#3 —
23.03.2006 05:17
(đã sửa)
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-10-13 23:34:13Ct.Ly>
Chương 5-8
CuLong767805 nhận gõ
CHƯƠNG V
MUA CHỊU
Rồi một hôm, chừng một tuần sau chàng không tới thư viện, cô Crail mừng như mở cờ. Chưa đến mười một rưỡi, cô ta đã điện cho bà mẹ biết, và khi đi ăn trưa về, cô ta lại đứng trước các kệ sách về khảo cổ, nơi chàng đã làm việc. Cô ta nhìn chòng chọc vào các hàng sách và Liz biết cô ta đang làm bộ tìm xem Leamas có lấy cái gì không.
Liz hoàn toàn không để ý cô ta ngày hôm đó, quên cả trả lời khi cô ta gọi nàng và chăm chú vào công việc. Lúc chiều, nàng đi bộ về nhà và khóc cho đến khi ngủ thiếp đi.
Sáng hôm sau nàng đến thư viện sớm. Nàng cảm thấy một cách mơ hồ là nàng càng đến sớm, Leamas càng có thể đến sớm. Buổi sáng hôm đó trôi qua, hy vọng của nàng trôi dần và nàng biết chàng sẽ không bao giờ đến. Nàng đã quên làm sandwich cho mình ngày hôm đó nên nàng quyết định đi xe buýt đến đường Barswater và đến quán ABC. Nàng cảm thấy trống rỗng và muốn bệnh nhưng không đói. Nàng có nên đi tìm chàng không? Nàng đã hứa là không bao giờ theo chàng nhưng chàng đã hứa là sẽ cho nàng biết, nàng có nên đi tìm chàng không?
Nàng vẫy một chiếc tăc xi và chỉ địa chỉ của chàng.
Nàng leo lên chiếc cầu thang u tối và nhấn chuông. Chuông hình như hư vì nàng không nghe thấy gì cả. Có ba chai sữa trên tấm thảm chùi chân và một hoá đơn từ cơ quan điện. Nàng ngập ngừng một lúc rồi gõ cửa, nàng nghe thấy tiếng rên của một người đàn ông. Nàng chay ùa xuống cầu thang, đập cửa rầm rầm và nhấn chuông căn hộ ở tầng dưới. Không nghe ai trả lời nên nàng lại chạy xuống tầng nữa và thấy mình ở phòng sau của một tiệm tạp hoá. Một bà già ngồi trong góc và đung đưa chiếc ghế. Liz nói như la lên:
- Ở phòng lầu trên cùng có một người ốm nặng. Có ai có chìa khoá không?
Bà già nhìn nàng một lúc và gọi vọng về căn buồng phía trước, nơi bán tạp hoá:
- Arthur, vào đây Arthur, có một cô gái đây nè.
Một người đàn ông mặc áo khoác nâu và đội mũ nỉ xám nhìn qua cửa và nói:
- Cô gái à?
Liz nói:
- Có người ốm nặng ở phòng trên cùng. Ông ấy không bước ra mở cửa được. Ông có chìa khoá không?
Ông ta trả lời:
- Không. Nhưng tôi có búa
Họ vội vàng lên thang lầu. Viên chủ tiệm tạp hoá vẫn đội cái mũ nỉ, mang theo một cây vặn ốc lớn và một cái búa. Ông ta gõ mạnh cửa và họ nín thở chờ tiếng trả lời. Không có động tĩnh.
Liz thì thào:
- Hồi nãy tôi có nghe một tiếng rên. Tôi cam đoan như vậy
- Cô có trả tiền cho cái cửa không, nếu tôi phá nó?
- Vâng!
Cái búa gây một âm thanh khủng khiếp. Với ba nhát, ông ta phá nguyên một miếng khung và ổ khoá rời ra theo. Liz bước vào trước và ông ta theo sau. Trong phòng lạnh cóng và tối om, nhưng trên chiếc giường trong góc họ nhìn thấy bóng dáng một người đàn ông.
Trời ơi, Liz nghĩ, nếu chàng chết chắc mình không dám chạm vào người chàng. Nhưng nàng vẫn tiến lại và chàng còn sống. Kéo màn cửa, nàng tiến lại gầng giường:
Nàng nói, không quay đầu lại:
- Tôi sẽ gọi ông nếu cần. Cám ơn ông
Viên chủ tiệm tạp hoá gật đầu và xuống lầu
- Alec, chuyện gì vậy? Chuyện gì làm anh ốm thế này? Chuyện gì vậy, Alec?
Leamas cựa quậy đầu trên mặt gối. Đôi mắt sâu hoắm của chàng nhắm lại. Bộ râu xám đen nổi bật trên gương mặt xanh xao
- Alec, anh phải cho em biết. Em van anh.
Nàng nắm lấy bàn tay của chàng, nước mắt nàng chảy dài trên má. Nàng luýnh quýnh không biết phải làm gì, rồi nàng đứng dậy chạy vào căn bếp nhỏ xíu và đặt một cái ấm lên bếp. Nàng không biết rõ phải làm gì nhưng làm an tâm vì đã làm một cái gì đó. Để ấm trên bếp, nàng nhặt chiếc ví tay, lấy chìa khoá phòng của Leamas để ở chiếc bàn đầu giường và chạy xuống lầu, qua bốn tầng cho tới dưới cùng và băng ngang đường tớ tiệm thuốc tây của Sleaman . Nàng mua một ít giò bê nấu đông, một ít thịt gà, một ít nước cốt thịt bò và một ống aspirine. Nàng đi ra cửa rồi quay lại, mua thêm một gói bánh mì khô. Tất cả tốn 16 đồng silling. Còn 4 đồng silling và 11 Anh kim trong trương mục tiết kiệm của nàng tại bưu cục nhưng số tiền này phải đến hôm sau nàng mới lĩnh được. Khi nàng về phòng ấm nước đang sôi.
Nàng làm món súp thịt bò như mẹ nàng thường làm, trong một cái ly có để sẵn một cái muỗng cà phê trong đó để tránh rạn ly, và trong suốt thời gian này nàng vẫn liếc nhìn chàng như sợ chàng chết mất.
Nàng phải đỡ chàng dậy cho chàng uống súp. Chàng chỉ có một cái gối và không có gối tựa nên nàng phải lấy chiếc áo khoác của chàng màng nơi cửa cuốn lại để dưới cái gối. Nàng phát sợ khi sờ vào người chàng: người chàng đẫm mồ hôi nên mái tóc ngắn màu xám ướt mèm và mềm nhũn. Để cái tách bên cạnh giường, nàng nâng đầu chàng bằng một tay còn tay kia cho chàng uống súp. Sau khi cho chàng uống được vài muỗng, nàng nghiền nát hai viên aspirine và để vào muỗng cho chàng uống. Nàng nói chuyện với chàng như thể chàng là một đứa bé trong lúc ngồi trên mép giường nhìn chàng, thì thầm tên chàng nhiều lần: “Alec, Alec”
Dần dần hơi thở chàng trở nên điều hoà, người chàng thoải mái hơn trong lúc chàng từ trạng thái đau đớn ê ẩm vì sốt bước vào một giấc ngủ yên tĩnh. Liz nhìn chàng, cảm thấy không có gì nguy ngập nữa. Bỗng nhiên, nàng nhận thấy trời đã gần tối.
Rồi nàng cảm thấy xấu hỗ vì đáng lẽ mình cần phải lau dọn phòng. Nhổm ngay dậy, nàng tìm một cái chổi quét thảm và một cái khăn ẩm dưới nhà bếp rồi bắt đầu làm việc một cách hăng hái. Nàng tìm một cái khăn bàn sạch và trải ngay ngắn trên chiếc bàn cạnh giường, rửa ly tách chén đĩa trong bếp. Khi mọi việc xong xuôi, nàng nhìn đồng hồ, thấy đã quá tám giờ rưỡi. Nàng để cái ấm lên bếp và quay lại giường. Leamas đang nhìn nàng. Nàng nói:
- Alec, anh đừng giận em, em xin anh. Em sẽ đi, em xin hứa nhưng hãy để em làm cho anh một bữa cơm. Anh đang ốm, anh không thể tiếp tục thế này, anh thật là,… ồ, Alec
Rồi nàng bật khóc, hai tay ôm lấy mặt, nước mắt chảy qua kẽ ngón tay, như nước mắt của một đứa bé. Chàng để mặc nàng khóc, nhìn nàng với cặp mắt nâu, tay nắm chặt lấy nệm giường.
Nàng giúp chàng rửa mặt, cạo râu, rồi nàng tìm thấy một ra giường sạch. Nàng cho chàng ăn một chút súp thịt bê, và một chút thịt gà từ cái hũ đã mua ở cửa hàng ông Sleaman. Ngồi trên giường, nàng nhìn chàng ăn và chợt có ý nghĩa mình chưa bao giờ hạnh phúc như thế.
Chẳng mấy chốc, chàng ngủ thiếp đi. Nàng lấy chăn đắp đến tận vai chàng rồi bước đến bên cửa sổ, rẽ những tầm màn vải thưa, nàng nâng khung cửa và nhìn ra ngoài.. Hai cửa sổ nơi sân, phía trên nhà kho đều thắp sáng đèn. Trong một khung cửa, nàng thấy bóng xanh nhấp nháy của một màn ảnh truyền hình, những bóng người im phăng phắc say mê theo dõi. Ở khung cửa sổ kia, một người đàn bà rất trẻ đang cuộn lại tóc. Liz muốn khóc trước những ảo tưởng khó hiểu của những giấc mơ của họ.
Nàng thiếp ngủ trong ghế bành và mãi tới gần sáng mới thức giấc, cảm thấy tê cóng vì lạnh. Nàng lại giường: Leamas cựa mình khi nàng lại gần giường và đưa đầu ngón tay sờ lên môi chàng. Chàng không mở mắt nhưng nhẹ nhàng cầm lấy tay nàng và kéo nàng xuống giường. Bỗng nhiên nàng muốn chàng mãnh liệt, không kể gì nữa, nàng hôn chàng liên tiếp không ngừng. Khi nàng nhìn chàng, hình như chàng đang mỉm cười.
Nàng đến hàng ngày, suốt sáu hôm liền. Chàng không bao giờ nói nhiều với nàng, và có lần khi nàng hỏi chàng có yêu nàng không, chàng bảo chàng không tin ở những câu chuyện thần tiên. Nàng thường nằm lên giường, kê đầu vào ngực chàng, và đôi khi chàng lùa những ngón tay to, thô ráp vào tóc nàng, giữ chặt mái tóc và Liz cười bảo đau. Vào tối thứ sáu, nàng thấy chàng mặc quần áo nhưng không cạo râu, và tự hỏi vì sao chàng không cạo? Vì một lý do mơ hồ, nàng cảm thấy sợ. Có những thứ lặt vặt biến mất khỏi phòng - đồng hồ và cái máy thu thanh xách tay rẻ tiền thường để trên bàn. Nàng muốn hỏi nhưng không dám. Nàng đã mua vài quả trứng và thịt heo và nàng nấu bữa tối trong khi Leamas ngồi trên giường hút thuốc liên miên. Khi bữa ăn sẵn sàng, chàng vào bếp và trở lại với một chai vang đỏ.
Chàng hầu như không nói gì suốt bữa ăn và nàng nhìn chàng, nỗi sợ hãi của nàng tăng dần cho đến khi nàng không chịu nổi nữa và nàng bật khóc.
- Alec, ồ Alec,… chuyện gì vậy? Mình sắp xa nhau rồi phải không anh?
Chàng đứng dậy, rời khỏi bàn, cầm tay nàng và hôn theo cách mà chàng chưa hề làm và nói với nàng một cách dịu dàng một lúc lâu, kể cho nàng nghe những điều nàng chỉ hiểu một cách mơ hồ. Nàng chỉ nghe được một nửa vì suốt câu chuyện nàng biết đã đến lúc chấm dứt và không còn gì quan trọng nữa. Chàng nói:
- Mình phải chia tay, Liz à. Đừng theo anh. Đừng nữa.
Liz gật đầu và khẽ nói:
- Như mình đã hứa với nhau.
Nàng cảm ơn cái lạnh cắt da ngoài đường và bóng tối đã che giấu những dòng lệ cho nàng.
Mãi sáng hôm sau, một ngày thứ bảy, Leamas mới hỏi mua chịu ở quán bán tạp hoá. Chàng hỏi với vẻ vụng về, theo một cách không tính sẵn trước để có thể thành công. Chàng gọi mua đến năm sáu món đồ - tất cả không quá 1 Anh Kim và khi người ta gói lạ bỏ vào bao chàng mới nói:
- Ông hãy gửi hoá đơn đến nhà tôi.
Gã chủ tiệm tạp hoá gượng mỉm cười và bảo:
- Tôi e không thể được.
Không có chữ “thưa ông” đi kèm theo đó.
- Sao lại không?
Leamas hỏi và những người khách xếp hàng dọc sau chàng xôn xao một cách khó chịu. Gã chủ tiệm trả lời:
- Tôi đâu có quen biết ông?
Leamas nói:
- Đừng có điên. Tôi đã đến đây bốn tháng rồi.
Gã chủ tiệm đỏ mặt
- Chúng tôi phải có giấy xác nhận của ngân hàng mới cho mua chịu.
Leamas nổi giận hét vang:
- Đừng có lớn lối. Nửa số khách hàng của anh chưa hề bước chân vào bên trong ngân hàng và chắc chắn đến chết họ cũng chẳng vào trong đó.
Đây là sự kiện không sao chối cãi vì nó đúng sự thật. Gã chủ tiệm tạp hoá bảo lại một cách thô lỗ:
- Tôi không quen biết ông, và tôi không thích ông. Bây giờ mời ông ra khỏi cửa hàng của tôi ngay.
Và y định lấy lại túi đồ chẳng may đang ở trong tay của Leamas.
Sau này người ta kể lại khác nhau về những gì xảy ra kế tiếp. Có người nói, gã chủ tiệm tạp hoá trong khi cố lấy lại gói đồ đã xô Leamas; những người khác lại bảo không phải vậy. Nhưng dù có thế hay không, hầu hết mọi người đều nhớ rằng Leamas đã đánh gã chủ tiệm trong lúc bàn tay phải vẫn đang cầm chặt gói đồ. Hình như chàng đã đánh không bằng nắm tay mà bằng cạnh bàn tay trái, rồi tiếp theo động tác nhanh lạ thường này, bằng cùi chỏ trái; và gã chủ tiệm ngã lăn kềnh ra bất động như một cục đá. Người ta kể rằng, sau đó khi ra toà, gã chủ tiệm còn bị thêm hai thương tích - một xương má bị bể vì cú đánh thứ nhất và một quai hàm bị trẹo vì cú thứ hai. Các bài tường thuật trên nhật báo đều khá đầy đủ nhưng không được tỉ mỉ cho lắm.
* * * * * * ***** **** * * *
CHƯƠNG VI
TIẾP XÚC
Ban đêm chàng nằm trên giường nghe các âm thanh do các tù nhân khác gây ra. Có một cậu bé khóc thút thít và một ông già hát bản “On likely Moor bar t’at” đánh nhịp trên chiếc hộp đồ ăn bằng thiếc. Có một anh gác ngục la lớn: “Câm đi, thằng ngu hèn hạ” sau mỗi câu hát nhưng không ai thèm để ý. Có một gã Ái nhĩ lan chuyên hát những bài ca về IRA dù các người khác nói gã vào tù vì tội hiếp dâm.
Leamas vận động cơ thể rất nhiều vào ban ngày với hi vọng về đêm chàng sẽ ngủ được; nhưng vô hiệu. Về đêm mình biết mình ở trong tù; về đêm không có gì, không có một sự đánh lừa nào của thị giác hoặc với chính mình có thể kéo mình ra khỏi tù túng muốn buồn nôn của xà lim. Mình không thể loại bỏ được cái mùi vị tù, mùi quần áo tù, mùi nhà vệ sinh được tẩy uế kỹ lưỡng, tiếng ồn ào của tù nhân. Chính lúc đêm về, sự mất nhân cách của đời sống lao tù trở thành không chịu nổi, chính lúc đó Leamas ước mình đi bộ trong ánh mặt trời đầm ấm của công viên ở Luân Đôn. Chính lúc đó, chàng ghét cay ghét đắng cái chuồng sắt to lớn đang nhốt mình, phải cố dằn lòng lắm mới không đập nắm tay vào chấn song hoặc đập vỡ mồm những tên gác và phóng vào khoảng trời tự do của Luân Đôn. Đôi khi chàng nghĩ đến Liz. Chàng thường hướng đầu óc mình về Liz một cách chớp nhoáng như màn che tiếp - vận – kính của một máy chụp hình, nhớ lại cảm giác khi mềm mại, khi rắn chắc trên thân hình thon dài của nàng rồi gạt ngay nàng ra khỏi ký ức. Leamas không phải là một người quen sống trong mộng tưởng.
Chàng khinh những bạn tù xà lim và họ ghét chàng. Họ ghét chàng vì chàng đạt được trạng thái mà ai nấy trong thâm tâm đều mong mỏi trở thành: một bí mật đối với những kẻ khác. Chàng cố gắng không hoà vào đám đông một phần rõ rệt của cá tính chàng, chàng không để bị lôi kéo vào chuyện tâm sự vụn vặt về người yêu của mình, gia đình của mình hoặc con cái của mình. Họ không biết gì về Leamas, họ đợi, nhưng chàng không thổ lộ. Tù nhân mới hầu hết gồm hai loại – có kẻ vì xấu hổ, sợ hãi hay xúc động mạnh thì chờ đợi trong sự ghê rợn lẫn mê hoặc để được người khác gợi cho biết những kiến thức về đời sống ngục tù, có kẻ thì mang chuyện của mình làm quà để cố hoà mình với mọi người. Leamas không thiên về loại nào. Chàng có vẻ hài lòng vì đã khinh được mọi người và họ ghét chàng vì, cũng như trong đời sống ngoài nhà tù, chàng không cần họ.
Sau chừng mười ngày họ không chịu nổi nữa. Tên đầu sỏ không được chàng kính nể, bọn đàn em không được chàng khích lệ một hai lời nên bọn họ ép Leamas khi đang xếp hàng đợi lấy cơm. “Ép” là một lẽ nghi trong tù, tương tự với xô lấn hồi thế kỷ 18. Bề ngoài không khác gì một tai nạn bất ngờ khiến cho gamen của tù nhân bị lật úp và thức ăn rơi đầy quần áo. Leamas bị xô mạnh về một bên trong khi bên kia có một bàn tay chờ sẵn chặt vào cánh tay chàng, và thế là chuyện xảy ra. Leamas không nói gì, nhìn một cách trầm ngâm vào hai gã đàn ông ở hai bên và lẳng lặng nhận chịu câu chửi tục tĩu của một tên giám thị vốn thừa biết chuyện gì xảy ra.
Bốn ngày sau, trong khi làm việc với một cái cuốc ở luống hoa của nhà tù, hình như chàng vấp ngã. Chàng đang cầm cái cuốc với hai tay ngang người mình, cái cán cuốc ló ra khỏi cánh tay phải độ chừng mười phân. Trong khi chàng vặn người cố giữ căng thẳng thì tên tù ở bên phải chàng gập đôi người với một tiếng rên đau đớn, tay ôm ngang bụng. Từ đó về sau, không có vụ “ép” nữa.
Có điều lạ nhất về chuyện tù là cái bao giấy màu nâu khi chàng ra khỏi tù. Một cách châm biếm, nó nhắc nhở chàng nhớ tới vụ cử hành hôn lễ - với chiếc nhẫn này ta kết hợp ngươi, với bao giấy này ta trả ngươi về xã hội. . Họ đưa chàng cái bao, yêu cầu chàng ký tên và cái bao chứa đựng tất cả tài sản của chàng. Không có cái gì khác nữa. Leamas cảm thấy đó là lúc mất nhân vị nhất trong ba tháng tù và chàng quyết định liệng cái bao đi ngay khi ra đường.
Chàng đã tỏ ra là một tù nhân ít nói, không ai phàn nàn gì chàng cả. Viên quản đốc Khám đường, người đã khá lưu tâm tới trường hợp của chàng nghĩ rằng đó là dòng máu Ái nhĩ lan mà ông ta khẳng định đã khám phá ra nơi chàng.
Ông ta hỏi:
- Anh định làm gì khi ra khỏi đây?
Leamas trả lời, không hề mỉm cười, rằng chàng sẽ làm lại cuộc đời và viên quản đốc nói rằng đó là một điều rất tốt. Và ông ta nói tiếp:
- Còn gia đình anh thì sao? Có dàn xếp yên được mọi chuyện với vợ anh không?
Leamas trả lời dửng dưng:
- Tôi sẽ cố. Nhưng cô ta đã tái giá rồi
Viên sĩ quan hướng dẫn muốn Leamas trở thành một nam trợ tá cho bệnh viện tâm trí ở Burkingham-chire và Leamas đồng ý nộp đơn xin. Chàng còn ghi cả địa chỉ và giờ xe lửa chạy từ Marylebone.
Viên sĩ quan nói thêm:
- Đường xe điện bây giờ chạy đến tận Great Messenden
Leamas bảo như vậy thì hay quá. Thế rồi họ đưa cái gói cho chàng và chàng ra đi. Chàng đi xe buýt đến Marble Arch và xuống đi bộ. Chàng có một ít tiền trong túi và muốn đãi mình một bữa tươm tất. Chàng nghĩ chàng sẽ đi bộ ngang qua công viên Hade để tới Picassilly, và rồi ngang công viên Green và công viên St.James để tới quảng trường quốc hội, và thả bộ xuống Whitehall xuống Strand, nơi chàng có thể đến quán cà phê lớn gần ga Charring Cross và ăn một đĩa thịt bò kha khá với giá 6 silling.
Hôm đó công viên thật đẹp, mùa xuân đã gần tàn và công viên đầy những hoa kỵ phủ lam và thuỷ tiên. Một luồng gío trong sạch và mát mẻ từ phía Nam thổi tới, chàng có thể đi bộ suốt cả ngày. Nhưng chàng vẫn còn gói đồ và chàng phải tống khứ nó đi. . Cái giỏ rác lại quá nhỏ và cố nhét cái túi vào là một hành vi lố bịch. Chàng nghĩ có một hai thứ nên lấy ra – toàn là giấy cũ nát, thẻ bảo hiểm, bằng lái xe và tấm giấy ba mang mấy chữ E93 vỏn vẹn đựng trong chiếc phong bì OHMS - màu vàng nhạt, nhưng bỗng nhiên chàng không muốn phiền phức với nó nữa. Chàng ngồi xuống trên một băng đá và để gói giấy bên cạnh mình, không gần lắm, và xích xa khỏi nó một chút. Sau vài phút, chàng bỏ đi để lại gói đồ. Chàng vừa tới lối đi thì nghe thấy một tiếng kêu, chàng quay lại, có lẽ hơi đột ngột, chàng nhìn thấy một người mặc áo mưa nhà binh gọi chàng, cầm cái gói giấy màu nâu.
Leamas thọc hai tay vào trong túi, quay nhìn qua vai về phía người đàn ông mặc áo mưa. Người đàn ông ngập ngừng, rõ ràng chờ Leamas quay trở lại hoặc tỏ dấu hiệu quan thiết, nhưng Leamas chẳng làm gì cả. Trái lại, chàng nhún vai và tiếp tục đi. Chàng nghe một tiếng kêu khác nhưng vẫn lờ đi và chàng biết người đàn ông đang chay theo sau. Chàng nghe thấy có tiếng chân trên sỏi, gần như chạy nhanh lại gần và một giọng nói gần như đứt quãng với một chút bực bội:
- Này ông, nghe tôi nói đây!
Rồi ông ta chạy lên ngang hàng với chàng khiến Leamas đành phải dừng lại, quay nhìn ông ta:
- Vâng?
- Đây là cái gói của ông phải không? Ông bỏ quên trên băng đá. Tại sao ông không dừng lại khi tôi gọi?
Cao, tóc xoăn màu nâu, cà vạt da cam và sơ mi xanh nhạt, hơi nóng tính, hơi diêm dúa. Leamas thầm nghĩ. Có thể là một giáo sư tốt nghiệp trường Kinh tế Luân đôn và điều hành một hội quán kịch nghệ ở ngoại ô. Mắt yếu. Chàng nói:
- Ông cứ việc để lại đó. Tôi không muốn mang theo.
Người đàn ông đổi sắc mặt:
- Ông không được để đồ ở đó, mất vệ sinh
Leamas đáp lại:
- Có thể lắm chứ. Có thể có người sẽ thấy nó hữu dụng.
Chàng định đi tiếp nhưng người lạ vẫn tiếp tục đứng trước mặt chàng, hai tay ôm cái gói như ôm một đứa trẻ con. Leamas nói:
- Xin cảm phiền tránh đường cho tôi.
Người đàn ông nói bằng một giọng cao hơn:
- Ô kìa, tôi cố ra ơn cho ông. Sao ông phải tỏ ra thô lỗ như thế?
Leamas nói:
- Nếu ông muốn ra ơn cho tôi, sao ông phải theo dõi tôi suốt nửa tiếng vừa qua?
Anh ta cũng khá đấy, chàng nghĩ, anh ta không có vẻ xao xuyến nhưng chắc cũng cứng người.
- Tôi ngỡ ông là một người tôi đã có dịp biết tại Bá Linh
- Vì vậy ông đã theo dõi tôi suốt nửa giờ qua?
Giọng Leamas đầy mỉa mai, trong lúc cặp mắt nâu của chàng vẫn không rời gương mặt ông ta.
- Đâu có tới nửa giờ. Tôi chợt trông thấy ông ở Marble Arch và ngỡ ông là Alec Leamas, người mà tôi đã mượn một số tiền. Tôi thường ở BBC tại Bá Linh và một người ở đó thường cho tôi mượn tiền. Từ đó tôi cứ bận tâm vì món nợ này và chính vì thế tôi đã đi theo ông. Tôi muốn chắc chắn.
Leamas tiếp tục nhìn anh ta không nói, và nghĩ anh ta không khá lắm nhưng cũng không tệ. Câu chuyện của anh ta nghe khó xuôi nhưng cũng không sao. Điều đáng kể là anh ta đã tạo ra một chuyện mới và bám theo nó sau khi Leamas đã phá cái lối làm quen cổ điển. Cuối cùng chàng bảo:
- Tôi là Leamas, còn ông là ai?
Anh ta cho biết tên là Ashe , với một chữ ‘e” anh ta nói thêm. Và Leamas hiểu anh ta đang nói dối. Anh ta làm bộ không chắc Leamas quả là Leamas nên trong bữa ăn trưa, cả hai mở cái gói và xem thẻ bảo hiểm quốc gia, như hai anh chàng nhu nhược đang rửa mắt với một tấm hình tục tĩu. Ashe gọi thức ăn như một kẻ bất cần phí tổn và họ uống Frankenwein để hồi tưởng thời xưa. Leamas bắt đầu bằng cách chàng không nhớ nổi Ashe và Ashe bảo anh ta rất lấy làm lạ. Anh ta nói với cái giọng ra vẻ mất lòng. Anh ta kể lại hai người đã gặp nhau tại nhà Derek Williame phía trên khu Ku-damn (quả đúng như vậy), vả cả bọn nhà báo cũng ở đó, chắc Alec phải nhớ chứ? Không, chàng không nhớ. Vậy chắc chàng nhớ Derek Williams viết cho tờ Observer, gã thanh niên chịu chơi vẫn thường tổ chức những bữa tiệc đầy thú vị?. Leamas có một trí nhớ rất tồi vê tên người và chăng họ đang nói chuyện về năm 1954, biết bao nhiêu nước đã chảy qua dưới cầu kể từ năm đó… Ashe vẫn nhớ (tên thánh của anh ta là William, tuy vậy hầu hết mọi người vẫn gọi ông ta là Bill), Ashe nhớ một cách rõ ràng. Họ đã uống như một hũ chìm, rượu mạnh cùng rượu bạc hà, và cả hai đều ngà ngà say, rồi Derek gọi các em thật thơm, phân nửa là vũ nữ hộp đêm Malkesten, chắc Alec còn nhớ? Leamas bảo có lẽ chàng sẽ nhớ lại được nếu Bill cứ tiếp tục nói thêm chút nữa.
Bill tiếp tục, có lẽ đụng đâu nói đó nhưng khá hấp dẫn, hơi thiên về chuyên trai gái. Anh ta bảo rằng họ đã kết thúc đêm vui tại một hộp đêm với ba cô gái trong bọn kể trên như thế nào. Alec, một anh chàng làm việc tại phòng cố vấn chính trị và Bill; và Bill đã quá bối rối vì quên mang tiền theo nên Alec phải trả, và Bill đã muốn đem một em về phòng và Alec đã cho anh ta mượn một món tiền nữa…
Leamas kêu lên:
- Trời ơi, bây giờ tôi đã nhớ. Dĩ nhiên là phải nhớ.
Ashe sung sướng nói, gật đầu với Alec qua mép ly
- Tôi biết anh sẽ nhớ ra. Nào, mình hãy uống cạn ly. Vui quá!
Ashe tiêu biểu cho loại người sống với người khác theo một nguyên tác: thử thách và đáp ứng. Mềm nắn rắn buông. Tự mình không có một ý kiến hoặc sở thích nào đặc biệt, anh ta dựa theo bất cứ điều gì phù hợp với kẻ đối thoại. Anh ta sẵn sàng uống trà tại tiệm Fortum và uống bia tại Prospect of Whitby; anh ta có thể nghe quân nhạc tại công viên St.James cũng như có thể nghe nhạc jazz trong một hầm nhạc tại đường Compton; giọng anh ta có thể rất run rẩy đầy thiện cảm khi nói về Shapervile, hoặc có vẻ hằn học khi nói về sự gia tăng của những người da màu tại Anh Quốc. Với Leamas, cái vai trò thụ động rõ rệt này thật là đáng lánh; nó bộc lộ cái huênh hoang nơi anh ta nên chàng thường nhẹ nhàng đưa hắn vào một vị trí đã định và tự mình rút về khiến Ashe luôn luôn phải luống cuống thối lui khỏi thế kẹt mà Leamas đã nhử hắn vào. Trưa hôm đó có những lúc Leamas ương ngạnh một cách khá trâng tráo đến nỗi Ashe cảm thấy có đủ lý do để chấm dứt câu chuyện - nhất là vì hắn là người trả tiền – nhưng hắn không dứt chuyện. Người đàn ông nhỏ thó với nét mặt buồn bã đeo kính ngồi ở bàn bên cạnh, đang mải mê với cuốn sách nói về sự chế tạo các vỏ bao đạn, có lẽ đã suy đoán rằng, nếu anh ta đang lắng nghe, Leamas đang say sưa với trò hành hạ người bạn ngồi chung bàn, hoặc (nếu anh ta là một người rất tinh tế) Leamas đang chứng tỏ rằng chỉ người nào có một lý do kín đáo thúc đẩy mới chịu đựng được lối đối xử như vậy.
Khi họ gọi tính tiền thì đã gần bốn giờ, Leamas cố nài trả phần mình nhưng Ashe không chịu. Anh ta trả tiền và rút tập ngân phiếu ra để trang trải món nợ của anh ta cho Leamas. Anh ta vừa nói vừa điền ngày tháng vào ngân phiếu:
- Hai chục Anh kim
Rồi anh ta ngước nhìn Leamas, mở to mắt và mỉm cười:
- Anh lấy chi phiếu tiện cho anh chứ?
Hơi đỏ mặt, Leamas trả lời:
- Lúc này tôi không có ngân hàng nào cả vì mới ở ngoại quốc về. Chắc tôi phải thu xếp lại. Tốt hơn anh đưa tôi một chi phiếu và tôi sẽ lĩnh tiền tại ngân hàng của anh.
- Bồ ơi, tôi không hề ngờ như vậy. Anh phải đi tới Rotherhithe để đổi chi phiếu này lấy tiền mặt.
Leamas nhún vai và Ashe cười. Họ đồng ý gặp lại nhau vào chỗ cũ ngày hôm sau, vào lúc một giờ. Ashe sẽ mang tiền mặt đến.
Ashe kêu tắc xi tại đường Compton và Leamas vẫy tay chào cho đến khi cái xe khuất dạng. Lúc xe đi rồi, Leamas nhìn đồng hồ. Bốn giờ. Chàng đoán là vẫn còn bị theo dõi nên đi bộ xuống đường Fleet và uống cà phê tại quán Black and White. Chàng nhìn các tiệm sách, đọc qua các bài báo buổi chiều bày tại các sạp báo. Rồi hết sức bất ngờ, làm như ý tưởng đó mới hiện đến trong đầu, chàng nhảy lên một chiếc xe buýt. Xe buýt chạy đến đồi Ledgate, thì bị kẹt đường tại một chô gần ga tàu điện ngầm. Chàng liền xuống xe và đi tàu điện. Chàng mua vé giá 6 xu, đứng trên ga cuối và xuống ga kế. Chàng đáp một chuyến tàu khác tới Euston, đi ngược lại Charing Cross. Khi chàng tới ga thì đã 9 giờ và trời trở lạnh. Một chiếc xe chở hàng đậu trong sân phía trước và gã tài xế xe đang ngủ.
Leamas liếc nhìn số xe, đi lại và gọi chủ xe:
- Ông từ Clement tới phải không?
Người tài xế giật mình thức dậy, hỏi:
- Ông là Thomas?
Leamas trả lời:
- Không, Thomas bận không đến được. Tôi là Amies từ Houslow đến.
Người tài xế mở cửa:
- Nhảy vào đi, ông Amies
Họ cho xe chạy về phía Tây, tới đường King. Người tài xế có vẻ biết rõ con đường.
Contro mở cửa cho chàng và bảo:
- George Smiley đi vắng. Tôi đã mượn nhà anh ta. Anh hãy vào đây.
Khi Leamas đã đi vào và cửa được đóng lại, Control mới bật đèn trong tiền đình. Leamas nói:
- Tôi bị theo dõi đến tận giờ ăn trưa.
Họ bước vào một phòng khách nhỏ, sách để đầy rẫy. Đó là một căn phòng xinh xắn, trần cao, trang trí kiểu thế kỷ 18, cửa sổ dài và một lò sưởi tốt.
Leamas đốt một điếu thuốc lá và nói tiếp:
- Chúng vừa tiếp xúc với tôi sáng nay. Một người tên Ashe. Một anh diêm dúa. Chúng tôi hẹn mai gặp lại.
Control chăm chú nghe chuyện của Leamas, từng đoạn một, từ ngày chàng đánh gã chủ tiệm tạp hoá Ford cho đến cuộc chạm trán với Ashe sáng hôm nay. Control hỏi, tựa hồ Leamas vừa nghỉ phép về:
- Anh thấy ở tù ra sao? Rất tiếc chúng tôi không làm gì hơn đựơc cho anh. Chẳng hạn thêm một chút tiện nghi đặc biệt, chúng tôi không thể làm thế.
- Dĩ nhiên là không.
- Phải trước săunh một. Đối với mỗi giai đoạn mình phải theo đúng răng rắc. Nếu phá mặt lá bùa thì hỏng bét. Tôi nghe nói anh đã bị ốm. Tôi xin chia buồn. Sao vậy?
- Chỉ là bị sốt chút đỉnh.
- Anh phải nằm bao lâu?
- Khoảng mười ngày.
Im lặng rất lâu rồi Control tự hỏi một cách bình thản:
- Anh biết cô ta ở trong Đảng Cộng Sản chứ?
Leamas đáp:
- Vâng
Im lặng một lúc nữa, Leamas mới tiếp lời:
- Tôi không muốn cô ta bị liên quan vào chuyện này
- Sao lại để cô ta liên quan?
Control hỏi bằng giọng gay gắt, trong chốc lát, chỉ trong chốc lát Leamas nghĩ chàng đã chọc thủng được chiếc mặt nạ lãnh đạm giả tạo của ông ta. Control tiếp:
- Ai nói là nên đưa cô ta vào vụ này?
Leamas trả lời:
- Không ai nói cả. Tôi chỉ muốn trình bày việc này cho rõ. Tôi biết sự việc sẽ ra sao – toàn những hành động gây hấn. Sẽ có những vụ phản động, những diễn biến bất ngờ. Trong lúc mình yên trí sẽ bắt được một con cá thì lại bắt dược con cá khác. Tôi muốn cô ta được tách ra khỏi vụ này.
- Hẳn rồi, hẳn rồi.
- Người đàn ông tên Pitt ở Nha Nhân công là ai vậy? Có phải anh ta đã làm cho cơ quan trong thời chiến tranh?
- Tôi không biết ai có tên đó. Anh nói y tên Pitt?
- Vâng
- Không, tôi không hề biết y. Anh nói y làm ở Nha Nhân công à?
Leamas khẽ kêu lên:
- Trời ơi!
Control đứng dậy:
- Tôi xin lỗi đã lơ là nhiệm vụ của m ột phó gia chủ. Anh uống một ly nhé?
- Không, tôi muốn đi ngay đêm nay. Về thôn quê để tập luyện lại. Nhà còn mở cửa chứ?
- Tôi sẽ thu xếp một chiếc xe. Anh sẽ gặp lại Ashe mấy giờ ngày mai - một giờ chứ?
- Tôi sẽ điện thoại cho Haldane hay anh muốn theo luyện. Anh nên đi khám bác sĩ, về cái bệnh sốt hôm trước của anh.
- Tôi không cần bác sĩ.
- Tuỳ anh.
Control tự rót cho mình một ly whisky và lơ đễnh nhìn giá sách của Smiley xếp trên kệ. Leamas hỏi:
- Sao không có Smiley ở đây?
Control trả lời một cách thản nhiên:
- Anh ta không thích công tác này. Anh ta nghĩ đây là một vụ không thú vị. Tuy vẫn cho là cần thiết nhưng anh ta vẫn không muốn dính vào.
Control vừa mỉm một nụ cười lạ vừa nói thêm:
- Cơn sốt của anh ta hầu như vẫn tái diễn thường xuyên.
- Anh ta không ưa tôi.
- Đúng thế, anh ta không muốn dính vào nhưng anh ta đã nói cho anh nghe về Mundt và anh cho biết tình hình hiện tại?
- Vâng
Control trầm ngâm
- Mundt là một tên khó chơi, chúng ta đừng bao giờ quên điều đó. Y lại còn là một sĩ quan tình báo lỗi lạc.
- Smiley có biết lý do công tác không? Các lợi ích đặc biệt.
Control gật đầu và hớp một miếng whisky:
- Thế mà anh ta vẫn không thích?
- Đây không phải là vấn đề luân lý. Anh ta cũng như một viên bác sĩ giải phẫu chán thấy máu. Anh ta thích có người khác đảm đương vụ này.
- Xin ông hãy cho tôi biết, tại sao ông chắc việc này sẽ đưa chúng ta đến nơi chúng ta muốn? Sao ông bọn Đông Đức sẽ nhảy vô mà không phải bọn Tiệp hay Nga?
Control nói giọng hơi phách lối:
- Anh cứ yên tâm. Mọi việc đã đựơc lo liệu kỹ càng.
Khi hai người ra đến cửa, Control nhẹ đặt tay lên vai Leamas và bảo:
- Đây là một công tác cuối cùng của anh. Rồi anh sẽ được về, khỏi phải ở ngoài nơi giá lạnh. Còn cô gái đó – anh có muốn chúng tôi giúp cô ta cái gì không? tiền bạc hay bất cứ gì?
- Khi công việc xong, tôi sẽ tự lo cho cô ta.
- Hẳn rồi. Làm cái gì bây giờ cũng không an toàn.
Leamas nhấn mạnh lần nữa:
- Tôi muốn cô ta được yên. Tôi không muốn cô ta bị quấy rầy. Tôi không muốn cô ta có tên trong hồ sơ hoặc bất cứ thứ gì. Tôi muốn mọi người quên cô ta đi.
Chàng gật đầu chào Control và nhẹ nhàng bước ra ngoài không khí ban đêm. Vào nơi giá lạnh.
******************
CHƯƠNG VII
KIEVER
Ngày hôm sau, Leamas đến muộn hai mươi phút so với giờ hẹn ăn trưa với Ashe và người nồng mùi whisky. Vẻ khoan khoái của Ashe khi thấy chàng, tuy vậy vẫn không giảm sút. Anh ta cho hay cũng vừa mới tới, hơi trễ một chút vì phải đi nhà băng. Anh ta đưa cho chàng một phong bì:
- Giấy một anh kim, được chớ?
Leamas nói:
- Cám ơn. Mình hãy uống một ly.
Chàng không cạo râu và cổ áo dơ dáy. Chàng gọi bồi kêu rượu, một ly whisky lớn cho chàng và một ly gin cho Ashe. Khi rượu được mang tới, tay của Leamas run rẩy trong khi rót sôda vào ly, suýt đổ ra ngoài.
Họ ăn ngon, uống nhiều và Ashe nói hầu hết câu chuyện. Như Leamas đã đoán trước, thoạt tiên anh ta nói những chuyện về mình, một mánh khoé từ xưa nhưng không đến nỗi tệ. Ashe bảo:
- Thành thực mà nói, tôi dạo này khác. Viết bài anh ngữ cho báo ngoại quốc, làm việc không bó buộc. Sau thơi gian ở Bá Linh, đầu tiên mọi việc đều rối beng lên cả - Công ty không chịu tái tục khế ước và tôi phải làm cho một tờ tuần báo lá cải về sở thích của những ông già trên 60. Anh có tưởng tượng được cái gì đáng sợ hơn không? Đó là vào lúc xảy ra cuộc đình công thứ nhất của ngành ấn loát. Thật đỡ cho tôi quá. Rồi tôi về sống với bà cụ ở Cheltenham một thời gian – bà cụ có một tiệm bán đồ cổ thuộc vào loại khá. Rồi tôi nhận được thư của một người bạn cũ, tên thật của anh ta là Sam Kiever, lúc đó đang khởi sự xây dựng một cơ sở mới chuyên viết những loạt bài ngắn về nước Anh, đặc biệt dành cho báo ngoại quốc. Anh biết loại bài này mà – 600 chữ. Về môn khiêu vũ Morris Sam tuy vậy mà lại có một mánh khoé: anh ta bán loại bài đã được dịch sẵn và anh biết không, nó khiến mọi người khác hẳn. Thiên hạ cứ nghĩ rằng ai cũng có thể mướn một người dịch hoặc tự mình dịch lấy, nhưng nếu anh đang tìm bài để nhét vào nửa cột báo, nói về đời sống dân ngoại quốc, anh sẽ không muốn phí thời giờ và tiền bạc vào chuyện dịch thuật. Mẹo của Sam là tiếp xúc thẳng với các chủ bút – ông ta đi khắp châu âu như một tên du mục, kể cũng tội nghiệp, nhưng có việc luôn.
Ashe dừng lại, đợi Leamas nói chuyện về chàng nhưng Leamas lờ đi. Chàng chỉ gật gù và bảo “Hay quá!”. Ashe định gọi rượu vang nhưng chàng bảo chỉ uống whisky và khi bồi bưng cà phê ra chàng đã uống bốn ly lớn. Chàng có vẻ rạc người đi: Chàng có thói quen của bợm rượu, chõ môi ra về phía ly trước khi uống, làm như mình có thể lỡ tay và làm đổ rượu.
Ashe im lặng một lúc rồi hỏi:
- Anh không biết Sam à?
- Sam?
Giọng Ashe có vẻ bực bội:
- Sam Kiever, sếp của tôi. Cái anh chàng tôi vừa nói chuyện ấy mà.
- Anh ta cũng ở Bá linh sao?
- Không. Anh ta biết rõ nước Đức nhưng chưa hề tới Bá Linh. Anh ta có quấy phá ở Bonn một chút, viết báo kiểu tài tử ấy mà. Anh có thể đã gặp anh ta, anh ta dễ thương lắm.
- Tôi không nghĩ là đã gặp anh ta.
Im lặng một lát, Ashe chợt hỏi:
- Dạo này bồ làm gì?
Leamas nhún vai và nhăn răng cười có vẻ ngây ngô.
- Ngồi chơi, bị cho về vườn và đang ngồi chơi.
- Tôi quên không nhớ anh đã làm gì ở Bá Linh? Anh không phải là một trong những chiến sĩ bí mật của cuộc chiến tranh lạnh sao?
Mẹ kiếp, Leamas nghĩ, bạn hơi vội đấy nhé. Chàng nghập ngừng và đỏ mặt, tỏ vẻ hung hãn nói:
- Làm công cho bọn Mẽo cũng giống như phần lớn các bạn của tôi.
Ashe nói, làm như đã đắn đo ý từ lâu:
- Anh nên gặp Sam, anh sẽ thích anh ta.
Và anh nói thêm vẻ lo âu:
- Này Alec, tôi không biết làm cách nào để có thể gặp anh?
Leamas trả lời một cách hờ hững:
- Không được đâu
- Tôi không hiểu nổi ý anh. Hiện giờ anh ở đâu?
- Thì loanh quanh đây. Hơi bê bối một chút, tôi vẫn chưa có việc làm. Bọn khốn không chịu cấp dưỡng cho tôi khá hơn một chút.
Ashe có vẻ kinh ngạc:
- Alec này, thế thì tệ quá. Sao anh không bảo tôi? Sao anh không đến ở đằng tôi? Nhỏ thôi nhưng đủ chỗ cho một người nữa nếu anh không ngại nằm trên cái đi văng. Anh không thể sống lang bang như vậy được.
Leamas vừa trả lời vừa vỗ tay vào cái túi đựng tiền:
- Hơi đỡ rồi. Tôi sẽ tìm được việc làm.
Rồi chàng gật đầu với vẻ quả quyết
- Độ một hai tuần là có. Rồi đâu sẽ lại vào đấy.
- Việc loại nào?
- Ồ, không biết nữa. Bất cứ gì.
- Nhưng anh không thể sống tiêu cực như thế được. Alec, anh nói tiếng Đức cừ như dân bản xứ, tôi vẫn nhớ thế mà. Anh có thể làm được khối việc.
- Tôi đã làm khối việc. Bán Bách khoa toàn thư cho một hãng buôn Mỹ, xếp sách ở một thư viện tâm linh, bấm lỗ thẻ trong một xưởng làm kẹo hôi thối. Tôi còn có thể làm cái mẹ gì bây giờ?
Chàng nói trong lúc mắt không ngước lên nhìn Ashe mà nhìn cái bàn trước mắt, đôi môi run lên vì sự kích động. Ashe đáp lại sự kích động này bằng cách, cúi người qua mặt bàn, nói nhấn mạnh một cách đắc thắng:
- Alec, bạn cần chỗ quen biết, bạn hiểu không? Tôi đã hiểu rõ vì chính tôi đã gặp phải cảnh này. Đó là lúc anh cần biết người này người nọ. Tôi không biết anh đã làm gì ở Bá Linh, tôi không muốn biết, nhưng chắc chắn đó không phải việc mà anh có thể gặp những người đáng nói, phải không? Nếu tôi đã không gặp Sam ở Poznan năm năm trước thì tôi vẫn còn đói dài dài. Alec anh hãy đến ở với tôi vài tuần đi. Bọn mình sẽ dò hỏi Sam hoặc một vài tên bạn ký giả cũ ở Bá Linh, nếu còn có tên nào.
Leamas lắc đầu:
- Nhưng tôi không viết lách gì được. Tôi có viết được cái mẹ gì đâu?
Ashe đặt tay lên cánh tay của Alec và xoa dịu:
- Anh đừng nóng. Mình cứ từ từ lo mọi việc. Đồ phụ tùng của anh hiện giờ để ở đâu?
- Cái gì của tôi?
- Thì vật dụng của anh đó: quần áo, hành lý và các món khác
- Tôi chẳng có gì cả. Tôi bán hết rồi, trừ cái gói đồ.
- Cái gói nào?
- Cái gói màu nâu mà anh đã nhặt được ở công viên hôm qua. Cái gói mà tôi đã quăng đi.
Ashe có một căn phòng ở công trường Dolphin. Thật đúng như Leamas phỏng đoán – căn phòng nhỏ và không có gì đặc sắc, ngoại trừ vài món đồ chơi mang từ Đức về đến vội vàng: ly uống bia, một ống điếu kiểu quê mùa, vài cái tượng mỹ nhân hạng thường. Ashe nói:
- Cuối tuần tôi về với bà cụ ở Cheltonham. Tôi chỉ ở đây vào những ngày giữa tuần thôi. Như thế này cho tiện.
Họ kê cái đi văng vào trong phòng khách nhỏ xíu. Lúc đó khoảng bốn giờ rưỡi, Leamas hỏi:
- Anh ở đây được khoảng bao lâu rồi?
- Ồ, khoảng trên dưới một năm
- Tìm ra có dễ không?
- Kẻ này đi thì người khác đến. Anh biết đấy, những căn này vẫn thế. Mình ghi tên và có ngày có người gọi điện thoại đến cho mình biết là có phòng trống.
Ashe pha trà và cả hai cùng uống. Leamas lầm lì như một kẻ không quen với tiện nghi. Ngay cả Ashe cũng có phần lắng dịu. Sau khi uống xong, Ashe nói:
- Tôi chạy ra ngoài mua chút đồ trước giờ các bảng tiệm đóng cửa rồi sau đó mình sẽ tính phải làm gì. Có lẽ là tôi sẽ địên thọai cho Sam tối nay – tôi nghĩ là hai anh gặp nhau càng sớm càng tốt. Sao anh không ngủ đi – trông anh phờ phạc lắm.
Leamas gật đầu và phát một cử chỉ vụng về:
- Anh tốt quá. Anh đã hết lòng với tôi.
Ashe vỗ vai Leamas, nhặt cái áo mưa nhà binh và đi ra.
Ngay lúc Leamas biết Ashe đã đi khỏi, chàng để cánh cửa trước hơi hé mở và xuống lầu ra căn phòng chính nơi có hai buồng điện thoại Chàng quay một số MadenVale và hỏi gặp thư ký của Thomas. Tức thì một giọng con gái cất lên:
- Thư ký của ông Thomas đây.
- Tôi gọi giùm cho ông Sam Kiever. Ông ấy đã nhận lời mời và mong được tiếp xúc với ông Thomas tối nay.
- Tôi sẽ chuyển lời lại cho ông Thomas. Ông ấy có biết chỗ liên lạc với ông không?
Leamas liền cho địa chỉ:
- Công trường Dolphin
Sau khi hỏi thăm vài chuyện ở quầy lễ tân, chàng quay về phòng của Ashe và ngồi xuống chiếc đi văng nhìn hai tay đang nắm vào nhau. Môt lúc sau chàng nằm xuống. Chàng quyết định theo lời khuyên của Ashe là nghỉ ngơi một chút. Trong lúc nhắm mắt, chàng tưởng tượng Liz đang nằm bên cạnh mình ở Bayswater và tự hỏi bây giờ nàng ra sao.
Chàng bị đánh thứ bởi Ashe, đi với một người có thân hình hơi mập, thấp, với mái tóc hoa râm dài chải lật ra sau và mặc bộ quần áo có cổ rất lớn. Y nói với một giọng hơi giống miền Trung âu, có lẽ là giọng Đức, thật khó đoán. Y nói tên y là Kiever – Sam Kiever.
Họ uống gin-tonic và Ashe nói nhiều nhất trong bọn. Hắn bảo cũng như hồi xưa ở Bá Linh, cả bọn tụ họp lại chơi suốt đêm. Kiever cho hay y không muốn về trễ quá, sáng mai y còn chuyện phải làm. Họ đồng ý ăn ở một nhà hàng Trung Hoa mà Ashe biết - đối diện với bót cảnh sát Limehouse và mình có thể mang rượu theo. Hơi lạ là Ashe có mấy chai Burgundy trong bếp và họ mang theo trên tắc xi.
Bữa ăn tối thật ngon và họ uống hết cả hai chai rượu. Kiever hé lộ một chút khi bắt đầu uống chai thứ hai: y vừa đi một vòng Tây Đức và Pháp về. Ở Pháp tình hình đang rối beng, De Gaulle đang trên đà đi xuống và chỉ có trời mới biết chuyện gì sắp xảy ra. Với một trăm ngàn anh thực dân bại hoại phong hoá từ Algierie trở về, y tin chắc chế độ phát xít sắp sửa vùng lên. Ashe hỏi y để gợi chuyện:
- Còn Đức thì sao?
Kiever nhìn Leamas một cách mời mọc:
- Đó chỉ là vấn đề bọn Mẽo có giữ đựơc họ không?
Leamas hỏi:
- Thế nghĩa là sao?
- Thế nghĩa là Dulles cho họ chính sách đối ngoại bằng một tay, Kenedy lấy lại bằng tay khác. Họ bắt đầu bực rồi.
Leamas gật đầu:
- Đúng là bọn Mẽo chính cống
Ashe xen lời một cách độc địa:
- Alec có vẻ không ưa các anh bạn Mỹ của mình
Và Kiever khẽ bảo với vẻ thản nhiên:
- Thế à?
Leamas nhận thấy Kiever chơi cái trò này rất lâu. Như một người quen dùng ngựa, y để người ta phải đến với y. Y tuyệt giỏi trong việc gây cho một kẻ đa nghi có cảm tưởng rằng y sắp được hỏi xin một đặc ân, và không dễ gì y chịu nhượng bộ.
Sau bữa ăn, Ashe nói:
- Tôi biết một chỗ ở sau đường Wardour – anh đã từng đến đó rồi mà, anh Sam. Họ tiếp đãi khá lắm, mình gọi tắc xi lại đó đi?
Leamas hỏi với một vẻ khác lạ trong giọng khiến Ashe nhìn chàng thật nhanh
- Khoan. Xin các anh cho tôi biết một điều. Ai trả tiền cho cuộc du hí này?
Ashe đáp ngay:
- Tôi. Sam và tôi.
- Các anh đã bàn chuyện này chưa?
- Ồ.. chưa.
- Bởi vì tôi không có tiền. Chắc các anh đều biết điều đó. Không có tiền để liệnh đi như thế.
- Tất nhiên, Alec. Tôi lo cho anh chu đáo đến tận giờ phút này mà.
- Đúng. Anh nói đúng.
Chàng như định nói điều gì nữa nhưng đổi ý. Ashe có vẻ băn khoăn nhưng không giận còn Kiever thì vẫn khó hiểu như từ trước.
Leamas tránh nói trên tắc xi và Ashe cố gắng gợi chuyện bằng vài nhận xét hoà giải nhưng chàng chỉ nhún vai. Họ đến đường Wardour và xuống xe. Cả Kiever và Leamas đều không sẵn sàng trả tiền xe. Ashe dẫn họ qua cửa hàng bày bán các tạp chí dành cho thiếu nữ, đi vào một ngõ hẻm, cuối hẻm là một bảng hiệu bằng đèn ống rẻ tiền đang chói sáng: HỘI QUÁN PUSSYWILLOW – DÀNH RIÊNG CHO HỘI VIÊN. Hai bên cửa vào là hình chụp các cô gái, và trên mỗi hình đều có ghim một tờ giấy mỏng viết tay bằng chữ in: nghiên cứu thiên nhiên – dành riêng cho hội viên.
Ashe bấm chuông. Cửa được mở ngay bởi người đàn ông cao lớn mặc áo sơ mi trắng và quần đen. Ashe bảo:
- Tôi là hội viên. Hai vị này đi với tôi.
- Ông cho xem thẻ.
Ashe rút ra một chiếc thẻ màu vàng trong ví và đưa cho ông ta.
- Khách của ông phải trả mỗi người một anh kim và được xem như hội viên tạm thòi. Ông giới thiệu phải không?
Hắn đưa trả thẻ và trong lúc đó Leamas với tay qua người Ashe đón lấy cái thẻ. Chàng nhìn tấm thẻ một lúc và trả cho Ashe.
Lấy ra hai Anh kim trong túi quần, Leamas đặt vào tay người đàn ông và nói:
- Hai Anh kim cho khách
Và mặc những lời phản đối đầy sửng sốt của Ashe, chàng đưa cả bọn qua lối vào có màn che, vào trong hành lang mờ tối của hội quán. Chàng quay lại nói với gã gác cửa:
- Tìm cho chúng tôi một cái bàn và một chai whisky. Và đừng để ai đến quấy rầy chúng tôi.
Gã gác cửa ngập ngừng một lát rồi quyết định không cãi lại làm gì, đưa cả bọn xuống thang. Trong lúc xuống thang, họ nghe thấy một tiếng rên rỉ rất nhỏ của âm nhạc. Họ lấy một cái bàn riêng ở cuối phòng. Một ban nhạc hai người đang trình diễn và các cô gái đang ngồi túm năm tụm ba ở quanh phòng. Có hai cô đứng dậy khi họ tới gần nhưng gã gác cửa cao lớn lắc đầu.
Ashe liếc nhìn Leamas một cách bất yên trong khi cả ba đang đợi whisky, Kiever có vẻ hơi khó chịu. Anh bồi mang đến một chai rượu và ba cái ly. Họ ngồi im lặng nhìn trong lúc anh bồi rót vào mỗi ly một ít rượu. Leamas liền lấy chai rượu từ tay anh bồi và lót thêm vào ly số rượu bằng số ban nãy. Rót xong, chàng nghiêng mình qua bàn nói với Ashe:
- Bây giờ có lẽ anh sẽ cho tôi biết tất cả câu chuyện này là cái quái gì?
Ashe có vẻ phân vân:
- Anh định nói gì? Anh định nói gì thế, hả Alec?
Chàng trầm tĩnh bắt đầu:
- Anh theo dõi tôi từ cửa khám, ngày tôi được phóng thích, bịa ra một câu chuyện xuẩn ngốc là dã gặp tôi ở Bá Linh. Anh trả tôi số tiền mà anh không hề nợ tôi. Anh đãi tôi ăn uống tốn kém và lại chấp nhận chứa chấp tôi ở nhà anh…
Ashe đỏ mặt:
- Nếu đó là…
Leamas nói hùng hổ:
- Anh đừng ngắt lời. Cứ đợi đến khi tôi nói xong đã, anh nghe chưa? Thẻ hội viên của anh để vào đây được cấp cho một người tên Murphy. Tên anh đó chứ gì?
- Không phải
- Vậy chắc là một anh bạn nào tên Murphy cho anh mượn thẻ?
- Không. Quả không phải thế. Nếu anh cần biết, tôi đến đây thỉnh thoảng để kiếm một cô gái. Tôi dùng một tến giả để vào hội.
Leamas vẫn tiếp không nương tay:
- Vậy tại sao người ta lại ghi Murphy là người thuê căn phòng của anh
Cuối cùng Kiever phải lên tiếng:
- Anh về đi. Tôi sẽ lo chuyện này.
Một cô gái đang biểu diễn màn thoát y vũ, một cô gái trẻ ngăm ngăm có vết bầm đen trên đùi. Cô ta có một thân hình thảm hại khiến người xem thêm khó chịu, bởi vì nó chẳng gợi tình tí nào, nó vụng về và không gây hứng thú. Cô tay quay mình một cách chậm chạp, thỉnh thoảng tay chân mới giật một cái, tựa hồ cô ta chỉ nghe từng hồi âm nhạc và mắt cô ta nhìn không rời họ với một vẻ thích thú của một đứa bé đứng trứơc đám người lớn. Nhịp nhạc tăng nhanh một cách bất thần và người con gái đáp ứng như một con chó nghe hiệu còi, trườn tới thụt lui với vẻ đú đởn. Cởi bỏ cái nịt vú ở nốt nhạc cuối, nàng dơ cao nó lên khỏi đầu, trình diễn thân hình èo uột của nàng với ba cái dải kim tuyến rẻ tiền treo lủng lẳng như đồ trang hoàng một cây Noel cũ.
Leamas và Kiever cùng ngồi im lặng xem
Cuối cùng Leamas lên tiếng:
- Chăc anh lại định bảo tôi rằng mình đã xem những màn khá hơn nhiều, hổi ở Bá Linh?
Kiever thấy rõ chàng vận còn giận. Y nói một cách vui vẻ:
- Tôi mong anh đã được như thế. Tôi thường ở Bá Linh, nhưng tôi e rằng tôi không thích các hộp đêm.
Leamas không nói gì. Kiever tiếp:
- Anh nên biết, tôi không phải khiêm cẩn gì, tôi chỉ duy lý thôi. Nếu tôi muốn một người đàn bà, tôi biết các cách khác kiếm ra rẻ hơn, nếu tôi muốn nhảy, tôi biết tìm chỗ khá hơn để đi nhảy.
Leamas như không chú ý nghe và chàng bảo:
- Có lẽ anh sắp cho tôi biết, tại sao anh chàng nhu nhược đó lại chay theo làm quen tôi?
Kiever gật đầu:
- Vâng, chính tôi bảo hắn làm
- Tại sao?
- Tôi thích anh. Tôi muốn đề nghị với anh một chuyện, một chuyện về báo chí
Im lặng một lát, Leamas nhắc lại:
- Báo chí à? Tôi hiểu
- Tôi điều hành một cơ sở cung cấp các bài viết về quốc tế. Nhuận bút trả cao - rất cao – cho những tài liệu nào hay.
- Ai xuất bản tài liệu?
- Tiền trả cao đến nỗi, quả thật một người như anh… với kinh nghiệm về tình hình quốc tế, một người có cả quá trình như anh, anh hiểu chứ, tức là người có thể cung cấp những tài liệu chính xác và đáng tin, sẽ khỏi phải lo âu về vấn đề tài chính trong một thời gian
Leamas lại hỏi:
- Ai xuất bản tài liệu?
Có một vẻ đe doạ trong giọng của Leamas, và trong một thoáng, gương mặt nhẵn nhụi của Kiever chợt phác ra một thoáng lo sợ
- Các khách hàng quốc tế. Tôi có một đặc phái viên ở Bá-Lê lo liệu phần lớn công việc. Chính tôi cũng không biết ai xuất bản thế. Tôi thú thật thế.
Y mỉm cười cầu tài nói tiếp:
- Điều đó tôi cũng chẳng cần biết. Họ trả tiền và họ yêu cầu thêm tài liệu. Chắc anh biết họ là hạng người không quan tâm đến tiểu tiết. Họ trả tiền chóng vánh và họ sẵn sàng trả qua các ngân hàng ngoại quốc là nơi không ai phải lo chuyện thuế má gì cả.
Leamas không nói gì. Chàng đang cầm cái ly với hai bàn tay và chăm chăm nhìn vào bên trong
Trời ơi, chúng đang đốt giai đoạn, chàng nghĩ, thế là không đứng đắn. Chàng nghĩ đến một câu nói đùa tại một nhạc đường ngu xuấn nào đó – “Đây là một đề nghị mà không cô gái tử tế nào chấp nhận được - vả lại tôi đâu biết đề nghị này giá trị bao nhiêu”. Về mặt chiến thuật, chàng nghĩ, chúng có lý khi vào vấn đề gấp. Mình đang xuống dốc và tả tơi, mới ra tù, còn căm thù xã hội. Mình là một con ngựa già, mình không cần tập luyện, mình không cần phải làm bộ như chúng đã đụng chạm đến danh dự của một nhà quý tộc Anh.
Mặt khác, chúng sẽ mong đợi những phản đối có tính chất thực tiễn. Chúng tin tưởng chàng tỏ vẻ sợ: vì cơ quan của chàng sẽ săn đuổi những tên bội phản như mắt Thượng Đế theo Gain qua suốt sa mạc. Và cuối cùng, chúng sẽ biết đây là một ván bài. Chúng sẽ biết rằng sự mâu thuẫn trong quyết định của con người có thể khiến một phương cách điệp báo hoạch định kỹ biến thành vô nghĩa; sẽ biểt rằng những tên bịp bợm, láo khoét, hay phạm nhân có thể cưỡng lại mọi lời phỉnh nịnh trong khi có nhiều nhà quý phái đáng kính trọng lại bị đưa tới những sự phản bội kinh khiếp về những lợi lộc hèn mọn.
Cuối cùng, Leamas thốt lên:
- Họ sẽ phải trả giá đắt
Kiever rót thêm whisky cho chàng:
- Họ đề nghị trả dứt khoát 15.000 Anh kim. Tiền đã được để tại ngân hàng Contonale ở Bern. Chỉ cần xuất trình một lý lịch phù hợp, lý lịch đó khách hàng của tôi sẽ cho anh là anh rút tiền ra được. Khách hàng của tôi xin được quyền đặt những câu hỏi riêng với anh trong thời gian một năm và sẽ trả thêm năm ngàn Anh kim sau này nếu họ cần sẽ giúp anh định cư ở lại bất cứ nơi nào.
- Anh muốn tôi trả lời trong bao lâu?
- Ngay bây giờ. Anh không cần phải viết tất cả các ký ức của anh lên giấy. Anh sẽ gặp khách hàng của tôi và ông ta sẽ thu xếp để những tài liệu đó được một người khác viết thay cho anh.
- Tôi sẽ gặp ông ta ở đâu?
- Chúng tôi nghĩ vì lợi ích của mọi người. Đơn giản nhất là chúng ta nên gặp nhau ở ngoài Vương quốc Anh . Khách hàng tôi để nghị Hoà Lan
Leamas nói một cách buồn thảm:
- Tôi không có thông hành
- Tôi đã mạn phép lo cho anh một cái rồi
Kiever trả lời một cách mềm mỏng, không có gì trong giọng y hoặc trong cung cách của y cho thấy y đã làm một việc gì đó khác hơn là thương lượng một chuyện làm ăn bình thường, trong lúc y nói tiếp:
- Mình sẽ bay qua Le Harve sáng mai lúc 9h45. Mình có nên về nhà và bàn chi tiết thêm không?
Kiever trả tiền và họ bắt tắc xi đi đến một địa chỉ khá sang không xa công viên St. James
Phòng của Kiever khá sang trọng nhưng đồ đạc có vẻ được xếp đặt một cách vội vàng. Người ta nói rằng ở Luân Đôn có những tiệm bán sách bọc bìa da, bán theo thước chứ không theo cuốn, và có những tay trang trí địa ốc sẽ hoà hợp màu tường với màu tranh. Leamas, vốn không nhiều thụ cảm với những điểm tinh tế như vậy, thấy khó mà nhớ được rằng mình đang ở trong một văn phòng tư nhân chứ không phải một khách sạn. Trong khi Kiever chỉ cho chàng căn phòng riêng trông ra một sân trông dơ dáy chứ không trông ra đường, Leamas hỏi:
- Anh ở đây bao lâu rồi?
Kiever trả lời một chút lơ đãng:
- Ồ, không lâu lắm. Chỉ độ dưới vài tháng thôi
- Chắc phải tốn kém lắm. Tuy nhiên tôi nghĩ anh phải ơ những chỗ như thế này mới xứng
- Cám ơn anh quá khen.
Có một chai whisky trong phòng và một bầu rượu trên một cái khay bằng bạc. Một khung cửa có màn ở cuối phòng dẫn qua một phòng tắm và vệ sinh.
- Thật không khác một tổ uyên ương xinh xắn. Tất cả được trang trải bởi Nhà nước Lao động phải không?
- Câm đi
Kiever nói một cách hung hãn và thêm:
- Nếu anh cần gì tôi, tôi có điện thoại bộ đàm liên lạc với phòng tôi. Tôi sẽ thức.
Leamas trả đũa:
- Tôi nghĩ tôi sẽ tự cởi nút được
Kiever vắn tắt:
- Thế thì chúc anh ngủ ngon.
Rồi hắn ta ra khỏi phòng
Leamas thầm nghĩ y cũng đang tức giận
Leamas bị đánh thức bởi cái điện thoại ở cạnh giường. Kiever cho hay:
- Sáu giờ rồi. Nửa tiếng nữa chúng ta ăn sáng.
- Được rồi.
Leamas cúp máy. Chàng cảm thấy nhức đầu
Nhất định Kiever đã điện thoại gọi một chiếc tắc xi vì lúc bảy giờ chuông cửa reo và Kiever hỏi:
- Sẵn sàng chưa?
- Tôi không có hành lý, trừ một cái bàn chải đánh răng và một dao cạo râu
- Các món đó đã lo liệu rồi. Tôi muốn hỏi anh đã sẵn sàng chưa?
Leamas nhún vai:
- Chắc là rồi. Anh có thuốc lá?
- Không, nhưng anh có thể mua trên máy bay. Anh nên xem qua cái này.
Vừa nói y vừa đưa cho Leamas một sổ thông hành Anh quốc. Cuốn sổ có tên và hình của chàng, có khuôn dấu nổi của Sở hải ngoại chạy qua góc sổ. Nó chẳng mới mà cũng chẳng cũ. Nó ghi Leamas làm nghề thư ký và độc thân. Cầm cuốn sổ lần đầu, Leamas hơi nôn nao, cũng như lấy vợ vậy: từ nay trở đi mọi việc sẽ không còn như xưa nữa. Chàng hỏi:
- Tiền bạc thì sao?
- Anh không cần gì cả. Tất cả do hãng đài thọ.
*****************
CHƯƠNG VIII
“LE MIRAGE”
Sáng hôm đó trời lạnh, sương nhẹ, xám và ẩm ướt châm vào da thịt. Phi trường nhắc Leamas nhớ tới chiến tranh: các máy móc ẩn trong sương mù, kiên nhẫn đợi chủ của chúng, các giọng nói âm vang, các tiếng la bất ngờ và tiếng gót giầy lạc điệu của một cô gái trên mặt sàn lót đá; tiếng gầm của một động cơ nghe như sát bên cạnh. Khắp mọi nơi là bầu không khí đồng loã, gần như phi phàm, tạo ra giữa những người dậy từ sáng tinh mơ, do thói quen muốn chứng kiến cảnh đêm tàn và ngày đến. Các nhân viên có cái vẻ hiểu biết về bí mật bình minh đến và lăng xăng vì lạnh, họ đối đãi với các khách hàng và hành lý bằng vẻ xa vắng của những người trở về từ tiền phương; trong những buổi sáng như thế này, người trần mắt thịt không có nghĩa lý gì với họ.
Kiever đã sắm hành lý cho Leamas. Đó là một chi tiết hay, Leamas phải phục thầm. Các hành khách không có hành lý thường lôi kéo sự chú ý và Kiever không muốn như vậy. Họ làm thủ tục tại quầy giấy của hãng hàng không và theo các dấu hiệu tiến về trạm kiểm soát sổ thông hành. Chỉ có một lúc buồn cười là lúc họ lạc đường và Kiever gắt một anh phu xách hành lý. Leamas đoán Kiever đang lo lắng về cuốn thông hành - không cần phải thế, Leamas nghĩ, tất cả đều hợp lệ mà.
Viên chức kiểm soát sổ thông hành là một gã đàn ông trẻ, nhỏ người, mang một chiếc cà vạt của Sở tình báo và một dấu hiệu bí mật trên ve áo. Anh ta có bộ ria mép đỏ hoe và một giọng nói miền Bắc mà suốt đời anh ta thù ghét. Anh ta hỏi Leamas:
- Thưa, ông đi xa độ bao lâu?
Leamas đáp:
- Vài tuần
- Xin ông lưu ý. Thông hành của ông phải tái kiểm ngày 31.
- Tôi biết.
Họ bước vào phòng đợi hành khách. Trên đường đi Leamas nói:
- Anh là một con người đa nghi, phải không Kiever?
Y cười lặng lẽ trả lời:
- Không thể thả lỏng anh được. Không có trong hợp đồng.
Họ còn phải đợi thêm hai mươi phút nữa. Họ ngồi xuống một cái bàn và gọi cà phê. Kiever vừa nói với anh bồi vừa chỉ các chén đía và gạt tàn thuốc trên bàn:
- Dọn mấy thứ này đi.
Anh bồi đáp:
- Có xe đẩy lại dọn bây giờ
Kiever nổi giận nhắc lại:
- Mang tất cả đi. Tởm quá, ai lại để chén đĩa dơ như thế này.
Anh bồi quay lưng đi thẳng. Anh ta không lại quầy hàng và cũng không gọi cà phê cho họ. Kiever mặt trắng bệch, giận điên lên. Leamas bảo:
- Thôi bỏ qua đi, đời sống ngắn lắm.
Kiever hậm hực bảo:
- Thằng khốn hỗn láo, nó như thế ai mà chịu nổi
- Đựơc rồi, được rồi. Anh cứ gây chuyện làm người ta chú ý đi; anh chọn đúng lúc lắm rồi bọn họ không bao giờ quên bọn mình ở đây đâu.
Các thủ tục tại phi trường La Hayde không có gì rắc rối. Kiever có vẻ an lòng. Y trở nên hoạt bát và nói năng luôn miệng khi họ đi khoảng đường ngắn từ máy bay đến lầu quan thuế. Viên thanh tra trẻ người Hoà Lan nhìn lấy lệ giấy thông hành và hành lý của họ và nói tiếng Anh với một giọng vụng về:
- Tôi mong hai ông đến Hoà Lan gặp nhiều vui vẻ.
Kiever nói với vẻ gần như biết ơn hơi quá đáng:
- Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều
Họ đi bộ từ lều quan thuế, dọc theo hành lang, đến phòng tiếp tân bên kia dãy nhà phi cảng. Kiever rẽ đường đến lối ra chính giữa các nhóm nhỏ hành khách đang lơ đãng nhìn vào những nhóm trưng bày nước hoa, máy ảnh và trái cây. Trong khi họ đẩy cánh cửa xoay bằng kiếng để ra ngoài, Leamas quay lại nhìn. Đứng ở một quầy báo đang coi tờ Cotendinal Daily. Mail là một người nhỏ thó như con nhái, mắt đeo kính, vẻ mặt trang nghiêm đầy lo âu. Trông y như một công chức hoặc đại khái như thế.
Một chiếc xe đang đợi họ ở bãi đậu. Một chiếc Volkswagen, số đăng bộ Hoà Lan. Tài xế là một người đàn bà, không để ý gì tới họ. Nàng lái chậm, luôn luôn ngừng khi đèn vàng. Leamas đoán nàng đã được chỉ thị lái như vậy và có lẽ họ đang bị một chiếc xe theo dõi đằng sau. Chàng nhìn vào kính chiếu hậu, cố nhìn ra chiếc xe đằng sau nhưng vô hiệu. Có lần chàng thấy một chiếc Peugeut đen với biển CD, nhưng khi họ quẹo ở góc đường thì chỉ thấy một chiếc cam nhông chở đồ chạy theo. Chàng biết thành phố La Haye rất rõ từ thời chiến tranh và chàng cố để ý xem xe đang chạy về đâu. Chàng đoán cả bọn đang đi về hướng tây bắc đến Schevinegen. Chẳng bao lâu, xe rời ngoại ô và tiến về một ngôi biệt thự dọc theo các cồn cát ven biển.
Đến đây họ ngừng lại. Người nữ tài xế bước ra, họ ngồi trong xe và bấm chuông cửa một biệt thư nhỏ màu kem ở cuối dãy. Một bảng sắt treo trên cửa với chữ “LE MIRAGE” kiểu Gothique màu xanh nhạt. Trên cửa sổ có một yết thị cho hay đã hết phòng.
Cửa mở do một người đàn bà mập lùn có vẻ chất phác. Bà ta nhìn về phía chiếc xe, mắt vẫn không rời xe, bà ta tiến xuống con đường dẫn về phía đá với nụ cười niềm nở. Bà ta làm Leamas nhớ lại bà cô già đã từng đánh chàng vì tội phí phạm dây. Người đàn bà nói:
- Thật quý hoá quá, chúng tôi rất vui mừng vì các ông đến.
Họ theo bà ta vào nhà. Kiever dẫn đường còn tài xế thì trở lại xe. Leamas ngoảnh lại nhìn về phía con đường đã chạy qua, ở cách xa chừng 300 thước, một chiếc xe sơn đen, có lẽ là một chiết Fiat hoặc Peugeot vừa dừng lại. Một người đàn ông mặc áo mưa bước ra khỏi xe.
Khi đã vào trong nhà, người đàn bà bắt tay Leamas thật nồng nhiệt, nói:
- Xin chào mừng các ông đã đến Le Mirage. Các ông khoẻ cả chứ?
Leamas trả lời:
- Vâng, khoẻ lắm.
- Phi cơ bay đường biển?
Kiever cũng đáp:
- Chúng tôi đã đáp một chuyến phi cơ vô cùng êm ái
Đáng lẽ Kiever phải làm chủ hãng máy bay mới đúng. Người đàn bà nói:
- Tôi sẽ làm cơm trưa, một bữa thật đặc biệt. Tôi sẽ nấu một món hết sức ngon. Các ông muốn ăn món gì?
Ôi trời, Leamas kêu thầm.
Chuông cửa chợt reo vang, người đàn bà đi nhanh vào bếp và Kiever đi ra mở cửa:
Người đàn ông mặc chiếc áo mưa có hàng nút bằng da. Dáng người y cùng cỡ với Leamas nhưng già hơn, Leamas đoán y chừng 55 tuổi. Mặt cứng rắn, sắc xám, có những nét nhăn sâu. Có lẽ trước kia y là một quân nhân. Y chìa một bàn tay có những ngón thon và trau chuốt, tự giới thiệu:
- Tôi tên Peter, các ông vui vẻ chứ?
Kiever đáp nhanh:
- Vâng, hoàn toàn bình an
- Ông Leamas và tôi còn phải thảo luận nhiều. Tôi nghĩ không cần anh ở đây, Sam à. Anh có thể lấy chiếc Volkswagen đi về phố.
Kiever mỉm cười. Leamas có thể thấy rõ vẻ khoan khoái trong nụ cười của ông. Kiever quay sang chàng và nói bằng giọng vui vẻ;
- Chào Leamas, chúc anh bạn may mắn.
Leamas gật đầu, lờ đi như không trông thấy bàn tay của Kiever đang chìa ra.
Kiever cất tiếng chào lại một lần nữa rồi đi ra phía cửa trước.
Leamas theo Peters vào một phòng phía sau. Cửa sổ treo những bức màn dày viền reo, uốn và gấp kỹ lưỡng. Thành cửa có nhiều cây trồng trong các chậu nhỏ - cây xương rồng, cây thuốc là và một loại cây kỳ lạ có lá rộng bản như bằng cao su. Đồ đạc nặng nề, giả làm đồ cổ. Bàn dược phủ bởi một tấm vải màu đỏ gạch trông như một tấm thảm; trên đó, trước mỗi cái ghế có một cái bút và một tập giấy. Trên một cái kệ và whisky và soda. Peters tiến lại và rót rượu cho hai người uống. Leamas bất thần lên tiếng:
- Kể từ giờ phút này, tôi không cần giữ phép lịch sự nữa, anh hiểu không? Mình đã quá biết nhau, cả hai đều là dân chuyên nghiệp. Anh vừa vớ được một điểm chỉ viên vì tiền và tôi xin chúc anh may mắn. Vậy anh đừng giả vờ si mê tôi làm gì cho mất công.
Giọng chàng nghe có vẻ bực tức, không được tự tin. Peter gật đầu, nhận xét một cách thản nhiên:
- Kiever cho tôi hay anh là một người kiêu hãnh
Đoạn y vẫn không mỉm cười, nói tiếp:
- Vả lại, còn có lý do nào khác khiến người ta công kích bọn thương gia?
Leamas đoán y là người Nga, nhưng không chắc.. Y nói tiêng Anh gần như hoàn hảo. Y có vẻ thung dung và những thói quen của một người quen sống trong những tiện nghi của đời sống văn minh.
Họ ngồi vào bàn, Peters hỏi ngay vào đề:
- Kiever đã nói với anh về những gì tôi sẽ trả cho anh chứ?
- Rồi. Mười lăm ngàn Anh kim rút từ một ngân hàng tại Bern
- Phải.
- Anh ta nói, anh có thể hỏi thêm trong vòng một năm sau. Anh sẽ trả thêm năm ngàn nữa nếu còn cần đến tôi.
Peters gật đầu. Leamas tiếp lời:
- Tôi không nhận điều kiện đó. Anh biết và tôi cũng biết như thế không ổn. Tôi muốn lấy mười lăm ngàn và dứt khoát hẳn không còn dính líu gì nữa. Các anh có những biện pháp khắt khe với những nhân viên bội phản thì bên tôi cũng thế. Tôi không định ngồi chết dí tại St.Morizt trong khi các anh phá tan các màng lưới mà tôi đã cho các anh biết. Họ không phải là một lũ ngu, họ sẽ biết phải tìm ai. Nói tóm lại, anh và tôi đều biết họ đang theo dõi chúng ta.
Peters gật đầu:
- Dĩ nhiên anh có thể đến một nơi nào đó an toàn hơn, được không?
- Bên kia Bức Màn Sắt?
- Phải
Leamas chỉ lắc đầu và trở lại vấn đề chính:
- Tôi đoán anh sẽ cần khoảng 3 ngày để phỏng vấn sơ khởi. Rồi anh sẽ trở lại đây với đủ chi tiết
Peters đáp :
- Không cần phải như vậy
Leamas nhìn y nói vẻ thích thú:
- À, tôi hiểu. Họ đã cử đến đây một chuyên viên hay là Mạc tư khoa đang nhúng tay vào vụ này?
Peters im lặng, chỉ nhìn Leamas, cố tìm hiểu ý chàng. Cuối cùng y cầm bút chì trước mặt lên và bảo:
- Chúng ta sẽ bắt đầu với các công tác của anh thời kỳ chiến tranh?
Leamas nhún vai:
- Tuỳ anh
- Được rồi. Ta sẽ bắt đầu với các công tác thời kỳ chiến tranh của anh. Anh bắt đầu đi.
- Tôi gia nhập Công Binh năm 1939. Tôi vừa mãn khoá huấn luyện thì có thông báo mời những người giỏi sinh ngữ ghi tên phục vụ công tác chuyên môn ở ngoại quốc. Tôi biết tiếng Hoà Lan, tiếng Đức, khá giỏi tiếng Pháp và đã chán ngấy đời lính nên tôi liền ghi tên. Tôi biết rõ nước Hoà Lan, cha tôi đã có một đại lý dụng cụ cơ khí ở Leiden; tôi đã ở đó chín năm. Tôi đựơc phỏng vấn theo đúng thủ tục và học tại một trường gần Oxford, nơi họ dạy nghề này cho tôi.
- Ai điều hành trường huấn luyện đó?
- Về sau tôi mới biết. Rồi tôi gặp Steed Asprey và một cựu giáo sư Oxford tên Fielding. Họ cùng điều khiển trường huấn luyện. Năm 1941, họ thả dù tôi xuống Hoà Lan và tôi ở đó 2 năm. Hồi ấy chúng tôi bị mất nhân viên nhiều hơn con số chúng tôi có thể kiếm đựơc - đầy những vụ ám sát đẫm máu, Hoà Lan là một địa ngục đặc biệt cho những chuyện thuộc lọai này – nó không phải là một xứ có địa thế hiểm trở, không một nơi nào có thể dùng đặt bản doanh hay một đài truyền tin. Luôn luôn di động. Luôn luôn chạy trốn. Khiến cho tình hình trở thành một trò chơi dơ bẩn. Tôi dời Hoà Lan năm 1943 và sống vài tháng ở Anh. Rồi tôi đi Nauy – so với chuyến đi trước đây thì đây chỉ là một cuộc du ngoạn. Năm 1945, họ cho tôi về vườn và tôi quay lại Hoà Lan, cố kế nghiệp cha tôi. Công việc không xong nên tôi theo một người bạn cũ lúc đó đang làm cho hãng du lịch ở Bristol. Ở đây được 18 tháng, chúng tôi bị phá sản. Rồi trong lúc ngồi buồn, tôi đựơc Cơ Sở hỏi thăm tôi có muốn làm không. Nhưng tôi đã chán làm lắm rồi, tôi nghĩ vậy, nên tôi đã trả lời tôi sẽ suy nghĩ lại và mướn một ngôi nhà trên đảo Lundy. Tôi sống ở đấy một năm, chỉ biết nhìn cái bụng của mình ngày một phì ra, rồi lại chán ngấy nên tôi viết thư cho bọn họ. Cuối năm 1949, tôi lại có tên trong sổ lương. Dĩ nhiên, công vụ gián đoạn thì tiền thù lao cũng giảm và lại còn bị chê bai đủ điều. Tôi nói có mau lắm không?
Peters vừa rót thêm whisky cho chàng vừa nói:
- Bây giờ thì không. Dĩ nhiên mình sẽ bàn lại những chuyện đó với ngày tháng và danh tính.
Có tiêng gõ cửa và người đàn bà mang bữa ăn trưa vào, một bữa ăn khá thịnh soạn với thịt nguội, bánh mì và súp. Peters gạt tập giấy ghi chú của y sang một bên và họ ngồi trong im lặng. Cuộc thẩm vấn thế là đã bắt đầu.
Bữa ăn được dọn đi, Peters lại hỏi:
- Thế rồi anh quay lại với Cơ Sở?
- Phải. Trong một thời gian, họ cho tôi làm bàn giấy, duyệt các phúc trình, ước tính các lực lượng quân sự của quốc gia bên kia Bức Màn Sắt, theo dõi các đơn vị và các công tác, đại khái như thế.
- Ban nào?
- Vệ tinh Bốn. Tôi làm ở đấy từ tháng 2 năm 1950 đến tháng 5 năm 1951.
- Ai là đồng nghiệp của anh trong thời gian đấy?
- Peter Guiliam, Brian De Grey, George Smiley. Smiley li khai khỏi nhóm năm 1951 và gia nhập ngành Phản Gián. Tháng 5 năm 1951, tôi được cử tới Bá Linh với chức vụ C.D.A - tức Phó Kiểm soát viên khu vực, tức là tất cả các công tác hoạt vụ.
- Anh có những ai dưới quyền?
Peters viết thật nhanh. Leamas đoán y có lối tốc ký riêng.
- Hackett, Sarrow và De Jong. De Jong đã bị chết trong một tai nạn lưu thông năm 1951. Chúng tôi đoán anh ta bị ám sát nhưng không chứng minh được điều này. Tất cả bọn cùng điều hành tổ của họ một cách trôi chảy, và tôi vẫn thường kiểm soát họ. Anh còn muốn biết chi tiết gì không?
- Dĩ nhiên, nhưng sau này đã. Anh cứ nói tiếp tục.
- Cuối năm 1954, chúng tôi bắt được miếng mồi ngon tại Bá Linh. Fritz Feder, nhân vật quan trọng đứng hàng thứ hai trong Bộ Quốc phòng Đông Đức. Cho tới lúc đó tình hình vẫn gay go, nhưng đến tháng 9 năm 1954, chúng tôi vẫn vớ được Fritz. Anh ta chịu đựng được gần hai năm rồi một hôm chúng tôi mất liên lạc hẳn với anh ta. Tôi nghe nói anh ta đã chết trong khám. Rồi năm 1959, Karl Riemick bị lộ tẩy. Karl có chân trong Chủ tịch Đoàn của Đảng Cộng sản Đông Đức. Anh ta là nhân viên giỏi nhất trong số những người tôi đã từng biết.
Peters nhắc:
- Bây giờ y đã chết.
Một cảm giác xấu hổ thoáng qua gương mặt của Leamas. Chàng nói:
- Tôi có mặt tại đó khi anh ta bị bắn. Anh ta có một cô bạn gái đã qua khỏi giới tuyến trước khi anh ta chết. Anh ta đã cho cô bạn này biết hết mọi chuyện – cô ta biết rõ toàn thể màn lưới. Kể ra anh ta bị táng mạng cũng không đáng ngạc nhiên.
- Mình sẽ trở lại chuyện Bá Linh sau. Bây giờ anh hãy cho tôi biết điều này. Khi Karl chết, anh liền bay về Luân Đôn. Anh có Luân Đôn suốt thời gian còn lại trong công vụ hay không?
- Vâng, trong suốt thời gian còn lại.
- Anh giữ việc gì ở Luân Đôn?
- Ban Ngân sách. Coi sóc lương bằng cho các nhân viên, trả tiền tại ngoại quốc cho những mục tiêu mật. Một đứa bé cũng làm được việc đó. Chúng tôi nhận chỉ thị và ký vào giấy tờ. Thỉnh thoảng mới bị nhức đầu về vấn đề an ninh.
- Anh liên lạc thẳng với các địêp viên chứ?
- Làm sao có thể đựơc? Thường trú viên ở mỗi xứ sẽ làm một phiếu thỉnh cầu. Người có trách nhiệm sẽ đóng dấu trên đó và đưa qua cho chúng tôi lo việc trả tiền. Trong đa số các trường hợp chúng tôi chuyển tiền qua ngân hàng ngoại quốc nơi thường trú viên có thể tự ý rút tiền ra trao cho điệp viên.
- Các điệp viên được ghi danh như thế nào? Bằng bí danh?
- Bằng Bí số. Cơ Sở gọi đó là các tổ hợp. Mỗi màn lưới được cấp một số tổ hợp, mỗi điệp viên sẽ mang thêm số tổ hợp trước số hiệu của anh ta. Số tổ hợp của Karl là 8, kế đó là A.1
Leamas toán mồ hôi. Peters ngắm chàng một cách bình thản, đánh giá chàng như một con bạc chuyên nghiệp từ bàn bên kia. Leamas đáng giá bao nhiêu? Cái gì sẽ đánh ngã chàng? Chàng ghét cái gì? Và nhất là chàng biết những gì? Chàng có sẽ dành lá bài tẩy đến phút cuối để bán với một giá thật đắt không? Peters không nghĩ thế. Leamas đã mất bình tĩnh quá rồi, không thể nói loanh quanh được nữa. Chàng là một người đang bối rối với lương tri, một người chỉ có một cuộc đời, một niềm tin và đã phản bội cả hai thứ đó. Peters từng thấy những kẻ tương tự, ngay cả những người đã thay đổi hoàn toàn về ý thức hệ, những người trong bóng đêm âm thầm đã tìm thấy được một niềm tin mời và một mình, bị thúc đẩy bởi niềm tin mãnh liệt tận trong lòng, đã phản bội gia đình, tổ quốc của họ. Ngay cả họ, tâm hồn tràn đầy hăng hái và hy vọng mới cũng phải tranh đấu chống lại vết nhơ của sự phản bội, ngay cả họ cũng đã phải vật lộn với sự đớn đau gần như của thể chất khi nói ra những điều mà họ đã dược huấn luyện để không bao giờ tiết lộ. Cũng như những kẻ Hội giáo sợ không dám đốt Thập tự giá, họ lưỡng lự giữa bản năng và vật chất và Peters, giữa hai thái cực này, phải vừa làm cho họ nản ý vừa diệt lòng kiêu hãnh của họ. Đó là tình trạng mà cả hai bên đều biết, do đó Leamas đã kiên quyết cắt bỏ mối liên hệ nhân tính với Peters, vì lòng kiêu hãnh của chàng không cho phép Peters biểt rằng vì những lý do đó Leamas sẽ nói dối; có lẽ chỉ nói dối bằng cách bỏ bớt, nhưng cũng là nói dối, vì kiêu hãnh, vì thách đố, hoặc chỉ vì tính chất tà dị của nghề nghiệp chàng, và y, Peters sẽ phải khám phá cho bằng đựơc mọi điều dối trá. Y cũng biết rằng chính vì Leamas là một tay chuyên nghiệp, chàng có thể làm cho y bất lợi vì Leamas sẽ lựa chọn kỹ trong lúc Peters không muốn lựa chọn. Leamas sẽ tiên liệu loại tin tức tình báo mà Peters cần – và khi làm thế sẽ có thể bỏ qua một vài mẩu tin tình cờ nhiều khi lại là tin trọng yếu đối với ban lọc tin. Ngoài những điều này, Peters còn phải chịu đựng tính kênh kiệu, bốc đồng của một tên nghiện rượu hư hỏng. Y bảo:
- Bây giờ tôi sẽ đi vào chi tiết và công tác của an ở Bá Linh. Đó là khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1951 đến tháng 3 năm 1961. Anh hãy uống một ly nữa đi.
Leamas nhìn y lấy một điếu thuốc từ trên bàn và châm lửa. Chàng nhận được hai điều: Peters thuận tay trái, và một lần nữa y lại để điếu thuốc lên miệng với cái đầu có chữ chìa ra ngoài, để nó cháy trước. Đó là tác phong mà Leamas thích: nó chứng tỏ Peters cũng như chàng, từng trải trong nghề.
Peters có khuôn mặt rất lạ, vô cảm giác và nước da xám. Chắc y đã có nước da này từ lâu lắm – có lẽ trong một nhà tù nào đó vào những ngày đầu Cách Mạng – và lúc này nét mặt y đã biến thành cố hữu mà Peters sẽ giữ mãi cho đến chết. Chỉ có mái tóc cứng hoa râm sẽ bạc đi, nhưng mặt y sẽ không thay đổi. Leamas mơ hồ tự hỏi tên thật của y là gì? Y lập gia đình chưa? Có một cái gì rất chân thực nơi hắn mà Leamas thích. Đó là sự chân thực của sức mạnh, của lòng tin. Nếu Peters nói dối thì nhất định phải có một lý do. Điều dối trá sẽ đựoc tính toán, một điều dối trá cần thiết, khác hẳn với sự xảo trá vụng về của Ashe.
Ashe, Peters, Kiever đó là một sự thăng tiến về phẩm chất, về thẩm quyền và đối với Leamas là thứ bậc phải có một màn lưới điệp báo. Ngoài ra, theo ý chàng, đó cũng là một sự thăng tiến về ý thức hệ. Ashe là một tên đánh mướn, Kiever là kẻ phiêu lưu và bây giờ Kiever là con người mà cứu cánh với phương tiện chỉ là một.
Leamas bắt đầu nói với Bá Linh, Peters ít khi ngắt lời, ít khi hỏi hoặc bình phẩm, nhưng nếu có, y cho thấy một sự hiếu kỳ về nghề nghiệp và sự giám định hoàn toàn hợp với khí chất của Leamas. Leamas còn có vẻ đáp ứng cho sự đòi hỏi chuyên môn của kẻ thẩm vấn chàng. Đó là một điểm tương đồng của hai người.
Họ phải mất một thời gian mới thiết lập lại được một màn lưới đoàng hoàng tại khu vực Đông Bá Linh, Leamas giải thích. Trong những ngày đầu, thành phố đầy những nhân viên hạng thứ; tình báo bị xuống giá và thành một phần đời sống hàng ngày tại Bá Linh đến nỗi mình có thể tuyển một người trong buổi dạ tiệc, giải thích sự tình cho y nghe trong lúc ăn và y sẽ bị thải hồi trong buôi điểm tâm ngày hôm sau. Đối với một tay chuyên nghiệp, đó là một cơn ác mộng. Hàng chục cơ quan, một nửa hàng nhập bởi người của đối phương, hàng ngàn kẽ hở, quá nhiều mối dây, quá ít nguồn gốc, quá ít phạm vi để hoạt động. Họ đã hoạt động mạnh với Ferger năm 1954. Nhưng đến năm 1956, khi mỗi cơ quan tình báo đều kêu gào đòi hỏi tin tức hạng khá, họ lại xẹp xuống. Ferger đã làm họ hư sự với những tin tức và tài liệu hạng xoàng, chỉ hơn tin tức lượm ngoài đường một chút. Họ cần thứ thiệt – và họ phải đợi thời gian hơn ba năm sau mới đạt được.
Rồi một hôm De Jong đi picnic trong rừng ven Đông Bá Linh. Anh ta có bảng số quân đội Anh, anh ta đậu xe, khoá lại trên con đường đá cạnh bờ kênh. Sau buổi picnic, lũ con của anh ta xách giỏ chạy trước. Khi chúng đến gần xe, chúng ngừng lại, ngập ngừng, buông rơi chiếc giỏ và chạy trở lại. Có người đã nạy cửa xe – tay cầm bị bể và cửa mở hé. De Jong chửi thề, chợt nhớ đã để cái máy ảnh trong hộc xe. Anh ta liền xem xét chiếc xe. Tay cầm đã bị gãy. De Jong đoán nó đã bị nạy với một ống thép, thứ đồ mình có thể mang trong tay áo Nhưng máy ảnh vẫn còn, chiếc áo choàng cũng vậy, cho đến mấy cái bao đồ của vợ anh ta cũng còn đủ. Trên ghế của người lái là hộp thuốc lá bằng thiếc và trong hộp thiếc có một ống niken, De Jong biết rõ nó chứa đựng cái gì, đó là một cuốn phim của một máy ảnh tí hon, có lẽ hiệu Minox.
De Jong lái xe về nhà và rửa cuốn phim. Nó chứa các biên bản của buổi họp cuối của Chủ tịch Đoàn Đảng Cộng sản Đông Đức, tức SED. Do một sự tình cờ kỳ lạ, anh ta có thể kiểm chứng lại nguồn tin này; các bức hình đều là thật.
Leamas liền bắt tay lo việc. Chàng rất cần một thứ thành công. Chàng gần như chẳng làm đươợ trò trống gì từ khi đến Bá Linh và chàng đang vượt qua mức tuổi thông thường để giành trọn thời giờ vào công việc hoạt vụ. Đúng một tuần sau, chàng mang chiếc xe của De Jong lại chỗ cũ và đi dạo bộ.
Chỗ mà De Jong đã chọn cho buổi picnic là một khu rừng hiu quạnh, nơi một con kênh đào và vài hầm trú ẩn bị đạn cào xé, những bãi đất đầy cát khô và về phía đông là một rừng thông lưa thưa nằm cách con đường đá chạy dọc bờ kênh chừng hai ba trăm thước. Nhưng chỗ này có cái tốt là yên tĩnh - một điều khó kiếm được ở Bá Linh – và sự kiểm soát không thể thực hiện được, Leamas tản bộ trong rừng. Chàng không tìm cách coi chừng chiếc xe vì không biết người kia có thể tiến lại bằng hướng nào. Nếu y bắt gặp chàng từ trong rừng nhìn ra canh chừng chiếc xe, có thể y mất tin tưởng nơi chàng Chàng không cần phải lo lắng.
Khi chàng quay lại, không có gì trong xe nên chàng tự lái xe quay về Tây Bá Linh và tự trách mình ngu xuẩn. Chủ tịch đoàn phải nửa tháng sau mới họp lại. Ba tuần sau, chàng mượn xe của De Jong và mang theo 1.000 đô la giấy hai mươi trong một cái bao đi picnic. Chàng để xe không khoá trong hai giờ đồng hồ và khi quay lại, có một hộp thuốc lá bằng thiếc trong xe, và cái bao picnic đã không còn.
Phim đầy những tài liệu quý giá. Và trong sáu tuần sau đó, chàng làm thêm hai lần nữa, và chuyện xảy ra y hệt như tuần trước.
Leamas biết mình đã trúng mỏ vàng. Chàng đặt cho nguồn tin may mắn này cái bí danh “Mayfair” và gửi một lá thư bi quan về Luân Đôn. Chàng biết, nên hé cho Luân Đôn nửa câu chuyện là đủ để họ tự nhảy vào điều khiển câu chuyện, điều này chàng làm mọi cách để tránh. Đây có lẽ là hoạt động duy nhất cứu chàng khỏi bị cho về vườn, và cũng chính là loại đủ quan trọng để Luân Đôn muốn nhảy vào tự lo liệu lấy. Dù chàng có giữ họ ở xa ra thì cũng có cái nguy là Cơ sở sẽ đặt giả thiết, đưa đề nghị, khuyên cẩn trọng, hối thúc hành động. Họ sẽ muốn chàng cho toàn giấy bạc mới để mong theo dấu đựơc, sẽ muốn các cuốn phim được gửi về để điều tra thêm, sẽ soạn những kế hoạch theo dõi mật vụ vụng về và cho các Bộ biết. Nhất là họ muốn các Bộ biết, và như thế, theo ý Leamas sẽ hỏng hết việc. Chàng đã làm việc như một tên điên trong ba tuần. Chàng lục lạo các hồ sơ cá nhân của các thành viên trong Chủ tịch đoàn. Chàng lập danh sách những nhân viên văn phòng có thể lấy được biên bản, trừ danh sách phân phối trên trang cuối của bản mô tả, chàng kê tới 31 nhân viên có thể là người cung cấp tin, kể cả thư ký.
Đứng trước công việc gần như không thể thực hiện được là xác nhận một người đưa tin trong số hồ sơ không đầy đủ của 31 ứng viên, Leamas quay lại với tài liệu nguyên thuỷ mà theo chàng là việc đáng lẽ phải làm sớm hơn. Có điều khó nghĩ là trong các phóng ảnh biên bản đã nhận được, không có cái nào được đánh số trang, không có cái nào được đóng dấu mật, và trong bản thứ hai và thứ tư có chữ bị gạch đỏ bằng bút chì hoặc bút màu. Cuối cùng chàng đi tới một quyết định quan trọng: các phóng ảnh không phải được sao lại từ chính các biên bản cuộc họp mà từ các bản thảo của biên bản. Điều này cho thấy giả thuyết tin tức xuất phát từ các thư ký, thành một giả thuýêt không vững.. Các bản thảo biên bản đã được chụp lại một cách cẩn thận, khéo léo. Điều này cho thấy người chụp rất có thể đã có thì giờ và một phòng riêng.
Leamax xem lại bản danh sách các nhân viên. Có một người tên Karl Riemeck trong Bí thư đoàn, trước là một trung sĩ quân y, ba năm làm tù binh chiến tranh của Anh. Em gái của y đang sống ở Poremania khi quân Nga tràn tới, và y từ đó không nghe tin tức gì về cô ta nữa. Y đã kết hôn và có một đứa con gái lên là Carla.
Leamas quyết định liều một phen. Chàng nhờ Luân Đôn tìm được số tù của Riemeck là 29012, và ngày phóng thích là 10-12-1945. Chàng mua một cuốn sách khoa học giả tưởng loại dành cho trẻ em ở Đông Đức và viết lên mặt trong của tờ bìa mấy câu bằng tiếng Đức có tuồng chữ của một thiếu niên: “Quyển sách này là của Carla Riemeck, sinh ngày 10-12-1945 ở Bideford, Bắc Devon. Ký tên: Moonspacewoman 29012. Và dưới đó chàng ghi thêm: Các ứng viên muốn dự chuyến bay không gian phải đích thân đến trình diện với C.Riemeck để nhận chỉ thị. Mẫu đơn đính kèm. Cộng hoà nhân dân không gian dân chủ muôn năm”.
************** * * * * * *
Chương VIII phần 2
Chàng vạch mấy lằn dọc trên một tờ giấy, thành các cột tên tuổi và địa chỉ, rồi viết ở cuối trang:
Mỗi ứng viên sẽ được tiếp kiến riêng. Viết đến địa chỉ thường lệ cho biết ngày giờ và địa điểm muốn gặp. Đơn sẽ được cứu xét trong bảy ngày.
Leamas gấp tờ giấy trong quyển sách, chàng lái xe đến địa điểm thường ngày, vẫn bằng xe của De Jong, và để cuốn sách trên ghế người lái với năm tờ giấy 100 Mỹ kim cũ dưới bìa sách. Khi Leamas quay lại, quyển sách không còn và có một hộp thuốc lá bằng thiếc để lại. Hộp đựng ba cuốn phim, Leamas rửa tất cả trong đêm đó: một cuốn chụp các biên bản họp thông thường về cuộc họp vừa qua Chủ tịch Đoàn, cuốn thứ nhì cho thấy một bản thảo duyệt lại mối liên hệ giữa Đông Đức và COMECON, cuốn thứ ba là một bản phân bảy cơ quan tình báo của Đông Đức, đầy đủ nhiệm vụ các bộ phận và chi tiết của từng nhân vật
Peters ngắt lời:
- Khoan. Anh muốn nói là tất cả tin tình báo này đều đến từ Reimeck?
- Sao không? Anh biết là y đã thấy được nhiều thứ chứ?
Peters nhận xét, gần như với chính y:
- Khó có thể được. Hắn phải có người giúp.
- Sau này hắn có. Tôi sắp nói đến chỗ đó.
- Tôi biết anh sắp nói với tôi những gì. Nhưng anh không hề có cảm tưởng rằng y được sự giúp đõ từ phía trên, cũng như từ các nhân vật sau này hắn thu được?
- Không, không hề. Tôi không hề nghĩ như thế.
- Bây giờ nghiệm lại, anh thấy có thể như thế không?
- Không hẳn.
- Khi anh gửi các tài liệu này về cơ sở, họ không nghĩ rằng dù với một người có địa vị như Riemeck, tin tức tình báo đó quá đặc biệt sao?
- Không.
- Họ không bao giờ hỏi Riemeck lấy máy ảnh ở đâu, ai chỉ hắn cách chụp hình tài liệu sao?
Leamas ngập ngừng:
- Không, tôi chắc chắn là họ không hề hỏi.
Peters lạnh lùng:
- Hay lắm. Xin anh cứ tiếp tục. Tôi không muốn đoán trước ý anh.
Leamas tiếp tục câu chuyện.
Đúng một tuần sau chàng lái xe tới con kinh và lần này chàng cảm thấy lo ngại. Khi chàng rẽ vào con đường trải sỏi, chàng thấy ba chiếc xe đạp nằm trên cỏ và cách đó chừng hai trăm thước, trên bờ kinh có ba người đàn ông đang ngồi câu cá. Chàng ra khỏi xe như thường lệ và bắt đầu đi bộ về phía rặng cây bên kia cánh rừng. Chàng đi được chừng hai mươi thước thì nghe có tiếng gọi. Chàng quay lại và thấy một người trong bọn đang vẫy mình. Hai người kia cũng quay lại nhìn chàng. Leamas mặc chiếc áo mưa cũ, chàng đang để tay trong túi và không kịp rút tay ra. Chàng biết hai người đàn ông đứng hai bên đang che cho người ở giữa và nếu chàng rút tay ra khỏi túi, họ sẽ có thể bắn chàng; họ sẽ nghĩ chàng đang thủ một khẩu súng trong túi. Leamas dừng lại, cách người đàn ông đứng giữa chừng mười thước, chàng hỏi:
- Ông cần việc gì?
- Ông là Leamas?
Y là một người thấp, đẫy đà, rất vững chắc. Y nói tiếng Anh, Leamas đáp:
- Phải.
- Số căn cước Anh Quốc của ông là gì?
- PRT gạch L 58003 gạch I
- Đêm VJ anh ngủ ở đâu?
- Ở Leiden bên Hoà Lan, tiệm của cha tôi, với vài người bạn Hoà Lan.
- Ông Leamas, mình hãy đi dạo một vòng, ông không cần mặc áo mưa. Ông hãy cởi ra và để trên mặt đất, chỗ ông đang đứng. Các bạn tôi sẽ canh chừng nó.
Leamas ngập ngừng, nhún vai và cởi áo mưa.Rồi họ bước mau về phía cánh rừng.
Leamas mệt mỏi nói:
- Anh biết rõ cũng như tôi anh ta là ai, người thứ ba trong Bộ Nội Vụ, Bí thư chủ tịch Đoàn SED, Trưởng Ban phối trí bảo vệ nhân dân. Tôi cho là vì thế mà anh ta biết về De Jong và tôi. Anh ta đã thấy hồ sơ phản gián của chúng tôi ở Abteilung. Anh ta có ba ưu thế trong tay: Chủ tịch Đoàn, quyền được báo cáo thẳng về kinh tế và chính trị nội bộ, quyền được xem xét các hồ sơ của cơ quan An ninh Đông Đức.
Peters nhấn mạnh:
- Nhưng chỉ có giới hạn. Họ không bao giờ để một người ngoài cơ quan được duyệt qua các hồ sơ.
Leamas nhún vai:
- Họ đã để
- Anh ta làm gì với số tiền kiếm được?
- Sau buổi chiều đó tôi không cho anh ta tiền nữa. Cơ sở đã nhảy vào và tự lo mọi việc. Tiền trả tại ngân hàng Đông Đức. Anh ta còn trả lại tôi số tiền tôi đã đưa cho anh ta. Luân Đôn đã gửi tiền vào tài khoản của anh ta.
- Anh nói với Luân Đôn tới mức độ nào?
- Tất cả mọi việc sau đó. Tôi đành phải làm vậy. Cơ sở đã cho Bộ biết.
Leamas nói thêm một cách căm hận:
- Sau đó sự suy sụp chỉ là một vấn đề thời gian. Có các Bộ đứng sau lưng, Luân Đôn quá tham lam. Họ bắt đầu hối thúc chúng tôi lấy thêm nữa. Họ muốn cho anh ta thêm tiền. Sau cùng chúng tôi phải đề nghị với Karl rằng anh ta nên tuyển thêm một vài người nữa, và chúng tôi hướng dẫn họ lập thành màn lưới. Thật vô cùng ngu xuẩn, như thế khiến Karl thêm nhọc, khiến cho anh ta lâm nguy, phải huỷ lòng tin cậy của anh ta với chúng tôi. Đó là khởi thuỷ của một đoạn kết.
- Anh khai thác anh ta được bao nhiêu?
- Bao nhiêu à? Trời ơi tôi cũng không biết nói sao nữa. Thời gian chịu đựng của anh ta kéo dài một cách khác thường. Tôi tưởng anh ta bị lộ từ lâu trước khi anh ta bị bắt. Trong mấy tháng sau cùng, mức hữu dụng giảm hẳn, chắc là họ đã bắt đầu nghi ngờ anh ta và không cho anh ta tham dự các buổi họp quan trọng nữa.
Peters vẫn hỏi tới:
- Dẫu sao thì anh ta đã cung cấp cho anh những gì?
Theo đúng thứ tự, Leamas kể lại toàn bộ công việc của Karl Riemeck theo đúng thứ tự. Trí nhớ của chàng – theo Peters - thật chính xác nếu đem so với lô rượu mà chàng uống. Chàng có thể nhớ đựơc tên người và ngày tháng, nhớ rõ những phản ứng của Luân Đôn, bản chất của sự phối kiểm những lúc cần. Chàng có thể nhớ được các số tiền đòi và trả ngày các nhân viên khác vào làm trong màn lưới.
Leamas vẫn giữ vững lập trường và bất thần nổi giận:
- Anh ta có thể lắm chứ. Anh ta đã tỏ ra rất được việc nhờ xoay trở giỏi.
- Và Cơ sở không hề bảo anh làm sáng tỏ vụ đó hay sao? Về cách anh ta tìm được tài liệu và tìm vào lúc nào?
Leamas cau có:
- Không, Reimeck rất nhạy cảm về chuyện này và Luân Đôn bằng lòng cứ để nguyên như vậy.
Peters trầm ngâm:
- Được, được…
Một lúc sau, Peters chợt hỏi:
- À, anh nghe nói về người đàn bà đó chứ?
Leamas sẵng giọng hỏi lại:
- Người đàn bào nào?
- Nhân tình của Karl Riemeck, người đã qua Tây Bá Linh vào đêm Riemeck bị bắn.
- Rồi sao nữa?
- Cô ta chết tuần trước. Bị ám sát. Bị bắn trên một chiếc xe hơi khi cô ta rời khỏi phòng.
Leamas nói một cách máy móc:
- Trước là phòng tôi đó.
Peters phỏng đoán:
- Không chừng cô ta biết rõ màn lưới của Riemeck hơn anh.
Leamas gặng hỏi:
- Anh muốn nói cái mẹ gì vậy?
Peters nhún vai:
- Thật kỳ lạ. Tôi băn khoăn không hiểu nổi ai muốn giết cô ta.
Khi họ đã nói hết về trường hợp của Riemeck, Leamas bắt đầu nói về các nhân viên khác nhưng chuyện kém li kì hơn, rồi nói về quy củ hoạt động ở văn phòng của chàng tại Bá Linh, với các phương tiện truyền tin, với toàn thể nhân viên, với các chi nhánh mật, nhà ở, cách chuyển vận, dụng cụ chụp hình và ghi âm. Họ nói chuyện đến khuya và suốt ngày hôm sau. Rồi sau cùng, khi Leamas nhảy vào phòng ngủ đêm kế tiếp, chàng biết mình đã bội phản về tất cả những gì chàng biết được về tình báo Đồng Minh tại Bá Linh và đã uống hai chai whisky trong hai ngày.
Có điều làm chàng khó nghĩ: là Peter chắc chắn rằng Karl có người hỗ trợ - chắc y phải có một cộng tác viên vào hàng cao cấp. Control cũng hỏi chàng câu đó – bây giờ chàng mới chợt nhớ ra – Control đã hỏi về sự trợ giúp mà Karl đã nhận được. Tại sao cả hai cùng chắc chắn rằng Karl không xoay trở một mình. Dĩ nhiên anh ta có người giúp, chẳng hạn hai người lính gác hôm Leamas gặp cạnh bờ kinh. Nhưng đó chỉ là hạng cắc ké – Karl đã cho biết như vậy. Nhưng Peters, dầu sao Peters cũng biết tầm tin tức chính xác mà Karl đã đoạt được – Peters lại không chịu tin rằng Karl đã hoạt động một mình. Về điều này, hiển nhiên Peters và Control cùng chung ý nghĩ.
Có lẽ thế thực. Có lẽ còn một người khác. Có lẽ đó chính là nguồn lợi đặc biệt mà Control đang bảo vệ cho khỏi lọt vào tay Mundt. Điều này có nghĩa là Karl Riemeck đã cộng tác với con người đặc biệt đó và cung cấp những gì cả hai đã chung sức lấy được. Có lẽ đó là điều Control nói riêng với một mình Karl tối hôm nọ trong phòng Leamas tại Bá Linh.
Dù sao ngày mai sẽ biết rõ. Ngày mai chàng sẽ ra tay.
Chàng băn khoăn ai đã giết Elvira Và chàng băn khoăn tại sao người ta giết nàng. Dĩ nhiên – đây là một điểm, đầy là một lối giải thích khả chấp. Elvira, vì biết lý lịch cộng tác viên đặc biệt của Karl, nên đã bị chính cộng tác đó giết…Không, suy luận đó xa quá. Nó bỏ qua không xét đến sự khó khăn của việc di chuyển từ Đông sang Tây, dẫu sao thì Elvira cũng đã bị giết tại Tây Bá Linh.
Chàng tự hỏi vì sao Control không hề cho biết Elvira đã bị ám sát. Như thế chàng có thể đối phó thích ứng khi Peters hỏi chuyện. Suy nghĩ nhiều chỉ vô ích, Peters có những ý riêng của ông ta, thông thường những lý do này rất quanh co, mà phải mất cả tuần mới nghĩ ra đựơc.
Khi thiếp ngủ, chàng lẩm bẩm:
- Karl là một thằng ngu. Con mẹ đàn bà đó đã giết hắn, chắc chắn con mẹ đó đưa hắn đến chỗ chết.
Elvira giờ đã chết cũng đáng đời. Chàng chợt nhớ tới Liz.
★
★
★
★
★
0