KHI ARREN TỈNH DẬY, một màn sương xám đã che phủ mặt biển, những đụn cát và dãy đồi của đảo Selidor. Những ngọn sóng vỗ bờ rì rầm kéo tới qua màn sương, tạo thành những tiếng ầm vang khe khẽ, rồi lại rì rầm rút về phía màn sương. Thủy triều đã lên, và bãi cát đã hẹp lại nhiều so với khi họ mới đến; đường bọt nước nhỏ xíu ở đầu ngọn sóng phả lên cả bàn tay trái đang duỗi ra của Ged, trong khi ông nằm úp mặt xuống cát. Quần áo, đầu tóc ông đều ướt đẫm, và quần áo của Arren cũng dính chặt vào người, lạnh buốt, như thể nước biển đã phủ trùm lên họ ít nhất là một lần. Không còn thấy sót lại chút gì dấu vết xác chết của Cob nữa. Có lẽ sóng biển đã kéo nó xuống nước. Nhưng sau lưng Arren, khi cậu quay đầu lại, thi thể màu xám của Orm Embar vẫn vươn lên khổng lồ, mờ nhạt trong màn sương, như một tòa tháp điêu tàn.
Arren đứng lên, run rẩy vì lạnh; cậu gần như không đứng vững nổi vì lạnh, vì người cứng đờ, và một cảm giác choáng váng yếu ớt giống như sau khi ta nằm một lúc thật lâu mà không cử động. Cậu bước đi lảo đảo như người say. Ngay khi đã điều khiển được tay chân mình, cậu đến chỗ Ged và kéo ông lên bờ cát, cách xa tầm với của sóng biển, nhưng cậu cũng chỉ làm được có vậy. Cậu thấy Ged sao mà nặng và lạnh đến thế; cậu đã cõng ông ngang qua ranh giới của cõi chết để trở về dương thế, nhưng có lẽ đó chỉ là một việc làm vô ích. Cậu áp tai vào ngực Ged, nhưng không thể cho tay chân mình hết run và răng thôi va vào nhau lạch cạch, để lắng nghe tiếng tim ông đập. Cậu lại đứng lên, cố giậm chân mấy cái cho hơi ấm dồn xuống chân, rồi, cuối cùng, run rẩy, kéo lê chân như một ông già, cậu đi tìm bọc hành lý của họ. Cách đây dường như đã lâu lắm rồi, họ đã bỏ hai bọc hành lý lại bên một dòng suối nhỏ chảy xuống từ rặng đồi, khi họ đi đến chỗ túp lều bằng xương. Cậu muốn tìm lại dòng suối đó, vì giờ cậu không thể nghĩ tới cái gì khác ngoài nước, nước ngọt lành, trong mát.
Cậu đến được chỗ dòng suối sớm hơn là cậu tưởng, nhìn thấy nó chảy xuống bãi cát, rồi luồn lách đến tận mép biển, rẽ nhánh ra như một thân cây ánh bạc. Cậu gục xuống uống lấy uống để, vục cả mặt và tay vào dòng nước, hút lấy làn nước mát vào miệng và vào tâm hồn mình.
Mãi một lúc sau cậu mới ngồi dậy, và nhìn thấy, ở phía bên kia bờ suối, là một con rồng khổng lồ.
Cái đầu màu xám sắt của nó, có những vệt đỏ như gỉ sắt ở quanh lỗ mũi, hốc mắt và quai hàm, đang quay về phía cậu, gần như ở ngay bên trên đầu cậu. Bộ vuốt của nó cắm sâu vào lớp cát mềm, ướt bên bờ suối. Cậu chỉ thoáng thấy cặp cánh gập lại như hai tấm buồm, nhưng toàn bộ chiều dài tấm thân sẫm màu của nó thì đã bị khuất lấp trong màn sương.
Nó không hề nhúc nhích. Nó có thể đã ngồi đó hàng giờ, hàng năm, hàng thế kỷ. Nó nom như được tạc bằng thép, chạm bằng đá - nhưng cặp mắt, cặp mắt mà cậu không dám nhìn vào, thì lại như một lớp dầu cuộn xoáy trên nước, như làn khói vàng sau một tấm kính, cặp mắt mờ đục, sâu thẳm, vàng rực, đang chăm chú quan sát Arren.
Cậu không thể làm gì cả; vì vậy cậu đứng lên. Nếu con rồng định giết cậu thì nó sẽ làm vậy; còn nếu nó không muốn giết cậu thì cậu sẽ tìm cách cứu Ged, nếu còn có thể cứu được. Cậu đứng dậy và đi ngược lên đầu dòng suối để tìm túi hành lý của họ.
Con rồng không làm gì. Nó cứ ngồi bất động ở đó và nhìn cậu. Arren tìm thấy hai túi hành lý, đổ đầy nước suối vào hai chiếc bao da, rồi đi ngang qua bãi cát đến chỗ Ged. Cậu mới chỉ đi xa khỏi dòng suối có vài bước thì con rồng đã chìm vào màn sương.
Cậu cho Ged uống nước, nhưng không thể đánh thức ông dậy. Ông nằm sóng soài, người lạnh giá, đầu trĩu nặng trên tay Arren. Gương mặt sạm nâu của ông giờ xám ngoét, mũi, gò má và những vết sẹo cũ nổi hẳn lên. Ngay cả thân thể ông nom cũng gầy guộc, cháy nắng, tựa như đã bị tàn phá mất một nửa.
Arren ngồi đó, trên bãi cát ẩm, đầu người bạn đồng hành đặt trên đầu gối cậu. Màn sương tạo thành một khối cầu êm ái, mờ ảo xung quanh họ, ở trên cao thì hơi sáng hơn một chút. Đâu đó trong màn sương kia là thi thể của con rồng Orm Embar, và con rồng còn sống đang ngồi đợi bên dòng suối. Và đâu đó ở đầu bên kia của đảo Selidor, thuyền Trông Xa đang nằm trên một bãi biển khác, trong thuyền không còn chút lương thực nào. Rồi sau đó, xa hơn nữa về phía Đông, thì chỉ còn biển cả. Có lẽ họ đang ở cách bất kỳ hòn đảo nào khác của vùng Tây Hải ít nhất là ba trăm dặm; cách biển Nội Địa một ngàn dặm. Quãng đường mới xa làm sao. “Xa như Selidor vậy,” ở Enlad có một câu nói như thế. Những câu chuyện cổ tích của đám trẻ con, những truyền thuyết, đều bắt đầu bằng, “Vào thời xưa như lúc vĩnh hằng và ở một nơi xa như Selidor, có một chàng hoàng tử...”
Cậu là một hoàng tử. Nhưng trong những câu chuyện cổ, đó là đoạn mở đầu; còn đây thì dường như đã là hồi kết.
Cậu không thấy nản lòng. Mặc dù đã kiệt sức và đang đau đớn thương xót cho người bạn đồng hành của mình, cậu vẫn không hề có chút cay đắng hay hối hận nào. Chỉ có điều là cậu không thể làm gì được nữa. Tất cả những điều có thể làm thì đã được làm rồi.
Cậu tự nhủ, khi nào lại sức, cậu sẽ thử câu cá ở gần bờ bằng sợi dây câu trong bọc hành lý của mình; vì khi cơn khát dịu đi, cậu bắt đầu cảm thấy cơn đói cào xé ruột gan mình, mà thức ăn của họ thì đã cạn, chỉ còn lại một bọc bánh mì cứng. Cậu sẽ để dành chỗ bánh mì ấy, vì nếu cậu nhúng và ngâm nó vào nước cho mềm thì có lẽ cậu sẽ đút được một ít cho Ged.
Và cậu chỉ có thể làm được đến vậy. Xa hơn thế thì cậu không nhìn được gì nữa; màn sương đã phủ dày khắp xung quanh cậu.
Trong lúc khom mình ngồi đó bên cạnh Ged, cậu sờ soạng trong túi xem mình có thứ gì hữu ích không. Trong túi áo của cậu có một vật cứng, sắc cạnh. Cậu lôi ra và ngạc nhiên ngắm nhìn nó. Đó là một hòn đá nhỏ, đen sì, lỗ chỗ như tổ ong, rất cứng. Suýt nữa cậu đã ném nó đi. Rồi cậu cảm thấy những cạnh đá sắc trong tay mình, xù xì, rát bỏng, cảm thấy sức nặng của nó, và nhận ra nó chính là một hòn đá của Rặng Núi Đau Thương. Nó đã rơi vào túi áo cậu trong khi cậu trèo lên hoặc là khi cậu bò đến mép vực cùng với Ged. Cậu cầm nó trong tay, vật muôn đời không thay đổi đó, hòn đá đau thương ấy. Cậu nắm chắc bàn tay lại, giữ chặt nó. Rồi cậu mỉm cười, một nụ cười vừa nghiêm trang vừa vui sướng, vì lần đầu tiên trong đời, một mình, không được ai ca ngợi, và ở nơi cùng trời cuối đất, cậu đã biết được cảm giác chiến thắng.
Màn sương mờ nhạt và tan dần đi. Qua lớp sương, ở đằng xa, cậu đã nhìn thấy ánh nắng trên mặt biển rộng. Đụn cát và những rặng đồi lúc ẩn lúc hiện, màn sương khiến chúng nom như to lớn hơn và không có màu sắc gì rõ rệt. Ánh nắng chói lọi chiếu lên tấm thân của Orm Embar, vẫn lẫm liệt oai phong ngay cả khi đã chết.
Con rồng màu xám sắt vẫn nằm phục bên bờ suối, không hề nhúc nhích.
Đến quá trưa, mặt trời hiện ra rõ ràng, ấm áp, xua tan lớp sương mờ cuối cùng còn sót lại. Arren cởi bộ quần áo ướt ra hong cho khô, trên mình không mặc gì ngoài sợi đai gươm và thanh gươm đeo ngang lưng. Cậu cũng hong quần áo của Ged dưới ánh mặt trời như vậy, nhưng bất chấp luồng hơi ấm và ánh nắng tuyệt diệu, êm ái, dễ chịu đang tràn lên người Ged, ông vẫn nằm im.
Bỗng vang lên một âm thanh như tiếng kim loại cọ xát vào nhau, tiếng lanh canh của hai thanh gươm khi va chạm. Con rồng màu xám sắt đã đứng lên trên bốn cái chân cong cong. Nó bước qua dòng suối, kéo lê tấm thân dài qua bãi cát, tạo thành một tiếng rít nhè nhẹ. Arren nhìn thấy những vết nhăn ở vai nó, nhìn thấy những vết sẹo và vết cào ở lớp vảy bên sườn nó, cũng giống như ở bộ áo giáp của Erreth-Akbe, thấy răng nó đã vàng và cùn hết. Nhờ vào những điều đó, cùng với cách cử động cả quyết, chậm rãi và sự bình thản sâu xa đến mức đáng sợ của nó, cậu thấy được dấu hiệu của tuổi tác: của một tuổi tác lâu đời, của những năm tháng dài hơn cả trí nhớ của con người có thể khắc ghi nổi. Vì vậy khi con rồng dừng lại cách chỗ Ged nằm vài bước, và Arren đứng dậy, đi đến giữa cả hai, cậu liền hỏi, bằng tiếng Hardic, vì cậu không biết Cổ Ngữ, “Người có phải là Kalessin không?”
Con rồng không nói gì, nhưng dường như nó mỉm cười. Rồi, cúi cái đầu khổng lồ của mình xuống, vươn dài cổ ra, nó nhìn Ged và gọi tên ông.
Giọng nó rất vang, nhưng rất nhẹ nhàng, và có mùi khét như cái bễ của ông thợ rèn.
Nó gọi lại một lần nữa, rồi một lần nữa; nó gọi đến lần thứ ba thì Ged mở mắt. Một thoáng sau, ông cố ngồi dậy, nhưng không ngồi lên nổi. Arren quỳ bên cạnh ông, đỡ ông dậy. Rồi Ged lên tiếng. “Kalessin,” ông nói, “ senvanissai’n ar Roke! ” Nói xong ông như không còn chút hơi sức nào nữa; ông phải tựa đầu vào vai Arren và nhắm mắt lại.
Con rồng không đáp. Nó vẫn nằm khom mình như lúc trước, không nhúc nhích. Sương mù lại kéo tới, che phủ vầng mặt trời đang dần chìm xuống biển.
Arren mặc quần áo cho Ged và quàng chiếc áo khoác lên người ông. Thủy triều vừa rút xuống thấp giờ đã lại dâng lên, và cậu nghĩ đến chuyện đưa người bạn đồng hành của mình lên khoảng đất khô ráo hơn trên đụn cát, vì cậu cảm thấy mình đã lại sức.
Nhưng khi cậu cúi xuống định nâng Ged dậy thì con rồng chìa ra một bàn chân lớn phủ vảy, gần như chạm vào cậu. Trên bàn chân đó có bốn cái móng, đằng sau là một cái cựa như chân gà trống, nhưng những cái móng ấy cứng như thép, và dài như lưỡi hái.
“ Sobriost ,” con rồng nói, giọng vang lên nghe tựa tiếng gió tháng Giêng xào xạc thổi qua đám lau sậy đóng băng.
“Hãy để cho chủ nhân của ta yên. Ông ấy đã cứu tất cả chúng ta, đã phải bỏ cả sức lực, và có lẽ là cả tính mạng mình nữa, để làm vậy. Hãy để ông ấy yên!”
Arren kêu lên như vậy, vẻ giận dữ đầy quyền uy. Cậu đã phải chịu khiếp hãi và sợ sệt quá nhiều rồi, nỗi kinh hoàng đã tràn đầy trong cậu, đến độ cậu cảm thấy chán ngán nỗi sợ và không sao chịu nổi nữa. Cậu nổi giận với con rồng vì sức mạnh thể xác và tầm vóc to lớn của nó, vì lợi thế bất công của nó. Cậu đã nhìn thấy cái chết, đã nếm trải cái chết, và không còn lời đe dọa nào có thể làm cậu sợ hơn được nữa.
Con rồng già lão Kalessin liếc nhìn cậu bằng một con mắt dài, vàng rực, khủng khiếp. Trong bề sâu của con mắt ấy là hàng bao nhiêu năm tháng thời gian; thuở khai sinh của thế giới cũng nằm trong đó. Tuy Arren không nhìn vào đó, cậu vẫn biết nó đang nhìn cậu với vẻ thích thú hiền từ nhưng cũng vô cùng uyên thâm.
“ Arw sobriost ,” con rồng nhắc lại, và cái mũi đỏ màu gỉ sắt của nó nở rộng ra đến nỗi hơi lửa được cất giấu và dồn nén trong đó lóe lên.
Arren đã luồn tay xuống bên dưới vai Ged, đang định nâng ông lên, khi cử chỉ của Kalessin ngăn cậu lại, và giờ cậu cảm thấy đầu Ged hơi quay sang bên một chút, rồi nghe thấy ông nói, “Nó có nghĩa là, trèo lên đây.”
Trong một khoảnh khắc Arren không nhúc nhích. Thật là điên rồ. Nhưng bàn chân lớn với bộ vuốt sắc vẫn đang chìa về phía cậu như một bậc thang; bên trên đó là chỗ khoeo chân, và bên trên nữa là cái vai nhô ra cùng với khoảng bắp thịt nơi cặp cánh vươn lên từ bả vai: đúng bốn bậc, một chiếc cầu thang. Và kia, phía trước cặp cánh cùng cái gai lớn, cứng như thép, cái gai đầu tiên trong số những chiếc gai mọc trên sống lưng nó, trong cái hõm trên cổ nó, là chỗ vừa đủ cho một hoặc hai người ngồi. Nếu đó là những người mất trí, không còn hy vọng gì khác, đành phó mặc tất cả cho sự rồ dại.
“Trèo lên đi!” Kalessin nói bằng Cổ Ngữ Kiến Tạo.
Vậy là Arren đứng lên và đỡ người bạn đồng hành của mình dậy. Ged ngẩng cao đầu, rồi, tựa vào cánh tay của Arren, ông trèo lên được những bậc thang kỳ lạ đó. Họ ngồi chân giạng ra hai bên cái hõm phủ giáp cứng trên cổ con rồng, Arren ở phía sau, sẵn sàng đỡ lấy Ged nếu cần thiết. Khi chạm vào da con rồng, cả hai đều cảm thấy một hơi ấm trào lên trong người, một hơi ấm dễ chịu như ánh nắng mặt trời: sức sống đang cháy rực tựa một ngọn lửa bên dưới lớp vảy cứng như sắt ấy.
Arren nhận thấy họ đã bỏ lại cây quyền trượng bằng gỗ thủy tùng của vị pháp sư, đang nằm lấp một nửa trong lớp cát; thủy triều kéo vào cuốn nó dần ra biển. Cậu toan trèo xuống để lấy nó, nhưng Ged ngăn cậu lại. “Bỏ nó lại đi. Ta đã dùng hết mọi quyền năng của ta ở dòng sông cạn đó rồi, Lebannen à. Giờ ta không còn là pháp sư nữa.”
Kalessin quay lại liếc nhìn họ; trong mắt nó như có một nét cười tự ngàn xưa. Kalessin là giống đực hay cái thì không ai có thể biết được; Kalessin đang nghĩ gì thì cũng không ai có thể đoán được. Cặp cánh của nó chậm rãi giương lên, mở rộng ra. Chúng không vàng óng như cánh Orm Embar mà lại có màu đỏ, đỏ ối như màu gỉ sắt, hay máu, hay thứ lụa điều của đảo Lorbanery. Con rồng thận trọng vươn cánh để khỏi làm hai vị hành khách nhỏ bé trượt xuống. Cũng rất thận trọng nó nhổm cái hông khổng lồ lên để lấy đà, nhảy lên không trung như một con mèo, rồi vỗ cặp cánh lớn và đưa họ vượt lên trên màn sương đang bao trùm khắp đảo Selidor.
Với đôi cánh đỏ thắm quạt mạnh trong bầu không khí buổi tối, Kalessin lượn tròn trên mặt biển rộng, quay về phía Đông, và bay vụt đi.
Vào những ngày giữa hè, người dân trên đảo Ully trông thấy một con rồng lớn bay xuống rất thấp, rồi sau đó cả người ở Usidero và ở phía Bắc Ontuego cũng trông thấy nó. Người dân rất khiếp sợ loài rồng ở vùng Tây Hải này, nơi họ biết chúng quá rõ, thế nhưng sau khi con rồng này bay qua và dân làng đã ra khỏi chỗ trốn, những người trông thấy nó liền bảo rằng, “Loài rồng chưa chết hết như chúng ta tưởng đâu. Có lẽ cả các pháp sư cũng chưa chết hết. Chắc chắn trong điệu bay của con rồng ấy có vẻ gì đó rất oai phong; có lẽ nó chính là con Đại Long.”
Không ai nhìn thấy nơi Kalessin hạ cánh. Ở những hòn đảo xa xôi đó, có những cánh rừng và đồi núi hoang vu không mấy người lai vãng, và ở đó nếu có một con rồng hạ cánh thì cũng khó lòng trông thấy.
Nhưng ở quần đảo Chín Mươi, mọi người đều la hét và chạy tán loạn. Đám đàn ông chèo thuyền về phía Tây, giữa những hòn đảo nhỏ, vừa đi vừa kêu lớn, “Trốn mau! Trốn mau! Con rồng đảo Pendor đã nuốt lời hứa! Tổng Pháp Sư đã từ trần, và con rồng đang đến để tiêu diệt chúng ta!”
Không hạ cánh, cũng không nhìn xuống, con rồng khổng lồ màu sắt bay qua những hòn đảo nhỏ, những thành bang và nông trại nhỏ, thậm chí còn không thèm hạ cố ợ ra một hơi lửa nào cho một món mồi tầm thường đến vậy. Rồi nó bay qua Geath, bay quay Serd, bay ngang qua eo biển Nội Địa, và cuối cùng thì cũng đến được gần đảo Roke.
Trong ký ức của con người, thậm chí cả trong những câu chuyện thần thoại nữa, chưa bao giờ có con rồng nào lại dám bén mảng đến gần những bức tường, cả hữu hình lẫn vô hình, của hòn đảo bất khả xâm phạm đó. Thế nhưng con rồng này thì lại không hề nao núng, mà đôi cánh vẫn chậm rãi vỗ tiếp, đưa nó nặng nề tiến về bờ biển phía Tây của đảo Roke, bên trên những ngôi làng và cánh đồng, để đến với ngọn đồi xanh vươn cao bên trên Thành Thwil. Ở đó nó mới nhẹ nhàng đáp xuống đất, giương đôi cánh đỏ lên, gập chúng lại và khom mình ngồi trên đỉnh Đồi Roke.
Các cậu học trò ùa ra khỏi Nhà Chính. Không gì có thể ngăn được chúng. Nhưng, mặc dù trẻ trung hơn, chúng vẫn chậm chân hơn các Vị Thầy và chỉ đến được Ngọn Đồi sau họ. Khi họ đến nơi thì thầy Kiến Tạo đã có mặt, vừa đến từ Cụm Rừng của mình, với mái tóc vàng óng dưới ánh mặt trời. Đi cùng với ông là thầy Biến Hóa, vừa trở về hai đêm trước dưới hình thù một con chim ó biển lớn, cánh rũ xuống, kiệt sức; ông đã bị mắc kẹt trong bùa phép của chính mình và phải mang hình dạng đó, không thể quay về hình hài cũ cho tới tận khi ông đến được Cụm Rừng, đúng vào cái đêm sự Cân Bằng được phục hồi và vật bị phá vỡ lại được gắn liền. Thầy Triệu Tập, gầy guộc và yếu ớt, mới rời khỏi giường được một ngày, cũng đến; đứng bên cạnh ông là người Giữ Cửa. Tất cả các Vị Thầy khác trên Đảo Thông Thái cũng đều có mặt.
Họ trông thấy hai hành khách của con rồng trèo xuống, một người đỡ người kia. Họ thấy hai người nhìn quanh với một vẻ mãn nguyện lạ kỳ, nghiêm trang, kinh ngạc. Con rồng nằm im lìm như hóa đá khi họ trèo từ trên lưng nó xuống và đứng bên cạnh nó. Nó hơi quay đầu lại trong khi Tổng Pháp Sư nói với nó mấy lời, và đáp lại ông một cách ngắn gọn. Những người đứng quanh có thể thấy được con mắt vàng rực của nó liếc nhìn một cách lạnh lùng nhưng cũng đầy vui vẻ. Những người hiểu được thì nghe thấy con rồng nói, “Ta đã đưa vị quốc vương trẻ tuổi về với vương quốc của mình, và đưa ông già về nhà.”
“Xin hãy đi xa hơn một chút nữa, Kalessin,” Ged trả lời. “Ta vẫn còn chưa đến được nơi ta muốn đến.” Ông nhìn xuống mái nhà và những tòa tháp của Nhà Chính đang tắm trong ánh nắng, và dường như ông hơi mỉm cười. Rồi ông quay sang Arren đang đứng đó, người cao gầy, trong bộ quần áo sờn rách, trên đôi chân vẫn chưa vững hẳn vì mệt mỏi sau chuyến đi dài trên lưng con rồng và bàng hoàng vì tất cả những gì đã xảy ra. Trước mặt tất cả mọi người, Ged quỳ xuống trước mặt cậu, quỳ bằng cả hai đầu gối, và cúi mái đầu bạc của mình xuống.
Rồi ông đứng dậy, hôn lên má chàng trai và nói, “Khi con lên ngôi ở Havnor, hỡi người bạn đường thân thiết và chúa tể của ta, con hãy cai trị thật công bình và thật lâu dài.”
Ông quay lại nhìn các Vị Thầy, những pháp sư trẻ tuổi, cùng đám học trò và dân làng đang tụ tập trên sườn và chân Đồi. Gương mặt ông hết sức bình thản, và trong mắt ông có vẻ gì đó gần giống với nét cười trong mắt Kalessin. Quay lưng lại với tất cả bọn họ, ông lại trèo lên chân và vai con rồng, rồi ngồi lại trên cái yên không có cương ở giữa hai cặp cánh, trên cổ con rồng. Đôi cánh đỏ thắm vươn lên với một tiếng loạt soạt vang động, rồi Kalessin, con Đại Long, lao vút lên không trung. Lửa cùng với khói tuôn ra từ miệng con rồng, và tiếng vỗ cánh của nó nghe tựa tiếng sấm sét, dông bão. Nó lượn quanh ngọn đồi một vòng rồi bay đi, bay về phía Đông Bắc, về vùng Hải Địa nơi có hòn đảo núi Gont.
Người Giữ Cửa mỉm cười nói, “Người đã hoàn thành sứ mệnh của mình rồi. Giờ người sẽ trở về nhà.”
Và họ ngắm con rồng bay giữa ánh mặt trời và biển cả, cho đến khi nó biến mất khỏi tầm mắt.
Các Chiến Công của Ged kể rằng vị Tổng Pháp Sư xưa kia đã đến dự lễ lên ngôi của vị Thượng Hoàng Toàn xứ sở, trong Tòa tháp Gươm, ở Havnor, tại trung tâm của thế giới. Bài ca kể lại rằng khi lễ lên ngôi kết thúc, ông rời khỏi buổi hội và một mình đi xuống bến cảng Havnor. Ở đó, trên mặt nước, là một con thuyền, đã cũ, dầu mưa dãi nắng suốt bao nhiêu năm; buồm của nó chưa được giương lên, và trong thuyền trống không. Ged gọi con thuyền bằng tên, Trông Xa , và nó đến với ông. Ged bước từ trên cầu tàu xuống thuyền, rồi quay lưng lại với đất liền, và dù không có gió cũng chẳng có buồm hay mái chèo, con thuyền vẫn lướt đi; nó đưa ông rời khỏi bến cảng, rời khỏi thành bang, đưa ông về phía Tây giữa những hòn đảo, về phía Tây trên biển cả mênh mông; và không ai biết gì về ông nữa.
Nhưng trên đảo Gont người ta lại kể một câu chuyện khác, rằng chính vị Thượng Hoàng trẻ tuổi, Lebannen, đã thân hành đến tìm Ged để đưa ông đến dự lễ đăng quang. Nhưng ngài không thể tìm được ông ở Cảng Gont hay ở Re Albi. Không ai biết ông đang ở đâu, chỉ biết ông đã đi bộ lên những cánh rừng trên núi. Ông thường rất hay đi như vậy, họ nói, nhiều khi mấy tháng liền không về, và không ai biết những con đường đơn độc của ông là ở đâu. Có nhiều người tình nguyện đi tìm ông, nhưng Thượng Hoàng không cho phép họ, và phán rằng, “Người cai trị một vương quốc vĩ đại hơn ta nhiều.” Rồi ngài rời núi, lên thuyền, và quay về Havnor để lên ngôi.