô lỗ:
- Tôi không quen biết ông, và tôi không thích ông. Bây giờ mời ông ra khỏi cửa hàng của tôi ngay.
Và y định lấy lại túi đồ chẳng may đang ở trong tay của Leamas.
Sau này người ta kể lại khác nhau về những gì xảy ra kế tiếp. Có người nói, gã chủ tiệm tạp hoá trong khi cố lấy lại gói đồ đã xô Leamas; những người khác lại bảo không phải vậy. Nhưng dù có thế hay không, hầu hết mọi người đều nhớ rằng Leamas đã đánh gã chủ tiệm trong lúc bàn tay phải vẫn đang cầm chặt gói đồ. Hình như chàng đã đánh không bằng nắm tay mà bằng cạnh bàn tay trái, rồi tiếp theo động tác nhanh lạ thường này, bằng cùi chỏ trái; và gã chủ tiệm ngã lăn kềnh ra bất động như một cục đá. Người ta kể rằng, sau đó khi ra toà, gã chủ tiệm còn bị thêm hai thương tích - một xương má bị bể vì cú đánh thứ nhất và một quai hàm bị trẹo vì cú thứ hai. Các bài tường thuật trên nhật báo đều khá đầy đủ nhưng không được tỉ mỉ cho lắm.

📎 CHƯƠNGV
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 00:33:08Ct.Ly>
Người từ miền đất lạnh, chương VI

CHƯƠNG VI
TIẾP XÚC
Ban đêm chàng nằm trên giường nghe các âm thanh do các tù nhân khác gây ra. Có một cậu bé khóc thút thít và một ông già hát bản “On likely Moor bar t’at” đánh nhịp trên chiếc hộp đồ ăn bằng thiếc. Có một anh gác ngục la lớn: “Câm đi, thằng ngu hèn hạ” sau mỗi câu hát nhưng không ai thèm để ý. Có một gã Ái nhĩ lan chuyên hát những bài ca về IRA dù các người khác nói gã vào tù vì tội hiếp dâm.
Leamas vận động cơ thể rất nhiều vào ban ngày với hi vọng về đêm chàng sẽ ngủ được; nhưng vô hiệu. Về đêm mình biết mình ở trong tù; về đêm không có gì, không có một sự đánh lừa nào của thị giác hoặc với chính mình có thể kéo mình ra khỏi tù túng muốn buồn nôn của xà lim. Mình không thể loại bỏ được cái mùi vị tù, mùi quần áo tù, mùi nhà vệ sinh được tẩy uế kỹ lưỡng, tiếng ồn ào của tù nhân. Chính lúc đêm về, sự mất nhân cách của đời sống lao tù trở thành không chịu nổi, chính lúc đó Leamas ước mình đi bộ trong ánh mặt trời đầm ấm của công viên ở Luân Đôn. Chính lúc đó, chàng ghét cay ghét đắng cái chuồng sắt to lớn đang nhốt mình, phải cố dằn lòng lắm mới không đập nắm tay vào chấn song hoặc đập vỡ mồm những tên gác và phóng vào khoảng trời tự do của Luân Đôn. Đôi khi chàng nghĩ đến Liz. Chàng thường hướng đầu óc mình về Liz một cách chớp nhoáng như màn che tiếp - vận – kính của một máy chụp hình, nhớ lại cảm giác khi mềm mại, khi rắn chắc trên thân hình thon dài của nàng rồi gạt ngay nàng ra khỏi ký ức. Leamas không phải là một người quen sống trong mộng tưởng.
Chàng khinh những bạn tù xà lim và họ ghét chàng. Họ ghét chàng vì chàng đạt được trạng thái mà ai nấy trong thâm tâm đều mong mỏi trở thành: một bí mật đối với những kẻ khác. Chàng cố gắng không hoà vào đám đông một phần rõ rệt của cá tính chàng, chàng không để bị lôi kéo vào chuyện tâm sự vụn vặt về người yêu của mình, gia đình của mình hoặc con cái của mình. Họ không biết gì về Leamas, họ đợi, nhưng chàng không thổ lộ. Tù nhân mới hầu hết gồm hai loại – có kẻ vì xấu hổ, sợ hãi hay xúc động mạnh thì chờ đợi trong sự ghê rợn lẫn mê hoặc để được người khác gợi cho biết những kiến thức về đời sống ngục tù, có kẻ thì mang chuyện của mình làm quà để cố hoà mình với mọi người. Leamas không thiên về loại nào. Chàng có vẻ hài lòng vì đã khinh được mọi người và họ ghét chàng vì, cũng như trong đời sống ngoài nhà tù, chàng không cần họ.
Sau chừng mười ngày họ không chịu nổi nữa. Tên đầu sỏ không được chàng kính nể, bọn đàn em không được chàng khích lệ một hai lời nên bọn họ ép Leamas khi đang xếp hàng đợi lấy cơm. “Ép” là một lẽ nghi trong tù, tương tự với xô lấn hồi thế kỷ 18. Bề ngoài không khác gì một tai nạn bất ngờ khiến cho gamen của tù nhân bị lật úp và thức ăn rơi đầy quần áo. Leamas bị xô mạnh về một bên trong khi bên kia có một bàn tay chờ sẵn chặt vào cánh tay chàng, và thế là chuyện xảy ra. Leamas không nói gì, nhìn một cách trầm ngâm vào hai gã đàn ông ở hai bên và lẳng lặng nhận chịu câu chửi tục tĩu của một tên giám thị vốn thừa biết chuyện gì xảy ra.
Bốn ngày sau, trong khi làm việc với một cái cuốc ở luống hoa của nhà tù, hình như chàng vấp ngã. Chàng đang cầm cái cuốc với hai tay ngang người mình, cái cán cuốc ló ra khỏi cánh tay phải độ chừng mười phân. Trong khi chàng vặn người cố giữ căng thẳng thì tên tù ở bên phải chàng gập đôi người với một tiếng rên đau đớn, tay ôm ngang bụng. Từ đó về sau, không có vụ “ép” nữa.
Có điều lạ nhất về chuyện tù là cái bao giấy màu nâu khi chàng ra khỏi tù. Một cách châm biếm, nó nhắc nhở chàng nhớ tới vụ cử hành hôn lễ - với chiếc nhẫn này ta kết hợp ngươi, với bao giấy này ta trả ngươi về xã hội. . Họ đưa chàng cái bao, yêu cầu chàng ký tên và cái bao chứa đựng tất cả tài sản của chàng. Không có cái gì khác nữa. Leamas cảm thấy đó là lúc mất nhân vị nhất trong ba tháng tù và chàng quyết định liệng cái bao đi ngay khi ra đường.
Chàng đã tỏ ra là một tù nhân ít nói, không ai phàn nàn gì chàng cả. Viên quản đốc Khám đường, người đã khá lưu tâm tới trường hợp của chàng nghĩ rằng đó là dòng máu Ái nhĩ lan mà ông ta khẳng định đã khám phá ra nơi chàng.
Ông ta hỏi:
- Anh định làm gì khi ra khỏi đây?
Leamas trả lời, không hề mỉm cười, rằng chàng sẽ làm lại cuộc đời và viên quản đốc nói rằng đó là một điều rất tốt. Và ông ta nói tiếp:
- Còn gia đình anh thì sao? Có dàn xếp yên được mọi chuyện với vợ anh không?
Leamas trả lời dửng dưng:
- Tôi sẽ cố. Nhưng cô ta đã tái giá rồi
Viên sĩ quan hướng dẫn muốn Leamas trở thành một nam trợ tá cho bệnh viện tâm trí ở Burkingham-chire và Leamas đồng ý nộp đơn xin. Chàng còn ghi cả địa chỉ và giờ xe lửa chạy từ Marylebone.
Viên sĩ quan nói thêm:
- Đường xe điện bây giờ chạy đến tận Great Messenden
Leamas bảo như vậy thì hay quá. Thế rồi họ đưa cái gói cho chàng và chàng ra đi. Chàng đi xe buýt đến Marble Arch và xuống đi bộ. Chàng có một ít tiền trong túi và muốn đãi mình một bữa tươm tất. Chàng nghĩ chàng sẽ đi bộ ngang qua công viên Hade để tới Picassilly, và rồi ngang công viên Green và công viên St.James để tới quảng trường quốc hội, và thả bộ xuống Whitehall xuống Strand, nơi chàng có thể đến quán cà phê lớn gần ga Charring Cross và ăn một đĩa thịt bò kha khá với giá 6 silling.
Hôm đó công viên thật đẹp, mùa xuân đã gần tàn và công viên đầy những hoa kỵ phủ lam và thuỷ tiên. Một luồng gío trong sạch và mát mẻ từ phía Nam thổi tới, chàng có thể đi bộ suốt cả ngày. Nhưng chàng vẫn còn gói đồ và chàng phải tống khứ nó đi. . Cái giỏ rác lại quá nhỏ và cố nhét cái túi vào là một hành vi lố bịch. Chàng nghĩ có một hai thứ nên lấy ra – toàn là giấy cũ nát, thẻ bảo hiểm, bằng lái xe và tấm giấy ba mang mấy chữ E93 vỏn vẹn đựng trong chiếc phong bì OHMS - màu vàng nhạt, nhưng bỗng nhiên chàng không muốn phiền phức với nó nữa. Chàng ngồi xuống trên một băng đá và để gói giấy bên cạnh mình, không gần lắm, và xích xa khỏi nó một chút. Sau vài phút, chàng bỏ đi để lại gói đồ. Chàng vừa tới lối đi thì nghe thấy một tiếng kêu, chàng quay lại, có lẽ hơi đột ngột, chàng nhìn thấy một người mặc áo mưa nhà binh gọi chàng, cầm cái gói giấy màu nâu.
Leamas thọc hai tay vào trong túi, quay nhìn qua vai về phía người đàn ông mặc áo mưa. Người đàn ông ngập ngừng, rõ ràng chờ Leamas quay trở lại hoặc tỏ dấu hiệu quan thiết, nhưng Leamas chẳng làm gì cả. Trái lại, chàng nhún vai và tiếp tục đi. Chàng nghe một tiếng kêu khác nhưng vẫn lờ đi và chàng biết người đàn ông đang chay theo sau. Chàng nghe thấy có tiếng chân trên sỏi, gần như chạy nhanh lại gần và một giọng nói gần như đứt quãng với một chút bực bội:
- Này ông, nghe tôi nói đây!
Rồi ông ta chạy lên ngang hàng với chàng khiến Leamas đành phải dừng lại, quay nhìn ông ta:
- Vâng?
- Đây là cái gói của ông phải không? Ông bỏ quên trên băng đá. Tại sao ông không dừng lại khi tôi gọi?
Cao, tóc xoăn màu nâu, cà vạt da cam và sơ mi xanh nhạt, hơi nóng tính, hơi diêm dúa. Leamas thầm nghĩ. Có thể là một giáo sư tốt nghiệp trường Kinh tế Luân đôn và điều hành một hội quán kịch nghệ ở ngoại ô. Mắt yếu. Chàng nói:
- Ông cứ việc để lại đó. Tôi không muốn mang theo.
Người đàn ông đổi sắc mặt:
- Ông không được để đồ ở đó, mất vệ sinh
Leamas đáp lại:
- Có thể lắm chứ. Có thể có người sẽ thấy nó hữu dụng.
Chàng định đi tiếp nhưng người lạ vẫn tiếp tục đứng trước mặt chàng, hai tay ôm cái gói như ôm một đứa trẻ con. Leamas nói:
- Xin cảm phiền tránh đường cho tôi.
Người đàn ông nói bằng một giọng cao hơn:
- Ô kìa, tôi cố ra ơn cho ông. Sao ông phải tỏ ra thô lỗ như thế?
Leamas nói:
- Nếu ông muốn ra ơn cho tôi, sao ông phải theo dõi tôi suốt nửa tiếng vừa qua?
Anh ta cũng khá đấy, chàng nghĩ, anh ta không có vẻ xao xuyến nhưng chắc cũng cứng người.
- Tôi ngỡ ông là một người tôi đã có dịp biết tại Bá Linh
- Vì vậy ông đã theo dõi tôi suốt nửa giờ qua?
Giọng Leamas đầy mỉa mai, trong lúc cặp mắt nâu của chàng vẫn không rời gương mặt ông ta.
- Đâu có tới nửa giờ. Tôi chợt trông thấy ông ở Marble Arch và ngỡ ông là Alec Leamas, người mà tôi đã mượn một số tiền. Tôi thường ở BBC tại Bá Linh và một người ở đó thường cho tôi mượn tiền. Từ đó tôi cứ bận tâm vì món nợ này và chính vì thế tôi đã đi theo ông. Tôi muốn chắc chắn.
Leamas tiếp tục nhìn anh ta không nói, và nghĩ anh ta không khá lắm nhưng cũng không tệ. Câu chuyện của anh ta nghe khó xuôi nhưng cũng không sao. Điều đáng kể là anh ta đã tạo ra một chuyện mới và bám theo nó sau khi Leamas đã phá cái lối làm quen cổ điển. Cuối cùng chàng bảo:
- Tôi là Leamas, còn ông là ai?
Anh ta cho biết tên là Ashe , với một chữ ‘e” anh ta nói thêm. Và Leamas hiểu anh ta đang nói dối. Anh ta làm bộ không chắc Leamas quả là Leamas nên trong bữa ăn trưa, cả hai mở cái gói và xem thẻ bảo hiểm quốc gia, như hai anh chàng nhu nhược đang rửa mắt với một tấm hình tục tĩu. Ashe gọi thức ăn như một kẻ bất cần phí tổn và họ uống Frankenwein để hồi tưởng thời xưa. Leamas bắt đầu bằng cách chàng không nhớ nổi Ashe và Ashe bảo anh ta rất lấy làm lạ. Anh ta nói với cái giọng ra vẻ mất lòng. Anh ta kể lại hai người đã gặp nhau tại nhà Derek Williame phía trên khu Ku-damn (quả đúng như vậy), vả cả bọn nhà báo cũng ở đó, chắc Alec phải nhớ chứ? Không, chàng không nhớ. Vậy chắc chàng nhớ Derek Williams viết cho tờ Observer, gã thanh niên chịu chơi vẫn thường tổ chức những bữa tiệc đầy thú vị?. Leamas có một trí nhớ rất tồi vê tên người và chăng họ đang nói chuyện về năm 1954, biết bao nhiêu nước đã chảy qua dưới cầu kể từ năm đó… Ashe vẫn nhớ (tên thánh của anh ta là William, tuy vậy hầu hết mọi người vẫn gọi ông ta là Bill), Ashe nhớ một cách rõ ràng. Họ đã uống như một hũ chìm, rượu mạnh cùng rượu bạc hà, và cả hai đều ngà ngà say, rồi Derek gọi các em thật thơm, phân nửa là vũ nữ hộp đêm Malkesten, chắc Alec còn nhớ? Leamas bảo có lẽ chàng sẽ nhớ lại được nếu Bill cứ tiếp tục nói thêm chút nữa.
Bill tiếp tục, có lẽ đụng đâu nói đó nhưng khá hấp dẫn, hơi thiên về chuyên trai gái. Anh ta bảo rằng họ đã kết thúc đêm vui tại một hộp đêm với ba cô gái trong bọn kể trên như thế nào. Alec, một anh chàng làm việc tại phòng cố vấn chính trị và Bill; và Bill đã quá bối rối vì quên mang tiền theo nên Alec phải trả, và Bill đã muốn đem một em về phòng và Alec đã cho anh ta mượn một món tiền nữa…
Leamas kêu lên:
- Trời ơi, bây giờ tôi đã nhớ. Dĩ nhiên là phải nhớ.
Ashe sung sướng nói, gật đầu với Alec qua mép ly
- Tôi biết anh sẽ nhớ ra. Nào, mình hãy uống cạn ly. Vui quá!
Ashe tiêu biểu cho loại người sống với người khác theo một nguyên tác: thử thách và đáp ứng. Mềm nắn rắn buông. Tự mình không có một ý kiến hoặc sở thích nào đặc biệt, anh ta dựa theo bất cứ điều gì phù hợp với kẻ đối thoại. Anh ta sẵn sàng uống trà tại tiệm Fortum và uống bia tại Prospect of Whitby; anh ta có thể nghe quân nhạc tại công viên St.James cũng như có thể nghe nhạc jazz trong một hầm nhạc tại đường Compton; giọng anh ta có thể rất run rẩy đầy thiện cảm khi nói về Shapervile, hoặc có vẻ hằn học khi nói về sự gia tăng của những người da màu tại Anh Quốc. Với Leamas, cái vai trò thụ động rõ rệt này thật là đáng lánh; nó bộc lộ cái huênh hoang nơi anh ta nên chàng thường nhẹ nhàng đưa hắn vào một vị trí đã định và tự mình rút về khiến Ashe luôn luôn phải luống cuống thối lui khỏi thế kẹt mà Leamas đã nhử hắn vào. Trưa hôm đó có những lúc Leamas ương ngạnh một cách khá trâng tráo đến nỗi Ashe cảm thấy có đủ lý do để chấm dứt câu chuyện - nhất là vì hắn là người trả tiền – nhưng hắn không dứt chuyện. Người đàn ông nhỏ thó với nét mặt buồn bã đeo kính ngồi ở bàn bên cạnh, đang mải mê với cuốn sách nói về sự chế tạo các vỏ bao đạn, có lẽ đã suy đoán rằng, nếu anh ta đang lắng nghe, Leamas đang say sưa với trò hành hạ người bạn ngồi chung bàn, hoặc (nếu anh ta là một người rất tinh tế) Leamas đang chứng tỏ rằng chỉ người nào có một lý do kín đáo thúc đẩy mới chịu đựng được lối đối xử như vậy.
Khi họ gọi tính tiền thì đã gần bốn giờ, Leamas cố nài trả phần mình nhưng Ashe không chịu. Anh ta trả tiền và rút tập ngân phiếu ra để trang trải món nợ của anh ta cho Leamas. Anh ta vừa nói vừa điền ngày tháng vào ngân phiếu:
- Hai chục Anh kim
Rồi anh ta ngước nhìn Leamas, mở to mắt và mỉm cười:
- Anh lấy chi phiếu tiện cho anh chứ?
Hơi đỏ mặt, Leamas trả lời:
- Lúc này tôi không có ngân hàng nào cả vì mới ở ngoại quốc về. Chắc tôi phải thu xếp lại. Tốt hơn anh đưa tôi một chi phiếu và tôi sẽ lĩnh tiền tại ngân hàng của anh.
- Bồ ơi, tôi không hề ngờ như vậy. Anh phải đi tới Rotherhithe để đổi chi phiếu này lấy tiền mặt.
Leamas nhún vai và Ashe cười. Họ đồng ý gặp lại nhau vào chỗ cũ ngày hôm sau, vào lúc một giờ. Ashe sẽ mang tiền mặt đến.
Ashe kêu tắc xi tại đường Compton và Leamas vẫy tay chào cho đến khi cái xe khuất dạng. Lúc xe đi rồi, Leamas nhìn đồng hồ. Bốn giờ. Chàng đoán là vẫn còn bị theo dõi nên đi bộ xuống đường Fleet và uống cà phê tại quán Black and White. Chàng nhìn các tiệm sách, đọc qua các bài báo buổi chiều bày tại các sạp báo. Rồi hết sức bất ngờ, làm như ý tưởng đó mới hiện đến trong đầu, chàng nhảy lên một chiếc xe buýt. Xe buýt chạy đến đồi Ledgate, thì bị kẹt đường tại một chô gần ga tàu điện ngầm. Chàng liền xuống xe và đi tàu điện. Chàng mua vé giá 6 xu, đứng trên ga cuối và xuống ga kế. Chàng đáp một chuyến tàu khác tới Euston, đi ngược lại Charing Cross. Khi chàng tới ga thì đã 9 giờ và trời trở lạnh. Một chiếc xe chở hàng đậu trong sân phía trước và gã tài xế xe đang ngủ.
Leamas liếc nhìn số xe, đi lại và gọi chủ xe:
- Ông từ Clement tới phải không?
Người tài xế giật mình thức dậy, hỏi:
- Ông là Thomas?
Leamas trả lời:
- Không, Thomas bận không đến được. Tôi là Amies từ Houslow đến.
Người tài xế mở cửa:
- Nhảy vào đi, ông Amies
Họ cho xe chạy về phía Tây, tới đường King. Người tài xế có vẻ biết rõ con đường.
Contro mở cửa cho chàng và bảo:
- George Smiley đi vắng. Tôi đã mượn nhà anh ta. Anh hãy vào đây.
Khi Leamas đã đi vào và cửa được đóng lại, Control mới bật đèn trong tiền đình. Leamas nói:
- Tôi bị theo dõi đến tận giờ ăn trưa.
Họ bước vào một phòng khách nhỏ, sách để đầy rẫy. Đó là một căn phòng xinh xắn, trần cao, trang trí kiểu thế kỷ 18, cửa sổ dài và một lò sưởi tốt.
Leamas đốt một điếu thuốc lá và nói tiếp:
- Chúng vừa tiếp xúc với tôi sáng nay. Một người tên Ashe. Một anh diêm dúa. Chúng tôi hẹn mai gặp lại.
Control chăm chú nghe chuyện của Leamas, từng đoạn một, từ ngày chàng đánh gã chủ tiệm tạp hoá Ford cho đến cuộc chạm trán với Ashe sáng hôm nay. Control hỏi, tựa hồ Leamas vừa nghỉ phép về:
- Anh thấy ở tù ra sao? Rất tiếc chúng tôi không làm gì hơn đựơc cho anh. Chẳng hạn thêm một chút tiện nghi đặc biệt, chúng tôi không thể làm thế.
- Dĩ nhiên là không.
- Phải trước săunh một. Đối với mỗi giai đoạn mình phải theo đúng răng rắc. Nếu phá mặt lá bùa thì hỏng bét. Tôi nghe nói anh đã bị ốm. Tôi xin chia buồn. Sao vậy?
- Chỉ là bị sốt chút đỉnh.
- Anh phải nằm bao lâu?
- Khoảng mười ngày.
Im lặng rất lâu rồi Control tự hỏi một cách bình thản:
- Anh biết cô ta ở trong Đảng Cộng Sản chứ?
Leamas đáp:
- Vâng
Im lặng một lúc nữa, Leamas mới tiếp lời:
- Tôi không muốn cô ta bị liên quan vào chuyện này
- Sao lại để cô ta liên quan?
Control hỏi bằng giọng gay gắt, trong chốc lát, chỉ trong chốc lát Leamas nghĩ chàng đã chọc thủng được chiếc mặt nạ lãnh đạm giả tạo của ông ta. Control tiếp:
- Ai nói là nên đưa cô ta vào vụ này?
Leamas trả lời:
- Không ai nói cả. Tôi chỉ muốn trình bày việc này cho rõ. Tôi biết sự việc sẽ ra sao – toàn những hành động gây hấn. Sẽ có những vụ phản động, những diễn biến bất ngờ. Trong lúc mình yên trí sẽ bắt được một con cá thì lại bắt dược con cá khác. Tôi muốn cô ta được tách ra khỏi vụ này.
- Hẳn rồi, hẳn rồi.
- Người đàn ông tên Pitt ở Nha Nhân công là ai vậy? Có phải anh ta đã làm cho cơ quan trong thời chiến tranh?
- Tôi không biết ai có tên đó. Anh nói y tên Pitt?
- Vâng
- Không, tôi không hề biết y. Anh nói y làm ở Nha Nhân công à?
Leamas khẽ kêu lên:
- Trời ơi!
Control đứng dậy:
- Tôi xin lỗi đã lơ là nhiệm vụ của m ột phó gia chủ. Anh uống một ly nhé?
- Không, tôi muốn đi ngay đêm nay. Về thôn quê để tập luyện lại. Nhà còn mở cửa chứ?
- Tôi sẽ thu xếp một chiếc xe. Anh sẽ gặp lại Ashe mấy giờ ngày mai - một giờ chứ?
- Tôi sẽ điện thoại cho Haldane hay anh muốn theo luyện. Anh nên đi khám bác sĩ, về cái bệnh sốt hôm trước của anh.
- Tôi không cần bác sĩ.
- Tuỳ anh.
Control tự rót cho mình một ly whisky và lơ đễnh nhìn giá sách của Smiley xếp trên kệ. Leamas hỏi:
- Sao không có Smiley ở đây?
Control trả lời một cách thản nhiên:
- Anh ta không thích công tác này. Anh ta nghĩ đây là một vụ không thú vị. Tuy vẫn cho là cần thiết nhưng anh ta vẫn không muốn dính vào.
Control vừa mỉm một nụ cười lạ vừa nói thêm:
- Cơn sốt của anh ta hầu như vẫn tái diễn thường xuyên.
- Anh ta không ưa tôi.
- Đúng thế, anh ta không muốn dính vào nhưng anh ta đã nói cho anh nghe về Mundt và anh cho biết tình hình hiện tại?
- Vâng
Control trầm ngâm
- Mundt là một tên khó chơi, chúng ta đừng bao giờ quên điều đó. Y lại còn là một sĩ quan tình báo lỗi lạc.
- Smiley có biết lý do công tác không? Các lợi ích đặc biệt.
Control gật đầu và hớp một miếng whisky:
- Thế mà anh ta vẫn không thích?
- Đây không phải là vấn đề luân lý. Anh ta cũng như một viên bác sĩ giải phẫu chán thấy máu. Anh ta thích có người khác đảm đương vụ này.
- Xin ông hãy cho tôi biết, tại sao ông chắc việc này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn? Sao ông bọn Đông Đức sẽ nhảy vô mà không phải bọn Tiệp hay Nga?
Control nói giọng hơi phách lối:
- Anh cứ yên tâm. Mọi việc đã đựơc lo liệu kỹ càng.
Khi hai người ra đến cửa, Control nhẹ đặt tay lên vai Leamas và bảo:
- Đây là một công tác cuối cùng của anh. Rồi anh sẽ được về, khỏi phải ở ngoài nơi giá lạnh. Còn cô gái đó – anh có muốn chúng tôi giúp cô ta cái gì không? tiền bạc hay bất cứ gì?
- Khi công việc xong, tôi sẽ tự lo cho cô ta.
- Hẳn rồi. Làm cái gì bây giờ cũng không an toàn.
Leamas nhấn mạnh lần nữa:
- Tôi muốn cô ta được yên. Tôi không muốn cô ta bị quấy rầy. Tôi không muốn cô ta có tên trong hồ sơ hoặc bất cứ thứ gì. Tôi muốn mọi người quên cô ta đi.
Chàng gật đầu chào Control và nhẹ nhàng bước ra ngoài không khí ban đêm. Vào nơi giá lạnh.
📎 CHƯƠNGVI
0
Sym à, mình cũng không rõ vì sao mà bạn không download file về được. Mình sẽ thử gửi lại một lần nữa nhé. Báo lại cho mình nếu bạn vẫn không nhận được.
📎 CHƯƠNGV|CHƯƠNGVI
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 00:34:46Ct.Ly>

Người từ miền đất lạnh, chương VII

CHƯƠNG VII
KIEVER
Ngày hôm sau, Leamas đến muộn hai mươi phút so với giờ hẹn ăn trưa với Ashe và người nồng mùi whisky. Vẻ khoan khoái của Ashe khi thấy chàng, tuy vậy vẫn không giảm sút. Anh ta cho hay cũng vừa mới tới, hơi trễ một chút vì phải đi nhà băng. Anh ta đưa cho chàng một phong bì:
- Giấy một anh kim, được chớ?
Leamas nói:
- Cám ơn. Mình hãy uống một ly.
Chàng không cạo râu và cổ áo dơ dáy. Chàng gọi bồi kêu rượu, một ly whisky lớn cho chàng và một ly gin cho Ashe. Khi rượu được mang tới, tay của Leamas run rẩy trong khi rót sôda vào ly, suýt đổ ra ngoài.
Họ ăn ngon, uống nhiều và Ashe nói hầu hết câu chuyện. Như Leamas đã đoán trước, thoạt tiên anh ta nói những chuyện về mình, một mánh khoé từ xưa nhưng không đến nỗi tệ. Ashe bảo:
- Thành thực mà nói, tôi dạo này khác. Viết bài anh ngữ cho báo ngoại quốc, làm việc không bó buộc. Sau thơi gian ở Bá Linh, đầu tiên mọi việc đều rối beng lên cả - Công ty không chịu tái tục khế ước và tôi phải làm cho một tờ tuần báo lá cải về sở thích của những ông già trên 60. Anh có tưởng tượng được cái gì đáng sợ hơn không? Đó là vào lúc xảy ra cuộc đình công thứ nhất của ngành ấn loát. Thật đỡ cho tôi quá. Rồi tôi về sống với bà cụ ở Cheltenham một thời gian – bà cụ có một tiệm bán đồ cổ thuộc vào loại khá. Rồi tôi nhận được thư của một người bạn cũ, tên thật của anh ta là Sam Kiever, lúc đó đang khởi sự xây dựng một cơ sở mới chuyên viết những loạt bài ngắn về nước Anh, đặc biệt dành cho báo ngoại quốc. Anh biết loại bài này mà – 600 chữ. Về môn khiêu vũ Morris Sam tuy vậy mà lại có một mánh khoé: anh ta bán loại bài đã được dịch sẵn và anh biết không, nó khiến mọi người khác hẳn. Thiên hạ cứ nghĩ rằng ai cũng có thể mướn một người dịch hoặc tự mình dịch lấy, nhưng nếu anh đang tìm bài để nhét vào nửa cột báo, nói về đời sống dân ngoại quốc, anh sẽ không muốn phí thời giờ và tiền bạc vào chuyện dịch thuật. Mẹo của Sam là tiếp xúc thẳng với các chủ bút – ông ta đi khắp châu âu như một tên du mục, kể cũng tội nghiệp, nhưng có việc luôn.
Ashe dừng lại, đợi Leamas nói chuyện về chàng nhưng Leamas lờ đi. Chàng chỉ gật gù và bảo “Hay quá!”. Ashe định gọi rượu vang nhưng chàng bảo chỉ uống whisky và khi bồi bưng cà phê ra chàng đã uống bốn ly lớn. Chàng có vẻ rạc người đi: Chàng có thói quen của bợm rượu, chõ môi ra về phía ly trước khi uống, làm như mình có thể lỡ tay và làm đổ rượu.
Ashe im lặng một lúc rồi hỏi:
- Anh không biết Sam à?
- Sam?
Giọng Ashe có vẻ bực bội:
- Sam Kiever, sếp của tôi. Cái anh chàng tôi vừa nói chuyện ấy mà.
- Anh ta cũng ở Bá linh sao?
- Không. Anh ta biết rõ nước Đức nhưng chưa hề tới Bá Linh. Anh ta có quấy phá ở Bonn một chút, viết báo kiểu tài tử ấy mà. Anh có thể đã gặp anh ta, anh ta dễ thương lắm.
- Tôi không nghĩ là đã gặp anh ta.
Im lặng một lát, Ashe chợt hỏi:
- Dạo này bồ làm gì?
Leamas nhún vai và nhăn răng cười có vẻ ngây ngô.
- Ngồi chơi, bị cho về vườn và đang ngồi chơi.
- Tôi quên không nhớ anh đã làm gì ở Bá Linh? Anh không phải là một trong những chiến sĩ bí mật của cuộc chiến tranh lạnh sao?
Mẹ kiếp, Leamas nghĩ, bạn hơi vội đấy nhé. Chàng nghập ngừng và đỏ mặt, tỏ vẻ hung hãn nói:
- Làm công cho bọn Mẽo cũng giống như phần lớn các bạn của tôi.
Ashe nói, làm như đã đắn đo ý từ lâu:
- Anh nên gặp Sam, anh sẽ thích anh ta.
Và anh nói thêm vẻ lo âu:
- Này Alec, tôi không biết làm cách nào để có thể gặp anh?
Leamas trả lời một cách hờ hững:
- Không được đâu
- Tôi không hiểu nổi ý anh. Hiện giờ anh ở đâu?
- Thì loanh quanh đây. Hơi bê bối một chút, tôi vẫn chưa có việc làm. Bọn khốn không chịu cấp dưỡng cho tôi khá hơn một chút.
Ashe có vẻ kinh ngạc:
- Alec này, thế thì tệ quá. Sao anh không bảo tôi? Sao anh không đến ở đằng tôi? Nhỏ thôi nhưng đủ chỗ cho một người nữa nếu anh không ngại nằm trên cái đi văng. Anh không thể sống lang bang như vậy được.
Leamas vừa trả lời vừa vỗ tay vào cái túi đựng tiền:
- Hơi đỡ rồi. Tôi sẽ tìm được việc làm.
Rồi chàng gật đầu với vẻ quả quyết
- Độ một hai tuần là có. Rồi đâu sẽ lại vào đấy.
- Việc loại nào?
- Ồ, không biết nữa. Bất cứ gì.
- Nhưng anh không thể sống tiêu cực như thế được. Alec, anh nói tiếng Đức cừ như dân bản xứ, tôi vẫn nhớ thế mà. Anh có thể làm được khối việc.
- Tôi đã làm khối việc. Bán Bách khoa toàn thư cho một hãng buôn Mỹ, xếp sách ở một thư viện tâm linh, bấm lỗ thẻ trong một xưởng làm kẹo hôi thối. Tôi còn có thể làm cái mẹ gì bây giờ?
Chàng nói trong lúc mắt không ngước lên nhìn Ashe mà nhìn cái bàn trước mắt, đôi môi run lên vì sự kích động. Ashe đáp lại sự kích động này bằng cách, cúi người qua mặt bàn, nói nhấn mạnh một cách đắc thắng:
- Alec, bạn cần chỗ quen biết, bạn hiểu không? Tôi đã hiểu rõ vì chính tôi đã gặp phải cảnh này. Đó là lúc anh cần biết người này người nọ. Tôi không biết anh đã làm gì ở Bá Linh, tôi không muốn biết, nhưng chắc chắn đó không phải việc mà anh có thể gặp những người đáng nói, phải không? Nếu tôi đã không gặp Sam ở Poznan năm năm trước thì tôi vẫn còn đói dài dài. Alec anh hãy đến ở với tôi vài tuần đi. Bọn mình sẽ dò hỏi Sam hoặc một vài tên bạn ký giả cũ ở Bá Linh, nếu còn có tên nào.
Leamas lắc đầu:
- Nhưng tôi không viết lách gì được. Tôi có viết được cái mẹ gì đâu?
Ashe đặt tay lên cánh tay của Alec và xoa dịu:
- Anh đừng nóng. Mình cứ từ từ lo mọi việc. Đồ phụ tùng của anh hiện giờ để ở đâu?
- Cái gì của tôi?
- Thì vật dụng của anh đó: quần áo, hành lý và các món khác
- Tôi chẳng có gì cả. Tôi bán hết rồi, trừ cái gói đồ.
- Cái gói nào?
- Cái gói màu nâu mà anh đã nhặt được ở công viên hôm qua. Cái gói mà tôi đã quăng đi.
Ashe có một căn phòng ở công trường Dolphin. Thật đúng như Leamas phỏng đoán – căn phòng nhỏ và không có gì đặc sắc, ngoại trừ vài món đồ chơi mang từ Đức về đến vội vàng: ly uống bia, một ống điếu kiểu quê mùa, vài cái tượng mỹ nhân hạng thường. Ashe nói:
- Cuối tuần tôi về với bà cụ ở Cheltonham. Tôi chỉ ở đây vào những ngày giữa tuần thôi. Như thế này cho tiện.
Họ kê cái đi văng vào trong phòng khách nhỏ xíu. Lúc đó khoảng bốn giờ rưỡi, Leamas hỏi:
- Anh ở đây được khoảng bao lâu rồi?
- Ồ, khoảng trên dưới một năm
- Tìm ra có dễ không?
- Kẻ này đi thì người khác đến. Anh biết đấy, những căn này vẫn thế. Mình ghi tên và có ngày có người gọi điện thoại đến cho mình biết là có phòng trống.
Ashe pha trà và cả hai cùng uống. Leamas lầm lì như một kẻ không quen với tiện nghi. Ngay cả Ashe cũng có phần lắng dịu. Sau khi uống xong, Ashe nói:
- Tôi chạy ra ngoài mua chút đồ trước giờ các bảng tiệm đóng cửa rồi sau đó mình sẽ tính phải làm gì. Có lẽ là tôi sẽ địên thọai cho Sam tối nay – tôi nghĩ là hai anh gặp nhau càng sớm càng tốt. Sao anh không ngủ đi – trông anh phờ phạc lắm.
Leamas gật đầu và phát một cử chỉ vụng về:
- Anh tốt quá. Anh đã hết lòng với tôi.
Ashe vỗ vai Leamas, nhặt cái áo mưa nhà binh và đi ra.
Ngay lúc Leamas biết Ashe đã đi khỏi, chàng để cánh cửa trước hơi hé mở và xuống lầu ra căn phòng chính nơi có hai buồng điện thoại Chàng quay một số MadenVale và hỏi gặp thư ký của Thomas. Tức thì một giọng con gái cất lên:
- Thư ký của ông Thomas đây.
- Tôi gọi giùm cho ông Sam Kiever. Ông ấy đã nhận lời mời và mong được tiếp xúc với ông Thomas tối nay.
- Tôi sẽ chuyển lời lại cho ông Thomas. Ông ấy có biết chỗ liên lạc với ông không?
Leamas liền cho địa chỉ:
- Công trường Dolphin
Sau khi hỏi thăm vài chuyện ở quầy lễ tân, chàng quay về phòng của Ashe và ngồi xuống chiếc đi văng nhìn hai tay đang nắm vào nhau. Môt lúc sau chàng nằm xuống. Chàng quyết định theo lời khuyên của Ashe là nghỉ ngơi một chút. Trong lúc nhắm mắt, chàng tưởng tượng Liz đang nằm bên cạnh mình ở Bayswater và tự hỏi bây giờ nàng ra sao.
Chàng bị đánh thứ bởi Ashe, đi với một người có thân hình hơi mập, thấp, với mái tóc hoa râm dài chải lật ra sau và mặc bộ quần áo có cổ rất lớn. Y nói với một giọng hơi giống miền Trung âu, có lẽ là giọng Đức, thật khó đoán. Y nói tên y là Kiever – Sam Kiever.
Họ uống gin-tonic và Ashe nói nhiều nhất trong bọn. Hắn bảo cũng như hồi xưa ở Bá Linh, cả bọn tụ họp lại chơi suốt đêm. Kiever cho hay y không muốn về trễ quá, sáng mai y còn chuyện phải làm. Họ đồng ý ăn ở một nhà hàng Trung Hoa mà Ashe biết - đối diện với bót cảnh sát Limehouse và mình có thể mang rượu theo. Hơi lạ là Ashe có mấy chai Burgundy trong bếp và họ mang theo trên tắc xi.
Bữa ăn tối thật ngon và họ uống hết cả hai chai rượu. Kiever hé lộ một chút khi bắt đầu uống chai thứ hai: y vừa đi một vòng Tây Đức và Pháp về. Ở Pháp tình hình đang rối beng, De Gaulle đang trên đà đi xuống và chỉ có trời mới biết chuyện gì sắp xảy ra. Với một trăm ngàn anh thực dân bại hoại phong hoá từ Algierie trở về, y tin chắc chế độ phát xít sắp sửa vùng lên. Ashe hỏi y để gợi chuyện:
- Còn Đức thì sao?
Kiever nhìn Leamas một cách mời mọc:
- Đó chỉ là vấn đề bọn Mẽo có giữ đựơc họ không?
Leamas hỏi:
- Thế nghĩa là sao?
- Thế nghĩa là Dulles cho họ chính sách đối ngoại bằng một tay, Kenedy lấy lại bằng tay khác. Họ bắt đầu bực rồi.
Leamas gật đầu:
- Đúng là bọn Mẽo chính cống
Ashe xen lời một cách độc địa:
- Alec có vẻ không ưa các anh bạn Mỹ của mình
Và Kiever khẽ bảo với vẻ thản nhiên:
- Thế à?
Leamas nhận thấy Kiever chơi cái trò này rất lâu. Như một người quen dùng ngựa, y để người ta phải đến với y. Y tuyệt giỏi trong việc gây cho một kẻ đa nghi có cảm tưởng rằng y sắp được hỏi xin một đặc ân, và không dễ gì y chịu nhượng bộ.
Sau bữa ăn, Ashe nói:
- Tôi biết một chỗ ở sau đường Wardour – anh đã từng đến đó rồi mà, anh Sam. Họ tiếp đãi khá lắm, mình gọi tắc xi lại đó đi?
Leamas hỏi với một vẻ khác lạ trong giọng khiến Ashe nhìn chàng thật nhanh
- Khoan. Xin các anh cho tôi biết một điều. Ai trả tiền cho cuộc du hí này?
Ashe đáp ngay:
- Tôi. Sam và tôi.
- Các anh đã bàn chuyện này chưa?
- Ồ.. chưa.
- Bởi vì tôi không có tiền. Chắc các anh đều biết điều đó. Không có tiền để liệnh đi như thế.
- Tất nhiên, Alec. Tôi lo cho anh chu đáo đến tận giờ phút này mà.
- Đúng. Anh nói đúng.
Chàng như định nói điều gì nữa nhưng đổi ý. Ashe có vẻ băn khoăn nhưng không giận còn Kiever thì vẫn khó hiểu như từ trước.
Leamas tránh nói trên tắc xi và Ashe cố gắng gợi chuyện bằng vài nhận xét hoà giải nhưng chàng chỉ nhún vai. Họ đến đường Wardour và xuống xe. Cả Kiever và Leamas đều không sẵn sàng trả tiền xe. Ashe dẫn họ qua cửa hàng bày bán các tạp chí dành cho thiếu nữ, đi vào một ngõ hẻm, cuối hẻm là một bảng hiệu bằng đèn ống rẻ tiền đang chói sáng: HỘI QUÁN PUSSYWILLOW – DÀNH RIÊNG CHO HỘI VIÊN. Hai bên cửa vào là hình chụp các cô gái, và trên mỗi hình đều có ghim một tờ giấy mỏng viết tay bằng chữ in: nghiên cứu thiên nhiên – dành riêng cho hội viên.
Ashe bấm chuông. Cửa được mở ngay bởi người đàn ông cao lớn mặc áo sơ mi trắng và quần đen. Ashe bảo:
- Tôi là hội viên. Hai vị này đi với tôi.
- Ông cho xem thẻ.
Ashe rút ra một chiếc thẻ màu vàng trong ví và đưa cho ông ta.
- Khách của ông phải trả mỗi người một anh kim và được xem như hội viên tạm thòi. Ông giới thiệu phải không?
Hắn đưa trả thẻ và trong lúc đó Leamas với tay qua người Ashe đón lấy cái thẻ. Chàng nhìn tấm thẻ một lúc và trả cho Ashe.
Lấy ra hai Anh kim trong túi quần, Leamas đặt vào tay người đàn ông và nói:
- Hai Anh kim cho khách
Và mặc những lời phản đối đầy sửng sốt của Ashe, chàng đưa cả bọn qua lối vào có màn che, vào trong hành lang mờ tối của hội quán. Chàng quay lại nói với gã gác cửa:
- Tìm cho chúng tôi một cái bàn và một chai whisky. Và đừng để ai đến quấy rầy chúng tôi.
Gã gác cửa ngập ngừng một lát rồi quyết định không cãi lại làm gì, đưa cả bọn xuống thang. Trong lúc xuống thang, họ nghe thấy một tiếng rên rỉ rất nhỏ của âm nhạc. Họ lấy một cái bàn riêng ở cuối phòng. Một ban nhạc hai người đang trình diễn và các cô gái đang ngồi túm năm tụm ba ở quanh phòng. Có hai cô đứng dậy khi họ tới gần nhưng gã gác cửa cao lớn lắc đầu.
Ashe liếc nhìn Leamas một cách bất yên trong khi cả ba đang đợi whisky, Kiever có vẻ hơi khó chịu. Anh bồi mang đến một chai rượu và ba cái ly. Họ ngồi im lặng nhìn trong lúc anh bồi rót vào mỗi ly một ít rượu. Leamas liền lấy chai rượu từ tay anh bồi và lót thêm vào ly số rượu bằng số ban nãy. Rót xong, chàng nghiêng mình qua bàn nói với Ashe:
- Bây giờ có lẽ anh sẽ cho tôi biết tất cả câu chuyện này là cái quái gì?
Ashe có vẻ phân vân:
- Anh định nói gì? Anh định nói gì thế, hả Alec?
Chàng trầm tĩnh bắt đầu:
- Anh theo dõi tôi từ cửa khám, ngày tôi được phóng thích, bịa ra một câu chuyện xuẩn ngốc là dã gặp tôi ở Bá Linh. Anh trả tôi số tiền mà anh không hề nợ tôi. Anh đãi tôi ăn uống tốn kém và lại chấp nhận chứa chấp tôi ở nhà anh…
Ashe đỏ mặt:
- Nếu đó là…
Leamas nói hùng hổ:
- Anh đừng ngắt lời. Cứ đợi đến khi tôi nói xong đã, anh nghe chưa? Thẻ hội viên của anh để vào đây được cấp cho một người tên Murphy. Tên anh đó chứ gì?
- Không phải
- Vậy chắc là một anh bạn nào tên Murphy cho anh mượn thẻ?
- Không. Quả không phải thế. Nếu anh cần biết, tôi đến đây thỉnh thoảng để kiếm một cô gái. Tôi dùng một tến giả để vào hội.
Leamas vẫn tiếp không nương tay:
- Vậy tại sao người ta lại ghi Murphy là người thuê căn phòng của anh
Cuối cùng Kiever phải lên tiếng:
- Anh về đi. Tôi sẽ lo chuyện này.
Một cô gái đang biểu diễn màn thoát y vũ, một cô gái trẻ ngăm ngăm có vết bầm đen trên đùi. Cô ta có một thân hình thảm hại khiến người xem thêm khó chịu, bởi vì nó chẳng gợi tình tí nào, nó vụng về và không gây hứng thú. Cô tay quay mình một cách chậm chạp, thỉnh thoảng tay chân mới giật một cái, tựa hồ cô ta chỉ nghe từng hồi âm nhạc và mắt cô ta nhìn không rời họ với một vẻ thích thú của một đứa bé đứng trứơc đám người lớn. Nhịp nhạc tăng nhanh một cách bất thần và người con gái đáp ứng như một con chó nghe hiệu còi, trườn tới thụt lui với vẻ đú đởn. Cởi bỏ cái nịt vú ở nốt nhạc cuối, nàng dơ cao nó lên khỏi đầu, trình diễn thân hình èo uột của nàng với ba cái dải kim tuyến rẻ tiền treo lủng lẳng như đồ trang hoàng một cây Noel cũ.
Leamas và Kiever cùng ngồi im lặng xem
Cuối cùng Leamas lên tiếng:
- Chăc anh lại định bảo tôi rằng mình đã xem những màn khá hơn nhiều, hổi ở Bá Linh?
Kiever thấy rõ chàng vận còn giận. Y nói một cách vui vẻ:
- Tôi mong anh đã được như thế. Tôi thường ở Bá Linh, nhưng tôi e rằng tôi không thích các hộp đêm.
Leamas không nói gì. Kiever tiếp:
- Anh nên biết, tôi không phải khiêm cẩn gì, tôi chỉ duy lý thôi. Nếu tôi muốn một người đàn bà, tôi biết các cách khác kiếm ra rẻ hơn, nếu tôi muốn nhảy, tôi biết tìm chỗ khá hơn để đi nhảy.
Leamas như không chú ý nghe và chàng bảo:
- Có lẽ anh sắp cho tôi biết, tại sao anh chàng nhu nhược đó lại chay theo làm quen tôi?
Kiever gật đầu:
- Vâng, chính tôi bảo hắn làm
- Tại sao?
- Tôi thích anh. Tôi muốn đề nghị với anh một chuyện, một chuyện về báo chí
Im lặng một lát, Leamas nhắc lại:
- Báo chí à? Tôi hiểu
- Tôi điều hành một cơ sở cung cấp các bài viết về quốc tế. Nhuận bút trả cao - rất cao – cho những tài liệu nào hay.
- Ai xuất bản tài liệu?
- Tiền trả cao đến nỗi, quả thật một người như anh… với kinh nghiệm về tình hình quốc tế, một người có cả quá trình như anh, anh hiểu chứ, tức là người có thể cung cấp những tài liệu chính xác và đáng tin, sẽ khỏi phải lo âu về vấn đề tài chính trong một thời gian
Leamas lại hỏi:
- Ai xuất bản tài liệu?
Có một vẻ đe doạ trong giọng của Leamas, và trong một thoáng, gương mặt nhẵn nhụi của Kiever chợt phác ra một thoáng lo sợ
- Các khách hàng quốc tế. Tôi có một đặc phái viên ở Bá-Lê lo liệu phần lớn công việc. Chính tôi cũng không biết ai xuất bản thế. Tôi thú thật thế.
Y mỉm cười cầu tài nói tiếp:
- Điều đó tôi cũng chẳng cần biết. Họ trả tiền và họ yêu cầu thêm tài liệu. Chắc anh biết họ là hạng người không quan tâm đến tiểu tiết. Họ trả tiền chóng vánh và họ sẵn sàng trả qua các ngân hàng ngoại quốc là nơi không ai phải lo chuyện thuế má gì cả.
Leamas không nói gì. Chàng đang cầm cái ly với hai bàn tay và chăm chăm nhìn vào bên trong
Trời ơi, chúng đang đốt giai đoạn, chàng nghĩ, thế là không đứng đắn. Chàng nghĩ đến một câu nói đùa tại một nhạc đường ngu xuấn nào đó – “Đây là một đề nghị mà không cô gái tử tế nào chấp nhận được - vả lại tôi đâu biết đề nghị này giá trị bao nhiêu”. Về mặt chiến thuật, chàng nghĩ, chúng có lý khi vào vấn đề gấp. Mình đang xuống dốc và tả tơi, mới ra tù, còn căm thù xã hội. Mình là một con ngựa già, mình không cần tập luyện, mình không cần phải làm bộ như chúng đã đụng chạm đến danh dự của một nhà quý tộc Anh.
Mặt khác, chúng sẽ mong đợi những phản đối có tính chất thực tiễn. Chúng tin tưởng chàng tỏ vẻ sợ: vì cơ quan của chàng sẽ săn đuổi những tên bội phản như mắt Thượng Đế theo Gain qua suốt sa mạc. Và cuối cùng, chúng sẽ biết đây là một ván bài. Chúng sẽ biết rằng sự mâu thuẫn trong quyết định của con người có thể khiến một phương cách điệp báo hoạch định kỹ biến thành vô nghĩa; sẽ biểt rằng những tên bịp bợm, láo khoét, hay phạm nhân có thể cưỡng lại mọi lời phỉnh nịnh trong khi có nhiều nhà quý phái đáng kính trọng lại bị đưa tới những sự phản bội kinh khiếp về những lợi lộc hèn mọn.
Cuối cùng, Leamas thốt lên:
- Họ sẽ phải trả giá đắt
Kiever rót thêm whisky cho chàng:
- Họ đề nghị trả dứt khoát 15.000 Anh kim. Tiền đã được để tại ngân hàng Contonale ở Bern. Chỉ cần xuất trình một lý lịch phù hợp, lý lịch đó khách hàng của tôi sẽ cho anh là anh rút tiền ra được. Khách hàng của tôi xin được quyền đặt những câu hỏi riêng với anh trong thời gian một năm và sẽ trả thêm năm ngàn Anh kim sau này nếu họ cần sẽ giúp anh định cư ở lại bất cứ nơi nào.
- Anh muốn tôi trả lời trong bao lâu?
- Ngay bây giờ. Anh không cần phải viết tất cả các ký ức của anh lên giấy. Anh sẽ gặp khách hàng của tôi và ông ta sẽ thu xếp để những tài liệu đó được một người khác viết thay cho anh.
- Tôi sẽ gặp ông ta ở đâu?
- Chúng tôi nghĩ vì lợi ích của mọi người. Đơn giản nhất là chúng ta nên gặp nhau ở ngoài Vương quốc Anh . Khách hàng tôi để nghị Hoà Lan
Leamas nói một cách buồn thảm:
- Tôi không có thông hành
- Tôi đã mạn phép lo cho anh một cái rồi
Kiever trả lời một cách mềm mỏng, không có gì trong giọng y hoặc trong cung cách của y cho thấy y đã làm một việc gì đó khác hơn là thương lượng một chuyện làm ăn bình thường, trong lúc y nói tiếp:
- Mình sẽ bay qua Le Harve sáng mai lúc 9h45. Mình có nên về nhà và bàn chi tiết thêm không?
Kiever trả tiền và họ bắt tắc xi đi đến một địa chỉ khá sang không xa công viên St. James
Phòng của Kiever khá sang trọng nhưng đồ đạc có vẻ được xếp đặt một cách vội vàng. Người ta nói rằng ở Luân Đôn có những tiệm bán sách bọc bìa da, bán theo thước chứ không theo cuốn, và có những tay trang trí địa ốc sẽ hoà hợp màu tường với màu tranh. Leamas, vốn không nhiều thụ cảm với những điểm tinh tế như vậy, thấy khó mà nhớ được rằng mình đang ở trong một văn phòng tư nhân chứ không phải một khách sạn. Trong khi Kiever chỉ cho chàng căn phòng riêng trông ra một sân trông dơ dáy chứ không trông ra đường, Leamas hỏi:
- Anh ở đây bao lâu rồi?
Kiever trả lời một chút lơ đãng:
- Ồ, không lâu lắm. Chỉ độ dưới vài tháng thôi
- Chắc phải tốn kém lắm. Tuy nhiên tôi nghĩ anh phải ơ những chỗ như thế này mới xứng
- Cám ơn anh quá khen.
Có một chai whisky trong phòng và một bầu rượu trên một cái khay bằng bạc. Một khung cửa có màn ở cuối phòng dẫn qua một phòng tắm và vệ sinh.
- Thật không khác một tổ uyên ương xinh xắn. Tất cả được trang trải bởi Nhà nước Lao động phải không?
- Câm đi
Kiever nói một cách hung hãn và thêm:
- Nếu anh cần gì tôi, tôi có điện thoại bộ đàm liên lạc với phòng tôi. Tôi sẽ thức.
Leamas trả đũa:
- Tôi nghĩ tôi sẽ tự cởi nút được
Kiever vắn tắt:
- Thế thì chúc anh ngủ ngon.
Rồi hắn ta ra khỏi phòng
Leamas thầm nghĩ y cũng đang tức giận
Leamas bị đánh thức bởi cái điện thoại ở cạnh giường. Kiever cho hay:
- Sáu giờ rồi. Nửa tiếng nữa chúng ta ăn sáng.
- Được rồi.
Leamas cúp máy. Chàng cảm thấy nhức đầu
Nhất định Kiever đã điện thoại gọi một chiếc tắc xi vì lúc bảy giờ chuông cửa reo và Kiever hỏi:
- Sẵn sàng chưa?
- Tôi không có hành lý, trừ một cái bàn chải đánh răng và một dao cạo râu
- Các món đó đã lo liệu rồi. Tôi muốn hỏi anh đã sẵn sàng chưa?
Leamas nhún vai:
- Chắc là rồi. Anh có thuốc lá?
- Không, nhưng anh có thể mua trên máy bay. Anh nên xem qua cái này.
Vừa nói y vừa đưa cho Leamas một sổ thông hành Anh quốc. Cuốn sổ có tên và hình của chàng, có khuôn dấu nổi của Sở hải ngoại chạy qua góc sổ. Nó chẳng mới mà cũng chẳng cũ. Nó ghi Leamas làm nghề thư ký và độc thân. Cầm cuốn sổ lần đầu, Leamas hơi nôn nao, cũng như lấy vợ vậy: từ nay trở đi mọi việc sẽ không còn như xưa nữa. Chàng hỏi:
- Tiền bạc thì sao?
- Anh không cần gì cả. Tất cả do hãng đài thọ.



📎 CHƯƠNGVII
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 17:59:05Ct.Ly>
Người từ miền đất lạnh, Chương VIII (phần 1).
Thái Nhi à, CuLong gõ gần xong truyện "Người từ miền đất lạnh" rồi. Có còn truyện nào nữa không? Cho CuLong đăng ký với

CHƯƠNG VIII
“LE MIRAGE”
Sáng hôm đó trời lạnh, sương nhẹ, xám và ẩm ướt châm vào da thịt. Phi trường nhắc Leamas nhớ tới chiến tranh: các máy móc ẩn trong sương mù, kiên nhẫn đợi chủ của chúng, các giọng nói âm vang, các tiếng la bất ngờ và tiếng gót giầy lạc điệu của một cô gái trên mặt sàn lót đá; tiếng gầm của một động cơ nghe như sát bên cạnh. Khắp mọi nơi là bầu không khí đồng loã, gần như phi phàm, tạo ra giữa những người dậy từ sáng tinh mơ, do thói quen muốn chứng kiến cảnh đêm tàn và ngày đến. Các nhân viên có cái vẻ hiểu biết về bí mật bình minh đến và lăng xăng vì lạnh, họ đối đãi với các khách hàng và hành lý bằng vẻ xa vắng của những người trở về từ tiền phương; trong những buổi sáng như thế này, người trần mắt thịt không có nghĩa lý gì với họ.
Kiever đã sắm hành lý cho Leamas. Đó là một chi tiết hay, Leamas phải phục thầm. Các hành khách không có hành lý thường lôi kéo sự chú ý và Kiever không muốn như vậy. Họ làm thủ tục tại quầy giấy của hãng hàng không và theo các dấu hiệu tiến về trạm kiểm soát sổ thông hành. Chỉ có một lúc buồn cười là lúc họ lạc đường và Kiever gắt một anh phu xách hành lý. Leamas đoán Kiever đang lo lắng về cuốn thông hành - không cần phải thế, Leamas nghĩ, tất cả đều hợp lệ mà.
Viên chức kiểm soát sổ thông hành là một gã đàn ông trẻ, nhỏ người, mang một chiếc cà vạt của Sở tình báo và một dấu hiệu bí mật trên ve áo. Anh ta có bộ ria mép đỏ hoe và một giọng nói miền Bắc mà suốt đời anh ta thù ghét. Anh ta hỏi Leamas:
- Thưa, ông đi xa độ bao lâu?
Leamas đáp:
- Vài tuần
- Xin ông lưu ý. Thông hành của ông phải tái kiểm ngày 31.
- Tôi biết.
Họ bước vào phòng đợi hành khách. Trên đường đi Leamas nói:
- Anh là một con người đa nghi, phải không Kiever?
Y cười lặng lẽ trả lời:
- Không thể thả lỏng anh được. Không có trong hợp đồng.
Họ còn phải đợi thêm hai mươi phút nữa. Họ ngồi xuống một cái bàn và gọi cà phê. Kiever vừa nói với anh bồi vừa chỉ các chén đía và gạt tàn thuốc trên bàn:
- Dọn mấy thứ này đi.
Anh bồi đáp:
- Có xe đẩy lại dọn bây giờ
Kiever nổi giận nhắc lại:
- Mang tất cả đi. Tởm quá, ai lại để chén đĩa dơ như thế này.
Anh bồi quay lưng đi thẳng. Anh ta không lại quầy hàng và cũng không gọi cà phê cho họ. Kiever mặt trắng bệch, giận điên lên. Leamas bảo:
- Thôi bỏ qua đi, đời sống ngắn lắm.
Kiever hậm hực bảo:
- Thằng khốn hỗn láo, nó như thế ai mà chịu nổi
- Đựơc rồi, được rồi. Anh cứ gây chuyện làm người ta chú ý đi; anh chọn đúng lúc lắm rồi bọn họ không bao giờ quên bọn mình ở đây đâu.
Các thủ tục tại phi trường La Hayde không có gì rắc rối. Kiever có vẻ an lòng. Y trở nên hoạt bát và nói năng luôn miệng khi họ đi khoảng đường ngắn từ máy bay đến lầu quan thuế. Viên thanh tra trẻ người Hoà Lan nhìn lấy lệ giấy thông hành và hành lý của họ và nói tiếng Anh với một giọng vụng về:
- Tôi mong hai ông đến Hoà Lan gặp nhiều vui vẻ.
Kiever nói với vẻ gần như biết ơn hơi quá đáng:
- Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều
Họ đi bộ từ lều quan thuế, dọc theo hành lang, đến phòng tiếp tân bên kia dãy nhà phi cảng. Kiever rẽ đường đến lối ra chính giữa các nhóm nhỏ hành khách đang lơ đãng nhìn vào những nhóm trưng bày nước hoa, máy ảnh và trái cây. Trong khi họ đẩy cánh cửa xoay bằng kiếng để ra ngoài, Leamas quay lại nhìn. Đứng ở một quầy báo đang coi tờ Cotendinal Daily. Mail là một người nhỏ thó như con nhái, mắt đeo kính, vẻ mặt trang nghiêm đầy lo âu. Trông y như một công chức hoặc đại khái như thế.
Một chiếc xe đang đợi họ ở bãi đậu. Một chiếc Volkswagen, số đăng bộ Hoà Lan. Tài xế là một người đàn bà, không để ý gì tới họ. Nàng lái chậm, luôn luôn ngừng khi đèn vàng. Leamas đoán nàng đã được chỉ thị lái như vậy và có lẽ họ đang bị một chiếc xe theo dõi đằng sau. Chàng nhìn vào kính chiếu hậu, cố nhìn ra chiếc xe đằng sau nhưng vô hiệu. Có lần chàng thấy một chiếc Peugeut đen với biển CD, nhưng khi họ quẹo ở góc đường thì chỉ thấy một chiếc cam nhông chở đồ chạy theo. Chàng biết thành phố La Haye rất rõ từ thời chiến tranh và chàng cố để ý xem xe đang chạy về đâu. Chàng đoán cả bọn đang đi về hướng tây bắc đến Schevinegen. Chẳng bao lâu, xe rời ngoại ô và tiến về một ngôi biệt thự dọc theo các cồn cát ven biển.
Đến đây họ ngừng lại. Người nữ tài xế bước ra, họ ngồi trong xe và bấm chuông cửa một biệt thư nhỏ màu kem ở cuối dãy. Một bảng sắt treo trên cửa với chữ “LE MIRAGE” kiểu Gothique màu xanh nhạt. Trên cửa sổ có một yết thị cho hay đã hết phòng.
Cửa mở do một người đàn bà mập lùn có vẻ chất phác. Bà ta nhìn về phía chiếc xe, mắt vẫn không rời xe, bà ta tiến xuống con đường dẫn về phía đá với nụ cười niềm nở. Bà ta làm Leamas nhớ lại bà cô già đã từng đánh chàng vì tội phí phạm dây. Người đàn bà nói:
- Thật quý hoá quá, chúng tôi rất vui mừng vì các ông đến.
Họ theo bà ta vào nhà. Kiever dẫn đường còn tài xế thì trở lại xe. Leamas ngoảnh lại nhìn về phía con đường đã chạy qua, ở cách xa chừng 300 thước, một chiếc xe sơn đen, có lẽ là một chiết Fiat hoặc Peugeot vừa dừng lại. Một người đàn ông mặc áo mưa bước ra khỏi xe.
Khi đã vào trong nhà, người đàn bà bắt tay Leamas thật nồng nhiệt, nói:
- Xin chào mừng các ông đã đến Le Mirage. Các ông khoẻ cả chứ?
Leamas trả lời:
- Vâng, khoẻ lắm.
- Phi cơ bay đường biển?
Kiever cũng đáp:
- Chúng tôi đã đáp một chuyến phi cơ vô cùng êm ái
Đáng lẽ Kiever phải làm chủ hãng máy bay mới đúng. Người đàn bà nói:
- Tôi sẽ làm cơm trưa, một bữa thật đặc biệt. Tôi sẽ nấu một món hết sức ngon. Các ông muốn ăn món gì?
Ôi trời, Leamas kêu thầm.
Chuông cửa chợt reo vang, người đàn bà đi nhanh vào bếp và Kiever đi ra mở cửa:
Người đàn ông mặc chiếc áo mưa có hàng nút bằng da. Dáng người y cùng cỡ với Leamas nhưng già hơn, Leamas đoán y chừng 55 tuổi. Mặt cứng rắn, sắc xám, có những nét nhăn sâu. Có lẽ trước kia y là một quân nhân. Y chìa một bàn tay có những ngón thon và trau chuốt, tự giới thiệu:
- Tôi tên Peter, các ông vui vẻ chứ?
Kiever đáp nhanh:
- Vâng, hoàn toàn bình an
- Ông Leamas và tôi còn phải thảo luận nhiều. Tôi nghĩ không cần anh ở đây, Sam à. Anh có thể lấy chiếc Volkswagen đi về phố.
Kiever mỉm cười. Leamas có thể thấy rõ vẻ khoan khoái trong nụ cười của ông. Kiever quay sang chàng và nói bằng giọng vui vẻ;
- Chào Leamas, chúc anh bạn may mắn.
Leamas gật đầu, lờ đi như không trông thấy bàn tay của Kiever đang chìa ra.
Kiever cất tiếng chào lại một lần nữa rồi đi ra phía cửa trước.
Leamas theo Peters vào một phòng phía sau. Cửa sổ treo những bức màn dày viền reo, uốn và gấp kỹ lưỡng. Thành cửa có nhiều cây trồng trong các chậu nhỏ - cây xương rồng, cây thuốc là và một loại cây kỳ lạ có lá rộng bản như bằng cao su. Đồ đạc nặng nề, giả làm đồ cổ. Bàn dược phủ bởi một tấm vải màu đỏ gạch trông như một tấm thảm; trên đó, trước mỗi cái ghế có một cái bút và một tập giấy. Trên một cái kệ và whisky và soda. Peters tiến lại và rót rượu cho hai người uống. Leamas bất thần lên tiếng:
- Kể từ giờ phút này, tôi không cần giữ phép lịch sự nữa, anh hiểu không? Mình đã quá biết nhau, cả hai đều là dân chuyên nghiệp. Anh vừa vớ được một điểm chỉ viên vì tiền và tôi xin chúc anh may mắn. Vậy anh đừng giả vờ si mê tôi làm gì cho mất công.
Giọng chàng nghe có vẻ bực tức, không được tự tin. Peter gật đầu, nhận xét một cách thản nhiên:
- Kiever cho tôi hay anh là một người kiêu hãnh
Đoạn y vẫn không mỉm cười, nói tiếp:
- Vả lại, còn có lý do nào khác khiến người ta công kích bọn thương gia?
Leamas đoán y là người Nga, nhưng không chắc.. Y nói tiêng Anh gần như hoàn hảo. Y có vẻ thung dung và những thói quen của một người quen sống trong những tiện nghi của đời sống văn minh.
Họ ngồi vào bàn, Peters hỏi ngay vào đề:
- Kiever đã nói với anh về những gì tôi sẽ trả cho anh chứ?
- Rồi. Mười lăm ngàn Anh kim rút từ một ngân hàng tại Bern
- Phải.
- Anh ta nói, anh có thể hỏi thêm trong vòng một năm sau. Anh sẽ trả thêm năm ngàn nữa nếu còn cần đến tôi.
Peters gật đầu. Leamas tiếp lời:
- Tôi không nhận điều kiện đó. Anh biết và tôi cũng biết như thế không ổn. Tôi muốn lấy mười lăm ngàn và dứt khoát hẳn không còn dính líu gì nữa. Các anh có những biện pháp khắt khe với những nhân viên bội phản thì bên tôi cũng thế. Tôi không định ngồi chết dí tại St.Morizt trong khi các anh phá tan các màng lưới mà tôi đã cho các anh biết. Họ không phải là một lũ ngu, họ sẽ biết phải tìm ai. Nói tóm lại, anh và tôi đều biết họ đang theo dõi chúng ta.
Peters gật đầu:
- Dĩ nhiên anh có thể đến một nơi nào đó an toàn hơn, được không?
- Bên kia Bức Màn Sắt?
- Phải
Leamas chỉ lắc đầu và trở lại vấn đề chính:
- Tôi đoán anh sẽ cần khoảng 3 ngày để phỏng vấn sơ khởi. Rồi anh sẽ trở lại đây với đủ chi tiết
Peters đáp :
- Không cần phải như vậy
Leamas nhìn y nói vẻ thích thú:
- À, tôi hiểu. Họ đã cử đến đây một chuyên viên hay là Mạc tư khoa đang nhúng tay vào vụ này?
Peters im lặng, chỉ nhìn Leamas, cố tìm hiểu ý chàng. Cuối cùng y cầm bút chì trước mặt lên và bảo:
- Chúng ta sẽ bắt đầu với các công tác của anh thời kỳ chiến tranh?
Leamas nhún vai:
- Tuỳ anh
- Được rồi. Ta sẽ bắt đầu với các công tác thời kỳ chiến tranh của anh. Anh bắt đầu đi.
- Tôi gia nhập Công Binh năm 1939. Tôi vừa mãn khoá huấn luyện thì có thông báo mời những người giỏi sinh ngữ ghi tên phục vụ công tác chuyên môn ở ngoại quốc. Tôi biết tiếng Hoà Lan, tiếng Đức, khá giỏi tiếng Pháp và đã chán ngấy đời lính nên tôi liền ghi tên. Tôi biết rõ nước Hoà Lan, cha tôi đã có một đại lý dụng cụ cơ khí ở Leiden; tôi đã ở đó chín năm. Tôi đựơc phỏng vấn theo đúng thủ tục và học tại một trường gần Oxford, nơi họ dạy nghề này cho tôi.
- Ai điều hành trường huấn luyện đó?
- Về sau tôi mới biết. Rồi tôi gặp Steed Asprey và một cựu giáo sư Oxford tên Fielding. Họ cùng điều khiển trường huấn luyện. Năm 1941, họ thả dù tôi xuống Hoà Lan và tôi ở đó 2 năm. Hồi ấy chúng tôi bị mất nhân viên nhiều hơn con số chúng tôi có thể kiếm đựơc - đầy những vụ ám sát đẫm máu, Hoà Lan là một địa ngục đặc biệt cho những chuyện thuộc lọai này – nó không phải là một xứ có địa thế hiểm trở, không một nơi nào có thể dùng đặt bản doanh hay một đài truyền tin. Luôn luôn di động. Luôn luôn chạy trốn. Khiến cho tình hình trở thành một trò chơi dơ bẩn. Tôi dời Hoà Lan năm 1943 và sống vài tháng ở Anh. Rồi tôi đi Nauy – so với chuyến đi trước đây thì đây chỉ là một cuộc du ngoạn. Năm 1945, họ cho tôi về vườn và tôi quay lại Hoà Lan, cố kế nghiệp cha tôi. Công việc không xong nên tôi theo một người bạn cũ lúc đó đang làm cho hãng du lịch ở Bristol. Ở đây được 18 tháng, chúng tôi bị phá sản. Rồi trong lúc ngồi buồn, tôi đựơc Cơ Sở hỏi thăm tôi có muốn làm không. Nhưng tôi đã chán làm lắm rồi, tôi nghĩ vậy, nên tôi đã trả lời tôi sẽ suy nghĩ lại và mướn một ngôi nhà trên đảo Lundy. Tôi sống ở đấy một năm, chỉ biết nhìn cái bụng của mình ngày một phì ra, rồi lại chán ngấy nên tôi viết thư cho bọn họ. Cuối năm 1949, tôi lại có tên trong sổ lương. Dĩ nhiên, công vụ gián đoạn thì tiền thù lao cũng giảm và lại còn bị chê bai đủ điều. Tôi nói có mau lắm không?
Peters vừa rót thêm whisky cho chàng vừa nói:
- Bây giờ thì không. Dĩ nhiên mình sẽ bàn lại những chuyện đó với ngày tháng và danh tính.
Có tiêng gõ cửa và người đàn bà mang bữa ăn trưa vào, một bữa ăn khá thịnh soạn với thịt nguội, bánh mì và súp. Peters gạt tập giấy ghi chú của y sang một bên và họ ngồi trong im lặng. Cuộc thẩm vấn thế là đã bắt đầu.
Bữa ăn được dọn đi, Peters lại hỏi:
- Thế rồi anh quay lại với Cơ Sở?
- Phải. Trong một thời gian, họ cho tôi làm bàn giấy, duyệt các phúc trình, ước tính các lực lượng quân sự của quốc gia bên kia Bức Màn Sắt, theo dõi các đơn vị và các công tác, đại khái như thế.
- Ban nào?
- Vệ tinh Bốn. Tôi làm ở đấy từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 5 năm 1951.
- Ai là đồng nghiệp của anh trong thời gian đấy?
- Peter Guiliam, Brian De Grey, George Smiley. Smiley li khai khỏi nhóm năm 1951 và gia nhập ngành Phản Gián. Tháng 5 năm 1951, tôi được cử tới Bá Linh với chức vụ C.D.A - tức Phó Kiểm soát viên khu vực, tức là tất cả các công tác hoạt vụ.
- Anh có những ai dưới quyền?
Peters viết thật nhanh. Leamas đoán y có lối tốc ký riêng.
- Hackett, Sarrow và De Jong. De Jong đã bị chết trong một tai nạn lưu thông năm 1951. Chúng tôi đoán anh ta bị ám sát nhưng không chứng minh được điều này. Tất cả bọn cùng điều hành tổ của họ một cách trôi chảy, và tôi vẫn thường kiểm soát họ. Anh còn muốn biết chi tiết gì không?
- Dĩ nhiên, nhưng sau này đã. Anh cứ nói tiếp tục.
- Cuối năm 1954, chúng tôi bắt được miếng mồi ngon tại Bá Linh. Fritz Feder, nhân vật quan trọng đứng hàng thứ hai trong Bộ Quốc phòng Đông Đức. Cho tới lúc đó tình hình vẫn gay go, nhưng đến tháng 9 năm 1954, chúng tôi vẫn vớ được Fritz. Anh ta chịu đựng được gần hai năm rồi một hôm chúng tôi mất liên lạc hẳn với anh ta. Tôi nghe nói anh ta đã chết trong khám. Rồi năm 1959, Karl Riemick bị lộ tẩy. Karl có chân trong Chủ tịch Đoàn của Đảng Cộng sản Đông Đức. Anh ta là nhân viên giỏi nhất trong số những người tôi đã từng biết.
Peters nhắc:
- Bây giờ y đã chết.
Một cảm giác xấu hổ thoáng qua gương mặt của Leamas. Chàng nói:
- Tôi có mặt tại đó khi anh ta bị bắn. Anh ta có một cô bạn gái đã qua khỏi giới tuyến trước khi anh ta chết. Anh ta đã cho cô bạn này biết hết mọi chuyện – cô ta biết rõ toàn thể màn lưới. Kể ra anh ta bị táng mạng cũng không đáng ngạc nhiên.
- Mình sẽ trở lại chuyện Bá Linh sau. Bây giờ anh hãy cho tôi biết điều này. Khi Karl chết, anh liền bay về Luân Đôn. Anh có Luân Đôn suốt thời gian còn lại trong công vụ hay không?
- Vâng, trong suốt thời gian còn lại.
- Anh giữ việc gì ở Luân Đôn?
- Ban Ngân sách. Coi sóc lương bằng cho các nhân viên, trả tiền tại ngoại quốc cho những mục tiêu mật. Một đứa bé cũng làm được việc đó. Chúng tôi nhận chỉ thị và ký vào giấy tờ. Thỉnh thoảng mới bị nhức đầu về vấn đề an ninh.
- Anh liên lạc thẳng với các địêp viên chứ?
- Làm sao có thể đựơc? Thường trú viên ở mỗi xứ sẽ làm một phiếu thỉnh cầu. Người có trách nhiệm sẽ đóng dấu trên đó và đưa qua cho chúng tôi lo việc trả tiền. Trong đa số các trường hợp chúng tôi chuyển tiền qua ngân hàng ngoại quốc nơi thường trú viên có thể tự ý rút tiền ra trao cho điệp viên.
- Các điệp viên được ghi danh như thế nào? Bằng bí danh?
- Bằng Bí số. Cơ Sở gọi đó là các tổ hợp. Mỗi màn lưới được cấp một số tổ hợp, mỗi điệp viên sẽ mang thêm số tổ hợp trước số hiệu của anh ta. Số tổ hợp của Karl là 8, kế đó là A.1
Leamas toán mồ hôi. Peters ngắm chàng một cách bình thản, đánh giá chàng như một con bạc chuyên nghiệp từ bàn bên kia. Leamas đáng giá bao nhiêu? Cái gì sẽ đánh ngã chàng? Chàng ghét cái gì? Và nhất là chàng biết những gì? Chàng có sẽ dành lá bài tẩy đến phút cuối để bán với một giá thật đắt không? Peters không nghĩ thế. Leamas đã mất bình tĩnh quá rồi, không thể nói loanh quanh được nữa. Chàng là một người đang bối rối với lương tri, một người chỉ có một cuộc đời, một niềm tin và đã phản bội cả hai thứ đó. Peters từng thấy những kẻ tương tự, ngay cả những người đã thay đổi hoàn toàn về ý thức hệ, những người trong bóng đêm âm thầm đã tìm thấy được một niềm tin mời và một mình, bị thúc đẩy bởi niềm tin mãnh liệt tận trong lòng, đã phản bội gia đình, tổ quốc của họ. Ngay cả họ, tâm hồn tràn đầy hăng hái và hy vọng mới cũng phải tranh đấu chống lại vết nhơ của sự phản bội, ngay cả họ cũng đã phải vật lộn với sự đớn đau gần như của thể chất khi nói ra những điều mà họ đã dược huấn luyện để không bao giờ tiết lộ. Cũng như những kẻ Hội giáo sợ không dám đốt Thập tự giá, họ lưỡng lự giữa bản năng và vật chất và Peters, giữa hai thái cực này, phải vừa làm cho họ nản ý vừa diệt lòng kiêu hãnh của họ. Đó là tình trạng mà cả hai bên đều biết, do đó Leamas đã kiên quyết cắt bỏ mối liên hệ nhân tính với Peters, vì lòng kiêu hãnh của chàng không cho phép Peters biểt rằng vì những lý do đó Leamas sẽ nói dối; có lẽ chỉ nói dối bằng cách bỏ bớt, nhưng cũng là nói dối, vì kiêu hãnh, vì thách đố, hoặc chỉ vì tính chất tà dị của nghề nghiệp chàng, và y, Peters sẽ phải khám phá cho bằng đựơc mọi điều dối trá. Y cũng biết rằng chính vì Leamas là một tay chuyên nghiệp, chàng có thể làm cho y bất lợi vì Leamas sẽ lựa chọn kỹ trong lúc Peters không muốn lựa chọn. Leamas sẽ tiên liệu loại tin tức tình báo mà Peters cần – và khi làm thế sẽ có thể bỏ qua một vài mẩu tin tình cờ nhiều khi lại là tin trọng yếu đối với ban lọc tin. Ngoài những điều này, Peters còn phải chịu đựng tính kênh kiệu, bốc đồng của một tên nghiện rượu hư hỏng. Y bảo:
- Bây giờ tôi sẽ đi vào chi tiết và công tác của an ở Bá Linh. Đó là khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1951 đến tháng 3 năm 1961. Anh hãy uống một ly nữa đi.
Leamas nhìn y lấy một điếu thuốc từ trên bàn và châm lửa. Chàng nhận được hai điều: Peters thuận tay trái, và một lần nữa y lại để điếu thuốc lên miệng với cái đầu có chữ chìa ra ngoài, để nó cháy trước. Đó là tác phong mà Leamas thích: nó chứng tỏ Peters cũng như chàng, từng trải trong nghề.
Peters có khuôn mặt rất lạ, vô cảm giác và nước da xám. Chắc y đã có nước da này từ lâu lắm – có lẽ trong một nhà tù nào đó vào những ngày đầu Cách Mạng – và lúc này nét mặt y đã biến thành cố hữu mà Peters sẽ giữ mãi cho đến chết. Chỉ có mái tóc cứng hoa râm sẽ bạc đi, nhưng mặt y sẽ không thay đổi. Leamas mơ hồ tự hỏi tên thật của y là gì? Y lập gia đình chưa? Có một cái gì rất chân thực nơi hắn mà Leamas thích. Đó là sự chân thực của sức mạnh, của lòng tin. Nếu Peters nói dối thì nhất định phải có một lý do. Điều dối trá sẽ đựoc tính toán, một điều dối trá cần thiết, khác hẳn với sự xảo trá vụng về của Ashe.
Ashe, Peters, Kiever đó là một sự thăng tiến về phẩm chất, về thẩm quyền và đối với Leamas là thứ bậc phải có một màn lưới điệp báo. Ngoài ra, theo ý chàng, đó cũng là một sự thăng tiến về ý thức hệ. Ashe là một tên đánh mướn, Kiever là kẻ phiêu lưu và bây giờ Kiever là con người mà cứu cánh với phương tiện chỉ là một.
Leamas bắt đầu nói với Bá Linh, Peters ít khi ngắt lời, ít khi hỏi hoặc bình phẩm, nhưng nếu có, y cho thấy một sự hiếu kỳ về nghề nghiệp và sự giám định hoàn toàn hợp với khí chất của Leamas. Leamas còn có vẻ đáp ứng cho sự đòi hỏi chuyên môn của kẻ thẩm vấn chàng. Đó là một điểm tương đồng của hai người.
Họ phải mất một thời gian mới thiết lập lại được một màn lưới đoàng hoàng tại khu vực Đông Bá Linh, Leamas giải thích. Trong những ngày đầu, thành phố đầy những nhân viên hạng thứ; tình báo bị xuống giá và thành một phần đời sống hàng ngày tại Bá Linh đến nỗi mình có thể tuyển một người trong buổi dạ tiệc, giải thích sự tình cho y nghe trong lúc ăn và y sẽ bị thải hồi trong buôi điểm tâm ngày hôm sau. Đối với một tay chuyên nghiệp, đó là một cơn ác mộng. Hàng chục cơ quan, một nửa hàng nhập bởi người của đối phương, hàng ngàn kẽ hở, quá nhiều mối dây, quá ít nguồn gốc, quá ít phạm vi để hoạt động. Họ đã hoạt động mạnh với Ferger năm 1954. Nhưng đến năm 1956, khi mỗi cơ quan tình báo đều kêu gào đòi hỏi tin tức hạng khá, họ lại xẹp xuống. Ferger đã làm họ hư sự với những tin tức và tài liệu hạng xoàng, chỉ hơn tin tức lượm ngoài đường một chút. Họ cần thứ thiệt – và họ phải đợi thời gian hơn ba năm sau mới đạt được.
Rồi một hôm De Jong đi picnic trong rừng ven Đông Bá Linh. Anh ta có bảng số quân đội Anh, anh ta đậu xe, khoá lại trên con đường đá cạnh bờ kênh. Sau buổi picnic, lũ con của anh ta xách giỏ chạy trước. Khi chúng đến gần xe, chúng ngừng lại, ngập ngừng, buông rơi chiếc giỏ và chạy trở lại. Có người đã nạy cửa xe – tay cầm bị bể và cửa mở hé. De Jong chửi thề, chợt nhớ đã để cái máy ảnh trong hộc xe. Anh ta liền xem xét chiếc xe. Tay cầm đã bị gãy. De Jong đoán nó đã bị nạy với một ống thép, thứ đồ mình có thể mang trong tay áo Nhưng máy ảnh vẫn còn, chiếc áo choàng cũng vậy, cho đến mấy cái bao đồ của vợ anh ta cũng còn đủ. Trên ghế của người lái là hộp thuốc lá bằng thiếc và trong hộp thiếc có một ống niken, De Jong biết rõ nó chứa đựng cái gì, đó là một cuốn phim của một máy ảnh tí hon, có lẽ hiệu Minox.
De Jong lái xe về nhà và rửa cuốn phim. Nó chứa các biên bản của buổi họp cuối của Chủ tịch Đoàn Đảng Cộng sản Đông Đức, tức SED. Do một sự tình cờ kỳ lạ, anh ta có thể kiểm chứng lại nguồn tin này; các bức hình đều là thật.
Leamas liền bắt tay lo việc. Chàng rất cần một thứ thành công. Chàng gần như chẳng làm đươợ trò trống gì từ khi đến Bá Linh và chàng đang vượt qua mức tuổi thông thường để giành trọn thời giờ vào công việc hoạt vụ. Đúng một tuần sau, chàng mang chiếc xe của De Jong lại chỗ cũ và đi dạo bộ.
Chỗ mà De Jong đã chọn cho buổi picnic là một khu rừng hiu quạnh, nơi một con kênh đào và vài hầm trú ẩn bị đạn cào xé, những bãi đất đầy cát khô và về phía đông là một rừng thông lưa thưa nằm cách con đường đá chạy dọc bờ kênh chừng hai ba trăm thước. Nhưng chỗ này có cái tốt là yên tĩnh - một điều khó kiếm được ở Bá Linh – và sự kiểm soát không thể thực hiện được, Leamas tản bộ trong rừng. Chàng không tìm cách coi chừng chiếc xe vì không biết người kia có thể tiến lại bằng hướng nào. Nếu y bắt gặp chàng từ trong rừng nhìn ra canh chừng chiếc xe, có thể y mất tin tưởng nơi chàng Chàng không cần phải lo lắng.
Khi chàng quay lại, không có gì trong xe nên chàng tự lái xe quay về Tây Bá Linh và tự trách mình ngu xuẩn. Chủ tịch đoàn phải nửa tháng sau mới họp lại. Ba tuần sau, chàng mượn xe của De Jong và mang theo 1.000 đô la giấy hai mươi trong một cái bao đi picnic. Chàng để xe không khoá trong hai giờ đồng hồ và khi quay lại, có một hộp thuốc lá bằng thiếc trong xe, và cái bao picnic đã không còn.
Phim đầy những tài liệu quý giá. Và trong sáu tuần sau đó, chàng làm thêm hai lần nữa, và chuyện xảy ra y hệt như tuần trước.
Leamas biết mình đã trúng mỏ vàng. Chàng đặt cho nguồn tin may mắn này cái bí danh “Mayfair” và gửi một lá thư bi quan về Luân Đôn. Chàng biết, nên hé cho Luân Đôn nửa câu chuyện là đủ để họ tự nhảy vào điều khiển câu chuyện, điều này chàng làm mọi cách để tránh. Đây có lẽ là hoạt động duy nhất cứu chàng khỏi bị cho về vườn, và cũng chính là loại đủ quan trọng để Luân Đôn muốn nhảy vào tự lo liệu lấy. Dù chàng có giữ họ ở xa ra thì cũng có cái nguy là Cơ sở sẽ đặt giả thiết, đưa đề nghị, khuyên cẩn trọng, hối thúc hành động. Họ sẽ muốn chàng cho toàn giấy bạc mới để mong theo dấu đựơc, sẽ muốn các cuốn phim được gửi về để điều tra thêm, sẽ soạn những kế hoạch theo dõi mật vụ vụng về và cho các Bộ biết. Nhất là họ muốn các Bộ biết, và như thế, theo ý Leamas sẽ hỏng hết việc. Chàng đã làm việc như một tên điên trong ba tuần. Chàng lục lạo các hồ sơ cá nhân của các thành viên trong Chủ tịch đoàn. Chàng lập danh sách những nhân viên văn phòng có thể lấy được biên bản, trừ danh sách phân phối trên trang cuối của bản mô tả, chàng kê tới 31 nhân viên có thể là người cung cấp tin, kể cả thư ký.
Đứng trước công việc gần như không thể thực hiện được là xác nhận một người đưa tin trong số hồ sơ không đầy đủ của 31 ứng viên, Leamas quay lại với tài liệu nguyên thuỷ mà theo chàng là việc đáng lẽ phải làm sớm hơn. Có điều khó nghĩ là trong các phóng ảnh biên bản đã nhận được, không có cái nào được đánh số trang, không có cái nào được đóng dấu mật, và trong bản thứ hai và thứ tư có chữ bị gạch đỏ bằng bút chì hoặc bút màu. Cuối cùng chàng đi tới một quyết định quan trọng: các phóng ảnh không phải được sao lại từ chính các biên bản cuộc họp mà từ các bản thảo của biên bản. Điều này cho thấy giả thuyết tin tức xuất phát từ các thư ký, thành một giả thuýêt không vững.. Các bản thảo biên bản đã được chụp lại một cách cẩn thận, khéo léo. Điều này cho thấy người chụp rất có thể đã có thì giờ và một phòng riêng.
Leamax xem lại bản danh sách các nhân viên. Có một người tên Karl Riemeck trong Bí thư đoàn, trước là một trung sĩ quân y, ba năm làm tù binh chiến tranh của Anh. Em gái của y đang sống ở Poremania khi quân Nga tràn tới, và y từ đó không nghe tin tức gì về cô ta nữa. Y đã kết hôn và có một đứa con gái lên là Carla.
Leamas quyết định liều một phen. Chàng nhờ Luân Đôn tìm được số tù của Riemeck là 29012, và ngày phóng thích là 10-12-1945. Chàng mua một cuốn sách khoa học giả tưởng loại dành cho trẻ em ở Đông Đức và viết lên mặt trong của tờ bìa mấy câu bằng tiếng Đức có tuồng chữ của một thiếu niên: “Quyển sách này là của Carla Riemeck, sinh ngày 10-12-1945 ở Bideford, Bắc Devon. Ký tên: Moonspacewoman 29012. Và dưới đó chàng ghi thêm: Các ứng viên muốn dự chuyến bay không gian phải đích thân đến trình diện với C.Riemeck để nhận chỉ thị. Mẫu đơn đính kèm. Cộng hoà nhân dân không gian dân chủ muôn năm”.
📎 CHƯƠNGVIII
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-09-22 18:24:23Ct.Ly>
Ng­ười từ miền đất lạnh, chương XIII
Thái Nhi à, CuLong đã hoàn tất từ chương IX đến chương XIII rồi đấy. Hiện tại CuLong đang tham gia gõ truyện "Ba chàng lính ngự lâm". Các chương tiếp theo của chuyện "Người từ miền đất lạnh" Thái Nhi gửi tiếp nhé. CuLong đổi "không khí" một chút rồi sẽ quay lại gõ tiếp.[:D]
Bye

CHƯƠNG XIII
KIM GĂM HAY KẸP GIẤY
Fiedler thích đặt câu hỏi. Thỉnh thoảng, bởi vì y là một luật sư, y chất vấn những người khác chỉ để hưởng cái thú của riêng y là vạch rõ sự tương phản giữa bằng chứng hiển nhiên và một sự thực toàn bích. Tuy vậy, y vẫn luôn luôn có một sự hiếu kỳ dai dẳng vốn tự nó là một cứu cánh đối với các nhà báo và luật sư.
Chiều hôm đó, hai người đi dạo, theo con đường đất xuống thung lũng, rồi rẽ vào khu rừng trên một lối mòn rộng hai bên ngổn ngang những thân cây đã đẵn. Suổt thời gian đó, Fiedler chỉ thăm dò mà không tiết lộ một điều gì. Về toà nhà của Cơ Sở ở Công trường Cambridge, về những người làm việc ở đấy. Họ thuộc thành phần xã hội nào, cư ngụ ở những khu nào ở Luân Đôn, chồng hoặc vợ có làm việc chung ở một ban nào hay không. Y hỏi về lương bổng, nghỉ phép, tinh thần, câu lạc bộ; y hỏi về đời sống tình ái của họ, về những chuyện đồn đãi, về nhân sinh quan. Phần lớn y hỏi về nhân sinh quan của họ.
Với Leamas, đó là câu hỏi khó nhất. Chàng trả lời:
- Anh muốn nói về một nhân sinh quan hay sao? Chúng tôi không phải là Macxit, chúng tôi không là gì cả. Chỉ là hai người.
- Vậy các anh là tín đồ Thiên Chúa Giáo?
- Chỉ là một thiểu số, tôi không biết bao nhiêu.
Fiedler vẫn hỏi tiếp:
- Vậy cái gì khiến cho họ vui sống? Họ phải có một niềm tin nào chứ?
Leamas trả lời, hơi lúng túng:
- Tại sao họ cần phải có? Có lẽ họ không cần biết, hay ta không cần biết cũng nên. Không phải ai cũng có một nhân sinh quan.
- Vậy anh hãy cho tôi biết nhân sinh quan của anh?
Leamas chỉ buông thõng mấy tiếng
- Trời đất ơi!
Hai người tiếp tục bước trong im lặng. Nhưng Fiedler chưa chịu bỏ cuộc:
- Nếu họ không biết là họ muốn gì, sao họ có thể chắc là họ đúng?
Leamas trả lời một cách bực dọc:
- Ai nói là họ đúng?
- Nhưng vậy thì phải biện minh cho hành vi của họ như thế nào? Với chúng tôi thì dễ, như tôi đã nói với anh đêm hôm qua. Ableitung cũng như mọi tổ chức tương tự đều là sự nối dài tự nhiên cánh tay của Đảng. Tất cả đều nằm trong toán tiên phong của cuộc đấu tranh cho Hoà Bình và Tiến Bộ. Các tổ chức này đối với Đảng, cũng như Đảng đối với xã hội chủ nghĩa. Tất cả chỉ là đội tiên phong, Stalin đã nói như vậy.
Y chợt mỉm cười một cách khô khan, trong lúc nói tiếp:
- Tôi biết nhắc lại lời Stalin lúc này là lỗi thời, nhưng đã có lần Stalin bảo: “Nửa triệu người bị thanh toán chỉ là một con số thống kê, và một người bị chết trong một tai nạn lưu thông là một thảm kịch quốc gia”. Chắc anh hiểu ông ta chế giễu giới trưởng giả thường rất dễ cảm xúc. Ông ta là một tay mỉa mai cỡ lớn. Nhưng những gì ông ta nói vẫn còn đúng sự thật: một phong trào tự bảo vệ chống lại sự phản động khó có thể ngừng lại vì sự khai thác - hoặc thanh toán - một vài cá nhân. Tất cả chỉ là một. Chúng tôi không bao giờ khoa trương chúng tôi luôn luôn đúng trong trào lưu hợp lý hoá xã hội. Hình như có một người La Mã đã nói như thế, trong cuốn Thánh kinh của Thiên Chúa Giáo - thật là hợp lý khi một người phải chết cho lợi ích của nhiều người.
Leamas đáp bằng một giọng mệt mỏi:
- Tôi mong thế.
- Vậy anh nghĩ gì? Nhân sinh quan của anh như thế nào?
Leamas nói một cách hung dữ:
- Tôi nghĩ toàn thể bọn các anh đều là những tên khốn khiếp.
Peters gật đầu:
- Đó là một quan điểm, tôi rất thông cảm. Dù có nông cạn, tiêu cực và rất ngu xuấn nhưng đó cũng là một quan điểm hiện hữu. Nhưng những người khác trong cơ sở thì sao?
- Tôi không biết. Làm sao tôi biết được?
- Anh không bao giờ thảo luận về nhân sinh quan với họ à?
- Không. Chúng tôi không phải là người Đức.
Chàng ngập ngừng rồi nói tiếp một cách mơ hồ:
- Tôi đoán rằng họ không thích Cộng Sản.
- Như thế, chẳng hạn, có thể biện minh cho sự tước đoạt sinh mạng hay không? Có thể biện minh cho quả bom nổ tung trong một nhà hàng đông người, cho mức tổn thất điệp viên của các anh, cho tất cả mọi chuyện khác hay không?
Leamas nhún vai:
- Có lẽ hơi khó
Fiedler tiếp lời:
- Chắc anh hiểu, với chúng tôi thì biện minh được. Chính tôi sẽ đặt một quả bom trong quán ăn nếu việc này giúp chúng tôi tiến xa hơn trên con đường đã định. Về sau tôi mới tính toán lại – bao nhiêu tính mạng của đàn bà và trẻ con để đổi lấy một đoạn đường được bao nhiêu. Nhưng những tín đồ Thiên chúa giáo – trong một xã hội Thiên chúa giáo như xã hội của anh – các anh không tính toán được như vậy.
- Tại sao không? Họ cũng phải tự vệ lấy thân chứ?
- Nhưng các anh tin tưởng vào sự bất khả xâm phạm của nhân mạng. Các anh tin rằng mỗi người có một linh hồn có thể được cứu vớt. Các anh tin tưởng ở lòng hy sinh.
- Tôi không biết và cũng không cần biết
Rồi Leamas nói thêm:
- Stalin cũng thế chứ
Fiedler mỉm cười, y nói như nói với chính mình:
- Tôi thích người Anh. Ba tôi cũng vậy, ông ấy cũng thích người Anh.
Leamas nói:
- Tôi rất sung sướng được nghe anh nói điều đó.
Sau đó hai người lại im lặng. Họ ngừng bước trong lúc Fiedler mời Leamas một điếu thuốc lá và châm thuốc cho chàng.
Lúc này họ đang leo dốc, Leamas thích lối vận động này, tiến tới bằng những bước dài, vai đưa về phía trước. Fiedler đi theo, nhẹ nhàng, nhanh nhẹn như một con chó săn bám sát chủ. Chắc hẳn hai người đã đi bộ suốt một tiếng đồng hồ, hoặc không chừng nhiều hơn, thì bỗng nhiên tàng cây rẽ ra trên đầu họ và nền trời xuất hiện. Họ đã đến đỉnh ngọn đồi con, phía dưới là cả một rừng thông dày đặc, chỉ thỉnh thoảng mới có một chòm dẻ gai màu xám. Leamas có thể trông thấy túp lều tạm trú của bọn thợ săn bên kia thung lũng, chênh vênh dưới mỏm đồi đối diện, thấp và thẫm màu trên nền cây. Chính giữa khoảng rừng thưa là một chiếc ghế dài thô sơ bên cạnh một đống gỗ và tro than ẩm.
Fiedler bảo:
- Mình hãy ngồi một lát rồi quay về.
Y ngừng một lát rồi tiếp:
- Anh hãy kể cho tôi nghe về chuyện tiền, những số tiền lớn ở ngân hàng ngoại quốc – theo anh nghĩ, tiền đó dành làm gì?
- Anh muốn nói gì vậy? Tôi đã bảo là để trả cho một địêp viên.
- Một điệp viên ở bên kia Bức Màn Sắt?
Leamas trả lời một cách chán nản:
- Phải, tôi đoán như vậy.
- Tại sao anh đoán vậy?
- Trước hết, tiền quá nhiều. Kế đó là cách trả tiền quá phức tạp, biện pháp an ninh khá đặc biệt. Và lẽ dĩ nhiên, có Control dính vào.
- Theo ý anh, địêp viên đó dùng tiền làm gì?
- Kìa, tôi đã nói với anh – tôi không biết. Tôi còn không biết hắn có lãnh tiền ra hay không. Tôi không biết gì hết – tôi chỉ là một anh thư ký quèn.
- Anh đã làm gì với những cuốn sổ trương mục?
- Tôi trả lại ngay khi về đến Luân Đôn – cùng với cuốn thông hành giả của tôi.
- Các ngân hàng Copenhagen hoặc Helsinki có khi nào viết thư cho anh ở Luân Đôn bằng cái tên giả của anh?
- Tôi không biết. Tôi đoán rằng mọi thủ tục đều được đưa đến Control.
- Về các chữ ký giả anh đã dùng để mở các trương mục. Control có giữa lại mẫu không?
- Chắc có. Tôi đã tập đi tập lại nhiều lần và họ có đủ các mẫu.
- Nhiều hay ít?
- Cả trang.
- À, thế thì thư từ có thể được gửi thẳng đến ngân hàng sau khi anh mở trương mục. Anh không cần được cho biết điều đó. Chữ ký có thể được nguỵ tạo và thư từ có thể được gửi đi mà anh không hay biết.
- Phải, đúng thế. Tôi đoán chuyện đó đã xảy ra. Tôi cũng đã ký tên vào cả một xấp giấy trắng. Tôi luôn luôn phỏng đoán có một người khác lo liệu việc thư từ.
- Nhưng thật ra anh chưa hề hay biết gì về loại thư từ đó, phải không?
Leamas lắc đầu:
- Anh hiểu sai hết. Anh đã nhìn vào vấn đề theo những kích thước không đúng chút nào. Hàng ngày vẫn có hàng lô giấy tờ chạy qua chạy lại. Chuyện quá thường nên tôi đâu có để ý nhiều. Tại sao tôi cần để ý? Tôi cũng nhìn nhận đó là chuyện bí mật, nhưng trong suốt đời tôi, tôi đã quá quen với những vụ mà tôi chỉ biết một chút và kẻ khác biết phần còn lại. Hơn nữa, giấy tờ đã làm tôi ngấy đến cổ. Tôi không hề phải mất ngủ về nó. Dĩ nhiên, tôi thích xê dịch, vừa dễ chịu vừa lĩnh phụ cấp lớn. Tôi đâu có chịu ngồi bàn ghế súôt ngày và thắc mắc về vụ “Rolling Stone”.
Chàng hơi xấu hổ lúc nói tiếp:
- Vả lại lúc đó tôi đã bắt đầu uống rượu chút đỉnh.
Fiedler nhìn nhận:
- Anh đã kể về vụ đó và tôi tin anh.
Leamas trả đũa ngay:
- Tôi cóc cần anh tin hay không.
Fiedler mỉm cười bảo:
- Hay lắm, đó chính là tính cách của anh, đức tính đặc biệt nhất của anh: đức tính lãnh đạm. Khi thì hằn học một chút, khi thì kiêu ngạo một chút, nhưng thật ra chẳng có gì quan trọng đối với anh. Anh vẫn khách quan.
Sau khi ngừng một lát, Fiedler nói tiếp:
- Theo tôi nghĩ, anh vẫn còn có thể giúp chúng tôi khám phá xem số tiền đó có được rút ra chút nào không. Không có gì ngăn cản anh viết thư cho mỗi ngân hàng hỏi thăm tình trạng của trương mục. Chúng ta có thể bảo rằng, anh đang ở Thuỵ Sĩ và dùng một địa chỉ mượn nào đó. Anh có phản đối không?
- Có thể được lắm. Điều đó tuỳ thuộc nơi Control có liên lạc riêng với ngân hàng bằng chữ ký nguỵ tạo của tôi hay không. Cũng rất có thể không xuôi.
- Tôi thấy dù sao mình cũng không mất gì.
- Anh cần biết rõ để làm gì?
- Nếu tiền đã được rút ra, điều tôi nhìn nhận rất đáng nghi, ta sẽ biết tên địêp viên ở đâu vào ngày hôm đó. Biết được điều này cũng rất hữu ích.
- Anh đang nằm mơ, Fiedler, anh sẽ không bao giờ tìm ra hắn đâu, nhất là với loại tin tức đó. Một khi hắn đã ở Miền Tây, hắn có thể đến bất cứ toà lãnh sự nào, ngay cả trong một đô thị nhỏ và lấy chiếu khán để đi nơi khác. Anh làm sao ra tay trước hắn được? Anh còn không biết hắn là người Đông Đức hay không nữa mà. Anh tìm gì bây giờ?
Fiedler không trả lời ngay, y đang lơ đãng nhìn qua bên kia thung lũng.:
- Anh đã nói rằng, anh thường chỉ biết chút ít, còn tôi thì không thể trả lời câu hỏi của anh mà không kể ra những gì anh không nên biết.
Y ngập ngừng tiếp:
- Nhưng tôi có thể cam đoan với anh rằng, “Rolling Stone” là một điệp vụ chống lại chúng tôi.
- Chúng tôi?
Y mỉm cười:
- Tức Cộng hoà dân chủ Đức Quốc. Hay Đông Đức, theo cách gọi của anh. Tôi không đến nỗi dễ cảm như anh tưởng đâu.
Leamas đăm đăm nhìn Fiedler, cố dò xét y bằng đôi mắt nâu của chàng, rồi chàng trầm ngâm hỏi:
- Còn tôi thì sao? Giả sử tôi không viết những lá thư đó.
Chàng cao giọng hỏi
- Đã đến lúc nói chuyện về tôi chứ, Fiedler?
Fiedler gật đầu một cách dễ chịu:
- Tại sao không?
Hai người cùng im lặng một lúc, rồi Leamas nói:
- Fiedler, tôi đã làm xong phần việc của tôi. Anh và Peters đã biết tất cả những gì tôi biết. Tôi không bao giờ đồng ý viết thư cho các ngân hàng. Điều đó có thể rất nguy hiểm. Tôi biết anh không lấy thế làm lo lắng. Đối với anh, tôi kể như hết xài được.
Fiedler trả lời:
- Bây giờ tôi xin nói thẳng. Như anh biết, có hai giai đoạn trong việc thẩm vấn một kẻ phản bội. Giai đoạn đầu tiên trong trường hợp anh gần như hoàn tất: anh đã cho chúng tôi biết tất cả những gì đáng lẽ chúng tôi có thê ghi nhận được. Anh chưa nói cho chúng tôi biết, Cơ Sở của anh thích kim găm hay kẹp giấy để ghim hồ sơ, bởi vì chúng tôi chưa hỏi, bởi vì anh xem câu trả lời không đáng tự ý đưa ra. Giữa đôi bên đều có một phương thức chọn lọc, Leamas, tôi hiểu đây là một điều khó chịu, nhưng bất kỳ lúc nào trong vòng một hai tháng tới rất có thể chúng tôi sẽ bất ngờ cần biết kim găm hay kẹp giấy. Thông thường, việc đó được dự trù cho giai đoạn thứ hai của cuộc thẩm vấn - phần mà anh đã từ chối không chịu nhận ở Hoà Lan.
- Anh muốn nói, anh sắp sửa cất tôi vào tủ lạnh?
Fiedler bảo với một nụ cười:
- Nghề phản bội đòi hỏi rất nhiều kiên nhẫn. Vì thế rất ít ai có đủ khả năng.
Leamas cố hỏi:
- Trong bao lâu?
Fiedler im lặng:
- Thế nào?
Fiedler chợt nói bằng giọng thành khẩn:
- Tôi hứa với anh ngay khi nào có thể tôi sẽ trả lời cho câu hỏi của anh. Anh cũng rõ, tôi có thể nói dối với anh lắm chứ?. Tôi có thể bảo độ một hai tháng nữa, cho anh sa lòng. Nhưng tôi vẫn bảo anh là tôi không biết, đó là sự thực. Anh đã cho chúng tôi một số chỉ điểm: trước khi khai thác toàn diện, tôi không thể xét cho anh đi. Nhưng sau này, nếu mọi việc đúng như tôi nghĩ, anh sẽ cần một người bạn, và người bạn đó là tôi. Tôi xin hứa với anh bằng danh dự của một người Đức.
Leamas chưng hửng đến nỗi chàng im lặng đến một lúc. Cuối cùng, chàng bảo:
- Được rồi, tôi đồng ý. Nhưng Fiedler, anh coi chừng, nếu anh cố tìm cách gạt tôi, tôi sẽ bẻ cổ anh bằng bất cứ cách nào.
Fiedler bình tĩnh trả lời:
- Có lẽ chẳng cần như vậy
Kẻ thù một vai trò, không phải trước mắt những người khác mà với chính mình, luôn luôn phải chịu đựng những nguy hiểm hiển nhiên về tâm lý. Việc lừa dối tự nó không hề có tính cách bắt buộc, mà chỉ là một vấn đề thói quen nghề nghiệp, một phương tiện mà hầu hết chúng ta đều có thể tự tạo ra. Nhưng trong lúc một kẻ bội tín, một tài tử sân khấu hoặc một tay cờ bạc sau khi trình diễn có thể trở về làm khán giả mộ điệu, thì người điệp viên không thể hưởng được cái thú thoải mái tương tự. Đối với anh ta, lừa dối là một vấn đề tự vệ tiên quyết. Anh ta phải tự bảo vệ không những từ bên ngoài mà cả bên trong nữa, phải chống lại những xúc động tự nhiên nhất; mặc dầu anh ta kiếm được rất nhiều tiền, vai trò của anh ta có thể không cho phép anh ta mua một con dao cạo, mặc dầu học rộng, rất có thể anh ta chỉ được ấp úng một vài lời thô lậu, mặc dầu anh ta là một người chồng, người cha trìu mến, trong mọi trường hợp anh ta phải tự ngăn cấm ước mong tâm sự với những ngừơi thân của mình.
Nhận thức được những cám dỗ mãnh liệt chỉ chực tấn công một người luôn luôn bị cô lập trong mối gian dối, Leamas vẫn sử dụng đường lối trang bị cho chàng vững mạnh nhất. Ngay cả những khi chàng ở một mình, chàng tự nguyện sống với nhân vật mà chàng đang đội lốt. Người ta đồn rằng, Balzac trong lúc hấp hối vẫn lo hỏi thăm sức khoẻ và sự thịnh vượng của những nhân vật do ông tạo ra. Tương tự như thế, Leamas không từ bỏ khả năng bịa đặt, trong lúc lồng mình trong vai trò của chàng. Những nét mà chàng đã tiết lộ với Fiedler, vẻ bất định đầy xao xuyến, giọng nói kiêu ngạo để che giấu nỗi xấu hổ, không phải những ước tính mà những sắc thái về con người thực của chàng. Cũng do đó mà chàng thường hay kéo lê bước chân, khinh suất việc ăn mặc và càng ngày càng hút thuốc uống rượu nhiều hơn. Những lúc ở một mình, chàng vẫn giữ nguyên những thói quen đó. Chàng còn bê tha hơn một chút, lẩm bẩm với mình về những nỗi bất công với Cơ Sở của chàng.
Chỉ trong một hai trường hợp rất hiếm hoi, như hôm nay, lúc lên giường nằm, chàng mới cho phép mình nhìn nhận bầu không khí giả dối mà chàng đang sống.
Control đã tỏ ra sáng suốt một cách dị thường. Fiedler đang tiến bước, như một kẻ bị dẫn đi trong lúc ngủ mê, vào chiếc bẫy mà Control đã giăng ra cho y. Thật là kỳ lạ khi xét kỹ sự tương đồng ngày một tăng giữa Fiedler và Control, tựa hồ họ cùng thoả thuận chung một kế hoạch, và Leamas được chỉ định đi thực hiện kế hoạch này.
Có lẽ đó chính là câu trả lời. Có lẽ Fiedler chính là nguồn lợi đặc biệt mà Control phải tận lực chiến đấu để giữ gìn. Leamas đã không suy nghĩ về giả thuyết này. Chàng không múôn biết. Đối với những chuyện như thế, chàng không hề có chút tò mò, vì biết trước rằng mọi suy diễn đều không đi đến đâu. Tuy nhiên, chàng ước mong đó là sự thực. Trong trường hợp này, và chỉ trong trường hợp này, chàng mói có thể trở về nhà.
📎 CHƯƠNGXIII
0
Đã Scan xong cuốn này.....Gút-bai bà con, hẹn gặp lại 1 ngày đẹp trời ở miền nắng ấm[:D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-25 13:35:09Thái Nhi>
Các chương rút gọn tiếp theo

Chương 14
Bạn smallduck đã nhận
📎 14
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-25 13:35:33Thái Nhi>
Chương 15
Bạn smallduck đã nhận
📎 15
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-06-25 13:35:52Thái Nhi>
Chương 16
Bạn smallduck đã nhận
📎 16
0
Chương 17
📎 17
0
Chương 18
📎 18
0
Chương 19
📎 19
0
Chương 20
📎 20
0
Chương 21
📎 21
0
Chương 22
📎 22
0
Chương 23
📎 23
0
Chương 24
📎 24
0
Chương 25
📎 25
0
Chương 26
📎 26
0
«« « 1 2 3 » »»